TLHNM – Chương 2.3 – Các Vấn đề Tâm lí

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn II – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

3. Some Problems of Psychology—Một số Vấn đề của Tâm Lý Học

INTRODUCTION—DẪN NHẬP

What I have here to say should be of general interest. I intend to write with great simplicity, avoiding the technical terms of academic psychology, and putting the human psychological problem so plainly that real help may eventuate to many. These days are fraught with difficulty and it would sometimes appear that the necessary environmental adjustments are so hard and the equipment so inadequate to the demanded task that humanity is being asked to perform the impossible. It is as if the human frame had accumulated so much physical disability, so much emotional stress and had [402] inherited so much disease and over-sensitivity that men fall back defeated. It is as if the attitude of man to the past, to the present and to the future was of such a nature that there seems no reason for existence, that there is nothing toward which to look, and no help to be found in retrospection.

Điều tôi sắp nói ở đây hẳn sẽ có tính chất đáng quan tâm chung. Tôi dự định viết với sự đơn giản lớn lao, tránh các thuật ngữ kỹ thuật của tâm lý học hàn lâm, và trình bày vấn đề tâm lý của con người một cách rõ ràng đến mức có thể đem lại sự trợ giúp thực sự cho nhiều người. Những ngày này đầy dẫy khó khăn, và đôi khi dường như những sự điều chỉnh môi trường cần thiết quá khó khăn, còn bộ máy lại quá bất cập đối với nhiệm vụ được đòi hỏi, đến nỗi nhân loại đang bị yêu cầu thực hiện điều bất khả. Dường như cơ cấu con người đã tích luỹ quá nhiều khuyết tật hồng trần, quá nhiều căng thẳng cảm xúc và đã [402] thừa hưởng quá nhiều bệnh tật và sự quá nhạy cảm đến nỗi những người nam và nữ gục ngã trong thất bại. Dường như thái độ của con người đối với quá khứ, hiện tại và tương lai có bản chất đến mức không thấy có lý do nào để tồn tại, không có gì để hướng tới, và cũng không tìm thấy sự trợ giúp nào trong việc nhìn lại quá khứ.

I am, therefore, widely generalising. There are those to whom this generalisation does not apply, but even they, if they are students of human affairs, of sociological conditions, and of human equipment, are prone to question and at times to despair. Life is so difficult these days; the tension to which men are subjected is so extreme; the future appears so threatening; and the masses of men are so ignorant, diseased and distressed. I am putting this gloomy picture before you at the start of our discussion in order to evade no issue, to paint no silly optimistic and glamourous situation, or to portray no easy way of escape which would only lead us deeper into the gloomy forest of human error and illusion.

Vì vậy, tôi đang khái quát hoá trên diện rộng. Có những người mà sự khái quát này không áp dụng, nhưng ngay cả họ, nếu là đạo sinh của các vấn đề nhân loại, của các điều kiện xã hội học, và của bộ máy con người, cũng dễ đặt câu hỏi và đôi khi tuyệt vọng. Ngày nay đời sống quá khó khăn; sự căng thẳng mà con người phải chịu đựng quá cực độ; tương lai có vẻ quá đe doạ; và quần chúng thì quá vô minh, bệnh hoạn và khốn khổ. Tôi đưa ra trước các bạn bức tranh ảm đạm này ngay từ đầu cuộc thảo luận của chúng ta để không né tránh vấn đề nào, không vẽ nên một tình huống lạc quan và đầy ảo cảm ngớ ngẩn nào, cũng không mô tả một lối thoát dễ dàng nào chỉ khiến chúng ta lún sâu hơn vào khu rừng u tối của sai lầm và ảo tưởng của con người.

Yet, could we but know it, present conditions indicate their own cause and cure. I trust that by the time we have studied the problem (cursorily, I realise, for that is all that is possible) I shall have been able to indicate a possible way out and to have offered such practical suggestions that light may appear in the dense darkness, the future hold much promise, and the present much of experiment, leading to improvement and understanding.

Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể biết được điều đó, thì các điều kiện hiện tại tự chúng đã chỉ ra nguyên nhân và phương thuốc của mình. Tôi tin rằng đến khi chúng ta đã nghiên cứu vấn đề này (một cách khái lược, tôi nhận ra vậy, vì đó là tất cả những gì có thể), tôi sẽ có thể chỉ ra một lối thoát khả dĩ và đưa ra những gợi ý thực tiễn đến mức ánh sáng có thể xuất hiện trong bóng tối dày đặc, tương lai chứa đựng nhiều hứa hẹn, và hiện tại chứa đựng nhiều thử nghiệm, dẫn đến cải thiện và thấu hiểu.

The major science today is Psychology. It is one that is yet in its infancy but it holds the fate of humanity in its grasp and it has the power (rightly developed and employed) to save the race. The reason for its greatness and usefulness lies in the fact that it lays the emphasis upon the relation of the unit to the whole, to the environment and contacts; it studies man’s equipment and apparatus of such contact, and seeks to [403] produce right adaptation, correct integration and coordination and the release of the individual to a life of usefulness, fulfillment and service.

Khoa học lớn nhất ngày nay là Tâm Lý Học. Đây là một khoa học vẫn còn trong thời kỳ ấu thơ nhưng đang nắm giữ số phận của nhân loại trong tay và có quyền năng (nếu được phát triển và sử dụng đúng đắn) để cứu vớt nhân loại. Lý do cho sự vĩ đại và hữu ích của nó nằm ở chỗ nó nhấn mạnh mối liên hệ của đơn vị với toàn thể, với môi trường và các tiếp xúc; nó nghiên cứu bộ máy và khí cụ tiếp xúc của con người, và tìm cách [403] tạo ra sự thích nghi đúng đắn, sự tích hợp và phối hợp chính xác, cùng sự giải phóng cá nhân vào một đời sống hữu ích, viên mãn và phụng sự.

Some of the difficulties which have to be faced as one considers the conclusions of the many, many schools of Psychology are based upon the fact of their failure to relate the many points of view to each other. The same cleavage and even warfare is to be found within the confines of this science as are found in the individual man or in the religious field. There is to be found a lack of synthesis, a failure to correlate results, and a tendency to overemphasise one aspect of the ascertained truth to the exclusion of others equally important. The outstanding weakness or weaknesses in an individual’s equipment or presentation of life (and also those of the group or social order) are considered to the exclusion and even negation of other weaknesses not so obvious but equally crippling. Prejudice, dependent upon a biassed scholastic training, often frustrates the outlook so that the weakness in the psychologist’s own equipment negates his efforts to aid the patient. The failure of education today to take into consideration the whole man, or to allow scope for the activity of an integrating centre, a central point of consciousness, and a determining factor within the mechanism of the one who must be helped to adapt himself to his life condition—this above everything else is responsible for much of the trouble. The assertion of the purely materialistic and scientific attitude which recognises only the definitely proven, or that which can be proved by the acceptance of an immediate hypothesis, has led to much loss of time. When again the creative imagination can be released in every department of human thought we shall see many new things brought to light that are at present only accepted by the religiously inclined [404] and by the pioneering minds. One of the first fields of investigation to be benefited by this release will be that of psychology.

Một số khó khăn phải đối diện khi người ta xem xét các kết luận của rất nhiều trường phái Tâm Lý Học bắt nguồn từ việc họ không liên hệ được nhiều quan điểm với nhau. Cũng có thể thấy cùng một sự phân rẽ và thậm chí xung đột trong phạm vi khoa học này như nơi cá nhân con người hay trong lĩnh vực tôn giáo. Có sự thiếu tổng hợp, không tương liên được các kết quả, và có khuynh hướng nhấn mạnh quá mức một phương diện của chân lý đã được xác định mà loại trừ những phương diện khác cũng quan trọng không kém. Điểm yếu hay những điểm yếu nổi bật trong bộ máy hay trong sự biểu hiện đời sống của một cá nhân (và cả của nhóm hay trật tự xã hội) được xem xét đến mức loại trừ và thậm chí phủ nhận những điểm yếu khác không rõ ràng bằng nhưng cũng gây tàn phế ngang nhau. Thành kiến, phụ thuộc vào một sự đào luyện học thuật thiên lệch, thường làm thất bại tầm nhìn đến mức điểm yếu trong chính bộ máy của nhà tâm lý học phủ nhận nỗ lực giúp đỡ bệnh nhân của y. Sự thất bại của nền giáo dục ngày nay trong việc lưu ý đến toàn thể con người, hay trong việc dành chỗ cho hoạt động của một trung tâm tích hợp, một điểm trung tâm của tâm thức, và một yếu tố quyết định bên trong bộ máy của người cần được giúp để thích nghi với điều kiện sống của mình—điều này hơn bất cứ điều gì khác chịu trách nhiệm cho phần lớn rắc rối. Sự khẳng định thái độ thuần vật chất và khoa học chỉ công nhận điều đã được chứng minh rõ rệt, hoặc điều có thể được chứng minh bằng việc chấp nhận một giả thuyết tức thời, đã dẫn đến nhiều mất mát thời gian. Khi một lần nữa sự tưởng tượng sáng tạo có thể được giải phóng trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người, chúng ta sẽ thấy nhiều điều mới được đưa ra ánh sáng mà hiện nay chỉ được chấp nhận bởi những người có khuynh hướng tôn giáo [404] và bởi những trí tuệ tiên phong. Một trong những lĩnh vực điều tra đầu tiên được hưởng lợi từ sự giải phóng này sẽ là tâm lý học.

Organised religion has, alas, much to answer for, because of its fanatical emphasis upon doctrinal pronouncements, and its penalisation of those who fail to accept such dicta has served to stultify the human approach to God and to reality. Its over-emphasis upon the unattainable and its culture of the sense of sin down the centuries have led to many disastrous conditions, to interior conflicts which have distorted life, to morbidity, sadistic attitudes, self-righteousness and an ultimate despair which is the negation of truth.

Than ôi, tôn giáo có tổ chức phải chịu nhiều trách nhiệm, vì sự nhấn mạnh cuồng tín của nó vào các tuyên bố giáo điều, và việc trừng phạt những ai không chấp nhận các giáo điều ấy đã làm tê liệt cách tiếp cận của con người đối với Thượng đế và thực tại. Sự nhấn mạnh quá mức của nó vào điều không thể đạt được và việc nuôi dưỡng cảm nhận tội lỗi qua nhiều thế kỷ đã dẫn đến nhiều tình trạng tai hại, đến những xung đột nội tâm làm méo mó đời sống, đến bệnh hoạn tâm lý, những thái độ bạo dâm, sự tự cho mình là công chính và cuối cùng là một nỗi tuyệt vọng phủ nhận chân lý.

When right education (which is the true science of adaptation) and right religion (which is the culture of the sense of divinity) and right scientific unfoldment (which is the correct appreciation of the form or forms through which the subjective life of divinity is revealing itself) can be brought into right relation to each other and thus supplement each other’s conclusions and efforts, we shall then have men and women trained and developed in all parts of their natures. They will then be simultaneously citizens of the kingdom of souls, creative members of the great human family, and sound animals with the animal body so developed that it will provide the necessary instrument upon the outer plane of life for divine, human and animal revelation. This, the coming New Age, will see take place and for it men are today consciously or unconsciously preparing.

Khi giáo dục đúng đắn (là khoa học chân chính của sự thích nghi) và tôn giáo đúng đắn (là sự nuôi dưỡng cảm nhận về thiên tính) và sự khai mở khoa học đúng đắn (là sự đánh giá chính xác hình tướng hay các hình tướng qua đó đời sống chủ quan của thiên tính đang tự mặc khải) có thể được đặt vào mối liên hệ đúng đắn với nhau và như thế bổ sung cho các kết luận và nỗ lực của nhau, thì khi đó chúng ta sẽ có những người nam và nữ được huấn luyện và phát triển trong mọi phần của bản chất họ. Khi đó họ sẽ đồng thời là công dân của Thiên Giới, là những thành viên sáng tạo của đại gia đình nhân loại, và là những động vật lành mạnh với thể động vật được phát triển đến mức cung cấp khí cụ cần thiết trên cõi ngoài của đời sống cho sự mặc khải thiêng liêng, nhân loại và động vật. Điều này, Kỷ Nguyên Mới sắp đến sẽ chứng kiến xảy ra, và vì nó mà ngày nay những người nam và nữ đang chuẩn bị một cách hữu thức hay vô thức.

We will divide the problems of psychology into the following groupings:

Chúng ta sẽ chia các vấn đề của tâm lý học thành những nhóm sau đây:

1. The Problems of Cleavage, leading frequently to the many ways of escape, which constitute the bulk of the modern complexes.

1. Các Vấn Đề của Sự Phân Rẽ, thường dẫn đến nhiều lối thoát, vốn cấu thành phần lớn các phức cảm hiện đại.

[405]

[405]

2. The Problems of Integration, which produce many of the difficulties of the more advanced people.

2. Các Vấn Đề của Sự Tích Hợp, tạo ra nhiều khó khăn nơi những người tiến bộ hơn.

3. The Problems due to Inheritance, racial, family, etc., involving the problems of inherited diseases, with consequent crippling of the individual.

3. Các Vấn Đề do Di Truyền, chủng tộc, gia đình, v.v., bao gồm các vấn đề về bệnh tật di truyền, với hậu quả là làm tàn phế cá nhân.

With this third group I shall deal very little. There is not much to be done save to leave to time and greater wisdom much of the solution, coupled with an effort to bring amelioration to the individual thus afflicted, to supply glandular deficiency, training in self-control if possible, and the bringing of the physical vehicle to as high a point of development as may be possible within limits. The time is coming when every infant will early be subjected to certain tests and become the recipient of skilled care so that the apparatus of contact may be as usable as possible, as adaptive as may be, and as sound as it can be rendered. But I would here remind you that no physical equipment can be brought beyond a certain point of development in any one life—a point determined by the stage reached under the evolutionary process by racial factors, by the quality of the subtle or subjective nature, by past experience and by soul contact (distant, approaching or already made), and by the mental equipment.

Với nhóm thứ ba này tôi sẽ bàn đến rất ít. Không thể làm được nhiều ngoài việc để thời gian và minh triết lớn hơn giải quyết phần lớn vấn đề, đi kèm với nỗ lực đem lại sự cải thiện cho cá nhân bị như thế, bù đắp sự thiếu hụt tuyến nội tiết, huấn luyện tự chủ nếu có thể, và đưa vận cụ hồng trần lên đến điểm phát triển cao nhất có thể trong giới hạn. Thời gian đang đến khi mỗi trẻ sơ sinh sẽ sớm được đặt dưới một số thử nghiệm nhất định và nhận được sự chăm sóc lành nghề để bộ máy tiếp xúc có thể sử dụng được tối đa, thích nghi được tối đa, và lành mạnh đến mức có thể làm cho nó trở nên như vậy. Nhưng ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng không bộ máy hồng trần nào có thể được đưa vượt quá một điểm phát triển nhất định trong bất kỳ một đời sống nào—một điểm được quyết định bởi giai đoạn đạt được trong tiến trình tiến hoá do các yếu tố chủng tộc, bởi phẩm tính của bản chất vi tế hay chủ quan, bởi kinh nghiệm quá khứ và bởi tiếp xúc linh hồn (xa xôi, đang đến gần hay đã được thiết lập), và bởi bộ máy trí tuệ.

For the right understanding of our subject, and of my method of handling it, I would like to lay down four fundamental propositions:

Để hiểu đúng chủ đề của chúng ta, và phương pháp tôi xử lý nó, tôi muốn nêu ra bốn mệnh đề căn bản:

1. That in time and space, man is essentially dual, consisting of soul and body, of intelligent life and form, of a spiritual entity and the apparatus of contact—the body nature whereby that entity can become aware of worlds of phenomena and states of consciousness of a nature different to those on its own level of awareness.

1. Trong thời gian và không gian, con người về bản chất là nhị nguyên, gồm linh hồn và thể, sự sống thông tuệ và hình tướng, một thực thể tinh thần và bộ máy tiếp xúc—bản chất thể xác nhờ đó thực thể ấy có thể trở nên nhận biết các thế giới hiện tượng và các trạng thái tâm thức có bản chất khác với những gì ở cấp độ nhận biết riêng của nó.

2. That this body nature consists of the physical outer form, [406] the sum total of vitality or the etheric body (which science today is rapidly coming to recognise), the sensitive, emotional, desire body, and the mind. Through the physical body contact is made with the environing tangible world; through the vital body the impulses come which produce direction and activity upon the physical plane; through the sensory vehicle the astral or emotional nature originates the bulk of those desires and impulses which direct the undeveloped or average man, and which can be called desire-impulses or the wish-life of the individual; through the mind comes eventually intelligent understanding and a life directed by purpose and planning instead of desire.

2. Bản chất thể xác này gồm hình tướng hồng trần bên ngoài, [406] tổng thể sinh lực hay thể dĩ thái (mà khoa học ngày nay đang nhanh chóng đi đến chỗ công nhận), thể nhạy cảm, cảm xúc, dục vọng, và trí tuệ. Qua thể xác, sự tiếp xúc được thực hiện với thế giới hữu hình xung quanh; qua thể sinh lực đến những xung lực tạo ra định hướng và hoạt động trên cõi hồng trần; qua vận cụ cảm giác, bản chất cảm dục hay cảm xúc khởi sinh phần lớn những ham muốn và xung lực chỉ đạo con người chưa phát triển hay trung bình, và có thể được gọi là các xung lực dục vọng hay đời sống ước muốn của cá nhân; qua trí tuệ cuối cùng đến sự thấu hiểu thông tuệ và một đời sống được chỉ đạo bởi mục đích và kế hoạch thay vì bởi dục vọng.

3. That human unfoldment proceeds by a series of integrations, of processes of coordination or synthesis, involving as they do (particularly when the intelligence is beginning to control) a sense of cleavage and of duality. These integrations, as far as humanity is concerned, either lie far behind in the past, are proceeding at this time, or lie ahead in the future.

3. Sự khai mở của con người tiến hành qua một chuỗi các sự tích hợp, các tiến trình phối hợp hay tổng hợp, vì chúng bao hàm (đặc biệt khi trí tuệ bắt đầu kiểm soát) một cảm nhận phân rẽ và nhị nguyên tính. Những sự tích hợp này, xét theo nhân loại, hoặc nằm rất xa trong quá khứ, hoặc đang diễn ra vào lúc này, hoặc nằm phía trước trong tương lai.

Past Integrations.

Các Sự Tích Hợp Quá Khứ .

Between the animal body and the vital body.

Giữa thể động vật và thể sinh lực.

Between these two and the sensitive desire nature.

Giữa hai thể này và bản chất dục vọng nhạy cảm.

Between these three and the lower concrete mind.

Giữa ba phương diện này và hạ trí cụ thể.

Present Integrations.

Các Sự Tích Hợp Hiện Tại .

Between these four aspects thus producing a coordinated personality.

Giữa bốn phương diện này, nhờ đó tạo ra một phàm ngã được phối hợp.

Future Integration.

Sự Tích Hợp Tương Lai.

Between the personality and the Soul.

Giữa phàm ngã và Linh hồn.

There are other and higher integrations but with these we [407] need not here concern ourselves. They are reached through the processes of initiation and of service. The point to be remembered is that in racial history, many of these integrations have already taken place unconsciously as the result of life-stimulation, the evolutionary urge, the normal processes of living, experience through contact with the environment, and also of satisfaction leading to satiety of the desire nature. But there comes a time in racial unfoldment, as in the lives of individuals, when the blind process of evolutionary acquiescence becomes the living conscious effort, and it is right at this point that humanity stands today. Hence the realisation of the human problem in terms of modern psychology; hence the widespread suffering of human units everywhere; hence the effort of modern education; and hence also the emergence in every country on a wide scale and in increasingly large numbers of three kinds of people:

Còn có những sự tích hợp khác và cao hơn, nhưng ở đây chúng ta [407] không cần đề cập đến. Chúng đạt được qua các tiến trình điểm đạo và phụng sự. Điều cần ghi nhớ là trong lịch sử nhân loại, nhiều sự tích hợp này đã diễn ra một cách vô thức như kết quả của sự kích thích của đời sống, xung lực tiến hoá, các tiến trình sống bình thường, kinh nghiệm qua tiếp xúc với môi trường, và cả sự thoả mãn dẫn đến bão hoà của bản chất dục vọng. Nhưng có một thời điểm trong sự khai mở của nhân loại, cũng như trong đời sống của các cá nhân, khi tiến trình mù quáng của sự thuận theo tiến hoá trở thành nỗ lực hữu thức sống động, và chính tại điểm này mà nhân loại ngày nay đang đứng. Do đó mới có sự nhận ra vấn đề của con người theo các thuật ngữ của tâm lý học hiện đại; do đó mới có nỗi đau khổ lan rộng của các đơn vị nhân loại ở khắp nơi; do đó mới có nỗ lực của nền giáo dục hiện đại; và do đó cũng xuất hiện trên quy mô rộng ở mọi quốc gia và với số lượng ngày càng lớn ba loại người:

Those conscious of cleavage.

Những người hữu thức về sự phân rẽ.

Those achieving integration with much pain and difficulty.

Những người đang đạt đến sự tích hợp với nhiều đau đớn và khó khăn.

Personalities, or integrated and therefore dominant people.

Các phàm ngã, hay những người đã tích hợp và vì thế có tính chi phối.

4. That at the same time in every country, men and women are proceeding towards a still higher synthesis and achieving it:—the synthesis of soul and body. This produces a sense of destiny, individual and racial; a sense of purpose, and of plan. It produces also the unfoldment of the intuition (the sublimation of the intellect, as that was the sublimation of the instinctual nature) and the consequent recognition of the higher ideas and idealism, and of those basic truths which when disseminated among the thinking people of the world, will produce great mental and material changes, with their transitory accompaniments and upheaval, of chaos, experiment, destruction and rebuilding.

4. Đồng thời, ở mọi quốc gia, những người nam và nữ đang tiến tới một sự tổng hợp còn cao hơn nữa và đang đạt được nó:—sự tổng hợp của linh hồn và thể. Điều này tạo ra một cảm nhận về định mệnh, cá nhân và chủng tộc; một cảm nhận về mục đích, và về kế hoạch. Nó cũng tạo ra sự khai mở của trực giác (sự thăng hoa của trí năng, cũng như trí năng là sự thăng hoa của bản chất bản năng) và do đó là sự nhận biết các ý tưởng cao hơn và chủ nghĩa lý tưởng, cùng những chân lý căn bản mà khi được phổ biến giữa những người biết suy nghĩ trên thế giới, sẽ tạo ra những thay đổi lớn về trí tuệ và vật chất, với những hệ quả nhất thời và những biến động của hỗn loạn, thử nghiệm, phá huỷ và tái thiết.

[408]

[408]

Humanity provides a cultural field for all types, i.e. for those who are today expressions of past integrations, and those who are in process of becoming thinking human beings. The two earliest integrations, between the vital body and the physical form, and between these two and the desire nature, are no longer represented. They are universal and lie below the threshold of conscious activity and far behind in racial history. The only field in which they can be studied is in those processes of recapitulatory history of infancy wherein one can see the power to move and respond to the sensory apparatus, and the power to express desire, most clearly demonstrated. The same thing can also be noticed in infant and savage races. But the third stage of integration, that of gradual mental development, is proceeding apace and can be, and is being, most carefully studied. Today, modern education is occupied almost exclusively with this stage and when educators cease to train the brain cells or to deal with the evocation of memory, and when they cease to regard the brain and the mind as one, but learn to differentiate between the two, then great strides forward will be made. When the child receives training in mind control and when that mind is taught to direct the desire nature and the brain, producing direction of the physical vehicle from the mental level, then we shall see these three integrations carried forward with precision and with rapidity. Attention will then be given to the integration of the personality, so that all three aspects shall function as one unit. We have, therefore:

Nhân loại cung cấp một lĩnh vực văn hoá cho mọi loại người, tức là cho những ai ngày nay là biểu hiện của các sự tích hợp quá khứ, và những ai đang trong tiến trình trở thành những con người biết suy nghĩ. Hai sự tích hợp sớm nhất, giữa thể sinh lực và hình tướng hồng trần, và giữa hai thể này với bản chất dục vọng, không còn được biểu hiện nữa. Chúng là phổ quát và nằm dưới ngưỡng hoạt động hữu thức và rất xa phía sau trong lịch sử nhân loại. Lĩnh vực duy nhất mà chúng có thể được nghiên cứu là trong những tiến trình lặp lại lịch sử của thời thơ ấu, nơi người ta có thể thấy quyền năng vận động và đáp ứng với bộ máy cảm giác, cùng quyền năng biểu lộ dục vọng, được chứng minh rõ ràng nhất. Điều tương tự cũng có thể được nhận thấy nơi các nhân loại ấu trĩ và man dã. Nhưng giai đoạn tích hợp thứ ba, tức sự phát triển trí tuệ dần dần, đang tiến triển nhanh chóng và có thể được, và đang được, nghiên cứu hết sức cẩn thận. Ngày nay, nền giáo dục hiện đại hầu như chỉ chuyên chú vào giai đoạn này, và khi các nhà giáo dục ngừng huấn luyện các tế bào não hay chỉ đề cập đến việc gợi lên ký ức, và khi họ ngừng xem bộ não và trí tuệ là một, mà học cách phân biệt giữa hai thứ ấy, thì những bước tiến lớn sẽ được thực hiện. Khi đứa trẻ nhận được sự huấn luyện về kiểm soát trí tuệ và khi trí tuệ ấy được dạy để chỉ đạo bản chất dục vọng và bộ não, tạo ra sự chỉ đạo vận cụ hồng trần từ cấp độ trí tuệ, thì chúng ta sẽ thấy ba sự tích hợp này được thúc đẩy với sự chính xác và nhanh chóng. Khi đó sự chú ý sẽ được dành cho sự tích hợp của phàm ngã, để cả ba phương diện hoạt động như một đơn vị. Vì vậy, chúng ta có:

1. The child state, in which the three first integrations are brought about, and the objective of the educational procedure will be to effect this with the minimum of difficulty.

1. Trạng thái trẻ thơ, trong đó ba sự tích hợp đầu tiên được thực hiện, và mục tiêu của tiến trình giáo dục sẽ là thực hiện điều này với mức khó khăn tối thiểu.

2. The human state, dealing with the integration of all the [409] aspects into one functioning self-conscious, self-directed personality.

2. Trạng thái nhân loại, liên quan đến sự tích hợp của tất cả [409] các phương diện thành một phàm ngã tự ý thức, tự chỉ đạo, hoạt động như một đơn vị.

3. The spiritual state, dealing with the integration of the personality and the soul, thus evoking the consciousness of the Whole. When this is accomplished, group consciousness is added to self-consciousness, and this is the second great step on the way to God consciousness.

3. Trạng thái tinh thần, liên quan đến sự tích hợp của phàm ngã và linh hồn, nhờ đó gợi lên tâm thức về Toàn Thể. Khi điều này được hoàn tất, tâm thức nhóm được thêm vào ngã thức, và đây là bước lớn thứ hai trên con đường tiến tới tâm thức Thượng đế.

The difficulty today is that we have on every hand people at all different stages in the integrative process; all of them in a “state of crisis” and all of them therefore providing the problems of modern psychology.

Khó khăn ngày nay là ở khắp nơi chúng ta đều có những người ở mọi giai đoạn khác nhau trong tiến trình tích hợp; tất cả họ đều ở trong một “trạng thái khủng hoảng” và vì thế đều tạo ra các vấn đề của tâm lý học hiện đại.

These problems may be divided more precisely into three major groupings:

Những vấn đề này có thể được chia chính xác hơn thành ba nhóm lớn:

a. The Problems of Cleavage. These in their turn are of two kinds:

a. Các Vấn Đề của Sự Phân Rẽ. Đến lượt chúng, chúng có hai loại:

1. The problems of integration.

1. Các vấn đề của sự tích hợp.

2. Those arising out of a sense of duality.

2. Những vấn đề phát sinh từ cảm nhận nhị nguyên tính.

This sense of duality, as the result of realised cleavage, ranges all the way from the “split personality” difficulties of so many people to those of the mystic with his emphasis upon the lover and the loved, the seeker and the sought, upon God and His child.

Cảm nhận nhị nguyên tính này, như kết quả của sự phân rẽ được nhận ra, trải dài từ những khó khăn của “phàm ngã phân đôi” nơi rất nhiều người cho đến những khó khăn của nhà thần bí với sự nhấn mạnh của y vào người yêu và người được yêu, người tìm kiếm và điều được tìm kiếm, vào Thượng đế và con của Ngài.

b. The Problems of Integration, which produce many of the difficulties of the more advanced people.

b. Các Vấn Đề của Sự Tích Hợp, tạo ra nhiều khó khăn nơi những người tiến bộ hơn.

c. The Problems of Stimulation. These arise as the result of an achieved synthesis and integration, producing consequently an inflow of unaccustomed energy. This inflow may express itself as a high voltage ambition, as a sense of power, as desire for personality influence or as true spiritual power and force. In every case, [410] however, comprehension of the resultant phenomena is required, and most careful handling.

c. Các Vấn Đề của Sự Kích Thích. Những vấn đề này phát sinh như kết quả của một sự tổng hợp và tích hợp đã đạt được, do đó tạo ra một dòng năng lượng không quen thuộc tuôn vào. Dòng tuôn vào này có thể biểu lộ như một tham vọng điện thế cao, như một cảm nhận quyền lực, như ham muốn ảnh hưởng phàm ngã hay như quyền năng và mãnh lực tinh thần chân chính. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, [410] sự thấu hiểu các hiện tượng phát sinh là điều cần thiết, và phải được xử lý hết sức cẩn trọng.

Arising from these problems we find also—

Phát sinh từ những vấn đề này, chúng ta cũng thấy—

1. Mental Problems. Certain definite complexes occur when the integration of the mind with the three lower aspects has been brought about, and some clear thought about them will be useful.

1. Các Vấn Đề Trí Tuệ. Một số phức cảm xác định xuất hiện khi sự tích hợp của trí tuệ với ba phương diện thấp đã được thực hiện, và một số tư tưởng rõ ràng về chúng sẽ hữu ích.

2. The Diseases of Mystics. These are concerned with those attitudes of mind, those complexities of idea and those “spiritual enterprises” which affect the mystically inclined or those who are aware of the spiritual dualism of which St. Paul wrote in the Epistle to the Romans. He wrote as follows:

2. Các Bệnh của Nhà Thần Bí. Những bệnh này liên quan đến những thái độ của trí tuệ, những phức hợp của ý tưởng và những “doanh nghiệp tinh thần” ảnh hưởng đến những người có khuynh hướng thần bí hay những ai nhận biết nhị nguyên tính tinh thần mà Thánh Paul đã viết đến trong Thư gửi tín hữu La Mã. Ông đã viết như sau:

“For we know that the law is spiritual: but I am carnal, sold under sin.

“Vì chúng ta biết rằng định luật là tinh thần; nhưng tôi thì xác thịt, bị bán dưới tội lỗi.

For that which I do I allow not: for what I would, that do I not; but what I hate, that do I.

Vì điều tôi làm, tôi chẳng chấp nhận; vì điều tôi muốn, tôi lại không làm; nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại làm.

If then I do what I would not, I consent under the law that it is good.

Vậy nếu tôi làm điều tôi không muốn, thì tôi đồng ý với định luật rằng tốt.

Now then it is no more I that do it, but sin that dwelleth in me.

Nhưng bây giờ không còn phải là tôi làm điều đó nữa, mà là tội lỗi ở trong tôi.

For I know that in me (that is, in my flesh), dwelleth no good thing: for to will is present with me; but how to perform that which is good I find not.

Vì tôi biết rằng trong tôi (nghĩa là trong xác thịt tôi), không có điều gì tốt ngự ở; vì ý muốn thì có nơi tôi; nhưng làm thế nào để thực hiện điều tốt, tôi không tìm thấy.

For the good that I would, I do not: but the evil which I would not, that I do.

Vì điều tốt tôi muốn, tôi không làm; nhưng điều xấu tôi không muốn, thì tôi lại làm.

Now if I do that I would not, it is no more I that do it, but sin that dwelleth in me.

Vậy nếu tôi làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là tôi làm điều đó nữa, mà là tội lỗi ở trong tôi.

I find then a law, that, when I would do good, evil if present with me.

Vậy tôi thấy một định luật rằng, khi tôi muốn làm điều tốt, thì điều xấu lại hiện diện nơi tôi.

For I delight in the law of God after the inward man:

Vì theo con người bên trong, tôi vui thích trong định luật của Thượng đế:

But I see another law in my members, warring against the law of my mind, and bringing me into captivity to the law of sin which is in my members.

Nhưng tôi thấy một định luật khác trong các chi thể tôi, chiến đấu chống lại định luật của trí tuệ tôi, và bắt tôi làm tù binh cho định luật của tội lỗi ở trong các chi thể tôi.

[411]

[411]

O wretched man that I am! Who shall deliver me from the body of this death?” (Romans VII, 14-24)

“Ôi, tôi là con người khốn khổ dường nào! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thể xác của sự chết này?” (La Mã VII, 14-24)

These difficulties will call for increasing attention as the race proceeds towards personality integration and from thence to soul contact.

Những khó khăn này sẽ đòi hỏi sự chú ý ngày càng tăng khi nhân loại tiến tới sự tích hợp phàm ngã và từ đó tiến tới tiếp xúc với linh hồn.

It will be apparent to you, therefore, how wide is our subject and of what real importance. It will be obvious to you also that much of our nervous disease, our inhibitions, suppressions, submissions, or their reverse aspects, are tied up with this whole process of successive syntheses or fusions.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ đề tài của chúng ta rộng lớn đến mức nào và có tầm quan trọng thực sự ra sao. Các bạn cũng sẽ thấy hiển nhiên rằng phần lớn các bệnh thần kinh của chúng ta, các sự ức chế, dồn nén, quy phục, hay các phương diện đối nghịch của chúng, đều gắn liền với toàn bộ tiến trình của những sự tổng hợp hay dung hợp kế tiếp nhau này.

Two points should be touched upon here: First, that in any consideration of the human being—whether we regard him simply as a man or as a spiritual entity—we are in reality dealing with a most complex aggregate of differentiated energies, through which or among which the consciousness plays. This consciousness is, in the early stages, nothing more than a vague diffused awareness, undefined, unidentified and free from any definite focus of attention. Later, it becomes more awake and aware and the focus becomes centred in the realm of selfish desire, and its satisfaction and assuagement. To this condition we can give the general name of the “wish life” with its objective, personal happiness, leading eventually to consummated desire, but a consummated desire postponed till after death and to which we have given the name “heaven”. Later (again as the mind nature integrates with the other more developed aspects), we have the emergence of a definitely self-conscious entity, and a strictly human being, characterised by intelligence, comes into active expression. The focus of attention is still the satisfaction of desire, but it is the desire to know, the will to understand through investigation, discrimination and analysis.

Ở đây cần đề cập đến hai điểm: Thứ nhất, rằng trong bất kỳ sự xem xét nào về con người—dù chúng ta nhìn y đơn thuần như một con người hay như một thực thể tinh thần—thì trên thực tế chúng ta đang đề cập đến một tổng thể cực kỳ phức tạp của những năng lượng đã biến phân, xuyên qua đó hay giữa đó tâm thức vận hành. Tâm thức này, trong các giai đoạn đầu, không là gì hơn một sự nhận biết mơ hồ, lan tỏa, không xác định, không được nhận diện và không có bất kỳ tiêu điểm chú ý rõ rệt nào. Về sau, nó trở nên tỉnh thức và nhận biết hơn, và tiêu điểm trở nên tập trung trong lĩnh vực của ham muốn ích kỷ, cùng sự thỏa mãn và xoa dịu của nó. Đối với tình trạng này, chúng ta có thể đặt tên chung là “đời sống ước muốn”, với mục tiêu là hạnh phúc cá nhân, khách quan, cuối cùng dẫn đến ham muốn được hoàn tất, nhưng là một ham muốn được hoàn tất bị trì hoãn cho đến sau khi chết và điều đó chúng ta đã gọi là “thiên đàng”. Về sau nữa (khi bản chất trí tuệ tích hợp với các phương diện khác đã phát triển hơn), chúng ta có sự xuất hiện của một thực thể ngã thức rõ rệt, và một con người đúng nghĩa, được đặc trưng bởi trí tuệ, đi vào biểu hiện tích cực. Tiêu điểm chú ý vẫn là sự thỏa mãn ham muốn, nhưng đó là ham muốn hiểu biết, ý chí muốn thấu hiểu thông qua khảo cứu, phân biện và phân tích.

Finally comes the period of personality integration wherein [412] there is the will-to-power, with self-consciousness directed to the domination of the lower nature, and with the objective of the domination of the environment, of other human beings in small or large numbers, and of circumstance. When this has been grasped and understood, the focus of attention shifts into the realm of the higher energies, and the soul factor becomes increasingly active and prominent, dominating and disciplining the personality, interpreting its environment in new terms, and producing a synthesis, hitherto unrecognised, between the two kingdoms of nature—the human and the spiritual.

Cuối cùng đến giai đoạn tích hợp phàm ngã, trong đó [412] có ý chí hướng tới quyền lực, với ngã thức được hướng đến sự thống trị bản chất thấp, và với mục tiêu là thống trị môi trường, những con người khác với số lượng ít hay nhiều, và hoàn cảnh. Khi điều này đã được nắm bắt và thấu hiểu, tiêu điểm chú ý chuyển vào lĩnh vực của các năng lượng cao hơn, và yếu tố linh hồn trở nên ngày càng hoạt động và nổi bật, thống trị và rèn luyện phàm ngã, diễn giải môi trường của nó theo những thuật ngữ mới, và tạo ra một sự tổng hợp, từ trước đến nay chưa được nhận ra, giữa hai giới trong thiên nhiên—giới nhân loại và giới tinh thần.

Throughout all these processes we see the bringing together of many types of energy, all of them distinguished by quality of some kind or another, which—when brought into relation with each other—produce first of all a period of chaos, of anarchy and of difficulty. Later ensues a period of synthesis, of organised activity and of a fuller expression of divinity. But there remains for a long time the need for recognition of energy and its right use.

Xuyên suốt mọi tiến trình này, chúng ta thấy có sự quy tụ của nhiều loại năng lượng, tất cả đều được phân biệt bởi một loại phẩm tính nào đó, và khi được đặt vào tương quan với nhau, trước hết tạo ra một giai đoạn hỗn loạn, vô trật tự và khó khăn. Về sau tiếp đến một giai đoạn tổng hợp, hoạt động có tổ chức và biểu hiện đầy đủ hơn của thiên tính. Nhưng trong một thời gian dài vẫn còn nhu cầu phải nhận biết năng lượng và sử dụng nó đúng đắn.

The second point I seek to make is that these inner energies make their contact through the medium of the vital or etheric body, which is composed of energy streams; these work through seven focal points or centres of force in the etheric body. These centres of energy are found in close proximity to, or in relation to, the seven sets of major glands:

Điểm thứ hai mà tôi muốn nêu ra là các năng lượng bên trong này tiếp xúc thông qua trung gian của thể sinh lực hay thể dĩ thái, vốn được cấu thành bởi các dòng năng lượng; các dòng này hoạt động qua bảy tiêu điểm hay trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái. Các trung tâm năng lượng này được tìm thấy ở rất gần, hay có liên hệ với, bảy nhóm tuyến chính:

1. The pineal gland.

1. Tuyến tùng.

2. The pituitary body.

2. Tuyến yên.

3. The thyroid and para-thyroid glands.

3. Tuyến giáp trạng và cận giáp trạng.

4. The thymus gland.

4. Tuyến ức.

5. The pancreas.

5. Tuyến tụy.

6. The adrenals.

6. Tuyến thượng thận.

7. The gonads.

7. Tuyến sinh dục.

[413]

[413]

These centres are:

Các trung tâm này là:

1. The head centre.

1. Trung tâm đầu.

2. The centre between the eyebrows.

2. Trung tâm giữa hai chân mày.

3. The throat centre.

3. Trung tâm cổ họng.

4. The heart centre.

4. Trung tâm tim.

5. The solar plexus centre.

5. Trung tâm tùng thái dương.

6. The centre at the base of the spine.

6. Trung tâm ở đáy cột sống.

7. The sacral centre.

7. Trung tâm xương cùng.

These centres are closely concerned with the endocrine system, which they determine and condition according to the quality and source of the energy which flows through them. With this I have dealt at length in my other books, and so shall not here enlarge upon it beyond calling your attention to the relation between the centres of force in the etheric body, the processes of integration, which bring one centre after another into activity, and the eventual control of the soul, after the final at-one-ment of the entire personality.

Các trung tâm này liên hệ mật thiết với hệ nội tiết, là hệ mà chúng quyết định và tác động theo phẩm tính và nguồn gốc của năng lượng chảy qua chúng. Tôi đã bàn đến điều này khá dài trong các sách khác của tôi, nên ở đây sẽ không nói thêm ngoài việc lưu ý các bạn về mối liên hệ giữa các trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái, các tiến trình tích hợp—là những tiến trình đưa lần lượt từng trung tâm vào hoạt động—và sự kiểm soát cuối cùng của linh hồn, sau sự hợp nhất sau cùng của toàn bộ phàm ngã.

Only when modern psychologists add to the amazingly interesting knowledge they have of the lower man, an occidental interpretation of the oriental teaching about the centres of force through which the subjective aspects of man—lower, personal and divine—are to be expressed, will they solve the human problem and arrive at an understanding of the technique of unfoldment and of integration which will lead to intelligent comprehension, a wise solution of the difficulties, and a correct interpretation of the peculiarities with which they are so frequently confronted. When to this acceptance can be added a study of the seven major types, the science of psychology will be brought another step nearer its eventual usefulness as a major instrument in the technique of human perfecting. They will be greatly helped also by a study of astrology from the angle of energy contacts, of the [414] lines of least resistance, and as one of the determining influences and characteristics of the type under consideration. I refer not here to the casting of a horoscope with the objective of discovering the future or of determining action. This aspect of astrological interpretation will become less and less useful as men achieve the power to control and to govern their stars and so direct their own lives. I refer to the recognition of the astrological types, of their characteristics and qualities and tendencies.

Chỉ khi nào các nhà tâm lý học hiện đại bổ sung vào kho tri thức vô cùng lý thú mà họ có về phàm nhân một cách diễn giải theo phương Tây đối với giáo huấn phương Đông về các trung tâm mãnh lực, qua đó các phương diện chủ quan của con người—thấp, cá nhân và thiêng liêng—được biểu lộ, thì họ mới giải quyết được vấn đề con người và đi đến chỗ thấu hiểu kỹ thuật của sự khai mở và của sự tích hợp, điều sẽ dẫn đến sự hiểu biết thông minh, một giải pháp khôn ngoan cho các khó khăn, và một cách diễn giải đúng đắn về những đặc điểm kỳ lạ mà họ thường xuyên phải đối diện. Khi sự chấp nhận này được bổ sung bằng việc nghiên cứu bảy loại chính, khoa học tâm lý học sẽ tiến thêm một bước nữa đến tính hữu dụng tối hậu của nó như một công cụ chủ yếu trong kỹ thuật hoàn thiện con người. Họ cũng sẽ được trợ giúp rất nhiều bởi việc nghiên cứu chiêm tinh học từ góc độ các tiếp xúc năng lượng, các [414] con đường ít trở ngại nhất, và như một trong những ảnh hưởng và đặc tính quyết định của loại hình đang được xem xét. Ở đây tôi không nói đến việc lập một lá số chiêm tinh với mục tiêu khám phá tương lai hay xác định hành động. Phương diện này của sự diễn giải chiêm tinh sẽ ngày càng ít hữu ích hơn khi con người đạt được năng lực kiểm soát và cai quản các vì sao của mình và nhờ đó định hướng đời sống riêng của mình. Điều tôi nói đến là sự nhận biết các loại hình chiêm tinh, các đặc điểm, phẩm tính và khuynh hướng của chúng.

Bearing in mind the analysis earlier made of the various aspects of the human being, which—during the evolutionary process—are gradually fused into one integrated person, let us remember that the fusion effected and the changes brought about are the result of the steady shift of the consciousness. It becomes increasingly inclusive. We are not dealing here with the form aspect as much as with the conscious realisation of the dweller in the body. It is in this region that our problems lie, and it is with this developing consciousness that the psychologist has primarily to deal. From the angle of the omniscient soul, the consciousness is limited, disturbed, exclusive, self-centred, distorted, erratic and, in the early stages, deceived. It is only when the processes of development have been carried forward to a relatively high point and the awareness of duality is beginning to emerge, that the real problems and the major difficulties and dangers are encountered and the man becomes aware of his situation. Before that time, the difficulties are of a different nature and revolve largely around the physical equipment, are concerned with the slowness of the vital reactions and the low grade desires of the animal nature. The human being is, at that stage, largely an animal, and the conscious man is deeply hidden and imprisoned. It is the life principle and urge which dominate and the instinctual nature which controls. The solar plexus is the [415] seat of the consciousness and the head and brain are inactive.

Ghi nhớ sự phân tích đã được thực hiện trước đây về các phương diện khác nhau của con người, những phương diện mà—trong tiến trình tiến hoá—dần dần được dung hợp thành một con người tích hợp, chúng ta hãy nhớ rằng sự dung hợp được thực hiện và những thay đổi được tạo ra là kết quả của sự chuyển dịch đều đặn của tâm thức. Nó trở nên ngày càng bao gồm hơn. Ở đây chúng ta không đề cập đến phương diện hình tướng nhiều bằng sự chứng nghiệm có ý thức của kẻ cư ngụ trong thể. Chính trong lĩnh vực này mà các vấn đề của chúng ta nằm ở đó, và chính với tâm thức đang phát triển này mà nhà tâm lý học trước hết phải đề cập đến. Từ góc độ của linh hồn toàn tri, tâm thức thì hạn chế, xáo trộn, loại trừ, tập trung vào bản thân, méo mó, thất thường và, trong các giai đoạn đầu, bị lừa dối. Chỉ khi các tiến trình phát triển đã được đưa tới một điểm tương đối cao và sự nhận biết về nhị nguyên tính bắt đầu xuất hiện, thì các vấn đề thực sự và những khó khăn cùng nguy hiểm lớn mới được gặp phải và con người mới ý thức được tình trạng của mình. Trước thời điểm đó, các khó khăn có bản chất khác và phần lớn xoay quanh bộ máy hồng trần, liên quan đến sự chậm chạp của các phản ứng sinh lực và những ham muốn thấp kém của bản chất thú vật. Ở giai đoạn đó, con người phần lớn là một con vật, và con người có ý thức bị che giấu sâu kín và bị giam hãm. Chính nguyên khí sự sống và xung lực là cái thống trị, và bản chất bản năng là cái kiểm soát. Tùng thái dương là [415] trụ sở của tâm thức, còn đầu và bộ não thì bất hoạt.

It should also be remembered here (as I have oft pointed out) that the reality which we call the soul is basically an expression of three types of energy—life, love and intelligence. For the reception of these three energies, the triple lower nature has been prepared and the intelligence aspect reflects itself in the mind, the love nature in the emotional desire body, and the life principle in and through the etheric or vital body. As regards the physical body in its more dense expression (for the etheric body is the more subtle aspect or expression of the physical body), the soul anchors itself in two streams of energy at two points of contact: the life stream in the heart and the consciousness stream in the head. This consciousness aspect is itself dual, and that which we call self-consciousness is gradually unfolded and perfected until the ajna centre, or the centre between the eyebrows, is awakened. The latent group-consciousness, which brings realisation of the greater Whole, is quiescent for the greater part of the evolutionary cycle, until the integrative process has proceeded to such a point that the personality is functioning. Then the head centre begins to awaken and the man becomes conscious in the larger sense. Head and heart then link up, and the spiritual man appears in fuller expression.

Ở đây cũng nên nhớ (như tôi thường chỉ ra) rằng thực tại mà chúng ta gọi là linh hồn về căn bản là một biểu hiện của ba loại năng lượng—sự sống, bác ái và trí tuệ. Để tiếp nhận ba năng lượng này, bản chất thấp tam phân đã được chuẩn bị, và phương diện trí tuệ phản chiếu chính nó trong thể trí, bản chất bác ái trong thể ham muốn cảm xúc, và nguyên khí sự sống trong và qua thể dĩ thái hay thể sinh lực. Xét về thể xác trong biểu hiện đậm đặc hơn của nó (vì thể dĩ thái là phương diện hay biểu hiện tinh tế hơn của thể xác), linh hồn neo chính nó vào hai dòng năng lượng tại hai điểm tiếp xúc: dòng sự sống trong tim và dòng tâm thức trong đầu. Chính phương diện tâm thức này lại là nhị phân, và điều mà chúng ta gọi là ngã thức dần dần được khai mở và hoàn thiện cho đến khi trung tâm ajna, hay trung tâm giữa hai chân mày, được đánh thức. Tâm thức nhóm tiềm tàng, vốn đem lại sự chứng nghiệm về Toàn Thể lớn hơn, nằm yên trong phần lớn chu kỳ tiến hoá, cho đến khi tiến trình tích hợp đã tiến xa đến mức phàm ngã đang hoạt động. Khi đó trung tâm đầu bắt đầu thức tỉnh và con người trở nên có ý thức theo nghĩa rộng lớn hơn. Khi ấy đầu và tim liên kết với nhau, và con người tinh thần xuất hiện trong biểu hiện đầy đủ hơn.

This, I know, is familiar teaching to you but it is of value briefly to recapitulate and get the picture clear. Bearing these premises in mind, we will not deal with the earliest difficulties but will begin with those of modern man, and with those conditions with which we are all too sadly familiar.

Tôi biết đây là giáo huấn quen thuộc với các bạn, nhưng việc tóm lược ngắn gọn và làm cho bức tranh trở nên rõ ràng là điều có giá trị. Ghi nhớ những tiền đề này, chúng ta sẽ không đề cập đến những khó khăn sớm nhất mà sẽ bắt đầu với những khó khăn của con người hiện đại, và với những tình trạng mà tất cả chúng ta đều quá đau buồn quen thuộc.

a. PROBLEMS OF CLEAVAGE—CÁC VẤN ĐỀ CỦA SỰ PHÂN LY

Thinkers are today awakening to this particular type of difficulty and finding the cleavages in human nature so widespread and so deep seated in the very constitution of the race [416] itself that they are viewing the situation with much concern. These cleavages seem basic, and produce the divisions we find everywhere between race and race and between religion and religion, and can be traced back to the fundamental condition of manifestation which we call the relationship of positive and negative, of male and female and, esoterically speaking, of the sun and the moon. The mystery of sex itself is bound up with the re-establishment of the sense of unity and of balance, of oneness or of wholeness. In its higher human aspect, this sexual differentiation is only the symbol or lowest expression of the cleavage or separativeness of which the mystic is aware and which makes him seek at-one-ment or union with what he calls divinity. In between this physical cleavage and this spiritual recognition of divinity lie a large number of lesser cleavages of which man becomes aware.

Ngày nay các nhà tư tưởng đang thức tỉnh trước loại khó khăn đặc biệt này và nhận thấy những sự phân ly trong bản chất con người lan rộng và ăn sâu vào chính cấu tạo của nhân loại [416] đến nỗi họ đang nhìn tình hình với nhiều lo ngại. Những sự phân ly này dường như có tính căn bản, và tạo ra những chia rẽ mà chúng ta thấy ở khắp nơi giữa nhân loại này với nhân loại khác và giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, và có thể được truy nguyên về tình trạng căn bản của biểu hiện mà chúng ta gọi là mối liên hệ giữa dương và âm, giữa nam và nữ, và nói một cách huyền bí, giữa mặt trời và mặt trăng. Chính huyền nhiệm của giới tính gắn liền với việc tái lập cảm nhận hợp nhất và quân bình, của nhất thể hay toàn thể. Trong phương diện nhân loại cao hơn của nó, sự phân biệt giới tính này chỉ là biểu tượng hay biểu hiện thấp nhất của sự phân ly hay tính tách biệt mà nhà thần bí nhận biết và điều đó khiến y tìm kiếm sự hợp nhất hay kết hợp với điều mà y gọi là thiên tính. Giữa sự phân ly hồng trần này và sự nhận biết tinh thần về thiên tính này là một số lượng lớn những sự phân ly nhỏ hơn mà con người nhận biết được.

