TLHNM – Chương 2.1 – Sự Chiếm Hữu Các Thể

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn II – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

1. The Appropriation of the Bodies—Sự Chiếm Hữu Các Thể

The final definition which is given here, leads up to our consideration of the subject of the rays. The personality is the fusion of three major forces and their subjection (finally and after the fusion) to the impact of soul energy. This impact is made in three different stages or in what are occultly termed “three impulsive movements”—using the word “impulsive” in its true connotation and not in the usual emotional and enthusiastic significance. These impulsive movements are:

Định nghĩa cuối cùng được đưa ra ở đây dẫn chúng ta đến việc xem xét chủ đề các cung. Phàm ngã là sự dung hợp của ba mãnh lực chính và sự đặt chúng dưới tác động (cuối cùng và sau khi dung hợp) của năng lượng linh hồn. Tác động này được tạo ra trong ba giai đoạn khác nhau hay trong điều mà huyền bí học gọi là “ba chuyển động xung động”—dùng từ “xung động” theo hàm nghĩa chân thực của nó chứ không theo ý nghĩa cảm xúc và nhiệt thành thông thường. Các chuyển động xung động này là:

a. The impact of the soul at the stage of human evolution which we call individualisation. At that time, the form becomes aware for the first time of the touch of the soul. This is called in the language of esotericism the “Touch of Appropriation.” The soul then appropriates its vehicle.

a. Tác động của linh hồn ở giai đoạn tiến hoá nhân loại mà chúng ta gọi là biệt ngã hóa. Khi ấy, hình tướng lần đầu tiên nhận biết sự tiếp xúc của linh hồn. Điều này được gọi trong ngôn ngữ của huyền bí học là “Sự Chạm của Chiếm Hữu.” Khi đó linh hồn chiếm hữu vận cụ của mình.

This stage is succeeded by a long period of adjustment and of gradual development and unfoldment. This takes place upon the way of experience, and during that period the soul tightens its hold upon its instrument, the lower form nature.

Giai đoạn này được tiếp nối bởi một thời kỳ dài của sự điều chỉnh và của sự phát triển và khai mở dần dần. Điều này diễn ra trên con đường kinh nghiệm, và trong suốt thời kỳ đó linh hồn siết chặt sự nắm giữ của mình trên công cụ của nó, tức bản chất hình tướng thấp.

b. The impact of the soul is called forth by the dilemmas and through the emergencies of the later stages of the path of experience. During this stage, the urgency of the need, and the dilemmas brought about by the forces of opposition, lead the man to submit to a higher influence. He calls then in desperation upon the soul and upon the spiritual resources laid up in his divine nature and hitherto remaining unused. This impact is called the “Touch of Acquiescence,” and marks the acceptance by the soul of the demand of the personality for help and [269] light. The soul acquiesces in the plea of the personality for guidance.

b. Tác động của linh hồn được gọi ra bởi các tình thế lưỡng nan và qua các tình huống khẩn cấp của những giai đoạn sau của con đường kinh nghiệm. Trong giai đoạn này, tính cấp bách của nhu cầu, và các tình thế lưỡng nan do các mãnh lực đối kháng gây ra, dẫn con người đến chỗ quy phục một ảnh hưởng cao hơn. Khi đó trong tuyệt vọng, y kêu cầu linh hồn và các tài nguyên tinh thần được tích trữ trong bản chất thiêng liêng của mình mà trước đây vẫn chưa được sử dụng. Tác động này được gọi là “Sự Chạm của Chấp Thuận,” và đánh dấu sự chấp nhận của linh hồn đối với lời yêu cầu giúp đỡ và [269] ánh sáng của phàm ngã. Linh hồn chấp thuận lời khẩn cầu của phàm ngã xin được hướng dẫn.

It is to be noted that we are here considering the attitude of the soul to the personality and not that of the personality to the soul, which is the attitude usually under consideration. We are dealing primarily in this treatise with the reactions and activities of the soul through its ray energy, and its response to the demand of the forces—focussed, combined and integrated—of the personality.

Cần lưu ý rằng ở đây chúng ta đang xem xét thái độ của linh hồn đối với phàm ngã chứ không phải thái độ của phàm ngã đối với linh hồn, vốn là thái độ thường được xem xét. Trong bộ luận này, chủ yếu chúng ta đang đề cập đến các phản ứng và hoạt động của linh hồn qua năng lượng cung của nó, và sự đáp ứng của nó đối với nhu cầu của các mãnh lực—được tập trung, kết hợp và tích hợp—của phàm ngã.

c. The impact of the soul at the time of the various and sequential initiations to which the disciple is eventually subjected, as he transits out of the fourth into the fifth kingdom in nature. This stage is called the “Touch of Enlightenment,” and through the bringing together of the forces of the purified personality and those of the “approaching” soul, a “light is engendered which fadeth not away.”

c. Tác động của linh hồn vào lúc các cuộc điểm đạo khác nhau và tuần tự mà cuối cùng đệ tử phải trải qua, khi y chuyển tiếp từ giới thứ tư sang giới thứ năm trong thiên nhiên. Giai đoạn này được gọi là “Sự Chạm của Soi Sáng,” và qua việc tập hợp các mãnh lực của phàm ngã đã được thanh luyện với các mãnh lực của linh hồn “đang đến gần”, một “ánh sáng được sinh ra mà không phai tàn.”

In these three impacts,—

Trong ba tác động này,—

1. The touch of appropriation on the physical plane,

1. sự chạm của chiếm hữu trên cõi hồng trần,

2. The touch of acquiescence on the astral plane,

2. sự chạm của chấp thuận trên cõi cảm dục,

3. The touch of enlightenment upon the mental plane,

3. sự chạm của soi sáng trên cõi trí,

there is summarised clearly and concisely the attitude of the soul towards its rapidly preparing instrument.

ở đó được tóm lược một cách rõ ràng và ngắn gọn thái độ của linh hồn đối với công cụ đang nhanh chóng được chuẩn bị của nó.

The great Touch of Appropriation lies racially in the past. The Touch of Acquiescence takes place upon the battlefield of the emotional nature, and the Touch of Enlightenment is effected through the mind.

Sự Chạm lớn lao của Chiếm Hữu, xét theo chủng tộc, nằm trong quá khứ. Sự Chạm của Chấp Thuận diễn ra trên chiến trường của bản chất cảm xúc, và Sự Chạm của Soi Sáng được thực hiện qua trí tuệ.

The first three initiations are expressions of these three stages or impacts, and it might also be stated that the Lemurian, the Atlantean and the Aryan races are also expressions of man’s reactions to these three soul approaches.

Ba lần điểm đạo đầu tiên là những biểu hiện của ba giai đoạn hay ba tác động này, và cũng có thể nói rằng các nhân loại Lemuria, Atlantis và Arya cũng là những biểu hiện của các phản ứng của con người đối với ba sự tiếp cận này của linh hồn.

[270]

[270]

The third initiation sees the soul and the personality perfectly blended so that the light blazes forth and the great Approaches between soul and form are consummated.

Lần điểm đạo thứ ba chứng kiến linh hồn và phàm ngã được hòa trộn hoàn toàn đến mức ánh sáng bừng cháy và các Sự Tiếp Cận lớn lao giữa linh hồn và hình tướng được hoàn tất.

Today, in this particular cycle and in this Aryan race, the Hierarchy (as an expression of the kingdom of souls) is recapitulating these three inevitable steps and making certain advances or approaches to the race. We can therefore divide humanity into three groups and relate humanity to the three major approaches.

Ngày nay, trong chu kỳ đặc biệt này và trong nhân loại Arya này, Thánh đoàn (với tư cách là một biểu hiện của giới các linh hồn) đang tái hiện ba bước tất yếu này và đang thực hiện một số tiến bộ hay tiếp cận nào đó đối với nhân loại. Vì vậy, chúng ta có thể chia nhân loại thành ba nhóm và liên hệ nhân loại với ba sự tiếp cận chính.

a. The Approach of Appropriation will express the effect of the present stimulation upon the unevolved masses. Thousands and thousands of men and women are in process of awakening and during the next few years will come to soul consciousness, for the soul of each individual is intensifying its initial appropriation at the Lemurian crisis of individualisation, and the ancient enterprise is again being re-enacted as a needed recapitulatory endeavor. All this today lies almost entirely in the realm of consciousness. The great appropriation was made millions of years ago. Today, in consciousness, there will come a great awakening to the significance of what was, at that time, largely a physical event, and masses of men will become aware—in their brain consciousness—of that early appropriation. This is being brought about by a fresh approach by the soul and an advance towards its reflection, the personality, and it produces in time a consequent recognition upon the part of man.

a. Sự Tiếp Cận của Chiếm Hữu sẽ biểu lộ hiệu quả của sự kích thích hiện nay lên các quần chúng chưa tiến hóa. Hàng ngàn và hàng ngàn những người nam và nữ đang trong tiến trình thức tỉnh và trong vài năm tới sẽ đi đến tâm thức linh hồn, vì linh hồn của mỗi cá nhân đang tăng cường sự chiếm hữu ban đầu của nó tại cuộc khủng hoảng biệt ngã hóa thời Lemuria, và công cuộc cổ xưa ấy lại đang được tái diễn như một nỗ lực tái hiện cần thiết. Ngày nay tất cả điều này hầu như hoàn toàn nằm trong lĩnh vực tâm thức. Sự chiếm hữu lớn lao đã được thực hiện từ hàng triệu năm trước. Ngày nay, trong tâm thức, sẽ có một sự thức tỉnh lớn lao đối với ý nghĩa của điều mà vào thời đó phần lớn là một biến cố hồng trần, và quần chúng sẽ trở nên nhận biết—trong tâm thức não bộ của họ—về sự chiếm hữu ban đầu ấy. Điều này được mang lại bởi một sự tiếp cận mới mẻ của linh hồn và một bước tiến về phía phản ảnh của nó là phàm ngã, và theo thời gian tạo ra một sự nhận biết tương ứng nơi con người.

b. The Approach of Acquiescence will be equally well recognised by the intelligent and more highly evolved sons of men. They will awaken to the relationship which exists between their personalities and the soul, and between the forces of the lower nature and the energy of the soul. It is with this particular task that the New Group of World Servers is primarily occupied,—looking at their activities from the [271] standpoint of the Hierarchy. Their work is to facilitate the entrance of soul energy, which energy expresses itself in love and in good will. This in its turn results in peace—individual, racial and planetary—and the great group aspect of the approach will be brought about, and is today in process of being carried forward.

b. Sự Tiếp Cận của Chấp Thuận cũng sẽ được nhận biết rõ ràng không kém bởi những người con của nhân loại thông minh và tiến hóa hơn. Họ sẽ thức tỉnh đối với mối liên hệ hiện hữu giữa phàm ngã của họ và linh hồn, và giữa các mãnh lực của bản chất thấp với năng lượng của linh hồn. Chính với nhiệm vụ đặc biệt này mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chủ yếu đang bận tâm,—nếu nhìn các hoạt động của họ từ [271] quan điểm của Thánh đoàn. Công việc của họ là tạo điều kiện thuận lợi cho sự đi vào của năng lượng linh hồn, mà năng lượng này biểu lộ thành tình thương và thiện chí. Đến lượt nó, điều này đưa đến hòa bình—cá nhân, chủng tộc và hành tinh—và phương diện nhóm lớn lao của sự tiếp cận sẽ được mang lại, và ngày nay đang trong tiến trình được xúc tiến.

c. The Approach of Enlightenment carries the disciple through the gate of initiation, and is the effect of the same energy playing upon the personalities of the disciples of the world, and transforming their spirit of aspiration into the light of initiation.

c. Sự Tiếp Cận của Soi Sáng đưa đệ tử đi qua cánh cổng điểm đạo, và là hiệu quả của cùng một năng lượng tác động lên các phàm ngã của các đệ tử thế giới, và chuyển hóa tinh thần khát vọng của họ thành ánh sáng của điểm đạo.

The Mysteries of the world, the flesh and the devil (to use the symbolic formal terminology of Christianity) are to be transmuted with rapidity into those of the Mysteries of the Kingdom of God, the energy of the soul, and the revelation of divinity. The secret hid by the inverted lotus (the world) is to be revealed by the opened lotus of the kingdom of souls. The secret of the flesh, which is the prison of the soul, is revealed by the perfume of the unfolding lotus of the soul. The mystery of the devil will eventually be seen to be that of the light of God’s countenance, which reveals that which is undesirable and must be changed and renounced, and which thus transforms life by the light that God’s nature pours forth.

Các Huyền Nhiệm của thế gian, xác thịt và ma quỷ (dùng thuật ngữ hình thức biểu tượng của Cơ Đốc giáo) phải được chuyển hoá một cách nhanh chóng thành các Huyền Nhiệm của Thiên Giới, năng lượng của linh hồn, và sự mặc khải của thiên tính. Bí mật được che giấu bởi hoa sen đảo ngược (thế gian) phải được tiết lộ bởi hoa sen khai mở của giới các linh hồn. Bí mật của xác thịt, vốn là nhà tù của linh hồn, được tiết lộ bởi hương thơm của hoa sen linh hồn đang khai mở. Huyền nhiệm của ma quỷ cuối cùng sẽ được thấy là huyền nhiệm của ánh sáng từ dung nhan Thượng đế, ánh sáng phơi bày điều không mong muốn và phải được thay đổi và từ bỏ, và nhờ đó chuyển đổi đời sống bằng ánh sáng mà bản chất của Thượng đế tuôn đổ ra.

It would be of use to us all to study these three soul approaches—individual or hierarchical—and to ponder upon them and put ourselves in training, so that we may make the needed recognitions. Let us also ponder upon the following triplicities:—

Sẽ hữu ích cho tất cả chúng ta nếu nghiên cứu ba sự tiếp cận này của linh hồn—cá nhân hay theo Thánh đoàn—và suy ngẫm về chúng, đồng thời tự đặt mình vào sự huấn luyện, để chúng ta có thể thực hiện những sự nhận biết cần thiết. Chúng ta cũng hãy suy ngẫm về các bộ ba sau đây:—

1. Mass Consciousness. Self-consciousness. Group-consciousness. These lead, in due time, to

1. Tâm thức quần chúng. Ngã thức. Tâm thức nhóm. Những điều này dẫn đến, đúng lúc,

2. Appropriation…..Acquiescence…..Enlightenment.through the racial stages of

2. Chiếm hữu…..Chấp thuận…..Soi sáng.qua các giai đoạn chủng tộc của

3. Lemurian experience. Atlantean experience. Aryan experience.and the individual stages of

3. Kinh nghiệm Lemuria. Kinh nghiệm Atlantis. Kinh nghiệm Arya.và các giai đoạn cá nhân của

4. Experience…..Discipleship…..Initiation.producing, in their turn,

4. Kinh nghiệm…..Địa vị đệ tử…..Điểm đạo.tạo ra, đến lượt chúng,

5. Racial probation…..Racial discipleship…..Racial initiation.and individually

5. Dự bị của nhân loại…..Địa vị đệ tử của nhân loại…..Điểm đạo của nhân loạivà cá nhân

6. The probationer…..The Disciple…..The Initiate.which lead eventually to

6. Người dự bị…..Người Đệ tử…..Điểm đạo đồđiều này cuối cùng dẫn đến

7. The New Group of World Servers..The Hierarchy..The Kingdom of God.

7. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian..Thánh đoàn..Thiên Giới.

[272]

[272]

A comparative study of these stages and phases will reveal how the relationship of the ego and the personality emerges, and that the distinctive feature between the two, as far as the aspirant is concerned, is the focus or the concentration of the life aspect. In the personality the focus of consciousness is Form. In the individuality, that focus is transferred to the Soul. It is all a question of where lies the centre of attention. The “approaches” which take place between the soul and the personality are the processes of relationship in the periods of transition. In connection with the race, these are called the Great Approaches of the Hierarchy, and they represent the soul of humanity within the racial form. The New Group of World Servers is that body of men and women who have responded to one of these major approaches. As soon as they have done this, they become a bridging or a linking group between the Hierarchy and the race, thus facilitating the task of the planetary Hierarchy.

Một nghiên cứu so sánh về các giai đoạn và các chu kỳ này sẽ cho thấy mối liên hệ giữa chân ngã và phàm ngã xuất hiện như thế nào, và rằng nét phân biệt đặc trưng giữa hai bên, xét theo phương diện người chí nguyện, là tiêu điểm hay sự tập trung của phương diện sự sống. Trong phàm ngã, tiêu điểm của tâm thức là hình tướngForm. Trong cá thể tính, tiêu điểm ấy được chuyển sang linh hồnSoul. Tất cả chỉ là vấn đề trung tâm chú ý nằm ở đâu. Những “tiếp cận” diễn ra giữa linh hồn và phàm ngã là các tiến trình liên hệ trong những thời kỳ chuyển tiếp. Liên hệ với nhân loại, chúng được gọi là các Đại Tiếp Cận của Thánh đoàn, và chúng biểu hiện linh hồn của nhân loại bên trong hình tướng chủng tộc. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là tập thể những người nam và nữ đã đáp ứng với một trong các đại tiếp cận ấy. Ngay khi họ làm được điều này, họ trở thành một nhóm bắt cầu hay liên kết giữa Thánh đoàn và nhân loại, nhờ đó làm cho nhiệm vụ của Huyền Giai Tinh Thần hành tinh được dễ dàng hơn.

The revelation of these Approaches, during the time in which they are going on, is only now possible. At the first Great Approach in Lemurian days, when the race of men individualised, only the members of the approaching Hierarchy were in any way aware of the purpose. Those who were approached registered dimly a deepened urge to rise to better things. Aspiration was born—conscious aspiration, if [273] such a word can be employed in connection with the vague yearning of animal man. Today, such is the progress made through the effect of evolution that many people can and do consciously register the influence of the soul and the nearing approach of the Hierarchy. This ability to register the Approach, or the Touch of Enlightenment, is largely due to the successful work of the Christ when He came down to the earth some two thousand years ago. He accustomed us to the idea of divinity—an entirely new concept as far as man was concerned. He thus paved the way for the nearer approach, upon a large scale, of the Kingdom of Souls, through its agent, the Hierarchy and the hierarchical agency, The New Group of World Servers. This may convey something of an understanding of an aspect of Christ’s work which is frequently overlooked.

Sự mặc khải về các Tiếp Cận này, trong thời gian chúng đang diễn ra, chỉ đến nay mới có thể có được. Vào Đại Tiếp Cận đầu tiên trong thời Lemuria, khi nhân loại của loài người được biệt ngã hóa, chỉ các thành viên của Thánh đoàn đang tiến đến mới phần nào ý thức được mục đích ấy. Những kẻ được tiếp cận chỉ mơ hồ ghi nhận một thúc đẩy sâu xa hơn hướng tới những điều tốt đẹp hơn. Khát vọng đã ra đời—khát vọng có ý thức, nếu [273] có thể dùng một từ như vậy liên hệ với nỗi khao khát mơ hồ của người thú. Ngày nay, sự tiến bộ đạt được nhờ tác động của tiến hoá lớn đến mức nhiều người có thể và thực sự ghi nhận một cách hữu thức ảnh hưởng của linh hồn và sự tiếp cận gần hơn của Thánh đoàn. Khả năng ghi nhận Tiếp Cận này, hay Sự Chạm của Giác Ngộ, phần lớn là nhờ công trình thành công của Đức Christ khi Ngài giáng xuống trần gian cách đây khoảng hai ngàn năm. Ngài đã làm cho chúng ta quen với ý niệm về thiên tính—một khái niệm hoàn toàn mới đối với con người. Nhờ đó Ngài đã dọn đường cho sự tiếp cận gần hơn, trên quy mô lớn, của Thiên Giới của các linh hồn, thông qua tác nhân của nó là Thánh đoàn và cơ quan phân cấp của Thánh đoàn, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Điều này có thể truyền đạt phần nào sự thấu hiểu về một phương diện trong công việc của Đức Christ thường bị bỏ qua.

Today, as the seventh ray comes into manifestation, we shall see the approaches between the two higher kingdoms of men and of souls greatly facilitated, as the magical work in the producing and bringing about of relationship begins to go forward as desired. It is the work of the Ray of Magical Order which will bring about sensitivity to one of the Major Approaches which is being now attempted. Only as history is made and we learn later the amazing nature of the epoch through which the race is passing, will humanity appreciate the significance of the work of the present Hierarchy, and the magnitude and the success of its achievement since 1925, as a result of the initial impulse instituted in 1875.

Ngày nay, khi cung bảy đi vào biểu hiện, chúng ta sẽ thấy các tiếp cận giữa hai giới cao hơn là giới nhân loại và giới các linh hồn được tạo điều kiện dễ dàng hơn rất nhiều, khi công việc huyền thuật trong việc tạo ra và mang lại mối liên hệ bắt đầu tiến triển như mong muốn. Chính công việc của Cung Trật Tự Huyền Thuật sẽ mang lại sự nhạy cảm đối với một trong các Đại Tiếp Cận hiện đang được thử thực hiện. Chỉ khi lịch sử được tạo nên và về sau chúng ta học biết bản chất kỳ diệu của thời đại mà nhân loại đang đi qua, nhân loại mới đánh giá được thâm nghĩa của công việc của Thánh đoàn hiện nay, cũng như tầm vóc và thành công của thành tựu của Thánh đoàn kể từ năm 1925, như là kết quả của xung lực khởi đầu được thiết lập vào năm 1875.

No more need be said on this point except to observe that the first indications of the work done during the Wesak Festival of 1936 and the response engendered among humanity would warrant the assumptions of success. Let us all stand poised and ready, unafraid and sure, thus preserving the gain of past effort and (in company with all true servers throughout [274] the world) ensuring to us a positive focal point for the transmission of spiritual energy.

Không cần nói thêm gì về điểm này ngoài việc lưu ý rằng những chỉ dấu đầu tiên của công việc được thực hiện trong Lễ Hội Wesak năm 1936 và sự đáp ứng được khơi dậy trong nhân loại sẽ biện minh cho giả định về thành công. Chúng ta hãy cùng đứng trong trạng thái sẵn sàng và chuẩn bị, không sợ hãi và vững chắc, nhờ đó bảo tồn thành quả của nỗ lực quá khứ và (cùng với tất cả những người phụng sự chân chính khắp [274] thế giới) bảo đảm cho chúng ta một tiêu điểm tích cực để truyền dẫn năng lượng tinh thần.

It would be well, before we proceed with our consideration of the Ray of the Personality, to add a word more to the information given above anent the three great Approaches of the soul or the three Touches which are transforming or initiating agencies in the life of the personality. Students would do well to remember that there must ever be an analogy or a correspondence carried out in the life of the little self—a reflection of the activities of the greater Self. Just as the soul makes three approaches towards its instrument or reflection, a human being, so the integrated personality approaches also towards union with the soul by three similar or related touches. It might be of interest if we were to enlarge somewhat upon this matter.

Sẽ là điều tốt, trước khi chúng ta tiếp tục xem xét cung phàm ngã, thêm một lời nữa vào thông tin đã nêu trên liên quan đến ba Đại Tiếp Cận của linh hồn hay ba Sự Chạm vốn là các tác nhân chuyển đổi hay điểm đạo trong đời sống của phàm ngã. Các đạo sinh nên nhớ rằng luôn luôn phải có một sự tương đồng hay một định luật tương ứng được thực hiện trong đời sống của tiểu ngã—một phản ánh của các hoạt động của Đại Ngã. Cũng như linh hồn thực hiện ba lần tiếp cận đối với khí cụ hay phản ánh của nó là một con người, thì phàm ngã tích hợp cũng tiến tới sự hợp nhất với linh hồn bằng ba sự chạm tương tự hay có liên hệ. Có lẽ sẽ là điều đáng quan tâm nếu chúng ta khai triển thêm đôi chút về vấn đề này.

The corresponding activity in the personality to the Approach of Appropriation comes as a result of the reorientation and the readjustment which takes place in the personality life when upon the probationary path. Then the individual aspirant—after much struggle and effort—suddenly “touches”, for one brief moment, the level of the soul, and knows the meaning of the words “soul contact.” That contact is no longer a desire, a vision or a theoretical belief or hope. It is experience and fact. The terms “soul contact” and “sensing the vibratory quality of the soul” are phrases oft used. It should prove useful to students if they could learn to appreciate the fact that when “in meditation deep” a certain sudden and recognised relationship is established, the personality has responded for the first time in such a manner that the “appropriation” by the soul of its instrument (called individualisation) is duplicated by the appropriation by the personality of the inspiring and overshadowing soul. This experience marks a significant moment in the life of the soul and the [275] personality, and the man is never again the same. He has participated in a soul activity. This great event, when looked at from this angle, should throw new light and a fresh spirit of enterprise into the meditation work of the aspirant. Just as the soul through a planned activity, individualised itself in a human form, so the probationary aspirant, also as a result of a planned activity, takes the first step in individualising himself in a spiritual form, and the shift of consciousness from a body nature into a body “not made with hands, eternal in the heavens” takes place. The little self repeats the activity of the great Self. An event upon the path of ascent explains the significance of what occurred on the way of descent.

Hoạt động tương ứng trong phàm ngã với Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu đến như là kết quả của sự định hướng lại và điều chỉnh lại diễn ra trong đời sống phàm ngã khi ở trên Con Đường Dự Bị. Khi ấy người chí nguyện cá nhân—sau nhiều đấu tranh và nỗ lực—đột nhiên “chạm tới”, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, cấp độ của linh hồn, và biết được ý nghĩa của những lời “tiếp xúc linh hồn”. Sự tiếp xúc ấy không còn là một ham muốn, một linh ảnh hay một niềm tin hoặc hy vọng lý thuyết nữa. Nó là kinh nghiệm và sự kiện. Các thuật ngữ “tiếp xúc linh hồn” và “cảm nhận phẩm tính rung động của linh hồn” là những cụm từ thường được dùng. Sẽ hữu ích cho các đạo sinh nếu họ có thể học cách đánh giá sự kiện rằng khi “trong tham thiền sâu” một mối liên hệ đột ngột và được nhận biết được thiết lập, phàm ngã đã đáp ứng lần đầu tiên theo cách mà “sự chiếm hữu” của linh hồn đối với khí cụ của nó (được gọi là biệt ngã hóa) được lặp lại bằng sự chiếm hữu của phàm ngã đối với linh hồn truyền cảm hứng và phủ bóng. Kinh nghiệm này đánh dấu một khoảnh khắc có ý nghĩa trong đời sống của linh hồn và của [275] phàm ngã, và con người không bao giờ còn như trước nữa. Y đã tham dự vào một hoạt động của linh hồn. Biến cố lớn lao này, khi được nhìn từ góc độ này, hẳn sẽ soi sáng mới mẻ và đem một tinh thần dấn thân mới vào công việc tham thiền của người chí nguyện. Cũng như linh hồn, qua một hoạt động có kế hoạch, đã biệt ngã hóa chính nó trong một hình tướng con người, thì người chí nguyện dự bị cũng vậy, như là kết quả của một hoạt động có kế hoạch, thực hiện bước đầu tiên trong việc biệt ngã hóa chính mình trong một hình tướng tinh thần, và sự chuyển dịch tâm thức từ bản chất thể xác sang một thể “không do tay người làm nên, vĩnh cửu trên cõi trời” diễn ra. Tiểu ngã lặp lại hoạt động của Đại Ngã. Một biến cố trên con đường đi lên giải thích thâm nghĩa của điều đã xảy ra trên con đường đi xuống.

We are told that a long time transpires between the first initiation (wherein the crisis of appropriation on the Path of Ascent, finds its culmination) and the second initiation. Here again there is a correspondence to earlier happenings, for much time has transpired since individualisation, technically understood, has taken place. That individualisation, the first great soul approach took place either in Lemurian days or in a still earlier crisis upon that dead planet, the moon. Today, just as the form of animal man had to reach a certain level of development, so the human form has to reach the level of personality integration before the re-enactment of the Approach of Appropriation can be consciously carried forward.

Chúng ta được cho biết rằng một thời gian dài trôi qua giữa lần điểm đạo thứ nhất (trong đó cuộc khủng hoảng của sự chiếm hữu trên Con Đường Đi Lên đạt tới đỉnh điểm) và lần điểm đạo thứ hai. Ở đây lại có một sự tương ứng với những diễn biến trước kia, vì đã có rất nhiều thời gian trôi qua kể từ khi sự biệt ngã hóa, hiểu theo nghĩa kỹ thuật, diễn ra. Sự biệt ngã hóa ấy, Đại Tiếp Cận đầu tiên của linh hồn, đã diễn ra hoặc trong thời Lemuria hoặc trong một cuộc khủng hoảng còn sớm hơn nữa trên hành tinh đã chết ấy là mặt trăng. Ngày nay, cũng như hình tướng của người thú đã phải đạt đến một mức phát triển nhất định, thì hình tướng con người cũng phải đạt đến mức tích hợp phàm ngã trước khi sự tái diễn của Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu có thể được thực hiện một cách hữu thức.

Next there comes a period in the life of the aspirant when he shifts off the probationary path and moves on to the path of discipleship. This is the result of an activity which is a reflection in his individual personality life of the Approach of Acquiescence. This takes place upon the battlefield of the astral plane. There the disciple acquiesces consciously in the inevitable process of transmutation which takes place before the personality can be a fit instrument for the soul. He stands [276] between the pairs of opposites, learning the secret of duality, and like Arjuna (fixed at the midway point) he seeks the way out, eventually acquiescing in the task ahead. This is the stage of submission to which every disciple subjects himself.

Tiếp theo là một giai đoạn trong đời sống của người chí nguyện khi y rời khỏi Con Đường Dự Bị và bước lên Con Đường Đệ Tử. Đây là kết quả của một hoạt động là sự phản ánh trong đời sống phàm ngã cá nhân của y về Tiếp Cận của Sự Chấp Thuận. Điều này diễn ra trên chiến trường của cõi cảm dục. Ở đó đệ tử hữu thức chấp thuận tiến trình chuyển hoá tất yếu diễn ra trước khi phàm ngã có thể trở thành một khí cụ thích hợp cho linh hồn. Y đứng [276] giữa các cặp đối đãi, học bí mật của nhị nguyên tính, và như Arjuna (đứng vững tại Điểm ở giữa), y tìm lối thoát, cuối cùng chấp thuận nhiệm vụ ở phía trước. Đây là giai đoạn quy phục mà mọi đệ tử đều tự đặt mình vào.

It is through acquiescence that the astral aspect of the personality is brought into line with the divine purpose of the indwelling soul. This is not, a negative, weak submission, or a sad, sweet acceptance, so-called, of the will of God, but it is a positive, dynamic assumption of a certain position or attitude upon the battlefield of life. This attitude recognises rightly, as did Arjuna, the demands of both armies (the army of the Lord and the army of the Personality) and whilst acquiescing in the facts of the case, the disciple stands up and fights as best he may for the privilege of right understanding and right activity. Just as the soul in far off days acquiesced, and gave the touch of acquiescence in the obligation assumed when the approach of appropriation took place and the demands of the personality upon the soul became steadily more definite, so now the personality reverses the process, and recognises the demands of the soul. This marks, as may well be seen, a very definite stage in the life of the aspirant, and is the cause of that unhappy sense of duality which produces distress and sorrow in the life of all disciples. It is at this point upon the Way that many very well-meaning disciples fall. Instead of standing in spiritual being and taking a firm position upon the middle way between the pairs of opposites, and thus intensifying the touch of appropriation and endeavoring to make the approach of acquiescence, they fall into the illusions of self-pity. These prevent the process of appropriation. A furious conflict then ensues in the endeavor to change the theme of their lives, and the disciples forget that that theme is the embodiment of the Word of their souls in any particular incarnation, and that no theme—calling as it does, [277] particular conditions into being—could provide the right and needed circumstances for full and complete development. They become so occupied with the theme that they forget the composer of that theme.

