SECTION THREE: THE ENDING OF GLAMOUR – PHẦN BA: CHẤM DỨT ẢO CẢM
|
[161] We come now to the consideration of the third section relating to world glamour. It is difficult to write clearly about this matter because we are in the midst of its most concentrated expression—the worst the world has ever seen because glamour, incident to centuries of greed and selfishness, of aggression and materialism, has been focussed in a triplicity of nations. It is, therefore, easily to be seen and most effective in manifestation. Three nations express the three aspects of world glamour (illusion, glamour and maya) in an amazing manner, and their powerful assault upon the consciousness of humanity is dependent not only upon the response of Germany, Japan and Italy to this ancient miasma but also upon the fact that every nation—United Nations as well as Totalitarian Nations—are tainted with this universal condition. The freedom of the world is consequently largely dependent upon those people in every nation who (within themselves) have moved forward out of one or other of these “glamorous illusions and mayavic impressions” of the human soul into a state of awareness wherein they can see the conflict in its wider terms, i.e., as that existing for them between the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE. |
[161] Giờ đây chúng ta đi vào xem xét phần thứ ba liên quan đến ảo cảm thế giới. Khó viết một cách rõ ràng về vấn đề này vì chúng ta đang ở giữa biểu hiện tập trung nhất của nó—biểu hiện tồi tệ nhất mà thế giới từng chứng kiến, bởi ảo cảm nảy sinh từ nhiều thế kỷ tham lam và ích kỷ, xâm lược và chủ nghĩa duy vật đã tập trung vào một bộ ba quốc gia. Vì vậy, có thể dễ dàng nhìn thấy nó, và nó có hiệu lực rất mạnh trong sự biểu hiện. Ba quốc gia biểu lộ ba phương diện của ảo cảm thế giới (ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực) một cách đáng kinh ngạc; cuộc tấn công mạnh mẽ của họ vào tâm thức nhân loại không chỉ phụ thuộc vào sự đáp ứng của Đức, Nhật Bản và Ý đối với chướng khí cổ xưa này, mà còn vào thực tế rằng mọi quốc gia—các quốc gia Đồng Minh cũng như các quốc gia Toàn Trị—đều nhiễm tình trạng phổ biến ấy. Do đó, tự do của thế giới phần lớn phụ thuộc vào những người trong mỗi quốc gia đã tiến lên (trong chính mình), thoát khỏi một trong những “ảo tưởng mang tính ảo cảm và những ấn tượng mang tính ảo lực” này của linh hồn nhân loại để đi vào một trạng thái nhận biết, trong đó họ có thể nhìn cuộc xung đột trên bình diện rộng hơn, tức là cuộc xung đột hiện hữu đối với họ giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN. |
|
These people are the aspirants, disciples and initiates of the world. They are aware of the dualism, the essential dualism, of the conflict and are not so pre-eminently conscious of the threefold nature and the differentiated condition of the situation which underlies the realised dualism. [162] Their approach to the problem is therefore simpler and, because of this, world direction lies largely in their hands at this time. |
Những người này là các người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới. Họ nhận biết tính nhị nguyên, tính nhị nguyên cốt yếu của cuộc xung đột, nhưng không nhận biết nổi bật đến thế về bản chất tam phân và trạng thái biến phân của tình thế nằm bên dưới tính nhị nguyên đã được nhận ra. [162] Vì vậy, cách họ tiếp cận vấn đề đơn giản hơn, và chính vì điều này, hiện nay việc định hướng thế giới phần lớn nằm trong tay họ. |
|
It is right here that religion has, as a whole, gone astray. I refer to orthodox religion. It has been preoccupied with the Dweller on the Threshold and the eyes of the theologian have been held upon the material, phenomenal aspect of life through fear and its immediacy, and the fact of the Angel has been a theory and a point of wishful thinking. The balance is being adjusted by the humanitarian attitudes which are so largely coming into control, irrespective of any theological trend. These attitudes take their stand upon the belief of the innate rightness of the human spirit, in the divinity of man, and upon the indestructible nature of the soul of mankind. This inevitably brings in the concept of the PRESENCE, or of God Immanent and is the result of the needed revolt against the belief in God Transcendent. This spiritual revolution was entirely a balancing process and need cause no basic concern, for God Transcendent eternally exists but can only be seen and known and correctly approached by God Immanent—immanent in individual man, in groups and nations, in organised forms and in religion, in humanity as a whole and in the planetary Life Itself. Humanity is today (and has been for ages) battling illusion, glamour and maya. Advanced thinkers, those upon the Probationary Path, upon the Path of Discipleship, and the Path of Initiation have reached a point where materialism and spirituality, the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE, and the basic dualism of manifestation can be seen clearly defined. Because of this clarity of demarcation, the issues underlying the present world events, the objectives of the present world-wide struggle, the modes and methods of re-establishing the spiritual contact so prevalent in Atlantean [163] days and so long lost, and the recognition of the techniques which can bring in the new world era and its cultural order can be clearly noted and appraised. |
Chính ở điểm này, tôn giáo nói chung đã đi chệch hướng. Tôi muốn nói đến tôn giáo chính thống. Tôn giáo ấy đã quá chú tâm đến Kẻ Chận Ngõ, và nỗi sợ hãi cùng tính cấp bách của nó đã giữ ánh mắt của nhà thần học nơi phương diện vật chất, hiện tượng của đời sống, còn sự hiện hữu của Thiên Thần chỉ là một lý thuyết và một điều mong ước. Những thái độ nhân đạo đang ngày càng chiếm ưu thế, bất kể khuynh hướng thần học nào, đang điều chỉnh lại thế quân bình. Những thái độ này đặt nền tảng trên niềm tin vào tính đúng đắn vốn có của tinh thần con người, vào thiên tính nơi con người và vào bản chất bất hoại của linh hồn nhân loại. Điều này tất yếu đưa đến khái niệm HIỆN DIỆN, hay Thượng đế Nội Tại, và là kết quả của sự phản kháng cần thiết chống lại niềm tin vào Thượng đế Siêu Việt. Cuộc cách mạng tinh thần này hoàn toàn là một tiến trình tạo lập quân bình, và không nhất thiết gây ra bất cứ mối lo ngại căn bản nào, bởi Thượng đế Siêu Việt tồn tại vĩnh cửu, nhưng chỉ Thượng đế Nội Tại mới có thể nhìn thấy, biết và tiếp cận Ngài một cách đúng đắn—Thượng đế nội tại trong từng con người, trong các nhóm và quốc gia, trong những hình tướng có tổ chức và trong tôn giáo, trong toàn thể nhân loại và trong chính Sự Sống hành tinh. Ngày nay nhân loại đang (và từ bao thời đại đã luôn) đấu tranh với ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực. Những nhà tư tưởng tiến bộ, những người trên Con Đường Dự Bị, trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo đã đạt đến một điểm mà ở đó có thể thấy rõ ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và tinh thần, giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN, cũng như tính nhị nguyên căn bản của sự biểu hiện. Nhờ sự phân định rõ ràng này, có thể nhận biết và thẩm định rõ các vấn đề nằm bên dưới những biến cố thế giới hiện nay, các mục tiêu của cuộc đấu tranh đang diễn ra trên toàn thế giới, những cách thức và phương pháp tái lập sự tiếp xúc tinh thần vốn rất phổ biến vào thời Atlantis [163] nhưng đã mất từ lâu, cùng việc nhận biết các kỹ thuật có thể mở ra thời đại thế giới mới và trật tự văn hoá của nó. |
|
All generalisations admit of error. It might, however, be said that Germany has focussed in herself world glamour—the most potent and expressive of the three aspects of glamour. Japan is manifesting the force of maya—the crudest form of material force. Italy, individualistic and mentally polarised, is the expression of world illusion. The United Nations, with all their faults, limitations, weaknesses and nationalisms, are focussing the conflict between the Dweller and the Angel, and thus the three forms of glamour and the final form of the conflict between the spiritual ideal and its material opponent are appearing simultaneously. The United Nations are, however, gradually and most decisively throwing the weight of their effort and aspiration on to the side of the Angel, thus restoring the lost balance and slowly producing on a planetary scale those attributes and conditions which will eventually dispel illusion, dissipate glamour and devitalise the prevalent maya. This they are doing by the increased clear thinking of the general public of all the nations, bound together to conquer the three Axis Powers, by their growing ability to conceive ideas in terms of the whole, in terms of a desirable world order or federation, and their capacity to discriminate between the Forces of Light and the potency of evil or materialism. |
Mọi sự khái quát hoá đều có thể sai lầm. Tuy nhiên, có thể nói rằng nước Đức đã tập trung trong mình ảo cảm thế giới—phương diện mạnh mẽ và biểu lộ rõ nhất trong ba phương diện của ảo cảm. Nhật Bản đang biểu hiện mãnh lực của ảo lực—hình thức thô sơ nhất của mãnh lực vật chất. Nước Ý, mang tính cá nhân chủ nghĩa và phân cực trí tuệ, là biểu hiện của ảo tưởng thế giới. Các quốc gia Đồng Minh, với mọi lỗi lầm, giới hạn, nhược điểm và chủ nghĩa dân tộc của họ, đang tập trung cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần; vì vậy, ba hình thức của ảo cảm và hình thức cuối cùng của cuộc xung đột giữa lý tưởng tinh thần và đối thủ vật chất của nó đang xuất hiện đồng thời. Tuy nhiên, các quốc gia Đồng Minh đang dần dần và hết sức dứt khoát dồn sức nặng của nỗ lực và khát vọng về phía Thiên Thần, qua đó khôi phục thế quân bình đã mất và chậm rãi tạo ra trên quy mô hành tinh những thuộc tính và điều kiện mà cuối cùng sẽ xua tan ảo tưởng, làm tiêu tan ảo cảm và làm suy kiệt sinh lực của ảo lực đang phổ biến. Họ đang thực hiện điều này nhờ tư duy ngày càng sáng rõ của công chúng thuộc tất cả các quốc gia đang liên kết với nhau để đánh bại ba cường quốc phe Trục, nhờ khả năng ngày càng tăng của họ trong việc hình thành ý tưởng xét theo toàn thể, xét theo một trật tự thế giới hay một liên bang đáng mong muốn, và nhờ khả năng phân biện giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và sức mạnh của cái ác hay chủ nghĩa duy vật. |
|
The work being done by those who see the world stage as the arena for the conflict between the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE might be itemised as: |
Công việc mà những người nhìn sân khấu thế giới như đấu trường của cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN đang thực hiện có thể liệt kê như sau: |
|
1. The producing of those world conditions in which the Forces of Light can overcome the Forces of Evil. This they do by the weight of their armed forces, plus their clear insight. [164] |
1. Tạo ra những điều kiện thế giới trong đó các Mãnh Lực Ánh Sáng có thể chiến thắng các Mãnh Lực của Cái Ác. Họ thực hiện điều này bằng sức mạnh của các lực lượng vũ trang, cùng với sự thấy biết sáng rõ của mình. [164] |
|
2. The educating of humanity in the distinction between: |
2. Giáo dục nhân loại về sự khác biệt giữa: |
|
a. Spirituality and materialism, pointing to the differing goals of the combatant forces. |
a. Tinh thần và chủ nghĩa duy vật, chỉ ra các mục tiêu khác nhau của những lực lượng đang giao chiến. |
|
b. Sharing and greed, outlining a future world wherein the Four Freedoms will be dominant and all will have that which is needed for right living-processes. |
b. Chia sẻ và tham lam, phác hoạ một thế giới tương lai trong đó Bốn Quyền Tự Do sẽ chiếm ưu thế và mọi người đều có những gì cần thiết cho các tiến trình sống đúng đắn. |
|
c. Light and dark, demonstrating the difference between an illumined future of liberty and opportunity, and the dark future of slavery. |
c. Ánh sáng và bóng tối, cho thấy sự khác biệt giữa một tương lai được soi sáng của tự do và cơ hội, với một tương lai đen tối của cảnh nô lệ. |
|
d. Tình huynh đệ và sự chia rẽ, chỉ ra một trật tự thế giới trong đó thù hận chủng tộc, phân biệt đẳng cấp và khác biệt tôn giáo sẽ không tạo thành rào cản đối với sự thấu hiểu quốc tế, đối lập với trật tự của phe Trục gồm các giống dân thống trị, những thái độ tôn giáo cứng nhắc và các dân tộc bị nô dịch. |
|
|
e. The whole and the part, pointing to the time which is approaching (under the evolutionary urge of spirit) wherein the part or the point of life assumes its responsibility for the whole, and the whole exists for the good of the part. |
e. Toàn thể và bộ phận, hướng đến thời kỳ đang đến gần (dưới sự thôi thúc tiến hoá của tinh thần), trong đó bộ phận hay điểm sự sống đảm nhận trách nhiệm của mình đối với toàn thể, và toàn thể tồn tại vì lợi ích của bộ phận. |
|
The dark aspect has been brought about by ages of glamour. The light is being emphasised and made clear by the world aspirants and disciples who by their attitudes, their actions, their writings and their utterances are bringing the light into dark places. |
Bao thời đại của ảo cảm đã tạo ra phương diện tối tăm. Những người chí nguyện và đệ tử thế giới đang nhấn mạnh và làm rõ ánh sáng; bằng thái độ, hành động, các tác phẩm và lời nói của mình, họ đang đưa ánh sáng vào những nơi tối tăm. |
|
3. Preparing the way for the three spiritual energies which will sweep humanity into an era of comprehension, leading to a focussed mental clarification of men’s minds throughout the world. These three imminent energies are: [165] |
3. Chuẩn bị con đường cho ba năng lượng tinh thần sẽ cuốn nhân loại vào một kỷ nguyên thấu hiểu, dẫn đến sự khai sáng trí tuệ tập trung nơi thể trí của con người trên khắp thế giới. Ba năng lượng sắp đến này là: [165] |
|
a. The energy of the intuition which will gradually dispel world illusion, and produce automatically a great augmentation of the ranks of the initiates. |
a. Năng lượng trực giác sẽ dần dần xua tan ảo tưởng thế giới và tự động làm gia tăng mạnh mẽ hàng ngũ các điểm đạo đồ. |
|
b. The activity of light which will dissipate, by the energy of illumination, the world glamour and bring many thousands on to the Path of Discipleship. |
b. Hoạt động của ánh sáng, thông qua năng lượng soi sáng, sẽ làm tiêu tan ảo cảm thế giới và đưa nhiều nghìn người bước vào Con Đường Đệ Tử. |
|
c. The energy of inspiration which will bring about, through the medium of its sweeping potency, the devitalisation or the removal, as by a wind, of the attractive power of maya or substance. This will release untold thousands on to the Path of Probation. |
c. Năng lượng cảm hứng, thông qua sức mạnh cuốn quét của nó, sẽ làm suy kiệt sinh lực hoặc cuốn đi như một ngọn gió sức hút của ảo lực hay chất liệu. Điều này sẽ giải phóng vô số nghìn người để bước vào Con Đường Dự Bị. |
|
4. Releasing new life into the planet through the medium of every possible agency. The first step towards this release is the proving that the power of materialism is broken by the complete defeat of the Axis Powers and, secondly, by the ability of the United Nations to demonstrate (when this has been done) the potency of the spiritual values by their constructive undertakings to restore world order and to lay those foundations which will guarantee a better and more spiritual way of life. These constructive attitudes and undertakings must be assumed individually by every person, and by nations as collective wholes. The first is being undertaken at this time. The second remains as yet to be done. |
4. Giải phóng sự sống mới vào hành tinh thông qua mọi phương tiện có thể. Bước đầu tiên hướng đến sự giải phóng này là chứng minh rằng quyền lực của chủ nghĩa duy vật đã bị phá vỡ bằng sự thất bại hoàn toàn của các cường quốc phe Trục; và bước thứ hai là khả năng của các quốc gia Đồng Minh chứng tỏ (sau khi điều này hoàn tất) sức mạnh của các giá trị tinh thần qua những công cuộc xây dựng nhằm khôi phục trật tự thế giới và đặt những nền móng bảo đảm một lối sống tốt đẹp hơn và có tính tinh thần hơn. Mỗi người với tư cách cá nhân, và các quốc gia với tư cách những toàn thể tập hợp, đều phải thể hiện những thái độ này và đảm nhận những công cuộc xây dựng ấy. Hiện nay điều thứ nhất đang được thực hiện. Điều thứ hai vẫn còn phải làm. |
|
5. Bringing home to the nations of the world the truths taught by the Buddha, the Lord of Light, and the Christ, the Lord of Love. In this connection it might be pointed out that basically: |
5. Làm cho các quốc gia trên thế giới thấu hiểu sâu sắc những chân lý mà Đức Phật, Chúa Tể của Ánh Sáng, và Đức Christ, Chúa Tể của Tình Thương, đã giảng dạy. Về phương diện này, có thể chỉ ra rằng về căn bản: |
|
a. The Axis nations need to grasp the teaching of the Buddha as He enunciated it in the Four Noble [166] Truths; they need to realise that the cause of all sorrow and woe is desire—desire for that which is material. |
a. Các quốc gia phe Trục cần nắm bắt giáo lý của Đức Phật như Ngài đã trình bày trong Tứ Diệu [166] Đế; họ cần nhận ra rằng nguyên nhân của mọi đau khổ và bất hạnh là dục vọng—dục vọng đối với những gì thuộc về vật chất. |
|
b. The United Nations need to learn to apply the Law of Love as enunciated in the life of Christ and to express the truth that “no man liveth unto himself” and no nation either, and that the goal of all human effort is loving understanding, prompted by a programme of love for the whole. |
b. Các quốc gia Đồng Minh cần học cách áp dụng Định luật Bác Ái như đã được thể hiện trong cuộc đời Đức Christ, và biểu lộ chân lý rằng “không ai sống chỉ cho riêng mình”, cũng không quốc gia nào như vậy, và rằng mục tiêu của mọi nỗ lực của con người là sự thấu hiểu đầy tình thương, được thúc đẩy bởi một chương trình bác ái dành cho toàn thể. |
|
If the lives and teachings of these two great Avatars can be comprehended and wrought out anew in the lives of men today, in the world of human affairs, in the realm of human thinking and in the arena of daily living, the present world order (which is today largely disorder) can be so modified and changed that a new world and a new race of men can gradually come into being. Renunciation and the use of the sacrificial will should be the keynote for the interim period after the war, prior to the inauguration of the New Age. |
Nếu cuộc đời và giáo lý của hai Đấng Hoá Thân vĩ đại này có thể được thấu hiểu và thực hiện lại trong đời sống của con người ngày nay, trong thế giới các hoạt động nhân loại, trong lĩnh vực tư tưởng con người và trên trường đời sống hằng ngày, thì trật tự thế giới hiện nay (ngày nay phần lớn là hỗn loạn) có thể được điều chỉnh và thay đổi đến mức một thế giới mới và một nhân loại mới có thể dần dần hình thành. Sự từ bỏ và việc vận dụng ý chí hi sinh nên là chủ âm cho thời kỳ chuyển tiếp sau chiến tranh, trước khi Kỷ Nguyên Mới bắt đầu. |
|
Students need to remember that all manifestations and every point of crisis are symbolised by the ancient symbol of a point within the circle, the focus of power within a sphere of influence or aura. So it is today with the entire problem of ending the world glamour and illusion which fundamentally lie behind the present acute situation and world catastrophe. The possibility of such a dispelling and dissipation is definitely centred in the two Avatars, the Buddha and the Christ. |
Các đạo sinh cần nhớ rằng mọi biểu hiện và mọi điểm khủng hoảng đều được tượng trưng bằng biểu tượng cổ xưa của một điểm nằm trong vòng tròn, tiêu điểm quyền năng nằm trong một khối cầu ảnh hưởng hay hào quang. Ngày nay cũng vậy đối với toàn bộ vấn đề chấm dứt ảo cảm và ảo tưởng thế giới, vốn là những yếu tố căn bản nằm sau tình thế gay gắt và thảm hoạ thế giới hiện nay. Khả năng xua tan và làm tiêu tan như vậy rõ ràng tập trung nơi hai Đấng Hoá Thân, Đức Phật và Đức Christ. |
|
Within the world of glamour—the world of the astral plane and of the emotions—appeared a point of light. The Lord of Light, the Buddha, undertook to focus in Himself the illumination which would eventually make possible the dissipation of glamour. Within the world of illusion—the world of the mental plane—appeared the Christ, the Lord [167] of Love Himself, Who embodied in Himself the power of the attractive will of God. He undertook to dispel illusion by drawing to Himself (by the potency of love) the hearts of all men, and stated this determination in the words, “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” (John 12:32) From the point they then will have reached, the world of spiritual perception, of truth and of divine ideas will stand revealed. The result will be the disappearing of illusion. |
Trong thế giới ảo cảm—thế giới của cõi cảm dục và của cảm xúc—đã xuất hiện một điểm ánh sáng. Chúa Tể Ánh sáng, Đức Phật, đảm nhận việc tập trung trong chính Ngài sự soi sáng mà cuối cùng sẽ khiến việc làm tiêu tan ảo cảm trở nên khả thi. Trong thế giới ảo tưởng—thế giới của cõi trí—đã xuất hiện Đức Christ, chính Chúa Tể [167] của Tình thương, Đấng thể hiện trong chính Ngài quyền năng của ý chí thu hút của Thượng đế. Ngài đảm nhận việc xua tan ảo tưởng bằng cách thu hút trái tim của mọi người về với Ngài (nhờ sức mạnh của tình thương), và tuyên bố quyết tâm này qua lời: “Ta, nếu được nâng lên, sẽ kéo mọi người đến với Ta.” (Giăng 12:32) Từ điểm mà khi ấy họ đã đạt tới, thế giới của tri giác tinh thần, của chân lý và của các ý tưởng thiêng liêng sẽ hiển lộ. Kết quả sẽ là sự biến mất của ảo tưởng. |
|
The combined work of these two great Sons of God, concentrated through the world disciples and through Their initiates must and will inevitably shatter illusion and dispel glamour—the one by the intuitive recognition of reality by minds attuned to it, and the other by the pouring in of the light of reason. The Buddha made the first planetary effort to dissipate world glamour; the Christ made the first planetary effort towards the dispelling of illusion. Their work must now be intelligently carried forward by a humanity wise enough to recognise its dharma. Men are being rapidly disillusioned and will consequently see more clearly. The world glamour is being steadily removed from the ways of men. These two developments have been brought about by the incoming new ideas, focussed through the world intuitives and released to the general public by the world thinkers. It has been also largely aided by the well-nigh unconscious, but none the less real, recognition of the true meaning of these Four Noble Truths by the masses. Disillusioned and de-glamoured (if I may use such a term), humanity awaits the coming revelation. This revelation will be brought about by the combined efforts of the Buddha and the Christ. All that we can foresee or foretell anent that revelation is that some potent and far-reaching results will be achieved by the merging of light and love, and by the reaction of “lighted substance to the attractive power of love.” In this sentence I have given those who can understand [168] a profound and useful hint as to the method and purpose of the undertaking which was staged for the June Full Moon, 1942. I have also given a clue to the true understanding of the work of these Avatars—a thing hitherto quite unrealised. It might be added that when an appreciation of the meaning of the words “transfiguration of a human being” is gained, the realisation will come that when “the body is full of light” then “in that light shall we see LIGHT.” This means that when the personality has reached a point of purification, of dedication and of illumination, then the attractive power of the soul (whose nature is love and understanding) can function, and fusion of these two will take place. This is what the Christ proved and demonstrated. |
Công việc phối hợp của hai Con của Thượng đế vĩ đại này, tập trung qua các đệ tử trên thế giới và qua các điểm đạo đồ của Các Ngài, phải và chắc chắn sẽ phá tan ảo tưởng và xua tan ảo cảm—ảo tưởng nhờ sự nhận biết thực tại bằng trực giác của những thể trí đã hòa điệu với thực tại, còn ảo cảm nhờ ánh sáng của lý trí tuôn vào. Đức Phật đã thực hiện nỗ lực đầu tiên trên quy mô hành tinh để làm tiêu tan ảo cảm thế giới; Đức Christ đã thực hiện nỗ lực đầu tiên trên quy mô hành tinh nhằm xua tan ảo tưởng. Giờ đây, nhân loại phải tiếp tục công việc của Các Ngài một cách sáng suốt, với đủ minh triết để nhận biết bổn phận của mình. Con người đang nhanh chóng thoát khỏi ảo tưởng và do đó sẽ thấy rõ hơn. Ảo cảm thế giới đang dần được loại bỏ khỏi những con đường của con người. Hai bước phát triển này xuất phát từ các ý tưởng mới đang đi vào, tập trung qua những người có trực giác trên thế giới và được các nhà tư tưởng trên thế giới truyền đến công chúng. Tiến trình ấy cũng nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ việc quần chúng nhận biết ý nghĩa chân thực của Tứ Diệu Đế, một sự nhận biết gần như vô thức nhưng vẫn có thực. Thoát khỏi ảo tưởng và được giải trừ ảo cảm (nếu Tôi có thể dùng một thuật ngữ như thế), nhân loại đang chờ đợi sự mặc khải sắp tới. Sự mặc khải này sẽ đến nhờ những nỗ lực phối hợp của Đức Phật và Đức Christ. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy trước hoặc tiên đoán về sự mặc khải ấy là sự hòa nhập của ánh sáng và tình thương, cùng với đáp ứng của “chất liệu được soi sáng đối với quyền năng thu hút của tình thương”, sẽ đem lại một số kết quả mạnh mẽ và sâu rộng. Trong câu này, Tôi đã trao cho những ai có thể thấu hiểu [168] một gợi ý sâu sắc và hữu ích về phương pháp và mục đích của công việc đã được triển khai vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1942. Tôi cũng đã trao một manh mối để thấu hiểu đúng công việc của các Đấng Hoá Thân này—một điều cho đến nay hoàn toàn chưa được nhận biết. Có thể nói thêm rằng khi hiểu được ý nghĩa của những lời “sự Biến hình của một con người”, người ta sẽ nhận ra rằng khi “thân thể tràn đầy ánh sáng” thì “trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy ÁNH SÁNG”. Điều này có nghĩa là khi phàm ngã đã đạt đến một mức độ thanh luyện, tận hiến và soi sáng, thì quyền năng thu hút của linh hồn (vốn có bản chất là tình thương và sự thấu hiểu) có thể hoạt động, và sự dung hợp giữa linh hồn và phàm ngã sẽ diễn ra. Đây là điều Đức Christ đã chứng minh và thể hiện. |
|
When the work of the Buddha (or the embodied buddhic principle) is consummated in the aspiring disciple and in his integrated personality, then the full expression of the work of the Christ (the embodied principle of love) can also be consummated and both these potencies—light and love—will find radiant expression in the transfigured disciple. What is true, therefore, of the individual is true also of humanity as a whole, and today humanity (having reached maturity) can “enter into realisation” and consciously take part in the work of enlightenment and of spiritual, loving activity. The practical effects of this process will be the dissipation of glamour and the release of the human spirit from the thraldom of matter; it will produce, also, the dispelling of illusion and the recognition of truth as it exists in the consciousness of those who are polarised in the “awareness of the Christ.” |
Khi công việc của Đức Phật (hay nguyên khí Bồ đề được thể hiện) hoàn tất trong người đệ tử có khát vọng và trong phàm ngã tích hợp của y, thì sự biểu hiện trọn vẹn của công việc của Đức Christ (nguyên khí tình thương được thể hiện) cũng có thể hoàn tất, và cả hai sức mạnh này—ánh sáng và tình thương—sẽ biểu hiện rực rỡ trong người đệ tử đã Biến hình. Do đó, điều đúng với cá nhân cũng đúng với toàn thể nhân loại, và ngày nay nhân loại (đã đạt đến sự trưởng thành) có thể “bước vào chứng nghiệm” và tham gia một cách hữu thức vào công việc giác ngộ và hoạt động tinh thần đầy tình thương. Những hiệu quả thực tiễn của tiến trình này sẽ là việc làm tiêu tan ảo cảm và giải phóng tinh thần con người khỏi sự nô dịch của vật chất; tiến trình ấy cũng sẽ xua tan ảo tưởng và đem lại sự nhận biết chân lý như chân lý hiện hữu trong tâm thức của những ai phân cực trong “sự nhận biết về Đức Christ”. |
|
This is necessarily no rapid process but is an ordered and regulated procedure, sure in its eventual success but relatively slow also in its establishment and sequential process. This process was initiated upon the astral plane [169] by the Buddha, and on the mental plane when Christ manifested on Earth. It indicated the approaching maturity of humanity. The process has been slowly gathering momentum as these two great Beings have gathered around Them Their disciples and initiates during the past two thousand years. It has reached a point of intensive usefulness as the channel of communication between Shamballa and the Hierarchy has been opened and enlarged, and as the contact between these two great Centres and Humanity has been more firmly established. |
Tất nhiên, đây không phải là một tiến trình nhanh chóng, mà là một phương thức có trật tự và được điều chỉnh, chắc chắn sẽ thành công cuối cùng nhưng cũng tương đối chậm trong việc thiết lập và diễn tiến tuần tự. Đức Phật đã khởi đầu tiến trình này trên cõi cảm dục [169], và tiến trình ấy bắt đầu trên cõi trí khi Đức Christ biểu hiện trên Trái Đất. Nó báo hiệu nhân loại đang tiến gần đến sự trưởng thành. Tiến trình này đã chậm rãi gia tăng đà phát triển khi hai Đấng vĩ đại này quy tụ quanh Các Ngài những đệ tử và điểm đạo đồ của Các Ngài trong hai nghìn năm qua. Nó đã đạt đến mức độ hữu ích cao khi kênh giao tiếp giữa Shamballa và Thánh đoàn được mở ra và mở rộng, và khi sự tiếp xúc giữa hai Trung Tâm vĩ đại này với Nhân loại được thiết lập vững chắc hơn. |
|
At the June Full Moon, 1942, the first test as to the directness of the communication between the Centre where the Will of God holds sway, the Centre where the Love of God rules, and the Centre where there is intelligent expectancy was made. The medium of the test was the united effort of the Christ, of the Buddha, and of those who responded to Their blended influence. This test had to be carried out in the midst of the terrific onslaught of the powers of evil and was extended over the two weeks beginning on the day of the Full Moon (May 30th 1942) and ending on June 15th 1942. There was a great concentration of the Spiritual Forces at that time, and the use of a special Invocation (one which humanity itself may not use), but the success or failure of the test was, in the last analysis, determined by mankind itself. |
Vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1942, cuộc thử nghiệm đầu tiên về tính trực tiếp của sự giao tiếp giữa Trung Tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế chi phối, Trung Tâm nơi Tình thương của Thượng đế cai quản, và Trung Tâm nơi có sự mong đợi sáng suốt đã diễn ra. Phương tiện của cuộc thử nghiệm là nỗ lực hợp nhất của Đức Christ, Đức Phật và những người đáp ứng ảnh hưởng hòa quyện của Các Ngài. Cuộc thử nghiệm này phải tiến hành giữa cuộc tấn công dữ dội của các quyền lực tà ác, và kéo dài trong hai tuần, bắt đầu vào ngày Trăng Tròn (30 tháng Năm năm 1942) và kết thúc vào ngày 15 tháng Sáu năm 1942. Khi ấy có một sự tập trung lớn của các Mãnh Lực Tinh Thần, cùng với việc sử dụng một lời Khẩn Cầu đặc biệt (một lời mà chính nhân loại không được sử dụng), nhưng xét cho cùng, chính nhân loại quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc thử nghiệm. |
|
You may feel, though wrongly, that not enough people know about or understand the nature of the opportunity or what is transpiring. But the success of such a test is not dependent upon the esoteric knowledge of the few, the relatively few, to whom the facts and the information have been partially imparted. It is dependent also upon the tendency of the many who unconsciously aspire towards the spiritual realities, who seek for a new and better way of life for all, who desire the good of the whole and whose [170] longing and desire is for a true experience of goodness, of right human relations and of spiritual enterprise among men. Their name is Legion and they are to be found in every nation. |
Các bạn có thể cảm thấy, dù cảm nhận ấy là sai, rằng chưa đủ người biết hoặc thấu hiểu bản chất của cơ hội hay những gì đang diễn ra. Nhưng thành công của một cuộc thử nghiệm như thế không phụ thuộc vào kiến thức nội môn của số ít người, tương đối ít người, đã được truyền đạt một phần các sự kiện và thông tin. Nó còn phụ thuộc vào khuynh hướng của đông đảo những người vô thức hướng khát vọng về các thực tại tinh thần, tìm kiếm một lối sống mới và tốt đẹp hơn cho mọi người, mong muốn điều tốt lành cho toàn thể, và có [170] niềm khao khát cùng ước muốn thực sự trải nghiệm lòng thiện, những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và hoạt động tinh thần trong nhân loại. Tên họ là Quân Đoàn, và họ hiện diện trong mọi quốc gia. |
|
When the Will of God, expressed in Shamballa and focussed in the Buddha, the Love of God, expressed in the Hierarchy and focussed through the Christ, and the intelligent desire of humanity, focussed through the world disciples, the world aspirants and the men of goodwill are all brought into line—either consciously or unconsciously—then a great re-orientation can and will take place. This event is something that can happen. |
Khi Ý Chí của Thượng Đế, biểu hiện tại Shamballa và tập trung trong Đức Phật, Tình thương của Thượng đế, biểu hiện trong Thánh đoàn và tập trung qua Đức Christ, cùng với dục vọng sáng suốt của nhân loại, tập trung qua các đệ tử trên thế giới, những người chí nguyện trên thế giới và những người thiện chí, tất cả đều được đưa vào sự chỉnh hợp—một cách hữu thức hoặc vô thức—thì một sự tái định hướng lớn có thể và sẽ diễn ra. Đây là một sự kiện có thể xảy ra. |
|
The first result will be the illumination of the astral plane and the beginning of the process which will dissipate glamour; the second result will be the irradiation of the mental plane and the dispelling of all past illusions and the gradual revelation of the new truths of which all past ideals and so-called formulations of truth have only been the signposts. Ponder on that statement. The signpost indicates the way to go; it does not reveal the goal. It is indicative but not conclusive. So with all truth up to the present time. |
Kết quả đầu tiên sẽ là sự soi sáng cõi cảm dục và khởi đầu tiến trình làm tiêu tan ảo cảm; kết quả thứ hai sẽ là sự tỏa chiếu ánh sáng trên cõi trí, việc xua tan mọi ảo tưởng trong quá khứ và sự mặc khải dần dần những chân lý mới, mà mọi lý tưởng trong quá khứ cùng những cái gọi là cách diễn đạt chân lý chỉ là những biển chỉ đường. Hãy suy ngẫm về lời này. Biển chỉ đường chỉ hướng đi; nó không mặc khải đích đến. Nó mang tính chỉ dẫn, chứ không mang tính kết luận. Mọi chân lý cho đến hiện tại cũng như vậy. |
|
The demand is, therefore, for knowers and for those whose minds and hearts are open; who are free from preconceived ideas fanatically held, and from ancient idealisms which must be recognised as only partial indications of great unrealised truths—truths which can be realised in great measure and for the first time IF the lessons of the present world situation and the catastrophe of the war are duly learned and the sacrificial will is called into play. |
Do đó, điều cần thiết là những thức giả và những người có thể trí cùng trái tim rộng mở; những người thoát khỏi các ý tưởng định kiến được bám giữ một cách cuồng tín, và khỏi những chủ nghĩa lý tưởng xưa cũ mà cần nhận biết rằng chúng chỉ là những chỉ dẫn từng phần về các chân lý vĩ đại chưa được chứng nghiệm—những chân lý có thể được chứng nghiệm ở mức độ lớn và lần đầu tiên NẾU những bài học của tình hình thế giới hiện nay và thảm họa chiến tranh được học hỏi đầy đủ, và ý chí hi sinh được đưa vào hoạt động. |
|
I have made this practical application and the immediate illustration of the teaching anent glamour, illusion and maya because the whole world problem has reached a crisis today and because its clarification will be the outstanding theme [171] of all progress—educational, religious and economic—until 2025 A.D. |
Tôi đã đưa ra sự áp dụng thực tiễn và minh họa trực tiếp này cho giáo huấn về ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực, vì ngày nay toàn bộ vấn đề thế giới đã đi đến một cuộc khủng hoảng, và vì việc làm sáng tỏ vấn đề ấy sẽ là chủ đề nổi bật [171] của mọi tiến bộ—giáo dục, tôn giáo và kinh tế—cho đến năm 2025 sau Công nguyên. |
|
In the section with which we are now concerned we shall consider the practical ways in which illusion, glamour and the power of maya can be brought to an end in the life of the individual, and eventually in the life of nations and finally in the world. Always we must begin with the unity of life, the Microcosm; then, having grasped process and progress in connection with the individual, the idea can then be extended to the group, the organisation, the nation, and to humanity as a whole. Thus gradually we shall approach the great Idea to which we give the name of God, the Macrocosm. |
Trong phần mà hiện nay chúng ta đang xem xét, chúng ta sẽ khảo sát những phương cách thực tiễn để chấm dứt ảo tưởng, ảo cảm và quyền năng của ảo lực trong đời sống cá nhân, rồi cuối cùng trong đời sống các quốc gia và sau hết là trên thế giới. Chúng ta luôn phải bắt đầu với chỉnh thể sự sống, tức Tiểu thiên địa; rồi, sau khi đã nắm bắt tiến trình và sự tiến bộ liên quan đến cá nhân, ý tưởng ấy có thể mở rộng đến nhóm, tổ chức, quốc gia và toàn thể nhân loại. Như thế, chúng ta sẽ dần tiếp cận Ý Tưởng vĩ đại mà chúng ta gọi bằng danh xưng Thượng đế, tức Đại thiên địa. |
|
We shall in this section deal with techniques, and these might be summarised as follows: |
Trong phần này, chúng ta sẽ bàn đến các kỹ thuật, và có thể tóm tắt chúng như sau: |
|
1. The Technique of the Presence. By means of this technique, the soul assumes control of the integrated personality and of its relations, horizontal and vertical. This technique involves the unfolding of the flower of the intuition, dispelling illusion, revealing the Angel, indicating the Presence, and opening up to the disciple the world of ideas and the door of the higher initiations. Through the disciple’s grasp and application of these divine ideas or seed thoughts, he becomes initiate and the third initiation becomes possible as an immediate goal. The intuition is the applied power of transfiguration. This technique is related to the little known yoga called Agni Yoga or the yoga of fire. |
1. Kỹ Thuật của Hiện Diện. Nhờ kỹ thuật này, linh hồn nắm quyền kiểm soát phàm ngã tích hợp và các mối quan hệ của nó, theo chiều ngang lẫn chiều dọc. Kỹ thuật này bao gồm việc khai mở đóa hoa trực giác, xua tan ảo tưởng, mặc khải Thiên Thần, chỉ ra Hiện Diện, và mở ra cho người đệ tử thế giới ý tưởng cùng cánh cửa của những cuộc điểm đạo cao hơn. Qua việc nắm bắt và áp dụng những ý tưởng thiêng liêng hay tư tưởng hạt giống này, người đệ tử trở thành điểm đạo đồ, và lần điểm đạo thứ ba trở thành một mục tiêu trước mắt có thể đạt được. Trực giác là quyền năng Biến hình được áp dụng. Kỹ thuật này liên quan đến môn yoga ít được biết đến gọi là Agni Yoga, hay yoga của lửa. |
|
2. The Technique of Light. By means of this technique, the illumined mind assumes control over the astral or emotional body and dissipates glamour. When light pours in, glamour fades out. Illumination dominates and the vision [172] of reality can be seen. This technique is related to Raja Yoga and its goal is the second initiation; it produces ability to tread the Path of Discipleship, and enables the man to “live a life, enlightened by divinity.” Illumination is the applied power of transformation. |
2. Kỹ Thuật Ánh sáng. Nhờ kỹ thuật này, thể trí được soi sáng nắm quyền kiểm soát thể cảm dục hay thể cảm xúc và làm tiêu tan ảo cảm. Khi ánh sáng tuôn vào, ảo cảm phai đi. Sự soi sáng chiếm ưu thế và linh thị [172] về thực tại trở nên hiển hiện. Kỹ thuật này liên quan đến Raja Yoga và mục tiêu của nó là lần điểm đạo thứ hai; nó đem lại khả năng bước trên Con Đường Đệ Tử, và giúp con người “sống một đời sống được thiên tính soi sáng”. Sự soi sáng là quyền năng chuyển đổi được áp dụng. |
|
3. The Technique of Indifference. By means of this technique, maya is ended; for the control of the purified astral vehicle is consciously and technically brought into activity, producing the freeing of the energies of the etheric body from the control of matter or force-substance, and bringing men in large numbers on to the Probationary Path. Where there is “divine indifference” to the call or pull of matter, then inspiration becomes possible. This technique is related to Karma Yoga in its most practical form and the use of matter with complete impersonality. The goal of this technique is the first initiation, which enables man to “live a life, inspired by God.” Inspiration is the applied power of transmission. |
3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên. Nhờ kỹ thuật này, ảo lực chấm dứt; bởi quyền kiểm soát của hiện thể cảm dục đã được thanh luyện được đưa vào hoạt động một cách hữu thức và theo đúng kỹ thuật, giải phóng các năng lượng của thể dĩ thái khỏi sự kiểm soát của vật chất hay mãnh lực-chất liệu, và đưa đông đảo con người bước vào Con Đường Dự Bị. Nơi nào có “Điềm nhiên thiêng liêng” đối với tiếng gọi hay sức lôi kéo của vật chất, thì cảm hứng trở nên khả thi. Kỹ thuật này liên quan đến Karma Yoga dưới hình thức thực tiễn nhất của nó và việc sử dụng vật chất với tính phi cá nhân hoàn toàn. Mục tiêu của kỹ thuật này là lần điểm đạo thứ nhất, giúp con người “sống một đời sống được Thượng đế truyền cảm hứng”. Cảm hứng là quyền năng truyền dẫn được áp dụng. |
1. The Technique of the Presence – 1. Kỹ Thuật của Hiện Diện
|
As we enter upon our consideration of this subject, the student has three things to bear in mind: the existence of the Intuition, the fact of Illusion, and the overshadowing Presence. This Presence is revealed by the intuition through the medium of the Angel and, when revealed and recognised, brings illusion to an end. |
Khi bắt đầu xem xét chủ đề này, đạo sinh cần ghi nhớ ba điều : sự tồn tại của Trực Giác, thực tế về Ảo Tưởng, và Hiện Diện đang phủ bóng. Trực giác mặc khải Hiện Diện này qua trung gian Thiên Thần, và khi được mặc khải cùng nhận biết, Hiện Diện chấm dứt ảo tưởng. |
|
The story of illusion is one which must not be confounded with glamour; illusion is related to the whole process of revelation. Glamour can be and often is related to the distortion of that which has been revealed, but it must be borne in mind that illusion is primarily concerned with the reaction of the mind to the unfolding revelation, [173] as the soul registers it and seeks to impress it on the highest aspect of the personal lower self. Illusion is, therefore, the failure of the mind correctly to register, to interpret or translate that which has been transmitted and it is consequently a sin (if you care for that word) of the intelligent and highly developed people, of those who stand on the Path and who are in process of becoming rightly oriented; it is also a sin of accepted disciples as they seek to expand their consciousness in response to soul contact. When they have “seen through illusion” (and I use this phrase in its esoteric sense) then they are ready for the third initiation. |
Câu chuyện về ảo tưởng không được nhầm lẫn với ảo cảm; ảo tưởng liên quan đến toàn bộ tiến trình mặc khải. Ảo cảm có thể và thường liên quan đến sự xuyên tạc những gì đã được mặc khải, nhưng cần ghi nhớ rằng ảo tưởng chủ yếu liên quan đến đáp ứng của thể trí đối với sự mặc khải đang khai mở, [173] khi linh hồn ghi nhận sự mặc khải ấy và tìm cách ghi khắc nó lên phương diện cao nhất của phàm ngã cá nhân. Do đó, ảo tưởng là sự thất bại của thể trí trong việc ghi nhận, diễn giải hoặc chuyển nghĩa đúng những gì đã được truyền đến, và vì thế là một tội lỗi (nếu các bạn muốn dùng từ ấy) của những người thông minh và phát triển cao, của những người đứng trên Đường Đạo và đang trong tiến trình định hướng đúng; đó cũng là một tội lỗi của các đệ tử được chấp nhận khi họ tìm cách mở rộng tâm thức để đáp ứng sự tiếp xúc với linh hồn. Khi họ đã “nhìn thấu ảo tưởng” (và Tôi dùng cụm từ này theo nghĩa nội môn), họ sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba. |
|
Our theme is, therefore, the theme of revelation and I would like to make some general remarks upon the subject, because thereby the problem of world illusion can be clarified and incidentally individual illusion also. |
Do đó, chủ đề của chúng ta là chủ đề về sự mặc khải, và Tôi muốn đưa ra một số nhận xét tổng quát về chủ đề này, vì qua đó vấn đề ảo tưởng thế giới có thể được làm sáng tỏ, đồng thời cả ảo tưởng cá nhân cũng vậy. |
|
The unfoldment of human awareness has been progressive down the ages, and has been dependent upon two major and related factors: |
Sự khai mở nhận biết của con người đã tiến triển qua các thời đại, và phụ thuộc vào hai yếu tố chính có liên hệ với nhau: |
|
1. The factor of the gradual development of the human mind through the processes of evolution itself. This might be regarded as the innate capacity of that which we call the mind, the chitta, or mind stuff, to become more and more sensitive to the impact of the phenomenal world, and to the impression from the higher worlds of being. The mind is the instrument which registers the process of “becoming” but it is also—during the later stages of human unfoldment—capable of registering the nature or function of being. Becoming is revealed through the medium of the intellect; Being, through the medium of the intuition. In all study of illusion, the instrumental nature of the mind must be remembered and its power to register accurately, to interpret [174] and transmit knowledge coming from the world of phenomena and wisdom from the realm of the soul. |
1. Yếu tố phát triển dần dần của trí tuệ con người qua chính các tiến trình tiến hoá. Có thể xem đây là khả năng bẩm sinh của cái mà chúng ta gọi là thể trí, tâm chất, hay chất liệu trí tuệ, trong việc ngày càng trở nên nhạy cảm với tác động của thế giới hiện tượng, và với ấn tượng từ các thế giới Bản Thể cao hơn. Thể trí là công cụ ghi nhận tiến trình “trở thành”, nhưng nó cũng—trong những giai đoạn về sau của sự khai mở con người—có khả năng ghi nhận bản chất hay chức năng của Bản Thể. Sự Trở Thành được mặc khải qua trung gian trí năng; Bản Thể, qua trung gian trực giác. Trong mọi nghiên cứu về ảo tưởng, cần ghi nhớ bản chất công cụ của thể trí và khả năng của nó trong việc ghi nhận chính xác, diễn giải [174] và truyền đạt tri thức đến từ thế giới hiện tượng cùng minh triết đến từ lĩnh vực linh hồn. |
|
2. The factor of the method whereby humanity is made aware of that which is not immediately apparent. This is the method or process of what has been called “imposed revelation” or the impression conveyed to minds capable of reception of those ideas, beings, plans and purposes which exist behind the scenes, so to speak, and which are (in the last analysis) the factors which determine and condition the world process. These revelations or subjective, vital impressions are revealed by the intuition and have nothing to do with the knowledges, impressions and impacts which are related to the three worlds of human evolution, except in so far that (when grasped and apprehended) they have steadily transformed man’s way of living, revealed to him his goals, and indicated his true nature. The revelations given throughout the ages and impressed on the minds of those trained to receive them deal with the great universals, are concerned with the whole, and lead to a developed appreciation of the oneness of life and with hylozoistic expression. |