Behind all of this is to be found a still more fundamental cleavage—that between the human kingdom and the kingdom of souls—a cleavage in consciousness more than in fact. The cleavage between the animal and the human kingdom has been largely resolved through the recognition of the physical identity of the animal nature and the uniformity in expression of the instinctual nature. Within the human family, the various cleavages of which man is so distressingly aware will be bridged and ended when the mind is trained to control and to dominate within the realm of the personality and is correctly used as an analytical, integrating factor instead of as a critical, discriminating, separative factor. The right use of the intellect is essential to the healing of the personality cleavages. The cleavage between personality and the soul is resolved by the right use of:

Đằng sau tất cả điều này còn có thể tìm thấy một sự phân ly căn bản hơn nữa—đó là giữa giới nhân loại và giới các linh hồn—một sự phân ly trong tâm thức hơn là trong thực tế. Sự phân ly giữa giới động vật và giới nhân loại phần lớn đã được giải quyết thông qua việc nhận biết sự đồng nhất hồng trần của bản chất thú vật và tính đồng nhất trong biểu hiện của bản chất bản năng. Trong gia đình nhân loại, những sự phân ly khác nhau mà con người đau đớn nhận biết sẽ được bắt cầu và chấm dứt khi trí tuệ được rèn luyện để kiểm soát và thống trị trong phạm vi phàm ngã và được sử dụng đúng đắn như một yếu tố phân tích, tích hợp thay vì như một yếu tố phê phán, phân biện, tách biệt. Việc sử dụng đúng đắn trí năng là điều thiết yếu để chữa lành những sự phân ly của phàm ngã. Sự phân ly giữa phàm ngã và linh hồn được giải quyết bằng việc sử dụng đúng đắn:

[417]

[417]

1. The instinctual sense of divinity which leads to reorientation in the right direction. This leads to—

1. Cảm nhận bản năng về thiên tính, dẫn đến sự tái định hướng theo chiều hướng đúng đắn. Điều này dẫn đến—

2. The intelligent use of the mind so that it becomes consciously aware of the soul and of the laws which govern soul unfoldment.

2. Việc sử dụng thông minh trí tuệ để nó trở nên nhận biết một cách có ý thức về linh hồn và về các định luật chi phối sự khai mở của linh hồn.

3. The intuitive recognition of reality, which resolves the differentiated parts into a unit, producing illumination.

3. Sự nhận biết trực giác về thực tại, điều giải quyết các phần đã biến phân thành một đơn vị, tạo ra sự soi sáng.

4. This illumination reveals the essential oneness which exists on the inner side of life and negates the outer appearance of separativeness.

4. Chính sự soi sáng này mặc khải tính nhất thể cốt yếu hiện hữu ở mặt bên trong của sự sống và phủ nhận sắc tướng bên ngoài của tính tách biệt.

Thus it will be apparent to you that the cleavages are “healed” by a right and intelligent use of the quality aspect of the form nature:

Như vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những sự phân ly được “chữa lành” bằng việc sử dụng đúng đắn và thông minh phương diện phẩm tính của bản chất hình tướng:

1. Instinct distinguishes the automatic physical nature, the vital or life vehicle and the desire nature. It works through the solar plexus and the organs of reproduction.

1. Bản năng phân biệt bản chất hồng trần tự động, vận cụ sinh lực hay sự sống, và bản chất ham muốn. Nó hoạt động qua tùng thái dương và các cơ quan sinh sản.

2. Intelligence distinguishes the mind aspect or mental vehicle, and works through the clearing house of the brain, and through the ajna and throat centres.

2. Trí tuệ phân biệt phương diện trí tuệ hay thể trí, và hoạt động qua trung tâm chuyển tiếp là bộ não, cùng qua các trung tâm ajna và cổ họng.

3. Intuition distinguishes the soul nature and it works through the mind, the heart centre and the head centre. From these three major points the soul governs eventually the personality.

3. Trực giác phân biệt bản chất linh hồn và nó hoạt động qua trí tuệ, trung tâm tim và trung tâm đầu. Từ ba điểm chính này, linh hồn cuối cùng cai quản phàm ngã.

I commend these ideas to your careful consideration and assure you that rightly understood they will aid in the solution of the problems connected with the various cleavages in human nature.

Tôi xin giao phó những ý tưởng này cho sự suy xét cẩn trọng của các bạn và bảo đảm với các bạn rằng nếu được thấu hiểu đúng đắn, chúng sẽ trợ giúp trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến những sự phân ly khác nhau trong bản chất con người.

There is no cleavage to be found today between the vital body and the physical body. There is only at times a partial cleavage and what one might call a “loose connection”. The two streams of living energy—life and consciousness—are [418] usually anchored in the head and heart. In the case of certain forms of idiocy however, the consciousness stream is not anchored at all in the body, but only the life stream has made its contact in the heart. There is, therefore, no self-consciousness, no power of centralised control and no capacity to direct action or to provide in any way a life programme or plan. There is only responsiveness to aspects of the instinctual nature.

Ngày nay không có sự phân ly nào giữa thể sinh lực và thể xác. Chỉ đôi khi có một sự phân ly từng phần và điều mà người ta có thể gọi là một “mối nối lỏng lẻo”. Hai dòng năng lượng sống—sự sống và tâm thức— [418] thường được neo trong đầu và tim. Tuy nhiên, trong trường hợp một số dạng ngu đần, dòng tâm thức hoàn toàn không được neo trong thể, mà chỉ có dòng sự sống tiếp xúc tại tim. Do đó, không có ngã thức, không có năng lực kiểm soát tập trung, và không có khả năng định hướng hành động hay cung cấp dưới bất kỳ hình thức nào một chương trình hay kế hoạch sống. Chỉ có sự đáp ứng với các phương diện của bản chất bản năng.

Certain forms of epilepsy are due to what we might call “a loose connection”, the consciousness stream or thread of energy is subject at times to withdrawal or abstraction, and this produces the familiar epileptoid symptoms and the distressing conditions seen in the usual fit. In a lesser degree, and producing no permanent, dangerous results, the same basic cause produces the so-called “petit mal” and certain types of fainting fits; these are caused by the brief and temporary withdrawal of the thread of consciousness energy. It should be remembered that when this withdrawal takes place and there is a separation of the consciousness from the vehicle of conscious contact, all that we understand by the term consciousness, such as self-consciousness, desire and intelligence, is abstracted and only life and the consciousness inherent in the physical body cells remain.

Một số dạng động kinh là do điều mà chúng ta có thể gọi là “mối nối lỏng lẻo”; dòng tâm thức hay sợi dây năng lượng đôi khi bị rút lui hay trừu xuất, và điều này tạo ra các triệu chứng động kinh quen thuộc cùng những tình trạng đau đớn thấy trong cơn co giật thông thường. Ở mức độ nhẹ hơn, và không tạo ra kết quả nguy hiểm, lâu dài, cùng một nguyên nhân căn bản ấy tạo ra cái gọi là “petit mal” và một số loại ngất xỉu; những điều này do sự rút lui ngắn ngủi và tạm thời của sợi dây năng lượng tâm thức gây ra. Cần nhớ rằng khi sự rút lui này diễn ra và có sự tách rời của tâm thức khỏi vận cụ tiếp xúc có ý thức, thì tất cả những gì chúng ta hiểu bằng thuật ngữ tâm thức, như ngã thức, ham muốn và trí tuệ, đều bị trừu xuất và chỉ còn lại sự sống cùng tâm thức vốn có trong các tế bào của thể xác.

As a rule, however, the average man today is a closely knit and functioning unit. (This is true whether one is considering the unevolved masses or the materialistically minded citizens of the world.) He is firmly integrated physically, etherically and emotionally. His physical body, his vital body and his desire nature (for emotion is but expressed desire of some kind or another) are closely knit. At the same time there can be a weakness in the etheric integration, of such a nature that there is a low vitality, a lack of desire impulses, a failure to register adequate dynamic incentives, immaturity and [419] sometimes obsession or possession. Frequently what is called a lack of will and the labelling of a person as “weak-willed” or “weak-minded” has in reality nothing to do with the will, but is apt to be the result of this feeble integration and loose connection between the consciousness and the brain which renders the man negative to the desire impulses which should normally stream through into his brain, galvanising his physical vehicle into some form of activity.

Tuy nhiên, theo quy luật, con người trung bình ngày nay là một đơn vị gắn kết chặt chẽ và đang hoạt động. (Điều này đúng dù người ta đang xét đến quần chúng chưa tiến hoá hay những công dân thế giới có đầu óc duy vật.) Y được tích hợp vững chắc về mặt hồng trần, dĩ thái và cảm xúc. Thể xác, thể sinh lực và bản chất ham muốn của y (vì cảm xúc chỉ là ham muốn được biểu lộ dưới hình thức này hay hình thức khác) gắn kết chặt chẽ với nhau. Đồng thời, có thể có một sự yếu kém trong sự tích hợp dĩ thái, có bản chất đến mức tạo ra sinh lực thấp, thiếu các xung lực ham muốn, không ghi nhận được những động lực năng động thích đáng, sự non nớt và [419] đôi khi là ám nhập hay bị nhập xác. Thường thường điều được gọi là thiếu ý chí và việc gán nhãn một người là “ý chí yếu” hay “đầu óc yếu” trên thực tế không liên quan gì đến ý chí, mà có khuynh hướng là kết quả của sự tích hợp yếu ớt này và mối nối lỏng lẻo giữa tâm thức và bộ não, khiến con người trở nên thụ động trước các xung lực ham muốn lẽ ra bình thường phải tuôn vào bộ não của y, kích hoạt vận cụ hồng trần của y vào một hình thức hoạt động nào đó.

The will, which usually demonstrates itself through a programme or ordered plan, originates in the mind and not on the desire levels of awareness, and this programme is based on a sense of direction and a definite orientation of the will to a recognised objective, and it is not, in these cases, the cause of the difficulty. The trouble is simpler and lies nearer home. The handling of these difficulties and their right solution is of a definitely material nature, and the trouble is frequently overcome by increasing the vitality of the body, building up the etheric body, through sunshine, vitaminous foods and exercise, plus correct treatment and balancing of the endocrine system. Along these lines much work is being done today and the less serious forms of etheric cleavage are rapidly yielding to treatment. Lack of vitality, immaturity, depression based upon a weak vital connection and lack of interest in life (so prevalent at this time) will become less frequent.

Ý chí, vốn thường biểu lộ qua một chương trình hay kế hoạch có trật tự, bắt nguồn trong trí tuệ chứ không phải trên các cấp độ nhận biết của ham muốn, và chương trình này dựa trên một cảm nhận về phương hướng và một sự định hướng rõ rệt của ý chí tới một mục tiêu đã được nhận biết; trong các trường hợp này, nó không phải là nguyên nhân của khó khăn. Rắc rối đơn giản hơn và nằm gần hơn. Việc xử lý những khó khăn này và giải pháp đúng đắn của chúng có bản chất rõ rệt là vật chất, và rắc rối thường được khắc phục bằng cách tăng cường sinh lực của thể, xây dựng thể dĩ thái, thông qua ánh nắng, thực phẩm giàu vitamin và vận động, cộng với việc điều trị và quân bình đúng đắn hệ nội tiết. Ngày nay đang có nhiều công việc được thực hiện theo các hướng này và những dạng phân ly dĩ thái ít nghiêm trọng hơn đang nhanh chóng khuất phục trước sự điều trị. Sự thiếu sinh lực, sự non nớt, sự trầm uất dựa trên một liên kết sinh lực yếu và sự thiếu hứng thú với cuộc sống (rất phổ biến vào lúc này) sẽ trở nên ít thường xuyên hơn.

I cannot here deal at length with the problems of obsession, due to the withdrawal of the self-conscious aspect of the dweller in the body. This process of abstraction leaves only a living shell, an empty house. Too much would have to be considered for a treatise such as this. It is not easy for the scientific psychological investigator to accept the premise of the substitution of the consciousness of another entity in the place of the consciousness of the one who has been unable to hold the link within the brain with adequate positiveness. But, speaking as one who knows, such cases frequently occur, leading to many of the problems of so-called “split personality” which is in reality the ownership of a particular physical body by the two persons—one providing the life stream (anchored in the heart) and the other providing the stream of consciousness (anchored in the brain) and thus controlling the body directing its activities and expressing itself through the organs of speech. Sometimes this possession alternates between the two individuals concerned. Sometimes more than two are concerned, and several persons upon the inner side of life use the same physical body. Then you have multiple personalities. This is however due to a definite weakness in the etheric connection of the original dweller; or again it may be due to that dweller’s great dislike for physical incarnation; again it may be caused by some shock or disaster which suddenly severs the link of consciousness, and in this latter case there is no hope of restoration. Each case has to be diagnosed and dealt with on its individual merits and preferably by dealing directly with the real dweller when he is “at home in his own dwelling”. Furthermore, the consciousness of this dweller is sometimes so strongly orientated in directions other than those of physical existence that a process of abstraction has taken place, with the focus of the conscious interest elsewhere. This is the undesirable side or expression of the same power of abstraction which enables the mystic to see his visions and to participate in heavenly happenings, and which enables the advanced adept to enter into the state of Samadhi. In the one case, the vehicle is left unguarded and the prey of any passing visitor; and in the other it is left duly guarded and positively attentive to the call and the note of its owner.

Ở đây tôi không thể bàn dài về các vấn đề ám nhập, do sự rút lui của phương diện ngã thức của kẻ cư ngụ trong thể. Tiến trình trừu xuất này chỉ để lại một vỏ sống, một ngôi nhà trống. Sẽ phải xem xét quá nhiều đối với một chuyên luận như thế này. Đối với nhà khảo cứu tâm lý học khoa học, không dễ chấp nhận tiền đề về sự thay thế tâm thức của một thực thể khác vào chỗ tâm thức của người đã không thể giữ được mối liên kết trong bộ não với tính dương đủ mạnh. Nhưng, nói với tư cách một người biết rõ, những trường hợp như vậy xảy ra thường xuyên, dẫn đến nhiều vấn đề của cái gọi là “phàm ngã phân đôi”, mà trên thực tế là quyền sở hữu một thể xác nhất định bởi hai người—một người cung cấp dòng sự sống (neo trong tim) và người kia cung cấp dòng tâm thức (neo trong não) và nhờ đó kiểm soát thể, điều khiển các hoạt động của nó và biểu lộ chính mình qua các cơ quan ngôn ngữ. Đôi khi sự chiếm hữu này luân phiên giữa hai cá nhân liên hệ. Đôi khi có hơn hai người liên hệ, và vài người ở mặt bên trong của sự sống sử dụng cùng một thể xác. Khi đó các bạn có đa phàm ngã. Tuy nhiên, điều này là do một sự yếu kém rõ rệt trong liên kết dĩ thái của kẻ cư ngụ nguyên thủy; hoặc cũng có thể là do kẻ cư ngụ ấy rất chán ghét việc lâm phàm hồng trần; hoặc nữa có thể do một cú sốc hay tai họa nào đó đột ngột cắt đứt liên kết tâm thức, và trong trường hợp sau cùng này thì không có hy vọng phục hồi. Mỗi trường hợp phải được chẩn đoán và xử lý theo giá trị riêng của nó, và tốt nhất là bằng cách trực tiếp xử lý kẻ cư ngụ thực sự khi y “ở nhà trong chính nơi cư ngụ của mình”. Hơn nữa, tâm thức của kẻ cư ngụ này đôi khi được định hướng quá mạnh theo những hướng khác với sự tồn tại hồng trần đến nỗi một tiến trình trừu xuất đã diễn ra, với tiêu điểm của mối quan tâm có ý thức ở nơi khác. Đây là mặt không mong muốn hay biểu hiện không mong muốn của cùng một năng lực trừu xuất vốn giúp nhà thần bí thấy được các linh ảnh của y và tham dự vào những sự kiện thiên đàng, và vốn giúp chân sư tiến bộ bước vào trạng thái Samadhi. Trong trường hợp này, vận cụ bị bỏ lại không được canh giữ và trở thành mồi cho bất kỳ vị khách qua đường nào; còn trong trường hợp kia, nó được để lại trong tình trạng được canh giữ đúng mức và chú ý một cách tích cực đến tiếng gọi và âm điệu của chủ nhân nó.

[421]

[421]

It is not possible for me to do more than hint at these various explanations and so start investigators with open minds and the willingness to accept unusual hypotheses, along a trail which may lead them into the valley of understanding. The clue to success in eliminating these types of difficulty lies in pre-natal care and study of hereditary taints; syphilis and the other venereal diseases are potent predisposing causes. The right culture of the body nature after birth and the development in the child of a positive sense of himself, thus making him positive in thought and training his sense of self-identity—all these are sound helps towards the elimination of this type of trouble. The tendency today to emphasise the vitamins in food and to give a balanced diet is all to the good.

Tôi không thể làm gì hơn ngoài việc gợi ý về những cách giải thích khác nhau này và nhờ đó khởi động các nhà khảo cứu với tâm trí cởi mở và thiện chí chấp nhận những giả thuyết khác thường, trên một con đường có thể dẫn họ vào thung lũng của sự thấu hiểu. Manh mối dẫn đến thành công trong việc loại bỏ những loại khó khăn này nằm ở sự chăm sóc trước khi sinh và việc nghiên cứu các ô nhiễm di truyền; bệnh giang mai và các bệnh hoa liễu khác là những nguyên nhân tiền định mạnh mẽ. Việc nuôi dưỡng đúng đắn bản chất thể xác sau khi sinh và sự phát triển nơi đứa trẻ một cảm nhận tích cực về chính nó, nhờ đó làm cho nó tích cực trong tư tưởng và rèn luyện cảm nhận về bản sắc tự thân của nó—tất cả những điều này đều là những trợ giúp lành mạnh hướng tới việc loại bỏ loại rắc rối này. Khuynh hướng ngày nay nhấn mạnh đến vitamin trong thực phẩm và cung cấp một chế độ ăn quân bình đều là điều tốt.

The true sense of cleavage and really serious difficulty comes, however, when two things have occurred. These might be stated to be as follows:

Tuy nhiên, cảm nhận thực sự về sự phân ly và khó khăn thật sự nghiêm trọng xuất hiện khi hai điều đã xảy ra. Có thể phát biểu như sau:

1. The self-consciousness of the man has reached a point where his desires are so dominant and compelling that he becomes aware of their strength, and also simultaneously of his inability truly to satisfy them, coupled with the recognition that there is an aspect of himself which does not truly want to do so. The sense of frustration then descends upon him and he becomes painfully aware of what he wants and of what he would be if his desires were met and satisfied. He is then torn in two directions: his desire-mind keeps him dwelling in the realm of longing, of hope and of wish, whilst his brain and his physical nature bring to him the conviction that nothing he wants is possible and if possible, does he really want it? This is true of the man whose objective is the satisfaction of his material longings or of the man who is responding to the desire for intellectual or spiritual satisfaction. [422] In the one case the cleavage begins to appear in the lower aspects of his desire nature. In the other it appears in the higher aspects, but in both cases the lines of the cleavage are clear. The conflict has begun and two possibilities lie ahead:

1. Ngã thức của con người đã đạt đến một điểm mà các ham muốn của y mạnh mẽ và cưỡng bách đến nỗi y ý thức được sức mạnh của chúng, đồng thời cũng nhận ra sự bất lực của mình trong việc thực sự thỏa mãn chúng, đi kèm với sự nhận biết rằng có một phương diện trong chính y thực sự không muốn làm như vậy. Khi đó cảm nhận thất vọng giáng xuống trên y và y đau đớn ý thức được điều mình muốn và điều mình sẽ là nếu các ham muốn của mình được đáp ứng và thỏa mãn. Khi ấy y bị xé làm hai hướng: trí-cảm của y khiến y cư ngụ trong lĩnh vực của sự khao khát, hy vọng và ước muốn, trong khi bộ não và bản chất hồng trần của y đem đến cho y niềm xác tín rằng không điều gì y muốn là có thể, và nếu có thể thì y có thực sự muốn nó không? Điều này đúng đối với người có mục tiêu là thỏa mãn những khát vọng vật chất của mình hay đối với người đang đáp ứng ham muốn được thỏa mãn về trí tuệ hay tinh thần. [422] Trong trường hợp thứ nhất, sự phân ly bắt đầu xuất hiện trong các phương diện thấp của bản chất ham muốn của y. Trong trường hợp thứ hai, nó xuất hiện trong các phương diện cao hơn, nhưng trong cả hai trường hợp, các đường phân ly đều rõ ràng. Xung đột đã bắt đầu và có hai khả năng ở phía trước:

a. Eventual acquiescence of a nature which ends the life in futility, deep depression and a sense of frustration which runs all the way from a submissive life of acceptance to those many ways of escape which push a man into the dream world, into the land of illusion, into a state of negativity and even over the border to death through self-destruction.

a. Sự cam chịu cuối cùng của một bản chất kết thúc cuộc đời trong vô ích, trầm uất sâu sắc và cảm nhận thất vọng, trải dài từ một đời sống phục tùng chấp nhận cho đến nhiều cách trốn thoát đẩy con người vào thế giới mộng tưởng, vào miền ảo tưởng, vào trạng thái thụ động và thậm chí vượt qua ranh giới đến cái chết bằng sự tự hủy.

b. A furious conflict, based on a refusal to be moulded by circumstance or environment. This drives a man on to success and to achievement of his desire or it breaks him on the wheel of life, either physically or mentally.

b. Một cuộc xung đột dữ dội, dựa trên sự từ chối để cho hoàn cảnh hay môi trường nhào nặn mình. Điều này thúc đẩy con người tiến tới thành công và đạt được điều mình ham muốn, hoặc nghiền nát y trên bánh xe của cuộc đời, về mặt hồng trần hay trí tuệ.

2. Cleavage comes also when the man fails to use his God-given intellect and so is unable to choose between the essentials and the non-essentials, between right direction and wrong goals, between the various satisfactions which appeal to the various aspects of his lower nature and eventually between the higher and the lower duality. He must learn to grasp the distinction between:

2. Sự phân ly cũng xuất hiện khi con người không sử dụng trí năng do Thượng đế ban cho mình và vì thế không thể lựa chọn giữa điều cốt yếu và điều không cốt yếu, giữa phương hướng đúng và mục tiêu sai, giữa những sự thỏa mãn khác nhau hấp dẫn các phương diện khác nhau của bản chất thấp của mình và cuối cùng giữa nhị nguyên tính cao và thấp. Y phải học cách nắm bắt sự phân biệt giữa:

a. Submission to the inevitable and submission to the urge of his own desire.

a. Sự quy phục trước điều không thể tránh khỏi và sự quy phục trước xung lực của chính ham muốn mình.

b. Recognition of capacity and recognition of potentiality. Many conflicts would be solved through the summation, understanding and right use of recognised assets, thus eliminating impossible goals and the consequent inevitable frustration. When this part of the conflict [423] has been overcome, then potentiality can emerge in recognition and become power in expression.

b. Sự nhận biết năng lực và sự nhận biết tiềm năng. Nhiều xung đột sẽ được giải quyết thông qua việc tổng hợp, thấu hiểu và sử dụng đúng đắn những tài sản đã được nhận biết, nhờ đó loại bỏ những mục tiêu bất khả thi và sự thất vọng tất yếu kéo theo. Khi phần này của xung đột [423] đã được vượt qua, thì tiềm năng có thể xuất hiện trong sự nhận biết và trở thành quyền năng trong biểu hiện.

c. Recognition of individual goals and group goals, between the ability to be social or anti-social. Much is being done along these lines but the emphasis is still upon the individual and not upon the group. When this is the case, we become responsible for anti-social groups.

c. Sự nhận biết các mục tiêu cá nhân và các mục tiêu nhóm, giữa khả năng sống có tính xã hội hay phản xã hội. Nhiều việc đang được thực hiện theo các hướng này nhưng sự nhấn mạnh vẫn còn đặt trên cá nhân chứ không phải trên nhóm. Khi điều này xảy ra, chúng ta trở nên có trách nhiệm đối với các nhóm phản xã hội.

I have mentioned only three of many possible recognitions but the resolution of the cleavage for which these are responsible will result in the liberation of a large majority of sufferers. It might perhaps be said that the release of many whose cleavage lies primarily in the realm of the desire nature, leading to the sense of frustration and a break in the life continuity of interest, can be cured by—

Tôi chỉ nêu ra ba trong số nhiều sự nhận biết có thể có, nhưng việc giải quyết sự phân ly mà chúng gây ra sẽ dẫn đến sự giải thoát cho phần lớn những người đau khổ. Có lẽ có thể nói rằng sự giải thoát cho nhiều người mà sự phân ly của họ chủ yếu nằm trong lĩnh vực bản chất ham muốn, dẫn đến cảm nhận thất vọng và sự đứt đoạn trong tính liên tục của mối quan tâm sống, có thể được chữa trị bằng—

1. Attention first of all to the physical equipment and to the glands, particularly to the thyroid gland, plus the regulation of the diet.

1. Trước hết chú ý đến bộ máy hồng trần và các tuyến, đặc biệt là tuyến giáp trạng, cộng với việc điều chỉnh chế độ ăn.

2. Attention to the physical coordination of the patient, for physical coordination is the outer expression of an inner process of integration and much can be done by training.

2. Chú ý đến sự phối hợp hồng trần của bệnh nhân, vì sự phối hợp hồng trần là biểu hiện bên ngoài của một tiến trình tích hợp bên trong và có thể làm được nhiều điều bằng sự huấn luyện.

3. Interpretation of the life and the environment, given in terms of appreciation. Ponder on this.

3. Diễn giải đời sống và môi trường, được đưa ra theo những thuật ngữ của sự trân trọng. Hãy suy ngẫm về điều này.

4. Decentralisation through—

4. Phi tập trung vào bản thân thông qua—

a. The providing of right interests and the right kind of education and vocational training.

a. Cung cấp những mối quan tâm đúng đắn và loại giáo dục cùng huấn luyện nghề nghiệp thích hợp.

b. Cultivation of the power to recognise and meet surrounding need, thus evoking the desire to serve and providing the sense of satisfaction which comes from accomplishment and appreciation.

b. Nuôi dưỡng năng lực nhận biết và đáp ứng nhu cầu xung quanh, nhờ đó gợi lên ham muốn phụng sự và cung cấp cảm nhận thỏa mãn đến từ thành tựu và sự trân trọng.

[424]

[424]

c. The careful and slow transmutation of desire into aspiration.

c. Sự chuyển hoá cẩn trọng và chậm rãi ham muốn thành khát vọng.

5. Reorientation to higher goals and the development of the sense of right direction. This involves

5. Tái định hướng tới những mục tiêu cao hơn và phát triển cảm nhận về phương hướng đúng đắn. Điều này bao hàm

a. The cultivation of a wider vision.

a. Nuôi dưỡng một tầm nhìn rộng lớn hơn.

b. The formulation of an inner programme, intelligently compiled, and suitable for the point in evolution but not so advanced as to be impossible.

b. Hình thành một chương trình bên trong, được biên soạn một cách thông minh, và thích hợp với điểm tiến hoá nhưng không quá cao đến mức bất khả thi.

c. The avoidance of those steps and activities which are doomed to failure.

c. Tránh những bước đi và hoạt động chắc chắn sẽ thất bại.

6. Later, when the above is somewhat grasped, there must be the search for, and the development of, any creative faculty, thus meeting the desire to be noticed and to contribute. Much artistic effort or literary and musical effort is based on the desire to be the centre of attention and is not based on any true creative ability. It is the sense of “I, the dramatic actor”. This rightly used and developed, is of real value and importance.

6. Về sau, khi những điều trên đã phần nào được nắm bắt, phải tìm kiếm và phát triển bất kỳ năng lực sáng tạo nào, nhờ đó đáp ứng ham muốn được chú ý và được đóng góp. Nhiều nỗ lực nghệ thuật hay văn chương và âm nhạc dựa trên ham muốn trở thành trung tâm của sự chú ý chứ không dựa trên bất kỳ khả năng sáng tạo chân thực nào. Đó là cảm nhận “Tôi, người diễn viên kịch tính”. Nếu được sử dụng và phát triển đúng đắn, điều này có giá trị và tầm quan trọng thực sự.

7. The elimination of the sense of sin, of disapprobation, with its concomitants, revolt, suspicion and an inferiority complex.

7. Loại bỏ cảm nhận tội lỗi, sự tự trách, cùng những điều đi kèm với nó là phản kháng, nghi ngờ và mặc cảm tự ti.

One point I feel the need definitely to re-emphasise and that is the necessity, when considering the human being and his expression and existence, to remember that we are really considering energy, and the relation or non-relation of forces. As long as this is carefully borne in mind, we shall not go astray as we deal with our subject. We are considering related units of energy, functioning in a field of energy; remembering this always, we shall (at least symbolically) be enabled to get a fairly clear idea of our theme. As long as we regard our problem as consisting of the inter-relation of [425] many energies, their fusion and their balancing, plus the final synthesis of two major energies, their fusion and their balancing we shall arrive at some measure of understanding and subsequent solution. The field of energy which we call the soul (the major energy with which man is concerned) absorbs, dominates or utilises the lesser energy which we call the personality. This it is necessary for us to realise; and to remember, at the same time, that this personality is itself composed of four types of energy. According to our ray type, so will be our use of the words “absorbs, dominates and utilises”. I would here remind you, as I have oft done before, that words fail to express and language handicaps rather than aids the objective that I have in view. Human thought is now entering a field for which there exists, as yet, no true language-form, for we have no adequate terms, and in which word-symbols mean but little. Just as the discovery of the automobile, and the radio have necessitated the formulation of an entirely new set of terms, phrases, nouns and verbs, so in the years that are coming the discovery of the fact of the soul will necessitate a new language approach. It is true, is it not, that a man of the Victorian age, listening to the technical jargon of the present radio laboratory or the ordinary garage, would be completely in the dark? So the psychologist of today is in the dark very often and understands not what we are trying to convey, for the new language is not yet evolved and the old terms are inadequate. I am, therefore, unable to do more than employ the terms which seem to me to be the most suitable, knowing that I am failing to express the true significance of my ideas, and you are consequently gaining only an approximate understanding and conception of the concepts I am endeavoring to expound.

Có một điểm mà tôi cảm thấy cần phải đặc biệt nhấn mạnh lại, đó là sự cần thiết, khi xem xét con người cùng biểu hiện và sự tồn tại của y, phải nhớ rằng trên thực tế chúng ta đang xem xét năng lượng, và mối liên hệ hay không liên hệ của các mãnh lực. Chừng nào điều này còn được ghi nhớ cẩn thận, chúng ta sẽ không đi lạc khi đề cập đến đề tài của mình. Chúng ta đang xem xét những đơn vị năng lượng có liên hệ, hoạt động trong một trường năng lượng; luôn ghi nhớ điều này, chúng ta sẽ có thể (ít nhất là về mặt biểu tượng) đạt được một ý niệm khá rõ ràng về chủ đề của mình. Chừng nào chúng ta còn xem vấn đề của mình là bao gồm sự tương liên của [425] nhiều năng lượng, sự dung hợp và quân bình của chúng, cộng với sự tổng hợp cuối cùng của hai năng lượng chính, sự dung hợp và quân bình của chúng, thì chúng ta sẽ đạt được một mức độ thấu hiểu nào đó và sau đó là giải pháp. Trường năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn (năng lượng chính mà con người quan tâm) hấp thụ, thống trị hay sử dụng năng lượng nhỏ hơn mà chúng ta gọi là phàm ngã. Đây là điều cần cho chúng ta chứng nghiệm; đồng thời nhớ rằng phàm ngã này tự nó được cấu thành bởi bốn loại năng lượng. Tùy theo loại cung của chúng ta mà chúng ta sẽ sử dụng các từ “hấp thụ, thống trị và sử dụng” như thế nào. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn, như tôi đã thường làm trước đây, rằng ngôn từ không diễn đạt được và ngôn ngữ cản trở hơn là trợ giúp mục tiêu mà tôi đang nhắm tới. Tư tưởng con người hiện đang bước vào một lĩnh vực mà cho đến nay chưa có hình thức ngôn ngữ đích thực nào tồn tại, vì chúng ta không có những thuật ngữ thích đáng, và trong đó các biểu tượng ngôn từ có ý nghĩa rất ít. Cũng như việc khám phá ra ô tô và radio đã đòi hỏi phải hình thành một tập hợp hoàn toàn mới các thuật ngữ, cụm từ, danh từ và động từ, thì trong những năm sắp tới, việc khám phá ra sự kiện về linh hồn sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận ngôn ngữ mới. Chẳng phải đúng là một người thuộc thời đại Victoria, nếu nghe thứ biệt ngữ kỹ thuật của phòng thí nghiệm radio hiện đại hay của một ga-ra thông thường, sẽ hoàn toàn mù mờ hay sao? Cũng vậy, nhà tâm lý học ngày nay rất thường ở trong bóng tối và không hiểu điều chúng tôi đang cố truyền đạt, vì ngôn ngữ mới vẫn chưa được phát triển và các thuật ngữ cũ thì không đầy đủ. Vì thế, tôi không thể làm gì hơn ngoài việc sử dụng những thuật ngữ dường như thích hợp nhất đối với tôi, biết rằng tôi không diễn đạt được thâm nghĩa chân thực của các ý tưởng của mình, và do đó các bạn chỉ đạt được một sự thấu hiểu và quan niệm gần đúng về các khái niệm mà tôi đang cố gắng trình bày.

We have already somewhat considered the problem of the [426] cleavages to which man is subject, and we saw that the human evolutionary process was, in the last analysis, a series of at-one-ments; each step forward meant the bringing together of certain types of energy in order that their fusion might produce a more complete person. May I state here an interesting point? The problem itself is brought about by the fact that there Is an Observer. This Observer, at certain points in the normal development of the man, comes to the realisation that there are cleavages. This Observer suffers because of their existence in his self-awareness. He realises that he is the victim of the divisions in his nature. Yet—and this is of importance—the man upon the physical plane is unable either to understand them or, apparently, to heal them without aid from the soul, the Observer, the higher aspect of himself. For instance, a man suffering from dissociation between the emotional, sentient part of himself and the mental aspect is aware of need, of frustration and of intense suffering and difficulty, yet needs the understanding help of a trained psychologist or of his own soul before fusion can be made and he, as an individual, can “be made whole“.

Chúng ta đã phần nào xem xét vấn đề của những sự phân ly [426] mà con người phải chịu, và chúng ta đã thấy rằng tiến trình tiến hoá của con người, xét cho cùng, là một chuỗi những sự hợp nhất; mỗi bước tiến lên đều có nghĩa là đưa một số loại năng lượng nào đó lại với nhau để sự dung hợp của chúng có thể tạo ra một con người hoàn chỉnh hơn. Tôi có thể nêu ở đây một điểm thú vị chăng? Chính vấn đề này được tạo ra bởi sự kiện rằng có Một Đấng Quan Sát. Đấng Quan Sát này, tại những điểm nhất định trong sự phát triển bình thường của con người, đi đến chỗ chứng nghiệm rằng có những sự phân ly. Đấng Quan Sát này đau khổ vì sự hiện hữu của chúng trong sự nhận biết về bản thân của mình. Ngài nhận ra rằng mình là nạn nhân của những chia rẽ trong bản chất của mình. Tuy nhiên—và điều này quan trọng—con người trên cõi hồng trần không thể hoặc thấu hiểu chúng hoặc, dường như, chữa lành chúng nếu không có sự trợ giúp từ linh hồn, Đấng Quan Sát, phương diện cao hơn của chính mình. Thí dụ, một người đang đau khổ vì sự phân ly giữa phần cảm xúc, cảm nhận của mình và phương diện trí tuệ thì ý thức được nhu cầu, sự thất vọng và nỗi đau khổ cùng khó khăn mãnh liệt, nhưng cần sự trợ giúp đầy thấu hiểu của một nhà tâm lý học được huấn luyện hay của chính linh hồn mình trước khi sự dung hợp có thể được thực hiện và y, với tư cách một cá nhân, có thể “được làm cho toàn vẹn”.

This same truth exists in connection with all the cleavages found in man, but three of these cleavages are of major importance:

Chân lý này cũng đúng đối với mọi sự phân ly được tìm thấy trong con người, nhưng có ba sự phân ly trong số đó là quan trọng nhất:

1. The cleavage between the mind and the rest of the lower nature—physical, vital, astral or emotional

1. Sự phân cách giữa trí tuệ và phần còn lại của bản chất thấp—hồng trần, sinh lực, cảm dục hay cảm xúc

.

.

2. The cleavage between the man and his environment which—when once healed and bridged—makes him a responsible human being and a good citizen who accepts his environment and gives to it of his best. Thus he grows in character and capacity, as a result of a definite interplay between the two—himself and his environment.

2. Sự phân cách giữa con người và môi trường của y—mà một khi đã được chữa lành và bắt cầu—sẽ khiến y trở thành một con người có trách nhiệm và một công dân tốt, biết chấp nhận môi trường của mình và cống hiến cho nó điều tốt đẹp nhất của y. Nhờ đó y tăng trưởng về Tính cách và năng lực, như là kết quả của một sự tương tác rõ rệt giữa hai yếu tố—chính y và môi trường của y.

[427]

[427]

3. The cleavage between the man (the personality) and the soul. This produces sequentially:

3. Sự phân cách giữa con người (phàm ngã) và linh hồn. Điều này tuần tự tạo ra:

a. A dominant selfish personality.

a. Một phàm ngã ích kỷ chi phối.

b. A practical mystic, conscious of the need for fusion and for unity.

b. Một nhà thần bí thực tiễn, ý thức được nhu cầu dung hợp và hợp nhất.

Parallels to these states of consciousness are found in the adolescent. They are found also in the man who is integrating into his life work, and also in the thinking aspirant. This is true, whether his thoughts, purposes and ambitions are selfishly polarised or spiritually inclined. The sense of cleavage, the need for orientation, the bridging process and the ultimate sense of achievement are identical in both cases.

Những trạng thái tâm thức này có những tương ứng nơi tuổi thiếu niên. Chúng cũng được tìm thấy nơi con người đang tích hợp vào công việc đời mình, và cả nơi người chí nguyện biết suy tư. Điều này là đúng, dù tư tưởng, mục đích và tham vọng của y được phân cực một cách ích kỷ hay nghiêng về tinh thần. Cảm giác phân cách, nhu cầu định hướng, tiến trình bắt cầu và cảm giác thành tựu tối hậu đều giống hệt nhau trong cả hai trường hợp.

In dealing with these situations certain general rules should govern the psychologist, and certain general premises should eventually be accepted by the man who constitutes the problem case. These same rules and premises can be considered and accepted by the man who, without the aid of a trained psychologist, manages to train himself and to bridge his realised cleavages. These basic premises are:

Khi đề cập đến các tình huống này, một số quy luật tổng quát nên chi phối nhà tâm lý học, và một số tiền đề tổng quát cuối cùng nên được con người là trường hợp có vấn đề chấp nhận. Cũng chính những quy luật và tiền đề này có thể được xem xét và chấp nhận bởi người, không có sự trợ giúp của một nhà tâm lý học lão luyện, vẫn tự mình rèn luyện và bắt cầu những phân cách mà mình đã nhận ra. Những tiền đề căn bản này là:

1. That any psychological difficulty is universal and not unique. It is the sense of uniqueness—with its separative tendency and its realised loneliness—which is often the all-engrossing factor. It makes the personality too important, and this should be definitely negated.

1. Rằng bất kỳ khó khăn tâm lý nào cũng đều có tính phổ quát chứ không phải độc nhất. Chính cảm giác độc nhất—với khuynh hướng phân ly và nỗi cô đơn được cảm nhận của nó—thường là yếu tố chiếm trọn mọi chú ý. Nó làm cho phàm ngã trở nên quá quan trọng, và điều này cần phải bị phủ nhận dứt khoát.

2. That the crisis faced indicates progress and opportunity, and that it does not indicate disaster and failure. It must be realised by the patient (can I use that term?) that the race has progressed to its present point in evolution by just such crises. So does the individual human unit progress. In the last analysis, psychological crises are indicative of progressive steps upon the Way, bringing with them the need for effort and at the same time a [428] sense of gain and of freedom, when surmounted, overcome and solved.

2. Rằng cuộc khủng hoảng đang đối diện biểu thị sự tiến bộ và cơ hội, chứ không biểu thị tai họa và thất bại. Bệnh nhân phải nhận ra (tôi có thể dùng từ đó chăng?) rằng nhân loại đã tiến đến điểm tiến hoá hiện nay chính nhờ những cuộc khủng hoảng như thế. Đơn vị nhân loại cá nhân cũng tiến bộ như vậy. Xét cho cùng, các cuộc khủng hoảng tâm lý là dấu hiệu của những bước tiến bộ trên Con Đường, mang theo nhu cầu nỗ lực và đồng thời là [428] một cảm giác đạt được và tự do, khi chúng được vượt qua, chế ngự và giải quyết.

3. That the power to produce the needed integration and to end a cycle of sensed duality lies within the man himself because:

3. Rằng quyền năng tạo ra sự tích hợp cần thiết và chấm dứt một chu kỳ nhị nguyên tính được cảm nhận nằm ngay trong chính con người ấy bởi vì:

a. His discomfort, lack of coordination, pain and distress are symptoms of aspiration, unrealised perhaps but none the less there. They are the reaction of the integrated aspects to that aspect which is seeking integration.

a. Sự khó chịu, thiếu phối hợp, đau đớn và khổ sở của y là những triệu chứng của khát vọng, có lẽ chưa được nhận ra nhưng vẫn hiện diện. Chúng là phản ứng của các phương diện đã tích hợp đối với phương diện đang tìm cách được tích hợp.

b. The aspect to be integrated is essentially more powerful than the lower waiting aspects, for they are negative or receptive whilst that which should be realised and accepted is positive and dynamic. Hence the sensed discomfort.

b. Phương diện cần được tích hợp về bản chất mạnh hơn các phương diện thấp đang chờ đợi, vì chúng là tiêu cực hay tiếp nhận, trong khi điều cần được nhận ra và chấp nhận lại là tích cực và năng động. Do đó mới có sự khó chịu được cảm nhận.

4. That the capacity, innate in that imaginative creature, man, to act “as if”, holds the solution to the problem. By the use of the creative imagination, the bridge between the lower aspect and higher can be built and constructed. “As a man thinketh, hopeth and willeth” so is he. This is a statement of an immutable fact.

4. Rằng năng lực bẩm sinh nơi tạo vật đầy Sự tưởng tượng này là con người, để hành động “như thể”, chứa đựng lời giải cho vấn đề. Nhờ sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, cây cầu giữa phương diện thấp và cao có thể được xây dựng và kiến tạo. “Con người suy nghĩ, hy vọng và ý chí thế nào” thì y là như thế ấy. Đây là một phát biểu về một sự kiện bất biến.

When modern psychologists comprehend more fully the creative purpose of humanity, and seek to develop the creative imagination more constructively, and also to train the directional will, much will be accomplished. When these two factors (which are the signal evidence of divinity in man) are studied and scientifically developed and utilised, they will produce the self-releasing of all the problem cases which are found in our clinics at this time. Thus we shall, through experiment, arrive at a more rapid understanding of man. Psychology can count definitely upon the innate ability of the [429] human unit to understand the use of the creative imagination and the use of directed purpose, for it is found frequently even in children. The development of the sense of fantasy and the training of children to make choices (to the end that ordered purpose may emerge in their lives) will be two of the governing ideals of the new education. The sense of fantasy calls into play the imagination, perception of beauty, and the concept of the subjective worlds; the power of choice, with its implications of why and wherefore and to what end (if wisely taught from early days), will do much for the race, particularly if, at the time of adolescence, the general world picture and the world plan are brought to the attention of the developing intelligence. Therefore:

Khi các nhà tâm lý học hiện đại hiểu đầy đủ hơn mục đích sáng tạo của nhân loại, và tìm cách phát triển Sự tưởng tượng sáng tạo một cách xây dựng hơn, đồng thời cũng rèn luyện ý chí định hướng, thì nhiều điều sẽ được hoàn thành. Khi hai yếu tố này (là bằng chứng nổi bật của thiên tính nơi con người) được nghiên cứu, phát triển và sử dụng một cách khoa học, chúng sẽ tạo ra sự tự giải phóng của mọi trường hợp có vấn đề hiện đang có trong các phòng khám của chúng ta. Nhờ đó, qua thực nghiệm, chúng ta sẽ đi đến một sự thấu hiểu con người nhanh chóng hơn. Tâm lý học chắc chắn có thể trông cậy vào khả năng bẩm sinh của [429] đơn vị nhân loại trong việc hiểu cách sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo và cách sử dụng mục đích được định hướng, vì điều này thường được thấy ngay cả nơi trẻ em. Việc phát triển cảm nhận huyễn tưởng và việc rèn luyện trẻ em biết chọn lựa (để mục đích có trật tự có thể xuất hiện trong đời sống của chúng) sẽ là hai trong những lý tưởng chi phối của nền giáo dục mới. Cảm nhận huyễn tưởng gọi Sự tưởng tượng, sự cảm nhận cái đẹp, và khái niệm về các thế giới chủ quan vào hoạt động; quyền năng chọn lựa, với những hàm ý về tại sao, vì sao và nhằm mục đích gì (nếu được dạy một cách khôn ngoan từ thuở đầu đời), sẽ làm được nhiều điều cho nhân loại, đặc biệt nếu vào thời kỳ thiếu niên, bức tranh chung của thế giới và kế hoạch thế giới được đưa ra trước trí tuệ đang phát triển. Vì vậy:

1. The sense of fantasy

1. Cảm nhận huyễn tưởng

2. The sense of choice

2. Cảm nhận chọn lựa

3. The sense of the whole plus

3. Cảm nhận về toàn thể cộng với

4. The sense of ordered purpose

4. Cảm nhận về mục đích có trật tự

should govern our training of the children which are coming into incarnation. The sense of fantasy brings the creative imagination into play, thus providing the emotional nature with constructive outlets; this should be balanced and motivated by the recognition of the power of right choice and the significance of the higher values. These, in turn, can be developed selflessly by a due recognition of the environing whole in which the individual has to play his part, whilst the entire range of reactions are increasingly subordinated by the understanding of the ordered purpose which is working out in the world.

nên chi phối việc chúng ta đào luyện những trẻ em đang lâm phàm. Cảm nhận huyễn tưởng đưa Sự tưởng tượng sáng tạo vào hoạt động, nhờ đó cung cấp cho bản chất cảm xúc những lối thoát có tính xây dựng; điều này nên được quân bình và thúc đẩy bởi sự nhận biết quyền năng của sự chọn lựa đúng đắn và thâm nghĩa của các giá trị cao hơn. Đến lượt mình, những điều này có thể được phát triển một cách vô ngã nhờ sự nhận biết thích đáng về toàn thể bao quanh, trong đó cá nhân phải đóng vai trò của y, trong khi toàn bộ phạm vi phản ứng ngày càng được đặt dưới sự chi phối của sự thấu hiểu mục đích có trật tự đang được triển khai trong thế giới.

These are the basic premises which should emerge in the new techniques which psychology will use when it has reached the point of accepting (or at least experimenting with) the [430] above ideas. By their use, it will be found that the problem case itself can be brought into functioning right activity, for all the innate, and unused faculties of man will be swept into integrating activity. The process is always and inevitably the same:

Đó là những tiền đề căn bản cần xuất hiện trong các kỹ thuật mới mà tâm lý học sẽ sử dụng khi nó đã đạt đến điểm chấp nhận (hoặc ít nhất là thực nghiệm với) các ý tưởng [430] trên đây. Khi sử dụng chúng, người ta sẽ thấy rằng chính trường hợp có vấn đề có thể được đưa vào hoạt động đúng đắn hữu hiệu, vì mọi năng lực bẩm sinh nhưng chưa được dùng đến của con người sẽ được cuốn vào hoạt động tích hợp. Tiến trình này luôn luôn và tất yếu là như nhau:

1. Cleavage.

1. Phân cách.

2. A recognition of duality, either subjectively or in the waking consciousness.

2. Sự nhận biết nhị nguyên tính, hoặc một cách chủ quan hoặc trong tâm thức thức tỉnh.

3. A period of wild unrest, of frustration and futility, leading sometimes to disaster, to forms of nervous or mental breakdown, and to generally chaotic and undesirable conditions.

3. Một giai đoạn bất an dữ dội, thất vọng và vô ích, đôi khi dẫn đến tai họa, đến các dạng suy sụp thần kinh hay trí tuệ, và đến những tình trạng nói chung là hỗn loạn và không mong muốn.

4. An intelligently applied bridging process, gradually carried forward, once the point of cleavage is determined.

4. Một tiến trình bắt cầu được áp dụng một cách thông minh, dần dần được xúc tiến, một khi điểm phân cách đã được xác định.

5. The achievement of periods of recognised fusion, integration or true normality. A process of analysis would here be useful. It will later be found that psychoanalysis will come into its real usefulness when it comes to the aid of a man in explaining his achievement rather than in unearthing the detail of his apparent disaster. There is no real disaster. There is only an unrecognised point of crisis, a moment of unrealised fulfillment. The disaster comes when this point of crisis is not utilised and understood, for it then serves to increase the cleavage instead of being recognised as a moment of opportunity.

5. Thành tựu những giai đoạn dung hợp, tích hợp hay trạng thái bình thường đích thực được nhận biết. Ở đây một tiến trình phân tích sẽ hữu ích. Về sau người ta sẽ thấy rằng phân tâm học sẽ đi vào công dụng thực sự của nó khi nó trợ giúp con người trong việc giải thích thành tựu của mình hơn là trong việc khai quật chi tiết của tai họa bề ngoài của y. Không có tai họa thực sự nào cả. Chỉ có một điểm khủng hoảng chưa được nhận ra, một khoảnh khắc hoàn thành chưa được chứng nghiệm. Tai họa đến khi điểm khủng hoảng này không được sử dụng và thấu hiểu, vì khi đó nó làm gia tăng sự phân cách thay vì được nhận ra như một khoảnh khắc cơ hội.

6. The establishment of a definite rhythm composed of the creative imagination, of discriminating choice, of the value of the relation of the part to the whole, and of the acceptance of group purpose. This rhythm, when duly established in a life or in a series of lives, leads eventually to

6. Sự thiết lập một nhịp điệu rõ rệt gồm Sự tưởng tượng sáng tạo, sự chọn lựa có phân biện, giá trị của mối liên hệ giữa phần và toàn thể, và sự chấp nhận mục đích nhóm. Nhịp điệu này, khi được thiết lập đúng mức trong một đời sống hay trong một chuỗi đời sống, cuối cùng dẫn đến

7. Integration.

7. Sự tích hợp.

[431]

[431]

I would like to stop here and point out that the foundation of the new psychology must inevitably be built upon the premise that this one life is not man’s sole opportunity in which to achieve integration and eventual perfection. The great Law of Rebirth must be accepted and it will then be found to be, in itself, a major releasing agent in any moment of crisis or any psychological problem case. The recognition of further opportunity and a lengthened sense of time are both quieting and helpful to many types of mind; its interpretative value will be found illuminating as the patient grasps the fact that behind him lie points of crisis wherein it can be demonstrated by his present equipment that he achieved integration, thus guaranteeing to him victory in his present point of crisis and of difficult conflict. The light which this throws on relationships and environment will serve to stabilise his purpose and make him comprehend the inevitability of responsibility. When this great law is understood in its true implications and not interpreted in terms of its present childish presentation, then man will shoulder the responsibility of living with a daily recognition of the past, an understanding of the purpose of the present, and with an eye to the future. This will also greatly lessen the growing tendency towards suicide which humanity is showing.

Tôi muốn dừng lại ở đây và chỉ ra rằng nền tảng của nền tâm lý học mới tất yếu phải được xây dựng trên tiền đề rằng một kiếp sống này không phải là cơ hội duy nhất của con người để đạt được sự tích hợp và sự toàn thiện cuối cùng. Định luật lớn về Tái Sinh phải được chấp nhận, và khi đó người ta sẽ thấy rằng tự thân nó là một tác nhân giải phóng lớn trong bất kỳ thời điểm khủng hoảng nào hay trong bất kỳ trường hợp tâm lý có vấn đề nào. Việc nhận ra còn có những cơ hội khác và một cảm nhận thời gian được kéo dài đều làm dịu và hữu ích cho nhiều loại trí tuệ; giá trị diễn giải của nó sẽ được thấy là soi sáng khi bệnh nhân nắm được sự kiện rằng phía sau y là những điểm khủng hoảng mà qua khí cụ hiện tại của y có thể chứng minh rằng y đã đạt được sự tích hợp, nhờ đó bảo đảm cho y chiến thắng trong điểm khủng hoảng và xung đột khó khăn hiện tại. Ánh sáng mà điều này rọi lên các mối liên hệ và môi trường sẽ giúp ổn định mục đích của y và khiến y hiểu tính tất yếu của trách nhiệm. Khi định luật lớn này được hiểu trong những hàm ý chân thực của nó chứ không được diễn giải theo cách trình bày ấu trĩ hiện nay, khi đó con người sẽ gánh lấy trách nhiệm sống với sự nhận biết hằng ngày về quá khứ, sự thấu hiểu mục đích của hiện tại, và với con mắt hướng về tương lai. Điều này cũng sẽ làm giảm rất nhiều khuynh hướng tự tử đang gia tăng mà nhân loại đang biểu lộ.

It will be apparent to you, therefore, that the time element can enter into the problem most helpfully and it is here that a real understanding of the Law of Rebirth, or of the Law of Opportunity (as I would prefer to call it) will be of definite usefulness. Above everything else, it will bring into the attitude of both psychologist and problem case, the idea of hope, the thought of fulfillment and of ultimate achievement.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng yếu tố thời gian có thể đi vào vấn đề một cách rất hữu ích, và chính ở đây một sự thấu hiểu thực sự về Định luật Tái Sinh, hay Định luật Cơ Hội (như tôi thích gọi hơn) sẽ có ích lợi rõ rệt. Trên hết mọi điều khác, nó sẽ đem vào thái độ của cả nhà tâm lý học lẫn trường hợp có vấn đề ý niệm về hy vọng, tư tưởng về sự hoàn thành và thành tựu tối hậu.

