TLHNM – Chương 2.4 – Bệnh Tật và Các Vấn đề Của Đệ tử và Nhà Thần Bí

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn II – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

4. Diseases and Problems of Disciples and Mystics—Các Bệnh Tật và Vấn Đề của các đệ tử và các nhà thần bí

We will divide what we have to say about our theme, The Diseases and the Problems of Mystics, under four headings:

Chúng ta sẽ phân chia điều cần nói về chủ đề của chúng ta, Các Bệnh Tật và các Vấn Đề của các nhà thần bí, dưới bốn đề mục:

1. Those arising out of the awakening of the centres. These constitute a major difficulty and will, therefore, be dealt with first of all.

1. Những điều phát sinh từ sự thức tỉnh của các trung tâm. Những điều này tạo thành một khó khăn lớn và vì vậy sẽ được bàn đến trước hết.

2. Those arising out of the unfoldment of psychic powers.

2. Những điều phát sinh từ sự khai mở các năng lực thông linh.

3. Those connected with group conditions and problems.

3. Những điều liên hệ với các điều kiện và vấn đề của nhóm.

4. Those related to the outgoing sixth ray forces and the incoming seventh ray influences.

4. Những điều liên hệ với các mãnh lực cung sáu đang rút ra và các ảnh hưởng cung bảy đang đi vào.

a. PROBLEMS ARISING OUT OF THE AWAKENING AND STIMULATION OF THE CENTRES—a. CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH TỪ SỰ THỨC TỈNH VÀ KÍCH THÍCH CÁC TRUNG TÂM

Those of you who have read my other books and treatises will know how immense is the subject with which we are concerned and how little is yet known and taught anent the centres and their force emanations and the activity of the vital or etheric body which is the receiver and the distributor [521] of energies. These energies determine and condition the circumstances and the physique of the human being and produce (in the last analysis) the phenomenal manifestation of man upon the physical plane, plus his inherent characteristics. All of this information I have earlier given and it can be read and studied by those who are interested to do so. They can thus clarify their knowledge anent the various centres. One thing I would like here to point out and will later elucidate and that is the relation of the various centres to the rays. This is as follows:

Những ai trong các bạn đã đọc các sách và luận thuyết khác của tôi sẽ biết chủ đề mà chúng ta đang đề cập đến bao la đến mức nào, và cho đến nay người ta còn biết và giảng dạy ít ỏi ra sao về các trung tâm, các phát xạ mãnh lực của chúng, và hoạt động của thể sinh lực hay thể dĩ thái, vốn là cơ quan tiếp nhận và phân phối [521] các năng lượng. Các năng lượng này quyết định và tác động lên hoàn cảnh cùng thể chất của con người, và tạo ra (xét đến cùng) biểu hiện hiện tượng của con người trên cõi hồng trần, cộng với các đặc tính cố hữu của y. Tất cả thông tin này trước đây tôi đã đưa ra, và những ai quan tâm đều có thể đọc và nghiên cứu. Nhờ đó họ có thể làm sáng tỏ hiểu biết của mình về các trung tâm khác nhau. Có một điều ở đây tôi muốn chỉ ra và sau này sẽ làm sáng tỏ, đó là mối liên hệ của các trung tâm khác nhau với các cung. Điều này như sau:

Ray one

Power or Will

Head centre.

Cung một

Quyền năng hay Ý Chí

Trung tâm đầu.

Ray two

Love-Wisdom

Heart centre.

Cung hai

Bác Ái-Minh Triết

Trung tâm tim.

Ray three

Active Intelligence

Throat centre.

Cung ba

Trí Năng Hoạt Động

Trung tâm cổ họng.

Ray four

Harmony through Conflict

Ajna centre.

Cung bốn

Hài Hoà qua Xung Đột

Trung tâm ajna.

Ray five

Concrete Knowledge

Sacral centre.

Cung năm

Tri Thức Cụ Thể

Luân xa xương cùng.

Ray six

Devotion

Solar plexus.

Cung sáu

Hiến Dâng

Tùng thái dương.

Ray seven

Ceremonial Order

Base of spine.

Cung bảy

Trật Tự Nghi Thức

Đáy cột sống.

Much could be learned if one would gather all the data given on this subject into one book, thus relating what is known about the specific energy points to be found in the human frame. All that I can do here is to give a general idea of the subject, indicate certain lines of development and relationship anent the seven major centres, the seven major glands and the localities and areas in the human body where these glands and centres are to be found. I would also beg you to realise five facts:

Người ta có thể học được rất nhiều nếu gom toàn bộ dữ kiện đã được đưa ra về chủ đề này vào một cuốn sách, nhờ đó liên hệ những gì đã biết về các điểm năng lượng đặc thù được tìm thấy trong cơ thể con người. Tất cả những gì tôi có thể làm ở đây là đưa ra một ý niệm tổng quát về chủ đề này, chỉ ra một số đường phát triển và tương quan liên quan đến bảy trung tâm chính, bảy tuyến chính và các vị trí cùng khu vực trong cơ thể con người nơi các tuyến và trung tâm này được tìm thấy. Tôi cũng xin các bạn nhận ra năm sự kiện:

1. That undeveloped men are energised and galvanised into outer activity through the medium of the three centres below the diaphragm.

1. Rằng những người chưa phát triển được tiếp năng lượng và bị kích hoạt vào hoạt động bên ngoài thông qua ba trung tâm ở dưới cơ hoành.

2. That average man is beginning to function primarily through the solar plexus centre and to use it as a transferring centre of force for energies which must be carried from below the diaphragm to above the diaphragm.

2. Rằng con người trung bình đang bắt đầu hoạt động chủ yếu qua trung tâm tùng thái dương và sử dụng nó như một trung tâm chuyển dịch mãnh lực cho các năng lượng phải được mang từ dưới cơ hoành lên trên cơ hoành.

[522]

[522]

3. That the world aspirants are slowly being energised and controlled by the forces which are being transferred from the centres below the diaphragm to the throat centre and from the soul to the throat centre. This leads to creative activity of some kind.

3. Rằng những người chí nguyện của thế giới đang dần dần được tiếp năng lượng và được kiểm soát bởi các mãnh lực đang được chuyển từ các trung tâm dưới cơ hoành lên trung tâm cổ họng và từ linh hồn đến trung tâm cổ họng. Điều này dẫn đến hoạt động sáng tạo dưới một hình thức nào đó.

4. That the world disciples are beginning to be governed and controlled by the throat and heart centres and are also beginning to transfer the forces which have been raised to the heart and throat, to the ajna centre between the eyebrows, in the middle of the forehead. When this has been done, the man is then an integrated personality. The soul also stimulates the ajna centre.

4. Rằng các đệ tử thế giới đang bắt đầu được cai quản và kiểm soát bởi các trung tâm cổ họng và tim, đồng thời cũng đang bắt đầu chuyển các mãnh lực đã được nâng lên tim và cổ họng đến trung tâm ajna giữa hai lông mày, ở giữa trán. Khi điều này đã được thực hiện, con người khi ấy là một Phàm ngã tích hợp. Linh hồn cũng kích thích trung tâm ajna.

5. That the more advanced disciples and world initiates are also energised from two sources: by means of the energies raised up and lifted into the head from all the centres in the body, and by those which pour into the human frame from the soul, via the highest centre at the top of the head.

5. Rằng các đệ tử tiến bộ hơn và các điểm đạo đồ thế giới cũng được tiếp năng lượng từ hai nguồn: bằng các năng lượng được nâng lên và đưa vào đầu từ mọi trung tâm trong cơ thể, và bằng những năng lượng tuôn vào cơ thể con người từ linh hồn, qua trung tâm cao nhất ở đỉnh đầu.

The whole process is, as you can see, one of development, use and transference, as is the case in all evolutionary development. There are two major transferring centres in the etheric body—the solar plexus and the throat—and one master centre through which the energy of the soul must pour when the right time comes, pouring consciously and with the full awareness of the disciple. That centre is the head centre, called in the Eastern philosophy “the thousand-petalled lotus”. The problem of the average man is, therefore, connected with the solar plexus. The problem of the disciple, the advanced aspirant and the initiate of the lower degrees is connected with the creative centre, the throat.

Toàn bộ tiến trình này, như các bạn có thể thấy, là một tiến trình phát triển, sử dụng và chuyển dịch, cũng như trường hợp của mọi sự phát triển tiến hoá. Có hai trung tâm chuyển dịch chính trong thể dĩ thái—tùng thái dương và cổ họng—và một trung tâm chủ đạo mà qua đó năng lượng của linh hồn phải tuôn vào khi thời điểm thích hợp đến, tuôn vào một cách có ý thức và với sự nhận biết trọn vẹn của đệ tử. Trung tâm đó là trung tâm đầu, được gọi trong triết học Đông phương là “hoa sen ngàn cánh”. Vì vậy, vấn đề của con người trung bình liên hệ với tùng thái dương. Vấn đề của đệ tử, của người chí nguyện tiến bộ và của điểm đạo đồ ở các cấp thấp liên hệ với trung tâm sáng tạo, tức trung tâm cổ họng.

I would here remind students that the following three [523] points, related to the transference of energy, must be borne in mind:

Ở đây tôi muốn nhắc các đạo sinh rằng ba [523] điểm sau đây, liên hệ đến sự chuyển dịch năng lượng, phải được ghi nhớ:

1. That there is a transference to be made from all the lower centres to higher ones and that this is usually done in two stages. This transference, carried on within the personality, is paralleled by the transference of spiritual energy from that reservoir of force we call the soul to the man on the physical plane. This becomes possible as the man makes the needed transference within himself. These transferences can take place in the course of the evolutionary process, or they can be hastened through the forced training given to disciples of all degrees.

1. Rằng có một sự chuyển dịch phải được thực hiện từ tất cả các trung tâm thấp lên các trung tâm cao hơn, và điều này thường được thực hiện trong hai giai đoạn. Sự chuyển dịch này, được tiến hành bên trong phàm ngã, song hành với sự chuyển dịch năng lượng tinh thần từ kho chứa mãnh lực mà chúng ta gọi là linh hồn đến con người trên cõi hồng trần. Điều này trở nên khả hữu khi con người thực hiện sự chuyển dịch cần thiết bên trong chính mình. Những sự chuyển dịch này có thể diễn ra trong tiến trình tiến hoá, hoặc có thể được thúc đẩy nhanh hơn qua sự huấn luyện cưỡng bách dành cho các đệ tử ở mọi cấp độ.

2. That, within this major field of activity, the following transferences will have to be made:

2. Rằng, trong lĩnh vực hoạt động lớn này, các sự chuyển dịch sau đây sẽ phải được thực hiện:

a. The energy of the centre at the base of the spine (the organ of the personal will) must be raised and carried up the spinal column to the head centre, via the ajna centre.

a. Năng lượng của trung tâm ở đáy cột sống (cơ quan của ý chí cá nhân) phải được nâng lên và mang dọc theo cột sống đến trung tâm đầu, qua trung tâm ajna.

b. The energy of the sacral centre (governing the sexual life and the organs of physical creation) must be raised to the throat centre, which becomes the organ of creative activity of a non-physical nature.

b. Năng lượng của trung tâm xương cùng (chi phối đời sống tính dục và các cơ quan sáng tạo hồng trần) phải được nâng lên trung tâm cổ họng, trung tâm này trở thành cơ quan của hoạt động sáng tạo có bản chất phi hồng trần.

c. The energy of the solar plexus (the organ of self-conscious personal desire) must be raised to the heart and there transmuted into group service.

c. Năng lượng của tùng thái dương (cơ quan của dục vọng cá nhân có ngã thức) phải được nâng lên tim và tại đó được chuyển hoá thành phụng sự nhóm.

3. That all these centres are developed and brought into activity in three stages, and thus progressively condition the outer aspects of a mans life:

3. Rằng tất cả các trung tâm này được phát triển và được đưa vào hoạt động trong ba giai đoạn, và nhờ đó dần dần tác động lên các phương diện bên ngoài của đời sống một con người:

a. There is a period wherein the centres are active only in a sluggish and semi-dormant manner: the forces of [524] which they are formed, and which they express, move slowly and with a heavy inert rhythm; the light which can be seen wherever there is a centre is dim; the point of electric potency at the centre (the “heart of the lotus or chakra,” the hub of the wheel, as it is esoterically termed in the Oriental teaching) is relatively quiescent. There is just enough energy pouring into the centre to produce the preservation of life, the smooth functioning of the instinctual nature, plus a tendency to react, in a fluctuating and unintelligent manner to stimuli coming from the astral plane, via the individual astral body.

a. Có một thời kỳ trong đó các trung tâm chỉ hoạt động một cách trì trệ và nửa ngủ yên: các mãnh lực [524] mà chúng được cấu thành từ đó, và mà chúng biểu lộ, vận động chậm chạp với một nhịp điệu nặng nề, trì trệ; ánh sáng có thể được thấy ở bất cứ nơi nào có một trung tâm thì mờ nhạt; điểm quyền năng điện ở trung tâm (esoterically được gọi trong giáo huấn Đông phương là “tim của hoa sen hay luân xa”, trục của bánh xe) tương đối tĩnh lặng. Chỉ có vừa đủ năng lượng tuôn vào trung tâm để duy trì sự bảo tồn sự sống, sự vận hành trơn tru của bản chất bản năng, cộng với khuynh hướng đáp ứng, theo một cách dao động và không thông minh, với các kích thích đến từ cõi cảm dục qua thể cảm dục cá nhân.

b. A period wherein there takes place a definite heightening and intensifying of force. The light of the centres is brighter and the solar plexus centre, in particular, becomes very active. As yet, all the real life of the man is focussed below the diaphragm. The centres above the diaphragm are dim and dull and relatively inactive; the point at the centre is, however, more electrical and dynamic. At this stage, the man is the average intelligent citizen, predominantly controlled by his lower nature and his emotional reactions, with what mind he has actively employed in bringing satisfaction to his needs. His centres are the receivers primarily of physical and astral forces, but occasionally respond to mental impacts.

b. Một thời kỳ trong đó diễn ra sự nâng cao và tăng cường mãnh lực một cách rõ rệt. Ánh sáng của các trung tâm sáng hơn, và đặc biệt trung tâm tùng thái dương trở nên rất hoạt động. Khi ấy, toàn bộ đời sống thực sự của con người vẫn còn tập trung dưới cơ hoành. Các trung tâm trên cơ hoành thì mờ tối, đờ đẫn và tương đối bất hoạt; tuy nhiên, điểm ở trung tâm lại mang tính điện và năng động hơn. Ở giai đoạn này, con người là một công dân thông minh trung bình, chủ yếu bị kiểm soát bởi bản chất thấp của mình và các phản ứng cảm xúc của mình, với chút trí tuệ mà y có được dùng một cách tích cực để đem lại sự thoả mãn cho các nhu cầu của mình. Các trung tâm của y chủ yếu là những cơ quan tiếp nhận các mãnh lực hồng trần và cảm dục, nhưng đôi khi cũng đáp ứng với các tác động trí tuệ.

c. A period wherein the first transference is being made. This can last a long time and cover several lives. The centres below the diaphragm are fully awakened; their activity is great; their light is vivid; their interrelation is real, so much so that a complete magnetic field has been set up involving the whole area below the diaphragm and becoming potent enough to extend its [525] influence above the diaphragm. The solar plexus becomes the dominant organ in the place of the sacral centre which has so long determined the life of the animal nature. It becomes the recipient of energy streams from below which it absorbs and starts on its task of deflecting them and transferring them to the higher centres. The man is now the highly intelligent citizen and aspirant. He is conscious of the dualism of his nature, of that which is below and of that which is above, as it has been called, and is ready to tread the Probationary Path.

c. Một thời kỳ trong đó sự chuyển dịch đầu tiên đang được thực hiện. Điều này có thể kéo dài lâu và bao trùm nhiều kiếp sống. Các trung tâm dưới cơ hoành hoàn toàn được thức tỉnh; hoạt động của chúng rất lớn; ánh sáng của chúng rực rỡ; sự tương quan giữa chúng là có thực, đến nỗi một từ trường hoàn chỉnh đã được thiết lập bao trùm toàn bộ khu vực dưới cơ hoành và trở nên đủ mạnh để mở rộng [525] ảnh hưởng của nó lên trên cơ hoành. Tùng thái dương trở thành cơ quan chi phối thay cho trung tâm xương cùng, vốn từ lâu đã quyết định đời sống của bản chất thú tính. Nó trở thành cơ quan tiếp nhận các dòng năng lượng từ bên dưới mà nó hấp thụ và bắt đầu công việc làm lệch hướng chúng rồi chuyển chúng đến các trung tâm cao hơn. Con người lúc này là một công dân rất thông minh và là một người chí nguyện. Y ý thức được tính nhị nguyên của bản chất mình, của điều ở bên dưới và điều ở bên trên, như đã được gọi như thế, và sẵn sàng bước lên Con Đường Dự Bị.

d. A period wherein the transference is continued. The sacral forces are carried to the throat and the solar plexus forces are carried to the heart. The latter transference is as yet of so small a measure that the effect of the transference is almost negligible. This period is a long and very difficult one. Today, most people are going through periods c and d, which are preparatory to the expression of the mystical life.

d. Một thời kỳ trong đó sự chuyển dịch được tiếp tục. Các mãnh lực xương cùng được mang đến cổ họng và các mãnh lực tùng thái dương được mang đến tim. Sự chuyển dịch sau này vẫn còn ở mức quá nhỏ đến nỗi hiệu quả của nó hầu như không đáng kể. Đây là một thời kỳ dài và rất khó khăn. Ngày nay, phần lớn mọi người đang trải qua các thời kỳ c và d, là những giai đoạn chuẩn bị cho sự biểu lộ của đời sống thần bí.

e. A period wherein the heart and throat centres are brought into activity. The man is creatively intelligent along some line or other and is slowly becoming group conscious. As yet, however, his reactions are still selfishly motivated though—at the same time—he is subject to cycles of vision and periods of spiritual effort. The mystical life is definitely attracting him. He is becoming the mystic.

e. Một thời kỳ trong đó các trung tâm tim và cổ họng được đưa vào hoạt động. Con người trở nên thông minh sáng tạo theo một đường lối nào đó và đang dần dần trở nên có tâm thức nhóm. Tuy nhiên, các phản ứng của y vẫn còn được thúc đẩy một cách ích kỷ, dù đồng thời y vẫn chịu những chu kỳ linh ảnh và những giai đoạn nỗ lực tinh thần. Đời sống thần bí rõ rệt đang hấp dẫn y. Y đang trở thành nhà thần bí.

f. A second period of transference ensues and the ajna centre, which governs the integrated personality, becomes active and dominant. The life of feeling and of mystical effort is, at this time, liable to die down temporarily in its expressed fervour and ardent disciplines, and personality integration, personality ambitions [526] personality aims and personality expression take its place. This is a right and good change and tends correctly to a rounded out development. It is only temporary, for still the mystic sleeps beneath the outer activity and the intelligent worldly effort, and will emerge again to living endeavour when the mind nature has been fully aroused and is controlling, when desire for mental satisfaction has been satiated and the “son of God is ready to arise and enter the Father’s house”. During this period, we find the intelligently creative or the powerful man will come to the zenith of his personality life. The centres below the head will all be active and functioning, but the centres below the diaphragm will be subordinated to and controlled by those found above. They are subject then to the conditioning will of the man who is governed at this time by ambition, intellectual expediency and that form of group work which tends to the expression of his personality potency. The ajna centre is vivid and potent; the throat centre is intensely active and the heart centre is rapidly awakening.

f. Tiếp theo là một thời kỳ chuyển dịch thứ hai, và trung tâm ajna, trung tâm chi phối phàm ngã tích hợp, trở nên hoạt động và chi phối. Đời sống cảm xúc và nỗ lực thần bí vào lúc này có thể tạm thời lắng xuống trong nhiệt tâm biểu lộ và các kỷ luật sốt sắng của nó, và sự tích hợp phàm ngã, các tham vọng của phàm ngã, [526] các mục tiêu của phàm ngã và sự biểu lộ của phàm ngã sẽ thay thế. Đây là một thay đổi đúng đắn và tốt lành, và có khuynh hướng dẫn đến một sự phát triển toàn diện một cách chính xác. Nó chỉ là tạm thời, vì nhà thần bí vẫn còn ngủ bên dưới hoạt động bên ngoài và nỗ lực thông minh thế tục, và sẽ lại xuất hiện để nỗ lực sống động khi bản chất trí tuệ đã được đánh thức hoàn toàn và đang kiểm soát, khi dục vọng đối với sự thoả mãn trí tuệ đã được làm cho no đủ và “Con của Thượng đế sẵn sàng đứng dậy và bước vào nhà Cha”. Trong thời kỳ này, chúng ta thấy con người sáng tạo một cách thông minh hoặc con người đầy quyền lực sẽ đạt đến đỉnh cao của đời sống phàm ngã của mình. Các trung tâm dưới đầu tất cả đều sẽ hoạt động và vận hành, nhưng các trung tâm dưới cơ hoành sẽ bị đặt dưới và bị kiểm soát bởi những trung tâm ở phía trên. Khi ấy chúng phục tùng ý chí tác động của con người, kẻ vào lúc này bị chi phối bởi tham vọng, sự thuận tiện trí tuệ và hình thức công việc nhóm có khuynh hướng biểu lộ quyền năng phàm ngã của mình. Trung tâm ajna rực sáng và mạnh mẽ; trung tâm cổ họng cực kỳ hoạt động và trung tâm tim đang thức tỉnh nhanh chóng.

g. A period wherein the highest head centre is brought into radiant activity. This occurs as the result of the uprising (in a fresh and more potent manner) of the mystical instinct, plus, this time, an intelligent approach to reality. The result is twofold:

g. Một thời kỳ trong đó trung tâm đầu cao nhất được đưa vào hoạt động rạng ngời. Điều này xảy ra như kết quả của sự trỗi dậy (theo một cách mới mẻ và mạnh mẽ hơn) của bản năng thần bí, cộng thêm lần này là một sự tiếp cận thực tại bằng trí tuệ. Kết quả có hai mặt:

1. The soul begins to pour its energy into all the etheric or vital centres, via the head centre.

1. Linh hồn bắt đầu tuôn năng lượng của nó vào tất cả các trung tâm dĩ thái hay sinh lực, qua trung tâm đầu.

2. The point at the heart of each centre comes into its first real activity; it becomes radiant, brilliant, magnetic and forceful, so that it “dims the light of all that lies around.”

2. Điểm ở tim của mỗi trung tâm đi vào hoạt động thực sự đầu tiên của nó; nó trở nên rạng ngời, sáng chói, từ tính và đầy mãnh lực, đến nỗi nó “làm mờ ánh sáng của mọi điều nằm quanh nó.”

[527]

[527]

All the centres in the body are then swept into ordered activity by the forces of love and will. Then takes place the final transference of all the bodily and psychic energies into the head centre through the awakening of the centre at the base of the spine. Then the great Polar opposites, as symbolised and expressed by the head centre (the organ of spiritual energy) and the centre at the base of the spine (the organ of the material forces) are fused and blended and from this time on the man is controlled only from above, by the soul.

Khi ấy tất cả các trung tâm trong cơ thể đều được cuốn vào hoạt động có trật tự bởi các mãnh lực của bác ái và ý chí. Khi đó diễn ra sự chuyển dịch cuối cùng của mọi năng lượng thể xác và thông linh vào trung tâm đầu qua sự thức tỉnh của trung tâm ở đáy cột sống. Khi ấy hai cực đối nghịch lớn, như được biểu tượng hoá và biểu lộ bởi trung tâm đầu (cơ quan của năng lượng tinh thần) và trung tâm ở đáy cột sống (cơ quan của các mãnh lực vật chất), được dung hợp và hòa trộn, và từ thời điểm này trở đi con người chỉ còn được kiểm soát từ bên trên, bởi linh hồn.

There are, consequently, two points to be borne in mind as we study the mystic and his difficulties; first of all, the period of awakening and subsequent utilisation of the centres and, secondly, the period of the transference of energy from the solar plexus to the heart, and then from all the four centres up the spine to the throat centre, prior to the focussing of the energy of all the centres in the ajna centre (between the eyebrows). This centre is the controlling one in the personality life and from it goes all personality direction and guidance to the five lower centres which it synthesises. Each of these stages brings with it its own difficulties and problems. We shall, however, concern ourselves with these problems only as they affect present opportunity or hinder the man who finds himself upon the Path and is, therefore, taking his own evolution in hand. Then he stands “midway between the pairs of opposites” and this means (as far as our particular interest at this time is concerned) that we shall find three stages in the mystical work, each of which will mark a definite point of crisis, with its attendant tests and trials:

Do đó, có hai điểm cần được ghi nhớ khi chúng ta nghiên cứu nhà thần bí và các khó khăn của y; trước hết là thời kỳ thức tỉnh và sử dụng tiếp theo của các trung tâm, và thứ hai là thời kỳ chuyển dịch năng lượng từ tùng thái dương lên tim, rồi từ cả bốn trung tâm dọc theo cột sống lên trung tâm cổ họng, trước khi năng lượng của mọi trung tâm được tập trung vào trung tâm ajna (giữa hai lông mày). Trung tâm này là trung tâm kiểm soát trong đời sống phàm ngã, và từ đó phát ra mọi sự chỉ đạo và hướng dẫn của phàm ngã đến năm trung tâm thấp mà nó tổng hợp. Mỗi giai đoạn này đều mang theo những khó khăn và vấn đề riêng của nó. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến những vấn đề này trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến cơ hội hiện tại hoặc cản trở con người thấy mình đang ở trên Con Đường và vì vậy đang tự nắm lấy sự tiến hoá của chính mình. Khi ấy y đứng “ở giữa các cặp đối nghịch”, và điều này có nghĩa là (xét theo mối quan tâm đặc biệt của chúng ta vào lúc này) chúng ta sẽ thấy có ba giai đoạn trong công việc thần bí, mỗi giai đoạn sẽ đánh dấu một điểm khủng hoảng rõ rệt, với các thử thách và khảo nghiệm đi kèm:

1. The stage wherein transference is made of all the lower [528] energies into the solar plexus, preparatory to carrying them to the throat and heart centres above the diaphragm. This stage covers not only the process of transference but also that of focussing the forces in the higher centres.

1. Giai đoạn trong đó sự chuyển dịch được thực hiện từ tất cả các năng lượng thấp [528] vào tùng thái dương, để chuẩn bị mang chúng lên các trung tâm cổ họng và tim ở trên cơ hoành. Giai đoạn này không chỉ bao gồm tiến trình chuyển dịch mà còn cả tiến trình tập trung các mãnh lực trong các trung tâm cao hơn.

Period

The later stages of the Path of Probation and the early stages of the Path of Discipleship.

Giai Đoạn

Các giai đoạn sau của Con Đường Dự Bị và các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử.

Keynote

Discipline.

Chủ Âm

Kỷ Luật.

Objective

Idealism, plus personality effort. Purification and control.

Mục Tiêu

Chủ nghĩa lý tưởng, cộng thêm nỗ lực phàm ngã. Thanh tịnh và kiểm soát.

2. The stage wherein transference is made into the ajna centre and the personality life becomes integrated and powerful.

2. Giai đoạn trong đó sự chuyển dịch được thực hiện vào trung tâm ajna và đời sống phàm ngã trở nên tích hợp và mạnh mẽ.

Period

The later stages of the Path of Discipleship and up till the time of the third initiation.

Giai Đoạn

Các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử và cho đến thời điểm lần điểm đạo thứ ba.

Keynote

Expression of the soul, through the medium of the personality.

Chủ Âm

Biểu lộ của linh hồn, qua phương tiện của phàm ngã.

Objective

The understanding of the Plan and consequent cooperation with it.

Mục Tiêu

Sự thấu hiểu Thiên Cơ và hợp tác kết quả với nó.

Then comes the third and final stage with which we need not concern ourselves wherein there is a complete blending of the bodily forces (focussed through the ajna centre) with the Soul forces, (focussed through the head centre). It is at this time that there comes the final evocation of the personality will (purified and consecrated) which has been “sleeping, coiled like the serpent of wisdom” at the base of the spine; this surges upward on the impulse of devotion, aspiration and enlightened will and thus fuses itself in the head with the spiritual will. This is the final raising, by an act of discriminating determination, of the kundalini fire. This raising takes place in three stages, or impulses:

Sau đó đến giai đoạn thứ ba và cuối cùng mà chúng ta không cần quan tâm ở đây, trong đó có sự hòa trộn hoàn toàn các mãnh lực thể xác (được tập trung qua trung tâm ajna) với các mãnh lực của Linh hồn (được tập trung qua trung tâm đầu). Chính vào lúc này diễn ra sự gợi lên cuối cùng của ý chí phàm ngã (đã được thanh lọc và thánh hiến), vốn đã “ngủ yên, cuộn lại như con rắn minh triết” ở đáy cột sống; nó dâng lên theo xung lực của sự sùng tín, khát vọng và ý chí được soi sáng, và nhờ đó tự dung hợp trong đầu với ý chí tinh thần. Đây là sự nâng lên cuối cùng, bằng một hành vi quyết tâm có phân biện, của lửa kundalini. Sự nâng lên này diễn ra trong ba giai đoạn, hay ba xung lực:

[529]

[529]

1. The stage wherein the lower energies are carried to the solar plexus centre.

1. Giai đoạn trong đó các năng lượng thấp được mang đến trung tâm tùng thái dương.

2. The stage wherein these energies, pouring through to the heart, are blended with it and carried to the throat.

2. Giai đoạn trong đó các năng lượng này, tuôn qua tim, được hòa trộn với tim và được mang đến cổ họng.

3. The stage wherein all the five lower forms of energy are focussed in the ajna centre in the head.

3. Giai đoạn trong đó cả năm hình thức năng lượng thấp được tập trung trong trung tâm ajna ở đầu.

Students might here ask: Are there any other energies below the diaphragm, except those of the sacral centre and those focussed in the centre at the base of the spine which are carried up to the ajna centre via the solar plexus centre? There are quite a large number of lesser centres and their energies, but I am not specifying them in detail for the sake of clarity; we shall deal here only with the major centres and their effects and inter-relations. The subject is abstruse and difficult in any case without our complicating it unduly. There are energies, for instance, pouring into the spleen from planetary sources as well as into two small centres situated close to the kidneys, one on either side, besides several others and these forces must all be understood, transmuted, transformed and transferred. It is interesting to note that the two little centres close to the kidneys are related to the lower levels of the astral plane and let loose into the system much of the fear, etc., which is the distinguishing factor in those subplanes. They are, therefore, found close to the centre which can control them because even the modern endocrinologist knows that the adrenal glands, when stimulated, produce (as a psychological result of a physical happening) an access of courage and a form of directed will which enables achievements to be carried out that are, at other time, well-nigh impossible.

Ở đây các đạo sinh có thể hỏi: Có những năng lượng nào khác ở dưới cơ hoành, ngoài những năng lượng của trung tâm xương cùng và những năng lượng được tập trung trong trung tâm ở đáy cột sống, được mang lên trung tâm ajna qua trung tâm tùng thái dương hay không? Có khá nhiều trung tâm nhỏ hơn và các năng lượng của chúng, nhưng tôi không nêu chi tiết vì mục đích rõ ràng; ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến các trung tâm chính và các hiệu quả cùng tương quan của chúng. Dù sao chủ đề này cũng đã trừu tượng và khó hiểu rồi, không cần làm nó phức tạp quá mức. Chẳng hạn, có những năng lượng tuôn vào lá lách từ các nguồn hành tinh cũng như vào hai trung tâm nhỏ nằm gần thận, một ở mỗi bên, ngoài ra còn một số trung tâm khác, và tất cả các mãnh lực này đều phải được thấu hiểu, chuyển hoá, chuyển đổi và chuyển dịch. Điều thú vị là hai trung tâm nhỏ gần thận có liên hệ với các cấp thấp của cõi cảm dục và giải phóng vào hệ thống rất nhiều nỗi sợ hãi, v.v., vốn là yếu tố đặc trưng của các cõi phụ đó. Vì vậy chúng được tìm thấy gần trung tâm có thể kiểm soát chúng, bởi ngay cả nhà nội tiết học hiện đại cũng biết rằng các tuyến thượng thận, khi được kích thích, sẽ tạo ra (như một kết quả tâm lý của một biến cố hồng trần) một sự gia tăng can đảm và một hình thức ý chí có định hướng, khiến cho những thành tựu có thể được thực hiện mà vào lúc khác gần như là không thể.

I would like here to point out that the statement so frequently made in occult books that “kundalini sleeps” is only partially true. The centre at the base of the spine is subject to [529] the same rhythmic life as are the other centres. The specific period wherein “kundalini awakes” refers to that period wherein the “point at the centre” becomes vibrant, potent and active: its forces can then penetrate throughout the entire spinal area until the highest head centre is reached. This, however, would not be possible had there not been three earlier “uprisings of the latent force of will”. These uprisings serve to clear the passage up the spine, penetrating and destroying the etheric web which separates each centre and the area it controls from the next above.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng lời phát biểu thường gặp trong các sách huyền bí học rằng “kundalini ngủ yên” chỉ đúng một phần. Trung tâm ở đáy cột sống cũng chịu sự chi phối của [529] cùng một đời sống nhịp điệu như các trung tâm khác. Thời kỳ đặc biệt trong đó “kundalini thức dậy” ám chỉ thời kỳ trong đó “điểm ở trung tâm” trở nên rung động, mạnh mẽ và hoạt động: khi ấy các mãnh lực của nó có thể xuyên suốt toàn bộ vùng cột sống cho đến khi đạt tới trung tâm đầu cao nhất. Tuy nhiên, điều này sẽ không thể xảy ra nếu trước đó không có ba lần “trỗi dậy của mãnh lực ý chí tiềm ẩn”. Những lần trỗi dậy này có tác dụng khai thông lối đi dọc theo cột sống, xuyên thủng và phá hủy màng dĩ thái ngăn cách mỗi trung tâm và khu vực mà nó kiểm soát với trung tâm kế trên.

All these transferences and interior organisation produce normally and naturally turmoil and conflict in the life of the mystic, causing difficulties of a definitely psychological nature and frequently pathological trouble as well. You have to note consequently, the series of transference, psychological difficulty and pathological results.

Tất cả những sự chuyển dịch và tổ chức nội tại này, một cách bình thường và tự nhiên, tạo ra xáo trộn và xung đột trong đời sống của nhà thần bí, gây nên những khó khăn có bản chất rõ rệt là tâm lý và thường cả những rối loạn bệnh lý nữa. Vì vậy, các bạn phải lưu ý chuỗi gồm sự chuyển dịch, khó khăn tâm lý các kết quả bệnh lý.

For instance, these ideas may clarify themselves in your mind if I point out certain facts, relating to the sacral centre which for so long a period of time governs the animal and physical creative life of the human being. During the processes of evolution, the sacral centre passes through the stages of automatic unconscious use, such as you find in purely animal man; then use under the urge of desire for pleasure and physical satisfaction, wherein the imagination is beginning to exert its influence; next comes the period wherein there is the conscious subordination of the life to the sex impulse. This is of a different nature to the first mentioned. Sex becomes a dominating thought in the consciousness, and many people today are passing through this stage and everybody at some time or in some life passes through it. This is followed by a period of transference wherein the physical pull of sex and the urge to physical creation is not so dominant and the forces begin to be gathered up into the solar plexus. There they will [531] be controlled largely by the astral imaginative life far more than by the unconscious animal or the conscious desire life. They blend there with the forces of the solar plexus itself and gradually are carried up to the throat centre, but always via the heart centre. Here we find a major point of difficulty for the mystic who is rapidly coming into being and functioning activity. He becomes painfully conscious of duality, of the pull of the world and of the mystical vision, of divine possibilities and personality potencies, of love in place of desire and attraction, of divine relationship instead of human relations. But this whole subject is still interpreted in terms of duality. Sex is still imaginatively in his consciousness and is not relegated to a balanced place among the other instincts of the human nature; the result is an almost pathological interest in the symbolism of sex and what might be called a spiritualised sex life. This tendency is amply exemplified in the writings and experiences of many of the mystics of the middle ages. We find such expressions as the “bride of Christ”, the “marriage in the Heavens”, the picture of Christ as the “heavenly bridegroom” and many such symbols and phrases. In the Song of Solomon, you find a masculine rendition of the same basically sexual approach to the soul and its all embracing life.

Chẳng hạn, những ý tưởng này có thể tự làm sáng tỏ trong thể trí của các bạn nếu tôi chỉ ra một số sự kiện liên quan đến trung tâm xương cùng, vốn trong một thời kỳ rất dài chi phối đời sống sáng tạo động vật và hồng trần của con người. Trong các tiến trình tiến hoá, trung tâm xương cùng đi qua các giai đoạn sử dụng tự động và vô thức, như các bạn thấy nơi người thú thuần túy; rồi đến sự sử dụng dưới sự thôi thúc của ham muốn khoái lạc và thỏa mãn thể xác, trong đó sự tưởng tượng bắt đầu phát huy ảnh hưởng của nó; kế đó là giai đoạn trong đó đời sống được đặt dưới sự lệ thuộc có ý thức vào xung lực tính dục. Điều này có bản chất khác với điều được nhắc đến trước tiên. Tính dục trở thành một tư tưởng chi phối trong tâm thức, và ngày nay nhiều người đang trải qua giai đoạn này, và mọi người vào một lúc nào đó hay trong một kiếp sống nào đó đều đi qua nó. Tiếp theo là một giai đoạn chuyển dịch, trong đó sức hút hồng trần của tính dục và xung lực sáng tạo hồng trần không còn quá chi phối nữa, và các mãnh lực bắt đầu được gom lại vào tùng thái dương. Tại đó, chúng sẽ [531] được kiểm soát phần lớn bởi đời sống tưởng tượng cảm dục hơn nhiều so với bởi đời sống động vật vô thức hay đời sống ham muốn có ý thức. Tại đó chúng hòa trộn với các mãnh lực của chính tùng thái dương và dần dần được đưa lên trung tâm cổ họng, nhưng luôn luôn qua trung tâm tim. Ở đây chúng ta thấy một điểm khó khăn lớn đối với nhà thần bí đang nhanh chóng xuất hiện và hoạt động hữu hiệu. Y trở nên đau đớn ý thức về nhị nguyên tính, về sức kéo của thế gian và của linh ảnh thần bí, về các khả năng thiêng liêng và các tiềm lực của phàm ngã, về bác ái thay cho ham muốn và hấp dẫn, về tương quan thiêng liêng thay vì các quan hệ nhân loại. Nhưng toàn bộ chủ đề này vẫn còn được diễn giải theo các thuật ngữ của nhị nguyên tính. Tính dục vẫn còn hiện diện trong tâm thức của y qua sự tưởng tượng và chưa được đặt vào một vị trí quân bình giữa các bản năng khác của bản chất con người; kết quả là một sự quan tâm gần như bệnh hoạn đến biểu tượng học của tính dục và điều có thể được gọi là một đời sống tính dục được tinh thần hóa. Khuynh hướng này được minh họa rất rõ trong các trước tác và kinh nghiệm của nhiều nhà thần bí thời trung cổ. Chúng ta thấy những cách diễn đạt như “hiền thê của Đức Christ”, “hôn phối trên Thiên giới”, hình ảnh Đức Christ như “chàng rể thiên thượng” và nhiều biểu tượng cùng cụm từ tương tự. Trong Diễm Ca của Solomon, các bạn sẽ thấy một cách diễn đạt mang tính nam giới của cùng một lối tiếp cận về căn bản là tính dục đối với linh hồn và đời sống bao trùm tất cả của nó.

These and many more unpleasant examples of a sex psychology are to be found, blended with a true and pronounced mystical aspiration and yearning, and a genuine longing for union with the divine. The cause of all this lies in the stage of transference. The lower energies are subject, as you can see, to two stages of transference: first, into the solar plexus and from thence to the throat centre. The throat centre is not, at this period, active enough or sufficiently awakened to absorb and utilise the sacral energies. They are arrested in some cases in their upward passage and retained temporarily in the heart [532] centre, producing the phenomena of sex urges (accompanied at times with definitely physical sexual reactions), of religious eroticism and a generally unwholesome attitude, ranging all the way from real sexuality to fanatical celibacy. This latter is as much an undesirable extreme as the other and produces most undesirable results. Frequently in the case of a male mystic there will be over developed sexual expression on the physical plane, perversions of different kinds or a pronounced homosexuality. In the case of women, there may be much disturbance of the solar plexus (instead of sacral disturbances) and consequent gastric trouble and an unwholesome imaginative life, ranging all the way from a feeble pruriency to definite forms of sexual insanity with (frequently) a strong religious bias at the same time. I would remind you here also of the fact that I am definitely dealing with abnormalities, and hence must touch upon that which is unpleasant. In the early stages of mystical development, if there were right guidance of the mental life and of thought, plus courageous explanation of process, a great deal of difficulty would later be avoided. These early stages resemble closely the interest shown by the adolescent both in sex and religion. The two are closely allied in this particular period of development. If right help can be given at this time by educators, parents and those concerned with the training of the young, certain undesirable tendencies—now so prevalent—would never grow into habits and thought states as they now do.

Những ví dụ này và nhiều ví dụ khó chịu khác của một tâm lý học tính dục có thể được tìm thấy, hòa lẫn với một khát vọng và niềm khao khát thần bí chân thực và rõ rệt, cùng một ước mong chân thành được hợp nhất với cõi thiêng liêng. Nguyên nhân của tất cả điều này chính trong giai đoạn chuyển dịch. Như các bạn có thể thấy, các năng lượng thấp chịu hai giai đoạn chuyển dịch: trước hết vào tùng thái dương và từ đó lên trung tâm cổ họng. Trung tâm cổ họng, trong giai đoạn này, chưa đủ hoạt động hay chưa đủ thức tỉnh để hấp thu và sử dụng các năng lượng xương cùng. Trong một số trường hợp, chúng bị chặn lại trên đường đi lên và tạm thời được giữ trong trung tâm tim [532], tạo ra hiện tượng các xung lực tính dục (đôi khi đi kèm với những phản ứng tính dục hồng trần rõ rệt), của sự nhục cảm tôn giáo và một thái độ nhìn chung không lành mạnh, trải dài từ tính dục thực sự đến độc thân cuồng tín. Điều sau này cũng là một cực đoan không đáng mong muốn chẳng kém gì điều kia và tạo ra những kết quả rất tai hại. Thường thường, trong trường hợp một nhà thần bí nam giới, sẽ có sự biểu lộ tính dục quá phát triển trên cõi hồng trần, những lệch lạc thuộc nhiều loại khác nhau hoặc một khuynh hướng đồng tính luyến ái rõ rệt. Trong trường hợp phụ nữ, có thể có nhiều rối loạn nơi tùng thái dương (thay vì rối loạn nơi xương cùng) và hậu quả là các chứng bệnh dạ dày cùng một đời sống tưởng tượng không lành mạnh, trải dài từ sự dâm ô yếu ớt đến những dạng điên loạn tính dục rõ rệt với (thường là) một thiên hướng tôn giáo mạnh mẽ đồng thời. Ở đây tôi cũng muốn nhắc các bạn về sự kiện rằng tôi rõ ràng đang đề cập đến những điều bất thường, và vì thế phải chạm đến những gì khó chịu. Trong các giai đoạn đầu của sự phát triển thần bí, nếu đời sống trí tuệ và tư tưởng được hướng dẫn đúng đắn, cộng với sự giải thích can đảm về tiến trình, thì về sau rất nhiều khó khăn sẽ được tránh khỏi. Những giai đoạn đầu này rất giống với mối quan tâm mà thanh thiếu niên biểu lộ đối với cả tính dục lẫn tôn giáo. Hai điều này liên hệ chặt chẽ với nhau trong giai đoạn phát triển đặc biệt này. Nếu vào lúc này có thể trao sự trợ giúp đúng đắn bởi các nhà giáo dục, cha mẹ và những người quan tâm đến việc huấn luyện giới trẻ, thì một số khuynh hướng không mong muốn—nay quá phổ biến—sẽ không bao giờ phát triển thành thói quen và trạng thái tư tưởng như hiện nay.

The next question which might most correctly emerge in the students consciousness could be stated as follows: How can this process of awakening the centres, of using them as channels for force (at first unconsciously and later with increasing consciousness), and finally of transferring the energy to ever higher centres,—produce problems, disease, and the many and varied difficulties of a phenomenal nature to which [533] humanity seems heir, once the mystical experience becomes a goal and appears desirable. I would again remind you that the whole problem must be interpreted in terms of the growth of consciousness and also in terms of the bringing together, in progressive stages, of various types of energy. The human body is, in the last analysis, an aggregate of energy units. In the vital body (thus conditioning the endocrine and lymphatic systems) are certain focal points through which energy pours into the physical body, producing an impression and a stimulation upon the atoms of the body and thus having a powerful effect upon the entire nervous system which it underlies in all parts. The vital or etheric body is the subtle counterpart of the physical body in its nervous structure and the energy centres condition and control the glandular system. Thus energies, influences, potencies and forces pour into and pass through the physical body—consciously in some cases, unconsciously in the majority of cases—from the three worlds of human enterprise and activity. When the heart centre and the head centres are awakened and used by the interior and the exterior forces, you have the beginning of the mystical and occult life.

Câu hỏi tiếp theo có thể nảy sinh một cách đúng đắn nhất trong tâm thức của đạo sinh có thể được phát biểu như sau: Làm thế nào tiến trình thức tỉnh các trung tâm, sử dụng chúng như những kênh dẫn cho mãnh lực (lúc đầu vô thức và về sau với tâm thức ngày càng tăng), và cuối cùng chuyển dịch năng lượng đến các trung tâm ngày càng cao hơn,—lại có thể tạo ra các vấn đề, bệnh tật, và nhiều khó khăn đa dạng thuộc bản chất hiện tượng mà [533] nhân loại dường như phải thừa hưởng, một khi kinh nghiệm thần bí trở thành một mục tiêu và tỏ ra đáng mong muốn. Tôi lại xin nhắc các bạn rằng toàn bộ vấn đề phải được diễn giải theo các thuật ngữ của sự tăng trưởng tâm thức và cũng theo các thuật ngữ của việc đưa lại gần nhau, qua các giai đoạn tiến triển, những loại năng lượng khác nhau. Xét đến cùng, thể người là một tập hợp các đơn vị năng lượng. Trong thể sinh lực (do đó tác động lên các hệ nội tiết và bạch huyết) có những tiêu điểm nhất định mà qua đó năng lượng tuôn vào thể xác, tạo ra một ấn tượng và một sự kích thích lên các nguyên tử của thể, và như vậy có một tác động mạnh mẽ lên toàn bộ hệ thần kinh mà nó làm nền tảng trong mọi phần. Thể sinh lực hay thể dĩ thái là đối phần vi tế của thể xác trong cấu trúc thần kinh của nó, và các trung tâm năng lượng tác động lên và kiểm soát hệ tuyến. Như vậy, các năng lượng, ảnh hưởng, tiềm lực và mãnh lực tuôn vào và đi qua thể xác—trong một số trường hợp có ý thức, nhưng trong đa số trường hợp là vô thức—từ ba cõi thấp của nỗ lực và hoạt động nhân loại. Khi trung tâm tim và các trung tâm đầu được thức tỉnh và được sử dụng bởi các mãnh lực bên trong lẫn bên ngoài, các bạn có sự khởi đầu của đời sống thần bí và huyền bí học.

