PART V
LOVE—BÁC ÁI
CHAPTER 1
LIBERATION, NIRVANA AND MOKSHA
SỰ GIẢI THOÁT, NIẾT BÀN VÀ MOKSHA
|
Of all the Qualifications, Love is the most important, for if it is strong enough in a man, it forces him to acquire all the rest, and all the rest without it would never be sufficient. Often it is translated as an intense desire for liberation from the round of births and deaths, and for union with God. But to put it in that way sounds selfish, and gives only part of the meaning. |
Trong tất cả các Phẩm tính, Tình thương là quan trọng nhất, vì nếu nó đủ mạnh mẽ trong một người, nó sẽ buộc y phải đạt được tất cả những phẩm tính còn lại, và tất cả những phẩm tính còn lại nếu thiếu nó sẽ không bao giờ đủ. Thường thì nó được dịch là một ham muốn mãnh liệt được giải thoát khỏi vòng sinh tử, và được hợp nhất với Thượng đế. Nhưng diễn đạt theo cách đó nghe có vẻ ích kỷ, và chỉ đưa ra được một phần ý nghĩa. |
|
C.W.L.—We have said that in this book there are several departures from the ordinary translation of these qualifications. Of all those departures this one is the most daring—the presentation of mumukshatva as Love. The word is composed from the root much, “to release or set free”. In the desiderative stem the root is reduplicated, and other changes occur, to form mumuksh, “to desire release”. Mumuksha is the noun form, meaning “desire for release”, and mumukshatwa means “the state of desire for release”. The termination twa has somewhat the meaning of our ness, as in “eagerness”. From the same root comes also the word moksha, “deliverance”, “release”, or “liberation”. |
C.W.L.—Chúng ta đã nói rằng trong cuốn sách này có một vài điểm khác biệt so với cách dịch thông thường của các phẩm tính này. Trong tất cả những điểm khác biệt đó, điểm này là táo bạo nhất—việc trình bày mumukshatva như là Tình thương. Từ này được cấu tạo từ gốc much, “giải phóng hoặc trả tự do”. Trong thân từ mong muốn, gốc từ được lặp lại, và các thay đổi khác xảy ra, để tạo thành mumuksh, “mong muốn giải thoát”. Mumuksha là dạng danh từ, nghĩa là “ham muốn giải thoát”, và mumukshatwa nghĩa là “trạng thái ham muốn giải thoát”. Hậu tố twa có phần mang nghĩa giống như từ ness của chúng ta, như trong “sự hăng hái”. Từ cùng một gốc này cũng nảy sinh từ moksha, “sự cứu độ”, “sự phóng thích”, hoặc “sự giải thoát”. |
|
The question has often been asked whether moksha is the same as nirvana. The words mean different things, but they may be taken as attributes of the same state of being—or rather state beyond what we know as being. Nirvana comes from the root va with the prefix nis, “to blow” or “to blow out”, so it is translated “the blowing out”. Moksha is release from the cycle of births and deaths, and nirvana is the blowing out of that part of man which binds him to that cycle—which means all that men can usually think of as man. Some Hindus think of moksha as a negative condition, and work to destroy all personal desires and human interests, so that neither things nor persons can attract them back to rebirth, and so they win freedom from the wheel of births and deaths for long periods of time, but the conception of most of them is of an indescribable state of happiness, beyond the illusion of separateness, called kaivalya, independence, absolute oneness. Some Buddhists think of nirvana as a complete blotting out of man, but others think of it as the attainment of wisdom and bliss that blots out all previous conceptions of self and experience, because it is superinenarrable. So we see that even in the same religion men hold different views. |
Câu hỏi thường được đặt ra là liệu moksha có giống như Niết Bàn không. Các từ này có nghĩa khác nhau, nhưng chúng có thể được coi là các thuộc tính của cùng một trạng thái bản thể—hay đúng hơn là trạng thái vượt ngoài những gì chúng ta biết là bản thể. Niết Bàn đến từ gốc va với tiền tố nis, “thổi” hoặc “thổi tắt”, vì vậy nó được dịch là “sự thổi tắt”. Moksha là sự giải thoát khỏi vòng sinh tử, và Niết Bàn là sự thổi tắt phần đó của con người vốn trói buộc y vào vòng quay đó—điều có nghĩa là tất cả những gì con người thường có thể nghĩ về con người. Một số người Hindu nghĩ về moksha như một tình trạng tiêu cực, và làm việc để tiêu diệt tất cả các ham muốn cá nhân và các mối quan tâm của con người, để cả đồ vật lẫn con người đều không thể thu hút họ quay lại tái sinh, và do đó họ giành được sự tự do khỏi bánh xe sinh tử trong những khoảng thời gian dài, nhưng quan niệm của hầu hết họ là về một trạng thái hạnh phúc không thể tả xiết, vượt ngoài ảo tưởng về sự chia rẽ, được gọi là kaivalya, sự độc lập, sự hợp nhất tuyệt đối. Một số Phật tử nghĩ về Niết Bàn như một sự xóa sạch hoàn toàn con người, nhưng những người khác nghĩ về nó như là sự đạt được minh triết và phúc lạc vốn xóa sạch tất cả các quan niệm trước đây về bản ngã và kinh nghiệm, bởi vì nó là điều siêu việt không thể diễn tả. Vì vậy, chúng ta thấy rằng ngay cả trong cùng một tôn giáo, con người cũng giữ những quan điểm khác nhau. |
|
We Theosophists sometimes apply the term nirvana to the state of consciousness on the atmic or spiritual plane, but we also speak of nirvana as the condition of those supermen, or Adepts, who have taken the Fifth Initiation, who choose among the seven paths open to them that which resembles the true Buddhist nirvana—not the “blowing-out”, of the Southern Church of Buddhism, but the indescribable rest and bliss of the Northern Church. |
Những nhà Thông Thiên Học chúng ta đôi khi áp dụng thuật ngữ Niết Bàn cho trạng thái tâm thức trên cõi atma hay cõi tinh thần, nhưng chúng ta cũng nói về Niết Bàn như là điều kiện của những siêu nhân, hay các Chân sư, những người đã trải qua lần Điểm đạo thứ năm, những người chọn trong số bảy Thánh Đạo mở ra trước mắt họ Thánh Đạo giống với Niết Bàn Phật giáo thực sự—không phải là “sự thổi tắt” của Giáo hội Phật giáo Nam tông, mà là sự nghỉ ngơi và phúc lạc không thể tả xiết của Giáo hội Bắc tông. |
|
It is the Arhat, he who has passed the Fourth Initiation, who can raise his consciousness to the nirvanic plane, and there experience the flood of life that I have tried to describe in The Inner Life and The Masters and the Path. That consciousness is so much wider than anything that we know down here that one hesitates to call it his consciousness at all. He has become one with a very much greater consciousness; he has lost the sense of being separate. All efforts fail to put these ideas into words because we have not words to express them. |
Chính vị Arhat, người đã vượt qua lần Điểm đạo thứ tư, mới có thể nâng tâm thức của mình lên cõi Niết Bàn, và ở đó trải nghiệm dòng thác sự sống mà tôi đã cố gắng mô tả trong cuốn Đời Sống Bên Trong và Các Chân Sư và Thánh Đạo. Tâm thức đó rộng lớn hơn nhiều so với bất cứ điều gì chúng ta biết dưới đây đến mức người ta ngần ngại không dám gọi đó là tâm thức của y chút nào. Y đã trở nên hợp nhất với một tâm thức vĩ đại hơn nhiều; y đã mất đi cảm giác là một cá thể chia rẽ. Mọi nỗ lực đều thất bại trong việc đưa những ý tưởng này vào ngôn từ vì chúng ta không có từ ngữ để diễn tả chúng. |
|
It is very difficult to get the right shades of meaning in translating Sanskrit books, but he who has had a touch of the nirvanic consciousness will best know what the old writers, who had themselves experienced it, meant by nirvana; the mere lexicographer cannot be expected to give exact meanings to words of that kind. Suppose that a man who knew nothing about the Christian religion tried to understand such a word as “grace”. If he looked it up in the dictionary he would become entangled with words like “graceful” and “gracious” and get quite another meaning. That is so also with “dispensation”, in ecclesiastical language; it is quite a different thing from what it is in ordinary life. Every religion has a number of terms which in process of time come to have their special religious meaning, and unless one has been brought up in that faith, approaching it from the inside, it is not easy to realize the exact shade of thought. In the beginning of the Theosophical movement none of us knew Sanskrit. Madame Blavatsky understood something of the religions of India, but she did not know Pali or Sanskrit. Her method was to describe as well as she could what she herself saw, and then say to any Indian friend who might be present, “What do you call that in your system?” He often did not fully understand her meaning, but he gave her the nearest term he could. The next time she wanted a word she would ask another man, but she never paid any attention to the fact that the first man might be a Hindu and the second a Buddhist—or that the various Hindus might belong to different schools of philosophy. |
Rất khó để có được những sắc thái ý nghĩa đúng đắn khi dịch các sách tiếng Phạn, nhưng người đã có một chút chạm vào tâm thức Niết Bàn sẽ biết rõ nhất những gì các tác giả cổ xưa, những người đã tự mình trải nghiệm nó, muốn nói qua từ Niết Bàn; người làm từ điển đơn thuần không thể được mong đợi đưa ra ý nghĩa chính xác cho những từ loại đó. Giả sử một người không biết gì về Kitô giáo cố gắng hiểu một từ như “ân điển”. Nếu y tra cứu nó trong từ điển, y sẽ bị vướng vào các từ như “duyên dáng” và “nhã nhặn” và có được một ý nghĩa hoàn toàn khác. Điều đó cũng đúng với từ “sự phân phát”, trong ngôn ngữ giáo hội; nó là một điều hoàn toàn khác so với trong đời sống bình thường. Mỗi tôn giáo đều có một số thuật ngữ mà theo thời gian sẽ có ý nghĩa tôn giáo đặc biệt của chúng, và trừ khi người ta được nuôi dưỡng trong đức tin đó, tiếp cận nó từ bên trong, thật không dễ để nhận ra sắc thái tư tưởng chính xác. Trong thời kỳ đầu của phong trào Thông Thiên Học, không ai trong chúng ta biết tiếng Phạn. Bà Blavatsky hiểu đôi chút về các tôn giáo của Ấn Độ, nhưng bà không biết tiếng Pali hay tiếng Phạn. Phương pháp của bà là mô tả tốt nhất có thể những gì chính bà thấy, và sau đó nói với bất kỳ người bạn Ấn Độ nào có thể đang hiện diện: “Bạn gọi điều đó là gì trong hệ thống của bạn?” Người đó thường không hiểu đầy đủ ý nghĩa của bà, nhưng y đã đưa cho bà thuật ngữ gần nhất mà y có thể. Lần tới khi bà muốn một từ, bà sẽ hỏi một người khác, nhưng bà không bao giờ chú ý đến sự thật rằng người thứ nhất có thể là một người Hindu và người thứ hai là một Phật tử—hoặc các người Hindu khác nhau có thể thuộc về các trường phái triết học khác nhau. |
|
In addition to this, Madame Blavatsky was not in the position of a teacher of science, who is expounding a theory which he is illustrating with suitable experiments, brought forward as proofs as he goes along. She was not working with a plan or skeleton, into which one would try to fit every new piece of knowledge. She would make several statements which did not agree as far as words were concerned, and if asked for explanations would say, “Never mind the contradictions. Go and think over the statements.” Her ideas were wonderfully clear, and her knowledge definite. |
Thêm vào đó, bà Blavatsky không ở vị trí của một giáo sư khoa học, người đang trình bày một lý thuyết mà y đang minh họa bằng các thí nghiệm phù hợp, được đưa ra làm bằng chứng khi y tiến hành. Bà không làm việc với một kế hoạch hay bộ khung mà người ta sẽ cố gắng lắp ghép mọi mẩu kiến thức mới vào đó. Bà sẽ đưa ra vài tuyên bố vốn không thống nhất về mặt từ ngữ, và nếu được yêu cầu giải thích, bà sẽ nói: “Đừng bận tâm đến những mâu thuẫn. Hãy đi và suy nghĩ về các tuyên bố đó.” Các ý tưởng của bà rõ ràng một cách kỳ diệu, và kiến thức của bà rất dứt khoát. |
|
Hers was the opposite method of working to that of our day, when words are first defined very carefully and given fixed meanings. Often, it is to be feared, the result of that is that science and philosophy become a kind of game, like chess, where the moves that a piece can make are strictly prescribed. With her, words were living things—thought-forms on the physical plane, as it were—used as a means to awaken in the hearer’s mind the knowledge already existing in her own. |
Phương pháp làm việc của bà trái ngược với phương pháp của thời đại chúng ta, khi các từ ngữ trước tiên được định nghĩa rất cẩn thận và được gán cho những ý nghĩa cố định. Thường thì, điều đáng lo ngại là kết quả của việc đó là khoa học và triết học trở thành một loại trò chơi, như cờ vua, nơi các nước đi mà một quân cờ có thể thực hiện được quy định nghiêm ngặt. Với bà, từ ngữ là những thực thể sống—những hình tư tưởng trên cõi hồng trần, có thể nói như vậy—được sử dụng như một phương tiện để đánh thức trong tâm trí người nghe kiến thức đã tồn tại trong chính bà. |
|
If we wish to understand all the complicated relationship between the ego and the personality, we must first of all have a clear idea in our mind of what these things respectively are. This matter has been dealt with at great length in Theosophical literature both in the earlier days of the Society’s teaching and also quite recently.. I have said something about it in The Masters and the Path. Putting it very briefly and crudely, let it be understood that we can think of man as existing in the three divisions which S. Paul used long ago—body, soul and spirit. The corresponding Theosophical terms would be the personality, the individuality and the Monad. The Monad is definitely divine—a spark of the eternal flame—to all intents and purposes a part of God Himself. It is of course true in the highest sense that everything is a part of God—that there is nothing which is not He; and that is true of matter as well as of spirit. Nevertheless there is a very special sense in which the Monad may be thought of as a fragment of the Deity coming down into manifestation. I know quite well that is unphilosophical, unscientific, inaccurate to speak of a fragment of that which is indivisible; but there are no words to express the conditions of higher planes, so that whatever we say must be utterly inadequate and therefore to some extent misleading. Some writers who have tried to express these relations have spoken of the Monad as a reflection of the Logos, the ego in turn as a reflection of the Monad, and the personality as representing the ego in a similar way. There is a sense in which that expression has its advantages, and yet it seems to me to give somewhat less of the true relation than this other suggestion—that the Monad may be considered as a fragment of the Deity, the ego a fragment of the Monad, and the personality in its turn a fragment of the ego. |
Nếu chúng ta muốn hiểu tất cả mối quan hệ phức tạp giữa chân ngã và phàm ngã, trước hết chúng ta phải có một ý tưởng rõ ràng trong tâm trí về việc những thứ này tương ứng là gì. Vấn đề này đã được đề cập rất chi tiết trong văn liệu Thông Thiên Học cả trong những ngày đầu của giáo lý của Hội và cũng khá gần đây. Tôi đã nói đôi điều về nó trong cuốn Các Chân Sư và Thánh Đạo. Nói một cách rất ngắn gọn và thô sơ, hãy hiểu rằng chúng ta có thể nghĩ về con người như tồn tại trong ba phần mà Thánh Paul đã sử dụng từ lâu—thể xác, linh hồn và tinh thần. Các thuật ngữ Thông Thiên Học tương ứng sẽ là phàm ngã, cá tính và Chân thần. Chân thần rõ ràng là thiêng liêng—một tia lửa của ngọn lửa vĩnh cửu—về mọi ý nghĩa và mục đích là một phần của chính Thượng đế. Dĩ nhiên đúng theo nghĩa cao nhất là mọi thứ đều là một phần của Thượng đế—rằng không có gì không phải là Ngài; và điều đó đúng với vật chất cũng như với tinh thần. Tuy nhiên, có một ý nghĩa rất đặc biệt trong đó Chân thần có thể được coi là một mảnh của Thượng đế đi xuống biểu hiện. Tôi biết rất rõ rằng thật phi triết học, phi khoa học, không chính xác khi nói về một mảnh của cái vốn không thể chia cắt; nhưng không có từ ngữ nào để diễn tả các điều kiện của các cõi cao hơn, vì vậy bất cứ điều gì chúng ta nói cũng đều hoàn toàn không thỏa đáng và do đó ở một mức độ nào đó gây hiểu lầm. Một số tác giả đã cố gắng diễn đạt các mối quan hệ này đã nói về Chân thần như một sự phản chiếu của Thượng đế, chân ngã đến lượt nó là một sự phản chiếu của Chân thần, và phàm ngã đại diện cho chân ngã theo một cách tương tự. Có một ý nghĩa trong đó cách diễn đạt đó có những ưu điểm của nó, và tuy nhiên đối với tôi nó dường như đưa ra ít hơn về mối quan hệ thực sự so với gợi ý khác này—rằng Chân thần có thể được coi là một mảnh của Thượng đế, chân ngã là một mảnh của Chân thần, và phàm ngã đến lượt nó là một mảnh của chân ngã. |
|
As part of the eternal unfoldment it has pleased the Logos of our system to project from Himself a vast host of these Monads. If we may use the simile with all reverence, they are thrown forth from Him as sparks in order that after their passage through various material planes they may return to Him as great and glorious suns, each capable of giving life and light to a magnificent system, through which and by means of which millions of other Monads may in turn develop. |
Như một phần của sự khai mở vĩnh cửu, Thượng đế của hệ thống chúng ta đã hài lòng khi phóng chiếu từ chính Ngài một đạo quân khổng lồ gồm các Chân thần này. Nếu chúng ta có thể sử dụng phép so sánh với tất cả sự tôn kính, họ được ném ra từ Ngài như những tia lửa để sau khi đi qua các cõi vật chất khác nhau, họ có thể quay trở lại với Ngài như những mặt trời vĩ đại và vinh quang, mỗi mặt trời có khả năng ban tặng sự sống và ánh sáng cho một hệ thống huy hoàng, thông qua đó và bằng phương tiện đó hàng triệu Chân thần khác đến lượt mình có thể phát triển. |
|
The stupendous height from which this divine manifestation which we call a Monad originally comes cannot be measured in terms of any planes of which we know anything; but the lowest point which the Monad appears able to reach in his outrush is that which for that very reason we call the Monadic plane. It will be remembered that according to our great President’s nomenclature the highest of the seven planes about which we are taught is called the divine, the second (coming downwards) being the monadic, the third the spiritual, and the fourth the intuitional. A still further descent into matter is necessary that the purposes of the Logos may be achieved. The Monad as a whole appears to be incapable of further descent, but it can and does put forth what we must call a part or fragment of himself which is capable of descending to the upper part of the mental plane. On the way down this fragment so put forth manifests itself on the spiritual or nirvanic plane as the triple atma. Of that triple spirit the first manifestation remains on that plane, while the second descends to the intuitional plane and clothes itself in buddhic matter. The third aspect or manifestation descends one plane more and resides in the higher part of the mental plane, where we call it the higher manas. Thus the ego (which is the name given to this fragment put down by the Monad) consists of atma, buddhi and manas, which we represent somewhat inadequately in English by the terms spiritual will, intuitional wisdom and active intelligence. |
Tầm cao phi thường mà từ đó sự biểu hiện thiêng liêng này mà chúng ta gọi là một Chân thần ban đầu xuất phát không thể được đo lường bằng thuật ngữ của bất kỳ cõi nào mà chúng ta biết; nhưng điểm thấp nhất mà Chân thần dường như có thể đạt tới trong sự tuôn trào của mình là điểm mà chính vì lý do đó chúng ta gọi là cõi Chân thần. Cần lưu ý rằng theo thuật ngữ của vị Chủ tịch vĩ đại của chúng ta, cõi cao nhất trong bảy cõi mà chúng ta được dạy được gọi là cõi thiêng liêng, cõi thứ hai (đi xuống dưới) là cõi Chân thần, cõi thứ ba là cõi tinh thần, và cõi thứ tư là cõi bồ đề. Một sự giáng hạ sâu hơn nữa vào vật chất là cần thiết để các mục đích của Thượng đế có thể đạt được. Chân thần như một tổng thể dường như không có khả năng giáng hạ thêm nữa, nhưng Ngài có thể và thực sự đưa ra cái mà chúng ta phải gọi là một phần hoặc một mảnh của chính mình vốn có thể giáng hạ xuống phần trên của cõi trí. Trên đường đi xuống, mảnh được đưa ra này tự biểu hiện trên cõi tinh thần hay cõi Niết Bàn như là atma tam phân. Trong tinh thần tam phân đó, biểu hiện đầu tiên vẫn ở trên cõi đó, trong khi biểu hiện thứ hai giáng hạ xuống cõi bồ đề và khoác lên mình chất liệu bồ đề. Phương diện hoặc biểu hiện thứ ba giáng hạ thêm một cõi nữa và trú ngụ ở phần cao của cõi trí, nơi chúng ta gọi nó là thượng trí. Như vậy chân ngã (vốn là cái tên được đặt cho mảnh này được Chân thần đưa xuống) bao gồm atma, bồ đề và manas, mà chúng ta đại diện một cách hơi không thỏa đáng trong tiếng Anh bằng các thuật ngữ ý chí tinh thần, minh triết trực giác và trí tuệ hoạt động. |
|
The ego in his turn puts down a minute fragment of himself through the lower mental and the astral planes and eventually manifests himself in a physical body. Each of these successive descents is a quite indescribable limitation, so that the man whom we meet down here on the physical plane is at the best a fragment of a fragment, and as an expression of the real man is so inadequate as to furnish us with nothing even remotely resembling a conception of what that man will be at the end of his evolution. |
Chân ngã đến lượt mình đưa xuống một mảnh nhỏ của chính mình thông qua các cõi hạ trí và cõi cảm dục và cuối cùng tự biểu hiện trong một thể xác. Mỗi lần giáng hạ liên tiếp này là một sự giới hạn hoàn toàn không thể tả xiết, đến nỗi con người mà chúng ta gặp dưới đây trên cõi hồng trần tốt nhất cũng chỉ là một mảnh của một mảnh, và như một sự biểu hiện của con người thực sự thì nó không thỏa đáng đến mức không cung cấp cho chúng ta bất cứ điều gì thậm chí từ xa giống như một quan niệm về việc con người đó sẽ như thế nào vào cuối cuộc tiến hóa của mình. |
|
The egos with whom we have to do in daily life are at different stages of this incredibly prolonged evolution. In all cases the ego exists primarily on his own plane, which as we have said is the higher part of our mental plane. At that level quite apart from his manifestation as a personality, he may be already wide awake, conscious of his surroundings and Jiving an active life; or on the other hand he may be somnolent, almost entirely unconscious of his surroundings and therefore capable of experiencing anything like an active life only through his personality on much lower levels. As man raises his consciousness through the various planes he finds the vibrations on each one far more rapid than on that next below it. When we speak of the ego as developed on his own plane we mean that he is able fully to respond to all the vibrations of that plane; if he is not so conscious then these very rapid vibrations pass over him without affecting him, and in order to attain consciousness he must put himself down lower and draw round himself a vehicle of the matter of a grosser plane to whose vibrations he can already respond. By much practice in that lower plane he will gradually grow to be able to respond to its higher vibrations and then very slowly and by degrees to the vibrations of the plane next above it; so that the consciousness has to work its way up level by level. |
Các chân ngã mà chúng ta tiếp xúc trong đời sống hàng ngày đang ở những giai đoạn khác nhau của cuộc tiến hóa kéo dài đến khó tin này. Trong mọi trường hợp, chân ngã tồn tại chủ yếu trên cõi của chính mình, vốn như chúng ta đã nói là phần cao của cõi trí của chúng ta. Ở cấp độ đó, hoàn toàn tách biệt khỏi biểu hiện của mình như một phàm ngã, y có thể đã hoàn toàn tỉnh thức, ý thức được môi trường xung quanh và sống một cuộc đời hoạt động; hoặc mặt khác y có thể đang ngủ lịm, gần như hoàn toàn không ý thức được môi trường xung quanh và do đó chỉ có khả năng trải nghiệm bất cứ điều gì giống như một cuộc đời hoạt động thông qua phàm ngã của mình ở các cấp độ thấp hơn nhiều. Khi con người nâng tâm thức của mình qua các cõi khác nhau, y thấy các rung động trên mỗi cõi nhanh hơn nhiều so với cõi ngay bên dưới nó. Khi chúng ta nói về chân ngã như được phát triển trên cõi của chính mình, chúng ta muốn nói rằng y có thể đáp ứng đầy đủ với tất cả các rung động của cõi đó; nếu y không có ý thức như vậy thì chính những rung động rất nhanh này đi qua y mà không ảnh hưởng đến y, và để đạt được tâm thức, y phải đưa mình xuống thấp hơn và bao quanh mình một vận cụ bằng chất liệu của một cõi thô hơn mà y đã có thể đáp ứng với các rung động của nó. Bằng cách thực hành nhiều trong cõi thấp đó, y sẽ dần dần lớn lên để có thể đáp ứng với các rung động cao hơn của nó và rồi rất chậm chạp và từng bước một đáp ứng với các rung động của cõi ngay bên trên nó; vì vậy tâm thức phải nỗ lực tiến lên từng cấp độ một. |
|
His consciousness therefore in the personality should be reaching upwards all the while towards the ego; and when the consciousness of the ego is by this means fully developed, he in his turn will begin to reach upwards towards the Monad. The whole course of the movement downwards into matter is called in India the pravritti Marga or the path of outgoing. When the lowest point necessary has been reached the man enters upon the nivritti marga or the path of return. He returns from his day’s work of harvesting, bearing his sheaves with him in the shape of the fully awakened consciousness which enables him to be far more useful on those higher levels than he could have been before his descent into matter. On this path there is always the temptation for that lower part of the ego to forget its connection with the higher, and to identify itself entirely with the lower manifestation which is so much more vivid to it, and in that way to cut itself off from the higher and as it were to set up in business in the lower world on its own account. Presumably the ego himself as part of the Monad is liable to a similar temptation on his very much higher plane; but we are for the moment dealing with the relations between the ego and his personality; and furthermore we are viewing it from the point of view of the personality looking up towards the ego and trying to become one with him. |
Do đó, tâm thức của y trong phàm ngã phải luôn luôn hướng thượng về phía chân ngã; và khi tâm thức của chân ngã đã được phát triển đầy đủ bằng phương cách này, đến lượt mình, y sẽ bắt đầu hướng thượng về phía Chân thần. Toàn bộ tiến trình vận động đi xuống vào vật chất được gọi ở Ấn Độ là pravritti Marga hay Thánh Đạo giáng hạ. Khi đã chạm đến điểm thấp nhất cần thiết, con người bước vào nivritti marga hay Thánh Đạo trở về. Y trở về từ công việc thu hoạch của một ngày, mang theo những bó lúa của mình dưới hình thức một tâm thức đã thức tỉnh hoàn toàn, điều này giúp y trở nên hữu dụng hơn nhiều trên những cõi cao đó so với trước khi giáng hạ vào vật chất. Trên Thánh Đạo này, phần thấp thỏi của chân ngã luôn bị cám dỗ quên đi sự kết nối với phần cao hơn, và đồng hoá mình hoàn toàn với sự biểu hiện thấp thỏi vốn sống động hơn nhiều đối với nó, và theo cách đó, nó tự cắt đứt khỏi phần cao hơn và tự mình thiết lập hoạt động trong thế giới thấp vì lợi ích riêng của nó. Có lẽ chính chân ngã, với tư cách là một phần của Chân thần, cũng dễ bị một sự cám dỗ tương tự trên cõi cao hơn nhiều của Ngài; nhưng hiện tại chúng ta đang bàn đến mối quan hệ giữa chân ngã và phàm ngã của y; và hơn nữa, chúng ta đang nhìn nhận điều đó từ quan điểm của phàm ngã đang hướng lên chân ngã và cố gắng trở nên hợp nhất với Ngài. |
|
The ego has associated himself with the personality because he has a hunger, or thirst, for vivid experience. He is undeveloped on his own plane, unable to respond to the high vibrations of that region; the slower vibrations of the lower planes mean more to him, so he comes back again and again for them. As he develops, the hunger abates little by little, and sometimes when he is advanced and has become sensitive to the delights and activities of his own plane, he goes to the other extreme of neglecting his personality—caught as it is in the grip of karma, sunk in conditions which are now full of sorrow or of boredom for him because he feels he has outgrown them. |
Chân ngã đã liên kết với phàm ngã vì Ngài có một sự khao khát, hoặc thèm khát những trải nghiệm sống động. Ngài chưa phát triển trên cõi giới của chính mình, không thể đáp ứng với những rung động cao của vùng đó; những rung động chậm hơn của các cõi thấp có ý nghĩa hơn đối với Ngài, vì vậy Ngài trở lại đó hết lần này đến lần khác vì chúng. Khi Ngài phát triển, sự khao khát giảm bớt dần dần, và đôi khi khi Ngài đã tiến bộ và trở nên nhạy cảm với những niềm vui lạc và hoạt động trên cõi giới của chính mình, Ngài lại đi đến một thái cực khác là bỏ mặc phàm ngã của mình—vốn đang bị kẹt trong sự kìm kẹp của nghiệp quả, chìm đắm trong những điều kiện mà giờ đây đầy rẫy nỗi buồn hoặc sự chán nản đối với Ngài vì Ngài cảm thấy mình đã vượt xa chúng. |
|
This diminution of his thirst for the lower planes has taken place as he developed his personality. When he gained full consciousness on the astral plane the physical life began to appear dull by comparison; reaching the lower mental world he found the astral dark and dismal; and all three of the lower levels lost their attraction when he began to be able to enjoy the still more vivid and luminous life of the causal body. Many-people have reached the point of evolution at which they can travel about and do useful work on the astral plane during sleep. All students of occultism have their astral bodies well developed and ready for use, though many of them have not yet acquired the habit of using them. The lowest part of the mental vehicle is also in order, and is ready to come into activity; regular meditation develops this and brings it under control. At this stage the man may be taught to use that body, and he can then leave his astral with the physical vehicle during sleep. When this has been accomplished, the process is repeated at the causal level, and the ego is then awake and active on his own plane. |
Sự giảm bớt lòng thèm khát đối với các cõi thấp này đã diễn ra khi Ngài phát triển phàm ngã của mình. Khi Ngài đạt được tâm thức đầy đủ trên cõi cảm dục, đời sống hồng trần bắt đầu trở nên tẻ nhạt khi so sánh; khi chạm đến thế giới hạ trí, Ngài thấy cõi cảm dục thật tối tăm và u sầu; và cả ba cõi thấp đều mất đi sự hấp dẫn khi Ngài bắt đầu có thể tận hưởng đời sống còn sống động và rực rỡ hơn nữa của thể nguyên nhân. Nhiều người đã đạt đến điểm tiến hoá mà tại đó họ có thể du hành và làm những công việc hữu ích trên cõi cảm dục trong khi ngủ. Tất cả các đạo sinh huyền bí học đều có các thể cảm dục phát triển tốt và sẵn sàng để sử dụng, mặc dù nhiều người trong số họ vẫn chưa có thói quen sử dụng chúng. Phần thấp nhất của vận cụ trí tuệ cũng đã ổn định và sẵn sàng đi vào hoạt động; việc tham thiền đều đặn phát triển điều này và đưa nó dưới sự kiểm soát. Ở giai đoạn này, con người có thể được dạy cách sử dụng thể đó, và sau đó y có thể để lại thể cảm dục cùng với vận cụ hồng trần trong khi ngủ. Khi điều này đã được hoàn tất, tiến trình được lặp lại ở cấp độ nguyên nhân, và chân ngã khi đó thức tỉnh và hoạt động trên cõi giới của chính mình. |
|
All the lower vehicles are temporary vestures which we put on in order to learn how to use the forces of their planes, and when we have done that completely, and the ego is working perfectly in his causal body, which happens at the Fourth Initiation, there is no need to incarnate again at those levels. Having triumphed over them, a man can at any moment materialize a temporary astral and mental body, show himself on those planes and do what he wants to do. One who has reached this stage need no longer go through the wearisome round of birth and death, which is so unpleasant. Perhaps we do not always think of it as so unpleasant, because we do get a little enjoyment out of life; true, but if we could look at it from the standpoint of the ego we should realize what an unspeakable bore it is to the eternal spirit to be down here “cribb’d, cabin’d and confin’d” in a body that cannot do this and will not do that. While we are in it we make the best of it, but it is only a temporary vehicle put on for the purpose of learning, and when we have learned the lesson we are very glad to get rid of the whole thing. |
Tất cả các hiện thể thấp đều là những lớp áo tạm thời mà chúng ta mặc vào để học cách sử dụng các mãnh lực của các cõi đó, và khi chúng ta đã làm điều đó một cách trọn vẹn, và chân ngã đang hoạt động hoàn hảo trong thể nguyên nhân của mình, điều xảy ra tại lần điểm đạo thứ tư, thì không cần phải lâm phàm ở những cấp độ đó nữa. Sau khi đã chiến thắng chúng, một người có thể vào bất kỳ lúc nào hiện hình một thể cảm dục và thể trí tạm thời, xuất hiện trên các cõi đó và làm những gì y muốn làm. Người đã đạt đến giai đoạn này không còn cần phải trải qua vòng luân hồi sinh tử mệt mỏi và khó chịu như vậy nữa. Có lẽ chúng ta không luôn nghĩ về nó như một điều khó chịu, bởi vì chúng ta thực sự có được một chút tận hưởng từ cuộc sống; đúng vậy, nhưng nếu chúng ta có thể nhìn nó từ quan điểm của chân ngã, chúng ta sẽ nhận ra rằng đó là một sự chán chường không thể tả xiết đối với tinh thần vĩnh cửu khi phải ở dưới đây, bị “giam hãm, nhốt kín và hạn chế” trong một thể xác không thể làm điều này và sẽ không làm điều kia. Trong khi chúng ta ở trong đó, chúng ta cố gắng làm tốt nhất có thể, nhưng nó chỉ là một vận cụ tạm thời được mặc vào vì mục đích học hỏi, và khi chúng ta đã học xong bài học, chúng ta rất vui mừng được rũ bỏ toàn bộ sự việc. |
|
The man who has had some experience of the causal levels sometimes feels very deeply the oppressive limitations of the three lower worlds. He misses all the glorious freedom and love and truth of the ego’s own regions. He realizes the cause of his descent into this state of darkness, and may then say to himself: “I will rid myself of this desire, which is the primary cause bringing me down into incarnation, and I will balance my karma by acting without attachment.” The man who can say this is already a developed man, who has thought a good deal about these things; he is a metaphysician and a philosopher. He says deliberately: “I will shut off this desire; I will balance the karma accurately, and then there will be nothing to bring me back.” That can be done. When he succeeds—and there have been many in India, all though its history, who have succeeded in doing it—the man escapes from this round of births and deaths. He lives in the heaven-world, or perhaps he may reach the causal level; but he does not, as a rule, rise any higher than that. He has attained what he would call moksha. |
Người đã có một số kinh nghiệm về các cấp độ nguyên nhân đôi khi cảm thấy rất sâu sắc những giới hạn áp chế của ba cõi thấp. Y nhớ tất cả sự tự do huy hoàng, tình thương và sự thật của các vùng miền của chính chân ngã. Y nhận ra nguyên nhân của việc mình giáng hạ vào trạng thái tối tăm này, và khi đó có thể tự nói với mình rằng: “Tôi sẽ rũ bỏ ham muốn này, vốn là nguyên nhân chính yếu đưa tôi xuống lâm phàm, và tôi sẽ quân bình nghiệp quả của mình bằng cách hành động mà không dính mắc.” Người có thể nói điều này đã là một người phát triển, người đã suy nghĩ rất nhiều về những điều này; y là một nhà siêu hình học và một triết gia. Y nói một cách thận trọng: “Tôi sẽ dập tắt ham muốn này; tôi sẽ quân bình nghiệp quả một cách chính xác, và khi đó sẽ không còn gì để đưa tôi trở lại.” Điều đó có thể làm được. Khi y thành công—và đã có nhiều người ở Ấn Độ, trong suốt lịch sử của nó, đã thành công trong việc làm điều đó—con người thoát khỏi vòng sinh tử này. Y sống trong cõi thượng thiên, hoặc có lẽ y có thể đạt đến cấp độ nguyên nhân; nhưng theo quy luật, y không thăng lên cao hơn thế. Y đã đạt được cái mà y gọi là moksha. |
|
The man who can do that must be a man who has raised himself above all lower passions and desires, otherwise the thing would be impossible, but all the same he has forgotten one side of evolution. He has understood the action of the law of karma perfectly, and therefore he has been able to release himself from: it. But he has not learned perfectly the law of evolution and he has not freed himself from that. He is like a clever boy at school, who might get far ahead of his companions and take several examinations in advance, and then do nothing for three or four years while the others were coming up to his level. That is precisely what happens to the man who attains moksha; he has not attained the goal which is set for humanity, because the evolution of humanity ends in Adeptship. |
Người có thể làm được điều đó phải là người đã tự nâng mình lên trên tất cả các đam mê và ham muốn thấp kém, nếu không thì điều đó sẽ là bất khả thi, nhưng đồng thời y cũng đã quên mất một khía cạnh của sự tiến hoá. Y đã thấu hiểu hoạt động của định luật nghiệp quả một cách hoàn hảo, và do đó y đã có thể giải thoát mình khỏi nó. Nhưng y đã không học hỏi một cách hoàn hảo định luật tiến hoá và y đã không giải thoát mình khỏi điều đó. Y giống như một cậu bé thông minh ở trường, người có thể vượt xa các bạn đồng trang lứa và thực hiện vài kỳ thi trước, và sau đó không làm gì trong ba hoặc bốn năm trong khi những người khác đang tiến lên cấp độ của y. Đó chính xác là những gì xảy ra với người đạt được moksha; y đã không đạt được mục tiêu đã được đặt ra cho nhân loại, bởi vì sự tiến hoá của nhân loại kết thúc ở địa vị Chân sư. |
|
Now, an Adept is not only a man, free from birth and death, but he is also a living power; he has become one with the Monad, who is, in turn, a spark of the Deity. But the method of the Deity is to put Himself down, to pour Himself out in utter self-sacrifice into this whole plan. Therefore the man who becomes one with the Deity must be also filled with this spirit of self-sacrifice. The Adept does more good works than the greatest philanthrophist could possibly do, and is doing them all the time on higher planes, but He does them on behalf of the humanity of which He is a part. Therefore the karma resulting from them comes to humanity and not to Him, so there is nothing to bind Him to rebirth; but the whole of humanity gets a little uplift. It is not a great uplift; that amount of karma spread all over the world is not a very large amount for anyone, but it does mean a steady uplift for all. Therefore, in a sense, everyone gets just a little more than he may appear exactly to deserve. There is no injustice in this, however, because like the rain that falls on the just and the unjust, it is the same for everyone. |