It will also be essential that the psychologist of the future should arrive at a recognition and an admittance of the inner structure of the human being—of his emotional vehicle, his [432] mind body and their close inter-relation through the medium of the vital or etheric body which serves ever as the linking web between the dense physical body and the other bodies. The soul and its triplicity of energies (life itself, expressing will or purpose, love and intelligence) work through the seven major centres, whilst the mind body and the astral body work through many other centres, though possessing also within themselves seven centres which are the transmitting counterparts of those found in the etheric body. The integrations which evolution eventually effects are carried out through the medium of all these centres. Through the heightening of vibration, through the swinging into activity of the centres, and through the subsequent and consequent development of the human response apparatus, new avenues of approach to reality, new qualities of awareness, new sensitivity to that which has hitherto been unrecognised, and new powers begin to open up.

Điều cũng thiết yếu là nhà tâm lý học của tương lai phải đi đến chỗ nhận biết và thừa nhận cấu trúc bên trong của con người—về hiện thể cảm xúc của y, thể [432] trí của y và mối liên hệ tương hỗ mật thiết của chúng qua trung gian của thể sinh lực hay thể dĩ thái, vốn luôn luôn phục vụ như mạng lưới liên kết giữa thể xác đậm đặc và các thể khác. Linh hồn và bộ ba năng lượng của nó (chính sự sống, biểu lộ như ý chí hay mục đích, bác ái và trí tuệ) hoạt động qua bảy trung tâm chính, trong khi thể trí và thể cảm dục hoạt động qua nhiều trung tâm khác, dù cũng sở hữu bên trong chính chúng bảy trung tâm là những đối phần truyền dẫn của các trung tâm được tìm thấy trong thể dĩ thái. Những sự tích hợp mà tiến hoá cuối cùng tạo ra được thực hiện qua trung gian của tất cả các trung tâm này. Qua việc nâng cao rung động, qua việc đưa các trung tâm vào hoạt động, và qua sự phát triển tiếp theo và hệ quả của bộ máy đáp ứng của con người, những con đường tiếp cận mới đến thực tại, những phẩm tính nhận biết mới, sự nhạy cảm mới đối với điều từ trước đến nay chưa được nhận ra, và những quyền năng mới bắt đầu mở ra.

Each man is, therefore, within himself, a hierarchy, a reflection of a great chain of being—the Being which the universe expresses. Psychology has to recognise eventually:

Vì vậy, mỗi người trong chính mình là một phân cấp, một phản ánh của một chuỗi hiện hữu vĩ đại—Đấng Hiện Hữu mà vũ trụ biểu lộ. Cuối cùng tâm lý học phải nhận ra:

1. The fact of the soul, the integrating agent, the self.

1. Sự kiện về linh hồn, tác nhân tích hợp, bản ngã.

2. The Law of Opportunity or Rebirth.

2. Định luật Cơ Hội hay Tái Sinh.

3. The nature of the inner structure of man and its relation to the outer tangible form.

3. Bản chất của cấu trúc bên trong của con người và mối liên hệ của nó với hình tướng hữu hình bên ngoài.

It is interesting to note that practically all the teaching given anent rebirth or reincarnation has emphasised the material phenomenal side though there has always been a more or less casual reference to the spiritual and mental gains acquired in the school of life upon this planet, from incarnation to incarnation. The true nature of the unfolding awarenesses and the growth in the inner consciousness of the true man have been little noted; the gain of each life in added grasp of [433] the mechanism of contact, and the result of increased sensitivity to the environment (which are the only values with which the self concerns itself), are seldom, if ever, stressed. Details of living conditions, statements about possible material situations, descriptions of places, clothes, and of personality human relations are imaginatively displayed, and the “recovery of past incarnations” has usually been the so-called recovery of dramatic episodes which feed the innate sense of individuality of the reincarnating man, and usually feed his vanity as well. This curious presentation has been due to several things. First of all, to the fact that the world of illusion is the dominating factor as yet in the lives of the best of men; secondly, that the point in evolution has been such that the writer or speaker has not been able to view the life cycle from the angle of the soul, detached and undeluded, for had he done so, the material phenomenal descriptions would have been omitted and probably not even perceived, and only the values—spiritual and mental—and those matters which concern the group interior life would have been emphasised. The methods used to present this age-old doctrine of rebirth, and the false emphasis laid upon the form aspect to the exclusion of the soul values, have brought about a bad reaction to the whole subject in the minds of intelligent people and of the scientific investigator. Yet, in spite of this, real good has been accomplished, for the whole theory has been seeping steadily into the racial consciousness, becoming an integral part of it and, therefore, moving on to popular and finally scientific recognition.

Thật thú vị khi lưu ý rằng hầu như mọi giáo huấn được đưa ra liên quan đến tái sinh hay luân hồi đều nhấn mạnh mặt hiện tượng vật chất, mặc dù luôn luôn có một sự đề cập ít nhiều thoáng qua đến những thành quả tinh thần và trí tuệ đạt được trong trường đời trên hành tinh này, từ kiếp nhập thể này sang kiếp nhập thể khác. Bản chất chân thực của những sự nhận biết đang khai mở và sự tăng trưởng trong tâm thức bên trong của con người chân thực ít được lưu ý; thành quả của mỗi kiếp sống trong việc tăng thêm sự nắm bắt [433] bộ máy tiếp xúc, và kết quả của sự gia tăng nhạy cảm đối với môi trường (là những giá trị duy nhất mà bản ngã quan tâm), hiếm khi, nếu có, được nhấn mạnh. Những chi tiết về điều kiện sống, những phát biểu về các hoàn cảnh vật chất có thể có, những mô tả về nơi chốn, y phục, và các mối quan hệ nhân loại của phàm ngã được phô bày đầy tưởng tượng, và “sự phục hồi các kiếp quá khứ” thường chỉ là sự phục hồi được gọi như thế của những tình tiết kịch tính nuôi dưỡng cảm nhận cá biệt bẩm sinh của con người tái sinh, và thường cũng nuôi dưỡng lòng hư vinh của y. Cách trình bày kỳ lạ này là do một số điều. Trước hết, do sự kiện rằng Thế Giới Đang Trở Thành vẫn còn là yếu tố chi phối trong đời sống của ngay cả những người tốt đẹp nhất; thứ hai, do điểm tiến hoá đã ở mức mà người viết hay người nói chưa thể nhìn chu kỳ sống từ góc độ của linh hồn, một cách tách rời và không bị ảo tưởng che mờ, vì nếu y đã làm được như vậy, thì những mô tả hiện tượng vật chất hẳn đã bị lược bỏ và có lẽ thậm chí không được nhận thấy, và chỉ có các giá trị—tinh thần và trí tuệ—cùng những vấn đề liên quan đến đời sống nội tại của nhóm mới được nhấn mạnh. Những phương pháp được dùng để trình bày giáo lý tái sinh lâu đời này, và sự nhấn mạnh sai lầm đặt trên phương diện hình tướng đến mức loại trừ các giá trị của linh hồn, đã gây ra một phản ứng xấu đối với toàn bộ chủ đề này trong tâm trí của những người thông minh và của nhà khảo cứu khoa học. Tuy nhiên, bất chấp điều đó, điều thiện chân thực vẫn đã được thực hiện, vì toàn bộ lý thuyết này đã thấm dần một cách đều đặn vào tâm thức nhân loại, trở thành một phần không thể tách rời của nó và do đó tiến tới sự công nhận phổ biến và cuối cùng là khoa học.

In considering the inner structure of man and those factors which produce the outer appearance and quality and condition it, thus producing the resultant behaviour and conduct, psychologists will have to study the following subjects, [434] beginning with the lowest aspect and expanding their ideas to include the highest possible. These might be grouped and listed as follows:

Khi xem xét cấu trúc bên trong của con người và những yếu tố tạo ra sắc tướng bên ngoài cùng phẩm tính và tác động lên nó, nhờ đó tạo ra hành vi và cách cư xử kết quả, các nhà tâm lý học sẽ phải nghiên cứu những chủ đề sau đây, [434] bắt đầu từ phương diện thấp nhất và mở rộng các ý tưởng của họ để bao gồm điều cao nhất có thể. Chúng có thể được nhóm lại và liệt kê như sau:

1. The outer response apparatus, acting under impulses received from the outer environment and the inner subjective realms. These come, according to the esoteric theories, via

1. Bộ máy đáp ứng bên ngoài, hoạt động dưới những xung lực nhận được từ môi trường bên ngoài và các cõi chủ quan bên trong. Theo các lý thuyết huyền bí học, những xung lực này đến qua

a. The brain, from whence certain aspects of the nervous system are directed and controlled, first by mental influence and then by conscious soul direction.

a. Bộ não, từ đó một số phương diện của hệ thần kinh được định hướng và kiểm soát, trước tiên bởi ảnh hưởng trí tuệ rồi sau đó bởi sự chỉ đạo hữu thức của linh hồn.

b. The endocrine or glandular system, acting under impulses entering the physical body via the seven centres in the etheric body; of these centres, the glandular system is simply the externalisation, or physical counterpart. The glands condition the man through the blood stream, being in their turn conditioned by the centres.

b. Hệ nội tiết hay hệ tuyến, hoạt động dưới những xung lực đi vào thể xác qua bảy trung tâm trong thể dĩ thái; hệ tuyến này chỉ đơn giản là sự ngoại hiện, hay đối phần hồng trần, của các trung tâm ấy. Các tuyến tác động lên con người qua dòng máu, trong khi đến lượt chúng lại bị các trung tâm tác động.

c. The solar plexus, directing and controlling certain aspects of the nervous system, and which is in large part the instinctual or animal brain.

c. Tùng thái dương, định hướng và kiểm soát một số phương diện của hệ thần kinh, và phần lớn là bộ não bản năng hay bộ não thú tính.

d. The heart, the centre of life.

d. Tim, trung tâm của sự sống.

2. The vital or etheric body. This is the major energising factor and is an exact replica or counterpart of the outer form, being the true intermediary between the inner worlds and the outer man. The nadis (lines or threads of force) underlie every nerve in the human body and the centres which they form at certain points of intersection or juncture are the background or motivating agency of every ganglion or plexus found in the human body. Certain of these centres, major and minor, are of unique evolutionary importance. These are as follows:

2. Thể sinh lực hay thể dĩ thái. Đây là yếu tố tiếp sinh lực chủ yếu và là một bản sao hay đối phần chính xác của hình tướng bên ngoài, là trung gian đích thực giữa các thế giới bên trong và con người bên ngoài. Các nadis (những đường hay sợi dây mãnh lực) nằm bên dưới mọi dây thần kinh trong cơ thể con người, và các trung tâm mà chúng tạo thành tại một số điểm giao nhau hay tiếp giáp là nền tảng hay tác nhân thúc đẩy của mọi hạch hay đám rối được tìm thấy trong cơ thể con người. Một số trung tâm này, lớn và nhỏ, có tầm quan trọng tiến hoá độc đáo. Chúng như sau:

[435]

[435]

a. The head centre is the seat of soul energy, or the centre through which the conscious, spiritual man functions.

a. Trung tâm đầu là chỗ ngự của năng lượng linh hồn, hay trung tâm qua đó con người tinh thần hữu thức hoạt động.

b. The heart centre is the seat of life, of the highest principle which expresses itself through man.

b. Trung tâm tim là chỗ ngự của sự sống, của nguyên khí cao nhất biểu lộ qua con người.

c. The solar plexus centre is the seat of the instinctual life, of the animal soul, and of the highly developed emotional nature.

c. Trung tâm tùng thái dương là chỗ ngự của đời sống bản năng, của hồn thú, và của bản chất cảm xúc phát triển cao.

d. The centre at the base of the spine is the major integrating centre and comes into functioning activity when two major fusions have been effected: that of the fusions of the three bodies into one coordinated personality, and when soul and body are at-oned.

d. Trung tâm ở đáy cột sống là trung tâm tích hợp chủ yếu và đi vào hoạt động hữu hiệu khi hai sự dung hợp lớn đã được thực hiện: sự dung hợp của ba thể thành một phàm ngã phối hợp, và khi linh hồn và thể xác được hợp nhất.

3. The emotional or sentient body, which is often called the astral body. From this vehicle emanate the desires, impulses, aspirations and those conflicts of duality which so oft afflict and hinder the disciple. It is the seat also of the creative, imaginative life of man. It also possesses centres of force which are counterparts of those to be found in the etheric body, but for the majority of people it is energised mainly from the world of illusion and from the astral plane. It is from this plane of illusory awareness, that the advanced man has to learn to withdraw himself.

3. Thể cảm xúc hay thể cảm nhận, thường được gọi là thể cảm dục. Từ hiện thể này phát ra những ham muốn, xung lực, khát vọng và những xung đột của nhị nguyên tính thường xuyên làm khổ và cản trở đệ tử. Nó cũng là chỗ ngự của đời sống sáng tạo đầy tưởng tượng của con người. Nó cũng sở hữu những trung tâm mãnh lực là các đối phần của những trung tâm được tìm thấy trong thể dĩ thái, nhưng đối với đa số người, nó chủ yếu được tiếp năng lượng từ Thế Giới Đang Trở Thành và từ cõi cảm dục. Chính từ cõi nhận biết đầy ảo tưởng này mà con người tiến bộ phải học cách rút mình ra.

4. The mind nature, which works through four centres and only four.

4. Bản chất trí tuệ, hoạt động qua bốn trung tâm và chỉ bốn trung tâm mà thôi.

5. The soul itself, or the true spiritual man, the self in manifestation, working through or seeking to work through, its phenomenal appearance, the fourfold lower man.

5. Bản thân linh hồn, hay con người tinh thần chân thực, bản ngã đang biểu hiện, hoạt động qua, hay tìm cách hoạt động qua, sắc tướng hiện tượng của nó, con người thấp tứ phân.

If the above is carefully studied, it will become apparent that the cleavages which exist in man are cleavages in certain inherent or basic relations:

Nếu điều trên được nghiên cứu cẩn thận, sẽ trở nên rõ ràng rằng những sự phân cách tồn tại trong con người là những sự phân cách trong một số mối liên hệ cố hữu hay căn bản:

[436]

[436]

1. Found within the man himself, in one or other of these various focal points of realization or awareness:

1. Được tìm thấy bên trong chính con người, tại một hay một số điểm hội tụ khác nhau của sự chứng nghiệm hay nhận biết này:

a. Unrecognised by the man himself or by those around him. When this is the case, the man is unevolved and the cleavages or gaps in his consciousness do no real harm relatively, either to himself or to those in his environment. They simply indicate lack of development.

a. Không được chính con người hay những người quanh y nhận ra. Khi trường hợp là như vậy, con người ấy chưa tiến hoá và những sự phân cách hay khoảng trống trong tâm thức của y tương đối không gây hại thực sự nào, cho chính y hay cho những người trong môi trường của y. Chúng chỉ đơn giản cho thấy sự thiếu phát triển.

b. When recognised, they produce distress and difficulty and the man becomes in need of sound psychological help. Correct information along the lines here laid down can be given in those cases where the intellectual type is involved; the psychologist is then dealing with people who should be able and willing to help themselves.

b. Khi được nhận ra, chúng tạo ra khổ sở và khó khăn, và con người trở nên cần đến sự trợ giúp tâm lý lành mạnh. Thông tin đúng đắn theo những đường lối được nêu ra ở đây có thể được cung cấp trong những trường hợp liên quan đến loại người trí tuệ; khi đó nhà tâm lý học đang xử lý những người lẽ ra phải có khả năng và sẵn lòng tự giúp mình.

c. When the man has effected the necessary bridging and unification, he then becomes a unified personality. Then the mystic can emerge. This means that he has achieved the point wherein the higher bridging between the integrated personality and the soul becomes possible. Finally, a Master of the Wisdom, Who is an exponent of the Christ consciousness, in its unifying, salvaging and constructive aspects, appears.

c. Khi con người đã thực hiện được sự bắt cầu và hợp nhất cần thiết, khi đó y trở thành một phàm ngã hợp nhất. Khi ấy nhà thần bí có thể xuất hiện. Điều này có nghĩa là y đã đạt đến điểm mà tại đó sự bắt cầu cao hơn giữa phàm ngã tích hợp và linh hồn trở nên khả hữu. Cuối cùng, một Chân sư Minh triết, Đấng là hiện thân của tâm thức Christ trong các phương diện hợp nhất, cứu độ và xây dựng của nó, xuất hiện.

The at-oning of the higher and the lower nature will produce results which will be determined in their field of expression by a man’s ray. These ray conditions will result in a man’s finding his right field of usefulness and right expression in the political, religious, or scientific fields, and in other modes of divine manifestation.

Sự hợp nhất của bản chất cao và thấp sẽ tạo ra những kết quả mà lĩnh vực biểu lộ của chúng được quyết định bởi cung của một người. Những điều kiện cung này sẽ dẫn đến việc một người tìm ra lĩnh vực hữu dụng đúng đắn và sự biểu lộ đúng đắn của mình trong các lĩnh vực chính trị, tôn giáo, hay khoa học, và trong những phương thức biểu hiện thiêng liêng khác.

2. Found between a man and his environment.. The effect of this may mean that he is an anti-social human being, or unpopular, full of fear of life, or expressing, in many [437] other forms, his inability to tune in on his surroundings. Lack of understanding, of right relationship, and inability correctly to blend the inner and the outer forms of the life structure, will be evidenced. The cause of the cleavage in this case is usually found somewhere within the astral body itself.

2. Được tìm thấy giữa một người và môi trường của y.. Hiệu quả của điều này có thể có nghĩa rằng y là một con người phản xã hội, hay không được ưa thích, đầy sợ hãi trước cuộc sống, hay biểu lộ, dưới nhiều [437] hình thức khác, sự bất lực của y trong việc hòa điệu với hoàn cảnh xung quanh. Sự thiếu thấu hiểu, thiếu mối liên hệ đúng đắn, và bất lực trong việc dung hợp đúng cách các hình thức bên trong và bên ngoài của cấu trúc đời sống sẽ được biểu lộ. Nguyên nhân của sự phân cách trong trường hợp này thường được tìm thấy ở đâu đó ngay trong thể cảm dục.

3. Found between a man and his life task, or the life activity to which fate ordains him and pre-disposition inclines him. The difficulty here lies in a definite break or failure of continuity between the mind nature, determining purpose, and the astral nature, governing impulse.

3. Được tìm thấy giữa một người và nhiệm vụ đời mình, hay hoạt động sống mà số phận chỉ định cho y và thiên hướng khiến y nghiêng về. Khó khăn ở đây nằm trong một sự đứt đoạn hay thất bại rõ rệt của tính liên tục giữa bản chất trí tuệ, vốn quyết định mục đích, và bản chất cảm dục, vốn chi phối xung lực.

4. Found between a man and his overshadowing (and slowly domination) soul. This leads to much realised unhappiness, dire conflict, and the eventual and symbolic “death of the personality.”

4. Được tìm thấy giữa một người và linh hồn đang phủ bóng (và chậm chạp chi phối) y. Điều này dẫn đến nhiều bất hạnh được cảm nhận, xung đột dữ dội, và “cái chết của phàm ngã” mang tính biểu tượng cuối cùng.

Here again I would like to pause and to point out that the concepts of death, of substitution, of the vicarious at-one-ment and of sacrifice, will—in the New Age—be superseded by the concepts of resurrection or of livingness, of spiritual unity, of transference and of service, so that a new note will enter into human life, bringing hope and joy and power and freedom.

Ở đây một lần nữa tôi muốn dừng lại và chỉ ra rằng các khái niệm về cái chết, về sự thay thế, về sự hợp nhất thay thế và về sự hy sinh sẽ—trong Kỷ Nguyên Mới—được thay thế bằng các khái niệm về phục sinh hay tính sống động, về hợp nhất tinh thần, về sự chuyển dịch và về phụng sự, để một chủ âm mới sẽ đi vào đời sống nhân loại, mang theo hy vọng, hoan hỉ, quyền năng và tự do.

b. PROBLEMS OF INTEGRATION—b. CÁC VẤN ĐỀ CỦA SỰ TÍCH HỢP

One of the first things which happens when a man has succeeded (alone or with academic psychological aid) in healing or bridging certain cleavages is the recognition of an immediate sense of well-being and of demand for expression. This in its turn, brings its own problems among which are these:

Một trong những điều đầu tiên xảy ra khi một người đã thành công (một mình hay với sự trợ giúp tâm lý học hàn lâm) trong việc chữa lành hay bắt cầu một số phân cách là sự nhận ra ngay tức thì một cảm giác an ổn và một đòi hỏi được biểu lộ. Điều này đến lượt nó lại mang theo những vấn đề riêng, trong đó có những điều sau:

A sense of power, which makes the man, temporarily at least, selfish, dominant, sure of himself and full of arrogance. He is aware of himself as facing a larger [438] world, a wider horizon, and greater opportunities. This larger sense can bring, therefore, serious troubles and difficulties. This type of person, under the influence of this extension of consciousness, is often beautifully motivated and actuated by the highest intentions, but only succeeds in producing inharmony in his surroundings. These tendencies, when allowed to rule unchecked, can lead eventually to a serious state of egomania, for egomania is outstandingly a problem of integration. All these difficulties can be obviated and offset if the man can be brought to realise himself as an integral part of a much greater whole. His sense of values will then be adjusted and his sense of power rightly oriented.

Một cảm giác quyền năng , khiến con người ấy, ít nhất là tạm thời, trở nên ích kỷ, thích chi phối, tự tin và đầy kiêu ngạo. Y ý thức mình như đang đối diện với một thế giới [438] rộng lớn hơn, một chân trời bao la hơn, và những cơ hội lớn lao hơn. Do đó cảm nhận rộng lớn hơn này có thể mang lại những rắc rối và khó khăn nghiêm trọng. Loại người này, dưới ảnh hưởng của sự mở rộng tâm thức ấy, thường được thúc đẩy một cách rất đẹp đẽ và được vận hành bởi những ý định cao cả nhất, nhưng chỉ thành công trong việc tạo ra bất hòa trong môi trường xung quanh. Những khuynh hướng này, khi được để mặc cai quản mà không bị kiểm soát, cuối cùng có thể dẫn đến một trạng thái cuồng ngã nghiêm trọng, vì cuồng ngã nổi bật là một vấn đề của sự tích hợp. Tất cả những khó khăn này có thể được ngăn ngừa và hóa giải nếu con người ấy có thể được đưa đến chỗ nhận ra mình là một phần không thể tách rời của một toàn thể lớn lao hơn nhiều. Khi đó cảm nhận về các giá trị của y sẽ được điều chỉnh và cảm nhận quyền năng của y sẽ được định hướng đúng đắn.

A tendency to over-emphasis may also show itself, turning the man (as a result of integration and a sense of well-being or power and capacity) into a fanatic, at any rate for a time. Again with the best motives in the world, he seeks to drive everyone the way that he has come, failing to recognise the differences in background, ray type, point in evolution, and tradition and heredity. He becomes a source of distress to himself and to his friends. A little learning can be a dangerous thing, and the cure for many ills, particularly of a psychological nature, is the recognition of this. Progress can then be made on the Path of Wisdom.

Một khuynh hướng nhấn mạnh quá mức cũng có thể biểu lộ, biến con người ấy (do kết quả của sự tích hợp và cảm giác an ổn hay quyền năng và năng lực) thành một kẻ cuồng tín, ít nhất là trong một thời gian. Một lần nữa, với những động cơ tốt đẹp nhất trên đời, y tìm cách thúc ép mọi người đi theo con đường mà y đã đi, không nhận ra những khác biệt về bối cảnh, loại cung, điểm tiến hoá, truyền thống và di truyền. Y trở thành nguồn khổ sở cho chính mình và cho bạn bè mình. Một ít hiểu biết có thể là điều nguy hiểm, và phương thuốc cho nhiều tệ hại, đặc biệt thuộc bản chất tâm lý, là sự nhận ra điều này. Khi đó sự tiến bộ có thể được thực hiện trên Con Đường Minh triết.

The over-development of the sense of direction or of vocation, if you like to call it so, though the two are not identical, for the sense of direction is less definite than the recognition of vocation. In the schools of esoteric psychology, a phrase is sometimes used in connection with this sense of direction or inner guidance which runs as follows: “the bridging of the gaps induces a man continuously to run across the bridge.” Certain aspects [439] of the man are now consciously recognised, and the higher of these constantly attracts him. When, for instance, the gap between the astral or emotional body and the mind has been bridged, and the man discovers the vast field of mental activity which has opened up before him, he may for a long time become materialistically intellectual and will tune out as far as he can all emotional reactions and psychic sensitivity, glamouring himself with the belief that they are, for him, non-existent. He will then work intensively on mental levels. This will prove only a passing matter from the point of vision of the soul (e’en if it last an entire incarnation or several incarnations); but it can cause definite psychological problems, and create in the man’s perception of life, “blind spots.” However, much trouble is cured by leaving people alone, provided the abnormality is not too excessive.

Sự phát triển quá mức của cảm nhận định hướng hay thiên chức , nếu bạn thích gọi như vậy, dù hai điều này không đồng nhất, vì cảm nhận định hướng ít xác định hơn sự nhận biết thiên chức. Trong các trường phái Tâm Lý Học Nội Môn, đôi khi có một cụm từ được dùng liên hệ với cảm nhận định hướng hay sự hướng dẫn bên trong này như sau: “sự bắt cầu các khoảng trống khiến một người liên tục chạy qua cây cầu.” Một số phương diện [439] của con người nay được nhận ra một cách hữu thức, và phương diện cao hơn trong số đó liên tục thu hút y. Chẳng hạn, khi khoảng trống giữa thể cảm dục hay cảm xúc và trí tuệ đã được bắt cầu, và con người khám phá ra cánh đồng rộng lớn của hoạt động trí tuệ mở ra trước mặt mình, y có thể trong một thời gian dài trở nên trí thức duy vật và sẽ loại bỏ, trong mức có thể, mọi phản ứng cảm xúc và sự nhạy cảm thông linh, tự tạo ảo cảm cho mình bằng niềm tin rằng đối với y, chúng không hiện hữu. Khi đó y sẽ làm việc mãnh liệt trên các cấp độ trí tuệ. Điều này sẽ chỉ là một vấn đề thoáng qua từ quan điểm tầm nhìn của linh hồn (dù nó kéo dài trọn một kiếp nhập thể hay nhiều kiếp nhập thể); nhưng nó có thể gây ra những vấn đề tâm lý rõ rệt, và tạo ra trong nhận thức của con người về cuộc sống những “điểm mù.” Tuy nhiên, nhiều rắc rối được chữa lành bằng cách để mặc người ta yên, miễn là sự bất thường không quá mức.

Once the fact of the soul is admitted, we shall see an increasing tendency to leave people to the directing purpose and guidance of their own souls, provided that they understand what is happening to them and can discriminate between:

Một khi sự kiện về linh hồn được thừa nhận, chúng ta sẽ thấy một khuynh hướng ngày càng tăng là để mặc người ta cho mục đích chỉ đạo và sự hướng dẫn của chính linh hồn họ, miễn là họ hiểu điều gì đang xảy ra với mình và có thể phân biện giữa:

a. The upward surging of the subconscious self into the lighted area of consciousness,

a. Sự dâng lên của phàm ngã tiềm thức vào vùng sáng của tâm thức,

b. The play and force and recognitions of the immediately conscious self.

b. Sự vận hành, mãnh lực và những nhận biết của phàm ngã trực tiếp hữu thức.

c. The downflow of the superconscious self, the soul, carrying inspiration, higher knowledges and intuitions.

c. Sự tuôn xuống của phàm ngã siêu thức, linh hồn, mang theo cảm hứng, tri thức cao hơn và trực giác.

These words—subconscious, conscious and super-conscious—need definition, for the purpose of this treatise; they [440] are bandied about so freely and mean different things according to the school of psychological thought to which the student belongs.

Những từ này—tiềm thức, hữu thức và siêu thức—cần được định nghĩa cho mục đích của bộ luận này; chúng [440] được tung ra quá tự do và mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo trường phái tư tưởng tâm lý mà đạo sinh thuộc về.

I use the term subconscious to signify the entire instinctual life of the form nature, all the inherited tendencies and innate predispositions, all the acquired and accumulated characteristics (acquired in past incarnations and frequently lying dormant unless suddenly evoked by stress of circumstance) and all the unformulated wishes and urges which drive a man into activity, plus the suppressed and unrecognised desires, and the unexpressed ideas which are present, though unrealised. The subconscious nature is like a deep pool from which a man can draw almost anything from his past experience, if he so desires, and which can be stirred up until it becomes a boiling cauldron, causing much distress.

Tôi dùng từ tiềm thức để chỉ toàn bộ đời sống bản năng của bản chất hình tướng, mọi khuynh hướng di truyền và thiên hướng bẩm sinh, mọi đặc tính đã thủ đắc và tích lũy (được thủ đắc trong các kiếp nhập thể quá khứ và thường nằm im trừ khi đột nhiên bị khơi dậy bởi áp lực hoàn cảnh) và mọi ước muốn cùng thôi thúc chưa được định hình thúc đẩy con người vào hoạt động, cộng với những ham muốn bị dồn nén và không được nhận ra, và những ý tưởng không được biểu lộ nhưng vẫn hiện diện dù chưa được chứng nghiệm. Bản chất tiềm thức giống như một hồ sâu mà từ đó con người có thể rút ra hầu như bất cứ điều gì từ kinh nghiệm quá khứ của mình, nếu y muốn, và có thể bị khuấy động cho đến khi trở thành một vạc nước sôi, gây nên nhiều khổ sở.

The conscious is limited to that which the man knows himself to be and have in the present—the category of qualities, characteristics, powers, tendencies and knowledges of all kinds which constitute a mans stock in trade and of which he is definitely aware or of which the psychologist is aware. These are displayed in his window for all to see, and they make him what he apparently is to the outer onlooking world.

Cái hữu thức bị giới hạn vào điều mà con người biết mình là và có trong hiện tại—phạm trù các phẩm tính, đặc tính, quyền năng, khuynh hướng và tri thức đủ loại cấu thành vốn liếng hành nghề của một người và điều mà y nhận biết rõ rệt hoặc nhà tâm lý học nhận biết rõ rệt. Những điều này được trưng bày trong cửa sổ của y cho mọi người thấy, và chúng làm cho y trở thành điều mà y dường như là đối với thế giới bên ngoài đang quan sát.

By the super-conscious, I mean those potencies and knowledges which are available but which are as yet uncontacted and unrecognised and, therefore, of no immediate use. These are the wisdom, love and abstract idealism which are inherent in the nature of the soul but which are not yet, and never have been a part of the equipment available for use. Eventually, all these powers will be recognised and used by the man. These potencies and realisations are called in The Yoga Sutras of Patanjali by the interesting name of “the raincloud of knowable things.” These “knowable things” will eventually [441] drop into the conscious aspect of a man’s nature and become an integral part of his intellectual equipment. Finally, as evolution proceeds and the ages pass away, they will drop into the subconscious aspect of his nature, as his power to grasp the super-conscious grows in capacity. I might make this point clearer to you if I pointed out that just as the instinctual nature is today found largely in the realm of the subconscious, so in due time, the intellectual part of man (of which he is at this time becoming increasingly aware) will be relegated to a similar position and will drop below the threshold of consciousness. The intuition will then take its place. For most people, the free use of the intuition is not possible, because it lies in the realm of the super-conscious.

Bởi siêu thức, tôi muốn nói đến những tiềm năng và tri thức sẵn có nhưng cho đến nay chưa được tiếp xúc và chưa được nhận ra, và do đó không có ích lợi tức thời. Đó là minh triết, bác ái và lý tưởng trừu tượng vốn cố hữu trong bản chất của linh hồn nhưng chưa phải, và chưa bao giờ là, một phần của khí cụ sẵn có để sử dụng. Cuối cùng, tất cả những quyền năng này sẽ được con người nhận ra và sử dụng. Những tiềm năng và chứng nghiệm này được gọi trong Kinh Yoga của Patanjali bằng cái tên thú vị là “đám mây mưa của những điều khả tri.” Những “điều khả tri” này cuối cùng sẽ [441] rơi vào phương diện hữu thức của bản chất con người và trở thành một phần không thể tách rời của khí cụ trí tuệ của y. Sau cùng, khi tiến hoá tiếp diễn và các thời đại trôi qua, chúng sẽ rơi vào phương diện tiềm thức của bản chất y, khi quyền năng nắm bắt siêu thức của y tăng trưởng về năng lực. Tôi có thể làm rõ điểm này hơn cho các bạn nếu tôi chỉ ra rằng cũng như bản chất bản năng ngày nay phần lớn được tìm thấy trong lĩnh vực tiềm thức, thì đến đúng lúc, phần trí tuệ của con người (mà hiện nay y đang ngày càng nhận biết hơn) sẽ bị đẩy xuống một vị trí tương tự và sẽ rơi xuống dưới ngưỡng của tâm thức. Khi đó trực giác sẽ thay thế vị trí của nó. Đối với đa số người, việc sử dụng trực giác một cách tự do là không thể, vì nó nằm trong lĩnh vực siêu thức.

All these movements within the realm of consciousness,—from the subconscious to the immediately conscious and from thence to the super-conscious—are essentially crises of integration, producing temporary situations which must be handled. I would like here to point out that when an individual becomes aware of the higher aspect of himself which is demanding integration and is conscious of its nature and of the part which it could play in his life expression, he frequently becomes afflicted with an inferiority complex. This is the reaction of the lower, integrated aspects to the higher one. He experiences a sense of futility; the comparison which he makes within himself of the possible achievement and the point already attained leaves him with a sense of failure and of impotence. The reason for this is that the vision is at first too big, and he feels that he cannot make the grade. Humanity today has made so much progress upon the path of evolution that two groups of men are thus powerfully affected:

Tất cả những chuyển động này trong lĩnh vực tâm thức,—từ tiềm thức đến hữu thức trực tiếp và từ đó đến siêu thức—về bản chất đều là những cuộc khủng hoảng của sự tích hợp, tạo ra những tình huống tạm thời cần phải được xử lý. Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng khi một cá nhân trở nên nhận biết phương diện cao hơn của chính mình đang đòi hỏi được tích hợp và ý thức được bản chất của nó cùng vai trò mà nó có thể đóng trong sự biểu lộ đời sống của mình, thì y thường bị mặc cảm tự ti. Đây là phản ứng của các phương diện thấp đã tích hợp đối với phương diện cao hơn. Y trải qua một cảm giác vô ích; sự so sánh mà y thực hiện trong chính mình giữa thành tựu có thể đạt được và điểm đã đạt tới khiến y có cảm giác thất bại và bất lực. Lý do là vì lúc đầu linh ảnh quá lớn, và y cảm thấy mình không thể đạt chuẩn. Nhân loại ngày nay đã tiến bộ rất nhiều trên đường tiến hoá đến mức có hai nhóm người bị tác động mạnh mẽ như vậy:

1. The group which has recognised the need for bridging the cleavage between the emotional nature and the mind [442] and has thus, through their integration, reached the level of intelligence.

1. Nhóm đã nhận ra nhu cầu bắt cầu sự phân cách giữa bản chất cảm xúc và trí tuệ [442] và nhờ đó, qua sự tích hợp của họ, đã đạt đến cấp độ trí tuệ.

2. The group that has already bridged this cleavage and is now aware of a major task which is the bridging of the gap between the personality and the soul.

2. Nhóm đã bắt cầu sự phân cách này rồi và nay ý thức được một nhiệm vụ lớn lao là bắt cầu khoảng trống giữa phàm ngã và linh hồn.

These groups include a very large number of people at this time; the sense of inferiority is very great and causes many types of difficulty. If, however, the cause is more intelligently approached and handled, it will be found that the growth of a truer perspective will be rapid.

Hai nhóm này hiện nay bao gồm một số lượng rất lớn người; cảm giác tự ti là rất lớn và gây ra nhiều loại khó khăn. Tuy nhiên, nếu nguyên nhân được tiếp cận và xử lý một cách thông minh hơn, người ta sẽ thấy rằng sự tăng trưởng của một viễn cảnh chân thực hơn sẽ diễn ra nhanh chóng.

Another real difficulty in the field of achieved integration is to be found in the case of those who have integrated the entire lower nature and have fused the energies of the personality. All the energies involved in this fusion have quality, and the combination and interplay of these qualities (each determined by some particular ray energy) constitute the character of the person. For a long while after integration has been reached there will frequently be much conflict, strictly within the realm of character and within the Man’s immediate consciousness. First one energy and then another will assert itself and battle for the supremacy. It might be of value here if I posited a hypothetical case, giving you the governing ray energies and reminding you that their fusion is the objective. In the case in point the subject has fused the personality vehicles into one functioning whole and is definitely a personality, but the major fusion of soul and personality has not been made.

Một khó khăn thực sự khác trong lĩnh vực sự tích hợp đã đạt được được thấy nơi trường hợp những người đã tích hợp toàn bộ bản chất thấp và đã dung hợp các năng lượng của phàm ngã. Mọi năng lượng dự phần trong sự dung hợp này đều có phẩm tính, và sự kết hợp cùng tương tác của các phẩm tính ấy (mỗi phẩm tính được quyết định bởi một năng lượng cung đặc thù nào đó) cấu thành tính cách của con người. Trong một thời gian dài sau khi sự tích hợp đã đạt được, thường sẽ có nhiều xung đột, hoàn toàn ở trong phạm vi tính cách và trong tâm thức trực tiếp của con người. Trước hết năng lượng này rồi đến năng lượng khác sẽ tự khẳng định và tranh đấu để giành quyền tối thượng. Ở đây sẽ có ích nếu tôi nêu ra một trường hợp giả định, đưa ra cho các bạn các năng lượng cung chi phối và nhắc các bạn rằng sự dung hợp của chúng là mục tiêu. Trong trường hợp đang xét, chủ thể đã dung hợp các vận cụ phàm ngã thành một toàn thể hoạt động thống nhất và rõ ràng là một phàm ngã, nhưng sự dung hợp chủ yếu giữa linh hồn và phàm ngã vẫn chưa được thực hiện.

Major energies

Năng lượng Chính yếu

Egoic energy

Ray 1. The energy of will or power.

Năng lượng chân ngã

Cung 1. Năng lượng của ý chí hay quyền năng.

Personality energy

Ray 4. The energy of harmony through conflict.

Năng lượng phàm ngã

Cung 4. Năng lượng của hài hòa qua xung đột.

Minor Energies

Năng lượng phụ

[443]

Mental energy

Ray 3. The energy of intelligence.

Năng lượng trí tuệ

Cung 3. Năng lượng của trí năng.

Astral energy

Ray 6. The energy of devotion Idealism.

Năng lượng cảm dục

Cung 6. Năng lượng của hiến dâng Chủ nghĩa lý tưởng.

Physical energy

Ray 1. The energy of will or power.

Năng lượng thể xác

Cung 1. Năng lượng của ý chí hay quyền năng.

Here we have a fivefold field of energy in which all factors are active except the energy of the ego or soul. They have been definitely fused. There is at the same time a growing awareness of the need for a still higher or more inclusive fusion and the establishing of a definite relation with the soul. The process has been as follows: First, the man was simply an animal, aware only of physical energy. Then he began to include within his field of awareness the emotional nature, with its desires, demands and sensitive reactions. Next, he discovered himself as a mind, and mental energy proceeded to complicate his problem. Finally, he arrived at the life expression we are hypothetically considering in which he has (and this is the point of real interest).

Ở đây chúng ta có một trường năng lượng ngũ phân trong đó mọi yếu tố đều hoạt động ngoại trừ năng lượng của chân ngã hay linh hồn. Chúng đã được dung hợp một cách rõ rệt. Đồng thời cũng có một sự nhận biết ngày càng tăng về nhu cầu đối với một sự dung hợp còn cao hơn hoặc bao gồm hơn nữa và về việc thiết lập một mối liên hệ xác định với linh hồn. Tiến trình đã diễn ra như sau: Trước hết, con người chỉ đơn thuần là một động vật, chỉ nhận biết năng lượng thể xác. Rồi y bắt đầu bao gồm trong trường nhận biết của mình bản chất cảm xúc, với những ham muốn, đòi hỏi và phản ứng nhạy cảm của nó. Kế đó, y khám phá ra mình như là một trí tuệ, và năng lượng trí tuệ bắt đầu làm cho vấn đề của y thêm phức tạp. Sau cùng, y đạt đến biểu hiện sự sống mà chúng ta đang giả định xem xét, trong đó y có (và đây là điểm thật sự đáng quan tâm).

a. A first ray physical body, with a brain dominated and controlled by a third ray mind. This means capacity for intellectual achievement of a very varied kind.

a. Một thể xác cung một, với bộ não bị chi phối và kiểm soát bởi một trí tuệ cung ba. Điều này có nghĩa là khả năng đạt thành tựu trí năng thuộc nhiều loại rất đa dạng.

b. An emotional nature which, being governed by sixth ray energy, can be rapidly swung into fanatical orientations and is easily idealistic.

b. Một bản chất cảm xúc mà, vì được cai quản bởi năng lượng cung sáu, có thể nhanh chóng bị cuốn vào những định hướng cuồng tín và dễ trở nên duy tâm.

c. The whole problem is further complicated by the rapidly emerging fourth ray energies of the personality. This means that the personality goal is the achievement of harmony, unity and skill in living, through an intensity of conflict, waged within [444] the fourfold field of energy which constitutes the lower self.

c. Toàn bộ vấn đề còn thêm phức tạp bởi các năng lượng cung bốn của phàm ngã đang xuất hiện nhanh chóng. Điều này có nghĩa là mục tiêu của phàm ngã là đạt được sự hài hòa, hợp nhất và khéo léo trong đời sống, thông qua một cường độ xung đột được tiến hành bên trong [444] trường năng lượng tứ phân cấu thành phàm ngã thấp.

You will, therefore, have a man who is ambitious for power, but with right motive, because he is truly idealistic; who will fight intelligently to achieve it, but will fight fanatically to bring about these ends because his fourth ray personality and sixth ray astral body will force him to do so, and his first ray body and brain will enable him to put up a strong fight. At the same time, his first ray soul energy is seeking to dominate, and will eventually do so through the medium of third ray mental energy, influencing the first ray brain. The first result of soul influence will be an intensification of every thing in the personality. The trouble will be localised in the mental body or in the brain and can range all the way down from idee fixe and mental crystallisation to insanity (if the stimulation becomes unduly powerful or the heredity is not good.) He can express arrogant success in his chosen field of work, which will make him a dominant and unpleasant person, or he can express the fluidity of the third ray mind which will make him a scheming manipulator or a fighter for immense schemes which can never really materialise. In this analysis I have not considered the tendencies evoked in past lives and lying hidden in the subconscious, or his heredity and environment. I have simply sought to show one thing: that the conflict of energies within a man can produce serious situations. But most of them can be corrected through right understanding.

Do đó, các bạn sẽ có một con người đầy tham vọng quyền lực, nhưng với động cơ đúng đắn, vì y thật sự duy tâm; y sẽ chiến đấu một cách thông minh để đạt được điều đó, nhưng sẽ chiến đấu một cách cuồng tín để đem lại các mục tiêu ấy vì phàm ngã cung bốn và thể cảm dục cung sáu của y sẽ buộc y làm như vậy, còn thể xác và bộ não cung một của y sẽ giúp y có thể chiến đấu mạnh mẽ. Đồng thời, năng lượng linh hồn cung một của y đang tìm cách chi phối, và cuối cùng sẽ làm được điều đó thông qua trung gian của năng lượng trí tuệ cung ba, ảnh hưởng đến bộ não cung một. Kết quả đầu tiên của ảnh hưởng linh hồn sẽ là sự tăng cường mọi thứ trong phàm ngã. Rắc rối sẽ khu trú trong thể trí hoặc trong bộ não và có thể trải dài từ ý tưởng cố chấp và sự kết tinh trí tuệ cho đến chứng điên loạn (nếu sự kích thích trở nên quá mạnh hoặc di truyền không tốt). Y có thể biểu lộ một thành công kiêu ngạo trong lĩnh vực công việc mình đã chọn, điều này sẽ khiến y trở thành một người có tính áp đảo và khó chịu, hoặc y có thể biểu lộ tính linh động của trí tuệ cung ba, điều này sẽ khiến y trở thành một kẻ thao túng đầy mưu toan hoặc một chiến sĩ cho những kế hoạch to lớn không bao giờ thực sự có thể hiện hình. Trong phân tích này tôi chưa xét đến những khuynh hướng được khơi dậy trong các kiếp quá khứ và đang ẩn giấu trong tiềm thức, hoặc di truyền và môi trường của y. Tôi chỉ tìm cách chỉ ra một điều: rằng xung đột của các năng lượng bên trong một con người có thể tạo ra những tình huống nghiêm trọng. Nhưng phần lớn chúng có thể được sửa chữa nhờ sự thấu hiểu đúng đắn.

It will be apparent to you, therefore, that one of the first studies to be made in this new approach to the psychological field will be to discover:

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng một trong những nghiên cứu đầu tiên cần được thực hiện trong cách tiếp cận mới này đối với lĩnh vực tâm lý học sẽ là khám phá:

1. Which rays, major and minor, are conditioning and determining [445] the nature of the man, and evoking the quality of his daily life.

1. Những cung nào, chính yếu và phụ, đang tác động và quyết định [445] bản chất của con người, và khơi dậy phẩm tính của đời sống hằng ngày của y.

2. Which of these five energies is (at the time of the difficulty) the most dominant, and through which body or vehicle it is focussed.

2. Trong năm năng lượng này, năng lượng nào (vào lúc khó khăn xảy ra) là trội nhất, và nó được tập trung qua thể hay vận cụ nào.

3. Which of these ray energies is struggling against the imposed dominance, mentioned above. These can be either:

3. Năng lượng cung nào trong số này đang tranh đấu chống lại sự chi phối áp đặt đã nói ở trên. Chúng có thể là:

a. Varying aspects of the same energy within their own particular field.

a. Những phương diện khác nhau của cùng một năng lượng trong chính trường riêng biệt của chúng.

b. Higher energies which are endeavouring to control the lower energies and therefore indicating a cleavage in the man’s nature.

b. Những năng lượng cao hơn đang nỗ lực kiểm soát các năng lượng thấp hơn và vì thế cho thấy một sự phân ly trong bản chất của con người.

c. The energy of the fusion process itself, which unifies the lower energies into one functioning personality.

c. Chính năng lượng của tiến trình dung hợp, năng lượng hợp nhất các năng lượng thấp thành một phàm ngã hoạt động.

d. The adjustment of the bridging process between the two major energies. This will result in the at-one-ment of soul and of the personality.

d. Sự điều chỉnh của tiến trình bắt cầu giữa hai năng lượng chính yếu. Điều này sẽ đưa đến sự hợp nhất của linh hồn và phàm ngã.

These constitute the larger areas of difficulty, and in each of these fields of conflicting energies there are lesser centres of conflict. These are frequently brought about by environing circumstances and events.

Những điều này cấu thành các lĩnh vực khó khăn lớn hơn, và trong mỗi lĩnh vực năng lượng xung đột này đều có những trung tâm xung đột nhỏ hơn. Chúng thường do các hoàn cảnh và biến cố chung quanh gây ra.

Given all these factors, and considering our hypothetical case as being that of a man with a highly intelligent nature and a good equipment for daily expression, how would the esoteric psychologist proceed? How would he deal with the man and what would he do? On what broad and general principles would he proceed? I can but briefly indicate some of them, reminding you that, in the case which we are considering, the subject is definitely cooperating with the psychologist and is interested in bringing about the right results. The answers to the following questions will be the goal of the psychologist’s effort:

Với tất cả các yếu tố ấy, và xét trường hợp giả định của chúng ta như là trường hợp của một người có bản chất rất thông minh và có trang bị tốt để biểu hiện trong đời sống hằng ngày, nhà tâm lý học huyền bí sẽ tiến hành như thế nào? Y sẽ đề cập đến con người ấy ra sao và sẽ làm gì? Y sẽ tiến hành theo những nguyên tắc rộng lớn và tổng quát nào? Tôi chỉ có thể nêu vắn tắt một vài nguyên tắc, đồng thời nhắc các bạn rằng, trong trường hợp chúng ta đang xét, chủ thể rõ ràng đang hợp tác với nhà tâm lý học và quan tâm đến việc đem lại các kết quả đúng đắn. Những câu trả lời cho các câu hỏi sau đây sẽ là mục tiêu của nỗ lực của nhà tâm lý học:

[446]

[446]

1. What are your reasons for wanting to be “straightened out”? This phrase, though an ordinary colloquialism, has deep significance, for it indicates the recognition of the need of alignment.

1. Những lý do nào khiến y muốn được “uốn nắn cho ngay thẳng”? Cụm từ này, tuy là một lối nói thông thường, lại có ý nghĩa sâu xa, vì nó cho thấy sự nhận ra nhu cầu về sự chỉnh hợp.

2. What brought this need to your attention and evoked in you the desire for a specific process of interior adjustment?

2. Điều gì đã đưa nhu cầu này đến sự chú ý của y và khơi dậy nơi y ước muốn về một tiến trình điều chỉnh nội tâm đặc thù?

3. Realising the nature of the inner constitution of man, in which vehicle is there the need for the bridging process? Where is the point of cleavage, and, therefore, the point of present crisis? Is this difficulty a major or a minor crisis?

3. Khi nhận ra bản chất của cấu tạo nội tại của con người, trong vận cụ nào có nhu cầu về tiến trình bắt cầu? Điểm phân ly ở đâu, và do đó, điểm khủng hoảng hiện tại ở đâu? Khó khăn này là một khủng hoảng lớn hay nhỏ?

4. What are the five ray energies conditioning the subject?

4. Năm năng lượng cung nào đang tác động lên chủ thể?

5. How far does the man’s life pattern, his life vocation and his innate coherent desires, coincide with the trend set by

5. Mô hình sự sống của con người, thiên chức đời sống của y và những ham muốn cố hữu có tính nhất quán của y trùng hợp đến mức nào với xu hướng được đặt ra bởi

a. The soul ray type of energy,

a. loại năng lượng cung linh hồn,

b. The personality ray type?

b. loại năng lượng cung phàm ngã?

With disciples much of the difficulty will be found to lie in this area of expression.

Với các đệ tử, phần lớn khó khăn sẽ được thấy là nằm trong lĩnh vực biểu hiện này.

6. In what period of the present life expression did the cleavage make its appearance? Or has an achieved integration brought about the difficult situation? Is this problem

6. Trong giai đoạn nào của biểu hiện sự sống hiện tại mà sự phân ly đã xuất hiện? Hay chính một sự tích hợp đã đạt được đã đem lại tình huống khó khăn này? Vấn đề này có phải là

a. One of cleavage, requiring a bridging process, and leading thus to a fusion of energies?

a. Một vấn đề phân ly, đòi hỏi một tiến trình bắt cầu, và do đó dẫn đến sự dung hợp các năng lượng?

b. One of integration, requiring right understanding of what has happened, and leading to right adjustment of the fused powers to environing conditions?

b. Một vấn đề tích hợp, đòi hỏi sự thấu hiểu đúng đắn về điều đã xảy ra, và dẫn đến sự điều chỉnh đúng đắn các mãnh lực đã được dung hợp với các điều kiện chung quanh?

7. Is the man at the point where he should be

7. Con người ấy có đang ở điểm mà y nên được

a. Integrated as a personality and, as a result, becoming more strictly human.

a. Tích hợp như một phàm ngã và, kết quả là, trở nên nhân loại hơn theo nghĩa chặt chẽ.

[447]

[447]

b. Developed as a mystic and taught to recognise the higher aspect and its relation to the lower, with a view to their unification.

b. Phát triển như một nhà thần bí và được dạy để nhận ra phương diện cao hơn và mối liên hệ của nó với phương diện thấp hơn, nhằm hướng đến sự hợp nhất của chúng.

c. Trained as an occultist and brought mentally to such a state of consciousness that the higher and the lower natures or aspects begin to function as one? This involves the blending of the forces of the personality and the energy of the soul, and fusing them into one divine expression of “the part within the whole.”

c. Huấn luyện như một nhà huyền bí học và được đưa về mặt trí tuệ đến một trạng thái tâm thức sao cho các bản chất hay phương diện cao và thấp bắt đầu hoạt động như một? Điều này bao hàm sự hòa trộn các mãnh lực của phàm ngã và năng lượng của linh hồn, rồi dung hợp chúng thành một biểu hiện thiêng liêng duy nhất của “phần bên trong toàn thể”.

8. What, in the last analysis, must be done to make “the lighted area” of the immediate consciousness of such a nature that the subconscious part of the man can be “lighted at will by the ray of the mind”, and the mind itself can become a search light, penetrating into the super-consciousness and thus revealing the nature of the soul? It is in fact the problem of the expansions of consciousness. A wide field of psychological investigation lies ahead in connection with the use of the mind as constituting the “path of light between the subconscious nature and the superconscious nature, and yet focussing both as a brilliant point of light within the conscious nature.”

