Luận Về Lửa Vũ Trụ – Semester S2S8 (190-202)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S2 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

TCF 190-202 S2S8

TCF 190-202 S2S8

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Cước chú và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Việc gạch chân, in đậm và tô nổi bật do MDR thực hiện)

Please Read these Commentaries with your TCF Book Handy for the Sake of Continuity. The extensive commentary may otherwise disrupt the sense of flow.

Xin hãy đọc các phần Bình luận này khi có sẵn sách TCF bên cạnh để bảo đảm tính liên tục. Nếu không, phần bình luận dài có thể làm gián đoạn mạch trôi chảy của ý tưởng.

1. We recall our context. We are focusing on the Senses and the Centres.

1. Chúng ta nhắc lại bối cảnh. Chúng ta đang tập trung vào các Giác quan và các Trung tâm.

2. We will again tabulate them here as they appear on TCF, 189.

2. Chúng ta sẽ lại lập bảng chúng ở đây như chúng xuất hiện trong TCF, 189.

We might here, for the sake of clarity, tabulate the five different aspects of the five senses on the five planes, so that their correspondences may be readily visualised, using the above table as the basis:

Ở đây, để rõ ràng, chúng ta có thể lập bảng năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi, để các tương ứng của chúng có thể được hình dung một cách dễ dàng, dùng bảng trên làm nền tảng:

3. We might note that DK asks for an act of visualization in relation to the five different aspects of the five senses on the five planes. It is unlikely that any of us will grasp with fulness the significance of the highest and, even, the higher correspondences to the five senses. Acts of visualization may be the best method for learning at least something of them.

3. Chúng ta có thể lưu ý rằng Chân sư DK yêu cầu một hành động hình dung liên quan đến năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi. Khó có khả năng bất kỳ ai trong chúng ta nắm bắt đầy đủ thâm nghĩa của các tương ứng cao nhất và thậm chí các tương ứng cao hơn đối với năm giác quan. Những hành động hình dung có thể là phương pháp tốt nhất để học được ít nhất đôi điều về chúng.

4. It is also necessary to study the subplanes upon which a particular faculty appears. For instance, in relation to the sense of hearing, it is significant that this sense and its higher correspondences appear on the fifth subplane of the physical, the fifth subplane of the astral, the seventh subplane of the mental, the seventh subplane of the buddhic and the seventh of the atmic (all counting from above downwards).

4. Cũng cần thiết phải nghiên cứu các cõi phụ nơi một năng lực nhất định xuất hiện. Chẳng hạn, liên quan đến thính giác, điều có ý nghĩa là giác quan này và các tương ứng cao hơn của nó xuất hiện trên cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục, cõi phụ thứ bảy của cõi trí, cõi phụ thứ bảy của cõi Bồ đề và cõi phụ thứ bảy của cõi atma (tất cả đều tính từ trên xuống dưới).

5. Another way of cross-referencing is to compare all senses occurring on a particular subplane with each other.

5. Một cách khác để đối chiếu chéo là so sánh tất cả các giác quan xuất hiện trên một cõi phụ nhất định với nhau.

a. The First Sense……Hearing.

a. Giác quan Thứ Nhất……Thính giác.

1. Physical hearing.

1. Thính giác hồng trần.

2. Clairaudience.

2. Thông nhĩ.

3. Higher clairaudience.

3. Thông nhĩ cao.

4. Comprehension (of four sounds)

4. Sự thấu hiểu (bốn âm thanh)

5. Beatitude.

5. Phúc lạc.

6. General observations:

6. Những nhận xét tổng quát:

a. All five of these capacities are related to the sense of hearing. It is especially important to grasp this when thinking of the final two faculties—Comprehension and Beatitude.

a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với thính giác. Điều đặc biệt quan trọng là nắm được điều này khi nghĩ đến hai năng lực cuối—Sự thấu hiểu và Phúc lạc.

b. The third aspect of divinity, correlated with the area of the throat and ears is always the first to develop in the evolutionary cycle.

b. Phương diện thứ ba của thiên tính, tương quan với vùng cổ họng và tai, luôn là phương diện phát triển đầu tiên trong chu kỳ tiến hoá.

c. The heart is involved with the higher aspects of hearing. The “heart” is formed by the “hear” plus the cross (the “t”).

c. Tim có liên quan đến các phương diện cao hơn của thính giác. “heart” được tạo bởi “hear” cộng với thập giá (chữ “t”).

d. Leaders upon the first ray are often called “dictators”. They speak directly and expect to be heard and obeyed. This dynamic illustrates the close relation between the first and the third ray. First ray types prefer to appeal directly to the ear rather than to the eye through the written word.

d. Những nhà lãnh đạo thuộc cung một thường được gọi là “nhà độc tài”. Họ nói thẳng và mong được nghe và tuân theo. Động lực này minh hoạ mối liên hệ chặt chẽ giữa cung một và cung ba. Người thuộc cung một thích tác động trực tiếp đến tai hơn là đến mắt qua lời viết.

e. The sense of hearing is related to what might be called ‘Lemurian perception’.

e. Thính giác liên hệ với điều có thể gọi là “tri giác Lemurea”.

b. The Second Sense…..Touch or feeling.

b. Giác quan Thứ Hai…..Xúc giác hay cảm giác.

1. Physical touch.

1. Xúc giác hồng trần.

2. Psychometry.

2. Thuật trắc tâm.

3. Planetary psychometry.

3. Thuật trắc tâm hành tinh.

4. Healing.

4. Trị liệu.

5. Active service.

5. Phụng sự tích cực.

7. General observations:

7. Những nhận xét tổng quát:

a. All the five capacities are based upon the sense of touch.

a. Cả năm năng lực đều dựa trên xúc giác.

b. The faculties related to the astral and mental planes are similar, but with respect to the mental plane there is a great expansion in scope. Psychometry becomes planetary psychometry.

b. Các năng lực liên hệ với cõi cảm dục và cõi trí thì tương tự nhau, nhưng đối với cõi trí thì phạm vi được mở rộng rất lớn. Thuật trắc tâm trở thành thuật trắc tâm hành tinh.

c. It is important, when thinking of the essence of both Healing and Active Service, that they are fundamentally based on the sense of touch. Neither can occur without a refined sense of touch.

c. Điều quan trọng, khi nghĩ về cốt tuỷ của cả Trị liệu lẫn Phụng sự tích cực, là chúng về căn bản dựa trên xúc giác. Không cái nào có thể xảy ra nếu không có một xúc giác tinh luyện.

d. The sense of touch is correlated to both the sixth and second rays (the two of which are closely related to each other). The fact that touch is the second sense in the developmental evolutionary sequence relates it to the second ray. Touch is also the predominant sense related to the astral plane, which is the sixth plane (counting from above) and thus related to the second ray. That the astral plane is the second (counting from below) relates it to the second ray.

d. Xúc giác tương quan với cả cung sáu và cung hai (hai cung này có quan hệ chặt chẽ với nhau). Việc xúc giác là giác quan thứ hai trong trình tự tiến hoá phát triển khiến nó liên hệ với cung hai. Xúc giác cũng là giác quan trội liên hệ với cõi cảm dục, vốn là cõi thứ sáu (tính từ trên xuống) và do đó liên hệ với cung hai. Việc cõi cảm dục là cõi thứ hai (tính từ dưới lên) khiến nó liên hệ với cung hai.

e. The sense of touch is related to what might be called ‘Atlantean perception’.

e. Xúc giác liên hệ với điều có thể gọi là “tri giác Atlantis”.

c. The Third Sense……Sight.

c. Giác quan Thứ Ba……Thị giác.

1. Physical sight.

1. Thị giác hồng trần.

2. Clairvoyance.

2. Thông nhãn.

3. Higher clairvoyance.

3. Thông nhãn cao.

4. Divine vision.

4. Linh ảnh thiêng liêng.

5. Realisation.

5. (Sự)chứng nghiệm.

8. General observations:

8. Những nhận xét tổng quát:

a. All these five faculties are related to the sense of sight

a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với thị giác

b. The sense of sight is the sense preeminently relating to the mental plane.

b. Thị giác là giác quan nổi bật nhất liên hệ với cõi trí.

c. The sense of sight was initially developed during the second part of the Lemurian rootrace (the third rootrace). The higher correspondences of this sense were especially developed during the Aryan rootrace, which is the third of the self-conscious rootraces, hence the importance of the number three in relation to the sense of sight.

c. Thị giác ban đầu được phát triển trong phần thứ hai của giống dân gốc Lemurea (giống dân gốc thứ ba). Các tương ứng cao hơn của giác quan này được phát triển đặc biệt trong giống dân gốc Arya, vốn là giống dân gốc thứ ba trong các giống dân gốc có ngã thức; do đó tầm quan trọng của con số ba liên hệ với thị giác.

d. The sense of sight is correlated especially to the fifth ray, the Ray of Observation.

d. Thị giác tương quan đặc biệt với cung năm, Cung của sự quan sát.

e. It is also correlated to the first ray (the Ray of Synthesis) because sight is a synthetic sense facilitating the grasp of many relationships simultaneously.

e. Nó cũng tương quan với cung một (Cung của sự tổng hợp) vì thị giác là một giác quan tổng hợp, giúp nắm bắt đồng thời nhiều mối liên hệ.

f. Sight is also correlated to the third ray because the development of sight correlates with the development of intelligence.

f. Thị giác cũng tương quan với cung ba vì sự phát triển của thị giác tương quan với sự phát triển của trí tuệ.

g. Four of the corresponding senses/faculties relate easily and understandably to the sense of sight. It must be realized that “Realization” is also an aspect of sight—atmic sight.

g. Bốn trong các giác quan/năng lực tương ứng liên hệ dễ dàng và dễ hiểu với thị giác. Cần nhận ra rằng “(Sự)chứng nghiệm” cũng là một phương diện của thị giác—thị giác atma.

h. We should not leave out the correlation of sight to the second ray, the ray most sensitive to light.

h. Chúng ta không nên bỏ qua tương quan của thị giác với cung hai, cung nhạy cảm nhất với ánh sáng.

d. The Fourth Sense…..Taste.

d. Giác quan Thứ Tư…..Vị giác.

1. Physical taste.

1. Vị giác hồng trần.

2. Imagination.

2. Sự tưởng tượng.

3. Discrimination.

3. Phân biện.

4. Intuition.

4. Trực giác.

5. Perfection.

5. Sự hoàn thiện.

9. General observations:

9. Những nhận xét tổng quát:

a. All these five faculties are related to the sense of taste.

a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với vị giác.

b. The sense of taste will be far more fully developed during the sixth and coming rootrace.

b. Vị giác sẽ được phát triển đầy đủ hơn rất nhiều trong giống dân gốc thứ sáu và giống dân gốc sắp đến.

c. The sense of taste is particularly correlated to the buddhic plane and the faculty of buddhi.

c. Vị giác tương quan đặc biệt với cõi Bồ đề và năng lực Bồ đề.

d. The development of buddhi confers a heightened sense of values, necessary if the higher correspondences to the sense of taste are to be developed.

d. Sự phát triển của Bồ đề ban cho một ý thức giá trị được nâng cao, điều cần thiết nếu các tương ứng cao hơn của vị giác được phát triển.

e. Whereas the higher correspondences relating to the three senses just considered are for the most part easily seen as related to the particular sense on which all of them are based, it is more difficult to see the relation between physical taste and its four higher correspondences. This will have to be worked out.

e. Trong khi các tương ứng cao hơn liên hệ với ba giác quan vừa xét, phần lớn đều dễ thấy là liên hệ với giác quan cụ thể làm nền tảng cho tất cả chúng, thì khó thấy hơn mối liên hệ giữa vị giác hồng trần và bốn tương ứng cao hơn của nó. Điều này sẽ phải được làm rõ.

f. The sense of taste involves the factor of choice—acceptance or rejection.

f. Vị giác bao hàm yếu tố lựa chọn—chấp nhận hay khước từ.

i. Taste is related to desire and one’s sense of values. According to one’s desires and values so one imagines, fashioning only certain types of images and.

i. Vị giác liên hệ với dục vọng và ý thức giá trị của một người. Theo dục vọng và giá trị của mình, người ấy tưởng tượng, tạo tác chỉ một số loại hình ảnh nhất định và.

ii. According to one’s desires and sense of values one chooses to identify with the soul or with the personality sphere. In this choice discrimination is exercised.

ii. Theo dục vọng và ý thức giá trị của mình, người ấy chọn đồng hoá với linh hồn hay với phạm vi phàm ngã. Trong sự lựa chọn này, phân biện được vận dụng.

iii. According to one’s desires and sense of values one chooses to be cognizant of the wholeness or merely of parts. Thus the factor of intuition, which is ever aware of wholeness, unity, cohesions and the One is engaged.

iii. Theo dục vọng và ý thức giá trị của mình, người ấy chọn nhận biết tính toàn thể hay chỉ các phần. Do đó yếu tố trực giác, vốn luôn nhận biết tính toàn thể, hợp nhất, kết dính và Đấng Duy Nhất, được khởi động.

iv. According to one’s desires and sense of values one learns to reject that which is unsuitable for the achievement of a final perfection. One must exercise a refined spiritual ‘taste’ to select only that which is suitable to that final arrangement of energies called perfection.

iv. Theo dục vọng và ý thức giá trị của mình, người ấy học cách khước từ điều không thích hợp cho việc đạt tới một sự hoàn thiện sau cùng. Người ấy phải vận dụng một “vị giác” tinh thần tinh luyện để chỉ chọn điều thích hợp cho sự sắp đặt năng lượng sau cùng ấy, được gọi là sự hoàn thiện.

g. Because the sense of taste is the fourth sense in the evolutionary, developmental sequence, it is naturally related to the fourth ray of Harmony, Beauty and Art. Even conventionally, it is often recognized that those with the fourth ray prominent are endowed with a more developed sense of ‘taste’ (on the several levels to which this sense may be applied).

g. Vì vị giác là giác quan thứ tư trong trình tự tiến hoá phát triển, nên tự nhiên nó liên hệ với cung bốn của Hài Hoà, Mỹ Lệ và Nghệ Thuật. Ngay cả theo cách hiểu thông thường, người ta thường nhận ra rằng những ai có cung bốn nổi trội được phú cho một “gu” phát triển hơn (trên các cấp độ khác nhau nơi giác quan này có thể được áp dụng).

h. The second, fourth and sixth rays are concerned with this sense. Buddhi, required for the full development of this sense, is the sixth principle and thus related to the sixth ray. Buddhi is also the conveyer of the second ray of love wisdom. The buddhic plane is the fourth and thus related to the fourth ray.

h. Cung hai, cung bốn và cung sáu có liên quan đến giác quan này. Bồ đề, cần cho sự phát triển đầy đủ của giác quan này, là nguyên khí thứ sáu và do đó liên hệ với cung sáu. Bồ đề cũng là kênh chuyển tải cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Cõi Bồ đề là cõi thứ tư và do đó liên hệ với cung bốn.

i. From one angle, the sense of taste can be considered one of the lower senses, very dependent upon the sense of touch. From a higher perspective, it is one of the later senses to develop.

i. Từ một góc độ, vị giác có thể được xem là một trong các giác quan thấp, rất phụ thuộc vào xúc giác. Từ một quan điểm cao hơn, nó là một trong những giác quan phát triển muộn hơn.

e. The Fifth Sense……Smell.

e. Giác quan Thứ Năm……Khứu giác.

1. Physical smell.

1. Khứu giác hồng trần.

2. Emotional idealism.

2. Lý tưởng tính cảm xúc.

3. Spiritual discernment.

3. Phân biện tinh thần.

4. Idealism.

4. Lý tưởng tính.

5. All knowledge.

5. Tất cả tri thức.

10. General observations:

10. Những nhận xét tổng quát:

a. All these five faculties are related to the sense of smell.

a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với khứu giác.

b. As with the sense of taste, the higher correspondences to the physical sense of smell are not immediately to be seen as related to that physical sense. Thought is required to show the relationships and will be expended.

b. Cũng như vị giác, các tương ứng cao hơn của khứu giác hồng trần không thể thấy ngay là liên hệ với giác quan hồng trần ấy. Cần có tư duy để chỉ ra các mối liên hệ và sẽ phải vận dụng tư duy.

c. In general all the faculties built upon the sense of smell (and even the physical sense of smell) concern that which is not obvious to sight, but which is present and may be detected by the discernment which the sense of smell embodies.

c. Nói chung, tất cả các năng lực được xây dựng trên khứu giác (và ngay cả khứu giác hồng trần) đều liên quan đến điều không hiển nhiên đối với thị giác, nhưng vẫn hiện diện và có thể được phát hiện nhờ sự phân biện mà khứu giác hàm chứa.

d. The foundational sense of the atmic plane is the sense of smell. Thus, although the sense of smell can be considered a rudimentary sense in one respect (and very animal in nature), its essence is of a very refined nature and pertains most directly to the highest of the five planes under consideration.

d. Giác quan nền tảng của cõi atma là khứu giác. Vì vậy, tuy khứu giác có thể được xem là một giác quan thô sơ theo một phương diện nào đó (và rất mang bản chất thú tính), nhưng tinh tuý của nó lại rất tinh luyện và liên hệ trực tiếp nhất với cõi cao nhất trong năm cõi đang được xét.

e. Since the atmic plane is ruled by the first and third rays, the sense of smell must also be related to these rays.

e. Vì cõi atma do cung một và cung ba cai quản, khứu giác cũng hẳn phải liên hệ với các cung này.

f. Further, an examination of the higher correspondences to the physical sense of smell will reveal the importance of the sixth ray of Idealism—for both Emotional Idealism and Idealism are listed among the higher correspondences.

f. Hơn nữa, khảo sát các tương ứng cao hơn của khứu giác hồng trần sẽ cho thấy tầm quan trọng của cung sáu của Lý tưởng tính—vì cả Lý tưởng tính cảm xúc lẫn Lý tưởng tính đều được liệt kê trong các tương ứng cao hơn.

g. We do remember, however, the close relationship existing between the third and the sixth rays. The third ray is visible in relation to such faculties as Spiritual Discernment and All Knowledge, just as the sixth is in relation to Emotional Idealism and Idealism.

g. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhớ mối liên hệ chặt chẽ hiện hữu giữa cung ba và cung sáu. Cung ba hiện rõ trong các năng lực như Phân biện tinh thần và Tất cả tri thức, cũng như cung sáu hiện rõ trong Lý tưởng tính cảm xúc và Lý tưởng tính.

11. It has been said above that another way of comparing the senses is to list all those which occur on the same subplane of any plane. The lists would then be as follows:

11. Ở trên đã nói rằng một cách khác để so sánh các giác quan là liệt kê tất cả những giác quan xuất hiện trên cùng một cõi phụ của bất kỳ cõi nào. Khi đó các danh sách sẽ như sau:

a. Appearing on the seventh subplane

a. Xuất hiện trên cõi phụ thứ bảy

i. Higher Clairaudience

i. Thông nhĩ cao

ii. Comprehension

ii. Sự thấu hiểu

iii. Beatitude

iii. Phúc lạc

b. Appearing on the sixth subplane

b. Xuất hiện trên cõi phụ thứ sáu

i. Planetary psychometry

i. Thuật trắc tâm hành tinh

ii. Healing

ii. Trị liệu

iii. Active Service

iii. Phụng sự tích cực

c. Appearing on the fifth subplane

c. Xuất hiện trên cõi phụ thứ năm

i. Physical hearing

i. Thính giác hồng trần

ii. Clairaudience

ii. Thông nhĩ

iii. Higher clairvoyance

iii. Thông nhãn cao

iv. Divine vision

iv. Linh ảnh thiêng liêng

v. Realization

v. (Sự)chứng nghiệm

d. Appearing on the fourth subplane

d. Xuất hiện trên cõi phụ thứ tư

i. Physical touch, feeling

i. Xúc giác hồng trần, cảm giác

ii. Psychometry

ii. Thuật trắc tâm

iii. Discrimination

iii. Phân biện

iv. Intuition

iv. Trực giác

v. Perfection

v. Sự hoàn thiện

e. Appearing on the third subplane

e. Xuất hiện trên cõi phụ thứ ba

i. Physical sight

i. Thị giác hồng trần

ii. Clairvoyance

ii. Thông nhãn

iii. Spiritual discernment

iii. Phân biện tinh thần

iv. Idealism

iv. Lý tưởng tính

v. All knowledge

v. Tất cả tri thức

f. Appearing on the second subplane

f. Xuất hiện trên cõi phụ thứ hai

i. Physical taste

i. Vị giác hồng trần

ii. Imagination

ii. Sự tưởng tượng

iii. Response to group vibration

iii. Đáp ứng với rung động nhóm

g. Appearing on the first subplane

g. Xuất hiện trên cõi phụ thứ nhất

i. Physical smell

i. Khứu giác hồng trần

ii. Emotional idealism

ii. Lý tưởng tính cảm xúc

iii. Spiritual telepathy

iii. Giao tiếp viễn cảm tinh thần

12. The ordering suggested is different from that ordering (listed by the Tibetan) which is created by comparing, let us say, all the senses in the lowest position of any series of five (or, in one case, seven), in the next to lowest position, etc., etc.. In the Tibetan’s arrangement, Response to Group Vibration and Spiritual Telepathy are not compared to other senses.

12. Trật tự được gợi ý khác với trật tự (do Chân sư Tây Tạng liệt kê) vốn được tạo ra bằng cách so sánh, chẳng hạn, tất cả các giác quan ở vị trí thấp nhất của bất kỳ chuỗi năm (hoặc, trong một trường hợp, bảy), rồi ở vị trí kế thấp nhất, v.v.. Trong cách sắp xếp của Chân sư Tây Tạng, Đáp ứng với rung động nhóm và Giao tiếp viễn cảm tinh thần không được đem so sánh với các giác quan khác.

13. While some of these relationships might not be readily understandable, they would repay pondering. Finding similarities between apparently dissimilar things is a method of illumination.

13. Dù một số mối liên hệ này có thể không dễ hiểu ngay, chúng vẫn đáng để suy ngẫm. Tìm ra những điểm tương đồng giữa những điều bề ngoài khác biệt là một phương pháp soi sáng.

14. In interpreting faculties/senses assembled in this way, the relationships between one/three, two/four, three/five, four/ six, etc. must be considered.

14. Khi diễn giải các năng lực/giác quan được tập hợp theo cách này, phải xét đến các mối liên hệ giữa một/ba, hai/bốn, ba/năm, bốn/sáu, v.v..

[190]

[190]

Let us now proceed to take up each of these senses in detail:

Giờ đây, chúng ta hãy tiến hành xem xét chi tiết từng giác quan này:

15. We will attempt to understand the development of these senses from the occult perspective.

15. Chúng ta sẽ cố gắng thấu hiểu sự phát triển của các giác quan này từ quan điểm huyền bí học.

a. Hearing. This, very appropriately, is the first sense to be manifested; the first aspect of manifestation is that of sound, and necessarily therefore we would expect sound to be the first thing noticed by man on the physical plane, the plane of densest manifestation, and of the most marked effects of sound, regarding it as a creating factor.

a. Thính giác. Điều này, rất thích đáng, là giác quan đầu tiên được biểu hiện; phương diện đầu tiên của sự biểu hiện là âm thanh, và vì vậy, tất yếu chúng ta sẽ mong đợi âm thanh là điều đầu tiên được con người nhận ra trên cõi hồng trần, cõi của sự biểu hiện đậm đặc nhất, và của những tác động rõ rệt nhất của âm thanh, nếu xem âm thanh như một yếu tố sáng tạo.

16. In this section we find sound to be related both to the highest and the lowest of the planes under consideration (as per the tabulation in the Secret Doctrine)

16. Trong phần này, chúng ta thấy âm thanh liên hệ cả với cõi cao nhất lẫn cõi thấp nhất trong các cõi đang được xét (theo bảng liệt kê trong Giáo Lý Bí Nhiệm)

a. Aether Hearing, Sound Atmic plane

a. Dĩ thái Thính giác, Âm thanh Cõi atma

b. Air Touch Sound, touch Buddhic plane

b. Khí Xúc giác Âm thanh, xúc giác Cõi Bồ đề

c. Fire Sight Sound, touch, sight Mental plane

c. Lửa Thị giác Âm thanh, xúc giác, thị giác Cõi trí

d. Water Taste Sound, touch, sight, taste Astral plane

d. Nước Vị giác Âm thanh, xúc giác, thị giác, vị giác Cõi cảm dục

e. Earth Smell Sound, touch, sight, taste, smell Physical plane

e. Đất Khứu giác Âm thanh, xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác Cõi hồng trần

17. In a still more fundamental respect, sound should be related to the Akasha of the second plane, a plane which is not included in this tabulation.

17. Ở một phương diện còn nền tảng hơn, âm thanh nên được liên hệ với Akasha của cõi thứ hai, một cõi không được bao gồm trong bảng liệt kê này.

18. The major idea put forward is that the originating sense (on the highest of the planes considered) will be the first sense developed (on the lowest of the planes considered).

18. Ý tưởng chính được nêu ra là: giác quan khởi nguyên (trên cõi cao nhất trong các cõi được xét) sẽ là giác quan đầu tiên được phát triển (trên cõi thấp nhất trong các cõi được xét).

19. It is interesting that the physical plane, whereon densest manifestation occurs, is considered the plane where the “most marked effects of sound” are to be experienced, if sound is regarded as a “creating factor”.

19. Thật thú vị khi cõi hồng trần, nơi sự biểu hiện đậm đặc nhất xảy ra, lại được xem là cõi nơi “những tác động rõ rệt nhất của âm thanh” sẽ được trải nghiệm, nếu âm thanh được xem như một “yếu tố sáng tạo”.

20. Through sound, magical effects are wrought on the physical plane. Similar effects on subtler planes would, perhaps, not be considered quite so magical.

20. Qua âm thanh, các hiệu quả huyền thuật được tạo tác trên cõi hồng trần. Những hiệu quả tương tự trên các cõi vi tế hơn, có lẽ, sẽ không được xem là huyền thuật đến thế.

21. Because they are most affected by sound, the atmic and physical planes are related. Since sound is more intimately related to the monadic plane (the akashic plane), that plane, too, must be intimately related to the physical plane (in both its dense and etheric aspects). We do see this, in fact, because so many of the dynamics of energy movement and transmission in the etheric body are related to the Monad (on the second plane from above).

21. Vì bị âm thanh tác động mạnh nhất, cõi atma và cõi hồng trần có liên hệ với nhau. Vì âm thanh liên hệ mật thiết hơn với cõi chân thần (cõi akasha), nên cõi ấy cũng hẳn phải liên hệ mật thiết với cõi hồng trần (trong cả hai phương diện đậm đặc và dĩ thái). Thực tế, chúng ta thấy điều này, vì rất nhiều động lực của sự vận hành và truyền dẫn năng lượng trong thể dĩ thái liên hệ với Chân Thần (trên cõi thứ hai tính từ trên xuống).

22. VSK suggests: “It seems sound is the first to manifest (to man’s physical brain as sensation), and the last to abstract (from man’s consciousness in the 3/5 worlds).

22. VSK gợi ý: “Có vẻ âm thanh là điều đầu tiên biểu hiện (đến bộ não hồng trần của con người như một cảm giác), và là điều cuối cùng được trừu xuất (khỏi tâm thức con người trong ba cõi giới/năm cõi giới).

23. Upon the physical plane, it is primarily through the medium of air that sound is transmitted (though other and more rapid means of transmission are to be found—water or metal, for instance).

23. Trên cõi hồng trần, chủ yếu qua môi trường khí mà âm thanh được truyền đi (dù còn có những phương tiện truyền dẫn khác nhanh hơn—chẳng hạn nước hay kim loại).

24. The physical plane is paramountly the plane of separation, and it is sound that initially overcomes that sense of separation, relating separated objects via vibratory transmission through the air. This type of relationship precedes the more intimate sense of touch.

24. Cõi hồng trần là cõi của sự phân ly một cách nổi bật nhất, và chính âm thanh ban đầu vượt qua cảm giác phân ly ấy, liên kết các đối tượng tách rời qua sự truyền dẫn rung động trong không khí. Kiểu liên hệ này đi trước cảm giác xúc chạm mật thiết hơn.

Pre-eminently the physical plane is the plane of hearing and hence the sense ascribed to the lowest plane of evolution, and of each of the five planes.

Trên hết, cõi hồng trần là cõi của thính giác và vì vậy là giác quan được gán cho cõi thấp nhất của tiến hoá, và của mỗi một trong năm cõi.

25. The relationship of the physical plane and of hearing to the third ray has already been suggested. The third ray is the “Primordial Ray”—the foundation, the basis of all subsequent development.

25. Mối liên hệ giữa cõi hồng trần và thính giác với cung ba đã được gợi ý. Cung ba là “Cung Nguyên Thuỷ”—nền tảng, cơ sở của mọi phát triển tiếp theo.

On this seventh or lowest plane man has to come to full cognisance of the effect of the Sacred Word as it is in process of sounding forth.

Trên cõi thứ bảy hay cõi thấp nhất này, con người phải đạt đến nhận thức đầy đủ về tác động của Linh từ Thiêng Liêng khi nó đang trong tiến trình vang lên.

26. What may be considered the origin of the Sacred Word? Certainly it originates far ‘above’ the cosmic physical plane. May we say that its origin is (in relation to our solar system) the higher levels of the cosmic mental plane upon which the “Heart of the Sun” (or the Egoic nature of the Solar Logos) may be found? In fact its origin must be even ‘higher’.

26. Điều gì có thể được xem là nguồn gốc của Linh từ Thiêng Liêng? Chắc chắn nó khởi nguyên rất “cao” bên trên cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta có thể nói rằng nguồn gốc của nó (liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta) là các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ, nơi “Trái Tim của Mặt Trời” (hay bản chất chân ngã của Thái dương Thượng đế) có thể được tìm thấy chăng? Thực ra, nguồn gốc của nó hẳn còn “cao” hơn nữa.

27. In simple terms, what is being said is that the Word of the Soul (first in its microcosmic expression, and then in increasingly comprehensive expressions) must come to be recognized on the physical plane.

27. Nói đơn giản, điều được nói ở đây là: Quyền năng từ của linh hồn (trước hết trong biểu hiện tiểu thiên địa của nó, rồi trong những biểu hiện ngày càng bao quát hơn) phải được nhận ra trên cõi hồng trần.

28. In all listening, we are, in fact, listening for the sounding of the Word of the Soul. To this, all true listening leads.

28. Trong mọi sự lắng nghe, thực ra chúng ta đang lắng nghe tiếng vang của Quyền năng từ của linh hồn. Mọi sự lắng nghe chân chính đều dẫn đến điều này.

As it reverberates throughout the system, it drives matter into its appointed place, and on the physical plane finds its point of deepest materiality and of most concrete demonstration.

Khi nó vang dội khắp hệ thống, nó thúc đẩy vật chất vào đúng vị trí đã được chỉ định, và trên cõi hồng trần nó tìm thấy điểm vật chất tính sâu nhất và sự biểu hiện cụ thể nhất.

29. The Sacred Word arranges all according to the design dictated by pure reason.

29. Linh từ Thiêng Liêng sắp đặt mọi sự theo thiết kế do lý trí thuần khiết chỉ định.

30. From what is here said, it becomes apparent that the Sacred Word is intimately related to the Fixed Design which exists in the archetypal worlds and which must be manifested in the ‘mosaic worlds’. In relation to human development, the monadic plane is considered the true archetypal plane.

30. Từ những điều được nói ở đây, trở nên hiển nhiên rằng Linh từ Thiêng Liêng liên hệ mật thiết với Thiết Kế Cố Định vốn tồn tại trong các thế giới nguyên mẫu và phải được biểu hiện trong các “thế giới khảm ghép”. Liên hệ với sự phát triển của con người, cõi chân thần được xem là cõi nguyên mẫu đích thực.

31. We see that the Sacred Word as it manifests on the physical plane is (through the forms it produces) manifesting in its more concrete demonstration).

31. Chúng ta thấy rằng Linh từ Thiêng Liêng khi biểu hiện trên cõi hồng trần đang (qua các hình tướng mà nó tạo ra) biểu hiện trong sự trình diễn cụ thể hơn của nó).

32. VSK suggests a reiteration: “Sound is the MOST concrete of the senses.”

32. VSK gợi ý một sự nhấn mạnh lại: “Âm thanh là giác quan CỤ THỂ nhất.”

The key for man to discover and turn, concerns itself with the revealing of the mystery of:

Chìa khoá để con người khám phá và xoay chuyển, liên quan đến việc vén mở huyền nhiệm của:

33. We are alerted immediately to the fact that we are dealing with “mystery”—with things that are not easily apprehended.

33. Chúng ta lập tức được cảnh báo rằng chúng ta đang xử lý “huyền nhiệm”—những điều không dễ nắm bắt.

34. Of course, such apprehension depends upon the acuity of ‘listening’—however listening may be interpreted on each of these levels.

34. Dĩ nhiên, sự nắm bắt ấy tuỳ thuộc vào độ sắc bén của “lắng nghe”—dù lắng nghe được diễn giải thế nào trên mỗi cấp độ này.

35. The discoveries required are, in a way, a search for the note of each of the entities listed below.

35. Những khám phá cần thiết, theo một nghĩa nào đó, là một cuộc tìm kiếm âm điệu của mỗi thực thể được liệt kê dưới đây.

a. His own sound.

a. Âm thanh của chính y.

36. This is achieved through close self-observation and ‘self-listening’ leading to ever more extensive self-knowledge

36. Điều này đạt được qua tự quan sát chặt chẽ và “tự lắng nghe”, dẫn đến tự tri ngày càng sâu rộng

b. His brother’s sound.

b. Âm thanh của huynh đệ của y.

