TCF 173-183 S2S6 Revision
|
TCF 173-183 S2S6 Bản Hiệu Chỉnh
|
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
|
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong lớp. Chú thích và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận được đặt ở cỡ chữ 12. Việc gạch chân, in đậm và tô nổi bật do MDR thực hiện)
|
|
Please Read these Commentaries with your TCF Book Handy for the Sake of Continuity. The extensive commentary may otherwise disrupt the sense of flow.
|
Xin hãy đọc các phần Bình Luận này khi có sẵn sách TCF bên cạnh để bảo đảm tính liên tục. Nếu không, phần bình luận dài có thể làm gián đoạn mạch trôi chảy của ý tưởng.
|
|
We take up our second point in the consideration of the centres:
|
Chúng ta tiếp tục điểm thứ hai trong việc khảo sát các trung tâm:
|
|
1. We recall the first point in the consideration of the centres was here, on page 163.
|
1. Chúng ta nhớ lại rằng điểm thứ nhất trong việc khảo sát các trung tâm nằm ở đây, tại trang 163.
|
|
1. The Nature of the Centres.
|
1. Bản chất của các trung tâm.
|
|
[Covered, we remember, in section S2S4]
|
[Như chúng ta nhớ, đã được đề cập trong mục S2S4]
|
|
2. We may wish to refresh our memory, as we discussed this subject in the section before last, before Christmas, when we dealt with Stanza I.
|
2. Có lẽ chúng ta muốn ôn lại trí nhớ, vì chúng ta đã thảo luận chủ đề này trong mục trước đó nữa, trước Giáng Sinh, khi chúng ta bàn đến Bài kệ I.
|
|
2. The centres in connection with the Rays.
|
2. Các trung tâm trong mối liên hệ với các cung.
|
|
This will give us a large range of subject to be dealt with, and much food for thought, surmise and wise conjecture. All that is here stated is given simply as basic or foundation facts, upon which may be erected a structure of conjecture, and of logical reasoning, employing the imagination, and thereby effecting two things:
|
Điều này sẽ mở ra cho chúng ta một phạm vi chủ đề rộng lớn cần được bàn đến, và nhiều điều đáng suy ngẫm, suy đoán và phỏng định minh triết. Tất cả những gì được nêu ở đây chỉ được đưa ra như các sự kiện căn bản hay nền tảng, trên đó có thể dựng lên một cấu trúc suy đoán và lập luận hợp lý, vận dụng sự tưởng tượng, và nhờ đó thực hiện hai điều:
|
|
3. When we read DK we do this: we erect a “structure of conjecture”.
|
3. Khi chúng ta đọc Chân sư DK, chúng ta làm điều này: chúng ta dựng lên một “cấu trúc suy đoán”.
|
|
4. Conjecture is an important mental dynamic; it is an extension of thought which may lead us to intuitive apprehension. It also proposes that which must be proven, and in the direction of such proofs those who conjecture are obliged to labor.
|
4. Suy đoán là một động lực trí tuệ quan trọng; đó là sự mở rộng của tư tưởng có thể dẫn chúng ta đến sự nắm bắt trực giác. Nó cũng nêu ra điều phải được chứng minh, và theo hướng của những chứng minh ấy, những người suy đoán buộc phải lao động.
|
|
These are an ability to expand our mental concept and to build the antaskarana, or that bridge which all who seek to function in the buddhic vehicle must build between higher and lower mind; hence the necessity for the use of the imagination (which is the astral equivalent to mental discrimination)
, and its ultimate transmutation into intuition.
|
Đó là khả năng mở rộng khái niệm thể trí của chúng ta và xây dựng antahkarana, hay cây cầu mà tất cả những ai tìm cách hoạt động trong vận cụ Bồ đề đều phải xây dựng giữa thượng trí và hạ trí; do đó cần phải sử dụng sự tưởng tượng (vốn là tương đương cảm dục của sự phân biện trí tuệ), và sự chuyển hoá tối hậu của nó thành trực giác.
|
|
5. By engaging in conjecture we learn to expand our mental concept. We are led into presently unverified areas of thought.
|
5. Bằng cách tham gia vào suy đoán, chúng ta học cách mở rộng khái niệm thể trí của mình. Chúng ta được dẫn vào những vùng tư tưởng hiện chưa được kiểm chứng.
|
|
6. Through conjecture we are also building the antahkarana.
|
6. Qua suy đoán, chúng ta cũng đang xây dựng antahkarana.
|
|
7. Imagination is astral in nature but the in the process of creative imagination the mental component is added.
|
7. Sự tưởng tượng có bản chất cảm dục, nhưng trong tiến trình của sự tưởng tượng sáng tạo thì thành phần thể trí được thêm vào.
|
|
8. Imagination, we are told, is the astral equivalent to mental discrimination. Mental discrimination is an act of mental separation or distinction. Does imagination choose? We might say that it does. One can choose the images one entertains. We need not simply entertain anything that comes to mind. Imagination (as here presented) seems to be disciplined imagination. It is not the “active imagination” (a psychological technique) which can go anywhere, entertain any image, and is allowed to do so.
|
8. Chúng ta được cho biết rằng sự tưởng tượng là tương đương cảm dục của sự phân biện trí tuệ. Sự phân biện trí tuệ là một hành vi phân tách hay phân biệt của thể trí. Sự tưởng tượng có chọn lựa không? Chúng ta có thể nói là có. Người ta có thể chọn những hình ảnh mà mình nuôi dưỡng. Chúng ta không nhất thiết phải nuôi dưỡng bất cứ điều gì nảy đến trong thể trí. Sự tưởng tượng (như được trình bày ở đây) dường như là sự tưởng tượng có kỷ luật. Nó không phải là “sự tưởng tượng chủ động” (một kỹ thuật tâm lý) có thể đi đến bất cứ đâu, nuôi dưỡng bất kỳ hình ảnh nào, và được phép làm như vậy.
|
|
9. Through mental discrimination we distinguish one thought from another, one thing from another. Through imagination, we distinguish the different objects of desire. We imagistically discriminate between that which is desired and that which is not.
|
9. Qua sự phân biện trí tuệ, chúng ta phân biệt tư tưởng này với tư tưởng khác, sự vật này với sự vật khác. Qua sự tưởng tượng, chúng ta phân biệt các đối tượng dục vọng khác nhau. Chúng ta phân biện bằng hình ảnh giữa điều được ham muốn và điều không được ham muốn.
|
|
10. A disciplined imagination can be selective just as is mental discrimination. We allow images to form only in accordance with an energy stream to which we given internal assent. All other streams are rebuffed before images can form.
|
10. Một sự tưởng tượng có kỷ luật có thể chọn lọc cũng như sự phân biện trí tuệ. Chúng ta chỉ cho phép hình ảnh hình thành phù hợp với một dòng năng lượng mà chúng ta đã nội tâm đồng thuận. Mọi dòng khác đều bị đẩy lùi trước khi hình ảnh có thể hình thành.
|
|
11. The main point is that imagination need not be unguided and helplessly at the service of simply any energy stream. Every time we guide the imagination creatively, we choose to allow the image-making faculty to respond to a particular energy stream and not to another. There is an internal sensitivity (probably astral) which determines that to which we allow the image-making faculty to respond.
|
11. Điểm chính là sự tưởng tượng không nhất thiết phải vô hướng và bất lực, phục vụ một cách vô điều kiện cho đơn thuần bất kỳ dòng năng lượng nào. Mỗi lần chúng ta hướng dẫn sự tưởng tượng một cách sáng tạo, chúng ta chọn cho phép năng lực tạo hình ảnh đáp ứng một dòng năng lượng nhất định chứ không phải dòng khác. Có một sự nhạy cảm nội tại (có lẽ thuộc cảm dục) quyết định điều mà chúng ta cho phép năng lực tạo hình ảnh đáp ứng.
|
|
12. We are given a developmental sequence: imagination – mental discrimination – intuition.
|
12. Chúng ta được trao một chuỗi phát triển: tưởng tượng – phân biện trí tuệ – trực giác.
|
|
13. Imagination, as we are seeing, can conform to different energies. In the process of antahkarana-building the imagination is to reflect or conform to buddhic impulse.
|
13. Như chúng ta đang thấy, sự tưởng tượng có thể phù hợp với những năng lượng khác nhau. Trong tiến trình xây dựng antahkarana, sự tưởng tượng phải phản chiếu hay phù hợp với xung lực Bồ đề.
|
|
14.
From VSK: “Note that the science of the Antahkarana is listed in R&I as a second ray presentation, a book in two parts, with a title in two parts—‘antah’ and ‘karana’. These divisions reflect the double dual wheels of this second system within its internal and external structure as the fifth part of a Treatise on the Seven Rays, and culminating treatise.”
|
14. Từ VSK: “Cần lưu ý rằng khoa học về Antahkarana được liệt kê trong R&I như một trình bày của cung hai, một quyển sách gồm hai phần, với một nhan đề gồm hai phần—‘antah’ và ‘karana’. Những phân chia này phản ánh các bánh xe nhị nguyên kép của hệ thống thứ hai này trong cấu trúc nội tại và ngoại tại của nó như phần thứ năm của một Luận về Bảy Cung, và là luận thuyết kết tinh.”
|
|
All teachers, who have taken pupils in hand for training, and who seek to use them in world service, follow the method of imparting a fact (oft veiled in words and blinded by symbol) and then of leaving the pupil to follow his own deductions.
|
Tất cả các huấn sư, những vị đã trực tiếp cầm tay học trò để huấn luyện, và những vị tìm cách sử dụng họ trong công tác phụng sự thế gian, đều theo phương pháp truyền đạt một sự kiện (thường được che phủ bằng lời và làm mù bởi biểu tượng) rồi để học trò tự theo đuổi các suy luận của y.
|
|
15. This is the older method of giving hints. Later when He wrote DINA II, DK spoke of the newer method:
|
15. Đây là phương pháp cũ của việc đưa ra gợi ý. Về sau khi Ngài viết DINA II, Chân sư DK đã nói về phương pháp mới hơn:
|
|
“Today, this method is no longer being used, and this change constitutes one of the modes of training the disciples of the New Age. The modern disciple has to recognise the hint which is related to his point in consciousness and which is to be found in the mass of instruction made available for his use. He has to seek for the—to him—most deeply esoteric statement he encounters in the current teaching; from this isolated hint he has to abstract the significance, after removing it from its context; later, he must learn and profit from its meaning.” (DINA I 319)
|
“Ngày nay, phương pháp này không còn được dùng nữa, và sự thay đổi này cấu thành một trong những phương thức huấn luyện các đệ tử của Kỷ Nguyên Mới. Đệ tử hiện đại phải nhận ra gợi ý có liên hệ với điểm tâm thức của y và có thể được tìm thấy trong khối giáo huấn được cung cấp để y sử dụng. Y phải tìm kiếm—đối với y—mệnh đề nội môn sâu xa nhất mà y gặp trong giáo huấn hiện thời; từ gợi ý đơn lẻ ấy y phải trích xuất thâm nghĩa, sau khi tách nó khỏi văn cảnh; về sau, y phải học và thu lợi từ ý nghĩa của nó.” (DINA I 319)
|
|
Discrimination is thereby developed, and discrimination is the main method whereby the Spirit effects its liberation from the trammels of matter, and discerns between illusion and that which is veiled by it.
|
Nhờ đó sự phân biện được phát triển, và sự phân biện là phương pháp chính nhờ đó tinh thần thực hiện sự giải thoát của nó khỏi những ràng buộc của vật chất, và phân biệt giữa ảo tưởng và điều bị nó che phủ.
|
|
16. Discrimination is the method by which one separates the real from the unreal.
|
16. Sự phân biện là phương pháp nhờ đó người ta tách biệt cái thực khỏi cái không thực.
|
|
17. Those who are intent on liberation cannot ignore the potency of the mind—the great discriminator.
|
17. Những ai quyết tâm giải thoát không thể phớt lờ sức mạnh của thể trí—kẻ phân biệt vĩ đại.
|
|
18. In that way imagination is similar; it helps one recognize the truth.
|
18. Theo cách ấy, sự tưởng tượng cũng tương tự; nó giúp người ta nhận ra chân lý.
|
|
19. Through discrimination, we move from the real to the unreal. It is the method utilized at the fourth initiation under the influence of Mercury (buddhi) and Saturn (the mind, under the third ray—the “Divine Separator” and “Discriminating Essential Life” EP I 68)
|
19. Qua sự phân biện, chúng ta đi từ cái thực đến cái không thực. Đây là phương pháp được sử dụng ở lần điểm đạo thứ tư dưới ảnh hưởng của Sao Thủy (Bồ đề) và Sao Thổ (thể trí, dưới cung ba—“Đấng Phân Ly Thiêng Liêng” và “Sự Sống Thiết Yếu Phân Biện” EP I 68)
|
|
20. This was also the method of the great Sage Shankara, Who (a “Sixth Rounder” like the Buddha”) trained those who were Arhats (as did the Buddha) and utilized the planets Mercury and Saturn to discriminate the real from the unreal.
|
20. Đây cũng là phương pháp của bậc Đại Hiền Triết Shankara, Đấng (một “người thuộc Cuộc tuần hoàn thứ sáu” như Đức Phật”) đã huấn luyện những người là A-la-hán (như Đức Phật đã làm) và sử dụng các hành tinh Sao Thủy và Sao Thổ để phân biệt cái thực khỏi cái không thực.
|
|
21. What is that which is veiled by illusion? Shall we call it buddhi, pure reason, the intuition? This faculty is revealed in a new way at the fourth initiation.
|
21. Điều gì là thứ bị ảo tưởng che phủ? Chúng ta sẽ gọi nó là Bồ đề, lý trí thuần khiết, trực giác chăng? Năng lực này được bộc lộ theo một cách mới ở lần điểm đạo thứ tư.
|
|
Not much can be here imparted, as the subject, if dealt with at all fully, would convey too much information to those liable to misuse it.
|
Không thể truyền đạt nhiều ở đây, vì chủ đề này, nếu được bàn đến đầy đủ, sẽ chuyển tải quá nhiều thông tin cho những người có thể lạm dụng nó.
|
|
22. Those liable to misuse it are just about everybody. Do we share HPB’s assessment that until a man has taken the fourth degree he is an unconscious black magician?
|
22. Những người có thể lạm dụng nó thì hầu như là tất cả mọi người. Chúng ta có chia sẻ đánh giá của Bà HPB rằng cho đến khi một người đạt bậc thứ tư thì y là một nhà hắc thuật vô thức không?
|
|
As we know, the evolution of the centres is a slow and gradual thing, and proceeds in ordered cycles varying according to the ray of a man’s Monad.
|
Như chúng ta biết, sự tiến hoá của các trung tâm là một điều chậm chạp và dần dần, và diễn tiến theo các chu kỳ có trật tự, thay đổi tùy theo cung của chân thần của một người.
|
|
23. The cycles are cycles of unfoldment and attainment, and they do not occur for all monadic types at the same time, in the same sequence and for the same duration.
|
23. Các chu kỳ là những chu kỳ khai mở và thành tựu, và chúng không xảy ra cho mọi loại chân thần cùng một lúc, theo cùng một trình tự và trong cùng một thời lượng.
|
|
24. There are generalities that apply to all monadic types, and specificities that distinguish them.
|
24. Có những khái quát áp dụng cho mọi loại chân thần, và những đặc thù phân biệt chúng.
|
|
25. Why might it be that the evolution of centres accords to monadic cycles, and not, alternatively, to egoic or solar, or personality cycles?
|
25. Vì sao có thể là sự tiến hoá của các trung tâm phù hợp với các chu kỳ chân thần, chứ không phải, như một lựa chọn khác, phù hợp với các chu kỳ chân ngã hay thái dương, hoặc các chu kỳ phàm ngã?
|
|
26. It is at this time that we should remember that the chakras are basically extensions of monadic power, electric fire. This we have been studying. No matter the extent to which they appear in fields ‘lower’ than the Monad, they derive from the power of the Monad and are directly connected to the Monad and its ray type.
|
26. Chính vào lúc này chúng ta nên nhớ rằng các luân xa về căn bản là những sự mở rộng của quyền năng chân thần, lửa điện. Đây là điều chúng ta đã nghiên cứu. Dù chúng có xuất hiện đến mức nào trong những trường ‘thấp’ hơn chân thần, chúng vẫn bắt nguồn từ quyền năng của chân thần và được nối kết trực tiếp với chân thần và loại cung của nó.
|
|
[174]
|
[174]
|
|
The life of the Pilgrim can be, for purposes of discussion, divided into three main periods:
|
Đời sống của Người Lữ Hành có thể, nhằm mục đích thảo luận, được chia thành ba giai đoạn chính:
|
|
27. The Jiva is the pilgrim, and the Prodigal Son.
|
27. Jiva là người lữ hành, và là Người Con Hoang Đàng.
|
|
28. The Jiva is the ‘Monad-in-extension’.
|
28. Jiva là ‘Chân Thần-trong-sự-mở-rộng’.
|
|
1. That period wherein he is under the influence of the Personality Ray.
|
1. Giai đoạn mà y chịu ảnh hưởng của Cung Phàm Ngã.
|
|
29. This period accords with the control of the third aspect of divinity.
|
29. Giai đoạn này phù hợp với sự kiểm soát của phương diện thứ ba của thiên tính.
|
|
2. That wherein he comes under the Ray of the Ego.
|
2. Giai đoạn mà y đi vào dưới Cung của Chân ngã.
|
|
30. This period accords with the control of the second aspect.
|
30. Giai đoạn này phù hợp với sự kiểm soát của phương diện thứ hai.
|
|
31. Though this period of development seems longer than the next, it is really shorter overall, lasting some tens of lives.
|
31. Dù giai đoạn phát triển này có vẻ dài hơn giai đoạn kế tiếp, nhưng xét tổng thể nó thực ra ngắn hơn, kéo dài vài chục kiếp sống.
|
|
3. That wherein the Monadic Ray holds sway.
|
3. Giai đoạn mà Cung Chân Thần nắm quyền chi phối.
|
|
32. This period, the shortest from the human point of view (though longest from the perspective of post-human development) accords with the control of the first divine aspect.
|
32. Giai đoạn này, ngắn nhất theo quan điểm nhân loại (dù dài nhất theo viễn cảnh phát triển hậu-nhân loại) phù hợp với sự kiểm soát của phương diện thiêng liêng thứ nhất.
|
|
The first period is by far the longest, and covers the vast progression of the centuries wherein the activity aspect of the threefold self is being developed.
|
Giai đoạn thứ nhất là dài nhất một cách vượt trội, và bao trùm sự tiến triển mênh mông của các thế kỷ trong đó phương diện hoạt động của bản ngã tam phân đang được phát triển.
|
|
33. Most often it appears that the first part of any developmental cycle is longest. So it is for both stars and men.
|
33. Thường thì phần đầu của bất kỳ chu kỳ phát triển nào cũng dài nhất. Điều này đúng cho cả các vì sao lẫn con người.
|
|
34. We note the use of the word “centuries” but, perhaps, millennia would be a more representative unit of time.
|
34. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “thế kỷ” nhưng có lẽ thiên niên kỷ sẽ là đơn vị thời gian tiêu biểu hơn.
|
|
35. May we say that the first period of development may last in excess of twenty-one million years, as there are many today who individualized on the Earth-chain’s fourth round, some twenty-one million years ago, who have not yet reached the stage of coming under the Ray of the Ego. For some another million or two years may be needed. But, today, events are moving so fast that unparalleled development may be a possibility.
|
35. Chúng ta có thể nói rằng giai đoạn phát triển thứ nhất có thể kéo dài quá hai mươi mốt triệu năm, vì ngày nay có nhiều người đã biệt ngã hóa trên Dãy Địa Cầu trong cuộc tuần hoàn thứ tư cách đây khoảng hai mươi mốt triệu năm, mà vẫn chưa đạt đến giai đoạn đi vào dưới Cung của Chân ngã. Với một số người khác, có thể cần thêm một hay hai triệu năm nữa. Nhưng ngày nay, các biến cố đang diễn tiến nhanh đến mức sự phát triển chưa từng có có thể là một khả năng.
|
|
Life after life slips away during which the aspect of manas or mind is being slowly wrought out, and the human being comes more and more under the control of his intellect, operating through his physical brain.
|
Kiếp này qua kiếp khác trôi qua, trong đó phương diện manas hay thể trí được triển khai chậm chạp, và con người ngày càng chịu sự kiểm soát của trí tuệ của mình, vận hành qua bộ não hồng trần.
|
|
36. This is the stage which culminates with the unfoldment of the third petal of the egoic lotus—the sacrifice petal of the knowledge tier.
|
36. Đây là giai đoạn kết tinh bằng sự khai mở cánh hoa thứ ba của Hoa Sen Chân Ngã—cánh hoa hi sinh của tầng tri thức.
|
|
37. Think of the vast perspective which makes meaningful the phrase “life after life slips away”.
|
37. Hãy nghĩ đến viễn cảnh mênh mông khiến cụm từ “kiếp này qua kiếp khác trôi qua” trở nên đầy ý nghĩa.
|
|
38. The initiate’s entire sense of time is altered from what it was when he was an average human being or even a disciple.
|
38. Toàn bộ cảm thức về thời gian của điểm đạo đồ được biến đổi so với khi y là một con người bình thường hay thậm chí là một đệ tử.
|
|
This might be looked upon as corresponding to the period of the first solar system, wherein the third aspect logoic, that of Brahma, Mind, or Intelligence, was being brought to the point of achievement.74
|
Điều này có thể được xem như tương ứng với giai đoạn của hệ mặt trời thứ nhất, trong đó phương diện thứ ba của Thượng đế, tức Brahma, Thể Trí, hay Trí Tuệ, đang được đưa đến điểm thành tựu.74
|
|
39. The stage of mental development corresponds to the major process of the first solar system.
|
39. Giai đoạn phát triển thể trí tương ứng với tiến trình chủ yếu của hệ mặt trời thứ nhất.
|
|
40. Still more accurately, we might also call the process of that solar system the stage of ‘personality development’ for the Solar Logos. Of course, true personality development necessitates mental development.
|
40. Chính xác hơn nữa, chúng ta cũng có thể gọi tiến trình của hệ mặt trời ấy là giai đoạn ‘phát triển phàm ngã’ đối với Thái dương Thượng đế. Dĩ nhiên, phát triển phàm ngã đích thực đòi hỏi phát triển thể trí.
|
|
74
: “When the last cycle of man-bearing has been completed by that last fecund earth; and humanity has reached in a mass the stage of Buddhahood and passed out of the objective existence into the mystery of Nirvana—
|
74: “Khi chu kỳ cuối cùng của việc mang nhân loại đã được hoàn tất bởi trái đất phì nhiêu cuối cùng ấy; và nhân loại, như một khối, đã đạt đến giai đoạn Phật quả và vượt ra khỏi sự tồn tại khách quan để đi vào huyền nhiệm của Niết Bàn—
|
|
41. Shall the mysteries of Nirvana be realized at the fifth initiation, since the atmic plane (so focal for the fifth degree initiate) is called the “nirvanic plane”? (TCF 164)
|
41. Phải chăng các huyền nhiệm của Niết Bàn sẽ được chứng nghiệm ở lần điểm đạo thứ năm, vì cõi atma (vốn là trọng tâm đối với điểm đạo đồ bậc năm) được gọi là “cõi Niết Bàn”? (TCF 164)
|
|
then “strikes the hour”; the seen becomes the unseen, the concrete resumes its pre-cyclic state of atomic distribution.
|
thì “giờ khắc điểm chuông”; cái thấy được trở thành cái không thấy được, cái cụ thể trở về trạng thái tiền-chu-kỳ của sự phân bố nguyên tử.
|
|
42. We are speaking here of relative pralayas, otherwise nothing would remain—even the “pre-cyclic state of atomic distribution”.
|
42. Ở đây chúng ta đang nói về các giai kỳ qui nguyên tương đối, nếu không thì sẽ chẳng còn gì—kể cả “trạng thái tiền-chu-kỳ của sự phân bố nguyên tử”.
|
|
But the dead worlds left behind the onsweeping impulse do not continue dead. Motion is the eternal order of things and affinity or attraction its handmaid of all works. The thrill of life will again re-unite the atom, and it will stir again in the inert planet when the time comes.
|
Nhưng các thế giới chết bị xung lực cuồn cuộn tiến tới bỏ lại phía sau không tiếp tục chết. Chuyển động là trật tự vĩnh cửu của vạn vật và ái lực hay hấp lực là nữ tỳ của mọi công trình. Sự rúng động của sự sống sẽ lại hợp nhất nguyên tử, và nó sẽ lại khuấy động trong hành tinh trơ lì khi thời điểm đến.
|
|
43. Perhaps we mean, “reunite the atom(s)” into forms, as even an inert planet must be composed of atoms.
|
43. Có lẽ ý chúng ta là “hợp nhất lại các nguyên tử” thành các hình tướng, vì ngay cả một hành tinh trơ lì cũng phải được cấu tạo bởi các nguyên tử.
|
|
Though all its forces have remained statu quo and are now asleep, yet little by little it will—when the hour re-strikes—gather for a new cycle of man-bearing maternity, and give birth to something still higher as moral and physical types than during the preceding manvantara.
|
Dù tất cả các lực của nó vẫn giữ nguyên nguyên trạng và hiện đang ngủ yên, tuy nhiên từng chút một nó sẽ—khi giờ khắc lại điểm—tập hợp cho một chu kỳ mới của việc mang nhân loại, và sinh ra một điều gì đó còn cao hơn về các loại hình đạo đức và hồng trần so với trong giai kỳ sinh hóa trước đó.
|
|
44. Here is where the term “manvantara” is appropriate (no matter what its actual duration). We have noted that the term “mahamanvantara” (an “occult century”) and “manvantara” (a day of Brahma) must not be confused, though the distinction, it seems, is not always kept.
|
44. Đây là nơi thuật ngữ “giai kỳ sinh hóa” là thích hợp (bất kể thời lượng thực tế của nó). Chúng ta đã lưu ý rằng thuật ngữ “Đại giai kỳ sinh hóa” (một “thế kỷ huyền bí”) và “giai kỳ sinh hóa” (một ngày của Brahma) không được nhầm lẫn, dù sự phân biệt này, có vẻ như, không phải lúc nào cũng được giữ.
|
|
45. The sign Libra conveys the energy of the “status quo”, and is a sign much related to consummation and, thus, pralaya. Pisces is another such sign. Interestingly, in relation to both these signs, Venus is powerful. Venus connotes the power of harmonization that precedes dissolution.
|
45. Dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình chuyển tải năng lượng của “nguyên trạng”, và là một dấu hiệu rất liên quan đến sự hoàn tất và, do đó, giai kỳ qui nguyên. Song Ngư cũng là một dấu hiệu như vậy. Thú vị là, trong liên hệ với cả hai dấu hiệu này, Sao Kim rất mạnh. Sao Kim hàm ý quyền năng điều hoà vốn đi trước sự tan rã.
|
|
And its “cosmic atoms already in a differentiated state” (differing—in the producing force in the mechanical sense of motions and effects) remain statu quo as well as globes and everything else in the process of formation.”
|
Và các “nguyên tử vũ trụ của nó vốn đã ở trong trạng thái biến phân” (khác nhau—trong lực tạo ra theo nghĩa cơ học của các chuyển động và các hiệu ứng) cũng vẫn giữ nguyên trạng như các bầu hành tinh và mọi thứ khác trong tiến trình hình thành.”
|
|
46. We are not talking about ‘absolute pralaya’ (the ‘Maha-Pralaya’ which dissolves the entirety of cosmos—objective and subjective).
|
46. Chúng ta không nói về ‘giai kỳ qui nguyên tuyệt đối’ (đại giai kỳ qui nguyên vốn làm tan rã toàn bộ vũ trụ—khách quan và chủ quan).
|
|
47. A return to the state of non-differentiation (Mulaprakriti) is a penultimate stage and does not refer to the type of pralayas here discussed.
|
47. Sự trở về trạng thái không-biến-phân (Mulaprakriti) là một giai đoạn áp chót và không đề cập đến loại giai kỳ qui nguyên đang được bàn đến ở đây.
|
|
Such is the “hypothesis fully in accordance with (your) (my) note.”
|
Đó là “giả thuyết hoàn toàn phù hợp với (ghi chú của) (của bạn) (của tôi).”
|
|
For, as planetary development is as progressive as human or race evolution, the hour of the Pralaya’s coming catches the series of worlds at successive stages of evolution; (i.e.) each has attained to some one of the periods of evolutionary progress—each stops there, until the outward impulse of the next manvantara sets it going from that very point—like a stopped time-piece re-wound. Therefore, I have used the word “differentiated.”
|
Vì, cũng như sự phát triển hành tinh tiến bộ như sự tiến hoá của con người hay của nhân loại, giờ khắc giai kỳ qui nguyên đến sẽ bắt gặp chuỗi các thế giới ở những giai đoạn tiến hoá kế tiếp nhau; (tức là) mỗi thế giới đã đạt đến một trong các giai đoạn tiến bộ tiến hoá—mỗi thế giới dừng lại ở đó, cho đến khi xung lực hướng ngoại của giai kỳ sinh hóa kế tiếp khiến nó vận hành từ chính điểm ấy—như một chiếc đồng hồ dừng lại được lên dây lại. Do đó, tôi đã dùng từ “biến phân.”
|
|
48. That achieved differentiation is not destroyed by a minor pralaya (such as a solar systemic pralaya, or even a constellational or super-constellational pralaya).
|
48. Sự biến phân đã đạt được ấy không bị phá huỷ bởi một giai kỳ qui nguyên nhỏ (như một giai kỳ qui nguyên của một hệ mặt trời, hay thậm chí một giai kỳ qui nguyên thuộc chòm sao hoặc siêu-chòm-sao).
|
|
49. In studying TCF we realize that the term “atom” can refer to units great and small. Here, the term relates to the tiny units comprising the vehicles of each of the Planetary Logoi, whose evolution has been interrupted like “stopped time-piece(s)”.
|
49. Khi nghiên cứu TCF, chúng ta nhận ra rằng thuật ngữ “nguyên tử” có thể chỉ các đơn vị lớn và nhỏ. Ở đây, thuật ngữ này liên hệ đến các đơn vị li ti cấu thành các vận cụ của mỗi Hành Tinh Thượng đế, mà sự tiến hoá của chúng đã bị gián đoạn như những “chiếc đồng hồ dừng lại”.
|
|
50. What is said here of planetary development is true of our lives as well. There is no true finishing of the process. All lesser lives are interrupted in their development by pralaya. The main question is: “How much of the cyclic-intention for a particular incarnation was fulfilled when the irresistible moment of death came?”
|
50. Điều được nói ở đây về sự phát triển hành tinh cũng đúng với đời sống của chúng ta. Không có sự hoàn tất thực sự của tiến trình. Mọi sự sống nhỏ hơn đều bị gián đoạn trong sự phát triển của chúng bởi giai kỳ qui nguyên. Câu hỏi chính là: “Bao nhiêu trong ý định theo chu kỳ của một kiếp nhập thể cụ thể đã được hoàn thành khi khoảnh khắc không thể cưỡng lại của cái chết đến?”
|
|
51. We must submit to this cosmic ritual; “Rome was not built in a day.” Even a solar system requires far more than a “day of Brahma” for its completion.
|
51. Chúng ta phải thuận theo nghi lễ vũ trụ này; “La Mã không được xây trong một ngày.” Ngay cả một hệ mặt trời cũng cần nhiều hơn rất nhiều so với một “ngày của Brahma” để hoàn tất.
|
|
At the coming of the Pralaya no human, animal, or even vegetable entity will be alive to see it, but there will be the earths or globes with their mineral kingdoms; and all these planets will be physically disintegrated in the pralaya, yet not destroyed;
|
Khi giai kỳ qui nguyên đến, sẽ không có thực thể nhân loại, thú vật, hay thậm chí thực vật nào còn sống để chứng kiến nó, nhưng sẽ có các trái đất hay các bầu hành tinh với các giới kim thạch của chúng; và tất cả các hành tinh này sẽ bị phân rã về mặt hồng trần trong giai kỳ qui nguyên, nhưng không bị huỷ diệt;
|
|
52. This is the point to realize: “physically disintegrated but not destroyed”.
|
52. Đây là điểm cần nhận ra: “bị phân rã về mặt hồng trần nhưng không bị huỷ diệt”.
|
|
53. The final universal pralaya includes all in the swath of its destruction.
|
53. Đại giai kỳ qui nguyên phổ quát cuối cùng bao gồm tất cả trong vệt tàn phá của nó.
|
|
for they have their places in the sequence of evolution and their “privations” coming again out of the subjective, they will find the exact point from which they have to move on around the chain of “manifested forms.”
|
vì chúng có vị trí của chúng trong chuỗi tiến hoá và các “sự tước bỏ” của chúng khi lại đi ra từ cõi chủ quan, chúng sẽ tìm thấy đúng điểm mà từ đó chúng phải tiếp tục vận hành quanh dãy của “các hình tướng biểu hiện.”
|
|
54. The term “privations” is important. A privation is an abstracted energy with formative powers. An abstracted essence is still potent though deprived of its customary vehicles of manifestation.
|
54. Thuật ngữ “sự tước bỏ” là quan trọng. Một sự tước bỏ là một năng lượng được trừu xuất với các quyền năng tạo hình. Một tinh chất được trừu xuất vẫn đầy năng lực dù bị tước khỏi các vận cụ biểu hiện quen thuộc của nó.
|
|
55. Evolution is precisely sequential and there are no skipped steps.
|
55. Tiến hoá là tuần tự một cách chính xác và không có bước nào bị bỏ qua.
|
|
This, as you know, is repeated endlessly throughout Eternity.
|
Điều này, như các bạn biết, được lặp lại vô tận xuyên suốt Vĩnh Cửu.
|
|
56. What is the type of “Eternity” here meant? Yet, on one level or another, I believe it is correct to say “endlessly throughout Eternity” even if that eternity is Endless Duration.
|
56. “Vĩnh Cửu” ở đây được hiểu theo loại nào? Tuy vậy, ở một cấp độ nào đó, tôi tin rằng nói “vô tận xuyên suốt Vĩnh Cửu” là đúng, ngay cả khi vĩnh cửu ấy là Thời Lượng Vô Tận.
|
|
57. The ABSOLUTE, ITSELF, is a ‘PRIVATION’—the ULTIMATE PRIVATION.
|
57. TUYỆT ĐỐI, CHÍNH NÓ, là một ‘SỰ TƯỚC BỎ’—SỰ TƯỚC BỎ TỐI HẬU.
|
|
58. And will there be continuity, such that the ‘Privation’ (abstracted at the “Day be with Us”) of the entirety of cosmos will re-grasp (at the dawn of the next universe) vehicles of expression in the state they had achieved in the past universe? I do not think so. All is new. For the reasoning involved, please see Infinitization of Selfhood.
|
58. Và liệu sẽ có tính liên tục, sao cho ‘Sự Tước Bỏ’ (được trừu xuất vào “Ngày ở cùng Chúng Ta”) của toàn bộ vũ trụ sẽ lại nắm lấy (vào bình minh của vũ trụ kế tiếp) các vận cụ biểu đạt trong trạng thái mà chúng đã đạt được trong vũ trụ trước đó? Tôi không nghĩ vậy. Tất cả đều mới. Về lập luận liên quan, xin xem Sự Vô Hạn Hoá của Tính Ngã.
|
|
Each man of us has gone this ceaseless round, and will repeat it forever and ever.
|
Mỗi người trong chúng ta đã đi qua vòng tuần hoàn bất tận này, và sẽ lặp lại nó mãi mãi.
|
|
59. Though not as “man” per se. By the time the universal pralaya for this cosmos sets in, there will be no man.
|
59. Dù không phải là “con người” xét chính nó. Khi đại giai kỳ qui nguyên phổ quát của vũ trụ này bắt đầu, sẽ không còn con người.
|
|
The deviation of each one’s course, and his rate of progress from Nirvana to Nirvana is governed by causes which he himself creates out of the exigencies in which he finds himself entangled.”—From The Mahatma Letters to A. P. Sinnett, p. 6
|
Sự lệch hướng của lộ trình mỗi người, và tốc độ tiến bộ của y từ Niết Bàn đến Niết Bàn được chi phối bởi những nguyên nhân mà chính y tạo ra từ các đòi hỏi cấp bách trong đó y thấy mình bị vướng mắc.”—Trích từ Thư của các Mahatma gửi A. P. Sinnett, tr. 6
|
|
60. Fascinating concept—“from Nirvana to Nirvana”. Nirvana is a relative term, and even the Solar Logos, and Beings far beyond, experience higher correspondences to Nirvana. The Nirvana of the Universal Logos ends His universe!
|
60. Một khái niệm hấp dẫn—“từ Niết Bàn đến Niết Bàn”. Niết Bàn là một thuật ngữ tương đối, và ngay cả Thái dương Thượng đế, cùng các Thực Thể vượt xa hơn nữa, cũng kinh nghiệm những tương ứng cao hơn của Niết Bàn. Niết Bàn của Thượng đế Vũ Trụ kết thúc vũ trụ của Ngài!
|
|
Then the second aspect began in
[175] this present solar system to be blended with, and wrought out through it.
|
Rồi phương diện thứ hai bắt đầu trong [175] hệ mặt trời hiện tại này được dung hoà với, và được triển khai xuyên qua nó.
|
|
61. Our second solar system is the system of Love-Wisdom. It is really the fifth solar system, but the second major solar system of our particular Solar Logos.
|
61. Hệ mặt trời thứ hai của chúng ta là hệ của Bác Ái – Minh Triết. Thực ra nó là hệ mặt trời thứ năm, nhưng là hệ mặt trời chủ yếu thứ hai của Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta.
|
|
62. The second aspect wrought through the third aspect.
|
62. Phương diện thứ hai được triển khai xuyên qua phương diện thứ ba.
|
|
Centuries go by and the man becomes ever more actively intelligent, and the field of his life more suitable for the coming in of this second aspect.
|
Thế kỷ trôi qua và con người trở nên ngày càng thông minh một cách tích cực, và trường đời sống của y ngày càng thích hợp cho sự đi vào của phương diện thứ hai này.
|
|
63. The second aspect thrives in a more illumined atmosphere. Light is the forerunner of Love-Wisdom.
|
63. Phương diện thứ hai phát triển mạnh trong một bầu khí quyển được soi sáng hơn. Ánh sáng là kẻ tiền phong của Bác Ái – Minh Triết.
|
|
The correspondence lies in similitude and not in detail as seen in time and space. It covers the period of the first three triangles dealt with earlier.