8. Rốt cuộc, phải làm gì để khiến “vùng được soi sáng” của tâm thức trực tiếp có bản chất như thế sao cho phần tiềm thức của con người có thể được “soi sáng theo ý muốn bởi tia của trí tuệ”, và chính trí tuệ có thể trở thành một đèn pha, xuyên thấu vào siêu thức và nhờ đó mặc khải bản chất của linh hồn? Thật ra đây là vấn đề về những sự mở rộng tâm thức. Một lĩnh vực rộng lớn của sự khảo cứu tâm lý học đang ở phía trước liên quan đến việc sử dụng trí tuệ như cấu thành “con đường ánh sáng giữa bản chất tiềm thức và bản chất siêu thức, đồng thời tập trung cả hai như một điểm sáng rực rỡ bên trong bản chất hữu thức.”

To esotericists, this whole problem of the at-one-ment is closely connected with the building of the antaskarana. This name is given to the line of living energy which links the various human aspects and the soul, and it holds the clue to the occult truism that “before a man can tread the Path, he must become the path itself.” When the cleavages are all bridged, the various points of crisis have been surmounted and passed, and the required fusions (which are simply stages in process) have taken place, then unification or atone-ment occurs. New fields of energy then are entered, [448] recognised and mastered, and then again new areas of consciousness open up before the advancing pilgrim.

Đối với các nhà bí truyền học, toàn bộ vấn đề hợp nhất này gắn liền mật thiết với việc xây dựng antahkarana. Tên gọi này được đặt cho đường năng lượng sống nối kết các phương diện khác nhau của con người với linh hồn, và nó nắm giữ chìa khóa cho chân lý huyền bí rằng “trước khi một người có thể bước trên Con Đường, y phải tự mình trở thành chính con đường ấy.” Khi mọi sự phân ly đều đã được bắt cầu, các điểm khủng hoảng khác nhau đã được vượt qua và đi qua, và các sự dung hợp cần thiết (vốn chỉ là những giai đoạn trong tiến trình) đã diễn ra, thì sự hợp nhất xảy ra. Khi đó những trường năng lượng mới được đi vào, [448] được nhận biết và làm chủ, rồi lại những lĩnh vực tâm thức mới mở ra trước người hành hương đang tiến bước.

The great planetary achievement of Christ was expressed by St. Paul in the words that He made “in himself of twain one new man, so making peace.” (Ephesians II. 15)

Thành tựu hành tinh vĩ đại của Đức Christ đã được Thánh Paul diễn tả bằng những lời rằng Ngài đã làm cho “trong chính mình, từ hai thành một người mới, như thế tạo nên hòa bình.” (Ephesians II. 15)

In the two words “peace” and “good will” you have two keywords which express the bridging of two cleavages: One in the psychic nature of man, particularly that between the mind and the emotional vehicle which means the attainment of peace, and the other between the personality and the soul. This latter is the resolution of a basic “split”, and it is definitely brought about by the will-to-good. This bridges not only the major cleavage in individual man, but it is that which will bring about the great and imminent fusion between intelligent humanity and the great spiritual centre which we call the spiritual Hierarchy of the planet.

Trong hai từ “hòa bình” và “thiện chí”, các bạn có hai từ khóa diễn tả việc bắt cầu hai sự phân ly: một là trong bản chất thông linh của con người, đặc biệt là giữa trí tuệ và vận cụ cảm xúc, điều này có nghĩa là đạt được hòa bình, và sự kia là giữa phàm ngã và linh hồn. Sự sau này là sự giải quyết một “sự chia tách” căn bản, và rõ ràng được đem lại bởi Ý Chí-hướng Thiện. Điều này không những bắt cầu sự phân ly lớn trong cá nhân con người, mà còn là điều sẽ đem lại sự dung hợp lớn lao và sắp xảy ra giữa nhân loại thông minh và trung tâm tinh thần vĩ đại mà chúng ta gọi là Thánh đoàn tinh thần của hành tinh.

It has been the almost unconscious recognition of these cleavages and of the need for their fusion which has made marriage, and the consummating act of marriage, the great mystical symbol of the greater inner fusions.

Chính sự nhận biết gần như vô thức về các sự phân ly này và về nhu cầu dung hợp chúng đã khiến hôn nhân, và hành vi hoàn tất hôn nhân, trở thành biểu tượng thần bí lớn lao của các sự dung hợp nội tại lớn hơn.

May I remind you also that these cleavages are cleavages in consciousness or awareness and not in fact? Is that too difficult a matter for us to grasp? Let us ponder upon it.

Tôi cũng xin nhắc các bạn rằng những sự phân ly này là những sự phân ly trong tâm thức hay sự nhận biết chứ không phải trong thực tế. Điều đó có quá khó để chúng ta nắm bắt chăng? Chúng ta hãy suy ngẫm về điều ấy.

c. PROBLEMS OF STIMULATION—CÁC VẤN ĐỀ VỀ SỰ KÍCH THÍCH

We now come to what is the most interesting part of our psychological study, for we will take up and consider the results of stimulation.

Giờ đây chúng ta đi đến phần thú vị nhất trong nghiên cứu tâm lý học của mình, vì chúng ta sẽ đề cập đến và xem xét các kết quả của sự kích thích.

This theme is of outstanding interest at this time because of the mystical tendency and the spiritual urge which distinguishes humanity as a whole, and because of the definite results—some of them bad, many of them good—which the growing practice of meditation is bringing about in the world [449] of men. These results of mystical and spiritual aspiration and of applied occult or intellectual meditation (in contradistinction to the mystical approach) must be faced and understood or a great opportunity will be lost and certain undesirable developments will appear and need later to be offset.

Chủ đề này đặc biệt đáng quan tâm vào lúc này vì khuynh hướng thần bí và sự thúc đẩy tinh thần vốn phân biệt toàn thể nhân loại, và vì những kết quả rõ rệt—một số xấu, nhiều số tốt—mà việc thực hành tham thiền ngày càng gia tăng đang đem lại trong thế giới [449] của những người nam và nữ. Những kết quả của khát vọng thần bí và tinh thần này, cũng như của sự tham thiền huyền bí học hay trí năng được áp dụng (đối lập với cách tiếp cận thần bí), phải được đối diện và thấu hiểu, nếu không một cơ hội lớn sẽ bị mất đi và một số phát triển không mong muốn sẽ xuất hiện rồi sau đó cần phải được hóa giải.

It surprises you, does it not, when I speak of the mystical tendency of humanity? Yet never before has the aspiration of mankind been of so high and general an order. Never before have so many people forced themselves on to the Path of Discipleship. Never before have men set themselves to discover truth in such large numbers. Never before has the Approach to the Hierarchy been so definite and so real. This situation warrants certain reactions. Of what nature should these reactions be? How shall we meet and deal with the opportunity with which we are confronted? By the development of the following attitudes: By a determination to avail oneself of the tide which is forcing humanity to approach the world of spiritual realities in such a way that the results will be factual and proven; by a realisation that what men seek in their millions is worth seeking and is of a reality, hitherto unknown; by a recognition that now is the day of opportunity for all disciples, initiates and workers, for the tide is on and men can be influenced for good at this time but perhaps not later. There are not always times of crisis, for they are the exception, not the rule.

Điều đó làm các bạn ngạc nhiên, phải không, khi tôi nói về khuynh hướng thần bí của nhân loại? Tuy nhiên, chưa bao giờ khát vọng của nhân loại lại ở một mức cao và phổ quát đến thế. Chưa bao giờ có nhiều người tự thúc ép mình bước vào Con Đường Đệ Tử đến vậy. Chưa bao giờ con người dấn thân khám phá chân lý với số lượng đông đảo như thế. Chưa bao giờ Sự Tiếp Cận với Thánh đoàn lại rõ rệt và thực tế đến vậy. Tình hình này biện minh cho một số phản ứng nhất định. Những phản ứng ấy nên có bản chất gì? Chúng ta sẽ đón nhận và đề cập đến cơ hội đang đối diện mình như thế nào? Bằng cách phát triển các thái độ sau đây: bằng quyết tâm tận dụng làn sóng đang thúc đẩy nhân loại tiếp cận thế giới của các thực tại tinh thần theo cách sao cho các kết quả sẽ là thực tế và được chứng minh; bằng sự nhận ra rằng điều mà hàng triệu người tìm kiếm là điều đáng tìm kiếm và là một thực tại từ trước đến nay chưa được biết đến; bằng sự nhận biết rằng hiện nay là ngày cơ hội cho mọi đệ tử, điểm đạo đồ và người hoạt động, vì thủy triều đang lên và con người có thể được ảnh hưởng theo hướng thiện vào lúc này nhưng có lẽ không phải về sau. Không phải lúc nào cũng có những thời kỳ khủng hoảng, vì chúng là ngoại lệ chứ không phải quy luật.

This is, however, a time of unusual crisis. One point, nevertheless, seems impressed upon my mind, and I would like to emphasise it. In these times of crisis and consequent opportunity, it is essential that men should realise two things: first, that it is a time of stimulation, and also that it is a time of crisis for the Hierarchy as well as for men. This latter point is oft forgotten; the hierarchical crisis is of great importance, owing to its relative rarity. Human crises are frequent and—[450] from the time angle—of almost regular occurrence. But this is not the case where the Hierarchy is concerned. Also when a human crisis and a hierarchical crisis coincide and are simultaneous, there emerges an hour of dominant opportunity, and for the following reasons:

Tuy nhiên, đây là một thời kỳ khủng hoảng khác thường. Dẫu vậy, có một điểm dường như được in sâu trong trí tôi, và tôi muốn nhấn mạnh nó. Trong những thời kỳ khủng hoảng và cơ hội hệ quả này, điều thiết yếu là con người phải nhận ra hai điều: thứ nhất, đây là một thời kỳ kích thích, và cũng là một thời kỳ khủng hoảng đối với Thánh đoàn cũng như đối với con người. Điểm sau này thường bị quên lãng; cuộc khủng hoảng của Thánh đoàn có tầm quan trọng lớn lao, do tính hiếm hoi tương đối của nó. Các cuộc khủng hoảng của con người thì thường xuyên và— [450] xét theo góc độ thời gian—gần như xảy ra đều đặn. Nhưng đối với Thánh đoàn thì không phải vậy. Hơn nữa, khi một cuộc khủng hoảng của con người và một cuộc khủng hoảng của Thánh đoàn trùng hợp và đồng thời xảy ra, thì xuất hiện một giờ phút của cơ hội chi phối, vì những lý do sau đây:

1. The attention of the Great Ones is entirely focussed, owing to planetary affairs, in one particular direction. A synthesis of planned effort appears.

1. Sự chú ý của Các Đấng Cao Cả hoàn toàn được tập trung, do các sự vụ hành tinh, theo một hướng đặc biệt. Một sự tổng hợp của nỗ lực có kế hoạch xuất hiện.

2. These occasions are so rare that when they do occur, they indicate a solar, as well as a planetary, significance.

2. Những dịp như vậy hiếm đến mức khi chúng xảy ra, chúng cho thấy một ý nghĩa thuộc thái dương cũng như thuộc hành tinh.

3. Certain forces and powers, exterior to the government of the solar system, have been called into play, owing to the planetary emergency. This emergency is of such importance (from the angle of consciousness) that the solar Logos has seen fit to invoke external agencies to aid. And, They are aiding.

3. Một số mãnh lực và quyền năng ở bên ngoài sự cai quản của hệ mặt trời đã được gọi vào hoạt động do tình trạng khẩn cấp của hành tinh. Tình trạng khẩn cấp này quan trọng đến mức (xét từ góc độ tâm thức) Thái dương Thượng đế đã thấy thích đáng để khẩn cầu các tác nhân bên ngoài trợ giúp. Và, Các Ngài đang trợ giúp.

If you couple to these facts the reoriented and focussed attention of humanity upon what is called “modern idealism”, you have a most interesting moment or event—for these two words are synonymous.

Nếu các bạn kết hợp những sự kiện này với sự chú ý đã được tái định hướng và tập trung của nhân loại vào điều được gọi là “chủ nghĩa duy tâm hiện đại”, các bạn sẽ có một thời điểm hay biến cố hết sức thú vị—vì hai từ này là đồng nghĩa.

Men everywhere are aspiring towards freedom, towards mutual understanding, towards right group and personal conditions of living and of thinking, and towards right external and internal relationships. This is a fact generally recognised. Humanity is weary and tired of unwholesome ways of living, of the exploitation of the defenceless, of the growth of discontent, and of the centralisation of power in wrong and selfish hands. They are anxious for peace, right relations, the proper distribution of time and the understanding and right use of money. Such indications are unusual and of a deeply spiritual nature.

Con người ở khắp nơi đang khát vọng hướng tới tự do, hướng tới sự thấu hiểu lẫn nhau, hướng tới những điều kiện đúng đắn của đời sống và tư tưởng cả nhóm lẫn cá nhân, và hướng tới những mối liên hệ đúng đắn bên ngoài lẫn bên trong. Đây là một sự kiện được nhìn nhận rộng rãi. Nhân loại đã mệt mỏi và chán chường với những lối sống không lành mạnh, với sự bóc lột những người không tự vệ, với sự gia tăng bất mãn, và với sự tập trung quyền lực vào những bàn tay sai lầm và ích kỷ. Họ tha thiết mong hòa bình, những mối liên hệ đúng đắn, sự phân phối thời gian thích đáng, và sự thấu hiểu cùng sử dụng đúng đắn tiền bạc. Những dấu hiệu như thế là khác thường và có bản chất tinh thần sâu sắc.

What is the result of these developments in the world of [451] subjective spiritual government and in the world of human affairs?

Kết quả của những phát triển này trong thế giới của [451] sự cai quản tinh thần chủ quan và trong thế giới các công việc của con người là gì?

First of all and predominantly, the evocation of a joint Approach: one being the longing and the desire of the Hierarchy for the solution of the human problem and the adjustment of human misery, and also for a right emergence of spiritual government (the government of correct values) and the other being the determination of man to bring about right conditions and proper environing situations wherein human beings can develop, and wherein the true values also may register and be recognised. It is at this point that the Hierarchy and humanity are at-one. That many human beings are too undeveloped to record these aspirations correctly is nonessential. They are unconsciously working towards the same ends as is the Hierarchy.

Trước hết và chủ yếu là sự gợi lên một Sự Tiếp Cận chung: một bên là nỗi khát khao và ước muốn của Thánh đoàn đối với việc giải quyết vấn đề của con người và điều chỉnh nỗi khổ của nhân loại, đồng thời cũng đối với sự xuất hiện đúng đắn của sự cai quản tinh thần (sự cai quản của các giá trị đúng đắn), và bên kia là quyết tâm của con người nhằm đem lại những điều kiện đúng đắn và những hoàn cảnh chung quanh thích hợp trong đó con người có thể phát triển, và trong đó các giá trị chân thực cũng có thể được ghi nhận và được nhận biết. Chính tại điểm này mà Thánh đoàn và nhân loại là một. Việc nhiều người còn quá kém phát triển để ghi nhận đúng đắn những khát vọng này là điều không cốt yếu. Họ đang vô thức làm việc hướng tới cùng những mục tiêu như Thánh đoàn.

Where these two allied situations simultaneously exist, the result is necessarily a synchronous response, and this (equally necessarily) produces stimulation. The situation in relation to humanity as a whole is exactly the same as the situation in the life of an individual mystic. This must be carefully borne in mind, because the trend of human aspiration is mystical and not occult. Hence the world wide appositeness of what I am saying and its opportuneness.

Khi hai tình huống liên kết này đồng thời tồn tại, kết quả tất yếu là một sự đáp ứng đồng bộ, và điều này (cũng tất yếu như vậy) tạo ra sự kích thích. Tình huống liên quan đến toàn thể nhân loại hoàn toàn giống với tình huống trong đời sống của một nhà thần bí cá nhân. Điều này phải được ghi nhớ cẩn thận, vì xu hướng khát vọng của nhân loại là thần bí chứ không phải huyền bí học. Do đó, điều tôi đang nói có tính thích đáng trên toàn thế giới và rất đúng lúc.

I intend, however, to confine myself to the problems of the individual mystic and leave my readers to draw the necessary parallels.

Tuy nhiên, tôi dự định chỉ giới hạn mình vào các vấn đề của nhà thần bí cá nhân và để độc giả của tôi tự rút ra những sự song hành cần thiết.

It might be of value if, first of all, we defined the word stimulation, dealing with it from the occult standpoint and not just from the technical dictionary standpoint. Stimulation is the crux of our problem and we might as well face it and understand whereof we speak and what are the implications.

Trước hết, sẽ có ích nếu chúng ta định nghĩa từ kích thích, đề cập đến nó từ quan điểm huyền bí học chứ không chỉ từ quan điểm từ điển kỹ thuật. Sự kích thích là điểm cốt lõi của vấn đề chúng ta và chúng ta nên trực diện nó, hiểu rõ điều mình đang nói đến và những hàm ý của nó.

I have consistently emphasised the necessity for our recognition of the existence of energy. In occultism (or esotericism) [452] we use the word “energy” to connote the living activity of the spiritual realms, and of that spiritual entity, the soul. We use the word “force” to connote the activity of the form nature in the realms of the various kingdoms in nature. This is a point of dominant interest and of implied distinction.

Tôi đã luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải nhìn nhận sự hiện hữu của năng lượng. Trong huyền bí học (hay huyền bí học) [452] chúng ta dùng từ “năng lượng” để chỉ hoạt động sống động của các cõi tinh thần, và của thực thể tinh thần ấy, linh hồn. Chúng ta dùng từ “mãnh lực” để chỉ hoạt động của bản chất hình tướng trong các cõi của những giới khác nhau trong thiên nhiên. Đây là một điểm có tầm quan trọng nổi bật và có sự phân biệt hàm ẩn.

Stimulation might, therefore, be defined as the effect which energy has upon force. It is the effect which soul has upon form, and which the higher expression of divinity has upon what we call the lower expression. Yet all is equally divine in time and space and in relation to the point in evolution and the whole. This energy has the following effects and I state these effects in various ways in order to produce clarification in the many differing types of minds:

Do đó, sự kích thích có thể được định nghĩa là tác động mà năng lượng gây ra trên mãnh lực. Đó là tác động mà linh hồn gây ra trên hình tướng, và mà biểu hiện cao hơn của thiên tính gây ra trên điều mà chúng ta gọi là biểu hiện thấp hơn. Tuy nhiên, tất cả đều thiêng liêng như nhau trong thời gian và không gian và trong liên hệ với điểm tiến hoá và toàn thể. Năng lượng này có các tác động sau đây, và tôi nêu các tác động ấy theo nhiều cách khác nhau để tạo ra sự sáng tỏ cho nhiều loại trí tuệ khác nhau:

1. An increased rate of rhythm and vibration.

1. Một nhịp điệu và rung động gia tăng.

2. A capacity to offset time and, therefore, to do more in one hour of so-called time than the average person can do in two or three hours of time.

2. Một khả năng hóa giải thời gian và, do đó, làm được nhiều việc hơn trong một giờ của cái gọi là thời gian so với người trung bình có thể làm trong hai hay ba giờ.

3. An upheaval in the personality life which leads—if correctly met—to a clear sighted meeting of karmic obligations.

3. Một sự đảo lộn trong đời sống phàm ngã, điều này dẫn đến—nếu được đối diện đúng đắn—một sự đương đầu sáng suốt với các nghĩa vụ nghiệp quả.

4. An intensification of all reactions. This includes all reactions emanating from the world of daily living (and, therefore, from the environment), from the world of aspirational life, from the mind and from the soul, the great Reality in the life of the incarnated individual (even if he does not know it).

4. Một sự tăng cường mọi phản ứng. Điều này bao gồm mọi phản ứng phát ra từ thế giới đời sống hằng ngày (và do đó, từ môi trường), từ thế giới đời sống khát vọng, từ trí tuệ và từ linh hồn, Đại Thực Tại trong đời sống của cá nhân đang lâm phàm (dù y không biết điều đó).

5. A clarification of life objectives, and hence a dominant emphasis upon the importance of the personality and the personality life.

5. Một sự làm sáng tỏ các mục tiêu của đời sống, và do đó một sự nhấn mạnh chi phối vào tầm quan trọng của phàm ngã và đời sống phàm ngã.

6. A developing process of destruction which involves issues with which it seems beyond the capacity of the personality to deal.

6. Một tiến trình hủy diệt đang phát triển, bao hàm những vấn đề mà phàm ngã dường như vượt ngoài khả năng xử lý.

[453]

[453]

7. Certain physiological and psychological problems which are based upon the capacity, the inherent weaknesses and strengths and the qualifications of the instruments of reception.

7. Một số vấn đề sinh lý và tâm lý học dựa trên năng lực, những điểm yếu và điểm mạnh cố hữu, cùng các phẩm chất của các công cụ tiếp nhận.

It should be remembered here that all stimulation is based upon the reaction (or the power to receive and register) of the lower nature when brought into relation to the higher. It is not based upon the reaction of the higher to the lower. Upon this reception, there eventuates a speeding up of the atoms which compose the personality vehicles; there follows a galvanising into activity of cells in the brain which have been hitherto dormant and also of the body areas around the seven centres, particularly in the organic and physiological correspondences to the centres, plus a grasp of possibilities and of opportunities. These results may work out either in the form of disastrous failure or in the form of significant development.

Ở đây cần nhớ rằng mọi sự kích thích đều dựa trên phản ứng (hay năng lực tiếp nhận và ghi nhận) của bản chất thấp khi được đặt vào liên hệ với bản chất cao. Nó không dựa trên phản ứng của bản chất cao đối với bản chất thấp. Trên cơ sở sự tiếp nhận này, xảy ra một sự gia tốc nơi các nguyên tử cấu thành các vận cụ phàm ngã; tiếp theo là sự kích hoạt mạnh mẽ các tế bào trong não vốn từ trước đến nay còn ngủ yên, và cả các vùng của thể quanh bảy trung tâm, đặc biệt trong các đối ứng cơ quan và sinh lý học với các trung tâm, cộng thêm một sự nắm bắt các khả năng và các cơ hội. Những kết quả này có thể biểu hiện hoặc dưới hình thức thất bại tai hại hoặc dưới hình thức phát triển có ý nghĩa.

To all this, the stimulation of the nervous system of the subject responds and hence the effects are pronouncedly physical. These effects may mean release through the proper expenditure of the inflowing energy and consequently no serious effects, even when there may exist undesirable conditions, or they may mean that the instrument is in such a condition that the energy pouring through will be disruptive and dangerous and all kinds of bad results may be incurred. These include:

Đối với tất cả những điều này, sự kích thích của hệ thần kinh của chủ thể đáp ứng lại, và do đó các tác động mang tính thể xác rõ rệt. Những tác động này có thể có nghĩa là sự giải thoát thông qua việc tiêu dùng đúng đắn năng lượng đang tuôn vào và vì thế không có hậu quả nghiêm trọng nào, ngay cả khi có thể tồn tại những điều kiện không mong muốn, hoặc chúng có thể có nghĩa là công cụ đang ở trong tình trạng khiến năng lượng tuôn qua sẽ có tính phá vỡ và nguy hiểm, và đủ loại kết quả xấu có thể phát sinh. Chúng bao gồm:

Mental problems.

Các vấn đề trí tuệ.

It is with this theme that we shall now deal primarily. Mental stimulation is comparatively rare, if the total population of the planet is considered; nevertheless among the peoples of our Western civilisation and among the cream of the [454] Eastern civilisation it is frequently to be found. These particular problems can, for the sake of clarity, be divided into three groups or categories:

Chính với chủ đề này mà giờ đây chúng ta sẽ chủ yếu đề cập đến. Sự kích thích trí tuệ tương đối hiếm, nếu xét toàn bộ dân số của hành tinh; tuy nhiên, giữa các dân tộc của nền văn minh phương Tây chúng ta và giữa tầng lớp tinh hoa của nền văn minh [454] phương Đông, nó thường được tìm thấy. Những vấn đề đặc thù này, để cho rõ ràng, có thể được chia thành ba nhóm hay ba loại:

1. Those problems which arise out of intense mental activity, which produce undue mental focus and emphasis, one-pointed intellectual approach and crystallisation.

1. Những vấn đề phát sinh từ hoạt động trí tuệ mãnh liệt, tạo ra sự tập trung và nhấn mạnh trí tuệ quá mức, cách tiếp cận trí năng nhất tâm và sự kết tinh.

2. Those problems which arise out of meditation processes, which have successfully brought about illumination. This, in its due turn, produces certain difficulties, such as—

2. Những vấn đề phát sinh từ các tiến trình tham thiền, vốn đã thành công trong việc đem lại sự soi sáng. Điều này, đến lượt nó, tạo ra một số khó khăn, chẳng hạn như—

a. Over activity of the mind, which grasps and sees too much.

a. Sự hoạt động quá mức của trí tuệ, vốn nắm bắt và thấy quá nhiều.

b. The revelation of glamour and illusion. This leads to bewilderment and the unfoldment of the lower psychism.

b. Sự mặc khải của ảo cảm và ảo tưởng. Điều này dẫn đến sự hoang mang và sự khai mở của tính thông linh thấp.

c. Over sensitivity to the phenomena of the inner light, registered in the etheric body.

c. Sự quá nhạy cảm đối với các hiện tượng của nội quang, được ghi nhận trong thể dĩ thái.

3. Those arising out of the higher psychic unfoldments, with consequent sensitivity to—

3. Những vấn đề phát sinh từ các sự khai mở thông linh cao hơn, với hệ quả là sự nhạy cảm đối với—

a. Guidance.

a. Sự hướng dẫn.

b. Cooperation with the Plan.

b. Sự hợp tác với Thiên Cơ.

c. Soul contact.

c. Sự tiếp xúc linh hồn.

The last three groups of problems under sensitivity are most definite and real in the experience of disciples.

Ba nhóm vấn đề cuối cùng dưới tiêu đề sự nhạy cảm là hết sức xác định và thực tế trong kinh nghiệm của các đệ tử.

The first group of problems (those arising out of intense mental activity) are those of the pronounced intellectual and they range all the way from a narrow crystallised sectarianism to that psychological phenomenon called idee fixe. They are largely the problems of thought-form making, and by their means the man becomes the victim of that which he has himself constructed; he is the creature of a Frankenstein of [455] his own creation. This tendency can be seen working out in all schools of thought and of cultures and is primarily applicable to the leader type of man and to the man who is independent in his thought life and, therefore, capable of clear thinking and the free movement of the chitta or mind stuff. It is necessary, therefore, in the coming days to deal with this particular problem, for minds will be met with increasing frequency. As the race proceeds towards a mental polarisation which will be as powerful as the present astral polarisation from which it is emerging, it will be found increasingly necessary to educate the race in—

Nhóm vấn đề thứ nhất (những vấn đề phát sinh từ hoạt động trí tuệ mãnh liệt) là những vấn đề của loại người trí thức nổi bật, và chúng trải dài từ chủ nghĩa bè phái hẹp hòi đã kết tinh cho đến hiện tượng tâm lý học được gọi là ý tưởng cố chấp. Chúng phần lớn là những vấn đề của việc tạo dựng Hình tư tưởng, và bằng phương tiện ấy con người trở thành nạn nhân của chính điều mà y đã tự xây dựng; y là tạo vật của một Frankenstein do [455] chính mình tạo ra. Khuynh hướng này có thể được thấy đang biểu lộ trong mọi trường phái tư tưởng và văn hóa, và chủ yếu áp dụng cho loại người lãnh đạo và cho người độc lập trong đời sống tư tưởng của mình và, do đó, có khả năng tư duy rõ ràng và sự vận động tự do của chitta hay chất trí. Vì vậy, trong những ngày sắp tới cần phải đề cập đến vấn đề đặc thù này, vì các trí tuệ sẽ ngày càng thường xuyên được gặp. Khi nhân loại tiến tới một sự phân cực trí tuệ sẽ mạnh mẽ như sự phân cực cảm dục hiện nay mà nó đang thoát ra, người ta sẽ thấy ngày càng cần thiết phải giáo dục nhân loại về—

1. The nature of mental substance.

1. Bản chất của chất liệu trí tuệ.

2. The triple purpose of the mind:

2. Mục đích tam phân của trí tuệ:

a. As a medium for expressing ideas, through the construction of the needed embodying thought forms.

a. Như một môi trường để biểu hiện các ý tưởng, thông qua việc xây dựng các hình tư tưởng hiện thân cần thiết.

b. As a controlling factor in the life of the personality through the right use of the creative power of thought.

b. Như một yếu tố kiểm soát trong đời sống phàm ngã thông qua việc sử dụng đúng đắn quyền năng sáng tạo của tư tưởng.

c. As a reflector of the higher worlds of perceptive and intuitive awareness.

c. Như một tấm gương phản chiếu các thế giới cao hơn của sự nhận biết tri giác và trực giác.

Creative thought is not the same as creative feeling and this distinction is often not grasped. All that can be created in the future will be based upon the expression of ideas. This will be brought about, first of all, through thought perception, then through thought concretion and finally through thought vitalisation. It is only later that the created thought form will descend into the world of feeling and there assume the needed sensuous quality which will add colour and beauty to the already constructed thought form.

Tư tưởng sáng tạo không giống với cảm xúc sáng tạo và sự phân biệt này thường không được nắm bắt. Tất cả những gì có thể được sáng tạo trong tương lai sẽ dựa trên sự biểu hiện của các ý tưởng. Điều này trước hết sẽ được đem lại thông qua tri giác tư tưởng, rồi qua sự cụ thể hóa tư tưởng, và cuối cùng qua sự tiếp sinh lực cho tư tưởng. Chỉ về sau hình tư tưởng được tạo ra mới đi xuống thế giới cảm xúc và ở đó đảm nhận phẩm tính cảm giác cần thiết, phẩm tính sẽ thêm màu sắc và vẻ đẹp cho hình tư tưởng đã được xây dựng.

It is at this point that danger eventuates for the student. The thought form of an idea has been potently constructed. It has taken to itself also colour and beauty. It is, therefore, capable of holding a man both mentally and emotionally. If [456] he has no sense of balance, no sense of proportion and no sense of humour, the thought form can become so potent that he finds he is an avowed devotee, unable to retreat from his position. He can see nothing and believe nothing and work for nothing except that embodied idea which is so powerfully holding him a captive. Such people are the violent partisans in any group, in any church, order or government. They are frequently sadistic in temperament and are the adherents of cults and sciences; they are willing to sacrifice or to damage anyone who seems to them inimical to their fixed idea of what is right and true. The men who engineered the Spanish Inquisition and those who were responsible for the outrages in the times of the Covenanters are samples of the worst forms of this line of thought and development.

Chính tại điểm này mà nguy hiểm xuất hiện đối với đạo sinh. Hình tư tưởng của một ý tưởng đã được xây dựng một cách mạnh mẽ. Nó cũng đã khoác lấy cho mình màu sắc và vẻ đẹp. Vì vậy, nó có khả năng giữ chặt một con người cả về trí tuệ lẫn cảm xúc. Nếu [456] y không có ý thức về quân bình, không có Ý thức về tỉ lệ và không có óc khôi hài, hình tư tưởng có thể trở nên mạnh đến mức y thấy mình là một tín đồ công khai, không thể rút lui khỏi lập trường của mình. Y không thể thấy gì, tin gì và làm việc vì điều gì ngoài ý tưởng đã hiện thân ấy, ý tưởng đang giam giữ y làm tù nhân một cách mạnh mẽ. Những người như thế là những người đảng phái hung hăng trong bất kỳ nhóm nào, trong bất kỳ giáo hội, dòng tu hay chính quyền nào. Họ thường có khí chất bạo dâm và là những người theo các giáo phái và các khoa học; họ sẵn sàng hy sinh hoặc làm tổn hại bất cứ ai mà đối với họ dường như thù nghịch với ý tưởng cố định của họ về điều gì là đúng và thật. Những người đã điều hành Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha và những người chịu trách nhiệm về các hành động tàn bạo trong thời kỳ những người Covenanter là những ví dụ về các hình thức tệ hại nhất của đường lối tư tưởng và phát triển này.

People tainted with this psychological trouble of blind adherence to ideas and of personality devotions are found in every organisation, every church, religion, in political and scientific bodies and also in every esoteric and occult organisation. They are psychologically unsound and the trouble from which they suffer is practically contagious. They are a menace, just as smallpox is a menace. This type of difficulty is not often regarded as constituting a psychological problem until the time comes when the man is so far afflicted that he becomes a group problem, or is regarded as peculiar or unbalanced. It is, nevertheless, definitely a psychological disorder of a most definite kind, requiring careful handling. It is also peculiarly difficult to handle, as the early stages are apparently wholesome and sound. To work with some group or with some teacher is often regarded as a definite means of psychological salvation, for it tends to extrovert the mystic and thus give proper release for the recognised inflowing energy. As long as it does this and nothing else, there is no [457] real danger, but the moment a man’s vision of other and greater possibilities becomes dim or begins to fade out, the moment a body of doctrines or a school of thought or an exponent of any theory engrosses his complete attention to the exclusion of all other points of view or possibilities, that moment the seeds of psychological trouble can be duly noted and the man is in danger.

Những người bị nhiễm chứng rối loạn tâm lý học này của sự bám chấp mù quáng vào các ý tưởng và của những sự sùng tín phàm ngã được tìm thấy trong mọi tổ chức, mọi giáo hội, tôn giáo, trong các đoàn thể chính trị và khoa học, và cả trong mọi tổ chức bí truyền và huyền bí học. Họ không lành mạnh về mặt tâm lý học và chứng bệnh mà họ mắc phải hầu như có tính lây lan. Họ là một mối đe dọa, cũng như bệnh đậu mùa là một mối đe dọa. Loại khó khăn này thường không được xem là cấu thành một vấn đề tâm lý học cho đến khi con người bị ảnh hưởng đến mức trở thành một vấn đề của nhóm, hoặc bị xem là kỳ quặc hay mất quân bình. Tuy nhiên, nó rõ ràng là một rối loạn tâm lý học thuộc một loại rất xác định, đòi hỏi phải được xử lý cẩn thận. Nó cũng đặc biệt khó xử lý, vì các giai đoạn đầu dường như là lành mạnh và đúng đắn. Làm việc với một nhóm nào đó hay với một huấn sư nào đó thường được xem là một phương tiện rõ rệt của sự cứu rỗi tâm lý học, vì nó có khuynh hướng làm cho nhà thần bí hướng ngoại và nhờ đó đem lại sự giải thoát thích đáng cho năng lượng đang tuôn vào đã được nhận biết. Chừng nào điều đó còn làm được như vậy và không làm gì khác, thì không có [457] nguy hiểm thực sự, nhưng ngay khi tầm nhìn của một người về những khả năng khác và lớn hơn trở nên mờ nhạt hoặc bắt đầu phai tắt, ngay khi một hệ thống giáo lý hay một trường phái tư tưởng hay một người trình bày bất kỳ lý thuyết nào chiếm trọn sự chú ý của y đến mức loại trừ mọi quan điểm hay khả năng khác, thì ngay lúc đó những hạt giống của rối loạn tâm lý học có thể được ghi nhận đúng mức và con người ấy đang ở trong nguy hiểm.

The moment also that the entire mental powers of which a man is capable are employed in only one direction, such as, for instance, the achievement of business success or of financial dominance, that moment the man becomes a psychological problem.

Cũng ngay khi toàn bộ các năng lực trí tuệ mà một người có khả năng có được được sử dụng chỉ theo một hướng duy nhất, chẳng hạn như để đạt thành công trong kinh doanh hay sự thống trị tài chính, thì ngay lúc đó con người ấy trở thành một vấn đề tâm lý học.

This is peculiarly one of the problems of integration, for it is due to the stimulation of the mind, as it endeavours to assume control of the personality. A sense of power supervenes. Success feeds the stimulation even if it is only the doubtful success of attracting the attention of some teacher who is idealised or adored, or the pursuit of some transaction in the money market which is successfully carried through.

Đây đặc biệt là một trong những vấn đề của sự tích hợp, vì nó là do sự kích thích của trí tuệ khi nó nỗ lực nắm quyền kiểm soát phàm ngã. Một cảm giác quyền lực xuất hiện. Thành công nuôi dưỡng sự kích thích, ngay cả nếu đó chỉ là thành công đáng ngờ trong việc thu hút sự chú ý của một huấn sư được lý tưởng hóa hay sùng mộ, hoặc trong việc theo đuổi một giao dịch nào đó trên thị trường tiền tệ được thực hiện thành công.

The time is coming when the whole problem of personality will be much better understood and, when this happens, any undue emphasis upon profession, calling, ideology or thought will be regarded as an undesirable symptom, and an effort will then be made to produce two things: a rounded out unfoldment and a conscious fusion with the soul and with the group.

Thời gian đang đến khi toàn bộ vấn đề về phàm ngã sẽ được hiểu rõ hơn nhiều, và khi điều này xảy ra, bất kỳ sự nhấn mạnh quá mức nào vào nghề nghiệp, thiên chức, hệ tư tưởng hay tư tưởng sẽ được xem là một triệu chứng không mong muốn, và khi đó người ta sẽ nỗ lực tạo ra hai điều: một sự khai mở toàn diện và một sự dung hợp hữu thức với linh hồn và với nhóm.

I have no intention of dealing with problems of insanity. These exist and are of constant occurrence, and we esoterically divide them into three divisions:

Tôi không có ý định đề cập đến các vấn đề điên loạn. Chúng hiện hữu và xảy ra thường xuyên, và về mặt huyền bí học chúng tôi chia chúng thành ba loại:

1. Those which are due entirely to—

1. Những loại hoàn toàn do—

a. Disease of the brain matter.

a. Bệnh của chất liệu não.

b. The deterioration of the brain cells.

b. Sự thoái hóa của các tế bào não.

[458]

[458]

c. Abnormal condition within the brain area, such as tumours, abscesses or growths.

c. Tình trạng bất thường trong vùng não, như các khối u, áp-xe hoặc các chỗ tăng trưởng.

d. Structural defects in the head.

d. Những khiếm khuyết về cấu trúc trong đầu.

2. Those which are due to the fact that the ego or soul is not present.

2. Những trường hợp do sự kiện là chân ngã hay linh hồn không hiện diện.

In these cases, there is to be found a situation wherein:

Trong các trường hợp này, có thể thấy một tình huống trong đó:

a. The true owner of the body is absent. In this case the life thread will be anchored in the heart but the consciousness thread will not be anchored in the head. It will be withdrawn, and, therefore, the soul remains unaware of the form. In these cases you have idiocy, or simply a very lowgrade human animal.

a. Chủ nhân đích thực của thể vắng mặt. Trong trường hợp này, Sinh Mệnh Tuyến sẽ được neo trong tim nhưng Sợi dây Tâm thức/thức tuyến sẽ không được neo trong đầu. Nó sẽ bị rút lui, và vì vậy linh hồn vẫn không nhận biết hình tướng. Trong các trường hợp này, ta có sự đần độn, hoặc đơn giản là một con người-thú ở trình độ rất thấp.

b. Certain cases of possession or obsession will be found, wherein the life thread is attached to the original owner of the body but the consciousness thread is that of another person, or identity—discarnate and most anxious for physical plane expression. In the average case, where the true owner of the body is not present, the situation is of no real moment, and sometimes serves a useful purpose, for it enables the obsessing entity to continue in possession. I refer to those cases wherein there is a true withdrawal of the incarnating ego and, therefore, a perfectly empty house. These are the rare cases, and present an unresented occupancy, whereas in the average case of possession or obsession there is a dual personality problem and even of several personalities. Conflict then ensues and many distressing conditions result—distressing from the point of view of the true owner of the body. The cases to which I am here referring permit of no cure as there is no ego to call into activity [459] by strengthening the will or the physical condition of the human being when ejecting intruders. In many cases of possession cure is possible but in those to which I here refer, cure is not possible.

b. Sẽ thấy một số trường hợp bị nhập xác hay ám nhập, trong đó Sinh Mệnh Tuyến gắn với chủ nhân nguyên thủy của thể nhưng Sợi dây Tâm thức/thức tuyến lại là của một người khác, hay một bản sắc khác—đã lìa xác và hết sức khao khát sự biểu lộ trên cõi hồng trần. Trong trường hợp trung bình, khi chủ nhân đích thực của thể không hiện diện, tình huống ấy không thật sự quan trọng, và đôi khi còn phục vụ một mục đích hữu ích, vì nó cho phép thực thể ám nhập tiếp tục chiếm hữu. Tôi muốn nói đến những trường hợp trong đó có sự rút lui thực sự của chân ngã đang nhập thể và vì vậy là một ngôi nhà hoàn toàn trống rỗng. Đây là những trường hợp hiếm hoi, và biểu hiện một sự cư ngụ không bị chống đối, trong khi ở trường hợp trung bình của sự nhập xác hay ám nhập thì có vấn đề phàm ngã kép và thậm chí nhiều phàm ngã. Khi đó xung đột xảy ra và nhiều tình trạng đau khổ phát sinh—đau khổ theo quan điểm của chủ nhân đích thực của thể. Những trường hợp mà tôi đang nói đến ở đây không cho phép chữa trị vì không có chân ngã nào để gọi vào hoạt động [459] bằng cách tăng cường ý chí hay tình trạng thể xác của con người khi trục xuất những kẻ xâm nhập. Trong nhiều trường hợp bị nhập xác, việc chữa trị là có thể, nhưng trong những trường hợp mà tôi đang nói đến ở đây thì không thể chữa trị.

3. Those cases which are due to the fact that the astral body is of such a nature that it is uncontrollable and the man is the defeated victim of his own rampant desire of some kind or another and yet is such an intellectual potency that he can create a dominating thought form, embodying that desire. These “astral maniacs” are the most difficult and quite the saddest types to handle because mentally there is little that is wrong with them. The mind, however, cannot control and is definitely relegated to the background; it remains useless and inert whilst the man expresses (with violence or subtlety as the case may be) some basic desire. It may be the desire to kill, or desire to have abnormal sexual experience, or even the desire to be ever on the move and thus constantly active. These sound fairly simple and usual types but I am not here considering their normal expression but something which cannot be controlled and for which there is no remedy but the protection of the man from himself and his own actions.

3. Những trường hợp do sự kiện là thể cảm dục có bản chất đến mức không thể kiểm soát được và con người là nạn nhân thất bại của chính dục vọng cuồng loạn nào đó của mình, nhưng đồng thời lại có một năng lực trí tuệ mạnh mẽ đến mức có thể tạo ra một Hình tư tưởng chi phối, hiện thân cho dục vọng ấy. Những “kẻ cuồng loạn cảm dục” này là loại khó xử lý nhất và cũng thật sự đáng buồn nhất, vì về mặt trí tuệ thì nơi họ có rất ít điều sai lệch. Tuy nhiên, trí tuệ không thể kiểm soát và rõ ràng bị đẩy lùi ra hậu cảnh; nó vẫn vô dụng và trì trệ trong khi con người biểu lộ (bằng bạo lực hay tinh vi tùy trường hợp) một dục vọng căn bản nào đó. Đó có thể là dục vọng giết chóc, hay dục vọng có những kinh nghiệm tính dục bất thường, hoặc thậm chí là dục vọng luôn luôn di chuyển và do đó liên tục hoạt động. Những điều này nghe có vẻ khá đơn giản và thông thường, nhưng ở đây tôi không xét đến sự biểu lộ bình thường của chúng mà là một điều gì đó không thể kiểm soát được và không có phương thuốc nào ngoài việc bảo vệ con người khỏi chính mình và khỏi các hành động của mình.

These three forms of insanity, being incurable, will not permit of psychological help. All that can be done is the amelioration of the condition, the providing of adequate care of the patient and the protection of society until death shall bring to an end this interlude in the life of the soul. It is interesting to remember that these conditions are related far more to the karma of the parents or of those who have charge of the case than to the patient himself. In many of these cases, there is [460] no person present within the form at all, but only an animated living body, informed by the animal soul but not by a human soul.

Ba hình thức điên loạn này, vì không thể chữa trị, sẽ không cho phép có sự trợ giúp tâm lý. Tất cả những gì có thể làm là làm giảm nhẹ tình trạng ấy, cung cấp sự chăm sóc thích đáng cho bệnh nhân và bảo vệ xã hội cho đến khi cái chết chấm dứt giai đoạn xen kẽ này trong đời sống của linh hồn. Điều đáng lưu ý là những tình trạng này liên hệ với nghiệp quả của cha mẹ hay của những người phụ trách trường hợp ấy nhiều hơn là với chính bệnh nhân. Trong nhiều trường hợp như thế, ở đó [460] không có người nào hiện diện trong hình tướng cả, mà chỉ có một thể sống động được hoạt hóa, được hồn thú vật thấm nhuần chứ không phải bởi một linh hồn con người.

We are primarily engaged with those problems which arise in the mental nature of man and from his power to create in mental substance. There is one aspect of this difficulty to which I have not yet referred, and that is the potency of thought of such a case, and the dynamic stimulation of the mind which we are considering, to evoke response from the desire body and thus swing the entire lower nature into unison with the recognised mental urge and the dominant mental demand. This, when strong enough, may work out on the physical plane as powerful action and even violent action, and may lead a man into much trouble, into conflict with organised society, thus making him anti-social and at variance with the forces of law and order.

Chúng ta chủ yếu quan tâm đến những vấn đề phát sinh trong bản chất trí tuệ của con người và từ quyền năng tạo tác trong chất liệu trí tuệ của y. Có một phương diện của khó khăn này mà tôi chưa đề cập đến, đó là năng lực tư tưởng của một trường hợp như vậy, và sự kích thích năng động của trí tuệ mà chúng ta đang xét, nhằm gợi lên sự đáp ứng từ thể dục vọng và do đó đưa toàn bộ bản chất thấp vào sự hòa điệu với sự thôi thúc trí tuệ đã được nhận biết và đòi hỏi trí tuệ đang chi phối. Điều này, khi đủ mạnh, có thể biểu hiện trên cõi hồng trần thành hành động mạnh mẽ và thậm chí hành động bạo lực, và có thể dẫn một người vào nhiều rắc rối, vào xung đột với xã hội có tổ chức, khiến y trở nên phản xã hội và đối nghịch với các lực của luật pháp và trật tự.

These people fall into three groups and it would be wise for students of psychology to study these types with care, for there is going to be an increasing number of them, because humanity is shifting its focus of attention more and more on to the mental plane:

Những người này thuộc vào ba nhóm và sẽ là khôn ngoan nếu các đạo sinh tâm lý học nghiên cứu cẩn thận các loại này, vì số lượng của họ sẽ ngày càng tăng, bởi nhân loại đang chuyển trọng tâm chú ý của mình ngày càng nhiều lên cõi trí:

1. Those who remain mentally introverted, and profoundly and deeply pre-occupied with their self-created thought forms and with their created world of thought, centered around the one dynamic thought form they have built. These people work always towards a crisis and it is interesting to note that this crisis may be interpreted by the world—

1. Những người vẫn hướng nội về mặt trí tuệ, và bị bận tâm sâu sắc, mãnh liệt với các Hình tư tưởng do mình tự tạo ra và với thế giới tư tưởng do mình tạo dựng, tập trung quanh một Hình tư tưởng năng động mà họ đã xây dựng. Những người này luôn luôn tiến tới một cuộc khủng hoảng và điều thú vị là cuộc khủng hoảng này có thể được thế gian diễn giải—

a. As the revelation of a genius, such as emerges when some great scientist unfolds to us the conclusions of his focussed attention and period of thought.

a. Như sự mặc khải của một thiên tài, chẳng hạn như xuất hiện khi một nhà khoa học lớn trình bày cho chúng ta những kết luận từ sự chú tâm tập trung và giai đoạn suy tư của y.

[461]

[461]

b. As the effort of a man to express himself along some creative line.

b. Như nỗ lực của một người nhằm biểu lộ chính mình theo một đường lối sáng tạo nào đó.

c. As the violent and often dangerous expressions of frustration in which the man attempts to release the result of his inner brooding along the chosen line.

c. Như những biểu lộ bạo lực và thường nguy hiểm của sự thất vọng, trong đó người ấy cố giải phóng kết quả của sự nung nấu nội tâm của mình theo đường lối đã chọn.

These all vary in expression, because of the original equipment with which the man began his life of thought upon the mental plane. In the first case, you have genius; in the other (if paralleled by a rich emotional nature) you will have some creative imaginative production, and in the third case, you will have what will be regarded by the world as insanity, curable in time and not permanent in its effects, provided some form of creative imaginative emotional release is provided. This is often the struggle point of the 2nd, the 4th and the 6th ray personality.

Tất cả những điều này khác nhau trong biểu lộ, do trang bị ban đầu mà người ấy có khi bắt đầu đời sống tư tưởng của mình trên cõi trí. Trong trường hợp thứ nhất, ta có thiên tài; trong trường hợp kia (nếu đi kèm với một bản chất cảm xúc phong phú) ta sẽ có một sản phẩm sáng tạo giàu tưởng tượng nào đó, và trong trường hợp thứ ba, ta sẽ có điều mà thế gian xem là điên loạn, có thể chữa được theo thời gian và không để lại hậu quả thường trực, miễn là có một hình thức giải tỏa cảm xúc giàu tưởng tượng và sáng tạo nào đó được cung cấp. Đây thường là điểm đấu tranh của phàm ngã cung hai, cung bốn và cung sáu.

2. Those who become amazingly self-conscious and aware of themselves as centres of thought. They are obsessed with their own wisdom, their power and their creative capacity. They pass rapidly into a state of complete isolation or separateness. This can lead to acute megalomania, to an intense pre-occupation with and an admiring satisfaction with the self, the lower self, the personality. The emotional, feeling, desire nature is utterly under the control of the dynamic self-centred point of thought which is all of which the man is aware at this time. Consequently, the brain and all the physical plane activities are equally controlled and directed towards the planned aggrandisement of the man. This condition is found in varying degrees, according to the point in evolution and the ray type, and—in the early stages—it is curable. If it is persisted in, however, it makes the man eventually untouchable, for he becomes entrenched in a [462] rampart of his own thought forms concerning himself and his activities. When curable, the effort should be made to decentralise the subject by the evocation of another and higher interest, by the development of the social consciousness and—if possible—by contact with the soul. This condition is often the struggle point of the first and fifth ray personalities.

2. Những người trở nên hết sức ngã thức và ý thức về chính mình như những trung tâm tư tưởng. Họ bị ám ảnh bởi minh triết của chính mình, quyền năng của mình và năng lực sáng tạo của mình. Họ nhanh chóng đi vào trạng thái cô lập hay tách biệt hoàn toàn. Điều này có thể dẫn đến chứng tự đại cấp tính, đến sự bận tâm mãnh liệt và sự tự mãn đầy ngưỡng mộ đối với bản thân, phàm ngã, phàm nhân. Bản chất cảm xúc, cảm giác, dục vọng hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của điểm tư tưởng năng động tập trung vào bản thân, là điều duy nhất mà người ấy ý thức được vào lúc này. Do đó, bộ não và mọi hoạt động trên cõi hồng trần cũng bị kiểm soát và hướng đến sự tự đề cao đã được hoạch định của người ấy. Tình trạng này được thấy ở nhiều mức độ khác nhau, tùy theo điểm tiến hoá và loại cung, và—trong các giai đoạn đầu—có thể chữa được. Tuy nhiên, nếu cứ tiếp tục, cuối cùng nó khiến người ấy không thể chạm tới được, vì y trở nên cố thủ trong một [462] thành lũy của các Hình tư tưởng của chính mình về bản thân và các hoạt động của mình. Khi còn có thể chữa được, nên cố gắng phi tập trung vào bản thân nơi đối tượng bằng cách gợi lên một mối quan tâm khác và cao hơn, bằng cách phát triển tâm thức xã hội và—nếu có thể—bằng sự tiếp xúc với linh hồn. Tình trạng này thường là điểm đấu tranh của các phàm ngã cung một và cung năm.

3. Those who become strongly extroverted by the desire to impose the conclusions they have reached (through their one-pointed mental focus) upon their fellow men. This constitutes quite often the crux of the difficulty for the third and sixth ray people. These people will be found ranging in consciousness all the way from the well-meaning theologian and dogmatic doctrinaire, found in practically all schools of thought, to the fanatic who makes life a burden to all around him as he seeks to impose his views upon them, and the maniac who becomes so obsessed with his vision that, for the protection of society, he must be locked away.

3. Những người trở nên mạnh mẽ hướng ngoại do dục vọng áp đặt lên đồng loại những kết luận mà họ đã đạt tới (thông qua sự tập trung trí tuệ nhất tâm của mình). Điều này khá thường là điểm then chốt của khó khăn đối với những người cung ba và cung sáu. Những người này có thể được thấy trải dài trong tâm thức từ nhà thần học thiện chí và nhà giáo điều cứng nhắc, có mặt trong hầu như mọi trường phái tư tưởng, cho đến kẻ cuồng tín khiến đời sống trở thành gánh nặng cho tất cả những ai quanh mình khi y tìm cách áp đặt quan điểm của mình lên họ, và kẻ điên loạn trở nên bị ám ảnh đến mức bởi linh ảnh của mình đến nỗi, để bảo vệ xã hội, phải bị nhốt lại.