Chính nhờ sự chấp thuận mà phương diện cảm dục của phàm ngã được đưa vào chỉnh hợp với thiên ý của linh hồn nội tại. Đây không phải là một sự quy phục tiêu cực, yếu đuối, hay một sự chấp nhận buồn bã, ngọt ngào, như người ta gọi, đối với Ý Chí của Thượng Đế, mà là một sự đảm nhận tích cực, năng động một vị trí hay thái độ nhất định trên chiến trường của cuộc sống. Thái độ này nhận ra một cách đúng đắn, như Arjuna đã làm, những đòi hỏi của cả hai đạo quân (đạo quân của Chúa và đạo quân của Phàm ngã) và trong khi chấp thuận các sự kiện của tình huống, đệ tử đứng lên và chiến đấu hết sức mình để giành lấy đặc ân của sự thấu hiểu đúng đắn và hoạt động đúng đắn. Cũng như linh hồn trong những ngày xa xưa đã chấp thuận, và đã ban sự chạm của chấp thuận trong nghĩa vụ đã đảm nhận khi tiếp cận của sự chiếm hữu diễn ra và những đòi hỏi của phàm ngã đối với linh hồn ngày càng trở nên rõ rệt hơn, thì giờ đây phàm ngã đảo ngược tiến trình ấy, và nhận ra những đòi hỏi của linh hồn. Điều này đánh dấu, như có thể thấy rõ, một giai đoạn rất xác định trong đời sống của người chí nguyện, và là nguyên nhân của cảm giác nhị nguyên tính bất hạnh ấy, vốn tạo ra đau khổ và buồn phiền trong đời sống của mọi đệ tử. Chính tại điểm này trên Con Đường mà nhiều đệ tử rất thiện chí đã sa ngã. Thay vì đứng trong bản thể tinh thần và giữ một lập trường vững chắc trên trung đạo giữa các cặp đối đãi, nhờ đó tăng cường sự chạm của sự chiếm hữu và nỗ lực thực hiện tiếp cận của sự chấp thuận, họ lại rơi vào các ảo tưởng của lòng tự thương hại. Những điều này ngăn cản tiến trình chiếm hữu. Khi ấy một cuộc xung đột dữ dội xảy ra trong nỗ lực thay đổi chủ đề của đời sống họ, và các đệ tử quên rằng chủ đề ấy là hiện thân của Linh từ của linh hồn họ trong một kiếp lâm phàm cụ thể, và rằng không có chủ đề nào—vì nó gọi ra, [277] những điều kiện cụ thể đi vào hiện hữu—lại không thể cung cấp những hoàn cảnh đúng đắn và cần thiết cho sự phát triển đầy đủ và trọn vẹn. Họ trở nên quá bận tâm với chủ đề đến nỗi quên mất người soạn nên chủ đề ấy.

The dramatic rehearsal by the personality of the Approach or Touch of Enlightenment (as enacted by the soul) takes place upon the Path of Initiation. It has been portrayed for us by the Buddha when He took illumination and became the Enlightened One.

Sự diễn tập đầy kịch tính của phàm ngã về Tiếp Cận hay Sự Chạm của Giác Ngộ (như được linh hồn thực hiện) diễn ra trên Con Đường Điểm Đạo. Điều này đã được Đức Phật biểu hiện cho chúng ta khi Ngài đạt được sự soi sáng và trở thành Đấng Giác Ngộ.

There is one peculiarly interesting point which can perhaps be made clear. God, or whatever word anyone may employ to express the Originator of all that exists, constantly re-enacts these dramatic approaches for His people. In so doing and as history proceeds, two great classes of Avatars must inevitably emerge, or have emerged. There are, first of all, Those Who embody in Themselves the great major soul approaches. There will be (and I would ask you to note the change of tense) Those Who will embody the human approaches, or the corresponding activities of the personality to the soul approaches. These are called in the language of esotericism “the Avatars of logoic descent upon the radiant path of…” and “the Avatars of divine descent upon the Claiming Way.” I cannot translate these terms more clearly, nor can I find an adequate word for the phrase which qualifies the radiant path.

Có một điểm đặc biệt thú vị có lẽ có thể được làm sáng tỏ. Thượng đế, hay bất cứ từ nào người ta dùng để diễn tả Đấng Khởi Nguyên của mọi sự hiện hữu, không ngừng tái diễn những tiếp cận đầy kịch tính này cho dân của Ngài. Khi làm như vậy, và khi lịch sử tiến triển, hai loại lớn các Đấng Hoá Thân tất yếu phải xuất hiện, hoặc đã xuất hiện. Trước hết là Những Đấng tự thân hiện thân cho các đại tiếp cận chủ yếu của linh hồn. Sẽ có (và tôi xin các bạn lưu ý sự thay đổi thì) Những Đấng sẽ hiện thân cho các tiếp cận của con người, hay các hoạt động tương ứng của phàm ngã đối với các tiếp cận của linh hồn. Trong ngôn ngữ huyền bí học, các Ngài được gọi là “các Đấng Hoá Thân của sự giáng hạ logoic trên con đường rạng ngời của…” và “các Đấng Hoá Thân của sự giáng hạ thiêng liêng trên Con Đường Đòi Hỏi.” Tôi không thể dịch các thuật ngữ này rõ hơn, cũng không thể tìm được một từ thích đáng cho cụm từ bổ nghĩa cho con đường rạng ngời ấy.

On the Way of Descending Approaches, the Buddha from the mental plane and also upon it, embodied in Himself the blazing enlightenment which is the result of a rare occurrence—a Cosmic Touch. He challenged the people to the Path of Light, of which knowledge and wisdom are two aspects. These, when brought into relationship with each other, produce the light. In a curious and esoteric manner, therefore, the Buddha embodied in Himself the force and [278] activity of the third ray, of the third aspect of divinity—the divine cosmic principle of Intelligence. By its fusion with the ray of our solar system (the ray of Love) He expressed perfectly the significance of light in matter, of the intelligence principle as found in form, and was the Avatar Who carried in Himself the fully ripened seeds of the past solar system. We should not forget that our present solar system is, as was stated in A Treatise on Cosmic Fire, the second in a series of three systems.

Trên Con Đường của các Tiếp Cận Đi Xuống, Đức Phật từ cõi trí và cũng trên chính cõi ấy, đã hiện thân trong chính Ngài sự giác ngộ rực cháy là kết quả của một biến cố hiếm có—một Sự Chạm Vũ Trụ. Ngài đã thách thức nhân loại bước vào Con Đường Ánh Sáng, trong đó tri thức và minh triết là hai phương diện. Khi được đặt vào mối liên hệ với nhau, chúng tạo ra ánh sáng. Vì vậy, theo một cách kỳ lạ và huyền bí, Đức Phật đã hiện thân trong chính Ngài mãnh lực và [278] hoạt động của cung ba, của phương diện thứ ba của thiên tính—nguyên khí vũ trụ thiêng liêng của Trí Tuệ. Bằng sự dung hợp của nó với cung của hệ mặt trời chúng ta (cung Bác Ái), Ngài đã biểu lộ một cách hoàn hảo thâm nghĩa của ánh sáng trong vật chất, của nguyên khí trí tuệ như được tìm thấy trong hình tướng, và là Đấng Hoá Thân mang trong mình những hạt giống đã chín muồi hoàn toàn của hệ mặt trời trước. Chúng ta không nên quên rằng hệ mặt trời hiện nay của chúng ta, như đã được nói trong Luận về Lửa Vũ Trụ, là hệ thứ hai trong một chuỗi ba hệ.

Then came the next great Avatar, the Christ, Who, enfolding in Himself all that the Buddha had of light and wisdom (being fully enlightened in the occult and spiritual sense) on the Ray of Descending Approach, embodied also the peace of inclusiveness, which comes from the Touch of Divine Acquiescence. He was the embodied force of submission, and He carried the divine approach to the astral plane, the plane of feeling.

Rồi đến Đấng Hoá Thân vĩ đại kế tiếp, Đức Christ, Đấng bao hàm trong chính Ngài tất cả những gì Đức Phật có về ánh sáng và minh triết (vì hoàn toàn được soi sáng theo nghĩa huyền bí và tinh thần) trên Cung của Tiếp Cận Đi Xuống, cũng hiện thân cho sự bình an của tính bao gồm, vốn đến từ Sự Chạm của Chấp Thuận Thiêng Liêng. Ngài là mãnh lực hiện thân của sự quy phục, và Ngài đã mang tiếp cận thiêng liêng xuống cõi cảm dục, cõi của cảm xúc.

Thus two great stations of energy and two major powerhouses of light have been established by these two Sons of God, and the descent of the divine life into manifestation has been greatly facilitated. The Way is now opened so that the ascent of the sons of men can become entirely possible. It is around these two ideas of divine descent and of human corresponding ascent that the coming new religion must be built.

Như vậy, hai trạm năng lượng lớn và hai trung tâm năng lực lớn của ánh sáng đã được thiết lập bởi hai Con của Thượng đế này, và sự giáng hạ của sự sống thiêng liêng vào biểu hiện đã được tạo điều kiện dễ dàng hơn rất nhiều. Con Đường nay đã được mở ra để sự đi lên của những người con của nhân loại có thể trở nên hoàn toàn khả hữu. Chính quanh hai ý tưởng về sự giáng hạ thiêng liêng và sự đi lên tương ứng của con người mà tôn giáo mới sắp đến phải được xây dựng.

Stations of power exist and have been founded through the work of the various World Saviours. These stations of power must be contacted by humanity as time transpires, through their individual re-enactment (on a tiny scale) of the cosmic approaches, or the touches of divinity, dramatically engineered by the cosmic Avatars, the Buddha and the Christ. It is because the Christ has approached closer to humanity by focussing divine energy upon the astral plane through His divine acquiescence that He is the First Initiator.

Các trạm năng lực hiện hữu và đã được thiết lập qua công trình của các Đấng Cứu Thế Gian. Theo thời gian, nhân loại phải tiếp xúc với các trạm năng lực này qua sự tái diễn cá nhân của họ (trên một quy mô rất nhỏ) các tiếp cận vũ trụ, hay các sự chạm của thiên tính, được dàn dựng đầy kịch tính bởi các Đấng Hoá Thân vũ trụ, Đức PhậtĐức Christ. Chính vì Đức Christ đã tiếp cận gần hơn với nhân loại bằng cách tập trung năng lượng thiêng liêng trên cõi cảm dục qua sự chấp thuận thiêng liêng của Ngài mà Ngài là Đấng Điểm đạo thứ nhất.

[279]

[279]

From one point of view, these two centres of force constitute the Temples of Initiation through which all disciples have to pass. This passing is the theme of the coming new religion.

Từ một quan điểm, hai trung tâm mãnh lực này cấu thành các Đền Điểm Đạo mà mọi đệ tử đều phải đi qua. Sự đi qua này là chủ đề của tôn giáo mới sắp đến.

Mankind has entered into the Temples at the great cosmic Approach of Appropriation in Lemurian times. Certain of the more advanced sons of men were passed in Atlantean times and still more will be passed in the immediate future, whilst a fair number will also be raised to immortality, but from the angle of the race it is the initiation of passing which is ahead for a very large number, and not the initiation of being raised. I am not here speaking of the so-called five major initiations, but of certain group events which are predominantly cosmic in nature. The major initiations which are the goal of human endeavor are individual in nature, and constitute, as it were, a preparatory period of expansions of consciousness. There were, if I might so express it, seven steps or approaches on the part of the life of God in the subhuman kingdoms prior to the Approach of Appropriation when humanity individualised. There are, as we know, five initiations ahead of the world disciples and these are steps towards the Approach of Acquiescence which will become possible on our planet before long. There are—after these seven and five steps—three more to be taken before the cosmic Approach of Enlightenment can take place in a far distant future. So humanity enters into the outer Court of God’s love, passes into the Holy Place and is raised in the Secret Place of the Most High.

Nhân loại đã đi vào các Đền trong Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu vũ trụ lớn lao vào thời Lemuria. Một số người con của nhân loại tiến hóa hơn đã được đưa qua trong thời Atlantis và sẽ còn nhiều người hơn nữa được đưa qua trong tương lai gần, trong khi một số khá đông cũng sẽ được nâng lên đến bất tử; nhưng xét từ góc độ nhân loại, thì điểm đạo của sự đi qua đang ở phía trước đối với một số lượng rất lớn, chứ không phải điểm đạo của sự được nâng lên. Ở đây tôi không nói về cái gọi là năm lần điểm đạo chính, mà nói về một số biến cố nhóm vốn chủ yếu có bản chất vũ trụ. Những lần điểm đạo chính là mục tiêu của nỗ lực con người thì có bản chất cá nhân, và cấu thành, có thể nói như vậy, một thời kỳ chuẩn bị của những sự mở rộng tâm thức. Đã có, nếu tôi có thể diễn đạt như thế, bảy bước hay bảy tiếp cận về phía sự sống của Thượng đế trong các giới dưới nhân loại trước Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu khi nhân loại được biệt ngã hóa. Như chúng ta biết, có năm lần điểm đạo ở phía trước các đệ tử thế gian, và chúng là những bước tiến tới Tiếp Cận của Sự Chấp Thuận sẽ sớm trở nên khả hữu trên hành tinh chúng ta. Sau bảy và năm bước ấy, còn có thêm ba bước nữa phải thực hiện trước khi Tiếp Cận của Giác Ngộ vũ trụ có thể diễn ra trong một tương lai rất xa. Vì vậy nhân loại đi vào tiền đình bên ngoài của tình thương của Thượng đế, đi qua Nơi Thánh, và được nâng lên trong Nơi Bí Mật của Đấng Tối Cao.

Later, the Avatar will emerge Who will embody in Himself all that the Buddha had of enlightenment and all that Christ had of acquiescing love. He will, however, also embody the energy which produced the Approach of Appropriation, and when He comes forth, there will transpire a [280] great appropriation by humanity of its recognised divinity, and the establishing upon earth of a station of light and of power which will make possible the externalising of the Mysteries of Initiation upon earth. This approach is the cause of much of the present turmoil, for the Avatar is on His way.

Về sau, sẽ xuất hiện Đấng Hoá Thân hiện thân trong chính Ngài tất cả những gì Đức Phật có về giác ngộ và tất cả những gì Đức Christ có về tình thương chấp thuận. Tuy nhiên, Ngài cũng sẽ hiện thân cho năng lượng đã tạo ra Tiếp Cận của Sự Chiếm Hữu, và khi Ngài xuất hiện, sẽ diễn ra một [280] sự chiếm hữu lớn lao của nhân loại đối với thiên tính đã được nhận biết của mình, và việc thiết lập trên trái đất một trạm ánh sáng và năng lực sẽ làm cho việc ngoại hiện các Mầu Nhiệm Điểm Đạo trên trái đất trở nên khả hữu. Tiếp cận này là nguyên nhân của phần lớn tình trạng hỗn loạn hiện nay, vì Đấng Hoá Thân đang trên đường đến.

Much of the above can mean but little to those who are not yet upon the path of accepted discipleship. We are here dealing with some of the major mysteries. But a mystery only remains a mystery when ignorance and unbelief exist. There is no mystery where there is knowledge and faith. The coming of the Avatar Who will fuse in Himself three principles of divinity is an inevitable future happening, and when He shall appear “the light that always has been will be seen; the love that never ceases will be realised, and the radiance deep concealed will break forth into being.” We shall then have a new world—one which will express the light, the love and the knowledge of God.

Phần lớn những điều trên chỉ có thể mang rất ít ý nghĩa đối với những ai chưa ở trên con đường địa vị đệ tử được chấp nhận. Ở đây chúng ta đang bàn đến một số đại huyền nhiệm. Nhưng một huyền nhiệm chỉ còn là huyền nhiệm khi còn có vô minh và vô tín. Không có huyền nhiệm ở nơi có tri thức và đức tin. Sự xuất hiện của Đấng Hoá Thân sẽ dung hợp trong chính Ngài ba nguyên khí của thiên tính là một biến cố tương lai tất yếu, và khi Ngài xuất hiện thì “ánh sáng vốn luôn luôn hiện hữu sẽ được thấy; tình thương không bao giờ chấm dứt sẽ được chứng nghiệm, và sự rạng ngời ẩn kín sâu xa sẽ bừng ra thành hiện hữu.” Khi ấy chúng ta sẽ có một thế giới mới—một thế giới sẽ biểu lộ ánh sáng, tình thương và tri thức của Thượng đế.

These three Temples of the Mysteries (of which two are already existing, and the third will later appear) are each of them related to one of the three divine aspects, and the energy of the three major rays pours through them. In the corresponding approaches upon the path of ascent by humanity, it is the energy of the four minor Rays of Attribute which produce the power to make the needed approach. Through the active work and the guidance of the “presiding guardians” of these temples, the fifth kingdom in nature will be brought into manifested being.

Ba Đền của các Mầu Nhiệm này (trong đó hai đền đã hiện hữu, và đền thứ ba sẽ xuất hiện về sau) mỗi đền đều liên hệ với một trong ba phương diện thiêng liêng, và năng lượng của ba Cung Trạng Thái chính tuôn qua chúng. Trong các tiếp cận tương ứng trên con đường đi lên của nhân loại, chính năng lượng của bốn Cung Thuộc Tính phụ tạo ra năng lực để thực hiện tiếp cận cần thiết. Qua công việc tích cực và sự hướng dẫn của các “vị giám hộ chủ trì” của các đền này, giới thứ năm trong thiên nhiên sẽ được đưa vào hiện hữu biểu hiện.

Over the Temple upon the mental plane, the Buddha presides and there will consummate His unfinished work. Over the Temple upon the plane of sentient feeling and of loving aspiration, the Christ presides, for this is the Temple of the most difficult initiatory processes. The reason for this difficulty and for the importance of this Temple is due to the fact that our solar system is a system [281] of Love, of sentient response to the love of God, and of the development of that response through the innate faculty of feeling or sentiency. This calls for the cooperation of a Son of God who will embody two divine principles. Later will come an Avatar Who will achieve neither the full enlightenment of the Buddha nor the full expression of the divine love of the Christ, but Who will have a large measure of wisdom and of love, plus that “materialising power” which will enable Him to found a divine powerhouse upon the physical plane. His task, in many ways, is far more difficult than that of the two preceding Avatars, for He carries in Himself not only the energies of the two divine principles, already “duly anchored” upon the planet by His two great Brothers, but He has also within Himself much of a third divine principle, hitherto not used upon our planet. He carries the will of God into manifestation, and of that will we, as yet, know really nothing. So difficult is His task that the New Group of World Servers is being trained to assist Him. Thus an aspect of the first ray principle will be anchored by Him upon earth.

Trên Đền ở cõi trí, Đức Phật chủ trì và tại đó Ngài sẽ hoàn tất công việc còn dang dở của Ngài. Trên Đền ở cõi cảm xúc hữu cảm và khát vọng bác ái, Đức Christ chủ trì, vì đây là Đền của những tiến trình điểm đạo khó khăn nhất. Lý do của sự khó khăn này và của tầm quan trọng của Đền này là vì hệ mặt trời của chúng ta là một hệ [281] của Bác Ái, của sự đáp ứng hữu cảm đối với tình thương của Thượng đế, và của sự phát triển đáp ứng ấy qua năng lực bẩm sinh của cảm xúc hay tính hữu cảm. Điều này đòi hỏi sự hợp tác của một Con của Thượng đế, Đấng sẽ hiện thân cho hai nguyên khí thiêng liêng. Về sau sẽ đến một Đấng Hoá Thân không đạt được trọn vẹn sự giác ngộ của Đức Phật cũng không đạt được sự biểu lộ trọn vẹn tình thương thiêng liêng của Đức Christ, nhưng Đấng ấy sẽ có một mức độ lớn minh triết và tình thương, cộng thêm “quyền năng hiện hình” sẽ giúp Ngài có thể thiết lập một trung tâm năng lực thiêng liêng trên cõi hồng trần. Nhiệm vụ của Ngài, trên nhiều phương diện, khó khăn hơn rất nhiều so với nhiệm vụ của hai Đấng Hoá Thân đi trước, vì Ngài mang trong chính mình không chỉ các năng lượng của hai nguyên khí thiêng liêng, đã được hai Huynh Trưởng vĩ đại của Ngài “neo giữ đúng cách” trên hành tinh, mà còn có trong chính mình rất nhiều của một nguyên khí thiêng liêng thứ ba, cho đến nay chưa được sử dụng trên hành tinh chúng ta. Ngài mang Ý Chí của Thượng Đế vào biểu hiện, và về ý chí ấy, hiện nay chúng ta thực sự chưa biết gì cả. Nhiệm vụ của Ngài khó khăn đến mức Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang được huấn luyện để trợ giúp Ngài. Như vậy, một phương diện của nguyên khí cung một sẽ được Ngài neo giữ trên trái đất.

All that the student can grasp is that the Plan will be the dynamic impulse of this third and vital energy which will pervade the outer court of the Temple, constituting a Temple of Initiation upon the physical plane, thus externalising the activities of the Hierarchy in certain possible respects. The first initiation will then take place upon earth. It will be then no longer a veiled secret. This is the initiation of the outer court, wherein the approach of the soul upon the Way of Descent into manifestation, and the subsequent appropriation of the proffered divine energy by the personality upon the Way of Ascent will take place.

Tất cả những gì đạo sinh có thể nắm bắt là Thiên Cơ sẽ là xung lực năng động của năng lượng thứ ba và thiết yếu này, năng lượng sẽ thấm khắp tiền đình bên ngoài của Đền, cấu thành một Đền Điểm Đạo trên cõi hồng trần, nhờ đó ngoại hiện các hoạt động của Thánh đoàn trong một số phương diện khả hữu. Khi ấy lần điểm đạo thứ nhất sẽ diễn ra trên trái đất. Khi ấy nó sẽ không còn là một bí mật được che giấu nữa. Đây là điểm đạo của tiền đình bên ngoài, trong đó sự tiếp cận của linh hồn trên Con Đường Đi Xuống vào biểu hiện, và sự chiếm hữu tiếp theo của phàm ngã đối với năng lượng thiêng liêng được hiến dâng trên Con Đường Đi Lên sẽ diễn ra.

The Holy Place is the place where the second initiation is enacted, and this will some day be given upon the astral plane when the illusion there persisting has been somewhat dissipated. Over this second initiation, the Christ presides and, as was said above, it is for us the most difficult and most transforming of the initiations. The acquiescence of the soul to the demands of the personality for spiritual life, and the submission of the personality to the soul, find therein their consummation.

Nơi Thánh là nơi lần điểm đạo thứ hai được thực hiện, và một ngày nào đó điều này sẽ được ban trên cõi cảm dục khi ảo tưởng còn tồn tại ở đó đã được làm tiêu tan phần nào. Đức Christ chủ trì lần điểm đạo thứ hai này, và như đã nói ở trên, đối với chúng ta đây là lần điểm đạo khó khăn nhất và chuyển đổi nhiều nhất. Sự chấp thuận của linh hồn đối với những đòi hỏi của phàm ngã về đời sống tinh thần, và sự quy phục của phàm ngã đối với linh hồn, tìm thấy sự hoàn tất của chúng tại đó.

Finally will come the initiation of the Transfiguration, wherein the light breaks forth, the Touch of Enlightenment is given, and the soul and the personality stand forth as one. This process requires also the aid of the Buddha and the inspiration of the Christ, and it is “occultly guarded” by the Avatar of the physical plane.

Cuối cùng sẽ đến điểm đạo của Biến hình, trong đó ánh sáng bừng ra, Sự Chạm của Giác Ngộ được ban, và linh hồn cùng phàm ngã đứng ra như một. Tiến trình này cũng đòi hỏi sự trợ giúp của Đức Phật và cảm hứng của Đức Christ, và được “canh giữ một cách huyền bí” bởi Đấng Hoá Thân của cõi hồng trần.

In all the above information there is given a hint as to what will take place when human personalities are actively functioning and steadily awakening. The rapid coming of the Avatar Who will found the station of light and power upon the physical plane is dependent upon the rapid unfoldment and appearance of integrated personalities who love and think and seek to serve. There has here been given a new hint upon one of the more esoteric aspects of the work of the New Group of World Servers, and a hint at the same time as to the reason that this Treatise upon the Seven Rays has been written. An understanding of the rays and of the impelling forces in, through, and with which the personality has to work was essential if the work of this third Avatar from cosmic sources, was to be made possible.

Trong tất cả thông tin trên, có một gợi ý về điều sẽ diễn ra khi các phàm ngã con người đang hoạt động tích cực và đều đặn thức tỉnh. Sự đến nhanh chóng của Đấng Hoá Thân sẽ thiết lập trạm ánh sáng và năng lực trên cõi hồng trần tùy thuộc vào sự khai mở và xuất hiện nhanh chóng của những phàm ngã tích hợp biết yêu thương, suy tư và tìm cách phụng sự. Ở đây đã đưa ra một gợi ý mới về một trong những phương diện huyền bí hơn của công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, đồng thời cũng là một gợi ý về lý do tại sao Luận về Bảy Cung này đã được viết ra. Sự thấu hiểu về các cung và về các mãnh lực thúc đẩy trong, qua, và cùng với đó phàm ngã phải hoạt động là điều thiết yếu nếu công việc của Đấng Hoá Thân thứ ba này từ các nguồn vũ trụ được làm cho khả hữu.

We have thus endeavored to outline something of the problems of the personality from the angle of the larger issues. We have, as the occult law dictates, begun with the relation of the form to the soul, with the descent of life and the ascent of the sons of God, and we have carried the thought forward to the fact of the Hierarchy, working under the same law, and its relation to the New Group of World Servers. Information on initiation has hitherto been primarily occupied with the relations of the individual man to the soul and to the Hierarchy. There are here presented some of the group implications. The New Group of World Servers is related to the Hierarchy as body to soul, and they in their turn as a group of souls are similarly related to the human family. Therefore we have:

Như vậy chúng ta đã cố gắng phác họa phần nào các vấn đề của phàm ngã từ góc độ của những vấn đề lớn hơn. Theo như định luật huyền bí chỉ định, chúng ta đã bắt đầu với mối liên hệ của hình tướng với linh hồn, với sự giáng hạ của sự sống và sự đi lên của các Con của Thượng đế, và chúng ta đã đưa tư tưởng tiến tới sự kiện về Thánh đoàn, hoạt động dưới cùng một định luật, và mối liên hệ của Thánh đoàn với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Thông tin về điểm đạo từ trước đến nay chủ yếu quan tâm đến các mối liên hệ của cá nhân con người với linh hồn và với Thánh đoàn. Ở đây có trình bày một số hàm ý nhóm. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian liên hệ với Thánh đoàn như thể xác với linh hồn, và đến lượt họ, như một nhóm các linh hồn, cũng liên hệ tương tự với gia đình nhân loại. Vì vậy chúng ta có:

1.

Soul

Body.

Linh hồn

Thể.

2.

The Fifth Kingdom

The Fourth Kingdom.

Giới Thứ Năm

Giới Thứ Tư.

3.

The Hierarchy

The New Group of World Servers.

Thánh Đoàn

Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

4.

The New Group of World Servers

Humanity.

Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian

Nhân loại.

5.

A Soul

A Personality.

Một Linh hồn

Một Phàm ngã.

The one unit descends towards the ascending related unit, (speaking in terms of an approach from two directions). This takes place under divine impulsion and human aspiration, and both act equally under:

Đơn vị này đi xuống hướng về đơn vị liên hệ đang đi lên, (nói theo ngôn ngữ của một sự tiếp cận từ hai hướng). Điều này diễn ra dưới xung lực thiêng liêng và khát vọng của con người, và cả hai cùng hoạt động như nhau dưới:

1. The Law of Karma.

1. Định luật Nghiệp Quả.

2. The Law of Necessity.

2. Định luật Tất Yếu.

3. The Law of Cycles.

3. Định luật Chu Kỳ.

4. The Law of Attraction.

4. Định luật Hấp Dẫn.

Let us now return to the level of practical understanding. Although we turn aside to deal with these momentous matters at times, such discussions are not primarily intended for the present generation of readers but for those who are coming into incarnation and who will read with a more accurate understanding than is possible at this time to the average interested aspirant who studies these pages.

Giờ đây chúng ta hãy trở lại cấp độ thấu hiểu thực tiễn. Mặc dù đôi khi chúng ta tạm rẽ sang để bàn đến những vấn đề trọng đại này, các cuộc thảo luận như vậy không chủ yếu dành cho thế hệ độc giả hiện nay mà cho những người đang đi vào lâm phàm và sẽ đọc với một sự thấu hiểu chính xác hơn điều hiện nay có thể có nơi người chí nguyện quan tâm trung bình đang nghiên cứu những trang này.

Three types of energy, as has been said, meet and blend in the personality, finding their expression through the medium of an outer tangible form which is itself coloured, [284] motivated and conditioned by a fourth type of energy—the energy of basic matter. This basic matter is the product of the first solar system, and the energy of which it is composed does not, therefore, belong to our solar system at all, except through an act of appropriation, performed by our planetary Logos at the dawn of the creative activity of God. Seeking to impress, impel and motivate this group of four energies is the energy of the informing, indwelling soul. This fifth type of energy is itself dual in nature, being the transcendent archetype of both mind and emotion, or will and love. These six energies in their turn are animated or impelled by the life of God Himself, thus making the seven energies now in manifestation. This is, of course, well known, as the theory constitutes the very bones of the occult body of truth, and in this statement is formulated the essential structure upon which esotericism is built. I have stated it purely in terms of energy, and not of principles or bodies, so as to bring the Ageless Wisdom into line with modern truth and scientific conclusions. We therefore have:

Như đã nói, ba loại năng lượng gặp nhau và hòa trộn trong phàm ngã, tìm thấy sự biểu lộ của chúng qua trung gian của một hình tướng bên ngoài hữu hình mà bản thân nó lại được nhuốm màu, [284] thúc đẩy và được tác động bởi một loại năng lượng thứ tư—năng lượng của vật chất căn bản. Vật chất căn bản này là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất, và vì thế năng lượng cấu thành nó hoàn toàn không thuộc về hệ mặt trời của chúng ta, ngoại trừ qua một hành vi chiếm hữu do Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thực hiện vào buổi bình minh của hoạt động sáng tạo của Thượng đế. Tìm cách gây ấn tượng, thúc đẩy và tạo động lực cho nhóm bốn năng lượng này là năng lượng của linh hồn thấm nhuần, nội tại. Loại năng lượng thứ năm này tự nó có bản chất nhị phân, là nguyên mẫu siêu việt của cả trí tuệ lẫn cảm xúc, hay ý chí và tình thương. Đến lượt mình, sáu năng lượng này được làm sinh động hay được thúc đẩy bởi chính sự sống của Thượng đế, nhờ đó tạo thành bảy năng lượng hiện đang biểu hiện. Dĩ nhiên điều này ai cũng biết rõ, vì lý thuyết ấy cấu thành chính bộ xương của toàn bộ chân lý huyền bí, và trong phát biểu này đã được hình thành cấu trúc cốt yếu trên đó huyền bí học được xây dựng. Tôi đã trình bày điều đó hoàn toàn theo ngôn ngữ của năng lượng, chứ không phải của các nguyên khí hay các thể, để đưa Minh Triết Ngàn Đời vào chỉnh hợp với chân lý hiện đại và các kết luận khoa học. Vì vậy chúng ta có:

The Personality.

Phàm ngã.

1. The energy of Mind. The force of manas. The reflection of divine will and purpose. Motivation. The impulse to plan, under the Law of Synthesis.

1. Năng lượng của Trí Tuệ. Mãnh lực của manas. Sự phản ánh của ý chí và mục đích thiêng liêng. Động cơ. Xung lực lập kế hoạch, dưới Định luật Tổng Hợp.

2. The energy of sentiency. The capacity to respond. Emotional feeling, astral energy. The reflection of love. The force of desire. The impulse to aspire. The divine evolutionary urge. The tendency to attract, to be magnetic, under the Law of Attraction.

2. Năng lượng của tính hữu cảm. Năng lực đáp ứng. Cảm xúc tình cảm, năng lượng cảm dục. Sự phản ánh của tình thương. Mãnh lực của dục vọng. Xung lực khát vọng. Sự thúc đẩy tiến hoá thiêng liêng. Khuynh hướng hấp dẫn, có từ tính, dưới Định luật Hấp Dẫn.

3. The energy of life. The capacity to integrate, to coordinate. The force of the vital or etheric body. The reflection of intelligent activity or divine movement. [285] The impulse to act, to be energetic, under the Law of Economy.

3. Năng lượng của sự sống. Năng lực tích hợp, phối hợp. Mãnh lực của thể sinh lực hay thể dĩ thái. Sự phản chiếu của hoạt động thông tuệ hay chuyển động thiêng liêng. [285] Xung lực hành động, năng động, dưới Định luật Tiết Kiệm.

4 The energy of dense matter. Externalised activity. The automatic reactions of the outer sheath. The densest point of unity. The lowest aspect of synthesis.

4 Năng lượng của vật chất đậm đặc. Ngoại hiện hoạt động. Các phản ứng tự động của lớp vỏ bên ngoài. Điểm hợp nhất đậm đặc nhất. Phương diện thấp nhất của tổng hợp.

The Soul.

Linh Hồn.

5. The energy of buddhi. The force of divine, reasoning love. The intuition. This is part of the flower of attractive energy and focusses itself in the “love petals of the egoic lotus.” Its reflection is found in the astral, emotional, sentient consciousness of the personality.

5. Năng lượng của Bồ đề. Mãnh lực của tình thương thiêng liêng, có lý trí. Trực giác. Đây là một phần của đóa hoa năng lượng hấp dẫn và tự tập trung trong “các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã.” Sự phản chiếu của nó được tìm thấy trong tâm thức cảm dục, cảm xúc, hữu cảm của phàm ngã.

6. The energy of atma. The force of the divine will. The embodiment of divine purpose. This focusses itself in the “sacrifice petals of the egoic lotus.” Its reflection is found in the mind nature of the personality.

6. Năng lượng của atma. Mãnh lực của ý chí thiêng liêng. Hiện thân của Thiên Ý. Nó tự tập trung trong “các cánh hoa hi sinh của hoa sen chân ngã.” Sự phản chiếu của nó được tìm thấy trong bản chất trí tuệ của phàm ngã.

The Spirit.

Tinh Thần.

