
The Zodiac—Vòng Hoàng đạo
|
The Presiding One looked forth upon the sons of men, who are the Sons of God. He saw their light and where they stood upon the Way which leads back to the Heart of God. The Way sweeps in a circle through the twelve great Gates, and, cycle after cycle, the Gates are opened and the Gates are shut. The Sons of God, who are the sons of men, march on. |
Đấng Chủ Toạ nhìn về phía những người con của nhân loại, những người cũng là Con của Thượng Đế. Ngài thấy ánh sáng của họ và thấy họ đang đứng trên Con Đường dẫn trở về Tâm của Thượng Đế. Con Đường ấy uốn lượn theo vòng tròn qua mười hai Cổng Lớn, và theo chu kỳ, các Cổng được mở ra rồi đóng lại. Những Người Con của Thượng Đế, những người con của nhân loại, vẫn tiếp tục tiến bước. |
|
Dim is the light at first. Selfish the trend of human aspiration, and dark the deeds resultant. Slowly men learn and, in learning, pass between the pillars of the Gates time and again. Dull is the understanding but in the Halls of Discipline, found in each section of the circle’s cosmic sweep, the truth is slowly grasped; the needed lesson learnt; the nature purified and taught until the Cross is seen—that fixed and waiting Cross which crucifies the sons of men, stretched out on the Crosses of those who serve and save. |
Lúc đầu, ánh sáng chỉ le lói. Xu hướng của khát vọng nhân loại mang tính ích kỷ, và những hành động kéo theo còn đen tối. Dần dần, con người học hỏi, và trong tiến trình ấy, họ đi qua những trụ cột của các Cổng hết lần này đến lần khác. Sự thấu hiểu còn mờ mịt, nhưng trong các Phòng Kỷ Luật, được tìm thấy trong từng phân đoạn của vòng tròn vũ trụ, chân lý dần được nắm bắt; bài học cần thiết được học; bản chất được thanh lọc và rèn giũa cho đến khi Thập Giá xuất hiện—Thập Giá cố định và luôn chờ đợi, nơi những người con của nhân loại bị đóng đinh, căng mình trên những Thập Giá của những người phục vụ và cứu rỗi. |
|
From out the mass of men, one man stood forth in ancient days and caught the great presiding Elder’s watching eye, he who eternally presides within the Council Chamber of the Lord. He turned to one who stood, close at his hand, and said: “Who is that soul upon the Way of life, whose light can now be dimly seen?” |
Từ giữa đám đông nhân loại, một người đã nổi bật lên trong thời cổ đại và thu hút ánh nhìn của vị Trưởng Lão Chủ Toạ vĩ đại, Ngài luôn ngự trị trong Hội Đồng của Đức Chúa Tể. Ngài quay sang một người đứng gần bên và nói: “Linh hồn kia là ai trên Con Đường Sự Sống, người mà ánh sáng chỉ có thể được nhìn thấy một cách mờ nhạt?” |
|
Quickly the answer came: “That is the soul who, on the Way of life, experiences and seeks the clear light which shines from the High Place.” |
Lập tức có câu trả lời: “Đó là linh hồn đang trên Con Đường của Sự Sống, trải nghiệm và tìm kiếm ánh sáng quang minh tỏa ra từ Nơi Cao Cả.” |
|
“Let him proceed upon his way, but watch his steps.” [2] |
“Hãy để y tiếp tục hành trình, nhưng hãy theo dõi từng bước chân của y.” |
|
The swiftly passing aeons ran their course. The great wheel turned and, turning, brought the seeking soul upon the Way. Later, there came a day when the Presiding One, within the Council Chamber of the Lord, again drew to the circle of his radiant life the seeking soul. |
Những kỷ nguyên trôi qua nhanh chóng. Bánh xe vĩ đại tiếp tục quay, và khi quay, nó đưa linh hồn đang tìm kiếm tiến bước trên Con Đường. Sau đó, có một ngày khi Đấng Chủ Toạ, trong Hội Đồng của Đức Chúa Tể, một lần nữa thu hút linh hồn đang tìm kiếm vào vòng sự sống chói lọi của Ngài. |
|
“Whose is this soul upon the Way of high endeavor whose radiance dimly shineth forth?” Came the reply: “A soul who seeks the light of understanding, a struggling soul.” |
“Linh hồn này là ai trên Con Đường đầy nỗ lực cao cả, người mà ánh sáng yếu ớt vẫn đang tỏa ra?” Lời đáp lại vang lên: “Một linh hồn đang tìm kiếm ánh sáng của sự thấu hiểu, một linh hồn đang tranh đấu.” |
|
“Tell him from me to return the other way and then to travel round the circle. Then will he find the object of his search. Watch o’er his steps and, when he has an understanding heart, an eager mind and skillful hand, bring him to me.” |
“Hãy nói với y lời của Ta rằng hãy quay lại theo hướng khác và sau đó đi vòng quanh chu kỳ. Khi đó y sẽ tìm thấy điều mình tìm kiếm. Theo dõi từng bước đi của y, và khi y có một trái tim thấu hiểu, một trí tuệ nhiệt thành và một đôi tay khéo léo, hãy dẫn y đến gặp Ta.” |
|
Again the centuries passed. The great wheel turned and turning, carried all the sons of men, who are the Sons of God upon their way. And as these centuries passed, a group of men emerged who slowly turned the other way. They found the Way. They passed the Gates and struggled towards the mountain top, and towards the place of death and sacrifice. The watching Teacher saw a man emerge from out this crowd, mount the fixed Cross, demanding deeds to do, service to render unto God and man, and willingness to travel the Way to God. He stood before the great Presiding One who works within the Council Chamber of the Lord and heard a word go forth: |
Lại một lần nữa, các thế kỷ trôi qua. Bánh xe vĩ đại vẫn quay và khi quay, nó đưa tất cả những người con của nhân loại, những Người Con của Thượng Đế, tiến bước trên hành trình của họ. Và trong suốt những thế kỷ ấy, một nhóm người xuất hiện, họ từ từ xoay sang hướng khác. Họ đã tìm thấy Con Đường. Họ đi qua các Cổng và vật lộn để hướng đến đỉnh núi, đến nơi của cái chết và sự hy sinh. Vị Huấn Sư quan sát thấy một người nổi bật lên từ đám đông này, tiến lên Thập Giá Cố Định, mong muốn thực hiện những hành động, phụng sự Thượng Đế và nhân loại, và sẵn sàng bước đi trên Con Đường trở về Thượng Đế. Chàng đứng trước Đấng Chủ Toạ vĩ đại, Ngài hoạt động trong Hội Đồng của Đức Chúa Tể, và nghe một lời phán ra: |
|
“Obey the Teacher on the Way. Prepare for the last tests. Pass through each Gate and in the sphere which they reveal and guard, perform the labor which befits their sphere. Learn thus the lesson and begin with love to serve the men of earth.” Then to the Teacher went the final word: “Prepare the candidate. Give him his labors to perform and place his name upon the tablets of the living Way”. [3] |
“Hãy tuân theo Vị Huấn Sư trên Con Đường. Hãy chuẩn bị cho những thử thách cuối cùng. Hãy đi qua từng Cổng, và trong phạm vi mà chúng bộc lộ và bảo vệ, hãy thực hiện những công việc phù hợp với cõi giới của chúng. Hãy học bài học đó và bắt đầu với tình thương để phụng sự nhân loại trên trần gian.” Rồi đến lượt Vị Huấn Sư, lời phán cuối cùng được truyền đến: “Hãy chuẩn bị ứng viên. Hãy giao cho y những công việc cần làm và khắc tên y vào tấm bia của Con Đường sống động.” |
|
The Tibetan (Djwhal Khul). |
Foreword—Lời Mở Đầu
The Purpose of this Study—Mục đích của việc nghiên cứu này
|
The intense interest evinced at this time in the subject of the spiritual life is in itself the warrant for such a study as this series of articles purposes. In defiance of the fact that academic and theological religion has no longer its ancient appeal and in spite of the revolt against organized religion, the urge towards spiritual realities has never been so keen as now. The day of empirical experience on a large scale is now with us, and men and women everywhere are refusing any longer to believe and blindly accept, because they are determined to know. Acceptance of imposed dogmas is now giving place to experiment, and a divine self-determination, based on a realized unity with the Life in which we live and move and have our being, is taking the place of credulity and superstition. |
Mối quan tâm mãnh liệt hiện nay đối với đời sống tinh thần chính là minh chứng rõ ràng cho giá trị của một nghiên cứu như loạt bài này hướng đến. Bất chấp thực tế rằng tôn giáo học thuật và thần học không còn hấp dẫn như trước, và bất chấp sự phản kháng đối với các tổ chức tôn giáo có hệ thống, khát vọng hướng đến những thực tại tinh thần chưa bao giờ mãnh liệt như bây giờ. Chúng ta đang sống trong thời đại của những trải nghiệm thực nghiệm trên quy mô lớn, và khắp nơi, con người không còn tin tưởng và chấp nhận một cách mù quáng nữa, vì họ quyết tâm tự mình tìm hiểu. Việc tiếp nhận những giáo điều áp đặt đang dần nhường chỗ cho sự thử nghiệm, và một sự tự quyết thiêng liêng—dựa trên nhận thức về sự hợp nhất với Sự Sống mà trong đó chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu—đang thay thế cho niềm tin mù quáng và mê tín. |
|
The problem of every teacher today is to discover new ways in which to express the old truths, and so present the ancient formulas for spiritual development that they will acquire new and vivid life. In both hemispheres there have been many books written on the subject of the Path of Discipleship, the Path of Holiness, and the Path of Illumination. The restatement of the problems of that universal Path and of its inherent difficulties is not warranted unless the application can be modern and practical. It must indicate the inclusiveness of the goal, once those problems have been surmounted, and must avoid the tiresome reiteration of that basic rule of life, which has been expressed in the two words: “Be good”. Again and again we have been told that we must overcome the lure of the world, the flesh and the devil. There has been built up in the mind of the western aspirant a feeling that the Path is necessarily one of misery, of self-abnegation and of endless distress. His attitude is one of active endurance until such time as he mysteriously and miraculously breaks through into a world of peace and plenty, wherein all troubles come to an end, the [4] flesh ceases to annoy, and the devil comes to an untimely end. And this as the reward of a meek submission to the will of an inscrutable creator. |
Vấn đề của mỗi huấn sư ngày nay là tìm ra những phương thức mới để diễn đạt những chân lý cổ xưa, và trình bày lại những công thức của sự phát triển tinh thần theo cách mà chúng có thể mang lại sức sống mới và sinh động. Ở cả hai bán cầu, đã có rất nhiều sách được viết về Con Đường Đệ Tử, Con Đường Thánh Thiện, và Con Đường Giác Ngộ. Việc nhắc lại các vấn đề và khó khăn vốn có trên Con Đường phổ quát này sẽ không có giá trị trừ khi chúng có thể được áp dụng một cách hiện đại và thực tiễn. Việc nhấn mạnh tính bao quát của mục tiêu, một khi những thử thách đã được vượt qua, quan trọng hơn nhiều so với việc lặp lại một cách mệt mỏi quy tắc cơ bản của đời sống, vốn từ lâu đã được tóm gọn trong hai từ: “Hãy sống tốt.” Chúng ta đã được nhắc đi nhắc lại rằng cần phải vượt qua sự cám dỗ của thế gian, của xác thịt và của ma quỷ. Một cảm giác rằng Thánh đạo nhất thiết phải là con đường đầy đau khổ, hy sinh bản thân và khổ hạnh vô tận đã được khắc sâu trong tâm trí của người chí nguyện phương Tây. Y thường mang một thái độ chịu đựng thụ động, chờ đợi thời điểm khi y bất ngờ và kỳ diệu vượt qua được thực tại trần thế để bước vào một thế giới hòa bình và dồi dào, nơi mọi phiền muộn chấm dứt, nơi thể xác không còn gây phiền toái và ác ma bị tiêu diệt. Và tất cả điều này được xem như là phần thưởng cho sự quy phục ngoan ngoãn trước ý chí của một Đấng Sáng Tạo bí ẩn. |
|
There is, however, dawning on the human consciousness, a growing realization of innate divinity and that man is in very truth made in the image of God, and one in nature with his Father in Heaven. The idea of purpose and of plan is being grasped, and the entire attitude of the aspirant towards life is rapidly changing. Surely it should now be possible to gain such a synthetic picture of the progress of the soul from ignorance to wisdom, from material desire to spiritual achievement that the end may be visioned from the beginning and intelligent cooperation with soul purpose take the place of blind endeavor? When this comes about, the pilgrim can proceed upon his way with his face turned towards the light, and irradiated with joy. |
Tuy nhiên, trong tâm thức nhân loại đang dần lóe lên một nhận thức mới về thiên tính nội tại—rằng con người thực sự “được tạo dựng theo hình ảnh của Thượng Đế”, và rằng y đồng nhất trong bản chất với Cha Trên Trời của mình. Ý niệm về mục đích và Thiên Cơ đang dần được lĩnh hội, và toàn bộ thái độ của người chí nguyện đối với cuộc sống đang thay đổi nhanh chóng. Hẳn là giờ đây chúng ta có thể có một bức tranh tổng hợp về sự tiến hóa của linh hồn—từ vô minh đến minh triết, từ dục vọng vật chất đến thành tựu tinh thần—đến mức có thể nhìn thấy mục tiêu ngay từ lúc khởi đầu và thay thế sự nỗ lực mù quáng bằng sự hợp tác thông tuệ với Thiên Cơ của linh hồn? Khi điều này xảy ra, người lữ hành có thể tiếp tục hành trình của mình với khuôn mặt hướng về ánh sáng, rạng rỡ trong niềm hoan hỷ. |
|
The story of the dramatic experiences of that great and ancient Son of God, Hercules or Herakles, will be found to give us just such a synthetic picture. It leaves untouched no phase in the life of the aspirant and yet links him up with cosmic enterprise. Its theme will be found to be so inclusive that all of us, struggling in our present modern life, can make application to ourselves of the tests and trials, the failures and achievements of this heroic Figure, who strove, centuries ago, towards the same goal as we do. Through a reading of his story, fresh interest may be evoked in the mind of the bewildered aspirant, and such a picture painted of universal sequential development and destiny that he will go forward with fresh courage. |