Giờ đây, một Chân sư không chỉ là một người thoát khỏi sinh tử, mà Ngài còn là một quyền năng sống động; Ngài đã trở nên hợp nhất với Chân thần, Đấng đến lượt mình lại là một tia sáng của Thượng đế. Nhưng phương cách của Thượng đế là hạ mình xuống, tuôn đổ chính mình trong sự hy sinh hoàn toàn vào toàn bộ thiên cơ này. Do đó, người trở nên hợp nhất với Thượng đế cũng phải tràn đầy tinh thần hy sinh này. Chân sư làm nhiều công việc thiện lành hơn cả nhà từ thiện vĩ đại nhất có thể làm, và Ngài đang làm chúng mọi lúc trên các cõi cao, nhưng Ngài làm chúng thay mặt cho nhân loại mà Ngài là một phần trong đó. Do đó, nghiệp quả dẫn đến từ chúng đến với nhân loại chứ không phải đến với Ngài, vì vậy không có gì ràng buộc Ngài với sự tái sinh; nhưng toàn bộ nhân loại nhận được một chút sự nâng đỡ. Đó không phải là một sự nâng đỡ lớn lao; lượng nghiệp quả đó lan toả khắp thế giới không phải là một lượng rất lớn cho bất kỳ ai, nhưng nó có nghĩa là một sự nâng đỡ ổn định cho tất cả. Do đó, theo một nghĩa nào đó, mọi người đều nhận được nhiều hơn một chút so với những gì y có vẻ xứng đáng một cách chính xác. Tuy nhiên, không có sự bất công nào trong điều này, bởi vì giống như cơn mưa rơi xuống người công chính và kẻ bất lương, nó đều như nhau cho mọi người. |
|
Therefore, after the lapse of thousands or even millions of years the man who has attained moksha finds that the tide of evolution has risen to his level and laps round him once more, and he has to come back and be reborn, and proceed with his development. He who seeks moksha generally knows that his liberation is not for ever, but he thinks that he will be called back in a remote future, and the world will probably be better by the time he has to return. He says: “I can afford to risk that; I shall gain thousands of years of freedom and be all that time in the heaven-world enjoying myself.” |
Vì vậy, sau khoảng thời gian hàng ngàn hoặc thậm chí hàng triệu năm, người đã đạt được moksha thấy rằng làn sóng tiến hoá đã dâng cao đến cấp độ của y và bao quanh y một lần nữa, và y phải trở lại và tái sinh, và tiếp tục sự phát triển của mình. Người tìm kiếm moksha thường biết rằng sự giải thoát của mình không phải là mãi mãi, nhưng y nghĩ rằng mình sẽ được gọi trở lại trong một tương lai xa xôi, và thế giới có lẽ sẽ tốt đẹp hơn vào thời điểm y phải trở lại. Y nói: “Tôi có thể mạo hiểm điều đó; tôi sẽ có được hàng ngàn năm tự do và dành toàn bộ thời gian đó trong cõi thượng thiên để tận hưởng.” |
|
Our ideal is perfect consciousness on the highest level we can reach. We do not propose to rest satisfied at any level whatever. But on the other hand, we decline to give up our consciousness and go into trance, as some people do for the purpose of reaching a level beyond the scope of their waking consciousness. People talk sometimes about “passing into samudhi”, and some, who are fond of the rolling Sanskrit, talk of going into samadhi when they meditate. We were in much confusion as to the meaning of this word, until we realized that it was a relative term. Samadhi for anyone is the point which is just beyond that at which it is possible for him to retain his clear consciousness. If one is conscious on the astral and not on the mental, then for him samadhi would be the next level—the mental. It is to get just beyond the point where one can be conscious, to pass into a sort of trance from which one emerges with all sorts of glorified and beautiful feeling, but not generally with clear consciousness. People should not go into samadhi when they meditate; they should retain their consciousness, so that when they come back they can remember what they have seen. I know that many have passed into samadhi and have experienced a great feeling of happiness and beatitude. That, however, does not mean progress, because they lose hold and do not know clearly what they have been doing. There is always a certain danger in that—one does not know that he will be able to return. |
Lý tưởng của chúng ta là tâm thức hoàn hảo trên cấp độ cao nhất mà chúng ta có thể đạt tới. Chúng ta không có ý định dừng lại hài lòng ở bất kỳ cấp độ nào. Nhưng mặt khác, chúng ta từ chối từ bỏ tâm thức của mình và đi vào trạng thái xuất thần, như một số người làm vì mục đích đạt đến một cấp độ vượt ngoài phạm vi tâm thức tỉnh táo của họ. Đôi khi người ta nói về việc “đi vào samadhi“, và một số người, vốn thích những từ tiếng Phạn vang dội, nói về việc đi vào samadhi khi họ tham thiền. Chúng ta đã rất bối rối về ý nghĩa của từ này, cho đến khi chúng ta nhận ra rằng đó là một thuật ngữ tương đối. Samadhi đối với bất kỳ ai là điểm vừa vượt ra ngoài điểm mà y có thể duy trì tâm thức rõ ràng của mình. Nếu một người có tâm thức trên cõi cảm dục mà không có trên cõi trí, thì đối với y samadhi sẽ là cấp độ tiếp theo—cõi trí. Đó là việc đạt đến điểm vừa vượt quá nơi người ta có thể có tâm thức, để chuyển sang một loại trạng thái xuất thần mà từ đó người ta hiện ra với đủ loại cảm giác huy hoàng và đẹp đẽ, nhưng thường không có tâm thức rõ ràng. Mọi người không nên đi vào samadhi khi họ tham thiền; họ nên duy trì tâm thức của mình, để khi trở lại họ có thể nhớ những gì họ đã thấy. Tôi biết rằng nhiều người đã đi vào samadhi và đã trải nghiệm một cảm giác hạnh phúc và phúc lạc to lớn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là sự tiến bộ, bởi vì họ mất đi sự kiểm soát và không biết rõ mình đã làm gì. Luôn có một mối nguy hiểm nhất định trong đó—người ta không biết liệu mình có thể trở lại hay không. |
|
Dr. Besant and I were once watching some tremendous outpourings of life from the higher planes, great waves that came pulsating forth from the Solar Deity. She said: “Let us throw ourselves into that wave, and see where it takes us.” We should have plunged in had her Master not intervened, and told us not to do it. Afterwards Dr. Besant asked Him, “if we had thrown ourselves into that wave, where should we have found ourselves?” He said, “You might have washed up in a million years or so somewhere on Sirius or some other solar system.” Manifestly it is not wise to throw ourselves into outpourings of that sort, when we do not know exactly what is happening. It is not a good plan to lose consciousness; it is much better to try to keep control of our vehicles and see a little bit where we are going—otherwise we may lose the physical body and end our temporary usefulness. Our method is to keep full consciousness on any plane that we can reach, and try to be of use on that plane. Our Masters never speak of mere passive contemplation. Our aim is not to sit down and enjoy ourselves anywhere, but to be active in the Master’s work at all times. |
Bà Besant và tôi đã từng quan sát một số sự tuôn đổ sự sống khổng lồ từ các cõi cao, những làn sóng lớn rung động tuôn ra từ Thái dương Thượng đế. Bà nói: “Chúng ta hãy ném mình vào làn sóng đó, và xem nó đưa chúng ta đến đâu.” Chúng tôi lẽ ra đã lao vào nếu Chân sư của bà không can thiệp và bảo chúng tôi đừng làm vậy. Sau đó, Bà Besant hỏi Ngài, “nếu chúng tôi đã ném mình vào làn sóng đó, chúng tôi sẽ thấy mình ở đâu?” Ngài nói, “Các bạn có thể đã bị dạt đi trong một triệu năm hoặc lâu hơn ở đâu đó trên sao Sirius hoặc một hệ mặt trời nào khác.” Rõ ràng là không khôn ngoan khi ném mình vào những sự tuôn đổ loại đó, khi chúng ta không biết chính xác điều gì đang xảy ra. Việc mất tâm thức không phải là một kế hoạch tốt; tốt hơn nhiều là cố gắng giữ quyền kiểm soát các vận cụ của mình và xem một chút chúng ta đang đi đâu—nếu không chúng ta có thể mất thể xác và chấm dứt sự hữu dụng tạm thời của mình. Phương pháp của chúng ta là giữ tâm thức đầy đủ trên bất kỳ cõi giới nào mà chúng ta có thể đạt tới, và cố gắng trở nên hữu dụng trên cõi giới đó. Các Chân sư của chúng ta không bao giờ nói về sự chiêm ngưỡng thụ động thuần túy. Mục tiêu của chúng ta không phải là ngồi xuống và tận hưởng chính mình ở bất cứ đâu, mà là tích cực trong công việc của Chân sư vào mọi lúc. |
|
This paraphrase that the Master has given of the fourth qualification, Love, is eminently characteristic of Him. He goes behind the word itself to the reason for it. He says: “What is your reason for wanting liberation? In order that you may be free to help better, you are trying to make yourself one with God. What is this God? God is Love. You must develop Love if you want to be one with Him. Therefore this qualification is in reality Love.” Readers of Man: Whence, How and Whither will remember how it explains that different bodies of people came over from the other chains to this, and how certain of those groups of people were spoken of as boat-loads of servers. Practically all members of the Theosophical Society belong to one of those groups; so this idea of service is a very strong factor in our dispositions. We know how hard it is to get away from anything with which we are born. Our nationality, for example, carries with it many little points of view, very difficult to avoid. That is the nationality of the personality; but this idea of service we may call the nationality of the ego, or perhaps of the Monad. He was born with that streak in him, and it has been cultivated ever since. |
Lời diễn giải này mà Chân sư đã đưa ra về phẩm tính thứ tư, Tình thương, là đặc điểm nổi bật của Ngài. Ngài đi sâu vào phía sau chính từ ngữ đó để tìm lý do cho nó. Ngài nói: “Lý do của bạn để muốn giải thoát là gì? Để bạn có thể tự do giúp đỡ tốt hơn, bạn đang cố gắng làm cho mình hợp nhất với Thượng đế. Thượng đế này là gì? Thượng đế là Tình thương. Bạn phải phát triển Tình thương nếu bạn muốn hợp nhất với Ngài. Do đó, phẩm tính này thực chất là Tình thương.” Độc giả của cuốn Con người: Từ đâu, Như thế nào và Đến đâu sẽ nhớ cách nó giải thích rằng các nhóm người khác nhau đã từ các dãy khác chuyển sang dãy này, và cách một số nhóm người đó được nói đến như những con thuyền chở những người phụng sự. Hầu như tất cả các thành viên của Hội Thông Thiên Học đều thuộc về một trong những nhóm đó; vì vậy ý tưởng phụng sự này là một yếu tố rất mạnh mẽ trong khuynh hướng của chúng ta. Chúng ta biết việc thoát khỏi bất cứ điều gì mà chúng ta sinh ra cùng nó khó khăn như thế nào. Ví dụ, quốc tịch của chúng ta mang theo nhiều quan điểm nhỏ nhặt, rất khó tránh khỏi. Đó là quốc tịch của phàm ngã; nhưng ý tưởng phụng sự này chúng ta có thể gọi là quốc tịch của chân ngã, hoặc có lẽ của Chân thần. Ngài sinh ra với khuynh hướng đó trong mình, và nó đã được trau dồi kể từ đó. |
|
It is difficult for us to understand that there are other types which are just as good as this one under consideration. The solar Deity manifests Himself through three aspects: will, wisdom and love. That is the way they are given in this book. Men appoach Him along all these three lines. Each man’s own way is the best for him, but he should remember that the other man’s path is better for him and that, in the long run, they all merge. We must acquire the ability to look out simultaneously through all the aspects and know that in truth they are all one. We are told, in the Athanasian Creed, that we must hold this doctrine of the Trinity neither confounding the Persons nor dividing the Substance; we must learn that through all eternity there is only one God, although His manifestations are through Three Persons, |
Thật khó để chúng ta hiểu rằng có những loại hình khác cũng tốt như loại hình đang được xem xét này. Thái dương Thượng đế biểu hiện chính Ngài qua ba phương diện: ý chí, minh triết và tình thương. Đó là cách chúng được đưa ra trong cuốn sách này. Con người tiếp cận Ngài theo cả ba dòng này. Cách riêng của mỗi người là tốt nhất cho y, nhưng y nên nhớ rằng Thánh Đạo của người khác tốt hơn cho người đó và về lâu dài, tất cả chúng đều hợp nhất. Chúng ta phải đạt được khả năng nhìn ra đồng thời qua tất cả các phương diện và biết rằng trong sự thật tất cả chúng đều là một. Chúng ta được dạy, trong Kinh Tin Kính Athanasius, rằng chúng ta phải giữ giáo lý Tam Vị này mà không làm lẫn lộn các Ngôi cũng không chia cắt Chất liệu; chúng ta phải học rằng qua suốt cõi vĩnh hằng chỉ có một Thượng đế, mặc dù sự biểu hiện của Ngài là qua Ba Ngôi. |
|
It was said in the beginning that if love is strong enough in a man it forces him to acquire all the other qualities. It makes people act, according to their power. Take one of the very best and most beautiful examples: mother love. Let us see how that operates among a savage race. The mother savage does not know much, but at least she is prepared to defend her child, and even if necessary to sacrifice her own life for him. The civilized mother among ourselves would do just the same thing in the same circumstances. Now and again you hear of a mother losing her life in saving her baby from a burning house, or more often as a result of attending to it when it has some infectious disease. In ordinary life among us that strong love makes the mother think. Her love for the child induces her to study hygiene, all about food and things of that sort. So love leads to both mental and physical activity. |
Đã có nói ở phần đầu rằng nếu tình thương đủ mạnh trong một con người, nó sẽ buộc y phải đạt được tất cả các phẩm tính khác. Nó làm cho mọi người hành động theo quyền năng của họ. Hãy lấy một trong những ví dụ tốt nhất và đẹp đẽ nhất: tình mẫu tử. Hãy xem điều đó vận hành như thế nào trong một bộ tộc hoang dã. Người mẹ hoang dã không biết nhiều, nhưng ít nhất bà cũng sẵn sàng bảo vệ con mình, và thậm chí nếu cần thiết sẽ hy sinh chính mạng sống của mình cho nó. Người mẹ văn minh giữa chúng ta cũng sẽ làm điều tương tự trong cùng hoàn cảnh. Thỉnh thoảng bạn nghe nói về một người mẹ mất mạng khi cứu đứa con nhỏ khỏi một ngôi nhà đang cháy, hoặc thường xuyên hơn là kết quả của việc chăm sóc nó khi nó mắc một căn bệnh truyền nhiễm nào đó. Trong đời sống bình thường giữa chúng ta, tình thương mạnh mẽ đó làm cho người mẹ suy nghĩ. Tình thương của bà dành cho đứa trẻ thúc đẩy bà nghiên cứu về vệ sinh, về thực phẩm và những thứ tương tự. Vì vậy, tình thương dẫn đến cả hoạt động trí tuệ và hồng trần. |
|
A man must have this love, which is an intense desire for service, if he would reach the Master. S. John said: “We know that we have passed from death unto life because we love the brethren. He that loveth not his brother abideth in death,” 30 and: “He that loveth not knoweth not God.” 31. All that is perfectly true. It is a very good thing to know the technical terms of Theosophy, and to understand its philosophy and science, and to be able to distinguish and employ the two thousand four hundred and one types of elemental essence is very useful for practical purposes—but love makes the true Theosophist. |
Một người phải có tình thương này, vốn là một khao khát mãnh liệt được phụng sự, nếu y muốn đạt tới Chân sư. Thánh John đã nói: “Chúng ta biết rằng chúng ta đã vượt từ sự chết sang sự sống vì chúng ta yêu thương anh em mình. Kẻ nào không yêu thương anh em mình thì ở trong sự chết,” và: “Kẻ nào không yêu thương thì không biết Thượng đế.” Tất cả điều đó hoàn toàn đúng. Việc biết các thuật ngữ chuyên môn của Thông Thiên Học, thấu hiểu triết học và khoa học của nó, và có thể phân biệt và sử dụng hai ngàn bốn trăm lẻ một loại tinh chất hành khí là điều rất hữu ích cho các mục đích thực hành—nhưng tình thương tạo nên một nhà Thông Thiên Học thực thụ. |
|
I remember well, long ago, when Babu Mohini Mohun Chatterji, who was a disciple, came to London to instruct us, he told us for the first time about these qualifications, which were not expounded in Mr. Sinnett’s books, or in Isis Unveiled, which were almost the only books we had. He told us quite plainly that without this fourth qualification, this intense desire for liberation (that is the way he put it), for union with God, the six points of good conduct “watered but the desert “; they would be really arid and all but valueless to us unless we had this intense desire to be one with God and to do as He does. We did not then realize that it meant service so fully as we do now, though the Masters had emphasized from the beginning Their love for “the teeming millions of humanity, the lowly and the despised”. We were mainly occupied in trying to learn Theosophy. All was so new, so interesting, so exciting, that our time was mainly given to that—much more, perhaps, than it ought to have been, were it not that one must learn something before one can be of real service to others. |
Tôi nhớ rõ, cách đây lâu rồi, khi Babu Mohini Mohun Chatterji, một đệ tử, đến London để hướng dẫn chúng tôi, ông đã nói với chúng tôi lần đầu tiên về những phẩm tính này, vốn không được trình bày trong các cuốn sách của ông Sinnett, hay trong cuốn Isis Unveiled, vốn gần như là những cuốn sách duy nhất chúng tôi có khi đó. Ông đã nói với chúng tôi khá rõ ràng rằng nếu không có phẩm tính thứ tư này, khao khát giải thoát mãnh liệt này (đó là cách ông diễn đạt), để hợp nhất với Thượng đế, thì sáu điểm về hạnh kiểm tốt chỉ là “tưới nước cho sa mạc”; chúng sẽ thực sự khô cằn và gần như vô giá trị đối với chúng ta trừ khi chúng ta có khao khát mãnh liệt được hợp nhất với Thượng đế và làm như Ngài làm. Khi đó chúng tôi chưa nhận ra rằng nó hàm ý sự phụng sự đầy đủ như bây giờ, mặc dù các Chân sư ngay từ đầu đã nhấn mạnh tình thương của Các Ngài dành cho “hàng triệu người đang sinh sôi của nhân loại, những người thấp kém và bị khinh miệt”. Chúng tôi chủ yếu bận rộn với việc cố gắng học Thông Thiên Học. Mọi thứ đều quá mới mẻ, quá thú vị, quá hào hứng, đến nỗi thời gian của chúng tôi chủ yếu dành cho việc đó—nhiều hơn, có lẽ, mức cần thiết, nếu không phải vì người ta phải học điều gì đó trước khi có thể thực sự phụng sự người khác. |
|
It is not so much desire as will, resolve, determination. |
Đó không hẳn là ham muốn mà là ý chí, sự quyết tâm, sự kiên định. |
|
C.W.L.—Will is pre-eminently the quality of the first ray, on which the Master Morya stands. The Master Kuthumi is on the second ray, that of wisdom and love; but here He spoke as a first ray man would do. I remember one occasion on which Alcyone mentioned his desire to attain a certain quality. The Master said: “Do not desire a thing; desire is feeble. Will, because you are God. If you want to acquire a quality, will to do so, and go and do it.” That emphatically is the standpoint of the Hierarchy. It is very important indeed for us to understand the Master’s attitude and way of looking at things, which have brought Him where He is now, and can do the same for us. |
C.W.L.—Ý chí là phẩm tính ưu việt của cung một, cung mà Chân sư Morya đứng trên đó. Chân sư Kuthumi ở trên cung hai, cung của minh triết và tình thương; nhưng ở đây Ngài đã nói như một người cung một sẽ nói. Tôi nhớ một lần Alcyone đề cập đến ham muốn đạt được một phẩm tính nhất định. Chân sư nói: “Đừng ham muốn một điều gì đó; ham muốn là yếu ớt. Hãy dùng ý chí, vì bạn là Thượng đế. Nếu bạn muốn đạt được một phẩm tính, hãy dùng ý chí để làm điều đó, và đi mà thực hiện.” Đó nhấn mạnh là quan điểm của Thánh đoàn. Thực sự rất quan trọng để chúng ta thấu hiểu thái độ và cách nhìn nhận sự việc của Chân sư, những điều đã đưa Ngài đến vị trí hiện tại, và cũng có thể làm điều tương tự cho chúng ta. |
|
To produce its results, this resolve must fill your whole nature, so as to leave no room for any other feeling. It is indeed the will to be one with God, not in order that you may escape from weariness and suffering, but in order that because of your deep love for Him you may act with Him and as He does. Because He is Love, you, if you would become one with Him, must be filled with perfect unselfishness and love also. |
Để tạo ra kết quả, sự quyết tâm này phải lấp đầy toàn bộ bản chất của con, sao cho không còn chỗ cho bất kỳ cảm giác nào khác. Đó thực sự là ý chí được hợp nhất với Thượng đế, không phải để con thoát khỏi sự mệt mỏi và đau khổ, mà là vì tình thương sâu sắc của con dành cho Ngài, con có thể hành động cùng Ngài và như Ngài làm. Bởi vì Ngài là Tình thương, con, nếu muốn trở nên hợp nhất với Ngài, cũng phải tràn đầy sự vô vị lợi hoàn hảo và tình thương. |
|
C.W.L.—The pupil of the Master has only one desire and that is to serve. For this, he is willing to give up all personal pleasure and ambition, and remain but a small wheel in the great machine. The ordinary man has not yet begun to think very seriously of anything higher. He takes life very much as he finds it, and his desire is not to get out of this kind of life into something higher and nobler, but rather to succeed in it. If you suggested that he should give up all that we call the lower self, he would ask: “But what will be left of me if I do that?” It is true that there would in such a case not be very much left, as far as he could see, although the whole of the reality would, in truth, remain. |
C.W.L.—Đệ tử của Chân sư chỉ có một ham muốn duy nhất và đó là phụng sự. Vì điều này, y sẵn lòng từ bỏ tất cả những thú vui và tham vọng cá nhân, và chỉ còn là một bánh xe nhỏ trong bộ máy vĩ đại. Người bình thường vẫn chưa bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về bất cứ điều gì cao hơn. Y đón nhận cuộc sống phần lớn như y thấy, và ham muốn của y không phải là thoát khỏi loại cuộc sống này để tiến vào điều gì đó cao hơn và cao quý hơn, mà là để thành công trong đó. Nếu bạn gợi ý rằng y nên từ bỏ tất cả những gì chúng ta gọi là phàm ngã, y sẽ hỏi: “Nhưng còn lại gì ở tôi nếu tôi làm điều đó?” Đúng là trong trường hợp như vậy sẽ không còn lại gì nhiều, theo như y có thể thấy, mặc dù toàn bộ thực tại, trong sự thật, sẽ vẫn còn đó. |
|
It is difficult to explain to such a man what we mean by “becoming merged into the Divine Life”. I knew a very good and clever man, who was making a considerable study of Northern Buddhism. He came to me one day and said: “I can’t make anything out of this; it does not seem to me worth following up. It is quite interesting as a study in archaeology, but the only object they put before you seems to be to become one with the Buddha. I can’t see that that would be of any value to Buddha, and it would certainly be the end of me.” That is the point of view the average man takes of these things. Yet there is a real, glowing, burning meaning to it all; if one can get hold of that it will revolutionize his whole conception. This widening of the consciousness does not take away any freedom, nor destroy individuality in the least degree. It is not that I am absorbed in the universe, but the universe becomes I. People say, “That Self am I.” That is a delusion as applied to the lower self, but when one realizes “I am God”, then the sense that God is God is not an illusion at all, and the sense that what I thought was I is in reality an expression of Him is not an illusion. It is the idea that anything can exist outside That or can be separated from the one Self that is illusion. |
Thật khó để giải thích cho một người như vậy những gì chúng ta muốn nói khi “trở nên hòa nhập vào Đời sống Thiêng liêng”. Tôi biết một người rất tốt và thông minh, người đang nghiên cứu khá kỹ về Phật giáo Bắc tông. Một ngày nọ y đến gặp tôi và nói: “Tôi không thể hiểu được gì từ điều này; nó có vẻ không đáng để theo đuổi. Nó khá thú vị như một nghiên cứu về khảo cổ học, nhưng mục tiêu duy nhất họ đặt ra trước mắt bạn dường như là trở nên hợp nhất với Đức Phật. Tôi không thấy điều đó có giá trị gì đối với Đức Phật, và nó chắc chắn sẽ là sự kết thúc của tôi.” Đó là quan điểm mà người trung bình nhìn nhận về những điều này. Tuy nhiên, có một ý nghĩa thực sự, rực rỡ, cháy bỏng cho tất cả; nếu người ta có thể nắm bắt được điều đó, nó sẽ cách mạng hóa toàn bộ quan niệm của y. Sự mở rộng tâm thức này không lấy đi bất kỳ sự tự do nào, cũng không hủy hoại cá tính dù là ở mức độ nhỏ nhất. Không phải là tôi bị hấp thụ vào vũ trụ, mà vũ trụ trở thành Tôi. Người ta nói, “Cái Ngã đó là tôi.” Đó là một ảo tưởng khi áp dụng cho phàm ngã, nhưng khi người ta nhận ra “Tôi là Thượng đế”, thì cảm giác rằng Thượng đế là Thượng đế hoàn toàn không phải là một ảo tưởng, và cảm giác rằng cái mà tôi nghĩ là tôi thực chất là một sự biểu hiện của Ngài không phải là một ảo tưởng. Chính ý tưởng rằng bất cứ điều gì có thể tồn tại bên ngoài Cái Đó hoặc có thể bị tách rời khỏi cái Ngã duy nhất mới là ảo tưởng. |
|
In every-day life there are some things that will serve as an example of this inclusion of the smaller in the greater. You have a great mercantile house, and some young man joins it as a junior clerk. At first he regards the house as a task-master, and it is a great trouble to him to have to come at regular hours and do all his work. But after he has been there for some years and has been raised to a more responsible position, he begins to say, “We do this,” and “We do that,” and then he is beginning to identify his interest with that of the house. So he goes on, until he becomes a manager, and at last a partner. Then he speaks always for the house; and when he considers any of the business, it is “the firm” he has always in his mind. He is just as free and as capable of taking the initiative along any line as ever, yet he is now certain to use his will along the right lines. The firm has not coerced him into that attitude, but he has grown into it. That is only a small illustration, but it gives an idea of the way in which a man may identify himself with a greater power, yet his will may be as much his own as ever. |
Trong đời sống hàng ngày có một số điều sẽ phục vụ như một ví dụ về sự bao gồm cái nhỏ hơn trong cái lớn hơn. Bạn có một thương xá lớn, và một thanh niên gia nhập vào đó với tư cách là một thư ký cấp dưới. Lúc đầu y coi thương xá như một chủ nhân khắt khe, và y thấy rất phiền phức khi phải đến đúng giờ và làm tất cả công việc của mình. Nhưng sau khi y ở đó vài năm và được thăng lên một vị trí có trách nhiệm hơn, y bắt đầu nói, “Chúng tôi làm điều này,” và “Chúng tôi làm điều kia,” và khi đó y bắt đầu đồng nhất lợi ích của mình với lợi ích của thương xá. Cứ thế y tiếp tục, cho đến khi y trở thành một quản lý, và cuối cùng là một đối tác. Khi đó y luôn nói thay cho thương xá; và khi y xem xét bất kỳ công việc kinh doanh nào, chính “công ty” luôn ở trong tâm trí y. Y vẫn tự do và có khả năng chủ động theo bất kỳ hướng nào như trước, nhưng giờ đây y chắc chắn sẽ sử dụng ý chí của mình theo những hướng đúng đắn. Công ty đã không ép buộc y vào thái độ đó, nhưng y đã trưởng thành vào trong đó. Đó chỉ là một minh họa nhỏ, nhưng nó đưa ra một ý tưởng về cách mà một người có thể đồng nhất mình với một quyền năng lớn hơn, nhưng ý chí của y vẫn có thể là của chính y như trước. |
|
There will come a time when we shall have become the Path itself, when we shall never fail in any of the qualifications because they will have grown into us and become part of our very nature. We are close to the living God all the time, because He is in us and about us and with us always, yet it is for us to learn to realize that, to raise our consciousness step by step, employing all the means that come in our way, until we can really grasp that idea. We are to become one with God in His highest manifestations, in the internal manifestations, not in the merely material form. The very matter in our bodies, and around us also, is His outer garment—but it is not the garment, it is He with whom we wish to become one. When we become one with Him, He on His side recognizes that and uses us as living channels through which His force can be outpoured. We are channels for the divine force on these lower planes, but we are effective channels only when we have reached the point where we have no separate personality in opposition to Him. He works through such means always, and His ministers, the great occult Hierarchy, do likewise. No doubt They could work miracles by direct action on people, but it would unnecessarily use up a great amount of Their force, so They work through the means which They have arranged. |
Sẽ đến lúc chúng ta trở thành chính Thánh Đạo, khi chúng ta sẽ không bao giờ thất bại trong bất kỳ phẩm tính nào bởi vì chúng đã trưởng thành vào trong chúng ta và trở thành một phần của chính bản chất chúng ta. Chúng ta luôn ở gần Thượng đế hằng sống, bởi vì Ngài ở trong chúng ta và xung quanh chúng ta và với chúng ta luôn luôn, tuy nhiên chúng ta phải học cách nhận ra điều đó, nâng cao tâm thức của mình từng bước một, sử dụng tất cả các phương tiện đến với mình, cho đến khi chúng ta thực sự có thể nắm bắt được ý tưởng đó. Chúng ta phải trở nên hợp nhất với Thượng đế trong những sự biểu hiện cao nhất của Ngài, trong những sự biểu hiện nội tại, chứ không phải chỉ trong hình tướng vật chất thuần túy. Chính vật chất trong cơ thể chúng ta, và xung quanh chúng ta nữa, là lớp áo bên ngoài của Ngài—nhưng không phải là lớp áo, mà chính là Ngài mà chúng ta mong muốn trở nên hợp nhất. Khi chúng ta trở nên hợp nhất với Ngài, về phía Ngài, Ngài công nhận điều đó và sử dụng chúng ta như những kênh dẫn sống động qua đó mãnh lực của Ngài có thể được tuôn đổ. Chúng ta là những kênh dẫn cho mãnh lực thiêng liêng trên các cõi thấp này, nhưng chúng ta chỉ là những kênh dẫn hiệu quả khi chúng ta đã đạt đến điểm mà chúng ta không còn phàm ngã riêng biệt đối lập với Ngài. Ngài luôn làm việc qua những phương tiện như vậy, và các thừa hành của Ngài, Thánh đoàn huyền bí vĩ đại, cũng làm như vậy. Không nghi ngờ gì việc Các Ngài có thể thực hiện những phép màu bằng hành động trực tiếp lên con người, nhưng điều đó sẽ tiêu tốn một lượng lớn mãnh lực của Các Ngài một cách không cần thiết, vì vậy Các Ngài làm việc qua những phương tiện mà Các Ngài đã sắp xếp. |
|
There is a large class of people who never try to understand the principles of life. They think that nature must bow to them, and they will not accept things in the way that is ordained. They are, in their way, like those investigators at spiritualistic seances, who want to prescribe the conditions under which manifestations should take place. It is a very absurd attitude of mind, because there is no line of investigation in the world in which you can prescribe what the laws of nature shall do. One has heard of savages to whom electrical phenomena were shown, who declared that they were due to trickery. The savage chief would say, “I see all this is connected by wires; you are doing it with those wires. Cut them away and then I shall believe you.” The electrician smiles and says in reply: “You do not understand the law. The wires conduct the electricity; without them the force could not come through.” Then the man says: “I have exposed your trickery.” People do the same thing at spiritualistic seances. They will not take the way ordained, but want to strike out another way. There is a certain amount of individuality about the idea of compelling God to do things in one’s own way which, I suppose, recommends itself to some types of minds, but it does not appeal to mine any more than the idea of telling God in prayer what to do. I always feel profoundly that He knows infinitely better than I do, and if by any utterly inexplicable chance He should change His intention on account of my asking Him, I know I should be infinitely worse off under that scheme than I should have been under His. |
Có một lớp người đông đảo không bao giờ cố gắng thấu hiểu các nguyên lý của sự sống. Họ nghĩ rằng thiên nhiên phải cúi đầu trước họ, và họ sẽ không chấp nhận mọi thứ theo cách đã được định sẵn. Theo cách của mình, họ giống như những nhà điều tra tại các buổi gọi hồn, những người muốn quy định các điều kiện mà theo đó các sự biểu hiện nên diễn ra. Đó là một thái độ tâm trí rất nực cười, bởi vì không có dòng điều tra nào trên thế giới mà bạn có thể quy định những gì các định luật tự nhiên sẽ làm. Người ta đã nghe nói về những người hoang dã khi được xem các hiện tượng điện, đã tuyên bố rằng chúng là do lừa đảo. Vị tù trưởng hoang dã sẽ nói, “Tôi thấy tất cả những thứ này được kết nối bằng dây điện; bạn đang làm điều đó với những dây điện đó. Hãy cắt bỏ chúng đi và khi đó tôi sẽ tin bạn.” Nhà điện học mỉm cười và trả lời: “Ông không hiểu định luật. Các dây dẫn điện; không có chúng mãnh lực không thể truyền qua.” Khi đó người đàn ông nói: “Tôi đã vạch trần sự lừa đảo của ông.” Mọi người cũng làm điều tương tự tại các buổi gọi hồn. Họ sẽ không đi theo Thánh Đạo đã định, mà muốn vạch ra một Thánh Đạo khác. Có một lượng cá tính nhất định về ý tưởng ép buộc Thượng đế phải làm mọi việc theo cách riêng của mình, điều mà tôi cho là phù hợp với một số loại tâm trí, nhưng nó không thu hút tôi hơn là ý tưởng bảo Thượng đế phải làm gì trong lời cầu nguyện. Tôi luôn cảm thấy sâu sắc rằng Ngài biết rõ hơn tôi vô cùng, và nếu vì một cơ hội hoàn toàn không thể giải thích được nào đó mà Ngài thay đổi ý định vì tôi cầu xin Ngài, tôi biết mình sẽ ở trong tình trạng tồi tệ hơn vô cùng dưới kế hoạch đó so với dưới kế hoạch của Ngài. |
|
The idea that one should will to be one with God may not have occurred to many of us, but it is very familiar to our brothers in India. The Master uses that sort of phrase several times in this book when He speaks of God. In an earlier life He was a prominent Buddhist teacher named Nagarjuna, and in that incarnation He made many great speeches and wrote much. In His books which have been preserved, He is very strongly opposed to any idea of personality in the Deity. He objects even to the use of that word or that name, and goes deeply into metaphysical questions connected with it. Indians, knowing all that philosophy of Nagarjuna, have often said, “How curious it is that, in this little book, our Master, who has spoken so strongly against personality in the Deity, should now use that word God. The Lord Buddha also spoke very strongly against anything like personality in the Deity.” The answer to that objection is this: In this book the Master is not going into the question of the Absolute; He is not speaking of That—the Supreme, the Eternal; He is speaking primarily to an Indian boy, about Ishwara—that is, the solar Logos, the solar Deity—and it is in that sense undoubtedly that our Master uses the word God here. As Nagarjuna he was speaking to students many of whom knew the systems of Indian philosophy, and so he spoke strongly against any endeavour to degrade the conception of the Deity by making it personal in the way in which many of our Christian brothers now do. |
Ý tưởng rằng người ta nên dùng ý chí để hợp nhất với Thượng đế có thể không nảy ra với nhiều người trong chúng ta, nhưng nó rất quen thuộc với những người anh em của chúng ta ở Ấn Độ. Chân sư sử dụng loại cụm từ đó vài lần trong cuốn sách này khi Ngài nói về Thượng đế. Trong một kiếp trước, Ngài là một giảng sư Phật giáo nổi tiếng tên là Nagarjuna, và trong lần lâm phàm đó, Ngài đã thực hiện nhiều bài diễn thuyết vĩ đại và viết rất nhiều. Trong các cuốn sách của Ngài còn được lưu giữ, Ngài phản đối rất mạnh mẽ bất kỳ ý tưởng nào về phàm ngã trong Thượng đế. Ngài phản đối ngay cả việc sử dụng từ đó hoặc tên gọi đó, và đi sâu vào các câu hỏi siêu hình liên quan đến nó. Người Ấn Độ, biết tất cả triết học đó của Nagarjuna, thường nói, “Thật kỳ lạ là trong cuốn sách nhỏ này, Chân sư của chúng ta, người đã nói rất mạnh mẽ chống lại phàm ngã trong Thượng đế, giờ đây lại sử dụng từ Thượng đế đó. Đức Phật cũng đã nói rất mạnh mẽ chống lại bất cứ điều gì giống như phàm ngã trong Thượng đế.” Câu trả lời cho sự phản đối đó là thế này: Trong cuốn sách này, Chân sư không đi sâu vào câu hỏi về Đấng Tuyệt Đối; Ngài không nói về Cái Đó—Đấng Tối Cao, Đấng Vĩnh Cửu; Ngài đang nói chủ yếu với một cậu bé Ấn Độ, về Ishwara—tức là Thái dương Thượng đế—và chắc chắn theo nghĩa đó mà Chân sư của chúng ta sử dụng từ Thượng đế ở đây. Với tư cách là Nagarjuna, Ngài đang nói chuyện với các đạo sinh mà nhiều người trong số họ biết các hệ thống triết học Ấn Độ, và vì vậy Ngài đã nói mạnh mẽ chống lại bất kỳ nỗ lực nào nhằm hạ thấp quan niệm về Thượng đế bằng cách làm cho Ngài mang tính phàm ngã theo cách mà nhiều người anh em Kitô hữu của chúng ta hiện đang làm. |
|
Then He says that you must make yourself like Him. This brings up the question: what do we know of Him? We know that He manifests Himself through three Aspects. Some approach Him through one of these Aspects and some through another. Our way is the way of active love, because that is the way of our Masters. There are seven great rays of the divine life, and therefore seven types of men. One is the line of devotion, another that of will, another that of wisdom. Men seek God in various ways, but as our Masters are on the line of active love, all who wish to follow Them must use the powers of his own special type in active service for love of God and man. Take, for example, the case of devotion, of which there may be three types or kinds. One person casts himself down before the object of his adoration and just longs to become one with it. I suppose this type is found in our Western races only among some few monks and nuns, whose desire is simply to spend themselves in perpetual adoration of the Deity. That is a splendid thing, but for the moment, at any rate, the man is not thinking of others, but only of becoming one with the Deity. If you ask him about others he will say: “Let them do what I am doing.” I knew a man in India whose one idea was just precisely that—to sit in adoration before the image of his Deity, and try to become one with Him. That is the goal he set before himself, and it is the future he will gain. He will spend the whole of his heaven-life, probably a very long one—thousands of years—in a sort of swoon of adoration., Such pure devotion means the development of his various vehicles, and certain advance for himself. |
Sau đó Ngài nói rằng bạn phải làm cho mình giống như Ngài. Điều này gợi lên câu hỏi: chúng ta biết gì về Ngài? Chúng ta biết rằng Ngài biểu hiện chính Ngài qua ba Phương diện. Một số người tiếp cận Ngài qua một trong những Phương diện này và một số qua phương diện khác. Thánh Đạo của chúng ta là Thánh Đạo của tình thương tích cực, bởi vì đó là Thánh Đạo của các Chân sư của chúng ta. Có bảy cung lớn của đời sống thiêng liêng, và do đó có bảy loại người. Một là dòng sùng tín, một dòng khác là ý chí, một dòng khác là minh triết. Con người tìm kiếm Thượng đế theo nhiều cách khác nhau, nhưng vì các Chân sư của chúng ta ở trên dòng tình thương tích cực, nên tất cả những ai muốn theo Các Ngài phải sử dụng các quyền năng của loại hình đặc biệt của chính mình trong sự phụng sự tích cực vì tình thương dành cho Thượng đế và con người. Hãy lấy ví dụ trường hợp sùng tín, vốn có thể có ba loại hoặc kiểu. Một người phủ phục trước đối tượng thờ phụng của mình và chỉ khao khát được trở nên hợp nhất với nó. Tôi cho rằng loại hình này chỉ được tìm thấy ở các chủng tộc phương Tây giữa một số ít tu sĩ và nữ tu, những người có ham muốn đơn giản là dành trọn bản thân trong sự thờ phụng vĩnh viễn đối với Thượng đế. Đó là một điều huy hoàng, nhưng ít nhất là vào lúc này, người đó không nghĩ đến người khác, mà chỉ nghĩ đến việc trở nên hợp nhất với Thượng đế. Nếu bạn hỏi y về những người khác, y sẽ nói: “Hãy để họ làm những gì tôi đang làm.” Tôi biết một người ở Ấn Độ có một ý tưởng chính xác như vậy—ngồi sùng tín trước hình tượng Thượng đế của mình, và cố gắng trở nên hợp nhất với Ngài. Đó là mục tiêu y đặt ra cho mình, và đó là tương lai y sẽ đạt được. Y sẽ dành toàn bộ đời sống thượng thiên của mình, có lẽ là một đời sống rất dài—hàng ngàn năm—trong một loại trạng thái sùng tín mê mẩn. Sự sùng tín thuần khiết như vậy có nghĩa là sự phát triển các vận cụ khác nhau của y, và sự tiến bộ nhất định cho chính y. |
