TCF 202-213 S2S9
|
TCF 202-213 S2S9
|
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
|
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Việc gạch chân, in đậm và tô nổi bật do MDR thực hiện)
|
|
Please Read these Commentaries with your TCF Book Handy for the Sake of Continuity. The extensive commentary may otherwise disrupt the sense of flow.
|
Xin hãy đọc các phần Bình Luận này khi có sẵn sách TCF bên cạnh để đảm bảo tính liên tục. Nếu không, phần bình luận dài có thể làm gián đoạn cảm giác mạch lạc.
|
|
1. We recall our context—the senses and centres.
|
1. Chúng ta nhớ lại bối cảnh của mình—các giác quan và các trung tâm.
|
|
The consideration of this subject awakens the realisation of the vastness of the region of thought concerned—the region of the whole evolutionary development of the human being.
|
Việc khảo sát chủ đề này khơi dậy sự chứng nghiệm về tính bao la của lĩnh vực tư tưởng liên quan—lĩnh vực của toàn bộ sự phát triển tiến hoá của con người.
|
|
2. Could we but trace the evolution of humanity, it would reveal the unfoldment of the senses. Along with this method of tracing unfoldment, we could trace the unfoldment of the petals of the egoic lotus. The two unfoldments obviously parallel each other.
|
2. Nếu chúng ta có thể lần theo tiến trình tiến hoá của nhân loại, điều đó sẽ cho thấy sự khai mở của các giác quan. Cùng với phương pháp lần theo sự khai mở ấy, chúng ta cũng có thể lần theo sự khai mở của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Hai tiến trình khai mở này hiển nhiên song hành với nhau.
|
|
3. It is probable that response to sound correlates with the unfoldment of the knowledge petals; response to touch with the love petals; and response to sight, the sacrifice petals. This analogy is only general and does not mean that acute touch or sight will not be found during the lengthy unfoldment of the knowledge petals.
|
3. Có lẽ sự đáp ứng với âm thanh tương ứng với sự khai mở của các cánh hoa tri thức; sự đáp ứng với xúc chạm tương ứng với các cánh hoa bác ái; và sự đáp ứng với thị giác tương ứng với các cánh hoa hi sinh. Sự tương đồng này chỉ mang tính khái quát và không có nghĩa rằng xúc giác hay thị giác sắc bén sẽ không được tìm thấy trong suốt tiến trình khai mở dài lâu của các cánh hoa tri thức.
|
|
4. From this perspective, the emergence of sight correlates with the process of initiation (which necessitates the unfoldment of the sacrifice petals).
|
4. Từ quan điểm này, sự xuất hiện của thị giác tương ứng với tiến trình điểm đạo (đòi hỏi sự khai mở của các cánh hoa hi sinh).
|
|
Yet all that is possible here, as elsewhere, is to indicate lines of thought for careful pondering, and to emphasise certain ideas which may serve as the foundation thoughts for the future mental activity of the immediate generation.
|
Tuy nhiên, ở đây cũng như ở nơi khác, tất cả những gì có thể làm là gợi ra những tuyến tư tưởng để suy ngẫm cẩn trọng, và nhấn mạnh một số ý niệm có thể phục vụ như những tư tưởng nền tảng cho hoạt động trí tuệ tương lai của thế hệ hiện thời.
|
|
5.
VSK states: ‘We see here emphasized that this is foundational for mental activity of the immediate generation. Does this include us, or are we now past the stage of mental development? What is meant by “immediate generation”? Why would mental activity, and not something more holistic or intuitional be suggested?
|
5. VSK nêu: ‘Ở đây chúng ta thấy được nhấn mạnh rằng điều này là nền tảng cho hoạt động trí tuệ của thế hệ hiện thời. Điều này có bao gồm chúng ta không, hay giờ đây chúng ta đã vượt qua giai đoạn phát triển trí tuệ? “Thế hệ hiện thời” hàm ý gì? Vì sao lại gợi ý hoạt động trí tuệ, chứ không phải điều gì đó toàn diện hơn hay trực giác hơn?’
|
|
6. It is suggested that there is a close correlation between the senses and the mind, both ruled by the number five.
|
6. Người ta gợi ý rằng có một sự tương quan chặt chẽ giữa các giác quan và thể trí, cả hai đều do con số năm cai quản.
|
|
7. It is also suggested that the role of the senses (and of the higher senses or faculties) in the unfoldment of human consciousness is not well understood, and that much mental activity must be expended on this subject.
|
7. Người ta cũng gợi ý rằng vai trò của các giác quan (và của các giác quan hay năng lực cao hơn) trong sự khai mở tâm thức con người chưa được thấu hiểu đầy đủ, và rằng cần phải tiêu tốn nhiều hoạt động trí tuệ cho chủ đề này.
|
|
The following facts must also be borne in mind when considering the matter:
|
Các sự kiện sau đây cũng phải được ghi nhớ khi khảo sát vấn đề này:
|
|
a.
That the senses have been dealt with in this division of our Treatise on Cosmic Fire because they concern the material form.
|
a.
Rằng các giác quan đã được bàn đến trong phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ vì chúng liên quan đến hình tướng vật chất.
|
|
8. We remember that this section of the Treatise is especially concerned with an analysis of the material form.
|
8. Chúng ta nhớ rằng phần này của Luận này đặc biệt liên quan đến việc phân tích hình tướng vật chất.
|
|
Strictly speaking the five senses, as we know them, are the means of contact built up by the Thinker (polarised in his etheric body) and find their expression in the physical form in those nerve centres, brain cells, ganglia and plexus which exoteric science recognises.
|
Nói một cách nghiêm ngặt, năm giác quan như chúng ta biết là những phương tiện tiếp xúc được Thức giả xây dựng (phân cực trong thể dĩ thái của y) và biểu lộ trong hình tướng hồng trần qua những trung tâm thần kinh, tế bào não, hạch thần kinh và đám rối mà khoa học ngoại môn công nhận.
|
|
9. The Tibetan is speaking “strictly”.
|
9. Chân sư Tây Tạng đang nói “một cách nghiêm ngặt”.
|
|
10. The physical body (in this solar system) is never a principle, and the true physical nature of man is etheric.
|
10. Thể xác (trong hệ mặt trời này) không bao giờ là một nguyên khí, và bản chất hồng trần chân thật của con người là dĩ thái.
|
|
11. The archetypal polarization of the Thinker is, initially, in the etheric body, but there can be no doubt that the ability to sense the energy flows of the etheric body increases dramatically with the refinement which evolution brings.
|
11. Sự phân cực nguyên mẫu của Thức giả, ban đầu, ở trong thể dĩ thái, nhưng không nghi ngờ gì rằng khả năng cảm nhận các dòng năng lượng của thể dĩ thái tăng lên mạnh mẽ cùng với sự tinh luyện mà tiến hoá mang lại.
|
|
12. As human development proceeded, the focus of human consciousness ascends through the personality vehicles and beyond, bringing an ascending series of senses (or psychic powers) under generation and cultivation.
|
12. Khi sự phát triển của con người tiến triển, trọng tâm tâm thức con người thăng lên qua các vận cụ của phàm ngã và vượt lên nữa, đem theo một chuỗi giác quan (hay quyền năng thông linh) tăng dần được phát sinh và được vun bồi.
|
|
13. The expression of these “means of contact” through “nerve centres, brain cells, ganglia and plexus” is merely a reflection of energy structures to be found within the etheric body, and with roots even deeper in the subtle nature of man.
|
13. Sự biểu lộ của các “phương tiện tiếp xúc” này qua “các trung tâm thần kinh, tế bào não, hạch thần kinh và đám rối” chỉ là sự phản chiếu của các cấu trúc năng lượng được tìm thấy trong thể dĩ thái, và còn có gốc rễ sâu hơn nữa trong bản chất vi tế của con người.
|
|
14. We note that the senses are “built up by the Thinker”. This means that they are derived from the potency of the soul on its own plane as that soul is focussed within the various vehicles.
|
14. Chúng ta lưu ý rằng các giác quan được “Thức giả xây dựng”. Điều này có nghĩa rằng chúng được rút ra từ năng lực của linh hồn trên cõi của chính nó, khi linh hồn ấy được tập trung trong các vận cụ khác nhau.
|
|
15. A study of occult history indicates that, over time, there has been a considerable development of the senses. Even the five normal senses were not always as they are now.
|
15. Một nghiên cứu về lịch sử huyền bí học cho thấy rằng, theo thời gian, đã có một sự phát triển đáng kể của các giác quan. Ngay cả năm giác quan bình thường cũng không phải lúc nào cũng như hiện nay.
|
|
b. That these senses for all purposes of present manifestation, have their focal point on the astral plane and are therefore largely under the stimulating action of the solar plexus—that great focal point in the centre of the body which is the stimulating agent for most of the human family at this time.
|
b. Rằng các giác quan này, cho mọi mục đích của sự biểu hiện hiện nay, có điểm hội tụ trên cõi cảm dục và vì thế phần lớn chịu tác động kích thích của tùng thái dương—điểm hội tụ lớn ấy ở trung tâm thân thể, vốn là tác nhân kích thích đối với phần đông gia đình nhân loại vào lúc này.
|
|
16. VSK inquires: If Thinker is polarised in the etheric, why is the focal point on the astral plane? Or is this just the majority? What are the other possibilities?
|
16. VSK hỏi: Nếu Thức giả phân cực trong thể dĩ thái, vì sao điểm hội tụ lại ở cõi cảm dục? Hay đây chỉ là trường hợp của đa số? Những khả năng khác là gì?
|
|
17. It is suggested that the Tibetan speaks of the astral plane because of the great sensitivity of that vehicle—especially in this astral-buddhic solar system.
|
17. Người ta gợi ý rằng Chân sư Tây Tạng nói về cõi cảm dục vì tính nhạy cảm lớn của vận cụ ấy—đặc biệt trong hệ mặt trời cảm dục–Bồ đề này.
|
|
18. It is also to be remembered that the majority of human beings is, at this time, astrally focussed, hence it is natural that the solar plexus would be the principle source for sensory stimulation.
|
18. Cũng cần nhớ rằng phần đông con người, vào lúc này, được tập trung ở cõi cảm dục; do đó, thật tự nhiên khi tùng thái dương sẽ là nguồn chính của sự kích thích giác quan.
|
|
19. We note, however, the use of the word “largely” which suggests that the senses can be stimulated by other centers.
|
19. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý việc dùng từ “phần lớn”, điều này gợi ý rằng các giác quan có thể được kích thích bởi các trung tâm khác.
|
|
20. As evolution proceeds, the focus of human consciousness also rises, and with this ascent, different senses will come under generation and cultivation. The senses ‘left behind’, as it were, become automatic in their functioning.
|
20. Khi tiến hoá tiến triển, trọng tâm tâm thức con người cũng thăng lên, và cùng với sự thăng lên này, những giác quan khác sẽ được phát sinh và được vun bồi. Các giác quan “bị bỏ lại phía sau”, có thể nói như vậy, trở nên tự động trong hoạt động của chúng.
|
|
c. That as the higher triangle comes into play and the polarisation steps up to the higher centres, the senses begin to make themselves felt on the mental level and
[203] man becomes aware on that plane.
|
c. Rằng khi tam giác cao bắt đầu vận hành và sự phân cực nâng lên đến các trung tâm cao hơn, các giác quan bắt đầu tự biểu lộ ở mức thể trí và [203] con người trở nên có nhận biết trên cõi ấy.
|
|
21. We remember that man controlled from the astral plane is focussed in the base of the spine, the solar plexus and the heart. (TCF 169)
|
21. Chúng ta nhớ rằng con người bị kiểm soát từ cõi cảm dục được tập trung ở đáy cột sống, tùng thái dương và tim. (TCF 169)
|
|
22. Man controlled from the mental plane is focussed in the base of the spine, the heart and the throat. We can consider this triangle representative the “higher centres” here mentioned.
|
22. Con người bị kiểm soát từ cõi trí được tập trung ở đáy cột sống, tim và cổ họng. Chúng ta có thể xem tam giác này là đại diện cho các “trung tâm cao hơn” được nhắc đến ở đây.
|
|
23. It becomes clear that as the senses begin to make themselves felt on any plane, man becomes aware on that plane.
|
23. Rõ ràng là khi các giác quan bắt đầu tự biểu lộ trên bất kỳ cõi nào, con người trở nên có nhận biết trên cõi ấy.
|
|
24. It also becomes clear that it is the increasing circulation of energy through the chakras that simulates the centers. This energy, we recall, comes ultimately from the Monad.
|
24. Cũng rõ ràng rằng chính sự lưu chuyển năng lượng ngày càng tăng qua các luân xa mới kích thích các trung tâm. Năng lượng này, chúng ta nhớ, rốt cuộc đến từ chân thần.
|
|
We have in the human body an interesting reflection of the transference of the polarisation from the Personality to the Ego, or into the causal body, in the division that exists between the higher and the lower mental planes, and the dividing line of the diaphragm between the higher and the lower portions of the body.
|
Trong thân thể con người, chúng ta có một sự phản chiếu thú vị của sự chuyển dịch phân cực từ phàm ngã sang chân ngã, hay vào trong thể nguyên nhân, qua sự phân chia hiện hữu giữa cõi hạ trí và cõi thượng trí, và đường phân cách của cơ hoành giữa phần trên và phần dưới của thân thể.
|
|
25. Let us consider three divisions:
|
25. Hãy xét ba sự phân chia:
|
|
a.
The division between the “Personality” and the “Ego”
|
a. Sự phân chia giữa “phàm ngã” và “chân ngã”
|
|
b.
The division between the lower and higher mental plane. On the lower mental plane we find the polarization of man as personality. On the higher mental plane, man polarizes as soul.
|
b. Sự phân chia giữa cõi hạ trí và cõi thượng trí. Trên cõi hạ trí, chúng ta thấy sự phân cực của con người như phàm ngã. Trên cõi thượng trí, con người phân cực như linh hồn.
|
|
c.
The diaphragm as the dividing line between the higher and lower portions of the body.
|
c. Cơ hoành như đường phân cách giữa phần trên và phần dưới của thân thể.
|
|
d.
The chakras below the diaphragm are used largely by the personality, though such chakras can come under the conscious directorship of the soul and even Spirit, as needed. The base of the spine center, for instance, is especially active during the later phases of evolution when soul and Spirit emerge into power.
|
d. Các luân xa dưới cơ hoành phần lớn được phàm ngã sử dụng, dù các luân xa ấy có thể nằm dưới sự chỉ đạo hữu thức của linh hồn và thậm chí của tinh thần, khi cần. Chẳng hạn, trung tâm đáy cột sống đặc biệt hoạt động trong các giai đoạn muộn của tiến hoá khi linh hồn và tinh thần xuất hiện trong quyền năng.
|
|
e.
The chakras above the diaphragm are those used more usually by the soul, but certain of them may also be in the service of the personality.
|
e. Các luân xa trên cơ hoành là những luân xa thường được linh hồn sử dụng hơn, nhưng một số trong đó cũng có thể phục vụ phàm ngã.
|
|
f.
These dividing lines are to kept firmly in mind when considering the contrast between personality and soul expression.
|
f. Khi khảo sát sự tương phản giữa biểu lộ của phàm ngã và linh hồn, cần phải ghi nhớ vững chắc các đường phân cách này.
|
|
Below the diaphragm we have the four lower centres:
|
Dưới cơ hoành chúng ta có bốn trung tâm thấp:
|
|
1. The solar plexus.
|
1. Tùng thái dương.
|
|
2. The spleen.
|
2. Luân xa lá lách.
|
|
3. Organs of generation.
|
3. Các cơ quan sinh sản.
|
|
4. Base of the spine.
|
4. Đáy cột sống.
|
|
26. VSK inquires: We see the spleen placed here. Under what circumstances is the spleen used?
|
26. VSK hỏi: Chúng ta thấy lá lách được đặt ở đây. Trong những hoàn cảnh nào thì lá lách được sử dụng?
|
|
27. The spleen, of course, is not one of the major centers, but, in a way, it completes what is knows as the “lower quaternary”—in this case, those chakras through which the fourfold personality expresses.
|
27. Dĩ nhiên, lá lách không phải là một trong các trung tâm chính, nhưng theo một nghĩa nào đó, nó hoàn tất điều được gọi là “bộ tứ thấp”—trong trường hợp này, là những luân xa qua đó phàm ngã tứ phân biểu lộ.
|
|
28. VSK remarks: We see the ‘organs of generation’ mentioned, and not the ‘sacral centre’ – varying emphasis between externalized bodily organs and the energetic systems.
|
28. VSK nhận xét: Chúng ta thấy “các cơ quan sinh sản” được nêu, chứ không phải “trung tâm xương cùng” – sự nhấn mạnh thay đổi giữa các cơ quan thân thể đã ngoại hiện và các hệ thống năng lượng.
|
|
29. As we have studied various lists, we have noted that physical and etheric enters are frequently intermixed. This may serve the purpose, on occasion, of reminding us that the etheric-physical vehicle is really one vehicle.
|
29. Khi nghiên cứu các danh sách khác nhau, chúng ta đã lưu ý rằng các trung tâm hồng trần và dĩ thái thường xuyên được trộn lẫn. Điều này đôi khi có thể nhằm nhắc chúng ta rằng vận cụ dĩ thái–hồng trần thật ra là một vận cụ.
|
|
Above are the three higher:
|
Ở trên là ba trung tâm cao:
|
|
1. Heart.
|
1. Tim.
|
|
2. Throat.
|
2. Cổ họng.
|
|
3. Head.
|
3. Đầu.
|
|
In the microcosm we have the lower quaternary separated from the Triad in a similar manner, and this analogy will bear pondering upon.
|
Trong tiểu thiên địa, chúng ta có bộ tứ thấp được tách khỏi Tam Nguyên theo một cách tương tự, và sự tương đồng này đáng để suy ngẫm.
|
|
30. The Tibetan would have us ponder on an analogy. As the three major centers above the diaphragm (excluding the ajna center) are separated from the four below (including the spleen), so the lower quaternary we call the personality of man is separated from the “Triad”—i.e., the spiritual triad.
|
30. Chân sư Tây Tạng muốn chúng ta suy ngẫm về một sự tương đồng. Cũng như ba trung tâm chính trên cơ hoành (không kể trung tâm ajna) được tách khỏi bốn trung tâm dưới (kể cả lá lách), thì bộ tứ thấp mà chúng ta gọi là phàm ngã của con người được tách khỏi “Tam Nguyên”—tức Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
31. The division of four below and three above is frequently found. It must be remembered, however, that another division – four above and three below is also frequently found, as in relation to the four ethers and three dense planes of both the systemic physical plane and the cosmic physical plane.
|
31. Sự phân chia bốn dưới và ba trên thường xuyên được gặp. Tuy nhiên, cần nhớ rằng một sự phân chia khác—bốn trên và ba dưới—cũng thường xuyên được gặp, như trong mối liên hệ với bốn cõi dĩ thái và ba cõi đậm đặc của cả cõi hồng trần hệ thống lẫn cõi hồng trần vũ trụ.
|
|
32. It must also be remembered that there is a similarity between the lower quaternary and the Triad. The lower quaternary is the personality of the Ego (soul, on the higher mental plane). The Triad is the personality of the Monad. Both are, in their own ways, personalities. Sometimes the term “Ego” is used to indicate the spiritual triad.
|
32. Cũng cần nhớ rằng có một sự tương đồng giữa bộ tứ thấp và Tam Nguyên. Bộ tứ thấp là phàm ngã của chân ngã (linh hồn, trên cõi thượng trí). Tam Nguyên là phàm ngã của chân thần. Cả hai, theo cách riêng của chúng, đều là phàm ngã. Đôi khi thuật ngữ “chân ngã” được dùng để chỉ Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
33. VSK inquires: If the personality has its ‘home’ on the mental plane, is the Triad’s home not on the atmic plane?
|
33. VSK hỏi: Nếu phàm ngã có “nhà” của nó trên cõi trí, vậy “nhà” của Tam Nguyên chẳng phải ở cõi atma sao?
|
|
34. This analogy seems sound. The atmic plane, in addition to being a plane of will, is one of high mental focus (being the third subplane of the cosmic physical plane—three being one of the key numbers of intelligence.).
|
34. Sự tương đồng này có vẻ vững. Cõi atma, ngoài việc là một cõi của ý chí, còn là một cõi có sự tập trung trí tuệ cao (vì là cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ—mà ba là một trong những con số then chốt của trí tuệ.).
|
|
35. VSK suggests that the buddhic plane would be considered the heart of the Triad.
|
35. VSK gợi ý rằng cõi Bồ đề sẽ được xem là tim của Tam Nguyên.
|
|
36. VSK enquires: “what is the lower quaternary to the Triad?”
|
36. VSK hỏi: “bộ tứ thấp là gì đối với Tam Nguyên?”
|
|
37. It is suggested that the lower quaternary (in the life of the Planetary Logos) is a correspondence to the Triad. The physical body of the lower quaternary corresponds to the causal body (in relation to the Triad).
|
37. Người ta gợi ý rằng bộ tứ thấp (trong đời sống của Hành Tinh Thượng đế) là một tương ứng với Tam Nguyên. Thể xác của bộ tứ thấp tương ứng với thể nguyên nhân (trong mối liên hệ với Tam Nguyên).
|
|
38. VSK notes that both the personality in the three worlds and the Triad in the higher worlds are composite vehicles.
|
38. VSK lưu ý rằng cả phàm ngã trong ba cõi thấp lẫn Tam Nguyên trong các cõi cao đều là các vận cụ tổng hợp.
|
|
By careful thought we can therefore work out the reflex action of the centres and the senses from the standpoint of the different planes, remembering that as the centres are awakened the process will be threefold:
|
Do đó, bằng tư tưởng cẩn trọng, chúng ta có thể suy ra tác động phản xạ của các trung tâm và các giác quan từ quan điểm của các cõi khác nhau, nhớ rằng khi các trung tâm được đánh thức, tiến trình sẽ là tam phân:
|
|
39. We recall that there are centers or chakras on each of the three lower planes (and perhaps on the buddhic and atmic planes as well, though these, if existent, have not yet been detailed in the Teaching).
|
39. Chúng ta nhớ rằng có các trung tâm hay luân xa trên mỗi một trong ba cõi thấp (và có lẽ trên cõi Bồ đề và cõi atma nữa, dù các trung tâm này, nếu có, vẫn chưa được trình bày chi tiết trong Giáo Huấn).
|
|
40. A discussion arose in class yielding the following correspondences:
|
40. Trong lớp học đã nảy sinh một cuộc thảo luận đưa ra các tương ứng sau:
|
|
Sense
|
Plane or Planes
|
Chakra or Chakras
|
Comments
|
|
Hearing
|
Physical plane
|
Base of spine, but also throat center
|
Since the sense of hearing is the first to develop, it is naturally related to the physical plane (in relation to which the base of the spine is the center associated), but the influence of the throat center is involved in all matters pertaining to sound and voice, just as is the sign Taurus.
|
|
Touching
|
Astral plane
|
Solar plexus
|
This is the fundamental sense in our astral-buddhic solar system.
|
|
Sight
|
Mental plane
|
Ajna center
|
Sight is the quintessentially Aryan sense.
|
|
Taste
|
Buddhic plane
|
Centers in the head in the region of the tongue.
|
How many taste centers does the tongue have? Four or five? The usual divisions of taste are as follows: salty, bitter, sweet, and sour? Acidic taste is related to sour. There are usually considered to be four aspects of taste, but sometimes five)
|
|
Smell
|
Atmic, but also physical plane
|
Centers in the head in the region of the nose.
|
The two nostrils suggest two great channels. The sense of smell can be understood as operating under the great Law of Attraction. There are smells that attract in varying degree and those that repel.
|
|
[Table 1]
|
|
41. There are also centers above the head (higher centers) which are doubtlessly involved in or linked to the development and expression of the senses.
|
41. Cũng có các trung tâm ở phía trên đầu (các trung tâm cao hơn) chắc chắn có liên quan đến, hoặc được nối kết với, sự phát triển và biểu lộ của các giác quan.
|
|
First. The awakening on the physical plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the Probationary Path is reached. This is paralleled by the increasing use of the senses, and their constant utilisation for the identification of the self and its sheaths.
|
Thứ nhất. Sự đánh thức trên cõi hồng trần, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi Con Đường Dự Bị được đạt đến. Điều này song hành với việc sử dụng các giác quan ngày càng tăng, và sự vận dụng liên tục của chúng để đồng hoá với bản ngã và các vỏ bọc của nó.
|
|
42. According to this text, the Probationary Path occurs before the first initiation. This thought, however, must be coupled to the thought that the Probationary Path is that which aspirants tread, and that “all true aspirants have taken the first initiation” (DINA I 716).
|
42. Theo văn bản này, Con Đường Dự Bị xảy ra trước lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, tư tưởng này phải được kết hợp với tư tưởng rằng Con Đường Dự Bị là con đường mà những người chí nguyện bước đi, và rằng “mọi người chí nguyện chân chính đều đã nhận lần điểm đạo thứ nhất” (DINA I 716).
|
|
43. The implication of this section is that the Probationary Path is definitely related to energy activations upon the astral plane. Before that time it is the physical plane which is the area of gradual awakening.
|
43. Hàm ý của đoạn này là Con Đường Dự Bị chắc chắn liên quan đến các sự kích hoạt năng lượng trên cõi cảm dục. Trước thời điểm ấy, cõi hồng trần là khu vực của sự đánh thức dần dần.
|
|
44. We see a special way in which the senses are utilized: “for the identification of the self and its sheaths”. In the early days of evolution there is little ability to discriminate between the self and its sheaths. Constantly, the testimony of the senses is confused with the nature of the self. This confusion is the basis of egoism—i.e., the identification of the self with its vehicles of expression.
|
44. Chúng ta thấy một cách đặc biệt mà các giác quan được vận dụng: “để đồng hoá với bản ngã và các vỏ bọc của nó”. Trong những ngày đầu của tiến hoá, hầu như không có khả năng phân biệt giữa bản ngã và các vỏ bọc của nó. Liên tục, lời chứng của các giác quan bị lẫn lộn với bản chất của bản ngã. Sự lẫn lộn này là nền tảng của tính vị kỷ—tức sự đồng hoá bản ngã với các vận cụ biểu lộ của nó.
|
|
45. The identification of the self (note the lower case “s”) and its sheaths represents a kind of involutionary phase of human consciousness. It is initially necessary for the self to, as it were, ‘invest itself’ in the sensorily revealed world. The awakening self must become engaged with its environment. This requires the immersion of the self in sensorily revealed ‘reality’.
|
45. Việc đồng hoá bản ngã (lưu ý chữ “b” thường) và các vỏ bọc của nó biểu thị một loại giai đoạn giáng hạ tiến hoá của tâm thức con người. Ban đầu, bản ngã cần phải, có thể nói như vậy, “đầu tư chính mình” vào thế giới được các giác quan phơi bày. Bản ngã đang thức tỉnh phải dấn thân vào môi trường của nó. Điều này đòi hỏi sự chìm đắm của bản ngã trong “thực tại” được các giác quan phơi bày.
|
|
46. But as evolution proceeds and the senses become more acute, they can be used as fine discriminators in the separation of self from sense.
|
46. Nhưng khi tiến hoá tiến triển và các giác quan trở nên sắc bén hơn, chúng có thể được dùng như những công cụ phân biệt tinh tế trong việc tách bản ngã khỏi giác quan.
|
|
47. The intensive use of the senses for this purpose is indicated in the following section.
|
47. Việc sử dụng các giác quan một cách mãnh liệt cho mục đích này được nêu trong đoạn sau.
|
|
Second. The awakening on the astral plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the first Initiation is reached. This is paralleled by the tremendously keen use of the senses for the purposes of discriminating between the Self and the not-self.
|
Thứ hai. Sự đánh thức trên cõi cảm dục, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi lần điểm đạo thứ nhất được đạt đến. Điều này song hành với việc sử dụng các giác quan cực kỳ sắc bén nhằm phân biệt giữa Bản Ngã và cái không-phải-bản-ngã.
|
|
48. Here we are speaking of the awakening of the astral chakras which, however, may be thought of functioning (at least at times) in synchronization with the physical and mental chakras. This type of synchronization will be seen as a result of personality integration.
|
48. Ở đây chúng ta đang nói về sự đánh thức của các luân xa cảm dục; tuy nhiên, có thể xem chúng hoạt động (ít nhất đôi lúc) đồng bộ với các luân xa hồng trần và thể trí. Loại đồng bộ này sẽ được thấy như một kết quả của sự tích hợp phàm ngã.
|
|
49. It is also, however, possible to focus in one vehicle or another without the pronounced activation of other vehicles.
|
49. Tuy nhiên, cũng có thể tập trung trong vận cụ này hay vận cụ khác mà không có sự kích hoạt rõ rệt của các vận cụ khác.
|
|
50. The first initiation seems to require the development of a degree of emotional sensitivity and an awakening of the astral senses through the activation of astral chakras. This would make sense as the astral body is correlated to the heart center which receives a new type of activation or emphasis at the first degree.
|
50. Lần điểm đạo thứ nhất dường như đòi hỏi sự phát triển một mức độ nhạy cảm cảm xúc và sự đánh thức các giác quan cảm dục qua việc kích hoạt các luân xa cảm dục. Điều này hợp lý vì thể cảm dục tương quan với trung tâm tim, vốn nhận một loại kích hoạt hay nhấn mạnh mới ở bậc thứ nhất.
|
|
51. We note that DK speaks of the discrimination between the Self and the not-self. The term “Self” in this case has a capital “S” which is not the case in the preceding section.
|
51. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về sự phân biệt giữa Bản Ngã và cái không-phải-bản-ngã. Thuật ngữ “Bản Ngã” trong trường hợp này có chữ “B” viết hoa, điều không có trong đoạn trước.
|
|
52. By keen observation of that which the senses reveal and by a quiet registration of that which is the senses do not reveal (namely the Observer), can this discrimination be sharpened.
|
52. Nhờ quan sát sắc bén điều mà các giác quan phơi bày, và nhờ ghi nhận lặng lẽ điều mà các giác quan không phơi bày (tức Đấng Quan Sát), sự phân biệt này mới có thể được làm sắc bén.
|
|
[204]
|
[204]
|
|
Third. The awakening upon the mental plane, and the gradually increasing activity of the centres and the senses. The effect in both cases tends to identification of the Self with its own essence in all groups and the rejection of the sheaths and the forms.
|
Thứ ba. Sự đánh thức trên cõi trí, và hoạt động tăng dần của các trung tâm và các giác quan. Hiệu quả trong cả hai trường hợp đều hướng đến việc đồng hoá Bản Ngã với tinh chất riêng của nó trong mọi nhóm, và sự khước từ các vỏ bọc và các hình tướng.
|
|
53. We are speaking of the awakening of the senses in three phases.
|
53. Chúng ta đang nói về sự đánh thức của các giác quan trong ba giai đoạn.
|
|
54.
