3. Some Problems of Psychology—Một số Vấn đề của Tâm Lý Học
INTRODUCTION—DẪN NHẬP
|
What I have here to say should be of general interest. I intend to write with great simplicity, avoiding the technical terms of academic psychology, and putting the human psychological problem so plainly that real help may eventuate to many. These days are fraught with difficulty and it would sometimes appear that the necessary environmental adjustments are so hard and the equipment so inadequate to the demanded task that humanity is being asked to perform the impossible. It is as if the human frame had accumulated so much physical disability, so much emotional stress and had [402] inherited so much disease and over-sensitivity that men fall back defeated. It is as if the attitude of man to the past, to the present and to the future was of such a nature that there seems no reason for existence, that there is nothing toward which to look, and no help to be found in retrospection. |
Điều tôi sắp nói ở đây hẳn sẽ có tính chất đáng quan tâm chung. Tôi dự định viết với sự đơn giản lớn lao, tránh các thuật ngữ kỹ thuật của tâm lý học hàn lâm, và trình bày vấn đề tâm lý của con người một cách rõ ràng đến mức có thể đem lại sự trợ giúp thực sự cho nhiều người. Những ngày này đầy dẫy khó khăn, và đôi khi dường như những sự điều chỉnh môi trường cần thiết quá khó khăn, còn bộ máy lại quá bất cập đối với nhiệm vụ được đòi hỏi, đến nỗi nhân loại đang bị yêu cầu thực hiện điều bất khả. Dường như cơ cấu con người đã tích luỹ quá nhiều khuyết tật hồng trần, quá nhiều căng thẳng cảm xúc và đã [402] thừa hưởng quá nhiều bệnh tật và sự quá nhạy cảm đến nỗi những người nam và nữ gục ngã trong thất bại. Dường như thái độ của con người đối với quá khứ, hiện tại và tương lai có bản chất đến mức không thấy có lý do nào để tồn tại, không có gì để hướng tới, và cũng không tìm thấy sự trợ giúp nào trong việc nhìn lại quá khứ. |
|
I am, therefore, widely generalising. There are those to whom this generalisation does not apply, but even they, if they are students of human affairs, of sociological conditions, and of human equipment, are prone to question and at times to despair. Life is so difficult these days; the tension to which men are subjected is so extreme; the future appears so threatening; and the masses of men are so ignorant, diseased and distressed. I am putting this gloomy picture before you at the start of our discussion in order to evade no issue, to paint no silly optimistic and glamourous situation, or to portray no easy way of escape which would only lead us deeper into the gloomy forest of human error and illusion. |
Vì vậy, tôi đang khái quát hoá trên diện rộng. Có những người mà sự khái quát này không áp dụng, nhưng ngay cả họ, nếu là đạo sinh của các vấn đề nhân loại, của các điều kiện xã hội học, và của bộ máy con người, cũng dễ đặt câu hỏi và đôi khi tuyệt vọng. Ngày nay đời sống quá khó khăn; sự căng thẳng mà con người phải chịu đựng quá cực độ; tương lai có vẻ quá đe doạ; và quần chúng thì quá vô minh, bệnh hoạn và khốn khổ. Tôi đưa ra trước các bạn bức tranh ảm đạm này ngay từ đầu cuộc thảo luận của chúng ta để không né tránh vấn đề nào, không vẽ nên một tình huống lạc quan và đầy ảo cảm ngớ ngẩn nào, cũng không mô tả một lối thoát dễ dàng nào chỉ khiến chúng ta lún sâu hơn vào khu rừng u tối của sai lầm và ảo tưởng của con người. |
|
Yet, could we but know it, present conditions indicate their own cause and cure. I trust that by the time we have studied the problem (cursorily, I realise, for that is all that is possible) I shall have been able to indicate a possible way out and to have offered such practical suggestions that light may appear in the dense darkness, the future hold much promise, and the present much of experiment, leading to improvement and understanding. |
Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể biết được điều đó, thì các điều kiện hiện tại tự chúng đã chỉ ra nguyên nhân và phương thuốc của mình. Tôi tin rằng đến khi chúng ta đã nghiên cứu vấn đề này (một cách khái lược, tôi nhận ra vậy, vì đó là tất cả những gì có thể), tôi sẽ có thể chỉ ra một lối thoát khả dĩ và đưa ra những gợi ý thực tiễn đến mức ánh sáng có thể xuất hiện trong bóng tối dày đặc, tương lai chứa đựng nhiều hứa hẹn, và hiện tại chứa đựng nhiều thử nghiệm, dẫn đến cải thiện và thấu hiểu. |
|
The major science today is Psychology. It is one that is yet in its infancy but it holds the fate of humanity in its grasp and it has the power (rightly developed and employed) to save the race. The reason for its greatness and usefulness lies in the fact that it lays the emphasis upon the relation of the unit to the whole, to the environment and contacts; it studies man’s equipment and apparatus of such contact, and seeks to [403] produce right adaptation, correct integration and coordination and the release of the individual to a life of usefulness, fulfillment and service. |
Khoa học lớn nhất ngày nay là Tâm Lý Học. Đây là một khoa học vẫn còn trong thời kỳ ấu thơ nhưng đang nắm giữ số phận của nhân loại trong tay và có quyền năng (nếu được phát triển và sử dụng đúng đắn) để cứu vớt nhân loại. Lý do cho sự vĩ đại và hữu ích của nó nằm ở chỗ nó nhấn mạnh mối liên hệ của đơn vị với toàn thể, với môi trường và các tiếp xúc; nó nghiên cứu bộ máy và khí cụ tiếp xúc của con người, và tìm cách [403] tạo ra sự thích nghi đúng đắn, sự tích hợp và phối hợp chính xác, cùng sự giải phóng cá nhân vào một đời sống hữu ích, viên mãn và phụng sự. |
|
Some of the difficulties which have to be faced as one considers the conclusions of the many, many schools of Psychology are based upon the fact of their failure to relate the many points of view to each other. The same cleavage and even warfare is to be found within the confines of this science as are found in the individual man or in the religious field. There is to be found a lack of synthesis, a failure to correlate results, and a tendency to overemphasise one aspect of the ascertained truth to the exclusion of others equally important. The outstanding weakness or weaknesses in an individual’s equipment or presentation of life (and also those of the group or social order) are considered to the exclusion and even negation of other weaknesses not so obvious but equally crippling. Prejudice, dependent upon a biassed scholastic training, often frustrates the outlook so that the weakness in the psychologist’s own equipment negates his efforts to aid the patient. The failure of education today to take into consideration the whole man, or to allow scope for the activity of an integrating centre, a central point of consciousness, and a determining factor within the mechanism of the one who must be helped to adapt himself to his life condition—this above everything else is responsible for much of the trouble. The assertion of the purely materialistic and scientific attitude which recognises only the definitely proven, or that which can be proved by the acceptance of an immediate hypothesis, has led to much loss of time. When again the creative imagination can be released in every department of human thought we shall see many new things brought to light that are at present only accepted by the religiously inclined [404] and by the pioneering minds. One of the first fields of investigation to be benefited by this release will be that of psychology. |
Một số khó khăn phải đối diện khi người ta xem xét các kết luận của rất nhiều trường phái Tâm Lý Học bắt nguồn từ việc họ không liên hệ được nhiều quan điểm với nhau. Cũng có thể thấy cùng một sự phân rẽ và thậm chí xung đột trong phạm vi khoa học này như nơi cá nhân con người hay trong lĩnh vực tôn giáo. Có sự thiếu tổng hợp, không tương liên được các kết quả, và có khuynh hướng nhấn mạnh quá mức một phương diện của chân lý đã được xác định mà loại trừ những phương diện khác cũng quan trọng không kém. Điểm yếu hay những điểm yếu nổi bật trong bộ máy hay trong sự biểu hiện đời sống của một cá nhân (và cả của nhóm hay trật tự xã hội) được xem xét đến mức loại trừ và thậm chí phủ nhận những điểm yếu khác không rõ ràng bằng nhưng cũng gây tàn phế ngang nhau. Thành kiến, phụ thuộc vào một sự đào luyện học thuật thiên lệch, thường làm thất bại tầm nhìn đến mức điểm yếu trong chính bộ máy của nhà tâm lý học phủ nhận nỗ lực giúp đỡ bệnh nhân của y. Sự thất bại của nền giáo dục ngày nay trong việc lưu ý đến toàn thể con người, hay trong việc dành chỗ cho hoạt động của một trung tâm tích hợp, một điểm trung tâm của tâm thức, và một yếu tố quyết định bên trong bộ máy của người cần được giúp để thích nghi với điều kiện sống của mình—điều này hơn bất cứ điều gì khác chịu trách nhiệm cho phần lớn rắc rối. Sự khẳng định thái độ thuần vật chất và khoa học chỉ công nhận điều đã được chứng minh rõ rệt, hoặc điều có thể được chứng minh bằng việc chấp nhận một giả thuyết tức thời, đã dẫn đến nhiều mất mát thời gian. Khi một lần nữa sự tưởng tượng sáng tạo có thể được giải phóng trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người, chúng ta sẽ thấy nhiều điều mới được đưa ra ánh sáng mà hiện nay chỉ được chấp nhận bởi những người có khuynh hướng tôn giáo [404] và bởi những trí tuệ tiên phong. Một trong những lĩnh vực điều tra đầu tiên được hưởng lợi từ sự giải phóng này sẽ là tâm lý học. |
|
Organised religion has, alas, much to answer for, because of its fanatical emphasis upon doctrinal pronouncements, and its penalisation of those who fail to accept such dicta has served to stultify the human approach to God and to reality. Its over-emphasis upon the unattainable and its culture of the sense of sin down the centuries have led to many disastrous conditions, to interior conflicts which have distorted life, to morbidity, sadistic attitudes, self-righteousness and an ultimate despair which is the negation of truth. |
Than ôi, tôn giáo có tổ chức phải chịu nhiều trách nhiệm, vì sự nhấn mạnh cuồng tín của nó vào các tuyên bố giáo điều, và việc trừng phạt những ai không chấp nhận các giáo điều ấy đã làm tê liệt cách tiếp cận của con người đối với Thượng đế và thực tại. Sự nhấn mạnh quá mức của nó vào điều không thể đạt được và việc nuôi dưỡng cảm nhận tội lỗi qua nhiều thế kỷ đã dẫn đến nhiều tình trạng tai hại, đến những xung đột nội tâm làm méo mó đời sống, đến bệnh hoạn tâm lý, những thái độ bạo dâm, sự tự cho mình là công chính và cuối cùng là một nỗi tuyệt vọng phủ nhận chân lý. |
|
When right education (which is the true science of adaptation) and right religion (which is the culture of the sense of divinity) and right scientific unfoldment (which is the correct appreciation of the form or forms through which the subjective life of divinity is revealing itself) can be brought into right relation to each other and thus supplement each other’s conclusions and efforts, we shall then have men and women trained and developed in all parts of their natures. They will then be simultaneously citizens of the kingdom of souls, creative members of the great human family, and sound animals with the animal body so developed that it will provide the necessary instrument upon the outer plane of life for divine, human and animal revelation. This, the coming New Age, will see take place and for it men are today consciously or unconsciously preparing. |
Khi giáo dục đúng đắn (là khoa học chân chính của sự thích nghi) và tôn giáo đúng đắn (là sự nuôi dưỡng cảm nhận về thiên tính) và sự khai mở khoa học đúng đắn (là sự đánh giá chính xác hình tướng hay các hình tướng qua đó đời sống chủ quan của thiên tính đang tự mặc khải) có thể được đặt vào mối liên hệ đúng đắn với nhau và như thế bổ sung cho các kết luận và nỗ lực của nhau, thì khi đó chúng ta sẽ có những người nam và nữ được huấn luyện và phát triển trong mọi phần của bản chất họ. Khi đó họ sẽ đồng thời là công dân của Thiên Giới, là những thành viên sáng tạo của đại gia đình nhân loại, và là những động vật lành mạnh với thể động vật được phát triển đến mức cung cấp khí cụ cần thiết trên cõi ngoài của đời sống cho sự mặc khải thiêng liêng, nhân loại và động vật. Điều này, Kỷ Nguyên Mới sắp đến sẽ chứng kiến xảy ra, và vì nó mà ngày nay những người nam và nữ đang chuẩn bị một cách hữu thức hay vô thức. |
|
We will divide the problems of psychology into the following groupings: |
Chúng ta sẽ chia các vấn đề của tâm lý học thành những nhóm sau đây: |
|
1. The Problems of Cleavage, leading frequently to the many ways of escape, which constitute the bulk of the modern complexes. |
1. Các Vấn Đề của Sự Phân Rẽ, thường dẫn đến nhiều lối thoát, vốn cấu thành phần lớn các phức cảm hiện đại. |
|
[405] |
[405] |
|
2. The Problems of Integration, which produce many of the difficulties of the more advanced people. |
2. Các Vấn Đề của Sự Tích Hợp, tạo ra nhiều khó khăn nơi những người tiến bộ hơn. |
|
3. The Problems due to Inheritance, racial, family, etc., involving the problems of inherited diseases, with consequent crippling of the individual. |
3. Các Vấn Đề do Di Truyền, chủng tộc, gia đình, v.v., bao gồm các vấn đề về bệnh tật di truyền, với hậu quả là làm tàn phế cá nhân. |
|
With this third group I shall deal very little. There is not much to be done save to leave to time and greater wisdom much of the solution, coupled with an effort to bring amelioration to the individual thus afflicted, to supply glandular deficiency, training in self-control if possible, and the bringing of the physical vehicle to as high a point of development as may be possible within limits. The time is coming when every infant will early be subjected to certain tests and become the recipient of skilled care so that the apparatus of contact may be as usable as possible, as adaptive as may be, and as sound as it can be rendered. But I would here remind you that no physical equipment can be brought beyond a certain point of development in any one life—a point determined by the stage reached under the evolutionary process by racial factors, by the quality of the subtle or subjective nature, by past experience and by soul contact (distant, approaching or already made), and by the mental equipment. |
Với nhóm thứ ba này tôi sẽ bàn đến rất ít. Không thể làm được nhiều ngoài việc để thời gian và minh triết lớn hơn giải quyết phần lớn vấn đề, đi kèm với nỗ lực đem lại sự cải thiện cho cá nhân bị như thế, bù đắp sự thiếu hụt tuyến nội tiết, huấn luyện tự chủ nếu có thể, và đưa vận cụ hồng trần lên đến điểm phát triển cao nhất có thể trong giới hạn. Thời gian đang đến khi mỗi trẻ sơ sinh sẽ sớm được đặt dưới một số thử nghiệm nhất định và nhận được sự chăm sóc lành nghề để bộ máy tiếp xúc có thể sử dụng được tối đa, thích nghi được tối đa, và lành mạnh đến mức có thể làm cho nó trở nên như vậy. Nhưng ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng không bộ máy hồng trần nào có thể được đưa vượt quá một điểm phát triển nhất định trong bất kỳ một đời sống nào—một điểm được quyết định bởi giai đoạn đạt được trong tiến trình tiến hoá do các yếu tố chủng tộc, bởi phẩm tính của bản chất vi tế hay chủ quan, bởi kinh nghiệm quá khứ và bởi tiếp xúc linh hồn (xa xôi, đang đến gần hay đã được thiết lập), và bởi bộ máy trí tuệ. |
|
For the right understanding of our subject, and of my method of handling it, I would like to lay down four fundamental propositions: |
Để hiểu đúng chủ đề của chúng ta, và phương pháp tôi xử lý nó, tôi muốn nêu ra bốn mệnh đề căn bản: |
|
1. That in time and space, man is essentially dual, consisting of soul and body, of intelligent life and form, of a spiritual entity and the apparatus of contact—the body nature whereby that entity can become aware of worlds of phenomena and states of consciousness of a nature different to those on its own level of awareness. |
1. Trong thời gian và không gian, con người về bản chất là nhị nguyên, gồm linh hồn và thể, sự sống thông tuệ và hình tướng, một thực thể tinh thần và bộ máy tiếp xúc—bản chất thể xác nhờ đó thực thể ấy có thể trở nên nhận biết các thế giới hiện tượng và các trạng thái tâm thức có bản chất khác với những gì ở cấp độ nhận biết riêng của nó. |
|
2. That this body nature consists of the physical outer form, [406] the sum total of vitality or the etheric body (which science today is rapidly coming to recognise), the sensitive, emotional, desire body, and the mind. Through the physical body contact is made with the environing tangible world; through the vital body the impulses come which produce direction and activity upon the physical plane; through the sensory vehicle the astral or emotional nature originates the bulk of those desires and impulses which direct the undeveloped or average man, and which can be called desire-impulses or the wish-life of the individual; through the mind comes eventually intelligent understanding and a life directed by purpose and planning instead of desire. |
2. Bản chất thể xác này gồm hình tướng hồng trần bên ngoài, [406] tổng thể sinh lực hay thể dĩ thái (mà khoa học ngày nay đang nhanh chóng đi đến chỗ công nhận), thể nhạy cảm, cảm xúc, dục vọng, và trí tuệ. Qua thể xác, sự tiếp xúc được thực hiện với thế giới hữu hình xung quanh; qua thể sinh lực đến những xung lực tạo ra định hướng và hoạt động trên cõi hồng trần; qua vận cụ cảm giác, bản chất cảm dục hay cảm xúc khởi sinh phần lớn những ham muốn và xung lực chỉ đạo con người chưa phát triển hay trung bình, và có thể được gọi là các xung lực dục vọng hay đời sống ước muốn của cá nhân; qua trí tuệ cuối cùng đến sự thấu hiểu thông tuệ và một đời sống được chỉ đạo bởi mục đích và kế hoạch thay vì bởi dục vọng. |
|
3. That human unfoldment proceeds by a series of integrations, of processes of coordination or synthesis, involving as they do (particularly when the intelligence is beginning to control) a sense of cleavage and of duality. These integrations, as far as humanity is concerned, either lie far behind in the past, are proceeding at this time, or lie ahead in the future. |
3. Sự khai mở của con người tiến hành qua một chuỗi các sự tích hợp, các tiến trình phối hợp hay tổng hợp, vì chúng bao hàm (đặc biệt khi trí tuệ bắt đầu kiểm soát) một cảm nhận phân rẽ và nhị nguyên tính. Những sự tích hợp này, xét theo nhân loại, hoặc nằm rất xa trong quá khứ, hoặc đang diễn ra vào lúc này, hoặc nằm phía trước trong tương lai. |
|
Past Integrations. |
Các Sự Tích Hợp Quá Khứ . |
|
Between the animal body and the vital body. |
Giữa thể động vật và thể sinh lực. |
|
Between these two and the sensitive desire nature. |
Giữa hai thể này và bản chất dục vọng nhạy cảm. |
|
Between these three and the lower concrete mind. |
Giữa ba phương diện này và hạ trí cụ thể. |
|
Present Integrations. |
Các Sự Tích Hợp Hiện Tại . |
|
Between these four aspects thus producing a coordinated personality. |
Giữa bốn phương diện này, nhờ đó tạo ra một phàm ngã được phối hợp. |
|
Future Integration. |
Sự Tích Hợp Tương Lai. |
|
Between the personality and the Soul. |
Giữa phàm ngã và Linh hồn. |
|
There are other and higher integrations but with these we [407] need not here concern ourselves. They are reached through the processes of initiation and of service. The point to be remembered is that in racial history, many of these integrations have already taken place unconsciously as the result of life-stimulation, the evolutionary urge, the normal processes of living, experience through contact with the environment, and also of satisfaction leading to satiety of the desire nature. But there comes a time in racial unfoldment, as in the lives of individuals, when the blind process of evolutionary acquiescence becomes the living conscious effort, and it is right at this point that humanity stands today. Hence the realisation of the human problem in terms of modern psychology; hence the widespread suffering of human units everywhere; hence the effort of modern education; and hence also the emergence in every country on a wide scale and in increasingly large numbers of three kinds of people: |
Còn có những sự tích hợp khác và cao hơn, nhưng ở đây chúng ta [407] không cần đề cập đến. Chúng đạt được qua các tiến trình điểm đạo và phụng sự. Điều cần ghi nhớ là trong lịch sử nhân loại, nhiều sự tích hợp này đã diễn ra một cách vô thức như kết quả của sự kích thích của đời sống, xung lực tiến hoá, các tiến trình sống bình thường, kinh nghiệm qua tiếp xúc với môi trường, và cả sự thoả mãn dẫn đến bão hoà của bản chất dục vọng. Nhưng có một thời điểm trong sự khai mở của nhân loại, cũng như trong đời sống của các cá nhân, khi tiến trình mù quáng của sự thuận theo tiến hoá trở thành nỗ lực hữu thức sống động, và chính tại điểm này mà nhân loại ngày nay đang đứng. Do đó mới có sự nhận ra vấn đề của con người theo các thuật ngữ của tâm lý học hiện đại; do đó mới có nỗi đau khổ lan rộng của các đơn vị nhân loại ở khắp nơi; do đó mới có nỗ lực của nền giáo dục hiện đại; và do đó cũng xuất hiện trên quy mô rộng ở mọi quốc gia và với số lượng ngày càng lớn ba loại người: |
