Minh Triết Ki Tô Giáo – P I (Chương 1-10)

📘 Sách: Minh Triết Ki Tô Giáo (Christian Gnosis) – Tác giả: C.W. Leadbeater

Cover

CHRISTIAN

CHRISTIAN

GNOSIS

GNOSIS

C HARLES W. LEADBEATER

CHARLES W. LEADBEATER

EDITED WITH A FOREWORD BY

BIÊN TẬP VÀ VIẾT LỜI NÓI ĐẦU BỞI

STEN VON KRUSENSTIERNA

STEN VON KRUSENSTIERNA

INTRODUCTION AND NOTES BY

LỜI GIỚI THIỆU VÀ CHÚ THÍCH BỞI

RICHARD SMOLEY

RICHARD SMOLEY

00004.jpeg

Theosophical Publishing House

Nhà Xuất Bản Thông Thiên Học

Wheaton, Illinois • Chennai, India

Wheaton, Illinois • Chennai, Ấn Độ

Find more books like this at www.questbooks.net

Tìm thêm những sách tương tự tại www.questbooks.net

Cover design by Beth Hansen-Winter

Thiết kế bìa bởi Beth Hansen-Winter

Library of Congress Cataloging-in-Publication Data

Dữ liệu Biên mục trong Ấn phẩm của Thư viện Quốc hội

Leadbeater, C. W. (Charles Webster), 1854–1934.

Leadbeater, C. W. (Charles Webster), 1854–1934.

Christian gnosis / Charles W. Leadbeater; edited with a foreword by Sten von

Christian gnosis / Charles W. Leadbeater; biên tập và viết lời nói đầu bởi Sten von

Krusenstierna; introduction and notes by Richard Smoley.—1st. Quest ed. 2011.

Krusenstierna; lời giới thiệu và chú thích bởi Richard Smoley.—ấn bản Quest lần thứ nhất. 2011.

p. cm.

tr. cm.

Includes bibliographical references.

Có kèm tài liệu tham khảo thư mục.

ISBN 978-0-8356-0895-4

ISBN 978-0-8356-0895-4

1. Liberal Catholic Church—Doctrines. I. Von Krusenstierna, Sten. II. Smoley,

1. Giáo hội Công giáo Tự do—Giáo lý. I. Von Krusenstierna, Sten. II. Smoley,

Richard. III. Title.

Richard. III. Nhan đề.

BX4795.L45L43 2011

BX4795.L45L43 2011

230’.48—dc22

2011003640

CONTENTS — MỤC LỤC

List of Diagrams

Introduction to the Second Edition by Richard Smoley

Foreword by Sten von Krusenstierna

Author’s Preface

 Part One: The Divine Plan: Evolution  

1.

About God

2.

The Descent into Matter

3.

Made in the Image of God

4.

The Human Soul

5.

The Method of Human Progress

6.

Reincarnation

7.

The Just Law

8.

Salvation

 Part Two: The Inner Teaching of Early Christianity  

9.

The Original Teaching

10.

The Origin of the Creeds

11.

The Father Almighty

12.

The Son

13.

The Incarnation

14.

The Crucifixion

15.

The Descent into Hell

16.

The Resurrection

17.

The Ascension

18.

The Holy Ghost

19.

The Church and the Saints

20.

The Remission of Sins

21.

The Resurrection of the Dead

 Part Three: Various Subjects  

22.

Our Lady

23.

The Hosts of Heaven

24.

The Communion of Saints

25.

The Sacraments

26.

The Holy Eucharist

27.

Holy Orders

28.

Healing

29.

Ceremonial

30.

The Vision of St. John

31.

Exoteric and Esoteric

32.

A New Attitude towards Sin

33.

A Rational Creed

Notes

DIAGRAMS

SƠ ĐỒ

Introduction To The Second Edition — Giới Thiệu Cho Ấn Bản Thứ Hai

BY RICHARD SMOLEY

BỞI RICHARD SMOLEY

Today the word gnosis provokes a cavalcade of associations. It can mean a kind of spiritual experience akin to enlightenment. It can refer to the ancient Christian mystical schools of the early centuries AD or even to a spate of new religious movements that lay claim to the ancient Gnostic heritage.

Ngày nay, từ gnosis gợi lên cả một đoàn dài những liên tưởng. Nó có thể hàm ý một loại kinh nghiệm tinh thần gần với giác ngộ. Nó có thể chỉ các trường phái thần bí Kitô giáo cổ đại trong những thế kỷ đầu Công nguyên, hoặc thậm chí chỉ một loạt phong trào tôn giáo mới tự nhận là thừa kế di sản Ngộ giáo cổ xưa.

For Charles W. Leadbeater, whose essays constitute this volume, the meaning of gnosis is different. In ancient Christianity, he tells us, gnosis was a “technical term. It did not mean ordinary wisdom, but the special religious teaching to those who are at the stage of the perfect” (p. 88). He quotes the apostle Paul: “We speak the wisdom of God in a mystery, even the hidden wisdom, which God ordained before the world unto our glory” (1 Cor. 2:7).   1    And he goes on to argue—echoing the great Church Father Origen—that this “hidden wisdom” could not have been the teachings of exoteric Christianity, since these were widely known even to the ancient public.