It will be obvious to you, therefore, how promising the outlook can be if educators and psychologists (particularly those who specialise in the training of young people) would teach them the needed care in the balancing of values, in the vision of the whole, and in the nature of the contribution which the many aspects and attitudes make to the whole. This is of profound usefulness at the time of adolescence when so many difficult adjustments require to be made. It is too late to do this usually when a person is of adult years and has for a long period of time constructed his thought forms and brooded over them until he is so identified with them that he has really no independent existence. The shattering of such a thought form or of a group of thought forms which are holding any [463] man in bondage can result in such serious conditions that suicide, prolonged illness or a life rendered futile through frustration can eventuate.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ triển vọng có thể đầy hứa hẹn biết bao nếu các nhà giáo dục và các nhà tâm lý học (đặc biệt là những người chuyên huấn luyện thanh thiếu niên) dạy họ sự cẩn trọng cần thiết trong việc quân bình các giá trị, trong tầm nhìn về toàn thể, và trong bản chất của sự đóng góp mà nhiều phương diện và thái độ đem lại cho toàn thể. Điều này vô cùng hữu ích vào thời kỳ thiếu niên khi có quá nhiều sự điều chỉnh khó khăn cần phải thực hiện. Thường thì đã quá muộn để làm điều này khi một người đã trưởng thành và trong một thời gian dài đã xây dựng các Hình tư tưởng của mình và nung nấu chúng cho đến khi y đồng hoá với chúng đến mức thật sự không còn sự tồn tại độc lập nào nữa. Việc phá vỡ một Hình tư tưởng như thế hay một nhóm Hình tư tưởng đang giam giữ bất kỳ [463] người nào trong vòng nô lệ có thể dẫn đến những tình trạng nghiêm trọng đến mức tự sát, bệnh tật kéo dài hoặc một đời sống trở nên vô ích vì thất vọng có thể xảy ra.

Only two things can really help: First, the steady, loving presentation of a wider vision, which must be held before the man’s eyes by some one who is so inclusive that understanding is the keynote of his life, or, secondly, by the action of a man’s own soul. The first method takes much time and patience. The second method may be instantaneous in its effects, as in conversion, or it may be a gradual breaking down of the walls of thought by means of which a man has separated himself off from the rest of the world and from his fellowmen. The trumpets of the Lord, the soul, can sound forth and cause the walls of Jericho to fall. This task of evoking soul action of a dynamic character on behalf of an imprisoned personality, impregnably surrounded by a wall of mental matter, will constitute a part of the science of psychology which the future will see developed.

Chỉ có hai điều thật sự có thể giúp ích: thứ nhất, sự trình bày đều đặn, đầy bác ái về một tầm nhìn rộng lớn hơn, phải được giữ trước mắt người ấy bởi một người có tính bao gồm đến mức thấu hiểu là chủ âm của đời sống y; hoặc thứ hai, bằng hành động của chính linh hồn của một người. Phương pháp thứ nhất cần nhiều thời gian và kiên nhẫn. Phương pháp thứ hai có thể tức khắc trong hiệu quả của nó, như trong sự cải đạo, hoặc có thể là sự phá vỡ dần dần những bức tường tư tưởng mà nhờ đó một người đã tự tách mình ra khỏi phần còn lại của thế giới và khỏi đồng loại của mình. Những tiếng kèn của Chúa, của linh hồn, có thể vang lên và làm cho những bức tường Jericho sụp đổ. Nhiệm vụ gợi lên hành động linh hồn có tính năng động thay mặt cho một phàm ngã bị cầm tù, được bao bọc kiên cố bởi một bức tường vật chất trí tuệ, sẽ cấu thành một phần của khoa học tâm lý học mà tương lai sẽ thấy được phát triển.

Problems arising from meditation, and its result: Illumination .

Những vấn đề phát sinh từ tham thiền, và kết quả của nó: sự soi sáng .

I would like first of all to point out that when I use the word meditation in this place I am using it in only one of its connotations. The intense mental focussing, producing undue mental emphasis, wrong attitudes and anti-social living, is also a form of meditation, but it is meditation carried forward entirely within the periphery of the small area of a particular man’s mind. This is a statement of fact and of importance. This restricts him and leaves out all contact with other areas of mental perception and induces an intense one-pointed mental stimulation of a particularly powerful kind, and which has no outlet except towards the brain, via the desire nature. The meditation to which we shall refer in this part of our study relates to a mental focussing and attitude which attempts to [464] relate itself to that which lies beyond the individual’s mental world. It is part of an effort to put him in touch with a world of being and phenomena which lie beyond. I am phrasing this in this manner so as to convey the ideas of expansion, of inclusion, and of enlightenment. Such expansions and attitude should not render a man anti-social or incarcerate him in a prison of his own making. They should make him a citizen of the world; they should induce in him a desire to blend and fuse with his fellowmen; they should awaken him to the higher issues and realities; they should pour light into the dark places of his life and into that of humanity as a whole. The problems which arise as a result of illumination are practically the reverse of those just considered. Nevertheless, they in their turn constitute real problems and, because the intelligent people of the world are learning to meditate today on a large scale they must be faced. Many things are inducing this turning towards meditation. Sometimes it is the force of economic circumstances which forces a man to concentrate, and concentration is one of the first steps in the meditation process; sometimes it is brought about through the urge to creative work which leads a man in pursuit of some theme or subject for creative presentation. Whether men are interested only academically in the power of thought, or whether, through a touch of vision, they become students of true meditation (either mystical or occult) the fact remains that serious problems arise, dangerous conditions appear, and the lower nature evidences in every case the need for adaptation to the higher impulses or demands, or suffers consequences of a difficult nature if it fails to do so. The necessary adjustments must be made or psychological, psychopathic, and nervous difficulties will inevitably supervene.

Trước hết tôi muốn chỉ ra rằng khi tôi dùng từ tham thiền ở đây, tôi chỉ dùng nó theo một trong các hàm nghĩa của nó. Sự tập trung trí tuệ mãnh liệt, tạo ra sự nhấn mạnh quá mức về trí tuệ, những thái độ sai lầm và đời sống phản xã hội, cũng là một hình thức tham thiền, nhưng đó là sự tham thiền được tiến hành hoàn toàn trong chu vi của khu vực nhỏ bé thuộc trí tuệ của một người riêng biệt. Đây là một phát biểu thực tế và quan trọng. Điều này hạn chế y và loại bỏ mọi tiếp xúc với các khu vực khác của tri giác trí tuệ, đồng thời gây ra một sự kích thích trí tuệ nhất tâm mãnh liệt thuộc một loại đặc biệt mạnh, và không có lối thoát nào ngoài hướng về bộ não, qua bản chất dục vọng. Sự tham thiền mà chúng ta sẽ đề cập trong phần này của cuộc nghiên cứu liên hệ đến một sự tập trung và thái độ trí tuệ cố gắng [464] liên hệ chính nó với điều nằm vượt ra ngoài thế giới trí tuệ của cá nhân. Nó là một phần của nỗ lực nhằm đặt y vào tiếp xúc với một thế giới bản thể và hiện tượng nằm vượt ra ngoài. Tôi diễn đạt theo cách này để truyền đạt các ý tưởng về sự mở rộng, về tính bao gồm, và về giác ngộ. Những sự mở rộng và thái độ như thế không nên khiến một người trở nên phản xã hội hay giam hãm y trong một nhà tù do chính mình tạo ra. Chúng nên làm cho y trở thành một công dân của thế giới; chúng nên khơi dậy nơi y một dục vọng hòa trộn và dung hợp với đồng loại; chúng nên đánh thức y đối với những vấn đề và thực tại cao hơn; chúng nên đổ ánh sáng vào những nơi tối tăm trong đời sống y và trong đời sống của toàn thể nhân loại. Những vấn đề phát sinh do kết quả của sự soi sáng trên thực tế gần như trái ngược với những điều vừa được xét. Tuy nhiên, đến lượt chúng, chúng cũng cấu thành những vấn đề thực sự và, bởi vì những người thông minh trên thế giới ngày nay đang học tham thiền trên quy mô lớn, chúng phải được đối diện. Nhiều điều đang thúc đẩy sự quay về với tham thiền này. Đôi khi đó là sức ép của hoàn cảnh kinh tế buộc một người phải tập trung, và tập trung là một trong những bước đầu tiên trong tiến trình tham thiền; đôi khi nó được mang lại bởi sự thôi thúc hướng đến công việc sáng tạo, dẫn một người theo đuổi một chủ đề hay đề tài nào đó để trình bày sáng tạo. Dù con người chỉ quan tâm về mặt học thuật đến quyền năng của tư tưởng, hay thông qua một thoáng tầm nhìn mà trở thành đạo sinh của tham thiền chân chính (dù là thần bí hay huyền bí học), thì sự kiện vẫn là những vấn đề nghiêm trọng phát sinh, những tình trạng nguy hiểm xuất hiện, và bản chất thấp trong mọi trường hợp đều cho thấy nhu cầu phải thích ứng với các xung lực hay đòi hỏi cao hơn, hoặc phải chịu những hậu quả khó khăn nếu không làm được như vậy. Những sự điều chỉnh cần thiết phải được thực hiện, nếu không thì các khó khăn tâm lý, tâm bệnh và thần kinh chắc chắn sẽ phát sinh.

Again, let me remind you that the reason for this is that the man sees and knows and realises more than he is able to [465] do simply as a personality, functioning in the three worlds, and so oblivious in any true sense to the world of soul activity. He has “let in” energies which are stronger than the forces of which he is usually aware. They are intrinsically strong, though not yet apparently the stronger, owing to the well-established habits and the ancient rhythms of the personality forces with which the soul energy is brought into conflict. This necessarily leads to strain and difficulty, and unless there is a proper understanding of this battle, dire results may be produced, and with these the trained psychologist must be prepared to deal.

Một lần nữa, hãy để tôi nhắc các bạn rằng lý do của điều này là con người thấy, biết và chứng nghiệm nhiều hơn điều mà y có thể [465] làm chỉ với tư cách một phàm ngã, hoạt động trong ba cõi thấp, và do đó theo bất kỳ ý nghĩa chân thực nào cũng không nhận biết thế giới hoạt động của linh hồn. Y đã “để cho” những năng lượng mạnh hơn các mãnh lực mà y thường nhận biết đi vào. Tự bản chất, chúng mạnh mẽ, dù chưa có vẻ là mạnh hơn, do những thói quen đã được thiết lập vững chắc và những nhịp điệu cổ xưa của các lực phàm ngã mà năng lượng linh hồn bị đưa vào xung đột với chúng. Điều này tất yếu dẫn đến căng thẳng và khó khăn, và trừ phi có sự thấu hiểu đúng đắn về cuộc chiến này, những kết quả tai hại có thể được tạo ra, và nhà tâm lý học lão luyện phải sẵn sàng đề cập đến chúng.

With the type and nature of the concentration, with the theme of the meditation, I will not deal, for I am considering here only results and not the methods for producing them. Suffice it to say, that the man’s efforts in meditation have opened a door through which he can pass at will (and eventually with facility) into a new world of phenomena, of directed activity, and of different ideals. He has unlatched a window through which light can pour in, revealing that which is, and always has been, existent within the consciousness of man, and throwing illumination into the dark places of his life; into other lives; and into the environment in which he moves. He has released within himself a world of sound and of impressions which are at first so new and so different that he does not know what to make of them. His situation becomes one requiring much care and balanced adjustment.

Về loại và bản chất của sự tập trung, về chủ đề của sự tham thiền, tôi sẽ không bàn đến, vì ở đây tôi chỉ xét đến các kết quả chứ không phải các phương pháp tạo ra chúng. Chỉ cần nói rằng những nỗ lực tham thiền của con người đã mở ra một cánh cửa mà qua đó y có thể đi vào tùy ý (và cuối cùng là một cách dễ dàng) một thế giới mới của các hiện tượng, của hoạt động có định hướng, và của những lý tưởng khác biệt. Y đã mở chốt một cửa sổ mà qua đó ánh sáng có thể tuôn vào, phơi bày điều đang hiện hữu, và luôn luôn đã hiện hữu, trong tâm thức con người, đồng thời chiếu soi vào những nơi tối tăm của đời sống y; vào những đời sống khác; và vào môi trường mà y đang sống trong đó. Y đã giải phóng bên trong mình một thế giới của âm thanh và các ấn tượng mà lúc đầu mới mẻ và khác lạ đến mức y không biết phải hiểu chúng ra sao. Tình huống của y trở thành một tình huống đòi hỏi rất nhiều sự cẩn trọng và điều chỉnh quân bình.

It will be obvious to you that if there is a good mental equipment and a sound educational training, that there will be a balancing sense of proportion, an interpretative capacity, patience to wait till right understanding can be developed, and a happy sense of humour. Where, however, these are not present, there will be (according to the type and the sense of vision) bewilderment, a failure to comprehend what is happening, undue emphasis upon personality reactions and phenomena, pride in achievement, a tremendous sense of inferiority, too much speech, a running hither and thither for explanation, comfort, assurance, and a sense of comradeship, or perhaps a complete breakdown of the mental forces, or the disruption of the brain cells through the strain to which they have been subjected.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng nếu có một trang bị trí tuệ tốt và một sự đào luyện giáo dục lành mạnh, thì sẽ có một ý thức quân bình về tỉ lệ, một năng lực diễn giải, sự kiên nhẫn để chờ cho đến khi sự thấu hiểu đúng đắn có thể được phát triển, và một óc khôi hài vui tươi. Tuy nhiên, ở nơi những điều này không hiện diện, thì sẽ có (tùy theo loại và ý thức về tầm nhìn) sự hoang mang, sự không hiểu điều gì đang xảy ra, sự nhấn mạnh quá mức vào các phản ứng và hiện tượng của phàm ngã, niềm kiêu hãnh về thành tựu, một cảm giác tự ti ghê gớm, nói quá nhiều, chạy ngược chạy xuôi để tìm lời giải thích, sự an ủi, sự bảo đảm, và cảm giác đồng hành, hoặc có lẽ là sự suy sụp hoàn toàn của các lực trí tuệ, hay sự phá vỡ các tế bào não do sự căng thẳng mà chúng đã phải chịu đựng.

Exhilaration is also sometimes found as a result of the contact with a new world, and strong mental stimulation. Depression is as frequently a result, based upon a sensed incapacity to measure up to the realised opportunity. The man sees and knows too much. He can no longer be satisfied with the old measure of living, with the old satisfactions, and with the old idealisms. He has touched and now longs for the larger measures, for the new and vibrant ideas, and for the broader vision. The way of life of the soul has gripped and attracts him. But his nature, his environment, his equipment and his opportunities appear somehow to frustrate him consistently, and he feels he cannot march forward into this new and wonderful world. He feels the need to temporise and to live in the same state of mind as heretofore, or so he thinks, and so he decides.

Sự hưng phấn đôi khi cũng được thấy như một kết quả của sự tiếp xúc với một thế giới mới, và sự kích thích trí tuệ mạnh mẽ. Sự trầm uất cũng thường xuyên là một kết quả, dựa trên cảm nhận về sự bất lực không thể đáp ứng cơ hội đã được chứng nghiệm. Con người thấy và biết quá nhiều. Y không còn có thể thỏa mãn với mức sống cũ, với những thỏa mãn cũ, và với những lý tưởng cũ. Y đã chạm đến và giờ đây khao khát những mức độ lớn lao hơn, những ý tưởng mới mẻ và rung động, và tầm nhìn rộng lớn hơn. Con đường sống của linh hồn đã nắm lấy và thu hút y. Nhưng bản chất, môi trường, trang bị và cơ hội của y dường như bằng cách nào đó luôn luôn làm y thất vọng, và y cảm thấy mình không thể tiến bước vào thế giới mới mẻ và kỳ diệu này. Y cảm thấy cần phải thỏa hiệp và sống trong cùng trạng thái tâm trí như trước đây, hoặc ít nhất y nghĩ vậy, và vì thế y quyết định như vậy.

These expansions which he has undergone as the result of successful meditation need not be along the line of recognised religious effort, or produced by so-called occult revelation. They may come to him along the line of a man’s chosen life activity, for there is no life activity, no vocational calling, no mental occupation and no condition which cannot provide the key to the unlocking of the door into the desired wider world, or serve to lead a man to the mountain top from which the wider horizon can be seen, and the larger vision grasped. A man must learn to recognise that his chosen [467] school of thought, his peculiar vocation, his particular calling in life and his personal trend are only part of a greater whole, and his problem is to integrate consciously his small life activity into the world activity.

Những sự mở rộng mà y đã trải qua do kết quả của sự tham thiền thành công không nhất thiết phải theo đường lối của nỗ lực tôn giáo được công nhận, hay được tạo ra bởi cái gọi là mặc khải huyền bí học. Chúng có thể đến với y theo đường lối hoạt động đời sống mà một người đã chọn, vì không có hoạt động đời sống nào, không có thiên chức nghề nghiệp nào, không có công việc trí tuệ nào và không có tình trạng nào lại không thể cung cấp chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đi vào thế giới rộng lớn hơn mong muốn, hay phục vụ để dẫn một người lên đỉnh núi từ đó chân trời rộng lớn hơn có thể được nhìn thấy, và tầm nhìn lớn hơn có thể được nắm bắt. Một người phải học cách nhận ra rằng trường phái tư tưởng mà mình chọn, [467] nghề nghiệp riêng của mình, thiên chức đặc biệt trong đời sống và khuynh hướng cá nhân của mình chỉ là một phần của một toàn thể lớn hơn, và vấn đề của y là tích hợp một cách hữu thức hoạt động đời sống nhỏ bé của mình vào hoạt động của thế giới.

It is this we call illumination for lack of a better word. All knowledge is a form of light, for it throws light into areas of awareness of which we have hitherto been unconscious. All wisdom is a form of light, for it reveals to us the world of meaning which lies behind the outer form. All understanding is an evocation of light, for it causes us to become aware of, or conscious of, the causes which are producing the outer forms which surround us (including our own) and which condition the world of meaning of which they are the expression. But when this fact is first seen, grasped, and when the initial revelation has come, when the place of the part in relation to the whole is sensed, and when the world which includes our little world is first contacted, there is always a moment of crisis and a period of danger. Then, as familiarity grows and our feet have wandered in and out of the door we have opened, and we have accustomed ourselves to the light which the unshuttered window has released into our little world of daily living, other psychological dangers eventuate. We are in danger of thinking that what we have seen is all there is to see, and thus—on a higher turn of the spiral and in a larger sense—we repeat the dangers (earlier considered) of undue emphasis, of wrong focus, of narrow minded belief, and idee fixe. We become obsessed with the idea of the soul; we forget its need of a vehicle of expression; we begin to live in an abstracted detached world of being and of feeling, and we fail to keep in contact with the factual life of physical plane expression. We thus repeat—again on a higher turn of the spiral—the condition we considered in which the soul or ego was not present, [468] reversing the condition so that there is no form life really present in the focussed consciousness of the man. There is only the world of souls and a desire for creative activity. The handling of daily living on the physical plane drops below the threshold of consciousness, and the man becomes a vague, impractical, visionary mystic. These states of mind are dangerous, if they are permitted to exist.

Đó là điều mà chúng ta gọi là sự soi sáng vì thiếu một từ tốt hơn. Mọi tri thức đều là một hình thức ánh sáng, vì nó chiếu sáng vào những khu vực nhận biết mà trước đây chúng ta chưa hữu thức. Mọi minh triết đều là một hình thức ánh sáng, vì nó mặc khải cho chúng ta thế giới của ý nghĩa nằm sau hình tướng bên ngoài. Mọi sự thấu hiểu đều là một sự gợi lên ánh sáng, vì nó khiến chúng ta nhận biết, hay hữu thức về, những nguyên nhân đang tạo ra các hình tướng bên ngoài bao quanh chúng ta (kể cả hình tướng của chính chúng ta) và đang tác động lên thế giới của ý nghĩa mà chúng là biểu hiện. Nhưng khi sự kiện này lần đầu tiên được thấy, được nắm bắt, và khi sự mặc khải ban đầu đã đến, khi vị trí của phần trong tương quan với toàn thể được cảm nhận, và khi thế giới bao gồm thế giới nhỏ bé của chúng ta lần đầu tiên được tiếp xúc, thì luôn luôn có một khoảnh khắc khủng hoảng và một giai đoạn nguy hiểm. Rồi khi sự quen thuộc tăng lên và đôi chân chúng ta đã đi ra đi vào qua cánh cửa mà chúng ta đã mở, và chúng ta đã quen với ánh sáng mà cửa sổ không còn chớp đã giải phóng vào thế giới nhỏ bé của đời sống hằng ngày của chúng ta, thì những nguy hiểm tâm lý khác lại phát sinh. Chúng ta có nguy cơ nghĩ rằng điều mình đã thấy là tất cả những gì có thể thấy, và như thế—trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc và theo một ý nghĩa rộng lớn hơn—chúng ta lặp lại những nguy hiểm (đã được xét trước đó) của sự nhấn mạnh quá mức, của sự tập trung sai lầm, của niềm tin hẹp hòi, và ý tưởng cố định. Chúng ta trở nên bị ám ảnh bởi ý tưởng về linh hồn; chúng ta quên nhu cầu của linh hồn về một vận cụ biểu lộ; chúng ta bắt đầu sống trong một thế giới trừu tượng, tách rời của bản thể và cảm giác, và chúng ta không giữ được tiếp xúc với đời sống thực tế của sự biểu lộ trên cõi hồng trần. Như vậy, chúng ta lặp lại—một lần nữa trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc—tình trạng mà chúng ta đã xét, trong đó linh hồn hay chân ngã không hiện diện, [468] đảo ngược tình trạng ấy để cho không có đời sống hình tướng nào thật sự hiện diện trong tâm thức tập trung của con người. Chỉ có thế giới của các linh hồn và một dục vọng hoạt động sáng tạo. Việc xử lý đời sống hằng ngày trên cõi hồng trần rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức, và con người trở thành một nhà thần bí mơ hồ, thiếu thực tế, đầy linh ảnh. Những trạng thái tâm trí này là nguy hiểm, nếu được phép tồn tại.

There are, however, certain phases of this mental trouble which are induced by the illumination of the mind through meditation with which it might be profitable to deal. I can do so only cursorily, as the time is brief and I seek to indicate and not to elucidate in detail. I can only point out to you the general lines of difficulty and the methods whereby a specific difficulty or problem can be met or solved. In the handling of many of these cases, ordinary common sense is of value, and the effort to impress upon the patient that his troubles, though small in the beginning, can open the door to serious situations. There are three of these upon which I will touch.

Tuy nhiên, có một số giai đoạn của rối loạn trí tuệ này được gây ra bởi sự soi sáng của trí tuệ thông qua tham thiền mà có lẽ sẽ hữu ích nếu bàn đến. Tôi chỉ có thể làm điều đó một cách sơ lược, vì thời gian ngắn và tôi tìm cách chỉ ra chứ không giải thích chi tiết. Tôi chỉ có thể chỉ cho các bạn những đường nét chung của khó khăn và những phương pháp nhờ đó một khó khăn hay vấn đề cụ thể có thể được đối diện hoặc giải quyết. Trong việc xử lý nhiều trường hợp như thế, lẽ thường thông thường có giá trị, và nỗ lực gây ấn tượng nơi bệnh nhân rằng những rắc rối của y, dù nhỏ lúc ban đầu, có thể mở cánh cửa cho những tình huống nghiêm trọng. Có ba trường hợp như thế mà tôi sẽ đề cập.

The first of these is the over-activity of the mind in quite a number of cases, which—sometimes with suddenness and sometimes—slowly grasps and sees too much. It becomes aware of too much knowledge. This produces irregularities in the organisation of the man’s life, and interjects so much variation, so much fluidity and so much restlessness that he is forever in a seething turmoil. Throughout it all, he is conscious of himself as the one at the centre, and interprets all the mental activity and contacts, all the fluidity, the constant analysis to which he is prone, and the ceaseless making of plans as indicative not only of mental ability but of real spiritual insight and wisdom. This produces difficult situations for all associated with him, and continues frequently over a long period of time. For as long as this condition lasts, there [469] is little that anyone can do. The constant “permutations of the chitta or mind stuff” and the perpetual “thought form making activity of the mental body” engrosses the man so constantly that nothing else registers in his consciousness. Vast plans, widespread schemes, correlations and correspondences, plus the attempt to impose them on others and to invoke their aid (with consequent criticism if this aid is withheld) for the carrying out of the mass of unrelated ideas occupy him. There is no real effort made to carry these plans and ideas through to completion, for them all remain tentative on the mental plane, in their original vague state. The effort to see more and grasp more and apprehend more of the detail and the inter-relation engrosses all the attention, and there is no energy left to carry even one of them down on to the plane of desire, and thus take the first steps towards the physical materialisation of the visioned plan. If this state of mind continues for too long a period, it produces mental strain, nervous breakdown and sometimes permanent difficulty. The cure, however, is simple.

Trường hợp thứ nhất là sự quá hoạt động của trí tuệ trong khá nhiều trường hợp, mà—đôi khi đột ngột và đôi khi—chậm rãi nắm bắt và thấy quá nhiều. Nó trở nên nhận biết quá nhiều tri thức. Điều này tạo ra những bất thường trong tổ chức đời sống của con người, và chen vào quá nhiều biến đổi, quá nhiều tính linh động và quá nhiều bất an đến mức y luôn luôn ở trong một cơn xáo động sôi sục. Xuyên suốt tất cả điều đó, y ý thức về chính mình như là kẻ ở trung tâm, và diễn giải mọi hoạt động và tiếp xúc trí tuệ, mọi tính linh động, sự phân tích liên tục mà y có khuynh hướng thực hiện, và việc lập kế hoạch không ngừng như là dấu hiệu không chỉ của năng lực trí tuệ mà còn của linh thị tinh thần và minh triết thực sự. Điều này tạo ra những tình huống khó khăn cho tất cả những ai liên hệ với y, và thường kéo dài trong một thời gian dài. Chừng nào tình trạng này còn kéo dài, thì [469] hầu như không ai có thể làm được gì. Những “biến hoán liên tục của chitta hay chất liệu trí tuệ” và “hoạt động tạo Hình tư tưởng không ngừng của thể trí” cuốn hút con người liên tục đến mức không điều gì khác ghi nhận được trong tâm thức y. Những kế hoạch lớn lao, những hệ thống rộng khắp, những tương quan và tương ứng, cộng với nỗ lực áp đặt chúng lên người khác và kêu gọi sự trợ giúp của họ (kèm theo sự chỉ trích nếu sự trợ giúp ấy bị từ chối) để thực hiện khối ý tưởng không liên hệ ấy chiếm trọn y. Không có nỗ lực thực sự nào được thực hiện để đưa các kế hoạch và ý tưởng này đến chỗ hoàn tất, vì tất cả chúng vẫn còn ở trạng thái thử nghiệm trên cõi trí, trong tình trạng mơ hồ nguyên thủy của chúng. Nỗ lực để thấy nhiều hơn và nắm bắt nhiều hơn và lĩnh hội nhiều hơn về chi tiết và mối liên hệ qua lại chiếm hết mọi sự chú ý, và không còn năng lượng nào để đưa dù chỉ một trong số chúng xuống cõi dục vọng, và như thế thực hiện những bước đầu tiên hướng đến sự hiện hình hồng trần của kế hoạch đã được linh thị. Nếu trạng thái tâm trí này kéo dài quá lâu, nó sẽ tạo ra sự căng thẳng trí tuệ, suy nhược thần kinh và đôi khi là khó khăn thường trực. Tuy nhiên, cách chữa trị thì đơn giản.

Let the man thus afflicted realise the futility of his mental life as he is living it. Then, choosing one of the many possible methods of work and one of the many channels of service whereby the sensed plan can be developed, let him force himself to bring it through into physical manifestation, letting all other possibilities drop. In this way, he can begin again to regulate and control his mind and to take his place among those who are accomplishing something—no matter how small the contribution may be. He becomes then constructive.

Hãy để người bị như vậy nhận ra tính vô ích của đời sống trí tuệ của y như y đang sống nó. Rồi, chọn một trong nhiều phương pháp làm việc khả dĩ và một trong nhiều kênh phụng sự nhờ đó kế hoạch đã được cảm nhận có thể được phát triển, hãy để y buộc mình đưa nó vào biểu hiện hồng trần, để mọi khả năng khác rơi bỏ. Bằng cách này, y có thể bắt đầu lại việc điều chỉnh và kiểm soát trí tuệ của mình và chiếm chỗ của mình giữa những người đang hoàn thành một điều gì đó—dù sự đóng góp ấy nhỏ đến đâu. Khi đó y trở nên có tính xây dựng.

I have illustrated this type of difficulty in terms of the aspirant who, in meditation, comes into touch with the influences of the Hierarchy, and thus is in a position to tap the stream of thought forms created by Them and by Their [470] disciples. But the same type of difficulty will be found among all those who (through discovery of the mental plane and the use of focussed attention) penetrate into that larger world of ideas which are just ready to precipitate on to the concrete levels of mental substance. This accounts for the futility and the apparent arid fruitlessness of many quite intelligent people. They are occupied with so many possibilities that they end by achieving nothing. One plan carried through, one line of thought developed to its concrete conclusion, one mental process unfolded and presented in consciousness will save the situation, and bring creative usefulness into otherwise negative and futile lives. I use the word “negative” in this place to indicate a negativity in the achievement of results. Such a man is, it is needless to say, exceedingly positive in the implications which he attaches to his so-called mental conceptions and ideas as to how it all should be worked out, and is a constant source of dismay to those around him. His friends or co-workers are the butt of his ceaseless criticism, because they do not work out the plan as he believes it should be worked out, or fail to appreciate the flood of ideas with which he is overwhelmed. It should be realised that the man is suffering from a sort of mental fever, with its accompaniments of hallucination, over-activity, and mental irritability. The cure, as I said above, lies in the patient’s own hands. It involves earnest application to one chosen plan to prove its effectiveness, using common sense and ordinary good judgment. The light that can be contacted in meditation has revealed a level of mental phenomena and of thought forms with which the man is unaccustomed to deal. Its manifestation and implications and possibilities impress him as so vast that he argues they must be divine and, therefore, essential. Because he is still in the dramatic centre of his own consciousness and still—even if unconsciously—full of [471] mental pride and spiritual ambition, he feels he has great things to do, and that everybody he knows must aid him in doing it, or else reckon themselves as failures.

Tôi đã minh họa loại khó khăn này theo thuật ngữ của người chí nguyện, là người trong tham thiền tiếp xúc với các ảnh hưởng của Thánh đoàn, và do đó ở vào vị trí có thể khai thác dòng các Hình tư tưởng do Các Ngài và các đệ tử của Các Ngài tạo ra. Nhưng cùng loại khó khăn này cũng sẽ được thấy nơi tất cả những ai (thông qua việc khám phá cõi trí và việc sử dụng sự chú ý tập trung) thâm nhập vào thế giới lớn hơn của các ý tưởng đang vừa sẵn sàng ngưng tụ xuống các cấp độ cụ thể của chất liệu trí tuệ. Điều này giải thích tính vô ích và sự khô cằn không kết quả có vẻ như của nhiều người khá thông minh. Họ bận rộn với quá nhiều khả năng đến mức cuối cùng chẳng đạt được gì. Một kế hoạch được thực hiện đến cùng, một đường lối tư tưởng được phát triển đến kết luận cụ thể của nó, một tiến trình trí tuệ được khai mở và trình bày trong tâm thức sẽ cứu vãn tình hình, và mang lại tính hữu ích sáng tạo vào những đời sống vốn tiêu cực và vô ích. Tôi dùng từ “tiêu cực” ở đây để chỉ sự tiêu cực trong việc đạt được kết quả. Không cần phải nói, một người như thế lại cực kỳ tích cực trong những hàm ý mà y gán cho các quan niệm và ý tưởng trí tuệ được gọi là của mình về cách mọi sự nên được thực hiện, và là một nguồn gây kinh hoàng thường xuyên cho những người quanh y. Bạn bè hay cộng sự của y là đối tượng cho sự chỉ trích không ngừng của y, vì họ không thực hiện kế hoạch theo cách y tin là nên được thực hiện, hoặc không đánh giá cao dòng thác ý tưởng đang tràn ngập y. Cần nhận ra rằng người ấy đang chịu đựng một loại sốt trí tuệ, với những hiện tượng đi kèm là ảo giác, quá hoạt động, và dễ kích động về trí tuệ. Cách chữa trị, như tôi đã nói ở trên, nằm trong tay chính bệnh nhân. Nó bao gồm sự chuyên cần nghiêm túc vào một kế hoạch đã chọn để chứng minh hiệu quả của nó, sử dụng lẽ thường và phán đoán lành mạnh thông thường. Ánh sáng có thể được tiếp xúc trong tham thiền đã mặc khải một cấp độ hiện tượng trí tuệ và các Hình tư tưởng mà con người chưa quen xử lý. Sự biểu lộ, những hàm ý và những khả năng của nó gây ấn tượng nơi y là quá lớn lao đến mức y lập luận rằng chúng hẳn phải là thiêng liêng và vì vậy là thiết yếu. Bởi vì y vẫn còn ở trung tâm đầy kịch tính của tâm thức riêng mình và vẫn—dù vô thức—đầy [471] kiêu hãnh trí tuệ và tham vọng tinh thần, y cảm thấy mình có những việc lớn lao phải làm, và rằng mọi người y biết đều phải giúp y làm điều đó, nếu không thì phải tự xem mình là những kẻ thất bại.

The second is the revelation of the maya of the senses. This maya is a generic term covering three aspects of the phenomenal life, of the three worlds or the three major results of force activity. These serve to bewilder the man and make difficult the lot of the earnest aspirant. It might be of value if I here defined for you the three terms which are applied to these three phenomenal effects: Illusion, Glamour and Maya.

Trường hợp thứ hai là sự mặc khải của ảo lực của các giác quan. Ảo lực này là một thuật ngữ tổng quát bao trùm ba phương diện của đời sống hiện tượng, của ba cõi giới hay ba kết quả chính của hoạt động mãnh lực. Chúng làm cho con người bối rối và khiến số phận của người chí nguyện chân thành trở nên khó khăn. Sẽ có ích nếu ở đây tôi định nghĩa cho các bạn ba thuật ngữ được áp dụng cho ba hiệu ứng hiện tượng này: Ảo tưởng, Ảo cảm và Ảo lực.

These three phrases have for long been bandied about among so-called occultists and esotericists. They stand for the same general concept or the differentiation of that concept. Speaking generally, the interpretations have been as follows and they are only partial interpretations, being almost in the nature of distortions of the real truth, owing to the limitations of the human consciousness.

Ba cụm từ này từ lâu đã được tung ra giữa những người được gọi là các nhà huyền bí học và các nhà bí truyền học. Chúng biểu thị cùng một khái niệm tổng quát hoặc sự biến phân của khái niệm ấy. Nói chung, các cách diễn giải đã như sau và chúng chỉ là những cách diễn giải bộ phận, gần như mang tính bóp méo chân lý thực sự, do những giới hạn của tâm thức con người.

Glamour has oft been regarded as a curious attempt of what are called the “black forces” to deceive and hoodwink well-meaning aspirants. Many fine people are almost flattered when they are “up against” some aspect of glamour, feeling that their demonstration of discipline has been so good that the black forces are interested sufficiently to attempt to hinder their fine work by submerging them in clouds of glamour. Nothing could be further from the truth. That idea is itself a part of the glamour of the present time, and has its root in human pride and satisfaction.

Ảo cảm thường được xem như một nỗ lực kỳ lạ của cái được gọi là “các lực hắc ám” nhằm lừa dối và đánh lạc hướng những người chí nguyện thiện chí. Nhiều người tốt gần như cảm thấy được tâng bốc khi họ “đụng phải” một phương diện nào đó của ảo cảm, cảm thấy rằng sự biểu lộ kỷ luật của họ đã tốt đến mức các lực hắc ám đủ quan tâm để tìm cách cản trở công việc tốt đẹp của họ bằng cách nhấn chìm họ trong những đám mây ảo cảm. Không gì có thể xa sự thật hơn thế. Chính ý tưởng đó tự nó là một phần của ảo cảm của thời đại hiện nay, và có gốc rễ trong lòng kiêu hãnh và sự tự mãn của con người.

Maya is oft regarded as being of the same nature as the concept promulgated by the Christian Scientist that there is no such thing as matter. We are asked to regard the entire world phenomena as maya and to believe that its existence is simply an error of mortal mind, and a form of auto-suggestion [472] or self-hypnotism. Through this induced belief, we force ourselves into a state of mind which recognises that the tangible and the objective are only figments of mans imaginative mind. This, in its turn, is likewise a travesty of reality.

Ảo lực thường được xem là có cùng bản chất với khái niệm do nhà Christian Scientist truyền bá rằng không hề có cái gọi là vật chất. Chúng ta được yêu cầu xem toàn bộ hiện tượng thế giới là ảo lực và tin rằng sự tồn tại của nó chỉ đơn giản là một sai lầm của trí tuệ phàm nhân, và là một hình thức tự ám thị [472] hay tự thôi miên. Thông qua niềm tin được gây ra này, chúng ta ép mình vào một trạng thái tâm trí thừa nhận rằng cái hữu hình và khách quan chỉ là những sản phẩm hư ảo của trí tưởng tượng con người. Đến lượt nó, điều này cũng là một sự xuyên tạc thực tại.

lllusion is regarded in rather the same way, only (as we define it) we lay the emphasis upon the finiteness of man’s mind. The world of phenomena is not denied, but we regard the mind as misinterpreting it and as refusing to see it as it is in reality. We consider this misinterpretation as constituting the Great Illusion.

Ảo tưởng được xem theo cách khá tương tự, chỉ khác là (theo cách chúng ta định nghĩa) chúng ta nhấn mạnh vào tính hữu hạn của trí tuệ con người. Thế giới hiện tượng không bị phủ nhận, nhưng chúng ta xem trí tuệ là diễn giải sai nó và từ chối thấy nó như nó thật sự là. Chúng ta xem sự diễn giải sai này là cấu thành Đại Ảo Tưởng.

I would point out here that (generally speaking) these three expressions are three aspects of a universal condition that is the result of the activity—in time and space—of the human mind.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng (nói chung) ba cách diễn đạt này là ba phương diện của một tình trạng phổ quát, là kết quả của hoạt động—trong thời gian và không gian—của trí tuệ con người.

The Problem of Illusion lies in the fact that it is a soul activity, and is the result of the mind aspect of all the souls in manifestation. It is the soul which is submerged in the illusion, and the soul that fails to see with clarity until such time as it has learnt to pour the light of the soul through into the mind and the brain.

Vấn đề của Ảo tưởng nằm ở sự kiện rằng đó là một hoạt động của linh hồn, và là kết quả của phương diện trí tuệ của mọi linh hồn đang biểu lộ. Chính linh hồn bị chìm ngập trong ảo tưởng, và chính linh hồn không thấy rõ ràng cho đến khi nó đã học được cách tuôn ánh sáng của linh hồn xuyên qua trí tuệ và bộ não.

The Problem of Glamour is found when the mental illusion is intensified by desire. What the theosophist calls “Kamamanas” produces glamour. It is illusion on the astral plane.

Vấn đề của Ảo cảm được thấy khi ảo tưởng trí tuệ được tăng cường bởi dục vọng. Điều mà nhà Thông Thiên Học gọi là “Kamamanas” tạo ra ảo cảm. Đó là ảo tưởng trên cõi cảm dục.

The Problem of Maya is really the same as above, plus the intense activity produced when both glamour and illusion are realised on etheric levels. It is that vital, unthinking, emotional mess (yes, that is the word I seek to use) in which the majority of human beings seem always to live. Therefore:

Vấn đề của Ảo lực thực ra cũng giống như trên, cộng thêm hoạt động mãnh liệt được tạo ra khi cả ảo cảm lẫn ảo tưởng đều được nhận biết trên các cấp dĩ thái. Đó là mớ hỗn độn cảm xúc sống động, không suy nghĩ (đúng vậy, đó là từ tôi muốn dùng) mà trong đó đa số nhân loại dường như luôn luôn sống. Vì vậy:

1. Illusion is primarily of a mental quality and is characteristic of the attitude of mind of those people who are more intellectual than emotional. They have outgrown glamour as usually understood. It is the misunderstanding [473] of ideas and thought forms of which they are guilty, and of misinterpretations.

1. Ảo tưởng chủ yếu có phẩm tính trí tuệ và là đặc trưng của thái độ trí tuệ nơi những người trí tuệ hơn là cảm xúc. Họ đã vượt khỏi ảo cảm theo cách thường được hiểu. Đó là sự hiểu sai [473] các ý tưởng và Hình tư tưởng mà họ phạm phải, và những sự diễn giải sai.

2. Glamour is astral in character, and is far more potent at this time than illusion, owing to the enormous majority of people who function astrally always.

2. Ảo cảm có tính chất cảm dục, và hiện nay mạnh hơn ảo tưởng rất nhiều, do đại đa số con người luôn luôn hoạt động trên cõi cảm dục.

3. Maya is vital in character and is a quality of force. It is essentially the energy of the human being as it swings into activity through the subjective influence of mental illusion or astral glamour or of both in combination.

3. Ảo lực có tính chất sinh lực và là một phẩm tính của mãnh lực. Về bản chất, đó là năng lượng của con người khi nó đi vào hoạt động thông qua ảnh hưởng chủ quan của ảo tưởng trí tuệ hay ảo cảm cảm dục hoặc của cả hai kết hợp lại.

The vastness of the subject is overwhelming, and it takes time for the aspirant to learn the rules whereby he can find his way out of the worlds of glamour. I seek here only to deal with the theme as it produces effects in the life of the man who has evoked a measure of light within himself. This has served to reveal the three worlds of lower force to him. This revelation, in the early stages, oft deceives him and he becomes the victim of that which has been revealed. It might justly be remarked that all human beings are the victims of the Great Illusion and of its various correlations and aspects. In the cases which we are here considering, the difference lies in the fact that—

Tính bao la của đề tài này thật choáng ngợp, và người chí nguyện cần có thời gian để học các quy luật nhờ đó y có thể tìm được lối thoát ra khỏi các thế giới của ảo cảm. Ở đây tôi chỉ tìm cách bàn đến chủ đề này trong chừng mực nó tạo ra các hiệu quả trong đời sống của người đã gợi lên được một mức độ ánh sáng bên trong chính mình. Điều này đã giúp phơi bày cho y ba cõi của các mãnh lực thấp. Sự mặc khải này, trong các giai đoạn đầu, thường đánh lừa y và y trở thành nạn nhân của chính điều đã được phơi bày. Có thể hoàn toàn chính đáng khi nhận xét rằng mọi con người đều là nạn nhân của Đại Ảo Tưởng và của các tương quan cùng phương diện khác nhau của nó. Trong các trường hợp mà ở đây chúng ta đang xét đến, sự khác biệt nằm ở chỗ là—

1. The man is definitely and consciously aware of himself.

1. Người ấy rõ ràng và có ý thức nhận biết chính mình.

2. He knows also that he has released a measure of the higher light.

2. Y cũng biết rằng y đã giải phóng được một mức độ ánh sáng cao hơn.

3. That which is revealed to him is interpreted by him in terms of spiritual phenomena instead of in terms of psychical phenomena. He regards it all as wonderful, revealing, true and desirable.

3. Điều được phơi bày cho y được y diễn giải theo các hiện tượng tinh thần thay vì theo các hiện tượng thông linh. Y xem tất cả điều đó là kỳ diệu, mặc khải, chân thực và đáng mong cầu.

Because he has achieved integration and is able to function in the mind nature; because his orientation is good and right; because he is on the Path of Probation; and because he knows himself to be an aspirant and even a disciple, that which the [474] lights reveals upon the astral plane, for instance, is naturally of a very high order. It is, consequently, most deceptive in its effects. Vast cosmic schemes which have emerged from the minds of thinkers in the past and which have succeeded in reaching the astral plane; the ancient forms embodying the “wish life” and the imaginary conceptions of the race and which are of such potency that they have persisted in the desire life of many; the symbolic forms employed down the ages in the attempt to materialise certain realities; the tentative and experimental forms of great and good endeavours which have been or are at this time being worked out, plus the life activity of the astral plane itself, the dream world of the planet—all this tends to preoccupy him and to lead him into danger and error. It retards his progress on the way and sidetracks his energies and attention.

Bởi vì y đã đạt được sự tích hợp và có thể hoạt động trong bản chất trí tuệ; bởi vì định hướng của y là tốt và đúng; bởi vì y đang ở trên Con Đường Dự Bị; và bởi vì y biết mình là một người chí nguyện và thậm chí là một đệ tử, nên điều mà các ánh sáng phơi bày trên cõi cảm dục, chẳng hạn, tự nhiên thuộc về một trật tự rất cao. Do đó, nó cực kỳ đánh lừa trong các hiệu quả của nó. Những hệ thống vũ trụ bao la đã xuất hiện từ trí tuệ của các nhà tư tưởng trong quá khứ và đã thành công trong việc vươn tới cõi cảm dục; những hình thức cổ xưa thể hiện “đời sống ham muốn” và các quan niệm tưởng tượng của nhân loại, vốn có mãnh lực đến mức đã tồn tại dai dẳng trong đời sống dục vọng của nhiều người; những hình thức biểu tượng đã được dùng qua các thời đại trong nỗ lực hiện hình một số thực tại; những hình thức thử nghiệm và thăm dò của các nỗ lực lớn lao và tốt đẹp đã từng hoặc hiện đang được triển khai, cộng thêm hoạt động sự sống của chính cõi cảm dục, thế giới mộng tưởng của hành tinh—tất cả điều này có khuynh hướng chiếm trọn tâm trí y và dẫn y vào nguy hiểm cùng sai lầm. Nó làm chậm bước tiến của y trên đường đạo và làm chệch hướng các năng lượng cùng sự chú ý của y.

It should be remembered that this constitutes the line of least resistance for the man because of the potency of the astral body in this world period. The result of all this is that the powers and faculties of the mind become over developed and what are called the “lower siddhis” (the lower psychic powers) begin to assert control. The man is, in reality, reverting to states of awareness and to conditions of functioning which were normal and right in Atlantean times, but undesirable and unnecessary in our day. He is recovering—through stimulation—ancient habits of psychic awareness which should lie normally below the threshold of consciousness.

Cần nhớ rằng điều này tạo thành con đường ít trở ngại nhất đối với con người, vì mãnh lực của thể cảm dục trong chu kỳ thế giới này. Kết quả của tất cả điều đó là các quyền năng và năng lực của trí tuệ trở nên phát triển quá mức, và cái được gọi là “các siddhi thấp” (các quyền năng thông linh thấp) bắt đầu khẳng định sự kiểm soát. Thực ra, người ấy đang quay trở lại các trạng thái nhận biết và các điều kiện hoạt động vốn là bình thường và đúng đắn trong thời Atlantis, nhưng lại không đáng mong muốn và không cần thiết trong thời đại chúng ta. Y đang phục hồi—thông qua sự kích thích—những thói quen cổ xưa của sự nhận biết thông linh, những điều lẽ ra bình thường phải nằm dưới ngưỡng của tâm thức.

The light has revealed this world of phenomena to him; he deems it desirable and interprets its activities as a wonderful spiritual development within himself. This stimulation by the mind (itself stimulated in meditation) as it turns downward on to the astral plane, evokes the renewed and the reawakened active reaction from the lower powers. It is as [475] definitely a recovery and as definitely undesirable as are some of the Hatha-yoga practices in India which enable the yogin to recover the conscious control of his bodily functions. This conscious control was a distinguishing mark of the early Lemurian races but for ages the activity of the body-organs has lain, most desirably and safely, below the threshold of consciousness, and the body performs its functions automatically and unconsciously, except in the case of disease or maladjustment of some kind. It is not intended that the race (when the work of this present cycle is accomplished) should function consciously in forgotten areas of awareness, as did the Lemurian or the Atlantean races. It is intended that men should function as Caucasians, though no really satisfactory term has yet been coined to distinguish the race which is developing under the impact of our occidental civilization. I am referring to states of consciousness and realms of awareness which are the prerogative of all races and peoples at certain stages of development, and I only use the three, scientific, racial nomenclatures as symbols of these stages:

Ánh sáng đã phơi bày cho y thế giới hiện tượng này; y cho đó là điều đáng mong cầu và diễn giải các hoạt động của nó như một sự phát triển tinh thần kỳ diệu bên trong chính mình. Sự kích thích này bởi trí tuệ (bản thân trí tuệ cũng được kích thích trong tham thiền), khi quay xuống dưới cõi cảm dục, gợi lên phản ứng hoạt động được đổi mới và được đánh thức lại từ các quyền năng thấp. Điều đó [475] cũng rõ ràng là một sự phục hồi và cũng rõ ràng là không đáng mong muốn như một số thực hành Hatha-yoga ở Ấn Độ, vốn giúp yogin phục hồi sự kiểm soát có ý thức đối với các chức năng cơ thể của mình. Sự kiểm soát có ý thức này là một dấu hiệu phân biệt của các giống dân Lemuria sơ kỳ, nhưng qua nhiều thời đại hoạt động của các cơ quan thân thể đã nằm, một cách rất đáng mong muốn và an toàn, dưới ngưỡng của tâm thức, và thân thể thực hiện các chức năng của nó một cách tự động và vô thức, ngoại trừ trong trường hợp bệnh tật hay một loại sai lệch điều chỉnh nào đó. Không phải là chủ định để nhân loại (khi công việc của chu kỳ hiện tại này được hoàn tất) hoạt động một cách có ý thức trong các lĩnh vực nhận biết đã bị quên lãng, như các giống dân Lemuria hay Atlantis đã làm. Chủ định là con người phải hoạt động như người Caucasian, mặc dù chưa có thuật ngữ nào thật sự thỏa đáng được đặt ra để phân biệt nhân loại đang phát triển dưới tác động của nền văn minh phương Tây của chúng ta. Tôi đang nói đến các trạng thái tâm thức và các lĩnh vực nhận biết là đặc quyền của mọi nhân loại và mọi dân tộc ở những giai đoạn phát triển nhất định, và tôi chỉ dùng ba danh xưng khoa học về chủng tộc như những biểu tượng của các giai đoạn ấy:

The Lemurian consciousness

physical.

The Atlantean consciousness

astral, emotional, sensuous.

The Caucasian or Aryan

mental or intellectual.

[Table 10]

This must never be forgotten.

Điều này tuyệt đối không bao giờ được quên.

The man who is suffering from the revelations of light in the three worlds (particularly in the astral world) is, therefore, really doing two things:

Vì vậy, người đang chịu khổ vì các mặc khải của ánh sáng trong ba cõi giới (đặc biệt trong thế giới cảm dục) thực ra đang làm hai việc:

1. He is remaining in a relatively static condition as far as his higher progress is concerned; he is looking on at the bewildering kaleidoscope of the astral plane with interest and attention. He may not be active on the plane himself or consciously identify himself with it, but, mentally and emotionally, it is satisfying temporarily his [476] interest, holding his attention and arousing his curiosity, even if he remains, at the same time, critical. He is, therefore, wasting time and surrounding himself continuously with new layers of thought forms—the result of his thought about what he is seeing or hearing. This is dangerous and should be brought to an end. Intelligent interest in the world of glamour and illusion is required of all wise aspirants and disciples so that they may release themselves from its thralldom, for otherwise it will never be understood and controlled. But a prolonged application to its life and complete engrossment in its phenomena is dangerous and imprisoning.

1. Y đang ở trong một tình trạng tương đối tĩnh tại xét về sự tiến bộ cao hơn của mình; y đang quan sát với sự quan tâm và chú ý cảnh tượng vạn hoa rối rắm của cõi cảm dục. Có thể chính y không hoạt động trên cõi ấy hoặc không có ý thức đồng hoá với nó, nhưng về mặt trí tuệ và cảm xúc, nó đang tạm thời thỏa mãn [476] mối quan tâm của y, giữ sự chú ý của y và khơi dậy tính tò mò của y, ngay cả khi đồng thời y vẫn giữ thái độ phê phán. Vì vậy, y đang lãng phí thời gian và liên tục bao quanh mình bằng những lớp Hình tư tưởng mới—kết quả của tư tưởng của y về điều y đang thấy hoặc nghe. Điều này nguy hiểm và cần phải chấm dứt. Mọi người chí nguyện và đệ tử minh triết đều cần có sự quan tâm thông minh đối với thế giới của ảo cảm và ảo tưởng để họ có thể tự giải thoát khỏi ách nô lệ của nó, vì nếu không thì nó sẽ không bao giờ được thấu hiểu và kiểm soát. Nhưng việc chú tâm kéo dài vào đời sống của nó và hoàn toàn say mê các hiện tượng của nó thì nguy hiểm và giam hãm.

2. The interest evoked in these undesirable cases is such that the man—

2. Mối quan tâm được khơi dậy trong các trường hợp không đáng mong muốn này đến mức người ấy—

a. Becomes completely glamoured by it.

a. Hoàn toàn bị ảo cảm bởi nó.

b. Descends (speaking symbolically) to its level.

b. Hạ xuống (nói theo biểu tượng) đến cấp độ của nó.

c. Reacts sensitively to its phenomena, and often with pleasure and delight.

c. Đáp ứng nhạy cảm với các hiện tượng của nó, và thường với sự thích thú và vui sướng.

d. Invokes the ancient faculties of clairvoyance and clairaudience.

d. Gọi dậy các năng lực cổ xưa của thông nhãn và thông nhĩ.

e. Becomes a lower psychic and accepts all that the lower psychic powers reveal.

e. Trở thành một người thông linh thấp và chấp nhận mọi điều mà các quyền năng thông linh thấp phơi bày.