37. This is partially achieved through the expedient of altruism and brotherly love, and, of course, acute listening through the heart. In all of the types of listening necessary, it is the heart that must hear the Sacred Word resounding through the entity to which attentive listening is given.

37. Điều này phần nào đạt được qua phương tiện của lòng vị tha và tình huynh đệ, và dĩ nhiên, qua sự lắng nghe sắc bén bằng tim. Trong mọi kiểu lắng nghe cần thiết, chính tim phải nghe Linh từ Thiêng Liêng vang dội xuyên qua thực thể mà sự lắng nghe chăm chú được dành cho.

c. His group sound.

c. Âm thanh của nhóm y.

38. This is partially achieved through the art of group identification, which is based upon the ability to remove preoccupation with one’s lower self.

38. Điều này phần nào đạt được qua nghệ thuật đồng hoá với nhóm, vốn dựa trên khả năng loại bỏ sự bận tâm với phàm ngã của mình.

d. The sound of that one of the Heavenly Men with whom he is connected.

d. Âm thanh của một trong các Đấng Thiên Nhân mà y có liên hệ.

39. If DK is speaking of human beings living on this planet, they are naturally all connected with the Planetary Logos of the Earth-scheme.

39. Nếu Chân sư DK đang nói về con người sống trên hành tinh này, thì tự nhiên tất cả đều có liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Trái Đất.

40. This sentence may also speak of the connection which exists between any initiate—according to his soul ray and/or monadic ray—and the Heavenly Man Who expresses through that ray.

40. Câu này cũng có thể nói về mối liên hệ tồn tại giữa bất kỳ điểm đạo đồ nào—tuỳ theo cung linh hồn và/hoặc cung chân thần của y—với Đấng Thiên Nhân Đấng biểu lộ qua cung ấy.

e. The sound of the Logos, or the sound of nature; of the solar system, of the Grand Man of the Heavens.

e. Âm thanh của Thượng đế, hay âm thanh của bản chất; của hệ mặt trời, của Đại Nhân trên Trời.

41. More than one note seems indicated. We have been told that the “sound of nature” or the “note of nature” is the note, FA, the green note. The note FA applies not only to our Earth (with its obvious third ray, correlated to FA) but to the entire solar system.

41. Có vẻ như hàm ý nhiều hơn một âm điệu. Chúng ta đã được nói rằng “âm thanh của bản chất” hay “âm điệu của bản chất” là âm điệu FA, âm điệu xanh lục. Âm điệu FA không chỉ áp dụng cho Trái Đất của chúng ta (với cung ba hiển nhiên của nó, tương quan với FA) mà còn cho toàn bộ hệ mặt trời.

In system one, the completion of the First Breath, the culmination, was the sounding forth, in note majestic, of the note FA,—the note which forms the basic note of this system, the note of manifested nature. This note is, and to it must be supplemented the second note for this the second system. It is not fully sounded or rounded out, nor to the end of the greater cycle will it be completed. The Logos sounds it now, and should He cease to breathe it forth, the whole system would disappear into complete obscuration. It would mark the end of manifestation.” (LOM 52)

Trong hệ thống thứ nhất, sự hoàn tất của Hơi Thở Thứ Nhất, sự viên mãn, là sự vang lên, trong âm điệu hùng vĩ, của âm điệu FA,—âm điệu tạo thành âm điệu nền tảng của hệ thống này, âm điệu của bản chất biểu hiện. Âm điệu này hiện hữu, và đối với nó phải bổ sung âm điệu thứ hai cho hệ thống thứ hai này. Nó chưa được vang lên đầy đủ hay tròn đầy, và cho đến cuối chu kỳ lớn hơn nó sẽ chưa được hoàn tất. Thượng đế đang xướng nó bây giờ, và nếu Ngài ngừng thở ra nó, toàn bộ hệ thống sẽ biến mất vào sự che khuất hoàn toàn. Điều đó sẽ đánh dấu sự kết thúc của biểu hiện.” (LOM 52)

42. Yet it would seem that a higher note of the Solar Logos would be in need of discovery—the note of the soul nature of our Logos, which may be (we are not told with complete certainty) the note SOL.

42. Tuy nhiên, dường như một âm điệu cao hơn của Thái dương Thượng đế cần được khám phá—âm điệu của bản chất linh hồn của Thượng đế của chúng ta, có thể là (chúng ta không được nói với sự chắc chắn hoàn toàn) âm điệu SOL.

43. The method of apprehending this latter note would necessitate familiarity with the “Heart of the Sun”, by means of which the soul nature of the Logos may be dimly apprehended. Apprehension would also require entering that series of initiations which are called “solar” initiations, and which begin (for humanity) with the third degree. Surely, no disciple who has not taken the third degree can possibly register the soul-sound of the Logos.

43. Phương pháp để nắm bắt âm điệu sau này đòi hỏi sự quen thuộc với “Trái Tim của Mặt Trời”, nhờ đó bản chất linh hồn của Thượng đế có thể được nắm bắt mờ nhạt. Sự nắm bắt cũng đòi hỏi bước vào chuỗi điểm đạo được gọi là các điểm đạo “thái dương”, và bắt đầu (đối với nhân loại) từ bậc thứ ba. Chắc chắn, không một đệ tử nào chưa nhận bậc thứ ba có thể ghi nhận âm thanh-linh hồn của Thượng đế.

44. It is clear that detection of these sounds is related to detecting the major ray which conditions each of these five entities.

44. Rõ ràng việc phát hiện các âm thanh này liên hệ với việc phát hiện cung chủ đạo tác động định hình mỗi trong năm thực thể này.

Therefore, we note that on the physical plane a man has to find his own note, finding it in spite of the density of the form.

Vì vậy, chúng ta lưu ý rằng trên cõi hồng trần, một người phải tìm ra âm điệu của chính y, tìm ra nó bất chấp sự đậm đặc của hình tướng.

45. The density of the form has its own note which is frequently so obtrusive as to drown out the soul note of the one using the form.

45. Sự đậm đặc của hình tướng có âm điệu riêng của nó, thường quá chướng tai đến mức át đi âm điệu linh hồn của người đang sử dụng hình tướng.

46. Immediately below we are to note an interesting progression which relates the notes of each of the five entities to the first five planes, beginning with the physical plane.

46. Ngay bên dưới, chúng ta sẽ lưu ý một tiến trình thú vị liên hệ các âm điệu của mỗi trong năm thực thể với năm cõi đầu tiên, bắt đầu từ cõi hồng trần.

a. On the physical plane he finds his own note.

a. Trên cõi hồng trần y tìm ra âm điệu của chính y.

47. This is done through meditation and the achieving of a soul-mind-brain alignment.

47. Điều này được thực hiện qua tham thiền và đạt được sự chỉnh hợp linh hồn–thể trí–bộ não.

48. We might say that “his own note” is his individual note and relates to the expression of his soul nature through his personality on the physical plane.

48. Chúng ta có thể nói rằng “âm điệu của chính y” là âm điệu cá biệt của y và liên hệ với sự biểu lộ bản chất linh hồn của y qua phàm ngã trên cõi hồng trần.

49. Since the physical plane is the plane of greatest separation, it is fitting that the note of the apparently separate individual should be found there.

49. Vì cõi hồng trần là cõi của sự phân ly lớn nhất, nên thật thích đáng khi âm điệu của cá nhân bề ngoài tách biệt được tìm thấy ở đó.

b. On the astral plane he finds his brother’s note; through identity of emotion he comes to the recognition of his brother’s identity.

b. Trên cõi cảm dục y tìm ra âm điệu của huynh đệ của y; qua sự đồng nhất cảm xúc y đi đến việc nhận ra bản sắc của huynh đệ của y.

50. Some reflection of the love-wisdom energy is required.

50. Cần có một sự phản chiếu nào đó của năng lượng Bác Ái – Minh Triết.

51. The process suggests the utilization of the potencies of Gemini (the sign of one’s brother) in relation to the astral plane.

51. Tiến trình này gợi ý việc sử dụng các tiềm năng của Song Tử (dấu hiệu của huynh đệ) liên hệ với cõi cảm dục.

52. The astral plane is a plane of relationship, somewhat governed by the number two, the number of relationship.

52. Cõi cảm dục là một cõi của mối liên hệ, phần nào được chi phối bởi con số hai, con số của mối liên hệ.

53. The source of true identity, the Monad, has a direct reflection upon the astral plane, for the monadic plane is the second plane from ‘above’ and the astral plane, the second from ‘below’. We may expect that there is something about the functioning of the emotional body which will reveal the nature of the Monad/Spirit.

53. Nguồn gốc của bản sắc chân thật, Chân Thần, có một phản chiếu trực tiếp lên cõi cảm dục, vì cõi chân thần là cõi thứ hai tính từ “trên” và cõi cảm dục là cõi thứ hai tính từ “dưới”. Chúng ta có thể mong đợi rằng có điều gì đó trong sự vận hành của thể cảm dục sẽ vén lộ bản chất của Chân Thần/tinh thần.

54. The value of coming into emotional rapport with one’s brother is emphasized as a means of understanding the nature of one’s brother’s identity.

54. Giá trị của việc đi vào sự hoà điệu cảm xúc với huynh đệ của mình được nhấn mạnh như một phương tiện để thấu hiểu bản chất bản sắc của huynh đệ.

55. The implication is that we must ‘feel’ each other within an astral field if we are really to know each other.

55. Hàm ý là chúng ta phải “cảm” nhau trong một trường cảm dục nếu chúng ta thực sự biết nhau.

[191]

[191]

c. On the mental plane he begins to find his group note.

c. Trên cõi trí y bắt đầu tìm ra âm điệu nhóm của y.

56. What is interesting here is that finding one’s group note is not a matter of astral feeling, as might be expected.

56. Điều thú vị ở đây là: việc tìm ra âm điệu nhóm của mình không phải là vấn đề của cảm cảm dục, như người ta có thể mong đợi.

57. The mental plane is responsive to the energy of purpose, and one finds one’s true group according to purpose. In other words, following one’s deeper interests leads to the revelation of purpose. Those with similar purpose aggregate into groups.

57. Cõi trí đáp ứng với năng lượng của mục đích, và người ta tìm ra nhóm chân thật của mình theo mục đích. Nói cách khác, đi theo những mối quan tâm sâu xa hơn của mình dẫn đến sự vén lộ mục đích. Những người có mục đích tương tự tụ hội thành nhóm.

58. It becomes clear that detecting the group note is not fundamentally a sentient activity but an activity involving deep thought, involving not only the lower mental plane but, especially, the higher.

58. Trở nên rõ ràng rằng việc phát hiện âm điệu nhóm không về căn bản là một hoạt động cảm thụ, mà là một hoạt động liên quan đến tư duy sâu, liên quan không chỉ cõi hạ trí mà đặc biệt là cõi thượng trí.

59. The mental plane is divided into two sections and on the higher levels of that plane the casual body or “soul body” is to be found. Causal bodies, according to their quality, are gathered into groups. One’s true group is the group of souls into which one is gathered according to one’s soul nature and quality.

59. Cõi trí được chia thành hai phần, và ở các cấp độ cao hơn của cõi ấy có thể tìm thấy thể nguyên nhân hay “thể linh hồn”. Các thể nguyên nhân, tuỳ theo phẩm tính của chúng, được tập hợp thành nhóm. Nhóm chân thật của một người là nhóm các linh hồn mà người ấy được tập hợp vào theo bản chất và phẩm tính linh hồn của mình.

60. This type of group abides incarnation after incarnation, stable in the face of the many transient groups with which the personality may affiliate.

60. Kiểu nhóm này tồn tại qua kiếp này sang kiếp khác, bền vững trước vô số nhóm thoáng qua mà phàm ngã có thể kết giao.

61. To find the group note, then, it would seem that a deep connection with the causal body and its sponsoring Solar Angel must be established—through both meditation and service.

61. Vậy để tìm ra âm điệu nhóm, dường như phải thiết lập một mối liên hệ sâu với thể nguyên nhân và Thái dương Thiên Thần bảo trợ của nó—qua cả tham thiền lẫn phụng sự.

d. On the buddhic plane, or the plane of wisdom, he begins to find the note of his planetary Logos.

d. Trên cõi Bồ đề, hay cõi minh triết, y bắt đầu tìm ra âm điệu của Hành Tinh Thượng đế của y.

62. A man becomes a planetary factor when he takes the third initiation, thus entering into a more direct relationship with the Divine Plan expressed through the Spiritual Triad. Entrée into the Spiritual Triad is achieved at the third degree, though even at the fifth degree the initiate is still polarized within the triad—the atmic aspect at that particular point of development.

62. Một người trở thành một yếu tố hành tinh khi y nhận lần điểm đạo thứ ba, nhờ đó bước vào một mối liên hệ trực tiếp hơn với Thiên Cơ được biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh Thần. Sự nhập vào Tam Nguyên Tinh Thần đạt được ở bậc thứ ba, dù ngay cả ở bậc thứ năm, điểm đạo đồ vẫn còn phân cực trong tam nguyên—phương diện atma ở điểm phát triển đặc thù ấy.

63. Interestingly the third initiation represents a kind of intuitive victory over one significant phase of illusion. It requires intuition (buddhi) to dispel illusion, and this intuition is significantly accessed at the third degree which, interestingly, is the first solar initiation. Solar fire, intuition and buddhi are closely related.

63. Thật thú vị, lần điểm đạo thứ ba biểu trưng một kiểu chiến thắng trực giác trước một giai đoạn đáng kể của ảo tưởng. Cần trực giác (Bồ đề) để làm tan ảo tưởng, và trực giác này được tiếp cận một cách đáng kể ở bậc thứ ba, vốn cũng thú vị thay, là lần điểm đạo thái dương đầu tiên. Lửa Thái dương, trực giác và Bồ đề có liên hệ chặt chẽ.

64. So at the first solar initiation, at which the energy of buddhi is given new access to the initiate’s energy system, the nature of the note of the Planetary Logos begins to be revealed. A fuller revelation will obviously come when the buddhic consciousness is no longer encumbered by the causal vehicle on the higher mental plane.

64. Vì vậy, ở lần điểm đạo thái dương đầu tiên, khi năng lượng Bồ đề được mở ra một lối tiếp cận mới vào hệ thống năng lượng của điểm đạo đồ, bản chất âm điệu của Hành Tinh Thượng đế bắt đầu được vén lộ. Một sự vén lộ đầy đủ hơn hiển nhiên sẽ đến khi tâm thức Bồ đề không còn bị vận cụ nguyên nhân trên cõi thượng trí làm vướng bận.

65. It becomes clear that the finding of this note necessitates intuition. A Planetary Logos is a Dragon of Wisdom in whom the Love-Wisdom energy is demonstrating. The identity of this great Being must similarly be approached through an energy related to Love-Wisdom—namely buddhi.

65. Trở nên rõ ràng rằng việc tìm ra âm điệu này đòi hỏi trực giác. Một Hành Tinh Thượng đế là một Long Minh Triết, trong Ngài năng lượng Bác Ái – Minh Triết đang biểu lộ. Bản sắc của Đấng Vĩ Đại này cũng phải được tiếp cận qua một năng lượng liên hệ với Bác Ái – Minh Triết—tức là Bồ đề.

66. We do remember that the majority of Ashrams are to be found on the buddhic plane and that these Ashrams are considered as chakras within the energy system of the Planetary Logos. Naturally, a growing sense of the Planetary Logos’ chakric development will reveal more of His identity as expressed through His note.

66. Chúng ta nhớ rằng đa số các ashram được tìm thấy trên cõi Bồ đề và các ashram này được xem như các luân xa trong hệ thống năng lượng của Hành Tinh Thượng đế. Tự nhiên, một ý thức ngày càng tăng về sự phát triển luân xa của Hành Tinh Thượng đế sẽ vén lộ nhiều hơn bản sắc của Ngài như được biểu lộ qua âm điệu của Ngài.

e. On the atmic, or spiritual, plane the note logoic begins to sound within his consciousness.

e. Trên cõi atma, hay cõi tinh thần, âm điệu thượng đế bắt đầu vang lên trong tâm thức của y.

67. This is an interesting idea if pursued. The atmic plane is a plane of will and of intelligence (since as the third plane from ‘above’ it is ruled by Saturn and the third ray of Abstract Intelligence). Since the atmic plane is also the first of the Brahmic planes, it is related as well to the first ray.

67. Đây là một ý tưởng thú vị nếu được theo đuổi. Cõi atma là một cõi của ý chí và của trí tuệ (vì, là cõi thứ ba tính từ “bên trên”, nó được Sao Thổ và cung ba của Trí Trừu Tượng cai quản). Vì cõi atma cũng là cõi đầu tiên trong các cõi Brahma, nên nó cũng liên hệ với cung một.

68. The solar logoic note (we are here told) is initially apprehended on the atmic plane and, presumably, even more fully apprehended on the monadic level (which is still more resonant with the identity of the great Solar God expressing principally through the second ray). One might wonder why, on the buddhic plane, that solar logoic note might not be initially detected.

68. Âm điệu của Thái dương Thượng đế (chúng ta được cho biết ở đây) ban đầu được nhận biết trên cõi atma và, có lẽ, còn được nhận biết đầy đủ hơn ở cấp độ chân thần (vốn còn cộng hưởng mạnh hơn với bản sắc của Thượng đế Thái dương vĩ đại, Đấng biểu lộ chủ yếu qua cung hai). Người ta có thể tự hỏi vì sao, trên cõi Bồ đề, âm điệu của Thái dương Thượng đế ấy lại không được phát hiện ban đầu.

69. We are being told, in essence, that an apprehension of the note of the Solar Logos must be approached through will, even though Love-Wisdom may be His principle note at this time. This means that knowledge and the sense of unity are not enough truly to reveal this highest note.

69. Về thực chất, chúng ta được cho biết rằng việc nhận biết âm điệu của Thái dương Thượng đế phải được tiếp cận qua ý chí, dù rằng Bác Ái – Minh Triết có thể là âm điệu nguyên khí của Ngài vào lúc này. Điều này có nghĩa là tri thức và ý thức về hợp nhất không đủ để thật sự mặc khải âm điệu tối cao ấy.

70. The atmic plane is called not only the “spiritual” plane but also the “nirvanic” plane. The nirvanic experience focussed there is the beginning of intelligent and willing participation in solar logoic life. Entry into the stream of solar logoic life (as fully occurs on the monadic plane) is the first nirvana.

70. Cõi atma không chỉ được gọi là cõi “tinh thần” mà còn là cõi “Niết Bàn”. Kinh nghiệm Niết Bàn được tập trung ở đó là khởi đầu của sự tham dự thông minh và đầy ý chí vào sự sống của Thái dương Thượng đế. Việc đi vào dòng chảy sự sống của Thái dương Thượng đế (như xảy ra một cách trọn vẹn trên cõi chân thần) là Niết Bàn thứ nhất.

71. Interestingly, the note FA, the green note, connected with the third ray and Saturn is the note of nature and the note which resounded at the close of the first solar system. From the atmic plane resonance may be established with this particular note of the Logos as a point of departure for apprehending a still deeper note, based on Love-Wisdom and positioned at a higher frequency than the note of nature. That note, the note hypothesized as “G” or SOL, is closely correlated to the monadic plane.

71. Thật thú vị, âm điệu FA, âm điệu xanh lục, gắn với cung ba và Sao Thổ, là âm điệu của bản chất và là âm điệu đã vang lên vào lúc kết thúc hệ mặt trời thứ nhất. Từ cõi atma, người ta có thể thiết lập sự cộng hưởng với âm điệu đặc thù này của Thượng đế như một điểm khởi hành để nhận biết một âm điệu còn sâu hơn, dựa trên Bác Ái – Minh Triết và được đặt ở một tần số cao hơn âm điệu của bản chất. Âm điệu ấy, âm điệu được giả thuyết là “G” hay SOL, có tương quan mật thiết với cõi chân thần.

I am differentiating thus for the sake of clarity.

Tôi phân biệt như vậy vì mục đích làm rõ.

72. The differentiation offered is surely thought-provoking however difficult it may be to see such clear distinctions when viewing the life-as-lived.

72. Sự phân biệt được đưa ra chắc chắn gợi nhiều điều đáng suy ngẫm, dù có thể khó thấy những ranh giới rõ rệt như thế khi quan sát đời sống như nó đang diễn ra.

73. When we seek to come en rapport with the five entities listed, we shall know somewhat more clearly ‘where’ and how to focus our consciousness.

73. Khi chúng ta tìm cách thiết lập sự tương ứng với năm thực thể được liệt kê, chúng ta sẽ biết rõ hơn phần nào “ở đâu” và làm thế nào để tập trung tâm thức của mình.

In evolution itself, due to the parallelism of nature, the distinctions are not so sharply made, and a man’s ray, point of development, the work earlier accomplished, his temporary limitations, and other causes create a seeming confusion, but in the great scheme as seen from above downwards, the work proceeds as described.

Trong chính tiến hoá, do tính song hành của bản chất, các phân biệt không được tạo ra sắc nét đến thế, và cung của một người, điểm phát triển, công việc đã hoàn thành trước đây, những giới hạn tạm thời của y, cùng các nguyên nhân khác tạo nên một sự lẫn lộn bề ngoài; nhưng trong đại đồ án, như được thấy từ trên xuống dưới, công việc tiến hành đúng như đã mô tả.

74. DK suggests that in order to see these distinctions with clarity, the point of vantage must be from ‘above’ downwards.

74. Chân sư DK gợi ý rằng để thấy những phân biệt này một cách rõ ràng, điểm quan sát phải là từ “bên trên” nhìn xuống.

75. Our evolutionary task is a progressive series of broadening and deepening identifications, each of them related to a certain vibratory level of the cosmic physical plane.

75. Nhiệm vụ tiến hoá của chúng ta là một chuỗi tiến trình mở rộng và đào sâu sự đồng hoá với một cách tiệm tiến, mỗi sự đồng hoá đều liên hệ với một cấp độ rung động nhất định của cõi hồng trần vũ trụ.

76. VSK suggests the following: “So it appears the cause is one plane above the effect; thus the group note is found on the mental (point c.), although the group/ashram is usually on the buddhic?”

76. VSK gợi ý như sau: “Vì vậy, có vẻ như nguyên nhân ở cao hơn hiệu quả một cõi; do đó âm điệu nhóm được tìm thấy trên cõi trí (điểm c.), dù rằng nhóm/ashram thường ở trên cõi Bồ đề?”

77. It is important to realize that the “move” of Hierarchy from the higher mental to the buddhic plane was not discussed in this rather early book, A Treatise on Cosmic Fire, published in 1925.

77. Cần lưu ý rằng “sự chuyển” của Thánh Đoàn từ cõi thượng trí xuống cõi Bồ đề đã không được bàn đến trong quyển sách khá sớm này, Luận về Lửa Vũ Trụ, xuất bản năm 1925.

Hearing on the astral plane is commonly called clairaudience, and means the ability to hear the sounds of the astral plane.

Nghe trên cõi cảm dục thường được gọi là thông nhĩ, và có nghĩa là khả năng nghe các âm thanh của cõi cảm dục.

78. Apprehending these sounds may either help extricate ourselves from or immerse ourselves more deeply within the burgeoning illusion of that plane.

78. Việc nhận biết các âm thanh này có thể либо giúp chúng ta thoát ra khỏi, hoặc khiến chúng ta chìm sâu hơn vào ảo tưởng đang phình nở của cõi ấy.

It is a faculty that demonstrates throughout the entire astral body, and a man hears all over his vehicle and not only through the specialised organs, the ears, the product of physical plane action and reaction.

Đó là một năng lực biểu lộ khắp toàn bộ thể cảm dục,một người nghe khắp vận cụ của mình chứ không chỉ qua các cơ quan chuyên biệt, là đôi tai, sản phẩm của tác động và phản ứng của cõi hồng trần.

79. One of the key rulers of the systemic physical level is Saturn, the planet of space, time and localization. The astral plane is, however, ruled by Neptune which blurs distinctions and eradicates boundaries. Under Neptune it is reasonable that sensitivity should be more generalized and not so particularly focused through concrete localized organs of reception.

79. Một trong những chủ tinh then chốt của cấp độ hồng trần trong hệ thống là Sao Thổ, hành tinh của không gian, thời gian và sự định vị. Tuy nhiên, cõi cảm dục lại do Sao Hải Vương cai quản, vốn làm mờ các phân biệt và xoá bỏ các ranh giới. Dưới Sao Hải Vương, thật hợp lý khi tính nhạy cảm trở nên tổng quát hơn và không tập trung đặc biệt qua các cơ quan tiếp nhận cụ thể, được định vị rõ ràng.

This would necessarily be so, owing to the fluidic nature of the astral body.

Điều này tất yếu phải như vậy, do bản chất linh động của thể cảm dục.

80. DK tells us something about the nature of the astral body: it is fluidic (a term associated with the dynamics of Neptune).

80. Chân sư DK cho chúng ta biết đôi điều về bản chất của thể cảm dục: nó linh động (một thuật ngữ gắn với động lực học của Sao Hải Vương).

Man on the physical plane hears at the same time a certain range of sounds, and only a small and particular gamut of vibrations impinges upon his ears.

Con người trên cõi hồng trần đồng thời nghe được một phạm vi âm thanh nhất định, và chỉ một quãng rung động nhỏ và đặc thù tác động lên tai y.

81. Saturn is the planet of limitation and, under Saturn, the range of impressionability is naturally limited.

81. Sao Thổ là hành tinh của giới hạn và, dưới Sao Thổ, phạm vi có thể tiếp nhận ấn tượng tự nhiên bị giới hạn.

There are many of the lesser sounds of nature which entirely escape him, while the major group sounds are not differentiated at all.

Có nhiều âm thanh nhỏ của bản chất hoàn toàn vượt khỏi y, trong khi các âm thanh nhóm lớn thì không hề được phân biệt.

82. DK elaborates a bit on the sounds missed by the average human being. The small and great sounds elude his auditory apprehension equally. He fails to detect the sounds caused by tiny processes and by comprehensive processes as well. As he becomes more identified with large processes, his ability to register the minute will also grow. Man presently functions within a very limited ‘middle’ range.

82. Chân sư DK triển khai thêm đôi chút về những âm thanh mà con người trung bình bỏ lỡ. Những âm thanh nhỏ và những âm thanh lớn đều như nhau, đều thoát khỏi sự nhận biết thính giác của y. Y không phát hiện được các âm thanh do những tiến trình vi tế gây ra, cũng như do những tiến trình bao quát gây ra. Khi y ngày càng đồng hoá với các tiến trình lớn, khả năng ghi nhận cái vi tế của y cũng sẽ tăng lên. Hiện nay con người hoạt động trong một phạm vi “ở giữa” rất hạn hẹp.

83. By major group sounds (as they impact the physical plane) may be meant:

83. Các âm thanh nhóm lớn (khi chúng tác động lên cõi hồng trần) có thể được hiểu là:

a. The sounds of soul groups

a. Âm thanh của các nhóm linh hồn

b. The sounds of nations and races

b. Âm thanh của các quốc gia và nhân loại

c. The sounds of kingdoms, including the sound of humanity.

c. Âm thanh của các giới, bao gồm âm thanh của giới nhân loại.

d. The sound of Nature

d. Âm thanh của Bản chất

e. And so forth…

e. Vân vân…

84. We note the importance of the word “differentiated”. Sounds may be present but unless they are differentiated, noticed, isolated, it is as if they were not.

84. Chúng ta lưu ý tầm quan trọng của từ “được phân biệt”. Âm thanh có thể hiện diện, nhưng nếu không được phân biệt, được chú ý, được tách riêng, thì như thể chúng không hề có.

85. We see something of the importance of Saturn (Lord of the third ray, and intimately related to sound and its sources) in the isolating and differentiating of various sounds.

85. Chúng ta thấy phần nào tầm quan trọng của Sao Thổ (Đấng Chúa Tể cung ba, và liên hệ mật thiết với âm thanh cùng các nguồn của nó) trong việc cô lập và phân biệt các âm thanh khác nhau.

As evolution proceeds and the inner sense of hearing becomes acute,

Khi tiến hoá tiến triển và nội nhĩ trở nên nhạy bén,

86. The energy of the third ray (a ray related to sound) is called “the acute energy of divine mental perception”. With growing acuity of thought it can be inferred that there will arise a growing acuity of the inner sense of hearing.

86. Năng lượng của cung ba (một cung liên hệ với âm thanh) được gọi là “năng lượng nhạy bén của tri giác thể trí thiêng liêng”. Với sự nhạy bén ngày càng tăng của tư tưởng, có thể suy ra rằng sẽ phát sinh sự nhạy bén ngày càng tăng của nội nhĩ.

these other physical plane sounds will likewise swing into his ken,

những âm thanh khác của cõi hồng trần này cũng sẽ đi vào tầm nhận biết của y,

87. The sounds (“lesser sounds of nature” and “major group sounds”) are considered physical plane sounds, no matter what may be their occult origin on higher planes.

87. Các âm thanh (“những âm thanh nhỏ của bản chất” và “các âm thanh nhóm lớn”) được xem là âm thanh của cõi hồng trần, bất kể nguồn gốc huyền bí của chúng có thể ở các cõi cao hơn.

and he will be acutely conscious of all sounds on the astral, and the physical plane—a thing, which if possible now, would result in the shattering of the body.

và y sẽ nhận biết một cách nhạy bén mọi âm thanh trên cõi cảm dục và cõi hồng trần—một điều mà, nếu có thể xảy ra ngay bây giờ, sẽ dẫn đến sự tan vỡ của thể xác.

88. This is a fascinating and important sentence. Sound can shatter—of this we are aware. We come to understand the reason for those veils which presently limit the acuity of the senses. They are protective mechanisms.

88. Đây là một câu hấp dẫn và quan trọng. Âm thanh có thể làm vỡ nát—điều này chúng ta biết. Chúng ta bắt đầu hiểu lý do của những tấm màn hiện đang giới hạn độ nhạy của các giác quan. Chúng là những cơ chế bảo vệ.

89. Probably in dream states we become very aware of “sounds on the astral”, but at such times, sounds on the physical plane are not apprehensible.

89. Có lẽ trong các trạng thái mộng, chúng ta trở nên rất nhận biết về “các âm thanh trên cõi cảm dục”, nhưng vào những lúc ấy, các âm thanh trên cõi hồng trần lại không thể được nhận biết.

90. It is the combination of the two types of sounds that may have a shattering effect.

90. Chính sự kết hợp của hai loại âm thanh này có thể tạo ra tác động làm tan vỡ.

91. We begin to realize that the human nervous system and energy system in general must be in a very fit and resilient condition to withstand what we glibly call “continuity of consciousness”.

91. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng hệ thần kinh và hệ năng lượng của con người nói chung phải ở trong một tình trạng rất sung mãn và bền bỉ để chịu đựng điều mà chúng ta gọi một cách dễ dãi là “tính liên tục của tâm thức”.

If the note of nature, for instance, were to strike but once upon the ear of a man (a note made up of the totality of vibrations produced by all dense material forms) his physical body would be completely disrupted.

Nếu, chẳng hạn, âm điệu của bản chất chỉ đánh vào tai một người dù chỉ một lần (một âm điệu được tạo thành bởi toàn bộ các rung động do mọi hình tướng vật chất đậm đặc tạo ra) thì thể xác của y sẽ bị phá vỡ hoàn toàn.

92. We are given a clear definition of the “note of nature”, and it is, from this description, a very “material” note.

92. Chúng ta được trao một định nghĩa rõ ràng về “âm điệu của bản chất”, và theo mô tả này, đó là một âm điệu rất “vật chất”.

93. We notice that even one impact of this note would be sufficient to completely disrupt the physical body of man.

93. Chúng ta nhận thấy rằng chỉ một lần tác động của âm điệu này cũng đủ để phá vỡ hoàn toàn thể xác con người.

94. We should perhaps take with a grain of salt the testimony of those who state that they constantly hear the note of nature.

94. Có lẽ chúng ta nên tiếp nhận một cách dè dặt lời chứng của những người tuyên bố rằng họ liên tục nghe âm điệu của bản chất.

95. Well may we be impressed by a growing awareness of the constructive and destructive power of sound!

95. Chúng ta hoàn toàn có thể bị ấn tượng bởi sự nhận biết ngày càng tăng về quyền năng kiến tạo và huỷ diệt của âm thanh!

[192] He is not ready yet for such a happening; the inner ear is not duly prepared. Only when the threefold hearing is consummated will completed hearing on the physical plane be likewise permitted.

[192] Y vẫn chưa sẵn sàng cho một biến cố như vậy; nội nhĩ chưa được chuẩn bị đúng mức. Chỉ khi sự nghe tam phân được hoàn tất thì sự nghe trọn vẹn trên cõi hồng trần mới được cho phép.

96. The preparation of the inner ear is a slow process involving the wearing away of the etheric web through the agency of the combination of fire by friction and solar fire over a long period of time.

96. Việc chuẩn bị nội nhĩ là một tiến trình chậm, liên quan đến sự bào mòn màng lưới dĩ thái qua tác nhân là sự kết hợp của Lửa ma sát và Lửa Thái dương trong một thời gian dài.

97. Through such a gradual exposure to an increasing range of sounds, the disruptive shock of sudden impacts can be avoided.

97. Nhờ sự phơi mở dần dần như vậy trước một phạm vi âm thanh ngày càng tăng, có thể tránh được cú sốc phá vỡ do những tác động đột ngột.

98. What may be meant by the “threefold hearing”? And the consummation of threefold hearing? Perhaps we are speaking of hearing on all three planes leading to some consummation of hearing achieved on the buddhic plane (a plane which can be understood as a “plane of consummation”).