Đối với Charles W. Leadbeater, người có các tiểu luận hợp thành tập sách này, ý nghĩa của gnosis lại khác. Ông cho chúng ta biết rằng trong Kitô giáo cổ đại, gnosis là một “thuật ngữ chuyên môn. Nó không có nghĩa là minh triết thông thường, mà là giáo huấn tôn giáo đặc biệt dành cho những người đang ở giai đoạn của sự hoàn thiện” (tr. 88). Ông trích lời sứ đồ Paul: “Chúng tôi nói minh triết của Thượng đế trong một huyền nhiệm, tức minh triết ẩn giấu, mà Thượng đế đã định trước khi có thế gian cho vinh quang của chúng ta” (1 Cor. 2:7). 1 Và ông tiếp tục lập luận—vang vọng theo vị Giáo phụ vĩ đại Origen—rằng “minh triết ẩn giấu” này không thể là những giáo huấn của Kitô giáo ngoại môn, vì những giáo huấn ấy đã được công chúng cổ đại biết đến rộng rãi.

It is this “hidden wisdom” that is the topic of this book. It would be foolish of me to spell out these ideas in an introduction, since Leadbeater himself does so clearly and at length, but as a preliminary it would be helpful to say something about these teachings and their context, as well as about the man who presents them.

Chính “minh triết ẩn giấu” này là chủ đề của cuốn sách. Sẽ là thiếu khôn ngoan nếu tôi trình bày chi tiết các ý tưởng ấy trong lời giới thiệu, bởi chính Leadbeater đã làm điều đó một cách rõ ràng và đầy đủ; nhưng như một phần dẫn nhập, sẽ hữu ích nếu nói đôi điều về các giáo huấn này và bối cảnh của chúng, cũng như về con người trình bày chúng.

Charles Webster Leadbeater was born in Stockport, England, in 1854 (some sources have given this date incorrectly as 1847). He started his career as a bank clerk, but, thanks to a vocation to the priesthood and help from an influential relative, he was able to pursue theological studies and was ordained as a priest in the Church of England in 1879. In 1883 he joined the Theosophical Society, which had been formed in 1875 with the partial object of exploring “the hidden mysteries of nature and the latent powers in man.”

Charles Webster Leadbeater sinh tại Stockport, Anh, năm 1854 (một số nguồn đã ghi sai ngày này là 1847). Ông bắt đầu sự nghiệp như một thư ký ngân hàng, nhưng nhờ ơn gọi hướng tới chức linh mục và sự giúp đỡ của một người thân có ảnh hưởng, ông có thể theo học thần học và được phong chức linh mục trong Giáo hội Anh năm 1879. Năm 1883, ông gia nhập Hội Thông Thiên Học, được thành lập năm 1875 với một phần mục tiêu là khảo sát “những huyền nhiệm ẩn giấu của thiên nhiên và các quyền năng tiềm tàng trong con người.”

One aspect of the Theosophical Society that especially appealed to Leadbeater was its claim that it had been founded under the inspiration of hidden Masters of Wisdom, individuals on earth who were possessed of certain extraordinary powers (such as clairvoyance and telekinesis) and who were in communication with the founders of the Society, notably H. P. Blavatsky and Henry Steel Olcott. Leadbeater wanted to be the disciple of such a Master and even wrote a letter to that effect, transmitted through a “spirit guide” in March 1884. In October of that year, he received a reply—a letter written in blue pencil and signed “KH”—the initials used by Koot Hoomi, one of the Masters. In it Koot Hoomi told him what was involved in the discipleship he sought. The letter also suggested that Leadbeater visit India “for a few months.”

Một phương diện của Hội Thông Thiên Học đặc biệt hấp dẫn Leadbeater là lời khẳng định rằng Hội được thành lập dưới cảm hứng của các Chân sư Minh Triết ẩn giấu, những cá nhân trên Trái Đất sở hữu một số quyền năng phi thường, như thông nhãn và vi động lực, và có liên lạc với những người sáng lập Hội, đặc biệt là H. P. Blavatsky và Henry Steel Olcott. Leadbeater muốn trở thành đệ tử của một Chân sư như thế và thậm chí đã viết một lá thư với ý nguyện ấy, được chuyển qua một “hướng dẫn tinh thần” vào tháng Ba năm 1884. Tháng Mười năm ấy, ông nhận được hồi đáp—một lá thư viết bằng bút chì xanh và ký “KH”—những chữ viết tắt mà Koot Hoomi, một trong các Chân sư, sử dụng. Trong thư, Koot Hoomi cho ông biết điều gì hàm chứa trong địa vị đệ tử mà ông tìm kiếm. Lá thư cũng gợi ý rằng Leadbeater nên đến Ấn Độ “trong vài tháng.”

At the time Leadbeater had no personal ties in England, so he resolved to go to India and stay there indefinitely. He arrived at the end of 1884. The following year he embarked upon a course of study (which he mentions occasionally in this collection) that enabled him to develop certain psychic faculties, notably clairvoyance. This faculty would inform much of his writing for the rest of his life.

Vào lúc ấy, Leadbeater không có ràng buộc cá nhân nào ở Anh, nên ông quyết định đi Ấn Độ và ở lại đó vô thời hạn. Ông đến nơi vào cuối năm 1884. Năm sau, ông bắt đầu một chương trình học tập mà thỉnh thoảng ông nhắc đến trong tuyển tập này, giúp ông phát triển một số năng lực thông linh, đặc biệt là thông nhãn. Năng lực này sẽ thấm nhuần phần lớn các trước tác của ông trong suốt phần đời còn lại.

