Những Kỳ Công Của Hercules – Kỳ Công Cự Giải

📘 Sách: Labours of Hercules – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

LABOR IV

The Capture of the Doe or Hind
Bắt Con Nai hay Con Hươu Cái

(Cancer, June 21st—July 21st)

Zodiac Sign Personality | Cancer Zodiac Sign | Love Life & Personality  Traits | Cancer Love Life | HerZindagi

The Myth—Thần thoại

The great Presiding One, who sits within the Council Chamber of the Lord, spoke to the Teacher, standing by his side: “Where is the son of man who is the son of God? How fares he? How is he tested and with what service is he now engaged?”

Đấng Chủ tể vĩ đại, ngồi trong Phòng Hội đồng của Đấng Chúa tể, nói với vị Huấn Sư đứng cạnh Ngài: Đâu rồi Người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng đế? Y ra sao? Y đã được thử thách như thế nào, và y đang tham gia vào công việc gì?”

The Teacher said, casting his eye upon the son of man who is a son of God:

Vị Huấn Sư đưa mắt nhìn người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng đế, nói:

“Naught at this time, O great Presiding One. The third great test provided much of teaching sustenance to a learner such as he. He ponders and reflects.”

Thưa đấng Chúa Tể, y không làm gì cả. Thử thách lớn thứ ba đã cho y nhiều điều để học hỏi, y đang nghiền ngẫm và hồi tưởng về nó.”

“Provide a test which will evoke his wisest choice. Send him to labor in a field wherein he must decide which voice, of all the many voices, will arouse the obedience of his heart. Provide likewise a test of great simplicity upon the outer plane, and yet a test which will awaken, on the inner side of life, the fulness of his wisdom and the rightness of his power to choose. Let him proceed with the fourth test.”

“Hãy cho y một thử thách đòi hỏi sự lựa chọn khôn ngoan nhất của y. Hãy cho y đến làm việc trên cánh đồng mà y phải quyết định xem giọng nói nào trong tất cả nhiều giọng nói sẽ khiến trái tim y vâng lời. Tương tự như thế, hãy cho y một thử thách lớn đơn giản trên cõi giới ngoại tại, thế nhưng lại sẽ đánh thức trên phương diện nội tâm tất cả sự khôn ngoan và sức mạnh của y để lựa chọn. Hãy để y tiến hành thử thách thứ tư.”

Pin de Stenberg Rasmussen en Mythology on Trade Cards | Hércules, Arte  vectorial, Mitología griega y romana

Before the fourth great Gate stood Hercules; a son of man and yet a son of God. At first was silence deep. He uttered not a word or made a sound. Beyond the Gate the landscape stretched in contours fair and on the far horizon stood the temple of the Lord, the shrine of the Sun-God, the gleaming battlements. Upon a hill nearby there stood a slender fawn. And Hercules, who is a son of man and yet a son of God, both watched and listened and, listening, heard a voice. The voice [78] came out from that bright circle of the moon which is the home of Artemis. And Artemis, the fair, spoke words of warning to the son of man.

Hercules, người Con của nhân loại và cũng là người Con của Thượng đế, đứng trước Cổng vĩ đại thứ tư. Lúc đầu là sự im lặng sâu sắc. Chàng không thốt ra một lời nào hay tạo ra một tiếng động nào. Bên ngoài Cổng, phong cảnh trải dài với những đường nét đẹp đẽ, và ở phía xa chân trời là đền thờ của Đấng Chúa Tể, đền thờ Thần Mặt trời, những bức tường thành lấp lánh. Trên một ngọn đồi gần đó có một con nai mảnh khảnh. Và Hercules, người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng đế, vừa quan sát vừa lắng nghe, nghe thấy một giọng nói. Giọng nói [78] phát ra từ vòng tròn sáng của mặt trăng là quê hương của Artemis. Và Artemis, tiên nữ, đã nói những lời cảnh báo cho người con của nhân loại.

“The doe is mine, so touch it not,” she said. “For ages long I nurtured it and tended it when young. The doe is mine and mine it must remain.”

“Con nai là của ta, vì vậy đừng chạm vào nó,” Nàng nói. “Ta đã nuôi dưỡng nó từ rất lâu và chăm sóc nó khi còn nhỏ. Con nai là của ta, và nó phải tiếp tục là của ta.”

Then into view Diana sprang, the huntress of the heavens, the daughter of the sun. Leaping on sandalled feet towards the doe, she likewise claimed possession.

Rồi Diana, nữ thợ săn của bầu trời, con gái của mặt trời, xuất hiện trong tầm nhìn. Nhảy trên đôi chân mang dép về phía con nai, Nàng cũng tuyên bố quyền sở hữu nó.

“Not so,” she said, “Artemis, fairest maid; the doe is mine and mine it must remain. Too young until today, it now can be of use. The golden antlered hind is mine, not yours, and mine it shall remain.”

“Không phải vậy,” Nàng nói, “Này Artemis, người hầu gái xinh đẹp nhất; con nai là của ta và nó phải tiếp tục là của ta. Khi đó nó quá nhỏ, cho đến ngày hôm nay, bây giờ nó có thể được sử dụng. Con nai có gạc vàng là của ta, không phải của ngươi, và nó sẽ vẫn là của ta.”

Hercules, standing between the pillars of the Gate, listened and heard the quarrel, and wondered much as the two maidens strove for possession of the doe.

Hercules, đứng giữa những cây cột của Cổng, lắng nghe tiếng cãi vã, và lấy làm lạ khi hai cô gái tranh giành quyền sở hữu con nai cái.

Another voice fell on his ear, and with commanding accents said: “The doe belongs to neither maid, O Hercules, but to the God whose shrine you see on yonder distant mount. Go rescue it and bear it to the safety of the shrine, and leave it there. A simple thing to do, O son of man, yet (and ponder well my words) being a son of God, you thus can seek and hold the doe. Go forth.”

Một giọng nói khác vang lên bên tai chàng, kiểu ra lệnh: “Này Hercules, con nai cái không thuộc về cô gái nào, mà là của Chúa, người có đền thờ mà ngươi nhìn thấy trên ngọn núi xa kia. Hãy giải cứu nó và mang nó đến nơi an toàn của ngôi đền, và để nó ở đó. Đó là công việc đơn giản phải làm, hỡi người con của nhân loại người, nhưng (và hãy suy nghĩ kỹ những lời của ta) cũng là người con của Thượng Đế, do đó người có thể tìm kiếm và giữ con nai cái. Hãy tiến lên.”

Through the fourth Gate sprang Hercules, leaving behind the many gifts received and cumbered not himself in the swift chase which lay ahead. And from a distance the quarrelling maidens watched. Artemis, the fair, bending from out the moon and Diana, beauteous huntress of the woods of God, followed the movements of the doe and, when due cause arose, they each deluded Hercules, seeking to foil his efforts. He chased the doe from point to point and each with subtlety deceived him. And this they did, time and again.

Xuyên qua Cổng thứ tư, Hercules xuất hiện, bỏ lại đằng sau rất nhiều món quà đã nhận, không vướng bận gì trong cuộc rượt đuổi nhanh chóng ở phía trước. Và từ đàng xa, hai thiếu nữ đang cãi nhau đứng quan sát. Artemis, nàng tiên nữ, xuống từ mặt trăng, và Diana, nữ thợ săn xinh đẹp trong khu rừng của Chúa, theo dõi chuyển động của con nai cái, và khi có nguyên nhân chính đáng, mỗi người đều đánh lừa Hercules, tìm cách phá hỏng nỗ lực của chàng. Chàng đuổi theo con nai cái từ điểm này sang điểm khác, và mỗi cô gái đều lừa được chàng một cách tinh vi. Và họ đã làm điều này,hết lần này đến lần khác.

Thus for the length of a full year, the son of man who is a son of God followed the doe from place to place, catching swift glimpses of its form, only to find that in the fastness of the deep [79] woods it had been lost. From hill to hill and wood to wood, he hunted it until close to a quiet pool, full-length upon the untrampled grass, he saw it sleeping, wearied with its flight.

Như vậy trong suốt một năm, người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng đế đã đuổi theo con nai cái từ nơi này sang nơi khác, thoáng thấy hình dạng của nó, rồi chỉ để thấy rằng nó đã có bị mất hút trong rừng sâu. Từ ngọn đồi này sang ngọn đồi khác, từ khu rừng này sang khu rừng khác, chàng săn lùng nó cho đến khi gần đến một cái hồ yên tĩnh, chàng thấy nó đang ngủ, nằm dài trên bãi cỏ không bị giẫm đạp, mệt mỏi với cuộc chạy trốn của mình.

With quiet step, outstretched hand and steadfast eye, he shot an arrow towards the doe and in its foot he wounded it. Exciting all the will of which he was possessed, he nearer drew and yet the doe moved not. Thus he drew close, and clasped the doe within his arms, close to his heart. And Artemis and fair Diana both looked on.

Với bước đi lặng lẽ, bàn tay dang rộng và đôi mắt kiên định, chàng bắn một mũi tên về phía con nai cái và làm nó bị thương ở chân. Dốc toàn bộ ý chí mà chàng sở hữu, chàng tiến lại gần hơn, nhưng con nai cái vẫn không di chuyển. Vì vậy, chàng đến gần, và siết chặt con nai cái trong vòng tay, gần trái tim chàng. Cả Artemis và Diana xinh đẹp đều đứng nhìn.