2. Yếu tố phương pháp giúp nhân loại nhận biết những gì không hiển nhiên ngay lập tức. Đây là phương pháp hay tiến trình của cái được gọi là “sự mặc khải được áp đặt”, hay ấn tượng truyền đến những thể trí có khả năng tiếp nhận các ý tưởng, sinh linh, kế hoạch và mục đích tồn tại, có thể nói, ở hậu trường, và xét cho cùng là những yếu tố quyết định và định hình tiến trình thế giới. Trực giác mặc khải những sự mặc khải hay những ấn tượng chủ quan, sống động này, và chúng không liên quan đến các tri thức, ấn tượng và tác động gắn với ba cõi giới tiến hoá của con người, ngoại trừ ở chỗ (khi được nắm bắt và lĩnh hội) chúng đã không ngừng chuyển đổi lối sống của con người, mặc khải cho y những mục tiêu của y và chỉ ra bản chất chân thực của y. Những sự mặc khải được trao truyền qua các thời đại và ghi khắc lên thể trí của những người đã được huấn luyện để tiếp nhận chúng đều đề cập đến những điều phổ quát vĩ đại, liên quan đến toàn thể, và dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về tính nhất thể của sự sống và về sự biểu hiện theo quan niệm vạn vật hữu sinh. |
|
Two paralleling processes have produced humanity and its civilisation: One is the evolutionary process itself whereby the mind of the individual has been gradually unfolded until it becomes the dominant aspect in the personality; and at the same time a graded, wisely imparted series of revelations which have led humanity as a whole nearer to the inevitable apprehension of being; they have led him steadily away from identification with form and into those states of consciousness which are super-normal from the ordinary human angle but entirely normal from the spiritual. |
Hai tiến trình song song đã tạo nên nhân loại và nền văn minh của nhân loại: Một là chính tiến trình tiến hoá, qua đó thể trí của cá nhân dần khai mở cho đến khi trở thành phương diện chi phối trong phàm ngã; đồng thời là một chuỗi mặc khải theo từng cấp độ, được truyền đạt một cách minh triết, đã dẫn toàn thể nhân loại đến gần hơn với sự lĩnh hội Bản Thể tất yếu; chúng không ngừng dẫn con người rời khỏi sự đồng hoá với hình tướng và đi vào những trạng thái tâm thức vốn siêu thường từ góc nhìn thông thường của con người, nhưng hoàn toàn bình thường từ góc nhìn tinh thần. |
|
[175] Putting this concept specifically into occult terminology: Individuality has led to the steady perfecting of the mind with its perception, apprehension, analysis and interpretation whilst initiation, through the growth of the intuition, brings about (when the mental perfecting process has reached a relatively high degree of development) the apprehension of the world of spiritual values, of unified being and of intuitive understanding. This involves a consequent moving of the point of individual focus out of the world of phenomena into the world of reality. The lower use of the mind and its processes of unfoldment have produced illusion whilst the unfoldment of the higher mind and, later, its use as the transmitter of the intuition and of the higher revelation, will produce the transfiguration of the three worlds of phenomena in terms of the world of being. |
[175] Diễn đạt quan niệm này một cách cụ thể bằng thuật ngữ huyền bí học: Tính cá thể đã dẫn đến sự hoàn thiện không ngừng của thể trí, với khả năng tri giác, lĩnh hội, phân tích và diễn giải của nó, trong khi điểm đạo, thông qua sự phát triển của trực giác, đem lại (khi tiến trình hoàn thiện trí tuệ đã đạt đến một mức phát triển tương đối cao) sự lĩnh hội thế giới của các giá trị tinh thần, của Bản Thể hợp nhất và của sự thấu hiểu bằng trực giác. Hệ quả của điều này là điểm tập trung của cá nhân dịch chuyển khỏi thế giới hiện tượng vào thế giới thực tại. Việc sử dụng thể trí ở cấp thấp và các tiến trình khai mở của nó đã tạo ra ảo tưởng, trong khi sự khai mở thượng trí và, về sau, việc sử dụng thượng trí làm phương tiện truyền dẫn trực giác cùng sự mặc khải cao hơn, sẽ đem lại sự Biến hình của ba cõi giới hiện tượng theo Thế Giới Bản Thể. |
|
Illusion is frequently misinterpreted and misapplied mental perception of truth. It has naught to do with the mental phase of glamour, though illusion can be carried down into the world of feeling and become glamour. When this happens, its potency is exceedingly great because a thoughtform has become an entity, with vital power, and the magnetic power of feeling is added to the cold form of thought. Ponder on this. But at the stage with which we are now dealing, which is that of pure illusion, a revelation has precipitated upon the mental plane and—owing to failure rightly to apprehend and interpret it or to apply it usefully—it has developed into an illusion and enters upon a career of deception, of crystallisation and of misinformation. |
Ảo tưởng thường là tri giác trí tuệ về chân lý bị diễn giải sai và áp dụng sai. Nó không liên quan gì đến giai đoạn trí tuệ của ảo cảm, dù ảo tưởng có thể được đưa xuống thế giới cảm xúc và trở thành ảo cảm. Khi điều này xảy ra, sức mạnh của nó hết sức lớn lao, vì một hình tư tưởng đã trở thành một thực thể, có quyền năng thiết yếu, và quyền năng từ tính của cảm xúc được thêm vào hình tướng lạnh lẽo của tư tưởng. Hãy suy ngẫm về điều này. Nhưng ở giai đoạn mà hiện nay chúng ta đang bàn đến, tức giai đoạn ảo tưởng thuần túy, một sự mặc khải đã ngưng tụ trên cõi trí và—do không được lĩnh hội, diễn giải đúng hoặc áp dụng một cách hữu ích—nó đã phát triển thành một ảo tưởng và bắt đầu một quá trình lừa dối, kết tinh và truyền bá thông tin sai lệch. |
|
The theme of this technique is, therefore, concerned primarily with: |
Do đó, chủ đề của kỹ thuật này chủ yếu liên quan đến: |
|
1. The process of revelation. This process has been and today is the main testimony and guarantee of the existence, [176] behind the scenes of the phenomenal life, of a revealing Group or Agency whose task is of a triple nature: |
1. Tiến trình mặc khải. Tiến trình này đã và hiện nay vẫn là bằng chứng cùng sự bảo đảm chính yếu cho sự tồn tại, [176] đằng sau đời sống hiện tượng, của một Nhóm hay Cơ Quan thực hiện sự mặc khải, có nhiệm vụ mang bản chất tam phân: |
|
a. To gauge the unfoldment of the human consciousness and to meet its constant appeal and demand for further light and knowledge. |
a. Đánh giá sự khai mở của tâm thức nhân loại và đáp ứng lời kêu gọi cùng nhu cầu không ngừng của nhân loại về thêm ánh sáng và tri thức. |
|
b. To judge what is the next needed revelation and what form it should take, through what medium it should emerge, and where and when it should appear. |
b. Xác định sự mặc khải tiếp theo cần có là gì, nó nên mang hình thức nào, nên xuất hiện qua phương tiện nào, và nên xuất hiện ở đâu, vào lúc nào. |
|
c. To ascertain with what obstructions, hindrances, and preconceived ideas the new incoming revelation will have to contend. |
c. Xác định những trở ngại, cản trở và ý tưởng định kiến mà sự mặc khải mới đang đi vào sẽ phải đối mặt. |
|
2. The fact of the Presence. This Presence is the impelling force behind all revelation and is in reality God Immanent, striving ever for recognition and Itself impelled thereto by the fact of God Transcendent. |
2. Thực tế về Hiện Diện. Hiện Diện này là mãnh lực thúc đẩy đằng sau mọi sự mặc khải, và thực ra là Thượng đế Nội Tại, luôn nỗ lực để được nhận biết, và chính Ngài được thúc đẩy hướng đến điều đó bởi thực tế về Thượng đế Siêu Việt. |
|
3. The influence of the Angel, who is the individualised seed of consciousness through whom, after due growth and response of the personal lower self, will come the revelation of the Presence. All true revelation is concerned with the unfolding glory of divinity in some field of expression, thereby testifying to the latent hidden Presence. |
3. Ảnh hưởng của Thiên Thần, là hạt giống tâm thức đã biệt ngã hóa, mà qua đó, sau khi phàm ngã cá nhân tăng trưởng và đáp ứng đúng mức, sự mặc khải về Hiện Diện sẽ đến. Mọi sự mặc khải chân thực đều liên quan đến vinh quang đang khai mở của thiên tính trong một lĩnh vực biểu hiện nào đó, qua đó làm chứng cho Hiện Diện tiềm ẩn. |
|
4. The reaction of the intuitives throughout the world to that revelation and the form in which they present it to the world thinkers. These latter are ever the first to appreciate and appropriate the new truth. The intuitives present the next phase of truth in a relatively pure form even though at the time of presentation it may be symbolically veiled. [177] |
4. Phản ứng của những người có trực giác trên khắp thế giới đối với sự mặc khải ấy và hình thức mà họ dùng để trình bày nó cho các nhà tư tưởng trên thế giới. Những nhà tư tưởng này luôn là những người đầu tiên nhận biết giá trị và tiếp nhận chân lý mới. Những người có trực giác trình bày giai đoạn tiếp theo của chân lý dưới một hình thức tương đối thuần khiết, dù vào lúc trình bày, nó có thể được che phủ bằng biểu tượng. [177] |
|
5. The response of the thinking world to the presented truth. It is at this point that illusion appears and misinterpretation and misrepresentation take place. These untrue interpretations of revealed truth, when they have lasted long enough and have acquired momentum, add to the general illusion and become part of it and thus feed and are fed by the world illusion. This is the built-up illusory form of thought, developed down the ages, which controls so much of the mass belief. When the revelation reaches this stage, the mass of men become involved; they recognise the illusion as the truth; they regard this illusion as reality; they fail to grasp the significance of the veiled, symbolically presented revelation but confuse it with the illusory presentation, and thus the intuitively perceived revelation becomes a distorted, twisted doctrine. |
5. Đáp ứng của giới tư tưởng đối với chân lý được trình bày. Chính tại điểm này, ảo tưởng xuất hiện và sự diễn giải sai cùng trình bày sai diễn ra. Những cách diễn giải không đúng này về chân lý được mặc khải, khi đã tồn tại đủ lâu và có được đà phát triển, sẽ góp thêm vào ảo tưởng chung và trở thành một phần của nó, do đó vừa nuôi dưỡng vừa được ảo tưởng thế giới nuôi dưỡng. Đây là hình tướng tư tưởng mang tính ảo tưởng được tích lũy, phát triển qua các thời đại, chi phối rất nhiều niềm tin của quần chúng. Khi sự mặc khải đạt đến giai đoạn này, đông đảo con người bị cuốn vào; họ nhận ảo tưởng là chân lý; họ xem ảo tưởng này là thực tại; họ không nắm bắt được thâm nghĩa của sự mặc khải được che phủ và trình bày bằng biểu tượng, mà nhầm lẫn nó với cách trình bày mang tính ảo tưởng, và như thế sự mặc khải được tri giác bằng trực giác trở thành một giáo thuyết méo mó, xuyên tạc. |
|
Theological interpretations and dogmas fall into this category and there ensues a re-enactment of the ancient drama of the blind leading the blind, to which Christ referred as He faced the theologians of His time. |
Những cách diễn giải thần học và các giáo điều thuộc loại này, và rồi diễn ra sự tái hiện vở kịch xưa về người mù dẫn dắt người mù, điều mà Đức Christ đã nói đến khi Ngài đối diện với các nhà thần học thời Ngài. |
|
The above statements are true of all revelation as it comes forth from the emanating centre of light, whether they concern so-called religious truth or scientific discoveries or the great standard of spiritual values whereby advanced humanity of both hemispheres seek to live and which, from time to time, move on a step in significance and in importance. |
Những phát biểu trên đúng với mọi sự mặc khải khi nó phát ra từ trung tâm phát xạ ánh sáng, dù chúng liên quan đến cái gọi là chân lý tôn giáo, hay các khám phá khoa học, hay chuẩn mực vĩ đại của các giá trị tinh thần mà nhân loại tiến bộ ở cả hai bán cầu tìm cách sống theo và thỉnh thoảng lại tiến thêm một bước về thâm nghĩa và tầm quan trọng. |
|
a. Intuition dispels Individual Illusion |
a. Trực giác xua tan Ảo tưởng Cá nhân |
|
Today we have reached a crisis in the field of human apprehension and can now enter into a new era wherein illusion can be dispelled and thinkers can begin to register accurately and without misapprehension that which the intuitives convey to them. This statement does not as yet apply to the [178] general public. It will be a long time before they will respond without illusion, because illusion is based upon the thoughtform-building activity of the lower mind. The masses are just beginning to use that lower mind and illusion is, therefore, for them a necessary stage of testing and training and one through which they must pass or they will lose much valuable experience, leaving undeveloped their powers of discrimination. This is a point which all teachers of occultism should have in mind. It is essential consequently that the masses are taught the significance of illusion and be trained to see and choose the kernel of pure truth in any presentation of truth with which they may be confronted. It is essential likewise that the world intuitives learn to use and control and understand the faculty of spiritual perception, of divine isolation and appropriate response which characterises the intuition. This they can do through the practice of the Technique of the Presence, but not as it is usually taught and presented. |
Ngày nay, chúng ta đã đi đến một cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực lĩnh hội của con người, và giờ đây có thể bước vào một kỷ nguyên mới, trong đó ảo tưởng có thể được xua tan và các nhà tư tưởng có thể bắt đầu ghi nhận chính xác, không hiểu sai những gì những người có trực giác truyền đạt cho họ. Phát biểu này chưa áp dụng cho [178] công chúng nói chung. Sẽ còn lâu nữa họ mới đáp ứng mà không có ảo tưởng, vì ảo tưởng dựa trên hoạt động kiến tạo hình tư tưởng của hạ trí. Quần chúng chỉ mới bắt đầu sử dụng hạ trí ấy, và do đó, đối với họ, ảo tưởng là một giai đoạn thử thách và huấn luyện cần thiết, một giai đoạn họ phải trải qua, nếu không họ sẽ mất nhiều kinh nghiệm quý giá, khiến các năng lực phân biện của họ không được phát triển. Đây là một điểm mà mọi huấn sư huyền bí học cần ghi nhớ. Vì vậy, điều thiết yếu là quần chúng được dạy về thâm nghĩa của ảo tưởng và được huấn luyện để nhìn thấy và chọn lấy cốt lõi chân lý thuần khiết trong bất kỳ cách trình bày chân lý nào mà họ có thể gặp. Tương tự, điều thiết yếu là những người có trực giác trên thế giới học cách sử dụng, kiểm soát và thấu hiểu năng lực tri giác tinh thần, sự cô lập thiêng liêng và đáp ứng thích hợp vốn là đặc trưng của trực giác. Họ có thể làm được điều này qua việc thực hành Kỹ Thuật của Hiện Diện, nhưng không phải theo cách kỹ thuật ấy thường được giảng dạy và trình bày. |
|
Perhaps I shall make my meaning clearer if I state that this technique falls into certain scientific lines or modes of work, for which much of the training given in schools of true meditation and in the Raja Yoga systems have prepared the aspirant. These stages begin where the usual formulas leave off, and pre-suppose facility in approach to the Angel or the soul, and an ability to raise the consciousness to a point of soul fusion. I will list the processes or stages as follows: |
Có lẽ Tôi sẽ làm rõ ý mình hơn nếu nói rằng kỹ thuật này tuân theo một số đường hướng hay phương thức hoạt động khoa học, mà phần lớn sự huấn luyện trong các trường tham thiền chân chính và trong các hệ thống Raja Yoga đã chuẩn bị cho người chí nguyện. Những giai đoạn này bắt đầu ở nơi các công thức thông thường kết thúc, và đòi hỏi sẵn có sự thuần thục trong việc tiếp cận Thiên Thần hay linh hồn, cùng khả năng nâng tâm thức đến một điểm dung hợp với linh hồn. Tôi sẽ liệt kê các tiến trình hay giai đoạn như sau: |
|
1. The evocation of the stage of tension. This is basic and essential. It is a tension brought about by complete control of the personal self so that it is “fitted for contact with the real.” |
1. Gợi lên giai đoạn tập trung nhất tâm. Đây là điều cơ bản và thiết yếu. Đó là sự tập trung nhất tâm do việc kiểm soát hoàn toàn bản ngã cá nhân tạo nên, để bản ngã ấy “thích hợp cho sự tiếp xúc với thực tại”. |
|
2. The achieving of a state of fusion with the soul or with the Angel which guards the approach to the Path of the Higher Evolution. [179] |
2. Đạt đến trạng thái dung hợp với linh hồn hay với Thiên Thần canh giữ lối vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. [179] |
|
3. The holding of the mind steady in the light of the soul, which remains the attitude of the lower self for the entire remaining period of work, held at the point of tension by the soul and not by an effort of the personality. The soul undertakes this holding when the personal self has done its utmost to achieve the desired tension. |
3. Giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng của linh hồn, một thái độ mà phàm ngã duy trì trong toàn bộ thời gian làm việc còn lại, được linh hồn giữ tại điểm tập trung nhất tâm chứ không phải nhờ nỗ lực của phàm ngã. Linh hồn đảm nhận việc duy trì này khi bản ngã cá nhân đã làm hết sức để đạt được sự tập trung nhất tâm mong muốn. |
|
These are the three preliminary steps for which the practice of alignment should have prepared the student of the higher mysteries. These steps must precede all effort to develop the intuition, and this may take several months (or even years) of careful preparation. Fire is the symbol of the mind and these are the first three stages of the Agni Yoga discipline or of the yoga of fire for which Raja Yoga has prepared the student. |
Đây là ba bước sơ bộ mà việc thực hành chỉnh hợp hẳn đã chuẩn bị cho đạo sinh nghiên cứu những huyền nhiệm cao hơn. Những bước này phải đi trước mọi nỗ lực phát triển trực giác, và điều này có thể cần vài tháng (hay thậm chí vài năm) chuẩn bị cẩn thận. Lửa là biểu tượng của thể trí, và đây là ba giai đoạn đầu tiên của phép tu luyện Agni Yoga, hay yoga của lửa, mà Raja Yoga đã chuẩn bị cho đạo sinh. |
|
Next come six more stages in the Technique, and these must be thoroughly understood and form the basis of prolonged brooding and intelligent reflection, carried on whilst the daily avocations and duties are being performed and not carried out at certain set times. The trained intuitive or disciple lives ever the dual life of mundane activity and of intense and simultaneous spiritual reflection. This will be the outstanding characteristic of the Western disciple in contradistinction to the Eastern disciple who escapes from life into the silent places and away from the pressures of daily living and constant contact with others. The task of the Western disciple is much harder, but that which he will prove to himself and to the world as a whole will be still higher. This is to be expected if the evolutionary process means anything. The Western races must move forward into spiritual supremacy, without obliterating the Eastern contribution, and the functioning of the Law of Rebirth holds the clue to this and demonstrates this necessity. The [180] tide of life moves from East to West as moves the sun, and those who in past centuries struck the note of Eastern mysticism must strike and are now striking the note of Western occultism. Therefore, the following stages must follow upon the three earlier. We will continue with the numbering as given, for what I here suggest is a formula for a more advanced meditation attitude. I said not form. |
Tiếp theo là sáu giai đoạn nữa trong Kỹ Thuật, và cần thấu hiểu chúng một cách thấu đáo, lấy chúng làm nền tảng cho sự suy ngẫm lâu dài và tư duy sáng suốt, tiến hành trong khi thực hiện các công việc và bổn phận hằng ngày chứ không phải vào những thời điểm cố định nào đó. Người có trực giác đã được huấn luyện hay người đệ tử luôn sống đời sống kép, vừa hoạt động trần thế vừa suy tư tinh thần mãnh liệt và đồng thời. Đây sẽ là đặc điểm nổi bật của người đệ tử phương Tây, tương phản với người đệ tử phương Đông, vốn rời bỏ đời sống để đến những nơi tĩnh lặng, tránh xa các áp lực của đời sống hằng ngày và sự tiếp xúc không ngừng với người khác. Nhiệm vụ của người đệ tử phương Tây khó khăn hơn nhiều, nhưng điều y sẽ chứng minh cho chính mình và cho toàn thể thế giới sẽ còn cao hơn nữa. Đây là điều có thể kỳ vọng nếu tiến trình tiến hoá thực sự có ý nghĩa. Các dân tộc phương Tây phải tiến lên vị thế ưu việt về tinh thần mà không xóa bỏ sự đóng góp của phương Đông , và sự vận hành của Định luật Tái Sinh nắm giữ manh mối cho điều này, đồng thời chứng minh tính tất yếu của nó. [180] Dòng sự sống chuyển từ Đông sang Tây như mặt trời chuyển động, và những ai trong các thế kỷ trước đã xướng âm điệu của Thần bí học phương Đông phải xướng, và hiện đang xướng, âm điệu của huyền bí học phương Tây. Do đó, những giai đoạn sau đây phải tiếp nối ba giai đoạn trước. Chúng ta sẽ tiếp tục cách đánh số đã dùng, vì điều Tôi đề nghị ở đây là một công thức cho thái độ tham thiền tiến bộ hơn. Tôi không nói là hình thức. |
|
4. Definite and sustained effort to sense the Presence throughout the Universe in all forms and in all presentations of truth. This could be expressed in the words: “the effort to isolate the germ or seed of divinity which has brought all forms into being.” I would point out that this is not the attainment of a loving attitude and a sentimental approach to all people and circumstances. That is the mystical way and though not intended to be negated in the disciple’s life, is not used at this time in the process of effective approach. It is the effort primarily to see in the light which the Angel radiates the point of light behind all phenomenal appearances. This is, therefore, the transference of the mystical vision to the higher levels of awareness. It is not the vision of the soul but the vision or the spiritual sensing of that which the light of the soul can aid in revealing. The flickering soul light in the personal self has enabled the disciple to see the vision of the soul and in that light to reach union with the soul, even if only temporarily. Now the greater light of the soul becomes focussed like a radiant sun and it reveals in its turn a still more stupendous vision—that of the Presence, of which the Angel is the guarantee and promise. As the light of the Moon is the guarantee that the light of the Sun exists, so the light of the Sun is the guarantee, did you but know it, of a still greater light. [181] |
4. Nỗ lực rõ ràng và bền bỉ để cảm nhận Hiện Diện khắp Vũ Trụ, trong mọi hình tướng và trong mọi cách trình bày chân lý. Có thể diễn đạt điều này bằng những lời sau: “nỗ lực tách riêng mầm hay hạt giống thiên tính đã đưa mọi hình tướng vào hiện tồn.” Tôi muốn chỉ ra rằng đây không phải là việc đạt được một thái độ yêu thương và một cách tiếp cận đầy tình cảm đối với mọi người và mọi hoàn cảnh. Đó là con đường thần bí; tuy không có ý loại bỏ con đường ấy khỏi đời sống của đệ tử, nhưng vào lúc này, người ta không dùng nó trong tiến trình tiếp cận hữu hiệu. Trước hết, đây là nỗ lực nhìn thấy trong ánh sáng mà Thiên Thần tỏa ra điểm ánh sáng phía sau mọi biểu hiện của hiện tượng. Vì vậy, đây là sự chuyển dịch linh ảnh thần bí lên những cấp độ nhận biết cao hơn. Đó không phải là linh ảnh về linh hồn, mà là linh thị hay sự cảm nhận tinh thần về điều mà ánh sáng của linh hồn có thể giúp hé lộ. Ánh sáng linh hồn chập chờn trong phàm ngã đã giúp đệ tử thấy được linh ảnh về linh hồn và, trong ánh sáng ấy, đạt đến sự hợp nhất với linh hồn, dù chỉ tạm thời. Giờ đây, ánh sáng lớn hơn của linh hồn tập trung như một mặt trời rực rỡ và đến lượt nó hé lộ một linh ảnh còn kỳ vĩ hơn nữa—linh ảnh về Hiện Diện, mà Thiên Thần là sự bảo chứng và lời hứa hẹn. Cũng như ánh sáng của Mặt Trăng bảo chứng rằng ánh sáng của Mặt Trời hiện hữu, ánh sáng của Mặt Trời cũng bảo chứng—giá như các bạn biết được điều ấy—cho một ánh sáng còn lớn hơn nữa. [181] |
|
5. Then, having sensed the Presence—not theoretically but in vibrating response to its Existence—there next comes the stage of the ascertaining of the Purpose. Hope of identification with the purpose lies too far ahead even for the average initiate, under the status of Master. With that unattainable stage (for us) we are not concerned. But we are concerned with the effort to achieve an understanding of that which through the medium of form is seeking to embody the high purpose at any particular point in the evolutionary cycle. This is possible and has been achieved down the ages by those who have rightly approached and duly reflected upon the Way of the Higher Evolution. This Way is revealed to the disciple, e’en though it may not concern the intuitive message which he may bring back from his high adventure. |
5. Sau đó, khi đã cảm nhận Hiện Diện—không phải trên lý thuyết mà bằng sự đáp ứng rung động trước sự Hiện Hữu của Hiện Diện—giai đoạn tiếp theo là xác định Mục Đích. Hy vọng đồng hoá với mục đích còn ở quá xa phía trước, ngay cả đối với điểm đạo đồ thông thường chưa đạt cấp bậc Chân sư. Chúng ta không bàn đến giai đoạn ấy, vốn chưa thể đạt tới đối với chúng ta. Nhưng chúng ta quan tâm đến nỗ lực đạt được sự thấu hiểu về điều đang tìm cách thể hiện mục đích cao cả qua trung gian hình tướng, tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào trong chu kỳ tiến hoá. Điều này là khả thi, và qua các thời đại, những người đã tiếp cận đúng đắn và suy ngẫm thích đáng về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu đã đạt được điều đó. Con Đường này hiển lộ với đệ tử, dù có thể nó không liên quan đến thông điệp trực giác mà y mang về từ cuộc phiêu lưu cao siêu của mình. |
|
6. He then carries some world problem, some design which his mind has evolved or his heart desired for the helping of humanity into what is esoterically called “the triple light of the intuition.” This light is formed by the blending of the light of the personal self, focussed in the mind, the light of the soul, focussed in the Angel, and the universal light which the Presence emits; this, when done with facility through concentration and long practice, will produce two results: |
6. Khi ấy, y đưa một vấn đề nào đó của thế giới, một dự định nào đó mà thể trí y đã hình thành hoặc trái tim y mong muốn nhằm giúp đỡ nhân loại, vào điều mà theo cách gọi huyền bí là “ánh sáng tam phân của trực giác.” Ánh sáng này hình thành từ sự hòa trộn ánh sáng của phàm ngã, tập trung trong thể trí, ánh sáng của linh hồn, tập trung trong Thiên Thần, và ánh sáng vũ trụ do Hiện Diện phát ra; khi sự hòa trộn này được thực hiện thuần thục nhờ tập trung và thực hành lâu dài, nó sẽ tạo ra hai kết quả: |
|
a. There will suddenly dawn upon the disciple’s waiting mind (which still remains the agent of reception) the answer to his problem, the clue to what is needed to bring relief to humanity, the information desired which, when applied, will unlock some door in the realm of science, psychology or religion. This door, when opened, will bring relief or release to many. As before I have told you, the intuition is never concerned [182] with individual problems or enquiries, as so many self-centred aspirants think. It is purely impersonal and only applicable to humanity in a synthetic sense. |
a. Trong thể trí đang chờ đợi của đệ tử—vẫn giữ vai trò tác nhân tiếp nhận—sẽ đột nhiên lóe sáng câu trả lời cho vấn đề của y, manh mối về điều cần thiết để làm vơi nỗi khổ của nhân loại, thông tin mong muốn mà khi áp dụng sẽ mở một cánh cửa nào đó trong lĩnh vực khoa học, tâm lý học hay tôn giáo. Khi mở ra, cánh cửa này sẽ mang lại sự nhẹ nhõm hoặc giải thoát cho nhiều người. Như Tôi đã nói với các bạn trước đây, trực giác không bao giờ liên quan [182] đến các vấn đề hay câu hỏi của cá nhân, như rất nhiều người chí nguyện tập trung vào bản thân vẫn nghĩ. Trực giác hoàn toàn phi cá nhân và chỉ áp dụng cho nhân loại theo nghĩa tổng hợp. |
|
b. The “intruding agent of light” (as the Old Commentary calls these adventuring intuitives) is recognised as one to whom can be entrusted some revelation, some new impartation of truth, some significant expansion from a seed of truth already given to the race. He then sees a vision, hears a voice, registers a message, or—highest form of all—he becomes a channel of power and light to the world, a conscious Embodiment of divinity, or a Custodian of a divine principle. These forms constitute true revelation, imparted or embodied; they are still rare but will increasingly be developed in humanity. |
b. “Tác nhân ánh sáng thâm nhập” (như Cổ Luận gọi những người có trực giác dấn thân vào cuộc phiêu lưu này) được nhìn nhận là người có thể được giao phó một sự mặc khải nào đó, một sự truyền đạt chân lý mới nào đó, một sự mở rộng quan trọng từ một hạt giống chân lý đã trao cho nhân loại. Khi ấy, y thấy một linh ảnh, nghe một tiếng nói, ghi nhận một thông điệp, hoặc—hình thức cao nhất trong tất cả—trở thành một kênh truyền quyền năng và ánh sáng đến thế giới, một Hiện Thân hữu thức của thiên tính, hoặc một Người Gìn Giữ một nguyên khí thiêng liêng. Những hình thức này cấu thành sự mặc khải chân chính, được truyền đạt hoặc được thể hiện; chúng vẫn còn hiếm, nhưng sẽ ngày càng phát triển trong nhân loại. |
|
7. The next few stages are called, in preparation for the revelation: |
7. Một vài giai đoạn tiếp theo, nhằm chuẩn bị cho sự mặc khải, được gọi là: |
|
a. The relinquishing of the Higher Way. |
a. Rời bỏ Con Đường Cao Siêu. |
|
b. The return to the Angel, or a refocussing in the soul. |
b. Trở về với Thiên Thần, hay tái tập trung trong linh hồn. |
|
c. A pause or interlude for constructive thinking, under the influence of the Angel. |
c. Một khoảng dừng hay khoảng chuyển tiếp để tư duy mang tính xây dựng, dưới ảnh hưởng của Thiên Thần. |
|
d. The turning of the mind to the formulation of those forms of thought which must embody the revelation. |
d. Hướng thể trí vào việc tạo lập những hình tư tưởng phải thể hiện sự mặc khải. |
|
e. Then again a pause which is called “the pause preceding presentation.” |
e. Rồi lại một khoảng dừng, gọi là “khoảng dừng trước khi trình bày.” |
|
8. Tiếp theo là việc trình bày sự mặc khải hay chân lý đã được truyền đạt, cùng sự ngưng tụ của nó vào thế giới ảo tưởng. Trong thế giới ảo tưởng ấy, nó trải qua “thử thách bằng lửa”, trong đó “một phần lửa bên trong điều được mặc khải cất cánh trở về nguồn mà nó đã xuất phát; một phần dùng để hủy diệt người mặc khải, [183] và một phần để thiêu đốt những người nhận ra sự mặc khải.” Đây là một giai đoạn của pháp tu hợp nhất bằng Lửa mà, như các bạn có thể thấy, chỉ dành cho những người có thể xuyên qua bên kia Thiên Thần để vào nơi “lửa ngự”, và nơi Thượng đế, Hiện Diện, hoạt động như một ngọn lửa thiêu rụi và chờ đợi giờ phút mặc khải toàn vẹn. Đây là cách diễn đạt bằng biểu tượng một chân lý vĩ đại. Trong trường hợp của từng điểm đạo đồ, lần điểm đạo thứ ba, cuộc Biến hình, đánh dấu sự hoàn tất của tiến trình. Khi ấy, chỉ vinh quang hiện ra: chỉ tiếng nói của Hiện Diện vang lên, và sự hợp nhất với quá khứ, hiện tại và tương lai được đạt tới. |
|
|
9. The succumbing of the revelation to the prevailing illusion, its descent into the world of glamour, and its subsequent disappearance as a revelation and its emergence as a doctrine. But, in the meantime, humanity has been helped and led forward; the intuitives continue to work and the inflow of that which is to be revealed never ceases. |
9. Sự mặc khải khuất phục trước ảo tưởng đang thịnh hành, đi xuống thế giới ảo cảm, rồi sau đó biến mất với tư cách một sự mặc khải và xuất hiện như một giáo lý. Nhưng trong thời gian ấy, nhân loại đã nhận được sự trợ giúp và dẫn dắt tiến lên; những người có trực giác tiếp tục hoạt động, và dòng tuôn vào của điều sẽ được mặc khải không bao giờ ngừng. |
|
This basic technique underlies both primary and secondary revelations. In the case of the first, the time cycle is long; in the second, the time cycle is short. A very good instance of this process is demonstrated by one of the secondary points of revelation in connection with the teaching which emanated from the Hierarchy (the Custodian of secondary revelations, as Shamballa is of primary) fifty years ago and which took the form of The Secret Doctrine. H.P.B. was the “penetrating, sensing, appropriating intuitive.” The revelation she conveyed followed the accustomed routine of all secondary revelation from the Source to the outer plane. There the minds of men, veiled by illusion and clouded by glamour, formulated it into an inelastic doctrine, recognising no further revelation and holding steadily—many of the theosophical groups—that The Secret Doctrine was a final [184] revelation and that naught must be recognised but that book and naught deemed correct but their interpretations of that book. If they are correct, then evolutionary revelation is ended and the plight of humanity is hard indeed. |
Kỹ thuật căn bản này là nền tảng của cả những sự mặc khải sơ cấp lẫn thứ cấp. Trong trường hợp thứ nhất, chu kỳ thời gian dài; trong trường hợp thứ hai, chu kỳ thời gian ngắn. Một minh họa rất rõ cho tiến trình này là một trong những điểm mặc khải thứ cấp liên quan đến giáo huấn phát ra từ Thánh đoàn (Đấng Gìn Giữ những sự mặc khải thứ cấp, cũng như Shamballa gìn giữ những sự mặc khải sơ cấp) cách đây năm mươi năm và mang hình thức Giáo Lý Bí Nhiệm. H.P.B. là “người có trực giác xuyên thấu, cảm nhận và tiếp nhận.” Sự mặc khải mà Bà truyền đạt đi theo trình tự quen thuộc của mọi sự mặc khải thứ cấp, từ Nguồn đến cõi bên ngoài. Tại đó, thể trí của con người, bị ảo tưởng che phủ và ảo cảm làm mờ, đã định hình nó thành một giáo lý cứng nhắc, không thừa nhận sự mặc khải nào thêm nữa; nhiều nhóm Thông Thiên Học vẫn kiên trì khẳng định rằng Giáo Lý Bí Nhiệm là một sự mặc khải cuối cùng [184] và không được thừa nhận điều gì ngoài cuốn sách ấy, cũng không được xem điều gì là đúng ngoài những cách diễn giải của họ về cuốn sách ấy. Nếu họ đúng, thì sự mặc khải trong tiến hoá đã chấm dứt, và tình cảnh của nhân loại quả thật khốn khó. |
|
Even the neophyte upon the way of the intuition can begin to develop in himself the power to recognise that which the lower mind cannot give him. Some thought of revealing potency, to be used for the helping of the many, may drop into his mind; some new light upon an old, old truth may penetrate, releasing the truth from the trammels of orthodoxy, thus illumining his consciousness. This he must use for all and not for himself alone. Little by little, he learns the way into the world of the intuition; day by day, and year by year, he becomes more sensitive to divine Ideas and more apt in appropriating them wisely for the use of his fellowmen. |
Ngay cả người sơ cơ trên con đường trực giác cũng có thể bắt đầu phát triển trong mình khả năng nhận ra điều mà hạ trí không thể mang lại cho y. Một tư tưởng nào đó có sức mạnh mặc khải, để dùng vào việc giúp đỡ nhiều người, có thể đi vào thể trí y; một ánh sáng mới nào đó soi lên một chân lý rất lâu đời có thể xuyên vào, giải phóng chân lý khỏi những ràng buộc của giáo điều chính thống, nhờ đó soi sáng tâm thức y. Y phải dùng điều này cho tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng mình. Từng chút một, y học con đường đi vào thế giới trực giác; ngày qua ngày, năm qua năm, y trở nên nhạy cảm hơn với các Ý Tưởng thiêng liêng và khéo léo hơn trong việc tiếp nhận chúng một cách minh triết để phục vụ đồng loại. |
|
Hy vọng của thế giới và việc xua tan ảo tưởng nằm ở sự phát triển những người có trực giác và việc huấn luyện họ một cách hữu thức. Có nhiều người có trực giác tự nhiên mà công việc là sự hòa trộn giữa năng lực thông linh cao cấp và những tia lóe của trực giác chân chính. Cần huấn luyện người có trực giác chính xác. Song song với sự đáp ứng trực giác của họ và nỗ lực ngưng tụ trực giác ấy vào thế giới tư tưởng của nhân loại, cũng phải có sự phát triển bền bỉ của trí tuệ con người để nó có thể nắm bắt và lĩnh hội điều được phóng chiếu; chính trong điều này cũng có hy vọng của nhân loại. |
|
|
b. Group Intuition dispels World Illusion |
b. Trực giác nhóm xua tan Ảo tưởng Thế giới |
|
Today the world is full of illusions, many of them veiled under the form of idealisms; it is full of wishful thinking and planning, and even though much of this is rightly oriented and expresses the fixed determination of the intelligentsia to create better living conditions for the entire population [185] of the world, the question arises: Is there in the sum total of this wishful thinking enough of the essential dynamic livingness which will carry it down into physical demonstration and factual expression and thus truly meet human need? I would point out that the two greatest revealing Agents Who have ever come to Earth within the range of modern history made the following simple revelations to humanity: |
Ngày nay, thế giới đầy những ảo tưởng, nhiều ảo tưởng ẩn dưới hình thức các chủ nghĩa lý tưởng; thế giới đầy những tư tưởng và kế hoạch theo ước muốn, và dù phần lớn trong số đó có định hướng đúng đắn và biểu lộ quyết tâm kiên định của giới trí thức nhằm tạo ra những điều kiện sống tốt hơn cho toàn thể dân cư [185] thế giới, câu hỏi vẫn đặt ra: Trong tổng thể những tư tưởng theo ước muốn này, có đủ sức sống năng động thiết yếu để đưa chúng xuống thành sự thể hiện trên cõi hồng trần và biểu hiện thực tế, nhờ đó thật sự đáp ứng nhu cầu của con người hay không? Tôi muốn chỉ ra rằng hai Đấng Mặc Khải vĩ đại nhất từng đến Trái Đất trong phạm vi lịch sử hiện đại đã ban cho nhân loại những sự mặc khải đơn giản sau đây: |
|
1. The cause of all human suffering is desire and personal selfishness. Give up desire and you will be free. |
1. Nguyên nhân của mọi đau khổ nơi con người là dục vọng và sự ích kỷ cá nhân. Hãy từ bỏ dục vọng, các bạn sẽ được tự do. |
|
2. There is a way of liberation and it leads to illumination. |
2. Có một con đường giải thoát, và con đường ấy dẫn đến sự soi sáng. |
|
3. It profits a man nothing to gain the whole world and lose his soul. |
3. Một người được cả thế giới mà mất linh hồn mình thì chẳng ích gì. |
|
4. Every human being is a Son of God. |
4. Mỗi con người đều là một Con của Thượng đế. |
|
5. There is a way of liberation and it is the way of love and sacrifice. |
5. Có một con đường giải thoát, và đó là con đường tình thương và hi sinh. |
|
The lives of these Revealers were symbolic representations of that which They taught, and the rest of Their teaching but an extension of Their central themes. Their contribution was an integral part of the general revelation of the ages which has led men from the primitive state of human existence to the complex state of modern civilisation. This general revelation can be called the Revelation of the Path which leads out of form to the Centre of all life; the purity of this revelation has been preserved down the ages by a small handful of disciples, initiates and true esotericists who have always been present upon the Earth—defending the simplicity of that teaching, seeking for those who could respond to and recognise the germ or seed of truth, and training men to take Their place and to tread the way of intuitive perception. One of the major tasks of the Hierarchy is to seek for and find those who are sensitive to revelation [186] and whose minds are trained so that they can formulate the emerging truths in such a way that they reach the ears of the world thinkers, relatively unchanged. All revelation, however, when put into words and word forms, loses something of its divine clarity. |
Cuộc đời của các Đấng Mặc Khải này là những biểu hiện mang tính biểu tượng của điều Các Ngài giảng dạy, và phần giáo huấn còn lại của Các Ngài chỉ là sự mở rộng những chủ đề trung tâm ấy. Đóng góp của Các Ngài là một phần không thể tách rời của sự mặc khải chung qua các thời đại, vốn đã dẫn con người từ trạng thái hiện tồn nguyên thủy của nhân loại đến trạng thái phức tạp của nền văn minh hiện đại. Có thể gọi sự mặc khải chung này là Sự Mặc Khải về Đường Đạo dẫn ra khỏi hình tướng đến Trung Tâm của mọi sự sống; sự thuần khiết của sự mặc khải này đã được gìn giữ qua các thời đại nhờ một nhóm nhỏ đệ tử, điểm đạo đồ và các nhà bí truyền học chân chính luôn hiện diện trên Trái Đất—bảo vệ tính đơn giản của giáo huấn ấy, tìm kiếm những người có thể đáp ứng và nhận ra mầm hay hạt giống chân lý, và huấn luyện con người để thay thế Các Ngài và bước trên con đường tri giác trực giác. Một trong những nhiệm vụ lớn của Thánh đoàn là tìm kiếm và tìm ra những người nhạy cảm với sự mặc khải [186] và có thể trí đã được huấn luyện, để họ có thể diễn đạt những chân lý đang xuất hiện sao cho chúng đến được tai những nhà tư tưởng của thế giới mà tương đối không bị biến đổi. Tuy nhiên, mọi sự mặc khải, khi đưa vào ngôn từ và các hình thức ngôn từ, đều mất đi phần nào sự sáng rõ thiêng liêng. |
|
Phần lớn sự mặc khải trong quá khứ đã đến theo con đường của xung lực tôn giáo; khi ảo tưởng ngày càng sâu đậm và lớn mạnh theo thời gian, tính đơn giản ban đầu—như các Đấng Mặc Khải đã truyền đạt—đã mất đi. Mọi sự mặc khải căn bản đều được trình bày dưới những hình thức đơn giản nhất. Lớp bồi đắp này tiếp nối lớp bồi đắp khác đã len vào; thể trí con người làm giáo huấn trở nên phức tạp qua những luận giải trí tuệ, cho đến khi hình thành các hệ thống thần học lớn mà chúng ta gọi, chẳng hạn, là Giáo hội Kitô giáo và hệ thống Phật giáo. Các Đấng Sáng Lập sẽ rất khó nhận ra hai hoặc ba sự kiện hay chân lý căn bản và thiêng liêng mà Các Ngài tìm cách mặc khải và nhấn mạnh, vì lớp áo ảo tưởng phủ lên những lời tuyên bố đơn giản của Đức Christ và Đức Phật quá dày. Những thánh đường đồ sộ và các nghi lễ phô trương của giới chính thống cách xa lối sống khiêm nhường của Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư và Huấn sư của cả thiên thần lẫn con người, cũng như cách xa sự đơn giản trong lối sống hiện nay của Ngài, khi Ngài dõi theo và chờ đợi những người thuộc về Ngài trở lại con đường đơn giản của sự chứng nghiệm tinh thần. |
|
|
So great has been the illusion that in the West today men talk of the “temporal power of the Catholic Church”; the Protestant Churches are split up into warring factions; the Christian Science Church is known for its ability to amass money and to teach its adherents to do so and to achieve temporary good health; the Greek Orthodox Church was corrupt throughout, and only the simple faith of the uncultured and the poor has preserved any semblance of the truth in its original simple form. They have no ability for [187] high sounding theological discussions, but they do believe that God is love—just simply that—that there is a way which leads to peace and light, and that if they deny their own material desires they are pleasing God. I am, I know, widely generalising, brother of mine, for I do know also that there are wise and good Christians and churchmen within the theological systems; these, however, spend not their time in theological discussions but in loving their fellowmen, and this they do because they love Christ and all for which He stands. They are not interested in building great churches of stone and marble and in gathering together the money needed for their support; they are interested to gather out those who form the true Church upon the inner spiritual plane and in helping them to walk in the light. |
Ảo tưởng đã lớn đến mức ngày nay ở phương Tây, người ta nói về “quyền lực thế tục của Giáo hội Công giáo”; các Giáo hội Tin Lành chia rẽ thành những phe phái xung đột; Giáo hội Khoa học Kitô giáo nổi tiếng về khả năng tích lũy tiền bạc và dạy tín đồ làm như vậy, cũng như đạt được sức khỏe tốt trong một thời gian; Giáo hội Chính thống Hy Lạp đã từng hoàn toàn suy đồi, và chỉ đức tin đơn giản của những người thiếu học và nghèo khổ mới gìn giữ được chút dáng dấp của chân lý trong hình thức đơn giản ban đầu. Họ không có khả năng tham gia [187] những cuộc thảo luận thần học với lời lẽ cao siêu, nhưng họ tin rằng Thượng đế là tình thương—chỉ đơn giản như vậy—rằng có một con đường dẫn đến bình an và ánh sáng, và rằng nếu từ bỏ những dục vọng vật chất của mình thì họ làm đẹp lòng Thượng đế. Huynh đệ của tôi, Tôi biết rằng Tôi đang khái quát rất rộng, vì Tôi cũng biết rằng trong các hệ thống thần học có những tín đồ Kitô giáo và giáo sĩ minh triết, tốt lành; tuy nhiên, những người này không dành thời gian cho các cuộc thảo luận thần học mà dành cho việc yêu thương đồng loại, và họ làm điều đó vì họ yêu Đức Christ cùng tất cả những gì Ngài đại diện. Họ không quan tâm đến việc xây dựng những nhà thờ lớn bằng đá và cẩm thạch, hay gom góp tiền bạc cần thiết để duy trì chúng; họ quan tâm đến việc quy tụ những người hợp thành Giáo Hội chân chính trên cõi tinh thần bên trong và giúp họ bước đi trong ánh sáng. |
|
The illusion of power, the illusion of superiority, taints them not. After the world crisis is over, Churchmen everywhere will not rest until they can discover how to penetrate through the illusion of doctrine and dogma which engulfs them, and find their way back to Christ and His simple message which has in it the power to save the world, if recognised and practised. |
Ảo tưởng về quyền lực, ảo tưởng về sự ưu việt không làm họ hoen ố. Sau khi cuộc khủng hoảng thế giới kết thúc, các giáo sĩ khắp nơi sẽ không ngừng nỗ lực cho đến khi khám phá được cách xuyên qua ảo tưởng về giáo lý và giáo điều đang nhấn chìm họ, rồi tìm đường trở về với Đức Christ và thông điệp đơn giản của Ngài, vốn có quyền năng cứu thế giới nếu được nhận ra và thực hành. |
|
Much of the true revelation since the time of Christ has come to the world along the line of science. The presentation, for instance, of material substance (scientifically proven) as essentially only a form of energy was as great a revelation as any given by the Christ or the Buddha. It completely revolutionised men’s thinking and was—little as you may think it—a major blow struck at the Great Illusion. It related energy to force, form to life, and man to God and held the secret of transformation, transmutation and transfiguration. The revelations of science when basic and fundamental are as divine as those of religion, but both have been prostituted to meet human demand. The era is [188] close at hand when science will bend every effort to heal humanity’s sores and build a better and happier world. |
Phần lớn sự mặc khải chân chính kể từ thời Đức Christ đã đến với thế giới theo con đường khoa học. Chẳng hạn, việc trình bày chất liệu vật chất—đã được khoa học chứng minh—rằng về bản chất nó chỉ là một hình thức năng lượng, là một sự mặc khải vĩ đại không kém bất kỳ sự mặc khải nào do Đức Christ hay Đức Phật ban ra. Nó đã hoàn toàn cách mạng hóa tư duy con người và—dù các bạn có thể ít nghĩ như vậy—là một đòn mạnh giáng vào Ảo Tưởng Lớn. Nó liên kết năng lượng với mãnh lực, hình tướng với sự sống, con người với Thượng đế, và chứa đựng bí mật của sự chuyển đổi, chuyển hoá và biến hình. Những sự mặc khải của khoa học, khi mang tính căn bản và nền tảng, cũng thiêng liêng như những sự mặc khải của tôn giáo, nhưng cả hai đều đã bị sử dụng sai lệch để đáp ứng đòi hỏi của con người. Thời đại ấy đang [188] đến gần, khi khoa học sẽ dốc mọi nỗ lực để chữa lành những vết thương của nhân loại và xây dựng một thế giới tốt đẹp, hạnh phúc hơn. |
|