VSK remarks: We see the mental plane as that whereupon the identification of essence or essential unity and rejection of the not-self is effected.
|
54. VSK nhận xét: Chúng ta thấy cõi trí là nơi mà việc đồng hoá với tinh chất hay sự hợp nhất thiết yếu, và sự khước từ cái không-phải-bản-ngã, được thực hiện.
|
|
55. We have passed through two phases thus far:
|
55. Cho đến nay, chúng ta đã đi qua hai giai đoạn:
|
|
a.
The identification of the self and its sheaths facilitated through the medium of the senses.
|
a. Việc đồng hoá bản ngã và các vỏ bọc của nó được tạo thuận qua trung gian của các giác quan.
|
|
b.
The increasing use of the senses for discriminating the Self from the not-self
|
b. Việc sử dụng các giác quan ngày càng tăng để phân biệt Bản Ngã với cái không-phải-bản-ngã
|
|
c.
Finally, in this mental stage, the Self finds the Self in all groups (and presumably, in all individuals) and rejects the sheaths or forms through which Self had been expressing. Essence reaches out to essence.
|
c. Cuối cùng, trong giai đoạn thể trí này, Bản Ngã tìm thấy Bản Ngã trong mọi nhóm (và có lẽ, trong mọi cá nhân) và khước từ các vỏ bọc hay hình tướng qua đó Bản Ngã đã biểu lộ. Tinh chất vươn đến tinh chất.
|
|
56. This third stage definitely lies beyond the second (which is simply an act of discrimination) because of the nature of the act of identification involved—the identification of Self with Self, of essence with essence.
|
56. Giai đoạn thứ ba này chắc chắn vượt quá giai đoạn thứ hai (vốn chỉ là một hành vi phân biệt) vì bản chất của hành vi đồng hoá liên quan—sự đồng hoá của Bản Ngã với Bản Ngã, của tinh chất với tinh chất.
|
|
57. A considerable power of abstraction is required for the process involved in the third stage.
|
57. Một quyền năng trừu tượng hoá đáng kể là cần thiết cho tiến trình liên quan trong giai đoạn thứ ba.
|
|
This development is paralleled on the two higher planes simultaneously as in the lower, and as the astral senses come into perfected activity, the corresponding centres of force on the buddhic plane begin to function until the vibratory interplay between the two is consummated, and the force of the Triad can be felt definitely in the Personality via the astral.
|
Sự phát triển này song hành trên hai cõi cao hơn một cách đồng thời như ở các cõi thấp, và khi các giác quan cảm dục đi vào hoạt động hoàn hảo, các trung tâm mãnh lực tương ứng trên cõi Bồ đề bắt đầu vận hành cho đến khi sự tương tác rung động giữa hai cõi được hoàn tất, và mãnh lực của Tam Nguyên có thể được cảm nhận một cách xác định trong phàm ngã qua trung gian cõi cảm dục.
|
|
58.
VSK remarks: Our referral here to the two higher planes is atmic and buddhic; so we are dealing with the five planes of human and super-human evolution and not yet with the seven planes of the cosmic physical plane.
|
58. VSK nhận xét: Việc chúng ta nhắc đến hai cõi cao hơn ở đây là cõi atma và cõi Bồ đề; vì vậy, chúng ta đang bàn đến năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại, chứ chưa phải bảy cõi của cõi hồng trần vũ trụ.
|
|
59. There is to be noted a definite relationship between the astral and buddhic planes and between the mental and atmic planes. The astral is the second plane within the lower three worlds, whether counting from below to above, and the buddhic plane is the second plane within the five worlds of human and super-human evolution, counting from above (beginning with the atmic plane).
|
59. Cần lưu ý rằng có một mối liên hệ xác định giữa cõi cảm dục và cõi Bồ đề, và giữa cõi trí và cõi atma. Cõi cảm dục là cõi thứ hai trong ba cõi thấp, nếu đếm từ dưới lên; và cõi Bồ đề là cõi thứ hai trong năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại, nếu đếm từ trên xuống (bắt đầu từ cõi atma).
|
|
60. The mental plane is the third plane in the lower three worlds (counting from below) and the atmic plane, the third plane of the entire cosmic physical plane (counting from above). Thus, there are numerological parallels.
|
60. Cõi trí là cõi thứ ba trong ba cõi thấp (đếm từ dưới lên) và cõi atma là cõi thứ ba của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ (đếm từ trên xuống). Do đó, có những song song về số học.
|
|
61. We note that only when the astral plane comes into “perfected activity” is there “corresponding development of force” on the buddhic plane. The important thing to realize is that there are, indeed, “corresponding centers of force” on that higher plane!
|
61. Chúng ta lưu ý rằng chỉ khi cõi cảm dục đi vào “hoạt động hoàn hảo” thì mới có “sự phát triển mãnh lực tương ứng” trên cõi Bồ đề. Điều quan trọng cần nhận ra là quả thật có những “trung tâm mãnh lực tương ứng” trên cõi cao ấy!
|
|
62. This may come as a surprise, as there are no chakras diagrammed for the buddhic and atmic planes. Yet, we are told of permanent atoms (shaped like figure eights) on the buddhic plane. If such tiny formal structures as permanent atoms exist on these more rarefied planes, why not chakras?
|
62. Điều này có thể gây ngạc nhiên, vì không có các sơ đồ luân xa cho cõi Bồ đề và cõi atma. Tuy nhiên, chúng ta được nói về các nguyên tử trường tồn (có hình như số tám) trên cõi Bồ đề. Nếu những cấu trúc hình tướng nhỏ bé như các nguyên tử trường tồn tồn tại trên các cõi loãng nhẹ hơn này, thì vì sao lại không có luân xa?
|
|
63. There is also the possibility that the “corresponding centers” on these higher planes could be centers of force found within Ashrams, or aspects of Ashrams considered as corresponding centers of force. It will be necessary to reserve judgment until more is ascertained.
|
63. Cũng có khả năng rằng các “trung tâm tương ứng” trên các cõi cao hơn này có thể là các trung tâm mãnh lực được tìm thấy trong các ashram, hoặc là các phương diện của các ashram được xem như những trung tâm mãnh lực tương ứng. Cần phải tạm hoãn phán đoán cho đến khi xác định được nhiều hơn.
|
|
64.
VSK suggests we note the heart center correspondences of both the astral and buddhic planes.
|
64. VSK gợi ý chúng ta lưu ý các tương ứng trung tâm tim của cả cõi cảm dục lẫn cõi Bồ đề.
|
|
65. Can the force of the spiritual triad be felt only through buddhic impression upon the astral plane, or can atmic impression upon the mental plane equally represent the presence of the spiritual triad in the personality?
|
65. Mãnh lực của Tam Nguyên Tinh Thần chỉ có thể được cảm nhận qua ấn tượng Bồ đề tác động lên cõi cảm dục, hay ấn tượng atma tác động lên cõi trí cũng có thể biểu thị sự hiện diện của Tam Nguyên Tinh Thần trong phàm ngã một cách tương đương?
|
|
Again the corresponding vortices on the atmic level come into active vibration as the mental centres become fourth dimensional, till we have a wonderful fiery activity demonstrating on all the three planes.
|
Một lần nữa, các xoáy tương ứng ở mức atma đi vào rung động tích cực khi các trung tâm thể trí trở nên bốn chiều, cho đến khi chúng ta có một hoạt động rực lửa kỳ diệu biểu lộ trên cả ba cõi.
|
|
66. Here we learn of “corresponding vortices on the atmic level”. The wording used is easily understood as referring to chakras—possibly atmic chakras (though we must not jump to conclusions).
|
66. Ở đây chúng ta học được về “các xoáy tương ứng ở mức atma”. Cách diễn đạt này dễ được hiểu là đang nói đến các luân xa—có thể là các luân xa atma (dù chúng ta không nên vội kết luận).
|
|
67. May we gather that the atmic developments here discussed would occur only as the third initiation is approached?
|
67. Chúng ta có thể hiểu rằng các sự phát triển atma được bàn ở đây chỉ xảy ra khi lần điểm đạo thứ ba đang đến gần không?
|
|
68. In an earlier Commentary we studied the development of the chakras by means of Five Cosmic Symbols.
|
68. Trong một phần Bình Luận trước, chúng ta đã nghiên cứu sự phát triển của các luân xa bằng phương tiện Năm Biểu Tượng Vũ Trụ.
|
|
69. Now a new piece of information is added: when the mental centers become fourth dimensional, the atmic vortices corresponding to the mental chakras will become active.
|
69. Giờ đây một mảnh thông tin mới được thêm vào: khi các trung tâm thể trí trở nên bốn chiều, các xoáy atma tương ứng với các luân xa thể trí sẽ trở nên hoạt động.
|
|
70. May we assume that when the astral chakras become fourth dimensional in their rotation, that the buddhic vortices become active?
|
70. Chúng ta có thể giả định rằng khi các luân xa cảm dục trở nên bốn chiều trong sự xoay chuyển của chúng, thì các xoáy Bồ đề trở nên hoạt động không?
|
|
71. Fourth dimensional rotation is only gradually produced. The following quotation suggests that it is produced during the two stages of the Path:
|
71. Sự xoay chuyển bốn chiều chỉ được tạo ra dần dần. Trích dẫn sau gợi ý rằng nó được tạo ra trong hai giai đoạn của Con Đường:
|
|
5. The swastika. At this stage the centre becomes fourth-dimensional; the inner rotating cross begins to turn upon its axis, and to drive the flaming periphery to all sides so that the centre is better described as a sphere of fire than as a wheel. It marks the stage of the Path in its two divisions, for the process of producing the effect described covers the whole period of the Path. At the close, the centres are seen as globes of radiant fire with the spokes of the wheel (or the evolution of the cross from the point in the centre) merging and blending into a “fire that burneth up the whole.” (TCF 172)
|
5. Chữ vạn. Ở giai đoạn này, trung tâm trở nên bốn chiều; thập giá xoay bên trong bắt đầu quay trên trục của nó, và đẩy chu vi rực lửa ra mọi phía, khiến trung tâm được mô tả đúng hơn như một khối cầu lửa hơn là một bánh xe. Nó đánh dấu giai đoạn của Con Đường trong hai phân đoạn của nó, vì tiến trình tạo ra hiệu quả được mô tả bao trùm toàn bộ thời kỳ của Con Đường. Khi kết thúc, các trung tâm được thấy như những khối cầu lửa rực sáng với các nan hoa của bánh xe (hay sự tiến hoá của thập giá từ điểm ở trung tâm) hoà nhập và dung hợp thành một “ngọn lửa thiêu đốt trọn vẹn.” (TCF 172)
|
|
72. What we may gather from this description is that, as the Path is trodden, buddhic and atmic activations parallel the fulfillment of the astral and mental developments characteristic of the Path.
|
72. Điều chúng ta có thể rút ra từ mô tả này là: khi Con Đường được bước đi, các sự kích hoạt Bồ đề và atma song hành với sự hoàn tất các sự phát triển cảm dục và thể trí vốn là đặc trưng của Con Đường.
|
|
73. This should not come as a surprise, for the process of initiation is activated by the impact of higher planes upon lower.
|
73. Điều này không nên gây ngạc nhiên, vì tiến trình điểm đạo được kích hoạt bởi tác động của các cõi cao lên các cõi thấp.
|
|
74. Note the nature of the “spokes of the wheel”; they are, in fact, the result of “the evolution of the cross from the point in the centre”.
|
74. Hãy lưu ý bản chất của các “nan hoa của bánh xe”; thật ra, chúng là kết quả của “sự tiến hoá của thập giá từ điểm ở trung tâm”.
|
|
From the point of view of fire,86 leaving the aura and
[205] its colors out of temporary consideration, the evolutionary development marks an equally definite process.
|
Xét từ quan điểm của lửa,86 tạm thời gác lại hào quang và [205] các màu sắc của nó, sự phát triển tiến hoá đánh dấu một tiến trình cũng xác định không kém.
|
|
75. The Tibetan now deals with the evolution of the senses in terms of fire.
|
75. Giờ đây Chân sư Tây Tạng bàn về sự tiến hoá của các giác quan theo thuật ngữ lửa.
|
|
Footnote
86
|
Chú thích
86
|
|
The Fire of the manifested cosmos is Septenary.
|
Lửa của vũ trụ biểu hiện là thất phân.
|
|
The Threefold God manifests through the seven Fires:
|
Thượng đế Tam Vị biểu lộ qua bảy Lửa:
|
|
76. The “Threefold God” is the Solar Logos.
|
76. “Thượng đế Tam Vị” là Thái dương Thượng đế.
|
|
1. Electric fire — The seven Heavenly Men.
|
1. Lửa điện — bảy Đấng Thiên Nhân.
|
|
2. Solar fire — Evolution of the seven Entities through their vehicles developing the seven principles.
|
2. Lửa Thái dương — Sự tiến hoá của bảy Thực Thể qua các vận cụ của các Ngài, phát triển bảy nguyên khí.
|
|
3. Fire by friction — The seven chains.
|
3. Lửa ma sát — bảy dãy.
|
|
77. The method of division is interesting. The monadic nature of the seven Heavenly Men could be called “electric fire”. What, however, are the “seven Entities” which through their vehicles develop the seven principles? Are these seven Ray Lords, on the intra-planetary level, each of them associated with a particular principle manifesting through a particular one of seven chains?
|
77. Phương pháp phân chia này thật thú vị. Bản chất chân thần của bảy Đấng Thiên Nhân có thể được gọi là “lửa điện”. Tuy nhiên, “bảy Thực Thể” là gì, những Đấng mà qua các vận cụ của Các Ngài phát triển bảy nguyên khí? Có phải đây là bảy Đấng Chúa Tể Cung, ở mức nội-hành-tinh, mỗi Đấng gắn với một nguyên khí đặc thù biểu lộ qua một trong bảy dãy đặc thù?
|
|
78. Or are we dealing with the systemic Ray Lords, embodying each, one of the seven systemic principles? In this case, each one of the “seven Entities” would be associated with the manifestation of a particular planetary scheme.
|
78. Hay chúng ta đang bàn đến các Đấng Chúa Tể Cung hệ thống, mỗi Đấng hiện thân một trong bảy nguyên khí hệ thống? Trong trường hợp này, mỗi một trong “bảy Thực Thể” sẽ gắn với sự biểu hiện của một hệ hành tinh đặc thù.
|
|
79. Here and in the following tabulations, DK seems to be associating the seven principles with solar fire, or with the second aspect in general. The number seven is often associated with the number two. The rays of Jupiter are an example.
|
79. Ở đây và trong các bảng liệt kê sau, Chân sư DK dường như đang liên hệ bảy nguyên khí với lửa Thái dương, hay với phương diện thứ hai nói chung. Con số bảy thường được liên hệ với con số hai. Các cung của Sao Mộc là một ví dụ.
|
|
80. If we stay focussed on the level of the Planetary Logoi, are we speaking of the material aspect of the Planetary Logos when discussing the seven planetary chains?
|
80. Nếu chúng ta giữ sự tập trung ở mức Các Hành Tinh Thượng đế, khi bàn về bảy dãy hành tinh, chúng ta đang nói về phương diện vật chất của Hành Tinh Thượng đế sao?
|
|
81. Or is the term “chains”, in this context, really meant as a substitute for “schemes”?
|
81. Hay thuật ngữ “dãy”, trong văn cảnh này, thật ra được dùng như một từ thay thế cho “hệ hành tinh”?
|
|
82. It should be noted that the Heavenly Men are not associated with electric fire.
|
82. Cần lưu ý rằng các Đấng Thiên Nhân không được liên hệ với lửa điện.
|
|
They are the seven centres of the Logos.
|
Các Ngài là bảy trung tâm của Thượng đế.
|
|
83. Much depends upon the meaning of the word “chains” in this context. There are times, in Theosophy, when the term “chains” is used for the term “schemes”.
|
83. Nhiều điều tuỳ thuộc vào ý nghĩa của từ “dãy” trong văn cảnh này. Có những lúc, trong Thông Thiên Học, thuật ngữ “dãy” được dùng thay cho thuật ngữ “hệ hành tinh”.
|
|
84. In this context, it seems, indeed, that the term “chains” is equivalent to “schemes”.
|
84. Trong văn cảnh này, quả thật có vẻ như thuật ngữ “dãy” tương đương với “hệ hành tinh”.
|
|
85. In the above tabulation we seem to be differentiating between:
|
85. Trong bảng liệt kê ở trên, chúng ta dường như đang phân biệt giữa:
|
|
a.
Monads
|
a. Các chân thần
|
|
b.
Principles
|
b. Các nguyên khí
|
|
c.
Chakric vehicles of expression
|
c. Các vận cụ luân xa của sự biểu lộ
|
|
86. We are using the same division for the different types of atoms.
|
86. Chúng ta đang dùng cùng một sự phân chia cho các loại nguyên tử khác nhau.
|
|
A Heavenly Man manifests through a chain.
|
Một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy.
|
|
87. While this is true, it is more inclusive to say that a Heavenly Man manifests through a scheme.
|
87. Dù điều này đúng, nhưng bao gồm hơn là nói rằng một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh.
|
|
88. There are different types of Heavenly Men. The Lord of a scheme is a Heavenly Man, as is the Lord of a chain or globe.
|
88. Có những loại Đấng Thiên Nhân khác nhau. Chúa Tể của một hệ hành tinh là một Đấng Thiên Nhân, cũng như Chúa Tể của một dãy hay một bầu hành tinh.
|
|
89. If, below, DK is speaking of the Heavenly Man who manifests through a chain (and the term “chain” actually means “chain”, precisely, instead of “scheme”) then, it seems, He has skipped one entire level—that of the kind of Heavenly Man Who manifests through a scheme).
|
89. Nếu, ở dưới, Chân sư DK đang nói về Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy (và thuật ngữ “dãy” thật sự có nghĩa chính xác là “dãy”, chứ không phải “hệ hành tinh”) thì dường như Ngài đã bỏ qua trọn vẹn một cấp độ—đó là loại Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh).
|
|
1. He is electric fire — The seven solar entities who inform each globe.
|
1. Ngài là lửa điện — bảy thực thể Thái dương phú linh mỗi bầu hành tinh.
|
|
90. Here we receive an important piece of information. The entities who inform each globe in a planetary chain are solar entities. We usually call them chain lords.
|
90. Ở đây chúng ta nhận được một mảnh thông tin quan trọng. Các thực thể phú linh mỗi bầu hành tinh trong một dãy hành tinh là các thực thể Thái dương. Chúng ta thường gọi Các Ngài là các Chúa Tể dãy.
|
|
91. We may also gather that a Chain-Lord is, as well, a solar entity.
|
91. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng một Chúa Tể dãy cũng là một thực thể Thái dương.
|
|
92. The extensive tabulation on TCF 844 should be searched for solar entities.
|
92. Nên tra cứu bảng liệt kê rộng trên TCF 844 để tìm các thực thể Thái dương.
|
|
2. He is solar fire — Evolution of the life through the forms,
|
2. Ngài là lửa Thái dương — Sự tiến hoá của sự sống qua các hình tướng,
|
|
developing the seven principles.
|
phát triển bảy nguyên khí.
|
|
93. From this we can see that DK is definitely associating solar fire with the seven principles. From what is said there may emerge a suggestion that development within the spiritual triad is related to solar fire. The spiritual triad is the true soul, and, although related to the Monad, is also related to the middle fire.
|
93. Từ đây chúng ta có thể thấy Chân sư DK chắc chắn đang liên hệ lửa Thái dương với bảy nguyên khí. Từ điều được nói, có thể nảy sinh một gợi ý rằng sự phát triển trong Tam Nguyên Tinh Thần có liên quan đến lửa Thái dương. Tam Nguyên Tinh Thần là linh hồn chân thật, và, dù liên hệ với chân thần, nó cũng liên hệ với ngọn lửa trung gian.
|
|
3. He is fire by friction — The seven globes.
|
3. Ngài là lửa ma sát — bảy bầu hành tinh.
|
|
94. When DK is speaking of chains or globes, in this context, He seems definitely to be speaking of the material or prakritic level.
|
94. Khi Chân sư DK nói về dãy hay bầu hành tinh, trong văn cảnh này, Ngài dường như chắc chắn đang nói về mức độ vật chất hay mức độ prakriti.
|
|
Each Heavenly Man has seven principles.
|
Mỗi Đấng Thiên Nhân có bảy nguyên khí.
|
|
95. This is true of all the kinds of entities under discussion.
|
95. Điều này đúng đối với mọi loại thực thể đang được bàn đến.
|
|
96. Principles are really functional divisions of monadic energy, or qualified projections of monadic power.
|
96. Các nguyên khí thật ra là những phân chia chức năng của năng lượng chân thần, hay những phóng chiếu được phẩm tính hoá của quyền năng chân thần.
|
|
A Man, the Microcosm, manifests through his vehicles:
|
Một con người, tiểu thiên địa, biểu lộ qua các vận cụ của y:
|
|
1. He is electric fire — The monad, a solar entity.
|
1. Y là lửa điện — chân thần, một thực thể Thái dương.
|
|
97. This is an important statement. The Monad is said to be “that which finds its home within the sun” (IHS 167). The statement here, that the Monad is a “solar entity” seems to be a confirmation of this thought.
|
97. Đây là một phát biểu quan trọng. Chân thần được nói là “điều tìm thấy nhà của nó trong mặt trời” (IHS 167). Phát biểu ở đây, rằng chân thần là một “thực thể Thái dương”, dường như xác nhận tư tưởng này.
|
|
2. He is solar fire — Evolution of the life through the vehicles
|
2. Y là lửa Thái dương — Sự tiến hoá của sự sống qua các vận cụ
|
|
in order to develop the seven principles.
|
nhằm phát triển bảy nguyên khí.
|
|
98. “Life”, in this context, is the energy of the Monad. Another way of viewing the seven principles, therefore, is as a product of the “evolution of life through the vehicles”.
|
98. “Sự sống”, trong văn cảnh này, là năng lượng của chân thần. Do đó, một cách khác để nhìn bảy nguyên khí là xem chúng như một sản phẩm của “sự tiến hoá của sự sống qua các vận cụ”.
|
|
3. He is fire by friction — The seven sheaths:
|
3. Y là lửa ma sát — bảy vỏ bọc:
|
|
1. Atmic 2. Buddhic.
|
1. Atma 2. Bồ đề.
|
|
3. Causal 4. Mental body.
|
3. Nguyên nhân 4. Thể trí.
|
|
5. Astral body 6. Etheric body.
|
5. Thể cảm dục 6. Thể dĩ thái.
|
|
7. Physical body.
|
7. Thể xác.
|
|
99. The sheaths are definitely the material spheres, and in this context correspond to the globes and chains mentioned above in relation to larger contexts.
|
99. Các vỏ bọc chắc chắn là các phạm vi vật chất, và trong văn cảnh này tương ứng với các bầu hành tinh và dãy được nêu ở trên trong các bối cảnh lớn hơn.
|
|
100. What is listed immediately above is a tabulation of sheaths and not principles. The distinction should be retained within the mind.
|
100. Điều được liệt kê ngay phía trên là một bảng liệt kê các vỏ bọc chứ không phải các nguyên khí. Sự phân biệt này cần được giữ vững trong thể trí.
|
|
Physical Plane man manifests in the three worlds:
|
Con người cõi hồng trần biểu lộ trong ba cõi thấp:
|
|
1. Electric fire — The higher self.
|
1. Lửa điện — chân ngã.
|
|
2. Solar fire — The seven centres.
|
2. Lửa Thái dương — bảy trung tâm.
|
|
3. Fire by friction — The sheaths.
|
3. Lửa ma sát — các vỏ bọc.
|
|
101. The tabulation immediately above is of importance though different in some particulars from other frequently seen tabulations.
|
101. Bảng liệt kê ngay phía trên có tầm quan trọng, dù khác ở một số điểm so với các bảng liệt kê thường gặp khác.
|
|
a. The higher self would be a combination of Monad and spiritual triad as they express through the Ego in the egoic body.
|
a. Chân ngã sẽ là một sự kết hợp của chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần khi chúng biểu lộ qua chân ngã trong thể chân ngã.
|
|
b. In a way, the tabulation above refers to a group of relationships which is entirely within the domain of solar fire.
|
b. Theo một nghĩa nào đó, bảng liệt kê ở trên đề cập đến một nhóm các mối tương quan hoàn toàn nằm trong phạm vi của Lửa Thái dương.