|
A second kind of devotion scarcely deserves the name—that lower devotion which demands a quid pro quo of the Deity, and says: “If you repay me so much in the way of riches and promotion and general assistance, I will give you so much devotion.” |
Loại sùng tín thứ hai hầu như không xứng đáng với cái tên đó—đó là sự sùng tín thấp kém đòi hỏi một sự có đi có lại từ Thượng đế, và nói rằng: “Nếu Ngài trả cho tôi bấy nhiêu về sự giàu sang, thăng tiến và sự hỗ trợ chung, tôi sẽ dành cho Ngài bấy nhiêu sự sùng tín.” |
|
A third devotee will say: “I love that Great One, or that Teacher so much that because of that I must be doing something to help others to know Him and understand Him as I do. I must do good works in His name.” This is a very noble and practical kind of devotion. Those of us who are on the devotional ray will not be purely devotional, but will have this variant of activity which will make us want to do something on account of our devotion. So also if any of us be on the line that wishes above all things to know, we shall also have the same characteristic in our nature. There are those who desire to become wise merely in order to know and understand. That is a very wonderful quality in a man, and there are many who make great progress in that way. But those among them who are servers will find in themselves the complex resultant: I want knowledge, but I want it only that I can be really useful to others.” Such a person would see very clearly the mistakes made by other people who, though they desire with all their hearts to serve, yet, because of foolishness, do more harm than good. “Let me have perfect knowledge, then I shall be able to serve really well,” such a man would say. |
Một người sùng tín thứ ba sẽ nói: “Tôi yêu Đấng Cao Cả đó, hoặc vị Huấn sư đó đến mức vì điều đó tôi phải làm điều gì đó để giúp đỡ những người khác biết Ngài và thấu hiểu Ngài như tôi. Tôi phải làm những công việc thiện lành nhân danh Ngài.” Đây là một loại sùng tín rất cao quý và thực tế. Những người trong chúng ta ở trên cung sùng tín sẽ không thuần túy sùng tín, mà sẽ có biến thể hoạt động này khiến chúng ta muốn làm điều gì đó vì sự sùng tín của mình. Cũng vậy, nếu bất kỳ ai trong chúng ta ở trên dòng muốn biết trên hết mọi thứ, chúng ta cũng sẽ có cùng đặc điểm đó trong bản chất của mình. Có những người khao khát trở nên minh triết chỉ để biết và thấu hiểu. Đó là một phẩm tính rất tuyệt vời ở một con người, và có nhiều người đạt được sự tiến bộ lớn theo cách đó. Nhưng những người trong số họ là những người phụng sự sẽ thấy trong mình kết quả phức hợp: “Tôi muốn kiến thức, nhưng tôi chỉ muốn nó để tôi có thể thực sự hữu dụng cho người khác.” Một người như vậy sẽ thấy rất rõ những sai lầm của những người khác, mặc dù họ khao khát phụng sự với tất cả tâm hồn, nhưng vì sự ngu muội, họ lại gây hại nhiều hơn là làm lợi. “Hãy để tôi có kiến thức hoàn hảo, khi đó tôi sẽ có thể phụng sự thực sự tốt,” một người như vậy sẽ nói. |
|
We wish to become one with God, not merely that we may be one with Him, and may bask in all that glory and joy, but that we may act as He does, and as His great action was to pour Himself out in utmost self-sacrifice into matter, in order that we might come into being, therefore he who will be one with God must himself show forth the same spirit of utter forgetfulness of himself for the sake of the work which is to be done for the God who is all Love. That one sentence: “You, if you would become one with Him, must be filled with perfect unselfishness and love also,” really epitomizes the whole Path. Will, wisdom, love—each one of these carried to perfection and employed in service brings in all the others, so it is really true that “love is the fulfilling of the law.” 32 |
Chúng ta mong muốn trở nên hợp nhất với Thượng đế, không chỉ để chúng ta có thể là một với Ngài, và có thể đắm mình trong tất cả vinh quang và niềm vui đó, mà để chúng ta có thể hành động như Ngài làm, và vì hành động vĩ đại của Ngài là tuôn đổ chính mình trong sự hy sinh cao nhất vào vật chất, để chúng ta có thể ra đời, do đó người muốn hợp nhất với Thượng đế phải tự mình thể hiện cùng một tinh thần quên mình hoàn toàn vì lợi ích của công việc cần được thực hiện cho Thượng đế, Đấng hoàn toàn là Tình thương. Câu nói đó: “Bạn, nếu muốn trở nên hợp nhất với Ngài, cũng phải tràn đầy sự vô vị lợi hoàn hảo và tình thương,” thực sự tóm gọn toàn bộ Thánh Đạo. Ý chí, minh triết, tình thương—mỗi điều này khi được đưa đến sự hoàn hảo và được sử dụng trong sự phụng sự đều mang lại tất cả những điều khác, vì vậy thực sự đúng là “tình thương là sự hoàn tất của định luật.” |
CHAPTER 2
LOVE IN DAILY LIFE
TÌNH THƯƠNG TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY
|
In daily life this means two things; first, that you shall be careful to do no hurt to any living thing; second, that you shall always be watching for an opportunity to help. |
Trong đời sống hàng ngày, điều này có nghĩa là hai điều; thứ nhất, con phải cẩn thận để không làm tổn hại đến bất kỳ sinh vật nào; thứ hai, con phải luôn canh chừng cơ hội để giúp đỡ. |
|
C.W.L.—Those are two sides of the same thing—the passive that you shall do no hurt, and the active that you shall do good. People sometimes say that the Oriental religions are negative, that the idea of service which we import into them is in reality a Christian idea. That is not so. Though the modern Christian has relegated it to a back seat, it is true that in original Christianity service was expressed and emphasized very strongly. “But he that is greatest among you shall be your servant.” 33 The same idea appears in the old religions also. |
C.W.L.—Đó là hai mặt của cùng một vấn đề—mặt thụ động là bạn không được làm tổn hại, và mặt tích cực là bạn phải làm điều thiện. Đôi khi người ta nói rằng các tôn giáo phương Đông mang tính tiêu cực, rằng ý tưởng phụng sự mà chúng ta đưa vào đó thực chất là một ý tưởng Kitô giáo. Không phải vậy. Mặc dù người Kitô hữu hiện đại đã đẩy nó xuống vị trí thứ yếu, nhưng sự thật là trong Kitô giáo nguyên thủy, sự phụng sự đã được diễn đạt và nhấn mạnh rất mạnh mẽ. “Nhưng kẻ nào lớn nhất trong các ngươi sẽ là người phục vụ các ngươi.” Ý tưởng tương tự cũng xuất hiện trong các tôn giáo cổ xưa. |
|
In Buddhism—which has always been spoken of as the most negative of religions—it certainly does give you directions as to the things you must avoid. But its five precepts are not more negative than the Jewish ten commandments. The Buddhist religion does not say “Thou shalt not”, though it asks its people to promise to avoid certain things. The wording is: “I observe the precept to refrain from taking life, to refrain from taking that which does not belong to me, to refrain from saying that which is not true, to refrain from taking intoxicating drinks or stupefying drugs, to refrain from unlawful sexual intercourse.” That is the form; it is not a command but a promise. |
Trong Phật giáo—vốn luôn được nói đến như là tôn giáo tiêu cực nhất—nó chắc chắn đưa ra cho bạn những chỉ dẫn về những điều bạn phải tránh. Nhưng năm giới của nó không tiêu cực hơn mười điều răn của Do Thái giáo. Phật giáo không nói “Ngươi không được”, mặc dù nó yêu cầu tín đồ hứa tránh những điều nhất định. Cách diễn đạt là: “Tôi vâng giữ giới luật tránh sát sinh, tránh lấy những gì không thuộc về mình, tránh nói những điều không đúng sự thật, tránh uống rượu bia hoặc các chất gây nghiện, tránh tà dâm.” Đó là hình thức; nó không phải là một mệnh lệnh mà là một lời hứa. |
|
In the summary of the religion in one sutta or verse, given by the Buddha Himself, we see its positive aspect: |
Trong bản tóm tắt tôn giáo trong một bài kinh hoặc bài kệ, do chính Đức Phật đưa ra, chúng ta thấy khía cạnh tích cực của nó: |
|
“Cease to do evil; |
“Không làm các việc ác; |
|
Learn to do well; |
Gắng làm các việc lành; |
|
Cleanse your own heart: |
Giữ tâm ý trong sạch: |
|
That is the religion of the Buddha.” |
Đó là lời Phật dạy.” |
|
The same thing comes out clearly in the Noble Eightfold Path, in which you have: “Right views, right aims, right words, right behaviour, right mode of livelihood, right exertion, right mindfulness and right meditation.” Most of this is very positive indeed. |
Điều tương tự cũng thể hiện rõ ràng trong Bát Chánh Đạo, trong đó bạn có: “Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.” Hầu hết những điều này thực sự rất tích cực. |
|
In the Bhagavad-Gita, which is practically the gospel for millions of Hindus, you find taught the most positive activity. There God is described as the great Actor, and it is said that he who will not follow His example, and work for the welfare of the world, lives in vain. Inaction, it says, may be really an action in a deadly sin. It warns people, as Madame Blavatsky used frequently to do, that sins of omission are as much to be feared as sins of commission. And as to the sannyasi, the man who has renounced the material life, it says that he must constantly perform acts of charity, sacrifice and austerity. The great historical Scriptures of the Hindus are full of accounts of men who devoted themselves to the public weal, and teachers, many of them considered to be divine incarnations, who taught the service of our fellow-man. |
Trong Chí Tôn Ca (Bhagavad-Gita), vốn thực tế là phúc âm cho hàng triệu người theo đạo Hindu, bạn thấy được dạy về hoạt động tích cực nhất. Ở đó, Thượng đế được mô tả như là Đấng Hành Động vĩ đại, và có nói rằng kẻ nào không noi theo gương Ngài, và làm việc vì phúc lợi của thế giới, thì sống một cách vô ích. Sự không hành động, nó nói, thực sự có thể là một hành động trong một tội lỗi chết người. Nó cảnh báo mọi người, như Bà Blavatsky thường làm, rằng những tội lỗi do bỏ sót cũng đáng sợ như những tội lỗi do thực hiện. Và đối với sannyasi, người đã từ bỏ đời sống vật chất, nó nói rằng y phải liên tục thực hiện các hành động từ thiện, hy sinh và khổ hạnh. Các kinh điển lịch sử vĩ đại của người Hindu đầy rẫy những câu chuyện về những người đã cống hiến mình cho phúc lợi công cộng, và những vị thầy, nhiều người trong số họ được coi là những đấng hoá thân thiêng liêng, những người đã dạy về sự phụng sự đồng loại. |
|
Nowhere could public service be more emphasized than it has been in those religions, yet they have always had their contemplative sides, as had Christianity all through the middle ages. It is only in recent years that, in the intensity of our activity in the fifth sub-race of the fifth root race, we have become secretly inclined to despise the monk and the nun and to magnify the man of action, the great commander in war, the great ruler or statesman in peace. The whole idea of the contemplative orders is, however, a very beautiful one. The plan was that the active orders of the monk and the friar would preach to the people and perform acts of charity, while the contemplative orders would shut themselves up and devote themselves wholly to meditation and supplication. Translating it into other terms, that would mean the formulation of good and high thought, and the sending of it out with a definite view to the helping of people. It was their business to make a speciality of prayer and meditation and to do it for their brethren who, for various reasons, were unable to do it so well and so thoroughly for themselves. The theory in every religion was that they were a part-of humanity supplying a need of humanity; they were not merely lazy monks retiring from active work. They were doing very much harder work, which the others could not do, in connection with higher planes, and doing it generally under circumstances of self-abnegation and asceticism which would appal the ordinary man. |
Không nơi nào sự phụng sự công cộng có thể được nhấn mạnh hơn trong những tôn giáo đó, tuy nhiên họ luôn có những khía cạnh chiêm nghiệm, giống như Kitô giáo trong suốt thời trung cổ. Chỉ trong những năm gần đây, trong cường độ hoạt động của chúng ta ở giống dân phụ thứ năm của giống dân gốc thứ năm, chúng ta mới trở nên có khuynh hướng thầm kín là khinh miệt các tu sĩ và nữ tu và đề cao con người hành động, vị chỉ huy vĩ đại trong chiến tranh, vị cai quản hoặc chính trị gia vĩ đại trong hòa bình. Tuy nhiên, toàn bộ ý tưởng về các dòng tu chiêm nghiệm là một ý tưởng rất đẹp. Kế hoạch là các dòng tu hoạt động của các tu sĩ và tu sĩ khất thực sẽ thuyết giảng cho mọi người và thực hiện các hành động từ thiện, trong khi các dòng tu chiêm nghiệm sẽ đóng cửa và cống hiến mình hoàn toàn cho việc tham thiền và cầu nguyện. Diễn giải sang các thuật ngữ khác, điều đó có nghĩa là việc hình thành tư tưởng tốt và cao thượng, và gửi nó đi với một tầm nhìn xác định nhằm giúp đỡ mọi người. Công việc của họ là chuyên môn hóa về cầu nguyện và tham thiền và làm điều đó cho những người anh em của họ, những người vì nhiều lý do khác nhau, không thể làm điều đó tốt và kỹ lưỡng cho chính mình. Lý thuyết trong mọi tôn giáo là họ là một phần của nhân loại cung cấp một nhu cầu của nhân loại; họ không chỉ là những tu sĩ lười biếng rút lui khỏi công việc tích cực. Họ đang làm công việc khó khăn hơn nhiều, điều mà những người khác không thể làm, liên quan đến các cõi cao, và thường làm điều đó trong những hoàn cảnh quên mình và khổ hạnh vốn sẽ làm người bình thường khiếp sợ. |
|
That the life of the monk, however, when it was not so definitely ascetic, attracted many who wanted a comfortable, lazy existence, is also true. Such people escaped physical work, but did not substitute for it the work of the higher planes. Among the Buddhist monks there are some of this kind, who are looked down upon and called “rice monks”—men who are monks for the sake of the assured living, which, though it is not a very luxurious one, will never fail while anyone in the country has any food at all. The same was true, perhaps to a somewhat greater degree, of the monastic orders of the middle ages in Europe. There were people who joined them for the sake of power and influence and did not mind, in many cases, the lack of possessions. Though the individual monk had no possessions, the monastery as a body did acquire a very great deal, which was at the disposal of the individual to a large extent. |
Tuy nhiên, sự thật là đời sống của tu sĩ, khi nó không quá khắc khổ một cách xác định, đã thu hút nhiều người muốn có một sự tồn tại thoải mái, lười biếng. Những người như vậy đã trốn tránh công việc hồng trần, nhưng không thay thế nó bằng công việc của các cõi cao. Trong số các tu sĩ Phật giáo có một số thuộc loại này, những người bị coi thường và gọi là “tu sĩ cơm”—những người làm tu sĩ vì mục đích có một cuộc sống đảm bảo, mà mặc dù nó không phải là một cuộc sống xa hoa, nhưng sẽ không bao giờ thiếu chừng nào bất kỳ ai trong nước còn có bất kỳ thức ăn nào. Điều tương tự cũng đúng, có lẽ ở mức độ lớn hơn một chút, đối với các dòng tu trong thời trung cổ ở châu Âu. Có những người gia nhập họ vì quyền lực và ảnh hưởng và trong nhiều trường hợp không bận tâm đến việc thiếu thốn tài sản. Mặc dù cá nhân tu sĩ không có tài sản, nhưng tu viện với tư cách là một tập thể thực sự đã có được rất nhiều, điều này ở mức độ lớn là do cá nhân tùy ý sử dụng. |
|
First, to do no hurt. Three sins there are which work more harm than all else in the world—gossip, cruelty, and superstition—because they are sins against love. |
Thứ nhất, không làm tổn hại. Có ba tội lỗi gây ra nhiều tác hại hơn tất cả những thứ khác trên thế giới—nói hành, độc ác và mê tín—bởi vì chúng là những tội lỗi chống lại tình thương. |
|
C.W.L.—When one hears of sins which work more harm than all others one is apt to think of murder and robbery and such crimes, and perhaps is surprised to find such comparatively ordinary things as gossip, cruelty and superstition at the head of the list. The Master is taking into account the quantity of these sins, and their far-reaching effect. Murder and robbery are universally recognized as serious sins, and consequently respectable people avoid them, unless you dignify them by the name of war. But gossip is universal; and if one thinks of the harm it does in any individual case, of the great amount of mental suffering which it may cause, of the depreciation of ideals which it often brings about, then multiplies that by the millions of cases which are going on all the time, one will very soon see that it does vastly more harm than the other. It is a terrible thing to destroy a person’s ideal, to cheapen it and lower it, and make him feel that after all it is not so good or high or noble as he had thought. Sometimes there is talk of the destruction of idols as a good thing. The destruction of a person’s idol may be the most serious injury one can do him. If he idealizes something which to us is low and mean, we may, perhaps, be able to lead him to some higher ideal, but it is a most evil and wicked thing to take away his ideal without leaving him something higher and better to take its place. It is not for us to point out the flaws or to try to belittle anyone under any circumstances. |
C.W.L.—Khi nghe về những tội lỗi gây ra nhiều tác hại hơn tất cả những thứ khác, người ta dễ nghĩ đến giết người, cướp của và những tội ác như vậy, và có lẽ ngạc nhiên khi thấy những thứ tương đối bình thường như nói hành, độc ác và mê tín đứng đầu danh sách. Chân sư đang tính đến số lượng của những tội lỗi này, và hiệu ứng sâu rộng của chúng. Giết người và cướp của được mọi người công nhận là những tội lỗi nghiêm trọng, và do đó những người đáng kính tránh chúng, trừ khi bạn tôn xưng chúng bằng cái tên chiến tranh. Nhưng nói hành là phổ biến; và nếu người ta nghĩ đến tác hại mà nó gây ra trong bất kỳ trường hợp cá nhân nào, về lượng đau khổ tinh thần to lớn mà nó có thể gây ra, về sự giảm sút các lý tưởng mà nó thường mang lại, sau đó nhân điều đó với hàng triệu trường hợp đang diễn ra mọi lúc, người ta sẽ sớm thấy rằng nó gây hại nhiều hơn đáng kể so với những thứ kia. Thật là một điều khủng khiếp khi phá hủy lý tưởng của một người, làm cho nó trở nên rẻ rúng và hạ thấp nó, và làm cho y cảm thấy rằng suy cho cùng nó không tốt đẹp hay cao quý như y đã nghĩ. Đôi khi có cuộc nói chuyện về việc phá hủy các thần tượng như một điều tốt. Việc phá hủy thần tượng của một người có thể là tổn thương nghiêm trọng nhất mà người ta có thể gây ra cho y. Nếu y lý tưởng hóa một điều gì đó mà đối với chúng ta là thấp kém và hèn mọn, chúng ta có lẽ có thể dẫn y đến một lý tưởng cao hơn, nhưng đó là một điều tồi tệ và độc ác nhất khi lấy đi lý tưởng của y mà không để lại cho y điều gì cao hơn và tốt hơn để thay thế. Không phải việc của chúng ta là chỉ ra những khiếm khuyết hay cố gắng hạ thấp bất kỳ ai trong bất kỳ hoàn cảnh nào. |
|
Many of us know, probably by personal experience, what a wonderful amount of good Dr. Besant has done. Tens of thousands have seen the light through her lectures and writings, but still the gossip that has been circulated about her has prevented thousands of others from listening to her and reading her books. They say: “I have heard so-and-so about Mrs. Besant. Why should I read a book by a person of that sort?” There have been many in that way turned aside from what would have meant their salvation in this particular incarnation. Thousands of people also write to her and ask her advice about all sorts of difficulties in which they find themselves involved. Many people have been prevented from applying for such advice by the evil and utterly false reports that have been circulated about her. I think I know no one who has been more frequently and more fully attacked than our great President. Long before she became a Theosophist she was before the public as a teacher of free-thought. She was assailed and vilified first of all because she republished what is called the Knowlton pamphlet, dealing with sex problems which ought to be faced and studied, and not prudishly hidden. This pamphlet had been written long before she was born, but its publication had been discontinued on account of a threat of prosecution. Our President took the matter up partly because she believed that the question should be ventilated and that the poor should be put in possession of the information which the pamphlet gave, but still more, I think, as a matter of protest against the suppression of facts and in vindication of free speech and free publication in regard to everything that concerned the public health and public good generally. Her reissue of the pamphlet was fully intended as a challenge to what she considered a bad law; she announced beforehand to the police her intention of selling this work and invited them to come at a certain hour and officially buy a copy. They accepted the invitation, came and formally purchased the incriminating document and then proceeded to prosecute her, but the case ended in nolle prosequi. Then she wrote a more carefully worded pamphlet on the subject. Her reward for that—at any rate on the physical plane—was to have her personal character attacked in the most abominable manner. Later she withdrew the pamphlet, having come to the conclusion that it did not present the best way of dealing with this social difficulty; but I am sure she has never regretted that she did her best to deal with the facts as she then understood them. Such unselfishness and courage are rare in this world. |
Nhiều người trong chúng ta biết, có lẽ bằng kinh nghiệm cá nhân, lượng điều thiện tuyệt vời mà Bà Besant đã làm. Hàng chục ngàn người đã thấy ánh sáng qua các bài giảng và bài viết của bà, nhưng sự nói hành đã được lan truyền về bà vẫn ngăn cản hàng ngàn người khác lắng nghe bà và đọc sách của bà. Họ nói: “Tôi đã nghe điều này điều nọ về Bà Besant. Tại sao tôi phải đọc một cuốn sách của một người loại đó?” Theo cách đó, đã có nhiều người bị quay lưng khỏi những gì lẽ ra là sự cứu rỗi của họ trong lần lâm phàm đặc biệt này. Hàng ngàn người cũng viết thư cho bà và hỏi lời khuyên của bà về đủ loại khó khăn mà họ thấy mình vướng vào. Nhiều người đã bị ngăn cản khỏi việc xin lời khuyên như vậy bởi những báo cáo ác ý và hoàn toàn sai sự thật đã được lan truyền về bà. Tôi nghĩ tôi không biết ai bị tấn công thường xuyên hơn và đầy đủ hơn vị Chủ tịch vĩ đại của chúng ta. Rất lâu trước khi bà trở thành một nhà Thông Thiên Học, bà đã xuất hiện trước công chúng với tư cách là một giảng sư về tư tưởng tự do. Bà bị tấn công và phỉ báng trước hết vì bà đã tái bản cái gọi là tờ bướm Knowlton, đề cập đến các vấn đề tình dục vốn nên được đối mặt và nghiên cứu, chứ không phải bị che giấu một cách giả tạo. Tờ bướm này đã được viết từ lâu trước khi bà sinh ra, nhưng việc xuất bản nó đã bị gián đoạn do một mối đe dọa truy tố. Vị Chủ tịch của chúng ta đã tiếp nhận vấn đề này một phần vì bà tin rằng câu hỏi này nên được thông thoáng và người nghèo nên được sở hữu thông tin mà tờ bướm cung cấp, nhưng còn hơn thế nữa, tôi nghĩ, như một vấn đề phản đối việc đàn áp các sự thật và để minh oan cho tự do ngôn luận và tự do xuất bản liên quan đến mọi thứ liên quan đến sức khỏe cộng đồng và lợi ích công cộng nói chung. Việc bà tái bản tờ bướm hoàn toàn có ý định như một sự thách thức đối với cái mà bà coi là một đạo luật tồi; bà đã thông báo trước cho cảnh sát về ý định bán tác phẩm này và mời họ đến vào một giờ nhất định và mua một bản một cách chính thức. Họ đã chấp nhận lời mời, đến và mua tài liệu buộc tội một cách chính thức và sau đó tiến hành truy tố bà, nhưng vụ án kết thúc bằng việc đình chỉ tố tụng. Sau đó bà đã viết một tờ bướm với lời lẽ cẩn thận hơn về chủ đề này. Phần thưởng của bà cho điều đó—ít nhất là trên cõi hồng trần—là bị tấn công vào tính cách cá nhân theo cách đáng ghê tởm nhất. Sau đó bà đã rút lại tờ bướm, sau khi đi đến kết luận rằng nó không trình bày cách tốt nhất để giải quyết khó khăn xã hội này; nhưng tôi chắc chắn bà chưa bao giờ hối hận vì đã làm hết sức mình để giải quyết các sự thật như bà thấu hiểu chúng khi đó. Sự vô vị lợi và lòng dũng cảm như vậy là hiếm có trên thế giới này. |
|
A great deal of gossip was also started by jealous people against Madame Blavatsky. Wild and mad accusations were brought against her; these appeared instantly and obviously ridiculous to all of us who knew her personally, yet many people have been deterred by them from a careful examination of Theosophical truths. She died in 1891, yet to this day it is quite a common experience, if you mention the Theosophical Society, to be met by the remark: “Oh, yes, that was founded by Madame Blavatsky, who was exposed as a charlatan. We do not want to spend our time and energy considering the teaching of a fraud. It is not likely to contain the truth.” In this way many have missed the Theosophical knowledge that might have changed their lives. |
Rất nhiều sự nói hành cũng được bắt đầu bởi những người ghen tị chống lại Bà Blavatsky. Những lời buộc tội điên rồ và dại dột đã được đưa ra chống lại bà; những điều này ngay lập tức và rõ ràng là nực cười đối với tất cả chúng ta, những người biết bà cá nhân, tuy nhiên nhiều người đã bị ngăn cản bởi chúng khỏi việc kiểm tra cẩn thận các sự thật Thông Thiên Học. Bà mất năm 1891, nhưng cho đến ngày nay, một trải nghiệm khá phổ biến là nếu bạn đề cập đến Hội Thông Thiên Học, bạn sẽ gặp phải nhận xét: “Ồ, vâng, đó là hội do Bà Blavatsky sáng lập, người đã bị vạch trần là một kẻ lừa đảo. Chúng tôi không muốn dành thời gian và năng lượng để xem xét giáo lý của một kẻ gian lận. Nó không có khả năng chứa đựng sự thật.” Theo cách này, nhiều người đã bỏ lỡ kiến thức Thông Thiên Học vốn có thể đã thay đổi cuộc đời họ. |
|
From these instances alone we see that immeasurable harm may be done by spiteful and foolish gossip. This form of selfishness also very much hurts the feelings of the person at whom it is aimed. That the person can be hurt shows a weakness in his character, but that does not excuse the gossip, or relieve him from the evil karma which he has made. Our President is quite impervious to gossip about her, though if she is abused for more than the usual time along one particular line she does sometimes say: “This is getting very monotonous; I wish they would find something else to discuss.” I also have been much abused, but it has never cost me a night’s sleep. Thus karma falls back from us. But the harm done to others by the gossip brings its karma to those who started it and passed it on. It is more difficult not to care what is said about somebody else, and I confess I still find it hard not to be angry when some one speaks ill of our President, for example, or when unworthy thoughts, which to us who know Them are nothing less than blasphemous, are directed to the Masters. |
Chỉ từ những trường hợp này, chúng ta thấy rằng tác hại khôn lường có thể gây ra bởi sự nói hành ác ý và ngu xuẩn. Hình thức ích kỷ này cũng làm tổn thương rất nhiều cảm xúc của người mà nó nhắm tới. Việc người đó có thể bị tổn thương cho thấy một điểm yếu trong tính cách của y, nhưng điều đó không bào chữa cho kẻ nói hành, hay giải phóng y khỏi nghiệp quả xấu mà y đã tạo ra. Vị Chủ tịch của chúng ta hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi sự nói hành về bà, mặc dù nếu bà bị lăng mạ lâu hơn thời gian thông thường theo một dòng cụ thể nào đó, bà đôi khi thực sự nói: “Điều này đang trở nên rất đơn điệu; tôi ước họ tìm thấy điều gì đó khác để thảo luận.” Tôi cũng đã bị lăng mạ nhiều, nhưng nó chưa bao giờ làm tôi mất một đêm ngủ. Do đó nghiệp quả dội ngược lại từ chúng tôi. Nhưng tác hại gây ra cho những người khác bởi sự nói hành mang nghiệp quả của nó đến cho những người đã bắt đầu và truyền bá nó. Việc không quan tâm đến những gì được nói về người khác khó khăn hơn, và tôi thú nhận tôi vẫn thấy khó để không tức giận khi ai đó nói xấu vị Chủ tịch của chúng ta, chẳng hạn, hoặc khi những tư tưởng không xứng đáng, vốn đối với chúng ta, những người biết Các Ngài, không kém gì sự báng bổ, được hướng đến các Chân sư. |
|
Gossip is not real criticism. Unfortunately the very word criticism has come to mean picking holes. It is derived from the Greek krinein, to judge, and should mean a judicial attitude, but now it does not. Justice is one of the manifestations of God; therefore to judge a man’s words or actions without their context is wrong and leads to evil. I suppose there is not a scripture in the world, no matter how holy and beautiful, which could not be made ridiculous by taking some words away from their context and putting them by themselves. We are always doing that with the thoughts of other people. We find a man to be irritable; he speaks sharply, perhaps roughly, and we at once assume that this indicates his character. But we do not know the reason for his irritability. Possibly he has been sitting up all night with a sick child; somebody else may have jarred him or annoyed him intensely in some way and we get the reflex action of that, although he is not really annoyed with us. If he were a great Adept he would not be annoyed, but we are not all great Adepts yet, and so these things happen. |
Nói hành không phải là sự phê bình thực sự. Thật không may, chính từ phê bình đã mang nghĩa là bới lông tìm vết. Nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp krinein, có nghĩa là phán xét, và nên mang nghĩa là một thái độ công minh, nhưng giờ đây thì không. Công lý là một trong những sự biểu hiện của Thượng đế; do đó việc phán xét lời nói hoặc hành động của một người mà không có bối cảnh của chúng là sai lầm và dẫn đến điều ác. Tôi cho rằng không có một kinh điển nào trên thế giới, dù thánh thiện và đẹp đẽ đến đâu, mà không thể bị làm cho trở nên nực cười bằng cách lấy một số từ ngữ ra khỏi bối cảnh của chúng và đặt chúng riêng rẽ. Chúng ta luôn làm điều đó với tư tưởng của người khác. Chúng ta thấy một người hay cáu kỉnh; y nói năng sắc mỏng, có lẽ thô lỗ, và chúng ta ngay lập tức cho rằng điều này biểu thị tính cách của y. Nhưng chúng ta không biết lý do cho sự cáu kỉnh của y. Có thể y đã thức trắng đêm với một đứa con bị bệnh; ai đó khác có thể đã làm y khó chịu hoặc làm phiền y dữ dội theo một cách nào đó và chúng ta nhận được phản ứng phản xạ của điều đó, mặc dù y không thực sự khó chịu với chúng ta. Nếu y là một Chân sư vĩ đại, Ngài sẽ không khó chịu, nhưng chúng ta chưa phải là tất cả các Chân sư vĩ đại, và vì vậy những điều này xảy ra. |
|
I first learnt this as a small child, from an old coachman. I was near him one day when a man approached and spoke to him very roughly. The old coachman answered without seeming to pay any attention to the gruff tone of the other. After the man had gone, I said, “Why, John, what have you done to make that man so angry with you?” “Oh, nothing, sir; he’s not angry with me,” the old servant replied. “I haven’t annoyed him; but probably his wife or somebody else has.” And he explained to me that when once a man got thoroughly upset he was likely to vent his feelings on anyone who came in his way. |
Lần đầu tiên tôi học được điều này khi còn là một đứa trẻ nhỏ, từ một ông lão đánh xe. Một ngày nọ tôi ở gần ông khi một người đàn ông tiến lại và nói với ông rất thô lỗ. Ông lão đánh xe trả lời mà không có vẻ chú ý đến giọng điệu cộc cằn của người kia. Sau khi người đàn ông đã đi khỏi, tôi nói, “Ơ kìa, John, ông đã làm gì để khiến người đàn ông đó tức giận với ông như vậy?” “Ồ, không có gì đâu cậu chủ; ông ấy không giận tôi đâu,” người hầu già trả lời. “Tôi không làm phiền ông ấy; nhưng có lẽ vợ ông ấy hoặc ai đó khác đã làm vậy.” Và ông giải thích với tôi rằng một khi một người đã thực sự buồn bực, y có khả năng trút bỏ cảm xúc của mình lên bất kỳ ai cản đường y. |
|
The grip of unkind judgment on a man’s mind and the tenacity and virulence of its poison would be unbelievable, did we not have thrust upon us constant evidence of it. A man gets a wrong idea, and his whole outlook is coloured by it. We have seen that even in regard to this book. When I first heard this teaching about gossip given to Alcyone, long before the book was published, I was much impressed by its importance, so I repeated it on several occasions. When the book was issued some people immediately pounced upon the fact that these statements had been made months before it was published, and said that therefore part of it must have been my work. |
Sự kìm kẹp của sự phán xét không tử tế lên tâm trí một người và sự ngoan cố cũng như độc tính của chất độc của nó sẽ là không thể tin được, nếu chúng ta không bị thúc ép bởi những bằng chứng liên tục về nó. Một người có một ý tưởng sai lầm, và toàn bộ cái nhìn của y bị nhuốm màu bởi nó. Chúng ta đã thấy điều đó ngay cả đối với cuốn sách này. Khi tôi lần đầu tiên nghe giáo lý này về sự nói hành được trao cho Alcyone, rất lâu trước khi cuốn sách được xuất bản, tôi đã rất ấn tượng bởi tầm quan trọng của nó, vì vậy tôi đã lặp lại nó trong vài dịp. Khi cuốn sách được phát hành, một số người ngay lập tức vồ lấy sự thật rằng những tuyên bố này đã được đưa ra nhiều tháng trước khi nó được xuất bản, và nói rằng do đó một phần của nó chắc chắn là tác phẩm của tôi. |
|
I have mentioned that there were two periods in the development of Alcyone’s memory of astral plane experiences; one during which he could not remember perfectly, when I would repeat to him the special precept given to him by the Master as applying to the next day; the other, in which he could bring through the memory. I found that in Bombay the story was being circulated that the whole book had been repeated to him by me in that way. But, as a matter of fact, the book.was written in the second period, when he was able to remember what the Master had said to him, and he wrote it down by himself. When people get a little twist like that they distort everything. I have suffered from all sorts of injustice and misconception in consequence of such distortion of facts. I do not mind in the least, but it shows me very clearly how easy it is for people to misunderstand when they start with a wrong idea. I have seen the most ludicrous mistakes made, in which every event that occurred was made to bolster up some idea for which there was no foundation in fact, but which was simply imagination from beginning to end. |
Tôi đã đề cập rằng có hai giai đoạn trong sự phát triển trí nhớ của Alcyone về các trải nghiệm trên cõi cảm dục; một giai đoạn mà y không thể nhớ hoàn hảo, khi đó tôi sẽ lặp lại cho y giới luật đặc biệt mà Chân sư đã trao cho y để áp dụng cho ngày hôm sau; giai đoạn kia, trong đó y có thể mang ký ức về. Tôi thấy rằng ở Bombay câu chuyện đang được lan truyền rằng toàn bộ cuốn sách đã được tôi lặp lại cho y theo cách đó. Nhưng, trên thực tế, cuốn sách đã được viết trong giai đoạn thứ hai, khi y có thể nhớ những gì Chân sư đã nói với y, và y đã tự mình viết nó ra. Khi mọi người có một sự xuyên tạc nhỏ như vậy, họ bóp méo mọi thứ. Tôi đã phải chịu đựng đủ loại bất công và quan niệm sai lầm do kết quả của sự bóp méo các sự thật như vậy. Tôi hoàn toàn không bận tâm, nhưng nó cho tôi thấy rất rõ việc mọi người dễ dàng hiểu lầm như thế nào khi họ bắt đầu với một ý tưởng sai lầm. Tôi đã thấy những sai lầm nực cười nhất được tạo ra, trong đó mọi sự kiện xảy ra đều được tạo ra để ủng hộ một ý tưởng nào đó vốn không có cơ sở trong thực tế, mà chỉ đơn giản là sự tưởng tượng từ đầu đến cuối. |
|
One of the experiments we have to make in the course of our occult training is to identify ourselves with the consciousness of certain animals. It is merely a question of practice; a pupil is set to do that in order that he may be able to learn later how to do the same thing with other and higher forms of consciousness. We consider ourselves far superior to any kind of animal, and rightly, since we belong to a higher kingdom. It should therefore be perfectly simple for us to understand the mind of that animal, yet from the experience I have had I imagine almost everybody who pays any attention to animals must be misrepresenting their ideas and motives all the time. When you really find out what an animal is thinking, you discover that it has reasons for what it does which never occurred to you. Since we are unable to understand the animal, whose lines of thought are few and simple, we are even less likely to understand our fellow-men. We are nearer to the human being, of course, but I doubt whether any human being ever understands another human being at all. Strange as it may sound, we are all isolated; each stands by himself. There is another way in which it is true that we are a mighty brotherhood, yet as far as our minds are concerned, each lives in a tower of his own. The circumference of his mind touches that of another man’s only at a point, and even there only doubtfully and uncertainly. |
Một trong những thí nghiệm chúng ta phải thực hiện trong quá trình huấn luyện huyền môn của mình là đồng nhất mình với tâm thức của một số loài động vật. Đó chỉ là vấn đề thực hành; một đệ tử được giao làm điều đó để y có thể học cách làm điều tương tự sau này với các hình thức tâm thức khác và cao hơn. Chúng ta coi mình vượt trội hơn nhiều so với bất kỳ loại động vật nào, và đúng như vậy, vì chúng ta thuộc về một giới cao hơn. Do đó, lẽ ra việc thấu hiểu tâm trí của con vật đó phải hoàn toàn đơn giản đối với chúng ta, tuy nhiên từ kinh nghiệm tôi đã có, tôi hình dung hầu như tất cả những ai chú ý đến động vật chắc hẳn đang xuyên tạc các ý tưởng và động cơ của chúng mọi lúc. Khi bạn thực sự tìm ra con vật đang nghĩ gì, bạn khám phá ra rằng nó có những lý do cho những gì nó làm mà chưa bao giờ nảy ra trong đầu bạn. Vì chúng ta không thể thấu hiểu con vật, vốn có các dòng tư tưởng ít ỏi và đơn giản, nên chúng ta thậm chí còn ít có khả năng thấu hiểu đồng loại của mình hơn. Tất nhiên chúng ta gần gũi với con người hơn, nhưng tôi nghi ngờ liệu có con người nào thực sự thấu hiểu một con người khác hay không. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng tất cả chúng ta đều bị cô lập; mỗi người đứng một mình. Có một cách khác mà trong đó đúng là chúng ta là một huynh đệ đoàn hùng mạnh, tuy nhiên xét về tâm trí của chúng ta, mỗi người sống trong một tòa tháp của riêng mình. Chu vi tâm trí của y chỉ chạm vào chu vi tâm trí của người khác tại một điểm, và ngay cả ở đó cũng chỉ là sự mơ hồ và không chắc chắn. |
|
Against these three the man who would fill his heart with the love of God must watch ceaselessly. |