Leadbeater became a close associate of Annie Besant, who had joined the Theosophical Society in 1889 and would become its leader in the following decade. Together with Besant, Leadbeater conducted inquiries into the psychic realms that led to such works as the 1895 collection Occult Chemistry, in which the authors described their visions of subatomic particles (objects that were still unknown to science, which still regarded the atom as an irreducible entity). Other works inspired by his research include The Astral Plane, Invisible Helpers, The Other Side of Death, Man Visible and Invisible, and The Chakras. These last two proved to be particularly influential, and to this day there are very few New Age books on the subtle bodies of man or the chakras that are not more or less directly influenced by Leadbeater.

Leadbeater trở thành cộng sự thân thiết của Annie Besant, người gia nhập Hội Thông Thiên Học năm 1889 và sẽ trở thành lãnh đạo của Hội trong thập niên sau đó. Cùng với Besant, Leadbeater tiến hành những khảo sát vào các cõi thông linh, dẫn đến các tác phẩm như tuyển tập năm 1895 Occult Chemistry, trong đó các tác giả mô tả linh ảnh của họ về những hạt hạ nguyên tử, là những đối tượng khi ấy khoa học vẫn chưa biết đến, vì khoa học vẫn xem nguyên tử là một thực thể không thể phân chia. Những tác phẩm khác được gợi hứng từ nghiên cứu của ông gồm The Astral Plane, Invisible Helpers, The Other Side of Death, Man Visible and Invisible,The Chakras. Hai tác phẩm sau cùng này tỏ ra đặc biệt có ảnh hưởng, và cho đến ngày nay, rất ít sách Thời Đại Mới về các thể vi tế của con người hay về các luân xa mà không ít nhiều chịu ảnh hưởng trực tiếp của Leadbeater.

In 1906, Leadbeater fell afoul of accusations of sexual impropriety with young boys. Evidently he had—very much against the mores of the time—advised them to masturbate. Whether he did anything more is rather hard to determine, but, in any event he left the Theosophical Society in 1906 and pursued his own occult researches for the next three years, until Annie Besant, at this point the president of the society, invited him to return. He did so and settled at the society’s world headquarters at Adyar, near Madras (today’s Chennai), India. In 1909 he took an interest in a young Brahmin boy, Jiddu Krishnamurti, foreseeing that he would display remarkable qualities. Besant agreed, predicting that Krishnamurti would serve as a vehicle for the new “World Teacher” who was destined to come and inaugurate a new cycle for humanity. Krishnamurti was taken up by Besant and Leadbeater and given the finest English education available at the time. The Theosophists even formed a society, the Order of the Star, to promote Krishnamurti’s work as World Teacher.

Năm 1906, Leadbeater vướng vào những cáo buộc về hành vi tình dục không đứng đắn với các thiếu niên. Rõ ràng ông đã—rất trái với tập tục đạo đức đương thời—khuyên họ thủ dâm. Việc ông có làm gì hơn thế hay không thì khá khó xác định, nhưng dù sao ông cũng rời Hội Thông Thiên Học năm 1906 và theo đuổi các nghiên cứu huyền bí riêng trong ba năm tiếp theo, cho đến khi Annie Besant, lúc này là chủ tịch Hội, mời ông trở lại. Ông đã trở lại và định cư tại trụ sở thế giới của Hội ở Adyar, gần Madras, nay là Chennai, Ấn Độ. Năm 1909, ông chú ý đến một cậu bé Brahmin trẻ tuổi, Jiddu Krishnamurti, tiên liệu rằng cậu sẽ biểu lộ những phẩm tính phi thường. Besant đồng ý, dự đoán rằng Krishnamurti sẽ phụng sự như một vận cụ cho “Đức Chưởng Giáo” mới, Đấng được định sẽ đến và khai mở một chu kỳ mới cho nhân loại. Krishnamurti được Besant và Leadbeater nhận chăm sóc và được trao nền giáo dục Anh tốt nhất lúc bấy giờ. Các nhà Thông Thiên Học thậm chí còn thành lập một hội, Dòng Sao, để cổ vũ công việc của Krishnamurti với tư cách Đức Chưởng Giáo.

The predictions for Krishnamurti did have some validity. He became one of the most influential spiritual teachers of the twentieth century but in the opposite way to what Besant and Leadbeater had expected. In 1929, in a famous speech, “Truth Is a Pathless Land,” he dissolved the Order of the Star. “You can form other organizations and expect someone else,” he told his followers. “With that I am not concerned, nor with creating new cages, new decorations for those cages. My only concern is to set men absolutely, unconditionally free.”   2    

Những dự đoán về Krishnamurti quả có một phần giá trị. Ông trở thành một trong những huấn sư tinh thần có ảnh hưởng nhất thế kỷ hai mươi, nhưng theo cách trái ngược với điều Besant và Leadbeater mong đợi. Năm 1929, trong bài diễn văn nổi tiếng “Chân lý là miền đất không có đường mòn,” ông giải tán Dòng Sao. “Các bạn có thể lập các tổ chức khác và trông đợi một người khác,” ông nói với những người theo mình. “Tôi không bận tâm đến điều đó, cũng không bận tâm đến việc tạo ra những chiếc lồng mới, những trang trí mới cho các chiếc lồng ấy. Mối quan tâm duy nhất của tôi là làm cho con người được tự do tuyệt đối, vô điều kiện.” 2

Undaunted by this reversal, Leadbeater continued his work and promoted the concept of a new, previously unknown member of the hierarchy of adepts: the World Mother, whom he also mentions in Christian Gnosis. He died in Perth, Western Australia, on March 1, 1934.