|
|
c. It is strange to see the seven centers as representing solar fire, since we are told that the chakras are vortices of energy which are essentially expressions of the Monad. But of course, the Monad works through Ego, and thus the Ego is involved in the manifestation and development of the chakras.
|
c. Thật lạ khi thấy bảy trung tâm được xem như biểu trưng cho Lửa Thái dương, vì chúng ta được dạy rằng các luân xa là những xoáy năng lượng vốn dĩ là các biểu lộ của chân thần. Nhưng dĩ nhiên, chân thần hoạt động qua chân ngã, và do đó chân ngã có liên can đến sự biểu lộ và sự phát triển của các luân xa.
|
|
d. If we remember that we are within the province of the Ego, then one can understand the seven centers as related to solar fire.
|
d. Nếu chúng ta nhớ rằng mình đang ở trong phạm vi của chân ngã, thì có thể hiểu bảy trung tâm là có liên hệ với Lửa Thái dương.
|
|
e. The sheaths, of course, are easily related to fire by friction.
|
e. Dĩ nhiên, các vỏ bọc có thể dễ dàng được liên hệ với Lửa ma sát.
|
|
102. It seems important to note that the centers are considered superior to, or more essential than, the sheaths.
|
102. Có vẻ quan trọng cần lưu ý rằng các trung tâm được xem là cao hơn, hoặc thiết yếu hơn, so với các vỏ bọc.
|
|
103. VSK suggests: “As we continue, since we are speaking of evolutionary development, and we see the five-pointed list, below, let’s overlay our other symbols, e.g., the circle, circle with point, divided circle, cross in circle, and swastika.
|
103. VSK gợi ý: “Khi chúng ta tiếp tục, vì chúng ta đang nói về sự phát triển tiến hoá, và chúng ta thấy danh sách năm điểm ở dưới, hãy chồng lên các biểu tượng khác của chúng ta, thí dụ: vòng tròn, vòng tròn có điểm, vòng tròn chia đôi, thập giá trong vòng tròn, và chữ vạn.
|
|
104. Immediately below, we are dealing with evolutionary development in terms of fire.
|
104. Ngay bên dưới, chúng ta đang bàn về sự phát triển tiến hoá xét theo lửa.
|
|
a. The vivification of the inner heat of the sheaths, or the tiny point of fire latent in every individual atom of matter. This process proceeds in all three bodies, at first slowly, then more rapidly, and finally simultaneously and synthetically.
|
a. Sự tiếp sinh lực cho nhiệt nội tại của các vỏ bọc, hay điểm lửa nhỏ tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử cá biệt của vật chất. Tiến trình này diễn ra trong cả ba thể: lúc đầu chậm, rồi nhanh hơn, và cuối cùng đồng thời và tổng hợp.
|
|
105. We are referring to the material level and to that latent fire which is the heat of dense matter.
|
105. Chúng ta đang nói đến tầng mức vật chất và ngọn lửa tiềm ẩn ấy, vốn là sức nóng của vật chất đậm đặc.
|
|
106. Latent fire is to be considered the lower aspect of fire by friction.
|
106. Lửa tiềm ẩn phải được xem là phương diện thấp của Lửa ma sát.
|
|
107. Lest we think that latent fire is only to be found in the matter of the dense physical plane, we are informed of the fact that it is found equally in the material aspect of all three bodies of the personality. It is to be found sustaining all atoms of all sheaths.
|
107. Để khỏi nghĩ rằng lửa tiềm ẩn chỉ có trong vật chất của cõi hồng trần đậm đặc, chúng ta được cho biết rằng nó cũng hiện diện tương đương trong phương diện vật chất của cả ba thể của phàm ngã. Nó được thấy đang duy trì mọi nguyên tử của mọi vỏ bọc.
|
|
108. May it be that even on those levels where radiatory fire is most influential, some form of latent fire is to be found? To answer this would require careful thought.
|
108. Có phải ngay cả ở những tầng mức nơi Lửa bức xạ có ảnh hưởng mạnh nhất, vẫn có thể tìm thấy một dạng lửa tiềm ẩn nào đó chăng? Trả lời điều này đòi hỏi phải suy nghĩ cẩn trọng.
|
|
109. There seems to be an initial sequentiality to the development of latent fire in the three sheaths. Eventually this inner heat is seen developing simultaneously in each sheath and eventually, synthetically.
|
109. Dường như có một tính tuần tự ban đầu trong sự phát triển của lửa tiềm ẩn trong ba vỏ bọc. Về sau, nhiệt nội tại này được thấy phát triển đồng thời trong mỗi vỏ bọc và cuối cùng, một cách tổng hợp.
|
|
110. Every sheath has its more material aspect and its more etheric aspect. May it be said that “active fire” is found on certain subplanes of all three vehicles of the personality, and “latent fire” on other subplanes? This is a subtle question as it is possible to divide every systemic plane into a higher four and lower three (or, as is the case for the mental plane) into a higher three and a lower four.
|
110. Mỗi vỏ bọc đều có phương diện vật chất hơn và phương diện dĩ thái hơn. Có thể nói rằng “lửa hoạt động” được tìm thấy trên một số cõi phụ của cả ba vận cụ của phàm ngã, và “lửa tiềm ẩn” trên các cõi phụ khác chăng? Đây là một câu hỏi tinh tế, vì có thể chia mỗi cõi hệ thống thành bốn phần cao và ba phần thấp (hoặc, như trường hợp cõi trí) thành ba phần cao và bốn phần thấp.
|
|
111. In some manner or other we should find latent fire and radiatory fire related to all atoms found within the eighteen lower subplanes. Latent fire provides the heat for such atoms (no matter how relatively refined may be the atoms when compared to physical atoms), and radiatory fire provides their coherency. As stated, the question is a subtle one.
|
111. Bằng cách này hay cách khác, chúng ta nên thấy lửa tiềm ẩn và Lửa bức xạ có liên hệ với mọi nguyên tử được tìm thấy trong mười tám cõi phụ thấp. Lửa tiềm ẩn cung cấp sức nóng cho các nguyên tử ấy (dù các nguyên tử ấy có tinh tế tương đối đến đâu khi so với nguyên tử hồng trần), và Lửa bức xạ cung cấp tính kết dính của chúng. Như đã nói, đây là một vấn đề tinh tế.
|
|
b. The bringing into activity from latency of the seven centres on all planes, beginning from the bottom upwards, until the centres (according to ray and type) are interrelated and co-ordinated. There are manifest thirty-five vortices of fire in the perfected adept,—all of radiant activity and all interacting.
|
b. Việc đưa bảy trung tâm trên mọi cõi từ trạng thái tiềm ẩn vào hoạt động, bắt đầu từ dưới lên trên, cho đến khi các trung tâm (tuỳ theo cung và loại) được liên hệ lẫn nhau và được phối hợp. Trong chân sư hoàn thiện có ba mươi lăm xoáy lửa biểu lộ,—tất cả đều hoạt động bức xạ và tất cả đều tương tác.
|
|
112. In the normal evolutionary process, the activation of the chakras occurs, in general, sequentially from below to above.
|
112. Trong tiến trình tiến hoá bình thường, sự kích hoạt các luân xa nhìn chung diễn ra tuần tự từ dưới lên trên.
|
|
113. It is important to note that the centres are interrelated and coordinated according to ray and type. The phrase “according to ray” may mean ‘according to the ray of the Monad’. It may also suggest that coordination occurs according to the type of ray resonance found between different chakras. For instance, the solar plexus and the heart centres would be resonant with each other according to the rays archetypally associated with these centres, as would the sacral center and throat center.
|
113. Điều quan trọng cần lưu ý là các trung tâm được liên hệ và phối hợp tuỳ theo cung và loại. Cụm từ “tuỳ theo cung” có thể hàm ý “tuỳ theo cung của chân thần”. Nó cũng có thể gợi rằng sự phối hợp diễn ra tuỳ theo loại cộng hưởng cung được tìm thấy giữa các luân xa khác nhau. Chẳng hạn, trung tâm tùng thái dương và trung tâm tim sẽ cộng hưởng với nhau theo các cung gắn với các trung tâm này ở mức nguyên mẫu; cũng vậy, trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng.
|
|
114. We are given a very big hint. A perfected adept is a Master! What number characterizes the Master?—the number five. How many planes does a Master master? Again five.
|
114. Chúng ta được trao một gợi ý rất lớn. Một chân sư hoàn thiện là một Chân sư! Con số nào đặc trưng cho Chân sư?—con số năm. Một Chân sư làm chủ bao nhiêu cõi? Lại là năm.
|
|
115. We seem to be speaking of the developed chakra system of a completed Master of the Wisdom. There would be seven chakras for each of the vehicles of a Master, on each of five planes, for a Master is master over five planes.
|
115. Dường như chúng ta đang nói về hệ thống luân xa đã phát triển của một Chân sư Minh Triết đã hoàn tất. Sẽ có bảy luân xa cho mỗi vận cụ của một Chân sư, trên mỗi trong năm cõi, vì một Chân sư làm chủ năm cõi.
|
|
116. In one way the number of the Adept is thirty-five. This number, in the ray theories of Stephen Pugh is associated with the fifth ray—which again makes perfect sense. The fifth ray is of great importance in producing that manifestation we can an Adept.
|
116. Theo một cách, con số của chân sư là ba mươi lăm. Con số này, trong các lý thuyết về cung của Stephen Pugh, được liên hệ với cung năm—điều này lại hoàn toàn hợp lý. Cung năm có tầm quan trọng lớn trong việc tạo ra sự biểu lộ mà chúng ta có thể gọi là một chân sư.
|
|
117. Below are the number assignments for the seven rays drawn from DK and supplemented by the extended theories of SDP.
|
117. Dưới đây là các gán số cho bảy cung được rút từ Chân sư DK và được bổ sung bởi các lý thuyết mở rộng của SDP.
|
|
R1 = 1
|
R1 = 1
|
|
R2 = 5
|
R2 = 5
|
|
R3 = 9
|
R3 = 9
|
|
R4 = 2. 5, 25
|
R4 = 2. 5, 25
|
|
R5 = 3. 5, 35 The Adept is the five-pointed star.
|
R5 = 3. 5, 35 Chân sư là ngôi sao năm cánh.
|
|
R6 = 1. 5, 15
|
R6 = 1. 5, 15
|
|
R7 = 7
|
R7 = 7
|
|
118. The interaction of an Adept’s thirty-five vortices occurs within each of the five systemic planes and, according to resonance, across the five planes.
|
118. Sự tương tác của ba mươi lăm xoáy của một chân sư diễn ra bên trong mỗi một trong năm cõi hệ thống và, tuỳ theo cộng hưởng, xuyên qua năm cõi.
|
|
c. The vortices or wheels of lambent flame become interlinked by triangles of fire which pass and circulate from one to another, till we have a web of fiery lines, uniting centres of living fire, and giving truth to the statement that the Sons of Mind are FLAMES.
|
c. Các xoáy hay bánh xe của ngọn lửa rực sáng trở nên liên kết với nhau bằng các tam giác lửa đi qua và luân chuyển từ cái này sang cái khác, cho đến khi chúng ta có một mạng lưới các đường lửa, nối kết các trung tâm của lửa sống động, và làm cho lời khẳng định rằng Con của Trí Tuệ là NHỮNG NGỌN LỬA trở thành đúng.
|
|
119. This is a most descriptive little paragraph. We are given a way of visualizing the vortices on the various levels—as “wheels of lambent flame”. The lambency of the flame suggests iridescence.
|
119. Đây là một đoạn ngắn hết sức mô tả. Chúng ta được trao một cách để hình dung các xoáy ở các tầng mức khác nhau—như “những bánh xe của ngọn lửa rực sáng”. Tính rực sáng của ngọn lửa gợi ý sự óng ánh nhiều sắc.
|
|
120. The triangular interlinking of the vortices suggests the foundational importance of the Science of Triangles.
|
120. Sự liên kết theo tam giác của các xoáy gợi ý tầm quan trọng nền tảng của Khoa Học về Tam Giác.
|
|
121. We human beings are the “Sons of Mind”. If we are viewed in a stage of high spiritual development, we are seen as “FLAMES”. The Solar Angels who are our source of inspiration are also, in their own way, and far more magnificently, “FLAMES”.
|
121. Chúng ta, những con người, là “Con của Trí Tuệ”. Nếu được nhìn ở một giai đoạn phát triển tinh thần cao, chúng ta được thấy như “NHỮNG NGỌN LỬA”. Các Thái dương Thiên Thần, là nguồn cảm hứng của chúng ta, cũng vậy—theo cách của Các Ngài, và huy hoàng hơn nhiều—là “NHỮNG NGỌN LỬA”.
|
|
d. These centres reach this condition of perfection as the Spirit or Will aspect takes ever fuller control.
|
d. Các trung tâm này đạt đến tình trạng hoàn hảo ấy khi phương diện tinh thần hay Ý Chí ngày càng nắm quyền kiểm soát đầy đủ hơn.
|
|
122. The Sprit within man is an agent of perfection. It brings all into increasingly perfect adjustment with the Fixed Design.
|
122. Tinh thần bên trong con người là một tác nhân của sự hoàn hảo. Nó đưa mọi sự vào sự điều chỉnh ngày càng hoàn hảo hơn với Mô Hình Cố Định.
|
|
123. It should be remembered that the ‘sense’ or higher psychic faculty known as “Perfection” is to be found upon the fourth level of the atmic plane and is, therefore, closely related to the dimension of Spirit.
|
123. Cần nhớ rằng “giác quan” hay năng lực thông linh cao hơn được gọi là “Sự Hoàn Hảo” được tìm thấy trên tầng mức thứ tư của cõi atma và vì thế có liên hệ mật thiết với chiều kích của tinh thần.
|
|
The unifying triangles are produced by the action of the fire of mind,
while the fire of matter holds the form together in ordered sequence.
|
Các tam giác hợp nhất được tạo ra bởi tác động của lửa của trí tuệ,
trong khi lửa của vật chất giữ hình tướng kết dính trong một trình tự có trật tự.
|
|
124. We are given a functional distinction for the work of the fire of mind and the fire of matter.
|
124. Chúng ta được trao một sự phân biệt về chức năng giữa công việc của lửa của trí tuệ và lửa của vật chất.
|
|
125. Souls are essentially triangles “and so it should be no surprise so see that it is the fire of mind, or solar (“triangles” is another name for “souls”) fire, which produces “the unifying triangles”. Until solar fire is released within the energy system, triangular development within the etheric body is not to be noted, or at least not prominent. At least this seems to be what is said.
|
125. Linh hồn về bản chất là các tam giác, “và vì thế không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng chính lửa của trí tuệ, hay Lửa Thái dương (“tam giác” là một tên khác của “linh hồn”) tạo ra “các tam giác hợp nhất”. Cho đến khi Lửa Thái dương được giải phóng trong hệ thống năng lượng, sự phát triển theo tam giác bên trong thể dĩ thái sẽ không được ghi nhận, hoặc ít nhất là không nổi bật. Ít nhất, dường như đây là điều được nói.
|
|
126. The fire of matter sustains (in ordered sequence) the structure of the energy system. The factor of relationship and interplay is caused by the fire of mind.
|
126. Lửa của vật chất duy trì (trong trình tự có trật tự) cấu trúc của hệ thống năng lượng. Yếu tố tương quan và tương tác được gây ra bởi lửa của trí tuệ.
|
|
127. We find the fire of matter playing a role characteristic of the seventh ray (or perhaps the third), and the fire of mind a role characterized by the second.
|
127. Chúng ta thấy lửa của vật chất đóng một vai trò mang đặc tính của cung bảy (hoặc có lẽ cung ba), và lửa của trí tuệ đóng một vai trò mang đặc tính của cung hai.
|
|
So the interdependence of matter, mind and Spirit can be seen and demonstrates to the eye of the clairvoyant as the co-ordination of the three fires.
|
Vì vậy, có thể thấy sự tương thuộc của vật chất, thể trí và tinh thần, và điều đó được biểu thị trước mắt nhà thông nhãn như sự phối hợp của ba ngọn lửa.
|
|
128. The interdependence of matter, mind and Spirit is factual. The symbol of this interdependence is the demonstrated coordination of the three fires.
|
128. Sự tương thuộc của vật chất, thể trí và tinh thần là một sự thật. Biểu tượng của sự tương thuộc này là sự phối hợp của ba ngọn lửa được biểu thị.
|
|
129. Earlier, we learned of the specific effects of prana and kundalini upon the various chakras.
|
129. Trước đó, chúng ta đã học về các tác động đặc thù của prana và kundalini lên các luân xa khác nhau.
|
|
“The fire of kundalini produces the heat of the centre, and its intense radiance and brilliance, while the pranic emanatory fire produces ever increasing activity and rotation.” (TCF 124)
|
“Lửa kundalini tạo ra sức nóng của trung tâm, cùng sự bức xạ và rực rỡ mãnh liệt của nó, trong khi lửa prana phát xạ tạo ra hoạt động và sự xoay chuyển ngày càng tăng.” (TCF 124)
|
|
These two effects should be related to the coordination of the three fires.
|
Hai tác động này nên được liên hệ với sự phối hợp của ba ngọn lửa.
|
|
e. In the Heavenly Man and His body, a chain of globes87 likewise can be seen and we need here to remember
[206] very carefully that the seven chains of a scheme are the expression of a planetary Logos. The Heavenly Men are expressing Themselves through a scheme of seven chains and the emphasis has been laid unduly, perhaps, upon the dense physical planet in any particular chain.
|
e. Trong Đấng Thiên Nhân và thể của Ngài, cũng có thể thấy một dãy các bầu hành tinh87, và ở đây chúng ta cần nhớ [206] thật cẩn trọng rằng bảy dãy của một hệ hành tinh là sự biểu lộ của một Hành Tinh Thượng đế. Các Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ Chính Các Ngài qua một hệ hành tinh gồm bảy dãy, và có lẽ sự nhấn mạnh đã được đặt quá mức lên hành tinh hồng trần đậm đặc trong bất kỳ dãy nào.
|
|
130. Here is one of the instances in which Planetary Logoi and Heavenly Men are seen to be equivalent.
|
130. Đây là một trong những trường hợp mà các Hành Tinh Thượng đế và các Đấng Thiên Nhân được xem là tương đương.
|
|
131. In fact, in the body of the Heavenly Man, at least seven chains of globes are to be reckoned with, and probably up to ten (at various points in the evolutionary process).
|
131. Thật vậy, trong thể của Đấng Thiên Nhân, ít nhất phải tính đến bảy dãy các bầu hành tinh, và có lẽ lên đến mười (ở các điểm khác nhau trong tiến trình tiến hoá).
|
|
132. Each planetary scheme has one dense physical planet. Our Earth-scheme has two such physical planets, but one of them is dead—i.e., our Moon. One of the mysteries of our scheme is why it should have two physical globes and why the chain associated with the older of these globes no longer exists or now has a different name.
|
132. Mỗi hệ hành tinh có một hành tinh hồng trần đậm đặc. Hệ Địa Cầu của chúng ta có hai hành tinh hồng trần như vậy, nhưng một trong số đó đã chết—tức là Mặt Trăng của chúng ta. Một trong những huyền nhiệm của hệ chúng ta là vì sao nó lại có hai bầu hồng trần và vì sao dãy gắn với bầu cũ hơn trong hai bầu ấy không còn tồn tại nữa hoặc nay có một tên khác.
|
|
133. DK is suggesting that there are areas of any planetary scheme which are of greater importance than the dense physical planet. Though the analogy is not exact, how important is our dense physical vehicle when compared to our higher vehicles?
|
133. Chân sư DK gợi ý rằng trong bất kỳ hệ hành tinh nào cũng có những khu vực quan trọng hơn hành tinh hồng trần đậm đặc. Dù phép loại suy không hoàn toàn chính xác, vận cụ hồng trần đậm đặc của chúng ta quan trọng đến đâu khi so với các vận cụ cao hơn?
|
|
This has caused the fact of the chain importance to be somewhat overlooked.
|
Điều này đã khiến sự kiện về tầm quan trọng của dãy phần nào bị bỏ qua.
|
|
134. Master DK is trying to help us think in terms of planetary chains rather than merely in terms of globes. Further, the dense physical globe is not necessarily the more important globe of the seven within any chain.
|
134. Chân sư DK đang cố giúp chúng ta suy nghĩ theo các dãy hành tinh hơn là chỉ theo các bầu hành tinh. Hơn nữa, bầu hồng trần đậm đặc không nhất thiết là bầu quan trọng hơn trong bảy bầu của bất kỳ dãy nào.
|
|
135. The chains are the true chakras in the manifestation of a Planetary Logos. The globes, as fractions of a chain, are secondary.
|
135. Các dãy là những luân xa đích thực trong sự biểu lộ của một Hành Tinh Thượng đế. Các bầu hành tinh, như những phần nhỏ của một dãy, là thứ yếu.
|
|
Each of the seven chains might be looked upon as picturing the seven centres of one of the Heavenly Men.
|
Mỗi một trong bảy dãy có thể được xem như đang phác hoạ bảy trung tâm của một trong các Đấng Thiên Nhân.
|
|
136. This reference is of the utmost importance. There are a number of references to Ashrams as centers within a Planetary Logos, and the same is true of globes. A little thought, however, reveals that the chains must be considered the fundamental chakras.
|
136. Tham chiếu này có tầm quan trọng tối thượng. Có nhiều tham chiếu đến các ashram như những trung tâm bên trong một Hành Tinh Thượng đế, và điều tương tự cũng đúng với các bầu hành tinh. Tuy nhiên, suy nghĩ một chút sẽ cho thấy rằng các dãy phải được xem là các luân xa nền tảng.
|
|
The idea of groups of Egos forming centres in the Heavenly Men is nevertheless correct, but in this connection the reference is to the centres of force on buddhic and monadic levels.88
|
Ý niệm về các nhóm chân ngã tạo thành các trung tâm trong các Đấng Thiên Nhân vẫn là đúng, nhưng trong mối liên hệ này, tham chiếu là đến các trung tâm lực ở các tầng mức Bồ đề và chân thần.88
|
|
137. DK reiterates His often stated idea that groups of Egos form centers in a Heavenly Man. Such centers must be lesser centers in the Heavenly Man, for the higher principles of a Chain Lord would be found on cosmic planes, which is not the case for the higher principles of groups of Egos.
|
137. Chân sư DK nhắc lại ý tưởng Ngài thường nêu: các nhóm chân ngã tạo thành các trung tâm trong một Đấng Thiên Nhân. Những trung tâm như vậy hẳn phải là các trung tâm thứ yếu trong Đấng Thiên Nhân, vì các nguyên khí cao hơn của một Chúa Tể của Dãy sẽ được tìm thấy trên các cõi vũ trụ, điều không đúng đối với các nguyên khí cao hơn của các nhóm chân ngã.
|
|
138. We are perhaps familiar with the idea that Ashrams are presently and for the most part buddhic groupings. There are also monadic groupings comprising seven great spheres on the systemic monadic plane. This is also true of groupings (far beyond our comprehension) on the cosmic monadic plane.
|
138. Có lẽ chúng ta quen với ý tưởng rằng các ashram hiện nay và phần lớn là các nhóm kết tụ Bồ đề. Cũng có các nhóm chân thần gồm bảy khối cầu vĩ đại trên cõi chân thần hệ thống. Điều này cũng đúng với các nhóm (vượt xa sự hiểu biết của chúng ta) trên cõi chân thần vũ trụ.
|
|
139.
VSK suggests: Each physical planet we see is the physical globe of its own scheme. The planet names of chains in the Earth-scheme (which will be addressed in that portion of TCF referring to solar fire) refer to qualities found within any particular planetary scheme, which are resonant to the qualities of other planetary schemes. For instance, the Venus-chain of our Earth-scheme is resonant to the quality of the Venus-scheme as a whole. In the last analysis the numerical approach to ‘naming’ different globes and chains may make the lines of qualitative interplay clearer and offer less opportunity for confusion.
|
139. VSK gợi ý: Mỗi hành tinh hồng trần mà chúng ta thấy là bầu hồng trần của chính hệ của nó. Tên hành tinh của các dãy trong hệ Địa Cầu (sẽ được đề cập trong phần của TCF nói về Lửa Thái dương) ám chỉ các phẩm tính được tìm thấy trong bất kỳ hệ hành tinh cụ thể nào, vốn cộng hưởng với các phẩm tính của các hệ hành tinh khác. Chẳng hạn, dãy Sao Kim của hệ Địa Cầu của chúng ta cộng hưởng với phẩm tính của toàn bộ hệ Sao Kim. Xét đến cùng, cách tiếp cận bằng con số để “đặt tên” các bầu hành tinh và các dãy khác nhau có thể làm cho các đường nét tương tác về phẩm tính trở nên rõ ràng hơn và ít tạo cơ hội gây nhầm lẫn hơn.
|
|
Footnote 87
|
Chú thích 87
|
|
The Planetary Chains:
|
Các Dãy Hành Tinh:
|
|
The seven Heavenly Men Form, the sun and the seven sacred planets.—S. D., I, 100, 155.
|
Bảy Đấng Thiên Nhân tạo thành, mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng.—S. D., I, 100, 155.
|
|
Some of their names and qualities.
|
Một số tên gọi và phẩm tính của Các Ngài.
|
|
a. The seven planetary Logoi, or the seven Spirits before the throne.
|
a. Bảy Hành Tinh Thượng đế, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.
|
|
b. The seven Kumaras S. D., III, 59, 327.
|
b. Bảy Kumaras S. D., III, 59, 327.
|
|
c. Seven solar deities S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257.
|
c. Bảy thượng đế thái dương S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257.
|
|
d. The primordial seven S. D., I, 116.
|
d. Bảy nguyên thuỷ S. D., I, 116.
|
|
e. The seven Builders S. D., I, 152, 153.
|
e. Bảy đấng kiến tạo S. D., I, 152, 153.
|
|
f. Seven intellectual Breaths S. D., II, 332, note.
|
f. Bảy Hơi Thở trí tuệ S. D., II, 332, chú thích.
|
|
g. The seven Manus S. D., I, 488.
|
g. Bảy Đức Manu S. D., I, 488.
|
|
h. The Flames S. D., II, 258.
|
h. Những Ngọn Lửa S. D., II, 258.
|
|
140. These are important references from The Secret Doctrine. Note the alternative names—not just Planetary Logoi, but “Kumaras”, “solar deities”, “Builders”, “intellectual Breaths”, “Manus”, “Flames” etc.
|
140. Đây là những tham chiếu quan trọng từ Giáo Lý Bí Nhiệm. Hãy lưu ý các tên gọi thay thế—không chỉ là các Hành Tinh Thượng đế, mà còn là “Kumaras”, “thượng đế thái dương”, “đấng kiến tạo”, “Hơi Thở trí tuệ”, “Manus”, “Những Ngọn Lửa”, v.v.
|
|
141. Such names are commonly used on lesser dimensional levels and so one must be careful to distinguish between entities carrying the same name—they may be one or more levels apart.
|
141. Những tên gọi như vậy thường được dùng ở các tầng mức có chiều kích thấp hơn, vì thế người ta phải cẩn trọng phân biệt giữa các thực thể mang cùng một tên—chúng có thể cách nhau một hay nhiều tầng mức.
|
|
They came from previous kalpas S. D., II, 99.
|
Các Ngài đến từ những kalpa trước đó S. D., II, 99.
|
|
142. The term “kalpas” here probably means “Mahamanvantaras”.
|
142. Thuật ngữ “kalpa” ở đây có lẽ có nghĩa là “Đại giai kỳ sinh hóa”.
|
|
143. If Solar Angels are separated in their development from human beings by at least one Mahamanvantara, how much greater will be the developmental separation between Planetary Logoi and human beings. Many Mahamanvantaras ago, our Planetary Logos was as a Master is today.