|
Sự tương ứng nằm ở sự tương tự chứ không nằm ở chi tiết như được thấy trong thời gian và không gian. Nó bao trùm giai đoạn của ba tam giác đầu tiên đã được bàn đến trước đó.
|
|
64. We are speaking of the slow incoming of the second aspect and its demonstration through the third.
|
64. Chúng ta đang nói về sự đi vào chậm chạp của phương diện thứ hai và sự biểu lộ của nó qua phương diện thứ ba.
|
|
65. The three triangles mentioned are:
|
65. Ba tam giác được nhắc đến là:
|
|
1. The pranic triangle.
|
1. Tam giác prana.
|
|
a. The shoulder centre.
|
a. Trung tâm vai.
|
|
b. The centre near the diaphragm.
|
b. Trung tâm gần cơ hoành.
|
|
c. The spleen.
|
c. Luân xa lá lách.
|
|
2. Man controlled from the astral plane.
|
2. Con người được kiểm soát từ cõi cảm dục.
|
|
a. The base of the spine.
|
a. Đáy cột sống.
|
|
b. The solar plexus.
|
b. Tùng thái dương.
|
|
c. The heart.
|
c. Tim.
|
|
3. Man controlled from the mental plane.
|
3. Con người được kiểm soát từ cõi trí.
|
|
a. The base of the spine.
|
a. Đáy cột sống.
|
|
b. The heart.
|
b. Tim.
|
|
c. The throat.
|
c. Cổ họng.
|
|
66. This first period connected with third ray takes place as the three outer petals are unfolded—the Knowledge Tier. However, the first period cannot be limited to the unfoldment of those petals only, for the fourth petal is still, in a sense, lunar, and even if it is considered a “love petal”, does not yet correlate with the emergence of the solar factor in the life of the human being.
|
66. Giai đoạn thứ nhất này liên hệ với cung ba diễn ra khi ba cánh hoa ngoài được khai mở—Tầng Tri Thức. Tuy nhiên, giai đoạn thứ nhất không thể bị giới hạn chỉ trong sự khai mở của các cánh hoa ấy, vì cánh hoa thứ tư vẫn, theo một nghĩa nào đó, thuộc thái âm, và dù được xem là một “cánh hoa bác ái”, nó vẫn chưa tương quan với sự xuất hiện của yếu tố thái dương trong đời sống của con người.
|
|
67. The fifth petal, as well, may have much in it that is strictly personal and, thus, lunar.
|
67. Cánh hoa thứ năm cũng vậy, có thể có nhiều điều trong đó hoàn toàn mang tính cá nhân và, do đó, thuộc thái âm.
|
|
68. Personality development occurs at the fourth and fifth petal and a personality has its point of control on the lower mental plane.
|
68. Sự phát triển phàm ngã diễn ra ở cánh hoa thứ tư và thứ năm, và một phàm ngã có điểm kiểm soát của nó trên cõi hạ trí.
|
|
69. The heart center is involved in these first three stages which finally evidence a growing intelligence, but it is necessarily the third aspect of the heart center and concerns the gradual lessening of desire and selfishness as they slowly give way to a more socially responsible attitude.
|
69. Trung tâm tim có liên quan trong ba giai đoạn đầu này, vốn cuối cùng biểu lộ một trí tuệ đang tăng trưởng, nhưng tất yếu đó là phương diện thứ ba của trung tâm tim và liên quan đến sự suy giảm dần dần của dục vọng và ích kỷ khi chúng từ từ nhường chỗ cho một thái độ có trách nhiệm xã hội hơn.
|
|
We must not forget that, for the sake of clarity, we are here differentiating between the different aspects, and considering their separated development, a thing only permissible in time and space or during the evolutionary process, but not permissible from the standpoint of the Eternal Now, and from the Unity of the All-Self.
|
Chúng ta không được quên rằng, để cho rõ ràng, ở đây chúng ta đang phân biệt giữa các phương diện khác nhau, và xét sự phát triển tách biệt của chúng, một điều chỉ được phép trong thời gian và không gian hoặc trong tiến trình tiến hoá, nhưng không được phép từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, và từ Sự Hợp Nhất của Toàn Thể Ngã.
|
|
70. The mind separates and divides in order to create the kind of clarity it can manage. The truth of evolutionary process is a story of merging, blending and overlapping which can only justly be apprehended by the intuition which is synthetic in its grasp.
|
70. Thể trí phân tách và chia cắt để tạo ra loại rõ ràng mà nó có thể xử lý. Chân lý của tiến trình tiến hoá là một câu chuyện về sự hoà nhập, dung hoà và chồng lấp mà chỉ trực giác—vốn tổng hợp trong sự nắm bắt của nó—mới có thể thấu triệt một cách công bằng.
|
|
71. The third degree initiate lives in the Eternal and knows the Self as One. We see in the section above how these two factors go together—the “Eternal Now” and the “Unity of the All Self”.
|
71. Điểm đạo đồ bậc ba sống trong Vĩnh Cửu và biết Ngã là Một. Chúng ta thấy trong mục trên cách hai yếu tố này đi đôi với nhau—“Hiện Tại Vĩnh Cửu” và “Sự Hợp Nhất của Toàn Thể Ngã”.
|
|
The Vishnu or the Love-Wisdom aspect is latent in the Self, and is part of the monadic content, but the Brahma aspect, the Activity-Intelligence aspect precedes its manifestation in time.
|
Phương diện Vishnu hay Bác Ái – Minh Triết tiềm ẩn trong Ngã, và là một phần của nội dung chân thần, nhưng phương diện Brahma, phương diện Hoạt Động–Trí Tuệ đi trước sự biểu lộ của nó trong thời gian.
|
|
72. The three major divine aspects are all part of the “monadic content” as are the four rays of attribute and their qualities.
|
72. Ba phương diện thiêng liêng chủ yếu đều là một phần của “nội dung chân thần”, cũng như bốn cung thuộc tính và các phẩm tính của chúng.
|
|
73. That which is latent is inherent though, as yet, unexpressed. The Purpose substanding the Fixed Design controls the ‘moment of release into objectivity’ for various divine aspects and qualities.
|
73. Điều tiềm ẩn là điều vốn sẵn có dù, cho đến nay, chưa được biểu đạt. Thiên Ý nằm dưới Thiết Kế Cố Định chi phối ‘khoảnh khắc giải phóng vào tính khách quan’ đối với các phương diện và phẩm tính thiêng liêng khác nhau.
|
|
The Tabernacle in the Wilderness
preceded the building of the Temple of Solomon
;
the kernel of wheat has to lie in the darkness of mother Earth before the golden perfected ear can be seen, and the Lotus has to cast its roots down into the mud before the beauty of the blossom can be produced.
|
Lều Tạm trong Hoang Mạc đi trước việc xây dựng Đền Thờ Solomon
; hạt lúa mì phải nằm trong bóng tối của Đất Mẹ trước khi bông lúa vàng hoàn hảo có thể được thấy, và Hoa sen phải thả rễ xuống bùn trước khi vẻ đẹp của đóa hoa có thể được tạo ra.
|
|
74. The Tibetan presents in allegory the story of the emergence of the second aspect from the third.
|
74. Chân sư Tây Tạng trình bày bằng ngụ ngôn câu chuyện về sự xuất hiện của phương diện thứ hai từ phương diện thứ ba.
|
|
75. The theme is Virgoan and describes the gestation of the second aspect ‘within’ a ‘lower’ aspect—the third.
|
75. Chủ đề mang tính Xử Nữ và mô tả sự thai nghén của phương diện thứ hai ‘bên trong’ một phương diện ‘thấp’ hơn—phương diện thứ ba.
|
|
76. The normal habitation of our consciousness is a virtual “Tabernacle in the Wilderness” before it can be raised as the beautiful “Temple of Solomon”. The change from Tabernacle to Temple occurs as the consciousness disidentifies with the personality (which has been its imprisoning focus for millions of years) and gradually enters the grander and more beauteous ‘spaces’ of the higher mental plane (whereon the causal body, the Temple, is built”).
|
76. Nơi cư trú bình thường của tâm thức chúng ta là một “Lều Tạm trong Hoang Mạc” ảo, trước khi nó có thể được nâng lên thành “Đền Thờ Solomon” mỹ lệ. Sự chuyển đổi từ Lều Tạm sang Đền Thờ xảy ra khi tâm thức thôi đồng hoá với phàm ngã (vốn đã là trọng tâm giam hãm nó suốt hàng triệu năm) và dần dần đi vào những ‘không gian’ rộng lớn và mỹ lệ hơn của cõi thượng trí (nơi thể nguyên nhân, tức Đền Thờ, được xây dựng”).
|
|
77. By the time this refocussing occurs, the Temple is becoming a thing of beauty.
|
77. Đến khi sự tái-định-tâm này xảy ra, Đền Thờ đang trở thành một điều mỹ lệ.
|
|
78. We also note the contrast between the “kernel of wheat (corn)” and the “golden perfected ear”. Consciousness is buried in the matter/form of the lower three worlds before it ripens into full soul consciousness, now independent of its lower environment. The color “gold” or “golden” is frequently a symbol of the fulfillment of the consciousness aspect. The blazing Sun (yellow or golden yellow, and hence associated with buddhi) is the symbol of the Master who is a full member of the Kingdom of Souls.
|
78. Chúng ta cũng lưu ý sự tương phản giữa “hạt lúa mì (bắp)” và “bông lúa vàng hoàn hảo”. Tâm thức bị chôn vùi trong vật chất/hình tướng của ba cõi thấp trước khi nó chín muồi thành tâm thức linh hồn trọn vẹn, nay độc lập với môi trường thấp của nó. Màu “vàng” hay “ánh vàng” thường là biểu tượng của sự hoàn tất của phương diện tâm thức. Mặt Trời rực cháy (vàng hay vàng ánh kim, và do đó liên hệ với Bồ đề) là biểu tượng của Chân sư, Đấng là một thành viên trọn vẹn của Thiên Giới.
|
|
79. The idea behind all these metaphors is that consciousness must be subjected for ages to matter/form before its full beauty can emerge. Consciousness cannot selfishly move on and away from the limitation; using the metaphor of the growth of the lotus, consciousness must root itself in the mud of material limitation in order to grow into the higher spaces—through and above the water, into the air and under the Sun.
|
79. Ý tưởng đằng sau tất cả những ẩn dụ này là tâm thức phải chịu sự chi phối của vật chất/hình tướng qua nhiều thời đại trước khi vẻ đẹp trọn vẹn của nó có thể xuất hiện. Tâm thức không thể ích kỷ tiến lên và rời khỏi sự giới hạn; dùng ẩn dụ về sự tăng trưởng của hoa sen, tâm thức phải tự cắm rễ trong bùn của sự giới hạn vật chất để lớn lên vào những không gian cao hơn—xuyên qua và vượt lên trên nước, vào không khí và dưới Mặt Trời.
|
|
The second period, wherein the egoic ray holds sway, is not so long comparatively; it covers the period wherein the fourth and fifth triangles are being vivified, and marks the lives wherein the man throws his forces on the side of evolution, disciplines his life, steps upon the Probationary Path, and continues up to the third Initiation.
|
Giai đoạn thứ hai, trong đó cung chân ngã nắm quyền chi phối, tương đối không dài; nó bao trùm giai đoạn trong đó tam giác thứ tư và thứ năm đang được tiếp sinh lực, và đánh dấu những kiếp sống trong đó con người dồn lực về phía tiến hoá, kỷ luật hoá đời sống của mình, bước lên Con Đường Dự Bị, và tiếp tục cho đến lần điểm đạo thứ ba.
|
|
80. The phase here described takes us to the third initiation.
|
80. Giai đoạn được mô tả ở đây đưa chúng ta đến lần điểm đạo thứ ba.
|
|
81. We are dealing with the phase of egoic unfoldment and not of monadic demonstration. Even the sixth triangle concerns the unfoldment of the soul factor (partially through the higher Ego and partially through the spiritual triad—though in all truth, the higher Ego is the spiritual triad).
|
81. Chúng ta đang bàn đến giai đoạn khai mở chân ngã chứ không phải sự biểu lộ chân thần. Ngay cả tam giác thứ sáu cũng liên quan đến sự khai mở yếu tố linh hồn (một phần qua chân ngã cao và một phần qua Tam Nguyên Tinh Thần—dù trong chân lý, chân ngã cao là Tam Nguyên Tinh Thần).
|
|
82. At the culmination of this phase, all nine petals of the egoic lotus will open.
|
82. Ở điểm kết thúc của giai đoạn này, cả chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã sẽ mở.
|
|
83. When does a man throw his forces on the side of evolution? This occurs during the opening of the love petals and especially the fifth and sixth petals, preceding the opening of the sacrifice tier (during which the taking of the “great manasic initiations” occur) (cf. TCF 869-870 for the contrast between the “great manasic initiations” and certain lesser, seldom recognized initiations characteristic of the human race).
|
83. Khi nào một người dồn lực về phía tiến hoá? Điều này xảy ra trong lúc các cánh hoa bác ái mở ra, và đặc biệt là cánh hoa thứ năm và thứ sáu, đi trước sự mở ra của tầng hi sinh (trong đó việc tiếp nhận các “lần điểm đạo manas lớn” diễn ra) (xem TCF 869-870 để đối chiếu giữa các “lần điểm đạo manas lớn” và một số lần điểm đạo nhỏ hơn, hiếm khi được nhận ra, vốn là đặc trưng của nhân loại).
|
|
84. We may say that the treading of the Probationary Path is inseparable from the effort to discipline the life. The probationer is no longer simply giving in to the demands of the lunar vehicles but is attempting to have them conform to higher principles.
|
84. Chúng ta có thể nói rằng việc bước đi trên Con Đường Dự Bị là không thể tách rời khỏi nỗ lực kỷ luật hoá đời sống. Người dự bị không còn đơn thuần buông theo các đòi hỏi của các vận cụ thái âm mà đang cố gắng khiến chúng phù hợp với các nguyên khí cao hơn.
|
|
85. The fourth a fifth triangles are listed below as a reminder. We studied them closely in a previous commentary.
|
85. Tam giác thứ tư và thứ năm được liệt kê dưới đây như một lời nhắc. Chúng ta đã nghiên cứu chúng kỹ trong một phần bình luận trước đó.
|
|
[170]
|
[170]
|
|
4. Man partially controlled by the Ego, advanced man.
|
4. Con người được Chân ngã kiểm soát một phần, người tiến hoá.
|
|
a. The heart.
|
a. Tim.
|
|
b. The throat.
|
b. Cổ họng.
|
|
c. The head, i.e., the four lesser centres and their synthesis, the alta centre.
|
c. Đầu, tức bốn trung tâm nhỏ hơn và sự tổng hợp của chúng, trung tâm alta.
|
|
86. As a reminder, the term “advanced man” usually (but not always) takes us to the portal of the first initiation. The phase of “spiritual man” begins at the first degree.
|
86. Như một lời nhắc, thuật ngữ “người tiến hoá” thường (nhưng không phải luôn luôn) đưa chúng ta đến ngưỡng cửa của lần điểm đạo thứ nhất. Giai đoạn của “người tinh thần” bắt đầu ở bậc thứ nhất.
|
|
87. We have to be careful about any rigid interpretation of such terms. They have a certain elasticity and will mean different things in different contexts.
|
87. Chúng ta phải cẩn trọng với bất kỳ cách diễn giải cứng nhắc nào về các thuật ngữ như vậy. Chúng có một độ co giãn nhất định và sẽ mang những ý nghĩa khác nhau trong những văn cảnh khác nhau.
|
|
5. Spiritual man to the third Initiation.
|
5. Người tinh thần cho đến lần điểm đạo thứ ba.
|
|
a. The heart.
|
a. Tim.
|
|
b. The throat.
|
b. Cổ họng.
|
|
c. The seven head centres.
|
c. Bảy trung tâm đầu.
|
|
88. The fivefold scheme we have been studying has many gaps. Only the most general phases of unfoldment are considered. If we wish to understand the interim stages of unfoldment we shall have to add a number of triangles.
|
88. Sơ đồ ngũ phân mà chúng ta đang nghiên cứu có nhiều khoảng trống. Chỉ những giai đoạn tổng quát nhất của sự khai mở được xét đến. Nếu chúng ta muốn hiểu các giai đoạn trung gian của sự khai mở, chúng ta sẽ phải thêm vào một số tam giác.
|
|
89. In the following paragraphs is presented teaching of great importance. It is abstruse and difficult to understand and we shall have to proceed carefully.
|
89. Trong các đoạn sau đây, một giáo huấn vô cùng quan trọng được trình bày. Nó thâm áo và khó hiểu, và chúng ta sẽ phải tiến hành cẩn trọng.
|
|
Under the regime of the Personality Ray, the man proceeds upon the five Rays to work consciously with Mind, the sixth sense, passing first upon the four minor Rays and eventually upon the third.
|
Dưới chế độ của Cung Phàm Ngã, con người tiến hành trên năm cung để làm việc một cách hữu thức với Thể Trí, giác quan thứ sáu, trước hết đi qua bốn cung phụ và cuối cùng đi qua cung ba.
|
|
90. The entire first period of man’s incarnational life is lives “under the regime of the Personality Ray”, even though it will take millions of years for the personality ray to emerge from latency to manifest potency.
|
90. Toàn bộ giai đoạn thứ nhất của đời sống nhập thể của con người là những kiếp sống “dưới chế độ của Cung Phàm Ngã”, dù sẽ mất hàng triệu năm để cung phàm ngã đi từ trạng thái tiềm ẩn đến quyền năng biểu lộ.
|
|
91. The mental unit is, essentially, the seat of personality, and that unit exists even from the very earliest days—at individualization and following individualization.
|
91. Đơn vị hạ trí, về bản chất, là chỗ ngồi của phàm ngã, và đơn vị ấy tồn tại ngay từ những ngày rất sớm—từ lúc biệt ngã hóa và sau biệt ngã hóa.
|
|
92. Questions arise concerning whether a primitive human being even has a personality or personality ray. It is possible for him to have a personality ray without having a demonstrable personality.
|
92. Nảy sinh những câu hỏi về việc liệu một con người nguyên thuỷ thậm chí có có một phàm ngã hay cung phàm ngã hay không. Có thể y có một cung phàm ngã mà không có một phàm ngã biểu lộ rõ rệt.
|
|
93. If we do not agree with the possibility just stated, we shall have to say that the “regime of the Personality Ray” begins much later in the evolutionary cycle, and that the many initial, primitive incarnations are lived under no major regime at all—or simply ‘under the regime of the three lunar vehicles’.
|
93. Nếu chúng ta không đồng ý với khả năng vừa nêu, chúng ta sẽ phải nói rằng “chế độ của Cung Phàm Ngã” bắt đầu muộn hơn nhiều trong chu kỳ tiến hoá, và rằng nhiều kiếp nhập thể nguyên sơ ban đầu được sống dưới không một chế độ chủ yếu nào cả—hoặc đơn giản là ‘dưới chế độ của ba vận cụ thái âm’.
|
|
94. The questions to be answered are: “If a personality is not detectible, manifest or discernible, is there a personality ray, and if so, ‘where’ is it? In what ‘state’ does it exist? If it exists in a state of latency even in the life of primitive man, does it have any influence whatsoever in man’s development?
|
94. Những câu hỏi cần được trả lời là: “Nếu một phàm ngã không thể được phát hiện, biểu lộ hay phân biệt, có hay không một cung phàm ngã, và nếu có, nó ở ‘đâu’? Nó tồn tại trong ‘trạng thái’ nào? Nếu nó tồn tại trong trạng thái tiềm ẩn ngay cả trong đời sống của người nguyên thuỷ, nó có ảnh hưởng nào đối với sự phát triển của con người hay không?
|
|
95. We are told that the Monad and probably the Ego do have slight conditioning power even in primitive days. Could this also be so of a latent, unexpressed personality ray? It is surely worthy pondering.
|
95. Chúng ta được cho biết rằng chân thần và có lẽ cả chân ngã có quyền năng tác động nhẹ ngay cả trong những ngày nguyên sơ. Điều này cũng có thể đúng đối với một cung phàm ngã tiềm ẩn, chưa được biểu đạt chăng? Chắc chắn đáng để suy ngẫm.
|
|
96. The personality is the Brahmic aspect of man. There are five Rays of Brahma (fourth, fifth, sixth and seventh, with the major Brahmic ray being the third which synthesizes the other four).
|
96. Phàm ngã là phương diện Brahma của con người. Có năm cung của Brahma (cung bốn, năm, sáu và bảy, với cung Brahma chủ yếu là cung ba vốn tổng hợp bốn cung kia).
|
|
97. The early lives of man are lived upon the Rays of Attribute, the four minor rays. Eventually, the possibility arises to express through either a soul or personality on the third ray—but not until much later in the evolutionary process.
|
97. Những kiếp sống ban đầu của con người được sống trên Các Cung Thuộc Tính, bốn cung phụ. Cuối cùng, khả năng nảy sinh để biểu lộ qua hoặc một linh hồn hoặc một phàm ngã trên cung ba—nhưng chỉ rất lâu về sau trong tiến trình tiến hoá.
|
|
“
During these earlier periods all human beings were conditioned by the four Rays of Attribute; both as souls and as incarnated persons they were upon one of these four rays.
Towards the middle of the Atlantean cycle (untold millions of years ago) the influence of the third Ray of Active Intelligence became exceedingly potent. Certain of the advanced humanity of the period gradually found their way on to, or rather into, the stream of divine energy which we call the third ray. The possibility, therefore, of their becoming integrated personalities was for the first time recognised, and humanly recognised. Such an integration must ever precede conscious human initiation. (R&I 560)
|
“
Trong những giai đoạn sớm này, tất cả con người đều bị tác động bởi bốn Cung Thuộc Tính; cả với tư cách là linh hồn lẫn với tư cách là những người đang nhập thể, họ đều thuộc một trong bốn cung này. Về giữa chu kỳ Atlantis (cách đây vô số triệu năm), ảnh hưởng của cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Một số người tiến hoá của nhân loại thời kỳ ấy dần dần tìm được đường đi lên, hay đúng hơn là đi vào, dòng năng lượng thiêng liêng mà chúng ta gọi là cung ba. Do đó, khả năng họ trở thành những phàm ngã tích hợp lần đầu tiên được nhận ra, và được nhận ra theo cách của con người. Một sự tích hợp như vậy luôn luôn phải đi trước điểm đạo nhân loại hữu thức. (R&I 560)
|
|
98. We can see that in the developmental process it is not possible to have any ray at any time. There is a sequence of unfoldment which gradually brings all the seven rays into prominence; this sequence moves from the Rays of Attribute towards the Rays of Aspect. Perhaps the sequence is even more linear (with respect to the personality), moving from the seventh ray towards the first in numerical order.
|
98. Chúng ta có thể thấy rằng trong tiến trình phát triển, không thể có bất kỳ cung nào vào bất kỳ lúc nào. Có một trình tự khai mở, dần dần đưa cả bảy cung lên vị thế nổi bật; trình tự này chuyển từ Các Cung Thuộc Tính hướng về Các Cung Trạng Thái. Có lẽ trình tự ấy còn tuyến tính hơn nữa (xét theo phàm ngã), đi từ cung bảy đến cung một theo thứ tự số học.
|
|
99. One cannot (at our stage of evolution) dogmatize about such things nor over-generalize. There does, however, seem to be a significant trend: the abstract rays (three, two and one) express at a later stage of evolution than the concrete rays (seven, six, five, four)—at least through the personality and soul.
|
99. Ở giai đoạn tiến hoá của chúng ta, người ta không thể giáo điều hoá về những điều như thế, cũng không thể khái quát hoá quá mức. Tuy nhiên, dường như có một xu hướng đáng kể: các cung trừu tượng (ba, hai và một) biểu lộ ở giai đoạn tiến hoá muộn hơn so với các cung cụ thể (bảy, sáu, năm, bốn)—ít nhất là qua phàm ngã và linh hồn.
|
|
100. As for the usual mental rays—five, four, one—perhaps there is also an ascending sequence in their order of expression.
|
100. Còn đối với các cung thể trí thường gặp—năm, bốn, một—có lẽ cũng có một trình tự đi lên trong thứ tự biểu lộ của chúng.
|
|
He works
[176] upon the third Ray, or that of active Intelligence, and from thence proceeds to one of the subrays of the two other major Rays, if the third is not his egoic Ray.
|
Ngài tác động [176] lên Cung thứ ba, tức cung của Trí Tuệ linh hoạt, và từ đó tiến đến một trong các cung phụ của hai Cung chính kia, nếu cung ba không phải là cung chân ngã của y.
|
|
101. After working upon the Rays of Attribute, most men will move onto the third ray personality unless the third ray is the egoic ray.
|
101. Sau khi làm việc với Các Cung Thuộc Tính, đa số người sẽ chuyển sang phàm ngã cung ba, trừ khi cung ba là cung chân ngã.
|
|
102. Those who do not have the third ray Ego can have the third ray personality as they enter the stage of aspirant. Work upon a second or first ray personality follows work upon the third.
|
102. Những ai không có Chân ngã cung ba vẫn có thể có phàm ngã cung ba khi bước vào giai đoạn người chí nguyện. Việc làm việc với phàm ngã cung hai hoặc cung một sẽ theo sau việc làm việc với cung ba.
|
|
103. It would seem that at this stage of development, those with a second ray soul may have a personality upon the first or third rays; those with a first ray soul may have a personality upon the second or third rays; those with a third ray soul may have personalities upon the first or second rays. In all these cases, the personality will be upon the first or second rays only if one has reached the stage of aspirant or moved beyond that stage.
|
103. Dường như ở giai đoạn phát triển này, những người có linh hồn cung hai có thể có phàm ngã ở cung một hoặc cung ba; những người có linh hồn cung một có thể có phàm ngã ở cung hai hoặc cung ba; những người có linh hồn cung ba có thể có phàm ngã ở cung một hoặc cung hai. Trong tất cả các trường hợp này, phàm ngã chỉ ở cung một hoặc cung hai nếu người ấy đã đạt đến giai đoạn người chí nguyện hoặc đã vượt qua giai đoạn đó.
|
|
104. The phrase, “One of the subrays of the two other major Rays”, indicates (in this context) either a first or second ray personality, as the personality ray is, indeed, a subray of the egoic ray.
|
104. Cụm từ “một trong các cung phụ của hai Cung chính kia” cho thấy (trong văn cảnh này) hoặc là phàm ngã cung một, hoặc là phàm ngã cung hai, vì cung phàm ngã quả thật là một cung phụ của cung chân ngã.
|
|
105. We can interpret the general sense of this section as meaning that if a man has a third ray Ego, he will not work with a third ray personality (and from thence move to a second or first ray personality). This is not to say that he cannot move to a second or first ray personality as he becomes an aspirant, but simply that this movement will not take place following work with a third ray personality. Apparently, at this stage of development, we will not see the third ray as both the egoic ray and the ray of the personality.
|
105. Chúng ta có thể diễn giải ý nghĩa tổng quát của đoạn này như sau: nếu một người có Chân ngã cung ba, y sẽ không làm việc với phàm ngã cung ba (rồi từ đó chuyển sang phàm ngã cung hai hoặc cung một). Điều này không có nghĩa là y không thể chuyển sang phàm ngã cung hai hoặc cung một khi trở thành người chí nguyện, mà chỉ có nghĩa là sự chuyển dịch ấy sẽ không diễn ra sau khi đã làm việc với phàm ngã cung ba. Rõ ràng, ở giai đoạn phát triển này, chúng ta sẽ không thấy cung ba vừa là cung chân ngã vừa là cung phàm ngã.
|
|
106. We are speaking about a time of transference from work “under the regime of the Personality Ray” to work under the Soul Ray. At this time it is highly unlikely that the personality ray will be the same as the soul ray. Only one hypothetical example of a disciple having the same personality and soul ray is discussed in the teaching (cf. EP II 354), though it is suggested that those on a given soul ray may have any kind of personality ray. The odds, however, are against it. None of the some fifty disciples personally trained by the Tibetan had the same soul and personality ray.
|
106. Chúng ta đang nói về một thời kỳ chuyển dịch từ công việc “dưới chế độ của Cung Phàm Ngã” sang công việc dưới Cung Linh Hồn. Vào thời điểm này, rất khó có khả năng cung phàm ngã lại trùng với cung linh hồn. Trong giáo huấn chỉ bàn đến một ví dụ giả định về một đệ tử có cùng cung phàm ngã và cung linh hồn (xem EP II 354), dù có gợi ý rằng những người thuộc một cung linh hồn nhất định có thể có bất kỳ loại cung phàm ngã nào. Tuy nhiên, xác suất lại chống lại điều đó. Không một ai trong khoảng năm mươi đệ tử được Chân sư Tây Tạng trực tiếp huấn luyện có cùng cung linh hồn và cung phàm ngã.
|
|
107. In general we can consider the “regime of the Personality Ray” as the entire first part of evolution, with the caveat given above—i.e., that personality development depends, really, upon mental development, and that the personality ray emerges only later in the course of evolution.
|
107. Nói chung, chúng ta có thể xem “chế độ của Cung Phàm Ngã” là toàn bộ phần đầu của tiến hoá, với điều lưu ý đã nêu ở trên—tức là sự phát triển phàm ngã thật ra tuỳ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, và cung phàm ngã chỉ xuất hiện muộn hơn trong tiến trình tiến hoá.
|
|
108. The rays of Brahma [three, four, five, six, seven] are most important when “under the regime of the Personality Ray”.
|
108. Các cung của Brahma [ba, bốn, năm, sáu, bảy] là quan trọng nhất khi “dưới chế độ của Cung Phàm Ngã”.
|
|
109. One can have a first ray mind even if one is not a first ray personality, for only an aspirant can have a first or second ray personality.”
|
109. Người ta có thể có thể trí cung một ngay cả khi không phải là phàm ngã cung một, vì chỉ người chí nguyện mới có thể có phàm ngã cung một hoặc cung hai.”
|
|
“The Personality ray is always one of the five rays (the minor four and the third ray) until a man becomes an aspirant when it can be any of the seven.” (Extract from an Unpublished Paper).
|
“Cung Phàm Ngã luôn là một trong năm cung (bốn cung phụ và cung ba) cho đến khi một người trở thành người chí nguyện, khi ấy nó có thể là bất kỳ cung nào trong bảy cung.” (Trích từ một bản thảo chưa xuất bản).
|
|
110. Work upon the personality ray proceeds, we may hypothesize, until the first successful attempts to reverse of the wheel (i.e., to respond to the principles and energies of the soul). This occurs during the later part of the Mutable Cross followed by entry into the Kingdom of Souls upon the Fixed Cross.
|
110. Chúng ta có thể giả định rằng việc làm việc với cung phàm ngã tiếp diễn cho đến những nỗ lực thành công đầu tiên nhằm đảo chiều bánh xe (tức là đáp ứng các nguyên khí và năng lượng của linh hồn). Điều này xảy ra trong phần sau của Thập Giá Biến đổi, tiếp theo là bước vào Thiên Giới của các linh hồn trên Thập Giá Cố Định.
|
|
111. When will a soul upon a Ray of Attribute change to a soul ray which is a Ray of Aspect (one, two or three)?
|
111. Khi nào một linh hồn thuộc một Cung Thuộc Tính sẽ đổi sang một cung linh hồn là một Cung Trạng Thái (một, hai hoặc ba)?
|
|
112. There may be much debate upon this question. If a disciple has a third, second or first ray soul there has definitely been a transference somewhere in the course of evolutionary development because all souls are initially focussed on the fourth, fifth, sixth or seventh rays.
|
112. Có thể sẽ có nhiều tranh luận về câu hỏi này. Nếu một đệ tử có linh hồn cung ba, cung hai hoặc cung một, thì chắc chắn đã có một sự chuyển dịch ở đâu đó trong tiến trình phát triển tiến hoá, bởi vì ban đầu mọi linh hồn đều tập trung vào cung bốn, năm, sáu hoặc bảy.
|
|
“Every human being, in the earlier stages of his development (in ancient Lemuria and Atlantis, or possessing [559] today the Lemurian or Atlantean state of consciousness—and there are many such), comes into incarnation [a single incarnation?] upon one of the four Rays of Attribute, because these rays are peculiarly and uniquely related to the fourth kingdom in nature, and therefore to the fourth Creative Hierarchy.” (R&I 558-559)
|
“Mọi con người, trong những giai đoạn phát triển ban đầu (ở Lemuria và Atlantis cổ xưa, hoặc đang sở hữu [559] ngày nay trạng thái tâm thức Lemuria hay Atlantis—và có rất nhiều người như thế), đi vào lâm phàm [một lần nhập thể duy nhất?] trên một trong bốn Cung Thuộc Tính, bởi vì các cung này có liên hệ đặc thù và độc nhất với giới thứ tư trong bản chất, và do đó với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.” (R&I 558-559)
|
|
“During these earlier periods all human beings were conditioned by the four Rays of Attribute; both as souls and as incarnated persons they were upon one of these four rays. Towards the middle of the Atlantean cycle (untold millions of years ago) the influence of the third Ray of Active Intelligence became exceedingly potent. Certain of the advanced humanity of the period gradually found their way on to, or rather into, the stream of divine energy which we call the third ray. [Perhaps in either their soul or personality nature] The possibility, therefore, of their becoming integrated personalities was for the first time recognised, and humanly recognised. Such an integration must ever precede conscious human initiation.” (R&I 560)
|
“Trong những thời kỳ ban đầu ấy, mọi con người đều bị bốn Cung Thuộc Tính tác động và định hình; cả với tư cách linh hồn lẫn với tư cách con người đang nhập thể, họ đều ở trên một trong bốn cung này. Về phía giữa của chu kỳ Atlantis (cách đây vô số triệu năm), ảnh hưởng của Cung thứ ba của Trí Tuệ linh hoạt trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Một số nhân loại tiến bộ của thời kỳ ấy dần dần tìm được đường đi đến, hay đúng hơn là đi vào, dòng năng lượng thiêng liêng mà chúng ta gọi là cung ba. [Có lẽ trong bản chất linh hồn hoặc phàm ngã của họ] Vì vậy, khả năng trở thành những phàm ngã tích hợp lần đầu tiên được thừa nhận, và được thừa nhận theo nghĩa nhân loại. Một sự tích hợp như thế luôn luôn phải đi trước điểm đạo nhân loại hữu thức.” (R&I 560)
|
|
113. To become an integrated personality requires both the labors of the soul and the labors of the personality.
|
113. Trở thành một Phàm ngã tích hợp đòi hỏi cả lao nhọc của linh hồn lẫn lao nhọc của phàm ngã.
|
|
114. Some might suggest that only when one approaches the second initiation is it possible to change soul rays. Two of DK’s disciples were in process of such a change (perhaps, three) and one of them was definitely a candidate for the second initiation.
|
114. Một số người có thể gợi ý rằng chỉ khi người ta tiến gần đến lần điểm đạo thứ hai thì mới có thể đổi cung linh hồn. Hai đệ tử của Chân sư DK đang trong tiến trình đổi như vậy (có lẽ là ba), và một trong số họ chắc chắn là một ứng viên cho lần điểm đạo thứ hai.
|
|
115. There are problems with this point of view, however. One of the disciples with a third ray soul had not even taken the first initiation. His soul ray was, therefore, a Ray of Aspect, and it must have become so even before the first initiation—necessarily.
|
115. Tuy nhiên, quan điểm này có vấn đề. Một trong các đệ tử có linh hồn cung ba thậm chí còn chưa nhận lần điểm đạo thứ nhất. Vì vậy, cung linh hồn của y là một Cung Trạng Thái, và nó hẳn đã trở thành như thế ngay cả trước lần điểm đạo thứ nhất—tất yếu.
|
|
116. Almost all of DK’s disciples had either first, second or third ray souls and almost all of them were focussed between the first and second initiations—some closer to the second degree than others. A number of them had been accepted disciples for a few years. It would seem therefore that approach to the second initiation was not the only time for the soul-ray change. Rather, the entry into the period of aspiration would seem the time for such a change.
|
116. Hầu như tất cả các đệ tử của Chân sư DK đều có linh hồn cung một, cung hai hoặc cung ba, và hầu như tất cả đều tập trung trong khoảng giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai—một số gần bậc thứ hai hơn những người khác. Một số trong họ đã là các đệ tử được chấp nhận trong vài năm. Vì vậy, dường như việc tiến gần đến lần điểm đạo thứ hai không phải là thời điểm duy nhất để đổi cung linh hồn. Đúng hơn, việc bước vào thời kỳ khát vọng dường như là thời điểm cho sự đổi thay ấy.
|
|
117. We read that a human being could have a first or second ray personality only if he/she were an aspirant. This would mean that such a person would be treading the Path of Probation even if only in the early stages.
|
117. Chúng ta đọc rằng một con người chỉ có thể có phàm ngã cung một hoặc cung hai nếu y là người chí nguyện. Điều này có nghĩa là người ấy đang bước trên Con Đường Dự Bị, dù chỉ ở những giai đoạn đầu.
|
|
118. It may be that the possibility of changing soul rays would correlate with entry upon the Path of Aspiration or Probation. Work upon a first or second ray personality (the personality being always a subray of the soul) would facilitate such a transference. A personality of a particular ray would accustom the individual to the ray upon which his soul was preparing to refocus.
|
118. Có thể khả năng đổi cung linh hồn tương quan với việc bước vào Con Đường Khát Vọng hoặc Con Đường Dự Bị. Việc làm việc với một phàm ngã cung một hoặc cung hai (phàm ngã luôn luôn là một cung phụ của linh hồn) sẽ tạo thuận lợi cho sự chuyển dịch như vậy. Một phàm ngã thuộc một cung nhất định sẽ làm cho cá nhân quen dần với cung mà linh hồn của y đang chuẩn bị tái tập trung.
|
|
119. Work upon a third ray personality would come earlier than personality work upon the first or second, but such work would, it seems, facilitate a transference to a third ray soul.
|
119. Việc làm việc với phàm ngã cung ba sẽ đến sớm hơn việc làm việc với phàm ngã cung một hoặc cung hai, nhưng công việc như thế dường như sẽ tạo thuận lợi cho sự chuyển dịch sang một linh hồn cung ba.
|
|
120. It is as if one must become accustomed to the energy of the Rays of Attribute on a more concrete and material level before the soul can refocus on one of those higher rays.
|
120. Dường như người ta phải quen với năng lượng của Các Cung Thuộc Tính ở một mức độ cụ thể và vật chất hơn trước khi linh hồn có thể tái tập trung vào một trong các cung cao hơn ấy.