Câu chuyện về những trải nghiệm kịch tính của Người Con Thiêng Liêng cổ đại—Hercules hay Herakles—sẽ mang đến cho chúng ta một bức tranh tổng hợp như vậy. Nó không bỏ sót bất kỳ khía cạnh nào trong đời sống của người chí nguyện, đồng thời liên kết y với sứ mệnh vũ trụ. Chủ đề của nó bao quát đến mức tất cả chúng ta—những người đang vật lộn với cuộc sống hiện đại—đều có thể áp dụng vào chính mình những thử thách và gian nan, những thất bại và thành tựu của nhân vật anh hùng này, người đã chiến đấu hàng thế kỷ trước để hướng đến cùng một mục tiêu như chúng ta ngày nay. Qua việc đọc câu chuyện của Hercules, một mối quan tâm mới đối với đời sống tinh thần có thể được khơi dậy trong tâm trí của người chí nguyện đang bối rối, giúp y tiến lên với lòng can đảm mới khi có được một bức tranh toàn cảnh về sự phát triển và vận mệnh phổ quát. |
|
We shall trace the story of Hercules and endeavor to show how he, in his twelve labors, played the part of the aspirant upon the Path of Discipleship. On it, he undertook certain tasks, symbolic in nature, and passed through certain episodes and events which portray for all time the nature of the training and attainments which characterize the man who is nearing liberation. He stands for the incarnated, yet not perfected, Son [5] of God, who definitely takes the lower nature in hand and willingly subjects it to the discipline which will eventually produce the emergence of divinity. Out of an erring but sincerely earnest human being, intelligently aware of the work to be accomplished, a World Savior is formed. |
Chúng ta sẽ lần theo câu chuyện của Hercules và cố gắng chỉ ra cách mà chàng , thông qua mười hai kỳ công của mình, đã nhập vai như một người chí nguyện trên Con Đường Đệ Tử. Trên con đường đó, chàng đảm nhận những nhiệm vụ mang tính biểu tượng, trải qua những sự kiện và thử thách phản ánh bản chất của sự huấn luyện và những thành tựu mà một con người đang tiến gần đến sự giải thoát phải đạt được. Chàng đại diện cho Người Con của Thượng Đế nhập thế nhưng chưa hoàn thiện, một người quyết tâm kiểm soát bản chất thấp của mình và tự nguyện tuân theo kỷ luật sẽ giúp biểu lộ thiên tính vốn có của chàng . Từ một con người đầy sai lầm nhưng chân thành và nghiêm túc, với nhận thức thông tuệ về công việc cần làm, một Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu được tạo thành. |
|
Two great and dramatic stories have been held constantly before the eyes of men down the ages. In the twelve labors of Hercules, that Path of Discipleship is depicted, and his experiences preparatory to the great concluding cycle of Initiation meet with a ready response from every aspiring man. In the life and work of Jesus the Christ, that radiant and perfected Son of God, who “has entered for us within the veil, leaving us an example that we should follow his steps”, we have portrayed the five stages of the Path of Initiation, which are the climaxing episodes for which the twelve labors have prepared the disciple. |
Hai câu chuyện vĩ đại và đầy kịch tính đã được kể lại cho nhân loại qua các thời đại. Trong Mười Hai Kỳ Công của Hercules, Con Đường Đệ Tử được mô tả, và những trải nghiệm của chàng trước giai đoạn cuối cùng—Con Đường Điểm Đạo—luôn tìm thấy sự đồng cảm nơi mỗi con người đang khao khát chân lý. Trong cuộc đời và công việc của Đức Jesus Christ—Đấng Con rạng rỡ và toàn thiện của Thượng Đế, Đấng “đã đi vào bức màn thay cho chúng ta, để lại cho chúng ta một tấm gương mà chúng ta nên noi theo bước chân Ngài”—chúng ta thấy năm giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo được minh họa, như là những giai đoạn đỉnh điểm mà mười hai công việc đã chuẩn bị cho người đệ tử. |
|
The oracle has spoken, and down the ages the word has sounded forth: Man, know thyself. This knowledge is the outstanding attainment upon the Path of Discipleship, and the reward of all the work done by Hercules. |
Lời sấm truyền đã vang lên, và qua các thời đại, câu nói ấy vẫn vọng mãi: “Hỡi con người, hãy tự biết mình.” Đây chính là thành tựu nổi bật nhất trên Con Đường Đệ Tử và là phần thưởng cho tất cả những công việc mà Hercules đã thực hiện. |
The Nature of Discipleship—Bản Chất của Con Đường Đệ Tử
|
It might be of value here if we considered briefly the nature of discipleship. It is a word in constant use among aspirants in Christian lands, as in the oriental religions. Discipleship could be defined as the final stage of the path of evolution, and as that period in a man’s experience in which he is definitely self-conscious. It is the stage in which he knowingly pledges himself to impose the will of the soul (which is essentially the will of God) upon the lower nature. Upon this path he submits himself to a forcing process, so that the flower of the soul can unfold more quickly. The inevitability of human perfection underlies his willingness to make the attempt to tread the path. This perfection can be attained in two ways. It can be the result of slow and steady evolutionary growth, carried forward under nature’s laws, cycle after cycle, until gradually the hidden God can be seen in man and in the universe. Or, it can be the result [6] of systematized application and discipline on the part of the aspirant, producing a more rapid unfoldment of the power and life of the soul. |
Sẽ có giá trị nếu chúng ta xem xét ngắn gọn về bản chất của địa vị đệ tử. Đây là một thuật ngữ được sử dụng thường xuyên trong những người chí nguyện ở các vùng đất Cơ Đốc giáo cũng như trong các tôn giáo phương Đông. Địa vị đệ tử có thể được định nghĩa là giai đoạn cuối cùng trên con đường tiến hóa, và là khoảng thời gian trong kinh nghiệm của một con người khi y trở nên thực sự tự thức. Đây là giai đoạn mà y có ý thức cam kết áp đặt ý chí của linh hồn (vốn thực chất là ý chí của Thượng Đế) lên bản chất thấp của mình. Trên con đường này, y tự nguyện đặt mình vào một quá trình cưỡng ép nhằm đẩy nhanh sự khai nở của hoa linh hồn. Nhận thức về tính tất yếu của sự toàn thiện của nhân loại là nền tảng cho sự sẵn lòng của y trong việc dấn bước trên Thánh đạo. Sự toàn thiện này có thể đạt được theo hai cách. Thứ nhất, đó có thể là kết quả của sự tiến hóa chậm rãi và vững chắc, diễn ra theo các định luật tự nhiên, chu kỳ này tiếp nối chu kỳ khác, cho đến khi vị Thượng Đế tiềm ẩn có thể được nhìn thấy trong con người và trong vũ trụ. Hoặc thứ hai, nó có thể là kết quả của sự áp dụng có hệ thống và kỷ luật nghiêm ngặt từ phía người chí nguyện, giúp đẩy nhanh sự khai mở của quyền năng và sự sống của linh hồn. |
|
In one analysis of discipleship, it has been defined as “a psychic resolvent, which eats away all dross and leaves only the pure gold behind.” It is a process of refining, of sublimation and of transmutation, carried steadily forward until at length the Mount of Transfiguration and of Illumination is attained. The hidden mysteries and the forces, latent in human beings, need to be discovered and require to be utilized in a divine manner and in line with divine purpose, intelligently apprehended. When they have thus been utilized, the disciple finds himself en rapport with the universal and similar divine energies and powers, underlying the operations of the natural world. Thus he becomes a worker under the plan of evolution and a cooperator with that great “cloud of witnesses”, who through the power of their onlooking, and the result of their attainment, constitute the Thrones, Principalities and Powers through the medium of which the one Life guides all creation onward to a glorious consummation. |
Trong một phân tích về địa vị đệ tử, nó đã được định nghĩa là “một dung môi tâm linh, ăn mòn mọi tạp chất và chỉ để lại vàng ròng.” Đây là một quá trình tinh luyện, thăng hoa và chuyển hóa, được tiến hành một cách kiên trì cho đến khi cuối cùng đỉnh cao của Biến Hình và Sự Giác Ngộ hay Soi Sáng được đạt đến. Những huyền nhiệm tiềm ẩn và các mãnh lực tiềm tàng trong con người cần phải được khám phá và sử dụng theo cách thiêng liêng, phù hợp với Thiên Ý và được lĩnh hội một cách thông tuệ. Khi những mãnh lực này được vận dụng đúng đắn, người đệ tử sẽ nhận thấy mình có sự hòa hợp với các mãnh lực và năng lượng thiêng liêng phổ quát, những năng lượng này là nền tảng cho mọi vận hành của thế giới tự nhiên. Như vậy, y trở thành một người cộng tác trong Thiên Cơ tiến hóa và là một đồng sự với “đám mây chứng nhân” vĩ đại, những vị mà, nhờ vào sự quan sát đầy quyền năng của họ và kết quả từ những thành tựu của họ, đã hợp thành các Ngai Tòa, các Quyền Lực và các Chính Quyền qua đó sự Sống duy nhất dẫn dắt toàn thể công cuộc sáng tạo tiến đến sự viên mãn huy hoàng. |
|
Such is the goal towards which Hercules worked, and such is the goal before humanity as a whole, whose ultimate group achievement will be brought about by the many individual perfections. |
Đây chính là mục tiêu mà Hercules đã hướng đến, và đây cũng là mục tiêu dành cho toàn thể nhân loại—một thành tựu tập thể sẽ được hoàn thành thông qua sự hoàn thiện của từng cá nhân riêng lẻ. |
Astrological Connotations—Các Ý Nghĩa Chiêm tinh
|
A secondary object of this study is to present an aspect of astrology which will differ from that usually expressed. We shall trace the story of Hercules as he passed through the twelve signs of the zodiac. In each sign he expressed its characteristics, and in each sign, he achieved some fresh knowledge of himself, and through that knowledge demonstrated the power of the sign and acquired the gifts which the sign conferred. In each of the signs we shall find him surmounting his natural tendencies, controlling and governing his destiny, and demonstrating the fact that the stars incline, but do not control. [7] |
Một mục tiêu thứ yếu của nghiên cứu này là trình bày một khía cạnh của chiêm tinh học khác với cách hiểu thông thường. Chúng ta sẽ theo dõi câu chuyện của Hercules khi chàng vượt qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo. Trong mỗi dấu hiệu, chàng thể hiện các đặc tính của nó, và trong mỗi dấu hiệu, chàng đạt được một sự hiểu biết mới về bản thân mình, và thông qua sự hiểu biết đó, chàng thể hiện sức mạnh của dấu hiệu và tiếp nhận những phẩm tính mà nó ban tặng. Trong từng dấu hiệu, chúng ta sẽ thấy chàng vượt qua những khuynh hướng tự nhiên của bản thân, kiểm soát và định hướng vận mệnh của mình, qua đó chứng minh rằng các vì sao chỉ tạo khuynh hướng, nhưng không kiểm soát con người. |
|
The form of astrology which will, I believe, in time supersede the ordinary kind, dealing with horoscopes, is that synthetic presentation of cosmic happenings which have their reflection in our planetary life, in the life of humanity as a whole, and in the life of the individual, who is ever the microcosm of the macrocosm. This type of astrology confines its attention primarily to the unfolding of the plan of the ages; this, history reveals in a small way as far as humanity is concerned, and a larger study of the times and seasons may bring to us a wider understanding of God’s purposes. There is an immense past behind humanity; aeons and aeons have come and gone; the wheel of existence turns continuously, and ever the scroll of life unrolls, and we are carried forward on the impetus of a returning force towards a newer aspect of the goal, and a wider vision and realization. Concentration upon the personal horoscope and the intense interest evinced by individuals in their own petty affairs may be natural and normal, but it is nevertheless myopic. The consciousness that we are integral parts of a greater Whole, and that knowledge of the divine sumtotal can alone reveal the vaster purpose. These are the ideas that must eventually supersede our personal concentrations. Our small life histories must disappear in the larger picture. Hercules astrologically enacted the life history of every aspirant, and demonstrated the part which the unit must play in the eternal Enterprise. |
Hình thức chiêm tinh học mà tôi tin rằng sẽ thay thế dần chiêm tinh học truyền thống, vốn tập trung vào việc lập lá số cá nhân, chính là cách trình bày tổng hợp về các sự kiện vũ trụ, vốn có sự phản chiếu trong đời sống của hành tinh chúng ta, trong cuộc sống của toàn nhân loại, và trong đời sống của từng cá nhân—người luôn là tiểu thiên địa trong đại thiên địa. Loại chiêm tinh học này tập trung chủ yếu vào sự khai mở Thiên Cơ xuyên suốt các thời đại; lịch sử nhân loại hé lộ điều đó ở mức độ nhỏ, và một nghiên cứu rộng lớn hơn về các thời đại và chu kỳ có thể mang lại cho chúng ta một sự thấu hiểu sâu sắc hơn về Thiên Ý của Thượng Đế. Nhân loại có một quá khứ vô cùng xa xưa phía sau; vô số kiếp đã đến và đi; bánh xe tồn tại quay liên tục, và cuộn giấy cuộc đời không ngừng mở ra, đưa chúng ta tiến về một khía cạnh mới của mục tiêu, với một tầm nhìn rộng lớn hơn và một sự nhận thức thâm sâu hơn. Sự tập trung vào lá số cá nhân và mối quan tâm quá mức của con người đối với những vấn đề nhỏ nhặt của bản thân có thể là điều tự nhiên và bình thường, nhưng đó cũng là một góc nhìn thiển cận. Nhận thức rằng chúng ta là một phần không thể tách rời của một Tổng Thể lớn hơn, và rằng chỉ có sự hiểu biết về tổng thể thiêng liêng mới có thể tiết lộ mục đích vĩ đại hơn—đó là những ý tưởng cuối cùng sẽ thay thế cho sự tập trung vào bản thân. Những câu chuyện nhỏ về cuộc đời riêng lẻ của chúng ta sẽ dần mờ nhạt trong bức tranh lớn hơn của toàn thể nhân loại. Hercules, từ góc độ chiêm tinh học, đã thể hiện toàn bộ lịch sử của một người chí nguyện, minh họa vai trò của cá nhân trong công cuộc Đại Thiên Cơ. |