I would like to pause here and point out two things which should be borne in mind:

Tôi muốn dừng lại ở đây và chỉ ra hai điều cần được ghi nhớ:

First, that many people are today living in the Atlantean state of awareness, in the Atlantean consciousness and for them the expression of these lower psychic powers is normal, though undesirable. For the man who is a mental type or who is overcoming gradually the psychic nature, these powers are abnormal (or should I say subnormal?) and most undesirable. In this discussion with which we are now engaged, I am not dealing with the man with the Atlantean consciousness but [477] with the modern aspirant. For him to develop the previous racial consciousness and to revert to the lower type of development (which should have been left far behind) is dangerous and retarding. It is a form of atavistic expression.

Thứ nhất, ngày nay nhiều người đang sống trong trạng thái nhận biết Atlantis, trong tâm thức Atlantis, và đối với họ sự biểu lộ của các quyền năng thông linh thấp này là bình thường, dù không đáng mong muốn. Đối với người thuộc loại trí tuệ hoặc đang dần vượt qua bản chất thông linh, các quyền năng này là bất thường (hay tôi nên nói là dưới mức bình thường?) và cực kỳ không đáng mong muốn. Trong cuộc bàn luận mà hiện nay chúng ta đang tiến hành, tôi không đề cập đến người có tâm thức Atlantis mà [477] đề cập đến người chí nguyện hiện đại. Đối với y, việc phát triển lại tâm thức chủng tộc trước đây và quay về loại phát triển thấp hơn (đáng lẽ phải bị bỏ lại rất xa phía sau) là nguy hiểm và làm chậm trễ. Đó là một hình thức biểu lộ phản tổ.

Secondly: that when a man is firmly polarised upon the mental plane, when he has achieved some measure of contact with the soul, and when his entire orientation is towards the world of spiritual realities and his life is one of discipline and service, then, at times, and when necessary, he can at will call into use these lower psychic powers in the service of the Plan and in order to do some special work upon the astral plane. But this is a case where the greater consciousness includes normally the lesser consciousness. This is however seldom done even by the adepts, for the powers of the soul—spiritual perception, telepathic sensitivity and psychometrical facility—are usually adequate to the demand and the need to be met. I interject these remarks, as there are some enlightened men who use these powers, but it is always along the line of some specific service to the Hierarchy and humanity, and not along any line connected with the individual.

Thứ hai: khi một người được phân cực vững chắc trên cõi trí, khi y đã đạt được một mức độ tiếp xúc nào đó với linh hồn, và khi toàn bộ định hướng của y hướng về thế giới của các thực tại tinh thần và đời sống của y là đời sống kỷ luật và phụng sự, thì đôi khi, và khi cần thiết, y có thể tùy ý gọi dùng các quyền năng thông linh thấp này để phụng sự Thiên Cơ và để thực hiện một công việc đặc biệt nào đó trên cõi cảm dục. Nhưng đây là trường hợp trong đó tâm thức lớn hơn bao hàm một cách bình thường tâm thức nhỏ hơn. Tuy nhiên, điều này hiếm khi được thực hiện ngay cả bởi các chân sư, vì các quyền năng của linh hồn—tri giác tinh thần, sự nhạy cảm viễn cảm và năng lực trắc tâm—thường đã đủ đáp ứng yêu cầu và nhu cầu cần được đáp ứng. Tôi xen vào những nhận xét này vì có một số người giác ngộ sử dụng các quyền năng ấy, nhưng luôn luôn là theo đường lối của một sự phụng sự đặc thù nào đó đối với Thánh Đoàn và nhân loại, chứ không theo bất kỳ đường lối nào liên hệ đến cá nhân.

When a man has wandered into the bypaths of the astral plane, and has left the secure place of mental poise and intellectual altitude (again I am speaking symbolically) when he has succumbed to glamour and illusion (usually being quite sincerely deceived and well-intentioned) and when he has unfolded in himself—through misapplied stimulation and experiment—old habits of contact, such as clairvoyance and clairaudience, what can he do, or what shall be done to him to bring about right conditions?

Khi một người đã lang thang vào những lối rẽ của cõi cảm dục, và đã rời bỏ vị trí an toàn của sự quân bình trí tuệ và độ cao trí năng (một lần nữa tôi đang nói theo biểu tượng), khi y đã khuất phục trước ảo cảm và ảo tưởng (thường là bị lừa dối một cách hoàn toàn chân thành và đầy thiện ý), và khi y đã khai mở trong chính mình—qua sự kích thích và thử nghiệm bị áp dụng sai—những thói quen tiếp xúc cũ, như thông nhãn và thông nhĩ, thì y có thể làm gì, hoặc cần phải làm gì cho y để tạo ra các điều kiện đúng đắn?

Many of these people find their way into the hands of psychologists and psychiatrists; many are to be found today in our sanitariums and asylums, placed there because they “saw things” or heard voices, or dreamed dreams, and because [478] they had unfitted themselves for normal living. They appear to be a danger, both to themselves and to others. They constitute a problem and a difficulty. The ancient habits must be dropped, but because of their antiquity they are very powerful, and to drop them is easier said than done. The practices whereby the lower psychic powers have been developed must be given up. If these faculties of response to an environing astral world appear to have been developed with no difficulty and to be natural to the man, they should nevertheless be discontinued and the avenues of approach to this lower world of phenomena should be closed. If human beings make so poor a success of living consciously on the physical plane and in handling the phenomena there contacted, and if the life of mental attention and mental living is still so difficult to the vast majority, why complicate the problem by trying to live in a world of phenomena which is admittedly the most powerful at this time?

Nhiều người trong số هؤلاء tìm đến tay các nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần; ngày nay nhiều người được thấy trong các viện điều dưỡng và nhà thương điên của chúng ta, bị đưa vào đó vì họ “thấy những điều” hoặc nghe tiếng nói, hoặc mơ những giấc mơ, và vì [478] họ đã làm cho mình không còn thích hợp với đời sống bình thường. Họ dường như là một mối nguy, vừa cho chính họ vừa cho người khác. Họ tạo thành một vấn đề và một khó khăn. Những thói quen cổ xưa phải được từ bỏ, nhưng vì tính cổ xưa của chúng nên chúng rất mạnh, và việc từ bỏ chúng nói thì dễ hơn làm. Những thực hành nhờ đó các quyền năng thông linh thấp đã được phát triển phải bị từ bỏ. Nếu các năng lực đáp ứng với một thế giới cảm dục bao quanh này dường như đã được phát triển không mấy khó khăn và có vẻ tự nhiên đối với người ấy, thì dù vậy chúng vẫn phải bị ngưng lại và các lối tiếp cận đến thế giới hiện tượng thấp này phải bị đóng lại. Nếu con người sống có ý thức trên cõi hồng trần và xử lý các hiện tượng được tiếp xúc ở đó còn quá ít thành công, và nếu đời sống của sự chú ý trí tuệ và đời sống trí tuệ vẫn còn quá khó khăn đối với đại đa số, thì tại sao lại làm phức tạp thêm vấn đề bằng cách cố sống trong một thế giới hiện tượng mà rõ ràng hiện nay là mạnh mẽ nhất?

The task of release from the thralldom of astral sensitivity is unique and stupendous. The details of the method whereby it can be done are too numerous for us to consider them here. But certain words hold the keynotes of release and three basic suggestions will aid the psychologist in dealing with these types of difficulty. The words which hold the secret are:

Nhiệm vụ giải thoát khỏi ách nô lệ của sự nhạy cảm cảm dục là độc nhất và to lớn. Các chi tiết của phương pháp nhờ đó điều này có thể được thực hiện thì quá nhiều để chúng ta xem xét ở đây. Nhưng một số từ ngữ nắm giữ các chủ âm của sự giải thoát, và ba gợi ý căn bản sẽ giúp nhà tâm lý học xử lý các loại khó khăn này. Những từ ngữ nắm giữ bí mật là:

1. Instruction.

1. Chỉ dẫn.

2. Focus of attention.

2. Tập trung sự chú ý.

3. Occupation.

3. Bận rộn.

The nature of the human response apparatus in the three worlds should be carefully explained to the man who is in difficulty and the distinction between the Lemurian, the Atlantean and the Caucasian consciousness should be made clear to him, if possible. His pride of place upon the ladder of evolution [479] should be evoked at this point again if possible, and it will prove a constructive evocation. The effort to focus his attention should be progressively and sympathetically attempted. According to his type so will the effort be directed to focussing his attention and directing his interest upon the physical plane or the mental plane, thus directing it away from the intermediate plane. Definite physical or mental occupation (again arranged according to type) should be arranged and the man forced to occupy himself in some chosen manner.

Bản chất của bộ máy đáp ứng của con người trong ba cõi giới cần được giải thích cẩn thận cho người đang gặp khó khăn, và nếu có thể thì sự khác biệt giữa tâm thức Lemuria, Atlantis và Caucasian cần được làm rõ cho y. Niềm tự hào về vị trí của y trên chiếc thang tiến hoá [479] cũng nên được khơi dậy vào lúc này nếu có thể, và đó sẽ là một sự gợi lên có tính xây dựng. Nỗ lực tập trung sự chú ý của y cần được thực hiện dần dần và đầy cảm thông. Tùy theo loại của y mà nỗ lực ấy sẽ được hướng đến việc tập trung sự chú ý và định hướng mối quan tâm của y vào cõi hồng trần hoặc cõi trí, nhờ đó hướng nó ra xa cõi trung gian. Một sự bận rộn rõ rệt về thể xác hoặc trí tuệ (một lần nữa được sắp xếp tùy theo loại) cần được bố trí, và người ấy phải bị buộc phải bận rộn theo một cách thức đã chọn.

The three suggestions I would make to the psychologist or the mental healer are:

Ba gợi ý mà tôi muốn đưa ra cho nhà tâm lý học hoặc nhà trị liệu trí tuệ là:

1. Study with care the nature of the rays which presumably constitute the man’s nature and provide the forces and energies which make him what he is. I have worded this with care.

1. Hãy cẩn thận nghiên cứu bản chất các cung mà có lẽ cấu thành bản chất của người ấy và cung cấp các mãnh lực cùng năng lượng làm cho y là chính y. Tôi đã diễn đạt điều này một cách cẩn trọng.

2. Determine which of the vehicles of contact is the most powerful, best organised and well developed. It will indicate through which forms the life expression in this particular incarnation is flowing.

2. Hãy xác định vận cụ tiếp xúc nào là mạnh nhất, được tổ chức tốt nhất và phát triển nhất. Nó sẽ chỉ ra qua những hình thức nào sự biểu lộ sự sống trong lần lâm phàm đặc biệt này đang tuôn chảy.

3. Investigate the physical condition with care, and where it needs attention see that due care is given. At the same time, take note of the glandular equipment, studying it from the standpoint of its relation to the seven major centres in the body. In many cases, the glands indicate the condition of the centres. Thus an understanding of the force system of the patient will take place.

3. Hãy cẩn thận khảo sát tình trạng thể xác, và ở đâu cần được chăm sóc thì hãy bảo đảm sự chăm sóc thích đáng được thực hiện. Đồng thời, hãy lưu ý đến bộ máy tuyến nội tiết, nghiên cứu nó từ quan điểm liên hệ của nó với bảy trung tâm chính trong cơ thể. Trong nhiều trường hợp, các tuyến cho thấy tình trạng của các trung tâm. Nhờ đó sẽ có được sự thấu hiểu về hệ thống mãnh lực của bệnh nhân.

The Science of the Centres is yet in its infancy, as is the Science of the Rays and the Science of Astrology. But much is being learned and developed along these three lines and when the present barriers are down and true scientific investigation is instituted along these lines, a new era will begin for the human being. These three sciences will constitute the [480] three major departments of the Science of Psychology in the New Age, plus the contributions of modern psychology and the insight into the nature of man (particularly the physical nature) which it has so wonderfully developed.

Khoa Học về các Trung Tâm vẫn còn ở thời kỳ sơ khai, cũng như Khoa Học về các Cung và Khoa Học Chiêm Tinh. Nhưng nhiều điều đang được học hỏi và phát triển theo ba đường lối này, và khi các rào cản hiện nay được dỡ bỏ và sự khảo cứu khoa học chân chính được thiết lập theo các đường lối ấy, một kỷ nguyên mới sẽ bắt đầu cho con người. Ba khoa học này sẽ cấu thành [480] ba phân bộ chính của Khoa Học Tâm Lý Học trong Kỷ Nguyên Mới, cộng thêm những đóng góp của tâm lý học hiện đại và sự thấu suốt vào bản chất con người (đặc biệt là bản chất thể xác) mà nó đã phát triển một cách kỳ diệu.

Problems of guidance, dreams, and depression. (480-494)

Các vấn đề về sự hướng dẫn, giấc mơ, và trầm cảm. (480-494)

I am dealing with these problems because of their exceeding prevalence at this time, due to the activities of various religiously or psychologically motivated groups, to the trend of certain schools, dedicated to the spread of religion or of psychology, and to the present world situation which has plunged so many sensitive people into a state of lowered spiritual vitality, accompanied usually by lowered physical vitality. This condition is widespread and based on wrong economic conditions. I am dealing with these before we take up our fourth point, The Diseases and Problems of Mystics, as they form an intermediate group, including many intelligent and well-intentioned citizens.

Tôi đang đề cập đến các vấn đề này vì mức độ phổ biến quá lớn của chúng vào lúc này, do các hoạt động của nhiều nhóm được thúc đẩy bởi động cơ tôn giáo hoặc tâm lý, do xu hướng của một số trường phái tận hiến cho việc truyền bá tôn giáo hoặc tâm lý học, và do tình hình thế giới hiện nay đã đẩy quá nhiều người nhạy cảm vào một trạng thái sinh lực tinh thần suy giảm, thường đi kèm với sinh lực thể xác suy giảm. Tình trạng này lan rộng và dựa trên các điều kiện kinh tế sai lầm. Tôi đang đề cập đến các vấn đề này trước khi chúng ta bàn đến điểm thứ tư của mình, Các Bệnh Tật và Vấn Đề của Các Nhà Thần Bí, vì chúng tạo thành một nhóm trung gian, bao gồm nhiều công dân thông minh và đầy thiện ý.

The Problem of Guidance is a peculiarly difficult one to handle, for it is based on an innate instinctive recognition of the fact of God and of God’s Plan. This inherent, instinctual, spiritual reaction is being exploited today by many well meaning reformers who have, however, given no real attention to the subject, or to the phenomena of the outer response to a subjective urge. They are, in the majority of cases, blind leaders of the blind. We might define the problem of guidance as the problem of the method whereby a man, through processes of auto-suggestion, throws himself into a state of negativity and (whilst in that state) becomes aware of inclinations, urges, voices, clearly impressed commands, revelations of courses of conduct which should be pursued or of careers which should be followed, plus a general indication [481] of lines of activity which “God” is proposing to the attentive, negative, receptive subject. In this state of almost sublimated awareness to the insistent demands of the subjective realms of being or of thought, the man is swept into a current of activity which may succeed in permanently orienting his life (often quite harmlessly and sometimes most desirably) or which may have only a temporary effect, once the urge of response has exhausted itself. But in any case, the source of the direction and the origin of the guidance is vaguely called “God”, is regarded as divine, is spoken of as the voice of the “Christ within”, or as spiritual direction. Many analogous terms are used, according to the school of thought to which the man may belong, or which has succeeded in attracting his attention.

Vấn đề về sự hướng dẫn là một vấn đề đặc biệt khó xử lý, vì nó dựa trên một sự nhận biết bẩm sinh theo bản năng về sự kiện có Thượng đế và về Thiên Cơ của Thượng đế. Phản ứng tinh thần cố hữu, bản năng này hiện đang bị nhiều nhà cải cách đầy thiện ý khai thác, tuy nhiên họ không thật sự chú ý đến chủ đề này, hoặc đến các hiện tượng của sự đáp ứng bên ngoài đối với một thúc đẩy chủ quan. Trong đa số trường hợp, họ là những kẻ mù dẫn dắt kẻ mù. Chúng ta có thể định nghĩa vấn đề về sự hướng dẫn như là vấn đề về phương pháp nhờ đó một người, qua các tiến trình tự ám thị, đưa mình vào một trạng thái tiêu cực và (trong khi ở trong trạng thái ấy) trở nên nhận biết các khuynh hướng, các thúc đẩy, các tiếng nói, các mệnh lệnh được ghi nhận rõ ràng, các mặc khải về những đường lối ứng xử cần được theo đuổi hoặc những nghề nghiệp cần được theo, cộng thêm một chỉ dẫn tổng quát [481] về các đường lối hoạt động mà “Thượng đế” đang đề nghị với chủ thể chăm chú, tiêu cực, tiếp nhận. Trong trạng thái gần như được thăng hoa này của sự nhận biết đối với các đòi hỏi dai dẳng của các cõi chủ quan của hiện hữu hoặc của tư tưởng, người ấy bị cuốn vào một dòng hoạt động có thể thành công trong việc định hướng vĩnh viễn đời sống của mình (thường là hoàn toàn vô hại và đôi khi rất đáng mong muốn) hoặc chỉ có thể tạo ra một hiệu quả tạm thời, một khi xung lực đáp ứng đã tự cạn kiệt. Nhưng trong mọi trường hợp, nguồn gốc của sự chỉ đạo và xuất xứ của sự hướng dẫn được gọi một cách mơ hồ là “Thượng đế”, được xem là thiêng liêng, được nói đến như tiếng nói của “Đức Christ bên trong”, hoặc như sự chỉ đạo tinh thần. Nhiều thuật ngữ tương tự được dùng, tùy theo trường phái tư tưởng mà người ấy có thể thuộc về, hoặc đã thành công trong việc thu hút sự chú ý của người ấy.

We shall see this tendency towards subjective guidance of some kind or another developing increasingly as humanity becomes more subjectively oriented, more definitely aware of the realms of inner being, and more inclined towards the world of meaning. It is for this reason that I desire to make a relatively careful analysis of the possible sources of guidance so that at least men may know that the whole subject is vaster and more complicated than they had thought, and that it would be the part of wisdom to ascertain the origin of the guidance vouchsafed, and so know, with greater definiteness, the direction in which they were headed.

Chúng ta sẽ thấy khuynh hướng hướng đến một loại hướng dẫn chủ quan nào đó này ngày càng phát triển khi nhân loại trở nên được định hướng chủ quan hơn, nhận biết rõ rệt hơn về các cõi của hiện hữu bên trong, và nghiêng nhiều hơn về Thế giới của ý nghĩa. Chính vì lý do này mà tôi muốn thực hiện một sự phân tích tương đối cẩn thận về các nguồn có thể có của sự hướng dẫn để ít nhất con người có thể biết rằng toàn bộ chủ đề này bao la và phức tạp hơn họ đã nghĩ, và rằng phần minh triết là phải xác định nguồn gốc của sự hướng dẫn được ban cho, và nhờ đó biết rõ ràng hơn phương hướng mà họ đang đi tới.

Forget not that the blind, unreasoning subjecting of oneself to guidance (as at present practiced) renders a man eventually a negative impressionable automaton. Should this become universally prevalent and the present methods become established habits, the race would forfeit its most divine possession, i.e., free will. There is no immediate fear of this, however, if the intelligent men and women of the world think this problem out. Also there are too many egos of advanced nature coming into incarnation [482] at this time to permit the danger to grow out of all bounds, and there are too many disciples in the world today whose voices are ringing loudly and clearly along the lines of free choice, and the intelligent comprehension of God’s plan.

Đừng quên rằng việc mù quáng, phi lý trí đặt mình dưới sự hướng dẫn (như hiện đang được thực hành) cuối cùng sẽ biến một người thành một cỗ máy tự động tiêu cực, dễ bị ghi ấn. Tuy nhiên, không có nỗi lo tức thời nào về điều này, nếu những người nam và nữ thông minh của thế giới suy nghĩ thấu đáo vấn đề này. Ngoài ra, hiện nay có quá nhiều chân ngã có bản chất tiến bộ đang lâm phàm [482] để cho phép mối nguy này phát triển vượt ngoài mọi giới hạn, và ngày nay có quá nhiều đệ tử trên thế giới mà tiếng nói của họ đang vang lên mạnh mẽ và rõ ràng theo đường lối của sự lựa chọn tự do, và của sự thấu hiểu thông minh về Thiên Cơ của Thượng đế.

It might be of profit if I indicated anew the various schools of thought who feature “guidance” or whose methods and doctrines tend to the development of an inner attentive ear, and yet who fail to teach the distinctiveness of the sources of guidance, or to differentiate between the various sounds, voices and so-called inspired indications which that attentive ear may be trained to register.

Sẽ có ích nếu tôi lại chỉ ra các trường phái tư tưởng khác nhau nhấn mạnh đến “sự hướng dẫn” hoặc có các phương pháp và giáo lý có khuynh hướng phát triển một nội nhĩ chăm chú, nhưng lại không dạy sự phân biệt rõ ràng giữa các nguồn của sự hướng dẫn, hoặc không phân biệt giữa các âm thanh, tiếng nói và những chỉ dẫn được gọi là cảm hứng mà nội nhĩ chăm chú ấy có thể được huấn luyện để ghi nhận.

The emotionally inclined people in the Churches of all denominations and persuasions are ever prone to find a way of escape from the troubles and difficulties of life by living always with a sense of the guiding Presence of God, coupled to a blind acquiescence in what is generalised as the “will of God”. The practice of the Presence of God is most definitely a desirable and needed step but people should understand what it means and steadily change the sense of duality into the sense of identification. The will of God can take the form of the imposition of life circumstance and conditions from which there is no possible escape; the subject of this imposition accepts it and does literally nothing to improve or truly better (and perhaps avoid) the circumstances. Their destiny and situation is interpreted by them as such that within the imposed ring-pass-not and lines of limitation they determine placidly, submissively to live. A spirit of submission and acquiescence is inevitably developed, and by calling the situation in which they find themselves an expression of God’s will they are enabled to bear it all. In some of the more sublimated states of this acquiescence, the sensitively inclined person voices his submission, but fails to recognise that the voice is his own. He regards it as God’s voice. For them, the way of [483] understanding, the recognition of the great Law of Cause and Effect (working out from life to life) and the interpretation of the problem in terms of a lesson to be mastered would spell release from negativity and blind, unintelligent acceptance. Life does not demand acquiescence and acceptance. It demands activity, the separation of the good and high values from the undesirable, the cultivation of that spirit of fight which will produce organisation, understanding, and eventual emergence into a realm of useful spiritual activity.

Những người thiên về cảm xúc trong các Giáo hội thuộc mọi giáo phái và mọi niềm tin luôn có khuynh hướng tìm một lối thoát khỏi những phiền toái và khó khăn của đời sống bằng cách luôn sống với cảm nhận về Sự Hiện Diện hướng dẫn của Thượng đế, gắn liền với một sự thuận phục mù quáng đối với điều được khái quát hóa thành “ý muốn của Thượng đế”. Việc thực hành Sự Hiện Diện của Thượng đế rõ ràng là một bước đi đáng mong muốn và cần thiết, nhưng con người cần hiểu điều đó có nghĩa gì và đều đặn chuyển đổi cảm nhận nhị nguyên thành cảm nhận đồng nhất. Ý Chí của Thượng đế có thể mang hình thức của việc áp đặt các hoàn cảnh và điều kiện sống mà từ đó không có lối thoát nào; chủ thể của sự áp đặt này chấp nhận nó và thực sự không làm gì để cải thiện hay làm tốt hơn thật sự (và có lẽ tránh được) các hoàn cảnh ấy. Số phận và hoàn cảnh của họ được họ diễn giải theo cách mà trong vòng-giới-hạn bị áp đặt và các đường giới hạn ấy, họ bình thản, phục tùng mà quyết định sống. Một tinh thần phục tùng và thuận theo tất yếu được phát triển, và bằng cách gọi hoàn cảnh mà họ thấy mình đang ở trong đó là một biểu hiện của ý muốn của Thượng đế, họ có thể chịu đựng tất cả. Trong một số trạng thái được thăng hoa hơn của sự thuận theo này, người thiên về nhạy cảm cất tiếng nói lên sự phục tùng của mình, nhưng lại không nhận ra rằng tiếng nói ấy là của chính mình. Người ấy xem đó là tiếng nói của Thượng đế. Đối với họ, con đường của [483] sự thấu hiểu, sự nhận biết Định luật lớn của Nhân Quả (đang vận hành từ đời này sang đời khác) và việc diễn giải vấn đề theo nghĩa một bài học cần được làm chủ sẽ mang lại sự giải thoát khỏi tính tiêu cực và sự chấp nhận mù quáng, thiếu thông minh. Sự sống không đòi hỏi sự thuận theo và chấp nhận. Nó đòi hỏi hoạt động, sự tách biệt các giá trị tốt đẹp và cao cả khỏi điều không đáng mong muốn, sự vun bồi tinh thần chiến đấu sẽ tạo ra tổ chức, thấu hiểu, và cuối cùng là xuất hiện vào một lĩnh vực hoạt động tinh thần hữu ích.

People who participate in the activity of those schools of thought which are called by many names such as Mental Science schools, New Thought groups, Christian Science and other similar bodies are also prone to drift into a state of negativity, based on auto-suggestion. The constant re-iteration of the voiced, but unrealised, fact of divinity will eventually evoke a response from the form side of life which (even if it is not worded guidance) is, nevertheless, the recognition of a form of guidance and leaves no scope for free will. This is a reaction on a large scale, from the one dealt with above. Whereas in the one case there is found a blind acceptance of an undesirable lot because it is the will of God and that Will therefore must be good and right, in the second group there is an attempt to stir the subjective man into the acceptance of a definitely opposite condition. He is taught that there are no wrong conditions except as he himself creates them; that there is no pain and nothing undesirable; he is urged to recognise that he is divine and the heir of the ages and that the wrong conditions, limited circumstances and unhappy occurrences are the result of his own creative imagination. He is told they are really non-existent.

Những người tham gia vào hoạt động của các trường phái tư tưởng được gọi bằng nhiều tên như các trường phái Khoa Học Tinh Thần, các nhóm Tư Tưởng Mới, Khoa Học Cơ Đốc và các tổ chức tương tự khác cũng có khuynh hướng trôi vào một trạng thái tiêu cực, dựa trên tự ám thị. Sự lặp đi lặp lại liên tục của sự kiện thiên tính được phát biểu nhưng chưa được chứng nghiệm cuối cùng sẽ gợi lên một đáp ứng từ phía hình tướng của sự sống, mà dù không được gọi thành lời là sự hướng dẫn, thì vẫn là sự nhận biết một hình thức hướng dẫn và không để lại chỗ nào cho tự do ý chí. Đây là một phản ứng trên quy mô lớn, từ phản ứng đã được bàn đến ở trên. Trong khi ở trường hợp thứ nhất có sự chấp nhận mù quáng một số phận không đáng mong muốn vì đó là ý muốn của Thượng đế và do đó Ý Chí ấy hẳn phải tốt và đúng, thì ở nhóm thứ hai có một nỗ lực khuấy động con người chủ quan đi đến chấp nhận một điều kiện hoàn toàn đối nghịch. Người ấy được dạy rằng không có điều kiện sai lầm nào ngoại trừ khi chính y tạo ra chúng; rằng không có đau đớn và không có gì là không đáng mong muốn; y được thúc giục nhận biết rằng y là thiêng liêng và là người thừa kế của các thời đại, và rằng các điều kiện sai lầm, các hoàn cảnh hạn hẹp và các biến cố bất hạnh là kết quả của sự tưởng tượng sáng tạo của chính y. Y được bảo rằng chúng thật ra không hề hiện hữu.

In the two schools of thought, the truth about destiny as it works out under the Law of Cause and Effect and the truth [484] about man’s innate divinity are taught and emphasised, but, in both cases, the man himself is a negative subject, and the victim either of a cruel fate or of his divinity. I am wording this with deliberation because I am anxious for my readers to realise that destiny never intended man to be a helpless victim of circumstance or the self-hypnotised tool of an affirmed, but undeveloped, divinity. Man is intended to be the intelligent arbiter of his own destiny, and a conscious exponent of his own innate divinity, of the God within.

Trong hai trường phái tư tưởng này, chân lý về số phận như nó vận hành dưới Định luật Nhân Quả và chân lý [484] về thiên tính bẩm sinh của con người được giảng dạy và nhấn mạnh, nhưng trong cả hai trường hợp, chính con người lại là một chủ thể tiêu cực, và là nạn nhân hoặc của một số phận tàn nhẫn hoặc của thiên tính của mình. Tôi diễn đạt điều này một cách có chủ ý vì tôi mong độc giả của tôi nhận ra rằng số phận không bao giờ có ý định để con người trở thành một nạn nhân bất lực của hoàn cảnh hay một công cụ tự thôi miên của một thiên tính được khẳng định nhưng chưa được phát triển. Con người được dự định là người phân xử thông minh cho số phận của chính mình, và là người biểu lộ có ý thức thiên tính bẩm sinh của chính mình, của Thượng đế bên trong.

Again, schools of esotericists, theosophists and rosicrucians (particularly in their inner schools) have also their own forms of this illusion of guidance. It is of a different nature to the two dealt with above, but the results are nevertheless of much the same quality and reduce the student to a condition of being guided, often of being directed, by illusionary voices. Frequently the heads of the organisation claim to be in direct communication with a Master or the entire Hierarchy of Masters, from whom orders come. These orders are passed on to the rank and file of the membership of the organisation and prompt unquestioning obedience is expected from them. Under the system of training, imparted under the name of esoteric development, the goal of a similar relationship to the Master or the Hierarchy is held out as an inducement to work or to meditation practice, and some day the aspirant is led to believe that he will hear his Master’s voice, giving him guidance, telling him what to do and outlining to him his participation in various roles. Much of the psychological difficulties found in esoteric groups can be traced to this attitude and to the holding out to the neophyte of this glamorous hope. In view of this, I cannot too strongly re-iterate the following facts:

Một lần nữa, các trường phái của các nhà bí truyền học, các nhà Thông Thiên Học và các nhà Rosicrucian (đặc biệt trong các trường nội môn của họ) cũng có những hình thức riêng của ảo tưởng về sự hướng dẫn này. Nó có bản chất khác với hai loại đã được bàn ở trên, nhưng các kết quả dù sao vẫn có phẩm tính gần như tương tự và làm cho đạo sinh rơi vào tình trạng bị dẫn dắt, thường là bị chỉ huy, bởi những tiếng nói ảo tưởng. Thường thì những người đứng đầu tổ chức tuyên bố đang trực tiếp liên lạc với một Chân sư hoặc với toàn thể Thánh đoàn các Chân sư, từ đó các mệnh lệnh được đưa ra. Những mệnh lệnh này được truyền xuống cho hàng ngũ thành viên của tổ chức và sự vâng phục không nghi vấn được mong đợi nơi họ. Dưới hệ thống huấn luyện được truyền dạy dưới danh nghĩa phát triển huyền bí, mục tiêu của một mối liên hệ tương tự với Chân sư hoặc Thánh đoàn được đưa ra như một sự khuyến khích để làm việc hoặc thực hành tham thiền, và một ngày nào đó người chí nguyện được dẫn đến chỗ tin rằng y sẽ nghe tiếng nói của Chân sư mình, ban cho y sự hướng dẫn, bảo y phải làm gì và phác ra cho y sự tham gia của mình trong nhiều vai trò khác nhau. Phần lớn các khó khăn tâm lý được tìm thấy trong các nhóm bí truyền có thể được truy nguyên về thái độ này và về việc đưa ra cho người sơ cơ niềm hy vọng đầy ảo cảm ấy. Xét theo điều này, tôi không thể nhấn mạnh quá mức các sự kiện sau đây:

1. That the goal of all teaching given in the real esoteric [485] schools is to put man consciously in touch with his own soul and not with the Master.

1. Mục tiêu của mọi giáo huấn được ban ra trong các trường [485] nội môn chân chính là đặt con người vào sự tiếp xúc có ý thức với chính linh hồn của mình chứ không phải với Chân sư.

2. That the Master and the Hierarchy of Masters work only on the plane of the soul, as souls with souls.

2. Chân sư và Thánh đoàn các Chân sư chỉ hoạt động trên cõi linh hồn, như các linh hồn với các linh hồn.

3. That conscious response to hierarchical impression and to the hierarchical plan is dependent upon the sensitive reaction which can be developed and made permanent between a man’s own soul and his brain, via his mind.

3. Sự đáp ứng có ý thức đối với ghi ấn của Thánh đoàn và đối với Thiên Cơ của Thánh đoàn tùy thuộc vào phản ứng nhạy cảm có thể được phát triển và làm cho thường trực giữa linh hồn riêng của một người và bộ não của y, thông qua trí tuệ của y.

4. That the following points should be borne in mind:

4. Cần ghi nhớ các điểm sau đây:

a. When a man is consciously aware of himself as a soul, he can then be in touch with other souls.

a. Khi một người có ý thức nhận biết mình là một linh hồn, khi đó y có thể tiếp xúc với các linh hồn khác.

b. When he is consciously a disciple, he is then in touch with, and can collaborate intelligently with, other disciples.

b. Khi y có ý thức là một đệ tử, khi đó y tiếp xúc với, và có thể cộng tác một cách thông minh với, các đệ tử khác.

c. When he is an initiate, other initiates become facts in his life and consciousness.

c. Khi y là một điểm đạo đồ, các điểm đạo đồ khác trở thành những sự kiện trong đời sống và tâm thức của y.

d. When he is a Master, the freedom of the Kingdom of Heaven is his, and he works consciously as one of the senior members of the Hierarchy.

d. Khi y là một Chân sư, sự tự do của Thiên Giới là của y, và y hoạt động một cách có ý thức như một trong những thành viên cao cấp của Thánh đoàn.

But—and this is of prime importance—all these differentiations relate to grades of work and not to grades of persons; they indicate soul expansions but not graded contacts with personalities. According to the realised soul development upon the physical plane will be the response to the world of souls of which the occult Hierarchy is the heart and mind.

Nhưng—và điều này cực kỳ quan trọng—mọi sự phân biệt này liên hệ đến các cấp độ công việc chứ không phải các cấp độ con người; chúng chỉ ra các sự mở rộng của linh hồn chứ không phải các tiếp xúc được phân cấp với các phàm ngã. Tùy theo sự phát triển linh hồn đã được chứng nghiệm trên cõi hồng trần mà sẽ có sự đáp ứng đối với thế giới các linh hồn, mà Thánh đoàn huyền bí là trái tim và trí tuệ của thế giới ấy.

The guidance to which the adherents of many esoteric schools so often respond is not that of the Hierarchy but that of the astral reflection of the Hierarchy; they respond therefore to an illusory, distorted, man-made presentation of a great spiritual fact. They could, if they so chose, respond to the reality. [486]

Sự hướng dẫn mà những người theo nhiều trường phái bí truyền thường đáp ứng không phải là của Thánh đoàn mà là của sự phản chiếu cảm dục của Thánh đoàn; vì vậy họ đáp ứng với một sự trình bày ảo tưởng, méo mó, do con người tạo ra về một sự kiện tinh thần vĩ đại. Nếu họ muốn, họ có thể đáp ứng với thực tại. [486]

Apart from the ordinary occult and esoteric schools found in the world today, there are groups of people as well as solitary individuals who are practicing various forms of meditation and of yoga. This is true both of Eastern and Western aspirants. Some of these people are working with real knowledge, and, therefore, quite safely; others are profoundly ignorant not only of techniques and methods but also as to the results to be expected from their efforts. Results there must inevitably be, and the major result is to turn the consciousness inward, to develop the spirit of introspection, and to orient the man or woman to the inner subjective worlds and to the subtler planes of being—usually to the astral realm and seldom to the truly spiritual world of souls. The mind nature is seldom invoked and the processes pursued usually render the brain cells negative and quiescent whilst the mind remains inactive and often unawakened. The only area of consciousness which remains therefore visible is that of the astral. The world of physical and tangible values is shut out; the mental world is equally shut out. I would ask you to ponder on this statement.

Ngoài các trường phái huyền bí và bí truyền thông thường hiện có trên thế giới ngày nay, còn có các nhóm người cũng như các cá nhân đơn lẻ đang thực hành nhiều hình thức tham thiền và yoga khác nhau. Điều này đúng cho cả người chí nguyện phương Đông lẫn phương Tây. Một số người trong họ làm việc với tri thức chân chính, và do đó hoàn toàn an toàn; những người khác thì vô cùng thiếu hiểu biết không chỉ về kỹ thuật và phương pháp mà còn về các kết quả có thể được mong đợi từ những nỗ lực của họ. Kết quả thì tất yếu phải có, và kết quả chính là quay tâm thức vào bên trong, phát triển tinh thần tự quán, và định hướng người nam hay người nữ đến các thế giới chủ quan bên trong và các cõi hiện hữu vi tế hơn—thường là đến cõi cảm dục và hiếm khi đến thế giới linh hồn thật sự tinh thần. Bản chất trí tuệ hiếm khi được gọi dậy và các tiến trình được theo đuổi thường làm cho các tế bào não trở nên tiêu cực và tĩnh lặng trong khi trí tuệ vẫn bất hoạt và thường chưa được đánh thức. Do đó, lĩnh vực tâm thức duy nhất còn lại có thể thấy được là lĩnh vực cảm dục. Thế giới của các giá trị hồng trần và hữu hình bị đóng lại; thế giới trí tuệ cũng bị đóng lại. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về nhận định này.

The Oxford Group Movement has also laid much stress on the need for guidance, yet seems to have developed no real understanding of the subject or to have given any real attention to the inclusive investigation of the alternative possibilities to the voice of God. Mystics of all kinds, with a natural pre-disposition to the introspective, negative life are today hearing voices, receiving guidance and obeying impulses which they claim come from God. Groups everywhere are occupied with the task of orienting people to the spiritual life or with the task of ascertaining the Plan of God or of cooperating with it in some way or another. Some of these groups are working intelligently and are sometimes correct [487] in their surmises and endeavours, but the bulk of them are incorrect as they are largely astral in nature.

Phong trào Oxford Group cũng đã nhấn mạnh nhiều đến nhu cầu về sự hướng dẫn, tuy nhiên dường như không phát triển được sự thấu hiểu thật sự nào về chủ đề này hoặc không dành sự chú ý thật sự nào đến việc khảo cứu bao quát các khả năng thay thế cho tiếng nói của Thượng đế. Các nhà thần bí thuộc mọi loại, với khuynh hướng tự nhiên nghiêng về đời sống tự quán và tiêu cực, ngày nay đang nghe tiếng nói, nhận sự hướng dẫn và tuân theo các xung lực mà họ cho là đến từ Thượng đế. Các nhóm ở khắp nơi đang bận rộn với nhiệm vụ định hướng con người đến đời sống tinh thần hoặc với nhiệm vụ xác định Thiên Cơ của Thượng đế hoặc cộng tác với nó bằng cách này hay cách khác. Một số nhóm trong đó đang làm việc một cách thông minh và đôi khi đúng [487] trong các suy đoán và nỗ lực của họ, nhưng phần lớn trong số họ là sai lầm vì phần lớn có bản chất cảm dục.

The result of all this is twofold. One is the development of a spirit of great hopefulness among the spiritual workers of the world as they note how rapidly humanity is turning towards the world of right meaning, of true spiritual values and of esoteric phenomena. They realise that in spite of errors and mistakes, the whole trend of the racial consciousness today is “inwards towards the Centre of spiritual life and peace.” The other result or recognition is that during this process of re-adjustment to the finer values, periods of real danger transpire and that unless there is some immediate understanding of the psychological conditions and possibilities and that unless the mentality of the race is evoked on the side of understanding and common sense, we shall have to pass through a cycle of profound, psychological, and racial disturbance before the end of this century. Two factors today are, for instance, having a deep psychological effect upon humanity:

Kết quả của tất cả điều này là nhị phân. Một là sự phát triển của một tinh thần đầy hy vọng lớn lao nơi những người hoạt động tinh thần của thế giới khi họ nhận thấy nhân loại đang nhanh chóng quay về thế giới của ý nghĩa đúng đắn, của các giá trị tinh thần chân chính và của các hiện tượng huyền bí. Họ nhận ra rằng bất chấp các sai lầm và lỗi lầm, toàn bộ xu hướng của tâm thức nhân loại ngày nay là “hướng vào bên trong về Trung Tâm của sự sống tinh thần và hòa bình.” Kết quả hay sự nhận biết kia là trong tiến trình tái điều chỉnh với các giá trị tinh tế hơn này, những giai đoạn nguy hiểm thực sự xuất hiện, và nếu không có một sự thấu hiểu tức thời nào đó về các điều kiện và khả năng tâm lý, và nếu trí tuệ của nhân loại không được gợi lên đứng về phía sự thấu hiểu và lẽ thường, thì chúng ta sẽ phải đi qua một chu kỳ xáo trộn sâu sắc về tâm lý và chủng tộc trước khi thế kỷ này kết thúc. Chẳng hạn, ngày nay có hai yếu tố đang tạo ra một hiệu quả tâm lý sâu sắc lên nhân loại:

1. The suspense, fear and apprehension in every country are most adversely affecting the mass of the people, stimulating them astrally and—at the same time—lowering their physical vitality.

1. Sự căng thẳng chờ đợi, nỗi sợ hãi và lo âu ở mọi quốc gia đang ảnh hưởng rất bất lợi đến quần chúng, kích thích họ về mặt cảm dục và—đồng thời—làm giảm sinh lực thể xác của họ.

2. The impact of the higher spiritual forces upon the more intelligently inclined and mystically motivated people is producing serious and widespread trouble, breaking down protective etheric barriers, and throwing the doors wide open on to the astral plane. Such are some of the dangers of spiritual stimulation.

2. Tác động của các mãnh lực tinh thần cao hơn lên những người có khuynh hướng trí tuệ hơn và được thúc đẩy bởi thần bí học đang tạo ra rắc rối nghiêm trọng và lan rộng, phá vỡ các hàng rào bảo vệ dĩ thái và mở toang các cánh cửa vào cõi cảm dục. Đó là một số nguy hiểm của sự kích thích tinh thần.

Therefore, it is of real value to us to study the sources from which much of this so-called “guidance” can come. For the sake of clarity and impressiveness, I propose to list these sources very briefly and without any prolonged comment. [488] This will give the earnest and intelligent investigator the opportunity to realise that the whole theme is vaster and far more important than has been surmised and may lead to a more careful analysis of the “types of guidance” and an understanding of the possible directing agencies to which the poor and ignorant neophyte may fall a victim.

Vì vậy, việc nghiên cứu các nguồn mà từ đó phần lớn cái gọi là “sự hướng dẫn” này có thể đến là điều thật sự có giá trị đối với chúng ta. Vì mục đích rõ ràng và gây ấn tượng, tôi dự định liệt kê các nguồn này thật ngắn gọn và không bình luận kéo dài. [488] Điều này sẽ cho nhà khảo cứu nghiêm túc và thông minh cơ hội nhận ra rằng toàn bộ chủ đề này bao la và quan trọng hơn nhiều so với đã được suy đoán, và có thể dẫn đến một sự phân tích cẩn thận hơn về “các loại hướng dẫn” và một sự thấu hiểu về các tác nhân chỉ đạo có thể có mà người sơ cơ nghèo nàn và thiếu hiểu biết có thể trở thành nạn nhân.

1. Guidance or instruction coming from the man or woman upon the physical plane to whom the guided person is, usually unconsciously, looking for help. This is largely a brain relationship, electrical in nature, established by conscious physical plane contacts, and is greatly helped by the fact that the neophyte knows pretty well, exactly what his instructor would say in any given circumstance.

1. Sự hướng dẫn hay chỉ dạy đến từ người nam hay người nữ trên cõi hồng trần mà người được hướng dẫn, thường là một cách vô thức, đang tìm kiếm sự giúp đỡ nơi họ. Đây phần lớn là một mối liên hệ của bộ não, có bản chất điện, được thiết lập bởi các tiếp xúc có ý thức trên cõi hồng trần, và được hỗ trợ rất nhiều bởi sự kiện là người sơ cơ biết khá rõ, gần như chính xác, huấn sư của mình sẽ nói gì trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

2. The introverted attitude of the neophyte or mystic brings to the surface all his subconscious “wish life.” This, as he is mystically inclined and probably aspires normally towards goodness and the life of the spirit, takes the form of certain adolescent tendencies towards religious activity and practices. These, however, he interprets in terms of definite extraneous guidance, and formulates them to himself in such a way that them become to him the Voice of God.

2. Thái độ hướng nội của người sơ cơ hay nhà thần bí đưa toàn bộ “đời sống ham muốn” tiềm thức của y lên bề mặt. Điều này, vì y thiên về thần bí và có lẽ bình thường khát vọng hướng đến điều thiện và đời sống của tinh thần, mang hình thức của một số khuynh hướng có tính thiếu niên hướng đến hoạt động và thực hành tôn giáo. Tuy nhiên, y diễn giải chúng theo nghĩa một sự hướng dẫn ngoại lai rõ rệt, và tự hình thành chúng cho mình theo cách khiến chúng trở thành đối với y Tiếng nói của Thượng đế.

3. The recovery of old spiritual aspirations and tendencies, coming from a previous life or lives. These are deeply hidden in his nature but can be brought to the surface through group stimulation. He thus recovers spiritual attitudes and desires which, in this life, have not hitherto made their appearance. They appear to him as utterly new and phenomenal, and he regards them as divine injunctions coming from God. They have, however, always been present (though latent) in his own nature [489] and are the result of the age-old trend or tendency towards divinity which is inherent in every member of the human family. It is the prodigal son speaking to himself and saying: “I will arise and go”—a point which Christ makes beautifully and abundantly clear in the parable.

3. Sự phục hồi những khát vọng và khuynh hướng tinh thần cũ, đến từ một kiếp sống hay nhiều kiếp sống trước. Những điều này ẩn sâu trong bản chất của y nhưng có thể được đưa lên bề mặt nhờ sự kích thích của nhóm. Vì vậy y phục hồi những thái độ và ham muốn tinh thần mà trong kiếp này, cho đến nay, vẫn chưa biểu lộ. Chúng xuất hiện với y như những điều hoàn toàn mới lạ và phi thường, và y xem chúng như những mệnh lệnh thiêng liêng đến từ Thượng đế. Tuy nhiên, chúng luôn luôn hiện diện (dù ở trạng thái tiềm ẩn) trong chính bản chất của y [489] và là kết quả của xu hướng hay khuynh hướng hướng về thiên tính từ ngàn xưa vốn tiềm tàng trong mỗi thành viên của gia đình nhân loại. Đó là người con hoang đàng đang tự nói với mình rằng: “Ta sẽ đứng dậy và đi”—một điểm mà Đức Christ đã làm sáng tỏ thật đẹp đẽ và đầy đủ trong dụ ngôn ấy.

4. The “guidance” registered can also be simply a sensitivity to the voices and injunctions and well-meaning intentions of good people on the path of return to incarnation. The spiritual dilemma of the race today is causing the rapid return of many advanced souls to life on the physical plane. As they hover on the borderland of outer living, awaiting their time to be re-born, they are oft contacted subjectively and unconsciously by human beings in incarnation, particularly at night when the consciousness is out of the physical body. What they say and teach (frequently good, usually indifferent in quality and sometimes quite ignorant) is remembered in the waking hours of consciousness and interpreted by the neophyte as the voice of God, giving guidance.

4. Sự “hướng dẫn” được ghi nhận cũng có thể chỉ đơn giản là một sự nhạy cảm đối với những tiếng nói, những mệnh lệnh và những ý định thiện chí của những người tốt đang ở trên Con Đường Trở Về để nhập thể. Tình thế tiến thoái lưỡng nan về tinh thần của nhân loại ngày nay đang khiến nhiều linh hồn tiến hóa cao nhanh chóng trở lại sự sống trên cõi hồng trần. Khi họ lơ lửng trên ranh giới của đời sống bên ngoài, chờ đợi thời điểm được tái sinh, họ thường được những con người đang lâm phàm tiếp xúc một cách chủ quan và vô thức, đặc biệt vào ban đêm khi tâm thức ở ngoài thể xác. Điều họ nói và dạy (thường là tốt, thường thường thì phẩm chất tầm thường, và đôi khi khá vô minh) được nhớ lại trong những giờ tỉnh thức của tâm thức và được người sơ cơ diễn giải như tiếng nói của Thượng đế đang ban sự hướng dẫn.

5. The guidance can also be of an astral, emotional nature, and is the result of the contacts made by the aspirant (firm in his aspiration but weak in his mental polarisation) upon the astral plane. These cover such a wide range of possibilities that it is not possible for me to enlarge upon them here. They are all coloured by glamour, and many well-meaning leaders of groups and organisations get their inspiration from these sources. There is, in them, no true lasting divine guidance. They may be quite harmless, sweet, kindly and well-intentioned; they may feed the emotional nature, develop hysteria or aspiration; they may develop the ambitious tendencies of their victim and lead him down the byways [490] of illusion. But they are not the voice of God, or of any Member in the Hierarchy, nor are they divine in nature, any more than the voice of any ordinary teacher upon the physical plane is necessarily divine.

5. Sự hướng dẫn cũng có thể mang bản chất cảm dục, cảm xúc, và là kết quả của những tiếp xúc do người chí nguyện tạo ra (vững vàng trong khát vọng của y nhưng yếu trong sự phân cực trí tuệ của y) trên cõi cảm dục. Những điều này bao trùm một phạm vi khả thể rộng đến nỗi tôi không thể bàn rộng ở đây. Tất cả đều bị nhuốm màu bởi ảo cảm, và nhiều nhà lãnh đạo đầy thiện chí của các nhóm và tổ chức nhận cảm hứng từ những nguồn này. Trong đó không có sự hướng dẫn thiêng liêng chân chính và bền lâu nào. Chúng có thể hoàn toàn vô tổn hại, dịu dàng, tử tế và đầy thiện ý; chúng có thể nuôi dưỡng bản chất cảm xúc, phát triển chứng cuồng loạn hay khát vọng; chúng có thể phát triển những khuynh hướng tham vọng của nạn nhân và dẫn y vào những ngõ ngách [490] của ảo tưởng. Nhưng chúng không phải là tiếng nói của Thượng đế, hay của bất kỳ Thành Viên nào trong Thánh Đoàn, cũng không có bản chất thiêng liêng, cũng như tiếng nói của bất kỳ huấn sư bình thường nào trên cõi hồng trần không nhất thiết là thiêng liêng.

6. The guidance recorded may also be the result of the man tuning in telepathically upon the mind or the minds of others. This frequently happens with the more intelligent types and with those who are mentally focussed. It is a form of direct, but unconscious, telepathy. The guidance, therefore, comes from other minds or from the focussed group mind of some band of workers with which the man may have a realised or an unrealised affinity. The guidance thus given can be consciously or unconsciously imparted, and can be, in quality, good, bad, or indifferent.

6. Sự hướng dẫn được ghi nhận cũng có thể là kết quả của việc con người bắt được bằng viễn cảm vào trí tuệ hay các trí tuệ của người khác. Điều này thường xảy ra với những kiểu người thông minh hơn và với những ai tập trung trí tuệ. Đây là một hình thức viễn cảm trực tiếp nhưng vô thức. Vì vậy, sự hướng dẫn đến từ những trí tuệ khác hoặc từ trí tuệ nhóm tập trung của một nhóm người hoạt động nào đó mà người ấy có thể có một sự tương hợp đã được chứng nghiệm hay chưa được chứng nghiệm. Sự hướng dẫn được ban ra như thế có thể được truyền đạt một cách có ý thức hay vô thức, và về phẩm chất, có thể tốt, xấu hoặc trung tính.

7. The mental world as well as the astral world is full of thought forms and these can be contacted by man and be interpreted by him as conveying guidance. These thought forms can be used by the Guides of the race at times in order to help and guide humanity. They can also be used by undesirable entities and forces. They can, therefore, be most useful, but when interpreted by any man as embodying divine guidance and as constituting an infallible leading (thus demanding and evoking blind and unquestioning acceptance) they become a menace to the free activity of the soul and are of no true value.

7. Thế giới trí tuệ cũng như thế giới cảm dục đều đầy những Hình tư tưởng và con người có thể tiếp xúc với chúng rồi diễn giải chúng như đang chuyển tải sự hướng dẫn. Những Hình tư tưởng này đôi khi có thể được các Đấng Hướng Dẫn của nhân loại sử dụng để giúp đỡ và hướng dẫn nhân loại. Chúng cũng có thể được các thực thể và mãnh lực không mong muốn sử dụng. Vì vậy, chúng có thể cực kỳ hữu ích, nhưng khi được bất kỳ ai diễn giải như hiện thân của sự hướng dẫn thiêng liêng và như cấu thành một sự dẫn dắt không thể sai lầm (do đó đòi hỏi và gợi lên sự chấp nhận mù quáng và không chất vấn) thì chúng trở thành một mối đe dọa đối với hoạt động tự do của linh hồn và không có giá trị chân chính nào.

8. Guidance can come, therefore, from all kinds and types of incarnate or discarnate men, ranging in character from very good to very bad. They can include the help proffered by real initiates and adepts through their working disciples and aspirants to the mental and astral activities of ordinary intelligent men and women, including [491] the emotionally and selfishly oriented person. It should be remembered that no true initiate or disciple ever seeks to control any person nor will he indicate to him in the form of a positive command, any action which he should take. But many people tune in on teaching being given by trained minds to disciples, or record telepathically the powerful thought forms, created by world thinkers or Members of the Hierarchy. Hence the many misinterpretations and the so-called recorded guidances. Men appropriate to themselves sometimes that which is intended for a group or a hint given by a Master to a disciple.