|
|
121. The Christ waited perhaps a millions years, maybe more between the third degree (taken perhaps in the fourth subrace of the fourth root race, but definitely taken in Atlantis) and fourth degree taken in relatively recent Aryan times. It is reasonable to consider that the Christ took the fourth degree as Krishna, given the sacrificial life of that great Teacher.
|
121. Đức Christ đã chờ có lẽ một triệu năm, có thể hơn, giữa bậc thứ ba (có lẽ nhận trong giống dân phụ thứ tư của Giống dân gốc thứ tư, nhưng chắc chắn nhận ở Atlantis) và bậc thứ tư được nhận trong thời Arya tương đối gần đây. Có lý khi cho rằng Đức Christ đã nhận bậc thứ tư với tư cách Krishna, xét theo đời sống hi sinh của vị Đức Chưởng Giáo vĩ đại ấy.
|
|
122. Different types of developments occur as one approaches the second degree and at the second degree. The will overcomes desire, and the Monad begins to have a consciously registered effect.
|
122. Những kiểu phát triển khác nhau xảy ra khi người ta tiến gần đến bậc thứ hai và tại bậc thứ hai. Ý chí thắng vượt dục vọng, và Chân thần bắt đầu tạo ra một tác động được ghi nhận một cách hữu thức.
|
|
123. It may be that it is the effect of the Monad upon the soul ray that causes the soul ray to change (if the change has not changed before that time). We remember that the sense of monadic destiny is felt in the soul even at the first degree, so monadic influence has a significant soul impact during the period in which we hypothesized a possible change of soul rays (which is also, more or less, the period when a change to one of the first two personality rays—ray one and ray two—can, according to law, appear).
|
123. Có thể chính tác động của Chân thần lên cung linh hồn khiến cung linh hồn thay đổi (nếu sự thay đổi chưa xảy ra trước thời điểm ấy). Chúng ta nhớ rằng cảm thức về định mệnh chân thần được cảm nhận trong linh hồn ngay cả ở bậc thứ nhất, vì vậy ảnh hưởng chân thần tạo ra một tác động đáng kể lên linh hồn trong thời kỳ mà chúng ta giả định có thể xảy ra sự đổi cung linh hồn (mà cũng, ít nhiều, là thời kỳ khi—theo định luật—có thể xuất hiện sự chuyển sang một trong hai cung phàm ngã đầu—cung một và cung hai).
|
|
124. After the second degree one may find oneself in the Ashram of a Master whose ray is the same as one’s monadic ray. (LOM 267)
|
124. Sau bậc thứ hai, người ta có thể thấy mình ở trong ashram của một Chân sư có cung trùng với cung chân thần của mình. (LOM 267)
|
|
125. The change in the soul ray focus of the Christ (from the fourth ray soul to the second) happened before he was Krishna, on the second ray. Christ took the third initiation on the fourth ray with the Buddha, and naturally in a fourth ray Ashram. Krishna was a most sensitive musician having had, we infer, long experience on the fourth ray. The second ray is also a musical ray, Master KH, on the second ray, is also master musician—an organist. Vishnu (the Second Logos) sings the world into existence).
|
125. Sự thay đổi trọng tâm cung linh hồn của Đức Christ (từ linh hồn cung bốn sang cung hai) đã xảy ra trước khi Ngài là Krishna, trên cung hai. Đức Christ đã nhận lần điểm đạo thứ ba trên cung bốn cùng với Đức Phật, và dĩ nhiên trong một ashram cung bốn. Krishna là một nhạc sĩ cực kỳ nhạy cảm, và như chúng ta suy đoán, đã có kinh nghiệm lâu dài trên cung bốn. Cung hai cũng là một cung âm nhạc; Chân sư KH, trên cung hai, cũng là một nhạc sĩ bậc thầy—một nghệ sĩ đàn organ. Vishnu (Thượng đế thứ hai) xướng hát thế giới vào hiện hữu).
|
|
126. We can eliminate the hypothesis that soul ray changes occur only as one approaches the second degree because, if so, between the first degree and the approach to the second degree, all souls would have to be fourth, fifth, sixth and seventh ray souls. Since in the Tibetan’s groups, the great majority of disciples were positioned between the first and second degree, with a few for whom the second degree was imminent, and since almost all of them had for a soul ray a Ray of Aspect, we see the impossibility of the hypothesis. The change of soul ray must necessarily have occurred earlier, and perhaps quite a bit earlier.
|
126. Chúng ta có thể loại bỏ giả thuyết rằng sự đổi cung linh hồn chỉ xảy ra khi người ta tiến gần đến bậc thứ hai, bởi vì nếu vậy thì giữa bậc thứ nhất và giai đoạn tiến gần đến bậc thứ hai, mọi linh hồn đều sẽ phải là linh hồn cung bốn, năm, sáu và bảy. Vì trong các nhóm của Chân sư Tây Tạng, đại đa số đệ tử được đặt giữa bậc thứ nhất và bậc thứ hai, với một số ít mà bậc thứ hai là cận kề, và vì hầu như tất cả họ có cung linh hồn là một Cung Trạng Thái, nên chúng ta thấy giả thuyết ấy là bất khả. Sự đổi cung linh hồn tất yếu đã xảy ra sớm hơn, và có lẽ sớm hơn khá nhiều.
|
|
127. Souls on the fourth and sixth rays go to the third ray and second but must be developing the quality of intelligence in order to do so. The later stages of the Mutable Cross do, however, see a significant growth in intelligence.
|
127. Các linh hồn trên cung bốn và cung sáu đi đến cung ba và cung hai, nhưng phải phát triển phẩm tính trí tuệ để làm được điều đó. Tuy nhiên, các giai đoạn muộn của Thập Giá Biến đổi quả thật chứng kiến sự tăng trưởng đáng kể của trí tuệ.
|
|
128. In group discussion it was proposed to correlate: yellow, sacrifice, the sacrifice petals, the fourth ray and the Moon.
|
128. Trong thảo luận nhóm, người ta đề nghị liên hệ: màu vàng, hi sinh, các cánh hoa hi sinh, cung bốn và Mặt Trăng.
|
|
129. It was also proposed that the taking of initiation may have to do with soul cycles and with the needs of the historical period. There is no hard and fast way to determine when a given initiation will be taken or what may be the interval between initiations. It can be noted, however, that there seems to be a rather rapid acceleration between ascending initiations (not including the sixth and seventh). The interval is shortening.
|
129. Người ta cũng đề nghị rằng việc nhận điểm đạo có thể liên quan đến các chu kỳ linh hồn và các nhu cầu của thời kỳ lịch sử. Không có cách cứng nhắc nào để xác định khi nào một điểm đạo nhất định sẽ được nhận, hay khoảng cách giữa các điểm đạo có thể là bao lâu. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng dường như có một sự tăng tốc khá nhanh giữa các điểm đạo đi lên (không tính bậc thứ sáu và thứ bảy). Khoảng cách đang rút ngắn.
|
|
130. Some interesting points emerge from considering cycle of ray development:
|
130. Một số điểm thú vị xuất hiện khi xét các chu kỳ phát triển cung:
|
|
a. We may reasonably make the inference that, even today, the majority of souls are on the fourth, fifth, sixth or seventh rays, because the majority of souls are not yet intelligent (i.e., not yet even mentally focussed).
|
a. Chúng ta có thể suy luận hợp lý rằng, ngay cả ngày nay, đa số linh hồn ở trên cung bốn, năm, sáu hoặc bảy, bởi vì đa số linh hồn chưa trí tuệ (tức là chưa hề tập trung thể trí).
|
|
b. Third ray is often the personality ray in the period preceding the first initiation. Whether or not the personality ray is likely to be third in the incarnation during which the first initiation is taken is not a certainty. Some references suggest the prominence of the first ray.
|
b. Cung ba thường là cung phàm ngã trong thời kỳ trước lần điểm đạo thứ nhất. Việc cung phàm ngã có khả năng là cung ba trong lần nhập thể mà lần điểm đạo thứ nhất được nhận hay không thì không chắc chắn. Một số tham chiếu gợi ý sự nổi trội của cung một.
|
|
c. Point to make: the majority of people on this planet being astrally polarized must also, necessarily, be on the fourth, fifth, sixth, or seventh rays in their soul nature—not only in their personality nature.
|
c. Điểm cần nêu: đa số người trên hành tinh này phân cực cảm dục thì cũng tất yếu, trong bản chất linh hồn của họ, ở trên cung bốn, năm, sáu hoặc bảy—không chỉ trong bản chất phàm ngã của họ.
|
|
d. The majority of human beings today have third or sixth ray personalities. But let us remember that to have a third ray personality, one must be cultivating intelligence. Yet, the majority are far from this stage. This would mean that there must be a great number of sixth ray personalities among average human beings.
|
d. Đa số con người ngày nay có phàm ngã cung ba hoặc cung sáu. Nhưng hãy nhớ rằng để có phàm ngã cung ba, người ta phải đang vun bồi trí tuệ. Tuy nhiên, đa số còn rất xa giai đoạn này. Điều đó có nghĩa là phải có một số lượng rất lớn phàm ngã cung sáu trong những con người trung bình.
|
|
“At this time there are a vast number of souls in incarnation whose personality rays are either the sixth or the third. (DON 31)”
|
“Vào thời điểm này có một số lượng rất lớn linh hồn đang nhập thể mà các cung phàm ngã của họ hoặc là cung sáu hoặc là cung ba. (DON 31)”
|
|
Perhaps, however, we should not generalize about other periods in planetary development. While is certain that the fourth, fifth, sixth or seventh ray personalities will predominate, it is not certain the sixth ray personalities will be in the greatest number over all and irrespective of the historical period in question.
|
Tuy nhiên, có lẽ chúng ta không nên khái quát hoá về các thời kỳ khác trong sự phát triển hành tinh. Dù chắc chắn rằng các phàm ngã cung bốn, năm, sáu hoặc bảy sẽ chiếm ưu thế, nhưng không chắc rằng phàm ngã cung sáu sẽ là đông nhất trong mọi trường hợp và bất kể thời kỳ lịch sử đang xét.
|
|
e. It was suggested that with the approach to the first initiation, on the earlier Path of Probation, the possibility of transferring to a third ray soul emerges.
|
e. Người ta gợi ý rằng khi tiến gần đến lần điểm đạo thứ nhất, trên phần đầu của Con Đường Dự Bị, khả năng chuyển sang linh hồn cung ba xuất hiện.
|
|
f. With the approach to the first degree, the third ray personality also emerges, as we have seen in the references.
|
f. Khi tiến gần đến bậc thứ nhất, phàm ngã cung ba cũng xuất hiện, như chúng ta đã thấy trong các tham chiếu.
|
|
g. When one becomes more intelligent one can have a third ray personality.
|
g. Khi người ta trở nên trí tuệ hơn, người ta có thể có phàm ngã cung ba.
|
|
h. The third ray is the synthesizing ray through which to enter expression upon the second and first rays.
|
h. Cung ba là cung tổng hợp, qua đó đi vào biểu lộ trên cung hai và cung một.
|
|
i. The Monad begins at the first degree to impact the soul—so, at that time it may be possible to change soul rays (at the first degree).
|
i. Chân thần bắt đầu tác động lên linh hồn ở bậc thứ nhất—vì vậy, vào thời điểm ấy có thể đổi cung linh hồn (ở bậc thứ nhất).
|
|
131. If the disciple ISGL had written the book on Shamballa (bringing his hypothesized first ray monad into fuller expression) his sixth ray soul could have changed to the second ray which, apparently, it did not fully do in that incarnation.
|
131. Nếu đệ tử ISGL đã viết cuốn sách về Shamballa (đưa chân thần cung một giả định của y vào biểu lộ đầy đủ hơn) thì linh hồn cung sáu của y có thể đã đổi sang cung hai, điều mà rõ ràng đã không hoàn toàn xảy ra trong lần nhập thể ấy.
|
|
Enquiry might naturally arise as to whether the egoic ray is necessarily one of the three major rays,
|
Một câu hỏi tự nhiên có thể nảy sinh: liệu cung chân ngã có nhất thiết là một trong ba cung chính hay không,
|
|
132. Because there are seven methods of destroying the causal body (according to the ray of the soul) it is quite clear that even advanced Egos can be found on the Rays of Attribute, not only on the three major rays.
|
132. Bởi vì có bảy phương pháp huỷ diệt thể nguyên nhân (tuỳ theo cung của linh hồn), nên hoàn toàn rõ ràng rằng ngay cả các Chân ngã tiến bộ cũng có thể được tìm thấy trên Các Cung Thuộc Tính, chứ không chỉ trên ba cung chính.
|
|
and if Initiates and Masters are not to be found upon some of the rays of mind, the minor four.
|
và liệu các điểm đạo đồ và các Chân sư có không được tìm thấy trên một số cung của trí tuệ, tức bốn cung phụ.
|
|
133. One is an initiate (though an advanced one) even at the fourth degree, but a Master is rather rarely called an initiate (though, of course, he is one).
|
133. Người ta là một điểm đạo đồ (dù là một người tiến bộ) ngay cả ở bậc thứ tư, nhưng một Chân sư thì khá hiếm khi được gọi là một điểm đạo đồ (dù dĩ nhiên Ngài là như vậy).
|
|
134. Further, for Masters the monadic ray has become significant. The growth of the influence of the monadic ray began in a focal manner at the third degree and is potent by the time the fifth degree is taken and one becomes a Master.
|
134. Hơn nữa, đối với các Chân sư, cung chân thần đã trở nên quan trọng. Sự tăng trưởng ảnh hưởng của cung chân thần bắt đầu một cách tiêu điểm ở bậc thứ ba và trở nên mạnh mẽ vào lúc bậc thứ năm được nhận và người ta trở thành một Chân sư.
|
|
The answer lies here: The egoic ray can always be one of the seven,
|
Câu trả lời nằm ở đây: cung chân ngã luôn có thể là một trong bảy cung,
|
|
135. This is clear from many references.
|
135. Điều này rõ ràng từ nhiều tham chiếu.
|
|
but we need to remember that, in this astral-buddhic solar system, wherein love and wisdom are being brought into objectivity, the bulk of the monads are on the love-wisdom ray.
|
nhưng chúng ta cần nhớ rằng, trong hệ mặt trời cảm dục–Bồ đề này, nơi bác ái và minh triết đang được đưa vào tính khách quan, phần lớn các chân thần ở trên cung bác ái–minh triết.
|
|
136. This statement needs examination. We have to remember that we are speaking about the solar system and not the planet.
|
136. Mệnh đề này cần được khảo sát. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đang nói về hệ mặt trời chứ không phải hành tinh.
|
|
137. When speaking of the planet, the following reference from EP II is of importance:
|
137. Khi nói về hành tinh, tham chiếu sau đây từ EP II là quan trọng:
|
|
“Only those units of life who are coloured predominantly by the third ray of activity pass for any length of time through these three schemes. A hint is here conveyed as to the prevalence of third ray Monads among the sons of men. The ray of active intelligence, expressing itself through the seven ray types, is above everything else the ray upon which the majority of human monads will, particularly, at this time, be found. We shall, therefore, find the following psychological types colouring the bulk of our humanity, and the ray of active intelligence expressing itself through
|
“Chỉ những đơn vị sự sống được nhuốm màu chủ yếu bởi cung hoạt động thứ ba mới đi qua trong một thời gian dài ba hệ hành tinh này. Ở đây có một gợi ý về sự phổ biến của các Chân thần cung ba trong những người con của nhân loại. Cung của trí tuệ linh hoạt, biểu lộ qua bảy loại cung, trên hết mọi điều, là cung mà đa số chân thần nhân loại sẽ, đặc biệt vào thời điểm này, được tìm thấy. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy các loại tâm lý sau đây nhuốm màu phần lớn nhân loại của chúng ta, và cung trí tuệ linh hoạt biểu lộ qua
|
|
1. Will, evoking divine purpose.
|
1. Ý chí, khơi dậy Thiên Ý.
|
|
2. Love, expressing divine quality.
|
2. Bác ái, biểu lộ phẩm tính thiêng liêng.
|
|
3. Intellect, as the reflector of the Intuition.
|
3. Trí tuệ, như kẻ phản chiếu của Trực giác.
|
|
4. Conflict, producing harmony.
|
4. Xung đột, tạo ra hoà điệu.
|
|
5. Knowledge or science, leading to radiance.
|
5. Tri thức hay khoa học, dẫn đến rực sáng.
|
|
6. Idealism, establishing the divine pattern.
|
6. Lý tưởng, thiết lập mô hình thiêng liêng.
|
|
7. Ritual or organisation, manifesting Deity. (EP II 101)
|
7. Nghi lễ hay tổ chức, biểu lộ Thượng đế. (EP II 101)
|
|
138. In this tabulation, we are speaking of third ray Monads expressing themselves through souls on all the seven rays.
|
138. Trong bảng liệt kê này, chúng ta đang nói về các Chân thần cung ba biểu lộ qua các linh hồn trên cả bảy cung.
|
|
139. There is some problem in considering that the majority of human Monads will be found upon the third ray, for the majority of Earth-chain humanity expresses the second ray Monad, and it would seem that on this chain, Earth-chain humanity is in the majority, with intelligent Moon-chain humanity making up only a rather small percentage (perhaps twenty percent at the most).
|
139. Có một vấn đề khi cho rằng đa số Chân thần nhân loại sẽ được tìm thấy trên cung ba, vì đa số nhân loại Dãy Địa Cầu biểu lộ Chân thần cung hai, và dường như trên dãy này, nhân loại Dãy Địa Cầu chiếm đa số, còn nhân loại Dãy Mặt Trăng trí tuệ chỉ chiếm một tỷ lệ khá nhỏ (có lẽ tối đa khoảng hai mươi phần trăm).
|
|
140. We could attempt to understand the assertion by thinking of the monadic types to be found on different globes and chains. Perhaps, the third ray types are in the majority within the Earth-scheme, but not necessarily upon the Earth-chain.
|
140. Chúng ta có thể cố gắng hiểu khẳng định ấy bằng cách nghĩ về các loại chân thần được tìm thấy trên các bầu hành tinh và các dãy khác nhau. Có lẽ các loại cung ba chiếm đa số trong hệ hành tinh Địa Cầu, nhưng không nhất thiết trên Dãy Địa Cầu.
|
|
141. In any case, on our globe at this time, astrally polarized humanity (who is far more likely to be Earth-chain humanity than Moon-chain humanity) far outnumbers the mentally polarized types (who probably came in the majority of cases from the Moon-chain.)
|
141. Dù sao, trên bầu hành tinh của chúng ta vào thời điểm này, nhân loại phân cực cảm dục (vốn có khả năng là nhân loại Dãy Địa Cầu hơn là nhân loại Dãy Mặt Trăng) đông hơn rất nhiều so với các loại phân cực trí tuệ (có lẽ trong đa số trường hợp đến từ Dãy Mặt Trăng).
|
|
142. We have then:
|
142. Vậy thì chúng ta có:
|
|
a. The majority of Monads in our solar system being on the second ray
|
a. Đa số Chân thần trong hệ mặt trời của chúng ta ở trên cung hai
|
|
b. The majority of Monads (at this time) within the Earth-scheme focussed on the third ray.
|
b. Đa số Chân thần (vào thời điểm này) trong hệ hành tinh Địa Cầu tập trung trên cung ba.
|
|
c. There is an uncertain condition as regards the Earth-chain and our little globe, but the exoteric numbers seem to point (overall) towards a greater number of second ray monads than third.
|
c. Có một tình trạng không chắc chắn liên quan đến Dãy Địa Cầu và bầu hành tinh nhỏ bé của chúng ta, nhưng các con số ngoại môn dường như chỉ ra (tổng thể) rằng số chân thần cung hai nhiều hơn chân thần cung ba.
|
|
The fact, therefore, of its being the synthetic ray has a vast significance. This is the system of the SON, whose name is Love. This is the divine incarnation of Vishnu.
|
Vì vậy, sự kiện rằng đó là cung tổng hợp mang một ý nghĩa vô cùng lớn. Đây là hệ thống của ĐỨA CON, danh xưng của Ngài là Bác ái. Đây là sự nhập thể thiêng liêng của Vishnu.
|
|
143. We are speaking of our Solar Logos in the role of Vishnu. This is His Vishnu-Incarnation.
|
143. Chúng ta đang nói về Thái dương Thượng đế của chúng ta trong vai trò Vishnu. Đây là Sự Nhập Thể Vishnu của Ngài.
|
|
The Dragon of Wisdom is in manifestation, and He brings into incarnation those cosmic Entities who are in essence identical with Himself.
|
Con Rồng Minh Triết đang biểu hiện, và Ngài đưa vào lâm phàm những Thực Thể vũ trụ vốn trong bản chất đồng nhất với chính Ngài.
|
|
144. Our Solar Logos has already achieved the stage of Dragon of Wisdom because He has developed Divine Love. He is attempting to fulfill the title, “Lion of Cosmic Will”.
|
144. Thái dương Thượng đế của chúng ta đã đạt đến giai đoạn Con Rồng Minh Triết vì Ngài đã phát triển Bác ái Thiêng liêng. Ngài đang cố gắng hoàn thành danh hiệu “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ”.
|
|
145. Immediately above we are given the justification for the attraction into our system of so many second ray Monads.
|
145. Ngay phía trên, chúng ta được trao sự biện minh cho sức hút đưa vào hệ thống của chúng ta nhiều Chân thần cung hai đến thế.
|
|
After the third Initiation all human beings find themselves on their monadic ray,
|
Sau lần điểm đạo thứ ba, mọi con người đều thấy mình ở trên cung chân thần của mình,
|
|
146. What do we mean by the words, “find themselves”? There is, indeed, a need for the advancing initiate to find his monadic ray, and the experience of the third initiation helps him do so.
|
146. Chúng ta muốn nói gì qua các từ “thấy mình”? Quả thật, có một nhu cầu để điểm đạo đồ đang tiến lên phải tìm ra cung chân thần của mình, và kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ ba giúp y làm điều đó.
|
|
147. From yet another perspective, it may be that if an individual really wishes to find himself (that Self being none other than the Monad), he must do so upon the monadic ray which leads directly into the monadic nature.
|
147. Từ một góc nhìn khác, có thể rằng nếu một cá nhân thật sự muốn tìm ra chính mình (Bản Ngã ấy không gì khác hơn Chân thần), y phải làm như vậy trên cung chân thần, là cung dẫn thẳng vào bản chất chân thần.
|
|
148. Another interpretation (and one that will to many appear most likely) suggests that the monadic ray will simply become much more influential than before the third degree, and will grow in power relative to the egoic ray—that after the third initiation, the monadic ray would be the major ray focus of the individual.
|
148. Một cách diễn giải khác (và là cách mà đối với nhiều người có vẻ khả dĩ nhất) gợi ý rằng cung chân thần đơn giản sẽ trở nên có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với trước bậc thứ ba, và sẽ tăng quyền lực tương đối so với cung chân ngã—rằng sau lần điểm đạo thứ ba, cung chân thần sẽ là trọng tâm cung chủ yếu của cá nhân.
|
|
149. If we think carefully, we may realize that the fourth initiation may indicate a point of balance between the two rays—monadic and soul/triadal (as these last two are the same). We must remember that the egoic ray is still important even for a Master for the ray of the spiritual triad is focal even for a Master as that ray is still influential upon the atmic plane—the plane whereon the Master is principally focussed.
|
149. Nếu chúng ta suy nghĩ kỹ, chúng ta có thể nhận ra rằng lần điểm đạo thứ tư có thể chỉ ra một điểm quân bình giữa hai cung—cung chân thần và cung linh hồn/tam nguyên (vì hai cái sau là một). Chúng ta phải nhớ rằng cung chân ngã vẫn quan trọng ngay cả đối với một Chân sư, vì cung của Tam Nguyên Tinh Thần vẫn là tiêu điểm ngay cả đối với một Chân sư, bởi cung ấy vẫn có ảnh hưởng trên cõi atma—cõi mà Chân sư chủ yếu tập trung.
|
|
on one of the three major rays,
|
trên một trong ba cung chính,
|
|
150. The initiate finds himself majorly on one of the three major rays. He also finds other monadic qualities within him, and these are of some importance.
|
150. Điểm đạo đồ thấy mình chủ yếu ở trên một trong ba cung chính. Y cũng tìm thấy những phẩm tính chân thần khác trong mình, và chúng có một tầm quan trọng nhất định.
|
|
151. A true or major monadic ray is one of the three major rays—Rays of Aspect.
|
151. Một cung chân thần đích thực hay chủ yếu là một trong ba cung chính—Các Cung Trạng Thái.
|
|
…and the fact that Masters and Initiates are found on all the [monadic] rays is due to the following two factors:
|
…và sự kiện rằng các Chân sư và các điểm đạo đồ được tìm thấy trên tất cả các cung [chân thần] là do hai yếu tố sau:
|
|
152. We were just speaking of Initiates and Masters “finding themselves” on one of the three major rays monadically.
|
152. Chúng ta vừa nói về các điểm đạo đồ và các Chân sư “thấy mình” trên một trong ba cung chính theo phương diện chân thần.
|
|
153. Now we are speaking of the Masters and Initiates finding themselves on all the rays, monadically.
|
153. Giờ đây chúng ta đang nói về các Chân sư và các điểm đạo đồ “thấy mình” trên tất cả các cung, theo phương diện chân thần.
|
|
154. Masters presumably are functioning largely on their monadic ray though their egoic ray (which is the same as the triadal ray) is still influential.
|
154. Có lẽ các Chân sư đang hoạt động phần lớn trên cung chân thần của Các Ngài, dù cung chân ngã của Các Ngài (vốn trùng với cung tam nguyên) vẫn còn ảnh hưởng.
|
|
155. DK is accounting for the fact that Masters are found not only on three monadic rays but on seven.
|
155. Chân sư DK đang giải thích vì sao các Chân sư không chỉ được tìm thấy trên ba cung chân thần mà còn trên bảy.
|
|
First. Each major ray has its subrays, which correspond to all the seven.
|
Thứ nhất. Mỗi cung chính có các cung phụ của nó, tương ứng với cả bảy.
|
|
156. We will suggest that the word “major” is being used in two ways—both occultly blinding the student and stimulating the intuition.
|
156. Chúng tôi sẽ gợi ý rằng từ “chính” đang được dùng theo hai cách—vừa che mờ đạo sinh theo huyền bí học, vừa kích thích trực giác.
|
|
157. The term “major ray” (as used here) may mean not only one of the three Rays of Aspect, but also the monadic ray.
|
157. Thuật ngữ “cung chính” (như được dùng ở đây) có thể không chỉ có nghĩa là một trong ba Cung Trạng Thái, mà còn có nghĩa là cung chân thần.
|
|
158. A “major ray” can be considered one of the three Rays of Aspect, and each such ray will have seven subrays (whether the “major ray” is an egoic ray or even a monadic ray), for an egoic ray may also be one of the major rays and all egoic rays have subrays. (cf. EP II 18, for the inference). These egoic subrays will be found both on the plane of the Ego and on the plane whereon the source of personality is focussed (the lower mental plane).
|
158. Một “cung chính” có thể được xem là một trong ba Cung Trạng Thái, và mỗi cung như thế sẽ có bảy cung phụ (dù “cung chính” ấy là một cung chân ngã hay thậm chí là một cung chân thần), vì một cung chân ngã cũng có thể là một trong các cung chính và mọi cung chân ngã đều có cung phụ. (xem EP II 18, để suy ra). Các cung phụ chân ngã này sẽ được tìm thấy cả trên cõi của Chân ngã lẫn trên cõi nơi nguồn gốc của phàm ngã được tập trung (cõi hạ trí).
|
|
159. The same is true for the Monad. It will have one category of subray on its own plane (the monadic plane) and one on a lower plane—the plane of the Ego.
|
159. Điều tương tự cũng đúng với Chân thần. Nó sẽ có một loại cung phụ trên chính cõi của nó (cõi chân thần) và một loại trên một cõi thấp hơn—cõi của Chân ngã.
|
|
160. What we are saying is that rays one, two and three (as monadic rays—each of them being a Ray of Aspect and all of them rays which define the “major” or “primary” monadic ray) will each of them have seven possible subrays corresponding to each of the seven rays. Only one of these subrays will be prominent at any one time.
|
160. Điều chúng ta đang nói là: các cung một, hai và ba (với tư cách các cung chân thần—mỗi cung là một Cung Trạng Thái và tất cả đều là các cung xác định cung chân thần “chính” hay “nguyên thuỷ”) sẽ mỗi cung có bảy cung phụ khả dĩ tương ứng với mỗi trong bảy cung. Chỉ một trong các cung phụ này sẽ nổi bật tại bất kỳ một thời điểm nào.
|
|
161. What is further and definitely being suggested here is that the “major” monadic ray of a human being has, on its own plane, a subray. The egoic ray of the human being (which is focussed on a plane which is lower than monadic focus) is a subray of the monadic ray but not the only subray.
|
161. Điều còn được gợi ý thêm, và một cách dứt khoát, là: cung chân thần “chính” của một con người có, trên chính cõi của nó, một cung phụ. Cung chân ngã của con người (được tập trung trên một cõi thấp hơn sự tập trung chân thần) là một cung phụ của cung chân thần, nhưng không phải là cung phụ duy nhất.
|
|
162. For confirmation of the meaning of ‘major monadic ray’ as I am here using it, see the following quotation:
|
162. Để xác nhận ý nghĩa của “cung chân thần chính” theo cách tôi đang dùng ở đây, xin xem trích dẫn sau:
|
|
“In connection with the use by the initiate of what we might call pure will, it should be remembered that this pure will works into manifestation through one or other of the three aspects of the Spiritual Triad. This activity is determined by the major ray upon which the initiate finds himself, from the angle of his monadic ray. Every spiritual man is upon one or another of the three major rays, for the minor four rays of attribute are all eventually absorbed into the third Ray of Active Intelligence. (R&I 310)
|
“Liên quan đến việc điểm đạo đồ sử dụng điều mà chúng ta có thể gọi là ý chí thuần khiết, cần nhớ rằng ý chí thuần khiết này đi vào biểu hiện qua một hay một khác trong ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần. Hoạt động này được quyết định bởi cung chính mà điểm đạo đồ thấy mình ở trên đó, xét từ góc độ cung chân thần của y. Mọi người tinh thần đều ở trên một trong ba cung chính, vì bốn cung phụ thuộc tính cuối cùng đều được hấp thụ vào Cung thứ ba của Trí Tuệ linh hoạt. (R&I 310)
|
|
163. Note the term “spiritual man” which may related to the spiritual triad and to the initiate after the third initiation.
|
163. Hãy lưu ý thuật ngữ “người tinh thần”, có thể liên hệ đến Tam Nguyên Tinh Thần và đến điểm đạo đồ sau lần điểm đạo thứ ba.
|
|
164. The term “eventually” is important revealing the long period of evolution required for this absorption of a Ray of Attribute into a Ray of Aspect.
|
164. Thuật ngữ “cuối cùng” là quan trọng, cho thấy thời kỳ tiến hoá dài lâu cần thiết cho sự hấp thụ một Cung Thuộc Tính vào một Cung Trạng Thái.
|
|
Second. Many of the guides of the race transfer from one ray to another as They are needed, and as the work may require.
|
Thứ hai. Nhiều vị hướng đạo của nhân loại chuyển từ cung này sang cung khác khi Các Ngài được cần đến, và khi công việc đòi hỏi.
|
|
165. The guides of the race are Masters and Chohans
|
165. Các vị hướng đạo của nhân loại là các Chân sư và các Chohan
|
|
166. Chohans function entirely upon their monadic ray and Masters very much so.
|
166. Các Chohan hoạt động hoàn toàn trên cung chân thần của Các Ngài, và các Chân sư cũng vậy ở mức độ rất lớn.
|
|
167. When the “guides of the race” transfer from ray to ray, they are changing rays in the realm of the monad, but do not change their major or “primary” monadic ray (which remains the same throughout the aeon).
|
167. Khi “các vị hướng đạo của nhân loại” chuyển từ cung này sang cung khác, Các Ngài đang đổi cung trong lĩnh vực của chân thần, nhưng không đổi cung chân thần chính hay “nguyên thuỷ” của Các Ngài (vốn vẫn như vậy suốt đại kiếp).
|
|
“Forget not, the primary ray of the Monad continues through the aeon. It changes not.” (TWM 111)
|
“Đừng quên, cung nguyên thuỷ của Chân thần tiếp tục suốt đại kiếp. Nó không đổi.” (TWM 111)
|
|
168. Watch carefully this wording, for the monadic ray is often called the “primary ray”, but the way the word “primary” is here used suggests that there is one monadic ray which is “primary” and one monadic ray which is “secondary”. This secondary monadic ray is, I propose, not the egoic ray.
|
168. Hãy theo dõi kỹ cách dùng từ này, vì cung chân thần thường được gọi là “cung nguyên thuỷ”, nhưng cách từ “nguyên thuỷ” được dùng ở đây gợi ý rằng có một cung chân thần là “nguyên thuỷ” và một cung chân thần là “thứ yếu”. Tôi đề nghị rằng cung chân thần thứ yếu này không phải là cung chân ngã.
|
|
169. So, in terms of language, this summary applies:
|
169. Vì vậy, xét về ngôn ngữ, bản tóm lược này áp dụng:
|
|
a. Man’s monadic ray is man’s major ray, but there is also a major monadic ray.
|
a. Cung chân thần của con người là cung chính của con người, nhưng cũng có một cung chân thần chính.
|
|
b. Man’s monadic ray is man’s primary ray (as is often called so), but there is also a primary monadic ray.
|
b. Cung chân thần của con người là cung nguyên thuỷ của con người (như thường được gọi), nhưng cũng có một cung chân thần nguyên thuỷ.
|
|
When one of the Masters or Initiates is transferred it causes a complete re-adjustment.
|
Khi một trong các Chân sư hay các điểm đạo đồ được chuyển đi, điều đó gây ra một sự điều chỉnh lại hoàn toàn.
|
|
170. All changes in Hierarchy affect the entire Hierarchy and especially the Ray Ashram of the Initiate or Master who changes or transfers rays.
|
170. Mọi thay đổi trong Thánh Đoàn đều ảnh hưởng đến toàn bộ Thánh Đoàn, và đặc biệt là ashram theo cung của điểm đạo đồ hay Chân sư đang đổi hoặc chuyển cung.
|
|
When a Master likewise leaves the hierarchy of our Planet to take up work elsewhere, it frequently necessitates a complete re-organisation, and a fresh admission of members into the great White Lodge. These facts have been but little realised.
|
Khi một Chân sư cũng rời Thánh Đoàn của hành tinh chúng ta để đảm nhận công việc ở nơi khác, điều đó thường đòi hỏi một sự tái tổ chức hoàn toàn, và một sự tiếp nhận mới các thành viên vào Huynh đệ Đoàn Chánh đạo vĩ đại. Những sự kiện này đã được nhận ra quá ít.
|
|
171. The departure of a Master to higher ‘climbs’ manifests as an updraft on His Ashram, and requires a drawing in of those who can replace the vacuum.
|
171. Sự ra đi của một Chân sư lên những “đỉnh cao” cao hơn biểu lộ như một luồng hút lên trong ashram của Ngài, và đòi hỏi phải thu hút vào những người có thể thay thế khoảng trống.
|
|
172. There is much upward attraction of this kind at this time.
|
172. Hiện nay có rất nhiều lực hút hướng thượng như thế.
|
|
173. It is not only that disciples strive to become members of the Great White Lodge, but that they must because there are vacancies to be filled.
|
173. Không chỉ là các đệ tử nỗ lực trở thành thành viên của Thánh đoàn, mà họ còn phải như vậy vì có những chỗ trống cần được lấp đầy.
|
|
We might here also take the opportunity to point out that we are not dealing with earth conditions when we consider the Rays, nor are we only concerned with the evolution of the Monads upon this planet, but are equally concerned with the solar
[177] system in which our earth holds a necessary but not supreme place.
|
Ở đây chúng ta cũng có thể nhân cơ hội chỉ ra rằng khi xét các cung, chúng ta không đang bàn đến các điều kiện địa cầu, cũng không chỉ quan tâm đến sự tiến hoá của các Chân thần trên hành tinh này, mà còn quan tâm ngang bằng đến hệ [177] mặt trời, trong đó trái đất của chúng ta giữ một vị trí cần thiết nhưng không tối thượng.
|
|
174. Master DK expands the consideration. The scope of our subject takes us beyond the Earth and its conditions and the Monads considered are Monads throughout the solar system.
|
174. Chân sư DK mở rộng sự khảo sát. Phạm vi của đề tài đưa chúng ta vượt ra ngoài Trái Đất và các điều kiện của nó, và các Chân thần được xét là các Chân thần trên khắp hệ mặt trời.
|
|
175. We recall we were speaking of the predominance of second ray Monads in the solar system and not so much upon the Earth (though their number on and in Earth, according to one reference is almost twice as great as the number of third ray Monad and seven times greater than first ray Monads).
|
175. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đang nói về sự trội vượt của các Chân thần cung hai trong hệ mặt trời chứ không phải nhiều lắm trên Trái Đất (dù số lượng của họ trên và trong Trái Đất, theo một tham chiếu, gần gấp đôi số Chân thần cung ba và gấp bảy lần số Chân thần cung một).
|
|
176. Our planet is a non-sacred planet, hence its place in the solar system is far from “supreme”. But one day, before long (in cosmic time) it will be a sacred planet and certainly in the next solar system (which is ruled by the first ray, the monadic ray of the Earth).
|
176. Hành tinh của chúng ta là một hành tinh không thiêng liêng, vì vậy vị trí của nó trong hệ mặt trời còn xa mới là “tối thượng”. Nhưng một ngày nào đó, không lâu nữa (theo thời gian vũ trụ), nó sẽ là một hành tinh thiêng liêng, và chắc chắn trong hệ mặt trời kế tiếp (vốn được cai quản bởi cung một, là cung chân thần của Trái Đất).
|
|
The earth is an organism within a greater one, and this fact needs wider recognition.
|
Trái đất là một cơ thể sống trong một cơ thể sống lớn hơn, và sự kiện này cần được thừa nhận rộng rãi hơn.
|
|
177. We envision a hierarchy of ever more inclusive wholes—each whole playing the role of a part in a still larger whole.
|
177. Chúng ta hình dung một hệ thứ bậc của những toàn thể ngày càng bao gồm hơn—mỗi toàn thể đóng vai trò như một phần trong một toàn thể còn lớn hơn.