|
A great eastern Teacher has expressed in connection with the zodiac and astrology this suggestive thought: |
Một vị Đại Huấn Sư phương Đông đã bày tỏ một tư tưởng sâu sắc về chiêm tinh học và hoàng đạo: |
|
“That astrology is a science and a coming science is true. That astrology in its highest aspect and its true interpretation will eventually enable man to focus his understanding and to function rightly is equally true. That in the revelations that astrology will make in time to come will be found the secret of the true coordination between soul and form is also correct. But that astrology has not yet been discovered. Too much is overlooked and too little known to make astrology the exact science that many claim it to be. The claim will be fulfiled at some future date, but the time is not yet. [8] Astrology as now practised is doomed to break down, owing to the rapidity with which souls are controlling their personalities. The casting of the horoscope of the soul will not be based on our three dimensional knowledge, for the laws of time and space have no hold over the soul.” (Esoteric Astrology). |
“Rằng chiêm tinh học là một môn khoa học và sẽ trở thành một khoa học trong tương lai là điều chắc chắn. Rằng chiêm tinh học, trong khía cạnh cao nhất và sự giải thích đúng đắn của nó, cuối cùng sẽ giúp con người tập trung sự hiểu biết và hoạt động đúng đắn cũng là điều chắc chắn. Rằng trong những mặc khải mà chiêm tinh học sẽ mang lại trong tương lai, sẽ tìm thấy bí mật của sự phối hợp thực sự giữa linh hồn và hình tướng cũng là sự thật. Nhưng loại chiêm tinh học đó vẫn chưa được khám phá. Quá nhiều yếu tố bị bỏ qua và quá ít điều được biết đến để chiêm tinh học có thể trở thành một môn khoa học chính xác như nhiều người vẫn tuyên bố. Sự tuyên bố này sẽ được thực hiện trong một thời điểm tương lai, nhưng chưa phải lúc này. Chiêm tinh học như hiện nay đang được thực hành sẽ sụp đổ, do tốc độ nhanh chóng mà linh hồn đang kiểm soát phàm ngã của mình. Việc lập lá số chiêm tinh của linh hồn sẽ không còn dựa trên hiểu biết ba chiều của chúng ta, vì các định luật về thời gian và không gian không có tác động lên linh hồn.” (Chiêm Tinh Học Nội Môn) |
|
We will therefore in this study deal with an astrology which will be non-mathematical and which will have no relation to the casting of horoscopes. It will concern itself with the twelve types of energy by means of which consciousness of the divine Reality is brought about through the medium of form. In no distant heaven and in no subjective state did Hercules arrive at this knowledge. In the physical body, handicapped and limited by the tendencies conferred on him by the sign in which he performed the labor, he attained understanding of his own essential divinity. Through the overcoming of form and the subjugation of matter, a picture is given us of an unfolding divine self-realization. In the study therefore of Hercules the disciple, and of Christ, the World Savior, we have an entire pictorial presentation of the final stages of unfoldment which lie ahead of all of us. The five great Initiations as portrayed for us in the history of Jesus the Christ are not dealt with here, but form the subject of another book. (From Bethlehem to Calvary.) |
Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ tiếp cận chiêm tinh học theo một góc nhìn phi toán học, không liên quan đến việc lập lá số cá nhân. Thay vào đó, chúng ta sẽ tập trung vào mười hai loại năng lượng, thông qua đó tâm thức về Thực Tại Thiêng Liêng được khai mở qua trung gian của hình tướng. Hercules không đạt được sự hiểu biết này trong một thiên đàng xa xôi nào đó hay trong một trạng thái nội giới trừu tượng. Ngay trong thể xác, bị giới hạn và cản trở bởi những khuynh hướng mà mỗi dấu hiệu hoàng đạo áp đặt lên chàng khi thực hiện nhiệm vụ, chàng vẫn đạt đến sự nhận thức về thiên tính nội tại của chính mình. Thông qua sự chiến thắng hình tướng và chế ngự vật chất, một bức tranh về sự tự nhận thức thiêng liêng đang khai mở được hé lộ. Vì vậy, trong việc nghiên cứu về Hercules, người đệ tử, và Đức Christ, Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu, chúng ta có một bức tranh trực quan về những giai đoạn cuối cùng của sự khai mở tâm linh, điều đang chờ đợi tất cả chúng ta phía trước. Năm lần điểm đạo vĩ đại, như được minh họa trong lịch sử của Đức Jesus Christ, không được đề cập trong nghiên cứu này, mà sẽ là chủ đề của một cuốn sách khác (Từ Bethlehem đến Canvary). |
|
As we study the story of Hercules and go with him through his twelve labors, passing around the great zodiac of the heavens, we will approach it from two angles: that of the individual aspirant and that of humanity as a whole. It is now possible to regard the human family as having reached, practically en masse, the stage of the aspirant, the stage of the intelligent seeker, the stage of the man who, having developed his mind and coordinated his abilities, mental, emotional and physical, has exhausted the interests of the phenomenal world, and is looking for a way out into a wider realm of awareness, and into a more sure sphere of undertakings. This stage has always [9] been expressed by the advanced individuals down the ages, but never before has the human race itself been in this condition. Herein lies the wonder of past achievement, and herein lies the hour of present opportunity. |
Khi chúng ta theo dõi câu chuyện của Hercules và đồng hành cùng chàng qua mười hai công việc, tiến bước qua vòng tròn vĩ đại của hoàng đạo, chúng ta sẽ tiếp cận nó từ hai góc độ: góc độ của một cá nhân chí nguyện và góc độ của toàn nhân loại. Giờ đây, chúng ta có thể xem xét gia đình nhân loại như thể họ đã đạt đến giai đoạn của người chí nguyện trên diện rộng—giai đoạn của một người tìm kiếm thông tuệ, của một con người đã phát triển trí tuệ, điều hợp các khả năng trí tuệ, cảm xúc và thể xác của mình, và đã cạn kiệt sự quan tâm đối với thế giới hiện tượng, nay đang tìm kiếm một lối thoát vào một cảnh giới nhận thức rộng lớn hơn và một lĩnh vực hoạt động chắc chắn hơn. Giai đoạn này từ lâu đã được thể hiện bởi những cá nhân tiên tiến trong suốt các thời đại, nhưng chưa bao giờ toàn thể nhân loại lại đồng loạt ở trong tình trạng này như hiện nay. Chính trong thành tựu này mà ta thấy được sự kỳ diệu của quá khứ, và chính trong đó ta nhận ra cơ hội phi thường của thời đại hiện tại. |
The World Disciple Today—Người Đệ Tử Thế Giới Ngày Nay
|
The tests to which Hercules willingly subjected himself and the labors into which he sometimes thoughtlessly rushed are those which are possible to many thousands now. It will become apparent also how curiously applicable to modern conditions are the various details of the dramatic and oft-times amusing story of his efforts upon the path of ascension. Each one of us is an embryo Hercules, and each one of us faces the identical labors; each of us has the same goal to achieve and the same circle of the zodiac to encompass. The work to be done has for its prime objective the elimination of all fear and the control of the natural forces of the human nature. These Hercules has to face in every possible combination before he climbs the mount of initiation in Capricorn and becomes the server of humanity. |
Những thử thách mà Hercules tự nguyện đặt mình vào và những công việc mà đôi khi chàng lao vào một cách vô tình cũng chính là những thử thách mà hàng nghìn người ngày nay có thể đối mặt. Cũng sẽ trở nên rõ ràng rằng những chi tiết khác nhau trong câu chuyện đầy kịch tính—và đôi khi hài hước—về những nỗ lực của chàng trên Thánh đạo lại có sự tương ứng đáng kinh ngạc với điều kiện hiện đại. Mỗi người trong chúng ta đều là một Hercules tiềm ẩn, và mỗi người đều đối diện với những công việc giống nhau; mỗi người có cùng một mục tiêu cần đạt được và cùng một vòng tròn hoàng đạo cần đi qua. Công việc cần làm có mục tiêu chính là loại bỏ mọi nỗi sợ hãi và kiểm soát các mãnh lực tự nhiên trong bản chất con người. Đây chính là những gì mà Hercules phải đối mặt trong mọi tổ hợp có thể xảy ra trước khi chàng leo lên đỉnh điểm đạo trong Ma Kết và trở thành người phụng sự nhân loại. |
|
Competition and selfish objectives have to be completely changed and eliminated, and we shall find Hercules learning the lesson that to grasp anything for the separated self is no part of the mission of a son of God. He has to find himself as an individual, only to discover that individualism must be sacrificed intelligently to the good of the group. He discovers likewise that personal greed has no place in the life of the aspirant who is seeking liberation from the ever recurring cycle of existence and the constant crucifixion upon the cross of matter. The characteristics of the man immersed in form life and under the rule of matter are fear, individualism, competition and greed. These have to give place to spiritual confidence, cooperation, group awareness and selflessness. This is the lesson that Hercules brings to us, and this is the demonstration [10] of the life of God which is being wrought out in the creative process, and which flowers forth more beautifully each time that the life of God makes its sweep around the zodiac which, the astronomers tell us, takes approximately twenty-five thousand years to accomplish. |
Sự cạnh tranh và những mục tiêu ích kỷ phải được hoàn toàn chuyển hóa và loại bỏ, và chúng ta sẽ thấy Hercules học được bài học rằng việc chiếm đoạt bất cứ điều gì cho bản ngã thấp biệt lập không phải là sứ mệnh của một Con của Thượng Đế. Chàng phải tìm thấy bản ngã cá nhân của mình, chỉ để rồi nhận ra rằng chủ nghĩa cá nhân phải được hy sinh một cách thông tuệ vì lợi ích của nhóm. Chàng cũng phát hiện ra rằng lòng tham cá nhân không có chỗ trong đời sống của một người chí nguyện đang tìm kiếm sự giải thoát khỏi chu kỳ tồn tại lặp đi lặp lại và sự đóng đinh liên tục trên thập giá của vật chất. Những đặc điểm của một con người bị nhấn chìm trong đời sống hình tướng và bị cai trị bởi vật chất là sự sợ hãi, chủ nghĩa cá nhân, cạnh tranh và lòng tham. Những điều này phải được thay thế bằng sự tự tin tinh thần, sự hợp tác, nhận thức nhóm và tinh thần vô ngã. Đây chính là bài học mà Hercules mang đến cho chúng ta, và đây cũng là sự minh chứng về sự sống thiêng liêng đang được hoàn thiện trong tiến trình sáng tạo—mỗi lần sự sống thiêng liêng của Thượng Đế chu du qua vòng tròn hoàng đạo, điều mà các nhà thiên văn cho rằng mất khoảng hai mươi lăm nghìn năm để hoàn tất, nó lại nở hoa rực rỡ hơn. |
|
This is the story of the cosmic Christ, crucified upon the Fixed Cross of the heavens; this is the story of the historical Christ, given us in the gospel story and enacted two thousand years ago in Palestine; this is the story of the individual Christ, crucified upon the cross of matter, and incarnated in each human being, God, incarnate in matter. This is the story of our solar system, the story of our planet, the story of the human being. Thus as we look at the starry heavens above, we have eternally pictured for us this great drama, which the story of Hercules elucidates in detail for the aspirant. |
Đây chính là câu chuyện về Đức Christ Vũ Trụ, Đấng đã bị đóng đinh trên Thập Giá Cố Định của thiên giới. Đây cũng là câu chuyện về Đức Christ lịch sử, được ghi lại trong các sách Phúc Âm và được tái hiện cách đây hai nghìn năm tại Palestine. Và đây cũng là câu chuyện về Đức Christ nội tại, Đấng bị đóng đinh trên thập giá của vật chất, nhập thế trong mỗi con người—Thượng Đế hóa thân trong vật chất. Đây chính là câu chuyện của hệ mặt trời, câu chuyện của hành tinh chúng ta, và câu chuyện của mỗi con người. Khi chúng ta ngước nhìn bầu trời đầy sao trên cao, ta thấy vở kịch vĩ đại này được khắc họa vĩnh hằng trước mắt mình—một vở kịch mà câu chuyện của Hercules làm sáng tỏ trong từng chi tiết dành cho người chí nguyện. |
Key Thoughts—Những Tư tưởng Chủ Chốt
|
Four key thoughts can be given here which express the underlying purpose of the creative process and the objective of both the Cosmic Christ and of the individual aspirant. They give us the clue to the working out of the plan. Taken together they embody the entire story of the relationship of spirit and matter, of life and form, and of soul and body. |
Bốn tư tưởng then chốt có thể được đưa ra ở đây, thể hiện mục đích nền tảng của quá trình sáng tạo và mục tiêu của cả Đức Christ Vũ Trụ lẫn người chí nguyện cá nhân. Chúng cung cấp manh mối về sự triển khai của Thiên Cơ. Khi kết hợp lại, chúng thể hiện toàn bộ câu chuyện về mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, sự sống và hình tướng, linh hồn và thể xác. |
|
First: “Nature expresses invisible energies through visible forms.” Back of the objective world of phenomena, human or solar, small or great, organic or inorganic, lies a subjective world of forces which is responsible for the outer form. Behind the outer material shell is to be found a vast empire of BEING, and it is into this world of living energies that both religion and science are now penetrating. Everything outer and tangible is a symbol of inner creative forces and it is this idea that underlies all symbology. A symbol is an outer and visible form of an inner and spiritual reality. |