“The search is o’er”, he chanted loud. “Into the northern darkness I was led, and found no doe. Into the deep dark woods I fought my way, but found no doe; and over dreary plains and arid wilderness and deserts wild, I struggled towards the doe, yet found it not. At each point reached, the maidens turned my steps, but still I did persist and now the doe is mine! the doe is mine!”

“Cuộc tìm kiếm đã xong,” chàng cất cao tiếng hát. “Ta đã bị dẫn vào bóng tối phương bắc và chẳng tìm thấy con nai. Ta đã chiến đấu mở đường vào những khu rừng tối sâu thẳm, nhưng vẫn không tìm thấy con nai; và băng qua những bình nguyên hoang vu, những miền hoang mạc khô cằn và sa mạc dữ dội, ta đã vật lộn tiến về phía con nai, nhưng vẫn không thấy nó. Ở mỗi điểm ta chạm tới, các trinh nữ lại xoay bước chân ta, thế nhưng ta vẫn kiên trì, và giờ đây con nai đã là của ta! Con nai là của ta!”

“Not so, O Hercules,” came to his ears the voice of one who stands close to the great Presiding One within the Council Chamber of the Lord. “The doe belongs not to a son of man, e’en though a son of God. Carry the doe to yonder distant shrine, where dwell the sons of God and leave it there with them.”

“Hỡi Hercules, không phải vậy,” giọng nói của Vị đứng gần Đấng Chủ toạ vĩ đại trong Phòng Hội đồng của Đấng Chúa Tể đến tai chàng. “Con nai cái không thuộc về người con của nhân loại, mặc dù đó cũng là người con trai của Thượng đế. Hãy mang con nai cái đến ngôi đền xa xôi, nơi các người con của Thượng đế ở, và để nó ở đó với họ.”

“Why so, O Teacher wise? The doe is mine; mine by long search and travel, and mine likewise because I hold the doe close to my heart.”

“Tại sao thế, hỡi Bậc Thầy thông thái? Con nai là của tôi; nó là của tôi vì tôi đã tìm kiếm và du hành lâu dài, và cũng vì tôi ôm con nai cái gần trái tim mình.

“And are you not a son of God, although a son of man? And is the shrine not also your abode? And share you not the life of all who dwell therein? Bear to the shrine of God the sacred doe, and leave it there, O son of God.”

“Thế, chẳng phải ngươi, mặc dù là con của nhân loại, lại không phải là con của Thượng đế hay sao? Và ngôi đền cũng không phải là nơi ở của ngươi sao? Và ngươi chẳng cùng chia sẻ cuộc sống của tất cả những người sống ở đó hay sao? Hãy mang con nai cái linh thiêng đến đền thờ của Chúa, và để nó ở đó, hỡi người con của Thượng đế.”

Then to the holy shrine of Mykenae, Hercules bore the doe, carrying it to the center of the holy place and there he laid it down. And as he laid it down before the Lord, he noted on its [80] foot the wound, made by an arrow from the bow he had possessed and used. The doe was his by right of search. The doe was his by right of skill and the prowess of his arm. “The doe is therefore doubly mine,” he said.

Sau đó đến thánh điện Mykenae, Hercules mang con nai cái đến trung tâm của Thánh điện và đặt nó xuống. Và khi đặt nó xuống trước mặt Chúa, chàng để ý thấy vết thương ở chân [80] của nó do một mũi tên từ cây cung mà chàng đã sở hữu và sử dụng. Con nai cái thuộc về về chàng vì chàng đã tìm kiếm nó. Con nai cái là của chàng nhờ kỹ năng và sức mạnh của cánh tay chàng. “Do đó, con nai cái hai lần là của ta,” chàng nói.

But Artemis, standing within the outer court of that most holy place heard his loud cry of victory and said: “Not so. The doe is mine and always has been mine. I saw its form, reflected in the water; I heard its feet upon the ways of earth; I know the doe is mine, for every form is mine.”

Nhưng Artemis, đang đứng ở sân ngoài của nơi linh thiêng nhất đó, đã nghe thấy tiếng reo mừng chiến thắng của chàng và nói: “Không phải vậy. Con nai cái là của ta và luôn luôn là của ta. Ta nhìn thấy hình dạng của nó, phản chiếu trong nước; Ta nghe tiếng chân của nó trên những con đường của trái đất; Ta biết con nai cái là của ta, vì mọi hình tướng đều là của ta.”

The Sun-God spoke, from out the holy place. “The doe is mine, not yours, O Artemis! Its spirit rests with me from all eternity, here in the center of the holy shrine. You may not enter here, O Artemis, but know I speak the truth. Diana, that fair huntress of the Lord, may enter for a moment and tell you what she sees.”

Thần Mặt Trời cất tiếng từ thánh điện. “Con nai cái là của ta, không phải của ngươi, hỡi nữ thần Artemis! Linh hồn của nó ở với ta từ muôn đời, ở đây, ở trung tâm của ngôi đền thánh. Này Artemis, ngươi không thể vào đây, nhưng hãy biết rằng ta nói sự thật. Diana, người thợ săn xinh đẹp của Đấng Chúa Tể, có thể vào trong một lúc và kể cho ngươi nghe những gì nàng nhìn thấy.”

Into the shrine for one brief moment passed the huntress of the Lord and saw the form of that which was the doe, lying before the altar, seeming dead. And in distress she said: “But if its spirit rests with thee, O great Apollo, noble son of God, then know the doe is dead. The doe is slain by the man who is a son of man, e’en though a son of God. Why may he pass within the shrine and we await the doe out here?”

Người thợ săn của Chúa đi ngang qua đền thờ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và nhìn thấy hình thể của con nai cái nằm trước bàn thờ, dường như đã chết. Và trong cơn đau khổ, nàng nói: “Nhưng nếu linh hồn của nó yên nghỉ với Ngài, hỡi Thần Apollo vĩ đại, Người Con cao quý của Thượng đế, hãy biết rằng con nai cái đã chết. Con nai cái bị giết bởi một người là người con của nhân loại, mặc dù cũng là người con của Thượng đế. Tại sao y có thể đi vào trong đền thờ và chúng tôi lại chờ đợi con nai cái ở ngoài này?

“Because he bore the doe within his arms, close to his heart, and in the holy place the doe finds rest, and so does man. All men are mine. The doe is likewise mine, not yours, nor man’s but mine.”

“Bởi vì y ôm con nai cái trong vòng tay của y, gần trái tim y, và ở nơi linh thánh, con nai cái được nghỉ ngơi, và con người cũng vậy. Tất cả con người là của ta. Con nai cái cũng là của ta, không phải của các ngươi, cũng không phải của con người mà là của ta.”

And Hercules, returning from the test, passed through the Gate again and found his way, back to the teacher of his life.

Và Hercules, trở về sau đợt thử thách, đi qua Cánh Cổng một lần nữa và tìm đường trở về với Vị thầy Của đời mình.

“I have fulfiled the task, set by the great Presiding One. Simple it was, except for length of time and wariness of search. I listened not to those who made their claim, nor faltered on, the Way. The doe is in the holy place, close to the heart of God [81] and likewise, in the hour of need, close to my heart also.”

“Con đã hoàn thành nhiệm vụ do Đấng Chủ Toạ vĩ đại đặt ra. Công việc đơn giản, ngoại trừ thời gian dài và sự cảnh giác khi tìm kiếm. Con không lắng nghe những người đưa ra tuyên bố của họ, cũng không chùn bước trên Con Đường. Con nai cái ở trong thánh địa, gần với trái tim của Thượng đế, và tương tự như vậy, trong những thời khắc cần thiết, cũng ở gần với trái tim của con.”

“Go look again, O Hercules, my son, between the pillars of the Gate.” And Hercules obeyed. Beyond the Gate, the landscape stretched in contours fair and on the far horizon stood the temple of the Lord, the shrine of the Sun-God, with glistening battlements, whilst on a nearby hill there stood a slender fawn.

“Này Hercules, con trai ta, hãy đi và nhìn lần nữa, giữa những cây cột của Cánh Cổng.” Và Hercules vâng lời. Bên ngoài Cổng, phong cảnh trải dài với những đường nét đẹp đẽ, và ở phía xa chân trời là đền thờ của Đấng Chúa, đền thờ của Thần Mặt trời, với những bức tường thành lấp lánh, trong khi trên một ngọn đồi gần đó có một con nai con mảnh khảnh.

“Did I perform the test, O Teacher wise? The fawn is back upon the hill where I earlier saw it stand.”

“Có phải con đã thực hiện bài kiểm tra rồi không, thưa Đức Thầy minh triết? Con nai đã trở lại ngọn đồi nơi con đã thấy nó đứng trước đó.

And from the Council Chamber of the Lord, where sits the great Presiding One, there came a voice: “Again and yet again must all the sons of men, who are the sons of God, seek for the golden antlered fawn and bear it to the holy place; again and yet again.”