Không nản lòng trước sự đảo ngược này, Leadbeater tiếp tục công việc của mình và cổ vũ khái niệm về một thành viên mới, trước đó chưa được biết đến, của hệ thống chân sư: Đức Mẹ Thế Giới, Đấng mà ông cũng nhắc đến trong Christian Gnosis. Ông qua đời tại Perth, Tây Úc, ngày 1 tháng Ba năm 1934.

Such are the bare facts of Leadbeater’s life. To understand their relationship to this present work, we need to begin with his clairvoyant experience while observing the Christian sacraments. He noticed that even when an uninspired priest was performing a mass in front of an ignorant congregation, certain “thought-forms” of an unusual nature were created. He would discuss this experience in a number of works, notably The Science of the Sacraments, which gives a thorough description of these astral thought-forms and even related them to certain well-known types of church structure.

Đó là những sự kiện cơ bản trong đời Leadbeater. Để thấu hiểu mối liên hệ của chúng với tác phẩm hiện tại, chúng ta cần bắt đầu từ kinh nghiệm thông nhãn của ông khi quan sát các bí tích Kitô giáo. Ông nhận thấy rằng ngay cả khi một linh mục thiếu cảm hứng cử hành thánh lễ trước một cộng đoàn thiếu hiểu biết, một số “hình tư tưởng” có bản chất khác thường vẫn được tạo nên. Ông đã bàn về kinh nghiệm này trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là The Science of the Sacraments, tác phẩm đưa ra một mô tả thấu đáo về các hình tư tưởng cảm dục này và thậm chí liên hệ chúng với một số kiểu cấu trúc nhà thờ quen thuộc.

Leadbeater began to turn these ideas into practice in 1915. At this point, the English Theosophist James Wedgwood (1883–1951) came to Sydney. Wedgwood had been ordained as a priest by Arnold Harris Mathew (1852–1919), Old Catholic Archbishop of Great Britain, who, by his secession from the Old Catholic Church of Utrecht, was considered to be a “wandering bishop” in an independent sacramental line.

Leadbeater bắt đầu đưa các ý tưởng này vào thực hành năm 1915. Vào thời điểm ấy, nhà Thông Thiên Học người Anh James Wedgwood (1883–1951) đến Sydney. Wedgwood đã được Arnold Harris Mathew (1852–1919), Tổng giám mục Công giáo Cổ của Đại Anh quốc, phong chức linh mục; do việc tách khỏi Giáo hội Công giáo Cổ Utrecht, Mathew bị xem là một “giám mục lang thang” trong một dòng bí tích độc lập.

The concept of wandering bishops and independent sacramental lines may sound peculiar, but it is extremely important for placing Christian Gnosis in the context of Christianity as a whole. The idea comes from a peculiarity in Roman Catholic doctrine: an ordinary priest can be unfrocked—that is, he can be stripped of his role and his office—but a bishop cannot be unconsecrated. (The correct terminology is that a priest is ordained, whereas a bishop is consecrated.) A bishop remains a bishop even if he “wanders”—that is, separates himself from the Church. Stephan A. Hoeller, bishop of the Ecclesia Gnostica in Hollywood and himself the holder of an independent sacramental lineage, explains the concept thus: “Due to an early tradition, articulated but not invented by St. Augustine, the orthodoxy and validity of apostolic succession were not considered identical. Bishops could be heretics, yet could exercise their office as stewards of the sacraments in a valid manner. This doctrine (known as the Augustinian doctrine of orders) has been held to this day by the Roman Catholic Church. Provided the ‘wandering ones’ held the same intentions when ordaining their successors as those traditionally held by sacramental Christendom over the ages, they could pass on their sacred powers and administer the sacraments in a manner that the popes would recognize as valid.”   3    

Khái niệm về các giám mục lang thang và các dòng bí tích độc lập có thể nghe kỳ lạ, nhưng nó cực kỳ quan trọng để đặt Christian Gnosis vào bối cảnh Kitô giáo nói chung. Ý tưởng này đến từ một điểm đặc thù trong giáo lý Công giáo La Mã: một linh mục bình thường có thể bị tước áo dòng—nghĩa là bị tước bỏ vai trò và chức vụ của mình—nhưng một giám mục thì không thể bị giải thánh hiến. Thuật ngữ chính xác là linh mục được phong chức, còn giám mục được thánh hiến. Một giám mục vẫn là giám mục ngay cả khi ông “lang thang”—nghĩa là tự tách khỏi Giáo hội. Stephan A. Hoeller, giám mục của Ecclesia Gnostica tại Hollywood và bản thân là người nắm giữ một dòng bí tích độc lập, giải thích khái niệm này như sau: “Do một truyền thống sớm, được Thánh Augustine trình bày nhưng không phát minh, tính chính thống và tính hiệu lực của sự kế thừa tông truyền không được xem là đồng nhất. Các giám mục có thể là dị giáo, nhưng vẫn có thể thi hành chức vụ của mình như những người quản nhiệm các bí tích một cách hợp lệ. Giáo lý này, được biết đến như giáo lý Augustine về các chức thánh, đến nay vẫn được Giáo hội Công giáo La Mã duy trì. Miễn là những ‘người lang thang’ giữ cùng ý hướng khi phong chức cho người kế nhiệm như các ý hướng truyền thống mà Kitô giáo bí tích đã giữ qua nhiều thời đại, họ có thể truyền lại các quyền năng thiêng liêng của mình và cử hành các bí tích theo một cách mà các giáo hoàng sẽ công nhận là hợp lệ.” 3

Holders of these traditions included bishops of the South Indian Church, which traces its origins to the apostle Thomas, and the Old Catholic Church of Holland, the first bishop of which was consecrated in 1724 and which is still (somewhat grudgingly) granted status as a legitimate apostolic church by Rome. It was in the Dutch Old Catholic line that Mathew held his episcopate. Mathew had also consecrated Frederick Samuel Willoughby as a bishop (although he suspended him from the English branch of the Dutch Old Catholic Church because of a scandal involving homosexuality), and Willoughby in turn consecrated Wedgwood in 1916. Wedgwood and Leadbeater formed the Liberal Catholic Church, also in 1916, with Wedgwood as first Presiding Bishop.