The revelations of science, though focussed often through one man or woman, are more specifically the result of group endeavour and of trained group activity than are the revelations of religion, so called. Revelation, therefore, comes in two ways: |
Những sự mặc khải của khoa học, dù thường tập trung qua một người nam hay nữ, là kết quả của nỗ lực nhóm và hoạt động nhóm đã được huấn luyện rõ rệt hơn so với những sự mặc khải của cái gọi là tôn giáo. Vì vậy, sự mặc khải đến theo hai cách: |
|
1. Through the effort, aspiration and achievement of one man who is so close to the Hierarchy and so imbued with conscious divinity that he can receive the message direct from the central divine Source. He has joined the ranks of the Great Intuitives and works freely in the world of divine Ideas. He knows His mission clearly; He chooses His sphere of activity with deliberation and isolates the truth or truths which He deems appropriate to the need of the time. He comes forth as a Messenger of the Most High, leads a dramatic and arresting life of service and symbolises in His life-events certain basic truths which have already been revealed but which He pictorially re-enacts. He epitomises in Himself the revelations of the past, and to them adds His Own contribution of the new revelation which it is His specific function to present to the world. |
1. Qua nỗ lực, khát vọng và thành tựu của một người gần gũi với Thánh đoàn đến mức, và thấm nhuần thiên tính hữu thức đến mức, có thể nhận thông điệp trực tiếp từ Nguồn thiêng liêng trung tâm. Ngài đã gia nhập hàng ngũ những Đấng Trực Giác Vĩ Đại và hoạt động tự do trong thế giới các Ý Tưởng thiêng liêng. Ngài biết rõ sứ mệnh của mình; Ngài cân nhắc lựa chọn phạm vi hoạt động và tách riêng chân lý hay những chân lý mà Ngài xem là phù hợp với nhu cầu của thời đại. Ngài xuất hiện như một Sứ Giả của Đấng Tối Cao, sống một cuộc đời phụng sự đầy kịch tính và thu hút sự chú ý, và qua những sự kiện trong đời mình, Ngài biểu tượng hóa một số chân lý căn bản đã được mặc khải nhưng được Ngài tái hiện một cách sinh động. Ngài kết tinh trong chính mình những sự mặc khải của quá khứ, rồi bổ sung vào đó đóng góp riêng của Ngài về sự mặc khải mới mà chức năng đặc thù của Ngài là trình bày với thế giới. |
|
2. Through the effort of a group of seekers, such as the scientific investigators in every country, who together are searching for light on the problems of manifestation or for some means to alleviate human suffering, a revelation comes. The effort of such a group often lifts upon the wings of its unrealised aspiration some one man who can then penetrate into the world of divine Ideas and there find the longed for cure or key and thus he intuitively discovers a long sought secret. The discovery, [189] when of the first rank, is as much a revelation as the truths presented by the World Teachers. Who shall say that the statement that God is Love is of more value than the statement that All is Energy? |
2. Qua nỗ lực của một nhóm người tìm kiếm, chẳng hạn các nhà nghiên cứu khoa học ở mọi quốc gia, những người cùng nhau tìm ánh sáng soi rõ các vấn đề của sự biểu hiện hay một phương tiện nào đó để làm vơi đau khổ của con người, một sự mặc khải xuất hiện. Nỗ lực của một nhóm như vậy thường nâng một người nào đó lên trên đôi cánh khát vọng mà chính nhóm chưa nhận biết; khi ấy, người này có thể thâm nhập thế giới các Ý Tưởng thiêng liêng và tìm thấy ở đó phương thuốc hay chìa khóa hằng mong mỏi, nhờ đó khám phá bằng trực giác một bí mật đã tìm kiếm từ lâu. Khám phá ấy, [189] khi thuộc hàng cao nhất, cũng là một sự mặc khải như những chân lý do các Đức Chưởng Giáo trình bày. Ai có thể nói rằng lời khẳng định Thượng đế là Tình Thương có giá trị hơn lời khẳng định Tất Cả đều là Năng Lượng? |
|
The route which the revelation then follows is the same in both cases, and illusion overtakes both forms of revelation but—and here is a point upon which I would ask you to reflect—there is a little less illusion gathered around the revelations of science than has gathered around the revelations of what humanity calls the more definitely spiritual truths. One reason lies in the fact that the last great spiritual revelation, given by the Christ, was given two thousand years ago, and the development of man’s mind and his responsiveness to truth has grown greatly since that time. Again, the revelations of science are largely the result of group tension, eventually focussed in one intuitive recipient, and the revelation is thereby protected. |
Lộ trình mà sự mặc khải đi theo sau đó giống nhau trong cả hai trường hợp, và ảo tưởng đều bắt kịp cả hai hình thức mặc khải; nhưng—đây là điểm Tôi muốn các bạn suy ngẫm—ảo tưởng tích tụ quanh những sự mặc khải của khoa học ít hơn đôi chút so với quanh những sự mặc khải về điều mà nhân loại gọi là những chân lý mang tính tinh thần rõ rệt hơn. Một lý do nằm ở chỗ sự mặc khải tinh thần vĩ đại gần đây nhất, do Đức Christ ban ra, đã được ban cách đây hai nghìn năm, và kể từ đó, trí tuệ con người cùng khả năng đáp ứng chân lý đã phát triển rất nhiều. Hơn nữa, những sự mặc khải của khoa học phần lớn là kết quả của sự tập trung nhất tâm của nhóm, cuối cùng quy tụ nơi một người tiếp nhận có trực giác, và nhờ đó sự mặc khải được bảo vệ. |
|
Ngày nay, khi nhân loại chờ đợi sự mặc khải sẽ thể hiện những tư tưởng, ước mơ và mục tiêu xây dựng của Kỷ Nguyên Mới, lần đầu tiên lời yêu cầu đến từ một nhóm đông đảo những người có khuynh hướng trực giác. Huynh Đệ của Ngày Xưa, Tôi không nói là những người có trực giác. Hiện nay, nhóm này đông đảo đến mức, sự tập trung của nhóm chân thực đến mức và lời yêu cầu của nhóm mạnh mẽ đến mức, nhóm đang thành công trong việc tập trung ý hướng chung của quần chúng. Vì vậy, bất kỳ sự mặc khải nào xuất hiện trong tương lai gần cũng sẽ được “tinh thần thấu hiểu bảo vệ” tốt hơn mọi sự mặc khải trước đó. Đây là thâm nghĩa của những lời trong Tân Ước: “mọi mắt sẽ thấy Ngài”; toàn thể nhân loại sẽ nhận ra Đấng mặc khải. Trong các thời đại trước, chỉ một số rất ít người nhận ra và biết đến Sứ Giả từ Trên Cao, và phải mất nhiều thập niên, đôi khi nhiều thế kỷ, thông điệp của Ngài mới thấm vào trái tim nhân loại. |
|
|
[190] The stress of the times also and the development of the sense of proportion, plus an enforced return to simplicity of living and requirements may save the coming revelation from too swift and quick submergence in the fire of the Great Illusion. |
[190] Áp lực của thời đại, cùng sự phát triển của Ý thức về tỉ lệ, cộng với việc buộc phải trở lại sự đơn giản trong lối sống và nhu cầu, cũng có thể cứu sự mặc khải sắp đến khỏi bị nhấn chìm quá nhanh trong ngọn lửa của Ảo Tưởng Lớn. |
|
It will be apparent to you from the above that the mode of handling world affairs, states of consciousness and conditions in the three worlds is one in which the disciple and initiate work from above downwards. The method is in reality a repetition of the involutionary arc in which—like the Creator, from a vantage point of exterior direction—energy, force and forces are directed into the world of phenomena and produce definite effects upon the substance of the three planes. This is a point which should be most carefully remembered; and it is for this reason that the Technique of the Presence must always be employed, prior to all other techniques. It establishes contact with the directing spiritual Agent and enables the disciple to assume the attitude of the detached Observer and an agent of the Plan. When this technique is correctly followed, it brings the intuition into play and the world of meaning (lying behind the world of phenomena) stands revealed, thereby dispelling illusion. Truth, as it is, is seen and known. Forms in the outer world of phenomena (outer from the angle of the soul and therefore encompassing the three worlds of our familiar daily living) are seen to be but symbols of an inward and spiritual Reality. |
Từ những điều trên, các bạn sẽ thấy rõ rằng cách xử lý các vấn đề thế giới, các trạng thái tâm thức và các điều kiện trong ba cõi giới là cách mà đệ tử và điểm đạo đồ làm việc từ trên xuống dưới. Thực ra, phương pháp này lặp lại vòng cung giáng hạ tiến hoá, trong đó—giống như Đấng Sáng Tạo, từ một vị thế chỉ đạo ở bên ngoài—năng lượng, mãnh lực và các mãnh lực được hướng vào thế giới hiện tượng và tạo ra những tác động xác định lên chất liệu của ba cõi. Đây là điểm cần ghi nhớ hết sức cẩn thận; chính vì lý do này, Kỹ Thuật của Hiện Diện phải luôn được vận dụng trước mọi kỹ thuật khác. Nó thiết lập sự tiếp xúc với Tác Nhân tinh thần chỉ đạo và giúp đệ tử đảm nhận thái độ của Người Quan Sát tách rời và một tác nhân của Thiên Cơ. Khi được thực hiện đúng đắn, kỹ thuật này đưa trực giác vào hoạt động và Thế giới của thâm nghĩa—nằm phía sau thế giới hiện tượng—hiển lộ, nhờ đó xua tan ảo tưởng. Chân lý được nhìn thấy và nhận biết đúng như nó vốn có. Các hình tướng trong thế giới hiện tượng bên ngoài—bên ngoài theo góc nhìn của linh hồn, và do đó bao gồm ba cõi giới của đời sống hằng ngày quen thuộc với chúng ta—được thấy chỉ là những biểu tượng của một Thực Tại tinh thần bên trong. |
2. The Technique of Light – 2. Kỹ Thuật Ánh sáng
|
We come now to the consideration of the next development and service to be rendered through the medium of another technique. |
Giờ đây, chúng ta xét đến bước phát triển tiếp theo và công việc phụng sự cần thực hiện qua trung gian một kỹ thuật khác. |
|
This theme is so vast and there is so much literature to be found in all the world Scriptures, commentaries and theological [191] dissertations on the subject of Light that the simple truth and a few basic principles are lost to sight in a welter of words. |
Chủ đề này rộng lớn đến mức, và có quá nhiều tài liệu trong mọi Kinh Điển, các bài bình giảng và những luận giải thần học [191] trên thế giới về chủ đề Ánh Sáng, đến mức chân lý đơn giản cùng một vài nguyên khí căn bản bị khuất lấp trong một biển ngôn từ hỗn độn. |
|
Trong các cuốn sách khác nhau của mình, Tôi đã trình bày nhiều điều về chủ đề này; trong cuốn Ánh Sáng của Linh Hồn, mà Tôi viết với sự cộng tác của A.A.B., đã có một nỗ lực nhằm chỉ ra bản chất của ánh sáng linh hồn. Chìa khóa của kỹ thuật này nằm trong những lời: Trong Ánh Sáng ấy, chúng ta sẽ thấy ÁNH SÁNG. Có thể diễn giải đơn giản những lời có vẻ trừu tượng và mang tính biểu tượng này như sau: Khi đệ tử đã tìm thấy trung tâm được soi sáng ấy bên trong mình và có thể bước đi trong ánh sáng tỏa ra từ đó, y ở vào một vị thế—hay một trạng thái tâm thức, nếu các bạn thích cách nói ấy—trong đó y nhận biết ánh sáng bên trong mọi hình tướng và nguyên tử. Thế giới thực tại bên trong hiện ra trước y như chất liệu ánh sáng—khác với Thực Tại do trực giác hé lộ. Khi ấy, y có thể trở thành một người cộng tác hữu hiệu với Thiên Cơ, vì thế giới thâm nghĩa thông linh trở nên thực đối với y, và y biết cần làm gì để xua tan ảo cảm. Có thể nói rằng tiến trình đưa ánh sáng vào những nơi tối tăm này tự nhiên chia thành ba giai đoạn: |
|
|
1. The stage wherein the beginner and the aspirant endeavour to eradicate glamour out of their own life by the use of the light of the mind. The light of knowledge is a major dispelling agent in the earlier phases of the task and effectively eliminates the various glamours which veil the truth from the aspirant. |
1. Giai đoạn trong đó người mới bắt đầu và người chí nguyện cố gắng loại bỏ ảo cảm khỏi đời sống của chính mình bằng cách sử dụng ánh sáng của thể trí. Ánh sáng của tri thức là một tác nhân xua tan chủ yếu trong những giai đoạn đầu của công việc, và hữu hiệu loại bỏ những ảo cảm khác nhau đang che khuất chân lý trước người chí nguyện. |
|
2. The stage wherein the aspirant and disciple work with the light of the soul. This is the light of wisdom which is the interpreted result of long experience, and this streams forth, blending with the light of knowledge. |
2. Giai đoạn trong đó người chí nguyện và đệ tử làm việc với ánh sáng của linh hồn. Đây là ánh sáng của minh triết, tức kết quả đã được diễn giải từ kinh nghiệm lâu dài; ánh sáng này tuôn ra, hòa trộn với ánh sáng của tri thức. |
|
3. The stage wherein the disciple and the initiate work with the light of the intuition. It is through the blended [192] medium of the light of knowledge (personality light) and the light of wisdom (soul light) that the Light is seen, known and appropriated. This light puts out the lesser lights through the pure radiance of its power. |
3. Giai đoạn trong đó đệ tử và điểm đạo đồ làm việc với ánh sáng của trực giác. Chính qua trung gian hòa trộn [192] của ánh sáng tri thức—ánh sáng phàm ngã—và ánh sáng minh triết—ánh sáng linh hồn—mà Ánh Sáng được nhìn thấy, nhận biết và tiếp nhận. Ánh sáng này dập tắt những ánh sáng nhỏ hơn bằng sự tỏa chiếu thuần khiết của quyền năng nó. |
|
You have therefore the light of knowledge, the light of wisdom and the light of the intuition, and these are three definite stages or aspects of the One Light. They correspond to the physical Sun, the heart of the Sun, and the Central Spiritual Sun. In this last sentence you have the clue and the key to the relation of man to the Logos. |
Vì vậy, các bạn có ánh sáng của tri thức, ánh sáng của minh triết và ánh sáng của trực giác; đây là ba giai đoạn hay phương diện xác định của Ánh Sáng Duy Nhất. Chúng tương ứng với Mặt trời hồng trần, trái tim của Mặt trời và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Trong câu cuối này, các bạn có manh mối và chìa khóa cho mối quan hệ giữa con người và Thượng đế. |
|
These stages and their corresponding techniques are apt to be misunderstood if the student fails to remember that between them lie no real lines of demarcation but only a constant overlapping, a cyclic development and a process of fusion which is most confusing to beginners. Just as the result of innate reaction to environment produces the apparatus needed to contact that environment, so the unfoldment of the powers which these techniques serve produces modes of contact with soul and spiritual environments. Each of these techniques is related to a new environment; each of them eventually develops power in the initiate or disciple which can be used in the service of humanity and in higher spheres of divine activity; each is related to the other techniques, and each releases the disciple into a conscious relationship with a new environment, new states of awareness and new fields of service. For instance: |
Những giai đoạn này và các kỹ thuật tương ứng dễ bị hiểu lầm nếu đạo sinh không nhớ rằng giữa chúng không có những đường phân định thực sự, mà chỉ có sự chồng lấn liên tục, sự phát triển theo chu kỳ và một tiến trình dung hợp gây rất nhiều bối rối cho người mới bắt đầu. Cũng như phản ứng bẩm sinh với môi trường tạo ra bộ máy cần thiết để tiếp xúc với môi trường ấy, sự khai mở các quyền năng mà những kỹ thuật này phục vụ cũng tạo ra những phương thức tiếp xúc với các môi trường linh hồn và tinh thần. Mỗi kỹ thuật này đều liên quan đến một môi trường mới; cuối cùng, mỗi kỹ thuật đều phát triển nơi điểm đạo đồ hay đệ tử một quyền năng có thể dùng để phụng sự nhân loại và trong những lĩnh vực cao hơn của hoạt động thiêng liêng; mỗi kỹ thuật đều liên quan đến các kỹ thuật khác, và mỗi kỹ thuật đều đưa đệ tử vào một mối quan hệ hữu thức với một môi trường mới, những trạng thái nhận biết mới và những lĩnh vực phụng sự mới. Chẳng hạn: |
|
1. The Technique of the Presence, when successfully followed, enables the intuition to flow in and to supersede the activity of the rationalising mind and to dispel illusion, substituting for that illusion divine ideas, formulated into concepts which we call ideals. The Masters, it should be remembered, only use the mind for two activities: [193] |
1. Kỹ Thuật của Hiện Diện, khi được thực hiện thành công, cho phép trực giác tuôn vào và thay thế hoạt động của thể trí lý luận, đồng thời xua tan ảo tưởng, thay vào đó bằng những ý tưởng thiêng liêng được diễn đạt thành các quan niệm mà chúng ta gọi là lý tưởng. Cần nhớ rằng các Chân sư chỉ dùng thể trí cho hai hoạt động: [193] |
|
a. To reach the minds of Their disciples and attract aspirants through the medium of an instrument similar to the disciple’s mind. |
a. Tiếp cận thể trí của các đệ tử của Các Ngài và thu hút người chí nguyện qua trung gian một công cụ tương tự thể trí của đệ tử. |
|
b. To create thoughtforms on concrete levels which can embody these divine ideas. The directing Agent, the Angel of the Presence, produces the power to create in this manner, and this we call the result of the intuition—idea or truth, its perception and its reproduction. |
b. Tạo ra các hình tư tưởng trên những cấp độ cụ thể có thể thể hiện các ý tưởng thiêng liêng này. Tác Nhân chỉ đạo, Thiên Thần của Hiện Diện, tạo ra quyền năng sáng tạo theo cách này; chúng ta gọi đây là kết quả của trực giác—ý tưởng hay chân lý, sự tri giác và sự tái hiện nó. |
|
2. The Technique of Light is more closely related to the mind and signifies the method whereby the illumination which flows from the soul (whose nature is light) can irradiate not only ideals but life, circumstances and events, revealing the cause and the meaning of the experience. When the power of the disciple to illumine is grasped, he has taken the first step towards dispelling glamour; and just as the technique of the Presence becomes effective upon the mental plane, so this technique produces powers which can become effective on the astral plane and eventually bring about the dissipation and the disappearance of that plane. |
2. Kỹ Thuật Ánh sáng liên quan chặt chẽ hơn với thể trí và chỉ phương pháp nhờ đó sự soi sáng tuôn ra từ linh hồn—có bản chất là ánh sáng—có thể tỏa chiếu không chỉ lên các lý tưởng mà cả đời sống, hoàn cảnh và sự kiện, hé lộ nguyên nhân và ý nghĩa của kinh nghiệm. Khi đệ tử nắm được quyền năng soi sáng của mình, y đã bước bước đầu tiên hướng đến việc xua tan ảo cảm; cũng như Kỹ Thuật của Hiện Diện trở nên hữu hiệu trên cõi trí, kỹ thuật này tạo ra những quyền năng có thể trở nên hữu hiệu trên cõi cảm dục và cuối cùng làm cho cõi ấy tiêu tan rồi biến mất. |
|
3. The Technique of Indifference renders ineffective or neutralises the hold of substance over the life or spirit, functioning in the three worlds, for soul is the evidence of life. |
3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên làm mất hiệu lực hay trung hòa sự khống chế của chất liệu đối với sự sống hay tinh thần đang hoạt động trong ba cõi giới, vì linh hồn là bằng chứng của sự sống. |
|
In connection, therefore, with this second technique, I would like to take some words out of the Bible, substituting the word “light” for the word “faith.” I give you this definition: Light is the substance of things hoped for, the evidence of things not seen. This is perhaps one of the most occult definitions of the light of the world that has yet been given and its true meaning is intended to be revealed in the next two generations. The word “faith” is a good [194] instance of the method of rendering “blind” some of the ancient truths so that their significance may not be prematurely revealed. Light and substance are synonymous terms. Soul and light are equally so, and in this equality of idea—light, substance, soul—you have the key to fusion and to the at-one-ment which Christ expressed so fully for us in His life on Earth. |
Do đó, liên quan đến kỹ thuật thứ hai này, Tôi muốn lấy một vài lời trong Kinh Thánh, thay từ “đức tin” bằng từ “ánh sáng”. Tôi đưa ra cho các bạn định nghĩa này: Ánh sáng là chất liệu của những điều được hy vọng, là bằng chứng của những điều không nhìn thấy. Có lẽ đây là một trong những định nghĩa huyền bí nhất về ánh sáng của thế gian từng được đưa ra, và ý nghĩa đích thực của nó sẽ được mặc khải trong hai thế hệ tiếp theo. Từ “đức tin” là một [194] ví dụ điển hình về phương pháp “che kín” một số chân lý cổ xưa để thâm nghĩa của chúng không bị tiết lộ quá sớm. Ánh sáng và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa. Linh hồn và ánh sáng cũng vậy, và chính trong sự đồng nhất về ý tưởng này—ánh sáng, chất liệu, linh hồn—các bạn có chìa khóa dẫn đến sự dung hợp và sự nhất thể mà Đức Christ đã biểu lộ hết sức trọn vẹn cho chúng ta trong cuộc đời của Ngài trên Trái Đất. |
|
Do đó, khi các đạo sinh và người chí nguyện đã tiến bộ trong việc tiếp xúc với linh hồn, họ đã thực hiện một trong những bước quan trọng đầu tiên hướng đến việc thấu hiểu ánh sáng và cách sử dụng nó. Tuy nhiên, họ phải thận trọng để không nhầm lẫn ánh sáng mà họ có thể vận dụng để soi chiếu đời sống, hoàn cảnh, sự kiện và môi trường với trực giác. Ánh sáng mà chúng ta đang đề cập biểu lộ trong ba cõi giới và làm hiển lộ hình tướng cùng các hình tướng, những phản ứng và tác động của chúng, ảo cảm và sức hấp dẫn của chúng, cũng như khả năng của chúng trong việc đánh lừa và giam hãm tâm thức. Ánh sáng đang được đề cập là ánh sáng linh hồn, soi sáng thể trí và đem lại sự mặc khải về thế giới các hình tướng mà sự sống ấy đang đắm chìm trong đó. |
|
|
The intuition is concerned with nothing whatsoever in the three worlds of human experience but only with the perceptions of the Spiritual Triad and with the world of ideas. The intuition is to the world of meaning what the mind is to the three worlds of experience. It produces understanding just as the light of soul produces knowledge, through the medium of that experience. Knowledge is not a purely mental reaction but is something which is found on all levels and is instinctual in some form in all kingdoms. This is axiomatic. The five senses bring physical plane knowledge; psychic sensitivity brings a knowledge of the astral plane; the mind brings intellectual perception, but all three are aspects of the light of knowledge (coming from the soul) as it informs its vehicles of expression in the vast threefold [195] environment in which it chooses to imprison itself for purposes of development. |
Trực giác không liên quan đến bất cứ điều gì trong ba cõi giới trải nghiệm của con người, mà chỉ liên quan đến những tri giác của Tam Nguyên Tinh Thần và thế giới ý tưởng. Trực giác đối với Thế giới của thâm nghĩa cũng như thể trí đối với ba cõi giới trải nghiệm. Trực giác đem lại sự thấu hiểu, cũng như ánh sáng linh hồn đem lại tri thức thông qua trải nghiệm ấy. Tri thức không phải là một phản ứng thuần túy trí tuệ, mà hiện diện ở mọi cấp độ và mang tính bản năng dưới một hình thức nào đó trong mọi giới. Đây là điều hiển nhiên. Năm giác quan đem lại tri thức về cõi hồng trần; tính nhạy cảm thông linh đem lại tri thức về cõi cảm dục; thể trí đem lại tri giác trí tuệ, nhưng cả ba đều là những phương diện của ánh sáng tri thức (đến từ linh hồn) khi ánh sáng ấy thấm nhuần các hiện thể biểu lộ của linh hồn trong môi trường tam phân rộng lớn [195] mà linh hồn chọn để tự giam mình nhằm mục đích phát triển. |
|
On a higher turn of the spiral, the intuition is the expression of the threefold Spiritual Triad, placing it in relation to the higher levels of divine expression; it is a result of the life of the Monad—an energy which carries revelation of divine purpose. It is in the world of this divine revelation that the disciple learns eventually to work and in which the initiate consciously functions. Of this higher experience, the active life of the three worlds is a distorted expression but constitutes also the training ground in which capacity to live the initiate life of intuitional perception and to serve the Plan is slowly developed. These distinctions (in time and space, because all distinctions are part of the great illusion, though necessary and inevitable when the mind controls) must be carefully considered. Disciples will reach a point in their development where they will know whether they are reacting to the light of the soul or to the intuitional perception of the Triad. They will then come to the point where they will realise that intuitive perception—as they call it—is only the reaction of the illumined personality to the identification tendency of the Triad. But these concepts are beyond the grasp of the average man because fusion and identification are by no means the same. |
Ở một vòng xoắn cao hơn, trực giác là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân, đặt Tam Nguyên này trong mối liên hệ với những cấp độ cao hơn của sự biểu lộ thiêng liêng; trực giác là kết quả của sự sống Chân Thần—một năng lượng mang đến sự mặc khải về Thiên Ý. Cuối cùng, đệ tử học cách hoạt động trong thế giới của sự mặc khải thiêng liêng này, và điểm đạo đồ hoạt động hữu thức trong đó. Đời sống hoạt động của ba cõi giới là một biểu hiện méo mó của trải nghiệm cao hơn này, nhưng cũng là nơi rèn luyện để khả năng sống đời sống điểm đạo đồ với tri giác trực giác và phụng sự Thiên Cơ dần dần phát triển. Những phân biệt này (trong thời gian và không gian, vì mọi phân biệt đều là một phần của ảo tưởng lớn, dù chúng cần thiết và không thể tránh khỏi khi thể trí kiểm soát) phải được xem xét cẩn thận. Các đệ tử sẽ đạt đến một điểm trong sự phát triển của mình, tại đó họ biết mình đang đáp ứng với ánh sáng linh hồn hay với tri giác trực giác của Tam Nguyên. Sau đó, họ sẽ đạt đến điểm nhận ra rằng tri giác trực giác—như họ gọi—chỉ là phản ứng của phàm ngã đã được soi sáng trước khuynh hướng đồng hoá của Tam Nguyên. Nhưng những khái niệm này vượt ngoài khả năng nắm bắt của người bình thường, vì sự dung hợp và sự đồng hoá hoàn toàn không phải là một. |
|
The rules for the Technique of Light have been adequately laid down in the Raja Yoga system of Patanjali, of which the five stages of Concentration, Meditation, Contemplation, Illumination, and Inspiration are illustrative; these, in their turn, must be parallelled by a following of the Five Rules and the Five Commandments. I would ask you to study these. They, in their turn, produce the many results in psychic sensitivity, of which hierarchical contact, illumination, service and discipline are descriptive and, finally, the [196] stage of “isolated unity,” which is the paradoxical term used by Patanjali to describe the inner life of the initiate. |
Các quy luật dành cho Kỹ Thuật Ánh sáng đã được trình bày đầy đủ trong hệ thống Du Già Vương Giả của Patanjali, với năm giai đoạn Tập trung, Tham thiền, Chiêm ngưỡng, Soi sáng và Cảm hứng là những minh họa; đến lượt mình, các giai đoạn này phải đi đôi với việc tuân theo Năm Quy luật và Năm Giới răn. Tôi đề nghị các bạn nghiên cứu những điều này. Đến lượt mình, chúng đem lại nhiều kết quả về tính nhạy cảm thông linh, được thể hiện qua sự tiếp xúc với Thánh đoàn, sự soi sáng, phụng sự và kỷ luật, và cuối cùng là [196] giai đoạn “Hợp Nhất Cô Lập”, thuật ngữ nghịch lý mà Patanjali dùng để mô tả đời sống nội tâm của điểm đạo đồ. |
|
Most of what I have said above is well known to all aspirants whether they study the Raja Yoga teaching of India or the life of practical mysticism as laid down by such mystics as Meister Eckhart and the more mentally polarised modern esotericist. These latter went beyond the mystical vision by arriving at fusion. I need not enlarge on this. It is the higher stage of at-one-ment to which all true mystics bear witness. |
Phần lớn những điều Tôi đã nói ở trên đều quen thuộc với mọi người chí nguyện, dù họ nghiên cứu giáo lý Du Già Vương Giả của Ấn Độ hay đời sống thần bí thực hành như các nhà thần bí, chẳng hạn Meister Eckhart và những nhà bí truyền học hiện đại phân cực trí tuệ hơn, đã trình bày. Những người sau này đã vượt ra ngoài linh ảnh thần bí bằng cách đạt đến sự dung hợp. Tôi không cần bàn rộng thêm về điều này. Đó là giai đoạn nhất thể cao hơn mà mọi nhà thần bí chân chính đều làm chứng. |
|
What does concern us here is how this light is recognised, appropriated and used in order to dispel glamour and render a deeply esoteric service to the world. It might be said that the inner light is like a searchlight, swinging out into the world of glamour and of human struggle from what one Master has called “the pedestal of the soul and the spiritual tower or beacon.” These terms convey the idea of altitude and of distance which are so characteristic of the mystical approach. Power to use this light as a dissipating agent only comes when these symbols are dropped and the server begins to regard himself as the light and as the irradiating centre. Herein lies the reason for some of the technicalities of the occult science. The esotericist knows that in every atom of his body is to be found a point of light. He knows that the nature of the soul is light. For aeons, he walks by means of the light engendered within his vehicles, by the light within the atomic substance of his body and is, therefore, guided by the light of matter. Later, he discovers the light of the soul. Later still, he learns to fuse and blend soul light and material light. Then he shines forth as a Light bearer, the purified light of matter and the light of the soul being blended and focussed. The use of this focussed light as it dispels individual glamour teaches the disciples the early stages of the technique which will dispel [197] group glamour and eventually world glamour, and this is the next point with which we will deal. |
Điều chúng ta quan tâm ở đây là cách nhận biết, tiếp nhận và sử dụng ánh sáng này để xua tan ảo cảm và thực hiện một sự phụng sự mang tính nội môn sâu sắc cho thế gian. Có thể nói rằng ánh sáng bên trong giống như một ngọn đèn pha, từ nơi mà một Chân sư đã gọi là “bệ cao của linh hồn và ngọn tháp hay đèn hiệu tinh thần”, quét ra thế giới ảo cảm và những cuộc đấu tranh của con người. Những thuật ngữ này truyền đạt ý tưởng về độ cao và khoảng cách, vốn rất đặc trưng cho cách tiếp cận thần bí. Khả năng sử dụng ánh sáng này như một tác nhân làm tiêu tan chỉ xuất hiện khi người phụng sự từ bỏ những biểu tượng ấy và bắt đầu xem chính mình là ánh sáng và là trung tâm tỏa sáng. Chính trong đó có lý do cho một số cách diễn đạt chuyên môn của khoa học huyền bí. Nhà bí truyền học biết rằng trong mỗi nguyên tử của thân thể y đều có một điểm ánh sáng. Y biết rằng bản chất của linh hồn là ánh sáng. Suốt nhiều đại kỳ, y bước đi nhờ ánh sáng phát sinh trong các hiện thể của mình, nhờ ánh sáng trong chất liệu nguyên tử của thân thể mình, và do đó, y được ánh sáng vật chất dẫn dắt. Về sau, y khám phá ánh sáng linh hồn. Muộn hơn nữa, y học cách dung hợp và hòa quyện ánh sáng linh hồn với ánh sáng vật chất. Bấy giờ, y tỏa sáng như một Người mang Ánh sáng, khi ánh sáng vật chất đã được thanh lọc và ánh sáng linh hồn hòa quyện và hội tụ. Việc sử dụng ánh sáng hội tụ này để xua tan ảo cảm cá nhân dạy cho các đệ tử những giai đoạn đầu của kỹ thuật sẽ xua tan [197] ảo cảm nhóm và cuối cùng là ảo cảm thế giới; đây là điểm tiếp theo mà chúng ta sẽ bàn đến. |
|
The theme with which we are dealing—the light of the soul as it dissipates glamour in the three worlds—is the most practical and useful and needed subject for study to be found today: it concerns the astral plane, and the service to be rendered is vital and timely. The ridding of the world of the individual and the world of humanity as a whole of the all-enveloping glamour which holds humanity in thrall is an essential requirement for the race. The new era which will open up before mankind at the close of the war will be distinguished by its mental polarisation and consequent freedom from glamour; then illusion will for a time control until the intuition is more fully developed. This illusion will produce vastly different results to those which follow when men live and work in the midst of glamour. The second characteristic of the new era will be the scientific approach to the entire problem of glamour which will then be recognised for what it is and will be scientifically dissipated by the use of the illumined minds of groups, working in unison for just that purpose. |
Chủ đề mà chúng ta đang bàn đến—ánh sáng linh hồn làm tiêu tan ảo cảm trong ba cõi giới—là chủ đề nghiên cứu thiết thực nhất, hữu ích nhất và cần thiết nhất hiện nay: nó liên quan đến cõi cảm dục, và sự phụng sự cần thực hiện có tầm quan trọng sống còn và đúng lúc. Giải thoát thế giới của cá nhân và thế giới của toàn thể nhân loại khỏi ảo cảm bao trùm đang giam giữ nhân loại là một yêu cầu thiết yếu đối với nhân loại. Kỷ nguyên mới sẽ mở ra trước nhân loại khi chiến tranh kết thúc sẽ nổi bật bởi sự phân cực trí tuệ và sự giải thoát khỏi ảo cảm do đó mà có; bấy giờ, ảo tưởng sẽ kiểm soát trong một thời gian cho đến khi trực giác phát triển đầy đủ hơn. Ảo tưởng này sẽ đem lại những kết quả khác biệt rất lớn so với những kết quả xuất hiện khi con người sống và làm việc giữa ảo cảm. Đặc điểm thứ hai của kỷ nguyên mới sẽ là cách tiếp cận khoa học đối với toàn bộ vấn đề ảo cảm; khi ấy, người ta sẽ nhận biết ảo cảm đúng như bản chất của nó, và nó sẽ được làm tiêu tan một cách khoa học nhờ sử dụng các thể trí đã được soi sáng của những nhóm cùng hoạt động đồng lòng vì chính mục đích ấy. |
|
The proposition, therefore, which I am laying before you (who are the aspirants and the disciples of the world) is the possibility of a definite world service. Groups will eventually be formed of those who are working at the dissipation of glamour in their individual lives and who are doing so not so much in order to achieve their own liberation but with the special objective of ridding the astral plane of its significant glamours. They will work unitedly on some major phase of world glamour by the power of their individual illumined minds; unitedly they will turn “the searchlight of the mind, reflecting the light of the sun but at the same time radiating its own inner light upon the mists and fogs of Earth, for in these mists and fogs all men stumble. [198] Within the lighted sphere of the focussed radiant light, reality will issue forth triumphant.” |
Do đó, điều Tôi đặt ra trước các bạn (những người chí nguyện và đệ tử trên thế giới) là khả năng thực hiện một sự phụng sự thế giới cụ thể. Cuối cùng, các nhóm sẽ được thành lập từ những người đang làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống cá nhân, và họ làm như vậy không hẳn để đạt được sự giải thoát cho riêng mình, mà với mục tiêu đặc biệt là loại bỏ những ảo cảm đáng kể khỏi cõi cảm dục. Họ sẽ cùng nhau làm việc trên một khía cạnh lớn nào đó của ảo cảm thế giới bằng sức mạnh của những thể trí cá nhân đã được soi sáng; cùng nhau, họ sẽ hướng “ngọn đèn pha của thể trí, phản chiếu ánh sáng mặt trời nhưng đồng thời tỏa ánh sáng nội tâm của chính nó lên những màn sương mù của Trái Đất, vì trong những màn sương mù này, mọi người đều vấp ngã. [198] Trong khối cầu được soi sáng bởi ánh sáng rực rỡ đã hội tụ, thực tại sẽ hiện ra trong chiến thắng.” |
|
It is interesting to note that the most ancient prayer in the world refers to the three aspects of glamour, and it is for these that the three techniques must be used to make release and progress possible. As you know, this prayer runs as follows (Brihadaranyaki Upanishad I, 3, 28): |
Điều đáng chú ý là lời cầu nguyện cổ xưa nhất trên thế giới đề cập đến ba phương diện của ảo cảm, và chính đối với những phương diện này, cần sử dụng ba kỹ thuật để sự giải thoát và tiến bộ có thể xảy ra. Như các bạn biết, lời cầu nguyện này như sau (Áo Nghĩa Thư Brihadaranyaki I, 3, 28): |
|
“Lead us, O Lord, from darkness to light; from the unreal to the real; from death to immortality.” |
“Lạy Chúa, xin dẫn dắt chúng con từ bóng tối đến ánh sáng; từ cái không thực đến thực tại; từ cái chết đến sự bất tử.” |
|
“Lead us from darkness to light” refers to the mind as it becomes eventually illumined by the light of the intuition; this illumination is brought about by the means of the Technique of the Presence from Whom the light shines. This is the mediating factor producing the Transfiguration of the personality, and a centre of radiant light upon the mental plane. This statement is true whether one is speaking of an individual or of that focal point of light which is formed by the mental unity and the clear thinking of advanced humanity. These, through the power of their unified minds, will succeed in ridding the world of some aspects of the Great Illusion. |
“Xin dẫn dắt chúng con từ bóng tối đến ánh sáng” nói đến thể trí khi cuối cùng nó được ánh sáng trực giác soi sáng; sự soi sáng này diễn ra nhờ Kỹ Thuật của Hiện Diện, Đấng mà ánh sáng tỏa ra từ Ngài. Đây là yếu tố trung gian đem lại sự Biến hình của phàm ngã và một trung tâm ánh sáng rực rỡ trên cõi trí. Phát biểu này đúng dù người ta đang nói về một cá nhân hay về tiêu điểm ánh sáng hình thành từ sự hợp nhất về trí tuệ và tư duy sáng rõ của nhân loại tiến bộ. Nhờ sức mạnh của những thể trí hợp nhất, những người này sẽ thành công trong việc giải thoát thế giới khỏi một số phương diện của Ảo Tưởng Lớn. |
|
“Lead us from the unreal to the Real” has specific relation to the astral plane and its all-encompassing glamours. These glamours embody the unreal and present them to the prisoners of the astral plane, leading them to mistake them for the Reality. This imprisonment by glamour can be ended by the activity of the Technique of Light, utilised by those who work—in group formation—for the dissipation of glamour and for the emergence in the consciousness of men of a clear conception and recognition of the nature of Reality. |
“Xin dẫn dắt chúng con từ cái không thực đến Thực Tại” có mối liên hệ đặc biệt với cõi cảm dục và những ảo cảm bao trùm của nó. Những ảo cảm này là hiện thân của cái không thực và trình bày chúng trước những người bị giam hãm trong cõi cảm dục, khiến họ nhầm chúng với Thực Tại. Sự giam hãm do ảo cảm này có thể chấm dứt nhờ hoạt động của Kỹ Thuật Ánh sáng, do những người làm việc—trong tổ chức nhóm—vận dụng để làm tiêu tan ảo cảm và để một quan niệm rõ ràng cùng sự nhận biết về bản chất của Thực Tại xuất hiện trong tâm thức con người. |
|
This particular work of dissipation is our immediate theme. It is of vital importance that those who recognise [199] the open door to the future through which all men must pass should begin to carry forward this work. Only thus can humanity be helped to leave behind the errors, the glamours and the failures of the past. It is this technique which brings freedom from glamour and which can transform human living, and so bring in the new civilisation and culture. This dissipation can be carried forward by disciples in all parts of the planet, aided by the world aspirants; it will, however, be primarily the work of those whose ray focus makes astral living the line of least resistance and who have learnt or are learning to dominate it by the power of thought and mental light. These are the sixth ray people in the first instance, aided by aspirants and disciples upon the second and fourth rays. |
Công việc làm tiêu tan cụ thể này là chủ đề trước mắt của chúng ta. Điều có tầm quan trọng sống còn là những người nhận ra [199] cánh cửa mở đến tương lai mà mọi người phải đi qua cần bắt đầu thực hiện công việc này. Chỉ như vậy mới có thể giúp nhân loại bỏ lại phía sau những sai lầm, ảo cảm và thất bại của quá khứ. Chính kỹ thuật này đem lại sự giải thoát khỏi ảo cảm và có thể chuyển đổi đời sống con người, qua đó mở ra nền văn minh và văn hóa mới. Các đệ tử ở mọi nơi trên hành tinh có thể thực hiện công việc làm tiêu tan này, với sự trợ giúp của những người chí nguyện trên thế giới; tuy nhiên, đây chủ yếu sẽ là công việc của những người mà trọng tâm năng lượng cung khiến đời sống cảm dục trở thành con đường ít trở ngại nhất, và những người đã học hoặc đang học cách chế ngự đời sống ấy bằng sức mạnh tư tưởng và ánh sáng trí tuệ. Trước hết, đó là những người thuộc cung sáu, với sự trợ giúp của những người chí nguyện và đệ tử thuộc cung hai và cung bốn. |
|
In time and space, this task will be first of all instituted and controlled in group formation only by aspirants whose soul or personality rays are the sixth or by those whose astral bodies are conditioned by the sixth ray. When they have grasped the nature of the work to be done and “fanatically adopted the technique of light in the service of the race,” their work will be completed by second ray disciples, working from the Ashrams of those Masters Who take disciples. The work done by these two groups will be finally revealed (and at a much later date) by those aspirants and disciples who will swing into astral activity when the fourth ray again begins to manifest. Therefore, the work of dissipating glamour is carried forward by those who come out into manifestation along the lines of energy which embody the second, fourth and sixth rays. I emphasise this as disciples frequently undertake tasks for which they are not particularly fitted and whose rays do not aid them in accomplishment and sometimes prevent that accomplishment. |
Trong thời gian và không gian, trước hết nhiệm vụ này sẽ được khởi xướng và điều hành theo tổ chức nhóm, chỉ bởi những người chí nguyện có cung linh hồn hoặc cung phàm ngã là cung sáu, hoặc bởi những người có thể cảm dục chịu ảnh hưởng của cung sáu. Khi họ đã nắm bắt bản chất của công việc cần thực hiện và “cuồng nhiệt áp dụng kỹ thuật ánh sáng để phụng sự nhân loại”, các đệ tử cung hai, hoạt động từ các ashram của những Chân sư có thu nhận đệ tử, sẽ hoàn tất công việc của họ. Công việc do hai nhóm này thực hiện cuối cùng sẽ được làm hiển lộ (vào một thời điểm muộn hơn nhiều) nhờ những người chí nguyện và đệ tử sẽ chuyển sang hoạt động cảm dục khi cung bốn bắt đầu biểu hiện trở lại. Do đó, công việc làm tiêu tan ảo cảm do những người xuất hiện trong biểu hiện theo các đường năng lượng thể hiện cung hai, cung bốn và cung sáu thực hiện. Tôi nhấn mạnh điều này vì các đệ tử thường đảm nhận những nhiệm vụ mà họ không đặc biệt phù hợp, và các cung của họ không giúp họ hoàn thành, đôi khi còn ngăn cản việc hoàn thành ấy. |
|
[200] The whole subject is related to consciousness, to the second aspect, and concerns the forms through which mankind becomes progressively aware. Glamour is caused by the recognition of that which man has himself created and, as has occultly been said, “Man only becomes aware of reality when he has destroyed that which he has himself created.” These forms fall into two major groups: |
[200] Toàn bộ chủ đề liên quan đến tâm thức, đến phương diện thứ hai, và đề cập đến những hình tướng mà qua đó nhân loại dần dần nhận biết. Ảo cảm nảy sinh từ việc nhận biết những gì chính con người đã tạo ra, và như lời dạy huyền bí đã nói, “Con người chỉ nhận biết thực tại khi đã phá hủy những gì chính mình tạo ra.” Những hình tướng này chia thành hai nhóm chính: |
|
1. Those forms which are of very ancient origin and which are the result of human activity, human thinking and of human error. They embrace all the forms which the desire nature of man has created down the ages and are the nebulous substance of glamour—nebulous from the physical angle but dense from the angle of the astral plane. They are that which provides the incentive behind all striving and activity upon the outer plane as man attempts to satisfy desire. From these forms the individual aspirant has ever to rid himself, emerging after so doing through that gate which we call the second initiation into a wider consciousness. |
1. Những hình tướng có nguồn gốc rất cổ xưa và là kết quả của hoạt động, tư duy và sai lầm của con người. Chúng bao gồm mọi hình tướng mà bản chất dục vọng của con người đã tạo ra qua các thời đại và là chất liệu mờ đục của ảo cảm—mờ đục xét từ góc độ hồng trần nhưng đậm đặc xét từ góc độ cõi cảm dục. Chúng tạo nên động lực đằng sau mọi nỗ lực và hoạt động trên cõi bên ngoài khi con người cố gắng thỏa mãn dục vọng. Người chí nguyện cá nhân luôn phải tự giải thoát khỏi những hình tướng này, và sau khi làm được như vậy, y bước qua cánh cổng mà chúng ta gọi là lần điểm đạo thứ hai để đi vào một tâm thức rộng lớn hơn. |
|
2. Those forms which are being constantly created and ceaselessly produced in response to the aspirational nature of humanity and which provide the enticements which lead the man along towards high personal achievement in the first instance and spiritual achievement later. They have in them the indications of the new and the possible. These likewise (strange as it may seem) constitute a glamour, for they are temporary and illusory and must not be permitted to hide the Real. That Reality will precipitate itself at the right moment once the higher light pours in. They are indicative of the Real and are often mistaken for the Real; they are in conflict with the old thoughts and desires of the past and must eventually give place to the factual presence of the [201] Real. They provide (in times of crisis) the great testing for all aspirants and disciples, evoking the subtlest kind of discrimination; but once that testing has been triumphantly passed, then can the task of dissipating both these types of glamour be given to the disciple and aspirant, with the emphasis upon the immediate need or any particular and current world glamour. |
2. Những hình tướng liên tục được tạo ra và không ngừng sản sinh để đáp ứng với bản chất khát vọng của nhân loại, tạo nên những sức lôi cuốn dẫn dắt con người trước hết đến thành tựu cá nhân cao và về sau đến thành tựu tinh thần. Trong chúng có những dấu hiệu của cái mới và cái có thể xảy ra. Những hình tướng này cũng vậy (dù điều đó có vẻ lạ), tạo thành một ảo cảm, vì chúng chỉ tạm thời và hư ảo, và không được phép che khuất Thực Tại. Thực Tại ấy sẽ ngưng tụ vào đúng thời điểm khi ánh sáng cao hơn tuôn vào. Chúng là những dấu hiệu của Thực Tại và thường bị nhầm là Thực Tại; chúng xung đột với những tư tưởng và dục vọng cũ của quá khứ, và cuối cùng phải nhường chỗ cho sự hiện diện thực sự của [201] Thực Tại. Trong những thời kỳ khủng hoảng, chúng tạo nên sự thử thách lớn đối với mọi người chí nguyện và đệ tử, khơi dậy loại phân biện tinh tế nhất; nhưng một khi đã vượt qua thử thách ấy một cách vẻ vang, đệ tử và người chí nguyện có thể được giao nhiệm vụ làm tiêu tan cả hai loại ảo cảm này, với sự nhấn mạnh vào nhu cầu trước mắt hoặc bất kỳ ảo cảm thế giới cụ thể nào đang hiện hành. |
|
It will be apparent to you, therefore, that groups working consciously at the service of dissipating glamour will have the following characteristics: |
Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng những nhóm đang phụng sự một cách hữu thức để làm tiêu tan ảo cảm sẽ có những đặc điểm sau: |
|
1. They will be composed of sixth ray aspirants and disciples, aided by second ray spiritual workers. |
1. Họ sẽ gồm những người chí nguyện và đệ tử cung sáu, với sự trợ giúp của những người hoạt động tinh thần thuộc cung hai. |
|
2. They will be formed of those who: |
2. Họ sẽ được hình thành từ những người: |
|
a. Are learning or have learnt to dissipate their own individual glamours and can bring understanding to the task. |
a. Đang học hoặc đã học cách làm tiêu tan những ảo cảm cá nhân của mình và có thể đem sự thấu hiểu vào nhiệm vụ. |
|
b. Are focussed upon the mental plane and have, therefore, some measure of mental illumination. They are mastering the Technique of Light. |
b. Tập trung trên cõi trí và do đó có một mức độ soi sáng trí tuệ nào đó. Họ đang làm chủ Kỹ Thuật Ánh sáng. |
|
c. Are aware of the nature of the glamours which they are attempting to dissipate and can use the illumined mind as a searchlight. |