Thứ nhất: “Thiên nhiên biểu hiện các năng lượng vô hình thông qua những hình tướng hữu hình.” Đằng sau thế giới hiện tượng khách quan—dù là nhân loại hay thái dương hệ, lớn hay nhỏ, hữu cơ hay vô cơ—tồn tại một thế giới chủ quan của các mãnh lực, chính chúng tạo nên các hình tướng bên ngoài. Đằng sau lớp vỏ vật chất bên ngoài là một đế chế rộng lớn của SỰ HIỆN HỮU, và cả tôn giáo lẫn khoa học ngày nay đang thâm nhập vào thế giới những năng lượng sống động này. Mọi hình tướng bên ngoài và hữu hình đều là biểu tượng của những mãnh lực sáng tạo bên trong, và chính ý tưởng này là nền tảng của toàn bộ hệ thống biểu tượng học. Một biểu tượng là một hình tướng bên ngoài và hữu hình của một thực tại nội tại và tinh thần. |
|
It is with this interplay of the outer form and the inner life [11] that Hercules wrestles. He knew himself to be the form, the symbol, for the dominance of the lower material nature made its presence felt with the facility of agelong expression. At the same time he knew that his problem was to express spiritual being and energy. He had to know in fact and in experience that he was God, immanent in nature; that he was the Self in close relation to the Not-Self; he had to experiment with the law of cause and effect, and this from the standpoint of the initiator of the causes in order to produce intelligent effects. Through the twelve signs of the zodiac he passed, struggling to work subjectively and trying to reject the lure and the pull of the outer tangible form. |
Chính với sự tương tác giữa hình tướng bên ngoài và sự sống nội tại này mà Hercules vật lộn. Chàng biết rằng mình chính là hình tướng, là biểu tượng, vì bản chất vật chất thấp đã khẳng định sự hiện diện của nó thông qua quá trình biểu lộ lâu dài từ vô lượng kiếp. Đồng thời, y biết rằng vấn đề của mình là biểu lộ bản chất tinh thần và năng lượng tâm linh. Chàng phải thực sự biết, cả về mặt lý thuyết và kinh nghiệm, rằng y là Thượng Đế, nội tại trong thiên nhiên; rằng y là Chân Ngã trong mối liên hệ mật thiết với Phi Ngã; y phải thử nghiệm với định luật nhân quả, từ vị trí của người khởi xướng nguyên nhân để tạo ra những hiệu quả thông minh. Xuyên qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo, y đã đi qua, đấu tranh để hoạt động từ bên trong và cố gắng khước từ sự cám dỗ cũng như lực kéo của hình tướng bên ngoài và hữu hình. |
|
The second key thought can be expressed in the words: “The conception of a concealed Deity lies at the heart of all religions.” This is the mystic realization and the object of the search that humanity has carried on down the ages. The exponents of the world religions have embodied in their teaching one aspect of the search, accepting the fact of God as a basic premise, and with their heart’s love and devotion and worship proving the reality of his Existence. The testimony of the mystics of all time and races is so vast that it now in itself constitutes a body of proven facts and cannot be gainsaid. |
Tư tưởng then chốt thứ hai có thể được diễn đạt bằng câu: “Quan niệm về một Thượng Đế ẩn giấu nằm ở trung tâm của mọi tôn giáo.” Đây là sự nhận thức huyền bí và cũng là mục tiêu của cuộc tìm kiếm mà nhân loại đã thực hiện qua các thời đại. Những người truyền bá các tôn giáo thế giới đã thể hiện trong giáo lý của họ một khía cạnh của cuộc tìm kiếm, chấp nhận sự tồn tại của Thượng Đế như một tiền đề cơ bản, và bằng tình yêu, lòng sùng tín, cũng như sự thờ phụng, họ đã chứng minh thực tại về sự Hiện Hữu của Ngài. Chứng ngôn của các nhà thần bí trong mọi thời đại và chủng tộc là vô cùng phong phú, đến mức giờ đây chính nó đã trở thành một tập hợp những sự kiện được kiểm chứng và không thể bác bỏ. |
|
The scientific investigators have sought through a knowledge of the form to find truth, and have brought us to a position of wide knowledge and at the same time to a paralleling conception of our profound ignorance. We have learned much of the outer garment of God through physics, chemistry, biology and other sciences, but we have struggled into a realm where all appears to be hypothesis and inference. All that we surely know is that all forms are aspects of energy; that there is an interplay and an impact of energies upon our planet; that the planet is itself an energy unit composed of a multitude of energy units, and that man himself is likewise a composite bundle of forces and moving in a world of force. This is where [12] science so wonderfully has led us, and this is where the astrologer, the occultist, the idealist and the mystic also meet and testify to a concealed Deity, to a living Being, to a Universal Mind, and to a central Energy. |
Các nhà khoa học đã tìm cách khám phá chân lý thông qua sự hiểu biết về hình tướng, và điều này đã đưa chúng ta đến một vị trí có kiến thức rộng lớn, nhưng đồng thời cũng là một sự nhận thức song song về sự vô minh sâu sắc của chính mình. Chúng ta đã hiểu biết rất nhiều về lớp áo bên ngoài của Thượng Đế thông qua vật lý, hóa học, sinh học và các ngành khoa học khác, nhưng chúng ta cũng đã bước vào một lĩnh vực mà ở đó mọi thứ dường như chỉ là giả thuyết và suy luận. Điều duy nhất chúng ta chắc chắn biết là tất cả các hình tướng đều là những khía cạnh của năng lượng; rằng có sự tương tác và tác động qua lại của các năng lượng lên hành tinh của chúng ta; rằng chính hành tinh này cũng là một đơn vị năng lượng, bao gồm vô số các đơn vị năng lượng, và rằng con người cũng là một tổ hợp các mãnh lực, vận hành trong một thế giới của mãnh lực. Đây chính là nơi mà khoa học đã dẫn chúng ta đến một cách tuyệt vời, và cũng là nơi mà các nhà chiêm tinh học, huyền bí học, nhà lý tưởng và nhà thần bí gặp gỡ và cùng chứng thực về một Thượng Đế ẩn giấu, về một Đấng Sống Động, về một Trí Tuệ Vũ Trụ, và về một Nguồn Năng Lượng Trung Ương. |
|
In the unfolding drama of the heavens, in the conclusions of the scientific enquirer, in the mathematical computations of the astrologers, and in the testimony of the mystic, however, we can see a steadily emerging manifestation of this concealed divinity. Little by little, through the study of history, of philosophy and of comparative religion, we see the plan of that Deity becoming significantly apparent. In the passage of the sun through the twelve signs of the zodiac, we can see the marvellous organization of the plan, the focusing of the energies and the growth of the tendency towards divinity. Now, at last, in the twentieth century, objective and subjective have become so closely blended and merged that it is almost impossible to say where one begins and another ends. The veil that hides the concealed Deity is wearing thin, and the work of those who have achieved knowledge, the program of the Christ and of his Church, the plans of the hidden band of world workers, the Rishis and the occult Hierarchy of our planet, is now focused upon leading humanity on to the Path of Discipleship, and training many of the more advanced so that they can become the knowers and initiates of the new age. Thus men will pass out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom, from the realm of the unreal to the Real, and from the outer darkness of phenomenal existence into the light that shines always in the kingdom of spirit. |
Trong vở kịch đang khai mở của thiên giới, trong các kết luận của những nhà khoa học tìm tòi, trong các tính toán toán học của những nhà chiêm tinh, và trong chứng ngôn của những nhà thần bí, chúng ta có thể thấy một sự biểu lộ ngày càng rõ ràng của thần tính ẩn giấu này. Từng chút một, qua nghiên cứu lịch sử, triết học và tôn giáo so sánh, chúng ta thấy Thiên Cơ của Thượng Đế đang dần trở nên rõ ràng hơn. Trong hành trình của Mặt trời qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo, chúng ta có thể nhận thấy sự tổ chức kỳ diệu của Thiên Cơ, sự tập trung của các năng lượng, và sự phát triển của khuynh hướng hướng đến thần tính. Giờ đây, cuối cùng, trong thế kỷ hai mươi, khách quan và chủ quan đã hòa nhập và hợp nhất đến mức gần như không thể nói được đâu là điểm khởi đầu của cái này và cái kia. Bức màn che giấu Thượng Đế ẩn tàng đang trở nên mỏng dần, và công việc của những người đã đạt được tri thức, chương trình của Đức Christ và Giáo Hội của Ngài, kế hoạch của nhóm những người làm việc bí mật trên thế giới, các Rishi và Huyền Giai Huyền Bí của hành tinh chúng ta, giờ đây tập trung vào việc dẫn dắt nhân loại bước vào Con Đường Đệ Tử, huấn luyện nhiều người tiến bộ hơn để họ có thể trở thành những thức giả và điểm đạo đồ của kỷ nguyên mới. Như vậy, nhân loại sẽ thoát khỏi Phòng Hiểu Biết để bước vào Phòng Minh Triết, từ lĩnh vực ảo tưởng tiến vào Thực Tại, và từ bóng tối bên ngoài của thế giới hiện tượng tiến vào ánh sáng luôn tỏa rạng trong vương quốc tinh thần. |
|
The third key thought gives us a clue to the method. Down the ages the words have sounded forth: “I am he . . . who awakens the silent beholder”. It has become apparent to seekers in all fields that within all forms there is an urge to intelligent expression, and a certain livingness which we call consciousness, and which in the human family takes the form of a self-awareness. [13] This self-awareness when truly developed, enables a man to discover that the concealed Deity in the universe is identical in nature, though vastly greater in degree and consciousness, with the concealed Deity within himself. Man then can become consciously the Onlooker, the Beholder, the Perceiver. He is no longer identified with the matter aspect, but is the One who uses it as a medium of expression. |
Tư tưởng then chốt thứ ba cung cấp cho chúng ta một manh mối về phương pháp. Qua các thời đại, những lời này đã vang lên: “Ta là Đấng… đánh thức Kẻ Quan Sát thầm lặng.” Các nhà tìm kiếm trong mọi lĩnh vực đã nhận ra rằng trong tất cả các hình tướng đều tồn tại một sự thôi thúc hướng đến biểu lộ thông minh, và một sự sống động nhất định mà chúng ta gọi là tâm thức—trong nhân loại, điều này thể hiện dưới hình thức tự nhận thức. Khi sự tự nhận thức này thực sự phát triển, con người có thể khám phá ra rằng Thượng Đế ẩn giấu trong vũ trụ có bản chất đồng nhất với Thượng Đế ẩn giấu trong chính y, dù trên một mức độ và tâm thức cao siêu hơn vô cùng. Khi đó, con người có thể trở thành Kẻ Quan Sát có ý thức, Kẻ Chiêm Ngưỡng, Kẻ Tri Giác. Chàng không còn đồng nhất với khía cạnh vật chất nữa, mà trở thành Đấng sử dụng nó như một phương tiện để biểu đạt. |
|
When this stage is reached, the great labors start, and the warfare is consciously in progress. The man is torn in two directions. Habit entices him to identify himself with form. The new understanding impels him to identify himself with the soul. A reorientation then takes place, and a new and self-directed effort is initiated, which is portrayed for us in the story of Hercules, the Sun-God. The moment that the intellectual altitude has been achieved, the “silent Beholder” awakens into activity. Hercules starts upon his labors. The human being, hitherto swept along on the urge of the evolutionary tide, and governed by desire for experience and for material possession, comes tinder the control of the divine Indweller. He emerges as the aspirant, reverses himself, and begins to work through the twelve signs of the zodiac, only now working from Aries to Pisces via Taurus (anti-clockwise), instead of working in the ordinary human retrogressive fashion, from Aries to Taurus via Pisces (clockwise). |
Khi đạt đến giai đoạn này, những công việc vĩ đại bắt đầu, và cuộc chiến thực sự khởi sự. Con người bị giằng xé theo hai hướng. Thói quen kéo y đồng nhất mình với hình tướng. Sự hiểu biết mới thôi thúc y đồng nhất mình với linh hồn. Một sự tái định hướng xảy ra, và một nỗ lực tự hướng dẫn mới được khởi động, điều này được thể hiện qua câu chuyện về Hercules, vị Thái Dương Thần. Khi trí năng đạt đến một độ cao nhất định, “Kẻ Quan Sát thầm lặng” thức tỉnh và bắt đầu hành động. Hercules bắt đầu những công việc của mình. Con người, trước đây bị cuốn theo dòng tiến hóa và bị chi phối bởi khao khát kinh nghiệm và sở hữu vật chất, giờ đây chịu sự kiểm soát của Đấng Nội Tại Thiêng Liêng. Chàng xuất hiện như một người chí nguyện, quay ngược lại, và bắt đầu làm việc qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo, nhưng lần này đi theo chiều ngược kim đồng hồ, từ Bạch Dương đến Song Ngư qua Kim Ngưu, thay vì đi theo chiều thông thường từ Bạch Dương đến Kim Ngưu qua Song Ngư. |
|
Finally, the changing focus of the life and the steady application to the twelve labors in the twelve signs enables the disciple to become the triumphant victor. Then he can comprehend the significance of the fourth key thought and can exclaim in unison with the Cosmic Deity: |
Cuối cùng, sự thay đổi tiêu điểm của đời sống và việc thực hành kiên định mười hai công việc trong mười hai dấu hiệu giúp đệ tử trở thành người chiến thắng vinh quang. Khi đó, y có thể lĩnh hội được ý nghĩa của tư tưởng then chốt thứ tư và có thể thốt lên cùng với Thượng Đế Vũ Trụ: |
|
“Listen to this great secret. Although I am above birth and rebirth, or Law, being the Lord of all there is, for all emanateth from me, still do I will to appear in my own universe and am therefore born by my Power and Thought and Will.” |
“Hãy lắng nghe bí mật vĩ đại này. Mặc dù Ta vượt trên sự sinh và sự tái sinh, vượt trên cả Định Luật, vì Ta là Chúa Tể của tất cả, vì mọi thứ đều phát sinh từ Ta, nhưng Ta vẫn muốn xuất hiện trong vũ trụ của chính mình, và do đó Ta được sinh ra bởi Quyền Năng, Tư Tưởng và Ý Chí của Ta.” |
|
(The Bhagavad Gita, as compiled and adapted by Yogi Ramacharaka). [14] |