7. The energy of life itself.

7. Năng lượng của chính sự sống.

These energies constitute the human being, a unit of energy. They make him essentially an active, intelligent, loving, living, human being. They are unfolded sequentially in time and space and, as a result of the great experiment of evolution, bring him eventually to the full flowering of his nature, and to a full expression of the seven types of energy which condition him.

Các năng lượng này cấu thành con người, một đơn vị năng lượng. Chúng làm cho y về bản chất là một con người năng động, thông tuệ, đầy bác ái và sống động. Chúng được khai mở tuần tự trong thời gian và không gian, và do kết quả của đại thí nghiệm tiến hoá, cuối cùng đưa y đến sự nở hoa trọn vẹn của bản chất mình, và đến sự biểu lộ đầy đủ của bảy loại năng lượng tác động lên y.

The question arises as to when man can become aware in his own personal and separated consciousness (as registered in the waking brain) of the truth of the existence of this septenate of energies. I would reply as follows:

Câu hỏi được đặt ra là khi nào con người có thể trở nên nhận biết trong tâm thức cá nhân và tách biệt của chính mình (như được ghi nhận trong bộ não thức tỉnh) về chân lý của sự hiện hữu của bộ bảy năng lượng này. Tôi xin trả lời như sau:

1. Unevolved man, and low grade human beings are aware [286] of the urges of the automatic physical nature and the impulses of the vital or etheric body.

1. Con người chưa tiến hoá, và những con người ở trình độ thấp, nhận biết [286] những thôi thúc của bản chất thể xác tự động và những xung lực của thể sinh lực hay thể dĩ thái.

2. Awakening human beings are coordinating and becoming aware of both these primitive urges and impulses, plus the sentient and emotional reactions of the emotional or astral body.

2. Những con người đang thức tỉnh đang phối hợp và trở nên nhận biết cả hai loại thôi thúc và xung lực nguyên thủy này, cộng thêm các phản ứng hữu cảm và cảm xúc của thể cảm xúc hay thể cảm dục.

3. Intelligent humanity is, in due time, conditioned by the urges, impulses and sentiency of the three lower types of energy, plus the energy of the mind. When this has really been achieved, the man is then definitely an aspirant upon the probationary path.

3. Nhân loại thông tuệ, đến đúng lúc, bị tác động bởi các thôi thúc, xung lực và tính hữu cảm của ba loại năng lượng thấp, cộng thêm năng lượng của trí tuệ. Khi điều này thực sự đã đạt được, thì con người ấy chắc chắn là một người chí nguyện trên Con Đường Dự Bị.

4. Aspirants are now becoming aware of the fifth type of basic energy—that of the soul. This response to soul energy, and the blended activity of the soul energies (buddhi-atma) produce the unfolding of the outer layer of petals, the knowledge petals, which are formed of three types of force.

4. Những người chí nguyện hiện nay đang trở nên nhận biết loại năng lượng căn bản thứ năm—đó là năng lượng của linh hồn. Sự đáp ứng này đối với năng lượng linh hồn, và hoạt động hòa trộn của các năng lượng linh hồn (buddhi-atma) tạo ra sự khai mở của lớp cánh hoa bên ngoài, các cánh hoa tri thức, vốn được tạo thành từ ba loại mãnh lực.

a. Manasic energy. The energy of the abstract levels of the mental plane, inherent in the soul.

a. Năng lượng manas. Năng lượng của các cấp độ trừu tượng của cõi trí, vốn tiềm tàng trong linh hồn.

b. Mental energy. This is the energy of the concrete levels of the mental plane, and is definitely a contribution of the human being himself.

b. Năng lượng trí tuệ. Đây là năng lượng của các cấp độ cụ thể của cõi trí, và rõ ràng là một đóng góp của chính con người.

c. The energy of the mind found in matter itself. This is inherent mind, and is inherited from an earlier solar system.

c. Năng lượng của trí tuệ được tìm thấy trong chính vật chất. Đây là trí tuệ cố hữu, và được thừa hưởng từ một hệ mặt trời trước kia.

These three aspects of mind energy are thus blended and are a synthesis of the intelligent force of deity. They embody as much of the mind of God as a human being can embrace in time and space, for they are

Ba phương diện này của năng lượng trí tuệ do đó được hòa trộn và là một tổng hợp của mãnh lực thông tuệ của Thượng đế. Chúng hiện thân cho chừng nào Trí của Thượng đế mà một con người có thể bao hàm trong thời gian và không gian, vì chúng là

a. The energy of intelligent life, coming from God the Father.

a. Năng lượng của sự sống thông tuệ, đến từ Thượng đế Cha.

[287]

[287]

b. The energy of intelligent soul or consciousness, coming from God the Son.

b. Năng lượng của linh hồn hay tâm thức thông tuệ, đến từ Thượng đế Con.

c. The energy of intelligent matter coming from God the Holy Spirit.

c. Năng lượng của vật chất thông tuệ đến từ Thượng đế Chúa Thánh Thần.

5. The disciples of the world are occupied with the integration of the personality with the soul, or with the synthesis of the first five aspects of energy as the lotus petals of love come into conscious recognition, and the intuition begins faintly to function. These petals of love, which are only symbolic forms of expressing energy, have a dual activity—they attract upward the planetary energies and bring downward the energies of the Spiritual Triad, the expression of the Monad.

5. Các đệ tử của thế gian đang bận tâm với sự tích hợp phàm ngã với linh hồn, hay với sự tổng hợp năm phương diện năng lượng đầu tiên khi các cánh hoa sen bác ái đi vào sự nhận biết có ý thức, và trực giác bắt đầu hoạt động một cách mờ nhạt. Những cánh hoa bác ái này, vốn chỉ là những hình thức biểu tượng để diễn tả năng lượng, có một hoạt động kép—chúng thu hút lên trên các năng lượng hành tinh và mang xuống dưới các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần, biểu hiện của chân thần.

6. Initiates are becoming conscious of the sixth type of energy, that of atma, the will aspect of Spirit. This causes them to work with the Plan and through the lotus petals of sacrifice to bring the service of the Plan into being. This is ever the aim of the initiate members of the Hierarchy. They understand, express and work with the Plan.

6. Các điểm đạo đồ đang trở nên có ý thức về loại năng lượng thứ sáu, đó là atma, phương diện ý chí của Tinh Thần. Điều này khiến họ làm việc với Thiên Cơ và qua các cánh hoa sen hi sinh để đưa sự phụng sự Thiên Cơ vào hiện hữu. Đây luôn luôn là mục tiêu của các thành viên điểm đạo của Thánh Đoàn. Họ thấu hiểu, biểu lộ và làm việc với Thiên Cơ.

7. After the third initiation, the disciple begins to work with, and to understand the significance of Spirit and his consciousness shifts gradually out of the Soul into that of the Monad in the same way as the consciousness of the personality shifted out of the lower awareness into that of the soul.

7. Sau lần điểm đạo thứ ba, đệ tử bắt đầu làm việc với, và thấu hiểu thâm nghĩa của Tinh Thần và tâm thức của y dần dần chuyển ra khỏi Linh Hồn để đi vào tâm thức của chân thần cũng theo cùng cách như tâm thức của phàm ngã đã chuyển ra khỏi nhận biết thấp để đi vào tâm thức của linh hồn.

This is the second panel, if one might so express it, of the picture here being drawn, of the divine life as it manifests through the consciousness of humanity. I am seeking to give it in such terms that comprehension may ensue. The first panel gave some of the universal implications. This was elaborated in A Treatise on Cosmic Fire. The second panel, contained [288] in this Treatise on the Seven Rays, gives a general view of the synthetic unfoldment of man. The third panel entered the realm of synthetic work and was embodied in A Treatise of White Magic.

Đây là bức thứ hai, nếu có thể diễn tả như vậy, của bức tranh đang được phác họa ở đây, về sự sống thiêng liêng khi nó biểu lộ qua tâm thức của nhân loại. Tôi đang tìm cách trình bày nó bằng những thuật ngữ sao cho sự thấu hiểu có thể theo sau. Bức thứ nhất đã đưa ra một vài hàm ý phổ quát. Điều này đã được khai triển trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Bức thứ hai, được chứa [288] trong bộ Luận về Bảy Cung này, đưa ra một cái nhìn tổng quát về sự khai mở tổng hợp của con người. Bức thứ ba đi vào lĩnh vực công việc tổng hợp và được thể hiện trong Luận về Chánh Thuật.

It would be useful to bear in mind here what was earlier pointed out:

Ở đây sẽ hữu ích nếu ghi nhớ điều đã được chỉ ra trước đó:

1. The mental body is governed by Rays 1, 4, 5.

1. Thể trí được cai quản bởi các cung 1, 4, 5.

2. The astral body is governed by Rays 2, 6.

2. Thể cảm dục được cai quản bởi các cung 2, 6.

3. The physical body is governed by Rays 3, 7.

3. Thể xác được cai quản bởi các cung 3, 7.

This is often forgotten and people will have to readjust their ideas in this matter. It is by an understanding of these dominant types of force as they condition the various vehicles that the true nature of the problem of psychology will emerge and the right clue to the solution will appear. The above tabulation and statement is one of the most important ever made in this Treatise in connection with psychology.

Điều này thường bị quên mất và mọi người sẽ phải điều chỉnh lại các ý niệm của mình về vấn đề này. Chính nhờ sự thấu hiểu các loại mãnh lực chi phối này khi chúng tác động lên các vận cụ khác nhau mà bản chất thực sự của vấn đề tâm lý học sẽ xuất hiện và đầu mối đúng cho giải pháp sẽ lộ ra. Bảng liệt kê và phát biểu trên là một trong những điều quan trọng nhất từng được nêu ra trong bộ Luận này liên quan đến tâm lý học.

Gradually it will be noted that certain ray meditations can be used to bring in the influence of the soul and these will be later discussed. Some simple yet powerful meditation formulas will be given, which can be used by the man who is an integrated personality, in order to bring one or another of his vehicles into alignment and consequent control.

Dần dần, cần lưu ý rằng một số bài thiền theo cung có thể được dùng để đưa ảnh hưởng của linh hồn vào và những điều này sẽ được bàn đến sau. Một số công thức tham thiền đơn giản nhưng mạnh mẽ sẽ được đưa ra, có thể được dùng bởi người là một Phàm ngã tích hợp, nhằm đưa một hay một vận cụ khác của y vào chỉnh hợp và do đó vào sự kiểm soát.

It will be observed that the rays governing the mind include one which links the mind nature with the ray of the solar system, which is the cosmic ray of love. This one is the Ray of Harmony, the fourth ray, but it is also Harmony through Conflict. It is a most important ray, for it gives us the clue to the whole problem of pain and of suffering. Our attention should be directed to this ray and to the mind nature which is related to it. In an understanding of this relationship, we have indicated to us the way out, or the use of that type of force which will lead humanity out. Every [289] man who has reached the point of personality integration has eventually to call in this fourth type of energy when upon the Path, in order rightly to condition his mind and through the mind, his personality.

Cần nhận thấy rằng các cung cai quản trí tuệ bao gồm một cung nối kết bản chất trí tuệ với cung của hệ mặt trời, tức là cung vũ trụ của bác ái. Cung này là Cung Điều Hòa, cung bốn, nhưng nó cũng là Điều Hòa qua Xung Đột. Đây là một cung cực kỳ quan trọng, vì nó cho chúng ta đầu mối của toàn bộ vấn đề đau đớn và khổ đau. Sự chú ý của chúng ta nên được hướng đến cung này và đến bản chất trí tuệ có liên hệ với nó. Trong sự thấu hiểu mối liên hệ này, con đường thoát ra, hay việc sử dụng loại mãnh lực sẽ dẫn dắt nhân loại thoát ra, được chỉ ra cho chúng ta. Mọi [289] người đã đạt đến điểm tích hợp phàm ngã cuối cùng đều phải kêu gọi loại năng lượng thứ tư này khi ở trên Con Đường, để tác động đúng đắn lên trí tuệ của mình và qua trí tuệ, lên phàm ngã của mình.

In considering the personality, therefore, and its conditioning rays we will study:

Vì vậy, khi xem xét phàm ngã và các cung tác động lên nó, chúng ta sẽ nghiên cứu:

1. The appropriation of the bodies:

1. Sự chiếm hữu các thể:

a. Their building psychologically, or their coherent construction.

a. Sự xây dựng chúng về mặt tâm lý học, hay sự kiến tạo mạch lạc của chúng.

b. Their development and eventual alignment.

b. Sự phát triển và sự chỉnh hợp cuối cùng của chúng.

c. Their inter-relation in the life of the personality.

c. Mối liên hệ qua lại của chúng trong đời sống của phàm ngã.

2. The coordination of the personality:

2. Sự phối hợp của phàm ngã:

a. The techniques of integration, seven in number.

a. Các kỹ thuật tích hợp, gồm bảy kỹ thuật.

b. The technique of fusion, leading to the emergence of the ray of the personality.

b. Kỹ thuật dung hợp, dẫn đến sự xuất hiện của cung phàm ngã.

c. The technique of duality, divinely understood, or the relation of the ray of the personality and the ray of the soul.

c. Kỹ thuật nhị nguyên tính, được thấu hiểu một cách thiêng liêng, hay mối liên hệ của cung phàm ngã và cung linh hồn.

3. Some problems of psychology, arising from the point in evolution of the personality.

3. Một số vấn đề của tâm lý học, phát sinh từ điểm tiến hoá của phàm ngã.

a. The technique of appropriation. Physical and etheric integration.

a. Kỹ thuật chiếm hữu. Sự tích hợp hồng trần và dĩ thái.

b. The technique of acquiescence. Astral or psychic healing.

b. Kỹ thuật thuận phục. Trị liệu cảm dục hay thông linh.

c. The technique of enlightenment. Mental education.

c. Kỹ thuật giác ngộ. Giáo dục trí tuệ.

We have before us in this study much food for thought. The subjects touched upon are deep, difficult to understand, and hard to grasp. Careful reading, however, quiet reflection, and a practical application of the sensed truth and of the intuited idea will gradually bring enlightenment and lead to [290] acquiescence in the techniques of the soul, and the appropriation of the teaching.

Trước mắt chúng ta trong công trình nghiên cứu này là nhiều điều đáng suy ngẫm. Những chủ đề được chạm đến thì sâu sắc, khó thấu hiểu, và khó nắm bắt. Tuy nhiên, việc đọc cẩn thận, suy tư tĩnh lặng, và sự áp dụng thực tiễn chân lý được cảm nhận cùng ý tưởng được trực giác nắm bắt sẽ dần dần mang lại giác ngộ và dẫn đến [290] sự thuận phục đối với các kỹ thuật của linh hồn, và sự chiếm hữu giáo huấn.

a. BUILDING AND CONSTRUCTION OF THE BODIES—XÂY DỰNG VÀ KIẾN TẠO CÁC THỂ

In theosophical literature, there is much talk anent the various elementals or lunar lords which compose, constitute and control the lower nature. These, in their triple totality, form the personality. They are of man’s own creation, and form the basis of the problem which he, as a soul, has always to face until the final liberation is achieved. The mental elemental, the astral elemental and the physical elemental have a definite life of their own which is coloured by the rays upon which these various bodies or elementals have their being, until the man has reached a relatively high point in evolution.

Trong văn học Thông Thiên Học, có nhiều bàn luận về các hành khí khác nhau hay các nguyệt tinh quân cấu thành, tạo nên và kiểm soát bản chất thấp. Các vị này, trong tổng thể tam phân của mình, tạo thành phàm ngã. Chúng là do chính con người tạo ra, và tạo thành nền tảng của vấn đề mà y, với tư cách một linh hồn, luôn luôn phải đối diện cho đến khi đạt được sự giải thoát cuối cùng. Tinh linh trí tuệ, tinh linh cảm dục và tinh linh thể xác có một sự sống xác định của riêng chúng, vốn được nhuốm màu bởi các cung mà trên đó các thể hay hành khí khác nhau này hiện hữu, cho đến khi con người đã đạt đến một điểm tiến hoá tương đối cao.

The elementals composing the mental body are spoken of in the Old Commentary in the following terms:

Các hành khí cấu thành thể trí được nói đến trong Cổ Luận bằng những lời sau đây:

“The Lord of Will took being. His dim reflection followed in His steps. The little lord of force manasic appeared on earth.

“Chúa Tể của Ý Chí đi vào hiện hữu. Sự phản chiếu mờ nhạt của Ngài theo sau bước chân Ngài. Tiểu chúa tể của mãnh lực manas xuất hiện trên địa cầu.

The Lord Who sought for harmony took form. The little lord, who loved to fight for what he sought, followed with swiftness in His wake.

Chúa Tể tìm kiếm điều hòa khoác lấy hình tướng. Tiểu chúa tể, kẻ yêu thích chiến đấu vì điều mình tìm kiếm, mau chóng theo sau trong dấu chân của Ngài.

The Lord Who in this world of ours knew mind and thought, swept into incarnation. He was not, then He was. The little lord of mental stuff also took form. Man’s troublous journey then began.”

Chúa Tể, Đấng trong thế giới của chúng ta biết trí tuệ và tư tưởng, cuốn vào lâm phàm. Trước đó Ngài không hiện hữu, rồi Ngài hiện hữu. Tiểu chúa tể của chất liệu trí tuệ cũng khoác lấy hình tướng. Cuộc hành trình đầy rối ren của con người từ đó bắt đầu.”

These old phrases bear out the statement earlier made that the mental body of every human being is composed of substance which is governed by the rays, one, four and five. Exceptions to this rule appear, sometimes, upon the Path of Discipleship, and are the result of the direct and intelligent action of the Soul, prior to incarnation. The soul builds a body of mental substance or attracts to it that particular type [291] of mental energy which will enable it to possess (whilst in incarnation) the type of vehicle which will make a chosen experience possible. This freedom of choice never occurs except in the case of the awakening disciple. The reason for this will be seen if it is realised that the energy of these three rays, when focussed in a personality, provides exactly the right impulse to govern the lower life, both in the case of an undeveloped human being and of a man in the early stages of discipleship and aspiration. It might be well for us to elaborate this a little by means of certain tabulations:

Những cụm từ cổ xưa này xác nhận phát biểu đã nêu trước đó rằng thể trí của mỗi con người được cấu thành từ chất liệu được cai quản bởi các cung một, bốn và năm. Những ngoại lệ đối với quy luật này đôi khi xuất hiện trên Con Đường Đệ Tử, và là kết quả của hành động trực tiếp và thông tuệ của Linh Hồn trước khi nhập thể. Linh hồn xây dựng một thể bằng chất liệu trí tuệ hoặc thu hút về mình loại [291] năng lượng trí tuệ đặc biệt ấy, năng lượng sẽ giúp nó có được (trong khi đang lâm phàm) loại vận cụ sẽ làm cho một kinh nghiệm được chọn lựa trở nên khả hữu. Sự tự do lựa chọn này không bao giờ xảy ra ngoại trừ trong trường hợp của đệ tử đang thức tỉnh. Lý do của điều này sẽ được thấy nếu chứng nghiệm rằng năng lượng của ba cung này, khi được tập trung trong một phàm ngã, cung cấp chính xác xung lực thích hợp để cai quản đời sống thấp, cả trong trường hợp của một con người chưa phát triển lẫn của một người ở các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử và khát vọng. Có lẽ sẽ tốt nếu chúng ta khai triển điều này thêm đôi chút bằng một số bảng liệt kê:

THE MENTAL BODY

THỂ TRÍ

This provides (in the case of the unevolved or the highly developed) the following possibilities:

Điều này cung cấp (trong trường hợp con người chưa tiến hoá hay rất phát triển) các khả năng sau đây:

Ray One

Cung một

IN UNEVOLVED MAN

Ở CON NGƯỜI CHƯA TIẾN HOÁ

1. The will to live or to manifest upon the physical plane.

1. Ý chí sống hay biểu lộ trên cõi hồng trần.

2. The impulse which works out, therefore, as the instinct to self-preservation.

2. Xung lực do đó biểu hiện thành bản năng tự bảo tồn.

3. The capacity to endure, no matter what the difficulties.

3. Năng lực chịu đựng, bất kể khó khăn nào.

4. Individual isolation. The man is always the “One who stands alone.”

4. Sự cô lập cá nhân. Con người luôn luôn là “Kẻ đứng một mình.”

IN THE ADVANCED MAN

Ở CON NGƯỜI TIẾN BỘ

1. The will to liberation or to manifest consciously upon the plane of the soul.

1. Ý chí giải thoát hay biểu lộ một cách hữu thức trên cõi của linh hồn.

2. The capacity to react to the plan, or to respond to the recognised will of God.

2. Năng lực phản ứng với Thiên Cơ, hay đáp ứng với Ý Chí của Thượng Đế đã được nhận biết.

3. The principle of immortality.

3. Nguyên khí bất tử.

4. Perseverance or endurance upon the Way.

4. Sự kiên trì hay sức chịu đựng trên Con Đường.

Ray Four

Cung bốn

IN UNEVOLVED MAN

Ở CON NGƯỜI CHƯA TIẾN HOÁ

1. Aggressiveness and that needed push towards the sensed goal which distinguishes the evolving human being. This goal, in the early stages, will be of a material nature.

1. Tính công kích và sự thúc đẩy cần thiết hướng tới mục tiêu được cảm nhận, điều phân biệt con người đang tiến hoá. Mục tiêu này, trong các giai đoạn đầu, sẽ có bản chất vật chất.

2. The fighting spirit or that spirit of conflict which finally [292] brings strength and poise, and which produces eventual integration with the first ray aspect of deity.

2. Tinh thần chiến đấu hay tinh thần xung đột mà cuối cùng [292] mang lại sức mạnh và sự quân bình, và tạo ra sự tích hợp cuối cùng với phương diện cung một của Thượng đế.

3. That coherent force which makes a man a magnetic centre, whether as the major force in any group unity, such as a parent or a ruler, or a Master in relation to his group.

3. Mãnh lực mạch lạc khiến một người trở thành một trung tâm từ tính, dù là như mãnh lực chính trong bất kỳ đơn vị nhóm nào, như cha mẹ hay người cai quản, hoặc một Chân sư trong mối liên hệ với nhóm của Ngài.

4. The power to create. In the lower types, this is connected with the impulse, or the instinct, to reproduce, leading consequently to the sex relation; or it may lead to construction of thought-forms or creative forms of some kind, even if it is only the hut of a savage.

4. Quyền năng sáng tạo. Ở các loại thấp, điều này liên hệ với xung lực, hay bản năng, sinh sản, do đó dẫn đến quan hệ tính dục; hoặc nó có thể dẫn đến việc kiến tạo các hình tư tưởng hay các hình thức sáng tạo thuộc loại nào đó, dù chỉ là túp lều của một người man dã.

IN THE ADVANCED MAN

Ở CON NGƯỜI TIẾN BỘ

1. The Arjuna spirit. This is the urge towards victory, the holding of a position between the pairs of opposites, and the eventual sensing of the middle way.

1. Tinh thần Arjuna. Đây là sự thôi thúc hướng tới chiến thắng, sự giữ vững một vị trí giữa các cặp đối lập, và cuối cùng cảm nhận được con đường trung đạo.

2. The urge to synthesis (again a first ray impulse) blended with a second ray tendency to love and to include.

2. Sự thôi thúc hướng tới tổng hợp (lại là một xung lực cung một) hòa trộn với khuynh hướng cung hai là yêu thương và bao gồm.

3. The attractive quality of the soul as it expresses itself in the relation between the lower and higher selves. This eventuates in the “marriage in the Heavens.”

3. Phẩm tính hấp dẫn của linh hồn khi nó biểu lộ trong mối liên hệ giữa phàm ngã và Bản Ngã Cao Siêu. Điều này kết thúc trong “cuộc hôn phối trên Thiên giới.”

4. The power to create forms, or the artistic impulse.

4. Quyền năng tạo ra các hình tướng, hay xung lực nghệ thuật.

It will be noted in this connection how accurate was the earlier statement that the artist is found upon all the rays, and that the so-called Ray of Harmony or Beauty is not the only ray upon which the creative worker is found. The mental body of every human being, at some time or another, is found upon the fourth ray and usually when the man is nearing the probationary path. This means that the mental vehicle is governed by an elemental of fourth ray nature or quality and that, therefore, creative, artistic activity is the line of least resistance. We then have a man with an artistic tendency or we have a genius along some line of creative work. When, at the same time, the soul or the personality is also upon the fourth ray, then we will find a Leonardo da Vinci or a Shakespeare.

Trong mối liên hệ này, cần lưu ý phát biểu trước đó chính xác biết bao rằng người nghệ sĩ được tìm thấy trên mọi cung, và cái gọi là Cung Điều Hòa hay Mỹ Đẹp không phải là cung duy nhất mà trên đó người hoạt động sáng tạo được tìm thấy. Thể trí của mỗi con người, vào lúc này hay lúc khác, được tìm thấy trên cung bốn và thường là khi con người đang tiến gần Con Đường Dự Bị. Điều này có nghĩa là vận cụ trí tuệ được cai quản bởi một hành khí có bản chất hay phẩm tính cung bốn và do đó, hoạt động sáng tạo, nghệ thuật là con đường ít trở ngại nhất. Khi ấy chúng ta có một người có khuynh hướng nghệ thuật hoặc có một thiên tài trong một lĩnh vực công việc sáng tạo nào đó. Khi đồng thời linh hồn hay phàm ngã cũng ở trên cung bốn, thì chúng ta sẽ thấy một Leonardo da Vinci hay một Shakespeare.

[293]

[293]

Ray Five

Cung năm

IN UNEVOLVED MAN

Ở CON NGƯỜI CHƯA TIẾN HOÁ

1. The power to develop thought.

1. Quyền năng phát triển tư tưởng.

2. The spirit of materialistic enterprise, the divine urge, as it evidences itself in the early stages.

2. Tinh thần doanh nghiệp duy vật, sự thôi thúc thiêng liêng, như nó biểu lộ trong các giai đoạn đầu.

3. The tendency to enquire, to ask questions and to find out. This is the instinct to search and to progress, which is, in the last analysis, the urge to evolve.

3. Khuynh hướng tra hỏi, đặt câu hỏi và tìm hiểu. Đây là bản năng tìm kiếm và tiến bộ, mà trong phân tích cuối cùng, là sự thôi thúc tiến hoá.

4. The tendency to crystallise, to harden, or to have an “idee fixe.” In this connection, it will usually be discovered that the man who succumbs to an “idee fixe” has not only a fifth ray mental body but either a sixth ray personality or a sixth ray emotional body.

4. Khuynh hướng kết tinh, trở nên cứng lại, hay có một “ý niệm cố định.” Trong mối liên hệ này, thường sẽ phát hiện rằng người khuất phục trước một “ý niệm cố định” không những có thể trí cung năm mà còn có hoặc phàm ngã cung sáu hoặc thể cảm xúc cung sáu.

IN THE ADVANCED MAN

Ở CON NGƯỜI TIẾN BỘ

1. The true thinker, or mental type—awake and alert.

1. Nhà tư tưởng chân chính, hay kiểu người trí tuệ—thức tỉnh và tỉnh táo.

2. The one who knows the Plan, the purpose and the will of God.

2. Người biết Thiên Cơ, mục đích và Ý Chí của Thượng Đế.

3. The one whose intelligence is being transmuted into wisdom.

3. Người mà trí thông minh đang được chuyển hoá thành minh triết.

4. The scientist, the educator, the writer.

4. Nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà văn.

I have given the above in connection with the rays of the mental body in order to enable us to grasp not only the complexity of the problem but also the inevitability of success through the play of the many energies upon and through any one single human mind. It is not necessary here to elaborate upon the energies which create and form the emotional body, or the physical body. The second and the sixth rays colour the astral body of every human being, whilst the physical body is controlled by the third and the seventh rays.

Tôi đã đưa ra phần trên liên quan đến các cung của thể trí để giúp chúng ta nắm được không những tính phức tạp của vấn đề mà còn cả tính tất yếu của thành công qua sự tác động của nhiều năng lượng lên và xuyên qua bất kỳ một trí tuệ con người đơn lẻ nào. Ở đây không cần khai triển về các năng lượng tạo ra và hình thành thể cảm xúc, hay thể xác. Cung hai và cung sáu nhuốm màu thể cảm dục của mỗi con người, trong khi thể xác được kiểm soát bởi cung ba và cung bảy.

It is interesting to remember that the etheric body is uniquely constituted; it is the instrument of life, predominantly, more so than the instrument of quality. It is the factor which produces and sustains the instrument of appearance, the physical body. It will be recalled that in Volume One of this Treatise, the human being was differentiated into the [294] three divine aspects: Life, Quality, and Appearance. Through the seven centres in the etheric body, the seven ray energies make their appearance and produce their effects, but at the very heart of each chakra or lotus, there is a vortex of force to be found which is composed of pure manasic energy, and, therefore, is purely energy of the first three rays. This energy is quiescent until an advanced stage of discipleship is reached. It only sweeps into its divine rhythm and activity when the three tiers of petals, found in the egoic lotus (the higher correspondence), are beginning to unfold, and the centre of the egoic lotus is becoming vibrant. Though the etheric body of man is an expression of the seven ray qualities in varying degrees of force, the etheric body of a Master is an expression of monadic energy, and comes into full activity after the third initiation.

Thật thú vị khi nhớ rằng thể dĩ thái được cấu thành một cách độc đáo; nó chủ yếu là khí cụ của sự sống, hơn là khí cụ của phẩm tính. Nó là yếu tố tạo ra và duy trì khí cụ của sắc tướng, tức thể xác. Cần nhớ rằng trong Tập Một của bộ Luận này, con người đã được phân biệt thành [294] ba phương diện thiêng liêng: Sự Sống, Phẩm Tính, và Sắc Tướng. Qua bảy trung tâm trong thể dĩ thái, bảy năng lượng cung xuất hiện và tạo ra các hiệu quả của chúng, nhưng ngay tại trung tâm của mỗi chakra hay hoa sen, có thể tìm thấy một xoáy mãnh lực được cấu thành từ năng lượng manas thuần túy, và do đó hoàn toàn là năng lượng của ba cung đầu tiên. Năng lượng này ở trạng thái tĩnh cho đến khi đạt đến một giai đoạn cao của địa vị đệ tử. Nó chỉ cuốn vào nhịp điệu và hoạt động thiêng liêng của mình khi ba tầng cánh hoa, được tìm thấy trong hoa sen chân ngã (đối ứng cao hơn), đang bắt đầu khai mở, và trung tâm của hoa sen chân ngã đang trở nên rung động. Mặc dù thể dĩ thái của con người là một biểu hiện của bảy phẩm tính cung ở các mức độ mãnh lực khác nhau, thể dĩ thái của một Chân sư là một biểu hiện của năng lượng chân thần, và đi vào hoạt động trọn vẹn sau lần điểm đạo thứ ba.

It will be obvious, therefore, that when the psychologist takes into consideration the various types of energy which go to the constitution of a human being and can distinguish (from study and investigation, plus an understanding of the rays) what the energies are which are conditioning a patient, then great strides will be made in handling people. The nature of the human equipment and its internal relationship, as well as the external effects, will be better comprehended. Speaking technically, the extreme psychological position (as it is expressed in the Behaviouristic School, which is essentially sound where the dense material mechanism of man is concerned) will fall into its rightful place. Materialistic psychologists have been dealing with the substance energies and with the instinctual life of the organism. These constitute the sum total of the available energies, organised into the form of the automatic physical body, coloured as its atoms are by the tendencies and qualities developed in a previous solar system. In our solar system, we are arriving at an understanding and a [295] development of the consciousness aspect of divinity, its quality and characteristic, just as instinctual intelligence or automatic activity was the contribution of the earlier manifestation of God, in which the third aspect was dominant.

Do đó, hiển nhiên là khi nhà tâm lý học xét đến các loại năng lượng khác nhau tạo nên cấu thành của một con người và có thể phân biệt (từ nghiên cứu và khảo sát, cộng với sự thấu hiểu các cung) những năng lượng nào đang tác động lên một bệnh nhân, thì những bước tiến lớn sẽ được thực hiện trong việc xử lý con người. Bản chất của trang bị nhân loại và mối liên hệ nội tại của nó, cũng như các hiệu quả bên ngoài, sẽ được thấu hiểu tốt hơn. Nói theo thuật ngữ kỹ thuật, lập trường tâm lý học cực đoan (như được biểu lộ trong trường phái Hành vi luận, vốn về căn bản là đúng khi liên quan đến bộ máy vật chất đậm đặc của con người) sẽ rơi vào đúng vị trí của nó. Các nhà tâm lý học duy vật đã xử lý các năng lượng chất liệu và đời sống bản năng của cơ thể. Những điều này tạo thành tổng số các năng lượng khả dụng, được tổ chức thành hình tướng của thể xác tự động, được nhuốm màu khi các nguyên tử của nó mang các khuynh hướng và phẩm tính đã được phát triển trong một hệ mặt trời trước kia. Trong hệ mặt trời của chúng ta, chúng ta đang đi đến một sự thấu hiểu và một sự [295] phát triển phương diện tâm thức của thiên tính, phẩm tính và đặc tính của nó, cũng như trí thông minh bản năng hay hoạt động tự động là đóng góp của sự biểu lộ trước kia của Thượng đế, trong đó phương diện thứ ba là chi phối.