|
143. Nếu các Thái dương Thiên Thần cách biệt trong sự phát triển so với loài người ít nhất một Đại giai kỳ sinh hóa, thì sự cách biệt phát triển giữa các Hành Tinh Thượng đế và loài người sẽ lớn đến mức nào. Nhiều Đại giai kỳ sinh hóa trước đây, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã như một Chân sư ngày nay.
|
|
Their nature is knowledge and love S. D., II, 275; S. D., II, 619.
|
Bản chất của Các Ngài là tri thức và bác ái S. D., II, 275; S. D., II, 619.
|
|
144. They are “Dragons of Wisdom”, but have not yet developed the Will fully, or even, in some cases, the Love aspect.
|
144. Các Ngài là “Những Con Rồng Minh Triết”, nhưng chưa phát triển Ý Chí một cách đầy đủ, hoặc thậm chí, trong một số trường hợp, cả phương diện Bác Ái.
|
|
The seven sacred planets are:
|
Bảy hành tinh thiêng liêng là:
|
|
1. Saturn 2. Jupiter.
|
1. Sao Thổ 2. Sao Mộc.
|
|
3. Mars 4. Sun (substitute for another).
|
3. Sao Hỏa 4. Mặt Trời (thay thế cho một hành tinh khác).
|
|
5. Venus 6. Mercury.
|
5. Sao Kim 6. Sao Thủy.
|
|
7. Moon (substitute for another).
|
7. Mặt Trăng (thay thế cho một hành tinh khác).
|
|
145. It is clear that the Sun and Moon are as substitutes for Neptune and Uranus. Perhaps Mars is a substitute for Vulcan, which is not much mentioned in The Secret Doctrine.
|
145. Rõ ràng Mặt Trời và Mặt Trăng là những thay thế cho Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương. Có lẽ Sao Hỏa là thay thế cho Vulcan, vốn không được nhắc nhiều trong Giáo Lý Bí Nhiệm.
|
|
146. We see that the ordering is an old one as no trans-Saturnian planets are listed. Thus, Saturn is the outer bound and hence the first planet found on the list.
|
146. Chúng ta thấy thứ tự này là một thứ tự cổ, vì không có các hành tinh ngoài Sao Thổ được liệt kê. Do đó, Sao Thổ là biên giới ngoài và vì vậy là hành tinh đầu tiên trong danh sách.
|
|
147. Interestingly the order is exactly that which Sepharial uses to establish decanates. It is an order based upon speed of rotation around the particular center in question. Most revolutions are around the Sun, but the placement of the Sun in the fourth position has to do with the speed of revolution of the Earth around the Sun and the placement of the Moon has to do with the speed of the Moon’s revolution around the Earth.
|
147. Thú vị là thứ tự này đúng y như Sepharial dùng để thiết lập các thập độ. Đây là một thứ tự dựa trên tốc độ quay quanh trung tâm cụ thể đang xét. Hầu hết các cuộc quay là quanh Mặt Trời, nhưng việc đặt Mặt Trời ở vị trí thứ tư liên quan đến tốc độ Trái Đất quay quanh Mặt Trời, và việc đặt Mặt Trăng liên quan đến tốc độ Mặt Trăng quay quanh Trái Đất.
|
|
148. We could debate which planets to substitute for the Sun and Moon, for either Neptune or Uranus would do.
|
148. Chúng ta có thể tranh luận nên thay thế hành tinh nào cho Mặt Trời và Mặt Trăng, vì hoặc Sao Hải Vương hoặc Sao Thiên Vương đều có thể phù hợp.
|
|
149. Perhaps it would be best to substitute Neptune for the Sun, as Neptune is related to the fourth or buddhic plane, and the Sun’s position in the tabulation is the fourth. If we substitute Uranus for the Moon, the number seven is appropriate.
|
149. Có lẽ tốt nhất là thay Sao Hải Vương cho Mặt Trời, vì Sao Hải Vương liên hệ với cõi thứ tư hay cõi Bồ đề, và vị trí của Mặt Trời trong bảng liệt kê là thứ tư. Nếu thay Sao Thiên Vương cho Mặt Trăng, thì con số bảy là thích hợp.
|
|
Neptune and Uranus are not here enumerated, nor Vulcan.
|
Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương không được liệt kê ở đây, cũng không có Vulcan.
|
|
150. As stated.
|
150. Như đã nói.
|
|
The orbit of Neptune includes apparently the entire ring-pass-not.
|
Quỹ đạo của Sao Hải Vương bao gồm dường như toàn bộ vòng-giới-hạn.
|
|
151. This is no longer the case, following the discovery of Pluto and other planets still more removed from the solar center.
|
151. Điều này không còn đúng nữa, sau khi phát hiện Sao Diêm Vương và các hành tinh khác còn xa hơn trung tâm thái dương.
|
|
152. We note the use of the word “apparently” to hint at the existence of planets beyond the orbit of Neptune. Interestingly, however, there are occasions when the orbit of Pluto is found within that of Neptune.
|
152. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “dường như” để gợi ý sự tồn tại của các hành tinh vượt ngoài quỹ đạo Sao Hải Vương. Tuy nhiên, thú vị là có những lúc quỹ đạo Sao Diêm Vương lại nằm bên trong quỹ đạo Sao Hải Vương.
|
|
Vulcan is within the orbit of Mercury.
|
Vulcan ở trong quỹ đạo của Sao Thủy.
|
|
153. This is a definite statement with important astronomical value. It is generally accepted as factual—at least by esotericists.
|
153. Đây là một khẳng định dứt khoát với giá trị thiên văn quan trọng. Nó thường được chấp nhận như một sự thật—ít nhất là bởi các nhà bí truyền học.
|
|
Each one of the Heavenly Men manifests through a chain of seven globes.
|
Mỗi một trong các Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy gồm bảy bầu hành tinh.
|
|
154. Again, what sort of Heavenly Man is meant? If a Heavenly Man who is a Planetary Logos, then the phrase “manifests through a scheme of seven chains” should be used. If the Heavenly Man meant is a Chain-Lord, then the phrase “chain of seven globes” seems correct.
|
154. Lại nữa, “Đấng Thiên Nhân” nào được nói đến? Nếu là một Đấng Thiên Nhân là một Hành Tinh Thượng đế, thì nên dùng cụm “biểu lộ qua một hệ hành tinh gồm bảy dãy”. Nếu Đấng Thiên Nhân được nói đến là một Chúa Tể của Dãy, thì cụm “một dãy gồm bảy bầu hành tinh” có vẻ đúng.
|
|
All the seven Logoi influence a chain, but one of Them is the incarnating Entity.
|
Cả bảy Thượng đế đều ảnh hưởng đến một dãy, nhưng một trong Các Ngài là Thực Thể đang nhập thể.
|
|
155. Here an important principle is stated—the influence of every Planetary Logos upon every other Planetary Logos through the constituent structural and temporal aspects of that other Planetary Logos.
|
155. Ở đây một nguyên tắc quan trọng được nêu—ảnh hưởng của mỗi Hành Tinh Thượng đế lên mọi Hành Tinh Thượng đế khác thông qua các phương diện cấu trúc và thời kỳ cấu thành của Hành Tinh Thượng đế kia.
|
|
They influence:
|
Các Ngài ảnh hưởng:
|
|
a. Some globe in chain. b. Some plane c. Some round.
|
a. Một bầu hành tinh nào đó trong dãy. b. Một cõi nào đó c. Một cuộc tuần hoàn nào đó.
|
|
d. Some world period e. Some rootrace f. Some subrace.
|
d. Một thời kỳ thế giới nào đó e. Một giống dân gốc nào đó f. Một giống dân phụ nào đó.
|
|
g. Some branch race h. Some group i. Some human unit.
|
g. Một giống dân nhánh nào đó h. Một nhóm nào đó i. Một đơn vị nhân loại nào đó.
|
|
156. One sphere of influence is omitted—“some chain in a scheme”.
|
156. Một phạm vi ảnh hưởng bị bỏ sót—“một dãy nào đó trong một hệ hành tinh”.
|
|
157. As for the nine areas or periods mentioned, they do seem somewhat in descending order of magnitude. All are impermanent, even a globe in a chain.
|
157. Đối với chín phạm vi hay thời kỳ được nêu, chúng dường như phần nào theo trật tự giảm dần về tầm vóc. Tất cả đều vô thường, ngay cả một bầu hành tinh trong một dãy.
|
|
158. Some of the categories mentioned are clearly and exclusively temporal—such as “some round” or “some world period”. A “world period” may, in this context, be considered the passage of a round through a particular
|
158. Một số hạng mục được nêu rõ ràng và thuần tuý thuộc về thời gian—như “một cuộc tuần hoàn nào đó” hay “một thời kỳ thế giới nào đó”. “Thời kỳ thế giới” trong ngữ cảnh này có thể được xem là sự đi qua của một cuộc tuần hoàn qua một
|
|
159. To correlate the various influential Planetary Logoi with the various categories of influences would be a great task. An influencing planet would have to be analyzed for its full ray structure (especially the rays of its three periodical vehicles). A planet’s order from the Sun would be important as would its relative spiritual maturity and stage of unfoldment. The spiritual maturity of Venus, for instance, is quite high but not among the highest of the Planetary Logoi in our solar system, but the stage of unfoldment of Venus is, relative to all other Planetary Logoi, the highest.
|
159. Việc tương quan các Hành Tinh Thượng đế có ảnh hưởng khác nhau với các hạng mục ảnh hưởng khác nhau sẽ là một công việc lớn. Một hành tinh gây ảnh hưởng sẽ phải được phân tích theo toàn bộ cấu trúc cung của nó (đặc biệt là các cung của ba vận cụ chu kỳ của nó). Thứ tự của một hành tinh tính từ Mặt Trời sẽ quan trọng, cũng như mức độ trưởng thành tinh thần tương đối và giai đoạn khai mở của nó. Chẳng hạn, mức độ trưởng thành tinh thần của Sao Kim khá cao nhưng không thuộc hàng cao nhất trong các Hành Tinh Thượng đế trong hệ mặt trời của chúng ta; nhưng giai đoạn khai mở của Sao Kim thì, tương đối so với mọi Hành Tinh Thượng đế khác, là cao nhất.
|
|
160. In this intricate study there is a great deal of correlating work to do, and many areas of subtlety to be pondered. Classifications are not entirely straightforward.
|
160. Trong nghiên cứu tinh vi này có rất nhiều công việc tương quan cần làm, và nhiều lĩnh vực tinh tế cần được suy ngẫm. Các phân loại không hoàn toàn đơn giản.
|
|
Footnote 88:
|
Chú thích 88:
|
|
In the Secret Doctrine, the Sons of Mind are spoken of as flames. In Stanza VII, 4, “These are the three-tongued flame of the four wicks. The wicks are the sparks, that draw from the three-tongued flame shot out by the seven flames. The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat.”
|
Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Con của Trí Tuệ được nói đến như những ngọn lửa. Trong Bài kệ VII, 4, “Đây là ngọn lửa ba lưỡi của bốn tim đèn. Các tim đèn là những tia lửa, rút từ ngọn lửa ba lưỡi được bắn ra bởi bảy ngọn lửa. Tia lửa treo từ ngọn lửa bằng sợi dây Fohat mảnh nhất.”
|
|
161. We human beings are a “three-tongued flame”.
|
161. Chúng ta, loài người, là một “ngọn lửa ba lưỡi”.
|
|
162. The wicks are the more material aspects of the human constitution which need to draw energy from that part of the human being more related to the seven flames—namely, from the three-tongued flame.
|
162. Các tim đèn là những phương diện vật chất hơn của cấu trúc con người, cần rút năng lượng từ phần của con người liên hệ nhiều hơn với bảy ngọn lửa—tức là từ ngọn lửa ba lưỡi.
|
|
163. The “seven flames” may be considered the major Planetary Logoi. Something of the origin of the Monads is here given.
|
163. “Bảy ngọn lửa” có thể được xem là các Hành Tinh Thượng đế chủ yếu. Ở đây có đưa ra đôi điều về nguồn gốc của các chân thần.
|
|
164. Here we speak of the “sparks” (plural) and the “spark” (singular). The “spark” is the human Monad, and the “flame” from which the spark hands may be considered the monadic nature of the Planetary Logos, or, even more essentially, of the Solar Logos.
|
164. Ở đây chúng ta nói về “những tia lửa” (số nhiều) và “tia lửa” (số ít). “Tia lửa” là chân thần nhân loại, và “ngọn lửa” mà tia lửa treo từ đó có thể được xem là bản chất chân thần của Hành Tinh Thượng đế, hoặc, còn thiết yếu hơn, của Thái dương Thượng đế.
|
|
165. When considering the “three-tongued flame”, the third Creative Hierarchy known as the “Lesser Builders” or the Triads should be considered, and their relation to the “Great Builders” (the second Creative Hierarchy) who are the prototypes of the human Monads.
|
165. Khi xét “ngọn lửa ba lưỡi”, cần xem Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba được gọi là “các vị Tiểu kiến tạo” hay các Tam nguyên tinh thần, và mối liên hệ của họ với “các Đấng Đại kiến tạo” (Huyền Giai Sáng Tạo thứ hai), là các nguyên mẫu của các chân thần nhân loại.
|
|
166. This except from The Secret Doctrine could be given still more abstract interpretations.
|
166. Đoạn trích này từ Giáo Lý Bí Nhiệm có thể được diễn giải theo những cách còn trừu tượng hơn.
|
|
167. Usually when dealing with atomic structure (whatever may be the atom) we have a higher three and a lower seven; here we seem to have a higher seven and a lower three.
|
167. Thường khi bàn về cấu trúc nguyên tử (dù nguyên tử là gì), chúng ta có một bộ ba cao và một bộ bảy thấp; ở đây dường như chúng ta có một bộ bảy cao và một bộ ba thấp.
|
|
[207]
|
[207]
|
|
In connection with this there is a fundamental point that must never be forgotten: these seven Heavenly Men might be considered as being in physical incarnation through the medium of a physical planet, and herein lies the mystery of planetary evolution.
|
Liên quan đến điều này có một điểm nền tảng không bao giờ được quên: bảy Đấng Thiên Nhân này có thể được xem như đang nhập thể hồng trần qua trung gian của một hành tinh hồng trần, và chính trong đó có huyền nhiệm của tiến hoá hành tinh.
|
|
168. All the Heavenly Men of which we are experientially aware (largely through sight or its instrumental extensions) are in physical incarnation, but we are told that a number of the Logoi of planets and planetoids are not in physical incarnation.
|
168. Tất cả các Đấng Thiên Nhân mà chúng ta có thể biết bằng kinh nghiệm (phần lớn qua thị giác hoặc các phần mở rộng bằng dụng cụ của nó) đều đang nhập thể hồng trần, nhưng chúng ta được dạy rằng một số Thượng đế của các hành tinh và tiểu hành tinh thì không đang nhập thể hồng trần.
|
|
169. What is the “mystery of planetary evolution”? Probably there are many mysteries. Without a physical planet, however, it is difficult to conceive of how a Planetary Logos could be considered in physical incarnation.
|
169. “Huyền nhiệm của tiến hoá hành tinh” là gì? Có lẽ có nhiều huyền nhiệm. Tuy nhiên, nếu không có một hành tinh hồng trần, thật khó hình dung làm sao một Hành Tinh Thượng đế có thể được xem là đang nhập thể hồng trần.
|
|
Herein lies the mystery of our planet, the most mysterious of all the planets.
|
Chính trong đó có huyền nhiệm của hành tinh chúng ta, hành tinh huyền nhiệm nhất trong tất cả các hành tinh.
|
|
170. Our planet is, for reasons we cannot fathom, the “most mysterious of all the planets”.
|
170. Hành tinh của chúng ta, vì những lý do chúng ta không thể dò thấu, là “hành tinh huyền nhiệm nhất trong tất cả các hành tinh”.
|
|
171. The fourth of the seven of nine cosmic paths, I.e., the Path to Sirius, is also considered mysterious.
|
171. Con đường vũ trụ thứ tư trong bảy trong chín con đường vũ trụ, tức Con đường đến Sirius, cũng được xem là huyền nhiệm.
|
|
“This path is of all the Paths the most veiled in the clouds of mystery.” (TCF 1258)
|
“Con đường này, trong tất cả các Con đường, là con đường bị che phủ nhiều nhất trong những đám mây huyền nhiệm.” (TCF 1258)
|
|
172.
The Earth is the fourth planet from the Sun (counting Vulcan and not counting such hypothetical planets as Adonis), and the Path to Sirius is the fourth Path. Humanity is the fourth kingdom of the seven kingdoms of nature.
|
172.
Trái Đất là hành tinh thứ tư tính từ Mặt Trời (tính cả Vulcan và không tính các hành tinh giả định như Adonis), và Con đường đến Sirius là Con đường thứ tư. Nhân loại là giới thứ tư trong bảy giới của bản chất.
|
|
Just as the karma of individuals differs, so differs the karma of the various Logoi, and the karma of our planetary Logos has been a heavy one, and veiled in the mystery of personality at this time.
|
Cũng như nghiệp quả của các cá nhân khác nhau, nghiệp quả của các Thượng đế khác nhau cũng vậy, và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã là một nghiệp quả nặng nề, và hiện nay bị che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã.
|
|
173. The heavy karmic load of our planet relates to developmental disasters on the third chain of an earlier planetary era—the Moon-chain.
|
173. Gánh nặng nghiệp quả của hành tinh chúng ta liên hệ đến các thảm hoạ phát triển trên dãy thứ ba của một kỷ nguyên hành tinh trước—Dãy Mặt Trăng.
|
|
174. The heaviness of our planetary karma relates it to Saturn—not only the greatest of the planetary Lords of Karma, but the planet associated with great weight.
|
174. Tính nặng nề của nghiệp quả hành tinh của chúng ta liên hệ nó với Sao Thổ—không chỉ là hành tinh lớn nhất trong các Chúa Tể nghiệp quả hành tinh, mà còn là hành tinh gắn với trọng lượng lớn.
|
|
175. It is mysterious to say that our planetary karma is “veiled in the mystery of personality at this time”. This veiling links our planetary karma to the fifth Creative Hierarchy—the Makara.
|
175. Thật huyền nhiệm khi nói rằng nghiệp quả hành tinh của chúng ta “hiện nay bị che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã”. Sự che phủ này nối nghiệp quả hành tinh của chúng ta với Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm—Makara.
|
|
176. Our Planetary Logos is hardly a fully functioning soul free from the limitations of His own personality. Makara rules the human personality (cf. EA 35)
|
176. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta hầu như chưa phải là một linh hồn vận hành trọn vẹn, tự do khỏi các giới hạn của chính phàm ngã của Ngài. Makara cai quản phàm ngã con người (x. EA 35)
|
|
177. it is interesting that there is a “mystery of personality”. Anyone who has tried to study the dual Makara Creative Hierarchy realizes that this is the case.
|
177. Thật thú vị khi có một “huyền nhiệm của phàm ngã”. Bất cứ ai đã cố nghiên cứu Huyền Giai Sáng Tạo Makara kép đều nhận ra điều này là đúng.
|
|
178. The mystery of personality is, in a way, the mystery of egoism and ‘mistaken identity’. It is a mystery of false identification arising from the captivation of consciousness by the lunar lords.
|
178. Huyền nhiệm của phàm ngã, theo một nghĩa nào đó, là huyền nhiệm của tính vị kỷ và “đồng hoá sai lầm”. Đó là huyền nhiệm của sự đồng hoá giả phát sinh từ việc tâm thức bị các nguyệt tinh quân mê hoặc.
|
|
179. The mystery of personality is also the mystery of the upright and inverted pentagram.
|
179. Huyền nhiệm của phàm ngã cũng là huyền nhiệm của ngôi sao năm cánh dựng thẳng và đảo ngược.
|
|
180. We must also remember the times when Sanat Kumara is referred to as the “Personality” of the Planetary Logos, though on other occasions, He is referred to as the “Soul”.
|
180. Chúng ta cũng phải nhớ những lúc Đức Sanat Kumara được gọi là “Phàm ngã” của Hành Tinh Thượng đế, dù trong những dịp khác, Ngài được gọi là “Linh hồn”.
|
|
The first or will energy is, as you know, focussed in Sanat Kumara, the Ancient of Days (as He is called in the Christian Bible), the Lord of Shamballa, Who is the embodiment of the Personality of the planetary Logos. (EXH 86)
|
Năng lượng thứ nhất hay năng lượng ý chí, như các bạn biết, được tập trung trong Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Kinh Thánh Cơ Đốc), Chúa Tể của Shamballa, Đấng là hiện thân của Phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế. (EXH 86)
|
|
Again, according as the centres are active or inactive, so the manifestation differs likewise, and the study which opens up is of vast and abstruse interest in connection with the solar system.
|
Lại nữa, tuỳ theo các trung tâm hoạt động hay bất hoạt, sự biểu lộ cũng khác nhau tương ứng, và nghiên cứu mở ra là một điều có mối quan tâm rộng lớn và sâu xa liên quan đến hệ mặt trời.
|
|
181. “Vast” and “abstruse”—these are the words given to describe our study. Fortunately, as the intuitive, correspondential mind opens up, the relationships begin to appear without the necessity of learning them from a book.
|
181. “Rộng lớn” và “sâu xa”—đó là những từ được dùng để mô tả nghiên cứu của chúng ta. May thay, khi trí tuệ trực giác theo định luật tương ứng mở ra, các mối tương quan bắt đầu hiện ra mà không cần phải học chúng từ một cuốn sách.
|
|
5. The Centres and Initiation
|
5. Các Trung Tâm và Điểm Đạo
|
|
We have dealt briefly with the evolution of the centres, with their function, their organisation and their gradually increasing activity from a point of comparative inertia until they are consummated motion.
|
Chúng ta đã bàn sơ lược về sự tiến hoá của các trung tâm, về chức năng của chúng, về sự tổ chức của chúng và về hoạt động tăng dần của chúng từ một điểm quán tính tương đối cho đến khi chúng trở thành chuyển động viên mãn.
|
|
182. Let us review what we have covered so far:
|
182. Hãy ôn lại những gì chúng ta đã đề cập cho đến nay:
|
|
a.
The evolution of the centers
|
a. Sự tiến hoá của các trung tâm
|
|
b.
Their function
|
b. Chức năng của chúng
|
|
c.
Their organisation
|
c. Sự tổ chức của chúng
|
|
d.
Their gradually increasing activity—from comparative inertia to consummated motion
|
d. Hoạt động tăng dần của chúng—từ quán tính tương đối đến chuyển động viên mãn
|
|
183. Note the words “consummated motion”. It is not that the centers have consummated motion but that they are consummated motion. There is a hint here about what can be learned of the nature and development of motion by studying the fully activated chakras.
|
183. Hãy lưu ý các từ “chuyển động viên mãn”. Không phải các trung tâm có chuyển động viên mãn mà là chúng là chuyển động viên mãn. Ở đây có một gợi ý về điều có thể học được về bản chất và sự phát triển của chuyển động bằng cách nghiên cứu các luân xa đã được kích hoạt hoàn toàn.
|
|
Then they become living wheels of flame, distinguished by a dual motion of the periphery and the inner revolving wheels,
|
Rồi chúng trở thành những bánh xe lửa sống động, được phân biệt bởi chuyển động kép của chu vi và các bánh xe quay vòng bên trong,
|
|
184. We are told of the dual motion of the periphery and the internal, rotating cross.
|
184. Chúng ta được nói về chuyển động kép của chu vi và thập giá nội tại đang xoay.
|
|
185. Note the term “wheels” which is plural. One would normally think of an ‘inner revolving wheel’—singular. The suggestion is that a chakra has multiple circular or spherical components.
|
185. Hãy lưu ý thuật ngữ “bánh xe” ở dạng số nhiều. Người ta thường nghĩ đến “bánh xe quay vòng bên trong” ở dạng số ít. Gợi ý là một luân xa có nhiều thành phần tròn hay cầu.
|
|
186. We must think carefully if the word “revolving” is being distinguished in meaning from “rotating”.
|
186. Chúng ta phải suy nghĩ cẩn trọng xem từ “quay vòng” có đang được phân biệt về nghĩa với “xoay” hay không.
|
|
and by a fourth-dimensional effect, due primarily to the alignment of the inner subtler vortices with the comparatively exoteric etheric centres.
This alignment is brought about eventually at initiation.
|
và bởi một hiệu ứng bốn chiều, chủ yếu do sự chỉnh hợp của các xoáy nội tại tinh tế hơn với các trung tâm dĩ thái tương đối ngoại môn.
Sự chỉnh hợp này cuối cùng được đem lại vào lúc điểm đạo.
|
|
187. Some very occult hints are here given.
|
187. Ở đây có những gợi ý huyền bí rất sâu.
|
|
188. While fourth dimensional rotation of a chakra is frequently discussed, the reason or reasons for that fourth dimensional rotation is not. Here we find at least a hint.
|
188. Trong khi sự xoay bốn chiều của một luân xa thường được bàn đến, thì lý do hay các lý do của sự xoay bốn chiều ấy lại không. Ở đây chúng ta thấy ít nhất một gợi ý.
|
|
189. We are told that chakras have “inner subtler vortices”, and that it is the alignment of these inner vortices with the comparatively exoteric etheric centers which causes the fourth dimensional effect. This must be pondered and thought through.
|
189. Chúng ta được nói rằng các luân xa có “các xoáy nội tại tinh tế hơn”, và chính sự chỉnh hợp của các xoáy nội tại này với các trung tâm dĩ thái tương đối ngoại môn gây ra hiệu ứng bốn chiều. Điều này phải được suy ngẫm và suy xét thấu đáo.
|
|
190. Could it be that vortices characteristic of the higher planes make their way (influentially) into the ring pass not of the etheric chakra? We would have to know about the passage of vibratory chakric influence from plane to plane.
|
190. Có phải các xoáy đặc trưng của các cõi cao hơn tìm đường (mang tính ảnh hưởng) vào vòng-giới-hạn của luân xa dĩ thái chăng? Chúng ta sẽ phải biết về sự chuyển vận ảnh hưởng rung động của luân xa từ cõi này sang cõi khác.
|
|
191. We have learned that as the astral and mental senses come into “perfected activity” so the buddhic and atmic correspondences of these sense arises. This is all part of the initiatory process. It would seem that the “inner subtler vortices” here mentioned may have something to do with influential vibrations from higher planes contacted during the initiatory process.
|
191. Chúng ta đã học rằng khi các giác quan cảm dục và thể trí đi vào “hoạt động hoàn hảo”, thì các đối ứng Bồ đề và atma của các giác quan này phát sinh. Tất cả điều này là một phần của tiến trình điểm đạo. Dường như “các xoáy nội tại tinh tế hơn” được nhắc đến ở đây có thể liên quan đến các rung động ảnh hưởng từ các cõi cao hơn được tiếp xúc trong tiến trình điểm đạo.
|
|
192. The fourth dimensional effect should have something significant to do with the buddhic plane, which can be considered the ‘fourth planar dimension’, or, alternatively, as the ‘fourth dimension’—if plane are to considered as dimensions.
|
192. Hiệu ứng bốn chiều hẳn phải có liên hệ đáng kể với cõi Bồ đề, vốn có thể được xem là “chiều kích cõi thứ tư”, hoặc, theo cách khác, là “chiều kích thứ tư”—nếu các cõi được xem như các chiều kích.
|
|
193.
VSK queries: “So ‘living’ comes out of inertia, via motion?
|
193. VSK hỏi: “Vậy ‘sống động’ đi ra khỏi quán tính, qua chuyển động ư?
|
|
194.