c. Nhận biết bản chất của những ảo cảm mà họ đang cố gắng làm tiêu tan và có thể sử dụng thể trí đã được soi sáng như một ngọn đèn pha. |
|
3. They will count among their numbers those who (occultly speaking) have the following powers in process of rapid development: |
3. Trong số họ sẽ có những người mà, nói theo nghĩa huyền bí, các năng lực sau đang phát triển nhanh chóng: |
|
a. The power not only to recognise glamour for what it is, but to discriminate between the various and many types of glamour. |
a. Năng lực không chỉ nhận biết ảo cảm đúng như bản chất của nó, mà còn phân biện giữa nhiều loại ảo cảm khác nhau. |
|
b. The power to appropriate the light, absorbing it into themselves and then consciously and scientifically project it into the world of glamour. The [202] Masters, the higher initiates and the world disciples do this alone, if need be, and require not the protection of the group or the aid of the light of the group members. |
b. Năng lực tiếp nhận ánh sáng, hấp thụ nó vào bản thân rồi phóng chiếu nó một cách hữu thức và khoa học vào thế giới ảo cảm. Các [202] Chân sư, những điểm đạo đồ cao cấp và các đệ tử thế giới thực hiện điều này một mình nếu cần, và không cần sự bảo vệ của nhóm hay sự trợ giúp từ ánh sáng của các thành viên nhóm. |
|
c. The power to use the light not only through absorption and projection but also by a conscious use of the will, carrying energy upon the beam of projected light. To this they add a persistent and steady focus. This beam, thus projected, has a twofold use: It works expulsively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog or as the rays of the sun dry up and absorb the mist. It acts also as a beam along which that which is new and a part of the divine intention can enter. The new ideas and the desired ideals can come in “on the beam,” just as the beam directs and brings in the airplanes to a desired landing place. |
c. Năng lực sử dụng ánh sáng không chỉ qua sự hấp thụ và phóng chiếu, mà còn bằng việc vận dụng ý chí một cách hữu thức, đưa năng lượng theo chùm ánh sáng được phóng chiếu. Họ bổ sung vào đó một sự tập trung bền bỉ và ổn định. Chùm sáng được phóng chiếu như vậy có công dụng nhị phân: Nó tác động bằng sức xua đuổi mạnh mẽ, giống như một cơn gió mạnh thổi tan hay làm tiêu tan một màn sương mù dày đặc, hoặc như những tia nắng mặt trời làm khô và hấp thụ sương. Nó cũng hoạt động như một chùm tia mà theo đó những gì mới mẻ và là một phần của ý định thiêng liêng có thể đi vào. Những ý tưởng mới và những lý tưởng mong muốn có thể đến “theo chùm tia”, cũng như chùm tia hướng dẫn và đưa máy bay đến nơi hạ cánh mong muốn. |
|
a. The Dissipation of Individual Glamour |
a. Làm tiêu tan Ảo cảm Cá nhân |
|
Let us first of all consider the mode by which the individual aspirant can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds. He has been dominated by desire for four-fifths of his incarnated experience. He has begun to transmute his desire into aspiration and to seek—with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realisation. It is then that he becomes aware of the appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks. Glamour arose when man recognised and registered desire as an incentive, thus demonstrating his humanity and his distinction from the animal, because it is the mind which reveals the existence of desire. The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave [203] place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind. Thus the line of demarcation between the animal and the human has become increasingly apparent and the first and basic expression of pure selfishness appeared aeons ago. Later, as evolution proceeded and desire shifted from one planned satisfaction to another, it began to take on a less physical aspect and men sought pleasure in emotional experience and in its dramatisation: this led to the establishment of the drama as its first artistic expression; by means of this, down the ages, man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it, thus exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires, and objectives with those which were developed by means of the creative imagination, thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole. Thus from earliest Atlantean times the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity to the recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. Then the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out. |
Trước hết, chúng ta hãy xem xét phương thức mà người chí nguyện cá nhân có thể dùng để thành công trong việc làm tiêu tan những ảo cảm đã tác động lên đời sống của y trong ba cõi giới suốt nhiều thời đại. Dục vọng đã chi phối y trong bốn phần năm trải nghiệm nhập thể của y. Y đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng thành khát vọng và tìm kiếm sự chứng nghiệm bằng tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm khao khát mà y có thể có. Chính lúc ấy, y nhận biết bản chất đáng kinh sợ của những ảo cảm mà y vẫn bước đi trong đó một cách tự động và như thường lệ. Ảo cảm nảy sinh khi con người nhận biết và ghi nhận dục vọng như một động lực, qua đó thể hiện tính người và sự khác biệt của mình với loài vật, vì chính thể trí làm hiển lộ sự tồn tại của dục vọng. Nỗ lực bản năng nhằm thỏa mãn dục vọng—vốn có sẵn và cố hữu trong bản chất thấp—đã [203] nhường chỗ cho những nỗ lực có hoạch định nhằm đáp ứng dục vọng, có sự vận dụng thể trí để chỉ đạo. Do đó, ranh giới giữa loài vật và con người ngày càng trở nên rõ rệt, và biểu hiện đầu tiên, căn bản của tính ích kỷ thuần túy đã xuất hiện từ nhiều đại kỳ trước. Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn và dục vọng chuyển từ sự thỏa mãn có hoạch định này sang sự thỏa mãn có hoạch định khác, nó bắt đầu mang một sắc thái ít hồng trần hơn, và con người tìm kiếm khoái lạc trong trải nghiệm cảm xúc cùng việc kịch hóa trải nghiệm ấy: điều này dẫn đến sự hình thành kịch nghệ như biểu hiện nghệ thuật đầu tiên của nó; nhờ đó, qua các thời đại, con người đã bổ sung cho đời sống cảm xúc và kịch tính của cá nhân bằng việc đắm mình gián tiếp vào những trải nghiệm ấy, qua đó biểu hiện bản thân ra bên ngoài và bổ sung cho những vở kịch, dục vọng và mục tiêu riêng bằng những điều phát triển nhờ Sự tưởng tượng sáng tạo, từ đó đặt nền móng cho sự nhận biết—thông minh và thực sự—về bộ phận trong mối liên hệ với toàn thể. Như vậy, từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất, nền móng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về nhị nguyên thần bí, qua các giai đoạn khác nhau, từ việc nhận biết Thượng đế theo hình tượng con người đến việc nhận biết thực tại trong chính con người, cho đến khi cuối cùng chúng ta đi đến vấn đề mà đệ tử phải đối mặt. Bấy giờ, Kẻ Chận Ngõ đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột lớn cuối cùng diễn ra cho đến hồi kết. |
|
This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved. |
Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba, trong cuộc chiến cuối cùng giữa các cặp đối cực và chiến thắng vẻ vang của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại. Bấy giờ, tính nhị nguyên và dục vọng đối với những gì thuộc vật chất và không phải là chính mình (khi đã đồng hoá với Toàn Thể) tiêu tan. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu. |
|
Tiến trình mà đệ tử đang làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống của mình một cách hữu thức tuân theo có thể [204] chia thành bốn giai đoạn, với những định nghĩa sau: |
|
|
1. The stage of recognition of the glamour or glamours which hide the Real. These glamours are dependent in any particular life crisis upon the ray of the personality. |
1. Giai đoạn nhận biết ảo cảm hoặc những ảo cảm che khuất Thực Tại. Trong bất kỳ cuộc khủng hoảng cụ thể nào của đời sống, những ảo cảm này phụ thuộc vào cung phàm ngã. |
|
2. The stage of focussing the disciple’s consciousness upon the mental plane and the gathering of the light to that point of focus so that the illumination is clear, the work to be done is plainly seen, and the searchlight of the mind is directed upon the glamour which it is intended should be dissipated. |
2. Giai đoạn tập trung tâm thức của đệ tử trên cõi trí và quy tụ ánh sáng về tiêu điểm ấy, để sự soi sáng được rõ ràng, công việc cần thực hiện được thấy rõ, và ngọn đèn pha của thể trí hướng vào ảo cảm mà y có ý định làm tiêu tan. |
|
3. The stage of direction. This involves the steady pouring of the light (under intelligent direction) into the dark places of the astral plane, remembering that the light will enable the disciple to do two things: |
3. Giai đoạn định hướng. Giai đoạn này bao gồm việc tuôn ánh sáng đều đặn (dưới sự chỉ đạo thông minh) vào những nơi tối tăm của cõi cảm dục, với sự ghi nhớ rằng ánh sáng sẽ giúp đệ tử làm được hai điều: |
|
a. Dissipate the glamour—a satisfying experience. |
a. Làm tiêu tan ảo cảm—một trải nghiệm đem lại sự thỏa mãn. |
|
b. See the Real—a terrifying experience, brother of mine. |
b. Nhìn thấy Thực Tại—một trải nghiệm kinh hoàng, hỡi huynh đệ của tôi. |
|
4. The stage of identification with the Real as it is contacted after the dissipation of the glamour. In the added light which is now available, there will be a further recognition of still subtler glamours which in their turn must be dissipated. |
4. Giai đoạn đồng hoá với Thực Tại khi tiếp xúc với Thực Tại sau khi ảo cảm đã tiêu tan. Trong ánh sáng gia tăng hiện có, y sẽ tiếp tục nhận biết những ảo cảm còn tinh tế hơn, và đến lượt chúng cũng phải được làm tiêu tan. |
|
This process of recognition, focussing, dissipation and consequent revelation goes on continually from the time a disciple treads the Path of Accepted Discipleship until the third initiation. |
Tiến trình nhận biết, tập trung, làm tiêu tan và sự mặc khải theo sau diễn ra liên tục từ lúc một đệ tử bước trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận cho đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
The clue to all success in this process is, therefore, connected with meditation and the holding of the mind steady in the light. Only through steadiness can the beam of light be formed, intensified, focussed and projected and then—[205] at the right moment—withdrawn. I cannot here enter upon an elucidation of the process of meditation, based on the right understanding of the nature of concentration. I have written much upon the subject and the Raja Yoga discipline is well known. Mental concentration and control is now the ordinary theme of all instructions given by educators and enlightened parents. It is difficult for the average person today to realise that there was a time when such phrases as “Use your mind” or “If you will only think” or “A little mental control on your part would be useful” were totally unknown because the mind was so little developed. It was then only recognised as a functioning factor by those with initiate consciousness. The Path of Evolution is in fact the path of recognitions, leading to revelation. The whole process of evolution is initiatory in character, leading from one expansion of consciousness to another until the worlds of the formless and of form stand revealed in the light which the initiate generates and in which he walks. These lights are varied and variously revealing; there is: |
Do đó, chìa khóa của mọi thành công trong tiến trình này liên quan đến việc tham thiền và giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng. Chỉ nhờ sự vững vàng, chùm ánh sáng mới có thể hình thành, được tăng cường, hội tụ, phóng chiếu rồi—[205] vào đúng thời điểm—thu hồi. Ở đây, Tôi không thể đi vào việc làm sáng tỏ tiến trình tham thiền dựa trên sự thấu hiểu đúng đắn về bản chất của sự tập trung. Tôi đã viết nhiều về chủ đề này, và phương pháp rèn luyện Du Già Vương Giả vốn đã được biết đến rộng rãi. Hiện nay, sự tập trung và kiểm soát thể trí là chủ đề thông thường trong mọi lời hướng dẫn của các nhà giáo dục và những bậc cha mẹ sáng suốt. Ngày nay, người bình thường khó nhận ra rằng từng có một thời những câu như “Hãy sử dụng thể trí của mình”, “Chỉ cần bạn chịu suy nghĩ” hoặc “Bạn kiểm soát thể trí một chút sẽ có ích” hoàn toàn chưa được biết đến, vì thể trí còn quá ít phát triển. Khi ấy, chỉ những người có tâm thức điểm đạo đồ mới nhận biết thể trí như một yếu tố hoạt động. Con Đường Tiến Hoá thực ra là con đường của những sự nhận biết dẫn đến sự mặc khải. Toàn bộ tiến trình tiến hoá mang tính điểm đạo, dẫn từ sự mở rộng tâm thức này đến sự mở rộng tâm thức khác, cho đến khi các thế giới vô hình tướng và hình tướng hiển lộ trong ánh sáng mà điểm đạo đồ tạo ra và bước đi trong đó. Những ánh sáng này đa dạng và mặc khải theo những cách khác nhau; có: |
|
1. The light of matter itself, found in every atom of substance. |
1. Ánh sáng của chính vật chất, hiện diện trong mỗi nguyên tử chất liệu. |
|
2. The light of the vital or etheric vehicle—a light which is the reflection of the One Light because it unifies the three types of light within the three worlds. |
2. Ánh sáng của hiện thể sinh lực hay hiện thể dĩ thái—một ánh sáng phản chiếu Ánh Sáng Duy Nhất, vì nó hợp nhất ba loại ánh sáng trong ba cõi giới. |
|
3. The light of the instinct. |
3. Ánh sáng của bản năng. |
|
4. The light of the intellect or the light of knowledge. |
4. Ánh sáng của trí năng hay ánh sáng của tri thức. |
|
5. The light of the soul. |
5. Ánh sáng của linh hồn. |
|
6. The light of the intuition. |
6. Ánh sáng của trực giác. |
|
From light to light we pass, from revelation to revelation until we pass out of the realm of light into the realm of life which is, as yet to us, pure darkness. |
Chúng ta đi từ ánh sáng này đến ánh sáng khác, từ sự mặc khải này đến sự mặc khải khác, cho đến khi ra khỏi lĩnh vực ánh sáng để đi vào lĩnh vực sự sống, mà đối với chúng ta hiện nay vẫn là bóng tối thuần túy. |
|
It will be obvious to you that this increasing light brings with it a constantly developing series of revelations which, [206] like all else in the world of human experience, unfolds before the eyes first of all the world of forms, then the world of ideals, then the nature of the soul, of ideas and of divinity. I am choosing but a few of the words which embody the revelation and are symbolic of its character. But all these revelations constitute one great unified revelation which is slowly unfolding before the eyes of humanity. The light of the personal lower self reveals to man the world of form, of matter, of instinct, of desire and of mind; the light of the soul reveals the nature of the relation of these forms of life to the world of the formless and of the conflict between the real and the unreal. The light of the intuition unfolds before the vision of the soul within the personality, the nature of God and the unity of the Whole. The restlessness of material desire, seeking its satisfaction in the three worlds, eventually gives place to aspiration towards soul contact and soul life. This in its turn is recognised as a step towards those great fundamental experiences to which we give the names of the five major initiations. These reveal to man the hitherto unrealised fact of his non-separateness and of the relation of his individual will to the divine will. |
Các bạn sẽ thấy rõ rằng ánh sáng gia tăng này mang theo một chuỗi mặc khải không ngừng phát triển, và [206] cũng như mọi điều khác trong thế giới trải nghiệm của con người, chuỗi mặc khải ấy mở ra trước mắt, trước hết là thế giới hình tướng, rồi đến thế giới lý tưởng, sau đó là bản chất của linh hồn, của ý tưởng và của thiên tính. Tôi chỉ chọn một vài từ thể hiện sự mặc khải và tượng trưng cho đặc tính của nó. Nhưng tất cả những sự mặc khải này tạo thành một sự mặc khải lớn, hợp nhất, đang dần mở ra trước mắt nhân loại. Ánh sáng của phàm ngã cá nhân làm hiển lộ cho con người thế giới hình tướng, vật chất, bản năng, dục vọng và thể trí; ánh sáng linh hồn làm hiển lộ bản chất mối liên hệ của những hình thức sự sống này với thế giới vô hình tướng và bản chất cuộc xung đột giữa cái thực và cái không thực. Ánh sáng trực giác mở ra trước tầm nhìn của linh hồn bên trong phàm nhân bản chất của Thượng đế và sự hợp nhất của Toàn Thể. Sự bất an của dục vọng vật chất, tìm kiếm sự thỏa mãn trong ba cõi giới, cuối cùng nhường chỗ cho khát vọng hướng đến sự tiếp xúc với linh hồn và đời sống linh hồn. Đến lượt mình, điều này được nhận biết như một bước tiến đến những trải nghiệm nền tảng lớn mà chúng ta gọi là năm cuộc điểm đạo chủ yếu. Những cuộc điểm đạo này mặc khải cho con người sự thật mà trước đó y chưa nhận ra: y không tách biệt, và ý chí cá nhân của y có mối liên hệ với Ý Chí thiêng liêng. |
|
We are now going to study the mode whereby these phases of work upon the astral plane are carried forward: first, the individual learns to use the light of the mind, generated by the soul as it becomes closely related to the personality and impulsed by the intuition. By means of this light the disciple learns to dissipate his personal and private glamours. I mention this because I would have you appreciate the extent of the task a man undertakes when he consciously sets about ridding himself of glamour preparatory to extended service. He is in conflict then with the whole glamour of the entire plane and is apt to be overwhelmed by a realisation of what he is facing. This is one of the [207] causes of the deep depression and those profound inferiority complexes which render some people completely futile or lead eventually to suicide. Their own personal glamours tie them in to national or planetary glamour and thus condition their life expression and their thinking. I would ask you to remember this as you deal with people and find them set in their ideas and unable to see the truth as you see it. They are as they are because their individual glamour is fed by the greater glamours, and this is as yet too much for them. |
Giờ đây, chúng ta sẽ nghiên cứu phương thức triển khai các giai đoạn công việc này trên cõi cảm dục: trước hết, cá nhân học cách sử dụng ánh sáng của thể trí, do linh hồn tạo ra khi linh hồn gắn bó mật thiết với phàm ngã và nhận sự thúc đẩy của trực giác. Nhờ ánh sáng này, đệ tử học cách làm tiêu tan những ảo cảm cá nhân và riêng tư của mình. Tôi đề cập điều này vì Tôi muốn các bạn hiểu được quy mô của nhiệm vụ mà một người đảm nhận khi y bắt đầu có ý thức giải thoát mình khỏi ảo cảm để chuẩn bị cho việc phụng sự rộng lớn hơn. Khi ấy, y phải đối đầu với toàn bộ ảo cảm của cả cõi này và dễ bị choáng ngợp khi nhận ra những gì mình đang đối diện. Đây là một trong những [207] nguyên nhân gây nên tình trạng trầm uất sâu sắc và những phức cảm tự ti nặng nề khiến một số người hoàn toàn bất lực hoặc cuối cùng dẫn đến tự sát. Những ảo cảm cá nhân của họ ràng buộc họ với ảo cảm quốc gia hoặc hành tinh và do đó định hình cách họ biểu hiện trong đời sống cũng như tư duy của họ. Tôi mong các bạn nhớ điều này khi tiếp xúc với những người cố chấp trong các ý tưởng của mình và không thể thấy chân lý như các bạn thấy. Họ như vậy là vì ảo cảm cá nhân của họ được nuôi dưỡng bằng những ảo cảm lớn hơn, và hiện nay điều này vẫn vượt quá khả năng ứng phó của họ. |
|
It is not my intention to deal specifically with particular glamours but to give you a formula which—with slight changes and additions—can serve the individual and the group in the task of eradicating glamour. I would begin by saying that the first need is for the man to realise that his reactions, ideas, desires and life experience, as far as his emotional nature is concerned, are conditioned by some one glamour or glamours, that he is the victim of several glamours, engendered over many lives, deeply rooted in his past history, and to which he instinctually reacts. The time, however, comes when the probationary disciple becomes aware of these instinctual glamours and recognises them on appearance, even when reacting to them; he seeks to free himself, working at first spasmodically, trying to use the mind to rationalise himself out of them and alternating between temporary success, when he can with deliberation act as if free from glamour, and long periods of defeat when he is overwhelmed, can see no light anywhere and acts like a blind, bewildered person. This indicates that he is drawn as by a magnet (the force of accumulated ancient glamour with its karmic effects) into the midst of the very glamour he would seek to avoid. Later comes the stage (a result of this alternating process) when the pull of the soul begins to offset the pull of these glamours: he [208] aspires to free expression and to liberation from astral plane control. The balancing process then takes place. |
Tôi không có ý định bàn riêng về từng ảo cảm cụ thể, mà muốn trao cho các bạn một công thức, với những thay đổi và bổ sung nhỏ, có thể giúp cá nhân và nhóm trong nhiệm vụ loại trừ ảo cảm. Trước hết, Tôi muốn nói rằng điều cần thiết đầu tiên là mỗi người phải nhận ra rằng, xét về bản chất cảm xúc của mình, những phản ứng, ý tưởng, dục vọng và kinh nghiệm sống của y chịu ảnh hưởng của một hay nhiều ảo cảm; rằng y là nạn nhân của nhiều ảo cảm hình thành qua nhiều kiếp sống, bắt rễ sâu trong lịch sử quá khứ của y, và y phản ứng với chúng theo bản năng. Tuy nhiên, đến một lúc, đệ tử dự bị nhận biết những ảo cảm mang tính bản năng này và nhận ra chúng khi chúng xuất hiện, ngay cả trong lúc y đang phản ứng với chúng; y tìm cách giải thoát mình, lúc đầu chỉ nỗ lực từng đợt, cố dùng thể trí để suy luận nhằm thoát khỏi chúng, và luân phiên giữa những thành công tạm thời, khi y có thể chủ tâm hành động như thể đã thoát khỏi ảo cảm, với những thời kỳ thất bại kéo dài, khi y bị choáng ngợp, không thấy ánh sáng ở đâu và hành động như một người mù lòa, hoang mang. Điều này cho thấy y bị hút như bởi một nam châm — mãnh lực của ảo cảm cổ xưa đã tích tụ cùng các tác động nghiệp quả của nó — vào ngay giữa chính ảo cảm mà y tìm cách tránh. Sau đó đến giai đoạn, là kết quả của tiến trình luân phiên này, khi sức hút của linh hồn bắt đầu hóa giải sức hút của những ảo cảm ấy: y [208] khát vọng được biểu hiện tự do và được giải thoát khỏi sự kiểm soát của cõi cảm dục. Khi ấy, tiến trình cân bằng diễn ra. |
|
It is during this stage that meditation is instituted so that the man becomes aware of soul light as it blends with the inherent light of the mental body, and this blended light steadily intensifies as he persists in the meditation work. A point then comes where the aspirant discovers that this inner light can be used, and he begins tentatively and with uneven success to turn that light upon the problems of his particular glamour. It is also at this point that we now carry forward the Technique of Light, employing it so that the vague unscientific technique of the past comes to an end. The indicated technique is of use only to the man who knows something of the light of the mind, of the light in the head, and of the light of the soul. The light in the head is produced by the definitely planned bringing together of soul light and personality light, focussed in the mental body and producing an effect in the brain. This focussing process falls into three stages: |
Chính trong giai đoạn này, việc tham thiền được thiết lập để con người nhận biết ánh sáng linh hồn khi nó hòa quyện với ánh sáng vốn có của thể trí, và ánh sáng hòa quyện này ngày càng tăng cường khi y kiên trì tham thiền. Rồi đến một thời điểm, người chí nguyện khám phá rằng ánh sáng bên trong này có thể được sử dụng, và y bắt đầu thử hướng ánh sáng ấy vào những vấn đề của ảo cảm riêng của mình, với mức độ thành công không đồng đều. Cũng chính tại thời điểm này, chúng ta bắt đầu triển khai Kỹ Thuật Ánh sáng, sử dụng nó để chấm dứt kỹ thuật mơ hồ, thiếu tính khoa học của quá khứ. Kỹ thuật được trình bày chỉ hữu ích cho người đã biết phần nào về ánh sáng của thể trí, ánh sáng trong đầu và ánh sáng của linh hồn. Ánh sáng trong đầu phát sinh từ việc kết hợp ánh sáng linh hồn với ánh sáng phàm ngã theo một kế hoạch xác định, tập trung trong thể trí và tạo ra tác động nơi bộ não. Tiến trình tập trung này gồm ba giai đoạn: |
|
1. The attempt to focus the light of the mind and of matter in the mental vehicle. |
1. Nỗ lực tập trung ánh sáng của thể trí và của vật chất trong thể trí. |
|
This signifies a bringing together of the light of matter and substance (dense material and etheric light) and the light of the mind itself. There is no peculiar or specific light in or of the astral body itself, for it is only an aggregate of forms, created by individual man, by nations and by races, and these in their entirety constitute the astral plane and possess no inherent light as do other forms. They are not created as a form of expression for some dynamic life by the planetary Logos, and this is the real meaning of what I have earlier told you that the astral plane in reality does not exist. It is the phantasmoric creation of human desire down the [209] ages and its false light is a reflection of either the light of matter or of the mind. This process of focussing is undertaken through alignment and by the effort to bring to a point of illumination the positive light of the mind and the negative light of the brain and is carried forward through mental control, developed in meditation. When these two opposite poles are in relation then (by an act of the personality will) these two aspects of the lesser light can form a pin point of light—like a small torch light—revealing some phase of the glamour to which the aspirant most easily responds. This first focussed light is not of such a nature that it can do more than reveal. It has no dissipating power, nor can it render existing glamour ineffective. It can only make a man aware in his waking or brain consciousness that glamour holds him. This is related to the stage of concentration in the meditation process. |
Điều này có nghĩa là kết hợp ánh sáng của vật chất và chất liệu — ánh sáng vật chất đậm đặc và ánh sáng dĩ thái — với ánh sáng của chính thể trí. Không có ánh sáng riêng biệt hay đặc thù nào trong chính thể cảm dục hoặc thuộc về nó, vì nó chỉ là một tập hợp các hình tướng do từng cá nhân, các quốc gia và các nhóm nhân loại tạo ra; toàn bộ những hình tướng này hợp thành cõi cảm dục và không có ánh sáng vốn có như những hình tướng khác. Hành Tinh Thượng đế không tạo ra chúng như một hình tướng biểu hiện cho một sự sống năng động nào đó, và đây là ý nghĩa đích thực của điều Tôi đã nói trước đây với các bạn rằng cõi cảm dục thực sự không tồn tại. Nó là sản phẩm huyễn hoặc do dục vọng con người tạo ra qua [209] các thời đại, và ánh sáng giả tạo của nó là sự phản chiếu ánh sáng của vật chất hoặc của thể trí. Tiến trình tập trung này diễn ra thông qua sự chỉnh hợp và nỗ lực đưa ánh sáng dương tính của thể trí cùng ánh sáng âm tính của bộ não đến một điểm soi sáng; tiến trình ấy tiếp diễn nhờ sự kiểm soát của thể trí, được phát triển trong tham thiền. Khi hai cực đối lập này liên hệ với nhau, thì bằng một hành động của ý chí phàm ngã, hai phương diện của ánh sáng nhỏ hơn này có thể tạo thành một điểm sáng cực nhỏ — giống như ánh sáng của một ngọn đèn pin nhỏ — làm hiển lộ một khía cạnh nào đó của ảo cảm mà người chí nguyện dễ đáp ứng nhất. Ánh sáng tập trung ban đầu này chỉ có thể làm hiển lộ, không thể làm gì hơn. Nó không có quyền năng làm tiêu tan, cũng không thể khiến ảo cảm đang tồn tại mất hiệu lực. Nó chỉ có thể khiến con người nhận biết trong tâm thức tỉnh thức hay tâm thức bộ não rằng ảo cảm đang kìm giữ mình. Điều này liên quan đến giai đoạn định trí trong tiến trình tham thiền. |
|
2. The second stage of the focussing process is produced through the effort to meditate. In the previous stage, the blending of the two material lights was entirely a form process and the aspirant is actuated entirely by his personality forces and expediency. An illustration of this and of its effectiveness can be seen in the man who, from purely selfish motives and through an intense concentration, focusses his mind and brings about the gratification of his desires and the achievement of his goals. He kills out all emotional reactions and goes a long way towards dissipating glamour. He develops the ability to draw on the light of matter itself (physical matter and mental substance) and thus he generates a false light from which soul light is rigorously excluded. It is this power which eventually produces a black magician. He has developed the capacity to draw [210] upon the light energy of matter itself and to focus it so powerfully and effectively that it becomes a great destructive force. It is this which has given Hitler and the six evil men associated with him their power to destroy upon the material plane. But, in the case of the aspirant, the power to meditate upon spiritual reality and to contact the soul offsets the dangers inherent in focussing on and using solely the light of matter; to the lesser light of matter is added the light of the soul and then these two blended lights, or aspects of the One Light, are focussed upon the mental plane through the power of the creative imagination. This enables man eventually to dissipate glamour and liberates him from the astral plane. |
2. Giai đoạn thứ hai của tiến trình tập trung phát sinh nhờ nỗ lực tham thiền. Trong giai đoạn trước, sự hòa quyện của hai ánh sáng vật chất hoàn toàn là một tiến trình thuộc hình tướng, và người chí nguyện hoàn toàn chịu sự thúc đẩy của các mãnh lực phàm ngã cùng những tính toán lợi ích trước mắt. Có thể thấy một minh họa cho điều này và hiệu quả của nó ở người, từ những động cơ thuần túy ích kỷ và nhờ định trí mãnh liệt, tập trung thể trí để thỏa mãn dục vọng và đạt được các mục tiêu của mình. Y dập tắt mọi phản ứng cảm xúc và tiến rất xa trong việc làm tiêu tan ảo cảm. Y phát triển khả năng vận dụng ánh sáng của chính vật chất — vật chất hồng trần và chất liệu trí tuệ — và do đó tạo ra một ánh sáng giả tạo mà ánh sáng linh hồn bị loại trừ triệt để. Chính quyền năng này cuối cùng tạo nên một nhà hắc thuật. Y đã phát triển khả năng vận dụng [210] năng lượng ánh sáng của chính vật chất và tập trung nó mạnh mẽ, hiệu quả đến mức nó trở thành một mãnh lực hủy diệt lớn lao. Chính điều này đã đem lại cho Hitler và sáu kẻ ác liên kết với y quyền năng hủy diệt trên cõi vật chất. Nhưng đối với người chí nguyện, quyền năng tham thiền về thực tại tinh thần và tiếp xúc với linh hồn hóa giải những nguy hiểm vốn có trong việc tập trung vào và chỉ sử dụng ánh sáng của vật chất; ánh sáng linh hồn được bổ sung vào ánh sáng nhỏ hơn của vật chất, rồi hai ánh sáng hòa quyện này, hay hai phương diện của Ánh Sáng Duy Nhất, tập trung trên cõi trí nhờ quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo. Điều này cuối cùng giúp con người làm tiêu tan ảo cảm và giải thoát y khỏi cõi cảm dục. |
|
3. The third stage is that in which the light of matter, the light of the mind and the light of the soul (as a channel for the intuition) are consciously blended, fused and focussed. The man then turns this blended light, under soul direction, upon the world of glamour and upon the particular glamour with which he is at any one time pre-occupied. The false light of the astral plane disappears in this triple blended light just like a fire can be nearly put out if subjected to the full rays of the sun; or a burning glass, focussing the rays of the sun, can start a destructive blaze. It is the use of a powerful light which can obliterate a lesser light and dissipate a fog. |
3. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn trong đó ánh sáng của vật chất, ánh sáng của thể trí và ánh sáng của linh hồn — như một kênh dẫn cho trực giác — được hòa quyện, dung hợp và tập trung một cách có ý thức. Khi ấy, con người dưới sự chỉ dẫn của linh hồn, hướng ánh sáng hòa quyện này vào thế giới ảo cảm và vào ảo cảm cụ thể mà y đang chú tâm xử lý tại một thời điểm nào đó. Ánh sáng giả tạo của cõi cảm dục biến mất trong ánh sáng hòa quyện tam phân này, giống như một ngọn lửa có thể gần như tắt đi khi chịu toàn bộ các tia sáng mặt trời chiếu vào; hoặc một thấu kính hội tụ các tia sáng mặt trời có thể gây ra một đám cháy hủy diệt. Chính việc sử dụng một ánh sáng mạnh có thể xóa bỏ một ánh sáng yếu hơn và làm tiêu tan sương mù. |
|
All this has to be understandingly and consciously carried forward as a preliminary to the technique proper. His work will be experimental at first, and scientifically applied eventually. It will be based upon a recognition of truth—a truth which is faced and accepted. This work is not a form of rationalisation, though that precedes the definitely [211] scientific work I am outlining; it is not the cultivation of fresh interests of a mental and spiritual kind which gradually supersede desire and drive out glamour. That is all preparatory in character and leads to an unfoldment which prepares the aspirant to work scientifically; it is not a process of “killing out desire” as some schools of thought teach, but is a process of gradually eradicating desire by stern discipline and hard trained work and this, incidentally, involves the dissipation of glamour. Such have been the slow techniques of the past. Today the process is to be changed because enough people are now the product of understanding and can work wisely and also scientifically. |
Tất cả điều này phải được tiến hành với sự thấu hiểu và có ý thức, như bước sơ bộ trước khi thực hiện kỹ thuật đúng nghĩa. Lúc đầu, công việc của y sẽ mang tính thử nghiệm, rồi cuối cùng sẽ được áp dụng một cách khoa học. Công việc ấy sẽ dựa trên sự nhận biết chân lý — một chân lý mà y đối diện và chấp nhận. Công việc này không phải là một hình thức suy luận, mặc dù suy luận đi trước công việc thực sự [211] mang tính khoa học mà Tôi đang phác thảo; nó không phải là việc vun bồi những mối quan tâm mới về trí tuệ và tinh thần để chúng dần thay thế dục vọng và đẩy lùi ảo cảm. Tất cả những điều đó đều mang tính chuẩn bị và dẫn đến một sự khai mở giúp người chí nguyện sẵn sàng làm việc một cách khoa học; đây không phải là một tiến trình “dập tắt dục vọng” như một số trường phái tư tưởng giảng dạy, mà là một tiến trình dần loại trừ dục vọng bằng kỷ luật nghiêm khắc và sự làm việc miệt mài, có rèn luyện; đồng thời, điều này cũng bao hàm việc làm tiêu tan ảo cảm. Đó là những kỹ thuật chậm chạp của quá khứ. Ngày nay, tiến trình này cần thay đổi vì hiện đã có đủ những người trưởng thành từ sự thấu hiểu, có thể làm việc một cách minh triết và cũng mang tính khoa học. |
|
The process I am developing for you is one of rapid and effective dissipation and is based upon the acceptance of the hypothesis of light, upon the recognition of the fact that the astral plane has no true existence, upon a trained use of the creative imagination and upon the unquestioning following of instructions, individually and as a group. |
Tiến trình Tôi đang trình bày cho các bạn nhằm làm tiêu tan ảo cảm nhanh chóng và hiệu quả, dựa trên việc chấp nhận giả thuyết về ánh sáng, nhận biết sự thật rằng cõi cảm dục không thực sự tồn tại, sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo đã qua rèn luyện, và tuân theo các chỉ dẫn không chút nghi vấn, cả với tư cách cá nhân lẫn nhóm. |
|
It is my intention to give you two formulas—one for the use of the individual and the other which groups can use as they contribute their united effort to the dissipation of glamour, either of group glamour or in relation to some aspect of the prevalent world glamour. Two things will be apparent to you: |
Tôi dự định trao cho các bạn hai công thức — một công thức dành cho cá nhân sử dụng, và công thức kia dành cho các nhóm sử dụng khi họ đóng góp nỗ lực hợp nhất của mình vào việc làm tiêu tan ảo cảm, dù là ảo cảm nhóm hay một phương diện nào đó của ảo cảm đang phổ biến trên thế giới. Hai điều sẽ trở nên rõ ràng với các bạn: |
|
First: that those participating in the eradication of glamour must be able to distinguish between glamour and the reality. These often closely resemble each other on a superficial examination. They must be in a position to recognise that an emotional or astral condition constitutes a veil over the truth and is a distortion of the presentation or the appearance of the individual’s or the group’s expression of divinity. They must, therefore, be capable of vision, clear thinking, and prompt recognition as to what is preventing [212] the materialising of that vision and the accurate reception of the truth. They must also be able to distinguish between a major and a minor glamour. A minor glamour, a passing evanescent thoughtform of an easily recognisable nature does not warrant the use of either of the formulas. Such a minor glamour would be a sense of self-pity in an individual or the glorification of some notable individual by an individual, a group or a nation. Time and commonsense suffice to take care of such a situation. A major glamour in the world (prior to the war) was the emphasis put upon possessions and the belief that happiness was dependent upon things and upon material good and comfort. |
Thứ nhất: những người tham gia loại trừ ảo cảm phải có khả năng phân biệt giữa ảo cảm và thực tại. Khi xem xét hời hợt, hai điều này thường rất giống nhau. Họ phải có khả năng nhận ra rằng một trạng thái cảm xúc hay cảm dục tạo thành bức màn che phủ chân lý và làm méo mó cách trình bày hay vẻ ngoài của sự biểu hiện thiên tính nơi cá nhân hoặc nhóm. Vì vậy, họ phải có tầm nhìn, tư duy sáng suốt và khả năng nhanh chóng nhận ra điều gì đang ngăn cản [212] tầm nhìn ấy hiện hình cũng như việc tiếp nhận chân lý một cách chính xác. Họ cũng phải có khả năng phân biệt giữa một ảo cảm lớn và một ảo cảm nhỏ. Một ảo cảm nhỏ, một hình tư tưởng thoáng qua, chóng tan và có bản chất dễ nhận biết, không đòi hỏi phải sử dụng bất kỳ công thức nào trong hai công thức. Một ảo cảm nhỏ như vậy có thể là cảm giác tự thương hại ở một cá nhân, hoặc việc một cá nhân, một nhóm hay một quốc gia tôn vinh một nhân vật nổi bật nào đó. Thời gian và lẽ thường đủ để giải quyết tình trạng ấy. Một ảo cảm lớn trên thế giới trước chiến tranh là việc quá coi trọng tài sản và tin rằng hạnh phúc phụ thuộc vào đồ vật, của cải vật chất và sự tiện nghi. |
|
Second: that the three stages of focussing, referred to above, constitute a preparatory process. These three stages must be somewhat developed before effective use of the formulas can be possible, and those intending to work at the task of ridding the world of glamour must subject themselves constantly to these phases in the art of polarisation, if I might so call it. They must have an understanding of the apparatus of thought, of the creation of thoughtforms, and of the nature of the thinker. They must be emotionally polarised, yet, in group work relatively free from astral control. This astral liberation must to a certain extent control the choice of those who are to work at major dissipations. In the case of the individual who is seeking to break up glamour in his individual life, he should be mentally polarised by decision and effort even if the emotional nature is for him in any one life the line of least resistance. Those working in group formation will have achieved a measure of mental focus but for the purposes of the work to be done they will focus themselves consciously and deliberately upon the emotional plane through [213] their control of their natures. Workers must therefore have practised meditation, have reflected much upon the nature of thought and its uses, and must be aware of the light within. |
Thứ hai: ba giai đoạn tập trung được nhắc đến ở trên hợp thành một tiến trình chuẩn bị. Ba giai đoạn này phải được phát triển đến một mức độ nào đó trước khi có thể sử dụng hiệu quả các công thức, và những người dự định đảm nhận nhiệm vụ giải thoát thế giới khỏi ảo cảm phải không ngừng rèn luyện qua các giai đoạn này trong nghệ thuật phân cực, nếu Tôi có thể gọi như vậy. Họ phải thấu hiểu bộ máy tư duy, sự tạo lập các hình tư tưởng và bản chất của người tư duy. Họ phải phân cực cảm xúc, nhưng trong công việc nhóm phải tương đối thoát khỏi sự kiểm soát của cõi cảm dục. Sự giải thoát khỏi cõi cảm dục này phải, đến một mức độ nhất định, chi phối việc lựa chọn những người sẽ tham gia các công việc làm tiêu tan ảo cảm quy mô lớn. Đối với cá nhân đang tìm cách phá vỡ ảo cảm trong đời sống riêng của mình, y nên phân cực trí tuệ bằng quyết tâm và nỗ lực, ngay cả khi trong một kiếp sống nào đó, bản chất cảm xúc là con đường ít trở ngại nhất đối với y. Những người làm việc trong đội hình nhóm sẽ đạt được một mức độ tập trung trí tuệ, nhưng vì mục đích của công việc cần thực hiện, họ sẽ chủ tâm và có ý thức tập trung trên cõi cảm xúc thông qua [213] việc kiểm soát bản chất của mình. Vì vậy, những người hoạt động phải từng thực hành tham thiền, suy ngẫm nhiều về bản chất của tư tưởng và các công dụng của nó, đồng thời phải nhận biết ánh sáng bên trong. |
|
When these three stages are established as related activities, habits and automatic reactions, and when the intention is fixed and the ability to focus has become an almost instinctual reaction, then sound and effective work can be done; to this work must be added persistence and patience. It is not necessary, I might add, to have achieved perfection in the process before starting this work and service. Disciples and aspirants must cultivate the consciousness of cooperation and realisation that in service such as is proposed, they are definitely participating in a hierarchical activity and are, therefore, in a position to render help even if they could not—alone and unaided—achieve the desired results. They can hasten the process by their combined help. The power of united effort upon the physical plane is being realised today on a large scale, and the war effort in all countries has greatly hastened this realisation. The power of unified emotion (often expressing itself in what is called mob psychology) is everywhere recognised and feared as well as exploited. The power of unified thought is little grasped as yet, and the power inherent in the light of many minds, rendering them effective instruments in world affairs, penetrating and dissipating glamour and proving creative upon the physical plane, will prove to be a part of the new modes of work which will be employed in the new age. For this, the Hierarchy has planned and worked and it is now prepared to test the effectiveness of that work by organising a group or groups which will work upon the problem of glamour. |
Khi ba giai đoạn này đã được thiết lập thành những hoạt động liên hệ với nhau, những thói quen và phản ứng tự động, và khi ý định đã vững chắc cùng khả năng tập trung đã trở thành một phản ứng gần như bản năng, thì có thể thực hiện công việc một cách vững vàng và hiệu quả; công việc này cần thêm lòng kiên trì và sự nhẫn nại. Tôi xin nói thêm rằng không cần phải đạt đến sự hoàn hảo trong tiến trình này trước khi bắt đầu công việc và sự phụng sự ấy. Các đệ tử và người chí nguyện phải vun bồi tâm thức hợp tác và nhận biết rằng trong sự phụng sự như đã đề xuất, họ đang thực sự tham gia một hoạt động của Thánh đoàn; vì vậy, họ có thể trợ giúp ngay cả khi một mình và không có sự hỗ trợ, họ không thể đạt được những kết quả mong muốn. Bằng sự trợ giúp kết hợp, họ có thể đẩy nhanh tiến trình. Ngày nay, người ta đang nhận ra trên quy mô rộng lớn quyền năng của nỗ lực hợp nhất trên cõi hồng trần, và nỗ lực phục vụ chiến tranh ở mọi quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ sự nhận biết này. Quyền năng của cảm xúc hợp nhất, thường biểu hiện thành điều gọi là tâm lý đám đông, được mọi nơi thừa nhận, sợ hãi và cả khai thác. Quyền năng của tư tưởng hợp nhất hiện vẫn chưa được nắm bắt nhiều; và quyền năng vốn có trong ánh sáng của nhiều thể trí, khiến chúng trở thành những công cụ hiệu quả trong các vấn đề thế giới, xuyên thấu và làm tiêu tan ảo cảm, đồng thời thể hiện tính sáng tạo trên cõi hồng trần, sẽ trở thành một phần của những phương thức làm việc mới được sử dụng trong kỷ nguyên mới. Thánh đoàn đã hoạch định và làm việc cho điều này, và giờ đây sẵn sàng kiểm nghiệm hiệu quả của công việc ấy bằng cách tổ chức một nhóm hoặc nhiều nhóm sẽ đảm nhận vấn đề ảo cảm. |
|
You can see, consequently, that what I am outlining is relatively new. The faint impression of the coming technique [214] as far as the individual is concerned has been registered. Men and women everywhere are attempting to rid themselves of glamour by the power of clear thinking, stern discipline and commonsense, and by a recording consciously of their relation to the whole—which prompts them to eliminate out of their lives all that could hinder others or increase world deception through glamour. To this will be added (perhaps as an aspect of the new world religion now on its way towards externalising) the realisation that groups can successfully clear away the glamours which darken humanity’s way to its goal, through the power of combined and projected thought. |
Do đó, các bạn có thể thấy rằng những gì Tôi đang phác thảo là tương đối mới. Một ấn tượng mờ nhạt về kỹ thuật sắp tới [214] đã được ghi nhận ở phạm vi cá nhân. Những người nam và nữ khắp nơi đang cố giải thoát mình khỏi ảo cảm bằng quyền năng của tư duy sáng suốt, kỷ luật nghiêm khắc và lẽ thường, cũng như bằng việc ghi nhận một cách có ý thức mối quan hệ của mình với toàn thể — điều thúc đẩy họ loại bỏ khỏi đời sống mọi thứ có thể cản trở người khác hoặc làm gia tăng sự lừa dối trên thế giới thông qua ảo cảm. Thêm vào đó sẽ là sự nhận biết rằng các nhóm có thể thành công trong việc quét sạch những ảo cảm làm tối tăm con đường nhân loại tiến tới mục tiêu, nhờ quyền năng của tư tưởng kết hợp và phóng chiếu; có lẽ điều này sẽ là một phương diện của tôn giáo thế giới mới, hiện đang trên đường ngoại hiện. |
|
In order to make the first step towards united group activity along this line of service, I present a formula or group ritual which—if employed by those whose lives are relatively free from glamour, who are realists and who are recognised by the group as thus relatively free, and who are animated by good intent—will do much to bring to an end certain aspects of the world glamour. Their effort, combined with that of similar groups, will so weaken the power of these ancient glamours that the “Day of Clarification” will eventually come. |
Để thực hiện bước đầu tiên hướng tới hoạt động nhóm hợp nhất theo đường hướng phụng sự này, Tôi trình bày một công thức hay nghi thức nhóm; nếu những người có đời sống tương đối thoát khỏi ảo cảm, có cái nhìn thực tế, được nhóm nhìn nhận là tương đối thoát khỏi ảo cảm như vậy, và được thúc đẩy bằng thiện ý sử dụng công thức này, thì nó sẽ góp phần đáng kể vào việc chấm dứt một số phương diện của ảo cảm thế giới. Nỗ lực của họ, kết hợp với nỗ lực của những nhóm tương tự, sẽ làm suy yếu quyền năng của các ảo cảm cổ xưa này đến mức cuối cùng “Ngày Sáng Tỏ” sẽ đến. |
|