Và từ Phòng Hội đồng của Đấng Chúa Tể, nơi Đấng Chủ tọa vĩ đại đang ngồi, một giọng nói vang lên: “Hết lần này đến lần khác, tất cả các người con của nhân loại và cũng là những người con của Thượng Đế, hãy tìm kiếm con nai con có gạc vàng và mang nó đến thánh địa; hết lần này đến lần khác.”

Then said the Teacher to the son of man who is a son of God: “Labor the fourth is over, and from the nature of the test and from the nature of the doe, frequent must be the search. Forget this not, but ponder on the lesson learnt.”

Sau đó, Vị Huấn Sư nói với người con của Thượng đế: “Kỳ Công thứ tư đã kết thúc, và từ bản chất của bài kiểm tra và từ bản chất của con nai cái, phải thường xuyên tìm kiếm. Đừng quên điều này mà hãy suy ngẫm về bài học kinh nghiệm.”

The Tibetan (Djwhal Khul)

Chân sư Tây Tạng (Djwhal Khul)

Synthesis of the Signs— Tổng hợp các dấu hiệu

Cancer is the last of what we might call the four preparatory signs, whether we are considering the involution of the soul in matter, or the evolution of the aspirant as he struggles out of the human into the spiritual Kingdom. Being equipped with the faculty of mind, in Aries, and with desire, in Taurus, and having arrived at the realization of his essential duality, in Gemini, the incarnating human being enters, through birth in Cancer, into the human kingdom.

Cự Giải là dấu hiệu cuối cùng trong bốn dấu hiệu chuẩn bị, cho dù chúng ta đang xem xét sự biến đổi của linh hồn trong vật chất hay sự tiến hóa của người tìm đạo khi y đấu tranh thoát khỏi giới nhân loại để vào giới tinh thần. Được trang bị khả năng trí tuệ ở Bạch Dương, ham muốn ở Kim Ngưu, và đã đạt được nhận thức về tính hai mặt thiết yếu của mình ở Song Tử, con người tái sinh, thông qua việc sinh ra ở Cự Giải, bước vào giới nhân loại.

Cancer is a mass sign, and the influences which pour from it are held by many esotericists to bring about the formation of the human family, of the race, the nation, and the family unit. Where the aspirant is concerned, the story is somewhat different, for in these four signs, he prepares his equipment and learns to utilize it. In Aries, he grips his mind and seeks to [82] bend it to his need, learning mental control. In Taurus, “the mother of illumination”, he receives his first flash of that spiritual light which will grow increasingly more brilliant as he nears his goal. In Gemini, he not only appreciates the two aspects of his nature, but the immortal aspect begins to increase at the expense of the mortal.

Cự Giải là một dấu hiệu đám đông, và những ảnh hưởng phát ra từ nó được nhiều nhà huyền bí học cho rằng mang lại sự hình thành gia đình nhân loại, chủng tộc, quốc gia và đơn vị gia đình. Đối với người tìm đạo, câu chuyện hơi khác, vì trong bốn dấu hiệu này, y chuẩn bị thiết bị của mình và học cách sử dụng nó. Ở Bạch Dương, y nắm bắt tâm trí của mình và tìm cách [82] uốn nắn nó theo nhu cầu của mình, học cách kiểm soát trí tuệ. Ở Kim Ngưu, “Mẹ của sự khai ngộ”, y nhận được tia sáng tinh thần đầu tiên của mình, vốn ngày sẽ càng rực rỡ hơn khi y đến gần mục tiêu của mình. Ở Song Tử, y không chỉ đánh giá cao hai khía cạnh trong bản chất của mình, mà khía cạnh bất tử bắt đầu tăng lên với cái giá phải trả là khía cạnh hữu tử.

Now, in Cancer, he gets his first touch of that more universal sense which is the higher aspect of the mass consciousness. Equipped, therefore, with a controlled mind, a capacity to register illumination, an ability to contact his immortal aspect and intuitively to recognize the kingdom of spirit, he is ready now for the greater work.

Giờ đây, ở Cự Giải, lần đầu tiên y có cảm giác phổ quát hơn, khía cạnh cao hơn của tâm thức đám đông. Do đó, được trang bị với một thể trí được kiểm soát, có khả năng ghi nhận sự soi sáng, khả năng tiếp xúc với trạng thái bất tử của mình và nhận ra giới tinh thần bằng trực giác, giờ đây y đã sẵn sàng cho công việc vĩ đại hơn.

In the next four signs, which we might regard as the signs of physical plane struggle for achievement, we have portrayed for us the tremendous battle through the medium of which the Self-conscious individual, emerging out of the mass in Cancer, knows himself to be the individual in Leo, the potential Christ in Virgo, the aspirant endeavoring to balance the pairs of opposites in Libra, and the one who overcomes illusion, in Scorpio. These are the four signs of crisis and of stupendous endeavor. In them all the illumination, intuition and soul power of which Hercules, the aspirant, is capable, are utilized to the uttermost. These have their reflection, too, on the involutionary arc, and a similar sequence of unfoldment can be traced. The soul achieves individuality in Leo, becomes the nurturer of ideas and of potential capacities in Virgo, swings violently from one extreme to the other in Libra, and is subjected to the disciplining effect of the world of illusion and form in Scorpio.

Trong bốn dấu hiệu tiếp theo, mà chúng ta có thể coi là các dấu hiệu của cuộc đấu tranh trên cõi trần để đạt được thành tựu, miêu tả cho chúng ta trận chiến vĩ đại thông qua phương tiện của chúng mà Cá nhân Tự ý thức, xuất hiện từ đám đông trong Cự giải, biết mình sẽ hãy là cá nhân trong Sư Tử, Đấng Christ tiềm năng trong Xử Nữ, người chí nguyện nỗ lực cân bằng các cặp đối lập trong Thiên Bình, và là người vượt qua ảo tưởng trong Hổ Cáp. Đây là bốn dấu hiệu của sự khủng hoảng và của nỗ lực phi thường. Trong đó, tất cả sự soi sáng, trực giác và sức mạnh linh hồn mà Hercules, người chí nguyện, có khả năng, đều được sử dụng đến mức tối đa. Những điều này cũng có sự phản ánh của chúng trên cung giáng hạ tiến hóa, và có thể lần ra một trình tự khai mở tương tự. Linh hồn đạt được tính cá nhân ở Sư Tử, trở thành người nuôi dưỡng các ý tưởng và năng lực tiềm tàng ở Xử Nữ, dao động dữ dội từ cực đoan này sang cực đoan khác ở Thiên Bình, và chịu tác động kỷ luật của thế giới ảo tưởng và hình tướng trong Hổ Cáp.

In the final four signs, we have the signs of achievement. The aspirant has worked out of the world of glamor and of form, and in his consciousness is free from their limitations. Now he can be the archer in Sagittarius, going straight for his goal; now he can be the goat in Capricorn, scaling the mount of initiation; now he can be the world worker in Aquarius, and [83] the world savior in Pisces. Thus he can sum up in himself all the gains of the preparatory period and of the fiercely fought battles in the four signs of strenuous activity; and in these four final signs demonstrate the gains achieved and the powers developed.

Trong bốn dấu hiệu cuối cùng, chúng ta có những dấu hiệu của thành tựu. Người tìm đạo đã làm việc ra khỏi thế giới của ảo cảm và của hình tướng, và tâm thức của y đã thoát khỏi những giới hạn của chúng. Bây giờ y có thể là cung thủ trong Nhân Mã, đi thẳng tới mục tiêu của mình; bây giờ y có thể là con dê trong Ma Kết, leo lên đỉnh điểm đạo; bây giờ y có thể là người phụng sự thế giới trong Bảo Bình, và [83] vị cứu thế trong Song Ngư. Như vậy, y có thể tự mình tổng hợp tất cả những thành quả đạt được trong thời kỳ chuẩn bị và của những trận chiến ác liệt trong bốn cung của hoạt động tích cực; và trong bốn dấu hiệu cuối cùng này chứng tỏ những lợi ích đã đạt được và những sức mạnh đã phát triển.

This brief summation of the signs, as they affect Hercules, will serve to give some idea of the wonderful synthesis of the picture, and of the steady progression, and of the controlled unfolding of the various forces which play their subtle parts in bringing about the changes in the life of man.

Sự tổng hợp ngắn gọn này của các dấu hiệu, như chúng ảnh hưởng đến Hercules, sẽ giúp đưa ra một số ý tưởng về sự tổng hợp tuyệt vời của bức tranh, về sự tiến triển đều đặn và về sự bộc lộ có kiểm soát của các mãnh lực khác nhau đóng vai trò tinh tế của chúng trong việc tạo ra những thay đổi trong cuộc sống của con người.

Three words summarize the objective self-awareness or the conscious aspect of the evolving human being: instinct, intellect, intuition. The sign which we are now studying is predominantly the sign of instinct; but the sublimation of instinct is the intuition. In the same way, as matter has to be lifted up into heaven, so instinct has to be likewise lifted up, and when it has been thus transcended and transmuted, it manifests as intuition (symbolized by the doe). The intermediate stage is that of the intellect. The great need of Hercules now is to develop his intuition and to become familiar with that instantaneous recognition of truth and reality which is the high prerogative and potent factor in the life of a liberated son of God.