There are two reasons for this period of excessive difficulty:

Có hai lý do cho giai đoạn khó khăn quá mức này:

1. The thread of consciousness in the head is anchored in the neighborhood of the pineal gland. The thread of life is to be found anchored in the heart. The turning of the forces (found below the diaphragm) into the solar plexus and from thence into the heart and the head brings those two major streams of energy (one coming from the Monad via the soul body to the heart centre, and the other coming from the soul direct to the highest head centre) to the attention of the mystic. He then becomes aware of life possibilities and of the wide field which [534] consciousness can cover and of the area or the extension of its capacity. This is the period of interior awareness.

1. Sợi dây tâm thức trong đầu được neo ở vùng tuyến tùng. Sinh Mệnh Tuyến được tìm thấy neo trong tim. Việc chuyển các mãnh lực (nằm dưới cơ hoành) vào tùng thái dương và từ đó vào tim và đầu đưa hai dòng năng lượng lớn ấy (một dòng đến từ chân thần qua thể linh hồn đến trung tâm tim, và dòng kia đến trực tiếp từ linh hồn đến trung tâm đầu cao nhất) vào sự chú ý của nhà thần bí. Khi đó y trở nên nhận biết các khả năng của sự sống và cánh đồng rộng lớn mà [534] tâm thức có thể bao trùm, cũng như phạm vi hay sự mở rộng của năng lực nó. Đây là giai đoạn nhận biết nội tại.

2. The inflow of planetary and solar potencies, via the head centre to the heart and from thence to the other centres.

2. Sự tuôn vào của các tiềm lực hành tinh và thái dương, qua trung tâm đầu đến tim và từ đó đến các trung tâm khác.

This inflow produces:

Sự tuôn vào này tạo ra:

a. Stimulation of all the centres, major and minor, carried forward according to ray tendencies and influences.

a. Sự kích thích tất cả các trung tâm, lớn và nhỏ, được thúc đẩy theo các khuynh hướng và ảnh hưởng của cung.

b. The revelation of good and evil, that is, of the worlds of personality expression and of the world of soul expression. This dual process proceeds simultaneously.

b. Sự mặc khải về thiện và ác, tức là về các thế giới biểu lộ của phàm ngã và thế giới biểu lộ của linh hồn. Tiến trình nhị nguyên này diễn ra đồng thời.

c. The existence, therefore, of duality, which when realised and when the great opposites (soul and personality) are blended, can and will produce the at-one-ment.

c. Vì vậy, sự hiện hữu của nhị nguyên tính, mà khi được chứng nghiệm và khi hai cực đối nghịch lớn lao (linh hồn và phàm ngã) được dung hợp, có thể và sẽ tạo ra sự hợp nhất.

The result of these realisations in consciousness leads inevitably to struggle, conflict, and aspiration plus constant frustration; this process produces those adjustments which must be made as the man becomes increasingly aware of the goal and increasingly “alive”. The life expression (the threefold lower man) has to become accustomed to the new fields of consciousness and the opening areas of awareness, and to become used to the new powers which emerge, making the man able to enter more easily the wider fields of service which he is discovering. It might be stated here in a broad and general sense that—

Kết quả của những chứng nghiệm này trong tâm thức tất yếu dẫn đến đấu tranh, xung đột và khát vọng cộng với sự thất vọng thường xuyên; tiến trình này tạo ra những điều chỉnh phải được thực hiện khi con người ngày càng nhận biết mục tiêu và ngày càng “sống động”. Biểu lộ sự sống (phàm nhân tam phân) phải làm quen với những cánh đồng tâm thức mới và những vùng nhận biết đang mở ra, và phải quen với những quyền năng mới xuất hiện, khiến con người có thể đi vào dễ dàng hơn những cánh đồng phụng sự rộng lớn hơn mà y đang khám phá. Ở đây có thể nói theo một nghĩa rộng và tổng quát rằng—

1. Stimulation produces the awakening of the lower psychic powers if the incoming energy is directed to the solar plexus or to the throat centre. It produces the intense activities of the centres and this can, in the early stages, [535] cause definite psychic trouble. In illustration of this I would like to indicate the general nature of the difficulties to which the mystic can be physically prone:

1. Sự kích thích tạo ra sự thức tỉnh các quyền năng thông linh thấp nếu năng lượng đi vào được hướng đến tùng thái dương hay trung tâm cổ họng. Nó tạo ra những hoạt động mãnh liệt của các trung tâm và điều này, trong các giai đoạn đầu, [535] có thể gây ra những rối loạn thông linh rõ rệt. Để minh họa điều này, tôi muốn nêu ra bản chất tổng quát của những khó khăn mà nhà thần bí có thể dễ mắc phải về mặt thể chất:

a. The awakening of the head centre can produce serious trouble if brought about prematurely and even lead at times to insanity. Inflammation of certain areas of the brain and certain forms of brain tumours can be induced by a too rapid inflow of the highest form of energy which a man can receive prior to initiation. This takes place, however, only in those cases where the man is a highly developed person and of a mental type. In other cases of premature soul inflow, the energy pours through the opening at the top of the head and finds its way to some one or other of the centres, according to the ray type or stage of unfoldment. Where the greatest attention of the man’s consciousness and life force is focussed (even if unconsciously) to that point the incoming energy will almost automatically flow.

a. Sự thức tỉnh của trung tâm đầu có thể gây ra rối loạn nghiêm trọng nếu được mang lại quá sớm và thậm chí đôi khi dẫn đến điên loạn. Sự viêm ở một số vùng của não và một số dạng u não có thể bị gây ra bởi sự tuôn vào quá nhanh của dạng năng lượng cao nhất mà một người có thể tiếp nhận trước điểm đạo. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra trong những trường hợp mà người ấy là một người phát triển cao và thuộc loại trí tuệ. Trong những trường hợp khác của sự tuôn vào sớm của linh hồn, năng lượng tuôn qua lỗ mở trên đỉnh đầu và tìm đường đến một trung tâm nào đó, tùy theo loại cung hay giai đoạn khai mở. Nơi nào sự chú ý lớn nhất của tâm thức và sinh lực của con người được tập trung vào (dù là vô thức), thì năng lượng đi vào hầu như sẽ tự động chảy đến điểm đó.

b. The awakening of the ajna centre which is, as we have seen, primarily the result of the development of a man’s personality to the point of integration, can (if the energies involved are not correctly controlled) lead to serious eye trouble, to many aural difficulties, to various forms of neuritis, headache, migraine, and nerve difficulties in various parts of the body. It can produce also many difficulties connected with the pituitary body and psychological trouble emanating from this important controlling gland as well as definite physical trouble.

b. Sự thức tỉnh của trung tâm ajna mà như chúng ta đã thấy, chủ yếu là kết quả của sự phát triển phàm ngã của một người đến mức tích hợp, có thể (nếu các năng lượng liên hệ không được kiểm soát đúng đắn) dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng về mắt, nhiều khó khăn về tai, nhiều dạng viêm dây thần kinh, đau đầu, đau nửa đầu, và các rối loạn thần kinh ở nhiều phần khác nhau của cơ thể. Nó cũng có thể tạo ra nhiều khó khăn liên quan đến tuyến yên và những rối loạn tâm lý phát sinh từ tuyến kiểm soát quan trọng này cũng như những rối loạn thể chất rõ rệt.

c. The awakening of the heart centre (which is going on very rapidly at this time) is responsible for many [536] forms of heart trouble and for the various difficulties connected with the autonomic nervous system, particularly in relation to the vagus nerve. The prevalence of various forms of heart disease at this time, particularly among the intelligentsia, professional and financial classes, is due to the awakening of this centre and to the discovery of an unrecognised capacity in humanity to become group conscious, and to undertake group service. The thymus gland, which controls in a peculiar manner the life aspect in man, is closely connected with the heart centre, as might be expected. This gland must eventually become more active in the adult than is now the case, just as the pineal gland in the coming human races will no longer be an atrophied organism with its true functions not understood and comprehended, but it will be an active and important part of man’s equipment. This will take place normally and naturally as man learns to function as a soul and not just as a personality.

c. Sự thức tỉnh của trung tâm tim (đang diễn ra rất nhanh vào lúc này) chịu trách nhiệm cho nhiều [536] dạng bệnh tim và cho nhiều khó khăn khác nhau liên quan đến hệ thần kinh tự động, đặc biệt trong mối liên hệ với dây thần kinh phế vị. Sự phổ biến của nhiều dạng bệnh tim vào lúc này, đặc biệt trong giới trí thức, chuyên môn và tài chính, là do sự thức tỉnh của trung tâm này và do sự khám phá một năng lực chưa được nhận biết nơi nhân loại để trở nên có tâm thức nhóm và đảm nhận phụng sự nhóm. Tuyến ức, vốn kiểm soát một cách đặc biệt phương diện sự sống nơi con người, có liên hệ chặt chẽ với trung tâm tim, như có thể được mong đợi. Tuyến này cuối cùng phải trở nên hoạt động hơn nơi người trưởng thành so với hiện nay, cũng như tuyến tùng trong các nhân loại tương lai sẽ không còn là một cơ quan teo lại với các chức năng đích thực chưa được hiểu và lĩnh hội, mà sẽ là một phần hoạt động và quan trọng trong trang bị của con người. Điều này sẽ diễn ra một cách bình thường và tự nhiên khi con người học cách hoạt động như một linh hồn chứ không chỉ như một phàm ngã.

d. Again, much trouble among people is due at this time to the awakening of the throat centre. This centre governs and conditions the thyroid gland and the parathyroids. It can produce, when unduly developed or prematurely awakened, hyper-thyroidism with its attendant difficulties and its often dangerous effects upon the heart and upon the metabolism of the body. The psychological effects are well-known and recognised. These difficulties are increased and this higher creative centre unduly stimulated and rendered a danger instead of an aid to expression by the enforced celibacy of many people, owing to the present unfortunate economic conditions. These conditions are such that people refrain from marriage and there is consequently [537] the lack of opportunity to use (or to misuse) the energy flowing through the sacral centre. Mystics are likewise prone to this difficulty. The throat centre is not used creatively nor is the sacral centre turned to its proper uses. The sacral energy is carried prematurely to the throat where it produces an intense stimulation. The equipment of the man concerned has not yet reached the point where it can be turned to creative work in any field. There is no creative expression of any kind as the development of the man does not permit him to be creative in the higher sense. The Swiss people, though highly intelligent, are not creative in this sense. The energy flowing through the thyroid gland is not used in creative art, music or writing in any outstanding manner, and hence the prevalence of goiter and thyroid difficulty. There is much energy flowing through and to the thyroid gland and, as yet, but little use made of it.

d. Một lần nữa, nhiều rối loạn nơi con người hiện nay là do sự thức tỉnh của trung tâm cổ họng. Trung tâm này cai quản và tác động lên tuyến giáp và các tuyến cận giáp. Khi phát triển quá mức hoặc thức tỉnh quá sớm, nó có thể tạo ra chứng cường giáp với những khó khăn đi kèm và những tác động thường nguy hiểm của nó lên tim và lên sự chuyển hóa của cơ thể. Những tác động tâm lý thì đã được biết rõ và công nhận. Những khó khăn này gia tăng, và trung tâm sáng tạo cao hơn này bị kích thích quá mức và trở thành một mối nguy thay vì một trợ lực cho biểu lộ, bởi tình trạng độc thân bị cưỡng bách của nhiều người do các điều kiện kinh tế bất hạnh hiện nay. Những điều kiện này khiến người ta kiêng kết hôn và hậu quả là [537] thiếu cơ hội để sử dụng (hay lạm dụng) năng lượng chảy qua trung tâm xương cùng. Các nhà thần bí cũng dễ mắc phải khó khăn này. Trung tâm cổ họng không được sử dụng một cách sáng tạo, mà trung tâm xương cùng cũng không được chuyển sang những công dụng thích hợp của nó. Năng lượng xương cùng được đưa lên cổ họng quá sớm, nơi nó tạo ra một sự kích thích mãnh liệt. Trang bị của người liên hệ chưa đạt đến mức có thể được chuyển sang công việc sáng tạo trong bất kỳ lĩnh vực nào. Không có biểu lộ sáng tạo nào dưới bất kỳ hình thức nào vì sự phát triển của người ấy chưa cho phép y sáng tạo theo nghĩa cao hơn. Người Thụy Sĩ, dù rất thông minh, lại không sáng tạo theo nghĩa này. Năng lượng chảy qua tuyến giáp không được dùng vào nghệ thuật sáng tạo, âm nhạc hay văn chương theo bất kỳ cách nổi bật nào, và vì thế bệnh bướu cổ và các rối loạn tuyến giáp rất phổ biến. Có nhiều năng lượng chảy qua và đến tuyến giáp, nhưng cho đến nay lại ít được sử dụng.

e. The increased activity and stimulation of the solar plexus centre today is a most fruitful source of trouble. It produces a great deal of the nervous difficulties to which women are particularly prone, and many of the stomach ills and liver troubles of the time, as well as intestinal difficulties. One of the most powerful sources of cancer in various parts of the body (except in the head and face) can esoterically be traced to the congestion of the energy of the solar plexus centre. This congestion has a general and widespread effect. Difficulties arising from the awakening of the heart centre and the solar plexus centre (for the two are closely allied and have a reciprocal action for a long time in the mystical experience) produce also a powerful effect upon the blood stream. They are connected with [538] the life principle which is ever “carried upon the waves of desire” (as the ancient writings put it) and this, when prevented from full expression, through lack of development or other causes, leads to cancerous areas in the body wherever there is a weakness in the bodily tissue.

e. Hoạt động gia tăng và sự kích thích của trung tâm tùng thái dương ngày nay là một nguồn rất phong phú của rối loạn. Nó tạo ra rất nhiều khó khăn thần kinh mà phụ nữ đặc biệt dễ mắc phải, và nhiều chứng bệnh dạ dày và gan của thời đại, cũng như các rối loạn đường ruột. Một trong những nguồn mạnh nhất của ung thư ở nhiều phần khác nhau của cơ thể (ngoại trừ ở đầu và mặt) có thể, một cách huyền bí, được truy nguyên về sự tắc nghẽn năng lượng của trung tâm tùng thái dương. Sự tắc nghẽn này có một tác động chung và lan rộng. Những khó khăn phát sinh từ sự thức tỉnh của trung tâm tim và trung tâm tùng thái dương (vì hai trung tâm này liên hệ chặt chẽ với nhau và có tác động hỗ tương trong một thời gian dài trong kinh nghiệm thần bí) cũng tạo ra một tác động mạnh mẽ lên dòng máu. Chúng liên hệ với nguyên khí sự sống, vốn luôn luôn “được mang trên những làn sóng của ham muốn” (như các trước tác cổ xưa diễn tả) và điều này, khi bị ngăn cản không cho biểu lộ trọn vẹn, do thiếu phát triển hay các nguyên nhân khác, sẽ dẫn đến những vùng ung thư trong cơ thể ở bất cứ nơi nào có sự suy yếu trong mô cơ thể.

f. The awakening of the sacral centre is of such ancient origin that it is not possible at this time to trace the true history of the development of the difficulties connected with sexual expression, nor is it desirable. I have dealt with the subject of sex in my other treatises, particularly in A Treatise On White Magic. I call attention to it only because in the course of the mystical life there is often a period of sexual difficulty if the mystic has not previously learnt sexual control and unless it has assumed balanced proportions to his other life activities and natural instincts in his consciousness. Else, as he touches the heights of spiritual contact and brings in the energy of his soul to the personality, that energy will pass straight down to the sacral centre and not be arrested at the throat centre, as it rightly should be. When this occurs, then perversions of the sex life may take place, or an undue importance may be attached to the sex activity, or the sexual imagination can be dangerously stimulated, leading to lack of control and to many of the difficulties known to physicians and psychologists. The result is ever an overactivity of the sex life in some form or another.

f. Sự thức tỉnh của trung tâm xương cùng có nguồn gốc quá xa xưa đến nỗi hiện nay không thể truy nguyên lịch sử đích thực của sự phát triển những khó khăn liên quan đến biểu lộ tính dục, và điều đó cũng không đáng mong muốn. Tôi đã bàn đến chủ đề tính dục trong các luận thuyết khác của tôi, đặc biệt trong Luận về Chánh Thuật. Tôi chỉ lưu ý đến nó vì trong tiến trình của đời sống thần bí thường có một giai đoạn khó khăn về tính dục nếu nhà thần bí trước đó chưa học được sự kiểm soát tính dục và trừ phi nó đã mang những tỉ lệ quân bình so với các hoạt động sống khác và các bản năng tự nhiên trong tâm thức của y. Nếu không, khi y chạm đến những đỉnh cao của tiếp xúc tinh thần và mang năng lượng của linh hồn mình vào phàm ngã, năng lượng ấy sẽ đi thẳng xuống trung tâm xương cùng và không bị chặn lại ở trung tâm cổ họng như lẽ ra phải vậy. Khi điều này xảy ra, thì những lệch lạc của đời sống tính dục có thể diễn ra, hoặc hoạt động tính dục có thể bị gán cho một tầm quan trọng quá mức, hoặc sự tưởng tượng tính dục có thể bị kích thích một cách nguy hiểm, dẫn đến thiếu kiểm soát và đến nhiều khó khăn mà các y sĩ và nhà tâm lý học đều biết. Kết quả luôn luôn là một sự hoạt động quá mức của đời sống tính dục dưới hình thức này hay hình thức khác.

g. The awakening of the centre at the base of the spine during the final stages of the higher mystical experience carries with it its own dangers. These definitely affect the spine and consequently all the nerves which branch out in all directions from the spinal column. [539] The raising of the kundalini force—if brought about ignorantly and prematurely—may produce the rapid burning through of the protective web of etheric matter which separates the various areas of the body (controlled by the seven centres) from each other. This causes serious nervous trouble, inflammation of the tissues, spinal disease, and brain trouble.

g. Sự thức tỉnh của trung tâm ở đáy cột sống trong các giai đoạn cuối của kinh nghiệm thần bí cao hơn mang theo những nguy hiểm riêng của nó. Những nguy hiểm này rõ rệt tác động đến cột sống và do đó đến tất cả các dây thần kinh phân nhánh theo mọi hướng từ trụ sống. [539] Việc nâng mãnh lực kundalini lên—nếu được thực hiện một cách vô minh và quá sớm—có thể tạo ra sự đốt cháy nhanh chóng mạng lưới bảo vệ bằng vật chất dĩ thái, vốn ngăn cách các khu vực khác nhau của cơ thể (do bảy trung tâm kiểm soát) với nhau. Điều này gây ra những rối loạn thần kinh nghiêm trọng, viêm mô, bệnh cột sống và rối loạn não.

I have here hinted at some of the difficulties in an effort to give you a general picture of the problem of the mystic.

Ở đây tôi đã gợi ra một số khó khăn trong nỗ lực đem đến cho các bạn một bức tranh tổng quát về vấn đề của nhà thần bí.

2. Utilisation of a centre. Let me explain this phrase. Certain difficulties also arise when a centre is used to such an extent that the attention is withdrawn from the activity of the other centres and they are thus neglected. In this way, whole areas of consciousness can temporarily cease to be recognised. It should be remembered that the goal of all the mystic’s efforts should be to achieve a rounded-out development which brings into use sequentially, correctly and in conformity to right ray methods, all the different centres. Many people, however (once a centre is awakening and is subjectively stimulated) immediately find the utilisation of the centre to be the line of least resistance; they, therefore, begin to function almost exclusively through that centre. This can be well illustrated by two examples.

2. Sự sử dụng một trung tâm. Hãy để tôi giải thích cụm từ này. Một số khó khăn cũng phát sinh khi một trung tâm được sử dụng đến mức sự chú ý bị rút khỏi hoạt động của các trung tâm khác và vì thế chúng bị sao lãng. Theo cách này, toàn bộ những vùng tâm thức có thể tạm thời không còn được nhận biết. Cần nhớ rằng mục tiêu của mọi nỗ lực của nhà thần bí phải là đạt được một sự phát triển tròn đầy, đưa vào sử dụng một cách tuần tự, đúng đắn và phù hợp với các phương pháp cung đúng đắn, tất cả các trung tâm khác nhau. Tuy nhiên, nhiều người, một khi một trung tâm đang thức tỉnh và được kích thích một cách chủ quan, lập tức thấy việc sử dụng trung tâm ấy là con đường ít trở ngại nhất; vì vậy, họ bắt đầu hoạt động gần như chỉ qua trung tâm đó. Điều này có thể được minh họa rõ bằng hai ví dụ.

The solar plexus centre is, at this time, highly active among men and women everywhere. In every country millions of people are over-sensitised, emotional frequently to the point of hysteria, full of dreams, visions and fears, and highly nervous. This produces widespread gastric difficulties, indigestion, stomachic and liver ills and diseases, and intestinal disorders. To all of these the race today is exceedingly prone. To these are often [540] coupled all kinds of skin eruptions. The cause is twofold:

Trung tâm tùng thái dương hiện nay rất hoạt động nơi những người nam và nữ ở khắp nơi. Tại mọi quốc gia, hàng triệu người quá nhạy cảm, thường cảm xúc đến mức cuồng loạn, đầy những giấc mơ, linh ảnh và sợ hãi, và cực kỳ căng thẳng thần kinh. Điều này tạo ra những khó khăn lan rộng về dạ dày, chứng khó tiêu, các bệnh và rối loạn về dạ dày và gan, cùng các rối loạn đường ruột. Ngày nay nhân loại đặc biệt dễ mắc tất cả những điều này. Với những điều ấy thường còn [540] kèm theo đủ loại phát ban ngoài da. Nguyên nhân có hai mặt:

a. The over-stimulation of the solar plexus centre by its practically exclusive use, and by the consequent inflow of forces from the astral plane, to which the solar plexus is the wide open door.

a. Sự kích thích quá mức của trung tâm tùng thái dương do việc sử dụng gần như độc quyền nó, và do hậu quả là sự tuôn vào của các mãnh lực từ cõi cảm dục, mà tùng thái dương là cánh cửa mở rộng.

b. The increased and constant use of this centre as its rhythm and vibration get too powerful to control. The man then succumbs to the temptation to focus his life interest and attention in the astral world and to do this with increasing awareness, interest and phenomenal results.

b. Việc sử dụng gia tăng và liên tục trung tâm này khi nhịp điệu và rung động của nó trở nên quá mạnh để kiểm soát. Khi đó con người khuất phục trước cám dỗ tập trung mối quan tâm và sự chú ý của đời sống mình vào thế giới cảm dục và làm điều này với sự nhận biết, hứng thú và các kết quả hiện tượng ngày càng tăng.

The man is, therefore, a victim of forces which would otherwise produce a gathering together of that “which is lower” and their necessary transference into that which is higher. A needed purpose would then be served, but—in the case we are considering—these forces are all concentrated in that central area of the body which is intended to be simply the clearing house for that “which is below into that which is above”. Instead of this, there is set up a tremendous whirlpool of forces which not only produces physical difficulties of many kinds (as stated above) but which is also a fruitful source of the cleavages with which modern psychology is dealing at the time. So potent are the forces generated by the over use of the solar plexus (which is one of the most powerful of all the centres) and through the consequent flowing in of astral forces of every kind—thus augmenting the difficulties—that they assume eventually complete control of the life. The forces below the diaphragm and those above become separated by this vibrant and potent central force centre. Cleavage, astralism, delusions, hallucinations, nervous disorders of every kind and difficulties of a physical nature which definitely [541] involve the intestinal tract, the liver and the pancreas are only some of the problems which arise from the uncontrolled use of the solar plexus centre. The man becomes controlled by it and is not the controlling factor, as he is intended to be.

Vì vậy, con người trở thành nạn nhân của những mãnh lực mà lẽ ra sẽ tạo ra sự gom lại của “điều thấp hơn” và sự chuyển dịch cần thiết của chúng vào điều cao hơn. Khi đó một mục đích cần thiết đã được phụng sự, nhưng—trong trường hợp chúng ta đang xét—những mãnh lực này đều tập trung trong khu vực trung tâm ấy của cơ thể, vốn chỉ được dự định là nơi thanh lọc cho “điều ở dưới đi vào điều ở trên”. Thay vì vậy, một xoáy nước mãnh lực khổng lồ được thiết lập, không những tạo ra nhiều khó khăn thể chất đủ loại (như đã nói ở trên) mà còn là một nguồn phong phú của những sự phân ly mà tâm lý học hiện đại hiện đang đề cập đến. Những mãnh lực được tạo ra bởi việc lạm dụng tùng thái dương (vốn là một trong những trung tâm mạnh nhất) và bởi hậu quả là sự tuôn vào của các mãnh lực cảm dục đủ loại—do đó làm tăng thêm các khó khăn—mạnh đến nỗi cuối cùng chúng nắm quyền kiểm soát hoàn toàn đời sống. Các mãnh lực dưới cơ hoành và các mãnh lực ở trên trở nên tách rời bởi trung tâm mãnh lực trung ương rung động và mạnh mẽ này. Sự phân ly, cảm dục tính, ảo tưởng, ảo giác, các rối loạn thần kinh đủ loại và những khó khăn thuộc bản chất thể chất rõ rệt [541] liên quan đến đường ruột, gan và tụy chỉ là một số vấn đề phát sinh từ việc sử dụng không kiểm soát trung tâm tùng thái dương. Con người bị nó kiểm soát và không phải là yếu tố kiểm soát, như lẽ ra y phải là.

The second illustration is connected with the unfoldment of the heart centre with its recognition of the group life and consequent group responsibility. This today is rapidly growing and can be seen on every hand. Students are apt to think that the awakening of the heart centre and its consequent group recognitions must be expressed in terms of religion, of love and of divinity. They, therefore, make of it something spiritual, as that much misused word is understood by the orthodox religious man. But it is far more than that. The heart is connected with the life aspect, for there is the seat of the life principle and there is the life energy anchored. It is connected with synthesis, with the monad, and with all that is more than the separated self. Any group which is engineered and controlled by one man or by a group of men, whether it is a nation, or a big business institution or an organisation of some kind or another (such as a great hospital) is connected with the life which is found in the heart. This remains true even when the motive or motives are mixed and undesirable, or purely selfish. A business magnate controlling vast interests who has the lives of many people dependent upon the contingencies of a business which he may have founded and over which he presides, is beginning to work through the heart centre. Hence the prevalence of certain forms of heart trouble to which so many people of influence and power so frequently succumb. The heart becomes over-stimulated by the impact of the energies pouring in on the man who is subjected—among other things—to the directed thoughts of those connected with his organisation. Can you see why, therefore, the senior members of the Hierarchy, Who work through the [542] head and the heart centres, keep Themselves withdrawn from public life and much human contact? These two illustrations may help to clarify in your minds the sense in which I here use the term, “utilisation of a centre”.

Minh hoạ thứ hai có liên hệ với sự khai mở của trung tâm tim cùng với sự nhận biết đời sống nhóm và trách nhiệm nhóm phát sinh từ đó. Ngày nay, điều này đang tăng trưởng nhanh chóng và có thể thấy ở khắp nơi. Các đạo sinh thường có khuynh hướng nghĩ rằng sự thức tỉnh của trung tâm tim và những nhận biết nhóm phát sinh từ đó phải được biểu lộ dưới dạng tôn giáo, tình thương và thiên tính. Vì vậy, họ biến nó thành một điều gì đó tinh thần, theo cách mà từ ngữ bị lạm dụng quá nhiều ấy được người theo tôn giáo chính thống hiểu. Nhưng nó còn hơn thế rất nhiều. Tim có liên hệ với phương diện sự sống, vì đó là chỗ ngự của nguyên khí sự sống và năng lượng sự sống được neo tại đó. Nó có liên hệ với tổng hợp, với chân thần, và với tất cả những gì vượt lên trên phàm ngã biệt lập. Bất kỳ nhóm nào được một người hay một nhóm người tổ chức và kiểm soát, dù đó là một quốc gia, hay một cơ sở kinh doanh lớn, hay một tổ chức thuộc loại nào đó hoặc loại khác (chẳng hạn như một bệnh viện lớn), đều có liên hệ với sự sống được tìm thấy trong tim. Điều này vẫn đúng ngay cả khi động cơ hay các động cơ là pha tạp và không đáng mong muốn, hoặc hoàn toàn ích kỷ. Một nhà tài phiệt kinh doanh kiểm soát những quyền lợi rộng lớn, người mà đời sống của nhiều người lệ thuộc vào những biến cố của một công việc kinh doanh do y có thể đã sáng lập và đang chủ trì, đang bắt đầu hoạt động qua trung tâm tim. Do đó mới có sự phổ biến của một số dạng bệnh tim mà biết bao người có ảnh hưởng và quyền lực thường xuyên gục ngã vì chúng. Tim trở nên bị kích thích quá mức bởi tác động của các năng lượng tuôn vào con người đang chịu—trong nhiều điều khác—những tư tưởng có định hướng của những người có liên hệ với tổ chức của y. Vì vậy, các bạn có thể thấy tại sao các thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, Các Ngài hoạt động qua các trung tâm đầu và tim, lại giữ mình tách khỏi đời sống công chúng và nhiều tiếp xúc với con người chăng? Hai minh hoạ này có thể giúp làm sáng tỏ trong tâm trí các bạn ý nghĩa mà ở đây tôi dùng thuật ngữ “sự sử dụng một trung tâm”.

3. In the period of transference wherein the forces of the body are in a state of abnormal flux and mutation, it will be obvious what danger there is for the mystic and the disciple, and how serious can be the results of any transference which is forced into effect instead of following the natural course of evolution. This accounts, partially, for the present world upheaval and chaos. The forces flowing through the masses of average intelligent men today (and by that I mean those men who are educated and able to recognise the world news and to discuss world events and trends) are constituting the experimental ground for the transference of the energy of the sacral centre to the solar plexus. This leads inevitably to turmoil, over-stimulation, revolt and many other difficulties.

3. Trong thời kỳ chuyển dịch, khi các mãnh lực của thể ở trong trạng thái lưu chuyển và biến đổi bất thường, sẽ hiển nhiên thấy được mối nguy cho nhà thần bí và đệ tử, và những kết quả của bất kỳ sự chuyển dịch nào bị cưỡng bức thực hiện thay vì đi theo tiến trình tự nhiên của tiến hoá có thể nghiêm trọng đến mức nào. Điều này phần nào giải thích cho sự chấn động và hỗn loạn hiện nay của thế giới. Các mãnh lực đang chảy qua quần chúng gồm những người nam và nữ có trí tuệ trung bình ngày nay (và bởi đó tôi muốn nói những người được giáo dục và có khả năng nhận biết tin tức thế giới cũng như thảo luận các biến cố và xu hướng thế giới) đang tạo thành bãi thử nghiệm cho sự chuyển dịch năng lượng từ trung tâm xương cùng lên tùng thái dương. Điều này tất yếu dẫn đến xáo trộn, kích thích quá mức, nổi loạn và nhiều khó khăn khác.

The problems, therefore, are many but are subject to solution. Let that not be forgotten. The whole theme is vast, but many minds are today seeking to deal with it and are working selflessly and altruistically to bring about the needed changes, a better understanding of man’s physical and psychological natures, and a new approach—both to religion and education. When the mystical approach and its consequences, good and bad, material and spiritual—are better understood, through study and experiment, we shall arrive at a more complete comprehension of our problem and a better programme for human unfoldment.

Vì vậy, các vấn đề thì nhiều nhưng đều có thể giải quyết được. Chớ quên điều đó. Toàn bộ chủ đề này rất rộng lớn, nhưng ngày nay nhiều trí tuệ đang tìm cách đề cập đến nó và đang làm việc vô tư, vị tha để mang lại những thay đổi cần thiết, một sự thấu hiểu tốt hơn về bản chất hồng trần và tâm lý của con người, cùng một cách tiếp cận mới—đối với cả tôn giáo lẫn giáo dục. Khi cách tiếp cận thần bí và các hệ quả của nó, tốt và xấu, vật chất và tinh thần, được thấu hiểu rõ hơn qua nghiên cứu và thử nghiệm, chúng ta sẽ đi đến một sự lĩnh hội đầy đủ hơn về vấn đề của mình và một chương trình tốt hơn cho sự khai mở của con người.

I would like to point out that I am using the words “mystic and mystical” in this section of our treatise because I want [543] what I have to say to meet with the interest of those who recognise the fact of the mystical approach to God and the mystical life of the soul, but who refuse as yet to widen the concept so that it includes also the intellectual approach to divine identification.

Tôi muốn chỉ ra rằng tôi đang dùng các từ “nhà thần bí” và “thần bí” trong phần này của bộ luận vì tôi muốn điều tôi phải nói gặp được sự quan tâm của những người thừa nhận sự kiện về cách tiếp cận thần bí đối với Thượng đế và đời sống thần bí của linh hồn, nhưng cho đến nay vẫn từ chối mở rộng khái niệm ấy để nó cũng bao gồm cả cách tiếp cận bằng trí tuệ đối với sự đồng hoá thiêng liêng.

The keynotes which the mystic at present recognises and which the religious writer and thinker is also willing to admit are those of feeling, sensitivity to the divine existence, the recognition of a vision of God which will suffice to meet individual need and thus bring relief, peace, understanding and the realisation of divinity without and within, plus the relationship of the man to some extraneous Factor called God, or the Self, or the Christ. This attitude is coloured always by a sense of duality; it leads to the attainment of union—a union of which the marriage relation remains still the best symbol and illustration as the writings of the mystics of all periods and nationalities will testify, and which still preserves the consciousness of the two identities.

Các chủ âm mà nhà thần bí hiện nay nhận biết và mà tác giả cùng nhà tư tưởng tôn giáo cũng sẵn lòng thừa nhận là những chủ âm của cảm xúc, của sự nhạy cảm đối với sự hiện hữu thiêng liêng, của sự nhận biết một linh ảnh về Thượng đế đủ để đáp ứng nhu cầu cá nhân và nhờ đó đem lại nhẹ nhõm, bình an, thấu hiểu và sự chứng nghiệm thiên tính ở bên ngoài lẫn bên trong, cộng thêm mối liên hệ của con người với một Yếu Tố ngoại tại nào đó được gọi là Thượng đế, hay Bản Ngã, hay Đức Christ. Thái độ này luôn luôn được nhuốm màu bởi ý thức về nhị nguyên tính; nó dẫn đến việc đạt được sự hợp nhất—một sự hợp nhất mà quan hệ hôn phối vẫn còn là biểu tượng và minh hoạ tốt nhất, như trước tác của các nhà thần bí thuộc mọi thời kỳ và mọi quốc tịch sẽ làm chứng, và sự hợp nhất ấy vẫn bảo tồn tâm thức về hai bản sắc.

The keynotes of the occult life have been (and rightly) the notes of knowledge, of the mental approach to the problem of divinity, the recognition of divine immanence and of the fact that “as He is so are we.” There is, however, no sense of duality. The goal is the achievement of such an approved and appreciated identification that the man becomes what he is—a God and, eventually, God in manifestation. This is not the same thing as the mystical union.

Các chủ âm của đời sống huyền bí học đã là (và đúng như vậy) những chủ âm của tri thức, của cách tiếp cận bằng trí tuệ đối với vấn đề thiên tính, của sự nhận biết tính nội tại thiêng liêng và sự kiện rằng “Ngài thế nào thì chúng ta cũng thế ấy.” Tuy nhiên, ở đây không có ý thức về nhị nguyên tính. Mục tiêu là đạt được một sự đồng hoá được xác nhận và được trân trọng đến mức con người trở thành điều mà y vốn là—một Thượng đế và cuối cùng là Thượng đế trong biểu hiện. Điều này không giống với sự hợp nhất thần bí.

And yet, the whole theme is mystical and innately subjective. The time must come when the mystic will appreciate and follow the way of the head and not only the way of the heart. He will learn to realise that he must lose his sense of the Beloved in the knowledge that he and the beloved are one and that the vision must and will disappear as he transcends it [544] (note that phrase) in the greatest processes of identification through initiation.

Tuy vậy, toàn bộ chủ đề này là thần bí và bẩm sinh chủ quan. Thời điểm phải đến khi nhà thần bí sẽ trân trọng và đi theo con đường của đầu chứ không chỉ con đường của tim. Y sẽ học để chứng nghiệm rằng y phải đánh mất cảm nhận về Đấng Yêu Dấu trong tri thức rằng y và Đấng yêu dấu là một, và rằng linh ảnh phải và sẽ biến mất khi y vượt lên trên nó [544] (hãy lưu ý cụm từ ấy) trong những tiến trình lớn lao nhất của sự đồng hoá qua điểm đạo.

The occultist, in his turn, must learn to include the mystical experience in full understanding consciousness as a recapitulatory exercise before he transcends it and passes on to a synthesis and an inclusiveness to which the mystical approach is but the beginning, and of which the mystic remains unaware.

Đến lượt mình, nhà huyền bí học phải học cách bao gồm kinh nghiệm thần bí trong tâm thức thấu hiểu trọn vẹn như một sự thực hành tóm lược trước khi y vượt lên trên nó và tiến tới một sự tổng hợp và tính bao gồm mà cách tiếp cận thần bí chỉ là khởi đầu, và điều mà nhà thần bí vẫn không nhận biết.

The mystic is too apt to feel that the occultist over-estimates the way of knowledge and repeats glibly that the mind is the slayer of the real and that the intellect can give him nothing. The occultist is equally apt to despise the mystical way and to regard the mystical method as “lying far behind him”. But both must learn to tread the way of wisdom. The mystic must and will inevitably become the occultist and this whether he likes the process or not. He cannot escape it in the long run, but the occultist is not a true one until he recovers the mystical experience and translates it into terms of synthesis. Note the structure of words I have used in this last paragraph for it will serve to elucidate my theme. I use therefore the words “mystic and mystical” in this section of the treatise to describe the intelligent, highly mental man and his processes upon the Path of Discipleship.

Nhà thần bí quá dễ cảm thấy rằng nhà huyền bí học đánh giá quá cao con đường tri thức và lặp lại một cách trơn tru rằng trí tuệ là kẻ sát hại cái thực và rằng trí năng không thể cho y điều gì. Nhà huyền bí học cũng dễ khinh thường con đường thần bí và xem phương pháp thần bí như là “nằm rất xa phía sau y”. Nhưng cả hai đều phải học bước đi trên con đường minh triết. Nhà thần bí phải và chắc chắn sẽ trở thành nhà huyền bí học, dù y có thích tiến trình ấy hay không. Về lâu dài, y không thể thoát khỏi nó, nhưng nhà huyền bí học chưa phải là chân chính cho đến khi y phục hồi kinh nghiệm thần bí và chuyển dịch nó sang những thuật ngữ của tổng hợp. Hãy lưu ý cấu trúc từ ngữ tôi đã dùng trong đoạn cuối này vì nó sẽ giúp làm sáng tỏ chủ đề của tôi. Vì vậy, tôi dùng các từ “nhà thần bí” và “thần bí” trong phần này của bộ luận để mô tả con người thông minh, có trí tuệ cao và các tiến trình của y trên Con Đường Đệ Tử.

In dealing with the problems and diseases of mystics who are at the point in their evolution where they are making one of the major transferences of force, it should be pointed out that in the earlier stages quite a long period of time may elapse between the first effort to transmute and transfer the energies and that particular life wherein the energies are finally gathered up and “elevated” as the esoteric term usually employed technically expresses it. It is at this point of focussed activity (in the place of the previous fluidic and spasmodic efforts) that one finds a definite point of crisis in the life of the mystic.

Khi đề cập đến các vấn đề và bệnh tật của các nhà thần bí đang ở tại điểm tiến hoá mà họ đang thực hiện một trong những sự chuyển dịch mãnh lực lớn, cần chỉ ra rằng trong các giai đoạn đầu, có thể trôi qua một thời gian khá dài giữa nỗ lực đầu tiên nhằm chuyển hoá và chuyển dịch các năng lượng với kiếp sống đặc biệt mà trong đó các năng lượng cuối cùng được thu gom lại và “nâng lên”, như thuật ngữ nội môn thường được dùng theo nghĩa kỹ thuật để diễn tả. Chính tại điểm hoạt động tập trung này (thay cho những nỗ lực linh động và co giật trước đó) mà người ta thấy một điểm khủng hoảng rõ rệt trong đời sống của nhà thần bí.

The question is often asked: Why is there frequently so [545] much illness, nervous trouble and various pathological conditions found among the saints of the earth, and among those who are clearly oriented towards the light? The answer is that the strain put upon the physical vehicle by the shift of the forces is usually unduly great and so produces these undesirable conditions. These again are often augmented by the foolish things done by the aspirant as he seeks to bring his physical body under control. It is, however, far better for the undesirable results to work themselves out in the physical vehicle than in the astral or mental bodies. This point is seldom realised and hence the emphasis laid upon the idea that sickness, ill-health, and disease are indicative of individual error, of failure and of so-called sin. They can of course be all of these things, but, in the case of the true aspirant who is endeavouring to discipline and control his life, they are often not due to these causes at all. They are the inevitable result of the clash of forces—those of the awakened energies which are in process of elevation and those of the centre into which the energies are being raised. This clash produces strain, physical discomfort and (as we have seen) many distressing kinds of disorders.

Câu hỏi thường được nêu ra là: Tại sao lại thường có quá [545] nhiều bệnh tật, rối loạn thần kinh và các tình trạng bệnh lý khác nhau nơi các vị thánh của địa cầu, và nơi những người rõ ràng đang định hướng về ánh sáng? Câu trả lời là sự căng thẳng đặt lên vận cụ hồng trần bởi sự chuyển đổi các mãnh lực thường quá lớn, và do đó tạo ra những tình trạng không mong muốn này. Những điều này lại thường bị gia tăng bởi những việc dại dột do người chí nguyện làm khi y tìm cách đưa thể xác của mình vào vòng kiểm soát. Tuy nhiên, để những kết quả không mong muốn ấy tự biểu lộ trong vận cụ hồng trần còn tốt hơn là trong các thể cảm dục hay thể trí. Điểm này hiếm khi được chứng nghiệm, và do đó mới có sự nhấn mạnh vào ý tưởng rằng đau yếu, sức khoẻ kém và bệnh tật là dấu hiệu của lỗi lầm cá nhân, của thất bại và của cái gọi là tội lỗi. Dĩ nhiên, chúng có thể là tất cả những điều ấy, nhưng trong trường hợp của người chí nguyện chân chính đang nỗ lực rèn luyện và kiểm soát đời sống của mình, chúng thường hoàn toàn không do các nguyên nhân đó. Chúng là kết quả tất yếu của sự va chạm giữa các mãnh lực—những mãnh lực của các năng lượng đã thức tỉnh đang trong tiến trình được nâng lên và những mãnh lực của trung tâm mà vào đó các năng lượng đang được nâng lên. Sự va chạm này tạo ra căng thẳng, khó chịu về thể xác và (như chúng ta đã thấy) nhiều loại rối loạn đau đớn.

The widespread disease and ill-health found everywhere at this time is caused by a mass transference which is steadily going forward in the race. Through this transference, the solar plexus centre is thrown into an abnormal activity, thereby releasing all kinds of astral forces into the consciousness of man—fear, desire of a wrong kind and many of the emotional characteristics which are causing people so much distress. The process is as follows: the consciousness first of all registers these astral impressions, then formulates them into thought forms and—as energy follows thought—a vicious circle is thus set up, involving the physical body. In the turmoil consequently evoked by these clashing forces which are

Bệnh tật và sức khoẻ kém lan rộng hiện thấy ở khắp nơi vào lúc này là do một sự chuyển dịch tập thể đang đều đặn diễn ra trong nhân loại. Qua sự chuyển dịch này, trung tâm tùng thái dương bị đẩy vào một hoạt động bất thường, nhờ đó giải phóng đủ loại mãnh lực cảm dục vào tâm thức con người—sợ hãi, ham muốn sai lạc và nhiều đặc tính cảm xúc đang gây cho con người quá nhiều đau khổ. Tiến trình diễn ra như sau: trước hết tâm thức ghi nhận các ấn tượng cảm dục này, rồi định hình chúng thành các Hình tư tưởng và—vì năng lượng đi theo tư tưởng—một vòng luẩn quẩn do đó được thiết lập, lôi kéo cả thể xác vào. Trong sự hỗn loạn được gợi ra bởi những mãnh lực xung đột này, những mãnh lực đang

[546]

[546]

a. Mounting from below into the solar plexus,

a. Dâng lên từ bên dưới vào tùng thái dương,

b. Pouring into the solar plexus from the astral plane,

b. Tuôn vào tùng thái dương từ cõi cảm dục,

c. Reacting to the magnetic attractive power of the higher centres,

c. Đáp ứng với quyền năng hấp dẫn từ tính của các trung tâm cao hơn,

the interior life of the man becomes a whirlpool of conflicting energies with disastrous effects upon the intestinal tract, upon the liver and upon the other organs found below the diaphragm. The mystic, as is well known, is often dyspeptic and this is not always caused by wrong eating and wrong physical habits. It is brought about in many cases by the processes of transference which are going on.

đời sống nội tại của con người trở thành một xoáy nước của các năng lượng xung đột, với những hậu quả tai hại đối với đường ruột, gan và các cơ quan khác nằm dưới cơ hoành. Như ai cũng biết, nhà thần bí thường bị chứng khó tiêu, và điều này không phải lúc nào cũng do ăn uống sai lầm và các thói quen hồng trần sai lầm gây ra. Trong nhiều trường hợp, nó được tạo nên bởi các tiến trình chuyển dịch đang diễn ra.

One of the difficulties which tend also to increase the strain is the inability of the average mystic to divorce his mind from his physical condition. Energy inevitably follows thought and where a distressed area is found, there the mind seems to throw all its attention, with the result that the situation is not bettered but surely and steadily made worse. The best mental rule of all mystics should be to keep the mind definitely above and away from the region where the transference is going on, except in those cases where esoteric methods are being employed to force the process, to hasten and facilitate the processes of elevation. Then (under right direction and guidance plus a knowledge of the rules) the mystic can work with the centre in the spine which is concerned. This academic technique, I will endeavor to indicate in a later Instruction, but I want first of all to deal with the psychic difficulties of the mystic, for both the psychic and physical difficulties arise from the same basic cause and can be offset and controlled by the same correct occult and psychological knowledge.

Một trong những khó khăn cũng có khuynh hướng làm gia tăng căng thẳng là sự bất lực của nhà thần bí trung bình trong việc tách rời trí tuệ của mình khỏi tình trạng hồng trần của mình. Năng lượng tất yếu đi theo tư tưởng, và nơi nào có một vùng đau khổ, thì ở đó trí tuệ dường như dồn toàn bộ sự chú ý của nó vào, với kết quả là tình hình không được cải thiện mà chắc chắn và đều đặn trở nên tệ hơn. Quy luật trí tuệ tốt nhất cho mọi nhà thần bí phải là giữ trí tuệ dứt khoát ở phía trên và tránh xa vùng mà sự chuyển dịch đang diễn ra, ngoại trừ trong những trường hợp các phương pháp nội môn đang được dùng để cưỡng bức tiến trình, để thúc đẩy và làm dễ dàng các tiến trình nâng lên. Khi đó (dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn đúng đắn cùng với tri thức về các quy luật), nhà thần bí có thể làm việc với trung tâm trong cột sống có liên quan. Kỹ thuật có tính học thuật này, tôi sẽ cố gắng chỉ ra trong một Chỉ Huấn sau, nhưng trước hết tôi muốn đề cập đến những khó khăn thông linh của nhà thần bí, vì cả những khó khăn thông linh lẫn hồng trần đều phát sinh từ cùng một nguyên nhân căn bản và có thể được hóa giải và kiểm soát bằng cùng một tri thức huyền bí học và tâm lý học đúng đắn.

The ills with which we are dealing are, therefore, the result of a large number of causes and it might be of service if I [547] listed them here, reminding you that the centres up the spinal column and in the head govern definite areas in the body. These are affected and controlled by the centres and it is in these regions that one must look for indications of trouble.

