LABOR XII
The Capture of the Red Cattle of Geryon
Bắt Giữ Đàn Gia Súc Màu Đỏ của Geryon
(Pisces, February 20th—March 20th)
The Myth
|
Within the sacred Council Chamber, the great Presiding One revealed unto the Teacher the Will of What Must Be. |
Bên trong Phòng Hội Đồng Thiêng Liêng, Đấng Chủ Tọa Vĩ Đại đã tiết lộ cho Vị Huấn Sư về Ý Chí của Điều Phải Là. |
|
“Lost he is, and found; dead, yet vibrant with Life. The server becomes the savior, and homeward turns.” |
“Y bị lạc lối, nhưng rồi được tìm thấy; đã chết, nhưng vẫn tràn đầy Sự Sống. Người phụng sự trở thành Đấng Cứu Rỗi, và quay về nhà.” |
|
The Teacher pondered; then he called for Hercules. “Before the last gate now you stand,” the Teacher said, “One labor yet remains before the circle is complete, and liberation is attained. Proceed to that dark place called Erytheia where Great Illusion is enthroned where Geryon, the monster of three heads, three bodies and six hands, is lord and king. Unlawfully he holds a herd of dark red cattle. From Erytheia to our Sacred City must you drive this herd. Beware of Eurytion, the shepherd, and his two-headed dog, Orthrus.” He paused. “One caution I can give,” he added slowly. “Invoke the aid of Helius.” |
Vị Huấn Sư suy ngẫm, rồi triệu gọi Hercules. “Giờ đây con đang đứng trước cánh cửa cuối cùng,” Vị Huấn Sư nói. “Còn một công việc nữa trước khi vòng tròn được hoàn tất và đạt đến sự giải thoát. Hãy đi đến nơi tối tăm mang tên Erytheia, nơi Đại Ảo Tưởng ngự trị, nơi Geryon—con quái vật ba đầu, ba thân và sáu tay—làm chúa tể và vua. Hắn đang giữ đàn gia súc đỏ thẫm một cách bất hợp pháp. Con phải lùa chúng từ Erytheia về Thành Phố Thiêng của chúng ta. Hãy cẩn trọng với Eurytion, người chăn súc, và con chó hai đầu Orthrus của hắn.” Ngài dừng lại. “Ta có thể ban cho con một lời khuyên,” Ngài chậm rãi nói thêm, “hãy cầu xin sự trợ giúp của Helius.” |
|
Through Gate the Twelfth the son of man who was also the Son of God departed. In search of Geryon he went. |
Qua Cổng thứ Mười Hai, người con của nhân loại, cũng là Con của Thượng Đế, khởi hành. Chàng lên đường tìm kiếm Geryon. |
|
Within a temple Hercules made offerings to Helius, the god of fire in the sun. For seven days he meditated, and then a favor was bestowed on him. A golden chalice fell upon the ground before his feet. He knew within himself that this bright object would enable him to cross the seas to reach the land of Erytheia. |
Trong một ngôi đền, Hercules dâng lễ vật lên Helius, vị thần lửa trong mặt trời. Trong bảy ngày, chàng tham thiền, rồi một ân huệ được ban xuống. Một chiếc chén vàng rơi xuống ngay trước chân chàng. Chàng tự hiểu rõ rằng vật thể sáng rực này sẽ giúp chàng vượt biển để đến vùng đất Erytheia. |
|
And so it was. Within the safe protection of the golden chalice, he sailed across the tossing seas until he came to Erytheia. Upon a strand in that far country, Hercules debarked. [196] |
Và đúng như vậy. Dưới sự bảo vệ an toàn của chiếc chén vàng, chàng vượt qua những cơn sóng dữ cho đến khi đến được Erytheia. Trên một bờ cát xa xôi của vùng đất ấy, Hercules đặt chân lên bờ. [196] |
|
Not long thereafter he came upon the pasture land where the red-hued cattle grazed. Guarded were they by the shepherd Eurytion and the double-headed dog, Orthrus. |
Không lâu sau đó, chàng đến đồng cỏ nơi đàn gia súc đỏ thẫm đang gặm cỏ. Chúng được canh giữ bởi người chăn gia súc Eurytion và con chó hai đầu Orthrus. |
|
When Hercules approached, the dog sped forward like an arrow to its target. Upon the visitor the creature hurled itself, snarling viciously, its bared fangs fiercely snapping. With one decisive blow did Hercules lay the monster low.Then Eurytion, fearful of the brave warrior who stood before him, supplicated that his life be spared. Hercules conceded his request. Driving the blood-red cattle before him, Hercules turned his face toward the Sacred City. |
Khi Hercules tiếp cận, con chó lao tới như một mũi tên nhắm vào mục tiêu. Nó phóng đến kẻ lạ mặt, gầm gừ dữ tợn, nhe những chiếc nanh và cắn táp dữ dội. Chỉ với một cú đánh dứt khoát, Hercules đã hạ gục con quái vật. Eurytion, khiếp sợ trước dũng sĩ oai hùng đứng trước mặt, cầu xin được tha mạng. Hercules chấp thuận lời cầu xin ấy. Chàng lùa đàn gia súc đỏ như máu tiến về Thành Phố Thiêng. |
|
Not far had he gone when he perceived a distant cloud of dust that rapidly grew larger. Surmising that the monster Geryon had come in mad pursuit, he turned to face his foe. Soon Geryon and Hercules stood face to face. Breathing fire and flame from all three heads at once, the monster came upon him. |
Đi chưa được bao xa thì nhận thấy một đám bụi cuộn lên từ phía xa, mỗi lúc một lớn dần. Đoán rằng quái vật Geryon đang điên cuồng truy đuổi, chàng quay lại đối mặt với kẻ thù. Chẳng mấy chốc, Geryon và Hercules đối diện nhau. Lửa và những ngọn lửa phun ra từ cả ba cái đầu cùng lúc, con quái vật lao tới. |
|
Geryon hurled a spear at Hercules that almost hit its mark. Stepping agilely aside, Hercules evaded the deadly shaft. |
Geryon phóng một cây giáo về phía Hercules, suýt trúng đích. Chàng nhanh nhẹn né sang một bên, tránh được mũi giáo chết người. |
|
Stretching taut his bow, Hercules let fly an arrow that seemed to burn the air as he released it, and struck the monster squarely in the side. With such great impetus had it been shot that all three bodies of fierce Geryon were pierced. With a shrill, despairing groan, the monster swayed, then fell, nevermore to rise. |
Hercules giương cung bắn ra một mũi tên, nó xuyên qua không trung như thiêu đốt không khí, cắm thẳng vào sườn quái vật. Với sức mạnh to lớn của mũi tên, cả ba thân thể hung tợn của Geryon đều bị xuyên thủng. Con quái vật rên lên chói tai đầy tuyệt vọng, lảo đảo rồi đổ gục, vĩnh viễn không còn đứng lên được nữa. |
|
Toward the Sacred City, then, Hercules drove the sleek, red cattle. Difficult was the task. Again and yet again some cattle strayed, and Hercules would leave the herd in search of errant wanderers. |
Hercules tiếp tục lùa đàn gia súc bóng mượt, đỏ hướng về Thành Phố Thiêng. Nhiệm vụ này vô cùng gian nan. Hết lần này đến lần khác, một vài con đi lạc, Hercules lại rời đàn để đi tìm những con đi lạc. |
|
Across the Alps he drove his cattle, and into Italy. Wherever wrong had triumphed he dealt the powers of evil a deadly blow, and righted the balance in favor of justice. When Eryx the wrestler challenged him, Hercules cast him down so forcefully that there he stayed. Again, when the giant Alcyoneus threw a rock that weighed a ton at Hercules, the latter caught it [197] on his club, and hurled it back to kill the one who sent it forth. At times he lost his way, but always Hercules turned back, retraced his steps, and journeyed on. Though wearied by this most exacting labor, Hercules at last returned. The Teacher awaited his coming. |
Chàng lùa đàn gia súc băng qua dãy Alps, tiến vào nước Ý. Ở bất kỳ nơi nào cái ác hoành hành, chàng đều giáng một đòn chí mạng vào thế lực tà ác, thiết lập lại sự công bằng. Khi Eryx, đô vật thách thức chàng, Hercules quật ngã hắn một cách mạnh mẽ đến mức hắn không thể đứng dậy. Một lần khác, khi gã khổng lồ Alcyoneus ném một tảng đá nặng cả tấn vào chàng, Hercules đã dùng chùy đỡ lấy [197] rồi ném trả, hạ gục kẻ tấn công. Đôi khi chàng lạc lối, nhưng luôn quay lại, lần theo dấu chân cũ, và tiếp tục cuộc hành trình. Dù kiệt sức vì nhiệm vụ đầy gian khổ này, cuối cùng, Hercules cũng trở về. Huấn Sư đã chờ sẵn để đón chàng. |
|
“Welcome, O Son of God who is also a son of man,” he greeted the returning warrior. “The jewel of immortality is yours. By these twelve labors have you overcome the human, and put on the divine. Home have you come, no more to leave. Upon the starry firmament your name shall be inscribed, a symbol to the struggling sons of men of their immortal destiny. The human labors ended, your cosmic tasks begin.” |
“Chào mừng con, hỡi Người Con của Thượng Đế mà cũng là người con của nhân loại,” Ngài chào đón người chiến binh trở về. “Viên ngọc bất tử đã thuộc về con. Qua mười hai công việc này, con đã vượt qua bản chất con người và khoác lên mình phẩm tính thiêng liêng. Con đã về nhà, sẽ không bao giờ phải rời đi nữa. Trên bầu trời đầy sao, tên con sẽ được khắc ghi, trở thành biểu tượng cho những người con của nhân loại đang phấn đấu cho vận mệnh bất tử của họ. Những kỳ công trong cảnh giới con người đã chấm dứt, nhiệm vụ vũ trụ của con nay khởi đầu.” |
|
From out the Council Chamber came a voice that said, “well done, O Son of God.” |
Từ Phòng Hội Đồng vang lên một giọng nói: “Hỡi Người Con của Thượng Đế, ngươi đã hoàn thành tốt lắm.” |
|
F.M. |
|
Interpretation of the Story—Giải thích câu chuyện
|
There are several variations of the myth concerning the labor of Hercules in the sign Pisces. We are told that there was an island where lived a human monster called Geryon with a body of three men united. He had a herd of red cattle, guarded by a shepherd and a two-headed dog. Hercules received orders (Pisces is the sign of obedience) to bring these cattle from the island, across land and water to the sacred city. |
Có nhiều dị bản về huyền thoại liên quan đến công việc của Hercules dưới dấu hiệu Song Ngư. Người ta kể rằng có một hòn đảo nơi một quái vật hình người tên là Geryon sinh sống, với ba cơ thể của ba người hợp lại thành một. Hắn sở hữu một đàn gia súc màu đỏ thẫm, được canh giữ bởi một người chăn và một con chó hai đầu. Hercules nhận lệnh (Song Ngư là dấu hiệu của sự vâng phục) phải đưa đàn gia súc từ hòn đảo, vượt qua đất liền và biển cả, đến Thành Phố Thiêng. |
|
Hercules sailed to the island in a golden cup and when he arrived there he climbed to the top of a mountain and spent the night in prayer. Then he killed the two-headed dog but he did not kill the shepherd. He also killed the owner of the red cattle. Here is the beautiful part of the story: Hercules placed all of the cattle in the golden cup, in which he had sailed over to the island, took them to the Sacred City, and offered them in sacrifice to Athena, Goddess of Wisdom. This sacred city consisted of two towns connected by a wonderful wall and a gateway called the Gateway of the Lion. After the cattle were delivered Hercules’ work was over. We hear no more about him but he may have gone on to greater cosmic work. [198] |
Hercules vượt biển đến hòn đảo trên một chiếc chén vàng. Khi đến nơi, chàng leo lên đỉnh núi và trải qua đêm trong lời cầu nguyện. Sau đó, chàng giết con chó hai đầu nhưng không giết người chăn. Chàng cũng giết chủ nhân của đàn gia súc đỏ thẫm. Đây là phần tuyệt đẹp của câu chuyện: Hercules đặt tất cả gia súc vào chiếc chén vàng mà chàng đã dùng để vượt biển, rồi mang chúng đến Thành Phố Thiêng và dâng lên Athena, Nữ thần Minh Triết, như một lễ vật hiến tế. Thành Phố Thiêng này gồm hai thị trấn được nối liền bởi một bức tường kỳ diệu và một cổng vào được gọi là Cổng Sư Tử. Khi đàn gia súc đã được giao nộp, công việc của Hercules hoàn tất. Chúng ta không còn nghe thêm điều gì về chàng, nhưng có lẽ chàng đã tiếp tục những công việc vũ trụ cao cả hơn. [198] |
|
Let us think of Hercules as a world savior. He has had a vision of something he has to do. He sees humanity owned by a monster, a three-bodied man, the symbol of a human being with mental, emotional and physical bodies united. I think that this labor has not yet been completed; this accomplishment lies ahead. There have been other sons of men gathered out of the human family from time to time, one here one there, a group here and another there, as when the Buddha was on earth and it is said that he saved nine hundred. Now humanity, the human monster, is ready for salvation and the real work of The World Savior can begin as a whole with the group concept underlying the work rather than individual soul saving. |
Chúng ta hãy nghĩ về Hercules như một Đấng Cứu Thế. Chàng có một linh ảnh về điều mình phải làm. Chàng nhận thấy nhân loại bị một quái vật sở hữu—một con người ba thân, tượng trưng cho một con người với ba thể—thể trí, thể cảm dục và thể xác—hợp nhất. Tôi cho rằng nhiệm vụ này vẫn chưa hoàn thành; thành tựu đó vẫn còn nằm ở phía trước. Trong quá khứ, đã có những người con của nhân loại được chọn lọc từ nhân loại, một người ở đây, một người ở kia, một nhóm ở đây, một nhóm khác ở kia, giống như khi Đức Phật giáng thế, người ta nói rằng Ngài đã cứu độ chín trăm người. Giờ đây, nhân loại—con quái vật ba thân—đã sẵn sàng để được cứu độ, và công việc thực sự của Đấng Cứu Thế có thể bắt đầu, với ý niệm về nhóm là nền tảng của công việc, thay vì chỉ cứu rỗi từng linh hồn riêng lẻ. |
|
The symbolism of the red cattle is plainly that of the lower desires, desire being ever an outstanding characteristic of humanity. They are guarded by a shepherd, which is the mind, the two-headed dog representing the matter aspect and the psychic nature. You see why Hercules spared the shepherd. The mind can still be the shepherd of the cattle but the two-headed dog, the psychic-emotional nature and the matter aspect, Hercules killed, which means that they were deprived of any power. The shepherd still had power and I can conceive of no time in which a human being in incarnation will not need to use the mind as the interpreter of spiritual energy. |
Biểu tượng của đàn gia súc đỏ thẫm rõ ràng là biểu tượng của dục vọng thấp kém, vì dục vọng luôn là một đặc điểm nổi bật của nhân loại. Chúng được một người chăn gia súc canh giữ, tượng trưng cho trí tuệ, còn con chó hai đầu đại diện cho khía cạnh vật chất và bản chất thông linh. Đó là lý do tại sao Hercules tha mạng cho người chăn gia súc. Trí tuệ vẫn có thể là người chăn giữ đàn gia súc, nhưng con chó hai đầu, tức bản chất thông linh-cảm xúc và khía cạnh vật chất, đã bị Hercules tiêu diệt, nghĩa là chúng bị tước đoạt mọi quyền năng. Người chăn vẫn còn quyền năng, và tôi không thể hình dung một thời điểm nào mà con người nhập thế lại không cần sử dụng trí tuệ như một công cụ diễn giải năng lượng tinh thần. |
|
If Jesus as a human being, en rapport with his soul, becomes a transmitter of light to the sons of men, so we can extend the concept and think of humanity as a whole with all minds held steady in the light, transmitting to lower kingdoms in nature that spiritual energy which will raise them up into heaven. That is the work of humanity. We are so occupied with our own problems that we forget the larger picture. It is to be noted again that the keeper of the cattle, the form aspect, was also killed but the shepherd and the cattle were raised up in the golden cup. Here you have the Holy Grail; and so the work was accomplished. The World Savior had fulfiled his [199] function. He had lifted up humanity. That is what all world saviors have done. They all did what, to a greater extent, Christ did. |
Nếu Đức Jesus, với tư cách một con người, hoà hợp với linh hồn mình, trở thành một người truyền dẫn ánh sáng cho nhân loại, thì chúng ta có thể mở rộng khái niệm này và nghĩ về nhân loại như một tổng thể, với mọi trí tuệ được giữ vững trong ánh sáng, truyền đạt năng lượng tinh thần xuống các giới thấp hơn trong thiên nhiên, nâng chúng lên thiên đường. Đó là công việc của nhân loại. Chúng ta quá bận tâm với những vấn đề của riêng mình mà quên đi bức tranh toàn cảnh. Một lần nữa, cần lưu ý rằng kẻ giữ gia súc—khía cạnh hình tướng—cũng đã bị giết, nhưng người chăn và đàn gia súc được nâng lên trong chiếc chén vàng. Ở đây, các bạn có hình ảnh của Chén Thánh, và như vậy, công việc đã hoàn tất. Đấng Cứu Thế đã hoàn thành sứ mệnh [199] của mình. Ngài đã nâng nhân loại lên cao. Đó là điều mà tất cả các Đấng Cứu Thế trên thế gian đã làm. Họ đều thực hiện điều mà trên một mức độ cao hơn Đức Christ đã thực hiện. |
|
We hear about the failure of Christianity. I do not see failure anywhere in the Great Plan. Perhaps slowness, but do you know how disastrous it would be if evolution were too rapid, how dangerous it would be if people were over-stimulated before they were ready? All teachers know the dangers of over-stimulation, the disasters that occur when a person makes certain contacts before the mechanism is sufficiently tuned up. World saviors have to work slowly, but time means nothing to them. |
Chúng ta thường nghe về sự thất bại của Cơ Đốc giáo. Tôi không thấy có sự thất bại nào trong Thiên Cơ Vĩ Đại. Có thể là sự chậm chạp, nhưng liệu các bạn có biết rằng nếu sự tiến hóa diễn ra quá nhanh, điều đó sẽ tai hại đến mức nào, nếu con người bị kích thích quá mức trước khi họ sẵn sàng thì sẽ nguy hiểm ra sao không? Mọi huấn sư đều biết rõ những nguy hiểm của sự kích thích quá mức, những thảm họa xảy ra khi một người thiết lập những tiếp xúc nhất định trước khi cơ cấu của họ được điều chỉnh phù hợp. Các Đấng Cứu Thế phải làm việc một cách chậm rãi, nhưng thời gian không có ý nghĩa gì đối với các Ngài. |
|