First, however, let me briefly offer for the use of the individual aspirant a formula whereby he may aid in freeing himself from his particular glamour or glamours. I will tabulate the process, and the aspirant would do well to follow it as given, having in his mind no sense of time, and being willing to do this work regularly for months, and if necessary for years, until he has freed himself and the light breaks in on the astral plane through the medium of his astral body. I would suggest that no aspirant attempt to tackle the problem of glamour as a whole or seek to dissipate all the glamours to which he is susceptible. He is dealing with very ancient evil and with firmly established [215] habits of glamour. They are closely connected with aspects of his daily living, with his sex life or with his ambitions, with his relations to other people, with his pet ideals and ideas, his dreams and visions. He should choose the glamour that is the most apparent and the most hindering at any given time (and there is always one) and for its dissipation he should work conscientiously, if he would lay the foundations for effective service in the dissipation of world glamour. |
Tuy nhiên, trước hết, Tôi xin trình bày ngắn gọn một công thức dành cho người chí nguyện cá nhân sử dụng, qua đó y có thể góp phần giải thoát mình khỏi một hay nhiều ảo cảm riêng. Tôi sẽ liệt kê tiến trình thành các bước, và người chí nguyện nên tuân theo đúng những gì được trình bày, không đặt nặng thời gian trong thể trí, và sẵn lòng thực hiện công việc này đều đặn trong nhiều tháng, nếu cần thì trong nhiều năm, cho đến khi y tự giải thoát và ánh sáng xuyên vào cõi cảm dục qua trung gian thể cảm dục của y. Tôi đề nghị không người chí nguyện nào cố xử lý toàn bộ vấn đề ảo cảm hoặc tìm cách làm tiêu tan mọi ảo cảm mà mình dễ mắc phải. Y đang đối phó với cái ác rất cổ xưa và những [215] thói quen ảo cảm đã ăn sâu vững chắc. Chúng gắn bó chặt chẽ với các phương diện trong đời sống hằng ngày của y, với đời sống tính dục hay những tham vọng của y, với các mối quan hệ của y với người khác, với những lý tưởng và ý tưởng mà y đặc biệt yêu thích, những giấc mơ và tầm nhìn của y. Y nên chọn ảo cảm rõ rệt nhất và gây cản trở nhiều nhất tại một thời điểm nhất định — và luôn có một ảo cảm như vậy — rồi tận tâm làm việc để làm tiêu tan nó, nếu y muốn đặt nền móng cho sự phụng sự hiệu quả trong việc làm tiêu tan ảo cảm thế giới. |
|
FORMULA FOR THE DISSIPATION OF GLAMOUR |
CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM |
|
(For the Individual) |
(Dành cho Cá nhân) |
|
I. Preparatory Stages. |
I. Các Giai đoạn Chuẩn bị. |
|
1. Recognition of the glamour to be dissipated. This involves: |
1. Nhận biết ảo cảm cần làm tiêu tan. Điều này bao gồm: |
|
a. A willingness to cooperate with the soul in physical, astral and mental ways in order to aid in the more technical work. Ponder on the implications in this sentence. |
a. Sẵn lòng hợp tác với linh hồn trên các phương diện hồng trần, cảm dục và trí tuệ để hỗ trợ công việc mang tính kỹ thuật chuyên sâu hơn. Hãy suy ngẫm về những hàm ý trong câu này. |
|
b. A recognition of the ways in which this glamour affects the daily life and all relationships. |
b. Nhận biết những cách thức mà ảo cảm này tác động đến đời sống hằng ngày và mọi mối quan hệ. |
|
2. The three stages of focussing outlined (pp. 208-210) must be undertaken. |
2. Phải thực hiện ba giai đoạn tập trung đã phác thảo (tr. 208-210). |
|
a. The stage of focussing the light of the mind and the light of matter in the mental vehicle. This is done by a process of lifting up and of blending and fusion, and to do this the activity of the creative imagination is employed. |
a. Giai đoạn tập trung ánh sáng của thể trí và ánh sáng của vật chất trong thể trí. Điều này được thực hiện bằng một tiến trình nâng lên, hòa quyện và dung hợp; để làm điều đó, cần vận dụng hoạt động của sự tưởng tượng sáng tạo. |
|
b. The stage of meditation which in time brings about the fusion of the light of matter, the light of the mind and the light of the soul upon the mental plane. [216] |
b. Giai đoạn tham thiền theo thời gian sẽ đem lại sự dung hợp ánh sáng của vật chất, ánh sáng của thể trí và ánh sáng của linh hồn trên cõi trí. [216] |
|
c. The stage in which these three lights are realised to be one unified light—a searchlight, ready to be turned in the needed direction. |
c. Giai đoạn nhận biết ba ánh sáng này là một ánh sáng hợp nhất—một đèn pha, sẵn sàng hướng về phía cần thiết. |
|
3. The recognition of two aspects of preparedness: |
3. Nhận biết hai phương diện của sự sẵn sàng: |
|
a. Alignment of the personality, so that the three aspects of the lower nature are seen as constituting one functioning personality. |
a. Chỉnh hợp phàm ngã, để thấy ba phương diện của bản chất thấp hợp thành một phàm ngã đang hoạt động. |
|
b. An act of integration in which the personality and the soul are seen also as a unit. This is done through the dedication of the personality to the soul and its acceptance by the soul. |
b. Một hành động tích hợp, trong đó phàm ngã và linh hồn cũng được nhìn nhận là một đơn vị. Điều này được thực hiện thông qua sự hiến dâng của phàm ngã cho linh hồn và sự chấp nhận phàm ngã của linh hồn. |
|
These two lines of thinking produce a field of magnetic thought and realisation in which all the work is done. |
Hai đường hướng tư duy này tạo ra một trường tư tưởng và nhận biết mang tính từ tính, trong đó toàn bộ công việc diễn ra. |
|
4. A pause in which the whole man braces himself for the work to be done. From a profound pre-occupation with the stage of soul contact and initial preparation he now focusses his attentive mind upon the glamour to be eradicated. This does not involve a consciousness of the glamour and its why and wherefore. It means a turning of the attention of the integrated soul-personality to the astral plane and the particular glamour; the attention is not turned to the astral body of the aspirant, seeking to do the work. This is a statement of major importance because in destroying the peculiar type of glamour with which he is concerned, the aspirant or disciple begins to destroy his share in it—that in him which gives him contact with the glamour—and at the same time he is preparing himself for group service along the same line. This will not prove an easy task. [217] |
4. Một khoảng dừng để toàn bộ con người tự củng cố, sẵn sàng cho công việc cần làm. Từ trạng thái chuyên chú sâu sắc vào giai đoạn tiếp xúc linh hồn và chuẩn bị ban đầu, giờ đây y tập trung thể trí đang chú tâm của mình vào ảo cảm cần loại trừ. Điều này không có nghĩa là đặt tâm thức vào ảo cảm và các nguyên do của nó. Nó có nghĩa là hướng sự chú ý của linh hồn–phàm ngã đã tích hợp vào cõi cảm dục và ảo cảm cụ thể; sự chú ý không hướng vào thể cảm dục của người chí nguyện đang tìm cách thực hiện công việc. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng, vì khi hủy diệt loại ảo cảm riêng biệt mà mình đang xử lý, người chí nguyện hay đệ tử bắt đầu hủy diệt phần tham dự của mình trong đó — tức phần trong y khiến y tiếp xúc với ảo cảm — đồng thời chuẩn bị cho sự phụng sự nhóm theo cùng đường hướng. Đây sẽ không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. [217] |
|
II. The Technique or Formula. |
II. Kỹ thuật hay Công thức. |
|
5. By an act of the creative imagination the worker endeavours to see and hear the soul—the source of light and power in the three worlds—breathing out the OM into the mind of the attentive waiting personality. There the light and power of the soul is retained and held by the positive personality, for a negative attitude is not desirable. |
5. Bằng một hành động của sự tưởng tượng sáng tạo, người hoạt động cố gắng thấy và nghe linh hồn — nguồn ánh sáng và quyền năng trong ba cõi giới — thở ra linh từ OM vào thể trí của phàm ngã đang chú tâm chờ đợi. Tại đó, phàm ngã dương tính giữ lại và duy trì ánh sáng cùng quyền năng của linh hồn, vì thái độ thụ động là điều không nên có. |
|
6. Ánh sáng và quyền năng được giữ lại, kết hợp với ánh sáng kép của phàm ngã — như chúng ta biết, tập trung trên cõi trí — được thấy là đang tạo ra một ánh sáng mãnh liệt, có thể hình dung như một đèn pha rực rỡ và mạnh mẽ. Phải thấy nó như một khối cầu ánh sáng sống động, rực rỡ, nhưng chưa tỏa ra hay phóng chiếu ra bên ngoài. |
|
|
7. When this act of visualisation is deemed to be satisfactorily accomplished, a pause then ensues wherein the aspirant focusses all the will he has behind the light thus created by the fusion of the three lights. This refers to the stage spoken of by Patanjali as that of the “mind held steady in the light.” This use of the will—soul-personality will—is dynamic but at this stage quiescent and not magnetic or radiatory. |
7. Khi việc hình dung này được xem là đã hoàn thành thỏa đáng, tiếp theo là một khoảng dừng, trong đó người chí nguyện tập trung toàn bộ ý chí mình có phía sau ánh sáng được tạo ra như vậy từ sự dung hợp của ba ánh sáng. Điều này nói đến giai đoạn mà Patanjali gọi là “thể trí được giữ vững trong ánh sáng”. Việc sử dụng ý chí này — ý chí linh hồn–phàm ngã — mang tính năng động, nhưng ở giai đoạn này vẫn ở trạng thái tĩnh, không mang tính từ tính hay phát xạ. |
|
8. Next follows a process wherein the glamour to be dissipated and the searchlight of the mind are brought into relationship by the power of thought. The glamour and its quality and the searchlight and its power are recognised to be as they are, and the effect or effects to be brought about by that relationship are carefully thought out. This must not be done in such a way that the mind process, light [218] and power will strengthen the already powerful glamour. It must be done in such a way that at the close of the process the glamour will be appreciably weakened and eventually dissipated. This is an important realisation. |
8. Tiếp theo là một tiến trình trong đó quyền năng tư tưởng đưa ảo cảm cần làm tiêu tan và đèn pha của thể trí vào mối liên hệ với nhau. Cần nhận biết đúng ảo cảm cùng phẩm tính của nó, đèn pha cùng quyền năng của nó, và suy nghĩ kỹ về tác động hay những tác động mà mối liên hệ ấy sẽ tạo ra. Không được thực hiện điều này theo cách khiến tiến trình của thể trí, ánh sáng [218] và quyền năng củng cố thêm ảo cảm vốn đã mạnh. Phải thực hiện sao cho khi tiến trình kết thúc, ảo cảm suy yếu rõ rệt và cuối cùng tiêu tan. Đây là một điều quan trọng cần nhận biết. |
|
9. Having, as far as possible, achieved the needed concentration, realisation and relationship, the aspirant then (by an act of the will and of the creative imagination) turns on the searchlight and sees a vivid beam of light stream forth and pierce the glamour. He must visualise a broad brilliant beam, pouring forth from the illumined mind on to the astral plane. He must believe that this is so. |
9. Sau khi đã đạt được, trong khả năng có thể, sự định trí, nhận biết và mối liên hệ cần thiết, người chí nguyện khi ấy, bằng một hành động của ý chí và sự tưởng tượng sáng tạo, bật đèn pha lên và thấy một tia sáng sống động tuôn ra, xuyên thấu ảo cảm. Y phải hình dung một chùm sáng rộng, rực rỡ, tuôn ra từ thể trí được soi sáng vào cõi cảm dục. Y phải tin rằng điều này là như vậy. |
|
10. Then comes an important and difficult phase of the work in which the worker names the glamour and sees it in process of dissipation. He aids the process by saying with tension and inaudibly: |
10. Tiếp đến là một giai đoạn quan trọng và khó khăn của công việc, trong đó người hoạt động gọi tên ảo cảm và thấy nó đang trong tiến trình tiêu tan. Y hỗ trợ tiến trình bằng cách nói thầm trong trạng thái tập trung nhất tâm: |
|
The power of the light prevents the appearance of the glamour (Naming it). |
Quyền năng của ánh sáng ngăn ảo cảm xuất hiện (Gọi tên nó). |
|
The power of the light negates the quality of the glamour from affecting me. |
Quyền năng của ánh sáng ngăn phẩm tính của ảo cảm tác động đến tôi. |
|
The power of the light destroys the life behind the glamour. |
Quyền năng của ánh sáng hủy diệt sự sống đằng sau ảo cảm. |
|
The saying of these three sentences constitutes an affirmation of power and of purpose and must be enunciated at a point of tension, with the mind held in steadiness and with a positive orientation. |
Việc nói ba câu này tạo thành một lời khẳng định về quyền năng và mục đích; các câu ấy phải được phát ra tại một điểm tập trung nhất tâm, với thể trí được giữ vững và một định hướng tích cực. |
|
11. Again the Sacred Word is sounded with intent to produce what in occult parlance is called an “Act of Penetration”; the light is then seen accomplishing three things: [219] |
11. Linh từ Thiêng liêng lại được xướng lên với ý định tạo ra điều mà thuật ngữ huyền bí học gọi là một “Hành động Xuyên thấu”; khi ấy, ánh sáng được thấy là đang thực hiện ba điều: [219] |
|
a. Tạo một tác động rõ rệt lên ảo cảm. |
|
|
b. Penetrating the glamour and being absorbed by it. |
b. Xuyên thấu ảo cảm và được nó hấp thụ. |
|
c. Dissipating it slowly; as time elapses the glamour will never again be so powerful and will eventually disappear altogether. |
c. Làm nó tiêu tan từ từ; theo thời gian, ảo cảm sẽ không bao giờ còn mạnh như trước và cuối cùng sẽ biến mất hoàn toàn. |
|
12. This is followed by a process of withdrawing wherein the aspirant consciously and deliberately withdraws the beam of light and re-orients himself upon the mental plane. |
12. Tiếp theo là một tiến trình thu hồi, trong đó người chí nguyện chủ tâm và có ý thức thu hồi chùm sáng, rồi tái định hướng mình trên cõi trí. |
|
I would point out that glamour is never immediately dissipated. It is of too ancient an origin. But a persistent use of this formula will weaken the glamour and slowly and inevitably it will vanish and the man will walk free from that particular hindrance. This may seem like a very long formula but I have purposely detailed it in as full a manner as possible so that the aspirant may clearly apprehend what he is intended to do. After due practice and a faithful following of the required conditions, the aspirant will follow it well-nigh automatically and all that he will then need will be the formula reduced to the following brief outline: |
Tôi muốn chỉ rõ rằng ảo cảm không bao giờ tiêu tan ngay lập tức. Nguồn gốc của nó quá cổ xưa. Nhưng việc kiên trì sử dụng công thức này sẽ làm suy yếu ảo cảm; chậm rãi nhưng chắc chắn, nó sẽ biến mất và con người sẽ bước đi tự do, không còn bị trở ngại riêng biệt ấy ràng buộc. Công thức này có vẻ rất dài, nhưng Tôi đã chủ ý trình bày chi tiết đầy đủ nhất có thể để người chí nguyện hiểu rõ những gì mình cần làm. Sau khi thực hành đúng mức và trung thành tuân theo các điều kiện cần thiết, người chí nguyện sẽ thực hiện công thức gần như tự động, và khi ấy tất cả những gì y cần sẽ là công thức rút gọn thành dàn ý ngắn sau đây: |
|
Brief Outline of the Formula |
Dàn ý Ngắn gọn của Công thức |
|
1. The four Preparatory Stages: |
1. Bốn Giai đoạn Chuẩn bị: |
|
a. Recognition of the glamour to be dissipated. |
a. Nhận biết ảo cảm cần làm tiêu tan. |
|
b. The stage of focussing the light of the personality, a dual light. |
b. Giai đoạn tập trung ánh sáng của phàm ngã, một ánh sáng kép. |
|
c. The stage of meditation and the recognition of the greater light. |
c. Giai đoạn tham thiền và nhận biết ánh sáng lớn hơn. |
|
d. The unification of the dual light of matter and the light of the soul, creating thus the searchlight of the mind. [220] |
d. Hợp nhất ánh sáng kép của vật chất với ánh sáng của linh hồn, qua đó tạo ra đèn pha của thể trí. [220] |
|
2. A process of alignment and of recognised integration. |
2. Một tiến trình chỉnh hợp và tích hợp có nhận biết. |
|
3. A deliberate turning of the searchlight of the mind to the astral plane. |
3. Chủ tâm hướng đèn pha của thể trí vào cõi cảm dục. |
|
The Formula |
Công thức |
|
4. Soul activity and the retention of the light. |
4. Hoạt động của linh hồn và việc giữ lại ánh sáng. |
|
5. The generating and visualising of the searchlight. |
5. Tạo ra và hình dung đèn pha. |
|
6. The evocation of the will behind the searchlight of the mind. |
6. Gợi lên ý chí phía sau đèn pha của thể trí. |
|
7. The generated unified light is turned upon the glamour by the power of thought. |
7. Quyền năng tư tưởng hướng ánh sáng hợp nhất đã tạo ra vào ảo cảm. |
|
8. The naming of the glamour and the triple affirmation. |
8. Định danh ảo cảm và lời khẳng định tam phân. |
|
9. The Act of Penetration. |
9. Hành Động Xuyên Thấu. |
|
10. The Process of Withdrawing. |
10. Tiến Trình Thu Hồi. |
|
You will see, brother of mine, that what I am in fact doing is teaching the coming generation how to destroy those forms of thought which hold the race in bondage and which in the case of glamour are the forms which desire, emotion, sensitivity to environment, developing aspiration and old ideals have taken and which prevent the light of the soul from illuminating the waking consciousness. The energies taking form upon the astral plane are not pure emotion and feeling, clothed in pure astral matter, for there is no such thing. They are the instinctual desires, evoked by the evolving substance of the physical plane and this, in its entirety and through the activity of the human family, is being redeemed and drawn upwards until some day we shall see the transfiguration of that substance and the “Glorification of the Virgin Mary”—the Mother Aspect in relation to divinity. They are also the descending thoughtforms which the developing human being is always creating and [221] drawing downwards into manifestation, clothing them with the substance of desire. When the descending forms of thought (a reflection in the three worlds of that vast “cloud of knowable things” in process of perception, as Patanjali calls it, and which hovers upon the buddhic plane, awaiting precipitation) and the ascending mass of instinctual demands from the lower aspect of the human unit and from humanity as a whole, meet at a point of tension then you have the appearance of what is known as the astral plane—a man-created sphere of activity. The subhuman kingdoms of nature know no astral plane; the superhuman kingdoms have surmounted it and discovered the secret of its delusion and no longer recognise it except as a temporary field of experience wherein man lives. In that sphere he learns the fact that reality is “none of these but only the One and the Other in relation with each other.” This is one of the occult phrases which the disciple has to learn to understand and which is descriptive of manifestation. |
Huynh đệ của Tôi, bạn sẽ thấy rằng điều Tôi thực sự đang làm là dạy cho thế hệ sắp tới cách phá hủy những hình tư tưởng đang giam hãm nhân loại; trong trường hợp ảo cảm, đó là những hình tướng mà dục vọng, cảm xúc, sự nhạy cảm với môi trường, khát vọng đang phát triển và những lý tưởng cũ đã khoác lấy, và chúng ngăn ánh sáng của linh hồn soi sáng tâm thức lúc tỉnh thức. Những năng lượng đang thành hình trên cõi cảm dục không phải là cảm xúc và cảm giác thuần túy khoác lấy vật chất cảm dục thuần túy, vì không có thứ như vậy. Chúng là những dục vọng bản năng do chất liệu đang tiến hoá của cõi hồng trần gợi lên; toàn bộ chất liệu này, thông qua hoạt động của gia đình nhân loại, đang được cứu chuộc và nâng lên, cho đến một ngày chúng ta sẽ thấy sự biến hình của chất liệu ấy và sự “Tôn Vinh Đức Trinh Nữ Maria”—Phương diện Mẹ trong mối liên hệ với thiên tính. Chúng cũng là những hình tư tưởng giáng xuống mà con người đang phát triển luôn tạo ra và [221] kéo xuống để biểu hiện, khoác cho chúng chất liệu dục vọng. Khi những hình tư tưởng giáng xuống (một phản chiếu trong ba cõi giới của “đám mây những điều khả tri” bao la đang trong tiến trình được nhận thức, như Patanjali gọi nó, và đang lơ lửng trên cõi Bồ đề, chờ ngưng tụ) gặp khối đòi hỏi bản năng đang dâng lên từ phương diện thấp của đơn vị nhân loại và từ toàn thể nhân loại tại một điểm tập trung nhất tâm, thì cái gọi là cõi cảm dục xuất hiện—một khối cầu hoạt động do con người tạo ra. Các giới dưới nhân loại trong tự nhiên không biết đến cõi cảm dục; các giới siêu nhân loại đã vượt qua nó, khám phá bí mật về sự mê lầm của nó, và không còn nhìn nhận nó ngoại trừ như một lĩnh vực trải nghiệm tạm thời nơi con người sống. Trong khối cầu ấy, y học được sự thật rằng thực tại “không phải bất cứ điều nào trong số này, mà chỉ là Đấng Duy Nhất và Đấng Khác trong mối liên hệ với nhau.” Đây là một trong những câu huyền bí mà đệ tử phải học cách thấu hiểu, và câu ấy mô tả sự biểu hiện. |
|
b. The Dissipation of Group Glamour and of World Glamour |
b. Làm Tiêu Tan Ảo Cảm Nhóm và Ảo Cảm Thế Giới |
|
Group work in dissipating world glamour must be handled (as will be obvious to you) by those who are working at the dissipation of glamour in their own lives and have learnt to use the formula just given. The majority of those so working are sixth ray aspirants—those who have sixth ray personalities or whose soul ray is the sixth, plus those on all rays who have powerful sixth ray astral vehicles. These make the most effective workers in the group but are subject to one major difficulty. In spite of aspiration and good intention, they are seldom aware of the glamours which control them. It is exceedingly hard to induce the sixth ray aspirant to admit that he is held [222] by a glamour, particularly when it is glamour of spiritual connotation and of a very high order. In their case, the glamour is enhanced by the energy of devotion which stiffens it and brings in a quality which makes it most difficult to penetrate. Their complete assurance proves a serious obstacle to clear-sighted work because that has all to go before the work of dissipation can be carried forward successfully. First ray people can overcome glamour with relative ease once they become aware of it as a personality limitation. Third ray people are as susceptible to it as are those of the sixth ray and their devious, twisting, planning minds and the rapidity with which they can deceive themselves (and seek often to deceive others) greatly hinders their work of clearing away glamour. Their pronounced tendency to be the victims of glamour is evidenced by the inability of the third ray aspirant and disciple to convey his meaning clearly by speech. He has guarded himself for many lives by devious formulations of thought and of ideas and can seldom convey his meaning clearly. This is why sixth ray people and third ray people almost inevitably prove themselves unable to teach. Both these groups must, therefore, learn to use this formula and they would greatly hasten the process of dissipation if they would force themselves to speak or write their thoughts clearly, if they would never be ambiguous or deal in half thoughts, innuendo or suggestion. They should clearly enunciate the ideas with which they may be dealing. |
Công việc nhóm nhằm làm tiêu tan ảo cảm thế giới phải do những người đang làm tiêu tan ảo cảm trong chính đời sống mình và đã học cách sử dụng công thức vừa được đưa ra đảm nhiệm (như các bạn hẳn thấy rõ). Đa số những người hoạt động như vậy là những người chí nguyện cung sáu—những người có phàm ngã cung sáu hoặc cung linh hồn là cung sáu, cùng với những người thuộc mọi cung có hiện thể cảm dục cung sáu mạnh mẽ. Họ là những người hoạt động hiệu quả nhất trong nhóm, nhưng lại gặp một khó khăn lớn. Dù có khát vọng và thiện ý, họ hiếm khi nhận biết những ảo cảm đang kiểm soát mình. Cực kỳ khó khiến người chí nguyện cung sáu thừa nhận rằng y đang chịu sự kìm giữ [222] của một ảo cảm, đặc biệt khi đó là ảo cảm mang hàm nghĩa tinh thần và thuộc cấp độ rất cao. Trong trường hợp của họ, năng lượng sùng tín làm tăng cường ảo cảm, khiến nó cứng chắc hơn và đưa vào một phẩm tính làm cho việc xuyên thấu nó trở nên hết sức khó khăn. Sự tin chắc hoàn toàn của họ là một trở ngại nghiêm trọng đối với công việc sáng suốt, vì toàn bộ sự tin chắc ấy phải biến mất trước khi công việc làm tiêu tan có thể tiến hành thành công. Người cung một có thể vượt qua ảo cảm tương đối dễ dàng một khi nhận biết nó là một giới hạn của phàm ngã. Người cung ba cũng dễ chịu ảnh hưởng của nó như người cung sáu; thể trí quanh co, uốn lượn, tính toán của họ, cùng với khả năng nhanh chóng tự lừa dối mình (và thường tìm cách lừa dối người khác), cản trở rất nhiều công việc loại bỏ ảo cảm của họ. Khuynh hướng rõ rệt trở thành nạn nhân của ảo cảm nơi họ thể hiện qua việc người chí nguyện và đệ tử cung ba không thể truyền đạt rõ ràng điều mình muốn nói bằng lời. Suốt nhiều kiếp sống, y đã tự bảo vệ bằng những cách trình bày tư tưởng và ý tưởng quanh co, và hiếm khi có thể truyền đạt rõ ràng ý mình. Đây là lý do người cung sáu và người cung ba gần như không tránh khỏi việc bộc lộ sự bất lực trong giảng dạy. Vì vậy, cả hai nhóm này phải học cách sử dụng công thức này; họ sẽ đẩy nhanh đáng kể tiến trình làm tiêu tan nếu buộc mình phải nói hoặc viết rõ ràng những tư tưởng của mình, nếu không bao giờ mập mờ hoặc dùng những tư tưởng nửa vời, lời ám chỉ hay gợi ý. Họ cần trình bày rõ ràng những ý tưởng mà mình đang bàn đến. |
|
The seventh ray person is faced with the difficulty of being able to create exceedingly clear-cut thoughtforms and the glamours, therefore, which control him are precise and definite and, to him, all compelling. They rapidly crystallise, however, and die their own death. Second ray aspirants are usually fully aware of any glamour which may be seeking to hold them because they have an innate faculty [223] of clear perception. Their problem is to kill out in themselves their rapid response to the magnetic pull of the astral plane and its many and widespread glamours. They are not so frequently responsive to a glamour as to all glamours in a relatively temporary manner but one which is nevertheless exceedingly delaying to their progress. Because of their clearsightedness, they add to this sensitivity to glamour an ability to suffer about it and to register their responsiveness as a sin and failure and thus delay their liberation from it by a negative attitude of inferiority and distress. They will profit enormously from a constant use of the formula until the time comes when they are aware of the glamour or glamours but are not touched by them. Fifth ray people suffer the least from glamour but are primarily the victims of illusion, and for them the Technique of the Presence is all-important because it brings in a factor which the true fifth ray person is apt to negate and refuse to admit, the fact of the Higher Self. He feels self-sufficient. They respond so easily and with such satisfaction to the power of thought; pride in their mental competence is their besetting sin and they are, therefore, set in their purposes and preoccupied with the world of the concrete and the intellectual. The moment that the Angel of the Presence is a reality to them, their response to illusion weakens and disappears. Their major problem is not so much the negation of the astral body, for they are apt to despise its hold, but they have a major difficulty in recognising that which the mind is intended to reveal—the divine spiritual Self. Their lower concrete mind interposes itself between them and the vision. |
Người cung bảy gặp khó khăn do có khả năng tạo ra những hình tư tưởng cực kỳ rõ nét; vì vậy, những ảo cảm kiểm soát y đều chính xác, xác định và, đối với y, có sức chi phối tuyệt đối. Tuy nhiên, chúng nhanh chóng kết tinh rồi tự diệt vong. Người chí nguyện cung hai thường nhận biết đầy đủ bất kỳ ảo cảm nào đang tìm cách kìm giữ mình, vì họ có năng lực bẩm sinh [223] nhận thức rõ ràng. Vấn đề của họ là loại bỏ trong chính mình sự đáp ứng nhanh chóng trước sức hút từ tính của cõi cảm dục và vô số ảo cảm lan rộng của nó. Họ không thường xuyên đáp ứng với một ảo cảm riêng lẻ bằng với tất cả các ảo cảm theo cách tương đối tạm thời, nhưng cách đáp ứng ấy vẫn làm chậm sự tiến bộ của họ rất nhiều. Do sáng suốt, bên cạnh sự nhạy cảm với ảo cảm này, họ còn có khả năng đau khổ vì nó và ghi nhận sự đáp ứng của mình như một tội lỗi và thất bại; bởi vậy, thái độ tiêu cực tự ti và khổ tâm khiến họ chậm thoát khỏi nó. Họ sẽ hưởng lợi rất lớn từ việc thường xuyên sử dụng công thức, cho đến lúc nhận biết ảo cảm hoặc các ảo cảm mà không chịu tác động của chúng. Người cung năm chịu ảnh hưởng của ảo cảm ít nhất, nhưng chủ yếu là nạn nhân của ảo tưởng; đối với họ, Kỹ Thuật của Hiện Diện có tầm quan trọng tối cao, vì nó đưa vào một yếu tố mà người cung năm đích thực thường phủ nhận và không chịu thừa nhận: sự thật về chân ngã. Y cảm thấy mình tự đầy đủ. Họ đáp ứng quá dễ dàng và quá mãn nguyện trước quyền năng của tư tưởng; niềm kiêu hãnh về năng lực trí tuệ là lỗi lầm thường trực của họ, nên họ cố chấp với các mục đích của mình và mải mê với thế giới cụ thể và trí thức. Ngay khi Thiên Thần của Hiện Diện trở thành một thực tại đối với họ, sự đáp ứng của họ với ảo tưởng suy yếu rồi biến mất. Vấn đề chính của họ không hẳn là phủ nhận thể cảm dục, vì họ thường coi thường sức kìm giữ của nó; khó khăn lớn của họ nằm ở việc nhận biết điều mà thể trí có nhiệm vụ mặc khải—Bản Ngã tinh thần thiêng liêng. Hạ trí cụ thể của họ chen vào giữa họ và tầm nhìn. |
|
Fourth ray people are peculiarly prone to fall into glamour and thus to produce a condition which is one of extreme difficulty. I might define their problem by saying that they tend to bring their illusions down to the astral plane and there clothe them with glamour and have consequently [224] a double problem upon their hands; they are faced with a unification of glamour and illusion. They are, however, the group of souls which will eventually reveal the true nature of the intuition and this will be the result of their illusory glamorous fight in the world of appearances. |
Người cung bốn đặc biệt dễ rơi vào ảo cảm, và do đó tạo ra một tình trạng cực kỳ khó khăn. Tôi có thể xác định vấn đề của họ bằng cách nói rằng họ có khuynh hướng đưa những ảo tưởng của mình xuống cõi cảm dục, khoác cho chúng ảo cảm ở đó, và vì thế [224] phải xử lý một vấn đề kép; họ đối diện với sự hợp nhất của ảo cảm và ảo tưởng. Tuy nhiên, họ là nhóm linh hồn cuối cùng sẽ mặc khải bản chất đích thực của trực giác, và điều này sẽ là kết quả của cuộc chiến mang tính ảo tưởng và ảo cảm của họ trong thế giới vẻ ngoài. |
|
We come now to the consideration of the formula to be used by those who seek to serve humanity by deliberately breaking up and dispersing the glamours which hold the race in thrall and who know the need to do this in group formation. Certain individual characteristics are essential for the personnel of such groups. First of all there must be an ability to work “without attachment” to results and to use the formula for a given length of time (for instance, once a week for two years or more) without looking for results; they need to realise that they can never know whether they are successful or not, because the glamours they are attempting to dissipate are so widespread and general that effects cannot be grasped by their individual minds. They are too close to the picture; their perspective has necessarily to be that of the immediate foreground. Secondly, they must have an intelligent appreciation of what constitutes a world glamour so that they can occultly “name it” and, by so doing, contact it. They must, thirdly, be accustomed to the work of dispersing glamour in their own lives; the necessity to do this and their success in so doing are factors which indicate their suitability for the task. |
Giờ đây, chúng ta xem xét công thức dành cho những người tìm cách phụng sự nhân loại bằng việc chủ ý phá vỡ và phân tán những ảo cảm đang giam hãm nhân loại, đồng thời biết rằng cần thực hiện điều này theo đội hình nhóm. Một số đặc điểm cá nhân là thiết yếu đối với các thành viên của những nhóm như vậy. Trước hết, họ phải có khả năng hoạt động “không chấp trước” vào kết quả và sử dụng công thức trong một khoảng thời gian nhất định (chẳng hạn, mỗi tuần một lần trong hai năm hoặc lâu hơn) mà không trông chờ kết quả; họ cần nhận ra rằng mình không bao giờ có thể biết liệu có thành công hay không, vì những ảo cảm họ đang cố làm tiêu tan quá phổ biến và lan rộng, đến mức thể trí cá nhân của họ không thể nắm bắt được các hiệu quả. Họ đứng quá gần bức tranh; góc nhìn của họ tất yếu chỉ bao quát phần tiền cảnh ngay trước mắt. Thứ hai, họ phải có sự nhận thức sáng suốt về những gì cấu thành một ảo cảm thế giới, để có thể “định danh nó” theo nghĩa huyền bí, và nhờ vậy tiếp xúc với nó. Thứ ba, họ phải quen với công việc phân tán ảo cảm trong chính đời sống mình; nhu cầu thực hiện điều này và thành công của họ trong việc đó là những yếu tố cho thấy họ thích hợp với nhiệm vụ. |
|
They must, finally, love their fellowmen. This they must not do as the sixth ray person loves them, with an isolating devotion, but as the second ray person loves—with an all round appreciation of humanity, an understanding heart, plus a critical mind, which loves steadily in spite of error seen, with a clear sighted perception of the assets and the debits of an individual or a race. The ability to [225] do this is one of the factors which enables the sixth ray aspirant to transfer off the minor sixth ray and find his place upon the major second ray, as must all sixth and fourth ray initiates. |
Cuối cùng, họ phải yêu thương đồng loại. Họ không được yêu thương như người cung sáu, với lòng sùng tín mang tính cô lập, mà phải yêu thương như người cung hai—với sự trân trọng toàn diện đối với nhân loại, một trái tim thấu hiểu cùng một thể trí biết phê phán, vẫn yêu thương bền bỉ dù thấy rõ sai lầm, đồng thời nhận thức sáng suốt những ưu điểm và khuyết điểm của một cá nhân hoặc của nhân loại. Khả năng [225] làm được điều này là một trong những yếu tố giúp người chí nguyện cung sáu chuyển khỏi cung phụ sáu và tìm được vị trí của mình trên cung chính hai, như mọi điểm đạo đồ cung sáu và cung bốn đều phải làm. |
|
One of the requirements in this group work is a most careful choice of those who are to participate in the work. They must be chosen because they can work together. They must either know each other exceedingly well and be free from personality frictions or they must be relatively unknown to each other as personalities but are drawn to each other as soul-collaborators in this particular work. They must, as far as in them lies, endeavour to work with regularity so that a rhythm can be set up which will lead to a steady rhythmic impact of the light upon the glamour. They must also adhere faithfully to the formula given. This is one of the initial formulas and is most powerful because it is one of the very first to be used in group dissipation of glamour. This whole procedure is entirely new as far as man is concerned, and the work to be done will necessarily prove hard as it involves an interesting situation. The groups who will do this work of piercing the glamours which dim the vision of humanity and of dissipating them will be the first non-initiate groups to work this way upon the physical plane and to work consciously and with fixed intent. Hitherto the work has been carried forward by members of the Hierarchy, and then only with the idea of holding back the glamours until such time as humanity was ready to destroy that which it had created. Glamours have also been pierced before now by massed effort carried forward for a long time and usually without any very real conscious understanding. An illustration of this would be the work done by the Church in a diffused and vague way in piercing the glamour of material desire and material good by substituting the idea of a heavenly substitute. The work that is [226] now planned is dynamic and clear cut, consciously carried forward and specific in its impact. It is a definite method of handling and projecting the energy of light with the objective of destroying the impediments of an emotional-mental nature upon the Path of Return to God. |
Một yêu cầu trong công việc nhóm này là lựa chọn hết sức cẩn thận những người sẽ tham gia. Phải chọn họ vì họ có thể làm việc cùng nhau. Hoặc họ phải biết nhau rất rõ và không có những va chạm phàm ngã, hoặc họ tương đối chưa biết nhau về mặt phàm ngã nhưng thu hút lẫn nhau như những cộng sự linh hồn trong công việc đặc thù này. Trong khả năng của mình, họ phải cố gắng hoạt động đều đặn để thiết lập một nhịp điệu dẫn đến sự tác động nhịp nhàng, bền bỉ của ánh sáng lên ảo cảm. Họ cũng phải trung thành tuân theo công thức đã cho. Đây là một trong những công thức ban đầu và có sức mạnh rất lớn, vì là một trong những công thức đầu tiên dùng để làm tiêu tan ảo cảm theo nhóm. Toàn bộ quy trình này hoàn toàn mới đối với con người, và công việc cần thực hiện tất yếu sẽ khó khăn vì liên quan đến một tình huống đáng chú ý. Những nhóm thực hiện công việc xuyên thấu và làm tiêu tan các ảo cảm che mờ tầm nhìn của nhân loại sẽ là những nhóm chưa được điểm đạo đầu tiên hoạt động theo cách này trên cõi hồng trần, một cách có ý thức và với ý định kiên định. Cho đến nay, các thành viên của Thánh đoàn đã đảm nhiệm công việc này, nhưng chỉ nhằm kiềm chế các ảo cảm cho đến khi nhân loại sẵn sàng phá hủy những gì mình đã tạo ra. Trước đây, những nỗ lực tập thể kéo dài, thường không có sự thấu hiểu hữu thức thực sự, cũng đã xuyên thấu các ảo cảm. Một minh họa cho điều này là công việc Giáo hội thực hiện một cách phân tán và mơ hồ để xuyên thấu ảo cảm về dục vọng vật chất và lợi ích vật chất, bằng cách thay vào đó ý tưởng về một sự thay thế trên thiên đàng. Công việc [226] đang được hoạch định hiện nay mang tính năng động và rõ ràng, được tiến hành có ý thức và có tác động cụ thể. Đó là một phương pháp xác định để xử lý và phóng chiếu năng lượng ánh sáng, nhằm phá hủy những trở ngại mang bản chất cảm xúc–trí tuệ trên Con Đường Trở Về với Thượng đế. |
|
It is desirable and aids an easier and more concentrated form of work if the group can meet together for the use of the formula. If, however, this proves not possible, then the personnel of the group can arrange to work apart but with the idea of the work being group work firmly realised and with a steady recognition of the members who form the group body. This is necessary both for the “pooling of the light” and also for protection from the glamour to be attacked. This “pooling of the light” is a major requirement and must ever be borne in mind. Whenever possible, the rule should be that the work is done at some definite planned group meeting, even if this entails quite drastic sacrifice on the part of some of the members. |
Nếu nhóm có thể tụ họp để sử dụng công thức thì điều đó đáng mong muốn và giúp công việc dễ dàng, tập trung hơn. Tuy nhiên, nếu không thể làm vậy, các thành viên có thể sắp xếp hoạt động riêng, nhưng phải nhận biết vững chắc rằng đây là công việc nhóm và luôn ý thức về những thành viên hợp thành tập thể ấy. Điều này cần thiết cả cho việc “hợp nhất ánh sáng” lẫn việc bảo vệ khỏi ảo cảm sắp bị tấn công. Sự “hợp nhất ánh sáng” này là một yêu cầu chính yếu và phải luôn ghi nhớ. Bất cứ khi nào có thể, quy luật cần tuân theo là thực hiện công việc tại một buổi họp nhóm đã được lên kế hoạch cụ thể, dù điều này đòi hỏi một số thành viên phải hy sinh rất nhiều. |
|
I advise that some glamour which all the group members recognise as a major hindrance to the progress of humanity be one of the first handled by the group. I would also advise that in the early stages of their work, they deal with a glamour affecting aspirants and that they do not attempt to tackle the more widely spread and deeply centred glamours of the race as a whole. Let them develop facility in handling some of the lesser and more easily visualised glamours. Then as time goes on and facility in the work is gained, the group can pass to the more difficult tasks and handle the glamours further removed from their own orbit of difficulties. It is surely needless for me to point out that the group members be but those who are endeavouring to keep their own lives free from glamour. I would also add that if a group member is in the thick of glamour himself and is occupied with wrestling with it, he should abstain [227] from the group work until he has freed himself with the aid of the individual formula. |
Tôi khuyên rằng một ảo cảm mà mọi thành viên đều nhận biết là trở ngại lớn đối với sự tiến bộ của nhân loại nên nằm trong số những ảo cảm đầu tiên mà nhóm xử lý. Tôi cũng khuyên rằng trong các giai đoạn đầu của công việc, họ nên xử lý một ảo cảm ảnh hưởng đến những người chí nguyện, và không cố giải quyết những ảo cảm lan rộng hơn và bám rễ sâu trong toàn thể nhân loại. Hãy để họ phát triển sự thành thạo trong việc xử lý một số ảo cảm nhỏ hơn và dễ hình dung hơn. Rồi theo thời gian, khi đã thành thạo công việc, nhóm có thể chuyển sang những nhiệm vụ khó khăn hơn và xử lý những ảo cảm nằm xa hơn phạm vi khó khăn của chính mình. Hẳn Tôi không cần chỉ ra rằng thành viên của nhóm chỉ nên là những người đang cố gắng giữ cho đời sống mình không vướng ảo cảm. Tôi cũng muốn nói thêm rằng nếu một thành viên đang chìm sâu trong ảo cảm và bận vật lộn với nó, y nên tạm ngừng [227] công việc nhóm cho đến khi tự giải thoát nhờ công thức cá nhân. |
|
Those who can face themselves with an open eye and who see the truth as it is, who can face the same facts in connection with humanity, and can stand serene and unafraid in the face of the worst kind of discoveries about themselves and the world of men, are those who will employ this technique with the most success. I would also remind you that the group will need to protect itself from the glamour or glamours which it is attempting to dissipate. Their individual tendency to glamour is the factor which gives them the right to serve in this way but it also lays them open to danger, and for this a protective formula will be necessary. |
Những người có thể nhìn thẳng vào chính mình với đôi mắt rộng mở và thấy chân lý đúng như nó vốn có, có thể đối diện với những sự thật tương tự về nhân loại, và có thể giữ sự tĩnh lặng, không sợ hãi khi đối diện với những khám phá tồi tệ nhất về chính mình và thế giới con người, sẽ sử dụng kỹ thuật này thành công nhất. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng nhóm cần tự bảo vệ khỏi ảo cảm hoặc các ảo cảm mà mình đang cố làm tiêu tan. Khuynh hướng cá nhân dễ vướng ảo cảm là yếu tố cho họ quyền phụng sự theo cách này, nhưng cũng khiến họ dễ gặp nguy hiểm; vì vậy, cần có một công thức bảo vệ. |
|
The formula will, therefore, be divided into three parts: |
Do đó, công thức sẽ chia thành ba phần: |
|
1. The Preparatory Stages. |
1. Các Giai Đoạn Chuẩn Bị. |
|
2. The Use of the Protective Formula. |
2. Sử Dụng Công Thức Bảo Vệ. |
|
3. Group Formula for the Dissipation of Glamour. |
3. Công Thức Nhóm để Làm Tiêu Tan Ảo Cảm. |
|
The work done by the individual in dealing with his personal problems of glamour will greatly facilitate the preparatory work of the group. |
Công việc cá nhân thực hiện để xử lý những vấn đề ảo cảm riêng của mình sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho công việc chuẩn bị của nhóm. |
|
You will note that in outlining to you this work, I make no reference to the type of room, to the position of the group members, to posture assumed, to the use of incense, or to any of the paraphernalia which so many occult groups deem of importance. The set physical rituals are today (from the angle of the Hierarchy) entirely obsolete and of no importance where disciples and advanced aspirants are concerned. They are of value to the little evolved in whom the sense of drama has to be developed and who need external aids, and they do provide a setting which serves to help beginners to keep the theme of their work and their objective in view. The only ritual which is [228] still regarded as of value to the human family as a whole—particularly to the advanced person—is the Masonic Ritual. The reason for this is that it is a pictorial representation of the process of Creation, of the relation between God and man, of the Path of Return and also of those great Initiations through the means of which the liberated initiate passes into the Council Chamber of the Most High. But with the exception of this, the small petty rituals of position and of physical relations in respect to attitude and seating arrangements are regarded as unnecessary and as usurping frequently the attention which should be given to the work in hand. |
Các bạn sẽ nhận thấy rằng khi phác thảo công việc này cho các bạn, Tôi không đề cập đến loại phòng, vị trí của các thành viên trong nhóm, tư thế, việc dùng hương, hay bất kỳ vật dụng nghi lễ nào mà rất nhiều nhóm huyền bí xem là quan trọng. Ngày nay, theo góc nhìn của Thánh đoàn, những nghi thức hồng trần cố định đã hoàn toàn lỗi thời và không quan trọng đối với các đệ tử và người chí nguyện tiến bộ. Chúng có giá trị đối với những người ít tiến hoá, nơi họ cần phát triển cảm nhận về tính kịch và cần sự trợ giúp bên ngoài; chúng quả thực tạo ra một khung cảnh giúp người mới bắt đầu ghi nhớ chủ đề công việc và mục tiêu của mình. Nghi thức duy nhất [228] vẫn được xem là có giá trị đối với toàn thể gia đình nhân loại—đặc biệt đối với người tiến bộ—là Nghi Thức Tam Điểm. Lý do là nghi thức ấy thể hiện bằng hình ảnh tiến trình Sáng Tạo, mối liên hệ giữa Thượng đế và con người, Con Đường Trở Về, cùng những cuộc Điểm Đạo vĩ đại mà nhờ đó điểm đạo đồ đã giải thoát bước vào Phòng Hội Đồng của Đấng Tối Cao. Nhưng ngoài ngoại lệ này, những nghi thức nhỏ nhặt về vị trí và các tương quan hồng trần liên quan đến tư thế và cách sắp xếp chỗ ngồi đều được xem là không cần thiết, và thường chiếm mất sự chú ý đáng lẽ phải dành cho công việc đang thực hiện. |
|
Those using these formulas are presumed to have acquired some measure of inner polarisation and to be able to withdraw themselves to their spiritual centre in any place and at any time. This is the centre of quiet thought from whence the work is carried on. |
Những người sử dụng các công thức này được xem là đã đạt một mức độ phân cực bên trong và có khả năng thu mình về trung tâm tinh thần ở bất kỳ nơi nào, vào bất kỳ lúc nào. Đây là trung tâm của tư tưởng tĩnh lặng, nơi công việc được tiến hành. |
|
All that is needed as a preface to this group work is ten minutes of complete silence in which the group members attempt to set up that magnetic field of positive receptive activity (note here the paradoxes of the occult sciences) which will make the rest of the work possible. |
Tất cả những gì cần để mở đầu công việc nhóm này là mười phút hoàn toàn im lặng, trong đó các thành viên cố gắng thiết lập trường từ tính của hoạt động tiếp nhận tích cực (hãy lưu ý ở đây những nghịch lý của các khoa học huyền bí), để phần công việc còn lại có thể thực hiện. |
|
The leader of the group (chosen in rotation so that all the members of the group occupy that position) starts the work by calling the names of the group members and as each name is called, the other group members look directly into the eyes of the one named, who rises and for a minute faces them. Thus a rapport and a relationship is established because the directive magnetic force of each soul is always reached from “eye to eye.” This is the occult significance of the words “Can you look me in the eye?” or “They eyed each other” and similar phrases. Then, having established this interlocking relationship, the group sits in silence for ten minutes. This is done in order to withdraw the consciousness [229] from all world and personal affairs and centre it upon the work to be done. At the end of that time, the leader names the glamour with which the group is to be occupied. There will be no dissension anent the glamour at the time of the group meeting because the group members—outside the meetings and for a month prior to undertaking the task of dissipating the glamour will have made a study of it, its implications, its historicity and effects—psychological, individual, group and national, and also its widespread influence over humanity as a whole. The experience of the group in this type of work will determine the nature of the glamour to be dealt with. As I earlier pointed out, the inexperienced group of workers will begin by dealing with one of the glamours which hinder aspirants and will pass on from these to handle the more powerful and more widely dispersed glamours which trouble humanity as a whole. This preface to the work is frequently called the Act of Naming, because both the group members and also the glamour are named. |