|
|
178. The largest finite whole of which we can speculate is the universe itself.
|
178. Toàn thể hữu hạn lớn nhất mà chúng ta có thể suy đoán là chính vũ trụ.
|
|
179. The next greater ‘whole’ is INFINITUDE and is forever ENTIRETY.
|
179. “Toàn thể” lớn hơn kế tiếp là VÔ TẬN và mãi mãi là TOÀN THỂ.
|
|
The sons of men upon this planet so often view the whole system as if the earth were in the position of the sun, the centre of the solar organism.
|
Những người con của nhân loại trên hành tinh này thường nhìn toàn bộ hệ thống như thể trái đất ở vị trí của mặt trời, là trung tâm của cơ thể sống hệ mặt trời.
|
|
180. Master DK warns us against our innate ‘geocentrism’. We know the Earth revolves around the Sun, but sometimes we seem to think in more medieval terms.
|
180. Chân sư DK cảnh báo chúng ta chống lại “chủ nghĩa địa tâm” bẩm sinh. Chúng ta biết Trái Đất quay quanh Mặt Trời, nhưng đôi khi chúng ta dường như lại nghĩ theo những thuật ngữ trung cổ hơn.
|
|
181. The following sections are of great importance and not easy to interpret.
|
181. Các phần sau đây có tầm quan trọng lớn và không dễ diễn giải.
|
|
Under the regime of the Ego, the ray upon which the ego can be found holds sway.
|
Dưới chế độ của Chân ngã, cung mà chân ngã có thể được tìm thấy sẽ nắm quyền chi phối.
|
|
182. Our success at interpretation depends upon noticing that in the same sentence the term ego is both capitalized as “Ego” and given in lower case as “ego”.
|
182. Thành công của chúng ta trong diễn giải tuỳ thuộc vào việc nhận ra rằng trong cùng một câu, thuật ngữ ego vừa được viết hoa thành “Ego” vừa được viết thường thành “ego”.
|
|
183. Usually, even when the word ego is used in lower case as “ego”, it means the soul, and not the lower personal ego. The Tibetan just does not use “ego” that way, unless He specifies the lower personal ego. As AAB says in DINA I xiv:
|
183. Thông thường, ngay cả khi từ ego được dùng ở dạng viết thường là “ego”, nó vẫn có nghĩa là linh hồn, chứ không phải phàm ngã cá nhân thấp. Chân sư Tây Tạng đơn giản không dùng “ego” theo cách đó, trừ khi Ngài chỉ rõ phàm ngã cá nhân thấp. Như AAB nói trong DINA I xiv:
|
|
“In reading these instructions will you please remember that though the Tibetan usually speaks of the soul, He also uses the word “ego” interchangeably, meaning thereby the spiritual ego and not the personal ego of the psychologists.”
|
“Khi đọc các chỉ dẫn này, xin các bạn nhớ rằng dù Chân sư Tây Tạng thường nói về linh hồn, Ngài cũng dùng từ ‘ego’ thay thế cho nhau, với ý nghĩa là chân ngã tinh thần chứ không phải phàm ngã cá nhân của các nhà tâm lý học.”
|
|
184. This is very clear.
|
184. Điều này rất rõ ràng.
|
|
185. Now we have an interesting situation. In the same sentence we have the term “Ego” and “ego”, and we remember that “ego” very rarely means the lower personal ego.
|
185. Giờ đây chúng ta có một tình huống thú vị. Trong cùng một câu, chúng ta có thuật ngữ “Ego” và “ego”, và chúng ta nhớ rằng “ego” rất hiếm khi có nghĩa là phàm ngã cá nhân thấp.
|
|
186. If we assume that “ego” means what it usually means—the consciousness within the egoic lotus—then we have two other and higher possibilities for the word “Ego”—either the spiritual triad or the Monad or, in some way, both.
|
186. Nếu chúng ta giả định rằng “ego” mang nghĩa thường lệ của nó—tức tâm thức bên trong hoa sen chân ngã—thì chúng ta có hai khả năng khác và cao hơn cho từ “Ego”—hoặc là Tam Nguyên Tinh Thần, hoặc là Chân thần, hoặc theo một cách nào đó là cả hai.
|
|
187. I think we may say with some certainty that the capitalizations of the word ego found in this sentence are not accidental. Sometimes there is much variation in capitalization, but not when the same word is used within the same sentence.
|
187. Tôi nghĩ chúng ta có thể nói khá chắc rằng việc viết hoa của từ ego trong câu này không phải là ngẫu nhiên. Đôi khi có nhiều biến thiên trong cách viết hoa, nhưng không phải khi cùng một từ được dùng trong cùng một câu.
|
|
188. The “Ego” (in this case) is a higher center, and it has a controlling or ruling “regime”. The “Ego” controls the “ego”. No matter how the egoic ray of the “ego” “holds sway”, that ray is “under the regime of the Ego”—i.e., under the regime of the spiritual triad, or the Monad or, somehow, both. We have simply to decide the center to which we will assign the word “Ego” and why we do so.
|
188. “Ego” (trong trường hợp này) là một trung tâm cao hơn, và nó có một “chế độ” kiểm soát hay cai trị. “Ego” kiểm soát “ego”. Dù cung chân ngã của “ego” có “nắm quyền” như thế nào, cung ấy vẫn “dưới chế độ của Ego”—tức dưới chế độ của Tam Nguyên Tinh Thần, hoặc của Chân thần, hoặc theo một cách nào đó là cả hai. Chúng ta chỉ cần quyết định trung tâm nào chúng ta sẽ gán cho từ “Ego” và vì sao.
|
|
This ray is simply a direct reflection of the monad, and is dependent upon that aspect of the spiritual triad which for the man is at any particular time the line of least resistance.
|
Cung này đơn giản là một phản chiếu trực tiếp của chân thần, và tuỳ thuộc vào phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần mà đối với con người, vào bất kỳ thời điểm nào, là con đường ít trở ngại nhất.
|
|
189. This sentence means that the “ray on which the ego can be found” is a direct reflection of the Monad. (Note that the term monad is sometime capitalized as “Monad” and sometimes not— “monad”.) There seems to be no rhyme or reason for changing the capitalization of this word.
|
189. Câu này có nghĩa rằng “cung mà chân ngã có thể được tìm thấy” là một phản chiếu trực tiếp của Chân thần. (Hãy lưu ý rằng thuật ngữ chân thần đôi khi được viết hoa thành “Chân thần” và đôi khi không— “chân thần”.) Dường như không có vần hay lý do cho việc thay đổi cách viết hoa của từ này.
|
|
190. Now it will become necessary to remember that the spiritual triad is the true unshrouded soul. This means that the causal body is indeed the “body” or “shroud” of the soul consciousness, which is really the consciousness of the spiritual triad. The consciousness within the causal body is usually called soul consciousness, but, if the spiritual triad is the true unshrouded soul, it becomes necessary for us to think of the consciousness of the spiritual triad as the true soul consciousness.
|
190. Giờ đây sẽ cần nhớ rằng Tam Nguyên Tinh Thần là linh hồn thật sự không bị che phủ. Điều này có nghĩa rằng thể nguyên nhân quả thật là “thể” hay “tấm màn” của tâm thức linh hồn, mà thực ra là tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần. Tâm thức bên trong thể nguyên nhân thường được gọi là tâm thức linh hồn, nhưng nếu Tam Nguyên Tinh Thần là linh hồn thật sự không bị che phủ, thì chúng ta cần nghĩ về tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần như là tâm thức linh hồn đích thực.
|
|
191. We learn on pp. 168-169 of EP I that the ray of the causal body is the same as the ray of the spiritual triad (i.e., the same as the ray of the three permanent atoms of the spiritual triad).
|
191. Chúng ta học ở trang 168-169 của EP I rằng cung của thể nguyên nhân giống với cung của Tam Nguyên Tinh Thần (tức là giống với cung của ba nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần).
|
|
192. All this is by way of saying that it possible to apply the term “ego” to the spiritual triad as well as to the causal vehicle (or egoic lotus).
|
192. Tất cả điều này nhằm nói rằng có thể áp dụng thuật ngữ “ego” cho Tam Nguyên Tinh Thần cũng như cho vận cụ nguyên nhân (hay hoa sen chân ngã).
|
|
193. This means that we face the following type of choice:
|
193. Điều này có nghĩa rằng chúng ta đối diện với kiểu lựa chọn sau:
|
|
a. We have three centers of focus:
|
a. Chúng ta có ba trung tâm tập trung:
|
|
i. The casual body/egoic lotus
|
i. Thể nguyên nhân/hoa sen chân ngã
|
|
ii. The spiritual triad
|
ii. Tam Nguyên Tinh Thần
|
|
iii. The Monad
|
iii. Chân thần
|
|
b. The term “ego” might refer only to the causal body/egoic lotus
|
b. Thuật ngữ “ego” có thể chỉ quy chiếu đến thể nguyên nhân/hoa sen chân ngã
|
|
c. The term “ego” might refer to the both the causal body/egoic lotus and the spiritual triad—since they are both versions of the soul (one more individual, the other more impersonal—but soul, nonetheless)
|
c. Thuật ngữ “ego” có thể quy chiếu đến cả thể nguyên nhân/hoa sen chân ngã và Tam Nguyên Tinh Thần—vì cả hai đều là các phiên bản của linh hồn (một cái cá biệt hơn, cái kia phi cá nhân hơn—nhưng vẫn là linh hồn)
|
|
d. The term “Ego” might refer to the spiritual triad.
|
d. Thuật ngữ “Ego” có thể quy chiếu đến Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
e. The term “Ego” might refer to the spiritual triad and Monad (even as the Jewel in the Lotus and the three synthesis petals are—the four of them—often considered to be one unit.
|
e. Thuật ngữ “Chân ngã” có thể chỉ Tam Nguyên Tinh Thần và Chân Thần (cũng như Viên Ngọc trong Hoa Sen và ba cánh hoa tổng hợp—cả bốn—thường được xem là một đơn vị.
|
|
f. The term “Ego” might refer only to the Monad.
|
f. Thuật ngữ “Chân ngã” có thể chỉ riêng Chân Thần.
|
|
194. These are the choices confronting us as we attempt to assign ‘level’ to the term “ego” and “Ego”.
|
194. Đây là những lựa chọn đang đối diện chúng ta khi chúng ta cố gắng gán “cấp độ” cho thuật ngữ “chân ngã” và “Chân ngã”.
|
|
195. We are experiencing a kind of occult blinding because the same term is being used for two different things or, perhaps, three different things.
|
195. Chúng ta đang trải nghiệm một dạng che mờ huyền bí, bởi cùng một thuật ngữ đang được dùng cho hai điều khác nhau hoặc, có lẽ, ba điều khác nhau.
|
|
196. We find that the “ray” we have been discussing (the egoic ray) is dependent upon the spiritual triad—specifically upon “that aspect of the spiritual triad which is for the man at any one time the line of least resistance”.
|
196. Chúng ta nhận thấy rằng “cung” mà chúng ta đã bàn (cung chân ngã) tùy thuộc vào Tam Nguyên Tinh Thần—cụ thể là tùy thuộc vào “phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần mà đối với con người, vào bất kỳ thời điểm nào, là con đường ít trở ngại nhất”.
|
|
197. We are not yet sure how the egoic ray is dependent upon the spiritual triad, but we are informed that the spiritual triad has aspects and that one or other of these aspects are a line of least resistance for the man at different times. This tells us that there is change of focus within the spiritual triad at different times (presumably different times in the process of unfoldment).
|
197. Chúng ta chưa chắc cung chân ngã tùy thuộc vào Tam Nguyên Tinh Thần như thế nào, nhưng chúng ta được cho biết rằng Tam Nguyên Tinh Thần có các phương diện, và một hay phương diện khác trong số đó là con đường ít trở ngại nhất đối với con người vào những thời điểm khác nhau. Điều này cho chúng ta biết rằng có sự thay đổi trọng tâm bên trong Tam Nguyên Tinh Thần vào những thời điểm khác nhau (hẳn là những thời điểm khác nhau trong tiến trình khai mở).
|
|
198. Now, just what about the “ray” is “dependent”? Is it the ‘ray number’ that is dependent? Or is the ray simply influenced by the aspect of the spiritual triad which is the line of least resistance?
|
198. Vậy thì, rốt cuộc điều gì nơi “cung” là “tùy thuộc”? Có phải “số cung” là điều tùy thuộc không? Hay cung chỉ đơn giản bị ảnh hưởng bởi phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần vốn là con đường ít trở ngại nhất?
|
|
199. Or is the focus of the ray somehow dependent upon the spiritual triad’s line of least resistance.
|
199. Hay là trọng tâm của cung, bằng cách nào đó, tùy thuộc vào con đường ít trở ngại nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
200. In summary re dependency, it concerns these possibilities:
|
200. Tóm lại về sự tùy thuộc, vấn đề liên quan đến những khả năng sau:
|
|
a. The number of the ray—the ray number
|
a. Con số của cung—số cung
|
|
b. Influence upon the ray
|
b. Ảnh hưởng tác động lên cung
|
|
c. The place of focus of the ray in relation to the spiritual triad.
|
c. Vị trí trọng tâm của cung trong mối liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
201. We have to remember always that the ray of the ego and the ray of the spiritual triad are the same.
|
201. Chúng ta luôn phải nhớ rằng cung của chân ngã và cung của Tam Nguyên Tinh Thần là một.
|
|
202. The ray we are talking about, so far, is still the “egoic ray”.
|
202. Cung mà chúng ta đang nói tới, cho đến nay, vẫn là “cung chân ngã”.
|
|
By that we must understand that sometimes the ray will have for its centre of force the atmic aspect, sometimes the buddhic, and at other times the manasic aspect.
|
Bởi điều đó, chúng ta phải hiểu rằng đôi khi cung sẽ có phương diện atma làm trung tâm mãnh lực của nó, đôi khi là Bồ đề, và vào những lúc khác là manas.
|
|
203. Now, we are still talking about the “egoic ray”. This ray has a “center of force”. The “centre of force” is presumably a controlling “centre of force”.
|
203. Bây giờ, chúng ta vẫn đang nói về “cung chân ngã”. Cung này có một “trung tâm mãnh lực”. “Trung tâm mãnh lực” hẳn là một “trung tâm mãnh lực” kiểm soát.
|
|
204. Or it can mean that the egoic ray is focussed within the spiritual triad in one of three ways—atmically, buddhically or manasically.
|
204. Hoặc điều đó có thể có nghĩa rằng cung chân ngã được tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần theo một trong ba cách—theo atma, theo Bồ đề, hoặc theo manas.
|
|
205. Thus in sum, the egoic ray is either
|
205. Do đó, tóm lại, cung chân ngã hoặc là
|
|
a. Controlled by a center of force within the triad
|
a. Được kiểm soát bởi một trung tâm mãnh lực bên trong tam nguyên
|
|
b. Or expresses through a center of force within the triad
|
b. Hoặc biểu lộ qua một trung tâm mãnh lực bên trong tam nguyên
|
|
c. Or both of these possibilities may be true in their own ways.
|
c. Hoặc cả hai khả năng này đều có thể đúng theo những cách riêng của chúng.
|
|
206. In all these subtleties, we have to remember that we are still talking about the “egoic ray” (not the “Egoic” ray), but that the egoic ray may simultaneously be considered the triadal ray.
|
206. Trong tất cả những tinh tế này, chúng ta phải nhớ rằng chúng ta vẫn đang nói về “cung chân ngã” (không phải cung “Chân ngã”), nhưng đồng thời cung chân ngã có thể được xem là cung tam nguyên.
|
|
Though the triad is threefold, yet its egoic outposts (if one may so express it) will be either definitely atmic, or predominantly buddhic or manasic.
|
Dù tam nguyên là tam phân, tuy nhiên các tiền đồn chân ngã của nó (nếu có thể diễn đạt như vậy) sẽ hoặc là rõ rệt theo atma, hoặc là chủ yếu theo Bồ đề hay theo manas.
|
|
207. Master DK is simultaneously a master at blinding and revealing. We should not imagine that what is being said in the past several sentences is straightforward and obvious. We will miss much if we think so.
|
207. Chân sư DK đồng thời là một chân sư về việc làm mù và mặc khải. Chúng ta không nên tưởng rằng điều đang được nói trong vài câu vừa qua là thẳng thắn và hiển nhiên. Nếu nghĩ như vậy, chúng ta sẽ bỏ lỡ nhiều điều.
|
|
208. That the spiritual triad is threefold is a given. But what can possibly be meant by “its egoic outposts”?
|
208. Việc Tam Nguyên Tinh Thần là tam phân là điều hiển nhiên. Nhưng rốt cuộc “các tiền đồn chân ngã của nó” có thể hàm ý điều gì?
|
|
209. An “outpost” is a ‘place’ which should be considered an extension or representation of a greater ‘place’ or ‘force’. An outpost is a lesser place, and is a subsidiary of that of which it is an outpost.
|
209. Một “tiền đồn” là một “nơi chốn” nên được xem như sự mở rộng hay đại diện của một “nơi chốn” hay “mãnh lực” lớn hơn. Một tiền đồn là một nơi chốn nhỏ hơn, và là phần phụ thuộc của cái mà nó là tiền đồn.
|
|
210. The spiritual triad is that greater ‘place’ or ‘force’ and it has an egoic outpost which is either atmic, buddhic or manasic.
|
210. Tam Nguyên Tinh Thần là “nơi chốn” hay “mãnh lực” lớn hơn ấy, và nó có một tiền đồn chân ngã hoặc theo atma, theo Bồ đề, hoặc theo manas.
|
|
211. It is very important that we keep our thinking straight here. The threefold triad has the a choice of three outposts—atmic, buddhic or manasic—and these outposts are egoic.
|
211. Điều hết sức quan trọng là chúng ta phải giữ cho tư duy của mình mạch lạc ở đây. Tam nguyên tam phân có một lựa chọn gồm ba tiền đồn—atma, Bồ đề hoặc manas—và các tiền đồn này là chân ngã.
|
|
212. So that which is egoic is directly connected with an outpost of the triad.
|
212. Vì vậy, cái gì là chân ngã thì được nối kết trực tiếp với một tiền đồn của tam nguyên.
|
|
Here again I would draw attention to the fact that this triple demonstration can be seen under three forms, making in all a ninefold choice of rays for the Ego:
|
Ở đây một lần nữa tôi muốn lưu ý rằng sự biểu lộ tam phân này có thể được thấy dưới ba hình thức, tạo thành tổng cộng một lựa chọn cung chín phân cho Chân ngã:
|
|
213. Now, again, the term ego is spelled “Ego” which means that we may no longer be talking about the spiritual triad, but as has been suggested by the developing explanation, we may be talking about the Monad, calling it the “Ego”.
|
213. Bây giờ, một lần nữa, thuật ngữ chân ngã được viết là “Chân ngã”, điều này có nghĩa rằng chúng ta có thể không còn đang nói về Tam Nguyên Tinh Thần nữa, mà như đã được gợi ý bởi lời giải thích đang phát triển, chúng ta có thể đang nói về Chân Thần, gọi nó là “Chân ngã”.
|
|
214. Or we may be talking about the spiritual triad, calling it the “Ego”—a far greater probability.
|
214. Hoặc chúng ta có thể đang nói về Tam Nguyên Tinh Thần, gọi nó là “Chân ngã”—một khả năng lớn hơn rất nhiều.
|
|
215. What has just happened is perhaps the most subtle shift in our developing explanation. The last time the word “Ego” was mentioned is was “under the regime of the Ego, the ray upon which the ego can be found holds sway”.
|
215. Điều vừa xảy ra có lẽ là sự chuyển dịch tinh tế nhất trong lời giải thích đang phát triển của chúng ta. Lần cuối cùng từ “Chân ngã” được nhắc đến là: “dưới chế độ của Chân ngã, cung mà trên đó chân ngã có thể được tìm thấy nắm quyền cai quản”.
|
|
216. Now for the first time we are not talking about the “ray upon which the ego can be found” but we are talking about “a ninefold choice of rays for the Ego.”
|
216. Bây giờ, lần đầu tiên, chúng ta không nói về “cung mà trên đó chân ngã có thể được tìm thấy”, mà chúng ta nói về “một lựa chọn cung chín phân cho Chân ngã”.
|
|
217. When it comes to the spiritual triad, we have been talking about “aspects”, not rays.
|
217. Khi nói đến Tam Nguyên Tinh Thần, chúng ta đã nói về “các phương diện”, chứ không phải các cung.
|
|
218. The “Ego” (something definitely higher than the “ego”) has, we are told, a ninefold choice of rays, but what is listed below is not rays at all, but simply aspects. If we think clearly, we shall see that in this context, “rays” are easily equivalent to “aspects”.
|
218. “Chân ngã” (một điều chắc chắn cao hơn “chân ngã”) được cho biết là có một lựa chọn cung chín phân, nhưng điều được liệt kê bên dưới hoàn toàn không phải là các cung, mà chỉ đơn giản là các phương diện. Nếu chúng ta suy nghĩ rõ ràng, chúng ta sẽ thấy rằng trong văn cảnh này, “các cung” dễ dàng tương đương với “các phương diện”.
|
|
219. Therefore, perhaps we can simply ‘convert’ an aspect to a ray in the following manner:
|
219. Vì vậy, có lẽ chúng ta có thể đơn giản “chuyển đổi” một phương diện thành một cung theo cách sau:
|
|
a. The atmic aspect = ray one
|
a. Phương diện atma = cung một
|
|
b. The buddhic aspect = ray two
|
b. Phương diện Bồ đề = cung hai
|
|
c. The manasic aspect = rays three, especially, but also rays four, five, six and seven
|
c. Phương diện manas = các cung ba, đặc biệt, nhưng cũng là các cung bốn, năm, sáu và bảy
|
|
220. This is a possibility, but about this conversion we are still uncertain.
|
220. Đây là một khả năng, nhưng về sự chuyển đổi này chúng ta vẫn chưa chắc chắn.
|
|
221. In light of what we have been discussing, what is listed below may mean the following:
|
221. Dưới ánh sáng của những điều chúng ta đã bàn, điều được liệt kê bên dưới có thể hàm ý như sau:
|
|
a. We are detailing all that takes place under the regime of the Ego.
|
a. Chúng ta đang trình bày chi tiết tất cả những gì diễn ra dưới chế độ của Chân ngã.
|
|
b. We are considering that the Ego may mean the Monad or may meant the spiritual triad.
|
b. Chúng ta đang xét rằng Chân ngã có thể có nghĩa là Chân Thần hoặc có thể có nghĩa là Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
c. We are considering that what takes place under the regime of the Ego is a ninefold process.
|
c. Chúng ta đang xét rằng điều diễn ra dưới chế độ của Chân ngã là một tiến trình chín phân.
|
|
d. The ninefold process is determined by the combination of the three normal or major foci of the threefold triad, and the three egoic outposts potential to any of those three normal or major triadal foci.
|
d. Tiến trình chín phân được quyết định bởi sự kết hợp giữa ba trọng tâm bình thường hay chủ yếu của tam nguyên tam phân, và ba tiền đồn chân ngã tiềm tàng đối với bất kỳ trọng tâm tam nguyên bình thường hay chủ yếu nào trong ba trọng tâm ấy.
|
|
e. This means that, in the series of three threefold groupings listed below, the first term relates to the major triadal level in which the man is focussed (and it depends, as can be shown from other references) upon the major ray of the Monad. (cf. R&I)
|
e. Điều này có nghĩa rằng, trong chuỗi ba nhóm tam phân được liệt kê bên dưới, thuật ngữ thứ nhất liên hệ đến cấp độ tam nguyên chủ yếu nơi con người được tập trung (và nó tùy thuộc, như có thể được chứng minh từ các tham chiếu khác) vào cung chủ yếu của Chân Thần. (x. R&I)
|
|
f. But the second term, depends directly upon the ray of ego, precisely, and that second term is changeable, just as the ray of the ego is, over time, changeable.
|
f. Nhưng thuật ngữ thứ hai tùy thuộc trực tiếp vào cung của chân ngã, một cách chính xác, và thuật ngữ thứ hai ấy là có thể thay đổi, cũng như cung của chân ngã, theo thời gian, là có thể thay đổi.
|
|
Atmic aspect.
|
Phương diện atma.
|
|
1. atmic-atmic
|
1. atma-atma
|
|
2. atmic-buddhic
|
2. atma-Bồ đề
|
|
3. atmic-manasic.
|
3. atma-manas.
|
|
222. This threefold series suggests that the ray of the Monad/ “Ego” (or of the Triad/ “Ego”) is the first ray, but that the ray upon which the “ego” holds sway is either first, second or third (with subrays), as given above: atmic = ray one, buddhic = ray two; manasic = ray three with four rays of attribute as subrays.
|
222. Chuỗi tam phân này gợi ý rằng cung của Chân Thần/ “Chân ngã” (hoặc của Tam Nguyên/ “Chân ngã”) là cung một, nhưng cung mà trên đó “chân ngã” nắm quyền cai quản thì hoặc là cung một, cung hai hoặc cung ba (với các cung phụ), như đã nêu ở trên: atma = cung một, Bồ đề = cung hai; manas = cung ba với bốn Cung Thuộc Tính làm các cung phụ.
|
|
Buddhic aspect.
|
Phương diện Bồ đề.
|
|
1. buddhic-atmic
|
1. Bồ đề-atma
|
|
2. buddhic-buddhic
|
2. Bồ đề-Bồ đề
|
|
3. buddhic-manasic.
|
3. Bồ đề-manas.
|
|
223. This threefold series suggests that the ray of the Monad/ “Ego” (or of the Triad/ “Ego”) is the second ray, with the secondary aspect or ray as developed above.
|
223. Chuỗi tam phân này gợi ý rằng cung của Chân Thần/ “Chân ngã” (hoặc của Tam Nguyên/ “Chân ngã”) là cung hai, với phương diện hay cung thứ yếu như đã triển khai ở trên.
|
|
Manasic aspect.
|
Phương diện manas.
|
|
1. manasic-atmic
|
1. manas-atma
|
|
2. manasic-buddhic
|
2. manas-Bồ đề
|
|
3. manasic-manasic
|
3. manas-manas
|
|
224. This threefold series suggests that the ray of the Monad/ “Ego” (or of the Triad/ “Ego”) is the third ray with the secondary ray or rays as developed above.
|
224. Chuỗi tam phân này gợi ý rằng cung của Chân Thần/ “Chân ngã” (hoặc của Tam Nguyên/ “Chân ngã”) là cung ba, với cung hay các cung thứ yếu như đã triển khai ở trên.
|
|
225. Under the term “manasic” (in the secondary position) may be focussed an “ego” upon the third ray, but also upon the fourth, fifth, sixth or seventh, for third ray Brahma—the manasic aspect—includes the fourth, fifth, sixth and seventh rays)
|
225. Dưới thuật ngữ “manas” (ở vị trí thứ yếu) có thể được tập trung một “chân ngã” trên cung ba, nhưng cũng có thể trên cung bốn, năm, sáu hoặc bảy, vì Brahma cung ba—phương diện manas—bao gồm các cung bốn, năm, sáu và bảy)
|
|
226. From another perspective, however, we shall have to realize that in the seventh ray there is much of atma; in the fourth and sixth rays, much of buddhi, and in the fifth ray much of manas (thought of atma as well). We shall see whether there are implications to this alternative way of understanding atmic, buddhic or manasic in the secondary triadal position.
|
226. Tuy nhiên, từ một quan điểm khác, chúng ta sẽ phải nhận ra rằng trong cung bảy có nhiều atma; trong các cung bốn và sáu có nhiều Bồ đề; và trong cung năm có nhiều manas (cũng được nghĩ là atma). Chúng ta sẽ xem liệu có những hàm ý nào đối với cách hiểu thay thế này về atma, Bồ đề hay manas trong vị trí tam nguyên thứ yếu.
|
|
This literally means that the three major rays can each be subdivided (in connection with the Ego) into three divisions. This fact is also little appreciated.
|
Điều này theo nghĩa đen có nghĩa rằng ba cung chủ yếu có thể được phân chia (liên quan đến Chân ngã) thành ba phân khu. Sự kiện này cũng ít được đánh giá đúng mức.
|
|
227. It is important to grasp whether we think each new sentence follows straightforwardly from the one preceding it, or whether new pieces of information are added in an enigmatical way.
|
227. Điều quan trọng là nắm bắt xem chúng ta có nghĩ rằng mỗi câu mới nối tiếp một cách thẳng thắn từ câu trước đó, hay là những mảnh thông tin mới được thêm vào theo một cách bí ẩn.
|
|
228. Now we come to the point when we must decide whether the term “Ego” means Monad or spiritual triad.
|
228. Bây giờ chúng ta đi đến điểm mà chúng ta phải quyết định liệu thuật ngữ “Chân ngã” có nghĩa là Chân Thần hay Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
229. We have here a reference to “three major rays”. Which ones? May we say that the three major rays (being of course, the first, second and third) relate directly to the first term of three threefold groupings describing the ninefold choice of rays for the Ego?
|
229. Ở đây chúng ta có một tham chiếu đến “ba cung chủ yếu”. Là những cung nào? Chúng ta có thể nói rằng ba cung chủ yếu (dĩ nhiên là cung một, cung hai và cung ba) liên hệ trực tiếp đến thuật ngữ thứ nhất của ba nhóm tam phân mô tả lựa chọn cung chín phân cho Chân ngã không?
|
|
230. In relation to the spiritual triad (when discussing “major rays”) we are speaking of the first term—whether atmic, buddhic or manasic.
|
230. Trong mối liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần (khi bàn về “các cung chủ yếu”), chúng ta đang nói về thuật ngữ thứ nhất—dù là atma, Bồ đề hay manas.
|
|
231. Each of these major rays or major aspects can be divided into three divisions depending upon the ray of the “ego” with a little “e”—i.e., the ray of what we would normally call the soul, causal body or egoic lotus.
|
231. Mỗi cung chủ yếu hay phương diện chủ yếu này có thể được chia thành ba phân khu tùy theo cung của “chân ngã” với chữ “c” thường—tức là cung của cái mà chúng ta thường gọi là linh hồn, thể nguyên nhân hay hoa sen chân ngã.
|
|
232. So, in the spiritual triad, we have a major ray/subray set up. Let us take this in.
|
232. Vì vậy, trong Tam Nguyên Tinh Thần, chúng ta có một sự thiết lập cung chủ yếu/cung phụ. Hãy thấm nhuần điều này.
|
|
233. The major ray (or aspect) depends directly upon the monadic ray, as will be demonstrated from pertinent references in The Rays and the Initiations.
|
233. Cung chủ yếu (hay phương diện) tùy thuộc trực tiếp vào cung chân thần, như sẽ được chứng minh từ các tham chiếu thích đáng trong Chiêm Tinh Học Nội Môn và Luận về Lửa Vũ Trụ.
|
|
234. The secondary ray (or aspect) depends directly upon the ray of the “ego”, little “e”.
|
234. Cung thứ yếu (hay phương diện) tùy thuộc trực tiếp vào cung của “chân ngã”, chữ “c” thường.
|
|
235. Attempting to follow this line of thinking, we would find that the permanent atoms of the spiritual triad would be directly correlated with the ray of the “ego” rather than the ray of the Monad.
|
235. Khi cố gắng theo dòng tư duy này, chúng ta sẽ thấy rằng các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần sẽ được tương quan trực tiếp với cung của “chân ngã” hơn là cung của Chân Thần.
|
|
236. If the ray of the Monad (the “major” or “primary” ray of the Monad) remains the same throughout the aeon, the primary triadal focus also remains the same throughout the aeon, but since we know that soul rays change, and since we know that the permanent atoms of the spiritual triad are all the same ray as the soul, we would think that the ray of the permanent atoms of the spiritual triad change as the rays of the soul changes, or that, putting first things first, that the ray of the soul changes as the ray of the permanent atom changes.
|
236. Nếu cung của Chân Thần (cung “chủ yếu” hay “sơ cấp” của Chân Thần) vẫn giữ nguyên trong suốt đại kiếp, thì trọng tâm tam nguyên sơ cấp cũng vẫn giữ nguyên trong suốt đại kiếp; nhưng vì chúng ta biết rằng các cung linh hồn thay đổi, và vì chúng ta biết rằng các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần đều cùng một cung với linh hồn, chúng ta sẽ nghĩ rằng cung của các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần thay đổi khi các cung của linh hồn thay đổi, hoặc rằng, đặt điều căn bản lên trước, cung của linh hồn thay đổi khi cung của nguyên tử trường tồn thay đổi.
|
|
237. And, here is a new idea—to me at least—that the change in the secondary focus/ray of the spiritual triad (which brings about the change in the ray of the soul/causal body/egoic lotus) changes because the secondary ray of the Monad (on its own plane) changes (according to need, demand or design—of such higher Powers as Sanat Kumara)—at least with respect to Monads on our globe and chain.
|
237. Và đây là một ý tưởng mới—ít nhất đối với tôi—rằng sự thay đổi trong trọng tâm/cung thứ yếu của Tam Nguyên Tinh Thần (điều đem lại sự thay đổi trong cung của linh hồn/thể nguyên nhân/hoa sen chân ngã) thay đổi bởi vì cung thứ yếu của Chân Thần (trên cõi riêng của nó) thay đổi (theo nhu cầu, đòi hỏi hay thiết kế—của những Quyền Năng cao hơn như Đức Sanat Kumara)—ít nhất là đối với các Chân Thần trên bầu hành tinh và dãy của chúng ta.
|
|
238. The foregoing argument has been complex and, perhaps, not as conclusive as one would like, but the main lines of thought are laid out and significant conclusions can be drawn.
|
238. Lập luận vừa nêu đã phức tạp và, có lẽ, chưa thuyết phục như người ta mong muốn, nhưng các đường nét chính của tư tưởng đã được trình bày và có thể rút ra những kết luận quan trọng.
|
|
239. The spiritual triad, it seems, stands midway between the Monad and soul. It may be the unshrouded soul, but it is also the personality of the Monad. So it partakes of that which is above (namely the Monad) and that which is below (namely, the soul/causal body/egoic lotus).
|
239. Tam Nguyên Tinh Thần, dường như, đứng ở điểm giữa Chân Thần và linh hồn. Nó có thể là linh hồn không còn bị che phủ, nhưng nó cũng là phàm ngã của Chân Thần. Vì vậy nó dự phần vào cái ở trên (tức là Chân Thần) và cái ở dưới (tức là linh hồn/thể nguyên nhân/hoa sen chân ngã).
|
|
240. The spiritual triad has rays (here listed as aspects) just as any other divine center, but these aspects/rays partake of both the monadic influence and of the egoic domain.
|
240. Tam Nguyên Tinh Thần có các cung (ở đây được liệt kê như các phương diện) giống như bất kỳ trung tâm thiêng liêng nào khác, nhưng các phương diện/cung này dự phần vào cả ảnh hưởng chân thần lẫn lĩnh vực chân ngã.
|
|
241. Are there atmic, buddhic and higher manasic chakras (prototypical of the kind of chakras found below)? It the chakras are really whirlpools of electric fire coming from the Monad, it would not seem that they can be created directly in lower matter without creating whirlpool effects in atmic, buddhic, and higher manasic matter.
|
241. Có các luân xa atma, Bồ đề và manas cao (nguyên mẫu của loại luân xa được tìm thấy bên dưới) không? Nếu các luân xa thật sự là những xoáy lốc của Lửa điện đến từ Chân Thần, thì dường như chúng không thể được tạo ra trực tiếp trong vật chất thấp mà không tạo ra các hiệu ứng xoáy lốc trong vật chất atma, Bồ đề và manas cao.
|
|
242. To the extent that such whirlpools are created in the atmic, buddhic and higher manasic vehicles, they are different from the permanent atoms in the atmic, buddhic and manasic vehicles.
|
242. Trong chừng mực những xoáy lốc như vậy được tạo ra trong các vận cụ atma, Bồ đề và manas cao, chúng khác với các nguyên tử trường tồn trong các vận cụ atma, Bồ đề và manas.
|
|
243. The higher whirlpools would belong to the Monad and its influence; the permanent atoms would correlate more with the ray of the causal vehicle. The atoms are related to form building and form-building, we realize, relates to the second aspect of divinity.
|
243. Các xoáy lốc cao hơn sẽ thuộc về Chân Thần và ảnh hưởng của nó; các nguyên tử trường tồn sẽ tương quan nhiều hơn với cung của thể nguyên nhân. Các nguyên tử liên quan đến việc kiến tạo hình tướng và việc kiến tạo hình tướng, chúng ta nhận ra, liên quan đến phương diện thứ hai của thiên tính.
|
|
244. On p. 176 we learned that Masters and Chohans (presumably functioning upon the monadic ray) work on subrays corresponding to all the seven—presumably, seven subrays on the monadic plane.
|
244. Ở trang 176 chúng ta học rằng các Chân sư và các Chohan (hẳn là hoạt động trên cung chân thần) làm việc trên các cung phụ tương ứng với cả bảy—hẳn là bảy cung phụ trên cõi chân thần.
|
|
245. Our picture is of one of three types of Monads which have the three major rays as the major monadic rays, but with each of these three types of Monads having one of seven rays operative as subrays.
|
245. Bức tranh của chúng ta là một trong ba loại Chân Thần có ba cung chủ yếu làm các cung chân thần chủ yếu, nhưng mỗi loại Chân Thần trong ba loại ấy lại có một trong bảy cung hoạt động như các cung phụ.
|
|
246. These monadic subrays seem to have an influence which extends ‘down’ into the spiritual triad and maybe into that part of the realm of the soul/causal body/egoic lotus where egoic subrays are focussed—i.e., subrays which focusing on the higher mental plane are not the personality ray.
|
246. Các cung phụ chân thần này dường như có một ảnh hưởng mở rộng “xuống” vào Tam Nguyên Tinh Thần và có lẽ vào phần của lĩnh vực linh hồn/thể nguyên nhân/hoa sen chân ngã nơi các cung phụ chân ngã được tập trung—tức là các cung phụ mà khi tập trung trên Cõi thượng trí thì không phải là cung phàm ngã.
|
|
247. From all this, we may now hypothesize that when the term “Ego” is used, it means, as it were, ‘higher soul’ (or the spiritual triad as a ninefold totality—some of this ninefold totality correlated with the Monad and its major ray, and some of the ninefold totality correlated with the secondary ray of the Monad and with the strictly egoic ray).
|
247. Từ tất cả điều này, giờ đây chúng ta có thể giả thuyết rằng khi thuật ngữ “Chân ngã” được dùng, nó có nghĩa, như thể, là “linh hồn cao” (hoặc Tam Nguyên Tinh Thần như một toàn thể chín phân—một phần của toàn thể chín phân này tương quan với Chân Thần và cung chủ yếu của nó, và một phần của toàn thể chín phân này tương quan với cung thứ yếu của Chân Thần và với cung chân ngã theo nghĩa nghiêm ngặt).