Vì vậy, những chứng bệnh mà chúng ta đang đề cập đến là kết quả của một số lượng lớn nguyên nhân, và sẽ có ích nếu tôi [547] liệt kê chúng ở đây, đồng thời nhắc các bạn rằng các trung tâm dọc cột sống và trong đầu chi phối những vùng xác định trong thể. Các vùng này bị các trung tâm tác động và kiểm soát, và chính ở những vùng ấy người ta phải tìm các dấu hiệu của rắc rối.

Speaking generally, diseases fall into five major categories and it is only with the last of them that we are here occupied. These five groupings of disease are:

Nói chung, bệnh tật thuộc vào năm loại chính, và chỉ với loại cuối cùng trong số đó mà ở đây chúng ta quan tâm. Năm nhóm bệnh này là:

1. Hereditary diseases:

1. Bệnh di truyền:

a. Inherent in the planet itself and having a definite effect upon humanity, through contact with the soil and water.

a. Vốn có trong chính hành tinh và có ảnh hưởng xác định lên nhân loại, qua sự tiếp xúc với đất và nước.

b. Developed during past ages in mankind itself and handed on from generation to generation.

b. Được phát triển trong các thời đại quá khứ nơi chính nhân loại và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

c. Characteristic of some particular family and inherited by the member of this family as part of his chosen karma. Souls come into certain families because of this opportunity.

c. Đặc trưng của một gia đình cụ thể nào đó và được thành viên của gia đình này thừa hưởng như một phần của nghiệp quả đã chọn của y. Các linh hồn đi vào một số gia đình nhất định vì cơ hội này.

2. Diseases invoked by tendencies in the man himself. These are governed by his astrological sign—either his sun sign or his rising sign and will be considered later.

2. Các bệnh được khơi lên bởi những khuynh hướng trong chính con người. Chúng được chi phối bởi dấu hiệu hoàng đạo của y—hoặc dấu hiệu mặt trời của y hoặc dấu hiệu mọc của y—và sẽ được xét sau.

3. Contagious diseases (epidemic or endemic) which are of group origin and involve the man as a part of his group karma, but are quite frequently unrelated to his personal karma.

3. Các bệnh truyền nhiễm (dịch bệnh hay bệnh địa phương) có nguồn gốc nhóm và lôi kéo con người vào như một phần của nghiệp quả nhóm của y, nhưng khá thường xuyên lại không liên hệ với nghiệp quả cá nhân của y.

4. Acquired diseases and accidents which are the result of injudicious action or unwise habits in this life and definitely condition his future karma. One interesting point in connection with accidents might here be made. Accidents are frequently caused by what might be regarded as “explosions of force”. These are generated by a man or by a group of human beings through hatred or [548] jealousy or vindictiveness, which qualities react or are “turned back” upon the individual life like a boomerang.

4. Các bệnh mắc phải và tai nạn là kết quả của hành động thiếu thận trọng hay những thói quen không khôn ngoan trong kiếp này và rõ ràng tác động lên nghiệp quả tương lai của y. Ở đây có thể nêu ra một điểm thú vị liên quan đến tai nạn. Tai nạn thường do điều có thể được xem là “những vụ nổ mãnh lực” gây ra. Chúng được tạo ra bởi một người hay bởi một nhóm người qua hận thù hay [548] ghen tị hay ác ý, những phẩm tính này phản ứng hoặc bị “dội ngược” lại lên đời sống cá nhân như một chiếc boomerang.

5. The diseases of mystics with which we are at this time concerned. Speaking generally, these are caused by the energy of an awakened and active lower centre being transferred into a higher one. This is done in three stages and each stage brings its own physiological difficulties:

5. Các bệnh của nhà thần bí mà hiện nay chúng ta đang quan tâm. Nói chung, chúng do năng lượng của một trung tâm thấp đã thức tỉnh và hoạt động được chuyển dịch vào một trung tâm cao hơn. Điều này được thực hiện trong ba giai đoạn và mỗi giai đoạn mang đến những khó khăn sinh lý riêng của nó:

a. The stage wherein the energy of the lower centre becomes intensely active prior to rising upward. This will produce over-activity of the organs in the physical area governed by the centre, with consequent congestion, inflammation, and usually disease.

a. Giai đoạn trong đó năng lượng của trung tâm thấp trở nên hoạt động mãnh liệt trước khi dâng lên trên. Điều này sẽ tạo ra sự hoạt động quá mức của các cơ quan trong vùng hồng trần do trung tâm ấy chi phối, với hậu quả là sung huyết, viêm nhiễm, và thường là bệnh tật.

b. The stage wherein the “processes of elevation” are taking place, producing intense activity in the higher centre and a lessening of activity in the lower. A fluid period intervenes in which the forces swing back and forth between the two centres, accounting for the uneven life of the mystic in the earlier stages of his unfoldment. This is particularly the case in connection with the solar plexus. The energy is rejected at first by the higher centre and is then reabsorbed into the lower only to be elevated again and again until the higher centre can absorb and transmute it.

b. Giai đoạn trong đó “các tiến trình nâng lên” đang diễn ra, tạo ra hoạt động mãnh liệt trong trung tâm cao hơn và sự giảm bớt hoạt động trong trung tâm thấp hơn. Xen vào là một thời kỳ linh động trong đó các mãnh lực dao động qua lại giữa hai trung tâm, giải thích cho đời sống không đồng đều của nhà thần bí trong các giai đoạn đầu của sự khai mở của y. Điều này đặc biệt đúng trong liên hệ với tùng thái dương. Ban đầu năng lượng bị trung tâm cao hơn khước từ, rồi lại được tái hấp thu vào trung tâm thấp hơn chỉ để lại được nâng lên hết lần này đến lần khác cho đến khi trung tâm cao hơn có thể hấp thu và chuyển hoá nó.

c. The stage wherein the energy is raised definitely into the higher centre. This leads to a difficult period of adjustment and of tension, again producing physical ills but, this time, in the area controlled by the higher centre.

c. Giai đoạn trong đó năng lượng được nâng hẳn vào trung tâm cao hơn. Điều này dẫn đến một thời kỳ khó khăn của sự điều chỉnh và căng thẳng, lại tạo ra các chứng bệnh hồng trần nhưng lần này ở vùng do trung tâm cao hơn kiểm soát.

When, for instance, the sacral energy is raised to the solar plexus, there will be found many ailments involving, as noted before, the intestinal tract. When the energy of the lesser centres which are found below the diaphragm (but not up the [549] spine) are raised to the solar plexus centre, trouble involving the gall bladder and the kidneys will often be found. Occultly speaking, any process of elevation or of “raising up” automatically involves death. This death affects the atoms in the organs involved and causes the preliminary stages of ill-health, disease and disruption, because death is nothing but a disruption and a removal of energy. When the science of the transference of energy from a lower centre to a higher is understood, then light will be thrown upon the entire problem of dying and the true Science of Death will come into being, liberating the race from fear.

Chẳng hạn, khi năng lượng xương cùng được nâng lên tùng thái dương, sẽ thấy nhiều bệnh tật liên quan, như đã lưu ý trước đây, đến đường ruột. Khi năng lượng của các trung tâm nhỏ hơn nằm dưới cơ hoành (nhưng không nằm dọc [549] cột sống) được nâng lên trung tâm tùng thái dương, thường sẽ thấy rắc rối liên quan đến túi mật và thận. Nói theo huyền bí học, bất kỳ tiến trình nâng lên hay “đưa lên cao” nào cũng tự động bao hàm cái chết. Cái chết này tác động đến các nguyên tử trong những cơ quan có liên quan và gây ra các giai đoạn sơ khởi của sức khoẻ kém, bệnh tật và sự tan rã, bởi vì cái chết chỉ là sự tan rã và sự rút năng lượng đi mà thôi. Khi khoa học về sự chuyển dịch năng lượng từ một trung tâm thấp lên một trung tâm cao được thấu hiểu, thì ánh sáng sẽ được rọi vào toàn bộ vấn đề của sự chết và Khoa Học Chân Chính về Cái Chết sẽ xuất hiện, giải phóng nhân loại khỏi sợ hãi.

Students would do well at this stage to pause and consider the following points with care:

Ở giai đoạn này, các đạo sinh nên dừng lại và suy xét cẩn thận những điểm sau:

1. Which are the areas controlled by the five centres up the spine and the two centres in the head.

1. Những vùng nào được năm trung tâm dọc cột sống và hai trung tâm trong đầu kiểm soát.

2. The three major points of transference:—the solar plexus, the throat centre and the ajna centre in the head. The heart centre and the highest head centre, as points of transference, only concern the initiate.

2. Ba điểm chuyển dịch chính:—tùng thái dương, trung tâm cổ họng và ajna trong đầu. Trung tâm tim và trung tâm đầu cao nhất, với tư cách là các điểm chuyển dịch, chỉ liên quan đến điểm đạo đồ.

3. The fluidic and changeable condition produced by the processes of awakening, transference and the focussing of the energy in the higher centre. These three major activities are conditioned by the intermediate stages of:

3. Tình trạng linh động và biến đổi được tạo ra bởi các tiến trình thức tỉnh, chuyển dịch và tập trung năng lượng trong trung tâm cao hơn. Ba hoạt động chính này được tác động bởi các giai đoạn trung gian của:

a. The active radiation of the lower centre.

a. Sự phát xạ tích cực của trung tâm thấp.

b. The responsiveness of the lower centre to the magnetic pull of the higher.

b. Sự đáp ứng của trung tâm thấp đối với sức hút từ tính của trung tâm cao.

c. The succeeding interplay between the higher and the lower centres, conditioned at first by a rhythmic repulsion and attraction. This is a reflection of the play of the dualities in the career of the human being.

c. Sự tương tác tiếp theo giữa các trung tâm cao và thấp, lúc đầu được tác động bởi một nhịp điệu đẩy ra và hút vào. Đây là sự phản chiếu của sự vận hành của các cặp đối cực trong cuộc đời của con người.

d. This is followed by a concentration of the lower energy in the higher centre.

d. Tiếp theo là sự tập trung năng lượng thấp trong trung tâm cao.

[550]

[550]

e. Then comes the control of the lower centre or centres by the higher focal points of energy and their rhythmic interplay.

e. Rồi đến sự kiểm soát trung tâm hay các trung tâm thấp bởi các tiêu điểm năng lượng cao hơn và sự tương tác nhịp nhàng của chúng.

Between all these different stages come “points of crisis” of greater or lesser moment. This intense interior activity which is going on all the time in the subjective life of humanity produces both good and bad effects, and psychological as well as physiological reactions. Today, the mass transference of the forces of the sacral centre into that of the solar plexus is responsible for many of the modern and physical disabilities of the race. Because also of the slow removal on a racial scale of the sacral force to the solar plexus there is eventuating a condition which is called sometimes “race suicide”, necessitating the efforts of many of the different governments to offset the rapidly falling birth rate in their countries.

Giữa tất cả những giai đoạn khác nhau này xuất hiện những “điểm khủng hoảng” lớn nhỏ khác nhau. Hoạt động nội tại mãnh liệt này, vốn luôn diễn ra trong đời sống chủ quan của nhân loại, tạo ra cả hiệu quả tốt lẫn xấu, và các phản ứng tâm lý cũng như sinh lý. Ngày nay, sự chuyển dịch tập thể các mãnh lực của trung tâm xương cùng vào tùng thái dương chịu trách nhiệm cho nhiều khuyết tật hiện đại và hồng trần của nhân loại. Cũng bởi sự di chuyển chậm chạp trên quy mô chủng tộc của mãnh lực xương cùng lên tùng thái dương mà đang phát sinh một tình trạng đôi khi được gọi là “tự sát chủng tộc”, khiến nhiều chính phủ khác nhau phải nỗ lực hóa giải tỷ lệ sinh đang giảm nhanh trong các quốc gia của họ.

The above summation of the threefold activity which is going on in the human body all the time will give some idea of the strain under which the individual man labours, and will account, therefore, for much of the discomfort and disease found in those areas in the human body which are governed and controlled by a particular centre. I would like to add the following points to the information given above:

Bản tổng kết trên về hoạt động tam phân luôn diễn ra trong thể người sẽ cho một ý niệm nào đó về sự căng thẳng mà cá nhân con người phải chịu đựng, và do đó sẽ giải thích phần lớn sự khó chịu và bệnh tật được thấy trong những vùng của thể người do một trung tâm cụ thể chi phối và kiểm soát. Tôi muốn bổ sung những điểm sau vào thông tin đã nêu trên:

1. The intense activity of the sacral centre will often produce diseases and physiological abnormalities, connected with the organs of reproduction (both male and female). These difficulties are of two kinds:

1. Hoạt động mãnh liệt của trung tâm xương cùng thường sẽ tạo ra bệnh tật và những bất thường sinh lý liên quan đến các cơ quan sinh sản (cả nam lẫn nữ). Những khó khăn này có hai loại:

a. Those to which normal humanity is prone and which are well known to the physician, surgeon and psychologist.

a. Những loại mà nhân loại bình thường dễ mắc phải và vốn đã được thầy thuốc, nhà giải phẫu và nhà tâm lý học biết rõ.

b. Those which are the result of over-stimulation, through the successful effort of the mystic to bring in energy [551] from the higher centres and from sources outside the human frame altogether.

b. Những loại là kết quả của sự kích thích quá mức, do nỗ lực thành công của nhà thần bí nhằm đưa năng lượng [551] từ các trung tâm cao hơn và từ những nguồn hoàn toàn ở ngoài khung thể người vào.

2. In all cases of transference, the intense activity produced will cause all kinds of tensions and reactions, resulting in congestions, inflammations and diseases of the organs vitalised. This is particularly the case today in relation to the sacral and solar plexus centres. The glands—major and minor, endocrine and lymphatic—in the abdominal area are powerfully affected and through their hypersensitivity or their “deficiency through abstraction” (as it is esoterically called) they constitute a fruitful source of difficulty.

2. Trong mọi trường hợp chuyển dịch, hoạt động mãnh liệt được tạo ra sẽ gây nên đủ loại căng thẳng và phản ứng, dẫn đến sung huyết, viêm nhiễm và bệnh tật của các cơ quan được tiếp sinh lực. Điều này đặc biệt đúng ngày nay trong liên hệ với các trung tâm xương cùng và tùng thái dương. Các tuyến—lớn và nhỏ, nội tiết và bạch huyết—trong vùng bụng bị tác động mạnh mẽ, và qua sự quá nhạy cảm của chúng hoặc “sự thiếu hụt do rút bỏ” của chúng (như cách gọi nội môn), chúng tạo thành một nguồn khó khăn phong phú.

3. The activity of the solar plexus centre at this time, which is a result of this transference, produces the abnormal tension which characterises the race. This tension, with the average man, controls the intestinal tract and its connections, both above and below the diaphragm. With the advanced man, it produces tension in the higher centres, definitely affecting the heart and the vagus nerve. It should be pointed out that many of the diseases inherent in the racial form to which planetary disease predisposes the human being are brought into activity as the result of the stimulation of the solar plexus. As humanity becomes less astral in its consciousness and the solar plexus, therefore, becomes less active and less dominating, these forms of difficulty will die out. As the heart centres and the higher centres assume control, such diseases as cancer, tuberculosis and the various syphilitic complaints (due to the age old activity of the sacral centre) will gradually die out.

3. Hoạt động của trung tâm tùng thái dương vào lúc này, vốn là kết quả của sự chuyển dịch này, tạo ra tình trạng căng thẳng bất thường vốn là đặc trưng của nhân loại. Ở người trung bình, sự căng thẳng này chi phối đường ruột và các liên hệ của nó, cả phía trên lẫn phía dưới cơ hoành. Ở người tiến bộ, nó tạo ra sự căng thẳng trong các trung tâm cao hơn, ảnh hưởng rõ rệt đến tim và dây thần kinh phế vị. Cần chỉ ra rằng nhiều bệnh tật vốn có trong hình tướng chủng tộc mà bệnh tật hành tinh khiến con người dễ mắc phải được đưa vào hoạt động do sự kích thích của tùng thái dương. Khi nhân loại trở nên bớt cảm dục hơn trong tâm thức và vì thế tùng thái dương trở nên kém hoạt động hơn và bớt chi phối hơn, các dạng khó khăn này sẽ biến mất. Khi các trung tâm tim và các trung tâm cao hơn nắm quyền kiểm soát, những bệnh như ung thư, lao và các chứng bệnh giang mai khác nhau (do hoạt động từ thời xa xưa của trung tâm xương cùng) sẽ dần dần biến mất.

4. The activity of the heart centre as it

4. Hoạt động của trung tâm tim khi nó

a. Magnetically attracts the energies out of the solar plexus,

a. Thu hút một cách từ tính các năng lượng ra khỏi tùng thái dương,

[552]

[552]

b. Becomes involved in a reciprocal interplay with the solar plexus,

b. Bị cuốn vào một sự tương tác hỗ tương với tùng thái dương,

is a fruitful source of nervous trouble to the mystic and advanced

là một nguồn gốc phong phú gây ra rối loạn thần kinh cho nhà thần bí và người chí nguyện tiến bộ.

aspirant. The heart centre powerfully affects the vagus nerve and the autonomic nervous system with all that that involves and we are only today beginning to understand and deal with these difficulties. Clarification will come once the premise of the existence of the centres and their three “activities of interplay” are admitted—even if only as a possible hypothesis. The little understood thymus gland holds the key to much that concerns the activity and control of the vagus nerve—a fact not yet generally recognised. Later, a carefully controlled process with the object of stimulating the thymus gland and its secretion will be worked out by the medical profession, leading to a much better functioning of the nervous system and of the vagus nerve which controls it. I can but hint at possibilities at present because the basic premise of the existence of the centres of force is not yet recognised. It is interesting to note, however, that the solar plexus (as a great nerve centre) is recognised and this is due to the fact that the bulk of humanity is, at this time, transferring force to that centre. It is, for the masses, the major recipient of forces, both from below the diaphragm, from above, and from the environment.

Trung tâm tim tác động mạnh mẽ đến dây thần kinh phế vị và hệ thần kinh tự động cùng với mọi điều mà việc đó kéo theo, và chỉ ngày nay chúng ta mới bắt đầu thấu hiểu và đề cập đến những khó khăn này. Sự làm sáng tỏ sẽ đến một khi tiền đề về sự hiện hữu của các trung tâm và ba “hoạt động tương tác” của chúng được thừa nhận—dù chỉ như một giả thuyết khả hữu. Tuyến ức, vốn ít được hiểu rõ, nắm giữ chìa khóa cho nhiều điều liên quan đến hoạt động và sự kiểm soát của dây thần kinh phế vị—một sự kiện chưa được nhìn nhận rộng rãi. Về sau, giới y khoa sẽ xây dựng một tiến trình được kiểm soát cẩn thận nhằm kích thích tuyến ức và sự tiết xuất của nó, dẫn đến sự vận hành tốt hơn nhiều của hệ thần kinh và của dây thần kinh phế vị vốn kiểm soát hệ này. Hiện nay tôi chỉ có thể gợi ý về các khả năng, vì tiền đề căn bản về sự hiện hữu của các trung tâm mãnh lực vẫn chưa được công nhận. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là tùng thái dương (với tư cách một trung tâm thần kinh lớn) đã được công nhận, và điều này là do phần lớn nhân loại hiện đang chuyển dịch mãnh lực đến trung tâm đó. Đối với quần chúng, đó là nơi tiếp nhận chính của các mãnh lực, từ phía dưới cơ hoành, từ phía trên, và từ môi trường.

5. The activity of the throat centre is steadily increasing today, owing to the creative activity and the inventive genius (which brings in the higher stimulation) and the idealistic conceptions of the intelligentsia of the world. This activity is responsible physiologically for many of the diseases of the respiratory tract. Energy is carried to the throat but is not adequately used and there is a consequent [553] congestion and similar consequences. But, curiously enough, a great many of the difficulties connected with the entire breathing apparatus are related to group conditions. These I will touch upon later. Today, the concentration of energy is producing serious effects upon that master gland, the thyroid gland. These effects disturb the balance of the physical body and involve also the parathyroid glands. The metabolism of the body is upset bringing attendant difficulties. The race is advancing so rapidly in its development that this centre will soon compete with the solar plexus centre for the position of being the most important centre and the major clearing house in the human body. I would commend this statement to your careful consideration for it carries with it much of encouragement. It indicates, nevertheless, much physiological change and many problems and above everything else much psychological difficulty.

5. Hoạt động của trung tâm cổ họng ngày nay đang gia tăng đều đặn, do hoạt động sáng tạo và thiên tài phát minh (điều mang lại sự kích thích cao hơn) cùng các quan niệm duy tâm của giới trí thức thế giới. Về mặt sinh lý, hoạt động này chịu trách nhiệm cho nhiều bệnh của đường hô hấp. Năng lượng được chuyển đến cổ họng nhưng không được sử dụng đầy đủ, và hậu quả là [553] sự tắc nghẽn cùng những hệ quả tương tự. Nhưng lạ thay, rất nhiều khó khăn liên quan đến toàn bộ bộ máy hô hấp lại có liên hệ với các điều kiện nhóm. Tôi sẽ đề cập đến những điều này sau. Ngày nay, sự tập trung năng lượng đang tạo ra những ảnh hưởng nghiêm trọng lên tuyến chủ đạo ấy, tuyến giáp trạng. Những ảnh hưởng này làm xáo trộn sự quân bình của thể xác và cũng liên can đến các tuyến cận giáp. Sự chuyển hóa của cơ thể bị rối loạn, kéo theo những khó khăn đi kèm. Nhân loại đang tiến rất nhanh trong sự phát triển của mình đến mức trung tâm này chẳng bao lâu nữa sẽ cạnh tranh với trung tâm tùng thái dương để giữ vị trí là trung tâm quan trọng nhất và là trạm phân phối chính trong cơ thể con người. Tôi khuyến nghị các bạn suy xét cẩn thận phát biểu này vì nó mang theo nhiều điều khích lệ. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy nhiều thay đổi sinh lý, nhiều vấn đề, và trên hết là rất nhiều khó khăn tâm lý.

6. The activity of the ajna centre will increase a great deal during the coming century, bringing with it its own attendant problems. Its close relation to the pituitary body and the growing interplay between

6. Hoạt động của trung tâm ajna sẽ gia tăng rất nhiều trong thế kỷ tới, mang theo những vấn đề riêng của nó. Mối liên hệ mật thiết của nó với tuyến yên và sự tương tác ngày càng tăng giữa

a. The ajna centre and the pituitary body

a. trung tâm ajna và tuyến yên

b. The centre at the top of the head (involving the pineal gland) and the ajna centre

b. trung tâm ở đỉnh đầu (liên quan đến tuyến tùng) và trung tâm ajna

will produce serious problems connected with the brain and the eyes. The ajna centre focusses the abstracted energy of the five centres up the spine and is the seat of personality power. According to the use made of that power and according to the direction of the force sent forth throughout the body by the directed, integrated personality, so will the organs of the body be affected. The solar plexus can be stimulated from that centre with [554] disastrous effects; the heart centre can be swept into undue activity by the imposition of personality force, and its energy deflected downwards in a focussed selfish manner; the solar plexus can be so over-vitalised that all the forces of the personality can be turned downwards and subverted to purely selfish and separative ends, thus producing a powerful personality, but—at the same time—the temporary suspension of the spiritual life of the man. When this suspension takes place, all the forces of the body which have been “elevated” are driven downwards again, putting the man en rapport with the rank and file of humanity who are working through the lower centres; this tends to produce an immense personality success. It is interesting to note that when this takes place, the energies—concentrated in the ajna centre—sweep down into the solar plexus or into the sacral centre, and seldom to the heart centre. The heart centre has a power all its own to produce what is called “occult isolation”, because it is the seat of the life principle. The throat centre receives stimulation in this case but seldom to the point of difficulty. The man is a powerful creative thinker, selfishly polarised and with an emotional solar plexus contact with the masses. He frequently also has a strong sexual complex in some form or another.

sẽ tạo ra những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến não bộ và mắt. Trung tâm ajna tập trung năng lượng được rút ra từ năm trung tâm dọc theo cột sống và là chỗ ngự của quyền lực phàm ngã. Tùy theo cách quyền lực đó được sử dụng và tùy theo hướng của mãnh lực được phóng ra khắp cơ thể bởi phàm ngã tích hợp, được định hướng, mà các cơ quan của cơ thể sẽ bị ảnh hưởng. Từ trung tâm đó, tùng thái dương có thể bị kích thích với [554] những hậu quả tai hại; trung tâm tim có thể bị cuốn vào hoạt động quá mức do sự áp đặt của mãnh lực phàm ngã, và năng lượng của nó bị chuyển hướng xuống dưới theo cách tập trung ích kỷ; tùng thái dương có thể bị tiếp sinh lực quá mức đến nỗi mọi mãnh lực của phàm ngã đều có thể bị kéo xuống dưới và bị làm lệch sang những mục đích hoàn toàn ích kỷ và chia rẽ, nhờ đó tạo ra một phàm ngã mạnh mẽ, nhưng—đồng thời—lại tạm thời đình chỉ đời sống tinh thần của con người. Khi sự đình chỉ này xảy ra, mọi mãnh lực của cơ thể vốn đã được “nâng lên” lại bị đẩy xuống dưới, đặt con người vào sự tương thông với hàng ngũ đông đảo của nhân loại đang hoạt động qua các trung tâm thấp; điều này có khuynh hướng tạo ra một thành công phàm ngã to lớn. Điều đáng lưu ý là khi điều này xảy ra, các năng lượng—được tập trung trong trung tâm ajna—tràn xuống tùng thái dương hoặc xuống trung tâm xương cùng, và hiếm khi xuống trung tâm tim. Trung tâm tim có một quyền năng riêng để tạo ra điều được gọi là “sự cô lập huyền bí”, vì nó là chỗ ngự của nguyên khí sự sống. Trong trường hợp này, trung tâm cổ họng nhận được sự kích thích nhưng hiếm khi đến mức gây khó khăn. Con người ấy là một nhà tư tưởng sáng tạo mạnh mẽ, phân cực một cách ích kỷ và có sự tiếp xúc cảm xúc qua tùng thái dương với quần chúng. Y cũng thường có một phức cảm tính dục mạnh mẽ dưới hình thức này hay hình thức khác.

7. The activity of the head centre is as yet little known and there is little that I can profitably say about it, for I would not be credited with speaking the truth. This centre is the central factor in human life, but the focalisation of the lower and the higher bodily forces is not yet located there. Beyond producing hyper-tension (becoming so prevalent today among the more advanced people of the world) and certain forms of brain trouble and nervous disorders, its power is mostly seen in its pronounced [555] psychological effects. With these I shall proceed to deal as we consider the unfoldment of the psychic powers, the evolution of the mystical vision and the revelation of the light and of power. This centre controls the pineal gland and consequently certain areas of the brain. Indirectly also, the vagus nerve is affected. Consciousness and life, sensitivity and directed purpose are the great energies which express themselves through this centre, for consciousness is a form of energy, as well you know, and life is energy itself.

7. Hoạt động của trung tâm đầu cho đến nay vẫn còn ít được biết đến và tôi không thể nói gì nhiều một cách hữu ích về nó, vì tôi sẽ không được tin là đang nói sự thật. Trung tâm này là yếu tố trung tâm trong đời sống con người, nhưng sự tập trung của các mãnh lực thể xác thấp và cao vẫn chưa được định vị ở đó. Ngoài việc tạo ra tình trạng siêu căng thẳng (đang trở nên rất phổ biến ngày nay nơi những người tiến bộ hơn trên thế giới) và một số dạng bệnh não cùng rối loạn thần kinh, quyền năng của nó phần lớn được thấy trong những ảnh hưởng tâm lý [555] rõ rệt của nó. Tôi sẽ tiếp tục đề cập đến những điều này khi chúng ta xem xét sự khai mở của các năng lực thông linh, sự tiến hóa của linh ảnh thần bí và sự mặc khải của ánh sáng và quyền năng. Trung tâm này kiểm soát tuyến tùng và do đó kiểm soát một số vùng của não bộ. Gián tiếp, dây thần kinh phế vị cũng bị ảnh hưởng. Tâm thức và sự sống, tính nhạy cảm và mục đích được định hướng là những năng lượng lớn biểu lộ qua trung tâm này, vì tâm thức là một dạng năng lượng, như các bạn đều biết rõ, và sự sống chính là năng lượng.

b. UNFOLDMENT OF THE PSYCHIC POWERS—SỰ KHAI MỞ CÁC NĂNG LỰC THÔNG LINH

The forces which are responsible for the awakening of the centres are many. The primary one is the force of evolution itself, plus the inherent or innate forward-pressing urge towards greater inclusiveness which is always found in every individual being. This secondary aspect of the evolutionary principle needs careful elaborating. We have for too long been occupied with the effort to develop the form side of nature so that it shall become increasingly sensitive to its environment and thus build an ever improving mechanism. But the twofold idea (should I say Fact, for such it is?) of the development of an increasing capacity to include and the fact of the existence of the one interior factor, the Self, which brings about this steady development, needs emphasising. From the standpoint of the occult student, there are three ideas which lie behind this belief:

Các mãnh lực chịu trách nhiệm cho sự thức tỉnh của các trung tâm thì rất nhiều. Mãnh lực chủ yếu là chính mãnh lực tiến hoá, cộng với sự thôi thúc bẩm sinh hay cố hữu hướng tới tính bao gồm lớn hơn, vốn luôn luôn được tìm thấy trong mọi cá thể. Phương diện thứ yếu này của nguyên lý tiến hoá cần được khai triển cẩn thận. Đã quá lâu chúng ta bận tâm với nỗ lực phát triển mặt hình tướng của bản chất để nó ngày càng trở nên nhạy cảm hơn với môi trường và nhờ đó xây dựng một bộ máy ngày càng được cải thiện. Nhưng ý tưởng nhị phân (hay tôi nên nói là Sự kiện, vì đúng là như vậy?) về sự phát triển của một năng lực bao gồm ngày càng tăng và sự kiện về sự hiện hữu của một yếu tố nội tại duy nhất, Bản Ngã, vốn mang lại sự phát triển đều đặn này, cần được nhấn mạnh. Theo quan điểm của đạo sinh huyền bí học, có ba ý tưởng nằm sau niềm tin này:

1. The fact of the Indweller, the Entity within the form who looks on at life as it unfolds, who develops awareness of the environment and who becomes inclusive—eventually to the point of synthesis.

1. Sự kiện về Đấng Nội Tại, Thực Thể bên trong hình tướng, Đấng quan sát đời sống khi nó khai mở, Đấng phát triển sự nhận biết về môi trường và Đấng trở nên bao gồm—cuối cùng đến mức tổng hợp.

2. The fact of the inherent ability (found in all forms of life [556] in all kingdoms) to progress towards this greater inclusiveness, passing from kingdom to kingdom in this unfolding process.

2. Sự kiện về khả năng cố hữu (được tìm thấy trong mọi hình tướng sự sống [556] trong mọi giới) để tiến tới tính bao gồm lớn hơn này, đi từ giới này sang giới khác trong tiến trình khai mở ấy.

3. The fact that humanity constitutes a central point from which this inclusiveness can be consciously developed. Hitherto, the development has been natural, normal and part of the evolutionary urge. This it still remains, but the process can be hastened (and frequently is) as man gains control of his mental processes and begins to work (as the conscious Indweller) towards appointed ends.

3. Sự kiện rằng nhân loại tạo thành một điểm trung tâm mà từ đó tính bao gồm này có thể được phát triển một cách hữu thức. Cho đến nay, sự phát triển này là tự nhiên, bình thường và là một phần của sự thôi thúc tiến hoá. Điều đó vẫn đúng như vậy, nhưng tiến trình có thể được thúc đẩy nhanh hơn (và thường là như thế) khi con người giành được quyền kiểm soát các tiến trình trí tuệ của mình và bắt đầu hoạt động (với tư cách Đấng Nội Tại hữu thức) hướng tới những mục đích đã được chỉ định.

I wanted to make these points adequately clear because they have a definite bearing on our theme which concerns the psychic difficulties of modern man. These difficulties are rapidly growing and are causing much distress among those who believe that the development of the lower psychic powers is a hindrance to true spiritual development. Certain mystics regard these powers as indications of divine grace, however, and as guarantees of the reality of their endeavour. Others regard them as signifying a definite “fall from grace”. It seems to me, therefore, that an analysis of these powers, their correct placing upon the path of development, and a comprehension of the distinction between the higher and the lower powers will be of real value and will enable students in the future to proceed with a greater surety and knowledge. They will thus be more accurately sure of the nature of the contacts of which they become aware and of the means whereby these contacts are approached and gained.

Tôi muốn làm cho những điểm này đủ rõ ràng vì chúng có liên hệ xác định với chủ đề của chúng ta, vốn liên quan đến những khó khăn thông linh của con người hiện đại. Những khó khăn này đang gia tăng nhanh chóng và gây nhiều đau khổ cho những ai tin rằng sự phát triển các năng lực thông linh thấp là một chướng ngại đối với sự phát triển tinh thần chân chính. Tuy nhiên, một số nhà thần bí xem các năng lực này là dấu hiệu của ân sủng thiêng liêng và là bảo chứng cho tính chân thực của nỗ lực của họ. Những người khác lại xem chúng như biểu thị một “sự sa ngã khỏi ân sủng” rõ rệt. Vì vậy, dường như với tôi, một sự phân tích các năng lực này, việc đặt chúng đúng chỗ trên con đường phát triển, và sự thấu hiểu sự khác biệt giữa các năng lực cao và thấp sẽ có giá trị thực sự và sẽ giúp các đạo sinh trong tương lai tiến bước với sự vững chắc và hiểu biết lớn hơn. Nhờ đó họ sẽ xác tín chính xác hơn về bản chất của những tiếp xúc mà họ nhận biết được và về những phương tiện nhờ đó các tiếp xúc này được tiếp cận và đạt tới.

The major idea which I would have you bear in mind is the development of Inclusiveness. This inclusiveness is the outstanding characteristic of the soul, or self, whether it is the soul of man, the sensitive nature of the cosmic Christ, or the anima mundi, the soul of the world. This inclusiveness tends [557] to synthesis. It can already be seen functioning at a definite point of fulfillment in man, because man includes in his nature all the gains of past evolutionary cycles (in other kingdoms in nature and in previous human cycles), plus the potentiality of a greater future inclusiveness. Man is the macrocosm of the microcosm; the gains and peculiar properties of the other kingdoms in nature are his, having been resolved into capacities of consciousness. He is, however, enveloped in and part of a still greater macrocosm, and of this greater whole he must become increasingly aware. Let this word, Inclusiveness, govern your thinking as you read this instruction which I am giving you upon the psychic powers and their effect.

Ý tưởng chính mà tôi muốn các bạn ghi nhớ là sự phát triển của tính bao gồm. Tính bao gồm này là đặc tính nổi bật của linh hồn, hay bản ngã, dù đó là linh hồn của con người, bản chất nhạy cảm của Đức Christ vũ trụ, hay anima mundi, linh hồn của thế giới. Tính bao gồm này có khuynh hướng [557] hướng tới tổng hợp. Nó đã có thể được thấy đang hoạt động ở một điểm thành tựu xác định nơi con người, vì con người bao gồm trong bản chất mình mọi thành quả của các chu kỳ tiến hoá quá khứ (trong các giới khác của bản chất và trong các chu kỳ nhân loại trước đây), cộng với tiềm năng của một tính bao gồm lớn hơn trong tương lai. Con người là đại thiên địa của tiểu thiên địa; các thành quả và các đặc tính riêng biệt của những giới khác trong bản chất đều là của con người, vì chúng đã được chuyển giải thành các năng lực của tâm thức. Tuy nhiên, con người được bao bọc trong và là một phần của một đại thiên địa còn lớn hơn nữa, và về toàn thể lớn lao này y phải ngày càng nhận biết nhiều hơn. Hãy để từ này, tính bao gồm, chi phối tư duy của các bạn khi các bạn đọc huấn thị này mà tôi đang trao cho các bạn về các năng lực thông linh và ảnh hưởng của chúng.

The next idea to which I would call your attention is that the human being has the power to be inclusive in many directions, just as a line can be drawn from the point at the centre of the circle to any point upon the periphery. You must remember that for a large part of his career and for the most important part of his human experience, he remains the dramatic actor, holding the centre of the stage and in his own eyes playing the star part; he is always conscious of his acting and of the reactions to that acting. When man was little more than an animal, when he was in the state which we have earlier called the Lemurian consciousness and the early Atlantean consciousness, he lived unthinkingly; life unrolled like a panorama before his eyes; he identified himself with the episodes depicted and knew no difference between himself and that which he seemed to be in the unfolding picture. He simply looked on, played his little part, ate, reproduced, reacted to pleasure and to pain, and seldom, if ever, thought or reflected.

Ý tưởng kế tiếp mà tôi muốn lưu ý các bạn là con người có năng lực trở nên bao gồm theo nhiều hướng, cũng như một đường thẳng có thể được vẽ từ điểm ở trung tâm vòng tròn đến bất kỳ điểm nào trên chu vi. Các bạn phải nhớ rằng trong phần lớn sự nghiệp của mình và trong phần quan trọng nhất của kinh nghiệm nhân loại, y vẫn là diễn viên kịch tính, giữ vị trí trung tâm sân khấu và trong mắt mình đóng vai chính; y luôn luôn ý thức về diễn xuất của mình và về những phản ứng đối với diễn xuất ấy. Khi con người chỉ hơn loài vật một chút, khi y ở trong trạng thái mà trước đây chúng ta gọi là tâm thức Lemuria và tâm thức Atlantis sơ kỳ, y sống mà không suy nghĩ; đời sống mở ra như một bức toàn cảnh trước mắt y; y đồng hoá với những tình tiết được phô bày và không biết có sự khác biệt nào giữa mình với điều mà y dường như là trong bức tranh đang khai mở. Y chỉ đơn giản quan sát, đóng vai nhỏ của mình, ăn, sinh sản, phản ứng với khoái lạc và đau đớn, và hiếm khi, nếu có, suy nghĩ hay phản tỉnh.

Then comes the period, familiar to all of us, wherein the man becomes the dramatic center of his universe—living, loving, planning, acting, conscious of his audience and his surroundings, [558] and demonstrating to his fullest capacity the later Atlantean and present Aryan characteristics. He is intelligently aware of his power and of a few of his powers; he is a functioning personality and (because the mind is controlling or beginning to control) the lower animal powers and the Atlantean psychism which have distinguished him begin to fade out. He loses these lower powers and has not yet developed the higher ones. Hence the reaction to be seen on every hand today to such powers as clairvoyance, clairaudience, etc.; hence their wholesale condemnation as fraudulent by the intelligentsia of the world.

Rồi đến giai đoạn quen thuộc với tất cả chúng ta, trong đó con người trở thành trung tâm kịch tính của vũ trụ mình—sống, yêu, hoạch định, hành động, ý thức về khán giả và môi trường xung quanh, [558] và biểu lộ đến mức tối đa các đặc tính Atlantis hậu kỳ và Arya hiện nay. Y nhận biết một cách thông minh về quyền năng của mình và về một vài năng lực của mình; y là một phàm ngã đang hoạt động và (vì trí tuệ đang kiểm soát hoặc bắt đầu kiểm soát) các năng lực động vật thấp và tính thông linh Atlantis vốn từng phân biệt y bắt đầu mờ dần. Y mất đi các năng lực thấp ấy và vẫn chưa phát triển các năng lực cao hơn. Do đó mới có phản ứng đang thấy khắp nơi ngày nay đối với những năng lực như thông nhãn, thông nhĩ, v.v.; do đó mới có sự lên án hàng loạt chúng là giả trá bởi giới trí thức thế giới.

Next comes the mystical stage wherein the advanced human being, the aspirant and the disciple becomes steadily aware of another realm of nature to conquer, the realm of the Kingdom of God, with its own life and phenomena; he registers the existence of other powers which he can develop and use if he so desires and is willing to pay the price; he recognises another and wider sphere of being which he can include in his own consciousness if he permits himself to be conquered by it.

Tiếp theo là giai đoạn thần bí, trong đó con người tiến bộ, người chí nguyện và đệ tử dần dần nhận biết một lĩnh vực khác của bản chất để chinh phục, lĩnh vực của Thiên Giới, với đời sống và hiện tượng riêng của nó; y ghi nhận sự hiện hữu của những năng lực khác mà y có thể phát triển và sử dụng nếu y muốn và sẵn lòng trả giá; y nhận ra một khối cầu hiện hữu khác và rộng lớn hơn mà y có thể bao gồm trong tâm thức của mình nếu y cho phép mình bị nó chinh phục.

The inference then is that there are two sets of powers latent in his human equipment—the lower one being recoverable if he deem it desirable, the other and higher one to be developed. These two sets of powers are:

Do đó, suy ra rằng có hai tập hợp năng lực tiềm tàng trong trang bị nhân loại của y—một tập hợp thấp hơn có thể phục hồi nếu y thấy điều đó là đáng mong muốn, và tập hợp kia, cao hơn, cần được phát triển. Hai tập hợp năng lực này là:

1. The ancient powers and faculties which humanity developed and possessed in past ages and which he drove into the background of his consciousness and below the threshold of his current awareness in order to develop the mind and thus become himself a conqueror and a personality.

1. Những năng lực và khả năng cổ xưa mà nhân loại đã phát triển và sở hữu trong các thời đại quá khứ, và những năng lực ấy y đã đẩy vào hậu cảnh của tâm thức mình và xuống dưới ngưỡng nhận biết hiện tại của mình để phát triển trí tuệ và nhờ đó tự mình trở thành một kẻ chinh phục và một phàm ngã.

2. The higher powers and faculties which are the prerogative of the conscious soul. These are the greater powers to which the Christ referred when He promised His [559] disciples that some day they would do greater things than He had done.

2. Những năng lực và khả năng cao hơn vốn là đặc quyền của linh hồn hữu thức. Đây là những năng lực lớn lao hơn mà Đức Christ đã nói đến khi Ngài hứa với các đệ tử của Ngài rằng một ngày kia họ sẽ làm những việc lớn lao hơn những gì Ngài đã làm.

It should be remembered, however, that all the psychic powers are the powers, faculties and capacities of the One Soul but that, in time and space, some of them are expressions of the animal consciousness or the animal soul, some of the human soul, and some of the divine soul.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng mọi năng lực thông linh đều là những quyền năng, khả năng và năng lực của Linh Hồn Duy Nhất, nhưng trong thời gian và không gian, một số trong đó là biểu hiện của tâm thức động vật hay linh hồn động vật, một số là của linh hồn nhân loại, và một số là của linh hồn thiêng liêng.

The following tabulation of the developing psychic powers as they blend in consciousness three kingdoms in nature may be of service at this point if careful study is made of the inferred relationships:

Bảng liệt kê sau đây về các năng lực thông linh đang phát triển khi chúng hòa trộn trong tâm thức của ba giới trong bản chất có thể hữu ích ở điểm này nếu nghiên cứu cẩn thận các mối liên hệ được hàm ý:

Animal

Human

Divine.

Động vật

Nhân loại

Thiêng liêng.

1. The four major instincts

The five major instincts

The five transmuted instincts.

1. Bốn bản năng chính

Năm bản năng chính

Năm bản năng được chuyển hoá.

a. Self preservation

Creative self-preservation

Immortality.

a. Tự bảo tồn

Tự bảo tồn sáng tạo

Bất tử.

b. Sex

Sex. Human love

Attraction.

b. Tính dục

Tính dục. Tình yêu nhân loại

Hấp dẫn.

c. Herd instinct

Gregariousness

Group consciousness.

c. Bản năng bầy đàn

Tính quần cư

Tâm thức nhóm.

d. Curiosity

Enquiry. Analysis plus Self-assertion

Evolutionary urge. Self-control.

d. Tò mò

Tìm hiểu. Phân tích cộng thêm Tự khẳng định

Khát khao tiến hóa. Tự kiểm soát.

2. The Five senses

The five senses

The five senses.

2. Năm giác quan

Năm giác quan

Năm giác quan.

a. Touch

Touch. Contact

Understanding.

a. Xúc giác

Xúc giác. Tiếp xúc

Thấu hiểu.

b. Hearing

Hearing. Sound

Response to the Word.

b. Thính giác

Thính giác. Âm thanh

Đáp ứng với Linh Từ.

c. Sight

Seeing, Perspective

The mystical vision.

c. Thị giác

Nhìn thấy, Quan điểm

Linh ảnh thần bí.

d. Taste (embryonic)

Taste. Discrimination.

Intuition.

d. Vị giác (phôi thai)

Vị giác. Phân biện.

Trực giác.

e. Smell (acute)

Smell, Emotional idealism

Spiritual discernment.

e. Khứu giác (nhạy bén)

Khứu giác, Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc

Phân biện tinh thần.

3. Lower psychic powers

The human correspondences

Higher psychic powers.

3. Các quyền năng tâm linh thấp

Các tương ứng nhân loại

Các quyền năng tâm linh cao.

a. Clair-voyance

Extension through vision

The mystical vision.

a. Thông nhãn

Mở rộng qua thị giác

Linh ảnh thần bí.

b. Clair-audience

Extension through hearing

Telepathy. Inspiration.

b. Thông nhĩ

Mở rộng qua thính giác

Viễn cảm. Cảm hứng.

c. Mediumship

Intercourse. Speech

Mediatorship.

c. Làm đồng tử

Giao tiếp. Lời nói

Vai trò trung gian.

d. Materialisation

Invention

Creativity.

d. Hiện hình hóa

Phát minh

Sáng tạo.

e. Divination

Foresight. Planning

Prevision.

e. Bói toán

Nhìn xa. Lập kế hoạch

Tiên kiến.

f. Healing through animal magnetism

Healing through science

Healing through spiritual magic.

f. Chữa lành qua từ tính động vật

Chữa lành qua khoa học

Chữa lành qua huyền thuật tinh thần.

[560]

[560]

Extracts from “A Treatise on Cosmic Fire” pp. 188-196

Trích từ “Luận về Lửa Vũ Trụ” trang 188-196

No. 1

Số 1

Microcosmic Sensory Evolution

Sự tiến hoá cảm giác của tiểu thiên địa

Plane

Subplane

Physical

1. Hearing

5th

gaseous

2. Touch, feeling

4th

first etheric

3. Sight

3rd

super-etheric

4. Taste

2nd

sub-atomic

5. Smell

1st

atomic

Astral

1. Clairaudience

5th

2. Psychometry

4th

3. Clairvoyance

3rd

4. Imagination

2nd

5. Emotional idealism

1st

Mental

1. Higher clairaudience

7th Form

2. Planetary psychometry

6th Form

3. Higher.clairvoyance

5th Form

4. Discrimination

4th Form

5. Spiritual discernment

3rd Formless

Response to group vibration

2nd Formless

Spiritual telepathy

1st Formless

Buddhic

1. Comprehension

7th

2. Healing

6th

3. Divine vision

5th

4. Intuition

4th

5. Idealism

3rd

Atmic

1. Beatitude

7th

2. Active service

6th

3. Realisation

5th

4. Perfection

4th

5. All knowledge

3rd

[561]

[561]

It can be noted that we have not summed up the two planes of abstraction on the atmic and the buddhic planes, the reason being that they mark a degree of realisation which is the property of initiates of higher degree than that of the adept, and which is beyond the concept of the evolving human unit, for whom this treatise is written.

Có thể lưu ý rằng chúng ta đã không tổng kết hai cõi trừu tượng trên các cõi atma và Bồ đề, lý do là vì chúng đánh dấu một mức độ chứng nghiệm vốn là sở hữu của các điểm đạo đồ ở cấp độ cao hơn chân sư, và vượt ngoài khái niệm của đơn vị nhân loại đang tiến hoá, là đối tượng mà bộ luận này được viết cho.