Chống lại ba điều này, người muốn lấp đầy trái tim mình bằng tình thương của Thượng đế phải canh chừng không ngừng nghỉ. |
|
C.W.L.—One would think it fairly easy to avoid the three evils mentioned. It is not, because they are so painfully common and so much a matter of habit that few people realize their existence. They are our special difficulties because of the place where we stand in evolution. We have been developing the lower mind which looks first for points of difference. Because of that people notice first the points which they do not like in anything which comes before them; then comment and criticism almost invariably follow. The man who is devoting his energies to picking holes and finding differences is behind the times—a hopeless anachronism. We ought now to be studying synthesis and trying to find the divine and good in everything, because we should be beginning to develop buddhi. We are trying to live for to-morrow, not for yesterday; therefore we must not let ourselves be swept away by this tide of ignorant obscurantism; but we have constantly to remind ourselves not to give way, otherwise the stream will so surround and press upon us that we shall occasionally slip back. |
C.W.L.—Người ta sẽ nghĩ rằng khá dễ dàng để tránh ba điều ác đã đề cập. Không phải vậy, bởi vì chúng phổ biến một cách đau đớn và là vấn đề thói quen đến mức ít người nhận ra sự tồn tại của chúng. Chúng là những khó khăn đặc biệt của chúng ta vì vị trí của chúng ta trong sự tiến hoá. Chúng ta đã và đang phát triển hạ trí vốn tìm kiếm các điểm khác biệt trước tiên. Vì điều đó, mọi người chú ý trước tiên đến các điểm mà họ không thích trong bất cứ điều gì đến trước mặt họ; sau đó lời bình luận và phê bình hầu như luôn theo sau. Người đang cống hiến năng lượng của mình để bới lông tìm vết và tìm kiếm sự khác biệt là người lạc hậu—một sự lỗi thời vô vọng. Giờ đây chúng ta nên nghiên cứu sự tổng hợp và cố gắng tìm thấy thiên tính và điều thiện trong mọi thứ, bởi vì chúng ta nên bắt đầu phát triển bồ đề. Chúng ta đang cố gắng sống cho ngày mai, chứ không phải cho ngày hôm qua; do đó chúng ta không được để mình bị cuốn đi bởi làn sóng ngu muội này; nhưng chúng ta phải liên tục nhắc nhở mình không được nhượng bộ, nếu không dòng chảy sẽ bao quanh và ép lên chúng ta đến mức thỉnh thoảng chúng ta sẽ trượt lùi. |
CHAPTER 3
GOSSIP
NÓI HÀNH (NÓI HÀNH)
|
See what gossip does. It begins with evil thought, and that in itself is a crime. For in everyone and in everything there is good; in everyone and in everything there is evil. Either of these we can strengthen by thinking of it, and in this way we can help or hinder evolution; we can do the will of the Logos or we can resist Him. If you think of the evil in another, you are doing at the same time three wicked things. |
Hãy xem việc nói hành gây ra điều gì. Nó bắt đầu bằng tư tưởng xấu, và bản thân điều đó đã là một tội ác. Vì trong mỗi người và trong mọi vật đều có điều thiện; trong mỗi người và trong mọi vật đều có điều ác. Chúng ta có thể làm mạnh thêm một trong hai điều này bằng cách nghĩ về nó, và theo cách này chúng ta có thể giúp đỡ hoặc cản trở sự tiến hoá; chúng ta có thể thực hiện Thiên Ý của Thượng đế hoặc chúng ta có thể kháng cự Ngài. Nếu con nghĩ về điều xấu ở người khác, con đang đồng thời làm ba điều độc ác. |
|
C.W.L.—The Master speaks of evil thought as a crime. When we remember how exceedingly careful and balanced is the speech of the Master always, we realize that that against which He speaks so strongly must be evil indeed. |
C.W.L.—Chân sư nói về tư tưởng xấu như một tội ác. Khi chúng ta nhớ rằng lời nói của Chân sư luôn vô cùng cẩn thận và quân bình, chúng ta nhận ra rằng điều mà Ngài nói chống lại một cách mạnh mẽ như vậy chắc chắn phải thực sự xấu xa. |
|
An attempt to understand the motives of another man, to follow his line of reasoning, is very likely to be incorrect; therefore the least we can do is to give him the benefit of the doubt. Most people are on the whole quite respectable and well-meaning, therefore we should give them the credit of good intentions. If we are wrong, our slightly higher thought about the person will act upon him and actually do him good. When you hear something to the disadvantage of another, ask yourself whether you would repeat that piece of gossip and send it on to be magnified if it were about your own son or brother? No, emphatically you would not. You would combat it in the first place, and in any case you would not circulate it. Why should you act differently with regard to somebody else’s son or brother? |
Một nỗ lực để thấu hiểu động cơ của một người khác, để theo đuổi dòng lý luận của y, rất có thể là không chính xác; do đó điều tối thiểu chúng ta có thể làm là dành cho y sự tin tưởng khi còn nghi ngờ. Hầu hết mọi người nhìn chung đều khá đáng kính và có thiện chí, do đó chúng ta nên ghi nhận cho họ những ý định tốt. Nếu chúng ta sai, tư tưởng cao hơn một chút của chúng ta về người đó sẽ tác động lên y và thực sự mang lại điều tốt cho y. Khi bạn nghe điều gì đó bất lợi cho người khác, hãy tự hỏi liệu bạn có lặp lại mẩu chuyện nói hành đó và gửi nó đi để được phóng đại lên nếu nó nói về con trai hay anh em của chính bạn không? Không, chắc chắn là bạn sẽ không làm vậy. Trước hết bạn sẽ chống lại nó, và trong bất kỳ trường hợp nào bạn cũng sẽ không truyền bá nó. Tại sao bạn lại hành động khác đi đối với con trai hay anh em của người khác? |
|
You are filling your neighbourhood with evil thought instead of with good thought, and so you are adding to the sorrow of the world. |
Con đang làm đầy môi trường xung quanh mình bằng tư tưởng xấu thay vì tư tưởng tốt, và do đó con đang gia tăng nỗi đau khổ của thế giới. |
|
C.W.L.—The world is very much to us what we make it and as we take it. If a man is pessimistic, bent upon finding evil and darkness, looking for a chance to be offended or hurt, he can find it. There is evil in the world and much sorrow in these lower planes, as the Lord Buddha pointed out. We can magnify these things into serious difficulties, or we can approach the world optimistically, in a cheery spirit of determination to make the best of everything. In the latter case we shall find that there is a great deal that is bright, and shall also be making the world more cheerful for others by our outer life and our thought-power. |
C.W.L.—Thế giới đối với chúng ta phần lớn là những gì chúng ta tạo ra và cách chúng ta đón nhận nó. Nếu một người bi quan, có xu hướng tìm kiếm điều ác và bóng tối, tìm kiếm cơ hội để bị xúc phạm hoặc tổn thương, y có thể tìm thấy nó. Có điều ác trên thế giới và nhiều nỗi đau khổ trong các cõi thấp này, như Đức Phật đã chỉ ra. Chúng ta có thể phóng đại những điều này thành những khó khăn nghiêm trọng, hoặc chúng ta có thể tiếp cận thế giới một cách lạc quan, trong một tinh thần quyết tâm vui vẻ để làm tốt nhất mọi thứ. Trong trường hợp sau, chúng ta sẽ thấy rằng có rất nhiều điều tươi sáng, và cũng sẽ làm cho thế giới vui vẻ hơn cho những người khác bằng đời sống bên ngoài và quyền năng tư tưởng của chúng ta. |
|
There are many people who have been practising regular meditation for many years. They must inevitably have learnt to think a little more definitely than those who have made no such attempt; their thoughts are therefore more powerful. If these people should think evil of others, it is very much worse in a great number of ways than if the ordinary person did it. First, because they know better, they are, as it is expressed in the Church, “sinning against light”. Secondly, their thought produces definite and relatively permanent forms, which often have considerable influence in the astral and mental atmosphere. Use your power, therefore, to make the world brighter and happier. You have no idea how much that can be done, simply by putting away all sorrowful and selfish thought, and filling yourself with love that will radiate all around you. |
Có nhiều người đã thực hành tham thiền đều đặn trong nhiều năm. Họ chắc chắn phải học cách suy nghĩ xác định hơn một chút so với những người không có nỗ lực như vậy; do đó tư tưởng của họ quyền năng hơn. Nếu những người này nghĩ xấu về người khác, điều đó tồi tệ hơn nhiều theo rất nhiều cách so với việc một người bình thường làm điều đó. Thứ nhất, vì họ biết rõ hơn, họ đang, như được diễn đạt trong Giáo hội, “phạm tội chống lại ánh sáng”. Thứ hai, tư tưởng của họ tạo ra những hình tướng xác định và tương đối trường tồn, vốn thường có ảnh hưởng đáng kể trong bầu không khí cảm dục và trí tuệ. Do đó, hãy sử dụng quyền năng của bạn để làm cho thế giới tươi sáng hơn và hạnh phúc hơn. Bạn không biết điều đó có thể được thực hiện nhiều đến mức nào, chỉ đơn giản bằng cách gạt bỏ tất cả tư tưởng u sầu và ích kỷ, và lấp đầy bản thân bằng tình thương vốn sẽ tỏa rạng ra xung quanh bạn. |
|
If there is in that man the evil which you think, you are strengthening it and feeding it; and so you are making your brother worse instead of better. But generally the evil is not there, and you have only fancied it; and then your wicked thought tempts your brother to do wrong, for if he is not yet perfect you may make him that which you have thought him. |
Nếu trong người đó có điều xấu mà con nghĩ, con đang củng cố và nuôi dưỡng nó; và do đó con đang làm cho anh em mình trở nên tồi tệ hơn thay vì tốt hơn. Nhưng thường thì điều xấu không có ở đó, và con chỉ mới tưởng tượng ra nó; và khi đó tư tưởng độc ác của con cám dỗ anh em mình làm sai, vì nếu y chưa hoàn hảo, con có thể làm cho y trở thành điều mà con đã nghĩ về y. |
|
C.W.L.—The clairvoyant can see the thoughts of one person going to another and buzzing round him like a crowd of mosquitos. They cannot get in while the man is busy with some other matter, but when his thoughts for the moment slacken, when he is meditative or tired, or absent-minded for a moment, they take their opportunity. The thought-form then fastens on his aura like a burr, and by its vibrations gradually colours the part on which it has impinged, and from there its influence spreads. Thus it suggests the bad or good idea, and if there be something in him that is akin to it, as is usually the case, it sets that in motion. |
C.W.L.—Nhà thông nhãn có thể thấy tư tưởng của một người đi đến một người khác và vo ve quanh y như một đám muỗi. Chúng không thể lọt vào trong khi người đó đang bận rộn với một vấn đề khác, nhưng khi tư tưởng của y tạm thời buông lỏng, khi y đang trầm tư hoặc mệt mỏi, hoặc lơ đãng trong chốc lát, chúng sẽ tận dụng cơ hội. Hình tư tưởng khi đó bám vào hào quang của y như một cái gai, và bằng những rung động của nó, nó dần dần nhuốm màu phần mà nó đã tác động vào, và từ đó ảnh hưởng của nó lan rộng. Do đó nó gợi ý ý tưởng xấu hoặc tốt, và nếu có điều gì đó trong y tương đồng với nó, như thường lệ, nó sẽ làm cho điều đó chuyển động. |
|
A little impetus given to another might not matter so much sometimes, but in some cases it makes all the difference in the world. School boys running about often push one another; cases have been known in which a boy has quite unintentionally pushed another over the edge of a precipice. You never know when a man’s thought may be on the verge of some wrong course of action, and one evil thought about him may just push him over. On the other hand, when a man is in that way balanced between the good and the evil, one strong, helpful, good thought may push him definitely on the good side and set him going on a career which may mean for him rapid development. |
Một chút thúc đẩy dành cho người khác đôi khi có thể không quan trọng lắm, nhưng trong một số trường hợp, nó tạo ra tất cả sự khác biệt trên thế giới. Các nam sinh chạy nhảy thường xô đẩy nhau; đã có những trường hợp được biết đến trong đó một cậu bé đã vô tình đẩy một cậu bé khác rơi xuống vực thẳm. Bạn không bao giờ biết khi nào tư tưởng của một người có thể đang ở bên bờ vực của một hành động sai trái nào đó, và một tư tưởng xấu về y có thể vừa vặn đẩy y xuống. Mặt khác, khi một người đang ở trạng thái quân bình giữa điều thiện và điều ác như vậy, một tư tưởng tốt, mạnh mẽ, hữu ích có thể đẩy y dứt khoát về phía thiện và đưa y vào một sự nghiệp vốn có thể mang lại cho y sự phát triển nhanh chóng. |
|
I have seen cases in which an evil thought about a man led to a course of evil action on his part the result of which would last for many lives; it was near the surface, but it had not materialized itself in action; there came an evil thought from some one else, which gave just the push which sent him over from thought into action, and committed him to a course of crime. Till you see that clairvoyantly you will scarcely be able to realize it; but see it once, and you will be careful forever, with a care born of horror. It gives you a new sense of responsibility, sometimes rather overwhelming. Remember how the poet Schiller wrote about clairvoyance, how he desired the welcome blindness of the senses again; “Take back your cruel gift; take back this dreadful gift,” was what he said. |
Tôi đã thấy những trường hợp trong đó một tư tưởng xấu về một người dẫn đến một chuỗi hành động xấu về phía y mà kết quả của nó sẽ kéo dài trong nhiều kiếp; nó đã ở gần bề mặt, nhưng nó chưa cụ thể hóa thành hành động; có một tư tưởng xấu từ một người nào đó khác đến, vốn vừa vặn đưa ra cái đẩy khiến y chuyển từ tư tưởng sang hành động, và dấn thân vào một Thánh Đạo tội lỗi. Cho đến khi bạn thấy điều đó bằng nhãn thông, bạn sẽ khó có thể nhận ra nó; nhưng hãy thấy nó một lần, và bạn sẽ cẩn thận mãi mãi, với một sự cẩn thận sinh ra từ sự kinh hãi. Nó cho bạn một cảm giác trách nhiệm mới, đôi khi khá choáng ngợp. Hãy nhớ nhà thơ Schiller đã viết như thế nào về nhãn thông, cách ông mong muốn sự mù quáng dễ chịu của các giác quan một lần nữa; “Hãy lấy lại món quà nghiệt ngã của ngài; hãy lấy lại món quà khủng khiếp này,” là những gì ông đã nói. |
|
You fill your own mind with evil thoughts instead of good; and so you hinder your own growth, and make yourself, for those wh6 can see, an ugly and painful object instead of a beautiful and lovable one. |
Con lấp đầy tâm trí mình bằng những tư tưởng xấu thay vì tốt; và do đó con cản trở sự trưởng thành của chính mình, và làm cho mình, đối với những người có thể thấy, trở thành một đối tượng xấu xí và đau đớn thay vì một đối tượng đẹp đẽ và đáng yêu. |
|
C.W.L.—Many people take much trouble about their physical personal appearance, and the grace and gentleness of their manners, not merely because they are anxious to appear at their best and to be thought well of, but also because it is recognized to be a duty to society in general. In ancient days it was understood to be every man’s duty to make himself as perfect and as beautiful as possible in every way; in attire, appearance, speech and action, he was to learn the right, the graceful, the proper way to do everything. Not only one’s personality but one’s surroundings also were to be not merely useful but also beautiful. If a man built a house it was his duty to his neighbours to put up something that would be graceful and beautiful, though not necessarily costly; and his pottery, as well as his statues and pictures, was to be good. In these days many think only of building as cheaply as they can, regardless of the hideous effect produced. A man builds a great ugly house or factory, and everybody who is sensitive shrinks back from it at once, and all who look at it are the worse for doing so. The man who is responsible for the building actually makes bad karma. Some think such things do not matter, but they do. Our surroundings are of very great importance. True, the strong soul can conquer, but why should we not have things which would help us instead of those which hinder us? Everybody who builds a beautiful house deserves well of his fellow-citizens, because he has put up something the sight of which will benefit everyone who sees it. The touch of pleasure that you get when you see something beautiful is no light thing. I always feel that our gratitude is due to anybody who wears a beautiful colour, because of the effect that colour produces in this terribly grey civilization of ours. |
C.W.L.—Nhiều người tốn nhiều công sức cho vẻ ngoài hồng trần của mình, và sự duyên dáng cũng như dịu dàng trong cách cư xử của họ, không chỉ vì họ lo lắng muốn xuất hiện ở trạng thái tốt nhất và được đánh giá cao, mà còn vì điều đó được công nhận là một nghĩa vụ đối với xã hội nói chung. Vào thời cổ đại, người ta hiểu rằng nghĩa vụ của mỗi người là làm cho mình trở nên hoàn hảo và đẹp đẽ nhất có thể về mọi mặt; trong trang phục, diện mạo, lời nói và hành động, y phải học cách đúng đắn, duyên dáng, thích hợp để làm mọi việc. Không chỉ phàm ngã của một người mà cả môi trường xung quanh y cũng phải không chỉ hữu dụng mà còn đẹp đẽ. Nếu một người xây một ngôi nhà, đó là nghĩa vụ của y đối với hàng xóm là phải dựng lên một cái gì đó duyên dáng và đẹp đẽ, mặc dù không nhất thiết phải tốn kém; và đồ gốm của y, cũng như các bức tượng và tranh vẽ của y, phải tốt. Trong những ngày này, nhiều người chỉ nghĩ đến việc xây dựng càng rẻ càng tốt, bất chấp hiệu ứng gớm ghiếc được tạo ra. Một người xây một ngôi nhà hoặc nhà máy lớn xấu xí, và mọi người nhạy cảm đều lùi lại ngay lập tức, và tất cả những ai nhìn vào nó đều trở nên tồi tệ hơn vì đã làm vậy. Người chịu trách nhiệm cho tòa nhà thực sự tạo ra nghiệp xấu. Một số người nghĩ những điều như vậy không quan trọng, nhưng chúng có quan trọng. Môi trường xung quanh chúng ta có tầm quan trọng rất lớn. Đúng là linh hồn mạnh mẽ có thể chinh phục, nhưng tại sao chúng ta không nên có những thứ giúp đỡ chúng ta thay vì những thứ cản trở chúng ta? Mọi người xây một ngôi nhà đẹp đều xứng đáng được các đồng bào của mình biết ơn, bởi vì y đã dựng lên một cái gì đó mà cái nhìn vào nó sẽ mang lại lợi ích cho tất cả những ai thấy nó. Sự chạm vào niềm vui mà bạn nhận được khi thấy một cái gì đó đẹp đẽ không phải là điều nhẹ nhàng. Tôi luôn cảm thấy rằng lòng biết ơn của chúng ta thuộc về bất kỳ ai mặc một màu sắc đẹp, vì hiệu ứng mà màu sắc đó tạo ra trong nền văn minh xám xịt khủng khiếp này của chúng ta. |
|
All that is true of beauty physically is even more evident on other planes. The man who makes for himself a radiant and beautiful astral body, full of love and devotion, which he pours out on all around him, deserves the gratitude of his fellows. The audience on the astral plane is generally larger than that on the physical. If we allow ourselves to appear badly in the astral world, a far greater number of people are scandalized by our appearance or annoyed by it, than could possibly be the case on the physical plane. Not only do the inhabitants of the astral world see the beauty of it, but everyone, even those who do not see, feels it. These vibrations act upon them, and the people are helped thereby. The man who yields himself to ugly, selfish, evil thoughts is spreading unpleasantness about him, besides being a horribly disagreeable and unpleasant sight. In the physical plane people hide their loathsome diseases, but the astral leper carries his sores in full view. |
Tất cả những gì đúng về vẻ đẹp hồng trần thậm chí còn rõ ràng hơn trên các cõi khác. Người tạo ra cho mình một thể cảm dục rạng rỡ và đẹp đẽ, tràn đầy tình thương và sự sùng tín, vốn y tuôn đổ lên tất cả những người xung quanh mình, xứng đáng nhận được lòng biết ơn của đồng loại. Khán giả trên cõi cảm dục thường đông hơn trên cõi hồng trần. Nếu chúng ta để mình xuất hiện tồi tệ trong thế giới cảm dục, một số lượng người lớn hơn nhiều sẽ bị sốc bởi diện mạo của chúng ta hoặc bị khó chịu bởi nó, so với trường hợp có thể xảy ra trên cõi hồng trần. Không chỉ những cư dân của thế giới cảm dục thấy vẻ đẹp của nó, mà mọi người, ngay cả những người không thấy, cũng cảm nhận được nó. Những rung động này tác động lên họ, và mọi người được giúp đỡ nhờ đó. Người buông mình cho những tư tưởng xấu xí, ích kỷ, độc ác đang gieo rắc sự khó chịu xung quanh mình, bên cạnh việc là một cảnh tượng khó ưa và khó chịu khủng khiếp. Ở cõi hồng trần, mọi người che giấu những căn bệnh ghê tởm của họ, nhưng kẻ hủi cảm dục mang những vết loét của mình ra cho mọi người thấy. |
|
Not content with having done all this harm to himself and to his victim, the gossip tries with all his might to make other men partners in his crime. Eagerly he tells his wicked tale to them, hoping that they will believe it; and then they join with him in pouring evil thought upon the poor sufferer. And this goes on day after day, and is done not by one man but by thousands. Do you begin to see how base, how terrible a sin this is? You must avoid it altogether. Never speak ill of any one; refuse to listen when any one else speaks ill of another, but gently say: “Perhaps this is not true, and even if it is, it is kinder not to speak of it.” |
Không bằng lòng với việc đã gây ra tất cả tác hại này cho chính mình và cho nạn nhân của mình, kẻ nói hành cố gắng hết sức để làm cho những người khác trở thành đối tác trong tội ác của mình. Y hăm hở kể câu chuyện độc ác của mình cho họ, hy vọng rằng họ sẽ tin nó; và khi đó họ cùng với y tuôn đổ tư tưởng xấu lên người chịu đựng tội nghiệp. Và điều này diễn ra ngày này qua ngày khác, và được thực hiện không phải bởi một người mà bởi hàng ngàn người. Con có bắt đầu thấy tội lỗi này hèn hạ, khủng khiếp như thế nào không? Con phải tránh nó hoàn toàn. Đừng bao giờ nói xấu bất kỳ ai; hãy từ chối lắng nghe khi bất kỳ ai khác nói xấu người khác, mà hãy nhẹ nhàng nói: “Có lẽ điều này không đúng, và ngay cả khi đúng, thì không nói về nó sẽ tử tế hơn.” |
|
C.W.L.—It requires a certain amount of courage to say this, but it should be done, in kindness to the gossip, as well as to the person who is being criticized. One may do it gently by using the first person plural: “Perhaps we had better not say any more about it.” Then you have not appeared to assume superiority, which is both unoccult and irritating, and probably the man will agree with you, and let the matter drop. |
C.W.L.—Cần một lượng can đảm nhất định để nói điều này, nhưng nó nên được thực hiện, trong sự tử tế đối với kẻ nói hành, cũng như đối với người đang bị phê bình. Người ta có thể làm điều đó một cách nhẹ nhàng bằng cách sử dụng ngôi thứ nhất số nhiều: “Có lẽ chúng ta tốt hơn không nên nói thêm gì về điều đó nữa.” Khi đó bạn không có vẻ như tự phụ mình vượt trội, điều vốn vừa không huyền môn vừa gây kích động, và có lẽ người đó sẽ đồng ý với bạn, và để vấn đề trôi qua. |
CHAPTER 4
CRUELTY
SỰ ĐỘC ÁC
|
Then as to cruelty. This is of two kinds, intentional and unintentional. Intentional cruelty is purposely to give pain to another living being; and that is the greatest of all sins—the work of a devil rather than a man. You would say that no man could do such a thing; but men have done it often, and are daily doing it now. The inquisitors did it; many religious people did it in the name of their religion. |
Tiếp theo là về sự độc ác. Điều này có hai loại, cố ý và vô ý. Sự độc ác cố ý là cố tình gây đau đớn cho một sinh vật khác; và đó là tội lỗi lớn nhất trong tất cả các tội lỗi—công việc của một con quỷ hơn là một con người. Con sẽ nói rằng không ai có thể làm một điều như vậy; nhưng con người đã làm điều đó thường xuyên, và đang làm điều đó hàng ngày. Những kẻ thẩm tra đã làm điều đó; nhiều người sùng đạo đã làm điều đó nhân danh tôn giáo của họ. |
|
C.W.L.—Cruelty is the work of a devil rather than a man; that is how it looks to a Master. Very often in daily life a man does or says something in order to cause pain to somebody else. He comes under that condemnation; he is doing a thing which is worthy of a devil rather than a man. It seems incredible, but people can be found who do it. |
C.W.L.—Sự độc ác là công việc của một con quỷ hơn là một con người; đó là cách nó xuất hiện đối với một Chân sư. Rất thường xuyên trong đời sống hàng ngày, một người làm hoặc nói điều gì đó để gây đau đớn cho ai đó khác. Y rơi vào sự lên án đó; y đang làm một điều vốn xứng đáng với một con quỷ hơn là một con người. Điều đó có vẻ khó tin, nhưng có thể tìm thấy những người làm điều đó. |
|
Horrible things have been done in the name of religion. Read the oldest literature we know, the Vedas, and we find evidence of them cropping out very strongly there. We find the Aryans pouring down into the plains of India and proceeding to put to the sword the people who were there. Nothing is too dreadful to be done to these people; they must be wiped off the face of the earth! Why? For one all-sufficient reason: because their rites are different! The Muhammadans swept over a large part of the world offering their Koran or the sword to the people they conquered. Christians have been no better. The same spirit led to the persecutions by the Inquisitors, the atrocious treatment of the South American Indians, and all the rest of such things. We think we are becoming more civilized now, yet even today religious feeling is very strong and bitter in some quarters. It is the fashion to say that even if the law permitted such persecutions as used to take place, our higher civilization would prevent us from ever resorting to the horrors of the past. I am not so sure of it. I know places in England where a person of unorthodox religious views is regarded as to be excluded from social functions, and to be suspected of all sorts of bad things. We do not put people on the rack, and wrench out their teeth, as our forefathers did. Autres temps, autres tnoeurs! I do not think I should like to see absolute power given into the hands of any of the dogmatic sects. |
Những điều khủng khiếp đã được thực hiện nhân danh tôn giáo. Hãy đọc văn học cổ nhất mà chúng ta biết, kinh Veda, và chúng ta thấy bằng chứng về chúng hiện rõ rất mạnh mẽ ở đó. Chúng ta thấy người Arya tràn xuống các đồng bằng của Ấn Độ và tiến hành tiêu diệt bằng gươm giáo những người ở đó. Không có gì là quá khủng khiếp để làm với những người này; họ phải bị xóa sổ khỏi mặt đất! Tại sao? Vì một lý do hoàn toàn đầy đủ: vì các nghi lễ của họ khác biệt! Người Hồi giáo đã quét qua một phần lớn thế giới, đưa ra kinh Koran hoặc thanh kiếm cho những người họ chinh phục. Những người Kitô hữu cũng không tốt hơn. Cùng một tinh thần đó đã dẫn đến các cuộc đàn áp của những kẻ thẩm tra, sự đối xử tàn bạo với người da đỏ Nam Mỹ, và tất cả những thứ còn lại như vậy. Chúng ta nghĩ rằng giờ đây chúng ta đang trở nên văn minh hơn, tuy nhiên ngay cả ngày nay cảm xúc tôn giáo vẫn rất mạnh mẽ và cay đắng ở một số nơi. Thật là thời thượng khi nói rằng ngay cả khi luật pháp cho phép những cuộc đàn áp như đã từng diễn ra, nền văn minh cao hơn của chúng ta sẽ ngăn cản chúng ta khỏi việc bao giờ dùng đến những nỗi kinh hoàng của quá khứ. Tôi không chắc chắn về điều đó. Tôi biết những nơi ở Anh, nơi một người có quan điểm tôn giáo không chính thống bị coi là bị loại khỏi các chức năng xã hội, và bị nghi ngờ về đủ loại điều xấu. Chúng ta không đưa người ta lên giá tra tấn, và nhổ răng của họ, như tổ tiên chúng ta đã làm. Autres temps, autres moeurs! Tôi không nghĩ mình muốn thấy quyền lực tuyệt đối được trao vào tay bất kỳ giáo phái giáo điều nào. |
|
Vivisectors do it. |
Những kẻ mổ xẻ động vật sống làm điều đó. |
|
C.W.L.—There is no excuse for practising deliberate cruelty to animals. They are our younger brothers, and though not yet men, they will become so after a greater or lesser number of incarnations. The practice of animal experimentation involving cruelty is abhorrent, and can never really benefit mankind, because the law of karma cannot be changed, and as man sows so shall he also reap. I have heard Dr. Besant say that no lives ought to be saved by such methods as that. We know that the instinct of self-preservation is strongly implanted in every man and every animal, so that the body which has been acquired at the cost of considerable effort and trouble may give service to the life within as long as possible, and that therefore human life must be saved when it can rightly be done. But that end cannot justify all possible means. We rightly admire the men who face death rather than dishonour; surely it is great dishonour to human beings to have their lives saved by anything obtained in such a diabolical manner as this. Our President said she would rather die than be saved in this way. |
C.W.L.—Không có lý do gì để thực hành sự độc ác cố ý đối với động vật. Chúng là những người anh em trẻ hơn của chúng ta, và mặc dù chưa phải là người, chúng sẽ trở thành như vậy sau một số lần lâm phàm nhiều hay ít. Việc thực hành thí nghiệm trên động vật liên quan đến sự độc ác là đáng ghê tởm, và không bao giờ có thể thực sự mang lại lợi ích cho nhân loại, bởi vì định luật nghiệp quả không thể thay đổi, và con người gieo gì thì y cũng sẽ gặt nấy. Tôi đã nghe Bà Besant nói rằng không có mạng sống nào nên được cứu bằng những phương pháp như vậy. Chúng ta biết rằng bản năng tự bảo tồn được cấy sâu vào mỗi con người và mỗi con vật, để thể xác vốn đã đạt được với cái giá của sự nỗ lực và rắc rối đáng kể có thể phục vụ cho sự sống bên trong càng lâu càng tốt, và do đó mạng sống con người phải được cứu khi điều đó có thể được thực hiện một cách đúng đắn. Nhưng mục đích đó không thể biện minh cho tất cả các phương tiện có thể. Chúng ta ngưỡng mộ một cách đúng đắn những người đối mặt với cái chết hơn là sự nhục nhã; chắc chắn là một sự nhục nhã lớn đối với con người khi mạng sống của họ được cứu bởi bất cứ điều gì có được theo một cách ma quỷ như thế này. Vị Chủ tịch của chúng ta nói bà thà chết còn hơn được cứu theo cách này. |
|
There is very varied opinion on this subject among members of the Theosophical Society, in which everyone is free to have his own beliefs, but the Master’s opinion, as quoted above, is definite. Whatever may be our abhorrence of the cruelty of vivisection, however, we must make allowances for the fact that many doctors and others who support and practise it do so regretfully—not for the pleasure of cruelty (though the existence of such things in our midst does give an opportunity for that to some ghouls in human form), but because they think it the only way to save human bodies from suffering and death, and they sincerely believe that the end justifies the means in this case. However much, therefore, we may disagree with them, let us condemn the sin but not the sinner. There can be no question but that karma will bring great suffering to those who practise vivisection. Many who view them with indignation approaching hatred would change their feeling to pity did they realize this fact. |
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về chủ đề này giữa các thành viên của Hội Thông Thiên Học, trong đó mọi người đều tự do có niềm tin riêng của mình, nhưng ý kiến của Chân sư, như đã trích dẫn ở trên, là xác định. Tuy nhiên, bất kể sự ghê tởm của chúng ta đối với sự độc ác của việc mổ xẻ động vật sống, chúng ta phải chấp nhận sự thật rằng nhiều bác sĩ và những người khác ủng hộ và thực hành nó làm điều đó một cách hối tiếc—không phải vì niềm vui của sự độc ác (mặc dù sự tồn tại của những thứ như vậy giữa chúng ta thực sự mang lại cơ hội cho điều đó đối với một số kẻ tàn ác trong hình hài con người), mà vì họ nghĩ đó là cách duy nhất để cứu cơ thể con người khỏi đau khổ và cái chết, và họ chân thành tin rằng mục đích biện minh cho phương tiện trong trường hợp này. Do đó, dù chúng ta có thể không đồng ý với họ đến mức nào, hãy lên án tội lỗi chứ không phải người phạm tội. Không nghi ngờ gì việc nghiệp quả sẽ mang lại đau khổ lớn cho những người thực hành mổ xẻ động vật sống. Nhiều người nhìn họ với sự phẫn nộ gần như căm thù sẽ thay đổi cảm xúc của mình thành sự thương hại nếu họ nhận ra sự thật này. |
|
All vivisectionists are not cruel to the same degree. I know, for example a member of our own Society, who is one of the leading surgeons, who has performed vivisections of a certain kind. There are certain tubes in the human body which sometimes become severed. They are so fine that when one tries to join the severed ends again the inevitable scar always blocks the tube. It was for a time impossible to save people in this condition until it occurred to this doctor that if one made a larger incision it might be possible for the wound to heal and yet at the same time to keep the tube open. He did this by making an incision in the tube near the end of one piece and on the side of the other, and let them overlap and heal in that way. In order to see whether this would work, he tried it upon a number of dogs. He told me that he tried this experiment on about half a dozen stray dogs. They were thoroughly well fed and brought into perfect health before the operation, some anasthetic was then administered, and the dogs were nursed very carefully until they had recovered, and it was found that the operation had been successful. The result was that this which before had been thought impossible became a recognized possibility. The operation is now a common one all over the world, and is known by the name of the doctor who invented it. The principle was wrong, but there was practically no cruelty to the animals concerned, and they were much better off, instead of worse, for the time being. This experiment was thus quite different from what usually occurs, and I think it would be entirely inappropriate to attack this doctor in the way in which anti-vivisectionists constantly attack the mass of the vivisectors. |
Không phải tất cả những người mổ xẻ động vật sống đều độc ác ở cùng một mức độ. Ví dụ, tôi biết một thành viên của chính Hội chúng ta, người là một trong những bác sĩ phẫu thuật hàng đầu, người đã thực hiện các cuộc mổ xẻ động vật sống thuộc một loại nhất định. Có những ống dẫn nhất định trong cơ thể con người đôi khi bị đứt lìa. Chúng mịn đến mức khi người ta cố gắng nối lại các đầu bị đứt, vết sẹo không thể tránh khỏi luôn làm tắc ống dẫn. Trong một thời gian, việc cứu những người trong tình trạng này là bất khả thi cho đến khi bác sĩ này nảy ra ý tưởng rằng nếu người ta tạo ra một vết rạch lớn hơn, vết thương có thể lành lại và đồng thời giữ cho ống dẫn mở. Y đã làm điều này bằng cách tạo ra một vết rạch trong ống dẫn gần đầu của một đoạn và ở bên cạnh của đoạn kia, và để chúng chồng lên nhau và lành lại theo cách đó. Để xem liệu điều này có hiệu quả không, y đã thử nó trên một số con chó. Y nói với tôi rằng y đã thử thí nghiệm này trên khoảng nửa tá con chó đi lạc. Chúng được cho ăn uống đầy đủ và đưa vào trạng thái sức khỏe hoàn hảo trước khi phẫu thuật, sau đó một số thuốc gây mê được sử dụng, và những con chó được chăm sóc rất cẩn thận cho đến khi chúng hồi phục, và người ta thấy rằng cuộc phẫu thuật đã thành công. Kết quả là điều mà trước đây được cho là bất khả thi đã trở thành một khả năng được công nhận. Cuộc phẫu thuật hiện nay là một cuộc phẫu thuật phổ biến trên toàn thế giới, và được biết đến bằng tên của bác sĩ đã phát minh ra nó. Nguyên tắc là sai, nhưng thực tế không có sự độc ác đối với những con vật liên quan, và chúng đã ở trong tình trạng tốt hơn nhiều, thay vì tồi tệ hơn, trong thời gian đó. Thí nghiệm này do đó hoàn toàn khác với những gì thường xảy ra, và tôi nghĩ sẽ hoàn toàn không thích hợp khi tấn công bác sĩ này theo cách mà những người chống mổ xẻ động vật sống liên tục tấn công khối lượng lớn những người mổ xẻ động vật sống. |
|
Some of the experiments that one reads about are atrociously cruel, such as that of seeing to what degree of temperature an animal can be baked before certain functions disappear, and dozens of other ghastly and obviously useless horrors. And there are thousands of others performed needlessly for the general instruction of students, and to try all kinds of effects, many of which are quite useless, because the human constitution differs from those of different animals in a variety of ways. For example, a goat, among its other miscellaneous food, will eat freely of henbane, with no apparent injury; but if a human being takes it he will pass on to the astral plane. Again, when an animal is in frightful pain and terror, that must change the fluids of its body and render any observations with regard to them of very uncertain value. |
Một số thí nghiệm mà người ta đọc được là độc ác một cách tàn bạo, chẳng hạn như việc xem một con vật có thể bị nướng đến mức nhiệt độ nào trước khi các chức năng nhất định biến mất, và hàng chục nỗi kinh hoàng ghê rợn và rõ ràng là vô ích khác. Và có hàng ngàn thí nghiệm khác được thực hiện một cách không cần thiết cho sự hướng dẫn chung của sinh viên, và để thử tất cả các loại hiệu ứng, nhiều hiệu ứng trong số đó hoàn toàn vô ích, bởi vì hiến tạng con người khác với hiến tạng của các loài động vật khác nhau theo nhiều cách. Ví dụ, một con dê, trong số các loại thức ăn hỗn hợp khác của nó, sẽ ăn thoải mái cây kỳ nham, mà không có tổn hại rõ rệt nào; nhưng nếu một con người ăn nó, y sẽ chuyển sang cõi cảm dục. Một lần nữa, khi một con vật đang trong cơn đau đớn và kinh hãi tột độ, điều đó chắc chắn làm thay đổi các chất lỏng trong cơ thể nó và làm cho bất kỳ quan sát nào liên quan đến chúng có giá trị rất không chắc chắn. |
|
The proper substitute for all this cruelty is, of course, clairvoyance. It is very far better for the doctor if he can see into the interior economy of the living man while the body is whole, than it is to deduce certain things about it by cutting into the living body of an animal which differs from the man. Those who feel that they must do vivisection had better form a society in which they will agree to practise on one another; in that way they will have human subjects giving reactions likely to be useful when those of an animal are not, and they will avoid horrible cruelty to defenceless creatures, which in God’s world they have no right to inflict. This is unnecessary, however, for a tenth part of the trouble, and study and research that is put into these experiments would produce an army of reliable clairvoyants; indeed, the attention that is given by the average student to his long training would generally be quite enough to develop his clairvoyance. |
Sự thay thế thích hợp cho tất cả sự độc ác này, tất nhiên, là nhãn thông. Sẽ tốt hơn nhiều cho bác sĩ nếu y có thể nhìn vào cấu trúc bên trong của con người đang sống trong khi cơ thể còn nguyên vẹn, so với việc suy luận những điều nhất định về nó bằng cách cắt vào cơ thể sống của một con vật vốn khác với con người. Những người cảm thấy rằng họ phải thực hiện việc mổ xẻ động vật sống tốt hơn nên thành lập một hội trong đó họ sẽ đồng ý thực hành trên lẫn nhau; theo cách đó họ sẽ có những đối tượng con người đưa ra những phản ứng có khả năng hữu ích khi những phản ứng của một con vật thì không, và họ sẽ tránh được sự độc ác khủng khiếp đối với những sinh vật không có khả năng tự vệ, điều mà trong thế giới của Thượng đế họ không có quyền gây ra. Tuy nhiên, điều này là không cần thiết, vì một phần mười công sức, sự nghiên cứu và tìm tòi được đưa vào các thí nghiệm này sẽ tạo ra một đội quân các nhà thông nhãn đáng tin cậy; thực sự, sự chú ý mà một sinh viên trung bình dành cho quá trình huấn luyện lâu dài của mình thường là đủ để phát triển nhãn thông của y. |