VSK suggests we think of the dual motion of the periphery and inner revolving wheels while noting that the earth’s magnetic field is created from an inner revolving core, etc. …
|
194. VSK gợi ý chúng ta nghĩ về chuyển động kép của chu vi và các bánh xe quay vòng bên trong, đồng thời lưu ý rằng từ một lõi quay vòng bên trong mà từ trường của Trái Đất được tạo ra, v.v. …
|
|
195. It becomes clear that the induction of fourth dimensional rotation depends upon alignment with inner, higher and subtler processes.
|
195. Trở nên rõ ràng rằng việc cảm ứng sự xoay bốn chiều tuỳ thuộc vào sự chỉnh hợp với các tiến trình nội tại, cao hơn và tinh tế hơn.
|
|
At the time that initiation is taken, the centres are all active and the lower four (which correspond to the Personality) are beginning the process of translating the fire into the three higher.
|
Vào lúc điểm đạo được thọ nhận, các trung tâm đều hoạt động và bốn trung tâm thấp (tương ứng với Phàm ngã) đang bắt đầu tiến trình chuyển dịch lửa vào ba trung tâm cao.
|
|
196. The phrase “lower quaternary” is often used in occult explanations and must be understood. The lower quaternary is the personality as represented, especially, by the lower four centers.
|
196. Cụm từ “bộ tứ thấp” thường được dùng trong các giải thích huyền bí và phải được hiểu. Bộ tứ thấp là phàm ngã, được biểu thị đặc biệt bởi bốn trung tâm thấp.
|
|
197. All centers which are sub-diaphragmatic may be considered representative of the lower quaternary. Sometimes the throat and ajna centers are involved in personality expression, but these centers are among the higher three or the higher four.
|
197. Tất cả các trung tâm dưới cơ hoành có thể được xem là đại diện cho bộ tứ thấp. Đôi khi trung tâm cổ họng và trung tâm ajna cũng tham dự vào sự biểu lộ của phàm ngã, nhưng các trung tâm này thuộc về ba trung tâm cao hơn hoặc bốn trung tâm cao hơn.
|
|
198. We are discussing the transference of energy from the lower four to the higher three. In this regard we may think of the four wicks and the three-tongued flame.
|
198. Chúng ta đang bàn về sự chuyển dịch năng lượng từ bốn trung tâm thấp lên ba trung tâm cao. Về điều này, chúng ta có thể nghĩ đến bốn tim đèn và ngọn lửa ba lưỡi.
|
|
199. The personality is often represented by the number four and by the square.
|
199. Phàm ngã thường được biểu trưng bằng con số bốn và bằng hình vuông.
|
|
200. At initiation all centers may be active but not all are equally active.
|
200. Vào lúc điểm đạo, mọi trung tâm đều có thể hoạt động, nhưng không phải tất cả đều đồng đều hoạt động.
|
|
The dual revolution in the lower centres is clearly to be seen and the three higher are commencing to be similarly active.
|
Cuộc cách mạng kép trong các trung tâm thấp được thấy rõ ràng và ba trung tâm cao hơn đang bắt đầu hoạt động tương tự.
|
|
201. What does DK mean by “at the time that initiation is taken”? Does He mean the third initiation?
|
201. Chân sư DK muốn nói gì khi nói “vào lúc cuộc điểm đạo được tiếp nhận”? Ngài có muốn nói đến lần điểm đạo thứ ba không?
|
|
202. It is clear from this section that “dual revolution”, related to fourth-dimensional rotation, is seen sooner in the lower chakras than in the higher. This stands to reason as fuller activation within that which is lower precedes such activation in that which is higher.
|
202. Từ đoạn này, rõ ràng rằng “cuộc cách mạng kép”, liên quan đến sự xoay chuyển chiều thứ tư, được thấy sớm hơn trong các luân xa thấp so với các luân xa cao. Điều này hợp lẽ, vì sự kích hoạt đầy đủ hơn trong cái thấp đi trước sự kích hoạt như vậy trong cái cao.
|
|
203. The dual revolution of the chakras is related to the interrelationship between what in astrology are called the “Wheel of Consciousness” and the “Wheel of Form”.
|
203. Cuộc cách mạng kép của các luân xa có liên hệ với mối tương quan giữa cái mà trong chiêm tinh học được gọi là “Bánh Xe Tâm Thức” và “Bánh Xe Hình Tướng”.
|
|
204. The degree of activation in various of the Planetary Logoi follows the same pattern (at least as a general trend). The most spiritually mature of the planets, such as Jupiter, Saturn, Uranus and Neptune are not yet unfolded to any great degree, while Planetary Logoi less mature, Venus, Mercury, Earth and Mars are more fully unfolded. Thus, these latter are solar systemic chakras displaying dual revolution before certain centers (the higher planets) which do not yet display dual revolution.
|
204. Mức độ kích hoạt trong các Hành Tinh Thượng đế khác nhau cũng theo cùng một mô thức (ít nhất như một xu hướng chung). Những hành tinh trưởng thành nhất về mặt tinh thần, như Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, vẫn chưa được khai mở đến mức đáng kể, trong khi các Hành Tinh Thượng đế kém trưởng thành hơn—Sao Kim, Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa—lại được khai mở đầy đủ hơn. Do đó, các hành tinh sau này là các luân xa của hệ mặt trời, biểu lộ cuộc cách mạng kép trước một số trung tâm (các hành tinh cao hơn) vốn chưa biểu lộ cuộc cách mạng kép.
|
|
205. In the four sub-diaphragmatic chakras here implied, there are twenty-six petals total:
|
205. Trong bốn luân xa dưới cơ hoành được hàm ý ở đây, tổng cộng có hai mươi sáu cánh hoa:
|
|
a.
Four for the Base of the Spine
|
a. Bốn cánh cho đáy cột sống
|
|
b.
Six for the Spleen
|
b. Sáu cánh cho luân xa lá lách
|
|
c.
Six for the Sacral Center
|
c. Sáu cánh cho trung tâm xương cùng
|
|
d.
Ten for the Solar Plexus
|
d. Mười cánh cho tùng thái dương
|
|
By the application of the Rod of Initiation at the time of the initiation ceremony, certain results are achieved in connection with the centres which might be enumerated as follows:
|
Do việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo vào lúc nghi lễ điểm đạo, một số kết quả được đạt được liên quan đến các trung tâm, có thể liệt kê như sau:
|
|
206. Perhaps someone would like to do a complete compilation on the “Rod of Initiation”. It would be useful.
|
206. Có lẽ ai đó muốn thực hiện một bản tổng hợp đầy đủ về “Thần Trượng Điểm đạo”. Điều đó sẽ hữu ích.
|
|
207. The Rod of Initiation lifts energies vibratorily and rearranges them.
|
207. Thần Trượng Điểm đạo nâng các năng lượng theo rung động và sắp xếp lại chúng.
|
|
a. The fire at the base of the spine is definitely directed
[208] to whichever centre is the object of special attention.
|
a. Lửa ở đáy cột sống được định hướng rõ rệt [208] đến bất kỳ trung tâm nào là đối tượng được chú ý đặc biệt.
|
|
208. This is a most occult piece of information. It would seem that each wielding of the Rod has, as its initial phase or one of its initial phases, the raising of the energy at the base of the spine to a particular chakra which is the focus of initiatory attention.
|
208. Đây là một mẩu thông tin huyền bí học hết sức thâm sâu. Dường như mỗi lần vận dụng Thần Trượng, như giai đoạn khởi đầu hoặc một trong các giai đoạn khởi đầu của nó, đều có việc nâng năng lượng ở đáy cột sống lên một luân xa cụ thể, là tiêu điểm của sự chú ý điểm đạo.
|
|
209. From this, we can think of the base of the spine energy as being a kind of common denominator in relation to all the other chakric energies. In this regard, we do know that the kundalini energy (coiled at the base) must at length vivify each of the chakras. There is something stored in this center which appears needed for the vivification of each and all of the others.
|
209. Từ đó, chúng ta có thể nghĩ năng lượng ở đáy cột sống như một dạng mẫu số chung liên hệ với mọi năng lượng luân xa khác. Về phương diện này, chúng ta biết rằng năng lượng kundalini (cuộn ở đáy) rốt cuộc phải tiếp sinh lực cho từng luân xa. Có một điều gì đó được lưu trữ trong trung tâm này dường như cần thiết cho việc tiếp sinh lực cho từng trung tâm khác.
|
|
This varies according to the Ray, or the specialised work of the initiate.
|
Điều này thay đổi tùy theo cung, hoặc theo công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ.
|
|
210. The order of vivification is not only a question of which initiation is being undergone, but of the ray of the individual undergoing the initiation.
|
210. Trật tự tiếp sinh lực không chỉ là vấn đề cuộc điểm đạo nào đang được trải qua, mà còn là cung của cá nhân đang trải qua cuộc điểm đạo.
|
|
211. The other criterion concerning which center may be vivified concerns the specialized work of the initiate (which may, after all, be correlated with his principle rays).
|
211. Tiêu chuẩn khác liên quan đến việc trung tâm nào có thể được tiếp sinh lực là công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ (vốn, rốt cuộc, có thể được tương quan với các cung nguyên khí của y).
|
|
212. The application of the Rod (whichever Rod it may be) is a most specialized and potent science. Any error in such application would have disastrous effects.
|
212. Việc áp dụng Thần Trượng (dù là Thần Trượng nào) là một khoa học hết sức chuyên biệt và đầy quyền năng. Bất kỳ sai sót nào trong việc áp dụng như vậy đều sẽ gây những hậu quả tai hại.
|
|
b. The centre has its activity intensified, its rate of evolution increased, and certain of the central spokes of the wheel brought into more active radiance.
|
b. Trung tâm được tăng cường hoạt động, tốc độ tiến hoá của nó được gia tăng, và một số nan hoa trung tâm của bánh xe được đưa vào sự rực sáng hoạt động hơn.
|
|
213. Let us tabulate the effects of the application of the Rod upon the center to which it is applied:
|
213. Hãy lập bảng các tác dụng của việc áp dụng Thần Trượng lên trung tâm mà nó được áp dụng:
|
|
a.
The activity of the center is increased—the kundalini effect
|
a. Hoạt động của trung tâm được gia tăng—tác dụng kundalini
|
|
b.
The rate of revolution of the center is increased—the pranic effect
|
b. Tốc độ xoay chuyển của trung tâm được gia tăng—tác dụng prana
|
|
c.
Certain central spokes are brought into more active radiance. These pokes are related to what might be called a ‘whirling cross’.
|
c. Một số nan hoa trung tâm được đưa vào sự rực sáng hoạt động hơn. Các nan hoa này liên quan đến cái có thể gọi là một “thập giá xoáy”.
|
|
214. We can view the chakras in different ways. From some perspectives, they will be composed of petals. From other perspectives they will be seen as spokes of light. The same can be said of the egoic lotus.
|
214. Chúng ta có thể nhìn các luân xa theo những cách khác nhau. Từ một số góc nhìn, chúng sẽ được cấu tạo bởi các cánh hoa. Từ những góc nhìn khác, chúng sẽ được thấy như các nan hoa ánh sáng. Điều tương tự cũng có thể nói về Hoa Sen Chân Ngã.
|
|
215. Which particular spokes of the wheel will be brought into more active radiance will depend upon the initiation being undergone, and probably upon the ray of the individual.
|
215. Những nan hoa cụ thể nào của bánh xe sẽ được đưa vào sự rực sáng hoạt động hơn sẽ tùy thuộc vào cuộc điểm đạo đang được trải qua, và có lẽ tùy thuộc vào cung của cá nhân.
|
|
These spokes which are also called by some students lotus-petals, have a close connection with the different spirillae in the permanent atoms.
|
Các nan hoa này, mà một số đạo sinh cũng gọi là các cánh hoa sen, có mối liên hệ chặt chẽ với các loa tuyến khác nhau trong các nguyên tử trường tồn.
|
|
216. While the number of petals or spokes in a particular chakra varies greatly, the number of spirillae in a permanent atom is seven (unless we are considering the mental unit which is a kind of incomplete permanent atom having only four rather than seven spirillae).
|
216. Trong khi số lượng cánh hoa hay nan hoa trong một luân xa cụ thể biến thiên rất lớn, số lượng loa tuyến trong một nguyên tử trường tồn là bảy (trừ khi chúng ta xét đến đơn vị hạ trí, vốn là một dạng nguyên tử trường tồn chưa hoàn chỉnh, chỉ có bốn thay vì bảy loa tuyến).
|
|
217. The numerical correlation, therefore, will be inexact. Perhaps certain of the petals or spokes correlate with any one or more of the spirillae.
|
217. Do đó, sự tương quan về số lượng sẽ không chính xác. Có lẽ một số cánh hoa hay nan hoa tương quan với bất kỳ một hoặc nhiều loa tuyến.
|
|
218. The lower petals or spokes will probably correlate with the lower spirillae, and those petals or spokes which are activated under soul or Spirit unfoldment will probably correlate with the higher spirillae. We are given no picture of exact correlation.
|
218. Các cánh hoa hay nan hoa thấp có lẽ tương quan với các loa tuyến thấp, và những cánh hoa hay nan hoa được kích hoạt dưới sự khai mở của linh hồn hay tinh thần có lẽ tương quan với các loa tuyến cao. Chúng ta không được cung cấp một bức tranh về sự tương quan chính xác.
|
|
Through their stimulation there comes into play one or more of the corresponding spirillae in the permanent atoms on the three lower planes.
|
Nhờ sự kích thích của chúng, một hoặc nhiều loa tuyến tương ứng trong các nguyên tử trường tồn trên ba cõi thấp được đưa vào hoạt động.
|
|
219. Note the phase “one or more”. The related combinations are not given. We do not know which or how many petals/spokes may correspond to which spirilla or spirillae.
|
219. Hãy lưu ý cụm từ “một hoặc nhiều”. Các tổ hợp liên quan không được nêu ra. Chúng ta không biết cánh hoa/nan hoa nào, hoặc bao nhiêu cánh hoa/nan hoa, có thể tương ứng với loa tuyến nào hay các loa tuyến nào.
|
|
220. We do know that the lower four spirillae correspond to personality development; the fifth spirilla to soul development; the sixth and seventh probably to triadal and monadic development. There are aspects of the spiritual triad which are soul-related and aspects of the Monad which correlate with the number six, though the liberation of the Monad correlates with the number seven.
|
220. Chúng ta biết rằng bốn loa tuyến thấp tương ứng với sự phát triển phàm ngã; loa tuyến thứ năm với sự phát triển linh hồn; loa tuyến thứ sáu và thứ bảy có lẽ với sự phát triển tam nguyên và chân thần. Có những phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần liên hệ với linh hồn và những phương diện của chân thần tương quan với con số sáu, dù sự giải phóng của chân thần tương quan với con số bảy.
|
|
221. A parallel consideration would be of the stimulation of the casual petals or spokes in relation to the activation of spirillae.
|
221. Một sự xem xét song song sẽ là sự kích thích các cánh hoa hay nan hoa nguyên nhân liên quan đến sự kích hoạt các loa tuyến.
|
|
After the third Initiation, a corresponding stimulation takes place in the permanent atoms of the Triad, leading to the co-ordination of the buddhic vehicle, and the transference of the lower polarisation into the higher.
|
Sau lần điểm đạo thứ ba, một sự kích thích tương ứng diễn ra trong các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên, dẫn đến sự phối hợp của vận cụ Bồ đề, và sự chuyển dịch sự phân cực thấp lên cái cao.
|
|
222. The stimulation which occurs before the third initiation involves the chakras as they relate to the simulation of the spirillae in the permanent atoms related to the personality.
|
222. Sự kích thích xảy ra trước lần điểm đạo thứ ba liên quan đến các luân xa, trong chừng mực chúng liên hệ với sự kích thích các loa tuyến trong các nguyên tử trường tồn liên quan đến phàm ngã.
|
|
223. The third initiation is that spiritual juncture at which the spiritual triad begins to be the recipient of initiatory stimulation.
|
223. Lần điểm đạo thứ ba là khúc quanh tinh thần mà tại đó Tam Nguyên Tinh Thần bắt đầu trở thành kẻ tiếp nhận sự kích thích điểm đạo.
|
|
224. In other writings, DK speaks of the coordination of the buddhic vehicle necessitating the prominent presence of the planet Neptune in the astrological chart.
|
224. Trong các trước tác khác, Chân sư DK nói rằng sự phối hợp của vận cụ Bồ đề đòi hỏi sự hiện diện nổi bật của Sao Hải Vương trong lá số chiêm tinh.
|
|
225. When, actually, is the buddhic vehicle coordinated? Probably, to a degree, that coordination begins at the second initiation at which time the ray of Neptune is so prominent. However, from this reference, it seems evident that there is no true or complete coordination of the buddhic vehicle until after the third degree.
|
225. Vậy, thực ra, khi nào vận cụ Bồ đề được phối hợp? Có lẽ, ở một mức độ nào đó, sự phối hợp ấy bắt đầu từ lần điểm đạo thứ hai, khi cung của Sao Hải Vương nổi bật như vậy. Tuy nhiên, từ đoạn tham chiếu này, dường như hiển nhiên rằng không có sự phối hợp thật sự hay trọn vẹn của vận cụ Bồ đề cho đến sau cấp thứ ba.
|
|
226. May we say that the third degree the manasic permanent atom is stimulated; at the fourth degree the buddhic permanent atom and at the fifth, the atmic permanent atom? Some sequentiality seems reasonable.
|
226. Chúng ta có thể nói rằng ở cấp thứ ba, nguyên tử trường tồn manas được kích thích; ở cấp thứ tư, nguyên tử trường tồn Bồ đề; và ở cấp thứ năm, nguyên tử trường tồn atma chăng? Một tính tuần tự nào đó dường như hợp lý.
|
|
227. We know, however, that some stimulation of these atoms occurs earlier (as the atmic permanent atom at the third degree), but complete simulation no doubt occurs later. It is not really possible to focus fully in the buddhic consciousness until the fourth degree.
|
227. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng một số kích thích đối với các nguyên tử này xảy ra sớm hơn (như nguyên tử trường tồn atma ở cấp thứ ba), nhưng sự kích thích trọn vẹn hẳn diễn ra muộn hơn. Thật ra không thể tập trung đầy đủ trong tâm thức Bồ đề cho đến cấp thứ tư.
|
|
228. Along with the transference here discussed goes the dynamic of ‘etheric substitution’. The etheric focus of the individual becomes through the process of initiation a higher etheric focus (for the spiritual triad—involved in the higher initiations—is ‘located’ on the higher etheric planes).
|
228. Cùng với sự chuyển dịch được bàn ở đây là động lực của “sự thay thế dĩ thái”. Tiêu điểm dĩ thái của cá nhân, qua tiến trình điểm đạo, trở thành một tiêu điểm dĩ thái cao hơn (vì Tam Nguyên Tinh Thần—liên quan đến các cuộc điểm đạo cao hơn—được “đặt” trên các cõi dĩ thái cao hơn).
|
|
229. In regard to the coordination of the buddhic vehicle, the power of sacrifice is of much assistance. Since the ninth petal of the egoic lotus (signaling the “utter sacrifice of all forever”) is fully opened at the third degree, we can see how sacrifice would play a far greater role after this point than before. Thus, a preliminary condition is created for the fuller coordination of the buddhic vehicle.
|
229. Về sự phối hợp của vận cụ Bồ đề, quyền năng hi sinh trợ giúp rất nhiều. Vì cánh hoa thứ chín của Hoa Sen Chân Ngã (báo hiệu “sự hi sinh tuyệt đối của tất cả mãi mãi”) được mở hoàn toàn ở cấp thứ ba, chúng ta có thể thấy hi sinh sẽ đóng vai trò lớn hơn rất nhiều sau điểm này so với trước đó. Do vậy, một điều kiện sơ khởi được tạo ra cho sự phối hợp đầy đủ hơn của vận cụ Bồ đề.
|
|
c. By the application of the Rod of Initiation the downflow of force from the Ego to the personality is tripled, the direction of that force being dependent upon whether the centres receiving attention are the etheric, or the astral at the first and second Initiations, or whether the initiate is standing before the LORD OF THE WORLD.
|
c. Do việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo, dòng chảy xuống của mãnh lực từ Chân ngã đến phàm ngã được tăng gấp ba, hướng đi của mãnh lực ấy tùy thuộc vào việc các trung tâm đang được chú ý là các trung tâm dĩ thái, hay các trung tâm cảm dục ở lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, hoặc liệu điểm đạo đồ đang đứng trước Đức Chúa Tể Thế Giới.
|
|
230. We are here given most important occult information. The Science of Initiation is a science. Science of full of quantifications, as in this instance.
|
230. Ở đây chúng ta được trao một thông tin huyền bí học hết sức quan trọng. Khoa học Điểm đạo là một khoa học. Khoa học đầy những định lượng, như trong trường hợp này.
|
|
231. We may well wonder concerning the degree of augmentation of egoic force in relation to personality which arises from a good meditation, for instance. The tripling of such force seems arresting in its implications.
|
231. Chúng ta hoàn toàn có thể tự hỏi về mức độ gia tăng mãnh lực chân ngã đối với phàm ngã phát sinh từ, chẳng hạn, một bài tham thiền tốt. Việc tăng gấp ba mãnh lực như vậy thật đáng chú ý về những hàm ý của nó.
|
|
232. The fact that for every candidate there is one initiator and two sponsors (thus three intimate officiants) may relate to this tripling.
|
232. Sự kiện rằng đối với mỗi ứng viên có một Đấng Điểm đạo và hai vị bảo trợ (tức ba vị chủ lễ thân cận) có thể liên quan đến sự tăng gấp ba này.
|
|
233. The tripling may also be related to the Science of Triangles. Frequently we read of energy circulation passing three times around the area of circulation.
|
233. Sự tăng gấp ba cũng có thể liên quan đến Khoa học Tam Giác. Thường xuyên chúng ta đọc rằng sự lưu chuyển năng lượng đi ba vòng quanh khu vực lưu chuyển.
|
|
234. It becomes clear that at the first initiation, it is the etheric centers which, principally, are stimulated. At the second initiation it is principally the astral centers which receive stimulation and, presumably, at the third degree, the mental centers are those stimulated.
|
234. Rõ ràng rằng ở lần điểm đạo thứ nhất, các trung tâm dĩ thái chủ yếu được kích thích. Ở lần điểm đạo thứ hai, các trung tâm cảm dục chủ yếu nhận sự kích thích và, hẳn là, ở cấp thứ ba, các trung tâm thể trí là những trung tâm được kích thích.
|
|
235. Since there are presently only four chakric centers upon the mental plane, it is clear that that the causal body with its tiers of petals correlated to the head, heart and throat chakras of other planes, would receive stimulation by the One Initiator.
|
235. Vì hiện nay chỉ có bốn trung tâm luân xa trên cõi trí, rõ ràng rằng thể nguyên nhân, với các tầng cánh hoa của nó tương quan với các luân xa đầu, tim và cổ họng của các cõi khác, sẽ nhận sự kích thích bởi Đấng Điểm đạo Duy Nhất.
|
|
In the latter case, his mental centres or their corresponding force vortices on higher levels, will receive stimulation.
|
Trong trường hợp sau, các trung tâm thể trí của y hoặc các xoáy lực tương ứng của chúng ở các cấp cao hơn, sẽ nhận sự kích thích.
|
|
236. In this case, the “corresponding force vortices on higher levels” are energy structures within the causal body.
|
236. Trong trường hợp này, “các xoáy lực tương ứng ở các cấp cao hơn” là các cấu trúc năng lượng bên trong thể nguyên nhân.
|
|
When the World Teacher initiates at the first and second Initiations, the direction of the Triadal force is turned to the vivification of the heart, and throat centres, and the ability to synthesise the force of the lower centres is greatly increased.
|
Khi Đức Chưởng Giáo điểm đạo ở lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, hướng của mãnh lực Tam Nguyên được chuyển sang việc tiếp sinh lực cho các trung tâm tim và cổ họng, và khả năng tổng hợp mãnh lực của các trung tâm thấp được gia tăng rất nhiều.
|
|
237. Note that we are speaking of the “direction of the Triadal force”. Above we spoke of the “downflow of force from the Ego to the personality”. The term “Triad” and “Ego” are seen as equivalent.
|
237. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về “hướng của mãnh lực Tam Nguyên”. Ở trên chúng ta đã nói về “dòng chảy xuống của mãnh lực từ Chân ngã đến phàm ngã”. Thuật ngữ “Tam Nguyên” và “Chân ngã” được xem là tương đương.
|
|
238. It is clear that the Initiator promotes a flow from the spiritual triad to the personality.
|
238. Rõ ràng rằng Đấng Điểm đạo thúc đẩy một dòng chảy từ Tam Nguyên Tinh Thần xuống phàm ngã.
|
|
239. The spiritual triad carries the energies of synthesis.
|
239. Tam Nguyên Tinh Thần mang các năng lượng của sự tổng hợp.
|
|
240. If we pay attention to the order of vivification, we shall note that it is the heart that is stimulated at the first initiation and the throat at the second. Love means something new at the first degree, and the second degree is characterized by spiritual intelligence and a degree of mental illumination.
|
240. Nếu chúng ta chú ý đến trật tự tiếp sinh lực, chúng ta sẽ lưu ý rằng chính tim được kích thích ở lần điểm đạo thứ nhất và cổ họng ở lần điểm đạo thứ hai. Bác ái mang một ý nghĩa mới ở cấp thứ nhất, và cấp thứ hai được đặc trưng bởi trí tuệ tinh thần và một mức độ soi sáng thể trí.
|
|
241. It is interesting to see that even at the first and second degrees, triadal forces are active producing an enhanced capacity to synthesize the forces of the lower centers. Initiation (even the early initiations) is a process involving synthesis.
|
241. Thật thú vị khi thấy rằng ngay cả ở cấp thứ nhất và thứ hai, các mãnh lực tam nguyên đã hoạt động, tạo ra một năng lực tăng cường để tổng hợp các mãnh lực của các trung tâm thấp. Điểm đạo (ngay cả các cuộc điểm đạo sớm) là một tiến trình liên quan đến sự tổng hợp.
|
|
When the One Initiator applies the Rod of His Power, the downflow is from the Monad, and though the throat and heart intensify vibration as a response, the main direction of the force is to the seven head centres, and finally (at liberation) to the radiant head centre above, and synthesising the lesser seven head centres.
|
Khi Đấng Điểm đạo Duy Nhất áp dụng Thần Trượng Quyền Năng của Ngài, dòng chảy xuống là từ chân thần, và dù cổ họng và tim tăng cường rung động như một đáp ứng, hướng chính của mãnh lực là đến bảy trung tâm đầu, và cuối cùng (khi giải phóng) đến trung tâm đầu rực sáng ở phía trên, và tổng hợp bảy trung tâm đầu nhỏ hơn.
|
|
242. Most valuable information is again given.
|
242. Một lần nữa, thông tin hết sức giá trị lại được trao.
|
|
243. Egoic/triadal force is liberated in downflow for the first two initiations.
|
243. Mãnh lực chân ngã/tam nguyên được giải phóng trong dòng chảy xuống cho hai lần điểm đạo đầu.
|
|
244. One would expect that atmic energy from the spiritual triad would also be liberated at the third degree—perhaps accompanying the downflowing energy from the Monad.
|
244. Người ta sẽ kỳ vọng rằng năng lượng atma từ Tam Nguyên Tinh Thần cũng sẽ được giải phóng ở cấp thứ ba—có lẽ đi kèm với năng lượng từ chân thần đang chảy xuống.