We might, here, for the sake of clarity, tabulate the five different aspects of the five senses on the five planes, so that their correspondences may be readily visualised, using the above table as the basis:

Ở đây, vì mục đích làm sáng tỏ, chúng ta có thể lập bảng năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi, để các tương ứng của chúng có thể được hình dung dễ dàng, dùng bảng trên làm cơ sở:

a. The First Sense… Hearing

a. Giác quan thứ nhất… Thính giác

1. Physical hearing.

1. Thính giác hồng trần.

2. Clairaudience.

2. Thông nhĩ.

3. Higher clairaudience.

3. Thông nhĩ cao hơn.

4. Comprehension (of four sounds).

4. Sự thấu hiểu (bốn âm thanh).

5. Beatitude.

5. Chí phúc.

b. The Second Sense… Touch or feeling.

b. Giác quan thứ hai… Xúc giác hay cảm nhận.

1. Physical touch.

1. Xúc giác hồng trần.

2. Psychometry.

2. Thuật trắc tâm.

3. Planetary psychometry.

3. Thuật trắc tâm hành tinh.

4. Healing.

4. Trị liệu.

5. Active service.

5. Phụng sự tích cực.

c. The Third Sense… Sight

c. Giác quan thứ ba… Thị giác

1. Physical sight.

1. Thị giác hồng trần.

2. Clairvoyance.

2. Thông nhãn.

3. Higher clairvoyance.

3. Thông nhãn cao hơn.

4. Divine vision.

4. linh thị thiêng liêng.

5. Realisation.

5. (sự)chứng nghiệm.

d. The Fourth Sense… Taste

d. Giác quan thứ tư… Vị giác

1. Physical taste.

1. Vị giác hồng trần.

2. Imagination.

2. Sự tưởng tượng.

3. Discrimination.

3. Sự phân biện.

4. Intuition.

4. Trực giác.

5. Perfection.

5. Sự toàn hảo.

e. The Fifth Sense… Smell

e. Giác quan thứ năm… Khứu giác

1. Physical smell.

1. Khứu giác hồng trần.

2. Emotional idealism.

2. Chủ nghĩa duy tâm cảm xúc.

3. Spiritual discernment.

3. phân biện tinh thần.

4. Idealism.

4. Chủ nghĩa duy tâm.

5. All knowledge.

5. Mọi tri thức.

[562]

[562]

Extract 2

Trích đoạn 2

Hearing gives him an idea of relative direction, and enables a man to fix his place in the scheme, and to locate himself.

Thính giác cho y một ý niệm về phương hướng tương đối, và giúp con người xác định vị trí của mình trong hệ thống, và định vị chính mình.

Touch gives him an idea of relative quantity and enables him to fix his relative value as regards other bodies, extraneous to himself.

Xúc giác cho y một ý niệm về lượng tương đối và giúp y xác định giá trị tương đối của mình đối với các thể khác ở ngoài y.

Sight gives him an idea of proportion, and enables him to adjust his movements to the movements of others.

Thị giác cho y một ý niệm về tỉ lệ, và giúp y điều chỉnh các vận động của mình theo các vận động của những kẻ khác.

Taste gives him an idea of value, and enables him to fix upon that which to him appears best.

Vị giác cho y một ý niệm về giá trị, và giúp y quyết định điều mà đối với y dường như là tốt nhất.

Smell gives him an idea of innate quality, and enables him to find that which appeals to him as of the same quality or essence as himself.

Khứu giác cho y một ý niệm về phẩm tính bẩm sinh, và giúp y tìm ra điều hấp dẫn y như có cùng phẩm tính hay tinh chất với chính y.

In all these definitions it is necessary to bear in mind that the whole object of the senses is to reveal the not-self, and to enable the Self therefore to differentiate between the real and the unreal.

Trong tất cả các định nghĩa này, cần ghi nhớ rằng toàn bộ mục đích của các giác quan là làm hiển lộ cái không-phải-ngã, và nhờ đó giúp Bản Ngã phân biện giữa cái thực và cái không thực.

Extract 3

Trích đoạn 3

These three major senses (if I might so describe them) are very definitely allied, each with one of the three Logoi:

Ba giác quan chính yếu này (nếu tôi có thể mô tả chúng như vậy) rất rõ ràng là liên hệ, mỗi giác quan với một trong ba Các Thượng đế:

Hearing—The recognition of the fourfold word, the activity of matter, the third Logos.

Thính giác—sự nhận biết linh từ tứ phân, hoạt động của vật chất, Thượng đế thứ ba.

Touch—The recognition of the sevenfold Form Builder, the gathering together of forms, their approximation and interrelation, the second Logos. The Law of Attraction between the Self and the not-self begins to work.

Xúc giác—sự nhận biết Đấng Kiến Tạo Hình Tướng thất phân, sự tập hợp các hình tướng, sự xích lại gần nhau và tương liên của chúng, Thượng đế thứ hai. Định luật Hấp Dẫn giữa Bản Ngã và cái không-phải-ngã bắt đầu hoạt động.

Sight—The recognition of totality, the synthesis of all, the realisation of the One in Many, the first Logos. The Law of Synthesis, operating between all forms which the self occupies, [563] and the recognition of the essential unity of all manifestation by the means of sight.

Thị giác—sự nhận biết tính toàn thể, sự tổng hợp của tất cả, sự chứng nghiệm Đấng Duy Nhất trong Nhiều, Thượng đế thứ nhất. Định luật Tổng Hợp, hoạt động giữa mọi hình tướng mà bản ngã chiếm cứ, [563] và sự nhận biết tính nhất thể cốt yếu của mọi biểu hiện bằng phương tiện của thị giác.

Extract 4

Trích đoạn 4

Hearing

Beatitude.

This is realised through the not-self.

Thính giác

Chí phúc.

Điều này được chứng nghiệm qua phi chân ngã.

Touch

Service.

The summation of the work of the Self for the not-self.

Xúc giác

Phụng sự.

Sự tổng kết công việc của Chân ngã cho phi chân ngã.

Sight

Realisation

Recognition of the triplicity needed in manifestation, or the reflex action of the Self and the not-self.

Thị giác

Chứng nghiệm

Sự nhận biết về tính ba ngôi cần thiết trong biểu lộ, hay hành động phản xạ của Chân ngã và phi chân ngã.

Taste

Perfection.

Evolution completed through the utilisation of the not-self and its realised adequacy.

Vị giác

Hoàn hảo.

Tiến hóa hoàn thành qua việc sử dụng phi chân ngã và sự đầy đủ được chứng nghiệm của nó.

Smell

Perfected Knowledge

The principle of manas in its discriminating activity, perfecting the interrelation between the Self and the not-self.

Khứu giác

Tri Thức Hoàn Hảo

Nguyên khí manas trong hoạt động phân biệt của nó, hoàn thiện mối tương quan giữa Chân ngã và phi chân ngã.

A close study of the above will bring to the open-minded student two major points which he would do well to consider:

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng điều trên sẽ làm hiển lộ cho đạo sinh có đầu óc cởi mở hai điểm chính yếu mà y nên suy xét:

1. That the instinctual nature, as it develops in the three kingdoms (animal, human and divine) is, in fact, that which develops stage by stage into what we call consciousness; it is in reality, the development of a gradual expansion of capacity to be aware of the environment, whatever that environment may be. The herd instinct of the animal is, for instance, the embryonic unfoldment of what is later recognised by the intellect as group consciousness. These higher developments are brought about by the application of the intellect and a change in the motivating power. The same idea can be traced in connection with all the instincts.

1. Rằng bản chất bản năng, khi phát triển trong ba giới (động vật, nhân loại và thiêng liêng), thực ra chính là điều phát triển từng giai đoạn thành cái mà chúng ta gọi là tâm thức; trên thực tế, đó là sự phát triển của một sự mở rộng dần dần năng lực nhận biết môi trường, bất kể môi trường ấy là gì. Chẳng hạn, bản năng bầy đàn của con vật là sự khai mở phôi thai của điều mà về sau trí tuệ nhận biết là tâm thức nhóm. Những phát triển cao hơn này được mang lại nhờ sự vận dụng trí tuệ và một sự thay đổi trong động lực thúc đẩy. Cùng một ý tưởng ấy có thể được truy ra trong mối liên hệ với mọi bản năng.

2. That the lower psychic powers, inherent in the animal nature, are in every case embryonic indications of soul capacities.

2. Rằng các năng lực thông linh thấp, vốn có sẵn trong bản chất động vật, trong mọi trường hợp đều là những chỉ dấu phôi thai của các năng lực linh hồn.

[564]

[564]

Once this idea is grasped, the attitude of the sceptic and unbeliever will change and he will see (as he studies these lower powers) that, rightly understood and utilised, they can be direct avenues of approach to certain states of existence, but are incidental to and not substitutes for the higher powers.

Một khi ý tưởng này được nắm bắt, thái độ của người hoài nghi và kẻ không tin sẽ thay đổi và y sẽ thấy (khi nghiên cứu các năng lực thấp này) rằng, nếu được hiểu đúng và sử dụng đúng, chúng có thể là những con đường trực tiếp dẫn tới một số trạng thái hiện hữu, nhưng chỉ là phụ thuộc chứ không thay thế cho các năng lực cao hơn.

I would like to offer two other points to your consideration:

Tôi muốn nêu thêm hai điểm khác để các bạn suy xét:

First, that the man or woman who is expressing and interested in these lower powers (which are called the lower siddhis by the oriental philosophy) is demonstrating true powers. They are not however the highest possible powers nor are they the powers which humanity is intended to express unless at the lowest point in evolution and, therefore, allied closely to the animal kingdom; or at the highest point, in which case the greater powers automatically include the lesser. The lower psychic powers are shared with the animal kingdom and with all those human races which are low down in the scale of the human evolution.

Thứ nhất, rằng người nam hay người nữ đang biểu lộ và quan tâm đến các năng lực thấp này (được triết học phương Đông gọi là các siddhi thấp) thực sự đang biểu lộ những năng lực có thật. Tuy nhiên, đó không phải là những năng lực cao nhất có thể có, cũng không phải là những năng lực mà nhân loại được dự định sẽ biểu lộ, trừ phi ở điểm thấp nhất trong tiến hoá và do đó liên hệ chặt chẽ với giới động vật; hoặc ở điểm cao nhất, trong trường hợp ấy các năng lực lớn hơn tự động bao gồm các năng lực nhỏ hơn. Các năng lực thông linh thấp được chia sẻ với giới động vật và với tất cả những nhân loại còn ở thấp trên nấc thang tiến hoá nhân loại.

This is a fact and a statement which arouses much antagonism among the present day exponents of these powers, both in and out of the spiritualistic and occult movements. Such people are apt to consider these powers as indicative either of an advanced spiritual condition or as a rare and unique possession, setting their owner apart as more gifted, more wise and more able to advise and direct other human beings than is the ordinary man. This attitude is demonstrated by the immense audiences such people can address and gather around themselves, and the willingness of the public to listen to them and to pay money for the privilege and the benefit of the demonstration and the advice.

Đây là một sự kiện và một phát biểu gây ra nhiều đối kháng nơi những người hiện nay đang cổ xúy các năng lực này, cả trong lẫn ngoài các phong trào thần linh học và huyền bí học. Những người như vậy thường có khuynh hướng xem các năng lực này như dấu hiệu hoặc của một trạng thái tinh thần tiến bộ, hoặc của một sở hữu hiếm có và độc đáo, khiến người sở hữu chúng trở nên khác biệt như được phú cho nhiều năng khiếu hơn, minh triết hơn và có khả năng cố vấn, hướng dẫn những người khác hơn người bình thường. Thái độ này được chứng tỏ qua những thính giả đông đảo mà những người ấy có thể diễn thuyết và quy tụ quanh mình, cũng như qua sự sẵn lòng của công chúng lắng nghe họ và trả tiền để có được đặc ân và lợi ích từ sự biểu diễn và lời khuyên ấy.

Secondly, the difficulty of this situation is increased because, as evolution proceeds, certain more or less advanced [565] people recover these ancient animal propensities and capacities as their power to become inclusive goes forward; they begin to expand their consciousness so that the past as well as the future is brought within their range of awareness. Knowing that they are aspiring to the higher things and towards the world of mystical realisation (in contradistinction to that of psychical realisation), they interpret some episode, which they may have clairvoyantly apprehended, as appertaining to them as individuals; they regard some clairaudient injunction or happening as appropriately theirs, and some vision of a thought form of the Christ or of one of the Masters as indicative of a direct and personal interview with these advanced leaders. They thus enter into the world of glamour and of delusion from which they must, finally with great difficulty, extricate themselves.

Thứ hai, khó khăn của tình trạng này càng tăng thêm vì, khi tiến hoá tiếp diễn, một số người ít nhiều tiến bộ [565] phục hồi các khuynh hướng và năng lực động vật cổ xưa này khi năng lực trở nên bao gồm của họ tiến triển; họ bắt đầu mở rộng tâm thức của mình để quá khứ cũng như tương lai đều được đưa vào phạm vi nhận biết của họ. Biết rằng mình đang khát vọng hướng tới những điều cao cả hơn và hướng tới thế giới của sự chứng nghiệm thần bí (đối lập với sự chứng nghiệm thông linh), họ diễn giải một biến cố nào đó mà họ có thể đã thông nhãn nắm bắt được như là thuộc về chính họ với tư cách cá nhân; họ xem một mệnh lệnh hay biến cố được nghe bằng thông nhĩ nào đó là thích hợp riêng cho họ, và một linh ảnh về một Hình tư tưởng của Đức Christ hay của một trong các Chân sư là dấu hiệu của một cuộc gặp gỡ trực tiếp và cá nhân với các vị lãnh đạo tiến bộ ấy. Do đó họ bước vào thế giới của ảo cảm và mê lầm, từ đó cuối cùng họ phải tự giải thoát ra với rất nhiều khó khăn.

May I also call your attention to the fact that the lines of demarcation between these animal, human and divine states of consciousness are not clear cut as in our tabulation? A recognition of this will call attention to the complexity of the subject and the difficulty of our theme. This complexity can, I think, be well illustrated by a study of the uses of the word telepathy. As generally used today it indicates two powers:

Tôi cũng xin lưu ý các bạn đến sự kiện rằng các ranh giới phân định giữa các trạng thái tâm thức động vật, nhân loại và thiêng liêng này không rõ rệt như trong bảng liệt kê của chúng ta. Việc nhận ra điều này sẽ làm nổi bật tính phức tạp của đề tài và sự khó khăn của chủ đề chúng ta. Tôi nghĩ sự phức tạp này có thể được minh họa rõ qua việc nghiên cứu cách dùng từ viễn cảm. Theo cách dùng phổ biến ngày nay, nó chỉ hai năng lực:

1. An instinctual registering of some situation, some call and some impression which impinges upon the solar plexus centre. This power of impression is Not controlled; there is no supervised intentional mental perception of a directed message; there is only a tuning in on a state of mind or on a condition and situation connected with the one who is regarded as sending the message. In nine cases out of ten, this message is one of distress and goes forward and produces its effect without any capacity on the part of the recipient to induce the reception of the [566] message. An illustration of this would be the recognition by a mother that a loved child is in danger.

1. Một sự ghi nhận theo bản năng về một tình huống, một tiếng gọi và một ấn tượng tác động vào trung tâm tùng thái dương. Năng lực tiếp nhận ấn tượng này không được kiểm soát; không có sự nhận thức trí tuệ có chủ đích và được giám sát về một thông điệp được hướng đến; chỉ có sự bắt nhịp với một trạng thái tâm trí hay với một điều kiện và tình huống liên hệ với người được xem là đang gửi thông điệp. Trong chín trường hợp trên mười, thông điệp này là một thông điệp khốn khó và được truyền đi rồi tạo ra hiệu quả của nó mà người tiếp nhận không có khả năng nào để chủ động tạo ra sự tiếp nhận [566] thông điệp. Một minh họa cho điều này là việc một người mẹ nhận ra rằng đứa con yêu dấu đang gặp nguy hiểm.

2. A form of clairvoyance which enables the man to see that which is hidden, such as the number of symbols on a playing card which is laying face downwards upon the table.

2. Một hình thức thông nhãn giúp người ta thấy điều bị che giấu, chẳng hạn số ký hiệu trên một lá bài đang úp mặt trên bàn.

True telepathy, however, is a direct mental communication from mind to mind and in its more advanced expression is a communication of soul to soul, using the mind later as a formulator of the communication, as in the case of inspiration. It is interesting to note (and instructive also in view of our subject) that in true telepathic registration, the lesser powers may be raised and used at a high level of awareness. It is well known esoterically that

Tuy nhiên, viễn cảm chân chính là một sự giao tiếp trí tuệ trực tiếp từ trí tuệ đến trí tuệ, và trong biểu hiện tiến bộ hơn của nó là một sự giao tiếp từ linh hồn đến linh hồn, về sau dùng trí tuệ như một phương tiện định hình sự giao tiếp, như trong trường hợp cảm hứng. Điều đáng chú ý (và cũng có tính giáo huấn xét theo chủ đề của chúng ta) là trong sự ghi nhận viễn cảm chân chính, các năng lực thấp hơn có thể được nâng lên và sử dụng ở một cấp độ nhận biết cao. Trong huyền bí học, người ta biết rõ rằng

a. Some people simply record telepathically in their minds the information coming from another mind. The registration as well as the communication is wordless and formless. The recipient simply knows and the imparted knowledge takes form in the consciousness without any intermediate stages or steps. This is formless telepathy.

a. Một số người chỉ đơn giản ghi nhận bằng viễn cảm trong trí tuệ của họ thông tin đến từ một trí tuệ khác. Sự ghi nhận cũng như sự truyền đạt đều không lời và vô tướng. Người tiếp nhận đơn giản là biết, và tri thức được truyền đạt tự mang hình thức trong tâm thức mà không có bất kỳ giai đoạn hay bước trung gian nào. Đây là viễn cảm vô tướng.

b. Other people instantaneously step down into form the knowledge which has been imparted; they will see the message, word or information appear before their eyes in written or printed form as if it were imposed upon a moving screen, seen within the head.

b. Những người khác lập tức hạ tri thức được truyền đạt xuống thành hình tướng; họ sẽ thấy thông điệp, từ ngữ hay thông tin hiện ra trước mắt họ dưới dạng chữ viết tay hay chữ in như thể được áp lên một màn ảnh chuyển động, được nhìn thấy bên trong đầu.

c. Others will step the information down into form whereby they hear it.

c. Những người khác nữa sẽ hạ thông tin xuống thành hình tướng theo cách khiến họ nghe được nó.

In these two latter cases, the true man is making use of his latent lower powers, raising them to as high a level as possible and subordinating them to mental or soul uses. The difference [567] between this usage of the power of clairvoyant and clairaudient demonstration is that in this case there is full mental control and understanding, and in the other cases the lower powers are automatically employed, are uncontrolled, are occupied with matters of no true importance and are not understood in any way by the one who is employing them.

Trong hai trường hợp sau này, con người chân chính đang sử dụng các năng lực thấp tiềm ẩn của mình, nâng chúng lên đến mức cao nhất có thể và đặt chúng dưới sự phụ thuộc của các công dụng trí tuệ hay linh hồn. Sự khác biệt [567] giữa cách sử dụng này của năng lực biểu lộ thông nhãn và thông nhĩ là ở chỗ trong trường hợp này có sự kiểm soát và thấu hiểu trọn vẹn của trí tuệ, còn trong các trường hợp kia các năng lực thấp được sử dụng một cách tự động, không được kiểm soát, bận tâm đến những việc không có tầm quan trọng thực sự, và hoàn toàn không được người đang sử dụng chúng hiểu theo bất kỳ cách nào.

The one basic sense, as you well know is that of touch. This is the reason why I have not placed psychometry in any particular category in my tabulation of the instincts, senses and powers. Psychometry is essentially the capacity to work with and to get in touch with the soul of the higher grouping to which the unit in the lower grouping aspires, and with the soul that can thus aspire in any form. It concerns, in reality the “measure” of inclusiveness. This measure will govern, for instance, the relation of the dog or other domesticated animal to a human being, of a man to other men, and of an aspirant to his soul, his master and his group. When this psychometrical inclusiveness is turned towards the world of tangible things—minerals, possessions and other material objects, for instance—we tend to make a magical performance out of it, and to charge money for the demonstration of psychometrical power. We then call this the science of psychometry. Yet it is the same power, turned towards the lower kingdoms as is employed in making contact with the higher. There are three groups of people who use the lower psychic powers, either consciously or unconsciously:

Như các bạn đã biết rõ, giác quan căn bản duy nhất là xúc giác. Đó là lý do vì sao tôi không đặt thuật trắc tâm vào bất kỳ loại riêng biệt nào trong bảng liệt kê của tôi về các bản năng, giác quan và năng lực. Thuật trắc tâm về bản chất là năng lực làm việc với và tiếp xúc với linh hồn của nhóm cao hơn mà đơn vị trong nhóm thấp hơn đang khát vọng vươn tới, và với linh hồn có thể khát vọng như vậy trong bất kỳ hình tướng nào. Thực ra, nó liên quan đến “mức độ” của tính bao gồm. Mức độ này, chẳng hạn, sẽ chi phối mối liên hệ của con chó hay động vật đã được thuần hóa khác với con người, của một người với những người khác, và của một người chí nguyện với linh hồn của mình, chân sư của mình và nhóm của mình. Khi tính bao gồm theo trắc tâm này được hướng về thế giới của những vật hữu hình—chẳng hạn khoáng vật, tài sản và các vật thể vật chất khác—chúng ta có khuynh hướng biến nó thành một màn trình diễn huyền thuật, và thu tiền cho việc biểu diễn năng lực trắc tâm. Khi ấy chúng ta gọi đó là khoa học trắc tâm. Tuy nhiên, đó vẫn là cùng một năng lực, được hướng về các giới thấp cũng như được dùng để tiếp xúc với các giới cao. Có ba nhóm người sử dụng các năng lực thông linh thấp, hoặc có ý thức hoặc vô thức:

1. Those whose evolutionary stage is low enough to permit of their automatic use.

1. Những người có giai đoạn tiến hoá đủ thấp để cho phép họ sử dụng chúng một cách tự động.

2. Those who have brought over the capacity to see and hear on astral levels or to “work magic” from another life—from Atlantean times. These powers are natural to them, but are usually neither understood nor controlled by [568] knowledge and they usually make their owner a victim or an exploiter of these powers.

2. Những người đã mang theo từ một kiếp sống khác—từ thời Atlantis—năng lực thấy và nghe trên các cấp độ cảm dục hoặc “làm huyền thuật”. Những năng lực này là tự nhiên đối với họ, nhưng thường không được [568] tri thức thấu hiểu hay kiểm soát, và thường khiến người sở hữu chúng trở thành nạn nhân hoặc kẻ khai thác các năng lực ấy.

3. The mystic upon the path of vision who (through the bringing in of energy from the soul through meditation and aspiration) stimulates the solar plexus or throat centres and thus opens a door on to the astral plane.

3. Nhà thần bí trên con đường linh thị, người mà (thông qua việc đưa năng lượng từ linh hồn vào bằng tham thiền và khát vọng) kích thích các trung tâm tùng thái dương hay cổ họng và do đó mở ra một cánh cửa vào cõi cảm dục.

In all cases, it is the astral plane which stands revealed. The statement can here be made that where there is colour, form and phenomena analogous to or a replica of that to be found upon the physical plane then there is to be seen the “duplicating phenomena” of the astral plane. Where there is materialisation of forms upon the physical plane you see the joint activity of the astral and etheric planes. You do not have the phenomena of the mental or soul levels. Bear this definitely in mind. The astral plane is—in time and space and to all intents and purposes—a state of real being plus a world of illusory forms, created by man himself and by his imaginative creativity. One of the major lessons to be learnt upon the Path of Discipleship is to learn to distinguish that which is real from that which is illusion.

Trong mọi trường hợp, chính cõi cảm dục là điều được hiển lộ. Ở đây có thể nói rằng ở đâu có màu sắc, hình tướng và các hiện tượng tương tự hoặc là bản sao của những gì được tìm thấy trên cõi hồng trần, thì ở đó có thể thấy “các hiện tượng sao chép” của cõi cảm dục. Ở đâu có sự hiện hình các hình tướng trên cõi hồng trần, ở đó bạn thấy hoạt động phối hợp của cõi cảm dục và cõi dĩ thái. Bạn không có các hiện tượng của các cấp độ trí tuệ hay linh hồn. Hãy ghi nhớ điều này thật rõ. Cõi cảm dục—trong thời gian và không gian và xét về mọi phương diện thực tiễn—là một trạng thái hiện hữu thực cộng với một thế giới của các hình tướng ảo tưởng, do chính con người tạo ra bằng sự sáng tạo tưởng tượng của mình. Một trong những bài học chính yếu phải học trên Con Đường Đệ Tử là học cách phân biện điều gì là thực với điều gì là ảo tưởng.

What then, is to be seen and heard by the medium when in trance or when giving an exhibition of clairvoyance and clairaudience? Several possibilities, which I might list as follows:

Vậy thì, đồng tử thấy và nghe gì khi xuất thần hoặc khi biểu diễn thông nhãn và thông nhĩ? Có một số khả năng, mà tôi có thể liệt kê như sau:

1. A revelation of the “wish life” of the person or the group to whom the medium is addressing himself. This wish life takes form in proportion to the power of the unexpressed wish or the mental ability of the person or persons concerned.

1. Một sự mặc khải về “đời sống ước muốn” của người hay nhóm mà đồng tử đang hướng đến. Đời sống ước muốn này mang hình tướng tương ứng với sức mạnh của ước muốn chưa được biểu lộ hoặc với năng lực trí tuệ của người hay những người liên hệ.

2. A recognition by the medium of the thought forms or thought form to be found in the aura of the person in the audience or circle. These thought forms have been [569] built over a space of time and are usually of some one deeply loved or as deeply disliked. They are often so real in appearance that the person can recognise them when described by the medium and the medium can at the same time by a process of telepathy (via the solar plexus centre) become aware of the things which the sitter wishes to hear, which will be in line with the usual mannerisms and methods of speech and thought of the departed or living friend. This accounts for the mediocre calibre of the usual utterance and statement made at a seance. The average person who frequents a seance is not usually of the highest grade of intelligence, unless he is simply there as an investigator.

2. Sự nhận biết của đồng tử về Hình tư tưởng hay các Hình tư tưởng được tìm thấy trong hào quang của người trong thính giả hay trong vòng tròn. Các Hình tư tưởng này đã được [569] xây dựng qua một khoảng thời gian và thường là về một người nào đó được yêu thương sâu đậm hoặc bị ghét bỏ sâu đậm tương tự. Chúng thường có vẻ ngoài rất thực đến nỗi người ấy có thể nhận ra chúng khi được đồng tử mô tả, và đồng tử đồng thời có thể, qua một tiến trình viễn cảm (qua trung tâm tùng thái dương), nhận biết những điều mà người ngồi dự muốn được nghe, những điều sẽ phù hợp với các kiểu cách và phương thức nói năng, suy nghĩ quen thuộc của người bạn đã qua đời hay còn sống. Điều này giải thích phẩm chất tầm thường của những lời phát biểu và tuyên bố thường thấy trong một Buổi gọi hồn. Người trung bình lui tới một Buổi gọi hồn thường không thuộc hạng trí tuệ cao nhất, trừ phi y chỉ có mặt ở đó với tư cách một người khảo cứu.

3. A few rare cases when a soul on the path of return to incarnation or immediately after death is impelled (for good and sufficient purpose) to make a contact with a friend or relative via a medium. Such cases are known and usually presuppose more than average intelligence on the part of the sitter, the communicator and the medium. They constitute however, the exceptional occurrence.

3. Một vài trường hợp hiếm hoi khi một linh hồn trên Con Đường Trở Về để nhập thể hoặc ngay sau khi chết bị thúc đẩy (vì mục đích tốt đẹp và đầy đủ) để tiếp xúc với một người bạn hay thân nhân qua trung gian của một đồng tử. Những trường hợp như vậy có thật và thường giả định nơi người ngồi dự, người truyền đạt và đồng tử một trí tuệ cao hơn mức trung bình. Tuy nhiên, chúng là những trường hợp ngoại lệ.

4. The revelation to the clairvoyant and clairaudient worker of much of the phenomena of the astral plane, which parallels that of the physical plane and which is conditioned by the quality and calibre of the circle of people who constitute the audience. This, the medium interprets to them and it usually evokes recognition.

4. Sự mặc khải cho người hoạt động thông nhãn và thông nhĩ về phần lớn các hiện tượng của cõi cảm dục, vốn song hành với cõi hồng trần và được tác động bởi phẩm tính và trình độ của vòng người tạo thành thính giả. Điều này, đồng tử diễn giải cho họ và thường khơi dậy sự nhận ra.

I am here casting no doubt on the sincerity of the performance nor on those mediums who are born with these clairvoyant and clairaudient faculties. I am only pointing out that the phenomena which they are contacting is astral in nature and that anyone looking at a circle from the standpoint [570] of the higher psychic powers would note around each sitter a group of astral forms (self-created) of those who have departed physical life through death, of those who are constantly in his thoughts though still alive, and also a kaleidescopic and changing process of appearing and disappearing forms (some quite nebulous and some quite substantial according to the power of thought) which concern the wish life of the sitter, which are concerned with his home affairs, his business or are built up around his health. The sensitive tunes in on these, connects them with the attendant thought forms and hence the production of the usual performance found in the seance room or with the average audience. The medium is truly and accurately relating just what he sees and hears and therefore is sincere and truthful, but because he receives no real training in the art of interpretation and in the technique of distinguishing the illusory from the real, he is, perforce, unable to do more than describe the phenomena seen and the words heard.

Ở đây tôi không hề nghi ngờ sự chân thành của sự biểu diễn hay của những đồng tử được sinh ra với các năng lực thông nhãn và thông nhĩ này. Tôi chỉ nêu ra rằng hiện tượng mà họ đang tiếp xúc có bản chất cảm dục, và rằng bất kỳ ai nhìn vào một vòng tròn từ quan điểm [570] của các năng lực thông linh cao hơn sẽ nhận thấy quanh mỗi người ngồi dự một nhóm các hình tướng cảm dục (do chính họ tạo ra) của những người đã rời bỏ đời sống hồng trần qua cái chết, của những người luôn ở trong tư tưởng của họ dù vẫn còn sống, và cả một tiến trình xuất hiện rồi biến mất đầy màu sắc biến ảo của các hình tướng (một số khá mơ hồ và một số khá rõ nét tùy theo sức mạnh của tư tưởng) liên quan đến đời sống ước muốn của người ngồi dự, liên quan đến việc nhà, công việc làm ăn, hoặc được xây dựng quanh sức khỏe của họ. Người nhạy cảm bắt nhịp với những điều này, nối kết chúng với các Hình tư tưởng đi kèm, và do đó tạo ra màn trình diễn thường thấy trong phòng gọi hồn hay với thính giả trung bình. Đồng tử thực sự và chính xác đang thuật lại đúng điều y thấy và nghe, vì thế y chân thành và trung thực; nhưng vì y không nhận được sự huấn luyện thực sự nào trong nghệ thuật diễn giải và trong kỹ thuật phân biệt cái ảo với cái thực, nên y buộc phải không thể làm gì hơn ngoài việc mô tả các hiện tượng thấy được và các lời nghe được.

When, however, the mystic opens up these same powers as is sometimes the case, the phenomena seen and the words which are heard can be of a very high order. Nevertheless they are still astral, for they concern happenings and phenomena found upon the higher levels of the astral plane. He comes into contact with the spiritual or religious wish life of the race and according to the basic trend of his individual aspiration at the moment so will be his contacts. If he is an earnest and devoted Christian, he will see one of the beautiful and vital thought forms of the Christ there to be found and in the wonder of that revelation, his love and his imagination and all that is best in him will be evoked in adoration and mystery. Hence some of the inspired writings and illumined visions of the mystic. If he is a Hindu, there may come [571] to him a vision of the Lord of Love, Shri Krishna, or, if a Buddhist, he may see the Lord of Light, the Buddha, in all His radiance. If he is an occult student, or a Theosophist or Rosicrucian, he may see a vision of one of the Masters or of the entire Hierarchy of adepts; he may hear words spoken and thus feel assured, past all controversy, that the Great Ones have chosen him for special privilege and for unique service. And yet, his consciousness has never moved from off the astral plane and his contacts have only been a wonderful and inspiring expression of the phenomena of that plane, released to his inner sight and hearing through his aspiration.

Tuy nhiên, khi nhà thần bí khai mở chính những năng lực này, như đôi khi xảy ra, thì các hiện tượng được thấy và các lời được nghe có thể thuộc một trật tự rất cao. Dẫu vậy, chúng vẫn là cảm dục, vì chúng liên quan đến những biến cố và hiện tượng được tìm thấy trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục. Y tiếp xúc với đời sống ước muốn tinh thần hay tôn giáo của nhân loại, và tùy theo khuynh hướng căn bản của khát vọng cá nhân của y vào lúc ấy mà các tiếp xúc của y sẽ như thế. Nếu y là một tín đồ Cơ Đốc chân thành và sùng tín, y sẽ thấy một trong những Hình tư tưởng đẹp đẽ và đầy sinh lực của Đức Christ hiện diện ở đó, và trong sự kỳ diệu của mặc khải ấy, tình thương, sự tưởng tượng và tất cả những gì tốt đẹp nhất trong y sẽ được khơi dậy trong sự tôn thờ và huyền nhiệm. Do đó mới có một số trước tác đầy cảm hứng và những linh ảnh được soi sáng của nhà thần bí. Nếu y là một tín đồ Ấn giáo, có thể [571] đến với y một linh ảnh về Chúa Tể của Tình Thương, Shri Krishna, hoặc nếu là một Phật tử, y có thể thấy Chúa Tể của Ánh Sáng, Đức Phật, trong tất cả sự rạng ngời của Ngài. Nếu y là một đạo sinh huyền bí học, hay một nhà Thông Thiên Học hoặc Rosicrucian, y có thể thấy một linh ảnh về một trong các Chân sư hoặc về toàn thể Thánh Đoàn các chân sư; y có thể nghe những lời được nói ra và do đó cảm thấy hoàn toàn chắc chắn, vượt ngoài mọi tranh cãi, rằng Các Đấng Cao Cả đã chọn y cho một đặc ân đặc biệt và một sự phụng sự độc nhất. Thế nhưng, tâm thức của y chưa bao giờ rời khỏi cõi cảm dục, và các tiếp xúc của y chỉ là một biểu hiện kỳ diệu và đầy cảm hứng của các hiện tượng của cõi ấy, được giải phóng cho thị giác và thính giác bên trong của y nhờ khát vọng của y.

All this is brought about through the over-activity of the solar plexus centre, stimulated by the energy pouring in from the heights he has attained in aspirational meditation. The results are very emotional in their nature, and the reactions developed and the subsequent service rendered are on emotional levels. A great deal of this is to be seen among the teachers in the world at this time in many lands. Such teachers have been and are true aspirants. They have awakened in consciousness upon the higher levels of the astral plane. They have there seen the thought forms which humanity has created of the spiritual Hierarchy or the reflections on those levels of that Hierarchy (a still more potent group of thought forms) and have heard repetitions of that which has been said and thought by the world aspirants of all time—all of it most beautiful, good and true. They then proceed to teach and proclaim what they have thus heard, seen and learnt and frequently do much good—on astral levels. They are, all the same, confusing the reflection with the reality, the reproduction with the original, and the humanly constructed with the divinely created.

Tất cả điều này được tạo ra do sự quá hoạt động của trung tâm tùng thái dương, được kích thích bởi năng lượng tuôn vào từ các đỉnh cao mà y đã đạt được trong tham thiền khát vọng. Các kết quả này có bản chất rất cảm xúc, và các phản ứng được phát triển cùng sự phụng sự tiếp theo được thực hiện đều ở trên các cấp độ cảm xúc. Hiện nay có thể thấy rất nhiều điều này nơi các huấn sư trên thế giới ở nhiều xứ sở. Những huấn sư như vậy đã và đang là những người chí nguyện chân thành. Họ đã thức tỉnh trong tâm thức trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục. Ở đó họ đã thấy các Hình tư tưởng mà nhân loại đã tạo ra về Thánh đoàn Tinh thần hoặc các phản ánh trên những cấp độ ấy của Thánh đoàn đó (một nhóm Hình tư tưởng còn mạnh mẽ hơn), và đã nghe những sự lặp lại của những điều đã được nói và nghĩ bởi những người chí nguyện của thế giới qua mọi thời đại—tất cả đều rất đẹp đẽ, tốt lành và chân thật. Rồi họ tiến hành giảng dạy và công bố điều mà họ đã nghe, thấy và học được như vậy, và thường làm được nhiều điều tốt—trên các cấp độ cảm dục. Tuy nhiên, họ vẫn đang nhầm lẫn phản ánh với thực tại, bản sao với nguyên bản, và cái do con người kiến tạo với cái do thiêng liêng sáng tạo.

Forget not, that the astral plane is that whereon man has [572] to learn to distinguish truth from error, and the real from the unreal. Thus those who are deceived are only learning a needed lesson. The fact of the astral plane is being steadily recognised and that is good. The fact of the existence of the spiritual Hierarchy and of Masters is being brought to the attention of the masses even if it is being done by those who are confusing the reflection and the thought form with the reality.

Xin đừng quên rằng cõi cảm dục là nơi con người [572] phải học cách phân biệt chân lý với sai lầm, và cái thực với cái không thực. Vì vậy, những ai bị lừa dối chỉ đang học một bài học cần thiết. Sự kiện về cõi cảm dục đang dần dần được thừa nhận, và điều đó là tốt. Sự kiện về sự hiện hữu của Thánh đoàn Tinh thần và của các Chân sư đang được đưa đến sự chú ý của quần chúng, dù điều đó đang được thực hiện bởi những người đang nhầm lẫn phản ánh và Hình tư tưởng với thực tại.

The question could here properly be asked: How can the mystic avoid this error and confusion? How can he distinguish the real from the illusory? This constitutes an individual problem for every mystic and there is no one profound and scientific rule whereby he can guide his reactions. The only rules which I can give you are so simple that those who are occupied at this time with teaching and proclaiming that which they have astrally contacted may not like to follow them. The attitude of mind which will guard the mystic from astral delusion and error is:

Ở đây có thể nêu ra một câu hỏi thích đáng: Làm thế nào nhà thần bí có thể tránh được sai lầm và sự nhầm lẫn này? Làm thế nào y có thể phân biệt cái thực với cái ảo? Điều này tạo thành một vấn đề cá nhân đối với mỗi nhà thần bí, và không có một quy luật sâu xa và khoa học duy nhất nào để y có thể dùng mà hướng dẫn các phản ứng của mình. Những quy luật duy nhất mà tôi có thể đưa ra cho các bạn thì quá đơn giản đến nỗi những người hiện đang bận rộn giảng dạy và công bố điều mà họ đã tiếp xúc trên cõi cảm dục có thể sẽ không thích làm theo. Thái độ tâm trí sẽ bảo vệ nhà thần bí khỏi mê lầm và sai lầm cảm dục là:

1. The cultivation of a spirit of true humility. There is a spiritual arrogance which masks itself behind a cloak of humbleness and which is very prevalent at this time. It leads people to regard themselves as the chosen of the Hierarchy to save the world; it leads them to look upon themselves as the mouthpieces of the Masters or of the Christ; it tends to make them separative in their attitudes to other leaders and teachers, refusing to recognise the many aspects of the one work and the many methods which the Mind of God has devised for reaching the masses.

1. Sự vun bồi một tinh thần khiêm tốn chân chính. Có một sự kiêu ngạo tinh thần tự che đậy sau tấm áo khiêm nhường và hiện đang rất phổ biến. Nó khiến người ta xem mình là những kẻ được Thánh đoàn chọn để cứu thế giới; nó khiến họ nhìn mình như những phát ngôn viên của các Chân sư hay của Đức Christ; nó có khuynh hướng làm cho họ trở nên phân ly trong thái độ đối với các nhà lãnh đạo và huấn sư khác, từ chối thừa nhận nhiều phương diện của một công việc duy nhất và nhiều phương pháp mà Trí của Thượng đế đã hoạch định để tiếp cận quần chúng.

2. The refusal to accept any contact or message which has personality implications or which sets its recipient apart, thus tending to the development of a Messiah complex. [573] I like that phrase. It is simple and concise and illustrates dramatically the state of mind and describes the assured nature of the consciousness of many of the present teachers of humanity. A true contact with the Hierarchy and the true accolade of service carries with it the conviction of the existence of the many servers in the one Service, of the many messengers carrying the one message, of the many teachers of the many aspects of the one Truth, and of the many and various ways back to the Heart of God. When this all-embracing revelation accompanies the call to service, then the spirit of inclusiveness is developed and the man can be sure that he is truly called to cooperate and convinced of the reality of his vision.

2. Sự từ chối chấp nhận bất kỳ tiếp xúc hay thông điệp nào có hàm ý về phàm ngã hoặc đặt người tiếp nhận ra riêng biệt, do đó có khuynh hướng dẫn đến sự phát triển của một mặc cảm Đấng Cứu Thế. [573] Tôi thích cụm từ đó. Nó đơn giản và súc tích, và minh họa một cách đầy kịch tính trạng thái trí tuệ, đồng thời mô tả bản chất đầy tự tín của tâm thức nơi nhiều huấn sư hiện nay của nhân loại. Một tiếp xúc chân chính với Thánh Đoàn và sự xác nhận chân chính của phụng sự mang theo sự xác tín về sự hiện hữu của nhiều người phụng sự trong một Phụng Sự duy nhất, của nhiều sứ giả mang một thông điệp duy nhất, của nhiều huấn sư dạy nhiều phương diện của một Chân Lý duy nhất, và của nhiều con đường khác nhau trở về Trái Tim của Thượng đế. Khi sự mặc khải bao trùm tất cả này đi kèm với tiếng gọi phụng sự, thì tinh thần bao gồm được phát triển và con người có thể chắc chắn rằng mình thực sự được kêu gọi hợp tác và xác tín về thực tại của linh thị mình.

3. The freedom from emotional appeal. The true disciple and mystic is ever mentally polarised. His vision is free from the deluding reactions of the solar plexus centre. His vision awakens the heart centre and evokes the response of his personality energy (focussed in the ajna centre) and produces eventually a “centering in the place of light”. This indicates the growing activity of the head centre. He may, later, use controlled emotional appeal in dealing with the masses but he himself seeks to remain free from all emotional control.

3. Sự tự do khỏi mọi lôi cuốn cảm xúc. Đệ tử và nhà thần bí chân chính luôn luôn phân cực trí tuệ. Linh thị của y thoát khỏi những phản ứng mê lầm của trung tâm tùng thái dương. Linh thị của y đánh thức trung tâm tim và gợi lên sự đáp ứng của năng lượng phàm ngã của y (được tập trung trong trung tâm ajna) và cuối cùng tạo ra một “sự định tâm nơi chốn ánh sáng”. Điều này cho thấy hoạt động ngày càng tăng của trung tâm đầu. Về sau, y có thể sử dụng một sự lôi cuốn cảm xúc được kiểm soát khi đề cập đến quần chúng, nhưng chính y tìm cách giữ mình thoát khỏi mọi sự kiểm soát cảm xúc.

We are considering the unfoldment of the psychic powers, producing conditions in the subject which are regarded by the orthodox investigator as pathological in nature or as indicating psychological trouble of a serious kind. However, we are today close to the time when the fact of there being modes of perception other than those of the physical senses will be recognised, and the attitude of medicine and of the psychiatric and neurological sciences will undergo definite [574] changes—much to the assistance and aid of humanity. The development of the psychic powers is basically due at this time (for the whole problem shifts into changing fields as evolution proceeds) to the psychic becoming aware of a field or fields of phenomena which are always present but which remain usually unrecognised because the inner mechanism of perception remains latent or quiescent. In the undeveloped human being or in groups of men who are low down in the racial scale, as also in animals, there is much psychic perception because the sacral centre motivates the physical plane life and the solar plexus centre governs the psychic nature. In these cases, all the higher centres are quiescent and undeveloped. The solar plexus is to the worlds of lower psychic perception what the brain is intended to be in the worlds of higher psychic understanding. In the one case, you have a centre of energy which is so potent that it swings the man into a state of consciousness which is fundamentally astral, thus governing the sex life from the angle of the sentient consciousness; in the other case, you have so close an identification between the head centre in etheric matter and the brain in physical substance that an organ which is definitely physical functions sympathetically, accurately and synchronously with its subjective counterpart, registering impressions from the head centre and the worlds with which that centre puts a man in touch. The two are then as one.

Chúng ta đang xem xét sự khai mở của các năng lực thông linh, tạo ra những điều kiện nơi chủ thể mà nhà khảo cứu chính thống xem là có bản chất bệnh lý hoặc là dấu hiệu của những rối loạn tâm lý nghiêm trọng. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang đến gần thời điểm khi sự kiện rằng có những phương thức tri giác khác ngoài các giác quan hồng trần sẽ được công nhận, và thái độ của y học cùng các khoa học tâm thần và thần kinh sẽ trải qua những [574] thay đổi rõ rệt—đem lại nhiều trợ giúp và hỗ trợ cho nhân loại. Sự phát triển các năng lực thông linh về căn bản hiện nay là do người thông linh trở nên nhận biết một hay nhiều lĩnh vực hiện tượng vốn luôn hiện diện nhưng thường không được nhận ra, bởi vì bộ máy tri giác bên trong vẫn còn tiềm ẩn hay bất động. Trong con người chưa phát triển hoặc trong những nhóm người ở bậc thấp trên thang nhân loại, cũng như nơi động vật, có rất nhiều tri giác thông linh bởi vì trung tâm xương cùng thúc đẩy đời sống cõi hồng trần và trung tâm tùng thái dương chi phối bản chất thông linh. Trong các trường hợp này, mọi trung tâm cao hơn đều bất động và chưa phát triển. Tùng thái dương đối với các thế giới của tri giác thông linh thấp cũng như bộ não được dự định là đối với các thế giới của sự thấu hiểu thông linh cao. Trong trường hợp thứ nhất, bạn có một trung tâm năng lượng mạnh đến mức đưa con người vào một trạng thái tâm thức về căn bản là cảm dục, do đó chi phối đời sống tính dục từ góc độ của tâm thức cảm giác; trong trường hợp kia, có một sự đồng hoá chặt chẽ đến thế giữa trung tâm đầu trong vật chất dĩ thái và bộ não trong chất liệu hồng trần đến nỗi một cơ quan rõ ràng là hồng trần hoạt động một cách cảm ứng, chính xác và đồng bộ với đối phần chủ quan của nó, ghi nhận các ấn tượng từ trung tâm đầu và từ các thế giới mà trung tâm đó đặt con người vào tiếp xúc. Khi ấy, cả hai là một.

In between these stages of low grade psychic life and the spiritual perception of the initiate there is to be found every possible type of sentient consciousness. These can be divided into three major categories:

Ở giữa các giai đoạn của đời sống thông linh cấp thấp này và tri giác tinh thần của điểm đạo đồ, có thể tìm thấy mọi loại tâm thức cảm giác khả hữu. Chúng có thể được chia thành ba loại chính:

1. The unfoldment and use of the psychic powers, both higher and lower.

1. Sự khai mở và sử dụng các năng lực thông linh, cả cao lẫn thấp.

This is the stage of Psychism.

Đây là giai đoạn của Thông linh.

[575]

[575]

2. The evolution of the mystical vision.

2. Sự tiến hoá của linh thị thần bí.

This is the stage of Mysticism.