(Bhagavad Gita, được biên soạn phóng tác bởi Yogi Ramacharaka). |
Hercules the Disciple—The Myth—Hrecules, Người Đệ tử—Câu chuyện Thần Thoại
|
He stood before his Teacher. Dimly he understood that a crisis was upon him, leading to change of speech, of attitude and plan. The Teacher looked him o’er and liked him well. |
Chàng đứng trước vị Huấn Sư của mình. Mơ hồ, chàng hiểu rằng một khủng hoảng đang đến, dẫn đến sự thay đổi trong lời nói, thái độ và kế hoạch. Vị Huấn Sư nhìn chàng chăm chú và hài lòng với y. |
|
“Your name?,” he asked and waited for an answer. |
“Tên con là gì?” Ngài hỏi và chờ đợi câu trả lời. |
|
“Herakles”, the answer came, “or Hercules. They tell me that it means Hera’s rare glory, the radiance and effulgence of the soul. What is the soul, O Teacher? Tell me truth.” |
“Herakles,” câu trả lời vang lên, “hay Hercules. Người ta nói rằng cái tên đó có nghĩa là vinh quang hiếm có của Hera, sự rực rỡ và tỏa sáng của linh hồn. Linh hồn là gì, thưa Huấn Sư? Xin hãy nói cho con sự thật.” |
|
“That soul of yours, you shall discover as you do your task, and find and use the nature which is yours. Who are your parents? Tell me this, my son.” |
“Linh hồn của con, con sẽ tự khám phá khi làm công việc của mình, tìm ra và sử dụng bản chất của chính con. Cha mẹ con là ai? Hãy cho ta biết điều này, con trai của ta.” |
|
“My father is divine. I know him not, except that, in myself, I know I am his son. My mother is an earthly one. I know her well and she has made me what you see. Likewise, O Teacher of my life, I am also one of twins. There is another one, like unto me. I also know him well, yet know him not. One is of earth, thus earthly; the other is a son of God.” |
“Cha con là một vị thần. Con không biết Ngài, ngoại trừ việc con biết rằng trong chính bản thân mình, con là con trai của Ngài. Mẹ con là một người trần thế. Con biết bà rất rõ, và bà đã tạo nên con như những gì Thầy thấy. Cũng vậy, thưa Huấn Sư của đời con, con cũng là một trong cặp song sinh. Có một người khác giống như con. Con cũng biết chàng rất rõ, nhưng đồng thời lại không biết chàng . Một người thuộc về trần thế, do đó là trần tục; người kia là người con của Thượng Đế.” |
|
“What of your training, Hercules, my son? What can you do and how have you been taught?” |
“Còn về sự huấn luyện của con thì sao, Hercules, con trai của ta? Con có thể làm gì và đã được dạy dỗ ra sao?” |
|
“In all accomplishments I am proficient; I am well taught, well trained, well guided and well known. All books I know, all arts and sciences as well; the labors of the open field are known to me, besides the skill of those who can afford to travel and know men. I know myself as one who thinks, and feels and lives. |
“Trong mọi lĩnh vực, con đều thành thạo; con đã được dạy dỗ kỹ lưỡng, được rèn luyện tốt, được hướng dẫn đúng đắn và được biết đến rộng rãi. Con biết tất cả các sách, tất cả các môn nghệ thuật và khoa học; những công việc lao động trên cánh đồng con đều nắm vững, bên cạnh những kỹ năng của những người có điều kiện đi du hành và hiểu biết về con người. Con biết mình là một kẻ suy nghĩ, cảm nhận và sống.” |
|
“One thing, O Teacher, I must tell to you and thus deceive you not. The fact is not so long ago I slew all those who taught me in the past. I killed my teachers, and in my search for liberty, I now stand free. I seek to know myself, within myself and through myself.” |
“Có một điều, thưa Huấn Sư, con phải nói với Ngài để không lừa dối Ngài. Sự thật là không lâu trước đây, con đã giết tất cả những ai đã từng dạy con trong quá khứ. Con đã giết các thầy của mình, và trong cuộc tìm kiếm tự do, giờ đây con đứng đây, tự do. Con tìm cách hiểu biết chính mình, trong bản thân mình và qua chính mình.” |
|
“My son, that was a deed of wisdom, and now you can stand [15] free. Proceed to labor now, remembering as you do, that at the final turning of the wheel will come the mystery of death. Forget this not. What is your age, my son?” |
“Con trai của ta, đó là một hành động của trí tuệ, và giờ đây con có thể đứng tự do. Hãy bắt đầu lao động ngay bây giờ, luôn nhớ rằng khi bánh xe xoay vòng cuối cùng, bí ẩn của cái chết sẽ đến. Đừng quên điều này. Con bao nhiêu tuổi rồi, con trai của ta?” |
|
“I had turned eighteen summers when I slew the lion, and hence I wear its skin. Again at twenty-one, I met my bride. Today I stand before you trebly free—free from my early teachers, free from the fear of fear, and free indeed from all desire.” |
“Con đã trải qua mười tám mùa hè khi giết con sư tử, và do đó con khoác trên mình bộ da của nó. Lại vào năm hai mươi mốt tuổi, con đã gặp người vợ của mình. Hôm nay con đứng trước Ngài, ba lần tự do—tự do khỏi những Vị Huấn Sư đầu tiên, tự do khỏi nỗi sợ hãi, và thực sự tự do khỏi mọi ham muốn.” |
|
“Boast not, my son, but prove to me the nature of this freedom which you sense. Again in Leo, will you meet the lion. What will you do? Again in Gemini, the teachers whom you slew will cross your path. Have you indeed left them behind? What will you do? Again in Scorpio, will you wrestle with desire. Will you stand free, or will the serpent meet you with his wiles and pull you down to earth? What will you do? Prepare to prove your words and liberty. Boast not, my son, but prove to me your freedom and your deep desire to serve.” |
“Đừng vội khoe khoang, con trai của ta, mà hãy chứng minh cho ta thấy bản chất của sự tự do mà con đang cảm nhận. Một lần nữa, trong dấu hiệu Sư Tử, con sẽ gặp lại sư tử. Con sẽ làm gì? Một lần nữa, trong Song Tử, những Vị Huấn Sư mà con đã giết sẽ xuất hiện trên con đường của con. Con đã thực sự rời bỏ họ phía sau chưa? Con sẽ làm gì? Một lần nữa, trong Hổ Cáp, con sẽ vật lộn với dục vọng. Con sẽ đứng vững tự do, hay con rắn sẽ dụ dỗ con bằng sự quỷ quyệt của nó và kéo con xuống đất? Con sẽ làm gì? Hãy chuẩn bị để chứng minh lời nói và sự tự do của con. Đừng khoe khoang, con trai của ta, mà hãy chứng minh cho ta thấy sự tự do của con và khao khát sâu sắc của con để phụng sự.” |
|
The Teacher sat in silence and Hercules withdrew and faced the first great Gate. Then the Presiding One, who sat within the Council Chamber of the Lord, spoke to the Teacher and bade him call the gods to witness the endeavor and start the new disciple on the Way. The Teacher called. The gods replied. They came and gave to Hercules their gifts and many words of sage advice, knowing the tasks ahead and the perils of the Way. |
Vị Huấn Sư ngồi trong im lặng, và Hercules rút lui, đối mặt với Cánh Cổng vĩ đại đầu tiên. Khi đó, Đấng Chủ Toạ, người ngồi trong Hội Đồng của Chúa Tể, nói với Huấn Sư và yêu cầu Ngài kêu gọi các vị thần làm chứng cho sự nỗ lực này và khai mở con đường cho người đệ tử mới. Vị Huấn Sư cất tiếng gọi. Các vị thần hồi đáp. Họ đến và ban tặng cho Hercules những món quà của họ cùng nhiều lời khuyên minh triết, biết rõ những nhiệm vụ phía trước và những hiểm nguy trên Đường Đạo. |
|
Minerva handed him a robe, woven by herself, a robe that fitted well, of beauty rare and fine. He put it on, with triumph and with pride; exulting in his youth He had to prove himself, |
Minerva trao cho chàng một tấm áo choàng, do chính tay bà dệt, một chiếc áo choàng vừa vặn, hiếm có và tinh tế. Chàng khoác lên với niềm hân hoan và niềm kiêu hãnh; hớn hở trong tuổi trẻ của mình, chàng phải chứng minh bản thân. |
|
A golden breastplate Vulcan forged for Hercules, to guard his heart, the source of life and strength. This golden gift was girded on, and, shielded thus, the new disciple felt secure. He had yet to prove his strength. |
Vulcan rèn cho Hercules một tấm áo giáp vàng để bảo vệ trái tim y, nguồn sống và sức mạnh. Món quà bằng vàng này được đeo vào, và với sự che chở này, người đệ tử mới cảm thấy an toàn. Chàng vẫn còn phải chứng minh sức mạnh của mình. |
|
Neptune arrived with horses twain and handed them, in leash, to Hercules. Straight from the place of waters came they, of beauty rare and proven strength. And Hercules was pleased, for he had yet to prove his power to ride the horses twain. |
Neptune đến với hai con ngựa và trao dây cương vào tay Hercules. Chúng đến từ vùng nước sâu thẳm, mang vẻ đẹp hiếm có và sức mạnh đã được kiểm chứng. Hercules hài lòng, vì chàng vẫn còn phải chứng minh khả năng cưỡi hai con ngựa này. |
|
With graceful speech and brilliant wit came Mercury, carrying [16] a sword of rare design, which he proffered, in a silver sheath, to Hercules. He strapped it on the thigh of Hercules, bidding him keep it sharp and bright. “It must divide and cut,” said Mercury, “and with precision and acquired skill must move.” And Hercules, with joyous words, tendered his thanks. He had yet to prove his boasted skill. |
Với lời nói uyển chuyển và trí tuệ sáng chói, Mercury xuất hiện, mang theo một thanh kiếm thiết kế tinh xảo, được đựng trong một vỏ bọc bạc, và trao nó cho Hercules. Chàng đeo thanh kiếm lên đùi, và Mercury dặn chàng giữ nó luôn sắc bén và sáng ngời. “Nó phải chém và cắt,” Mercury nói, “và phải di chuyển với sự chính xác cùng kỹ năng đã được rèn luyện.” Hercules, với lời cảm tạ vui vẻ, đón nhận món quà. Chàng vẫn còn phải chứng minh kỹ năng mà mình tự hào. |
|
With blaring trumpets and the rush of stamping feet the chariot of the Sun God flashed. Apollo came and with his light and charm cheered Hercules, giving him a bow, a bow of light. Through nine wide open Gates must the disciple pass before he had acquired sufficient skill to draw that bow. It took him all that time to prove himself the Archer. Yet when the gift was proffered, Hercules took it, confident of power, a power as yet unproven. |
Với tiếng kèn vang dội và tiếng vó ngựa rầm rập, cỗ xe của Thái Dương Thần lóe sáng. Apollo đến, mang theo ánh sáng và sức quyến rũ của Ngài, khích lệ Hercules và trao cho chàng một cây cung—một cây cung ánh sáng. Qua chín Cánh Cổng rộng mở, người đệ tử phải vượt qua trước khi có đủ kỹ năng để giương cung. Phải mất một khoảng thời gian dài chàng mới chứng minh được mình là một Cung Thủ thực thụ. Nhưng khi nhận món quà, Hercules tiếp nhận với lòng tự tin vào sức mạnh—một sức mạnh vẫn chưa được kiểm chứng. |
|
And thus he stood equipped. The gods stood round his Teacher, and watched his antics and his joy. He played before the gods, and showed his prowess, boasting of his strength. Suddenly he paused and pondered long; then gave the horses to a friend to hold, the sword to still another and the bow unto a third. Then, running, disappeared into the nearby wood. |
Và thế là chàng đứng đó, được trang bị đầy đủ. Các vị thần đứng quanh vị Huấn Sư, quan sát chàng với niềm vui sướng. Chàng khoe khoang trước các vị thần, thể hiện tài năng, tự hào về sức mạnh của mình. Đột nhiên, chàng dừng lại và suy nghĩ thật lâu; rồi trao cương ngựa cho một người bạn giữ, đưa thanh kiếm cho một người khác, và trao cây cung cho một người thứ ba. Sau đó, chàng chạy vội vào khu rừng gần đó. |
|
The gods awaited his return, wondering and puzzled over his strange conduct. Back from the wood he came, bearing aloft a club of wood, cut from a stalwart living tree. |
Các vị thần chờ đợi chàng trở lại, ngạc nhiên và bối rối trước hành động kỳ lạ này. Khi trở lại từ khu rừng, chàng giơ cao một cây chùy bằng gỗ, được cắt từ một cây cổ thụ mạnh mẽ. |
|
“This is mine own,” he cried, “none gave it to me. This I can use with power. O gods, watch my high deeds.” |
“Đây là của ta,” chàng kêu lên, “không ai ban nó cho ta. Cái này, ta có thể sử dụng bằng sức mạnh của mình. Hỡi các vị thần, hãy quan sát những chiến công vĩ đại của ta.” |
|
And then, and only then, the Teacher said: “Go forth to labor.” |
Và rồi, chỉ khi ấy, Huấn Sư mới cất tiếng: “Hãy lên đường và lao động.” |
|
The Tibetan (Djwhal Khul) |
Elaboration of the Myth
|
We come now to a consideration of Hercules himself. It is a most interesting story, and one that has been treated by many writers. Discussion as to the details of his life, and argument as to the sequence of events, are not any part of our objective. The various accounts differ in detail, according to the bias of the historian, and can be studied in the many classical histories [17] and dictionaries. We will deal here only with the twelve famous labors, and of them we read: |
Giờ đây, chúng ta bước vào việc xem xét chính Hercules. Đây là một câu chuyện vô cùng thú vị, đã được nhiều tác giả đề cập đến. Việc tranh luận về chi tiết cuộc đời của chàng hay bàn luận về trình tự các sự kiện không phải là mục tiêu của chúng ta. Các bản ghi chép khác nhau về chi tiết, tùy theo quan điểm của từng sử gia, và có thể được nghiên cứu trong nhiều tài liệu lịch sử cổ điển và từ điển. Ở đây, chúng ta chỉ tập trung vào mười hai công việc vĩ đại của chàng, về chúng, chúng ta đọc thấy: |
|
“Hercules, by the will of Jupiter, was subjected to the power of Eurystheus, and obliged to obey him in every demand. He consulted the oracle of Apollo and was told that he must be subservient for twelve years to the will of Eurystheus, in compliance with the commands of Jupiter; and that, after he had achieved the most celebrated labors, he should be translated to the gods.” |
“Hercules, theo ý muốn của Jupiter, đã phải chịu quyền lực của Eurystheus và buộc phải tuân theo mọi mệnh lệnh của chàng. Chàng đã tham vấn thần Apollo và được cho biết rằng chàng phải phục tùng Eurystheus trong mười hai năm, tuân theo lệnh của Jupiter; và rằng, sau khi hoàn thành những công việc vĩ đại nhất, chàng sẽ được đưa lên hàng ngũ các vị thần.” |