Những người nắm giữ các truyền thống này gồm các giám mục của Giáo hội Nam Ấn, vốn truy nguyên nguồn gốc của mình đến sứ đồ Thomas, và Giáo hội Công giáo Cổ Hà Lan, vị giám mục đầu tiên của giáo hội này được thánh hiến năm 1724 và vẫn được La Mã, dù có phần miễn cưỡng, trao quy chế như một giáo hội tông truyền hợp pháp. Chính trong dòng Công giáo Cổ Hà Lan mà Mathew giữ chức giám mục của mình. Mathew cũng đã thánh hiến Frederick Samuel Willoughby làm giám mục, mặc dù ông đình chỉ Willoughby khỏi nhánh Anh của Giáo hội Công giáo Cổ Hà Lan vì một vụ bê bối liên quan đến đồng tính luyến ái; và đến lượt mình, Willoughby thánh hiến Wedgwood năm 1916. Wedgwood và Leadbeater thành lập Giáo hội Công giáo Tự do, cũng vào năm 1916, với Wedgwood là Giám mục Chủ tọa đầu tiên.

While the strands of the wandering bishops’ lines can become extremely hard to sort out, the basic picture is clear. The Liberal Catholic Church was intended to serve as a combination of the Catholic sacramental heritage with a theology that was close to that of Theosophy. While there is no formal connection between the Liberal Catholic Church and the Theosophical Society, in practice there is much overlap, and many Liberal Catholic clergy are Theosophists.

Dù các sợi dây của những dòng giám mục lang thang có thể trở nên cực kỳ khó phân định, bức tranh căn bản vẫn rõ ràng. Giáo hội Công giáo Tự do được dự định phụng sự như một sự kết hợp giữa di sản bí tích Công giáo và một nền thần học gần với Thông Thiên Học. Dù không có mối liên hệ chính thức giữa Giáo hội Công giáo Tự do và Hội Thông Thiên Học, trên thực tế có nhiều chỗ giao thoa, và nhiều giáo sĩ Công giáo Tự do là các nhà Thông Thiên Học.

This background helps explain what we have in this volume, which hews quite closely to many aspects of Catholic practice and even doctrine but interprets them in Theosophical terms. Indeed much of this book consists of a line-by-line exegesis of the great Catholic creeds—particularly the Nicene and Apostles’ creeds—in light of this thought.

Bối cảnh này giúp giải thích điều chúng ta có trong tập sách này, một tác phẩm bám khá sát nhiều phương diện của thực hành Công giáo và thậm chí cả giáo lý Công giáo, nhưng diễn giải chúng bằng các thuật ngữ Thông Thiên Học. Thật vậy, phần lớn cuốn sách này gồm một sự chú giải từng dòng các tín biểu Công giáo lớn—đặc biệt là tín biểu Nicene và tín biểu các Tông đồ—dưới ánh sáng của tư tưởng này.

Certainly Leadbeater’s theology diverges from traditional Catholic teaching in any number of respects. One of the most notable ones is the nature and person of Christ. Unlike Catholicism and Eastern Orthodoxy, which, over the course of innumerable church councils, pieced together a view of the dual nature of Christ as truly God and truly man, Leadbeater’s Christology entails a version of adoptionism. That is, Christ and the man Jesus are not identical in the sense that orthodox theologians would understand: to Leadbeater, the Christ is a discarnate being known as the World Teacher, who has taken incarnation on many occasions and who, in the first century AD, took over the physical person of the disciple Jesus when the latter was baptized by John. (Besant and Leadbeater apparently believed that the same World Teacher would use the human form of Krishnamurti in the same way.)

Chắc chắn thần học của Leadbeater khác với giáo huấn Công giáo truyền thống ở nhiều phương diện. Một trong những phương diện đáng chú ý nhất là bản chất và ngôi vị của Đức Christ. Khác với Công giáo và Chính thống giáo Đông phương, vốn qua vô số công đồng giáo hội đã ghép lại một quan điểm về bản tính kép của Đức Christ như vừa thật là Thượng đế vừa thật là người, Kitô học của Leadbeater bao hàm một phiên bản của thuyết nhận làm con. Nghĩa là, Đức Christ và con người Jesus không đồng nhất theo nghĩa mà các nhà thần học chính thống hiểu: đối với Leadbeater, Đức Christ là một hữu thể không mang thể xác, được biết đến như Đức Chưởng Giáo, Đấng đã nhập thể nhiều lần và, trong thế kỷ thứ nhất Công nguyên, đã tiếp nhận con người hồng trần của đệ tử Jesus khi vị này được John làm phép rửa. Besant và Leadbeater dường như tin rằng cùng một Đức Chưởng Giáo ấy sẽ sử dụng hình tướng con người của Krishnamurti theo cùng cách đó.