Đây là giai đoạn của Thần bí học.

3. The revelation of light and power.

3. Sự mặc khải của ánh sáng và quyền năng.

This is the stage of Occultism.

Đây là giai đoạn của Huyền bí học.

All these expressions of divine knowledge are connected with, and dependent upon, the development of the centres. In the low grade human being, the centres are nothing more than slowly revolving, palpitating disks of dim light. In Lemurian days, the sacral centre was the most active and the brightest. In Atlantean days, the solar plexus centre was by far the most significant. Today, as you know, the higher correspondences are coming into functioning activity and humanity is beginning to reap the benefits derived from experience in three races—the Lemurian, the Atlantean and the Aryan.

Mọi biểu hiện này của tri thức thiêng liêng đều liên hệ với, và tùy thuộc vào, sự phát triển của các trung tâm. Trong con người cấp thấp, các trung tâm chẳng là gì hơn ngoài những đĩa sáng mờ nhạt, rung động, quay chậm. Trong thời Lemuria, trung tâm xương cùng là trung tâm hoạt động mạnh nhất và sáng nhất. Trong thời Atlantis, trung tâm tùng thái dương là trung tâm có ý nghĩa vượt xa hơn cả. Ngày nay, như các bạn biết, các tương ứng cao hơn đang đi vào hoạt động chức năng và nhân loại đang bắt đầu gặt hái những lợi ích rút ra từ kinh nghiệm trong ba nhân loại—Lemuria, Atlantis và Arya.

The throat centre is now the most active in the majority of cases and the most significant. The time is, however, coming when humanity will function on a large scale and as a mass through the ajna centre; this will take place in the next race for, in the next great cycle of racial development, there will be no people with a Lemurian consciousness to be found anywhere and the “pull” or the activity of the sacral centre will be greatly lessened and controlled. This can be seen happening today among the intelligentsia of the race. The Atlantean state of awareness (which functions primarily through the solar plexus) will be also greatly lessened as the heart centre awakens. Humanity will then be wrestling with difficulties and pathological and psychological troubles which will be based on group conditions and influences and not so much on a man’s individual unfoldment. The beginnings of this can already be seen in its lowest phase in the emergence today of what is called “mass psychology”—a thing practically unknown (except in urban centres) a few hundred years ago. [576] Now it is well nigh planetary in its radius of influence. Public opinion, with its determining and conditioning influence, is another phase of the same emerging factor.

Trung tâm cổ họng hiện nay là trung tâm hoạt động mạnh nhất trong đa số trường hợp và là trung tâm có ý nghĩa nhất. Tuy nhiên, thời điểm đang đến khi nhân loại sẽ hoạt động trên quy mô lớn và như một khối quần chúng qua trung tâm ajna; điều này sẽ diễn ra trong nhân loại kế tiếp vì trong chu kỳ lớn kế tiếp của sự phát triển nhân loại, sẽ không còn tìm thấy ở đâu những người có tâm thức Lemuria, và “sức kéo” hay hoạt động của trung tâm xương cùng sẽ được giảm bớt rất nhiều và được kiểm soát. Điều này có thể thấy đang diễn ra ngày nay nơi giới trí thức của nhân loại. Trạng thái nhận biết Atlantis (vốn hoạt động chủ yếu qua tùng thái dương) cũng sẽ được giảm bớt rất nhiều khi trung tâm tim thức tỉnh. Khi ấy, nhân loại sẽ vật lộn với những khó khăn và những rối loạn bệnh lý và tâm lý dựa trên các điều kiện và ảnh hưởng nhóm chứ không quá nhiều trên sự khai mở cá nhân của một con người. Những khởi đầu của điều này đã có thể thấy ngay từ bây giờ trong giai đoạn thấp nhất của nó qua sự xuất hiện ngày nay của cái được gọi là “tâm lý học quần chúng”—một điều hầu như chưa được biết đến (ngoại trừ tại các trung tâm đô thị) cách đây vài trăm năm. [576] Hiện nay, bán kính ảnh hưởng của nó gần như mang tính hành tinh. Dư luận quần chúng, với ảnh hưởng quyết định và định hình của nó, là một phương diện khác của cùng yếu tố đang xuất hiện ấy.

The Aryan state of consciousness, with its coordinating capacity and its mental emphasis, will control the mass of the people, for in the coming race the Atlantean emotional state of consciousness will be to humanity what the Lemurian or low grade type is to the Aryan at this time. The masses will then all come under the category of the intelligentsia, whilst the intelligentsia of today will be the intuitives of tomorrow. In the language of mysticism, the masses will be on the probationary path and the cream of the race will be on the path of discipleship. The number also of the initiates and adepts, present in incarnation in order to carry forward the externalised work of the Hierarchy will be great. The world will then be full of people who will be completely integrated personalities with all the virtues (and consequently all the vices), the ambitions and problems, incident to that stage of awareness.

Trạng thái tâm thức Arya, với năng lực phối hợp và sự nhấn mạnh trí tuệ của nó, sẽ kiểm soát khối quần chúng, vì trong nhân loại sắp đến, trạng thái tâm thức cảm xúc Atlantis sẽ đối với nhân loại như loại Lemuria hay cấp thấp đối với người Arya hiện nay. Khi ấy, quần chúng sẽ đều thuộc vào loại giới trí thức, trong khi giới trí thức ngày nay sẽ là những người trực giác của ngày mai. Theo ngôn ngữ của thần bí học, quần chúng sẽ ở trên Con Đường Dự Bị và tinh hoa của nhân loại sẽ ở trên Con Đường Đệ Tử. Số lượng các điểm đạo đồ và chân sư cũng đang lâm phàm để xúc tiến công việc ngoại hiện của Thánh Đoàn sẽ rất lớn. Khi ấy, thế giới sẽ đầy những người là các Phàm ngã tích hợp hoàn toàn với tất cả các đức tính (và do đó tất cả các tật xấu), các tham vọng và các vấn đề gắn liền với giai đoạn nhận biết đó.

It is for this reason that the Hierarchy is working at this time to bring about the fecundation of the race by the cosmic principle of love, so that love and intellect can proceed hand in hand and thus balance each other. It is for this reason that the fact of the existence of the spiritual Hierarchy must be brought to the attention of the masses. This must be done in order to enhance the magnetic power of the love aspect of the hierarchical effort and not in order to awaken fear or awe, for that is of the old order and must disappear.

Chính vì lý do này mà Thánh Đoàn hiện đang hoạt động để đem lại sự thụ tinh cho nhân loại bằng nguyên khí vũ trụ của bác ái, để bác ái và trí tuệ có thể cùng tiến bước song hành và nhờ đó quân bình lẫn nhau. Chính vì lý do này mà sự kiện về sự hiện hữu của Huyền Giai Tinh Thần phải được đưa đến sự chú ý của quần chúng. Điều này phải được thực hiện để tăng cường quyền năng từ tính của phương diện bác ái trong nỗ lực của Thánh Đoàn chứ không phải để khơi dậy sợ hãi hay kinh ngạc, vì đó là thuộc trật tự cũ và phải biến mất.

I might here touch upon the paralleling activity of the forces which are working to prevent the externalisation of the Hierarchy of Light since such a happening as that would mean increased—because proven—power. As you know, on the astral and mental planes centres exist which are [577] called “dark centres” because the emphasis of their activity is upon the material aspect of manifestation and upon the activity of material substance; all energy is subordinated to purely selfish purpose. As I have before stated, the Forces of Light work with the soul, hidden in every form. They are concerned with group purposes and with the founding of the kingdom of God on earth. The dark forces work with the form side of expression and with the founding of a centre of control which will be theirs entirely and which will subdue all the living forms in all kingdoms to their peculiar behests. It is the old story, familiar in Biblical phraseology, of the kingdoms of the world and the kingdom of the Christ, of the power of anti-Christ and the power of Christ. This produced a great climax in Atlantean days and, though the Hierarchy of Light triumphed, it was only by the merest margin. The battle was fought out on the astral plane, though it had its correspondence upon the physical plane, in a great world conflict of which the ancient legend tells us. It ended in the catastrophe of the Flood. The seeds of hate and of separation have been fostered ever since that time and the three modes whereby the forces of darkness seek to control humanity are hatred, aggression and separativeness. The three great spiritual counterparts are love, selfless sharing and synthesis.

Ở đây tôi có thể đề cập đến hoạt động song hành của các mãnh lực đang làm việc để ngăn cản Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn Ánh Sáng, vì một biến cố như thế sẽ có nghĩa là quyền năng gia tăng—bởi đã được chứng minh. Như các bạn biết, trên cõi cảm dục và cõi trí có những trung tâm hiện hữu được [577] gọi là “các trung tâm tối” vì trọng tâm hoạt động của chúng đặt trên phương diện vật chất của biểu hiện và trên hoạt động của chất liệu vật chất; mọi năng lượng đều bị lệ thuộc vào mục đích hoàn toàn ích kỷ. Như tôi đã nói trước đây, các Mãnh Lực Ánh Sáng làm việc với linh hồn, ẩn giấu trong mọi hình tướng. Các Ngài quan tâm đến các mục đích nhóm và đến việc thiết lập Thiên Giới trên trần gian. Các mãnh lực tối làm việc với mặt hình tướng của biểu hiện và với việc thiết lập một trung tâm kiểm soát hoàn toàn thuộc về chúng và sẽ khuất phục mọi hình tướng sống trong mọi giới trước những mệnh lệnh đặc thù của chúng. Đó là câu chuyện cũ, quen thuộc trong ngôn ngữ Kinh Thánh, về các vương quốc của thế gian và vương quốc của Đức Christ, về quyền năng của anti-Christ và quyền năng của Đức Christ. Điều này đã tạo nên một cao trào lớn trong thời Atlantis và, dù Thánh Đoàn Ánh Sáng đã chiến thắng, thì cũng chỉ với một khoảng cách mong manh nhất. Trận chiến đã diễn ra trên cõi cảm dục, dù nó có sự tương ứng của nó trên cõi hồng trần, trong một cuộc xung đột thế giới lớn mà truyền thuyết cổ xưa kể lại cho chúng ta. Nó kết thúc trong thảm họa Đại Hồng Thủy. Những hạt giống của hận thù và chia rẽ đã được nuôi dưỡng kể từ thời đó, và ba phương thức mà các mãnh lực bóng tối tìm cách kiểm soát nhân loại là hận thù, xâm lược và chia rẽ. Ba đối phần tinh thần lớn là bác ái, chia sẻ vô ngã và tổng hợp.

However, the hold of the forces which are working against the living principle of love (as embodied in the Hierarchy) is not gaining ground at this time, for the response of humanity to that which is good and synthetic is much more rapid and general than it was a few hundred years ago. There is much reason to hope that there will be a steady waning of the undesired control. The dark forces are ruled on the physical plane by a group of six oriental leaders and six occidental leaders; of these the oriental are the most powerful because [578] they are the oldest racially and therefore the most experienced. They work by the intensification of glamour and by the stimulation of the lower psychic powers. Their particular point of attack at this time is the group of world disciples and initiates, for these latter are responsible for the fostering of love in the world and for the binding of men together in the spirit of unity. If they cannot succeed with this task now, it should be possible to externalise the Hierarchy and thereby greatly lessen the control of the so-called evil forces.

Tuy nhiên, sự kềm giữ của các mãnh lực đang hoạt động chống lại nguyên khí sống động của bác ái (như được hiện thân trong Thánh Đoàn) hiện nay không gia tăng, vì sự đáp ứng của nhân loại đối với điều thiện và tổng hợp nhanh hơn và phổ biến hơn nhiều so với vài trăm năm trước. Có nhiều lý do để hy vọng rằng sẽ có một sự suy giảm đều đặn của sự kiểm soát không mong muốn. Các mãnh lực tối được cai quản trên cõi hồng trần bởi một nhóm sáu lãnh tụ phương Đông và sáu lãnh tụ phương Tây; trong số này, những vị phương Đông quyền năng hơn vì [578] họ cổ xưa hơn về mặt nhân loại và do đó giàu kinh nghiệm hơn. Chúng hoạt động bằng cách tăng cường ảo cảm và bằng cách kích thích các năng lực thông linh thấp. Điểm tấn công đặc biệt của chúng hiện nay là nhóm các đệ tử thế giới và các điểm đạo đồ, vì chính những người sau này chịu trách nhiệm nuôi dưỡng bác ái trong thế giới và gắn kết những người nam và nữ lại với nhau trong tinh thần hợp nhất. Nếu chúng không thể thành công với nhiệm vụ này ngay bây giờ, thì phải có thể ngoại hiện Thánh Đoàn và nhờ đó làm giảm rất nhiều sự kiểm soát của các mãnh lực được gọi là ác.

If these evil forces cannot induce the disciples everywhere, in group formation or individually, to succumb in some form to glamour, then they will endeavour to utilise group glamour to negative their efforts and force those with whom the disciples work to believe evil, to impugn motives, and to produce such a convincing story that the struggling disciple will be left to fight almost single-handed. If this cannot be done, they may then attack the physical bodies of the workers and agents for the Hierarchy, and seek, through the distress of the physical body, to control the disciple’s output. This does not always prove successful, as the Master can, and often does, protect His disciple. The dark forces work also through the intensification or stimulation of the psychic mechanism, so that the lower psychic powers become abnormally developed and prematurely assume proportions which are almost uncontrollable. This happened on a large scale in Atlantean days and led to the entire astral plane standing revealed, but not understood. Its undesirable potencies were then let loose upon the physical plane and this led to the war between the two great schools of the mysteries the Light and the Dark—which culminated in the destruction of the then known world.

Nếu các mãnh lực ác này không thể khiến các đệ tử ở khắp nơi, trong hình thành nhóm hay cá nhân, khuất phục dưới một hình thức nào đó trước ảo cảm, thì chúng sẽ cố sử dụng ảo cảm nhóm để phủ định các nỗ lực của họ và buộc những người mà các đệ tử làm việc cùng phải tin điều ác, nghi ngờ động cơ, và tạo ra một câu chuyện thuyết phục đến mức người đệ tử đang tranh đấu sẽ bị bỏ lại để chiến đấu gần như đơn độc. Nếu điều này không thể thực hiện, thì chúng có thể tấn công các thể xác của những người hoạt động và các tác nhân của Thánh Đoàn, và tìm cách, qua sự đau khổ của thể xác, kiểm soát sự biểu lộ của đệ tử. Điều này không phải lúc nào cũng thành công, vì Chân sư có thể, và thường vẫn, bảo vệ đệ tử của Ngài. Các mãnh lực tối cũng hoạt động qua việc tăng cường hay kích thích bộ máy thông linh, khiến các năng lực thông linh thấp phát triển một cách bất thường và sớm mang những tỷ lệ gần như không thể kiểm soát. Điều này đã xảy ra trên quy mô lớn trong thời Atlantis và dẫn đến việc toàn bộ cõi cảm dục bị phơi bày, nhưng không được thấu hiểu. Khi ấy, những tiềm lực không mong muốn của nó được giải phóng lên cõi hồng trần và điều này dẫn đến cuộc chiến giữa hai trường phái lớn của các huyền nhiệm, Ánh Sáng và Bóng Tối—đỉnh điểm là sự hủy diệt của thế giới được biết đến lúc bấy giờ.

Today these potencies, light and dark, are again struggling for physical plane expression and supremacy but this time [579] the result is vastly different. The effort to produce soul contact or to hinder it is working out in the form of nervous diseases and pathological conditions and this is affecting potently the group activity of man. The effort by the dark forces to stimulate the lower psychic powers seems able to reach no deeper into matter and form than the etheric vehicles and from there to condition the physical body physiologically in the form of diseases, lesions, nervous troubles and brain afflictions and the many other ways in which the human being is rendered helpless and unfitted to cope with daily living and modern world conditions. But the mind nature has reached a stage of protective usefulness and some of the great guarding barriers which are flung up around humanity at this time are the spirit of scepticism, and the refusal to recognise the existence or the usefulness of the psychic powers. This is a point to be remembered.

Ngày nay, các tiềm lực này, sáng và tối, lại đang tranh đấu để biểu hiện và giành quyền tối thượng trên cõi hồng trần, nhưng lần này [579] kết quả khác biệt vô cùng. Nỗ lực tạo ra tiếp xúc linh hồn hoặc ngăn cản nó đang biểu hiện dưới hình thức các bệnh thần kinh và các tình trạng bệnh lý, và điều này đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động nhóm của con người. Nỗ lực của các mãnh lực tối nhằm kích thích các năng lực thông linh thấp dường như không thể đi sâu hơn vào vật chất và hình tướng ngoài các vận cụ dĩ thái, và từ đó tác động lên thể xác về mặt sinh lý dưới hình thức bệnh tật, thương tổn, rối loạn thần kinh và bệnh não cùng nhiều cách khác khiến con người trở nên bất lực và không thích hợp để đương đầu với đời sống hằng ngày và các điều kiện của thế giới hiện đại. Nhưng bản chất trí tuệ đã đạt đến một giai đoạn hữu dụng có tính bảo vệ, và một số hàng rào che chở lớn được dựng lên quanh nhân loại hiện nay là tinh thần hoài nghi, và sự từ chối công nhận sự hiện hữu hay tính hữu dụng của các năng lực thông linh. Đây là một điểm cần ghi nhớ.

I have several times used the expression “the premature awakening” of the psychic powers. By that I mean the abnormal unfoldment of the powers of clairvoyance and of clairaudience so that the entire lower levels of the astral plane stand revealed, though the possessor of these powers can neither control the phenomena of subtle sight and hearing, nor interpret correctly what he sees and hears. In the earlier animal or savage stage, these faculties are frequently normal and there is no mental reaction of any kind and, therefore, no undue strain is put upon the nervous system and the brain. There is what I might call a flat or unemotional acquiescence in the condition which is due to the complete lack of the interpretative sense and of the dramatic self-conscious attitude of the man who is beginning to use his mind. The moment the “I-consciousness” becomes uppermost, then the possession of these lower psychic powers becomes a hindrance and a complication. Temporarily, they must be thrust into the background in order that the mind principle may assert its control and the life of the soul can then flow out into matured and considered expression upon the physical plane. This relegation of the psychic powers to a position below the threshold of consciousness is the intent of the development planned for the Aryan race.

Tôi đã nhiều lần dùng cụm từ “sự thức tỉnh non sớm” của các năng lực thông linh. Bởi đó tôi muốn nói đến sự khai mở bất thường của các năng lực thông nhãn và thông nhĩ khiến toàn bộ các cấp thấp của cõi cảm dục bị phơi bày, dù người sở hữu các năng lực này không thể kiểm soát các hiện tượng của thị giác và thính giác vi tế, cũng không thể giải thích đúng điều y thấy và nghe. Trong giai đoạn động vật hay man dã sơ khai, các khả năng này thường là bình thường và không có bất kỳ phản ứng trí tuệ nào, và do đó không tạo ra sự căng thẳng quá mức nào lên hệ thần kinh và bộ não. Có điều mà tôi có thể gọi là một sự chấp nhận phẳng lặng hay vô cảm đối với tình trạng này, do hoàn toàn thiếu ý thức diễn giải và thiếu thái độ ngã thức đầy kịch tính của con người đang bắt đầu sử dụng trí tuệ mình. Ngay khi “I-consciousness” trở nên nổi trội, thì việc sở hữu các năng lực thông linh thấp này trở thành một trở ngại và một sự phức tạp. Tạm thời, chúng phải bị đẩy vào hậu cảnh để nguyên khí trí tuệ có thể khẳng định sự kiểm soát của nó, và đời sống của linh hồn khi ấy có thể tuôn chảy ra thành biểu hiện chín muồi và chín chắn trên cõi hồng trần. Việc đẩy các năng lực thông linh xuống một vị trí dưới ngưỡng tâm thức này là chủ đích của sự phát triển được hoạch định cho nhân loại Arya.

I would like here to point out that I use the word “Aryan” in contradistinction to the majority of the races found in Asia. Speaking generally, we can today classify the races into three groups:

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng tôi dùng từ “Arya” để đối lập với đa số các nhân loại được tìm thấy ở châu Á. Nói chung, ngày nay chúng ta có thể phân loại các nhân loại thành ba nhóm:

1. The many remnants of the Atlantean or fourth root-race people, plus a very small sprinkling of the Lemurian peoples—so small as to be negligible.

1. Nhiều tàn dư của dân Atlantis hay giống dân gốc thứ tư, cộng với một số rất nhỏ dân Lemuria—nhỏ đến mức có thể bỏ qua.

2. The Aryan race itself, which includes the civilisation of India and all Latins, Teutons, Nordics, and Anglo-Saxons, and their various offshoots.

2. Chính nhân loại Arya, bao gồm nền văn minh Ấn Độ và tất cả các dân tộc Latin, Teuton, Bắc Âu và Anglo-Saxon, cùng các nhánh phát sinh khác nhau của họ.

3. A group which bridges between the Oriental races and the Aryan race which we call the Semitic. This race is neither purely Oriental nor is it Aryan.

3. Một nhóm bắt cầu giữa các nhân loại phương Đông và nhân loại Arya mà chúng ta gọi là Semitic. Nhân loại này không hoàn toàn là phương Đông cũng không phải Arya.

The Jews are a group of people in whom the principle of separation is pronouncedly present. For ages they have, with determination and in obedience to the injunctions in the Old Testament, insisted on regarding themselves as a people set apart. For ages they have held themselves separated off from all other peoples in the world. The result is that they are now evoking from the races among whom they are scattered a corresponding desire to force that very separation upon them. Under the law, we draw forth from others what is actually present within ourselves, and to this law, races and nations are no exception. Through the inter-relation of Jew and Gentile, of Semitic and Aryan, and through the solving of [581] the Jewish problem will the great heresy of separateness eventually be fought out.

Người Do Thái là một nhóm người trong đó nguyên khí chia rẽ hiện diện một cách rõ rệt. Trong nhiều thời đại, với quyết tâm và tuân theo các huấn lệnh trong Cựu Ước, họ đã khăng khăng xem mình là một dân tộc được tách riêng. Trong nhiều thời đại, họ đã giữ mình tách biệt khỏi mọi dân tộc khác trên thế giới. Kết quả là hiện nay họ đang gợi lên từ các nhân loại mà họ sống phân tán giữa đó một khát vọng tương ứng muốn áp đặt chính sự tách biệt ấy lên họ. Theo định luật, chúng ta rút ra từ người khác điều thực sự hiện diện trong chính chúng ta, và đối với định luật này, các nhân loại và quốc gia cũng không là ngoại lệ. Chính qua mối tương quan giữa người Do Thái và dân ngoại, giữa Semitic và Arya, và qua việc giải quyết [581] vấn đề Do Thái mà Đại Tà thuyết về tính chia rẽ cuối cùng sẽ được giải quyết trong đấu tranh.

It is not intended that the Aryan race should be a psychic race. Their goal is bringing the mind nature into prominence. This could not take place if the “drift” of the forces, flowing into the human mechanism was in the direction of the solar plexus—the major centre, governing all lower psychic unfoldment. Just as certain transferences are going on today between the centres below the diaphragm into those above the diaphragm, so the solar plexus (which is like the controlling brain in the animal and the physical-emotional man) must cease finally to control the activities of the human being and the brain must become the seat of the directing agency in its place. Speaking again generally, there are three major controlling factors in the career of a human being:—

Không phải chủ đích rằng nhân loại Arya phải là một nhân loại thông linh. Mục tiêu của họ là đưa bản chất trí tuệ lên nổi bật. Điều này không thể xảy ra nếu “dòng trôi” của các mãnh lực, tuôn vào bộ máy con người, lại hướng về tùng thái dương—trung tâm chính chi phối mọi sự khai mở thông linh thấp. Cũng như ngày nay đang có những sự chuyển dịch nhất định giữa các trung tâm dưới cơ hoành lên các trung tâm trên cơ hoành, thì tùng thái dương (vốn giống như bộ não kiểm soát nơi động vật và con người hồng trần-cảm xúc) cuối cùng phải chấm dứt việc kiểm soát các hoạt động của con người, và bộ não phải trở thành chỗ ngự của tác nhân chỉ đạo thay thế nó. Nói chung một lần nữa, có ba yếu tố kiểm soát chính trong cuộc đời của một con người:—

1. The solar plexus, corresponding to that stage wherein the play of the forces is physical-etheric-astral.

1. Tùng thái dương, tương ứng với giai đoạn trong đó sự vận hành của các mãnh lực là hồng trần-dĩ thái-cảm dục.

This is the stage of psychic development.

Đây là giai đoạn phát triển thông linh.

2. The ajna centre between the eyebrows, corresponding to the period of integration and of personality control, wherein certain areas of the brain become sensitised and used.

2. Trung tâm ajna giữa hai chân mày, tương ứng với thời kỳ tích hợp và kiểm soát phàm ngã, trong đó một số vùng nhất định của bộ não trở nên nhạy cảm và được sử dụng.

This is the stage of mental development.

Đây là giai đoạn phát triển trí tuệ.

3. The head centre, involving the entire brain area around the pineal gland, wherein the spiritual man assumes control.

3. Trung tâm đầu, bao gồm toàn bộ vùng não quanh tuyến tùng, trong đó con người tinh thần nắm quyền kiểm soát.

This is the stage of soul control.

Đây là giai đoạn kiểm soát của linh hồn.

It is in this latter stage that the higher psychic faculties come into play and the lower powers can then again be used, if deemed desirable. The initiate has full control of all faculties and powers, and knows both when and how to use them the most profitably and with the least expenditure of energy. It [582] should be noted, however, that the average modern psychic or medium does not come under this category, for the initiates and Masters use all Their powers quietly and behind the scenes and not for demonstration before the public. The majority of psychics today are solar plexus workers, though a few—a very few—are beginning to shift their forces into the ajna centre and to develop mental faculties. This has an integrating effect and temporarily is marked by a complete and necessary cessation of the lower powers. In this sense “the mind is the slayer of the real”, but only of the relatively real. That which has seemed real and of importance or which proved interesting and exciting to the average psychic is eventually forced below the threshold of consciousness by the unfoldment of the mind. It is this needed transition period in the case of many of the modern psychics which lies at the root of a number of their undoubted difficulties. They are faced with issues they cannot resolve and which they do not understand as they have no background of occult practice or understanding. They have been brought to the point of discarding the old ways and yet the new techniques of living and of practice mean nothing to them. A future which must be faced without the phenomena which has made the past so exciting, interesting and frequently remunerative does not attract them. Yet, in reality they are faced with the transition out of the Atlantean state of consciousness into the higher and Aryan state of awareness. They are offered a step forward and need to remember that every step forward in evolution and, therefore, towards the spiritual goal, is always at a cost and through the relinquishing of that which has hitherto been held dear.

Chính trong giai đoạn sau cùng này mà các khả năng thông linh cao đi vào hoạt động, và khi ấy các năng lực thấp lại có thể được sử dụng, nếu được xem là đáng mong muốn. Điểm đạo đồ có toàn quyền kiểm soát mọi khả năng và năng lực, và biết cả khi nào lẫn cách nào để sử dụng chúng có lợi nhất và với sự tiêu hao năng lượng ít nhất. Tuy nhiên, [582] cần lưu ý rằng người thông linh hay đồng tử trung bình hiện đại không thuộc loại này, vì các điểm đạo đồ và các Chân sư sử dụng mọi năng lực của Các Ngài một cách lặng lẽ và sau hậu trường chứ không để biểu diễn trước công chúng. Đa số những người thông linh ngày nay là những người hoạt động qua tùng thái dương, dù một số ít—rất ít—đang bắt đầu chuyển các mãnh lực của họ vào trung tâm ajna và phát triển các khả năng trí tuệ. Điều này có tác dụng tích hợp và tạm thời được đánh dấu bằng sự chấm dứt hoàn toàn và cần thiết của các năng lực thấp. Theo nghĩa này, “trí tuệ là kẻ sát hại cái thực”, nhưng chỉ là cái thực tương đối. Điều đã từng có vẻ thực và quan trọng hoặc từng tỏ ra lý thú và kích thích đối với người thông linh trung bình cuối cùng bị buộc xuống dưới ngưỡng tâm thức bởi sự khai mở của trí tuệ. Chính giai đoạn chuyển tiếp cần thiết này trong trường hợp của nhiều người thông linh hiện đại là gốc rễ của một số khó khăn không thể phủ nhận của họ. Họ phải đối diện với những vấn đề mà họ không thể giải quyết và không thấu hiểu vì họ không có nền tảng thực hành hay thấu hiểu huyền bí học. Họ đã được đưa đến điểm phải từ bỏ những lối cũ, nhưng các kỹ thuật sống và thực hành mới lại không có ý nghĩa gì đối với họ. Một tương lai phải đối diện mà không có các hiện tượng đã làm cho quá khứ trở nên quá kích thích, lý thú và thường đem lại thu nhập thì không hấp dẫn họ. Tuy nhiên, trên thực tế họ đang đối diện với sự chuyển tiếp ra khỏi trạng thái tâm thức Atlantis để đi vào trạng thái nhận biết cao hơn và Arya. Họ được trao cho một bước tiến lên và cần nhớ rằng mỗi bước tiến lên trong tiến hoá, và do đó hướng tới mục tiêu tinh thần, luôn luôn phải trả giá và thông qua việc từ bỏ điều cho đến nay vẫn được trân quý.

The psychical difficulties which eventually are many, fall into three general categories:

Những khó khăn thông linh mà cuối cùng trở nên rất nhiều, rơi vào ba loại tổng quát:

[583]

[583]

1. Those arising from the premature awakening of the centres. In these cases, the psychic has no control whatsoever over his powers. He simply knows that he sees and hears that which cannot be seen and heard by the average man. His problem is to live consciously and simultaneously upon the physical and astral planes. He cannot stop himself seeing and hearing and his life becomes most complex and complicated. Where there is this premature awakening in the case of the intellectual man, it frequently produces great difficulty, nervous tension, brain disturbance and always misunderstanding from those around. There is many times a definite drift into insanity. In the case of the average unintelligent person, there is usually a shift of the life—emphasis on to the astral plane and away from the physical plane where it is intended that men should express all that is in them. The psychic then lives altogether in the world of glamour and of lower psychic phenomena. What he sees and relates is truly and sincerely what he has noted but there is no interpretative ability. It is seldom of a high order because the psychic is not of a high order of mentality or influence himself.

1. Những trường hợp phát sinh từ sự thức tỉnh non sớm của các trung tâm. Trong các trường hợp này, người thông linh hoàn toàn không có sự kiểm soát nào đối với các năng lực của mình. Y chỉ đơn giản biết rằng y thấy và nghe điều mà người bình thường không thể thấy và nghe. Vấn đề của y là sống một cách hữu thức và đồng thời trên cõi hồng trần và cõi cảm dục. Y không thể ngăn mình thấy và nghe, và đời sống của y trở nên hết sức phức tạp và rối ren. Khi có sự thức tỉnh non sớm này nơi người trí thức, nó thường gây ra khó khăn lớn, căng thẳng thần kinh, rối loạn não bộ và luôn luôn bị những người chung quanh hiểu lầm. Nhiều lần có một xu hướng rõ rệt đi vào điên loạn. Trong trường hợp người trung bình kém thông minh, thường có một sự chuyển dịch trọng tâm đời sống sang cõi cảm dục và rời khỏi cõi hồng trần, nơi con người được dự định phải biểu lộ tất cả những gì ở trong họ. Khi đó người thông linh sống hoàn toàn trong thế giới của ảo cảm và các hiện tượng thông linh thấp. Điều y thấy và thuật lại thật sự và chân thành là điều y đã ghi nhận, nhưng không có khả năng diễn giải. Điều đó hiếm khi thuộc loại cao, vì bản thân người thông linh không thuộc một trình độ trí tuệ hay ảnh hưởng cao.

2. Those arising out of a loose connection existing between the physical body and the etheric body. This produces the various stages of mediumship, of control by entities of some kind or another, of trance conditions and of many kinds of obsession, temporary or permanent.

2. Những trường hợp phát sinh từ một sự liên kết lỏng lẻo hiện hữu giữa thể xác và thể dĩ thái. Điều này tạo ra các giai đoạn khác nhau của đồng tử tính, của sự bị các thực thể thuộc loại này hay loại khác kiểm soát, của các trạng thái xuất thần và của nhiều loại ám nhập, tạm thời hay thường trực.

I do not include in this list the work of the materialising mediums, for their work is of a totally different kind and though not so dangerous to the personality of the medium is perhaps still more undesirable. So completely is the medium divorced (as an astral-mental-soul individual) from his physical body that it becomes dominant [584] in its own field (the material) and can absorb—through the many etheric orifices—the stuff of which certain of the lower forms are constituted; it can attract the primitive substance of a low grade which can be built into shape (and often is) by the thought, either of a sitter or of a group of sitters in a so-called “materialising seance”. With these the medium is en rapport subconsciously. This is not a telepathic rapport but a solar plexus, a psychic rapport. The subject is too abstruse for elaboration here and this form of mediumship must inevitably be discarded as the evolution of the race proceeds.

Tôi không kể vào danh sách này công việc của các đồng tử hiện hình, vì công việc của họ thuộc một loại hoàn toàn khác, và tuy không nguy hiểm cho phàm ngã của đồng tử bằng, có lẽ vẫn còn đáng tránh hơn nữa. Đồng tử bị tách rời hoàn toàn khỏi thể xác của mình (với tư cách một cá nhân cảm dục-trí tuệ-linh hồn), đến nỗi thể xác trở nên chi phối trong lĩnh vực riêng của nó (lĩnh vực vật chất) và có thể hấp thu—qua nhiều lỗ mở dĩ thái—chất liệu mà từ đó một số hình tướng thấp được cấu thành; nó có thể thu hút chất liệu nguyên sơ cấp thấp, thứ có thể được xây dựng thành hình dạng (và thường là như vậy) bởi tư tưởng của một người ngồi dự, hay của một nhóm người ngồi dự trong một “Buổi gọi hồn hiện hình” như người ta gọi. Với những người này, đồng tử ở trong trạng thái tương thông một cách tiềm thức. Đây không phải là sự tương thông viễn cảm mà là sự tương thông thông linh của tùng thái dương. Đề tài này quá thâm áo để khai triển ở đây, và hình thức đồng tử tính này tất yếu phải bị loại bỏ khi sự tiến hoá của nhân loại tiếp diễn.

3. Those which are indicative of an exceeding sensitivity to impressions, to conditions and to atmospheres, surrounding the psychic. This sensitivity is of a somewhat inchoate nature and is difficult to define, but it is analogous to the general sense of Touch. There is no part of the human frame which, if it is touched in a certain manner, will not react. So the sensitive will register psychic awareness of a more general nature than that of the defined powers. We have consequently:

3. Những trường hợp biểu thị một sự nhạy cảm quá mức đối với các ấn tượng, các điều kiện và các bầu khí bao quanh người thông linh. Sự nhạy cảm này có bản chất phần nào chưa định hình và khó xác định, nhưng nó tương tự với cảm giác chung về Xúc chạm. Không có phần nào của cơ thể con người mà, nếu bị chạm theo một cách nào đó, lại không phản ứng. Cũng vậy, người nhạy cảm sẽ ghi nhận một nhận biết thông linh có tính tổng quát hơn là các năng lực xác định. Do đó, chúng ta có:

Physical Psychic Higher Correspondence

Hồng trần Thông linh Tương ứng Cao hơn

a. Hearing…Clairaudience…This leads eventually to mental telepathy and finally to spiritual knowledge.

a. Thính giác…Thông nhĩ…Điều này cuối cùng dẫn đến viễn cảm trí tuệ và sau hết đến tri thức tinh thần.

b. Sight…Clairvoyance…This leads eventually to spiritual vision and finally to spiritual identification.

b. Thị giác…Thông nhãn…Điều này cuối cùng dẫn đến linh thị tinh thần và sau hết đến sự đồng hoá tinh thần.

c. Touch…Sensitivity…This leads eventually to spiritual aspiration and finally to spiritual impressibility.

c. Xúc giác…Sự nhạy cảm…Điều này cuối cùng dẫn đến khát vọng tinh thần và sau hết đến tính cảm ứng tinh thần.

It might here be pointed out that mystical development and aspiration are the way of escape from the highest aspect of the Atlantean consciousness. This is itself astral in nature. [585] Occultism and science are the way of escape from the highest expression of the concrete mind, and from the Aryan consciousness, which is mental in nature. Sensitivity or the psychic sense of touch is etheric in nature, is general in expression and must eventually give place to that spiritual impressibility which enables a man, like the Christ, simply to “know” what is in his fellow man and to be aware of his condition and of the condition of life in all forms. It is the first step towards that universal spiritual key of which psychometry is the lowest expression.

Ở đây có thể chỉ ra rằng sự phát triển thần bí và khát vọng là con đường thoát khỏi phương diện cao nhất của tâm thức Atlantis. Bản thân điều này có bản chất cảm dục. [585] Huyền bí học và khoa học là con đường thoát khỏi biểu hiện cao nhất của trí cụ thể, và khỏi tâm thức Arya, vốn có bản chất trí tuệ. Sự nhạy cảm hay cảm giác xúc chạm thông linh có bản chất dĩ thái, có biểu hiện tổng quát, và cuối cùng phải nhường chỗ cho tính cảm ứng tinh thần, điều giúp một người, như Đức Christ, đơn giản “biết” điều gì ở trong người đồng loại của mình và nhận biết trạng thái của họ cũng như trạng thái của sự sống trong mọi hình tướng. Đó là bước đầu tiên hướng tới chiếc chìa khóa tinh thần phổ quát mà Thuật trắc tâm là biểu hiện thấp nhất của nó.

In the above paragraph and differentiations I have given you much food for thought and indicated a sequence of unfoldment which is individual, racial and universal.

Trong đoạn trên và các sự phân biệt ấy, tôi đã cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm và đã chỉ ra một chuỗi khai mở có tính cá nhân, chủng tộc và phổ quát.

If we extend these ideas into their planetary connotations (which is interesting but probably quite useless to you) I would add that:

Nếu chúng ta mở rộng các ý tưởng này vào các hàm nghĩa hành tinh của chúng (điều này thú vị nhưng có lẽ khá vô ích đối với các bạn), tôi sẽ thêm rằng:

1. Touch…..is the keynote of the evolution proceeding at this time on Venus. It is sensitivity to spiritual impression.

1. Xúc chạm…..là chủ âm của sự tiến hoá đang diễn ra vào lúc này trên Sao Kim. Đó là sự nhạy cảm đối với cảm ứng tinh thần.

2. Hearing….is the keynote of the evolution proceeding at this time on Mars. It is spiritual telepathy and knowledge.

2. Thính giác….là chủ âm của sự tiến hoá đang diễn ra vào lúc này trên Sao Hỏa. Đó là viễn cảm tinh thần và tri thức.

3. Sight……is the keynote of the evolution proceeding at this time on the Earth. It is spiritual vision leading to identification.

3. Thị giác……là chủ âm của sự tiến hoá đang diễn ra vào lúc này trên Trái Đất. Đó là linh thị tinh thần dẫn đến sự đồng hoá.

Let us now consider how the abuse of the lower psychic powers may be arrested temporarily until such time as the initiate may seek to use them, in full consciousness and with full control.

Bây giờ chúng ta hãy xét xem sự lạm dụng các năng lực thông linh thấp có thể được ngăn chặn tạm thời như thế nào cho đến khi điểm đạo đồ có thể tìm cách sử dụng chúng, trong đầy đủ tâm thức và với sự kiểm soát trọn vẹn.

The prime difficulty of the natural psychic and of the man who is born as a medium is his inability intelligently to control the phenomena evidenced. Lack of control of the physical powers is deemed highly undesirable. Lack of psychic control should also be relegated to the same category. The [586] medium is either in trance or his psychic powers are brought into expression through the stimulation which comes from his contact with the group of sitters in the seance room or from a large audience. In other cases, he is all the time living on the borderland of consciousness between the physical and the psychic or astral planes. How can this be changed, provided the medium wishes for such a change, which is rare indeed. In three ways only:

Khó khăn chính của người thông linh bẩm sinh và của người sinh ra đã là đồng tử là sự bất lực của y trong việc kiểm soát một cách thông minh các hiện tượng được biểu lộ. Sự thiếu kiểm soát đối với các năng lực hồng trần bị xem là rất không đáng mong muốn. Sự thiếu kiểm soát thông linh cũng nên được xếp vào cùng loại như vậy. [586] Đồng tử hoặc ở trong trạng thái xuất thần, hoặc các năng lực thông linh của y được đưa vào biểu lộ qua sự kích thích đến từ sự tiếp xúc của y với nhóm người ngồi dự trong phòng gọi hồn hay từ một cử tọa đông đảo. Trong các trường hợp khác, y luôn luôn sống trên ranh giới tâm thức giữa cõi hồng trần và các cõi thông linh hay cảm dục. Điều này có thể được thay đổi như thế nào, giả sử đồng tử mong muốn một sự thay đổi như vậy, điều quả thật hiếm hoi? Chỉ bằng ba cách:

1. By ceasing to be interested in the display of these powers, by refusing to use them any more and by this means causing them gradually to die out. This leads to the closing of the solar plexus centre (and consequently of the open door to the lower levels of the astral plane) and the atrophying of that part of the inner mechanism which has made these powers available.

1. Bằng cách thôi không còn quan tâm đến việc phô diễn các năng lực này, bằng cách từ chối không sử dụng chúng nữa, và bằng phương tiện đó khiến chúng dần dần tàn lụi. Điều này dẫn đến việc đóng trung tâm tùng thái dương (và do đó đóng cánh cửa mở vào các cấp thấp của cõi cảm dục) và làm teo đi phần của bộ máy bên trong vốn đã khiến các năng lực này trở nên khả dụng.

2. By the transference of the attention to the mystical life and to the expression of an intense aspiration towards the spiritual realities. This provides the new interest which eventually becomes dynamically expulsive of the old interests and thus tends to shift the life-emphasis away from the lower levels of the astral plane to the higher levels. This also presupposes a tendency to spiritual orientation on the part of the psychic.

2. Bằng cách chuyển sự chú ý sang đời sống thần bí và sang sự biểu lộ một khát vọng mãnh liệt hướng tới các thực tại tinh thần. Điều này cung cấp mối quan tâm mới, cuối cùng trở nên có tính xua đẩy mạnh mẽ đối với các mối quan tâm cũ, và do đó có khuynh hướng chuyển trọng tâm đời sống ra khỏi các cấp thấp của cõi cảm dục lên các cấp cao hơn. Điều này cũng giả định nơi người thông linh có một xu hướng hướng về tinh thần.

3. By a course of intellectual training and of mental development which would, if persisted in for a sufficient length of time, automatically make the use of the lower powers impossible because the shift of the flow of energy will be into the centres above the diaphragm. It is well known in psychic circles that mental training does bring to a close the psychic cycle.

3. Bằng một tiến trình huấn luyện trí tuệ và phát triển trí tuệ mà, nếu được kiên trì đủ lâu, sẽ tự động làm cho việc sử dụng các năng lực thấp trở nên bất khả, vì sự chuyển dịch của dòng năng lượng sẽ đi vào các trung tâm ở phía trên cơ hoành. Trong các giới thông linh, người ta biết rõ rằng sự huấn luyện trí tuệ quả thật đưa chu kỳ thông linh đến chỗ kết thúc.

There are three ancient rules which—in the last period of the Atlantean cycle—were given by the Adepts of the time [587] to Their disciples. You must bear in mind that the problem before the Hierarchy at that time was to bring to an end temporarily the then normal psychic emphasis and start the flow of the forces to the upper part of the body. These three rules can be connected in your minds with the three methods touched upon above.

Có ba quy luật cổ xưa mà—trong thời kỳ cuối của chu kỳ Atlantis—đã được các chân sư thời đó [587] ban cho các đệ tử của Các Ngài. Các bạn phải ghi nhớ rằng vấn đề đặt ra trước Thánh đoàn vào thời ấy là tạm thời chấm dứt sự nhấn mạnh thông linh khi đó là bình thường và khởi động dòng chảy của các mãnh lực lên phần trên của cơ thể. Ba quy luật này có thể được liên kết trong tâm trí các bạn với ba phương pháp đã được đề cập ở trên.

I. Shun the pits of hell, Oh, Chela. Let your feet go hurrying from the lower way and seek the upper reaches of the plane of glamour. Ascend. Choose for your good companions those who live a life of arduous labour upon the plains of earth. Depart. Descend and live the normal life of Earth. Depart.

I. Hãy tránh các hố địa ngục, hỡi đệ tử. Hãy để đôi chân con vội vã rời xa con đường thấp và tìm đến các vùng cao hơn của cõi ảo cảm. Hãy đi lên. Hãy chọn làm bạn tốt của con những người sống một đời lao động nhọc nhằn trên các đồng bằng của Trái Đất. Hãy rời đi. Hãy đi xuống và sống đời sống bình thường của Trái Đất. Hãy rời đi.

II. Lift up thine eyes, Oh, Chela, and cleanse thine heart and see the vision of thy soul. Look up, not down; within, not out. Live free and hasten towards the higher goal. Depart and seek the distant secret place where dwells thy soul.

II. Hãy ngước mắt lên, hỡi đệ tử, và thanh tẩy trái tim con rồi nhìn thấy linh ảnh của linh hồn con. Hãy nhìn lên, đừng nhìn xuống; nhìn vào trong, đừng nhìn ra ngoài. Hãy sống tự do và mau tiến về mục tiêu cao hơn. Hãy rời đi và tìm nơi bí mật xa xăm nơi linh hồn con ngự trị.

III. Energy follows thought, the ancient rule proclaims. Think, Chela, think and leave behind the realms where thought rules not and where no light revealing can be seen but only self-engendered light and thus deluding. So, therefore, think.

III. Năng lượng đi theo tư tưởng, quy luật cổ xưa tuyên bố như vậy. Hãy suy nghĩ, hỡi đệ tử, hãy suy nghĩ và bỏ lại phía sau các cõi nơi tư tưởng không cai quản và nơi không thể thấy ánh sáng mặc khải nào, mà chỉ có ánh sáng tự phát sinh và vì thế mê hoặc. Do đó, hãy suy nghĩ.

These rules sound simple and familiar but are of profound difficulty to follow, particularly in the ease of the average psychic, and this for two reasons; first, he does not truly desire the loss of the power which the use of the powers confers, and secondly, his mental perception is as a rule so undeveloped that the effort to transfer his consciousness into the higher levels of expression proves too arduous a task. But, where the will is active and the peril entailed by continuing to work on the lowest astral levels is adequately perceived, then in due time the needed effort will be made.

Các quy luật này nghe có vẻ đơn giản và quen thuộc nhưng lại cực kỳ khó tuân theo, đặc biệt trong trường hợp người thông linh trung bình, và điều này vì hai lý do; thứ nhất, y không thật sự mong muốn mất đi quyền năng mà việc sử dụng các năng lực ấy mang lại, và thứ hai, tri giác trí tuệ của y theo quy luật chung kém phát triển đến nỗi nỗ lực chuyển tâm thức của y vào các cấp biểu lộ cao hơn tỏ ra là một nhiệm vụ quá gian nan. Nhưng khi ý chí hoạt động và mối nguy hàm chứa trong việc tiếp tục hoạt động trên các cấp thấp nhất của cõi cảm dục được nhận thức đầy đủ, thì đến lúc thích hợp nỗ lực cần thiết sẽ được thực hiện.

[588]

[588]

The above rules apply to the psychic who is willing enough and intelligent enough to change his orientation and type of work. But what of the man who has drifted into the dangerous ways of the lower psychism when he is an Aryan in consciousness and not an Atlantean? What can he do if the solar plexus centre is over-active and the door to the astral plane stands wide open? He seeks to shut it and to function normally; he distrusts and fears his psychic powers of sight and hearing. There is no one specific or one rule of conduct for much is dependent upon the originating cause, but I will here suggest various rules and remedial lines of behaviour.