The term, world savior, has until now been associated with the thought of the emergence of a great son of God out of the Father’s home, called by the need of humanity to do a great work. Down the ages they have come, dwelt in physical bodies, worked through an emotional nature and have been exceedingly intelligent. They have by their lives set an example that we may follow in their steps; by their words they have sounded the note, the message that humanity needed in order to take the immediate next step forward. In their acts they have given a demonstration of service, gone about the world doing good, and their names have stayed with us down the ages. You must be a very dominant figure to remain in the minds of men for thousands of years. Most of us are forgotten in twenty. |
Thuật ngữ “Đấng Cứu Thế ” cho đến nay vẫn gắn liền với hình ảnh của một Người Con Vĩ đại của Thượng Đế xuất hiện từ Nhà của Cha, được nhân loại khẩn cầu bởi nhu cầu cấp thiết để thực hiện một sứ mệnh vĩ đại. Xuyên suốt các thời đại, các Ngài đã đến, nhập thế trong thân xác hồng trần, làm việc qua một bản chất cảm xúc và sở hữu trí tuệ siêu việt. Qua cuộc sống của mình, các Ngài đã nêu gương để nhân loại có thể noi theo; qua lời dạy, các Ngài đã vang lên âm điệu, truyền đạt thông điệp mà nhân loại cần để tiến lên bước kế tiếp; qua hành động, các Ngài đã thể hiện sự phụng sự, đi khắp thế gian để làm điều thiện, và tên tuổi các Ngài vẫn còn vang vọng qua các thời đại. Để một người còn được nhớ đến trong tâm trí nhân loại suốt hàng ngàn năm, hẳn người đó phải là một nhân vật phi thường. Trong khi hầu hết chúng ta đều bị lãng quên chỉ sau hai mươi năm. |
Significant Aspect of the Sign—Phương Diện Có Ý Nghĩa của Dấu hiệu
|
The sign Pisces marks a triangular place in the heavens, a symbol of reality. This sign rules the feet and hence the idea of treading the Path and attaining the goal has been the underlying spiritual revelation of the Piscean age. |
Dấu hiệu Song Ngư đánh dấu một vị trí tam giác trên thiên giới, một biểu tượng của thực tại. Dấu hiệu này chi phối đôi chân, do đó ý niệm về việc dấn bước trên Đường Đạo và đạt đến mục tiêu đã trở thành sự mặc khải tinh thần chủ đạo của thời đại Song Ngư. |
|
Pisces is also the sign of death in various aspects. The death of the body sometimes, or it may be that an old foolishness has come to an end, an undesirable friendship will cease, devotion to some religious form of thought that has held you will now [200] end and you will emerge and set your feet upon a new path. It is the sign of death to the personality. If we could give up the idea of the personality veils, we would be willing to let the personality go. It also means the death of a world savior for it is the sign of crucifixion and marks the end of a zodiacal cycle. |
Song Ngư cũng là dấu hiệu của cái chết dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Đôi khi đó là cái chết của thể xác, hoặc có thể là sự chấm dứt của một sự ngu muội cũ, một mối quan hệ không mong muốn kết thúc, hay sự tận hiến đối với một hình thức tư tưởng tôn giáo đã kìm giữ bạn giờ đây [200] chấm dứt, và bạn sẽ xuất hiện, đặt chân lên một con đường mới. Đây là dấu hiệu của cái chết đối với phàm ngã. Nếu chúng ta có thể từ bỏ ý niệm rằng phàm ngã là tấm màn che phủ, thì chúng ta sẽ sẵn lòng để buông bỏ nó. Nó cũng tượng trưng cho cái chết của một Đấng Cứu Thế thế gian, vì đây là dấu hiệu của sự đóng đinh và đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ hoàng đạo. |
|
There are three signs of salvation in the Zodiac. First, Leo, where the word goes out to the human being, “work out your own salvation”. So we have in Leo the man determined to stand on his own legs, he becomes bumptious and assertive but this is necessary to salvation because only by trying out his equipment will he arrive at the point where a broader view appears. The second sign of salvation is Sagittarius, the sign of service and silence, where the assertive man, tired of talking of himself and pushing himself forward, loses sight of himself in the goal and silently serves. Then we come to the third sign Pisces, that of world saviors. |
Có ba dấu hiệu của sự cứu rỗi trong Hoàng đạo. Thứ nhất là Sư Tử, nơi phát ra thông điệp đến con người: “Hãy tự thực hiện sự cứu rỗi của bạn.” Vì vậy, trong dấu hiệu Sư Tử, con người quyết tâm đứng vững trên đôi chân của mình, y trở nên kiêu hãnh và khẳng định bản thân, nhưng điều này là cần thiết cho sự cứu rỗi, vì chỉ khi thử nghiệm khả năng của mình, y mới đạt đến điểm nơi một tầm nhìn rộng lớn hơn xuất hiện. Dấu hiệu thứ hai của sự cứu rỗi là Nhân Mã, dấu hiệu của sự phụng sự và im lặng, nơi con người từng khẳng định cái tôi, sau khi đã mệt mỏi với việc nói về bản thân và tự đẩy mình lên trước, đánh mất chính mình trong mục tiêu và phụng sự một cách lặng lẽ. Sau đó, chúng ta đến với dấu hiệu thứ ba, Song Ngư, dấu hiệu của các Đấng Cứu Thế thế gian. |
|
The first constellation in Pisces is that curious cluster of stars called “The Band”, connecting the two fishes, one fish headed straight to the north and the other swimming on the horizon. The fish headed toward the north is the symbol of the aspirant to the mysteries while the fish on the horizon represents the average person. |
Chòm sao đầu tiên trong Song Ngư là cụm sao kỳ lạ có tên “Dải Băng,” kết nối hai con cá, một con hướng thẳng về phương bắc và con kia bơi theo đường chân trời. Con cá hướng về phương bắc là biểu tượng của người chí nguyện đang hướng về các huyền nhiệm, trong khi con cá trên đường chân trời đại diện cho con người trung bình. |
|
The second constellation is Andromeda, the chained woman. We have three women among the constellations, Cassiopeia in Aries representing matter seated in her chair, dominant; Coma Berenices in Virgo who sacrificed her hair to be of service, representing the soul only beginning to assert itself. Andromeda, the chained woman in Pisces represents matter harnessed. |
Chòm sao thứ hai là Andromeda, người phụ nữ bị xiềng xích. Có ba người phụ nữ trong các chòm sao: Cassiopeia trong Bạch Dương, tượng trưng cho vật chất ngự trên ngai của nó, đang thống trị; Coma Berenices trong Xử Nữ, người đã hiến dâng mái tóc của mình để phụng sự, tượng trưng cho linh hồn mới bắt đầu khẳng định chính nó; và Andromeda, người phụ nữ bị xiềng xích trong Song Ngư, đại diện cho vật chất đã được chế ngự. |
|
The third constellation in Pisces is the King named Cepheus, the husband of Cassiopeia and the father of Andromeda. This suggests that “The King” represents the Spirit or Father aspect. |
Chòm sao thứ ba trong Song Ngư là vị vua mang tên Cepheus, chồng của Cassiopeia và cha của Andromeda. Điều này gợi ý rằng “Nhà Vua” tượng trưng cho Khía cạnh Tinh thần hay Khía cạnh Cha. |
|
There is in nature the human kingdom and above it are other kingdoms, spiritual and cosmic, and below it there are the animal, vegetable and mineral kingdoms. The work of the intelligent sons of God is to act as transmitters, via the mind, of [201] spiritual energy, which will save and vitalize all lower kingdoms of nature. |
Trong thiên nhiên, có giới nhân loại, và bên trên nó là các giới tinh thần và vũ trụ, trong khi bên dưới nó là các giới động vật, thảo mộc và khoáng vật. Công việc của những người con thông tuệ của Thượng Đế là đóng vai trò như những kẻ truyền dẫn, thông qua trí tuệ, [201] năng lượng tinh thần, để cứu rỗi và tiếp sinh lực cho tất cả các giới thấp hơn trong thiên nhiên. |
The Second Coming of the Christ—Sự Tái Lâm của Đức Christ
|
How can the World Savior come? He might come as he came before, in a physical body with its incidental handicaps. There are emerging in the world today new faculties that were not demonstrating when he came before. We are much more sensitive than we ever were; we are wide open to each other’s thoughts for one thing, and if such a potent thinker as the Christ, whatever we may mean by that word, is en rapport with world affairs, it seems to me he might try another method. |
Làm thế nào Đấng Cứu Thế có thể đến? Ngài có thể đến theo cách Ngài đã đến trước đây, trong một thân xác vật lý với những hạn chế tất yếu của nó. Tuy nhiên, ngày nay, trên thế giới đang xuất hiện những năng lực mới mà trước đây chưa từng biểu lộ khi Ngài đến. Chúng ta nhạy cảm hơn bao giờ hết; chúng ta cởi mở với tư tưởng của nhau hơn, và nếu một tư tưởng gia đầy quyền năng như Đức Christ—dù chúng ta hiểu từ đó theo nghĩa nào đi nữa—có sự hoà hợp với các vấn đề thế giới, thì dường như Ngài có thể thử một phương pháp khác. |
|
He may work with his own in every land, over-shadowing his disciples wherever they are found, and because his soul and their souls are one, communicate to them the Plan, indicate to them the tendencies, give them the new message, and repeat himself in every country. It is already happening today. in every country there are to be found those who know; I did not say those who say they know. But there is a group of human beings, integrating now, who make no noise, are not interested in themselves, but upon whom is laid the burden of leading humanity. They are starting movements that have in them the new vibration, they are saying things that are universal in their tone, they are enunciating principles that are cosmic, they are inclusive and not exclusive, they do not care what terminology a man uses; they insist that a man shall keep his own inner structure of truth to himself and not impose it on any one else, they recognize each other wherever they meet, they speak a universal language, they demonstrate the universal light, they are servers and they have no interest in themselves. |
Ngài có thể làm việc với những người của Ngài ở mọi quốc gia, phủ bóng lên các đệ tử của Ngài ở bất cứ nơi nào họ được tìm thấy, và bởi vì linh hồn của Ngài và linh hồn của họ là một, Ngài có thể truyền đạt cho họ Thiên Cơ, chỉ ra những khuynh hướng, ban cho họ thông điệp mới, và lặp lại chính mình ở mỗi quốc gia. Điều này thực ra đã và đang diễn ra ngày nay. Ở khắp mọi nơi đều có những người biết—tôi không nói đến những người tuyên bố rằng họ biết. Nhưng có một nhóm người hiện đang tích hợp lại, những người không gây ồn ào, không quan tâm đến bản thân mình, nhưng đang gánh vác trọng trách lãnh đạo nhân loại. Họ đang khởi xướng những phong trào có rung động mới, họ đang nói những điều mang tính phổ quát, họ đang công bố những nguyên lý mang tính vũ trụ, họ bao trùm chứ không loại trừ, họ không bận tâm đến thuật ngữ mà một người sử dụng; họ nhấn mạnh rằng mỗi người nên giữ cấu trúc nội tại của chân lý cho riêng mình và không áp đặt nó lên bất kỳ ai khác. Họ nhận ra nhau bất cứ khi nào họ gặp gỡ, họ nói một ngôn ngữ phổ quát, họ thể hiện ánh sáng phổ quát, họ là những người phụng sự và không có chút quan tâm nào đến bản thân mình. |
|
I am convinced that no individual World Savior, utilizing a physical body, will come to us. I believe in that individual World Savior, but I believe that he will save the world through the group. I believe that he will work through his own; that he [202] is training people now so that the day will come when this group will be so potent through its silent meditation and the force of its world service, that it will be recognized as the Savior; but not in our day. |
Tôi tin chắc rằng sẽ không có một Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu đơn lẻ nào nhập thể trong một thân xác vật lý đến với chúng ta. Tôi tin vào một Đấng Cứu Thế thế gian, nhưng tôi tin rằng Ngài sẽ cứu thế giới thông qua nhóm. Tôi tin rằng Ngài sẽ làm việc thông qua những người của Ngài; rằng Ngài [202] đang đào luyện những con người ngay lúc này để đến một ngày nhóm này sẽ trở nên đầy quyền năng đến mức, thông qua tham thiền thầm lặng và sức mạnh của sự phụng sự thế gian, nó sẽ được công nhận là Đấng Cứu Thế—nhưng không phải trong thời đại của chúng ta. |
|
Editor’s Note: (written in 1958) |
Lời chú của Biên tập viên (viết năm 1958): |
|
When A.A.B. made this statement in 1936 it appears to have been the ashramic view that the status of humanity would not permit more than an over-shadowing by the Christ. When The Reappearance of the Christ, dictated by the Tibetan, appeared in 1948, the discipline of the war, the destruction of material values, the suffering and the mental growth of humanity had produced an effect which we are told exceeded the expectations of the Hierarchy. In the book on the reappearance the following statements are found: “The point of decision, as it is called in all hierarchical circles, was reached during the period the Full Moon of June 1936 and the Full Moon of June 1945. The point of decision covered, therefore, nine years, a relatively brief time; it resulted in the decision arrived at by the Christ to reappear or return to visible presence on Earth as soon as possible and considerably earlier than had been planned.” |
Khi Bà A.A.B. đưa ra tuyên bố này vào năm 1936, dường như quan điểm của ashram khi đó là tình trạng của nhân loại không cho phép có điều gì hơn ngoài sự phủ bóng của Đức Christ. Khi quyển Sự Tái Lâm Của Đức Christ, được Chân sư Tây Tạng truyền đạt, xuất bản vào năm 1948, người ta đã thấy rằng sự kỷ luật của chiến tranh, sự hủy hoại các giá trị vật chất, những đau khổ và sự trưởng thành về trí tuệ của nhân loại đã tạo ra một hiệu ứng vượt ngoài mong đợi của Thánh đoàn. Trong cuốn sách về sự tái lâm, có những tuyên bố sau đây: “Điểm quyết định, như nó được gọi trong tất cả các vòng tròn của Thánh đoàn, đã được đạt tới trong khoảng thời gian từ Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1936 đến Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945. Do đó, điểm quyết định này kéo dài trong chín năm, một khoảng thời gian tương đối ngắn; kết quả là quyết định của Đức Christ để tái xuất hay trở lại sự hiện diện hữu hình trên Trái Đất sớm nhất có thể và sớm hơn đáng kể so với kế hoạch ban đầu.” |
|
It is indeed a momentous thing to realize that humanity could so notably affect the time and manner of the reappearance of the Christ by a change in its receptivity. We have repeatedly been told that only humanity could condition these points. Here is a dramatic instance of humanity’s potential and responsibility in speeding up the evolutionary process. |
Đây thực sự là một điều trọng đại để nhận ra rằng nhân loại có thể ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian và cách thức của sự tái lâm của Đức Christ chỉ bằng cách thay đổi mức độ tiếp nhận của mình. Chúng ta đã nhiều lần được dạy rằng chỉ nhân loại mới có thể quyết định những thời điểm quan trọng này. Đây là một minh chứng đầy kịch tính về tiềm năng và trách nhiệm của nhân loại trong việc đẩy nhanh tiến trình tiến hóa. |
The New Group of World Servers—Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian
|
Such a group as has just been described already exists. There are two things for us to do. First, to learn to recognize the new note as it comes from disciples wherever found and, secondly, to fit ourselves to form part of that group. The hallmark of those people is not self-assertiveness; they are too busy doing salvage work to have time to talk about themselves. They work through meditation, which keeps them in touch with the spirituality that is themselves, and therefore is in touch with the Great Life, the World Savior, who pours his force and energy through them and toward the world. They orient their minds in that direction, serve intelligently and are not in a hurry. [203] |
Một nhóm như vừa được mô tả đã thực sự tồn tại. Có hai điều mà chúng ta cần làm. Trước hết, học cách nhận ra rung động mới khi nó phát ra từ các đệ tử ở bất kỳ đâu. Thứ hai, tự rèn luyện để trở thành một phần của nhóm đó. Dấu ấn của những con người này không phải là sự khẳng định bản thân; họ quá bận rộn với công việc cứu rỗi nên không có thời gian để nói về chính mình. Họ làm việc thông qua tham thiền, điều này giúp họ duy trì sự kết nối với phần tinh thần, vốn chính là bản thể của họ, và do đó duy trì sự liên hệ với Sự sống Vĩ đại, Đấng Cứu Thế Thế Gian, Đấng đổ tràn năng lượng và mãnh lực của Ngài qua họ và hướng đến thế gian. Họ định hướng tâm trí của họ theo hướng đó, phụng sự một cách thông tuệ và không vội vã. [203] |
|
The message that comes to them from the inner side is couched in the symbolic words, “What I tell you in the dark, that speak you in the light.” Each one will be told a different thing according to the need of the people around him, and will deliberately go into the dark in order to deliver a message in the light. Therefore, they are tied by no dogmas or doctrines because they have the word which has come to them in the dark, which they have wrought out for themselves in the strife and stress of their own souls. They meet the need of their fellow men, and theirs is the message of Christ, “A new commandment I give you that you love one another.” This is no sentiment. Let us be loving and kind. That is just decent behavior; but the love the Christ enunciated is an intelligent understanding and appreciation of the need of the individual just as you find him. When you are up against the desperate need of people you have no time to think about “being loving” in the usual sense. You can perhaps create such an atmosphere around yourself that they will think themselves through to their own solution. That is the real way to work. As long as you are occupied with being loving you are occupied with your own personality. |