|
So he started off upon his career and, as the disciple under command of his soul, undertook the twelve labors, performing each of them in one of the zodiacal signs. He, therefore, represents every disciple who seeks to tread the path and demonstrate his control over the forces of his nature, and he likewise represents the point at which humanity now finds itself. |
Và thế là chàng bắt đầu hành trình của mình, như một đệ tử dưới sự chỉ huy của linh hồn, chàng đảm nhận mười hai công việc vĩ đại, thực hiện mỗi công việc trong một dấu hiệu hoàng đạo. Do đó, chàng tượng trưng cho mọi đệ tử tìm kiếm con đường đạo và cố gắng thể hiện sự kiểm soát đối với các mãnh lực trong bản chất của mình, đồng thời cũng đại diện cho điểm tiến hóa mà nhân loại hiện đang đạt đến. |
|
His early name was Alkeides, which was changed to Hercules after he had undergone a strange experience, and before he started forth upon his labors. The name Hercules was originally Herakles, which signifies “the glory of Hera”. Hera represents Psyche, or the soul, so his name embodied his mission, which was to manifest forth in active work on the physical plane the glory and the power of his innate divinity. |
Tên khi sinh của chàng là Alkeides, nhưng sau một trải nghiệm kỳ lạ, trước khi bắt đầu các công việc vĩ đại, chàng đã đổi tên thành Hercules. Tên Hercules có nguồn gốc từ Herakles, có nghĩa là “vinh quang của Hera.” Hera đại diện cho Psyche, hay linh hồn, do đó tên của chàng chứa đựng sứ mệnh của mình—biểu lộ vinh quang và quyền năng của thần tính nội tại thông qua hành động tích cực trên cõi trần. |
|
One of the ancient scriptures of India says: “By mastery of the binding life comes radiance,” and it was this mastery of the imprisoning form which was the glorious consummation of all the undertakings of Hercules. We are told that he had a divine father and an earthly mother and so, as with all sons of God, we find the same basic symbology emerging. They typify in their persons the essential duality of God in manifestation, of life in form, of soul in body, and of spirit and matter. This duality is the glory of humanity and also constitutes the problem which every human being has to solve. Father-Spirit and Mother-Matter meet together in man, and the work of the disciple is to withdraw himself from the bonds of the mother and thus respond to the love of the Father. [18] |
Một trong những thánh thư cổ xưa của Ấn Độ nói rằng: “Bằng sự làm chủ sự sống ràng buộc, sẽ đến sự tỏa sáng,” và chính sự làm chủ hình tướng trói buộc này là thành tựu huy hoàng nhất trong mọi nhiệm vụ của Hercules. Chúng ta được kể rằng chàng có một người cha thần thánh và một người mẹ trần thế, và giống như mọi “người con của Thượng Đế,” biểu tượng nền tảng này lại xuất hiện. Họ thể hiện trong bản thân mình tính nhị nguyên thiết yếu của Thượng Đế trong sự biểu lộ—sự sống trong hình tướng, linh hồn trong thể xác, và tinh thần trong vật chất. Tính nhị nguyên này là vinh quang của nhân loại, nhưng đồng thời cũng là bài toán mà mỗi con người phải giải quyết. Cha—Tinh thần và Mẹ—Vật chất hội tụ trong con người, và nhiệm vụ của đệ tử là thoát khỏi sự trói buộc của người mẹ và từ đó đáp ứng tình yêu của người Cha. |
|
This duality is also brought out in the fact that he was one of twins. We read that one twin was born of an earthly father, and that the other was the son of Zeus. This is the great realization that comes to every developed and self-aware human being. He finds himself conscious of two aspects which meet in his nature. There is the well developed and highly organized personality through which he habitually expresses himself (mental, emotional and physical), with all three parts coordinated into an integrated unit. Then there is the spiritual nature, with its impulses and intuitions, its constant pull towards things vital and divine, and the consequent inner warfare which grows out of this realized duality. Hercules was the disciple, living in a physical body, but capable at times, like St. Paul, of being “caught up to the third heaven,” and having intercourse with divine beings. In this condition, he visioned the Plan, knew what he had to do and perceived the reality of the spiritual life. |
Tính nhị nguyên này cũng được thể hiện qua thực tế rằng chàng là một trong cặp song sinh. Chúng ta đọc thấy rằng một người sinh ra từ một người cha trần thế, trong khi người kia là con trai của Zeus. Đây chính là sự nhận thức vĩ đại mà mỗi con người phát triển và tự nhận thức đều đạt đến. Chàng nhận ra rằng trong chính bản thân mình có hai khía cạnh gặp nhau. Một mặt, chàng có một phàm ngã phát triển toàn diện và có tổ chức cao—bao gồm thể trí, thể cảm xúc và thể xác—ba phần này được phối hợp thành một đơn vị tích hợp, là công cụ mà chàng thường xuyên sử dụng để biểu lộ bản thân. Mặt khác, chàng có một bản chất tinh thần, với những xung động và trực giác, luôn thôi thúc chàng hướng về những điều thiêng liêng và trọng yếu, tạo nên một cuộc chiến nội tâm không ngừng nghỉ do sự nhận thức về tính nhị nguyên này. Hercules là một đệ tử sống trong một thể xác, nhưng đôi lúc, giống như Thánh Phaolô, chàng có thể được “đưa lên tầng trời thứ ba” và giao tiếp với các Đấng Thiêng Liêng. Trong trạng thái này, chàng có thể nhìn thấy Thiên Cơ, biết được nhiệm vụ của mình và nhận thức được thực tại của đời sống tinh thần. |
|
There is also one interesting little fact in the story of his life which has a bearing on this same truth. Whilst still an infant, we are told that Hercules killed his twin. He was no longer a divided entity, no longer a duality, but soul and body formed one unity. This indicates always the stage of the disciple. He has made the at-one-ment and knows himself to be soul in body and not soul and body, and this realization has now to color all his actions. Whilst in the cradle, history relates, the lusty infant killed two serpents, again emphasizing duality. In this act he forecast the future in which he demonstrated that the physical nature no longer controlled, but that he could strangle the serpent of matter and that the great illusion no longer had him imprisoned. He slew the serpent of matter and the serpent of illusion. If the serpent symbology is studied, we shall find that three serpents are depicted: one standing for the serpent of matter, another for the serpent of illusion, and the third for the serpent of wisdom. This last serpent is only discovered when the other two have been slain. [19] |
Câu chuyện về cuộc đời Hercules cũng chứa một chi tiết thú vị có liên quan đến chân lý này. Khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, người ta kể rằng Hercules đã giết người anh em song sinh của mình. Chàng không còn là một thực thể phân đôi, không còn bị chia rẽ, mà linh hồn và thể xác hợp nhất thành một. Điều này luôn là dấu hiệu của một đệ tử—chàng đã đạt đến sự hợp nhất và biết mình chính là linh hồn trong thể xác, chứ không phải linh hồn và thể xác là hai thực thể riêng biệt. Nhận thức này từ nay trở đi sẽ chi phối mọi hành động của chàng. Khi còn nằm trong nôi, sử sách kể lại rằng đứa trẻ cường tráng ấy đã giết hai con rắn, một lần nữa nhấn mạnh tính nhị nguyên. Hành động này tiên đoán tương lai của chàng, trong đó chàng chứng minh rằng bản chất vật chất không còn kiểm soát được chàng nữa. Chàng có thể bóp chết con rắn của vật chất, và ảo tưởng vĩ đại không còn giam cầm chàng. Chàng đã giết con rắn của vật chất và con rắn của ảo tưởng. Nếu nghiên cứu biểu tượng con rắn, chúng ta sẽ thấy rằng có ba con rắn được mô tả: một con tượng trưng cho vật chất, một con tượng trưng cho ảo tưởng, và con thứ ba là con rắn của minh triết. Chỉ khi hai con rắn đầu tiên bị tiêu diệt, con rắn của minh triết mới được khám phá. |
|
This sense of duality is the first stage of the spiritual experience and colors the thoughts of all the great aspirants and mystics of the world. Note how St. Paul cries out as he wrestles with the problem: |
Cảm giác về tính nhị nguyên này là giai đoạn đầu tiên của kinh nghiệm tinh thần và ảnh hưởng đến tư tưởng của tất cả những người chí nguyện và các nhà thần bí vĩ đại trên thế giới. Hãy lưu ý cách Thánh Phaolô đã than thở khi ông vật lộn với vấn đề này: |
|
“I find then a law, that, when I would do good, evil is present with me. |
“Tôi khám phá ra luật này: khi tôi muốn làm điều thiện, thì điều ác lại hiện diện ngay bên tôi. |
|
“For I delight in the law of God after the inward man: But I see another law in my members, warring against the law of my mind, and bringing me into captivity to the law of sin which is in my members. |
Vì trong lòng, tôi vui thích với luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng tôi thấy có một luật khác trong chi thể mình, tranh đấu với luật trong trí tôi, bắt tôi làm nô lệ cho luật của tội lỗi đang ở trong chi thể tôi. |
|
“I thank God through Jesus Christ our Lord. So then with the mind I myself serve the law of God; but with the flesh the law of sin.” (Romans, VII, 21-25). |
Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời nhờ Đức Jesus Christ, Chúa chúng ta! Như vậy, chính tôi lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi.” (Rô-ma 7:21-25). |
|
As Hercules grew up, we are told, great care was given to his education. He was trained in all possible accomplishments, and every faculty that he had was developed and organized. What is the lesson to be learned from this? It is the need to realize that every disciple, if he truly merits that name, must necessarily be a highly developed member of the human family. All three parts of his nature have to be unfolded; his mind must be well-stocked and functioning, and he must know how to use it; his sensitive emotional nature must be responsive to every type of contact; his physical body must be a fit medium of expression for the indwelling soul and equipped to undertake the tasks to which the man has pledged himself. |
Khi Hercules trưởng thành, chúng ta được kể rằng chàng được giáo dục với sự quan tâm đặc biệt. Chàng được huấn luyện trong mọi lĩnh vực có thể, và mọi khả năng của chàng đều được phát triển và tổ chức chặt chẽ. Bài học cần rút ra từ điều này là gì? Chính là nhận thức rằng mỗi đệ tử, nếu thực sự xứng đáng với danh xưng ấy, nhất định phải là một thành viên phát triển cao của nhân loại. Cả ba phương diện trong bản chất của chàng đều phải được khai mở; trí tuệ của chàng phải được trang bị đầy đủ và vận hành linh hoạt, và chàng phải biết cách sử dụng nó; bản chất cảm xúc nhạy cảm của chàng phải có khả năng đáp ứng với mọi loại tiếp xúc; thể xác của chàng phải trở thành một phương tiện thích hợp để linh hồn cư ngụ và đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ mà chàng đã cam kết. |
|
There has been amongst aspirants for many centuries a tendency to decry and belittle the mind. They are apt to say glibly, “The mind is the slayer of the real,” and, through an unrecognized mental inertia and laziness, to feel that the important thing is to have the heart nature developed. They regard the mind, with its capacity to analyze and discriminate, as a snare and a delusion. But this surely is an error. Knowledge of God is as necessary and as important as love of God; and this the new age, with its new type of aspirant, will most assuredly demonstrate. Saintliness, sweetness and a pleasing, loving disposition have their place in the sumtotal of the characteristics [20] of the aspirant, but when linked to stupidity and an undeveloped mentality, they fail to be as useful as they could be when coupled to intelligence. When linked to a high grade intellect and with mental powers oriented to divine knowledge, they will produce that knower of God whose influence becomes worldwide and who can both love and teach his fellowmen. |
Suốt nhiều thế kỷ, giữa những người chí nguyện luôn tồn tại khuynh hướng xem thường và hạ thấp giá trị của trí tuệ. Họ thường nói một cách sáo rỗng rằng: “Trí tuệ là kẻ sát nhân của Thực Tại,” và do tình trạng trì trệ trí tuệ không được nhận thức, họ cho rằng điều quan trọng duy nhất là phát triển phẩm chất của trái tim. Họ xem trí tuệ, với khả năng phân tích và phân biện của nó, như một cái bẫy và một ảo tưởng. Nhưng đây chắc chắn là một sai lầm. Sự hiểu biết về Thượng Đế cũng quan trọng và cần thiết như tình yêu dành cho Ngài; và đây chính là điều mà kỷ nguyên mới, với loại người chí nguyện mới, sẽ chứng minh một cách chắc chắn. Lòng thánh thiện, sự dịu dàng, một tính cách đáng mến và yêu thương có vị trí của chúng trong tổng hòa các đặc điểm của người chí nguyện, nhưng nếu đi kèm với sự ngu muội và trí tuệ chưa phát triển, chúng sẽ không thể hữu ích như khi được kết hợp với một trí tuệ sắc bén và một tâm thức định hướng về tri thức thiêng liêng. Khi được gắn kết với một trí tuệ cấp cao và với năng lực tư duy hướng đến sự hiểu biết Thượng Đế, những phẩm chất đó sẽ tạo nên một người thức giả về Thượng Đế, có ảnh hưởng trên toàn thế giới, một người vừa có thể yêu thương vừa có thể giáo huấn nhân loại. |
|
So Hercules was trained in all accomplishments and could take his place with the thinkers of his time. We are told also that his height was four cubits, a symbolic way of expressing the fact that he had achieved his full growth in all departments of his fourfold personality, Man, we are told, is the cube, “the city that stands foursquare”. Physically, emotionally and mentally, he was developed and to these three factors is added a fourth, a soul in conscious possession of its mechanism, the developed personality. |