Các quy luật trên áp dụng cho người thông linh đủ thiện chí và đủ thông minh để thay đổi sự định hướng và loại công việc của mình. Nhưng còn người đã trượt vào các con đường nguy hiểm của thông linh thấp khi y có tâm thức Arya chứ không phải Atlantis thì sao? Y có thể làm gì nếu trung tâm tùng thái dương quá hoạt động và cánh cửa vào cõi cảm dục mở toang? Y tìm cách đóng nó lại và hoạt động bình thường; y ngờ vực và sợ hãi các năng lực thông linh về thấy và nghe của mình. Không có một phương cách đặc thù hay một quy luật ứng xử duy nhất nào, vì phần lớn phụ thuộc vào nguyên nhân khởi phát, nhưng ở đây tôi sẽ gợi ý nhiều quy luật và đường lối xử sự chữa trị khác nhau.

1. If the door to the astral plane has been opened by following certain breathing exercises, plus certain postures, and other methods taught by ignorant teachers at this time, I would suggest certain preliminary and necessary steps, as follows:

1. Nếu cánh cửa vào cõi cảm dục đã được mở ra do theo đuổi một số bài tập thở, cộng với một số tư thế và các phương pháp khác do những huấn sư thiếu hiểu biết dạy vào lúc này, tôi xin đề nghị một số bước sơ khởi và cần thiết như sau:

a. Let the man drop all such exercises and postures and avoid all contact with the teacher. This is a first and necessary step.

a. Hãy để người ấy từ bỏ tất cả các bài tập và tư thế như vậy và tránh mọi tiếp xúc với huấn sư. Đây là bước đầu tiên và cần thiết.

b. Let him live a full life of physical activity, permitting himself no time for the introspective life. If he is materially minded, let him fulfill his commercial, business or social obligations, by physical plane interests and his due responsibilities with every power he has, permitting himself no backward thought.

b. Hãy để y sống một đời sống đầy đủ của hoạt động hồng trần, không cho phép mình có thời gian cho đời sống nội quan. Nếu y thiên về vật chất, hãy để y hoàn thành các nghĩa vụ thương mại, kinh doanh hay xã hội của mình, bằng các mối quan tâm trên cõi hồng trần và các trách nhiệm chính đáng của mình với tất cả năng lực y có, không cho phép mình có bất kỳ ý nghĩ ngoái lại nào.

c. Let him focus his attention upon the things of physical living until such time as evolution carries him to the stage of mental focussing and spiritual orientation. Before this can be done, the lower door must be closed. Let him, therefore, control emotion, for emotion serves to keep the door ajar and facilitates astral experience.

c. Hãy để y tập trung sự chú ý vào những điều của đời sống hồng trần cho đến khi tiến hoá đưa y đến giai đoạn tập trung trí tuệ và định hướng tinh thần. Trước khi điều này có thể được thực hiện, cánh cửa thấp phải được đóng lại. Vì vậy, hãy để y kiểm soát cảm xúc, vì cảm xúc giúp giữ cánh cửa hé mở và tạo điều kiện cho kinh nghiệm cảm dục.

[589]

[589]

d. Let him “learn to work and think with the spine and head and not with the forefront of the body”, as the ancient rule can be translated. The idea is that the average psychic regards the solar plexus and throat centres (the only two about which they seem to know anything) as existing in the front and centre of the torso or the front of the throat. This carries the energy downwards by the involutionary route and not upwards by the evolutionary route of the spinal column. This is of moment.

d. Hãy để y “học cách làm việc và suy nghĩ bằng cột sống và đầu chứ không bằng phần trước của cơ thể”, như quy luật cổ xưa có thể được dịch như vậy. Ý tưởng là người thông linh trung bình xem trung tâm tùng thái dương và trung tâm cổ họng (hai trung tâm duy nhất mà dường như họ biết chút ít) như hiện hữu ở phía trước và trung tâm của thân mình hay phía trước cổ họng. Điều này mang năng lượng đi xuống theo con đường giáng hạ tiến hoá chứ không đi lên theo con đường thăng thượng tiến hoá của cột sống. Điều này rất quan trọng.

2. If the door to the astral plane is open because of natural birthright, the activity of previous lives and because the flow of the forces normally focusses in the solar plexus, the problem is much more difficult. It will be necessary to gain:

2. Nếu cánh cửa vào cõi cảm dục mở ra do quyền bẩm sinh tự nhiên, do hoạt động của các kiếp trước và vì dòng chảy của các mãnh lực bình thường tập trung ở tùng thái dương, thì vấn đề khó khăn hơn nhiều. Sẽ cần phải đạt được:

a. Some understanding of the etheric constitution of man and teaching must be given as to the nature of the centres of force so that the Aryan psychic has some intelligent background upon which to work. The effort must be made to build a healthy body.

a. Một số hiểu biết về cấu tạo dĩ thái của con người, và phải có giáo huấn về bản chất của các trung tâm mãnh lực để người thông linh Arya có được một nền tảng thông minh nào đó để làm việc. Phải nỗ lực xây dựng một cơ thể lành mạnh.

b. Higher goals must be emphasised and the necessity for the life of service must be stressed. I would remind you that service is a scientific method whereby the forces which awaken stimulate and control the solar plexus are directed to the heart centre, thus causing the closing of the astral door and a decentralisation of the interests of the psychic. This decentralisation is technically fulfilled when the central plexus is no longer the dominant factor and the thought interests of the man are of a different nature.

b. Các mục tiêu cao hơn phải được nhấn mạnh và sự cần thiết của đời sống phụng sự phải được nhấn mạnh. Tôi xin nhắc các bạn rằng phụng sự là một phương pháp khoa học nhờ đó các mãnh lực đánh thức, kích thích và kiểm soát tùng thái dương được chuyển hướng đến trung tâm tim, nhờ vậy làm đóng cánh cửa cảm dục và tạo ra sự phi tập trung vào bản thân nơi các mối quan tâm của người thông linh. Về mặt kỹ thuật, sự phi tập trung này được hoàn tất khi đám rối trung tâm không còn là yếu tố chi phối và các mối quan tâm tư tưởng của người ấy có bản chất khác.

c. One other practical hint may be useful here. When the psychic is at the Aryan stage of unfoldment and is not simply at the Atlantean then much good can [590] come from the frequent use of the colour yellow. He should surround himself with that colour, for it serves to keep the inflowing energies in the head or to prevent their descent no lower than the diaphragm. This deprives the solar plexus of a constant inflow of energy and greatly aids in freeing of the psychic from the astral plane. I would point out here that the psychic with the Atlantean consciousness (and they constitute the great majority) is functioning normally when displaying the psychic faculties, though along an arc of retrogression, but the man with the Aryan consciousness who displays these powers is an abnormality.

c. Một gợi ý thực tiễn khác có thể hữu ích ở đây. Khi người thông linh ở giai đoạn khai mở Arya chứ không đơn thuần ở Atlantis, thì nhiều điều tốt đẹp có thể [590] đến từ việc thường xuyên sử dụng màu vàng. Y nên bao quanh mình bằng màu ấy, vì nó giúp giữ các năng lượng đang tuôn vào ở trong đầu hoặc ngăn không cho chúng hạ xuống thấp hơn cơ hoành. Điều này tước mất nơi tùng thái dương một dòng năng lượng tuôn vào liên tục và hỗ trợ rất nhiều trong việc giải thoát người thông linh khỏi cõi cảm dục. Ở đây tôi xin chỉ ra rằng người thông linh với tâm thức Atlantis (và họ chiếm đại đa số) đang hoạt động bình thường khi biểu lộ các năng lực thông linh, dù là dọc theo một cung thoái hóa, nhưng người có tâm thức Arya mà biểu lộ các năng lực này thì là một điều bất thường.

3. Where the danger is of a serious nature, producing great nervous tension or excessive debility, extreme care must be used. Where there is a violent fight against the psychic activity going on, or where there is a nervous breakdown and loss of mental grip and control, then it is essential that at times the psychic should be forced to take a long rest in bed, with light diet and complete freedom from all contacts. It may be necessary at times to put him under restraint. Today, many such cases fighting hard for mental equilibrium and seeking to close the astral door—are deemed insane or on the border line of insanity. Their plight is greatly enhanced by the lack of understanding of their friends, and of the consulting physicians and psychologists. Their trouble is not mental but is entirely related to the solar plexus. Only when this is recognised will we begin to have a right handling of these problem cases. It is rare indeed to find a psychologist who would be willing to admit the possibility of these premises.

3. Khi mối nguy có tính chất nghiêm trọng, gây ra căng thẳng thần kinh lớn hay suy nhược quá mức, phải hết sức cẩn trọng. Khi có một cuộc chiến dữ dội chống lại hoạt động thông linh đang diễn ra, hoặc khi có sự suy sụp thần kinh và mất sự nắm giữ và kiểm soát trí tuệ, thì điều thiết yếu là đôi khi người thông linh phải bị buộc nghỉ ngơi lâu trên giường, với chế độ ăn nhẹ và hoàn toàn không tiếp xúc với ai. Đôi khi có thể cần phải đặt y dưới sự kiềm chế. Ngày nay, nhiều trường hợp như vậy đang chiến đấu quyết liệt để giữ quân bình trí tuệ và tìm cách đóng cánh cửa cảm dục—bị xem là điên hoặc ở ranh giới của điên loạn. Hoàn cảnh khốn khó của họ bị làm trầm trọng thêm rất nhiều bởi sự thiếu hiểu biết của bạn bè họ, cũng như của các bác sĩ và nhà tâm lý học được mời tham vấn. Rắc rối của họ không phải là trí tuệ mà hoàn toàn liên hệ đến tùng thái dương. Chỉ khi điều này được nhận ra, chúng ta mới bắt đầu có được cách xử lý đúng đắn các trường hợp nan giải này. Quả thật hiếm có một nhà tâm lý học nào sẵn lòng thừa nhận khả năng của các tiền đề này.

[591]

[591]

When psychic difficulties arise in the case of the advanced mystic, the disciple or the occult student, the mode of approach has to be more definitely scientific, for the trouble is more deep-seated owing to the fact that the mind is more involved. Definite work with the centres up the spine and in the head is in order but must be carried forward under careful supervision. I cannot here give the exercises which lead to—

Khi các khó khăn thông linh phát sinh trong trường hợp nhà thần bí tiến bộ, đệ tử hay đạo sinh huyền bí học, phương pháp tiếp cận phải rõ ràng có tính khoa học hơn, vì rắc rối ăn sâu hơn do sự kiện thể trí can dự nhiều hơn. Công việc xác định với các trung tâm dọc cột sống và trong đầu là điều cần làm, nhưng phải được tiến hành dưới sự giám sát cẩn trọng. Ở đây tôi không thể đưa ra các bài tập dẫn đến—

1. The closing of the different centres,

1. Việc đóng các trung tâm khác nhau,

2. The opening of the higher centres.

2. Việc mở các trung tâm cao hơn.

3. The transference of force from one centre to another.

3. Việc chuyển dịch mãnh lực từ trung tâm này sang trung tâm khác.

This treatise is intended primarily for the general public and will be widely read during the next generation. Should I give them here, my readers might experiment with them and only succeed in doing real harm to themselves.

Bộ luận này trước hết dành cho công chúng nói chung và sẽ được đọc rộng rãi trong thế hệ kế tiếp. Nếu tôi đưa chúng ra ở đây, độc giả của tôi có thể thử nghiệm với chúng và chỉ thành công trong việc tự gây hại thực sự cho chính mình.

The Science of the Breath, which is the science of laya yoga or the science of the centres, is one of profound importance and one of real danger as well. It is, in the last analysis, the Science of Energy and teaches the method whereby energy can be controlled, directed and utilised for the expanding of the consciousness, for the establishing of right relations between the man and his environment and, above all (in the case of those affiliated with the Great White Lodge), for the production of white magic. This pranic energy works through the vital body and courses through the many “nadis” found therein. These “nadis” exist in their millions and are minute channels of force which underlie the entire nervous system of man. Of this they are the counterpart and the animating factor, making sensitivity possible and producing that action and reaction which converts the mechanism of man into an intricate “receiver” of energy and “director” of force. Each [592] of these tiny lines of energy are fivefold in nature and resemble five strands or fibers of force, closely knit together within a covering sheath of a different force. These forces are bound together in a cross-sectional relation.

Khoa Học về Hơi Thở, tức khoa học của laya yoga hay khoa học về các trung tâm, là một khoa học có tầm quan trọng sâu xa và cũng là một khoa học thật sự nguy hiểm. Xét đến cùng, đó là Khoa Học về Năng Lượng và dạy phương pháp nhờ đó năng lượng có thể được kiểm soát, định hướng và sử dụng để mở rộng tâm thức, để thiết lập các mối liên hệ đúng đắn giữa con người và môi trường của mình, và trên hết (trong trường hợp những người liên kết với Thánh đoàn), để tạo ra chánh thuật. Năng lượng prana này hoạt động qua thể sinh lực/thể dĩ thái và lưu chuyển qua nhiều “nadis” có trong đó. Các “nadis” này hiện hữu với số lượng hàng triệu và là những kênh mãnh lực cực nhỏ nằm bên dưới toàn bộ hệ thần kinh của con người. Chúng là đối phần và là yếu tố hoạt hóa của hệ thần kinh, làm cho sự nhạy cảm trở nên khả hữu và tạo ra hành động và phản ứng biến bộ máy của con người thành một “máy thu” năng lượng và một “bộ dẫn truyền” mãnh lực phức tạp. Mỗi [592] đường năng lượng nhỏ bé này có bản chất ngũ phân và giống như năm sợi hay thớ mãnh lực, kết chặt với nhau trong một vỏ bọc bằng một mãnh lực khác. Các mãnh lực này được liên kết với nhau trong một tương quan cắt ngang.

It is to be noted, also, that these five types of energy form one closely knit unit, and these units form, in their entirety, the etheric sheath itself. Through these five channels flow the fire major pranas—energising, galvanising and controlling the entire human organism. There is no part of the physical body which this network of energies does not underlie or “sub-stand”. This is the true form or substance.

Cũng cần lưu ý rằng năm loại năng lượng này tạo thành một đơn vị kết chặt, và toàn bộ các đơn vị này tạo thành chính vỏ dĩ thái. Qua năm kênh này chảy các đại prana của lửa—tiếp sinh lực, kích hoạt và kiểm soát toàn bộ cơ thể con người. Không có phần nào của thể xác mà mạng lưới năng lượng này không nằm bên dưới hay “nâng đỡ”. Đây là hình tướng hay chất liệu đích thực.

Where the lines of force cross and recross, as they repeat in the microcosm the involutionary and evolutionary arcs of the macrocosm, there are formed five areas up the spinal column and two in the head where the energies are more potent than elsewhere, because more concentrated. Thus you have the appearance of the major centres. Throughout the entire body, these crossings and recrossings occur and so the equipment of energy centres is brought into being:

Ở nơi các đường mãnh lực giao cắt và tái giao cắt, khi chúng lặp lại trong tiểu thiên địa các cung giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá của đại thiên địa, thì hình thành năm khu vực dọc cột sống và hai khu vực trong đầu, nơi các năng lượng mạnh hơn ở những nơi khác vì tập trung hơn. Như vậy các bạn có sự xuất hiện của các trung tâm chính. Khắp toàn thân, các sự giao cắt và tái giao cắt này xảy ra, và do đó bộ trang bị các trung tâm năng lượng được hình thành:

1. Where the lines of force cross 21 times, a major centre is found. Of these there are seven.

1. Ở nơi các đường mãnh lực giao cắt 21 lần, một trung tâm chính được tìm thấy. Có bảy trung tâm như vậy.

2. Where they cross 14 times, you have the appearance of the minor centres, to which I earlier referred.

2. Ở nơi chúng giao cắt 14 lần, các bạn có sự xuất hiện của các trung tâm phụ mà trước đây tôi đã đề cập.

3. Where they cross 7 times, you have tiny centres and of these minute centres there are many hundreds.

3. Ở nơi chúng giao cắt 7 lần, các bạn có các trung tâm nhỏ li ti, và có nhiều trăm trung tâm cực nhỏ như vậy.

Some day the entire etheric body will be charted and the general direction of the lines of force will then be seen. The great sweep of the energies will be apparent, the point in evolution more easily established and the psychic situation infallibly indicated. The intricacy of the subject is, however, very great, owing to just this difference in the evolutionary development of the vehicles, the stage of the expanding consciousness [593] and the receptivity to stimulation of the human being. The Science of Meditation will eventually absorb the science of laya-yoga but only in the highest form of the latter. The goal of meditation is to bring about the free play of all the incoming forces so that there is no impediment offered at any point to the incoming energy of the soul; so that no obstruction and congestion is permitted and no lack of power—physical, psychic, mental and spiritual—is to be found in any part of the body. This will mean not only good health and the full and free use of all the faculties (higher and lower) but direct contact with the soul. It will produce that constant renewing of the body which is characteristic of the life expression of the initiate and the Master, as well as of the disciple, only in a lesser degree. It will produce rhythmic expression of the divine life in form. To the clairvoyant view of the adept as He looks at the aspirant or disciple, it causes:

Một ngày kia toàn bộ thể dĩ thái sẽ được vẽ bản đồ và khi đó phương hướng tổng quát của các đường mãnh lực sẽ được thấy rõ. Sự quét rộng lớn của các năng lượng sẽ trở nên hiển nhiên, điểm tiến hoá sẽ được xác định dễ dàng hơn và tình trạng thông linh sẽ được chỉ ra một cách không sai lầm. Tuy nhiên, tính phức tạp của đề tài này là rất lớn, do chính sự khác biệt trong sự phát triển tiến hoá của các vận cụ, giai đoạn của tâm thức đang mở rộng [593] và khả năng tiếp nhận kích thích của con người. Khoa học Tham Thiền rốt cuộc sẽ hấp thu khoa học laya-yoga nhưng chỉ trong hình thức cao nhất của khoa học sau. Mục tiêu của tham thiền là đem lại sự vận hành tự do của mọi mãnh lực đi vào để không có sự cản trở nào tại bất cứ điểm nào đối với năng lượng đi vào của linh hồn; để không có sự bế tắc và tắc nghẽn nào được cho phép, và không có sự thiếu hụt quyền năng—hồng trần, thông linh, trí tuệ và tinh thần—ở bất cứ phần nào của thể. Điều này sẽ không chỉ có nghĩa là sức khỏe tốt và việc sử dụng đầy đủ, tự do mọi năng lực (cao và thấp) mà còn là sự tiếp xúc trực tiếp với linh hồn. Nó sẽ tạo ra sự đổi mới liên tục của thể, vốn là đặc tính của biểu hiện sự sống nơi điểm đạo đồ và Chân sư, cũng như nơi đệ tử, dù ở mức độ thấp hơn. Nó sẽ tạo ra sự biểu hiện có nhịp điệu của sự sống thiêng liêng trong hình tướng. Đối với linh thị của chân sư khi Ngài nhìn người chí nguyện hay đệ tử, nó gây ra:

1. The rhythm of manifestation. This is the cause of the appearance and the disappearance of the form. The adept, by looking at the body, can tell just how long it has been in incarnation and how long it will still continue to “appear”. The state of the pranic channels reveals this accurately, particularly those found below the diaphragm. The centre at the base of the spine, where is found the seat of the will-to-live (governing the seed of the life principle in the heart) reveals this.

1. Nhịp điệu của sự biểu hiện. Đây là nguyên nhân của sự xuất hiện và biến mất của hình tướng. Chân sư, bằng cách nhìn vào thể, có thể biết chính xác nó đã đang lâm phàm bao lâu và còn sẽ tiếp tục “xuất hiện” bao lâu nữa. Tình trạng của các kênh prana cho thấy điều này một cách chính xác, đặc biệt là những kênh nằm dưới cơ hoành. Trung tâm ở đáy cột sống, nơi có chỗ ngự của Ý Chí-hướng Sống (chi phối hạt giống của nguyên khí sự sống trong tim), cho thấy điều này.

2. The rhythm of psychic life. This is, in reality, the revelation of where the man stands in relation to consciousness and its contacts. The adept, when seeking information upon this point, looks first of all at the solar plexus centre and then at the heart and head, for in these three centres and in their relative “light and radiant brightness”, the whole story of the individual stands revealed. The head centre, looked at for the average or below average man, is the centre between the eyebrows. In the case of the aspirant, mystic and disciple, it is the highest head centre.

2. Nhịp điệu của đời sống thông linh. Thực ra, đây là sự mặc khải về chỗ con người đứng trong tương quan với tâm thức và các tiếp xúc của nó. Chân sư, khi tìm kiếm thông tin về điểm này, trước hết nhìn vào trung tâm tùng thái dương rồi đến tim và đầu, vì trong ba trung tâm này và trong “ánh sáng và độ rực sáng” tương đối của chúng, toàn bộ câu chuyện của cá nhân được bộc lộ. Trung tâm đầu, khi xét nơi người trung bình hay dưới trung bình, là trung tâm giữa hai chân mày. Trong trường hợp người chí nguyện, nhà thần bí và đệ tử, đó là trung tâm đầu cao nhất.

As evolution proceeds and the life forces flow ever more freely along the “nadis” and through the centres—major, minor, and minute—the rapidity of the distribution and of the flow, and the consequent radiance of the body steadily increases. The separating walls within the enclosing sheath of the tiny channels of force eventually dissolve (under the impact of soul force) and so disappear and thus the “nadis” of the advanced disciple take a new form indicating that he is now essentially and consequently dual and is therefore an integrated personality. He is soul and personality. Soul force can now flow unimpeded through the central channel of the “nadi” and all the other forces can flow unimpeded around it. It is whilst this process is going on and the forces within the “nadis” are being blended and thus forming one energy that most of the diseases of the mystics make their appearance, particularly those connected with the heart.

Khi tiến hoá tiếp diễn và các mãnh lực sự sống tuôn chảy ngày càng tự do hơn dọc theo các “nadis” và qua các trung tâm—lớn, nhỏ và vi tế—thì tốc độ phân phối và lưu chuyển, cùng sự rạng ngời phát sinh từ đó của thể, tăng lên đều đặn. Các vách ngăn bên trong lớp vỏ bao bọc của những kênh mãnh lực nhỏ bé cuối cùng tan biến (dưới tác động của mãnh lực linh hồn) và như thế biến mất; do đó các “nadis” của đệ tử tiến bộ mang một hình thức mới, cho thấy rằng giờ đây y về bản chất và do đó là nhị nguyên, và vì vậy là một Phàm ngã tích hợp. Y là linh hồn và phàm ngã. Mãnh lực linh hồn giờ đây có thể tuôn chảy không bị cản trở qua kênh trung tâm của “nadi”, và mọi mãnh lực khác có thể tuôn chảy không bị cản trở quanh nó. Chính trong khi tiến trình này đang diễn ra và các mãnh lực bên trong các “nadis” đang được hòa trộn, nhờ đó hình thành một năng lượng duy nhất, mà phần lớn các bệnh của các nhà thần bí xuất hiện, đặc biệt là những bệnh liên quan đến tim.

Simultaneously with this appearance of duality in the “nadis”, the disciple finds himself able to use the two channels—ida and pingala—which are found up the spinal column, one on each side of the central channel. There can now be the free flow of force up and down these two “pathways of the forces” and thus out into the “nadis”, utilising the area around any of the major centres as distributing areas and thus galvanising, at will, any part of the mechanism into activity, or the whole mechanism into coordinated action. The disciple has now reached the point in his development where the etheric web, which separates all the centres up the spine from each other, has been burned away by the fires of life. The [595] “sushumna” or central channel can be slowly utilised. This parallels the period wherein there is the free flow of soul force through the central channel in the “nadis”. Eventually this central channel comes into full activity. All this can be seen by the clairvoyant eye of the Master.

Đồng thời với sự xuất hiện của tính nhị nguyên này trong các “nadis”, đệ tử thấy mình có thể sử dụng hai kênh—ida và pingala—nằm dọc cột sống, mỗi kênh ở một bên của kênh trung tâm. Giờ đây có thể có sự lưu chuyển tự do của mãnh lực lên xuống theo hai “đường đi của các mãnh lực” này và từ đó đi ra các “nadis”, sử dụng khu vực quanh bất kỳ trung tâm lớn nào như những vùng phân phối, và như thế làm cho bất kỳ phần nào của bộ máy hoạt động theo ý muốn, hoặc toàn bộ bộ máy đi vào hoạt động phối hợp. Đệ tử giờ đây đã đạt tới điểm trong sự phát triển của mình mà tại đó mạng dĩ thái, vốn ngăn cách tất cả các trung tâm dọc cột sống với nhau, đã bị các lửa của sự sống thiêu hủy. [595] “sushumna” hay kênh trung tâm có thể được sử dụng dần dần. Điều này song hành với giai đoạn trong đó có sự lưu chuyển tự do của mãnh lực linh hồn qua kênh trung tâm trong các “nadis”. Cuối cùng kênh trung tâm này đi vào hoạt động trọn vẹn. Tất cả điều này có thể được thấy bởi mắt thông nhãn của Chân sư.

I have dealt with this in detail as the practice of breathing exercises definitely moves the forces flowing through the “nadis” and reorganises them—usually prematurely. It hastens the process of breaking down the walls separating four forces from the fifth energy, and hastens the burning of the protecting etheric webs up the spinal column. If this is done whilst the emphasis of the life is below the diaphragm and the man is not even an aspirant or intelligent, then it will cause the over-stimulation of the sex life, and also the opening up of the astral plane and hence much physical difficulty and disease. It occultly “releases the lower fires and the man will be destroyed by fire”; he will not be then (as is intended) the “burning bush which burns forever and cannot be destroyed”. If this burning takes place by a forced process and is not under right direction, there must inevitably be difficulty. When the man is on the Path of Purification or Probation or is in the early stages of discipleship, with the emphasis of his intention above the diaphragm, then there is much danger of over-development of the sense of egotism, over-stimulation of the heart centre (with the consequent appearance of various forms of heart disease and of emotionalism, evoked over group conditions) and of troubles related to the thyroid gland and the brain, as well as difficulties connected principally with the pituitary body.

Tôi đã bàn đến điều này chi tiết vì việc thực hành các bài tập thở chắc chắn làm chuyển động các mãnh lực đang tuôn chảy qua các “nadis” và tái tổ chức chúng—thường là quá sớm. Nó đẩy nhanh tiến trình phá vỡ các vách ngăn tách biệt bốn mãnh lực khỏi năng lượng thứ năm, và đẩy nhanh sự thiêu hủy các mạng dĩ thái bảo vệ dọc cột sống. Nếu điều này được thực hiện trong khi trọng tâm của đời sống ở dưới cơ hoành và con người ấy thậm chí chưa phải là người chí nguyện hay chưa có trí tuệ, thì nó sẽ gây ra sự kích thích quá mức đời sống tính dục, đồng thời mở ra cõi cảm dục và do đó gây nhiều khó khăn hồng trần và bệnh tật. Về mặt huyền bí, nó “giải phóng các lửa thấp và con người sẽ bị hủy diệt bởi lửa”; khi ấy y sẽ không phải là “bụi gai cháy mãi mà không thể bị hủy diệt” như dự định. Nếu sự thiêu đốt này diễn ra bằng một tiến trình cưỡng bức và không dưới sự hướng dẫn đúng đắn, thì ắt hẳn sẽ không tránh khỏi khó khăn. Khi con người ở trên Con Đường Thanh Luyện hay Con Đường Dự Bị hoặc ở trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử, với trọng tâm của ý hướng ở trên cơ hoành, thì có nhiều nguy cơ phát triển quá mức ý thức về tính vị ngã, kích thích quá mức trung tâm tim (kéo theo sự xuất hiện của nhiều dạng bệnh tim và cảm xúc thái quá, được khơi lên bởi các điều kiện nhóm) và các rối loạn liên hệ đến tuyến giáp và bộ não, cũng như những khó khăn chủ yếu liên quan đến tuyến yên.

I could give you here certain forms of breathing exercises which might prove helpful to some people in the work of re-organising the vital body and consequently the etheric body, but the dangers involved in the case of the majority of [596] my readers negate any such action. The old rule that aspirants must find their way into an esoteric or mystery school still holds good. All I can do—as I have done—is to give certain directions and teach certain safe and generally well-known rules which will lay the foundation for the more advanced work which must be carried forward under careful personal supervision. For this reason, once this present world crisis is duly ended, there must be laid a foundation of true esoteric schools. Such do Not as yet exist. Today, aspirants and disciples are working in the modern esoteric schools (such as the Arcane School and the Esoteric Section of the Theosophical Society—to mention two of the most important) and there they learn some of the foundational truths of esotericism; they begin to gain control of the emotional nature and the mind; they learn to purify the body and to apprehend the basic postulates of the Ageless Wisdom. They are then under the direction subjectively of some senior disciple who knows the needed next truth and has unfolded in himself the “sense of contact” and the power of intuitive perception. A few persons, here and there, are definitely working under the direction of one of the Masters. Only where there is direction, a knowledge of a man’s governing rays and a grasp of the astrological indications as to a man’s “path of life” can the true, but dangerous, rules be given, which will lead to:

Tôi có thể đưa ra ở đây một số hình thức bài tập thở có thể tỏ ra hữu ích cho một số người trong công việc tái tổ chức thể sinh lực và do đó là thể dĩ thái, nhưng những nguy hiểm liên quan trong trường hợp của đa số [596] độc giả của tôi phủ nhận mọi hành động như thế. Quy luật xưa rằng những người chí nguyện phải tự tìm đường vào một trường nội môn hay trường huyền nhiệm vẫn còn nguyên giá trị. Tất cả những gì tôi có thể làm—như tôi đã làm—là đưa ra một số chỉ dẫn và dạy một số quy luật an toàn, quen thuộc nói chung, sẽ đặt nền tảng cho công việc cao hơn, công việc phải được tiến hành dưới sự giám sát cá nhân cẩn trọng. Vì lý do này, một khi cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay chấm dứt đúng mức, phải đặt nền móng cho các trường nội môn chân chính. Những trường như thế chưa tồn tại. Ngày nay, những người chí nguyện và đệ tử đang làm việc trong các trường nội môn hiện đại (như Trường Arcane và Phân ban Nội môn của Hội Thông Thiên Học—để nêu hai trường quan trọng nhất) và ở đó họ học một số chân lý nền tảng của huyền bí học; họ bắt đầu đạt được sự kiểm soát bản chất cảm xúc và trí tuệ; họ học cách thanh luyện thể và lĩnh hội các định đề căn bản của Minh Triết Ngàn Đời. Khi đó họ ở dưới sự hướng dẫn chủ quan của một đệ tử cao cấp nào đó, người biết chân lý kế tiếp cần thiết và đã khai mở nơi chính mình “ý thức tiếp xúc” cùng quyền năng tri giác trực giác. Một vài người, rải rác đây đó, rõ ràng đang làm việc dưới sự hướng dẫn của một trong các Chân sư. Chỉ ở nơi nào có sự hướng dẫn, có tri thức về các cung chi phối của một người và có sự nắm vững các chỉ dẫn chiêm tinh liên quan đến “con đường sự sống” của một người, thì các quy luật chân chính nhưng nguy hiểm mới có thể được trao ra, những quy luật sẽ dẫn đến:

1. A right distribution of energy.

1. Sự phân phối năng lượng đúng đắn.

2. The focussing of the forces in the centres.

2. Sự tập trung các mãnh lực trong các trung tâm.

3. The burning of the separating walls and of the dividing etheric webs.

3. Sự thiêu hủy các vách ngăn cách và các mạng dĩ thái phân chia.

4. The lifting of the energies ever higher in the body by the power of the directed will.

4. Sự nâng các năng lượng ngày càng cao hơn trong thể bằng quyền năng của ý chí được định hướng.

Many of the difficulties of mystics and occultists today are due to the fact that they are literally “playing with fire” and are [597] not aware of it; that they are not preserving the right or ordered sequence of development, as outlined above; that they are following practices for which they are not ready, which have not been modified to suit the occidental type of body, and which they blindly follow without any understanding of the process or results. Unless the basic rule is grasped that “energy follows thought”, it is inevitable that dire results must eventuate. The mystic, for instance whose thought is focussed on the Christ, regarding Him as somewhere in Heaven, but as outside himself, and whose aspiration makes Him the objective of all his desire, is frequently debilitated and physically ill. Why is this the case? Because the energy which is seeking to enter him and permeate his whole organism only reaches as far as the heart centre and is from there constantly turned back and driven out of the physical body by the directing power of the mystic’s thought. Christ, for him, is elsewhere. Outside himself lies his thought and the energy consequently streams out of his body. It is a much discussed problem among initiates today as to whether the generally debilitated condition of the human race is not due in part to the fact that the aspiration and thought of mankind, having been constantly directed to some outside goal and not (as should have been the case) to the centre of life and love within each human being, has drained man of much needed energy. In spite of the fact that he has been taught for centuries that the kingdom of God is within, the peoples in the occident have not accepted the statement or worked on the premise presented, but have sought for reality without and have turned their attention to the Personality of the One who taught them a major truth. At no time did He desire or seek their devotion. The price of this distortion of the truth has been paid again and again by a devitalised body and by the [598] inability of the average mystic to live a concrete, and yet divine, life upon earth.

Nhiều khó khăn của các nhà thần bí và các nhà huyền bí học ngày nay là do sự kiện rằng họ thực sự đang “đùa với lửa” mà [597] không biết điều đó; rằng họ không giữ đúng trình tự phát triển có trật tự như đã được phác họa ở trên; rằng họ đang theo những thực hành mà họ chưa sẵn sàng, những thực hành chưa được điều chỉnh cho phù hợp với loại thể phương Tây, và họ mù quáng làm theo mà không hề thấu hiểu tiến trình hay kết quả. Trừ phi quy luật căn bản rằng “năng lượng đi theo tư tưởng” được nắm vững, thì những kết quả tai hại ắt sẽ xảy ra. Chẳng hạn, nhà thần bí có tư tưởng tập trung vào Đức Christ, xem Ngài như ở đâu đó trên Thiên Đàng nhưng ở bên ngoài chính mình, và có khát vọng khiến Ngài trở thành mục tiêu của mọi ước muốn của mình, thường bị suy nhược và đau yếu về thể xác. Tại sao lại như vậy? Bởi vì năng lượng đang tìm cách đi vào y và thấm nhuần toàn bộ cơ thể y chỉ đi xa đến trung tâm tim, rồi từ đó liên tục bị quay ngược lại và bị đẩy ra khỏi thể xác bởi quyền năng định hướng của tư tưởng nhà thần bí. Đối với y, Đức Christ ở nơi khác. Tư tưởng của y nằm bên ngoài chính mình và do đó năng lượng tuôn ra khỏi thể y. Ngày nay, giữa các điểm đạo đồ, đây là một vấn đề được bàn luận nhiều: liệu tình trạng suy nhược phổ biến của nhân loại có phải một phần là do sự kiện rằng khát vọng và tư tưởng của loài người, vốn liên tục được hướng đến một mục tiêu bên ngoài nào đó chứ không phải (như lẽ ra phải thế) đến trung tâm của sự sống và tình thương bên trong mỗi con người, đã rút cạn nơi con người nhiều năng lượng rất cần thiết hay không. Mặc dù trong nhiều thế kỷ y đã được dạy rằng Thiên Giới ở bên trong, các dân tộc phương Tây đã không chấp nhận lời khẳng định ấy hay hành động dựa trên tiền đề được trình bày, mà lại tìm kiếm thực tại ở bên ngoài và hướng sự chú ý của họ đến Phàm ngã của Đấng đã dạy họ một chân lý lớn. Không lúc nào Ngài mong muốn hay tìm kiếm sự sùng mộ của họ. Cái giá của sự bóp méo chân lý này đã được trả đi trả lại bằng một thể bị mất sinh lực và bằng [598] sự bất lực của nhà thần bí trung bình trong việc sống một đời sống cụ thể mà vẫn thiêng liêng trên trần thế.

There is little more that I can say here in connection with the problems and the difficulties of the psychic powers as they unfold in humanity and on a higher turn of the spiral than in the past. As evolution proceeds, the human and animal psychic faculties become available to the disciple. Humanity has chosen to proceed by means of the “trial and error” method and it is in many ways a sound choice, but it is slow and leads to points of crisis and moments of almost intolerable difficulty in the history of the race. In the case of the mystic and the disciple who is endeavouring to gain control of these inherent instincts, the problem is today enhanced by the fact that the physical vitality of the race is so lowered and also so little understood and the proper care of the body is consequently so poorly rendered that the unhealthy condition of that body releases the lower powers more easily than would otherwise be the case. They therefore unfold prematurely and before their nature and function is understood or the laws of their control grasped. The acceptance of this statement would be found enlightening and much progress would be made if the various premises I have made were accepted as valid hypotheses and acted upon. The result would open the door to a new understanding of the psychic faculties. Psychology and medicine would be thereby enriched.

Tôi còn rất ít điều có thể nói thêm ở đây liên quan đến các vấn đề và khó khăn của các quyền năng thông linh khi chúng khai mở trong nhân loại và ở một vòng xoắn cao hơn so với quá khứ. Khi tiến hoá tiếp diễn, các năng lực thông linh của con người và động vật trở nên khả dụng đối với đệ tử. Nhân loại đã chọn tiến bước bằng phương pháp “thử và sai”, và theo nhiều cách đó là một lựa chọn đúng đắn, nhưng nó chậm và dẫn đến những điểm khủng hoảng cùng những thời khắc khó khăn gần như không thể chịu nổi trong lịch sử nhân loại. Trong trường hợp của nhà thần bí và đệ tử đang nỗ lực đạt được sự kiểm soát các bản năng cố hữu này, vấn đề ngày nay càng trầm trọng hơn bởi sự kiện rằng sinh lực hồng trần của nhân loại bị hạ thấp đến thế và cũng ít được thấu hiểu đến thế, và do đó việc chăm sóc đúng đắn cho thể lại quá kém, đến nỗi tình trạng không lành mạnh của thể ấy giải phóng các quyền năng thấp dễ dàng hơn so với lẽ ra. Vì vậy chúng khai mở quá sớm, trước khi bản chất và chức năng của chúng được thấu hiểu hay các định luật kiểm soát chúng được nắm bắt. Nếu lời khẳng định này được chấp nhận, nó sẽ được thấy là soi sáng, và nhiều tiến bộ sẽ đạt được nếu các tiền đề khác nhau tôi đã nêu được chấp nhận như những giả thuyết hữu hiệu và được hành động theo. Kết quả sẽ mở cánh cửa cho một sự thấu hiểu mới về các năng lực thông linh. Tâm lý học và y học nhờ đó sẽ được làm phong phú.

We come now to two more problems which are related to the higher psychic powers but are of a more advanced kind and dependent upon the development of the mind nature more than upon the solar plexus consciousness.

Giờ đây chúng ta đến với hai vấn đề nữa có liên hệ với các quyền năng thông linh cao hơn nhưng thuộc loại cao cấp hơn và phụ thuộc vào sự phát triển của bản chất trí tuệ nhiều hơn là vào tâm thức tùng thái dương.

Problem of the Development of the Mystical Vision

Vấn đề về sự phát triển của linh ảnh thần bí

This process of sensing the goal, of contacting the ideal and of visioning the many symbols that veil the soul, which [599] portray pictorially the ultimate destination and the final purpose, are the recognised prerogative of the mystical aspirant. The mystical literature of all the world religions is, as you know, full of these visions, ranging all the way from the more sexual approach of the Song of Solomon or the writings of many of the feminine mystics of the Church to the amazing revelations given in the ancient Puranas or in the Apocalypse. These cover all the ground from the formulation of the highgrade “wish-life” of the mystics to the true prevision as to the future of the race as found in the writings of the prophetical Scriptures. With the detail I do not intend to deal. It has been considered by the modern psychologist and the religious instructor and Church writers and dealt with by them at great length. I want only to touch upon the effects that these experiences have upon the mystic himself. I would ask you also to remember that I am generalising and not being specific.

Tiến trình cảm nhận mục tiêu, tiếp xúc với lý tưởng và nhìn thấy nhiều biểu tượng che phủ linh hồn, những biểu tượng [599] mô tả bằng hình ảnh đích đến tối hậu và mục đích cuối cùng, là đặc quyền được thừa nhận của người chí nguyện thần bí. Văn học thần bí của mọi tôn giáo trên thế giới, như các bạn biết, đầy những linh ảnh này, trải dài từ lối tiếp cận mang tính tính dục hơn của Nhã Ca hay các trước tác của nhiều nữ nhà thần bí trong Giáo hội cho đến những mặc khải kỳ diệu được ban ra trong các Purana cổ xưa hay trong Khải Huyền. Chúng bao trùm toàn bộ phạm vi từ sự hình thành “đời sống ước vọng” cao cấp của các nhà thần bí cho đến sự tiên kiến chân thực về tương lai của nhân loại như được thấy trong các trước tác Kinh điển tiên tri. Tôi không có ý bàn đến chi tiết. Điều này đã được nhà tâm lý học hiện đại, nhà giáo huấn tôn giáo và các tác giả của Giáo hội xem xét và bàn luận rất dài. Tôi chỉ muốn chạm đến những ảnh hưởng mà các kinh nghiệm này gây ra nơi chính nhà thần bí. Tôi cũng xin các bạn nhớ rằng tôi đang khái quát hóa chứ không nói một cách đặc thù.

The difficulties to which such mystics are prone are four:

Những khó khăn mà các nhà thần bí như thế dễ mắc phải có bốn điều:

1. Devitalisation. The mystic is drawn so constantly “upwards” (as he regards and terms it) to the land of his dreams, to the person of his idealism or to the spiritual ideal (personified or non-personified) of his aspiration that he reverses the normal and wholesome process of “the Way of the constant materialising of the Real”. He lives entirely in the world of his aspiration and thus neglects life on the physical plane, becoming not only impractical but negative to the physical plane. He draws all his life forces upward so that the physical body and life on the physical plane suffers. Technically, the forces of the solar plexus are not drawn upward into the heart centre, as they should be, nor is the energy of the heart poured out in selfless love of humanity; they are all focussed, and distributed in the highest level of the astral consciousness and sent to feed the forces of the astral body. They reverse, [600] therefore, the normal process and the physical body suffers grievously through this.

1. Mất sinh lực. Nhà thần bí bị lôi kéo quá thường xuyên “đi lên trên” (như y quan niệm và gọi như vậy) đến miền đất của những giấc mơ, đến con người của chủ nghĩa lý tưởng của y hay đến lý tưởng tinh thần (được nhân cách hóa hay không được nhân cách hóa) của khát vọng y, đến nỗi y đảo ngược tiến trình bình thường và lành mạnh của “Con Đường hiện hình liên tục của Thực Tại”. Y sống hoàn toàn trong thế giới của khát vọng mình và do đó sao lãng đời sống trên cõi hồng trần, trở nên không những thiếu thực tế mà còn tiêu cực đối với cõi hồng trần. Y kéo mọi mãnh lực sự sống của mình lên trên khiến thể xác và đời sống trên cõi hồng trần phải chịu tổn hại. Nói theo kỹ thuật, các mãnh lực của tùng thái dương không được kéo lên trên vào trung tâm tim như lẽ ra phải thế, cũng không phải năng lượng của tim được tuôn ra trong tình thương vô ngã đối với nhân loại; tất cả chúng đều được tập trung và phân phối ở cấp độ cao nhất của tâm thức cảm dục và được gửi đi để nuôi các mãnh lực của thể cảm dục. Vì vậy, chúng đảo ngược [600] tiến trình bình thường, và thể xác vì thế chịu đau khổ nặng nề.

A study of the lives of the saints and mystics will reveal much of this difficulty, and even in the relatively rare cases where there has been some definite service to humanity, the motives were frequently (I might say, usually) the meeting of a sensed requirement or obligation which would serve the mystic, bringing him emotional satisfaction and reward. This devitalisation was often so excessive that it led not only to nervous debility, trance conditions and other pathological developments, but sometimes to death itself.

Một sự nghiên cứu về cuộc đời của các thánh nhân và các nhà thần bí sẽ cho thấy nhiều điều về khó khăn này, và ngay cả trong những trường hợp tương đối hiếm hoi đã có một sự phụng sự rõ rệt đối với nhân loại, thì động cơ thường là (tôi có thể nói là, thường thường) việc đáp ứng một đòi hỏi hay nghĩa vụ được cảm nhận, điều sẽ phục vụ nhà thần bí, mang lại cho y sự thỏa mãn và phần thưởng cảm xúc. Sự mất sinh lực này thường quá mức đến nỗi không chỉ dẫn đến suy nhược thần kinh, các trạng thái xuất thần và những phát triển bệnh lý khác, mà đôi khi còn dẫn đến chính cái chết.

2. Delusion. The drama life of the mystic and the constant cultivation of the vision (whatever that might be) led also in many cases to serious if unrecognised psychological trouble. The vision absorbed the mystic’s whole attention and instead of indicating to him a goal to which he might some day attain, or existing in his consciousness as the symbol of an inner reality which he would some day know, as it in truth was, he lived always within his own thoughtform of this goal. This powerful dream, this defined thoughtform (built year by year through aspiration, worship and longing) ended by obsessing him to such an extent that he finally ended by mistaking the symbol for the reality. Sometimes he died of the ecstasy induced by his identification with his vision. Nevertheless, I would point out here that the true attainment of the mystical goal, so that it is no longer seen but is realised as fact, has never yet killed anyone. It is delusion which kills. It is only when the focus of the life is in the astral body, when the downflow of soul force is there also and when the heart centre is over-energised that the mystic dies as a result of his aspiration. Where death does not take place (and this is somewhat unusual) serious psychological difficulties are apt to be found. These have brought much concern to Churchmen at [601] all times and to the modern psychologist and have brought the whole subject of the mystical unfoldment into disrepute, particularly in this modern scientific age.

2. Mê vọng. Đời sống kịch tính của nhà thần bí và sự nuôi dưỡng liên tục linh ảnh (dù đó là gì) cũng trong nhiều trường hợp dẫn đến những rối loạn tâm lý nghiêm trọng dù không được nhận ra. Linh ảnh thu hút toàn bộ sự chú ý của nhà thần bí, và thay vì chỉ ra cho y một mục tiêu mà một ngày kia y có thể đạt tới, hay tồn tại trong tâm thức y như biểu tượng của một thực tại nội tại mà một ngày kia y sẽ biết, như thật ra nó vốn là như thế, thì y luôn luôn sống bên trong chính hình tư tưởng của mình về mục tiêu ấy. Giấc mơ mãnh liệt này, hình tư tưởng xác định này (được xây dựng năm này qua năm khác bằng khát vọng, thờ phụng và mong mỏi) cuối cùng ám ảnh y đến mức rốt cuộc y nhầm lẫn biểu tượng với thực tại. Đôi khi y chết vì trạng thái xuất thần do sự đồng hoá với linh ảnh của mình gây ra. Tuy nhiên, ở đây tôi muốn chỉ ra rằng sự đạt được chân chính mục tiêu thần bí, đến mức nó không còn được thấy nữa mà được chứng nghiệm như một sự kiện, chưa bao giờ giết chết bất kỳ ai. Chính mê vọng mới giết chết. Chỉ khi trọng tâm của đời sống ở trong thể cảm dục, khi sự tuôn xuống của mãnh lực linh hồn cũng ở đó, và khi trung tâm tim bị nạp năng lượng quá mức, thì nhà thần bí mới chết như kết quả của khát vọng mình. Khi cái chết không xảy ra (và điều này phần nào bất thường), thì thường thấy có những khó khăn tâm lý nghiêm trọng. Những điều này đã gây nhiều lo ngại cho giới giáo sĩ ở [601] mọi thời và cho nhà tâm lý học hiện đại, đồng thời đã làm cho toàn bộ đề tài về sự khai mở thần bí bị mất uy tín, đặc biệt trong thời đại khoa học hiện đại này.