|
There is serious danger of another form of cruelty rising out of the great authority claimed by the orthodox medical fraternity. We do not want to become slaves to them, as our forefathers were slaves to the Church. Though they have done good in various ways, that gives no authority for the establishment of scientific “inquisitions” with power to penalize the heretic who does not wish to submit to their creed of the moment. True, it would be only the civil law that would punish, but that was also the case with the Church—those who would not believe and submit, it handed over to the civil authorities, with the hypocritical prayer that there should be no shedding of blood, which prevented those in power from cutting off their heads and made them burn their victims instead. There has been trouble with the enforcement of vaccination, and it is still compulsory in some countries; though it is an arguable question as to whether the remedy is not worse than the disease which it is professed to prevent. There are very frequent changes in medical opinion, yet each fad is frantically supported while it lasts. The interests of a community in power have often in history given rise to terrible oppression and widespread misery. Let us have no scientific “inquisitions”. |
Có nguy cơ nghiêm trọng về một hình thức độc ác khác nảy sinh từ quyền lực lớn lao được tuyên bố bởi giới y khoa chính thống. Chúng ta không muốn trở thành nô lệ cho họ, như tổ tiên chúng ta đã từng là nô lệ cho Giáo hội. Mặc dù họ đã làm điều tốt theo nhiều cách khác nhau, nhưng điều đó không mang lại thẩm quyền cho việc thiết lập các cuộc “thẩm tra” khoa học với quyền trừng phạt kẻ dị giáo không muốn phục tùng tín điều của họ vào thời điểm đó. Đúng vậy, sẽ chỉ có luật dân sự trừng phạt, nhưng đó cũng là trường hợp của Giáo hội—những người không tin và không phục tùng, họ đã bàn giao cho các cơ quan dân sự, với lời cầu nguyện đạo đức giả rằng không nên đổ máu, điều vốn ngăn cản những người nắm quyền cắt đầu họ và thay vào đó làm cho họ thiêu sống các nạn nhân. Đã có rắc rối với việc thực thi tiêm chủng, và nó vẫn là bắt buộc ở một số quốc gia; mặc dù đó là một câu hỏi có thể tranh luận về việc liệu phương thuốc có tồi tệ hơn căn bệnh mà nó được tuyên bố là để ngăn ngừa hay không. Có những thay đổi rất thường xuyên trong ý kiến y khoa, tuy nhiên mỗi trào lưu đều được ủng hộ một cách điên cuồng khi nó còn tồn tại. Lợi ích của một cộng đồng nắm quyền thường trong lịch sử đã làm nảy sinh sự áp bức khủng khiếp và nỗi khổ sở lan rộng. Chúng ta hãy không có cuộc “thẩm tra” khoa học nào. |
|
There are some people who try to excuse any cruelty to animals on the old Jewish theory that they exist only for the sake of man. We know better than that. They exist for the Logos; they are stages of evolution permeated by His life. It is, however, justifiable for us to make use of animals, so long as we promote their evolution. They benefit by being in contact with man. It is true that we interfere with the wild horse when we capture him, but in other ways, especially mentally, he gains much development. |
Có một số người cố gắng bào chữa cho bất kỳ sự độc ác nào đối với động vật dựa trên lý thuyết Do Thái cổ rằng chúng tồn tại chỉ vì lợi ích của con người. Chúng ta biết rõ hơn thế. Chúng tồn tại cho Thượng đế; chúng là những giai đoạn tiến hoá được thấm nhuần bởi sự sống của Ngài. Tuy nhiên, việc chúng ta sử dụng động vật là chính đáng, miễn là chúng ta thúc đẩy sự tiến hoá của chúng. Chúng được hưởng lợi khi tiếp xúc với con người. Đúng là chúng ta can thiệp vào con ngựa hoang khi chúng ta bắt nó, nhưng theo những cách khác, đặc biệt là về mặt trí tuệ, nó đạt được nhiều sự phát triển. |
|
Some even extend the old Jewish idea to children. There are parents who think that children exist for them—to be used as servants, to be a source of pride, to provide for their old age, and so on. And that leads on to the inhuman notion that a child should be forced to become what we think he ought to be, regardless of the special interests and aptitudes that are his because of his past lives. This leads to superfine cruelty. |
Một số người thậm chí còn mở rộng ý tưởng Do Thái cổ đó sang trẻ em. Có những bậc cha mẹ nghĩ rằng trẻ em tồn tại cho họ—để được sử dụng như người hầu, để là nguồn tự hào, để chu cấp cho tuổi già của họ, và vân vân. Và điều đó dẫn đến quan niệm vô nhân đạo rằng một đứa trẻ nên bị ép buộc trở thành những gì chúng ta nghĩ y nên trở thành, bất chấp những sở thích và năng khiếu đặc biệt vốn là của y vì những kiếp sống quá khứ của y. Điều này dẫn đến sự độc ác tinh vi. |
|
Many schoolmasters do it habitually. All these people try to excuse their brutality by saying that it is the custom; but a crime does not cease to be a crime because many commit it. |
Nhiều hiệu trưởng làm điều đó theo thói quen. Tất cả những người này cố gắng bào chữa cho sự tàn bạo của họ bằng cách nói rằng đó là phong tục; nhưng một tội ác không ngừng là một tội ác vì có nhiều người phạm phải nó. |
|
C.W.L.—The beating of children is a widely spread custom, but that is no excuse for it. It is not, however, a universal custom; I am happy to say that there are a few countries which in that respect have attained civilization. I believe that Japan is one of them. I know from my own experience that Italy is another. I lived for some considerable time in one of the Italian cities, in a house which overlooked the grounds of a large school, and I watched with very great interest the relations between the masters and the boys. Because of their more excitable and freer natures they did not treat discipline as we do. The boys, would all be drawn up in line and at any moment one of them would suddenly leave the ranks and rush up to the master, seize upon his arm and say something to him in quite an impassioned way. The master would smile and pat his head, evidently granting his request or saying something about it. They were all on the most friendly terms. I noticed, too, that whenever those boys met their master in the street, they immediately sprang upon him and pulled him about, and were the very greatest of friends out of school hours also. That was a very good sign, because the man whom children love is always a good man at bottom—their instinct is infallible. In Italy anything like the cruelty that exists in most English schools could not happen, because the customs are different. To lay a hand upon a person is the one unforgivable sin in that country; it involves knives and duels and things of that sort. So the children are perfectly safe. |
C.W.L.—Việc đánh đập trẻ em là một phong tục lan rộng, nhưng đó không phải là cái cớ cho nó. Tuy nhiên, đó không phải là một phong tục phổ biến; tôi hạnh phúc khi nói rằng có một vài quốc gia về mặt đó đã đạt được sự văn minh. Tôi tin rằng Nhật Bản là một trong số đó. Tôi biết từ kinh nghiệm của chính mình rằng Ý là một quốc gia khác. Tôi đã sống một thời gian khá dài ở một trong những thành phố của Ý, trong một ngôi nhà nhìn ra sân của một trường học lớn, và tôi đã quan sát với sự quan tâm rất lớn mối quan hệ giữa các thầy giáo và các nam sinh. Vì bản chất dễ bị kích động và tự do hơn, họ không đối xử với kỷ luật như chúng ta làm. Các nam sinh sẽ được xếp thành hàng và bất cứ lúc nào một trong số họ cũng đột ngột rời khỏi hàng và lao đến chỗ thầy giáo, nắm lấy cánh tay thầy và nói điều gì đó với thầy một cách khá say mê. Thầy giáo sẽ mỉm cười và vỗ đầu cậu bé, rõ ràng là chấp thuận yêu cầu của cậu hoặc nói điều gì đó về nó. Tất cả họ đều ở trong những mối quan hệ thân thiện nhất. Tôi cũng nhận thấy rằng bất cứ khi nào những cậu bé đó gặp thầy giáo của mình trên phố, họ ngay lập tức nhảy lên thầy và kéo thầy đi, và là những người bạn thân thiết nhất cả ngoài giờ học. Đó là một dấu hiệu rất tốt, bởi vì người mà trẻ em yêu quý luôn là một người tốt tận đáy lòng—bản năng của chúng là không thể sai lầm. Ở Ý, bất cứ điều gì giống như sự độc ác tồn tại ở hầu hết các trường học ở Anh đều không thể xảy ra, bởi vì các phong tục khác nhau. Đặt một bàn tay lên một người là một tội lỗi không thể tha thứ duy nhất ở quốc gia đó; nó liên quan đến dao găm và các cuộc đấu kiếm và những thứ tương tự. Vì vậy, trẻ em hoàn toàn an toàn. |
|
Punishment has long been a custom, but that does not prevent it from being both cruel and futile. First of all, it is not our business to administer chastisement. The law of karma will attend to all that, and it cannot make mistakes, as we often do. Frightful legal injustice has been committed again arid again; the severest penalties have been imposed upon quite innocent people. The criminal has done more wrong to himself than to anybody else, and vengeance may be left to the course of nature. |
Hình phạt từ lâu đã là một phong tục, nhưng điều đó không ngăn cản nó vừa độc ác vừa vô ích. Trước hết, không phải việc của chúng ta là thực hiện sự trừng phạt. Định luật nghiệp quả sẽ lo liệu tất cả những điều đó, và nó không thể sai lầm, như chúng ta thường mắc phải. Sự bất công pháp lý khủng khiếp đã được thực hiện lặp đi lặp lại; những hình phạt nghiêm khắc nhất đã được áp đặt lên những người hoàn toàn vô tội. Kẻ tội phạm đã làm hại chính mình nhiều hơn bất kỳ ai khác, và sự báo thù có thể được để lại cho tiến trình của tự nhiên. |
|
Apart from that, punishment is applied to inspire fear—in the offender for the future, and in the possible offender at large. The idea of beating a child is the same as that of punishing a criminal by law; these things have in them the elements of revenge. They seem to say: “You do such-and-such a thing, and I will make it very uncomfortable for you.” Often a teacher gets angry, and his feelings are the cause of the punishments he applies—not any reasoned judgment as to what is best for the child. I know it is said that punishment by law is intended to prevent people from committing crimes. But it does not act in that way. A hundred years ago the punishments of the English law were very severe. For example, a person would be hanged for stealing anything to the value of one shilling and sixpence. I remember having seen it recorded at the entrance to Newgate prison—and in other places there is the same sort of thing—that such-and-such a person was hanged for stealing a pair of gloves, valued at two or three shillings. When such severe punishment was meted out, the proportion of crime was much greater than it is now. The amount of crime has little to do with the punishments meted out; it is chiefly a question of general education and civilization. |
Ngoài việc đó, hình phạt được áp dụng để khơi dậy nỗi sợ hãi—trong lòng người vi phạm đối với tương lai, và trong lòng những người có khả năng vi phạm nói chung. Ý tưởng đánh một đứa trẻ cũng giống như ý tưởng trừng phạt một tội phạm theo luật pháp; những điều này mang trong mình các yếu tố của sự trả thù. Chúng dường như muốn nói rằng: “Anh làm việc này việc nọ, và tôi sẽ làm cho anh thấy rất khó chịu.” Thông thường, một giáo viên nổi giận, và cảm xúc của y là nguyên nhân của những hình phạt mà y áp dụng—chứ không phải bất kỳ phán đoán hợp lý nào về điều gì là tốt nhất cho đứa trẻ. Tôi biết người ta nói rằng hình phạt theo luật pháp nhằm mục đích ngăn chặn mọi người phạm tội. Nhưng nó không hoạt động theo cách đó. Một trăm năm trước, các hình phạt của luật pháp Anh rất nghiêm khắc. Ví dụ, một người sẽ bị treo cổ vì ăn cắp bất cứ thứ gì có giá trị một shilling và sáu pence. Tôi nhớ đã thấy ghi chép tại lối vào nhà tù Newgate—và ở những nơi khác cũng có loại điều tương tự—rằng người này người nọ đã bị treo cổ vì ăn cắp một đôi găng tay, trị giá hai hoặc ba shilling. Khi hình phạt nghiêm khắc như vậy được thi hành, tỷ lệ tội phạm còn lớn hơn nhiều so với hiện nay. Mức độ tội phạm ít liên quan đến các hình phạt được thi hành; nó chủ yếu là vấn đề về giáo dục tổng quát và văn minh. |
|
Punishment by the law or by the school generally has no relation to the crime committed. A man steals something; then he is shut up in a prison for a certain time. What is the relation between the two things? He might reasonably be made to do some work which should return the value of the article stolen, to the person from whom it was taken. The punishment should fit the crime in some way. Merely to shut a man up because he has stolen something is a kind of nightmare. So also among us a child does not learn a certain lesson and they beat him. What is the connection between the two things? There would be some reason in saying: “You have not learnt the lesson; you will be behind the others in your class, therefore you must stay and learn it when otherwise you would be playing.” There is no sense in this kind of thing, and it is radically wrong. The idea of giving intentional pain is always wrong, and no amount of custom can make it right. All sorts of eminently undesirable and foolish things have been the custom—foot-binding in China, for example, and some of our own fashions at different times. We must not get the idea that because a thing is the custom, even if it has been so for hundreds of years, it must be a good or necessary thing, because very often it is not. |
Hình phạt theo luật pháp hoặc theo trường học nói chung không có mối liên hệ nào với tội lỗi đã phạm. Một người ăn cắp thứ gì đó; sau đó y bị nhốt vào tù trong một thời gian nhất định. Mối liên hệ giữa hai điều này là gì? Y có thể được yêu cầu làm một số công việc để hoàn lại giá trị của món đồ đã đánh cắp cho người bị mất một cách hợp lý. Hình phạt nên phù hợp với tội lỗi theo một cách nào đó. Chỉ đơn thuần nhốt một người lại vì y đã ăn cắp thứ gì đó là một loại ác mộng. Cũng vậy, trong số chúng ta, một đứa trẻ không học một bài học nhất định và người ta đánh nó. Mối liên hệ giữa hai điều này là gì? Sẽ có lý hơn nếu nói rằng: “Con đã không học bài; con sẽ bị tụt lại sau những bạn khác trong lớp, do đó con phải ở lại và học bài đó trong khi lẽ ra con đã được đi chơi.” Không có ý nghĩa gì trong loại điều này, và nó sai lầm một cách căn bản. Ý tưởng gây ra đau đớn một cách cố ý luôn luôn là sai trái, và không có mức độ tập tục nào có thể làm cho nó trở nên đúng đắn. Tất cả các loại điều cực kỳ không mong muốn và ngu xuẩn đã từng là tập tục—ví dụ như bó chân ở Trung Quốc, và một số thời trang của chính chúng ta vào những thời điểm khác nhau. Chúng ta không được có ý tưởng rằng vì một điều là tập tục, ngay cả khi nó đã như vậy trong hàng trăm năm, thì nó phải là một điều tốt hoặc cần thiết, bởi vì rất thường xuyên nó không phải như vậy. |
|
A community might reasonably say to some habitual criminals, as they did to such people in ancient Peru: “We are a civilized race. With great trouble we have arranged our State upon a certain scheme, and it is intended for people who will keep its laws. If you do not intend to keep these laws, go out and live with some one else.” There, exile was the only punishment; and to be cast out among the barbarian tribes was the greatest disgrace, as well as a discomfort. Society has the right to restrain a dangerous person. When you get a Malay running amuk you must stop that man, even though it should be at the cost of having to take his life. But except in emergencies, when it is unavoidable, we have no right to kill; and no one ever has the right to torture—that is absolutely certain. Capital punishment, if it is revenge, means that we become as brutal as the criminal who has aroused what we euphemistically call our righteous indignation. If it has the purpose of saving us further trouble with that man it is wrong in principle, since the State has a duty to every, citizen, not only to those who are normal, and also it should think of the real man, not merely of the body. To seek the easiest way out of our difficulty by killing the man is thus positively criminal; and it does no good because much evil passion is aroused, and the man will reincarnate in unpleasant karmic relations with us in the future. The real criminal—who is rare, because most offenders are products of unfortunate environment—is really a pathological case. What he requires is not torment and brutalization, which accentuate his anti-social tendencies, but the right treatment and training that will bring him physically and emotionally within the ranks of normal citizenship. The State cares for the physically and mentally defective; it must deal in the same way with the criminal, who is generally either mentally or emotionally defective. This would be the attitude of love, the standpoint of the Master. |
Một cộng đồng có thể nói một cách hợp lý với một số tội phạm thói quen, như người ta đã làm với những người như vậy ở Peru cổ đại: “Chúng tôi là một giống dân văn minh. Với rất nhiều khó khăn, chúng tôi đã sắp xếp Quốc gia của mình theo một mô hình nhất định, và nó dành cho những người sẽ tuân giữ luật pháp của nó. Nếu anh không có ý định tuân giữ những luật pháp này, hãy đi ra ngoài và sống với một ai đó khác.” Ở đó, lưu đày là hình phạt duy nhất; và bị tống ra ngoài giữa các bộ lạc man di là nỗi nhục nhã lớn nhất, cũng như là một sự khó chịu. Xã hội có quyền kiềm chế một người nguy hiểm. Khi bạn gặp một người Mã Lai đang chạy điên cuồng (amuk), bạn phải ngăn chặn người đó, ngay cả khi phải trả giá bằng việc tước đi mạng sống của y. Nhưng ngoại trừ trong những trường hợp khẩn cấp, khi không thể tránh khỏi, chúng ta không có quyền giết chóc; và không ai có quyền tra tấn—đó là điều chắc chắn tuyệt đối. Án tử hình, nếu đó là sự trả thù, có nghĩa là chúng ta trở nên hung bạo như tên tội phạm đã khơi dậy cái mà chúng ta gọi một cách mỹ miều là sự phẫn nộ chính đáng của mình. Nếu nó có mục đích giúp chúng ta tránh khỏi những rắc rối xa hơn với người đó thì nó sai về nguyên tắc, vì Quốc gia có bổn phận đối với mọi công dân, không chỉ đối với những người bình thường, và nó cũng nên nghĩ đến con người thực sự, chứ không chỉ là thể xác. Tìm kiếm Thánh Đạo dễ dàng nhất để thoát khỏi khó khăn của chúng ta bằng cách giết người đó do đó là tội ác một cách tích cực; và nó không mang lại điều gì tốt đẹp vì nhiều đam mê xấu xa bị khơi dậy, và người đó sẽ tái lâm trong những mối quan hệ nghiệp quả khó chịu với chúng ta trong tương lai. Tội phạm thực sự—vốn hiếm gặp, vì hầu hết những người vi phạm là sản phẩm của môi trường không may mắn—thực sự là một trường hợp bệnh lý. Điều y cần không phải là sự hành hạ và sự hung bạo hóa, vốn làm trầm trọng thêm các khuynh hướng chống đối xã hội của y, mà là sự đối xử và huấn luyện đúng đắn để đưa y về mặt hồng trần và cảm xúc vào hàng ngũ những công dân bình thường. Quốc gia chăm sóc những người khiếm khuyết về thể xác và trí tuệ; nó phải xử lý theo cách tương tự với tội phạm, người thường là khiếm khuyết về trí tuệ hoặc cảm xúc. Đây sẽ là thái độ của tình thương, quan điểm của Chân sư. |
|
These ideals are real, and quite clear and practical. Both the criminal and the child must be helped by education, not driven by fear. The system of terrifying children produces exceedingly evil results. It introduces into their lives fear and pain and deceit, and is generally disastrous to character and good citizenship. It is another form of the old Church idea of hell: but the hell is to be here, and it can be escaped by one with sufficient cunning. People thought they could make others good by frightening them. It is odd how that idea still holds. One of our principal living novelists wrote to me some time ago and said that once at the seaside he met a young man and gave him some Theosophical ideas, in the course of which he explained to him that the hell theory was all nonsense. Later on this youth’s mother, full of anger, paid the novelist a visit. She said: “That is the only way I have been able to keep this boy in order—by the fear of hell, by threatening him with it every day and all day long. Now that you have persuaded him that there is no hell, what am I going to do?” Perhaps if she had known a little better, and had explained things to him from the first there would have been no need to adopt this very unpleasant form of terrorism. |
Những lý tưởng này là có thật, và hoàn toàn rõ ràng và thực tế. Cả tội phạm và đứa trẻ đều phải được giúp đỡ bằng giáo dục, chứ không phải bị xua đuổi bởi nỗi sợ hãi. Hệ thống gây khiếp sợ cho trẻ em tạo ra những kết quả vô cùng xấu xa. Nó đưa vào cuộc sống của chúng nỗi sợ hãi, đau đớn và sự lừa dối, và nói chung là thảm họa đối với tính cách và tư cách công dân tốt. Đó là một hình thức khác của ý tưởng cũ của Giáo hội về địa ngục: nhưng địa ngục là ở đây, và nó có thể được thoát khỏi bởi một người có đủ sự xảo quyệt. Mọi người nghĩ rằng họ có thể làm cho người khác trở nên tốt đẹp bằng cách làm cho họ sợ hãi. Thật kỳ lạ là ý tưởng đó vẫn còn tồn tại. Một trong những tiểu thuyết gia đương thời hàng đầu của chúng ta đã viết thư cho tôi cách đây một thời gian và nói rằng có lần ở bờ biển ông đã gặp một chàng thanh niên và trao cho y một số ý tưởng Thông Thiên Học, trong đó ông giải thích với y rằng lý thuyết địa ngục hoàn toàn là vô nghĩa. Sau đó, mẹ của thanh niên này, đầy giận dữ, đã đến thăm vị tiểu thuyết gia. Bà nói: “Đó là cách duy nhất tôi có thể giữ cho cậu bé này vào nề nếp—bằng nỗi sợ địa ngục, bằng cách đe dọa nó với điều đó mỗi ngày và suốt cả ngày. Bây giờ ông đã thuyết phục nó rằng không có địa ngục, tôi sẽ phải làm gì đây?” Có lẽ nếu bà biết rõ hơn một chút, và đã giải thích mọi việc cho y ngay từ đầu thì đã không cần phải áp dụng hình thức khủng bố rất khó chịu này. |
|
Liberty and love are great factors in the development of the human soul. There are many people who are quite willing to give liberty to others, if they will do exactly what they prescribe! But true liberty means the freedom to try in one’s own way. In general there is far too much interference; too much direction from the outside diminishes the very life-activity that it seeks to protect or assist. This is seen in school life, where quantities of unnecessary rules are made, when individual freedom would give more opportunity for growth. That is one of the great differences between the English scheme of government and that of some of the other nations. England tries on the whole to leave its people as free as possible. Some countries try to avoid trouble and danger and to assist the people by all kinds of restraints. I remember an official of a foreign state saying to me once: “Well, sir, in a really well-managed country everything would be forbidden!” In travelling about the world I have been much struck by the different forms in which the regulations are expressed. In one country you will find a stern prohibition; in another, a request. Some obviously adopt the military plan, which is good only for very young souls; but others appeal to the good sense and goodwill in a man. I remember, for example, reading one sign, forbidding certain unpleasant practices, which ran: “Gentlemen will not, and others must not” do so-and-so. That was in America, which is one of the newer countries. I thought it was rather well put. |
Tự do và tình thương là những yếu tố lớn trong sự phát triển của linh hồn con người. Có nhiều người rất sẵn lòng ban tặng tự do cho người khác, nếu họ làm chính xác những gì mình quy định! Nhưng tự do thực sự có nghĩa là sự tự do để thử nghiệm theo cách riêng của mình. Nói chung, có quá nhiều sự can thiệp; quá nhiều sự chỉ đạo từ bên ngoài làm giảm đi chính hoạt động-sự sống mà nó tìm cách bảo vệ hoặc hỗ trợ. Điều này được thấy trong đời sống học đường, nơi vô số quy luật không cần thiết được đặt ra, trong khi sự tự do cá nhân sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn cho sự tăng trưởng. Đó là một trong những điểm khác biệt lớn giữa mô hình chính phủ của Anh và của một số quốc gia khác. Nước Anh nói chung cố gắng để người dân của mình được tự do nhất có thể. Một số quốc gia cố gắng tránh rắc rối và nguy hiểm và hỗ trợ người dân bằng tất cả các loại kiềm chế. Tôi nhớ một quan chức của một quốc gia nước ngoài đã nói với tôi một lần: “Thưa ông, trong một đất nước được quản lý thực sự tốt, mọi thứ sẽ bị cấm!” Khi đi du lịch khắp thế giới, tôi đã rất ấn tượng bởi các hình thức khác nhau mà các quy định được diễn đạt. Ở một quốc gia, bạn sẽ thấy một sự ngăn cấm nghiêm khắc; ở một quốc gia khác, một lời yêu cầu. Một số rõ ràng áp dụng kế hoạch quân sự, vốn chỉ tốt cho những linh hồn còn rất trẻ; nhưng những người khác lại kêu gọi sự sáng suốt và thiện chí trong một con người. Ví dụ, tôi nhớ đã đọc một tấm biển, cấm một số hành vi không đẹp, viết rằng: “Những quý ông sẽ không làm, và những người khác không được làm” việc này việc nọ. Đó là ở Mỹ, một trong những quốc gia mới hơn. Tôi nghĩ nó được diễn đạt khá tốt. |
|
There are cases where you must assert compulsion in the interests of the community; but it is always better when possible to have the wills of the people with you than to drive them along. I am afraid that is only very slightly understood with regard to education. Everything is prescribed; all the time it is: “Do this, do not do that.” Even in teaching the child his interest is not usually engaged, but he is told: “This is a lesson and it must be learned.” |
Có những trường hợp bạn phải khẳng định sự cưỡng bách vì lợi ích của cộng đồng; nhưng luôn tốt hơn khi có thể có được ý chí của người dân đồng hành với mình hơn là xua đuổi họ đi. Tôi e rằng điều đó chỉ được thấu hiểu rất ít liên quan đến giáo dục. Mọi thứ đều được quy định; lúc nào cũng là: “Làm cái này, đừng làm cái kia.” Ngay cả trong việc dạy dỗ đứa trẻ, sự quan tâm của nó thường không được thu hút, mà nó được bảo rằng: “Đây là một bài học và nó phải được học.” |
|
In the newer methods, such as that of Mme. Montessori, the lesson is made interesting, so that the child mind opens like a flower. There is only one way in which you can really and usefully teach a child anything, and that is by making him love you to begin with. You exercise a certain amount of moral suasion afterwards, because you look injured and pained if he does wrong. That is quite legitimate, because you really do feel the pain. If you start ruling by love you call out the love of the pupil, and get something done. To teach children one must have a clever mind, a heart full of love, and patience as wide as the sea; one must understand the mistakes that children make, and be able to show them how to do things properly, but in their own way. If you start with force and brutality you call out nothing but hostility, and then you do not get anything worth while done. |
Trong các phương pháp mới hơn, chẳng hạn như phương pháp của bà Montessori, bài học được làm cho thú vị, để thể trí của đứa trẻ mở ra như một bông hoa. Chỉ có một cách duy nhất mà bạn có thể dạy một đứa trẻ bất cứ điều gì một cách thực sự và hữu ích, và đó là làm cho nó yêu mến bạn ngay từ đầu. Sau đó, bạn thực hiện một mức độ thuyết phục về đạo đức nhất định, bởi vì bạn trông có vẻ bị tổn thương và đau đớn nếu nó làm sai. Điều đó hoàn toàn chính đáng, bởi vì bạn thực sự cảm thấy nỗi đau đó. Nếu bạn bắt đầu cai quản bằng tình thương, bạn kêu gọi tình thương của học trò, và đạt được kết quả nào đó. Để dạy dỗ trẻ em, người ta phải có một trí tuệ thông minh, một trái tim tràn đầy tình thương, và sự kiên nhẫn rộng lớn như biển cả; người ta phải thấu hiểu những sai lầm mà trẻ em mắc phải, và có thể chỉ cho chúng cách làm mọi việc một cách đúng đắn, nhưng theo cách riêng của chúng. Nếu bạn bắt đầu bằng vũ lực và sự hung bạo, bạn không kêu gọi được gì ngoài sự thù địch, và khi đó bạn không đạt được bất cứ điều gì đáng giá. |
|
It is the same in ordinary life. If one business man wants to deal profitably with another, he speaks pleasantly to him, and tries to convince him that the business he proposes will be to their mutual advantage. It would not occur to him to start out by trying to drive the other man; it would only antagonize him and make anything like friendly relations between them impossible. Boys and girls are human beings, too, and you can get more out of them if you have them on your side than if you set them against you to start with. These are matters of experience to those who try to teach. No teacher, however skilful, however learned, is worthy of that highly honourable name unless he can interest the children and get them to love him. It is an absolute prerequisite. That is the way in which the Masters teach: never by force, never by issuing commands, but by showing the right way and encouraging us to try to imitate Them. |
Trong đời sống bình thường cũng vậy. Nếu một doanh nhân muốn giao dịch có lợi với một người khác, y nói chuyện một cách dễ chịu với người đó, và cố gắng thuyết phục người đó rằng công việc kinh doanh mà y đề xuất sẽ mang lại lợi ích chung cho cả hai. Y sẽ không nảy ra ý định bắt đầu bằng cách cố gắng xua đuổi người kia; điều đó sẽ chỉ gây ra sự phản kháng và làm cho bất kỳ mối quan hệ thân thiện nào giữa họ trở nên bất khả thi. Các bé trai và bé gái cũng là những con người, và bạn có thể nhận được nhiều hơn từ chúng nếu bạn có chúng đứng về phía mình hơn là nếu bạn khiến chúng chống lại bạn ngay từ đầu. Đây là những vấn đề kinh nghiệm đối với những người cố gắng dạy dỗ. Không một giáo viên nào, dù khéo léo đến đâu, dù học thức đến đâu, xứng đáng với danh hiệu cao quý đó trừ khi y có thể làm cho trẻ em quan tâm và khiến chúng yêu mến mình. Đó là một điều kiện tiên quyết tuyệt đối. Đó là cách mà các Chân sư dạy dỗ: không bao giờ bằng vũ lực, không bao giờ bằng cách ban hành các mệnh lệnh, mà bằng cách chỉ ra Thánh Đạo đúng đắn và khuyến khích chúng ta cố gắng bắt chước các Ngài. |
|
Karma takes no account of custom; and the karma of cruelty is the most terrible of all. In India at least there can be no excuse for such customs, for the duty of harmlessness is well-known to all. |
Nghiệp quả không tính đến tập tục; và nghiệp quả của sự tàn ác là khủng khiếp nhất trong tất cả. Ít nhất là ở Ấn Độ, không thể có lý do bào chữa cho những tập tục như vậy, vì bổn phận vô tổn hại đã được tất cả mọi người biết rõ. |
|
C.W.L.—The man who takes up the profession of a school-master does so in order to earn his living, just as he might enter any other profession. The Lords of Karma do not, however, regard the matter from that point of view. They put a man into such a position with the idea of giving him a magnificent opportunity. If he should take it, and carry his work through carefully, tactfully, lovingly, it will lead him to another life in which he will probably be a religious teacher. From that the way is open to become a great saint, a great benefactor of mankind. The teaching profession lies straight in the road to some of the highest prizes of life, from the point of view of the Lords of Karma. |
C.W.L.—Người chọn nghề giáo viên làm như vậy để kiếm sống, giống như y có thể bước vào bất kỳ nghề nghiệp nào khác. Tuy nhiên, các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả không nhìn nhận vấn đề từ quan điểm đó. Các Ngài đặt một người vào vị trí như vậy với ý tưởng trao cho y một cơ hội tuyệt vời. Nếu y nắm bắt nó, và thực hiện công việc của mình một cách cẩn thận, khéo léo, đầy tình thương, nó sẽ dẫn y đến một đời sống khác, trong đó y có thể sẽ là một huấn sư tôn giáo. Từ đó, Thánh Đạo mở ra để trở thành một vị thánh lớn, một vị đại ân nhân của nhân loại. Nghề dạy học nằm ngay trên Thánh Đạo dẫn đến một số phần thưởng cao quý nhất của cuộc đời, từ quan điểm của các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả. |
|
The teacher should realize that each child is an ego; and should give all the help possible to the development of its character. He naturally has a vast opportunity, because the children are in his care to learn, and he can make of them very much what he will. As to the strength of this influence, a well-known Jesuit once said: “Let me have a child up to the age of eleven, and after that he can go where he pleases.” The teacher’s influence upon the young operates quite as much by what he is and the way in which he acts, as by anything directly said to them. He who is what he ought to be radiates love in a strong and powerful influence. His position is also one of great responsibility, for if instead of rousing love and good qualities in his charges he awakens fear and deceit, he is hampering the progress of those egos, and thus doing serious positive harm. |
Giáo viên nên nhận ra rằng mỗi đứa trẻ là một chân ngã; và nên dành tất cả sự giúp đỡ có thể cho sự phát triển tính cách của nó. Y tự nhiên có một cơ hội rộng lớn, bởi vì trẻ em nằm dưới sự chăm sóc của y để học hỏi, và y có thể nhào nặn chúng thành bất cứ điều gì y muốn. Về sức mạnh của ảnh hưởng này, một tu sĩ Dòng Tên nổi tiếng đã từng nói: “Hãy để tôi có một đứa trẻ cho đến năm mười một tuổi, và sau đó nó có thể đi bất cứ nơi nào nó muốn.” Ảnh hưởng của giáo viên đối với người trẻ vận hành thông qua chính bản chất của y và cách y hành động cũng nhiều như qua bất cứ điều gì được nói trực tiếp với chúng. Người nào là người mà y nên là sẽ tỏa ra tình thương trong một ảnh hưởng mạnh mẽ và quyền năng. Vị trí của y cũng là một trách nhiệm lớn lao, vì nếu thay vì khơi dậy tình thương và những phẩm tính tốt đẹp nơi những người mình chăm sóc, y lại đánh thức nỗi sợ hãi và sự lừa dối, y đang cản trở sự tiến bộ của những chân ngã đó, và do đó gây ra tác hại tích cực nghiêm trọng. |
|
Misuse of such an opportunity involves a terrible fall for the man. Cruelty in such cases produces very horrible results; on certain occasions we have found it to bring a sort of repayment in kind, but quite often it brings insanity as its result, and short of that, a great many conditions such as hysteria and neurasthenia. In many cases also it has resulted in a remarkable and cataclysmic descent in the social scale. A person who has been cruel in a reasonably good position finds himself thrown down among the drugs of the populace because of that cruelty. For example, I have seen cases of Brahmanas reborn as pariahs, in consequence of cruelty to children. So it is evident that the Lords of Karma, demonstrating the great laws of the universe, take the same view of these things as the Master does. |
Sử dụng sai một cơ hội như vậy dẫn đến một sự sa ngã khủng khiếp cho con người đó. Sự tàn ác trong những trường hợp như vậy tạo ra những kết quả rất kinh khủng; trong một số dịp nhất định, chúng tôi đã thấy nó mang lại một loại sự trả nợ tương ứng, nhưng rất thường xuyên nó mang lại sự điên rồ như là kết quả của nó, và nhẹ hơn là rất nhiều tình trạng như cuồng loạn (hysteria) và suy nhược thần kinh (neurasthenia). Trong nhiều trường hợp, nó cũng dẫn đến một sự đi xuống đáng kể và thảm khốc trong nấc thang xã hội. Một người từng tàn ác ở một vị trí tương đối tốt sẽ thấy mình bị ném xuống giữa những tầng lớp cặn bã của dân chúng vì sự tàn ác đó. Ví dụ, tôi đã thấy những trường hợp người Bà-la-môn tái sinh thành những người cùng khổ (pariah), do hậu quả của sự tàn ác đối với trẻ em. Vì vậy, rõ ràng là các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả, khi thể hiện các định luật vĩ đại của vũ trụ, cũng có cùng quan điểm về những điều này như Chân sư. |
|
An opportunity somewhat similar to that of the schoolmaster is given to a man who is the manager of a factory or the head of a large business of any kind. A man thinks of such a place as one to be desired because it gives him an opportunity of getting a good salary or of making a good deal of money and obtaining a certain amount of power. But the Lords of Karma would regard that, again, as an opportunity to help all those other men who came under his control. An employer often regards his men with a sort of scarcely veiled hostility; he thinks they want to get as much out of him as they can and to take advantage of him in various ways. On their part, the men usually think he wishes to grind them down, to get all he can out of them, paying them as little as possible in return. It is true, unfortunately, that in some cases both sides are right in thinking as they do. There are employers who have that attitude; and there are very many workmen who take that line towards their employers: but the man who understands will look at it not in the least from that point of view. That the position gives the man an opportunity of being a helpful influence in the life of a number of people is the only aspect of the matter which concerns the Lords of Karma. The Lords of Karma do not usually look at things from our point of view. Mankind generally, for example, regards death as a terrible thing and a heavy punishment: but it is often given as a kind of reward—as a release leading to better and more promising conditions. |
Một cơ hội hơi giống với cơ hội của giáo viên được trao cho một người là quản lý của một nhà máy hoặc người đứng đầu một doanh nghiệp lớn thuộc bất kỳ loại hình nào. Một người nghĩ về một vị trí như vậy như là một điều đáng mong ước vì nó cho y cơ hội nhận được mức lương tốt hoặc kiếm được nhiều tiền và có được một quyền năng nhất định. Nhưng các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả sẽ coi đó, một lần nữa, là một cơ hội để giúp đỡ tất cả những người khác nằm dưới sự kiểm soát của y. Một người chủ thường coi những người làm của mình với một loại sự thù địch hầu như không che giấu; y nghĩ họ muốn lấy từ y càng nhiều càng tốt và lợi dụng y theo nhiều cách khác nhau. Về phần mình, những người làm thường nghĩ y muốn bóc lột họ, lấy tất cả những gì có thể từ họ, và trả lại cho họ càng ít càng tốt. Thật không may, trong một số trường hợp, cả hai bên đều đúng khi nghĩ như vậy. Có những người chủ có thái độ đó; và có rất nhiều công nhân có thái độ đó đối với chủ của họ: nhưng người thấu hiểu sẽ không nhìn nhận nó từ quan điểm đó một chút nào. Việc vị trí đó mang lại cho con người cơ hội trở thành một ảnh hưởng hữu ích trong cuộc đời của một số người là khía cạnh duy nhất của vấn đề mà các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả quan tâm. Các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả thường không nhìn nhận mọi việc từ quan điểm của chúng ta. Ví dụ, nhân loại nói chung coi cái chết là một điều khủng khiếp và một hình phạt nặng nề: nhưng nó thường được trao như một loại phần thưởng—như một sự giải thoát dẫn đến những điều kiện tốt hơn và hứa hẹn hơn. |