Ba từ tóm tắt sự tự nhận thức khách quan hay khía cạnh ý thức của con người đang tiến hóa: bản năng, trí tuệ, trực giác. Dấu hiệu mà chúng ta đang nghiên cứu chủ yếu là dấu hiệu của bản năng; nhưng sự thăng hoa của bản năng là trực giác. Cũng vậy, vật chất phải được nâng lên trời cao, thì bản năng cũng phải được nâng lên như vậy, và khi nó đã được siêu việt và chuyển hóa như vậy, nó biểu hiện thành trực giác (tượng trưng là con nai cái). Giai đoạn trung gian là giai đoạn của trí tuệ. Nhu cầu lớn nhất của Hercules bây giờ là phát triển trực giác của mình và làm quen với việc nhận ra ngay lập tức chân lý và thực tại, vốn là yếu tố đặc quyền và mạnh mẽ trong cuộc đời của một người con được giải thoát của Thượng đế.

Meaning of the Story—Ý nghĩa của câu chuyện

Eurystheus, therefore, sent Hercules to capture the golden horned Keryneian doe or hind. The word “hind” comes from an old Gothic word, meaning “that which must be seized”, in other words, that which is elusive and difficult to secure. This doe was sacred to Artemis, the goddess of the moon; but Diana, the huntress of the heavens, the daughter of the sun, also claimed it and there was a quarrel as to ownership. Hercules accepted the charge of Eurystheus and set out to capture the gentle hind. He was a whole year hunting it, going from one forest to another, just catching sight of it and then again losing [84] it. Month after month went by, and he never could catch and hold it. Success at last crowned his efforts and he seized the doe, flung it over his shoulder, “held it close to his heart”, and carried it to the sacred temple at Mykenae, where he laid it down before the altar, in the holy place. Then he stood back, pleased with his success.

Do đó, Eurystheus đã cử Hercules đi bắt con hươi cái Keryneian có sừng vàng. Từ “hind” xuất phát từ một từ Gothic cổ, có nghĩa là “cái phải được nắm giữ”, nói cách khác, thứ khó nắm bắt và khó bảo đảm. Con nai cái này rất linh thiêng đối với Artemis, nữ thần mặt trăng; nhưng Diana, nữ thợ săn của bầu trời, con gái của mặt trời, cũng tuyên bố điều đó và xảy ra tranh cãi về quyền sở hữu. Hercules nhận nhiệm vụ của Eurystheus và lên đường đi bắt con nai hiền lành. Chàng đã săn lùng nó cả năm trời, đi từ khu rừng này sang khu rừng khác, chỉ thoáng thấy nó rồi lại mất [84] nó. Tháng này qua tháng khác, chàng không bao giờ có thể nắm bắt và giữ nó. Nỗ lực của chàng cuối cùng đã đạt được thành công và chàng tóm lấy con nai cái, ném nó lên vai, “ôm nó vào lòng”, và mang nó đến ngôi đền linh thiêng ở Mykenae, nơi chàng đặt nó trước bàn thờ, ở nơi linh thiêng. Rồi anh đứng lùi lại, hài lòng với thành công của mình.

This is one of the shortest of the stories but though we are told very little, this labor, when considered thoughtfully, is one of profound and outstanding interest and the lesson it holds is of deep import. There is no success for the aspirant until he has transmuted instinct into intuition, nor is there right use of the intellect until the intuition is brought into play, interpreting and extending the intellect and bringing realization. Then instinct is subordinated to both. [85]

Đây là một trong những câu chuyện ngắn nhất nhưng mặc dù chúng ta được kể rất ít, nhưng Kỳ công này, khi được suy ngẫm kỹ lưỡng, là một điều thú vị sâu sắc và nổi bật, và bài học mà nó chứa đựng là vô cùng quan trọng. Không có thành công nào cho người tầm đạo cho đến khi anh ta chuyển hóa bản năng thành trực giác, cũng như không có việc sử dụng trí năng một cách đúng đắn cho đến khi trực giác được phát huy tác dụng, giải thích và mở rộng trí năng và mang lại sự chứng ngộ. Khi đó bản năng phụ thuộc vào cả hai. [85]

Qualities of the Sign— Các Phẩm chất của dấu hiệu

Cancer is called the Crab and the Greeks tell us that it was the crab that was sent by Hera to bite the foot of Hercules. (Again we meet this symbol in the vulnerable “heel of Achilles”.) This is an interesting way of expressing the liabilities of the incarnation process and of illustrating the handicaps which beset the soul as it travels along the path of evolution. It symbolizes the limitations of all physical incarnation, for Cancer is one of the two great gates of the zodiac. It is the gate into the world of forms, into physical incarnation, and the sign wherein the duality of form and of soul is unified in the physical body.

Cự Giải được gọi là Con cua và người Hy Lạp nói với chúng ta rằng đó là con cua được Hera gửi đến để cắn vào chân Hercules. (Một lần nữa chúng ta gặp biểu tượng này trong “gót chân Achilles” dễ bị tổn thương.) Đây là một cách thú vị để diễn tả những trách nhiệm của tiến trình luân hồi và minh họa những khuyết tật bủa vây linh hồn khi nó di chuyển dọc theo con đường tiến hóa. Nó tượng trưng cho những hạn chế của tất cả các kiếp sống ở cõi trần, vì Cự Giải là một trong hai cánh cổng lớn của cung hoàng đạo. Nó là cánh cổng đi vào thế giới của các hình tướng, đi vào hoá thân vật chất, và là dấu hiệu trong đó tính hai mặt của hình hài và linh hồn được thống nhất trong thể xác.

The opposite sign to Cancer is Capricorn, and these two constitute the two gates, one being the gate into form life, and the other into spiritual life; one opening the door into the mass form of the human family, and the other into the universal state of consciousness, which is the Kingdom of spirit. One marks the beginning of human experience on the physical plane, the other marks its climax. One signifies potentiality, and the other consummation.

Dấu hiệu đối lập với Cự Giải là Ma Kết, và hai cung này tạo thành hai cánh cổng, một là cánh cổng dẫn vào đời sống vật chất và cánh cổng còn lại dẫn vào đời sống tinh thần; một cánh cửa mở ra hình thức đám đông của gia đình nhân loại, và cánh cửa kia vào trạng thái tâm thức phổ quát, đó là giới tinh thần. Một đánh dấu sự bắt đầu trải nghiệm của con người trên cõi trần, cái kia đánh dấu đỉnh cao của nó. Một biểu thị tiềm năng, và cái kia biểu thị sự viên mãn.

We are told that Christ gave to Saint Peter the keys of heaven and earth; He gave to him, therefore, the keys of these two gates. We read:

Chúng ta được biết rằng Đức Christ đã trao cho Thánh Peter chìa khóa của trời và đất; Do đó, Ngài đã trao cho ông chìa khóa của hai cánh cổng này. Chúng ta đọc như sau:

“Jesus gives to Peter… the keys to the two principal gates of the zodiac, which are the two solsticial points, the zodiacal signs Cancer and Capricorn, called the gates of the sun. Through Cancer, or the ‘gate of man’, the soul descends upon earth (to unite with the body), which is its spiritual death. Through Capricorn, the ‘gate [86] of the gods’, it reascends to heaven.” (E. Valentia Straiton, The Celestial Ship of the North Vol. II, p. 206).

“Chúa Giê-su trao cho Phi-e-rơ… chìa khóa của hai cánh cổng chính của vòng hoàng đạo, đó là hai điểm chí, các cung hoàng đạo Cự Giải và Ma Kết, được gọi là cổng mặt trời. Thông qua Cancer, hay ‘cánh cổng của con người’, linh hồn xuống trái đất (để hợp nhất với thể xác), đó là cái chết tâm linh của nó. Thông qua Ma Kết, ‘cánh cổng [86] của các vị thần’, nó bay lên thiên đàng.” (E. Valentia Straiton, The Con tàu thiên thể của phương Bắc Vol. II, tr. 206).

In the zodiac of Denderah, the sign Cancer is represented by a beetle, called in Egypt, the scarab. The word “scarab” means “only begotten”; it stands, therefore, for birth into incarnation, or, in relation to the aspirant, for the new birth. The month of June, in ancient Egypt was called “meore”, which again means rebirth”, and thus both the sign and the name hold steadily before us the thought of the taking of form and of coming in physical incarnation. In an ancient zodiac in India, dated about 400 B.C., the sign is represented again by a beetle.

Trong vòng hoàng đạo Denderah, dấu hiệu Cự Giải được đại diện bởi một con bọ cánh cứng, được gọi ở Ai Cập là con bọ hung (scarab). Từ “con bọ hung” có nghĩa là “chỉ được sinh ra”; do đó, nó đại diện cho sự tái sinh vào trần gian, hoặc, liên quan đến người tìm đạo, tượng trưng cho sự sinh mới. Ở Ai Cập cổ đại, tháng Sáu, được gọi là “meore”, một lần nữa có nghĩa là tái sinh, và do đó, cả dấu hiệu và tên gọi đều giữ vững trước mắt chúng ta ý nghĩ về sự hình thành và tái sinh trong thể xác. Trong vòng hoàng đạo cổ đại ở Ấn Độ, có niên đại khoảng 400 năm trước Công nguyên, dấu hiệu này lại được đại diện bởi một con bọ cánh cứng (beetle).