|
|
245. It is important to realize that at the third degree the heart and throat continue to be stimulated.
|
245. Điều quan trọng là nhận ra rằng ở cấp thứ ba, tim và cổ họng vẫn tiếp tục được kích thích.
|
|
246. The seven head centers are related to atma, just as the Great Bear (representing the seven head center of the OAWNMBS may be inferred as focussing on the cosmic atmic plane—TCF 1162).
|
246. Bảy trung tâm đầu liên quan đến atma, cũng như Đại Hùng Tinh (biểu trưng cho bảy trung tâm đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị) có thể được suy ra là tập trung vào cõi atma vũ trụ—TCF 1162).
|
|
247. The third degree is a pivotal initiation, relating soul to monad. Under the regime of the soul/Ego, atma is contacted, but under the regime of the Monad, the One Initiator draws down monadic force for the stimulation of the seven head centers.
|
247. Cấp thứ ba là một cuộc điểm đạo then chốt, liên hệ linh hồn với chân thần. Dưới chế độ của linh hồn/Chân ngã, atma được tiếp xúc, nhưng dưới chế độ của chân thần, Đấng Điểm đạo Duy Nhất kéo xuống mãnh lực chân thần để kích thích bảy trung tâm đầu.
|
|
248. Liberation signifies the fifth degree. The major head center on the top of the head is related to liberation. But that same major center is also related to the atmic plane, as we have earlier learned.
|
248. Giải phóng biểu thị cấp thứ năm. Trung tâm đầu chính trên đỉnh đầu liên quan đến giải phóng. Nhưng chính trung tâm lớn ấy cũng liên quan đến cõi atma, như chúng ta đã học trước đây.
|
|
249. While the seven head centers are the object of stimulation at the third degree, the synthesis of these seven centers is apparently not completed until the fifth degree.
|
249. Trong khi bảy trung tâm đầu là đối tượng được kích thích ở cấp thứ ba, sự tổng hợp của bảy trung tâm này dường như không hoàn tất cho đến cấp thứ năm.
|
|
250. Some experience with the monadic energy will clearly be necessitated before it becomes possible to take the third degree.
|
250. Một số kinh nghiệm với năng lượng chân thần rõ ràng sẽ là điều cần thiết trước khi có thể tiếp nhận cấp thứ ba.
|
|
251. We are not told whether the downflow of force from the Monad to the soul infused personality is tripled, doubled or in any way magnified, as is the downflow of force from the Ego to the personality. Some augmentation, however, would be expected.
|
251. Chúng ta không được nói liệu dòng chảy xuống của mãnh lực từ chân thần đến phàm ngã được linh hồn thấm nhuần có được tăng gấp ba, gấp đôi hay được khuếch đại theo bất kỳ cách nào, như dòng chảy xuống của mãnh lực từ Chân ngã đến phàm ngã. Tuy nhiên, hẳn sẽ có một sự gia tăng nào đó.
|
|
d. The centres at initiation receive a fresh access of
[209] vibratory capacity and of power, and this results, in the exoteric life, as:
|
d. Các trung tâm vào lúc điểm đạo nhận một sự tiếp cận mới đối với [209] năng lực rung động và quyền năng, và điều này biểu hiện, trong đời sống ngoại môn, như sau:
|
|
252. This “fresh access” is due to the stimulation of the Rod. A clear channel of reliable access is created.
|
252. “Sự tiếp cận mới” này là do sự kích thích của Thần Trượng. Một kênh tiếp cận rõ ràng và đáng tin cậy được tạo ra.
|
|
First. A sensitiveness and refinement of the vehicles which may result, at first, in much suffering to the initiate, but which produces a capacity to respond to contacts that far outweighs the incidental pain.
|
Thứ nhất. Một sự nhạy cảm và tinh luyện của các vận cụ có thể, lúc đầu, dẫn đến nhiều đau khổ cho điểm đạo đồ, nhưng lại tạo ra một năng lực đáp ứng với các tiếp xúc vượt xa nỗi đau phụ thuộc.
|
|
253. Here we are speaking of the “sacred pains” so relevant in the life of the advancing initiate. The initiate Krishnamurti experienced such pains to an extreme degree as his vehicles were being prepared for the overshadowing of the Christ.
|
253. Ở đây chúng ta đang nói về những “nỗi đau thiêng liêng” rất liên quan trong đời sống của điểm đạo đồ đang tiến bước. Điểm đạo đồ Krishnamurti đã trải nghiệm những nỗi đau như vậy ở mức độ cực đoan khi các vận cụ của y đang được chuẩn bị cho sự phủ bóng của Đức Christ.
|
|
254. To endure the pain is a sacrifice, well-rewarded, once the ordeal has been passed, by greater sensitivity and responsiveness.
|
254. Chịu đựng nỗi đau là một sự hi sinh, được đền bù xứng đáng, một khi thử thách đã qua, bằng sự nhạy cảm và khả năng đáp ứng lớn hơn.
|
|
255. We learn that the process of initiation, promoting the fresh access of the centers to vibratory capacity and power, will lead to refinement through pain.
|
255. Chúng ta học rằng tiến trình điểm đạo, thúc đẩy sự tiếp cận mới của các trung tâm đối với năng lực rung động và quyền năng, sẽ dẫn đến sự tinh luyện qua đau đớn.
|
|
Second. A development of psychic faculty that again may lead to temporary distress, but which eventually causes a recognition of the one Self in all selves, which is the goal of endeavor.
|
Thứ hai. Một sự phát triển năng lực thông linh mà cũng có thể dẫn đến khổ não tạm thời, nhưng cuối cùng khiến người ta nhận ra một Bản Ngã duy nhất trong mọi bản ngã, vốn là mục tiêu của nỗ lực.
|
|
256. A development of psychic faculty is another form of sensitization. All sensitization, initially, may lead to pain and distress.
|
256. Sự phát triển năng lực thông linh là một hình thức nhạy cảm hóa khác. Mọi sự nhạy cảm hóa, ban đầu, có thể dẫn đến đau đớn và khổ não.
|
|
257. This psychic development is an aspect of the wearing away of the veils which will reveal the One Self. Usually, registration of this One Self is blocked by insensitivity.
|
257. Sự phát triển thông linh này là một phương diện của việc bào mòn các bức màn sẽ mặc khải Bản Ngã Duy Nhất. Thông thường, sự ghi nhận Bản Ngã Duy Nhất này bị ngăn trở bởi sự vô cảm.
|
|
258. We see that every type of advancement has its price.
|
258. Chúng ta thấy rằng mọi loại tiến bộ đều có cái giá của nó.
|
|
Third. A burning away, through a gradual arousing of kundalini, and its correct geometrical progression through the etheric web.
|
Thứ ba. Một sự thiêu đốt, qua việc dần dần khơi dậy kundalini, và sự tiến triển hình học đúng đắn của nó xuyên qua mạng dĩ thái.
|
|
259. We have seen that the power and vibratory capacity received at initiation via the Rod have promoted—
|
259. Chúng ta đã thấy rằng quyền năng và năng lực rung động nhận được vào lúc điểm đạo qua Thần Trượng đã thúc đẩy—
|
|
a.
Sensitiveness and refinement of the vehicles
|
a. Sự nhạy cảm và tinh luyện của các vận cụ
|
|
b.
A development of psychic faculty
|
b. Sự phát triển năng lực thông linh
|
|
c.
Now we add a burning away by means of kundalini
|
c. Giờ đây chúng ta thêm vào một sự thiêu đốt nhờ kundalini
|
|
260. The burning away must be accompanied by a correct geometrical rising of the kundalini fire. The power conferred by the Rod apparently promotes not only kundalinic arousal but its geometrically correct arousal.
|
260. Sự thiêu đốt phải đi kèm với sự dâng lên hình học đúng đắn của lửa kundalini. Quyền năng được ban qua Thần Trượng dường như không chỉ thúc đẩy sự khơi dậy kundalini mà còn thúc đẩy sự khơi dậy đúng đắn về mặt hình học của nó.
|
|
261. That which is burnt away is physical-etheric dross. There is no doubt dross on the astral and mental planes which the higher correspondence to etheric-physical kundalini will also burn.
|
261. Cái bị thiêu đốt là cặn bã hồng trần-dĩ thái. Không nghi ngờ gì, cũng có cặn bã trên các cõi cảm dục và trí, mà sự tương ứng cao hơn của kundalini dĩ thái-hồng trần cũng sẽ thiêu đốt.
|
|
This produces a resultant continuity of consciousness
which enables the initiate consciously to utilise time as a factor in the plans of evolution.
|
Điều này tạo ra một sự liên tục tâm thức kết quả
giúp điểm đạo đồ có thể một cách hữu thức sử dụng thời gian như một yếu tố trong các kế hoạch tiến hoá.
|
|
262.
VSK inquires: “How and why is time tied to the webbing?
|
262. VSK hỏi: “Thời gian được gắn với mạng lưới như thế nào và vì sao?
|
|
263. Time is related to the third aspect and so is the web of life.
|
263. Thời gian liên quan đến phương diện thứ ba và mạng lưới của sự sống cũng vậy.
|
|
264. If the web is too prohibitive, the life is subject to the limitation of sequentiality rather than the liberation of simultaneity.
|
264. Nếu mạng lưới quá ngăn trở, sự sống sẽ chịu sự hạn chế của tính tuần tự thay vì sự giải phóng của tính đồng thời.
|
|
265. The right kind of burning away allows the simultaneous registration of energies and forces on all three levels of the personality—etheric-physical, emotional and mental.
|
265. Loại thiêu đốt đúng đắn cho phép sự ghi nhận đồng thời các năng lượng và mãnh lực trên cả ba cấp của phàm ngã—dĩ thái-hồng trần, cảm xúc và thể trí.
|
|
266. Under normal circumstances “it takes time” for the impressions of the astral and mental nature to filter through into the brain. What if such impressions were immediately available in relation to any physical impacts being experienced? A wholeness of perception not formerly available would be immediately so. Patterns of relation would be immediately grasped rather than sequentially so.
|
266. Trong những hoàn cảnh bình thường, “cần thời gian” để các ấn tượng của bản chất cảm dục và trí tuệ thấm lọc vào bộ não. Điều gì xảy ra nếu các ấn tượng ấy lập tức sẵn có, liên hệ với bất kỳ tác động hồng trần nào đang được trải nghiệm? Một tính toàn vẹn của tri giác trước đây không có sẽ lập tức hiện hữu. Các mô thức tương quan sẽ được nắm bắt ngay lập tức thay vì theo tuần tự.
|
|
267.
VSK queries: “What might it look like if one is utilizing time as a factor in the plans of evolution?”
|
267. VSK hỏi: “Sẽ trông như thế nào nếu một người đang sử dụng thời gian như một yếu tố trong các kế hoạch tiến hoá?”
|
|
268. May it be suggested that a fairly accurate knowledge of the Science of Cycles will be in the possession of the initiate?
|
268. Có thể gợi ý rằng một tri thức khá chính xác về Khoa học Chu kỳ sẽ nằm trong sở hữu của điểm đạo đồ chăng?
|
|
269. As well, it would not be necessary to wait so long before acting intelligently. With fairly instantaneous apprehension, swift and appropriate action could follow.
|
269. Hơn nữa, sẽ không cần phải chờ lâu như vậy trước khi hành động một cách thông minh. Với sự lĩnh hội gần như tức thời, hành động nhanh chóng và thích đáng có thể theo sau.
|
|
Fourth. A gradual grasp of the Law of Vibration as an aspect of the basic law of building;
|
Thứ tư. Một sự nắm bắt dần dần Định luật Rung động như một phương diện của định luật cơ bản về kiến tạo;
|
|
270. Only matter characterized by certain vibrations can be rightly built into the divinely intended, Plan-appropriate forms.
|
270. Chỉ vật chất được đặc trưng bởi những rung động nhất định mới có thể được kiến tạo đúng đắn vào các hình tướng được Thượng đế dự định, phù hợp với Thiên Cơ.
|
|
271. Understanding the Law of Vibration reveals appropriate substances for the building process.
|
271. Thấu hiểu Định luật Rung động làm lộ ra các chất liệu thích hợp cho tiến trình kiến tạo.
|
|
the initiate learns consciously to build, to manipulate thought matter for the perfecting of the plans of the Logos, to work in mental essence, and to apply the law of mental levels and thereby affect the physical plane.
|
điểm đạo đồ học cách hữu thức kiến tạo, thao tác vật chất tư tưởng để hoàn thiện các kế hoạch của Thượng đế, làm việc trong tinh chất hành khí trí tuệ, và áp dụng định luật của các cấp thể trí và nhờ đó tác động lên cõi hồng trần.
|
|
272. We remember that this manipulative ability is related to the fresh access of vibratory capacity and power received through the application of the Rod.
|
272. Chúng ta nhớ rằng năng lực thao tác này liên quan đến sự tiếp cận mới đối với năng lực rung động và quyền năng nhận được qua việc áp dụng Thần Trượng.
|
|
273. There is a resonant relationship between the mental and physical planes. All thoughts tend to become actions.
|
273. Có một mối quan hệ cộng hưởng giữa cõi trí và cõi hồng trần. Mọi tư tưởng đều có khuynh hướng trở thành hành động.
|
|
Motion originates cosmically on cosmic mental levels,
and in the microcosm the same order will be seen. There is an occult hint here that will reveal much if pondered upon.
|
Chuyển động khởi nguyên vũ trụ trên các cấp thể trí vũ trụ,
và trong tiểu thiên địa, cùng một trật tự sẽ được thấy. Ở đây có một gợi ý huyền bí sẽ mặc khải nhiều điều nếu được suy ngẫm.
|
|
274. The mind is a field of movement. The field of becoming begins with mind. The stilling of the mind, therefore, reveals the realm of being. In a way, movement, though cosmically inescapable, distorts the face of Reality.
|
274. Thể trí là một trường chuyển động. Trường của đang trở thành bắt đầu với thể trí. Do đó, sự làm lắng yên thể trí mặc khải cõi của bản thể. Theo một nghĩa nào đó, chuyển động, dù không thể tránh khỏi ở tầm vũ trụ, làm méo mó gương mặt của Thực Tại.
|
|
275. Movement on planes above the mental is of a different order that motion on the plane of mind. Though, since the cosmic ethers are still to be found upon the cosmic physical plane, motion will play a part in their expression.
|
275. Chuyển động trên các cõi cao hơn cõi trí thuộc một trật tự khác với chuyển động trên cõi trí. Tuy vậy, vì các dĩ thái vũ trụ vẫn được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ, chuyển động sẽ đóng một vai trò trong sự biểu lộ của chúng.
|
|
276. Those of us who wish to move the lower worlds, had best learn white magic which begins with mental magic.
|
276. Những ai trong chúng ta muốn làm chuyển động ba cõi thấp, tốt nhất nên học Chánh Thuật, vốn bắt đầu bằng huyền thuật thể trí.
|
|
At initiation, at the moment of the application of the Rod, the initiate consciously realises the meaning of the Law of Attraction in form building, and in the synthesis of the three fires. Upon his ability to retain that realisation and himself to apply the law, will depend his power and progress.
|
Vào lúc điểm đạo, vào khoảnh khắc Thần Trượng được áp dụng, điểm đạo đồ một cách hữu thức chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong việc kiến tạo hình tướng, và trong sự tổng hợp của ba ngọn lửa. Quyền năng và sự tiến bộ của y sẽ tùy thuộc vào khả năng duy trì sự chứng nghiệm ấy và tự mình áp dụng định luật.
|
|
277. The Rod of Initiation conveys principally the second aspect of divinity correlated with the Law of Attraction.
|
277. Thần Trượng Điểm đạo chủ yếu truyền đạt phương diện thứ hai của thiên tính tương quan với Định luật Hấp Dẫn.
|
|
278. The application of the Rod reveals
|
278. Việc áp dụng Thần Trượng mặc khải
|
|
a.
The realization of the meaning of the Law of Attraction in form building
|
a. Sự chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong việc kiến tạo hình tướng
|
|
b.
The realization of the meaning of the Law of Attraction in the synthesis of the three fires
|
b. Sự chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong sự tổng hợp của ba ngọn lửa
|
|
279. Power and progress in this second solar system, and upon this essentially second ray planet, depends upon progressing along the line indicated by the second aspect.
|
279. Quyền năng và sự tiến bộ trong hệ mặt trời thứ hai này, và trên hành tinh vốn về bản chất thuộc cung hai này, tùy thuộc vào việc tiến bước theo con đường được phương diện thứ hai chỉ ra.
|
|
280.
VSK suggests that we maintain the consideration of Law of Attraction as a dual law encompassing repulsion as well, centrifugal and centripetal, cohering and refining the material.
|
280. VSK gợi ý rằng chúng ta duy trì sự xem xét Định luật Hấp Dẫn như một định luật kép cũng bao gồm cả sự đẩy lùi, ly tâm và hướng tâm, kết dính và tinh luyện vật chất.
|
|
281. It is implied that the initiate may not remember the realizations impressed during the initiation ceremony. It would obviously be of value to consciously retain that which has been imparted.
|
281. Hàm ý rằng điểm đạo đồ có thể không nhớ các chứng nghiệm được ấn định trong nghi lễ điểm đạo. Hiển nhiên sẽ có giá trị nếu hữu thức giữ lại điều đã được truyền trao.
|
|
e. By the application of the Rod, the fire of kundalini is aroused, and its upward progress directed.
|
e. Do việc áp dụng Thần Trượng, lửa kundalini được khơi dậy, và sự tiến triển đi lên của nó được định hướng.
|
|
282. The arousal of the kundalini is a natural process, however, if the downflow of energy of the Ego can be tripled through the application of the Rod, what of the up-flow of the force of kundalini? Is it also tripled or multiplied in some manner?.
|
282. Sự khơi dậy kundalini là một tiến trình tự nhiên; tuy nhiên, nếu dòng chảy xuống của năng lượng Chân ngã có thể được tăng gấp ba qua việc áp dụng Thần Trượng, vậy còn dòng chảy lên của mãnh lực kundalini thì sao? Nó cũng được tăng gấp ba hay được nhân lên theo cách nào đó chăng?
|
|
The fire at the base of the spine, and the fire of mind are
[210] directed along certain routes, or triangles, by the action of the Rod as it moves in a specified manner.
|
Lửa ở đáy cột sống, và lửa của trí tuệ được [210] định hướng theo những lộ trình nhất định, hay những tam giác, bởi tác động của Thần Trượng khi nó di chuyển theo một cách thức được chỉ định.
|
|
283. Again, these fires follow certain routes in a natural progression during evolution, but the fires must be greatly sped upon their way by the application of the Rod.
|
283. Một lần nữa, các ngọn lửa này theo những lộ trình nhất định trong một tiến trình tự nhiên của tiến hoá, nhưng các ngọn lửa phải được thúc đẩy nhanh chóng trên đường đi của chúng nhờ việc áp dụng Thần Trượng.
|
|
284. Perhaps new routes (or intended routes) may be delineated by means of the application.
|
284. Có lẽ những lộ trình mới (hoặc những lộ trình dự định) có thể được vạch ra nhờ việc áp dụng.
|
|
285. We remember that the two fires here mentioned, must blend and merge at various junctures along the spine..
|
285. Chúng ta nhớ rằng hai ngọn lửa được nêu ở đây phải hòa trộn và hợp nhất tại nhiều điểm giao nhau dọc theo cột sống.
|
|
There is a definite occult reason, under the Laws of Electricity, behind the known fact that every initiate, presented to the Initiator, is accompanied by two of the Masters, who stand one on either side of him. The three of them together form a triangle which makes the work possible.
|
Có một lý do huyền bí học xác định, theo các Định luật Điện, đằng sau sự kiện đã biết rằng mỗi điểm đạo đồ, khi được trình diện trước Đấng Điểm đạo, đều được hai Chân sư tháp tùng, đứng mỗi vị một bên. Ba vị cùng nhau tạo thành một tam giác khiến công việc trở nên khả thi.
|
|
286. The three aspects of electricity are represented by the candidate and the two sponsors.
|
286. Ba phương diện của điện được biểu trưng bởi ứng viên và hai vị bảo trợ.
|
|
287. We can imagine the candidate representing solar fire (neutral fire). One of the sponsors will represent the positive polarity (electric fire) and the other the negative polarity (fire by friction).
|
287. Chúng ta có thể hình dung ứng viên biểu trưng cho Lửa Thái dương (lửa trung tính). Một trong hai vị bảo trợ sẽ biểu trưng cho cực dương (Lửa điện) và vị kia biểu trưng cho cực âm (Lửa ma sát).
|
|
288. From another perspective, it is the Initiator Who completed the triangle of officiants, and thus would represent the power of solar fire.
|
288. Từ một góc nhìn khác, chính Đấng Điểm đạo là Đấng hoàn tất tam giác các vị chủ lễ, và do đó sẽ biểu trưng cho quyền năng của Lửa Thái dương.
|
|
289. The triangle is a fundamental electrical map, holding the secret of the equilibrizing of electricity.
|
289. Tam giác là một bản đồ điện căn bản, nắm giữ bí mật của sự quân bình điện.
|
|
The force of the Rod is twofold, and its power terrific.
|
Mãnh lực của Thần Trượng là nhị phân, và quyền năng của nó thật khủng khiếp.
|
|
290. The word “terrific” will not be used lightly.
|
290. Từ “khủng khiếp” sẽ không được dùng một cách nhẹ dạ.
|
|
291. The twofold force of the Rod suggests the positive and negative polarities.
|
291. Mãnh lực nhị phân của Thần Trượng gợi ý hai cực dương và âm.
|
|
292. The twofoldness may also relate to the potencies of solar fire and electric fire.
|
292. Tính nhị phân cũng có thể liên quan đến các năng lực của Lửa Thái dương và Lửa điện.
|
|
Apart and alone the initiate could not receive the voltage from the Rod without serious hurt, but in triangular formation transmission comes safely.
|
Tách rời và đơn độc, điểm đạo đồ không thể tiếp nhận điện thế từ Thần Trượng mà không bị tổn thương nghiêm trọng, nhưng trong cấu trúc tam giác, sự truyền dẫn diễn ra an toàn.
|
|
293. The “hurt” would be damage to his vehicles—initially his causal vehicle, since initiation is in relation to the first four initiations, accomplished within the causal body, but secondarily to the vehicles of his personality, since there is a downflow of force from the causal vehicle to the personality vehicles.
|
293. “Tổn thương” sẽ là sự hư hại các vận cụ của y—trước hết là vận cụ nguyên nhân, vì điểm đạo liên quan đến bốn cuộc điểm đạo đầu, được hoàn tất trong thể nguyên nhân, nhưng thứ yếu là các vận cụ phàm ngã của y, vì có một dòng chảy xuống của mãnh lực từ vận cụ nguyên nhân xuống các vận cụ phàm ngã.
|
|
294. What we may grasp from this section, in general, is the protective value of triangular formation.
|
294. Điều chúng ta có thể nắm bắt từ đoạn này, nói chung, là giá trị bảo hộ của cấu trúc tam giác.
|
|
The two Masters Who thus sponsor the initiate, represent two polarities of the electric All;
part of Their work is therefore to stand with all applicants for initiation when they come before the Great Lord.
|
Hai Chân sư, những vị bảo trợ điểm đạo đồ như vậy, biểu trưng cho hai cực của Điện Toàn Thể;
do đó, một phần công việc của Các Ngài là đứng cùng mọi ứng viên xin điểm đạo khi họ đến trước Đức Chúa Tể Vĩ Đại.
|
|
295.
VSK suggests the following thoughts: “The exoteric correlations of a positive, negative, and ground—the threefold flow necessary for safe, insulated, transmission of electrical voltage. The initiate therefore being as the ground, or equilibrising force perchance; relevant to the necessity of having a physical body (a ‘ground wire’) for initiation.
|
295. VSK gợi ý những suy nghĩ sau: “Các tương quan ngoại môn của cực dương, cực âm và nối đất—dòng chảy tam phân cần thiết cho sự truyền dẫn điện thế an toàn, có cách điện. Do đó, điểm đạo đồ là như dây nối đất, hay mãnh lực quân bình chăng; liên quan đến sự cần thiết phải có một thể xác (một ‘dây nối đất’) cho điểm đạo.”
|
|
296. The idea of sponsorship exists in a number of fraternal organizations. The electrical basis of the custom of sponsorship should be remembered.
|
296. Ý niệm bảo trợ tồn tại trong một số tổ chức huynh đệ. Nền tảng điện của tập tục bảo trợ này nên được ghi nhớ.
|
|
297. The triangular setup is reminiscent of the configuration of Spirit, soul and body. Placed between the two Masters, the candidate most likely represents soul.
|
297. Cấu trúc tam giác gợi nhớ cấu hình của tinh thần, linh hồn và thể xác. Được đặt giữa hai Chân sư, ứng viên rất có thể biểu trưng cho linh hồn.
|
|
298. The Great Lord may be either the Christ or the Lord of the World—both are ‘Great Lords’.
|
298. Đức Chúa Tể Vĩ Đại có thể là Đức Christ hoặc Đức Chúa Tể Thế Giới—cả hai đều là “Đức Chúa Tể Vĩ Đại”.
|
|
299. When we “stand with” another in support, we should remind ourselves of the electrical implications of our stance.
|
299. Khi chúng ta “đứng cùng” một người khác để nâng đỡ, chúng ta nên tự nhắc mình về những hàm ý điện của tư thế ấy.
|
|
When the Rods of Initiation are held in the hands of the Initiator in His position of power, and at the stated seasons, they act as transmitters of electric force from very high levels,—so high indeed that the “Flaming Diamond” at certain of the final initiations (the sixth and seventh) transmits force, via the Logos, from outside the system altogether.
|
Khi các Thần Trượng Điểm đạo được giữ trong tay của Đấng Điểm đạo ở vị thế quyền năng của Ngài, và vào những mùa đã định, chúng hoạt động như những bộ truyền dẫn mãnh lực điện từ các cấp rất cao,—cao đến mức thật vậy, đến nỗi “Kim Cương Rực Lửa” trong một số cuộc điểm đạo cuối (thứ sáu và thứ bảy) truyền mãnh lực, qua Thượng đế, từ bên ngoài toàn bộ hệ thống.
|
|
300. The initiation process is well-timed. Initiation cannot occur simply at any time. Periods of the Full Moon are likely occasions, and especially certain of the Full Moons—that of Wesak especially. The Full Moons of the three Great Festivals would seem indicated moments, but much would depend upon which initiation was being offered. The periods of the Leo and Capricorn Full Moon would also seem indicated moments.
|
300. Tiến trình điểm đạo được canh thời đúng lúc. Điểm đạo không thể xảy ra đơn giản vào bất kỳ lúc nào. Các kỳ Trăng Tròn có lẽ là những dịp thích hợp, và đặc biệt là một số kỳ Trăng Tròn—nhất là kỳ Wesak. Các kỳ Trăng Tròn của ba Đại Lễ Hội dường như là những thời điểm được chỉ định, nhưng nhiều điều sẽ tùy thuộc vào cuộc điểm đạo nào đang được ban. Các kỳ Trăng Tròn của Sư Tử và Ma Kết cũng dường như là những thời điểm được chỉ định.
|
|
301. Probably the different Full Moons would, each of them, be most appropriate for initiations of different degrees. This would be an intricate study and is, no doubt, deeply veiled. It would be a study of ‘divine occasions’.
|
301. Có lẽ mỗi kỳ Trăng Tròn khác nhau sẽ phù hợp nhất cho các cuộc điểm đạo ở những cấp độ khác nhau. Đây sẽ là một nghiên cứu tinh vi và hẳn là được che phủ sâu xa. Đó sẽ là một nghiên cứu về những “dịp thiêng liêng”.