98. “Sự nghe tam phân” có thể hàm ý điều gì? Và sự hoàn tất của sự nghe tam phân? Có lẽ chúng ta đang nói về việc nghe trên cả ba cõi, dẫn đến một sự hoàn tất nào đó của năng lực nghe đạt được trên cõi Bồ đề (một cõi có thể được hiểu như một “cõi của sự hoàn tất”).

99. We may be dealing with a resonance related to the number four. When, for instance, hearing is consummated on the buddhic plane (the fourth) the hearing of the note of nature on the fourth and lowest plane of the personality (mental, astral, etheric, and physical) can be allowed. There is a certain symmetry in this thought.

99. Chúng ta có thể đang xử lý một sự cộng hưởng liên hệ với con số bốn. Chẳng hạn, khi việc nghe được hoàn tất trên cõi Bồ đề (cõi thứ tư), thì việc nghe âm điệu của bản chất trên cõi thứ tư và thấp nhất của phàm ngã (thể trí, thể cảm dục, thể dĩ thái và thể xác) có thể được cho phép. Có một tính đối xứng nhất định trong ý tưởng này.

100. It is as if one must be quite free of the lower three worlds (achieved with growing buddhic polarization) if the sound of the densest level of the lowest of those three worlds can be allowed to impact the now prepared ear.

100. Như thể người ta phải khá tự do khỏi ba cõi thấp (đạt được nhờ sự phân cực Bồ đề ngày càng tăng) thì âm thanh của cấp độ đậm đặc nhất thuộc cõi thấp nhất trong ba cõi ấy mới có thể được cho phép tác động lên nội nhĩ nay đã được chuẩn bị.

101. What would be the value of hearing the note of nature? We would know the sound from which we are emerging and the basis of all progressive evolution into a higher note. We would be able to detect whether any influence resonated to the past or the intended future.

101. Giá trị của việc nghe âm điệu của bản chất là gì? Chúng ta sẽ biết âm thanh mà từ đó chúng ta đang vươn ra, và nền tảng của mọi tiến hoá tiệm tiến hướng vào một âm điệu cao hơn. Chúng ta sẽ có thể phát hiện liệu có ảnh hưởng nào cộng hưởng với quá khứ hay với tương lai được dự định.

102. Hearing the note of nature would reveal what we have been and thus clarify the direction in which we are intended to progress. From a developmental perspective, it is necessary to hear the note of the past even if we no longer wish to identify with that note.

102. Việc nghe âm điệu của bản chất sẽ mặc khải chúng ta đã từng là gì và do đó làm rõ hướng mà chúng ta được dự định tiến bước. Từ quan điểm phát triển, cần phải nghe âm điệu của quá khứ, dù chúng ta không còn muốn đồng hoá với âm điệu ấy nữa.

103. VSK suggests that threefold hearing may be achieved as the three spinal channels are completely opened through the progress of kundalini.

103. VSK gợi ý rằng sự nghe tam phân có thể đạt được khi ba kinh mạch cột sống được khai mở hoàn toàn qua tiến trình kundalini.

Hearing on the mental plane is simply an extension of the faculty of differentiating sound.

Nghe trên cõi trí đơn giản là một sự mở rộng của năng lực phân biệt âm thanh.

104. We can understand how much the faculty of hearing has to do with differentiation, Saturn and the third ray (the “Essential Discriminating Life”).

104. Chúng ta có thể hiểu năng lực nghe liên quan nhiều đến sự phân biệt, Sao Thổ và cung ba ( “Sự Sống Phân Biện Thiết Yếu”) đến mức nào.

105. Hearing is the initial faculty by means of which location and direction in time in space is determined.

105. Nghe là năng lực ban đầu nhờ đó vị trí và phương hướng trong thời gian và không gian được xác định.

106. Through hearing on the mental plane the group note is found. Since the process of “differentiating sound” is of focal importance, it can be inferred that part of the finding of the group note is the differentiating of various group notes from each other. Discrimination is involved—both mental and sentient discrimination (as may be found on the higher mental plane, especially on the second subplane of that plane, whereon is found “Response to Group Vibration”)

106. Nhờ nghe trên cõi trí, âm điệu nhóm được tìm thấy. Vì tiến trình “phân biệt âm thanh” có tầm quan trọng trọng yếu, có thể suy ra rằng một phần của việc tìm ra âm điệu nhóm là phân biệt các âm điệu nhóm khác nhau với nhau. Có sự phân biện được tham dự—cả phân biện thể trí lẫn phân biện cảm nhận (như có thể thấy trên cõi thượng trí, đặc biệt trên cõi phụ thứ hai của cõi ấy, nơi có “Đáp Ứng với Rung Động Nhóm”)

107. Since on the higher mental plane, groupings of causal bodies (or egoic lotuses) can be found, it is clear why the mental plane should be level upon the group note may be found. The ‘move’ of Ashrams to the buddhic plane may have modified this somewhat, but the principle, it would seem, still holds good.

107. Vì trên cõi thượng trí có thể tìm thấy các nhóm thể nguyên nhân (hay các hoa sen chân ngã), nên rõ ràng vì sao cõi trí phải là cấp độ nơi âm điệu nhóm có thể được tìm thấy. “Sự chuyển” của các ashram xuống cõi Bồ đề có thể đã điều chỉnh điều này phần nào, nhưng nguyên lý, dường như, vẫn còn đúng.

The hearing dealt with on all these planes is the hearing that has to do with the form, that concerns the vibration of matter, and that is occupied with the not-self.

Sự nghe được bàn đến trên tất cả các cõi này là sự nghe liên quan đến hình tướng, liên quan đến rung động của vật chất, và bận tâm với cái không-phải-ngã.

108. By “all these planes” does DK include both the buddhic and atmic planes (not yet discussed in relation to hearing) or only those planes thus far discussed—physical, astral and mental?

108. Với “tất cả các cõi này”, Chân sư DK có bao gồm cả cõi Bồ đề và cõi atma (chưa được bàn đến trong liên hệ với nghe) hay chỉ những cõi đã được bàn đến cho đến nay—hồng trần, cảm dục và trí?

109. Hearing is, in many ways, a relatively ‘external’ sense, but upon the higher planes (i.e., the formless or arupa planes) it would seem to move beyond occupation with the not-Self.

109. Nghe, theo nhiều cách, là một giác quan tương đối “bên ngoài”, nhưng trên các cõi cao hơn (tức các cõi vô tướng hay arupa) dường như nó vượt ra ngoài sự bận tâm với cái không-phải-Ngã.

It has not to do with the psyche, or the telepathic communication that proceeds from mind to mind, but with the sound of the form or that power whereby one separated unit of consciousness is aware of another unit who is not himself. Bear this carefully in mind.

Nó không liên quan đến thức giả, hay giao tiếp viễn cảm diễn ra từ thể trí sang thể trí, mà liên quan đến âm thanh của hình tướng, hay quyền năng nhờ đó một đơn vị tâm thức tách biệt nhận biết một đơn vị khác không phải là bản thân y. Hãy ghi nhớ điều này một cách cẩn trọng.

110. DK seems to be specifying a particular type of hearing. We are given a particularly useful definition of hearing (as that sense is now being discussed): “That power whereby one separated unit of consciousness is aware of another unit who is not himself”.

110. Chân sư DK dường như đang xác định một loại nghe đặc thù. Chúng ta được trao một định nghĩa đặc biệt hữu ích về nghe (như giác quan ấy hiện đang được bàn đến): “Quyền năng nhờ đó một đơn vị tâm thức tách biệt nhận biết một đơn vị khác không phải là bản thân y”.

111. Hearing of this type, therefore, is a tool for detection of the “other”, or of that which is not recognized as the self. It is an initial awareness of that “other” within the field of consciousness.

111. Vì vậy, nghe theo kiểu này là một công cụ để phát hiện “cái khác”, hay cái không được nhận là cái ngã. Đó là sự nhận biết ban đầu về “cái khác” ấy trong trường tâm thức.

112. We often ask when faced with a large environment: “Did you hear anything?” “Did you hear anyone?” “Is there anyone there?” It is a question of detecting another within the field.

112. Chúng ta thường hỏi khi đối diện một môi trường rộng lớn: “Bạn có nghe thấy gì không?” “Bạn có nghe thấy ai không?” “Có ai ở đó không?” Đó là vấn đề phát hiện một người khác trong trường.

When the extension of hearing becomes such that it concerns the psyche, then we call it telepathy or that wordless communication that is the synthesis of hearing on all the three lower planes and which is known by the Ego in the causal body on the formless levels of the mental plane.

Khi sự mở rộng của nghe trở nên đến mức nó liên quan đến thức giả, thì chúng ta gọi đó là viễn cảm hay sự giao tiếp không lời, là sự tổng hợp của nghe trên cả ba cõi thấp và được Chân ngã trong thể nguyên nhân biết đến trên các cấp độ vô tướng của cõi trí.

113. At this point in the discussion we are distinguishing between rupa and arupa hearing—hearing in relation to form and hearing on the so-called formless planes (including the higher mental plane as formless).

113. Ở điểm này trong cuộc bàn luận, chúng ta đang phân biệt giữa nghe rupa và nghe arupa—nghe liên hệ với hình tướng và nghe trên các cõi được gọi là vô tướng (bao gồm cõi thượng trí như là vô tướng).

114. We are aware that on the first or atomic subplane of the mental plane the faculty of “Spiritual Telepathy” can be found. It is apparently this faculty which is here described as “the synthesis of hearing on all the lower planes”. Perhaps there is a kind of telepathy associated with each of the subplanes of the higher mental plane, “Spiritual Telepathy” being that which particular concerns the Spiritual Triad and the Divine Plan (as the word “spiritual”—so often used in relation to the Spiritual Triad—suggests).

114. Chúng ta biết rằng trên cõi phụ thứ nhất hay cõi phụ nguyên tử của cõi trí có thể tìm thấy năng lực “Viễn Cảm Tinh Thần”. Rõ ràng chính năng lực này được mô tả ở đây như “sự tổng hợp của nghe trên tất cả các cõi thấp”. Có lẽ có một loại viễn cảm gắn với mỗi cõi phụ của cõi thượng trí, trong đó “Viễn Cảm Tinh Thần” là loại đặc biệt liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần và Thiên Cơ (như từ “tinh thần”—thường được dùng trong liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần—gợi ý).

115. The psyche is the knower. That which is known is, initially, the form.

115. Thức giả là thức giả. Điều được biết, ban đầu, là hình tướng.

116. VSK suggests that we have here “a strong emphasis on the difference between the fires of matter and the to-be-addressed fires of mind. This is always a key ‘level check’ as to the focus and point in development of any entity under consideration, before attempting to place them in relation to other entities.”

116. VSK gợi ý rằng ở đây chúng ta có “một sự nhấn mạnh mạnh mẽ về khác biệt giữa các lửa của vật chất và các lửa của trí tuệ cần được đề cập. Đây luôn là một ‘kiểm tra cấp độ’ then chốt về tiêu điểm và điểm phát triển của bất kỳ thực thể nào đang được xét đến, trước khi cố gắng đặt họ trong tương quan với các thực thể khác.”

117. It is significant that telepathy is considered “wordless”. This fact alone removes it from the province of the third ray which is the influence under which so many word-sounds are created.

117. Thật có ý nghĩa khi viễn cảm được xem là “không lời”. Chỉ riêng sự kiện này đã đưa nó ra khỏi phạm vi của cung ba, vốn là ảnh hưởng dưới đó rất nhiều âm thanh của lời nói được tạo ra.

118. A hint is here given suggesting that when causal consciousness is truly achieved, our modes of communication will be wordless—in fact, telepathic. Perhaps the moments of wordless communication which we experience to a greater or lesser extent are indications of moments of causal alignment.

118. Ở đây có một gợi ý cho thấy rằng khi tâm thức nguyên nhân thật sự đạt được, các phương thức giao tiếp của chúng ta sẽ là không lời—thực ra là viễn cảm. Có lẽ những khoảnh khắc giao tiếp không lời mà chúng ta trải nghiệm ở mức độ nhiều hay ít là những chỉ dấu về những khoảnh khắc chỉnh hợp nguyên nhân.

On the buddhic plane, hearing (now of the synthetic quality called telepathy) demonstrates as complete comprehension, for it has involved two things:

Trên cõi Bồ đề, sự nghe (giờ đây thuộc phẩm tính tổng hợp gọi là viễn cảm) biểu lộ như sự thấu hiểu trọn vẹn, vì nó đã bao hàm hai điều:

119. Telepathy may begin to develop on the higher mental plane, but by the time the buddhic plane is the more customary focus of consciousness, it is well established.

119. Viễn cảm có thể bắt đầu phát triển trên cõi thượng trí, nhưng đến khi cõi Bồ đề trở thành tiêu điểm tâm thức thường lệ hơn, thì nó đã được thiết lập vững chắc.

120. The buddhic plane is one of the planes on which synthesis can begin to be appreciated.

120. Cõi Bồ đề là một trong những cõi mà trên đó sự tổng hợp có thể bắt đầu được trân trọng.

121. VSK suggests: “Now we are dealing with telepathy, and therefore with the psyche. Thus, a definition of the fires of matter is simply the focus on (or evolutionarily transit through) the lower three worlds. The first solar system as the mental, astral, and physical, quite explicitly, can be understood in this way as opposed to something that happened ‘in the past’ or in any time sense.”

121. VSK gợi ý: “Giờ đây chúng ta đang đề cập đến viễn cảm, và do đó đến thức giả. Vì vậy, một định nghĩa về các lửa của vật chất đơn giản là tiêu điểm đặt vào (hoặc sự chuyển tiếp theo tiến hoá qua) ba cõi thấp. Hệ mặt trời thứ nhất như là thể trí, thể cảm dục và thể xác, một cách khá minh thị, có thể được hiểu theo cách này, trái với việc xem nó như điều gì đã xảy ra ‘trong quá khứ’ hay theo bất kỳ ý niệm thời gian nào.”

122. VSK suggests that “buddhic hearing or telepathy is the basic hearing of the second solar system (the system developing dual life of consciousness) bridging the three colours of matter with the fires of light.”

122. VSK gợi ý rằng “nghe Bồ đề hay viễn cảm là sự nghe nền tảng của hệ mặt trời thứ hai (hệ thống đang phát triển đời sống kép của tâm thức), bắc cầu ba màu của vật chất với các lửa của ánh sáng.”

123. We are given an important definition of hearing on the buddhic plane; such hearing is called “telepathy”. The atomic subplane of the mental plane (on which is focussed Spiritual Telepathy” is thus linked with the seventh or lowest subplane of the buddhic plane (the plane of Comprehension—of Four Sounds).

123. Chúng ta được trao một định nghĩa quan trọng về nghe trên cõi Bồ đề; sự nghe ấy được gọi là “viễn cảm”. Cõi phụ nguyên tử của cõi trí (nơi “Viễn Cảm Tinh Thần” được tập trung) vì thế được nối kết với cõi phụ thứ bảy hay thấp nhất của cõi Bồ đề (cõi của Thấu Hiểu—của Bốn Âm Thanh).

124. It is also suggested that true comprehension does not occur through word but in a telepathic manner.

124. Cũng có gợi ý rằng sự thấu hiểu chân thực không diễn ra qua lời mà theo một cách viễn cảm.

125. Comprehension is an intuitive act, not a mental one. This is important. At least, a deeper level of comprehension than mental understanding (or comprehension) is experienced on the buddhic plane.

125. Thấu hiểu là một hành vi trực giác, không phải một hành vi thể trí. Điều này quan trọng. Ít nhất, một cấp độ thấu hiểu sâu hơn sự hiểu biết thể trí (hay sự thấu hiểu theo nghĩa thể trí) được trải nghiệm trên cõi Bồ đề.

126. Comprehension has in it the factor of synthesis; we remember that the number seven (found in relation to the subplane on which Comprehension is experienced) is a number of synthesis.

126. Trong thấu hiểu có yếu tố tổng hợp; chúng ta nhớ rằng con số bảy (được thấy trong liên hệ với cõi phụ nơi Thấu Hiểu được trải nghiệm) là một con số của tổng hợp.

127. We note that the Comprehension suggestion is not ‘Comprehension of four words’ but “Comprehension—of four sounds”. In this case the sound is superior to the word, and a conveyer of synthesis.

127. Chúng ta lưu ý rằng gợi ý về Thấu Hiểu không phải là “Thấu Hiểu của bốn từ” mà là “Thấu Hiểu—của bốn âm thanh”. Trong trường hợp này, âm thanh cao hơn lời, và là một phương tiện chuyển tải sự tổng hợp.

1. A knowledge and recognition of individual sound,

1. Một tri thức và sự nhận biết về âm thanh cá nhân,

2. A similar knowledge of group sound,

2. Một tri thức tương tự về âm thanh nhóm,

and their complete unification.

và sự hợp nhất trọn vẹn của chúng.

128. The Comprehension achieved has been a prepared process. On the physical plane the individual sound has been recognized and understood. On the astral plane, the same recognition and understanding have applied to a brother’s note. A group sound has been recognized and understood on the mental plane (especially the higher mental plane).

128. Sự Thấu Hiểu đạt được là một tiến trình đã được chuẩn bị. Trên cõi hồng trần, âm thanh cá nhân đã được nhận biết và thấu hiểu. Trên cõi cảm dục, sự nhận biết và thấu hiểu tương tự đã áp dụng cho âm điệu của một huynh đệ. Một âm thanh nhóm đã được nhận biết và thấu hiểu trên cõi trí (đặc biệt là cõi thượng trí).

129. It is difficult to know why DK does not include recognition and understanding of a brother’s note on the astral plane. It would seem that the synthesis of which He speaks would be incomplete without the astral experience.

129. Thật khó biết vì sao Chân sư DK không bao gồm sự nhận biết và thấu hiểu âm điệu của một huynh đệ trên cõi cảm dục. Dường như sự tổng hợp mà Ngài nói đến sẽ không trọn vẹn nếu thiếu kinh nghiệm cảm dục.

130. In any case, there is a unification of these recognitions and understandings, and this unification prepares the way for the synthetic understanding (called Comprehension) of the lowest buddhic level.

130. Dù sao đi nữa, có một sự hợp nhất của những nhận biết và thấu hiểu này, và sự hợp nhất ấy chuẩn bị con đường cho sự hiểu biết tổng hợp (được gọi là Thấu Hiểu) của cấp độ Bồ đề thấp nhất.

This causes the most perfect comprehension, and is the secret of the Master’s power.

Điều này gây ra sự thấu hiểu hoàn hảo nhất, và là bí mật quyền năng của Chân sư.

131. Knowledge/understanding/comprehension are, together, one significant source of power.

131. Tri thức/hiểu biết/thấu hiểu, cùng nhau, là một nguồn quyền năng đáng kể.

132. We can see that we are discussing no insignificant psychic faculty if it is the “secret of the Master’s power”.

132. Chúng ta có thể thấy rằng chúng ta đang bàn đến một năng lực thông linh không hề nhỏ nếu nó là “bí mật quyền năng của Chân sư”.

133. We will, perhaps, pause to consider how often we misunderstand, distort, misconceive, etc. So much of this wrong reception and assimilation is based on words and the different ways in which they can be understood by different psyches. Once the telepathy of the higher mental and buddhic planes is truly functioning, all possibility for misunderstanding is removed. The truth blazes forth.

133. Có lẽ chúng ta sẽ dừng lại để suy ngẫm về việc chúng ta thường xuyên hiểu sai, bóp méo, ngộ nhận, v.v. đến mức nào. Rất nhiều sự tiếp nhận và đồng hoá sai lạc này dựa trên lời nói và những cách khác nhau mà các thức giả khác nhau có thể hiểu lời nói ấy. Một khi viễn cảm của cõi thượng trí và cõi Bồ đề thật sự vận hành, mọi khả năng hiểu lầm đều được loại bỏ. Chân lý bừng sáng.

134. The word “perfect” is significant, for it means “complete” and is related to the number four. We are dealing with the first faculty developed in relation to the buddhic plane.

134. Từ “hoàn hảo” có ý nghĩa, vì nó có nghĩa là “trọn vẹn” và liên hệ với con số bốn. Chúng ta đang bàn đến năng lực đầu tiên được phát triển trong liên hệ với cõi Bồ đề.

135. The buddhic plane is a plane of great clarity (achieved through transcendent calmness or serenity). This clarity contributes to what is being called “the most perfect comprehension”.

135. Cõi Bồ đề là một cõi của sự sáng tỏ lớn lao (đạt được qua sự bình an siêu việt hay sự tĩnh lặng). Sự sáng tỏ này góp phần vào điều đang được gọi là “sự thấu hiểu hoàn hảo nhất”.

136. In relation to this faculty of Comprehension, hearing and the heart must be blended.

136. Trong liên hệ với năng lực Thấu Hiểu này, nghe và tim phải được hoà trộn.

137. The Master’s power is based upon the apprehension of truth to which Comprehension greatly contributes.

137. Quyền năng của Chân sư dựa trên sự nhận biết chân lý mà Thấu Hiểu đóng góp rất lớn.

On the atmic plane this perfected hearing is seen as beatitude.

Trên cõi atma, sự nghe đã được hoàn thiện này được thấy như phúc lạc.

138. Here is a list of the Beatitudes as recognized by Christianity (Wikipedia quoting the New American Bible):

138. Dưới đây là một danh sách các Mối Phúc như được Kitô giáo công nhận (Wikipedia trích dẫn Kinh Thánh Tân Ước Bản Mỹ):

a. Matthew 5:3 – “Blessed are the poor in spirit, for theirs is the kingdom of heaven.

a. Ma-thi-ơ 5:3 – “Phúc cho những ai nghèo khó trong tinh thần, vì Nước Trời là của họ.

b. Matthew 5:4 – Blessed are they who mourn, for they will be comforted.

b. Ma-thi-ơ 5:4 – Phúc cho những ai than khóc, vì họ sẽ được an ủi.

c. Matthew 5:5 – Blessed are the meek, for they will inherit the land.

c. Ma-thi-ơ 5:5 – Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được thừa hưởng đất.

d. Matthew 5:6 – Blessed are they who hunger and thirst for righteousness, for they will be satisfied.

d. Ma-thi-ơ 5:6 – Phúc cho những ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no thoả.

e. Matthew 5:7 – Blessed are the merciful, for they will be shown mercy.

e. Ma-thi-ơ 5:7 – Phúc cho những ai hay thương xót, vì họ sẽ được xót thương.

f. Matthew 5:8 – Blessed are the clean of heart, for they will see God.

f. Ma-thi-ơ 5:8 – Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Thượng đế.

g. Matthew 5:9 – Blessed are the peacemakers, for they will be called children of God.

g. Ma-thi-ơ 5:9 – Phúc cho những ai kiến tạo hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con của Thượng đế.

h. Matthew 5:10 – Blessed are they who are persecuted for the sake of righteousness, for theirs is the kingdom of heaven.

h. Ma-thi-ơ 5:10 – Phúc cho những ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ.

i. Matthew 5:11-12 – Blessed are you when they insult you and persecute you and utter every kind of evil against you (falsely) because of me. Rejoice and be glad, for your reward will be great in heaven.”

i. Ma-thi-ơ 5:11-12 – Phúc cho các bạn khi người ta sỉ nhục các bạn, bách hại các bạn, và vu khống đủ mọi điều ác chống lại các bạn vì Tôi. Hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các bạn sẽ lớn lao trên trời.”

139. There is also a version of the Beatitudes offered in the Gospel According to St. Luke. They offer greater contrasts.

139. Cũng có một phiên bản các Mối Phúc được nêu trong Phúc Âm theo Thánh Luca. Chúng đưa ra những tương phản lớn hơn.

a. “Blessed are you who are poor, for the kingdom of God is yours.

a. “Phúc cho các bạn là những người nghèo, vì Thiên Giới là của các bạn.

b. Blessed are you who are now hungry, for you will be satisfied.

b. Phúc cho các bạn là những người đang đói, vì các bạn sẽ được no thoả.

c. Blessed are you who are now weeping, for you will laugh.

c. Phúc cho các bạn là những người đang khóc, vì các bạn sẽ cười.

d. Blessed are you when people hate you, and when they exclude and insult you, and denounce your name as evil on account of the Son of Man. Rejoice and leap for joy on that day! Behold, your reward will be great in heaven. For their ancestors treated the prophets in the same way.

d. Phúc cho các bạn khi người ta ghét các bạn, khi họ loại trừ và sỉ nhục các bạn, và lên án tên các bạn như điều xấu vì Con Người. Hãy vui mừng và nhảy mừng trong ngày ấy! Này, phần thưởng của các bạn sẽ lớn lao trên trời. Vì tổ tiên họ đã đối xử với các tiên tri cũng theo cách ấy.

e. But woe to you who are rich, for you have received your consolation.

e. Nhưng khốn cho các bạn là những người giàu, vì các bạn đã nhận phần an ủi của mình rồi.

f. But woe to you who are filled now, for you will be hungry.

f. Nhưng khốn cho các bạn là những người đang no đủ, vì các bạn sẽ đói.

g. Woe to you who laugh now, for you will grieve and weep.

g. Khốn cho các bạn là những người đang cười, vì các bạn sẽ sầu khổ và khóc lóc.

h. Woe to you when all speak well of you, for their ancestors treated the false prophets in this way.”

h. Khốn cho các bạn khi mọi người đều nói tốt về các bạn, vì tổ tiên họ đã đối xử với các tiên tri giả cũng theo cách ấy.”

140. The following is a selection from the article on the Beatitudes. It describes the stage of the those who are blessed—i.e., who are members of the Kingdom of God. We may also, in this context, refer to the section in EP II which describes the nature of the “Blessed Ones” (beginning EP II 32)

140. Dưới đây là một trích đoạn từ bài viết về các Mối Phúc. Nó mô tả giai đoạn của những người có phúc—tức là những người là thành viên của Thiên Giới. Chúng ta cũng có thể, trong bối cảnh này, tham chiếu đến phần trong EP II mô tả bản chất của các “Đấng Chân Phúc” (bắt đầu EP II 32)

“The Beatitudes (from Latin, beatitudo, happiness) is the name given to a well-known, and to some, such as Henri Nouwen, definitive and central, portion of the Sermon on the Mount, recorded in the Gospels of Matthew and Luke. In this section, Jesus describes the qualities of the citizens of the Kingdom of heaven, showing how each is/will be blessed. The Beatitudes do not describe many separate individuals, but rather the characteristics of those who are deemed blessed by God. Each of the blessed individuals are generally not considered blessed according to worldly standards, but we see, with a heavenly perspective, they truly are blessed. The word traditionally translated into English as “blessed” or “happy” is in the Greek original μακαριος; a more literal translation into contemporary English would be “possessing an inward contentness and joy that is not affected by the physical circumstances.” Each of the Beatitudes presents a situation in which the person described would not be described by the world as “blessed,” yet Jesus declares that they truly are blessed, and they are blessed with a blessing that outlasts any type of blessing this world has to offer. (Wikipedia)

“Các Mối Phúc (từ tiếng Latin, beatitudo, hạnh phúc) là tên gọi dành cho một phần nổi tiếng, và đối với một số người, như Henri Nouwen, là phần mang tính quyết định và trung tâm, của Bài Giảng Trên Núi, được ghi lại trong các Phúc Âm của Ma-thi-ơ và Luca. Trong phần này, Đức Jesus mô tả các phẩm chất của công dân Nước Trời, cho thấy cách mỗi người là/sẽ được chúc phúc. Các Mối Phúc không mô tả nhiều cá nhân tách biệt, mà đúng hơn là các đặc điểm của những người được Thượng đế xem là có phúc. Mỗi người có phúc nói chung không được xem là có phúc theo các tiêu chuẩn thế gian, nhưng chúng ta thấy rằng, với một quan điểm thiên thượng, họ thật sự có phúc. Từ theo truyền thống được dịch sang tiếng Anh là “được chúc phúc” hay “hạnh phúc” trong nguyên bản Hy Lạp là μακαριος; một bản dịch sát hơn theo tiếng Anh đương đại sẽ là “sở hữu một sự mãn nguyện và niềm vui nội tại không bị ảnh hưởng bởi các hoàn cảnh hồng trần.” Mỗi Mối Phúc trình bày một tình huống trong đó người được mô tả sẽ không được thế gian gọi là “có phúc”, nhưng Đức Jesus tuyên bố rằng họ thật sự có phúc, và họ được chúc phúc bằng một phúc lành vượt lâu hơn bất kỳ loại phúc lành nào mà thế gian này có thể ban tặng. (Wikipedia)

141. We can see that the state of blessed happiness really begins on the buddhic plane and is related to an understanding of some fundamental principles realized and lived by members of the Kingdom of God.

141. Chúng ta có thể thấy rằng trạng thái hạnh phúc có phúc thật sự bắt đầu trên cõi Bồ đề và liên hệ với sự thấu hiểu một số nguyên lý căn bản được các thành viên của Thiên Giới chứng nghiệm và sống theo.

142. It is interesting that the Gospel of Matthew offers nine Beatitudes and that of Luke, eight. Either of these numbers can be considered significant. The number eight, for instance, is particular related to the buddhic plane.

142. Thật thú vị khi Phúc Âm Ma-thi-ơ đưa ra chín Mối Phúc và Phúc Âm Luca đưa ra tám. Cả hai con số này đều có thể được xem là có ý nghĩa. Chẳng hạn, con số tám đặc biệt liên hệ với cõi Bồ đề.

143. Perfect atmic hearing is perfected understanding. It excels the comprehension of the seventh subplane of the buddhic plane because it hears or understands the Will of the Planetary Logos.

143. Sự nghe atma hoàn hảo là sự thấu hiểu hoàn hảo. Nó vượt trội sự thấu hiểu của cõi phụ thứ bảy của cõi Bồ đề vì nó nghe hay thấu hiểu Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế.

Sound, the basis of existence; sound, the method of being; sound, the final unifier; sound therefore realised as the raison d’être, as the method of evolution, and therefore as beatitude.80

Âm thanh, nền tảng của hiện hữu; âm thanh, phương pháp của hiện hữu; âm thanh, kẻ hợp nhất tối hậu; vì vậy âm thanh được chứng nghiệm như lý do tồn tại, như phương pháp tiến hoá, và vì thế như phúc lạc.80

144. Here is one of the Tibetan’s excellent summaries. Let us tabulate for clearer comprehension:

144. Đây là một trong những bản tóm lược xuất sắc của Chân sư Tây Tạng. Hãy lập bảng để thấu hiểu rõ hơn:

a. Sound the basis of existence

a. Âm thanh là nền tảng của hiện hữu

b. Sound, the method of being

b. Âm thanh là phương pháp của hiện hữu

c. Sound the final unifier

c. Âm thanh là kẻ hợp nhất tối hậu

d. Sound realizes as the raison d’être

d. Âm thanh được chứng nghiệm như lý do tồn tại

e. Sound as the method of evolution

e. Âm thanh như phương pháp tiến hoá

f. Sound as beatitude

f. Âm thanh như phúc lạc

145. Is sound beatitude because it is the “method of evolution” or because of all the things it is said to be in this summary?

145. Âm thanh là phúc lạc vì nó là “phương pháp tiến hoá”, hay vì tất cả những điều mà nó được nói là trong bản tóm lược này?

146. We are reminded of the “sounding joy” of full happiness.

146. Chúng ta được nhắc về “niềm vui vang ngân” của hạnh phúc trọn vẹn.

147. The Beatitudes tell us how we may be supremely happy—from the spiritual perspective. From the worldly perspective, they may not seem like very good advice, but from the perspective of one who is a member of the Kingdom of God, they are divinely correct and make perfect spiritual sense.

147. Các Mối Phúc cho chúng ta biết làm thế nào để có thể hạnh phúc tối thượng—từ quan điểm tinh thần. Từ quan điểm thế gian, chúng có thể không giống như lời khuyên hay, nhưng từ quan điểm của một người là thành viên của Thiên Giới, chúng đúng một cách thiêng liêng và hoàn toàn hợp lý về mặt tinh thần.

148. An implication arises—that supreme happiness or blessedness (understood as beatitude) is inseparable from sound.

148. Một hàm ý nảy sinh—rằng hạnh phúc tối thượng hay phúc lành (được hiểu như phúc lạc) là bất khả phân với âm thanh.

149. The Buddha has told us how we may be happy through His Four Noble Truths and His Noble Eightfold Path. The advice of the Christ is equally a path to happiness, though very different and filled with the spirit of the paradoxical fourth ray—such are the contrasts offered.

149. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta cách hạnh phúc qua Bốn Chân Lý Cao Quý và Bát Chánh Đạo của Ngài. Lời khuyên của Đức Christ cũng là một con đường dẫn đến hạnh phúc, dù rất khác và thấm đẫm tinh thần nghịch lý của cung bốn—những tương phản được đưa ra là như vậy.

150. We are being offered buddhic wisdom and understanding from one who completely understands the fourth or buddhic plane—a plane of great harmony, and yet of contrasts.

150. Chúng ta đang được trao minh triết và sự thấu hiểu Bồ đề từ một Đấng hoàn toàn thấu hiểu cõi thứ tư hay cõi Bồ đề—một cõi của sự hoà điệu lớn lao, và tuy vậy đầy những tương phản.

Footnote 80:

Chú thích 80:

…”the chief agency by which Nature’s wheel is moved in a phenomenal direction is sound. Sound is the first aspect of the manifested pentagon since it is a property of ether called Akas and as I already said Vedic recitation is the highest Yagnam containing in itself all minor Yagnams and tending to preserve the manifested pentagon in the proper order.