|
Those conscious of cleavage. |
Những người hữu thức về sự phân rẽ. |
|
Those achieving integration with much pain and difficulty. |
Những người đang đạt đến sự tích hợp với nhiều đau đớn và khó khăn. |
|
Personalities, or integrated and therefore dominant people. |
Các phàm ngã, hay những người đã tích hợp và vì thế có tính chi phối. |
|
4. That at the same time in every country, men and women are proceeding towards a still higher synthesis and achieving it:—the synthesis of soul and body. This produces a sense of destiny, individual and racial; a sense of purpose, and of plan. It produces also the unfoldment of the intuition (the sublimation of the intellect, as that was the sublimation of the instinctual nature) and the consequent recognition of the higher ideas and idealism, and of those basic truths which when disseminated among the thinking people of the world, will produce great mental and material changes, with their transitory accompaniments and upheaval, of chaos, experiment, destruction and rebuilding. |
4. Đồng thời, ở mọi quốc gia, những người nam và nữ đang tiến tới một sự tổng hợp còn cao hơn nữa và đang đạt được nó:—sự tổng hợp của linh hồn và thể. Điều này tạo ra một cảm nhận về định mệnh, cá nhân và chủng tộc; một cảm nhận về mục đích, và về kế hoạch. Nó cũng tạo ra sự khai mở của trực giác (sự thăng hoa của trí năng, cũng như trí năng là sự thăng hoa của bản chất bản năng) và do đó là sự nhận biết các ý tưởng cao hơn và chủ nghĩa lý tưởng, cùng những chân lý căn bản mà khi được phổ biến giữa những người biết suy nghĩ trên thế giới, sẽ tạo ra những thay đổi lớn về trí tuệ và vật chất, với những hệ quả nhất thời và những biến động của hỗn loạn, thử nghiệm, phá huỷ và tái thiết. |
|
[408] |
[408] |
|
Humanity provides a cultural field for all types, i.e. for those who are today expressions of past integrations, and those who are in process of becoming thinking human beings. The two earliest integrations, between the vital body and the physical form, and between these two and the desire nature, are no longer represented. They are universal and lie below the threshold of conscious activity and far behind in racial history. The only field in which they can be studied is in those processes of recapitulatory history of infancy wherein one can see the power to move and respond to the sensory apparatus, and the power to express desire, most clearly demonstrated. The same thing can also be noticed in infant and savage races. But the third stage of integration, that of gradual mental development, is proceeding apace and can be, and is being, most carefully studied. Today, modern education is occupied almost exclusively with this stage and when educators cease to train the brain cells or to deal with the evocation of memory, and when they cease to regard the brain and the mind as one, but learn to differentiate between the two, then great strides forward will be made. When the child receives training in mind control and when that mind is taught to direct the desire nature and the brain, producing direction of the physical vehicle from the mental level, then we shall see these three integrations carried forward with precision and with rapidity. Attention will then be given to the integration of the personality, so that all three aspects shall function as one unit. We have, therefore: |
Nhân loại cung cấp một lĩnh vực văn hoá cho mọi loại người, tức là cho những ai ngày nay là biểu hiện của các sự tích hợp quá khứ, và những ai đang trong tiến trình trở thành những con người biết suy nghĩ. Hai sự tích hợp sớm nhất, giữa thể sinh lực và hình tướng hồng trần, và giữa hai thể này với bản chất dục vọng, không còn được biểu hiện nữa. Chúng là phổ quát và nằm dưới ngưỡng hoạt động hữu thức và rất xa phía sau trong lịch sử nhân loại. Lĩnh vực duy nhất mà chúng có thể được nghiên cứu là trong những tiến trình lặp lại lịch sử của thời thơ ấu, nơi người ta có thể thấy quyền năng vận động và đáp ứng với bộ máy cảm giác, cùng quyền năng biểu lộ dục vọng, được chứng minh rõ ràng nhất. Điều tương tự cũng có thể được nhận thấy nơi các nhân loại ấu trĩ và man dã. Nhưng giai đoạn tích hợp thứ ba, tức sự phát triển trí tuệ dần dần, đang tiến triển nhanh chóng và có thể được, và đang được, nghiên cứu hết sức cẩn thận. Ngày nay, nền giáo dục hiện đại hầu như chỉ chuyên chú vào giai đoạn này, và khi các nhà giáo dục ngừng huấn luyện các tế bào não hay chỉ đề cập đến việc gợi lên ký ức, và khi họ ngừng xem bộ não và trí tuệ là một, mà học cách phân biệt giữa hai thứ ấy, thì những bước tiến lớn sẽ được thực hiện. Khi đứa trẻ nhận được sự huấn luyện về kiểm soát trí tuệ và khi trí tuệ ấy được dạy để chỉ đạo bản chất dục vọng và bộ não, tạo ra sự chỉ đạo vận cụ hồng trần từ cấp độ trí tuệ, thì chúng ta sẽ thấy ba sự tích hợp này được thúc đẩy với sự chính xác và nhanh chóng. Khi đó sự chú ý sẽ được dành cho sự tích hợp của phàm ngã, để cả ba phương diện hoạt động như một đơn vị. Vì vậy, chúng ta có: |
|
1. The child state, in which the three first integrations are brought about, and the objective of the educational procedure will be to effect this with the minimum of difficulty. |
1. Trạng thái trẻ thơ, trong đó ba sự tích hợp đầu tiên được thực hiện, và mục tiêu của tiến trình giáo dục sẽ là thực hiện điều này với mức khó khăn tối thiểu. |
|
2. The human state, dealing with the integration of all the [409] aspects into one functioning self-conscious, self-directed personality. |
2. Trạng thái nhân loại, liên quan đến sự tích hợp của tất cả [409] các phương diện thành một phàm ngã tự ý thức, tự chỉ đạo, hoạt động như một đơn vị. |
|
3. The spiritual state, dealing with the integration of the personality and the soul, thus evoking the consciousness of the Whole. When this is accomplished, group consciousness is added to self-consciousness, and this is the second great step on the way to God consciousness. |
3. Trạng thái tinh thần, liên quan đến sự tích hợp của phàm ngã và linh hồn, nhờ đó gợi lên tâm thức về Toàn Thể. Khi điều này được hoàn tất, tâm thức nhóm được thêm vào ngã thức, và đây là bước lớn thứ hai trên con đường tiến tới tâm thức Thượng đế. |
|
The difficulty today is that we have on every hand people at all different stages in the integrative process; all of them in a “state of crisis” and all of them therefore providing the problems of modern psychology. |
Khó khăn ngày nay là ở khắp nơi chúng ta đều có những người ở mọi giai đoạn khác nhau trong tiến trình tích hợp; tất cả họ đều ở trong một “trạng thái khủng hoảng” và vì thế đều tạo ra các vấn đề của tâm lý học hiện đại. |
|
These problems may be divided more precisely into three major groupings: |
Những vấn đề này có thể được chia chính xác hơn thành ba nhóm lớn: |
|
a. The Problems of Cleavage. These in their turn are of two kinds: |
a. Các Vấn Đề của Sự Phân Rẽ. Đến lượt chúng, chúng có hai loại: |
|
1. The problems of integration. |
1. Các vấn đề của sự tích hợp. |
|
2. Those arising out of a sense of duality. |
2. Những vấn đề phát sinh từ cảm nhận nhị nguyên tính. |
|
This sense of duality, as the result of realised cleavage, ranges all the way from the “split personality” difficulties of so many people to those of the mystic with his emphasis upon the lover and the loved, the seeker and the sought, upon God and His child. |
Cảm nhận nhị nguyên tính này, như kết quả của sự phân rẽ được nhận ra, trải dài từ những khó khăn của “phàm ngã phân đôi” nơi rất nhiều người cho đến những khó khăn của nhà thần bí với sự nhấn mạnh của y vào người yêu và người được yêu, người tìm kiếm và điều được tìm kiếm, vào Thượng đế và con của Ngài. |
|
b. The Problems of Integration, which produce many of the difficulties of the more advanced people. |
b. Các Vấn Đề của Sự Tích Hợp, tạo ra nhiều khó khăn nơi những người tiến bộ hơn. |
|
c. The Problems of Stimulation. These arise as the result of an achieved synthesis and integration, producing consequently an inflow of unaccustomed energy. This inflow may express itself as a high voltage ambition, as a sense of power, as desire for personality influence or as true spiritual power and force. In every case, [410] however, comprehension of the resultant phenomena is required, and most careful handling. |
c. Các Vấn Đề của Sự Kích Thích. Những vấn đề này phát sinh như kết quả của một sự tổng hợp và tích hợp đã đạt được, do đó tạo ra một dòng năng lượng không quen thuộc tuôn vào. Dòng tuôn vào này có thể biểu lộ như một tham vọng điện thế cao, như một cảm nhận quyền lực, như ham muốn ảnh hưởng phàm ngã hay như quyền năng và mãnh lực tinh thần chân chính. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, [410] sự thấu hiểu các hiện tượng phát sinh là điều cần thiết, và phải được xử lý hết sức cẩn trọng. |
|
Arising from these problems we find also— |
Phát sinh từ những vấn đề này, chúng ta cũng thấy— |
|
1. Mental Problems. Certain definite complexes occur when the integration of the mind with the three lower aspects has been brought about, and some clear thought about them will be useful. |
1. Các Vấn Đề Trí Tuệ. Một số phức cảm xác định xuất hiện khi sự tích hợp của trí tuệ với ba phương diện thấp đã được thực hiện, và một số tư tưởng rõ ràng về chúng sẽ hữu ích. |
|
2. The Diseases of Mystics. These are concerned with those attitudes of mind, those complexities of idea and those “spiritual enterprises” which affect the mystically inclined or those who are aware of the spiritual dualism of which St. Paul wrote in the Epistle to the Romans. He wrote as follows: |
2. Các Bệnh của Nhà Thần Bí. Những bệnh này liên quan đến những thái độ của trí tuệ, những phức hợp của ý tưởng và những “doanh nghiệp tinh thần” ảnh hưởng đến những người có khuynh hướng thần bí hay những ai nhận biết nhị nguyên tính tinh thần mà Thánh Paul đã viết đến trong Thư gửi tín hữu La Mã. Ông đã viết như sau: |
|
“For we know that the law is spiritual: but I am carnal, sold under sin. |
“Vì chúng ta biết rằng định luật là tinh thần; nhưng tôi thì xác thịt, bị bán dưới tội lỗi. |
|
For that which I do I allow not: for what I would, that do I not; but what I hate, that do I. |
Vì điều tôi làm, tôi chẳng chấp nhận; vì điều tôi muốn, tôi lại không làm; nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại làm. |
|
If then I do what I would not, I consent under the law that it is good. |
Vậy nếu tôi làm điều tôi không muốn, thì tôi đồng ý với định luật rằng nó là tốt. |
|
Now then it is no more I that do it, but sin that dwelleth in me. |
Nhưng bây giờ không còn phải là tôi làm điều đó nữa, mà là tội lỗi ở trong tôi. |
|
For I know that in me (that is, in my flesh), dwelleth no good thing: for to will is present with me; but how to perform that which is good I find not. |
Vì tôi biết rằng trong tôi (nghĩa là trong xác thịt tôi), không có điều gì tốt ngự ở; vì ý muốn thì có nơi tôi; nhưng làm thế nào để thực hiện điều tốt, tôi không tìm thấy. |
|
For the good that I would, I do not: but the evil which I would not, that I do. |
Vì điều tốt tôi muốn, tôi không làm; nhưng điều xấu tôi không muốn, thì tôi lại làm. |
|
Now if I do that I would not, it is no more I that do it, but sin that dwelleth in me. |
Vậy nếu tôi làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là tôi làm điều đó nữa, mà là tội lỗi ở trong tôi. |
|
I find then a law, that, when I would do good, evil if present with me. |
Vậy tôi thấy một định luật rằng, khi tôi muốn làm điều tốt, thì điều xấu lại hiện diện nơi tôi. |
|
For I delight in the law of God after the inward man: |
Vì theo con người bên trong, tôi vui thích trong định luật của Thượng đế: |
|
But I see another law in my members, warring against the law of my mind, and bringing me into captivity to the law of sin which is in my members. |
Nhưng tôi thấy một định luật khác trong các chi thể tôi, chiến đấu chống lại định luật của trí tuệ tôi, và bắt tôi làm tù binh cho định luật của tội lỗi ở trong các chi thể tôi. |
|
[411] |
[411] |
|
O wretched man that I am! Who shall deliver me from the body of this death?” (Romans VII, 14-24) |
“Ôi, tôi là con người khốn khổ dường nào! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thể xác của sự chết này?” (La Mã VII, 14-24) |
|
These difficulties will call for increasing attention as the race proceeds towards personality integration and from thence to soul contact. |
Những khó khăn này sẽ đòi hỏi sự chú ý ngày càng tăng khi nhân loại tiến tới sự tích hợp phàm ngã và từ đó tiến tới tiếp xúc với linh hồn. |
|
It will be apparent to you, therefore, how wide is our subject and of what real importance. It will be obvious to you also that much of our nervous disease, our inhibitions, suppressions, submissions, or their reverse aspects, are tied up with this whole process of successive syntheses or fusions. |
Do đó, các bạn sẽ thấy rõ đề tài của chúng ta rộng lớn đến mức nào và có tầm quan trọng thực sự ra sao. Các bạn cũng sẽ thấy hiển nhiên rằng phần lớn các bệnh thần kinh của chúng ta, các sự ức chế, dồn nén, quy phục, hay các phương diện đối nghịch của chúng, đều gắn liền với toàn bộ tiến trình của những sự tổng hợp hay dung hợp kế tiếp nhau này. |
|
Two points should be touched upon here: First, that in any consideration of the human being—whether we regard him simply as a man or as a spiritual entity—we are in reality dealing with a most complex aggregate of differentiated energies, through which or among which the consciousness plays. This consciousness is, in the early stages, nothing more than a vague diffused awareness, undefined, unidentified and free from any definite focus of attention. Later, it becomes more awake and aware and the focus becomes centred in the realm of selfish desire, and its satisfaction and assuagement. To this condition we can give the general name of the “wish life” with its objective, personal happiness, leading eventually to consummated desire, but a consummated desire postponed till after death and to which we have given the name “heaven”. Later (again as the mind nature integrates with the other more developed aspects), we have the emergence of a definitely self-conscious entity, and a strictly human being, characterised by intelligence, comes into active expression. The focus of attention is still the satisfaction of desire, but it is the desire to know, the will to understand through investigation, discrimination and analysis. |
Ở đây cần đề cập đến hai điểm: Thứ nhất, rằng trong bất kỳ sự xem xét nào về con người—dù chúng ta nhìn y đơn thuần như một con người hay như một thực thể tinh thần—thì trên thực tế chúng ta đang đề cập đến một tổng thể cực kỳ phức tạp của những năng lượng đã biến phân, xuyên qua đó hay giữa đó tâm thức vận hành. Tâm thức này, trong các giai đoạn đầu, không là gì hơn một sự nhận biết mơ hồ, lan tỏa, không xác định, không được nhận diện và không có bất kỳ tiêu điểm chú ý rõ rệt nào. Về sau, nó trở nên tỉnh thức và nhận biết hơn, và tiêu điểm trở nên tập trung trong lĩnh vực của ham muốn ích kỷ, cùng sự thỏa mãn và xoa dịu của nó. Đối với tình trạng này, chúng ta có thể đặt tên chung là “đời sống ước muốn”, với mục tiêu là hạnh phúc cá nhân, khách quan, cuối cùng dẫn đến ham muốn được hoàn tất, nhưng là một ham muốn được hoàn tất bị trì hoãn cho đến sau khi chết và điều đó chúng ta đã gọi là “thiên đàng”. Về sau nữa (khi bản chất trí tuệ tích hợp với các phương diện khác đã phát triển hơn), chúng ta có sự xuất hiện của một thực thể ngã thức rõ rệt, và một con người đúng nghĩa, được đặc trưng bởi trí tuệ, đi vào biểu hiện tích cực. Tiêu điểm chú ý vẫn là sự thỏa mãn ham muốn, nhưng đó là ham muốn hiểu biết, ý chí muốn thấu hiểu thông qua khảo cứu, phân biện và phân tích. |
|
Finally comes the period of personality integration wherein [412] there is the will-to-power, with self-consciousness directed to the domination of the lower nature, and with the objective of the domination of the environment, of other human beings in small or large numbers, and of circumstance. When this has been grasped and understood, the focus of attention shifts into the realm of the higher energies, and the soul factor becomes increasingly active and prominent, dominating and disciplining the personality, interpreting its environment in new terms, and producing a synthesis, hitherto unrecognised, between the two kingdoms of nature—the human and the spiritual. |
Cuối cùng đến giai đoạn tích hợp phàm ngã, trong đó [412] có ý chí hướng tới quyền lực, với ngã thức được hướng đến sự thống trị bản chất thấp, và với mục tiêu là thống trị môi trường, những con người khác với số lượng ít hay nhiều, và hoàn cảnh. Khi điều này đã được nắm bắt và thấu hiểu, tiêu điểm chú ý chuyển vào lĩnh vực của các năng lượng cao hơn, và yếu tố linh hồn trở nên ngày càng hoạt động và nổi bật, thống trị và rèn luyện phàm ngã, diễn giải môi trường của nó theo những thuật ngữ mới, và tạo ra một sự tổng hợp, từ trước đến nay chưa được nhận ra, giữa hai giới trong thiên nhiên—giới nhân loại và giới tinh thần. |
|
Throughout all these processes we see the bringing together of many types of energy, all of them distinguished by quality of some kind or another, which—when brought into relation with each other—produce first of all a period of chaos, of anarchy and of difficulty. Later ensues a period of synthesis, of organised activity and of a fuller expression of divinity. But there remains for a long time the need for recognition of energy and its right use. |
Xuyên suốt mọi tiến trình này, chúng ta thấy có sự quy tụ của nhiều loại năng lượng, tất cả đều được phân biệt bởi một loại phẩm tính nào đó, và khi được đặt vào tương quan với nhau, trước hết tạo ra một giai đoạn hỗn loạn, vô trật tự và khó khăn. Về sau tiếp đến một giai đoạn tổng hợp, hoạt động có tổ chức và biểu hiện đầy đủ hơn của thiên tính. Nhưng trong một thời gian dài vẫn còn nhu cầu phải nhận biết năng lượng và sử dụng nó đúng đắn. |
|
The second point I seek to make is that these inner energies make their contact through the medium of the vital or etheric body, which is composed of energy streams; these work through seven focal points or centres of force in the etheric body. These centres of energy are found in close proximity to, or in relation to, the seven sets of major glands: |
Điểm thứ hai mà tôi muốn nêu ra là các năng lượng bên trong này tiếp xúc thông qua trung gian của thể sinh lực hay thể dĩ thái, vốn được cấu thành bởi các dòng năng lượng; các dòng này hoạt động qua bảy tiêu điểm hay trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái. Các trung tâm năng lượng này được tìm thấy ở rất gần, hay có liên hệ với, bảy nhóm tuyến chính: |
|
1. The pineal gland. |
1. Tuyến tùng. |
|
2. The pituitary body. |
2. Tuyến yên. |
|
3. The thyroid and para-thyroid glands. |
3. Tuyến giáp trạng và cận giáp trạng. |
|
4. The thymus gland. |
4. Tuyến ức. |
|
5. The pancreas. |
5. Tuyến tụy. |
|
6. The adrenals. |
6. Tuyến thượng thận. |
|
7. The gonads. |
7. Tuyến sinh dục. |
|
[413] |
[413] |
|
These centres are: |
Các trung tâm này là: |
|
1. The head centre. |
1. Trung tâm đầu. |
|
2. The centre between the eyebrows. |
2. Trung tâm giữa hai chân mày. |
|
3. The throat centre. |
3. Trung tâm cổ họng. |
|
4. The heart centre. |
4. Trung tâm tim. |
|
5. The solar plexus centre. |
5. Trung tâm tùng thái dương. |
|
6. The centre at the base of the spine. |
6. Trung tâm ở đáy cột sống. |
|
7. The sacral centre. |
7. Trung tâm xương cùng. |
|
These centres are closely concerned with the endocrine system, which they determine and condition according to the quality and source of the energy which flows through them. With this I have dealt at length in my other books, and so shall not here enlarge upon it beyond calling your attention to the relation between the centres of force in the etheric body, the processes of integration, which bring one centre after another into activity, and the eventual control of the soul, after the final at-one-ment of the entire personality. |
Các trung tâm này liên hệ mật thiết với hệ nội tiết, là hệ mà chúng quyết định và tác động theo phẩm tính và nguồn gốc của năng lượng chảy qua chúng. Tôi đã bàn đến điều này khá dài trong các sách khác của tôi, nên ở đây sẽ không nói thêm ngoài việc lưu ý các bạn về mối liên hệ giữa các trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái, các tiến trình tích hợp—là những tiến trình đưa lần lượt từng trung tâm vào hoạt động—và sự kiểm soát cuối cùng của linh hồn, sau sự hợp nhất sau cùng của toàn bộ phàm ngã. |
|