8. Vì vậy, sự hướng dẫn có thể đến từ đủ mọi loại và hạng người đang lâm phàm hay đã lìa xác, với tính cách trải từ rất tốt đến rất xấu. Chúng có thể bao gồm sự trợ giúp được đưa ra bởi những điểm đạo đồ và chân sư thực sự thông qua các đệ tử và người chí nguyện đang hoạt động của Các Ngài, cho đến các hoạt động trí tuệ và cảm dục của những người nam và nữ thông minh bình thường, kể cả [491] người định hướng theo cảm xúc và ích kỷ. Cần nhớ rằng không một điểm đạo đồ hay đệ tử chân chính nào từng tìm cách kiểm soát bất kỳ ai, cũng không chỉ cho người ấy, dưới hình thức một mệnh lệnh khẳng định, bất kỳ hành động nào mà người ấy nên làm. Nhưng nhiều người lại bắt được những giáo huấn đang được các trí tuệ được huấn luyện truyền cho các đệ tử, hoặc ghi nhận bằng viễn cảm những Hình tư tưởng mạnh mẽ do các nhà tư tưởng thế giới hay các Thành Viên của Thánh Đoàn tạo ra. Do đó mới có nhiều sự diễn giải sai lầm và những cái gọi là sự hướng dẫn được ghi chép lại. Đôi khi con người chiếm lấy cho mình điều vốn được dành cho một nhóm hoặc một gợi ý mà một Chân sư ban cho một đệ tử.

9. Guidance also comes from a man’s own powerful, integrated personality and he will frequently fail to recognise it for what it is. The ambition, desire, or prideful purposings of a personality may work down from the mental body and be impressed upon the brain, and yet the man, in that brain consciousness, may regard them as coming from some extraneous outer source. Yet all the time, the physical man is responding to the injunctions and impulses of his own personality. This often happens to three types of people:

9. Sự hướng dẫn cũng đến từ chính phàm ngã tích hợp mạnh mẽ của một người, và người ấy thường không nhận ra nó đúng như bản chất của nó. Tham vọng, ham muốn hay những chủ đích đầy kiêu hãnh của một phàm ngã có thể đi xuống từ thể trí và được in sâu vào bộ não, thế mà con người ấy, trong tâm thức não bộ đó, lại có thể xem chúng như đến từ một nguồn bên ngoài nào đó xa lạ. Tuy nhiên, suốt thời gian ấy, con người hồng trần đang đáp ứng những mệnh lệnh và xung lực của chính phàm ngã của mình. Điều này thường xảy ra với ba loại người:

a. Those whose egos or personalities are upon the sixth ray.

a. Những người có chân ngã hay phàm ngã thuộc cung sáu.

b. Those who have laid themselves open to the glamours of the astral plane through over stimulation of the solar plexus.

b. Những người đã tự mở mình ra cho các ảo cảm của cõi cảm dục do sự kích thích quá mức của tùng thái dương.

c. Those who are susceptible, for some reason or another, to the receding Piscean energy.

c. Những người vì lý do này hay lý do khác mà dễ tiếp nhận năng lượng Song Ngư đang suy thoái.

10. Guidance can come, as you well know, from a man’s own soul when through meditation, discipline and service, he has established contact, and there is consequently a [492] direct channel of communication from soul to brain, via the mind. This, when clear and direct, is true divine guidance, coming from the inner divinity. It can, however, be distorted and misinterpreted if the mind is not developed, the character is not purified and the man is not free from undue personality control. The mind must make right application of the imparted truth or guidance Where there is true and right apprehension of the inner divine voice, then—and only then—do you have infallible guidance, and the voice of the inner God can then speak with clarity to its instrument, man upon the physical plane.

10. Như các bạn đều biết rõ, sự hướng dẫn có thể đến từ chính linh hồn của một người khi, nhờ tham thiền, kỷ luật và phụng sự, y đã thiết lập được sự tiếp xúc, và do đó có một [492] kênh giao tiếp trực tiếp từ linh hồn đến bộ não, qua trí tuệ. Điều này, khi rõ ràng và trực tiếp, là sự hướng dẫn thiêng liêng chân chính, đến từ thiên tính bên trong. Tuy nhiên, nó có thể bị bóp méo và diễn giải sai nếu trí tuệ không được phát triển, tính cách không được thanh luyện và con người không thoát khỏi sự kiểm soát quá mức của phàm ngã. Trí tuệ phải áp dụng đúng chân lý hay sự hướng dẫn được truyền đạt. Ở đâu có sự lĩnh hội chân chính và đúng đắn tiếng nói thiêng liêng bên trong, thì—và chỉ khi đó—các bạn mới có sự hướng dẫn không thể sai lầm, và tiếng nói của Thượng đế nội tại khi ấy mới có thể nói rõ ràng với khí cụ của nó, là con người trên cõi hồng trần.

11. Once this latter form of guidance has been established, stabilised, fostered, developed and understood, other forms of spiritual guidance then become possible. The reason for this is that they will pass through or be submitted to the standard of values which the factor of the soul itself constitutes. The awareness of the soul is a part of all awarenesses. The recognition of this soul awareness is a gradual and progressive happening where the man upon the physical plane is concerned. The brain cells must be gradually awakened and the correct interpretative response developed. As, for instance, a man becomes aware of the Plan of God, he may regard that Plan as being imparted to him by a Master or by some Member of the Hierarchy; he may regard the knowledge as coming to him through his own immediate contact with a thought form of the Plan. If he achieves and interprets this knowledge in a truly right way, he is perforce simply achieving recognition of that which his own soul inevitably knows, because his soul is an aspect of the Universal soul and an integral part of the planetary Hierarchy. [493]

11. Một khi hình thức hướng dẫn sau cùng này đã được thiết lập, ổn định, nuôi dưỡng, phát triển và thấu hiểu, thì những hình thức hướng dẫn tinh thần khác mới trở nên khả hữu. Lý do là vì chúng sẽ đi qua hoặc được đặt dưới tiêu chuẩn giá trị mà chính yếu tố linh hồn cấu thành. Sự nhận biết của linh hồn là một phần của mọi sự nhận biết. Sự công nhận sự nhận biết của linh hồn này là một diễn tiến dần dần và tiến bộ đối với con người trên cõi hồng trần. Các tế bào não phải dần dần được đánh thức và phải phát triển sự đáp ứng diễn giải đúng đắn. Chẳng hạn, khi một người trở nên nhận biết Thiên Cơ của Thượng đế, y có thể xem Thiên Cơ đó như được một Chân sư hay một Thành Viên nào đó của Thánh Đoàn truyền cho mình; y có thể xem tri thức ấy như đến với mình qua sự tiếp xúc trực tiếp của chính y với một Hình tư tưởng của Thiên Cơ. Nếu y đạt được và diễn giải tri thức này theo một cách thật sự đúng đắn, thì tất nhiên y chỉ đơn giản là đạt đến sự nhận biết điều mà chính linh hồn của y tất yếu biết, bởi vì linh hồn của y là một phương diện của đại hồn và là một phần toàn vẹn của Thánh Đoàn hành tinh. [493]

There are other sources of guidance, of inspiration and of revelation but, for the psychological purposes of our present study, the above will suffice.

Còn có những nguồn hướng dẫn, cảm hứng và mặc khải khác nữa, nhưng đối với những mục đích tâm lý học của công trình nghiên cứu hiện tại của chúng ta, những điều trên là đủ.

Dream

Giấc mơ

We will now touch upon the subject of dreams, which is assuming such importance in the minds of certain prominent psychologists and in certain schools of psychology. It is not my intention to criticise or attack their theories in any way. They have arrived at a most important and indicative fact—the fact of the interior, inner subjective life of humanity, which is based on ancient memories, on present teachings, and on contacts of various kinds. A true understanding of the dream-life of humanity would establish three facts:

Giờ đây chúng ta sẽ đề cập đến chủ đề giấc mơ, vốn đang trở nên rất quan trọng trong tâm trí của một số nhà tâm lý học nổi bật và trong một số trường phái tâm lý học. Tôi không có ý định phê phán hay công kích các lý thuyết của họ dưới bất kỳ hình thức nào. Họ đã đi đến một sự kiện cực kỳ quan trọng và có tính chỉ dấu—sự kiện về đời sống nội tại, bên trong, chủ quan của nhân loại, vốn dựa trên những ký ức cổ xưa, trên những giáo huấn hiện tại, và trên những tiếp xúc đủ loại. Một sự thấu hiểu chân chính về đời sống giấc mơ của nhân loại sẽ xác lập ba sự kiện:

1. The fact of reincarnation.

1. Sự kiện luân hồi.

2. The fact of there being some activity during sleep or unconsciousness.

2. Sự kiện có một loại hoạt động nào đó trong khi ngủ hay vô thức.

3. The fact of the soul, of that which persists and has continuity.

3. Sự kiện về linh hồn, về cái vẫn tồn tại và có tính liên tục.

These three facts provide a definite line of approach to the problems which we are considering and they would, if analysed, substantiate the position of the esotericists.

Ba sự kiện này cung cấp một đường lối tiếp cận rõ rệt đối với những vấn đề mà chúng ta đang xem xét, và nếu được phân tích, chúng sẽ chứng thực lập trường của các nhà bí truyền học.

The origin of the word “dream” is in itself debateable and nothing really sure and proved is known. Yet what is inferred and suggested is of itself of real significance. In a great standard authority, Webster’s Dictionary, two origins of the word are given. One traces the word back to a Sanskrit root, meaning “to harm or to hurt”; the other traces it back to an old Anglo-Saxon root, signifying “joy or bliss.” Is there not a chance, that both derivations have in them a measure of truth, and that in their mutual tracing back to some most ancient origin and root we should discover a real meaning? In any case two thoughts emerge from an understanding study of these derivations. [494]

Nguồn gốc của từ “dream” tự nó vẫn còn có thể tranh luận và thực sự không có điều gì chắc chắn và được chứng minh. Tuy nhiên, những gì được suy ra và gợi ý tự nó lại có thâm nghĩa thực sự. Trong một thẩm quyền tiêu chuẩn lớn, Từ điển Webster, có nêu hai nguồn gốc của từ này. Một nguồn truy nguyên từ ấy về một gốc Sanskrit, có nghĩa là “gây hại hay làm tổn thương”; nguồn kia truy nguyên nó về một gốc Anglo-Saxon cổ, có nghĩa là “sự hoan hỉ hay chí phúc”. Chẳng phải có khả năng là cả hai cách dẫn xuất đều chứa một phần chân lý, và rằng trong việc cùng nhau truy ngược về một nguồn gốc và căn nguyên cổ xưa nhất nào đó, chúng ta sẽ khám phá ra một ý nghĩa đích thực hay sao? Dù sao đi nữa, từ một sự nghiên cứu thấu đáo về các cách dẫn xuất này, hai ý tưởng nổi lên. [494]

The first is that dreams were originally regarded as undesirable, probably because they revealed or indicated, in the majority of cases, the astral life of the dreamer. In Atlantean times, when man was basically astral in his consciousness, his outer physical consciousness was largely controlled by his dreams. In those days, the guidance of the daily life, of the religious life, and of the psychological life (such as it was) was founded on a lost science of dreams, and it is this lost science (little as he may like the idea) which the modern psychologist is rapidly recovering and seeking to interpret. Most of the people (though necessarily not all of them) who find themselves needing the care and instruction of the psychologist are Atlantean in consciousness, and it is this fact which has predisposed the psychologist unconsciously to lay the present emphasis upon dreams and their interpretation.

Ý tưởng thứ nhất là giấc mơ nguyên thủy được xem là điều không đáng mong muốn, có lẽ vì trong đa số trường hợp chúng phơi bày hay chỉ ra đời sống cảm dục của người mơ. Trong thời Atlantis, khi con người về căn bản là cảm dục trong tâm thức của mình, tâm thức hồng trần bên ngoài của y phần lớn bị kiểm soát bởi các giấc mơ của y. Trong những ngày ấy, sự hướng dẫn đời sống hằng ngày, đời sống tôn giáo, và đời sống tâm lý học (theo mức độ khi đó) được đặt nền trên một khoa học giấc mơ đã thất truyền, và chính khoa học thất truyền này (dù y có thể không thích ý tưởng ấy đến đâu) mà nhà tâm lý học hiện đại đang nhanh chóng phục hồi và tìm cách diễn giải. Phần lớn những người (dù tất nhiên không phải tất cả) thấy mình cần đến sự chăm sóc và chỉ dẫn của nhà tâm lý học đều có tâm thức Atlantis, và chính sự kiện này đã khiến nhà tâm lý học vô thức thiên về việc nhấn mạnh hiện nay vào giấc mơ và sự diễn giải chúng.

May I point out again that the true psychology will only appear and right techniques be used when psychologists ascertain (as a first and needed measure) the rays, the astrological implications and the type of consciousness (Aryan or Atlantean) of the patient.

Xin cho phép tôi lại chỉ ra rằng tâm lý học chân chính sẽ chỉ xuất hiện và các kỹ thuật đúng đắn sẽ chỉ được sử dụng khi các nhà tâm lý học xác định được (như một biện pháp đầu tiên và cần thiết) các cung, những hàm ý chiêm tinh và loại tâm thức (Arya hay Atlantis) của bệnh nhân.

However, as time elapsed, the dreams of the more intelligent minds became of an increasingly forward-looking, idealistic nature; these, as they came to the surface and were remembered and recorded, began to control the brain of man so that the Anglo-Saxon emphasis on joy and bliss eventually became descriptive of many so-called dreams. We have then the emergence of the utopias, the fantasies, the idealistic presentations of future beauty and joy which distinguishes the thought life of the advanced human being, and which find their expression in such presented (and as yet unfulfilled) hopes as Plato’s Republic, Milton’s Paradise Regained and the best Utopian, idealistic creative productions [495] of our Western poets and writers. Thus Occident and Orient together present a theory of dreams—of a lower astral or higher intuitional nature—which are a complete picture of the wish life of the race.

Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua, những giấc mơ của các trí tuệ thông minh hơn trở nên ngày càng có tính hướng tới tương lai và lý tưởng; những giấc mơ này, khi nổi lên bề mặt và được nhớ lại rồi ghi chép, bắt đầu kiểm soát bộ não con người, đến nỗi sự nhấn mạnh của Anglo-Saxon vào sự hoan hỉ và chí phúc cuối cùng trở thành mô tả cho nhiều cái gọi là giấc mơ. Khi ấy chúng ta có sự xuất hiện của những không tưởng, những huyễn tưởng, những trình bày lý tưởng về vẻ đẹp và niềm vui tương lai vốn phân biệt đời sống tư tưởng của con người tiến hóa cao, và tìm thấy biểu hiện của chúng trong những hy vọng được trình bày như thế (và cho đến nay vẫn chưa được hoàn thành) như Cộng hòa của Plato, Thiên Đường Tái Đắc của Milton và những sáng tác sáng tạo không tưởng, lý tưởng tốt đẹp nhất [495] của các thi sĩ và văn sĩ phương Tây của chúng ta. Như vậy, phương Tây và phương Đông cùng nhau trình bày một lý thuyết về giấc mơ—mang bản chất cảm dục thấp hay trực giác cao—là một bức tranh hoàn chỉnh về đời sống ham muốn của nhân loại.

These range all the way from the dirty ideas and the bestial filth, drawn forth at times from their patients by psychologists (thus revealing a wish life and an astral consciousness of a very low order), up to the idealistic schemes and the carefully thought-out paradises and cosmic orders of the higher types of aspirants. All, however, come into the realm of Dreams. This is true, whether such dreams are tied up with frustrated sex or unfulfilled idealism; they are all indicative of an urge, a powerful urge, either to selfish satisfaction or group betterment and group welfare.

Chúng trải dài từ những ý tưởng bẩn thỉu và sự nhơ bẩn thú tính, đôi khi được các nhà tâm lý học khơi ra từ bệnh nhân của họ (do đó phơi bày một đời sống ham muốn và một tâm thức cảm dục thuộc loại rất thấp), cho đến những sơ đồ lý tưởng và những thiên đường cùng trật tự vũ trụ được suy nghĩ cẩn thận của những loại người chí nguyện cao hơn. Tuy nhiên, tất cả đều thuộc lĩnh vực của Giấc mơ. Điều này đúng, dù những giấc mơ ấy gắn với dục tính bị dồn nén hay chủ nghĩa lý tưởng chưa được thực hiện; tất cả đều chỉ ra một thôi thúc, một thôi thúc mạnh mẽ, hoặc hướng đến sự thỏa mãn ích kỷ hoặc hướng đến sự cải thiện và phúc lợi của nhóm.

These dreams can embody in themselves ancient astral illusions and glamours, potent and strong because of ancient origin and racial desire, or they can embody the sensitive response of advanced humanity to systems and regimes of existence which are hovering on the borderland of manifestation, awaiting future precipitation and expression.

Những giấc mơ này có thể tự chúng chứa đựng những ảo tưởng và ảo cảm cảm dục cổ xưa, mạnh mẽ và đầy uy lực vì nguồn gốc xa xưa và ham muốn của nhân loại, hoặc chúng có thể chứa đựng sự đáp ứng nhạy bén của nhân loại tiến hóa cao đối với những hệ thống và chế độ tồn tại đang lơ lửng trên ranh giới của sự biểu hiện, chờ đợi sự ngưng tụ và biểu lộ trong tương lai.

This will indicate to you how vast is this subject, for it includes not only the past astral habits of the race, ready—when given certain pathological conditions or fostered by fretting frustrations—to assert themselves, but they also include the ability of the spiritually-minded aspirant in the world today to touch the intended plans for the race and thus see them as desirable possibilities.

Điều này sẽ cho các bạn thấy chủ đề này rộng lớn đến mức nào, vì nó không chỉ bao gồm những thói quen cảm dục quá khứ của nhân loại, sẵn sàng—khi được trao những điều kiện bệnh lý nhất định hoặc được nuôi dưỡng bởi những thất vọng cằn nhằn—tự khẳng định mình, mà còn bao gồm khả năng của người chí nguyện có tinh thần trong thế giới ngày nay chạm đến những kế hoạch dự định cho nhân loại và do đó thấy chúng như những khả thể đáng mong muốn.

Having thus indicated the scope of our theme, I would like to point out that I seek only, in the limited space at my disposal, to do two things:

Sau khi đã chỉ ra phạm vi của chủ đề chúng ta, tôi muốn nói rõ rằng trong không gian hạn hẹp tôi có, tôi chỉ tìm cách làm hai việc:

1. Touch briefly upon the conditions which foster dreams.

1. Đề cập ngắn gọn đến những điều kiện nuôi dưỡng giấc mơ.

2. Indicate the sources from which dreams can come and what produces them.

2. Chỉ ra những nguồn mà từ đó giấc mơ có thể đến và điều gì tạo ra chúng.

I do not expect to have these theories accepted by the average psychologist, but there may be somewhere those minds which will be open enough to accept some of the suggestions and thus benefit themselves and certainly benefit their patients.

Tôi không mong những lý thuyết này được nhà tâm lý học trung bình chấp nhận, nhưng có thể ở đâu đó sẽ có những trí tuệ đủ cởi mở để chấp nhận một số gợi ý và nhờ đó tự mình được lợi ích và chắc chắn cũng mang lợi ích đến cho bệnh nhân của họ.

The major cause of a distressing dream life is, in every case, a frustration or an inability of the soul to impose its wishes and designs upon its instrument, the man. These frustrations fall into three categories:

Nguyên nhân chính của một đời sống giấc mơ đầy đau khổ, trong mọi trường hợp, là một sự thất vọng hay sự bất lực của linh hồn trong việc áp đặt những mong muốn và dự định của nó lên khí cụ của nó là con người. Những sự thất vọng này thuộc ba loại:

[496]

[496]

1. Sex frustration. This type of frustration leads in many cases, especially in the average person, to an over-emphasis of the fact of sex, to an uncontrolled sex thought life, to sexual jealousies (oft unrecognised) and to physical underdevelopment.

1. Sự thất vọng về dục tính. Loại thất vọng này trong nhiều trường hợp, đặc biệt nơi người trung bình, dẫn đến sự nhấn mạnh quá mức vào sự kiện dục tính, đến một đời sống tư tưởng dục tính không kiểm soát, đến những ghen tuông tình dục (thường không được nhận ra) và đến sự phát triển hồng trần kém cỏi.

2. Frustrated ambition. This dams back the resources of the life, produces constant inner fret, leads to envy, hatred, bitterness, intense dislike of the successful, and causes abnormalities of many kinds.

2. Tham vọng bị thất vọng. Điều này ngăn chặn các nguồn lực của sự sống, tạo ra sự bứt rứt nội tâm thường xuyên, dẫn đến đố kỵ, thù hận, cay đắng, ác cảm mãnh liệt đối với người thành công, và gây ra nhiều loại bất thường.

3. Frustrated love. This would perhaps be included under sex frustration by the average psychologist, but it is not so viewed by the esotericist. There can be full sexual satisfaction or else complete freedom from its grip and yet the outgoing magnetic love nature of the subject may meet only with frustration and lack of response.

3. Tình thương bị thất vọng. Có lẽ nhà tâm lý học trung bình sẽ xếp điều này vào sự thất vọng về dục tính, nhưng nhà bí truyền học không nhìn như vậy. Có thể có sự thỏa mãn tình dục trọn vẹn hoặc hoàn toàn thoát khỏi sự chi phối của nó, thế mà bản chất tình thương từ tính hướng ngoại của đối tượng vẫn chỉ gặp thất vọng và thiếu đáp ứng.

Where these three types of frustration exist, you will frequently have a vivid, unwholesome dream life, physical liabilities of many kinds and a steadily deepening unhappiness.

Ở đâu ba loại thất vọng này tồn tại, ở đó các bạn thường sẽ có một đời sống giấc mơ sống động nhưng không lành mạnh, những nhược điểm hồng trần đủ loại và một nỗi bất hạnh ngày càng sâu thêm.

You will note that all these frustrations are, as might be expected, simply expressions of frustrated desire, and it is in this particular field (tied up as it is with the Atlantean consciousness) [497] that the work of the modern psychologist primarily and necessarily lies. In an effort to bring the patient to an understanding of his difficulty and in line with that which constitutes the way of least resistance, the psychologist endeavours to relieve the situation by teaching him to evoke and bring to the surface of his consciousness forgotten episodes and his dream life. Two important facts are sometimes forgotten and hence constitute a fruitful source of the frequent failure to bring relief. First, the patient as he descends into the depths of his dream life, will bring to the surface not only those things which are undesirable in his unrecognised “wish-life” but also those which were present in previous lives. He is penetrating into a very ancient astral past. Not only is this the case, but also—through the open door of his own astral life—he can tap or tune in on the astral life of the race. He then succeeds in producing the emergence of racial evil which may have absolutely no personal relation to him at all. This is definitely a dangerous thing to do, for it may prove stronger than the man’s present capacity to handle.

Các bạn sẽ lưu ý rằng tất cả những thất vọng này, như có thể chờ đợi, chỉ đơn giản là những biểu hiện của ham muốn bị thất vọng, và chính trong lĩnh vực đặc biệt này (gắn liền như nó vốn có với tâm thức Atlantis) [497] mà công việc của nhà tâm lý học hiện đại chủ yếu và tất yếu nằm ở đó. Trong nỗ lực đưa bệnh nhân đến chỗ thấu hiểu khó khăn của mình và phù hợp với điều cấu thành con đường ít trở ngại nhất, nhà tâm lý học cố gắng làm dịu tình hình bằng cách dạy y khơi gợi và đưa lên bề mặt tâm thức những giai đoạn bị quên lãng và đời sống giấc mơ của y. Đôi khi hai sự kiện quan trọng bị quên mất và vì thế trở thành một nguồn phong phú gây ra sự thất bại thường xuyên trong việc đem lại sự giải tỏa. Thứ nhất, bệnh nhân khi đi xuống vào những chiều sâu của đời sống giấc mơ của mình sẽ đưa lên bề mặt không chỉ những điều không mong muốn trong “đời sống ham muốn” không được nhận ra của y mà còn cả những điều đã hiện diện trong các kiếp sống trước. Y đang thâm nhập vào một quá khứ cảm dục rất cổ xưa. Không chỉ như thế, mà còn—qua cánh cửa mở của chính đời sống cảm dục của y—y có thể chạm vào hay bắt được đời sống cảm dục của nhân loại. Khi ấy y thành công trong việc làm xuất hiện cái ác của nhân loại mà có thể hoàn toàn không có liên hệ cá nhân nào với y cả. Đây rõ ràng là một việc nguy hiểm, vì nó có thể tỏ ra mạnh hơn khả năng hiện tại của con người trong việc xử lý nó.

Secondly, in his desire to be freed from the things in himself which are producing trouble, in his desire to please the psychologist (which is encouraged by certain of them under the method of “transference”) and in his desire to produce what he believes the psychologist wants him to produce, he will frequently draw upon his personal imagination, upon the collective imagination or, telepathically, tune in on the imagination of the one who is seeking to treat and help him. He, therefore, produces something which is basically untrue and misleading. These two points warrant careful attention and the patient must be safeguarded from himself, from the environing racial thought life, and also from the psychologist whose aid he is seeking. A difficult thing to do, is it not? [498]

Thứ hai, trong ham muốn được giải thoát khỏi những điều trong chính mình đang gây rắc rối, trong ham muốn làm hài lòng nhà tâm lý học (điều được một số người trong họ khuyến khích dưới phương pháp “chuyển di”) và trong ham muốn tạo ra điều mà y tin là nhà tâm lý học muốn y tạo ra, y thường sẽ dựa vào sự tưởng tượng cá nhân của mình, vào sự tưởng tượng tập thể hoặc bằng viễn cảm bắt được sự tưởng tượng của người đang tìm cách chữa trị và giúp đỡ y. Vì vậy, y tạo ra một điều gì đó về căn bản là không thật và gây lạc hướng. Hai điểm này đáng được chú ý cẩn thận và bệnh nhân phải được bảo vệ khỏi chính mình, khỏi đời sống tư tưởng của nhân loại đang bao quanh, và cả khỏi nhà tâm lý học mà y đang tìm kiếm sự trợ giúp. Quả là một việc khó làm, phải không? [498]

I would like, at this point, to make what I feel to be a needed and suggestive interpolation. There are three main ways in which the person who seeks psychological aid can be helped and this is true of all types and cases. There is, first of all, the method with which we have been dealing. This method delves into the patients past; it seeks to unearth the basic determining conditions which lie hidden in the happenings of childhood or infancy. These discovered events, it is held, gave a wrong direction or twist to the desire nature or to the thought life; they initiated predisposing germ-complexes, and therefore constitute the source of all the trouble. This method (even if the psychologist does not realise it) can carry over into past lives, and thus open doors which it might be well to leave shut until they can be more safely opened.

Tại điểm này, tôi muốn đưa vào một nhận xét chen ngang mà tôi cảm thấy là cần thiết và gợi mở. Có ba cách chính mà người tìm kiếm sự trợ giúp tâm lý học có thể được giúp đỡ, và điều này đúng với mọi loại và mọi trường hợp. Trước hết là phương pháp mà chúng ta đã bàn đến. Phương pháp này đào sâu vào quá khứ của bệnh nhân; nó tìm cách khai quật những điều kiện căn bản có tính quyết định đang ẩn giấu trong những biến cố của thời thơ ấu hay thời ấu nhi. Người ta cho rằng những biến cố được khám phá này đã tạo ra một hướng đi sai lệch hay một sự vặn xoắn cho bản chất ham muốn hoặc cho đời sống tư tưởng; chúng khởi đầu những phức hợp mầm mống có tính tiền định, và vì vậy cấu thành nguồn gốc của mọi rắc rối. Phương pháp này (ngay cả khi nhà tâm lý học không nhận ra) có thể kéo dài sang các kiếp sống trước, và do đó mở ra những cánh cửa mà có lẽ nên để đóng cho đến khi chúng có thể được mở ra an toàn hơn.

The second method which is sometimes combined with the previous one is to fill the present moment with constructive creative occupation and so drive out the undesirable elements in the life through the dynamic expulsive power of new and paramount, engrossing interests. I would like to point out that this method could be more safely applied if the subjective dream life and the hidden difficulties were left untreated—temporarily at least. This method is (for the average ordinary person who is pure Atlantean in consciousness but is just beginning to develop mental activity) usually a sound and safe way to work, provided the psychologist can gain the understanding cooperation of the person concerned.

Phương pháp thứ hai, đôi khi được kết hợp với phương pháp trước, là lấp đầy hiện tại bằng công việc xây dựng và sáng tạo, và như thế đẩy những yếu tố không mong muốn ra khỏi đời sống nhờ quyền năng xua đuổi năng động của những mối quan tâm mới, chủ yếu và cuốn hút. Tôi muốn chỉ ra rằng phương pháp này có thể được áp dụng an toàn hơn nếu đời sống giấc mơ chủ quan và những khó khăn ẩn giấu được để yên không đụng đến—ít nhất là tạm thời. Phương pháp này (đối với người bình thường trung bình, thuần túy Atlantis trong tâm thức nhưng mới bắt đầu phát triển hoạt động trí tuệ) thường là một cách làm việc đúng đắn và an toàn, miễn là nhà tâm lý học có thể giành được sự hợp tác thấu hiểu của người liên hệ.

The third method, which has the sanction of the Hierarchy and which is the one its members employ in Their work, is to bring in consciously the power of the soul. This power then pours through the personality life, vehicles and consciousness, and thus cleanses and purifies all aspects of the [499] lower nature. It will be apparent to you, however, that this method is of use only to those who have reached the point in their unfoldment (and there are many such today) where the mind can be reached and trained, and where the soul can consequently impress the brain, via the mind.

Phương pháp thứ ba, được Thánh Đoàn chuẩn thuận và là phương pháp mà các thành viên của Thánh Đoàn sử dụng trong công việc của Các Ngài, là đưa vào một cách có ý thức quyền năng của linh hồn. Khi ấy quyền năng này tuôn qua đời sống phàm ngã, các vận cụ và tâm thức, và nhờ đó tẩy sạch và thanh luyện mọi phương diện của [499] bản chất thấp. Tuy nhiên, các bạn sẽ thấy rõ rằng phương pháp này chỉ hữu ích cho những ai đã đạt đến điểm trong sự khai mở của mình (và ngày nay có nhiều người như vậy) nơi trí tuệ có thể được tiếp cận và huấn luyện, và do đó linh hồn có thể gây ấn tượng lên bộ não qua trí tuệ.

If these three methods are studied, you can arrive at an understanding as to the three systems which psychologists could elaborate and develop in order to handle the three types of modern consciousness—the Lemurian, which is the lowest found upon our planet at this time; the Atlantean, which is the commonest found today, and the Aryan, which is developing and unfolding with great rapidity. At present, psychologists are using the lowest type of aid for all groups and states of consciousness. This does not seem wise, does it?

Nếu ba phương pháp này được nghiên cứu, các bạn có thể đi đến một sự thấu hiểu về ba hệ thống mà các nhà tâm lý học có thể khai triển và phát triển để xử lý ba loại tâm thức hiện đại—Lemuria, là loại thấp nhất hiện được tìm thấy trên hành tinh chúng ta vào lúc này; Atlantis, là loại phổ biến nhất hiện nay; và Arya, đang phát triển và khai mở rất nhanh. Hiện nay, các nhà tâm lý học đang sử dụng loại trợ giúp thấp nhất cho mọi nhóm và mọi trạng thái tâm thức. Điều đó dường như không khôn ngoan, phải không?

The question now arises as to the source of dreams. Again, as in those cases we considered in connection with the sources of guidance, I shall simply enumerate such origins and leave the student of psychology to make adequate application of the information, when faced with a dream problem. These sources are about ten in number and could be enumerated as follows:

Giờ đây nảy sinh câu hỏi về nguồn gốc của giấc mơ. Một lần nữa, cũng như trong những trường hợp chúng ta đã xem xét liên quan đến các nguồn của sự hướng dẫn, tôi sẽ chỉ đơn giản liệt kê những nguồn gốc ấy và để cho đạo sinh tâm lý học tự áp dụng thích đáng thông tin này khi đối diện với một vấn đề về giấc mơ. Những nguồn này vào khoảng mười loại và có thể được liệt kê như sau:

1. Dreams based upon brain activity. In these cases, the subject is sleeping too lightly. He never really leaves his body and the thread of consciousness is not completely withdrawn as it is in deep sleep or in unconsciousness. He remains, therefore, closely identified with his body, and because of the partial withdrawal of the thread of consciousness, his condition is more like a dazed, benumbed self-recognition than real sleep. This condition may persist throughout the entire night or period of sleep, but it is usually found present only in the first two hours of sleep and for about one hour prior to returning to full waking consciousness. The problems, worries, pleasures, concerns, etc., etc. of the waking [500] hours are still agitating the brain cells, but the recognition and interpretation of these vague or agitated impressions is uncertain and of a confused nature. No importance whatever need be attached to this type of dream. They indicate physical nervousness and poor sleeping capacity but have no deep psychological significance or spiritual meaning. These dreams are the most common at this time, owing to the prevalence of the Atlantean consciousness and the stress under which people live today. It is easy to attach undue importance to the wild and stupid or fumbled vagaries of a restless brain, yet the sole trouble is that the man is not sleeping soundly enough.

1. Những giấc mơ dựa trên hoạt động của bộ não. Trong những trường hợp này, đối tượng ngủ quá nông. Y không bao giờ thực sự rời khỏi thể của mình và sợi dây tâm thức không được rút ra hoàn toàn như trong giấc ngủ sâu hay trong trạng thái vô thức. Vì vậy, y vẫn đồng hoá chặt chẽ với thể của mình, và do sự rút lui một phần của sợi dây tâm thức, trạng thái của y giống một sự tự nhận biết mơ màng, tê dại hơn là giấc ngủ thực sự. Tình trạng này có thể kéo dài suốt đêm hay suốt thời kỳ ngủ, nhưng thường chỉ hiện diện trong hai giờ đầu của giấc ngủ và khoảng một giờ trước khi trở lại tâm thức tỉnh thức hoàn toàn. Những vấn đề, lo âu, vui thú, bận tâm, v.v… của những giờ [500] tỉnh thức vẫn còn khuấy động các tế bào não, nhưng sự nhận biết và diễn giải những ấn tượng mơ hồ hay xáo động này thì không chắc chắn và có tính hỗn loạn. Không cần gán bất kỳ tầm quan trọng nào cho loại giấc mơ này. Chúng chỉ ra sự căng thẳng thần kinh hồng trần và khả năng ngủ kém nhưng không có ý nghĩa tâm lý học sâu xa hay ý nghĩa tinh thần nào. Những giấc mơ này là loại phổ biến nhất vào lúc này, do sự thịnh hành của tâm thức Atlantis và áp lực mà con người đang sống dưới đó ngày nay. Rất dễ gán tầm quan trọng quá mức cho những biến động hoang dại, ngu ngốc hay lộn xộn của một bộ não bất an, thế nhưng rắc rối duy nhất chỉ là con người ấy ngủ chưa đủ sâu.

The effort to make people dream and to train them to recover their dream life when they are naturally sound sleepers, and drop easily into deep and dreamless sleep is not good. The evocation of the dream life, as brought about through the methods of certain schools of psychology, should only be brought about forcibly (if one may use this word in that connection) through the determination of the will during the later stages upon the Path. To do so earlier produces frequently a kind of continuity of consciousness which adds the complexities of the astral plane to those of daily living upon the physical plane; few people are competent to handle the two and, when there is persistence in the endeavor to evoke the dream life, the brain cells get no rest and forms of sleeplessness are apt to supervene. Nature wills that all forms of life should “sleep” at times.

Việc cố làm cho người ta mơ và huấn luyện họ phục hồi đời sống giấc mơ của mình khi họ vốn là những người ngủ ngon tự nhiên và dễ dàng rơi vào giấc ngủ sâu không mộng mị là điều không tốt. Việc khơi gợi đời sống giấc mơ, như được tạo ra qua các phương pháp của một số trường phái tâm lý học, chỉ nên được thực hiện một cách cưỡng bách (nếu có thể dùng từ ấy trong mối liên hệ này) nhờ sự quyết tâm của ý chí trong những giai đoạn sau trên Con Đường. Làm như vậy sớm hơn thường tạo ra một loại liên tục của tâm thức, làm tăng thêm những phức tạp của cõi cảm dục vào những phức tạp của đời sống hằng ngày trên cõi hồng trần; ít người đủ năng lực để xử lý cả hai, và khi có sự kiên trì trong nỗ lực khơi gợi đời sống giấc mơ, các tế bào não không được nghỉ ngơi và các dạng mất ngủ dễ phát sinh. Tự nhiên muốn rằng mọi hình thức sự sống đôi khi đều phải “ngủ”.

We now come to two forms of dreams which are related to the astral or emotional nature and which are of great frequency.

Giờ đây chúng ta đến với hai loại giấc mơ có liên hệ với bản chất cảm dục hay cảm xúc và xuất hiện rất thường xuyên.

2. Dreams of remembrance. These are dreams which are a recovery of the sights and sounds encountered in the hours of sleep upon the astral plane. It is on this plane that the [501] man is usually found when the thread of consciousness is separated from the body. In this case, the man is either participating in certain activities, or he is in the position of the onlooker who sees actual sights, performances, people, etc., etc., just as any person can see them as he walks down a street in any large city or as he looks out of a window in any environment. These sights and sounds will often be dependent upon the wish-life and the predilections of the subject, upon his likes and dislikes and his desires and recognised attractions. He will seek for and often find those he loves; he will sometimes search for and find those he seeks to damage, and find occasion to hurt those he hates; he will favour himself by participating in the fulfillment of what he desires, which is always imaginatively possible upon the astral plane. Such desires may range all the way from desire for sexual gratification to the longing of the spiritually-minded aspirant to see the Master, the Christ or the Buddha. Thought forms, created by the similar wishes of the multitude, will be found to meet his desire and—on returning to his body in the morning—he brings with him the recollection of that satisfaction in the form of a dream. These dreams, related to astral satisfactions, are all of them in the nature of glamour or illusion; they are self-evoked and self-related; they indicate however real experience, even if only astral in accomplishment and can be of value to the interested psychologist in so far as they indicate the character trends of the patient. One difficulty can, however, be found. These thought forms (to which the man has responded and in which he has found an imaginative satisfaction) embody the expression of the wish-life of the race and exist, therefore, upon the astral plane for all to see. Many people do see and contact them and can identify themselves with them upon returning to waking consciousness. In fact, however, they [502] have really done no more than register these thought forms in the same manner as one can register the contents of a shop window when passing by. A shocked horror can, for instance, induce a person to relate, quite innocently, a dream which is, in reality, no more than the registering of a sight or experience which was witnessed in the hours of sleep but with which the man has no real connection whatever. This experience he relates with dismay and disgust; most feelingly he tells the experience to the psychologist, and frequently receives an interpretation which reveals to him the depths of evil to which his unrealised desires apparently bear witness. His unexpressed longings are “brought to the surface” by the psychologist. He is told that these longings, when faced, will then leave him, and that the ghost of his mental and psychological disorder will then be laid. Unless the psychologist is of real enlightenment, the subject of his care is then saddled with an experience which was never his but which he simply witnessed. I give this as an example of great frequency and of much damaging value. Until psychologists recognise the actuality of the life of humanity when separated at night from the physical body, such errors will be of increasing occurrence. The implications are obvious.

2. Những giấc mơ hồi tưởng. Đây là những giấc mơ là sự phục hồi những cảnh tượng và âm thanh gặp phải trong những giờ ngủ trên cõi cảm dục. Chính trên cõi này mà [501] con người thường được thấy khi sợi dây tâm thức tách khỏi thể. Trong trường hợp này, con người hoặc đang tham dự vào một số hoạt động nào đó, hoặc ở vào vị trí của người quan sát nhìn thấy những cảnh tượng, những trình diễn, con người, v.v… thực sự, cũng như bất kỳ ai cũng có thể thấy chúng khi đi dọc một con phố trong bất kỳ thành phố lớn nào hay khi nhìn ra ngoài cửa sổ trong bất kỳ môi trường nào. Những cảnh tượng và âm thanh này thường sẽ tùy thuộc vào đời sống ham muốn và những thiên hướng của đối tượng, vào những điều y thích và không thích, cùng những ham muốn và hấp lực được nhận biết của y. Y sẽ tìm kiếm và thường tìm thấy những người y yêu; đôi khi y sẽ tìm kiếm và tìm thấy những người y muốn làm hại, và tìm dịp làm tổn thương những người y ghét; y sẽ ưu ái chính mình bằng cách tham dự vào sự hoàn thành điều y ham muốn, điều luôn luôn có thể thực hiện được bằng tưởng tượng trên cõi cảm dục. Những ham muốn như thế có thể trải dài từ ham muốn thỏa mãn tình dục đến nỗi khao khát của người chí nguyện có tinh thần muốn gặp Chân sư, Đức Christ hay Đức Phật. Những Hình tư tưởng, do những ước muốn tương tự của đám đông tạo ra, sẽ được tìm thấy để đáp ứng ham muốn của y và—khi trở về thể của mình vào buổi sáng—y mang theo ký ức về sự thỏa mãn ấy dưới hình thức một giấc mơ. Những giấc mơ này, liên hệ với những sự thỏa mãn cảm dục, tất cả đều mang bản chất của ảo cảm hay ảo tưởng; chúng do chính mình khơi gợi và liên hệ với chính mình; tuy nhiên chúng chỉ ra kinh nghiệm thực, dù chỉ được hoàn thành trên cõi cảm dục, và có thể có giá trị đối với nhà tâm lý học quan tâm đến chúng trong chừng mực chúng chỉ ra những xu hướng tính cách của bệnh nhân. Tuy nhiên, có thể thấy một khó khăn. Những Hình tư tưởng này (mà con người đã đáp ứng và trong đó y đã tìm thấy một sự thỏa mãn bằng tưởng tượng) hiện thân cho sự biểu lộ của đời sống ham muốn của nhân loại và vì vậy tồn tại trên cõi cảm dục cho mọi người nhìn thấy. Nhiều người thực sự nhìn thấy và tiếp xúc với chúng rồi có thể đồng hoá với chúng khi trở lại tâm thức tỉnh thức. Thực ra, tuy nhiên, họ [502] đã không làm gì hơn ngoài việc ghi nhận những Hình tư tưởng này theo cùng cách mà người ta có thể ghi nhận nội dung của một tủ kính cửa hàng khi đi ngang qua. Chẳng hạn, một nỗi kinh hoàng sửng sốt có thể khiến một người kể lại, hoàn toàn vô tội, một giấc mơ mà thực ra không hơn gì việc ghi nhận một cảnh tượng hay kinh nghiệm đã được chứng kiến trong những giờ ngủ nhưng con người ấy hoàn toàn không có liên hệ thực sự nào với nó. Kinh nghiệm này y kể lại với sự kinh hãi và ghê tởm; với cảm xúc sâu sắc nhất y kể kinh nghiệm ấy cho nhà tâm lý học, và thường nhận được một sự diễn giải cho y thấy những chiều sâu của cái ác mà những ham muốn không được nhận ra của y dường như làm chứng cho. Những khao khát không được biểu lộ của y được nhà tâm lý học “đưa lên bề mặt”. Y được bảo rằng những khao khát này, khi được đối diện, rồi sẽ rời bỏ y, và bóng ma của chứng rối loạn trí tuệ và tâm lý học của y khi ấy sẽ được xoa dịu. Trừ phi nhà tâm lý học có giác ngộ thực sự, đối tượng được y chăm sóc khi ấy sẽ bị chất lên một kinh nghiệm vốn chưa bao giờ là của mình mà chỉ đơn giản là điều y đã chứng kiến. Tôi nêu điều này như một ví dụ rất thường gặp và có giá trị gây tổn hại lớn. Chừng nào các nhà tâm lý học chưa nhận ra tính hiện thực của đời sống của nhân loại khi ban đêm tách khỏi thể xác, những sai lầm như thế sẽ ngày càng xảy ra nhiều hơn. Những hàm ý ở đây thật hiển nhiên.

3. Dreams which are recollections of true activity. These dreams are registrations of true activities. They are not simply witnessed, registered and related by the subject. As soon as a person has reached

3. Những giấc mơ là ký ức về hoạt động thực sự. Những giấc mơ này là những ghi nhận về các hoạt động thực sự. Chúng không chỉ đơn giản được đối tượng chứng kiến, ghi nhận và kể lại. Ngay khi một người đã đạt đến

a. A state of real integration of the astral body and the vital or etheric body, plus the physical body, then these three aspects function harmoniously.

a. Một trạng thái tích hợp thực sự của thể cảm dục và thể sinh lực hay thể dĩ thái, cộng với thể xác, thì ba phương diện này hoạt động hài hòa.

b. A capacity to pursue ordered activity at night or in the hours of sleep. Then the man can impress the physical brain with a knowledge of those activities [503] and on returning to waking consciousness put it to actual use by the physical body.

b. Một khả năng theo đuổi hoạt động có trật tự vào ban đêm hay trong những giờ ngủ. Khi ấy con người có thể gây ấn tượng lên bộ não hồng trần bằng tri thức về những hoạt động ấy [503] và khi trở lại tâm thức tỉnh thức thì đưa nó vào sử dụng thực tế bằng thể xác.

The man’s dreams will then be, in reality nothing more nor less than the relation of the continuance of the days activities, as they have been carried forward on the astral plane. They will be simply the record, registered on the physical brain, of his doings and emotions, his purposes and intentions, and his recognised experiences. They are as real and as true as any of those which have been recorded by the brain, during waking hours. They are, nevertheless, only partial records in the majority of cases, and mixed in nature, for the glamours, illusions and the perceptions of the doings of others (as recorded in the second category of dreams above) will still have some effect. This condition of mixed recording, of erroneous identifications, etc., leads to much difficulty. The psychologist has to make allowance for:

Khi ấy, những giấc mơ của con người thực ra không hơn không kém gì sự thuật lại sự tiếp diễn của các hoạt động ban ngày, khi chúng đã được tiếp tục trên cõi cảm dục. Chúng đơn giản là bản ghi, được ghi nhận trên bộ não hồng trần, về những việc làm và cảm xúc của y, những mục đích và ý định của y, và những kinh nghiệm được y nhận biết. Chúng chân thực và có thật như bất kỳ điều nào đã được bộ não ghi nhận trong những giờ tỉnh thức. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, chúng chỉ là những bản ghi từng phần và có tính pha trộn, vì các ảo cảm, ảo tưởng và những tri giác về hành động của người khác (như được ghi nhận trong loại giấc mơ thứ hai ở trên) vẫn còn có một số ảnh hưởng. Tình trạng ghi nhận pha trộn này, của những sự đồng hoá sai lầm, v.v… dẫn đến nhiều khó khăn. Nhà tâm lý học phải lưu ý đến:

a. The age or soul experience of the patient. He has to determine whether the related dream is an illusory participation, a perceived or registered activity, or a real and true happening in the experience of the man during the hours of sleep.

a. Tuổi đời hay kinh nghiệm linh hồn của bệnh nhân. Y phải xác định xem giấc mơ được kể lại là một sự tham dự ảo tưởng, một hoạt động được tri giác hay ghi nhận, hay là một biến cố thực sự và chân thật trong kinh nghiệm của con người trong những giờ ngủ.

b. The ability of the subject to bring through correctly the related experience. This ability is dependent upon the pre-establishing of continuity of consciousness, so that at the moment of return, the brain of the man concerned is easily impressed by the experience of the true man when out of the body.

b. Khả năng của đối tượng trong việc chuyển tải đúng đắn kinh nghiệm được kể lại. Khả năng này tùy thuộc vào việc thiết lập trước đó sự liên tục của tâm thức, để vào lúc trở về, bộ não của người liên hệ dễ dàng được gây ấn tượng bởi kinh nghiệm của con người chân thực khi ở ngoài thể.

c. The freedom of the patient from the desire to make an impression upon the psychologist, his innate truthfulness, his control of the imagination, and his power of verbal expression. [504]

c. Sự tự do của bệnh nhân khỏi ham muốn gây ấn tượng với nhà tâm lý học, tính chân thật bẩm sinh của y, sự kiểm soát của y đối với sự tưởng tượng, và năng lực diễn đạt bằng lời của y. [504]

Where advanced aspirants and disciples are concerned, we have a somewhat different situation. The demonstrated integration has involved the mind nature and is involving the soul likewise. The activity, registered, recorded and related, is that of a server upon the astral plane. The activities which interest a world server are, therefore, quite different in nature to those earlier experienced and related. They will be concerned with deeds which are related to other people, to the fulfillment of duties involving other people, to the teaching of groups rather than individuals, etc. These differences, when carefully studied, will be recognised by the psychologist of the future (who will necessarily be also an esotericist) as most revealing because they will indicate in an interesting manner, the spiritual status and hierarchical relationship of the patient.

Khi đề cập đến những người chí nguyện và đệ tử tiến bộ, chúng ta có một tình huống phần nào khác biệt. Sự tích hợp đã được chứng tỏ đã bao hàm bản chất trí tuệ và cũng đang bao hàm linh hồn nữa. Hoạt động được ghi nhận, lưu giữ và liên hệ là hoạt động của một người phụng sự trên cõi cảm dục. Vì vậy, những hoạt động khiến một Người Phụng Sự Thế Gian quan tâm có bản chất hoàn toàn khác với những hoạt động đã được kinh nghiệm và liên hệ trước đó. Chúng sẽ liên quan đến những hành động có liên hệ với người khác, đến việc hoàn thành các bổn phận liên quan đến người khác, đến việc giảng dạy cho các nhóm thay vì cho từng cá nhân, v.v. Những khác biệt này, khi được nghiên cứu cẩn thận, sẽ được nhà tâm lý học của tương lai nhận ra là hết sức mặc khải, bởi vì chúng sẽ chỉ ra một cách lý thú địa vị tinh thần và mối liên hệ với Thánh đoàn của bệnh nhân.

4. Dreams which are of a mental nature. These have their origin upon the mental plane and presuppose a consciousness which is, at least, becoming more sensitive mentally. At any rate, they are not recorded in the waking brain consciousness until there is some measure of mind control. I might add at this point that one of the major difficulties with which a psychologist is confronted, as he attempts to interpret the dream life of his patient, is based not only on his inability esoterically to “place” his patient as to ray type, evolutionary status, astrological indications and inherent characteristics, but also he is confronted with the inability of the patient to relate his dream correctly. What is presented to the psychologist is a confused and imaginative description of brain reactions, astral phenomena, and (where there is a measure of intellectual poise) some mental phenomena also. But there is no capacity to differentiate. This confusion is due to lack of alignment, and of true mental relation between the mind and the brain. [505] It becomes, therefore, oft a case of the “blind leading the blind”.

4. Những giấc mơ có bản chất trí tuệ. Những giấc mơ này phát sinh trên cõi trí và giả định một tâm thức ít nhất cũng đang trở nên nhạy bén hơn về mặt trí tuệ. Dù sao đi nữa, chúng không được ghi lại trong tâm thức bộ não lúc thức cho đến khi có một mức độ kiểm soát của trí tuệ nào đó. Tôi có thể nói thêm ở điểm này rằng một trong những khó khăn lớn mà một nhà tâm lý học phải đối diện khi cố gắng diễn giải đời sống mộng mị của bệnh nhân mình không chỉ dựa trên việc y không thể, một cách huyền bí, “định vị” bệnh nhân của mình về loại cung, địa vị tiến hoá, các chỉ dấu chiêm tinh và các đặc tính cố hữu, mà còn ở chỗ y phải đối diện với sự bất lực của bệnh nhân trong việc thuật lại giấc mơ của mình một cách đúng đắn. Điều được trình bày cho nhà tâm lý học là một mô tả lẫn lộn và đầy tưởng tượng về các phản ứng của bộ não, các hiện tượng cảm dục, và (khi có một mức độ quân bình trí tuệ nào đó) cả một số hiện tượng trí tuệ nữa. Nhưng không có khả năng phân biện. Sự lẫn lộn này là do thiếu chỉnh hợp, và thiếu mối liên hệ trí tuệ chân chính giữa trí tuệ và bộ não. [505] Vì vậy, điều này thường trở thành trường hợp “người mù dắt người mù”.