|
|
302. We note that the Rod of Initiation is held in the “hands” and not the “hand” of the initiator. This, interestingly, suggests that Sanat Kumara is the kind of being who indeed has hands. It is likely that He presents Himself in human form before the candidate for the fifth initiation.
|
302. Chúng ta lưu ý rằng Thần Trượng Điểm đạo được giữ trong “hai tay” chứ không phải “một tay” của Đấng điểm đạo. Điều này, thú vị thay, gợi ý rằng Đức Sanat Kumara là một loại hữu thể quả thật có tay. Có lẽ Ngài trình hiện chính Ngài trong hình tướng con người trước ứng viên cho lần điểm đạo thứ năm.
|
|
303. The word “hands” also suggests that the Rod may be held in both hands simultaneously or in different hands according to purpose.
|
303. Từ “hai tay” cũng gợi ý rằng Thần Trượng có thể được cầm bằng cả hai tay đồng thời hoặc ở những tay khác nhau tùy theo mục đích.
|
|
304. Although Sanat Kumara would wield the Rod of Initiation at the third and fourth initiations, He would not be seen in person by the candidate. The image before the candidate would be either that of a star or an eye, we are told in The Rays and the Initiations
|
304. Dù Đức Sanat Kumara sẽ vận dụng Thần Trượng Điểm đạo ở lần điểm đạo thứ ba và thứ tư, Ngài sẽ không được thấy trực tiếp bởi ứng viên. Hình ảnh trước ứng viên sẽ là hình của một ngôi sao hoặc một con mắt, như chúng ta được nói trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo.
|
|
305. The Christ, however, would be seen face to face.
|
305. Tuy nhiên, Đức Christ sẽ được thấy mặt đối mặt.
|
|
306. It is interesting to contemplate that, though initiation for the first two degrees occurs within the causal body (and probably for the third and fourth as well), the initiator for those first two degrees would still be seen in human form. Though the Christ would be focussing upon the causal level, He would still present Himself before the candidate in human form.
|
306. Thật thú vị khi chiêm nghiệm rằng, dù điểm đạo cho hai cấp đầu xảy ra bên trong thể nguyên nhân (và có lẽ cho cấp thứ ba và thứ tư cũng vậy), Đấng điểm đạo cho hai cấp đầu ấy vẫn sẽ được thấy trong hình tướng con người. Dù Đức Christ đang tập trung ở cấp nguyên nhân, Ngài vẫn sẽ trình hiện chính Ngài trước ứng viên trong hình tướng con người.
|
|
307. The “Flaming Diamond” is the Rod of Initiation wielded by Sanat Kumara at the third, fourth and fifth initiations.
|
307. “Kim Cương Rực Lửa” là Thần Trượng Điểm đạo được Đức Sanat Kumara vận dụng ở lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm.
|
|
308. It is said that Sanat Kumara is not the Initiator at the sixth and seventh initiations. A mysterious existence called the “Silent Watcher” presides at the first of these initiations and the Planetary Logos at the second. Does this mean that the Flaming Diamond is not in the exclusive charge of Sanat Kumara, but can be wielded by these two greater Existences?
|
308. Người ta nói rằng Đức Sanat Kumara không phải là Đấng Điểm đạo ở lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy. Một hiện hữu huyền nhiệm được gọi là “Đấng Quan Sát Im Lặng” chủ trì cuộc điểm đạo thứ nhất trong hai cuộc này và Hành Tinh Thượng đế chủ trì cuộc thứ hai. Điều này có nghĩa rằng Kim Cương Rực Lửa không nằm trong sự quản trách độc quyền của Đức Sanat Kumara, mà có thể được vận dụng bởi hai Hiện Hữu vĩ đại hơn này chăng?
|
|
309. We are told that at the sixth and seventh initiations, force from the Solar Logos is involved, and greater forces still, transmitted “via the Logos” from sources outside our solar system.
|
309. Chúng ta được nói rằng ở lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, mãnh lực từ Thái dương Thượng đế được dự phần, và còn những mãnh lực lớn hơn nữa, được truyền “qua Thượng đế” từ những nguồn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta.
|
|
310. We must remember that these two initiations are initiations of the Monad and are beyond what, for man, is the first cosmic initiation—i.e., the fifth initiation.
|
310. Chúng ta phải nhớ rằng hai cuộc điểm đạo này là các cuộc điểm đạo của chân thần và vượt quá cái mà, đối với con người, là cuộc điểm đạo vũ trụ thứ nhất—tức lần điểm đạo thứ năm.
|
|
311. One suspects that the Logos of the Seven Solar Systems may be influential at the sixth initiation and that the One About Whom Naught May Be Said may be slightly influential at the seventh.
|
311. Người ta nghi rằng Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời có thể có ảnh hưởng ở lần điểm đạo thứ sáu và Đấng Bất Khả Tư Nghị có thể có một ảnh hưởng nhẹ ở lần điểm đạo thứ bảy.
|
|
312. We must not forget the star Sirius as potentially influential at the sixth and seventh initiations, as those initiations are, respectively, the Baptism and Transfiguration in the Sirian system of initiations.
|
312. Chúng ta không được quên ngôi sao Sirius như một nguồn có thể có ảnh hưởng ở lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, vì các cuộc điểm đạo ấy lần lượt là Phép Rửa và Biến Hình trong hệ thống điểm đạo của Sirius.
|
|
313. When referring to forces “from outside the system altogether”, we cannot discount the thought that the Tibetan may be referring to the cosmic astral plane and the cosmic mental plane. These two cosmic planes are often considered as lying outside the solar system.
|
313. Khi nói đến các mãnh lực “từ bên ngoài toàn bộ hệ thống”, chúng ta không thể loại trừ ý nghĩ rằng Chân sư Tây Tạng có thể đang ám chỉ cõi cảm dục vũ trụ và cõi thể trí vũ trụ. Hai cõi vũ trụ này thường được xem như nằm bên ngoài hệ mặt trời.
|
|
We need to remember that this major Rod is the one used on this planet, but that within the system there are several such Rods of Power, and that they are to be found in three grades, if it may be so expressed.
|
Chúng ta cần nhớ rằng Thần Trượng chính yếu này là Thần Trượng được dùng trên hành tinh này, nhưng rằng trong hệ thống có một số Thần Trượng Quyền Năng như vậy, và rằng chúng được tìm thấy trong ba cấp, nếu có thể diễn đạt như thế.
|
|
314. As there are three grades of planet within our solar system (synthesizing, sacred and non-sacred), the existence of three types or grades of Rods of Power is reasonable.
|
314. Vì có ba cấp hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta (tổng hợp, thiêng liêng và không thiêng liêng), sự tồn tại của ba loại hay ba cấp Thần Trượng Quyền Năng là hợp lý.
|
|
315. From what is given below, we have four Rods of Power in three grades, making twelve spheres of focus in all.
|
315. Từ những gì được đưa ra bên dưới, chúng ta có bốn Thần Trượng Quyền Năng trong ba cấp, tạo thành mười hai khối cầu tiêu điểm tất cả.
|
|
316. Unless it is meant that the several Rods mentioned below are graded, as is obvious.
|
316. Trừ khi ý muốn nói rằng một số Thần Trượng được nhắc đến bên dưới được phân cấp, như điều hiển nhiên.
|
|
First. The Rod of Initiation used for the first two initiations and wielded by the Great Lord, the Christ, the World Teacher. It is magnetised by application of the “Flaming Diamond”—the magnetisation being repeated when each new world Teacher takes office.
|
Thứ nhất. Thần Trượng Điểm đạo dùng cho hai lần điểm đạo đầu tiên và do Đức Chưởng Giáo Vĩ Đại, Đức Christ, Đức Chưởng Giáo Thế Gian, cầm giữ. Nó được từ hoá bằng sự áp dụng “Kim Cương Rực Lửa”—việc từ hoá được lặp lại khi mỗi Đức Chưởng Giáo Thế Gian mới nhậm chức.
|
|
317. We notice that a greater Rod magnetizes the immediately lesser Rod.
|
317. Chúng ta nhận thấy rằng một Thần Trượng lớn hơn sẽ từ hoá Thần Trượng nhỏ hơn ngay bên dưới.
|
|
318. The Rod here referenced is sometimes known as the Rod of the Bodhisattva or the Bodhisattva’s Rod.
|
318. Thần Trượng được nhắc đến ở đây đôi khi được gọi là Thần Trượng của Đức Bồ Tát, hay Thần Trượng của Đức Bồ Tát.
|
|
319. Since it may be reasonably inferred that a World Teacher takes office once every two thousand five hundred years, the magnetizations would occur with that frequency.
|
319. Vì có thể suy luận hợp lý rằng một Đức Chưởng Giáo Thế Gian nhậm chức mỗi hai ngàn năm trăm năm một lần, nên các lần từ hoá sẽ xảy ra với tần suất ấy.
|
|
320. The Christ will be World Teacher for two consecutive periods (totaling five thousand years). One would wonder however, whether this Rod would not have to be magnetized for its use during the Aquarian dispensation.
|
320. Đức Christ sẽ là Đức Chưởng Giáo Thế Gian trong hai chu kỳ liên tiếp (tổng cộng năm ngàn năm). Tuy nhiên, người ta sẽ tự hỏi liệu Thần Trượng này có cần được từ hoá để sử dụng trong thời kỳ Bảo Bình hay không.
|
|
321. The following excerpt indicates the time when the Lord Maitreya took the office of Bodhisattva:
|
321. Trích đoạn sau đây cho biết thời điểm khi Đức Chúa Tể Maitreya đảm nhiệm chức vụ Đức Bồ Tát:
|
|
Bodhisattva
. The exponent of second ray force, the Teacher of the Adepts of men and of Angels. This office was originally held by the Buddha, but His place was taken (after His Illumination) by the Christ. The work of the Bodhisattva is with the religions of the world, and with the spiritual Essence in Man. (TCF 120) (TCF 120-note)
|
Đức Bồ Tát
. Vị biểu hiện mãnh lực cung hai, Huấn sư của các chân sư của nhân loại và của các thiên thần. Chức vụ này ban đầu do Đức Phật đảm nhiệm, nhưng vị trí của Ngài đã được Đức Christ tiếp nhận (sau khi Ngài Giác Ngộ). Công việc của Đức Bồ Tát liên quan đến các tôn giáo của thế gian, và đến Tinh Chất tinh thần trong Con Người. (TCF 120) (TCF 120-note)
|
|
322. The illumination of the Buddha occurred in the sixth century BC, and so that magnetization of the Rod occurred probably then, and has been effective until our present time. It would seem that another magnetization would be imminent if a charging of the Rod must occur in relation to the Aquarian Age.
|
322. Sự giác ngộ của Đức Phật xảy ra vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, và vì vậy việc từ hoá Thần Trượng có lẽ đã diễn ra vào thời điểm ấy, và đã có hiệu lực cho đến hiện nay. Dường như một lần từ hoá khác sẽ sắp xảy ra nếu việc nạp lực cho Thần Trượng phải diễn ra liên quan đến Thời Đại Bảo Bình.
|
|
There is a wonderful ceremony performed at the time that a new World Teacher takes up His work. During the ceremony He receives His Rod of Power—the same Rod as used since the foundation of our planetary Hierarchy—and holds it forth to the Lord of the World, Who touches it
[211] with His own mighty Rod, causing a fresh re-charging of its electric capacity. This ceremony takes place at Shamballa.89,90
|
Có một nghi lễ tuyệt vời được cử hành vào thời điểm một Đức Chưởng Giáo Thế Gian mới bắt đầu công việc của Ngài. Trong nghi lễ, Ngài nhận lấy Quyền năng từ của Ngài—chính Thần Trượng đã được dùng từ khi Thánh đoàn hành tinh của chúng ta được thiết lập—và đưa nó ra trước Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng chạm vào nó [211] bằng chính Thần Trượng hùng lực của Ngài, khiến năng lực điện của nó được nạp lại một cách mới mẻ. Nghi lễ này diễn ra tại Shamballa.89,90
|
|
323. The Hierarchy was founded some eighteen million years ago, and so this ceremony of re-charging has, presumably, occurred many times since then.
|
323. Thánh Đoàn được thiết lập cách đây khoảng mười tám triệu năm, và do đó nghi lễ nạp lại này, hẳn nhiên, đã diễn ra nhiều lần kể từ đó.
|
|
324. We can see that, as far as the World Teacher is concerned, the basic initiatory power comes from the Lord of the World.
|
324. Chúng ta có thể thấy rằng, xét theo Đức Chưởng Giáo Thế Gian, quyền năng điểm đạo căn bản đến từ Đức Chúa Tể Thế Giới.
|
|
325. The One who is the World Teacher clearly, then, has access to Shamballa—located on cosmic etheric levels.
|
325. Vì vậy, Đấng là Đức Chưởng Giáo Thế Gian rõ ràng có thể tiếp cận Shamballa—nằm trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ.
|
|
Footnote 89:
|
Chú thích 89:
|
|
Shamballa—The Sacred Island in the Gobi desert. The centre in central Asia where the Lord of the World, the Ancient of Days, has His Headquarters. H. P. B. says it is “a very mysterious locality on account of its future associations.”—S. D., II, 413.
|
Shamballa—Hòn Đảo Thiêng trong sa mạc Gobi. Trung tâm ở Trung Á nơi Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, đặt Tổng Hành Dinh của Ngài. H. P. B. nói rằng đó là “một địa điểm hết sức huyền bí do những liên hệ trong tương lai của nó.”—S. D., II, 413.
|
|
326. There are two ‘locations’ for Shamballa usually given—one upon the cosmic etheric planes and the other actually within the systemic ethers (associated with the tangible location on our planet called the Gobi Desert).
|
326. Thường có hai “vị trí” của Shamballa được nêu ra—một ở trên các cõi dĩ thái vũ trụ và một thực sự ở trong các tầng dĩ thái của hệ thống (liên hệ với vị trí hữu hình trên hành tinh chúng ta gọi là Sa mạc Gobi).
|
|
327. The real Shamballa, it would seem, is located on cosmic etheric levels, but a reflection in the lower ethers can be found. Probably the higher systemic ethers (the esoteric ethers, atomic and sub-atomic) carry this reflection and not the lower.
|
327. Shamballa thật sự, dường như, nằm trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ, nhưng có thể tìm thấy một phản ảnh trong các tầng dĩ thái thấp. Có lẽ các tầng dĩ thái hệ thống cao hơn (các tầng dĩ thái nội môn, nguyên tử và hạ nguyên tử) mang phản ảnh này chứ không phải các tầng thấp hơn.
|
|
328. What are the “future associations” of the systemic-etheric Shamballa? The day will come when, symbolically at least, Sanat Kumara descends to the systemic etheric level and “walks the Earth”. Before this will be possible the Judgment in the fifth round must occur. It would seem, actually, as if the number seven would be associated with such a bringing of Heaven to Earth. Thus we question whether the seventh round must occur before this descent is possible; and yet, Sanat Kumara’s term of special service may be over before that time. These are matters to be revealed a high initiations, and really are not very much our concern.
|
328. Những “liên hệ trong tương lai” của Shamballa-dĩ-thái-hệ-thống là gì? Sẽ đến một ngày khi, ít nhất là theo biểu tượng, Đức Sanat Kumara hạ xuống cấp độ dĩ thái hệ thống và “bước đi trên Trái Đất”. Trước khi điều này có thể xảy ra, Cuộc Phán Xét trong cuộc tuần hoàn thứ năm phải diễn ra. Thực ra, dường như con số bảy sẽ được gắn với việc đem Thiên Giới xuống Trái Đất như thế. Vì vậy, chúng ta tự hỏi liệu cuộc tuần hoàn thứ bảy có phải xảy ra trước khi sự giáng hạ này có thể thực hiện; và tuy vậy, thời hạn phụng sự đặc biệt của Đức Sanat Kumara có thể đã kết thúc trước thời điểm ấy. Đây là những vấn đề sẽ được mặc khải ở các lần điểm đạo cao, và thật ra không phải là điều chúng ta cần bận tâm nhiều.
|
|
Footnote 90:
|
Chú thích 90:
|
|
The World Teacher—takes office cyclically. His cycles do not coincide with those of the Manu as the Manu holds office for the entire rootrace.
|
Đức Chưởng Giáo Thế Gian—nhậm chức theo chu kỳ. Các chu kỳ của Ngài không trùng với các chu kỳ của Đức Manu vì Đức Manu giữ chức vụ trong suốt toàn bộ giống dân gốc.
|
|
329. The cycles of the Manu and Mahachohan are much longer than that of the World Teacher.
|
329. Các chu kỳ của Đức Manu và Đức Mahachohan dài hơn nhiều so với chu kỳ của Đức Chưởng Giáo Thế Gian.
|
|
The World Teacher gives out the keynote for the various religions and is the emanating source for periodical religious impulses.
|
Đức Chưởng Giáo Thế Gian ban ra chủ âm cho các tôn giáo khác nhau và là nguồn xuất lộ cho các xung lực tôn giáo định kỳ.
|
|
330.
Each Age has its unique religious impulse and it is likely that there is a new World Teacher for the commencement of each Zodiacal Age.
|
330.
Mỗi Thời Đại có xung lực tôn giáo độc đáo của riêng nó và có lẽ có một Đức Chưởng Giáo Thế Gian mới cho sự khởi đầu của mỗi Thời Đại Hoàng Đạo.
|
|
The duration of his cycles are not given out.
|
Thời lượng các chu kỳ của Ngài không được tiết lộ.
|
|
331. There is a reference for which I am searching which states that the Christ is unique in assuming the role of World Teacher for two successive precessional ages. From this we may gather that the usual term for a World Teacher is one precessional age.
|
331. Tôi đang tìm một đoạn tham chiếu nói rằng Đức Christ là độc nhất trong việc đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo Thế Gian cho hai thời đại tuế sai liên tiếp. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng nhiệm kỳ thông thường của một Đức Chưởng Giáo Thế Gian là một thời đại tuế sai.
|
|
The Buddha held office prior to the present World Teacher and upon his Illumination His place was taken by the Lord Maitreya whom the Occidentals call the Christ.
|
Đức Phật giữ chức vụ trước Đức Chưởng Giáo Thế Gian hiện nay và sau khi Ngài Giác Ngộ, vị trí của Ngài được Đức Chúa Tể Maitreya tiếp nhận, Đấng mà người phương Tây gọi là Đức Christ.
|
|
332. We can gather that the Master KH will assume the role of World Teacher after approximately two thousand five hundred years—at the beginning of the Age of Capricorn, approximately.
|
332. Chúng ta có thể suy ra rằng Chân sư KH sẽ đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo Thế Gian sau khoảng hai ngàn năm trăm năm—xấp xỉ vào đầu Thời Đại Ma Kết.
|
|
333. As great as was Lord Krishna (living some five thousand years ago), He was not yet the World Teacher—an office held at that time, we might supposed, by the Buddha. Can it be that the Buddha undertook the role of World Teacher during the time that Krishna flourished? It is likely that the cooperation of these two great Sons of God was significant even then.
|
333. Dù Đức Chúa Tể Krishna vĩ đại đến đâu (sống cách đây khoảng năm ngàn năm), Ngài vẫn chưa là Đức Chưởng Giáo Thế Gian—một chức vụ mà vào thời đó, chúng ta có thể giả định, do Đức Phật nắm giữ. Có phải Đức Phật đã đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo Thế Gian trong thời kỳ Krishna hưng thịnh chăng? Có lẽ sự hợp tác của hai Con của Thượng đế vĩ đại này đã mang thâm nghĩa ngay cả khi ấy.
|
|
Second. The Rod of Initiation known as the “Flaming Diamond” and used by Sanat Kumara, the One Initiator, called in the Bible, the Ancient of Days.
|
Thứ hai. Thần Trượng Điểm đạo được gọi là “Kim Cương Rực Lửa” và do Đức Sanat Kumara sử dụng, Đấng Điểm đạo Duy Nhất, được gọi trong Kinh Thánh là Đấng Thái Cổ.
|
|
334. It is important to recognize Sanat Kumara under His Biblical appellation. This recognition will offer the possibility of bridging the Ageless Wisdom Teaching with the New Testament.
|
334. Điều quan trọng là nhận ra Đức Sanat Kumara dưới danh xưng trong Kinh Thánh của Ngài. Sự nhận ra này sẽ mở ra khả năng bắt cầu giữa giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời với Tân Ước.
|
|
This Rod lies hidden “in the East” and holds the fire latent which irradiates the Wisdom Religion. This Rod was brought by the Lord of the World when He took form and came to our planet eighteen million years ago.
|
Thần Trượng này được cất giấu “ở phương Đông” và giữ ngọn lửa tiềm ẩn vốn chiếu rọi Tôn Giáo Minh Triết. Thần Trượng này đã được Đức Chúa Tể Thế Giới mang đến khi Ngài nhập hình tướng và đến hành tinh chúng ta mười tám triệu năm trước.
|
|
335. The Flaming Diamond must have some relation to the planet Venus, for Sanat Kumara is said to have come to the planet Earth from the Venus-globe of the Venus-chain of the Earth-scheme—a location obviously linked to the planetary scheme of Venus.
|
335. Kim Cương Rực Lửa hẳn có một mối liên hệ nào đó với hành tinh Sao Kim, vì Đức Sanat Kumara được nói là đã đến hành tinh Trái Đất từ bầu hành tinh Sao Kim của Dãy Sao Kim thuộc hệ hành tinh Địa Cầu—một vị trí hiển nhiên gắn với hệ hành tinh của Sao Kim.
|
|
336. The Wisdom Religion may be said to have had its commencement with the coming of Sanat Kumara to the Earth. The relation of Venus to the Wisdom Religion is easily seen. It is essentially the “Religion” of the Solar Angels, of Venusian origin—from one perspective.
|
336. Có thể nói Tôn Giáo Minh Triết đã khởi đầu với sự đến của Đức Sanat Kumara trên Trái Đất. Mối liên hệ của Sao Kim với Tôn Giáo Minh Triết rất dễ thấy. Về bản chất, đó là “Tôn Giáo” của các Thái dương Thiên Thần, có nguồn gốc Sao Kim—xét theo một góc nhìn.
|
|
337. If the Flaming Diamond irradiates the Wisdom Religion then it is closely related to the “One Fundamental School of Occultism in Shamballa” and may be considered to inspire that great Source of unfettered enlightenment.
|
337. Nếu Kim Cương Rực Lửa chiếu rọi Tôn Giáo Minh Triết thì nó có liên hệ mật thiết với “Trường Huyền Bí Học Căn Bản Duy Nhất tại Shamballa” và có thể được xem là nguồn cảm hứng cho Nguồn Cội vĩ đại của sự giác ngộ không bị ràng buộc ấy.
|
|
338. The Flaming Diamond may belong with our Earth-scheme (and perhaps with certain other schemes which are developmentally comparable).
|
338. Kim Cương Rực Lửa có thể thuộc về hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta (và có lẽ thuộc về một số hệ hành tinh khác có mức phát triển tương đương).
|
|
Once in every world period it is subjected to a similar process as that of the lesser Rod, only this time it is recharged by the direct action of the Logos Himself,—the Logos of the solar system.
|
Mỗi một thời kỳ thế giới một lần, nó chịu một tiến trình tương tự như tiến trình của Thần Trượng nhỏ hơn, chỉ khác lần này nó được nạp lại bởi tác động trực tiếp của chính Thượng đế,—Thượng đế của hệ mặt trời.
|
|
339. We need to know the duration of a “world period”. The term is fairly generic. It could refer to a time as short as a “Great Year”—a “Platonic Year” of approximately 25,000 years, or perhaps to a period as long as a planetary round; or perhaps to an intermediate period as the duration of one round with respect to one of seven globes.
|
339. Chúng ta cần biết thời lượng của một “thời kỳ thế giới”. Thuật ngữ này khá chung. Nó có thể chỉ một thời gian ngắn như một “Đại Niên”—một “Niên Platonic” khoảng 25.000 năm, hoặc có thể chỉ một thời kỳ dài như một cuộc tuần hoàn hành tinh; hoặc có thể là một thời kỳ trung gian như thời lượng của một cuộc tuần hoàn xét theo một trong bảy bầu hành tinh.
|
|
340. The pattern, we note, is that any Rod of Power is recharged by the Rod immediately superior to it.
|
340. Chúng ta lưu ý mô thức rằng bất kỳ Thần Trượng Quyền Năng nào cũng được nạp lại bởi Thần Trượng ngay bên trên nó.
|
|
341. The relationships concerning this Rod are of the Sun to a planet, and thus, the term “world” would seem to refer to a planet, and a world period to a planetary period such as a round or a portion thereof.
|
341. Các tương quan liên quan đến Thần Trượng này là tương quan giữa Mặt Trời và một hành tinh, và do đó thuật ngữ “thế giới” dường như chỉ một hành tinh, và một thời kỳ thế giới là một thời kỳ hành tinh như một cuộc tuần hoàn hay một phần của nó.
|
|
The location of this Rod is known only to the Lord of the World, and to the Chohans of the Rays, and (being the talisman of this evolution) the Chohan of the second Ray is—under the Lord of the World—its main guardian, aided by the deva Lord of the second plane. The Buddhas of activity are responsible for its custody, and under them the Chohan of the Ray.
|
Vị trí của Thần Trượng này chỉ Đức Chúa Tể Thế Giới và các Đấng Chohan của các Cung biết, và (vì là bùa hộ mệnh của cuộc tiến hoá này) Đấng Chohan của cung hai là—dưới quyền Đức Chúa Tể Thế Giới—người canh giữ chính yếu của nó, được trợ giúp bởi Đấng Chúa Tể thiên thần của cõi thứ hai. Các Đức Phật Hoạt Động chịu trách nhiệm về việc lưu giữ nó, và dưới Các Ngài là Đấng Chohan của Cung.
|
|
342. Let us list those responsible for the guardianship of the Flaming Diamond:
|
342. Hãy liệt kê những vị chịu trách nhiệm canh giữ Kim Cương Rực Lửa:
|
|
a.
The Lord of the World
|
a. Đức Chúa Tể Thế Giới
|
|
b.
The Buddhas of Activity
|
b. Các Đức Phật Hoạt Động
|
|
c.
The Chohan of the Second Ray (at this time the Master KH)
|
c. Đấng Chohan của Cung Hai (hiện nay là Chân sư KH)
|
|
d.
The Deva Lord of the second plane—Varuna.
|
d. Đấng Chúa Tể thiên thần của cõi thứ hai—Varuna.
|
|
343. It may be that guardianship and custodianship are to be considered differently.
|
343. Có thể việc canh giữ và việc lưu giữ cần được xem là hai điều khác nhau.
|
|
344.
VSK queries: “What is the difference between being the main guardian, aided by a deva Lord (Varuna), and the Buddhas of activity being “responsible for its custody” and under them the Chohan? What sort of ‘lock and key’ is this thing hidden behind?