Only when modern psychologists add to the amazingly interesting knowledge they have of the lower man, an occidental interpretation of the oriental teaching about the centres of force through which the subjective aspects of man—lower, personal and divine—are to be expressed, will they solve the human problem and arrive at an understanding of the technique of unfoldment and of integration which will lead to intelligent comprehension, a wise solution of the difficulties, and a correct interpretation of the peculiarities with which they are so frequently confronted. When to this acceptance can be added a study of the seven major types, the science of psychology will be brought another step nearer its eventual usefulness as a major instrument in the technique of human perfecting. They will be greatly helped also by a study of astrology from the angle of energy contacts, of the [414] lines of least resistance, and as one of the determining influences and characteristics of the type under consideration. I refer not here to the casting of a horoscope with the objective of discovering the future or of determining action. This aspect of astrological interpretation will become less and less useful as men achieve the power to control and to govern their stars and so direct their own lives. I refer to the recognition of the astrological types, of their characteristics and qualities and tendencies. |
Chỉ khi nào các nhà tâm lý học hiện đại bổ sung vào kho tri thức vô cùng lý thú mà họ có về phàm nhân một cách diễn giải theo phương Tây đối với giáo huấn phương Đông về các trung tâm mãnh lực, qua đó các phương diện chủ quan của con người—thấp, cá nhân và thiêng liêng—được biểu lộ, thì họ mới giải quyết được vấn đề con người và đi đến chỗ thấu hiểu kỹ thuật của sự khai mở và của sự tích hợp, điều sẽ dẫn đến sự hiểu biết thông minh, một giải pháp khôn ngoan cho các khó khăn, và một cách diễn giải đúng đắn về những đặc điểm kỳ lạ mà họ thường xuyên phải đối diện. Khi sự chấp nhận này được bổ sung bằng việc nghiên cứu bảy loại chính, khoa học tâm lý học sẽ tiến thêm một bước nữa đến tính hữu dụng tối hậu của nó như một công cụ chủ yếu trong kỹ thuật hoàn thiện con người. Họ cũng sẽ được trợ giúp rất nhiều bởi việc nghiên cứu chiêm tinh học từ góc độ các tiếp xúc năng lượng, các [414] con đường ít trở ngại nhất, và như một trong những ảnh hưởng và đặc tính quyết định của loại hình đang được xem xét. Ở đây tôi không nói đến việc lập một lá số chiêm tinh với mục tiêu khám phá tương lai hay xác định hành động. Phương diện này của sự diễn giải chiêm tinh sẽ ngày càng ít hữu ích hơn khi con người đạt được năng lực kiểm soát và cai quản các vì sao của mình và nhờ đó định hướng đời sống riêng của mình. Điều tôi nói đến là sự nhận biết các loại hình chiêm tinh, các đặc điểm, phẩm tính và khuynh hướng của chúng. |
|
Bearing in mind the analysis earlier made of the various aspects of the human being, which—during the evolutionary process—are gradually fused into one integrated person, let us remember that the fusion effected and the changes brought about are the result of the steady shift of the consciousness. It becomes increasingly inclusive. We are not dealing here with the form aspect as much as with the conscious realisation of the dweller in the body. It is in this region that our problems lie, and it is with this developing consciousness that the psychologist has primarily to deal. From the angle of the omniscient soul, the consciousness is limited, disturbed, exclusive, self-centred, distorted, erratic and, in the early stages, deceived. It is only when the processes of development have been carried forward to a relatively high point and the awareness of duality is beginning to emerge, that the real problems and the major difficulties and dangers are encountered and the man becomes aware of his situation. Before that time, the difficulties are of a different nature and revolve largely around the physical equipment, are concerned with the slowness of the vital reactions and the low grade desires of the animal nature. The human being is, at that stage, largely an animal, and the conscious man is deeply hidden and imprisoned. It is the life principle and urge which dominate and the instinctual nature which controls. The solar plexus is the [415] seat of the consciousness and the head and brain are inactive. |
Ghi nhớ sự phân tích đã được thực hiện trước đây về các phương diện khác nhau của con người, những phương diện mà—trong tiến trình tiến hoá—dần dần được dung hợp thành một con người tích hợp, chúng ta hãy nhớ rằng sự dung hợp được thực hiện và những thay đổi được tạo ra là kết quả của sự chuyển dịch đều đặn của tâm thức. Nó trở nên ngày càng bao gồm hơn. Ở đây chúng ta không đề cập đến phương diện hình tướng nhiều bằng sự chứng nghiệm có ý thức của kẻ cư ngụ trong thể. Chính trong lĩnh vực này mà các vấn đề của chúng ta nằm ở đó, và chính với tâm thức đang phát triển này mà nhà tâm lý học trước hết phải đề cập đến. Từ góc độ của linh hồn toàn tri, tâm thức thì hạn chế, xáo trộn, loại trừ, tập trung vào bản thân, méo mó, thất thường và, trong các giai đoạn đầu, bị lừa dối. Chỉ khi các tiến trình phát triển đã được đưa tới một điểm tương đối cao và sự nhận biết về nhị nguyên tính bắt đầu xuất hiện, thì các vấn đề thực sự và những khó khăn cùng nguy hiểm lớn mới được gặp phải và con người mới ý thức được tình trạng của mình. Trước thời điểm đó, các khó khăn có bản chất khác và phần lớn xoay quanh bộ máy hồng trần, liên quan đến sự chậm chạp của các phản ứng sinh lực và những ham muốn thấp kém của bản chất thú vật. Ở giai đoạn đó, con người phần lớn là một con vật, và con người có ý thức bị che giấu sâu kín và bị giam hãm. Chính nguyên khí sự sống và xung lực là cái thống trị, và bản chất bản năng là cái kiểm soát. Tùng thái dương là [415] trụ sở của tâm thức, còn đầu và bộ não thì bất hoạt. |
|
It should also be remembered here (as I have oft pointed out) that the reality which we call the soul is basically an expression of three types of energy—life, love and intelligence. For the reception of these three energies, the triple lower nature has been prepared and the intelligence aspect reflects itself in the mind, the love nature in the emotional desire body, and the life principle in and through the etheric or vital body. As regards the physical body in its more dense expression (for the etheric body is the more subtle aspect or expression of the physical body), the soul anchors itself in two streams of energy at two points of contact: the life stream in the heart and the consciousness stream in the head. This consciousness aspect is itself dual, and that which we call self-consciousness is gradually unfolded and perfected until the ajna centre, or the centre between the eyebrows, is awakened. The latent group-consciousness, which brings realisation of the greater Whole, is quiescent for the greater part of the evolutionary cycle, until the integrative process has proceeded to such a point that the personality is functioning. Then the head centre begins to awaken and the man becomes conscious in the larger sense. Head and heart then link up, and the spiritual man appears in fuller expression. |
Ở đây cũng nên nhớ (như tôi thường chỉ ra) rằng thực tại mà chúng ta gọi là linh hồn về căn bản là một biểu hiện của ba loại năng lượng—sự sống, bác ái và trí tuệ. Để tiếp nhận ba năng lượng này, bản chất thấp tam phân đã được chuẩn bị, và phương diện trí tuệ phản chiếu chính nó trong thể trí, bản chất bác ái trong thể ham muốn cảm xúc, và nguyên khí sự sống trong và qua thể dĩ thái hay thể sinh lực. Xét về thể xác trong biểu hiện đậm đặc hơn của nó (vì thể dĩ thái là phương diện hay biểu hiện tinh tế hơn của thể xác), linh hồn neo chính nó vào hai dòng năng lượng tại hai điểm tiếp xúc: dòng sự sống trong tim và dòng tâm thức trong đầu. Chính phương diện tâm thức này lại là nhị phân, và điều mà chúng ta gọi là ngã thức dần dần được khai mở và hoàn thiện cho đến khi trung tâm ajna, hay trung tâm giữa hai chân mày, được đánh thức. Tâm thức nhóm tiềm tàng, vốn đem lại sự chứng nghiệm về Toàn Thể lớn hơn, nằm yên trong phần lớn chu kỳ tiến hoá, cho đến khi tiến trình tích hợp đã tiến xa đến mức phàm ngã đang hoạt động. Khi đó trung tâm đầu bắt đầu thức tỉnh và con người trở nên có ý thức theo nghĩa rộng lớn hơn. Khi ấy đầu và tim liên kết với nhau, và con người tinh thần xuất hiện trong biểu hiện đầy đủ hơn. |
|
This, I know, is familiar teaching to you but it is of value briefly to recapitulate and get the picture clear. Bearing these premises in mind, we will not deal with the earliest difficulties but will begin with those of modern man, and with those conditions with which we are all too sadly familiar. |
Tôi biết đây là giáo huấn quen thuộc với các bạn, nhưng việc tóm lược ngắn gọn và làm cho bức tranh trở nên rõ ràng là điều có giá trị. Ghi nhớ những tiền đề này, chúng ta sẽ không đề cập đến những khó khăn sớm nhất mà sẽ bắt đầu với những khó khăn của con người hiện đại, và với những tình trạng mà tất cả chúng ta đều quá đau buồn quen thuộc. |
a. PROBLEMS OF CLEAVAGE—CÁC VẤN ĐỀ CỦA SỰ PHÂN LY
|
Thinkers are today awakening to this particular type of difficulty and finding the cleavages in human nature so widespread and so deep seated in the very constitution of the race [416] itself that they are viewing the situation with much concern. These cleavages seem basic, and produce the divisions we find everywhere between race and race and between religion and religion, and can be traced back to the fundamental condition of manifestation which we call the relationship of positive and negative, of male and female and, esoterically speaking, of the sun and the moon. The mystery of sex itself is bound up with the re-establishment of the sense of unity and of balance, of oneness or of wholeness. In its higher human aspect, this sexual differentiation is only the symbol or lowest expression of the cleavage or separativeness of which the mystic is aware and which makes him seek at-one-ment or union with what he calls divinity. In between this physical cleavage and this spiritual recognition of divinity lie a large number of lesser cleavages of which man becomes aware. |
Ngày nay các nhà tư tưởng đang thức tỉnh trước loại khó khăn đặc biệt này và nhận thấy những sự phân ly trong bản chất con người lan rộng và ăn sâu vào chính cấu tạo của nhân loại [416] đến nỗi họ đang nhìn tình hình với nhiều lo ngại. Những sự phân ly này dường như có tính căn bản, và tạo ra những chia rẽ mà chúng ta thấy ở khắp nơi giữa nhân loại này với nhân loại khác và giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, và có thể được truy nguyên về tình trạng căn bản của biểu hiện mà chúng ta gọi là mối liên hệ giữa dương và âm, giữa nam và nữ, và nói một cách huyền bí, giữa mặt trời và mặt trăng. Chính huyền nhiệm của giới tính gắn liền với việc tái lập cảm nhận hợp nhất và quân bình, của nhất thể hay toàn thể. Trong phương diện nhân loại cao hơn của nó, sự phân biệt giới tính này chỉ là biểu tượng hay biểu hiện thấp nhất của sự phân ly hay tính tách biệt mà nhà thần bí nhận biết và điều đó khiến y tìm kiếm sự hợp nhất hay kết hợp với điều mà y gọi là thiên tính. Giữa sự phân ly hồng trần này và sự nhận biết tinh thần về thiên tính này là một số lượng lớn những sự phân ly nhỏ hơn mà con người nhận biết được. |
|
Behind all of this is to be found a still more fundamental cleavage—that between the human kingdom and the kingdom of souls—a cleavage in consciousness more than in fact. The cleavage between the animal and the human kingdom has been largely resolved through the recognition of the physical identity of the animal nature and the uniformity in expression of the instinctual nature. Within the human family, the various cleavages of which man is so distressingly aware will be bridged and ended when the mind is trained to control and to dominate within the realm of the personality and is correctly used as an analytical, integrating factor instead of as a critical, discriminating, separative factor. The right use of the intellect is essential to the healing of the personality cleavages. The cleavage between personality and the soul is resolved by the right use of: |
Đằng sau tất cả điều này còn có thể tìm thấy một sự phân ly căn bản hơn nữa—đó là giữa giới nhân loại và giới các linh hồn—một sự phân ly trong tâm thức hơn là trong thực tế. Sự phân ly giữa giới động vật và giới nhân loại phần lớn đã được giải quyết thông qua việc nhận biết sự đồng nhất hồng trần của bản chất thú vật và tính đồng nhất trong biểu hiện của bản chất bản năng. Trong gia đình nhân loại, những sự phân ly khác nhau mà con người đau đớn nhận biết sẽ được bắt cầu và chấm dứt khi trí tuệ được rèn luyện để kiểm soát và thống trị trong phạm vi phàm ngã và được sử dụng đúng đắn như một yếu tố phân tích, tích hợp thay vì như một yếu tố phê phán, phân biện, tách biệt. Việc sử dụng đúng đắn trí năng là điều thiết yếu để chữa lành những sự phân ly của phàm ngã. Sự phân ly giữa phàm ngã và linh hồn được giải quyết bằng việc sử dụng đúng đắn: |
|
[417] |
[417] |
|
1. The instinctual sense of divinity which leads to reorientation in the right direction. This leads to— |
1. Cảm nhận bản năng về thiên tính, dẫn đến sự tái định hướng theo chiều hướng đúng đắn. Điều này dẫn đến— |
|
2. The intelligent use of the mind so that it becomes consciously aware of the soul and of the laws which govern soul unfoldment. |
2. Việc sử dụng thông minh trí tuệ để nó trở nên nhận biết một cách có ý thức về linh hồn và về các định luật chi phối sự khai mở của linh hồn. |
|
3. The intuitive recognition of reality, which resolves the differentiated parts into a unit, producing illumination. |
3. Sự nhận biết trực giác về thực tại, điều giải quyết các phần đã biến phân thành một đơn vị, tạo ra sự soi sáng. |
|
4. This illumination reveals the essential oneness which exists on the inner side of life and negates the outer appearance of separativeness. |
4. Chính sự soi sáng này mặc khải tính nhất thể cốt yếu hiện hữu ở mặt bên trong của sự sống và phủ nhận sắc tướng bên ngoài của tính tách biệt. |
|
Thus it will be apparent to you that the cleavages are “healed” by a right and intelligent use of the quality aspect of the form nature: |
Như vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những sự phân ly được “chữa lành” bằng việc sử dụng đúng đắn và thông minh phương diện phẩm tính của bản chất hình tướng: |
|
1. Instinct distinguishes the automatic physical nature, the vital or life vehicle and the desire nature. It works through the solar plexus and the organs of reproduction. |
1. Bản năng phân biệt bản chất hồng trần tự động, vận cụ sinh lực hay sự sống, và bản chất ham muốn. Nó hoạt động qua tùng thái dương và các cơ quan sinh sản. |
|
2. Intelligence distinguishes the mind aspect or mental vehicle, and works through the clearing house of the brain, and through the ajna and throat centres. |
2. Trí tuệ phân biệt phương diện trí tuệ hay thể trí, và hoạt động qua trung tâm chuyển tiếp là bộ não, cùng qua các trung tâm ajna và cổ họng. |
|
3. Intuition distinguishes the soul nature and it works through the mind, the heart centre and the head centre. From these three major points the soul governs eventually the personality. |
3. Trực giác phân biệt bản chất linh hồn và nó hoạt động qua trí tuệ, trung tâm tim và trung tâm đầu. Từ ba điểm chính này, linh hồn cuối cùng cai quản phàm ngã. |
|
I commend these ideas to your careful consideration and assure you that rightly understood they will aid in the solution of the problems connected with the various cleavages in human nature. |
Tôi xin giao phó những ý tưởng này cho sự suy xét cẩn trọng của các bạn và bảo đảm với các bạn rằng nếu được thấu hiểu đúng đắn, chúng sẽ trợ giúp trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến những sự phân ly khác nhau trong bản chất con người. |
|
There is no cleavage to be found today between the vital body and the physical body. There is only at times a partial cleavage and what one might call a “loose connection”. The two streams of living energy—life and consciousness—are [418] usually anchored in the head and heart. In the case of certain forms of idiocy however, the consciousness stream is not anchored at all in the body, but only the life stream has made its contact in the heart. There is, therefore, no self-consciousness, no power of centralised control and no capacity to direct action or to provide in any way a life programme or plan. There is only responsiveness to aspects of the instinctual nature. |
Ngày nay không có sự phân ly nào giữa thể sinh lực và thể xác. Chỉ đôi khi có một sự phân ly từng phần và điều mà người ta có thể gọi là một “mối nối lỏng lẻo”. Hai dòng năng lượng sống—sự sống và tâm thức— [418] thường được neo trong đầu và tim. Tuy nhiên, trong trường hợp một số dạng ngu đần, dòng tâm thức hoàn toàn không được neo trong thể, mà chỉ có dòng sự sống tiếp xúc tại tim. Do đó, không có ngã thức, không có năng lực kiểm soát tập trung, và không có khả năng định hướng hành động hay cung cấp dưới bất kỳ hình thức nào một chương trình hay kế hoạch sống. Chỉ có sự đáp ứng với các phương diện của bản chất bản năng. |
|
Certain forms of epilepsy are due to what we might call “a loose connection”, the consciousness stream or thread of energy is subject at times to withdrawal or abstraction, and this produces the familiar epileptoid symptoms and the distressing conditions seen in the usual fit. In a lesser degree, and producing no permanent, dangerous results, the same basic cause produces the so-called “petit mal” and certain types of fainting fits; these are caused by the brief and temporary withdrawal of the thread of consciousness energy. It should be remembered that when this withdrawal takes place and there is a separation of the consciousness from the vehicle of conscious contact, all that we understand by the term consciousness, such as self-consciousness, desire and intelligence, is abstracted and only life and the consciousness inherent in the physical body cells remain. |
Một số dạng động kinh là do điều mà chúng ta có thể gọi là “mối nối lỏng lẻo”; dòng tâm thức hay sợi dây năng lượng đôi khi bị rút lui hay trừu xuất, và điều này tạo ra các triệu chứng động kinh quen thuộc cùng những tình trạng đau đớn thấy trong cơn co giật thông thường. Ở mức độ nhẹ hơn, và không tạo ra kết quả nguy hiểm, lâu dài, cùng một nguyên nhân căn bản ấy tạo ra cái gọi là “petit mal” và một số loại ngất xỉu; những điều này do sự rút lui ngắn ngủi và tạm thời của sợi dây năng lượng tâm thức gây ra. Cần nhớ rằng khi sự rút lui này diễn ra và có sự tách rời của tâm thức khỏi vận cụ tiếp xúc có ý thức, thì tất cả những gì chúng ta hiểu bằng thuật ngữ tâm thức, như ngã thức, ham muốn và trí tuệ, đều bị trừu xuất và chỉ còn lại sự sống cùng tâm thức vốn có trong các tế bào của thể xác. |
|
As a rule, however, the average man today is a closely knit and functioning unit. (This is true whether one is considering the unevolved masses or the materialistically minded citizens of the world.) He is firmly integrated physically, etherically and emotionally. His physical body, his vital body and his desire nature (for emotion is but expressed desire of some kind or another) are closely knit. At the same time there can be a weakness in the etheric integration, of such a nature that there is a low vitality, a lack of desire impulses, a failure to register adequate dynamic incentives, immaturity and [419] sometimes obsession or possession. Frequently what is called a lack of will and the labelling of a person as “weak-willed” or “weak-minded” has in reality nothing to do with the will, but is apt to be the result of this feeble integration and loose connection between the consciousness and the brain which renders the man negative to the desire impulses which should normally stream through into his brain, galvanising his physical vehicle into some form of activity. |
Tuy nhiên, theo quy luật, con người trung bình ngày nay là một đơn vị gắn kết chặt chẽ và đang hoạt động. (Điều này đúng dù người ta đang xét đến quần chúng chưa tiến hoá hay những công dân thế giới có đầu óc duy vật.) Y được tích hợp vững chắc về mặt hồng trần, dĩ thái và cảm xúc. Thể xác, thể sinh lực và bản chất ham muốn của y (vì cảm xúc chỉ là ham muốn được biểu lộ dưới hình thức này hay hình thức khác) gắn kết chặt chẽ với nhau. Đồng thời, có thể có một sự yếu kém trong sự tích hợp dĩ thái, có bản chất đến mức tạo ra sinh lực thấp, thiếu các xung lực ham muốn, không ghi nhận được những động lực năng động thích đáng, sự non nớt và [419] đôi khi là ám nhập hay bị nhập xác. Thường thường điều được gọi là thiếu ý chí và việc gán nhãn một người là “ý chí yếu” hay “đầu óc yếu” trên thực tế không liên quan gì đến ý chí, mà có khuynh hướng là kết quả của sự tích hợp yếu ớt này và mối nối lỏng lẻo giữa tâm thức và bộ não, khiến con người trở nên thụ động trước các xung lực ham muốn lẽ ra bình thường phải tuôn vào bộ não của y, kích hoạt vận cụ hồng trần của y vào một hình thức hoạt động nào đó. |