Người lãnh đạo nhóm (được chọn luân phiên để mọi thành viên đều đảm nhiệm vị trí ấy) bắt đầu công việc bằng cách gọi tên các thành viên; khi mỗi tên được gọi, những thành viên khác nhìn thẳng vào mắt người ấy, người được gọi tên đứng lên và đối diện với họ trong một phút. Nhờ vậy, sự hòa hợp và mối liên hệ được thiết lập, vì luôn có thể tiếp cận mãnh lực từ tính định hướng của mỗi linh hồn qua sự giao tiếp “mắt với mắt.” Đây là thâm nghĩa huyền bí của những lời “Bạn có thể nhìn thẳng vào mắt tôi không?” hay “Họ nhìn vào mắt nhau” và những câu tương tự. Sau khi thiết lập mối liên hệ gắn kết này, nhóm ngồi im lặng trong mười phút. Điều này nhằm thu hồi tâm thức [229] khỏi mọi việc thế giới và cá nhân, rồi tập trung nó vào công việc cần thực hiện. Khi hết thời gian ấy, người lãnh đạo định danh ảo cảm mà nhóm sẽ xử lý. Sẽ không có bất đồng về ảo cảm ấy trong buổi họp nhóm, vì các thành viên—ngoài những buổi họp và trong một tháng trước khi đảm nhận nhiệm vụ làm tiêu tan ảo cảm—đã nghiên cứu nó, các hàm ý, lịch sử và những tác động của nó về tâm lý, cá nhân, nhóm và quốc gia, cũng như ảnh hưởng rộng khắp của nó lên toàn thể nhân loại. Kinh nghiệm của nhóm trong loại công việc này sẽ quyết định bản chất của ảo cảm cần xử lý. Như Tôi đã chỉ ra trước đây, nhóm hoạt động chưa có kinh nghiệm sẽ bắt đầu bằng việc xử lý một trong những ảo cảm cản trở người chí nguyện, rồi từ đó chuyển sang những ảo cảm mạnh mẽ hơn, lan rộng hơn, đang gây khó khăn cho toàn thể nhân loại. Phần mở đầu công việc này thường được gọi là Hành Động Định Danh, vì cả các thành viên trong nhóm lẫn ảo cảm đều được định danh. |
|
The next stage is similar to the preparatory stages in the formula for the dissipation of glamour for the individual. You have therefore the following: |
Giai đoạn tiếp theo tương tự các giai đoạn chuẩn bị trong công thức làm tiêu tan ảo cảm dành cho cá nhân. Vì vậy, các bạn có trình tự sau: |
|
THE PREPARATORY STAGES |
CÁC GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ |
|
1. The Act of Naming. |
1. Hành Động Định Danh. |
|
2. The Protective Formula. |
2. Công Thức Bảo Vệ. |
|
The Protective Formula is very simple. The members of the group will say in unison: |
Công Thức Bảo Vệ rất đơn giản. Các thành viên của nhóm sẽ đồng thanh nói: |
|
“As a soul I work in light and darkness cannot touch me. |
“Là một linh hồn, tôi hoạt động trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi. |
|
I take my stand within the light. |
Tôi trụ vững trong ánh sáng. |
|
I work and from that point I never move.” |
Tôi hoạt động và không bao giờ rời khỏi điểm ấy.” |
|
[230] As they say this, each person in the group makes the sign of the Cross by touching the centre of the forehead, the centre of the chest, and each of the two eyes, thus forming the long limbed Cross of the Christ or of divine humanity. The Cross is not, as you well know, simply a Christian symbol. It is the great symbol of light and of consciousness and signifies the vertical light and the horizontal light, the power of attraction and the power of radiation, soul life and service. The Cross as now made in the Catholic Churches, touching the forehead, the heart and the two shoulders is the sign of matter. It signifies in reality the third Aspect. The Cross which the group will make is the Cross of Christ and of the Christ consciousness. Gradually the Cross of Christ (the Cross of the Risen Christ) will supersede the Cross of matter and of the Mother aspect. Its likeness to the swastika is obvious and will be one of the reasons for its disappearance. |
[230] Khi nói những lời này, mỗi người trong nhóm làm dấu Thập Giá bằng cách chạm vào giữa trán, giữa ngực và từng mắt, qua đó tạo thành Thập Giá có các nhánh dài của Đức Christ hay của nhân loại thiêng liêng. Như các bạn biết rõ, Thập Giá không chỉ đơn thuần là một biểu tượng Kitô giáo. Đó là biểu tượng vĩ đại của ánh sáng và tâm thức, biểu thị ánh sáng theo chiều dọc và ánh sáng theo chiều ngang, quyền năng thu hút và quyền năng phát xạ, đời sống linh hồn và sự phụng sự. Dấu Thập Giá hiện nay trong các Giáo hội Công giáo, chạm vào trán, tim và hai vai, là dấu hiệu của vật chất. Thực ra, nó biểu thị Phương diện thứ ba. Thập Giá mà nhóm sẽ làm là Thập Giá của Đức Christ và của tâm thức Christ. Dần dần, Thập Giá của Đức Christ (Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh) sẽ thay thế Thập Giá của vật chất và của phương diện Mẹ. Sự tương đồng của thập giá ấy với chữ vạn là rõ ràng và sẽ là một trong những lý do khiến nó biến mất. |
|
3. The Preparatory Stages: |
3. Các Giai Đoạn Chuẩn Bị: |
|
a. Focussing the dual personality light of matter and of mind. |
a. Tập trung ánh sáng kép của phàm ngã: ánh sáng của vật chất và ánh sáng của thể trí. |
|
b. Meditation on soul contact and the recognition of soul light. |
b. Tham thiền về sự tiếp xúc với linh hồn và nhận biết ánh sáng linh hồn. |
|
c. The blending and fusion of the two lesser lights and of soul light. This is carried forward as a group, each member making his contribution and consciously attempting to visualise the process of blending the triple light which each contributes, into one sphere of light. |
c. Hòa trộn và dung hợp hai ánh sáng nhỏ hơn với ánh sáng linh hồn. Công việc này được tiến hành theo nhóm, mỗi thành viên đóng góp phần mình và có ý thức cố gắng hình dung tiến trình hòa trộn ánh sáng tam phân mà mỗi người đóng góp thành một khối cầu ánh sáng. |
|
4. Then the group says in unison, at a signal from the leader: [231] |
4. Sau đó, theo hiệu lệnh của người lãnh đạo, nhóm đồng thanh nói: [231] |
|
“The light is one and in that light shall we see light. |
“Ánh sáng là một, và trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ánh sáng. |
|
This is the light that turns the darkness into day.” |
Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.” |
|
OM. |
OM. |
|
OM. |
OM. |
|
OM. |
OM. |
|
The processes of individual and group alignment and integration can now be regarded as completed and when it is really correctly accomplished, each meeting thereafter should see a more rapid integration and fusion and a greater brilliance of the sphere of light thus created. The sounding of OM indicates both the fusion and the sphere of action because OM is first of all sounded forth by the group soul (the realised unity of the souls of all the group members) and then as the soul upon the mental plane, and finally as the soul ready to function as lightbearer and distributor of light upon the astral plane. These are all symbolic ways of registering the inner reality and are an attempt to externalise force, for that is what all symbols and symbolic ways of acting are capable of doing; they thus serve to keep the workers at a point of tension. This is an important recognition and should keep the workers from attributing undue power to the form aspect of the simple ritual and aid them in focussing their attention in the world of meaning and of subjective spiritual activity. These three stages are called: |
Giờ đây, có thể xem các tiến trình chỉnh hợp và tích hợp cá nhân và nhóm là đã hoàn tất; khi điều này thực sự được thực hiện đúng đắn, mỗi buổi họp sau đó sẽ chứng kiến sự tích hợp và dung hợp nhanh hơn, cùng độ rực sáng lớn hơn của khối cầu ánh sáng được tạo ra như vậy. Việc xướng OM biểu thị cả sự dung hợp lẫn khối cầu hoạt động, vì trước hết hồn nhóm (sự hợp nhất đã được chứng nghiệm của linh hồn mọi thành viên trong nhóm) xướng OM, rồi xướng với tư cách linh hồn trên cõi trí, và cuối cùng với tư cách linh hồn sẵn sàng hoạt động như người mang ánh sáng và phân phối ánh sáng trên cõi cảm dục. Tất cả đều là những cách mang tính biểu tượng để ghi nhận thực tại bên trong và là một nỗ lực ngoại hiện mãnh lực, vì đó là điều mà mọi biểu tượng và cách hành động mang tính biểu tượng đều có khả năng thực hiện; nhờ vậy, chúng giúp giữ những người hoạt động tại một điểm tập trung nhất tâm. Đây là một nhận biết quan trọng, cần giúp những người hoạt động tránh gán quyền năng quá mức cho phương diện hình tướng của nghi thức đơn giản này, và giúp họ tập trung sự chú ý vào thế giới ý nghĩa và hoạt động tinh thần chủ quan. Ba giai đoạn này được gọi là: |
|
1. The Act of Naming. |
1. Hành Động Định Danh. |
|
2. The Act of Protection. |
2. Hành Động Bảo Vệ. |
|
3. The Act of Focussing the Light. |
3. Hành Động Tập Trung Ánh Sáng. |
|
It will be apparent to you that much depends upon the ability of the group members to visualise clearly as well as to think clearly. Practice naturally tends to perfect both processes. At the close of these three stages, the group members are united as souls insulated against the attractive power of the glamour, and united as souls with mind and brain held steady and positive in the light. Their blended [232] light is looked upon by them as a great searchlight whose beams are to be directed through an act of the will downward from the mental plane on to the glamour existing on the astral plane and which has been brought into relation with the group by the very act of naming it. I am going into detail on this matter because the work is a new venture and I am anxious for you to start it with a clear understanding as to how the task is to be carried out. At the close of this instruction you will find the two long and two short formulas so that they can be seen and grasped apart from their explanatory context. This initial work should take fifteen minutes at first and later not more than five (excluding the ten minutes of silent preparation which precedes the formal work) for the group members will get used to working together and will eventually attain the objectives of the preparatory work with great rapidity. |
Các bạn sẽ thấy rõ rằng rất nhiều điều phụ thuộc vào khả năng hình dung rõ ràng cũng như tư duy rõ ràng của các thành viên trong nhóm. Việc thực hành tự nhiên sẽ hoàn thiện cả hai tiến trình. Khi kết thúc ba giai đoạn này, các thành viên hợp nhất như những linh hồn được bảo vệ khỏi sức hút của ảo cảm, và hợp nhất như những linh hồn với thể trí và bộ não được giữ vững, tích cực trong ánh sáng. Ánh sáng hòa trộn [232] của họ được họ xem như một đèn pha lớn; bằng một hành động của ý chí, các tia sáng của nó sẽ hướng xuống từ cõi trí đến ảo cảm hiện hữu trên cõi cảm dục, vốn đã được đưa vào mối liên hệ với nhóm qua chính hành động định danh nó. Tôi đi sâu vào chi tiết vấn đề này vì công việc là một bước đi mới, và Tôi mong các bạn bắt đầu với sự thấu hiểu rõ ràng về cách thực hiện nhiệm vụ. Ở cuối phần huấn thị này, các bạn sẽ thấy hai công thức dài và hai công thức ngắn, để có thể xem và nắm bắt chúng tách khỏi phần giải thích. Ban đầu, công việc mở đầu này nên kéo dài mười lăm phút, và về sau không quá năm phút (không tính mười phút chuẩn bị trong im lặng trước công việc chính thức), vì các thành viên sẽ quen làm việc cùng nhau và cuối cùng đạt được các mục tiêu của công việc chuẩn bị rất nhanh chóng. |
|
THE TECHNIQUE OR FORMULA |
KỸ THUẬT HAY CÔNG THỨC |
|
5. Then together and in vocal unison the group says: |
5. Sau đó, cả nhóm cùng đồng thanh nói: |
|
“Radiance we are and power. We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour. |
“Chúng ta là sự rạng rỡ và quyền năng. Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay dang rộng, kết nối trời và đất, thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm. |
|
“We reach into the Light and bring it down to meet the need. We reach into the silent Place and bring from thence the gift of understanding. Thus with the light we work and turn the darkness into day.” |
“Chúng ta vươn vào Ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu. Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu. Như vậy, chúng ta làm việc với ánh sáng và biến bóng tối thành ban ngày.” |
|
As they say this, the group visualises the turning of the great searchlight which they have jointly created by their unified light on to the glamour to be dissipated, holding the light steady [233] and realising mentally the work of dissipation it is intended to do. This is called the Act of Direction. |
Khi nói những lời này, nhóm hình dung việc hướng đèn pha lớn mà họ đã cùng tạo ra bằng ánh sáng hợp nhất của mình vào ảo cảm cần làm tiêu tan, giữ ánh sáng ổn định [233] và nhận biết bằng trí tuệ công việc làm tiêu tan mà ánh sáng ấy có nhiệm vụ thực hiện. Điều này được gọi là Hành Động Định Hướng. |
|
6. Then follows a pause for a few minutes in which the group attempts to throw behind the searchlight their united directed and dynamic will or intent; this carries along the projected beam of light the destructive quality of the spiritual will—destructive to all that hinders the manifestation of divinity. This is done by attaining a united point of tension, and the dedication of the individual and group will to the will of God. This is called the Act of Will and is carried on by each member of the group silently and with a deep realisation that all are thus accepted and that it is the group will which is being silently focussed. Then together they say: |
6. Tiếp theo là một khoảng dừng vài phút, trong đó nhóm cố gắng đặt sau đèn pha ý chí hay ý định hợp nhất, có định hướng và năng động của mình; điều này truyền theo tia sáng phóng chiếu phẩm tính phá hủy của ý chí tinh thần—phá hủy tất cả những gì cản trở sự biểu hiện của thiên tính. Điều này được thực hiện bằng cách đạt đến một điểm tập trung nhất tâm hợp nhất và hiến dâng ý chí cá nhân cùng ý chí nhóm cho Ý Chí của Thượng Đế. Đây được gọi là Hành Động Ý Chí, và mỗi thành viên thực hiện trong im lặng, với sự nhận biết sâu sắc rằng tất cả đều được chấp nhận như vậy, và chính ý chí nhóm đang được tập trung trong im lặng. Sau đó, họ cùng nói: |
|
“With power upon its beam, the light is focussed on the goal.” |
“Mang quyền năng trên tia chiếu của mình, ánh sáng tập trung vào mục tiêu.” |
|
7. Then comes the Act of Projection and the saying of the words of power which—again naming the particular glamour which is the subject of attention and thus bringing it consciously into relation with the focussed light—begins the task of dissipation. |
7. Tiếp đến là Hành Động Phóng Chiếu và việc xướng các quyền năng từ; những lời này—một lần nữa định danh ảo cảm cụ thể đang là đối tượng chú ý, qua đó đưa nó vào mối liên hệ có ý thức với ánh sáng đã tập trung—khởi đầu nhiệm vụ làm tiêu tan. |
|
“Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn sự xuất hiện của ảo cảm về… (định danh nó). Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn phẩm tính của ảo cảm ảnh hưởng đến con người. Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta phá hủy sự sống đằng sau ảo cảm.” |
|
|
These words are very nearly the same as those in the individual formula and gain strength from the experience of the aspirant and from his familiarity with their use. This constitutes an Act of Affirmation [234] which is the second part of the Act of Projection. |
Những lời này gần như giống hệt những lời trong công thức dành cho cá nhân và có thêm sức mạnh nhờ kinh nghiệm của người chí nguyện cũng như sự quen thuộc của y với việc sử dụng chúng. Điều này tạo thành một Hành động Khẳng Định [234], là phần thứ hai của Hành động Phóng Chiếu. |
|
8. Then comes an important aspect of the work in which the group members visualise the gradual dissipation and dispersal of the glamour by the penetration of the light into its darkness. They endeavour to see it disintegrating and the reality emerging, doing this by an effort of the creative imagination. Each will do this in his own way and according to his understanding and capacity. This is the Act of Penetration. |
8. Tiếp đến là một phương diện quan trọng của công việc, trong đó các thành viên nhóm hình dung ảo cảm dần tiêu tan và phân tán khi ánh sáng xuyên vào bóng tối của nó. Họ nỗ lực thấy ảo cảm tan rã và thực tại xuất hiện, thực hiện điều này bằng nỗ lực của sự tưởng tượng sáng tạo. Mỗi người sẽ làm điều này theo cách riêng, tùy theo sự thấu hiểu và khả năng của mình. Đây là Hành động Xuyên Thấu. |
|
9. Now follows five minutes of silence and intensity of purpose while the group waits for the work instituted to go forward. Then follows the group withdrawal of its consciousness from the astral plane and the world of glamour. The group members refocus their attention first of all on the mental plane and then on the soul, relinquishing all thought of the glamour, knowing that the work has been successfully carried forward. They re-organise themselves as a group in relation to the kingdom of souls and to each other. Occultly speaking, the “searchlight of the soul is shut off.” This is the Act of Withdrawal. |
9. Tiếp theo là năm phút im lặng và tập trung mãnh liệt vào mục đích, trong khi nhóm chờ đợi công việc đã khởi sự tiếp tục tiến triển. Sau đó, nhóm thu hồi tâm thức khỏi cõi cảm dục và thế giới ảo cảm. Các thành viên nhóm trước hết tập trung lại sự chú ý vào cõi trí, rồi vào linh hồn, buông bỏ mọi ý nghĩ về ảo cảm, biết rằng công việc đã được tiến hành thành công. Họ tái tổ chức mình thành một nhóm trong mối liên hệ với giới linh hồn và với nhau. Nói theo nghĩa huyền bí, “đèn pha của linh hồn được tắt đi.” Đây là Hành động Thu Hồi. |
|
10. The OM is then sounded in group formation; and then, in order to emphasise that the group work is ended, each member of the group sounds the OM alone, saying: |
10. Sau đó, nhóm cùng xướng linh từ OM; rồi, để nhấn mạnh rằng công việc nhóm đã kết thúc, mỗi thành viên riêng rẽ xướng linh từ OM và nói: |
|
“So let it be, and help me in my own life to end all glamour and untruth.” |
“Nguyện được như vậy, và xin giúp tôi chấm dứt mọi ảo cảm và điều không chân thật trong chính cuộc sống của mình.” |
|
It will take aspirants some time to gain facility in this work, but it is surely obvious that in learning what is an [235] entirely new technique of service each step must be mastered and practised for quite a long time. Every new branch of learning takes some time to become familiar and this one is no exception. But the effort is well worth while both from the individual angle and as an act of service to humanity. |
Người chí nguyện sẽ cần một thời gian để trở nên thành thạo trong công việc này, nhưng chắc chắn có thể thấy rõ rằng, khi học một [235] kỹ thuật phụng sự hoàn toàn mới, mỗi bước đều phải được nắm vững và thực hành trong một thời gian khá dài. Mỗi lĩnh vực học tập mới đều cần một thời gian để trở nên quen thuộc, và lĩnh vực này cũng không ngoại lệ. Nhưng nỗ lực ấy rất đáng giá, cả trên phương diện cá nhân lẫn như một hành động phụng sự nhân loại. |
|
That all the groups may learn to function in the light and that glamour may disappear from all your lives so that you may walk freely in that light and use that light for others is the wish of my heart for you. |
Mong rằng mọi nhóm đều học được cách hoạt động trong ánh sáng, và ảo cảm biến mất khỏi cuộc sống của tất cả các bạn, để các bạn có thể tự do bước đi trong ánh sáng ấy và dùng ánh sáng ấy cho người khác—đó là điều trái tim Tôi mong ước cho các bạn. |
|
FORMULA FOR THE DISSIPATION OF GLAMOUR |
CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM |
|
(For the Individual) |
(Dành cho Cá Nhân) |
|
Preparatory Stages |
Các Giai Đoạn Chuẩn Bị |
|
1. Recognition of the glamour to be dissipated. This involves: |
1. Nhận biết ảo cảm cần làm tiêu tan. Điều này bao gồm: |
|
a. A willingness to cooperate with the soul. |
a. Sẵn lòng hợp tác với linh hồn. |
|
b. Understanding the nature of the particular glamour. |
b. Thấu hiểu bản chất của ảo cảm cụ thể ấy. |
|
2. The three stages of focussing: |
2. Ba giai đoạn tập trung: |
|
a. Focussing the dual light of matter and mind in the mental body. |
a. Tập trung ánh sáng kép của vật chất và trí tuệ trong thể trí. |
|
b. Focussing, through meditation, this dual light and the light of the soul. |
b. Qua tham thiền, tập trung ánh sáng kép này cùng với ánh sáng của linh hồn. |
|
c. Focussing these three lights and so creating the searchlight for the dissipation of glamour. |
c. Tập trung ba ánh sáng này, qua đó tạo ra đèn pha để làm tiêu tan ảo cảm. |
|
3. Preparedness through alignment and integration. This is the production of a field of magnetic thought substance. |
3. Chuẩn bị sẵn sàng qua chỉnh hợp và sự tích hợp. Đây là việc tạo ra một trường chất liệu tư tưởng có từ tính. |
|
4. The turning of the attention and of the searchlight of the mind on to the astral plane. [236] |
4. Hướng sự chú ý và đèn pha của thể trí vào cõi cảm dục. [236] |
|
The Formula |
Công Thức |
|
5. The soul breathes out the OM into the waiting personality and the light and power thus generated are retained for use. |
5. Linh hồn thở ra linh từ OM vào phàm ngã đang chờ đợi, và ánh sáng cùng quyền năng được tạo ra như vậy được giữ lại để sử dụng. |
|
6. An intense light is slowly and consciously generated. |
6. Từ từ và một cách có ý thức, tạo ra một ánh sáng mãnh liệt. |
|
7. The spiritual will is invoked whilst the mind is held steady in the light. |
7. Khẩn cầu ý chí tinh thần trong khi giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng. |
|
8. The glamour to be dissipated and the searchlight of the mind are brought into relationship. |
8. Đưa ảo cảm cần làm tiêu tan và đèn pha của thể trí vào mối liên hệ với nhau. |
|
9. The searchlight is then turned on by an act of the will and a strong beam of light is projected into the glamour. |
9. Sau đó, bật đèn pha bằng một hành động của ý chí và phóng chiếu một chùm ánh sáng mạnh vào ảo cảm. |
|
10. The glamour is named and the aspirant says with tension inaudibly: |
10. Gọi tên ảo cảm, và người chí nguyện nói thầm với sự tập trung căng thẳng: |
|
“The power of the light prevents the appearance of the glamour (naming it). The power of the light negates the quality of the glamour from affecting me. The power of the light destroys the life behind the glamour.” |
“Quyền năng của ánh sáng ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm (gọi tên nó). Quyền năng của ánh sáng ngăn không cho phẩm tính của ảo cảm tác động đến tôi. Quyền năng của ánh sáng hủy diệt sự sống đằng sau ảo cảm.” |
|
11. The OM is sounded by the aspirant, producing an Act of Penetration. This produces impact, penetration and dissipation. |
11. Người chí nguyện xướng linh từ OM, tạo ra một Hành động Xuyên Thấu. Điều này tạo ra sự tác động, xuyên thấu và làm tiêu tan. |
|
12. The aspirant, having done his work, withdraws himself consciously on to the mental plane and the beam of light fades out. |
12. Sau khi hoàn thành công việc, người chí nguyện chủ động rút về cõi trí, và chùm ánh sáng dần tắt. |
|
Brief Form of the Individual Formula. |
Dạng Rút Gọn của Công Thức Cá Nhân. |
|
1. The four preparatory stages: |
1. Bốn giai đoạn chuẩn bị: |
|
a. Nhận biết ảo cảm cần làm tiêu tan. [237] |
|
|
b. Focussing the dual light of the personality. |
b. Tập trung ánh sáng kép của phàm ngã. |
|
c. Meditation and recognition of soul light. |
c. Tham thiền và nhận biết ánh sáng linh hồn. |
|
d. Unification of the three lights. |
d. Hợp nhất ba ánh sáng. |
|
2. The process of alignment and of recognised integration. |
2. Tiến trình chỉnh hợp và sự tích hợp được nhận biết. |
|
3. The turning of the searchlight of the mind to the astral plane. |
3. Hướng đèn pha của thể trí vào cõi cảm dục. |
|
The Formula. |
Công Thức. |
|
4. Soul activity and the retention of the triple light. |
4. Hoạt động của linh hồn và việc giữ lại ánh sáng tam phân. |
|
5. The generating and visualising of the searchlight. |
5. Tạo ra và hình dung đèn pha. |
|
6. The evocation of the WILL behind the searchlight of the mind. |
6. Gợi lên Ý CHÍ đằng sau đèn pha của thể trí. |
|
7. The searchlight of the mind is turned upon the glamour, directed by thought. |
7. Hướng đèn pha của thể trí vào ảo cảm, dưới sự chỉ đạo của tư tưởng. |
|
8. The naming of the glamour and the triple affirmation. |
8. Gọi tên ảo cảm và khẳng định tam phân. |
|
9. The Act of Penetration. |
9. Hành động Xuyên Thấu. |
|
10. The process of Withdrawing. |
10. Tiến trình Thu Hồi. |
|
FORMULA FOR THE DISSIPATION OF WORLD GLAMOUR |
CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM THẾ GIỚI |
|
(Technique for a Group) |
(Kỹ Thuật dành cho một Nhóm) |
|
The Preparatory Stages |
Các Giai Đoạn Chuẩn Bị |
|
1. The naming of the group members, followed by ten minutes silence. |
1. Gọi tên các thành viên nhóm, tiếp theo là mười phút im lặng. |
|
2. The Protective Formula: The group members say in unison: [238] |
2. Công Thức Bảo Vệ: Các thành viên nhóm đồng thanh nói: [238] |
|
“As a soul I work in light and darkness cannot touch me. |
“Là một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi. |
|
I take my stand within the light. |
Tôi đứng vững trong ánh sáng. |
|
I work and from that point I never move.” |
Tôi làm việc và không bao giờ rời khỏi vị trí ấy.” |
|
As these words are uttered, each group member makes the sign of the Cross of Divinity. |
Khi nói những lời này, mỗi thành viên nhóm làm dấu Thập Giá của Thiên Tính. |
|
3. The three preparatory stages: |
3. Ba giai đoạn chuẩn bị: |
|
a. Focussing the dual light of matter and mind. |
a. Tập trung ánh sáng kép của vật chất và trí tuệ. |
|
b. Meditation on soul contact and recognition of soul light. |
b. Tham thiền về sự tiếp xúc với linh hồn và nhận biết ánh sáng linh hồn. |
|
c. The fusion of the two lesser lights with soul light. |
c. Dung hợp hai ánh sáng thấp hơn với ánh sáng linh hồn. |
|
4. Theo hiệu lệnh của người hướng dẫn, nhóm cùng nói: |
|
|
“The light is one and in that light shall we see light. This is the light that turns the darkness nto day.” |
“Ánh sáng là một, và trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ánh sáng. Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.” |
|
5. Then together the group says: |
5. Sau đó, nhóm cùng nói: |
|
“Radiance are we and power. We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour. |
“Chúng ta là ánh sáng rạng ngời và quyền năng. Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay dang rộng, kết nối trời và đất, thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm. |
|
We reach into the light and bring it down to meet the need. We reach into the silent Place and bring from thence the gift of understanding. Thus with the light we work and turn the darkness into day.” |
Chúng ta vươn vào Ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu. Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu. Như vậy, chúng ta làm việc với ánh sáng và biến bóng tối thành ban ngày.” |
|
[239] As these words are said, the group members visualise the great searchlight they have created turning its light upon the astral plane. |
[239] Khi nói những lời này, các thành viên nhóm hình dung đèn pha lớn mà họ đã tạo ra đang hướng ánh sáng vào cõi cảm dục. |
|
6. A pause follows and then comes the invocation of the spiritual will. When this has been done the group says: |
Tiếp theo là một khoảng dừng, rồi khẩn cầu ý chí tinh thần. Sau khi hoàn thành việc này, nhóm nói: |
|
“With power upon its beam, the light is focussed on the goal.” |
“Mang quyền năng trên chùm tia của mình, ánh sáng tập trung vào mục tiêu.” |
|
7. The glamour to be dissipated is named and the light is thrown upon it. The Words of Power are uttered: |
7. Gọi tên ảo cảm cần làm tiêu tan và chiếu ánh sáng vào nó. Xướng các Quyền năng từ: |
|
“The power of our united light prevents the appearance of the glamour of… (naming it). |
“Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm về… (gọi tên nó). |
|
The power of our united light negates the quality of the glamour from affecting man. |
Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn không cho phẩm tính của ảo cảm tác động đến con người. |
|
The power of our united light destroys the life behind the glamour.” |
Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta hủy diệt sự sống đằng sau ảo cảm.” |
|
8. Visualisation of the light, penetrating into the glamour and producing its weakening and dissipation. |
8. Hình dung ánh sáng xuyên vào ảo cảm, khiến nó suy yếu và tiêu tan. |
|
9. Five minutes of silence and intensity of purpose whilst the work is seen proceeding. Then the group members refocus themselves upon the mental plane, turning their attention away from the astral plane. The searchlight of the soul is shut off. |
9. Năm phút im lặng và tập trung mãnh liệt vào mục đích trong khi thấy công việc đang tiến triển. Sau đó, các thành viên nhóm tập trung trở lại vào cõi trí, chuyển sự chú ý khỏi cõi cảm dục. Đèn pha của linh hồn được tắt đi. |
|
10. The sounding of the OM individually and aloud by each member. |
10. Mỗi thành viên riêng rẽ xướng lớn linh từ OM. |
|
Brief Form of the Group Formula. |
Dạng Rút Gọn của Công Thức Nhóm. |
|
1. The Act of Naming. |
1. Hành động Gọi Tên. |
|
2. Hành động Bảo Vệ. |
|
|
3. The Act of Focussing the Lights. |
3. Hành động Tập Trung các Ánh Sáng. |
|
4. The Act of Direction. [240] |
4. Hành động Định Hướng. [240] |
|
5. The Act of Invoking the Will. |
5. Hành động Khẩn Cầu Ý Chí. |
|
6. The Act of Projection and Affirmation. |
6. Hành động Phóng Chiếu và Khẳng Định. |
|
7. The Act of Penetration. |
7. Hành động Xuyên Thấu. |
|
8. The Act of Withdrawal. |
8. Hành động Thu Hồi. |
|
Our consideration of glamour is nearing its close. We have carried a consecutive theme steadily and have traced the threefold aspect of the world illusion as it appears upon the mental plane, and there conditions the intelligentsia of the world; as it appears upon the astral plane where it constitutes the glamour to which the masses of men succumb; we shall now consider the world of maya in which we, physically, live and move and have our being. |
Việc xem xét ảo cảm của chúng ta đang gần đến hồi kết. Chúng ta đã kiên trì theo đuổi một chủ đề xuyên suốt và khảo sát phương diện tam phân của ảo tưởng thế giới: khi nó xuất hiện trên cõi trí và tại đó tác động lên giới trí thức thế giới; khi nó xuất hiện trên cõi cảm dục, nơi nó tạo thành ảo cảm mà quần chúng nhân loại khuất phục trước đó; giờ đây chúng ta sẽ xem xét thế giới ảo lực, trong đó chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn về mặt hồng trần. |
|
I wonder if those who read my words appreciate the importance of this entire subject or if they are aware of the wide field of service which it opens up, making practical—as it does—all human living, and indicating likewise the steps whereby Reality can be known and all veiling forms disappear. Behind these words of illusion, glamour and maya, lies TRUTH. This truth is the clear consciousness of Being, of Existence and of essential, initial Reality. That is the reason that Christ stood mute before Pilate who symbolised the human intellect; He knew that no reply could convey meaning to that veiled, inhibited mind. |
Tôi tự hỏi liệu những người đọc lời Tôi có nhận thức được tầm quan trọng của toàn bộ chủ đề này hay không, hoặc liệu họ có biết đến lĩnh vực phụng sự rộng lớn mà nó mở ra hay không; lĩnh vực ấy khiến toàn bộ đời sống con người trở nên thiết thực, đồng thời chỉ ra các bước để có thể nhận biết Thực Tại và mọi hình tướng che phủ đều biến mất. Đằng sau những từ ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực là CHÂN LÝ. Chân lý này là tâm thức sáng rõ về Bản Thể, về Hiện Hữu và về Thực Tại cốt yếu, nguyên sơ. Đó là lý do Đức Christ đứng im lặng trước Pilate, người tượng trưng cho trí năng con người; Ngài biết rằng không câu trả lời nào có thể truyền đạt ý nghĩa đến thể trí bị che phủ và kìm hãm ấy. |
|
Illusion is the mode whereby limited understanding and material knowledge interpret truth, veiling and hiding it behind a cloud of thoughtforms. Those thoughtforms become then more real than the truth they veil, and consequently control man’s approach to Reality. Through illusion, he becomes aware of the apparatus of thought, of its activity, expressed in thoughtform building, and of that which he succeeds in constructing and which he views as the creation of his intellect. He has, however, created a barrier between himself and that which is and, until he has exhausted [241] the resources of his intellect or has deliberately refused to utilise it, his divine intuition cannot function. It is the intuition which reveals true Being and which induces a state of spiritual perception. Then the technique of the PRESENCE becomes an established habit. |
Ảo tưởng là phương thức mà sự thấu hiểu hạn hẹp và tri thức vật chất dùng để diễn giải chân lý, che phủ và giấu kín chân lý sau một đám mây hình tư tưởng. Khi ấy, những hình tư tưởng này trở nên thực hơn cả chân lý mà chúng che phủ, và do đó kiểm soát cách con người tiếp cận Thực Tại. Qua ảo tưởng, y nhận biết bộ máy tư tưởng, hoạt động của nó biểu hiện qua việc xây dựng hình tư tưởng, cùng những gì y xây dựng thành công và xem là sản phẩm của trí năng mình. Tuy nhiên, y đã tạo ra một rào cản giữa mình và cái đang hiện hữu; cho đến khi y đã dùng hết [241] những nguồn lực của trí năng hoặc chủ tâm từ chối sử dụng nó, trực giác thiêng liêng của y không thể hoạt động. Chính trực giác mặc khải Bản Thể chân thực và đưa đến một trạng thái tri giác tinh thần. Khi ấy, Kỹ Thuật của Hiện Diện trở thành một thói quen vững chắc. |
|
Glamour, in its turn, veils and hides the truth behind the fogs and mists of feeling and emotional reaction; it is of unique and terrible potency, owing to the strength of human nature to identify itself with the astral nature and to the vital nature of conscious and sentient response itself. As you know and have been taught, glamour can only be dissipated by the inflow of clear, directed light; this is true of the life of the individual or of humanity as a whole. Illumination reveals first of all the existence of glamour; it provides the distressing contrasts with which all true aspirants wrestle and then gradually it floods the life to such an extent that eventually glamour completely vanishes. Men see things then as they are—a facade hiding the good, the beautiful and true. The opposites are then resolved and consciousness is superseded by a condition of realisation—a realisation of Being for which we have no adequate term. The technique of LIGHT becomes a permanent condition. |
Ảo cảm, đến lượt nó, che phủ và giấu kín chân lý sau những màn sương mù của cảm giác và phản ứng cảm xúc; nó có sức mạnh đặc biệt và khủng khiếp, do sức mạnh của bản chất con người trong việc đồng hoá với bản chất cảm dục và do bản chất sống động của sự đáp ứng hữu thức và có cảm giác ấy. Như các bạn biết và đã được dạy, chỉ dòng ánh sáng sáng rõ, được định hướng, tuôn vào mới có thể làm tiêu tan ảo cảm; điều này đúng với đời sống cá nhân cũng như với toàn thể nhân loại. Sự soi sáng trước hết cho thấy sự tồn tại của ảo cảm; nó phơi bày những tương phản gây khổ não mà mọi người chí nguyện chân chính phải vật lộn, rồi dần dần tràn ngập đời sống đến mức cuối cùng ảo cảm hoàn toàn biến mất. Khi ấy, con người thấy sự vật đúng như chúng vốn là—một lớp vỏ che giấu cái thiện, cái mỹ và cái chân. Khi ấy, các mặt đối lập được dung giải và tâm thức nhường chỗ cho một trạng thái chứng nghiệm—một sự chứng nghiệm Bản Thể mà chúng ta không có thuật ngữ thích đáng để diễn tả. Kỹ Thuật Ánh sáng trở thành một trạng thái thường trực. |
3. The Technique of Indifference – 3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên
|
We come now to a brief study of the third aspect of illusion, to which we give the name Maya, and to the technique which can overcome it. We will deal next with the Technique of Indifference which is concerned with the distribution of soul force upon the physical plane, via the etheric plane, leading to inspiration. This is related to the Science of the Breath. |
Giờ đây, chúng ta bước vào một nghiên cứu ngắn về phương diện thứ ba của ảo tưởng, mà chúng ta gọi là Ảo lực, và về kỹ thuật có thể khắc phục nó. Tiếp theo, chúng ta sẽ bàn đến Kỹ Thuật Điềm Nhiên, liên quan đến việc phân phối mãnh lực linh hồn trên cõi hồng trần qua cõi dĩ thái, đưa đến cảm hứng. Điều này có liên hệ với Khoa Học về Hơi Thở. |
|
What then is maya? This, my brother, is not easy to define because it is related to the form-building activity of [242] the planetary Logos Himself. However, a consideration of the analogy existing between the microcosm and the Macrocosm may help somewhat. The soul creates a threefold expression in the three worlds of human living. This is an occult truism. The outer form, the dual physical body (dense and vital or etheric) is produced, created, motivated, energised and conditioned by certain energies and forces, emanating from those levels whereon the soul has—rightly or wrongly—engineered a reaction of identification. Note this phrase, my brother. These make the man what he is; they give him his temperament, profession and quality upon the physical plane; they make him negative or positive to various types of impacting energy; they give him his character and make him what he appears to be to others; they produce his colouring, his capacities and his personality. With all of these the average man identifies himself; he believes himself to be the form, the medium through which he attempts to express his desires and his ideas. This complete identification with the transient creation and with the outer appearance is maya. It must be remembered that individual maya is a fractional part of the world of energies and forces which constitute the life expression of the planetary Logos, which condition our outer planetary life, and make our planet what it appears to be to the other planets. |
Vậy ảo lực là gì? Huynh đệ của tôi, điều này không dễ định nghĩa, vì nó liên quan đến hoạt động xây dựng hình tướng của [242] chính Hành Tinh Thượng đế. Tuy nhiên, việc xem xét sự tương đồng giữa Tiểu thiên địa và Đại thiên địa có thể giúp ích phần nào. Linh hồn tạo ra một biểu hiện tam phân trong ba cõi giới của đời sống con người. Đây là một chân lý hiển nhiên trong huyền bí học. Hình tướng bên ngoài, thể xác kép (đậm đặc và sinh lực hay dĩ thái), do một số năng lượng và mãnh lực sản sinh, tạo dựng, thúc đẩy, tiếp năng lượng và định hình; chúng phát ra từ những cấp độ mà tại đó linh hồn đã—đúng hay sai—tạo nên một phản ứng đồng hoá. Hãy lưu ý cụm từ này, huynh đệ của tôi. Những năng lượng và mãnh lực ấy làm nên con người như y hiện là; chúng đem lại cho y khí chất, nghề nghiệp và phẩm tính trên cõi hồng trần; chúng khiến y trở nên âm tính hoặc dương tính đối với các loại năng lượng tác động khác nhau; chúng đem lại cho y tính cách và làm nên con người mà y biểu lộ trước người khác; chúng tạo ra sắc thái, khả năng và phàm ngã của y. Người bình thường đồng hoá mình với tất cả những điều này; y tin mình là hình tướng, là trung gian mà qua đó y cố gắng biểu lộ dục vọng và ý tưởng của mình. Sự đồng hoá hoàn toàn với tạo vật phù du và vẻ ngoài ấy là ảo lực. Cần nhớ rằng ảo lực cá nhân là một phần nhỏ của thế giới năng lượng và mãnh lực tạo thành biểu hiện sự sống của Hành Tinh Thượng đế, tác động lên đời sống hành tinh bên ngoài của chúng ta và làm nên hành tinh chúng ta như nó biểu lộ trước các hành tinh khác. |
|
The difference between man, the microcosm, and the planetary Logos, the Lord of the World, the Macrocosm, lies in the fact that the Lord of the World is not identified with the maya which He has created, and which has its purpose in eventually bringing about the release of the “prisoners of the planet.” To that Maya, HE is supremely indifferent and it is this divine indifference which has led to the great theological illusion of an anthropomorphic Deity and to the belief (in the East) that our planet is but the background [243] or the plaything of the Gods. It is this cosmic indifference which has led to the human glamour concerning the “inscrutable will of God” and to the affirmation that God is far away and not immanent in every creature and in every atom of which creatures are made. These are some aspects of the glamours and illusions which must be dispelled and dissipated and, in the process, discovery will be made that the form is only maya and can be disregarded, that forces can be organised and directed by energy and that the world of thought, the field of sentient consciousness and the playground of the energies are something apart from the Thinker, from the One who feels and from the Actor and Player of the many parts which the Soul undertakes to play. |
Sự khác biệt giữa con người, Tiểu thiên địa, và Hành Tinh Thượng đế, Đức Chúa Tể Thế Giới, Đại thiên địa, nằm ở chỗ Đức Chúa Tể Thế Giới không đồng hoá với ảo lực mà Ngài đã tạo ra, và mục đích của ảo lực ấy là cuối cùng đem lại sự giải thoát cho “những tù nhân của hành tinh.” Đối với Ảo lực ấy, NGÀI hoàn toàn điềm nhiên, và chính sự điềm nhiên thiêng liêng này đã dẫn đến ảo tưởng thần học lớn lao về một Thượng đế mang hình người và đến niềm tin (ở phương Đông) rằng hành tinh chúng ta chỉ là bối cảnh [243] hoặc đồ chơi của các Thượng đế. Chính sự điềm nhiên vũ trụ này đã dẫn đến ảo cảm của con người về “ý chí khôn dò của Thượng đế” và đến lời khẳng định rằng Thượng đế ở xa, chứ không nội tại trong mọi sinh vật và trong mọi nguyên tử cấu thành các sinh vật. Đây là một số phương diện của những ảo cảm và ảo tưởng cần được xua tan và làm tiêu tan; trong tiến trình ấy, người ta sẽ khám phá rằng hình tướng chỉ là ảo lực và có thể không cần chú ý đến, rằng năng lượng có thể tổ chức và chỉ đạo các mãnh lực, và rằng thế giới tư tưởng, lĩnh vực tâm thức hữu cảm cùng sân chơi của các năng lượng là những gì tách biệt với Chủ Thể Tư Duy, với Đấng cảm nhận và với Chủ Thể Hành Động và Diễn Xuất nhiều vai mà Linh Hồn đảm nhận. |
|
The disciple learns eventually to know himself to be, above everything else (whilst in incarnation), the director of forces: these he directs from the altitude of the divine Observer and through the attainment of detachment. These are things which I have oft told you before. These truths are, for you, only the platitudes of occultism and yet, if you could but grasp the full significance of detachment and stand serene as the observing Director, there would be no more waste motion, no more mistaken moves and no more false interpretations, no wandering down the bypaths of daily living, no seeing others through distorted and prejudiced vision and—above all—no more misuse of force. |
Cuối cùng, người đệ tử học cách nhận biết rằng, trên hết mọi điều (trong khi đang lâm phàm), mình là người chỉ đạo các mãnh lực: y chỉ đạo chúng từ tầm cao của Chủ Thể Quan Sát thiêng liêng và qua việc đạt đến sự tách rời. Đây là những điều Tôi đã thường nói với các bạn trước đây. Đối với các bạn, những chân lý này chỉ là những điều quen thuộc của huyền bí học; tuy nhiên, nếu các bạn có thể nắm bắt trọn vẹn thâm nghĩa của sự tách rời và đứng tĩnh lặng như Chủ Thể Chỉ Đạo đang quan sát, thì sẽ không còn chuyển động phí phạm, không còn hành động sai lầm, không còn diễn giải sai, không còn lạc vào những đường rẽ của đời sống hằng ngày, không còn nhìn người khác qua tầm nhìn méo mó và đầy định kiến, và—trên hết—không còn lạm dụng mãnh lực. |
|
Again and again, down the ages, the Masters have told Their disciples (as I have told you) that the occultist works in the world of forces. All human beings live and move and express themselves in and through that same world of ever-moving, ever-impacting, outgoing and incoming energies. The occultist, however, works there; he becomes a conscious directing agent; he creates upon the physical plane that which he desires, and that which he desires is the pattern of [244] things and the design laid down upon the trestle board of the spiritual consciousness by the great divine Architect. Yet he identifies himself not with the pattern or with the forces which he employs. He moves in the world of maya, free from all illusion, unhindered by glamour and uncontrolled by the mayavic forces. He is rapidly arriving, as far as his own little world is concerned, at the same “divine indifference” which characterises Sanat Kumara, the Lord of the World; therefore increasingly he becomes aware of the Plan as it exists in the Universal Mind and the Purpose which motivates the Will of God. |
Hết lần này đến lần khác, qua các thời đại, các Chân sư đã nói với các đệ tử của Các Ngài (như Tôi đã nói với các bạn) rằng nhà huyền bí học làm việc trong thế giới mãnh lực. Mọi con người đều sống, hoạt động và biểu lộ mình trong và qua cùng thế giới ấy, thế giới của những năng lượng luôn chuyển động, luôn tác động, đi ra và đi vào. Tuy nhiên, nhà huyền bí học làm việc ở đó; y trở thành một tác nhân chỉ đạo có ý thức; y tạo ra trên cõi hồng trần điều mình mong muốn, và điều y mong muốn là mô hình của [244] vạn vật cùng bản thiết kế mà Đấng Kiến Trúc Sư thiêng liêng vĩ đại đã đặt lên bảng vẽ của tâm thức tinh thần. Tuy nhiên, y không đồng hoá mình với mô hình hay với các mãnh lực mà y sử dụng. Y hoạt động trong thế giới ảo lực, tự do khỏi mọi ảo tưởng, không bị ảo cảm cản trở và không chịu sự kiểm soát của các mãnh lực ảo lực. Trong phạm vi thế giới nhỏ bé của mình, y đang nhanh chóng đạt đến cùng một “sự điềm nhiên thiêng liêng” vốn là đặc trưng của Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới; do đó, y ngày càng nhận biết Thiên Cơ như nó hiện hữu trong Vũ Trụ Trí và Thiên Ý thúc đẩy Ý Chí của Thượng Đế. |
|
It is this divine indifference which is responsible for the fact that in attempting to describe “Pure Being” or God, and in the effort to arrive at some understanding of the nature of divinity, the formula of negation has been evolved. God is not this; God is not that; God is no-thing; God is neither time nor space; God is not feeling or thought; God is not form or substance. God simply IS. God IS—apart from all expression and manifestation as the Manipulator of energy, the Creator of the tangible and the intangible worlds, the Pervader of life, or the Indweller in all forms. God is the ONE WHO can withdraw and, in withdrawing, dispel, dissipate and devitalise all that has been created—using those words in their fullest significance. |
Chính sự điềm nhiên thiêng liêng này là nguyên nhân khiến công thức phủ định hình thành trong nỗ lực mô tả “Bản Thể Thuần Khiết” hay Thượng đế và trong nỗ lực đạt đến một mức độ thấu hiểu nào đó về bản chất của thiên tính. Thượng đế không phải cái này; Thượng đế không phải cái kia; Thượng đế không phải bất cứ sự vật nào; Thượng đế không phải thời gian cũng không phải không gian; Thượng đế không phải cảm giác hay tư tưởng; Thượng đế không phải hình tướng hay chất liệu. Thượng đế đơn giản là HIỆN HỮU. Thượng đế HIỆN HỮU—tách biệt với mọi biểu lộ và biểu hiện trong vai trò Đấng Điều Khiển năng lượng, Đấng Sáng Tạo các thế giới hữu hình và vô hình, Đấng Thấm Nhuần sự sống, hay Đấng Ngự Trong mọi hình tướng. Thượng đế là ĐẤNG có thể thu hồi và, trong khi thu hồi, xua tan, làm tiêu tan và rút hết sinh lực của mọi điều đã được tạo ra—dùng những từ ấy theo thâm nghĩa đầy đủ nhất của chúng. |