The Chinese called this sign “the red bird”, for red is the symbol of desire, and the bird is the symbol of that flashing forth into incarnation and of appearance in time and space. The bird appears quite frequently in the zodiac and mythological stories, Hamsa, the bird of the Hindu tradition, “the bird out of time and space”, stands equally for the manifestation of God and of man. Out of the darkness flashes the bird and flies across the horizon in the light of the day, disappearing again into the darkness. Our word, “goose”, comes from the same Sanskrit root, through the Icelandic, and when we say, “What a goose you are”, we are really making a most esoteric affirmation; we are saying to another human being: “You are, the bird out of time and space, you are the soul taking form; you are God in incarnation!”

Người Trung Quốc gọi dấu hiệu này là “con chim đỏ”, vì màu đỏ là biểu tượng của dục vọng, và con chim là biểu tượng của sự hóa thân và xuất hiện trong thời gian và không gian. Là loài chim xuất hiện khá thường xuyên trong các câu chuyện thần thoại và vòng hoàng đạo, Hamsa, loài chim trong truyền thống Ấn Độ giáo, “con chim vượt thời gian và không gian”, tượng trưng cho sự biểu hiện của Thượng đế và con người. Từ trong bóng tối, con chim vụt bay lên và bay qua đường chân trời trong ánh sáng ban ngày, rồi lại biến mất vào bóng tối. Từ “ngỗng” (goose) của chúng ta bắt nguồn từ cùng một gốc tiếng Phạn, thông qua tiếng Iceland, và khi chúng ta nói, “Bạn thật như một con ngỗng”, chúng ta thực sự đang đưa ra một lời khẳng định bí truyền nhất; chúng ta đang nói với một con người khác: “Bạn là con chim vượt thời gian và không gian, bạn là linh hồn đang hình thành; bạn là Thượng đế đang lâm phàm!

The crab lives half on the earth, and half in the water. It the sign, therefore, of the soul dwelling in the physical body but predominantly living in the water, which is the symbol of the emotional, feeling nature.

Con cua sống một nửa trên mặt đất và một nửa trong nước. Do đó, nó là dấu hiệu của linh hồn trú ngụ trong cơ thể vật chất nhưng chủ yếu sống trong nước, là biểu tượng của bản chất tình cảm, cảm xúc.

Exoterically Cancer is ruled by the moon, which is always the mother of form, controlling the waters and the tides. Therefore, in this sign the form is dominant, and constitutes a handicap. The crab builds its house or shell and carries it upon its back, and people born in this sign are always conscious of that which they have built; they are usually over-sensitive, [87] over-emotional, ever seeking to hide away. The Cancer native is so sensitive that he is difficult to handle and so elusive and sometimes so indefinite, that it is hard to understand him or to pin him down.

Về mặt phổ truyền, Cự Giải được cai quản bởi mặt trăng, vốn luôn là mẹ của hình tướng, điều khiển nước và thủy triều. Do đó, trong dấu hiệu này, hình tướng chiếm ưu thế và tạo thành một trở ngại. Con cua xây dựng ngôi nhà hoặc cái vỏ của nó, và mang nó trên lưng, và những người sinh ra trong dấu hiệu này luôn ý thức về những gì họ đã xây dựng; họ thường quá nhạy cảm, [87] quá xúc động, luôn tìm cách trốn tránh. Người thuộc dấu hiệu Cự Giải nhạy cảm đến mức khó đối phó, khó nắm bắt và đôi khi vô định đến mức khó có thể hiểu hay giữ được anh ta.

The Cardinal Cross—Thập Giá Chủ Yếu

Cancer is one of the arms of the cardinal cross. One arm is Aries, the sign of beginning, of commencement, of subjective life, of the prenatal stage, or involution, and of the first step, either towards form-taking, or towards spiritual liberation. A third arm of the cross is Libra, the balance, the choosing between, the beginning of the treading of the “narrow razor-edged path”, to which the Buddha so frequently refers. Capricorn, the fourth arm, again is birth, the birth of the world savior, birth into the spiritual kingdom, birth out of the world of matter into the world of being. Involution, incarnation, expression, inspiration, are the four words that express the story of the cardinal cross in the heavens. (The cross of the initiate.)

Cự Giải là một trong những nhánh của Thập Giá Chủ Yếu. Một nhánh là Aries, dấu hiệu của sự bắt đầu, của sự khởi đầu, của đời sống chủ thể, của giai đoạn trước khi sinh, hay sự giáng hạ tiến hóa, và của bước đầu tiên hướng tới việc kháoc lấy hình tướng hoặc hướng tới sự giải thoát tâm linh. Nhánh thứ ba của thập giá là Libra, sự cân bằng, sự lựa chọn ở giữa, sự khởi đầu của việc bước đi trên “con đường hẹp như lưỡi dao cạo”, mà Đức Phật thường đề cập đến. Ma Kết, nhánh thứ tư, một lần nữa là sự ra đời, sự ra đời của vị cứu thế, sự ra đời trong giới tinh thần, sự sinh ra từ thế giới vật chất để bước vào thế giới của bản thể. Giáng hạ tiến hoá, hóa thân, biểu đạt, linh ứng, chính là bốn từ diễn tả câu chuyện của Thập Giá Chủ Yếu trên bầu trời. (Thập giá của điểm đạo đồ.)

The Stars—Các Ngôi Sao

There are no bright stars at all in Cancer, no conspicuous or brilliant star, because Cancer is a sign of hiding, of retreat behind that which has been constructed. It is not a striking constellation. It is interesting to note that there is no Hebrew word for “crab”. It was regarded as unclean and not mentioned. So is the material form regarded from the standpoint of spirit, and esotericists tell us that the physical body is not a principle.

Không có ngôi sao sáng chói nào ở Cự Giải, không có ngôi sao nổi bật hay rực rỡ nào, bởi vì Cự Giải là dấu hiệu của sự ẩn nấp, rút lui đằng sau những gì đã được xây dựng. Đó không phải là một chòm sao nổi bật. Thật thú vị khi lưu ý rằng không có từ tiếng Hê-bơ-rơ nào có nghĩa là “con cua”. Nó được coi là ô uế và không được đề cập. Nhìn từ quan điểm của tinh thần, vật chất cũng vậy, và các nhà huyền linh học nói với chúng ta rằng thể xác không phải là một nguyên khí.

(The substitution of the Egyptian sacred scarab for the crab seems a recognition of the quality of Cancer in its higher aspects when the native is an aspirant or disciple, for we go round the zodiac many times.)

(Việc thay thế con bọ hung thiêng liêng của Ai Cập bằng con cua dường như là sự thừa nhận phẩm chất của Cự Giải ở những khía cạnh cao hơn khi người chủ lá số là một người chí nguyện hoặc đệ tử, vì chúng ta đã đi vòng quanh các cung hoàng đạo nhiều lần.)

There are eighty-three stars in this sign, the brightest of which is of the third magnitude, and in the very center of the constellation there is a cluster of stars; Praesepe, the manger, [88] called by modern astronomers, “the beehive”. The latter is a marvellous symbol of the collective organization of the human family, and is one of the reasons why this is always regarded as a mass sign. In the mass, instinct rules; therefore, Cancer is the sign of instinct, of herd life, of mass reaction. It represents the subconscious mind, hereditary instinct, and the collective imagination. It stands, individually, for the totality of the life and the consciousness of the cells in the body, and of that instinctive, collective life, which is largely subconscious in man, but which always influences his physical body and, subjectively, his lower mind and emotional being.

Có tám mươi ba ngôi sao trong dấu hiệu này, ngôi sao sáng nhất có cấp sao thứ ba, và ở chính giữa chòm sao là một cụm sao; Praesepe, máng cỏ, [88] được các nhà thiên văn học hiện đại gọi là “tổ ong”. Cái sau là một biểu tượng kỳ diệu của tổ chức tập thể của gia đình nhân loại, và là một trong những lý do tại sao điều này luôn được coi là một dấu hiệu đám đông. Trong đám đông, bản năng cai quản; do đó, Cự Giải là dấu hiệu của bản năng, của lối sống bầy đàn, của phản ứng quần chúng. Nó đại diện cho tiềm thức, bản năng di truyền và trí tưởng tượng tập thể. Về mặt cá nhân, nó đại diện cho toàn bộ sự sống và tâm thức của các tế bào trong cơ thể, và của sự sống tập thể, bản năng đó, mà đa phần nằm trong tiềm thức của con người, nhưng luôn luôn ảnh hưởng đến thể xác của y và, về mặt nột tại, hạ trí và tình cảm của y.

The unevolved Cancer native is immersed in the mass; he is an unconscious part of the great whole, and therein lies the problem; for the average Cancer person, as well as for the aspirant who is performing the labor of this sign, is subjected to the urge to lift himself up out of the mass to which he is held, by his instinct, and to develop instead the intuition, which will enable him so to rise. This sign is sometimes called “the coffin”, by the Hebrews, because it marks loss of identity, whilst, the early Christians called it “the grave of Lazarus”, who was raised from the dead. In these words, “coffin”, “grave”, “crab”, and in the reference which we sometimes find to Cancer as “the womb”, we have the thought of hidden life, of a veiling form, of potentiality, and of that struggle with circumstances which will eventually produce, in Leo, the emergence of the individual and, in Capricorn, the birth of a world savior. Definitely, therefore, it portrays the struggle that goes on in the life of the aspirant so that instinct can give place eventually to intuition.