|
The will, which usually demonstrates itself through a programme or ordered plan, originates in the mind and not on the desire levels of awareness, and this programme is based on a sense of direction and a definite orientation of the will to a recognised objective, and it is not, in these cases, the cause of the difficulty. The trouble is simpler and lies nearer home. The handling of these difficulties and their right solution is of a definitely material nature, and the trouble is frequently overcome by increasing the vitality of the body, building up the etheric body, through sunshine, vitaminous foods and exercise, plus correct treatment and balancing of the endocrine system. Along these lines much work is being done today and the less serious forms of etheric cleavage are rapidly yielding to treatment. Lack of vitality, immaturity, depression based upon a weak vital connection and lack of interest in life (so prevalent at this time) will become less frequent. |
Ý chí, vốn thường biểu lộ qua một chương trình hay kế hoạch có trật tự, bắt nguồn trong trí tuệ chứ không phải trên các cấp độ nhận biết của ham muốn, và chương trình này dựa trên một cảm nhận về phương hướng và một sự định hướng rõ rệt của ý chí tới một mục tiêu đã được nhận biết; trong các trường hợp này, nó không phải là nguyên nhân của khó khăn. Rắc rối đơn giản hơn và nằm gần hơn. Việc xử lý những khó khăn này và giải pháp đúng đắn của chúng có bản chất rõ rệt là vật chất, và rắc rối thường được khắc phục bằng cách tăng cường sinh lực của thể, xây dựng thể dĩ thái, thông qua ánh nắng, thực phẩm giàu vitamin và vận động, cộng với việc điều trị và quân bình đúng đắn hệ nội tiết. Ngày nay đang có nhiều công việc được thực hiện theo các hướng này và những dạng phân ly dĩ thái ít nghiêm trọng hơn đang nhanh chóng khuất phục trước sự điều trị. Sự thiếu sinh lực, sự non nớt, sự trầm uất dựa trên một liên kết sinh lực yếu và sự thiếu hứng thú với cuộc sống (rất phổ biến vào lúc này) sẽ trở nên ít thường xuyên hơn. |
|
I cannot here deal at length with the problems of obsession, due to the withdrawal of the self-conscious aspect of the dweller in the body. This process of abstraction leaves only a living shell, an empty house. Too much would have to be considered for a treatise such as this. It is not easy for the scientific psychological investigator to accept the premise of the substitution of the consciousness of another entity in the place of the consciousness of the one who has been unable to hold the link within the brain with adequate positiveness. But, speaking as one who knows, such cases frequently occur, leading to many of the problems of so-called “split personality” which is in reality the ownership of a particular physical body by the two persons—one providing the life stream (anchored in the heart) and the other providing the stream of consciousness (anchored in the brain) and thus controlling the body directing its activities and expressing itself through the organs of speech. Sometimes this possession alternates between the two individuals concerned. Sometimes more than two are concerned, and several persons upon the inner side of life use the same physical body. Then you have multiple personalities. This is however due to a definite weakness in the etheric connection of the original dweller; or again it may be due to that dweller’s great dislike for physical incarnation; again it may be caused by some shock or disaster which suddenly severs the link of consciousness, and in this latter case there is no hope of restoration. Each case has to be diagnosed and dealt with on its individual merits and preferably by dealing directly with the real dweller when he is “at home in his own dwelling”. Furthermore, the consciousness of this dweller is sometimes so strongly orientated in directions other than those of physical existence that a process of abstraction has taken place, with the focus of the conscious interest elsewhere. This is the undesirable side or expression of the same power of abstraction which enables the mystic to see his visions and to participate in heavenly happenings, and which enables the advanced adept to enter into the state of Samadhi. In the one case, the vehicle is left unguarded and the prey of any passing visitor; and in the other it is left duly guarded and positively attentive to the call and the note of its owner. |
Ở đây tôi không thể bàn dài về các vấn đề ám nhập, do sự rút lui của phương diện ngã thức của kẻ cư ngụ trong thể. Tiến trình trừu xuất này chỉ để lại một vỏ sống, một ngôi nhà trống. Sẽ phải xem xét quá nhiều đối với một chuyên luận như thế này. Đối với nhà khảo cứu tâm lý học khoa học, không dễ chấp nhận tiền đề về sự thay thế tâm thức của một thực thể khác vào chỗ tâm thức của người đã không thể giữ được mối liên kết trong bộ não với tính dương đủ mạnh. Nhưng, nói với tư cách một người biết rõ, những trường hợp như vậy xảy ra thường xuyên, dẫn đến nhiều vấn đề của cái gọi là “phàm ngã phân đôi”, mà trên thực tế là quyền sở hữu một thể xác nhất định bởi hai người—một người cung cấp dòng sự sống (neo trong tim) và người kia cung cấp dòng tâm thức (neo trong não) và nhờ đó kiểm soát thể, điều khiển các hoạt động của nó và biểu lộ chính mình qua các cơ quan ngôn ngữ. Đôi khi sự chiếm hữu này luân phiên giữa hai cá nhân liên hệ. Đôi khi có hơn hai người liên hệ, và vài người ở mặt bên trong của sự sống sử dụng cùng một thể xác. Khi đó các bạn có đa phàm ngã. Tuy nhiên, điều này là do một sự yếu kém rõ rệt trong liên kết dĩ thái của kẻ cư ngụ nguyên thủy; hoặc cũng có thể là do kẻ cư ngụ ấy rất chán ghét việc lâm phàm hồng trần; hoặc nữa có thể do một cú sốc hay tai họa nào đó đột ngột cắt đứt liên kết tâm thức, và trong trường hợp sau cùng này thì không có hy vọng phục hồi. Mỗi trường hợp phải được chẩn đoán và xử lý theo giá trị riêng của nó, và tốt nhất là bằng cách trực tiếp xử lý kẻ cư ngụ thực sự khi y “ở nhà trong chính nơi cư ngụ của mình”. Hơn nữa, tâm thức của kẻ cư ngụ này đôi khi được định hướng quá mạnh theo những hướng khác với sự tồn tại hồng trần đến nỗi một tiến trình trừu xuất đã diễn ra, với tiêu điểm của mối quan tâm có ý thức ở nơi khác. Đây là mặt không mong muốn hay biểu hiện không mong muốn của cùng một năng lực trừu xuất vốn giúp nhà thần bí thấy được các linh ảnh của y và tham dự vào những sự kiện thiên đàng, và vốn giúp chân sư tiến bộ bước vào trạng thái Samadhi. Trong trường hợp này, vận cụ bị bỏ lại không được canh giữ và trở thành mồi cho bất kỳ vị khách qua đường nào; còn trong trường hợp kia, nó được để lại trong tình trạng được canh giữ đúng mức và chú ý một cách tích cực đến tiếng gọi và âm điệu của chủ nhân nó. |
|
[421] |
[421] |
|
It is not possible for me to do more than hint at these various explanations and so start investigators with open minds and the willingness to accept unusual hypotheses, along a trail which may lead them into the valley of understanding. The clue to success in eliminating these types of difficulty lies in pre-natal care and study of hereditary taints; syphilis and the other venereal diseases are potent predisposing causes. The right culture of the body nature after birth and the development in the child of a positive sense of himself, thus making him positive in thought and training his sense of self-identity—all these are sound helps towards the elimination of this type of trouble. The tendency today to emphasise the vitamins in food and to give a balanced diet is all to the good. |
Tôi không thể làm gì hơn ngoài việc gợi ý về những cách giải thích khác nhau này và nhờ đó khởi động các nhà khảo cứu với tâm trí cởi mở và thiện chí chấp nhận những giả thuyết khác thường, trên một con đường có thể dẫn họ vào thung lũng của sự thấu hiểu. Manh mối dẫn đến thành công trong việc loại bỏ những loại khó khăn này nằm ở sự chăm sóc trước khi sinh và việc nghiên cứu các ô nhiễm di truyền; bệnh giang mai và các bệnh hoa liễu khác là những nguyên nhân tiền định mạnh mẽ. Việc nuôi dưỡng đúng đắn bản chất thể xác sau khi sinh và sự phát triển nơi đứa trẻ một cảm nhận tích cực về chính nó, nhờ đó làm cho nó tích cực trong tư tưởng và rèn luyện cảm nhận về bản sắc tự thân của nó—tất cả những điều này đều là những trợ giúp lành mạnh hướng tới việc loại bỏ loại rắc rối này. Khuynh hướng ngày nay nhấn mạnh đến vitamin trong thực phẩm và cung cấp một chế độ ăn quân bình đều là điều tốt. |
|
The true sense of cleavage and really serious difficulty comes, however, when two things have occurred. These might be stated to be as follows: |
Tuy nhiên, cảm nhận thực sự về sự phân ly và khó khăn thật sự nghiêm trọng xuất hiện khi hai điều đã xảy ra. Có thể phát biểu như sau: |
|
1. The self-consciousness of the man has reached a point where his desires are so dominant and compelling that he becomes aware of their strength, and also simultaneously of his inability truly to satisfy them, coupled with the recognition that there is an aspect of himself which does not truly want to do so. The sense of frustration then descends upon him and he becomes painfully aware of what he wants and of what he would be if his desires were met and satisfied. He is then torn in two directions: his desire-mind keeps him dwelling in the realm of longing, of hope and of wish, whilst his brain and his physical nature bring to him the conviction that nothing he wants is possible and if possible, does he really want it? This is true of the man whose objective is the satisfaction of his material longings or of the man who is responding to the desire for intellectual or spiritual satisfaction. [422] In the one case the cleavage begins to appear in the lower aspects of his desire nature. In the other it appears in the higher aspects, but in both cases the lines of the cleavage are clear. The conflict has begun and two possibilities lie ahead: |
1. Ngã thức của con người đã đạt đến một điểm mà các ham muốn của y mạnh mẽ và cưỡng bách đến nỗi y ý thức được sức mạnh của chúng, đồng thời cũng nhận ra sự bất lực của mình trong việc thực sự thỏa mãn chúng, đi kèm với sự nhận biết rằng có một phương diện trong chính y thực sự không muốn làm như vậy. Khi đó cảm nhận thất vọng giáng xuống trên y và y đau đớn ý thức được điều mình muốn và điều mình sẽ là nếu các ham muốn của mình được đáp ứng và thỏa mãn. Khi ấy y bị xé làm hai hướng: trí-cảm của y khiến y cư ngụ trong lĩnh vực của sự khao khát, hy vọng và ước muốn, trong khi bộ não và bản chất hồng trần của y đem đến cho y niềm xác tín rằng không điều gì y muốn là có thể, và nếu có thể thì y có thực sự muốn nó không? Điều này đúng đối với người có mục tiêu là thỏa mãn những khát vọng vật chất của mình hay đối với người đang đáp ứng ham muốn được thỏa mãn về trí tuệ hay tinh thần. [422] Trong trường hợp thứ nhất, sự phân ly bắt đầu xuất hiện trong các phương diện thấp của bản chất ham muốn của y. Trong trường hợp thứ hai, nó xuất hiện trong các phương diện cao hơn, nhưng trong cả hai trường hợp, các đường phân ly đều rõ ràng. Xung đột đã bắt đầu và có hai khả năng ở phía trước: |
|
a. Eventual acquiescence of a nature which ends the life in futility, deep depression and a sense of frustration which runs all the way from a submissive life of acceptance to those many ways of escape which push a man into the dream world, into the land of illusion, into a state of negativity and even over the border to death through self-destruction. |
a. Sự cam chịu cuối cùng của một bản chất kết thúc cuộc đời trong vô ích, trầm uất sâu sắc và cảm nhận thất vọng, trải dài từ một đời sống phục tùng chấp nhận cho đến nhiều cách trốn thoát đẩy con người vào thế giới mộng tưởng, vào miền ảo tưởng, vào trạng thái thụ động và thậm chí vượt qua ranh giới đến cái chết bằng sự tự hủy. |
|
b. A furious conflict, based on a refusal to be moulded by circumstance or environment. This drives a man on to success and to achievement of his desire or it breaks him on the wheel of life, either physically or mentally. |
b. Một cuộc xung đột dữ dội, dựa trên sự từ chối để cho hoàn cảnh hay môi trường nhào nặn mình. Điều này thúc đẩy con người tiến tới thành công và đạt được điều mình ham muốn, hoặc nghiền nát y trên bánh xe của cuộc đời, về mặt hồng trần hay trí tuệ. |
|
2. Cleavage comes also when the man fails to use his God-given intellect and so is unable to choose between the essentials and the non-essentials, between right direction and wrong goals, between the various satisfactions which appeal to the various aspects of his lower nature and eventually between the higher and the lower duality. He must learn to grasp the distinction between: |
2. Sự phân ly cũng xuất hiện khi con người không sử dụng trí năng do Thượng đế ban cho mình và vì thế không thể lựa chọn giữa điều cốt yếu và điều không cốt yếu, giữa phương hướng đúng và mục tiêu sai, giữa những sự thỏa mãn khác nhau hấp dẫn các phương diện khác nhau của bản chất thấp của mình và cuối cùng giữa nhị nguyên tính cao và thấp. Y phải học cách nắm bắt sự phân biệt giữa: |
|
a. Submission to the inevitable and submission to the urge of his own desire. |
a. Sự quy phục trước điều không thể tránh khỏi và sự quy phục trước xung lực của chính ham muốn mình. |
|
b. Recognition of capacity and recognition of potentiality. Many conflicts would be solved through the summation, understanding and right use of recognised assets, thus eliminating impossible goals and the consequent inevitable frustration. When this part of the conflict [423] has been overcome, then potentiality can emerge in recognition and become power in expression. |
b. Sự nhận biết năng lực và sự nhận biết tiềm năng. Nhiều xung đột sẽ được giải quyết thông qua việc tổng hợp, thấu hiểu và sử dụng đúng đắn những tài sản đã được nhận biết, nhờ đó loại bỏ những mục tiêu bất khả thi và sự thất vọng tất yếu kéo theo. Khi phần này của xung đột [423] đã được vượt qua, thì tiềm năng có thể xuất hiện trong sự nhận biết và trở thành quyền năng trong biểu hiện. |
|
c. Recognition of individual goals and group goals, between the ability to be social or anti-social. Much is being done along these lines but the emphasis is still upon the individual and not upon the group. When this is the case, we become responsible for anti-social groups. |
c. Sự nhận biết các mục tiêu cá nhân và các mục tiêu nhóm, giữa khả năng sống có tính xã hội hay phản xã hội. Nhiều việc đang được thực hiện theo các hướng này nhưng sự nhấn mạnh vẫn còn đặt trên cá nhân chứ không phải trên nhóm. Khi điều này xảy ra, chúng ta trở nên có trách nhiệm đối với các nhóm phản xã hội. |
|
I have mentioned only three of many possible recognitions but the resolution of the cleavage for which these are responsible will result in the liberation of a large majority of sufferers. It might perhaps be said that the release of many whose cleavage lies primarily in the realm of the desire nature, leading to the sense of frustration and a break in the life continuity of interest, can be cured by— |
Tôi chỉ nêu ra ba trong số nhiều sự nhận biết có thể có, nhưng việc giải quyết sự phân ly mà chúng gây ra sẽ dẫn đến sự giải thoát cho phần lớn những người đau khổ. Có lẽ có thể nói rằng sự giải thoát cho nhiều người mà sự phân ly của họ chủ yếu nằm trong lĩnh vực bản chất ham muốn, dẫn đến cảm nhận thất vọng và sự đứt đoạn trong tính liên tục của mối quan tâm sống, có thể được chữa trị bằng— |
|
1. Attention first of all to the physical equipment and to the glands, particularly to the thyroid gland, plus the regulation of the diet. |
1. Trước hết chú ý đến bộ máy hồng trần và các tuyến, đặc biệt là tuyến giáp trạng, cộng với việc điều chỉnh chế độ ăn. |
|
2. Attention to the physical coordination of the patient, for physical coordination is the outer expression of an inner process of integration and much can be done by training. |
2. Chú ý đến sự phối hợp hồng trần của bệnh nhân, vì sự phối hợp hồng trần là biểu hiện bên ngoài của một tiến trình tích hợp bên trong và có thể làm được nhiều điều bằng sự huấn luyện. |
|
3. Interpretation of the life and the environment, given in terms of appreciation. Ponder on this. |
3. Diễn giải đời sống và môi trường, được đưa ra theo những thuật ngữ của sự trân trọng. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
4. Decentralisation through— |
4. Phi tập trung vào bản thân thông qua— |
|
a. The providing of right interests and the right kind of education and vocational training. |
a. Cung cấp những mối quan tâm đúng đắn và loại giáo dục cùng huấn luyện nghề nghiệp thích hợp. |
|
b. Cultivation of the power to recognise and meet surrounding need, thus evoking the desire to serve and providing the sense of satisfaction which comes from accomplishment and appreciation. |
b. Nuôi dưỡng năng lực nhận biết và đáp ứng nhu cầu xung quanh, nhờ đó gợi lên ham muốn phụng sự và cung cấp cảm nhận thỏa mãn đến từ thành tựu và sự trân trọng. |
|
[424] |
[424] |
|
c. The careful and slow transmutation of desire into aspiration. |
c. Sự chuyển hoá cẩn trọng và chậm rãi ham muốn thành khát vọng. |
|
5. Reorientation to higher goals and the development of the sense of right direction. This involves |
5. Tái định hướng tới những mục tiêu cao hơn và phát triển cảm nhận về phương hướng đúng đắn. Điều này bao hàm |
|
a. The cultivation of a wider vision. |
a. Nuôi dưỡng một tầm nhìn rộng lớn hơn. |
|
b. The formulation of an inner programme, intelligently compiled, and suitable for the point in evolution but not so advanced as to be impossible. |
b. Hình thành một chương trình bên trong, được biên soạn một cách thông minh, và thích hợp với điểm tiến hoá nhưng không quá cao đến mức bất khả thi. |
|
c. The avoidance of those steps and activities which are doomed to failure. |
c. Tránh những bước đi và hoạt động chắc chắn sẽ thất bại. |
|
6. Later, when the above is somewhat grasped, there must be the search for, and the development of, any creative faculty, thus meeting the desire to be noticed and to contribute. Much artistic effort or literary and musical effort is based on the desire to be the centre of attention and is not based on any true creative ability. It is the sense of “I, the dramatic actor”. This rightly used and developed, is of real value and importance. |
6. Về sau, khi những điều trên đã phần nào được nắm bắt, phải tìm kiếm và phát triển bất kỳ năng lực sáng tạo nào, nhờ đó đáp ứng ham muốn được chú ý và được đóng góp. Nhiều nỗ lực nghệ thuật hay văn chương và âm nhạc dựa trên ham muốn trở thành trung tâm của sự chú ý chứ không dựa trên bất kỳ khả năng sáng tạo chân thực nào. Đó là cảm nhận “Tôi, người diễn viên kịch tính”. Nếu được sử dụng và phát triển đúng đắn, điều này có giá trị và tầm quan trọng thực sự. |
|
7. The elimination of the sense of sin, of disapprobation, with its concomitants, revolt, suspicion and an inferiority complex. |
7. Loại bỏ cảm nhận tội lỗi, sự tự trách, cùng những điều đi kèm với nó là phản kháng, nghi ngờ và mặc cảm tự ti. |
|
One point I feel the need definitely to re-emphasise and that is the necessity, when considering the human being and his expression and existence, to remember that we are really considering energy, and the relation or non-relation of forces. As long as this is carefully borne in mind, we shall not go astray as we deal with our subject. We are considering related units of energy, functioning in a field of energy; remembering this always, we shall (at least symbolically) be enabled to get a fairly clear idea of our theme. As long as we regard our problem as consisting of the inter-relation of [425] many energies, their fusion and their balancing, plus the final synthesis of two major energies, their fusion and their balancing we shall arrive at some measure of understanding and subsequent solution. The field of energy which we call the soul (the major energy with which man is concerned) absorbs, dominates or utilises the lesser energy which we call the personality. This it is necessary for us to realise; and to remember, at the same time, that this personality is itself composed of four types of energy. According to our ray type, so will be our use of the words “absorbs, dominates and utilises”. I would here remind you, as I have oft done before, that words fail to express and language handicaps rather than aids the objective that I have in view. Human thought is now entering a field for which there exists, as yet, no true language-form, for we have no adequate terms, and in which word-symbols mean but little. Just as the discovery of the automobile, and the radio have necessitated the formulation of an entirely new set of terms, phrases, nouns and verbs, so in the years that are coming the discovery of the fact of the soul will necessitate a new language approach. It is true, is it not, that a man of the Victorian age, listening to the technical jargon of the present radio laboratory or the ordinary garage, would be completely in the dark? So the psychologist of today is in the dark very often and understands not what we are trying to convey, for the new language is not yet evolved and the old terms are inadequate. I am, therefore, unable to do more than employ the terms which seem to me to be the most suitable, knowing that I am failing to express the true significance of my ideas, and you are consequently gaining only an approximate understanding and conception of the concepts I am endeavoring to expound. |