|
|
248. What we have (this is still an hypothesis) is a ‘line of ray invariability’ and a ‘line of ray variability’.
|
248. Điều chúng ta có (đây vẫn là một giả thuyết) là một “đường bất biến của cung” và một “đường biến đổi của cung”.
|
|
a. The major ray of the Monad (necessarily one of the three major rays) never varies throughout the aeon (an aeon may be a chain-round or a still greater cycle).
|
a. Cung chủ yếu của Chân Thần (tất yếu là một trong ba cung chủ yếu) không bao giờ biến đổi trong suốt đại kiếp (một đại kiếp có thể là một cuộc tuần hoàn của dãy hoặc một chu kỳ còn lớn hơn).
|
|
b. This major ray of the Monad directly determines the major triadal focus—the emphasis found in the first of two terms of the ninefold division we have been discussing—i.e., Atmic/Atmic, Atmic/Buddhic, Atmic Manasic, etc.
|
b. Cung chủ yếu này của Chân Thần trực tiếp quyết định trọng tâm tam nguyên chủ yếu—sự nhấn mạnh được tìm thấy trong thuật ngữ thứ nhất của hai thuật ngữ trong phân chia chín phân mà chúng ta đang bàn—tức là Atma/Atma, Atma/Bồ đề, Atma Manas, v.v.
|
|
c. The secondary ray of the Monad, the first and highest subray of the Monad on its own plane (i.e., on one of the subplanes of the monadic plane) is variable and is, perhaps, at the head of the line of ray variability. When and why this monadic subray changes we may only conjecture.
|
c. Cung thứ yếu của Chân Thần, cung phụ thứ nhất và cao nhất của Chân Thần trên cõi riêng của nó (tức là trên một trong các cõi phụ của cõi chân thần) là biến đổi và, có lẽ, đứng đầu đường biến đổi của cung. Khi nào và vì sao cung phụ chân thần này thay đổi, chúng ta chỉ có thể suy đoán.
|
|
d. The ‘line of ray variability’ includes the
|
d. “Đường biến đổi của cung” bao gồm
|
|
i. The subray of the Monad on its own plane
|
i. Cung phụ của Chân Thần trên cõi riêng của nó
|
|
ii. The secondary focus within the spiritual triad
|
ii. Trọng tâm thứ yếu bên trong Tam Nguyên Tinh Thần
|
|
iii. The subray of the ego itself (remembering that the main egoic ray is something of a subray for the main triadal focus)
|
iii. Cung phụ của chính chân ngã (hãy nhớ rằng cung chân ngã chủ yếu là một dạng cung phụ đối với trọng tâm tam nguyên chủ yếu)
|
|
249. It seems reasonable that changes of ray along the line of ray variability are all correlated. Whether the higher secondary rays change following changes in the lower rays or vice versa needs to be determined, but that they are correlated seems very probable. In occultism, it is usually changes ‘above’ which result in changes ‘below’.
|
249. Có vẻ hợp lý rằng các thay đổi cung dọc theo đường biến đổi của cung đều được tương quan. Liệu các cung thứ yếu cao hơn thay đổi theo các thay đổi trong các cung thấp hơn hay ngược lại cần được xác định, nhưng việc chúng được tương quan dường như rất có khả năng. Trong huyền bí học, thường là những thay đổi “ở trên” dẫn đến những thay đổi “ở dưới”.
|
|
250. In this whole matter of the higher and lower rays of man, we have (as Plato said) “same” and “different”, or “same” and “other”
|
250. Trong toàn bộ vấn đề về các cung cao và thấp của con người, chúng ta có (như Plato đã nói) “cùng” và “khác”, hay “cùng” và “khác thể”
|
|
251. What are the implications of this ray set up?
|
251. Những hàm ý của sự thiết lập cung này là gì?
|
|
a. There is a major monadic ray; it remains always the same
|
a. Có một cung chân thần chủ yếu; nó luôn luôn giữ nguyên
|
|
b. This major monadic ray anchors itself in the spiritual triad, and that anchorage stays always the same. The anchorage is described by the first term of the three threefold groupings.
|
b. Cung chân thần chủ yếu này neo mình trong Tam Nguyên Tinh Thần, và sự neo đó luôn luôn giữ nguyên. Sự neo được mô tả bởi thuật ngữ thứ nhất của ba nhóm tam phân.
|
|
c. The combination of major monadic ray and its anchorage in the triad are (Platonically) “same”.
|
c. Sự kết hợp giữa cung chân thần chủ yếu và sự neo của nó trong tam nguyên là (theo Plato) “cùng”.
|
|
d. There is a secondary monadic ray; it is a subray of one of the three major rays. The subray can (and probably will) change. This subray probably changes as evolution proceeds or, later, according to need.
|
d. Có một cung chân thần thứ yếu; nó là một cung phụ của một trong ba cung chủ yếu. Cung phụ có thể (và có lẽ sẽ) thay đổi. Cung phụ này có lẽ thay đổi khi tiến hoá tiến triển hoặc, về sau, theo nhu cầu.
|
|
e. The major outpost (of the Monad) within the spiritual triad has an egoic outpost. This is equivalent to saying that the major triadal anchorage has a subray.
|
e. Tiền đồn chủ yếu (của Chân Thần) bên trong Tam Nguyên Tinh Thần có một tiền đồn chân ngã. Điều này tương đương với việc nói rằng sự neo tam nguyên chủ yếu có một cung phụ.
|
|
f. That subray or sub-aspect is either atmic, buddhic or manasic. This means that the triadal subray or sub-aspect is either the first ray, second ray or the third ray (with the possibility of four others—the Rays of Aspect)
|
f. Cung phụ hay phương diện phụ ấy hoặc là atma, hoặc là Bồ đề, hoặc là manas. Điều này có nghĩa rằng cung phụ hay phương diện phụ tam nguyên hoặc là cung một, cung hai hoặc cung ba (với khả năng có bốn cung khác—Các Cung Trạng Thái)
|
|
g. In the beginning of human evolution, the subrays or sub-aspect of the major triadal anchorage are always the fourth, fifth, sixth or seventh rays—hence these four are equivalent to a manasic sub-aspect (since manas includes rays four, five, six and seven).
|
g. Vào buổi đầu của tiến hoá nhân loại, các cung phụ hay phương diện phụ của sự neo tam nguyên chủ yếu luôn luôn là các cung bốn, năm, sáu hoặc bảy—vì vậy bốn cung này tương đương với một phương diện phụ manas (vì manas bao gồm các cung bốn, năm, sáu và bảy).
|
|
h. Later the ray of the soul/causal body/egoic lotus can change (according to certain laws) and then, the subray or sub-aspect of the spiritual triad will also change accordingly. (Which of these two may change first is still to be debated.)
|
h. Về sau, cung của linh hồn/thể nguyên nhân/hoa sen chân ngã có thể thay đổi (theo những định luật nhất định) và khi đó, cung phụ hay phương diện phụ của Tam Nguyên Tinh Thần cũng sẽ thay đổi tương ứng. (Cái nào trong hai điều này có thể thay đổi trước vẫn còn phải bàn.)
|
|
i. When the soul ray/causal ray/egoic ray changes, does it mean that the subray of the Monad (on its own plane) is also changing. Perhaps. This remains to be seen. We are talking now about changes along the line of ray variability.
|
i. Khi cung linh hồn/cung nguyên nhân/cung chân ngã thay đổi, điều đó có nghĩa rằng cung phụ của Chân Thần (trên cõi riêng của nó) cũng đang thay đổi không? Có lẽ. Điều này còn phải xem. Bây giờ chúng ta đang nói về những thay đổi dọc theo đường biến đổi của cung.
|
|
j. What does not change is the major ray of the Monad and its major anchorage within the spiritual triad.
|
j. Điều không thay đổi là cung chủ yếu của Chân Thần và sự neo chủ yếu của nó bên trong Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
252. This, at least, is one theory and deserves consideration.
|
252. Ít nhất, đây là một lý thuyết và đáng được xem xét.
|
|
253. The only thing to be solved relates to questions such as the following?
|
253. Điều duy nhất cần được giải quyết liên quan đến những câu hỏi như sau?
|
|
a. Can “egos” on manasic rays (three, four, five, six or seven) ever focus atmically or buddhically in the triadal sub-aspect?
|
a. Các “chân ngã” trên các cung manas (ba, bốn, năm, sáu hoặc bảy) có bao giờ có thể tập trung theo atma hay theo Bồ đề trong phương diện phụ tam nguyên không?
|
|
b. The answer is a qualified “yes”, for the following reasons and using the following examples:
|
b. Câu trả lời là một “có” có điều kiện, vì những lý do sau và bằng các ví dụ sau:
|
|
i. All souls/”egos”/causal bodies/egoic lotuses begin their focus upon the fourth, fifth, sixth or seventh rays. They are thus focussed manasically in the sub-aspect of the triad, though the human being concerned would not know that being of too low a consciousness for such a realization.
|
i. Tất cả các linh hồn/“chân ngã”/các thể nguyên nhân/các hoa sen chân ngã bắt đầu trọng tâm của chúng trên các cung bốn, năm, sáu hoặc bảy. Vì vậy chúng được tập trung theo manas trong phương diện phụ của tam nguyên, dù con người liên quan sẽ không biết điều đó vì tâm thức quá thấp để có một chứng nghiệm như vậy.
|
|
ii. Later, for instance, a fourth ray soul/”ego” may become a third ray soul, in which case it keeps its secondary triadal focus as manasic.
|
ii. Về sau, chẳng hạn, một linh hồn/“chân ngã” cung bốn có thể trở thành một linh hồn cung ba, trong trường hợp đó nó giữ trọng tâm tam nguyên thứ yếu của nó là manas.
|
|
iii. Or a fourth ray soul/”ego” may become a second ray soul, in which case its secondary triadal focus becomes buddhic.
|
iii. Hoặc một linh hồn/“chân ngã” cung bốn có thể trở thành một linh hồn cung hai, trong trường hợp đó trọng tâm tam nguyên thứ yếu của nó trở thành Bồ đề.
|
|
iv. Or a fourth ray soul may remain a fourth ray soul even up to the fourth initiation, in which case it keeps its secondary triadal focus as manasic (though there must necessarily be buddhic resonance because of the relationship between the numbers two and four). Perhaps as a fourth ray soul progressed it could be said to focus buddhically (for in an advanced person, the fourth ray and the number four are related to the buddhic plane). This is the other option, but a fourth ray soul becoming a third ray soul would definitely focus within the third sub-aspect of the spiritual triad.
|
iv. Hoặc một linh hồn cung bốn có thể vẫn là một linh hồn cung bốn ngay cả cho đến lần điểm đạo thứ tư, trong trường hợp đó nó giữ trọng tâm tam nguyên thứ yếu của nó là manas (dù tất yếu phải có sự cộng hưởng Bồ đề vì mối liên hệ giữa các số hai và bốn). Có lẽ khi một linh hồn cung bốn tiến triển, người ta có thể nói rằng nó tập trung theo Bồ đề (vì trong một người tiến hoá cao, cung bốn và số bốn liên hệ với cõi Bồ đề). Đây là lựa chọn khác, nhưng một linh hồn cung bốn trở thành một linh hồn cung ba chắc chắn sẽ tập trung trong phương diện phụ thứ ba của Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
v. Everything just said about the fourth ray soul can be predicated of the sixth ray soul for both of them can transfer to either the third or the second rays.
|
v. Tất cả những gì vừa nói về linh hồn cung bốn cũng có thể được quy cho linh hồn cung sáu, vì cả hai đều có thể chuyển sang cung ba hoặc cung hai.
|
|
vi. Again, if the transfer is to the third ray, the secondary triadal focus in the triad becomes (or remains) manasic. If to the second ray, the secondary triadal focus becomes buddhic.
|
vi. Một lần nữa, nếu sự chuyển là sang cung ba, trọng tâm tam nguyên thứ yếu trong tam nguyên trở thành (hoặc vẫn là) manas. Nếu sang cung hai, trọng tâm tam nguyên thứ yếu trở thành Bồ đề.
|
|
vii. And if there is no transfer, the situation is ambiguous, as the sixth ray is certainly within the Rays of Brahma, but is buddhically resonant as buddhi is the sixth principle.
|
vii. Và nếu không có sự chuyển, tình huống là mơ hồ, vì cung sáu chắc chắn nằm trong Các Cung của Brahma, nhưng lại cộng hưởng Bồ đề vì Bồ đề là nguyên khí thứ sáu.
|
|
viii. In all of this, however, we see that the fourth ray or sixth ray soul does not develop an secondary atmic focus within the spiritual triad—unless, by special dispensation. That is to say, if the monadic subray changes (according to planetary need, for instance) it may have an effect upon the secondary triadal ray impressing it with a first ray/atmic coloration where none would normally be expected.
|
viii. Tuy nhiên, trong tất cả điều này, chúng ta thấy rằng linh hồn cung bốn hay cung sáu không phát triển một trọng tâm atma thứ yếu trong Tam Nguyên Tinh Thần—trừ khi, do một ân chuẩn đặc biệt. Nghĩa là, nếu cung phụ chân thần thay đổi (chẳng hạn theo nhu cầu hành tinh) thì nó có thể tác động lên cung tam nguyên thứ yếu, in dấu lên nó một sắc thái cung một/atma nơi mà bình thường người ta không mong đợi.
|
|
ix. BUT such a change in the monadic subray might occur only very late in evolution when the ray of the “ego” would be rather inconsequential, i.e., there might no longer be a causal body. Of such changes we know very little other than the likelihood of their probability.
|
ix. NHƯNG một sự thay đổi như vậy trong cung phụ chân thần có thể chỉ xảy ra rất muộn trong tiến hoá khi cung của “chân ngã” sẽ khá là không đáng kể, tức là có thể không còn một thể nguyên nhân. Về những thay đổi như vậy, chúng ta biết rất ít ngoài khả năng có xác suất của chúng.
|
|
x. If there were no longer a causal body, the possibilities of change would become more flexible—perhaps.
|
x. Nếu không còn một thể nguyên nhân, các khả năng thay đổi sẽ trở nên linh hoạt hơn—có lẽ vậy.
|
|
xi. Souls initially upon the fifth ray either stay on that ray through the fifth initiation (in which case their secondary triadal focus remains manasic, or they transfer, usually, to the first ray, in which case their secondary triadal focus would be atmic).
|
xi. Các linh hồn ban đầu trên cung năm hoặc ở lại trên cung đó cho đến lần điểm đạo thứ năm (trong trường hợp đó trọng tâm tam nguyên thứ yếu của họ vẫn là manas), hoặc họ chuyển, thường là, sang cung một, trong trường hợp đó trọng tâm tam nguyên thứ yếu của họ sẽ là atma).
|
|
xii. Let us remember that these changes of secondary triadal focus do not affect the primary triadal focus which is dependent upon the major ray of the Monad.
|
xii. Hãy nhớ rằng những thay đổi của trọng tâm tam nguyên thứ yếu này không ảnh hưởng đến trọng tâm tam nguyên sơ cấp vốn tùy thuộc vào cung chủ yếu của Chân Thần.
|
|
xiii. Why the fifth ray soul does not usually or even sometimes change to the third ray soul is problematic, as the fifth and third rays are so similar in some ways. Were such a transfer to take place, the secondary triadal focus of such a soul would remain manasic.
|
xiii. Vì sao linh hồn cung năm thường không, hay thậm chí đôi khi không, chuyển sang linh hồn cung ba là một vấn đề, vì cung năm và cung ba tương tự nhau theo một số cách. Nếu một sự chuyển như vậy diễn ra, trọng tâm tam nguyên thứ yếu của một linh hồn như vậy sẽ vẫn là manas.
|
|
xiv. As for the seventh ray souls, it would seem that they would transfer (IF they transfer before the fourth degree) to either the atmic or manasic secondary triadal focus. But there is an example in DINA I of a seventh ray soul refocusing upon the second ray, and thus a buddhic secondary focus in the triad would be the result of such refocusing.
|
xiv. Còn đối với các linh hồn cung bảy, dường như họ sẽ chuyển (NẾU họ chuyển trước cấp độ thứ tư) sang trọng tâm tam nguyên thứ yếu hoặc là atma hoặc là manas. Nhưng có một ví dụ trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I về một linh hồn cung bảy tái tập trung trên cung hai, và do đó một trọng tâm thứ yếu Bồ đề trong tam nguyên sẽ là kết quả của sự tái tập trung ấy.
|
|
xv. The changes which occur in the monadic subray cannot be ascertained by such as us. We barely know when the soul is changing its ray focus. But that changes in the monadic subray do occur can be seen in the assertion that the Masters can change to any ray according to need. St. Paul/Hilarion is a good example, for surely as the fifth ray Chohan He is focussed on the monadic fifth subray, but His major monadic ray must be the first (so it can be reasonably inferred).
|
xv. Những thay đổi xảy ra trong cung phụ chân thần không thể được xác định bởi những người như chúng ta. Chúng ta hầu như không biết khi nào linh hồn đang thay đổi trọng tâm cung của nó. Nhưng việc những thay đổi trong cung phụ chân thần có xảy ra có thể thấy trong khẳng định rằng các Chân sư có thể đổi sang bất kỳ cung nào theo nhu cầu. Thánh Paul/Chân sư Hilarion là một ví dụ tốt, vì chắc chắn với tư cách là Chohan cung năm, Ngài được tập trung trên cung phụ chân thần thứ năm, nhưng cung chân thần chủ yếu của Ngài hẳn phải là cung một (vì vậy có thể suy luận hợp lý).
|
|
254. We are given an interesting piece of information about the Tibetan in DINA II (761?). He says that there are aspects to His nature which are on the first ray, but that those aspects are triadal. We will have to ponder this in light of the foregoing. Here are some conjectures:
|
254. Chúng ta được cho một mảnh thông tin thú vị về Chân sư Tây Tạng trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II (761?). Ngài nói rằng có những phương diện trong bản chất của Ngài thuộc cung một, nhưng những phương diện ấy là tam nguyên. Chúng ta sẽ phải suy ngẫm điều này dưới ánh sáng của những điều vừa nêu. Dưới đây là một vài suy đoán:
|
|
a. Master DK is a second ray soul, probably with an egoic subray which is the third
|
a. Chân sư DK là một linh hồn cung hai, có lẽ với một cung phụ chân ngã là cung ba
|
|
b. Master DK is inferentially a third ray Monad as is the Buddha, whereas Master KH is inferentially a second ray Monad as is the Christ.
|
b. Có thể suy luận rằng Chân sư DK là một Chân Thần cung ba như Đức Phật, trong khi Chân sư KH có thể suy luận là một Chân Thần cung hai như Đức Christ.
|
|
c. If Master DK is a third ray Monad (His major monadic ray) His primary triadal focus is and remains manasic.
|
c. Nếu Chân sư DK là một Chân Thần cung ba (cung chân thần chủ yếu của Ngài) thì trọng tâm tam nguyên sơ cấp của Ngài là và vẫn là manas.
|
|
d. If He is a second ray soul, His secondary triadal focus would be buddhic.
|
d. Nếu Ngài là một linh hồn cung hai, thì trọng tâm tam nguyên thứ yếu của Ngài sẽ là Bồ đề.
|
|
e. Then, in what manner can we say that there are aspects His triad which are of a first ray nature? This may mean one of several possible options:
|
e. Vậy thì, theo cách nào chúng ta có thể nói rằng có những phương diện của tam nguyên của Ngài mang bản chất cung một? Điều này có thể có nghĩa là một trong vài lựa chọn khả dĩ:
|
|
i. Master DK has become more shamballically responsive and, therefore, the secondary focus in His triad has changed to atmic.
|
i. Chân sư DK đã trở nên đáp ứng theo Shamballa nhiều hơn và, do đó, trọng tâm thứ yếu trong tam nguyên của Ngài đã đổi sang atma.
|
|
ii. Master DK has switched onto the first subray of His third ray Monad—for reasons we cannot ascertain. If this happened, the secondary triadal focus could or would reflect this change.
|
ii. Chân sư DK đã chuyển sang cung phụ thứ nhất của Chân Thần cung ba của Ngài—vì những lý do chúng ta không thể xác định. Nếu điều này xảy ra, trọng tâm tam nguyên thứ yếu có thể hoặc sẽ phản ánh sự thay đổi này.
|
|
iii. Master DK no longer has a causal body and so He can have greater flexibility in his secondary triadal focus.
|
iii. Chân sư DK không còn một thể nguyên nhân và vì vậy Ngài có thể có sự linh hoạt lớn hơn trong trọng tâm tam nguyên thứ yếu của Ngài.
|
|
iv. The only other possibility is that Master DK became a first ray soul (which would accord with a secondary triadal focus which is atmic). This, however, does not seem intuitively correct.
|
iv. Khả năng duy nhất khác là Chân sư DK đã trở thành một linh hồn cung một (điều này sẽ phù hợp với một trọng tâm tam nguyên thứ yếu là atma). Tuy nhiên, điều này dường như không đúng theo trực giác.
|
|
v. The hypothesis is that the secondary triadal focus is usually bound to the soul ray, except after the fourth initiation when increasing Shamballic focus enters, increasing response to the will, and increasing flexibility in triadal focus.
|
v. Giả thuyết là trọng tâm tam nguyên thứ yếu thường bị ràng buộc vào cung linh hồn, ngoại trừ sau lần điểm đạo thứ tư khi trọng tâm Shamballa gia tăng đi vào, gia tăng đáp ứng với ý chí, và gia tăng tính linh hoạt trong trọng tâm tam nguyên.
|
|
255. We have been moving through some real complexities and the process has been speculative reason—not yet “pure reason”, but I trust it has given us all something to think about in relation to these very important matters.
|
255. Chúng ta đã đi qua những phức tạp thực sự và tiến trình ấy là lý trí suy đoán—chưa phải là “lý trí thuần túy”, nhưng tôi tin rằng nó đã cho tất cả chúng ta nhiều điều đáng suy ngẫm liên quan đến những vấn đề rất quan trọng này.
|
|
256. All of us want to know our soul ray and to express it in line with the Divine Plan.
|
256. Tất cả chúng ta đều muốn biết cung linh hồn của mình và biểu lộ nó phù hợp với Thiên Cơ.
|
|
257. Increasingly, all of want to know our secondary triadal focus so we can use that focus more effectively for the same reason.
|
257. Ngày càng nhiều, tất cả chúng ta đều muốn biết trọng tâm tam nguyên thứ yếu của mình để có thể sử dụng trọng tâm ấy hiệu quả hơn vì cùng một lý do.
|
|
258. And of course, as time passes, we wish to know our monadic ray, as this will be the ray upon which we function when we become a high initiate or Master—someone who can really be effective in wielding the energies of the Plan.
|
258. Và dĩ nhiên, khi thời gian trôi qua, chúng ta muốn biết cung chân thần của mình, vì đó sẽ là cung mà chúng ta hoạt động khi chúng ta trở thành một điểm đạo đồ cao hay một Chân sư—một người thật sự có thể hữu hiệu trong việc vận dụng các năng lượng của Thiên Cơ.
|
|
259. Pondering these matters can bring us into truer alignment with our own higher nature and render us more effective servers.
|
259. Suy ngẫm những vấn đề này có thể đưa chúng ta vào sự chỉnh hợp chân thực hơn với bản chất cao của chính mình và khiến chúng ta trở thành những người phụng sự hiệu quả hơn.
|
|
260. Not much has been said here about the two soul rays (EP II 18), but one of them can be inferred to be the major soul ray (accounting for the secondary triadal focus) and the other a secondary ray on the level of the “ego” or soul itself. This ray, too, is subject to change, but, I would suspect, far less frequently than the personality ray.
|
260. Ở đây chưa nói nhiều về hai cung linh hồn (EP II 18), nhưng có thể suy ra rằng một trong chúng là cung linh hồn chủ yếu (giải thích cho trọng tâm tam nguyên thứ yếu) và cung kia là một cung thứ yếu ở cấp độ của “chân ngã” hay chính linh hồn. Cung này cũng chịu sự thay đổi, nhưng tôi nghi rằng ít thường xuyên hơn nhiều so với cung phàm ngã.
|
|
261. The study of monadic, soul and personality cycles is indispensable in attempting to clarify these issues.
|
261. Việc nghiên cứu các chu kỳ chân thần, linh hồn và phàm ngã là điều không thể thiếu trong nỗ lực làm sáng tỏ những vấn đề này.
|
|
262. We can see how incredibly intricate is this study of ray psychology (especially when the higher aspects of a man’s nature must be evaluated). Our best course of action is hypothesis and the testing of hypothesis, over time, accompanied by much close and careful observation of life and our fellow human beings.
|
262. Chúng ta có thể thấy việc nghiên cứu tâm lý học cung này tinh vi đến mức nào (đặc biệt khi các phương diện cao hơn trong bản chất của một người phải được đánh giá). Con đường tốt nhất của chúng ta là giả thuyết và kiểm nghiệm giả thuyết, theo thời gian, đi kèm với nhiều quan sát sát sao và cẩn trọng về đời sống và những người đồng loại của chúng ta.
|
|
[178]
|
[178]
|
|
The third period, wherein the monadic ray makes itself felt on the physical plane, is by far the shortest, and covers the period in which the sixth triangle holds sway.
|
Thời kỳ thứ ba, trong đó cung chân thần làm cho ảnh hưởng của nó được cảm nhận trên cõi hồng trần, là thời kỳ ngắn nhất, và bao trùm giai đoạn trong đó tam giác thứ sáu nắm quyền cai quản.
|
|
263. The sixth triangle being, from p. 170:
|
263. Tam giác thứ sáu, theo trang 170, là:
|
|
6. Spiritual man to the fifth Initiation
|
6. Con người tinh thần cho đến lần điểm đạo thứ năm
|
|
a. The heart.
|
a. Tim.
|
|
b. The seven head centres.
|
b. Bảy trung tâm đầu.
|
|
c. The two many-petalled lotuses.
|
c. Hai hoa sen nhiều cánh.
|
|
264. Note that we are speaking about the monadic ray making itself felt on the physical plane. We have already established that even at the first initiation it is making itself felt in the soul nature.
|
264. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về cung chân thần làm cho ảnh hưởng của nó được cảm nhận trên cõi hồng trần. Chúng ta đã xác lập rằng ngay cả ở lần điểm đạo thứ nhất, nó đã làm cho ảnh hưởng của nó được cảm nhận trong bản chất linh hồn.
|
|
265. The third triangle spans the period from the third initiation to the fifth, an ideal time for the monadic ray to make itself felt, but not yet the period in which the monadic ray comes to full power.
|
265. Tam giác thứ ba trải dài giai đoạn từ lần điểm đạo thứ ba đến lần điểm đạo thứ năm, một thời điểm lý tưởng để cung chân thần làm cho ảnh hưởng của nó được cảm nhận, nhưng chưa phải là giai đoạn trong đó cung chân thần đạt đến quyền năng trọn vẹn.
|
|
266. Of course the number six fits with the monadic factor since the Monad is found upon the sixth systemic plane (counting from below).
|
266. Dĩ nhiên con số sáu phù hợp với yếu tố chân thần vì Chân Thần được tìm thấy trên cõi hệ thống thứ sáu (tính từ dưới lên).
|
|
267. We note that DK speaks of the period when “the sixth triangle holds sway”. He does not speak, here, of the monadic ray holding sway. That would happen later, when man becomes a Chohan, and even beyond that point.
|
267. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về giai đoạn khi “tam giác thứ sáu nắm quyền cai quản”. Ở đây, Ngài không nói về cung chân thần nắm quyền cai quản. Điều đó sẽ xảy ra về sau, khi con người trở thành một Chohan, và thậm chí còn vượt quá điểm đó.
|
|
268. How short may this period be; it could be as short as one or two incarnations—an astonishing thought.
|
268. Giai đoạn này có thể ngắn đến mức nào; nó có thể ngắn chỉ một hoặc hai kiếp lâm phàm—một ý nghĩ đáng kinh ngạc.
|
|
It marks the period of achievement, of liberation, and therefore, although it is the shortest period when viewed from below upward, it is the period of comparative permanence when viewed from the plane of the Monad.
|
Nó đánh dấu giai đoạn thành tựu, giải thoát, và do đó, tuy là giai đoạn ngắn nhất khi nhìn từ dưới lên, nó lại là giai đoạn tương đối thường hằng khi nhìn từ cõi của Chân Thần.
|
|
269. For ages after that achievement of growing monadic prominence, the Monad becomes the main factor in the life of the unit, man. What is it that journeys on the seven or nine Paths of Higher Evolution? It is the Monad. That journey can take ages—far longer than the first two stages of growth governed by the personality ray and the soul ray.
|
269. Trong nhiều thời đại sau thành tựu ấy của sự nổi bật chân thần đang tăng trưởng, Chân Thần trở thành yếu tố chính trong đời sống của đơn vị, con người. Điều gì là cái du hành trên bảy hay chín Con đường Tiến Hóa Cao Siêu? Đó là Chân Thần. Cuộc hành trình ấy có thể kéo dài nhiều thời đại—lâu hơn rất nhiều so với hai giai đoạn tăng trưởng đầu tiên do cung phàm ngã và cung linh hồn chi phối.
|
|
It covers the totality of time remaining in the one hundred years of Brahma, or the remainder of the process of manifestation.
|
Nó bao trùm toàn bộ thời gian còn lại trong một trăm năm của Brahma, hay phần còn lại của tiến trình biểu hiện.
|
|
270. The history of the Monad is lost in the night of time. We have always been Monads of different scope (a fascinating subject better not taken up here but discussed in Infinitization of Selfhood). The Solar Logos is about half way through His present solar system, which means that perhaps fifty years of Brahma remain—a stupendous period of time.
|
270. Lịch sử của Chân Thần bị mất trong đêm tối của thời gian. Chúng ta luôn luôn là các Chân Thần với những phạm vi khác nhau (một đề tài hấp dẫn tốt hơn là không bàn ở đây mà thảo luận trong Sự vô hạn hoá của ngã thức). Thái dương Thượng đế đang đi được khoảng nửa đường trong hệ mặt trời hiện tại của Ngài, điều này có nghĩa rằng có lẽ còn lại năm mươi năm của Brahma—một giai đoạn thời gian khổng lồ.
|
|
271. If indeed man remains consciously focussed as a Monad (of whatever scope) during this period, we can see why the period should be called a period of comparative permanence.
|
271. Nếu quả thật con người vẫn còn được tập trung một cách hữu thức như một Chân Thần (dù thuộc phạm vi nào) trong giai đoạn này, chúng ta có thể thấy vì sao giai đoạn ấy nên được gọi là một giai đoạn tương đối thường hằng.
|
|
272. What man may have been as a Monad before the development of our Solar Logos, or what man may be as a Monad after the sixth or seventh cosmic initiation of our Solar Logos are mysteries which are, for us, unfathomable.
|
272. Con người có thể đã là gì như một Chân Thần trước sự phát triển của Thái dương Thượng đế của chúng ta, hoặc con người có thể là gì như một Chân Thần sau lần điểm đạo vũ trụ thứ sáu hay thứ bảy của Thái dương Thượng đế của chúng ta, là những huyền nhiệm mà đối với chúng ta là bất khả thấu.
|
|
273. There is only one thing to say: there is but One Monad in all cosmos, and that which is now man has (during this cosmos) ever been that Monad and/or an emanation of it.
|
273. Chỉ có một điều để nói: chỉ có một Chân Thần duy nhất trong toàn thể vũ trụ, và cái hiện nay là con người đã (trong vũ trụ này) luôn luôn là Chân Thần ấy và/hoặc là một sự xuất lộ của nó.
|
|
When we study, therefore, the sets of triangles earlier referred to and the periods of ray dominance, we will find much room for thought.
|
Vì vậy, khi chúng ta nghiên cứu các bộ tam giác đã được nhắc đến trước đó và các thời kỳ cung chi phối, chúng ta sẽ thấy có nhiều điều đáng suy ngẫm.
|
|
274. One observation which always seems true is that the second period is the shortest. The reign of the soul ray is shorter than the reign of the personality or monadic rays.
|
274. Một nhận xét dường như luôn đúng là thời kỳ thứ hai là ngắn nhất. Triều đại của cung linh hồn ngắn hơn triều đại của cung phàm ngã hay cung chân thần.
|
|
275. This same pattern may hold when examining many cycles—the second part of a three part cycle may be the shortest.
|
275. Mô thức này cũng có thể đúng khi khảo sát nhiều chu kỳ—phần thứ hai của một chu kỳ ba phần có thể là ngắn nhất.
|
|
Let me here point out, however, that the six groups of triangles are in all but five if we eliminate the pranic triangle which has to do with matter itself and is not counted any more than the dense physical is counted a principle.
|
Tuy nhiên, ở đây tôi xin chỉ ra rằng sáu nhóm tam giác, xét cho cùng, chỉ còn năm nếu chúng ta loại bỏ tam giác prana, vốn liên quan đến chính vật chất, và không được tính đến, cũng như thể xác đậm đặc không được tính là một nguyên khí.
|
|
276. This is an important thought. Strictly physical energies are not in the same category as the more subjective energies which are related to true principles.
|
276. Đây là một ý tưởng quan trọng. Các năng lượng thuần hồng trần không thuộc cùng một loại với các năng lượng chủ quan hơn, vốn liên hệ đến các nguyên khí chân chính.
|
|
277. We recall that we have been studying five centers—each one them related to the first five planes—base of spine to etheric, solar plexus to astral, throat to mental, heart to buddhic and crown to atmic.
|
277. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đã nghiên cứu năm trung tâm—mỗi trung tâm liên hệ với năm cõi đầu tiên—đáy cột sống với cõi dĩ thái, tùng thái dương với cõi cảm dục, cổ họng với cõi trí, tim với cõi Bồ đề và đỉnh đầu với cõi atma.
|
|
278. The pranic triangle does not relate to second solar system principles.
|
278. Tam giác prana không liên hệ đến các nguyên khí của hệ mặt trời thứ hai.
|
|
Therefore we have:
|
Vì vậy, chúng ta có:
|
|
a. Two triangles brought to vivification by the personality ray.
|
a. Hai tam giác được tiếp sinh lực bởi cung phàm ngã.
|
|
b. Two triangles brought to vivification by the egoic ray.
|
b. Hai tam giác được tiếp sinh lực bởi cung chân ngã.
|
|
c. The synthesising triangle of the Monad.
|
c. Tam giác tổng hợp của Chân Thần.
|
|
279. The first, or pranic triangle is eliminated. Triangles two and three are vivified by the personality ray; triangles four and five by the soul ray: triangle six by the monadic ray.
|
279. Tam giác thứ nhất, hay tam giác prana, bị loại bỏ. Tam giác thứ hai và thứ ba được tiếp sinh lực bởi cung phàm ngã; tam giác thứ tư và thứ năm bởi cung linh hồn: tam giác thứ sáu bởi cung chân thần.
|
|
280. Again reflecting the dual first two, with the Monad as singular, synthesizing Electric Fire.
|
280. Lại nữa, phản ánh tính nhị nguyên của hai cái đầu, với Chân Thần là đơn nhất, tổng hợp Lửa Điện.
|
|
281. The synthesizing triangle of the Monad includes
|
281. Tam giác tổng hợp của Chân Thần bao gồm
|
|
a.
The heart
|
a. Trung tâm tim
|
|
b.
The seven head centers
|
b. Bảy trung tâm đầu
|
|
c.