Người Cự Giải chưa tiến hóa hòa mình vào đám đông; y là một phần vô thức của tổng thể vĩ đại, và vấn đề nằm ở chỗ đó; đối với một Cự Giải bình thường, cũng như đối với người chí nguyện đang thực hiện công việc của dấu hiệu này, đều phải chịu thôi thúc nhấc mình ra khỏi đám đông mà y đang bị kìm giữ bằng bản năng của mình, và thay vào đó là phát triển trực giác, vốn sẽ cho phép y nhờ vậy để tiến lên. Dấu hiệu này đôi khi được người Do Thái gọi là “quan tài”, bởi vì nó đánh dấu sự đánh mất bản sắc, trong khi những người theo đạo Thiên chúa sơ khai gọi nó là “mộ của Lazarus”, người đã sống lại từ cõi chết. Trong những từ này, “quan tài”, “mộ”, “con cua”, và trong cách ám chỉ mà đôi khi chúng ta thấy Cự Giải là “tử cung”, chúng ta có suy nghĩ về cuộc sống ẩn giấu, về một hình thức che đậy, về tiềm năng và của cuộc đấu tranh với những hoàn cảnh mà cuối cùng sẽ tạo ra sự xuất hiện của cá nhân ở Sư Tử, và sự ra đời của một vị cứu thế ở Ma Kết. Do đó, chắc chắn nó miêu tả cuộc đấu tranh diễn ra trong cuộc sống của người tầm đạo để cuối cùng bản năng có thể nhường chỗ cho trực giác.

At-one-ment with Capricorn— Hợp nhất với Ma Kết

It is interesting to contrast the two signs, Cancer and Capricorn, for that which is indicated in Cancer is consummated in Capricorn. Cancer represents the home, the mother. It is personal and emotional, whilst Capricorn represents the group [89] which the unit consciously enters, and also “the father of all that is”. The gate of Cancer is entered through the process of transference out of the animal state of consciousness into the human, whilst the gate of Capricorn is entered through initiation. One is inevitable, subconscious and potential; the other is self-initiated, self-conscious and potent. Cancer represents the mass form, the collective animal soul; Capricorn represents the group, the universal soul.

Thật thú vị khi so sánh hai dấu hiệu Cự Giải và Ma Kết, bởi vì những gì biểu hiện ở Cự Giải lại được hoàn thành ở Ma Kết. Cự Giải đại diện cho nhà, cho người mẹ. Nó mang tính cá nhân và tình cảm, trong khi Ma Kết đại diện cho nhóm [89] mà đơn vị gia nhập một cách có ý thức, và cũng là “cha đẻ của tất cả những gì đang tồn tại”. Cổng Cự Giải được đi vào thông qua quá trình chuyển đổi từ trạng thái tâm thức động vật sang con người, trong khi cổng Ma Kết được đi vào thông qua sự điểm đạo. Một là tất yếu, tiềm thức và tiềm năng; cái còn lại là tự khởi xướng, tự ý thức và mạnh mẽ. Cự Giải đại diện cho hình thức đám đông, linh hồn động vật tập thể; Ma kết đại diện cho nhóm, linh hồn phổ quát.

Cancer was originally called the birth month of Jesus. Capricorn is, as we know, the birth month of the Christ, and on the twenty-fifth of December down the centuries the birth of the world savior has been celebrated; but in very ancient days, the birthday of the infant sun gods was in Cancer. We are told:

Cự Giải nguyên thủy được gọi là tháng sinh của Đức Giêsu. Ma Kết, như chúng ta biết, là tháng sinh của Đức Christ, và vào ngày 25 tháng 12 trong nhiều thế kỷ, ngày sinh của Đấng Cứu Thế đã được tổ chức; nhưng trong những ngày rất xa xưa, ngày sinh nhật của các vị thần mặt trời sơ sinh là ở Cự Giải. Chúng ta được cho biết:

“The birthday of the infant Jesus, being arbitrarily set by the priests, produces a serious discrepancy, as we are told he was born in a manger. The manger is found in the sign of the summer solstice, the constellation Cancer, which was called the gate of the sun through which souls were said to descend from their heavenly home to earth, just as at the winter solstice in December, they were said to return to their heavenly or celestial home, the constellation Capricorn, the other gate of the sun. Capricorn was the sign from which sungods were said to the born at the winter solstice and made sacred to the sons of light.”

“Ngày sinh của hài nhi Jesus, do các giáo sĩ ấn định một cách tuỳ tiện, tạo ra một sự sai lệch nghiêm trọng, vì người ta cho biết Ngài được sinh ra trong một máng cỏ. Máng cỏ này được tìm thấy trong dấu hiệu của hạ chí, dấu hiệu Cancer, vốn được gọi là cổng của Mặt Trời, qua đó các linh hồn được cho là đi xuống từ ngôi nhà thiên thượng của mình để đến Trái Đất; cũng giống như vào thời điểm đông chí trong tháng Mười Hai, các linh hồn được cho là quay trở về ngôi nhà thiên thượng hay thiên giới của mình, tức dấu hiệu Capricorn, cổng còn lại của Mặt Trời. Capricorn là dấu hiệu mà từ đó các thần Mặt Trời được cho là sinh ra vào thời điểm đông chí, và được thánh hiến cho các con của ánh sáng.”

(E. Valentia Straiton, The Celestial Ship of the North, Vol. II, p. 205).

(E. Valentia Straiton, The Celestial Ship of the North, Tập II, tr. 205).

Symbols—Biểu tượng

The astrological symbol for the sign Cancer has no relation at all to the crab. It is composed of two “asses” tails, and these again link up the gospel story with the story of the manger. In connection with the birth of Jesus two asses appear, the one on which the Virgin rode down to Bethlehem, prior to the birth, and the other on which she rode to Egypt, after the birth. Close to the sign Cancer are two bright stars, one called Asellus Borealis, or the northern ass, and the other, Asellus Australis, or the southern ass. (There is also the third time, when Christ rode into Jerusalem during his brief moment of triumph on Palm Sunday [90] seated on the back of an ass, a symbol of patience and humility the crown jewels of greatness. So do not decry this symbol.)

Biểu tượng chiêm tinh của dấu hiệu Cự Giải hoàn toàn không có liên hệ gì với con cua. Nó được cấu tạo bởi hai chiếc đuôi của “con lừa”, và chính điều này lại nối kết câu chuyện Phúc Âm với câu chuyện về máng cỏ. Liên quan đến sự giáng sinh của Đức Jesus, có hai con lừa xuất hiện: con thứ nhất là con mà Đức Trinh Nữ đã cưỡi xuống Bethlehem trước khi sinh, và con thứ hai là con mà bà đã cưỡi sang Ai Cập sau khi sinh. Gần dấu hiệu Cancer có hai ngôi sao sáng, một ngôi được gọi là Asellus Borealis, hay con lừa phương bắc, và ngôi kia là Asellus Australis, hay con lừa phương nam. (Còn có lần thứ ba, khi Đức Christ cưỡi vào Jerusalem trong khoảnh khắc khải hoàn ngắn ngủi của Ngài vào Chủ nhật Lễ Lá [90], ngồi trên lưng một con lừa, biểu tượng của sự nhẫn nại và khiêm nhường — những bảo vật vương miện của sự vĩ đại. Vì vậy, đừng xem thường biểu tượng này.)

Someone has used the following words to express the cadence of Cancer when first entered: “A sorrowful little voice underground, a low, half-captured, half-evasive melody.”

Ai đó đã dùng những từ sau đây để diễn tả nhịp điệu của Cự Giải khi mới bước vào: “Giọng nhỏ buồn bã dưới lòng đất, giai điệu trầm, nửa nắm bắt, nửa lảng tránh.”