Vậy nên, Hercules được đào luyện trong mọi lĩnh vực và có thể sánh ngang với những nhà tư tưởng của thời đại mình. Chúng ta cũng được kể rằng chàng có chiều cao bốn cubit, một cách biểu đạt mang tính biểu tượng để chỉ rằng chàng đã đạt đến sự trưởng thành hoàn thiện trong tất cả các phương diện của phàm ngã bốn phần. Người ta nói rằng con người là khối lập phương, “thành phố đứng vững trên bốn phương.” Về thể chất, cảm xúc và trí tuệ, chàng đã phát triển toàn diện, và ba yếu tố này được bổ sung bởi yếu tố thứ tư—một linh hồn làm chủ một cách có ý thức cơ chế của nó, tức là một phàm ngã được hoàn thiện. |
|
Having achieved his growth and having been trained in all that the world could give him, we are told next that he proceeded to slay his teachers. He killed them all and got rid of them. Why? Because he had reached the point where he could stand on his own feet, forming his own conclusions, guiding his own life, and handling his own affairs. It was necessary, therefore, to rid himself of all those who sought to supervise him; he had to break away from authority and set out to find his own way and make his own contacts with life. This is where many aspirants stand at this time. They are in possession of much theory, they have a relatively wide technical knowledge of the nature of the Path and of what they should do upon it, but they do not as yet stand on their own feet and tread that Path, alone and unsupported. They need props, and look for people to tell them what to do and what they should believe. We shall find in the third labor which Hercules performed, in the sign Gemini, that he was tested on this point and had to prove that he was justified in taking this step. He then makes the interesting discovery that he is not nearly so free nor so strong as, in his youthful enthusiasm, he fancied himself to be. [21] |
Sau khi đạt được sự trưởng thành và đã được đào luyện với tất cả những gì thế gian có thể ban tặng, chúng ta được kể rằng chàng tiếp tục giết các vị thầy của mình. Chàng giết tất cả họ và loại bỏ họ. Tại sao? Bởi vì chàng đã đạt đến điểm mà chàng có thể tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, tự hình thành kết luận, tự dẫn dắt đời sống của mình và tự quản lý các công việc của bản thân. Do đó, chàng cần phải loại bỏ tất cả những ai tìm cách giám sát chàng; chàng phải tự giải phóng khỏi quyền uy và tự tìm kiếm con đường của mình, tự tạo dựng những tiếp xúc với cuộc sống. Đây chính là nơi mà nhiều người chí nguyện đang đứng tại thời điểm này. Họ sở hữu nhiều lý thuyết, họ có một nền tảng kỹ thuật tương đối rộng về bản chất của Đường Đạo và những gì họ cần làm trên con đường ấy, nhưng họ vẫn chưa thực sự đứng vững trên đôi chân của chính mình để bước đi trên Đường Đạo, một cách đơn độc và không cần sự hỗ trợ. Họ vẫn cần những chỗ dựa, và họ tìm kiếm những người có thể bảo họ phải làm gì và tin vào điều gì. Chúng ta sẽ thấy trong công việc thứ ba mà Hercules thực hiện, trong dấu hiệu Song Tử, rằng chàng đã được thử thách về điểm này và phải chứng minh rằng chàng có đủ lý do chính đáng để thực hiện bước đi đó. Khi đó, chàng đã khám phá ra một sự thật thú vị rằng chàng không hề tự do hay mạnh mẽ như chàng tưởng tượng trong sự nhiệt thành của tuổi trẻ. |
|
When he reached the age of eighteen years, we are told, he slew a lion which was devastating the countryside and that he began to perform other public services, so that, little by little, his name came before the people. Eighteen is always a significant number. In it we have the number ten, which is the number of personality perfection, plus the number eight, which, we are told by some numerologists, is the number of the Christ force. It is the Christ force, in the new cycle of discipleship, seeking to express itself, which produces the condition of turmoil and the difficulties which characterize that stage. It is of value perhaps to note the following: |
Khi đạt đến tuổi mười tám, chúng ta được kể rằng chàng đã giết một con sư tử đang tàn phá vùng đồng quê, và rằng chàng bắt đầu thực hiện các công việc công ích khác, dần dần làm cho tên tuổi của chàng trở nên nổi tiếng. Số mười tám luôn là một con số có ý nghĩa đặc biệt. Trong đó, chúng ta có số mười, con số tượng trưng cho sự hoàn thiện của phàm ngã, cộng với số tám, con số mà một số nhà thần số học cho rằng tượng trưng cho năng lượng của Đức Christ. Chính năng lượng của Đức Christ, trong chu kỳ mới của đệ tử đạo, tìm cách biểu lộ, đã tạo nên trạng thái hỗn loạn và những khó khăn đặc trưng cho giai đoạn này. Có lẽ điều có giá trị là lưu ý đến điều sau: |
|
“Number eight is the circle which we have already found to be the container of all the potencies out of which the Light shall bring Perfection, but now twisted or turned upon itself. The serpent no longer swallows its tail, thus completing its cycle, but writhes and twists in space and out of the contortions of its writings it brings forth a perverted image of itself … But in eighteen we have the vision of the Straight and Narrow Path: the Dot has unfolded into the one and become the axis around which our life turns. At this step the Initiate has faced this one divine truth and felt the mighty urge of the One Life. Henceforth he strives to make the twisted line subservient to the straight line” (The Key of Destiny, H. A. and F. H. Curtiss. pp. 246-247). |
“Số tám là vòng tròn mà chúng ta đã thấy là nơi chứa đựng tất cả các tiềm năng, từ đó Ánh Sáng sẽ mang đến sự Hoàn Thiện, nhưng giờ đây bị xoắn lại hoặc uốn cong trên chính nó. Con rắn không còn nuốt đuôi của chính mình nữa, hoàn tất chu kỳ của nó, mà quằn quại và xoắn mình trong không gian, và từ những cơn quặn mình đó, nó tạo ra một hình ảnh méo mó của chính nó… Nhưng trong số mười tám, chúng ta có viễn cảnh về Con Đường Thẳng và Hẹp: Điểm đã mở rộng thành số một và trở thành trục quanh đó cuộc sống của chúng ta xoay chuyển. Tại bước này, người Điểm Đạo đã đối diện với chân lý thiêng liêng duy nhất này và cảm nhận được động lực vĩ đại của Một Sinh Mệnh. Từ đây trở đi, chàng phấn đấu làm cho đường xoắn trở nên phục tùng đường thẳng.” (The Key of Destiny, H. A. and F. H. Curtiss, tr. 246-247). |
|
It is interesting to note also that we are told in the Kabalah: |
Cũng đáng chú ý khi chúng ta được biết trong Kabbalah rằng: |
|
“The eighteenth path is called the House of Influence … and from the midst of the investigation the arcana and hidden sense are drawn forth which dwell in its shade and which cling to it from the cause of all causes.” (Sepher Yetzira, No. 30). |
“Con đường thứ mười tám được gọi là Nhà của Ảnh Hưởng… và từ giữa sự khảo sát, những bí ẩn và ý nghĩa ẩn giấu được rút ra, chúng cư ngụ trong bóng của nó và bám vào nó từ nguyên nhân của mọi nguyên nhân.” (Sepher Yetzira, No. 30). |
|
This is what Hercules, at the age of eighteen, is setting out to do. He must tread the Path whereon all the hidden things can be brought forth into the light; he has reached the point where he can achieve knowledge of himself and can begin to investigate the hidden forces of nature. This is the problem of all disciples. |
Đây chính là điều mà Hercules, ở tuổi mười tám, bắt đầu thực hiện. Chàng phải đi trên Thánh đạo nơi mà mọi điều ẩn giấu có thể được đưa ra ánh sáng; chàng đã đạt đến điểm mà chàng có thể đạt được tri thức về chính mình và bắt đầu điều tra các mãnh lực ẩn giấu của tự nhiên. Đây là vấn đề của tất cả các đệ tử. |
|
The next episode in his career is his marriage and the birth of three children, a symbolic way of expressing the truth that he made at-one-ment with Psyche, the soul. From that union [22] the three aspects of the soul were born or began to manifest themselves. He began to know the nature of the spiritual will and to use it in the directing of his life. He experienced the workings of spiritual love and became conscious of the need to serve. Spiritual mind began to reveal truth to him and he saw the underlying purpose. These are the higher correspondences of the three aspects of the personality, his mind, his emotional nature, and his physical body. |
Giai đoạn tiếp theo trong hành trình của chàng là kết hôn và sinh ba đứa con, một cách diễn đạt mang tính biểu tượng về sự thật rằng chàng đã hợp nhất với Psyche, linh hồn. Từ sự kết hợp đó, ba phương diện của linh hồn đã được sinh ra hoặc bắt đầu biểu hiện. Chàng bắt đầu nhận biết bản chất của ý chí tinh thần và sử dụng nó để chỉ đạo cuộc sống của mình. Chàng trải nghiệm hoạt động của tình thương tinh thần và trở nên ý thức về nhu cầu phụng sự. Trí tinh thần bắt đầu mặc khải chân lý cho chàng và chàng nhận thấy mục đích ẩn giấu. Đây là những tương ứng cao hơn của ba phương diện của phàm ngã—trí tuệ, bản chất cảm xúc và thể xác của chàng. |
|
We now discover him going through a very peculiar stage. We read in the ancient story that Hera (Psyche, or the soul) drove him mad. She drove him mad through jealousy and, whilst in that curious state, we read that he slew his children and his friends and everyone connected with him. May it not be suggested in this connection that he passed through that unwholesome state common to all beginners on the Path of Discipleship, in which a morbid conscientiousness sacrifices everybody and everything to individual soul unfoldment? This is a most common fault with aspirants. Their sense of proportion is frequently at fault and their sense of values distorted. The balanced and sane life, which is the ideal for a son of God, is subordinated to a fanatical determination to make spiritual progress. Spiritual ambition sways the aspirant and he becomes destructive, unbalanced and, usually, exceedingly difficult to live with. There is much sound counsel in the Biblical injunction, “Be not righteous overmuch, why shouldst thou die?” This stage is curiously exemplified for us on a large scale in the fanatical sacrifices made in the Orient, and under the Inquisition and the Protestant Covenanters, of all who interpreted truth contrary to the conviction of a particular group of believers. |
Giờ đây, chúng ta thấy chàng đang trải qua một giai đoạn rất kỳ lạ. Chúng ta đọc trong câu chuyện cổ rằng Hera (Psyche, hoặc linh hồn) đã làm chàng phát điên. Bà khiến chàng phát điên vì ghen tuông, và trong trạng thái kỳ lạ đó, chàng đã giết chết con mình, bạn bè và tất cả những ai có liên quan đến chàng. Có thể nào chúng ta gợi ý rằng chàng đã trải qua trạng thái bất ổn đó, vốn phổ biến với tất cả những người mới bắt đầu trên Con Đường Đệ Tử—trong đó một sự lương tâm quá mức bệnh hoạn hy sinh mọi người và mọi thứ cho sự phát triển cá nhân của linh hồn? Đây là một lỗi rất phổ biến đối với những người chí nguyện. Cảm giác về sự cân xứng của họ thường bị lệch lạc và giá trị bị bóp méo. Một cuộc sống cân bằng và tỉnh táo, vốn là lý tưởng của một người con của Thượng Đế, bị khuất phục bởi một quyết tâm cuồng tín để đạt được tiến bộ tinh thần. Tham vọng tâm linh chi phối người chí nguyện, khiến họ trở nên hủy diệt, mất cân bằng và thường vô cùng khó sống chung. Có rất nhiều lời khuyên hữu ích trong lời răn Kinh Thánh: “Chớ quá công chính, cớ gì con phải chết?” Giai đoạn này được thể hiện một cách kỳ lạ trên quy mô lớn trong những sự hy sinh cuồng tín ở phương Đông, dưới thời Tòa án Dị giáo và trong phong trào Thanh giáo Kháng Cách, khi tất cả những ai diễn giải chân lý khác với niềm tin của một nhóm tín đồ cụ thể đều bị hy sinh. |
|
When Hercules had recovered from his insanity, as he fortunately did, we are told that a new name was given to him, that a new abode was assigned to him and that the twelve labors were laid upon him for fulfilment. We are told that these words were spoken to him: “From this day forth thy [23] name shall no more be Alkeides, but Herakles. In Tirjus shall thou make thy abode, and there, serving, thou shalt accomplish thy labors. When this shall be accomplished then thou shalt become one of the Immortals.” (Greek and Roman Mythology, Vol. I, Fox.) Having recovered his sanity, the focus of his life was changed. He no longer lived down where he lived before. The name of the soul became his name, and he was constantly reminded thereby that to express the glory of the soul was his mission. The twelve great labors that were to set the seal of accomplishment upon his life, and which would indicate his right to join the great group of Immortals, were outlined to him and he entered upon the Way. |
Khi Hercules hồi phục khỏi cơn điên loạn của mình—may thay, chàng đã làm được—chúng ta được kể rằng một cái tên mới đã được ban cho chàng, một nơi cư trú mới được chỉ định cho chàng, và mười hai công việc được giao cho chàng hoàn thành. Chúng ta được kể rằng những lời này đã được nói với chàng: “Từ ngày hôm nay, tên của ngươi sẽ không còn là Alkeides, mà là Herakles. Ở Tirjus, ngươi sẽ cư trú, và ở đó, phụng sự, ngươi sẽ hoàn thành công việc của mình. Khi việc này được hoàn thành, ngươi sẽ trở thành một trong những Đấng Bất Tử.” (Greek and Roman Mythology, Vol. I, Fox). Sau khi hồi phục sự tỉnh táo, trọng tâm cuộc đời của chàng đã thay đổi. Chàng không còn sống ở nơi mà chàng đã từng sống. Tên của linh hồn trở thành tên của chàng, và qua đó, chàng được nhắc nhở liên tục rằng việc thể hiện sự huy hoàng của linh hồn chính là sứ mệnh của chàng. Mười hai công việc vĩ đại—được đặt ra để đặt dấu ấn hoàn thành lên cuộc đời chàng và xác định quyền của chàng để gia nhập nhóm các Đấng Bất Tử vĩ đại—đã được phác thảo cho chàng, và chàng bước vào Thánh đạo. |
