Những Kỳ Công Của Hercules – Kỳ Công Song Ngư

📘 Sách: Labours of Hercules – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

LABOR XII

The Capture of the Red Cattle of Geryon
Bắt Giữ Đàn Gia Súc Màu Đỏ của Geryon

(Pisces, February 20th—March 20th)

A poster of a person and a group of animals



AI-generated content may be incorrect.

The Myth

Within the sacred Council Chamber, the great Presiding One revealed unto the Teacher the Will of What Must Be.

Bên trong Phòng Hội Đồng Thiêng Liêng, Đấng Chủ Tọa Vĩ Đại đã tiết lộ cho Vị Huấn Sư về Ý Chí của Điều Phải Là.

“Lost he is, and found; dead, yet vibrant with Life. The server becomes the savior, and homeward turns.”

“Y bị lạc lối, nhưng rồi được tìm thấy; đã chết, nhưng vẫn tràn đầy Sự Sống. Người phụng sự trở thành Đấng Cứu Rỗi, và quay về nhà.”

The Teacher pondered; then he called for Hercules. “Before the last gate now you stand,” the Teacher said, “One labor yet remains before the circle is complete, and liberation is attained. Proceed to that dark place called Erytheia where Great Illusion is enthroned where Geryon, the monster of three heads, three bodies and six hands, is lord and king. Unlawfully he holds a herd of dark red cattle. From Erytheia to our Sacred City must you drive this herd. Beware of Eurytion, the shepherd, and his two-headed dog, Orthrus.” He paused. “One caution I can give,” he added slowly. “Invoke the aid of Helius.”

Vị Huấn Sư suy ngẫm, rồi triệu gọi Hercules. “Giờ đây con đang đứng trước cánh cửa cuối cùng,” Vị Huấn Sư nói. “Còn một công việc nữa trước khi vòng tròn được hoàn tất và đạt đến sự giải thoát. Hãy đi đến nơi tối tăm mang tên Erytheia, nơi Đại Ảo Tưởng ngự trị, nơi Geryon—con quái vật ba đầu, ba thân và sáu tay—làm chúa tể và vua. Hắn đang giữ đàn gia súc đỏ thẫm một cách bất hợp pháp. Con phải lùa chúng từ Erytheia về Thành Phố Thiêng của chúng ta. Hãy cẩn trọng với Eurytion, người chăn súc, và con chó hai đầu Orthrus của hắn.” Ngài dừng lại. “Ta có thể ban cho con một lời khuyên,” Ngài chậm rãi nói thêm, “hãy cầu xin sự trợ giúp của Helius.”

Through Gate the Twelfth the son of man who was also the Son of God departed. In search of Geryon he went.

Qua Cổng thứ Mười Hai, người con của nhân loại, cũng là Con của Thượng Đế, khởi hành. Chàng lên đường tìm kiếm Geryon.

Within a temple Hercules made offerings to Helius, the god of fire in the sun. For seven days he meditated, and then a favor was bestowed on him. A golden chalice fell upon the ground before his feet. He knew within himself that this bright object would enable him to cross the seas to reach the land of Erytheia.

Trong một ngôi đền, Hercules dâng lễ vật lên Helius, vị thần lửa trong mặt trời. Trong bảy ngày, chàng tham thiền, rồi một ân huệ được ban xuống. Một chiếc chén vàng rơi xuống ngay trước chân chàng. Chàng tự hiểu rõ rằng vật thể sáng rực này sẽ giúp chàng vượt biển để đến vùng đất Erytheia.

And so it was. Within the safe protection of the golden chalice, he sailed across the tossing seas until he came to Erytheia. Upon a strand in that far country, Hercules debarked. [196]

Và đúng như vậy. Dưới sự bảo vệ an toàn của chiếc chén vàng, chàng vượt qua những cơn sóng dữ cho đến khi đến được Erytheia. Trên một bờ cát xa xôi của vùng đất ấy, Hercules đặt chân lên bờ.

Not long thereafter he came upon the pasture land where the red-hued cattle grazed. Guarded were they by the shepherd Eurytion and the double-headed dog, Orthrus.

Không lâu sau đó, chàng đến đồng cỏ nơi đàn gia súc đỏ thẫm đang gặm cỏ. Chúng được canh giữ bởi người chăn cừu Eurytion và con chó hai đầu Orthrus.

When Hercules approached, the dog sped forward like an arrow to its target. Upon the visitor the creature hurled itself, snarling viciously, its bared fangs fiercely snapping. With one decisive blow did Hercules lay the monster low.Then Eurytion, fearful of the brave warrior who stood before him, supplicated that his life be spared. Hercules conceded his request. Driving the blood-red cattle before him, Hercules turned his face toward the Sacred City.

Khi Hercules tiếp cận, con chó lao tới như một mũi tên nhắm vào mục tiêu. Nó phóng đến kẻ lạ mặt, gầm gừ dữ tợn, để lộ những chiếc nanh sắc bén. Chỉ với một cú đánh dứt khoát, Hercules đã hạ gục con quái vật. Eurytion, khiếp sợ trước dũng sĩ oai hùng đứng trước mặt, cầu xin được tha mạng. Hercules chấp thuận lời cầu xin ấy. Chàng lùa đàn gia súc đỏ như máu tiến về Thành Phố Thiêng.

Not far had he gone when he perceived a distant cloud of dust that rapidly grew larger. Surmising that the monster Geryon had come in mad pursuit, he turned to face his foe. Soon Geryon and Hercules stood face to face. Breathing fire and flame from all three heads at once, the monster came upon him.

Đi chưa được bao xa thì nhận thấy một đám bụi cuộn lên từ phía xa, mỗi lúc một lớn dần. Đoán rằng quái vật Geryon đang điên cuồng truy đuổi, chàng quay lại đối mặt với kẻ thù. Chẳng mấy chốc, Geryon và Hercules đối diện nhau. Lửa và khói phun ra từ cả ba cái đầu cùng lúc, con quái vật lao tới.

Geryon hurled a spear at Hercules that almost hit its mark. Stepping agilely aside, Hercules evaded the deadly shaft.

Geryon phóng một cây giáo về phía Hercules, suýt trúng đích. Chàng nhanh nhẹn né sang một bên, tránh được mũi giáo chết người.

Stretching taut his bow, Hercules let fly an arrow that seemed to burn the air as he released it, and struck the monster squarely in the side. With such great impetus had it been shot that all three bodies of fierce Geryon were pierced. With a shrill, despairing groan, the monster swayed, then fell, nevermore to rise.

Hercules giương cung bắn ra một mũi tên, nó xuyên qua không trung như thiêu đốt không khí, cắm thẳng vào sườn quái vật. Với sức mạnh to lớn của mũi tên, cả ba thân thể hung tợn của Geryon đều bị xuyên thủng. Con quái gào thét lên tuyệt vọng vật lảo đảo rồi đổ gục, vĩnh viễn không còn đứng lên được nữa.

Toward the Sacred City, then, Hercules drove the sleek, red cattle. Difficult was the task. Again and yet again some cattle strayed, and Hercules would leave the herd in search of errant wanderers.

Hercules tiếp tục lùa đàn gia súc bóng mượt, đỏ hướng về Thành Phố Thiêng. Nhiệm vụ này vô cùng gian nan. Hết lần này đến lần khác, một vài con đi lạc, buộc Hercules phải tạm dừng để tìm lại chúng.

Across the Alps he drove his cattle, and into Italy. Wherever wrong had triumphed he dealt the powers of evil a deadly blow, and righted the balance in favor of justice. When Eryx the wrestler challenged him, Hercules cast him down so forcefully that there he stayed. Again, when the giant Alcyoneus threw a rock that weighed a ton at Hercules, the latter caught it [197] on his club, and hurled it back to kill the one who sent it forth. At times he lost his way, but always Hercules turned back, retraced his steps, and journeyed on. Though wearied by this most exacting labor, Hercules at last returned. The Teacher awaited his coming.

Chàng lùa đàn gia súc băng qua dãy Alps, tiến vào nước Ý. Ở bất kỳ nơi nào cái ác hoành hành, chàng đều giáng một đòn chí mạng vào thế lực tà ác, thiết lập lại sự công bằng. Khi Eryx, đô vật thách thức chàng, Hercules quật ngã hắn một cách mạnh mẽ đến mức hắn không thể đứng dậy. Một lần khác, khi gã khổng lồ Alcyoneus ném một tảng đá nặng cả tấn vào chàng, Hercules đã dùng chùy đỡ lấy rồi ném trả, hạ gục kẻ tấn công. Đôi khi chàng lạc lối, nhưng luôn quay lại, lần theo dấu chân cũ, và tiếp tục cuộc hành trình. Dù kiệt sức vì nhiệm vụ đầy gian khổ này, cuối cùng, Hercules cũng trở về. Huấn Sư đã chờ sẵn để đón chàng.