Thông điệp đến với họ từ thế giới nội giới được diễn đạt bằng những lời mang tính biểu tượng: “Điều ta nói với các con trong bóng tối, hãy tuyên bố nó trong ánh sáng.” Mỗi người sẽ nhận được một thông điệp khác nhau tùy theo nhu cầu của những người xung quanh mình, và họ sẽ chủ động đi vào bóng tối để rồi truyền tải thông điệp trong ánh sáng. Do đó, họ không bị ràng buộc bởi bất kỳ giáo điều hay tín lý nào, vì họ đã nhận được lời dạy trong bóng tối, điều mà họ đã tự mình thấu hiểu qua những đấu tranh và thử thách nội tâm. Họ đáp ứng nhu cầu của đồng loại, và thông điệp của họ là thông điệp của Đức Christ: “Ta ban cho các con một điều răn mới, rằng các con hãy yêu thương lẫn nhau.” Điều này không phải là tình cảm hời hợt. Chúng ta hãy yêu thương và nhân từ. Đó chỉ là hành vi đúng đắn thông thường, nhưng tình yêu mà Đức Christ nhấn mạnh chính là sự thấu hiểu thông tuệ và sự trân trọng đối với nhu cầu của mỗi cá nhân, đúng với bản chất của họ. Khi đối diện với nhu cầu cấp bách của nhân loại, bạn sẽ không có thời gian để suy nghĩ về việc “cảm thấy yêu thương” theo nghĩa thông thường. Bạn có thể tạo ra một bầu không khí xung quanh mình đến mức họ tự mình tìm ra giải pháp cho vấn đề của họ. Đó mới là cách làm việc thực sự. Chừng nào bạn còn bị ám ảnh bởi việc “thể hiện tình yêu”, thì bạn vẫn chỉ đang bận tâm với chính phàm ngã của mình. |
|
“A new commandment I give you” can be summed up in “inclusiveness”, the hallmark of the New Age, the universal spirit, identification, oneness with all your fellowmen. That is love and it will keep you busy; you will have no time to talk about love, you will be busy doing things, big things and little things, unimportant and important things. |
Câu nói “Ta ban cho các con một điều răn mới” có thể được tóm gọn trong từ “bao gồm”, dấu ấn của Kỷ Nguyên Mới, tinh thần phổ quát, sự đồng nhất, hợp nhất với toàn thể đồng loại. Đó chính là tình yêu thương, và nó sẽ khiến bạn luôn bận rộn; bạn sẽ không có thời gian để nói về tình thương mà sẽ phải hành động—từ những việc lớn đến những việc nhỏ nhặt, từ những điều không quan trọng đến những điều quan trọng. |
|
How shall we fit ourselves to meet that requirement, to possess those characteristics which automatically put us into the group of world servers? You will never get there by talking about it, or by theoretical appreciation of the problem. You will get there by doing the next thing correctly. That sounds very uninteresting, but whatever is your duty, do it. Cultivate the right inner attitude and be wide open to all your fellow men. Learn to meditate, and really learn to meditate. I am not [204] talking of entering into the silence, of sitting down and having a blissful and peaceful time emoting, hoping that you will get up feeling better. Meditation when rightly carried forward is hard mental work for it means orienting the mind to the soul, and you cannot do it. It means that when you have learned to focus your mind on the soul you must hold it steady, which you cannot do; and when you have learned to do that you must learn to listen in your mind to what the soul is telling you, and that you cannot do. Then you must learn to take what the soul has told you and form it into words and phrases and throw it down into your waiting brain. That is meditation, and it is by following that process that you will become a world server for you will then be the force of what you have accomplished. You will automatically find yourself over-shadowed by that Great One whose mission it is to lift humanity out of darkness into light, from.the unreal into the real. [205] |
Vậy, chúng ta phải rèn luyện bản thân như thế nào để đáp ứng yêu cầu đó, để sở hữu những phẩm chất sẽ tự động đưa chúng ta vào nhóm những người phụng sự thế gian? Bạn sẽ không đạt được điều đó bằng cách chỉ nói về nó, hay chỉ đánh giá lý thuyết về vấn đề này. Bạn sẽ đạt được điều đó bằng cách làm đúng đắn mọi việc kế tiếp. Điều đó nghe có vẻ không hấp dẫn, nhưng bất cứ điều gì là bổn phận của bạn, hãy làm nó. Hãy rèn luyện thái độ nội tâm đúng đắn và mở lòng với toàn thể đồng loại. Hãy học tham thiền, và thực sự học tham thiền. Tôi không [204] nói về việc đi vào im lặng, ngồi xuống và có một khoảng thời gian an lạc, yên bình và chìm trong cảm xúc, hy vọng rằng bạn sẽ cảm thấy tốt hơn khi đứng dậy. Khi được thực hành đúng đắn, tham thiền là một công việc trí tuệ đầy thử thách, vì nó đòi hỏi phải định hướng tâm trí về phía linh hồn—và bạn không thể làm điều đó ngay lập tức. Nó có nghĩa là khi bạn đã học cách tập trung tâm trí vào linh hồn, bạn phải giữ nó vững vàng—điều mà bạn cũng chưa thể làm được. Và khi bạn đã học cách giữ vững nó, bạn phải học cách lắng nghe trong tâm trí điều mà linh hồn đang nói với bạn—và đó là điều bạn vẫn chưa làm được. Sau đó, bạn phải học cách lấy những điều linh hồn đã nói với bạn, định hình chúng thành từ ngữ và câu, rồi truyền tải chúng xuống bộ não đang chờ đợi của mình. Đó chính là tham thiền, và chính bằng cách thực hành quy trình này, bạn sẽ trở thành một người phụng sự thế gian, bởi khi đó bạn sẽ là hiện thân của những gì bạn đã đạt được. Bạn sẽ tự động nhận thấy bản thân được phủ bóng bởi Đấng Vĩ Đại, Đấng có sứ mệnh nâng nhân loại ra khỏi bóng tối để bước vào ánh sáng, từ điều hư ảo đến điều chân thực. [205] |
|
Lecture by A.A.B.—1936. Edited and condensed. |
Bài giảng của A.A.B.—1936. Được biên tập và cô đọng. |
The Purpose of the Study of the Hercules Myth—Mục đích của việc Nghiên cứu Thần Thoại Hercules
|
(The following material was prepared by Dorothea Cochran at Mrs. Bailey’s request and was found among her papers. This excerpt seems to provide an appropriate concluding note for the Hercules series.) |
(Tài liệu sau đây được soạn thảo bởi Dorothea Cochran theo yêu cầu của bà Bailey và được tìm thấy trong các tài liệu của bà. Đoạn trích này dường như là một kết thúc thích hợp cho loạt bài về Hercules.) |
|
The first scriptures for the human race were written by God on the Earth and Heavens. The reading of these Scriptures is Science. Familiarity with the grass and trees, the insects and the infusoria, teaches us deeper lessons of love and faith than we can glean from the writings of Fénelon and Augustine. The great Bible of God is ever open before mankind. |
Những kinh điển đầu tiên dành cho nhân loại đã được Thượng Đế khắc ghi trên Đất và Trời. Việc đọc những kinh điển này chính là Khoa Học. Sự quen thuộc với cỏ cây, côn trùng và vi sinh vật dạy chúng ta những bài học sâu sắc về tình yêu và đức tin hơn bất kỳ điều gì ta có thể thu nhận từ các tác phẩm của Fénelon và Augustine. Đại Thánh Kinh của Thượng Đế luôn rộng mở trước nhân loại. |
|
– Albert Pike. |
— Albert Pike. |
|
The heavens declare the glory of God; and the firmament sheweth his handywork. |
“Các tầng trời tường thuật vinh quang của Thượng Đế; bầu trời tuyên bố công trình của Ngài.” |
|
– Psalm 19, 1. |
— Thi Thiên 19:1 |
|
The progress of a world disciple is illustrated in the heavens by the Labors of Hercules through the zodiacal signs. It is as though God had pictured in space his Plan for the working out of the evolution of the human spirit back to its source. |
Sự tiến bộ của một đệ tử thế giới được minh hoạ trên các tầng trời qua những Kỳ Công của Hercules khi chàng đi qua các dấu hiệu hoàng đạo. Dường như Thượng Đế đã phác hoạ trong không gian Kế Hoạch của Ngài cho việc triển khai tiến trình tiến hoá của tinh thần con người, đưa nó quay trở về nguồn cội của mình. |
|
The intense interest evinced at this time in the spiritual life is, in itself, the warrant for such a study as the Labors of Hercules. Academic, dogmatic and theological religion has no longer its ancient appeal but, in spite of a widespread revolt against organized, or ecclesiastical religion, the urge towards the spiritual realities has never been more keen than it is today. The period of empirical experience on a large scale is with us. Men and women everywhere are refusing any longer to believe the authoritative pronouncements of the churches or to accept blindly the dicta of any theology. They are determined to know for themselves the facts of the inner mystical experience, if such facts can be ascertained, and to grasp for themselves the nature of that identity which we call the soul. |
Sự quan tâm mãnh liệt đối với đời sống tinh thần vào thời điểm này chính là bằng chứng rõ ràng cho giá trị của một nghiên cứu như Những Kỳ Công của Hercules. Những tôn giáo mang tính học thuật, giáo điều và thần học không còn hấp dẫn như xưa, nhưng mặc dù có sự chống đối rộng khắp đối với các tôn giáo có tổ chức hay hệ thống giáo hội, sự khát khao hướng đến những thực tại tinh thần chưa bao giờ mãnh liệt như ngày nay. Chúng ta đang sống trong thời kỳ của những trải nghiệm thực nghiệm trên quy mô lớn. Khắp nơi, những người nam và nữ không còn chấp nhận những tuyên bố đầy quyền uy của các giáo hội, cũng như không còn tin tưởng mù quáng vào bất kỳ tín lý thần học nào. Họ quyết tâm tự mình khám phá các sự thật về trải nghiệm nội tâm huyền bí—nếu những sự thật đó có thể được xác minh—và tự mình nắm bắt bản chất của bản thể mà chúng ta gọi là linh hồn. |
|
The world setting is ripe for a renewal of a living faith and religion which will be based upon personal knowledge and not upon the pronouncements and the interpretations of limited minds. Dr. Rufus Jones, the great Quaker leader, calls attention to this fact in words which are worth noting: |
Bối cảnh thế giới hiện nay đã sẵn sàng cho một sự đổi mới về niềm tin và tôn giáo sống động, một tôn giáo dựa trên tri thức cá nhân thay vì những tuyên bố và sự diễn giải hạn hẹp của con người. Tiến sĩ Rufus Jones, vị lãnh đạo Quaker vĩ đại, đã nhấn mạnh thực tế này bằng những lời đáng lưu ý. |
|
“…an outbreak of mysticism is always a sign that the soul of man is uttering a vigoros protest against the encroachment of some organized system of life… which threatens to leave scant scope and area for its own free initiative and its spontaneous creative activity. It is a proclamation that the soul has certain inherent rights and capacities, a dominion of its own, which must be respected and held sacred. Sometimes mysticism has been the protest of man’s spirit against the hardening crust of dogma, sometimes a revolt against ecclesiasticism.” |
“… sự bùng phát của chủ nghĩa thần bí luôn là dấu hiệu cho thấy linh hồn con người đang lên tiếng phản kháng mạnh mẽ trước sự xâm lấn của một hệ thống tổ chức nào đó trong đời sống… hệ thống ấy đe dọa thu hẹp phạm vi và không gian cho sự chủ động tự do và hoạt động sáng tạo tự phát của linh hồn. Đó là một tuyên ngôn khẳng định rằng linh hồn có những quyền và khả năng vốn có, một lãnh địa của riêng mình, điều phải được tôn trọng và xem là thiêng liêng. Đôi khi, chủ nghĩa thần bí chính là sự phản kháng của tinh thần con người trước lớp vỏ giáo điều ngày càng cứng rắn, đôi khi đó là một cuộc nổi dậy chống lại hệ thống giáo hội.” |
|
The Philosophic Basis of Mysticism by T.H. Hughes, page 46. |
— Nền tảng Triết học của Chủ nghĩa Thần bí, T.H. Hughes, trang 46. |
|
In days of darkness and apparent spiritual deadness, this revival of interest in the higher realities inevitably appears, guaranteeing that the spirit of man is on its way, and that the reality remains unchanged behind the changing surface of material events. The very need of the hour calls for the sounding of a clear note and to the newly emerging mystic and knower is given the task of this sounding. “What we find in the mystic is an intensified organ for the affirmation of the reality of God and for the richer interpretation of His character.” With these clear words, Dr. Jones calls our attention to the work eternally done in the spiritual field by the awakened seeker. |
Trong những thời kỳ tăm tối và khi đời sống tinh thần dường như cằn cỗi, sự hồi sinh mối quan tâm đến các thực tại cao siêu luôn xuất hiện một cách tất yếu, đảm bảo rằng tinh thần con người vẫn tiếp tục hành trình của nó, và rằng thực tại vẫn không thay đổi đằng sau bề mặt biến động của các sự kiện vật chất. Chính nhu cầu của thời đại kêu gọi sự vang lên của một âm hưởng rõ ràng, và trách nhiệm phát ra âm hưởng đó được trao cho những nhà thần bí và những bậc thức giả mới xuất hiện. “Những gì chúng ta tìm thấy ở nhà thần bí là một cơ quan nhạy bén hơn để khẳng định thực tại của Thượng Đế và để diễn giải phong phú hơn về bản tính của Ngài.” Với những lời lẽ rõ ràng này, Tiến sĩ Rufus Jones nhắc chúng ta nhớ về công việc vĩnh cửu được thực hiện trong lĩnh vực tinh thần bởi những người tìm kiếm đã thức tỉnh. |
|
Truth is, phoenix-like, emerging anew in the field of human experience, but it will be the truth which is felt and known and not the truth which is enforced through authoritarianism and ancient tradition; for truth, as Bernard Shaw tells us, is “what you know by your experience to be true and feel in your soul to be true”. Such renewals of the spiritual life of the race are [207] recurrent and cyclic; they can be of an emotional or an intellectual nature but they serve to lead the subjective life of the race into a new and richer phase of experience, and to offset, and sometimes to interpret, the more material and scientific paralleling trends which can be seen. |
Chân lý, tựa như phượng hoàng, đang tái sinh trong lĩnh vực trải nghiệm nhân loại, nhưng đó sẽ là chân lý được cảm nhận và được nhận biết, chứ không phải chân lý bị áp đặt thông qua quyền uy hay truyền thống cổ xưa. Vì chân lý, như Bernard Shaw nói, là “những gì bạn biết là đúng dựa trên kinh nghiệm của bạn, và những gì bạn cảm nhận trong linh hồn mình là chân lý.” Những sự đổi mới trong đời sống tinh thần của nhân loại [207] luôn tái diễn theo chu kỳ; chúng có thể mang tính cảm xúc hoặc trí tuệ, nhưng chúng phục vụ mục đích dẫn dắt đời sống nội tại của nhân loại vào một giai đoạn trải nghiệm mới và phong phú hơn. Đồng thời, chúng cũng có thể hóa giải hoặc thậm chí diễn giải những xu hướng khoa học và vật chất đang song hành trong thế giới. |
|
The problem of every writer and teacher today is to discover new ways in which to express the same foundational truths, and so to present the ancient formulas and rules of the road which will lead man to the next stage in his spiritual development. The old truths will then acquire new meanings and vibrate with fresh life. There have been many books written upon the subject of the Path of Discipleship. Restatement of the problems to be encountered upon the universal Path, and analysis of the difficulties to be faced whilst treading it is not warranted, unless the application can be general, practical and couched in such terms that meets the need of the modern student. A study of the Twelve Labors of Hercules, covering as they do every aspect of the disciple’s life, may enable us to achieve a different attitude and release us into that joy on the Path and that freedom in service which is a more than adequate compensation for the temporary losses and momentary distresses which may try the lower nature. |
Vấn đề của mỗi nhà văn và huấn sư ngày nay là khám phá những cách thức mới để diễn đạt những chân lý nền tảng, nhằm trình bày lại các công thức cổ xưa và những quy luật trên Đường Đạo theo cách có thể dẫn dắt con người đến giai đoạn tiếp theo trong sự phát triển tinh thần của họ. Những chân lý xưa cũ khi đó sẽ mang những ý nghĩa mới và rung động với sức sống tươi mới. Đã có nhiều cuốn sách viết về Con Đường Đệ Tử. Việc nhắc lại các vấn đề phải đối mặt trên Đường Đạo phổ quát, hay phân tích những khó khăn trong quá trình dấn bước trên đó, là không cần thiết trừ khi những điều đó có thể được ứng dụng một cách phổ quát, thực tiễn và được trình bày bằng những thuật ngữ phù hợp với nhu cầu của người học hiện đại. Một nghiên cứu về Mười Hai Công Việc của Hercules, bao quát mọi khía cạnh trong đời sống của một đệ tử, có thể giúp chúng ta đạt được một thái độ khác và giải phóng chúng ta vào niềm hoan hỷ trên Đường Đạo, cùng với sự tự do trong phụng sự—đây chính là sự đền bù xứng đáng cho những mất mát tạm thời và những thử thách thoáng qua mà bản chất thấp có thể phải trải qua. |
|