Có một điểm mà tôi cảm thấy cần phải đặc biệt nhấn mạnh lại, đó là sự cần thiết, khi xem xét con người cùng biểu hiện và sự tồn tại của y, phải nhớ rằng trên thực tế chúng ta đang xem xét năng lượng, và mối liên hệ hay không liên hệ của các mãnh lực. Chừng nào điều này còn được ghi nhớ cẩn thận, chúng ta sẽ không đi lạc khi đề cập đến đề tài của mình. Chúng ta đang xem xét những đơn vị năng lượng có liên hệ, hoạt động trong một trường năng lượng; luôn ghi nhớ điều này, chúng ta sẽ có thể (ít nhất là về mặt biểu tượng) đạt được một ý niệm khá rõ ràng về chủ đề của mình. Chừng nào chúng ta còn xem vấn đề của mình là bao gồm sự tương liên của [425] nhiều năng lượng, sự dung hợp và quân bình của chúng, cộng với sự tổng hợp cuối cùng của hai năng lượng chính, sự dung hợp và quân bình của chúng, thì chúng ta sẽ đạt được một mức độ thấu hiểu nào đó và sau đó là giải pháp. Trường năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn (năng lượng chính mà con người quan tâm) hấp thụ, thống trị hay sử dụng năng lượng nhỏ hơn mà chúng ta gọi là phàm ngã. Đây là điều cần cho chúng ta chứng nghiệm; đồng thời nhớ rằng phàm ngã này tự nó được cấu thành bởi bốn loại năng lượng. Tùy theo loại cung của chúng ta mà chúng ta sẽ sử dụng các từ “hấp thụ, thống trị và sử dụng” như thế nào. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn, như tôi đã thường làm trước đây, rằng ngôn từ không diễn đạt được và ngôn ngữ cản trở hơn là trợ giúp mục tiêu mà tôi đang nhắm tới. Tư tưởng con người hiện đang bước vào một lĩnh vực mà cho đến nay chưa có hình thức ngôn ngữ đích thực nào tồn tại, vì chúng ta không có những thuật ngữ thích đáng, và trong đó các biểu tượng ngôn từ có ý nghĩa rất ít. Cũng như việc khám phá ra ô tô và radio đã đòi hỏi phải hình thành một tập hợp hoàn toàn mới các thuật ngữ, cụm từ, danh từ và động từ, thì trong những năm sắp tới, việc khám phá ra sự kiện về linh hồn sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận ngôn ngữ mới. Chẳng phải đúng là một người thuộc thời đại Victoria, nếu nghe thứ biệt ngữ kỹ thuật của phòng thí nghiệm radio hiện đại hay của một ga-ra thông thường, sẽ hoàn toàn mù mờ hay sao? Cũng vậy, nhà tâm lý học ngày nay rất thường ở trong bóng tối và không hiểu điều chúng tôi đang cố truyền đạt, vì ngôn ngữ mới vẫn chưa được phát triển và các thuật ngữ cũ thì không đầy đủ. Vì thế, tôi không thể làm gì hơn ngoài việc sử dụng những thuật ngữ dường như thích hợp nhất đối với tôi, biết rằng tôi không diễn đạt được thâm nghĩa chân thực của các ý tưởng của mình, và do đó các bạn chỉ đạt được một sự thấu hiểu và quan niệm gần đúng về các khái niệm mà tôi đang cố gắng trình bày. |
|
We have already somewhat considered the problem of the [426] cleavages to which man is subject, and we saw that the human evolutionary process was, in the last analysis, a series of at-one-ments; each step forward meant the bringing together of certain types of energy in order that their fusion might produce a more complete person. May I state here an interesting point? The problem itself is brought about by the fact that there Is an Observer. This Observer, at certain points in the normal development of the man, comes to the realisation that there are cleavages. This Observer suffers because of their existence in his self-awareness. He realises that he is the victim of the divisions in his nature. Yet—and this is of importance—the man upon the physical plane is unable either to understand them or, apparently, to heal them without aid from the soul, the Observer, the higher aspect of himself. For instance, a man suffering from dissociation between the emotional, sentient part of himself and the mental aspect is aware of need, of frustration and of intense suffering and difficulty, yet needs the understanding help of a trained psychologist or of his own soul before fusion can be made and he, as an individual, can “be made whole“. |
Chúng ta đã phần nào xem xét vấn đề của những sự phân ly [426] mà con người phải chịu, và chúng ta đã thấy rằng tiến trình tiến hoá của con người, xét cho cùng, là một chuỗi những sự hợp nhất; mỗi bước tiến lên đều có nghĩa là đưa một số loại năng lượng nào đó lại với nhau để sự dung hợp của chúng có thể tạo ra một con người hoàn chỉnh hơn. Tôi có thể nêu ở đây một điểm thú vị chăng? Chính vấn đề này được tạo ra bởi sự kiện rằng có Một Đấng Quan Sát. Đấng Quan Sát này, tại những điểm nhất định trong sự phát triển bình thường của con người, đi đến chỗ chứng nghiệm rằng có những sự phân ly. Đấng Quan Sát này đau khổ vì sự hiện hữu của chúng trong sự nhận biết về bản thân của mình. Ngài nhận ra rằng mình là nạn nhân của những chia rẽ trong bản chất của mình. Tuy nhiên—và điều này quan trọng—con người trên cõi hồng trần không thể hoặc thấu hiểu chúng hoặc, dường như, chữa lành chúng nếu không có sự trợ giúp từ linh hồn, Đấng Quan Sát, phương diện cao hơn của chính mình. Thí dụ, một người đang đau khổ vì sự phân ly giữa phần cảm xúc, cảm nhận của mình và phương diện trí tuệ thì ý thức được nhu cầu, sự thất vọng và nỗi đau khổ cùng khó khăn mãnh liệt, nhưng cần sự trợ giúp đầy thấu hiểu của một nhà tâm lý học được huấn luyện hay của chính linh hồn mình trước khi sự dung hợp có thể được thực hiện và y, với tư cách một cá nhân, có thể “được làm cho toàn vẹn”. |
|
This same truth exists in connection with all the cleavages found in man, but three of these cleavages are of major importance: |
Chân lý này cũng đúng đối với mọi sự phân ly được tìm thấy trong con người, nhưng có ba sự phân ly trong số đó là quan trọng nhất: |
|
1. The cleavage between the mind and the rest of the lower nature—physical, vital, astral or emotional |
1. Sự phân cách giữa trí tuệ và phần còn lại của bản chất thấp—hồng trần, sinh lực, cảm dục hay cảm xúc |
|
. |
. |
|
2. The cleavage between the man and his environment which—when once healed and bridged—makes him a responsible human being and a good citizen who accepts his environment and gives to it of his best. Thus he grows in character and capacity, as a result of a definite interplay between the two—himself and his environment. |
2. Sự phân cách giữa con người và môi trường của y—mà một khi đã được chữa lành và bắt cầu—sẽ khiến y trở thành một con người có trách nhiệm và một công dân tốt, biết chấp nhận môi trường của mình và cống hiến cho nó điều tốt đẹp nhất của y. Nhờ đó y tăng trưởng về Tính cách và năng lực, như là kết quả của một sự tương tác rõ rệt giữa hai yếu tố—chính y và môi trường của y. |
|
[427] |
[427] |
|
3. The cleavage between the man (the personality) and the soul. This produces sequentially: |
3. Sự phân cách giữa con người (phàm ngã) và linh hồn. Điều này tuần tự tạo ra: |
|
a. A dominant selfish personality. |
a. Một phàm ngã ích kỷ chi phối. |
|
b. A practical mystic, conscious of the need for fusion and for unity. |
b. Một nhà thần bí thực tiễn, ý thức được nhu cầu dung hợp và hợp nhất. |
|
Parallels to these states of consciousness are found in the adolescent. They are found also in the man who is integrating into his life work, and also in the thinking aspirant. This is true, whether his thoughts, purposes and ambitions are selfishly polarised or spiritually inclined. The sense of cleavage, the need for orientation, the bridging process and the ultimate sense of achievement are identical in both cases. |
Những trạng thái tâm thức này có những tương ứng nơi tuổi thiếu niên. Chúng cũng được tìm thấy nơi con người đang tích hợp vào công việc đời mình, và cả nơi người chí nguyện biết suy tư. Điều này là đúng, dù tư tưởng, mục đích và tham vọng của y được phân cực một cách ích kỷ hay nghiêng về tinh thần. Cảm giác phân cách, nhu cầu định hướng, tiến trình bắt cầu và cảm giác thành tựu tối hậu đều giống hệt nhau trong cả hai trường hợp. |
|
In dealing with these situations certain general rules should govern the psychologist, and certain general premises should eventually be accepted by the man who constitutes the problem case. These same rules and premises can be considered and accepted by the man who, without the aid of a trained psychologist, manages to train himself and to bridge his realised cleavages. These basic premises are: |
Khi đề cập đến các tình huống này, một số quy luật tổng quát nên chi phối nhà tâm lý học, và một số tiền đề tổng quát cuối cùng nên được con người là trường hợp có vấn đề chấp nhận. Cũng chính những quy luật và tiền đề này có thể được xem xét và chấp nhận bởi người, không có sự trợ giúp của một nhà tâm lý học lão luyện, vẫn tự mình rèn luyện và bắt cầu những phân cách mà mình đã nhận ra. Những tiền đề căn bản này là: |
|
1. That any psychological difficulty is universal and not unique. It is the sense of uniqueness—with its separative tendency and its realised loneliness—which is often the all-engrossing factor. It makes the personality too important, and this should be definitely negated. |
1. Rằng bất kỳ khó khăn tâm lý nào cũng đều có tính phổ quát chứ không phải độc nhất. Chính cảm giác độc nhất—với khuynh hướng phân ly và nỗi cô đơn được cảm nhận của nó—thường là yếu tố chiếm trọn mọi chú ý. Nó làm cho phàm ngã trở nên quá quan trọng, và điều này cần phải bị phủ nhận dứt khoát. |
|
2. That the crisis faced indicates progress and opportunity, and that it does not indicate disaster and failure. It must be realised by the patient (can I use that term?) that the race has progressed to its present point in evolution by just such crises. So does the individual human unit progress. In the last analysis, psychological crises are indicative of progressive steps upon the Way, bringing with them the need for effort and at the same time a [428] sense of gain and of freedom, when surmounted, overcome and solved. |
2. Rằng cuộc khủng hoảng đang đối diện biểu thị sự tiến bộ và cơ hội, chứ không biểu thị tai họa và thất bại. Bệnh nhân phải nhận ra (tôi có thể dùng từ đó chăng?) rằng nhân loại đã tiến đến điểm tiến hoá hiện nay chính nhờ những cuộc khủng hoảng như thế. Đơn vị nhân loại cá nhân cũng tiến bộ như vậy. Xét cho cùng, các cuộc khủng hoảng tâm lý là dấu hiệu của những bước tiến bộ trên Con Đường, mang theo nhu cầu nỗ lực và đồng thời là [428] một cảm giác đạt được và tự do, khi chúng được vượt qua, chế ngự và giải quyết. |
|
3. That the power to produce the needed integration and to end a cycle of sensed duality lies within the man himself because: |
3. Rằng quyền năng tạo ra sự tích hợp cần thiết và chấm dứt một chu kỳ nhị nguyên tính được cảm nhận nằm ngay trong chính con người ấy bởi vì: |
|
a. His discomfort, lack of coordination, pain and distress are symptoms of aspiration, unrealised perhaps but none the less there. They are the reaction of the integrated aspects to that aspect which is seeking integration. |
a. Sự khó chịu, thiếu phối hợp, đau đớn và khổ sở của y là những triệu chứng của khát vọng, có lẽ chưa được nhận ra nhưng vẫn hiện diện. Chúng là phản ứng của các phương diện đã tích hợp đối với phương diện đang tìm cách được tích hợp. |
|
b. The aspect to be integrated is essentially more powerful than the lower waiting aspects, for they are negative or receptive whilst that which should be realised and accepted is positive and dynamic. Hence the sensed discomfort. |
b. Phương diện cần được tích hợp về bản chất mạnh hơn các phương diện thấp đang chờ đợi, vì chúng là tiêu cực hay tiếp nhận, trong khi điều cần được nhận ra và chấp nhận lại là tích cực và năng động. Do đó mới có sự khó chịu được cảm nhận. |
|
4. That the capacity, innate in that imaginative creature, man, to act “as if”, holds the solution to the problem. By the use of the creative imagination, the bridge between the lower aspect and higher can be built and constructed. “As a man thinketh, hopeth and willeth” so is he. This is a statement of an immutable fact. |
4. Rằng năng lực bẩm sinh nơi tạo vật đầy Sự tưởng tượng này là con người, để hành động “như thể”, chứa đựng lời giải cho vấn đề. Nhờ sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, cây cầu giữa phương diện thấp và cao có thể được xây dựng và kiến tạo. “Con người suy nghĩ, hy vọng và ý chí thế nào” thì y là như thế ấy. Đây là một phát biểu về một sự kiện bất biến. |
|
When modern psychologists comprehend more fully the creative purpose of humanity, and seek to develop the creative imagination more constructively, and also to train the directional will, much will be accomplished. When these two factors (which are the signal evidence of divinity in man) are studied and scientifically developed and utilised, they will produce the self-releasing of all the problem cases which are found in our clinics at this time. Thus we shall, through experiment, arrive at a more rapid understanding of man. Psychology can count definitely upon the innate ability of the [429] human unit to understand the use of the creative imagination and the use of directed purpose, for it is found frequently even in children. The development of the sense of fantasy and the training of children to make choices (to the end that ordered purpose may emerge in their lives) will be two of the governing ideals of the new education. The sense of fantasy calls into play the imagination, perception of beauty, and the concept of the subjective worlds; the power of choice, with its implications of why and wherefore and to what end (if wisely taught from early days), will do much for the race, particularly if, at the time of adolescence, the general world picture and the world plan are brought to the attention of the developing intelligence. Therefore: |
Khi các nhà tâm lý học hiện đại hiểu đầy đủ hơn mục đích sáng tạo của nhân loại, và tìm cách phát triển Sự tưởng tượng sáng tạo một cách xây dựng hơn, đồng thời cũng rèn luyện ý chí định hướng, thì nhiều điều sẽ được hoàn thành. Khi hai yếu tố này (là bằng chứng nổi bật của thiên tính nơi con người) được nghiên cứu, phát triển và sử dụng một cách khoa học, chúng sẽ tạo ra sự tự giải phóng của mọi trường hợp có vấn đề hiện đang có trong các phòng khám của chúng ta. Nhờ đó, qua thực nghiệm, chúng ta sẽ đi đến một sự thấu hiểu con người nhanh chóng hơn. Tâm lý học chắc chắn có thể trông cậy vào khả năng bẩm sinh của [429] đơn vị nhân loại trong việc hiểu cách sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo và cách sử dụng mục đích được định hướng, vì điều này thường được thấy ngay cả nơi trẻ em. Việc phát triển cảm nhận huyễn tưởng và việc rèn luyện trẻ em biết chọn lựa (để mục đích có trật tự có thể xuất hiện trong đời sống của chúng) sẽ là hai trong những lý tưởng chi phối của nền giáo dục mới. Cảm nhận huyễn tưởng gọi Sự tưởng tượng, sự cảm nhận cái đẹp, và khái niệm về các thế giới chủ quan vào hoạt động; quyền năng chọn lựa, với những hàm ý về tại sao, vì sao và nhằm mục đích gì (nếu được dạy một cách khôn ngoan từ thuở đầu đời), sẽ làm được nhiều điều cho nhân loại, đặc biệt nếu vào thời kỳ thiếu niên, bức tranh chung của thế giới và kế hoạch thế giới được đưa ra trước trí tuệ đang phát triển. Vì vậy: |
|
1. The sense of fantasy |
1. Cảm nhận huyễn tưởng |
|
2. The sense of choice |
2. Cảm nhận chọn lựa |
|
3. The sense of the whole plus |
3. Cảm nhận về toàn thể cộng với |
|
4. The sense of ordered purpose |
4. Cảm nhận về mục đích có trật tự |
|
should govern our training of the children which are coming into incarnation. The sense of fantasy brings the creative imagination into play, thus providing the emotional nature with constructive outlets; this should be balanced and motivated by the recognition of the power of right choice and the significance of the higher values. These, in turn, can be developed selflessly by a due recognition of the environing whole in which the individual has to play his part, whilst the entire range of reactions are increasingly subordinated by the understanding of the ordered purpose which is working out in the world. |
nên chi phối việc chúng ta đào luyện những trẻ em đang lâm phàm. Cảm nhận huyễn tưởng đưa Sự tưởng tượng sáng tạo vào hoạt động, nhờ đó cung cấp cho bản chất cảm xúc những lối thoát có tính xây dựng; điều này nên được quân bình và thúc đẩy bởi sự nhận biết quyền năng của sự chọn lựa đúng đắn và thâm nghĩa của các giá trị cao hơn. Đến lượt mình, những điều này có thể được phát triển một cách vô ngã nhờ sự nhận biết thích đáng về toàn thể bao quanh, trong đó cá nhân phải đóng vai trò của y, trong khi toàn bộ phạm vi phản ứng ngày càng được đặt dưới sự chi phối của sự thấu hiểu mục đích có trật tự đang được triển khai trong thế giới. |
|
These are the basic premises which should emerge in the new techniques which psychology will use when it has reached the point of accepting (or at least experimenting with) the [430] above ideas. By their use, it will be found that the problem case itself can be brought into functioning right activity, for all the innate, and unused faculties of man will be swept into integrating activity. The process is always and inevitably the same: |
Đó là những tiền đề căn bản cần xuất hiện trong các kỹ thuật mới mà tâm lý học sẽ sử dụng khi nó đã đạt đến điểm chấp nhận (hoặc ít nhất là thực nghiệm với) các ý tưởng [430] trên đây. Khi sử dụng chúng, người ta sẽ thấy rằng chính trường hợp có vấn đề có thể được đưa vào hoạt động đúng đắn hữu hiệu, vì mọi năng lực bẩm sinh nhưng chưa được dùng đến của con người sẽ được cuốn vào hoạt động tích hợp. Tiến trình này luôn luôn và tất yếu là như nhau: |
|
1. Cleavage. |
1. Phân cách. |
|
2. A recognition of duality, either subjectively or in the waking consciousness. |
2. Sự nhận biết nhị nguyên tính, hoặc một cách chủ quan hoặc trong tâm thức thức tỉnh. |
|
3. A period of wild unrest, of frustration and futility, leading sometimes to disaster, to forms of nervous or mental breakdown, and to generally chaotic and undesirable conditions. |
3. Một giai đoạn bất an dữ dội, thất vọng và vô ích, đôi khi dẫn đến tai họa, đến các dạng suy sụp thần kinh hay trí tuệ, và đến những tình trạng nói chung là hỗn loạn và không mong muốn. |
|
4. An intelligently applied bridging process, gradually carried forward, once the point of cleavage is determined. |
4. Một tiến trình bắt cầu được áp dụng một cách thông minh, dần dần được xúc tiến, một khi điểm phân cách đã được xác định. |
|
5. The achievement of periods of recognised fusion, integration or true normality. A process of analysis would here be useful. It will later be found that psychoanalysis will come into its real usefulness when it comes to the aid of a man in explaining his achievement rather than in unearthing the detail of his apparent disaster. There is no real disaster. There is only an unrecognised point of crisis, a moment of unrealised fulfillment. The disaster comes when this point of crisis is not utilised and understood, for it then serves to increase the cleavage instead of being recognised as a moment of opportunity. |
5. Thành tựu những giai đoạn dung hợp, tích hợp hay trạng thái bình thường đích thực được nhận biết. Ở đây một tiến trình phân tích sẽ hữu ích. Về sau người ta sẽ thấy rằng phân tâm học sẽ đi vào công dụng thực sự của nó khi nó trợ giúp con người trong việc giải thích thành tựu của mình hơn là trong việc khai quật chi tiết của tai họa bề ngoài của y. Không có tai họa thực sự nào cả. Chỉ có một điểm khủng hoảng chưa được nhận ra, một khoảnh khắc hoàn thành chưa được chứng nghiệm. Tai họa đến khi điểm khủng hoảng này không được sử dụng và thấu hiểu, vì khi đó nó làm gia tăng sự phân cách thay vì được nhận ra như một khoảnh khắc cơ hội. |
|
6. The establishment of a definite rhythm composed of the creative imagination, of discriminating choice, of the value of the relation of the part to the whole, and of the acceptance of group purpose. This rhythm, when duly established in a life or in a series of lives, leads eventually to |