|
We are told that in his person he symbolized the Fixed Cross in the heavens, formed by the four constellations Taurus, Leo, Scorpio and Aquarius. Tradition tells us that he was physically bullnecked, as well as psychologically stubborn and ready to attack any problem and to rush blindly into any undertaking. Nothing could turn him from his purpose, and we shall see when we study the labors that he rushed headlong into them. Nothing deterred him, nothing frightened him, and one-pointedly he went his way. The ancient motto that has governed the activities of all active disciples became his and his soul enjoined upon him the need of “the power to do, the power to dare, the power to be silent, and the power to know.” “The power to do” is the motto of Taurus, and this he exemplified in his twelve labors. He symbolized Leo, because he always wore the lion’s skin as a proof of his courage, and the motto of that sign being “the power to dare,” no danger affrighted him and no difficulty turned him back. |
Chúng ta được biết rằng, trong chính bản thân chàng , chàng tượng trưng cho Thập Giá Cố Định trên bầu trời, được tạo thành từ bốn chòm sao Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình. Truyền thống kể rằng chàng có một cái cổ to và vạm vỡ, cả về mặt thể chất lẫn tâm lý, và sẵn sàng tấn công bất kỳ vấn đề nào cũng như lao vào bất kỳ nhiệm vụ nào một cách mù quáng. Không gì có thể làm chàng chệch hướng khỏi mục đích của mình, và khi chúng ta nghiên cứu các công việc của chàng, chúng ta sẽ thấy rằng chàng lao vào chúng một cách bất chấp. Không có gì có thể ngăn cản chàng, không có gì có thể làm chàng sợ hãi, và với sự nhất tâm, chàng đã tiến bước. Châm ngôn cổ xưa đã chi phối mọi hoạt động của tất cả các đệ tử tích cực cũng trở thành của chàng, và linh hồn chàng đã truyền dạy cho chàng nhu cầu về: “quyền năng để hành động, quyền năng để dám dấn thân, quyền năng để giữ im lặng và quyền năng để hiểu biết.” “Quyền năng để hành động” là phương châm của Kim Ngưu, và điều này được chàng thể hiện trong mười hai công việc của mình. Chàng tượng trưng cho Sư Tử, vì chàng luôn khoác trên mình bộ da sư tử như một bằng chứng về lòng dũng cảm của mình, và phương châm của dấu hiệu đó là “quyền năng để dám dấn thân”—không nguy hiểm nào làm chàng khiếp sợ, không khó khăn nào khiến chàng chùn bước. |
|
Perhaps his outstanding achievement was what he accomplished in the sign Scorpio; for the great work was to overcome illusion. It was consummated and carried to completion in the sign Scorpio. The motto of that sign is silence. In Capricorn he becomes the Initiate, and this stage is always impossible until illusion has been overcome and the power of silence has been [24] achieved. Therefore, when an infant in the cradle, unable to speak, he symbolized the high water mark of his achievement by strangling the two serpents. Then, at his maturity, he symbolized in himself Aquarius the Man, whose motto is “to know”. He had a mind and used his intellect in active work and service. So, doing and daring, in silence and with knowledge, he overcame all obstacles and passed undeterred from Aries to Pisces; starting in Aries as the humble aspirant and ending in Pisces as the all-knowing, victorious World Savior. |
Có lẽ thành tựu nổi bật nhất của chàng là những gì chàng đạt được trong dấu hiệu Hổ Cáp; vì công việc vĩ đại là vượt qua ảo tưởng. Điều này đã được hoàn tất và đưa đến sự hoàn thành trong dấu hiệu Hổ Cáp. Phương châm của dấu hiệu này là sự im lặng. Trong Ma Kết, chàng trở thành điểm đạo đồ, và giai đoạn này luôn là điều không thể đạt được cho đến khi ảo tưởng đã bị khắc phục và quyền năng của sự im lặng đã được lĩnh hội. Do đó, khi còn là một đứa trẻ trong nôi, không thể nói được, chàng đã biểu thị đỉnh cao thành tựu của mình bằng cách bóp chết hai con rắn. Sau đó, khi trưởng thành, chàng tượng trưng cho Bảo Bình—Người, có phương châm là “hiểu biết”. Chàng có một trí tuệ và sử dụng trí năng của mình trong công việc và phụng sự tích cực. Vì vậy, khi hành động và dám dấn thân, trong im lặng và với tri thức, chàng đã vượt qua mọi chướng ngại và tiến bước không nao núng từ Bạch Dương đến Song Ngư; bắt đầu trong Bạch Dương như một người chí nguyện khiêm tốn và kết thúc trong Song Ngư như một Đấng Cứu Thế Toàn Tri và Chiến Thắng. |
|
One point might be made here. In the history of Hercules we are told nothing of what he ever said; we are only told of what he did. Through his deeds, he earned the right to speak. In the story of that greater Son of God, Jesus the Christ, we are told not only what he did but also what he said. In the silence of Hercules and in his steady accomplishment, no matter by what failure and difficulty he might be faced, and in his power of endurance, we have shown to us the characteristics of the disciple. In the story of Jesus the Christ, through the demonstration of his powers and by the words he spoke, we have the proofs of the Initiate. |
Có một điểm đáng lưu ý ở đây. Trong lịch sử của Hercules, chúng ta không được kể về bất kỳ điều gì chàng từng nói; chúng ta chỉ được biết về những gì chàng đã làm. Thông qua hành động của mình, chàng đã giành được quyền được lên tiếng. Trong câu chuyện về Đấng Con Vĩ Đại hơn, Đức Jesus Christ, chúng ta không chỉ được biết những gì Ngài đã làm mà còn những lời Ngài đã nói. Trong sự im lặng của Hercules và trong sự hoàn thành vững chắc của chàng , bất kể chàng phải đối mặt với thất bại hay khó khăn gì, và trong quyền năng chịu đựng của chàng , chúng ta thấy được những phẩm tính của một đệ tử. Trong câu chuyện về Đức Jesus Christ, qua sự thể hiện quyền năng của Ngài và qua những lời Ngài phán dạy, chúng ta có được những minh chứng về một điểm đạo đồ. |
|
And now having reached maturity, having evolved the characteristics necessary for his mission, we read that the gods and goddesses did their utmost to equip him for the work that he had to do. He had received all that the world could give him; now the powers of the soul were conferred upon him, and he had to learn how to use them. We read that Minerva gave him a beautiful robe but, as we never read of his wearing it, we can infer that something symbolic is intended. There are many cases in history where a robe is given: Joseph received a many-colored garment from his father; the mantle of Elijah descended upon Elisha, and the robe of Christ was divided up and quarrelled over by the soldiers at the crucifixion. It is the general opinion that the robe is the symbol of vocation. The vocation of Elijah had passed on to Elisha; the vocation of the Christ, the World Savior, came to an end at the crucifixion [25] when he entered upon greater and more important work. |
Và giờ đây, khi đã đạt đến sự trưởng thành, khi đã phát triển những phẩm tính cần thiết cho sứ mệnh của mình, chúng ta đọc thấy rằng các vị thần và nữ thần đã làm hết sức mình để trang bị cho chàng những gì cần thiết để thực hiện công việc của mình. Chàng đã nhận được tất cả những gì thế gian có thể ban cho chàng ; giờ đây, các quyền năng của linh hồn đã được trao cho chàng , và chàng phải học cách sử dụng chúng. Chúng ta đọc được rằng Minerva đã tặng chàng một chiếc áo choàng tuyệt đẹp, nhưng vì không thấy đề cập đến việc chàng từng mặc nó, chúng ta có thể suy luận rằng đó là một biểu tượng. Trong lịch sử có rất nhiều trường hợp một chiếc áo choàng được ban tặng: Giuse nhận được chiếc áo nhiều màu từ cha mình; chiếc áo choàng của Ê-li đã truyền lại cho Ê-li-sê; và áo choàng của Đức Christ đã bị chia cắt và tranh giành bởi những người lính tại cuộc đóng đinh. Ý kiến chung cho rằng áo choàng là biểu tượng của thiên chức. Thiên chức của Ê-li đã truyền lại cho Ê-li-sê; thiên chức của Đức Christ, Đấng Cứu Thế, đã kết thúc tại cuộc đóng đinh, khi Ngài bước vào một công việc vĩ đại hơn và quan trọng hơn. |
|
The wisdom that was now realized by Hercules because he had made the at-one-ment with the soul, impressed upon him a sense of vocation. He was pledged to the spiritual life and nothing could deter him. Vulcan gave him a golden breastplate, magnetic and protective, the symbol of energy, emanating from high sources of spiritual power, which will enable the aspirant to undertake the twelve labors and go forward unafraid. From Neptune, the god of the waters, he received horses. The symbology underlying this gift is very interesting. Horses, as well as Neptune, the god of the waters and the deity of the watery, emotional nature, stand for the capacity to be carried away by either a line of thought or an emotional reaction. This emotional, fluidic nature, with its sensitivity and its power to feel, when rightly used and subordinated to godlike purposes, is one of the greatest assets that the disciple possesses. With the aid of Neptune and the rapid steeds, Hercules could be en rapport with the most distant sphere in which his labors could be cast. Through emotional sensitivity and response, we, too, can be en rapport with the world in which our labors are cast. Equipped, therefore, with vocation, spiritual energy and sensitivity, the gift of a sword that came from Mercury, the messenger of the gods, is of profound significance, for the sword is the symbol of the mind which divides asunder, separates and cuts off. Through its use, Mercury added to the other gifts bestowed upon Hercules that of mental analysis and discrimination. We are told that Apollo, the Sun God himself, became interested in Hercules and pondered what he could give him that would serve him. Finally he gave him a bow and arrow, symbolizing the capacity to go straight to the goal; symbol, too, of that piercing illumination, that shaft of Light which could irradiate the darkness of his path, when needed. |
Minh triết mà Hercules giờ đây lĩnh hội được vì chàng đã đạt đến sự hợp nhất với linh hồn, đã khắc sâu trong chàng ý thức về thiên chức. Chàng đã cam kết với đời sống tinh thần và không gì có thể làm chàng chệch hướng. Vulcan đã ban cho chàng một tấm giáp vàng, có từ tính và bảo vệ, tượng trưng cho năng lượng phát xuất từ các nguồn quyền năng tinh thần cao cả, điều sẽ giúp người chí nguyện đảm nhận mười hai công việc và tiến bước không sợ hãi. Từ Neptune, vị thần của nước, chàng nhận được những con ngựa. Biểu tượng ẩn sau món quà này rất thú vị. Ngựa, cũng như Neptune—vị thần của nước và là thần của bản chất cảm xúc lưu động—đại diện cho khả năng bị cuốn theo một dòng suy nghĩ hoặc một phản ứng cảm xúc. Bản chất cảm xúc lưu động này, với sự nhạy cảm và quyền năng cảm nhận của nó, khi được sử dụng đúng đắn và quy phục mục đích thiêng liêng, trở thành một trong những tài sản quý giá nhất mà một đệ tử có thể có. Với sự hỗ trợ của Neptune và những con tuấn mã nhanh nhẹn, Hercules có thể thiết lập liên hệ với những lĩnh vực xa xôi nhất nơi công việc của chàng có thể diễn ra. Thông qua sự nhạy cảm và phản ứng cảm xúc, chúng ta cũng có thể liên hệ với thế giới mà chúng ta đang thực hiện công việc của mình. Với thiên chức, năng lượng tinh thần và sự nhạy cảm, món quà của một thanh kiếm đến từ Mercury, sứ giả của các vị thần, mang một ý nghĩa sâu sắc, vì thanh kiếm tượng trưng cho trí tuệ có khả năng phân tách, phân biệt và loại bỏ. Nhờ sử dụng nó, Mercury đã bổ sung cho Hercules món quà về khả năng phân tích trí tuệ và sự phân biện tinh thần. Chúng ta được biết rằng Apollo, chính vị thần Mặt Trời, đã quan tâm đến Hercules và suy ngẫm xem có thể ban cho chàng điều gì hữu ích. Cuối cùng, Ngài đã trao cho chàng một cây cung và mũi tên, biểu tượng của khả năng đi thẳng đến mục tiêu; đồng thời cũng là biểu tượng của ánh sáng soi rọi, của tia sáng minh triết có thể chiếu rọi bóng tối trên con đường của chàng khi cần thiết. |
|
Thus equipped, Hercules stands ready for the great endeavor. And when all the gifts had been bestowed and he stood with his divine equipment, we read of a most intriguing little detail: [26] he went out and cut for himself a club. All these divine gifts were very lovely and wonderful, but as yet he did not know how to use them. He sensed his vocation, he believed in spiritual energy, he was told that he possessed the horses of contact and that, if he would, the bow and arrow of illumination were his; but he liked the familiar club of his own fashioning. He would rather bludgeon his way through with what he knew he could use than use the unfamiliar tools which had been given him. So he clutched his wooden club and set out upon his labors. [27] |
Như vậy, được trang bị đầy đủ, Hercules sẵn sàng cho đại nghiệp. Và khi tất cả các món quà đã được ban tặng, và chàng đứng với những trang bị thiêng liêng của mình, chúng ta đọc được một chi tiết rất thú vị: chàng đi ra ngoài và tự tay đẽo một cây gậy. Tất cả những món quà thiêng liêng này đều tuyệt vời và kỳ diệu, nhưng chàng vẫn chưa biết cách sử dụng chúng. Chàng cảm nhận được thiên chức của mình, chàng tin vào năng lượng tinh thần, chàng được cho biết rằng chàng sở hữu những con tuấn mã của sự kết nối và rằng, nếu chàng muốn, cây cung và mũi tên của sự soi sáng đã là của chàng ; nhưng chàng vẫn thích chiếc gậy quen thuộc do chính mình tạo ra. Chàng thà dùng sức mạnh thô sơ với thứ mà chàng biết cách sử dụng, hơn là dùng những công cụ xa lạ được ban tặng. Vì vậy, chàng nắm chặt cây gậy gỗ của mình và bắt đầu những công việc của mình. |