Still other teachings that Leadbeater advances in these essays depart from conventional Christian thought: reincarnation, karma, and evolution. Reincarnation has always had a shadowy place in Christian teaching: it is difficult to find any specific condemnation of it by any of the great Church councils—which were generous in their anathemas against most other doctrines—but, on the other hand, none of the Church Fathers taught it, and most of them denounced it, even Origen, whom Leadbeater—incorrectly, in my view—presents as an advocate of the teaching. Origen did believe in the preexistence of the soul, and while some passages in his writings seem to incline toward reincarnation, it is also the case that he repudiates it specifically and vigorously on a number of occasions. (See my endnote on the subject.)

Những giáo huấn khác mà Leadbeater trình bày trong các tiểu luận này cũng rời khỏi tư tưởng Kitô giáo thông thường: luân hồi, nghiệp quả và tiến hoá. Luân hồi luôn có một vị trí mờ bóng trong giáo huấn Kitô giáo: khó tìm thấy bất kỳ sự lên án cụ thể nào đối với nó từ các công đồng giáo hội lớn—vốn rất rộng rãi trong các lời nguyền rủa đối với hầu hết giáo lý khác—nhưng mặt khác, không Giáo phụ nào giảng dạy nó, và đa số các vị ấy lên án nó, kể cả Origen, người mà Leadbeater—không đúng, theo tôi—trình bày như một người ủng hộ giáo huấn này. Origen quả có tin vào sự tiền tồn của linh hồn, và dù một số đoạn trong trước tác của ông dường như nghiêng về luân hồi, cũng đúng là ông đã bác bỏ nó một cách cụ thể và mạnh mẽ trong nhiều dịp. Xem chú thích cuối của tôi về đề tài này.

The idea of evolution is also absent from Christianity and indeed from Western esoteric thought until the nineteenth century. I do not mean the Darwinian view of the evolution of species, but the evolution of the individual spirit in its descent from the unseen realms to the world of matter and its slow but inevitable return to its source. As Theosophy—and Leadbeater—depict this process, this evolution entails numberless incarnations, each of which contributes slowly and perhaps infinitesimally to the development of the Ego—(the Theosophical term for the permanent, immortal “I” as opposed to the perishable body and personality). Esoteric study and development accelerates this process but does not fundamentally alter it. Nor, apparently, can this evolution be reversed: a human soul, no matter how corrupt or evil, cannot return to the state of a plant or an animal.

Ý tưởng về tiến hoá cũng vắng mặt trong Kitô giáo và thật vậy trong cả tư tưởng huyền bí Tây phương cho đến thế kỷ mười chín. Tôi không muốn nói đến quan điểm Darwin về sự tiến hoá của các loài, mà là sự tiến hoá của tinh thần cá nhân trong sự giáng hạ của nó từ các cõi vô hình xuống thế giới vật chất và sự trở về chậm rãi nhưng tất yếu của nó với cội nguồn. Như Thông Thiên Học—và Leadbeater—mô tả tiến trình này, sự tiến hoá ấy bao hàm vô số lần nhập thể, mỗi lần góp phần chậm rãi và có lẽ cực nhỏ vào sự phát triển của Chân ngã—thuật ngữ Thông Thiên Học chỉ cái “Tôi” trường tồn, bất tử, đối lập với thể xác và phàm ngã dễ hoại. Sự học hỏi và phát triển huyền bí thúc đẩy tiến trình này nhanh hơn nhưng không thay đổi nó về căn bản. Và dường như sự tiến hoá này cũng không thể đảo ngược: một linh hồn con người, dù hư hỏng hay tà ác đến đâu, không thể trở về trạng thái của cây cỏ hay thú vật.

Personally, I find it difficult to find anything but the faintest traces of the doctrine of evolution in esoteric thought, Eastern or Western, before the advent of Theosophy in the late nineteenth century. While the Eastern religions do teach reincarnation, they do not as a rule present it in an evolutionary context. According to them, the living spirit—what some Eastern schools call the jiva or “life principle”—can and does pass through endless incarnations, as a man, as a god, as an animal. But it does not evolve or develop; it is trapped in this endless cycle and returns to these states over and over again. This is, in fact, the Wheel of Kama—of life and death—that is presented in so many Buddhist works of art. Only enlightenment can take one off this whirligig. Thus evolution, in this sense, is most likely an innovation introduced by Theosophy in the wake of scientific discoveries of the nineteenth century. If it existed as a part of the “hidden wisdom” before this point, it was very hidden indeed.

Riêng tôi, tôi thấy khó tìm được gì khác ngoài những dấu vết mờ nhạt nhất của giáo lý tiến hoá trong tư tưởng huyền bí, Đông phương hay Tây phương, trước khi Thông Thiên Học xuất hiện vào cuối thế kỷ mười chín. Dù các tôn giáo Đông phương có dạy luân hồi, theo thông lệ họ không trình bày nó trong một bối cảnh tiến hoá. Theo họ, tinh thần sống động—điều mà một số trường phái Đông phương gọi là jiva hay “nguyên khí sự sống”—có thể và quả thật đi qua vô tận kiếp sống, như một con người, như một vị thần, như một con vật. Nhưng nó không tiến hoá hay phát triển; nó bị mắc kẹt trong chu kỳ vô tận này và trở lại những trạng thái ấy hết lần này đến lần khác. Thật ra, đây là Bánh xe Kama—của sự sống và cái chết—được trình bày trong rất nhiều tác phẩm nghệ thuật Phật giáo. Chỉ giác ngộ mới có thể đưa con người ra khỏi vòng xoay ấy. Vì vậy, tiến hoá theo nghĩa này rất có thể là một đổi mới do Thông Thiên Học đưa vào sau các khám phá khoa học của thế kỷ mười chín. Nếu nó từng tồn tại như một phần của “minh triết ẩn giấu” trước thời điểm ấy, thì quả là nó đã được ẩn giấu rất sâu.