|
It will be obvious to you, therefore, that in these three activities of that Reality which is not identified with appearance, the will of God, the Destroyer aspect of Deity, is beneficently present. The act of abstraction produces the dispelling of the illusory world of thought; the withdrawal of the divine attention dissipates the sentient universe and brings glamour to an end; the cessation of divine direction brings death to the physical world. All these activities are evidences of the will or of the first aspect—the will-to-good which can and will function in perfection only when goodwill [245] is finally and fully developed on Earth, through the agency of humanity. |
Do đó, các bạn hẳn thấy rõ rằng, trong ba hoạt động này của Thực Tại không đồng hoá với vẻ ngoài ấy, ý chí của Thượng đế, phương diện Hủy Diệt của Thượng đế, hiện diện một cách thiện lành. Hành động rút về tạo ra sự xua tan thế giới tư tưởng đầy ảo tưởng; việc thu hồi sự chú ý thiêng liêng làm tiêu tan vũ trụ hữu cảm và chấm dứt ảo cảm; việc ngừng chỉ đạo thiêng liêng đem cái chết đến thế giới hồng trần. Tất cả những hoạt động này đều là bằng chứng của ý chí hay phương diện thứ nhất—Ý Chí-hướng Thiện, vốn chỉ có thể và sẽ hoạt động hoàn hảo khi thiện chí [245] cuối cùng được phát triển đầy đủ trên Trái Đất, thông qua nhân loại. |
|
The will and the breath, my brother, are occultly synonymous terms. In this statement you have the clue to the ending of maya.— |
Huynh đệ của tôi, xét theo nghĩa huyền bí, ý chí và hơi thở là những thuật ngữ đồng nghĩa. Trong lời khẳng định này, huynh đệ có manh mối để chấm dứt ảo lực.— |
|
The above remarks are preliminary to our study of the Technique of Indifference. It is necessary to point out analogies and to link together the various aspects of related teaching if true perception is to be developed. Let us divide our consideration of this subject as follows: |
Những nhận xét trên là phần mở đầu cho việc nghiên cứu Kỹ Thuật Điềm Nhiên của chúng ta. Nếu muốn phát triển tri giác chân thực, cần chỉ ra những sự tương đồng và liên kết các phương diện khác nhau của giáo huấn có liên quan. Chúng ta hãy chia việc xem xét chủ đề này như sau: |
|
1. Activity upon the etheric plane, i.e., the world of forces. |
1. Hoạt động trên cõi dĩ thái, tức thế giới mãnh lực. |
|
a. Their distribution. |
a. Sự phân phối các mãnh lực. |
|
b. Their manipulation. |
b. Sự điều khiển các mãnh lực. |
|
2. The Science of the Breath. |
2. Khoa Học về Hơi Thở. |
|
a. The relation of the will and the breath. |
a. Mối liên hệ giữa ý chí và hơi thở. |
|
b. Inspiration. |
b. Cảm hứng. |
|
3. The Technique of Indifference. |
3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên. |
|
a. Through concentration. |
a. Qua sự tập trung. |
|
b. Through detachment. |
b. Qua sự tách rời. |
|
We enter now the field of practical occultism. This is not the field of aspiration or the sphere of a planned moving forward towards that which is higher and desirable. It is, in some ways, a reverse activity. From the point reached upon the ladder of evolution, the disciple “stands in spiritual Being” (as far as in him lies), and consciously, deliberately works with the energies in the three worlds. He directs them into the etheric body from whatever level he chooses to work—mental, emotional, or from the vital plane itself. He does this in conformity with some visioned idea, some cherished ideal, some sensed divine pattern, some spiritual hope, some consecrated ambition or some dedicated desire. |
Giờ đây, chúng ta bước vào lĩnh vực huyền bí học thực hành. Đây không phải là lĩnh vực khát vọng hay phạm vi của sự tiến bước có kế hoạch hướng đến những gì cao cả hơn và đáng mong muốn. Theo một vài phương diện, đây là một hoạt động theo chiều ngược lại. Từ điểm đã đạt tới trên thang tiến hoá, đệ tử “đứng trong Bản Thể tinh thần” (trong khả năng của y), và làm việc một cách có ý thức, có chủ đích với các năng lượng trong ba cõi giới. Y dẫn chúng vào thể dĩ thái từ bất cứ cấp độ nào y chọn để làm việc—trí tuệ, cảm xúc, hoặc từ chính cõi sinh lực. Y làm điều này phù hợp với một ý tưởng đã hình dung, một lý tưởng ấp ủ, một mô hình thiêng liêng đã cảm nhận, một niềm hy vọng tinh thần, một hoài bão đã thánh hiến hoặc một ước muốn tận hiến. |
|
[246] Như các bạn biết, thể dĩ thái của cá nhân là một phần của thể dĩ thái của nhân loại, và đến lượt mình, thể dĩ thái này là một phương diện của thể dĩ thái hành tinh, vốn cũng là một phần nội tại của thể dĩ thái của hệ mặt trời. Nhân đây, trong mối quan hệ thực tế có tầm bao quát sâu rộng này, các bạn có cơ sở của mọi ảnh hưởng chiêm tinh. Vì vậy, con người vận động trong một xoáy lốc mãnh lực thuộc mọi loại và phẩm tính. Y được cấu thành từ các năng lượng trong mọi phần biểu hiện và không biểu hiện của mình; do đó, y có liên hệ với mọi năng lượng khác. Nhiệm vụ của y vô cùng khó khăn và đòi hỏi khoảng thời gian dài của chu kỳ tiến hoá. Ở đây, chúng ta không thể bàn đến toàn bộ các năng lượng thế giới và các mãnh lực của hệ mặt trời, mà sẽ giới hạn trong việc xem xét vấn đề cá nhân, đồng thời khuyên đạo sinh cố gắng mở rộng sự thấu hiểu của mình từ tình trạng tiểu thiên địa sang tình trạng đại thiên địa. |
|
|
a. Force distribution and manipulation upon the etheric plane |
a. Phân phối và vận dụng mãnh lực trên cõi dĩ thái |
|
We will now assume that the aspirant is aware of the need for him to establish a new and higher rhythm in his physical plane life, to organise his time in obedience to the injunction of his higher self, and to produce, consciously and scientifically, those effects which—in his highest moments—are presented to him as desirable. He has now a certain amount of knowledge as to the equipment available for his task and has mastered some facts anent the etheric vehicle. The pairs of opposites are clearly seen by him, even if he is as yet influenced by one or other of them; he is aware of a basic disagreement between his vision of goodness and his expression of that goodness. He has learnt that he is a triple reflection of a higher Trinity and that this Trinity is—for him—the Reality. He understands that [247] mind, emotions and physical being are intended eventually to manifest that Reality. In the last analysis, he knows that if that intermediate aspect of himself, the etheric body, can be controlled and rightly directed, then vision and expression will and must finally coincide. He is also aware that the dense physical body (the outer tangible appearance) is only an automaton, obedient to whatever forces and energies are the controlling factors in the subjective, conditioning the man. Is that physical body to be controlled by emotional force, pouring through the sacral centre and producing desire for the satisfaction of the physical appetites, or through the solar plexus leading to emotional satisfaction of some kind? Is it to be responsive to the mind and work largely under the impulse of projected thought? Is it perhaps to be directed by an energy greater than any of these but hitherto apparently impotent, the energy of the soul as an expression of pure Being? Is it to be swept into action under the impulse of sentient reactions, ideas and thoughts, emanating from other human beings or is it to be motivated and spurred into activity under the direction of the spiritual Hierarchy? Such are some of the questions to which answers must be found. The stage of aspiring, dreaming and of wishful thinking must now be superseded by direct action and by the carefully planned use of the available forces, swept into activity by the breath, under the direction of the inner eye and controlled by the spiritual man. Which energies can and must be thus used? What forces must be brought under direction? In what manner can they be controlled? Should they be ignored and so rendered futile by that ignoring, or are they forces which are needed in the great creative work? |
Giờ đây, chúng ta sẽ giả định rằng người chí nguyện nhận biết nhu cầu phải thiết lập một nhịp điệu mới và cao hơn trong đời sống trên cõi hồng trần của mình, phải tổ chức thời gian tuân theo huấn lệnh của chân ngã, và phải tạo ra một cách có ý thức và khoa học những hiệu quả mà—trong những thời khắc cao cả nhất—y thấy là đáng mong muốn. Giờ đây, y có một lượng kiến thức nhất định về những phương tiện sẵn có để thực hiện nhiệm vụ của mình và đã nắm vững một số sự kiện liên quan đến hiện thể dĩ thái. Y thấy rõ các cặp đối cực, dù vẫn còn chịu ảnh hưởng của bên này hoặc bên kia; y nhận biết một sự bất tương hợp căn bản giữa tầm nhìn của mình về điều thiện và sự biểu hiện điều thiện ấy. Y đã học được rằng mình là sự phản chiếu tam phân của một Tam Vị cao hơn, và đối với y, Tam Vị này là Thực Tại. Y thấu hiểu rằng [247] thể trí, cảm xúc và sự hiện tồn hồng trần cuối cùng phải biểu hiện Thực Tại ấy. Xét cho cùng, y biết rằng nếu có thể kiểm soát và hướng dẫn đúng đắn phương diện trung gian của mình, tức thể dĩ thái, thì tầm nhìn và sự biểu hiện cuối cùng sẽ và phải trùng khớp. Y cũng nhận biết rằng thể xác đậm đặc (vẻ ngoài hữu hình) chỉ là một bộ máy tự động, tuân theo bất cứ mãnh lực và năng lượng nào đang giữ vai trò kiểm soát trong lĩnh vực chủ quan, định hình con người. Thể xác ấy sẽ chịu sự kiểm soát của mãnh lực cảm xúc tuôn qua trung tâm xương cùng và tạo ra ham muốn thoả mãn các dục vọng thể xác, hay qua tùng thái dương dẫn đến một dạng thoả mãn cảm xúc nào đó? Nó sẽ đáp ứng với thể trí và hoạt động phần lớn dưới xung lực của tư tưởng được phóng chiếu chăng? Có lẽ nó sẽ do một năng lượng lớn hơn bất cứ năng lượng nào trong số này hướng dẫn, nhưng cho đến nay dường như vẫn bất lực—năng lượng của linh hồn như một biểu hiện của Bản Thể thuần khiết? Nó sẽ bị cuốn vào hành động dưới xung lực của những phản ứng cảm nhận, những ý tưởng và tư tưởng phát ra từ những người khác, hay sẽ được thúc đẩy và khơi dậy hoạt động dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn? Đó là một số câu hỏi cần tìm lời giải đáp. Giờ đây, giai đoạn khát vọng, mơ mộng và suy nghĩ theo điều mình mong muốn phải nhường chỗ cho hành động trực tiếp và việc sử dụng có kế hoạch cẩn thận các mãnh lực sẵn có, được hơi thở khơi dậy hoạt động, dưới sự hướng dẫn của con mắt bên trong và sự kiểm soát của con người tinh thần. Những năng lượng nào có thể và phải được sử dụng như vậy? Những mãnh lực nào phải được đặt dưới sự hướng dẫn? Có thể kiểm soát chúng bằng cách nào? Có nên bỏ qua chúng, và bằng sự bỏ qua ấy khiến chúng trở nên vô hiệu, hay đó là những mãnh lực cần thiết trong công việc sáng tạo vĩ đại? |
|
It will be apparent to you that the first step the spiritual investigator has to take is to ascertain—truly and in the light of his soul—where exactly is his focus of identification. [248] By that I mean: Is his major use of energy to be found upon the mental plane? Is he predominantly emotional and utilising force from the astral plane the greater part of the time? Can he contact the soul and bring in soul energy in such a manner that it negates or offsets his personality force? Can he thus live like a soul upon the physical plane, via the etheric body? If he earnestly studies this problem, he will in time discover which forces are dominant in the etheric body and will become aware consciously of the times and experience which call for the expenditure of soul energy. This, my brother, will take time and will be the result of prolonged observation and a close analysis of acts and sentient reactions, of words and thoughts. We are here concerned, as you can see, with an intensely practical problem which is at the same time an intrinsic part of our study and which will be evocative of basic changes in the life of the disciple. |
Các bạn sẽ thấy rõ rằng bước đầu tiên người khảo cứu tinh thần phải thực hiện là xác định—một cách chân thực và trong ánh sáng của linh hồn mình—chính xác trọng tâm đồng hoá của y ở đâu. [248] Qua đó, Tôi muốn nói: Việc sử dụng năng lượng chủ yếu của y có diễn ra trên cõi trí không? Y có thiên về cảm xúc và phần lớn thời gian sử dụng mãnh lực từ cõi cảm dục không? Y có thể tiếp xúc với linh hồn và đưa năng lượng linh hồn vào theo cách phủ định hoặc hoá giải mãnh lực phàm ngã của mình không? Như vậy, y có thể sống như một linh hồn trên cõi hồng trần, thông qua thể dĩ thái không? Nếu nghiêm túc nghiên cứu vấn đề này, theo thời gian, y sẽ khám phá những mãnh lực nào đang chiếm ưu thế trong thể dĩ thái và sẽ nhận biết một cách có ý thức những thời điểm và trải nghiệm đòi hỏi phải sử dụng năng lượng linh hồn. Huynh đệ của tôi, điều này sẽ cần thời gian và sẽ là kết quả của sự quan sát lâu dài cùng việc phân tích kỹ lưỡng các hành động và phản ứng cảm nhận, lời nói và tư tưởng. Như các bạn thấy, ở đây chúng ta đang bàn đến một vấn đề hết sức thực tiễn, đồng thời là một phần nội tại trong việc nghiên cứu của chúng ta và sẽ gợi lên những thay đổi căn bản trong đời sống của đệ tử. |
|
He will add to this observation and analysis of the strength of the force or the forces engaged, the conditions which will swing them into action, the frequency of their appearance, indicating to him novelty or habit, and likewise the nature of their expression. In this way, he will arrive at a new understanding of the conditioning factors which work through his vital body and make him—upon the physical plane—what he essentially is. This will prove to him of deep spiritual and significant help. |
Y sẽ bổ sung vào sự quan sát và phân tích này việc xem xét sức mạnh của mãnh lực hoặc các mãnh lực đang tham gia, những điều kiện sẽ khơi dậy chúng hoạt động, tần suất xuất hiện của chúng, cho y biết đó là điều mới mẻ hay thói quen, và cả bản chất biểu hiện của chúng. Bằng cách này, y sẽ đạt đến một sự thấu hiểu mới về những yếu tố định hình đang hoạt động qua thể sinh lực của mình và khiến y—trên cõi hồng trần—trở thành đúng con người mà về căn bản y là. Điều này sẽ mang lại cho y sự trợ giúp sâu sắc về mặt tinh thần và đầy thâm nghĩa. |
|
This period of observation is, however, confined to mental and intelligent observation. It forms the background of the work to be done, giving assurance and knowledge but leaving the situation as it was. His next step is to become aware of the quality of the forces applied; in ascertaining this, he will find it necessary to discover not only his soul ray and his personality ray but to know also the rays of his mental apparatus, and his emotional nature. This will lead [249] necessarily to another period of investigation and careful observation, if he is not already aware of them. When I tell you that to this information he must add a close consideration of the potencies of the forces and energies reaching him astrologically, you will see what a stern task he has set himself. Not only has he to isolate his five ray energies, but he has to allow for the energy of his sun sign as it conditions his personality, and of his rising sign as it seeks to stimulate that personality into soul responsiveness, thus working out soul purpose through personality cooperation. |
Tuy nhiên, giai đoạn quan sát này chỉ giới hạn ở sự quan sát bằng trí tuệ và sự thông minh. Nó tạo nền tảng cho công việc cần thực hiện, đem lại sự chắc chắn và kiến thức, nhưng vẫn để tình trạng như cũ. Bước tiếp theo của y là nhận biết phẩm tính của các mãnh lực đang được sử dụng; khi xác định điều này, y sẽ thấy cần phải khám phá không chỉ cung linh hồn và cung phàm ngã, mà còn phải biết các cung của bộ máy trí tuệ và bản chất cảm xúc của mình. Điều này tất yếu sẽ dẫn [249] đến một giai đoạn khảo cứu và quan sát cẩn thận khác, nếu y chưa nhận biết chúng. Khi Tôi nói với các bạn rằng ngoài thông tin này, y còn phải xem xét kỹ lưỡng sức mạnh của các mãnh lực và năng lượng đến với y qua chiêm tinh, các bạn sẽ thấy y đã đặt ra cho mình một nhiệm vụ nghiêm ngặt đến mức nào. Y không chỉ phải phân biệt riêng năm năng lượng cung của mình, mà còn phải tính đến năng lượng của dấu hiệu Mặt Trời khi nó định hình phàm ngã của y, và năng lượng của Dấu hiệu mọc khi nó tìm cách kích thích phàm ngã ấy đáp ứng với linh hồn, qua đó thực hiện mục đích của linh hồn thông qua sự hợp tác của phàm ngã. |
|
Vì vậy, có bảy yếu tố định hình phẩm tính của các mãnh lực đang tìm cách biểu hiện qua thể dĩ thái: |
|
|
1. The ray of the soul. |
1. Cung của linh hồn. |
|
2. The ray of the personality. |
2. Cung của phàm ngã. |
|
3. The ray of the mind. |
3. Cung của thể trí. |
|
4. The ray of the emotional nature. |
4. Cung của bản chất cảm xúc. |
|
5. The ray of the physical vehicle. |
5. Cung của hiện thể hồng trần. |
|
6. The energy of the sun sign. |
6. Năng lượng của dấu hiệu Mặt Trời. |
|
7. The influence of the rising sign. |
7. Ảnh hưởng của Dấu hiệu mọc. |
|
Once, however, these are ascertained and there is some assurance as to their factual truth, the entire problem begins to clarify and the disciple can work with knowledge and understanding. He becomes a scientific worker in the field of hidden forces. He knows then what he is doing, with what energies he must work, and he begins to feel these energies as they find their way into the etheric vehicle. |
Tuy nhiên, một khi đã xác định được những yếu tố này và có một mức độ chắc chắn nào đó về tính xác thực của chúng, toàn bộ vấn đề bắt đầu sáng tỏ, và đệ tử có thể làm việc với kiến thức và sự thấu hiểu. Y trở thành một người hoạt động khoa học trong lĩnh vực các mãnh lực ẩn tàng. Khi ấy, y biết mình đang làm gì, phải làm việc với những năng lượng nào, và y bắt đầu cảm nhận những năng lượng này khi chúng tìm đường vào hiện thể dĩ thái. |
|
Now comes the stage wherein he is in a position to find out the reality and the work of the seven centres which provide inlet and outlet for the moving forces and energies with which he is immediately concerned in this particular incarnation. He enters upon a prolonged period of observation, of experiment and experience and institutes a trial and error, [250] a success and failure, campaign which will call for all the strength, courage and endurance of which he is capable. |
Giờ đây đến giai đoạn y có khả năng tìm hiểu thực tại và hoạt động của bảy trung tâm, vốn cung cấp lối vào và lối ra cho các mãnh lực và năng lượng đang vận động mà y trực tiếp quan tâm trong lần lâm phàm cụ thể này. Y bước vào một giai đoạn quan sát, thử nghiệm và trải nghiệm lâu dài, đồng thời bắt đầu một quá trình thử và sai, [250] thành công và thất bại, đòi hỏi tất cả sức mạnh, lòng can đảm và sự bền bỉ mà y có thể có. |
|
Broadly speaking, the energy of the soul works through the highest head centre and is brought into activity through meditation and applied aptitude in contact. The energy of the integrated personality is focussed through the ajna centre, between the eyes; and when the disciple can identify himself with that, and is also aware of the nature and the vibration of his soul energy, then he can begin to work with the power of direction, using the eyes as directing agencies. There are, as you have gathered in your studies, three eyes of vision and direction at the disposal of the disciple. |
Nói khái quát, năng lượng của linh hồn hoạt động qua trung tâm cao nhất ở đầu, và được khơi dậy hoạt động qua tham thiền cùng việc vận dụng năng lực tiếp xúc. Năng lượng của phàm ngã tích hợp tập trung qua trung tâm ajna, giữa hai mắt; khi đệ tử có thể đồng hoá mình với năng lượng ấy, đồng thời nhận biết bản chất và rung động của năng lượng linh hồn mình, y có thể bắt đầu làm việc với quyền năng hướng dẫn, sử dụng đôi mắt làm các cơ quan hướng dẫn. Như các bạn đã biết qua việc nghiên cứu, đệ tử có thể sử dụng ba con mắt để nhìn và hướng dẫn. |
|
1. The inner eye, the single eye of the spiritual man. This is the true eye of vision and involves the idea of duality (of the see-er and that which is seen). It is the divine eye. It is that through which the soul looks forth into the world of men and through which direction of the personality takes place. |
1. Con mắt bên trong, con mắt duy nhất của con người tinh thần. Đây là con mắt đích thực của tầm nhìn và bao hàm ý tưởng về nhị nguyên (người thấy và điều được thấy). Đó là con mắt thiêng liêng. Qua con mắt ấy, linh hồn nhìn ra thế giới nhân loại, và cũng qua đó diễn ra sự hướng dẫn phàm ngã. |
|
2. The right eye, the eye of buddhi, the eye which is in direct responsive relation to the inner eye. Through this eye the highest activity of the personality can be directed upon the physical plane. You have therefore in this connection a triangle of spiritual forces which can be swept into unique activity by the advanced disciple and initiate. |
2. Con mắt phải, con mắt của Bồ đề, con mắt có mối quan hệ đáp ứng trực tiếp với con mắt bên trong. Qua con mắt này, hoạt động cao nhất của phàm ngã có thể được hướng dẫn trên cõi hồng trần. Vì vậy, trong mối liên hệ này, các bạn có một tam giác mãnh lực tinh thần mà đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ có thể khơi dậy thành một hoạt động độc đáo. |
|
[251] It is through this triplicity, for instance, that the trained initiate works when dealing with a group of people or with an individual. |
[251] Chẳng hạn, chính qua bộ ba này mà điểm đạo đồ đã qua huấn luyện làm việc khi tiếp xúc với một nhóm người hoặc một cá nhân. |
|
3. The left eye, the eye of manas, the distributor of mental energy under correct control—correct as far as personality purposes are concerned. This eye is also a part of a triangle of forces, available for the use of the aspirant and the probationary disciple. |
3. Con mắt trái, con mắt của manas, cơ quan phân phối năng lượng trí tuệ dưới sự kiểm soát đúng đắn—đúng đắn xét theo các mục đích của phàm ngã. Con mắt này cũng là một phần của một tam giác mãnh lực mà người chí nguyện và đệ tử dự bị có thể sử dụng. |
|
The inner or divine eye is quiescent and relatively inactive, being only the organ of observation where the soul is concerned and it is not yet—in the majority of cases—a distributor of directing soul energy. The disciplined reoriented aspirant, however, integrated and focussed in his purified personality, is using both buddhic and manasic force; he is beginning to be intuitional and predominantly mental. It is when these two triangles are under control and are beginning to function properly that the seven centres in the etheric body are brought under clear direction, become the recipients of the established rhythm of the developed human being, and present consequently an instrument to the soul through which appropriate energies can flow and the full organisation and purpose of a functioning son of God can be manifested on Earth. |
Con mắt bên trong, hay con mắt thiêng liêng, ở trạng thái tĩnh và tương đối bất hoạt, chỉ là cơ quan quan sát đối với linh hồn, và trong đa số trường hợp chưa phải là cơ quan phân phối năng lượng hướng dẫn của linh hồn. Tuy nhiên, người chí nguyện có kỷ luật và đã tái định hướng, đã tích hợp và tập trung trong phàm ngã được thanh luyện của mình, đang sử dụng cả mãnh lực Bồ đề lẫn mãnh lực manas; y đang bắt đầu có trực giác và thiên về trí tuệ. Khi hai tam giác này nằm dưới sự kiểm soát và bắt đầu hoạt động đúng đắn, bảy trung tâm trong thể dĩ thái mới được đặt dưới sự hướng dẫn rõ ràng, trở thành những nơi tiếp nhận nhịp điệu đã thiết lập của con người phát triển, và do đó cung cấp cho linh hồn một công cụ mà qua đó các năng lượng thích hợp có thể tuôn chảy, và toàn bộ sự tổ chức cùng mục đích của một Con của Thượng đế đang hoạt động có thể biểu hiện trên Trái Đất. |
|
Next comes what we have called the stage of direction. The soul or the integrated personality is in command or—on a higher turn of the spiral—the Monad is in command [252] and the personality is simply then the agent of spirit. Through the two triangles or through both of them working synchronously, the centres up the spine (five in all) are brought under rhythmic control. Energy is directed into them or through them; they are steadily brought into a beauty of organisation which has been described as a “life aflame with God”; it is a life of spiritual application and service wherein the higher triangle is the most potent. |
Tiếp theo là điều chúng ta đã gọi là giai đoạn hướng dẫn. Linh hồn hoặc phàm ngã tích hợp nắm quyền chỉ huy, hoặc—trên một vòng xoắn ốc cao hơn—Chân thần nắm quyền chỉ huy [252] và khi ấy phàm ngã chỉ đơn thuần là tác nhân của tinh thần. Qua hai tam giác, hoặc qua cả hai cùng hoạt động đồng bộ, các trung tâm dọc cột sống (tổng cộng là năm) được đặt dưới sự kiểm soát nhịp nhàng. Năng lượng được dẫn vào chúng hoặc qua chúng; chúng dần đạt tới vẻ đẹp của sự tổ chức đã được mô tả là một “đời sống rực cháy với Thượng đế”; đó là một đời sống vận dụng tinh thần và phụng sự, trong đó tam giác cao hơn có sức mạnh lớn nhất. |
|
The following three statements sum up the story of the eventual release of the disciple from the Great Illusion: |
Ba phát biểu sau đây tóm lược quá trình đệ tử cuối cùng thoát khỏi Đại Ảo Tưởng: |
|
First: As the soul, working through the higher triangle, becomes the directing agent, illusion is dispelled. The mind becomes illumined. |
Thứ nhất: Khi linh hồn, hoạt động qua tam giác cao hơn, trở thành tác nhân hướng dẫn, ảo tưởng được xua tan. Thể trí trở nên sáng tỏ. |
|
Second: As the personality (under the growing influence of the soul) works through the second triangle, glamour is dissipated. The control of the astral nature is broken. |
Thứ hai: Khi phàm ngã (dưới ảnh hưởng ngày càng tăng của linh hồn) hoạt động qua tam giác thứ hai, ảo cảm tiêu tan. Sự kiểm soát của bản chất cảm dục bị phá vỡ. |
|
Third: As the disciple, working as the soul and as an integrated personality, assumes direction of his life expression, maya or the world of etheric energies becomes devitalised, and only those forces and energies are employed which serve the need of the disciple or the initiate as he fulfils divine intent. |
Thứ ba: Khi đệ tử, hoạt động như linh hồn và như một phàm ngã tích hợp, đảm nhận việc hướng dẫn sự biểu hiện đời sống của mình, ảo lực hay thế giới năng lượng dĩ thái mất đi sinh lực, và chỉ những mãnh lực cùng năng lượng đáp ứng nhu cầu của đệ tử hoặc điểm đạo đồ mới được sử dụng khi y thực hiện ý định thiêng liêng. |
|
You will note that this is all embodied and brought about in the sevenfold work described above. This can be summarised as follows: |
Các bạn sẽ nhận thấy rằng tất cả điều này đều được thể hiện và thực hiện trong công việc thất phân đã mô tả ở trên. Có thể tóm lược như sau: |
|
1. The disciple discovers the focus of his identification. |
1. Đệ tử khám phá trọng tâm đồng hoá của mình. |
|
2. He ascertains the nature of the forces he is in the habit of using and which perpetually seem to swing him into action. [253] |
2. Y xác định bản chất của các mãnh lực mà mình có thói quen sử dụng và dường như không ngừng thúc đẩy y hành động. [253] |
|
3. He becomes aware of the strength and frequency of this force expression. |
3. Y nhận biết sức mạnh và tần suất của sự biểu hiện mãnh lực này. |
|
All this is carried forward as the mental observer. |
Y thực hiện tất cả điều này trong vai trò người quan sát bằng trí tuệ. |
|
4. He becomes conscious of the quality of the forces employed, their ray relation or their astrological significance. |
4. Y nhận biết phẩm tính của các mãnh lực được sử dụng, mối liên hệ cung hoặc thâm nghĩa chiêm tinh của chúng. |
|
This is a sentient, feeling activity and is not so basically mental as the previous three stages. |
Đây là một hoạt động cảm nhận, cảm xúc, và về căn bản không mang tính trí tuệ như ba giai đoạn trước. |
|
5. He identifies the centres in the etheric body and becomes aware of their individual existence as force agents. |
5. Y xác định các trung tâm trong thể dĩ thái và nhận biết sự tồn tại riêng biệt của chúng như những tác nhân mãnh lực. |
|
6. The two “triangles of vision and direction” in the head reach a stage of organisation and become |
6. Hai “tam giác của tầm nhìn và hướng dẫn” trong đầu đạt đến một giai đoạn tổ chức và trở thành |
|
a. Active and functioning mechanisms. |
a. Những bộ máy tích cực và đang hoạt động. |
|
b. Related and functioning, as one expressive instrument. This is an objective and subjective activity. |
b. Có liên hệ và hoạt động như một công cụ biểu hiện duy nhất. Đây là một hoạt động khách quan và chủ quan. |
|
7. The galvanising of the physical body into activity through the medium of the directing agencies in the head and through the centres up the spine. |
7. Khơi dậy thể xác hoạt động thông qua các cơ quan hướng dẫn trong đầu và qua các trung tâm dọc cột sống. |
|
The question now arises as to how this is to be brought about. This brings us to our second point. |
Giờ đây nảy sinh câu hỏi: Làm thế nào để thực hiện điều này? Điều đó đưa chúng ta đến điểm thứ hai. |
|
b. The use of the Science of the Breath. |
b. Sử dụng Khoa Học về Hơi Thở. |
|
There has been a great deal of nonsense talked and taught about the science of the breath. Many groups give a great deal of dangerous instruction anent breathing—dangerous because it is based on book knowledge and its exponents have never practised it extensively themselves, and dangerous because many groups simply exploit the unready, [254] usually for commercial gain. Fortunately for the mass of aspirants, the information and the instruction given are both feeble, inaccurate and frequently innocuous, though there are many cases of significantly bad reaction; fortunately, also, the purpose of the average aspirant is so weak that he is incapable of persistent, daily, unchanging compliance with the requirements and fails to render that application which would be the guarantee of a dubious success; hence, in these cases, no danger exists. Many occult groups exploit the subject in order to build up mystery and to hold out inducements to the unwary, or give their adherents something to do and thus gain kudos for themselves as learned and well trained occultists. Anyone can teach breathing exercises. It is largely a matter of periodic in-breathing and exhalation, timed and spaced according to the wish of the teacher. Where there is persistence in effort, results will be achieved and these will usually be undesirable because the average teacher emphasises the technique of the breath and not the ideas which—upon the energy which that breath engenders—should take form in the life of the disciple. |
Đã có rất nhiều điều vô nghĩa được nói và giảng dạy về khoa học hơi thở. Nhiều nhóm đưa ra rất nhiều chỉ dẫn nguy hiểm về việc thở—nguy hiểm vì chúng dựa trên kiến thức sách vở, còn những người truyền dạy chưa bao giờ tự thực hành sâu rộng, và nguy hiểm vì nhiều nhóm chỉ đơn thuần lợi dụng những người chưa sẵn sàng, [254] thường vì lợi nhuận thương mại. May mắn cho đông đảo người chí nguyện, cả thông tin lẫn chỉ dẫn được đưa ra đều yếu kém, thiếu chính xác và thường không gây hại, dù có nhiều trường hợp xuất hiện phản ứng xấu đáng kể; cũng may mắn là quyết tâm của người chí nguyện thông thường yếu đến mức y không có khả năng tuân thủ các yêu cầu một cách bền bỉ, hằng ngày và không thay đổi, và không thể thực hành chuyên cần đến mức bảo đảm cho một thành công đáng ngờ; do đó, trong những trường hợp này, không có nguy hiểm. Nhiều nhóm huyền bí khai thác chủ đề này nhằm tạo ra sự bí ẩn và đưa ra những lời dụ dỗ cho người thiếu cảnh giác, hoặc cho những người theo họ một việc gì đó để làm, qua đó đạt được danh tiếng cho mình như những nhà huyền bí học uyên bác và được đào tạo bài bản. Bất cứ ai cũng có thể dạy các bài tập thở. Phần lớn chỉ là việc hít vào và thở ra theo chu kỳ, với thời lượng và khoảng cách theo ý muốn của người dạy. Khi nỗ lực được duy trì bền bỉ, sẽ đạt được kết quả, và những kết quả ấy thường không đáng mong muốn, vì người dạy thông thường nhấn mạnh kỹ thuật thở chứ không nhấn mạnh những ý tưởng vốn phải thành hình trong đời sống của đệ tử nhờ năng lượng mà hơi thở ấy tạo ra. |
|
The entire science of the breath is built around the use of the Sacred Word, the OM. The use of the Word is intended to be confined to those aspirants who are earnestly pledged to tread the Way, but it has been passed on and its use enjoined by many unscrupulous teachers, particularly those swamis who come from India, pose as Holy Men and get the silly women of the occident into their clutches. The Word is then used with no spiritual intent but simply as a sound which, carried on the breath, produces psychic results which indicate to the gullible their deep spirituality. The trouble is that breathing is inevitably related to the OM, but the effects are dependent upon motive and inner fixed intention. The oriental, unless he has attained the fourth or fifth initiation, has no true understanding of the [255] occidental or of his mechanism and equipment which, as the result of a civilisation and a mode of living, differs widely from that of the oriental. In the East, the problem of the teacher or Guru is to take negatively polarised people and make them positive. In the West, the races are as a whole positive in attitude and need no such training as is rightly given to the oriental. What exactly do I mean when I make this statement? I mean that in the East, the will factor (the quality of the first aspect) is absent. The oriental, particularly the inhabitant of India, lacks will, dynamic incentive and the ability to exert that inner pressure upon himself which will produce definite results. That is why that particular civilisation is so unadaptable to modern civilisation, and that is why the people of India make so little progress along the lines of regulated municipal and national life, and why they are so behind the times as far as modern civilised living is concerned. Generalising, the occidental is positive and needs the directive force of the soul and can produce it with very little teaching. In the Aryan race, a fusion is today taking place between the will aspect, the mind and the brain. This is not so in the Orient. It will be so later. |
Toàn bộ khoa học hơi thở được xây dựng quanh việc sử dụng Linh từ Thiêng Liêng, OM. Việc sử dụng Linh từ vốn chỉ dành cho những người chí nguyện đã nghiêm túc cam kết bước trên Đường Đạo, nhưng nhiều người dạy vô lương tâm đã truyền lại và thúc giục người ta sử dụng nó, đặc biệt là những tu sĩ đến từ Ấn Độ, tự xưng là những Bậc Thánh và khiến những phụ nữ phương Tây khờ dại rơi vào tay họ. Khi ấy, Linh từ được sử dụng không với ý định tinh thần nào, mà chỉ như một âm thanh nương theo hơi thở, tạo ra những kết quả thông linh khiến người cả tin xem đó là dấu hiệu cho đời sống tinh thần sâu sắc của mình. Vấn đề là việc thở tất yếu có liên hệ với OM, nhưng các tác động lại phụ thuộc vào động cơ và ý định kiên định bên trong. Trừ khi đã đạt lần điểm đạo thứ tư hoặc thứ năm, người phương Đông không thực sự thấu hiểu [255] người phương Tây, cũng như bộ máy và những phương tiện của họ, vốn khác biệt rất lớn với người phương Đông do nền văn minh và lối sống. Ở phương Đông, vấn đề của huấn sư hay đạo sư là tiếp nhận những người phân cực âm và khiến họ trở nên dương tính. Ở phương Tây, nhìn chung các dân tộc có thái độ dương tính và không cần sự huấn luyện như loại thích hợp dành cho người phương Đông. Chính xác Tôi muốn nói gì khi đưa ra phát biểu này? Tôi muốn nói rằng ở phương Đông, yếu tố ý chí (phẩm tính của phương diện thứ nhất) vắng mặt. Người phương Đông, đặc biệt là người sống ở Ấn Độ, thiếu ý chí, động lực mạnh mẽ và khả năng tạo áp lực nội tâm lên chính mình để đạt những kết quả rõ rệt. Đó là lý do nền văn minh ấy khó thích nghi đến vậy với nền văn minh hiện đại, và là lý do người dân Ấn Độ tiến bộ rất ít trong đời sống đô thị và quốc gia được tổ chức có trật tự, cũng như quá lạc hậu xét về lối sống văn minh hiện đại. Nói khái quát, người phương Tây có tính dương và cần mãnh lực hướng dẫn của linh hồn, và có thể tạo ra mãnh lực ấy chỉ với rất ít sự chỉ dạy. Ngày nay, trong nhân loại Arya đang diễn ra một sự dung hợp giữa phương diện ý chí, thể trí và bộ não. Ở phương Đông thì chưa như vậy. Sau này sẽ như vậy. |
|
The only factor which makes the breath effective is the thought, the intent and the purpose which lie behind it. In this statement, you have the clue to dynamic useful breathing exercises. Unless there is a clear appreciation of purpose, unless the disciple knows just what he is doing as he practises esoteric breathing, and unless the significance of the words “energy follows thought” is understood, breathing exercises are sheer waste of time and can be dangerous. From this it can be gathered that only when there is an alliance between breathing and thinking will results be possible. |
Yếu tố duy nhất khiến hơi thở có hiệu quả là tư tưởng, ý định và mục đích nằm sau nó. Trong phát biểu này, các bạn có chìa khoá cho những bài tập thở mạnh mẽ và hữu ích. Nếu không có sự nhận thức rõ ràng về mục đích, nếu đệ tử không biết chính xác mình đang làm gì khi thực hành thở theo huyền bí học, và nếu không thấu hiểu thâm nghĩa của câu “năng lượng đi theo tư tưởng”, thì các bài tập thở hoàn toàn là sự lãng phí thời gian và có thể nguy hiểm. Từ đây, có thể thấy rằng chỉ khi có sự kết hợp giữa việc thở và suy nghĩ thì mới có thể đạt kết quả. |
|
Behind this lies a third and even more important factor—the WILL. Therefore, the only person who can safely [256] and usefully practise breathing exercises is the man whose will is active—his spiritual will and, therefore, the will of the Spiritual Triad. Any disciple who is in process of building the antahkarana can begin to use, with care, directed breathing exercises. But, in the last analysis, it is only the initiates of the third degree and who are coming under monadic influence who can properly and successfully employ this form of life direction and reach effective results. This is fundamentally true. However, a beginning has to be made and to this effort all true disciples are invited. |
Đằng sau điều này có một yếu tố thứ ba còn quan trọng hơn—Ý CHÍ. Vì vậy, người duy nhất có thể thực hành các bài tập thở một cách an toàn [256] và hữu ích là người có ý chí đang hoạt động—ý chí tinh thần của y, và do đó là ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần. Bất cứ đệ tử nào đang trong quá trình xây dựng antahkarana đều có thể bắt đầu sử dụng một cách thận trọng các bài tập thở có định hướng. Nhưng xét cho cùng, chỉ những điểm đạo đồ bậc ba đang chịu ảnh hưởng của chân thần mới có thể sử dụng đúng đắn và thành công hình thức hướng dẫn đời sống này và đạt những kết quả hữu hiệu. Về căn bản, điều này là đúng. Tuy nhiên, phải có một sự khởi đầu, và mọi đệ tử chân chính đều được mời tham gia nỗ lực này. |
|
If all the implications in the above paragraph are considered, it will be apparent that the disciple has to establish—as a preliminary step—a direct relation between his brain, his mind and the will aspect of the Spiritual Triad; in other words, the negative receptor of thought (the brain), the agent of the will (the mind), and the Triad itself, have to be brought into contact with each other, via the antahkarana. When such a relation exists or is beginning to be established, then breathing exercises can safely and profitably be attempted. You see, my brother, only the directed will, using the organised rhythmic breath as its agent, can control the centres and produce an ordered purpose in life. Therefore, it is the dominating idea or line of mental activity with which the disciple must be concerned as he performs a breathing exercise. This idea must embody some purpose, some planned activity and some recognised goal before the breath which will engineer or implement it is generated, assembled, sent forth and thus becomes the carrier of power. This has to be done upon the wings of conscious intention, if I may here speak symbolically. I would urge you to read these last sentences with frequency because they concern the Science of the Breath and hold the clue to needed work. This science is primarily and fundamentally concerned with ideas as formulated into clear thoughtforms [257] and thus condition the life of the disciple upon etheric levels. From there, they eventually condition his physical plane life. |
Nếu xem xét mọi hàm ý trong đoạn trên, sẽ thấy rõ rằng đệ tử phải thiết lập—như một bước sơ bộ—mối quan hệ trực tiếp giữa bộ não, thể trí và phương diện ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần; nói cách khác, cơ quan tiếp nhận tư tưởng mang tính âm (bộ não), tác nhân của ý chí (thể trí), và chính Tam Nguyên Tinh Thần phải tiếp xúc với nhau qua antahkarana. Khi một mối quan hệ như thế tồn tại hoặc bắt đầu được thiết lập, có thể thử thực hành các bài tập thở một cách an toàn và có lợi. Huynh đệ của tôi, các bạn thấy rằng chỉ ý chí có định hướng, sử dụng hơi thở nhịp nhàng đã được tổ chức làm tác nhân, mới có thể kiểm soát các trung tâm và tạo ra một mục đích có trật tự trong đời sống. Vì vậy, chính ý tưởng chủ đạo hoặc dòng hoạt động trí tuệ mới là điều đệ tử phải quan tâm khi thực hiện một bài tập thở. Ý tưởng này phải thể hiện một mục đích, một hoạt động đã hoạch định và một mục tiêu đã nhận biết, trước khi hơi thở sẽ tổ chức hoặc thực hiện nó được tạo ra, tập hợp, phát ra và nhờ đó trở thành phương tiện chuyên chở quyền năng. Điều này phải được thực hiện trên đôi cánh của ý định có ý thức, nếu ở đây Tôi có thể nói theo nghĩa biểu tượng. Tôi muốn thúc giục các bạn thường xuyên đọc lại những câu cuối này, vì chúng liên quan đến Khoa Học về Hơi Thở và chứa chìa khoá cho công việc cần thiết. Trước hết và về căn bản, khoa học này liên quan đến những ý tưởng được định hình thành các hình tư tưởng rõ ràng [257] và qua đó định hình đời sống của đệ tử trên các cấp độ dĩ thái. Từ đó, cuối cùng chúng định hình đời sống của y trên cõi hồng trần. |
|
I have no intention here of giving any breathing exercises which disciples or aspirants could use—or, more probably, misuse. Their first responsibility is to become aware of the impulses within themselves which could galvanise the centres into activity and so produce conditions and events upon the physical plane. When these are clear and firmly established in the mind consciousness of the disciple, nothing can then stop their emergence in due time into the light of day. But they must follow an ordered process of gestation and of timed appearance. |
Ở đây, Tôi không có ý định đưa ra bất cứ bài tập thở nào mà các đệ tử hoặc người chí nguyện có thể sử dụng—hoặc, nhiều khả năng hơn, sử dụng sai. Trách nhiệm đầu tiên của họ là nhận biết những xung lực bên trong mình có thể khơi dậy các trung tâm hoạt động và nhờ đó tạo ra những điều kiện cùng sự kiện trên cõi hồng trần. Khi những xung lực này trở nên rõ ràng và được thiết lập vững chắc trong tâm thức trí tuệ của đệ tử, không gì có thể ngăn chúng xuất hiện dưới ánh sáng ban ngày vào đúng thời điểm. Nhưng chúng phải tuân theo một tiến trình thai nghén có trật tự và xuất hiện đúng thời điểm. |
|
When there is true idealism, right thought, plus an understanding of the vehicle of expression and the world of forces into which the idea has to be launched, then the student can safely follow certain scheduled breathing exercises and the second phase or the result of sound rhythmic breathing will appear. This is Inspiration. |
Khi có lý tưởng chân chính, tư tưởng đúng đắn, cùng sự thấu hiểu hiện thể biểu hiện và thế giới mãnh lực mà ý tưởng phải được phóng vào, đạo sinh có thể an toàn thực hiện một số bài tập thở theo lịch trình, và giai đoạn thứ hai, hay kết quả của việc thở nhịp nhàng đúng đắn, sẽ xuất hiện. Đó là Cảm Hứng. |
|
Breathing exercises, my brother, have a purely physiological effect when not impelled or motivated by directed thought and when they are not the result of the aspirant attaining and adhering to a point of tension. Steadily, whilst the process of inhalation and exhalation is being carried forward, a clear line of active thinking must be preserved so that the breath (as it is sent out) is qualified and conditioned by some idea. It is here that the average aspirant fails so often. He is usually so intensely preoccupied with the process of directing breathing and so expectant of some phenomenal results, that the living purpose of the breath is forgotten; this is to energise and add quality to the life of the centres through the medium of some projected and presented thought, expressing some sensed and determined idea. Where this background of idealistic thought is lacking, then the results of the breath will be practically nil or—[258] where there are results of any kind under these circumstances—they will be in no way concerned with thought but will be psychic in nature. They can then produce lasting psychic trouble, for the emanating source of the activity is astral and the projected energy goes to centres below the diaphragm, thus feeding the lower nature, enriching and strengthening its astral content and thereby enhancing and deepening glamour. The results can also be physiological, producing the stimulation of the etheric body leading to the strengthening of the physical nature; this often leads to serious results, for the breath is carried to centres which should be in “process of elevation” as it is esoterically called; this increases their physical potency, feeds the physical appetites and makes the task of the aspirant much harder as he seeks to sublimate the lower nature and anchor or focus the life of the centres above the diaphragm or in the head. |
Huynh đệ của tôi, các bài tập thở chỉ có tác động thuần tuý sinh lý khi không được tư tưởng có định hướng thúc đẩy hoặc tạo động lực, và khi chúng không phải là kết quả của việc người chí nguyện đạt tới và duy trì một điểm tập trung nhất tâm. Trong suốt quá trình hít vào và thở ra, phải liên tục duy trì một dòng suy nghĩ chủ động rõ ràng để hơi thở (khi được phát ra) mang phẩm tính và chịu sự định hình của một ý tưởng nào đó. Chính ở đây người chí nguyện thông thường rất hay thất bại. Y thường quá mải mê với quá trình hướng dẫn hơi thở và quá mong đợi những kết quả hiện tượng nào đó, đến mức quên mất mục đích sống động của hơi thở; mục đích ấy là tiếp năng lượng và bổ sung phẩm tính cho sự sống của các trung tâm thông qua một tư tưởng được phóng chiếu và đưa ra, biểu hiện một ý tưởng đã cảm nhận và xác định. Khi thiếu nền tảng tư tưởng lý tưởng này, kết quả của hơi thở thực tế sẽ bằng không, hoặc—[258] nếu có bất cứ kết quả nào trong những hoàn cảnh ấy—chúng sẽ không liên quan đến tư tưởng mà mang bản chất thông linh. Khi ấy, chúng có thể gây ra những rối loạn thông linh kéo dài, vì nguồn phát ra hoạt động thuộc về cảm dục, và năng lượng được phóng chiếu đi đến các trung tâm dưới cơ hoành, qua đó nuôi dưỡng bản chất thấp, làm phong phú và tăng cường nội dung cảm dục của nó, và do đó làm gia tăng và sâu đậm thêm ảo cảm. Kết quả cũng có thể mang tính sinh lý, tạo ra sự kích thích thể dĩ thái dẫn đến việc tăng cường bản chất hồng trần; điều này thường dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, vì hơi thở được dẫn đến các trung tâm lẽ ra phải ở trong “tiến trình nâng cao”, như cách gọi trong huyền bí học; điều này làm tăng sức mạnh hồng trần của chúng, nuôi dưỡng các dục vọng thể xác và khiến nhiệm vụ của người chí nguyện khó khăn hơn nhiều khi y tìm cách thăng hoa bản chất thấp và neo giữ hoặc tập trung sự sống của các trung tâm ở phía trên cơ hoành hoặc trong đầu. |