It is the materialising of the vision in astral matter, its development through the power of emotion (masquerading as devotion) and the failure of the mystic either to enter into the realm of mental perception or to bring his idealistic dream down into physical expression which lies at the root of the trouble. The man becomes deluded by the best that is in him; he is the victim of an hallucination which embodies the highest he knows; he is overcome by the glamour of the spiritual life; he fails to distinguish between the vision and the Plan, between the manufactured unreal of the ages of mystical activity and the Real which stands ever in the background of the life of the integrated human being.

Chính sự hiện hình linh ảnh trong vật chất cảm dục, sự phát triển của nó nhờ quyền năng của cảm xúc (ngụy trang thành sùng tín), và sự thất bại của nhà thần bí trong việc либо đi vào lĩnh vực tri giác trí tuệ либо đưa giấc mơ lý tưởng của mình xuống thành biểu hiện hồng trần, là điều nằm ở gốc rễ của rắc rối. Con người bị mê vọng bởi điều tốt đẹp nhất trong chính mình; y là nạn nhân của một ảo giác hiện thân cho điều cao nhất mà y biết; y bị ảo cảm của đời sống tinh thần chế ngự; y không phân biệt được giữa linh ảnh và Thiên Cơ, giữa cái không thực được tạo dựng qua các thời đại hoạt động thần bí và cái Thực luôn đứng ở hậu cảnh của đời sống của con người tích hợp.

Forget not that the vision (of Heaven, of God, of Christ, of any spiritual leader or of any millennium) is based in the majority of cases upon the dreams and aspirations of the mystics down the ages who have blazed the mystical trail, who have used the same terminology and employed the same symbols to express that which they sense, and to which they aspire and for which they long so yearningly. They all sense the same Reality, lying behind the glamour of the world aspiration; they all couch their desire and longing in the same symbolic forms—marriage with the Beloved, life in the Holy City, participation in some ecstatic vision of God, adoration of some deified and loved Individuality, such as the Christ, the Buddha, or Shri Krishna, walking with God in the garden of life, the garden of the Lord, the attainment of the mountain top where God is to be found, and all stands revealed. Such are a few of the forms in which their aspiration clothes itself and their sense of duality finds satisfaction. These ideas exist as powerful thought forms on the astral plane and they [602] attract—like magnets—the aspiration of the devotee which follows century after century the same path of yearning search, imaginative expression of a deep-seated spiritual “wishlife” and an emotional surging outward towards divinity, described sometimes as “the lifting of the heart to God.”

Đừng quên rằng linh ảnh (về Thiên Đàng, về Thượng đế, về Đức Christ, về bất kỳ vị lãnh đạo tinh thần nào hay về bất kỳ thiên niên kỷ nào) trong đa số trường hợp đều dựa trên những giấc mơ và khát vọng của các nhà thần bí qua các thời đại, những người đã khai mở con đường thần bí, đã dùng cùng một thuật ngữ và sử dụng cùng những biểu tượng để diễn tả điều họ cảm nhận, điều họ khát vọng và điều họ mong mỏi tha thiết. Tất cả họ đều cảm nhận cùng một Thực Tại nằm sau ảo cảm của khát vọng thế gian; tất cả họ đều diễn đạt ước muốn và mong mỏi của mình trong cùng những hình thức biểu tượng—hôn phối với Đấng Yêu Dấu, đời sống trong Thánh Thành, tham dự vào một linh ảnh xuất thần nào đó về Thượng đế, tôn thờ một Cá Thể được thần thánh hóa và yêu kính nào đó như Đức Christ, Đức Phật hay Shri Krishna, cùng đi với Thượng đế trong khu vườn của sự sống, khu vườn của Chúa, đạt tới đỉnh núi nơi có thể tìm thấy Thượng đế và mọi sự đều được mặc khải. Đó là một vài trong những hình thức mà khát vọng của họ khoác lấy và ý thức về nhị nguyên tính của họ tìm thấy sự thỏa mãn. Những ý tưởng này tồn tại như những hình tư tưởng mạnh mẽ trên cõi cảm dục và chúng [602] thu hút—như nam châm—khát vọng của người sùng tín, khát vọng ấy qua thế kỷ này sang thế kỷ khác đi theo cùng một con đường tìm kiếm đầy mong mỏi, biểu hiện bằng tưởng tượng của một “đời sống ước vọng” tinh thần ăn sâu, và một sự dâng trào cảm xúc hướng ra ngoài về phía thiên tính, đôi khi được mô tả là “nâng trái tim lên với Thượng đế”.

Devitalisation and delusion are the frequent case history of the purely emotional mystic. When this astral cycle is over and he later (and probably in another life) swings into a frankly agnostic state of mind, there comes a restoration of balance and a more wholesome unfoldment becomes possible. The true and valuable fruits of the mystical experience of the past are never lost. The inner spiritual realisation remains latent in the content of the life, later to be resurrected to its true expression but the vagueness and the sense of duality must eventually be transformed into a realised mental clarity; dualism must give place to the experience of the at-one-ment and the mists must roll away. The mystic sees through a glass darkly but some day must Know, even as he is known.

Mất sinh lực và mê vọng là bệnh sử thường gặp của nhà thần bí thuần cảm xúc. Khi chu kỳ cảm dục này chấm dứt và về sau y (và có lẽ trong một kiếp khác) chuyển sang một trạng thái trí tuệ công khai bất khả tri, thì sự quân bình được phục hồi và một sự khai mở lành mạnh hơn trở nên khả hữu. Những hoa trái chân thực và có giá trị của kinh nghiệm thần bí trong quá khứ không bao giờ mất đi. Sự chứng nghiệm tinh thần nội tại vẫn tiềm ẩn trong nội dung của đời sống, về sau sẽ được phục sinh vào biểu hiện chân chính của nó; nhưng tính mơ hồ và ý thức về nhị nguyên tính cuối cùng phải được chuyển đổi thành một sự sáng tỏ trí tuệ đã được chứng nghiệm; nhị nguyên luận phải nhường chỗ cho kinh nghiệm hợp nhất, và những màn sương phải tan đi. Nhà thần bí nhìn qua một tấm kính mờ tối nhưng một ngày kia ắt phải Biết, cũng như y được biết.

When, in these modern times, the mystically oriented person comes under the care of a wise psychologist, the latter would be well advised gently and gradually to develop in him a cycle of doubt, leading even to a temporary agnosticism. The result would be a rapid establishing of the desired equilibrium. I would call your attention to the words “gently and gradually”. The encouraging of a normal physical life, with its ordinary interests, the fulfilling of its obligations and responsibilities and the usual physical functioning of the nature should bring about much wholesome and needed orientation.

Khi, trong thời hiện đại này, người có khuynh hướng thần bí được đặt dưới sự chăm sóc của một nhà tâm lý học minh triết, thì người sau nên được khuyên là hãy nhẹ nhàng và dần dần phát triển nơi y một chu kỳ hoài nghi, thậm chí dẫn đến một trạng thái bất khả tri tạm thời. Kết quả sẽ là sự thiết lập nhanh chóng thế quân bình mong muốn. Tôi muốn các bạn lưu ý đến những lời “nhẹ nhàng và dần dần”. Việc khuyến khích một đời sống hồng trần bình thường, với những mối quan tâm thông thường của nó, việc hoàn thành các nghĩa vụ và trách nhiệm của nó, và sự vận hành hồng trần thông thường của bản chất sẽ đem lại nhiều sự chỉnh hợp lành mạnh và cần thiết.

3. Delirium. I use this powerful word with deliberation when dealing with the dangerous and difficult stages of the mystical life. When the delusions of the mystic and his devitalisation have gone beyond a certain point, he arrives at a stage where he has no real inner control, he develops the [603] mystical sense to the point where he has no sense of proportion, where the conventions (right or wrong), social training, economic responsibility, human obligations and all the aspects of daily life which integrate the human part into the whole of humanity fail to police the lower nature. His outer expression becomes abnormal and he (from the highest and best sense of values) anti-social. Such an anti-social attitude will range all the way from a relatively usual fanaticism which forces its possessor to see only one point of view out of the many possible, to certain pronounced and recognisable forms of insanity. The mystic is then obsessed by his own peculiar thoughtform of truth and of reality. He has only one idea in his head. His mind is not active, for his brain has become the instrument of his astral nature and registers only his fanatical devotion and his emotional obsession. The ajna centre swings into activity before there is any true integration of the whole man, and any true useful purpose to its activity.

3. Mê sảng. Tôi dùng từ mạnh này một cách có chủ ý khi đề cập đến các giai đoạn nguy hiểm và khó khăn của đời sống thần bí. Khi các ảo tưởng của nhà thần bí và sự mất sinh lực của y đã vượt quá một mức độ nào đó, y đi đến một giai đoạn mà y không còn sự kiểm soát nội tâm thực sự, y phát triển [603] cảm nhận thần bí đến mức không còn Ý thức về tỉ lệ, nơi mà các quy ước (đúng hay sai), sự huấn luyện xã hội, trách nhiệm kinh tế, các bổn phận nhân loại và mọi phương diện của đời sống hằng ngày vốn tích hợp phần nhân loại vào toàn thể nhân loại không còn kiềm chế được bản chất thấp. Sự biểu lộ bên ngoài của y trở nên bất thường và y (xét từ ý thức giá trị cao nhất và tốt đẹp nhất) trở thành phản xã hội. Thái độ phản xã hội như thế trải dài từ một thứ cuồng tín tương đối thông thường khiến người mang nó chỉ thấy một quan điểm duy nhất trong số nhiều quan điểm khả hữu, cho đến một số hình thức điên loạn rõ rệt và có thể nhận biết. Khi đó nhà thần bí bị ám ảnh bởi chính hình tư tưởng đặc thù của y về chân lý và thực tại. Trong đầu y chỉ có một ý tưởng. Trí tuệ của y không hoạt động, vì bộ não của y đã trở thành công cụ của bản chất cảm dục và chỉ ghi nhận sự sùng tín cuồng nhiệt cùng nỗi ám ảnh cảm xúc của y. Trung tâm ajna chuyển vào hoạt động trước khi có bất kỳ sự tích hợp chân chính nào của toàn thể con người, và trước khi hoạt động ấy có bất kỳ mục đích hữu ích chân chính nào.

A period ensues wherein the man expresses himself in many undesirable ways which include a too strenuous one-pointedness, real fanaticism, sadistic effort with a supposed spiritual motive, (such as was seen in the Inquisition) and certain forms of mental breakdown. Occultly speaking, “the fiery vision proceeds to burn its victim and thus destroys the thread which holds his mind and brain in friendship close”. This burning astral fever necessarily produces an effect upon the physical body as well as on the personality expression, and the trouble can then be recognised by others as real and serious in consequences and effects. Frequently, there is little that can be done; sometimes no attempts to help prove availing. The mystic has, for this one life, done himself irreparable damage. The healing influence of death, and the interlude of the life beyond the physical plane must do their beneficent work before the man can again achieve normality and begin [604] to transmute his Vision of the Good, the Beautiful and the True into working expression upon the plane of daily living; he will then bring his mind to bear upon the problem; he will then discover that the vision is but the reflection of the Plan of God. He will know that the power to personalise aspiration must be transformed into the power to depersonalise oneself, prior to world service and cooperation with the Hierarchy.

Tiếp theo là một giai đoạn trong đó con người biểu lộ себя theo nhiều cách không mong muốn, bao gồm sự nhất tâm quá căng thẳng, sự cuồng tín thực sự, nỗ lực tàn bạo với một động cơ tinh thần được giả định, (như đã thấy trong Tòa án Dị giáo) và một số hình thức suy sụp trí tuệ. Nói theo huyền bí học, “linh ảnh rực lửa tiến tới thiêu đốt nạn nhân của nó và như thế phá hủy sợi dây giữ cho trí tuệ và bộ não của y gắn bó thân hữu chặt chẽ”. Cơn sốt cảm dục thiêu đốt này tất yếu tạo ra một tác động lên thể xác cũng như lên sự biểu lộ của phàm ngã, và khi đó người khác có thể nhận ra rối loạn ấy là có thật và nghiêm trọng trong hậu quả và tác động của nó. Thường thường, hầu như không thể làm gì được; đôi khi không một nỗ lực giúp đỡ nào tỏ ra hữu hiệu. Nhà thần bí, trong kiếp sống này, đã gây cho chính mình một tổn hại không thể sửa chữa. Ảnh hưởng chữa lành của cái chết, và quãng xen giữa của đời sống bên kia cõi hồng trần phải thực hiện công việc từ lành của chúng trước khi con người ấy có thể lại đạt được trạng thái bình thường và bắt đầu [604] chuyển hoá linh ảnh của mình về Điều Thiện, Điều Mỹ và Điều Chân thành sự biểu lộ hữu hiệu trên cõi đời sống hằng ngày; khi đó y sẽ đem trí tuệ của mình áp dụng vào vấn đề; khi đó y sẽ khám phá rằng linh ảnh chỉ là sự phản chiếu của Thiên Cơ của Thượng đế. Y sẽ biết rằng quyền năng cá nhân hóa khát vọng phải được chuyển đổi thành quyền năng phi cá nhân hóa chính mình, trước khi có thể phụng sự thế gian và hợp tác với Thánh Đoàn.

4. Detachment. This is one of the major psychological difficulties which leads to the common phenomenon of cleavage. It is one of the hardest to handle. The mystic who can see naught but his vision, who registers that vision in terms only of symbolic forms, of sexual longing, of agonising aspirations and an intense “wish-life” of dream and desire may eventually succeed in severing all right relations both within himself (with his physical body in one place, his emotional life directed to another and his mind preoccupied elsewhere) and with his surroundings and environing responsibilities, so that he lives entirely in a world of his own manufacturing—detached, unmoved, and untouched by normal affairs or human calls. This is sometimes also brought about by an unrecognised desire to escape from responsibility, from the pain and irksomeness of daily living or from the clinging hands of those who love him; it can be brought over from another life of mystical experience which should, in this life, be permanently transcended and outgrown, having served its useful purpose and done a needed work. This is a detachment of the wrong kind.

4. Tách rời. Đây là một trong những khó khăn tâm lý chủ yếu dẫn đến hiện tượng phân ly thường thấy. Đây là một trong những điều khó xử lý nhất. Nhà thần bí, kẻ không thể thấy gì ngoài linh ảnh của mình, kẻ chỉ ghi nhận linh ảnh ấy dưới dạng các hình thức biểu tượng, sự khao khát tính dục, những khát vọng đau đớn và một “đời sống ước muốn” mãnh liệt của mộng tưởng và ham muốn, cuối cùng có thể thành công trong việc cắt đứt mọi liên hệ đúng đắn cả bên trong chính y (với thể xác ở một nơi, đời sống cảm xúc hướng về nơi khác và trí tuệ bận bịu ở chỗ khác) lẫn với môi trường và các trách nhiệm bao quanh, đến nỗi y sống hoàn toàn trong một thế giới do chính mình tạo ra—tách rời, bất động, và không bị chạm đến bởi các công việc bình thường hay những tiếng gọi của con người. Điều này đôi khi cũng do một ham muốn không được nhận ra là muốn trốn tránh trách nhiệm, trốn khỏi nỗi đau và sự phiền toái của đời sống hằng ngày hoặc khỏi những bàn tay níu kéo của những người yêu thương y; nó cũng có thể được mang sang từ một kiếp sống khác của kinh nghiệm thần bí mà trong kiếp này lẽ ra phải được vượt qua và trưởng thành vượt khỏi một cách dứt khoát, vì nó đã phục vụ mục đích hữu ích của nó và hoàn thành công việc cần thiết. Đây là một sự tách rời sai lầm.

I realise as I give you this teaching upon the difficulties of the mystical life—devitalisation, delusion, delirium and detachment—that those who have gained much from the mystics or those who are at this time mystically inclined will violently disagree. I would seek to make myself clear on these [605] points. The mystical way is the right way for people at a certain stage of evolution, the Atlantean stage, provided it is not carried to the point of insanity, hallucination, furious fanaticism and psychopathic complications. It is, rightly expressed, a useful and needed process whereby the astral body is re-oriented and spiritual aspiration begins to take the place of desire. It is necessary to have vision for “where there is no vision, the people perish”. True vision is, in reality, the astral reflection of the divine Plan, reflected into the higher levels of the astral consciousness of the planet and there contacted and sensed by those human beings whose focus in life is of a very high grade nature whose “intention is towards God and righteousness” but who are introverted at this time, who lack much technical knowledge either of divine law or of the constitution of man or of the planetary life, and whose minds are quiescent and non-questioning except in an emotional sense and for the relief of the mystic’s own spiritual distress and desire for peace and satisfaction. There is, for instance, little in the writings of the mystics of the middle ages, (either in the East or in the West) which gives any indication of a sense of world need or of humanity’s demand for enlightenment.

Tôi nhận ra rằng khi trao cho các bạn giáo huấn này về những khó khăn của đời sống thần bí—mất sinh lực, ảo tưởng, mê sảng và tách rời—thì những ai đã nhận được nhiều từ các nhà thần bí hoặc những ai hiện nay có khuynh hướng thần bí sẽ phản đối mạnh mẽ. Tôi muốn làm cho mình rõ ràng về những [605] điểm này. Con đường thần bí là con đường đúng đắn đối với con người ở một giai đoạn tiến hoá nhất định, giai đoạn Atlantis, miễn là nó không bị đẩy đến mức điên loạn, ảo giác, cuồng tín dữ dội và các biến chứng loạn tâm thần. Khi được biểu lộ đúng đắn, đó là một tiến trình hữu ích và cần thiết, nhờ đó thể cảm dục được tái định hướng và khát vọng tinh thần bắt đầu thay thế ham muốn. Cần phải có linh ảnh vì “nơi nào không có linh ảnh, dân chúng sẽ diệt vong”. Linh ảnh chân chính, trên thực tế, là sự phản chiếu cảm dục của Thiên Cơ thiêng liêng, được phản chiếu vào các cấp độ cao hơn của tâm thức cảm dục của hành tinh và tại đó được tiếp xúc và cảm nhận bởi những con người có tiêu điểm đời sống thuộc bản chất rất cao, những người mà “ý hướng hướng về Thượng đế và sự công chính” nhưng hiện nay lại hướng nội, thiếu nhiều kiến thức kỹ thuật về định luật thiêng liêng hoặc về cấu tạo của con người hay của sự sống hành tinh, và có trí tuệ tĩnh lặng, không chất vấn ngoại trừ theo nghĩa cảm xúc và nhằm làm dịu nỗi khổ tinh thần cùng ham muốn hòa bình và thỏa mãn của chính nhà thần bí. Chẳng hạn, trong các trước tác của các nhà thần bí thời trung cổ (ở cả Đông phương lẫn Tây phương) hầu như không có gì cho thấy một ý thức về nhu cầu của thế giới hay về đòi hỏi giác ngộ của nhân loại.

The astral reflection of the Plan—such is the vision. There the life forces of the mystical physical nature, of his astral body and of his soul (two forces and one energy) unite and there they produce a powerful expression of focussed desire, deep inchoate longing, vivid imagination and the construction of a thought form, expressing all that the mystic desires to contact or to see expressed.

Sự phản chiếu cảm dục của Thiên Cơ—đó là linh ảnh. Tại đó các mãnh lực sự sống của bản chất hồng trần thần bí, của thể cảm dục và của linh hồn y (hai mãnh lực và một năng lượng) hợp nhất, và tại đó chúng tạo ra một biểu lộ mạnh mẽ của ham muốn được tập trung, của nỗi khát khao sâu xa chưa định hình, của sự tưởng tượng sống động và của việc kiến tạo một Hình tư tưởng, biểu lộ tất cả những gì nhà thần bí mong muốn tiếp xúc hoặc thấy được biểu lộ.

There will be, as time goes on, less and less of this mystical approach. The work of realising beauty and the instinct to reach out towards divinity are now so deeply rooted in the racial consciousness that the balancing work of the mind and the presentation of the Plan in the place of the Vision can [606] safely proceed. The children of the race who are still Atlantean in consciousness will continue with the mystical approach and the beauty of that contribution will still be the heritage of the race. But the cycle of the mystical effort and experience will be considerably shortened and scientifically controlled because its purpose, its place in racial unfoldment and its contribution to the “doctrine of Reality” will be better understood.

Theo thời gian, sẽ ngày càng ít đi lối tiếp cận thần bí này. Công việc chứng nghiệm cái đẹp và bản năng vươn tới thiên tính hiện đã bén rễ quá sâu trong tâm thức nhân loại đến nỗi công việc quân bình của trí tuệ và việc trình bày Thiên Cơ thay cho linh ảnh có thể [606] được tiến hành một cách an toàn. Những đứa con của nhân loại vẫn còn Atlantis trong tâm thức sẽ tiếp tục với lối tiếp cận thần bí, và vẻ đẹp của sự đóng góp ấy vẫn sẽ là di sản của nhân loại. Nhưng chu kỳ của nỗ lực và kinh nghiệm thần bí sẽ được rút ngắn đáng kể và được kiểm soát một cách khoa học, bởi vì mục đích của nó, vị trí của nó trong sự khai mở của nhân loại và sự đóng góp của nó cho “nhãn pháp về Thực Tại” sẽ được thấu hiểu rõ hơn.

This mystical cycle is the correspondence to the “adolescent” cycle in the life of the young, valuable, visionary and life-giving, spurring on to right orientation and stabilising certain standards and values. Such a cycle will, however, be recognised as undesirable when the time has come that a new and higher set of values and a more spiritual and controlled technique should take its place. A life purpose, a recognised plan and a correctly directed activity must eventually supersede all adolescent yearnings, dreams, imaginative longings and aspiration in the life of the individual and of the race.

Chu kỳ thần bí này tương ứng với chu kỳ “thiếu niên” trong đời sống của người trẻ, có giá trị, đầy linh ảnh và ban sự sống, thúc đẩy sự định hướng đúng đắn và làm ổn định một số tiêu chuẩn và giá trị. Tuy nhiên, một chu kỳ như thế sẽ được nhìn nhận là không còn mong muốn khi đã đến lúc một tập hợp giá trị mới và cao hơn cùng một kỹ thuật tinh thần hơn và được kiểm soát hơn phải thay thế nó. Một mục đích sống, một kế hoạch được nhận biết và một hoạt động được hướng dẫn đúng đắn cuối cùng phải thay thế mọi khát vọng tuổi thiếu niên, mộng tưởng, những khao khát đầy tưởng tượng và khát vọng trong đời sống của cá nhân và của nhân loại.

Mistake Me Not. The vision is a vision of reality. The eternal Dreamer dreams and the greatest of all Mystics is the divine Logos Himself. But His dream must be registered in our consciousness as God’s Plan and the mystical vision is the necessary though passing development in the human being of the “dreaming” aspect of God’s Nature. Ponder on this, for it holds revelation to those who ponder rightly.

Xin đừng hiểu sai Tôi. Linh ảnh là linh ảnh về thực tại. Đấng Mộng Tưởng vĩnh cửu đang mơ, và nhà thần bí vĩ đại nhất trong tất cả chính là Thượng đế Logos thiêng liêng. Nhưng giấc mơ của Ngài phải được ghi nhận trong tâm thức chúng ta như Thiên Cơ của Thượng đế, và linh ảnh thần bí là sự phát triển cần thiết tuy chỉ tạm thời trong con người của phương diện “mộng tưởng” trong Bản chất của Thượng đế. Hãy suy ngẫm điều này, vì nó chứa đựng sự mặc khải cho những ai suy ngẫm đúng cách.

Revelation of Light and Power and Attendant Difficulties

Sự Mặc Khải của Ánh sáng và Quyền năng cùng Những Khó khăn Đi Kèm

The problems with which we must now deal belong in a totally different category. They have no relation at all to emotion or to the astral plane but constitute the specific difficulty of the aspirant or the advanced man or disciple who has learnt to focus himself in the mental nature. They are problems connected with achieved contact with the soul, [607] which results in the illumination of the mind and a definite influx of power.

Những vấn đề mà giờ đây chúng ta phải bàn đến thuộc về một phạm trù hoàn toàn khác. Chúng hoàn toàn không liên quan đến cảm xúc hay cõi cảm dục mà cấu thành khó khăn đặc thù của người chí nguyện hoặc người tiến bộ hay đệ tử đã học cách tập trung chính mình trong bản chất trí tuệ. Chúng là những vấn đề gắn liền với sự tiếp xúc đã đạt được với linh hồn, [607] điều này dẫn đến sự soi sáng của trí tuệ và một sự tuôn đổ quyền năng rõ rệt.

These difficulties only come to the man in whom the throat centre and the ajna centre are awakening. The moment that any difficulty is sensed in relation to the phenomena of light, the psychologist or the physician can know that the pituitary body is involved and that consequently the centre between the eyebrows is beginning to be active and awake.

Những khó khăn này chỉ đến với người mà trung tâm cổ họng và trung tâm ajna đang thức tỉnh. Ngay khi bất kỳ khó khăn nào được cảm nhận liên quan đến các hiện tượng ánh sáng, nhà tâm lý học hoặc thầy thuốc có thể biết rằng tuyến yên có liên quan và do đó trung tâm giữa hai chân mày đang bắt đầu hoạt động và thức tỉnh.

The problem of power, sensed by the aspirant and seeking expression in his life, falls into two categories:—

Vấn đề quyền năng, được người chí nguyện cảm nhận và tìm cách biểu lộ trong đời sống của y, rơi vào hai loại:—

1. The sense of power which comes through the effort to do definite creative work. This necessarily involves the activity of the throat centre. Where there is this inflow of creative force and where there is no real use made of the inflowing energy in the production of creative work, then there is very apt to be difficulty with the thyroid gland.

1. Cảm nhận về quyền năng đến qua nỗ lực thực hiện một công việc sáng tạo xác định. Điều này tất yếu bao hàm hoạt động của trung tâm cổ họng. Nơi nào có sự tuôn vào của mãnh lực sáng tạo này và nơi nào năng lượng tuôn vào ấy không được sử dụng thực sự trong việc sản sinh công việc sáng tạo, thì rất dễ có khó khăn với tuyến giáp trạng.

2. The sense of power which takes the form of ambition, and of an integration which is brought about by the force of that ambition. This frequently succeeds in subordinating the various aspects of the lower nature to that ambition. When this takes place the ajna centre is active and is synchronising its vibration with that of the throat centre. This leads to real difficulty and is one of the commonest forms of ambition to which the aspirant and the disciple succumb.

2. Cảm nhận về quyền năng mang hình thức tham vọng, và của một sự tích hợp được tạo ra bởi mãnh lực của tham vọng ấy. Điều này thường thành công trong việc đặt các phương diện khác nhau của bản chất thấp dưới quyền tham vọng đó. Khi điều này xảy ra, trung tâm ajna hoạt động và đang đồng bộ hóa rung động của nó với rung động của trung tâm cổ họng. Điều này dẫn đến khó khăn thực sự và là một trong những hình thức tham vọng phổ biến nhất mà người chí nguyện và đệ tử sa vào.

One can also divide the problem of light into two groups of difficulties if one so desires—one related to the physical registering of the light in the head and the other to the acquiring of knowledge.

Người ta cũng có thể chia vấn đề ánh sáng thành hai nhóm khó khăn nếu muốn—một nhóm liên quan đến việc ghi nhận ánh sáng trong đầu trên phương diện hồng trần và nhóm kia liên quan đến việc đạt được tri thức.

This registering of light within the periphery of the skull is connected with the relation to be found between the head centre and the centre between the eyebrows; that is, between the area (localised around the pituitary body) and that localised around the pineal gland. The vibratory effect, you know, of those two centres can become so strong that the two vibrations or their “pulsating rhythmic activity” can swing into each other’s field of action and a unified magnetic field can be set up which can become so powerful, so brilliant and so pronounced that the disciple—when closing his eyes—can see it plainly. It can be visually sensed and known. Eventually, and in some cases, it can definitely affect the optic nerve, not to its detriment but to the extent of evoking the subtler side of the sense of sight. A man can then see etherically and can see the etheric counterpart of all tangible forms. This is physiological and not a psychic power and is quite different to clairvoyance. There can be no etheric vision apart from the usual organ of vision, the eye. The sensing and the registering of this light in the head can lead to its own peculiar problems when the process is not correctly understood or controlled, just as the registering of the energy of power (coming from the mind in its will aspect or from the soul through the will petals) can prove definitely detrimental to the personality, when not consecrated or refined.

Việc ghi nhận ánh sáng này bên trong chu vi hộp sọ có liên quan đến mối tương quan giữa trung tâm đầu và trung tâm giữa hai chân mày; nghĩa là giữa khu vực (định vị quanh tuyến yên) và khu vực định vị quanh tuyến tùng quả. Như các bạn biết, tác động rung động của hai trung tâm ấy có thể trở nên mạnh đến mức hai rung động ấy hay “hoạt động nhịp điệu rung động” của chúng có thể chuyển vào trường hoạt động của nhau và một trường từ tính hợp nhất có thể được thiết lập, trường này có thể trở nên mạnh mẽ, rực sáng và rõ rệt đến nỗi đệ tử—khi nhắm mắt—có thể thấy nó một cách rõ ràng. Nó có thể được cảm nhận và biết đến bằng thị giác. Cuối cùng, và trong một số trường hợp, nó có thể tác động rõ rệt lên thần kinh thị giác, không phải gây hại mà đến mức khơi dậy phương diện vi tế hơn của giác quan thị giác. Khi đó một người có thể thấy bằng dĩ thái và có thể thấy đối phần dĩ thái của mọi hình tướng hữu hình. Đây là hiện tượng sinh lý chứ không phải một năng lực thông linh và hoàn toàn khác với thông nhãn. Không thể có linh thị dĩ thái tách rời khỏi cơ quan thị giác thông thường là con mắt. Việc cảm nhận và ghi nhận ánh sáng này trong đầu có thể dẫn đến những vấn đề đặc thù của chính nó khi tiến trình ấy không được thấu hiểu hay kiểm soát đúng đắn, cũng như việc ghi nhận năng lượng quyền năng (đến từ trí tuệ trong phương diện ý chí của nó hoặc từ linh hồn qua các cánh hoa ý chí) có thể tỏ ra rõ rệt là có hại cho phàm ngã khi không được thánh hiến hoặc tinh luyện.

Again, this registering of the light falls into certain definite stages and takes place at certain definite points in the unfoldment of the human being, but is more likely to occur in the earlier stages than the later. These are:—

Một lần nữa, việc ghi nhận ánh sáng này diễn ra qua những giai đoạn xác định và xảy ra tại những điểm xác định trong sự khai mở của con người, nhưng có nhiều khả năng xảy ra ở các giai đoạn đầu hơn là các giai đoạn sau. Đó là:—

1. The sensing of a diffused light outside the head, either before the eyes or over the right shoulder.

1. Cảm nhận một ánh sáng khuếch tán ở bên ngoài đầu, hoặc trước mắt hoặc phía trên vai phải.

2. The sensing of this diffused misty light within the head, permeating, apparently, the entire head.

2. Cảm nhận ánh sáng mờ sương khuếch tán này bên trong đầu, dường như thấm khắp toàn bộ đầu.

3. The concentrating of this diffused light until it has the appearance of a radiant sun.

3. Sự tập trung của ánh sáng khuếch tán này cho đến khi nó có dáng vẻ của một mặt trời rực sáng.

[609]

[609]

4. The intensifying of the light of this inner sun. This is in reality the recognition of the radiance of the magnetic field, established between the pituitary body and the pineal gland (as expressions of the head and the ajna centres). This radiance can at times seem almost too bright to be borne.

4. Sự tăng cường ánh sáng của mặt trời nội tại này. Thực ra đây là sự nhận biết bức xạ của trường từ tính, được thiết lập giữa tuyến yên và tuyến tùng quả (như những biểu lộ của trung tâm đầu và trung tâm ajna). Bức xạ này đôi khi có thể dường như quá chói sáng đến mức khó chịu đựng.

5. The extension of the rays of this inner sun first to the eyes, and then finally beyond the radius of the head so that (to the vision of the clairvoyant seer) the halo makes its appearance around the head of the disciple or aspirant.

5. Sự mở rộng các tia của mặt trời nội tại này trước hết đến đôi mắt, rồi cuối cùng vượt ra ngoài bán kính của đầu để (đối với linh thị của nhà thông nhãn) hào quang xuất hiện quanh đầu của đệ tử hay người chí nguyện.

6. The discovery that there is, at the very heart of this, a point of dark blue electric light, which gradually grows into a circle of some size. This occurs when the light in the head irradiates the central opening at the top of the head. Through this opening the various energies of the soul and the forces of the personality can be synthesised and thus flow into the physical body, via the major centres. It is also the esoteric “door of departure” through which the soul withdraws the consciousness aspect in the hours of sleep and the consciousness aspect plus the life thread at the moment of death.

6. Sự khám phá rằng ngay nơi trung tâm của điều này có một điểm ánh sáng điện màu lam sẫm, điểm này dần dần lớn lên thành một vòng tròn có kích thước nào đó. Điều này xảy ra khi ánh sáng trong đầu chiếu rọi lỗ mở trung tâm ở đỉnh đầu. Qua lỗ mở này, các năng lượng khác nhau của linh hồn và các mãnh lực của phàm ngã có thể được tổng hợp và như thế chảy vào thể xác qua các trung tâm chính. Đây cũng là “cửa ra đi” huyền bí, qua đó linh hồn rút phương diện tâm thức trong những giờ ngủ, và rút phương diện tâm thức cộng với Sinh Mệnh Tuyến vào lúc chết.

The registering of this inner light often causes serious concern and difficulty to the inexperienced person and the intensity of their concern and fear leads them to think so much of the problem that they become what we occultly call “obsessed with the light and so fail to see the Lord of Light and that which the Light reveals”. I would point out here that all aspirants and occult students do not see this light. Seeing it is dependent upon several factors—temperament, the quality of the physical cells of the brain, the nature of the work which has been done or of the particular task, and the extent of the magnetic field. There never need be any difficulty if the [610] aspirant will use the light which is in him for the helping of his fellowmen. It is the self-centred mystic who gets into difficulty, as does the occultist who uses the light which he discovers within himself for selfish purposes, and personal ends.

Việc ghi nhận ánh sáng nội tại này thường gây lo ngại và khó khăn nghiêm trọng cho người thiếu kinh nghiệm, và cường độ lo ngại cùng sợ hãi của họ khiến họ nghĩ quá nhiều về vấn đề đến nỗi họ trở thành điều mà chúng ta gọi theo huyền bí học là “bị ám bởi ánh sáng và do đó không thấy được Chúa Tể của Ánh sáng cùng điều mà Ánh sáng mặc khải”. Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng không phải mọi người chí nguyện và đạo sinh huyền bí học đều thấy ánh sáng này. Việc thấy nó tùy thuộc vào một số yếu tố—khí chất, phẩm tính của các tế bào hồng trần của bộ não, bản chất của công việc đã được thực hiện hay của nhiệm vụ đặc biệt, và mức độ của trường từ tính. Sẽ không bao giờ cần có bất kỳ khó khăn nào nếu [610] người chí nguyện dùng ánh sáng ở trong mình để giúp đỡ đồng loại. Chính nhà thần bí tập trung vào bản thân mới rơi vào khó khăn, cũng như nhà huyền bí học dùng ánh sáng mà y khám phá trong chính mình cho những mục đích ích kỷ và những cứu cánh cá nhân.

An incidental difficulty is sometimes found when the “doorway out into the other worlds” is discovered and becomes, not a door for rightful and proper use, but a way of escape from the difficulties of life and a short cut out of conscious physical experience. The connection then between the mystic and his physical vehicle becomes less and less firmly established and the link gets looser and looser until the man spends most of his time out of his body in a condition of semi-trance or a deep sleep condition.

Một khó khăn ngẫu phát đôi khi được thấy khi “cửa ngõ đi ra các thế giới khác” được khám phá và trở thành, không phải một cánh cửa để sử dụng đúng đắn và thích hợp, mà là một lối thoát khỏi những khó khăn của đời sống và một đường tắt ra khỏi kinh nghiệm hồng trần hữu thức. Khi đó mối liên kết giữa nhà thần bí và vận cụ hồng trần của y ngày càng kém vững chắc, và mối nối ấy ngày càng lỏng lẻo cho đến khi con người ấy dành phần lớn thời gian ở ngoài thân thể trong một trạng thái nửa xuất thần hoặc một trạng thái ngủ sâu.

Students should make no effort to see the light in the head, but when it is sensed and seen—then there should be a careful regulation and registration of it. Second ray types will respond to this phenomenon more easily and more frequently than first or third ray types. First ray people will register the inflow of force and power with facility and will discover that their problem lies in the control and the right direction of such energies.

Các đạo sinh không nên nỗ lực để thấy ánh sáng trong đầu, nhưng khi nó được cảm nhận và thấy—thì nên có sự điều chỉnh và ghi nhận cẩn trọng. Người cung hai sẽ đáp ứng với hiện tượng này dễ dàng và thường xuyên hơn người cung một hay cung ba. Người cung một sẽ ghi nhận sự tuôn vào của mãnh lực và quyền năng một cách dễ dàng và sẽ khám phá rằng vấn đề của họ nằm ở sự kiểm soát và hướng dẫn đúng đắn các năng lượng ấy.

Much of the present impasse to be found in the personalities of the aspirants of the world is due to the fact that the light that is in them remains undirected and the power that is flowing through them remains unused or misapplied. Much of the physical blindness and the poor sight to be found in the world today (unless the result of accident) is due to the presence of the light of the head—unrecognised and unused—and thus producing or exciting a definite effect upon the eyes and upon the optic nerve. Technically speaking, the light of the soul—localised in the region of the pineal gland—works through and would be directed through the right eye which is (as you have been told) the organ of the buddhi, [611] whilst the light of the personality—localised in the region of the pituitary body—functions through the left eye. The time has not yet come when this statement means much except to very advanced students, but it should be on record for the future use of disciples and aspirants.

Phần lớn tình trạng bế tắc hiện nay nơi các phàm ngã của những người chí nguyện trên thế giới là do ánh sáng ở trong họ vẫn không được hướng dẫn và quyền năng đang chảy qua họ vẫn không được dùng đến hoặc bị áp dụng sai. Phần lớn chứng mù lòa thể xác và thị lực kém thấy trong thế giới ngày nay (trừ khi là kết quả của tai nạn) là do sự hiện diện của ánh sáng trong đầu—không được nhận ra và không được sử dụng—và do đó tạo ra hay kích thích một tác động rõ rệt lên đôi mắt và lên thần kinh thị giác. Nói theo kỹ thuật, ánh sáng của linh hồn—định vị trong vùng tuyến tùng quả—hoạt động qua và lẽ ra sẽ được hướng qua mắt phải, vốn là (như các bạn đã được bảo) cơ quan của Bồ đề, [611] trong khi ánh sáng của phàm ngã—định vị trong vùng tuyến yên—hoạt động qua mắt trái. Thời điểm mà phát biểu này có nhiều ý nghĩa vẫn chưa đến, ngoại trừ đối với những đạo sinh rất tiến bộ, nhưng nó nên được ghi lại để dùng trong tương lai cho các đệ tử và người chí nguyện.

I would also like to point out that one of the difficulties today is that the light of the personality is more active within the head than is the light of the soul and that it has far more of the quality of burning than has soul light. The effect of the soul light is stimulating and occultly cool. It brings the brain cells into functioning activity, evoking response from cells at present quiescent and unawakened. It is as these cells are brought into activity by the inflow of the light of the soul that genius appears, accompanied often by some lack of balance or control in certain directions.

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng một trong những khó khăn ngày nay là ánh sáng của phàm ngã hoạt động trong đầu mạnh hơn ánh sáng của linh hồn, và nó có nhiều phẩm tính thiêu đốt hơn ánh sáng linh hồn. Tác động của ánh sáng linh hồn là kích thích và, theo huyền bí học, là mát dịu. Nó đưa các tế bào não vào hoạt động chức năng, khơi dậy sự đáp ứng từ những tế bào hiện đang tĩnh lặng và chưa thức tỉnh. Chính khi các tế bào này được đưa vào hoạt động bởi sự tuôn vào của ánh sáng linh hồn thì thiên tài xuất hiện, thường đi kèm với một vài thiếu sót về quân bình hay kiểm soát theo một số phương diện.

This whole subject of light and power is of so vast a nature and is relatively so little understood in its true significance as an expression (in dual form) of energy which flows upward from the personality and downward from the soul that it is only as more and more people tread the Path that the problem will emerge in its true light and thus eventually be handled rightly. I will refer here briefly to some of the problems so as to provide the germ or seed of thought from which future study can grow and the future investigation arise. They might be summarised as follows:—

Toàn bộ chủ đề này về ánh sáng và quyền năng có bản chất rộng lớn đến mức, và tương đối ít được thấu hiểu trong thâm nghĩa chân thực của nó như một biểu lộ (dưới hình thức nhị phân) của năng lượng chảy lên từ phàm ngã và chảy xuống từ linh hồn, đến nỗi chỉ khi ngày càng nhiều người bước trên Con Đường thì vấn đề mới xuất hiện trong ánh sáng chân thực của nó và như thế cuối cùng được xử lý đúng đắn. Ở đây tôi sẽ đề cập ngắn gọn đến một số vấn đề để cung cấp mầm hay Tư tưởng hạt giống mà từ đó việc nghiên cứu tương lai có thể phát triển và sự khảo cứu tương lai có thể nảy sinh. Chúng có thể được tóm lược như sau:—

1. The theme of light and energy is closely connected with the problem (for such it is at this time) of the entire glandular system; it is, therefore, of basic importance that there should be understanding of this relation for it is one of the fundamental things upon which the health of the entire body and its right functioning rests.

1. Chủ đề ánh sáng và năng lượng gắn bó chặt chẽ với vấn đề (vì hiện nay đúng là như vậy) của toàn bộ hệ thống tuyến nội tiết; do đó, điều tối quan trọng là phải có sự thấu hiểu về mối liên hệ này vì đó là một trong những điều căn bản mà trên đó sức khỏe của toàn thể cơ thể và sự vận hành đúng đắn của nó dựa vào.

2. When there is a correct grasp of this subject, it will be [612] found that the brain and the two head centres (actuating the pituitary body and the pineal gland) are the directing agents for all the activities of the man upon the physical plane. Today, he is largely directed by his animal instincts, by his sexual life and by his emotional reactions or else by his creative activities as they express themselves through the throat centre. A few—very few—of his activities are directed from the heart, but eventually men must control their life expression from the head via the dual organs of the soul and the personality—the ajna centre, working through the pituitary body and expressing the personality life at its highest, and the head centre, working through the pineal gland, responsive to soul impulse. There will then be balance and right direction of all the life forces and a right development (following ray indications) of all the centres in the body.

2. Khi có sự nắm bắt đúng đắn về chủ đề này, người ta sẽ [612] thấy rằng bộ não và hai trung tâm đầu (làm hoạt hóa tuyến yên và tuyến tùng quả) là những tác nhân chỉ đạo cho mọi hoạt động của con người trên cõi hồng trần. Ngày nay, y phần lớn được chỉ đạo bởi các bản năng thú tính, bởi đời sống tính dục và bởi các phản ứng cảm xúc, hoặc bởi các hoạt động sáng tạo khi chúng biểu lộ qua trung tâm cổ họng. Chỉ một số ít—rất ít—hoạt động của y được chỉ đạo từ tim, nhưng cuối cùng con người phải kiểm soát sự biểu lộ đời sống của mình từ đầu qua các cơ quan kép của linh hồn và phàm ngã—trung tâm ajna, hoạt động qua tuyến yên và biểu lộ đời sống phàm ngã ở mức cao nhất của nó, và trung tâm đầu, hoạt động qua tuyến tùng quả, đáp ứng với xung động linh hồn. Khi đó sẽ có sự quân bình và sự hướng dẫn đúng đắn của mọi mãnh lực sự sống cùng sự phát triển đúng đắn (theo các chỉ dẫn của cung) của mọi trung tâm trong cơ thể.

3. Through this right re-arrangement of the life forces in the body and their consequent “enlightenment and energising”, men will be enabled to do two things, speaking symbolically:—

3. Qua sự tái sắp xếp đúng đắn này của các mãnh lực sự sống trong cơ thể và sự “soi sáng và tiếp năng lượng” hệ quả của chúng, con người sẽ có thể làm được hai điều, nói theo biểu tượng:—

a. They will “see God” and be in touch with the soul.

a. Họ sẽ “thấy Thượng đế” và tiếp xúc với linh hồn.

b. They will “know what is in man” and can then act wisely and work constructively.

b. Họ sẽ “biết điều gì ở trong con người” và khi đó có thể hành động một cách minh triết và làm việc một cách kiến tạo.

4. They will be able to “pierce the glamour of the astral plane” and proceed to function without error and can thus bring about the unimpeded illumination of the brain and the dissemination of knowledge in the brain.

4. Họ sẽ có thể “xuyên thủng ảo cảm của cõi cảm dục” và tiến tới hoạt động không sai lầm, và như thế có thể mang lại sự soi sáng không bị cản trở cho bộ não cùng sự truyền bá tri thức trong bộ não.

You will note from the above how many of the hallucinations, the glamours, the ambitions and the errors of the modern mystic can all be traced to the early stages and the embryonic beginnings of these developments. They are indicative [613] therefore, of unfoldment. But unfortunately they are not understood for what they are and the available light and energy are misapplied or turned to selfish and personal ends. This cannot as yet be avoided by any but the more advanced and experienced disciples and occultists; and many aspirants must continue for some time destroying themselves (from the personality angle and in this life) in what has been called the “fiery light of their misunderstanding and the burning fire of their personality ambition” until they learn that humility and scientific technique which will make them wise directors of the light and the power which is pouring into and through them all the time.

Bạn sẽ nhận thấy từ những điều trên rằng biết bao ảo giác, ảo cảm, tham vọng và sai lầm của nhà thần bí hiện đại đều có thể được truy nguyên về các giai đoạn đầu và những khởi đầu còn phôi thai của các sự phát triển này. Vì vậy, chúng là những dấu hiệu của sự khai mở. Nhưng đáng tiếc là chúng không được hiểu đúng như bản chất của chúng, và ánh sáng cùng năng lượng sẵn có lại bị sử dụng sai lạc hoặc bị hướng vào các mục đích ích kỷ và cá nhân. Hiện nay, điều này chưa thể tránh được đối với bất cứ ai ngoài những đệ tử và nhà huyền bí học tiến bộ hơn và giàu kinh nghiệm hơn; và nhiều người chí nguyện còn phải tiếp tục trong một thời gian tự hủy hoại mình (xét từ góc độ phàm ngã và trong kiếp sống này) trong cái đã được gọi là “ánh sáng rực lửa của sự hiểu lầm của họ và ngọn lửa thiêu đốt của tham vọng phàm ngã của họ”, cho đến khi họ học được đức tính khiêm nhường và kỹ thuật khoa học, điều sẽ khiến họ trở thành những người điều hướng khôn ngoan đối với ánh sáng và quyền năng đang luôn luôn tuôn vào và tuôn qua họ.