I mention these ideas only as examples; Leadbeater himself spells out many of his other doctrinal positions, all the while emphasizing that, unlike the Catholic Church, the Liberal Catholic Church does not insist upon adherence or belief on the part of its communicants; it administers the sacraments as a service to all those who seek them out.

Tôi chỉ nhắc đến các ý tưởng này như những ví dụ; chính Leadbeater trình bày nhiều lập trường giáo lý khác của ông, đồng thời luôn nhấn mạnh rằng, không giống Giáo hội Công giáo, Giáo hội Công giáo Tự do không đòi hỏi các tín hữu rước lễ phải tuân thủ hay tin theo; giáo hội cử hành các bí tích như một sự phụng sự dành cho tất cả những ai tìm đến chúng.

It would be inappropriate to lengthen this book further by any more discussion of Leadbeater’s theological ideas or of the circumstances by which this book was created; these are outlined in the foreword by Sten von Krusenstierna, late Presiding Bishop of the Liberal Catholic Church, who assembled these writings into this volume.

Sẽ không thích hợp nếu kéo dài cuốn sách này thêm nữa bằng việc bàn luận nhiều hơn về các ý tưởng thần học của Leadbeater hay về những hoàn cảnh nhờ đó cuốn sách này được hình thành; những điều ấy đã được phác thảo trong lời nói đầu của Sten von Krusenstierna, cố Giám mục Chủ tọa của Giáo hội Công giáo Tự do, người đã tập hợp các trước tác này thành tập sách hiện nay.

I need only say something about the present edition. This volume contains the full text of Leadbeater’s writings in The Christian Gnosis as published by St. Alban Press in 1983. (The definite article in the title has been left out as a concession to the current taste for brevity.) I have omitted a short biography of Leadbeater by Krusenstierna, although I have relied on it for the biographical sketch in this introduction. I have not cut or changed Leadbeater’s text in any way, except to alter the punctuation, particularly the internal punctuation of sentences. For example, Leadbeater’s use of commas to separate parts of compound sentences and relative clauses is different from early twenty-first century usage, so I have modified these to some degree. In every case, however, I have taken pains to avoid changing the meaning or even the nuance of the original text. I have made the capitalization of words more consistent and changed spellings to accord with American orthography. I have also added references for some citations, including biblical quotations that Leadbeater did not identify. Leadbeater’s biblical citations are indicated by parentheses (); mine are inserted in square brackets [].

Tôi chỉ cần nói đôi điều về ấn bản hiện tại. Tập sách này chứa toàn văn các trước tác của Leadbeater trong The Christian Gnosis như St. Alban Press đã xuất bản năm 1983. Mạo từ xác định trong nhan đề đã được bỏ đi như một sự nhượng bộ đối với thị hiếu hiện nay ưa sự ngắn gọn. Tôi đã lược bỏ một tiểu sử ngắn về Leadbeater do Krusenstierna viết, dù tôi đã dựa vào đó cho phác thảo tiểu sử trong lời giới thiệu này. Tôi không cắt bỏ hay thay đổi văn bản của Leadbeater theo bất kỳ cách nào, ngoại trừ việc chỉnh sửa dấu câu, đặc biệt là dấu câu bên trong câu. Chẳng hạn, cách Leadbeater dùng dấu phẩy để tách các phần của câu ghép và các mệnh đề quan hệ khác với cách dùng đầu thế kỷ hai mươi mốt, nên tôi đã điều chỉnh chúng ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, tôi đã cố hết sức tránh thay đổi ý nghĩa hay thậm chí sắc thái của nguyên văn. Tôi đã làm cho việc viết hoa các từ nhất quán hơn và đổi chính tả theo chuẩn Mỹ. Tôi cũng thêm tham chiếu cho một số trích dẫn, gồm các trích dẫn Kinh Thánh mà Leadbeater không nêu nguồn. Các trích dẫn Kinh Thánh của Leadbeater được chỉ bằng ngoặc đơn (); của tôi được đặt trong ngoặc vuông [].

The endnotes come from three sources. Some are Leadbeater’s own; some were added by Sten von Krusenstierna; the rest are my additions. These are indicated with the initials CWL, SVK, and RS, respectively. In the case of my notes, I have not attempted to give exhaustive annotations of every concept or figure mentioned by Leadbeater; I have focused on identifying things that may seem unclear to the contemporary reader.

Các chú thích cuối đến từ ba nguồn. Một số là của chính Leadbeater; một số do Sten von Krusenstierna thêm vào; phần còn lại là phần bổ sung của tôi. Chúng được chỉ bằng các chữ viết tắt CWL, SVK và RS tương ứng. Với các chú thích của mình, tôi không cố đưa ra chú giải đầy đủ cho mọi khái niệm hay nhân vật mà Leadbeater nhắc đến; tôi tập trung vào việc nhận diện những điều có thể chưa rõ đối với độc giả đương thời.

Finally, two acknowledgments are in order. First, I would like to thank Jeffrey Forth, former national secretary of the Theosophical Society in America, who first brought this book to my attention. I would also like to thank Graham Wale, Presiding Bishop of the Liberal Catholic Church, for his gracious help and permission in allowing Quest Books to reprint the work.