The two many-petalled lotuses.
|
c. Hai hoa sen nhiều cánh.
|
|
We must, nevertheless, recollect that the complexity is increased by the fact that the personality triangles will be brought to full activity according to the ray of the Monad or Spirit. Therefore, no hard or fast rule can be laid down about development.
|
Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nhớ rằng tính phức tạp gia tăng bởi sự kiện rằng các tam giác phàm ngã sẽ được đưa vào hoạt động trọn vẹn tùy theo cung của Chân Thần hay Tinh thần. Vì vậy, không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc nào về sự phát triển.
|
|
282. We are being given only the simplest triangular patterns in the developmental process.
|
282. Chúng ta chỉ đang được trao cho những mô hình tam giác đơn giản nhất trong tiến trình phát triển.
|
|
283. There are other personality triangles not here listed, and the ones that are listed will have the various chakras activated in a distinct order depending upon the monadic ray. In any triangle the chakra which hold the position of major for the triangle may, it seems, depend upon the monadic ray. We have already given some suggestions as to the order of activation of chakras within a triangle according to monadic ray.
|
283. Còn có những tam giác phàm ngã khác không được liệt kê ở đây, và những tam giác được liệt kê sẽ có các luân xa được kích hoạt theo một trật tự riêng biệt tùy theo cung chân thần. Trong bất kỳ tam giác nào, luân xa giữ vị trí chủ yếu cho tam giác ấy, dường như, có thể tùy thuộc vào cung chân thần. Chúng ta đã đưa ra một vài gợi ý về trật tự kích hoạt các luân xa trong một tam giác tùy theo cung chân thần.
|
|
284. Again, why would it be so that the body and personality are more qualified by the monad and its cycles, than by the “Ego” and its cycles?
|
284. Lại nữa, vì sao lại như vậy: thể và phàm ngã được Chân Thần và các chu kỳ của nó phẩm định nhiều hơn là bởi “Chân ngã” và các chu kỳ của nó?
|
|
The egoic triangles are dependent largely upon the reflection in the personality of the spiritual life force. They are the midway point, just as the causal or egoic body is the transmitting point (when sufficiently equipped and built) between the higher and the lower.
|
Các tam giác chân ngã phần lớn tùy thuộc vào sự phản chiếu trong phàm ngã của mãnh lực sự sống tinh thần. Chúng là điểm ở giữa, cũng như thể nguyên nhân hay thể chân ngã là điểm truyền dẫn (khi đã được trang bị và xây dựng đầy đủ) giữa cái cao và cái thấp.
|
|
285. The egoic triangles are the fourth and fifth in the list of six; thus, the fourth and fifth triangles are both the “midway point” (reference to Stanza I ).–
|
285. Các tam giác chân ngã là tam giác thứ tư và thứ năm trong danh sách sáu; do đó, tam giác thứ tư và thứ năm đều là “điểm ở giữa” (tham chiếu Bài kệ I).–
|
|
286. We notice that in both of these ‘midway’ triangles, part or all of the seven head centers are active.
|
286. Chúng ta nhận thấy rằng trong cả hai tam giác ‘ở giữa’ này, một phần hoặc toàn bộ bảy trung tâm đầu đều hoạt động.
|
|
287. DK offers an analogy between the causal body as transmitters between the Monad and personality and the midway triangles as transmitters between the highest triangle and the two lowest (not counting the pranic triangle).
|
287. Chân sư DK đưa ra một phép tương đồng giữa thể nguyên nhân như những bộ truyền dẫn giữa Chân Thần và phàm ngã, và các tam giác ở giữa như những bộ truyền dẫn giữa tam giác cao nhất và hai tam giác thấp nhất (không tính tam giác prana).
|
|
288. We note that the causal body is not always such a transmitter. It has to be sufficiently unfolded to accomplish this function.
|
288. Chúng ta lưu ý rằng thể nguyên nhân không phải lúc nào cũng là một bộ truyền dẫn như vậy. Nó phải được khai mở đầy đủ để thực hiện chức năng này.
|
|
The permanent atoms are enclosed within the periphery of the causal body, yet that relatively permanent body is built and enlarged, expanded and wrought
[the work of Vulcan]
into
[179] a central receiving and transmitting station (using inadequate words to convey an occult idea) by the direct action of the centres, and of the centres above all.
|
Các nguyên tử trường tồn được bao bọc trong chu vi nhân thể, tuy nhiên thể tương đối trường tồn ấy được xây dựng và mở rộng, được khai triển và được rèn luyện
[công việc của Vulcan] thành [179] một trạm trung tâm tiếp nhận và truyền dẫn (dùng những từ ngữ không đầy đủ để chuyển tải một ý niệm huyền bí) bởi tác động trực tiếp của các trung tâm, và nhất là của các trung tâm ở phía trên.
|
|
289. How the permanent atoms may be “enclosed within the periphery of the causal body” and still remain on their own plane is perhaps a mystery. We are told that the causal periphery extends far beyond the range of the lower bodies, and this asserted fact alone may signify enclosure.
|
289. Việc các nguyên tử trường tồn có thể được “bao bọc trong chu vi nhân thể” mà vẫn ở trên cõi riêng của chúng có lẽ là một điều bí ẩn. Chúng ta được nói rằng chu vi nhân thể vươn xa vượt quá tầm của các thể thấp, và chỉ riêng sự kiện được khẳng định này có thể đã hàm ý sự bao bọc.
|
|
290. We are being given a really important piece of information. How is the causal body built? By the direct action of the centers. The centers are involved in transferring the quality accumulated into incarnation into the causal body. When the bodies of the personality sequentially ‘die’, the whirling energy (monadically and egoically impulsed) which produces the chakras is naturally withdrawn as well. We may infer that in this withdrawal, quality is transferred, and directly transferred.
|
290. Chúng ta đang được trao một mẩu thông tin thật sự quan trọng. Thể nguyên nhân được xây dựng như thế nào? Bởi tác động trực tiếp của các trung tâm. Các trung tâm tham dự vào việc chuyển phẩm tính tích lũy trong một kiếp lâm phàm vào thể nguyên nhân. Khi các thể của phàm ngã lần lượt ‘chết’, năng lượng xoáy (được thúc đẩy bởi chân thần và chân ngã) vốn tạo ra các luân xa cũng tự nhiên rút lui theo. Chúng ta có thể suy ra rằng trong sự rút lui này, phẩm tính được chuyển giao, và được chuyển giao trực tiếp.
|
|
291. Let us think of the causal body as a central receiving and transmitting station. It receives from above and transmits to that which is below. The centers in the lower vehicles would receive this transmission.
|
291. Hãy nghĩ về thể nguyên nhân như một trạm trung tâm tiếp nhận và truyền dẫn. Nó tiếp nhận từ phía trên và truyền xuống cái ở phía dưới. Các trung tâm trong các vận cụ thấp sẽ tiếp nhận sự truyền dẫn này.
|
|
292. There is a question as to whether quality is built into the causal body throughout the incarnation or only at its termination. If throughout, then the chakras transmit from ‘below’ to ‘above’.
|
292. Có một câu hỏi rằng phẩm tính được xây dựng vào thể nguyên nhân xuyên suốt kiếp lâm phàm hay chỉ vào lúc kết thúc. Nếu xuyên suốt, thì các luân xa truyền từ ‘dưới’ lên ‘trên’.
|
|
Just as it was spiritual force, or the will aspect, that built the solar system, so it is the same force in the man that builds the causal body.
|
Cũng như chính mãnh lực tinh thần, hay phương diện ý chí, đã xây dựng hệ mặt trời, thì cũng chính mãnh lực ấy trong con người xây dựng thể nguyên nhân.
|
|
293. DK is equating spiritual force with the will aspect. The centers, we remember, are an expression of the will aspect.
|
293. Chân sư DK đồng nhất mãnh lực tinh thần với phương diện ý chí. Chúng ta nhớ rằng các trung tâm là một biểu hiện của phương diện ý chí.
|
|
294. We are continuing to speak of the building of the causal body through the direct agency of the centers.
|
294. Chúng ta tiếp tục nói về việc xây dựng thể nguyên nhân qua tác nhân trực tiếp của các trung tâm.
|
|
295. The term “spiritual” is sometimes contrasted with “divine”. In such cases “spiritual” relates to the soul and “divine” to the Spirit. However, in this case, “spiritual” relates to the will, the spiritual triad and the Monad.
|
295. Thuật ngữ “tinh thần” đôi khi được đối lập với “thiêng liêng”. Trong những trường hợp ấy, “tinh thần” liên hệ đến linh hồn và “thiêng liêng” liên hệ đến Tinh thần. Tuy nhiên, trong trường hợp này, “tinh thần” liên hệ đến ý chí, Tam Nguyên Tinh Thần và Chân Thần.
|
|
296. The greater the intensity of the centers the greater the transference of quality into the causal body. But, we may assume that the process is somewhat reciprocal—the centers gaining stimulation from the transmission from the causal body (ultimately impulsed by the Monad).
|
296. Cường độ các trung tâm càng lớn thì sự chuyển phẩm tính vào thể nguyên nhân càng lớn. Tuy nhiên, chúng ta có thể giả định rằng tiến trình này có phần tương hỗ—các trung tâm nhận được kích thích từ sự truyền dẫn từ thể nguyên nhân (rốt cuộc được Chân Thần thúc đẩy).
|
|
297. The permanent atoms, since they are lodged within the periphery of the causal body, may be involved in this transference. We shall have to wait to find out the actual manner of this transference.
|
297. Các nguyên tử trường tồn, vì chúng trú trong chu vi nhân thể, có thể tham dự vào sự chuyển giao này. Chúng ta sẽ phải chờ để biết cách thức thực sự của sự chuyển giao ấy.
|
|
By the bringing together of spirit and matter (Father-Mother) in the macrocosm, and their union through the action of the will, the objective solar system, or the Son, was produced—that Son of desire, Whose characteristic is love, and Whose nature is buddhi or spiritual wisdom.
|
Bằng việc đưa tinh thần và vật chất (Cha-Mẹ) lại gần nhau trong đại thiên địa, và sự hợp nhất của chúng qua tác động của ý chí, hệ mặt trời khách quan, hay Người Con, đã được tạo ra—Người Con của dục vọng ấy, Đấng có đặc tính là bác ái, và Đấng có bản chất là Bồ đề hay minh triết tinh thần.
|
|
298. More is said here than may meet the eye: the faculty of will brings Spirit and matter together. Will, then, is, in this instance, a unitive force.
|
298. Ở đây có nhiều điều được nói hơn những gì có thể thấy ngay: năng lực ý chí đưa Tinh thần và vật chất lại gần nhau. Như vậy, trong trường hợp này, ý chí là một mãnh lực hợp nhất.
|
|
299. The nature of the solar system is described from a psycho-spiritual angle. Love shines forth when will unites Spirit and matter.
|
299. Bản chất của hệ mặt trời được mô tả từ một góc độ tâm lý–tinh thần. Bác ái tỏa sáng khi ý chí hợp nhất Tinh thần và vật chất.
|
|
300. How is the solar system a “Son of desire”? We can say that it was produced by the “desire” of the Father for the Mother and reciprocally.
|
300. Làm sao hệ mặt trời là một “Con của dục vọng”? Chúng ta có thể nói rằng nó được tạo ra bởi “dục vọng” của Cha đối với Mẹ và ngược lại.
|
|
301. A good definition of “buddhi is given”. Usually, the definitions of buddhi emphasize the love aspect. Here the wisdom aspect is represented, and the fact that buddhi is “spiritual” wisdom emphasizes the “spiritual” triad. The triad, we remember, is an expression of the will/Monad even though it is partially related to the soul aspect.
|
301. Ở đây đưa ra một định nghĩa hay về “Bồ đề”. Thông thường, các định nghĩa về Bồ đề nhấn mạnh phương diện bác ái. Ở đây phương diện minh triết được nêu ra, và sự kiện rằng Bồ đề là minh triết “tinh thần” nhấn mạnh Tam Nguyên Tinh Thần. Chúng ta nhớ rằng Tam nguyên là một biểu hiện của ý chí/Chân Thần dù nó có phần liên hệ đến phương diện linh hồn.
|
|
By the bringing together (in microcosm) of Spirit and matter, and their coherence by means of force (or the spiritual will) that objective system, the causal body, is being produced;
|
Bằng việc đưa Tinh thần và vật chất lại gần nhau (trong tiểu thiên địa), và sự kết dính của chúng nhờ mãnh lực (hay ý chí tinh thần) thì hệ thống khách quan ấy, thể nguyên nhân, đang được tạo ra;
|
|
302. To show the inconsistency of spelling and the caution thus needed when considering whether spelling changes have significance, we note that in the earlier sentence “spirit” was not capitalized, and yet, in relation to a lesser process, it is capitalized as “Spirit” in the sentence immediately above.
|
302. Để cho thấy sự bất nhất trong cách viết và vì thế cần thận trọng khi xét liệu những thay đổi cách viết có mang ý nghĩa hay không, chúng ta lưu ý rằng trong câu trước “tinh thần” không viết hoa, vậy mà, liên hệ đến một tiến trình nhỏ hơn, nó lại được viết hoa thành “Tinh thần” trong câu ngay phía trên.
|
|
303. The causal body would not exist unless Spirit and matter were held coherently together, by means of the spiritual will. We can, therefore, see that monadic energy and atmic energy are involved in the creation and sustenance of the causal body. It is not the work of the Solar Angels alone.
|
303. Thể nguyên nhân sẽ không tồn tại nếu Tinh thần và vật chất không được giữ kết dính với nhau bằng ý chí tinh thần. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng năng lượng chân thần và năng lượng atma tham dự vào việc tạo dựng và duy trì thể nguyên nhân. Đây không phải chỉ là công việc của các Thái dương Thiên Thần.
|
|
304. We note that although the causal body seems subjective to the personality consciousness, it is considered the analogy to the solar system and is deemed objective.
|
304. Chúng ta lưu ý rằng mặc dù thể nguyên nhân dường như chủ quan đối với tâm thức phàm ngã, nó được xem là phép tương đồng với hệ mặt trời và được coi là khách quan.
|
|
it is the product of transmuted desire
, whose characteristic (when fully demonstrated) will be love, the expression eventually on the physical plane of buddhi.
|
nó là sản phẩm của dục vọng đã được chuyển hoá
, mà đặc tính của nó (khi được biểu lộ trọn vẹn) sẽ là bác ái, rốt cuộc là sự biểu lộ trên cõi hồng trần của Bồ đề.
|
|
305. We come to understand that the transmutation of desire is very important in the building of the causal body.
|
305. Chúng ta bắt đầu thấu hiểu rằng sự chuyển hoá dục vọng là vô cùng quan trọng trong việc xây dựng thể nguyên nhân.
|
|
306. Through the casual body, love must demonstrate. From this description, buddhi is represented as still higher than love and must eventually, through the causal body, demonstrate upon the physical plane.
|
306. Qua thể nguyên nhân, bác ái phải được biểu lộ. Từ mô tả này, Bồ đề được trình bày như còn cao hơn bác ái và rốt cuộc, qua thể nguyên nhân, phải biểu lộ trên cõi hồng trần.
|
|
307. Through the solar system love will demonstrate and eventually buddhi; the same, on a far smaller scale, is true of the causal body.
|
307. Qua hệ mặt trời, bác ái sẽ biểu lộ và rốt cuộc là Bồ đề; điều tương tự, trên một quy mô nhỏ hơn rất nhiều, cũng đúng đối với thể nguyên nhân.
|
|
The causal body is but the sheath of the Ego.
|
Thể nguyên nhân chỉ là vỏ bọc của Chân ngã.
|
|
308. Whether we call the causal body the “sheath” or the ‘shroud’, the idea is virtually the same.
|
308. Dù chúng ta gọi thể nguyên nhân là “vỏ bọc” hay là ‘tấm khăn phủ’, ý niệm hầu như là như nhau.
|
|
309.
And now it becomes blazingly clear how the Tibetan has been using the term “Ego” in the foregoing instructions. It definitely means the spiritual triad.
|
309.
Và giờ đây trở nên hết sức rõ ràng cách Chân sư Tây Tạng đã dùng thuật ngữ “Chân ngã” trong các chỉ dẫn trước đó. Nó dứt khoát có nghĩa là Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
310. The unsheathed soul is the spiritual triad. The unshrouded soul is the spiritual triad.
|
310. Linh hồn không còn vỏ bọc là Tam Nguyên Tinh Thần. Linh hồn không còn tấm khăn phủ là Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
311. All this goes to say that we are not truly the soul until we have built the antahkarana and can function in triadal consciousness free of causal limitations. This may be for some a relatively new thought.
|
311. Tất cả điều này muốn nói rằng chúng ta không thật sự là linh hồn cho đến khi chúng ta xây dựng antahkarana và có thể hoạt động trong tâm thức tam nguyên, tự do khỏi các giới hạn nhân thể. Đối với một số người, đây có thể là một ý tưởng tương đối mới.
|
|
The solar system is but the sheath of the Son.
|
Hệ mặt trời chỉ là vỏ bọc của Người Con.
|
|
312. By the solar system, DK does not mean only the physical solar system, but all the subtle levels of the solar system upon the cosmic physical plane.
|
312. Khi nói hệ mặt trời, Chân sư DK không chỉ muốn nói hệ mặt trời hồng trần, mà còn tất cả các tầng vi tế của hệ mặt trời trên cõi hồng trần vũ trụ.
|
|
313. We see that the analogy is evocative of thought but is not perfect. Were it perfect, DK would compare the causal body of the Solar Logos to the causal body of man.
|
313. Chúng ta thấy phép tương đồng này gợi nhiều điều đáng suy ngẫm nhưng không hoàn hảo. Nếu hoàn hảo, Chân sư DK sẽ so sánh thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế với thể nguyên nhân của con người.
|
|
In both the greater and the lesser systems, force centres exist which are productive of objectivity. The centres in the human being are reflections in the three worlds of those higher force centres.
|
Trong cả hệ thống lớn và hệ thống nhỏ, đều tồn tại các trung tâm mãnh lực tạo ra tính khách quan. Các trung tâm trong con người là những phản chiếu trong ba cõi thấp của các trung tâm mãnh lực cao hơn ấy.
|
|
314. Physical objectivity for the human being depends upon force centers especially focussed on the fourth systemic ether. Physical objectivity for the Solar Logos depends upon the focusing of energies upon the fourth cosmic ether (or buddhi plane), the higher correspondence to the systemic etheric plane.
|
314. Tính khách quan hồng trần đối với con người tùy thuộc vào các trung tâm mãnh lực đặc biệt được tập trung trên dĩ thái thứ tư của hệ thống. Tính khách quan hồng trần đối với Thái dương Thượng đế tùy thuộc vào việc tập trung các năng lượng trên dĩ thái vũ trụ thứ tư (hay cõi Bồ đề), là đối ứng cao hơn của cõi dĩ thái hệ thống.
|
|
315. The really interesting thing being said there is that the human centres are reflections of the cosmic etheric centers, which are Ashrams and groupings related to the Hierarchy. Through our chakras we can and must reflect the Ashrams.
|
315. Điều thật sự thú vị được nói ở đây là: các trung tâm của con người là những phản chiếu của các trung tâm dĩ thái vũ trụ, vốn là các ashram và các nhóm liên hệ đến Thánh Đoàn. Qua các luân xa của mình, chúng ta có thể và phải phản chiếu các ashram.
|
|
Before taking up the subject of kundalini and the centres, it would be well to extend the information given above, from its prime significance for man, as that which concerns himself, to the solar system, the macrocosm, and to the cosmos. What can be predicated of the microcosm is naturally true of the macrocosm and of the cosmos.
|
Trước khi bàn đến đề tài kundalini và các trung tâm, sẽ là tốt nếu mở rộng thông tin đã cho ở trên, từ ý nghĩa chủ yếu của nó đối với con người, như điều liên quan đến chính y, sang hệ mặt trời, đại thiên địa, và sang vũ trụ. Điều có thể được khẳng định về tiểu thiên địa thì tự nhiên đúng cho đại thiên địa và cho vũ trụ.
|
|
316. DK is suggesting a macrocosmic extension but the triangles which go to the building of the planetary logoic causal body and the solar logoic causal body are not specified and, instead, are left to conjuncture.
|
316. Chân sư DK đang gợi ý một sự mở rộng theo đại thiên địa, nhưng các tam giác đi vào việc xây dựng thể nguyên nhân của Hành Tinh Thượng đế và thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế không được nêu rõ, mà thay vào đó được để cho suy đoán.
|
|
It will not be possible to give the systemic triangles, for the information would have to be so blinded that, except for those who have occult knowledge and the intuition developed, it would be practically useless intellectually, but certain things may be pointed out in this connection that may be of interest.
|
Sẽ không thể đưa ra các tam giác của hệ thống, vì thông tin sẽ phải được che mờ đến mức mà, ngoại trừ những ai có tri thức huyền bí và trực giác đã phát triển, thì về mặt trí tuệ nó hầu như vô dụng; nhưng có thể nêu ra một vài điều trong mối liên hệ này có thể đáng quan tâm.
|
|
317. Why would it be necessary to blind the information about the systemic triangles? Probably because meditative meddling could occur were the triangles revealed.
|
317. Vì sao cần phải che mờ thông tin về các tam giác của hệ thống? Có lẽ vì sự can thiệp tham thiền có thể xảy ra nếu các tam giác được tiết lộ.
|
|
318. It is, perhaps, possible to work them out speculatively, with the caveat the every systemic center may involve the contribution of perhaps three planetary centers.
|
318. Có lẽ có thể suy luận chúng một cách giả thuyết, với lời cảnh báo rằng mỗi trung tâm của hệ thống có thể bao hàm sự đóng góp của có lẽ ba trung tâm hành tinh.
|
|
319. What of Earth, Venus, Jupiter?
|
319. Còn Trái Đất, Sao Kim, Sao Mộc thì sao?
|
|
320. What of Earth, Jupiter, Saturn?
|
320. Còn Trái Đất, Sao Mộc, Sao Thổ thì sao?
|
|
321. What of Jupiter, Saturn and Vulcan?
|
321. Còn Sao Mộc, Sao Thổ, Vulcan thì sao?
|
|
322. What of Jupiter, Vulcan, Neptune/Uranus?
|
322. Còn Sao Mộc, Vulcan và Sao Hải Vương/Sao Thiên Vương thì sao?
|
|
323. Quite a number of other triangles could be suggested each of which might represent three solar systemic chakras or all three (through aspects of themselves) might sustain a particular single chakra. Planetary Deities have more than one function and may be multiply involved in the dynamics of our solar system.
|
323. Có thể gợi ý khá nhiều tam giác khác, mỗi tam giác có thể đại diện cho ba luân xa của hệ mặt trời, hoặc cả ba (qua các phương diện của chính chúng) có thể duy trì một luân xa đơn nhất nào đó. Các Thượng đế Hành Tinh có nhiều hơn một chức năng và có thể tham dự theo nhiều cách vào động lực của hệ mặt trời chúng ta.
|
|
324. An important piece of information is given: occult blinding challenges the intellect. At a certain point, deep occult blinding becomes impenetrable to the intellect.
|
324. Một mẩu thông tin quan trọng được đưa ra: sự che mờ huyền bí thách thức trí tuệ. Đến một điểm nào đó, sự che mờ huyền bí sâu xa trở nên không thể xuyên thấu đối với trí tuệ.
|
|
The Solar System. We might briefly look at this from
[180] the standpoint of the centres of the Heavenly Men and of the Grand Man of the Heavens, the Logos.
|
Hệ mặt trời. Chúng ta có thể nhìn lướt qua điều này từ [180] quan điểm các trung tâm của các Đấng Thiên Nhân và của Đấng Đại Nhân của các Tầng Trời, tức Thượng đế.
|
|
325. The centers/chakras in a Heavenly Man are chains; in a Solar Logos, the centers/chakras are planetary schemes.
|
325. Các trung tâm/luân xa trong một Đấng Thiên Nhân là các Dãy; trong một Thái dương Thượng đế, các trung tâm/luân xa là các hệ hành tinh.
|
|
a. The Heavenly Men. The Heavenly Men, in Themselves, embody centres just as does a human being, and on Their Own plane these centres of force can be found.
|
a. Các Đấng Thiên Nhân. Các Đấng Thiên Nhân, xét chính Các Ngài, thể hiện các trung tâm cũng như một con người, và trên cõi riêng của Các Ngài có thể tìm thấy các trung tâm mãnh lực ấy.
|
|
326. We are dealing here with the Heavenly Men as chakras within the body of expression of a Solar Logos.
|
326. Ở đây chúng ta đang bàn đến các Đấng Thiên Nhân như các luân xa trong thể biểu lộ của một Thái dương Thượng đế.
|
|
Again we need to recollect that these centres of force on cosmic levels,
|
Lại nữa, chúng ta cần nhớ rằng các trung tâm mãnh lực này trên các cấp độ vũ trụ,
|
|
327. It is implied that Planetary Logoi are cosmic beings. They are, indeed, in the process of taking cosmic initiations.
|
327. Hàm ý rằng các Hành Tinh Thượng đế là các hữu thể vũ trụ. Quả thật, Các Ngài đang trong tiến trình thọ nhận các cuộc điểm đạo vũ trụ.
|
|
and in manifestation in the objective system, demonstrate as the great force centres of which any particular group of adepts and Their pupils are the exponents.
|
và khi biểu lộ trong hệ thống khách quan, chúng biểu hiện như những trung tâm mãnh lực lớn mà bất kỳ nhóm chân sư nào và các đệ tử của Các Ngài là những người biểu hiện.
|
|
328. We are being told that ashramic groups (the majority of them centered on the systemic buddhic plane) reflect planetary potencies.
|
328. Chúng ta được nói rằng các nhóm ashram (phần lớn tập trung trên cõi Bồ đề của hệ thống) phản chiếu các tiềm lực hành tinh.
|
|
Every group of Masters and all the human beings incarnate or discarnate—who are held within the periphery of Their consciousness—are centres of force of some particular kind or quality.
This is a fact generally recognised, but students should be urged to link up this fact with the information imparted on the centres of the human being, and see if much is not thereby learnt.
|
Mỗi nhóm Chân sư và tất cả những con người đang nhập thể hay đã rời thể—những ai được giữ trong chu vi tâm thức của Các Ngài—đều là các trung tâm mãnh lực thuộc một loại hay phẩm tính nào đó.
Đây là một sự kiện được thừa nhận rộng rãi, nhưng các môn sinh nên được thúc giục liên kết sự kiện này với thông tin được truyền đạt về các trung tâm của con người, và xem liệu nhờ đó có học được nhiều điều hay không.
|
|
329. If we want to discover much information about triangular relationships (existing, in process, or destined) between various Ashrams, we have to apply analogically what we know about the relationships between chakras in the etheric body of man and relationships between planetary schemes in the solar system.
|
329. Nếu chúng ta muốn khám phá nhiều thông tin về các mối liên hệ tam giác (đang tồn tại, đang hình thành, hay sẽ hình thành) giữa các ashram khác nhau, chúng ta phải áp dụng theo phép tương đồng điều chúng ta biết về các mối liên hệ giữa các luân xa trong thể dĩ thái của con người và các mối liên hệ giữa các hệ hành tinh trong hệ mặt trời.
|
|
330. It would not be hard to form ashramic triangles which were direct reflections of the five major triangles we have been studying. The one thing we would have to do is assign rays directly to the chakras. This is easy to do in most cases (because planetary assignments are given for the chakras—EA 517) but the base of the spine and the ajna center are a little ambiguous:
|
330. Sẽ không khó để hình thành các tam giác ashram là những phản chiếu trực tiếp của năm tam giác chính mà chúng ta đã nghiên cứu. Điều duy nhất chúng ta phải làm là gán các cung trực tiếp cho các luân xa. Điều này dễ làm trong hầu hết các trường hợp (vì các gán định hành tinh cho các luân xa đã được đưa ra—EA 517) nhưng trung tâm đáy cột sống và trung tâm ajna thì hơi mơ hồ:
|
|
a.
Head chakra – ray one – Pluto, Vulcan and later Uranus
|
a. Luân xa đầu – cung một – Sao Diêm Vương, Vulcan và về sau Sao Thiên Vương
|
|
b.
Ajna chakra – ray five or ray four –Venus and later Mercury
|
b. Luân xa ajna – cung năm hoặc cung bốn – Sao Kim và về sau Sao Thủy
|
|
c.
Throat chakra – ray three and later ray seven – Earth and Saturn, and alter Uranus
|
c. Luân xa cổ họng – cung ba và về sau cung bảy – Trái Đất và Sao Thổ, và về sau Sao Thiên Vương
|
|
d.
Heart chakra – ray two – the Sun and Jupiter
|
d. Luân xa tim – cung hai – Mặt Trời và Sao Mộc
|
|
e.
Solar plexus chakra – ray six –Mars and Neptune
|
e. Luân xa tùng thái dương – cung sáu – Sao Hỏa và Sao Hải Vương
|
|
f.
Sacral center – ray seven – Uranus
|
f. Trung tâm xương cùng – cung bảy – Sao Thiên Vương
|
|
g.
Base of spine center – ray one or ray seven – Pluto
|
g. Trung tâm đáy cột sống – cung một hoặc cung bảy – Sao Diêm Vương
|
|
331. There is one certain planet and some of its subsidiaries which are the planetary ‘sponsors’ or ‘inspirers’ of any ashramic group.
|
331. Có một hành tinh nhất định và một số phụ thuộc của nó là những ‘nhà bảo trợ’ hay ‘nguồn cảm hứng’ hành tinh của bất kỳ nhóm ashram nào.
|
|
332. Different stages in the unfoldment of a Planetary Logos will see different triangles between Ashrams most active. Triangles between planetary schemes will be most activated when the Solar Logos is passing through that stage of unfoldment represented by a particular triangle of planets.
|
332. Những giai đoạn khác nhau trong sự khai mở của một Hành Tinh Thượng đế sẽ khiến những tam giác giữa các ashram khác nhau hoạt động mạnh nhất. Các tam giác giữa các hệ hành tinh sẽ được kích hoạt mạnh nhất khi Thái dương Thượng đế đang đi qua giai đoạn khai mở được biểu trưng bởi một tam giác hành tinh nhất định.
|
|
333. It would also be possible to speculate upon triangles between kingdoms and Creative Hierarchies.
|
333. Cũng có thể suy đoán về các tam giác giữa các giới và các Huyền Giai Sáng Tạo.
|
|
These centres of force will demonstrate on etheric levels and on the subtler planes just as they do in a man, and they will be vivified as are the human centres by planetary kundalini, progressing in the desired triangles.
|
Các trung tâm mãnh lực này sẽ biểu hiện trên các cấp độ dĩ thái và trên các cõi vi tế hơn cũng như trong con người, và chúng sẽ được tiếp sinh lực như các trung tâm của con người bởi kundalini hành tinh, tiến triển theo các tam giác được mong muốn.
|
|
334. What we are learning is that ashramic triangles are vivified by planetary kundalini and planetary triangles are vivified by solar logoic kundalini.
|
334. Điều chúng ta đang học là các tam giác ashram được tiếp sinh lực bởi kundalini hành tinh và các tam giác hành tinh được tiếp sinh lực bởi kundalini Thái dương Thượng đế.
|
|
335. There is a very close analogy between all these types of centers; human chakras, ashrams and inner groupings; planetary chains; planetary schemes.
|
335. Có một phép tương đồng rất chặt chẽ giữa tất cả các loại trung tâm này; các luân xa của con người, các ashram và các nhóm nội tại; các Dãy hành tinh; các hệ hành tinh.
|
|
Two hints can here be given for thoughtful consideration. In connection with one of the Heavenly Men (which one cannot at this juncture be pointed out) we have one triangle of force to be seen in the following three centres:
|
Ở đây có thể đưa ra hai gợi ý để suy ngẫm. Liên quan đến một trong các Đấng Thiên Nhân (không thể chỉ ra ở giai đoạn này là Đấng nào) chúng ta có một tam giác mãnh lực có thể thấy trong ba trung tâm sau đây:
|
|
336. We are considering the influence of one of the Heavenly Men upon one intra-planetary triangle of force consisting of the force centers listed below.
|
336. Chúng ta đang xét ảnh hưởng của một trong các Đấng Thiên Nhân lên một tam giác mãnh lực nội hành tinh gồm các trung tâm mãnh lực được liệt kê dưới đây.
|
|
337. The rays of these groups will easily be seen to be the first, second and third rays, and we can see, also, that Shamballa, Hierarchy and Humanity are related to these three centers of force.
|
337. Các cung của những nhóm này sẽ dễ dàng được thấy là cung một, cung hai và cung ba, và chúng ta cũng có thể thấy rằng Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại liên hệ đến ba trung tâm mãnh lực này.
|
|
a. The force centre of which the Manu, and His group, are the expression.
|
a. Trung tâm mãnh lực mà Đức Manu, và nhóm của Ngài, là sự biểu lộ.
|
|
b. The centre of which the Bodhisattva or the Christ and His adherents are the focal point.
|
b. Trung tâm mà Đức Bồ Tát hay Đức Christ và những người theo Ngài là điểm hội tụ.
|
|
c. The centre of which the Mahachohan and his followers are the exponents.
|
c. Trung tâm mà Đức Mahachohan và những người theo Ngài là những người biểu hiện.
|
|
These three groups form the three centres in one great triangle—a triangle which is not yet in complete vivification at this stage of evolutionary development.
|
Ba nhóm này tạo thành ba trung tâm trong một tam giác lớn—một tam giác chưa được tiếp sinh lực hoàn toàn ở giai đoạn phát triển tiến hoá này.
|
|
338. When we think of the triangle here given, the chakras head, heart and throat immediately come to mind, as well as Shamballa, Hierarchy, Humanity. This will be recognized as a major triangle upon our Earth globe.
|
338. Khi nghĩ về tam giác được nêu ở đây, các luân xa đầu, tim và cổ họng lập tức hiện lên trong trí, cũng như Shamballa, Thánh Đoàn, Nhân loại. Điều này sẽ được nhận ra như một tam giác chủ yếu trên bầu hành tinh Trái Đất của chúng ta.
|
|
339. It may be that the particular Heavenly Man here meant is none other than the Heavenly Man of the Earth-scheme, our Planetary Logos.
|
339. Có thể Đấng Thiên Nhân được hàm ý ở đây không ai khác hơn Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Trái Đất, tức Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.
|
|
340. In chapter VIII of The Rays and the Initiations DK refers to this planetary triangle calling it the “the Three”. He also tells us that the triangle is not completely vivified and that energy is not circulating within it as it will before long. Thus the information in R&I correlates well with the information here given.
|
340. Trong chương VIII của Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, Chân sư DK nhắc đến tam giác hành tinh này và gọi nó là “Bộ Ba”. Ngài cũng cho chúng ta biết rằng tam giác ấy chưa được tiếp sinh lực hoàn toàn và rằng năng lượng chưa lưu thông trong nó như sẽ xảy ra chẳng bao lâu nữa. Vì vậy thông tin trong R&I tương quan tốt với thông tin được đưa ra ở đây.
|
|
341.
If we compare the triangle Manu, Bodhisattva, Mahachohan, we can see it according with either the fourth or fifth triangle (the ones in which first four head centers and then seven are active). Working with this analogy, and realizing that the Manu, the Bodhisattva and the Mahachohan are the “Three Great Lords” the triangle with seven head centers would seem to be required.
|
341. Nếu chúng ta so sánh tam giác Đức Manu, Đức Bồ Tát, Đức Mahachohan, chúng ta có thể thấy nó phù hợp với hoặc tam giác thứ tư hoặc thứ năm (những tam giác trong đó trước hết bốn trung tâm đầu hoạt động rồi đến bảy trung tâm). Làm việc với phép tương đồng này, và nhận ra rằng Đức Manu, Đức Bồ Tát và Đức Mahachohan là “Ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại”, thì tam giác với bảy trung tâm đầu dường như là cần thiết.
|
|
These triangles (four and five) accord with what DK called the soul stage of development and the Three Great Lords do preside over Hierarchy (representing the soul of the Planetary Logos as it is active on our Earth-globe).
|
Những tam giác này (thứ tư và thứ năm) phù hợp với điều Chân sư DK gọi là giai đoạn linh hồn của sự phát triển, và Ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại quả thật chủ trì Thánh Đoàn (đại diện cho linh hồn của Hành Tinh Thượng đế khi nó hoạt động trên bầu hành tinh Trái Đất của chúng ta).
|
|
342. A number of different analogies can emerge in relation to particular centers and triangles of centers.
|
342. Nhiều phép tương đồng khác nhau có thể xuất hiện liên quan đến các trung tâm nhất định và các tam giác trung tâm.
|
|
343. Within the Spiritual Hierarchy, what might be one analogy to the seven head centers (‘within’ the head)? May be suggest that the seven Chohans can be considered analogous to the seven head centers within the human being (though this is a lower analogy to one suggested a little later in the text). The Chohans are Shamballic beings and so their placement in the head is not unreasonable (if we relate the normal seven chakras to the seven Ashrams). Since, however, the Chohans are also members of Hierarchy they (as all members of Hierarchy) could also be placed in relation to the heart center.
|
343. Trong Huyền Giai Tinh Thần, phép tương đồng nào có thể tương ứng với bảy trung tâm đầu (‘bên trong’ đầu)? Có thể gợi ý rằng bảy Chohan có thể được xem như tương tự bảy trung tâm đầu trong con người (dù đây là một phép tương đồng thấp hơn so với một phép tương đồng được gợi ý hơi về sau trong văn bản). Các Chohan là các hữu thể Shamballa và vì vậy việc đặt họ trong đầu không phải là vô lý (nếu chúng ta liên hệ bảy luân xa bình thường với bảy ashram). Tuy nhiên, vì các Chohan cũng là thành viên của Thánh Đoàn, họ (như mọi thành viên của Thánh Đoàn) cũng có thể được đặt trong mối liên hệ với trung tâm tim.
|
|
344. If we place the Chohans in relation to the seven head centers, perhaps the ‘Three Great Lords” have an analogy to the two many-petalled Lotuses. We might question whether the alta major center should be included. The analogy, however, is not exact and has its problems.
|
344. Nếu chúng ta đặt các Chohan trong mối liên hệ với bảy trung tâm đầu, có lẽ ‘Ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại’ có một phép tương đồng với hai Hoa sen nhiều cánh. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu trung tâm alta major có nên được bao gồm hay không. Tuy nhiên, phép tương đồng không chính xác và có những vấn đề của nó.
|
|
345. In a reference below, the analogy is drawn between the seven Kumaras the seven head centers, and this is surely apt.
|
345. Trong một tham chiếu bên dưới, phép tương đồng được vạch ra giữa bảy Kumara và bảy trung tâm đầu, và điều này chắc chắn là thích đáng.
|
|
346. It may be that, when we involve the two many-petalled lotuses, we will be required to reference Shamballa and higher ‘residents’.
|
346. Có thể rằng, khi chúng ta đưa hai hoa sen nhiều cánh vào, chúng ta sẽ phải tham chiếu Shamballa và những ‘cư dân’ cao hơn.
|
|
347.
VSK suggest that we might question how the sixty-three ‘permanent’ members of Hierarchy are related to the centers or to specific points within the centers. It would require a very advanced inquiry and demand more knowledge than we presently have.
|
347. VSK gợi ý rằng chúng ta có thể đặt câu hỏi về cách sáu mươi ba thành viên ‘trường tồn’ của Thánh Đoàn liên hệ đến các trung tâm hay đến những điểm cụ thể trong các trung tâm. Điều đó sẽ đòi hỏi một cuộc khảo sát rất cao và cần nhiều tri thức hơn những gì chúng ta hiện có.
|
|
348. Much about the assignment of centers to planetary groups depends upon the contexts we choose.
|
348. Nhiều điều về việc gán các trung tâm cho các nhóm hành tinh tùy thuộc vào các bối cảnh mà chúng ta chọn.
|
|
a.
We can choose that the entire chakra system will represent only the Hierarchy
|
a. Chúng ta có thể chọn rằng toàn bộ hệ thống luân xa sẽ chỉ đại diện cho Thánh Đoàn
|
|
b.
We can choose that the entire chakra system will represent Hierarchy and Shamballa
|
b. Chúng ta có thể chọn rằng toàn bộ hệ thống luân xa sẽ đại diện cho Thánh Đoàn và Shamballa
|
|
c.