“Welcome, O Son of God who is also a son of man,” he greeted the returning warrior. “The jewel of immortality is yours. By these twelve labors have you overcome the human, and put on the divine. Home have you come, no more to leave. Upon the starry firmament your name shall be inscribed, a symbol to the struggling sons of men of their immortal destiny. The human labors ended, your cosmic tasks begin.”

“Chào mừng con, hỡi Người Con của Thượng Đế mà cũng là người con của nhân loại,” Ngài chào đón người chiến binh trở về. “Viên ngọc bất tử đã thuộc về con. Qua mười hai công việc này, con đã vượt qua nhân loại và khoác lên mình phẩm tính thiêng liêng. Con đã về nhà, sẽ không bao giờ phải rời đi nữa. Trên bầu trời đầy sao, tên con sẽ được khắc ghi, trở thành biểu tượng cho những người con của nhân loại đang phấn đấu cho vận mệnh bất tử của họ. Những kỳ công của nhân loại đã chấm dứt, nhiệm vụ vũ trụ của con nay khởi đầu.”

From out the Council Chamber came a voice that said, “well done, O Son of God.”

Từ Phòng Hội Đồng vang lên một giọng nói: ” HỡiNgười Con của Thượng Đế, ngươi đã hoàn thành tốt lắm.”

F.M.

Interpretation of the Story—Giải thích câu chuyện

There are several variations of the myth concerning the labor of Hercules in the sign Pisces. We are told that there was an island where lived a human monster called Geryon with a body of three men united. He had a herd of red cattle, guarded by a shepherd and a two-headed dog. Hercules received orders (Pisces is the sign of obedience) to bring these cattle from the island, across land and water to the sacred city.

Có nhiều dị bản về huyền thoại liên quan đến công việc của Hercules dưới dấu hiệu Song Ngư. Người ta kể rằng có một hòn đảo nơi một quái vật hình người tên là Geryon sinh sống, với ba cơ thể của ba người hợp lại thành một. Hắn sở hữu một đàn gia súc màu đỏ thẫm, được canh giữ bởi một người chăn và một con chó hai đầu. Hercules nhận lệnh (Song Ngư là dấu hiệu của sự vâng phục) phải đưa đàn gia súc từ hòn đảo, vượt qua đất liền và biển cả, đến Thành Phố Thiêng.

Hercules sailed to the island in a golden cup and when he arrived there he climbed to the top of a mountain and spent the night in prayer. Then he killed the two-headed dog but he did not kill the shepherd. He also killed the owner of the red cattle. Here is the beautiful part of the story: Hercules placed all of the cattle in the golden cup, in which he had sailed over to the island, took them to the Sacred City, and offered them in sacrifice to Athena, Goddess of Wisdom. This sacred city consisted of two towns connected by a wonderful wall and a gateway called the Gateway of the Lion. After the cattle were delivered Hercules’ work was over. We hear no more about him but he may have gone on to greater cosmic work. [198]

Hercules vượt biển đến hòn đảo trên một chiếc chén vàng. Khi đến nơi, chàng leo lên đỉnh núi và trải qua đêm trong lời cầu nguyện. Sau đó, chàng giết con chó hai đầu nhưng không giết người chăn. Chàng cũng giết chủ nhân của đàn gia súc đỏ thẫm. Đây là phần tuyệt đẹp của câu chuyện: Hercules đặt tất cả gia súc vào chiếc chén vàng mà chàng đã dùng để vượt biển, rồi mang chúng đến Thành Phố Thiêng và dâng lên Athena, Nữ thần Minh Triết, như một lễ vật hiến tế. Thành Phố Thiêng này gồm hai thị trấn được nối liền bởi một bức tường kỳ diệu và một cổng vào được gọi là Cổng Sư Tử. Khi đàn gia súc đã được giao nộp, công việc của Hercules hoàn tất. Chúng ta không còn nghe thêm điều gì về chàng, nhưng có lẽ chàng đã tiếp tục những công việc vũ trụ cao cả hơn.

Let us think of Hercules as a world savior. He has had a vision of something he has to do. He sees humanity owned by a monster, a three-bodied man, the symbol of a human being with mental, emotional and physical bodies united. I think that this labor has not yet been completed; this accomplishment lies ahead. There have been other sons of men gathered out of the human family from time to time, one here one there, a group here and another there, as when the Buddha was on earth and it is said that he saved nine hundred. Now humanity, the human monster, is ready for salvation and the real work of The World Savior can begin as a whole with the group concept underlying the work rather than individual soul saving.

Chúng ta hãy nghĩ về Hercules như một Đấng Cứu Thế. Chàng có một linh ảnh về điều mình phải làm. Chàng nhận thấy nhân loại bị một quái vật sở hữu—một con người ba thân, tượng trưng cho một con người với ba thể—thể trí, thể cảm xúc và thể xác—hợp nhất. Tôi cho rằng nhiệm vụ này vẫn chưa hoàn thành; thành tựu đó vẫn còn nằm ở phía trước. Trong quá khứ, đã có những người con của nhân loại được chọn lọc từ nhân loại, một người ở đây, một người ở kia, một nhóm ở đây, một nhóm khác ở kia, giống như khi Đức Phật giáng thế, người ta nói rằng Ngài đã cứu độ chín trăm người. Giờ đây, nhân loại—con quái vật ba thân—đã sẵn sàng để được cứu độ, và công việc thực sự của Đấng Cứu Thế có thể bắt đầu, với ý niệm về nhóm là nền tảng của công việc, thay vì chỉ cứu rỗi từng linh hồn riêng lẻ.

The symbolism of the red cattle is plainly that of the lower desires, desire being ever an outstanding characteristic of humanity. They are guarded by a shepherd, which is the mind, the two-headed dog representing the matter aspect and the psychic nature. You see why Hercules spared the shepherd. The mind can still be the shepherd of the cattle but the two-headed dog, the psychic-emotional nature and the matter aspect, Hercules killed, which means that they were deprived of any power. The shepherd still had power and I can conceive of no time in which a human being in incarnation will not need to use the mind as the interpreter of spiritual energy.

Biểu tượng của đàn gia súc đỏ thẫm rõ ràng là biểu tượng của dục vọng thấp kém, vì dục vọng luôn là một đặc điểm nổi bật của nhân loại. Chúng được một người chăn cừu canh giữ, tượng trưng cho thể trí, còn con chó hai đầu đại diện cho khía cạnh vật chất và bản chất thông linh. Đó là lý do tại sao Hercules tha mạng cho người chăn cừu. Trí tuệ vẫn có thể là người chăn giữ đàn gia súc, nhưng con chó hai đầu, tức bản chất thông linh-cảm xúc và khía cạnh vật chất, đã bị Hercules tiêu diệt, nghĩa là chúng bị tước đoạt mọi quyền lực. Người chăn vẫn còn quyền lực, và tôi không thể hình dung một thời điểm nào mà con người nhập thế lại không cần sử dụng trí tuệ như một công cụ diễn giải năng lượng tinh thần.

If Jesus as a human being, en rapport with his soul, becomes a transmitter of light to the sons of men, so we can extend the concept and think of humanity as a whole with all minds held steady in the light, transmitting to lower kingdoms in nature that spiritual energy which will raise them up into heaven. That is the work of humanity. We are so occupied with our own problems that we forget the larger picture. It is to be noted again that the keeper of the cattle, the form aspect, was also killed but the shepherd and the cattle were raised up in the golden cup. Here you have the Holy Grail; and so the work was accomplished. The World Savior had fulfiled his [199] function. He had lifted up humanity. That is what all world saviors have done. They all did what, to a greater extent, Christ did.

Nếu Đức Jesus, với tư cách một con người, hoà hợp với linh hồn mình, trở thành một người truyền dẫn ánh sáng cho nhân loại, thì chúng ta có thể mở rộng khái niệm này và nghĩ về nhân loại như một tổng thể, với mọi thể trí vững vàng trong ánh sáng, truyền đạt năng lượng tinh thần xuống các giới thấp hơn trong thiên nhiên, nâng chúng lên thiên đường. Đó là công việc của nhân loại. Chúng ta quá bận tâm với những vấn đề của riêng mình mà quên đi bức tranh toàn cảnh. Một lần nữa, cần lưu ý rằng kẻ giữ gia súc—khía cạnh hình tướng—cũng đã bị giết, nhưng người chăn và đàn gia súc được nâng lên trong chiếc chén vàng. Ở đây, các bạn có hình ảnh của Chén Thánh, và như vậy, công việc đã hoàn tất. Đấng Cứu Thế đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Ngài đã nâng nhân loại lên cao. Đó là điều mà tất cả các Đấng Cứu Thế trên thế gian đã làm. Họ đều thực hiện điều mà trên một mức độ cao hơn Đức Christ đã thực hiện.