|
The fate of the cruel must fall also upon all who go out intentionally to kill God’s creatures, and call it ‘sport’. |
Số phận của kẻ tàn ác cũng phải rơi xuống tất cả những ai cố ý đi giết hại các sinh vật của Thượng đế, và gọi đó là ‘thể thao’. |
|
C.W.L.—As regards conditions in the country in England Punch’s satire, “It is a fine day; let us go out and kill something” was not very far wrong. As a clergyman in a country parish in England I was in close relation with a typical set of the people who shoot and hunt and fish. They did all these things as their regular daily occupation, and that formed also the principal subject of their conversation. Yet, however hard one may find it to believe, these people were perfectly gentle and kindly towards their fellow-men; the men were good fathers and husbands, lenient judges and kind friends, but they did not see the wrong in this particular thing. One of those very men, who would kill deer and shoot as many pheasants as he could in the most reckless way, would nevertheless sit up all night with a dog that was sick, showing that he had a kind heart, and that even towards the animals he felt a certain brotherhood. The cruelty is all due to a kind of mental blindness. They do not lack intellect, but on this matter they have never thought, but have taken it for granted that all these creatures were created for their use, and for the enjoyment which they could derive from their skill in killing them. People eat meat with the same thoughtlessness. As a young man I did so, and it never dawned upon me that it was wrong until I found a book on the subject—that was long before the Theosophical Society was founded. |
C.W.L.—Liên quan đến các điều kiện ở vùng nông thôn nước Anh, câu châm biếm của tờ Punch: “Hôm nay là một ngày đẹp trời; chúng ta hãy đi ra ngoài và giết một cái gì đó” đã không sai lắm. Với tư cách là một giáo sĩ ở một giáo khu nông thôn ở Anh, tôi đã có mối quan hệ gần gũi với một nhóm người điển hình hay bắn súng, săn bắn và câu cá. Họ làm tất cả những việc này như là công việc hàng ngày thường xuyên của họ, và đó cũng là chủ đề chính trong các cuộc trò chuyện của họ. Tuy nhiên, dù người ta có thể thấy khó tin đến mức nào, những người này lại hoàn toàn dịu dàng và tử tế đối với đồng loại của mình; những người đàn ông đó là những người cha và người chồng tốt, những thẩm phán khoan dung và những người bạn tốt, nhưng họ không thấy cái sai trong việc cụ thể này. Một trong chính những người đàn ông đó, người sẽ giết hươu và bắn càng nhiều gà lôi càng tốt theo cách liều lĩnh nhất, tuy nhiên sẽ thức suốt đêm với một con chó bị bệnh, cho thấy rằng y có một trái tim nhân hậu, và ngay cả đối với các loài động vật y cũng cảm thấy một tình huynh đệ nhất định. Sự tàn ác hoàn toàn là do một loại sự mù quáng về trí tuệ. Họ không thiếu trí tuệ, nhưng về vấn đề này họ chưa bao giờ suy nghĩ, mà mặc nhiên cho rằng tất cả những sinh vật này được tạo ra để cho họ sử dụng, và để cho sự tận hưởng mà họ có thể có được từ kỹ năng giết chóc của mình. Mọi người ăn thịt với cùng một sự thiếu suy nghĩ như vậy. Khi còn là một thanh niên, tôi cũng đã làm như vậy, và tôi chưa bao giờ nhận ra rằng điều đó là sai cho đến khi tôi tìm thấy một cuốn sách về chủ đề này—đó là một thời gian dài trước khi Hiệp hội Thông Thiên Học được thành lập. |
|
When we have once seen that such “sport” is a horrible thing, and that in following it we are taking part in the slaughter of God’s creatures, we wonder why we never noticed it before. Thousands of people have not yet seen the evil. The glamour of custom is upon them, and they have never thought of the frightful harm that is being done. The same thing is true in connection with some articles of attire. There are certain kinds of feathers, for example, that can only be procured at terrible cost in animal life—not only the pain and death of the creature concerned, but generally of other young creatures depending upon it. People who wear these things are certainly criminally careless. They are not desperately cruel—not in the least: they are simply following the custom. Still, karma will operate. A man may be in a brown study and walk over a precipice; the fact that he did not know where he was going does, not alter the result. |
Khi chúng ta đã một lần thấy rằng “thể thao” như vậy là một điều kinh khủng, và rằng khi theo đuổi nó chúng ta đang tham gia vào cuộc tàn sát các sinh vật của Thượng đế, chúng ta tự hỏi tại sao mình chưa bao giờ nhận thấy điều đó trước đây. Hàng ngàn người vẫn chưa thấy được cái ác đó. Ảo cảm của tập tục đang bao trùm lên họ, và họ chưa bao giờ nghĩ đến tác hại khủng khiếp đang được gây ra. Điều tương tự cũng đúng liên quan đến một số món đồ trang phục. Ví dụ, có một số loại lông vũ chỉ có thể kiếm được với cái giá khủng khiếp về sinh mạng động vật—không chỉ là nỗi đau và cái chết của sinh vật liên quan, mà thường là của những sinh vật non khác phụ thuộc vào nó. Những người mặc những thứ này chắc chắn là những người vô tâm một cách tội lỗi. Họ không tàn ác một cách tuyệt vọng—không một chút nào: họ chỉ đơn giản là đang làm theo tập tục. Tuy nhiên, nghiệp quả vẫn sẽ vận hành. Một người có thể đang mải mê suy nghĩ và bước qua một vách đá; việc y không biết mình đang đi đâu không làm thay đổi kết quả. |
|
Such things as these you would not do, I know; and for the sake of the love of God, when opportunity offers, you will speak clearly against them. |
Những việc như thế này tôi biết các con sẽ không làm; và vì tình thương đối với Thượng đế, khi cơ hội đến, các con sẽ nói rõ ràng để phản đối chúng. |
|
C.W.L.—Here we must note the words “when opportunity offers”. We do not want to thrust our ideas upon other people, so one speaks on such matters usually only when an opinion is asked, or when the subject comes forward in a natural way. To thrust forward one’s own ideas, however excellent they may be, generally does more harm than good. The aggressive people who do this always arouse resentment. A man who accosts you in the street and wants to know whether you have found Jesus, or whether your soul is saved, does not impress you favourably, and most people are inclined to feel that since he is so tactless his religion cannot be of great practical value. If a suitable opportunity occurs one may lend a book or a pamphlet, or converse gently and quietly on the subject. But if you find yourself among a number of sportsmen, I should not advise you to start out by saying: “This is a very wicked thing”—although it is. If I were asked, I should say quietly: “I hold that all life is sacred, that these animals are really younger brothers of ours, and you have no more right to go out and kill them for pleasure than you would have to kill a man for your pleasure.” They would be surprised, no doubt; perhaps they would sneer covertly at me; but they would not be so strongly set against the idea as they would if they were attacked. |
C.W.L.—Ở đây chúng ta phải lưu ý cụm từ “khi cơ hội đến”. Chúng ta không muốn áp đặt ý tưởng của mình lên người khác, vì vậy người ta thường chỉ nói về những vấn đề như vậy khi được hỏi ý kiến, hoặc khi chủ đề đó nảy sinh một cách tự nhiên. Áp đặt ý tưởng của chính mình, dù chúng có thể xuất sắc đến đâu, thường gây hại nhiều hơn lợi. Những người hung hăng làm điều này luôn gây ra sự phẫn nộ. Một người chặn bạn trên đường và muốn biết liệu bạn đã tìm thấy Chúa Jesus chưa, hoặc liệu linh hồn bạn đã được cứu rỗi chưa, sẽ không gây ấn tượng tốt cho bạn, và hầu hết mọi người đều có xu hướng cảm thấy rằng vì y quá thiếu khéo léo nên tôn giáo của y không thể có giá trị thực tế lớn lao. Nếu một cơ hội thích hợp xảy ra, người ta có thể cho mượn một cuốn sách hoặc một cuốn sách nhỏ, hoặc trò chuyện một cách dịu dàng và yên lặng về chủ đề đó. Nhưng nếu bạn thấy mình ở giữa một số người săn bắn, tôi khuyên bạn không nên bắt đầu bằng cách nói: “Đây là một việc rất xấu xa”—mặc dù đúng là như vậy. Nếu tôi được hỏi, tôi sẽ nói một cách bình thản: “Tôi cho rằng mọi sự sống đều thiêng liêng, rằng những con vật này thực sự là những người em của chúng ta, và các anh không có quyền đi ra ngoài và giết chúng để giải trí hơn là các anh có quyền giết một con người để giải trí.” Chắc chắn họ sẽ ngạc nhiên; có lẽ họ sẽ lén lút chế nhạo tôi; nhưng họ sẽ không phản đối ý tưởng đó mạnh mẽ như khi họ bị tấn công. |
|
We who are vegetarians often feel great disgust if we have to sit at the same table with people who are eating meat, yet it is frequently unavoidable when travelling. Still, it is not well to show our feelings; that is certainly not the way to convert other people, but if they ask about our views we can express our opinions temperately, forcefully but quietly. If we do this it is quite probable, if the man begins to think about it, that he will come over to our point of view. |
Chúng ta, những người ăn chay, thường cảm thấy rất ghê tởm nếu phải ngồi cùng bàn với những người đang ăn thịt, tuy nhiên điều đó thường không thể tránh khỏi khi đi du lịch. Tuy nhiên, không nên thể hiện cảm xúc của mình; đó chắc chắn không phải là cách để chuyển hóa người khác, nhưng nếu họ hỏi về quan điểm của chúng ta, chúng ta có thể bày tỏ ý kiến của mình một cách ôn hòa, mạnh mẽ nhưng điềm tĩnh. Nếu chúng ta làm điều này, rất có thể, nếu người đó bắt đầu suy nghĩ về nó, y sẽ chuyển sang quan điểm của chúng ta. |
|
But there is a cruelty in speech as well as in act; and a man who says a word with the intention to wound another is guilty of this crime. That, too, you would not do; but sometimes a careless word does as much harm as a malicious one. So you must be on your guard against unintentional cruelty. |
Nhưng có một sự tàn ác trong lời nói cũng như trong hành động; và một người nói một lời với ý định làm tổn thương người khác là có lỗi trong tội ác này. Điều đó, các con cũng sẽ không làm; nhưng đôi khi một lời nói vô tâm cũng gây hại nhiều như một lời nói ác ý. Vì vậy, các con phải cảnh giác chống lại sự tàn ác không cố ý. |
|
C.W.L.—Some people pride themselves on speaking out just what they think, even if it hurts others, and they seem to regard this as a virtue. The Master, who never uses words carelessly, says it may be a crime, if the words are cruel. In debate or discussion we need not refrain from putting our side of the case, but we can put it carefully and courteously. The Apostle said: “Let every man be fully persuaded in his own mind.” 34. That does not mean that he is to try to persuade other people, but that he himself should understand why he holds certain beliefs. When that is the case he will be able to state his views, when necessary, gently and temperately. |
C.W.L.—Một số người tự hào về việc nói ra đúng những gì họ nghĩ, ngay cả khi nó làm tổn thương người khác, và họ dường như coi đây là một đức tính. Chân sư, Ngài không bao giờ sử dụng lời nói một cách vô tâm, nói rằng đó có thể là một tội ác, nếu những lời đó là tàn ác. Trong tranh luận hoặc thảo luận, chúng ta không cần phải kiềm chế việc đưa ra quan điểm của mình, nhưng chúng ta có thể đưa ra nó một cách cẩn thận và lịch sự. Vị Tông đồ đã nói: “Mỗi người hãy hoàn toàn tin chắc trong trí của chính mình.”34. Điều đó không có nghĩa là y phải cố gắng thuyết phục người khác, mà là chính y nên thấu hiểu tại sao mình lại giữ những niềm tin nhất định. Khi trường hợp là như vậy, y sẽ có thể trình bày quan điểm của mình, khi cần thiết, một cách dịu dàng và ôn hòa. |
|
It is a curious fact that many people cannot differ in opinion from others without getting more or less angry, although they know that there are thousands upon thousands of questions in the world upon which there is so much to be said on several sides that one point of view is almost as defensible as another. A discussion between a Catholic and an Orange-man is exceedingly likely to end in blows, which, after all, do not constitute a form of argument which carries conviction with it. If a person differs from another’s opinion it appears to be taken as a kind of slight; such a person is so sure that his own idea is right that any other man who disagrees is wilfully of malice prepense declining to accept it! We have therefore to be careful how we put our views before others. |
Có một thực tế kỳ lạ là nhiều người không thể có ý kiến khác biệt với người khác mà không trở nên ít nhiều giận dữ, mặc dù họ biết rằng có hàng ngàn hàng vạn câu hỏi trên thế giới mà có rất nhiều điều để nói từ nhiều phía đến nỗi một quan điểm này cũng có thể bảo vệ được gần như quan điểm kia. Một cuộc thảo luận giữa một người Công giáo và một người thuộc Hội Orange rất có khả năng kết thúc bằng những cú đấm, vốn dĩ không cấu thành một hình thức lập luận mang lại sự thuyết phục. Nếu một người khác biệt với ý kiến của người khác, điều đó dường như được coi như một loại sự xúc phạm; người đó quá chắc chắn rằng ý tưởng của chính mình là đúng đến nỗi bất kỳ người nào khác không đồng ý đều là cố tình ác ý từ chối chấp nhận nó! Do đó, chúng ta phải cẩn thận trong cách đưa quan điểm của mình ra trước người khác. |
|
There is a special temptation in regard to Theosophy, because we definitely base our belief on reason, and we only try to show people this; yet often the other man cannot see it. Reason, however perfect, however logical, does not necessarily impress the ordinary man at all; he does not live in his reason, but in his feelings, and if these are roused by what is said, no amount of reason will convince him, and the more we talk the angrier he will become. |
Có một sự cám dỗ đặc biệt liên quan đến Thông Thiên Học, bởi vì chúng ta xác định niềm tin của mình dựa trên lý trí, và chúng ta chỉ cố gắng chỉ cho mọi người thấy điều này; tuy nhiên thường thì người kia không thể thấy được. Lý trí, dù hoàn hảo đến đâu, dù logic đến đâu, không nhất thiết gây ấn tượng với con người bình thường một chút nào; y không sống trong lý trí của mình, mà trong cảm xúc của mình, và nếu những cảm xúc này bị khơi dậy bởi những gì được nói, thì không có mức độ lý trí nào có thể thuyết phục được y, và chúng ta càng nói thì y sẽ càng trở nên giận dữ hơn. |
|
It comes usually from thoughtlessness. A man is so filled with greed and avarice that he never even thinks of the suffering which he causes to Others by paying too little, or by half-starving his wife and children. Another thinks only of his own lust, and cares little how many souls and bodies he ruins in satisfying it. Just to save himself a few minutes trouble, a man does not pay his workmen on the proper day, thinking nothing of the difficulties he brings upon them. So much suffering is caused just by carelessness—by forgetting to think how an action will affect others. But Karma never forgets, and it takes no account of the fact that men forget. If you wish to enter the Path, you must think of the consequences of what you do, lest you should be guilty, of thoughtless cruelty. |
Nó thường đến từ sự thiếu suy nghĩ. Một người quá tràn đầy lòng tham và sự hám lợi đến nỗi y thậm chí không bao giờ nghĩ đến sự đau khổ mà y gây ra cho những người khác bằng cách trả lương quá thấp, hoặc bằng cách để vợ con mình bị đói khát một nửa. Một người khác chỉ nghĩ đến dục vọng của chính mình, và ít quan tâm đến việc y hủy hoại bao nhiêu linh hồn và thể xác trong việc thỏa mãn nó. Chỉ để giúp bản thân bớt đi vài phút rắc rối, một người không trả lương cho công nhân của mình vào đúng ngày, mà không nghĩ gì đến những khó khăn mà y mang lại cho họ. Rất nhiều đau khổ được gây ra chỉ bởi sự vô tâm—bởi việc quên nghĩ xem một hành động sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Nhưng Nghiệp quả không bao giờ quên, và nó không tính đến việc con người quên. Nếu con muốn bước vào Thánh Đạo, con phải nghĩ đến những hậu quả của những gì mình làm, kẻo con phạm tội tàn ác vô tâm. |
|
C.W.L.—By paying a little less than what a thing is worth one may be causing much suffering to the workman, and his wife and children. The reduction of a few pence from a day’s wages may mean that the family has insufficient food. Business is business, I know, but it is better if necessary, to make less rather than fall into the sin of grinding down the poor. Employers are finding that it pays to give “good wages”, as has been the experience of Mr. Henry Ford, who is said to be now the richest man in the world. As a priest, I used to go among the poor and see things from their standpoint, and often found people taking advantage of their helplessness. This was so also in India, where sometimes in the Pariah Schools children actually fainted from hunger, until we were in a position to give them food. |
C.W.L.—Bằng cách trả ít hơn một chút so với giá trị của một thứ, người ta có thể gây ra nhiều đau khổ cho người công nhân, và vợ con y. Việc giảm bớt vài xu từ tiền lương một ngày có thể có nghĩa là gia đình đó không có đủ thức ăn. Tôi biết kinh doanh là kinh doanh, nhưng nếu cần thiết, thà kiếm được ít hơn còn hơn là rơi vào tội lỗi bóc lột người nghèo. Các chủ doanh nghiệp đang thấy rằng việc trả “lương cao” là có lợi, như kinh nghiệm của ông Henry Ford, người được cho là hiện nay là người giàu nhất thế giới. Với tư cách là một linh mục, tôi thường đi giữa những người nghèo và nhìn mọi việc từ quan điểm của họ, và thường thấy mọi người lợi dụng sự bất lực của họ. Điều này cũng đúng ở Ấn Độ, nơi đôi khi trong các Trường học dành cho người cùng khổ (Pariah), trẻ em thực sự bị ngất đi vì đói, cho đến khi chúng tôi có điều kiện để cung cấp thức ăn cho chúng. |
CHAPTER 5
SUPERSTITION
SỰ MÊ TÍN
|
Superstition is another mighty evil, and has caused much terrible cruelty. The man who is a slave to it despises others who are wiser, tries to force them to do as he does. |
Mê tín là một điều ác to lớn khác, và đã gây ra nhiều sự tàn ác khủng khiếp. Người là nô lệ của nó coi thường những người khác khôn ngoan hơn, cố gắng ép buộc họ làm như y làm. |
|
C.W.L.—Superstition never takes into account the differences of temperament between people. It has some form of belief which it wishes to impress upon all alike, not realizing that you never can impress any belief, except, perhaps, some dry scientific fact, upon all people alike, because there are as many attitudes towards life as there are people. Even if you know a great number of people, you will rarely find two who are alike in the way in which circumstances affect them. You can predict certain general possibilities with regard to the great majority of men, but until you know them very well you cannot judge accurately how they will react to certain things. So superstition implies among other things a very great want of sympathy. The man who is subject to it does not understand that there are other ways than his own of looking at things. |
C.W.L.—Mê tín không bao giờ tính đến những sự khác biệt về khí chất giữa mọi người. Nó có một hình thức niềm tin nào đó mà nó muốn áp đặt lên tất cả mọi người như nhau, mà không nhận ra rằng bạn không bao giờ có thể áp đặt bất kỳ niềm tin nào, ngoại trừ, có lẽ, một số sự thật khoa học khô khan, lên tất cả mọi người như nhau, bởi vì có bao nhiêu thái độ đối với cuộc sống thì có bấy nhiêu người. Ngay cả khi bạn biết rất nhiều người, bạn sẽ hiếm khi tìm thấy hai người giống nhau trong cách mà các hoàn cảnh ảnh hưởng đến họ. Bạn có thể dự đoán một số khả năng chung liên quan đến đại đa số con người, nhưng cho đến khi bạn biết họ rất rõ, bạn không thể phán đoán chính xác họ sẽ phản ứng như thế nào với những điều nhất định. Vì vậy, mê tín hàm ý, trong số những điều khác, một sự thiếu cảm thông rất lớn. Người chịu sự chi phối của nó không thấu hiểu rằng có những cách nhìn nhận sự việc khác với cách của chính y. |
|
Superstition is not only bad for the person himself, but when prominent it always leads to attempts to coerce other people. All through history, superstition in religion has led to frightful trouble. On its account the followers of Muhammad have at different times spread bloodshed and slaughter over vast tracts of Asia, Europe and Africa, offering “the Koran or the sword”. The superstition which produced the Inquisition has been previously discussed. The massacres of St. Bartholomew and the Sicilian Vespers, when the Protestants and the Catholics respectively massacred each other were other terrible results of superstition. The last were partly political, but the former was a matter of “religion”. The ill-feeling between the different sects of Christians was very largely responsible for the massacre, though no doubt political considerations also had their share in it, as they had also with Constantine when he became a Christian, thinking it a good card to play in the then state of affairs in the Byzantine Empire. |
Mê tín không chỉ xấu cho chính bản thân người đó, mà khi nổi bật, nó luôn dẫn đến những nỗ lực cưỡng bức người khác. Xuyên suốt lịch sử, mê tín trong tôn giáo đã dẫn đến những rắc rối kinh hoàng. Vì nó mà những người theo Muhammad vào những thời điểm khác nhau đã gieo rắc sự đổ máu và tàn sát trên những vùng rộng lớn của châu Á, châu Âu và châu Phi, đưa ra lựa chọn “Kinh Koran hoặc thanh kiếm”. Sự mê tín tạo ra Tòa thẩm giáo đã được thảo luận trước đó. Các cuộc thảm sát ngày lễ Thánh Bartholomew và Kinh chiều Sicily, khi những người Tin lành và Công giáo thảm sát lẫn nhau, là những kết quả khủng khiếp khác của sự mê tín. Những sự kiện sau cùng một phần mang tính chính trị, nhưng sự kiện trước đó là vấn đề “tôn giáo”. Cảm giác tồi tệ giữa các giáo phái khác nhau của những người theo Cơ đốc giáo chịu trách nhiệm rất lớn cho cuộc thảm sát, mặc dù chắc chắn các cân nhắc chính trị cũng có phần trong đó, giống như chúng cũng có với Constantine khi ông trở thành một người Cơ đốc giáo, vì nghĩ rằng đó là một quân bài tốt để chơi trong tình trạng bấy giờ của Đế chế Byzantine. |
|
The Crusades were another mighty superstition. Because of a story which had little foundation in fact, as to the life and death of the teacher Jesus, twenty million men lost their lives in those Crusades, trying to get into Christian hands the country where His life story occurred. If they could have been brought to understand that it was the life story of every Initiate, and that that has been led in all countries of the world at one time or another, all that loss of life might have been avoided. Perhaps it was not all loss, however, because by going out to fight with the more enlightened Saracens the Christians brought back some useful information into Europe, and that they were willing to die for an ideal counted to them for righteousness. There was something chivalrous and beautiful, no doubt, in the idea that the sacred places of a religion ought to belong to the people of that religion. Time has proved, however, that in this case it was fortunate that the Christians did not succeed. In that holy land the Muhammadan soldiers have had to keep peace between the rival Christian sects—the Latin and the Greek—because they always fight for precedence about the holy fire and at the sepulchre. |
Các cuộc Thập tự chinh là một sự mê tín to lớn khác. Bởi vì một câu chuyện có ít cơ sở thực tế, liên quan đến cuộc đời và cái chết của huấn sư Jesus, hai mươi triệu người đã mất mạng trong những cuộc Thập tự chinh đó, khi cố gắng đưa vùng đất nơi câu chuyện cuộc đời Ngài xảy ra vào tay những người Cơ đốc giáo. Nếu họ có thể được thấu hiểu rằng đó là câu chuyện cuộc đời của mọi Điểm đạo đồ, và rằng điều đó đã được dẫn dắt ở tất cả các quốc gia trên thế giới vào lúc này hay lúc khác, thì tất cả sự mất mát sinh mạng đó đã có thể tránh được. Tuy nhiên, có lẽ đó không phải là tất cả sự mất mát, bởi vì bằng cách đi ra ngoài chiến đấu với những người Saracen khai sáng hơn, những người Cơ đốc giáo đã mang về một số thông tin hữu ích cho châu Âu, và việc họ sẵn lòng chết vì một lý tưởng đã được tính là sự chính trực cho họ. Chắc chắn có điều gì đó hào hiệp và đẹp đẽ trong ý tưởng rằng những nơi thiêng liêng của một tôn giáo nên thuộc về những người của tôn giáo đó. Tuy nhiên, thời gian đã chứng minh rằng trong trường hợp này, thật may mắn là những người Cơ đốc giáo đã không thành công. Tại vùng đất thánh đó, những người lính Muhammad giáo đã phải giữ hòa bình giữa các giáo phái Cơ đốc giáo đối địch—giáo hội Latinh và giáo hội Hy Lạp—bởi vì họ luôn chiến đấu để giành quyền ưu tiên về ngọn lửa thánh và tại ngôi mộ. |
|
At the present day we have in India a similar problem, but no one dreams of trying to settle it by the method of the Crusades. The holy places of the Buddhists—the place where the Lord Buddha was born, the place where He attained His Buddhahood, the place where He died—are all in the hands of people of the Hindu faith, a religion which is as different from Buddhism as Christianity is different from Muhammadanism. The Buddhists earnestly desire to possess their holy places, but it has not occurred to the Buddhist nations to start upon a war of conquest. We may be very thankful for that, for the Buddhists number about five hundred million people. Their religion forbids them to do anything so irrational. Some Buddhists have tried to buy back the site, and they nearly succeeded in doing so. The Theosophical Society assisted them, but unfortunately a great part of the money was lost in a law suit, and the plan fell through. |
Vào thời điểm hiện nay, chúng ta có một vấn đề tương tự ở Ấn Độ, nhưng không ai mơ tưởng đến việc cố gắng giải quyết nó bằng phương pháp của các cuộc Thập tự chinh. Những nơi thánh của những người Phật tử—nơi Đức Phật đản sinh, nơi Ngài đắc quả Phật, nơi Ngài nhập diệt—tất cả đều nằm trong tay những người theo đức tin Hindu, một tôn giáo khác biệt với Phật giáo cũng như Cơ đốc giáo khác biệt với Muhammad giáo. Những người Phật tử tha thiết mong muốn sở hữu những nơi thánh của họ, nhưng các quốc gia Phật giáo đã không nảy ra ý định bắt đầu một cuộc chiến tranh chinh phạt. Chúng ta có thể rất biết ơn vì điều đó, vì những người Phật tử có số lượng khoảng năm trăm triệu người. Tôn giáo của họ cấm họ làm bất cứ điều gì phi lý như vậy. Một số người Phật tử đã cố gắng mua lại địa điểm đó, và họ đã gần như thành công trong việc đó. Hiệp hội Thông Thiên Học đã hỗ trợ họ, nhưng không may là một phần lớn số tiền đã bị mất trong một vụ kiện tụng, và kế hoạch đã thất bại. |
|
There is no great religion except Buddhism which has never persecuted. It could not do so because of its inherent principles: it is bound to toleration by the very words of its Founder. Who is a Buddhist? He is a man who follows the teachings of the Lord Buddha; not a man who believes this or that, but a man who lives as the Lord Buddha said men should live. Ask a missionary what will become of the really good Buddhist, and he will usually answer, “If he does not believe in Christ, there is no hope for him”, or at best he will leave him to the uncovenanted mercies of God, if he is a very good man. If you ask a Buddhist the same question about a good Christian, he will say, “He is quite a good Buddhist; he calls himself a Christian, but he is following the teachings of the Lord Buddha; all will be well with him.” Such is the tolerance of Buddhism, as I have explained before. Of course, every religion really forbids intolerance and violence, but the level of ignorance and fanaticism in some of them has blinded their people to this simple fact. |
Không có tôn giáo lớn nào ngoại trừ Phật giáo chưa bao giờ đàn áp. Nó không thể làm như vậy vì các nguyên tắc vốn có của nó: nó bị ràng buộc vào sự khoan dung bởi chính những lời của Đấng Sáng lập. Ai là một người Phật tử? Y là một người tuân theo những lời dạy của Đức Phật; không phải là một người tin điều này hay điều nọ, mà là một người sống như Đức Phật đã nói con người nên sống. Hãy hỏi một nhà truyền giáo điều gì sẽ xảy ra với một người Phật tử thực sự tốt, và y thường sẽ trả lời: “Nếu y không tin vào Đức Christ, không có hy vọng nào cho y cả”, hoặc tốt nhất y sẽ để người đó cho lòng thương xót không giao ước của Thượng đế, nếu y là một người rất tốt. Nếu bạn hỏi một người Phật tử cùng một câu hỏi về một người Cơ đốc giáo tốt, y sẽ nói: “Y là một người Phật tử khá tốt; y tự gọi mình là một người Cơ đốc giáo, nhưng y đang tuân theo những lời dạy của Đức Phật; mọi sự sẽ tốt đẹp với y.” Đó là sự khoan dung của Phật giáo, như tôi đã giải thích trước đây. Tất nhiên, mọi tôn giáo thực sự đều cấm sự không khoan dung và bạo lực, nhưng mức độ vô minh và cuồng tín trong một số tôn giáo đã làm mù quáng người dân của họ trước sự thật đơn giản này. |
|
The form of superstition called race hatred, in which one race instinctively dislikes another en bloc, is also foolish, because there is good and bad in every race. I remember that in remote, villages in England the attitude of the peasantry towards a foreigner was always one of suspicion and ridicule. The fact that a man spoke a different language was something to laugh at, among those ignorant people. There are other peasantries who, in that particular respect, are less uncourteous than our common folk. I always feel that if a foreigner visits our country we are in the relation of host towards him, and it is our duty to make his path easy, and to give him as good an impression of our people and our country as we can. |
Hình thức mê tín được gọi là thù hận giống dân, trong đó một giống dân theo bản năng ghét bỏ một giống dân khác toàn bộ (en bloc), cũng là ngu xuẩn, bởi vì có người tốt và kẻ xấu trong mọi giống dân. Tôi nhớ rằng ở những ngôi làng hẻo lánh ở Anh, thái độ của những người nông dân đối với một người nước ngoài luôn là sự nghi ngờ và chế giễu. Việc một người nói một ngôn ngữ khác là một điều gì đó đáng cười, trong số những người vô minh đó. Có những tầng lớp nông dân khác, về khía cạnh cụ thể đó, ít bất lịch sự hơn những người dân thường của chúng ta. Tôi luôn cảm thấy rằng nếu một người nước ngoài đến thăm đất nước chúng ta, chúng ta ở trong mối quan hệ của một người chủ nhà đối với y, và bổn phận của chúng ta là làm cho Thánh Đạo của y trở nên dễ dàng, và mang lại cho y một ấn tượng tốt về con người và đất nước chúng ta nhất có thể. |
|
In the Napoleonic era there was a superstition in England that all Frenchmen were practically devils, fighting against us with the full knowledge that they were on the wrong side and against the light. Today you may get cases where a vast number of people are obsessed by one dominant idea, resulting in a kind of national monomania. Under the influence of such a temporary monomania dreadful atrocities occur, which the same people would never dream of committing at other times. In this case the individuals are responsible only to the extent to which they allow themselves to be swept off their feet in that way; the things that they do are done by the monomania more than by the individuals themselves. It is in much the same way that a man will sometimes lose his temper and say unpleasant things; it is the temper that speaks and not the man. He is to blame in that he allows the temper to get control of’ him, but we must take into consideration that in all probability he will afterwards very much regret what he has said. |
Trong thời đại Napoléon, có một sự mê tín ở Anh rằng tất cả người Pháp thực chất là những con quỷ, chiến đấu chống lại chúng ta với sự hiểu biết đầy đủ rằng họ đứng về phía sai và chống lại ánh sáng. Ngày nay, bạn có thể gặp những trường hợp mà một số lượng lớn người bị ám ảnh bởi một ý tưởng thống trị, dẫn đến một loại chứng cuồng một ý tưởng (monomania) quốc gia. Dưới ảnh hưởng của một chứng cuồng một ý tưởng tạm thời như vậy, những hành động tàn bạo khủng khiếp xảy ra, mà chính những người đó sẽ không bao giờ mơ tưởng đến việc thực hiện vào những thời điểm khác. Trong trường hợp này, các cá nhân chỉ chịu trách nhiệm ở mức độ mà họ cho phép mình bị cuốn đi theo cách đó; những việc họ làm là do chứng cuồng một ý tưởng thực hiện nhiều hơn là do chính các cá nhân đó. Cũng theo cách tương tự như vậy, một người đôi khi sẽ mất bình tĩnh và nói những điều không hay; chính cơn giận nói chứ không phải con người đó. Y đáng trách ở chỗ y để cho cơn giận kiểm soát mình, nhưng chúng ta phải cân nhắc rằng theo mọi xác suất, sau đó y sẽ rất hối hận về những gì mình đã nói. |
|
Think of the awful slaughter produced by the superstition that animals should be sacrificed. |
Hãy nghĩ đến sự tàn sát khủng khiếp được tạo ra bởi sự mê tín rằng động vật nên được hiến tế. |
|
C.W.L.—Mention of animal and other sacrifices in connection with religion raises the whole question of the relation of God to man. There are only three fundamental views that we can take upon this subject: the first is that God started this scheme of things and left it to take care of itself afterwards, being quite indifferent as to what happened to it; the second is that He retains what must be called a malevolent interest in it, desiring to enjoy blood or other sacrifices; the third is that He remains always the all-loving Father of His creation. |
C.W.L.—Việc đề cập đến sự hiến tế động vật và các sự hiến tế khác liên quan đến tôn giáo đặt ra toàn bộ câu hỏi về mối quan hệ giữa Thượng đế và con người. Chỉ có ba quan điểm cơ bản mà chúng ta có thể thực hiện về chủ đề này: thứ nhất là Thượng đế đã bắt đầu mô hình vạn vật này và để nó tự chăm sóc lấy sau đó, hoàn toàn điềm nhiên đối với những gì xảy ra với nó; thứ hai là Ngài giữ lại cái phải được gọi là một sự quan tâm ác ý đối với nó, mong muốn được thưởng thức máu hoặc các sự hiến tế khác; thứ ba là Ngài luôn luôn là người Cha hết lòng yêu thương tạo vật của Ngài. |
|
The first theory is practically modern materialism plus the idea of an original creator. The second represents God as a monster full of blood-lust. Many of the old scriptures misrepresent Him in this way. In one case in the Old Testament the Jews boast of sacrificing a hundred and twenty-two thousand bullocks at one time. Probably they were exaggerating, as was their habit in those early days. Jehovah demanded sacrifices, and did not in the least care how much suffering he caused so long as he could get what he wanted. He was always clamouring for sacrifices, which must be made to him, and to no other deity. The Jews of the present day-would recoil in horror from such a thing, but evidently they did not do so in the days of David and Solomon. It follows that the Jehovah whom they then worshipped was not what we call God, to which conception they could not then rise, but one of the great elemental deities coming over from Atlantean days. The Jews had before then contacted the civilization of Egypt, but its great ideas had made little impression upon them; but later, during the Babylonian captivity, they learned of a supreme God. They at once identified Him, characteristically, with their own Jehovah, and their later prophets wrote magnificently of Him, but still with frequent outcroppings of the old ideas. |
Lý thuyết thứ nhất thực chất là chủ nghĩa duy vật hiện đại cộng với ý tưởng về một đấng sáng tạo ban đầu. Lý thuyết thứ hai đại diện cho Thượng đế như một con quái vật đầy lòng khao khát máu. Nhiều kinh điển cũ đã trình bày sai về Ngài theo cách này. Trong một trường hợp trong Cựu Ước, người Do Thái khoe khoang về việc hiến tế một trăm hai mươi hai ngàn con bò đực cùng một lúc. Có lẽ họ đã nói quá lên, như thói quen của họ trong những ngày đầu đó. Jehovah đòi hỏi các sự hiến tế, và không hề quan tâm đến việc y gây ra bao nhiêu đau khổ miễn là y có thể có được những gì mình muốn. Y luôn kêu gào đòi hỏi các sự hiến tế, vốn phải được thực hiện cho y, và không cho bất kỳ vị thần nào khác. Những người Do Thái ngày nay sẽ lùi lại trong kinh hãi trước một điều như vậy, nhưng rõ ràng họ đã không làm như vậy trong những ngày của David và Solomon. Suy ra rằng vị Jehovah mà họ thờ phụng khi đó không phải là cái mà chúng ta gọi là Thượng đế, một quan niệm mà khi đó họ chưa thể vươn tới, mà là một trong những vị thần hành khí lớn đến từ những ngày Atlantis. Trước đó, người Do Thái đã tiếp xúc với nền văn minh Ai Cập, nhưng những ý tưởng lớn lao của nó đã tạo ra rất ít ấn tượng đối với họ; nhưng sau đó, trong thời kỳ bị giam cầm ở Babylon, họ đã học về một Thượng đế tối cao. Ngay lập tức họ đã đồng nhất Ngài, một cách đặc trưng, với chính vị Jehovah của họ, và các vị tiên tri sau này của họ đã viết một cách tráng lệ về Ngài, nhưng vẫn thường xuyên có những sự lộ ra của các ý tưởng cũ. |
|
Blood-sacrifices belong only to early stages of human-evolution. They involve the primitive magic of elemental-worship, and are always connected with elementals which live on the fumes of blood. The elemental wants the sacrifices because he absorbs the aroma of the blood and obtains from it the power to materialize himself. Among some hill tribes the people say that if they do not perform such sacrifices troubles come upon them—their crops are spoiled and their houses catch fire; the hill gods of India are therefore also probably great elemental deities of Atlantis. |
Huyết tế chỉ thuộc về những giai đoạn sớm của sự tiến hóa nhân loại. Chúng liên quan đến ma thuật nguyên thủy của việc thờ phụng hành khí, và luôn kết nối với các tinh linh vốn sống nhờ hơi máu. Tinh linh muốn các sự hiến tế vì nó hấp thụ mùi hương của máu và có được từ đó quyền năng để hiện hình. Trong số một số bộ lạc vùng đồi núi, người dân nói rằng nếu họ không thực hiện những sự hiến tế như vậy, rắc rối sẽ ập đến với họ—mùa màng của họ bị hư hỏng và nhà cửa của họ bị cháy; do đó các vị thần vùng đồi của Ấn Độ có lẽ cũng là những vị thần hành khí lớn của Atlantis. |
|
We may be sure that the Great Ones have never countenanced such sacrifices. In India, for example, the original revelation of the Vedas certainly did not contain them, but they came from the aboriginal traditions, which still exist to some extent. The Lord Buddha spoke against animal sacrifices, and induced King Bimbisara to issue an edict abolishing them in his realm. |
Chúng ta có thể chắc chắn rằng các Đấng Cao Cả chưa bao giờ tán thành những sự hiến tế như vậy. Ví dụ, ở Ấn Độ, mặc khải ban đầu của kinh Veda chắc chắn không chứa đựng chúng, nhưng chúng đến từ các truyền thống thổ dân, vốn vẫn còn tồn tại ở một mức độ nào đó. Đức Phật đã lên tiếng chống lại việc hiến tế động vật, và đã thuyết phục Vua Bimbisara ban hành một sắc lệnh bãi bỏ chúng trong vương quốc của ông. |
|