We can choose that the entire chakra system will represent all planetary kingdoms, including Hierarchy, Humanity and Shamballa
|
c. Chúng ta có thể chọn rằng toàn bộ hệ thống luân xa sẽ đại diện cho tất cả các giới hành tinh, bao gồm Thánh Đoàn, Nhân loại và Shamballa
|
|
349. In each case, different groupings will be assigned to different chakras or triangles of chakras.
|
349. Trong mỗi trường hợp, các nhóm khác nhau sẽ được gán cho các luân xa hay các tam giác luân xa khác nhau.
|
|
[181]
|
[181]
|
|
Another triangle in connection with our own planetary Logos is that formed by the seven Kumaras—the four exoteric Kumaras corresponding to the four minor head centres, and the three esoteric Kumaras corresponding to the three major head centres.75,76
|
Một tam giác khác liên quan đến Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là tam giác được tạo bởi bảy Kumara—bốn Kumara ngoại môn tương ứng với bốn trung tâm đầu phụ, và ba Kumara nội môn tương ứng với ba trung tâm đầu chính.75,76
|
|
350. This is a very important correspondence, and gives to Shamballa, proper, the domain of the head—for the Kumaras are members only of Shamballa and not, like the Chohans, of both Hierarchy and (sometimes) of Shamballa.
|
350. Đây là một tương ứng rất quan trọng, và trao cho Shamballa, xét chính nó, lãnh vực của đầu—vì các Kumara chỉ là thành viên của Shamballa chứ không, như các Chohan, thuộc về cả Thánh Đoàn và (đôi khi) Shamballa.
|
|
351. When DK speaks of the four minor head centers and the three major ones, He may be considering the alta major center as the synthesis of the lower four, and the ajna and crown center as the higher two.
|
351. Khi Chân sư DK nói về bốn trung tâm đầu phụ và ba trung tâm đầu chính, Ngài có thể đang xét trung tâm alta major như sự tổng hợp của bốn trung tâm thấp, và trung tâm ajna cùng trung tâm đỉnh đầu như hai trung tâm cao hơn.
|
|
352. From one perspective, the Seven Kumaras, and the Planetary Logos would represent the “Seven Spirits before the Throne” of that Logos.
|
352. Từ một quan điểm, Bảy Kumara và Hành Tinh Thượng đế sẽ đại diện cho “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai” của Thượng đế ấy.
|
|
353. It is, as we have seen, possible to view the head as a seven resolving into a superior eighth factor. It is also possible to view the head as a nine resolving into a tenth. In such a case the seven centers ‘within’ the head would be considered in relation to a superior three, with the crown center being one of those superior three.
|
353. Như chúng ta đã thấy, có thể nhìn đầu như một bộ bảy quy về một yếu tố thứ tám cao hơn. Cũng có thể nhìn đầu như một bộ chín quy về một yếu tố thứ mười. Trong trường hợp ấy, bảy trung tâm ‘bên trong’ đầu sẽ được xét trong mối liên hệ với một bộ ba cao hơn, với trung tâm đỉnh đầu là một trong ba yếu tố cao hơn ấy.
|
|
354. There may also be a relationship in which the Planetary Logos represents the entire crown center and Sanat Kumara the heart within the head within that crown.
|
354. Cũng có thể có một mối liên hệ trong đó Hành Tinh Thượng đế đại diện cho toàn bộ trung tâm đỉnh đầu và Đức Sanat Kumara là tim bên trong đầu bên trong trung tâm đỉnh đầu ấy.
|
|
355. A number of possible correspondences are here proposed. We can see that such correspondences would be rather intricate and would have to be worked out with care. Much depends upon whether we group various centers or groups as if they were all one unit (which in a way they are) or whether we consider them independently. The relationships change accordingly.
|
355. Ở đây đưa ra một số tương ứng khả dĩ. Chúng ta có thể thấy rằng những tương ứng như vậy sẽ khá phức tạp và phải được triển khai cẩn trọng. Nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta nhóm các trung tâm hay các nhóm khác nhau như thể chúng đều là một đơn vị (mà theo một nghĩa nào đó thì đúng vậy) hay chúng ta xét chúng độc lập. Các mối liên hệ thay đổi theo đó.
|
|
75: There are seven Kumaras connected with our planetary evolution, of Whom four are exoteric; the four exoteric have vehicles in etheric matter; three Kumaras are esoteric and have their vehicles in subtler matters still.
|
75: Có bảy Kumara liên hệ với tiến hoá hành tinh của chúng ta, trong số đó bốn vị là ngoại môn; bốn vị ngoại môn có các vận cụ trong vật chất dĩ thái; ba Kumara là nội môn và có các vận cụ trong những vật chất còn vi tế hơn nữa.
|
|
356. We must question the nature of the etheric matter here referenced. Is DK talking about cosmic etheric matter—the matter of the systemic buddhic, atmic, monadic and logoic planes? If so, the still subtler matter in which the three esoteric Kumaras would have their vehicles could refer to the cosmic astral plane.
|
356. Chúng ta phải đặt câu hỏi về bản chất của vật chất dĩ thái được nhắc đến ở đây. Chân sư DK đang nói về vật chất dĩ thái vũ trụ—vật chất của các cõi Bồ đề, atma, chân thần và thượng đế của hệ thống chăng? Nếu vậy, thì vật chất còn vi tế hơn nữa mà ba Kumara nội môn có các vận cụ trong đó có thể ám chỉ cõi cảm dục vũ trụ.
|
|
Sanat Kumara, The Lord of the world, is the representative on earth of the specialized force of the planetary Logos; the other six Kumaras transmit energy from the other six planetary schemes.
|
Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới, là đại diện trên Trái Đất của mãnh lực chuyên biệt của Hành Tinh Thượng đế; sáu Kumara còn lại truyền năng lượng từ sáu hệ hành tinh còn lại.
|
|
357. Are we speaking here of “sacred” schemes, the vehicles of manifestation of the sacred Planetary Logoi? This is not necessarily the case. There are certainly more than “the other six planetary schemes” in relation to the Earth-scheme.
|
357. Ở đây chúng ta đang nói về các hệ “thiêng liêng”, các vận cụ biểu lộ của các Hành Tinh Thượng đế thiêng liêng chăng? Điều này không nhất thiết đúng. Chắc chắn có nhiều hơn “sáu hệ hành tinh còn lại” liên hệ với hệ Trái Đất.
|
|
358. Can it be that the synthesizing schemes are removed from consideration? If so, this would present its own problems, because the elimination of Uranus would deprive the set up of the major seventh ray planet (from the soul perspective).
|
358. Có thể nào các hệ tổng hợp bị loại khỏi sự xét đến? Nếu vậy, điều này sẽ nảy sinh những vấn đề riêng, vì việc loại bỏ Sao Thiên Vương sẽ tước đi của cấu trúc này hành tinh cung bảy chủ yếu (từ quan điểm linh hồn).
|
|
359. There may be ways in which schemes are combined in such a manner as to represent a particular ray. Venus, Jupiter and Neptune all represent the second ray, and each can claim relationship to the sixth as well.
|
359. Có thể có những cách mà các hệ được kết hợp sao cho đại diện cho một cung nhất định. Sao Kim, Sao Mộc và Sao Hải Vương đều đại diện cho cung hai, và mỗi hành tinh cũng có thể nhận mối liên hệ với cung sáu.
|
|
360. What we can gather from this statement is that each Kumara is representative of one of the seven rays, and so are the planetary schemes or combinations of planetary schemes. In some manner not yet disclosed, the “other six Kumaras” each transmits a particular ray energy and is a representative of one (or perhaps more) planetary schemes correlated with the ray energy which it represents.
|
360. Điều chúng ta có thể rút ra từ phát biểu này là mỗi Kumara là đại diện của một trong bảy cung, và các hệ hành tinh hay các tổ hợp các hệ hành tinh cũng vậy. Theo một cách nào đó chưa được tiết lộ, “sáu Kumara còn lại” mỗi vị truyền một năng lượng cung nhất định và là đại diện của một (hoặc có lẽ nhiều hơn) hệ hành tinh tương quan với năng lượng cung mà vị ấy đại diện.
|
|
76: S. D., I, 186-189.
|
76: Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 186-189.
|
|
The second hint I seek to give, lies in the triangle formed by the Earth, Mars and Mercury.
|
Gợi ý thứ hai mà tôi tìm cách đưa ra nằm trong tam giác được tạo bởi Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thủy.
|
|
361. Each of these planets is related to an expression of the kundalini energy. The Earth upholds a base of the spine center function within our solar system and is, therefore, must be a repository of systemic kundalini energy. This is not to say that the Earth would be the only repository of this energy.
|
361. Mỗi hành tinh này liên hệ đến một biểu hiện của năng lượng kundalini. Trái Đất duy trì một chức năng trung tâm đáy cột sống trong hệ mặt trời chúng ta và vì vậy hẳn phải là một kho chứa năng lượng kundalini của hệ thống. Điều này không có nghĩa Trái Đất là kho chứa duy nhất của năng lượng ấy.
|
|
In connection with this triangle, the analogy lies in the fact that Mercury and the centre at the base of the spine in the human being are closely allied. Mercury demonstrates kundalini in intelligent activity, while Mars demonstrates kundalini latent. The truth lies hid in their two astrological symbols.
|
Liên quan đến tam giác này, phép tương đồng nằm ở chỗ Sao Thủy và trung tâm đáy cột sống trong con người có liên minh chặt chẽ. Sao Thủy biểu hiện kundalini trong hoạt động thông tuệ, trong khi Sao Hỏa biểu hiện kundalini tiềm ẩn. Chân lý nằm ẩn trong hai biểu tượng chiêm tinh của chúng.
|
|
362. What symbol shall we use for Mars, for we have a choice? The truth in relation to their kundalinic functions is apparently hidden in their symbols. At least such truth is not easily seen—apparently.
|
362. Chúng ta sẽ dùng biểu tượng nào cho Sao Hỏa, vì chúng ta có một lựa chọn? Chân lý liên quan đến các chức năng kundalini của chúng hiển nhiên được ẩn trong các biểu tượng của chúng. Ít nhất, chân lý ấy không dễ thấy—rõ ràng là vậy.
|
|
363. The circle in such astrological symbols represents the Spirit which has been (in relation to kundalini) imbedded in matter.
|
363. Vòng tròn trong các biểu tượng chiêm tinh như thế đại diện cho Tinh thần đã được (liên quan đến kundalini) cắm sâu trong vật chất.
|
|
364. If the symbol for Mars were the cross over the circle, we could understand that Mars would represent kundalini latent or unexpressed, for the cross of matter would be, as it were, ‘holding down’ the circle of spirit.
|
364. Nếu biểu tượng của Sao Hỏa là thập giá trên vòng tròn, chúng ta có thể hiểu rằng Sao Hỏa sẽ đại diện cho kundalini tiềm ẩn hay chưa biểu lộ, vì thập giá của vật chất sẽ, như thể, ‘đè xuống’ vòng tròn của tinh thần.
|
|
365. Mars would also be related to that part of kundalini which is represented by “latent fire”.
|
365. Sao Hỏa cũng sẽ liên hệ đến phần kundalini được đại diện bởi “lửa tiềm ẩn”.
|
|
366. The symbol for Earth is the cross within the circle, and this would represent a less suppressed state of the kundalini.
|
366. Biểu tượng của Trái Đất là thập giá bên trong vòng tròn, và điều này sẽ đại diện cho một trạng thái ít bị ức chế hơn của kundalini.
|
|
367. In the symbol for Mercury we have the circle of Spirit surmounting the cross and the crescent of conscious receptivity surmounting the circle. In this case the kundalini is liberated and ‘climbing’ intelligently. Mercury, at a point in human evolution beyond the third degree, represents the ajna center from which the rising of kundalini is intelligently directed. As well, the kundalini is said to ‘climb’ in figure-eights. The figure eight is closely associated with Mercury. Hence the aptness, on at least two counts, of Mercury’s association with “kundalini in intelligent activity”.
|
367. Trong biểu tượng của Sao Thủy, chúng ta có vòng tròn của Tinh thần ở trên thập giá và lưỡi liềm của tính tiếp nhận hữu thức ở trên vòng tròn. Trong trường hợp này kundalini được giải phóng và ‘leo lên’ một cách thông tuệ. Sao Thủy, tại một điểm trong tiến hoá nhân loại vượt quá bậc thứ ba, đại diện cho trung tâm ajna, từ đó sự dâng lên của kundalini được điều hướng một cách thông tuệ. Hơn nữa, kundalini được nói là ‘leo’ theo hình số tám. Hình số tám liên hệ chặt chẽ với Sao Thủy. Do đó sự thích đáng, ít nhất trên hai phương diện, của mối liên hệ của Sao Thủy với “kundalini trong hoạt động thông tuệ”.
|
|
368. The other (and more common) glyph for Mars—the circle of Spirit surmounted by an arrow tilted at approximately forty-five degrees may also suggest the fact that kundalini will rise when the time is right.
|
368. Biểu tượng khác (và phổ biến hơn) của Sao Hỏa—vòng tròn của Tinh thần được một mũi tên nghiêng khoảng bốn mươi lăm độ đặt lên trên—cũng có thể gợi ý sự kiện rằng kundalini sẽ dâng lên khi thời điểm đúng.
|
|
369. The forty-five degree angle is also the octile (the result of dividing the circle of 360 degrees by eight. Again the eight appears (as in the case of Mercury), not to mention that Mars is the ruler of the eighth sign, Scorpio.
|
369. Góc bốn mươi lăm độ cũng là bát phân (kết quả của việc chia vòng tròn 360 độ cho tám. Lại nữa con số tám xuất hiện (như trong trường hợp Sao Thủy), chưa kể Sao Hỏa là chủ tinh của dấu hiệu thứ tám, Hổ Cáp.
|
|
370. Another important interpretation of the latency of Mars and the activity of Mercury relates to the latent and active fires of the physical plane.
|
370. Một diễn giải quan trọng khác về tính tiềm ẩn của Sao Hỏa và tính hoạt động của Sao Thủy liên hệ đến các lửa tiềm ẩn và lửa hoạt động của cõi hồng trần.
|
|
371. Mars, the planet of heat, is easily associated with the fires of dense physical matter, the fires of the internal furnaces (though Vulcan would also be an important representative of such fires).
|
371. Sao Hỏa, hành tinh của nhiệt, dễ được liên hệ với các lửa của vật chất hồng trần đậm đặc, các lửa của những lò nung nội tại (dù Vulcan cũng sẽ là một đại diện quan trọng của các lửa như thế).
|
|
372. Mercury, a planet closely associated with the etheric body (associated in part with the sign Gemini, which Mercury rules, and with the second decanate of Aquarius which Mercury rules—Aquarius being a sign also associated with the etheric body) and with the third ray of active intelligence, is easily understood as the representative of “active fire” (the fires associated with prana and the etheric body).
|
372. Sao Thủy, một hành tinh liên hệ chặt chẽ với thể dĩ thái (liên hệ một phần với dấu hiệu Song Tử, mà Sao Thủy cai quản, và với thập độ thứ hai của Bảo Bình mà Sao Thủy cai quản—Bảo Bình là một dấu hiệu cũng liên hệ với thể dĩ thái) và với cung ba của thông tuệ hoạt động, dễ được hiểu là đại diện của “lửa hoạt động” (các lửa liên hệ với prana và thể dĩ thái).
|
|
373. From this perspective the two aspects of fire by friction (so much discussed in the foregoing pages) are well understood as represented by Mars and Mercury. The Earth (represented by a symbol which holds a kind of middle place between the symbols for Mars and Mercury) would represent a condition of equilibrised kundalinic energy, midway between latency and intelligent activity. (In fact Earth holds a true midway point between Mars and Venus (Mercury without a crescent Moon atop the circle of spirit).
|
373. Từ quan điểm này, hai phương diện của Lửa ma sát (được bàn nhiều trong các trang trước) được hiểu rõ là được Sao Hỏa và Sao Thủy đại diện. Trái Đất (được đại diện bởi một biểu tượng giữ một vị trí trung gian nào đó giữa các biểu tượng của Sao Hỏa và Sao Thủy) sẽ đại diện cho một tình trạng năng lượng kundalini quân bình, ở giữa tính tiềm ẩn và hoạt động thông tuệ. (Thực ra Trái Đất giữ một điểm ở giữa thực sự giữa Sao Hỏa và Sao Kim (Sao Thủy không có lưỡi liềm Mặt Trăng trên đỉnh vòng tròn tinh thần).
|
|
374. We should remember that the Earth is often associated with that which is “of the Earth earthy”, but also with the etheric nature. As well, in the series of triangles recently discussed in relation to the developmental stages of man, the base of the spine center is given as associated with the etheric plane. The symbol for the basal center and the Earth are identical—the cross surrounded by the circle. (cf. EA 78, 25 and TCF 165 and following)
|
374. Chúng ta nên nhớ rằng Trái Đất thường được liên hệ với điều “thuộc về Trái Đất, thô trược”, nhưng cũng liên hệ với bản chất dĩ thái. Hơn nữa, trong chuỗi tam giác vừa được bàn đến liên quan đến các giai đoạn phát triển của con người, trung tâm đáy cột sống được cho là liên hệ với cõi dĩ thái. Biểu tượng của trung tâm đáy và của Trái Đất là giống hệt nhau—thập giá được vòng tròn bao quanh. (xem EA 78, 25 và TCF 165 trở đi)
|
|
In transmutation and planetary geometrising, the secret may be revealed.
|
Trong sự chuyển hoá và sự hình học hoá hành tinh, bí mật có thể được hé lộ.
|
|
375. We have here a most occult hint. The implication is that the energy configurations representative of Mars are transmuted into those representative of Earth. The transmutation continues until the energy configurations representative of Earth are transmuted into those representative of Mercury.
|
375. Ở đây chúng ta có một gợi ý huyền bí sâu xa nhất. Hàm ý là các cấu hình năng lượng đại diện cho Sao Hỏa được chuyển hoá thành những cấu hình đại diện cho Trái Đất. Sự chuyển hoá tiếp tục cho đến khi các cấu hình năng lượng đại diện cho Trái Đất được chuyển hoá thành những cấu hình đại diện cho Sao Thủy.
|
|
376. When we read of “planetary geometrizing” we immediately think of the geometrical configurations representative of the various planets (as found in TCF, Charts VI and VIII, 373, 385). There are a number of geometrical hints given in the various representations of the planets. The diagrams for Mars, Earth and Mercury (whether as planetary schemes or planetary chains) are relative explicit and will admit of comparative interpretation—some fine day on which intuitive heroism prevails.
|
376. Khi đọc về “sự hình học hoá hành tinh”, chúng ta lập tức nghĩ đến các cấu hình hình học đại diện cho các hành tinh khác nhau (như được tìm thấy trong TCF, Biểu đồ VI và VIII, 373, 385). Có một số gợi ý hình học được đưa ra trong các biểu diễn khác nhau của các hành tinh. Các sơ đồ cho Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy (dù là như các hệ hành tinh hay các Dãy hành tinh) tương đối rõ ràng và sẽ cho phép diễn giải so sánh—vào một ngày nào đó khi chủ nghĩa anh hùng trực giác thắng thế.
|
|
377. Somehow, the geometries given may be associated with the stages of transmutation characteristic of the influence of each of these planets. Transmutation is most advanced in relation to Mercury (an alchemical planet) and least advanced in relation to Mars. The Earth holds a middle position.
|
377. Bằng cách nào đó, các hình học được đưa ra có thể được liên hệ với các giai đoạn chuyển hoá đặc trưng cho ảnh hưởng của từng hành tinh này. Sự chuyển hoá tiến xa nhất khi xét đến Sao Thủy (một hành tinh thuật luyện kim) và kém tiến xa nhất khi xét đến Sao Hỏa. Trái Đất giữ một vị trí trung gian.
|
|
b. The Grand Man of the Heavens. The seven Heavenly Men are the seven centres in the body of the Logos, bearing to Him a relationship identical with that borne by the Masters and Their affiliated groups, to some planetary Logos.
|
b. Con Người Vĩ Đại của Thiên Giới. Bảy Đấng Thiên Nhân là bảy trung tâm trong thể của Thượng đế, mang đối với Ngài một mối liên hệ y hệt như mối liên hệ mà các Chân sư và các nhóm liên kết của Các Ngài mang đối với một Hành Tinh Thượng đế nào đó.
|
|
378. We are lifting the consideration to the macrocosmic level.
|
378. Chúng ta đang nâng sự khảo sát lên cấp độ đại thiên địa.
|
|
379. By “the seven Heavenly Men”, are meant principally the Heavenly Men of the seven sacred planets, but, of course, there are more than seven Heavenly Men.
|
379. “Bảy Đấng Thiên Nhân” chủ yếu được hiểu là các Đấng Thiên Nhân của bảy hành tinh thiêng liêng, nhưng dĩ nhiên, có nhiều hơn bảy Đấng Thiên Nhân.
|
|
380. The “Masters” here referenced are (at first glance) the Masters to be found working within the ring-pass-not of our Planetary Logos. The hint, however, is interesting for we do not read of our Planetary Logos but of “some” Planetary Logos.
|
380. Các “Chân sư” được nhắc đến ở đây là (thoạt nhìn) các Chân sư được thấy đang làm việc bên trong vòng-giới-hạn của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Tuy nhiên, gợi ý này thật đáng chú ý, vì chúng ta không đọc về Hành Tinh Thượng đế của chúng ta mà về “một” Hành Tinh Thượng đế nào đó.
|
|
381. We may presume that not only do the Masters working upon and within our planet have a relation to the Planetary Logos of the Earth-scheme, but, perhaps, to a higher Planetary Logos, related to and yet superior to our Planetary Logos. Candidates for such a superior Planetary Logos would be, for instance, Venus and Saturn, as the Logoi of both of these schemes are closely related to the Planetary Logos of the Earth-scheme.
|
381. Chúng ta có thể giả định rằng không chỉ các Chân sư đang làm việc trên và trong hành tinh của chúng ta có một mối liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Trái Đất, mà có lẽ còn với một Hành Tinh Thượng đế cao hơn, có liên hệ và đồng thời vượt trội hơn Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Những ứng viên cho một Hành Tinh Thượng đế vượt trội như vậy có thể là, chẳng hạn, Sao Kim và Sao Thổ, vì các Hành Tinh Thượng đế của cả hai hệ này đều có liên hệ mật thiết với Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Trái Đất.
|
|
382. From another perspective, DK may be hinting that on every planet there are Masters to be found and that these Masters and Their affiliated groups are to be related to that particular Planetary Logos in whose body of manifestation these Masters are functioning.
|
382. Từ một góc nhìn khác, Chân sư DK có thể đang gợi ý rằng trên mỗi hành tinh đều có các Chân sư, và rằng các Chân sư ấy cùng các nhóm liên kết của Các Ngài có liên hệ với chính Hành Tinh Thượng đế đặc thù mà trong thể biểu hiện của Ngài, các Chân sư ấy đang hoạt động.
|
|
Systemic kundalini goes forward to the vivification of these centres, and at this stage of development certain centres are more closely allied than others.
|
Kundalini của hệ thống tiến lên để tiếp sinh lực cho các trung tâm này, và ở giai đoạn phát triển này, một số trung tâm liên kết mật thiết với nhau hơn những trung tâm khác.
|
|
383. The progress of kundalini within a solar system is analogous to that within man, the microcosm. The centers or chakras are vivified in a particular order according to their relative degree of elevation within the solar system, and according to the monadic ray of the particular Solar Logos in question.
|
383. Sự tiến triển của kundalini trong một hệ mặt trời tương tự như sự tiến triển của nó trong con người, tiểu thiên địa. Các trung tâm hay luân xa được tiếp sinh lực theo một trật tự nhất định, tuỳ theo mức độ thăng cao tương đối của chúng trong hệ mặt trời, và tuỳ theo cung chân thần của Thái dương Thượng đế đang được xét.
|
|
384. It is important for us to fathom the alliances between various of the planets in our solar system. This will be revealed by a close study of the Science of Triangles, systemically considered.
|
384. Điều quan trọng đối với chúng ta là thấu triệt các liên minh giữa nhiều hành tinh khác nhau trong hệ mặt trời của chúng ta. Điều này sẽ được tiết lộ qua việc nghiên cứu kỹ Khoa Học về Tam Giác, xét theo bình diện hệ thống.
|
|
Just as in connection with our planetary Logos, the three etheric planets of our chain—Earth, Mercury and Mars77
—form a triangle of rare importance,
|
Cũng như liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, ba hành tinh dĩ thái của dãy của chúng ta—Trái Đất, Sao Thủy và Sao Hỏa77—tạo thành một tam giác có tầm quan trọng hiếm có,
|
|
385. The Tibetan is now (apparently) speaking of the fourth planetary chain of our Earth scheme, the Earth-chain.
|
385. Chân sư Tây Tạng hiện đang (dường như) nói về dãy hành tinh thứ tư của hệ Trái Đất của chúng ta, tức Dãy Địa Cầu.
|
|
386. Within that chain, three planets or globes are referred to as “etheric planets”.
|
386. Trong dãy đó, ba hành tinh hay bầu hành tinh được gọi là “các hành tinh dĩ thái”.
|
|
387. To call Earth, Mars and Mercury the “three etheric planets of our chain” is, in some ways, a peculiar statement, as the Earth-globe is the one globe in our Earth-chain which actually has a physical globe. In what way, then, is the Earth-globe to be considered “etheric”?
|
387. Gọi Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thủy là “ba hành tinh dĩ thái của dãy của chúng ta” theo một vài phương diện là một phát biểu kỳ lạ, vì bầu Địa Cầu là bầu duy nhất trong Dãy Địa Cầu của chúng ta thực sự có một bầu hồng trần. Vậy thì, theo cách nào bầu Địa Cầu lại được xem là “dĩ thái”?
|
|
388. The Mars and Mercury globes, however, are said to have for their densest sphere an etheric sphere. They have no dense physical body.
|
388. Tuy nhiên, các bầu Sao Hỏa và Sao Thủy được nói là có khối cầu đậm đặc nhất của chúng là một khối cầu dĩ thái. Chúng không có một thể xác hồng trần đậm đặc.
|
|
389. Perhaps we can interpret the fact that the Earth is named as an etheric planet by realizing that the etheric body of any planet is its true physical body. The dense physical body is not considered a principle.
|
389. Có lẽ chúng ta có thể diễn giải việc Trái Đất được nêu tên như một hành tinh dĩ thái bằng cách nhận ra rằng thể dĩ thái của bất kỳ hành tinh nào chính là thể xác đích thực của nó. Thể xác hồng trần đậm đặc không được xem là một nguyên khí.
|
|
390. There are also chains in our planetary scheme which are called the Earth-chain, Mercury-chain and Mars-chain.
|
390. Cũng có những dãy trong hệ hành tinh của chúng ta được gọi là Dãy Địa Cầu, Dãy Sao Thủy và Dãy Sao Hỏa.
|
|
391. The Earth-chain is the fourth; the Mercury-chain the fifth and the Mars-chain the sixth (cf. TCF 385). In some Theosophical charts, the Mars-globe of the Earth-chain is considered the third and the Mercury-globe the fifth (as indicated above) but this order, apparently, does not extend to the chain level.
|
391. Dãy Địa Cầu là dãy thứ tư; Dãy Sao Thủy là dãy thứ năm và Dãy Sao Hỏa là dãy thứ sáu (x. TCF 385). Trong một số biểu đồ Thông Thiên Học, bầu Sao Hỏa của Dãy Địa Cầu được xem là bầu thứ ba và bầu Sao Thủy là bầu thứ năm (như đã nêu ở trên) nhưng trật tự này, dường như, không mở rộng đến cấp độ dãy.
|
|
392. We also remember that Earth and the base of the spine are related to the etheric body.
|
392. Chúng ta cũng nhớ rằng Trái Đất và đáy cột sống có liên hệ với thể dĩ thái.
|
|
393. These three planets are of great importance within the solar system because of their direct relation to the kundalini force.
|
393. Ba hành tinh này có tầm quan trọng lớn trong hệ mặt trời vì mối liên hệ trực tiếp của chúng với mãnh lực kundalini.
|
|
so it may be here said that at the present point in evolution of the logoic centres,
|
vì vậy, ở đây có thể nói rằng tại điểm tiến hoá hiện nay của các trung tâm logoic,
|
|
394. For, indeed, logoic centers or chakras evolve or unfold just as do the centers or chakras of the human microcosm.
|
394. Vì quả thật, các trung tâm hay luân xa logoic tiến hoá hay khai mở cũng như các trung tâm hay luân xa của tiểu thiên địa nhân loại.
|
|
Venus, Earth and Saturn form one triangle of great interest. It is a triangle that is at this time undergoing vivification
[182] through the action of kundalini; it is consequently increasing the vibratory capacity of the centres, which are becoming slowly fourth-dimensional.
|
Sao Kim, Trái Đất và Sao Thổ tạo thành một tam giác rất đáng quan tâm. Đó là một tam giác hiện đang trải qua sự tiếp sinh lực [182] qua tác động của kundalini; do đó, nó đang gia tăng năng lực rung động của các trung tâm, vốn đang dần dần trở thành bốn chiều.
|
|
395. While, as a triangle, Venus, Earth and Saturn may not represented solar systemic kundalini, the three are undergoing vivification by that kundalini.
|
395. Tuy với tư cách một tam giác, Sao Kim, Trái Đất và Sao Thổ có thể không đại diện cho kundalini của hệ mặt trời, nhưng cả ba đang được kundalini ấy tiếp sinh lực.
|
|
396. Microcosmically (i.e., in relation to man), Venus represents the ajna center, Earth the throat (or spleen, or, perhaps, base of the spine) and Saturn the throat.
|
396. Ở bình diện tiểu thiên địa (tức liên hệ với con người), Sao Kim đại diện cho trung tâm ajna, Trái Đất cho cổ họng (hoặc lá lách, hoặc có lẽ đáy cột sống) và Sao Thổ cho cổ họng.
|
|
397. From a solar systemic perspective, Saturn could easily represent the throat, Earth the base of the spine and Venus, the heart. It is ambiguous whether Venus is to be taken as the heart chakra within the chakric expression of the Solar Logos.
|
397. Ở bình diện hệ mặt trời, Sao Thổ có thể dễ dàng đại diện cho cổ họng, Trái Đất cho đáy cột sống và Sao Kim cho tim. Việc Sao Kim có được hiểu là luân xa tim trong biểu hiện luân xa của Thái dương Thượng đế hay không vẫn còn mơ hồ.
|
|
“First. Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence.
|
“Thứ nhất. Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể logoic, và vì vậy có mối liên hệ tương hỗ với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời, nơi mà phương diện tim là phương diện nổi bật hơn cả.
|
|
Second. Saturn corresponds to the throat centre, or to the creative activity of the third aspect. (TCF 182)
|
Thứ hai. Sao Thổ tương ứng với trung tâm cổ họng, hay với hoạt động sáng tạo của phương diện thứ ba. (TCF 182)
|
|
398. There are other possibilities for Venus; it may very well have more to do with the solar logoic solar plexus that with the heart center, as it is the “home” of the Planetary Logos of the sixth ray.
|
398. Còn có những khả năng khác đối với Sao Kim; rất có thể nó liên quan đến tùng thái dương logoic của Thái dương Thượng đế hơn là trung tâm tim, vì nó là “nơi cư ngụ” của Hành Tinh Thượng đế của cung sáu.
|
|
399. We have been reading about the meaning of fourth-dimensional rotation in relation to any chakra.
|
399. Chúng ta đã đọc về ý nghĩa của sự xoay chuyển bốn chiều liên hệ với bất kỳ luân xa nào.
|
|
400. Is DK telling us that Venus, Saturn and Earth as chakras within the Solar Logos are each and all becoming fourth dimensional at this time? This possibility could well be understood of Venus and even of the Earth (as it is, developmentally, passing through a kind of fourth initiation—at least with respect to its fourth chain), but Saturn, though an advanced Logos, has only progressed to the fourth globe of its third chain, and is, thus, not very far unfolded (cf. EA 693) and so the fourth dimensional rotation of Saturn considered as a solar systemic chakra would be unlikely.
|
400. Chân sư DK có đang nói với chúng ta rằng Sao Kim, Sao Thổ và Trái Đất, như các luân xa trong Thái dương Thượng đế, hiện nay mỗi hành tinh đều đang trở thành bốn chiều hay không? Khả năng này có thể được hiểu đối với Sao Kim và thậm chí đối với Trái Đất (vì về mặt phát triển, nó đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư—ít nhất là xét theo dãy thứ tư của nó), nhưng Sao Thổ, dù là một Thượng đế tiến hoá cao, mới chỉ tiến đến bầu thứ tư của dãy thứ ba của nó, và vì vậy chưa khai mở nhiều (x. EA 693), nên sự xoay chuyển bốn chiều của Sao Thổ, nếu được xem như một luân xa của hệ mặt trời, sẽ khó có khả năng xảy ra.
|
|
401. In comparing these two triangles, we note that they have Earth in common. Thus Mercury and Mars are to be compared with Venus and Saturn. Mercury has a relation to both Venus and Saturn, and Mars does also (being part of a natural planetary pair with Venus, and belonging with Saturn to the expression of a great third ray Entity). Mercury with Venus is part of the hermaphroditic mind and Mercury and Saturn are both highly mental planets.
|
401. Khi so sánh hai tam giác này, chúng ta lưu ý rằng chúng có Trái Đất làm điểm chung. Vì vậy Sao Thủy và Sao Hỏa cần được so sánh với Sao Kim và Sao Thổ. Sao Thủy có liên hệ với cả Sao Kim lẫn Sao Thổ, và Sao Hỏa cũng vậy (vì là một phần của một cặp hành tinh tự nhiên với Sao Kim, và cùng với Sao Thổ thuộc về sự biểu lộ của một Thực Thể cung ba vĩ đại). Sao Thủy với Sao Kim là một phần của thể trí lưỡng tính, và Sao Thủy cùng Sao Thổ đều là những hành tinh rất trí tuệ.
|
|
77
: The chains of any planetary scheme are frequently called by the names of the seven sacred planets, making the study of the Law of Correspondences easier;
|
77: Các dãy của bất kỳ hệ hành tinh nào thường được gọi theo tên của bảy hành tinh thiêng liêng, khiến việc nghiên cứu định luật tương ứng trở nên dễ dàng hơn;
|
|
402. There is some ease to be gained by this method of naming, but also some confusion, against which the Tibetan warns us later.
|
402. Phương pháp đặt tên này đem lại một sự thuận tiện nhất định, nhưng cũng gây ra một số nhầm lẫn mà Chân sư Tây Tạng sẽ cảnh báo chúng ta về sau.
|
|
403. It is clear that smaller structures such as globes are related to larger structures such as chains and schemes, and that chains (considered as smaller structures) correspond to schemes considered as greater structures.
|
403. Rõ ràng các cấu trúc nhỏ hơn như các bầu hành tinh có liên hệ với các cấu trúc lớn hơn như các dãy và các hệ, và các dãy (được xem như các cấu trúc nhỏ hơn) tương ứng với các hệ được xem như các cấu trúc lớn hơn.
|
|
similarly, the globes of any chain are called by planetary names, as is the case here. There are planetary schemes called Mars and Mercury.
|
tương tự, các bầu của bất kỳ dãy nào cũng được gọi theo tên hành tinh, như trường hợp ở đây. Có những hệ hành tinh được gọi là Sao Hỏa và Sao Thủy.
|
|
404. Our task, and it will be a big one, will be to correlate the relationships between the globes, chains and schemes which are called by the same planetary name.
|
404. Nhiệm vụ của chúng ta, và đó sẽ là một nhiệm vụ lớn, là liên kết các mối quan hệ giữa các bầu, các dãy và các hệ vốn được gọi bằng cùng một tên hành tinh.
|
|
It is not yet permissible to point out others of the great triangles, but as regards the centres, we may here give two hints:
|
Chưa được phép chỉ ra các tam giác lớn khác, nhưng liên quan đến các trung tâm, ở đây chúng ta có thể đưa ra hai gợi ý:
|
|
405. Other great triangles can be intuited. For example: Venus, Jupiter. Neptune: or Saturn, Neptune, Uranus; or Earth, Mars, Pluto.
|
405. Những tam giác lớn khác có thể được trực giác nhận ra. Ví dụ: Sao Kim, Sao Mộc, Sao Hải Vương; hoặc Sao Thổ, Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương; hoặc Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Diêm Vương.
|
|
406. The book Esoteric Astrology written later than TCF reveals the existence and nature of quite a number of such triangles.
|
406. Quyển sách Chiêm Tinh Học Nội Môn được viết sau TCF đã tiết lộ sự hiện hữu và bản chất của khá nhiều tam giác như thế.
|
|
407. If logic is used we will understand that if any two chakras are taken as a pair, that pair will necessarily be related to every other chakra within the chakra system considered. Thus, within any system of a given number of chakras, every possible triangle must be identified and evaluated for its significance.
|
407. Nếu dùng logic, chúng ta sẽ hiểu rằng nếu bất kỳ hai luân xa nào được lấy làm một cặp, thì cặp đó tất yếu sẽ liên hệ với mọi luân xa khác trong hệ luân xa đang được xét. Vì vậy, trong bất kỳ hệ nào có một số lượng luân xa nhất định, mọi tam giác khả dĩ đều phải được nhận diện và đánh giá theo thâm nghĩa của nó.
|
|
First. Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence.
|
Thứ nhất. Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể logoic, và vì vậy có mối liên hệ tương hỗ với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời, nơi mà phương diện tim là phương diện nổi bật hơn cả.
|
|
408. There may be a blind concealed here. It seems a very straightforward statement, but what of Jupiter which in the human microcosmic system is related to the heart, whereas Venus is related to the ajna center?
|
408. Ở đây có thể có một sự che giấu. Nó có vẻ là một phát biểu rất thẳng thắn, nhưng còn Sao Mộc thì sao, vốn trong hệ tiểu thiên địa nhân loại liên hệ với tim, trong khi Sao Kim liên hệ với trung tâm ajna?
|
|
409. Also, Venus has place within the esoteric quaternary of the Solar Logos. The quaternary is the personality nature, and the chakras ruling any personality nature are always sub-diaphragmatic.
|
409. Ngoài ra, Sao Kim có vị trí trong bộ tứ phân nội môn của Thái dương Thượng đế. Bộ tứ phân là bản chất phàm ngã, và các luân xa cai quản bất kỳ bản chất phàm ngã nào luôn luôn là các luân xa dưới cơ hoành.
|
|
410. It is to be considered whether Venus is to be understood as the ‘heart’ center within the lower chakras of the Solar Logos, among which Mars, Earth and Pluto would be numbered. There is much to associate Venus with the solar plexus center of the Logos, Mars with the sacral, Earth with the splenic center and Pluto with the base of the spine. Venus, then, would be the redeemer of these three planets, and placed in the highest of the sub-diaphragmatic positions relative to them—the position of the solar plexus.
|
410. Cần xét xem liệu Sao Kim có nên được hiểu là trung tâm “tim” trong các luân xa thấp của Thái dương Thượng đế hay không, trong đó Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Diêm Vương sẽ được kể vào. Có nhiều điều để liên hệ Sao Kim với trung tâm tùng thái dương của Thượng đế, Sao Hỏa với xương cùng, Trái Đất với trung tâm lá lách và Sao Diêm Vương với đáy cột sống. Khi đó, Sao Kim sẽ là đấng cứu chuộc của ba hành tinh này, và được đặt ở vị trí cao nhất trong các vị trí dưới cơ hoành tương đối với chúng—vị trí của tùng thái dương.
|
|
411. Venus almost certainly has a sixth ray Monad:
|
411. Sao Kim hầu như chắc chắn có một chân thần cung sáu:
|
|
“In the sixth Scheme, that of Venus, this can be seen clearly; it is the scheme of love. Viewed from one angle, the Venusian Scheme is the second, and from another it is the sixth. It depends upon whether we reason from the circumference to the centre or the reverse.
|
“Trong hệ thứ sáu, tức hệ Sao Kim, điều này có thể thấy rõ; đó là hệ của bác ái. Nhìn từ một góc, hệ Sao Kim là thứ hai, và từ một góc khác nó là thứ sáu. Điều này tuỳ thuộc vào việc chúng ta suy luận từ chu vi vào trung tâm hay ngược lại.
|
|
It is the home of the planetary Logos of the sixth Ray.