The problem can be posited and its extent made clear by the following tabulation which gives the rays that may be supposed or imagined to govern or control a problematical or hypothetical man in a particular incarnation.

Vấn đề có thể được nêu ra và phạm vi của nó được làm rõ bằng bảng liệt kê sau đây, bảng này cho biết các cung có thể được giả định hay hình dung là cai quản hay kiểm soát một con người giả định hay giả thuyết trong một lần lâm phàm đặc biệt.

1. The Ray of the Monad (the life aspect)… Second Ray of Love-Wisdom.

1. Cung của chân thần (phương diện sự sống)… Cung hai Bác Ái – Minh Triết.

2. The Ray of the Soul (the consciousness aspect) … First Ray of Will or Power.

2. Cung của linh hồn (phương diện tâm thức) … Cung một Ý Chí hay Quyền Năng.

3. The Ray of the Personality (the matter aspect)… Second Ray of Love-Wisdom.

3. Cung của phàm ngã (phương diện vật chất)… Cung hai Bác Ái – Minh Triết.

a. Ray of the mental body… Fifth Ray of Concrete Science.

a. Cung của thể trí… Cung năm Khoa Học Cụ Thể.

b. Ray of the astral body… Sixth Ray of Devotion.

b. Cung của thể cảm dục… Cung sáu Sùng Tín.

c. Ray of the physical body… Second Ray of Love-Wisdom.

c. Cung của thể xác… Cung hai Bác Ái – Minh Triết.

Certain ideas should here be considered. They are here given in the form of statements, but we will not elaborate them, simply leaving them to the student for his pondering and careful thinking.

Một số ý tưởng nên được xem xét ở đây. Chúng được đưa ra ở đây dưới hình thức các phát biểu, nhưng chúng ta sẽ không khai triển chúng, chỉ đơn giản để lại cho đạo sinh suy ngẫm và tư duy cẩn trọng.

1. Only initiates are in a position to sense, determine, or discover the nature of their monadic ray or that of their disciples. The monadic ray is that life element in man with which They have definitely to deal as They seek to prepare him for initiation. It is the “unknown quantity” in a man’s nature. It does not, however, greatly complicate his problem in the three worlds of ordinary human endeavor, as it remains relatively quiescent until after the third initiation, though it basically conditions the etheric body itself.

1. Chỉ các điểm đạo đồ mới ở vào vị trí có thể cảm nhận, xác định, hay khám phá bản chất của cung chân thần của mình hay của các đệ tử của mình. Cung chân thần là yếu tố sự sống trong con người mà Các Ngài chắc chắn phải đề cập đến khi Các Ngài tìm cách chuẩn bị y cho điểm đạo. Nó là “ẩn số” trong bản chất của một con người. Tuy nhiên, nó không làm phức tạp vấn đề của y quá nhiều trong ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại thông thường, vì nó vẫn tương đối tĩnh lặng cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, mặc dù về căn bản nó tác động lên chính thể dĩ thái.

2. The three rays (termed, in The Secret Doctrine, “the [296] three periodical vehicles”) are therefore the rays of the monad, the ego and the personality, and are essentially three streams of energy, forming one great life stream. These relate a human being to the three aspects or expressions of divinity in manifestation:

2. Do đó, ba cung (được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm là “ba [296] vận cụ tuần hoàn”) là các cung của chân thần, chân ngã và phàm ngã, và về bản chất là ba dòng năng lượng, tạo thành một dòng sự sống lớn. Chúng liên hệ một con người với ba phương diện hay biểu hiện của thiên tính trong sự biểu lộ:

a. The monadic ray is the energy which, when consciously employed, relates the initiate to the Father or Spirit aspect and gives Him “the freedom of the solar system”.

a. Cung chân thần là năng lượng mà, khi được sử dụng một cách hữu thức, liên hệ điểm đạo đồ với phương diện Cha hay Tinh Thần và ban cho Ngài “sự tự do của hệ mặt trời”.

b. The egoic ray, when consciously utilised, relates the disciple to the second aspect of divinity and gives him the “freedom of the planetary sphere”.

b. Cung chân ngã, khi được sử dụng một cách hữu thức, liên hệ đệ tử với phương diện thứ hai của thiên tính và ban cho y “sự tự do của khối cầu hành tinh”.

c. The personality ray, again when consciously governed and employed, relates a man to the matter or substance aspect of divinity and gives him the “freedom of the three worlds” and of the subhuman kingdoms in nature.

c. Cung phàm ngã, một lần nữa khi được cai quản và sử dụng một cách hữu thức, liên hệ một người với phương diện vật chất hay chất liệu của thiên tính và ban cho y “sự tự do của ba cõi giới” và của các giới dưới nhân loại trong bản chất.

3. Taking the hypothetical chart given above, students should notice how the rays of the personality relate them, within the sphere or periphery of their own manifestation, to the major rays of the monad, ego or personality. This is a correspondence (within the microcosmic manifestation) to the macrocosmic situation, touched upon in the previous paragraph. In the case cited (which is one of quite usual occurrence) we find that

3. Lấy biểu đồ giả định đã nêu ở trên, các đạo sinh nên lưu ý cách các cung của phàm ngã liên hệ họ, trong phạm vi hay chu vi của sự biểu lộ riêng của mình, với các cung chính của chân thần, chân ngã hay phàm ngã. Đây là một sự tương ứng (trong sự biểu lộ vi mô) với tình huống vĩ mô, đã được đề cập trong đoạn trước. Trong trường hợp được nêu ra (là một trường hợp xảy ra khá thường) chúng ta thấy rằng

a. The fifth ray of the mental body relates the man to his egoic ray, thereby facilitating soul contact. Had it related him to his monadic ray a very different situation would have eventuated.

a. Cung năm của thể trí liên hệ con người với cung chân ngã của y, nhờ đó tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc với linh hồn. Nếu nó liên hệ y với cung chân thần của y thì một tình huống rất khác hẳn đã xảy ra.

The line of 1.3.5.7. must ever be remembered.

Đường 1.3.5.7. phải luôn luôn được ghi nhớ.

b. The sixth ray of the astral body relates the man to his [297] monadic ray, and it will finally constitute his astral-buddhic approach to life, and will be employed when he takes the fourth initiation. This ray relates him also to his personality and intensifies his natural problem.

b. Cung sáu của thể cảm dục liên hệ con người với [297] cung chân thần của y, và rốt cuộc sẽ cấu thành lối tiếp cận cảm dục-Bồ đề của y đối với sự sống, và sẽ được sử dụng khi y trải qua lần điểm đạo thứ tư. Cung này cũng liên hệ y với phàm ngã của y và làm tăng cường vấn đề tự nhiên của y.

The line of 2.4.6. must also be carefully borne in mind.

Đường 2.4.6. cũng phải được ghi nhớ cẩn thận.

c. The second ray quality of his physical body relates him both to the personality and finally to the monad. It is, therefore, for him a great problem, a great opportunity, and a great “linking” energy. It makes the life of the personality exceedingly dominant and attractive, and at the same time facilitates the future contact (whilst in a physical body) with the monad. His problem of soul consciousness will not, however, be so easily solved.

c. Phẩm tính cung hai của thể xác y liên hệ y vừa với phàm ngã vừa rốt cuộc với chân thần. Vì vậy, đối với y, đó là một vấn đề lớn, một cơ hội lớn, và một năng lượng “liên kết” lớn. Nó làm cho đời sống của phàm ngã trở nên cực kỳ trội vượt và hấp dẫn, đồng thời tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc trong tương lai (khi còn ở trong thể xác) với chân thần. Tuy nhiên, vấn đề về tâm thức linh hồn của y sẽ không được giải quyết dễ dàng như thế.

You will note also that the monad (2nd ray), the astral body (6th ray) and the physical body (2nd ray) are all along the same line of activity, or of divine energy, creating a most interesting psychological problem. The soul (1st ray) and the mental body (5th ray) are along another line entirely, and this combination presents great opportunity and much difficulty.

Bạn cũng sẽ lưu ý rằng chân thần (cung 2), thể cảm dục (cung 6) và thể xác (cung 2) đều nằm trên cùng một đường hoạt động, hay của năng lượng thiêng liêng, tạo nên một vấn đề tâm lý học hết sức lý thú. Linh hồn (cung 1) và thể trí (cung 5) lại nằm trên một đường hoàn toàn khác, và sự kết hợp này đem lại cơ hội lớn cùng nhiều khó khăn.

4. In the lower expression of the man whose psychological chart we are considering, the psychologist will find a person who is intensely sensitive, inclusive and self-willed. Because of the fact that the second ray personality and the physical body are related by similarity of ray, there will also be a clearly pronounced tendency to lay the emphasis upon material inclusiveness and tangible acquisition, and there will, therefore, be found (in this person) an exceedingly selfish and self-centred man. He will not be particularly intelligent, as only his fifth ray mental body relates him definitely and directly to the mind aspect of Deity, whilst his first ray egoic force enables him to use all means to plan for himself, and to use the will aspect to acquire and to attract the material good he desires or thinks he needs. His predominant second ray equipment, however, will eventually bring the higher values into play.

4. Trong biểu hiện thấp của con người mà biểu đồ tâm lý học của y chúng ta đang xét, nhà tâm lý học sẽ thấy một người cực kỳ nhạy cảm, bao gồm và đầy ý chí riêng. Vì phàm ngã cung hai và thể xác có liên hệ với nhau do sự tương đồng về cung, nên cũng sẽ có một khuynh hướng rất rõ rệt là đặt trọng tâm vào tính bao gồm vật chất và sự thủ đắc hữu hình, và vì vậy, nơi con người này sẽ thấy có một người cực kỳ ích kỷ và tập trung vào bản thân. Y sẽ không đặc biệt thông minh, vì chỉ có thể trí cung năm của y mới liên hệ rõ rệt và trực tiếp y với phương diện trí tuệ của Thượng đế, trong khi mãnh lực chân ngã cung một của y giúp y sử dụng mọi phương tiện để hoạch định cho chính mình, và dùng phương diện ý chí để đạt được và thu hút điều tốt lành vật chất mà y mong muốn hoặc nghĩ rằng mình cần. Tuy nhiên, bộ trang bị chủ yếu cung hai của y rốt cuộc sẽ đưa các giá trị cao hơn vào hoạt động.

In the higher expression of the same man and when the evolutionary cycle has done its work, we will have a sensitive, intuitive, inclusive disciple whose wisdom has flowered forth, and whose vehicles are outstandingly the channel for divine love.

Trong biểu hiện cao hơn của cùng con người ấy, và khi chu kỳ tiến hoá đã hoàn tất công việc của nó, chúng ta sẽ có một đệ tử nhạy cảm, trực giác, bao gồm, mà minh triết của y đã nở hoa, và các hiện thể của y nổi bật như là kênh dẫn cho bác ái thiêng liêng.

Many such charts could be drawn up and studied, and many such hypothetical cases could present the basis for occult investigation, for diagram, and for the study of the Law of Correspondences. Students would find it of interest to study themselves in this way, and, in the light of the information given in this Treatise on the Seven Rays, they could formulate their own charts, study what they think may be their own rays and the consequent ray effect in their lives, and thus draw up most interesting charts of their own nature, qualities and characteristics.

Nhiều biểu đồ như thế có thể được lập ra và nghiên cứu, và nhiều trường hợp giả định như thế có thể làm cơ sở cho sự khảo cứu huyền bí, cho sơ đồ, và cho việc nghiên cứu định luật tương ứng. Các đạo sinh sẽ thấy thú vị nếu tự nghiên cứu mình theo cách này, và, dưới ánh sáng của thông tin được đưa ra trong Luận về Bảy Cung, họ có thể lập các biểu đồ riêng của mình, nghiên cứu những gì họ nghĩ có thể là các cung riêng của mình và hậu quả của ảnh hưởng cung trong đời sống họ, và như thế lập nên những biểu đồ hết sức lý thú về bản chất, phẩm tính và đặc điểm riêng của mình.

It might be of interest to mention the fact that the moment a man becomes an accepted disciple, some such chart is prepared and placed in the hands of his Master. In fact, four such charts are available, for the rays of the personality vary from one cycle of expression to another and necessitate the keeping of the personality chart up to date. The four basic charts are:

Có lẽ cũng đáng quan tâm khi nói đến sự kiện rằng ngay lúc một người trở thành đệ tử được chấp nhận, một biểu đồ như thế được chuẩn bị và đặt vào tay Chân sư của y. Thật ra có bốn biểu đồ như thế, vì các cung của phàm ngã thay đổi từ chu kỳ biểu hiện này sang chu kỳ biểu hiện khác và đòi hỏi phải luôn cập nhật biểu đồ phàm ngã. Bốn biểu đồ căn bản là:

1. The chart of a man’s expression at the time of his [299] individualisation. This is of course a very ancient chart. In it, the rays of the mental body and of the emotional body are most difficult to ascertain as there is so little mental expression or emotional experience. Only the ray of the soul and of the physical body are clearly defined. The other rays are regarded as only suggestive.

1. Biểu đồ về sự biểu hiện của một người vào lúc y được [299] biệt ngã hóa. Dĩ nhiên đây là một biểu đồ rất cổ xưa. Trong đó, các cung của thể trí và của thể cảm xúc rất khó xác định vì có quá ít biểu hiện trí tuệ hay kinh nghiệm cảm xúc. Chỉ có cung của linh hồn và của thể xác là được xác định rõ ràng. Các cung khác chỉ được xem là có tính gợi ý.

This is the chart of the man who is asleep.

Đây là biểu đồ của con người đang ngủ.

2. The chart of a man’s expression when the personality reaches its highest independent point of development;—that is, before the soul has taken over conscious control and is functioning at all dominantly.

2. Biểu đồ về sự biểu hiện của một người khi phàm ngã đạt tới điểm phát triển độc lập cao nhất của nó;—nghĩa là, trước khi linh hồn nắm quyền kiểm soát có ý thức và hoạt động một cách trội vượt nào đó.

This is the chart of the man who dreams.

Đây là biểu đồ của con người đang mơ.

3. The chart of a man’s expression at that peculiar moment of determining crisis when the soul and personality are at war, when the battle for reorientation is at its highest and the aspirant knows it. He knows that upon the issue of that battle much depends. He is Arjuna upon the field of Kurukshetra.

3. Biểu đồ về sự biểu hiện của một người vào khoảnh khắc khủng hoảng quyết định đặc biệt ấy khi linh hồn và phàm ngã giao chiến, khi trận chiến để tái định hướng lên đến cao điểm và người chí nguyện biết điều đó. Y biết rằng rất nhiều điều tùy thuộc vào kết quả của trận chiến ấy. Y là Arjuna trên chiến trường Kurukshetra.

This is the chart of the man awakening.

Đây là biểu đồ của con người đang thức tỉnh.

4. The chart of a man’s expression during the life wherein the orientation has been altered, the emphasis of the life forces changed, and the man becomes an accepted disciple.

4. Biểu đồ về sự biểu hiện của một người trong đời sống mà trong đó sự định hướng đã được thay đổi, trọng tâm của các lực sống đã chuyển đổi, và con người trở thành một đệ tử được chấp nhận.

These four charts, depicted or drawn in colour according to ray, form the dossier of a disciple, for the Master only deals with general tendencies and never with detail. General trends and predispositions and emphasised characteristics concern him, and the obvious life patterns.

Bốn biểu đồ này, được mô tả hay vẽ bằng màu sắc theo cung, tạo thành dossier của một đệ tử, vì Chân sư chỉ đề cập đến các khuynh hướng tổng quát chứ không bao giờ đi vào chi tiết. Các xu hướng chung và các thiên hướng cùng những đặc điểm được nhấn mạnh mới là điều liên quan đến Ngài, cũng như các mô hình đời sống hiển nhiên.

I would call to your attention the increasing use by the psychologists and thinkers of the race of the word “pattern”. It is a word which has a deep occult significance. One of the exercises given to the disciple upon the inner planes is connected [300] with these psychological charts or these life patterns. He is asked to study them with care, all four of them, and then to draw up the pattern which embodies for him the goal as far as he, at his present point of development, can sense it. When he takes the first initiation, then the Master adds another pattern or chart to the dossier of the disciple, and the latter can then study:

Tôi muốn lưu ý các bạn đến việc các nhà tâm lý học và các nhà tư tưởng của nhân loại ngày càng sử dụng từ “mô hình”. Đó là một từ có ý nghĩa huyền bí sâu xa. Một trong những bài tập được giao cho đệ tử trên các cõi bên trong có liên hệ [300] với các biểu đồ tâm lý học này hay các mô hình đời sống này. Y được yêu cầu nghiên cứu chúng cẩn thận, cả bốn biểu đồ, rồi sau đó vạch ra mô hình thể hiện cho y mục tiêu, trong chừng mực y, ở điểm phát triển hiện tại của mình, có thể cảm nhận được. Khi y trải qua lần điểm đạo thứ nhất, Chân sư sẽ thêm một mô hình hay biểu đồ khác vào hồ sơ của đệ tử, và khi đó người sau có thể nghiên cứu:

a. The chart of his condition at the time he became an accepted disciple.

a. Biểu đồ về tình trạng của y vào lúc y trở thành một đệ tử được chấp nhận.

b. The hypothetical chart which he himself drew up earlier in his training as an accepted disciple.

b. Biểu đồ giả định mà chính y đã tự vạch ra trước đó trong quá trình huấn luyện của mình với tư cách một đệ tử được chấp nhận.

c. The chart of his general psychological condition at the time he took the first initiation.

c. Biểu đồ về tình trạng tâm lý học tổng quát của y vào lúc y trải qua lần điểm đạo thứ nhất.

By a careful analysis and comparison of the three charts, he can discover the accuracy or the inaccuracy of his own diagnosis, and thus develop a better sense of proportion as to his own mental perception of himself.

Bằng một sự phân tích và so sánh cẩn thận ba biểu đồ, y có thể khám phá độ chính xác hay sự thiếu chính xác trong chẩn đoán của chính mình, và nhờ đó phát triển một ý thức về tỉ lệ tốt hơn đối với nhận thức trí tuệ của chính y về bản thân mình.

It would be interesting later, if students could be set some such task as drawing up an analysis of themselves which could be embodied in a chart, giving the rays that they believe govern their equipment, and stating the reasons for assigning these ray qualities.

Về sau, sẽ là điều lý thú nếu các đạo sinh được giao một nhiệm vụ như thế là lập một bản phân tích về chính mình có thể thể hiện trong một biểu đồ, nêu ra các cung mà họ tin là chi phối bộ trang bị của mình, và trình bày các lý do để gán các phẩm tính cung ấy.

When the psychologist of the future employs all the available sciences at his disposal and, at the same time, lays the emphasis upon those sciences which deal with the subjective man and not so predominantly with the objective man (though that should not be omitted) we shall then have a fundamental change in the handling of the human problem or equation. This is today a problem which is seriously confronting and distressing the psychologist, the psychiatrist, the neurologist, the social worker and the humanitarian.

Khi nhà tâm lý học của tương lai sử dụng tất cả các khoa học sẵn có trong tầm tay mình và đồng thời đặt trọng tâm vào những khoa học đề cập đến con người chủ quan chứ không quá thiên về con người khách quan (dù điều đó không nên bị bỏ qua), thì khi ấy chúng ta sẽ có một sự thay đổi căn bản trong cách xử lý vấn đề hay phương trình con người. Ngày nay đây là một vấn đề đang nghiêm trọng đối diện và gây khổ tâm cho nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, nhà thần kinh học, nhân viên xã hội và nhà nhân đạo.

[301]

[301]

The psychologist will then employ:

Khi đó nhà tâm lý học sẽ sử dụng:

1. The modern exoteric science of psychology, with its emphasis upon equipment, upon the glands and their effects, upon dreams and their occasional effect, upon instinctual behaviour (which is largely a reaction of the physical body) and upon all the latest conclusions of the investigating material scientists the world over.

1. Khoa học ngoại môn hiện đại về tâm lý học, với sự nhấn mạnh của nó vào bộ trang bị, vào các tuyến và các tác động của chúng, vào các giấc mơ và ảnh hưởng đôi khi của chúng, vào hành vi bản năng (vốn phần lớn là một phản ứng của thể xác) và vào mọi kết luận mới nhất của các nhà khoa học duy vật khảo cứu trên khắp thế giới.

2. Esoteric psychology, such as is embodied in this Treatise on the Seven Rays. This indicates the types of energy and the forces which govern, control and determine the varying aspects of the average man’s equipment, and condition his consciousness.

2. Tâm Lý Học Nội Môn, như được thể hiện trong Luận về Bảy Cung. Điều này chỉ ra các loại năng lượng và các mãnh lực chi phối, kiểm soát và quyết định các phương diện khác nhau của bộ trang bị của con người trung bình, và tác động lên tâm thức của y.

3. Astrology, with its indications (little realised as yet) of a man’s place “in the sun”, and in the general scheme of things. These relate him to the planetary whole and give much information anent the time factors which govern every individual, little as he may think it.

3. Chiêm tinh học, với những chỉ dẫn của nó (cho đến nay còn ít được chứng nghiệm) về vị trí của một người “trong mặt trời”, và trong toàn bộ hệ thống sự vật. Những điều này liên hệ y với toàn thể hành tinh và cung cấp nhiều thông tin liên quan đến các yếu tố thời gian chi phối mỗi cá nhân, dù y có thể ít nghĩ như vậy.

It will be recognised that the astrology with which we are here concerned and which I will later somewhat elaborate, does not deal with the expression of the personality. It is the planetary and racial astrology which Those who work on the inner side, know to be of deep significance. It is the astrology of discipleship and the relation of the stars to the activities of the soul which They regard of importance. It is the astrology of initiation with which They are most profoundly concerned. Though the time is not yet, we shall some day be able to cast the horoscope of the soul, and make more clear to the awakening human being the way that he should go. Of this more anon.

Người ta sẽ nhận ra rằng chiêm tinh học mà ở đây chúng ta quan tâm, và sau này tôi sẽ khai triển phần nào, không đề cập đến sự biểu hiện của phàm ngã. Đó là chiêm tinh học hành tinh và nhân loại mà Những Đấng hoạt động ở mặt bên trong biết là có ý nghĩa sâu xa. Đó là chiêm tinh học của địa vị đệ tử và mối liên hệ của các vì sao với các hoạt động của linh hồn mà Các Ngài xem là quan trọng. Đó là chiêm tinh học của điểm đạo mà Các Ngài quan tâm sâu sắc nhất. Dù thời điểm ấy chưa đến, một ngày nào đó chúng ta sẽ có thể lập lá số chiêm tinh của linh hồn, và làm sáng tỏ hơn cho con người đang thức tỉnh con đường mà y nên đi. Về điều này sẽ nói thêm sau.

It will also be apparent that, as the relationships of the different aspects of a man’s manifested life appear, his seven centres are related to the seven aspects or qualities which [302] embody a man’s essential divinity. The following is therefore of interest:

Cũng sẽ hiển nhiên rằng, khi các mối liên hệ của những phương diện khác nhau trong đời sống biểu hiện của một người xuất hiện, thì bảy trung tâm của y có liên hệ với bảy phương diện hay phẩm tính [302] thể hiện thiên tính cốt yếu của một người. Vì vậy điều sau đây là điều đáng quan tâm:

1.

The head centre

Monad. Life. First aspect.

1.

Trung tâm đầu

Chân thần. Sự sống. Phương diện thứ nhất.

2.

The heart centre

Soul. Consciousness. Second aspect.

2.

Trung tâm tim

Linh hồn. Tâm thức. Phương diện thứ hai.

3.

The ajna centre

Personality. Substance. Third aspect.

3.

Trung tâm ajna

Phàm ngã. Chất liệu. Phương diện thứ ba.

These are the three major centres for the advanced man.

Đây là ba trung tâm chính đối với người tiến hóa cao.

4.

The throat centre

Mind. The mental aspect and energy.

Trung tâm cổ họng

Trí. Phương diện và năng lượng trí tuệ.

5.

The solar plexus centre

Emotion. The astral aspect and energy centre.

Trung tâm tùng thái dương

Cảm xúc. Phương diện và trung tâm năng lượng cảm dục.

6.

The sacral centre

Physical.

Luân xa xương cùng

Thể xác.

7.

The centre at base of the spine

Life itself. Monadic centre.

Trung tâm ở đáy cột sống

Chính sự sống. Trung tâm chân thần.

The latter centre is only awakened in its true and final sense at the third initiation. At that time the circle is completed. As was earlier stated, the etheric body is related to the monad and is the exteriorisation of the life aspect. It is the etheric body, with all its seven centres, which is swept into activity when the basic centre is awakened, and the kundalini fire is aroused. It might be of value to students to point out that frequently when a student is under the impression or belief that the kundalini fire has been aroused in him, all that has really happened is that the energy of the sacral centre (i.e. the sex centre) is being transmuted and raised to the throat, or that the energy of the solar plexus centre is being raised to the heart. Aspirants do, however, love to play with the idea that they have succeeded in arousing the kundalini fire. Many advanced occultists have mistaken the raising of the sacral fire or of the solar plexus force to a position above the diaphragm for the “lifting of the kundalini” and have therefore regarded themselves or others as initiates. Their sincerity has been very real and their mistake an easy one to make. [303] C. W. Leadbeater frequently made this mistake, yet of his sincerity and of his point of attainment there is no question.

Trung tâm sau cùng này chỉ thực sự được đánh thức theo ý nghĩa chân chính và tối hậu của nó vào lần điểm đạo thứ ba. Vào lúc đó vòng tròn được hoàn tất. Như đã nói trước đây, thể dĩ thái có liên hệ với chân thần và là sự ngoại hiện của phương diện sự sống. Chính thể dĩ thái, với tất cả bảy trung tâm của nó, được cuốn vào hoạt động khi trung tâm căn bản được đánh thức và lửa kundalini được khơi dậy. Có lẽ sẽ có ích cho các đạo sinh nếu chỉ ra rằng thường khi một đạo sinh có ấn tượng hay tin rằng lửa kundalini đã được khơi dậy trong mình, thì tất cả những gì thực sự đã xảy ra chỉ là năng lượng của trung tâm xương cùng (tức trung tâm tính dục) đang được chuyển hoá và nâng lên cổ họng, hoặc năng lượng của trung tâm tùng thái dương đang được nâng lên tim. Tuy nhiên, những người chí nguyện quả thật rất thích đùa với ý tưởng rằng họ đã thành công trong việc khơi dậy lửa kundalini. Nhiều nhà huyền bí học cấp cao đã lầm việc nâng lửa xương cùng hay mãnh lực tùng thái dương lên một vị trí phía trên cơ hoành là “nâng kundalini”, và vì vậy đã xem mình hay người khác là các điểm đạo đồ. Sự chân thành của họ là rất thật, và sai lầm của họ là điều rất dễ mắc phải. [303] C. W. Leadbeater thường mắc sai lầm này, tuy nhiên không ai có thể nghi ngờ sự chân thành của y và điểm thành tựu của ông.

The abstruseness and the difficulty of all of the above is very real and, living as the disciple does in the world of glamour and illusion, it is not easy for the average aspirant to sort out his ideas on these matters, or to see the extent of the subject with the perspective that is necessary. He has to start, first of all, by accepting the premise of the rays, and this he cannot prove, though he may do two things:—

Tính thâm áo và khó khăn của tất cả những điều trên là rất thực, và vì đệ tử sống trong thế giới của ảo cảm và ảo tưởng, nên đối với người chí nguyện trung bình không dễ gì sắp xếp các ý tưởng của mình về những vấn đề này, hay thấy được tầm mức của đề tài với viễn cảnh cần thiết. Trước hết, y phải bắt đầu bằng việc chấp nhận tiền đề về các cung, và điều này y không thể chứng minh, dù y có thể làm hai điều:—

1. Correlate the idea of these ray energies with the modern teaching of exoteric science that there is nothing but energy as the underlying substance of all phenomenal appearance.

1. Liên hệ ý tưởng về các năng lượng cung này với giáo huấn hiện đại của khoa học ngoại môn rằng không có gì ngoài năng lượng như là chất liệu nền tảng của mọi sắc tướng hiện tượng.

2. Regard the theory as one which, though as yet for him only an hypothesis, fits the facts as he knows them better than any other. He will then, one can safely predict, eventually change his hypothesis into a living fact, if he studies himself with care. One of the first things a disciple has to learn is that he is, indeed, the microcosm of the macrocosm, and that within himself has to be found the open door to the universe.

2. Xem lý thuyết này như một lý thuyết mà, dù hiện giờ đối với y chỉ là một giả thuyết, vẫn phù hợp với các sự kiện như y biết rõ hơn bất kỳ lý thuyết nào khác. Khi đó, có thể tiên đoán chắc chắn rằng cuối cùng y sẽ biến giả thuyết của mình thành một sự kiện sống động, nếu y tự nghiên cứu mình cẩn thận. Một trong những điều đầu tiên mà một đệ tử phải học là y quả thật là tiểu thiên địa của đại thiên địa, và rằng ngay bên trong chính mình phải tìm thấy cánh cửa rộng mở dẫn vào vũ trụ.

What is here presented is of sufficient difficulty and of adequate interest to merit careful consideration.

Những gì được trình bày ở đây đủ khó và đủ lý thú để xứng đáng được suy xét cẩn thận.

I wonder if the students have any idea how the ideals I seek to bring to their attention could illumine their lives if they took them into their “brooding consciousness” for the space even of a month. This aspect of consciousness is the correspondence in the soul body to the mother aspect, as it broods over, guards and eventually brings to the birth the Christ aspect. Lives are changed primarily by reflection; qualities are developed by directed conscious thought; characteristics [304] are unfolded by brooding consideration. To all this I call your attention.

Tôi tự hỏi liệu các đạo sinh có ý niệm nào chăng về việc những lý tưởng mà tôi tìm cách đưa ra trước sự chú ý của họ có thể soi sáng đời sống họ như thế nào nếu họ giữ chúng trong “tâm thức ấp ủ” của mình dù chỉ trong vòng một tháng. Phương diện tâm thức này là sự tương ứng trong thể linh hồn với phương diện người mẹ, khi nó ấp ủ, gìn giữ và cuối cùng sinh ra phương diện Christ. Đời sống được thay đổi chủ yếu nhờ suy tư; các phẩm tính được phát triển nhờ tư tưởng có ý thức được định hướng; các đặc tính [304] được khai mở nhờ sự suy xét ấp ủ. Tôi kêu gọi sự chú ý của các bạn đến tất cả điều này.

I diverged briefly for a moment and took up the subject of the rays of the three bodies of the personality before completing the detail of the outline previously given on the ray of personality. This I did with deliberation, as I was anxious to have clearly established the difference which will be found existing between the rays governing the elementals of the three lower bodies and that of the personality. The life of these three elementals is founded primarily in the three lowest centres in the etheric body:

Trong chốc lát tôi đã tạm rẽ sang và đề cập đến các cung của ba thể của phàm ngã trước khi hoàn tất chi tiết của dàn ý đã cho trước đó về cung phàm ngã. Tôi làm điều này có chủ ý, vì tôi muốn xác lập rõ ràng sự khác biệt sẽ thấy tồn tại giữa các cung chi phối các hành khí của ba thể thấp và cung của phàm ngã. Sự sống của ba hành khí này chủ yếu đặt nền trên ba trung tâm thấp nhất trong thể dĩ thái:

1.

The sacral centre

the mental elemental life

Transferred later to the throat centre.

Luân xa xương cùng

sự sống hành khí trí tuệ

Được chuyển dịch sau này đến trung tâm cổ họng.

2.

The solar plexus centre

the astral elemental life.

Transferred later to the heart centre.

Trung tâm tùng thái dương

sự sống hành khí cảm dục.

Được chuyển dịch sau này đến trung tâm tim.

3.

The centre at the base of the spine

the physical elemental life.

Transferred later to the head centre.

Trung tâm ở đáy cột sống

sự sống hành khí thể xác.

Được chuyển dịch sau này đến trung tâm đầu.

The life of the indwelling soul is focussed in the three higher centres.

Sự sống của linh hồn ngự bên trong được tập trung trong ba trung tâm cao hơn.

1.

The head centre

the mental consciousness.

Trung tâm đầu

tâm thức trí tuệ.

2.

The throat centre

the creative consciousness.

Trung tâm cổ họng

tâm thức sáng tạo.

3.

The heart centre

the feeling consciousness.

Trung tâm tim

tâm thức cảm giác.

Two important stages in the life of the man take place during the evolutionary process:—

Hai giai đoạn quan trọng trong đời sống con người diễn ra trong tiến trình tiến hoá:—

First: The stage wherein there comes the first great fusion or “assertion of control” by the soul. At this time the ajna centre comes alive. This stage precedes a man’s passing on to the Probationary Path and is the stage which distinguishes the average man and woman at this time in the world.

Thứ nhất: Giai đoạn trong đó diễn ra sự dung hợp lớn đầu tiên hay “sự khẳng định quyền kiểm soát” của linh hồn. Vào lúc này trung tâm ajna trở nên sống động. Giai đoạn này đi trước việc một người bước vào Con Đường Dự Bị và là giai đoạn phân biệt người nam và nữ trung bình hiện nay trên thế giới.