We hear about the failure of Christianity. I do not see failure anywhere in the Great Plan. Perhaps slowness, but do you know how disastrous it would be if evolution were too rapid, how dangerous it would be if people were over-stimulated before they were ready? All teachers know the dangers of over-stimulation, the disasters that occur when a person makes certain contacts before the mechanism is sufficiently tuned up. World saviors have to work slowly, but time means nothing to them.

Chúng ta thường nghe về sự thất bại của Cơ Đốc giáo. Tôi không thấy có sự thất bại nào trong Thiên Cơ Vĩ Đại. Có thể là sự chậm chạp, nhưng liệu các bạn có biết rằng nếu sự tiến hóa diễn ra quá nhanh, điều đó sẽ tai hại đến mức nào, nếu con người bị kích thích quá mức trước khi họ sẵn sàng thì sẽ nguy hiểm ra sao không? Mọi huấn sư đều biết rõ những nguy hiểm của sự kích thích quá mức, những thảm họa xảy ra khi một người thiết lập những tiếp xúc nhất định trước khi cơ cấu của họ được điều chỉnh phù hợp. Các Đấng Cứu Thế phải làm việc một cách chậm rãi, nhưng thời gian không có ý nghĩa gì đối với các Ngài.

The term, world savior, has until now been associated with the thought of the emergence of a great son of God out of the Father’s home, called by the need of humanity to do a great work. Down the ages they have come, dwelt in physical bodies, worked through an emotional nature and have been exceedingly intelligent. They have by their lives set an example that we may follow in their steps; by their words they have sounded the note, the message that humanity needed in order to take the immediate next step forward. In their acts they have given a demonstration of service, gone about the world doing good, and their names have stayed with us down the ages. You must be a very dominant figure to remain in the minds of men for thousands of years. Most of us are forgotten in twenty.

Thuật ngữ “Đấng Cứu Thế ” cho đến nay vẫn gắn liền với hình ảnh của một Người Con Vĩ đại của Thượng Đế xuất hiện từ Nhà của Cha, được nhân loại khẩn cầu bởi nhu cầu cấp thiết để thực hiện một sứ mệnh vĩ đại. Xuyên suốt các thời đại, các Ngài đã đến, nhập thế trong thân xác hồng trần, làm việc qua một bản chất cảm xúc và sở hữu trí tuệ siêu việt. Qua cuộc sống của mình, các Ngài đã nêu gương để nhân loại có thể noi theo; qua lời dạy, các Ngài đã vang lên âm điệu, truyền đạt thông điệp mà nhân loại cần để tiến lên bước kế tiếp; qua hành động, các Ngài đã thể hiện sự phụng sự, đi khắp thế gian để làm điều thiện, và tên tuổi các Ngài vẫn còn vang vọng qua các thời đại. Để một người còn được nhớ đến trong tâm trí nhân loại suốt hàng ngàn năm, hẳn người đó phải là một nhân vật phi thường. Trong khi hầu hết chúng ta đều bị lãng quên chỉ sau hai mươi năm.

Significant Aspect of the Sign—Khía cạnh Ý Nghĩa của Dấu hiệu

The sign Pisces marks a triangular place in the heavens, a symbol of reality. This sign rules the feet and hence the idea of treading the Path and attaining the goal has been the underlying spiritual revelation of the Piscean age.

Dấu hiệu Song Ngư đánh dấu một vị trí tam giác trên thiên giới, một biểu tượng của thực tại. Dấu hiệu này chi phối đôi chân, do đó ý niệm về việc dấn bước trên Thánh đạo và đạt đến mục tiêu đã trở thành sự mặc khải tinh thần chủ đạo của thời đại Song Ngư.

Pisces is also the sign of death in various aspects. The death of the body sometimes, or it may be that an old foolishness has come to an end, an undesirable friendship will cease, devotion to some religious form of thought that has held you will now [200] end and you will emerge and set your feet upon a new path. It is the sign of death to the personality. If we could give up the idea of the personality veils, we would be willing to let the personality go. It also means the death of a world savior for it is the sign of crucifixion and marks the end of a zodiacal cycle.

Song Ngư cũng là dấu hiệu của cái chết dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Đôi khi đó là cái chết của thể xác, hoặc có thể là sự chấm dứt của một sự ngu muội cũ, một mối quan hệ không mong muốn kết thúc, hay sự tận hiến đối với một hình thức tư tưởng tôn giáo đã kìm giữ bạn giờ đây chấm dứt, và bạn sẽ xuất hiện, đặt chân lên một con đường mới. Đây là dấu hiệu của cái chết đối với phàm ngã. Nếu chúng ta có thể từ bỏ ý niệm rằng phàm ngã là tấm màn che phủ, thì chúng ta sẽ sẵn lòng để buông bỏ nó. Nó cũng tượng trưng cho cái chết của một Đấng Cứu Thế thế gian, vì đây là dấu hiệu của sự đóng đinh và đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ hoàng đạo.

There are three signs of salvation in the Zodiac. First, Leo, where the word goes out to the human being, “work out your own salvation”. So we have in Leo the man determined to stand on his own legs, he becomes bumptious and assertive but this is necessary to salvation because only by trying out his equipment will he arrive at the point where a broader view appears. The second sign of salvation is Sagittarius, the sign of service and silence, where the assertive man, tired of talking of himself and pushing himself forward, loses sight of himself in the goal and silently serves. Then we come to the third sign Pisces, that of world saviors.

Có ba dấu hiệu của sự cứu rỗi trong Hoàng đạo. Thứ nhất là Sư Tử, nơi phát ra thông điệp đến con người: “Hãy tự mình rèn luyện sự cứu rỗi của ngươi.” Vì vậy, trong dấu hiệu Sư Tử, con người quyết tâm đứng vững trên đôi chân của mình, y trở nên kiêu hãnh và khẳng định bản thân, nhưng điều này là cần thiết cho sự cứu rỗi, vì chỉ khi thử nghiệm khả năng của mình, y mới đạt đến điểm nơi một tầm nhìn rộng lớn hơn xuất hiện. Dấu hiệu thứ hai của sự cứu rỗi là Nhân Mã, dấu hiệu của sự phụng sự và im lặng, nơi con người từng khẳng định cái tôi, sau khi đã mệt mỏi với việc nói về bản thân và tự đẩy mình lên trước, đánh mất chính mình trong mục tiêu và phụng sự một cách lặng lẽ. Sau đó, chúng ta đến với dấu hiệu thứ ba, Song Ngư, dấu hiệu của các Đấng Cứu Thế thế gian.

The first constellation in Pisces is that curious cluster of stars called “The Band”, connecting the two fishes, one fish headed straight to the north and the other swimming on the horizon. The fish headed toward the north is the symbol of the aspirant to the mysteries while the fish on the horizon represents the average person.

Chòm sao đầu tiên trong Song Ngư là cụm sao kỳ lạ có tên “Dải Băng,” kết nối hai con cá, một con hướng thẳng về phương bắc và con kia bơi theo đường chân trời. Con cá hướng về phương bắc là biểu tượng của người chí nguyện đang hướng về các huyền nhiệm, trong khi con cá trên đường chân trời đại diện cho con người trung bình.

The second constellation is Andromeda, the chained woman. We have three women among the constellations, Cassiopeia in Aries representing matter seated in her chair, dominant; Coma Berenices in Virgo who sacrificed her hair to be of service, representing the soul only beginning to assert itself. Andromeda, the chained woman in Pisces represents matter harnessed.

Chòm sao thứ hai là Andromeda, người phụ nữ bị xiềng xích. Có ba người phụ nữ trong các chòm sao: Cassiopeia trong Bạch Dương, tượng trưng cho vật chất ngự trên ngai của nó, đang thống trị; Coma Berenices trong Xử Nữ, người đã hiến dâng mái tóc của mình để phụng sự, tượng trưng cho linh hồn mới bắt đầu khẳng định chính nó; và Andromeda, người phụ nữ bị xiềng xích trong Song Ngư, đại diện cho vật chất đã được chế ngự.