…”tác nhân chủ yếu nhờ đó bánh xe của Bản chất được vận hành theo một hướng sắc tướng là âm thanh. Âm thanh là phương diện thứ nhất của ngũ giác biểu hiện vì nó là một thuộc tính của dĩ thái gọi là Akas và như tôi đã nói, sự tụng đọc Veda là Yagnam cao nhất, chứa trong nó mọi Yagnam nhỏ hơn và có xu hướng duy trì ngũ giác biểu hiện trong trật tự đúng đắn.

151. By the “manifested pentagon” we are to understand all potencies of the lower five systemic planes of the cosmic physical plane. The atmic plane (related by HPB to sound) stands at the apex of this pentagram.

151. Với “ngũ giác biểu hiện”, chúng ta cần hiểu là tất cả các tiềm năng của năm cõi thấp trong hệ thống thuộc cõi hồng trần vũ trụ. Cõi atma (được HPB liên hệ với âm thanh) đứng ở đỉnh của ngũ giác này.

152. In this section of Some Thought from the Gita sound is also related to the Akasha through the word “Akas”. As here presented, sound and “Akas” are one.

152. Trong phần này của Một Vài Suy Tư từ Gita, âm thanh cũng được liên hệ với Akasha qua từ “Akas”. Như được trình bày ở đây, âm thanh và “Akas” là một.

153. A Yagnam is apparently a creative potency. Sound, being the highest Yagnam, holds all lesser Yagnams in place. Sound has an inherent ordering potency.

153. Một Yagnam dường như là một tiềm năng sáng tạo. Âm thanh, là Yagnam cao nhất, giữ mọi Yagnam thấp hơn ở đúng vị trí. Âm thanh có một tiềm năng sắp đặt nội tại.

In the opinion of our old philosophers sound or speech is next to thought the highest karmic agent used by man.

Theo quan điểm của các triết gia xưa của chúng tôi, âm thanh hay lời nói, chỉ sau tư tưởng, là tác nhân nghiệp quả cao nhất được con người sử dụng.

154. This is a thought much emphasized by the Tibetan. Thought, however, is given preeminence as a karmic agent.

154. Đây là một ý tưởng được Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh rất nhiều. Tuy nhiên, tư tưởng được đặt ở vị trí ưu trội như một tác nhân nghiệp quả.

Of the various karmic agencies wielded by man in the way of moulding himself and surroundings, sound or speech is the most important, for, to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary of elements, air, fire, water and earth.

Trong các tác nhân nghiệp quả khác nhau được con người vận dụng theo cách nắn đúc chính mình và hoàn cảnh, âm thanh hay lời nói là quan trọng nhất, vì nói là làm việc trong dĩ thái, vốn dĩ cai quản bộ tứ thấp của các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất.

155. We should note the significant thought that “to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary of elements, air, fire, water an earth”.

155. Chúng ta nên lưu ý ý tưởng quan trọng rằng “nói là làm việc trong dĩ thái, vốn dĩ cai quản bộ tứ thấp của các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất”.

156. To speak is thus to wield a great formative agency, patterning results that will precipitate upon the physical plane.

156. Vì vậy, nói là vận dụng một tác nhân tạo hình vĩ đại, tạo mô hình cho các kết quả sẽ ngưng tụ trên cõi hồng trần.

Human sound or language contains therefore all the elements required to move the different classes of Devas and those elements are of course the vowels and the consonants.

Âm thanh hay ngôn ngữ của con người vì thế chứa tất cả các nguyên tố cần thiết để làm chuyển động các lớp thiên thần khác nhau và những nguyên tố ấy dĩ nhiên là các nguyên âm và phụ âm.

157. T. Subba Row speaks of the potency of human sound and language. In his opinion language already in the possession of man is sufficient to wield power over many different classes of Devas.

157. T. Subba Row nói về tiềm năng của âm thanh và ngôn ngữ của con người. Theo quan điểm của ông, ngôn ngữ mà con người đã sở hữu là đủ để vận dụng quyền năng đối với nhiều lớp thiên thần khác nhau.

The details of the philosophy of sound in its relation to the devas who preside over the subtle world, belong to the domain of true Mantra Sastra which of course is in the hands of the knowers.”—Some Thoughts on the Gita, p. 72.

Các chi tiết của triết học về âm thanh trong mối liên hệ của nó với các thiên thần chủ trì thế giới vi tế, thuộc về lĩnh vực của Mantra Sastra chân chính mà dĩ nhiên nằm trong tay các thức giả.”—Một Vài Suy Tư về Gita, tr. 72.

158. The science of Mantra Yoga is called “Mantra Sastra” must be potent in the extreme. Little of it is in the possession of the average student.

158. Khoa học Mantra Yoga được gọi là “Mantra Sastra” hẳn phải cực kỳ mạnh mẽ. Rất ít điều trong đó nằm trong tay đạo sinh trung bình.

159. Apparently, by implication, there are many imitations of the “true Mantra Sastra”.

159. Hiển nhiên, theo hàm ý, có nhiều sự bắt chước “Chân Mantra Sastra”.

[193]

[193]

b. Touch. In taking up the subject of the second sense, that of touch, we must note that this sense is preeminently the sense of very great importance in this, the second, solar system—a system of astral-buddhic consciousness.81

b. Xúc chạm. Khi đề cập đến chủ đề về giác quan thứ hai, tức giác quan xúc chạm, chúng ta cần lưu ý rằng giác quan này, một cách nổi bật, là giác quan có tầm quan trọng rất lớn trong hệ mặt trời thứ hai này—một hệ thống của tâm thức cảm dục–Bồ đề.81

160. We may say that the sense of touch is preeminent in our astral-buddhic solar system.

160. Chúng ta có thể nói rằng giác quan xúc chạm là giác quan nổi trội trong hệ mặt trời cảm dục–Bồ đề của chúng ta.

161. If we think carefully we shall see that no sense can operate without the factor of touch, for always (with respect to every sense) there is impression via a medium of impression. That impression is a variety of touch.

161. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng không có giác quan nào có thể hoạt động mà không có yếu tố xúc chạm, vì luôn luôn (đối với mọi giác quan) có sự ấn tượng thông qua một môi trường truyền ấn tượng. Ấn tượng ấy là một dạng xúc chạm.

162. In relation to the sense of touch the factor of attraction and repulsion is a central dynamic. The sense of touch comes under the second cosmic law of Attraction (and Repulsion).

162. Liên quan đến giác quan xúc chạm, yếu tố hấp dẫn và đẩy lùi là một động lực trung tâm. Giác quan xúc chạm thuộc về định luật vũ trụ thứ hai của Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi).

Each of these senses, after having reached a certain point, begins to synthesise with the others in such a way that it is almost impossible to know where one begins and the other ends.

Mỗi giác quan trong số này, sau khi đã đạt đến một điểm nào đó, bắt đầu tổng hợp với các giác quan khác theo cách khiến gần như không thể biết giác quan này bắt đầu ở đâu và giác quan kia kết thúc ở đâu.

163. DK speaks of the synthesis of the senses, presumably as the more synthetic initiations are taken.

163. Chân sư DK nói về sự tổng hợp của các giác quan, có lẽ khi các cuộc điểm đạo mang tính tổng hợp hơn được tiếp nhận.

Footnote 81:

Chú thích 81:

Astral-buddhic consciousness is the term applied to the basic consciousness in our solar system. It is characterised by emotion, by feeling, sensation, which have eventually to be transmuted into intuition, spiritual perception and unity.

Tâm thức cảm dục–Bồ đề là thuật ngữ được dùng để chỉ tâm thức nền tảng trong hệ mặt trời của chúng ta. Nó được đặc trưng bởi cảm xúc, bởi cảm giác, cảm thọ, mà rốt cuộc phải được chuyển hoá thành trực giác, tri giác tinh thần và hợp nhất.

164. The functional link between the astral and buddhic types of consciousness is presented.

164. Mối liên kết chức năng giữa hai loại tâm thức cảm dục và Bồ đề được trình bày.

165. It is relatively easy to understand how emotion, feeling and sensation are related to the sense of touch. What must also be realized is that intuition, spiritual perception and the sense of unity are also related to this sense (though a much subtler form of touch).

165. Tương đối dễ hiểu cách cảm xúc, cảm giác và cảm thọ liên hệ với giác quan xúc chạm. Điều cũng phải được chứng nghiệm là trực giác, tri giác tinh thần và ý thức về hợp nhất cũng liên hệ với giác quan này (dù là một dạng xúc chạm tinh tế hơn nhiều).

Touch is that innate recognition of contact through the exercise of manas or mind in a threefold manner:

Xúc chạm là sự nhận biết bẩm sinh về tiếp xúc thông qua việc vận dụng manas hay thể trí theo ba cách:

As recognition.

Như sự nhận biết.

As memory.

Như ký ức.

As anticipation.

Như sự dự cảm.

166. In this definition of touch, it is interesting to understand that it is inseparable from the exercise of manas or mind.

166. Trong định nghĩa này về xúc chạm, thật thú vị khi hiểu rằng nó không thể tách rời khỏi việc vận dụng manas hay thể trí.

167. There may be contact of many kinds and yet the sense of touch remain dormant because there is no manasic recognition of the touch. The touch is not noticed.

167. Có thể có tiếp xúc thuộc nhiều loại, vậy mà giác quan xúc chạm vẫn ngủ yên, vì không có sự nhận biết mang tính manas về sự xúc chạm ấy. Sự xúc chạm không được lưu ý.

168. The focus of touch in the past, present and future are here given.

168. Trọng tâm của xúc chạm trong quá khứ, hiện tại và tương lai được nêu ra ở đây.

a. Touch in relation to the past may be experienced through memory.

a. Xúc chạm liên quan đến quá khứ có thể được trải nghiệm qua ký ức.

b. Touch in relation to the present may be experienced through recognition.

b. Xúc chạm liên quan đến hiện tại có thể được trải nghiệm qua sự nhận biết.

c. Touch in relation to the future may be experienced through anticipation.

c. Xúc chạm liên quan đến tương lai có thể được trải nghiệm qua sự dự cảm.

169. In relation to the future, touch and the factor of faith are closely related.

169. Liên quan đến tương lai, xúc chạm và yếu tố đức tin có quan hệ mật thiết.

170. If there is contact and one is not aware of the contact, has the sense of touch been activated? It would seem not.

170. Nếu có tiếp xúc mà người ta không nhận biết về tiếp xúc ấy, vậy giác quan xúc chạm đã được kích hoạt chưa? Có vẻ là chưa.

Each of the five senses, when coupled with manas, develops within the subject a concept embodying the past, the present and the future.

Mỗi giác quan trong năm giác quan, khi được kết hợp với manas, sẽ phát triển trong chủ thể một khái niệm bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai.

171. This is a concept of great importance. If manas is not coupled with the senses, the senses may be active but no concept of the past, present and future will exist.

171. Đây là một khái niệm có tầm quan trọng lớn. Nếu manas không được kết hợp với các giác quan, các giác quan có thể hoạt động nhưng sẽ không có khái niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai.

172. The animal (for instance, a developed mammal) has the five senses active and yet, no sense of past, present or future, because the manas is not activated. There has been no arrangement or categorization of sensory impression into three types.

172. Con vật (chẳng hạn, một loài thú có vú phát triển) có năm giác quan hoạt động, vậy mà không có ý thức về quá khứ, hiện tại hay tương lai, vì manas chưa được kích hoạt. Chưa có sự sắp xếp hay phân loại các ấn tượng giác quan thành ba loại.

Therefore when a man is very highly evolved, has transcended time (as known in the three worlds),

Vì vậy khi một người đã tiến hoá rất cao, đã vượt qua thời gian (như được biết trong ba cõi giới),

173. We note the care with which this phrase is worded. Time as it is known in the three worlds may be transcended by the highly evolved human being. This is not to say that time, in any absolute sense, is transcended, for there is also time as it is experienced on planes far higher than those of the three worlds.

173. Chúng ta lưu ý sự cẩn trọng trong cách diễn đạt cụm từ này. Thời gian như được biết trong ba cõi giới có thể được vượt qua bởi con người tiến hoá cao. Điều này không có nghĩa là thời gian, theo bất kỳ ý nghĩa tuyệt đối nào, đã được vượt qua, vì cũng có thời gian như được trải nghiệm trên những cõi cao hơn rất nhiều so với ba cõi giới.

and can therefore look at the three lower planes from the standpoint of the Eternal Now, he has superseded the senses by full active consciousness.

và do đó có thể nhìn ba cõi thấp từ lập trường của Hiện Tại Vĩnh Cửu, y đã vượt lên trên các giác quan nhờ tâm thức hoàn toàn hoạt động.

174. The transcending of time as it is related to the three worlds is related to the transcending of the relationship between manas and the senses. When faculties other (and higher) than manas are related to the senses, the limiting sense of past, present and future will not hold the consciousness in bondage.

174. Việc vượt qua thời gian như liên hệ với ba cõi giới có liên hệ với việc vượt qua mối quan hệ giữa manas và các giác quan. Khi những năng lực khác (và cao hơn) ngoài manas được liên hệ với các giác quan, thì cảm thức giới hạn về quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ không còn trói buộc tâm thức.

175. How may we supersede the senses? The answer comes: “By full active consciousness”. There is a kind of ‘wholeness in consciousness’ which embraces past, present and future simultaneously. This wholeness is not limited by the sense of unalterable sequence. It can reach far ‘forwards’ or ‘backwards’ simultaneously and yet perceive the present fully in the moment.

175. Làm thế nào chúng ta có thể vượt lên trên các giác quan? Câu trả lời đến: “Bằng tâm thức hoàn toàn hoạt động”. Có một loại “tính toàn vẹn trong tâm thức” bao trùm đồng thời quá khứ, hiện tại và tương lai. Tính toàn vẹn này không bị giới hạn bởi cảm thức về chuỗi trình tự bất biến. Nó có thể vươn xa “về phía trước” hay “về phía sau” đồng thời, mà vẫn tri nhận trọn vẹn hiện tại ngay trong khoảnh khắc.

176. The corollary to the implications from this section is also to be examined: if one is under the spell of the senses, one has not yet achieved full active consciousness.

176. Hệ quả kéo theo từ phần này cũng cần được khảo sát: nếu một người còn bị mê lực của các giác quan chi phối, thì người ấy chưa đạt được tâm thức hoàn toàn hoạt động.

177. In the perception of the Eternal Now, that which is beyond any possibility of change must be constantly registered even ‘while’ that which changes always is ‘also’ registered.

177. Trong tri nhận về Hiện Tại Vĩnh Cửu, điều vượt ngoài mọi khả năng thay đổi phải luôn được ghi nhận, ngay cả “khi” điều luôn thay đổi cũng “đồng thời” được ghi nhận.

178. Astrologically considered we are speaking of the transition from Saturn (time, space, sense, sequence) to Uranus (simultaneity, essence, fusion, synthesis).

178. Xét theo chiêm tinh học, chúng ta đang nói về sự chuyển tiếp từ Sao Thổ (thời gian, không gian, giác quan, trình tự) sang Sao Thiên Vương (tính đồng thời, bản chất, sự dung hợp, sự tổng hợp).

179. VSK remarks: “So the superseding of time is equivalent to the superseding of senses. Interesting in relation to the definition of the Plan given as the “transcending of time”, and in relation to the foregoing discussion of the kundalini and the burning away of webs in the three lower worlds, thus synthesizing these worlds ‘from the standpoint of the Eternal Now’. This is fun.

179. VSK nhận xét: “Vì vậy, việc vượt lên trên thời gian tương đương với việc vượt lên trên các giác quan. Thú vị khi liên hệ với định nghĩa về Thiên Cơ được nêu như là ‘vượt qua thời gian’, và liên hệ với phần thảo luận trước đó về kundalini và việc thiêu rụi các mạng lưới trong ba cõi thấp, qua đó tổng hợp các cõi này ‘từ lập trường của Hiện Tại Vĩnh Cửu’. Điều này thật vui.

He knows, and needs not the senses to guide him any longer to knowledge.

Y biết, và không còn cần các giác quan dẫn dắt y đến tri thức nữa.

180. From the astrological perspective, Mercury and the Sun have become one. The Path to Knowledge is the antahkarana which ends, eventually, in the fullness of the Sun (which represents the fullness of knowledge and realization).

180. Từ quan điểm chiêm tinh học, Sao Thủy và Mặt Trời đã trở thành một. Con đường đến Tri Thức là antahkarana, rốt cuộc kết thúc trong sự viên mãn của Mặt Trời (vốn biểu thị sự viên mãn của tri thức và chứng nghiệm).

181. The senses are mediators and give mediated knowledge. There is such a thing as “direct knowledge” (in the words of Master Morya). Direct knowledge is ever fuller and more satisfying that mediated knowledge, which is ever conditioned by the medium through which the knowledge must, as it were, pass.

181. Các giác quan là những trung gian và đem lại tri thức gián tiếp. Có một điều gọi là “tri thức trực tiếp” (theo lời Chân sư Morya). Tri thức trực tiếp ngày càng đầy đủ và thoả đáng hơn tri thức gián tiếp, vốn luôn bị điều kiện hoá bởi môi trường mà qua đó tri thức phải, như thể, đi qua.

182. Direct knowledge arises through identification, which suggests the ability to become (or realize one’s identicality with) the object of knowledge.

182. Tri thức trực tiếp phát sinh qua sự đồng hoá với, điều gợi ý khả năng trở thành (hoặc chứng nghiệm sự đồng nhất của mình với) đối tượng của tri thức.

But in time, and in the three worlds, each sense on each plane is employed to convey to the Thinker some aspect of the not-self, and by the aid [194] of mind, the Thinker can then adjust his relationship thereto.

Nhưng trong thời gian, và trong ba cõi giới, mỗi giác quan trên mỗi cõi được dùng để truyền đạt cho Thức giả một phương diện nào đó của phi-ngã, và nhờ sự trợ giúp [194] của thể trí, Thức giả có thể điều chỉnh mối quan hệ của y đối với điều ấy.

183. The right use of the senses is an unavoidable prelude to identificatory realization. We must accept mediated knowledge before we can be impressed with direct essence.

183. Việc sử dụng đúng các giác quan là một khúc dạo đầu không thể tránh khỏi cho sự chứng nghiệm đồng hoá. Chúng ta phải chấp nhận tri thức gián tiếp trước khi có thể được ấn tượng bởi bản chất trực tiếp.

184. The senses reveal what is “out there” (including what seems to be “in there”) but is really “out there”—though in a more subtle manner.

184. Các giác quan bộc lộ điều “ở ngoài kia” (kể cả điều dường như trong kia”) nhưng thật ra là “ở ngoài kia”—dù theo một cách tinh tế hơn.

185. Through the revelation of the nature of the not-Self, the Thinker can properly adjust to that not-Self. The clearer the testimony of the senses, the more probability of an intelligent adjustment.

185. Qua sự bộc lộ bản chất của phi-ngã, Thức giả có thể điều chỉnh đúng đắn đối với phi-ngã ấy. Lời chứng của các giác quan càng rõ ràng, thì khả năng điều chỉnh một cách thông minh càng cao.

186. VSK remarks: “Always ‘neti neti’ … seems like the Thinker would ‘get it ‘after a while that the only adjustment to make is to ‘no relationship’, as any relationship, per se, must be with the not-Self.

186. VSK nhận xét: “Luôn luôn ‘neti neti’ … dường như Thức giả sẽ ‘hiểu ra’ ‘sau một thời gian’ rằng sự điều chỉnh duy nhất cần làm là ‘không có mối quan hệ’, vì bất kỳ mối quan hệ nào, xét chính nó, đều phải là với phi-ngã.

187. Now begins a more important tabulation of that which is conveyed to the Thinker by each of the senses. These short indications elucidate the meaning of the senses in unexpected ways.

187. Giờ đây bắt đầu một bảng liệt kê quan trọng hơn về những gì được truyền đạt cho Thức giả bởi từng giác quan. Những chỉ dẫn ngắn này làm sáng tỏ ý nghĩa của các giác quan theo những cách bất ngờ.

Hearing gives him an idea of relative direction, and enables a man to fix his place in the scheme and to locate himself.

Thính giác đem lại cho y một ý niệm về phương hướng tương đối, và giúp một người xác định vị trí của mình trong hệ thống và định vị chính mình.

188. We see how very closely the sense of hearing is related to the establishment and maintenance of the illusion of time and space (and thus, of the illusion of separation).

188. Chúng ta thấy giác quan thính giác liên hệ rất chặt chẽ với việc thiết lập và duy trì ảo tưởng về thời gian và không gian (và do đó, ảo tưởng về sự phân ly).

189. Hearing conveys the impression not only of direction and location but of distance. It defines the time-space sphere or “Cube of Space”.

189. Thính giác truyền đạt ấn tượng không chỉ về phương hướng và vị trí mà còn về khoảng cách. Nó xác định phạm vi thời-không hay “Khối Lập Phương của Không Gian”.

190. Saturn (the planet of hearing) might also be called the ‘planet of location’, for it convinces the consciousness that its apparatus can only be in one place at one time—if ‘here’, then not ‘there’; if ‘there’, then not ‘here’. Location means fixity of position and Saturn is one of the major planets of fixation. Vulcan may be another and Mars cannot be left out of the consideration.

190. Sao Thổ (hành tinh của thính giác) cũng có thể được gọi là ‘hành tinh của định vị’, vì nó thuyết phục tâm thức rằng bộ máy của nó chỉ có thể ở một nơi vào một thời điểm—nếu ‘ở đây’ thì không ‘ở kia’; nếu ‘ở kia’ thì không ‘ở đây’. Định vị có nghĩa là cố định vị trí, và Sao Thổ là một trong những hành tinh chủ yếu của sự cố định. Vulcan có thể là một hành tinh khác, và Sao Hỏa cũng không thể bị loại khỏi sự xem xét.

191. The sign ruling the ears and hearing, Taurus, ruled initially by fifth ray Venus, contributes to the sense of ‘here and not there’, and Vulcan, the esoteric ruler of Taurus anchors the consciousness in one location by means of a body apparently ‘attached’ to the Earth. For all its higher potentials, Vulcan has a materialistic effect upon the consciousness in the early stages of development.

191. Dấu hiệu chi phối tai và thính giác là Kim Ngưu, ban đầu do Sao Kim cung năm cai quản, góp phần tạo nên cảm thức ‘ở đây chứ không ở kia’, và Vulcan, chủ tinh nội môn của Kim Ngưu, neo tâm thức vào một vị trí bằng phương tiện của một thể dường như ‘gắn’ với Trái Đất. Dù có những tiềm năng cao hơn, Vulcan vẫn tạo ra một tác động duy vật lên tâm thức trong các giai đoạn phát triển ban đầu.

192. The wording in DK’s sentence tells us that we should study the Law of Fixation in relation to the sense of hearing.

192. Cách diễn đạt trong câu của Chân sư DK cho chúng ta biết rằng chúng ta nên nghiên cứu Định luật Cố Định liên quan đến giác quan thính giác.

Touch gives him an idea of relative quantity and enables him to fix his relative value as regards other bodies, extraneous to himself.

Xúc chạm đem lại cho y một ý niệm về lượng tương đối và giúp y xác định giá trị tương đối của mình đối với các thể khác, ở bên ngoài y.

193. If hearing conveys the idea of location and direction, the idea of “relative quantity” is conferred by the sense of touch. What is ‘big’ and what is ‘small’ are realized. Sight (when large distances are involved) can be misleading in this regard.

193. Nếu thính giác truyền đạt ý niệm về vị trí và phương hướng, thì ý niệm về “lượng tương đối” được ban cho bởi giác quan xúc chạm. Điều gì là ‘lớn’ và điều gì là ‘nhỏ’ được nhận ra. Thị giác (khi liên quan đến những khoảng cách lớn) có thể gây sai lạc trong điểm này.

194. The word “value” is interesting, relating to both Venus and Taurus (both influences inclining towards tactility—yet towards a keen sense of the visual as well). “Value” suggests worth—comparisons between coarse and fine, uncomfortable and comfortable, and many of the pairs of opposites.

194. Từ “giá trị” thật thú vị, liên hệ với cả Sao Kim và Kim Ngưu (cả hai ảnh hưởng đều nghiêng về tính xúc giác—nhưng cũng hướng đến một cảm quan thị giác sắc bén). “Giá trị” gợi ý sự đáng giá—những so sánh giữa thô và tinh, khó chịu và dễ chịu, cùng nhiều cặp đối cực.

195. The word “value” in this context may also mean “condition” or “state”.

195. Từ “giá trị” trong ngữ cảnh này cũng có thể có nghĩa là “điều kiện” hay “trạng thái”.

196. We can see that the factor of comparison is implicit in any consideration of the senses.

196. Chúng ta có thể thấy rằng yếu tố so sánh hàm ẩn trong bất kỳ sự xem xét nào về các giác quan.

Sight gives him an idea of proportion, and enables him to adjust his movements to the movements of others.

Thị giác đem lại cho y một ý niệm về tỉ lệ, và giúp y điều chỉnh các chuyển động của y theo các chuyển động của người khác.

197. The idea of proportion is implicit in the visual field. One ‘sees’ the great and small and is able to compare them instantly. The visual field is filled with things of many sizes, though when great distances are involved, size as it appears within the visual field can be most misleading. Are stars, appearing small, really small in comparison with all other elements in the visual field? Are the Sun and the moon really the same size, as the eye suggests they are? Clearly the mind must enter to make important adjustments. Such items as immense distant objects cannot be heard (except through electronic assistance), touched, tasted or smelled, and thus the other four senses cannot correct optical illusions. The mind, however, can.

197. Ý niệm về tỉ lệ hàm ẩn trong trường thị giác. Người ta ‘thấy’ cái lớn và cái nhỏ và có thể so sánh chúng tức thì. Trường thị giác đầy những vật có nhiều kích cỡ, dù khi liên quan đến những khoảng cách lớn, kích cỡ như xuất hiện trong trường thị giác có thể gây sai lạc rất lớn. Các vì sao, trông nhỏ, có thật sự nhỏ so với mọi yếu tố khác trong trường thị giác không? Mặt Trời và Mặt Trăng có thật sự cùng kích cỡ như mắt gợi ý không? Rõ ràng thể trí phải tham dự để thực hiện những điều chỉnh quan trọng. Những vật thể xa xôi khổng lồ như vậy không thể nghe được (trừ khi có trợ giúp điện tử), không thể chạm, nếm hay ngửi, và vì thế bốn giác quan còn lại không thể sửa chữa các ảo giác thị giác. Tuy nhiên, thể trí có thể.

198. Much might be learned by a contemplation of the words “optical illusions”.

198. Có thể học được nhiều điều qua việc chiêm ngưỡng các từ “ảo giác thị giác”.

199. As for proportion, we can relate the sense of sight closely to the sign Libra, ruling as it does the ajna center and relating to both the right and left eyes (as well as to the central eye). Venus, an important planet of sight, is the first ruler of Libra.

199. Về tỉ lệ, chúng ta có thể liên hệ giác quan thị giác chặt chẽ với dấu hiệu Thiên Bình, vì nó cai quản luân xa ajna và liên hệ với cả mắt phải và mắt trái (cũng như mắt trung tâm). Sao Kim, một hành tinh quan trọng của thị giác, là chủ tinh thứ nhất của Thiên Bình.

200. A correct sense of proportion is the antidote to glamor, and so we can see how the emergence of the sense of sight (and of the mind more prominently) enabled man to escape from the emotional glamor characteristic of the era when the sense of touch (physical and, especially, astral) reigned supreme (the Atlantean phase of consciousness).

200. Một ý thức đúng đắn về tỉ lệ là liều giải cho ảo cảm, và vì thế chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của giác quan thị giác (và của thể trí nổi bật hơn) đã giúp con người thoát khỏi ảo cảm cảm xúc đặc trưng của thời kỳ khi giác quan xúc chạm (hồng trần và, đặc biệt, cảm dục) ngự trị tối cao (giai đoạn tâm thức Atlantis).

201. We can also see the social function of the sense of sight, for when the movements of people can be reasonably adjusted to each other, social living is possible. Exaggerated movements (all out of proportion—again suggesting the importance of the comparative Libran influence) indicate a lack of cohesion with the norms of society.

201. Chúng ta cũng có thể thấy chức năng xã hội của giác quan thị giác, vì khi các chuyển động của con người có thể được điều chỉnh hợp lý theo nhau, đời sống xã hội trở nên khả hữu. Những chuyển động phóng đại (hoàn toàn mất tỉ lệ—lại gợi ý tầm quan trọng của ảnh hưởng Thiên Bình mang tính so sánh) cho thấy sự thiếu gắn kết với các chuẩn mực của xã hội.

202. A young child spends a long time observing and imitating, to learn how to ‘act’ or move in relation to those around him who are also acting and moving. We might say that the sense of sight keeps movement “within due bounds”.

202. Một đứa trẻ nhỏ dành rất nhiều thời gian quan sát và bắt chước, để học cách ‘hành xử’ hay chuyển động liên quan đến những người xung quanh, những người cũng đang hành xử và chuyển động. Chúng ta có thể nói rằng giác quan thị giác giữ cho chuyển động “trong giới hạn thích đáng”.

203. The sense of sight is also related to the Law of Attraction and Repulsion, for, on the basis of what we see, we are both attracted and repelled. This might be said of all the senses to a degree, but the amount of information coming through the eye far exceeds that arising through the use of the other senses.

203. Giác quan thị giác cũng liên hệ với Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, vì dựa trên điều chúng ta thấy, chúng ta vừa bị hấp dẫn vừa bị đẩy lùi. Điều này có thể nói về mọi giác quan ở một mức độ nào đó, nhưng lượng thông tin đi qua mắt vượt xa lượng phát sinh qua việc sử dụng các giác quan khác.

Taste gives him an idea of value, and enables him to fix upon that which to him appears best.

Vị giác đem lại cho y một ý niệm về giá trị, và giúp y xác định điều mà đối với y dường như là tốt nhất.

204. Again we have the word “value” used, as in describing the sense of touch. Indeed, taste is based primarily upon touch.

204. Lại một lần nữa chúng ta có từ “giá trị” được dùng, như khi mô tả giác quan xúc chạm. Thật vậy, vị giác chủ yếu dựa trên xúc chạm.

205. Taste reveals to the ‘taster’ his similarly or dissimilarity to (harmony or inharmony with) that which is tasted. It reveals whether that which is tasted (or to be tasted or was tasted) is assimilable by the taster, whether it can be incorporated into his system.

205. Vị giác bộc lộ cho ‘người nếm’ sự tương đồng hay bất đồng của y với (sự hoà hợp hay bất hoà với) điều được nếm. Nó bộc lộ liệu điều được nếm (hoặc sẽ được nếm hay đã được nếm) có thể được đồng hoá bởi người nếm hay không, liệu nó có thể được đưa vào hệ thống của y hay không.

206. That which is of value is desired by the assimilating entity. The better the assimilation of valuable inputs or ‘imports’, the better the condition and growth of the entity—i.e., the more rapid the trajectory of fulfillment.

206. Điều có giá trị được thực thể đồng hoá khao muốn. Sự đồng hoá càng tốt các đầu vào có giá trị hay các ‘nhập khẩu’, thì điều kiện và sự tăng trưởng của thực thể càng tốt—tức là quỹ đạo hoàn thành càng nhanh.

207. We note again that the term “fix” is used as was the case in the description of touch. This is another confirmation that touch and taste are related.

207. Chúng ta lại lưu ý rằng thuật ngữ “xác định” được dùng như đã thấy trong mô tả về xúc chạm. Đây là một xác nhận nữa rằng xúc chạm và vị giác có liên hệ.

208. After much life experience one may become ‘set in his tastes’, and seek to incorporate only that which he has definitely decided is of value.

208. Sau nhiều kinh nghiệm sống, người ta có thể trở nên ‘cố định trong khẩu vị’, và tìm cách chỉ đưa vào những gì y đã nhất định quyết định là có giá trị.

209. The sense of taste is related to the general improvement of quality—whether of the environment (external) or of the individual (internal). We might say that this sense is related to the refinement of the desire body.

209. Giác quan vị giác liên hệ với sự cải thiện chung về phẩm tính—dù của môi trường (bên ngoài) hay của cá nhân (bên trong). Chúng ta có thể nói rằng giác quan này liên hệ với sự tinh luyện của thể dục vọng.

Smell gives him an idea of innate quality, and enables him to find that which appeals to him as of the same quality or essence as himself.

Khứu giác đem lại cho y một ý niệm về phẩm tính bẩm sinh, và giúp y tìm ra điều hấp dẫn y như có cùng phẩm tính hay bản chất với chính y.

210. The sense of smell is at once the most internal and external sense. It is closely related to the animal brain and very active in the animal kingdom.

210. Giác quan khứu giác đồng thời là giác quan nội tại nhất và ngoại tại nhất. Nó liên hệ chặt chẽ với bộ não động vật và rất hoạt động trong giới động vật.

211. It is also a highly metaphysical sense bringing the one who senses through smell in touch with essence.

211. Nó cũng là một giác quan mang tính siêu hình cao, đưa người cảm nhận bằng khứu giác tiếp xúc với bản chất.

212. The senses of hearing, touch and sight are relatively external compared to the last two senses, which allow the one who senses to achieve an increasing intimacy with his object of sensation.

212. Các giác quan thính giác, xúc chạm và thị giác tương đối ngoại tại so với hai giác quan cuối, vốn cho phép người cảm nhận đạt đến mức thân mật ngày càng tăng với đối tượng cảm thọ của mình.

213. The sense of smell as here described achieves even a greater intimacy with the sensed object than does the sense of taste. One penetrates far beneath the surface of the object to that which is innate and of the essence.

213. Giác quan khứu giác như được mô tả ở đây đạt đến mức thân mật còn lớn hơn với đối tượng được cảm nhận so với giác quan vị giác. Người ta xuyên thấu sâu dưới bề mặt của đối tượng đến điều bẩm sinh và thuộc về bản chất.