Second: The stage wherein there comes a more definite [305] spiritual awakening. At this time the centre at the base of the spine comes into rapport—through its circulating life—with all the centres in the etheric body. This step precedes what is called initiation and signalises the arousing into activity of the central focus of power at the heart of each of the chakras or etheric lotuses. In all the previous stages, it has been the petals of the various lotuses, chakras or vortices of force which have come into increased motion. At this later stage, the “hub” of the wheel, the “point in the centre” or the “heart of the lotus” comes into dynamic action and the whole inner force-body becomes related in all its parts and begins to function harmoniously.

Thứ hai: Giai đoạn trong đó diễn ra một sự thức tỉnh tinh thần rõ rệt hơn. Vào lúc này trung tâm ở [305] đáy cột sống đi vào sự tương thông—thông qua sự sống tuần hoàn của nó—với mọi trung tâm trong thể dĩ thái. Bước này đi trước điều được gọi là điểm đạo và báo hiệu sự khơi dậy vào hoạt động của tiêu điểm quyền năng trung tâm ở tim của mỗi chakra hay hoa sen dĩ thái. Trong tất cả các giai đoạn trước đó, chính các cánh hoa của các hoa sen, chakra hay xoáy lực khác nhau đã đi vào chuyển động gia tăng. Ở giai đoạn muộn hơn này, “trục” của bánh xe, “điểm ở trung tâm” hay “tim của hoa sen” đi vào hoạt động năng động và toàn bộ thể lực bên trong trở nên liên hệ trong mọi phần của nó và bắt đầu hoạt động hài hòa.

This is of value to remember and upon this the teaching of esoteric psychology is based. We have therefore, three stages of activity spread over a long evolutionary cycle, and differing according to ray and to the karmic conditions engendered.

Điều này đáng ghi nhớ và trên đó giáo huấn của Tâm Lý Học Nội Môn được đặt nền. Vì vậy, chúng ta có ba giai đoạn hoạt động trải dài qua một chu kỳ tiến hoá lâu dài, và khác nhau tùy theo cung và các điều kiện nghiệp quả đã được tạo ra.

1. The stage of being alive. This is the earliest and simplest stage wherein the man functions as an elementary human being. During this period all the centres are necessarily active in a slow and rhythmic way. All have a light in them, but it is dim and feeble; all have the three petals (not more) functioning and this the clairvoyant can see. As time goes on all the petals in the centres below the diaphragm become active, but they are not dynamic in the essential sense, nor are they brilliant focal points of light.

1. Giai đoạn sống động. Đây là giai đoạn sớm nhất và đơn giản nhất trong đó con người hoạt động như một con người sơ đẳng. Trong thời kỳ này mọi trung tâm tất yếu đều hoạt động theo cách chậm chạp và nhịp nhàng. Tất cả đều có ánh sáng trong đó, nhưng mờ nhạt và yếu ớt; tất cả đều có ba cánh hoa (không hơn) hoạt động và nhà thông nhãn có thể thấy điều này. Theo thời gian mọi cánh hoa trong các trung tâm dưới cơ hoành đều trở nên hoạt động, nhưng chúng không năng động theo ý nghĩa cốt yếu, cũng không phải là những tiêu điểm ánh sáng rực rỡ.

2. The stage of the first fusion as related above. Then all the centres have their petals vibrant. They are, at the same time, conditioned by

2. Giai đoạn của sự dung hợp đầu tiên như đã nói ở trên. Khi đó mọi trung tâm đều có các cánh hoa rung động. Đồng thời, chúng được tác động bởi

a. The fact as to whether the drive of the life is above or below the diaphragm.

a. Sự kiện là xung lực của đời sống ở trên hay dưới cơ hoành.

[306]

[306]

b. The nature of the particular ray energy.

b. Bản chất của năng lượng cung đặc thù.

c. The stage already reached upon the evolutionary way.

c. Giai đoạn đã đạt được trên con đường tiến hoá.

d. The type of physical mechanism, which is itself conditioned by the karma of the person and the field of service chosen in any one life.

d. Loại bộ máy hồng trần, vốn chính nó được tác động bởi nghiệp quả của con người và lĩnh vực phụng sự được chọn trong bất kỳ một đời sống nào.

e. The quality of the aspiration and mane other factors.

e. Phẩm tính của khát vọng và nhiều yếu tố khác.

3. The stage of the second fusion, in which the initiate expresses himself through all the centres and in which both the group of petals and the central point of energy are fully and dynamically alive.

3. Giai đoạn của sự dung hợp thứ hai, trong đó điểm đạo đồ biểu hiện chính mình qua mọi trung tâm và trong đó cả nhóm cánh hoa lẫn điểm năng lượng trung tâm đều hoàn toàn và năng động sống động.

Christ symbolically expressed these three stages for us at the Birth experience, the Transfiguration enlightenment, and the Ascension liberation.

Đức Christ đã biểu hiện tượng trưng ba giai đoạn này cho chúng ta trong kinh nghiệm Giáng Sinh, sự giác ngộ Biến hình, và sự giải thoát Thăng thiên.

In summarising, it might be said:

Khi tóm tắt, có thể nói rằng:

1. At the stage of individualisation

1. Ở giai đoạn biệt ngã hóa

a. The centres throughout the body awaken and begin to function faintly.

a. Các trung tâm khắp cơ thể thức tỉnh và bắt đầu hoạt động một cách mờ nhạt.

b. The centres below the diaphragm receive the major impact and effect of the incoming life.

b. Các trung tâm dưới cơ hoành nhận tác động và ảnh hưởng chính của sự sống đi vào.

c. Three of the petals in all centres are “awake” and demonstrate activity, quality and light.

c. Ba cánh hoa trong mọi trung tâm đều “thức” và biểu lộ hoạt động, phẩm tính và ánh sáng.

2. At the stage of intellection wherein a man is a self-conscious, self-directed being, and a definite personality,

2. Ở giai đoạn trí năng trong đó con người là một hữu thể có ngã thức, tự định hướng, và là một phàm ngã xác định,

a. All the petals in all the centres are awake, but the central focal point of each centre is quiescent. It glows with a faint light, but there is no true activity.

a. Mọi cánh hoa trong mọi trung tâm đều thức, nhưng tiêu điểm trung tâm của mỗi trung tâm thì tĩnh lặng. Nó phát sáng bằng một ánh sáng mờ nhạt, nhưng không có hoạt động thực sự.

b. The centres above the diaphragm, with the exception of the ajna and head centres, are receptive to impact and inflow of life.

b. Các trung tâm trên cơ hoành, ngoại trừ ajna và các trung tâm đầu, đều tiếp nhận tác động và dòng sự sống tuôn vào.

[307]

[307]

3. At the stage of discipleship, when the individuality and the personality are beginning to merge,

3. Ở giai đoạn địa vị đệ tử, khi cá thể tính và phàm ngã bắt đầu hòa nhập,

a. The two head centres are becoming increasingly active.

a. Hai trung tâm đầu đang trở nên ngày càng hoạt động hơn.

b. The petals are all vibrant, and the dynamic life of the soul is beginning to sweep the centre of the lotus into activity.

b. Các cánh hoa đều rung động, và sự sống năng động của linh hồn bắt đầu cuốn trung tâm của hoa sen vào hoạt động.

c. The light of the petals in the centres below the diaphragm is beginning to dim, but the centre of the lotus is becoming more and more brilliant and living.

c. Ánh sáng của các cánh hoa trong các trung tâm dưới cơ hoành bắt đầu mờ đi, nhưng trung tâm của hoa sen lại trở nên ngày càng rực rỡ và sống động hơn.

All the above process takes much time, and it includes the Path of Probation or Purification and the Path of Discipleship.

Toàn bộ tiến trình trên đòi hỏi rất nhiều thời gian, và bao gồm Con Đường Dự Bị hay Thanh Luyện và Con Đường Đệ Tử.

4. At the stage of initiation when complete at-one-ment is established.

4. Ở giai đoạn điểm đạo khi sự hợp nhất hoàn toàn được thiết lập.

a. The four centres above the diaphragm become dominantly active.

a. Bốn trung tâm trên cơ hoành trở nên hoạt động trội vượt.

b. The centre at the base of the spine comes into awakened activity and the three fires of the matter aspect, of the soul, and of the spirit (fire by friction, solar fire, and electric fire) merge and blend.

b. Trung tâm ở đáy cột sống đi vào hoạt động thức tỉnh và ba lửa của phương diện vật chất, của linh hồn, và của tinh thần (lửa ma sát, lửa thái dương, và lửa điện) hòa nhập và dung hợp.

c. All the centres in the body of the initiate can be intensified electrically at will and used simultaneously, or one at a time, according to the demand and the need which must be met by the initiate.

c. Mọi trung tâm trong thể của điểm đạo đồ có thể được tăng cường bằng điện theo ý muốn và được sử dụng đồng thời, hoặc từng cái một, tùy theo đòi hỏi và nhu cầu mà điểm đạo đồ phải đáp ứng.

All the above takes place progressively upon the Path of Initiation. This same truth can also be expressed in terms of the rays:

Tất cả những điều trên diễn ra dần dần trên Con Đường Điểm Đạo. Chân lý này cũng có thể được diễn đạt theo các cung:

At the stage of Individualisation, the rays governing the physical and emotional bodies are dominant. The soul ray is scarcely felt and only flickers with a dim light at the heart of each lotus.

Ở giai đoạn Biệt ngã hóa, các cung chi phối thể xác và thể cảm xúc là trội vượt. Cung linh hồn hầu như không được cảm nhận và chỉ lập lòe bằng một ánh sáng mờ nhạt ở tim của mỗi hoa sen.

At the stage of Intellection, the ray of the mental body [308] comes into activity. This second process is itself divided into two stages:

Ở giai đoạn Trí năng, cung của thể trí [308] đi vào hoạt động. Chính tiến trình thứ hai này lại được chia thành hai giai đoạn:

1. That in which the lower concrete mind is developing.

1. Giai đoạn trong đó hạ trí cụ thể đang phát triển.

2. That in which the man becomes an integrated, coordinated person.

2. Giai đoạn trong đó con người trở thành một người tích hợp, phối hợp.

At each of these latter two stages, the rays of the lower nature become increasingly powerful. Self-consciousness is developed, and then the personality becomes clearer and clearer, and the three elementals of the lower nature, the force of the so-called “three lunar Lords” (the triple energies of the integrated personality) come steadily under the control of the ray of the personality. At this stage, therefore, four rays are active in the man, four streams of energy make him what he is and the ray of the soul is beginning, though very faintly, to make its presence felt, producing the conflict which all thinkers recognise.

Ở mỗi giai đoạn sau cùng trong hai giai đoạn này, các cung của bản chất thấp trở nên ngày càng mạnh mẽ. Ngã thức được phát triển, rồi phàm ngã trở nên ngày càng rõ rệt hơn, và ba hành khí của bản chất thấp, mãnh lực của cái gọi là “ba nguyệt tinh quân” (các năng lượng tam phân của phàm ngã tích hợp) dần dần nằm dưới sự kiểm soát của cung phàm ngã. Vì vậy, ở giai đoạn này, bốn cung hoạt động trong con người, bốn dòng năng lượng làm cho y là chính y, và cung linh hồn đang bắt đầu, dù rất mờ nhạt, làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, tạo ra cuộc xung đột mà mọi nhà tư tưởng đều nhận ra.

At the stage of Discipleship, the soul ray comes into increased conflict with the personality ray and the great battle of the pairs of opposites begins. The soul ray or energy slowly dominates the personality ray, as it in its turn has dominated the rays of the three lower bodies.

Ở giai đoạn Địa vị đệ tử, cung linh hồn đi vào xung đột gia tăng với cung phàm ngã và trận chiến lớn của các cặp đối đãi bắt đầu. Cung hay năng lượng linh hồn từ từ chi phối cung phàm ngã, cũng như đến lượt nó đã chi phối các cung của ba thể thấp.

At the stage of Initiation, the domination continues and at the third initiation the highest kind of energy which a man can express in this solar system—that of the monad, begins to control.

Ở giai đoạn Điểm đạo, sự chi phối tiếp tục và vào lần điểm đạo thứ ba, loại năng lượng cao nhất mà một con người có thể biểu hiện trong hệ mặt trời này—đó là năng lượng của chân thần—bắt đầu kiểm soát.

At the stage of individualisation, a man comes into being; he begins to exist. At the stage of intellection, the personality emerges with clarity and becomes naturally expressive. At the stage of discipleship, he becomes magnetic. At the stage of initiation, he becomes dynamic.

Ở giai đoạn biệt ngã hóa, con người đi vào hiện hữu; y bắt đầu tồn tại. Ở giai đoạn trí năng, phàm ngã xuất hiện rõ rệt và trở nên biểu hiện một cách tự nhiên. Ở giai đoạn địa vị đệ tử, y trở nên từ tính. Ở giai đoạn điểm đạo, y trở nên năng động.

In reference to the pairs of opposites and their conflict, it might be of interest to note the following facts:

Liên quan đến các cặp đối đãi và cuộc xung đột của chúng, có lẽ cũng đáng quan tâm khi lưu ý các sự kiện sau đây:

[309]

[309]

Students would do well to bear in mind that there are several pairs of opposites with which they have sequentially to deal. This is a point oft forgotten. Emphasis is usually laid upon the pairs of opposites to be found upon the astral plane, whilst those to be found upon the physical plane and the mental levels are omitted from the recognition of the aspirant. Yet it is essential that these other pairs of opposites receive due recognition.

Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng có nhiều cặp đối đãi mà họ phải tuần tự đề cập đến. Đây là một điểm thường bị quên lãng. Sự nhấn mạnh thường được đặt vào các cặp đối đãi được tìm thấy trên cõi cảm dục, trong khi những cặp được tìm thấy trên cõi hồng trần và các cấp độ trí tuệ lại bị bỏ ra ngoài sự nhận biết của người chí nguyện. Tuy nhiên, điều cốt yếu là những cặp đối đãi khác này phải được nhìn nhận đúng mức.

Etheric energy, focussed in an individual etheric body, passes through two stages prior to the period of discipleship:

Năng lượng dĩ thái, được tập trung trong một thể dĩ thái cá nhân, trải qua hai giai đoạn trước thời kỳ địa vị đệ tử:

1. The stage wherein it assimilates the force latent in the dense physical form—the energy of atomic substance, thus producing a definite fusing and blending. This causes the animal nature to conform entirely to the inner impulses—emanating from the world of pranic influence, where the entirely undeveloped man is concerned, and from the lower astral world where the more developed or the average man is concerned. It is this truth which lies behind the statement frequently made that the dense physical body is an automaton.

1. Giai đoạn trong đó nó đồng hóa mãnh lực tiềm ẩn trong hình tướng hồng trần đậm đặc—năng lượng của chất liệu nguyên tử, nhờ đó tạo ra một sự dung hợp và hòa trộn xác định. Điều này khiến bản chất động vật hoàn toàn tuân theo các xung lực bên trong—phát ra từ thế giới ảnh hưởng prana, trong trường hợp con người hoàn toàn chưa phát triển, và từ thế giới cảm dục thấp trong trường hợp con người phát triển hơn hay con người trung bình. Chính chân lý này nằm sau phát biểu thường được nêu ra rằng thể xác đậm đặc là một cỗ máy tự động.

2. The moment, however, that an inner orientation towards the world of higher values takes place, then the etheric or vital force is brought into conflict with the lowest aspect of man, the dense physical body, and the battle of the lower pair of opposites takes place.

2. Tuy nhiên, ngay khi có một sự định hướng bên trong hướng về thế giới của các giá trị cao hơn, thì mãnh lực dĩ thái hay sinh lực được đưa vào xung đột với phương diện thấp nhất của con người, tức thể xác đậm đặc, và trận chiến của cặp đối đãi thấp bắt đầu diễn ra.

It is interesting to note that it is during this stage that the emphasis is laid upon physical disciplines, upon such controlling factors as total abstinence, celibacy and vegetarianism, and upon physical hygienes and exercises. Through these, the control of the life by the form, the lowest expression of the third aspect of divinity, can be offset and the man set free for the true battle of the pairs of opposites.

Điều lý thú cần lưu ý là chính trong giai đoạn này mà sự nhấn mạnh được đặt vào các kỷ luật hồng trần, vào những yếu tố kiểm soát như kiêng cữ hoàn toàn, độc thân và ăn chay, và vào các phép vệ sinh thân thể cùng các bài tập. Nhờ những điều này, sự kiểm soát của hình tướng đối với sự sống, tức biểu hiện thấp nhất của phương diện thứ ba của thiên tính, có thể được hóa giải và con người được giải phóng cho trận chiến đích thực của các cặp đối đãi.

[310]

[310]

This second battle is the true kurukshetra and is fought out in the astral nature, between the pairs of opposites which are distinctive of our solar system, just as the physical pairs of opposites are distinctive of the past solar system. From one interesting angle, the battle of the opposites upon the lower spiral (in which the physical body in its dual aspect is concerned) can be seen taking place in the animal kingdom. In this process, human beings act as the agents of discipline (as the Hierarchy in its turn acts towards the human family) and the domestic animals, forced to conform to human control, are wrestling (even if unconsciously from our point of view) with the problem of the lower pairs of opposites. Their battle is fought out through the medium of the dense physical body and the etheric forces, and in this way a higher aspiration is brought into being. This produces in time the experience which we call individualisation, wherein the seed of personality is sown. On the human battlefield, the kurukshetra, the higher aspect of the soul begins to operate and eventually to dominate, producing the process of divine-human integration which we call initiation. Students might find it of use to ponder upon this thought.

Trận chiến thứ hai này là kurukshetra đích thực và được chiến đấu trong bản chất cảm dục, giữa các cặp đối cực vốn là nét đặc trưng của hệ mặt trời chúng ta, cũng như các cặp đối cực hồng trần là nét đặc trưng của hệ mặt trời quá khứ. Từ một góc độ thú vị, có thể thấy trận chiến của các đối cực trên vòng xoắn thấp hơn (trong đó thể xác trong phương diện kép của nó có liên quan) đang diễn ra trong giới động vật. Trong tiến trình này, con người hành động như các tác nhân của kỷ luật (cũng như đến lượt mình, Thánh Đoàn hành động đối với gia đình nhân loại), và các loài vật đã được thuần hóa, bị buộc phải tuân theo sự kiểm soát của con người, đang vật lộn (dù theo quan điểm của chúng ta là một cách vô thức) với vấn đề của các cặp đối cực thấp hơn. Trận chiến của chúng được chiến đấu qua trung gian của thể xác đậm đặc và các mãnh lực dĩ thái, và bằng cách này một khát vọng cao hơn được đưa vào hiện hữu. Điều này theo thời gian tạo ra kinh nghiệm mà chúng ta gọi là biệt ngã hóa, trong đó hạt giống của phàm ngã được gieo xuống. Trên chiến trường của con người, kurukshetra, phương diện cao hơn của linh hồn bắt đầu hoạt động và cuối cùng chi phối, tạo ra tiến trình tích hợp thiêng liêng-nhân loại mà chúng ta gọi là điểm đạo. Các đạo sinh có thể thấy hữu ích nếu suy ngẫm về tư tưởng này.

When an aspirant reaches that point in his evolution wherein the control of the physical nature is an urgent necessity, he recapitulates in his own life this earlier battle with the lower pairs of opposites, and begins to discipline his dense physical nature.

Khi một người chí nguyện đạt đến điểm đó trong tiến hoá của y, nơi sự kiểm soát bản chất hồng trần là một điều cấp thiết khẩn trương, y tái diễn trong chính đời sống mình trận chiến sớm hơn này với các cặp đối cực thấp hơn, và bắt đầu rèn luyện bản chất hồng trần đậm đặc của mình.

Making a sweeping generalisation, it might be stated that, for the human family en masse, this dense-etheric conflict was fought out in the world war, which was the imposition of a tremendous test and discipline. We should ever remember that our tests and disciplines are self-imposed and grow out of our limitations and opportunities. The result of this test was the passing on to the Path of Probation of a very large [311] number of human beings, owing to the purging and the purification to which they had been subjected. This purificatory process in some measure prepared them for the prolonged conflict upon the astral plane which lies ahead of all aspirants, prior to achieving the goal of initiation. It is the “Arjuna” experience which lies definitely ahead of many today. This is an interesting point upon which to think and reflect; it holds much of mystery and of difficulty in the sequence of human unfoldment. The individual aspirant is prone to think only in terms of himself, and of his individual tests and trials. He must learn to think in terms of the mass activity, and the preparatory effect where humanity, as a whole is concerned. The world war was a climaxing point in the process of “devitalising” the world maya, as far as humanity is concerned. Much force was released and exhausted, and much energy also was expended. Much was consequently clarified.

Đưa ra một khái quát hóa rộng lớn, có thể nói rằng, đối với gia đình nhân loại en masse, cuộc xung đột đậm đặc-dĩ thái này đã được chiến đấu trong cuộc thế chiến, vốn là sự áp đặt một thử thách và kỷ luật to lớn. Chúng ta nên luôn luôn nhớ rằng các thử thách và kỷ luật của chúng ta là do chính mình tự áp đặt và phát sinh từ những giới hạn và cơ hội của chúng ta. Kết quả của thử thách này là sự chuyển sang Con Đường Dự Bị của một số lượng rất lớn [311] con người, do sự thanh lọc và tẩy uế mà họ đã phải trải qua. Tiến trình thanh tẩy này ở một mức độ nào đó đã chuẩn bị họ cho cuộc xung đột kéo dài trên cõi cảm dục đang ở phía trước mọi người chí nguyện, trước khi đạt được mục tiêu điểm đạo. Đó là kinh nghiệm “Arjuna” chắc chắn đang ở phía trước nhiều người ngày nay. Đây là một điểm thú vị để suy nghĩ và phản tỉnh; nó chứa đựng nhiều điều huyền nhiệm và khó khăn trong trình tự của sự khai mở nhân loại. Người chí nguyện cá nhân có khuynh hướng chỉ nghĩ theo chính bản thân mình, và về những thử thách cùng khảo nghiệm cá nhân của mình. Y phải học cách suy nghĩ theo hoạt động của quần chúng, và theo hiệu quả chuẩn bị khi nhân loại, như một toàn thể, được xét đến. Cuộc thế chiến là một điểm cực đỉnh trong tiến trình “làm mất sinh lực” của ảo lực thế giới, xét theo phương diện nhân loại. Nhiều mãnh lực đã được giải phóng và tiêu hao, và nhiều năng lượng cũng đã được sử dụng. Do đó, nhiều điều đã được làm sáng tỏ.

Many people are occupied today, in their individual lives, with exactly the same process and conflict. On a tiny scale, that which was worked out in the world war is being worked out in their lives. They are busy with the problems of maya. Hence today we find an increasing emphasis upon the physical cultures, disciplines, and upon the vogue for physical training, which finds its expression in the world of sport, in athletic exercises, military training and preparation for the Olympic Games. These latter are in themselves an initiation. In spite of all the wrong motives and the terrible and evil effects (speaking again with a wide generalisation), the training of the body and organised physical direction (which is taking place today in connection with the youth of all nations) is preparing the way for millions to pass upon the Path of Purification. Is this a hard saying? Humanity is under right direction, e’en if, during a brief interlude, they misunderstand the process and apply wrong motives to right activities.

Ngày nay nhiều người đang bận tâm, trong đời sống cá nhân của họ, với đúng cùng một tiến trình và xung đột ấy. Ở một quy mô nhỏ bé, điều đã được giải quyết trong cuộc thế chiến đang được giải quyết trong đời sống họ. Họ đang bận rộn với các vấn đề của ảo lực. Vì thế ngày nay chúng ta thấy có sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào các nền văn hóa thể chất, các kỷ luật, và vào trào lưu rèn luyện thân thể, vốn biểu lộ trong thế giới thể thao, trong các bài tập điền kinh, huấn luyện quân sự và sự chuẩn bị cho Thế Vận Hội. Chính những điều sau này tự chúng là một điểm đạo. Bất chấp mọi động cơ sai lầm và những hậu quả khủng khiếp, xấu ác (lại nói theo một khái quát hóa rộng lớn), việc rèn luyện thân thể và sự chỉ đạo hồng trần có tổ chức (đang diễn ra ngày nay liên quan đến thanh niên của mọi quốc gia) đang chuẩn bị con đường cho hàng triệu người bước lên Con Đường Thanh Lọc. Đây có phải là một lời khó chấp nhận chăng? Nhân loại đang ở dưới sự chỉ đạo đúng đắn, dù rằng trong một quãng xen ngắn ngủi, họ hiểu sai tiến trình và áp dụng những động cơ sai lầm vào các hoạt động đúng đắn.

[312]

[312]

There is a higher duality to which it is necessary that we refer. There is, for the disciples, the duality which becomes obvious when the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence face each other. This constitutes the final pair of opposites.

Có một nhị nguyên tính cao hơn mà chúng ta cần phải đề cập đến. Đối với các đệ tử, có nhị nguyên tính trở nên hiển nhiên khi Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện đối diện nhau. Điều này cấu thành cặp đối cực cuối cùng.

The Dweller on the Threshold is oft regarded as a disaster, as a horror to be avoided, and as a final and culminating evil. I would here remind you, nevertheless, that the Dweller is “one who stands before the gate of God”, who dwells in the shadow of the portal of initiation, and who faces the Angel of the Presence open-eyed, as the ancient Scriptures call it. The Dweller can be defined as the sum total of the forces of the lower nature as expressed in the personality, prior to illumination, to inspiration and to initiation. The personality per se, is, at this stage, exceedingly potent, and the Dweller embodies all the psychic and mental forces which, down the ages, have been unfolded in a man and nurtured with care. It can be looked upon as the potency of the threefold material form, prior to its conscious cooperation and dedication to the life of the soul and to the service of the Hierarchy, of God, and of humanity.

Kẻ Chận Ngõ thường được xem như một tai họa, như một điều kinh hoàng cần tránh, và như một điều ác cuối cùng và tột đỉnh. Tuy nhiên, ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng Kẻ Chận Ngõ là “kẻ đứng trước cổng của Thượng đế”, kẻ cư ngụ trong bóng của cổng điểm đạo, và đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện bằng đôi mắt mở rộng, như các Thánh thư cổ xưa gọi như vậy. Kẻ Chận Ngõ có thể được định nghĩa là tổng số các mãnh lực của bản chất thấp hơn như được biểu lộ trong phàm ngã, trước khi có sự soi sáng, cảm hứng và điểm đạo. Chính phàm ngã per se, ở giai đoạn này, cực kỳ mạnh mẽ, và Kẻ Chận Ngõ thể hiện mọi mãnh lực thông linh và trí tuệ mà qua các thời đại đã được khai mở trong một con người và được nuôi dưỡng cẩn trọng. Nó có thể được xem như tiềm lực của hình tướng vật chất tam phân, trước khi có sự hợp tác có ý thức và sự hiến dâng của nó cho đời sống của linh hồn và cho sự phụng sự Thánh Đoàn, Thượng đế, và nhân loại.

The Dweller on the Threshold is all that a man is, apart from the higher spiritual self; it is the third aspect of divinity as expressed in and through the human mechanism. This third aspect must be eventually subordinated to the second aspect, the soul.

Kẻ Chận Ngõ là tất cả những gì một người là, tách biệt khỏi bản ngã tinh thần cao hơn; nó là phương diện thứ ba của thiên tính như được biểu lộ trong và qua bộ máy nhân loại. Phương diện thứ ba này cuối cùng phải được đặt dưới sự phụ thuộc của phương diện thứ hai, linh hồn.

The two great contrasting forces, the Angel and the Dweller, are brought together—face to face—and the final conflict takes place. Again, you will note, that it is a meeting and battle between another and a higher pair of opposites. The aspirant, therefore, has three pairs of opposites with which to deal as he progresses towards light and liberation:

Hai mãnh lực tương phản lớn lao, Thiên ThầnKẻ Chận Ngõ, được đưa lại với nhau—mặt đối mặt—và cuộc xung đột cuối cùng diễn ra. Một lần nữa, các bạn sẽ lưu ý rằng đó là một cuộc gặp gỡ và trận chiến giữa một cặp đối cực khác và cao hơn. Vì vậy, người chí nguyện có ba cặp đối cực mà y phải đề cập đến khi tiến về phía ánh sáng và giải thoát:

[313]

[313]

THE PAIRS OF OPPOSITES

CÁC CẶP ĐỐI CỰC

1.

Upon the physical plane

The dense and etheric forces. These are faced upon the Path of Purification.

Trên cõi hồng trần

Các mãnh lực đậm đặc và dĩ thái. Những mãnh lực này được đối mặt trên Con Đường Thanh Tịnh.

2.

Upon the astral plane

The well-known dualities. These are faced upon the Path of Discipleship.

Trên cõi cảm dục

Các nhị nguyên tính nổi tiếng. Những nhị nguyên tính này được đối mặt trên Con Đường Đệ Tử.

3.

Upon the mental plane

The Angel of the Presence and the Dweller on the Threshold.

Trên cõi trí

Thiên Thần của Hiện Diện và Kẻ Chận Ngõ.

These are faced upon the Path of Initiation.

b. DEVELOPMENT AND ALIGNMENT OF THE BODIES— SỰ PHÁT TRIỂN VÀ CHỈNH HỢP CỦA CÁC THỂ

After these preliminary remarks, we can come now to a study of the previous tabulation in connection with the method whereby the soul appropriates the various bodies, how they are developed and inter-related, and finally how coordination and alignment is brought about. The last part of the tabulation was outlined in such a manner that many of the problems facing the psychologist at this time can be dealt with from an esoteric angle, and perhaps some light on these problems may then be forthcoming.

Sau những nhận xét sơ bộ này, giờ đây chúng ta có thể đi đến việc nghiên cứu bảng liệt kê trước đó liên hệ với phương pháp mà linh hồn chiếm hữu các thể khác nhau, cách chúng được phát triển và liên hệ với nhau, và cuối cùng cách sự phối hợp và chỉnh hợp được mang lại. Phần cuối của bảng liệt kê đã được phác họa theo một cách như thế để nhiều vấn đề đang đối diện nhà tâm lý học vào lúc này có thể được bàn đến từ một góc độ huyền bí, và có lẽ khi ấy một ít ánh sáng về các vấn đề này sẽ xuất hiện.

In the current occult literature, the careful student will come to the conclusion that the emphasis has been laid upon the process whereby the ego or soul draws to itself the form, utilising for that purpose a mental unit and two permanent atoms, thus anchoring itself in three worlds of human experience. The matter, or rather the substance, aspect has been the subject of immediate importance. Hence this subject was covered in my earlier books which are intended to aid in the bridging process between the older “techniques of understanding” and the esotericism which the new age will sponsor. We should, however, bear in mind two things:

Trong văn liệu huyền bí hiện nay, đạo sinh cẩn trọng sẽ đi đến kết luận rằng sự nhấn mạnh đã được đặt vào tiến trình mà chân ngã hay linh hồn tự kéo hình tướng về phía mình, sử dụng cho mục đích đó một đơn vị hạ trí và hai Nguyên tử trường tồn, nhờ đó neo chính nó trong ba cõi giới của kinh nghiệm nhân loại. Phương diện vật chất, hay đúng hơn là phương diện chất liệu, đã là đề tài có tầm quan trọng trực tiếp. Vì thế đề tài này đã được trình bày trong các sách trước đây của tôi, vốn nhằm trợ giúp trong tiến trình bắt cầu giữa các “kỹ thuật thấu hiểu” cũ hơn và huyền bí học mà kỷ nguyên mới sẽ bảo trợ. Tuy nhiên, chúng ta nên ghi nhớ hai điều:

1. That such terms as “mental unit”, “permanent atom”, etc., [314] are simply symbolic ways of expressing a difficult truth. The truth is that the soul is active on all the three lower planes, and that it is a type of energy, functioning in a field of force, thus producing an activity of some kind.

1. Rằng những thuật ngữ như “đơn vị hạ trí”, “Nguyên tử trường tồn”, v.v., [314] chỉ đơn giản là những cách biểu tượng để diễn đạt một chân lý khó khăn. Chân lý là linh hồn hoạt động trên cả ba cõi thấp, và rằng nó là một loại năng lượng, vận hành trong một trường mãnh lực, nhờ đó tạo ra một loại hoạt động nào đó.

2. That the permanent atoms are not really atoms at all, but simply focal points of energy, which are of sufficient power to attract and hold coherently together the substance required by the soul with which to create a form of expression.

2. Rằng các Nguyên tử trường tồn thực ra hoàn toàn không phải là nguyên tử, mà chỉ đơn giản là những điểm hội tụ năng lượng, có đủ quyền năng để thu hút và giữ kết hợp một cách mạch lạc chất liệu mà linh hồn cần đến để tạo ra một hình tướng biểu lộ.

The soul itself is a major centre of experience in the life of the monad; the lower bodies are centres of expression in the life of the soul. As the consciousness of the man shifts continuously into the higher bodies through which expression can become possible, the soul gradually becomes the paramount centre of experience in consciousness and the lesser centres of experience (the lower bodies) assume less and less importance. The soul experiences less through them, but uses them increasingly in service.