6. Sự thiết lập một nhịp điệu rõ rệt gồm Sự tưởng tượng sáng tạo, sự chọn lựa có phân biện, giá trị của mối liên hệ giữa phần và toàn thể, và sự chấp nhận mục đích nhóm. Nhịp điệu này, khi được thiết lập đúng mức trong một đời sống hay trong một chuỗi đời sống, cuối cùng dẫn đến |
|
7. Integration. |
7. Sự tích hợp. |
|
[431] |
[431] |
|
I would like to stop here and point out that the foundation of the new psychology must inevitably be built upon the premise that this one life is not man’s sole opportunity in which to achieve integration and eventual perfection. The great Law of Rebirth must be accepted and it will then be found to be, in itself, a major releasing agent in any moment of crisis or any psychological problem case. The recognition of further opportunity and a lengthened sense of time are both quieting and helpful to many types of mind; its interpretative value will be found illuminating as the patient grasps the fact that behind him lie points of crisis wherein it can be demonstrated by his present equipment that he achieved integration, thus guaranteeing to him victory in his present point of crisis and of difficult conflict. The light which this throws on relationships and environment will serve to stabilise his purpose and make him comprehend the inevitability of responsibility. When this great law is understood in its true implications and not interpreted in terms of its present childish presentation, then man will shoulder the responsibility of living with a daily recognition of the past, an understanding of the purpose of the present, and with an eye to the future. This will also greatly lessen the growing tendency towards suicide which humanity is showing. |
Tôi muốn dừng lại ở đây và chỉ ra rằng nền tảng của nền tâm lý học mới tất yếu phải được xây dựng trên tiền đề rằng một kiếp sống này không phải là cơ hội duy nhất của con người để đạt được sự tích hợp và sự toàn thiện cuối cùng. Định luật lớn về Tái Sinh phải được chấp nhận, và khi đó người ta sẽ thấy rằng tự thân nó là một tác nhân giải phóng lớn trong bất kỳ thời điểm khủng hoảng nào hay trong bất kỳ trường hợp tâm lý có vấn đề nào. Việc nhận ra còn có những cơ hội khác và một cảm nhận thời gian được kéo dài đều làm dịu và hữu ích cho nhiều loại trí tuệ; giá trị diễn giải của nó sẽ được thấy là soi sáng khi bệnh nhân nắm được sự kiện rằng phía sau y là những điểm khủng hoảng mà qua khí cụ hiện tại của y có thể chứng minh rằng y đã đạt được sự tích hợp, nhờ đó bảo đảm cho y chiến thắng trong điểm khủng hoảng và xung đột khó khăn hiện tại. Ánh sáng mà điều này rọi lên các mối liên hệ và môi trường sẽ giúp ổn định mục đích của y và khiến y hiểu tính tất yếu của trách nhiệm. Khi định luật lớn này được hiểu trong những hàm ý chân thực của nó chứ không được diễn giải theo cách trình bày ấu trĩ hiện nay, khi đó con người sẽ gánh lấy trách nhiệm sống với sự nhận biết hằng ngày về quá khứ, sự thấu hiểu mục đích của hiện tại, và với con mắt hướng về tương lai. Điều này cũng sẽ làm giảm rất nhiều khuynh hướng tự tử đang gia tăng mà nhân loại đang biểu lộ. |
|
It will be apparent to you, therefore, that the time element can enter into the problem most helpfully and it is here that a real understanding of the Law of Rebirth, or of the Law of Opportunity (as I would prefer to call it) will be of definite usefulness. Above everything else, it will bring into the attitude of both psychologist and problem case, the idea of hope, the thought of fulfillment and of ultimate achievement. |
Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng yếu tố thời gian có thể đi vào vấn đề một cách rất hữu ích, và chính ở đây một sự thấu hiểu thực sự về Định luật Tái Sinh, hay Định luật Cơ Hội (như tôi thích gọi hơn) sẽ có ích lợi rõ rệt. Trên hết mọi điều khác, nó sẽ đem vào thái độ của cả nhà tâm lý học lẫn trường hợp có vấn đề ý niệm về hy vọng, tư tưởng về sự hoàn thành và thành tựu tối hậu. |
|
It will also be essential that the psychologist of the future should arrive at a recognition and an admittance of the inner structure of the human being—of his emotional vehicle, his [432] mind body and their close inter-relation through the medium of the vital or etheric body which serves ever as the linking web between the dense physical body and the other bodies. The soul and its triplicity of energies (life itself, expressing will or purpose, love and intelligence) work through the seven major centres, whilst the mind body and the astral body work through many other centres, though possessing also within themselves seven centres which are the transmitting counterparts of those found in the etheric body. The integrations which evolution eventually effects are carried out through the medium of all these centres. Through the heightening of vibration, through the swinging into activity of the centres, and through the subsequent and consequent development of the human response apparatus, new avenues of approach to reality, new qualities of awareness, new sensitivity to that which has hitherto been unrecognised, and new powers begin to open up. |
Điều cũng thiết yếu là nhà tâm lý học của tương lai phải đi đến chỗ nhận biết và thừa nhận cấu trúc bên trong của con người—về hiện thể cảm xúc của y, thể [432] trí của y và mối liên hệ tương hỗ mật thiết của chúng qua trung gian của thể sinh lực hay thể dĩ thái, vốn luôn luôn phục vụ như mạng lưới liên kết giữa thể xác đậm đặc và các thể khác. Linh hồn và bộ ba năng lượng của nó (chính sự sống, biểu lộ như ý chí hay mục đích, bác ái và trí tuệ) hoạt động qua bảy trung tâm chính, trong khi thể trí và thể cảm dục hoạt động qua nhiều trung tâm khác, dù cũng sở hữu bên trong chính chúng bảy trung tâm là những đối phần truyền dẫn của các trung tâm được tìm thấy trong thể dĩ thái. Những sự tích hợp mà tiến hoá cuối cùng tạo ra được thực hiện qua trung gian của tất cả các trung tâm này. Qua việc nâng cao rung động, qua việc đưa các trung tâm vào hoạt động, và qua sự phát triển tiếp theo và hệ quả của bộ máy đáp ứng của con người, những con đường tiếp cận mới đến thực tại, những phẩm tính nhận biết mới, sự nhạy cảm mới đối với điều từ trước đến nay chưa được nhận ra, và những quyền năng mới bắt đầu mở ra. |
|
Each man is, therefore, within himself, a hierarchy, a reflection of a great chain of being—the Being which the universe expresses. Psychology has to recognise eventually: |
Vì vậy, mỗi người trong chính mình là một phân cấp, một phản ánh của một chuỗi hiện hữu vĩ đại—Đấng Hiện Hữu mà vũ trụ biểu lộ. Cuối cùng tâm lý học phải nhận ra: |
|
1. The fact of the soul, the integrating agent, the self. |
1. Sự kiện về linh hồn, tác nhân tích hợp, bản ngã. |
|
2. The Law of Opportunity or Rebirth. |
2. Định luật Cơ Hội hay Tái Sinh. |
|
3. The nature of the inner structure of man and its relation to the outer tangible form. |
3. Bản chất của cấu trúc bên trong của con người và mối liên hệ của nó với hình tướng hữu hình bên ngoài. |
|
It is interesting to note that practically all the teaching given anent rebirth or reincarnation has emphasised the material phenomenal side though there has always been a more or less casual reference to the spiritual and mental gains acquired in the school of life upon this planet, from incarnation to incarnation. The true nature of the unfolding awarenesses and the growth in the inner consciousness of the true man have been little noted; the gain of each life in added grasp of [433] the mechanism of contact, and the result of increased sensitivity to the environment (which are the only values with which the self concerns itself), are seldom, if ever, stressed. Details of living conditions, statements about possible material situations, descriptions of places, clothes, and of personality human relations are imaginatively displayed, and the “recovery of past incarnations” has usually been the so-called recovery of dramatic episodes which feed the innate sense of individuality of the reincarnating man, and usually feed his vanity as well. This curious presentation has been due to several things. First of all, to the fact that the world of illusion is the dominating factor as yet in the lives of the best of men; secondly, that the point in evolution has been such that the writer or speaker has not been able to view the life cycle from the angle of the soul, detached and undeluded, for had he done so, the material phenomenal descriptions would have been omitted and probably not even perceived, and only the values—spiritual and mental—and those matters which concern the group interior life would have been emphasised. The methods used to present this age-old doctrine of rebirth, and the false emphasis laid upon the form aspect to the exclusion of the soul values, have brought about a bad reaction to the whole subject in the minds of intelligent people and of the scientific investigator. Yet, in spite of this, real good has been accomplished, for the whole theory has been seeping steadily into the racial consciousness, becoming an integral part of it and, therefore, moving on to popular and finally scientific recognition. |
Thật thú vị khi lưu ý rằng hầu như mọi giáo huấn được đưa ra liên quan đến tái sinh hay luân hồi đều nhấn mạnh mặt hiện tượng vật chất, mặc dù luôn luôn có một sự đề cập ít nhiều thoáng qua đến những thành quả tinh thần và trí tuệ đạt được trong trường đời trên hành tinh này, từ kiếp nhập thể này sang kiếp nhập thể khác. Bản chất chân thực của những sự nhận biết đang khai mở và sự tăng trưởng trong tâm thức bên trong của con người chân thực ít được lưu ý; thành quả của mỗi kiếp sống trong việc tăng thêm sự nắm bắt [433] bộ máy tiếp xúc, và kết quả của sự gia tăng nhạy cảm đối với môi trường (là những giá trị duy nhất mà bản ngã quan tâm), hiếm khi, nếu có, được nhấn mạnh. Những chi tiết về điều kiện sống, những phát biểu về các hoàn cảnh vật chất có thể có, những mô tả về nơi chốn, y phục, và các mối quan hệ nhân loại của phàm ngã được phô bày đầy tưởng tượng, và “sự phục hồi các kiếp quá khứ” thường chỉ là sự phục hồi được gọi như thế của những tình tiết kịch tính nuôi dưỡng cảm nhận cá biệt bẩm sinh của con người tái sinh, và thường cũng nuôi dưỡng lòng hư vinh của y. Cách trình bày kỳ lạ này là do một số điều. Trước hết, do sự kiện rằng Thế Giới Đang Trở Thành vẫn còn là yếu tố chi phối trong đời sống của ngay cả những người tốt đẹp nhất; thứ hai, do điểm tiến hoá đã ở mức mà người viết hay người nói chưa thể nhìn chu kỳ sống từ góc độ của linh hồn, một cách tách rời và không bị ảo tưởng che mờ, vì nếu y đã làm được như vậy, thì những mô tả hiện tượng vật chất hẳn đã bị lược bỏ và có lẽ thậm chí không được nhận thấy, và chỉ có các giá trị—tinh thần và trí tuệ—cùng những vấn đề liên quan đến đời sống nội tại của nhóm mới được nhấn mạnh. Những phương pháp được dùng để trình bày giáo lý tái sinh lâu đời này, và sự nhấn mạnh sai lầm đặt trên phương diện hình tướng đến mức loại trừ các giá trị của linh hồn, đã gây ra một phản ứng xấu đối với toàn bộ chủ đề này trong tâm trí của những người thông minh và của nhà khảo cứu khoa học. Tuy nhiên, bất chấp điều đó, điều thiện chân thực vẫn đã được thực hiện, vì toàn bộ lý thuyết này đã thấm dần một cách đều đặn vào tâm thức nhân loại, trở thành một phần không thể tách rời của nó và do đó tiến tới sự công nhận phổ biến và cuối cùng là khoa học. |
|
In considering the inner structure of man and those factors which produce the outer appearance and quality and condition it, thus producing the resultant behaviour and conduct, psychologists will have to study the following subjects, [434] beginning with the lowest aspect and expanding their ideas to include the highest possible. These might be grouped and listed as follows: |
Khi xem xét cấu trúc bên trong của con người và những yếu tố tạo ra sắc tướng bên ngoài cùng phẩm tính và tác động lên nó, nhờ đó tạo ra hành vi và cách cư xử kết quả, các nhà tâm lý học sẽ phải nghiên cứu những chủ đề sau đây, [434] bắt đầu từ phương diện thấp nhất và mở rộng các ý tưởng của họ để bao gồm điều cao nhất có thể. Chúng có thể được nhóm lại và liệt kê như sau: |
|
1. The outer response apparatus, acting under impulses received from the outer environment and the inner subjective realms. These come, according to the esoteric theories, via |
1. Bộ máy đáp ứng bên ngoài, hoạt động dưới những xung lực nhận được từ môi trường bên ngoài và các cõi chủ quan bên trong. Theo các lý thuyết huyền bí học, những xung lực này đến qua |
|
a. The brain, from whence certain aspects of the nervous system are directed and controlled, first by mental influence and then by conscious soul direction. |
a. Bộ não, từ đó một số phương diện của hệ thần kinh được định hướng và kiểm soát, trước tiên bởi ảnh hưởng trí tuệ rồi sau đó bởi sự chỉ đạo hữu thức của linh hồn. |
|
b. The endocrine or glandular system, acting under impulses entering the physical body via the seven centres in the etheric body; of these centres, the glandular system is simply the externalisation, or physical counterpart. The glands condition the man through the blood stream, being in their turn conditioned by the centres. |
b. Hệ nội tiết hay hệ tuyến, hoạt động dưới những xung lực đi vào thể xác qua bảy trung tâm trong thể dĩ thái; hệ tuyến này chỉ đơn giản là sự ngoại hiện, hay đối phần hồng trần, của các trung tâm ấy. Các tuyến tác động lên con người qua dòng máu, trong khi đến lượt chúng lại bị các trung tâm tác động. |
|
c. The solar plexus, directing and controlling certain aspects of the nervous system, and which is in large part the instinctual or animal brain. |
c. Tùng thái dương, định hướng và kiểm soát một số phương diện của hệ thần kinh, và phần lớn là bộ não bản năng hay bộ não thú tính. |
|
d. The heart, the centre of life. |
d. Tim, trung tâm của sự sống. |
|
2. The vital or etheric body. This is the major energising factor and is an exact replica or counterpart of the outer form, being the true intermediary between the inner worlds and the outer man. The nadis (lines or threads of force) underlie every nerve in the human body and the centres which they form at certain points of intersection or juncture are the background or motivating agency of every ganglion or plexus found in the human body. Certain of these centres, major and minor, are of unique evolutionary importance. These are as follows: |
2. Thể sinh lực hay thể dĩ thái. Đây là yếu tố tiếp sinh lực chủ yếu và là một bản sao hay đối phần chính xác của hình tướng bên ngoài, là trung gian đích thực giữa các thế giới bên trong và con người bên ngoài. Các nadis (những đường hay sợi dây mãnh lực) nằm bên dưới mọi dây thần kinh trong cơ thể con người, và các trung tâm mà chúng tạo thành tại một số điểm giao nhau hay tiếp giáp là nền tảng hay tác nhân thúc đẩy của mọi hạch hay đám rối được tìm thấy trong cơ thể con người. Một số trung tâm này, lớn và nhỏ, có tầm quan trọng tiến hoá độc đáo. Chúng như sau: |
|
[435] |
[435] |
|
a. The head centre is the seat of soul energy, or the centre through which the conscious, spiritual man functions. |
a. Trung tâm đầu là chỗ ngự của năng lượng linh hồn, hay trung tâm qua đó con người tinh thần hữu thức hoạt động. |
|
b. The heart centre is the seat of life, of the highest principle which expresses itself through man. |
b. Trung tâm tim là chỗ ngự của sự sống, của nguyên khí cao nhất biểu lộ qua con người. |
|
c. The solar plexus centre is the seat of the instinctual life, of the animal soul, and of the highly developed emotional nature. |
c. Trung tâm tùng thái dương là chỗ ngự của đời sống bản năng, của hồn thú, và của bản chất cảm xúc phát triển cao. |
|
d. The centre at the base of the spine is the major integrating centre and comes into functioning activity when two major fusions have been effected: that of the fusions of the three bodies into one coordinated personality, and when soul and body are at-oned. |
d. Trung tâm ở đáy cột sống là trung tâm tích hợp chủ yếu và đi vào hoạt động hữu hiệu khi hai sự dung hợp lớn đã được thực hiện: sự dung hợp của ba thể thành một phàm ngã phối hợp, và khi linh hồn và thể xác được hợp nhất. |
|
3. The emotional or sentient body, which is often called the astral body. From this vehicle emanate the desires, impulses, aspirations and those conflicts of duality which so oft afflict and hinder the disciple. It is the seat also of the creative, imaginative life of man. It also possesses centres of force which are counterparts of those to be found in the etheric body, but for the majority of people it is energised mainly from the world of illusion and from the astral plane. It is from this plane of illusory awareness, that the advanced man has to learn to withdraw himself. |
3. Thể cảm xúc hay thể cảm nhận, thường được gọi là thể cảm dục. Từ hiện thể này phát ra những ham muốn, xung lực, khát vọng và những xung đột của nhị nguyên tính thường xuyên làm khổ và cản trở đệ tử. Nó cũng là chỗ ngự của đời sống sáng tạo đầy tưởng tượng của con người. Nó cũng sở hữu những trung tâm mãnh lực là các đối phần của những trung tâm được tìm thấy trong thể dĩ thái, nhưng đối với đa số người, nó chủ yếu được tiếp năng lượng từ Thế Giới Đang Trở Thành và từ cõi cảm dục. Chính từ cõi nhận biết đầy ảo tưởng này mà con người tiến bộ phải học cách rút mình ra. |
|
4. The mind nature, which works through four centres and only four. |
4. Bản chất trí tuệ, hoạt động qua bốn trung tâm và chỉ bốn trung tâm mà thôi. |
|
5. The soul itself, or the true spiritual man, the self in manifestation, working through or seeking to work through, its phenomenal appearance, the fourfold lower man. |
5. Bản thân linh hồn, hay con người tinh thần chân thực, bản ngã đang biểu hiện, hoạt động qua, hay tìm cách hoạt động qua, sắc tướng hiện tượng của nó, con người thấp tứ phân. |
|
If the above is carefully studied, it will become apparent that the cleavages which exist in man are cleavages in certain inherent or basic relations: |
Nếu điều trên được nghiên cứu cẩn thận, sẽ trở nên rõ ràng rằng những sự phân cách tồn tại trong con người là những sự phân cách trong một số mối liên hệ cố hữu hay căn bản: |
|
[436] |
[436] |
|
1. Found within the man himself, in one or other of these various focal points of realization or awareness: |
1. Được tìm thấy bên trong chính con người, tại một hay một số điểm hội tụ khác nhau của sự chứng nghiệm hay nhận biết này: |
|
a. Unrecognised by the man himself or by those around him. When this is the case, the man is unevolved and the cleavages or gaps in his consciousness do no real harm relatively, either to himself or to those in his environment. They simply indicate lack of development. |
a. Không được chính con người hay những người quanh y nhận ra. Khi trường hợp là như vậy, con người ấy chưa tiến hoá và những sự phân cách hay khoảng trống trong tâm thức của y tương đối không gây hại thực sự nào, cho chính y hay cho những người trong môi trường của y. Chúng chỉ đơn giản cho thấy sự thiếu phát triển. |
|
b. When recognised, they produce distress and difficulty and the man becomes in need of sound psychological help. Correct information along the lines here laid down can be given in those cases where the intellectual type is involved; the psychologist is then dealing with people who should be able and willing to help themselves. |
b. Khi được nhận ra, chúng tạo ra khổ sở và khó khăn, và con người trở nên cần đến sự trợ giúp tâm lý lành mạnh. Thông tin đúng đắn theo những đường lối được nêu ra ở đây có thể được cung cấp trong những trường hợp liên quan đến loại người trí tuệ; khi đó nhà tâm lý học đang xử lý những người lẽ ra phải có khả năng và sẵn lòng tự giúp mình. |
|
c. When the man has effected the necessary bridging and unification, he then becomes a unified personality. Then the mystic can emerge. This means that he has achieved the point wherein the higher bridging between the integrated personality and the soul becomes possible. Finally, a Master of the Wisdom, Who is an exponent of the Christ consciousness, in its unifying, salvaging and constructive aspects, appears. |
c. Khi con người đã thực hiện được sự bắt cầu và hợp nhất cần thiết, khi đó y trở thành một phàm ngã hợp nhất. Khi ấy nhà thần bí có thể xuất hiện. Điều này có nghĩa là y đã đạt đến điểm mà tại đó sự bắt cầu cao hơn giữa phàm ngã tích hợp và linh hồn trở nên khả hữu. Cuối cùng, một Chân sư Minh triết, Đấng là hiện thân của tâm thức Christ trong các phương diện hợp nhất, cứu độ và xây dựng của nó, xuất hiện. |
|