The third constellation in Pisces is the King named Cepheus, the husband of Cassiopeia and the father of Andromeda. This suggests that “The King” represents the Spirit or Father aspect.

Chòm sao thứ ba trong Song Ngư là vị vua mang tên Cepheus, chồng của Cassiopeia và cha của Andromeda. Điều này gợi ý rằng “Nhà Vua” tượng trưng cho Khía cạnh Tinh thần hay Khía cạnh Cha.

There is in nature the human kingdom and above it are other kingdoms, spiritual and cosmic, and below it there are the animal, vegetable and mineral kingdoms. The work of the intelligent sons of God is to act as transmitters, via the mind, of [201] spiritual energy, which will save and vitalize all lower kingdoms of nature.

Trong thiên nhiên, có giới nhân loại, và bên trên nó là các giới tinh thần và vũ trụ, trong khi bên dưới nó là các giới động vật, thảo mộc và khoáng vật. Công việc của những người con thông tuệ của Thượng Đế là đóng vai trò như những kẻ truyền dẫn, thông qua trí tuệ, năng lượng tinh thần, để cứu rỗi và tiếp sinh lực cho tất cả các giới thấp hơn trong thiên nhiên.

The Second Coming of the Christ—Sự Tái Lâm của Đức Christ

How can the World Savior come? He might come as he came before, in a physical body with its incidental handicaps. There are emerging in the world today new faculties that were not demonstrating when he came before. We are much more sensitive than we ever were; we are wide open to each other’s thoughts for one thing, and if such a potent thinker as the Christ, whatever we may mean by that word, is en rapport with world affairs, it seems to me he might try another method.

Làm thế nào Đấng Cứu có thể đến? Ngài có thể đến theo cách Ngài đã đến trước đây, trong một thân xác vật lý với những hạn chế tất yếu của nó. Tuy nhiên, ngày nay, trên thế giới đang xuất hiện những năng lực mới mà trước đây chưa từng biểu lộ khi Ngài đến. Chúng ta nhạy cảm hơn bao giờ hết; chúng ta cởi mở với tư tưởng của nhau hơn, và nếu một tư tưởng gia đầy quyền năng như Đức Christ—dù chúng ta hiểu từ đó theo nghĩa nào đi nữa—có sự hoà hợp với các vấn đề thế giới, thì dường như Ngài có thể thử một phương pháp khác.

He may work with his own in every land, over-shadowing his disciples wherever they are found, and because his soul and their souls are one, communicate to them the Plan, indicate to them the tendencies, give them the new message, and repeat himself in every country. It is already happening today. in every country there are to be found those who know; I did not say those who say they know. But there is a group of human beings, integrating now, who make no noise, are not interested in themselves, but upon whom is laid the burden of leading humanity. They are starting movements that have in them the new vibration, they are saying things that are universal in their tone, they are enunciating principles that are cosmic, they are inclusive and not exclusive, they do not care what terminology a man uses; they insist that a man shall keep his own inner structure of truth to himself and not impose it on any one else, they recognize each other wherever they meet, they speak a universal language, they demonstrate the universal light, they are servers and they have no interest in themselves.

Ngài có thể làm việc với những người của Ngài ở mọi quốc gia, phủ bóng lên các đệ tử của Ngài ở bất cứ nơi nào họ được tìm thấy, và bởi vì linh hồn của Ngài và linh hồn của họ là một, Ngài có thể truyền đạt cho họ Thiên Cơ, chỉ ra những khuynh hướng, ban cho họ thông điệp mới, và lặp lại chính mình ở mỗi quốc gia. Điều này thực ra đã và đang diễn ra ngày nay. Ở khắp mọi nơi đều có những người biết—tôi không nói đến những người tuyên bố rằng họ biết. Nhưng có một nhóm người hiện đang tích hợp lại, những người không gây ồn ào, không quan tâm đến bản thân mình, nhưng đang gánh vác trọng trách lãnh đạo nhân loại. Họ đang khởi xướng những phong trào có rung động mới, họ đang nói những điều mang tính phổ quát, họ đang công bố những nguyên lý mang tính vũ trụ, họ bao trùm chứ không loại trừ, họ không bận tâm đến thuật ngữ mà một người sử dụng; họ nhấn mạnh rằng mỗi người nên giữ cấu trúc nội tại của chân lý cho riêng mình và không áp đặt nó lên bất kỳ ai khác. Họ nhận ra nhau bất cứ khi nào họ gặp gỡ, họ nói một ngôn ngữ phổ quát, họ thể hiện ánh sáng phổ quát, họ là những người phụng sự và không có chút quan tâm nào đến bản thân mình.

I am convinced that no individual World Savior, utilizing a physical body, will come to us. I believe in that individual World Savior, but I believe that he will save the world through the group. I believe that he will work through his own; that he [202] is training people now so that the day will come when this group will be so potent through its silent meditation and the force of its world service, that it will be recognized as the Savior; but not in our day.

Tôi tin chắc rằng sẽ không có một Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu đơn lẻ nào nhập thể trong một thân xác vật lý đến với chúng ta. Tôi tin vào một Đấng Cứu Thế thế gian, nhưng tôi tin rằng Ngài sẽ cứu thế giới thông qua nhóm. Tôi tin rằng Ngài sẽ làm việc thông qua những người của Ngài; rằng Ngài đang đào luyện những con người ngay lúc này để đến một ngày nhóm này sẽ trở nên đầy quyền năng đến mức, thông qua tham thiền thầm lặng và sức mạnh của sự phụng sự thế gian, nó sẽ được công nhận là Đấng Cứu Thế—nhưng không phải trong thời đại của chúng ta.

Editor’s Note: (written in 1958)

Lời chú của Biên tập viên (viết năm 1958):

When A.A.B. made this statement in 1936 it appears to have been the ashramic view that the status of humanity would not permit more than an over-shadowing by the Christ. When The Reappearance of the Christ, dictated by the Tibetan, appeared in 1948, the discipline of the war, the destruction of material values, the suffering and the mental growth of humanity had produced an effect which we are told exceeded the expectations of the Hierarchy. In the book on the reappearance the following statements are found: “The point of decision, as it is called in all hierarchical circles, was reached during the period the Full Moon of June 1936 and the Full Moon of June 1945. The point of decision covered, therefore, nine years, a relatively brief time; it resulted in the decision arrived at by the Christ to reappear or return to visible presence on Earth as soon as possible and considerably earlier than had been planned.”

Khi Bà A.A.B. đưa ra tuyên bố này vào năm 1936, dường như quan điểm của ashram khi đó là tình trạng của nhân loại không cho phép có điều gì hơn ngoài sự phủ bóng của Đức Christ. Khi quyển Sự Tái Lâm Của Đức Christ, được Chân sư Tây Tạng truyền đạt, xuất bản vào năm 1948, người ta đã thấy rằng sự kỷ luật của chiến tranh, sự hủy hoại các giá trị vật chất, những đau khổ và sự trưởng thành về trí tuệ của nhân loại đã tạo ra một hiệu ứng vượt ngoài mong đợi của Thánh đoàn. Trong cuốn sách về sự tái lâm, có những tuyên bố sau đây: “Điểm quyết định, như nó được gọi trong tất cả các vòng tròn của Thánh đoàn, đã được đạt tới trong khoảng thời gian từ Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1936 đến Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945. Do đó, điểm quyết định này kéo dài trong chín năm, một khoảng thời gian tương đối ngắn; kết quả là quyết định của Đức Christ để tái xuất hay trở lại sự hiện diện hữu hình trên Trái Đất sớm nhất có thể và sớm hơn đáng kể so với kế hoạch ban đầu.”

It is indeed a momentous thing to realize that humanity could so notably affect the time and manner of the reappearance of the Christ by a change in its receptivity. We have repeatedly been told that only humanity could condition these points. Here is a dramatic instance of humanity’s potential and responsibility in speeding up the evolutionary process.

Đây thực sự là một điều trọng đại để nhận ra rằng nhân loại có thể ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian và cách thức của sự tái lâm của Đức Christ chỉ bằng cách thay đổi mức độ tiếp nhận của mình. Chúng ta đã nhiều lần được dạy rằng chỉ nhân loại mới có thể quyết định những thời điểm quan trọng này. Đây là một minh chứng đầy kịch tính về tiềm năng và trách nhiệm của nhân loại trong việc đẩy nhanh tiến trình tiến hóa.