214. We can see that the sense of smell (which leads the sensing one ‘home’) is the method of finding similarity of essence and thus lead to the sense of identification and synthesis.

214. Chúng ta có thể thấy rằng giác quan khứu giác (dẫn người cảm nhận ‘về nhà’) là phương pháp tìm ra sự tương đồng về bản chất và do đó dẫn đến ý thức đồng hoá và tổng hợp.

215. If smell leads ‘homewards’, the extensions of this sense will help the sensing one rediscover the Monad, which is the true home (and related closely to some of the higher correspondences of the physical sense of smell—for instance Idealism and All-Knowledge).

215. Nếu khứu giác dẫn ‘về hướng nhà’, thì những sự mở rộng của giác quan này sẽ giúp người cảm nhận tái khám phá Chân Thần, vốn là mái nhà đích thực (và liên hệ chặt chẽ với một số tương ứng cao hơn của giác quan khứu giác hồng trần—chẳng hạn Chủ Nghĩa Lý Tưởng và Toàn Tri).

216. It would seem that the sense of smell is as closely related to monadic life as to atmic life. Both areas of vibration relate to the presence of Will and Spirit—factors which are unitary and identical as the essence of all beings.

216. Dường như giác quan khứu giác liên hệ chặt chẽ với sự sống chân thần cũng như với sự sống atma. Cả hai lĩnh vực rung động đều liên hệ với sự hiện diện của Ý Chí và tinh thần—những yếu tố mang tính nhất thể và đồng nhất như bản chất của mọi hữu thể.

217. The sense of smell is again a great directional sense. One learns to “follow the scent home”, staying on the beam and ignoring many distractions. There is a certain linear quality to the whole process.

217. Giác quan khứu giác lại là một giác quan định hướng lớn. Người ta học cách “lần theo mùi hương về nhà”, giữ đúng tia và bỏ qua nhiều xao lãng. Có một phẩm tính tuyến tính nhất định trong toàn bộ tiến trình.

In all these definitions it is necessary to bear in mind that the whole object of the senses is to reveal the not-self, and to enable the Self therefore to differentiate between the real and the unreal.82

Trong tất cả các định nghĩa này, cần ghi nhớ rằng toàn bộ mục tiêu của các giác quan là bộc lộ phi-ngã, và do đó giúp Ngã phân biệt giữa cái thật và cái không thật.82

218. The major function of the senses is given—to reveal the not-Self. It would seem that the sense are capable of an amazing degree of refinement and would be active on all planes (even those far above any plane thus far indicated as existent), for any thing that can be revealed (other than Oneself) is definitely of the not-Self (experientially at least). (Ultimately, and metaphysically, all things are the SELF.)

218. Chức năng chủ yếu của các giác quan được nêu ra—bộc lộ phi-ngã. Dường như các giác quan có khả năng tinh luyện đến một mức độ đáng kinh ngạc và sẽ hoạt động trên mọi cõi (kể cả những cõi cao hơn rất xa bất kỳ cõi nào cho đến nay được chỉ ra là hiện hữu), vì bất kỳ vật nào có thể được bộc lộ (ngoài Bản thân mình) chắc chắn thuộc về phi-ngã (ít nhất theo kinh nghiệm). (Rốt cuộc, và theo siêu hình học, mọi sự đều là NGÃ.)

219. Notice the Tibetans use of the word “object” in “object of the senses”. This is a play on words which causes one to ponder.

219. Hãy lưu ý cách Chân sư Tây Tạng dùng từ “mục tiêu” trong “mục tiêu của các giác quan”. Đây là một lối chơi chữ khiến người ta phải suy ngẫm.

220. From a deeper perspective there is naught but the SELF and, so, any revelation of the not-Self, no matter how seemingly distinct from self and objective, is nonetheless, the SELF.

220. Từ một quan điểm sâu hơn, không có gì ngoài NGÃ và, vì vậy, bất kỳ sự bộc lộ nào của phi-ngã, dù có vẻ khác biệt với ngã và khách quan đến đâu, vẫn là NGÃ.

221. Leaving the Philosophy of Ultimates aside, we can see that the progressive use of ever-more refined senses leads to a more convinced realization of Selfhood. The Self is real, the not-Self unreal, and the senses are one of the chief means of telling the difference between them.

221. Tạm gác Triết Học về Tối Hậu sang một bên, chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng tiến bộ các giác quan ngày càng tinh luyện dẫn đến một sự chứng nghiệm ngày càng xác tín về tính Ngã. Ngã là thật, phi-ngã là không thật, và các giác quan là một trong những phương tiện chủ yếu để phân biệt giữa chúng.

Footnote 82:

Chú thích 82:

82 Sensations aroused by sense objects are experienced by means of the outer instruments of the Lord of the Body or senses (Indriya) which are the pathways through which the Jiva receives worldly experience.

82 Các cảm giác do các đối tượng giác quan khơi dậy được trải nghiệm bằng các công cụ bên ngoài của Chúa Tể của Thể hay các giác quan (Indriya), là những con đường qua đó Jiva tiếp nhận kinh nghiệm thế gian.

222. The senses are called “Indriya”. They are outer instruments of the Lord of the Body. The Jiva is the Lord of the Body.

222. Các giác quan được gọi là “Indriya”. Chúng là các công cụ bên ngoài của Chúa Tể của Thể. Jiva là Chúa Tể của Thể.

223. The senses are the means of “worldly” and ‘otherworldly’ experience.

223. Các giác quan là phương tiện của kinh nghiệm “thế gian” và ‘phi thế gian’.

These are ten in number, and are of two classes:

Chúng có mười loại, và thuộc hai nhóm:

a. The five organs of sensation Jnanendriya

a. Năm cơ quan cảm giác Jnanendriya

1. The Ear Hearing.

1. Tai Thính giác.

2. Skin Feeling by touch.

2. Da Cảm nhận bằng xúc chạm.

3. Eye Sight.

3. Mắt Thị giác.

4. Tongue Taste.

4. Lưỡi Vị giác.

5. Nose Smell.

5. Mũi Khứu giác.

b. The five organs of action Karmendriya

b. Năm cơ quan hành động Karmendriya

1. Mouth Speaking.

1. Miệng Nói.

2. Hands Grasping.

2. Tay Nắm bắt.

3. Legs Walking.

3. Chân Đi.

4. Anus Excretion.

4. Hậu môn Bài tiết.

5. Genitals Procreation.

5. Cơ quan sinh dục Sinh sản.

224. The description of the ten Indriya is straight-forward. It is interesting that the hands are seen as the instruments of grasping (a rather first ray activity) rather than as instruments of creativity or of manipulation (though the ability to grasp or to hold is assumed in any manual creative, manipulative act).

224. Mô tả về mười Indriya là thẳng thắn. Thật thú vị khi tay được xem là công cụ của sự nắm bắt (một hoạt động khá thuộc cung một) hơn là công cụ của sáng tạo hay thao tác (dù khả năng nắm hay giữ được giả định trong bất kỳ hành động sáng tạo, thao tác bằng tay nào).

The organs of sensation are the reactive response which the Self makes to sensation. The organs of action are those through which effect is given to the Jiva’s desires.

Các cơ quan cảm giác là sự đáp ứng phản ứng mà Ngã tạo ra đối với cảm giác. Các cơ quan hành động là những cơ quan qua đó các dục vọng của Jiva được biểu lộ thành hiệu quả.

225. It might be more accurate to say that “the organs of sensation are the means of the reactive response which the Self makes to vibrational impact”.

225. Có lẽ chính xác hơn khi nói rằng “các cơ quan cảm giác là phương tiện của sự đáp ứng phản ứng mà Ngã tạo ra trước tác động rung động”.

226. The second sentence seems reasonable and accurate. It would seem that the anus and the genitals function at first instinctually and not so much according to conscious desire. Even the mouth, hands and legs seem to have an instinctual life of their own before the Jiva gains a more conscious grip over his instrument.

226. Câu thứ hai có vẻ hợp lý và chính xác. Dường như hậu môn và cơ quan sinh dục ban đầu hoạt động theo bản năng chứ không hẳn theo dục vọng có ý thức. Ngay cả miệng, tay và chân cũng dường như có một đời sống bản năng riêng trước khi Jiva nắm giữ công cụ của y một cách có ý thức hơn.

“The Indriya or sense is not the physical organ, but the faculty of mind operating through that organ as its instrument.

Indriya hay giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là năng lực của thể trí hoạt động qua cơ quan ấy như công cụ của nó.

227. The important point is made that the real sense is not the physical organ. Rather, it is a faculty of mind that responds to impact.

227. Điểm quan trọng được nêu ra rằng giác quan thật sự không phải là cơ quan hồng trần. Đúng hơn, đó là một năng lực của thể trí đáp ứng trước tác động.

The outward sense organs are the usual means whereby on the physical plane the functions of hearing and so forth are accomplished. But, as they are mere instruments and their power is derived from the mind, a Yogi may accomplish by the mind only all that may be done by means of these physical organs without the use of the latter….

Các cơ quan giác quan bên ngoài là phương tiện thường dùng để trên cõi hồng trần các chức năng như nghe v.v. được hoàn thành. Nhưng vì chúng chỉ là những công cụ và quyền năng của chúng bắt nguồn từ thể trí, một Yogi có thể chỉ bằng thể trí mà thực hiện mọi điều có thể làm được nhờ các cơ quan hồng trần này mà không cần dùng đến chính các cơ quan ấy….

228. This may seem an amazing thought to some who have not thought the matter through, but the sensory faculty may be activated independently of the normal organ of sensation.

228. Điều này có thể là một ý nghĩ đáng kinh ngạc đối với một số người chưa suy xét thấu đáo, nhưng năng lực giác quan có thể được kích hoạt độc lập với cơ quan cảm giác thông thường.

“The three functions of attention, selection and synthesising the discreet manifold of the senses, are those belonging to that aspect of the mental body, the internal agent, called Manas. Just as manas is necessary to the senses, the latter are necessary for manas….Manas is thus the leading indriya, of which the senses are powers.”—Serpent Power, by Arthur Avalon.

“Ba chức năng chú ý, chọn lựa và tổng hợp tính đa tạp rời rạc của các giác quan, là những chức năng thuộc về phương diện ấy của thể trí, tác nhân nội tại, được gọi là Manas. Cũng như manas cần thiết cho các giác quan, thì các giác quan cũng cần thiết cho manas….Vì vậy manas là indriya dẫn đầu, mà các giác quan là những quyền năng.”—Serpent Power, của Arthur Avalon.

229. An indriya is a sense. The leading sense or indriya is said to be manas, but in extension, it might be named as buddhi which is a still more synthetic faculty than manas.

229. Một indriya là một giác quan. Giác quan hay indriya dẫn đầu được nói là manas, nhưng xét theo sự mở rộng, có thể gọi đó là Bồ đề, vốn là một năng lực tổng hợp còn cao hơn manas.

230. There is definitely the closest interplay between manas and the senses. It is a relationship which seems to occur in relation to the third and fifth rays.

230. Chắc chắn có sự tương tác mật thiết nhất giữa manas và các giác quan. Đây là một mối quan hệ dường như xảy ra liên quan đến cung ba và cung năm.

231. Without the senses, manas would have nothing to coordinate and correlate. Without manas, the senses could not be organized and the field of consciousness would remain chaotic.

231. Không có các giác quan, manas sẽ không có gì để phối hợp và tương quan. Không có manas, các giác quan không thể được tổ chức và trường tâm thức sẽ vẫn hỗn loạn.

[195]

[195]

In the evolution of the senses, hearing is the first vague something which calls the attention of the apparently blind self.

Trong tiến hoá của các giác quan, thính giác là một cái gì mơ hồ đầu tiên gọi sự chú ý của cái ngã dường như mù lòa.

232. When the Tibetan does not want to define something in terms of yet another word (which also would need defining), He uses the word “something”, or “that”.

232. Khi Chân sư Tây Tạng không muốn định nghĩa một điều gì bằng một từ khác nữa (mà từ ấy cũng sẽ cần được định nghĩa), Ngài dùng từ “một cái gì”, hay “điều đó”.

233. From what is said here, the senses attract the attention of the Jiva, who is initially not consciously related to his new environment. The senses draw the Jiva’s attention outwards.

233. Từ những gì được nói ở đây, các giác quan thu hút sự chú ý của Jiva, người ban đầu chưa có liên hệ có ý thức với môi trường mới của mình. Các giác quan kéo sự chú ý của Jiva ra bên ngoài.

234. We note that the Tibetan describes the self as the “apparently blind self”. Something within the self, of course, is not blind.

234. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng mô tả cái ngã là “cái ngã dường như mù lòa”. Dĩ nhiên, có một điều gì đó bên trong cái ngã không mù lòa.

a. To another vibration.

a. Đến một rung động khác.

b. To something originating outside of itself.

b. Đến một cái gì đó phát sinh từ bên ngoài chính nó.

c. To the concept of externality. When sound is first contacted the consciousness for the first time becomes aware of that which is without.

c. Đến khái niệm về tính bên ngoài. Khi âm thanh lần đầu được tiếp xúc, tâm thức lần đầu tiên trở nên nhận biết về điều ở bên ngoài.

235. How interesting, this relation of the sense of hearing to the “concept of externality”! The concept of the Self and not-Self (which will grow throughout most of the incarnation) thus has its basis in the sense of hearing.

235. Thật thú vị, mối liên hệ của giác quan thính giác với “khái niệm về tính bên ngoài”! Khái niệm về Ngã và phi-ngã (sẽ phát triển trong phần lớn thời gian lâm phàm) vì thế có nền tảng trong giác quan thính giác.

236. One must compare the meaning of the “concept of externality” with the meaning of Saturn and earth signs (such as Capricorn which Saturn rules). Capricorn, the Third Ray Lord and Saturn are closely related to the presentation to consciousness of the illusion of time and space.

236. Người ta phải so sánh ý nghĩa của “khái niệm về tính bên ngoài” với ý nghĩa của Sao Thổ và các dấu hiệu hành thổ (như Ma Kết mà Sao Thổ cai quản). Ma Kết, Đấng Chúa Tể Cung ba và Sao Thổ liên hệ chặt chẽ với việc trình bày cho tâm thức ảo tưởng về thời gian và không gian.

237. The senses are centrifugal rather than centripetal. Mars is the centrifugal planet and the, interestingly, the five senses are ruled by Mars. The senses also relate most specifically to the astral plane over which Mars has a definite (if incomplete) rulership.

237. Các giác quan là ly tâm hơn là hướng tâm. Sao Hỏa là hành tinh ly tâm và, thật thú vị, năm giác quan được Sao Hỏa cai quản. Các giác quan cũng liên hệ đặc biệt nhất với cõi cảm dục mà trên đó Sao Hỏa có một sự cai quản nhất định (dù chưa trọn vẹn).

“Thirdly, Mars governs the senses which are five in number. These senses are the basis of all human knowledge where that which is tangible and objective is concerned or inferred. Mars, therefore, rules science and hence the reason in this present era for the fundamental but not permanent [216] materiality of science—a materiality which is rapidly lessening as Mars nears the end of its present cycle of influence.” (EA 215-216)

“Thứ ba, Sao Hỏa cai quản các giác quan vốn có năm loại. Các giác quan này là nền tảng của mọi tri thức nhân loại khi điều hữu hình và khách quan được liên quan hay được suy ra. Vì vậy, Sao Hỏa cai quản khoa học và do đó, trong kỷ nguyên hiện nay, là lý do của tính duy vật căn bản nhưng không thường hằng [216] của khoa học—một tính duy vật đang nhanh chóng suy giảm khi Sao Hỏa tiến gần đến cuối chu kỳ ảnh hưởng hiện tại của nó.” (EA 215-216)

But all that is grasped by the dormant consciousness (by means of this one sense of hearing) is the fact of something extraneous to itself, and of the direction in which that something lies.

Nhưng tất cả những gì được tâm thức ngủ yên nắm bắt (bằng phương tiện của một giác quan thính giác này) chỉ là sự kiện rằng có một cái gì đó ở bên ngoài chính nó, và phương hướng nơi cái gì đó ấy hiện hữu.

238. The Tibetan is unfolding the story of the development of the senses in a more narrative form.

238. Chân sư Tây Tạng đang triển khai câu chuyện về sự phát triển của các giác quan theo một hình thức tường thuật hơn.

239. The sense of hearing (at first) is quite rudimentary. It identifies externality and the direction (within the sphere of consciousness) in which that which is sensed as external may be found.

239. Giác quan thính giác (lúc đầu) khá thô sơ. Nó nhận diện tính bên ngoài và phương hướng (trong phạm vi tâm thức) nơi điều được cảm nhận là bên ngoài có thể được tìm thấy.

This apprehension, in course of time, calls into being another sense, that of touch.

Sự nhận biết này, theo thời gian, gọi vào hiện hữu một giác quan khác, đó là xúc chạm.

240. We notice how the exercise of one sense calls a succeeding one into activity.

240. Chúng ta nhận thấy việc vận dụng một giác quan gọi giác quan kế tiếp đi vào hoạt động.

The Law of Attraction works, the consciousness moves slowly outwards towards that which is heard; and when contact is made with the not-self it is called touch.

Định luật Hấp Dẫn vận hành, tâm thức từ từ chuyển ra bên ngoài hướng về điều được nghe; và khi tiếp xúc được tạo lập với phi-ngã thì điều đó được gọi là xúc chạm.

241. While through the medium of sound transmission a kind of ‘touch’ occurs, the sense of hearing precedes that which is really and fully touched.

241. Dù qua môi trường truyền âm có xảy ra một loại ‘xúc chạm’, giác quan thính giác vẫn đi trước điều thực sự và trọn vẹn được chạm đến.

242. Here we have an excellent definition of touch: “when contact is made with the not-Self it is called touch.” This means that direct contact between the self and the not-Self is made (physically) through the skin, or if the sense of touch is related to a higher dimension and higher vehicle, then direct contact is made through the organ of touch utilized in relation to that dimension and to any ‘object/state/energy pattern, etc.’ being ‘touched’ within that dimension. The type of contact characteristic of touch is far more intimate, far closer, than the type of contact existing in relation to the sense of hearing.

242. Ở đây chúng ta có một định nghĩa tuyệt vời về xúc chạm: “khi tiếp xúc được tạo lập với phi-ngã thì điều đó được gọi là xúc chạm.” Điều này có nghĩa là sự tiếp xúc trực tiếp giữa ngã và phi-ngã được tạo lập (về mặt hồng trần) qua da, hoặc nếu giác quan xúc chạm liên hệ với một chiều kích cao hơn và một vận cụ cao hơn, thì sự tiếp xúc trực tiếp được tạo lập qua cơ quan xúc chạm được sử dụng liên quan đến chiều kích ấy và đến bất kỳ ‘đối tượng/trạng thái/mô thức năng lượng, v.v.’ nào đang được ‘chạm’ trong chiều kích ấy. Loại tiếp xúc đặc trưng của xúc chạm thân mật hơn rất nhiều, gần gũi hơn loại tiếp xúc hiện hữu liên quan đến giác quan thính giác.

This touch conveys other ideas to the groping consciousness, ideas of size, of external texture, and of surface differences; the concept of the Thinker is thus slowly enlarged.

Sự xúc chạm này truyền đạt những ý niệm khác cho tâm thức đang dò dẫm, các ý niệm về kích thước, về kết cấu bên ngoài, và về những khác biệt bề mặt; khái niệm của Thức giả vì thế dần dần được mở rộng.

243. We note that the Tibetan, in describing the nature of the senses, is using words like “idea” and “concept”. It becomes clear that the senses can be called ‘media of information’ or ‘media of education’.

243. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng, khi mô tả bản chất của các giác quan, đang dùng những từ như “ý niệm” và “khái niệm”. Trở nên rõ ràng rằng các giác quan có thể được gọi là ‘môi trường thông tin’ hay ‘môi trường giáo dục’.

244. The term “groping consciousness” is very vivid; it conveys to us the idea of how the consciousness tries to cope with the environment when it cannot yet see.

244. Thuật ngữ “tâm thức đang dò dẫm” rất sống động; nó truyền đạt cho chúng ta ý niệm về cách tâm thức cố gắng đối phó với môi trường khi nó chưa thể thấy.

245. For purposes of clarity and impression, let us tabulate the ideas conveyed to the groping consciousness by the sense of touch:

245. Để rõ ràng và gây ấn tượng, chúng ta hãy lập bảng các ý niệm được truyền đạt cho tâm thức đang dò dẫm bởi giác quan xúc chạm:

a. Ideas of size

a. Các ý niệm về kích thước

b. Ideas of external texture

b. Các ý niệm về kết cấu bên ngoài

c. Ideas of surface differences

c. Các ý niệm về những khác biệt bề mặt

246. We can see that the sense of touch is also dealing largely with externalities.

246. Chúng ta có thể thấy rằng giác quan xúc chạm cũng chủ yếu đang xử lý các tính bên ngoài.

He can hear and feel, but as yet knows not enough to correlate nor name. When he succeeds in naming, he has made a big stride forward.

Y có thể nghe và cảm nhận, nhưng cho đến nay chưa biết đủ để tương quan hay gọi tên. Khi y thành công trong việc gọi tên, y đã tiến một bước dài về phía trước.

247. Sound (through hearing) indicates an externality and something about its location and direction, as well as its relative ‘power’ within the environment. For instance, loud sounds are threatening; gentle sounds may be inviting; unusual sounds may call for alertness.

247. Âm thanh (qua thính giác) chỉ ra một tính bên ngoài và một điều gì đó về vị trí và phương hướng của nó, cũng như ‘quyền năng’ tương đối của nó trong môi trường. Chẳng hạn, âm thanh lớn là đe doạ; âm thanh dịu là mời gọi; âm thanh lạ có thể đòi hỏi sự cảnh giác.

248. Feeling tells much about whether the one who feels wishes to ‘remain in touch’ or to withdraw. If the one who touches, touches, for instance, spines or nettles, or excessive heat or cold, there will almost always be withdrawal.

248. Cảm nhận cho biết nhiều về việc người cảm nhận có muốn ‘tiếp tục chạm’ hay rút lui. Nếu người chạm, chẳng hạn, chạm vào gai hay cây tầm ma, hoặc nhiệt quá mức hay lạnh quá mức, hầu như luôn luôn sẽ có sự rút lui.

249. When hearing and touch are the only senses operative, there is not enough known about the object heard or touched, or about the environment, to make correlation possible.

249. Khi thính giác và xúc chạm là hai giác quan duy nhất hoạt động, thì chưa biết đủ về đối tượng được nghe hay được chạm, hoặc về môi trường, để việc tương quan trở nên khả hữu.

250. The act of naming is the act of attaching a sound (or a written form) to a perception. With naming, the power of generalization begins. All impressions from the same object are associated with that object and not considered unrelated to each other. A kind of fixation occurs and the perception of the environment simplifies. Instead of numerous unrelated impressions, it is noticed that a number of the impressions are related because they ‘belong’ to the same something in the field of consciousness. Thus, through fixation comes simplification of the environment and a greater ability to manage it.

250. Hành động gọi tên là hành động gắn một âm thanh (hoặc một dạng chữ viết) với một tri nhận. Với việc gọi tên, quyền năng khái quát hoá bắt đầu. Mọi ấn tượng từ cùng một đối tượng được liên kết với đối tượng ấy và không bị xem là không liên quan với nhau. Một loại cố định xảy ra và tri nhận về môi trường trở nên đơn giản hơn. Thay vì vô số ấn tượng rời rạc, người ta nhận thấy rằng một số ấn tượng có liên hệ vì chúng ‘thuộc về’ cùng một cái gì đó trong trường tâm thức. Như vậy, qua sự cố định mà môi trường được đơn giản hoá và khả năng quản lý nó tăng lên.

251. Before the power to notice sameness and to name appears, the sphere of consciousness is chaotic and unmanageable. Naming begins the process of ordering the sphere of consciousness or the “contents of consciousness”.

251. Trước khi xuất hiện quyền năng nhận ra sự giống nhau và gọi tên, phạm vi tâm thức là hỗn loạn và không thể quản lý. Việc gọi tên khởi đầu tiến trình sắp xếp phạm vi tâm thức hay “nội dung của tâm thức”.

We might note here, therefore, that the earliest cosmic symbols are applicable to the senses as well as elsewhere:

Vì vậy, chúng ta có thể lưu ý ở đây rằng những biểu tượng vũ trụ sớm nhất cũng áp dụng cho các giác quan cũng như ở những lĩnh vực khác:

252. Thus far, we have applied the five cosmic symbols to the etheric body in general and, then, to the development of the chakras. Now they are to be applied to the five senses.

252. Cho đến nay, chúng ta đã áp dụng năm biểu tượng vũ trụ cho thể dĩ thái nói chung và, sau đó, cho sự phát triển của các luân xa. Giờ đây chúng sẽ được áp dụng cho năm giác quan.

The point in the centre—consciousness and the not-self at a stage where sound alone is descriptive.

Điểm ở trung tâm—tâm thức và cái phi-ngã ở một giai đoạn mà chỉ riêng âm thanh mới có tính mô tả.

253. The inference is that the circle without the dot would represent a condition of ‘pre-sensibility’—a condition in which the Jiva or indwelling consciousness is out of sensory contact with its environment.

253. Suy luận là: vòng tròn không có điểm sẽ biểu thị một trạng thái “tiền-cảm-giác”—một trạng thái trong đó Jiva hay tâm thức nội tại không còn tiếp xúc bằng giác quan với môi trường của nó.

254. We may say that the point in the center indicates the arising of the first sense—that of hearing (in relation to sound).

254. Chúng ta có thể nói rằng điểm ở trung tâm chỉ ra sự phát sinh của giác quan đầu tiên—giác quan nghe (liên hệ với âm thanh).

255. The one who hears stands in the center of his environment or circumstances and is receptive to sound impacts from the environmental sphere.

255. Người nghe đứng ở trung tâm của môi trường hay hoàn cảnh của y và tiếp nhận các tác động âm thanh từ khối cầu môi trường.

256. VSK suggests that we recall the diagram in R&I in which the point in the circle represents the AUM becoming the OM and the OM receding simply to a point.

256. VSK gợi ý rằng chúng ta hãy nhớ lại sơ đồ trong R&I, trong đó điểm trong vòng tròn biểu thị AUM trở thành OM và OM thu rút lại đơn giản thành một điểm.

257. The point in the circle in relation to the OM, however, would represent a stage of finality in a process rather than an incipient stage (as in relation to the senses).

257. Tuy nhiên, điểm trong vòng tròn, xét trong liên hệ với OM, sẽ biểu thị một giai đoạn chung cuộc trong một tiến trình hơn là một giai đoạn khởi phát (như khi xét trong liên hệ với các giác quan).

The divided circle—consciousness aware of the not-self, through a dual recognition.

Vòng tròn bị chia—tâm thức nhận biết cái phi-ngã, qua một sự nhận biết nhị nguyên.

258. Though the term “touch” is not utilized in connection with this second symbol, it is implied.

258. Dù thuật ngữ “xúc chạm” không được dùng liên hệ với biểu tượng thứ hai này, nhưng nó được hàm ý.

259. The divided circle suggests the self and the not-Self, not separated, but touching, for each of them as a semi-circle, shares the same diameter.

259. Vòng tròn bị chia gợi ý cái ngã và cái phi-Ngã, không tách rời, mà xúc chạm, vì mỗi bên, như một nửa vòng tròn, cùng chia sẻ một đường kính.

260. Touch is necessarily based upon division, but requires that a divided duality be in close contact.

260. Xúc chạm tất yếu dựa trên sự phân chia, nhưng đòi hỏi một nhị nguyên đã phân chia phải ở trong tiếp xúc gần.

261. The symbol also suggests the duality of our astral-buddhic solar system.

261. Biểu tượng này cũng gợi ý tính nhị nguyên của hệ mặt trời cảm dục–Bồ đề của chúng ta.

[196]

[196]

Sight follows on this, the third sense, and the one definitely marking the correlation of ideas, or the relation between; it parallels the coming of Mind, both in time and function.

Thị giác theo sau điều này, là giác quan thứ ba, và là giác quan đánh dấu rõ rệt sự tương quan của các ý niệm, hay mối liên hệ giữa; nó song hành với sự xuất hiện của thể trí, cả về thời gian lẫn chức năng.

262. Presumably, the sense of sight is symbolized by the cross within the circle.

262. Có lẽ, giác quan thị giác được biểu tượng hóa bằng thập tự bên trong vòng tròn.

263. The arrival of sight and of mind are quite simultaneous occurrences. The planet Venus (a planet intimately related to sight and to its organs, the eyes) is, as well, the planet connected with the implantation of mind in the consciousness of animal man.

263. Sự xuất hiện của thị giác và của thể trí là những biến cố đồng thời. Hành tinh Sao Kim (một hành tinh liên hệ mật thiết với thị giác và các cơ quan của nó, đôi mắt) đồng thời cũng là hành tinh gắn với việc cấy vào thể trí trong tâm thức của người thú.

264. VSK suggests making a correlation between the emergence of this third function, sight, and the characteristics of the animal kingdom. Animals see; plants do not; animals have budding mind, memory and anticipation; plants do not.

264. VSK gợi ý lập một sự tương quan giữa sự xuất hiện của chức năng thứ ba này, thị giác, và các đặc tính của giới động vật. Động vật thấy; thực vật thì không; động vật có thể trí đang nảy mầm, ký ức và sự dự liệu; thực vật thì không.

265. Following on this idea, the mineral kingdom would be connected to sound. The huge sonic effects from explosions during the recent great wars affected the mineral kingdom by rupturing the etheric webs separating the physical plane from the astral (the plane particularly associated with the vegetable kingdom).

265. Theo ý tưởng này, giới kim thạch sẽ được liên hệ với âm thanh. Những tác động âm thanh khổng lồ từ các vụ nổ trong những cuộc đại chiến gần đây đã ảnh hưởng đến giới kim thạch bằng cách làm rách các mạng dĩ thái ngăn cách cõi hồng trần với cõi cảm dục (cõi đặc biệt gắn với giới thực vật).

266. VSK suggests that the separation of the sexes is related to the vegetable kingdom where sex differentiation first appears. Fifth ray Venus rules the vegetable kingdom and the Law of Cleavage (and hence the dividing of the circle).

266. VSK gợi ý rằng sự phân chia giới tính có liên hệ với giới thực vật, nơi sự phân biệt giới tính lần đầu xuất hiện. Sao Kim cung năm cai quản giới thực vật và Định luật Phân Cách (và vì thế là sự chia đôi vòng tròn).

267. The divided circle can be seen as the symbol for the separation of the sexes, but so can the cross, with the horizontal line representing the female and the vertical the male.

267. Vòng tròn bị chia có thể được xem như biểu tượng cho sự phân chia giới tính, nhưng thập tự cũng vậy, với đường ngang biểu thị nữ và đường dọc biểu thị nam.

We have hearing, touch or feeling, and then sight. In connection with the correspondence it is to be noted that sight came in with the third root-race in this round, and that the third race saw also the coming in of Mind.

Chúng ta có thính giác, xúc chạm hay cảm giác, rồi đến thị giác. Liên hệ với sự tương ứng, cần lưu ý rằng thị giác đã xuất hiện cùng với giống dân gốc thứ ba trong cuộc tuần hoàn này, và giống dân thứ ba cũng chứng kiến sự xuất hiện của thể trí.

268. This is an important piece of historical information. Animal man was apparently a groping creature before the advent of sight. Interestingly, however, a great number of animals far lower than man have eyes and can see.

268. Đây là một mẩu thông tin lịch sử quan trọng. Người thú dường như là một sinh vật lần mò trước khi thị giác xuất hiện. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là một số lượng lớn động vật thấp hơn con người rất nhiều lại có mắt và có thể thấy.

269. If sight (with respect to human development) came in the third root-race in this round (the fourth), it was probably at the time of individualization and the (probably subsequent) separation of the sexes.

269. Nếu thị giác (xét theo sự phát triển của con người) xuất hiện trong giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn này (cuộc thứ tư), thì có lẽ đó là vào thời kỳ biệt ngã hóa và sự phân chia giới tính (có lẽ diễn ra sau đó).

The Self and the not-self were immediately correlated, and co-ordinated.

Cái Ngã và cái phi-ngã lập tức được tương quan, và được phối hợp.

270. We are here given one of the great functions of the sense of sight—the correlation of the Self and the not-Self. By the Self we mean the indwelling consciousness or Jiva. We note that the spelling of the word (as that spelling appears in the Teaching) as either “self” or “Self” is not always significant. There are many times when the term “self” has been used when “Self” would have been more appropriate, but was simply not chosen. In the Commentary there is an attempt to be more consistent but the consistency is not exhaustive.

270. Ở đây chúng ta được trao cho một trong những chức năng lớn của giác quan thị giác—sự tương quan giữa Cái Ngã và cái phi-Ngã. Bởi Cái Ngã, chúng ta muốn nói đến tâm thức nội tại hay Jiva. Chúng ta lưu ý rằng cách viết của từ này (như cách viết xuất hiện trong Giáo Huấn) là “self” hay “Self” không phải lúc nào cũng có ý nghĩa quan trọng. Nhiều lần thuật ngữ “self” đã được dùng trong khi “Self” sẽ thích hợp hơn, nhưng đơn giản là đã không được chọn. Trong phần Bình Luận có một nỗ lực nhằm nhất quán hơn, nhưng sự nhất quán ấy không triệt để.