J
”
|
344. VSK hỏi: “Sự khác nhau giữa việc là người canh giữ chính yếu, được một Đấng Chúa Tể thiên thần (Varuna) trợ giúp, và việc các Đức Phật Hoạt Động ‘chịu trách nhiệm về việc lưu giữ nó’ và dưới Các Ngài là Đấng Chohan, là gì? Thứ này được giấu sau kiểu ‘ổ khoá và chìa khoá’ nào vậy? ”
|
|
345. There is an implication here of the close connection between Venus, the Wisdom Religion and the second ray. There is an aspect of Venus that corresponds closely to the second ray—very likely its major monadic ray after ray six—its monadic subray.
|
345. Ở đây hàm ý một mối liên hệ chặt chẽ giữa Sao Kim, Tôn Giáo Minh Triết và cung hai. Có một phương diện của Sao Kim tương ứng rất sát với cung hai—rất có thể là cung chân thần chính của nó sau cung sáu—cung phụ chân thần của nó.
|
|
It is produced only at stated times when specific work has to be done. It is used not only at the initiating of men, but at certain planetary functions, of which nothing as yet has been given out.
|
Nó chỉ được đưa ra vào những thời điểm đã định khi cần thực hiện một công việc đặc thù. Nó không chỉ được dùng trong việc điểm đạo cho nhân loại, mà còn trong một số chức năng hành tinh, về những điều ấy cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ.
|
|
346. The Flaming Diamond is clearly a planetary Rod and responsible for the empowering of planetary events.
|
346. Kim Cương Rực Lửa rõ ràng là một Thần Trượng hành tinh và chịu trách nhiệm trao quyền cho các biến cố hành tinh.
|
|
347. It seems that it would be produced seasonally.
|
347. Dường như nó sẽ được đưa ra theo mùa kỳ.
|
|
348. The word “produced” is of interest as it may signal something concerning the transportation and materialization of this Rod.
|
348. Từ “đưa ra” đáng chú ý vì nó có thể báo hiệu điều gì đó liên quan đến việc vận chuyển và hiện hình Thần Trượng này.
|
|
It has its place and function in certain ceremonies connected with the inner round91
and the triangle formed by the Earth, Mars
[212] and Mercury. But more about this is not at this time permissible.
|
Nó có vị trí và chức năng trong một số nghi lễ liên quan đến cuộc tuần hoàn nội91 và tam giác tạo bởi Trái Đất, Sao Hỏa [212] và Sao Thủy. Nhưng hiện nay chưa được phép nói thêm về điều này.
|
|
349. The “inner round” may refer to hidden chains without our planetary scheme. There may also be inner rounds on other planetary schemes.
|
349. “Cuộc tuần hoàn nội” có thể chỉ các dãy ẩn kín trong hệ hành tinh của chúng ta. Cũng có thể có các cuộc tuần hoàn nội trong những hệ hành tinh khác.
|
|
350. Usually there are considered to be seven planetary chains in each planetary scheme, but it is possible that there are three more highly subjective chains which are known as the “inner round”.
|
350. Thường người ta cho rằng có bảy dãy hành tinh trong mỗi hệ hành tinh, nhưng có thể có thêm ba dãy mang tính chủ quan cao hơn được gọi là “cuộc tuần hoàn nội”.
|
|
351. The Earth, Mars, Mercury triangle maybe operative on a scheme level and also a globe level within the Earth-chain.
|
351. Tam giác Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Thủy có thể hoạt động ở cấp độ hệ hành tinh và cũng ở cấp độ bầu hành tinh trong Dãy Địa Cầu.
|
|
352. In this triangle (considered at a systemic level) the Earth would represent the physical nature, Mars the astral nature and Mercury the mental.
|
352. Trong tam giác này (xét ở cấp độ hệ thống), Trái Đất sẽ biểu trưng bản chất thể xác, Sao Hỏa bản chất cảm dục và Sao Thủy bản chất thể trí.
|
|
353. If Venus should be added to the triangle, making a quaternary, then Venus would represent kama-manas and Mercury, manas.
|
353. Nếu thêm Sao Kim vào tam giác, tạo thành một tứ phân, thì Sao Kim sẽ biểu trưng trí-cảm và Sao Thủy, manas.
|
|
354. From another perspective (considering the quaternary), Venus would represent Manas, and Mercury the integrated personality.
|
354. Từ một góc nhìn khác (xét tứ phân), Sao Kim sẽ biểu trưng Manas, và Sao Thủy biểu trưng phàm ngã tích hợp.
|
|
Footnote 91:
|
Chú thích 91:
|
|
The inner round is a mysterious cycle of which little can be told. It is not concerned with manifestation through the seven schemes or globes, but has to do with certain aspects of the subjective Life or the soul.
|
Cuộc tuần hoàn nội là một chu kỳ huyền bí mà rất ít điều có thể nói. Nó không liên quan đến sự biểu lộ qua bảy hệ hành tinh hay bảy bầu hành tinh, mà liên quan đến một số phương diện của Sự sống chủ quan hay linh hồn.
|
|
355. The description of the inner round given here does not really support the suggestion earlier made—that it may involve development on certain subjective chains of the seven schemes. One notices, however, that we are told that it does not concern “schemes” or “globes”, but the word “chains” is not used!
|
355. Mô tả về cuộc tuần hoàn nội được nêu ở đây thật ra không nâng đỡ gợi ý đã đưa ra trước đó—rằng nó có thể liên quan đến sự phát triển trên một số dãy chủ quan của bảy hệ hành tinh. Tuy nhiên, người ta lưu ý rằng chúng ta được nói rằng nó không liên quan đến “hệ hành tinh” hay “bầu hành tinh”, nhưng từ “dãy” lại không được dùng!
|
|
356. The following reference to the inner round should be carefully studied:
|
356. Tham chiếu sau đây về cuộc tuần hoàn nội cần được nghiên cứu cẩn thận:
|
|
3. The inner round, which carries with it vast opportunity for those who can surmount its problems and withstand its temptations. This inner round has a peculiar appeal to units on certain Rays, and has its own specific dangers. The inner round is the round that is followed by those who have passed through the human stage and have consciously developed the faculty of etheric living and can follow the etheric cycles, functioning consciously on the three higher etheric planes in all parts of the system. They have—for certain occult and specific purposes—broken the connection between the third etheric and the four lower subplanes of the physical plane. This [1176] round is followed only by a prepared percentage of humanity, and is closely associated with a group who pass with facility and develop with equal facility on the three planets that make a triangle with the earth, namely Mars, Mercury, and Earth. These three planets—in connection with this inner round—are considered only as existing in etheric matter, and (in relation to one of the Heavenly Men) hold a place analogous to the etheric triangle found in the human etheric body. I have here conveyed more than has as yet been exoterically communicated anent this inner round and by the study of the human etheric triangle, its function, and the type of force which circulates around it, much may be deduced about the planetary inner round. We must bear in mind in this connection that just as the human etheric triangle is but the preparatory stage to a vast circulation within the sphere of the entire etheric body, so the etheric planetary triangle—passing from the Earth to Mars and Mercury—is but the preparatory circulatory system to a vaster round included within the sphere of influence of one planetary Lord. (TCF 1175-1176)
|
3. Cuộc tuần hoàn nội, mang theo cơ hội rộng lớn cho những ai có thể vượt qua các vấn đề của nó và đứng vững trước các cám dỗ của nó. Cuộc tuần hoàn nội này có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các đơn vị thuộc một số Cung nhất định, và có những hiểm nguy đặc thù của riêng nó. Cuộc tuần hoàn nội là cuộc tuần hoàn được theo đuổi bởi những ai đã vượt qua giai đoạn nhân loại và đã phát triển một cách hữu thức năng lực sống dĩ thái và có thể theo các chu kỳ dĩ thái, hoạt động một cách hữu thức trên ba cõi dĩ thái cao hơn ở mọi nơi trong hệ thống. Vì những mục đích huyền bí và đặc thù, họ đã cắt đứt mối liên hệ giữa tầng dĩ thái thứ ba và bốn cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần. Cuộc tuần hoàn [1176] này chỉ được theo đuổi bởi một tỷ lệ nhân loại đã được chuẩn bị, và có liên hệ mật thiết với một nhóm những người đi qua một cách dễ dàng và phát triển với sự dễ dàng tương đương trên ba hành tinh tạo thành một tam giác với trái đất, đó là Sao Hỏa, Sao Thủy và Trái Đất. Ba hành tinh này—trong liên hệ với cuộc tuần hoàn nội—chỉ được xem như hiện hữu trong vật chất dĩ thái, và (liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) giữ một vị trí tương tự với tam giác dĩ thái được tìm thấy trong thể dĩ thái của con người. Ở đây tôi đã truyền đạt nhiều hơn những gì cho đến nay đã được truyền thông ngoại môn về cuộc tuần hoàn nội này, và bằng việc nghiên cứu tam giác dĩ thái của con người, chức năng của nó, và loại mãnh lực lưu chuyển quanh nó, người ta có thể suy diễn được nhiều điều về cuộc tuần hoàn nội hành tinh. Trong mối liên hệ này, chúng ta phải ghi nhớ rằng cũng như tam giác dĩ thái của con người chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một sự lưu thông rộng lớn trong phạm vi toàn bộ thể dĩ thái, thì tam giác dĩ thái hành tinh—đi từ Trái Đất đến Sao Hỏa và Sao Thủy—chỉ là hệ thống lưu thông chuẩn bị cho một cuộc tuần hoàn rộng lớn hơn, được bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng của một Chúa Tể hành tinh. (TCF 1175-1176)
|
|
357. This is a very rich reference and will be closely analyzed when we come to the part of TCF in which it is found.
|
357. Đây là một tham chiếu rất phong phú và sẽ được phân tích kỹ khi chúng ta đến phần của TCF nơi nó xuất hiện.
|
|
Third. The Rod of Initiation, wielded by the Logos of the solar system, is called among other things, the “Sevenfold Flaming Fire.”
|
Thứ ba. Thần Trượng Điểm đạo, do Thượng đế của hệ mặt trời cầm giữ, được gọi, trong số những tên khác, là “Lửa Rực Lửa Thất Phân.”
|
|
358. We learned that there are several names for this Rod.
|
358. Chúng ta biết rằng có nhiều tên gọi cho Thần Trượng này.
|
|
359. An association with the seven rays is hard to resist.
|
359. Một liên hệ với bảy cung thật khó cưỡng lại.
|
|
360. Whereas the Flaming Diamond is a planetary Rod (and has in relation to it a degree of concretion which the term “diamond” suggests) the Sevenfold Flaming Fire is our solar Rod.
|
360. Trong khi Kim Cương Rực Lửa là một Thần Trượng hành tinh (và có liên quan đến nó một mức độ cụ thể hoá mà từ “kim cương” gợi ý) thì Lửa Rực Lửa Thất Phân là Thần Trượng thái dương của chúng ta.
|
|
361. May it be that the Flaming Diamond hints at the power to create in man the diamond state—the “Diamond Soul”.
|
361. Có thể chăng Kim Cương Rực Lửa gợi ý quyền năng tạo ra trong con người trạng thái kim cương—“Linh Hồn Kim Cương”.
|
|
It was confided to our Logos by the Lord of Sirius and sent to our system from that radiant sun.
|
Nó đã được Đức Chúa Tể của Sirius giao phó cho Thượng đế của chúng ta và được gửi đến hệ thống của chúng ta từ mặt trời rực rỡ ấy.
|
|
362. One can only wonder at the manner of its sending. The power of materialization would probably be used.
|
362. Người ta chỉ có thể tự hỏi về cách thức nó được gửi đi. Quyền năng hiện hình hẳn sẽ được sử dụng.
|
|
One of its purposes is for use in emergencies.
|
Một trong những mục đích của nó là dùng trong các tình huống khẩn cấp.
|
|
363. As we will learn below, emergencies including those of a planetary nature.
|
363. Như chúng ta sẽ học bên dưới, các tình huống khẩn cấp bao gồm cả những tình huống mang tính hành tinh.
|
|
This great talisman has never yet been employed in this particular manner, though twice it was nearly thus used,—once in Atlantean days, and once in the third year of the late war.
|
Bùa hộ mệnh vĩ đại này chưa bao giờ được sử dụng theo cách đặc thù này, dù đã hai lần gần như được dùng như thế,—một lần vào thời Atlantis, và một lần vào năm thứ ba của cuộc chiến gần đây.
|
|
364. We are speaking here if its application in relation to the Earth. It could also be used in emergencies as they might occur on other planets.
|
364. Ở đây chúng ta đang nói về việc áp dụng nó liên quan đến Trái Đất. Nó cũng có thể được dùng trong các tình huống khẩn cấp có thể xảy ra trên các hành tinh khác.
|
|
365. It is interesting that the Sevenfold Flaming Fire has never yet been used in any of our planetary emergencies—i.e., upon this planet.
|
365. Thật thú vị khi Lửa Rực Lửa Thất Phân chưa bao giờ được dùng trong bất kỳ tình huống khẩn cấp hành tinh nào của chúng ta—tức là trên hành tinh này.
|
|
366. We can imagine that there was a critical moment in one of the great Atlantean wars when its use was contemplated.
|
366. Chúng ta có thể hình dung đã có một thời khắc then chốt trong một trong những cuộc chiến lớn thời Atlantis khi việc sử dụng nó được cân nhắc.
|
|
367. It may, however, be a surprising thought that the First World War provided so serious an occasions. It is to be remembered that America decided to enter that war in its third year—in 1917.
|
367. Tuy nhiên, có thể là một ý nghĩ bất ngờ rằng Thế Chiến Thứ Nhất đã tạo ra một dịp nghiêm trọng như vậy. Cần nhớ rằng Hoa Kỳ quyết định tham chiến vào năm thứ ba của cuộc chiến ấy—năm 1917.
|
|
368. Humanity, it seems, solved its own problems without the need for divine intervention.
|
368. Dường như nhân loại đã tự giải quyết vấn đề của mình mà không cần đến sự can thiệp thiêng liêng.
|
|
369. We have no idea what the application of this Rod may have accomplished, but it can be assumed that it would have directed events towards the fulfillment of planetary and solar logoic Will.
|
369. Chúng ta không biết việc áp dụng Thần Trượng này có thể đã đạt được điều gì, nhưng có thể giả định rằng nó sẽ hướng các biến cố về phía sự hoàn tất Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế.
|
|
370. It is always considered in the favor of humanity when this Rod does not have to be used to change the course of human affairs.
|
370. Luôn được xem là có lợi cho nhân loại khi Thần Trượng này không phải được dùng để đổi hướng dòng chảy các công việc của con người.
|
|
371. We note that this Rod of Power is called a “talisman”. A talisman is an object which carries a particular qualified potency and does so with consistency.
|
371. Chúng ta lưu ý rằng Thần Trượng Quyền Năng này được gọi là một “bùa hộ mệnh”. Bùa hộ mệnh là một vật mang một năng lực đặc thù đã được phẩm tính hoá và mang năng lực ấy một cách nhất quán.
|
|
This Rod of Power is used at the initiation of the seven Heavenly Men on cosmic levels.
|
Thần Trượng Quyền Năng này được dùng trong việc điểm đạo cho bảy Đấng Thiên Nhân trên các cấp độ vũ trụ.
|
|
372. Presumably this kind of initiation occurs on cosmic mental levels within planetary causal bodies on the cosmic mental plane.
|
372. Có lẽ loại điểm đạo này diễn ra trên các cấp độ hạ trí vũ trụ trong các thể nguyên nhân hành tinh trên cõi hạ trí vũ trụ.
|
|
It is used also in the initiation of groups, a thing almost incomprehensible to us.
|
Nó cũng được dùng trong việc điểm đạo cho các nhóm, một điều gần như không thể hiểu nổi đối với chúng ta.
|
|
373. The day of group initiation is coming. It would seem, however, that the Flaming Diamond would be sufficient for the initiation of the kind of groups that will be presented to the Initiators.
|
373. Ngày điểm đạo nhóm đang đến. Tuy nhiên, dường như Kim Cương Rực Lửa sẽ đủ cho việc điểm đạo những loại nhóm sẽ được trình diện trước các Đấng Điểm đạo.
|
|
374. The groups here cited may be groups of Planetary Logoi—triangles of Planetary Logoi, for instance.
|
374. Các nhóm được nêu ở đây có thể là các nhóm Hành Tinh Thượng đế—chẳng hạn các tam giác Hành Tinh Thượng đế.
|
|
It is applied to the centres of the seven Heavenly Men in the same general way as the lesser Rods are applied to the human centres, and the effects are the same, only on a vaster scale.
|
Nó được áp dụng lên các trung tâm của bảy Đấng Thiên Nhân theo cùng cách tổng quát như các Thần Trượng nhỏ hơn được áp dụng lên các trung tâm của con người, và các hiệu quả cũng giống như vậy, chỉ khác là trên một quy mô rộng lớn hơn.
|
|
375. The Sevenfold Flaming Fire initiates Planetary Logoi.
|
375. Lửa Rực Lửa Thất Phân điểm đạo các Hành Tinh Thượng đế.
|
|
376. In this case, the Solar Logos stands as the higher analogy to Sanat Kumara.
|
376. Trong trường hợp này, Thái dương Thượng đế đứng như sự tương đồng cao hơn của Đức Sanat Kumara.
|
|
This, needless to say, is a vast and abstruse subject, and concerns not the sons of men. It is but touched upon, as an enumeration of the Rods of Initiation would be incomplete without some reference to it, and it serves to show the wondrous synthesis of the whole, and the place of the system within an even greater scheme.
|
Không cần phải nói, đây là một đề tài rộng lớn và thâm áo, và không liên quan đến những người con của nhân loại. Nó chỉ được chạm đến, vì việc liệt kê các Thần Trượng Điểm đạo sẽ không trọn vẹn nếu không có một vài tham chiếu đến nó, và nó giúp cho thấy sự tổng hợp kỳ diệu của toàn thể, và vị trí của hệ thống trong một hệ thống còn lớn hơn nữa.
|
|
377. The Tibetan includes much for the sake of completeness.
|
377. Chân sư Tây Tạng đưa vào nhiều điều vì mục đích đầy đủ.
|
|
378. We barely can comprehend the initiation process as it applies to the human being—especially that process in relation to the later initiations.
|
378. Chúng ta hầu như không thể hiểu tiến trình điểm đạo khi áp dụng cho con người—đặc biệt là tiến trình ấy liên quan đến các lần điểm đạo về sau.
|
|
379. The initiations mentioned above are planetary in scope and unfathomable. We can imagine however, that the Sevenfold Flaming Fire will, before long, be applied to our planet which is undergoing a kind of planetary fourth initiation on a chain level (cf. TCF 384)
|
379. Các lần điểm đạo được nhắc đến ở trên mang tầm vóc hành tinh và không thể dò thấu. Tuy nhiên, chúng ta có thể hình dung rằng Lửa Rực Lửa Thất Phân sẽ, trước lâu, được áp dụng cho hành tinh chúng ta, vốn đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư hành tinh ở cấp độ dãy (xem TCF 384)
|
|
In all things cosmic, perfect law and order are found, and the ramifications of the plan can be seen on all planes and all subplanes. This greatest Rod is in the care of the first great group of karmic Lords.
|
Trong mọi sự vũ trụ, đều có định luật và trật tự hoàn hảo, và các phân nhánh của Thiên Cơ có thể được thấy trên mọi cõi và mọi cõi phụ. Thần Trượng vĩ đại nhất này nằm dưới sự chăm nom của nhóm vĩ đại thứ nhất của các Đấng Chúa Tể nghiệp quả.
|
|
380. This first great group of karmic Lords are, on the solar systemic level, the analogy to the Buddhas of Activity on our planetary level.
|
380. Nhóm vĩ đại thứ nhất của các Đấng Chúa Tể nghiệp quả này, ở cấp độ hệ mặt trời, là sự tương đồng với các Đức Phật Hoạt Động ở cấp độ hành tinh của chúng ta.
|
|
381. The Tibetan makes a sweeping statement in relation to “law and order”. No matter what chaos may appear to our perception, we are assured that law and order prevail beneath appearances.
|
381. Chân sư Tây Tạng đưa ra một khẳng định bao quát liên quan đến “định luật và trật tự”. Dù hỗn loạn có thể hiện ra trước nhận thức của chúng ta thế nào, chúng ta vẫn được bảo đảm rằng định luật và trật tự đang ngự trị bên dưới sắc tướng.
|
|
It might be described as the Rod which carries a voltage of pure fohatic force from cosmic levels.
|
Nó có thể được mô tả như Thần Trượng mang một điện thế của mãnh lực fohat thuần khiết từ các cấp độ vũ trụ.
|
|
382. Fohat is a “cosmic Lord of Fire” (TCF 65). In one respect we can call Fohat, “Agni”, Lord of Fire for the eighteen lowest cosmic subplanes.
|
382. Fohat là một “Đấng Chúa Tể Lửa vũ trụ” (TCF 65). Ở một phương diện, chúng ta có thể gọi Fohat là “Agni”, Chúa Tể Lửa cho mười tám cõi phụ vũ trụ thấp nhất.
|
|
383. The influence of this Rod comes from extra-systemic levels. It is originally, we imagine, Sirian in nature. As well, its energy arises on planes beyond the cosmic physical.
|
383. Ảnh hưởng của Thần Trượng này đến từ các cấp độ ngoài hệ thống. Nguyên thủy, chúng ta hình dung, nó mang bản chất Sirius. Đồng thời, năng lượng của nó phát sinh trên các cõi vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ.
|
|
The two lesser Rods carry differentiated fohatic force.
|
Hai Thần Trượng nhỏ hơn mang mãnh lực fohat đã được biến phân.
|
|
384. We note the difference between “pure” fohatic force and “differentiated” fohatic force. Differentiation weakens.
|
384. Chúng ta lưu ý sự khác biệt giữa mãnh lực fohat “thuần khiết” và mãnh lực fohat “đã được biến phân”. Sự biến phân làm suy yếu.
|
|
385. This third Rod (greatest of the three mentioned thus far) derives its power from extra-systemic sources which is not true of the Flaming Diamond and the Bodhisattva’s Rod.
|
385. Thần Trượng thứ ba này (lớn nhất trong ba Thần Trượng được nhắc đến cho đến nay) nhận quyền năng từ các nguồn ngoài hệ thống, điều không đúng đối với Kim Cương Rực Lửa và Thần Trượng của Đức Bồ Tát.
|
|
This logoic Rod of Power is kept within the Sun, and is only re-charged at the beginning of every one hundred years of Brahma.
|
Thần Trượng Quyền Năng thượng đế này được giữ trong Mặt Trời, và chỉ được nạp lại vào lúc bắt đầu mỗi một trăm năm của Brahma.
|
|
386. The vast period between ‘rechargings’ gives some idea of the scope and power of this Rod. Only when the Solar Logos is about to reincarnate is the Sevenfold Flaming Fire recharged.
|
386. Khoảng thời gian mênh mông giữa các lần “nạp lại” cho thấy phần nào tầm vóc và quyền năng của Thần Trượng này. Chỉ khi Thái dương Thượng đế sắp tái nhập thể thì Lửa Rực Lửa Thất Phân mới được nạp lại.
|
|
387. What is the duration in Earth-years of one hundred years of Brahma? According to the tabulations given to us it is: 311,040,000,000,000 Earth years.
|
387. Một trăm năm của Brahma kéo dài bao nhiêu năm Trái Đất? Theo các bảng tính được cung cấp cho chúng ta, đó là: 311,040,000,000,000 năm Trái Đất.
|
|
The reason why the Rods of Power are here discussed is that they have definitely to do with the centres which are force vortices in matter and which (though channels
[213] for spiritual force, or centres wherein the ‘will to be’ finds expression) demonstrate as activity in matter.
|
Lý do các Thần Trượng Quyền Năng được bàn đến ở đây là vì chúng chắc chắn liên quan đến các trung tâm vốn là những xoáy mãnh lực trong vật chất và (dù là các kênh [213] cho mãnh lực tinh thần, hay các trung tâm nơi “ý chí hiện hữu” tìm thấy sự biểu lộ) vẫn biểu hiện như hoạt động trong vật chất.
|
|
388. The Tibetan reminds us of the relationship between will and matter.
|
388. Chân sư Tây Tạng nhắc chúng ta về mối liên hệ giữa ý chí và vật chất.
|
|
389. The “will to be” finds expression through the chakras. That will arises on monadic levels.
|
389. “Ý chí hiện hữu” tìm thấy sự biểu lộ qua các luân xa. Ý chí ấy phát sinh trên các cấp độ chân thần.
|
|
390. The chakras are noticed because of the vorticular activity produced in matter by this “will to be”.
|
390. Các luân xa được nhận biết vì hoạt động xoáy tạo ra trong vật chất bởi “ý chí hiện hữu” này.
|
|
They are the centres of existence, and just as one cannot, in manifestation, dissociate the two poles of Spirit and matter, so one cannot, in initiation apply the Rod without bringing about definite effects between the two.
|
Chúng là các trung tâm của sự hiện hữu, và cũng như người ta không thể, trong sự biểu lộ, tách rời hai cực Tinh thần và vật chất, thì người ta cũng không thể, trong điểm đạo, áp dụng Thần Trượng mà không gây ra những hiệu quả xác định giữa hai cực ấy.
|
|
391. Every application of a Rod of Power produces definite effects between the two poles of Spirit and matter.
|
391. Mỗi lần áp dụng một Thần Trượng Quyền Năng đều tạo ra những hiệu quả xác định giữa hai cực Tinh thần và vật chất.
|
|
392. It is important to realize that, in manifestation, one cannot dissociate the two poles of Spirit and matter. “He who hath seen Me hath seen the Father”, said the Christ, when asked to “shows us the Father”.
|
392. Điều quan trọng là nhận ra rằng, trong sự biểu lộ, người ta không thể tách rời hai cực Tinh thần và vật chất. “Ai đã thấy Ta là đã thấy Cha”, Đức Christ đã nói khi được yêu cầu “hãy chỉ cho chúng tôi thấy Cha”.
|
|
393. The truly spiritual person finds Spirit in matter, and, later, matter in Spirit.
|
393. Người thật sự tinh thần tìm thấy Tinh thần trong vật chất, và về sau, vật chất trong Tinh thần.
|
|
The Rods are charged with Fohat which is fire of matter plus electric fire, hence their effect.
|
Các Thần Trượng được nạp bằng Fohat, vốn là lửa của vật chất cộng với lửa điện, nên mới có hiệu quả như vậy.
|
|
394. An excellent definition of Fohat is here given. We notice however that solar fire is not part of the definition, even though Fohat has a closer association with Eros.
|
394. Ở đây có một định nghĩa tuyệt vời về Fohat. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng Lửa Thái dương không nằm trong định nghĩa, dù Fohat có một liên hệ gần gũi hơn với Eros.
|
|
The mystery cannot be explained in greater detail as the secrets of initiation are not transmissible.
|
Bí nhiệm này không thể được giải thích chi tiết hơn vì các bí mật của điểm đạo không thể truyền đạt.
|
|
395. This does not necessarily mean that the custodians of the Mysteries refuse to transmit them or that they are prohibited from doing so. The actually Mysteries may, quite literally, not be transmissible.
|
395. Điều này không nhất thiết có nghĩa rằng những vị gìn giữ các Bí Nhiệm từ chối truyền đạt chúng hay bị cấm làm như vậy. Các Bí Nhiệm thật sự có thể, theo nghĩa đen, là không thể truyền đạt.
|
|
396. Those who are on the verge of initiation will realize what must be realized.
|
396. Những ai đang ở ngưỡng điểm đạo sẽ chứng nghiệm điều phải chứng nghiệm.
|
|
More has been here imparted on this matter than hitherto, though there are those who have heard these things.
|
Về vấn đề này, ở đây đã được truyền đạt nhiều hơn trước kia, dù vẫn có những người đã nghe những điều này.
|
|
397. This section ends on a cryptic note. It is clear that the Tibetan has been offering us many new items of occult information, could we but recognize them.
|
397. Phần này kết thúc bằng một ghi chú đầy ẩn ý. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta nhiều điểm mới của thông tin huyền bí, nếu chúng ta có thể nhận ra chúng.
|
|
398. Presumably, those who have heard these things have not received so systematic a presentation as here offered.
|
398. Có lẽ những người đã nghe những điều này chưa nhận được một sự trình bày có hệ thống như được đưa ra ở đây.
|