A study, therefore, of the three types of difficulties, emerging out of the development and the unfoldment of the psychic powers brings me to a wide generalisation, to which you must remember there will be many exceptions:—

Vì vậy, một sự nghiên cứu về ba loại khó khăn nảy sinh từ sự phát triển và sự khai mở của các năng lực thông linh đưa tôi đến một sự khái quát rộng lớn, mà các bạn phải nhớ rằng sẽ có nhiều ngoại lệ:—

1. The appearance of the lower psychic powers usually indicates that the man who is their victim (for we are here only dealing with the abnormalities of the psychic science) is on the third ray or that the third ray is dominant in his personality or a controlling factor in his personality equipment. Frequently an astral body, controlled by the third ray, will be found.

1. Sự xuất hiện của các năng lực thông linh thấp thường cho thấy rằng người là nạn nhân của chúng (vì ở đây chúng ta chỉ đang bàn đến những bất thường của khoa học thông linh) thuộc cung ba hoặc cung ba chi phối trong phàm ngã của y, hay là một yếu tố kiểm soát trong bộ máy phàm ngã của y. Thường thường, người ta sẽ thấy một thể cảm dục được kiểm soát bởi cung ba.

2. The registering of the mystical vision with its attendant difficulties is facilitated when the second ray is controlling and powerful, because the second ray is connected peculiarly with vision and with light.

2. Việc ghi nhận linh ảnh thần bí cùng với những khó khăn đi kèm được tạo điều kiện dễ dàng khi cung hai đang kiểm soát và mạnh mẽ, bởi vì cung hai có liên hệ đặc biệt với tầm nhìn và với ánh sáng.

3. It will be apparent to you that the revelation of power is obviously part of the expression of the first ray type.

3. Các bạn sẽ thấy rõ rằng sự mặc khải về quyền năng hiển nhiên là một phần trong biểu hiện của loại người cung một.

In this way, though all experiences come eventually to the disciple, the three major difficulties with which we have been dealing,—the psychic powers, the problems incident to the [614] mystical vision and the revelation of light and power—have a relation to and a connection with the ray expression. This should be borne in mind by the psychologist, the investigator and the physician. Psychic sensitivity, mystical duality, and dominating power—these are the three major problems of the aspirant and should be studied and understood. They affect the three major centres—the head, the heart and the centre between the eyebrows—in the disciple, for psychic sensitivity is related to the heart, mystical duality to the ajna centre and the problem of power to the highest head centre.

Theo cách này, dù mọi kinh nghiệm cuối cùng đều đến với đệ tử, ba khó khăn chính mà chúng ta đã bàn đến,—các năng lực thông linh, những vấn đề gắn liền với [614] linh ảnh thần bí, và sự mặc khải về ánh sáng và quyền năng—đều có liên hệ và kết nối với biểu hiện cung. Điều này cần được nhà tâm lý học, nhà nghiên cứu và thầy thuốc ghi nhớ. Tính nhạy cảm thông linh, nhị nguyên tính thần bí, và quyền năng chi phối—đó là ba vấn đề lớn của người chí nguyện và cần được nghiên cứu và thấu hiểu. Chúng tác động đến ba trung tâm chính—đầu, tim và trung tâm giữa hai chân mày—trong đệ tử, vì tính nhạy cảm thông linh liên hệ với tim, nhị nguyên tính thần bí liên hệ với trung tâm ajna, và vấn đề quyền năng liên hệ với trung tâm đầu cao nhất.

In the aspirant or advanced human being, they affect the throat, the solar plexus and the sacral centre, but as they are definitely due to an expansion of consciousness, they have little registered or noticeable effect upon the unevolved man or upon the average man who is preoccupied with physical plane life and emotional reactions. He is not passing through the stimulating but disrupting processes of re-orientation, of recognising duality and of fusion of the personality. As we have earlier seen, the processes of integration bring their own problems.

Trong người chí nguyện hay con người tiến hóa cao, chúng tác động đến trung tâm cổ họng, tùng thái dương và trung tâm xương cùng, nhưng vì chúng rõ ràng là do sự mở rộng tâm thức, nên chúng ít có ảnh hưởng được ghi nhận hay dễ nhận thấy nơi người chưa tiến hóa hoặc nơi người trung bình đang bận tâm với đời sống cõi hồng trần và các phản ứng cảm xúc. Y không trải qua các tiến trình kích thích nhưng gây xáo trộn của sự tái định hướng, của việc nhận ra nhị nguyên tính và của sự dung hợp của phàm ngã. Như chúng ta đã thấy trước đây, các tiến trình tích hợp mang theo những vấn đề riêng của chúng.

As time goes on, the stages of difficulty will be more carefully investigated from the angle of the occult hypotheses and then much progress will take place. This will be peculiarly so, if the problems of adolescence are studied, for they are the problems of the Atlantean consciousness and of the mystical unfoldment.

Theo thời gian, các giai đoạn khó khăn sẽ được khảo cứu cẩn thận hơn từ góc độ các giả thuyết huyền bí học, và khi đó sẽ có nhiều tiến bộ. Điều này sẽ đặc biệt đúng nếu các vấn đề của tuổi thiếu niên được nghiên cứu, vì đó là các vấn đề của tâm thức Atlantis và của sự khai mở thần bí.

I would like here to point out that just as the embryo in the womb recapitulates the various stages of animal unfoldment, so the human being, during the years of infancy, adolescence and youth up to the age of 35, recapitulates the various racial stages of consciousness. At 35 years old he should then affirm in himself the stage of the intelligent disciple. Much will be gained by a recognition of this recapitulatory process which [615] —in the New Age which is upon us—will do much to control and to determine the processes of unfoldment to which the child and youth will be subjected by the wise educator.

Tôi muốn ở đây chỉ ra rằng cũng như bào thai trong tử cung lặp lại các giai đoạn khác nhau của sự khai mở động vật, thì con người, trong những năm thơ ấu, thiếu niên và thanh niên cho đến tuổi 35, cũng lặp lại các giai đoạn chủng tộc khác nhau của tâm thức. Đến tuổi 35, khi đó y phải khẳng định trong chính mình giai đoạn của người đệ tử thông tuệ. Sẽ thu được nhiều lợi ích nhờ sự nhận biết tiến trình lặp lại này, tiến trình mà [615] —trong Kỷ Nguyên Mới đang đến với chúng ta—sẽ góp phần rất lớn vào việc kiểm soát và quyết định các tiến trình khai mở mà đứa trẻ và thanh niên sẽ được nhà giáo dục minh triết cho trải qua.

c. DISEASES CONNECTED WITH GROUP CONDITIONS—CÁC BỆNH LIÊN HỆ VỚI NHỮNG ĐIỀU KIỆN NHÓM

We can only briefly touch upon this theme, owing to the fact that group work (esoterically understood) is relatively new, and because the individual, working at this time in a group, is scarcely affected at all by these factors, owing to his relatively partial integration. I refer here to his integration in the group. People are still so insulated in their personalities that they are shut off, in many cases, from group stimulation, group effects and group impulses. It is only as they become decentralised and, therefore, more easily responsive to the group ideas, the group idealism, and to the group aura (with its outbreathing and its inbreathing and its group livingness) that they can and do succumb to those difficulties which group life imposes. Today it is the central figure in the group life, the dominant personality or soul, who is the one to whom the group life and the group thought turns, with all the consequences of such turning. It is this person, upon whom the group life pivots (if I may use such a term), who is the group victim and it is he who pays the price of any group weakness. The expression of the group attitude finds its outlet in him and he is, at times, practically “killed” by the group. No group today is a perfect group. They are in the experimental stage and are largely composed of a few Aquarians, many Pisceans and a number of people who are in a transition stage between these two. The leader or leaders of the new groups are usually of as pure a type of the new age or Aquarian character as is possible or available at this time. This accounts for the failure of the group, as a rule, either to understand the [616] leader or to cooperate with the new ideals as is desired. The leader is a pioneer in a new field of thought and of intention and, therefore, suffers the penalties of his daring and of his spirit of enterprise.

Chúng ta chỉ có thể chạm sơ qua chủ đề này, do sự kiện rằng công việc nhóm (được hiểu theo nghĩa huyền bí) còn tương đối mới, và bởi vì cá nhân, hiện đang làm việc trong một nhóm, hầu như chưa bị các yếu tố này ảnh hưởng chút nào, do sự tích hợp còn tương đối từng phần của y. Ở đây tôi nói đến sự tích hợp của y trong nhóm. Con người vẫn còn quá cô lập trong phàm ngã của mình đến nỗi trong nhiều trường hợp họ bị ngăn cách khỏi sự kích thích của nhóm, các hiệu quả của nhóm và các xung lực của nhóm. Chỉ khi họ trở nên phi tập trung vào bản thân và vì vậy đáp ứng dễ dàng hơn với các ý tưởng của nhóm, lý tưởng của nhóm, và hào quang của nhóm (với sự thở ra và hít vào của nó cùng sức sống nhóm của nó), thì họ mới có thể và thực sự khuất phục trước những khó khăn mà đời sống nhóm áp đặt. Ngày nay, chính nhân vật trung tâm trong đời sống nhóm, phàm ngã hay linh hồn chi phối, là người mà đời sống nhóm và tư tưởng nhóm hướng về, cùng với mọi hậu quả của sự hướng về đó. Chính con người này, người mà đời sống nhóm xoay quanh (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy), là nạn nhân của nhóm và chính y là người phải trả giá cho bất kỳ sự yếu kém nào của nhóm. Sự biểu lộ của thái độ nhóm tìm lối thoát nơi y và đôi khi y thực tế bị nhóm “giết chết”. Ngày nay không có nhóm nào là một nhóm hoàn hảo. Họ đang ở trong giai đoạn thử nghiệm và phần lớn được cấu thành bởi một vài người Bảo Bình, nhiều người Song Ngư và một số người đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai loại này. Người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo của các nhóm mới thường thuộc loại thuần túy nhất có thể có hay có thể tìm được vào lúc này của mẫu người kỷ nguyên mới hay tính cách Bảo Bình. Điều này giải thích tại sao nhóm, theo quy luật chung, hoặc không hiểu được [616] người lãnh đạo, hoặc không hợp tác với các lý tưởng mới như mong muốn. Người lãnh đạo là một người tiên phong trong một lĩnh vực mới của tư tưởng và của chủ ý, và vì vậy phải chịu những hình phạt do sự táo bạo và tinh thần dấn thân của y.

It is not my intention to deal here with group difficulties, for that is not my theme. I am considering the difficulties (amounting often to physical disease) and the problems of the individual who is sensitive to group pressures and group life—a very different thing to the usual problems of the mystics of the past. These can only be studied and investigated today by a consideration of the lives, physical condition, problems, difficulties and deaths of group leaders. I would call this definitely to your attention. The group members—little as they may like to recognise this fact—are not as yet prone to suffer much from the group life, the group emanation and the group energy for they are not yet sufficiently integrated into the group.

Ý định của tôi ở đây không phải là bàn đến các khó khăn của nhóm, vì đó không phải là chủ đề của tôi. Tôi đang xem xét những khó khăn (thường lên đến mức bệnh thể xác) và những vấn đề của cá nhân nhạy cảm với các áp lực nhóm và đời sống nhóm—một điều rất khác với những vấn đề thông thường của các nhà thần bí trong quá khứ. Ngày nay, những điều này chỉ có thể được nghiên cứu và khảo sát bằng cách xem xét đời sống, tình trạng thể xác, các vấn đề, khó khăn và cái chết của các nhà lãnh đạo nhóm. Tôi muốn đặc biệt lưu ý các bạn về điều này. Các thành viên nhóm—dù họ có thể không thích thừa nhận sự kiện này đến đâu—hiện vẫn chưa dễ bị đau khổ nhiều do đời sống nhóm, sự phát xạ của nhóm và năng lượng nhóm, vì họ chưa được tích hợp đầy đủ vào nhóm.

The problem we are considering falls into two major categories and as I seek to deal with them I realise that there is relatively little that I can say. The next century will see the problems more defined and the difficulties more clearly delineated. They are:

Vấn đề mà chúng ta đang xem xét rơi vào hai loại chính, và khi tôi tìm cách bàn đến chúng, tôi nhận ra rằng có tương đối ít điều tôi có thể nói. Thế kỷ tới sẽ thấy các vấn đề được xác định rõ hơn và các khó khăn được phác họa minh bạch hơn. Chúng là:

a. Those arising as a result of the directed thought of the group. On this I can say something.

a. Những điều nảy sinh do kết quả của tư tưởng được định hướng của nhóm. Về điều này tôi có thể nói đôi chút.

b. Diseases, connected with the respiratory tract. On these I can say but little.

b. Các bệnh liên hệ với đường hô hấp. Về những điều này tôi chỉ có thể nói rất ít.

Let us, therefore, look at these problems. We shall have to study the first from the angle of the one most affected by them—the leader or focal point of the group. These same problems may also affect the three or four people who, with the group leader and in collaboration with him, direct the group policies.

Vì vậy, chúng ta hãy xem xét các vấn đề này. Chúng ta sẽ phải nghiên cứu vấn đề thứ nhất từ góc độ của người bị chúng ảnh hưởng nhiều nhất—người lãnh đạo hay tiêu điểm của nhóm. Những vấn đề này cũng có thể ảnh hưởng đến ba hay bốn người mà cùng với người lãnh đạo nhóm và trong sự cộng tác với y, định hướng các chính sách của nhóm.

[617]

[617]

Diseases and Problems Evoked by Directed Group Thought

Các Bệnh và Vấn Đề Được Gợi Lên bởi Tư Tưởng Nhóm Có Định Hướng

It will be obvious to you that the first and most important of these difficulties will be those arising from group criticism, either voiced or strongly felt. This criticism can be based on many things, but is usually rooted in jealousy, thwarted ambition, or pride of individual intellect. Each member of any group, particularly those in the immediate circle of the leader or leaders, is prone to sit in judgment. The responsibility is not theirs; they know not the problems as they truly exist and criticism is, therefore, easy. It should here be remembered that criticism is a virulent poison. It damages in every case eventually the one who criticises—owing to the fact of voiced direction—it hurts still more the one who is criticised. Where there is purity of motive, true love and a large measure of detachment, the subtler bodies of the one who is under attack may remain immune but the physical effects will be definite and where there is any physical weakness or limitation there will be found the localisation of the projected poison.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng khó khăn đầu tiên và quan trọng nhất trong số này sẽ là những điều nảy sinh từ sự chỉ trích của nhóm, hoặc được nói ra hoặc được cảm nhận mạnh mẽ. Sự chỉ trích này có thể dựa trên nhiều điều, nhưng thường bén rễ trong lòng ghen tị, tham vọng bị ngăn trở, hay sự kiêu hãnh của trí tuệ cá nhân. Mỗi thành viên của bất kỳ nhóm nào, đặc biệt là những người trong vòng gần gũi của người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo, đều dễ có khuynh hướng ngồi phán xét. Trách nhiệm đó không thuộc về họ; họ không biết các vấn đề như chúng thực sự hiện hữu, và vì vậy sự chỉ trích trở nên dễ dàng. Ở đây cần nhớ rằng sự chỉ trích là một chất độc dữ dội. Cuối cùng, trong mọi trường hợp, nó làm tổn hại chính người chỉ trích—do sự kiện của sự định hướng được phát ngôn—và nó còn làm tổn thương nặng hơn nữa người bị chỉ trích. Nơi nào có sự thuần khiết của động cơ, tình thương chân thật và một mức độ tách rời lớn, thì các thể vi tế của người đang bị tấn công có thể vẫn miễn nhiễm, nhưng các hiệu quả thể xác sẽ rõ rệt, và nơi nào có bất kỳ sự yếu kém hay giới hạn thể xác nào, ở đó sẽ thấy sự khu trú của chất độc được phóng chiếu.

Unvoiced criticism is very dangerous for it is powerfully focussed and strongly, though not individually directed; it issues continuously and as a steady stream, sent forth on the wings of jealousy, ambition, pride in a personal grasp of a supposed situation and a belief that the one who criticises is in a position to understand correctly and could—given right opportunity—take right action. Where the criticism is voiced and expressed in words, it is consequently strengthened by the cooperation of those influenced by the criticism and the consequences of this group-directed thought may result in the physical undoing, and disruption of the physical body of the leader or leaders. This may be a new thought to some and should cause many in the New Age groups to arrest their [618] thoughts and so release their leaders from the disastrous impact of their criticism.

Sự chỉ trích không được nói ra rất nguy hiểm vì nó được tập trung mãnh liệt và được định hướng mạnh mẽ, dù không mang tính cá nhân; nó phát ra liên tục như một dòng chảy đều đặn, được gửi đi trên đôi cánh của lòng ghen tị, tham vọng, sự kiêu hãnh về sự nắm bắt cá nhân đối với một tình huống được cho là như vậy, và niềm tin rằng người chỉ trích ở vào vị thế có thể hiểu đúng và—nếu có cơ hội thích hợp—có thể hành động đúng. Khi sự chỉ trích được nói ra và biểu lộ bằng lời, thì do đó nó được tăng cường bởi sự hợp tác của những người bị ảnh hưởng bởi sự chỉ trích, và hậu quả của tư tưởng được nhóm định hướng này có thể dẫn đến sự suy sụp thể xác và sự tan rã của thể xác của người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo. Điều này có thể là một ý tưởng mới đối với một số người và cần khiến nhiều người trong các nhóm Kỷ Nguyên Mới chặn lại [618] các tư tưởng của họ và nhờ đó giải thoát các nhà lãnh đạo của họ khỏi tác động tai hại của sự chỉ trích của họ.

I refer not here to hate, though that is often present, either consciously or unconsciously, but simply to the “sitting in judgment” and to the idle critical gossip which seems necessary to the average group member. It is like the very breath of death and it can not only kill the leader through accumulated poison and distress but it can also kill the group life and render abortive the efforts which could, if given cooperation and time to develop, prove constructive agencies through which the Hierarchy might work.

Ở đây tôi không nói đến lòng thù hận, dù điều đó thường hiện diện, hoặc hữu thức hoặc vô thức, mà chỉ đơn giản nói đến việc “ngồi phán xét” và thứ chuyện phiếm chỉ trích nhàn rỗi dường như là điều cần thiết đối với thành viên nhóm trung bình. Nó giống như chính hơi thở của cái chết, và nó không những có thể giết chết người lãnh đạo qua chất độc tích lũy và nỗi khổ đau, mà còn có thể giết chết đời sống nhóm và làm cho những nỗ lực vốn có thể—nếu được hợp tác và cho thời gian phát triển—chứng tỏ là những tác nhân có tính xây dựng mà qua đó Thánh đoàn có thể hoạt động, trở nên vô hiệu.

From every side and in every group there streams in on the group leader directed criticism, poisonous thoughts, untrue formulated ideas, idle gossip of a destructive kind, the imputation of motives, the unspoken jealousies and hates, the frustrated ambitions of group members, their resentments and their unsatisfied desires for prominence or for recognition by the leader or leaders, their desires to see the leader superseded by themselves or by someone else and many other forms of selfishness and mental pride. These produce results in the physical bodies of the leader or leaders and often in the emotional bodies. The responsibility of the group member is, therefore, great and it is one which they seldom recognise or shoulder. It is hard for them to appreciate the dire effects when one person is the target for group criticism and when the directed thought of a number of persons is focussed on one or two individuals.

Từ mọi phía và trong mọi nhóm, sự chỉ trích có định hướng, những tư tưởng độc hại, những ý tưởng được hình thành không đúng sự thật, chuyện phiếm nhàn rỗi có tính phá hoại, sự quy kết động cơ, những ghen tị và thù ghét không nói ra, những tham vọng bị thất bại của các thành viên nhóm, những oán giận của họ và những ham muốn không được thỏa mãn về sự nổi bật hay về sự được người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo công nhận, những ham muốn của họ muốn thấy người lãnh đạo bị thay thế bởi chính họ hay bởi một ai khác, cùng nhiều hình thức ích kỷ và kiêu hãnh trí tuệ khác, đều tuôn đổ vào người lãnh đạo nhóm. Những điều này tạo ra các kết quả trong thể xác của người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo và thường cả trong các thể cảm dục. Vì vậy, trách nhiệm của thành viên nhóm là rất lớn, và đó là một trách nhiệm mà họ hiếm khi nhận ra hay gánh vác. Họ khó mà đánh giá được các hiệu quả nghiêm trọng khi một người là mục tiêu cho sự chỉ trích của nhóm và khi tư tưởng có định hướng của một số người được tập trung vào một hay hai cá nhân.

The more highly evolved the group leader, the greater the pain and suffering. First ray people who have naturally a “technique of isolation” suffer less than many for they know how to shut off these directed streams of force and how to deflect them and—when they are not deeply spiritual people—they can return them to their originators and thus wreak [619] havoc in their lives. Second ray persons do not and cannot work this way. They are naturally absorbers and magnetically attract all that is in their environment which is directed towards them. That is why Christ paid the penalty of death. He was killed, not only by His enemies, but also by His so-called friends.

Người lãnh đạo nhóm càng tiến hóa cao thì nỗi đau và sự đau khổ càng lớn. Những người cung một, vốn tự nhiên có một “kỹ thuật cô lập”, chịu đựng ít hơn nhiều người khác vì họ biết cách ngăn chặn các dòng mãnh lực có định hướng này và cách làm chệch hướng chúng, và—khi họ không phải là những người sâu sắc về tinh thần—họ có thể trả chúng về cho những người khởi phát và do đó gây [619] tàn phá trong đời sống của họ. Những người cung hai thì không và không thể làm việc theo cách này. Họ vốn là những người hấp thụ và bằng từ tính thu hút mọi điều trong môi trường của họ được hướng về phía họ. Đó là lý do vì sao Đức Christ đã phải trả giá bằng cái chết. Ngài bị giết không chỉ bởi kẻ thù của Ngài mà còn bởi cả những người được gọi là bạn hữu của Ngài.

You might here ask: What can a leader or a group of leaders do in these unfortunately normal and usual circumstances? Nothing, but continue in the work; retreat within themselves; speak the truth with love when occasion occurs; refuse to become bitter over the pain which the group occasions and wait until the group members learn the lessons of cooperation, of silence, of loving appreciation and a wise realisation and understanding of the problems with which all group leaders are faced in these difficult and individualistic days. That time will come.

Ở đây các bạn có thể hỏi: Một người lãnh đạo hay một nhóm các nhà lãnh đạo có thể làm gì trong những hoàn cảnh đáng tiếc nhưng bình thường và thường thấy này? Không gì cả, ngoài việc tiếp tục công việc; rút vào bên trong chính mình; nói sự thật với tình thương khi có dịp; từ chối trở nên cay đắng vì nỗi đau mà nhóm gây ra; và chờ cho đến khi các thành viên nhóm học được những bài học về sự hợp tác, về im lặng, về sự trân trọng đầy thương yêu và về một sự chứng nghiệm cùng thấu hiểu khôn ngoan đối với những vấn đề mà mọi nhà lãnh đạo nhóm đều phải đối diện trong những ngày tháng khó khăn và đầy tính cá nhân chủ nghĩa này. Thời gian đó sẽ đến.

Then there is the reverse of this problem and one that must be faced by many group leaders. In this reverse situation, the leader is overcome and (if I might use such a phrase) is “smothered” by the devotion of certain of the group members. Group leaders can be almost annihilated by the personality love of people. But this is not of such a poisonous nature as the difficulties above referred to, for—though it is handicapping and leads to many forms of difficulty, misunderstanding and group reaction—it is along the line of love and not of separation and hate. It produces what is esoterically called “the crippling of the one who seeks to serve and the binding of his hands and feet.”

Rồi còn có mặt ngược lại của vấn đề này, và là điều mà nhiều nhà lãnh đạo nhóm phải đối diện. Trong tình huống đảo ngược này, người lãnh đạo bị áp đảo và (nếu tôi có thể dùng một cụm từ như vậy) bị “làm ngạt” bởi sự sùng mộ của một số thành viên trong nhóm. Các nhà lãnh đạo nhóm gần như có thể bị hủy diệt bởi tình thương phàm ngã của con người. Nhưng điều này không có bản chất độc hại như những khó khăn đã nói ở trên, vì—dù nó gây cản trở và dẫn đến nhiều hình thức khó khăn, hiểu lầm và phản ứng nhóm—nó đi theo đường lối của tình thương chứ không phải của sự chia rẽ và thù hận. Nó tạo ra điều mà về mặt huyền bí được gọi là “sự làm tàn phế người tìm cách phụng sự và sự trói buộc tay chân của y.”

One other difficulty I will touch upon for it is important in so far that it is a group activity, carried forward as a whole and is not the act of one individual or a small handful of individuals within the group. I refer to the way in which at this time a group drains the life of its leader or leaders. The [620] umbilical cord (speaking symbolically) is seldom cut between the leader and the group. That was the major mistake of the groups in the Piscean age. Always they remained attached to the leader or—when aroused to hate or dislike—they violently disrupted the tie and severed the relationship, causing much distress and unnecessary suffering to the group as well as to the leader. In the New Age the cord will be cut early in the life of the group but the leader or group of leaders will remain for a long time (as does the mother of a child) the guiding inspiration, the loving protecting force and the source of instruction and of teaching. When this is the case, the group can proceed upon its way and live its life as a self-directing agent even when the leader passes over to the other side or there is a change in leadership for some good reason or other.

Tôi sẽ đề cập đến một khó khăn khác nữa, vì nó quan trọng ở chỗ nó là một hoạt động nhóm, được tiến hành như một toàn thể, chứ không phải là hành động của một cá nhân hay một nhóm nhỏ cá nhân trong nhóm. Tôi nói đến cách mà vào lúc này một nhóm rút cạn sự sống của người lãnh đạo hay các nhà lãnh đạo của nó. [620] Dây rốn (nói theo biểu tượng) hiếm khi bị cắt giữa người lãnh đạo và nhóm. Đó là sai lầm lớn của các nhóm trong thời đại Song Ngư. Họ luôn luôn vẫn gắn chặt với người lãnh đạo hoặc—khi bị khơi dậy đến mức thù ghét hay không ưa—họ bạo liệt phá vỡ mối dây và cắt đứt mối liên hệ, gây nhiều đau khổ và sự đau đớn không cần thiết cho nhóm cũng như cho người lãnh đạo. Trong Kỷ Nguyên Mới, sợi dây sẽ được cắt sớm trong đời sống của nhóm, nhưng người lãnh đạo hay nhóm các nhà lãnh đạo sẽ còn trong một thời gian dài (như người mẹ đối với đứa con) là nguồn cảm hứng hướng dẫn, mãnh lực bảo vệ đầy thương yêu và nguồn chỉ dẫn cùng giáo huấn. Khi điều này xảy ra, nhóm có thể tiếp tục con đường của mình và sống đời sống của mình như một tác nhân tự định hướng ngay cả khi người lãnh đạo qua đời hoặc có sự thay đổi lãnh đạo vì một lý do chính đáng nào đó.

According to the general flow of group life and activity so will be the effect—emotional and physical—upon any sensitive group member; the more frequent the physical contact between the group members the more definite will be the group problems and difficulties, however. Groups in the New Age will be held together by a subjective link and not so much by the emotional reaction induced by outer contact. I would ask you to ponder carefully upon this last paragraph for it holds the clue to the successful working of the new groups. It is from group life and group atmosphere that much infection arises, leading to difficulties of a physical nature. Disease is largely of group origin and the mystics and sensitives of the world most easily succumb. In these early stages of true group work, the difficulties which arise from group contacts are frequently of a purely physiological nature and are not so deep seated as those with which we have earlier been dealing. This is a point to be remembered. Physical trouble and disease is not of so serious a nature as psychological.

Tùy theo dòng chảy chung của đời sống và hoạt động nhóm mà hiệu quả—về cảm xúc và thể xác—đối với bất kỳ thành viên nhóm nhạy cảm nào sẽ như thế; tuy nhiên, sự tiếp xúc thể xác giữa các thành viên nhóm càng thường xuyên thì các vấn đề và khó khăn của nhóm càng rõ rệt. Các nhóm trong Kỷ Nguyên Mới sẽ được giữ với nhau bằng một mối liên kết chủ quan chứ không quá nhiều bằng phản ứng cảm xúc do tiếp xúc bên ngoài gây ra. Tôi muốn yêu cầu các bạn suy ngẫm cẩn thận về đoạn cuối này vì nó chứa đựng chìa khóa cho sự vận hành thành công của các nhóm mới. Chính từ đời sống nhóm và bầu khí quyển nhóm mà nhiều sự lây nhiễm phát sinh, dẫn đến những khó khăn có bản chất thể xác. Bệnh tật phần lớn có nguồn gốc từ nhóm, và các nhà thần bí cùng những người nhạy cảm trên thế giới là những người dễ khuất phục nhất. Trong các giai đoạn đầu này của công việc nhóm chân chính, những khó khăn nảy sinh từ các tiếp xúc nhóm thường mang bản chất thuần túy sinh lý học và không ăn sâu như những điều mà trước đây chúng ta đã bàn đến. Đây là một điểm cần ghi nhớ. Rắc rối và bệnh tật thể xác không nghiêm trọng bằng bệnh lý tâm lý.

[621]

[621]

Respirational Diseases of Mystics

Các Bệnh Hô Hấp của Các Nhà Thần Bí

There is little to say about this. It will constitute a major difficulty as the groups grow in strength and power. Just in so far as they are objective and not subjective so will this trouble increase. I refer to those diseases affecting the breathing apparatus which arise from group contact; I do not refer to the same difficulties which are brought by the individual to the group. Esoterically the reason for this should be obvious. Mistakes in speech, idle talk and gossip, the effects of the leaders’ words—all these will have a subjective result little grasped or realised by the average student and all these work out as physical effects—either good or bad. Owing to the newness of this theme and the lack of evidence to substantiate my statements, I can only call your attention to the latent possibilities and leave time to demonstrate the accuracy of my position. Curiously enough this whole subject of breathing—individual and group breathing—is evoking its own paralleling solution in the emphasis that is being laid in many esoteric groups upon breathing exercises, upon the sounding of the Aum (which is the breath of the soul when correctly sounded) and on the practice (under different formulas) of rhythm. These are all the unrecognised effort on the part of the group—instinctual in nature more than intelligently planned—to offset certain definitely sensed group dangers.

Có rất ít điều để nói về việc này. Nó sẽ cấu thành một khó khăn lớn khi các nhóm tăng trưởng về sức mạnh và quyền năng. Chừng nào chúng còn khách quan mà không chủ quan thì rắc rối này sẽ gia tăng chừng ấy. Tôi nói đến những bệnh ảnh hưởng đến bộ máy hô hấp phát sinh từ tiếp xúc nhóm; tôi không nói đến những khó khăn cùng loại mà cá nhân mang vào nhóm. Về mặt huyền bí, lý do của điều này hẳn phải hiển nhiên. Những sai lầm trong lời nói, chuyện trò nhàn rỗi và chuyện phiếm, các hiệu quả từ lời nói của các nhà lãnh đạo—tất cả những điều này sẽ có một kết quả chủ quan mà đạo sinh trung bình ít nắm bắt hay chứng nghiệm, và tất cả đều biểu hiện thành các hiệu quả thể xác—hoặc tốt hoặc xấu. Do tính mới mẻ của chủ đề này và sự thiếu bằng chứng để xác thực các phát biểu của tôi, tôi chỉ có thể lưu ý các bạn đến những khả năng tiềm ẩn và để thời gian chứng minh tính chính xác của lập trường của tôi. Điều khá kỳ lạ là toàn bộ chủ đề về hơi thở này—hơi thở cá nhân và hơi thở nhóm—đang gợi lên giải pháp song hành của chính nó trong sự nhấn mạnh đang được đặt ra trong nhiều nhóm huyền bí học lên các bài tập thở, lên việc xướng Aum (vốn là hơi thở của linh hồn khi được xướng đúng cách), và lên việc thực hành (dưới những công thức khác nhau) nhịp điệu. Tất cả những điều này là nỗ lực chưa được nhận ra từ phía nhóm—mang tính bản năng nhiều hơn là được hoạch định một cách thông tuệ—nhằm hóa giải một số nguy cơ nhóm được cảm nhận rõ rệt.

These practices can be beneficial if carefully carried out, but often induce their own peculiar problems. The sounding of the Aum, for instance, by the unprepared or by groups who are intrigued by the activity but who have no faintest idea of what they are doing, carries with it definite difficulties. However, the special difficulties of group work in the New Age can be offset by certain esoteric exercises and practices connected with the respiratory tract. More than this I [622] can not say for the new groups are in their infancy and group difficulties have not yet developed on a large scale nor are the future problems (incident to the occult and pronounced mystical nature of these groups) of so defined a nature that they can evoke understanding formulation.

Những thực hành này có thể có ích nếu được thực hiện cẩn thận, nhưng thường lại gây ra những vấn đề đặc thù của chính chúng. Chẳng hạn, việc xướng Aum bởi những người chưa được chuẩn bị hoặc bởi những nhóm bị cuốn hút bởi hoạt động này nhưng không có lấy một ý niệm mơ hồ nhất về điều họ đang làm, mang theo những khó khăn rõ rệt. Tuy nhiên, những khó khăn đặc biệt của công việc nhóm trong Kỷ Nguyên Mới có thể được hóa giải bằng một số bài tập và thực hành huyền bí liên hệ với đường hô hấp. Hơn thế nữa tôi [622] không thể nói, vì các nhóm mới còn đang trong thời kỳ ấu thơ và các khó khăn nhóm chưa phát triển trên quy mô lớn, cũng như các vấn đề tương lai (gắn liền với bản chất huyền bí học và thần bí nổi bật của các nhóm này) chưa có một bản chất đủ xác định để có thể gợi lên sự hình thành thấu hiểu.

d. PROBLEMS OF MYSTICS CONNECTED WITH PRESENT RAY INFLUENCES—CÁC VẤN ĐỀ CỦA CÁC NHÀ THẦN BÍ LIÊN HỆ VỚI NHỮNG ẢNH HƯỞNG CUNG HIỆN NAY

Today we are watching the passing out of the sixth ray energy and the growing power and activity of the seventh ray. The energy which is withdrawing itself from our planet in one of the cyclic crises has for centuries expressed itself through the planetary solar plexus and also, as might be inferred, through the solar plexus centre of the average aspirant. This has led to much of the digestive difficulties, plus the emotional problems (and are they not closely related) from which the majority of people have suffered in this age and generation. The intense one-pointed attitude, the fanatical state of mind, the sacrifice of the personal life to the sensed ideal have all brought about a dangerous condition in those organs of the body which lie below the diaphragm. This should be remembered.

Ngày nay chúng ta đang quan sát sự rút đi của năng lượng cung sáu và quyền năng cùng hoạt động ngày càng tăng của cung bảy. Năng lượng đang rút khỏi hành tinh chúng ta trong một trong những cuộc khủng hoảng chu kỳ đã trong nhiều thế kỷ biểu lộ qua tùng thái dương hành tinh và cũng, như có thể suy ra, qua trung tâm tùng thái dương của người chí nguyện trung bình. Điều này đã dẫn đến nhiều khó khăn về tiêu hóa, cộng với các vấn đề cảm xúc (và chẳng phải chúng có liên hệ mật thiết với nhau sao) mà đa số con người đã phải chịu đựng trong thời đại và thế hệ này. Thái độ nhất tâm mãnh liệt, trạng thái tâm trí cuồng tín, sự hi sinh đời sống cá nhân cho lý tưởng được cảm nhận—tất cả những điều này đều đã tạo ra một tình trạng nguy hiểm trong những cơ quan của thể nằm dưới cơ hoành. Điều này cần được ghi nhớ.

The seventh ray, working as it does through the centre at the base of the spine, will in time have a peculiar effect upon the entire circulatory system, for this basic centre is connected with the life-force and, as you know, the “blood is the life”. It works with the highest centre in the body and is therefore related to the entire problem of the polarities. It is consequently one of the factors which will increase the difficulties connected with the various psychological “cleavages” with which we have earlier dealt. It concerns the human triplicity of spirit-soul-body, the duality of soul and personality and [623] the major aspects of Deity, spirit and matter, as well as the many groupings of the pairs of opposites with which the mystic is so constantly concerned and which he has eventually to resolve into a unity. The recognition of this will make clear how complex are the problems and the possibilities arising out of the stimulation which will be felt as the “will to circulate, the will to relate and the will to express” makes its presence felt with the manifestation of the seventh ray. This force, as far as the individual is concerned, will play upon the centre at the base of the spine, arousing it into a hitherto unknown activity. These aspects of the will life are fortunately for humanity far from full development, but much of the present world confusion and the swing between the expressed extremes, are to be attributed to the play of these new forces. Much of the untimely and over-emphasised expression of the Will aspect of certain nations and individuals is connected with the coming into manifestation of this seventh ray and the passing out of the old. The problem is greatly increased by the fact that there is apparently a pronounced affinity between the fanatical idealistic will of the sixth ray—which is crystallised, directed, unwavering. emotional emphasis—and the will force of the untrained magical worker who is influenced by seventh ray energy, working through the centre at the base of the spine.

Cung bảy, vì hoạt động qua trung tâm ở đáy cột sống, theo thời gian sẽ có một tác động đặc biệt lên toàn bộ hệ tuần hoàn, vì trung tâm căn bản này liên kết với sinh lực và, như các bạn biết, “máu là sự sống”. Nó hoạt động với trung tâm cao nhất trong thể và vì thế liên hệ với toàn bộ vấn đề các cực tính. Do đó, nó là một trong những yếu tố sẽ làm gia tăng những khó khăn gắn liền với các “sự phân ly” tâm lý khác nhau mà trước đây chúng ta đã bàn đến. Nó liên quan đến bộ ba của con người là tinh thần-linh hồn-thể, nhị nguyên tính của linh hồn và phàm ngã, và [623] các phương diện chính yếu của Thượng đế, tinh thần và vật chất, cũng như nhiều nhóm cặp đối cực mà nhà thần bí luôn luôn quan tâm và cuối cùng phải giải quyết thành một hợp nhất. Việc nhận ra điều này sẽ làm sáng tỏ rằng các vấn đề và các khả năng phát sinh từ sự kích thích sẽ trở nên phức tạp đến mức nào, khi “ý chí tuần hoàn, ý chí liên hệ và ý chí biểu lộ” làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận cùng với sự biểu hiện của cung bảy. Mãnh lực này, xét theo phương diện cá nhân, sẽ tác động lên trung tâm ở đáy cột sống, khơi dậy nó vào một hoạt động từ trước đến nay chưa từng biết. May mắn thay cho nhân loại, các phương diện này của sự sống ý chí còn rất xa mới phát triển đầy đủ, nhưng phần lớn tình trạng hỗn loạn hiện nay của thế giới và sự dao động giữa các cực đoan được biểu lộ đều phải quy cho sự vận hành của các mãnh lực mới này. Phần lớn sự biểu lộ không đúng lúc và bị nhấn mạnh quá mức của phương diện Ý Chí nơi một số quốc gia và cá nhân có liên hệ với việc cung bảy này đi vào biểu hiện và cái cũ đang qua đi. Vấn đề càng gia tăng rất nhiều bởi sự kiện là dường như có một sự tương hợp rõ rệt giữa ý chí duy tâm cuồng tín của cung sáu—đã kết tinh, có định hướng, không lay chuyển, nhấn mạnh cảm xúc—và mãnh lực ý chí của người hoạt động huyền thuật chưa được huấn luyện, là kẻ chịu ảnh hưởng của năng lượng cung bảy, hoạt động qua trung tâm ở đáy cột sống.

The distinction between these two forces and their expression at this time is subtle in the extreme and most difficult for the neophyte to distinguish. Each one leads to its own difficulties. I only mention them here as they constitute a problem of a mystical nature with which the Hierarchy has to deal but with which the average aspirant need not attempt to cope as yet.

Sự phân biệt giữa hai mãnh lực này và sự biểu lộ của chúng vào lúc này là cực kỳ vi tế và rất khó để người sơ cơ phân biệt. Mỗi bên đều dẫn đến những khó khăn riêng của nó. Tôi chỉ nêu chúng ở đây vì chúng cấu thành một vấn đề có bản chất thần bí mà Thánh đoàn phải đề cập đến, nhưng người chí nguyện trung bình thì chưa cần cố gắng đương đầu với nó.

As I conclude this discussion of the problems and diseases of the mystics, I realise far more than you can that I have been able to say little about the last few points, particularly about those connected with group or ray problems. This was unavoidable and inevitable. The new age groups are, as yet, seldom found, though many new age people are coming into manifestation. Only in the middle of the next century will the really new type of group emerge. Tentative beginnings of such groups are to be found today but their success or their failure is an unstable matter and both so ephemeral that it is not easy yet to bring them under law. One ambitious, disloyal person, for instance, can wreck a group; one selfless, noncritical, consecrated person can swing the group into successful work. This will indicate to you the potency of the individual and the fact that he can temporarily and at any given moment prove stronger than the group because the group has yet no true understanding of group activity, group coherency and group vitality. The mystic therefore suffers as a result of this condition, producing diseases and psychological difficulties which are not only personal but are often the result of the fluidity of the conditions in which he has to live.

Khi kết thúc cuộc thảo luận này về các vấn đề và bệnh tật của các nhà thần bí, tôi nhận ra, nhiều hơn các bạn có thể nhận ra, rằng tôi chỉ có thể nói rất ít về vài điểm cuối cùng, đặc biệt là về những điểm liên quan đến các vấn đề nhóm hay vấn đề cung. Điều này là không thể tránh khỏi và tất yếu. Các nhóm của kỷ nguyên mới, cho đến nay, hiếm khi được tìm thấy, mặc dù nhiều người của kỷ nguyên mới đang đi vào biểu hiện. Chỉ vào giữa thế kỷ tới, loại nhóm thực sự mới mới xuất hiện. Những khởi đầu thử nghiệm của các nhóm như thế có thể được tìm thấy ngày nay, nhưng thành công hay thất bại của chúng là điều không ổn định, và cả hai đều quá phù du nên chưa dễ đưa chúng vào dưới quy luật. Chẳng hạn, một người đầy tham vọng và bất trung có thể phá hỏng một nhóm; một người vô ngã, không chỉ trích, thánh hiến có thể chuyển hướng nhóm vào công việc thành công. Điều này sẽ chỉ cho các bạn thấy tiềm lực của cá nhân và sự kiện rằng y có thể tạm thời và vào bất cứ lúc nào tỏ ra mạnh hơn nhóm, bởi vì nhóm chưa có sự thấu hiểu chân chính về hoạt động nhóm, sự cố kết nhóm và sinh lực nhóm. Vì thế, nhà thần bí phải chịu đau khổ do tình trạng này, tạo ra các bệnh tật và khó khăn tâm lý không chỉ có tính cá nhân mà thường còn là kết quả của tính linh động của các điều kiện mà y phải sống trong đó.

One of the reasons guaranteeing the power of the Hierarchy and its freedom from any psychological problems inherent in group work and from any mystical or occult disturbances is its stability, its coherency and the surety of its touch on life. The mystic and the occultist are frequently passing through a cycle of insecurity and of transition from doubt as to the future’s possible revelations, into a faith that the testimony of the ages is based on incontrovertible fact. The average mystic and occult student therefore lacks stability in his environing conditions and faith in his group affiliations. The greatest contribution to world thought at this time is the emerging recognition everywhere to be found of [625] the finiteness of man’s knowledge, of the insufficiency of his accumulated wisdom to cope with the world situation, and of his inability as yet to produce that workable plan which will lead the race out of its present difficulties and impasse. Human beings are neither sure of themselves nor of each other, and the greater their sensitivity the more complex their reaction and the more complicated and disastrous the physiological and psychological effects. Humanity as a whole is becoming mystical in its orientation and consciousness. The intelligentsia of the race are adding to that mystical awareness (which is always there, even if unrecognised or repudiated) a rapidly developing sense of occult understanding.

Một trong những lý do bảo đảm quyền năng của Thánh đoàn và sự tự do của Thánh đoàn khỏi bất kỳ vấn đề tâm lý nào vốn có trong công việc nhóm, cũng như khỏi bất kỳ xáo trộn thần bí hay huyền bí học nào, là tính ổn định, tính cố kết và sự vững chắc trong tiếp xúc của Thánh đoàn với sự sống. Nhà thần bí và nhà huyền bí học thường xuyên đi qua một chu kỳ bất an và chuyển tiếp từ sự nghi ngờ đối với những mặc khải có thể có của tương lai sang một đức tin rằng chứng ngôn của các thời đại được đặt nền trên sự kiện không thể bác bỏ. Vì vậy, nhà thần bí trung bình và đạo sinh huyền bí học thiếu sự ổn định trong các điều kiện môi trường quanh mình và thiếu đức tin vào các liên hệ nhóm của mình. Sự đóng góp lớn nhất cho tư tưởng thế giới vào lúc này là sự nhận biết đang nổi lên ở khắp nơi về [625] tính hữu hạn của tri thức con người, về sự bất túc của minh triết tích lũy của y để đối phó với tình hình thế giới, và về sự bất lực của y, cho đến nay, trong việc tạo ra kế hoạch khả thi có thể dẫn dắt nhân loại ra khỏi những khó khăn và bế tắc hiện tại. Con người không chắc chắn về chính mình cũng như về nhau, và họ càng nhạy cảm bao nhiêu thì phản ứng của họ càng phức tạp bấy nhiêu, và các hậu quả sinh lý cùng tâm lý càng rắc rối và tai hại hơn. Toàn thể nhân loại đang trở nên thần bí hơn trong định hướng và tâm thức của mình. Giới trí thức của nhân loại đang bổ sung vào sự nhận biết thần bí ấy (vốn luôn luôn hiện hữu, dù không được nhận ra hay bị phủ nhận) một ý thức đang phát triển nhanh chóng về sự thấu hiểu huyền bí học.

The Atlantean consciousness of adolescent humanity is giving way to the more developed consciousness of the mature human being. The problems, difficulties, diseases and disturbances of the man who is mystically oriented, introspective and enquiring, will, during the next few centuries, give place to the problems and complexities of the man who is becoming group conscious and who is working with an extraverted awareness in a group of some kind or another. I would remind you here that—as a result of the Piscean influence during the past two thousand years—such groups are predominantly idealistic.

Tâm thức Atlantis của nhân loại ở tuổi thiếu niên đang nhường chỗ cho tâm thức phát triển hơn của con người trưởng thành. Các vấn đề, khó khăn, bệnh tật và xáo trộn của con người có định hướng thần bí, hướng nội và truy vấn, trong vài thế kỷ tới, sẽ nhường chỗ cho các vấn đề và tính phức tạp của con người đang trở nên có tâm thức nhóm và đang hoạt động với một nhận biết hướng ngoại trong một nhóm thuộc loại này hay loại khác. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng—do ảnh hưởng của Song Ngư trong hai nghìn năm qua—những nhóm như thế chủ yếu mang tính duy tâm.

This brings us to one of the most interesting parts of our treatise, which is the influence of the rays today and in the Aquarian age which is now upon us. This should prove of practical value. Let us bring to the work of the new cycle which is opening before us a renewed aspiration, a deepened love and a livelier faith, remembering, as we study the future, that Faith is one of our major needs, being “the Substance of things hoped for, the Evidence of things not seen”.

Điều này đưa chúng ta đến một trong những phần thú vị nhất của bộ luận này, đó là ảnh hưởng của các cung ngày nay và trong kỷ nguyên Bảo Bình hiện đang đến với chúng ta. Điều này hẳn sẽ chứng tỏ có giá trị thực tiễn. Chúng ta hãy mang đến cho công việc của chu kỳ mới đang mở ra trước mắt mình một khát vọng được đổi mới, một tình thương sâu sắc hơn và một đức tin sống động hơn, đồng thời ghi nhớ, khi nghiên cứu tương lai, rằng Đức Tin là một trong những nhu cầu lớn lao của chúng ta, vì nó là “chất liệu của những điều được hy vọng, là bằng chứng của những điều không thấy được”.

Leave a Comment

Scroll to Top