The New Group of World Servers—Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian

Such a group as has just been described already exists. There are two things for us to do. First, to learn to recognize the new note as it comes from disciples wherever found and, secondly, to fit ourselves to form part of that group. The hallmark of those people is not self-assertiveness; they are too busy doing salvage work to have time to talk about themselves. They work through meditation, which keeps them in touch with the spirituality that is themselves, and therefore is in touch with the Great Life, the World Savior, who pours his force and energy through them and toward the world. They orient their minds in that direction, serve intelligently and are not in a hurry. [203]

Một nhóm như vừa được mô tả đã thực sự tồn tại. Có hai điều mà chúng ta cần làm. Trước hết, học cách nhận ra rung động mới khi nó phát ra từ các đệ tử ở bất kỳ đâu. Thứ hai, tự rèn luyện để trở thành một phần của nhóm đó. Dấu ấn của những con người này không phải là sự khẳng định bản thân; họ quá bận rộn với công việc cứu rỗi nên không có thời gian để nói về chính mình. Họ làm việc thông qua tham thiền, điều này giúp họ duy trì sự kết nối với phần tinh thần, vốn chính là bản thể của họ, và do đó duy trì sự liên hệ với Sự sống Vĩ đại, Đấng Cứu Thế Thế Gian, Đấng đổ tràn năng lượng và mãnh lực của Ngài qua họ và hướng đến thế gian. Họ định hướng tâm trí của họ theo hướng đó, phụng sự một cách thông tuệ và không vội vã.

The message that comes to them from the inner side is couched in the symbolic words, “What I tell you in the dark, that speak you in the light.” Each one will be told a different thing according to the need of the people around him, and will deliberately go into the dark in order to deliver a message in the light. Therefore, they are tied by no dogmas or doctrines because they have the word which has come to them in the dark, which they have wrought out for themselves in the strife and stress of their own souls. They meet the need of their fellow men, and theirs is the message of Christ, “A new commandment I give you that you love one another.” This is no sentiment. Let us be loving and kind. That is just decent behavior; but the love the Christ enunciated is an intelligent understanding and appreciation of the need of the individual just as you find him. When you are up against the desperate need of people you have no time to think about “being loving” in the usual sense. You can perhaps create such an atmosphere around yourself that they will think themselves through to their own solution. That is the real way to work. As long as you are occupied with being loving you are occupied with your own personality.

Thông điệp đến với họ từ thế giới nội giới được diễn đạt bằng những lời mang tính biểu tượng: “Điều ta nói với các con trong bóng tối, hãy tuyên bố nó trong ánh sáng.” Mỗi người sẽ nhận được một thông điệp khác nhau tùy theo nhu cầu của những người xung quanh mình, và họ sẽ chủ động đi vào bóng tối để rồi truyền tải thông điệp trong ánh sáng. Do đó, họ không bị ràng buộc bởi bất kỳ giáo điều hay tín lý nào, vì họ đã nhận được lời dạy trong bóng tối, điều mà họ đã tự mình thấu hiểu qua những đấu tranh và thử thách nội tâm. Họ đáp ứng nhu cầu của đồng loại, và thông điệp của họ là thông điệp của Đức Christ: “Ta ban cho các con một điều răn mới, rằng các con hãy yêu thương lẫn nhau.” Điều này không phải là tình cảm hời hợt. Chúng ta hãy yêu thương và nhân từ. Đó chỉ là hành vi đúng đắn thông thường, nhưng tình yêu mà Đức Christ nhấn mạnh chính là sự thấu hiểu thông tuệ và sự trân trọng đối với nhu cầu của mỗi cá nhân, đúng với bản chất của họ. Khi đối diện với nhu cầu cấp bách của nhân loại, bạn sẽ không có thời gian để suy nghĩ về việc “cảm thấy yêu thương” theo nghĩa thông thường. Bạn có thể tạo ra một bầu không khí xung quanh mình đến mức họ tự mình tìm ra giải pháp cho vấn đề của họ. Đó mới là cách làm việc thực sự. Chùng nào bạn còn bị ám ảnh bởi việc “thể hiện tình yêu”, thì bạn vẫn chỉ đang bận tâm với chính phàm ngã của mình.

“A new commandment I give you” can be summed up in “inclusiveness”, the hallmark of the New Age, the universal spirit, identification, oneness with all your fellowmen. That is love and it will keep you busy; you will have no time to talk about love, you will be busy doing things, big things and little things, unimportant and important things.

Câu nói “Ta ban cho các con một điều răn mới” có thể được tóm gọn trong từ “bao gồm”, dấu ấn của Kỷ Nguyên Mới, tinh thần phổ quát, sự đồng nhất, hợp nhất với toàn thể đồng loại. Đó chính là tình yêu thương, và nó sẽ khiến bạn luôn bận rộn; bạn sẽ không có thời gian để nói về tình thương mà sẽ phải hành động—từ những việc lớn đến những việc nhỏ nhặt, từ những điều không quan trọng đến những điều quan trọng.

How shall we fit ourselves to meet that requirement, to possess those characteristics which automatically put us into the group of world servers? You will never get there by talking about it, or by theoretical appreciation of the problem. You will get there by doing the next thing correctly. That sounds very uninteresting, but whatever is your duty, do it. Cultivate the right inner attitude and be wide open to all your fellow men. Learn to meditate, and really learn to meditate. I am not [204] talking of entering into the silence, of sitting down and having a blissful and peaceful time emoting, hoping that you will get up feeling better. Meditation when rightly carried forward is hard mental work for it means orienting the mind to the soul, and you cannot do it. It means that when you have learned to focus your mind on the soul you must hold it steady, which you cannot do; and when you have learned to do that you must learn to listen in your mind to what the soul is telling you, and that you cannot do. Then you must learn to take what the soul has told you and form it into words and phrases and throw it down into your waiting brain. That is meditation, and it is by following that process that you will become a world server for you will then be the force of what you have accomplished. You will automatically find yourself over-shadowed by that Great One whose mission it is to lift humanity out of darkness into light, from.the unreal into the real. [205]

Vậy, chúng ta phải rèn luyện bản thân như thế nào để đáp ứng yêu cầu đó, để sở hữu những phẩm chất sẽ tự động đưa chúng ta vào nhóm những người phụng sự thế gian? Bạn sẽ không đạt được điều đó bằng cách chỉ nói về nó, hay chỉ đánh giá lý thuyết về vấn đề này. Bạn sẽ đạt được điều đó bằng cách làm đúng đắn mọi việc kế tiếp. Điều đó nghe có vẻ không hấp dẫn, nhưng bất cứ điều gì là bổn phận của bạn, hãy làm nó. Hãy rèn luyện thái độ nội tâm đúng đắn và mở lòng với toàn thể đồng loại. Hãy học tham thiền, và thực sự học tham thiền. Tôi không nói về việc đi vào im lặng, ngồi xuống và có một khoảng thời gian an lạc, hy vọng rằng bạn sẽ cảm thấy tốt hơn khi đứng dậy. Khi được thực hành đúng đắn, tham thiền là một công việc trí tuệ đầy thử thách, vì nó đòi hỏi phải định hướng tâm trí về phía linh hồn—và bạn không thể làm điều đó ngay lập tức. Nó có nghĩa là khi bạn đã học cách tập trung tâm trí vào linh hồn, bạn phải giữ nó vững vàng—điều mà bạn cũng chưa thể làm được. Và khi bạn đã học cách giữ vững nó, bạn phải học cách lắng nghe trong tâm trí điều mà linh hồn đang nói với bạn—và đó là điều bạn vẫn chưa làm được. Sau đó, bạn phải học cách lấy những điều linh hồn đã nói với bạn, định hình chúng thành lời và ý tưởng, rồi truyền tải chúng xuống bộ não đang chờ đợi của mình. Đó chính là tham thiền, và chính bằng cách thực hành quy trình này, bạn sẽ trở thành một người phụng sự thế gian, bởi khi đó bạn sẽ là hiện thân của những gì bạn đã đạt được. Bạn sẽ tự động nhận thấy bản thân được phủ bóng bởi Đấng Vĩ Đại, Đấng có sứ mệnh nâng nhân loại ra khỏi bóng tối để bước vào ánh sáng, từ điều hư ảo đến điều chân thực.

Lecture by A.A.B.—1936. Edited and condensed.

The Purpose of the Study of the Hercules Myth—Mục đích của việc Nghiên cứu Thần Thoại Hercules

(The following material was prepared by Dorothea Cochran at Mrs. Bailey’s request and was found among her papers. This excerpt seems to provide an appropriate concluding note for the Hercules series.)

(Tài liệu sau đây được soạn thảo bởi Dorothea Cochran theo yêu cầu của bà Bailey và được tìm thấy trong các tài liệu của bà. Đoạn trích này dường như là một kết thúc thích hợp cho loạt bài về Hercules.)