This may sound like a contradiction, but it is not so really; we must remember the interlocking, the gradual shifting and changing, that takes place in time on all [596] the Rays. In the same way the Earth chain is the third if viewed from one aspect and the fifth viewed from another.” (TCF 595-596)
|
Đó là nơi cư ngụ của Hành Tinh Thượng đế của cung sáu.
Điều này có thể nghe như một mâu thuẫn, nhưng thật ra không phải vậy; chúng ta phải nhớ sự lồng ghép, sự dịch chuyển dần dần và sự thay đổi diễn ra theo thời gian trên mọi [596] cung. Cũng theo cách ấy, Dãy Địa Cầu là thứ ba nếu nhìn từ một phương diện và là thứ năm nếu nhìn từ một phương diện khác.” (TCF 595-596)
|
|
The word “home” relates to the Monad, for Uranus (a planet with a first ray Monad—cf. EP I 420)) is called the “home of ‘fire electric’” (TCF 1154)
|
Từ “nơi cư ngụ” liên hệ đến chân thần, vì Sao Thiên Vương (một hành tinh có chân thần cung một—x. EP I 420)) được gọi là “nơi cư ngụ của ‘lửa điện’” (TCF 1154)
|
|
412. Thus, Venus will certainly be associated in some way with solar plexus function.
|
412. Vì vậy, Sao Kim chắc chắn sẽ được liên hệ theo một cách nào đó với chức năng tùng thái dương.
|
|
413. We live in an astral-buddhic solar system (TCF 176), and have not yet taken our fourth interim initiation nor cosmic third initiation (cf. TCF 384) Thus, systemically, our heart center cannot be fully developed. Yet Venus, in terms of its unfoldment, is the most developed planet and has already entered the processes of obscuration. This would fit if Venus represented the solar plexus, but not if Venus truly represented the heart center, which will only fully unfold just before the fourth cosmic initiation.
|
413. Chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời cảm dục–Bồ đề (TCF 176), và chưa thực hiện lần điểm đạo tạm thời thứ tư cũng như lần điểm đạo vũ trụ thứ ba (x. TCF 384). Vì vậy, xét theo hệ thống, trung tâm tim của chúng ta không thể được phát triển đầy đủ. Tuy nhiên, Sao Kim, xét theo sự khai mở của nó, là hành tinh phát triển nhất và đã bước vào các tiến trình che khuất. Điều này sẽ phù hợp nếu Sao Kim đại diện cho tùng thái dương, nhưng không phù hợp nếu Sao Kim thật sự đại diện cho trung tâm tim, vốn chỉ khai mở hoàn toàn ngay trước lần điểm đạo vũ trụ thứ tư.
|
|
414. The heart center should not be considered related to the logoic quaternary. It is more the organ of soul and of buddhi.
|
414. Trung tâm tim không nên được xem là liên hệ với bộ tứ phân logoic. Nó đúng hơn là cơ quan của linh hồn và của Bồ đề.
|
|
415. DK uses the word “corresponds” when He speaks of Venus’ relation to the heart center. We have to ask, “In what context does this correspondence apply?” Is the context the entirety of the solar system, or is the context that part of the solar system which can be considered sub-diaphragmatic and part of the solar logoic quaternary?
|
415. Chân sư DK dùng từ “tương ứng” khi Ngài nói về mối liên hệ của Sao Kim với trung tâm tim. Chúng ta phải hỏi: “Sự tương ứng này áp dụng trong bối cảnh nào?” Bối cảnh là toàn thể hệ mặt trời, hay là phần của hệ mặt trời có thể được xem là dưới cơ hoành và thuộc về bộ tứ phân logoic của Thái dương Thượng đế?
|
|
Second. Saturn corresponds to the throat centre, or to the creative activity of the third aspect.
|
Thứ hai. Sao Thổ tương ứng với trung tâm cổ họng, hay với hoạt động sáng tạo của phương diện thứ ba.
|
|
416. With this correspondence there seems to be no difficulty. Saturn is a deeply third ray planet, perhaps in both its soul and monadic nature, and the throat center is a center intimately associated with the third ray.
|
416. Với sự tương ứng này dường như không có khó khăn. Sao Thổ là một hành tinh cung ba rất sâu sắc, có lẽ cả trong bản chất linh hồn lẫn chân thần của nó, và trung tâm cổ họng là một trung tâm gắn bó mật thiết với cung ba.
|
|
417. If we for a moment credit Venus as pertaining to the solar logoic heart, then the throat, heart and base of the spine (from one angle) would be the systemic triangle being activated by systemic kundalini. This activation would correspond to man at the mental stage of development.
|
417. Nếu trong chốc lát chúng ta chấp nhận Sao Kim thuộc về tim logoic của Thái dương Thượng đế, thì cổ họng, tim và đáy cột sống (từ một góc nhìn) sẽ là tam giác hệ thống đang được kundalini của hệ thống kích hoạt. Sự kích hoạt này sẽ tương ứng với con người ở giai đoạn phát triển thể trí.
|
|
“3. Man controlled from the mental plane.
|
“3. Con người được kiểm soát từ cõi trí.
|
|
a.
The base of the spine.
|
a.
Đáy cột sống.
|
|
b.
The heart.
|
b.
Tim.
|
|
c.
The throat. (TCF 169)
|
c. Cổ họng. (TCF 169)
|
|
418. Yet, our Solar Logos, in one respect, is not entirely controlled from the mental plane, still having much to do to master His emotions (as the battle is being fought out on the fourth subplane of the cosmic astral plane, we are told).
|
418. Tuy nhiên, Thái dương Thượng đế của chúng ta, xét theo một phương diện, chưa hoàn toàn được kiểm soát từ cõi trí, vẫn còn nhiều việc phải làm để chế ngự cảm xúc của Ngài (vì chúng ta được nói rằng trận chiến đang diễn ra trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ).
|
|
419. From another perspective, our Logos is a cosmic initiate of the second degree in process of moving towards the third cosmic initiation (cf. TCF 384)
|
419. Từ một góc nhìn khác, Thượng đế của chúng ta là một điểm đạo đồ vũ trụ bậc hai đang tiến tới lần điểm đạo vũ trụ thứ ba (x. TCF 384)
|
|
420. When we are told that the Solar Logos, like our Planetary Logos, is “midway through His career upon the cosmic Path of Initiation” what exactly does this mean? Is the midway point between the second and third cosmic initiation the midway point? Midway between the first and fifth cosmic initiations? It seems reasonable, if only the major five initiations are being considered. The Solar Logos, we are told, may take His fifth cosmic initiation in the present solar system.
|
420. Khi chúng ta được nói rằng Thái dương Thượng đế, giống như Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, đang “ở điểm giữa trong sự nghiệp của Ngài trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ”, điều này chính xác có nghĩa là gì? Điểm ở giữa giữa lần điểm đạo vũ trụ thứ hai và thứ ba là điểm ở giữa hay sao? Hay điểm ở giữa giữa lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất và thứ năm? Điều đó có vẻ hợp lý, nếu chỉ xét năm lần điểm đạo chính. Chúng ta được nói rằng Thái dương Thượng đế có thể thực hiện lần điểm đạo vũ trụ thứ năm trong hệ mặt trời hiện tại.
|
|
As evolution proceeds, the other centres attain a more pronounced vibration and the fire (circulating triangularly) will bring them into greater prominence; the two above mentioned, however, are of prime importance at this time.
|
Khi tiến hoá tiếp diễn, các trung tâm khác đạt đến một rung động rõ nét hơn và lửa (luân chuyển theo hình tam giác) sẽ đưa chúng vào vị thế nổi bật hơn; tuy nhiên, hai trung tâm đã nêu ở trên có tầm quan trọng hàng đầu vào lúc này.
|
|
421. Of course, we will have to ask why this should be the case.
|
421. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ phải hỏi vì sao điều này lại như vậy.
|
|
422. Mars, Earth and Mercury could be important because of the upward rising of both latent and active fires (by friction) within our system.
|
422. Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy có thể quan trọng vì sự vươn lên hướng thượng của cả các lửa tiềm ẩn lẫn các lửa hoạt động (do ma sát) trong hệ của chúng ta.
|
|
423. Venus, Saturn and the Earth may related to the fusing of the third and second aspects of divinity, for Saturn and Earth are much associated with the third ray and Venus with the soft line energy—especially rays two and six.
|
423. Sao Kim, Sao Thổ và Trái Đất có thể liên hệ đến sự dung hợp của phương diện thứ ba và thứ hai của thiên tính, vì Sao Thổ và Trái Đất gắn bó nhiều với cung ba, còn Sao Kim gắn với năng lượng đường mềm—đặc biệt là các cung hai và sáu.
|
|
424. When we think of Venus, Saturn and the Earth, is it not illuminating to consider Venus, Saturn and Jupiter—the homes (presently) for the three super principles? We can see from the following, why considering Venus, Saturn and Jupiter is not far fetched in this context:
|
424. Khi chúng ta nghĩ về Sao Kim, Sao Thổ và Trái Đất, chẳng phải thật soi sáng khi xét Sao Kim, Sao Thổ và Sao Mộc—những nơi cư ngụ (hiện nay) của ba siêu nguyên khí hay sao? Chúng ta có thể thấy từ đoạn sau vì sao việc xét Sao Kim, Sao Thổ và Sao Mộc không hề khiên cưỡng trong bối cảnh này:
|
|
“We might consider—from the standpoint of the present—that Venus, Jupiter and Saturn might be considered as the vehicles of the three super-principles at this time. Mercury, the Earth and Mars are closely allied to these three, but a hidden mystery lies here. (TCF 299)
|
“Chúng ta có thể xét—từ quan điểm của hiện tại—rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ có thể được xem là các vận cụ của ba siêu nguyên khí vào lúc này. Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa có liên hệ mật thiết với ba hành tinh này, nhưng ở đây có một huyền nhiệm ẩn giấu. (TCF 299)
|
|
425. All the planets we have been considering are here represented, with Jupiter taking the place of Earth in the higher triangle.
|
425. Tất cả các hành tinh mà chúng ta đã xét đều được nêu ở đây, với Sao Mộc thay thế vị trí của Trái Đất trong tam giác cao hơn.
|
|
426. In some way the higher triangle may be considered a higher correspondence to the lower. There is no way to know how to arrange the higher three as a number of arrangements are justifiable.
|
426. Theo một cách nào đó, tam giác cao hơn có thể được xem là một sự tương ứng cao hơn của tam giác thấp hơn. Không có cách nào biết phải sắp xếp ba hành tinh cao hơn như thế nào, vì có nhiều cách sắp xếp đều có thể biện minh.
|
|
a.
Jupiter may represent the monadic principle and the first aspect. We realize how much second ray Jupiter is related to the monadic plane, the second plane counting from above.
|
a. Sao Mộc có thể đại diện cho nguyên khí chân thần và phương diện thứ nhất. Chúng ta nhận ra Sao Mộc cung hai liên hệ nhiều thế nào với cõi chân thần, cõi thứ hai tính từ trên xuống.
|
|
b.
Venus may represent consciousness and the second aspect
|
b. Sao Kim có thể đại diện cho tâm thức và phương diện thứ hai
|
|
c.
Saturn may represent the intelligence aspect, personality—the third aspect (though it could as easily represent the first aspect, though not the second, for which either Jupiter or Venus would have to be chosen)
|
c. Sao Thổ có thể đại diện cho phương diện trí tuệ, phàm ngã—phương diện thứ ba (dù nó cũng có thể dễ dàng đại diện cho phương diện thứ nhất, nhưng không phải phương diện thứ hai, mà khi ấy hoặc Sao Mộc hoặc Sao Kim sẽ phải được chọn)
|
|
427. Going with this possible arrangement, then:
|
427. Theo cách sắp xếp khả dĩ này, thì:
|
|
a.
Mars (representing the lowest aspect of the kundalini) would correspond with Saturn
|
a. Sao Hỏa (đại diện cho phương diện thấp nhất của kundalini) sẽ tương ứng với Sao Thổ
|
|
b.
Earth (representing the middle condition of kundalini) would correspond with Venus.
|
b. Trái Đất (đại diện cho tình trạng trung gian của kundalini) sẽ tương ứng với Sao Kim.
|
|
c.
Mercury (representing the highest aspect of kundalini—in intelligent activity) would correspond with Jupiter.
|
c. Sao Thủy (đại diện cho phương diện cao nhất của kundalini—trong hoạt động trí tuệ) sẽ tương ứng với Sao Mộc.
|
|
428. Those who know astrology realize that each of these three correspondences is more than justifiable (though others can be interpreted as valid).
|
428. Những ai biết chiêm tinh học sẽ nhận ra rằng mỗi sự tương ứng trong ba sự tương ứng này đều hơn cả có thể biện minh (dù những cách khác cũng có thể được diễn giải là hợp lệ).
|
|
a.
Mars and Saturn are the two “malefics” and relate to the astral body and mental body of a great third ray Entity.
|
a. Sao Hỏa và Sao Thổ là hai “hung tinh” và liên hệ với thể cảm dục và thể trí của một Thực Thể cung ba vĩ đại.
|
|
b.
Earth and Venus are “sisters” and closely intertwined. Venus is perhaps the planet most closely related to the Earth.
|
b. Trái Đất và Sao Kim là “chị em” và đan xen chặt chẽ. Sao Kim có lẽ là hành tinh liên hệ mật thiết nhất với Trái Đất.
|
|
c.
Mercury and Jupiter are the two orthodox rulers of the Mutable Cross (exoterically considered).
|
c. Sao Thủy và Sao Mộc là hai chủ tinh chính thống của Thập Giá Biến đổi (xét theo ngoại môn).
|
|
429. Another valid assignment would see Saturn as representative of the first aspect, Jupiter or the Second, and Venus of the third. It does not seem reasonable to place Venus in the first position or Saturn in the second.
|
429. Một sự phân bổ hợp lệ khác sẽ xem Sao Thổ là đại diện cho phương diện thứ nhất, Sao Mộc hoặc phương diện thứ hai, và Sao Kim cho phương diện thứ ba. Dường như không hợp lý khi đặt Sao Kim ở vị trí thứ nhất hoặc Sao Thổ ở vị trí thứ hai.
|
|
These two, with the lesser triangle of our chain, constitute the focal point of energy viewed from our planetary standpoint.
|
Hai tam giác này, cùng với tam giác nhỏ hơn của dãy của chúng ta, cấu thành điểm hội tụ năng lượng khi nhìn từ quan điểm hành tinh của chúng ta.
|
|
430. Only one triangle in our planetary chain has been discussed in these pages. Since this triangle is formed of the planets in the three ‘lowest’ positions in our chain, it is reasonable that this is the triangle referenced—the triangle Earth, Mars, Mercury.
|
430. Chỉ có một tam giác trong dãy hành tinh của chúng ta được bàn đến trong những trang này. Vì tam giác này được tạo bởi các hành tinh ở ba vị trí ‘thấp nhất’ trong dãy của chúng ta, nên hợp lý khi đây là tam giác được nhắc đến—tam giác Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Thủy.
|
|
431. The relationship of Venus and Saturn (two planets of initiation because rulers of Capricorn) are to be related to this lower triangle.
|
431. Mối liên hệ của Sao Kim và Sao Thổ (hai hành tinh điểm đạo vì là chủ tinh của Ma Kết) cần được liên hệ với tam giác thấp hơn này.
|
|
432. The inclusion of Jupiter expands the consideration.
|
432. Việc đưa Sao Mộc vào làm mở rộng sự khảo sát.
|
|
433. When Venus and Saturn are related to the Mars, Earth and Mercury globes of the Earth-chain, the importance of Sanat Kumara is suggested, because if the Great Kumara is related to any two planets, it is to Venus and Saturn. He is the “Lord of Venusian Love” and His name “Sanat” is easily seen as related to Saturn (for He is, as well, the “Ancient of Days”).
|
433. Khi Sao Kim và Sao Thổ được liên hệ với các bầu Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy của Dãy Địa Cầu, tầm quan trọng của Đức Sanat Kumara được gợi ra, vì nếu Đại Kumara có liên hệ với bất kỳ hai hành tinh nào, thì đó là Sao Kim và Sao Thổ. Ngài là “Đức Chúa Tể của Bác Ái Sao Kim” và danh xưng “Sanat” của Ngài dễ thấy là có liên hệ với Sao Thổ (vì Ngài cũng là “Đấng Thái Cổ”).
|
|
In addition to these some hints in connection with the microcosmic and macrocosmic centres, we might here give the cosmic correspondences at which it is possible to hint.
|
Ngoài những gợi ý này liên quan đến các trung tâm tiểu thiên địa và đại thiên địa, ở đây chúng ta có thể đưa ra các tương ứng vũ trụ mà người ta có thể gợi ý.
|
|
434. The Tibetan must, at this time, be satisfied with hinting at these stupendous matters. It is not allowed to tell all, but it is allowed to drop those seed-hints which may assist in the evocation of the intuition of His students.
|
434. Chân sư Tây Tạng vào lúc này hẳn phải thoả mãn với việc chỉ gợi ý về những vấn đề vĩ đại ấy. Không được phép nói hết, nhưng được phép thả xuống những gợi ý hạt giống có thể trợ giúp việc gợi lên trực giác nơi các đạo sinh của Ngài.
|
|
The Cosmos. Our solar system, with the Pleiades and one of the stars of the Great Bear, form a cosmic triangle, or an aggregation of three centres in the Body of HIM OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID.
|
Vũ Trụ. Hệ mặt trời của chúng ta, cùng với Thất Nữ và một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh, tạo thành một tam giác vũ trụ, hay một sự kết tụ của ba trung tâm trong Thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị.
|
|
435. This is a stupendous hint. From the first we have a scale problem. We are given a combination of two stars and constellation of stars.
|
435. Đây là một gợi ý vĩ đại. Ngay từ đầu, chúng ta gặp một vấn đề về tỷ lệ. Chúng ta được cho một tổ hợp gồm hai ngôi sao và một chòm sao.
|
|
436. When DK speaks of the Pleiades, what does He mean—the entirety of that great cluster of hundreds of stars, or only the seven stars with which we are familiar—the Seven Sisters? Depending on what He wants to say, He could mean both.
|
436. Khi Chân sư DK nói về Thất Nữ, Ngài muốn nói điều gì—toàn bộ cụm lớn gồm hàng trăm ngôi sao ấy, hay chỉ bảy ngôi sao mà chúng ta quen biết—Bảy Chị Em? Tuỳ theo điều Ngài muốn nói, Ngài có thể muốn nói cả hai.
|
|
437. If he is considering the entirety of the Pleiades, then He is speaking of the entire “Central Spiritual Sun” cosmically considered (at least within our local cosmo-system). In this case:
|
437. Nếu Ngài đang xét toàn bộ Thất Nữ, thì Ngài đang nói về toàn bộ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” khi xét theo vũ trụ (ít nhất là trong hệ vũ trụ địa phương của chúng ta). Trong trường hợp này:
|
|
a.
The Pleiades would represent the crown center of that Great Being—the One About Whom Naught May Be Said
|
a. Thất Nữ sẽ đại diện cho trung tâm đỉnh đầu của Đấng Vĩ Đại ấy—Đấng Bất Khả Tư Nghị
|
|
b.
One of the stars in the Great Bear would probably be that star within the seven head centers (the “Greater Seven”) of the OAWNMBS correlated to the heart center.
|
b. Một trong các ngôi sao trong Đại Hùng Tinh có lẽ sẽ là ngôi sao trong bảy trung tâm đầu ( “Bảy Vĩ Đại”) của Đấng Bất Khả Tư Nghị tương quan với trung tâm tim.
|
|
c.
Our solar system would represent the heart center within the “Lesser Seven”
|
c. Hệ mặt trời của chúng ta sẽ đại diện cho trung tâm tim trong “Bảy Nhỏ Hơn”
|
|
d.
This arrangement has much to recommend it.
|
d. Cách sắp xếp này có nhiều điều đáng khuyến nghị.
|
|
438. There is a reference in the teaching where one of the stars in the Great Bear and one of the stars in the Pleiades are seen in relation to our Earth. This relation is, where our Earth is concerned, the source of cosmic evil. (cf. TCF 990)
|
438. Có một tham chiếu trong giáo huấn, nơi một ngôi sao trong Đại Hùng Tinh và một ngôi sao trong Thất Nữ được thấy có liên hệ với Trái Đất của chúng ta. Mối liên hệ này, xét theo Trái Đất của chúng ta, là nguồn gốc của cái ác vũ trụ. (x. TCF 990)
|
|
439. But now we are not speaking of the Earth but of our solar system as an entirety.
|
439. Nhưng giờ đây chúng ta không nói về Trái Đất mà về toàn thể hệ mặt trời của chúng ta.
|
|
440. It is possible, however, that one of the stars in the Great Bear and another star in the Pleiades are more closely related to our particular Solar Logos than to any of the other six brother-Logoi contained within the Seven Solar Systems of Which Ours is One.
|
440. Tuy nhiên, có thể một ngôi sao trong Đại Hùng Tinh và một ngôi sao khác trong Thất Nữ có liên hệ mật thiết hơn với chính Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta so với bất kỳ Thượng đế huynh đệ nào trong sáu Thượng đế huynh đệ khác được bao hàm trong Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một phần.
|
|
441. In any case, our Solar Logos and his solar system are as a heart chakra in a great Being—one of the Ones About Whom Naught May Be Said.
|
441. Dù thế nào, Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài giống như một luân xa tim trong một Đấng Vĩ Đại—một trong các Đấng Bất Khả Tư Nghị.
|
|
442. However many ways we might find to relate all three of these Beings (Great Bear, Pleiades and our solar system) in their entirety or according to various of their parts, it does seem as if the Pleiades (as an entirety or at least as a septenate) is here indicated.
|
442. Dù chúng ta có thể tìm ra bao nhiêu cách để liên hệ cả ba Đấng này (Đại Hùng Tinh, Thất Nữ và hệ mặt trời của chúng ta) theo toàn thể của chúng hay theo các phần khác nhau của chúng, thì dường như Thất Nữ (như một toàn thể hoặc ít nhất như một thất phân) được chỉ ra ở đây.
|
|
443. Such being the case, it is probably best to consider the three as representing three different levels in the chakric hierarchy of the One About Whom Naught May Be Said:
|
443. Nếu đúng như vậy, có lẽ tốt nhất là xem cả ba như đại diện cho ba cấp độ khác nhau trong thứ bậc luân xa của Đấng Bất Khả Tư Nghị:
|
|
a.
The thousand petalled lotus of the OAWNMBS
|
a. Hoa sen ngàn cánh của Đấng Bất Khả Tư Nghị
|
|
b.
A head center within the head of the OAWNMBS—thus within the “Greater Seven”
|
b. Một trung tâm đầu trong đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị—do đó thuộc “Bảy Vĩ Đại”
|
|
c.
A chakra (the heart charka) within one of the chakras of the OAWNMBS—thus, a chakra within a chakra to be found within the “Lesser Seven”.
|
c. Một luân xa (luân xa tim) trong một trong các luân xa của Đấng Bất Khả Tư Nghị—do đó, một luân xa trong một luân xa, được tìm thấy trong “Bảy Nhỏ Hơn”.
|
|
444. Obviously, we have not exhausted the possibilities within this hint, but have offered some lines of interpretation that can be pondered—for a few lives!
|
444. Hiển nhiên, chúng ta chưa khai thác hết các khả năng trong gợi ý này, nhưng đã đưa ra một số hướng diễn giải có thể được suy ngẫm—trong vài kiếp sống!
|
|
The seven stars in the constellation of the Great Bear are the correspondences to the seven head centres in the body of that Being, greater than our Logos.
|
Bảy ngôi sao trong chòm sao Đại Hùng Tinh là các tương ứng với bảy trung tâm đầu trong thể của Đấng ấy, vĩ đại hơn Thượng đế của chúng ta.
|
|
445. DK is very careful with His wording. There are of course many Beings greater than our Logos. DK is speaking of one particular Being, probably the greater of two Ones About Whom Naught May Be Said (a Being who has constellations as chakras—cf. TCF 293)
|
445. Chân sư DK rất cẩn trọng trong cách dùng từ. Dĩ nhiên có nhiều Đấng vĩ đại hơn Thượng đế của chúng ta. Chân sư DK đang nói về một Đấng đặc thù, có lẽ là Đấng lớn hơn trong hai Đấng Bất Khả Tư Nghị (một Đấng có các chòm sao làm luân xa—x. TCF 293)
|
|
446. The piece of information being conveyed is of great importance. The stars in the Great Bear are being linked to the seven major head centers in the One About Whom Naught May Be Said. These seven correspond to the “Greater Seven” in the human being (cf. Rule VIII for Applicants).
|
446. Mẩu thông tin được truyền đạt có tầm quan trọng lớn. Các ngôi sao trong Đại Hùng Tinh đang được liên kết với bảy trung tâm đầu chính yếu trong Đấng Bất Khả Tư Nghị. Bảy trung tâm này tương ứng với “Bảy Vĩ Đại” trong con người (x. Quy luật VIII dành cho các ứng viên).
|
|
447. According to an excellent book called Layayoga by Shyam Sundar Goswami, these head centers (the “Greater Seven” as DK refers to them—cf. R&I 21), are located between the ajna center and the crown center (with the ajna and crown forming the boundaries of the major head centers). These centers protrude in front of the forehead and on top of the dome of the head, and are not within the head at all.
|
447. Theo một quyển sách xuất sắc có tên Layayoga của Shyam Sundar Goswami, các trung tâm đầu này ( “Bảy Vĩ Đại” như Chân sư DK gọi chúng—x. R&I 21), nằm giữa trung tâm ajna và trung tâm đỉnh đầu (với ajna và đỉnh đầu tạo thành các ranh giới của các trung tâm đầu chính yếu). Các trung tâm này nhô ra phía trước trán và trên đỉnh vòm đầu, và hoàn toàn không ở bên trong đầu.
|
|
Again, two other systems, when allied with the solar system and the Pleiades, make a lower quaternary which are eventually synthesised into the seven head centres in much the same way as in the human being after the fourth initiation.
|
Một lần nữa, hai hệ khác, khi liên kết với hệ mặt trời và Thất Nữ, tạo thành một bộ tứ phân thấp hơn, cuối cùng sẽ được tổng hợp vào bảy trung tâm đầu theo cách tương tự như trong con người sau lần điểm đạo thứ tư.
|
|
[183]
|
[183]
|
|
1. The base of the spine.
|
1. Đáy cột sống.
|
|
2. The solar plexus.
|
2. Tùng thái dương.
|
|
3. The heart.
|
3. Tim.
|
|
4. The throat.
|
4. Cổ họng.
|
|
448. We are receiving some profound cosmic hints which will naturally elude complete interpretation at this point in our understanding.
|
448. Chúng ta đang nhận được một số gợi ý vũ trụ sâu xa, mà dĩ nhiên ở điểm hiểu biết hiện nay của chúng ta sẽ khó có thể diễn giải trọn vẹn.
|
|
449. The word “systems” is elusive and ambiguous. We do not know whether it refers specifically to solar systems or to constellations. It would be justifiable to refer to either.
|
449. Từ “hệ” thật khó nắm bắt và mơ hồ. Chúng ta không biết nó chỉ đích danh các hệ mặt trời hay các hệ chòm sao. Gọi theo cách nào cũng có thể biện minh.
|
|
450. The quaternary listed is not a lower quaternary.
|
450. Bộ tứ phân được liệt kê không phải là một bộ tứ phân thấp hơn.
|
|
451. We remember that there are five centers which correlate with the five systemic planes (or five bodies) of an entity.
|
451. Chúng ta nhớ rằng có năm trung tâm tương quan với năm cõi hệ thống (hay năm thể) của một thực thể.
|
|
a.
Base of spine, the etheric plane
|
a. Đáy cột sống, cõi dĩ thái
|
|
b.
Solar plexus, the astral plane
|
b. Tùng thái dương, cõi cảm dục
|
|
c.
Throat center, the mental plane
|
c. Trung tâm cổ họng, cõi trí
|
|
d.
Heart center, the buddhi plane
|
d. Trung tâm tim, cõi Bồ đề
|
|
e.
As given in the earlier context referred to, the thousand petalled lotus corresponds to the atmic plane
|
e. Như đã nêu trong bối cảnh trước đó được nhắc đến, hoa sen ngàn cánh tương ứng với cõi atma
|
|
452. So, when considering the two other systems, we may be looking for either solar systems or constellational systems.
|
452. Vì vậy, khi xét hai hệ khác, chúng ta có thể đang tìm các hệ mặt trời hoặc các hệ chòm sao.
|
|
453. The Pleiades (if limited to the Seven Sisters) can be seen as related to the throat center. Our solar system is a kind of heart center. We will need two other solar systems which have been hypothesized as the system of Fomalhaut and Vega). There are good reasons both for and against this hypothesis. Fomalhaut is a “Royal Star”, and one may question whether it should be considered one of the Seven Solar Systems of Which Ours is One. Its distance of some twenty-five light years from our Sun may be too great, as may be the similar distance of Vega from the Sun. But all of this is uncertain.
|
453. Thất Nữ (nếu giới hạn trong Bảy Chị Em) có thể được xem là liên hệ với trung tâm cổ họng. Hệ mặt trời của chúng ta là một loại trung tâm tim. Chúng ta sẽ cần hai hệ mặt trời khác đã được giả thuyết là hệ của Fomalhaut và Vega). Có những lý do tốt cả ủng hộ lẫn phản đối giả thuyết này. Fomalhaut là một “Sao Hoàng Gia”, và người ta có thể đặt câu hỏi liệu nó có nên được xem là một trong Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của chúng ta là một phần hay không. Khoảng cách khoảng hai mươi lăm năm ánh sáng từ Mặt Trời của chúng ta có thể quá xa, cũng như khoảng cách tương tự của Vega so với Mặt Trời. Nhưng tất cả điều này đều bất định.
|
|
454. Probably within our local stellar surroundings there are two stars related to our solar system—these two representing a solar plexus center and a base of the spine center, with our Sun representing a heart center.
|
454. Có lẽ trong vùng lân cận sao địa phương của chúng ta có hai ngôi sao liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta—hai ngôi sao này đại diện cho một trung tâm tùng thái dương và một trung tâm đáy cột sống, với Mặt Trời của chúng ta đại diện cho một trung tâm tim.
|
|
455. If we work on the constellational level, then our “solar system” must be considered a seven-starred Sirian system (including seven major stars). It is our “system” of seven suns that would represent the solar plexus within the greater Being. The base of the spine would be a combination of the Southern Cross and Draco, and the. The heart center is hypothesized by some to be Orion. The Pleiades as a whole would be the entirety of the head center (with the zodiacal constellations as the twelve petals of the major twelve-petalled head center)
|
455. Nếu chúng ta làm việc ở cấp độ chòm sao, thì “hệ mặt trời” của chúng ta phải được xem là một hệ Sirius bảy sao (bao gồm bảy ngôi sao chính). Chính “hệ” bảy mặt trời của chúng ta sẽ đại diện cho tùng thái dương trong Đấng vĩ đại hơn. Đáy cột sống sẽ là một tổ hợp của Thập Tự Nam và Draco, và. Trung tâm tim được một số người giả thuyết là Orion. Thất Nữ như một toàn thể sẽ là toàn bộ trung tâm đầu (với các chòm sao hoàng đạo là mười hai cánh hoa của trung tâm đầu mười hai cánh chính yếu)
|
|
456. I think we can see how far we have to go before any certainty on these matters is possible for us.
|
456. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy chúng ta còn phải đi xa đến mức nào trước khi bất kỳ sự chắc chắn nào về những vấn đề này trở nên khả hữu đối với chúng ta.
|
|
The sevenfold head centre in its turn finds ultimate expression in the gorgeous twofold centre above the top of the head and surrounding it.
|
Trung tâm đầu thất phân, đến lượt nó, tìm thấy sự biểu lộ tối hậu trong trung tâm nhị phân rực rỡ phía trên đỉnh đầu và bao quanh nó.
|
|
457. Cosmically considered, this “gorgeous twofold centre” necessarily includes the twelve zodiacal constellations, and, according to present hypothesis, the entirety of the Pleiades. The greatest head center is twofold.
|
457. Khi xét theo vũ trụ, “trung tâm nhị phân rực rỡ” này tất yếu bao gồm mười hai chòm sao hoàng đạo, và theo giả thuyết hiện nay, toàn bộ Thất Nữ. Trung tâm đầu vĩ đại nhất là nhị phân.
|
|
Equally so, beyond the above named constellations is still another cosmic centre. The name of this centre is one of the secrets of the final initiation, the seventh.
|
Cũng vậy, vượt ngoài các chòm sao vừa nêu vẫn còn một trung tâm vũ trụ khác. Tên của trung tâm này là một trong những bí mật của lần điểm đạo cuối cùng, lần thứ bảy.
|
|
458. The constellations named in the immediately foregoing pages are the Pleiades and the Great Bear. The Pleiades (in their entirety) may be considered the hub of the local cosmic wheel, and the major vehicle for the One About Whom Naught May Be Said (that local Cosmic Lord Who has constellations for His chakras).
|
458. Các chòm sao được nêu trong những trang ngay trước đó là Thất Nữ và Đại Hùng Tinh. Thất Nữ (trong toàn thể của chúng) có thể được xem là trục của bánh xe vũ trụ địa phương, và là vận cụ chính yếu cho Đấng Bất Khả Tư Nghị (Đức Chúa Tể Vũ Trụ địa phương ấy, Đấng có các chòm sao làm luân xa của Ngài).
|
|
459. But what of that Being who has OAWNMBSs for its chakras. No such being is listed in the important tabulation on TCF 293, but on the Chart on p. 344, a “Cosmic Parabrahm” is given—the highest triangle on the highest cosmic plane.
|
459. Nhưng còn Đấng có các Đấng Bất Khả Tư Nghị làm luân xa của nó thì sao. Không có Đấng như vậy được liệt kê trong bảng tổng hợp quan trọng ở TCF 293, nhưng trong Biểu đồ ở trang 344, có một “Parabrahm Vũ Trụ” được nêu—tam giác cao nhất trên cõi vũ trụ cao nhất.
|
|
460. The position of this Cosmic Parabrahm would fit correspondentially with the fact of “Resurrection” at the time of the seventh initiation.
|
460. Vị trí của Parabrahm Vũ Trụ này sẽ phù hợp theo định luật tương ứng với sự kiện “Phục Sinh” vào thời điểm lần điểm đạo thứ bảy.
|
|
461. What such a Being may be we have no idea, but it can be presumed that its centers would be star clusters or aggregations of many constellations. A deep study of astronomy would be required of us should we have even some idea of possible candidates for this Super-OAWNMBS—a Cosmic Parabrahm.
|
461. Một Đấng như vậy có thể là gì thì chúng ta không hề biết, nhưng có thể giả định rằng các trung tâm của nó sẽ là các cụm sao hay các kết tụ của nhiều chòm sao. Chúng ta sẽ cần một sự nghiên cứu sâu về thiên văn học nếu muốn có dù chỉ một ý niệm về các ứng viên khả dĩ cho Siêu-Đấng Bất Khả Tư Nghị này—một Parabrahm Vũ Trụ.
|
|
462. The study of OAWNMBSs takes us to the cosmic monadic plane. The study of the Super-Being here hinted takes us to the cosmic logoic plane. Such planes are merely names to us and any approach to them must be analogic and inferential at best.
|
462. Việc nghiên cứu các Đấng Bất Khả Tư Nghị đưa chúng ta đến cõi chân thần vũ trụ. Việc nghiên cứu Siêu-Đấng được gợi ý ở đây đưa chúng ta đến cõi logoic vũ trụ. Những cõi như vậy chỉ là những danh xưng đối với chúng ta, và bất kỳ sự tiếp cận nào đến chúng cũng chỉ có thể là tương đồng và suy diễn là tốt nhất.
|
|
These are the only correspondences that may as yet be imparted. What lies beyond the solar ring-pass-not may be of intellectual interest,78 [S. D., I, 545, 726; II, 581, 582, 654] but, for the purposes of microcosmic evolution it is a matter of no vast import.
|
Đây là những tương ứng duy nhất mà hiện nay có thể được truyền đạt. Điều gì nằm ngoài vòng-giới-hạn thái dương có thể là điều đáng quan tâm về mặt trí tuệ,78 [S. D., I, 545, 726; II, 581, 582, 654] nhưng, đối với mục đích tiến hoá tiểu thiên địa, đó không phải là vấn đề có tầm quan trọng lớn.
|
|
463. When speaking of these matters we are clearly “way out there”—beyond what for us is the beyond. Astronomers may go there with ease, but those who are looking for the psychological and qualitative meaning of such great Entities may not proceed. Too little is known, even of our Solar Logos and of the relatively ‘local’ Constellational Deities of the twelve zodiacal constellations.
|
463. Khi nói về những vấn đề này, rõ ràng chúng ta đang “ở rất xa”—vượt ngoài điều đối với chúng ta đã là bên kia. Các nhà thiên văn có thể đi đến đó một cách dễ dàng, nhưng những ai tìm kiếm ý nghĩa tâm lý và phẩm tính của những Thực Thể vĩ đại như vậy có thể không tiến xa. Quá ít được biết, ngay cả về Thái dương Thượng đế của chúng ta và về các Thượng đế Chòm Sao tương đối ‘địa phương’ của mười hai chòm sao hoàng đạo.
|
|
464. It is, after all, microcosmic evolution with which we must be concerned as there is so much to be done in this rather limited field. After great imaginative and intellectual extensions into incomprehensible spheres, we must return to where we are (apparently) and solve the problems related to our present sphere of limitation.
|
464. Rốt cuộc, chính tiến hoá tiểu thiên địa là điều chúng ta phải quan tâm, vì còn quá nhiều việc phải làm trong lĩnh vực khá hạn hẹp này. Sau những mở rộng lớn lao của trí tưởng tượng và trí tuệ vào các cõi không thể hiểu nổi, chúng ta phải trở về nơi chúng ta đang (dường như) và giải quyết các vấn đề liên quan đến phạm vi giới hạn hiện tại của chúng ta.
|
| |
|