Bản thân linh hồn là một trung tâm kinh nghiệm lớn trong đời sống của chân thần; các thể thấp là những trung tâm biểu lộ trong đời sống của linh hồn. Khi tâm thức của con người liên tục chuyển vào các thể cao hơn, qua đó sự biểu lộ có thể trở nên khả hữu, linh hồn dần dần trở thành trung tâm kinh nghiệm tối thượng trong tâm thức và các trung tâm kinh nghiệm nhỏ hơn (các thể thấp) ngày càng ít quan trọng hơn. Linh hồn kinh nghiệm qua chúng ít hơn, nhưng ngày càng sử dụng chúng trong phụng sự.

This same thought must be carried into our concept of the soul as a centre of consciousness. The soul uses the bodies in the earlier stages of evolution as centres of conscious experience, and upon them and upon the experience is the emphasis laid. But as time progresses, the man becomes more soul-conscious and the consciousness which he experiences (as a soul in the three bodies) is of decreasing importance, until finally the bodies become simply instruments of contact through which the soul comes into understanding relationship with the world of the physical plane, of the feeling, sentient levels, and with the world of thought.

Cùng một tư tưởng này phải được mang vào khái niệm của chúng ta về linh hồn như một trung tâm tâm thức. Linh hồn sử dụng các thể trong các giai đoạn đầu của tiến hoá như những trung tâm của kinh nghiệm có ý thức, và sự nhấn mạnh được đặt trên chúng và trên kinh nghiệm. Nhưng khi thời gian trôi qua, con người trở nên ngày càng có tâm thức linh hồn hơn và tâm thức mà y kinh nghiệm (như một linh hồn trong ba thể) ngày càng kém quan trọng, cho đến cuối cùng các thể trở thành đơn thuần những công cụ tiếp xúc qua đó linh hồn đi vào mối liên hệ thấu hiểu với thế giới của cõi hồng trần, của các cấp độ cảm giác, cảm thụ, và với thế giới của tư tưởng.

In considering, therefore, the section with which we are now concerned, it is essential for right understanding and eventual psychological usefulness, that we remember constantly [315] that we shall be talking always in terms of consciousness and of soul energy, and are only dealing with sentient substance from the point of view of its usefulness in terms of time and space, or of manifestation. In thinking of the focal points of soul energy upon the mental, astral and physical planes, we will not think of the permanent atoms as material centres, or as germs of form, which is the prevailing idea. We will think of them simply as an expression—attractive or magnetic in quality as the case may be—of soul energy, playing upon energies which have in them the quality of responsiveness to the positive aspects of energy with which they are brought in contact. In elucidating this most difficult problem it might be said that the problems of psychology fall into two major groups:

Vì vậy, khi xem xét phần mà giờ đây chúng ta quan tâm, điều thiết yếu cho sự thấu hiểu đúng đắn và tính hữu ích tâm lý học về sau là chúng ta phải luôn luôn nhớ [315] rằng chúng ta sẽ luôn luôn nói theo các thuật ngữ của tâm thức và của năng lượng linh hồn, và chỉ đề cập đến chất liệu cảm thụ từ quan điểm về tính hữu ích của nó theo các thuật ngữ thời gian và không gian, hay của sự biểu hiện. Khi nghĩ đến các điểm hội tụ của năng lượng linh hồn trên các cõi trí tuệ, cảm dục và hồng trần, chúng ta sẽ không nghĩ đến các Nguyên tử trường tồn như những trung tâm vật chất, hay như những mầm của hình tướng, vốn là ý tưởng phổ biến. Chúng ta sẽ chỉ nghĩ đến chúng như một biểu hiện—có tính thu hút hay từ tính tùy trường hợp—của năng lượng linh hồn, tác động lên các năng lượng vốn có trong chúng phẩm tính đáp ứng với các phương diện dương của năng lượng mà chúng được đưa vào tiếp xúc. Khi làm sáng tỏ vấn đề cực kỳ khó khăn này, có thể nói rằng các vấn đề của tâm lý học rơi vào hai nhóm lớn:

1. A group of difficulties wherein the psychologist has to deal with those people whose vehicles of expression, as centres for the gaining of experience, are not adequately responsive to their environment for the creative, indwelling soul. When this is the case, the centres in the etheric body are diversely but only partially awakened, and the glandular system, therefore, is correspondingly mediocre and irregular.

1. Một nhóm khó khăn trong đó nhà tâm lý học phải xử lý những người mà các vận cụ biểu lộ của họ, như những trung tâm để đạt được kinh nghiệm, không đáp ứng đầy đủ với môi trường của họ đối với linh hồn sáng tạo, nội tại. Khi trường hợp này xảy ra, các trung tâm trong thể dĩ thái được thức tỉnh theo nhiều cách khác nhau nhưng chỉ một phần, và do đó hệ thống tuyến nội tiết cũng tương ứng ở mức tầm thường và bất thường.

2. Another group of difficulties concerns those human beings whose vehicles of expression, as centres of experience, are over-developed and over-stimulated without adequate conscious control by the soul. This development is, at this time, primarily focussed in the astral body, leading to over-sensitivity of the solar plexus centre or of the throat centre, and occasioning consequent difficulty. Much of the thyroid instability of the present time is based upon this.

2. Một nhóm khó khăn khác liên quan đến những con người mà các vận cụ biểu lộ của họ, như những trung tâm kinh nghiệm, được phát triển quá mức và bị kích thích quá độ mà không có sự kiểm soát có ý thức đầy đủ của linh hồn. Sự phát triển này, vào lúc này, chủ yếu tập trung trong thể cảm dục, dẫn đến sự quá nhạy cảm của trung tâm tùng thái dương hoặc của trung tâm cổ họng, và gây ra khó khăn hệ quả. Phần lớn sự bất ổn của tuyến giáp trong thời đại hiện nay dựa trên điều này.

There is a third class of difficulties which concern those who [316] are on the Path of Discipleship, but these we will not consider here. In these latter cases there is an abnormal over-sensitivity in the vehicles, the rush of force through from the soul, via the centres, presents real difficulty, and responsiveness to the environment is over-developed in many cases.

Có một loại khó khăn thứ ba liên quan đến những người [316] đang ở trên Con Đường Đệ Tử, nhưng ở đây chúng ta sẽ không xét đến. Trong các trường hợp sau này, có một sự quá nhạy cảm bất thường trong các vận cụ, sự tuôn đổ mãnh lực từ linh hồn qua các trung tâm gây ra khó khăn thực sự, và trong nhiều trường hợp sự đáp ứng với môi trường được phát triển quá mức.

These conditions are governed, as will be recognised, by the point in evolution, the ray type, the quality of past karma, and the present family, national and racial inherited characteristics. As we study, let us bear clearly in mind that it is the soul as a centre of consciousness and the vehicles as centres of experience with which we are concerning ourselves. We should seek to eliminate from our minds the more material connotations which past teachings have emphasised. Annie Besant in her Study of Consciousness sought to avoid the error of materialism and to voice a real vision of the truth, but words themselves are limiting things and oft veil and hide the truth. Her book, therefore, is of definite value. Remember also that a man’s consciousness is first of all, and usually, centred sequentially in the three bodies, and the centres of experience for him are primarily the field of his consciousness. He is identified for long with the field of experience and not with the real self. He has not yet identified himself with the conscious subject, or with the One Who is aware, but as time goes on, his centre of identification shifts, and he becomes less interested in the field of experience and more aware of the soul as the conscious, thinking Individual.

Những tình trạng này được chi phối, như sẽ được nhận ra, bởi điểm tiến hoá, loại cung, phẩm tính của nghiệp quả quá khứ, và các đặc tính di truyền hiện tại của gia đình, quốc gia và nhân loại. Khi nghiên cứu, chúng ta hãy ghi nhớ thật rõ rằng chính linh hồn như một trung tâm tâm thứccác vận cụ như những trung tâm kinh nghiệm là điều chúng ta đang quan tâm. Chúng ta nên tìm cách loại bỏ khỏi tâm trí mình những hàm nghĩa vật chất hơn mà các giáo huấn quá khứ đã nhấn mạnh. Annie Besant trong tác phẩm Study of Consciousness của bà đã tìm cách tránh sai lầm của chủ nghĩa duy vật và phát biểu một linh ảnh chân thực về chân lý, nhưng bản thân ngôn từ là những thứ giới hạn và thường che phủ, giấu kín chân lý. Vì vậy, sách của bà có giá trị rõ rệt. Cũng hãy nhớ rằng tâm thức của một người trước hết, và thường là như vậy, được đặt tuần tự trong ba thể, và các trung tâm kinh nghiệm đối với y chủ yếu là trường tâm thức của y. Y đồng hoá với trường kinh nghiệm trong một thời gian dài chứ không phải với chân ngã thực sự. Y chưa đồng hoá mình với chủ thể có ý thức, hay với Đấng đang nhận biết, nhưng khi thời gian trôi qua, trung tâm đồng hoá của y chuyển dịch, và y trở nên ít quan tâm hơn đến trường kinh nghiệm và ý thức hơn về linh hồn như Cá Thể có ý thức, biết suy tư.

The comprehension of each of us will depend upon where we each, as individuals, lay the emphasis, and where we are awake and alive, and of what we are conscious. When we have achieved the experience of the third initiation and are no longer identified with the vehicles of expression, then—on a higher turn of the spiral—another shift in the life expression and experience will take place. Then neither the centre [317] of experience, the soul, nor the vehicles of expression, the lower threefold man, will be considered from the angle of consciousness at all. The Life aspect will supersede all others. Of what use is it for us to discuss this stage when for many of us, as yet, the lower expressions of divine manifestations are dominant (or should one say “rampant”?) and even the soul fails to assume vital control?

Sự lĩnh hội của mỗi chúng ta sẽ tùy thuộc vào việc mỗi người chúng ta, với tư cách cá nhân, đặt sự nhấn mạnh ở đâu, và chúng ta tỉnh thức và sống động ở đâu, và chúng ta có tâm thức về điều gì. Khi chúng ta đã đạt được kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ ba và không còn đồng hoá với các vận cụ biểu lộ nữa, thì—trên một vòng xoắn cao hơn—một sự chuyển dịch khác trong biểu lộ và kinh nghiệm của đời sống sẽ diễn ra. Khi ấy, cả trung tâm [317] kinh nghiệm, linh hồn, lẫn các vận cụ biểu lộ, con người tam phân thấp hơn, sẽ hoàn toàn không còn được xét từ góc độ tâm thức nữa. Phương diện Sự sống sẽ thay thế tất cả các phương diện khác. Việc gì có ích cho chúng ta khi bàn luận về giai đoạn này trong khi đối với nhiều người trong chúng ta, các biểu lộ thấp hơn của những biểu hiện thiêng liêng vẫn đang chi phối (hay nên nói là “hoành hành”?) và ngay cả linh hồn cũng không đảm nhận được sự kiểm soát thiết yếu?

It was for this reason (when giving the earlier tabulation) that the words “building psychologically” were used, with the intent to direct the attention of the student to the soul or psyche as the building agency, but at the same time to negate or offset the material concept of body-building. Occultism is the science of energy manipulation, of the attractive or the repulsive aspect of force, and it is with this that we shall concern ourselves.

Chính vì lý do này (khi đưa ra bảng liệt kê trước đó) mà các từ “xây dựng về mặt tâm lý” đã được dùng, với ý định hướng sự chú ý của đạo sinh đến linh hồn hay psyche như tác nhân xây dựng, nhưng đồng thời phủ nhận hay hóa giải khái niệm vật chất về việc xây dựng thể. Huyền bí học là khoa học về sự vận dụng năng lượng, về phương diện thu hút hay đẩy lùi của mãnh lực, và chính điều này là điều chúng ta sẽ quan tâm.

In this soul activity is to be found the source or the germ of all the experiences which—on the physical plane today—are recognised and considered by the psychologist. In this thought is to be found the fact that there is no difficulty in the vehicles of expression but finds its correspondence and higher truth in the centre of experience which we call the soul.

Chính trong hoạt động linh hồn này có nguồn gốc hay mầm mống của mọi kinh nghiệm mà—trên cõi hồng trần ngày nay—được nhà tâm lý học nhận biết và xem xét. Chính trong tư tưởng này có sự kiện rằng không có khó khăn nào trong các vận cụ biểu lộ mà lại không tìm thấy sự tương ứng và chân lý cao hơn của nó trong trung tâm kinh nghiệm mà chúng ta gọi là linh hồn.

Take, for instance, the emphasis which is laid by certain psychologists upon the idea that all that we have inherited of truth (the idea of God, the concept of a future heaven, the ancient and exploded (?) belief around which the thoughts of men have superstitiously centred) are only the outer expression or formulations of a hidden “wish life.” This wish life is, we are told, based upon an inner and often hidden and unrealised sense of frustration, of disillusionment, of trouble; all the ideas which the race has prized down the ages and whereby most of its nobler souls have lived, are founded on illusion. With the formulation of these various “wish-fulfillments” [318] in the life of the individual, with the fact that they lead to many difficulties and strains and stresses which require careful adjustment, and with the belief that in these concepts is mixed much of a childish superstition, the Teachers upon the inner side would find Themselves in hearty agreement in many cases. But They make the following reservation. They state that the centres of expression through which the soul gains needed experience and becomes conscious in worlds of being, otherwise unknown, have come into manifestation as the result of the “wish” or the desire of the soul. It is the “wish-life” of the soul and not the frustrations of the personality which have brought about the situation with which man is today contending. Therefore, the emerging into the public consciousness (through the teaching of certain schools of psychologists) of knowledge anent this wish life and its increasing prevalence is definitely founded upon the fact that humanity is becoming soul-conscious and, therefore, slowly becoming aware of the wishes of the soul. But as man’s basic identifications remain as yet in the centres of expression and not in the centre of experience—the soul, there is an unavoidable, though temporary, distortion of the truth.

Lấy ví dụ, sự nhấn mạnh mà một số nhà tâm lý học đặt vào ý tưởng rằng tất cả những gì chúng ta đã thừa hưởng về chân lý (ý tưởng về Thượng đế, khái niệm về một cõi trời tương lai, niềm tin cổ xưa và đã bị bác bỏ (?) quanh đó tư tưởng của con người đã mê tín tập trung) chỉ là biểu hiện bên ngoài hay những công thức hóa của một “đời sống ước muốn” ẩn kín. Đời sống ước muốn này, như chúng ta được bảo, dựa trên một cảm nhận thất vọng, vỡ mộng, phiền não bên trong, thường ẩn kín và không được nhận ra; tất cả những ý tưởng mà nhân loại đã trân quý qua các thời đại và nhờ đó phần lớn những linh hồn cao quý hơn của họ đã sống, đều được đặt nền trên ảo tưởng. Với việc hình thành các “sự hoàn thành ước muốn” khác nhau này [318] trong đời sống cá nhân, với sự kiện rằng chúng dẫn đến nhiều khó khăn, căng thẳng và áp lực đòi hỏi sự điều chỉnh cẩn trọng, và với niềm tin rằng trong các khái niệm này có pha trộn nhiều mê tín trẻ con, các Huấn sư ở phía nội tại sẽ thấy Các Ngài hoàn toàn đồng ý trong nhiều trường hợp. Nhưng Các Ngài đưa ra sự dè dặt sau đây. Các Ngài tuyên bố rằng các trung tâm biểu lộ qua đó linh hồn đạt được kinh nghiệm cần thiết và trở nên có tâm thức trong các thế giới bản thể vốn nếu không thì không được biết đến, đã đi vào biểu hiện như kết quả của “ước muốn” hay dục vọng của linh hồn. Chính “đời sống ước muốn” của linh hồn chứ không phải những thất vọng của phàm ngã đã tạo ra tình huống mà con người ngày nay đang phải vật lộn. Vì vậy, sự xuất hiện vào tâm thức công chúng (qua giáo huấn của một số trường phái tâm lý học) của tri thức liên quan đến đời sống ước muốn này và sự phổ biến ngày càng tăng của nó rõ ràng được đặt nền trên sự kiện rằng nhân loại đang trở nên có tâm thức linh hồn và do đó đang chậm rãi nhận biết các ước muốn của linh hồn. Nhưng vì các sự đồng hoá căn bản của con người hiện vẫn còn ở trong các trung tâm biểu lộ chứ không phải trong trung tâm kinh nghiệm—linh hồn, nên có một sự bóp méo chân lý không thể tránh khỏi, dù chỉ là tạm thời.

We can approach another psychological problem in the same manner. Much is being written today which is the result of the development of the science of psycho-analysis. This is the problem of what is commonly called a “split personality”. This division in the continuity of consciousness (for that is what it basically is) takes many forms and sometimes produces more than simply a duality. The great expression of the continuity of desire is voiced for us by Paul, the initiate, in The Epistle to the Romans where he refers to the constant battle between the will-to-good and the will-to-evil, as it takes place within the periphery of consciousness of a human being. From certain angles this passage is prophetic, for the writer (perhaps [319] unknowingly) was looking forward to that period in the evolution of mankind when the “battle of the opposites” would be waged in its full strength, both individually and within all nations and races. Such a time is now upon us. As far as the individual is concerned, the psychologist is attempting to deal with the problem. As far as the race is concerned, the great social, philanthropic, political and religious movements are equally concerned with the same problem. This should be of interest to all for it indicates that the planetary kurukshetra is now being fought out and, therefore, that present affairs must be viewed from the angle of a basic psychology, which is expressive—in time and space—of that great centre of soul expression which we call the human family. It indicates also the advanced point of attainment in consciousness upon the path of evolution. When the battle is successfully fought, and there is a realisation in consciousness of the nature of the issue involved (and such an awareness is most rapidly developing), then we shall have a bridging of the gap and the fusing of the fundamental pairs of opposites (the soul and the form). This will bring in the new era of spiritual attainment or of soul contact.

Chúng ta có thể tiếp cận một vấn đề tâm lý học khác theo cùng cách ấy. Ngày nay đang có nhiều điều được viết ra là kết quả của sự phát triển của khoa học phân tâm học. Đó là vấn đề thường được gọi là “phàm ngã phân đôi”. Sự phân chia này trong tính liên tục của tâm thức (vì về căn bản đó chính là điều ấy) mang nhiều hình thức và đôi khi tạo ra nhiều hơn chỉ là một nhị nguyên tính. Biểu hiện lớn lao của tính liên tục của dục vọng được Paul, điểm đạo đồ, phát biểu cho chúng ta trong Thư gửi tín hữu La Mã, nơi ông đề cập đến trận chiến liên tục giữa Ý Chí-hướng Thiện và ý chí hướng ác, như nó diễn ra trong chu vi của tâm thức của một con người. Từ một số góc độ, đoạn văn này có tính tiên tri, vì tác giả (có lẽ [319] một cách không biết) đã nhìn về phía trước đến giai đoạn trong tiến hoá của nhân loại khi “trận chiến của các đối cực” sẽ được tiến hành với toàn bộ sức mạnh của nó, cả trên bình diện cá nhân lẫn trong mọi quốc gia và nhân loại. Một thời kỳ như thế hiện đang ở trên chúng ta. Xét theo cá nhân, nhà tâm lý học đang cố gắng xử lý vấn đề. Xét theo nhân loại, các phong trào xã hội, từ thiện, chính trị và tôn giáo lớn lao cũng đều quan tâm đến cùng một vấn đề. Điều này nên là mối quan tâm đối với tất cả, vì nó cho thấy rằng kurukshetra hành tinh hiện đang được chiến đấu và do đó các sự vụ hiện tại phải được nhìn từ góc độ của một tâm lý học căn bản, vốn là sự biểu lộ—trong thời gian và không gian—của trung tâm lớn lao của biểu lộ linh hồn mà chúng ta gọi là gia đình nhân loại. Nó cũng cho thấy điểm thành tựu cao cấp trong tâm thức trên đường tiến hoá. Khi trận chiến được chiến đấu thành công, và có một sự chứng nghiệm trong tâm thức về bản chất của vấn đề liên quan (và một sự nhận biết như thế đang phát triển rất nhanh), khi ấy chúng ta sẽ có sự bắt cầu qua khoảng trống và sự dung hợp của các cặp đối cực căn bản (linh hồn và hình tướng). Điều này sẽ mang vào kỷ nguyên mới của thành tựu tinh thần hay của tiếp xúc linh hồn.

The thought which should be dominant in our minds today, in order that we may rightly understand the correct use of this whole section is simply this:—that the right appropriation of form by the soul is the result of an initial wish or desire. It is the result of a fundamental outgoing impulse on the part of the centre of energy. This tendency outwards is expressed in many differing words or expressions in the literature of the world, such as:

Tư tưởng nên chi phối tâm trí chúng ta ngày nay, để chúng ta có thể thấu hiểu đúng việc sử dụng đúng đắn của toàn bộ phần này, chỉ đơn giản là điều này:—rằng sự chiếm hữu hình tướng đúng đắn của linh hồn là kết quả của một ước muốn hay dục vọng ban đầu. Nó là kết quả của một xung lực hướng ngoại căn bản từ phía trung tâm năng lượng. Khuynh hướng hướng ra ngoài này được biểu lộ bằng nhiều từ ngữ hay cách diễn đạt khác nhau trong văn liệu của thế giới, như:

a. The desire to manifest.

a. Dục vọng biểu hiện.

b. The creative impulse.

b. Xung lực sáng tạo.

c. The evolutionary urge.

c. Thúc lực tiến hoá.

[320]

[320]

d. The wish to incarnate.

d. Ước muốn lâm phàm.

e. The attraction of the pairs of opposites. This is positive energy having an attractive effect upon negative energy.

e. Sự thu hút của các cặp đối cực. Đây là năng lượng dương có tác động thu hút lên năng lượng âm.

f. The outgoing tendency.

f. Khuynh hướng hướng ngoại.

g. The fall of man.

g. Sự sa ngã của con người.

h. The “sons of God came in unto the daughters of men”. (The Bible)

h. “các Con của Thượng đế đến cùng các con gái loài người”. (Kinh Thánh)

i. The “corn of wheat falling into the ground”.

i. “hạt lúa mì rơi xuống đất”.

Many such expressions can be found, having in them symbolic quality and which are not to be interpreted literally, or with a physical connotation. Each idea, however, involves a duality, and the concept that there is “that which is manifesting through the form of the manifest”. This is “the soul and the form”, and many other similar phrases are familiar to all of us.

Có thể tìm thấy nhiều cách diễn đạt như thế, mang trong chúng phẩm tính biểu tượng và không được giải thích theo nghĩa đen, hay với hàm nghĩa hồng trần. Tuy nhiên, mỗi ý tưởng đều bao hàm một nhị nguyên tính, và khái niệm rằng có “điều đang biểu lộ qua hình tướng của cái được biểu lộ”. Đây là “linh hồn và hình tướng”, và nhiều cụm từ tương tự khác đều quen thuộc với tất cả chúng ta.

I would urge you to preserve, as far as possible, the thought of the psychological implications, considering this whole section from the angle in sentiency, for in sentiency (as you well know) lies the entire psychological problem. It is always and in every case the problem of response to environment and opportunity, and in this idea lies much for the esoteric psychologist. In sensitive awareness lies the secret of progress for the psyche, and also the secret of the many states of consciousness which the sentient or feeling factor, the soul, experiences on the path of evolution as it expands—

Tôi muốn thúc giục các bạn bảo tồn, càng nhiều càng tốt, tư tưởng về các hàm ý tâm lý học, xem xét toàn bộ phần này từ góc độ của tính cảm thụ, vì trong tính cảm thụ (như các bạn biết rõ) có toàn bộ vấn đề tâm lý học. Luôn luôn và trong mọi trường hợp, đó là vấn đề đáp ứng với môi trường và cơ hội, và trong ý tưởng này có nhiều điều dành cho nhà tâm lý học huyền bí. Trong sự nhận biết nhạy cảm có bí mật của sự tiến bộ đối với psyche, và cũng có bí mật của nhiều trạng thái tâm thức mà yếu tố cảm thụ hay cảm giác, linh hồn, kinh nghiệm trên đường tiến hoá khi nó mở rộng—

a. The sphere of its contacts,

a. Khối cầu các tiếp xúc của nó,

b. The range of its influence,

b. Phạm vi ảnh hưởng của nó,

c. The field of its conscious activity.

c. Trường hoạt động có ý thức của nó.

I have expressed these three in the order of their appearance. We are apt to consider these appearances from the point of view of man upon the physical plane. It is necessary to [321] consider them from the point of view of the soul and the process of experiencing. This is an angle of vision which is only truly possible to the man who is beginning to function as a soul.

Tôi đã diễn đạt ba điều này theo thứ tự xuất hiện của chúng. Chúng ta có khuynh hướng xem xét các biểu hiện này từ quan điểm của con người trên cõi hồng trần. Cần phải [321] xem xét chúng từ quan điểm của linh hồn và tiến trình kinh nghiệm. Đây là một góc nhìn chỉ thực sự khả hữu đối với người đang bắt đầu hoạt động như một linh hồn.

It is here that the ray nature of any specific soul is first of all brought into activity, for its colouring, tone, quality and its basic vibration determine psychologically the colour, tone, quality and basic vibration of the mind-energy demonstrated. It conditions the sentient form attracted and the vital body which constitutes the attractive agency upon the physical plane, drawing to itself the type of negative energy or substance through which the quality, tone or vibration of the specific centre of experience can be expressed, and the environment contacted. In the early stages of manifestation, it is the nature of the form or of the vehicle which dominates and is the outstanding characteristic. The nature of quality, of the underlying soul, is not apparent. Then the form or vehicle is sentient in two directions: outwards towards the environment, which leads (as evolution proceeds) to the perfecting of the vehicle, and inwards towards the higher progressive impulse, which leads to the definite expansion of consciousness. These higher impulses are progressive in their appearance. It might, in this connection be stated that:

Chính ở đây bản chất cung của bất kỳ linh hồn đặc thù nào trước hết được đưa vào hoạt động, vì sắc thái, âm điệu, phẩm tính và rung động căn bản của nó quyết định về mặt tâm lý học sắc thái, âm điệu, phẩm tính và rung động căn bản của năng lượng trí tuệ được biểu lộ. Nó tác động lên hình tướng cảm thụ được thu hút và thể sinh lực/thể dĩ thái vốn cấu thành tác nhân thu hút trên cõi hồng trần, tự kéo về phía mình loại năng lượng âm hay chất liệu qua đó phẩm tính, âm điệu hay rung động của trung tâm kinh nghiệm đặc thù có thể được biểu lộ, và môi trường được tiếp xúc. Trong các giai đoạn đầu của sự biểu hiện, bản chất của hình tướng hay của vận cụ là điều chi phối và là đặc tính nổi bật. Bản chất của phẩm tính, của linh hồn nền tảng, không hiển lộ. Khi ấy hình tướng hay vận cụ cảm thụ theo hai hướng: hướng ra ngoài về phía môi trường, điều này dẫn đến (khi tiến hoá tiếp diễn) sự hoàn thiện của vận cụ, và hướng vào trong về phía xung lực tiến bộ cao hơn, điều này dẫn đến sự mở rộng rõ rệt của tâm thức. Những xung lực cao hơn này tiến bộ trong sự xuất hiện của chúng. Liên hệ với điều này, có thể nói rằng:

1. The physical nature becomes responsive to

1. Bản chất hồng trần trở nên đáp ứng với

a. Desire,

a. Dục vọng,

b. Ambition,

b. Tham vọng,

c. Aspiration.

c. Khát vọng.

The fusion of the sentient, astral body and the physical body then becomes complete.

Khi ấy sự dung hợp của thể cảm dục cảm thụ và thể xác trở nên hoàn tất.

2. This basic duality then becomes responsive to

2. Nhị nguyên tính căn bản này khi ấy trở nên đáp ứng với

a. The lower concrete mind,

a. Hạ trí cụ thể,

[322]

[322]

b. The separative impulses of the selfish mental body,

b. Các xung lực phân ly của thể trí ích kỷ,

c. The intellect, the synthesis of mind and instinct,

c. Trí năng, sự tổng hợp của trí tuệ và bản năng,

d. The promptings of the soul.

d. Những thôi thúc của linh hồn.

This produces an integration of the three energies which constitute the threefold lower man.

Điều này tạo ra sự tích hợp của ba năng lượng cấu thành con người tam phân thấp hơn.

3. This triplicity then becomes responsive to

3. Bộ ba này khi ấy trở nên đáp ứng với

a. Itself, as an integrated personality. Then the rhythm set up by the fusion of the lower energies (the astral and the mental) becomes dominant.

a. Chính nó, như một phàm ngã tích hợp. Khi ấy nhịp điệu được thiết lập bởi sự dung hợp của các năng lượng thấp hơn (cảm dục và trí tuệ) trở nên chi phối.

b. The Soul, as the fundamental centre of experience. The personality gets a vision of its destiny, which is to be an instrument of a higher force.

b. Linh hồn, như trung tâm kinh nghiệm căn bản. Phàm ngã có được một linh ảnh về định mệnh của nó, là trở thành một công cụ của một mãnh lực cao hơn.

c. The intuition.

c. Trực giác.

d. The source of inspiration, the monad.

d. Nguồn của cảm hứng, chân thần.

A few students may get the symbolic significance of the process, if they grasp the fact that, in the earlier stages upon the evolutionary path, the Monad is the source of the exhalation or of the expiration which brought the soul into being upon the physical plane: upon the Path of Return, with which we are concerned in the latter stage, the Monad is the source of inhalation or of the inspiration.

Một vài đạo sinh có thể nắm được ý nghĩa biểu tượng của tiến trình, nếu họ hiểu được sự kiện rằng, trong các giai đoạn đầu trên đường tiến hoá, chân thần là nguồn của sự thở ra hay sự xuất khí đã đưa linh hồn vào hiện hữu trên cõi hồng trần: trên Con Đường Trở Về, điều mà chúng ta quan tâm trong giai đoạn sau, chân thần là nguồn của sự hít vào hay của cảm hứng.

In the process of exhalation or of the breathing-out, a certain type of divine energy focussed itself as a centre of experience in that type of sentient substance which we call higher mental matter. This eventually formed that aspect of man which we call the soul. In its turn, the soul continued in this process of exhalation or breathing out, initiated by the monad, or the One Life. The energy thus sent forth forms centres of experience in the three worlds through the process of “attractive appropriation” of qualified material or substance. Through these centres, the needed experience is gained, the life process [323] is intensified, the range of experience through contact with an ever-widening environment becomes possible, leading to successive expansions of consciousness which are called initiations in the later stages, when consciously undergone and definitely self-initiated. Thus the field of soul influence is steadily enlarged. Whilst this soul activity is proceeding, a paralleling activity in the material substance is going on, which steadily brings the negative aspect of matter or substance up to the positive requirements of the soul. The vehicles of expression, the mechanism of manifestation and the centres for experience improve as the consciousness widens and deepens.

Trong tiến trình thở ra hay phát hơi ra, một loại năng lượng thiêng liêng nào đó đã tự hội tụ như một trung tâm kinh nghiệm trong loại chất liệu cảm thụ mà chúng ta gọi là vật chất thượng trí. Điều này cuối cùng đã hình thành phương diện của con người mà chúng ta gọi là linh hồn. Đến lượt mình, linh hồn tiếp tục trong tiến trình thở ra hay phát hơi ra này, do chân thần, hay Sự sống Duy Nhất, khởi xướng. Năng lượng được phóng ra như thế tạo thành các trung tâm kinh nghiệm trong ba cõi giới qua tiến trình “chiếm hữu bằng sự thu hút” chất liệu hay vật chất đã được định tính. Qua các trung tâm này, kinh nghiệm cần thiết được đạt tới, tiến trình sự sống [323] được tăng cường, phạm vi kinh nghiệm qua tiếp xúc với một môi trường ngày càng mở rộng trở nên khả hữu, dẫn đến những sự mở rộng tâm thức liên tiếp mà trong các giai đoạn sau được gọi là các điểm đạo, khi được trải qua một cách có ý thức và rõ ràng do chính mình khởi xướng. Như thế trường ảnh hưởng của linh hồn được mở rộng đều đặn. Trong khi hoạt động linh hồn này đang tiến hành, một hoạt động song song trong chất liệu vật chất cũng đang diễn ra, hoạt động này đều đặn nâng phương diện âm của vật chất hay chất liệu lên đáp ứng các đòi hỏi dương của linh hồn. Các vận cụ biểu lộ, bộ máy biểu hiện và các trung tâm kinh nghiệm được cải thiện khi tâm thức mở rộng và đào sâu.

From the standpoint of psychology, this means that the glandular equipment, the physical apparatus, and the response instrument become increasingly efficient, whilst an inner coordination and integration proceeds apace. The dilemma of the psychologist today is largely due to the fact that the law of rebirth is not yet recognised scientifically or among the intelligentsia. He is therefore faced with the problems of the inequalities in the physical equipment, everywhere prevalent. There is a widespread failure to recognise the underlying cause which is responsible for the “appearance”, for the mechanism. There is, therefore, no scientific proof (as the word is understood at this time) of the field of experience. There is—in time and space—no synthesis (esoterically understood) permitted, but simply the isolated appearance of a human being, making up hosts of human beings, variously equipped, greatly limited by that equipment, and faced also with an environment which seems antagonistic, lacking inner synthesis, coordination and integration, except in the case of the highly intelligent and deeply spiritual people, those who are definitely functioning souls. For these latter, the average psychologist has no adequate explanation.