The first scriptures for the human race were written by God on the Earth and Heavens. The reading of these Scriptures is Science. Familiarity with the grass and trees, the insects and the infusoria, teaches us deeper lessons of love and faith than we can glean from the writings of Fénelon and Augustine. The great Bible of God is ever open before mankind.

Những kinh điển đầu tiên dành cho nhân loại đã được Thượng Đế khắc ghi trên Đất và Trời. Việc đọc những kinh điển này chính là Khoa Học. Sự quen thuộc với cỏ cây, côn trùng và vi sinh vật dạy chúng ta những bài học sâu sắc về tình yêu và đức tin hơn bất kỳ điều gì ta có thể thu nhận từ các tác phẩm của Fénelon và Augustine. Đại Thánh Kinh của Thượng Đế luôn rộng mở trước nhân loại.

– Albert Pike.

Albert Pike.

The heavens declare the glory of God; and the firmament sheweth his handywork.

“Các tầng trời tường thuật vinh quang của Thượng Đế; bầu trời tuyên bố công trình của Ngài.”

– Psalm 19, 1.

Thi Thiên 19:1

The progress of a world disciple is illustrated in the heavens by the Labors of Hercules through the zodiacal signs. It is as though God had pictured in space his Plan for the working out of the evolution of the human spirit back to its source.

Sự tiến bộ của một đệ tử thế giới được minh hoạ trên các tầng trời qua những Kỳ Công của Hercules khi chàng đi qua các dấu hiệu hoàng đạo. Dường như Thượng Đế đã phác hoạ trong không gian Kế Hoạch của Ngài cho việc triển khai tiến trình tiến hoá của tinh thần con người, đưa nó quay trở về nguồn cội của mình.

The intense interest evinced at this time in the spiritual life is, in itself, the warrant for such a study as the Labors of Hercules. Academic, dogmatic and theological religion has no longer its ancient appeal but, in spite of a widespread revolt against organized, or ecclesiastical religion, the urge towards the spiritual realities has never been more keen than it is today. The period of empirical experience on a large scale is with us. Men and women everywhere are refusing any longer to believe the authoritative pronouncements of the churches or to accept blindly the dicta of any theology. They are determined to know for themselves the facts of the inner mystical experience, if such facts can be ascertained, and to grasp for themselves the nature of that identity which we call the soul.

Sự quan tâm mãnh liệt đối với đời sống tinh thần vào thời điểm này chính là bằng chứng rõ ràng cho giá trị của một nghiên cứu như Những Kỳ Công của Hercules. Những tôn giáo mang tính học thuật, giáo điều và thần học không còn hấp dẫn như xưa, nhưng mặc dù có sự chống đối rộng khắp đối với các tôn giáo có tổ chức hay hệ thống giáo hội, sự khát khao hướng đến những thực tại tinh thần chưa bao giờ mãnh liệt như ngày nay. Chúng ta đang sống trong thời kỳ của những trải nghiệm thực nghiệm trên quy mô lớn. Khắp nơi, những người nam và nữ không còn chấp nhận những tuyên bố đầy quyền uy của các giáo hội, cũng như không còn tin tưởng mù quáng vào bất kỳ tín lý thần học nào. Họ quyết tâm tự mình khám phá các sự thật về trải nghiệm nội tâm huyền bí—nếu những sự thật đó có thể được xác minh—và tự mình nắm bắt bản chất của bản thể mà chúng ta gọi là linh hồn.

The world setting is ripe for a renewal of a living faith and religion which will be based upon personal knowledge and not upon the pronouncements and the interpretations of limited minds. Dr. Rufus Jones, the great Quaker leader, calls attention to this fact in words which are worth noting:

Bối cảnh thế giới hiện nay đã sẵn sàng cho một sự đổi mới về niềm tin và tôn giáo sống động, một tôn giáo dựa trên tri thức cá nhân thay vì những tuyên bố và sự diễn giải hạn hẹp của con người. Tiến sĩ Rufus Jones, vị lãnh đạo Quaker vĩ đại, đã nhấn mạnh thực tế này bằng những lời đáng lưu ý.

“…an outbreak of mysticism is always a sign that the soul of man is uttering a vigoros protest against the encroachment of some organized system of life… which threatens to leave scant scope and area for its own free initiative and its spontaneous creative activity. It is a proclamation that the soul has certain inherent rights and capacities, a dominion of its own, which must be respected and held sacred. Sometimes mysticism has been the protest of man’s spirit against the hardening crust of dogma, sometimes a revolt against ecclesiasticism.”

“… sự bùng phát của chủ nghĩa thần bí luôn là dấu hiệu cho thấy linh hồn con người đang lên tiếng phản kháng mạnh mẽ trước sự xâm lấn của một hệ thống tổ chức nào đó trong đời sống… hệ thống ấy đe dọa thu hẹp phạm vi và không gian cho sự sáng tạo tự do và hoạt động sáng tạo tự phát của linh hồn. Đó là một tuyên ngôn khẳng định rằng linh hồn có những quyền năng và khả năng vốn có, một lãnh địa của riêng mình, điều phải được tôn trọng và xem là thiêng liêng. Đôi khi, chủ nghĩa thần bí chính là sự phản kháng của tinh thần con người trước lớp vỏ giáo điều ngày càng cứng rắn, đôi khi đó là một cuộc nổi dậy chống lại hệ thống giáo hội.”

The Philosophic Basis of Mysticism by T.H. Hughes, page 46.

Nền tảng Triết học của Chủ nghĩa Thần bí, T.H. Hughes, trang 46.

In days of darkness and apparent spiritual deadness, this revival of interest in the higher realities inevitably appears, guaranteeing that the spirit of man is on its way, and that the reality remains unchanged behind the changing surface of material events. The very need of the hour calls for the sounding of a clear note and to the newly emerging mystic and knower is given the task of this sounding. “What we find in the mystic is an intensified organ for the affirmation of the reality of God and for the richer interpretation of His character.” With these clear words, Dr. Jones calls our attention to the work eternally done in the spiritual field by the awakened seeker.

Trong những thời kỳ tăm tối và khi đời sống tinh thần dường như cằn cỗi, sự hồi sinh mối quan tâm đến các thực tại cao siêu luôn xuất hiện một cách tất yếu, đảm bảo rằng tinh thần con người vẫn tiếp tục hành trình của nó, và rằng thực tại vẫn không thay đổi đằng sau bề mặt biến động của các sự kiện vật chất. Chính nhu cầu của thời đại kêu gọi sự vang lên của một âm hưởng rõ ràng, và trách nhiệm phát ra âm hưởng đó được trao cho những nhà thần bí và những bậc thức giả mới xuất hiện. “Những gì chúng ta tìm thấy ở nhà thần bí là một cơ quan nhạy bén hơn để khẳng định thực tại của Thượng Đế và để diễn giải phong phú hơn về bản tính của Ngài.” Với những lời lẽ rõ ràng này, Tiến sĩ Rufus Jones nhắc chúng ta nhớ về công việc vĩnh cửu được thực hiện trong lĩnh vực tâm linh bởi những người tìm kiếm đã thức tỉnh.

Truth is, phoenix-like, emerging anew in the field of human experience, but it will be the truth which is felt and known and not the truth which is enforced through authoritarianism and ancient tradition; for truth, as Bernard Shaw tells us, is “what you know by your experience to be true and feel in your soul to be true”. Such renewals of the spiritual life of the race are [207] recurrent and cyclic; they can be of an emotional or an intellectual nature but they serve to lead the subjective life of the race into a new and richer phase of experience, and to offset, and sometimes to interpret, the more material and scientific paralleling trends which can be seen.

Chân lý, tựa như phượng hoàng, đang tái sinh trong lĩnh vực trải nghiệm nhân loại, nhưng đó sẽ là chân lý được cảm nhận và được nhận biết, chứ không phải chân lý bị áp đặt thông qua quyền uy hay truyền thống cổ xưa. Vì chân lý, như Bernard Shaw nói, là “những gì bạn biết là đúng dựa trên kinh nghiệm của bạn, và những gì bạn cảm nhận trong linh hồn mình là chân lý.” Những sự đổi mới trong đời sống tinh thần của nhân loại luôn tái diễn theo chu kỳ; chúng có thể mang tính cảm xúc hoặc trí tuệ, nhưng chúng phục vụ mục đích dẫn dắt đời sống nội tại của nhân loại vào một giai đoạn trải nghiệm mới và phong phú hơn. Đồng thời, chúng cũng có thể hóa giải hoặc thậm chí diễn giải những xu hướng khoa học và vật chất đang song hành trong thế giới.