The at-oning of the higher and the lower nature will produce results which will be determined in their field of expression by a man’s ray. These ray conditions will result in a man’s finding his right field of usefulness and right expression in the political, religious, or scientific fields, and in other modes of divine manifestation. |
Sự hợp nhất của bản chất cao và thấp sẽ tạo ra những kết quả mà lĩnh vực biểu lộ của chúng được quyết định bởi cung của một người. Những điều kiện cung này sẽ dẫn đến việc một người tìm ra lĩnh vực hữu dụng đúng đắn và sự biểu lộ đúng đắn của mình trong các lĩnh vực chính trị, tôn giáo, hay khoa học, và trong những phương thức biểu hiện thiêng liêng khác. |
|
2. Found between a man and his environment.. The effect of this may mean that he is an anti-social human being, or unpopular, full of fear of life, or expressing, in many [437] other forms, his inability to tune in on his surroundings. Lack of understanding, of right relationship, and inability correctly to blend the inner and the outer forms of the life structure, will be evidenced. The cause of the cleavage in this case is usually found somewhere within the astral body itself. |
2. Được tìm thấy giữa một người và môi trường của y.. Hiệu quả của điều này có thể có nghĩa rằng y là một con người phản xã hội, hay không được ưa thích, đầy sợ hãi trước cuộc sống, hay biểu lộ, dưới nhiều [437] hình thức khác, sự bất lực của y trong việc hòa điệu với hoàn cảnh xung quanh. Sự thiếu thấu hiểu, thiếu mối liên hệ đúng đắn, và bất lực trong việc dung hợp đúng cách các hình thức bên trong và bên ngoài của cấu trúc đời sống sẽ được biểu lộ. Nguyên nhân của sự phân cách trong trường hợp này thường được tìm thấy ở đâu đó ngay trong thể cảm dục. |
|
3. Found between a man and his life task, or the life activity to which fate ordains him and pre-disposition inclines him. The difficulty here lies in a definite break or failure of continuity between the mind nature, determining purpose, and the astral nature, governing impulse. |
3. Được tìm thấy giữa một người và nhiệm vụ đời mình, hay hoạt động sống mà số phận chỉ định cho y và thiên hướng khiến y nghiêng về. Khó khăn ở đây nằm trong một sự đứt đoạn hay thất bại rõ rệt của tính liên tục giữa bản chất trí tuệ, vốn quyết định mục đích, và bản chất cảm dục, vốn chi phối xung lực. |
|
4. Found between a man and his overshadowing (and slowly domination) soul. This leads to much realised unhappiness, dire conflict, and the eventual and symbolic “death of the personality.” |
4. Được tìm thấy giữa một người và linh hồn đang phủ bóng (và chậm chạp chi phối) y. Điều này dẫn đến nhiều bất hạnh được cảm nhận, xung đột dữ dội, và “cái chết của phàm ngã” mang tính biểu tượng cuối cùng. |
|
Here again I would like to pause and to point out that the concepts of death, of substitution, of the vicarious at-one-ment and of sacrifice, will—in the New Age—be superseded by the concepts of resurrection or of livingness, of spiritual unity, of transference and of service, so that a new note will enter into human life, bringing hope and joy and power and freedom. |
Ở đây một lần nữa tôi muốn dừng lại và chỉ ra rằng các khái niệm về cái chết, về sự thay thế, về sự hợp nhất thay thế và về sự hy sinh sẽ—trong Kỷ Nguyên Mới—được thay thế bằng các khái niệm về phục sinh hay tính sống động, về hợp nhất tinh thần, về sự chuyển dịch và về phụng sự, để một chủ âm mới sẽ đi vào đời sống nhân loại, mang theo hy vọng, hoan hỉ, quyền năng và tự do. |
b. PROBLEMS OF INTEGRATION—b. CÁC VẤN ĐỀ CỦA SỰ TÍCH HỢP
|
One of the first things which happens when a man has succeeded (alone or with academic psychological aid) in healing or bridging certain cleavages is the recognition of an immediate sense of well-being and of demand for expression. This in its turn, brings its own problems among which are these: |
Một trong những điều đầu tiên xảy ra khi một người đã thành công (một mình hay với sự trợ giúp tâm lý học hàn lâm) trong việc chữa lành hay bắt cầu một số phân cách là sự nhận ra ngay tức thì một cảm giác an ổn và một đòi hỏi được biểu lộ. Điều này đến lượt nó lại mang theo những vấn đề riêng, trong đó có những điều sau: |
|
A sense of power, which makes the man, temporarily at least, selfish, dominant, sure of himself and full of arrogance. He is aware of himself as facing a larger [438] world, a wider horizon, and greater opportunities. This larger sense can bring, therefore, serious troubles and difficulties. This type of person, under the influence of this extension of consciousness, is often beautifully motivated and actuated by the highest intentions, but only succeeds in producing inharmony in his surroundings. These tendencies, when allowed to rule unchecked, can lead eventually to a serious state of egomania, for egomania is outstandingly a problem of integration. All these difficulties can be obviated and offset if the man can be brought to realise himself as an integral part of a much greater whole. His sense of values will then be adjusted and his sense of power rightly oriented. |
Một cảm giác quyền năng , khiến con người ấy, ít nhất là tạm thời, trở nên ích kỷ, thích chi phối, tự tin và đầy kiêu ngạo. Y ý thức mình như đang đối diện với một thế giới [438] rộng lớn hơn, một chân trời bao la hơn, và những cơ hội lớn lao hơn. Do đó cảm nhận rộng lớn hơn này có thể mang lại những rắc rối và khó khăn nghiêm trọng. Loại người này, dưới ảnh hưởng của sự mở rộng tâm thức ấy, thường được thúc đẩy một cách rất đẹp đẽ và được vận hành bởi những ý định cao cả nhất, nhưng chỉ thành công trong việc tạo ra bất hòa trong môi trường xung quanh. Những khuynh hướng này, khi được để mặc cai quản mà không bị kiểm soát, cuối cùng có thể dẫn đến một trạng thái cuồng ngã nghiêm trọng, vì cuồng ngã nổi bật là một vấn đề của sự tích hợp. Tất cả những khó khăn này có thể được ngăn ngừa và hóa giải nếu con người ấy có thể được đưa đến chỗ nhận ra mình là một phần không thể tách rời của một toàn thể lớn lao hơn nhiều. Khi đó cảm nhận về các giá trị của y sẽ được điều chỉnh và cảm nhận quyền năng của y sẽ được định hướng đúng đắn. |
|
A tendency to over-emphasis may also show itself, turning the man (as a result of integration and a sense of well-being or power and capacity) into a fanatic, at any rate for a time. Again with the best motives in the world, he seeks to drive everyone the way that he has come, failing to recognise the differences in background, ray type, point in evolution, and tradition and heredity. He becomes a source of distress to himself and to his friends. A little learning can be a dangerous thing, and the cure for many ills, particularly of a psychological nature, is the recognition of this. Progress can then be made on the Path of Wisdom. |
Một khuynh hướng nhấn mạnh quá mức cũng có thể biểu lộ, biến con người ấy (do kết quả của sự tích hợp và cảm giác an ổn hay quyền năng và năng lực) thành một kẻ cuồng tín, ít nhất là trong một thời gian. Một lần nữa, với những động cơ tốt đẹp nhất trên đời, y tìm cách thúc ép mọi người đi theo con đường mà y đã đi, không nhận ra những khác biệt về bối cảnh, loại cung, điểm tiến hoá, truyền thống và di truyền. Y trở thành nguồn khổ sở cho chính mình và cho bạn bè mình. Một ít hiểu biết có thể là điều nguy hiểm, và phương thuốc cho nhiều tệ hại, đặc biệt thuộc bản chất tâm lý, là sự nhận ra điều này. Khi đó sự tiến bộ có thể được thực hiện trên Con Đường Minh triết. |
|
The over-development of the sense of direction or of vocation, if you like to call it so, though the two are not identical, for the sense of direction is less definite than the recognition of vocation. In the schools of esoteric psychology, a phrase is sometimes used in connection with this sense of direction or inner guidance which runs as follows: “the bridging of the gaps induces a man continuously to run across the bridge.” Certain aspects [439] of the man are now consciously recognised, and the higher of these constantly attracts him. When, for instance, the gap between the astral or emotional body and the mind has been bridged, and the man discovers the vast field of mental activity which has opened up before him, he may for a long time become materialistically intellectual and will tune out as far as he can all emotional reactions and psychic sensitivity, glamouring himself with the belief that they are, for him, non-existent. He will then work intensively on mental levels. This will prove only a passing matter from the point of vision of the soul (e’en if it last an entire incarnation or several incarnations); but it can cause definite psychological problems, and create in the man’s perception of life, “blind spots.” However, much trouble is cured by leaving people alone, provided the abnormality is not too excessive. |
Sự phát triển quá mức của cảm nhận định hướng hay thiên chức , nếu bạn thích gọi như vậy, dù hai điều này không đồng nhất, vì cảm nhận định hướng ít xác định hơn sự nhận biết thiên chức. Trong các trường phái Tâm Lý Học Nội Môn, đôi khi có một cụm từ được dùng liên hệ với cảm nhận định hướng hay sự hướng dẫn bên trong này như sau: “sự bắt cầu các khoảng trống khiến một người liên tục chạy qua cây cầu.” Một số phương diện [439] của con người nay được nhận ra một cách hữu thức, và phương diện cao hơn trong số đó liên tục thu hút y. Chẳng hạn, khi khoảng trống giữa thể cảm dục hay cảm xúc và trí tuệ đã được bắt cầu, và con người khám phá ra cánh đồng rộng lớn của hoạt động trí tuệ mở ra trước mặt mình, y có thể trong một thời gian dài trở nên trí thức duy vật và sẽ loại bỏ, trong mức có thể, mọi phản ứng cảm xúc và sự nhạy cảm thông linh, tự tạo ảo cảm cho mình bằng niềm tin rằng đối với y, chúng không hiện hữu. Khi đó y sẽ làm việc mãnh liệt trên các cấp độ trí tuệ. Điều này sẽ chỉ là một vấn đề thoáng qua từ quan điểm tầm nhìn của linh hồn (dù nó kéo dài trọn một kiếp nhập thể hay nhiều kiếp nhập thể); nhưng nó có thể gây ra những vấn đề tâm lý rõ rệt, và tạo ra trong nhận thức của con người về cuộc sống những “điểm mù.” Tuy nhiên, nhiều rắc rối được chữa lành bằng cách để mặc người ta yên, miễn là sự bất thường không quá mức. |
|
Once the fact of the soul is admitted, we shall see an increasing tendency to leave people to the directing purpose and guidance of their own souls, provided that they understand what is happening to them and can discriminate between: |
Một khi sự kiện về linh hồn được thừa nhận, chúng ta sẽ thấy một khuynh hướng ngày càng tăng là để mặc người ta cho mục đích chỉ đạo và sự hướng dẫn của chính linh hồn họ, miễn là họ hiểu điều gì đang xảy ra với mình và có thể phân biện giữa: |
|
a. The upward surging of the subconscious self into the lighted area of consciousness, |
a. Sự dâng lên của phàm ngã tiềm thức vào vùng sáng của tâm thức, |
|
b. The play and force and recognitions of the immediately conscious self. |
b. Sự vận hành, mãnh lực và những nhận biết của phàm ngã trực tiếp hữu thức. |
|
c. The downflow of the superconscious self, the soul, carrying inspiration, higher knowledges and intuitions. |
c. Sự tuôn xuống của phàm ngã siêu thức, linh hồn, mang theo cảm hứng, tri thức cao hơn và trực giác. |
|
These words—subconscious, conscious and super-conscious—need definition, for the purpose of this treatise; they [440] are bandied about so freely and mean different things according to the school of psychological thought to which the student belongs. |
Những từ này—tiềm thức, hữu thức và siêu thức—cần được định nghĩa cho mục đích của bộ luận này; chúng [440] được tung ra quá tự do và mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo trường phái tư tưởng tâm lý mà đạo sinh thuộc về. |
|
I use the term subconscious to signify the entire instinctual life of the form nature, all the inherited tendencies and innate predispositions, all the acquired and accumulated characteristics (acquired in past incarnations and frequently lying dormant unless suddenly evoked by stress of circumstance) and all the unformulated wishes and urges which drive a man into activity, plus the suppressed and unrecognised desires, and the unexpressed ideas which are present, though unrealised. The subconscious nature is like a deep pool from which a man can draw almost anything from his past experience, if he so desires, and which can be stirred up until it becomes a boiling cauldron, causing much distress. |
Tôi dùng từ tiềm thức để chỉ toàn bộ đời sống bản năng của bản chất hình tướng, mọi khuynh hướng di truyền và thiên hướng bẩm sinh, mọi đặc tính đã thủ đắc và tích lũy (được thủ đắc trong các kiếp nhập thể quá khứ và thường nằm im trừ khi đột nhiên bị khơi dậy bởi áp lực hoàn cảnh) và mọi ước muốn cùng thôi thúc chưa được định hình thúc đẩy con người vào hoạt động, cộng với những ham muốn bị dồn nén và không được nhận ra, và những ý tưởng không được biểu lộ nhưng vẫn hiện diện dù chưa được chứng nghiệm. Bản chất tiềm thức giống như một hồ sâu mà từ đó con người có thể rút ra hầu như bất cứ điều gì từ kinh nghiệm quá khứ của mình, nếu y muốn, và có thể bị khuấy động cho đến khi trở thành một vạc nước sôi, gây nên nhiều khổ sở. |
|
The conscious is limited to that which the man knows himself to be and have in the present—the category of qualities, characteristics, powers, tendencies and knowledges of all kinds which constitute a mans stock in trade and of which he is definitely aware or of which the psychologist is aware. These are displayed in his window for all to see, and they make him what he apparently is to the outer onlooking world. |
Cái hữu thức bị giới hạn vào điều mà con người biết mình là và có trong hiện tại—phạm trù các phẩm tính, đặc tính, quyền năng, khuynh hướng và tri thức đủ loại cấu thành vốn liếng hành nghề của một người và điều mà y nhận biết rõ rệt hoặc nhà tâm lý học nhận biết rõ rệt. Những điều này được trưng bày trong cửa sổ của y cho mọi người thấy, và chúng làm cho y trở thành điều mà y dường như là đối với thế giới bên ngoài đang quan sát. |
|
By the super-conscious, I mean those potencies and knowledges which are available but which are as yet uncontacted and unrecognised and, therefore, of no immediate use. These are the wisdom, love and abstract idealism which are inherent in the nature of the soul but which are not yet, and never have been a part of the equipment available for use. Eventually, all these powers will be recognised and used by the man. These potencies and realisations are called in The Yoga Sutras of Patanjali by the interesting name of “the raincloud of knowable things.” These “knowable things” will eventually [441] drop into the conscious aspect of a man’s nature and become an integral part of his intellectual equipment. Finally, as evolution proceeds and the ages pass away, they will drop into the subconscious aspect of his nature, as his power to grasp the super-conscious grows in capacity. I might make this point clearer to you if I pointed out that just as the instinctual nature is today found largely in the realm of the subconscious, so in due time, the intellectual part of man (of which he is at this time becoming increasingly aware) will be relegated to a similar position and will drop below the threshold of consciousness. The intuition will then take its place. For most people, the free use of the intuition is not possible, because it lies in the realm of the super-conscious. |
Bởi siêu thức, tôi muốn nói đến những tiềm năng và tri thức sẵn có nhưng cho đến nay chưa được tiếp xúc và chưa được nhận ra, và do đó không có ích lợi tức thời. Đó là minh triết, bác ái và lý tưởng trừu tượng vốn cố hữu trong bản chất của linh hồn nhưng chưa phải, và chưa bao giờ là, một phần của khí cụ sẵn có để sử dụng. Cuối cùng, tất cả những quyền năng này sẽ được con người nhận ra và sử dụng. Những tiềm năng và chứng nghiệm này được gọi trong Kinh Yoga của Patanjali bằng cái tên thú vị là “đám mây mưa của những điều khả tri.” Những “điều khả tri” này cuối cùng sẽ [441] rơi vào phương diện hữu thức của bản chất con người và trở thành một phần không thể tách rời của khí cụ trí tuệ của y. Sau cùng, khi tiến hoá tiếp diễn và các thời đại trôi qua, chúng sẽ rơi vào phương diện tiềm thức của bản chất y, khi quyền năng nắm bắt siêu thức của y tăng trưởng về năng lực. Tôi có thể làm rõ điểm này hơn cho các bạn nếu tôi chỉ ra rằng cũng như bản chất bản năng ngày nay phần lớn được tìm thấy trong lĩnh vực tiềm thức, thì đến đúng lúc, phần trí tuệ của con người (mà hiện nay y đang ngày càng nhận biết hơn) sẽ bị đẩy xuống một vị trí tương tự và sẽ rơi xuống dưới ngưỡng của tâm thức. Khi đó trực giác sẽ thay thế vị trí của nó. Đối với đa số người, việc sử dụng trực giác một cách tự do là không thể, vì nó nằm trong lĩnh vực siêu thức. |
|
All these movements within the realm of consciousness,—from the subconscious to the immediately conscious and from thence to the super-conscious—are essentially crises of integration, producing temporary situations which must be handled. I would like here to point out that when an individual becomes aware of the higher aspect of himself which is demanding integration and is conscious of its nature and of the part which it could play in his life expression, he frequently becomes afflicted with an inferiority complex. This is the reaction of the lower, integrated aspects to the higher one. He experiences a sense of futility; the comparison which he makes within himself of the possible achievement and the point already attained leaves him with a sense of failure and of impotence. The reason for this is that the vision is at first too big, and he feels that he cannot make the grade. Humanity today has made so much progress upon the path of evolution that two groups of men are thus powerfully affected: |
Tất cả những chuyển động này trong lĩnh vực tâm thức,—từ tiềm thức đến hữu thức trực tiếp và từ đó đến siêu thức—về bản chất đều là những cuộc khủng hoảng của sự tích hợp, tạo ra những tình huống tạm thời cần phải được xử lý. Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng khi một cá nhân trở nên nhận biết phương diện cao hơn của chính mình đang đòi hỏi được tích hợp và ý thức được bản chất của nó cùng vai trò mà nó có thể đóng trong sự biểu lộ đời sống của mình, thì y thường bị mặc cảm tự ti. Đây là phản ứng của các phương diện thấp đã tích hợp đối với phương diện cao hơn. Y trải qua một cảm giác vô ích; sự so sánh mà y thực hiện trong chính mình giữa thành tựu có thể đạt được và điểm đã đạt tới khiến y có cảm giác thất bại và bất lực. Lý do là vì lúc đầu linh ảnh quá lớn, và y cảm thấy mình không thể đạt chuẩn. Nhân loại ngày nay đã tiến bộ rất nhiều trên đường tiến hoá đến mức có hai nhóm người bị tác động mạnh mẽ như vậy: |
|
1. The group which has recognised the need for bridging the cleavage between the emotional nature and the mind [442] and has thus, through their integration, reached the level of intelligence. |
1. Nhóm đã nhận ra nhu cầu bắt cầu sự phân cách giữa bản chất cảm xúc và trí tuệ [442] và nhờ đó, qua sự tích hợp của họ, đã đạt đến cấp độ trí tuệ. |
|
2. The group that has already bridged this cleavage and is now aware of a major task which is the bridging of the gap between the personality and the soul. |
2. Nhóm đã bắt cầu sự phân cách này rồi và nay ý thức được một nhiệm vụ lớn lao là bắt cầu khoảng trống giữa phàm ngã và linh hồn. |
|
These groups include a very large number of people at this time; the sense of inferiority is very great and causes many types of difficulty. If, however, the cause is more intelligently approached and handled, it will be found that the growth of a truer perspective will be rapid. |
Hai nhóm này hiện nay bao gồm một số lượng rất lớn người; cảm giác tự ti là rất lớn và gây ra nhiều loại khó khăn. Tuy nhiên, nếu nguyên nhân được tiếp cận và xử lý một cách thông minh hơn, người ta sẽ thấy rằng sự tăng trưởng của một viễn cảnh chân thực hơn sẽ diễn ra nhanh chóng. |
|
Another real difficulty in the field of achieved integration is to be found in the case of those who have integrated the entire lower nature and have fused the energies of the personality. All the energies involved in this fusion have quality, and the combination and interplay of these qualities (each determined by some particular ray energy) constitute the character of the person. For a long while after integration has been reached there will frequently be much conflict, strictly within the realm of character and within the Man’s immediate consciousness. First one energy and then another will assert itself and battle for the supremacy. It might be of value here if I posited a hypothetical case, giving you the governing ray energies and reminding you that their fusion is the objective. In the case in point the subject has fused the personality vehicles into one functioning whole and is definitely a personality, but the major fusion of soul and personality has not been made. |