Not yet has the work been consummated. All that is to be heard is the note of possible achievement. All that is to be found is a deep inner urge and discontent which gradually becomes so strong that it lifts the hidden, struggling individual out of his environment of stabilized world condition and makes him the earnest aspirant, who knows no rest until he has emerged out of the water and climbed steadily on until he finds himself on the summit of the mount in Capricorn, the birth not the consummation of the world savior. “Christ was born in Capricorn, fulfiled the law under Saturn, initiated the era of intelligent brotherhood under Venus, and is the perfect example of the Capricorn initiate, who becomes the world server in Aquarius; and the world savior in Pisces. Cancer admits the soul into the world center which we call humanity. Capricorn admits the soul into conscious participation in the life of that world center which we call the Hierarchy.” (Esoteric Astrology, p. 168)

Công việc ấy vẫn chưa được hoàn tất. Tất cả những gì có thể nghe thấy chỉ là âm điệu của khả năng thành tựu. Tất cả những gì có thể tìm thấy chỉ là một thôi thúc nội tâm sâu xa và một sự bất mãn, dần dần trở nên mạnh mẽ đến mức nó nâng cá nhân ẩn kín, đang vật lộn ấy ra khỏi môi trường của những điều kiện thế giới đã ổn định, và biến y thành người chí nguyện nhiệt tâm, kẻ không biết nghỉ ngơi cho đến khi đã trồi lên khỏi nước và không ngừng leo cao, cho đến khi y thấy mình đứng trên đỉnh núi ở Ma Kết — sự sinh ra, chứ không phải sự hoàn tất, của đấng cứu thế gian. “Đức Christ được sinh ra trong Ma Kết, hoàn tất Định Luật dưới ảnh hưởng của Sao Thổ, khởi xướng kỷ nguyên của huynh đệ thông tuệ dưới Sao Kim, và là tấm gương hoàn hảo của điểm đạo đồ Ma Kết, kẻ trở thành Người Phụng Sự Thế Gian trong Bình, và là đấng cứu thế gian trong Song Ngư. Cự Giải cho linh hồn bước vào trung tâm thế giới mà chúng ta gọi là nhân loại. Ma Kết cho linh hồn bước vào tham dự có ý thức vào đời sống của trung tâm thế giới mà chúng ta gọi là Thánh đoàn.” (Esoteric Astrology, tr. 168)

The Three Symbolic Constellations—Ba chòm sao biểu tượng

Jesus is often called the Good Shepherd, and he has been depicted many times as the shepherd leading his sheep. The thought of the sheepfold has been closely associated in the minds of people with Christ. Connected with the sign Cancer are three constellations: Ursa Major, Ursa Minor and Argo. The common occidental names for the two former are the Great Bear and the Little Bear, but it is one of the mysteries of astronomy as to how the name “bear” came to be associated with either of these groups of stars, for in the Chaldean, Persian, Indian and Egyptian zodiacs, no bear is found. The names most commonly use are those of “the sheepfold”, or “the flock of sheep,” and an analysis of the Hebrew and Arabic names [91] for the stars found in these constellations will be found to prove the fact that the ancient names signify “the lesser flock”, “the sheepfold”, “the sheep”, and “the ship”. In the thirty-fourth chapter of Ezekiel and in the tenth chapter of St. John, is much that has reference to these constellations.

Đức Jesus thường được gọi là Đấng Chăn Hiền Lành, và Ngài đã nhiều lần được miêu tả là người chăn chiên dẫn đàn chiên của mình. Ý nghĩ về chuồng chiên đã được liên kết chặt chẽ trong tâm trí của mọi người với Đức Christ. Kết nối với dấu hiệu Cự Giải là ba chòm sao: Ursa Major, Ursa Minor và Argo. Các tên phương Tây phổ biến cho hai nhóm trước là Gấu lớn và Gấu nhỏ, nhưng đó là một trong những bí ẩn của thiên văn học về việc làm thế nào mà cái tên “gấu” lại được liên kết với một trong hai nhóm sao này, vì trong các hoàng đạo Chaldee, Ba Tư, Ấn Độ và Ai Cập, không tìm thấy con gấu nào. Những cái tên được sử dụng phổ biến nhất là “chuồng cừu”, hay “đàn cừu”, và một phân tích về tên tiếng Do Thái và tiếng Ả Rập [91] cho các ngôi sao được tìm thấy trong các chòm sao này sẽ chứng minh sự thật rằng những cái tên có nghĩa là “bầy nhỏ hơn”, “bầy chiên”, “con chiên” và “con tàu”. Trong chương 34 của Ezekiel và trong chương 10 của St. John, có nhiều điều đề cập đến những chòm sao này.

Ursa Minor is famous because the brightest star in it is the pole star, the north star. In the symbolism of these two constellations we have held before us the thought of the mass or group, which is the significant influence of the work carried forward in the sign Cancer, and in the symbolism of the north star we have the thought of a lode star, a magnetic attraction, which guides the pilgrim back home. Many esotericists hold the belief that the human family, the fourth kingdom in nature, gradually came into being during the two thousand years, approximately, when our sun was in Cancer.

Ursa Minor nổi tiếng vì ngôi sao sáng nhất trong chòm sao này là sao Bắc Cực, tức sao phương bắc. Trong biểu tượng của hai chòm sao này, trước mắt chúng ta hiện lên tư tưởng về quần chúng hay tập thể, vốn là ảnh hưởng có ý nghĩa của công việc được triển khai trong dấu hiệu Cự Giải; còn trong biểu tượng của sao phương bắc, chúng ta có tư tưởng về một ngôi sao chỉ đường, một lực hấp dẫn từ tính, dẫn dắt người lữ hành trở về nhà. Nhiều nhà huyền bí học cho rằng gia đình nhân loại, tức giới thứ tư trong thiên nhiên, đã dần dần hình thành trong khoảng hai ngàn năm, xấp xỉ, khi mặt trời của chúng ta ở trong Cancer.

The thought of a mass of animals, of set boundaries within which these sheep or animals were confined, and the thought of a magnetic center of attraction, are symbolically portrayed for us also in the Masonic tradition. In Kircher’s Egyptian Planisphere, Argo is represented by two galleys (as we have two sheepfolds), whose prows are surmounted by rams’ heads, and the stern of one of them ends in a fish’s tail. Note, therefore, how we have here held pictorially in front of us the consummation in Capricorn, wherein the goat scales the mountain top. We also have the portrayal of that greater cycle which includes the progress of the soul from Cancer to Capricorn, but which begins in Aries, the ram, and ends in Pisces, the fishes. A close analysis of the symbolism of the zodiacal signs deepens in one the strong conviction of the eternal picturing of truth and the constant holding before our eyes of the story of the evolution of matter in form, of consciousness, of spirit and of life.

Tư tưởng về một bầy súc vật, về những ranh giới cố định trong đó các con chiên hay các con vật ấy bị giới hạn, và tư tưởng về một trung tâm hấp dẫn từ tính, cũng được trình bày một cách biểu tượng trong truyền thống Hội Tam Điểm. Trong Planisphere Ai Cập của Kircher, Argo được biểu hiện bằng hai chiếc thuyền galley (cũng như chúng ta có hai chuồng chiên), mũi thuyền của chúng được trang trí bằng đầu cừu đực, và phần đuôi của một trong hai chiếc thuyền kết thúc bằng đuôi cá. Vì vậy, cần lưu ý rằng ở đây chúng ta có trước mắt, dưới dạng hình ảnh, sự hoàn tất trong dấu hiệu Capricorn, nơi con dê leo lên đỉnh núi. Đồng thời, chúng ta cũng có sự mô tả của chu kỳ lớn hơn, bao gồm tiến trình của linh hồn từ Cancer đến Capricorn, nhưng lại bắt đầu ở Aries, con cừu đực, và kết thúc ở Pisces, những con cá. Một sự phân tích kỹ lưỡng biểu tượng của các dấu hiệu hoàng đạo sẽ làm sâu sắc thêm nơi mỗi người niềm xác tín mạnh mẽ về sự minh hoạ vĩnh cửu của chân lý và về việc câu chuyện tiến hoá của vật chất trong hình tướng, của tâm thức, của tinh thần và của sự sống luôn luôn được đặt trước mắt chúng ta.

Argo stretches all the way from Cancer to Capricorn and is one of the largest of the constellations. It has in it sixty-four stars, of which the brightest is Canopus. Its symbolism, [92] therefore, covers the life of the aspirant from the time he takes incarnation until he has reached his goal. We use the word “ship” quite frequently in a symbolic sense, speaking of the “ship of state”, the “ship of salvation”, and conveying ever the idea of security, of progress, and of the achieving of a way out, of the making of a journey and of the carrying of a vast crowd of pilgrims in search of golden treasure or a new and freer home.

Argo trải dài từ Cự Giải đến Ma Kết và là một trong những chòm sao lớn nhất. Nó có sáu mươi bốn ngôi sao, trong đó ngôi sao sáng nhất là Canopus. Do đó, biểu tượng của nó [92] bao gồm cuộc sống của người tìm đạo từ khi anh ta tái sinh cho đến khi anh ta đạt được mục tiêu của mình. Chúng tôi sử dụng từ “tàu” khá thường xuyên theo nghĩa tượng trưng, nói về “con tàu của nhà nước”, “con tàu cứu rỗi”, và luôn truyền đạt ý tưởng về an ninh, tiến bộ và đạt được một lối thoát. về việc thực hiện một cuộc hành trình và mang theo một đám đông những người hành hương để tìm kiếm kho báu vàng hoặc một ngôi nhà mới và tự do hơn.

The pilgrims are equipped with instinct, and as they pass through the various constellations covered by this immense sign, that instinct demonstrates as intellect in a human being as he develops self-consciousness and emerges from out the purely animal stage, until the time comes when, having progressed around and around the zodiac, the aspirant finds himself again in Cancer, faced with the problem of finding that elusive, sensitive, and deeply occult, or hidden, spiritual intuition which will guide him in his now lonely journey; the aspirant is no longer identified and lost in the mass; he is no longer one of the sheep, safely guarded in the sheepfold; he is no longer one of the great herd of emigrants, but he has emerged out of the mass and has started on the lonely way of all disciples. Then he treads the path of tribulation, of test and trial, wrestling by himself as an individual, from Leo to Capricorn, until the time comes when, with the aid of instinct, intellect and intuition, and driven by the urge of the Christ life, he again merges himself with the mass and becomes identified with the group. He then becomes the world server in Aquarius and has no sense of separateness.