One of the great revelations which has come almost unnoticed to humanity during the past century has been the slow dawning upon our consciousness of the fact of our own inherent essential divinity. Men are recognizing that they are in very truth “made in the image of God”, and are one in nature with their Father in Heaven. Today also, the purposes and plans underlying God’s creative work are being studied widely from both the scientific and religious angles, bringing definite changes in man’s attitude to life as a whole. It is this unfolding plan for man, individual and racial, that is revealed in the story of this ancient Son of God. We are given a synthetic and complete picture of the progress of the soul from ignorance to wisdom, [208] from material desire to spirit aspiration, and from the blindness of infant humanity to the pure vision of those who see God. A point is reached in the story where intelligent cooperation with soul purpose takes the place of blind endeavor and struggle, and Hercules, who is a Son of God as well as a son of man, can proceed upon the Way with his face turned towards the light, irradiated by the joy of those who know. |
Một trong những sự mặc khải vĩ đại đã đến với nhân loại trong thế kỷ qua, nhưng gần như không được chú ý, chính là sự thức tỉnh chậm rãi trong tâm thức về bản chất thiêng liêng vốn có của chính chúng ta. Con người đang nhận ra rằng họ thực sự “được tạo dựng theo hình ảnh của Thượng Đế”, và rằng họ đồng nhất trong bản chất với Cha Trên Trời của họ. Ngày nay, những mục đích và kế hoạch nền tảng của công cuộc sáng tạo của Thượng Đế đang được nghiên cứu rộng rãi từ cả góc độ khoa học và tôn giáo, mang lại những thay đổi rõ rệt trong thái độ của con người đối với cuộc sống nói chung. Chính kế hoạch tiến hóa dành cho nhân loại—cả cá nhân lẫn tập thể—được mặc khải trong câu chuyện về Người Con Thiêng Liêng cổ xưa này. Chúng ta được trao một bức tranh tổng hợp và hoàn chỉnh về tiến trình của linh hồn—từ vô minh đến minh triết, [208] từ dục vọng vật chất đến khát vọng tinh thần, và từ sự mù quáng của nhân loại sơ khai đến nhãn quang trong sáng của những người nhìn thấy Thượng Đế. Có một điểm trong câu chuyện mà ở đó, sự hợp tác thông tuệ với mục đích của linh hồn thay thế cho nỗ lực mù quáng và đấu tranh. Khi đó, Hercules—người vừa là Con của Thượng Đế, vừa là con của nhân loại—có thể tiếp tục hành trình trên Đường Đạo với khuôn mặt hướng về ánh sáng, được chiếu rọi bởi niềm hoan hỷ của những người đã đạt đến sự hiểu biết. |
|
This old tale leaves untouched no phases in the life of the aspirant and yet links him ceaselessly with cosmic enterprise. Its theme will be found to be so inclusive that all of us, immersed in the problems of life, can make application to ourselves of the tests and trials, the failures and achievements of this heroic figure, who strove, centuries ago, towards the same goal as we are striving. Through the reading of this story, fresh interest in the spiritual life may be evoked in the mind of the bewildered aspirant, and he will go forward with fresh courage as he gains a sequential picture of universal development and destiny. |
Câu chuyện cổ này không bỏ qua bất kỳ khía cạnh nào trong đời sống của người chí nguyện, đồng thời liên kết y một cách không ngừng nghỉ với sứ mệnh vũ trụ. Chủ đề của nó bao quát đến mức tất cả chúng ta—những người đang chìm đắm trong những vấn đề của cuộc sống—đều có thể áp dụng những thử thách và gian nan, những thất bại và thành tựu của nhân vật anh hùng này vào chính bản thân mình. Hàng thế kỷ trước, Hercules đã nỗ lực hướng đến cùng một mục tiêu mà chúng ta đang phấn đấu ngày nay. Thông qua việc đọc câu chuyện này, một mối quan tâm mới đối với đời sống tinh thần có thể được khơi dậy trong tâm trí của người chí nguyện đang bối rối, và y sẽ tiếp tục tiến lên với lòng can đảm mới khi có được một bức tranh theo trình tự về sự phát triển và vận mệnh phổ quát. |
|
We find, as we study this ancient myth that Hercules undertook certain tasks, symbolic in nature but universal in character, and that he passed through certain episodes and events which portray, for all time, the nature of the training and the attainments which should characterize a son of God, marching on towards perfection. He stands for the incarnated but not yet perfected Son of God, who, at a particular stage in the evolutionary cycle, takes his lower nature in hand and willingly subjects himself to the discipline which will eventually bring about the emergence of his innate divinity. Out of an erring but sincerely earnest human being, intelligently aware of the work to be done, a World Savior is created, and we see in the last two labors how that work of saving was carried out. |
Khi nghiên cứu huyền thoại cổ xưa này, chúng ta thấy rằng Hercules đã đảm nhận những nhiệm vụ nhất định, mang tính biểu tượng nhưng có tính phổ quát, và rằng chàng đã trải qua những sự kiện và thử thách phản ánh một cách vĩnh cửu bản chất của sự huấn luyện và những thành tựu nên có của một Con của Thượng Đế đang tiến bước trên con đường hoàn thiện. Chàng đại diện cho một Con của Thượng Đế đã nhập thế nhưng chưa đạt đến sự toàn thiện—một người, ở một giai đoạn nhất định trong chu kỳ tiến hóa, quyết tâm kiểm soát bản chất thấp của mình và tự nguyện tuân theo kỷ luật sẽ giúp biểu lộ thiên tính vốn có của chàng. Từ một con người đầy sai lầm nhưng chân thành và nghiêm túc, với nhận thức thông tuệ về công việc cần làm, một Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu được tạo thành. Và trong hai công việc cuối cùng của Hercules, chúng ta chứng kiến cách mà sứ mệnh cứu độ đó đã được thực hiện. |
|
Three great and dramatic stories have been told constantly to mankind down the ages: those of Hercules, the Buddha and the Christ, each of them portraying one of the stages upon the Path of Divinity. In the story of Hercules, we have portrayed for us the experiences of the Path of Discipleship and the early [209] stages of the Path of Initiation. In the case of the Buddha, the story starts later than that of Hercules and we see the Buddha achieve final illumination, passing through initiations of which Hercules knew nothing. Then came the historic Christ, embodying in Himself something so ineffable that we regard Him, in a unique way, as the representative of God. These three stories progressively reveal God’s plan for man’s development, and call us to follow in the steps of Hercules, who trod the Path of Discipleship and attained his goal. |
Ba câu chuyện vĩ đại và đầy kịch tính đã được kể lại cho nhân loại qua các thời đại: câu chuyện của Hercules, Đức Phật và Đức Christ—mỗi câu chuyện đều minh họa một giai đoạn trên Con Đường Thiêng Liêng. Trong câu chuyện về Hercules, chúng ta thấy được những trải nghiệm trên Con Đường Đệ Tử và những [209] giai đoạn đầu tiên của Con Đường Điểm Đạo. Trong trường hợp của Đức Phật, câu chuyện bắt đầu muộn hơn so với Hercules, và chúng ta chứng kiến Ngài đạt đến sự giác ngộ tối thượng, vượt qua những lần điểm đạo mà Hercules chưa từng biết đến. Sau đó là Đức Christ lịch sử, Đấng đã hiện thân một điều gì đó quá ư huyền nhiệm đến mức chúng ta xem Ngài, theo một cách đặc biệt, là Đại diện của Thượng Đế. Ba câu chuyện này tuần tự tiết lộ Thiên Cơ về sự phát triển của nhân loại, và mời gọi chúng ta noi theo bước chân của Hercules—người đã dấn bước trên Con Đường Đệ Tử và đạt đến mục tiêu của mình. |
|
The oracle has spoken and down the centuries the cry has gone forth: “Know thyself”. This knowledge is the outstanding attainment upon the Path of Discipleship, and it is seen how sequentially and intelligently Hercules attained this knowledge. We see him passing around the great pathway of the heavens and in each sign performing one of the twelve labors, which all disciples are called upon to perform. We see him from two viewpoints: that of the individual disciple and that of humanity as a whole, the great world disciple of which he is the prototype. It is possible to regard humanity as having reached, en masse, the stage of the aspirant, and to regard the race as standing upon the probationary path, the path of purification. If suffering is the great purifier, then the above statement is indeed true. Men today are intelligent, earnestly seeking a way out from the present material impasse and learning to coordinate their abilities and capacities, mental, emotional and physical, in an effort to rise above all that has hitherto held them down to earth. This stage has always been expressed by the more advanced types of men, but never before has the entire human family been in this condition. Herein lies the wonder of past achievement, and herein lies the hour of our wonderful opportunity. |
Lời sấm truyền đã vang lên, và xuyên suốt các thế kỷ, tiếng kêu gọi đã được cất lên: “Hãy tự biết mình.” Đây là sự hiểu biết nổi bật nhất mà người đệ tử đạt được trên Con Đường Đệ Tử, và chúng ta thấy rõ Hercules đã đạt được sự hiểu biết này một cách tuần tự và thông tuệ như thế nào. Chúng ta thấy chàng đi vòng quanh con đường vĩ đại của thiên giới và trong mỗi dấu hiệu hoàng đạo, chàng thực hiện một trong mười hai công việc—những công việc mà tất cả các đệ tử đều được kêu gọi để hoàn thành. Hercules có thể được nhìn nhận từ hai góc độ: với tư cách là một đệ tử cá nhân và với tư cách là biểu tượng của toàn thể nhân loại—Đệ tử Hoàn Cầu vĩ đại, mà chàng là nguyên mẫu. Có thể coi nhân loại, xét trên bình diện tổng thể, đã đạt đến giai đoạn của người chí nguyện và đang đứng trên Con Đường Dự Bị—Con Đường của sự thanh luyện. Nếu đau khổ là phương tiện thanh luyện vĩ đại, thì tuyên bố trên quả thực là đúng. Ngày nay, con người có trí tuệ, đang nỗ lực nghiêm túc để tìm ra lối thoát khỏi bế tắc vật chất hiện tại, và họ đang học cách phối hợp các khả năng trí tuệ, cảm xúc và thể xác của mình nhằm vượt lên trên tất cả những gì đã từng giữ họ lại trên mặt đất. Giai đoạn này từ lâu đã được biểu hiện bởi những con người tiến hóa cao, nhưng chưa bao giờ toàn thể nhân loại lại đồng loạt rơi vào trạng thái này như bây giờ. Chính trong sự thật này mà ta thấy được kỳ công của những thành tựu trong quá khứ, và chính trong đó ta nhận ra cơ hội phi thường của thời đại chúng ta. |
|
We find Hercules starting at this point and passing through varying experiences until he comes to the open door in Leo, through which he can pass onto the Path of Discipleship. We see him learning the lessons of equilibrium, of selflessness and [210] of victory over the desire nature until he becomes the one-pointed disciple in Sagittarius, prior to passing through the gate which leads to the mount of initiation. Slowly and painfully, he learns the lesson that competition and selfish grasping must disappear and that the seizing of anything for the separated lower self is no part of the mission of a son of God. He finds himself as an individual only to discover that individualism must be intelligently sacrificed to the good of the group; he learns that personal greed has no place in the life of the aspirant who is seeking liberation from the ever recurring cycle of existence and constant crucifixion upon the cross of matter and form. The characteristics of the man immersed in form life and under the rule of matter are fear, individual competition and greed. These have to give place to spiritual confidence, cooperation, group awareness and selflessness. These are the lessons which Hercules brings to us. |
Chúng ta thấy Hercules bắt đầu hành trình từ điểm này và trải qua nhiều trải nghiệm khác nhau cho đến khi chàng bước qua cánh cửa rộng mở trong dấu hiệu Sư Tử, cho phép chàng tiến vào Con Đường Đệ Tử. Chúng ta thấy chàng học những bài học về quân bình, về sự vô ngã, và [210] về chiến thắng bản chất dục vọng của mình, cho đến khi chàng trở thành một đệ tử nhất tâm trong dấu hiệu Nhân Mã, trước khi bước qua cánh cổng dẫn đến đỉnh điểm đạo. Một cách chậm rãi và đầy gian khổ, chàng học được bài học rằng cạnh tranh và lòng tham vị kỷ phải biến mất, và rằng việc chiếm đoạt bất cứ thứ gì cho phàm ngã riêng biệt của mình không thuộc về sứ mệnh của một Con của Thượng Đế. Chàng tìm thấy bản ngã cá nhân của mình, chỉ để rồi nhận ra rằng chủ nghĩa cá nhân phải được hy sinh một cách thông tuệ vì lợi ích của nhóm. Chàng hiểu rằng lòng tham cá nhân không có chỗ trong đời sống của người chí nguyện đang tìm kiếm sự giải thoát khỏi chu kỳ tồn tại lặp đi lặp lại và sự đóng đinh liên tục trên thập giá của vật chất và hình tướng. Những đặc điểm của một con người bị nhấn chìm trong đời sống hình tướng và bị cai trị bởi vật chất là sự sợ hãi, sự cạnh tranh cá nhân và lòng tham. Những điều này phải được thay thế bằng sự tự tin tinh thần, sự hợp tác, nhận thức nhóm và tinh thần vô ngã. Đây chính là những bài học mà Hercules mang đến cho chúng ta. |
|
This is also the story of the cosmic Christ, crucified from the beginning of creation upon the fixed cross of the heavens. This is the story of the historical Christ, given us in the gospel story and enacted for us two thousand years ago in Palestine, when our sun entered the sign of the world Savior, the sign of Pisces, the fishes. This is the story of every individual man, crucified upon the cross of matter and of existence, and discovering that he is in truth a son of God incarnated in each human being. God, incarnate in matter. Such is the story of the solar system, the story of our planet, the story of every man. As we look at the starry heavens above us, we have this great drama, eternally pictured for us. [211] |
Đây cũng là câu chuyện về Đức Christ Vũ Trụ, Đấng đã bị đóng đinh ngay từ buổi sơ khai của công cuộc sáng tạo trên Thập Giá Cố Định của thiên giới. Đây là câu chuyện về Đức Christ lịch sử, được ghi lại trong các sách Phúc Âm và được tái hiện cách đây hai nghìn năm tại Palestine, khi mặt trời của chúng ta tiến vào dấu hiệu của Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu—dấu hiệu Song Ngư, biểu tượng của hai con cá. Đây cũng là câu chuyện của mỗi con người, bị đóng đinh trên thập giá của vật chất và của sự tồn tại, để rồi khám phá rằng y thực sự là một Con của Thượng Đế nhập thế trong mỗi hình hài con người—Thượng Đế, hóa thân trong vật chất. Đó chính là câu chuyện của hệ mặt trời, câu chuyện của hành tinh chúng ta, và câu chuyện của từng con người. Khi ngước nhìn bầu trời đầy sao trên cao, chúng ta thấy vở kịch vĩ đại này được tái hiện mãi mãi trước mắt mình. [211] |
Summary of Lessons learned in each Zodiacal Sign
|
The following abstract of notes on the zodiacal signs is offered as a basis for further study and quick reference. |
Bản tóm lược sau đây về các ghi chú liên quan đến các dấu hiệu hoàng đạo được đưa ra như một cơ sở để nghiên cứu sâu hơn và tra cứu nhanh. |
|
Aries, the Ram |
Bạch Dương, Con Cừu Đực |
|
Element: Fire sign (as are also Leo and Sagittarius). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành hỏa (cũng như Sư Tử và Nhân Mã). |
|
Quality: Initiating. Beginnings. Will or Power expresses itself through the great creative processes. In the early stages, activities are directed toward the material side of life; later, toward the spiritual. |
Phẩm chất: Khởi xướng. Bắt đầu. Ý chí hoặc Quyền năng thể hiện qua các tiến trình sáng tạo vĩ đại. Ở các giai đoạn đầu, hoạt động hướng đến khía cạnh vật chất của đời sống; sau đó, hướng đến tinh thần. |
|
Polar Opposite: Libra. An air sign (balance). |
Đối cực: Thiên Bình. Dấu hiệu hành khí (cân bằng). |
|
Rulers: Exoteric, Mars; Esoteric, Mercury. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Sao Hỏa; Nội môn, Sao Thủy. |
|
Keywords: |
Từ khóa: |
|
From the angle of form, “Let form again be sought”; |
o Từ góc độ hình tướng: “Hãy để hình tướng một lần nữa được tìm kiếm.” |
|
from the angle of soul, “I come forth and from the plane of mind, I rule”. |
o Từ góc độ linh hồn: “Tôi xuất hiện và từ cõi trí Tôi cai quản.” |
|
Taurus, the Bull |
Kim Ngưu, Con Bò Đực |
|
Element: Earth sign (as are also Virgo and Capricorn). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành thổ (cũng như Xử Nữ và Ma Kết). |
|
Quality: Desire, for the mass of men; will or directed purpose for the disciple. |
Phẩm chất: Dục vọng, đối với đại chúng; ý chí hoặc mục đích định hướng, đối với đệ tử. |
|
Polar Opposite: Scorpio, water sign (conflict of duality; desire overcome; triumphant discipleship). |
Đối cực: Hổ Cáp, dấu hiệu hành thủy (xung đột nhị nguyên; dục vọng được vượt qua; đời sống đệ tử chiến thắng). |
|
Rulers: Exoteric, Venus; Esoteric, Vulcan. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Sao Kim; Nội môn, Vulcan. |
|
Keywords: |
Từ khóa: |
|
From the angle of form, “Let struggle be undismayed”; |
o Từ góc độ hình tướng: “Hãy để cuộc đấu tranh không nao núng.” |
|
from the angle of soul, “I see and when the Eye is opened, all is illumined”. |
o Từ góc độ linh hồn: “Tôi thấy, và khi con mắt mở ra, mọi sự đều được soi sáng.” |
|
Gemini, the Twins |
Song Tử, Cặp Song Sinh |
|