The problem of every writer and teacher today is to discover new ways in which to express the same foundational truths, and so to present the ancient formulas and rules of the road which will lead man to the next stage in his spiritual development. The old truths will then acquire new meanings and vibrate with fresh life. There have been many books written upon the subject of the Path of Discipleship. Restatement of the problems to be encountered upon the universal Path, and analysis of the difficulties to be faced whilst treading it is not warranted, unless the application can be general, practical and couched in such terms that meets the need of the modern student. A study of the Twelve Labors of Hercules, covering as they do every aspect of the disciple’s life, may enable us to achieve a different attitude and release us into that joy on the Path and that freedom in service which is a more than adequate compensation for the temporary losses and momentary distresses which may try the lower nature.

Vấn đề của mỗi nhà văn và huấn sư ngày nay là khám phá những cách thức mới để diễn đạt những chân lý nền tảng, nhằm trình bày lại các công thức cổ xưa và những quy luật trên Thánh đạo theo cách có thể dẫn dắt con người đến giai đoạn tiếp theo trong sự phát triển tinh thần của họ. Những chân lý xưa cũ khi đó sẽ mang những ý nghĩa mới và rung động với sức sống tươi mới. Đã có nhiều cuốn sách viết về Con Đường Đệ Tử. Việc nhắc lại các vấn đề phải đối mặt trên Thánh đạo phổ quát, hay phân tích những khó khăn trong quá trình dấn bước trên đó, là không cần thiết trừ khi những điều đó có thể được ứng dụng một cách phổ quát, thực tiễn và được trình bày bằng những thuật ngữ phù hợp với nhu cầu của người học hiện đại. Một nghiên cứu về Mười Hai Công Việc của Hercules, bao quát mọi khía cạnh trong đời sống của một đệ tử, có thể giúp chúng ta đạt được một thái độ khác và giải phóng chúng ta vào niềm hoan hỷ trên Thánh đạo, cùng với sự tự do trong phụng sự—đây chính là sự đền bù xứng đáng cho những mất mát tạm thời và những thử thách thoáng qua mà bản chất thấp có thể phải trải qua.

One of the great revelations which has come almost unnoticed to humanity during the past century has been the slow dawning upon our consciousness of the fact of our own inherent essential divinity. Men are recognizing that they are in very truth “made in the image of God”, and are one in nature with their Father in Heaven. Today also, the purposes and plans underlying God’s creative work are being studied widely from both the scientific and religious angles, bringing definite changes in man’s attitude to life as a whole. It is this unfolding plan for man, individual and racial, that is revealed in the story of this ancient Son of God. We are given a synthetic and complete picture of the progress of the soul from ignorance to wisdom, [208] from material desire to spirit aspiration, and from the blindness of infant humanity to the pure vision of those who see God. A point is reached in the story where intelligent cooperation with soul purpose takes the place of blind endeavor and struggle, and Hercules, who is a Son of God as well as a son of man, can proceed upon the Way with his face turned towards the light, irradiated by the joy of those who know.

Một trong những sự mặc khải vĩ đại đã đến với nhân loại trong thế kỷ qua, nhưng gần như không được chú ý, chính là sự thức tỉnh chậm rãi trong tâm thức về bản tính thiêng liêng vốn có của chính chúng ta. Con người đang nhận ra rằng họ thực sự “được tạo dựng theo hình ảnh của Thượng Đế”, và rằng họ đồng nhất trong bản chất với Cha Trên Trời của họ. Ngày nay, những mục đích và kế hoạch nền tảng của công cuộc sáng tạo của Thượng Đế đang được nghiên cứu rộng rãi từ cả góc độ khoa học và tôn giáo, mang lại những thay đổi rõ rệt trong thái độ của con người đối với cuộc sống nói chung. Chính kế hoạch tiến hóa dành cho nhân loại—cả cá nhân lẫn tập thể—được mặc khải trong câu chuyện về Người Con Thiêng Liêng cổ xưa này. Chúng ta được trao một bức tranh tổng hợp và hoàn chỉnh về tiến trình của linh hồn—từ vô minh đến minh triết, từ dục vọng vật chất đến khát vọng tinh thần, và từ sự mù quáng của nhân loại sơ khai đến nhãn quang trong sáng của những người nhìn thấy Thượng Đế. Có một điểm trong câu chuyện mà ở đó, sự hợp tác thông tuệ với Thiên Cơ của linh hồn thay thế cho nỗ lực mù quáng và đấu tranh đơn độc. Khi đó, Hercules—người vừa là Con của Thượng Đế, vừa là con của nhân loại—có thể tiếp tục hành trình trên Thánh đạo với khuôn mặt hướng về ánh sáng, được chiếu rọi bởi niềm hoan hỷ của những người đã đạt đến sự hiểu biết.

This old tale leaves untouched no phases in the life of the aspirant and yet links him ceaselessly with cosmic enterprise. Its theme will be found to be so inclusive that all of us, immersed in the problems of life, can make application to ourselves of the tests and trials, the failures and achievements of this heroic figure, who strove, centuries ago, towards the same goal as we are striving. Through the reading of this story, fresh interest in the spiritual life may be evoked in the mind of the bewildered aspirant, and he will go forward with fresh courage as he gains a sequential picture of universal development and destiny.

Câu chuyện cổ này không bỏ qua bất kỳ khía cạnh nào trong đời sống của người chí nguyện, đồng thời liên kết y một cách không ngừng nghỉ với sứ mệnh vũ trụ. Chủ đề của nó bao quát đến mức tất cả chúng ta—những người đang chìm đắm trong những vấn đề của cuộc sống—đều có thể áp dụng những thử thách và gian nan, những thất bại và thành tựu của nhân vật anh hùng này vào chính bản thân mình. Hàng thế kỷ trước, Hercules đã nỗ lực hướng đến cùng một mục tiêu mà chúng ta đang phấn đấu ngày nay. Thông qua việc đọc câu chuyện này, một mối quan tâm mới đối với đời sống tinh thần có thể được khơi dậy trong tâm trí của người chí nguyện đang bối rối, và y sẽ tiếp tục tiến lên với lòng can đảm mới khi có được một bức tranh toàn cảnh về sự phát triển và vận mệnh phổ quát.

We find, as we study this ancient myth that Hercules undertook certain tasks, symbolic in nature but universal in character, and that he passed through certain episodes and events which portray, for all time, the nature of the training and the attainments which should characterize a son of God, marching on towards perfection. He stands for the incarnated but not yet perfected Son of God, who, at a particular stage in the evolutionary cycle, takes his lower nature in hand and willingly subjects himself to the discipline which will eventually bring about the emergence of his innate divinity. Out of an erring but sincerely earnest human being, intelligently aware of the work to be done, a World Savior is created, and we see in the last two labors how that work of saving was carried out.

Khi nghiên cứu huyền thoại cổ xưa này, chúng ta thấy rằng Hercules đã đảm nhận những nhiệm vụ nhất định, mang tính biểu tượng nhưng có tính phổ quát, và rằng chàng đã trải qua những sự kiện và thử thách phản ánh một cách vĩnh cửu bản chất của sự huấn luyện và những thành tựu nên có của một Con của Thượng Đế đang tiến bước trên con đường hoàn thiện. Chàng đại diện cho một Con của Thượng Đế đã nhập thế nhưng chưa đạt đến sự toàn thiện—một người, ở một giai đoạn nhất định trong chu kỳ tiến hóa, quyết tâm kiểm soát bản chất thấp của mình và tự nguyện tuân theo kỷ luật sẽ giúp biểu lộ thiên tính vốn có của chàng. Từ một con người đầy sai lầm nhưng chân thành và nghiêm túc, với nhận thức thông tuệ về công việc cần làm, một Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu được tạo thành. Và trong hai công việc cuối cùng của Hercules, chúng ta chứng kiến cách mà sứ mệnh cứu độ đó đã được thực hiện.

Three great and dramatic stories have been told constantly to mankind down the ages: those of Hercules, the Buddha and the Christ, each of them portraying one of the stages upon the Path of Divinity. In the story of Hercules, we have portrayed for us the experiences of the Path of Discipleship and the early [209] stages of the Path of Initiation. In the case of the Buddha, the story starts later than that of Hercules and we see the Buddha achieve final illumination, passing through initiations of which Hercules knew nothing. Then came the historic Christ, embodying in Himself something so ineffable that we regard Him, in a unique way, as the representative of God. These three stories progressively reveal God’s plan for man’s development, and call us to follow in the steps of Hercules, who trod the Path of Discipleship and attained his goal.