Dreams which are of mental origin are fundamentally of three kinds:

Những giấc mơ có nguồn gốc trí tuệ về căn bản thuộc ba loại:

a. Those dreams which are based on contact with the world of thought forms. This comprises a vast realm of ancient thought forms, of modern thought forms, and those thought forms also which are nebulous and emerging. They are of purely human origin and are definitely a part of the Great Illusion. They constitute, in the bulk of cases, man’s effort at the interpretation of life and its meaning down the ages. They merge with the soul of glamour which is astral in nature. It will be obvious to you that these thought forms comprise all possible themes. They do not embody the wish-life of the race, but are concerned with men’s thoughts about the ideas and ideals which—down the ages—have controlled human life and which, therefore, form the basis of all history.

a. Những giấc mơ dựa trên sự tiếp xúc với thế giới của các Hình tư tưởng. Điều này bao gồm một lĩnh vực rộng lớn của những Hình tư tưởng cổ xưa, những Hình tư tưởng hiện đại, và cả những Hình tư tưởng còn mơ hồ và đang xuất hiện. Chúng hoàn toàn có nguồn gốc nhân loại và rõ ràng là một phần của Đại Ảo Tưởng. Trong phần lớn các trường hợp, chúng cấu thành nỗ lực của con người qua các thời đại nhằm diễn giải sự sống và ý nghĩa của nó. Chúng hòa lẫn với linh hồn của ảo cảm vốn có bản chất cảm dục. Các bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng những Hình tư tưởng này bao gồm mọi chủ đề có thể có. Chúng không hiện thân cho đời sống ham muốn của nhân loại, mà liên quan đến những tư tưởng của con người về các ý tưởng và lý tưởng vốn—qua các thời đại—đã kiểm soát đời sống nhân loại và vì vậy tạo thành nền tảng của toàn bộ lịch sử.

b. Those dreams which are geometrical in nature, and in which the subject becomes aware of those basic patterns, forms and symbols which are the blue prints of the archetypes determining the evolutionary process, and which produce eventually the materialising of God’s Plan. They are also the great symbols of man’s unfolding consciousness. For instance, the recognition of the point, the line, the triangle, the square, the Cross, the pentagon and similar symbols are simply the recognition of a connection with, and a founding upon, certain lines of force which have, to date, determined the evolutionary [506] process. There are seven such forms, evolved and recognised in every race and, for our present purposes, there are, therefore, twenty-one basic symbols which, in geometrical form, embody the concepts which determine the Lemurian, Atlantean and Aryan civilisations. It is interesting to realise that there are fourteen more to come. The symbols which are already evolved are deeply ingrained in the human consciousness, and lead, for instance, to the constant use of the cross in its many diverse forms. Two symbols are at this time taking form as the basis of the coming civilisation. These are the lotus and the flaming torch. Hence the frequent appearance of these two in the life of meditation and the dream life of the world aspirants.

b. Những giấc mơ có bản chất hình học, trong đó chủ thể trở nên nhận biết những mô hình, hình thể và biểu tượng căn bản vốn là các bản thiết kế của những nguyên mẫu quyết định tiến trình tiến hoá, và cuối cùng tạo ra sự hiện hình của Thiên Cơ của Thượng đế. Chúng cũng là những biểu tượng lớn lao của tâm thức đang khai mở của con người. Chẳng hạn, sự nhận biết điểm, đường thẳng, tam giác, hình vuông, Thập Giá, ngũ giác và những biểu tượng tương tự chỉ đơn giản là sự nhận biết một mối liên hệ với, và một sự đặt nền trên, những đường mãnh lực nhất định vốn cho đến nay đã quyết định tiến trình tiến hoá [506] . Có bảy hình thể như vậy, được tiến hoá và được nhận biết trong mọi nhân loại, và vì vậy, đối với mục đích hiện tại của chúng ta, có hai mươi mốt biểu tượng căn bản mà dưới hình thức hình học, hiện thân cho các khái niệm quyết định các nền văn minh Lemuria, Atlantis và Arya. Thật lý thú khi nhận ra rằng còn mười bốn biểu tượng nữa sẽ xuất hiện. Những biểu tượng đã được tiến hoá rồi đã ăn sâu vào tâm thức nhân loại, và chẳng hạn dẫn đến việc sử dụng liên tục thập giá dưới nhiều hình thức đa dạng của nó. Hiện nay, hai biểu tượng đang thành hình như nền tảng của nền văn minh sắp đến. Đó là hoa sen và ngọn đuốc rực lửa. Do đó, hai biểu tượng này thường xuyên xuất hiện trong đời sống tham thiền và đời sống mộng mị của những người chí nguyện trên thế giới.

c. Those dreams which are symbolic presentations of teaching received in the hours of sleep by aspirants and disciples in the Hall of Learning on the highest level of the astral plane, and in the Hall of Wisdom on the mental plane. In the first Hall is the best that the race has already learnt through its Atlantean experience and in the world of glamour. Through these, wise choice can be developed. The Hall of Wisdom embodies the teaching which the two coming races will develop and unfold, and thus trains the disciple and the initiate.

c. Những giấc mơ là các trình bày biểu tượng của giáo huấn được tiếp nhận trong những giờ ngủ bởi những người chí nguyện và đệ tử trong Phòng Hiểu Biết ở cấp độ cao nhất của cõi cảm dục, và trong Phòng Minh triết trên cõi trí. Trong Phòng thứ nhất là điều tốt đẹp nhất mà nhân loại đã học được qua kinh nghiệm Atlantis của mình và trong thế giới của ảo cảm. Nhờ đó, sự lựa chọn khôn ngoan có thể được phát triển. Phòng Minh triết hiện thân cho giáo huấn mà hai nhân loại sắp đến sẽ phát triển và khai mở, và như thế huấn luyện đệ tử và điểm đạo đồ.

I cannot do more than thus indicate the nature of these three basic mental experiences which find their way into the dream life of the man on the physical plane. These are given expression by him in the form of related dreams, creative work, and the expression of the ideals which are building the human consciousness. [507]

Tôi không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra như vậy bản chất của ba kinh nghiệm trí tuệ căn bản này vốn tìm đường đi vào đời sống mộng mị của con người trên cõi hồng trần. Chúng được y biểu lộ dưới hình thức những giấc mơ được thuật lại, công việc sáng tạo, và sự biểu hiện của những lý tưởng đang xây dựng tâm thức nhân loại. [507]

5. Dreams which are records of work done. This activity the aspirant carries on at night and when absent from the body, and it is carried on

5. Những giấc mơ là ghi chép về công việc đã làm. Hoạt động này người chí nguyện thực hiện vào ban đêm và khi vắng khỏi thể xác, và nó được tiến hành

a. In the borderland between the astral plane and the physical plane.

a. Trong vùng biên giới giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần.

b. In the so-called “summerland” wherein the entire wish-life of the race is centred and all racial desire takes form.

b. Trong cái gọi là “miền hạ giới an vui”, nơi toàn bộ đời sống ham muốn của nhân loại tập trung và mọi dục vọng của nhân loại đều thành hình.

c. In the world of glamour which is part of the astral plane which embodies the ancient past, which fertilises the desire life of the present, and which indicates the nature of the desire life of the immediate future.

c. Trong thế giới của ảo cảm là phần của cõi cảm dục hiện thân cho quá khứ cổ xưa, làm phì nhiêu đời sống ham muốn của hiện tại, và chỉ ra bản chất của đời sống ham muốn trong tương lai gần.

These phases and spheres of activity are very real in nature. Aspirants who succeed in functioning with any measure of consciousness on the astral plane are all occupied, at some level or another, with some form of constructive activity or work. This activity, selfishly performed (for many aspirants are selfish) or unselfishly carried forward, constitutes much of the material of many of the so-called dreams, as related by the average intelligent citizen. They warrant no more attention or mysteriously applied interpretation or symbolic elucidation than do the current activities and events of daily life as carried on in waking consciousness upon the physical plane. They are of three kinds:

Những giai đoạn và lĩnh vực hoạt động này có bản chất rất thực. Những người chí nguyện thành công trong việc hoạt động với một mức độ tâm thức nào đó trên cõi cảm dục đều bận rộn, ở cấp độ này hay cấp độ khác, với một hình thức hoạt động hay công việc có tính xây dựng nào đó. Hoạt động này, được thực hiện một cách ích kỷ (vì nhiều người chí nguyện là ích kỷ) hay được tiếp tục một cách vô ngã, cấu thành phần lớn chất liệu của nhiều cái gọi là giấc mơ, như được thuật lại bởi công dân thông minh trung bình. Chúng không đáng được chú ý nhiều hơn, hay được diễn giải một cách huyền bí, hay được làm sáng tỏ bằng biểu tượng nhiều hơn những hoạt động và biến cố hiện thời của đời sống hằng ngày khi được tiến hành trong tâm thức thức tỉnh trên cõi hồng trần. Chúng có ba loại:

a. The activity of the patient himself when freed, in sleep, from the physical body.

a. Hoạt động của chính bệnh nhân khi được giải thoát, trong giấc ngủ, khỏi thể xác.

b. His observation of the activities of others. These he is apt to appropriate unwillingly and quite erroneously to himself because of the ego-centric tendency of the average human mind. [509]

b. Sự quan sát của y đối với các hoạt động của người khác. Y có khuynh hướng chiếm lấy chúng một cách không chủ ý và hoàn toàn sai lầm cho chính mình vì xu hướng tự ngã trung tâm của trí tuệ con người trung bình. [509]

c. Instruction which is given to him by those responsible for his unfoldment and training.

c. Sự huấn luyện được ban cho y bởi những người chịu trách nhiệm về sự khai mở và đào luyện của y.

This category of dreams is becoming increasingly prevalent as the alignment of the astral body and the physical body is perfected and continuity of consciousness is slowly developed. The activity involves religious activity, sexual living in its many phases (for not all of them are physical, though all of them are related to the problem of the polar opposites and the essential duality of manifestation) political activity, creative and artistic activity and the many other forms of human expression. They are as varied and as diverse as those in which humanity indulges on the physical plane; they are the source of much confusion in the mind of the psychologist and need most careful consideration and analysis.

Loại giấc mơ này đang ngày càng phổ biến khi sự chỉnh hợp của thể cảm dục và thể xác được hoàn thiện và sự liên tục của tâm thức được phát triển chậm rãi. Hoạt động này bao gồm hoạt động tôn giáo, đời sống tính dục trong nhiều giai đoạn của nó (vì không phải tất cả đều là hồng trần, dù tất cả đều liên hệ đến vấn đề của các cực đối lập và tính nhị nguyên căn bản của biểu hiện), hoạt động chính trị, hoạt động sáng tạo và nghệ thuật, cùng nhiều hình thức biểu hiện khác của con người. Chúng đa dạng và khác biệt cũng như những gì mà nhân loại đắm mình vào trên cõi hồng trần; chúng là nguồn gốc của nhiều sự lẫn lộn trong trí óc của nhà tâm lý học và cần được xem xét và phân tích hết sức cẩn thận.

6. Telepathic dreams. These dreams are simply the record upon the physical brain consciousness of real events which are telepathically communicated from one person to another. Some friend or relation undergoes some experience. He seeks to communicate it to his friend or—at the moment of crisis—he thinks powerfully of his friend. This registers on the friend’s mind but is often only recovered in the hours of sleep and is brought through in the morning as a man’s own personal experience. Many of the dreams related by people are records of the experiences of other people of which a man becomes aware and which he is appropriating to himself in all sincerity.

6. Những giấc mơ viễn cảm. Những giấc mơ này chỉ đơn giản là sự ghi lại trong tâm thức bộ não hồng trần những biến cố có thật được truyền đạt bằng viễn cảm từ người này sang người khác. Một người bạn hay thân nhân trải qua một kinh nghiệm nào đó. Y tìm cách truyền đạt nó cho bạn mình hoặc—vào lúc khủng hoảng—y nghĩ mạnh mẽ về bạn mình. Điều này được ghi nhận trong trí tuệ của người bạn nhưng thường chỉ được phục hồi trong những giờ ngủ và được mang qua vào buổi sáng như một kinh nghiệm cá nhân của chính người ấy. Nhiều giấc mơ do người ta thuật lại là những ghi chép về các kinh nghiệm của người khác mà một người trở nên nhận biết và chiếm lấy cho mình với tất cả sự chân thành.

We come now to a group of dreams which are a part of the experience of those people who have made a definite soul contact and are in process of establishing a close link with the world of souls. The “things of the kingdom of God” are opening up before them and the phenomena, the happenings, the ideas, and the life and knowledge of the soul realm are being registered with increasing accuracy in the mind. From the mind, they are being transferred to or imprinted upon the brain cells. We have therefore:

Giờ đây chúng ta đến với một nhóm giấc mơ là một phần của kinh nghiệm của những người đã tạo được sự tiếp xúc rõ rệt với linh hồn và đang trong tiến trình thiết lập một liên kết mật thiết với thế giới của các linh hồn. “Những điều của Thiên Giới” đang mở ra trước họ và các hiện tượng, các biến cố, các ý tưởng, cùng sự sống và tri thức của cõi linh hồn đang được ghi nhận trong trí tuệ với độ chính xác ngày càng tăng. Từ trí tuệ, chúng đang được chuyển dịch đến hoặc được in dấu lên các tế bào não. Vì vậy, chúng ta có:

7. Dreams which are dramatisation. This type of dream is a symbolic performance by the soul for the purpose of giving instruction, warning or command to its instrument, man, on the physical plane. These dramatic or symbolic dreams are becoming increasingly numerous in the case of aspirants and disciples, particularly in the early stages of soul contact. They can express themselves in the hours of sleep and also during the meditation period or process. Only the man himself, from his knowledge of himself, can rightly interpret this class of dreams. It will be apparent to you also that the ray type of the soul and of the personality will largely determine the type of symbolism or the nature of the dramatisation employed. This must be determined, therefore, by the psychologist before interpretation can be intelligently given and prove useful.

7. Những giấc mơ là sự kịch hóa. Loại giấc mơ này là một sự trình diễn biểu tượng do linh hồn thực hiện nhằm mục đích ban huấn thị, cảnh báo hay mệnh lệnh cho khí cụ của nó, con người, trên cõi hồng trần. Những giấc mơ kịch tính hay biểu tượng này đang ngày càng nhiều hơn trong trường hợp của những người chí nguyện và đệ tử, đặc biệt trong các giai đoạn đầu của sự tiếp xúc với linh hồn. Chúng có thể biểu hiện trong những giờ ngủ và cả trong thời kỳ hay tiến trình tham thiền. Chỉ chính con người ấy, từ sự hiểu biết của mình về bản thân, mới có thể diễn giải đúng đắn loại giấc mơ này. Các bạn cũng sẽ thấy hiển nhiên rằng loại cung của linh hồn và của phàm ngã sẽ phần lớn quyết định loại biểu tượng hay bản chất của sự kịch hóa được sử dụng. Vì vậy, điều này phải được nhà tâm lý học xác định trước khi có thể đưa ra sự diễn giải một cách thông minh và hữu ích.

8. Dreams concerned with group work. In this type of dream, the soul trains or fits its vehicle, the lower man, for group activity. This type of dream is also the higher correspondence of the dreams dealt with under our fifth heading. The group work involved is not this time carried on in the three worlds of human expression but in the world of soul life and soul experience. Soul knowledges and purposes are involved; work in a Master’s group may be registered and regarded as a dream in spite of its reality and basically phenomenal occurrence. The realities of the kingdom of God may for a time seep through into the brain consciousness in the form of dreams. Much of the experiences recorded in the mystical writings during the past few centuries in the Occident, are in this category. This is a point worth careful consideration. [510]

8. Những giấc mơ liên quan đến công việc nhóm. Trong loại giấc mơ này, linh hồn huấn luyện hay chuẩn bị vận cụ của nó, phàm nhân, cho hoạt động nhóm. Loại giấc mơ này cũng là sự tương ứng cao hơn của những giấc mơ được bàn đến dưới đề mục thứ năm của chúng ta. Công việc nhóm liên hệ ở đây lần này không được tiến hành trong ba cõi thấp của biểu hiện nhân loại mà trong thế giới của sự sống linh hồn và kinh nghiệm linh hồn. Tri thức và mục đích của linh hồn được bao hàm; công việc trong một nhóm của một Chân sư có thể được ghi nhận và được xem như một giấc mơ mặc dù nó có thực tại và về căn bản là một sự kiện hiện tượng. Những thực tại của Thiên Giới có thể trong một thời gian thấm qua vào tâm thức bộ não dưới hình thức những giấc mơ. Phần lớn những kinh nghiệm được ghi lại trong các trước tác thần bí trong vài thế kỷ qua ở phương Tây thuộc loại này. Đây là một điểm đáng được xem xét cẩn thận. [510]

9. Dreams which are records of instructions. This type of dream embodies the teaching given by a Master to His accepted disciple. With these I shall not deal. When a man can receive these instructions consciously, either at night when absent from the body or in meditation, he has to learn to direct them correctly from mind to brain and to interpret them accurately. They are communicated by the Master to the man’s soul. The soul then impresses them on the mind, which has been held steady in the light, and then the mind, in its turns formulates them into thought forms which are then thrown down into the quiescent waiting brain. According to the mental development and educational advantages of the disciple so will be his response and his correct use of the communicated teaching.

9. Những giấc mơ là ghi chép về các huấn thị. Loại giấc mơ này hiện thân cho giáo huấn do một Chân sư ban cho đệ tử được chấp nhận của Ngài. Với những điều này tôi sẽ không bàn đến. Khi một người có thể tiếp nhận những huấn thị này một cách có ý thức, hoặc vào ban đêm khi vắng khỏi thể xác hoặc trong tham thiền, y phải học cách hướng dẫn chúng một cách đúng đắn từ trí tuệ đến bộ não và diễn giải chúng một cách chính xác. Chúng được Chân sư truyền đạt đến linh hồn của người ấy. Sau đó linh hồn gây ấn tượng chúng lên trí tuệ, vốn đã được giữ vững trong ánh sáng, rồi trí tuệ, đến lượt nó, định thức chúng thành các Hình tư tưởng, rồi các Hình tư tưởng này được ném xuống bộ não tĩnh lặng đang chờ đợi. Tùy theo sự phát triển trí tuệ và những thuận lợi giáo dục của đệ tử mà sự đáp ứng và việc sử dụng đúng đắn giáo huấn được truyền đạt của y sẽ như thế ấy.

10. Dreams connected with the world plan, the solar plan, and the cosmic scheme. These can range all the way from the insane brain and recorded experiences of the mentally unbalanced to the wise and measured teaching of the World Knowers. This teaching is communicated to the world disciples and can be regarded by them as either an inspired utterance or a dream with a deep significance. It should be remembered in both cases (the mentally unbalanced and the trained disciple) that a similar condition exists; there is a direct line from the soul to the brain. This is true of both types. These dreams or recorded instructions indicate a high stage of evolutionary advancement.

10. Những giấc mơ liên hệ với kế hoạch thế giới, kế hoạch thái dương, và hệ vũ trụ. Chúng có thể trải dài từ những kinh nghiệm được bộ não điên loạn ghi lại của người mất quân bình trí tuệ cho đến giáo huấn khôn ngoan và chừng mực của các thức giả của thế giới. Giáo huấn này được truyền đạt cho các đệ tử thế giới và có thể được họ xem như một lời phát biểu đầy cảm hứng hoặc như một giấc mơ có thâm nghĩa sâu xa. Cần nhớ rằng trong cả hai trường hợp (người mất quân bình trí tuệ và đệ tử đã được đào luyện) đều tồn tại một tình trạng tương tự; có một đường trực tiếp từ linh hồn đến bộ não. Điều này đúng cho cả hai loại. Những giấc mơ hay huấn thị được ghi lại này chỉ ra một giai đoạn tiến hoá cao.

A consideration of all the above will indicate to you the complexity of the subject. The superficial student or the mystically inclined person is apt to feel that all these technicalities are of minor importance. The charge is often made that the “jargon” of occultism and its academic information is of no true importance where knowledge of the divine is concerned. It is claimed that it is not necessary to know about [511] the planes and their various levels of consciousness, or about the Law of Rebirth and the Law of Attraction; it is an unnecessary tax upon the human mind to study the technical foundation for a belief in brotherhood, or to consider our distant origin and our possible future. It is nevertheless just possible that if the mystics down the ages had recognised these truths we might have had a better managed world. It is only today that those forces are being set in motion which will lead to a truer understanding of the human family, a wiser comprehension of the human equipment, and, therefore, to an effort to bring human living into line with the basic spiritual truths. The sorry condition of the world today is not a result of the intellectual unfoldment of man as is often claimed, but it is the working out of the unalterable effects of causes, originated in the past of the Aryan race.

Việc xem xét tất cả những điều trên sẽ cho các bạn thấy tính phức tạp của đề tài này. Đạo sinh hời hợt hay người thiên về thần bí có khuynh hướng cảm thấy rằng tất cả những chi tiết kỹ thuật này chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Người ta thường buộc tội rằng “thuật ngữ chuyên môn” của huyền bí học và thông tin có tính học thuật của nó không có tầm quan trọng chân chính nào khi đề cập đến tri thức về thiêng liêng. Người ta cho rằng không cần phải biết về [511] các cõi và những cấp độ tâm thức khác nhau của chúng, hay về Luật Tái Sinh và Định luật Hấp Dẫn; rằng việc nghiên cứu nền tảng kỹ thuật cho niềm tin vào tình huynh đệ, hay suy xét về nguồn gốc xa xôi của chúng ta và tương lai có thể có của chúng ta, là một gánh nặng không cần thiết đặt lên trí tuệ con người. Tuy nhiên, rất có thể là nếu các nhà thần bí qua các thời đại đã nhận ra những chân lý này thì chúng ta có thể đã có một thế giới được quản trị tốt hơn. Chỉ đến ngày nay những mãnh lực ấy mới đang được khởi động, những mãnh lực sẽ dẫn đến một sự thấu hiểu chân thực hơn về gia đình nhân loại, một sự lĩnh hội khôn ngoan hơn về bộ máy con người, và vì vậy dẫn đến một nỗ lực đưa đời sống nhân loại vào phù hợp với các chân lý tinh thần căn bản. Tình trạng đáng buồn của thế giới ngày nay không phải là kết quả của sự khai mở trí tuệ của con người như người ta thường khẳng định, mà là sự vận hành của những hiệu quả bất biến của các nguyên nhân đã phát sinh trong quá khứ của nhân loại Arya.

That good can come from evil, that the bad effects of man’s mental laziness can be transmuted into teaching points in the future and that humanity is now intelligent enough to learn wisdom will be the result of the widespread dissemination of the academic truths of the esoteric teaching and its correct interpretation by the trained minds in the Occident. The East has had this teaching for ages and has produced numerous commentaries upon it—the work of the finest analytical minds that the world has ever seen—but it has made no mass use of the knowledge, and the people in the Orient do not profit by it, as a whole. It will be different in the West and is already modifying and influencing human thought on a large scale; it is permeating the structure of our civilisation and will eventually salvage it. Be not, therefore, afraid of the technicalities of wisdom but seek for the reason of the undesirable reaction against them in the latent inertia of the mystical mind, plus the lowered vital condition of the entire race.

Việc điều thiện có thể phát sinh từ điều ác, rằng những hậu quả xấu của sự lười biếng trí tuệ của con người có thể được chuyển hoá thành những điểm giáo huấn trong tương lai, và rằng nhân loại hiện nay đã đủ thông minh để học minh triết, sẽ là kết quả của sự phổ biến rộng rãi các chân lý học thuật của giáo huấn huyền bí và sự diễn giải đúng đắn của chúng bởi những trí tuệ đã được đào luyện ở phương Tây. Phương Đông đã có giáo huấn này từ nhiều thời đại và đã tạo ra vô số bộ luận giải về nó—công trình của những trí tuệ phân tích tinh tế nhất mà thế giới từng thấy—nhưng đã không sử dụng tri thức ấy ở quy mô quần chúng, và nhìn chung người dân phương Đông không hưởng lợi từ nó. Ở phương Tây sẽ khác, và điều đó đã đang biến đổi và ảnh hưởng đến tư tưởng nhân loại trên quy mô lớn; nó đang thấm vào cấu trúc của nền văn minh chúng ta và cuối cùng sẽ cứu vãn nó. Vì vậy, đừng sợ những chi tiết kỹ thuật của minh triết, mà hãy tìm nguyên nhân của phản ứng không mong muốn chống lại chúng trong tính trì trệ tiềm ẩn của trí óc thần bí, cộng với tình trạng sinh lực suy giảm của toàn thể nhân loại.

This brings me to a point I would seek to touch upon: that [512] of the widespread depression which is so seriously affecting the whole of humanity. The physical vitality of the races is low, or it is being whipped up into a better condition by the imposition of applied thought. Instead of drawing upon the resources of vitality, stored up in the soil, in food, fresh air and outer environing conditions, men are beginning to draw it from the etheric body itself through the galvanising effect of two things: ideas, as they are presented to them, thereby aligning mind and brain and incidentally stimulating the etheric body; mass impetus or contact which swings the unit into line with mass intention and opens up to him therefore the vast resources of mass intention. This enables him to feed his etheric body at the general etheric centre of power. This can be seen happening in its initial stage in practically every country. In the interim, however, between the establishing of the facility to tap at will the inner sources of vital stimulation and the changing of the old conditions, the masses of the people are left with neither source of sustenance available for their helping. They are consequently depleted, full of fear, and unable to do more than stand ready and hope for a better future for the next generation.

Điều này đưa tôi đến một điểm mà tôi muốn đề cập: đó là [512] tình trạng suy nhược lan rộng đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn thể nhân loại. Sinh lực hồng trần của các nhân loại đang thấp, hoặc đang được thúc ép lên một tình trạng tốt hơn bằng sự áp đặt của tư tưởng được ứng dụng. Thay vì rút từ những nguồn sinh lực được tích trữ trong đất đai, trong thực phẩm, không khí trong lành và các điều kiện môi trường bên ngoài, con người đang bắt đầu rút nó từ chính thể dĩ thái qua tác động kích hoạt của hai điều: các ý tưởng, khi chúng được trình bày cho họ, nhờ đó chỉnh hợp trí tuệ và bộ não và đồng thời kích thích thể dĩ thái; xung lực quần chúng hay sự tiếp xúc khiến đơn vị hòa vào ý định của quần chúng và vì vậy mở ra cho y những nguồn lực rộng lớn của ý định quần chúng. Điều này giúp y nuôi dưỡng thể dĩ thái của mình tại trung tâm quyền năng dĩ thái chung. Có thể thấy điều này đang xảy ra trong giai đoạn khởi đầu ở hầu như mọi quốc gia. Tuy nhiên, trong giai đoạn trung gian giữa việc thiết lập khả năng tùy ý khai thác các nguồn kích thích sinh lực bên trong và việc thay đổi các điều kiện cũ, quần chúng nhân dân bị bỏ lại mà không có nguồn nuôi dưỡng nào sẵn có để trợ giúp họ. Do đó, họ bị suy kiệt, đầy sợ hãi, và không thể làm gì hơn ngoài việc đứng chờ và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ kế tiếp.

It is during this interim state that the full difficulty of depression can be felt, and it is at this time one of the major problems confronting the Hierarchy. How can the vitality of the human family be restored? How can the ancient joyousness of life, the keenness of spirit and the easy activity which distinguished the ancient races in the earlier phases of civilisation be recovered and humanity lose its depression and its unhappiness?

Chính trong trạng thái trung gian này mà toàn bộ khó khăn của sự suy nhược có thể được cảm nhận, và hiện nay đó là một trong những vấn đề lớn mà Thánh đoàn đang đối diện. Làm thế nào để sinh lực của gia đình nhân loại được phục hồi? Làm thế nào để niềm hoan hỉ xưa kia của sự sống, sự sắc bén của tinh thần và hoạt động dễ dàng vốn từng phân biệt các nhân loại cổ xưa trong những giai đoạn đầu của nền văn minh có thể được lấy lại, và để nhân loại mất đi sự suy nhược và bất hạnh của mình?

The whole position is the reverse of the problems of stimulation which constitute the major difficulty of the mystical life. With these we shall later deal. [513]

Toàn bộ tình thế này trái ngược với các vấn đề về kích thích vốn cấu thành khó khăn chủ yếu của đời sống thần bí. Chúng ta sẽ bàn đến những điều này sau. [513]

No general covering solution has yet appeared. But inevitably it will, and when it does it will be the direct result of the activity of the New Group of World Servers. It will be a slow process, for humanity is entering into what may be regarded as a long convalescence. It will be brought about in three ways:

Hiện chưa có một giải pháp tổng quát bao quát nào xuất hiện. Nhưng tất yếu nó sẽ xuất hiện, và khi điều đó xảy ra, nó sẽ là kết quả trực tiếp của hoạt động của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đó sẽ là một tiến trình chậm, vì nhân loại đang bước vào điều có thể được xem như một thời kỳ dưỡng bệnh dài. Nó sẽ được mang lại bằng ba cách:

1. The discovery of the unused resources and vital reservoirs of strength, latent in the human being himself.

1. Khám phá những nguồn lực chưa được sử dụng và những kho dự trữ sinh lực tiềm ẩn trong chính con người.

2. The promulgation of such truths as the potency of good will by members of the New Group of World Servers. The healing power of such realisations is immense.

2. Sự truyền bá những chân lý như quyền năng của thiện chí bởi các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Quyền năng chữa lành của những chứng nghiệm như vậy là vô cùng lớn lao.

3. Certain potencies and outer forces which the senior Members of the Hierarchy are now in process of invoking to the aid of humanity.

3. Một số mãnh lực và lực lượng bên ngoài mà các Thành viên cao cấp của Thánh đoàn hiện đang trong tiến trình khẩn cầu để trợ giúp nhân loại.

We come now to one of the most valuable and practical parts of our study upon the effects of the seven rays of energy as they make their presence felt in the human unit, and particularly as they affect the aspirant, disciple and mystic. During the past three decades, much has been written upon the pathology of the mystic and the physiological disturbances accompanying the mystical experience; much has also been investigated in connection with the neurotic characteristics which are frequently to be found in the spiritually polarised person and the inexplicable conditions which seem to exist—mentally, emotionally and physically—along with deep spiritual knowledge, definite mystical phenomena and high aspiration for divine contact. These conditions are increasing with great rapidity. More and more people are, for instance, becoming clair-voyant and clair-audient, and these reactions to stimulation and these expressions of innate powers are regarded as evidence of mental derangement, of delusions [514] and hallucinations, and sometimes of insanity. Certain nervous complaints, affecting at times the muscular equipment and other parts of the human body, will be found eventually to have their origin in over-stimulation; instead then of being handled (as they now are) by imposed processes of rest, by the use of soporifics, and other forms of treatment, the patient will he taught methods of divorcing himself temporarily from the source of this mystical or spiritual potency; or he may be taught how to deflect these forces which are pouring into and through the various centres to those centres which can more safely handle them, thus producing a more even distribution of energy. He will also be taught how to use them effectively in outer service. Forms of nervous inflammation and neuritis will be regarded as symptoms of the wrong use made of the energy available in the human equipment or of undue emphasis upon it. We shall discover the sources of certain disorders and find that the difficulty lies in the centres which are found near to the particular organ in the body which seems outwardly to be responsible for the trouble. This is noticeably true in connection with certain forms of heart trouble and brain tensions and, of course, all cases of hypertension. It is true likewise in relation to the metabolism of the body which can be seriously thrown out of balance by the over-stimulation of the throat centre, with consequent evil effects upon the thyroid gland—that master gland which is related to the transference of the various forces (found in the body) to the head. There are two major centres definitely connected with the fact of transference:

Giờ đây chúng ta đến với một trong những phần có giá trị và thực tiễn nhất của công trình nghiên cứu của chúng ta về các hiệu quả của bảy cung năng lượng khi chúng làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận trong đơn vị nhân loại, và đặc biệt khi chúng ảnh hưởng đến người chí nguyện, đệ tử và nhà thần bí. Trong ba thập niên qua, nhiều điều đã được viết về bệnh lý học của nhà thần bí và những rối loạn sinh lý đi kèm với kinh nghiệm thần bí; nhiều điều cũng đã được khảo cứu liên quan đến các đặc điểm loạn thần kinh thường được tìm thấy nơi người phân cực tinh thần và những tình trạng không thể giải thích dường như tồn tại—về mặt trí tuệ, cảm xúc và hồng trần—cùng với tri thức tinh thần sâu sắc, các hiện tượng thần bí rõ rệt và khát vọng cao đối với sự tiếp xúc thiêng liêng. Những tình trạng này đang gia tăng rất nhanh. Chẳng hạn, ngày càng có nhiều người trở nên thông nhãn và thông nhĩ, và những phản ứng đối với kích thích này cùng những biểu hiện của các năng lực bẩm sinh này bị xem là bằng chứng của sự rối loạn trí tuệ, của những ảo tưởng [514] và ảo giác, và đôi khi là của sự điên loạn. Một số chứng bệnh thần kinh, đôi khi ảnh hưởng đến bộ máy cơ bắp và các phần khác của cơ thể con người, cuối cùng sẽ được thấy là có nguồn gốc trong sự kích thích quá mức; khi đó, thay vì được xử lý (như hiện nay) bằng các tiến trình nghỉ ngơi áp đặt, bằng việc dùng thuốc gây ngủ, và các hình thức điều trị khác, bệnh nhân sẽ được dạy những phương pháp tách rời mình tạm thời khỏi nguồn của quyền năng thần bí hay tinh thần này; hoặc y có thể được dạy cách chuyển hướng những mãnh lực đang tuôn vào và xuyên qua các trung tâm khác nhau đến những trung tâm có thể xử lý chúng an toàn hơn, nhờ đó tạo ra một sự phân phối năng lượng đồng đều hơn. Y cũng sẽ được dạy cách sử dụng chúng một cách hữu hiệu trong phụng sự bên ngoài. Các dạng viêm thần kinh và đau dây thần kinh sẽ được xem là những triệu chứng của việc sử dụng sai năng lượng sẵn có trong bộ máy con người hoặc của sự nhấn mạnh quá mức vào nó. Chúng ta sẽ khám phá ra nguồn gốc của một số rối loạn và thấy rằng khó khăn nằm ở các trung tâm nằm gần cơ quan đặc thù trong cơ thể vốn dường như ở bề ngoài chịu trách nhiệm về sự rắc rối. Điều này đặc biệt đúng liên quan đến một số dạng bệnh tim và căng thẳng não bộ, và dĩ nhiên là mọi trường hợp cao huyết áp. Điều này cũng đúng liên quan đến sự chuyển hóa của cơ thể, vốn có thể bị mất quân bình nghiêm trọng bởi sự kích thích quá mức của trung tâm cổ họng, với những hậu quả xấu tiếp theo đối với tuyến giáp—tuyến chủ đạo có liên hệ đến sự chuyển dịch các mãnh lực khác nhau (được tìm thấy trong cơ thể) lên đầu. Có hai trung tâm lớn liên hệ rõ rệt với sự kiện chuyển dịch:

1. The solar plexus centre which is the transferring centre for all the forces found below the diaphragm to the centres above the diaphragm. [515]

1. Trung tâm tùng thái dương là trung tâm chuyển dịch cho mọi mãnh lực được tìm thấy bên dưới cơ hoành lên các trung tâm bên trên cơ hoành. [515]

2. The throat centre, which is the transferring centre for all the forces found above the diaphragm into the two head centres.

2. Trung tâm cổ họng là trung tâm chuyển dịch cho mọi mãnh lực được tìm thấy bên trên cơ hoành vào hai trung tâm đầu.

There are three aspects connected with this whole subject of the diseases and difficulties of the mystical life which it would be well to bear in mind. Those people who are concerned with the education and training of children or with the esoteric training of the world disciples and aspirants should study the matter with care; they should attempt to understand the causes of many of the nervous complaints and pathological conditions found in the advanced people of the world, plus the problems arising out of the premature development of the lower psychic powers as well as the unfoldment of the higher faculties. The problem, therefore, involves people at all stages of unfoldment and they should carefully consider them from the standpoint of energy activity—a thing which has been little done as yet.

Có ba phương diện liên hệ với toàn bộ đề tài này về các bệnh tật và khó khăn của đời sống thần bí mà nên ghi nhớ. Những người quan tâm đến việc giáo dục và đào luyện trẻ em hoặc đến việc huấn luyện huyền bí cho các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới nên nghiên cứu vấn đề này cẩn thận; họ nên cố gắng thấu hiểu nguyên nhân của nhiều chứng bệnh thần kinh và các tình trạng bệnh lý được tìm thấy nơi những người tiến bộ trên thế giới, cùng với các vấn đề phát sinh từ sự phát triển non sớm của các năng lực thông linh thấp cũng như sự khai mở của các năng lực cao hơn. Vì vậy, vấn đề này bao hàm con người ở mọi giai đoạn khai mở và họ nên cẩn thận xem xét chúng từ quan điểm của hoạt động năng lượng—một điều cho đến nay hầu như chưa được thực hiện.

The first of these three aspects could be stated as follows: We are passing at this time through a transition period wherein old energies are passing out and new ray influences are coming in. We are transiting into a new sign of the zodiac. Therefore, the impact of the new forces, plus the withdrawal of the old, is apt to produce clearly felt effects upon humanity, as a whole, and upon mystics and aspirants in particular, and cause definite reactions. With these we shall shortly deal when we consider the influence of the rays today and in the Aquarian Age. (A Treatise on the Seven Rays, Vol. III and The Destiny of the Nations).

Phương diện thứ nhất trong ba phương diện này có thể được phát biểu như sau: Hiện nay chúng ta đang đi qua một thời kỳ Chuyển tiếp trong đó các năng lượng cũ đang rút đi và các ảnh hưởng cung mới đang đi vào. Chúng ta đang quá cảnh vào một dấu hiệu hoàng đạo mới. Vì vậy, tác động của các mãnh lực mới, cộng với sự rút lui của các mãnh lực cũ, có khuynh hướng tạo ra những hiệu quả được cảm nhận rõ rệt nơi nhân loại nói chung, và nơi các nhà thần bí cùng người chí nguyện nói riêng, và gây ra những phản ứng rõ rệt. Chúng ta sẽ sớm bàn đến những điều này khi xem xét ảnh hưởng của các cung ngày nay và trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. (Luận về Bảy Cung, Tập III và The Destiny of the Nations).

Secondly, the present world problem, the fear and deep anxiety, and the suffering and pain which are so widespread, are producing a mixed and dual result. These two results (with all their intermediate stages) are— [516]

Thứ hai, vấn đề thế giới hiện nay, nỗi sợ hãi và lo âu sâu sắc, cùng sự đau khổ và đau đớn đang lan rộng, đang tạo ra một kết quả pha trộn và nhị nguyên. Hai kết quả này (cùng với mọi giai đoạn trung gian của chúng) là— [516]

1. The extraversion of the mass consciousness.

1. Sự ngoại hiện của tâm thức quần chúng.

2. A pronounced introversion of the individual.

2. Sự hướng nội rõ rệt của cá nhân.

There is, therefore, a mass effect and an individual effect and these two must be more carefully borne in mind. This process of externalisation can be seen working out in all the clamour and in the ardent and oft noisy psychology of the great national movements and experiments, going on today all over the world. Simultaneously, individuals in all these countries and in practically every land are learning a needed (and sometimes enforced) suppression, control of speech and other restraining reactions; they are being turned definitely inward through force of circumstances and in such a powerful manner that—if you could see the play of forces as we on the inner side can see them—you would become aware of these two great movements being carried forward in the three worlds of human endeavour, as if they were opposing currents of force:

Vì vậy, có một hiệu quả quần chúng và một hiệu quả cá nhân, và hai điều này phải được ghi nhớ cẩn thận hơn. Tiến trình ngoại hiện này có thể được thấy đang diễn ra trong mọi sự ồn ào và trong tâm lý học nhiệt thành và thường ồn ào của các phong trào và thử nghiệm quốc gia lớn đang diễn ra ngày nay trên khắp thế giới. Đồng thời, các cá nhân trong tất cả những quốc gia này và trong hầu như mọi xứ sở đang học một sự kiềm chế cần thiết (và đôi khi bị cưỡng bách), sự kiểm soát lời nói và những phản ứng tự chế khác; họ đang bị quay hẳn vào bên trong do sức ép của hoàn cảnh và theo một cách mạnh mẽ đến nỗi—nếu các bạn có thể thấy sự vận hành của các mãnh lực như chúng tôi ở phía bên trong có thể thấy—các bạn sẽ nhận biết hai vận động lớn này đang được tiến hành trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại như thể chúng là những dòng mãnh lực đối nghịch:

1. The movement, tending towards the extraversion or the externalisation of the great energies to which the mass consciousness responds. This is being directed or enforced through the activity of the first ray energy. Much of it, therefore, is to be found in the political field and in the realm of the mass will. In these early stages we are witnessing the evocation of that mass will; it is, as yet, unintelligent, inchoate, fluidic and easily imposed upon by the directed will of a group in any land, which can evidence enough power to engross the mass attention. This can also be sometimes done by a dominant and powerful personality. The net result—from the long range point of view—is the bringing to the surface of the deeply hidden and submerged mass consciousness, a silent, hitherto unexpressed and unoriented force, and yet a potency in the planetary life. [517]

1. Vận động có khuynh hướng hướng đến sự ngoại hướng hay sự ngoại hiện của những năng lượng lớn mà tâm thức quần chúng đáp ứng. Điều này đang được chỉ đạo hay cưỡng bách thông qua hoạt động của năng lượng cung một. Vì vậy, phần lớn của nó được tìm thấy trong lĩnh vực chính trị và trong phạm vi của ý chí quần chúng. Trong những giai đoạn đầu này, chúng ta đang chứng kiến sự gợi lên của ý chí quần chúng ấy; cho đến nay nó vẫn chưa thông minh, chưa định hình, linh động và dễ bị áp đặt bởi ý chí có định hướng của một nhóm ở bất kỳ quốc gia nào có thể biểu lộ đủ quyền năng để thu hút sự chú ý của quần chúng. Điều này đôi khi cũng có thể được thực hiện bởi một phàm ngã thống trị và mạnh mẽ. Kết quả ròng—xét từ quan điểm dài hạn—là đưa lên bề mặt tâm thức quần chúng vốn bị che giấu sâu xa và chìm lấp, một mãnh lực im lặng, cho đến nay chưa được biểu lộ và chưa có định hướng, nhưng vẫn là một quyền năng trong sự sống hành tinh. [517]

2. The movement towards the introversion or the “turning inwards” of the intelligent consciousness (not the mass consciousness this time) of all those men and women in the world today whose minds are awakening and who can function actively and creatively on the three levels of human awareness.

2. Vận động hướng đến sự hướng nội hay “quay vào bên trong” của tâm thức thông minh (lần này không phải là tâm thức quần chúng) của tất cả những người nam và nữ trên thế giới ngày nay mà trí tuệ đang thức tỉnh và có thể hoạt động một cách tích cực và sáng tạo trên ba cấp độ nhận biết của con người.

It is this dual movement—outward and inward—which is the source of much of the present world crisis. The effect of this “pull” in two directions is having a serious effect upon sensitive individuals. They are pulled in two directions: outward by the pull of the mass consciousness, and by the force of the political, economic and social life of the race; inwards by the pull of the world of higher values, by the kingdom of souls, by the organised work of the spiritual Hierarchy, aided by the age-old religious consciousness.

Chính vận động nhị nguyên này—ra ngoài và vào trong—là nguồn gốc của phần lớn cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay. Hiệu quả của sự “kéo” theo hai hướng này đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên những cá nhân nhạy cảm. Họ bị kéo theo hai hướng: ra ngoài bởi sức kéo của tâm thức quần chúng, và bởi mãnh lực của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của nhân loại; vào trong bởi sức kéo của thế giới các giá trị cao hơn, bởi giới các linh hồn, bởi công việc có tổ chức của Huyền Giai Tinh Thần, được hỗ trợ bởi tâm thức tôn giáo lâu đời.

Psychologists would do well to study their patients from the angle of these two diverging energies. They would thus offset the tendency to cleavage which is one of the major anxieties of the spiritual Workers at this time. In the stress and strain of modern living, men are apt to think that the major task and the most important duty today is to make life more bearable and thus easier for humanity to live. To the spiritual Hierarchy of our planet, the major task is so to safeguard mankind that, when this period of transition is over and the forces that are withdrawing their influences have ceased entirely to have an effect upon humanity, there will be fusion and not cleavage to be found in the world. Thus the kingdom of God and the kingdom of men will be fusing rapidly into a dual manifesting expression. The incoming force will then be stabilised and its note clearly heard.

Các nhà tâm lý học nên nghiên cứu bệnh nhân của mình từ góc độ của hai năng lượng phân kỳ này. Nhờ đó họ sẽ hóa giải khuynh hướng phân ly vốn là một trong những mối lo lớn của những người hoạt động tinh thần vào lúc này. Trong sự căng thẳng và áp lực của đời sống hiện đại, con người có khuynh hướng nghĩ rằng nhiệm vụ lớn nhất và bổn phận quan trọng nhất ngày nay là làm cho đời sống dễ chịu hơn và nhờ đó dễ sống hơn đối với nhân loại. Đối với Thánh đoàn Tinh thần của hành tinh chúng ta, nhiệm vụ lớn nhất là bảo vệ nhân loại sao cho khi thời kỳ Chuyển tiếp này chấm dứt và các mãnh lực đang rút ảnh hưởng của chúng hoàn toàn không còn tác động lên nhân loại nữa, thì điều được tìm thấy trong thế giới sẽ là sự dung hợp chứ không phải phân ly. Như thế Thiên Giới và giới loài người sẽ nhanh chóng dung hợp thành một biểu hiện nhị nguyên đang hiển lộ. Khi đó mãnh lực đang đi vào sẽ được ổn định và âm điệu của nó sẽ được nghe rõ.

The third factor to he considered by the man who is working towards the well-being of his fellows is the study of the [518] effects of the new incoming forces upon the present mechanism of man. This is not yet being done but is a determining factor in the successful development of the human unit. Therefore, it is of vital importance to educators, psychologists, parents and esotericists. There is, however, as yet no real recognition of the fact and the urgency of these incoming forces, nor is there any appreciation of the potency of the energies emanating from—

Yếu tố thứ ba cần được người đang hoạt động vì phúc lợi của đồng loại mình xem xét là việc nghiên cứu các [518] hiệu quả của những mãnh lực mới đang đi vào đối với bộ máy hiện tại của con người. Điều này chưa được thực hiện, nhưng là một yếu tố quyết định trong sự phát triển thành công của đơn vị nhân loại. Vì vậy, điều đó có tầm quan trọng thiết yếu đối với các nhà giáo dục, các nhà tâm lý học, các bậc cha mẹ và các nhà bí truyền học. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự nhận biết thực sự nào về sự kiện và tính cấp bách của những mãnh lực đang đi vào này, cũng như chưa có sự đánh giá nào về quyền năng của các năng lượng phát xuất từ—

1. The sign of the zodiac into which we are now passing.

1. Dấu hiệu hoàng đạo mà hiện nay chúng ta đang đi vào.

2. The effect of the relation existing between the forces emanating from the sign Aquarius and the sign Leo which is its polar opposite and, therefore, closely related to it. The interplay of the two signs is, at this time, responsible for the appearance of the great and modern human movements, involving vast numbers of men and engineered usually by some dominant personality. It is responsible also for the intense individualism which is manifesting in every department of human life today.

2. Hiệu quả của mối liên hệ tồn tại giữa các mãnh lực phát xuất từ dấu hiệu Bảo Bình và dấu hiệu Sư Tử là cực đối lập của nó và vì vậy có liên hệ mật thiết với nó. Sự tương tác của hai dấu hiệu này hiện nay chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của các phong trào nhân loại lớn và hiện đại, bao hàm số lượng đông đảo những người nam và nữ và thường được điều khiển bởi một phàm ngã thống trị nào đó. Nó cũng chịu trách nhiệm cho chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt đang biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại ngày nay.

3. The effect of the new zodiacal influences upon the eleven other signs. This is a most interesting theme and one that has been little considered. What effect will the potency of the sign Aquarius (which is becoming increasingly dominant with each decade) have upon a person or a nation which is governed by the sign Taurus, for instance, or by Sagittarius, or Pisces? In coming centuries, this aspect of astrological science will be of definite importance and will be considered by those responsible for the rearing and education of children during the coming centuries. It will be one of the most important themes to be dealt with in all systems of psychological and esoteric service to humanity, and will [519] eventually cause a reorganisation of the methods employed up to date to aid and liberate man.

3. Hiệu quả của các ảnh hưởng hoàng đạo mới lên mười một dấu hiệu khác. Đây là một chủ đề hết sức lý thú và ít được xem xét. Chẳng hạn, quyền năng của dấu hiệu Bảo Bình (đang ngày càng trở nên chi phối hơn qua mỗi thập niên) sẽ có hiệu quả gì đối với một người hay một quốc gia được cai quản bởi dấu hiệu Kim Ngưu, hay Nhân Mã, hay Song Ngư? Trong các thế kỷ sắp đến, phương diện này của khoa học chiêm tinh sẽ có tầm quan trọng rõ rệt và sẽ được xem xét bởi những người chịu trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em trong các thế kỷ sắp đến. Nó sẽ là một trong những chủ đề quan trọng nhất được bàn đến trong mọi hệ thống phụng sự tâm lý học và huyền bí đối với nhân loại, và cuối cùng sẽ [519] gây ra một sự tái tổ chức các phương pháp được sử dụng cho đến nay để trợ giúp và giải phóng con người.

This we shall endeavour to elucidate as one of the points in Volume III of A Treatise on the Seven Rays, and it will contribute an entirely new approach.

Chúng ta sẽ cố gắng làm sáng tỏ điều này như một trong những điểm trong Tập III của Luận về Bảy Cung, và nó sẽ đóng góp một cách tiếp cận hoàn toàn mới.

4. The effect of the relation of the seven rays to the zodiacal forces. It should be remembered that there is a close interplay between the seven rays and the twelve signs of the zodiac.

4. Hiệu quả của mối liên hệ giữa bảy cung và các mãnh lực hoàng đạo. Cần nhớ rằng có một sự tương tác mật thiết giữa bảy cung và mười hai dấu hiệu hoàng đạo.

Another task of the psychologist is to investigate the effect or the relation of the seven centres of force, which are to be found in the human body, in the etheric counterpart of the physical body. Many of the modern physical ills and a large number of undesirable psychological conditions will then be traced to their true source. This is the over-stimulation, plus the under-development, of the centres of energy found in the human mechanism and closely connected with the endocrine system. This is part of the new Science of Humanity.

Một nhiệm vụ khác của nhà tâm lý học là khảo cứu hiệu quả hay mối liên hệ của bảy trung tâm mãnh lực được tìm thấy trong cơ thể con người, trong đối phần dĩ thái của thể xác. Khi đó, nhiều bệnh tật hồng trần hiện đại và một số lượng lớn các tình trạng tâm lý không mong muốn sẽ được truy nguyên về nguồn gốc thật sự của chúng. Đó là sự kích thích quá mức, cộng với sự kém phát triển, của các trung tâm năng lượng được tìm thấy trong bộ máy con người và có liên hệ mật thiết với hệ nội tiết. Đây là một phần của Khoa Học mới về Nhân Loại.

You will see from the above how vast and intricate is our theme. It will not be possible for me to do more than generalise, and point out the way to certain broad trails or lines of investigation along which the modern student and scientist would do well to go. I would like to remind you also that the problem of the human being is essentially and basically the problem of consciousness or awareness. The five aspects of man—

Từ những điều trên, các bạn sẽ thấy đề tài của chúng ta rộng lớn và phức tạp đến mức nào. Tôi sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc khái quát hóa, và chỉ ra con đường đến một số lối mòn lớn hay những tuyến khảo cứu mà đạo sinh và nhà khoa học hiện đại nên theo đuổi. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng vấn đề của con người về căn bản và cốt yếu là vấn đề của tâm thức hay sự nhận biết. Năm phương diện của con người—

1. The physical body.

1. Thể xác.

2. The vital or etheric body.

2. Thể sinh lực hay thể dĩ thái.

3. The astral body.

3. Thể cảm dục.

4. The mental body.

4. Thể trí.

5. The soul body or the egoic lotus,

5. Thể linh hồn hay Hoa Sen Chân Ngã,

are basically only open doors into the larger whole of which [520] the individual unit is a part. They put the man into relation with the divine expression and manifestation in the same way that his five senses put him in touch with the tangible world and enable him thus to share the general life.

về căn bản chỉ là những cánh cửa mở vào cái toàn thể lớn hơn mà [520] đơn vị cá nhân là một phần của nó. Chúng đặt con người vào mối liên hệ với sự biểu lộ và biểu hiện thiêng liêng cũng theo cùng cách mà năm giác quan của y đặt y vào sự tiếp xúc với thế giới hữu hình và nhờ đó giúp y chia sẻ sự sống chung.

Many of our present problems (arising out of the mystical or the spiritual life) and a large number of our psychological difficulties are connected with this fact. Many a man also is over-developed in some one of these directions and, therefore, (through this developed sensitivity of some aspect of the a fivefold instrument of contact) he becomes aware of a realm of consciousness and of states of awareness with which he is not competent to deal, owing to the under-development of his mind and the lack of soul contact.

Nhiều vấn đề hiện nay của chúng ta (phát sinh từ đời sống thần bí hoặc đời sống tinh thần) và rất nhiều khó khăn tâm lý của chúng ta có liên hệ với sự kiện này. Nhiều người cũng phát triển quá mức theo một trong các hướng này và vì thế (do sự nhạy cảm đã phát triển của một phương diện nào đó trong công cụ tiếp xúc ngũ phân) trở nên nhận biết một lĩnh vực tâm thức và những trạng thái nhận biết mà y không đủ năng lực để xử lý, do trí tuệ kém phát triển và thiếu tiếp xúc với linh hồn.

Leave a Comment

Scroll to Top