Element: Air sign (as are also Libra and Aquarius). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành khí (cũng như Thiên Bình và Bảo Bình). |
|
Quality: Duality. Love-Wisdom. Fluidity. Control of every pair of opposites. The underlying love of Deity reaches our solar system through Gemini. |
Phẩm chất: Nhị nguyên. Bác Ái – Minh Triết. Linh hoạt. Kiểm soát mọi cặp đối lập. Tình yêu nền tảng của Thượng Đế đến với hệ mặt trời của chúng ta qua Song Tử. |
|
Polar Opposite: Sagittarius. A fire sign (one-pointedness; preparation for initiation). |
Đối cực: Nhân Mã, dấu hiệu hành hỏa (nhất tâm; chuẩn bị cho điểm đạo). |
|
Rulers: Exoteric, Mercury; Esoteric, Venus. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Sao Thủy; Nội môn, Sao Kim. |
|
Keywords: |
Từ khóa: |
|
From the angle of form, “Let instability do its work”; |
o Từ góc độ hình tướng: “Hãy để sự bất ổn làm công việc của nó.” |
|
from the angle of soul, “I recognize my other [212] self and in the waning of that self I grow and glow”. |
o Từ góc độ linh hồn: “Tôi nhận ra cái [212] ngã kia của mình và trong sự suy tàn của cái ngã ấy, Tôi tăng trưởng và rực sáng.” |
|
Cancer, the Crab |
Cự Giải, Con Cua |
|
Element: Water sign (as are also Scorpio and Pisces). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành thủy (cũng như Hổ Cáp và Song Ngư). |
|
Quality: Mass sensitivity; for the average man, mass identification with form; for the disciple, service for the masses. |
Phẩm chất: Nhạy cảm với quần chúng; đối với người bình thường, sự đồng nhất của quần chúng với hình tướng; đối với đệ tử, phụng sự quần chúng. |
|
Polar Opposite: Capricorn. An earth sign (spiritual awareness after struggle; birthplace of the Christ). |
Đối cực: Ma Kết, dấu hiệu hành thổ (ý thức tinh thần sau khi đấu tranh; nơi khai sinh của Đức Christ). |
|
Rulers: Exoteric, the Moon; Esoteric, Neptune. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Mặt Trăng; Nội môn, Hải Vương Tinh. |
|
Keywords: |
Từ khóa: |
|
From the angle of form, “Let isolation be the rule, and yet the crowd exists”; |
o Từ góc độ hình tướng: “Hãy để sự cô lập là quy luật, tuy vậy đám đông vẫn tồn tại.” |
|
from the angle of soul, “I build a lighted house and therein dwell”. |
o Từ góc độ linh hồn: “Tôi xây một ngôi nhà được thắp sáng và ngự trong đó.” |
|
Leo, the Lion |
Sư Tử, Con Sư Tử |
|
Element: Fire sign (as are also Aries and Sagittarius). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành hỏa (cũng như Bạch Dương và Nhân Mã). |
|
Quality: Sensitivity leading to individual awareness. Emergence out of the herd. Self-consciousness. Self assertion. |
Phẩm tính: Nhạy cảm dẫn đến ý thức cá nhân. Thoát ra khỏi bầy đàn. Ngã thức. Khẳng định bản thân. |
|
Polar Opposite: Aquarius. An air sign (group awareness, world service. |
Đối cực: Bảo Bình. Một dấu hiệu hành khí (ý thức nhóm, phụng sự thế giới). |
|
Rulers: Exoteric and Esoteric are the same, the Sun. |
Chủ tinh: Ngoại môn và nội môn đều giống nhau, Mặt Trời. |
|
Keywords: From the angle of form, “Let other forms exist, I am because I am”; from the angle of soul, “I am That and That am I”. |
Từ khóa: Từ góc độ hình tướng, “Hãy để các hình tướng khác tồn tại, Tôi là vì Tôi là”; từ góc độ linh hồn, “Tôi là Cái Đó và Tôi cũng là Cái Đó”. |
|
Virgo, the Virgin |
Xử Nữ, Trinh Nữ |
|
Element: Earth sign (as are also Taurus and Capricorn). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành thổ (cũng như Kim Ngưu và Ma Kết). |
|
Quality: The unique service in Virgo is that both the form and the spirit are nurtured, shielding “Christ in you the hope of glory”. |
Phẩm tính: Sự phụng sự độc đáo của Xử Nữ là nuôi dưỡng cả hình tướng và tinh thần, che chở “Đức Christ trong các bạn, niềm hy vọng về vinh quang”. |
|
Polar Opposite: Pisces. A water sign (Christ consciousness revealed as a World Savior). |
Đối cực: Song Ngư. Một dấu hiệu hành thủy (tâm thức Christ được bày tỏ như một Đấng Cứu Thế của thế gian). |
|
Rulers: Exoteric, Mercury; Esoteric, the Moon. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Thủy Tinh; Nội môn, Mặt Trăng. |
|
Keywords: From the angle of form, “Let matter reign”; from the angle of soul, “I am the Mother and the Child. I, God, I, matter am”. [213] |
Từ khóa: Từ góc độ hình tướng, “Hãy để vật chất thống trị”; từ góc độ linh hồn, “Tôi là Mẹ và là Con. Tôi, Thượng đế, Tôi là vật chất”. [213] |
|
Libra, the Balance |
Thiên Bình, Cái Cân |
|
Element: Air sign (as are also Gemini and Aquarius). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành khí (cũng như Song Tử và Bảo Bình). |
|
Quality: Equilibrium. An interlude where duality is known and the life of soul and form is balanced (Law, Sex, Money). |
Phẩm tính: Cân bằng. Một giai đoạn tạm dừng nơi nhị nguyên được nhận biết và đời sống của linh hồn và hình tướng được cân bằng (Luật, Tính dục, Tiền bạc). |
|
Polar Opposite: Aries. A fire sign (subjective, latent consciousness, will to incarnate). |
Đối cực: Bạch Dương. Một dấu hiệu hành hỏa (tâm thức chủ quan, tiềm ẩn, ý chí để nhập thể). |
|
Rulers: Exoteric, Venus; Esoteric, Uranus. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Kim Tinh; Nội môn, Thiên Vương Tinh. |
|
Keywords: From the angle of form, “Let choice be made”; from the angle of soul. “I choose the way which leads between the two great lines of force”. |
Từ khóa: Từ góc độ hình tướng, “Hãy để sự chọn lựa được thực hiện”; từ góc độ linh hồn, “Tôi chọn con đường đi giữa hai lực tuyến lớn”. |
|
Scorpio, the Scorpion |
Hổ Cáp, Con Bọ Cạp |
|
Element: Water sign (as are also Cancer and Pisces). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành thủy (cũng như Cự Giải và Song Ngư). |
|
Quality: Conflict. Test. Trial. Triumph. Points of crisis. Moments of reorientation. Turning point in the life of humanity and of the individual. Hercules became the triumphant disciple in Scorpio. |
Phẩm tính: Xung đột. Thử thách. Thử nghiệm. Chiến thắng. Những điểm khủng hoảng. Những khoảnh khắc tái định hướng. Bước ngoặt trong đời sống của nhân loại và cá nhân. Hercules trở thành đệ tử chiến thắng trong Hổ Cáp. |
|
Polar Opposite: Taurus. An earth sign (desire, and growth of soul light). |
Đối cực: Kim Ngưu. Một dấu hiệu hành thổ (dục vọng và sự phát triển ánh sáng linh hồn). |
|
Rulers: Exoteric and Esoteric, the same, Mars. |
Chủ tinh: Ngoại môn và nội môn giống nhau, Hỏa Tinh. |
|
Keywords: From the angle of form, “Let Maya flourish and let deception rule”; from the angle of soul, “Warrior I am and from the battle I emerge triumphant”. |
Từ khóa: Từ góc độ hình tướng, “Hãy để ảo lực sinh sôi và sự lừa dối cai trị”; từ góc độ linh hồn, “Tôi là chiến binh, và từ trận chiến Tôi bước ra trong chiến thắng”. |
|
Sagittarius, the Archer |
Nhân Mã, Người Cung Thủ |
|
Element: Fire sign (as are also Aries and Leo). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành hỏa (cũng như Bạch Dương và Sư Tử). |
|
Quality: Focused direction. One-pointed activity. In the early stages, satisfaction of desire; in later stages aspiration for the goal of initiation. |
Phẩm tính: Định hướng tập trung. Hoạt động nhất tâm. Trong giai đoạn đầu, thỏa mãn dục vọng; ở các giai đoạn sau, khát vọng hướng đến mục tiêu điểm đạo. |
|
Polar Opposite: Gemini. An air sign (eventual control of fluidity and pairs of opposites; fusion, synthesis, at-one-ment). |
Đối cực: Song Tử. Một dấu hiệu hành khí (sự kiểm soát cuối cùng đối với tính lưu động và cặp đôi đối lập; sự dung hợp, tổng hợp, hợp nhất). |
|
Rulers: Exoteric, Jupiter; Esoteric, Earth. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Mộc Tinh; Nội môn, Địa Cầu. |
|
Keywords: From the angle of form, “Let food be sought”; from the angle of soul, “I see the goal. I reach that goal and then I see another”. [214] |
Từ khóa: Từ góc độ hình tướng, “Hãy tìm kiếm thức ăn”; từ góc độ linh hồn, “Tôi thấy mục tiêu. Tôi đạt mục tiêu và thấy một mục tiêu khác”. [214] |
|
Capricorn, the Goat |
Ma Kết, Con Dê |
|
Element: Earth sign (as are also Taurus and Virgo). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành thổ (cũng như Kim Ngưu và Xử Nữ). |
|
Quality: Extreme characteristics of the worst and best types. Ambition. Crystallization. Struggle overcome. Transfiguration. Initiate consciousness. “The unicorn of God.” |
Phẩm tính: Các đặc tính cực đoan của cả hai loại tốt nhất và tệ nhất. Tham vọng. Kết tinh. Cuộc đấu tranh được vượt qua. Sự biến hình. Tâm thức điểm đạo đồ. “Con kỳ lân của Thượng Đế”. |
|
Polar Opposite: Cancer. A water sign (first door to incarnation). |
Đối cực: Cự Giải. Một dấu hiệu hành thủy (cánh cửa đầu tiên để nhập thể). |
|
Rulers: Exoteric and Esoteric the same, Saturn. |
Chủ tinh: Ngoại môn và nội môn giống nhau, Thổ Tinh. |
|
Keywords: From the angle of form, “Let ambition rule and let the door stand wide”; from the angle of soul, “Lost am I in light supernal, yet on that light I turn my back”. |
Từ khóa: Từ góc độ hình tướng, “Hãy để tham vọng cai quản và cánh cửa mở rộng”; từ góc độ linh hồn, “Tôi chìm trong ánh sáng thiên thượng, thế nhưng Tôi quay lưng lại ánh sáng đó”. |
|
Aquarius, the Water Carrier |
Bảo Bình, Người Mang Nước |
|
Element: Air sign (as are also Gemini and Libra). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành khí (cũng như Song Tử và Thiên Bình). |
|
Quality: Will to serve, first the lower self, then the higher Self. World service. Individual consciousness transmuted into group consciousness. |
Phẩm tính: Ý chí phụng sự, trước tiên là phàm ngã, sau đó là chân ngã. Phụng sự thế gian. Tâm thức cá nhân được chuyển hóa thành tâm thức nhóm. |
|
Polar Opposite: Leo, A fire sign (individual awareness; urge toward self-knowledge; eventual self-mastery preparatory to selfless service). |
Đối cực: Sư Tử. Một dấu hiệu hành hỏa (ý thức cá nhân; thôi thúc hướng đến tự tri; cuối cùng là tự chủ, chuẩn bị cho sự phụng sự vô ngã). |
|
Rulers: Exoteric, Uranus; Esoteric, Jupiter. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Thiên Vương Tinh; Nội môn, Mộc Tinh. |
|
Keywords: From the angle of form, “Let desire in form be the rule”; from the angle of soul, “Water of Life am I, poured forth for thirsty men”. |
Từ khóa: Từ góc độ hình tướng, “Hãy để dục vọng trong hình tướng là quy luật”; từ góc độ linh hồn, “Tôi là nước của sự sống, tuôn chảy cho những người đang khát”. |
|
Pisces, the Fishes |
Song Ngư, Hai Con Cá |
|
Element: Water sign (as are also Cancer and Scorpio). |
Nguyên tố: Dấu hiệu hành thủy (cũng như Cự Giải và Hổ Cáp). |
|
Quality: Duality. Fluidity endowed with instinctual consciousness. Mediumistic. Polarized mind unawakened. Intuition dormant. Death of the personality. Release of the soul from captivity. Christ, the World Savior. |
Phẩm tính: Nhị nguyên. Tính lưu động được ban cho tâm thức bản năng. Tính đồng cốt. Thể trí phân cực nhưng chưa thức tỉnh. Trực giác còn ngủ yên. Sự chết của phàm ngã. Sự giải thoát linh hồn khỏi giam cầm. Đức Christ, Đấng Cứu Thế của thế gian. |
|
Polar Opposite: Virgo. An earth sign (matter; Christ in the cave of the heart). |
Đối cực: Xử Nữ. Một dấu hiệu hành thổ (vật chất; Đức Christ trong hang động của trái tim). |
|
Rulers: Exoteric, Jupiter; Esoteric, Pluto. |
Chủ tinh: Ngoại môn, Mộc Tinh; Nội môn, Diêm Vương Tinh. |
|
Keywords: Keywords: From the angle of form, “Go forth into matter”; from the angle of soul, I leave my Father’s home and turning back, I save”. [215] |
Từ khóa: Từ góc độ hình tướng, “Hãy đi vào vật chất”; từ góc độ linh hồn, “Tôi rời Nhà Cha, và khi quay lại, Tôi cứu rỗi”. [215] |
The Path of the Soul through the Zodiac
|
“The path of souls to ascension lies through the twelve signs of the Zodiac… the descending path is the same.” |
“Con đường của các linh hồn hướng đến thăng thiên đi qua mười hai dấu hiệu của Hoàng Đạo… con đường đi xuống cũng giống như vậy.” |
|
– Clement of Alexandria |
— Clement thành Alexandria |
|
Editor’s Note: Lest we be lost in the colorful labors of Hercules, and the marvels of this allegory of the labors of all disciples on their evolutionary way, or be confined to the personal correlation with our own sun sign in this one incarnation, it seems wise to turn our thoughts to the deeper significance of the energies of these signs which fall upon our little planet, and the use we make of them. The larger picture of the effect on world and racial evolution should receive our thought. The Tibetan tells us that all depends upon our degree of receptivity and response, which is determined by our status of evolution. |
Lời của Biên tập viên: Để tránh bị lạc lối trong những Kỳ Công huyền diệu của Hercules, trong những điều kỳ diệu của câu chuyện ngụ ngôn về những công việc lao động của tất cả các đệ tử trên con đường tiến hóa của họ, hoặc bị giới hạn trong mối liên hệ cá nhân với dấu hiệu Mặt Trời của chính mình trong kiếp sống hiện tại, có lẽ chúng ta nên hướng tư tưởng của mình đến ý nghĩa sâu xa hơn của các năng lượng thuộc các dấu hiệu này, vốn chiếu xuống hành tinh nhỏ bé của chúng ta, và cách chúng ta sử dụng chúng. Bức tranh rộng lớn hơn về ảnh hưởng của chúng đối với sự tiến hóa thế giới và nhân loại đáng để chúng ta suy ngẫm. Chân sư Tây Tạng dạy rằng tất cả phụ thuộc vào mức độ tiếp nhận và phản ứng của chúng ta, điều này được xác định bởi trình độ tiến hóa của mỗi người. |
|
In the life of Hercules, the soul in incarnation, and his progress round the Zodiac from Aries to Pisces on the reversed wheel, the path of the disciple, it might be helpful to briefly define the Zodiac so that we can follow his labors intelligently. It might also be of benefit to ascertain whether, in our western Christian tradition, there are indications of the influence of the ancient science of astrology. |
Trong cuộc đời của Hercules, linh hồn trong trạng thái nhập thể, và sự tiến bộ của chàng qua Hoàng Đạo từ Bạch Dương đến Song Ngư theo vòng bánh xe đảo ngược, tức con đường của đệ tử, có lẽ sẽ hữu ích khi chúng ta định nghĩa sơ lược về Hoàng Đạo để có thể theo dõi một cách sáng suốt những công việc của chàng. Cũng sẽ có lợi nếu xem xét liệu trong truyền thống Cơ Đốc giáo phương Tây, có dấu hiệu nào cho thấy ảnh hưởng của khoa chiêm tinh học cổ đại hay không. |
|
There have been many definitions of the word “Zodiac”. The most usual is as follows: |
Đã có nhiều định nghĩa về từ “Hoàng Đạo”. Định nghĩa phổ biến nhất như sau: |
|
“… the word is derived from the Greek ‘zodian’, a little animal, full expression being the zodiacal circle, or circle of animals. This was an imaginary belt in the sky, formed by two circles equidistant from the ecliptic and about eighteen degrees apart, which marked out the path of the sun either in its annual revolution when the twelve divisions indicated the succession of months in the year, or in its diurnal course, when the divisions marked the hours of the day and night.” |
“… từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ‘zodian’, nghĩa là một con vật nhỏ, và cụm từ đầy đủ là ‘vòng tròn Hoàng Đạo’, hay ‘vòng tròn của các loài vật’. Đây là một dải tưởng tượng trên bầu trời, được hình thành bởi hai vòng tròn cách đều đường hoàng đạo và cách nhau khoảng mười tám độ, đánh dấu đường đi của Mặt Trời, hoặc trong vòng quay hàng năm của nó—khi mười hai phân đoạn biểu thị sự kế tiếp của các tháng trong năm—hoặc trong chu kỳ hàng ngày của nó—khi các phân đoạn này đánh dấu các giờ của ngày và đêm.” |
|
Astrology, the Link between Two Worlds. by S. Elizabeth Hall, M.A. |
— Astrology, the Link between Two Worlds, S. Elizabeth Hall, M.A. |
|
Valentia Stratton might also be quoted here: |
Valentia Stratton cũng có thể được trích dẫn ở đây: |
|
“…in astronomy, says science, the Zodiac is an imaginary [216] belt in the heavens, sixteen or eighteen degrees broad, through the middle of which passes the sun’s path (the ecliptic). It contains the twelve constellations, which constitute the twelve signs of the Zodiac, and from which they are named…. The astrological Zodiac proper, however, is an imaginary circle passing around the earth in the plane of the ecliptic, its first point being called Aries, 0 degrees. It is divided into twelve equal parts called ‘signs of the Zodiac’, each containing thirty degrees of space, and on it is measured the right ascension of the celestial bodies. The movable or natural Zodiac is a succession of constellations forming a belt of 47 degrees in width, lying north and south of the ecliptic.” |
“… Trong thiên văn học, khoa học cho rằng Hoàng Đạo là một [216] dải tưởng tượng trên bầu trời, rộng khoảng mười sáu đến mười tám độ, giữa đó là đường đi của Mặt Trời (hoàng đạo). Nó chứa mười hai chòm sao tạo nên mười hai dấu hiệu của Hoàng Đạo và được đặt tên theo các chòm sao đó… Tuy nhiên, Hoàng Đạo chiêm tinh học thực chất là một vòng tròn tưởng tượng bao quanh Trái Đất trên mặt phẳng hoàng đạo, điểm đầu tiên của nó được gọi là Bạch Dương, 0 độ. Nó được chia thành mười hai phần bằng nhau gọi là ‘dấu hiệu Hoàng Đạo’, mỗi phần chứa ba mươi độ không gian, và trên đó, xích kinh của các thiên thể được đo lường. Hoàng Đạo tự nhiên hoặc di động là một dãy các chòm sao tạo thành một dải rộng 47 độ, nằm về phía bắc và nam của hoàng đạo.” |