Ba câu chuyện vĩ đại và đầy kịch tính đã được kể lại cho nhân loại qua các thời đại: câu chuyện của Hercules, Đức Phật và Đức Christ—mỗi câu chuyện đều minh họa một giai đoạn trên Con Đường Thiêng Liêng. Trong câu chuyện về Hercules, chúng ta thấy được những trải nghiệm trên Con Đường Đệ Tử và những giai đoạn đầu tiên của Con Đường Điểm Đạo. Trong trường hợp của Đức Phật, câu chuyện bắt đầu muộn hơn so với Hercules, và chúng ta chứng kiến Ngài đạt đến sự giác ngộ tối thượng, vượt qua những lần điểm đạo mà Hercules chưa từng biết đến. Sau đó là Đức Christ lịch sử, Đấng đã hiện thân một điều gì đó quá ư huyền nhiệm đến mức chúng ta xem Ngài, theo một cách đặc biệt, là Đại diện của Thượng Đế. Ba câu chuyện này tuần tự tiết lộ Thiên Cơ về sự phát triển của nhân loại, và mời gọi chúng ta noi theo bước chân của Hercules—người đã dấn bước trên Con Đường Đệ Tử và đạt đến mục tiêu của mình.

The oracle has spoken and down the centuries the cry has gone forth: “Know thyself”. This knowledge is the outstanding attainment upon the Path of Discipleship, and it is seen how sequentially and intelligently Hercules attained this knowledge. We see him passing around the great pathway of the heavens and in each sign performing one of the twelve labors, which all disciples are called upon to perform. We see him from two viewpoints: that of the individual disciple and that of humanity as a whole, the great world disciple of which he is the prototype. It is possible to regard humanity as having reached, en masse, the stage of the aspirant, and to regard the race as standing upon the probationary path, the path of purification. If suffering is the great purifier, then the above statement is indeed true. Men today are intelligent, earnestly seeking a way out from the present material impasse and learning to coordinate their abilities and capacities, mental, emotional and physical, in an effort to rise above all that has hitherto held them down to earth. This stage has always been expressed by the more advanced types of men, but never before has the entire human family been in this condition. Herein lies the wonder of past achievement, and herein lies the hour of our wonderful opportunity.

Lời sấm truyền đã vang lên, và xuyên suốt các thế kỷ, tiếng kêu gọi đã được cất lên: “Hãy tự biết mình.” Đây là sự hiểu biết nổi bật nhất mà người đệ tử đạt được trên Thánh đạo, và chúng ta thấy rõ Hercules đã đạt được sự hiểu biết này một cách tuần tự và thông tuệ như thế nào. Chúng ta thấy chàng đi vòng quanh con đường vĩ đại của thiên giới và trong mỗi dấu hiệu hoàng đạo, chàng thực hiện một trong mười hai công việc—những công việc mà tất cả các đệ tử đều được kêu gọi để hoàn thành. Hercules có thể được nhìn nhận từ hai góc độ: với tư cách là một đệ tử cá nhân và với tư cách là biểu tượng của toàn thể nhân loại—Đệ tử Hoàn Cầu vĩ đại, mà chàng là nguyên mẫu. Có thể coi nhân loại, xét trên bình diện tổng thể, đã đạt đến giai đoạn của người chí nguyện và đang đứng trên Con Đường Dự Bị—Con Đường của sự thanh luyện. Nếu đau khổ là phương tiện thanh luyện vĩ đại, thì tuyên bố trên quả thực là đúng. Ngày nay, con người có trí tuệ, đang nỗ lực nghiêm túc để tìm ra lối thoát khỏi bế tắc vật chất hiện tại, và họ đang học cách phối hợp các khả năng trí tuệ, cảm xúc và thể xác của mình nhằm vượt lên trên tất cả những gì đã từng giữ họ lại trên mặt đất. Giai đoạn này từ lâu đã được biểu hiện bởi những con người tiến hóa cao, nhưng chưa bao giờ toàn thể nhân loại lại đồng loạt rơi vào trạng thái này như bây giờ. Chính trong sự thật này mà ta thấy được kỳ công của những thành tựu trong quá khứ, và chính trong đó ta nhận ra cơ hội phi thường của thời đại chúng ta.

We find Hercules starting at this point and passing through varying experiences until he comes to the open door in Leo, through which he can pass onto the Path of Discipleship. We see him learning the lessons of equilibrium, of selflessness and [210] of victory over the desire nature until he becomes the one-pointed disciple in Sagittarius, prior to passing through the gate which leads to the mount of initiation. Slowly and painfully, he learns the lesson that competition and selfish grasping must disappear and that the seizing of anything for the separated lower self is no part of the mission of a son of God. He finds himself as an individual only to discover that individualism must be intelligently sacrificed to the good of the group; he learns that personal greed has no place in the life of the aspirant who is seeking liberation from the ever recurring cycle of existence and constant crucifixion upon the cross of matter and form. The characteristics of the man immersed in form life and under the rule of matter are fear, individual competition and greed. These have to give place to spiritual confidence, cooperation, group awareness and selflessness. These are the lessons which Hercules brings to us.

Chúng ta thấy Hercules bắt đầu hành trình từ điểm này và trải qua nhiều trải nghiệm khác nhau cho đến khi chàng bước qua cánh cửa rộng mở trong dấu hiệu Sư Tử, cho phép chàng tiến vào Con Đường Đệ Tử. Chúng ta thấy chàng học những bài học về quân bình, về sự vô ngã, và về chiến thắng bản chất dục vọng của mình, cho đến khi chàng trở thành một đệ tử nhất tâm trong dấu hiệu Nhân Mã, trước khi bước qua cánh cổng dẫn đến đỉnh điểm đạo. Một cách chậm rãi và đầy gian khổ, chàng học được bài học rằng cạnh tranh và lòng tham vị kỷ phải biến mất, và rằng việc chiếm đoạt bất cứ thứ gì cho bản ngã thấp riêng biệt của mình không thuộc về sứ mệnh của một Con của Thượng Đế. Chàng tìm thấy bản ngã cá nhân của mình, chỉ để rồi nhận ra rằng chủ nghĩa cá nhân phải được hy sinh một cách thông tuệ vì lợi ích của nhóm. Chàng hiểu rằng lòng tham cá nhân không có chỗ trong đời sống của người chí nguyện đang tìm kiếm sự giải thoát khỏi chu kỳ tồn tại lặp đi lặp lại và sự đóng đinh liên tục trên thập giá của vật chất và hình tướng. Những đặc điểm của một con người bị nhấn chìm trong đời sống hình tướng và bị cai trị bởi vật chất là sự sợ hãi, sự cạnh tranh cá nhân và lòng tham. Những điều này phải được thay thế bằng sự tự tin tinh thần, sự hợp tác, nhận thức nhóm và tinh thần vô ngã. Đây chính là những bài học mà Hercules mang đến cho chúng ta.

This is also the story of the cosmic Christ, crucified from the beginning of creation upon the fixed cross of the heavens. This is the story of the historical Christ, given us in the gospel story and enacted for us two thousand years ago in Palestine, when our sun entered the sign of the world Savior, the sign of Pisces, the fishes. This is the story of every individual man, crucified upon the cross of matter and of existence, and discovering that he is in truth a son of God incarnated in each human being. God, incarnate in matter. Such is the story of the solar system, the story of our planet, the story of every man. As we look at the starry heavens above us, we have this great drama, eternally pictured for us. [211]

Đây cũng là câu chuyện về Đức Christ Vũ Trụ, Đấng đã bị đóng đinh ngay từ buổi sơ khai của công cuộc sáng tạo trên Thập Giá Cố Định của thiên giới. Đây là câu chuyện về Đức Christ lịch sử, được ghi lại trong các sách Phúc Âm và được tái hiện cách đây hai nghìn năm tại Palestine, khi mặt trời của chúng ta tiến vào dấu hiệu của Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu—dấu hiệu Song Ngư, biểu tượng của hai con cá. Đây cũng là câu chuyện của mỗi con người, bị đóng đinh trên thập giá của vật chất và của sự tồn tại, để rồi khám phá rằng y thực sự là một Con của Thượng Đế nhập thế trong mỗi hình hài con người—Thượng Đế, hóa thân trong vật chất. Đó chính là câu chuyện của hệ mặt trời, câu chuyện của hành tinh chúng ta, và câu chuyện của từng con người. Khi ngước nhìn bầu trời đầy sao trên cao, chúng ta thấy vở kịch vĩ đại này được tái hiện mãi mãi trước mắt mình.

Scroll to Top