|
Glamour and maya are then increased and for the life in which these exercises are misapplied, the aspirant remains in a static and unprofitable condition. As he breathes in or inhales, he draws the breath from within his own aura, his auric ring-pass-not; he feeds the lower nature and sets up a vicious circle within himself which strengthens day by day until he is completely enmeshed by the glamour and maya which he is constantly establishing and re-establishing. The lower centres are steadily vitalised and become extremely active and the point of tension from which the aspirant then works is found in the personality and is not focussed in relation to the soul; the consciousness of the uniqueness of special breathing and the expectancy of phenomenal results bar out all thought, except lower reactions of a kama-manasic nature; emotion is fostered and the power of the astral body is tremendously increased; very frequently also the physiological results are potent and [259] noticeable, such as a great chest development and the muscular strengthening of the diaphragm. Something of this can be seen in the case of operatic singers. Singing, as now taught, is an expression of some of the lower aspects of the breath, and the breathing in the case of the above vocalists produces much breast development, intensifying emotionalism, producing instability in the life expression (which is often referred to as temperament) and keeps the singing aspect entirely astral in nature. |
Khi ấy, ảo cảm và ảo lực gia tăng, và trong kiếp sống mà những bài tập này bị áp dụng sai, người chí nguyện vẫn ở trong một tình trạng trì trệ và không mang lại lợi ích. Khi hít vào, y hút hơi thở từ bên trong hào quang của chính mình, vòng-giới-hạn hào quang của y; y nuôi dưỡng bản chất thấp và tạo ra bên trong mình một vòng luẩn quẩn ngày càng mạnh lên, cho đến khi hoàn toàn mắc vào lưới ảo cảm và ảo lực mà y không ngừng thiết lập rồi tái thiết lập. Các trung tâm thấp liên tục được tiếp sinh lực và trở nên cực kỳ hoạt động, còn điểm tập trung nhất tâm mà từ đó người chí nguyện làm việc lúc này nằm trong phàm ngã, không tập trung trong mối liên hệ với linh hồn; tâm thức về tính độc đáo của cách thở đặc biệt và sự mong đợi các kết quả hiện tượng ngăn chặn mọi tư tưởng, ngoại trừ những phản ứng thấp mang bản chất trí-cảm; cảm xúc được nuôi dưỡng và quyền năng của thể cảm dục gia tăng vô cùng mạnh mẽ; rất thường xuyên, các kết quả sinh lý cũng mạnh mẽ và [259] rõ rệt, chẳng hạn như lồng ngực phát triển lớn và các cơ của cơ hoành được tăng cường. Có thể thấy phần nào điều này ở các ca sĩ nhạc kịch. Cách dạy hát hiện nay là một biểu hiện của một số phương diện thấp của hơi thở, và cách thở của những ca sĩ nói trên làm vùng ngực phát triển nhiều, tăng cường tính thiên về cảm xúc, tạo ra sự bất ổn trong biểu hiện đời sống (thường được gọi là tính khí), và khiến phương diện ca hát vẫn hoàn toàn mang bản chất cảm dục. |
|
There is a higher and better mode of song, actuated by a difference in the point of tension and involving a breathing process which draws the needed energy upon the breath from sources higher and far more extensive than those normally used; this will produce the inspiration which will involve the whole man and not simply his emotional reaction to the theme of his song and his audience. This will bring into being a new mode and type of singing and of breathing, based on a form of mental breathing which will carry energy and consequent inspiration from sources without the personality aura. The time for this is not yet. My words will be little understood today, but the singing in the next century will be by those who will know how to tap the reservoirs of inspiration by means of a new method and technique in breathing. These techniques and exercises will be taught, to start with, in the new and coming schools of esotericism. |
Có một cách ca hát cao hơn và tốt hơn, được thúc đẩy do sự khác biệt ở điểm tập trung nhất tâm và bao hàm một tiến trình hô hấp thu hút năng lượng cần thiết theo hơi thở từ những nguồn cao hơn và rộng lớn hơn nhiều so với những nguồn thường dùng; điều này sẽ tạo ra cảm hứng bao trùm toàn bộ con người, chứ không chỉ phản ứng cảm xúc của y đối với chủ đề bài hát và thính giả. Điều này sẽ khai sinh một cách thức và loại hình ca hát và hô hấp mới, dựa trên một hình thức hô hấp trí tuệ mang năng lượng cùng cảm hứng phát sinh từ đó đến từ những nguồn bên ngoài hào quang phàm ngã. Thời điểm cho điều này vẫn chưa đến. Lời Tôi sẽ ít được thấu hiểu ngày nay, nhưng trong thế kỷ tới, những người ca hát sẽ biết cách khai thác các kho cảm hứng bằng một phương pháp và kỹ thuật hô hấp mới. Ban đầu, những kỹ thuật và bài tập này sẽ được giảng dạy trong các trường huyền bí học mới sắp xuất hiện. |
|
Inspiration is a process of qualifying, vitalising and stimulating the reaction of the personality—via the centres—to that point of tension where soul control becomes present and apparent. It is the mode whereby energy from the soul can flood the personality life, can sweep through the centres, expelling that which hinders, ridding the aspirant of all remaining glamours and maya, and perfecting an instrument whereby the music of the soul and, later, the musical quality of the Hierarchy can be heard. Forget not [260] that sound permeates all forms; the planet itself has its own note or sound; each minute atom also has its sound; each form can be evoked into music and each human being has his peculiar chord and all chords contribute to the great symphony which the Hierarchy and Humanity are playing, and playing now. Every spiritual group has its own tune (if I may employ so inappropriate a word) and the groups which are in process of collaborating with the Hierarchy make music ceaselessly. This rhythm of sound and this myriad of chords and notes blend with the music of the Hierarchy itself and this is a steadily enriching symphony; as the centuries slip away, all these sounds slowly unite and are resolved into each other until some day the planetary symphony which Sanat Kumara is composing will be completed and our Earth will then make a notable contribution to the great chords of the solar system—and this is a part, intrinsic and real, of the music of the spheres. Then, as the Bible says, the Sons of God, the planetary Logoi, will sing together. This, my brother, will be the result of right breathing, of controlled and organised rhythm, of true pure thought and of the correct relation between all parts of the chorus. |
Cảm hứng là một tiến trình phú phẩm tính, tiếp sinh lực và kích thích sự đáp ứng của phàm ngã—qua các trung tâm—đối với điểm tập trung nhất tâm nơi sự kiểm soát của linh hồn hiện diện và trở nên rõ rệt. Đó là cách thức để năng lượng từ linh hồn tràn ngập đời sống phàm ngã, quét qua các trung tâm, trục xuất những gì gây cản trở, giải thoát người chí nguyện khỏi mọi ảo cảm và ảo lực còn sót lại, và hoàn thiện một khí cụ để qua đó có thể nghe được âm nhạc của linh hồn và, về sau, phẩm tính âm nhạc của Thánh đoàn. Đừng quên [260] rằng âm thanh thấm nhuần mọi hình tướng; chính hành tinh có âm điệu hay âm thanh riêng; mỗi nguyên tử nhỏ bé cũng có âm thanh riêng; mỗi hình tướng đều có thể được gợi lên thành âm nhạc, và mỗi con người có hợp âm đặc thù của mình; mọi hợp âm đều góp phần vào bản giao hưởng vĩ đại mà Thánh đoàn và Nhân loại đang cùng trình tấu, ngay lúc này. Mỗi nhóm tinh thần có giai điệu riêng (nếu Tôi có thể dùng một từ không thích hợp đến thế), và các nhóm đang trong tiến trình cộng tác với Thánh đoàn không ngừng tạo nên âm nhạc. Nhịp điệu âm thanh này cùng vô vàn hợp âm và âm điệu hòa vào âm nhạc của chính Thánh đoàn, tạo thành một bản giao hưởng ngày càng phong phú; qua bao thế kỷ, tất cả những âm thanh này từ từ hợp nhất và hòa quyện vào nhau, cho đến một ngày bản giao hưởng hành tinh mà Sanat Kumara đang sáng tác sẽ hoàn tất; khi ấy Trái Đất của chúng ta sẽ đóng góp đáng kể vào những hợp âm vĩ đại của hệ mặt trời—và đây là một phần nội tại, có thực, của âm nhạc các khối cầu. Khi ấy, như Kinh Thánh nói, các Con của Thượng đế, các Hành Tinh Thượng đế, sẽ cùng ca hát. Huynh đệ của tôi, đây sẽ là kết quả của việc hô hấp đúng đắn, của nhịp điệu được kiểm soát và tổ chức, của tư tưởng chân thực, thanh khiết, và của mối quan hệ đúng đắn giữa mọi thành phần trong dàn hợp xướng. |
|
Think out this theme as a meditation exercise and gain inspiration thereby. |
Hãy suy xét thấu đáo chủ đề này như một bài tập tham thiền và qua đó đón nhận cảm hứng. |
|
c. Kỹ Thuật Điềm Nhiên |
|
|
I have, in my other books, given much information anent the etheric body and the centres—major and minor—which are to be found within its radius. There is a tendency among students to identify the centres with the physical body in their thinking and not so clearly with the etheric body. This concerns location in the majority of cases and is a mistake. Aspirants would do well to avoid any concentration at all [261] upon the physical body and learn gradually to shift their focus of attention into the etheric body. Necessarily the physical body is active and potent but increasingly it should be regarded as an automaton, influenced and directed by: |
Trong những cuốn sách khác của Tôi, Tôi đã cung cấp nhiều thông tin về thể dĩ thái và các trung tâm—chính và phụ—nằm trong phạm vi của thể này. Trong suy nghĩ, các đạo sinh có khuynh hướng đồng nhất các trung tâm với thể xác hơn là nhận rõ mối liên hệ của chúng với thể dĩ thái. Trong đa số trường hợp, điều này liên quan đến vị trí và là một sai lầm. Người chí nguyện nên tránh mọi sự tập trung [261] vào thể xác và dần học cách chuyển trọng tâm chú ý sang thể dĩ thái. Tất nhiên, thể xác hoạt động và có sức mạnh, nhưng ngày càng nên xem nó như một bộ máy tự động, chịu ảnh hưởng và sự điều khiển của: |
|
1. The vital body and the forces of maya; or by inspiration, emanating from points of spiritual tension. |
1. Thể sinh lực và các mãnh lực ảo lực; hoặc cảm hứng phát xạ từ những điểm tập trung nhất tâm tinh thần. |
|
2. The astral vehicle and the forces of glamour; or sentient, conscious love, emanating from the soul. |
2. Hiện thể cảm dục và các mãnh lực ảo cảm; hoặc tình thương có cảm nhận và có ý thức, phát xạ từ linh hồn. |
|
3. The mind and the forces of illusion; or by illumination, coming from higher sources than the life in the three worlds. |
3. Thể trí và các mãnh lực ảo tưởng; hoặc sự soi sáng đến từ những nguồn cao hơn đời sống trong ba cõi giới. |
|
4. The soul, as the vehicle of monadic impression, until such time as the antahkarana is built—that bridge in mental matter which will eventually link the Monad and the personality. |
4. Linh hồn, với tư cách là hiện thể tiếp nhận ấn tượng chân thần, cho đến khi antahkarana được xây dựng—cây cầu bằng vật chất trí tuệ ấy cuối cùng sẽ nối liền Chân thần và phàm ngã. |
|
One of the problems which disciples have to solve is the source of the incentive, impulses, impressions or inspiration which—via the etheric body—sweep the physical vehicle into activity upon the physical plane, thus giving a demonstration of the quality, purpose and point of tension of the incarnating man, and manifesting the nature of the man as he is at any particular point upon the ladder of evolution. According to the tensions and impulses indicated, will be the activity of the centres. You can see, therefore, how much that I teach reverses the usual occult procedures. I teach no mode of awakening the centres because right impulse, steady reaction to higher impulsions and the practical recognition of the sources of inspiration will automatically and safely swing the centres into needed and appropriate activity. This is the sound method of development. It is slower, but leads to no premature development and produces a rounded out unfoldment; it enables the aspirant to [262] become truly the Observer and to know with surety what he is doing; it brings the centres, one by one, to a point of spiritual responsiveness and then establishes the ordered and cyclic rhythm of a controlled lower nature. That breathing exercises may eventually find a place in the training of the disciple is true and possible, but they will be self-initiated as a result of rhythmic living and a constant right use of the Sacred Word, the OM. When, for instance, a disciple in meditation sounds the OM seven times, it is the equivalent of a breathing exercise; when he can send the energy thus generated on the wings of conscious planned thought to one or other of the centres, he is bringing about changes and readjustments within the mechanism which handles force, and when this can be carried out with ease and with the mind held at a point of “thought-full tension,” then the disciple is well on the way to shifting his entire focus of attention away from the world of illusion, glamour and maya and into the realm of the soul, in the world of the “clear cold light” and into the kingdom of God. |
Một trong những vấn đề đệ tử phải giải quyết là xác định nguồn của động lực, xung lực, ấn tượng hoặc cảm hứng vốn—qua thể dĩ thái—thúc đẩy hiện thể hồng trần hoạt động trên cõi hồng trần, qua đó biểu lộ phẩm tính, mục đích và điểm tập trung nhất tâm của con người đang nhập thể, đồng thời biểu hiện bản chất của y tại bất kỳ bậc cụ thể nào trên thang tiến hoá. Hoạt động của các trung tâm sẽ tùy thuộc vào những mức độ tập trung nhất tâm và xung lực đã nêu. Vì vậy, các bạn có thể thấy những điều Tôi giảng dạy đảo ngược các cách thực hành huyền bí thông thường đến mức nào. Tôi không dạy phương thức đánh thức các trung tâm, vì xung lực đúng đắn, sự đáp ứng bền bỉ với những thúc đẩy cao hơn và việc nhận biết các nguồn cảm hứng trong thực hành sẽ tự động và an toàn đưa các trung tâm vào hoạt động cần thiết và thích hợp. Đây là phương pháp phát triển vững chắc. Nó chậm hơn, nhưng không dẫn đến sự phát triển sớm trước thời điểm và tạo nên sự khai mở toàn diện; nó giúp người chí nguyện [262] thực sự trở thành Người Quan Sát và biết chắc mình đang làm gì; nó lần lượt đưa từng trung tâm đến một điểm đáp ứng tinh thần, rồi thiết lập nhịp điệu có trật tự và theo chu kỳ của bản chất thấp đã được kiểm soát. Việc các bài tập hô hấp cuối cùng có thể có chỗ đứng trong sự huấn luyện đệ tử là điều đúng đắn và khả thi, nhưng y sẽ tự khởi xướng chúng như kết quả của lối sống có nhịp điệu và việc thường xuyên sử dụng đúng Linh từ Thiêng Liêng, OM. Chẳng hạn, khi một đệ tử xướng OM bảy lần trong lúc tham thiền, điều đó tương đương với một bài tập hô hấp; khi y có thể gửi năng lượng được tạo ra như vậy, trên đôi cánh của tư tưởng có ý thức và được hoạch định, đến trung tâm này hay trung tâm khác, y đang tạo nên những biến đổi và điều chỉnh bên trong bộ máy xử lý mãnh lực; và khi y có thể thực hiện điều này dễ dàng, với thể trí được giữ tại một điểm “tập trung nhất tâm đầy tư tưởng”, thì đệ tử đã tiến xa trên con đường chuyển toàn bộ trọng tâm chú ý của mình ra khỏi thế giới ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực, để đi vào cảnh giới linh hồn, vào thế giới của “ánh sáng trong trẻo, lạnh” và vào Thiên Giới. |
|
When he also adds to this an understanding and the practice of the Technique of Indifference, he stands free and liberated and is essentially at all times the Observer and User of the apparatus of manifestation. |
Khi y bổ sung vào đó sự thấu hiểu và thực hành Kỹ Thuật Điềm Nhiên, y đứng trong tự do và giải thoát, và về bản chất, lúc nào cũng là Người Quan Sát và Người Sử Dụng bộ máy biểu hiện. |
|
What is this technique? What is indifference? I wonder, brother of mine, if you understand the significance of this word “indifference”? It means in reality the achieving of a neutral attitude towards that which is regarded as the Not-self; it involves a repudiation of similarity; it marks the recognition of a basic distinction; it signifies refusal to be identified with anything save the spiritual reality as far as that is sensed and known at any given point in time and space. It is, therefore, a much stronger and vital thing than what is usually meant when the word is used. It is active repudiation without any concentration upon that which is [263] repudiated. That is a statement of moment and warrants your careful consideration. It is concerned with the point of tension from which the observing disciple or aspirant is working. The point of tension becomes the emanating source of some type of energy, and this pours down into and through the etheric body without being in any way affected by maya or by the concentration of diverse forces of which the etheric body is ever composed. Indifference, technically understood, signifies direct descent from there to here, without deviation or distortion. The manifesting entity, the disciple, stands steady and firm at this point of tension and his first step is, therefore, to ascertain where that is, on what plane it is found, and what is the strength of the tension upon which he has to depend. The next step is to discover if that which he seeks to convey to the physical body, and thus produce effects upon the outer world of experiment and experience, is distorted by illusion of any kind, arrested in its expression by glamour, or liable to be sidetracked by uncontrolled forces and by the maya which these produce. This he ascertains not by identifying himself, stage by stage of descent, with the hindrances and possible obstructions but by intensifying his point of tension, by the constant recollection of the truth that he is the Self and not the not-self and by a process of projection; this projection is defined as sending of energy, qualified and recognised, from the point of tension direct and undeviatingly to the vital body from whence it can find its way to the seven centres of control. |
Kỹ thuật này là gì? Điềm nhiên là gì? Huynh đệ của tôi, Tôi tự hỏi liệu các bạn có thấu hiểu thâm nghĩa của từ “điềm nhiên” này không? Thực ra, nó có nghĩa là đạt được một thái độ trung lập đối với những gì được xem là Phi ngã; nó bao hàm sự phủ nhận tính tương đồng; nó đánh dấu việc nhận biết một sự khác biệt căn bản; nó có nghĩa là từ chối đồng hoá với bất cứ điều gì ngoài thực tại tinh thần, trong phạm vi thực tại ấy được cảm nhận và nhận biết tại bất kỳ điểm nào trong thời gian và không gian. Vì vậy, nó mạnh mẽ và đầy sức sống hơn nhiều so với ý nghĩa thông thường người ta gán cho từ này. Đó là sự khước từ tích cực mà không hề tập trung vào những gì [263] bị khước từ. Đây là một phát biểu quan trọng, đáng để các bạn suy xét cẩn thận. Nó liên quan đến điểm tập trung nhất tâm mà từ đó người đệ tử hay người chí nguyện đang quan sát tiến hành công việc. Điểm tập trung nhất tâm trở thành nguồn phát xạ một loại năng lượng nào đó; năng lượng này tuôn xuống, đi vào và xuyên qua thể dĩ thái mà không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào của ảo lực hay của sự tập trung nhiều mãnh lực khác nhau vốn luôn cấu thành thể dĩ thái. Hiểu theo nghĩa kỹ thuật, điềm nhiên có nghĩa là đi xuống trực tiếp từ đó đến đây, không chệch hướng hay biến dạng. Thực Thể đang biểu hiện, tức người đệ tử, đứng vững vàng và kiên định tại điểm tập trung nhất tâm này; vì vậy, bước đầu tiên của y là xác định điểm ấy ở đâu, nằm trên cõi nào, và mức độ tập trung nhất tâm mà y phải dựa vào mạnh đến đâu. Bước tiếp theo là khám phá xem điều y tìm cách truyền đến thể xác, và qua đó tạo tác động lên thế giới thử nghiệm và trải nghiệm bên ngoài, có bị bất kỳ loại ảo tưởng nào làm biến dạng, bị ảo cảm ngăn chặn sự biểu lộ, hay có nguy cơ bị làm chệch hướng do những mãnh lực không được kiểm soát và do ảo lực mà chúng tạo ra hay không. Y xác định điều này không phải bằng cách đồng hoá mình, qua từng giai đoạn đi xuống, với những trở ngại và chướng ngại có thể có, mà bằng cách tăng cường điểm tập trung nhất tâm, bằng việc luôn ghi nhớ chân lý rằng y là Bản Ngã chứ không phải Phi ngã, và bằng một tiến trình phóng chiếu; sự phóng chiếu này được định nghĩa là gửi năng lượng đã được phú phẩm tính và nhận biết, từ điểm tập trung nhất tâm trực tiếp và không chệch hướng đến thể sinh lực, để từ đó năng lượng có thể tìm đường đến bảy trung tâm kiểm soát. |
|
It is at this point that he applies the technique of indifference for, if he does not, that which he is seeking to express may be held up and arrested by etheric force or by the veils of maya. He works consequently from a point of intense concentration; he refuses any “attachment” to any form or plane as he projects the energy into and [264] through the three worlds. When he discovers any arresting or sidetracking of progress through active illusion, or glamour, he “detaches” himself consciously from such contacts and braces himself for the final stage of indifference or repudiation of all forces except those which he—consciously and with purpose—is seeking to use upon the physical plane. |
Chính tại điểm này, y áp dụng kỹ thuật điềm nhiên, vì nếu không, điều y tìm cách biểu lộ có thể bị mãnh lực dĩ thái hoặc những màn che ảo lực giữ lại và ngăn chặn. Y do đó làm việc từ một điểm tập trung cao độ; y từ chối mọi sự “gắn bó” với bất kỳ hình tướng hay cõi nào khi phóng chiếu năng lượng vào và [264] xuyên qua ba cõi giới. Khi phát hiện bất kỳ sự ngăn chặn hay làm chệch hướng tiến trình nào do ảo tưởng hoặc ảo cảm đang hoạt động, y có ý thức “tách rời” mình khỏi những tiếp xúc ấy và chuẩn bị vững vàng cho giai đoạn cuối cùng của sự điềm nhiên, hay sự khước từ mọi mãnh lực ngoại trừ những mãnh lực mà y—một cách có ý thức và có mục đích—đang tìm cách sử dụng trên cõi hồng trần. |
|
In the last analysis, my brother, the point of tension for the average disciple will be found on mental levels, involving the illumined mind and a growing soul contact: |
Xét đến cùng, huynh đệ của tôi, điểm tập trung nhất tâm của người đệ tử trung bình sẽ nằm trên các cấp độ trí tuệ, bao hàm thể trí được soi sáng và sự tiếp xúc ngày càng sâu sắc với linh hồn: |
|
a. He will be able then to “see” clearly in the light of the soul, and with a developed sense of values; he can consequently dispel illusion. |
a. Khi ấy, y sẽ có thể “thấy” rõ trong ánh sáng linh hồn, với một ý thức về giá trị đã phát triển; do đó, y có thể xua tan ảo tưởng. |
|
b. He will be able to project light, consciously, on to the astral plane and can thus dissipate glamour. |
b. Y sẽ có thể phóng chiếu ánh sáng một cách có ý thức lên cõi cảm dục và nhờ đó làm tiêu tan ảo cảm. |
|
c. He will be able to pour light energy through the etheric body and anchor the light or energy in the appropriate centres because there will be complete indifference or non-identification with maya. |
c. Y sẽ có thể tuôn năng lượng ánh sáng qua thể dĩ thái và neo giữ ánh sáng hay năng lượng ấy trong các trung tâm thích hợp, vì sẽ có sự điềm nhiên hoàn toàn, hay sự không đồng hoá với ảo lực. |
|
Where the initiate is concerned, the process is carried on at first from a point of tension within the soul and later from a point of tension in the Spiritual Triad. In all cases, however, once within the ring-pass-not of the three worlds, the directing energy produces results as outlined in this book and brings about: |
Đối với điểm đạo đồ, ban đầu tiến trình này được thực hiện từ một điểm tập trung nhất tâm trong linh hồn, và về sau từ một điểm tập trung nhất tâm trong Tam Nguyên Tinh Thần. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, một khi đã đi vào vòng-giới-hạn của ba cõi giới, năng lượng chỉ đạo tạo ra những kết quả như đã trình bày trong cuốn sách này và đem lại: |
|
1. The dispelling of illusion. |
1. Sự xua tan ảo tưởng. |
|
2. The dissipation of glamour. |
2. Sự làm tiêu tan ảo cảm. |
|
3. The overcoming of maya. |
3. Sự khắc phục ảo lực. |
|
It sounds fairly simple and easy of accomplishment as the aspirant reads these fairly simple elucidations of a difficult [265] process but that in itself is delusion. Age-long identification with the form side of life is not easily overcome and the task ahead of the disciple is a long and arduous one but one which promises eventual success, provided there is clear thinking, earnest purpose and planned scientific work. |
Khi người chí nguyện đọc những giải thích khá đơn giản này về một tiến trình khó khăn [265] , mọi việc nghe có vẻ khá đơn giản và dễ thực hiện, nhưng chính điều đó lại là một nhận định sai lầm. Sự đồng hoá qua bao thời đại với phương diện hình tướng của sự sống không dễ khắc phục; nhiệm vụ trước mắt đệ tử là một nhiệm vụ lâu dài và gian nan, nhưng hứa hẹn thành công cuối cùng, miễn là có tư duy rõ ràng, mục đích nghiêm túc và công việc khoa học được hoạch định. |
SECTION FOUR: THE TECHNIQUE OF FUSION – PHẦN BỐN: KỸ THUẬT DUNG HỢP
|
[266] In this, our final point, we are concerned with the control—constant and unremitting—of the soul over the personality. We are therefore concerned with the stage of initiation which brings to an end the path of development for humanity and inaugurates a cycle of existence of which we know, and can know, nothing except that the liberated Master then begins to function in a dual manner: as a member of the Hierarchy, cooperating with the Plan and occupied with the salvaging of humanity and, secondly, as a disciple of Sanat Kumara. The task of Sanat Kumara in relation to the Masters is to prepare Them to tread the Way of the Higher Evolution. When this becomes possible, the shift of the spiritual “attention” (I use this inadequate word for lack of a better one) is away from the soul and the Angel of the Presence to the mysterious Presence itself; this has hitherto only been sensed and dimly visioned. The Master—freed from the three and five worlds of human and so-called superhuman evolution—has now the full gifts of omnipresence and omniscience. He is aware of the underlying unity, brought about by the factual nature of the One Life and Being Who pervades all manifestation; He has also mastered all possible techniques and modes and methods of activity, of control and of fusion. But having developed those capacities, He now becomes faintly aware of that which conditions the One Being, and senses energies and contacts which are extra-planetary and of which He has hitherto been totally unaware. Knowledge comes to Him after the fifth initiation. |
[266] Trong điểm cuối cùng này, chúng ta xem xét sự kiểm soát—thường xuyên và không ngừng—của linh hồn đối với phàm ngã. Vì vậy, chúng ta xem xét giai đoạn điểm đạo kết thúc con đường phát triển của nhân loại và mở đầu một chu kỳ hiện tồn mà chúng ta không biết, và cũng không thể biết, điều gì ngoài việc Chân sư đã giải thoát khi ấy bắt đầu hoạt động theo hai cách: với tư cách một thành viên của Thánh đoàn, cộng tác với Thiên Cơ và chuyên tâm cứu độ nhân loại; và thứ hai, với tư cách một đệ tử của Sanat Kumara. Nhiệm vụ của Sanat Kumara đối với các Chân sư là chuẩn bị cho Các Ngài bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Khi điều này trở nên khả thi, “sự chú ý” tinh thần (Tôi dùng từ không đầy đủ này vì không có từ nào tốt hơn) chuyển khỏi linh hồn và Thiên Thần của Hiện Diện để hướng đến chính Hiện Diện huyền nhiệm; cho đến lúc này, Hiện Diện ấy mới chỉ được cảm nhận và nhìn thấy mờ nhạt trong linh thị. Chân sư—đã thoát khỏi ba cõi và năm cõi của tiến hoá nhân loại và của điều được gọi là tiến hoá siêu nhân loại—giờ đây có đầy đủ những quyền năng toàn tại và toàn tri. Ngài nhận biết sự hợp nhất nền tảng do bản chất thực hữu của Sự Sống và Đấng Duy Nhất thấm nhuần mọi biểu hiện tạo nên; Ngài cũng đã làm chủ mọi kỹ thuật, cách thức và phương pháp khả hữu của hoạt động, kiểm soát và dung hợp. Nhưng sau khi phát triển những năng lực ấy, giờ đây Ngài bắt đầu nhận biết mờ nhạt điều tác động lên Đấng Duy Nhất, và cảm nhận những năng lượng cùng những tiếp xúc ngoài hành tinh mà cho đến lúc này Ngài hoàn toàn chưa nhận biết. Tri thức đến với Ngài sau lần điểm đạo thứ năm. |
|
[267] Before Him lies the attainment of a still higher range of perceptions and, in order to garner the reward of those possible contacts, He has to master techniques and methods of development which will make Him omnipotent and, therefore, expressive of the highest of the three divine aspects. This development will put into His grasp potencies and experiences which can only be manipulated and understood through the scientific activity of the WILL and this must be implemented from a point of tension, focussed in whatever is meant by the word “Monad.” Do you know what that means, my brother? I am sure that you do not. Only the Masters of the Wisdom have any appreciation of these final unfoldments and then only in the sense of the Will-full aspiration—a phase of aspiration which is characterised by the conscious will, just as the aspiration of the disciple is characterised by sublimated desire. These things are, however, beyond the comprehension of the average disciple; their sole value is to depict the unending opportunity which presents itself at every stage and point of crisis upon the everlasting Way. |
[267] Trước mắt Ngài là việc đạt đến một phạm vi nhận thức còn cao hơn nữa; để thu nhận thành quả từ những tiếp xúc khả hữu ấy, Ngài phải làm chủ những kỹ thuật và phương pháp phát triển sẽ khiến Ngài trở nên toàn năng và, do đó, biểu lộ phương diện cao nhất trong ba phương diện thiêng liêng. Sự phát triển này sẽ đặt trong tầm nắm bắt của Ngài những quyền năng và trải nghiệm chỉ có thể vận dụng và thấu hiểu thông qua hoạt động khoa học của Ý CHÍ; hoạt động này phải được thực hiện từ một điểm tập trung nhất tâm, quy tụ trong điều mà từ “Chân thần” hàm ý. Huynh đệ của tôi, các bạn có biết điều đó có nghĩa là gì không? Tôi chắc rằng các bạn không biết. Chỉ các Chân sư Minh Triết mới có chút nhận thức về những sự khai mở cuối cùng này, và ngay cả Các Ngài cũng chỉ nhận thức theo nghĩa khát vọng đầy Ý Chí—một giai đoạn khát vọng có đặc trưng là ý chí có ý thức, cũng như khát vọng của đệ tử có đặc trưng là dục vọng đã được thăng hoa. Tuy nhiên, những điều này vượt ngoài sự thấu hiểu của người đệ tử trung bình; giá trị duy nhất của chúng là phác họa cơ hội bất tận xuất hiện ở mỗi giai đoạn và mỗi điểm khủng hoảng trên Đường Đạo vĩnh cửu. |
|
We are concerned at this time with the great point of crisis which faces the disciple when he attempts to resolve the final pair of opposites, prior to certain major initiations; this is the confronting the personality by the Angel of the PRESENCE. There is no need for me to define the two aspects of the disciple’s nature, for that is what they essentially are. You have been told and have known that the Dweller upon the Threshold is the fully developed personality—the sum total of all the past and the composite presentation upon the physical plane of all unresolved problems, all undeclared desires, all latent characteristics and qualities, all phases of thought and of self-will, all lower potencies and ancient habits of any of the three bodies (both bad and good). These, in their totality, are brought to the surface [268] of consciousness, there to be dealt with in such a way that their control is broken. The disciple is then free to take the final initiations. This process is not consummated in one particular facing of the two antagonistic forces. It is a threefold process, covering each of the three periods before the first three initiations or (from the angle of the Hierarchy) before the two initiations of the threshold and the first major initiation, the Transfiguration. |
Lúc này, chúng ta xem xét điểm khủng hoảng lớn mà đệ tử đối diện khi y cố gắng giải quyết cặp đối cực cuối cùng trước một số cuộc điểm đạo trọng đại; đó là việc Thiên Thần của HIỆN DIỆN đối diện với phàm ngã. Tôi không cần định nghĩa hai phương diện trong bản chất của đệ tử, vì về thực chất chúng chính là như vậy. Các bạn đã được cho biết và đã biết rằng Kẻ Chận Ngõ là phàm ngã đã phát triển đầy đủ—tổng thể của toàn bộ quá khứ và sự biểu lộ tổng hợp trên cõi hồng trần của mọi vấn đề chưa được giải quyết, mọi dục vọng chưa được bộc lộ, mọi đặc điểm và phẩm tính tiềm ẩn, mọi giai đoạn tư tưởng và ý chí riêng, mọi tiềm lực thấp và thói quen lâu đời của bất kỳ thể nào trong ba thể phàm ngã (cả xấu lẫn tốt). Toàn bộ những điều này được đưa lên bề mặt [268] tâm thức, để tại đó được xử lý sao cho sự kiểm soát của chúng bị phá vỡ. Khi ấy, đệ tử tự do tiếp nhận những cuộc điểm đạo cuối cùng. Tiến trình này không hoàn tất trong một lần đối diện riêng lẻ giữa hai mãnh lực đối kháng. Đó là một tiến trình tam phân, bao trùm từng thời kỳ trong ba thời kỳ trước ba cuộc điểm đạo đầu tiên, hoặc (theo góc nhìn của Thánh đoàn) trước hai cuộc điểm đạo nơi ngưỡng cửa và cuộc điểm đạo trọng đại đầu tiên, Biến hình. |
|
For many lives, the disciple has been dwelling upon the threshold. He himself is the Dweller. Behind the slowly opening door he senses life, energy, spiritual embodiment, and the fact of the Angel. Between him and that door is a burning-ground; this he faces, and this he knows he has to cross if he seeks to pass through the door. The question for him to answer is whether his will to achieve is strong enough for him to submit his personal lower self to the fires of the final purification. The personal self is now very highly developed; it is a useful instrument which the soul can use; it is a highly trained agent for service; it is essentially a piece of adequate and useful equipment. It has, however, its points of weakness which are liable at any time to present points of crisis; it has likewise its points of strength which can be transmuted with relative ease into points of tension; on the whole, it is a dependable instrument and one which can render good service. Can it and should it be sacrificed so that (esoterically speaking) its life is lost and in its place consecration and devotion are substituted? This is a hard problem for all disciples to solve, to understand and to make effectively practical. Only by crossing the burning ground three successive times are all impediments to the free use of the will destroyed. The relation between the Angel and the Dweller must be released, by means of the will, to full expression. I here refer to the spiritual will and to its three aspects which [269] must be brought into play before the divine will can begin to control. The disciple brings the two aspects of his nature together in full consciousness and with clear intention through a planned act of the will, and this act produces a point of tension in the “centre of the burning-ground wherein the two can meet,” as the ancient Archives put it. |
Qua nhiều kiếp sống, đệ tử đã lưu lại nơi ngưỡng cửa. Chính y là Kẻ Chận Ngõ. Phía sau cánh cửa đang từ từ mở ra, y cảm nhận sự sống, năng lượng, hiện thân tinh thần và sự thực về Thiên Thần. Giữa y và cánh cửa ấy là một vùng đất cháy; y đối diện với nó và biết rằng mình phải vượt qua nếu muốn đi qua cánh cửa. Câu hỏi y phải trả lời là liệu ý chí thành tựu của mình có đủ mạnh để y đưa phàm ngã cá nhân vào những ngọn lửa của sự thanh luyện cuối cùng hay không. Bản ngã cá nhân giờ đây đã phát triển rất cao; nó là một khí cụ hữu ích mà linh hồn có thể sử dụng; nó là một tác nhân được huấn luyện kỹ lưỡng để phụng sự; về thực chất, nó là một phương tiện đầy đủ và hữu dụng. Tuy nhiên, nó có những điểm yếu có thể bất cứ lúc nào tạo thành các điểm khủng hoảng; nó cũng có những điểm mạnh có thể tương đối dễ dàng chuyển hoá thành các điểm tập trung nhất tâm; nhìn chung, nó là một khí cụ đáng tin cậy và có thể phụng sự tốt. Có thể và có nên hy sinh nó để (nói theo nghĩa huyền bí) sự sống của nó mất đi, và thay vào đó là sự thánh hiến cùng lòng sùng tín hay không? Đây là một vấn đề khó để mọi đệ tử giải quyết, thấu hiểu và thực sự đưa vào thực hành. Chỉ khi vượt qua vùng đất cháy ba lần liên tiếp, mọi chướng ngại đối với việc tự do sử dụng ý chí mới bị tiêu diệt. Nhờ ý chí, mối quan hệ giữa Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ phải được giải phóng để biểu lộ trọn vẹn. Ở đây, Tôi nói đến ý chí tinh thần và ba phương diện của nó, vốn [269] phải được đưa vào hoạt động trước khi Ý Chí thiêng liêng có thể bắt đầu kiểm soát. Đệ tử kết hợp hai phương diện trong bản chất của mình với tâm thức đầy đủ và ý định rõ ràng, thông qua một hành động ý chí được hoạch định; và hành động này tạo ra một điểm tập trung nhất tâm tại “trung tâm của vùng đất cháy, nơi cả hai có thể gặp nhau”, như các Văn Khố cổ diễn đạt. |
|
I would call your attention to the fact that it is at a “midway point” that the great submission of the lower to the higher takes place. It does not happen when the disciple hovers uncertainly upon the periphery of the burning-ground or when he stands before the door with the burning ground experience behind him. The essential point of crisis, producing the needed point of tension, is the result of the “invocative decision” of the personality which, in time, produces an “evocative response” from the Angel. The two factors involved (and forget not, my brother, that all this takes place within the field of consciousness of the disciple) move together and towards each other. In the centre of the burning ground they meet, and then the lesser light (a true light in its own right) of the personality is absorbed into the greater light of the Angel or soul. The Angel, therefore, “occultly obliterates” the Dweller who becomes lost to sight in the radiant aura of the Angel. This has been symbolically portrayed for us in the picture book of the heavens when, according to Catholic Festivals, the Assumption of the Virgin takes place and the constellation Virgo is lost to sight in the radiance of the sun. There you have the three factors: |
Tôi muốn các bạn lưu ý rằng chính tại một “điểm ở giữa”, sự quy phục lớn lao của cái thấp trước cái cao diễn ra. Điều này không xảy ra khi đệ tử lưỡng lự quanh rìa vùng đất cháy, hoặc khi y đứng trước cánh cửa với trải nghiệm vùng đất cháy đã ở phía sau. Điểm khủng hoảng cốt yếu tạo ra điểm tập trung nhất tâm cần thiết là kết quả của “quyết định khẩn cầu” từ phàm ngã, theo thời gian sẽ tạo nên một “đáp ứng được gợi lên” từ Thiên Thần. Hai yếu tố liên quan (và đừng quên, huynh đệ của tôi, rằng tất cả điều này diễn ra trong trường tâm thức của đệ tử) cùng chuyển động và tiến về phía nhau. Chúng gặp nhau tại trung tâm vùng đất cháy, và khi ấy ánh sáng nhỏ hơn của phàm ngã (vốn thực sự là ánh sáng theo đúng nghĩa của nó) được thu hút vào ánh sáng lớn hơn của Thiên Thần hay linh hồn. Vì vậy, Thiên Thần “xóa mờ theo nghĩa huyền bí” Kẻ Chận Ngõ, khiến Kẻ Chận Ngõ khuất khỏi tầm nhìn trong hào quang rực rỡ của Thiên Thần. Điều này đã được mô tả bằng biểu tượng trong cuốn sách tranh của bầu trời: theo các ngày lễ Công giáo, khi lễ Đức Trinh Nữ Lên Trời diễn ra, chòm sao Xử Nữ khuất khỏi tầm nhìn trong ánh rực rỡ của Mặt Trời. Ở đó, các bạn có ba yếu tố: |
|
1. |
1. |
|
The Virgin |
Đức Trinh Nữ |
|
material form |
hình tướng vật chất |
|
personality |
phàm ngã |
|
Dweller. |
Kẻ Chận Ngõ. |
|
2. |
2. |
|
The Sun |
Mặt Trời |
|
spiritual nature |
bản chất tinh thần |
|
soul |
linh hồn |
|
Angel. |
Thiên Thần. |
|
3. |
3. |
|
The Earth |
Trái Đất |
|
aspiring man |
con người có khát vọng |
|
the disciple |
người đệ tử |
|
The personality remains; it still exists but it is seen no more as of old. The light of the Angel envelops it; the burning ground has done its work and the personality is now nothing [270] more or less than the purified shell or form through which the light, the radiance, the quality and the characteristics of the Angel can shine. It is a fusion of lights, with the stronger and the more powerful obliterating the lesser. |
Phàm ngã vẫn còn; nó vẫn tồn tại nhưng không còn được nhìn thấy như trước. Ánh sáng của Thiên Thần bao bọc nó; vùng đất cháy đã hoàn thành công việc, và phàm ngã giờ đây không gì [270] khác hơn là lớp vỏ hay hình tướng đã được thanh luyện, qua đó ánh sáng, sự rực rỡ, phẩm tính và những đặc điểm của Thiên Thần có thể tỏa chiếu. Đó là sự dung hợp các ánh sáng, trong đó ánh sáng mạnh hơn và đầy quyền năng hơn xóa mờ ánh sáng nhỏ hơn. |
|
How has this been brought about? I refer not here to the preparation of the Dweller on the Threshold for this great event or to the aeon of disciplining, of preparation, of experiment and of experience from life to life which has made this consummating event possible and successful. The two aspects in man can only meet in full power and with intention and finality when illusion can no longer control the mind, when glamour has lost all power to veil and when the forces of maya can no longer hinder. Discrimination, dispassion and indifference have produced the dispelling through focussed light, the dissipating potency of distributed light and the directing power of light energy. Only five recognitions now control the disciple: |
Điều này đã diễn ra như thế nào? Ở đây, Tôi không nói đến việc chuẩn bị Kẻ Chận Ngõ cho biến cố lớn lao này, hay đến thời đại dài lâu của kỷ luật, chuẩn bị, thử nghiệm và trải nghiệm từ kiếp này sang kiếp khác, vốn đã khiến biến cố hoàn tất này trở nên khả thi và thành công. Hai phương diện trong con người chỉ có thể gặp nhau với đầy đủ sức mạnh, có chủ đích và dứt khoát khi ảo tưởng không còn có thể kiểm soát thể trí, khi ảo cảm đã mất mọi quyền năng che phủ, và khi các mãnh lực ảo lực không còn có thể cản trở. Sự phân biện, sự không đam mê và sự điềm nhiên đã tạo nên khả năng xua tan nhờ ánh sáng tập trung, tiềm lực làm tiêu tan của ánh sáng phân bố và quyền năng chỉ đạo của năng lượng ánh sáng. Giờ đây, chỉ có năm sự nhận biết chi phối đệ tử: |
|
1. The fact of his discipleship. |
1. Sự thực về địa vị đệ tử của y. |
|
2. The perception of the Angel, waiting and dynamic. |
2. Sự nhận thức về Thiên Thần đang chờ đợi và đầy năng lực hoạt động. |
|
3. The invocative appeal of the Dweller on the Threshold. |
3. Lời khẩn cầu của Kẻ Chận Ngõ. |
|
4. The necessity to use the will in a new and different manner. |
4. Sự cần thiết phải sử dụng ý chí theo một cách mới và khác biệt. |
|
5. The need to cross the burning ground. |
5. Nhu cầu vượt qua vùng đất cháy. |
|
Giờ đây, mọi vấn đề đã hoàn toàn rõ ràng. Đây là vấn đề về thời điểm và quyết định. Tôi muốn nhắc các bạn rằng trong tất cả những tiến trình này, chính đệ tử hành động với tâm thức đầy đủ. Y tự khởi xướng mọi tiến trình. Không phải Thiên Thần hay Kẻ Chận Ngõ, mà chính con người tinh thần phải vận dụng ý chí và thực hiện hành động tiến tới một cách dứt khoát. Một khi đệ tử đã thực hiện những bước cần thiết và tiến tới không thể đảo ngược, sự đáp ứng của Thiên Thần là chắc chắn, tự động và bao trùm tất cả. Sự xóa mờ hoàn toàn [271] bản ngã cá nhân qua ba giai đoạn liên tiếp là kết quả tức thời và bình thường. Gioan Tẩy Giả đã nói đến điều này khi ông nói: “Ngài sẽ lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Khi nói những lời ấy, ông nói với tư cách một đệ tử, trước lần điểm đạo thứ hai nơi ngưỡng cửa. Sự tăng trưởng và suy giảm huyền bí này được mô tả cho chúng ta qua các pha của Mặt Trăng và, đối với toàn thể hành tinh, qua dấu hiệu Song Tử, nơi ánh sáng của một trong hai người song sinh đang từ từ mờ đi, còn ánh sáng của người kia đang tăng cường độ. |
|
|
When this “occult obliteration” has taken place, what then is the destiny of the disciple? It is complete control by the soul and this, in practice, connotes group realisation, group work, group service and eventually group initiation. With these developments, it is not my intent to deal, for I have covered much of these matters in my other books. Here I have been dealing in this short elucidation with the effects that substances and the substantial forces, found in the three worlds, produce in the disciple and as they affect the aspirant. I have not considered the problem of glamour, illusion and maya from the angle of average man. The latter is necessarily immersed in them, and under their constant impact he passes his life. By their means he learns. He is not at the point where he seeks deliverance from them as does the man upon the Path. I have, therefore, considered the problem from the angle of the disciples and aspirants. |
Khi sự “xóa mờ huyền bí” này đã diễn ra, vận mệnh của đệ tử sẽ là gì? Đó là sự kiểm soát hoàn toàn của linh hồn; trong thực hành, điều này hàm ý sự chứng nghiệm nhóm, công việc nhóm, phụng sự nhóm và cuối cùng là điểm đạo nhóm. Tôi không có ý định bàn đến những sự phát triển này, vì Tôi đã đề cập nhiều về các vấn đề ấy trong những cuốn sách khác. Ở đây, trong phần giải thích ngắn này, Tôi đã bàn đến những tác động mà các chất liệu và các mãnh lực chất liệu trong ba cõi giới tạo ra nơi đệ tử, cũng như ảnh hưởng của chúng đối với người chí nguyện. Tôi không xem xét vấn đề ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực theo góc nhìn của con người trung bình. Người ấy tất nhiên chìm đắm trong chúng và sống dưới tác động thường xuyên của chúng. Nhờ chúng, y học hỏi. Y chưa đến điểm tìm cách giải thoát khỏi chúng như con người trên Đường Đạo. Vì vậy, Tôi đã xem xét vấn đề theo góc nhìn của các đệ tử và người chí nguyện. |
|
From them the WAY opens up, and for them comes the conscious recognition of the light. The need for the service of men and women, free from illusion and glamour, has never been so dramatically present as it is today and it is for these potential servers of a desperate necessity that I have written. |
Từ nơi họ, ĐƯỜNG ĐẠO mở ra, và sự nhận biết có ý thức về ánh sáng đến với họ. Nhu cầu phụng sự của những người nam và nữ đã thoát khỏi ảo tưởng và ảo cảm chưa bao giờ hiện diện gay gắt như ngày nay; và chính vì những người phụng sự tiềm năng cho nhu cầu vô cùng cấp thiết này mà Tôi đã viết. |
|
That the Angel of the PRESENCE may make His nearness felt and inspire you to pass courageously through [272] the fires of the burning ground is my earnest prayer; that the fact of the PRESENCE may be sensed by you and lead you to greater activity—once the burning ground is passed—is my deepest wish for you; and that the light may shine upon your way and bring a certain and assured consummation of all the travail and struggle which has characterised your way of life is my heart’s desire for you. To more active and steady enterprise I call you. |
Lời cầu nguyện tha thiết của Tôi là mong Thiên Thần của HIỆN DIỆN khiến các bạn cảm nhận sự gần gũi của Ngài và truyền cảm hứng để các bạn can đảm đi qua [272] những ngọn lửa của vùng đất cháy; ước nguyện sâu xa nhất của Tôi dành cho các bạn là mong sự thực về HIỆN DIỆN được các bạn cảm nhận và dẫn các bạn đến hoạt động lớn lao hơn—một khi đã vượt qua vùng đất cháy; và điều lòng Tôi mong mỏi cho các bạn là ánh sáng tỏa chiếu trên đường các bạn đi, đem lại sự hoàn tất chắc chắn và vững vàng cho mọi gian lao và đấu tranh vốn đã làm nên lối sống của các bạn. Tôi kêu gọi các bạn dấn thân tích cực và bền bỉ hơn. |
|
THE TIBETAN. |
CHÂN SƯ TÂY TẠNG. |
|
Ghi chú của nhà xuất bản: Xem thêm các Kỹ Thuật Dung Hợp và Tích Hợp trong Luận về Bảy Cung, Tập II, Tâm Lý Học Nội Môn, tr. 345-401. |
Liên kết bình giảng hiện có