Một khó khăn thực sự khác trong lĩnh vực sự tích hợp đã đạt được được thấy nơi trường hợp những người đã tích hợp toàn bộ bản chất thấp và đã dung hợp các năng lượng của phàm ngã. Mọi năng lượng dự phần trong sự dung hợp này đều có phẩm tính, và sự kết hợp cùng tương tác của các phẩm tính ấy (mỗi phẩm tính được quyết định bởi một năng lượng cung đặc thù nào đó) cấu thành tính cách của con người. Trong một thời gian dài sau khi sự tích hợp đã đạt được, thường sẽ có nhiều xung đột, hoàn toàn ở trong phạm vi tính cách và trong tâm thức trực tiếp của con người. Trước hết năng lượng này rồi đến năng lượng khác sẽ tự khẳng định và tranh đấu để giành quyền tối thượng. Ở đây sẽ có ích nếu tôi nêu ra một trường hợp giả định, đưa ra cho các bạn các năng lượng cung chi phối và nhắc các bạn rằng sự dung hợp của chúng là mục tiêu. Trong trường hợp đang xét, chủ thể đã dung hợp các vận cụ phàm ngã thành một toàn thể hoạt động thống nhất và rõ ràng là một phàm ngã, nhưng sự dung hợp chủ yếu giữa linh hồn và phàm ngã vẫn chưa được thực hiện. |
|
Major energies |
Năng lượng Chính yếu |
|
Egoic energy |
Ray 1. The energy of will or power. |
|
Năng lượng chân ngã |
Cung 1. Năng lượng của ý chí hay quyền năng. |
|
Personality energy |
Ray 4. The energy of harmony through conflict. |
|
Năng lượng phàm ngã |
Cung 4. Năng lượng của hài hòa qua xung đột. |
|
Minor Energies |
Năng lượng phụ |
|
[443] |
|
|
Mental energy |
Ray 3. The energy of intelligence. |
|
Năng lượng trí tuệ |
Cung 3. Năng lượng của trí năng. |
|
Astral energy |
Ray 6. The energy of devotion Idealism. |
|
Năng lượng cảm dục |
Cung 6. Năng lượng của hiến dâng Chủ nghĩa lý tưởng. |
|
Physical energy |
Ray 1. The energy of will or power. |
|
Năng lượng thể xác |
Cung 1. Năng lượng của ý chí hay quyền năng. |
|
Here we have a fivefold field of energy in which all factors are active except the energy of the ego or soul. They have been definitely fused. There is at the same time a growing awareness of the need for a still higher or more inclusive fusion and the establishing of a definite relation with the soul. The process has been as follows: First, the man was simply an animal, aware only of physical energy. Then he began to include within his field of awareness the emotional nature, with its desires, demands and sensitive reactions. Next, he discovered himself as a mind, and mental energy proceeded to complicate his problem. Finally, he arrived at the life expression we are hypothetically considering in which he has (and this is the point of real interest). |
Ở đây chúng ta có một trường năng lượng ngũ phân trong đó mọi yếu tố đều hoạt động ngoại trừ năng lượng của chân ngã hay linh hồn. Chúng đã được dung hợp một cách rõ rệt. Đồng thời cũng có một sự nhận biết ngày càng tăng về nhu cầu đối với một sự dung hợp còn cao hơn hoặc bao gồm hơn nữa và về việc thiết lập một mối liên hệ xác định với linh hồn. Tiến trình đã diễn ra như sau: Trước hết, con người chỉ đơn thuần là một động vật, chỉ nhận biết năng lượng thể xác. Rồi y bắt đầu bao gồm trong trường nhận biết của mình bản chất cảm xúc, với những ham muốn, đòi hỏi và phản ứng nhạy cảm của nó. Kế đó, y khám phá ra mình như là một trí tuệ, và năng lượng trí tuệ bắt đầu làm cho vấn đề của y thêm phức tạp. Sau cùng, y đạt đến biểu hiện sự sống mà chúng ta đang giả định xem xét, trong đó y có (và đây là điểm thật sự đáng quan tâm). |
|
a. A first ray physical body, with a brain dominated and controlled by a third ray mind. This means capacity for intellectual achievement of a very varied kind. |
a. Một thể xác cung một, với bộ não bị chi phối và kiểm soát bởi một trí tuệ cung ba. Điều này có nghĩa là khả năng đạt thành tựu trí năng thuộc nhiều loại rất đa dạng. |
|
b. An emotional nature which, being governed by sixth ray energy, can be rapidly swung into fanatical orientations and is easily idealistic. |
b. Một bản chất cảm xúc mà, vì được cai quản bởi năng lượng cung sáu, có thể nhanh chóng bị cuốn vào những định hướng cuồng tín và dễ trở nên duy tâm. |
|
c. The whole problem is further complicated by the rapidly emerging fourth ray energies of the personality. This means that the personality goal is the achievement of harmony, unity and skill in living, through an intensity of conflict, waged within [444] the fourfold field of energy which constitutes the lower self. |
c. Toàn bộ vấn đề còn thêm phức tạp bởi các năng lượng cung bốn của phàm ngã đang xuất hiện nhanh chóng. Điều này có nghĩa là mục tiêu của phàm ngã là đạt được sự hài hòa, hợp nhất và khéo léo trong đời sống, thông qua một cường độ xung đột được tiến hành bên trong [444] trường năng lượng tứ phân cấu thành phàm ngã thấp. |
|
You will, therefore, have a man who is ambitious for power, but with right motive, because he is truly idealistic; who will fight intelligently to achieve it, but will fight fanatically to bring about these ends because his fourth ray personality and sixth ray astral body will force him to do so, and his first ray body and brain will enable him to put up a strong fight. At the same time, his first ray soul energy is seeking to dominate, and will eventually do so through the medium of third ray mental energy, influencing the first ray brain. The first result of soul influence will be an intensification of every thing in the personality. The trouble will be localised in the mental body or in the brain and can range all the way down from idee fixe and mental crystallisation to insanity (if the stimulation becomes unduly powerful or the heredity is not good.) He can express arrogant success in his chosen field of work, which will make him a dominant and unpleasant person, or he can express the fluidity of the third ray mind which will make him a scheming manipulator or a fighter for immense schemes which can never really materialise. In this analysis I have not considered the tendencies evoked in past lives and lying hidden in the subconscious, or his heredity and environment. I have simply sought to show one thing: that the conflict of energies within a man can produce serious situations. But most of them can be corrected through right understanding. |
Do đó, các bạn sẽ có một con người đầy tham vọng quyền lực, nhưng với động cơ đúng đắn, vì y thật sự duy tâm; y sẽ chiến đấu một cách thông minh để đạt được điều đó, nhưng sẽ chiến đấu một cách cuồng tín để đem lại các mục tiêu ấy vì phàm ngã cung bốn và thể cảm dục cung sáu của y sẽ buộc y làm như vậy, còn thể xác và bộ não cung một của y sẽ giúp y có thể chiến đấu mạnh mẽ. Đồng thời, năng lượng linh hồn cung một của y đang tìm cách chi phối, và cuối cùng sẽ làm được điều đó thông qua trung gian của năng lượng trí tuệ cung ba, ảnh hưởng đến bộ não cung một. Kết quả đầu tiên của ảnh hưởng linh hồn sẽ là sự tăng cường mọi thứ trong phàm ngã. Rắc rối sẽ khu trú trong thể trí hoặc trong bộ não và có thể trải dài từ ý tưởng cố chấp và sự kết tinh trí tuệ cho đến chứng điên loạn (nếu sự kích thích trở nên quá mạnh hoặc di truyền không tốt). Y có thể biểu lộ một thành công kiêu ngạo trong lĩnh vực công việc mình đã chọn, điều này sẽ khiến y trở thành một người có tính áp đảo và khó chịu, hoặc y có thể biểu lộ tính linh động của trí tuệ cung ba, điều này sẽ khiến y trở thành một kẻ thao túng đầy mưu toan hoặc một chiến sĩ cho những kế hoạch to lớn không bao giờ thực sự có thể hiện hình. Trong phân tích này tôi chưa xét đến những khuynh hướng được khơi dậy trong các kiếp quá khứ và đang ẩn giấu trong tiềm thức, hoặc di truyền và môi trường của y. Tôi chỉ tìm cách chỉ ra một điều: rằng xung đột của các năng lượng bên trong một con người có thể tạo ra những tình huống nghiêm trọng. Nhưng phần lớn chúng có thể được sửa chữa nhờ sự thấu hiểu đúng đắn. |
|
It will be apparent to you, therefore, that one of the first studies to be made in this new approach to the psychological field will be to discover: |
Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng một trong những nghiên cứu đầu tiên cần được thực hiện trong cách tiếp cận mới này đối với lĩnh vực tâm lý học sẽ là khám phá: |
|
1. Which rays, major and minor, are conditioning and determining [445] the nature of the man, and evoking the quality of his daily life. |
1. Những cung nào, chính yếu và phụ, đang tác động và quyết định [445] bản chất của con người, và khơi dậy phẩm tính của đời sống hằng ngày của y. |
|
2. Which of these five energies is (at the time of the difficulty) the most dominant, and through which body or vehicle it is focussed. |
2. Trong năm năng lượng này, năng lượng nào (vào lúc khó khăn xảy ra) là trội nhất, và nó được tập trung qua thể hay vận cụ nào. |
|
3. Which of these ray energies is struggling against the imposed dominance, mentioned above. These can be either: |
3. Năng lượng cung nào trong số này đang tranh đấu chống lại sự chi phối áp đặt đã nói ở trên. Chúng có thể là: |
|
a. Varying aspects of the same energy within their own particular field. |
a. Những phương diện khác nhau của cùng một năng lượng trong chính trường riêng biệt của chúng. |
|
b. Higher energies which are endeavouring to control the lower energies and therefore indicating a cleavage in the man’s nature. |
b. Những năng lượng cao hơn đang nỗ lực kiểm soát các năng lượng thấp hơn và vì thế cho thấy một sự phân ly trong bản chất của con người. |
|
c. The energy of the fusion process itself, which unifies the lower energies into one functioning personality. |
c. Chính năng lượng của tiến trình dung hợp, năng lượng hợp nhất các năng lượng thấp thành một phàm ngã hoạt động. |
|
d. The adjustment of the bridging process between the two major energies. This will result in the at-one-ment of soul and of the personality. |
d. Sự điều chỉnh của tiến trình bắt cầu giữa hai năng lượng chính yếu. Điều này sẽ đưa đến sự hợp nhất của linh hồn và phàm ngã. |
|
These constitute the larger areas of difficulty, and in each of these fields of conflicting energies there are lesser centres of conflict. These are frequently brought about by environing circumstances and events. |
Những điều này cấu thành các lĩnh vực khó khăn lớn hơn, và trong mỗi lĩnh vực năng lượng xung đột này đều có những trung tâm xung đột nhỏ hơn. Chúng thường do các hoàn cảnh và biến cố chung quanh gây ra. |
|
Given all these factors, and considering our hypothetical case as being that of a man with a highly intelligent nature and a good equipment for daily expression, how would the esoteric psychologist proceed? How would he deal with the man and what would he do? On what broad and general principles would he proceed? I can but briefly indicate some of them, reminding you that, in the case which we are considering, the subject is definitely cooperating with the psychologist and is interested in bringing about the right results. The answers to the following questions will be the goal of the psychologist’s effort: |
Với tất cả các yếu tố ấy, và xét trường hợp giả định của chúng ta như là trường hợp của một người có bản chất rất thông minh và có trang bị tốt để biểu hiện trong đời sống hằng ngày, nhà tâm lý học huyền bí sẽ tiến hành như thế nào? Y sẽ đề cập đến con người ấy ra sao và sẽ làm gì? Y sẽ tiến hành theo những nguyên tắc rộng lớn và tổng quát nào? Tôi chỉ có thể nêu vắn tắt một vài nguyên tắc, đồng thời nhắc các bạn rằng, trong trường hợp chúng ta đang xét, chủ thể rõ ràng đang hợp tác với nhà tâm lý học và quan tâm đến việc đem lại các kết quả đúng đắn. Những câu trả lời cho các câu hỏi sau đây sẽ là mục tiêu của nỗ lực của nhà tâm lý học: |
|
[446] |
[446] |
|
1. What are your reasons for wanting to be “straightened out”? This phrase, though an ordinary colloquialism, has deep significance, for it indicates the recognition of the need of alignment. |
1. Những lý do nào khiến y muốn được “uốn nắn cho ngay thẳng”? Cụm từ này, tuy là một lối nói thông thường, lại có ý nghĩa sâu xa, vì nó cho thấy sự nhận ra nhu cầu về sự chỉnh hợp. |
|
2. What brought this need to your attention and evoked in you the desire for a specific process of interior adjustment? |
2. Điều gì đã đưa nhu cầu này đến sự chú ý của y và khơi dậy nơi y ước muốn về một tiến trình điều chỉnh nội tâm đặc thù? |
|
3. Realising the nature of the inner constitution of man, in which vehicle is there the need for the bridging process? Where is the point of cleavage, and, therefore, the point of present crisis? Is this difficulty a major or a minor crisis? |
3. Khi nhận ra bản chất của cấu tạo nội tại của con người, trong vận cụ nào có nhu cầu về tiến trình bắt cầu? Điểm phân ly ở đâu, và do đó, điểm khủng hoảng hiện tại ở đâu? Khó khăn này là một khủng hoảng lớn hay nhỏ? |
|
4. What are the five ray energies conditioning the subject? |
4. Năm năng lượng cung nào đang tác động lên chủ thể? |
|
5. How far does the man’s life pattern, his life vocation and his innate coherent desires, coincide with the trend set by |
5. Mô hình sự sống của con người, thiên chức đời sống của y và những ham muốn cố hữu có tính nhất quán của y trùng hợp đến mức nào với xu hướng được đặt ra bởi |
|
a. The soul ray type of energy, |
a. loại năng lượng cung linh hồn, |
|
b. The personality ray type? |
b. loại năng lượng cung phàm ngã? |
|
With disciples much of the difficulty will be found to lie in this area of expression. |
Với các đệ tử, phần lớn khó khăn sẽ được thấy là nằm trong lĩnh vực biểu hiện này. |
|
6. In what period of the present life expression did the cleavage make its appearance? Or has an achieved integration brought about the difficult situation? Is this problem |
6. Trong giai đoạn nào của biểu hiện sự sống hiện tại mà sự phân ly đã xuất hiện? Hay chính một sự tích hợp đã đạt được đã đem lại tình huống khó khăn này? Vấn đề này có phải là |
|
a. One of cleavage, requiring a bridging process, and leading thus to a fusion of energies? |
a. Một vấn đề phân ly, đòi hỏi một tiến trình bắt cầu, và do đó dẫn đến sự dung hợp các năng lượng? |
|
b. One of integration, requiring right understanding of what has happened, and leading to right adjustment of the fused powers to environing conditions? |
b. Một vấn đề tích hợp, đòi hỏi sự thấu hiểu đúng đắn về điều đã xảy ra, và dẫn đến sự điều chỉnh đúng đắn các mãnh lực đã được dung hợp với các điều kiện chung quanh? |
|
7. Is the man at the point where he should be |
7. Con người ấy có đang ở điểm mà y nên được |
|
a. Integrated as a personality and, as a result, becoming more strictly human. |
a. Tích hợp như một phàm ngã và, kết quả là, trở nên nhân loại hơn theo nghĩa chặt chẽ. |
|
[447] |
[447] |
|
b. Developed as a mystic and taught to recognise the higher aspect and its relation to the lower, with a view to their unification. |
b. Phát triển như một nhà thần bí và được dạy để nhận ra phương diện cao hơn và mối liên hệ của nó với phương diện thấp hơn, nhằm hướng đến sự hợp nhất của chúng. |
|
c. Trained as an occultist and brought mentally to such a state of consciousness that the higher and the lower natures or aspects begin to function as one? This involves the blending of the forces of the personality and the energy of the soul, and fusing them into one divine expression of “the part within the whole.” |
c. Huấn luyện như một nhà huyền bí học và được đưa về mặt trí tuệ đến một trạng thái tâm thức sao cho các bản chất hay phương diện cao và thấp bắt đầu hoạt động như một? Điều này bao hàm sự hòa trộn các mãnh lực của phàm ngã và năng lượng của linh hồn, rồi dung hợp chúng thành một biểu hiện thiêng liêng duy nhất của “phần bên trong toàn thể”. |
|
8. What, in the last analysis, must be done to make “the lighted area” of the immediate consciousness of such a nature that the subconscious part of the man can be “lighted at will by the ray of the mind”, and the mind itself can become a search light, penetrating into the super-consciousness and thus revealing the nature of the soul? It is in fact the problem of the expansions of consciousness. A wide field of psychological investigation lies ahead in connection with the use of the mind as constituting the “path of light between the subconscious nature and the superconscious nature, and yet focussing both as a brilliant point of light within the conscious nature.” |
8. Rốt cuộc, phải làm gì để khiến “vùng được soi sáng” của tâm thức trực tiếp có bản chất như thế sao cho phần tiềm thức của con người có thể được “soi sáng theo ý muốn bởi tia của trí tuệ”, và chính trí tuệ có thể trở thành một đèn pha, xuyên thấu vào siêu thức và nhờ đó mặc khải bản chất của linh hồn? Thật ra đây là vấn đề về những sự mở rộng tâm thức. Một lĩnh vực rộng lớn của sự khảo cứu tâm lý học đang ở phía trước liên quan đến việc sử dụng trí tuệ như cấu thành “con đường ánh sáng giữa bản chất tiềm thức và bản chất siêu thức, đồng thời tập trung cả hai như một điểm sáng rực rỡ bên trong bản chất hữu thức.” |
|
To esotericists, this whole problem of the at-one-ment is closely connected with the building of the antaskarana. This name is given to the line of living energy which links the various human aspects and the soul, and it holds the clue to the occult truism that “before a man can tread the Path, he must become the path itself.” When the cleavages are all bridged, the various points of crisis have been surmounted and passed, and the required fusions (which are simply stages in process) have taken place, then unification or atone-ment occurs. New fields of energy then are entered, [448] recognised and mastered, and then again new areas of consciousness open up before the advancing pilgrim. |
Đối với các nhà bí truyền học, toàn bộ vấn đề hợp nhất này gắn liền mật thiết với việc xây dựng antahkarana. Tên gọi này được đặt cho đường năng lượng sống nối kết các phương diện khác nhau của con người với linh hồn, và nó nắm giữ chìa khóa cho chân lý huyền bí rằng “trước khi một người có thể bước trên Con Đường, y phải tự mình trở thành chính con đường ấy.” Khi mọi sự phân ly đều đã được bắt cầu, các điểm khủng hoảng khác nhau đã được vượt qua và đi qua, và các sự dung hợp cần thiết (vốn chỉ là những giai đoạn trong tiến trình) đã diễn ra, thì sự hợp nhất xảy ra. Khi đó những trường năng lượng mới được đi vào, [448] được nhận biết và làm chủ, rồi lại những lĩnh vực tâm thức mới mở ra trước người hành hương đang tiến bước. |
|
The great planetary achievement of Christ was expressed by St. Paul in the words that He made “in himself of twain one new man, so making peace.” (Ephesians II. 15) |
Thành tựu hành tinh vĩ đại của Đức Christ đã được Thánh Paul diễn tả bằng những lời rằng Ngài đã làm cho “trong chính mình, từ hai thành một người mới, như thế tạo nên hòa bình.” (Ephesians II. 15) |
|
In the two words “peace” and “good will” you have two keywords which express the bridging of two cleavages: One in the psychic nature of man, particularly that between the mind and the emotional vehicle which means the attainment of peace, and the other between the personality and the soul. This latter is the resolution of a basic “split”, and it is definitely brought about by the will-to-good. This bridges not only the major cleavage in individual man, but it is that which will bring about the great and imminent fusion between intelligent humanity and the great spiritual centre which we call the spiritual Hierarchy of the planet. |
Trong hai từ “hòa bình” và “thiện chí”, các bạn có hai từ khóa diễn tả việc bắt cầu hai sự phân ly: một là trong bản chất thông linh của con người, đặc biệt là giữa trí tuệ và vận cụ cảm xúc, điều này có nghĩa là đạt được hòa bình, và sự kia là giữa phàm ngã và linh hồn. Sự sau này là sự giải quyết một “sự chia tách” căn bản, và rõ ràng được đem lại bởi Ý Chí-hướng Thiện. Điều này không những bắt cầu sự phân ly lớn trong cá nhân con người, mà còn là điều sẽ đem lại sự dung hợp lớn lao và sắp xảy ra giữa nhân loại thông minh và trung tâm tinh thần vĩ đại mà chúng ta gọi là Thánh đoàn tinh thần của hành tinh. |
|
It has been the almost unconscious recognition of these cleavages and of the need for their fusion which has made marriage, and the consummating act of marriage, the great mystical symbol of the greater inner fusions. |
Chính sự nhận biết gần như vô thức về các sự phân ly này và về nhu cầu dung hợp chúng đã khiến hôn nhân, và hành vi hoàn tất hôn nhân, trở thành biểu tượng thần bí lớn lao của các sự dung hợp nội tại lớn hơn. |
|
May I remind you also that these cleavages are cleavages in consciousness or awareness and not in fact? Is that too difficult a matter for us to grasp? Let us ponder upon it. |
Tôi cũng xin nhắc các bạn rằng những sự phân ly này là những sự phân ly trong tâm thức hay sự nhận biết chứ không phải trong thực tế. Điều đó có quá khó để chúng ta nắm bắt chăng? Chúng ta hãy suy ngẫm về điều ấy. |