Những người lữ hành được trang bị bản năng, và khi họ đi qua các chòm sao khác nhau được bao hàm trong dấu hiệu bao la này, thì bản năng ấy nơi con người biểu lộ thành trí tuệ khi y phát triển ngã thức và thoát ra khỏi giai đoạn thuần túy thú vật, cho đến khi thời điểm đến mà, sau khi đã tiến quanh đi quanh lại vòng hoàng đạo, người chí nguyện lại thấy mình ở trong Cancer, đối diện với vấn đề phải tìm ra trực giác tinh thần khó nắm bắt, nhạy cảm và mang tính huyền bí sâu xa — tức là ẩn kín — vốn sẽ hướng dẫn y trong cuộc hành trình nay đã trở nên đơn độc của mình; người chí nguyện không còn đồng nhất và tan biến trong quần chúng nữa; y không còn là một trong những con chiên được che chở an toàn trong chuồng chiên; y cũng không còn là một thành viên của đàn di cư khổng lồ, mà đã tách ra khỏi quần chúng và bắt đầu bước lên con đường đơn độc của tất cả các đệ tử. Khi đó, y bước đi trên con đường hoạn nạn, của thử thách và khảo nghiệm, tự mình vật lộn như một cá nhân, từ Leo đến Capricorn, cho đến khi thời điểm đến mà, với sự trợ giúp của bản năng, trí tuệ và trực giác, và được thôi thúc bởi xung lực của sự sống Christ, y lại hòa nhập với quần chúng và trở nên đồng nhất với nhóm. Khi ấy, y trở thành Người Phụng Sự Thế Gian trong Aquarius và không còn bất kỳ cảm thức phân ly nào nữa.

The Lesson of the Labor—Bài học của Kỳ Công

We have seen that the hind or doe, for which Hercules sought, was sacred to Artemis, the moon, but was also claimed by Diana, the huntress of the heavens, and by Apollo, the sun god. One of the things that is often forgotten by students of psychology and those who probe the unfolding consciousness [93] of man, is the fact that there are no sharp distinctions between the various aspects of man’s nature, but that all are phases of one reality. The words instinct, intellect and intuition, are but varying aspects of consciousness and of response to environment and to the world in which the human being finds himself. Man is an animal, and in company with the animal, he possesses the quality of instinct and of instinctual response to his environment. Instinct is the consciousness of the form and of the cell life, the mode of awareness of the form, and, therefore, Artemis, the moon, who rules over the form, claims the sacred hind. In its own place, animal instinct is as divine as those other qualities which we regard as more strictly spiritual.

Chúng ta đã thấy rằng hươu cái hay con nai cái mà Hercules tìm kiếm là linh thiêng đối với Artemis, Mặt trăng, nhưng cũng được Diana, nữ thợ săn của các Tầng Trời và thần mặt trời Apollo tuyên bố sở hữu. Một trong những điều thường bị các sinh viên tâm lý học và những người thăm dò tâm thức đang khai mở [93] của con người lãng quên, đó là thực tế là không có sự phân biệt rõ ràng giữa các khía cạnh khác nhau của bản chất con người, mà tất cả đều là các giai đoạn của một thực tại. Các từ bản năng, trí tuệ trực giác chỉ là những khía cạnh khác nhau của tâm thức, và là các phản ứng với môi trường và thế giới mà con người tìm thấy chính mình trong đó. Con người là một con vật, và cùng với con vật, y sở hữu phẩm chất của bản năng và phản ứng bản năng đối với môi trường của mình. Bản năng là tâm thức của hình tướng và của sự sống tế bào, phương thức nhận thức của hình tướng, và do đó, Artemis, mặt trăng, người cai quản hình tướng, tuyên bố quyền sở hữu con nai thiêng liêng. Ở vị trí của nó, bản năng động vật cũng thiêng liêng như những phẩm chất khác mà chúng ta coi là tinh thần một cách nghiêm ngặt hơn.

But man is also a human being; he is rational; he can analyze, criticise, and he possesses that something which we call the mind, and that faculty of intellectual perception and response, which differentiates him from the animal, which opens up to him a new field of awareness, but which is, nevertheless, simply an extension of his response apparatus and the development of the instinct into intellect. Through the one he becomes aware of the world of physical contacts and of emotional conditions; through the other he becomes aware of the world of thought and of ideas, and thus is a human being. When he has reached that stage of intelligent and instinctual awareness, then “Eurystheus” indicates to him that there is another world of which he can become equally aware, but which has its own method of contact and its own response apparatus.

Nhưng con người cũng là một con người; y lý trí; y có thể phân tích, chỉ trích, và y sở hữu thứ mà chúng ta gọi là trí tuệ, khả năng nhận thức và phản ứng trí tuệ, thứ phân biệt y với một con thú, mở ra cho y một lĩnh vực nhận thức mới, tuy nhiên, đó chỉ đơn giản là một phần mở rộng của bộ máy phản ứng của y và sự phát triển bản năng thành trí tuệ. Qua một cái, y nhận thức được thế giới của những tiếp xúc vật lý và những tình trạng cảm xúc; thông qua cái khác, y nhận thức được thế giới của suy nghĩ và ý tưởng, và do đó là một con người. Khi y đã đạt đến giai đoạn nhận thức thông minh và bản năng đó, thì “Eurystheus” chỉ ra cho y rằng có một thế giới khác mà y có thể nhận thức được giống vậy, nhưng có phương thức tiếp xúc và bộ máy đáp ứng riêng.

Diana, the huntress, claimed the doe, because to her the doe is the intellect and man is the great seeker, the great hunter before the Lord. But the doe had another and more elusive form, and for this Hercules, the aspirant, sought. For a life cycle, we are told, he hunted. It was not the doe, the instinct, for which he looked; it was not the doe, the intellect, that was the object of his search. It was something else, and for this he spent a life cycle hunting. Finally, we read, he captured it and carried it into the temple, where it was claimed by the sun god [94] who in the doe recognized the spiritual intuition, that extension of consciousness, that highly developed sense of awareness, which gives to the disciple a vision of new fields of contact and opens up for him a new world of being. We are told that the battle is still going on between Apollo, the sun god, who knew that the doe was the intuition, Diana, huntress of the heavens, who knew it was intellect, and Artemis, the moon, who thought that it was only instinct. Both goddess claimants have a point and the problem of all disciples is to use the instinct correctly, in its right place, and in its proper way. He must learn to use the intellect under the influence of Diana, the huntress, daughter of the sun, and through it become en rapport with the world of human ideas and research. He must learn to carry that capacity of his into the temple of the Lord and there to see it transmuted into intuition, and through the intuition become aware of the things of spirit and of those spiritual realities which neither instinct nor intellect can reveal to him. (And again and again the sons of men, who are also sons of God, must recapture these spiritual realities, upon the endless Way.) [95]

Diana, người nữ thợ săn, đã tuyên bố sở hữu con nai cái, bởi vì đối với nàng, con nai cái là trí tuệ và con người là người tìm kiếm vĩ đại, người thợ săn vĩ đại trước Đấng Chúa Tể. Nhưng con nai cái có một hình dạng khác và khó nắm bắt hơn, và Hercules, người chí nguyện, đã tìm kiếm điều này. Trong một chu kỳ đời sống, chúng tôi được cho biết, chàng đã săn tìm. Đó không phải con nai cái bản năng mà chàng tìm kiếm; đó không phải con nai cái trí tuệ là đối tượng mà chàng tìm kiếm. Đó là một thứ khác, và vì điều này, chàng đã dành cả cuộc đời để săn lùng. Cuối cùng, chúng tôi đọc được, chàng đã bắt được nó và mang nó vào đền thờ, nơi nó được thần mặt trời tuyên bố sở hữu bởi [94] Ngài đã nhận ra, trong con nai cái, trực giác tinh thần, sự mở rộng của tâm thức, cảm giác nhận thức phát triển cao, mang lại cho người đệ tử một tầm nhìn về những lĩnh vực tiếp xúc mới và mở ra cho y một thế giới hiện hữu mới. Chúng ta được biết rằng trận chiến vẫn đang diễn ra giữa thần mặt trời Apollo, người biết rằng con nai cái là trực giác, và Diana, nữ thợ săn của bầu trời, người biết đó là trí tuệ, và Artemis, mặt trăng, người cho rằng đó là bản năng mà thôi. Cả hai tuyên bố của các nữ thần người đều có lý, và vấn đề của tất cả các đệ tử là sử dụng bản năng một cách chính xác, đúng chỗ và đúng cách của nó. Chàng phải học cách sử dụng trí tuệ dưới ảnh hưởng của Diana, nữ thợ săn, con gái của mặt trời, và thông qua đó trở nên hòa hợp với thế giới của những ý tưởng và nghiên cứu của con người. Chàng phải học cách mang khả năng đó của mình vào đền thờ của Chúa và ở đó để thấy nó chuyển hóa thành trực giác, và nhờ trực giác mà y nhận thức được những điều thuộc về tinh thần và những thực tại tinh thần mà cả bản năng lẫn trí tuệ đều không thể tiết lộ cho y. (Và hết lần này đến lần khác người con của nhân loại và cũng là người con của Thượng Đế, phải chiếm lại những thực tại tinh thần này trên Con đường vô tận.) [95]

Scroll to Top