Clearly no Deity whom we could wish to worship would want offerings of blood, though there are elementals and nature-spirits who do. We must, therefore, regard those portions of Scripture which deal with such offerings as belonging to a period in human evolution long outgrown. Some people do not like to say this openly, because they reverence the Scriptures, but it is nothing but superstition to regard one particular set of words as sacred and sacrosanct for all time. We ought to be eclectic about the Scriptures, as about everything else. We take up a book, and value and remember those passages in it which we find especially beautiful and helpful. In the same way, we should take from any scripture what is noble and beautiful and grand for all time, and we may with advantage drop all those parts which do not come up to our standards. Although blood-sacrifices are mentioned in the Psalms and other parts of the Bible, we must face the fact that God could never have wanted them; they invariably belong to the type of religion that considers the Deity as an evil being, who must be bought off. |
Rõ ràng không có Thượng đế nào mà chúng ta mong muốn thờ phụng lại muốn những lễ vật bằng máu, mặc dù có những tinh linh và tinh linh tự nhiên muốn điều đó. Do đó, chúng ta phải coi những phần Kinh thánh đề cập đến những lễ vật như vậy là thuộc về một thời kỳ trong sự tiến hóa nhân loại đã bị vượt qua từ lâu. Một số người không thích nói điều này một cách công khai, bởi vì họ tôn kính Kinh thánh, nhưng không có gì khác ngoài sự mê tín khi coi một tập hợp từ ngữ cụ thể là thiêng liêng và bất khả xâm phạm cho mọi thời đại. Chúng ta nên có sự chọn lọc về Kinh thánh, cũng như về mọi thứ khác. Chúng ta cầm một cuốn sách lên, và trân trọng cũng như ghi nhớ những đoạn trong đó mà chúng ta thấy đặc biệt đẹp đẽ và hữu ích. Theo cách tương tự, chúng ta nên lấy từ bất kỳ kinh điển nào những gì cao quý, đẹp đẽ và vĩ đại cho mọi thời đại, và chúng ta có thể bỏ qua tất cả những phần không đạt đến tiêu chuẩn của mình một cách có lợi. Mặc dù huyết tế được đề cập trong các Thánh vịnh và các phần khác của Kinh thánh, chúng ta phải đối mặt với sự thật rằng Thượng đế không bao giờ có thể muốn chúng; chúng luôn thuộc về loại tôn giáo coi Thượng đế như một thực thể xấu xa, người phải được mua chuộc. |
|
It has been the great tragedy of Christianity that this idea became mingled with the pure teaching of the Christ about God the loving Father. True, animal sacrifices to the Deity have not disgraced Christianity, but the idea of God as a being who will do harm unless bought off is still taught by the great Christian organizations. They invented the amazing theory that God sacrificed his own Son instead of all the other people who would otherwise have been sent to hell. I suppose most people never stop to think what kind of a god it could be who would require or permit such a sacrifice. You can imagine what would be said of any earthly king who condemned quite casually a number of people to horrible tortures and then released them because his own son came forward and said, “If you must kill somebody, kill me. I have not done anything wrong; but nevertheless, kill me, and let these people go free.” That theory-is not Christianity. |
Đó đã là thảm kịch lớn của Cơ đốc giáo khi ý tưởng này bị trộn lẫn với giáo lý thuần khiết của Đức Christ về Thượng đế là người Cha yêu thương. Đúng là hiến tế động vật cho Thượng đế đã không làm nhơ nhuốc Cơ đốc giáo, nhưng ý tưởng về Thượng đế như một thực thể sẽ gây hại trừ khi được mua chuộc vẫn đang được giảng dạy bởi các tổ chức Cơ đốc giáo lớn. Họ đã phát minh ra lý thuyết đáng kinh ngạc rằng Thượng đế đã hiến tế chính Con của Ngài thay vì tất cả những người khác lẽ ra đã bị tống xuống địa ngục. Tôi cho rằng hầu hết mọi người không bao giờ dừng lại để nghĩ xem loại thượng đế nào có thể yêu cầu hoặc cho phép một sự hiến tế như vậy. Bạn có thể tưởng tượng những gì sẽ được nói về bất kỳ vị vua trần gian nào đã kết án một cách khá ngẫu nhiên một số người chịu những hình phạt tra tấn khủng khiếp và sau đó thả họ ra vì chính con trai ông ta bước tới và nói: “Nếu cha phải giết ai đó, hãy giết con. Con đã không làm điều gì sai; nhưng tuy nhiên, hãy giết con, và để những người này được tự do.” Lý thuyết đó không phải là Cơ đốc giáo. |
|
Colonel Ingersoll was right when he said that an honest God is the noblest work of man. It is true that only a nation which was already highly developed could rise to the conception of a really grand and glorious Deity. It is true that our remote forefathers, who ran about in the woods and painted themselves blue, and the ancient war-like Jews, and others, had crude conceptions of the Deity, but there is absolutely no reason why we should carry them on at the present day. |
Đại tá Ingersoll đã đúng khi nói rằng một Thượng đế trung thực là tác phẩm cao quý nhất của con người. Đúng là chỉ một quốc gia đã phát triển cao mới có thể vươn tới quan niệm về một Thượng đế thực sự vĩ đại và vinh quang. Đúng là tổ tiên xa xôi của chúng ta, những người chạy nhảy trong rừng và sơn mình màu xanh, và những người Do Thái hiếu chiến cổ đại, và những người khác, đã có những quan niệm thô thiển về Thượng đế, nhưng tuyệt đối không có lý do gì để chúng ta mang chúng theo vào thời điểm hiện nay. |
|
The third theory, which we hold in Theosophy, is that God is beneficent, that He has brought the whole scheme into existence for a purpose which He is steadily pursuing all the time, and that therefore everything that happens is part of His work. He allows a certain amount of free-will to His creatures and they do things which are clearly not in harmony with His great plan; yet as their will is part of His plan, all is ultimately His work. |
Lý thuyết thứ ba, mà chúng ta nắm giữ trong Thông Thiên Học, là Thượng đế nhân từ, rằng Ngài đã đưa toàn bộ mô hình này vào sự tồn tại vì một mục đích mà Ngài đang kiên trì theo đuổi suốt thời gian qua, và do đó mọi thứ xảy ra đều là một phần công việc của Ngài. Ngài cho phép một mức độ tự do ý chí nhất định cho các tạo vật của Ngài và họ làm những việc rõ ràng không hài hòa với Thiên Cơ vĩ đại của Ngài; tuy nhiên vì ý chí của họ là một phần trong kế hoạch của Ngài, nên tất cả cuối cùng đều là công việc của Ngài. |
|
When we say that God allows man some independence or freedom, we must make it clear that we understand it to be limited, and growing. If a man uses well the freedom and power that he has, more will be given to him. The method seems to be like that by which a little child is taught to walk. The teacher allows him to try, and tumble, and try again; if he were always carried in some one else’s arms, so as to avoid all possible tumbles, he would end as a cripple. But what the teacher does not do is to let the child learn to take his first steps alone on a marble floor, at the head of a staircase or in other dangerous places. Later, when he has grown up, he may walk on the edge of a precipice to admire the view, if he so chooses. In some such manner the Logos guards us while He trains us, so that we cannot wreck our lives or hurt ourselves beyond repair. |
Khi chúng ta nói rằng Thượng đế cho phép con người một sự độc lập hoặc tự do nào đó, chúng ta phải làm rõ rằng chúng ta hiểu nó là có giới hạn, và đang tăng trưởng. Nếu một người sử dụng tốt sự tự do và quyền năng mà y có, y sẽ được trao cho nhiều hơn. Phương pháp này dường như giống như phương pháp mà một đứa trẻ nhỏ được dạy đi. Người dạy cho phép nó thử, và ngã, và thử lại; nếu nó luôn được bế trong vòng tay của một ai đó khác, để tránh mọi cú ngã có thể xảy ra, nó sẽ kết thúc như một người tàn tật. Nhưng điều mà người dạy không làm là để đứa trẻ học những bước đi đầu tiên một mình trên sàn đá cẩm thạch, ở đầu cầu thang hoặc ở những nơi nguy hiểm khác. Sau đó, khi nó đã lớn lên, nó có thể đi trên mép một vách đá để chiêm ngưỡng tầm nhìn, nếu nó chọn như vậy. Theo một cách nào đó như vậy, Đức Logos bảo vệ chúng ta trong khi Ngài huấn luyện chúng ta, để chúng ta không thể phá hủy cuộc đời mình hoặc làm tổn thương chính mình quá mức có thể cứu vãn. |
|
This third theory is steadily gaining ground. For a long time now, Christianity has been much better than its creeds, and very many Christians have held wider views than their Churches have officially authorized. The Church of England, for instance, formulates what it supposes to be its theory of things in a certain predication called “The Articles of Religion”. The clergy have to assent to them, but if one of them should ask, “How am I to accept these Articles; they are evidently contradictory?” he is told that at the time they were written there were two irreconcilable parties, and something had to be said to please them both. They say: “The Bishop and the rest of us have all signed them, we have all taken them in this philosophic way, and since we have done so, I think you may do so, too.” The young man will probably say. “Well, I suppose if you assure me that it does not mean anything, I may as well accept it.” But the position is not quite dignified. |
Lý thuyết thứ ba này đang dần chiếm ưu thế. Từ lâu nay, Cơ đốc giáo đã tốt hơn nhiều so với các tín điều của nó, và rất nhiều người Cơ đốc giáo đã giữ những quan điểm rộng lớn hơn những gì Giáo hội của họ đã chính thức cho phép. Ví dụ, Giáo hội Anh xây dựng cái mà họ cho là lý thuyết của mình về mọi việc trong một lời khẳng định nhất định gọi là “Các Điều khoản Tôn giáo”. Các giáo sĩ phải tán thành chúng, nhưng nếu một người trong số họ hỏi: “Làm thế nào tôi có thể chấp nhận các Điều khoản này; chúng rõ ràng là mâu thuẫn nhau?” y được bảo rằng vào thời điểm chúng được viết ra có hai phe phái không thể hòa giải, và một điều gì đó phải được nói ra để làm hài lòng cả hai. Họ nói: “Giám mục và những người còn lại trong chúng tôi đều đã ký vào chúng, tất cả chúng tôi đều chấp nhận chúng theo cách triết học này, và vì chúng tôi đã làm như vậy, tôi nghĩ anh cũng có thể làm như vậy.” Chàng thanh niên có lẽ sẽ nói: “Vâng, tôi cho rằng nếu các ngài cam đoan với tôi rằng nó không có ý nghĩa gì, tôi cũng có thể chấp nhận nó.” Nhưng vị thế đó không được trang trọng cho lắm. |
|
I have no objection to the Christian Creeds; there is a far deeper meaning underlying them than the Christian usually suspects. 35 But I do object to the Thirty-nine Articles and the Confession of Faith, because with some most beautiful ideas they contrive to intermingle others which are absolutely impossible. If in the Catechism they had only stopped at the end of the first question and answer: “What is the chief end of man? To glorify God and enjoy Him forever”, that would have been magnificent. |
Tôi không có phản đối gì đối với các Tín điều Cơ đốc giáo; có một ý nghĩa sâu xa hơn nhiều ẩn chứa dưới chúng so với những gì người Cơ đốc giáo thường nghi ngờ.35 Nhưng tôi phản đối Ba mươi chín Điều khoản và Bản Tuyên ngôn Đức tin, bởi vì cùng với một số ý tưởng rất đẹp đẽ, chúng lại cố gắng xen lẫn những ý tưởng khác hoàn toàn bất khả thi. Nếu trong Sách Giáo lý, họ chỉ dừng lại ở cuối câu hỏi và câu trả lời đầu tiên: “Mục đích chính của con người là gì? Để tôn vinh Thượng đế và tận hưởng Ngài mãi mãi”, thì điều đó đã thật tráng lệ. |
|
Christianity has gone very much ahead of its authorized pronouncements and beliefs. I came across a passage the other day which shows that rather clearly. There is a book by the Dean of Ripon, in which he says: “The development of Christ in man is the object of Christianity.” Then he goes on to explain what the Christ in man is: “It is the wisdom of the man of science; it is the eloquence of the lawyer; it is the fairness of the judge; it is the love of beauty in the artist; it is the love of man in the philanthropist,” and so on. That kind of Christianity we will all accept. There is very much the same idea in the Gita. Of rulers,” says Shri Krishna, “I am the sceptre; of those who seek victory I am statesmanship; and of secrets I am also silence; the knowledge of knowers am I.” “Whatsoever is glorious, good, beautiful, and mighty, understand thou that to go forth from a fragment of My splendour.” 36. The Christian Dean is very nearly in agreement with the writer of the Bhagavad Gita, a scripture of immense antiquity, very much older than the Mahabharata, of which it became a part. Much of the glorious teaching incorporated in the Gita existed among the Atlanteans residing on the plains of India long before the Aryan invaders entered the country. I know that that is not the generally accepted idea, but it represents certain facts which we have seen. |
Cơ đốc giáo đã đi xa hơn rất nhiều so với những tuyên bố và niềm tin chính thức của nó. Tôi đã tình cờ đọc được một đoạn văn vào ngày nọ cho thấy điều đó khá rõ ràng. Có một cuốn sách của Trưởng giáo khu Ripon, trong đó ông nói: “Sự phát triển của Đức Christ trong con người là mục tiêu của Cơ đốc giáo.” Sau đó, ông tiếp tục giải thích Đức Christ trong con người là gì: “Đó là minh triết của nhà khoa học; đó là sự hùng biện của luật sư; đó là sự công bằng của thẩm phán; đó là tình yêu cái đẹp trong nghệ sĩ; đó là tình thương đối với con người trong nhà từ thiện,” và vân vân. Loại Cơ đốc giáo đó tất cả chúng ta sẽ chấp nhận. Có một ý tưởng rất giống như vậy trong kinh Gita. “Trong số những người cai trị,” Đức Shri Krishna nói, “Ta là vương trượng; trong số những người tìm kiếm chiến thắng Ta là nghệ thuật trị quốc; và trong số những bí mật Ta cũng là sự im lặng; kiến thức của những thức giả chính là Ta.” “Bất cứ điều gì vinh quang, tốt đẹp, đẹp đẽ và quyền năng, hãy hiểu rằng điều đó xuất lộ từ một mảnh nhỏ của sự huy hoàng của Ta.”36. Vị Trưởng giáo khu Cơ đốc giáo gần như đồng ý với người viết kinh Bhagavad Gita, một kinh điển có niên đại cổ xưa vô cùng, già hơn nhiều so với kinh Mahabharata, mà nó đã trở thành một phần. Phần lớn giáo lý vinh quang được kết hợp trong kinh Gita đã tồn tại trong số những người Atlantis cư trú trên các đồng bằng của Ấn Độ từ lâu trước khi những người xâm lược Arya tiến vào đất nước này. Tôi biết rằng đó không phải là ý tưởng được chấp nhận rộng rãi, nhưng nó đại diện cho những sự thật nhất định mà chúng ta đã thấy. |
|
Assuredly we may trust God utterly, because He knows and we do not know. We know, in a general way, what is expected of us in the helping forward of His scheme of evolution, but we do not know the details. Yet we know that those details are in competent hands. What our karma will be we do not know, but the great Powers who are managing the matter know it all, and will decide wisely how much of it can usefully be brought down upon us now, and how much should be reserved for the future. If it were possible for the Great Ones to listen to us, and to change our destiny in accordance with what we think we should like at any time, it would assuredly be the worse for us. I do not say that our own aspirations in the matter are useless—very much the reverse, for if we have good aspirations, those are new factors introduced into the case, and they may well enable the Great Lords to modify the working out of our karma, perhaps to bring down more so that we may the sooner be rid of it, perhaps to alter its incidence and bring it down in some other way. But whatever is done, is done for the best for every one and not for a few only, and so we surely should not try to alter God’s will; we should thankfully accept whatever comes to> us, and should always make the best of it, not the worst. We should take our difficulties as something to be dominated, yet be always glad because we know that God is behind it all, and He is utterly beneficent. |
Chắc chắn chúng ta có thể tin tưởng Thượng đế hoàn toàn, bởi vì Ngài biết và chúng ta không biết. Chúng ta biết, một cách tổng quát, những gì được mong đợi ở chúng ta trong việc giúp thúc đẩy mô hình tiến hóa của Ngài, nhưng chúng ta không biết các chi tiết. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng những chi tiết đó nằm trong những bàn tay có năng lực. Nghiệp quả của chúng ta sẽ như thế nào chúng ta không biết, nhưng các Quyền năng vĩ đại đang quản lý vấn đề này biết tất cả, và sẽ quyết định một cách khôn ngoan bao nhiêu phần trong đó có thể được mang xuống cho chúng ta một cách hữu ích ngay bây giờ, và bao nhiêu nên được dành lại cho tương lai. Nếu các Đấng Cao Cả có thể lắng nghe chúng ta, và thay đổi số phận của chúng ta phù hợp với những gì chúng ta nghĩ mình muốn vào bất kỳ lúc nào, thì chắc chắn điều đó sẽ tệ hơn cho chúng ta. Tôi không nói rằng những khát vọng của chính chúng ta trong vấn đề này là vô ích—ngược lại là khác, vì nếu chúng ta có những khát vọng tốt, đó là những yếu tố mới được đưa vào trường hợp này, và chúng có thể giúp các Đấng Chúa Tể vĩ đại sửa đổi việc vận hành nghiệp quả của chúng ta, có lẽ mang xuống nhiều hơn để chúng ta sớm thoát khỏi nó, có lẽ thay đổi sự tác động của nó và mang nó xuống theo một cách khác. Nhưng bất cứ điều gì được làm, đều được làm vì điều tốt nhất cho mọi người chứ không phải chỉ cho một số ít, và vì vậy chúng ta chắc chắn không nên cố gắng thay đổi ý chí của Thượng đế; chúng ta nên biết ơn chấp nhận bất cứ điều gì đến với mình, và nên luôn luôn tận dụng nó một cách tốt nhất, chứ không phải tệ nhất. Chúng ta nên coi những khó khăn của mình như một điều gì đó cần được chế ngự, nhưng hãy luôn vui mừng vì chúng ta biết rằng Thượng đế đứng sau tất cả, và Ngài hoàn toàn nhân từ. |
|
And by the still more cruel superstition that man needs flesh for food. |
Và bởi sự mê tín còn tàn ác hơn nữa rằng con người cần thịt làm thức ăn. |
|
C.W.L.—That is a superstition, because, there are many millions of people who exist in perfect health without it. There are probably some few people who, owing to bad heredity and their own karma, are really unable to make their bodies digest the purer form of food, but they are very, very few. I have myself known of a few instances, among many hundreds of Theosophists, of people who after really trying for a long time to adopt a vegetarian diet, found that they were unable to do it; but all the rest, after a certain amount of difficulty just at first, were able to maintain and often improve their health on vegetarian food. |
C.W.L.—Đó là một sự mê tín, bởi vì, có nhiều triệu người tồn tại với sức khỏe hoàn hảo mà không cần đến nó. Có lẽ có một số ít người, do di truyền xấu và nghiệp quả của chính họ, thực sự không thể làm cho cơ thể mình tiêu hóa được hình thức thức ăn tinh khiết hơn, nhưng họ rất, rất ít. Chính tôi đã biết một vài trường hợp, trong số hàng trăm nhà Thông Thiên Học, những người sau khi thực sự cố gắng trong một thời gian dài để áp dụng chế độ ăn chay, đã thấy rằng họ không thể làm được; nhưng tất cả những người còn lại, sau một mức độ khó khăn nhất định ngay lúc đầu, đã có thể duy trì và thường là cải thiện sức khỏe của mình bằng thức ăn chay. |
|
It has been proved unquestionably that most people can be perfectly strong without saddling themselves with the crime of taking part in the slaughter of animals. It is but a small percentage of physical bodies that cannot be adapted to vegetarian food. It is an unfortunate condition for these persons, but if one has really tried intelligently to reform one’s diet in this way, and finds it impossible, one must accept it as karma. In such a case it is not always wise or right to say, “I will force my body to do what I will, or let it go. I will live on pure food or not at all.” It may be that one has duties towards others, which cannot be fulfilled if the body is weak, duties which demand rude health. I know, of course, that advice of this kind may very easily be used as an excuse by those who do not like the higher form of food or who shrink from the trouble of adapting the body to a new diet, but it must be given because there are some few unfortunates who must needs continue in their old ways. |
Đã có bằng chứng không thể nghi ngờ rằng hầu hết mọi người có thể hoàn toàn khỏe mạnh mà không cần gánh lấy tội ác tham gia vào việc tàn sát động vật. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ các thể xác hồng trần là không thể thích nghi với thức ăn chay. Đó là một tình trạng không may cho những người này, nhưng nếu một người đã thực sự cố gắng một cách thông minh để cải cách chế độ ăn uống của mình theo cách này, và thấy điều đó là bất khả thi, y phải chấp nhận đó là nghiệp quả. Trong trường hợp như vậy, không phải lúc nào cũng khôn ngoan hay đúng đắn khi nói: “Tôi sẽ ép buộc cơ thể mình làm những gì tôi muốn, hoặc mặc kệ nó. Tôi sẽ sống bằng thức ăn tinh khiết hoặc không sống gì cả.” Có thể người ta có những bổn phận đối với người khác, vốn không thể hoàn thành nếu cơ thể yếu ớt, những bổn phận đòi hỏi sức khỏe cường tráng. Tất nhiên, tôi biết rằng lời khuyên loại này có thể rất dễ dàng bị sử dụng như một cái cớ bởi những người không thích hình thức thức ăn cao hơn hoặc những người ngại khó khăn trong việc thích nghi cơ thể với một chế độ ăn uống mới, nhưng nó phải được đưa ra vì có một số ít người không may cần phải tiếp tục theo những cách cũ của họ. |
|
Flesh food is undesirable because it is cruel to kill animals, and also because it brings undesirable particles into our bodies, which coarsen them, and excite animal desires in the elementals of those bodies. There are many other reasons also, which I marshalled together once in a lecture which may be found in my book Some Glimpses of Occultism. This is one of the few subjects in which practically all the arguments are on one side, for there is nothing to be said for meat-eating, except that people follow the practice because they like it. I think we can make it abundantly clear to any enquirer that it is entirely in his interests to abstain from flesh food. It is not only a question of principle, although surely that is enough for us, but a vegetarian diet means better health, and the avoidance of certain fearful diseases; and definite facts show that the vegetarian has relatively greater endurance. |
Thức ăn thịt là không mong muốn bởi vì giết hại động vật là tàn ác, và cũng bởi vì nó mang những hạt không mong muốn vào cơ thể chúng ta, làm thô thiển chúng, và kích thích những ham muốn thú tính trong các tinh linh của những cơ thể đó. Còn có nhiều lý do khác nữa, mà tôi đã tập hợp lại một lần trong một bài giảng có thể tìm thấy trong cuốn sách Vài Cái Nhìn Thoáng Qua về Huyền Bí Học (Some Glimpses of Occultism) của tôi. Đây là một trong số ít chủ đề mà thực tế tất cả các lập luận đều nghiêng về một phía, vì không có gì để nói cho việc ăn thịt, ngoại trừ việc mọi người làm theo thói quen vì họ thích nó. Tôi nghĩ chúng ta có thể làm cho bất kỳ người hỏi nào thấy rõ ràng rằng việc kiêng thức ăn thịt hoàn toàn là vì lợi ích của chính y. Đó không chỉ là vấn đề nguyên tắc, mặc dù chắc chắn điều đó là đủ đối với chúng ta, mà một chế độ ăn chay có nghĩa là sức khỏe tốt hơn, và tránh được một số bệnh tật đáng sợ; và những sự thật xác định cho thấy rằng người ăn chay có sức chịu đựng tương đối lớn hơn. |
|
People sometimes object to this idea and say that in any case we must destroy life in order to live, that those who are vegetarians also destroy life. That is true, to a very limited extent. I suppose we may be said to be destroying the vegetable life, but that is much more primitive, and has not the acute sentiency of the animal. The fundamental objection to killing is that it interferes with the course of evolution. If you kill a man, you really do no harm to that individual, so far as his pleasure and happiness are concerned; he goes usually to a plane where he will be far happier than he ever was on the physical plane; and the mere destruction of the body is not necessarily cruel, because a man killed suddenly does not feel it. The wrong you have done is to cut him off from the opportunity of evolution which he would otherwise have had in that body. He will have a further opportunity in another body later on, but you are delaying him, and giving the Lords of Karma the trouble of finding another place for that man’s evolution, and of carrying him on again through babyhood and childhood before he has the opportunity for development that the conditions of mature manhood provide. That is also why it is so much more serious to kill a man than an animal; the man has to develop an entirely new personality, but the animal goes back into his group-soul, from which incarnation is a comparatively easy matter. Still, in the case of the more evolved animal, which is a more complicated manifestation, it causes, if we may reverently put it so, a great deal of trouble to the evolutionary Powers. The killing, say, of a mosquito is an infinitely smaller matter, because it flows back into its group-soul and comes out again in a very short time. The trouble caused by the destruction even of hundreds of thousands of those insects is as nothing compared to the killing of one horse, or cow, or cat, or dog. |
Mọi người đôi khi phản đối ý tưởng này và nói rằng trong bất kỳ trường hợp nào chúng ta cũng phải tiêu diệt sự sống để sống, rằng những người ăn chay cũng tiêu diệt sự sống. Điều đó đúng, ở một mức độ rất hạn chế. Tôi cho rằng chúng ta có thể được coi là đang tiêu diệt sự sống thực vật, nhưng điều đó nguyên thủy hơn nhiều, và không có sự cảm thụ nhạy bén như động vật. Sự phản đối cơ bản đối với việc giết chóc là nó can thiệp vào tiến trình tiến hóa. Nếu bạn giết một người, bạn thực sự không gây hại gì cho cá nhân đó, liên quan đến sự tận hưởng và hạnh phúc của y; y thường đi đến một cõi nơi y sẽ hạnh phúc hơn nhiều so với khi ở cõi hồng trần; và việc chỉ tiêu diệt thể xác không nhất thiết là tàn ác, bởi vì một người bị giết đột ngột không cảm thấy điều đó. Cái sai mà bạn đã làm là cắt đứt cơ hội tiến hóa mà lẽ ra y đã có trong thể xác đó. Y sẽ có một cơ hội xa hơn trong một thể xác khác sau này, nhưng bạn đang làm trì hoãn y, và gây rắc rối cho các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả trong việc tìm kiếm một nơi khác cho sự tiến hóa của người đó, và đưa y đi qua lại thời kỳ thơ ấu và trẻ con trước khi y có cơ hội phát triển mà các điều kiện của tuổi trưởng thành mang lại. Đó cũng là lý do tại sao việc giết một người nghiêm trọng hơn nhiều so với một con vật; con người phải phát triển một phàm ngã hoàn toàn mới, nhưng con vật quay trở lại hồn nhóm của nó, từ đó việc nhập thể là một vấn đề tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, trong trường hợp của con vật tiến hóa hơn, vốn là một biểu hiện phức tạp hơn, nó gây ra, nếu chúng ta có thể nói một cách tôn kính, rất nhiều rắc rối cho các Quyền năng tiến hóa. Việc giết, chẳng hạn, một con muỗi là một vấn đề nhỏ hơn vô cùng, bởi vì nó chảy ngược vào hồn nhóm của nó và xuất hiện trở lại trong một thời gian rất ngắn. Rắc rối gây ra bởi việc tiêu diệt ngay cả hàng trăm ngàn loài côn trùng đó không là gì so với việc giết một con ngựa, hoặc bò, hoặc mèo, hoặc chó. |
|
There is no conceivable case in which it could be the right thing to kill a man for any purpose of one’s own, except in emergencies in self-defence or the defence of another. The yogi does not even defend himself; he leaves the whole matter in the hands of karma. Still, I believe that we are justified in defending our lives when they are attacked, and I am quite certain we are justified in defending a friend or a child, even at the cost of killing the aggressor. The same thing holds good with regard to all kinds of animals. If an animal attacks you, endangering your life or your safety, you have, I think, the right to kill it if necessary. The whole question is: which will cause the greater harm? If, for example, you are troubled by mosquitos, which have left their own natural food to attack you and poison your blood, and perhaps spoil some important work, it might very well be the lesser evil to kill the mosquitos. If you can take refuge behind a mosquito net, or drive them away, so much the better. The mosquito is vegetarian by nature and by instinct. There are millions upon millions of them which have never tasted blood. Bring them into contact with human beings and give them that vitiated taste and you know how it turns out. It is exactly the same with a variety of other small pests. They are good in their proper place, but that is not in close contact with human beings. Not only do we ourselves suffer if we permit them to overrun us, but we also subject other human beings to infection from which they would have been free if it had not been for us. |
Không có trường hợp nào có thể hình dung được trong đó việc giết một người vì bất kỳ mục đích nào của chính mình là điều đúng đắn, ngoại trừ trong những trường hợp khẩn cấp để tự vệ hoặc bảo vệ người khác. Vị yogi thậm chí không tự vệ; y để toàn bộ vấn đề trong tay nghiệp quả. Tuy nhiên, tôi tin rằng chúng ta có lý khi bảo vệ mạng sống của mình khi bị tấn công, và tôi hoàn toàn chắc chắn chúng ta có lý khi bảo vệ một người bạn hoặc một đứa trẻ, ngay cả khi phải trả giá bằng việc giết kẻ xâm lược. Điều tương tự cũng đúng liên quan đến tất cả các loại động vật. Nếu một con vật tấn công bạn, gây nguy hiểm cho mạng sống hoặc sự an toàn của bạn, tôi nghĩ bạn có quyền giết nó nếu cần thiết. Toàn bộ câu hỏi là: cái nào sẽ gây ra tác hại lớn hơn? Ví dụ, nếu bạn bị làm phiền bởi những con muỗi, vốn đã rời bỏ thức ăn tự nhiên của chúng để tấn công bạn và làm nhiễm độc máu của bạn, và có lẽ làm hỏng một số công việc quan trọng, thì việc giết những con muỗi đó có thể là cái hại ít hơn. Nếu bạn có thể trú ẩn sau một tấm màn chống muỗi, hoặc xua đuổi chúng đi, thì càng tốt. Muỗi là loài ăn thực vật theo bản chất và theo bản năng. Có hàng triệu hàng triệu con muỗi chưa bao giờ nếm máu. Đưa chúng tiếp xúc với con người và cho chúng cái hương vị hư hỏng đó và bạn biết kết quả sẽ ra sao. Nó hoàn toàn giống như vậy với nhiều loại sâu bọ nhỏ khác. Chúng tốt ở vị trí thích hợp của chúng, nhưng đó không phải là khi tiếp xúc gần gũi với con người. Chúng ta không chỉ tự mình chịu khổ nếu cho phép chúng tràn ngập chúng ta, mà chúng ta còn khiến những con người khác bị nhiễm trùng mà lẽ ra họ đã thoát khỏi nếu không có chúng ta. |
|
Though, with our imperfect knowledge, it gives us no special justification to kill or exterminate any creature offensive to us, it is a fact that some forms are now intended to die away, either because they have run their course, or because they are experiments that have been improved upon and are therefore no longer needed. It is not irreverent to think of the great evolutionary Powers as experimenting to some extent. The Lord Maitreya, when He succeeded the Lord Buddha as World-Teacher, tried some new methods in religion, which might conceivably have failed. Madame Blavatsky used sometimes to speak guardedly of certain plants and animals as failures, whose life-form was being permitted to flow on and die out gradually, being used sometimes for the indwelling of creatures lower than those originally intended to occupy them and sometimes even for those undergoing involution. She spoke of certain loathsome forms of insect and reptile life as “by-products”, and considered that the killing of these was by no means the same thing as the destruction of evolving forms of life. The theory of the non-destruction of life is carried to extremes in certain places, as for example, where people decline to kill vermin, and allow themselves to be eaten by them. That does not commend itself to any civilized person. Again, a person who has a library of useful books will sometimes find them attacked by little silver-fish. It would be preferable to drive them away, but it is better, certainly, to destroy those insects than to allow good books, which might be of use to others besides oneself, to be rendered useless. There are many small forms of life which if we permit them, would render our lives practically impossible. For the yogi, who never destroys life, food is always provided, but the agriculturist who provides it has to protect his crops from grubs and worms. In Australia he has particularly to deal with rabbits, which having been imported into the country, have increased in such millions that if left free to do so they would destroy every vestige of cultivation. |
Mặc dù, với kiến thức không hoàn hảo của mình, nó không mang lại cho chúng ta sự biện minh đặc biệt nào để giết hoặc tiêu diệt bất kỳ sinh vật nào gây khó chịu cho chúng ta, nhưng có một thực tế là một số hình tướng hiện nay được dự định sẽ chết đi, hoặc vì chúng đã hoàn thành tiến trình của mình, hoặc vì chúng là những thử nghiệm đã được cải tiến và do đó không còn cần thiết nữa. Không phải là bất kính khi nghĩ về các Quyền năng tiến hóa vĩ đại như là đang thử nghiệm ở một mức độ nào đó. Đức Di Lặc (Maitreya), khi Ngài kế vị Đức Phật làm Đức Chưởng Giáo, đã thử một số phương pháp mới trong tôn giáo, vốn có thể hình dung là đã thất bại. Bà Blavatsky đôi khi thường nói một cách thận trọng về một số loài thực vật và động vật như là những sự thất bại, mà hình tướng-sự sống của chúng đang được phép trôi đi và chết dần, đôi khi được sử dụng cho sự trú ngụ của những sinh vật thấp hơn những sinh vật ban đầu được dự định chiếm giữ chúng và đôi khi thậm chí cho những sinh vật đang trải qua sự giáng hạ tiến hoá. Bà đã nói về một số hình thức côn trùng và bò sát đáng ghê tởm như là “sản phẩm phụ”, và coi việc giết những thứ này hoàn toàn không giống như việc tiêu diệt các hình tướng sự sống đang tiến hóa. Lý thuyết về việc không tiêu diệt sự sống được thực hiện đến mức cực đoan ở một số nơi, chẳng hạn như nơi mọi người từ chối giết sâu bọ, và để bản thân bị chúng ăn thịt. Điều đó không được bất kỳ người văn minh nào tán thành. Một lần nữa, một người có một thư viện sách hữu ích đôi khi sẽ thấy chúng bị tấn công bởi những con cá bạc nhỏ. Sẽ tốt hơn nếu xua đuổi chúng đi, nhưng chắc chắn là tốt hơn nếu tiêu diệt những loài côn trùng đó hơn là để những cuốn sách tốt, vốn có thể hữu ích cho những người khác ngoài chính mình, trở nên vô dụng. Có nhiều hình thức sự sống nhỏ bé mà nếu chúng ta cho phép chúng, sẽ làm cho cuộc sống của chúng ta thực tế là bất khả thi. Đối với vị yogi, người không bao giờ tiêu diệt sự sống, thức ăn luôn được cung cấp, nhưng người nông dân cung cấp nó phải bảo vệ mùa màng của mình khỏi sâu và giun. Ở Úc, y đặc biệt phải đối phó với thỏ, loài sau khi được nhập khẩu vào đất nước này, đã gia tăng hàng triệu con đến mức nếu để chúng tự do làm như vậy, chúng sẽ phá hủy mọi dấu vết của sự canh tác. |
|
It is not only for the sake of food for man that one must destroy some of the pests, but also as a matter of protection, for if one cultivates plants, or trees or vegetables, one has a certain responsibility to the life that takes up its dwelling in those forms. I think we should use common sense in all these matters all the way through. In any case, to kill any animal in self-defence is surely a different thing from killing highly evolved creatures, such as cows and sheep, to gratify a low form of taste, when it is absolutely unnecessary. |
Không chỉ vì mục đích thực phẩm cho con người mà người ta phải tiêu diệt một số loài sâu bệnh, mà còn là vấn đề bảo vệ, vì nếu người ta canh tác cây cối, hoặc cây xanh hoặc rau củ, người ta có một trách nhiệm nhất định đối với sự sống trú ngụ trong những hình tướng đó. Tôi nghĩ chúng ta nên sử dụng sự sáng suốt trong tất cả những vấn đề này xuyên suốt Thánh Đạo. Trong bất kỳ trường hợp nào, giết bất kỳ con vật nào để tự vệ chắc chắn là một điều khác biệt với việc giết những sinh vật tiến hóa cao, chẳng hạn như bò và cừu, để thỏa mãn một hình thức khẩu vị thấp kém, khi điều đó là hoàn toàn không cần thiết. |
|
Think of the treatment which superstition has meted out to the depressed classes in our beloved India, and see in that how this evil quality can breed heartless cruelty even among those who know the duty of brotherhood. |
Hãy nghĩ đến sự đối xử mà mê tín đã dành cho các tầng lớp bị áp bức ở Ấn Độ yêu dấu của chúng ta, và hãy thấy trong đó phẩm tính xấu xa này có thể nuôi dưỡng sự tàn ác vô tâm ngay cả giữa những người biết bổn phận huynh đệ. |
|
C.W.L.—The depressed classes in India, sometimes called the panchama, or fifth caste, really the outcaste, the pariah—are the descendants of the original inhabitants of India, whom the Aryans found there when they came over the Himalayas. The caste rules ordained by the Manu, which were good eugenic and magnetic rules at the time, forbade the settlers to intermarry or mix or eat with them. Beyond that, however, they have been treated with great cruelty. For instance, the pariah is not allowed to approach the caste well to draw water, because he will contaminate it for the caste people; consequently he has to depend upon such inferior wells as he can make or find, and this often causes serious hardships, especially as in some parts of the country the outcaste villages have been driven to unfavourable plots of land, and often forced to move. Until quite recently a pariah could hardly attain a good position in life, except by the undesirable expedient of becoming a Christian or a Muhammadan, a course which removes some of their most serious social disabilities. |
C.W.L.—Các tầng lớp bị áp bức ở Ấn Độ, đôi khi được gọi là panchama, hoặc đẳng cấp thứ năm, thực sự là những người ngoài đẳng cấp, những người cùng khổ (pariah)—là hậu duệ của những cư dân bản địa của Ấn Độ, những người mà người Arya đã tìm thấy ở đó khi họ vượt qua dãy Himalaya. Các quy luật đẳng cấp do Đức Manu quy định, vốn là những quy luật tốt về ưu sinh và từ tính vào thời điểm đó, đã cấm những người định cư kết hôn hoặc trộn lẫn hoặc ăn uống với họ. Tuy nhiên, vượt xa hơn thế, họ đã bị đối xử với sự tàn ác lớn lao. Ví dụ, người cùng khổ không được phép tiếp cận giếng của đẳng cấp để lấy nước, bởi vì y sẽ làm ô nhiễm nó cho những người trong đẳng cấp; do đó y phải phụ thuộc vào những cái giếng kém chất lượng mà y có thể tự đào hoặc tìm thấy, và điều này thường gây ra những khó khăn nghiêm trọng, đặc biệt là ở một số vùng của đất nước, các ngôi làng của người ngoài đẳng cấp đã bị dồn vào những mảnh đất không thuận lợi, và thường bị buộc phải di dời. Cho đến tận gần đây, một người cùng khổ khó có thể đạt được một vị trí tốt trong cuộc sống, ngoại trừ bằng phương kế không mong muốn là trở thành một người Cơ đốc giáo hoặc một người Muhammad giáo, một Thánh Đạo giúp loại bỏ một số khuyết tật xã hội nghiêm trọng nhất của họ. |
|
This, and even worse than this, has been the treatment which superstition has meted out to these depressed classes, even among people who make a speciality of brotherhood. In this case they have forgotten what brotherhood means, because of their superstition. One hopes that in time they will come to form a respectable and clean community. Modern conditions, such as the mingling that takes place on trains and tramcars, tend to facilitate this process. |
Điều này, và thậm chí còn tệ hơn thế này, đã là sự đối xử mà mê tín dành cho những tầng lớp bị áp bức này, ngay cả giữa những người coi trọng tình huynh đệ. Trong trường hợp này, họ đã quên mất tình huynh đệ có nghĩa là gì, vì sự mê tín của họ. Người ta hy vọng rằng theo thời gian họ sẽ tiến tới việc hình thành một cộng đồng đáng kính và sạch sẽ. Các điều kiện hiện đại, chẳng hạn như sự trộn lẫn diễn ra trên các chuyến tàu và xe điện, có xu hướng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này. |