|
Glossary of The Celestial Ship of the North. |
— Glossary of The Celestial Ship of the North |
|
Walter H. Sampson gives us a very simple explanation of the imaginary belt. He says: |
Walter H. Sampson đưa ra một giải thích đơn giản về dải tưởng tượng này: |
|
“The Zodiac, properly speaking, is that belt of the heavens through which passes the apparent path of the sun; its point of commencement is the Vernal Equinox which, as we know, is in continuous retrograde movement through a circle of constellations which lie near the ecliptic. The Zodiac is divided into twelve equal portions of thirty degrees each, corresponding loosely to the twelve constellations of Aries, Taurus, Gemini, Cancer, Leo, Virgo, Libra, Scorpio, Sagittarius, Capricorn, Aquarius and Pisces.” |
“Hoàng Đạo, đúng nghĩa, là dải bầu trời mà qua đó đường đi biểu kiến của Mặt Trời đi qua; điểm khởi đầu của nó là Xuân phân, mà như chúng ta biết, đang liên tục chuyển động giật lùi qua một vòng các chòm sao gần hoàng đạo. Hoàng Đạo được chia thành mười hai phần bằng nhau, mỗi phần ba mươi độ, tương ứng một cách gần đúng với mười hai chòm sao: Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Xử Nữ, Thiên Bình, Hổ Cáp, Nhân Mã, Ma Kết, Bảo Bình và Song Ngư.” |
|
The Zodiac: A Life Epitome. |
— The Zodiac: A Life Epitome |
|
Alan Leo tells us also: |
Alan Leo cũng nói rằng: |
|
“…the constellations are groups of fixed stars, the twelve central groups being called by the same names as the twelve signs, although they do not cover the same area of the heavens. The precession of the equinoxes, caused by the ‘motion’ of the sun through space, makes the constellations appear to move forward against the order of the signs at the rate of 50 1/3 seconds per year.” |
“… Các chòm sao là các nhóm sao cố định, mười hai nhóm chính được gọi bằng cùng tên với mười hai dấu hiệu, mặc dù chúng không chiếm cùng khu vực trên bầu trời. Sự tiến động của các điểm phân, do sự ‘chuyển động’ của Mặt Trời trong không gian, khiến các chòm sao có vẻ như di chuyển về phía trước theo thứ tự ngược lại với các dấu hiệu, với tốc độ 50 1/3 giây mỗi năm.” |
|
Dictionary of Astrology, p. 204. |
— Dictionary of Astrology, tr. 204 |
|
Another point to be remembered is made by Alan Leo in the following: [217] |
Một điểm khác cũng cần được ghi nhớ, như Alan Leo đã đề cập: [217] |
|
“The twelve constellations form the Zodiac of the whole solar system… just as the rotation of the earth makes the signs rise and set, a new sign being on the ascendant every two hours on an average; so, as the result of the precession, the far greater circle of the constellations passes across the earth’s ascendant, the equinoctial point, the beginning of the Zodiac. In this way, the great day of precession, comprising over twenty-five thousand of our years, corresponds with one of our days, because during that period all the twelve constellations rise and set once.” Ibid, p. 167 |
“Mười hai chòm sao tạo thành Hoàng Đạo của toàn bộ hệ mặt trời… giống như sự quay của Trái Đất khiến các dấu hiệu mọc lên và lặn xuống, một dấu hiệu mới xuất hiện tại điểm mọc trung bình mỗi hai giờ; thì do sự tiến động, vòng tròn lớn hơn của các chòm sao cũng di chuyển qua điểm mọc của Trái Đất, điểm Xuân phân, điểm khởi đầu của Hoàng Đạo. Theo cách này, đại chu kỳ tiến động kéo dài hơn hai mươi lăm nghìn năm của chúng ta tương ứng với một ngày của chúng ta, vì trong khoảng thời gian đó, tất cả mười hai chòm sao mọc và lặn một lần.” — Ibid, tr. 167 |
|
The second thing, therefore, to remember is that there are two Zodiacs, the greater and the lesser. The former comprises the twelve constellations through which the sun and planetary system appear to pass in a great cycle of over 25,000 years. The latter is the same circle of constellations through which the earth appears to pass in its annual revolution around the sun, and it is upon this that the astrologers base their predictions and cast the horoscope. Thus we have in these two Zodiacs the symbol of the progress of the Life informing a solar system, a planet and a man. |
Vì vậy, điều thứ hai cần ghi nhớ là có hai Hoàng Đạo: Hoàng Đạo lớn và Hoàng Đạo nhỏ. Hoàng Đạo lớn bao gồm mười hai chòm sao mà Mặt Trời và hệ hành tinh của chúng ta dường như đi qua trong một chu kỳ lớn kéo dài hơn 25.000 năm. Hoàng Đạo nhỏ là cùng một vòng chòm sao mà Trái Đất dường như đi qua trong quỹ đạo hàng năm quanh Mặt Trời, và trên cơ sở này, các nhà chiêm tinh đưa ra dự đoán và lập lá số chiêm tinh. Như vậy, trong hai Hoàng Đạo này, chúng ta có biểu tượng về sự tiến hóa của Sự Sống thông qua một hệ mặt trời, một hành tinh và một con người. |
|
“As the earth in its yearly journey around the sun passes through a sign of the Zodiac each month, so does our solar system during its great journey around the central sun of the universe (Alcyone) pass through each sign of the Zodiac; but in this greater cycle instead of a month our solar system requires approximately two thousand and sixty years to traverse each sign.” |
“Giống như Trái Đất trên hành trình hàng năm quanh Mặt Trời đi qua một dấu hiệu Hoàng Đạo mỗi tháng, thì hệ mặt trời của chúng ta trong chuyến hành trình vĩ đại quanh Mặt Trời trung tâm của vũ trụ (Alcyone) cũng đi qua từng dấu hiệu Hoàng Đạo; nhưng trong chu kỳ lớn hơn này, thay vì một tháng, hệ mặt trời của chúng ta cần khoảng hai nghìn sáu mươi năm để đi qua mỗi dấu hiệu.” |
|
The Message of Aquaria, p. 23,by Homer Curtiss. |
— The Message of Aquaria, tr. 23, Homer Curtiss |
|
An interesting and more probable definition of the word “Zodiac” is given by Dr. Ethelbert Bullinger in his book The Witness of the Stars. He says: |
Một định nghĩa thú vị và có lẽ xác thực hơn về từ “Hoàng Đạo” được đưa ra bởi Tiến sĩ Ethelbert Bullinger trong cuốn The Witness of the Stars. Ông viết: |
|
“The word Zodiac itself is from the Greek ‘Zodiakon’, which is not from ‘zoon’ ‘to live’, but from a primitive root, through the Hebrew ‘sodi’, which in Sanskrit means ‘a way. Its [218] etymology has no connection with living creatures, but denotes a way, or steps and is used for the way or path which the sun appears to follow amongst the stars in the course of a year.” |
“Từ Hoàng Đạo xuất phát từ tiếng Hy Lạp ‘Zodiakon’, không phải từ ‘zoon’ (sống), mà từ một gốc nguyên thủy, thông qua tiếng Hebrew ‘sodi’, có nghĩa là ‘một con đường’ trong tiếng Sanskrit. Từ nguyên [218] của nó không có mối liên hệ nào với các sinh vật sống, mà biểu thị một con đường, hay những bước đi, và được dùng để chỉ con đường mà Mặt Trời dường như theo giữa các ngôi sao trong một năm.” |
|
The Zodiac, therefore, is the Path or Way. When Christ spoke to His disciples as the Cosmic Christ, He told them “I am the Way”, and to this it is possible to give an astrological significance, for all three types of lives tread this cosmic Way, the Cosmic Christ, the Planetary Spirit and the human being. |
Do đó, Hoàng Đạo chính là Đạo Lộ. Khi Đức Christ, với tư cách Đức Christ Vũ Trụ, nói với các đệ tử rằng “Ta là Đường Đi”, có thể điều này mang ý nghĩa chiêm tinh, vì ba loại sự sống—Đức Christ Vũ Trụ, Chân Linh Hành Tinh và con người—đều bước đi trên con đường vũ trụ này. |
|
It is interesting to note that the Zodiac is spoken of as an illusion and as an imaginary path, an appearance. Webster’s Dictionary, for instance, defines the Zodiac as “the imaginary path of the sun through the heavens”, and in all books of reference upon the subject the emphasis is laid upon the fact that it is all appearance, the great illusion. One writer tells us that: |
Thật thú vị khi lưu ý rằng Hoàng Đạo được nhắc đến như một ảo tưởng và một con đường tưởng tượng, một biểu kiến. Từ điển Webster, chẳng hạn, định nghĩa Hoàng Đạo là “con đường tưởng tượng của Mặt Trời qua bầu trời”, và trong tất cả các tài liệu tham khảo về chủ đề này, trọng tâm đều nhấn mạnh vào thực tế rằng đó chỉ là biểu kiến, là đại ảo tưởng. Một tác giả đã viết: |
|
“… to the astronomer the Zodiac is merely the pathway of the sun, the moon and the planets, possessing no more reality than the tracks of liners shown upon an atlas for the information of the intending travellers.” |
“… Đối với nhà thiên văn học, Hoàng Đạo đơn thuần là lối đi của Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh, không có thực tại nào hơn những tuyến đường của tàu biển được vẽ trên bản đồ để hướng dẫn những người sắp du hành.” |
|
The Zodiac and the Soul, p. 1by C.E.O. Carter |
— The Zodiac and the Soul, tr. 1, C.E.O. Carter |
|
As we study this imaginary path two thoughts emerge. We are brought face to face with the concept of a steady and unceasing progression around and around this vast belt of constellations. The idea of eternal recurrence and of constant activity, bringing with it, we hope and believe, a constant development, gives us a grasp of the magnitude of the One Life and a vision of an ever-emerging plan and purpose, which embodies the intelligent working out of God’s thought. |
Khi chúng ta nghiên cứu con đường tưởng tượng này, hai ý tưởng nảy sinh. Chúng ta đối diện trực tiếp với khái niệm về một sự tiến triển liên tục và không ngừng nghỉ quanh dải chòm sao rộng lớn này. Ý tưởng về sự tái diễn vĩnh viễn và hoạt động không ngừng, cùng với đó, chúng ta hy vọng và tin tưởng vào một sự phát triển không ngừng, giúp chúng ta có cái nhìn sâu rộng hơn về Sự Sống Duy Nhất và nhận ra một kế hoạch cũng như mục đích đang dần được hé lộ, thể hiện sự vận hành thông tuệ của tư tưởng Thượng Đế. |
|
The second idea, which found such a strong response in the human mind that it constitutes what is called “the science of astrology” and forms its basic premise, is that each of these signs, through which the sun and earth appear to pass, are embodiments of energies which have a potent effect upon all forms of life on our planet, and upon the world of ideas. [219] |
Ý tưởng thứ hai, điều đã gây được tiếng vang mạnh mẽ trong tâm trí con người đến mức nó tạo thành cái gọi là “khoa chiêm tinh học” và trở thành tiền đề cơ bản của nó, chính là việc mỗi dấu hiệu trong số này—nơi mà Mặt Trời và Trái Đất dường như đi qua—đều là những hiện thân của các năng lượng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các hình thái sự sống trên hành tinh chúng ta, cũng như đối với thế giới tư tưởng. [219] |
|
Humanity, it is contended, has been and is affected by energies contacted by our solar system as it passes in and out of the various constellations. If this is a fact, and if we can get a wide enough retrospect, it should surely be possible to demonstrate the truth of this contention. |
Người ta cho rằng nhân loại đã và đang chịu ảnh hưởng của các năng lượng mà hệ Mặt Trời tiếp xúc khi nó đi vào và ra khỏi các chòm sao khác nhau. Nếu điều này là sự thật, và nếu chúng ta có thể nhìn lại đủ xa, chắc chắn sẽ có thể chứng minh được tính xác thực của luận điểm này. |
|
How then can these energies be effective? It is said that it is through the thought form that they are transmitted. We glibly use the phrase, “energy follows thought”. Here the reality of this belief is put to a cosmic test. Death is also said to be “a figment of our imagination”. |
Vậy thì những năng lượng này có thể tác động như thế nào? Người ta nói rằng chúng được truyền qua hình tư tưởng. Chúng ta thường dễ dàng sử dụng cụm từ, “năng lượng theo sau tư tưởng”. Ở đây, thực tế của niềm tin này được đặt vào một thử nghiệm mang tính vũ trụ. Cái chết cũng được cho là “một sản phẩm của trí tưởng tượng chúng ta.” |
Testimony as to the Effectiveness of Zodiacal Energies on Earth Life
|
In the larger picture certain interesting facts emerge. We can say, for instance, that between four and five thousand years ago the sun was somewhere in the sign Taurus, the Bull. Then we had the worship of the bull in Egypt and in India, and the sacrifice of the sacred ox, as in the Mysteries of Mithras. |
Trong bức tranh tổng thể, một số sự kiện thú vị xuất hiện. Chẳng hạn, chúng ta có thể nói rằng cách đây khoảng bốn đến năm nghìn năm, Mặt Trời nằm đâu đó trong dấu hiệu Kim Ngưu, con bò đực. Khi đó, ta thấy có sự thờ cúng bò đực ở Ai Cập và Ấn Độ, cũng như việc hiến tế con bò thiêng trong các Bí nhiệm Mithras. |
|
Approximately two thousand years before the birth of Christ, astronomers tell us, the sun passed into the sign Aries, the Ram or Lamb, and the Jewish dispensation came into being. At that time, therefore, we have the inauguration of the Jewish Passover and the lamb sacrifice. It is interesting to note in this connection the true significance of the sin of the Children of Israel in the wilderness. We read that they made a golden calf and fell down and worshipped it, thus reverting in this act to ancient forms and sacrifices. Their sin consisted in a reactionary attitude and in not grasping the significance of the new age which was upon them. |
Khoảng hai nghìn năm trước khi Đức Christ ra đời, các nhà thiên văn học cho biết Mặt Trời đã chuyển vào dấu hiệu Bạch Dương, con cừu đực hay con chiên, và hệ thống tôn giáo Do Thái bắt đầu hình thành. Thời điểm đó, chúng ta có lễ Vượt Qua của người Do Thái và nghi thức hiến tế chiên con. Thật thú vị khi lưu ý đến ý nghĩa thực sự của tội lỗi của con cái Israel trong hoang mạc. Chúng ta đọc thấy rằng họ đã đúc một con bê vàng và cúi xuống thờ lạy nó, qua đó quay trở lại với những hình thức và nghi lễ hiến tế cổ xưa. Tội lỗi của họ nằm ở thái độ phản động và không nắm bắt được ý nghĩa của thời đại mới đang đến với họ. |
|
Again the astronomers tell us that, when Christ was born in Palestine, the date from which our Christian dispensation starts, the sun passed in to the sign Pisces, the Fishes. We have, therefore, the emphasis laid in the Gospel story upon the fish symbology. Christ chose fishermen to be among His disciples; He performed miracles with fishes; He sent His disciples out into the world to be fishers of men; for nearly two thousand years it [220] has been customary to eat fish on Good Friday and on fast days. So we find the lamb sacrifice following upon the bull sacrifice, and the fish symbol upon that of the lamb, and this as the sun passed apparently from Taurus into Aries and from Aries into Pisces. |
Tiếp tục, các nhà thiên văn học nói rằng khi Đức Christ ra đời ở Palestine—thời điểm đánh dấu khởi đầu kỷ nguyên Cơ Đốc giáo—Mặt Trời đã đi vào dấu hiệu Song Ngư, hai con cá. Vì vậy, ta thấy trong các sách Phúc Âm có nhấn mạnh đến biểu tượng cá. Đức Christ đã chọn những ngư phủ làm môn đồ của Ngài; Ngài thực hiện các phép lạ với cá; Ngài sai các môn đồ đi khắp thế gian để trở thành “những kẻ đánh lưới người”; trong gần hai nghìn năm, [220] vào Thứ Sáu Tuần Thánh và các ngày ăn chay, người ta vẫn thường ăn cá. Như vậy, ta thấy sự thay thế lần lượt của biểu tượng: nghi lễ hiến tế chiên con kế tục nghi lễ hiến tế bò, và biểu tượng cá lại thay thế biểu tượng chiên con, khi Mặt Trời dường như di chuyển từ Kim Ngưu sang Bạch Dương, rồi từ Bạch Dương sang Song Ngư. |
|
Now we are passing into the sign Aquarius, the water carrier, though we have not yet entered fully into that sign, a process that will take approximately a further two hundred years. We are informed by the astronomers that we began to transit into that sign about two hundred years ago, and it is discernible how, since then, Aquarius, the water carrier, has begun to make his presence felt in the development of sanitation and the prolific use of water. But Aquarius is an air sign and the skies are full of aircraft. Even, therefore, in its exoteric forms, the influence of the signs is surely substantiated and there is a real foundation for the claim of the esotericist that each new sign brings to the earth distinctive energies, new concepts and new opportunities. |
Giờ đây, chúng ta đang bước vào dấu hiệu Bảo Bình, người mang nước, dù chưa hoàn toàn đi vào dấu hiệu này, một quá trình sẽ kéo dài khoảng hai trăm năm nữa. Các nhà thiên văn học cho biết quá trình chuyển tiếp này đã bắt đầu từ khoảng hai trăm năm trước, và chúng ta có thể thấy rõ rằng kể từ đó, Bảo Bình—người mang nước—đã bắt đầu để lại dấu ấn của mình trong sự phát triển của vệ sinh và việc sử dụng nước một cách rộng rãi. Nhưng Bảo Bình là một dấu hiệu hành khí, và bầu trời hiện đầy những phi cơ. Do đó, ngay cả dưới hình thức ngoại môn, ảnh hưởng của các dấu hiệu này cũng được xác nhận rõ ràng, và tuyên bố của các nhà bí truyền học rằng mỗi dấu hiệu mới mang đến cho Trái Đất những năng lượng đặc trưng, những khái niệm mới và những cơ hội mới, thực sự có cơ sở. |
|