Từ quan điểm của tâm lý học, điều này có nghĩa là bộ máy tuyến nội tiết, khí cụ hồng trần, và công cụ đáp ứng trở nên ngày càng hữu hiệu hơn, trong khi một sự phối hợp và tích hợp nội tại tiến triển nhanh chóng. Thế lưỡng nan của nhà tâm lý học ngày nay phần lớn là do sự kiện rằng định luật tái sinh chưa được công nhận một cách khoa học hay trong giới trí thức. Vì vậy y phải đối diện với các vấn đề về những bất bình đẳng trong khí cụ hồng trần, vốn phổ biến khắp nơi. Có một sự thất bại lan rộng trong việc nhận ra nguyên nhân nền tảng chịu trách nhiệm cho “sắc tướng”, cho bộ máy. Vì vậy, không có bằng chứng khoa học nào (theo cách từ này được hiểu vào lúc này) về trường kinh nghiệm. Không có—trong thời gian và không gian—một sự tổng hợp nào (được hiểu theo huyền bí học) được cho phép, mà chỉ đơn giản là sắc tướng cô lập của một con người, hợp thành vô số con người, được trang bị khác nhau, bị giới hạn rất nhiều bởi chính khí cụ ấy, và cũng phải đối diện với một môi trường dường như đối kháng, thiếu sự tổng hợp, phối hợp và tích hợp nội tại, ngoại trừ trong trường hợp của những người có trí tuệ cao và tinh thần sâu sắc, những người rõ ràng đang hoạt động như các linh hồn. Đối với những người sau này, nhà tâm lý học trung bình không có lời giải thích thích đáng nào.

[324]

[324]

The integration of an individual into his environment is proceeding apace, and the psychological adjustment of man to his field of experience will steadily improve. Upon this, humanity can count, and to this, the history of man’s development as a knowing being testifies. But the integration of the human being into time has not been accomplished and even this statement will be little understood. Man’s origin and his goal remain largely unconsidered, and he is studied from the angle of this one short life, and from the point of view of his present equipment. Until he is integrated into time as well as into his environment and until the Law of Rebirth is admitted as the most likely hypothesis, there will be no real understanding of the process of evolution, of the relationships of individuals, and the nature of the unfoldment of the equipment. There will be no true wisdom. Knowledge comes, as the individual integrates into his environment. Wisdom comes as he becomes coordinated into the processes of time. The mechanism is related to the environment, and is the apparatus of contact and the means through which the experiencing soul arrives at a full awareness of the field of knowledge. This soul is the identity—which is time—conscious in the true sense of the word, and which views the period of manifestation as a whole, gaining thus a sense of proportion, an understanding of values and an inner sense of synthesis.

Sự tích hợp của một cá nhân vào môi trường của mình đang tiến triển nhanh chóng, và sự điều chỉnh tâm lý của con người đối với trường kinh nghiệm của mình sẽ đều đặn được cải thiện. Nhân loại có thể trông cậy vào điều này, và lịch sử phát triển của con người như một hữu thể biết đã làm chứng cho điều đó. Nhưng sự tích hợp của con người vào thời gian thì chưa được hoàn tất, và ngay cả phát biểu này cũng sẽ ít được thấu hiểu. Nguồn gốc và mục tiêu của con người phần lớn vẫn không được xem xét, và con người được nghiên cứu từ góc độ của một đời sống ngắn ngủi này, cũng như từ quan điểm về bộ máy hiện tại của mình. Chừng nào y chưa được tích hợp vào thời gian cũng như vào môi trường của mình, và chừng nào Định luật Tái Sinh chưa được thừa nhận như giả thuyết có nhiều khả năng nhất, thì sẽ không có sự thấu hiểu thực sự nào về tiến trình tiến hoá, về các mối liên hệ giữa các cá nhân, và về bản chất của sự khai mở của bộ máy. Sẽ không có minh triết chân chính. Tri thức đến khi cá nhân tích hợp vào môi trường của mình. Minh triết đến khi y trở nên phối hợp với các tiến trình của thời gian. Bộ máy liên hệ với môi trường, và là khí cụ tiếp xúc cùng phương tiện nhờ đó linh hồn đang kinh nghiệm đi đến sự nhận biết đầy đủ về trường tri thức. Linh hồn này là bản sắc—vốn có ý thức về thời gian theo ý nghĩa chân thực của từ ấy—và nhìn giai đoạn biểu hiện như một toàn thể, nhờ đó đạt được Ý thức về tỉ lệ, sự thấu hiểu các giá trị và một cảm nhận nội tại về tổng hợp.

Little by little the triple mechanism is developed and the centre of experience expands in knowledge. Today this knowledge is of a very high order, and the world is full of personalities. Supplementing our earlier definitions, a personality might be simply defined as:

Từng chút một, cơ chế tam phân được phát triển và trung tâm kinh nghiệm mở rộng trong tri thức. Ngày nay tri thức này thuộc một trật tự rất cao, và thế giới đầy những phàm ngã. Bổ sung cho các định nghĩa trước đây của chúng ta, một phàm ngã có thể được định nghĩa đơn giản là:

a. An equipment which is becoming adequate in three directions of contact. The experiencing soul can now begin to use the instrument effectively.

a. Một bộ máy đang trở nên thích đáng trong ba hướng tiếp xúc. Linh hồn đang kinh nghiệm giờ đây có thể bắt đầu sử dụng khí cụ một cách hữu hiệu.

[325]

[325]

b. An expression of the creative power of the soul which is ready to transmute knowledge into wisdom.

b. Một biểu hiện của quyền năng sáng tạo của linh hồn, sẵn sàng chuyển hoá tri thức thành minh triết.

c. An incarnate soul, which is now ready to work consciously with the time factor, for, having learned how to work with the factor of environment, the soul can now begin to control circumstances and environment from the standpoint of time. This means, in the first instance, the right use of time and opportunity and then the establishing of continuity of consciousness.

c. Một linh hồn nhập thể, giờ đây đã sẵn sàng làm việc một cách hữu thức với yếu tố thời gian, vì sau khi đã học cách làm việc với yếu tố môi trường, linh hồn giờ đây có thể bắt đầu kiểm soát hoàn cảnh và môi trường từ quan điểm của thời gian. Điều này trước hết có nghĩa là sử dụng đúng thời gian và cơ hội, rồi sau đó thiết lập sự liên tục của tâm thức.

It is not my intention to deal with the building of the various bodies. I seek here to generalise and to take up the theme from the point of attainment of modern humanity. Hints are given in A Treatise on Cosmic Fire which, if duly studied, will serve to elucidate the early problem of the soul’s impulse to creation. We will, therefore, accept the fact of the initial creation of the forms, based upon the wish or desire to manifest, and proceed with our theme along the idea of experience, expression, and expansion, dealing with modern man and his problems from the standpoint of the psychological development of his problems.

Tôi không có ý định bàn đến việc xây dựng các thể khác nhau. Ở đây tôi tìm cách khái quát hóa và nêu chủ đề từ điểm thành tựu của nhân loại hiện đại. Những gợi ý được đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ, nếu được nghiên cứu đúng mức, sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề ban đầu về xung lực sáng tạo của linh hồn. Vì vậy, chúng ta sẽ chấp nhận sự kiện về sự sáng tạo ban đầu của các hình tướng, dựa trên ước muốn hay ham muốn biểu hiện, và tiếp tục chủ đề của chúng ta theo ý niệm về kinh nghiệm, biểu hiện, và mở rộng, đề cập đến con người hiện đại và các vấn đề của y từ quan điểm của sự phát triển tâm lý của các vấn đề ấy.

c. INTER-RELATIONS OF THE PERSONALITY LIFE— CÁC MỐI TƯƠNG LIÊN CỦA ĐỜI SỐNG PHÀM NGÃ

In dealing now with the esoteric aspect of the appropriation of the vehicles through which a manifesting Son of God can express himself, it is impossible to avoid the use of some form of symbolic rendering of words. So long, however, as the student remembers that they are symbolic, there is no real danger of a basic misunderstanding. The analytical, intelligent mind uses forms of speech in order to limit the concept intuited within terms which can be comprehended, and abstract ideas are thereby brought down to the level of the understanding.

Giờ đây, khi bàn đến phương diện huyền bí của việc chiếm hữu các vận cụ mà qua đó một Con của Thượng đế đang biểu hiện có thể tự biểu lộ, không thể tránh khỏi việc sử dụng một hình thức diễn đạt bằng lời có tính biểu tượng nào đó. Tuy nhiên, chừng nào đạo sinh còn nhớ rằng chúng có tính biểu tượng, thì không có nguy cơ thực sự nào về một sự hiểu lầm căn bản. Trí tuệ phân tích, thông minh sử dụng các hình thức ngôn từ để giới hạn khái niệm được trực giác cảm nhận trong những thuật ngữ có thể được lĩnh hội, và nhờ đó các ý tưởng trừu tượng được hạ xuống mức độ của sự thấu hiểu.

[326]

[326]

We have seen that our major consideration must be that of the soul as a centre of consciousness and of the bodies as a centre of experience, and with this postulate we lay the foundation for our future psychological investigations. We are not here dealing with the question of why this is so, or of how it may have come about. We accept the statement as basic and fundamental, and take our stand upon the premise that the nature of life in the world is experience-gaining, because we see this happening around us on every side and can note it occurring in our own lives.

Chúng ta đã thấy rằng điều xem xét chủ yếu của chúng ta phải là linh hồn như một trung tâm tâm thứccác thể như một trung tâm kinh nghiệm, và với định đề này chúng ta đặt nền tảng cho các khảo cứu tâm lý tương lai của mình. Ở đây chúng ta không bàn đến câu hỏi tại sao điều này lại như vậy, hay nó có thể đã xảy ra như thế nào. Chúng ta chấp nhận phát biểu ấy như điều căn bản và nền tảng, và đứng trên tiền đề rằng bản chất của sự sống trong thế giới là thu đạt kinh nghiệm, bởi vì chúng ta thấy điều này đang diễn ra quanh mình ở khắp mọi phía và có thể nhận thấy nó xảy ra trong chính đời sống của mình.

We can divide people into three groups:

Chúng ta có thể chia con người thành ba nhóm:

1. Those who are unconsciously gaining experience, but are at the same time so engrossed with the processes of the results of experiencing, that they remain unaware of the deeper objectives.

1. Những người đang vô thức thu đạt kinh nghiệm, nhưng đồng thời lại quá mải mê với các tiến trình của những kết quả do kinh nghiệm đem lại đến nỗi họ vẫn không nhận biết các mục tiêu sâu xa hơn.

2. Those who are dimly awakening to the fact that adaptation to the ways of living to which they are subjected, and from which there seems no escape, means for them the learning of some lesson which

2. Những người đang mơ hồ thức tỉnh trước sự kiện rằng việc thích nghi với những lối sống mà họ phải chịu và dường như không thể thoát khỏi, có nghĩa đối với họ là học một bài học nào đó, bài học ấy

a. Enriches their lives, usually in the practical and material sense.

a. Làm phong phú đời sống của họ, thường là theo nghĩa thực tiễn và vật chất.

b. Intensifies their sensitive perception.

b. Làm tăng cường sự nhận cảm nhạy bén của họ.

c. Permits of the development of quality and the steady acquiring of characteristics, facilities and capacities.

c. Cho phép phát triển phẩm tính và đều đặn thu đạt các đặc tính, khả năng thuận lợi và năng lực.

3. Those who are awakened to the purpose of experience, and who are consequently bringing to every event an intelligent power to extract from the happenings to which they are subjected some gain to the life of the soul. They have learnt to regard the environment in which they find themselves as the place of purification and the field of their planned service.

3. Những người đã thức tỉnh trước mục đích của kinh nghiệm, và do đó đang mang đến cho mọi biến cố một năng lực thông minh để rút ra từ những sự việc mà họ phải trải qua một lợi ích nào đó cho đời sống của linh hồn. Họ đã học cách xem môi trường mà họ đang ở trong đó như nơi thanh luyện và là cánh đồng phụng sự đã được hoạch định của họ.

[327]

[327]

This is a rough and broad generalisation, but it accounts for human experience and consequent attitudes in the three major groupings.

Đây là một sự khái quát hóa thô sơ và rộng lớn, nhưng nó giải thích kinh nghiệm của con người và các thái độ hệ quả trong ba nhóm lớn.

It is of interest to bear in mind that the process of the appropriation of the bodies, presents similar stages with respect to the evolution of the form and to the evolution of the indwelling life. In the history of the material aspect of manifestation, there have been (as the occult books teach) the following stages:

Điều đáng lưu ý là tiến trình chiếm hữu các thể cũng trình bày những giai đoạn tương tự xét theo sự tiến hoá của hình tướng và sự tiến hoá của sự sống nội tại. Trong lịch sử của phương diện vật chất của biểu hiện, đã có (như các sách huyền bí dạy) những giai đoạn sau đây:

1. The stage of involution, or of appropriation, and of construction of the vehicles of expression upon the downward arc, where the emphasis is upon the building, growth and appropriation of the bodies, and not so much upon the indwelling, conscious Entity.

1. Giai đoạn giáng hạ tiến hoá, hay chiếm hữu, và kiến tạo các vận cụ biểu hiện trên cung đi xuống, trong đó trọng tâm đặt vào việc xây dựng, tăng trưởng và chiếm hữu các thể, chứ không đặt nhiều vào Thực Thể hữu thức nội tại.

2. The stage of evolution, or of refinement and the development of quality, leading to liberation upon the upward arc.

2. Giai đoạn tiến hoá, hay tinh luyện và phát triển phẩm tính, dẫn đến giải thoát trên cung đi lên.

It is the same in the psychological history of the human being. There too we find a somewhat similar process, divided into two stages, marking the involution and the evolution of consciousness.

Trong lịch sử tâm lý của con người cũng vậy. Ở đó chúng ta cũng thấy một tiến trình phần nào tương tự, được chia thành hai giai đoạn, đánh dấu sự giáng hạ tiến hoá và sự tiến hoá của tâm thức.

Hitherto in the occult books (as I earlier pointed out) the emphasis has been upon the development of the form side of life, and upon the nature and quality of that form as it responds, upon different levels of the planetary life, to the impact of the environment in the early stages and to the impress of the soul at the later stages. In this Treatise with which we are now engaged, our primary aim is to point out the effect upon the soul of the experiences undergone in the bodies, and the process whereby the consciousness aspect of divinity is expanded, culminating as it does in what is technically called an initiation. Each of the two major divisions [328] of this process—involution and evolution—could be divided into six definite expansions of consciousness. Those upon the upward arc differ from those upon the downward arc in objective and motive and in scope, and are essentially sublimations of the lower aspects of the unfoldment of consciousness. These six stages might be called:

Cho đến nay trong các sách huyền bí (như tôi đã chỉ ra trước đây), trọng tâm được đặt vào sự phát triển của mặt hình tướng của sự sống, và vào bản chất cùng phẩm tính của hình tướng ấy khi nó đáp ứng, trên các cấp độ khác nhau của sự sống hành tinh, với tác động của môi trường trong các giai đoạn đầu và với ấn tượng của linh hồn trong các giai đoạn sau. Trong bộ Luận này mà hiện nay chúng ta đang nghiên cứu, mục đích chính của chúng ta là chỉ ra ảnh hưởng đối với linh hồn của những kinh nghiệm trải qua trong các thể, và tiến trình nhờ đó phương diện tâm thức của thiên tính được mở rộng, đạt đỉnh điểm trong điều mà về mặt kỹ thuật được gọi là một lần điểm đạo. Mỗi một trong hai phân bộ lớn [328] của tiến trình này—giáng hạ tiến hoá và tiến hoá—đều có thể được chia thành sáu sự mở rộng tâm thức xác định. Những sự mở rộng trên cung đi lên khác với những sự mở rộng trên cung đi xuống về mục tiêu, động cơ và phạm vi, và về bản chất là những sự thăng hoa của các phương diện thấp hơn của sự khai mở tâm thức. Sáu giai đoạn này có thể được gọi là:

1. The stage of Appropriation.

1. Giai đoạn Chiếm hữu.

2. The stage of Aspiration.

2. Giai đoạn Khát vọng.

3. The stage of Approach.

3. Giai đoạn Tiếp cận.

4. The stage of Appearance.

4. Giai đoạn Sắc tướng.

5. The stage of Activity.

5. Giai đoạn Hoạt động.

6. The stage of Ambition.

6. Giai đoạn Tham vọng.

Each stage, when at its height of expression, involves a period of crisis. This crisis precedes the unfoldment of the next stage in the conscious awakening of man. We here are viewing Man as a conscious thinker, and not man as a member of the fourth kingdom in nature. Ponder upon this distinction, for it marks the points of emphasis and the focus of the identification.

Mỗi giai đoạn, khi đạt đến đỉnh cao biểu hiện của nó, đều bao hàm một thời kỳ khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng này đi trước sự khai mở của giai đoạn kế tiếp trong sự thức tỉnh hữu thức của con người. Ở đây chúng ta đang nhìn Con Người như một tư tưởng gia hữu thức, chứ không phải con người như một thành viên của giới thứ tư trong thiên nhiên. Hãy suy ngẫm về sự phân biệt này, vì nó đánh dấu các điểm nhấn mạnh và tiêu điểm của sự đồng hoá.

In the first stage of appropriation, we have the soul or the conscious thinker (the divine son of God, or manasaputra) doing three things:

Trong giai đoạn đầu của sự chiếm hữu, chúng ta có linh hồn hay tư tưởng gia hữu thức (con thiêng liêng của Thượng đế, hay manasaputra) làm ba việc:

1. Consciously registering the desire to incarnate. This is the will to exist or the will-to-be upon the physical plane.

1. Hữu thức ghi nhận khát vọng nhập thể. Đây là ý chí hiện hữu hay ý chí-tồn tại trên cõi hồng trần.

2. Consciously focussing attention on the processes involved in the decision to “make an appearance”.

2. Hữu thức tập trung sự chú ý vào các tiến trình liên quan đến quyết định “xuất hiện”.

3. Consciously taking the necessary steps to appropriate the needed substance through which to appear and thereby satisfy the demand for existence.

3. Hữu thức thực hiện những bước cần thiết để chiếm hữu chất liệu cần dùng mà qua đó xuất hiện và nhờ vậy thỏa mãn đòi hỏi được hiện hữu.

With these processes, formulated as theories, we are familiar. The speculations and pronouncements of teachers everywhere, [329] and down the ages, have familiarised us with the many symbolic ways of dealing with these matters. Upon them there is no need to enlarge. The whole series of events involved in the decision are to be considered here only from the angle of consciousness and of a defined involutionary procedure.

Với những tiến trình này, được hình thành thành các lý thuyết, chúng ta đã quen thuộc. Những suy đoán và những tuyên bố của các huấn sư ở khắp nơi, [329] qua các thời đại, đã làm cho chúng ta quen thuộc với nhiều cách biểu tượng để bàn đến các vấn đề này. Không cần phải nói rộng thêm về chúng. Toàn bộ chuỗi biến cố liên quan đến quyết định này ở đây chỉ được xem xét từ góc độ tâm thức và của một thủ tục giáng hạ tiến hoá xác định.

The second stage of aspiration concerns the aspiration or the desire of the soul to appear, and brings the consciousness down on to what we call the astral plane. The inclination of the soul is towards that which is material. We must not forget this fact. We have been apt to regard aspiration as the consummation or the transmutation of desire. However, in the last analysis, it might be said that aspiration is the basis or root of all desire and that we have only used the word “desire” to signify aspiration which has a natural object in the consciousness of man, confining the word “aspiration” to that transmuted desire which makes the soul the fixed objective in the life of the man in incarnation. But all phases of desire are essentially forms of aspiration and, on the involutionary arc, aspiration shows itself as the desire of the soul to experience in consciousness those processes which will make it conscious and dynamic in the world of human affairs.

Giai đoạn thứ hai của khát vọng liên quan đến khát vọng hay ham muốn của linh hồn muốn xuất hiện, và đưa tâm thức xuống điều mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. Khuynh hướng của linh hồn hướng về điều có tính vật chất. Chúng ta không được quên sự kiện này. Chúng ta vốn có khuynh hướng xem khát vọng như sự hoàn tất hay sự chuyển hoá của ham muốn. Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng, có thể nói rằng khát vọng là nền tảng hay gốc rễ của mọi ham muốn, và rằng chúng ta chỉ dùng từ “ham muốn” để chỉ khát vọng có một đối tượng tự nhiên trong tâm thức của con người, còn giới hạn từ “khát vọng” vào ham muốn đã được chuyển hoá khiến linh hồn trở thành mục tiêu cố định trong đời sống của con người đang lâm phàm. Nhưng mọi giai đoạn của ham muốn về bản chất đều là những hình thức của khát vọng, và trên cung giáng hạ tiến hoá, khát vọng biểu lộ như ham muốn của linh hồn được kinh nghiệm trong tâm thức những tiến trình sẽ làm cho nó trở nên hữu thức và năng động trong thế giới của các công việc nhân loại.

When this conscious realisation is established and the soul has appropriated a form upon the mental plane through the will to exist, and one also upon the astral plane through aspiration, then the third stage of approach takes place upon etheric levels. The consciousness becomes focussed there, preparatory to the intense crisis of “appearing”, and there takes place what might be regarded as a ranging or a gathering of all the forces of the consciousness in order to force the issue and thus emerge into manifestation. This is a vital moment in consciousness; it is a period of vital preparation for a great spiritual event—the coming into incarnation of a son of God. [330] This involves the taking of a dense physical body which will act either as a complete prison for the soul or as a “form for revelation”, as it has been called, in the cases of those advanced men whom we regard as the revealed sons of God.

Khi sự chứng nghiệm hữu thức này được thiết lập và linh hồn đã chiếm hữu một hình tướng trên cõi trí nhờ ý chí hiện hữu, và một hình tướng khác trên cõi cảm dục nhờ khát vọng, thì giai đoạn thứ ba của sự tiếp cận diễn ra trên các cấp dĩ thái. Tâm thức trở nên tập trung ở đó, để chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng mãnh liệt của việc “xuất hiện”, và diễn ra điều có thể được xem như một sự dàn xếp hay tập hợp tất cả các mãnh lực của tâm thức nhằm thúc đẩy vấn đề và nhờ đó xuất hiện vào biểu hiện. Đây là một khoảnh khắc sống còn trong tâm thức; đó là một thời kỳ chuẩn bị sống động cho một biến cố tinh thần lớn lao—sự lâm phàm của một Con của Thượng đế. [330] Điều này bao hàm việc nhận lấy một thể xác đậm đặc, thể này sẽ hoạt động hoặc như một nhà tù hoàn toàn cho linh hồn hoặc như một “hình tướng để mặc khải”, như đã được gọi trong trường hợp của những người tiến hoá cao mà chúng ta xem là các con được mặc khải của Thượng đế.

The crisis of approach is one of the most important and one of the least understood of the various stages. Students should find it of interest to make a comparative study of the approaches which have previously been mentioned in connection with such episodes in human history as those occurring at the time of the Wesak Full Moon. There is a close underlying relationship between the approaches upon the path of involution and those upon the path of evolution, and also between those taken by an individual and those by a group.

Cuộc khủng hoảng của sự tiếp cận là một trong những giai đoạn quan trọng nhất và cũng là một trong những giai đoạn ít được thấu hiểu nhất. Đạo sinh nên thấy thú vị khi thực hiện một nghiên cứu so sánh về những sự tiếp cận đã được nhắc đến trước đây liên hệ với những giai đoạn như các biến cố xảy ra vào lúc Trăng Tròn Wesak trong lịch sử nhân loại. Có một mối liên hệ nền tảng chặt chẽ giữa những sự tiếp cận trên con đường giáng hạ tiến hoá và những sự tiếp cận trên con đường tiến hoá, cũng như giữa những sự tiếp cận của một cá nhân và của một nhóm.

Then, when the gathering of forces during the stage of approach is consummated, the fourth stage takes place, that of appearance, and the man emerges into the light of day and runs his little cycle upon the physical plane, developing increased sensitivity in consciousness, through the medium of experience gained through the processes of life in a physical body. After appearing in form, he becomes (with each new appearance) increasingly active and alive and awake, and the stage of activity grows in intensity until the consciousness of the man is swept by ambition.

Rồi khi sự tập hợp các mãnh lực trong giai đoạn tiếp cận được hoàn tất, giai đoạn thứ tư diễn ra, đó là giai đoạn sắc tướng, và con người xuất hiện trong ánh sáng ban ngày và vận hành chu kỳ nhỏ bé của mình trên cõi hồng trần, phát triển sự nhạy cảm gia tăng trong tâm thức, qua trung gian của kinh nghiệm thu đạt được nhờ các tiến trình của đời sống trong một thể xác. Sau khi xuất hiện trong hình tướng, y trở nên (với mỗi lần xuất hiện mới) ngày càng hoạt động hơn, sống động hơn và tỉnh thức hơn, và giai đoạn hoạt động tăng cường độ cho đến khi tâm thức của con người bị cuốn vào bởi tham vọng.

The two final stages of activity and of ambition are those covered by the ordinary man and dealt with by the ordinary psychologist. This is itself of interest, because it shows how very little of the life of the real man, of the conscious thinking Being is touched by the orthodox, exoteric psychologist. The four stages of man’s development which lie behind his active appearance upon the physical plane are not considered at all. The intensity of the process of approach which preceded that appearance is not dealt with, yet it is basically a determining factor. But this activity upon the physical plane [331] and the nature of his desire life (which is only translated into terms of ambition later on in his life experience) are the dominant factors to be considered. It is, of course, exceedingly difficult for there to be a true understanding of man until the theory of rebirth is admitted and man is accounted for in terms of a long preceding history. In this age of intensest separative thinking and attitudes, it is the individual life of the individual man, separate in time and space from all that has gone before, and from all that surrounds him in the present, which is considered as of importance and as constituting a man. Man, as an expression of a soul process, is not dealt with in any way.

Hai giai đoạn cuối cùng là hoạt động và tham vọng là những giai đoạn thuộc về con người bình thường và được nhà tâm lý học thông thường đề cập đến. Điều này tự nó đã đáng chú ý, vì nó cho thấy rất ít phần của đời sống của con người thực, của Hữu thể tư duy hữu thức, được nhà tâm lý học chính thống, ngoại môn chạm đến. Bốn giai đoạn phát triển của con người nằm phía sau sự xuất hiện hoạt động của y trên cõi hồng trần hoàn toàn không được xem xét. Cường độ của tiến trình tiếp cận đã đi trước sự xuất hiện ấy không được bàn đến, tuy nhiên về căn bản nó là một yếu tố quyết định. Nhưng hoạt động này trên cõi hồng trần [331] và bản chất của đời sống ham muốn của y (về sau trong kinh nghiệm sống của y chỉ được chuyển dịch thành những thuật ngữ của tham vọng) lại là những yếu tố chi phối được xem xét. Dĩ nhiên, vô cùng khó có thể có một sự thấu hiểu chân thực về con người cho đến khi lý thuyết tái sinh được thừa nhận và con người được giải thích theo những thuật ngữ của một lịch sử dài đã đi trước. Trong thời đại của tư tưởng và thái độ phân ly mãnh liệt nhất này, chính đời sống cá nhân của cá nhân con người, tách biệt trong thời gian và không gian khỏi tất cả những gì đã đi trước, và khỏi tất cả những gì bao quanh y trong hiện tại, được xem là quan trọng và là điều cấu thành nên một con người. Con người, như một biểu hiện của một tiến trình linh hồn, hoàn toàn không được đề cập đến.

Thus we have the stages succeeding each other from the initial appropriation upon the mental plane until the man, in consciousness, has worked his way down through the planes and back again to the mental plane, which brings him to the stage of the coordination of the personality, and the emergence into full expression of what we call the personality ray. Life after life takes place. Again and again, the soul incarnates and, in consciousness, passes through the stages outlined above. But gradually a higher sense of values supervenes; there comes a period when desire for material experience and for ambitious personality satisfactions begins to fade out; newer and better values and higher standards of thought and desire begin slowly to appear.

Như vậy chúng ta có các giai đoạn nối tiếp nhau từ sự chiếm hữu ban đầu trên cõi trí cho đến khi con người, trong tâm thức, đã đi xuống qua các cõi rồi trở lại cõi trí, điều này đưa y đến giai đoạn phối hợp của phàm ngã, và sự xuất hiện vào biểu hiện đầy đủ của điều mà chúng ta gọi là cung phàm ngã. Hết đời này sang đời khác diễn ra. Hết lần này đến lần khác, linh hồn nhập thể và, trong tâm thức, đi qua các giai đoạn đã được phác họa ở trên. Nhưng dần dần một ý thức cao hơn về các giá trị xuất hiện; đến một thời kỳ khi ham muốn kinh nghiệm vật chất và những thỏa mãn đầy tham vọng của phàm ngã bắt đầu phai nhạt; những giá trị mới hơn và tốt đẹp hơn cùng những tiêu chuẩn cao hơn của tư tưởng và ham muốn bắt đầu chậm rãi xuất hiện.

The consciousness aspect then passes through all the stages upon which we have touched but in reverse order, and this time upon the upward arc, corresponding to the evolutionary stage in the great cycle of natural processes, concerned with the form life. It expands slowly from the consciousness of ambition through activity and the succeeding unfoldments, to the stage of approach to the divine reality upon the mental plane and that of the final appropriation, wherein [332] the consciousness of man, becomes merged in that of the soul upon its own level, and finally appropriates in full awareness (if one can use so paradoxical a phrase) the One.

Khi đó phương diện tâm thức đi qua tất cả các giai đoạn mà chúng ta đã đề cập nhưng theo thứ tự ngược lại, và lần này trên cung đi lên, tương ứng với giai đoạn tiến hoá trong chu kỳ lớn của các tiến trình tự nhiên liên quan đến đời sống hình tướng. Nó chậm rãi mở rộng từ tâm thức của tham vọng qua hoạt động và các sự khai mở kế tiếp, đến giai đoạn tiếp cận thực tại thiêng liêng trên cõi trí và giai đoạn chiếm hữu cuối cùng, trong đó [332] tâm thức của con người hòa nhập vào tâm thức của linh hồn trên cấp độ riêng của nó, và cuối cùng chiếm hữu một cách hoàn toàn tỉnh thức (nếu có thể dùng một cụm từ nghịch lý như vậy) Đấng Duy Nhất.

When the consciousness of the soul, incarnate in a human form, arrives at a realisation of the futility of material ambition, it marks a high stage of personality integration and precedes a period of change or of a shift in activity. During this second stage upon the Path of Return, the shift of the consciousness is away from the physical body altogether, into the etheric or vital body, and from thence into the astral body. There duality is sensed and the battle of the pairs of opposites takes place. The disciple makes his appearance as Arjuna. Only after the battle and only when Arjuna has made his fateful decisions, is it possible for him to make his approach upon the mental plane to the soul. This he does by

Khi tâm thức của linh hồn, nhập thể trong hình tướng con người, đi đến chỗ chứng nghiệm sự vô ích của tham vọng vật chất, điều đó đánh dấu một giai đoạn cao của sự tích hợp phàm ngã và đi trước một thời kỳ thay đổi hay chuyển dịch trong hoạt động. Trong giai đoạn thứ hai này trên Con Đường Trở Về, sự chuyển dịch của tâm thức rời hẳn khỏi thể xác, vào thể dĩ thái hay thể sinh lực, và từ đó vào thể cảm dục. Ở đó nhị nguyên tính được cảm nhận và cuộc chiến của các cặp đối nghịch diễn ra. Đệ tử thực hiện sự xuất hiện của mình như Arjuna. Chỉ sau cuộc chiến và chỉ khi Arjuna đã đưa ra những quyết định định mệnh của mình, y mới có thể thực hiện sự tiếp cận của mình trên cõi trí đến linh hồn. Điều này y làm bằng cách

1. Realising himself as a soul and not as the form. This involves a process of what is called “divine reflection”, which works out in two ways. The soul now begins definitely to reject the form, and the man, through whom the soul is experiencing and expressing itself, is himself rejected by the world in which he lives.

1. Chứng nghiệm mình là một linh hồn chứ không phải là hình tướng. Điều này bao hàm một tiến trình của điều được gọi là “sự phản chiếu thiêng liêng”, tiến trình này biểu hiện theo hai cách. Linh hồn giờ đây bắt đầu dứt khoát khước từ hình tướng, và con người, qua đó linh hồn đang kinh nghiệm và biểu hiện chính nó, cũng bị chính thế giới mà y đang sống trong đó khước từ.

2. Discovering the group to which he belongs, blocking his way of approach until he discovers the way of approach by service.

2. Khám phá nhóm mà y thuộc về, nhóm này chặn lối tiếp cận của y cho đến khi y khám phá ra con đường tiếp cận bằng phụng sự.