271. The number of registered items/perceptions within the field of consciousness increases dramatically when the sense of sight emerges. There are so many ‘things’ in the environment which simply do not sound, or whose sounds cannot be detected by human ears. What is revealed especially is:

271. Số lượng các mục/tri giác được ghi nhận trong trường tâm thức tăng vọt khi giác quan thị giác xuất hiện. Có rất nhiều “thứ” trong môi trường đơn giản là không phát ra âm thanh, hoặc âm thanh của chúng không thể được tai người phát hiện. Điều được bộc lộ đặc biệt là:

a. Relative position (far more precisely than either the sense of hearing or touch could reveal it)

a. Vị trí tương đối (chính xác hơn rất nhiều so với điều mà thính giác hay xúc chạm có thể bộc lộ)

b. Relative size

b. Kích thước tương đối

c. The relative motions of items within the field of consciousness. Such relative motions are almost impossible to register and apprehend through the sense of hearing and touch only.

c. Các chuyển động tương đối của các mục trong trường tâm thức. Những chuyển động tương đối như vậy hầu như không thể được ghi nhận và nắm bắt chỉ bằng thính giác và xúc chạm.

d. As well, an entirely new qualitative dimension is revealed—the dimension of color which adds great variety within the field of vision.

d. Ngoài ra, một chiều kích phẩm tính hoàn toàn mới được bộc lộ—chiều kích màu sắc, vốn thêm vào sự đa dạng lớn trong trường thị giác.

e. Through sight it becomes possible to identify objects which were the source of various impressions heard and touched. The identification of objects as the sources of various sensations is established. The sense of location in space is greatly clarified.

e. Nhờ thị giác, trở nên có thể nhận diện các đối tượng vốn là nguồn của những ấn tượng khác nhau đã được nghe và chạm. Việc nhận diện các đối tượng như là các nguồn của những cảm giác khác nhau được thiết lập. Cảm thức về vị trí trong không gian được làm sáng tỏ rất nhiều.

f. The fifth and seventh rays are rays which specify location. The sense of hearing is related to the seventh ray and the sense of sight to the fifth.

f. Cung năm và cung bảy là các cung xác định vị trí. Thính giác liên hệ với cung bảy và thị giác liên hệ với cung năm.

Their close partnership became an accomplished fact, and evolution hastened forward with renewed impetus.

Sự cộng tác mật thiết của chúng đã trở thành một sự kiện hoàn tất, và tiến hóa được thúc đẩy tiến lên với xung lực mới.

272. When Self and not-Self were correlated, the incarnated Jiva became far more effective in relation to his environment.

272. Khi Cái Ngã và cái phi-Ngã được tương quan, Jiva đang nhập thể trở nên hiệu lực hơn rất nhiều trong liên hệ với môi trường của y.

These three major senses (if I might so describe them) are very definitely allied, each with one of the three Logoi:

Ba giác quan chính yếu này (nếu tôi có thể mô tả như vậy) rất rõ rệt là có liên minh, mỗi giác quan với một trong ba Thượng đế:

273. We are speaking of both the three intra-systemic Logoi and the Logoi of an extra-systemic variety.

273. Chúng ta đang nói về cả ba Thượng đế nội-hệ và các Thượng đế thuộc loại ngoại-hệ.

274. We note that there are considered to be major and minor senses; hearing, touch and sight are considered major.

274. Chúng ta lưu ý rằng có những giác quan chính và phụ; thính giác, xúc chạm và thị giác được xem là chính.

275. In this respect, we note that in any pentagram, there are three major vertices and two minor (the legs of the pentagram).

275. Về phương diện này, chúng ta lưu ý rằng trong bất kỳ ngôi sao năm cánh nào, có ba đỉnh chính và hai đỉnh phụ (hai “chân” của ngôi sao năm cánh).

Hearing—The recognition of the fourfold word, the activity of matter, the third Logos.

Thính giác—Sự nhận biết Linh từ tứ phân, hoạt động của vật chất, Thượng đế thứ ba.

276. The fourfold “Word” works under the Third Logos.

276. “Linh từ” tứ phân hoạt động dưới Thượng đế thứ ba.

277. Each aspect of this “Word” correlates with one of the four directions, the four Archangels and the four elements.

277. Mỗi phương diện của “Linh từ” này tương quan với một trong bốn phương hướng, bốn Tổng lãnh Thiên thần và bốn nguyên tố.

278. VSK suggests: Within the Secret Doctrine reference, hearing/sound is related to the atmic plane; the Third Logos is related to atma, to Saturn and to the Libran Hierarchy. This atmic focus stands at the head of the five worlds or manifesting pentagon (the Kumaras). There are also references to the Lord of Karma (Libra) holding sway in the fourfold world/word.

278. VSK gợi ý: Trong tham chiếu Giáo Lý Bí Nhiệm, thính giác/âm thanh liên hệ với cõi atma; Thượng đế thứ ba liên hệ với atma, với Sao Thổ và với Thánh đoàn Thiên Bình. Trọng tâm atma này đứng ở đầu của năm cõi hay ngũ giác biểu hiện (các Kumara). Cũng có những tham chiếu về Chúa Tể Nghiệp Quả (Thiên Bình) nắm quyền trong thế giới/Linh từ tứ phân.

Touch—The recognition of the sevenfold Form Builder, the gathering together of forms, their approximation and interrelation, the second Logos. The Law of Attraction between the Self and the not-self begins to work.

Xúc chạm—Sự nhận biết Đấng Kiến Tạo Hình Tướng thất phân, sự quy tụ các hình tướng, sự xích lại gần và sự tương liên của chúng, Thượng đế thứ hai. Định luật Hấp Dẫn giữa Cái Ngã và cái phi-ngã bắt đầu hoạt động.

279. One of the numbers associated with the second ray is the number seven. The number of the second solar system is considered to be seven; five is associated with the first solar system and nine with the third.

279. Một trong những con số gắn với cung hai là số bảy. Con số của hệ mặt trời thứ hai được xem là bảy; năm gắn với hệ mặt trời thứ nhất và chín với hệ mặt trời thứ ba.

280. It would seem that the form builders work not only under the second ray but through the utilization of the sense of touch.

280. Dường như các đấng kiến tạo hình tướng hoạt động không chỉ dưới cung hai mà còn thông qua việc sử dụng giác quan xúc chạm.

281. It is the sense of touch which facilitates:

281. Chính giác quan xúc chạm tạo điều kiện cho:

a. The gathering together of forms

a. Sự quy tụ các hình tướng

b. The approximation of forms to each other

b. Sự xích lại gần của các hình tướng với nhau

c. The interrelation of forms to each other

c. Sự tương liên của các hình tướng với nhau

282. Through the utilization of the sense of touch, the Self is attracted to the not-Self. Through touch begins the entire engagement of the Jiva with created circumstance.

282. Thông qua việc sử dụng giác quan xúc chạm, Cái Ngã bị hấp dẫn về phía cái phi-Ngã. Qua xúc chạm bắt đầu toàn bộ sự can dự của Jiva với hoàn cảnh được tạo ra.

Sight—The recognition of totality, the synthesis of all, the realisation of the One in Many, the first Logos. The Law of Synthesis, operating between all forms which the self occupies, and the recognition of the essential unity of all manifestation by the means of sight.

Thị giác—Sự nhận biết tính toàn thể, sự tổng hợp của tất cả, (sự)chứng nghiệm Đấng Duy Nhất trong Cái Đa, Thượng đế thứ nhất. Định luật Tổng Hợp, vận hành giữa mọi hình tướng mà cái ngã cư ngụ, và sự nhận biết tính hợp nhất thiết yếu của mọi biểu hiện bằng phương tiện thị giác.

283. We can see how the sense of sight is related to the first ray and to synthesis. Thus, hearing would be related to the seventh ray, touch to the sixth ray and sight also to the fifth ray. Similarly (in relation to the Rays of Aspect) hearing would be related to the third ray, touch to the second, and sight to the first ray (as here stated).

283. Chúng ta có thể thấy giác quan thị giác liên hệ với cung một và với sự tổng hợp. Do đó, thính giác sẽ liên hệ với cung bảy, xúc chạm với cung sáu và thị giác cũng liên hệ với cung năm. Tương tự (liên hệ với Các Cung Trạng Thái), thính giác sẽ liên hệ với cung ba, xúc chạm với cung hai, và thị giác với cung một (như ở đây đã nêu).

284. It is sight that reveals the unity of the many (which sight discloses) and the One (the wholeness of which the field of vision reveals).

284. Chính thị giác bộc lộ sự hợp nhất của cái nhiều (mà thị giác phơi bày) và Đấng Duy Nhất (tính toàn vẹn mà trường thị giác bộc lộ).

285. The realization of synthesis as a fact is related to the “single eye” which supersedes the normal duality of right and left eyes.

285. Sự chứng nghiệm tổng hợp như một sự kiện có liên hệ với “con mắt đơn nhất”, vốn vượt lên trên nhị nguyên thông thường của mắt phải và mắt trái.

As regards taste and smell, we might call them minor senses, for they are closely allied to the important sense of touch. They are practically subsidiary to that sense.

Về vị giác và khứu giác, chúng ta có thể gọi chúng là các giác quan phụ, vì chúng liên minh chặt chẽ với giác quan xúc chạm quan trọng. Chúng hầu như là phụ thuộc vào giác quan ấy.

286. This is a most important statement. If touch functions primarily in relation to the second and sixth rays, can this be said of the senses of taste and smell—so related to touch?

286. Đây là một phát biểu vô cùng quan trọng. Nếu xúc chạm vận hành chủ yếu trong liên hệ với cung hai và cung sáu, liệu điều này có thể nói về vị giác và khứu giác—vốn liên hệ với xúc chạm?

287. The sense of touch depends upon close contact. Certainly, we can see that this is true of the sense of taste. Physically, at least, there must be direct contact between the taster and that which is tasted, if the sense of taste is to be activated. The sense of smell is rather more distant than the sense of taste. Physically, taste usually involves contact between the taster and matter in a dense or liquid state. Physically, the one who smells contacts matter in a less condensed and more gaseous state. Yet there is touch between the one who exercises the sense of smell and that which he detects through the sense of smell.

287. Giác quan xúc chạm tùy thuộc vào tiếp xúc gần. Chắc chắn, chúng ta có thể thấy điều này đúng với vị giác. Ít nhất về mặt thể xác, phải có tiếp xúc trực tiếp giữa người nếm và cái được nếm thì vị giác mới được kích hoạt. Khứu giác xa hơn vị giác. Về mặt thể xác, vị giác thường liên quan đến tiếp xúc giữa người nếm và vật chất ở trạng thái đậm đặc hay lỏng. Về mặt thể xác, người ngửi tiếp xúc với vật chất ở trạng thái ít cô đặc hơn và mang tính khí hơn. Tuy vậy vẫn có xúc chạm giữa người vận dụng khứu giác và cái mà y phát hiện qua khứu giác.

This second sense, and its connection with this second solar system, should be carefully pondered over. It is predominantly the sense most closely connected with the second Logos.

Giác quan thứ hai này, và mối liên hệ của nó với hệ mặt trời thứ hai này, nên được suy ngẫm cẩn trọng. Nó chủ yếu là giác quan gắn kết mật thiết nhất với Thượng đế thứ hai.

288. We do live in a solar system wherein the sense of touch is predominant. This reveals to us that we do not yet live in a solar system of vision.

288. Chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời mà giác quan xúc chạm là trội vượt. Điều này cho chúng ta thấy rằng chúng ta chưa sống trong một hệ mặt trời của tầm nhìn.

289. Correspondingly, our Solar Logos has not yet taken the third cosmic initiation (cf. TCF 384) which liberates the sense of sight. It may well be the Logos of Sirius Who conveys to our Solar Logos the necessary enhancement of the sense of sight which would make sight the characteristic sense this solar system. Similarly, it is Venus who conveys to our Planetary Logos the necessary enhancement of the sense of sight which would make sight the characteristic sense of the Earth-scheme.

289. Tương ứng, Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ ba (x. TCF 384), vốn giải phóng giác quan thị giác. Rất có thể Thượng đế của Sirius là Đấng truyền cho Thái dương Thượng đế của chúng ta sự tăng cường cần thiết của giác quan thị giác, điều sẽ khiến thị giác trở thành giác quan đặc trưng của hệ mặt trời này. Tương tự, chính Sao Kim truyền cho Hành Tinh Thượng đế của chúng ta sự tăng cường cần thiết của giác quan thị giác, điều sẽ khiến thị giác trở thành giác quan đặc trưng của hệ hành tinh Trái Đất.

This conveys a hint of much value if duly considered. It is of value to study the extensions of physical plane touch on other planes and to see whither we are led.

Điều này chuyển tải một gợi ý có giá trị lớn nếu được suy xét đúng mức. Thật có giá trị khi nghiên cứu những sự mở rộng của xúc chạm ở cõi hồng trần trên các cõi khác và xem chúng ta được dẫn đến đâu.

290. This is the method to be followed in relation to all the senses.

290. Đây là phương pháp cần theo trong liên hệ với mọi giác quan.

It is the faculty which enables us to arrive [197] at the essence by due recognition of the veiling sheath.

Đó là năng lực giúp chúng ta đạt đến [197] tinh túy nhờ sự nhận biết đúng đắn về lớp vỏ che phủ.

291. The veiling sheath represents the essence. Touch begins with outer contact but at length reveals or discloses the inner nature.

291. Lớp vỏ che phủ biểu thị tinh túy. Xúc chạm bắt đầu bằng tiếp xúc bên ngoài nhưng cuối cùng bộc lộ hay phơi mở bản chất bên trong.

292. We remember that it is the sense of smell, primarily, that reveals essence.

292. Chúng ta nhớ rằng chính khứu giác, chủ yếu, bộc lộ tinh túy.

It enables the Thinker who fully utilises it to put himself en rapport with the essence of all selves at all stages, and thereby to aid in the due evolution of the sheath and actively to serve.

Nó giúp Thức giả, người vận dụng đầy đủ nó, đặt mình vào sự tương thông với tinh túy của mọi cái ngã ở mọi giai đoạn, và nhờ đó trợ giúp sự tiến hóa đúng đắn của lớp vỏtích cực phụng sự.

293. Two of the extensions of the sense of touch are Healing (buddhic) and Active Service (atmic). When the Tibetan speaks immediately above of the ability ‘actively to serve” He is speaking of the sense of touch as it expresses on the atmic plane.

293. Hai sự mở rộng của giác quan xúc chạm là Trị Liệu (Bồ đề) và Phụng Sự Tích Cực (atma). Khi Chân sư Tây Tạng nói ngay bên trên về khả năng “tích cực phụng sự”, Ngài đang nói về giác quan xúc chạm khi nó biểu lộ trên cõi atma.

294. The healer and the one who actively serves are in process of aiding “in the due evolution of the sheath”.

294. Người chữa lành và người tích cực phụng sự đang trong tiến trình trợ giúp “sự tiến hóa đúng đắn của lớp vỏ”.

295. We infer that the ability to come “en rapport with the essence of all selves at all stages” is preceded by a preliminary outer contact.

295. Chúng ta suy ra rằng khả năng đi vào “sự tương thông với tinh túy của mọi cái ngã ở mọi giai đoạn” được đi trước bởi một tiếp xúc bên ngoài sơ khởi.

296. One of the planets ruling the astral plane, Neptune, is a planet inducing great sensitivity and is immediately related to the sense of touch.

296. Một trong những hành tinh cai quản cõi cảm dục, Sao Hải Vương, là một hành tinh gây nên sự nhạy cảm lớn và liên hệ trực tiếp với giác quan xúc chạm.

297. It is clear that the Christ, Who knew what was in man, had developed the subtle sense of touch to a very great degree. He was also a profound healer engaged in active service.

297. Rõ ràng Đức Christ, Đấng biết điều gì ở trong con người, đã phát triển giác quan xúc chạm vi tế đến một mức độ rất lớn. Ngài cũng là một người chữa lành sâu sắc, dấn thân vào phụng sự tích cực.

298. The healer who serves actively must touch the sheaths of others in such a way that these sheathes may fully represent and express the inner reality. Healing very often occurs when the inner solar god is given free expression through the form.

298. Người chữa lành, người phụng sự tích cực, phải chạm đến các lớp vỏ của người khác theo cách sao cho các lớp vỏ ấy có thể biểu thị và diễn đạt đầy đủ thực tại bên trong. Sự chữa lành rất thường xảy ra khi vị thượng đế thái dương nội tại được tự do biểu lộ qua hình tướng.

A Lord of Compassion is one who (by means of touch) feels with, fully comprehends, and realises the manner in which to heal and correct the inadequacies of the not-self and thus actively to serve the plan of evolution.

Chúa Tể của Lòng Từ Bi là người (bằng phương tiện xúc chạm) cảm cùng, thấu hiểu trọn vẹn, và (sự)chứng nghiệm cách thức để chữa lành và sửa chữa những bất toàn của cái phi-ngã và nhờ đó tích cực phụng sự Thiên Cơ tiến hóa.

299. Here we have an extraordinary definition of healing and of the type of human being who usually wields the healing energy—a Lord of Compassion.

299. Ở đây chúng ta có một định nghĩa phi thường về sự chữa lành và về loại người thường vận dụng năng lượng chữa lành—một Chúa Tể của Lòng Từ Bi.

300. We remember in this regard that among the ranks of the Masters there are to be found both Masters of the Wisdom (fewer in number) and Lords of Compassion (numerically greater in this astral-buddhic solar system).

300. Chúng ta nhớ rằng, trong hàng ngũ các Chân sư, có cả các Chân sư Minh Triết (ít hơn về số lượng) và các Chúa Tể của Lòng Từ Bi (đông hơn về số lượng trong hệ mặt trời cảm dục–Bồ đề này).

301. The inadequacies of the not-Self are those that prevent it from being the faithful instrument of the Jiva or Self. The personality is not meant to be made perfect for its own sake.

301. Những bất toàn của cái phi-Ngã là những điều ngăn nó trở thành công cụ trung thành của Jiva hay Cái Ngã. Phàm ngã không nhằm được làm cho hoàn hảo vì chính nó.

302. For the lengthier part of its career, form is in inadequate approximation to the inner conscious reality. This must be corrected, for it leads to division, distress and disease. The healer and later, the active server, are the ones who correct such problems.

302. Trong phần dài hơn của “sự nghiệp” của nó, hình tướng ở trong sự xích lại gần không đầy đủ với thực tại hữu thức bên trong. Điều này phải được sửa chữa, vì nó dẫn đến phân ly, khổ não và bệnh tật. Người chữa lành và về sau, người phụng sự tích cực, là những người sửa chữa các vấn đề như vậy.

303. Master Jesus and Master Serapis are Lords of Compassion. Still greater beings such as the Christ and Buddha are both Lords of Compassion and, technically, “Masters of the Wisdom”.

303. Chân sư Jesus và Chân sư Serapis là các Chúa Tể của Lòng Từ Bi. Những hữu thể còn vĩ đại hơn như Đức Christ và Đức Phật là cả hai vừa là các Chúa Tể của Lòng Từ Bi vừa, về mặt kỹ thuật, là “các Chân sư Minh Triết”.

We should study likewise in this connection the value of touch as demonstrated by the healers of the race (those on the Bodhisattva line)83 and the effect of the Law of Attraction and Repulsion as thus manipulated by them.

Chúng ta cũng nên nghiên cứu, trong mối liên hệ này, giá trị của xúc chạm như được chứng tỏ bởi các nhà chữa lành của nhân loại (những vị thuộc dòng Đức Bồ Tát)83 và tác động của Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi như được họ vận dụng theo cách ấy.

304. In the western world, the Christ is the major recent example of a healing Bodhisattva. The students and disciples of the Christ also demonstrated prodigious healing powers.

304. Ở thế giới phương Tây, Đức Christ là ví dụ lớn gần đây nhất về một Đức Bồ Tát chữa lành. Các môn sinh và đệ tử của Đức Christ cũng đã chứng tỏ những quyền năng chữa lành phi thường.

305. Probably the Buddha was a healer as well (how could He help but be, given His radiation and illumination), but in the Buddhist literature at least the physical healings attributed to the Buddha are far less numerous than those attributed to the Christ. Might we say, however, that the Buddha was one of the greatest mental/psychological healers in human history?

305. Có lẽ Đức Phật cũng là một người chữa lành (làm sao Ngài có thể không như vậy, xét theo bức xạ và sự soi sáng của Ngài), nhưng ít nhất trong văn học Phật giáo, những sự chữa lành thể xác được quy cho Đức Phật ít hơn rất nhiều so với những sự chữa lành được quy cho Đức Christ. Tuy nhiên, liệu chúng ta có thể nói rằng Đức Phật là một trong những nhà chữa lành trí tuệ/tâm lý vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại?

Footnote 83:

Chú thích 83:

The line of the Bodhisattva is that of Love-Wisdom, and of the detailed science of the soul;

Dòng Đức Bồ Tát là dòng Bác Ái – Minh Triết, và của khoa học chi tiết về linh hồn;

306. The Bodhisattva emerges along the second ray line; the second ray is also called the “Ray of Specialized Detail”, and of “Detailed Unity”. We realize that Master DK is especially adept at understanding and teaching the “detailed science of the soul”. Patanjali, the author of the Yoga Sutras, would, necessarily, have been another such teacher, for what are the Yoga Sutras if not a detailed exposition on the science of the soul and the unfoldment of soul powers?

306. Đức Bồ Tát xuất hiện theo dòng cung hai; cung hai cũng được gọi là “Cung của Chi Tiết Chuyên Biệt”, và của “Hợp Nhất Chi Tiết”. Chúng ta nhận ra rằng Chân sư DK đặc biệt tinh thông trong việc thấu hiểu và giảng dạy “khoa học chi tiết về linh hồn”. Patanjali, tác giả của Yoga Sutras, tất yếu cũng đã là một huấn sư như vậy, vì Yoga Sutras là gì nếu không phải là một sự trình bày chi tiết về khoa học linh hồn và sự khai mở các quyền năng của linh hồn?

307. Study DINA II, 518, for descriptions of the two types of second ray approach here mentioned.

307. Hãy nghiên cứu DINA II, 518, để có các mô tả về hai loại tiếp cận cung hai được nêu ở đây.

it is the teaching line and the path upon which all must eventually pass.

đó là dòng giảng dạy và con đường mà rốt cuộc tất cả đều phải đi qua.

308. Must all who are part of this solar system eventually pass upon the teaching line, or only all those on the second ray line? Might we say that all lives within this solar system are necessarily upon the second ray because our Solar Logos is both a second ray soul and second ray personality?

308. Có phải tất cả những ai là một phần của hệ mặt trời này rốt cuộc đều phải đi qua dòng giảng dạy, hay chỉ tất cả những ai thuộc dòng cung hai? Liệu chúng ta có thể nói rằng mọi sự sống trong hệ mặt trời này tất yếu đều ở trên cung hai vì Thái dương Thượng đế của chúng ta vừa là linh hồn cung hai vừa là phàm ngã cung hai?

Students of etymology will have noted that the origin of the word touch is somewhat obscure, but probably means to ‘draw with quick motion.’

Những người nghiên cứu từ nguyên sẽ lưu ý rằng nguồn gốc của từ xúc chạm có phần mơ hồ, nhưng có lẽ có nghĩa là “kéo bằng chuyển động nhanh”.

309. This definition seems almost to suggest a gesture frequently found in the subtle healing arts. Miasmic energy is frequently drawn off in such a manner, and more beneficial energy distributed.

309. Định nghĩa này dường như gợi ý một cử chỉ thường thấy trong các nghệ thuật chữa lành vi tế. Năng lượng miasma thường được kéo ra theo cách như vậy, và năng lượng hữu ích hơn được phân phối.

310. The definition of “draw” seems related to “draw away”, to attract.

310. Định nghĩa của “kéo” dường như liên hệ với “kéo ra”, với sự hấp dẫn.

Herein lies the whole secret of this objective solar system, and herein will be demonstrated the quickening of vibration by means of touch.

Chính trong đây có toàn bộ bí mật của hệ mặt trời khách quan này, và chính trong đây sẽ được chứng tỏ sự làm tăng tốc rung động bằng phương tiện xúc chạm.

311. It is the First Ray Lord who is called “The Power that touches and withdraws”. An effective mode of vibratory stimulation is thus indicated.

311. Chính Đấng Chúa Tể Cung một được gọi là “Quyền Năng chạm và rút lại”. Như vậy, một phương thức hữu hiệu của sự kích thích rung động được chỉ ra.

312. The factor of ‘drawing’ is particularly related to the second ray and the “quick motion” to the first ray.

312. Yếu tố “kéo” đặc biệt liên hệ với cung hai và “chuyển động nhanh” với cung một.

313. This definition suggests the magnetic interplay which relates various entities.

313. Định nghĩa này gợi ý sự tương tác từ tính liên hệ các thực thể khác nhau.

Inertia, mobility, rhythm, are the qualities manifested by the not-self.

Quán tính, tính động, nhịp điệu, là những phẩm tính được biểu lộ bởi cái phi-ngã.

314. DK is telling us that the three gunas relate to the not-Self.

314. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng ba guna liên hệ với cái phi-Ngã.

Rhythm, balance, and stable vibration are achieved by means of this very faculty of touch or feeling.

Nhịp điệu, quân bình, và rung động ổn định đạt được bằng chính năng lực xúc chạm hay cảm giác này.

315. Rhythm, balance and stable vibration relate to the third guna, Sattva. In relating the sense of touch to Sattva, DK is pointing out the importance of the second ray in achieving the sattvic state.

315. Nhịp điệu, quân bình và rung động ổn định liên hệ với guna thứ ba, sattva. Khi liên hệ giác quan xúc chạm với sattva, Chân sư DK đang chỉ ra tầm quan trọng của cung hai trong việc đạt đến trạng thái sattva.

Let me illustrate briefly so as to make the problem somewhat clearer. What results in meditation? By dint of strenuous effort and due attention to rules laid down, the aspirant succeeds in touching matter of a quality rarer than is his usual custom. He contacts his causal body, in time he contacts the matter of the buddhic plane. By means of this touch his own vibration is temporarily and briefly quickened.

Hãy để tôi minh họa ngắn gọn để làm cho vấn đề rõ hơn đôi chút. Điều gì xảy ra trong tham thiền? Nhờ nỗ lực căng thẳng và sự chú ý đúng đắn đến các quy luật đã được đặt ra, người chí nguyện thành công trong việc chạm đến vật chất có phẩm tính tinh tế hơn so với thói quen thường ngày của y. Y tiếp xúc với thể nguyên nhân của y, theo thời gian y tiếp xúc với vật chất của cõi Bồ đề. Nhờ sự xúc chạm này, rung động của chính y tạm thời và trong chốc lát được làm tăng tốc.

316. The quickening may relate to the second guna, Rajas. When brief quickening becomes an established tendency, and promotes a heightened stability within the entire energy system, then the state of Sattva has been reached.

316. Sự làm tăng tốc có thể liên hệ với guna thứ hai, rajas. Khi sự làm tăng tốc thoáng qua trở thành một khuynh hướng được thiết lập, và thúc đẩy một sự ổn định cao hơn trong toàn bộ hệ thống năng lượng, thì trạng thái sattva đã đạt được.

317. Touch may either quicken or retard.

317. Xúc chạm có thể либо làm tăng tốc hoặc làm chậm lại.

318. It becomes clear that one of the purposes of our usual meditative practices is to touch (and assimilate) matter of a higher vibration than that to which we are accustomed.

318. Trở nên rõ ràng rằng một trong những mục đích của các thực hành tham thiền thường lệ của chúng ta là chạm đến (và đồng hóa) vật chất có rung động cao hơn so với rung động mà chúng ta đã quen.

Fundamentally we are brought back to the subject that we deal with in this treatise. The latent fire of matter attracts to itself that fire, latent in other forms. They touch, and recognition and awareness ensues. The fire of manas burns continuously and is fed by that which is attracted and repulsed. When the two [198] blend, the stimulation is greatly increased and the ability to touch intensified. The Law of Attraction persists in its work until another fire is attracted and touched, and the threefold merging is completed.

Về căn bản, chúng ta được đưa trở lại chủ đề mà chúng ta bàn đến trong luận thuyết này. Lửa tiềm ẩn của vật chất hấp dẫn về phía nó lửa tiềm ẩn trong các hình tướng khác. Chúng chạm nhau, và sự nhận biết cùng sự ý thức phát sinh. Lửa của manas cháy liên tục và được nuôi dưỡng bởi cái được hấp dẫn và bị đẩy lùi. Khi hai [198] thứ hòa trộn, sự kích thích tăng lên rất nhiều và khả năng xúc chạm được tăng cường. Định luật Hấp Dẫn kiên trì trong công việc của nó cho đến khi một ngọn lửa khác được hấp dẫn và được chạm đến, và sự hòa nhập tam phân được hoàn tất.

319. Fires of like nature attract and touch each other. When like touches like, awareness ensues.

319. Những ngọn lửa đồng bản chất hấp dẫn và chạm nhau. Khi cái đồng loại chạm cái đồng loại, sự nhận biết phát sinh.

320. Another principle that may be gathered from the foregoing: the touch of like with like promotes intensification.

320. Một nguyên tắc khác có thể rút ra từ những điều trên: sự chạm của cái đồng loại với cái đồng loại thúc đẩy sự tăng cường.

321. With increased stimulation, the sense of touch becomes more acute, more responsive.

321. Với sự kích thích gia tăng, giác quan xúc chạm trở nên sắc bén hơn, đáp ứng hơn.

322. The sense of touch is related especially to solar fire, the higher fire of mind. When solar fire meets solar fire, “the stimulation is greatly increased and the ability to touch intensified”.

322. Giác quan xúc chạm liên hệ đặc biệt với Lửa Thái dương, ngọn lửa cao hơn của trí tuệ. Khi Lửa Thái dương gặp Lửa Thái dương, “sự kích thích tăng lên rất nhiều và khả năng xúc chạm được tăng cường”.

323. VSK notes: “So the fires of mind are fed by BOTH attraction AND repulsion. Desire for or antipathy against; any ‘passion’, any energy in any direction (whether towards merging or repulsion), is a fuel.

323. VSK lưu ý: “Vì vậy, các ngọn lửa của trí tuệ được nuôi dưỡng bởi CẢ hấp dẫn LẪN đẩy lùi. Dục vọng hay ác cảm; bất kỳ ‘đam mê’ nào, bất kỳ năng lượng nào theo bất kỳ hướng nào (dù hướng về hòa nhập hay đẩy lùi), đều là nhiên liệu.

324. Although a given fire attracts the same fire, it is also necessary that fire by friction attract solar fire, and that the blend of fire by friction and solar fire attract Spirit-fire.

324. Dù một ngọn lửa nhất định hấp dẫn cùng một ngọn lửa, vẫn cần lửa ma sát hấp dẫn Lửa Thái dương, và sự hòa trộn của lửa ma sát và Lửa Thái dương hấp dẫn Lửa tinh thần.

325. The technicalities of the science of the merging of the fires (of the same or contrasting fires) are beyond us. It is sufficient for us to realize that all such merging is occurring under the Law of Attraction (and Repulsion).

325. Những chi tiết kỹ thuật của khoa học về sự hòa nhập của các ngọn lửa (của các ngọn lửa đồng loại hay tương phản) vượt quá chúng ta. Đủ cho chúng ta chứng nghiệm rằng mọi sự hòa nhập như vậy đều đang diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn (và Định luật Đẩy Lùi).

Forget not in this connection the mystery of the Rod of Initiation.84

Đừng quên, trong mối liên hệ này, huyền nhiệm của Thần Trượng Điểm đạo.84

326. This is another great example of the power of touch, for the Rod is, indeed, used to touch that which is to be stimulated.

326. Đây là một ví dụ lớn khác về quyền năng của xúc chạm, vì Thần Trượng quả thật được dùng để chạm vào cái cần được kích thích.

Later when we consider the subject of the centres and Initiation it must be remembered that we are definitely studying one aspect of this mysterious faculty of touch, the faculty of the second Logos, wielding the law of Attraction.

Về sau, khi chúng ta xét đến chủ đề các trung tâm và điểm đạo, cần nhớ rằng chúng ta đang rõ rệt nghiên cứu một phương diện của năng lực xúc chạm huyền nhiệm này, năng lực của Thượng đế thứ hai, vận dụng Định luật Hấp Dẫn.

327. Touch is to be considered “the faculty of the second Logos, wielding the Law of Attraction”.

327. Xúc chạm cần được xem là “năng lực của Thượng đế thứ hai, vận dụng Định luật Hấp Dẫn”.

328. DK seems to be telling us that there can be no initiation unless the faculty of touch is involved.

328. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng sẽ không thể có điểm đạo nếu năng lực xúc chạm không được dự phần.

329. This thought reminded one of certain Eastern Masters who conveyed initiatory potency to their chelas by touching them, often quite suddenly and unexpectedly.

329. Tư tưởng này gợi nhớ đến một số Chân sư Đông phương đã truyền năng lực điểm đạo cho các đệ tử của các Ngài bằng cách chạm vào họ, thường khá đột ngột và bất ngờ.

330. VSK enquires; “How can a Law be ‘wielded’. Like gravity, a Law simply IS. Can it be turned on and off or directed hither or thence by an Entity?

330. VSK hỏi: “Làm sao một Định luật có thể được ‘vận dụng’. Giống như trọng lực, một Định luật đơn giản là HIỆN HỮU. Nó có thể được bật tắt hay được hướng về phía này hay phía kia bởi một Thực Thể chăng?

331. It may be said that a Master wields energy in full cognizance of a Law. He works with the Law and wields according to the Law. He does not change the Law.

331. Có thể nói rằng một Chân sư vận dụng năng lượng trong sự nhận thức đầy đủ về một Định luật. Ngài làm việc với Định luật và vận dụng theo Định luật. Ngài không thay đổi Định luật.