It can also be shown that these astrological factors have set their mark upon our Christian tradition and upon our Church usage. It is interesting to note in this connection that on Christmas Eve, the brightest of the fixed stars, Sirius, is seen to the left of the meridian line somewhat to the south. Two thousand years ago, owing to the precession of the equinoxes, it stood on the meridian line. This is the Star in the East. At the same time, the constellation Virgo, the Virgin, became visible in the east, and it is interesting to note the coincidence that Spica, the brightest star in that constellation, means “an ear of wheat” and Bethlehem, the town in which Christ was born, means “the house of bread”. When this arrangement cyclically comes about in the heavens, the great historic Sons of God make their appearance for the uplift of humanity and the saving of the world. It is also said that the conjunction of Saturn and Jupiter created a brilliant, arresting appearance. [221] |
Cũng có thể thấy rằng các yếu tố chiêm tinh này đã để lại dấu ấn trên truyền thống Cơ Đốc giáo và cách thức thực hành của Giáo hội. Một điểm thú vị cần lưu ý là vào đêm Giáng Sinh, ngôi sao sáng nhất trong số các sao cố định—Sirius—xuất hiện bên trái đường kinh tuyến, hơi chếch về phía nam. Hai nghìn năm trước, do sự tiến động của điểm phân, nó đứng ngay trên đường kinh tuyến. Đây chính là Ngôi Sao Phương Đông. Đồng thời, chòm sao Xử Nữ, Trinh Nữ, bắt đầu xuất hiện ở phương đông, và thật đáng chú ý khi biết rằng Spica—ngôi sao sáng nhất trong chòm sao này—có nghĩa là “một bông lúa mì”, trong khi Bethlehem, nơi Đức Christ được sinh ra, có nghĩa là “ngôi nhà của bánh”. Khi sự sắp xếp này theo chu kỳ diễn ra trên bầu trời, những Đấng Con của Thượng Đế vĩ đại xuất hiện để nâng đỡ nhân loại và cứu rỗi thế giới. Người ta cũng nói rằng sự đồng vị của Thổ Tinh và Mộc Tinh đã tạo ra một hiện tượng rực rỡ và đáng chú ý. [221] |
|
One other instance of the effect of the constellations upon our Christian faith might be given. Two festivals are kept in the Roman Catholic and the Anglican Churches, called the Assumption of the Virgin, celebrated on August 15th, and the Birth of the Virgin on September 8th. Each year the sun enters the sign Virgo around August 15th and the stars of which it is composed are lost sight of in the glory of the sun’s rays. At the time of the ancient picturing of the Zodiac, August 15th would see the actual disappearance of the cluster Virgo, but now the time is not exact, though the Church perpetuates the original date. On or about September 8th the constellation can be seen from our planet slowly emerging from out of the rays of the sun and reappearing. This we speak of as the birth of the Virgin. |
Một ví dụ khác về ảnh hưởng của các chòm sao đối với đức tin Cơ Đốc có thể được đưa ra. Hai ngày lễ được cử hành trong Giáo hội Công giáo La Mã và Anh giáo là Lễ Đức Mẹ Lên Trời (Assumption of the Virgin) vào ngày 15 tháng 8 và Lễ Sinh Nhật của Đức Mẹ (Birth of the Virgin) vào ngày 8 tháng 9. Mỗi năm, Mặt Trời đi vào dấu hiệu Xử Nữ vào khoảng ngày 15 tháng 8, và các ngôi sao thuộc chòm sao này bị che khuất bởi ánh sáng rực rỡ của Mặt Trời. Khi Hoàng Đạo được vẽ trong thời cổ đại, ngày 15 tháng 8 chính là lúc cụm sao Xử Nữ biến mất khỏi tầm nhìn, nhưng ngày nay thời điểm này không còn chính xác nữa, dù Giáo hội vẫn duy trì ngày lễ theo truyền thống cũ. Vào khoảng ngày 8 tháng 9, chòm sao này có thể được nhìn thấy từ Trái Đất khi nó dần dần xuất hiện trở lại từ ánh sáng Mặt Trời. Đây chính là điều chúng ta gọi là sự ra đời của Đức Trinh Nữ. |
|
Two other indications can be given to show how widely and deeply the Zodiac has affected our religious beliefs. One will be seen as we study the significance of the Twelve Sons of Jacob and the pronouncements made by their father, and the other emerges as we study the origin of the Cross. |
Hai dấu hiệu khác cũng có thể được đưa ra để cho thấy Hoàng Đạo đã ảnh hưởng sâu rộng đến niềm tin tôn giáo của chúng ta như thế nào. Một dấu hiệu được tìm thấy khi chúng ta nghiên cứu ý nghĩa của Mười Hai Người Con của Gia-cốp và những lời tiên tri của ông dành cho họ, và dấu hiệu còn lại xuất hiện khi chúng ta nghiên cứu nguồn gốc của Thánh Giá. |
The Crosses
|
The subject of the Cross is too vast a one to be elucidated here. The cross within the circle is one of be most ancient of the world’s symbols, antedating the Christian era by thousands of years. The cross is originally formed by the interplay between the twelve signs of the Zodiac. There are in the Zodiac thirty-six crosses, for each sign is divided into what are called three decanates, which used to be known as “the thirty-six crossing stars”. The Zodiac is completed with 360 degrees, the square of 90 degrees is one fourth of the circle, creating the four corners, which is the cross within the circle. |
Chủ đề về Thập Giá quá rộng lớn để có thể giải thích đầy đủ ở đây. Thập giá bên trong vòng tròn là một trong những biểu tượng cổ xưa nhất của thế giới, có từ hàng ngàn năm trước kỷ nguyên Cơ Đốc giáo. Thập giá ban đầu được hình thành từ sự tương tác giữa mười hai dấu hiệu Hoàng Đạo. Trong Hoàng Đạo, có tổng cộng ba mươi sáu thập giá, vì mỗi dấu hiệu được chia thành ba thập độ (decanate), vốn được gọi là “ba mươi sáu ngôi sao giao nhau”. Hoàng Đạo hoàn chỉnh có 360 độ, mỗi góc vuông 90 độ tạo thành một phần tư vòng tròn, từ đó hình thành bốn góc, tạo nên thập giá bên trong vòng tròn. |
|
There are, however, three main crosses which in their symbology represent the three divine aspects, Spirit, Soul and Body. They are as follows: [222] |
Tuy nhiên, có ba Thập Giá chính mà trong biểu tượng học thể hiện ba khía cạnh thiêng liêng: Tinh thần, Linh hồn và Thân thể. Chúng được phân loại như sau: [222] |
|
The Cardinal Cross, consisting of the four constellations: |
Thập Giá Chủ Yếu, bao gồm bốn chòm sao: |
|
Aries—Creation, commencement. |
Bạch Dương – Sự sáng tạo, khởi đầu. |
|
Cancer—The first door into existence. |
Cự Giải – Cánh cửa đầu tiên vào sự tồn tại. |
|
Libra—The balance between life and form. |
Thiên Bình – Sự cân bằng giữa sự sống và hình tướng. |
|
Capricorn The door into spiritual life. |
Ma Kết – Cánh cửa dẫn vào đời sống tinh thần. |
|
This is the cross of Spirit or of the initiate and it is interesting to note that the word “cardinal” comes from a Latin word meaning “the hinge of a door”. The word “door” enters much into the concept of discipleship and it implies the period preparatory to passing through the door or gate of initiation. Here we have the idea of the door through which the Cosmic Christ passes at the end of the age when the heavens and the earth are dissolved and God’s plans are consummated. |
Đây là thập giá của Tinh thần hoặc của điểm đạo đồ, và thật thú vị khi lưu ý rằng từ “cardinal” bắt nguồn từ một từ Latin có nghĩa là “bản lề của một cánh cửa”. Từ “cánh cửa” xuất hiện nhiều trong khái niệm về đệ tử và ngụ ý giai đoạn chuẩn bị trước khi đi qua cánh cửa hoặc cổng của điểm đạo. Ở đây, ta có hình ảnh của cánh cửa mà Đức Christ Vũ Trụ đi qua vào cuối chu kỳ khi trời đất tan rã và kế hoạch của Thượng Đế được hoàn thành. |
|
The Fixed Cross, consisting of the four constellations: |
Thập Giá Cố Định, bao gồm bốn chòm sao: |
|
Taurus Illumination. Mind. |
Kim Ngưu – Soi sáng. Trí tuệ. |
|
Leo Individuality. Self-consciousness. |
Sư Tử – Cá tính. Ngã thức. |
|
Scorpio The final freeing from illusion. |
Hổ Cáp – Sự giải thoát cuối cùng khỏi ảo tưởng. |
|
Aquarius Server of the race, pouring out the living water of purification. |
Bảo Bình – Người phụng sự nhân loại, tuôn đổ nước sự sống để thanh tẩy. |
|
This is pre-eminently the cross of the soul and of real interest because it is the cross of the disciple Hercules. He personified these four signs, and was crucified upon this Fixed Cross. These four signs are regarded in our Christian belief as the Sacred Four and we find them presented to us in the four living creatures of the prophet Ezekiel. These four had the face of a man, Aquarius; the face of a lion, Leo; the face of an ox, Taurus; and the face of an eagle, Scorpio. Aquila, the Eagle is astrologically interchangeable with Scorpio. They are symbolized again in the four evangelists, and in the four beasts of Revelations. This cross is the cross of all world saviors, and the cardinal cross is that of Deity, crucified in the water of space. |
Đây chính là thập giá của linh hồn và có ý nghĩa đặc biệt, vì đây là thập giá của đệ tử Hercules. Chàng đã thể hiện bốn dấu hiệu này và bị đóng đinh trên Thập Giá Cố Định. Trong niềm tin Cơ Đốc giáo, bốn dấu hiệu này được coi là Bộ Bốn Thiêng Liêng, và ta thấy chúng xuất hiện trong hình ảnh bốn sinh vật sống trong lời tiên tri của Ezekiel. Bốn sinh vật này có: mặt người (Bảo Bình), mặt sư tử (Sư Tử), mặt bò (Kim Ngưu), và mặt đại bàng (Hổ Cáp). Trong chiêm tinh học, Aquila, chòm sao Đại Bàng, có thể thay thế Hổ Cáp về mặt biểu tượng. Chúng cũng được biểu tượng hóa trong bốn thánh sử và bốn thú vật trong sách Khải Huyền. Thập giá này là thập giá của tất cả các Đấng Cứu Thế của thế gian, còn Thập Giá Chủ Yếu là thập giá của Thượng Đế, bị đóng đinh trong nước của không gian. |
|
The Mutable or Common Cross, consisting of the four constellations: [223] |
Thập Giá Biến Đổi (hay Thập Giá Chung), bao gồm bốn chòm sao: [223] |
|
Gemini The interplay between higher and lower. |
Song Tử – Sự tương tác giữa cái cao và cái thấp. |
|
Virgo The form which nurtures the Christ child. |
Xử Nữ – Hình tướng nuôi dưỡng Đấng Christ Hài Đồng. |
|
Sagittarius The aspirant, speeding towards the goal. |
Nhân Mã – Người chí nguyện, tiến nhanh về phía mục tiêu. |
|
Pisces Death. Consummation. The World Savior. |
Song Ngư – Cái chết. Sự viên mãn. Đấng Cứu Thế của thế gian. |
|
This is the cross of everyday life to which all the sons of men are subjected. It is the cross of daily crucifixion and of difficulty and symbolizes the incarnation period of growth and development through the medium of form and its use. In these three crosses is summed up the story of the Cosmic Christ, God crucified in matter, of Hercules and of all disciples, and of the average human being. They constitute the totality of the twelve signs. |
Đây là thập giá của đời sống hàng ngày mà tất cả con người đều phải chịu đựng. Nó là thập giá của sự đóng đinh mỗi ngày và của khó khăn, tượng trưng cho giai đoạn nhập thể, phát triển và tiến hóa thông qua hình tướng và việc sử dụng hình tướng. Trong ba thập giá này, câu chuyện về Đức Christ Vũ Trụ, Thượng Đế bị đóng đinh trong vật chất, về Hercules và tất cả các đệ tử, cũng như về con người bình thường, đều được tổng hợp lại. Chúng cấu thành tổng thể của mười hai dấu hiệu Hoàng Đạo. |
The Sign Son of Jacob Remarks
|
Aries, the Ram, Lamb Naphtali Naphtali is a play upon the He brew word “talceh”, the Ram. It means the twisting and struggling ram. Note the story of Abraham and the ram caught in the thicket. |
Bạch Dương, Con Cừu Đực, Con Chiên – Naphthali. Naphthali là một cách chơi chữ dựa trên từ tiếng Hebrew talceh, có nghĩa là Con Cừu Đực. Nó mang ý nghĩa về sự xoắn vặn và đấu tranh của con cừu đực. Lưu ý câu chuyện về Abraham và con cừu bị mắc kẹt trong bụi rậm. |
|
Taurus, the Bull. Issachar “He bowed his shoulders to bear.” This refers to the yoke and the work of the ox in producing crops. |
Kim Ngưu, Con Bò Đực – Issachar. “Issachar cúi vai để gánh vác.” Điều này ám chỉ đến cái ách và công việc của con bò trong việc cày ruộng, tạo ra mùa màng. |
|
Gemini, the Twins. Simeon and Levi “Simeon and Levi are brothers”. |
Song Tử, Hai Anh Em – Simeon và Levi. “Simeon và Levi là anh em.” |
|
Cancer, the Crab Zebulon He “wished for habitation, dwelling at the haven of the sea”. The crab carries its habitation on its back, and dwells on the sea shore. |
Cự Giải, Con Cua – Zebulon. Zebulon “mong muốn có chỗ ở, cư trú tại bến cảng của biển.” Con cua mang nhà của nó trên lưng và sống dọc theo bờ biển. |
|
Leo, the Lion Judah Judah is a lion’s whelp. “He couched as a lion.” |
Sư Tử, Con Sư Tử – Judah. Judah là “một con sư tử con.” “Nó cúi mình như một con sư tử.” |
|
Virgo, the Virgin Asher This name is from Ishtar. Ashera is the goddess of plenty. She is depicted as a virgin, carrying a sheaf of wheat. See Gen. 49, 20. |
Xử Nữ, Trinh Nữ – Asher. Tên này có nguồn gốc từ Ishtar. Ashera là nữ thần của sự sung túc. Bà được miêu tả như một trinh nữ, mang một bó lúa mì. Xem Sáng Thế Ký 49:20. |
|
Libra, the Scales or Balances Dan “Dan shall judge his people.” |
Thiên Bình, Cái Cân – Dan. “Dan sẽ xét xử dân tộc mình.” |
|
Scorpio, the Serpent or Adder Dan Mentioned twice as two sons are assigned to Gemini. “Dan shall be a serpent… that biteth the horses’ heels.” |
Hổ Cáp, Con Rắn hoặc Rắn Lục – Dan. Được nhắc đến hai lần vì hai người con trai được gán cho Song Tử. “Dan sẽ là một con rắn… cắn vào gót chân ngựa.” |
|
Sagittarius, the Archer Joseph “His bow abode in strength”. His horse is the one that Scorpio follows fast after. |
Nhân Mã, Người Cung Thủ – Joseph. “Cung của y giữ vững sức mạnh.” Con ngựa của y là con mà Hổ Cáp bám sát phía sau. |
|
Capricorn, the Goat Benjamin In the Egyptian mysteries Capricorn is represented as a God with a wolf’s head. “Benjamin shall raven as a wolf.” |
Ma Kết, Con Dê – Benjamin. Trong các Bí nhiệm Ai Cập, Ma Kết được biểu tượng hóa như một vị thần với đầu sói. “Benjamin sẽ như một con sói dữ.” |
|
Aquarius, the Water Carrier Reuben Means “the pouring out of water”. The living water. |
Bảo Bình, Người Mang Nước – Reuben. Có nghĩa là “tuôn đổ nước.” Nước sự sống. |
|
Pisces, the Fishes Gad A play on “Dag”, the fish. |
Song Ngư, Hai Con Cá – Gad. Một cách chơi chữ với từ Dag, nghĩa là “cá.” |
|
[225] |
[225] |
Journey through the Signs
|
(As a back-drop to the drama enacted in each Sign this brief summary seems to integrate the Hercules Series) |
(Là bối cảnh cho vở kịch được diễn ra trong mỗi dấu hiệu, bản tóm tắt ngắn gọn này dường như tích hợp chuỗi câu chuyện về Hercules.) |
|
The progress of Hercules from the mental plane, through the emotional or desire plane and out into physical manifestation, and then his journey through the twelve signs, and by means of the twelve labors, to the point where he becomes an inspired Initiate, can be outlined for us briefly in the following statement: |
Tiến trình của Hercules từ cõi trí, qua cõi cảm xúc hay dục vọng, và sau đó tiến ra biểu hiện trên cõi trần, rồi hành trình của chàng qua mười hai dấu hiệu cùng mười hai công việc, cho đến điểm mà chàng trở thành một điểm đạo đồ được truyền cảm hứng, có thể được phác thảo ngắn gọn như sau: |
|
In Aries (March 21—April 20, the Ram), (The dates given are approximate, they vary according to different authorities.) through the capture of the Man-Eating Mares, we see him make his start, react to thought impulse, and learn something of mind control. As the intelligent disciple, he starts out upon his career, beginning with an undefined spiritual urge to righteousness and ending as the world savior. |
Trong Bạch Dương (21 tháng 3 – 20 tháng 4, Con Cừu Đực), (Các ngày nêu ở đây là gần đúng; chúng khác nhau tùy nguồn có thẩm quyền.) thông qua việc bắt giữ Bầy Ngựa Cái Ăn Thịt Người, ta thấy Hercules khởi hành, phản ứng lại với xung lực tư tưởng, và học được một phần về việc kiểm soát trí tuệ. Như một đệ tử có trí tuệ, chàng bắt đầu sự nghiệp của mình, khởi đi với một sự thôi thúc tinh thần chưa xác định rõ ràng về sự chính trực và kết thúc như một Đấng Cứu Thế của thế gian. |
|
In Taurus (April 21—May 20, the Bull), he has to learn the nature of desire, to transmute it into aspiration, to dominate sex, and use it rightly, and thus capture the Cretan Bull. This strong urge, and the potency of attraction, is that, as we shall see, which produces the great illusion, but which can, eventually, become the cause of illumination. |
Trong Kim Ngưu (21 tháng 4 – 20 tháng 5, Con Bò Đực), chàng phải học về bản chất của dục vọng, chuyển hóa nó thành khát vọng tâm linh, chế ngự năng lượng tính dục và sử dụng nó một cách đúng đắn, từ đó bắt giữ được Con Bò Cretan. Sự thôi thúc mạnh mẽ này, cùng với mãnh lực hấp dẫn, là yếu tố tạo ra ảo tưởng lớn, nhưng cuối cùng cũng có thể trở thành nguyên nhân của sự soi sáng. |
|
Passing on into the sign Gemini (May 21—June 20, the Twins), the progress of the disciple, hitherto subjective and characterized by thought and desire, works out into expression on the physical plane. In this sign he arrives at knowledge of himself as a personality and gathers the golden apples of knowledge, subordinating to his enterprise the three aspects of the personal lower self, the physical body, the desire-feeling nature and the mind. |