|
It is the duty of the better classes of the Indian people, and also a karmic obligation upon them, to uplift these outcastes whom their ancestors conquered. Their very nobility, their innate Aryan quality should urge them to this necessary task. If a child is not clean we do not recoil from him, but we take him to be washed; so must we not shrink from the pariah, but provide him with conditions in which he can acquire health, cleanliness and knowledge. It is not necessarily a question of eating together, but it is assuredly our duty to be kindly and compassionate to our younger brothers. |
Đó là bổn phận của các tầng lớp tốt hơn của người dân Ấn Độ, và cũng là một nghĩa vụ nghiệp quả đối với họ, để nâng cao những người ngoài đẳng cấp này, những người mà tổ tiên của họ đã chinh phục. Chính sự cao quý của họ, thiên tính Arya bẩm sinh của họ nên thúc giục họ thực hiện nhiệm vụ cần thiết này. Nếu một đứa trẻ không sạch sẽ, chúng ta không xa lánh nó, mà chúng ta đưa nó đi tắm rửa; vì vậy chúng ta không được lùi bước trước người cùng khổ, mà hãy cung cấp cho y những điều kiện trong đó y có thể có được sức khỏe, sự sạch sẽ và kiến thức. Đó không nhất thiết là vấn đề ăn uống cùng nhau, nhưng chắc chắn bổn phận của chúng ta là phải tử tế và từ bi đối với những người em của mình. |
|
It is true that birth in a given caste or community always offers a man certain definite opportunities, but it does not follow that he is making the best of them. To be born into the family of a good man of lower caste would offer better opportunities in some ways than to belong to the family of an unworthy Brahmana. Often men strive for some goal, and when they attain it they fail to make good use of opportunities which it brings; hence a bad Brahmana may be one who is taking his first incarnation as such, or who has neglected or misused his opportunities in a former birth. It is true only in rare cases that: |
Đúng là việc sinh ra trong một đẳng cấp hoặc cộng đồng nhất định luôn mang lại cho con người những cơ hội xác định nhất định, nhưng không có nghĩa là y đang tận dụng tốt nhất những cơ hội đó. Được sinh ra trong gia đình của một người tốt thuộc đẳng cấp thấp hơn sẽ mang lại những cơ hội tốt hơn theo một số cách so với việc thuộc về gia đình của một người Bà-la-môn không xứng đáng. Thông thường con người phấn đấu cho một mục tiêu nào đó, và khi họ đạt được nó, họ thất bại trong việc sử dụng tốt các cơ hội mà nó mang lại; do đó một người Bà-la-môn tồi có thể là người đang thực hiện lần lâm phàm đầu tiên của mình với tư cách như vậy, hoặc là người đã bỏ bê hoặc sử dụng sai các cơ hội của mình trong một lần sinh trước. Chỉ trong những trường hợp hiếm hoi mới đúng là: |
|
Who toiled a slave may come anew a Prince |
Kẻ từng làm nô lệ khổ cực có thể trở lại làm một Hoàng tử |
|
For gentle worthiness and merit won; |
Vì sự xứng đáng dịu dàng và công đức đã đạt được; |
|
Who ruled a King may wander earth in rags |
Kẻ từng cai trị như một vị Vua có thể lang thang trên trái đất trong bộ quần áo rách rưới |
|
For things done and undone. 37 |
Vì những việc đã làm và chưa làm.37 |
|
As a general rule those who are in the great mass of the working classes will only gradually raise themselves into the bourgeoisie, and then higher. Most of a man’s karma is made with the class of people among whom he is, and he needs similar conditions for working it out in a future life. The way of evolution is also by gradual advance in culture and refinement, so a sudden transition into a distinctly higher or lower class is somewhat in the nature of a surgical operation, necessitated by very exceptional karma. Still, mankind is one family, and the duty of brotherhood applies to all without exception. |
Theo quy luật chung, những người nằm trong khối lượng lớn của các tầng lớp lao động sẽ chỉ dần dần nâng mình lên tầng lớp trung lưu, và sau đó cao hơn. Hầu hết nghiệp quả của một người được tạo ra với tầng lớp người mà y đang ở cùng, và y cần những điều kiện tương tự để giải quyết nó trong một đời sống tương lai. Thánh Đạo tiến hóa cũng là bằng sự tiến bộ dần dần trong văn hóa và sự tinh tế, vì vậy một sự chuyển tiếp đột ngột vào một tầng lớp cao hơn hoặc thấp hơn rõ rệt có phần mang tính chất của một cuộc phẫu thuật, đòi hỏi bởi nghiệp quả rất đặc biệt. Tuy nhiên, nhân loại là một gia đình, và bổn phận huynh đệ áp dụng cho tất cả không ngoại lệ. |
|
Many crimes have been committed in the name of the God of Love, moved by this nightmare of superstition. |
Nhiều tội ác đã được cam kết dưới danh nghĩa của Thượng đế của Tình thương, bị thúc đẩy bởi cơn ác mộng mê tín này. |
|
C.W.L.—One other point about superstition is that the man who does the most harm because of it is the one who has the best intentions, who is standing loyally to the letter of his law. A really selfish bad man—there are such people, though perhaps not very many—is concerned mostly with gratifying his own desires. He does not want to interfere with others unless they obstruct his way; so, after all, he does not do so much harm in the world. The stupid person with good intentions is really a far more serious danger, because he always wants to interfere with others. Missionaries, for example, are often a case in point. I do not doubt that the missionaries sent out from Europe and America have done much good among Central African savages and people of that type, but in India, where any common labourer in the street usually knows more than the missionary about the philosophy of religion, about all the greater and higher ideas, the missionary is ridiculously out of place. His intentions are good enough, but he does a great deal of harm. Many wars have been caused by the irrational methods of missionaries; their State has to step in and save them when they are in danger of what they call martyrdom. It has come to be a regular thing: first the missionaries, then those selling brandy and gin, and after them a conquering army. Poor old ladies in England and America even go without the necessities of life in order to help these missions, and think they are doing it for Christ’s sake! They have absolutely no conception that thousands of years before Christ India had a profound religion and philosophy, and that their money could be better employed in converting the heathen in England itself. |
C.W.L.—Một điểm khác về mê tín là người gây ra nhiều tác hại nhất vì nó chính là người có những ý định tốt nhất, người đang đứng trung thành với mặt chữ của luật pháp của mình. Một người xấu thực sự ích kỷ—có những người như vậy, mặc dù có lẽ không nhiều lắm—chủ yếu quan tâm đến việc thỏa mãn những ham muốn của chính mình. Y không muốn can thiệp vào người khác trừ khi họ cản đường y; vì vậy, xét cho cùng, y không gây ra nhiều tác hại trong thế giới. Người ngu xuẩn với những ý định tốt thực sự là một mối nguy hiểm nghiêm trọng hơn nhiều, bởi vì y luôn muốn can thiệp vào người khác. Ví dụ, các nhà truyền giáo thường là một trường hợp điển hình. Tôi không nghi ngờ rằng các nhà truyền giáo được gửi đi từ châu Âu và Mỹ đã làm được nhiều điều tốt đẹp giữa những người man dã ở Trung Phi và những người thuộc loại đó, nhưng ở Ấn Độ, nơi bất kỳ người lao động bình thường nào trên đường phố thường biết nhiều hơn nhà truyền giáo về triết lý tôn giáo, về tất cả các ý tưởng vĩ đại hơn và cao hơn, thì nhà truyền giáo là một sự lạc lõng nực cười. Ý định của y đủ tốt, nhưng y gây ra rất nhiều tác hại. Nhiều cuộc chiến tranh đã được gây ra bởi các phương pháp phi lý của các nhà truyền giáo; Quốc gia của họ phải can thiệp và cứu họ khi họ gặp nguy hiểm về cái mà họ gọi là sự tử vì đạo. Nó đã trở thành một điều thường xuyên: đầu tiên là các nhà truyền giáo, sau đó là những người bán rượu brandy và gin, và sau họ là một đội quân chinh phạt. Những bà cụ tội nghiệp ở Anh và Mỹ thậm chí còn nhịn cả những nhu yếu phẩm của cuộc sống để giúp đỡ những sứ mệnh này, và nghĩ rằng họ đang làm điều đó vì lợi ích của Đức Christ! Họ hoàn toàn không có quan niệm rằng hàng ngàn năm trước Đức Christ, Ấn Độ đã có một tôn giáo và triết học sâu sắc, và rằng tiền của họ có thể được sử dụng tốt hơn trong việc chuyển hóa những người ngoại đạo ngay tại chính nước Anh. |
|
Be very careful, therefore, that no slightest trace of it remains in you. |
Hãy rất cẩn thận, do đó, để không một dấu vết nhỏ nhất của nó còn sót lại trong con. |
|
C.W.L.—The emphasis which is laid upon it clearly shows that there is a danger that we may be superstitious without knowing it, so it is well that we should carefully watch. There are always at least two sides to any question. No one sees the whole thing—not even the Theosophist. When we become consciously one with the Logos on His own high plane, then we shall see all round everything, and be able to say: “My view is right”, but when that occurs our view will probably include all the others, because there is generally some germ of truth in all. |
C.W.L.—Sự nhấn mạnh được đặt lên nó cho thấy rõ ràng rằng có một mối nguy hiểm là chúng ta có thể mê tín mà không biết, vì vậy tốt hơn là chúng ta nên cẩn thận quan sát. Luôn có ít nhất hai mặt cho bất kỳ câu hỏi nào. Không ai thấy được toàn bộ sự việc—ngay cả nhà Thông Thiên Học. Khi chúng ta trở nên hợp nhất một cách có ý thức với Đức Logos trên cõi cao của chính Ngài, khi đó chúng ta sẽ thấy mọi thứ xung quanh, và có thể nói: “Quan điểm của tôi là đúng”, nhưng khi điều đó xảy ra, quan điểm của chúng ta có lẽ sẽ bao gồm tất cả những quan điểm khác, bởi vì thường có một mầm mống sự thật nào đó trong tất cả. |
|
These three great crimes you must avoid, for they are fatal to all progress, because they sin against love. |
Ba tội ác lớn này con phải tránh, vì chúng gây tử vong cho mọi sự tiến bộ, bởi vì chúng phạm tội chống lại tình thương. |
|
C.W.L.—That love should govern our lives and vivify all our other powers is the special teaching of the line to which the Master Kuthumi belongs. It is difficult for many to understand exactly how the Masters, who contain within Themselves all the highest and the noblest qualities which we can imagine, can yet somehow have one quality more than another. The Master Morya, who represents to us the First Ray, has for His greatest characteristic will and power, yet it would be a mistake to suppose that He has any less of love or of wisdom than any of the other Masters. So also should we be quite wrong in supposing the Master Kuthumi to have any less power than Masters of the First Ray. These are differences beyond mere human knowledge. |
C.W.L.—Việc tình thương nên cai quản cuộc sống của chúng ta và làm sống động tất cả các quyền năng khác của chúng ta là giáo lý đặc biệt của dòng mà Chân sư Kuthumi thuộc về. Thật khó cho nhiều người để thấu hiểu chính xác làm thế nào các Chân sư, những Đấng chứa đựng trong chính Các Ngài tất cả những phẩm tính cao quý nhất và vĩ đại nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng, tuy nhiên bằng cách nào đó vẫn có một phẩm tính nhiều hơn một phẩm tính khác. Chân sư Morya, người đại diện cho Cung một đối với chúng ta, có đặc tính lớn nhất của Ngài là ý chí và quyền năng, tuy nhiên sẽ là một sai lầm nếu giả định rằng Ngài có ít tình thương hoặc minh triết hơn bất kỳ Chân sư nào khác. Vì vậy, chúng ta cũng sẽ hoàn toàn sai lầm khi giả định Chân sư Kuthumi có ít quyền năng hơn các Chân sư của Cung một. Đây là những sự khác biệt vượt xa kiến thức đơn thuần của con người. |
|
In the same way there are distinctions of level among the Great Ones; the Bodhisattva stands far higher than our Masters. To us They all appear so great that we cannot venture to make any distinction between them. They are all suns of blinding light, and to us there seems no difference between a great Angel and a Devaraja; yet one is a whole kingdom, a whole evolution above the other. It must be that the Solar Logos has greater power than all these that are parts of Him; although it seems as though no being could have more than They. The knowledge and the power of the Master are so much greater than ours that for us the whole thing is one blinding glory; but the distinction exists. |
Theo cách tương tự, có những sự phân biệt về cấp độ giữa các Đấng Cao Cả; Đức Bồ Tát đứng cao hơn nhiều so với các Chân sư của chúng ta. Đối với chúng ta, tất cả Các Ngài đều xuất hiện vĩ đại đến mức chúng ta không dám thực hiện bất kỳ sự phân biệt nào giữa Các Ngài. Tất cả Các Ngài đều là những mặt trời của ánh sáng chói lòa, và đối với chúng ta dường như không có sự khác biệt giữa một Thiên thần lớn và một vị Devaraja; tuy nhiên một vị là cả một giới, cả một sự tiến hóa trên vị kia. Phải là Đức Thái dương Thượng đế có quyền năng lớn hơn tất cả những Đấng này vốn là các phần của Ngài; mặc dù có vẻ như không sinh thể nào có thể có nhiều hơn Các Ngài. Kiến thức và quyền năng của Chân sư lớn hơn của chúng ta rất nhiều đến nỗi đối với chúng ta toàn bộ sự việc là một vinh quang chói lòa; nhưng sự phân biệt vẫn tồn tại. |
CHAPTER 6
SERVICE
PHỤNG SỰ
|
But not only must you thus refrain from evil; you must be active in doing good. You must be so filled with the intense desire of service that you are ever on the watch to render it to all around you—not to man alone, but even to animals and plants. You must render it in small things every day, that the habit may be formed, so that you may not miss the rare opportunity when the great thing offers itself to be done. |
Nhưng không những con phải kiềm chế điều ác như vậy; con phải tích cực trong việc làm điều thiện. Con phải tràn đầy khát vọng phụng sự mãnh liệt đến mức con luôn canh chừng để thực hiện nó cho tất cả mọi người xung quanh con—không chỉ riêng con người, mà thậm chí cả động vật và thực vật. Con phải thực hiện nó trong những việc nhỏ mỗi ngày, để thói quen có thể được hình thành, để con không bỏ lỡ cơ hội hiếm có khi việc lớn tự nó xuất hiện để được thực hiện. |
|
C.W.L.—We may very often miss a chance of helping some one if we have not formed the habit of watchfulness; but if we have that habit we are not likely to pass many opportunities, because it will assert itself, even in the most unusual surroundings or in the greatest emergencies. That is the whole reason of the long, rather painful drill through which soldiers are put; not only that they may know exactly what to do when certain orders are given, but that they may have certain habits instinctively part of them. In battle in the old days, if not today, the soldier found himself in absolutely novel surroundings, that might well try his courage, however brave he might be, conditions such that a man might well be excused if he lost his head. But even in such an emergency habit would assert itself, and the man would obey orders and do what was required. |
C.W.L.—Chúng ta có thể rất thường xuyên bỏ lỡ một cơ hội giúp đỡ ai đó nếu chúng ta không hình thành thói quen cảnh giác; nhưng nếu chúng ta có thói quen đó, chúng ta không có khả năng bỏ qua nhiều cơ hội, bởi vì nó sẽ tự khẳng định mình, ngay cả trong những môi trường bất thường nhất hoặc trong những trường hợp khẩn cấp lớn nhất. Đó là toàn bộ lý do của cuộc huấn luyện dài, khá đau đớn mà những người lính phải trải qua; không chỉ để họ biết chính xác phải làm gì khi các mệnh lệnh nhất định được đưa ra, mà để họ có những thói quen nhất định trở thành một phần bản năng của họ. Trong trận chiến vào những ngày cũ, nếu không phải là ngày nay, người lính thấy mình trong những môi trường hoàn toàn mới lạ, vốn có thể thử thách lòng can đảm của y, dù y có thể dũng cảm đến đâu, những điều kiện đến mức một người có thể được tha thứ nếu y mất bình tĩnh. Nhưng ngay cả trong một trường hợp khẩn cấp như vậy, thói quen vẫn sẽ tự khẳng định mình, và người đó sẽ tuân theo mệnh lệnh và làm những gì được yêu cầu. |
|
This remark about being active in doing good is not directed in any way against those whose activity is on other planes. Such a remark as that might easily be wrongly used against the contemplative orders of monks and nuns, or the Brahmana caste in India. The theory in the old days was that the Brahmana was the spiritual leader of the nation, and he was supposed to devote all his time to the performance of ceremonies and rites, and to study and teaching and giving advice, which would benefit all the community. The other people, whose lives were taken up in ordinary work, and in making money, supported him because he was doing this spiritual work for them. A similar idea in Catholic countries is behind those orders of monks and nuns whose time is taken up in praying for the dead. In the days when those arrangements were made it was recognized that the dead and the living were one community, and that this was a far higher service to the community than the growing of corn; therefore those people received their living in charity and were in nowise ashamed of it, and those who gave to them felt themselves highly honoured. The whole conception was entirely different from the modern one; there was no shame whatever attached to begging for a living; in fact, those who did it were the most spiritual of the people, bound by the vows of poverty, chastity and obedience. To condemn the people who lived in that way is to make exactly the same mistake as was made in the French Revolution, when they said that a philosopher or a writer was a man living an idle and useless life, and that he ought to be breaking stones upon the road. |
Nhận xét này về việc tích cực làm điều thiện không nhằm chống lại theo bất kỳ cách nào đối với những người mà hoạt động của họ ở trên các cõi khác. Một nhận xét như vậy có thể dễ dàng bị sử dụng sai để chống lại các dòng tu chiêm niệm của các tu sĩ và nữ tu, hoặc đẳng cấp Bà-la-môn ở Ấn Độ. Lý thuyết trong những ngày cũ là người Bà-la-môn là nhà lãnh đạo tinh thần của quốc gia, và y được cho là dành toàn bộ thời gian của mình cho việc thực hiện các nghi lễ và nghi thức, và cho việc học tập và giảng dạy và đưa ra lời khuyên, vốn sẽ mang lại lợi ích cho toàn bộ cộng đồng. Những người khác, những người mà cuộc sống của họ bị cuốn vào công việc bình thường, và vào việc kiếm tiền, đã nuôi dưỡng y bởi vì y đang làm công việc tinh thần này cho họ. Một ý tưởng tương tự trong các quốc gia Công giáo đứng sau những dòng tu của các tu sĩ và nữ tu mà thời gian của họ dành cho việc cầu nguyện cho người chết. Trong những ngày khi những sự sắp xếp đó được thực hiện, người ta đã nhận ra rằng người chết và người sống là một cộng đồng, và rằng đây là một sự phụng sự cộng đồng cao hơn nhiều so với việc trồng ngô; do đó những người đó đã nhận được sự sống của mình trong sự bố thí và không hề xấu hổ về điều đó, và những người đã cho họ cảm thấy mình được vinh dự cao quý. Toàn bộ quan niệm hoàn toàn khác biệt với quan niệm hiện đại; không có sự xấu hổ nào gắn liền với việc đi xin ăn để sống; thực tế, những người làm việc đó là những người tinh thần nhất trong dân chúng, bị ràng buộc bởi các lời thề nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục. Lên án những người sống theo cách đó là phạm chính xác cùng một sai lầm như đã phạm trong Cách mạng Pháp, khi họ nói rằng một triết gia hoặc một nhà văn là một người đang sống một cuộc đời nhàn rỗi và vô ích, và rằng y nên đi đập đá trên đường. |
|
For if you yearn to be one with God, it is not for your own sake; it is that you may be a channel through which His love may flow to reach your fellow-men. He who is on the Path exists not for himself, but for others; he has forgotten himself, in order that he may serve them. |
Vì nếu con khao khát được hợp nhất với Thượng đế, đó không phải vì lợi ích của chính con; đó là để con có thể là một kênh dẫn qua đó tình thương của Ngài có thể tuân chảy để đến với đồng loại của mình. Người ở trên Thánh Đạo tồn tại không phải cho chính mình, mà cho những người khác; y đã quên mình, để có thể phụng sự họ. |
|
C.W.L.—The whole idea of this book is to get people into a certain attitude. What is aimed at is not nearly so much to know as to be; that is, to live the Theosophical life, to be filled with love for all and with an intense desire to help forward evolution, so that we forget ourselves in the service of others. If you ever saw a surgeon perform a big operation, you know how a man in the most intense activity and with the keenest use of brain and hand, can yet be absolutely absorbed in the work he is doing, with his whole life, as it were, in the ends of his fingers. In war, too, a man sometimes forgets himself utterly in the effort to save a wounded comrade or to perform some necessary but dangerous deed. |
C.W.L.—Toàn bộ ý tưởng của cuốn sách này là đưa mọi người vào một thái độ nhất định. Điều được nhắm tới không hẳn là để biết mà là để trở thành; nghĩa là, sống đời sống Thông Thiên Học, tràn đầy tình thương cho tất cả và với một khát vọng mãnh liệt để giúp thúc đẩy sự tiến hóa, để chúng ta quên mình trong việc phụng sự người khác. Nếu bạn từng thấy một bác sĩ phẫu thuật thực hiện một ca phẫu thuật lớn, bạn biết một người trong hoạt động mãnh liệt nhất và với sự sử dụng sắc bén nhất của bộ não và bàn tay, tuy nhiên có thể hoàn toàn bị hấp thụ vào công việc y đang làm, với toàn bộ cuộc sống của y, như nó vốn thế, nằm ở các đầu ngón tay. Trong chiến tranh cũng vậy, một người đôi khi quên mình hoàn toàn trong nỗ lực cứu một đồng đội bị thương hoặc thực hiện một hành động cần thiết nhưng nguy hiểm. |
|
The Logos is omnipotent in His system; He pours out force at all levels in that system. We cannot but suppose that He could flood the whole system with that force at any level and to any extent that He chose. As a matter of fact He does not do that; the force poured out at each level seems to be a definite amount, and of a definite kind only, and so it remains that we, who are sparks of His fire can do certain things which the Great Flame of which we are a part does not do, except through us, who are parts of Him. We cannot say that He could not do it, but that He does not, apparently. It is within our power, with our intense devotion, setting our wills to work along with His will, to draw down more force from higher planes, to transmute it and send it out. That is work which would not be done, as far as we can see, unless we did it. It would seem that He counts on our cooperation. Yet that is also His, because there is no force that is not His. |
Đức Logos là toàn năng trong hệ thống của Ngài; Ngài tuôn đổ mãnh lực ở tất cả các cấp độ trong hệ thống đó. Chúng ta không thể không giả định rằng Ngài có thể làm tràn ngập toàn bộ hệ thống với mãnh lực đó ở bất kỳ cấp độ nào và đến bất kỳ mức độ nào mà Ngài chọn. Trên thực tế, Ngài không làm điều đó; mãnh lực tuôn đổ ở mỗi cấp độ dường như là một lượng xác định, và chỉ thuộc một loại xác định, và vì vậy nó vẫn còn đó rằng chúng ta, những tia lửa từ lửa của Ngài có thể làm những việc nhất định mà Ngọn Lửa Lớn mà chúng ta là một phần không làm, ngoại trừ thông qua chúng ta, những người là các phần của Ngài. Chúng ta không thể nói rằng Ngài không thể làm điều đó, nhưng rằng Ngài không làm, rõ ràng là vậy. Nó nằm trong quyền năng của chúng ta, với sự tận hiến mãnh liệt của mình, đặt ý chí của mình làm việc cùng với ý chí của Ngài, để thu hút thêm mãnh lực từ các cõi cao hơn, để chuyển hoá nó và gửi nó ra ngoài. Đó là công việc vốn sẽ không được thực hiện, theo như chúng ta có thể thấy, trừ khi chúng ta làm điều đó. Có vẻ như Ngài trông cậy vào sự hợp tác của chúng ta. Tuy nhiên, điều đó cũng là của Ngài, bởi vì không có mãnh lực nào không phải là của Ngài. |
|
I have several times used the simile of a channel or pipe to help in describing the fact that the force of the Master is distributed on lower planes by a pupil. One may use also the simile of the transformer of electricity; you have great quantities of electricity sent at high pressure, perhaps hundreds of miles from the generating station, to the transforming station in a city; there are there transformers which receive it at that high pressure, and convert it into huge volumes of current at lower pressure, suitable for lighting and other purposes. So a pupil in Sydney, for example, may receive the Master’s force coming on higher planes from the Himalayas, and transform it into force of the lower planes, so that it may be distributed around him or directed to those for whom it is intended. |
Tôi đã vài lần sử dụng phép ẩn dụ về một kênh dẫn hoặc một ống dẫn để giúp mô tả thực tế rằng mãnh lực của Chân sư được phân phối trên các cõi thấp bởi một đệ tử. Người ta cũng có thể sử dụng phép ẩn dụ về máy biến áp điện; bạn có một lượng lớn điện năng được gửi đi ở áp suất cao, có lẽ hàng trăm dặm từ trạm phát điện, đến trạm biến áp trong một thành phố; ở đó có các máy biến áp nhận nó ở áp suất cao đó, và chuyển đổi nó thành những khối lượng dòng điện khổng lồ ở áp suất thấp hơn, phù hợp cho việc chiếu sáng và các mục đích khác. Vì vậy, một đệ tử ở Sydney, chẳng hạn, có thể nhận được mãnh lực của Chân sư đến từ các cõi cao từ dãy Himalaya, và chuyển đổi nó thành mãnh lực của các cõi thấp hơn, để nó có thể được phân phối xung quanh y hoặc hướng đến những người mà nó được dành cho. |
|
Every Initiate is thus a transformer of spiritual force; through him it can flow at a certain level, according to his stage or degree. The divine force is all round us, just as the sun is shining all the time. When the sunshine does not reach the earth it is the earth’s doing, except during a solar eclipse, because it raises clouds which come between it and the sun; so also do men raise clouds of selfishness and ignorance between themselves and the Logos, who is raying out a great variety of His forces on every plane. The Initiate takes a definite step which enables him to be a better channel for these forces. It is not that the forces are themselves in the least affected—they are there all the time, but they pass us by when we are not ready to receive them. |
Mỗi Điểm đạo đồ do đó là một máy biến áp của mãnh lực tinh thần; qua y nó có thể tuôn chảy ở một cấp độ nhất định, tùy theo giai đoạn hoặc cấp bậc của y. Mãnh lực thiêng liêng ở xung quanh chúng ta, giống như mặt trời đang chiếu sáng suốt thời gian. Khi ánh nắng không chạm tới trái đất thì đó là việc của trái đất, ngoại trừ trong thời gian nhật thực, bởi vì nó tạo ra những đám mây ngăn cách giữa nó và mặt trời; vì vậy con người cũng tạo ra những đám mây ích kỷ và vô minh giữa chính họ và Đức Logos, Đấng đang phóng chiếu ra một sự đa dạng lớn các mãnh lực của Ngài trên mọi cõi. Điểm đạo đồ thực hiện một bước xác định cho phép y trở thành một kênh dẫn tốt hơn cho những mãnh lực này. Không phải là các mãnh lực tự chúng bị ảnh hưởng một chút nào—chúng ở đó suốt thời gian, nhưng chúng đi ngang qua chúng ta khi chúng ta không sẵn sàng để nhận chúng. |
|
Let us take the analogy of prana on the physical plane. Every body draws in prana, but sometimes when a man falls ill he is unable to specialize it for himself, and soon begins to feel a great lack of vitality Although he is then unable to specialize prana for himself, he can still use that which has been prepared by another; another man, abounding in vitality, may pour it upon him and give him the strength that he requires to enable him to recover his normal condition. Similarly, the Initiate takes up many of the higher forces and transforms them into a condition in which they become readily assimilable by others. As more and more of our mankind reach the stage at which they can do this work the evolution of men in general will increase in rapidity. Though it is true that there is a limit to the amount of sunlight that plants can bear, it is also true that it is impossible to pour upon any man too much of the spiritual light. |
Hãy lấy sự tương đồng về prana trên cõi hồng trần. Mọi cơ thể đều thu hút prana, nhưng đôi khi khi một người ngã bệnh y không thể chuyên biệt hóa nó cho chính mình, và sớm bắt đầu cảm thấy một sự thiếu hụt sinh lực lớn. Mặc dù khi đó y không thể chuyên biệt hóa prana cho chính mình, y vẫn có thể sử dụng cái đã được chuẩn bị bởi một người khác; một người khác, dồi dào sinh lực, có thể tuôn đổ nó lên y và trao cho y sức mạnh mà y yêu cầu để cho phép y phục hồi tình trạng bình thường của mình. Tương tự như vậy, Điểm đạo đồ tiếp nhận nhiều mãnh lực cao hơn và chuyển đổi chúng thành một tình trạng mà trong đó chúng trở nên dễ dàng được đồng hóa bởi những người khác. Khi ngày càng nhiều nhân loại của chúng ta đạt đến giai đoạn mà họ có thể làm công việc này, sự tiến hóa của con người nói chung sẽ gia tăng về tốc độ. Mặc dù đúng là có một giới hạn cho lượng ánh sáng mặt trời mà thực vật có thể chịu đựng, nhưng cũng đúng là không thể tuôn đổ lên bất kỳ con người nào quá nhiều ánh sáng tinh thần. |
|
Do not, however, think of these channels as merely passive. They are living channels. The pupil is not sitting still and simply acting as a pipe. There are forces that do come through like that, and the pupil of the Master is often conscious of the nature of the force pouring through him and knows to whom it is going. But there is also a great amount of it which he can at any time employ as he will, which he can turn this way or that, as he sees it to be needed. His own adaptability and tact are thus called into play, and his life is very full indeed of positive activity of this kind. His is not, therefore, a life of blind obedience—on the contrary, he is busy when others are idly thinking about themselves. Ordinary men cannot commonly be used in this way, because they are not sufficiently developed on the higher planes, and because even when the ego is somewhat advanced the thread of connection with the personality is very narrow. The Master can use the pupil because the channel is open; so also can the One Initiator use the Initiates for the force of the Hierarchy. In these cases the man is the higher self, and even when he is engaged in the duties of the physical plane there is the feeling always in the background of the mind: “I am I; a spark of the Divine; I can do nothing unworthy of That; noblesse oblige.” |
Tuy nhiên, đừng nghĩ về những kênh dẫn này như là chỉ thụ động. Chúng là những kênh dẫn sống động. Đệ tử không ngồi yên và chỉ đơn giản đóng vai trò như một ống dẫn. Có những mãnh lực thực sự đi qua như vậy, và đệ tử của Chân sư thường có ý thức về bản chất của mãnh lực đang tuôn qua mình và biết nó đang đi đến ai. Nhưng cũng có một lượng lớn mãnh lực mà y có thể sử dụng vào bất kỳ lúc nào theo ý mình, mà y có thể xoay chuyển theo hướng này hay hướng kia, khi y thấy nó cần thiết. Sự thích nghi và sự khéo léo của chính y do đó được kêu gọi vận dụng, và cuộc đời y thực sự rất tràn đầy hoạt động tích cực loại này. Do đó, cuộc đời y không phải là một cuộc đời vâng lời mù quáng—ngược lại, y bận rộn khi những người khác đang nhàn rỗi nghĩ về chính mình. Những con người bình thường thường không thể được sử dụng theo cách này, bởi vì họ không đủ phát triển trên các cõi cao hơn, và bởi vì ngay cả khi chân ngã đã phần nào tiến bộ thì sợi dây kết nối với phàm ngã vẫn rất hẹp. Chân sư có thể sử dụng đệ tử bởi vì kênh dẫn đã mở; vì vậy Đấng Điểm đạo Duy nhất cũng có thể sử dụng các Điểm đạo đồ cho mãnh lực của Thánh đoàn. Trong những trường hợp này, con người là chân ngã, và ngay cả khi y đang tham gia vào các bổn phận của cõi hồng trần thì luôn có cảm giác ở phía sau tâm trí: “Tôi là tôi; một tia lửa của Đấng Thiêng Liêng; tôi không thể làm điều gì không xứng đáng với Cái Đó; vị thế cao quý đòi hỏi cách cư xử tương xứng (noblesse oblige).” |
|
Because of the importance of the work, the relation between Master and pupil is never based on sentiment, though it is full of the deepest affection that the world can know. The Master does not accept a man as a pupil because some other member of his family is a pupil or because He has known him in previous lives. Both Master and pupil think only of what was called in Egypt “the hidden work”, the building up again of the given body of Osiris, the reuniting of the scattered fragments. They know of “the hidden light” in every man, “the jewel in the lotus”, through which he can always be helped when the appeal is rightly made. This was the work of the Initiates in ancient Egypt, as it is of those of to-day. They use the power that made the worlds, the love of God, which is not personal. No one is bound to come forward into occultism, but if he does so he must adopt the motto and attitude of the Brotherhood, which is to live not for himself, but for others, not for personal advancement or satisfaction, but for the work. |
Bởi vì tầm quan trọng của công việc, mối quan hệ giữa Chân sư và đệ tử không bao giờ dựa trên tình cảm, mặc dù nó tràn đầy tình thương sâu sắc nhất mà thế gian có thể biết đến. Chân sư không chấp nhận một người làm đệ tử bởi vì một thành viên khác trong gia đình y là đệ tử hoặc bởi vì Ngài đã biết y trong các đời trước. Cả Chân sư và đệ tử chỉ nghĩ về cái được gọi ở Ai Cập là “công việc ẩn giấu”, việc xây dựng lại cơ thể đã cho của Osiris, việc hợp nhất lại các mảnh vụn rải rác. Các Ngài biết về “ánh sáng ẩn giấu” trong mỗi con người, “viên ngọc trong hoa sen”, qua đó y luôn có thể được giúp đỡ khi lời kêu gọi được thực hiện đúng cách. Đây là công việc của các Điểm đạo đồ ở Ai Cập cổ đại, cũng như của những người ngày nay. Các Ngài sử dụng quyền năng đã tạo ra các thế giới, tình thương của Thượng đế, vốn không mang tính cá nhân. Không ai bị buộc phải tiến tới trong huyền bí học, nhưng nếu y làm như vậy y phải chấp nhận phương châm và thái độ của Huynh đệ đoàn, đó là sống không phải cho chính mình, mà cho những người khác, không phải vì sự thăng tiến hoặc sự thỏa mãn cá nhân, mà vì công việc. |
|
He is as a pen in the hand of God, through which His thought may flow, and find for itself an expression down here, which without a pen it could not have. |
Y giống như một cây bút trong bàn tay của Thượng đế, qua đó tư tưởng của Ngài có thể tuân chảy, và tìm thấy cho chính nó một sự biểu hiện ở dưới đây, mà nếu không có một cây bút thì nó không thể có được. |
|
C.W.L.—It would seem that He must have calculated that at a certain stage of evolution He would have many such pens through which He could write, that God Himself, as a poet puts it, “needs you and me.” Our help is part of the plan. That is a grand idea and very logical; we see at once that if we have been able to reach a level of knowledge, of love, of power which is a little higher than the standard about us, we have done it in order that we may be of use in distributing it to others. |
C.W.L.—Dường như Ngài chắc hẳn đã tính toán rằng ở một giai đoạn tiến hóa nhất định Ngài sẽ có nhiều cây bút như vậy qua đó Ngài có thể viết, rằng chính Thượng đế, như một nhà thơ diễn đạt, “cần bạn và tôi.” Sự giúp đỡ của chúng ta là một phần của kế hoạch. Đó là một ý tưởng vĩ đại và rất logic; chúng ta thấy ngay rằng nếu chúng ta đã có thể đạt đến một cấp độ kiến thức, tình thương, quyền năng vốn cao hơn một chút so với tiêu chuẩn xung quanh mình, chúng ta đã làm điều đó để chúng ta có thể có ích trong việc phân phối nó cho những người khác. |
|
Yet at the same time he is also a living plume of fire, raying out upon the world the Divine Love which fills his heart. |
Tuy nhiên đồng thời y cũng là một cột lửa sống động, tỏa ra thế gian Tình thương Thiêng liêng vốn tràn ngập trái tim y. |
|
C.W.L.—There is a story of two Alexandrian monks who wanted to keep themselves perfectly pure; one did it by making round himself a shell of protective thought, but the other was so full of the love of God that it rayed out from him all the time and kept him pure. There are always the two ways of the occultist, who progresses by work in the world, and the mystic, who retires into himself. In many cases the aim of the mystic is simply to become utterly one with God; yet it is not right to call him selfish, because even in the act of so becoming he must and does shed a tremendous influence on all around him. Our aim, that of the occultist, should be to raise ourselves step by step through all the different stages until at certain high levels of Initiation we can merge our consciousness in the Third Aspect of the Deity, then with the Second Aspect, and finally with the First. The mystic throws himself into the Divine Life here as he stands, but it is a lower manifestation of the Divine Life; then he has to work upwards in order to feel himself one at higher levels also. |
C.W.L.—Có một câu chuyện về hai tu sĩ thành Alexandria muốn giữ cho mình hoàn toàn tinh khiết; một người đã làm điều đó bằng cách tạo ra quanh mình một lớp vỏ tư tưởng bảo vệ, nhưng người kia lại tràn đầy tình thương của Thượng đế đến mức nó tỏa ra từ y suốt thời gian và giữ cho y tinh khiết. Luôn có hai Thánh Đạo của nhà huyền bí học, người tiến bộ bằng công việc trong thế gian, và nhà thần bí, người rút lui vào chính mình. Trong nhiều trường hợp, mục tiêu của nhà thần bí chỉ đơn giản là trở nên hoàn toàn hợp nhất với Thượng đế; tuy nhiên không đúng khi gọi y là ích kỷ, bởi vì ngay cả trong hành động trở nên như vậy y phải và thực sự tỏa ra một ảnh hưởng to lớn lên tất cả xung quanh mình. Mục tiêu của chúng ta, mục tiêu của nhà huyền bí học, nên là nâng mình lên từng bước qua tất cả các giai đoạn khác nhau cho đến khi ở những cấp độ Điểm đạo cao nhất định chúng ta có thể hợp nhất tâm thức mình vào Phương diện thứ Ba của Thượng đế, sau đó với Phương diện thứ Hai, và cuối cùng với Phương diện thứ Nhất. Nhà thần bí ném mình vào Sự sống Thiêng liêng ở đây như y đang đứng, nhưng đó là một biểu hiện thấp hơn của Sự sống Thiêng liêng; sau đó y phải nỗ lực hướng thượng để cảm thấy mình là một ở những cấp độ cao hơn nữa. |
|
The wisdom which enables you to help, the will which directs the wisdom, the love which inspires the will—these are your qualifications. Will, Wisdom and Love are the Three Aspects of the Logos; and you, who wish to enrol yourselves to serve Him, must shew forth these aspects in the world. |
Minh triết cho phép con giúp đỡ, ý chí điều phối minh triết, tình thương truyền cảm hứng cho ý chí—đây là những phẩm tính của con. Ý chí, Minh triết và Tình thương là Ba Phương diện của Đức Thượng đế; và con, những người muốn ghi danh để phụng sự Ngài, phải thể hiện những phương diện này ra thế gian. |
|
C.W.L.—That is a beautiful ending, my brothers. As Alcyone achieved, may you attain. |
C.W.L.—Đó là một kết thúc đẹp đẽ, các huynh đệ của tôi. Như Alcyone đã đạt được, cầu mong các bạn cũng thành tựu. |
Notes
See The Christian Creed, by C. W. Leadbeater.
The Light of Asia, Book VIII.