Footnote 84:

Chú thích 84:

The Initiations spoken of in this Treatise are the major Initiations which bring about those expansions of consciousness which lead to liberation; these are taken in the causal body and from thence reflected into the physical [astral and mental]; the Initiate never proclaims his initiation.

Các cuộc điểm đạo được nói đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ này là các cuộc điểm đạo chính yếu, vốn đưa đến những sự mở rộng tâm thức dẫn đến giải thoát; chúng được nhận trong thể nguyên nhân và từ đó phản chiếu vào thể xác [cảm dục và thể trí]; điểm đạo đồ không bao giờ tuyên bố cuộc điểm đạo của mình.

332. By “major initiations” DK does not mean the third degree and beyond, for the first and second initiations (of the Threshold) are also taken in the causal body.

332. Bởi “các cuộc điểm đạo chính yếu”, Chân sư DK không có ý nói bậc thứ ba trở lên, vì lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai (của Ngưỡng) cũng được nhận trong thể nguyên nhân.

333. There are minor initiation (Initiations of the Four Elements) taken between the major initiations, and especially between the first and second initiations.

333. Có những cuộc điểm đạo phụ (các cuộc điểm đạo của Bốn Nguyên Tố) được nhận giữa các cuộc điểm đạo chính yếu, và đặc biệt giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai.

334. Initiations taken in the causal body are reflected not only into the physical body but into the astral and mental vehicles as well.

334. Các cuộc điểm đạo được nhận trong thể nguyên nhân được phản chiếu không chỉ vào thể xác mà còn vào các vận cụ cảm dục và thể trí nữa.

335. It goes without saying that the initiate will not (and cannot) proclaim his initiation. Those who thus proclaim signal that they cannot possibly be true initiates. Yet, the persistent ego will proclaim and make all sorts of excuses for doing so. Let those who have eyes to see, see.

335. Không cần nói cũng biết rằng điểm đạo đồ sẽ không (và không thể) tuyên bố cuộc điểm đạo của mình. Những ai tuyên bố như vậy báo hiệu rằng họ không thể nào là điểm đạo đồ chân chính. Tuy nhiên, chân ngã ngoan cố sẽ tuyên bố và bày ra đủ mọi lý do để làm thế. Ai có mắt để thấy, hãy thấy.

Let us now finish what may be imparted on the remaining three senses—sight, taste, smell—and then briefly sum up their relationship to the centres, and their mutual action and interaction.

Giờ đây, chúng ta hãy kết thúc những gì có thể truyền đạt về ba giác quan còn lại—thị giác, vị giác, khứu giác—rồi sau đó tóm lược ngắn gọn mối liên hệ của chúng với các trung tâm, và tác động cùng tương tác lẫn nhau của chúng.

336. A vast subject to be dealt with briefly.

336. Một chủ đề bao la cần được xử lý ngắn gọn.

That will then leave two more points to be dealt with in this first division of the Treatise on Cosmic Fire, and a summing up. We shall then be in a position to take up that portion of the treatise that deals with the fire of manas and with the development of the manasaputras,85 both in their totality and likewise individually.

Điều đó rồi sẽ để lại hai điểm nữa cần được bàn đến trong phần phân chia thứ nhất của Luận về Lửa Vũ Trụ, và một sự tổng kết. Khi ấy chúng ta sẽ ở vào vị thế để đảm nhận phần của luận thuyết bàn về lửa của manas và về sự phát triển của các manasaputra,85 cả trong tính toàn thể của chúng lẫn từng cá thể.

337. The section of TCF which deals with the manasaputras deals with the present and with our current solar system. It will be, DK tells us, the most widely read section in the book because it has so much immediate relevance.

337. Phần của TCF bàn về các manasaputra bàn về hiện tại và về hệ mặt trời hiện nay của chúng ta. Chân sư DK nói với chúng ta rằng đó sẽ là phần được đọc rộng rãi nhất trong sách vì nó có quá nhiều liên hệ trực tiếp.

338. As difficult as it may have been to work through the section of the book dealing specifically with matter and fire by friction, it has been a necessary preamble to the more accessible psychological work of the middle section.

338. Dù việc đi qua phần của sách bàn riêng về vật chất và Lửa ma sát có thể đã khó khăn đến đâu, nó vẫn là một phần dẫn nhập cần thiết cho công trình tâm lý học dễ tiếp cận hơn của phần giữa.

This topic is of the most imperative importance as it deals entirely with man, the Ego, the thinker, and shows the cosmic blending of the fires of matter and of mind, and their utilisation by the indwelling Flame.

Chủ đề này có tầm quan trọng cấp thiết nhất vì nó hoàn toàn bàn về con người, chân ngã, thức giả, và cho thấy sự hòa trộn vũ trụ của các ngọn lửa của vật chất và của thể trí, và sự vận dụng của chúng bởi Ngọn Lửa nội tại.

339. The essence of the coming section is clearly given. We are the Ego, the Thinker on his own plane. On this planet and in this solar system we are learning to be fully that Ego/Thinker, and to express the potencies of the Ego/Thinker in the lower worlds as well as upon the higher mental plane.

339. Tinh túy của phần sắp đến được nêu rõ. Chúng ta là chân ngã, là Thức giả trên cõi riêng của y. Trên hành tinh này và trong hệ mặt trời này, chúng ta đang học cách trở thành trọn vẹn chân ngã/Thức giả ấy, và diễn đạt các tiềm năng của chân ngã/Thức giả trong các cõi thấp cũng như trên Cõi thượng trí.

340. DK, who does not exaggerate, tells us that the coming theme is of “imperative importance”. We should take Him at His word and learn to realize ourselves as souls in expression, as the Ego/Thinker in incarnation.

340. Chân sư DK, Đấng không hề phóng đại, nói với chúng ta rằng chủ đề sắp đến có “tầm quan trọng cấp thiết”. Chúng ta nên tin lời Ngài và học cách chứng nghiệm chính mình như các linh hồn đang biểu lộ, như chân ngã/Thức giả đang lâm phàm.

341. The term “indwelling Flame” relates to the Spirit aspect. We have studied the word “flame” and seen its close connection to pure being and also to the more objective aspects of fire.

341. Thuật ngữ “Ngọn Lửa nội tại” liên hệ với phương diện tinh thần. Chúng ta đã nghiên cứu từ “ngọn lửa” và thấy mối liên hệ mật thiết của nó với bản thể thuần khiết và cũng với các phương diện khách quan hơn của lửa.

Footnote 85:

Chú thích 85:

Manasaputras: These are the Sons of Mind, the individual principle in man, the Ego, the solar Angel, in his own body on the abstract levels of the mental plane.

Manasaputra: Đây là các Con của Trí Tuệ, nguyên khí cá thể trong con người, chân ngã, Thái dương Thiên Thần, trong thể riêng của y trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí.

342. Man is the Solar Angel and yet he is not. The definition immediately above equates a number of terms for which fine distinctions can be found.

342. Con người là Thái dương Thiên Thần mà cũng không phải. Định nghĩa ngay bên trên đồng nhất một số thuật ngữ mà ở đó có thể tìm thấy những phân biệt tinh tế.

343. The causal body is one of the bodies of the Solar Angel. As a very advanced being, the Solar Angel has other vehicles on planes which the teaching does not yet specify.

343. Thể nguyên nhân là một trong các thể của Thái dương Thiên Thần. Là một hữu thể rất tiến hóa, Thái dương Thiên Thần có những vận cụ khác trên những cõi mà giáo huấn chưa nêu rõ.

344. Simply stated, Manasaputras are members of the Fifth Creative Hierarchy; they are Solar Angels, who are “returning Nirvanis” from a previous mahamanvantara. They are identified with man, but are beings greatly in advance of man’s development.

344. Nói đơn giản, manasaputra là các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm; họ là các Thái dương Thiên Thần, những “nirvani trở về” từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước. Họ được đồng nhất với con người, nhưng là những hữu thể vượt xa sự phát triển của con người.

c. Sight. This sense, as said before, is the paramount correlating sense of the solar system.

c. Thị giác. Giác quan này, như đã nói trước đây, là giác quan tương quan tối thượng của hệ mặt trời.

345. Mercury is at once the planet of correlation and the planet of sight, for “Mercury heals the blind and restores sight, mental and physical.” (II. 571, EA 663).

345. Sao Thủy vừa là hành tinh của sự tương quan vừa là hành tinh của thị giác, vì “Sao Thủy chữa lành người mù và phục hồi thị lực, trí tuệ và thể xác.” (II. 571, EA 663).

346. Venus is also a planet promoting sight, but not so much a planet of correlation (at least, mental correlation).

346. Sao Kim cũng là một hành tinh thúc đẩy thị giác, nhưng không hẳn là một hành tinh của sự tương quan (ít nhất là sự tương quan trí tuệ).

347. Both Mercury and Venus are related to the ajna center (each representing one of the two eyes—with the Sun representing the third) and are thus related to the sense of sight.

347. Cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều liên hệ với trung tâm ajna (mỗi hành tinh đại diện cho một trong hai mắt—với Mặt Trời đại diện cho mắt thứ ba) và vì thế liên hệ với giác quan thị giác.

Under the Law of Economy man hears. Sound permeates matter and is the basis of its subsequent heterogeneity.

Dưới Định luật Tiết Kiệm, con người nghe. Âm thanh thấm permeates vật chất và là nền tảng của sự dị biệt tiếp theo của nó.

348. Master DK is relating the primary senses to the three major Laws of Cosmos.

348. Chân sư DK đang liên hệ các giác quan chính yếu với ba Định luật lớn của Vũ Trụ.

349. Sound is particularly related to the first, third and seventh rays. Sound differentiates, as does the third ray (the “Discriminating Essential Life”).

349. Âm thanh đặc biệt liên hệ với cung một, cung ba và cung bảy. Âm thanh làm biến phân, cũng như cung ba ( “Sự Sống Thiết Yếu Phân Biện”).

350. Sound causes the heterogeneity of all things and hearing is the sense that reveals externality and the heterogeneity of that externality.

350. Âm thanh gây ra sự dị biệt của mọi sự vật và thính giác là giác quan bộc lộ tính bên ngoài và sự dị biệt của tính bên ngoài ấy.

351. Words convey sounds, and most word-sounds are keyed to diversity and are perpetuators of the illusion of diversity. When the use of word-sounds is transcended, the illusion of diversity is also ended.

351. Từ ngữ chuyển tải âm thanh, và đa số âm thanh của từ ngữ được chỉnh theo sự đa dạng và là những kẻ duy trì ảo tưởng về sự đa dạng. Khi việc sử dụng âm thanh của từ ngữ được vượt qua, ảo tưởng về sự đa dạng cũng chấm dứt.

352. VSK suggests that we relate sound (as it works through matter) as the origin of the Heresy of Separateness.

352. VSK gợi ý rằng chúng ta hãy liên hệ âm thanh (khi nó vận hành qua vật chất) như nguồn gốc của Đại Tà thuyết về Tính Phân Ly.

Under the Law of Attraction, man touches and makes contact with that which is brought to his attention [199] through sound waves of activity. This leads to a condition of mutual repulsion and attraction between the one who apprehends and that which is apprehended.

Dưới Định luật Hấp Dẫn, con người chạm và tiếp xúc với cái được đưa đến sự chú ý của y [199] qua các làn sóng âm của hoạt động. Điều này dẫn đến một trạng thái vừa đẩy lùi vừa hấp dẫn lẫn nhau giữa người nắm bắt và cái được nắm bắt.

353. Sound brings externality to attention. This is such an important idea.

353. Âm thanh đưa tính bên ngoài vào sự chú ý. Đây là một ý tưởng quan trọng đến thế.

354. But recognizing that something exists (through the agency of sound) is not the same as being in touch with that which is recognized.

354. Nhưng nhận ra rằng một cái gì đó hiện hữu (qua tác nhân của âm thanh) không giống với việc ở trong xúc chạm với cái được nhận ra.

355. First we must ‘hear’ the soul, the Word expressed perhaps through the “Voice of Conscience”. Later we come in touch with that which has spoken and, therefore, experience its energy in a non-theoretical manner.

355. Trước hết, chúng ta phải “nghe” linh hồn, Linh từ có lẽ được biểu lộ qua “Tiếng Nói của Lương Tâm”. Về sau, chúng ta tiếp xúc với điều đã lên tiếng ấy và vì vậy, trải nghiệm năng lượng của nó theo một cách không còn mang tính lý thuyết.

356. When contact is made through the sense of touch, attraction or repulsion follow, or perhaps, simply, indifference.

356. Khi sự tiếp xúc được tạo lập qua xúc giác, thì hoặc hấp dẫn hoặc đẩy lùi sẽ theo sau, hoặc có lẽ, đơn giản chỉ là điềm nhiên.

357. Those to whom we are most related are those we either love or hate. By far, the greatest number of those who could be contacted are those to whom we are, relatively speaking, indifferent.

357. Những người mà chúng ta liên hệ mật thiết nhất là những người chúng ta либо yêu hoặc ghét. Cho đến nay, số đông nhất trong những người có thể được tiếp xúc là những người mà, tương đối mà nói, chúng ta điềm nhiên đối với họ.

358. Some degree of diversity and of difference is noted through the sense of hearing and the agency of sound. Awareness of diversity and difference is heightened through the Law of Attraction and the sense of touch. Awareness of similarity, however, is also heightened.

358. Một mức độ đa dạng và khác biệt nào đó được ghi nhận qua thính giác và tác dụng của âm thanh. Nhờ Định luật Hấp dẫn và xúc giác, sự nhận biết về đa dạng và khác biệt được tăng cường. Tuy nhiên, sự nhận biết về tương đồng cũng được tăng cường.

Having apprehended and then contacted his eyes are opened and he recognises his place in the whole order under the Law of Synthesis.

Sau khi đã lĩnh hội rồi tiếp xúc, mắt y được mở ra và y nhận ra vị trí của y trong toàn bộ trật tự dưới Định luật Tổng Hợp.

Hearing Unity

Nghe là Hợp Nhất

Touch Duality

Chạm là Nhị Nguyên tính

Sight Triplicity.

Thấy là Tam phân.

359. The opening of the eyes follows upon contact. This is true in relation to soul culture. When once one has felt the presence of the soul the door is open to see that which one has felt.

359. Sự mở mắt theo sau sự tiếp xúc. Điều này đúng trong mối liên hệ với sự trau dồi linh hồn. Một khi người ta đã cảm được sự hiện diện của linh hồn, thì cánh cửa được mở ra để thấy điều mà người ta đã cảm.

360. The sense of hearing gives a general idea of location, but when the sense of sight emerges, the idea of location becomes much more specific, because so many more items of perception ‘fill’ perceptual space. The concept of “order” emerges with the sense of sight and one sees far more exactly where he fits.

360. Thính giác đem lại một ý niệm tổng quát về vị trí, nhưng khi thị giác xuất hiện, ý niệm về vị trí trở nên cụ thể hơn nhiều, bởi vì có rất nhiều yếu tố tri giác hơn “lấp đầy” không gian tri giác. Khái niệm về “trật tự” xuất hiện cùng với thị giác và người ta thấy chính xác hơn nhiều mình phù hợp ở đâu.

361. Looking at the three words, Unity, Duality and Triplicity, we note that either Triplicity or Unity could be applied to the sense of sight. This might also be said for the sense of hearing. Duality will always apply to the sense of sight until that which is ‘touched’ becomes more interior, more essential.

361. Khi nhìn vào ba từ: Hợp Nhất, Nhị Nguyên tính và Tam phân, chúng ta lưu ý rằng hoặc Tam phân hoặc Hợp Nhất đều có thể được áp dụng cho thị giác. Điều này cũng có thể nói về thính giác. Nhị Nguyên tính sẽ luôn áp dụng cho thị giác cho đến khi điều được “chạm” trở nên nội tại hơn, thiết yếu hơn.

362. If sight must correlate to the Cross in Circle, it is indicative of triplicity—two lines and one circle.

362. Nếu thị giác phải tương quan với Thập Giá trong Vòng Tròn, thì điều đó cho thấy tam phân—hai đường thẳng và một vòng tròn.

363. The triplicity to which sight is related is easily seen as a unity for, in relation to the Trinity, the Three are the One. The Seer, the Seen and the ‘Seeing’ are all one.

363. Tam phân mà thị giác liên hệ có thể dễ dàng được thấy như một hợp nhất vì, liên hệ với Tam Vị, Ba là Một. Nhà Thông Nhãn, điều Được Thấy và “Sự Thấy” đều là một.

In these three senses the present is summed up for us. The work of evolution is to recognise, utilise, co-ordinate, and dominate the whole till the Self, by means of these three, becomes actively aware of every form, of every vibration, and of every pulsation of the not-self; then, through the arranging power of mind, the objective of the self will be to find the truth, or that centre in the circle of manifestation which is, for the Self, the centre of equilibrium, and the one point where the co-ordination is perfected; then the Self can dissociate itself from every veil, every contact, and every sense.

Trong ba giác quan này, hiện tại được tóm lược cho chúng ta. Công việc của tiến hoá là nhận ra, vận dụng, phối hợp và chế ngự toàn bộ cho đến khi Bản Ngã, nhờ ba điều này, trở nên nhận biết một cách chủ động về mọi hình tướng, mọi rung động và mọi nhịp đập của phi-ngã; rồi, nhờ quyền năng sắp xếp của thể trí, mục tiêu khách quan của bản ngã sẽ là tìm ra chân lý, hay trung tâm ấy trong vòng tròn biểu hiện, vốn là—đối với Bản Ngã—trung tâm quân bình, và là điểm duy nhất nơi sự phối hợp được hoàn thiện; rồi Bản Ngã có thể tách rời khỏi mọi màn che, mọi tiếp xúc và mọi giác quan.

364. Again we have one of those brilliant summaries by means of which Master DK is able to reveal the interrelation of so many factors.

364. Một lần nữa, chúng ta có một trong những bản tóm lược rực rỡ mà nhờ đó Chân sư DK có thể tiết lộ mối liên hệ tương hỗ của rất nhiều yếu tố.

365. If the three major senses represent the present, may it be inferred that the sense of taste and of smell indicate the future?

365. Nếu ba giác quan chính đại diện cho hiện tại, liệu có thể suy ra rằng vị giác và khứu giác chỉ ra tương lai chăng?

366. The senses are to reveal the nature of the form. The Self/Jiva is to become totally aware of all forms.

366. Các giác quan nhằm bộc lộ bản chất của hình tướng. Bản Ngã/Jiva phải trở nên hoàn toàn nhận biết về mọi hình tướng.

367. Awareness is the first step; arrangement, the second.

367. Nhận biết là bước thứ nhất; sắp xếp là bước thứ hai.

368. If one wishes to know one of the chief faculties of the mind, it is an “arranging power”—the power to move things into new and more desirable relationships.

368. Nếu người ta muốn biết một trong những năng lực chủ yếu của thể trí, thì đó là một “quyền năng sắp xếp”—quyền năng đưa sự vật vào những mối liên hệ mới và đáng mong muốn hơn.

369. Total awareness of what is within the environmental field, does not guarantee that truth (in relation to that field) will be found.

369. Sự nhận biết toàn diện về những gì nằm trong trường môi trường không bảo đảm rằng chân lý (liên hệ với trường ấy) sẽ được tìm ra.

370. Truth is likened to the center of the circle—the point related to all other points within the circle or sphere of perception.

370. Chân lý được ví như trung tâm của vòng tròn—điểm liên hệ với mọi điểm khác bên trong vòng tròn hay khối cầu tri giác.

371. The Self or dot in the center of the circle or sphere means the following:

371. Bản Ngã hay điểm ở trung tâm của vòng tròn hay khối cầu hàm ý điều sau:

a. The Self’s center of equilibrium

a. Trung tâm quân bình của Bản Ngã

b. The Self’s vantage point for the perfection of coordination

b. Điểm quan sát của Bản Ngã để sự phối hợp được hoàn thiện

372. From this center in the circle or sphere, the Self can begin its process of dissociation:

372. Từ trung tâm này trong vòng tròn hay khối cầu, Bản Ngã có thể bắt đầu tiến trình tách rời:

a. Dissociation from every veil

a. Tách rời khỏi mọi màn che

b. Dissociation from every contact

b. Tách rời khỏi mọi tiếp xúc

c. Dissociation from every sense

c. Tách rời khỏi mọi giác quan

373. Let us essentialize the process:

373. Hãy cô đọng tiến trình:

a. Awareness

a. Nhận biết

b. Truth

b. Chân lý

c. Balance

c. Quân bình

d. Environmental Coordination and Mastery

d. Phối hợp và làm chủ môi trường

e. Dissociation

e. Tách rời

374. Earlier, the point in the center of the circle or sphere was likened to the sense of hearing.

374. Trước đây, điểm ở trung tâm của vòng tròn hay khối cầu được ví với thính giác.

375. We are now presented with a more advanced meaning for this symbol; it is the center through which the Self/Jiva masters its environment or sphere of experience.

375. Giờ đây, chúng ta được trình bày một ý nghĩa cao hơn cho biểu tượng này; đó là trung tâm mà qua đó Bản Ngã/Jiva làm chủ môi trường hay phạm vi kinh nghiệm của mình.

376. From this point of power, liberation may at length be achieved. The point within the circle or sphere is also the symbol for the Master.

376. Từ điểm quyền năng này, sự giải thoát cuối cùng có thể đạt được. Điểm bên trong vòng tròn hay khối cầu cũng là biểu tượng của Chân sư.

This leads in every manifestation to three types of separation:

Điều này dẫn đến, trong mọi biểu hiện, ba loại phân ly:

377. We have an important threefold distinction below. Three great phases of the developmental process are discussed.

377. Dưới đây chúng ta có một phân biệt tam phân quan trọng. Ba giai đoạn lớn của tiến trình phát triển được bàn đến.

Involution. The separation of matter, or the one becoming the many. The senses are developed, and the apparatus is perfected by the Self for the utilisation of matter. This is under the Law of Economy.

Giáng hạ tiến hoá. Sự phân ly của vật chất, hay cái Một trở thành cái Nhiều. Các giác quan được phát triển, và bộ máy được Bản Ngã hoàn thiện để vận dụng vật chất. Điều này nằm dưới Định luật Tiết Kiệm.

378. The senses are developed upon the Path of Involution. The development of the senses make possible the utilization of matter by the Self.

378. Các giác quan được phát triển trên Con Đường Giáng hạ tiến hoá. Sự phát triển các giác quan làm cho Bản Ngã có thể vận dụng vật chất.

379. The senses are one of the chief means through which the One, having become the Many, may again become the One. But first must come the mastery of the Many through the use of the senses.

379. Các giác quan là một trong những phương tiện chủ yếu nhờ đó Đấng Duy Nhất, sau khi đã trở thành cái Nhiều, lại có thể trở thành Đấng Duy Nhất. Nhưng trước hết phải có sự làm chủ cái Nhiều qua việc sử dụng các giác quan.

Evolution up to the time of the Probationary Path. The merging of Spirit and matter, and the utilisation of the senses in a progressing identification of the Self with all forms from the lowest to those relatively refined. This is under the Law of Attraction.

Tiến hoá cho đến thời kỳ Con Đường Dự Bị. Sự hoà nhập của tinh thần và vật chất, và việc vận dụng các giác quan trong một tiến trình đồng hoá ngày càng tăng của Bản Ngã với mọi hình tướng từ thấp nhất đến những hình tướng tương đối tinh luyện. Điều này nằm dưới Định luật Hấp dẫn.

380. In the first phase the senses are applied to the utilization of matter; in this second phase, they are applied to a gradual (very gradual) merging of Spirit and matter. Under the Law of Attraction, identification of the Self with form occurs. This is not the same process as the stage of identification of the Self with the life within the forms.

380. Trong giai đoạn thứ nhất, các giác quan được áp dụng để vận dụng vật chất; trong giai đoạn thứ hai này, chúng được áp dụng cho sự hoà nhập dần dần (rất dần dần) của tinh thần và vật chất. Dưới Định luật Hấp dẫn, sự đồng hoá của Bản Ngã với hình tướng xảy ra. Đây không phải là cùng một tiến trình như giai đoạn đồng hoá của Bản Ngã với sự sống bên trong các hình tướng.

Evolution on the Path.

Tiến hoá trên Con Đường.

381. For practical purposes, we may say that this evolution begins at a time near the first initiation.

381. Vì mục đích thực tiễn, chúng ta có thể nói rằng tiến hoá này bắt đầu vào một thời điểm gần lần điểm đạo thứ nhất.

Again the separation of spirit from matter, its identification with the One, and the ultimate rejection of form.

Lại là sự phân ly của tinh thần khỏi vật chất, sự đồng hoá của nó với Đấng Duy Nhất, và sự khước từ hình tướng rốt ráo.

382. In this third phase, three processes are experienced:

382. Trong giai đoạn thứ ba này, ba tiến trình được trải nghiệm:

a. The separation of Spirit from matter

a. Sự phân ly của tinh thần khỏi vật chất

b. The identification of Spirit with the One (as that One appears in and through all forms)

b. Sự đồng hoá của tinh thần với Đấng Duy Nhất (như Đấng Duy Nhất ấy xuất hiện trong và qua mọi hình tướng)

c. The ultimate rejection by Spirit of form

c. Sự khước từ hình tướng rốt ráo của tinh thần

383. We are therefore dealing with a lengthy threefold process of separation, identification and separation/identification

383. Vì vậy, chúng ta đang bàn đến một tiến trình tam phân dài lâu gồm phân ly, đồng hoá và phân ly/đồng hoá

The senses then are synthesised into acquired faculty, and the Self has no [200] further use for the not-self. It blends with the All-Self. This is under the Law of Synthesis.

Rồi các giác quan được tổng hợp thành năng lực đã đạt được, và Bản Ngã không còn [200] dùng đến phi-ngã nữa. Nó hoà nhập với Đại Ngã. Điều này nằm dưới Định luật Tổng Hợp.

384. What can be meant by this statement: “the senses are then synthesized into acquired faculty”? Rather than instruments of reception, they become instruments primarily of execution. The major purpose of the senses has been achieved. There is no further need for engagement with externalities, unless because of strictly sacrificial service. The fourth initiation and a significant stage of synthesis have been reached.

384. Câu nói này có thể hàm ý gì: “rồi các giác quan được tổng hợp thành năng lực đã đạt được”? Thay vì là các dụng cụ tiếp nhận, chúng trở thành các dụng cụ chủ yếu để thực thi. Mục đích chính của các giác quan đã được hoàn thành. Không còn nhu cầu dấn thân vào các ngoại cảnh nữa, trừ khi vì phụng sự hi sinh thuần tuý. Lần điểm đạo thứ tư và một giai đoạn tổng hợp quan trọng đã được đạt tới.

385. When the Self begins to blend with the All-Self, Mercury and the Sun have become one. From a very important perspective, Mercury, the planet of mediation, is the significator of the senses. When Mercury symbolically blends with the Sun (symbol of synthesized knowledge and faculty), the senses (at least in relation to the eighteen lower subplanes) are no longer needed.

385. Khi Bản Ngã bắt đầu hoà nhập với Đại Ngã, Sao Thủy và Mặt Trời đã trở thành một. Từ một góc nhìn rất quan trọng, Sao Thủy, hành tinh của sự trung gian, là biểu trưng của các giác quan. Khi Sao Thủy hoà nhập một cách biểu tượng với Mặt Trời (biểu tượng của tri thức và năng lực đã được tổng hợp), thì các giác quan (ít nhất là liên hệ với mười tám cõi phụ thấp) không còn cần thiết nữa.

386. The “acquired faculty” here mentioned has to do with causal faculty and faculties which can be elevated into the spiritual triad.

386. “Năng lực đã đạt được” được nhắc đến ở đây liên quan đến năng lực nhân thể và những năng lực có thể được nâng lên vào Tam Nguyên Tinh Thần.

If this is borne in mind it leads to a realisation that the separation of the Spirit from the material vehicle involves two aspects of the One great All; herein is seen the work of the Creator, the Preserver and the Destroyer.

Nếu ghi nhớ điều này, nó dẫn đến một chứng nghiệm rằng sự phân ly của Tinh thần khỏi vận cụ vật chất bao hàm hai phương diện của Một Đại Toàn Thể; chính ở đây thấy được công việc của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Huỷ Diệt.

387. Separation involves both the third and the first aspects of divinity—the Creator and the Destroyer. The Preserver works primarily through attraction, but where attraction is present, repulsion is also to be found. The second aspect promotes the process whereby matter/form of higher quality is attracted and matter/form of lesser quality is rejected—thus involving the principle of separation even with respect to the Law of Attraction.

387. Sự phân ly bao hàm cả phương diện thứ ba lẫn phương diện thứ nhất của thiên tính—Đấng Sáng Tạo và Đấng Huỷ Diệt. Đấng Bảo Tồn hoạt động chủ yếu qua sự hấp dẫn, nhưng nơi nào có hấp dẫn, nơi đó cũng có đẩy lùi. Phương diện thứ hai thúc đẩy tiến trình mà nhờ đó vật chất/hình tướng có phẩm tính cao hơn được hấp dẫn và vật chất/hình tướng có phẩm tính thấp hơn bị khước từ—do đó bao hàm nguyên khí phân ly ngay cả trong mối liên hệ với Định luật Hấp dẫn.

388. Students of our type are involved with the second phase and envisioning the possibility of the third.

388. Các đạo sinh thuộc loại của chúng ta liên hệ với giai đoạn thứ hai và hình dung khả năng của giai đoạn thứ ba.

In the final perfection of this third sense of sight, the term used is the wholly inadequate one of realisation.

Trong sự hoàn thiện rốt ráo của giác quan thứ ba là thị giác này, thuật ngữ được dùng là từ hoàn toàn bất cập: chứng nghiệm.

389. The sense of psychic power called “Realization” represents the final perfection of the sense of sight. DK considers the word inadequate.

389. Năng lực thông linh được gọi là “Chứng nghiệm” đại diện cho sự hoàn thiện rốt ráo của thị giác. Chân sư DK cho rằng từ này bất cập.

390. An old teacher and friend of mind used to speak of the capacity to see with ‘real-eyes’. Presumably he was talking of an unveiled condition of consciousness, perhaps related to the atmic plane.

390. Một huấn sư xưa và là bạn của trí tuệ tôi từng nói về năng lực thấy bằng “đôi mắt thật”. Có lẽ ông đang nói về một trạng thái tâm thức không còn màn che, có thể liên hệ với cõi atma.

391. What is realized? May we say the unitary nature of reality? May it be that the Spirit within every form is actually seen?

391. Điều gì được chứng nghiệm? Chúng ta có thể nói là bản chất hợp nhất của thực tại chăng? Có phải tinh thần bên trong mọi hình tướng thực sự được thấy chăng?

Let the student study carefully the lowest and highest demonstration of the senses as laid down in the tabulation earlier imparted, and note the occult significance of the expressions used in the summation.

Hãy để đạo sinh nghiên cứu cẩn thận sự biểu lộ thấp nhất và cao nhất của các giác quan như đã được nêu trong bảng liệt kê được truyền đạt trước đó, và lưu ý thâm nghĩa huyền bí của các cách diễn đạt được dùng trong phần tổng kết.

392. This, of course, is the great task, and many are the speculations or experiences that may result from such a focus.

392. Dĩ nhiên, đây là công việc lớn, và nhiều suy đoán hoặc kinh nghiệm có thể phát sinh từ một sự tập trung như vậy.

Hearing Beatitude. This is realised through the not-self.

Nghe là Chân Phúc. Điều này được chứng nghiệm qua phi-ngã.

393. Beatitude is a high state of blessedness. Work towards the beatific state signifies that the consciousness may, in fact, be focussed on the buddhic plane—its lowest level.

393. Chân phúc là một trạng thái cao của phúc lạc. Nỗ lực hướng tới trạng thái chân phúc cho thấy rằng tâm thức, thực ra, có thể được tập trung trên cõi Bồ đề—cấp độ thấp nhất của nó.

394. If beatitude is realized through the not-Self or the form, perhaps it is a fourfold, harmonized sound which is registered, yielding a type of understanding which has not yet appeared through any merely mental approach.

394. Nếu chân phúc được chứng nghiệm qua phi-ngã hay hình tướng, có lẽ đó là một âm thanh tứ phân, hài hoà, được ghi nhận, đem lại một loại thấu hiểu chưa từng xuất hiện qua bất kỳ cách tiếp cận thuần trí tuệ nào.

395. Beatitude suggests synthesis and its initial phases may correlate with the opening of the synthesis-love petal (petal eleven).

395. Chân phúc gợi ý sự tổng hợp và các giai đoạn ban đầu của nó có thể tương quan với sự mở ra của cánh hoa tổng hợp-bác ái (cánh hoa mười một).

396. Once the causal body has been destroyed a truer meaning of blessedness, of beatitude may dawn.

396. Một khi thể nguyên nhân đã bị huỷ diệt, một ý nghĩa chân thật hơn về phúc lạc, về chân phúc có thể bừng sáng.

397. The first and seventh rays are here involved, both of them synthetic.

397. Cung một và cung bảy được liên hệ ở đây, cả hai đều mang tính tổng hợp.

Touch Service. The summation of the work of the Self for the not-self.

Chạm là Phụng sự. Sự tổng kết công việc của Bản Ngã đối với phi-ngã.

398. Active Service is the highest demonstration (here given) of the sense of touch.

398. Phụng sự chủ động là sự biểu lộ cao nhất (được nêu ở đây) của xúc giác.

399. It will be a faculty which naturally resonates with the Law of Service.

399. Đó sẽ là một năng lực tự nhiên cộng hưởng với Định luật Phụng sự.

400. It would involve a complete understanding of the real needs of any life expressing through the form.

400. Nó sẽ bao hàm một sự thấu hiểu trọn vẹn về những nhu cầu thực sự của bất kỳ sự sống nào đang biểu lộ qua hình tướng.