Bước vào dấu hiệu Song Tử (21 tháng 5 – 20 tháng 6, Hai Anh Em), sự tiến bộ của đệ tử, vốn trước đây mang tính chủ quan và đặc trưng bởi tư tưởng và dục vọng, giờ đây bắt đầu biểu hiện trên cõi trần. Trong dấu hiệu này, chàng nhận thức về chính mình như một phàm ngã, thu thập những quả táo vàng của tri thức, và đặt ba phương diện của phàm ngã dưới sự chỉ đạo của công cuộc ấy: thể xác, bản chất dục vọng-cảm xúc, và trí tuệ. |
|
In Cancer (June 21—July 21, the Crab), the higher faculty of the intuition is brought into play, and this is symbolized for us [226] in the capture of the elusive Doe, or Hind, sensitive and difficult to find. In his previous cycles of life experience, he has transmuted instinct into intellect, but now as the disciple, he must transmute intellect into intuition. The higher correspondences of all the lower powers have to be developed and utilized. |
Trong Cự Giải (21 tháng 6 – 21 tháng 7, Con Cua), năng lực cao hơn của trực giác được đưa vào hoạt động, điều này được tượng trưng cho chúng ta [226] qua việc bắt giữ Con Nai Cái Trốn Tránh, một sinh vật nhạy cảm và khó tìm thấy. Trong các chu kỳ kinh nghiệm sống trước đây, chàng đã chuyển hóa bản năng thành trí tuệ, nhưng giờ đây, với tư cách một đệ tử, chàng phải chuyển hóa trí tuệ thành trực giác. Các đối ứng cao của mọi năng lực thấp hơn cần được đưa vào hoạt động và vận dụng. |
|
Thus equipped, in Leo (July 22—August 21, the Lion), he undertakes the best known of his labors, the killing of the Nemean Lion. He demonstrates in this test the power to do two things and proves to his watching master, Eurystheus, that his refocused and coordinated personality is characterized by that determined courage which is the gift of people born in this sign, and he testifies through this labor also that the lower can be subordinated to the higher. Through the service rendered and the sanity of his procedure he gives a guarantee of the strength of his purpose. |
Được trang bị như vậy, trong Sư Tử (22 tháng 7 – 21 tháng 8, Con Sư Tử), chàng đảm nhận một trong những công việc nổi tiếng nhất—giết Con Sư Tử Nemean. Trong thử thách này, chàng thể hiện năng lực để thực hiện hai điều: chứng minh với sư phụ Eurystheus rằng phàm ngã đã được tái tập trung và điều phối, đặc trưng bởi lòng can đảm quyết tâm—món quà của những người sinh ra dưới dấu hiệu này. Đồng thời, chàng chứng minh rằng cái thấp có thể được khuất phục trước cái cao. Thông qua sự phụng sự và cách tiếp cận sáng suốt, chàng khẳng định sức mạnh của mục đích mình theo đuổi. |
|
We might regard these five labors in Aries, Taurus, Gemini, Cancer and Leo, as covering the entire period of the Path of Probation, and the killing of the Nemean Lion is the climax of that part of the struggle. Now he is ready to tread the Path of Discipleship, in which the indwelling Christ is gradually revealed, matter is steadily subordinated to the uses of the soul, and the form aspect comes to be regarded simply as the mother of the Christ Child. This progressive knowledge begins in Virgo, the sixth sign, the sign of the manger, and is consummated in Capricorn, the tenth sign, the birth sign of all the sun gods. On the Path of Discipleship, he has, secondly, to demonstrate that he has overcome illusion, that the magical glamor that matter imposes upon spirit no longer deludes. This is dramatically shown in the labor performed in Scorpio, the killing of the Nine-Headed Hydra. After Capricorn, he becomes a server of humanity, consecrated to the work of the Hierarchy, and this spiritual dedication to service finds its expression in the two last signs of the zodiacal round, those of Aquarius and Pisces. [227] |
Chúng ta có thể coi năm công việc này trong Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải và Sư Tử như đại diện cho toàn bộ giai đoạn Con Đường Dự Bị, và việc giết Con Sư Tử Nemean là đỉnh điểm của giai đoạn này. Giờ đây, chàng sẵn sàng bước vào Con Đường Đệ Tử, nơi Đức Christ nội tại dần dần được bộc lộ, vật chất ngày càng được đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn, và hình tướng được xem như người mẹ của Hài Nhi Christ. Tiến trình này bắt đầu trong Xử Nữ, dấu hiệu thứ sáu—dấu hiệu của máng cỏ—và đạt đến đỉnh điểm trong Ma Kết, dấu hiệu thứ mười—dấu hiệu sinh ra của tất cả các vị thần mặt trời. Trên Con Đường Đệ Tử, chàng tiếp tục chứng tỏ rằng chàng đã vượt qua ảo tưởng, rằng ảo cảm ma thuật do vật chất áp đặt lên tinh thần không còn mê hoặc chàng nữa. Điều này được thể hiện rõ ràng qua công việc chàng thực hiện trong Hổ Cáp—giết con Hydra Chín Đầu. Sau Ma Kết, chàng trở thành người phụng sự nhân loại, tận hiến cho công việc của Thánh Đoàn, và sự tận hiến tinh thần này được thể hiện qua hai dấu hiệu cuối cùng của vòng Hoàng Đạo: Bảo Bình và Song Ngư. [227] |
|
In Virgo (August 22—September 21, the Virgin), therefore, the first of the disciple signs, he performs his sixth labor, and seizes the girdle of Hippolyte, the Queen of the Amazons. It is interesting to note that the first labor on the probationary path started with a partial failure, in Aries, and the first labor on the Path of Discipleship in Virgo is also “done, but badly done”. The disciple must never be off his guard, for there is always the danger of error and of mistake. His very virtues can become his problem and we are told that it is possible even for a high initiate son of God to drop back from the Path of Attainment. His failure is, however, only temporary. Fresh opportunities occur. The consequence of his mistake has been delay, but the day of restoration and of renewal inevitably recurs. In Virgo we have depicted the preparation for the first initiation, the birth of the Christ, called in Christianity the birth of the Christ in the heart. This is a physical plane happening as well as a transcendental one, as we find when we study the signs of Virgo and of Capricorn. |
Trong Xử Nữ (22 tháng 8 – 21 tháng 9, Trinh Nữ), dấu hiệu đầu tiên trên Con Đường Đệ Tử, chàng thực hiện công việc thứ sáu—đoạt lấy chiếc đai của Hippolyte, Nữ Hoàng Amazon. Thật thú vị khi lưu ý rằng công việc đầu tiên trên Con Đường Dự Bị trong Bạch Dương bắt đầu với một phần thất bại, và công việc đầu tiên trên Con Đường Đệ Tử trong Xử Nữ cũng “đã làm xong, nhưng làm tồi”. Đệ tử không bao giờ được lơi lỏng cảnh giác, vì luôn tồn tại nguy cơ sai lầm. Chính những đức hạnh của y cũng có thể trở thành thử thách. Người ta nói rằng ngay cả một người con của Thượng Đế đã là điểm đạo đồ cao cấp cũng có thể rời khỏi Con Đường Thành Tựu. Tuy nhiên, thất bại chỉ là tạm thời. Những cơ hội mới sẽ đến. Hậu quả của sai lầm là sự trì hoãn, nhưng ngày của sự phục hồi và đổi mới luôn luôn xuất hiện trở lại. Trong Xử Nữ, ta thấy được sự chuẩn bị cho lần điểm đạo đầu tiên—sự giáng sinh của Đức Christ—trong truyền thống Cơ Đốc gọi là sự giáng sinh của Đức Christ trong trái tim. Đây vừa là một sự kiện trên cõi trần vừa là một sự kiện siêu việt, điều mà ta có thể thấy khi nghiên cứu mối liên hệ giữa Xử Nữ và Ma Kết. |
|
In Libra (September 22—October 21, the Balance), Hercules captures the Boar and, through the performance of this labor, demonstrates his fitness to take the second initiation, which concerns the emotional body. He balances the pairs of opposites and demonstrates it in an amusing and symbolic manner. He proves that poise and equilibrium are now achieved characteristics and that he is fit to undertake the tremendous task provided for him in the next sign. |
Trong Thiên Bình (22 tháng 9 – 21 tháng 10, Cái Cân), Hercules bắt giữ Con Lợn Rừng, và qua công việc này, chàng chứng minh được sự thích hợp để bước vào lần điểm đạo thứ hai, điều liên quan đến thể cảm dục. Chàng cân bằng các cặp đối cực và thể hiện điều đó theo một cách vừa hài hước vừa mang tính biểu tượng. Chàng chứng minh rằng sự bình thản và cân bằng giờ đây đã trở thành đặc điểm nội tại, và chàng sẵn sàng đảm nhận thử thách vĩ đại tiếp theo trong dấu hiệu kế tiếp. |
|
In Scorpio (October 23—November 22, the Scorpion), he enters upon his supreme test, which is also the supreme test for humanity, and which, if we study the times and seasons, appears that to which humanity is subjected at the present time. The problem before Hercules was his emancipation from illusion and the freeing of perception from the mists and miasmas, the glamor and the appearances, behind which Reality veils itself. In this sign he passes successfully through his greatest trial and [228] thenceforth his problem changes. He has controlled and demonstrated his capacity to overcome desire; he is poised and balanced in his point of view; now, because he is no longer taken in by that which appears and because he can walk one-pointedly in the Light, he becomes a world worker. |
Trong Hổ Cáp (23 tháng 10 – 22 tháng 11, Con Bọ Cạp), Hercules bước vào thử thách tối cao của mình, cũng là thử thách tối cao của nhân loại. Nếu chúng ta nghiên cứu về thời đại và chu kỳ vận động, có thể thấy rằng đây chính là thử thách mà nhân loại đang đối diện trong thời điểm hiện tại. Vấn đề mà Hercules phải vượt qua là giải thoát khỏi ảo tưởng, làm sáng tỏ tri giác khỏi những màn sương mờ, những khí độc, những ảo cảm và sự giả tướng, nơi mà Thực Tại tự che giấu mình. Trong dấu hiệu này, chàng đã vượt qua thử thách vĩ đại nhất của mình, và [228] từ đây, vấn đề của chàng thay đổi. Chàng đã kiểm soát và chứng tỏ khả năng chế ngự dục vọng; chàng đạt được trạng thái thăng bằng và cân đối trong nhận thức; và giờ đây, vì không còn bị lừa dối bởi những hình tướng bề ngoài và có thể bước đi nhất tâm trong Ánh Sáng, chàng trở thành một người làm việc vì thế gian. |
|
This one-pointedness is demonstrated for us in Sagittarius (November 23 —December 22, the Archer), where we have the consummation of the task begun in Aries, which was the right use and control of thought. In Aries he captured the Man-Eating Mares and bent them to his use. Now he slays the Man-Eating Birds of Stymphalus and puts an end to all tendencies to use thought destructively. |
Sự nhất tâm này được thể hiện trong Nhân Mã (23 tháng 11 – 22 tháng 12, Người Cung Thủ), nơi chàng hoàn tất nhiệm vụ đã khởi sự từ Bạch Dương—sử dụng đúng đắn và kiểm soát tư tưởng. Trong Bạch Dương, chàng bắt giữ Bầy Ngựa Cái Ăn Thịt Người và khuất phục chúng theo ý chí của mình. Giờ đây, chàng giết Những Con Chim Ăn Thịt Người ở Stymphalus, chấm dứt mọi khuynh hướng sử dụng tư tưởng một cách phá hoại. |
|
In Capricorn (December 23—January 20, the Goat), he becomes an initiate and appears before the world as a savior, a liberated son of God, able to work in Hell, on Earth, or in Heaven. He carries Cerberus up from Hades, and through the symbolism of the three-headed dog portrays the elevation of the personality, the triple matter aspect, into Heaven. Thus he demonstrates that he has undergone the necessary development and experienced the strengthening tests which will enable him successfully to pass through the experience of the third initiation, that of the Transfiguration. |
Trong Ma Kết (23 tháng 12 – 20 tháng 1, Con Dê), chàng trở thành một điểm đạo đồ và xuất hiện trước thế gian như một Đấng Cứu Thế, một người con của Thượng Đế đã được giải thoát, có thể hoạt động trong Địa Ngục, trên Trái Đất, hay trên Thiên Đàng. Chàng mang Cerberus từ địa ngục lên, và qua hình ảnh của con chó ba đầu, chàng biểu thị sự nâng cao phàm ngã—tam phân của vật chất—lên Thiên Đàng. Như vậy, chàng chứng minh rằng mình đã trải qua đủ sự rèn luyện cần thiết và đã vượt qua các thử thách để có thể bước vào trải nghiệm của lần điểm đạo thứ ba—Biến Hình. |
|
The next two signs, Aquarius and Pisces, show us the liberated Hercules at his work, the saving of the world. His tests are no longer personal and individual, but are universal in their application and demonstrate to us the inclusiveness of the consciousness and the vastness of the methods employed by the disciple who has climbed the mountain in Capricorn and has no longer any personal problems. |
Hai dấu hiệu tiếp theo, Bảo Bình và Song Ngư, thể hiện Hercules trong công việc của một người đã được giải thoát—công việc cứu thế gian. Các thử thách của chàng giờ đây không còn mang tính cá nhân và riêng biệt nữa, mà có tính phổ quát, thể hiện sự bao trùm của tâm thức và sự rộng lớn trong phương pháp của một đệ tử đã leo lên đỉnh núi trong Ma Kết và giờ đây không còn bất kỳ vấn đề cá nhân nào. |
|
In Aquarius (January 21—February 19, the Water Carrier), Hercules cleaned the Augean Stables by turning a river through them. They had not been cleaned for many years. Thus did he symbolically pour out the cleansing waters in service to man. This is the important sign into which we are now entering; the [229] most menial of all the labors falls in this, next to the culminating labor of all. One may think with reverence of Jesus the Christ washing the feet of his disciples, after following the man with the water pitcher on his shoulder, into the upper room. |
Trong Bảo Bình (21 tháng 1 – 19 tháng 2, Người Mang Nước), Hercules dọn sạch Chuồng Gia Súc Augean bằng cách dẫn một dòng sông chảy qua. Chuồng gia súc này đã không được dọn sạch trong nhiều năm. Như vậy, một cách tượng trưng, chàng đã tuôn đổ dòng nước thanh tẩy vì lợi ích của nhân loại. Đây chính là dấu hiệu quan trọng mà hiện nay chúng ta đang bước vào. Công việc này là nhiệm vụ hèn mọn nhất [229] trong tất cả các công việc, nhưng nó lại ngay trước thử thách tối hậu. Chúng ta có thể suy ngẫm với lòng tôn kính về hình ảnh Đức Jesus Christ rửa chân cho các môn đồ, sau khi theo chân người mang vò nước trên vai vào căn phòng ở tầng trên. |
|
In Pisces (February 20—March 20, the Fishes), we find by contrast the most exalted symbol. For here Hercules captured the Red Cattle, placed them in a golden bowl (the Holy Grail), and flew them to the Temple. Such is the crowning beauty of the sign in which man becomes a world savior, all that is of animality having been redeemed and transcended. Interpolated. |
Trong Song Ngư (20 tháng 2 – 20 tháng 3, Hai Con Cá), ta thấy hình ảnh biểu tượng cao quý nhất. Ở đây, Hercules bắt giữ Đàn Gia Súc Đỏ, đặt chúng vào một chiếc bát vàng (Chén Thánh), rồi đưa chúng bay đến Đền Thánh. Đây là vẻ đẹp tối thượng của dấu hiệu mà trong đó con người trở thành một Đấng Cứu Thế của thế gian, bởi vì tất cả những gì thuộc về thú tính đã được cứu chuộc và vượt lên trên. (Phần xen thêm.) |
|
This short analysis of the twelve labors will give us a somewhat synthetic picture of the work done by every disciple who is truly in earnest, as he progresses from Aries to Pisces. It is a work arduous, slow and carried forward under great difficulties, and often in blind ignorance of the forces released and of the results to be achieved. But step by step the aspirant is led along the path of self-knowledge. His character and nature have been tested and tried until the qualities which characterize the form have been transmuted into those which reveal the soul. |
Bản phân tích ngắn gọn này về mười hai công việc sẽ mang lại cho chúng ta một bức tranh tổng hợp về con đường mà mọi đệ tử chân chính phải đi qua khi tiến từ Bạch Dương đến Song Ngư. Đây là một hành trình gian nan, chậm chạp, được thực hiện trong muôn vàn khó khăn, và thường xuyên diễn ra trong sự vô minh trước những mãnh lực được giải phóng và những kết quả cần đạt được. Nhưng từng bước một, người chí nguyện được dẫn dắt trên con đường tự tri. Tính cách và bản chất của y đã được thử thách và tôi luyện, cho đến khi những phẩm tính của hình tướng được chuyển hóa thành những phẩm tính biểu hiện linh hồn. |
|
“The help has to come from a source other than this limited existence, but this source must not be something wholly outside us, in the sense that it has no understanding of our limitations, and hence is not in any way sympathetic with us. The source of help must have the same heart as ours so that there will be a current of compassion running between the two. The source-power must be within us and yet outside. If not within us, it could not understand us; if not outside, it would be subject to the same conditions. This is an eternal problem, to be and not to be, to be within and yet to be outside, to be finite and yet ready to serve the infinite.” |
“Sự trợ giúp phải đến từ một nguồn vượt lên trên sự hiện hữu giới hạn này, nhưng nguồn ấy không thể là một thứ hoàn toàn bên ngoài chúng ta, theo nghĩa nó không có sự thấu hiểu về những giới hạn của chúng ta, và do đó không thể cảm thông với chúng ta. Nguồn trợ giúp ấy phải có cùng một trái tim như chúng ta, để có thể tạo nên một dòng chảy của lòng từ bi giữa hai bên. Nguồn quyền năng ấy phải ở trong chúng ta nhưng đồng thời cũng ở bên ngoài. Nếu không ở trong chúng ta, nó sẽ không thể hiểu chúng ta; nếu không ở bên ngoài, nó cũng sẽ bị chi phối bởi những điều kiện giống như chúng ta. Đây là một vấn đề muôn thuở—vừa tồn tại nhưng cũng vừa không tồn tại, vừa ở trong mà cũng vừa ở ngoài, vừa hữu hạn nhưng sẵn sàng phục vụ cái vô hạn.” |
|
D. T. Suzuki. |
— D. T. Suzuki |