3. Identifying himself with his group upon his own ray and so earning the right to make his approach, because he has learnt the lesson that “he travels not alone”.

3. Đồng hoá mình với nhóm của mình trên cung riêng của y và nhờ đó đạt được quyền thực hiện sự tiếp cận, bởi vì y đã học được bài học rằng “y không du hành một mình”.

Then comes that peculiar stage of transcendent aspiration, wherein desire for individual experience is lost and only the longing to function as a conscious part of the greater Whole remains. Then and only then can the conscious soul appropriate the “body of light and of splendour, the expression of [333] the glory of the One” which, when once assumed, makes all future incarnations in the three worlds impossible, except as an act of the spiritual will. The significance of the above may be found difficult of comprehension for it is one of the mysteries of a higher initiation.

Rồi đến giai đoạn đặc biệt của khát vọng siêu việt, trong đó ham muốn về kinh nghiệm cá nhân mất đi và chỉ còn lại sự khao khát được hoạt động như một phần hữu thức của Toàn Thể lớn lao hơn. Khi đó và chỉ khi đó linh hồn hữu thức mới có thể chiếm hữu “thể ánh sáng và huy hoàng, biểu hiện của [333] vinh quang của Đấng Duy Nhất” mà một khi đã khoác lấy, sẽ làm cho mọi lần nhập thể tương lai trong ba cõi thấp trở nên bất khả, ngoại trừ như một hành động của ý chí tinh thần. Ý nghĩa của điều trên có thể khó lĩnh hội vì đó là một trong những huyền nhiệm của một lần điểm đạo cao hơn.

Therefore, it will be seen that we begin and we end with an expansion of consciousness. The first one led to the inclusion of the material world, and the second one includes or appropriates, consciously and intelligently, the spiritual world. We see the desire consciousness transmuted into aspiration for the spiritual realities and the focussed, vital approach to the kingdom of God. We see the appearance on the physical plane of the imprisoned consciousness, limited and confined for purposes of defined, intelligent development, within an evolving form, and the final emergence upon the mental plane of the enriched, released consciousness into the full freedom of the Mind of God. We see the activity of the conscious mind of man slowly expanding and intensifying, until it becomes the activity of the illumined mind, reflecting the divine consciousness of the soul. We see the ambition of the conscious man transformed at first into the spiritual ambition of the pledged disciple and finally into the expression of the Will of God or of the Monad, in the initiate.

Vì vậy, cần lưu ý rằng chúng ta bắt đầu và kết thúc bằng một sự mở rộng tâm thức. Sự mở rộng thứ nhất dẫn đến việc bao gồm thế giới vật chất, và sự mở rộng thứ hai bao gồm hay chiếm hữu, một cách hữu thức và thông minh, thế giới tinh thần. Chúng ta thấy tâm thức ham muốn được chuyển hoá thành khát vọng đối với các thực tại tinh thần và sự tiếp cận nhất tâm, sống động đến Thiên Giới. Chúng ta thấy sự xuất hiện trên cõi hồng trần của tâm thức bị giam hãm, bị giới hạn và bị cầm giữ vì những mục đích phát triển xác định, thông minh, bên trong một hình tướng đang tiến hoá, và sự xuất hiện cuối cùng trên cõi trí của tâm thức đã được làm phong phú và giải thoát vào sự tự do trọn vẹn của Trí của Thượng đế. Chúng ta thấy hoạt động của trí tuệ hữu thức của con người chậm rãi mở rộng và tăng cường cho đến khi nó trở thành hoạt động của trí tuệ được soi sáng, phản chiếu tâm thức thiêng liêng của linh hồn. Chúng ta thấy tham vọng của con người hữu thức trước hết được chuyển đổi thành tham vọng tinh thần của người đệ tử đã cam kết và cuối cùng thành biểu hiện của Ý Chí của Thượng Đế hay của chân thần, nơi điểm đạo đồ.

Thus the three aspects of divinity are released upon earth through the medium of an incarnated and fully developed consciousness, that of a Son of God. From the conscious appropriation of form back again to the conscious appropriation of divinity is the work carried forward and the plan of Deity worked out. Laying the ground, as we are now proposing to do, for the study of integration in connection with the human being, it will not be necessary for us to deal in detail with the many phases of the various stages we have been considering. Thousands of human beings, indeed perhaps millions, will [334] be found on our planet, at any one time, who will illustrate in their lives and activities some one point or other upon the downward or the upward arc. For the majority, the expert assistance of the modern trained educator and psychologist, the churchman or the physician, will suffice to give the needed aid, particularly when three happenings eventuate, which will inevitably be the case before so many decades have gone by:

Như vậy ba phương diện của thiên tính được giải phóng trên trần gian qua trung gian của một tâm thức nhập thể và phát triển đầy đủ, tức tâm thức của một Con của Thượng đế. Từ sự chiếm hữu hình tướng một cách hữu thức cho đến sự chiếm hữu thiên tính một cách hữu thức trở lại là công việc được tiếp tục và kế hoạch của Thượng đế được thực hiện. Khi đặt nền tảng, như hiện nay chúng ta đang dự định làm, cho việc nghiên cứu sự tích hợp liên hệ với con người, sẽ không cần thiết để chúng ta bàn chi tiết về nhiều giai đoạn của các chặng khác nhau mà chúng ta đã xem xét. Hàng ngàn con người, thật vậy có lẽ hàng triệu, sẽ [334] được tìm thấy trên hành tinh của chúng ta, vào bất kỳ thời điểm nào, minh họa trong đời sống và hoạt động của họ một điểm nào đó trên cung đi xuống hoặc cung đi lên. Đối với đa số, sự trợ giúp chuyên môn của nhà giáo dục và nhà tâm lý học lão luyện hiện đại, của giáo sĩ hay của thầy thuốc, sẽ đủ để đem lại sự trợ giúp cần thiết, đặc biệt khi ba điều sau đây xảy ra, điều chắc chắn sẽ là như vậy trước khi nhiều thập niên trôi qua:

1. These four types of experts—educators, psychologists, churchmen and physicians—will work in conjunction with each other, and each will place his skill and his peculiar point of view and interpretation of conditions at the disposal of his fellow workers.

1. Bốn loại chuyên gia này—các nhà giáo dục, các nhà tâm lý học, các giáo sĩ và các thầy thuốc—sẽ làm việc phối hợp với nhau, và mỗi người sẽ đặt kỹ năng của mình cùng quan điểm và cách diễn giải đặc thù của mình về các điều kiện vào sự sử dụng của các cộng sự viên.

2. The fact of the soul will be admitted as a reasonable hypothesis, and the fact that there may be an indwelling entity, seeking to control in some measure the mechanism, will also be accepted.

2. Sự kiện về linh hồn sẽ được thừa nhận như một giả thuyết hợp lý, và sự kiện rằng có thể có một thực thể nội tại đang tìm cách kiểm soát ở một mức độ nào đó bộ máy cũng sẽ được chấp nhận.

3. The Law of Rebirth will be regarded as a law in nature, and place will be given in the thoughts of these four groups of human helpers, for a man’s past and his rapidly developing future.

3. Định luật Tái Sinh sẽ được xem như một định luật trong thiên nhiên, và trong tư tưởng của bốn nhóm người trợ giúp này sẽ dành chỗ cho quá khứ của một con người và tương lai đang phát triển nhanh chóng của y.

In this Treatise, we are considering those more advanced people who constitute the intelligentsia of the world, who are beginning to use the mind, who are upon the probationary path, or who are nearing the Path of Discipleship. When this is the case (and it seldom occurs before, unless to the eye of the initiate) the personalities are so refined that the personality ray and the egoic ray permit of analysis and definition. Until there is sufficient pronounced development to allow of a true diagnosis, it is not possible to say definitely what is the ray of the personality. The defining of the egoic ray comes later still and can only be surmised at first from the nature of [335] the conflict of which the personality is aware, based as it will be on a growing sense of duality. It will also be capable of expert diagnosis from certain physical and psychical characteristics which indicate the quality of the higher nature of the person concerned, and also through a study of the type of a man’s group affiliations as they begin to appear upon the physical plane. A man who—being, through personality predilection, a creative artist—suddenly takes a deep and profound interest in mathematics, might be inferred to be coming under the influence of a second ray soul; or a man, whose whole personality was definitely upon the sixth ray of fanatical idealism or devotion to an object of his idealism, and who had functioned during life as a religious devotee, and who then switched the centre of his life interest into scientific investigation, might be, therefore, responding to a fifth ray soul impression.

Trong bộ Luận này, chúng ta đang xem xét những người tiến hoá hơn, những người cấu thành giới trí thức của thế giới, những người đang bắt đầu sử dụng trí tuệ, những người đang ở trên Con Đường Dự Bị, hoặc đang tiến gần Con Đường Đệ Tử. Khi điều này là trường hợp (và điều đó hiếm khi xảy ra trước đó, trừ đối với mắt của điểm đạo đồ), các phàm ngã được tinh luyện đến mức cung phàm ngã và cung chân ngã cho phép được phân tích và xác định. Chừng nào chưa có sự phát triển đủ rõ rệt để cho phép một chẩn đoán chân thực, thì không thể nói dứt khoát cung của phàm ngã là gì. Việc xác định cung chân ngã còn đến muộn hơn nữa và lúc đầu chỉ có thể được suy đoán từ bản chất của [335] cuộc xung đột mà phàm ngã nhận biết, vì nó sẽ dựa trên một cảm nhận ngày càng tăng về nhị nguyên tính. Nó cũng sẽ có thể được chẩn đoán một cách chuyên môn từ một số đặc điểm hồng trần và thông linh chỉ ra phẩm tính của bản chất cao hơn của người liên hệ, và cũng qua việc nghiên cứu loại liên kết nhóm của một người khi chúng bắt đầu xuất hiện trên cõi hồng trần. Một người—do thiên hướng phàm ngã là một nghệ sĩ sáng tạo—bỗng nhiên có một mối quan tâm sâu sắc và thâm trầm đối với toán học, có thể được suy ra là đang chịu ảnh hưởng của một linh hồn cung hai; hoặc một người mà toàn bộ phàm ngã của y rõ ràng thuộc cung sáu của chủ nghĩa lý tưởng cuồng tín hay sự sùng tín đối với một đối tượng lý tưởng của y, và đã hoạt động trong đời như một tín đồ tôn giáo, rồi sau đó chuyển trung tâm quan tâm của đời mình sang nghiên cứu khoa học, thì do đó có thể đang đáp ứng với một ấn tượng của linh hồn cung năm.

We shall, therefore, study the process of coordination and the methods whereby two great integrations take place:

Vì vậy, chúng ta sẽ nghiên cứu tiến trình phối hợp và các phương pháp nhờ đó hai sự tích hợp lớn diễn ra:

1. The integration of the personality, or the means whereby the consciousness of the person

1. Sự tích hợp của phàm ngã, hay phương tiện nhờ đó tâm thức của con người

a. Shifts out of one body into another, so that a definite expansion of consciousness takes place.

a. Chuyển dịch từ thể này sang thể khác, để một sự mở rộng tâm thức xác định diễn ra.

b. Begins to be active in all the three personality vehicles simultaneously.

b. Bắt đầu hoạt động đồng thời trong cả ba vận cụ của phàm ngã.

2. The integration of the personality and the soul so that the soul can

2. Sự tích hợp của phàm ngã và linh hồn để linh hồn có thể

a. Function through any one body at will, or

a. Hoạt động qua bất kỳ thể nào theo ý muốn, hoặc

b. Function through all the three bodies which constitute the personality simultaneously.

b. Hoạt động đồng thời qua cả ba thể cấu thành phàm ngã.

This will lead us to confine ourselves to the study of the more advanced or pronounced types, which are primarily the [336] mystic, the aspirant, the notable people, and those who constitute the people with psychological problems of our present time and period.

Điều này sẽ dẫn chúng ta đến chỗ giới hạn mình trong việc nghiên cứu những loại tiến hoá hơn hay rõ nét hơn, chủ yếu là [336] nhà thần bí, người chí nguyện, những người nổi bật, và những người cấu thành lớp người có các vấn đề tâm lý của thời đại và giai đoạn hiện nay của chúng ta.

Step by step, the various bodies have been developed, utilised, refined and organised; step by step the sensory apparatus of man has been sensitised and used, until the world today is full of men and women whose response apparatus, and whose instruments of contact are as far removed in effectiveness from those of primitive man as are the vehicles of the average modern man from those of the Christ and the Buddha, with Their immensely wide range of subjective and divine awareness. Step by step, the unfoldment of the nervous system has paralleled that of the inner psychical apparatus, and the glandular equipment has faithfully reflected that of the great centres of force, with their inter-connecting lines of energy. Step by step, the consciousness of man has shifted from:

Từng bước một, các thể khác nhau đã được phát triển, sử dụng, tinh luyện và tổ chức; từng bước một, bộ máy cảm giác của con người đã được làm cho nhạy bén và sử dụng, cho đến ngày nay thế giới đầy những người nam và nữ mà bộ máy đáp ứng và các khí cụ tiếp xúc của họ khác xa về hiệu quả so với của con người nguyên thủy, cũng như các vận cụ của con người hiện đại trung bình khác xa so với các vận cụ của Đức Christ và Đức Phật, với phạm vi nhận biết chủ quan và thiêng liêng vô cùng rộng lớn của Các Ngài. Từng bước một, sự khai mở của hệ thần kinh đã song hành với sự khai mở của bộ máy thông linh nội tại, và bộ máy tuyến đã phản chiếu trung thành bộ máy của các trung tâm mãnh lực lớn, cùng với các đường năng lượng nối kết giữa chúng. Từng bước một, tâm thức của con người đã chuyển từ:

1. That of the purely animal, with its emphasis upon the natural physical appetites, into that of the vital, personal being, responding to the impacts of an environment which he does not intelligently understand but in which he finds himself. This is the primitive and so-called savage state of consciousness and lies far behind us today, in a distant racial history. This primitive stage saw the birth of that religious direction to which we give the name of animism.

1. Tâm thức của loài vật thuần túy, với sự nhấn mạnh vào các thèm muốn hồng trần tự nhiên, sang tâm thức của hữu thể sinh lực, cá nhân, đáp ứng với các tác động của một môi trường mà y không hiểu một cách thông minh nhưng trong đó y thấy mình hiện hữu. Đây là trạng thái tâm thức nguyên thủy và cái gọi là man dã, ngày nay đã ở rất xa phía sau chúng ta, trong một lịch sử nhân loại xa xăm. Giai đoạn nguyên thủy này đã chứng kiến sự ra đời của khuynh hướng tôn giáo mà chúng ta gọi là vật linh giáo.

2. That of a vital, primitive being into that state of consciousness which is coloured almost entirely by desire for material satisfaction. This in time transmutes itself into that of an emotional response to the environing conditions, leading thus to an intensified “wish-life” a development of the imaginative faculty. It ends finally in the production of the Mystic, with his aspiration, his sense of [337] duality, and his reaching out after God, plus an intense devotion to an ideal of some kind or another.

2. Từ tâm thức của một hữu thể sinh lực, nguyên thủy sang trạng thái tâm thức gần như hoàn toàn được nhuốm màu bởi ham muốn thỏa mãn vật chất. Theo thời gian, điều này tự chuyển hoá thành sự đáp ứng cảm xúc đối với các điều kiện bao quanh, do đó dẫn đến một “đời sống ước muốn” được tăng cường, một sự phát triển của năng lực tưởng tượng. Cuối cùng nó kết thúc trong việc tạo ra Nhà Thần Bí, với khát vọng, cảm nhận về [337] nhị nguyên tính, và sự vươn tới Thượng đế của y, cộng với một lòng sùng tín mãnh liệt đối với một lý tưởng nào đó.

3. That of the vital, emotional, desire emphasis and state of longing into that of a mental consciousness,—intelligent, enquiring, intellectually sensitive, responsive to thought currents and reacting with increasing steadiness, vigour and sensitivity to the impact of ideas.

3. Từ sự nhấn mạnh sinh lực, cảm xúc, ham muốn và trạng thái khao khát ấy sang một tâm thức trí tuệ,—thông minh, truy vấn, nhạy bén về mặt trí tuệ, đáp ứng với các dòng tư tưởng và phản ứng với sự vững vàng, mãnh lực và nhạy cảm ngày càng tăng đối với tác động của các ý tưởng.

4. That of one or another of these states of consciousness, alternating in their emphasis, or predominantly active in some one or other of these lower aspects, to that of integrated personality, selfishly occupied with self-emphasis, self-interest, self-expression, and so demonstrating as a great or intrepid individual, demonstrating power and purpose in a world which he exploits for his own selfish ends.

4. Từ tâm thức của trạng thái này hay trạng thái khác trong các trạng thái tâm thức ấy, luân phiên thay đổi về điểm nhấn, hoặc hoạt động nổi trội trong một phương diện thấp này hay phương diện thấp khác, đến tâm thức của Phàm ngã tích hợp, ích kỷ bận rộn với sự nhấn mạnh bản thân, tư lợi, tự biểu hiện, và do đó biểu lộ như một cá nhân vĩ đại hay gan dạ, biểu lộ quyền lực và mục đích trong một thế giới mà y khai thác cho những cứu cánh ích kỷ của riêng mình.

When this stage is reached, the focus of the life is predominantly material, and the man is ambitious, effective, and powerful. Yet there slowly arises in him a divine discontent; the savor of his life experience and enterprises begins to prove unsatisfactory. Another shift in consciousness takes place, and he reaches out—at first unconsciously and later consciously—to the life and significance of a dimly sensed reality. The soul is beginning to make its presence felt, and to grip in a different sense than hitherto, and in a more active manner, its vehicles of expression and of service.

Khi giai đoạn này đạt đến, trọng điểm của sự sống chủ yếu là vật chất, và con người trở nên đầy tham vọng, hữu hiệu và đầy quyền lực. Tuy nhiên, trong y chậm rãi nảy sinh một sự bất mãn thiêng liêng; hương vị của kinh nghiệm sống và các công cuộc của y bắt đầu tỏ ra không còn thỏa đáng. Một sự chuyển đổi khác trong tâm thức diễn ra, và y vươn tới—thoạt đầu một cách vô thức và về sau một cách có ý thức—sự sống và thâm nghĩa của một thực tại được cảm nhận một cách mơ hồ. Linh hồn đang bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và nắm giữ các vận cụ biểu hiện và phụng sự của nó theo một ý nghĩa khác với trước đây, và theo một cách năng động hơn.

In this summary, we have sketched the broad general outlines of the process. It will be obvious that there will be gradations in the process and men will be found on earth at every stage of consciousness. One will be equipped with vehicles in which the emphasis is upon the sensory life. In some cases there will be found a consciousness which is shifting its emphasis out of one vehicle into another, and so becoming [338] awake and more inclusive in its range of contacts and in its awareness. Others again will be possessed of a consciousness which is organising itself for full expression as a man, as an integrated personality and as a worker for material ends, bringing to bear upon those objectives all the force and power of an integrated functioning person. There will be those whose consciousness is gradually awakening to a new and higher sense of values, and is slowly at first and more rapidly as facility is acquired, shifting its focus of attention out of the world of material, selfish living into that of true spiritual realities.

Trong phần tóm lược này, chúng ta đã phác họa những nét đại cương rộng lớn của tiến trình. Hiển nhiên sẽ có những cấp độ khác nhau trong tiến trình ấy, và trên Trái Đất sẽ thấy những người ở mọi giai đoạn của tâm thức. Người này sẽ được trang bị những vận cụ trong đó điểm nhấn đặt trên đời sống cảm giác. Trong một số trường hợp, sẽ thấy một tâm thức đang chuyển trọng tâm từ vận cụ này sang vận cụ khác, và do đó trở nên [338] thức tỉnh và bao gồm hơn trong phạm vi tiếp xúc và trong sự nhận biết của nó. Những người khác nữa sẽ sở hữu một tâm thức đang tổ chức chính nó để biểu hiện trọn vẹn như một con người, như một phàm ngã tích hợp và như một người hoạt động cho các mục tiêu vật chất, đem toàn bộ mãnh lực và quyền năng của một con người đang hoạt động một cách tích hợp tác động vào các mục tiêu ấy. Sẽ có những người mà tâm thức đang dần dần thức tỉnh trước một ý thức mới và cao hơn về các giá trị, và lúc đầu chậm chạp rồi nhanh hơn khi khả năng được thủ đắc, đang chuyển trọng điểm chú ý của nó ra khỏi thế giới của đời sống vật chất, ích kỷ để đi vào thế giới của các thực tại tinh thần chân chính.

Little by little, the consciousness of the third aspect of divinity is coordinated with that of the second, and the Christ consciousness is aroused into activity through the medium of experience in form. Man begins to add to the gained personality experience of the three worlds of human endeavour, the intuitive spiritual perception which is the heritage of those who are awake within the kingdom of God. Paralleling this development of the consciousness in man is the evolution of the instruments whereby that consciousness is brought en rapport with a rapidly expanding world of sensory perception, of intellectual concepts and of intuitive recognitions. With the development of this form aspect we will not concern ourselves, beyond pointing out that, as the consciousness shifts from one body to another and its range of contacts, therefore, steadily expands, the centres in man’s etheric body (three below and four above the diaphragm) are awakened in three major stages, though through the medium of many smaller awakenings.

Từng chút một, tâm thức của phương diện thứ ba của thiên tính được phối hợp với tâm thức của phương diện thứ hai, và tâm thức Christ được khơi dậy vào hoạt động thông qua kinh nghiệm trong hình tướng. Con người bắt đầu thêm vào kinh nghiệm phàm ngã đã đạt được trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại, sự tri giác tinh thần trực giác vốn là di sản của những ai thức tỉnh bên trong Thiên Giới. Song song với sự phát triển này của tâm thức nơi con người là sự tiến hoá của các công cụ nhờ đó tâm thức ấy được đưa vào tương quan với một thế giới đang mở rộng nhanh chóng của tri giác cảm giác, của các khái niệm trí tuệ và của các nhận biết trực giác. Về sự phát triển của phương diện hình tướng này, chúng ta sẽ không bàn đến, ngoài việc chỉ ra rằng, khi tâm thức chuyển từ thể này sang thể khác và do đó phạm vi tiếp xúc của nó không ngừng mở rộng, các trung tâm trong thể dĩ thái của con người (ba ở dưới và bốn ở trên cơ hoành) được thức tỉnh trong ba giai đoạn chính, dù thông qua nhiều lần thức tỉnh nhỏ hơn.

1. They begin to develop from that of the “closed bud to that of the opened lotus”. This takes place during the period of ordinary evolution.

1. Chúng bắt đầu phát triển từ trạng thái “nụ khép kín đến hoa sen nở mở”. Điều này diễn ra trong thời kỳ tiến hoá thông thường.

[339]

[339]

2. The petals of the lotus become vibrant and alive. This is the stage of personality integration.

2. Các cánh hoa của hoa sen trở nên rung động và sống động. Đây là giai đoạn tích hợp phàm ngã.

3. The heart of the lotus, “the jewel in the lotus” also becomes actively alive. This is the period of the final stages upon the Path.

3. Tâm của hoa sen, “ngọc trong hoa sen”, cũng trở nên sống động một cách tích cực. Đây là thời kỳ của các giai đoạn cuối cùng trên Con Đường.

This process of unfoldment is itself brought about by five crises of awakening, so that we have a threefold process and a fivefold movement.

Chính tiến trình khai mở này được tạo ra bởi năm cuộc khủng hoảng thức tỉnh, đến nỗi chúng ta có một tiến trình tam phân và một chuyển động ngũ phân.

1. The centres below the diaphragm are the controlling and dominant factor. The stage of dense materiality, of lower desire and of physical urge is in full expression. This was carried to its higher point of development in Lemurian times. The sacral centre was the controlling factor.

1. Các trung tâm dưới cơ hoành là yếu tố kiểm soát và chi phối. Giai đoạn của tính vật chất đậm đặc, của dục vọng thấp và của thúc đẩy hồng trần được biểu hiện trọn vẹn. Điều này đã được đưa đến điểm phát triển cao hơn của nó trong thời Lemuria. Trung tâm xương cùng là yếu tố kiểm soát.

2. The centres below the diaphragm become fully active, with the major emphasis in the solar plexus centre. This centre eventually becomes the great clearing house for all the lower forces and marks the period of the shift into a higher body, the astral body. This was characteristic of Atlantean racial development.

2. Các trung tâm dưới cơ hoành trở nên hoàn toàn hoạt động, với điểm nhấn chính ở trung tâm tùng thái dương. Trung tâm này cuối cùng trở thành trạm thanh lọc lớn cho mọi mãnh lực thấp và đánh dấu thời kỳ chuyển dịch vào một thể cao hơn, thể cảm dục. Đây là đặc trưng của sự phát triển nhân loại Atlantis.

3. The awakening of the throat centre and the shift of much of the lower energy into the throat activity. The ajna centre also begins to become active, producing integrated and creative personalities. This stage is characteristic of the present Aryan race.

3. Sự thức tỉnh của trung tâm cổ họng và sự chuyển dịch phần lớn năng lượng thấp vào hoạt động của cổ họng. Trung tâm ajna cũng bắt đầu trở nên hoạt động, tạo ra các phàm ngã tích hợp và sáng tạo. Giai đoạn này là đặc trưng của nhân loại Arya hiện nay.

4 The awakening of the heart centre and the shift of the solar plexus energy into that centre, thus producing groups and the entrance of a new and fuller sense of spiritual energy. The shift of emphasis is then into those states of awareness which reveal the kingdom of God. The fifth kingdom in nature becomes creatively active [340] on earth. This will be characteristic of the consciousness of the next great race.

4 Sự thức tỉnh của trung tâm tim và sự chuyển dịch năng lượng tùng thái dương vào trung tâm đó, nhờ vậy tạo ra các nhóm và sự đi vào của một ý thức mới và đầy đủ hơn về năng lượng tinh thần. Khi ấy, sự chuyển dịch điểm nhấn đi vào những trạng thái nhận biết tiết lộ Thiên Giới. Giới thứ năm trong thiên nhiên trở nên hoạt động một cách sáng tạo [340] trên Trái Đất. Đây sẽ là đặc trưng của tâm thức của nhân loại lớn kế tiếp.

5. The awakening of the head centre, with the consequent arousing of the kundalini fire at the base of the spine. This leads to the final integration of soul and body, and the appearance of a perfected humanity upon earth. This will express the nature of the final race.

5. Sự thức tỉnh của trung tâm đầu, với hệ quả là sự khơi dậy lửa kundalini ở đáy cột sống. Điều này dẫn đến sự tích hợp cuối cùng của linh hồn và thể xác, và sự xuất hiện của một nhân loại hoàn thiện trên Trái Đất. Điều này sẽ biểu lộ bản chất của nhân loại cuối cùng.

Forget not that there are at all times those who are characteristically expressing one or another of all of these various stages and states of consciousness. There are but a few on earth today who are capable of expressing as low a state of relative development as the Lemurian consciousness. There are a few at the extreme end of the Way who are expressing divine perfection, and in between these two extremes are all possible grades of development and unfoldment.

Đừng quên rằng vào mọi lúc đều có những người đang biểu lộ một cách đặc trưng giai đoạn này hay giai đoạn khác trong tất cả các giai đoạn và trạng thái tâm thức khác nhau ấy. Ngày nay trên Trái Đất chỉ có rất ít người có khả năng biểu lộ một trạng thái phát triển tương đối thấp như tâm thức Lemuria. Có một số ít ở đầu mút tận cùng của Con Đường đang biểu lộ sự hoàn thiện thiêng liêng, và ở giữa hai cực điểm ấy là mọi cấp độ phát triển và khai mở có thể có.

Man is therefore (from the angle of force expression) a mass of conflicting energies and an active centre of moving forces with a shift of emphasis constantly going on, and with the aggregation of the numerous streams of energy presenting a confusing kaleidoscope of active inter-relations, interpenetration, internecine warfare, and interdependence until such time as the personality forces (symbolic of divine multiplicity) are subdued or “brought into line” by the dominant soul. That is what we really mean by the use of the word “alignment”. This alignment results from:

Vì vậy, con người (xét từ góc độ biểu hiện mãnh lực) là một khối những năng lượng xung đột và là một trung tâm hoạt động của các mãnh lực đang chuyển động với sự chuyển dịch điểm nhấn diễn ra không ngừng, và với sự tập hợp của vô số dòng năng lượng trình hiện một kính vạn hoa rối rắm của những tương quan năng động, sự xuyên thấu lẫn nhau, chiến tranh tương tàn, và sự phụ thuộc lẫn nhau cho đến khi các mãnh lực phàm ngã (biểu tượng cho tính đa tạp thiêng liêng) bị linh hồn chi phối chế ngự hay “được đưa vào hàng ngũ”. Đó chính là điều chúng ta thực sự muốn nói khi dùng từ “chỉnh hợp”. Sự chỉnh hợp này là kết quả của:

1. The control of the personality by the soul.

1. Sự kiểm soát phàm ngã bởi linh hồn.

2. The downpouring of soul energy, via the mental and the emotional bodies, into the brain, thus producing the subjugation of the lower nature, the awakening of the brain consciousness to soul awareness, and a new alignment of the bodies.

2. Sự tuôn đổ xuống của năng lượng linh hồn, qua thể trí và thể cảm xúc, vào bộ não, nhờ đó tạo ra sự khuất phục của bản chất thấp, sự thức tỉnh của tâm thức não bộ đối với sự nhận biết linh hồn, và một sự chỉnh hợp mới của các thể.

[341]

[341]

3. The right arrangement, according to ray type, of the energies which are motivating and dynamically arousing the centres into activity. This leads eventually to a direct alignment of the centres upon the spine, so that soul energy can pass up and down through the centres from the directing centre in the head. Whilst this process of soul control is being perfected (and the time consumed is, from the angle of the limiting personality consciousness, of vast duration), the ray types of the vehicles steadily emerge, the ray of the personality begins to control the life, and finally the soul ray begins to dominate the personality ray and subdue its activity.

3. Sự sắp xếp đúng đắn, theo loại cung, của các năng lượng đang thúc đẩy và khơi dậy một cách năng động các trung tâm vào hoạt động. Điều này cuối cùng dẫn đến một sự chỉnh hợp trực tiếp của các trung tâm trên cột sống, để năng lượng linh hồn có thể đi lên và đi xuống qua các trung tâm từ trung tâm chỉ đạo ở đầu. Trong khi tiến trình kiểm soát của linh hồn này đang được hoàn thiện (và thời gian tiêu tốn, xét từ góc độ của tâm thức phàm ngã giới hạn, là vô cùng lâu dài), các loại cung của các vận cụ dần dần xuất hiện rõ rệt, cung phàm ngã bắt đầu kiểm soát đời sống, và cuối cùng cung linh hồn bắt đầu chi phối cung phàm ngã và chế ngự hoạt động của nó.

Eventually, the monadic ray takes control, absorbing into itself the rays of the personality and of the soul (at the third and fifth initiations) and thus duality is finally and definitely overcome and “only the One Who Is remains.”

Cuối cùng, cung chân thần nắm quyền kiểm soát, hấp thu vào chính nó các cung của phàm ngã và của linh hồn (ở lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ năm), và như thế nhị nguyên tính rốt cuộc được vượt qua một cách dứt khoát và “chỉ còn lại Đấng Hiện Hữu.”

We can now deal with the coordination of the personality, with its three types of techniques previously mentioned, which are the techniques of integration, the techniques of fusion and the techniques of duality. We will then pass on to a consideration of some of the problems with which psychology has to deal, arising as they do, out of the shifting consciousness, the intensification of the energy reception by the centres, and the inflow of soul potency. This will bring us to a point in our Treatise in which the rays and the human being will have been somewhat considered, and where we can eventually and with profit deal with that point, the third pertaining to the Ray of Personality, which we are in process of completing. It concerns education, the psychological training of aspirants and disciples, and the trends to be found emerging in the new esoteric psychology.

Giờ đây chúng ta có thể bàn đến sự phối hợp của phàm ngã, với ba loại kỹ thuật đã được nhắc đến trước đây, là Kỹ Thuật Tích Hợp, Kỹ Thuật Dung Hợp và Kỹ Thuật Nhị Nguyên. Sau đó chúng ta sẽ chuyển sang xem xét một số vấn đề mà tâm lý học phải đề cập đến, phát sinh từ tâm thức đang chuyển dịch, từ sự tăng cường tiếp nhận năng lượng bởi các trung tâm, và từ sự tuôn vào của tiềm lực linh hồn. Điều này sẽ đưa chúng ta đến một điểm trong bộ Luận của chúng ta, nơi các cung và con người đã được khảo sát phần nào, và nơi cuối cùng chúng ta có thể bàn đến một cách hữu ích điểm thứ ba liên quan đến cung phàm ngã, mà chúng ta hiện đang hoàn tất. Điểm ấy liên quan đến giáo dục, sự huấn luyện tâm lý của những người chí nguyện và các đệ tử, và những khuynh hướng đang xuất hiện trong Tâm Lý Học Nội Môn mới.

[342]

Leave a Comment

Scroll to Top