401. It involves a most intimate sense of touch and a ‘touching’ realization of how that which is touched may be healed, harmonized and endowed with precisely what it needs.

401. Nó bao hàm một xúc giác thân mật nhất và một chứng nghiệm “chạm đến” về cách mà điều được chạm có thể được chữa lành, được hoà điệu và được ban cho chính xác điều nó cần.

402. What are called the “Gifts of the Spirit” may be endowed here.

402. Những gì được gọi là “Các Ân Tứ của Tinh thần” có thể được ban ở đây.

403. The second and sixth rays are involved.

403. Cung hai và cung sáu được liên hệ.

Sight Realisation. Recognition of the triplicity needed in manifestation, or the reflex action of the Self and the not-self.

Thấy là Chứng nghiệm. Nhận ra tam phân cần thiết trong biểu hiện, hay phản ứng phản hồi của Bản Ngã và phi-ngã.

404. The highest demonstration of the sense of sight is called “Realization”. DK said the word “Realization” was inadequate to convey the meaning of this faculty. Indeed, His explanation is rather unexpected.

404. Sự biểu lộ cao nhất của thị giác được gọi là “Chứng nghiệm”. Chân sư DK nói rằng từ “Chứng nghiệm” bất cập để truyền đạt ý nghĩa của năng lực này. Thật vậy, lời giải thích của Ngài khá bất ngờ.

405. Realization involves a recognition of a triplicity in manifestation. This is fitting, as sight is the third sense, developmentally considered.

405. Chứng nghiệm bao hàm sự nhận ra một tam phân trong biểu hiện. Điều này thích hợp, vì thị giác là giác quan thứ ba, xét theo tiến trình phát triển.

406. Through Realization the trinity is seen as the modus operandi of Oneness. We might say that it has much to do with the ability to see consciousness as the necessary middle factor between Spirit and Matter.

406. Qua Chứng nghiệm, Tam Vị được thấy như phương thức vận hành của Tính Duy Nhất. Chúng ta có thể nói rằng điều này liên quan nhiều đến khả năng thấy tâm thức như yếu tố trung gian tất yếu giữa Tinh thần và Vật chất.

407. Realization will be related to light, to Venus, the second ray and the fifth ray. We might call it the “registration of the connecting Light’. There is a recognition of Light and of the interactivity between Spirit and matter which proceeds because of the existence of the Light.

407. Chứng nghiệm sẽ liên hệ với ánh sáng, với Sao Kim, cung hai và cung năm. Chúng ta có thể gọi đó là “sự ghi nhận Ánh sáng kết nối”. Có một sự nhận biết về Ánh sáng và về tính tương tác giữa tinh thần và vật chất, vốn diễn tiến vì sự hiện hữu của Ánh sáng.

408. The third and fifth rays are involved.

408. Cung ba và cung năm được liên hệ.

Taste Perfection. Evolution completed through the utilisation of the not-self and its realised adequacy.

Nếm là Hoàn Thiện. Tiến hoá được hoàn tất qua việc vận dụng phi-ngã và sự chứng nghiệm về tính đầy đủ của nó.

409. Perfection is related to the number four, and Jupiter, the planet of perfection (or of a perfected rounding out) is symbolized by a glyph which is very reminiscent of the number four.

409. Hoàn thiện liên hệ với con số bốn, và Sao Mộc, hành tinh của sự hoàn thiện (hay của một sự làm tròn đầy đã được hoàn thiện), được biểu tượng bằng một ký hiệu rất gợi nhớ đến con số bốn.

410. The “mathematical exactitude” conveyed by the fourth ray is necessary to create perfection.

410. “Tính chính xác toán học” được cung bốn truyền đạt là cần thiết để tạo ra sự hoàn thiện.

411. The number four represents completion in the initiatory sequence for the fourth initiation is the last strictly human initiation, or, at least, the initiation after which man need no longer incarnated in the human kingdom.

411. Con số bốn biểu thị sự hoàn tất trong chuỗi điểm đạo vì lần điểm đạo thứ tư là lần điểm đạo cuối cùng thuần túy nhân loại, hoặc ít nhất là lần điểm đạo sau đó con người không còn cần phải nhập thể trong giới nhân loại nữa.

412. If evolution is to be completed, the not-Self has to be fully utilized. It is not enough to reject it. Full use in service of the not-Self is equivalent to its rejection.

412. Nếu tiến hoá phải được hoàn tất, phi-ngã phải được vận dụng trọn vẹn. Chỉ khước từ nó thì chưa đủ. Việc sử dụng đầy đủ phi-ngã trong phụng sự tương đương với sự khước từ nó.

413. Through the instrumentality of taste there is a deep appreciation of form and the different qualities which form can confer.

413. Qua công cụ của vị giác, có một sự trân trọng sâu sắc đối với hình tướng và những phẩm tính khác nhau mà hình tướng có thể ban cho.

414. This type of Perfection suggests perfection of the form as an instrument of Spirit. The form is taken as far as it is intended to go, prior to its destruction.

414. Loại Hoàn Thiện này gợi ý sự hoàn thiện của hình tướng như một công cụ của Tinh thần. Hình tướng được đưa đi xa đến mức nó được dự định phải đi, trước khi bị huỷ diệt.

415. Beauty and Perfection are parallel ideas. Heights of realized beauty are achieved at this stage of sensory unfoldment.

415. Cái Đẹp và Sự Hoàn Thiện là những ý niệm song hành. Những đỉnh cao của vẻ đẹp được chứng nghiệm được đạt tới ở giai đoạn khai mở giác quan này.

Smell Perfected Knowledge. The principle of manas in its discriminating activity, perfecting the inter-relation between the Self and the not-self.

Ngửi Tri Thức Hoàn Thiện. Nguyên khí manas trong hoạt động phân biện của nó, hoàn thiện mối liên hệ tương hỗ giữa Bản Ngã và phi-ngã.

416. This faculty is variously called “All Knowledge” or “Perfected Knowledge”. If it is called “Perfected Knowledge” it is related to its immediately preceding faculty, “Perfection”.

416. Năng lực này được gọi khác nhau là “Toàn Tri” hoặc “Tri Thức Hoàn Thiện”. Nếu được gọi là “Tri Thức Hoàn Thiện” thì nó liên hệ với năng lực ngay trước đó, “Hoàn Thiện”.

417. Perfection and Perfected Knowledge are to be compared carefully. The latter is more manasically related than the former.

417. Hoàn Thiện và Tri Thức Hoàn Thiện cần được so sánh cẩn thận. Cái sau liên hệ với manas nhiều hơn cái trước.

418. In Perfection the not-Self is realized as adequate to the expression of the Self or Jiva. In Perfected Knowledge (or All Knowledge—at least with respect to thirty lower subplanes) that adequacy is perfected. Through the utilization of atmic mind (acutely related to the third ray) the Triadal Self and the not-Self are brought into an ideal interrelation.

418. Trong Hoàn Thiện, phi-ngã được chứng nghiệm là đầy đủ cho sự biểu lộ của Bản Ngã hay Jiva. Trong Tri Thức Hoàn Thiện (hoặc Toàn Tri—ít nhất là liên hệ với ba mươi cõi phụ thấp), tính đầy đủ ấy được hoàn thiện. Qua việc vận dụng trí tuệ atma (liên hệ sắc bén với cung ba), Bản Ngã Tam Nguyên và phi-ngã được đưa vào một mối liên hệ tương hỗ lý tưởng.

419. The essence of the Self is known or sensed through the sense of smell, and that essence is perfectly (through spiritual intelligence) related to its instrument of expression.

419. Tinh chất của Bản Ngã được biết hay được cảm qua khứu giác, và tinh chất ấy được liên hệ một cách hoàn hảo (qua trí tuệ tinh thần) với công cụ biểu lộ của nó.

This all concerns the perfected, realised Personality.

Tất cả điều này liên quan đến phàm ngã đã được hoàn thiện, chứng nghiệm.

420. The number four of personality is being completed.

420. Con số bốn của phàm ngã đang được hoàn tất.

421. When we consider personality, it is important to include the contents of the causal body, which are derived, over millennia, from the personality sphere.

421. Khi xét phàm ngã, điều quan trọng là bao gồm nội dung của thể nguyên nhân, vốn được rút ra, qua hàng thiên niên kỷ, từ phạm vi phàm ngã.

In all these perfections is seen the awareness of the Self, and the graded process of identification, utilisation, manipulation and final rejection of the not-self by that Self who is now consciously aware.

Trong mọi sự hoàn thiện này, thấy được sự nhận biết của Bản Ngã, và tiến trình phân bậc của sự đồng hoá, vận dụng, thao tác và sự khước từ rốt ráo đối với phi-ngã bởi Bản Ngã ấy, vốn nay đã nhận biết một cách hữu thức.

422. DK emphasizes the consciousness angle.

422. Chân sư DK nhấn mạnh góc độ tâm thức.

423. Perfection is gradually reached through:

423. Sự hoàn thiện dần dần đạt được qua:

a. Awareness of the Self

a. Nhận biết về Bản Ngã

b. Identification with the not-Self

b. Đồng hoá với phi-ngã

c. Utilization of the not-Self

c. Vận dụng phi-ngã

d. Manipulation of the not-Self

d. Thao tác phi-ngã

e. Final rejection of the not-Self by the Self.

e. Sự khước từ rốt ráo phi-ngã bởi Bản Ngã.

424. In a state of Perfection, it is the Divine Self who is consciously aware. Personality consciousness, and even causally-based soul consciousness have been transcended.

424. Trong trạng thái Hoàn Thiện, chính Bản Ngã thiêng liêng là đấng nhận biết một cách hữu thức. Tâm thức phàm ngã, và ngay cả tâm thức linh hồn dựa trên nhân thể, đã được vượt qua.

He hears the note of nature and that of his monad;

Ngài nghe âm điệu của bản chất và âm điệu của chân thần của Ngài;

425. This, we decided, could occur at the point of taking the fourth initiation.

425. Chúng ta đã quyết định rằng điều này có thể xảy ra tại thời điểm thọ nhận lần điểm đạo thứ tư.

426. The note of nature relates to the four elements which rule the lower worlds, over which the initiate of the fourth degree has now triumphed.

426. Âm điệu của bản chất liên hệ với bốn nguyên tố cai quản ba cõi thấp, mà điểm đạo đồ bậc bốn nay đã chiến thắng.

427. In terms of perception, the “Highest and the Lowest Meet”, for the high note of the Monad and the low note of nature are heard simultaneously.

427. Xét theo tri giác, “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”, vì âm điệu cao của Chân Thần và âm điệu thấp của bản chất được nghe đồng thời.

he recognises their identity, utilises their vibration, and passes rapidly through the three stages of Creator, Preserver and Destroyer.

Ngài nhận ra sự đồng nhất của chúng, vận dụng rung động của chúng, và nhanh chóng đi qua ba giai đoạn của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Huỷ Diệt.

428. The consciousness of the one possessing “Perfected Knowledge” or “All Knowledge” is exalted. It reaches the heights of Spirit and the depths of matter.

428. Tâm thức của người sở hữu “Tri Thức Hoàn Thiện” hay “Toàn Tri” được tôn cao. Nó vươn tới những đỉnh cao của tinh thần và những vực sâu của vật chất.

429. The one who has reached this stage realizes that Spirit and matter are one, and that he is both of them.

429. Người đã đạt tới giai đoạn này chứng nghiệm rằng tinh thần và vật chất là một, và rằng y là cả hai.

[201]

[201]

He touches or feels the vibration of the form or not-self in all its various grades, recognises his identity in time and space, and for purposes of existence or being and by means of the three Laws of Economy, Attraction and Synthesis utilises, blends and eventually dissociates himself.

Ngài chạm hay cảm rung động của hình tướng hay phi-ngã trong mọi cấp bậc khác nhau của nó, nhận ra bản sắc của Ngài trong thời gian và không gian, và vì các mục đích hiện hữu hay bản thể, và nhờ ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp dẫn và Tổng Hợp, vận dụng, hoà nhập và cuối cùng tách rời chính Ngài.

430. In this section of summation, we are dealing with ultimate realizations (as far a normal humanity is concerned).

430. Trong phần tổng kết này, chúng ta đang bàn đến những chứng nghiệm tối hậu (trong phạm vi nhân loại bình thường).

431. Such a spiritual man:

431. Một người tinh thần như vậy:

a. Utilizes form under the Law of Economy

a. Vận dụng hình tướng dưới Định luật Tiết Kiệm

b. Blends with form under the Law of Attraction

b. Hoà nhập với hình tướng dưới Định luật Hấp dẫn

c. Dissociates himself from form under the Law of Synthesis

c. Tách rời khỏi hình tướng dưới Định luật Tổng Hợp

432. At this stage of evolution, all the senses have been raised to their highest pitch (at least the highest levels permitted discussion in this section of the book).

432. Ở giai đoạn tiến hoá này, mọi giác quan đã được nâng lên đến cao độ nhất của chúng (ít nhất là những cấp độ cao nhất được phép bàn trong phần này của sách).

He sees the threefold evolutionary process and by means of the development of the inner vision, sees within the heart of the system macrocosmic and microcosmic, the one SELF in many forms, and finally identifies himself with that one Self by the conscious rejection of the not-self after its complete subjugation and utilisation.

Ngài thấy tiến trình tiến hoá tam phân và nhờ sự phát triển của linh thị nội tại, thấy bên trong trái tim của hệ thống—đại thiên địa và tiểu thiên địa—một BẢN NGÃ trong nhiều hình tướng, và cuối cùng đồng hoá chính Ngài với Bản Ngã duy nhất ấy bằng sự khước từ hữu thức đối với phi-ngã sau khi nó đã bị khuất phục hoàn toàn và được vận dụng.

433. We understand that the highest correspondence of sight always involves the sight of an operational trinity.

433. Chúng ta hiểu rằng sự tương ứng cao nhất của thị giác luôn bao hàm việc thấy một Tam Vị đang vận hành.

434. The type of higher sight here discussed necessitates seeing with the heart. It is a sight allied to “Divine Vision” and “Realization”.

434. Loại thị giác cao hơn được bàn ở đây đòi hỏi phải thấy bằng trái tim. Đó là một thị giác liên minh với “Linh ảnh thiêng liêng” và “Chứng nghiệm”.

435. This type of sight is able to discern the one SELF in all tings and also to reject the not-Self if it obscures the One Self.

435. Loại thị giác này có thể phân biện một BẢN NGÃ trong mọi sự và cũng có thể khước từ phi-ngã nếu nó che khuất Bản Ngã duy nhất.

436. It becomes apparent that on the lower turn of the spiral the five senses can more easily be discriminated. When we speak of the higher or highest correspondences of these physical senses, they all seem to coalesce and to serve the same purpose.

436. Điều trở nên hiển nhiên là ở vòng xoắn thấp của đường xoắn ốc, năm giác quan có thể được phân biệt dễ hơn. Khi chúng ta nói về những tương ứng cao hơn hay cao nhất của các giác quan hồng trần này, tất cả dường như hoà lại và phụng sự cùng một mục đích.

d. Tasting. He tastes then finally and discriminates, for taste is the great sense that begins to hold sway during the discriminating process that takes place when the illusory nature of matter is in process of realisation.

d. Nếm. Rồi Ngài nếm và phân biện, vì vị giác là giác quan lớn bắt đầu nắm quyền trong tiến trình phân biện diễn ra khi bản chất ảo tưởng của vật chất đang trong tiến trình được chứng nghiệm.

437. Taste is at the stage of evolution here described is much related to the mental processes. Glamor and illusion are seen for what they are, and through an increasingly refined sense of taste, the individual learns to choose that which is more real and reject that which is less so.

437. Vị giác ở giai đoạn tiến hoá được mô tả ở đây liên hệ nhiều với các tiến trình thể trí. Ảo cảm và ảo tưởng được thấy đúng như chúng là, và qua một vị giác ngày càng tinh luyện, cá nhân học cách chọn điều thực hơn và khước từ điều kém thực hơn.

438. If we search the correspondences to the sense of physical taste, we shall see that Discrimination is the mental correspondence.

438. Nếu chúng ta tìm các tương ứng với vị giác hồng trần, chúng ta sẽ thấy rằng Phân biện là tương ứng trí tuệ.

439. We often here of “personality taste”. It is interesting that taste is correlated with that dimension of the mental plane (the fourth) on which personality focus and integration occurs.

439. Chúng ta thường nghe nói về “gu phàm ngã”. Thật thú vị khi vị giác được tương quan với chiều kích của cõi trí (thứ tư) nơi sự tập trung và tích hợp phàm ngã xảy ra.

Discrimination is the educatory process to which the Self subjects itself in the process of developing intuition—that faculty whereby the Self recognises its own essence in and under all forms.

Phân biện là tiến trình giáo hoá mà Bản Ngã tự đặt mình vào trong tiến trình phát triển trực giác—năng lực nhờ đó Bản Ngã nhận ra tinh chất riêng của nó trong và dưới mọi hình tướng.

440. These final sections are incredibly rich and instruct us in the movement whereby a given sense gives way to its higher correspondence. The sense called Discrimination gives place to Intuition, and this process is here described.

440. Những phần cuối này vô cùng phong phú và chỉ dạy chúng ta về sự chuyển động mà nhờ đó một giác quan nhường chỗ cho tương ứng cao hơn của nó. Giác quan được gọi là Phân biện nhường chỗ cho Trực giác, và tiến trình này được mô tả ở đây.

441. We are given an excellent definition of the faculty called Intuition. As described (though a higher correspondence to the sense of sight) it could be understood as a higher correspondence to the sense of smell, for the sense of smell also seeks out the essence under all forms.

441. Chúng ta được trao một định nghĩa xuất sắc về năng lực gọi là Trực giác. Như được mô tả (dù là một tương ứng cao hơn của thị giác), nó có thể được hiểu như một tương ứng cao hơn của khứu giác, vì khứu giác cũng tìm kiếm tinh chất dưới mọi hình tướng.

442. We note that no external agency is submitting the Self to the curriculum of Discrimination. The Self subjects itself to this curriculum, and that subjection occurs at a fairly advanced stage of evolution.

442. Chúng ta lưu ý rằng không có tác nhân bên ngoài nào đang đặt Bản Ngã vào chương trình Phân biện. Bản Ngã tự đặt mình vào chương trình này, và sự tự đặt ấy xảy ra ở một giai đoạn tiến hoá khá cao.

Discrimination concerns the duality of nature, the Self and the not-self, and is the means of their differentiation in the process of abstraction;

Phân biện liên quan đến nhị nguyên tính của bản chất, Bản Ngã và phi-ngã, và là phương tiện để chúng được phân biệt trong tiến trình trừu xuất;

443. At the fourth initiation, ruled in part by Mercury and Saturn, the Self must be discriminated from the not-Self. It is at this initiation that a significant abstraction occurs, for the consciousness is removed from the confines of the causal body and abstracted or elevated into buddhi consciousness.

443. Ở lần điểm đạo thứ tư, được cai quản một phần bởi Sao Thủy và Sao Thổ, Bản Ngã phải được phân biệt khỏi phi-ngã. Chính tại lần điểm đạo này, một sự trừu xuất quan trọng xảy ra, vì tâm thức được rút khỏi giới hạn của thể nguyên nhân và được trừu xuất hay nâng lên vào tâm thức Bồ đề.

444. This is another way of saying that Discrimination serves buddhi, and through its proper exercise, gives place to intuition, the major faculty of the buddhic plane.

444. Đây là một cách khác để nói rằng Phân biện phụng sự Bồ đề, và qua sự thực hành đúng đắn, nó nhường chỗ cho trực giác, năng lực chủ yếu của cõi Bồ đề.

the intuition concerns unity and is the capacity of the Self to contact other selves, and is not a faculty whereby the not-self is contacted.

trực giác liên quan đến hợp nhất và là năng lực của Bản Ngã để tiếp xúc với các bản ngã khác, và không phải là một năng lực nhờ đó phi-ngã được tiếp xúc.

445. This statement relates the Intuition to the Law of Magnetic Impulse (esoterically the Law of Polar Union). Under this law, soul contacts soul. Through the intuition (related as it is to the spiritual triad) Self contacts Self. The relationship is more Triad to Triad, or Spirit to Spirit.

445. Mệnh đề này liên hệ Trực giác với Định luật Xung Động Từ Tính (một cách huyền bí là Định luật Hợp Nhất Cực Tính). Dưới định luật này, linh hồn tiếp xúc linh hồn. Qua trực giác (liên hệ như nó là với Tam Nguyên Tinh Thần), Bản Ngã tiếp xúc Bản Ngã. Mối liên hệ mang tính Tam nguyên với Tam nguyên hơn, hay tinh thần với tinh thần.

446. The main idea to extract is that Intuition does not concern contact with the not-Self.

446. Ý chính cần rút ra là Trực giác không liên quan đến việc tiếp xúc với phi-ngã.

Hence, its rarity these days owing to the intense individualisation of the Ego, and its identification with the form—necessary identification at this particular time.

Do đó, sự hiếm hoi của nó ngày nay vì sự biệt ngã hóa mãnh liệt của Chân ngã, và sự đồng hoá của nó với hình tướng—một sự đồng hoá cần thiết vào thời điểm đặc thù này.

447. An important idea is presented. Advanced man is subject to an “intense individualisation of the Ego”. He is identified with his lower self and with the world in which that lower self is focussed. He may also be identified with his individualized Ego on its own plane and thus be preoccupied with the content of his causal body. In neither case will the Intuition be allowed full sway.

447. Một ý tưởng quan trọng được trình bày. Con người tiến bộ chịu tác động của một “sự biệt ngã hóa mãnh liệt của Chân ngã”. Y đồng hoá với phàm ngã của mình và với thế giới nơi phàm ngã ấy được tập trung. Y cũng có thể đồng hoá với Chân ngã đã biệt ngã hoá của mình trên cõi riêng của nó và vì vậy bận tâm với nội dung của thể nguyên nhân. Trong cả hai trường hợp, Trực giác sẽ không được phép nắm quyền trọn vẹn.

448. The consciousness must be somewhat abstracted from the form, if intuition is to flash forth with frequency.

448. Tâm thức phải được trừu xuất phần nào khỏi hình tướng, nếu trực giác muốn loé lên với tần suất.

As the sense of taste on the higher planes is developed, it leads one to ever finer distinctions till one is finally led through the form, right to the heart of one’s nature.

Khi vị giác trên các cõi cao được phát triển, nó dẫn người ta đến những phân biệt ngày càng tinh tế cho đến khi cuối cùng người ta được dẫn, qua hình tướng, thẳng đến trái tim của bản chất mình.

449. We are reminded that taste is discriminatory and that the discriminations to be made are ever more refined.

449. Chúng ta được nhắc rằng vị giác mang tính phân biệt và những phân biệt cần thực hiện sẽ ngày càng tinh tế.

450. It is important to realize that all senses lead from a preoccupation with form and the information it can convey, to an intense focus on that which underlies the form. All senses, therefore, converge at an identical peak of identification and spiritual realization.

450. Điều quan trọng là chứng nghiệm rằng mọi giác quan đều dẫn từ sự bận tâm với hình tướng và thông tin mà nó có thể truyền đạt, đến một sự tập trung mãnh liệt vào điều nằm bên dưới hình tướng. Vì vậy, mọi giác quan hội tụ ở một đỉnh cao đồng nhất của sự đồng hoá và chứng nghiệm tinh thần.

451. VSK would have us note the four basics of taste: sweet, salty, bitter, sour. And their esoteric correspondences.

451. VSK muốn chúng ta lưu ý bốn nền tảng của vị giác: ngọt, mặn, đắng, chua. Và các tương ứng huyền bí của chúng.

452. Planets related to these basics are Venus, Saturn and Mars. The planet associated with that which is sour is debatable—somewhat a mixture of Mars and Saturn.

452. Các hành tinh liên hệ với những nền tảng này là Sao Kim, Sao Thổ và Sao Hỏa. Hành tinh gắn với vị chua còn có thể tranh luận—phần nào là sự pha trộn của Sao Hỏa và Sao Thổ.

453. The “heart of one’s nature” is the Spirit itself, pure being.

453. “Trái tim của bản chất mình” chính là Tinh thần, bản thể thuần khiết.

e. Smelling is the faculty of keen perception that eventually brings a man back to the source from whence he came, the archetypal plane, the plane where his true home is to be found.

e. Ngửi là năng lực tri giác sắc bén cuối cùng đưa con người trở về nguồn cội nơi y đã đến, cõi nguyên mẫu, cõi nơi mái nhà đích thực của y được tìm thấy.

454. The archetypal plane, in this context, is the monadic plane. Thus smelling lead not only the atmic plane with which it is correspondentially associated, but to the monadic plane—man’s true home.

454. Cõi nguyên mẫu, trong ngữ cảnh này, là cõi chân thần. Vì vậy, khứu giác không chỉ dẫn tới cõi atma mà nó tương ứng, mà còn tới cõi chân thần—mái nhà đích thực của con người.

455. One would wonder whether the higher correspondences to the sense of smell would help an individual determine his monadic ray and trace his way back to his monadic home.

455. Người ta có thể tự hỏi liệu những tương ứng cao hơn của khứu giác có giúp một cá nhân xác định cung chân thần của mình và lần theo đường trở về mái nhà chân thần của mình hay không.

456. This may fairly be said of idealism which is naturally related to the number six just as the Monad is (finding its residence on the sixth plane numbering from ‘below’). The highest sort of idealism lifts to the Monad. The Monad is, thus, the true ‘object’ of the idealistic impulse, though this is probably not recognized by the idealist.

456. Điều này có thể nói khá đúng về chủ nghĩa lý tưởng vốn tự nhiên liên hệ với con số sáu cũng như Chân Thần (cư trú trên cõi thứ sáu tính từ “dưới” lên). Loại chủ nghĩa lý tưởng cao nhất nâng lên tới Chân Thần. Vì vậy, Chân Thần là “đối tượng” đích thực của xung lực lý tưởng, dù điều này có lẽ không được người lý tưởng nhận ra.

A perception of difference has been cultivated that has caused a divine discontent within the [202] heart of the Pilgrim in the far country;

Một tri giác về khác biệt đã được trau dồi, khiến một sự bất mãn thiêng liêng trỗi dậy trong [202] trái tim của Người Lữ Hành ở xứ xa;

457. “The Pilgrim in the far country” is the emanated extension of the Monad—i.e., the Jiva.

457. “Người Lữ Hành ở xứ xa” là sự mở rộng được xuất lộ của Chân Thần—tức là Jiva.

458. How interesting that “a perception of difference” should awaken divine discontent! Of course the Spirit/Monad on its own plane perceives no essential difference.

458. Thật thú vị khi “một tri giác về khác biệt” lại đánh thức sự bất mãn thiêng liêng! Dĩ nhiên, Tinh thần/Chân Thần trên cõi riêng của nó không tri giác bất kỳ khác biệt thiết yếu nào.

459. We note that the “perception of difference” has been “cultivated”. This has occurred under the individualized mind, and is most necessary phase of evolution. The Spirit, however, considers this perception of difference a limitation and wishes to transcend it.

459. Chúng ta lưu ý rằng “tri giác về khác biệt” đã được “trau dồi”. Điều này đã xảy ra dưới thể trí đã biệt ngã hoá, và là một giai đoạn tiến hoá hết sức cần thiết. Tuy nhiên, Tinh thần xem tri giác về khác biệt này là một giới hạn và muốn vượt qua nó.

460. It is also interesting that divine discontent (related to Neptune) awakens in the heart of the Pilgrim. Neptune, the planet of longing, in this case, is the longing for home arising within the heart. Neptune, as the primary second ray planet within our system (monadically considered—cf. EP I 420) is correctly placed in the heart at an advanced stage of development. Earlier, the Neptunian longing works through the solar plexus. It is a vague longing for the ideal. All may experience it, though all will not know the object or state for which they long.

460. Cũng thật thú vị khi sự bất mãn thiêng liêng (liên hệ với Sao Hải Vương) thức dậy trong trái tim của Người Lữ Hành. Sao Hải Vương, hành tinh của khát vọng, trong trường hợp này là nỗi khát khao về nhà trỗi dậy trong trái tim. Sao Hải Vương, như hành tinh cung hai chủ yếu trong hệ thống của chúng ta (xét theo chân thần—so sánh EP I 420), được đặt đúng chỗ trong trái tim ở một giai đoạn phát triển cao. Trước đó, khát vọng kiểu Sao Hải Vương hoạt động qua tùng thái dương. Đó là một khát vọng mơ hồ về lý tưởng. Tất cả đều có thể trải nghiệm nó, dù không phải ai cũng biết đối tượng hay trạng thái mà họ khát khao.

the prodigal son draws comparisons; he has developed the other four senses, and he utilises them.

Người con hoang đàng bắt đầu so sánh; y đã phát triển bốn giác quan kia, và y vận dụng chúng.

461. The “prodigal son” is advancing rapidly, but he is not yet consciously oriented towards “home”—the monadic plane.

461. “Người con hoang đàng” đang tiến nhanh, nhưng y chưa hướng một cách hữu thức về “nhà”—cõi chân thần.

Now comes in the faculty of vibratory recognition of the home vibration, if it might be so expressed.

Giờ đây xuất hiện năng lực nhận biết rung động về rung động của mái nhà, nếu có thể diễn đạt như vậy.

462. This will begin as the individual nears the period of the third initiation and will intensify thereafter.

462. Điều này sẽ bắt đầu khi cá nhân tiến gần thời kỳ lần điểm đạo thứ ba và sẽ tăng cường về sau.

It is the spiritual counterpart of that sense which in the animal, the pigeon and other birds, leads them back unerringly to the familiar spot from whence they originally came.

Đó là đối phần tinh thần của giác quan mà nơi loài vật, chim bồ câu và các loài chim khác, dẫn chúng trở về không sai chạy đến nơi quen thuộc mà từ đó ban đầu chúng đã đến.

463. We may expect a certain unerring quality in the higher correspondences to the sense of smell. DK is giving us a subtle assurance that we will find our way “home”.

463. Chúng ta có thể kỳ vọng một phẩm tính “không sai chạy” nhất định trong những tương ứng cao hơn của khứu giác. Chân sư DK đang trao cho chúng ta một sự bảo chứng tinh tế rằng chúng ta sẽ tìm được đường “về nhà”.

464. He is also suggesting that, however buried the memory may be, the monadic plane is a “familiar spot” to us—as Spirits.

464. Ngài cũng gợi ý rằng, dù ký ức có bị vùi lấp đến đâu, cõi chân thần vẫn là một “nơi quen thuộc” đối với chúng ta—với tư cách là các Tinh thần.

It is the apprehension of the vibration of the Self, and a swift return by means of that instinct to the originating source.

Đó là sự nhận biết rung động của Ngã, và một sự trở về mau lẹ, nhờ bản năng ấy, đến nguồn phát sinh.

465. There is an ongoing issue: does the higher sense of smell lead to the atmic plane or to the monadic plane, or to both? Probably, to both, though it may be a higher correspondence of the sixth sense, the mind, which leads finally to the monadic home. The number six tells the story.

465. Có một vấn đề đang tiếp diễn: liệu giác quan khứu giác cao hơn dẫn đến cõi atma hay cõi chân thần, hay đến cả hai? Có lẽ là đến cả hai, dù nó có thể là một tương ứng cao hơn của giác quan thứ sáu, tức thể trí, vốn rốt cuộc dẫn đến mái nhà chân thần. Con số sáu kể câu chuyện ấy.

466. We note that the return is “swift” suggesting the “progress onwards” of the Spirit—a driving forward through the space that separates the longing consciousness from its Spirit-home.

466. Chúng ta lưu ý rằng sự trở về là “mau lẹ”, gợi ý “sự tiến bước về phía trước” của tinh thần—một lực thúc đẩy tiến lên xuyên qua không gian ngăn cách tâm thức khát khao với mái nhà tinh thần của nó.

467. There are a number of instincts related to the higher life: spiritual instinct (first instinct); intuitive instinct (third initiation); and, perhaps, what we might call ‘ontological instinct’ or ‘existential instinct’ relating to Mastership and beyond.

467. Có một số bản năng liên hệ với sự sống cao hơn: bản năng tinh thần (bản năng thứ nhất); bản năng trực giác (lần điểm đạo thứ ba); và, có lẽ, điều mà chúng ta có thể gọi là ‘bản năng bản thể luận’ hay ‘bản năng hiện sinh’ liên hệ với địa vị chân sư và vượt xa hơn nữa.

468. We have been discussing some very intricate matters in relation to the physical senses and their extensions, and, of course, we have only scratched the surface. This section of the book requires much pondering. DK suggested that we visualize the nature and meaning of the higher correspondences to the physical senses. Perhaps that is all we can do at this point. But one day, before long, the presence of these senses will make itself known to us and we will begin to apprehend in a non-theoretical manner what they reveal.

468. Chúng ta đã bàn đến một số vấn đề rất tinh vi liên quan đến các giác quan hồng trần và những sự mở rộng của chúng, và dĩ nhiên, chúng ta mới chỉ chạm đến bề mặt. Phần này của cuốn sách đòi hỏi nhiều suy ngẫm. Chân sư DK gợi ý rằng chúng ta hãy hình dung bản chất và ý nghĩa của những tương ứng cao hơn đối với các giác quan hồng trần. Có lẽ đó là tất cả những gì chúng ta có thể làm ở điểm này. Nhưng một ngày nào đó, không lâu nữa, sự hiện diện của các giác quan này sẽ tự bộc lộ cho chúng ta, và chúng ta sẽ bắt đầu nhận biết, theo một cách không còn thuần lý thuyết, điều mà chúng bộc lộ.

Scroll to Top