Sau cùng, cần có hai lời tri ân. Trước hết, tôi muốn cảm ơn Jeffrey Forth, cựu thư ký toàn quốc của Hội Thông Thiên Học tại Hoa Kỳ, người đầu tiên đưa cuốn sách này đến với tôi. Tôi cũng muốn cảm ơn Graham Wale, Giám mục Chủ tọa của Giáo hội Công giáo Tự do, vì sự giúp đỡ nhã nhặn và sự cho phép của ông trong việc để Quest Books tái bản tác phẩm này.

This is an age of acute interest in the “hidden wisdom” of Christianity and in the truths that lie behind the official doctrines. Written nearly a century ago, Leadbeater’s essays in this volume still present a readable, clear, and inspiring introduction to this Christian gnosis.

Đây là thời đại có mối quan tâm sâu sắc đối với “minh triết ẩn giấu” của Kitô giáo và đối với những chân lý nằm sau các giáo lý chính thức. Được viết gần một thế kỷ trước, các tiểu luận của Leadbeater trong tập này vẫn trình bày một lời dẫn nhập dễ đọc, rõ ràng và đầy cảm hứng vào gnosis Kitô giáo này.

Richard Smoley

Richard Smoley

Wheaton, Illinois

Wheaton, Illinois

November 2010

Tháng Mười Một 2010

Richard Smoley’s books include Inner Christianity: A Guide to the Esoteric Tradition; Conscious Love: Insights from Mystical Christianity; Forbidden Faith: The Secret History of Gnosticism; The Dice Game of Shiva: How Consciousness Creates the Universe; The Essential Nostradamus; and Hidden Wisdom: A Guide to the Western Inner Traditions (with Jay Kinney). Formerly the editor of Gnosis: A Journal of the Western Inner Traditions, he is currently editor of Quest: Journal of the Theosophical Society in America and of Quest Books.

Các sách của Richard Smoley gồm Inner Christianity: A Guide to the Esoteric Tradition; Conscious Love: Insights from Mystical Christianity; Forbidden Faith: The Secret History of Gnosticism; The Dice Game of Shiva: How Consciousness Creates the Universe; The Essential Nostradamus; và Hidden Wisdom: A Guide to the Western Inner Traditions (viết cùng Jay Kinney). Trước đây là biên tập viên của Gnosis: A Journal of the Western Inner Traditions, hiện ông là biên tập viên của Quest: Journal of the Theosophical Society in America và của Quest Books.

FOREWORD

LỜI NÓI ĐẦU

BY STEN VON KRUSENSTIERNA

BỞI STEN VON KRUSENSTIERNA

C. W. Leadbeater’s consecration to the episcopate in 1916 at the age of sixty-two was followed in the next ten years by an amazingly creative literary output from his hand. The Liberal Catholic Church was not the only object of this activity; in addition to such remarkable works as The Science of the Sacraments and The Hidden Side of Christian Festivals there were books on such different subjects as The Hidden Life in Freemasonry, The Masters and the Path, and The Chakras published during this period.

Việc C. W. Leadbeater được thánh hiến vào chức giám mục năm 1916, ở tuổi sáu mươi hai, đã được tiếp nối trong mười năm sau đó bằng một sản lượng văn chương sáng tạo đáng kinh ngạc từ tay ông. Giáo hội Công giáo Tự do không phải là đối tượng duy nhất của hoạt động này; ngoài những tác phẩm xuất sắc như The Science of the SacramentsThe Hidden Side of Christian Festivals, còn có những cuốn sách về các đề tài rất khác nhau như The Hidden Life in Freemasonry, The Masters and the Path, và The Chakras được xuất bản trong giai đoạn này.

In the foreword to The Science of the Sacraments (first edition, 1920) Bishop Leadbeater wrote: “I have not of set purpose introduced any statement of the theological belief induced by the wider knowledge gained by this development of faculty, though indications of them inevitably peep through here and there. If time is given to me, I hope later to prepare a second volume dealing with that side of the question.”

Trong lời nói đầu của The Science of the Sacraments (ấn bản đầu, 1920), Giám mục Leadbeater viết: “Tôi không cố ý đưa vào bất kỳ phát biểu nào về niềm tin thần học phát sinh từ tri thức rộng lớn hơn đạt được nhờ sự phát triển năng lực này, dù các dấu hiệu của chúng tất yếu ló ra đây đó. Nếu tôi còn thời gian, tôi hy vọng sau này sẽ soạn một tập thứ hai đề cập đến phương diện ấy của vấn đề.”

In other contexts he mentions his intention of producing a volume containing an interpretation of Christian doctrine and giving the theological outlook of the Liberal Catholic Church.

Trong các bối cảnh khác, ông nhắc đến ý định biên soạn một tập sách chứa đựng một diễn giải về giáo lý Kitô giáo và trình bày quan điểm thần học của Giáo hội Công giáo Tự do.

In 1924, the Rev. F. W. Pigott (later to become the third presiding bishop of the Liberal Catholic Church) visited Sydney, where he was consecrated as regionary bishop for Great Britain and Ireland. Like Bishop Leadbeater himself, Bishop Pigott had previously been a priest in Anglican orders; he was also well versed in the theology of the period. Bishop Leadbeater gave him the as yet unfinished manuscript of his “theological” book to obtain his opinion.

Năm 1924, Linh mục F. W. Pigott, sau này trở thành giám mục chủ tọa thứ ba của Giáo hội Công giáo Tự do, đến thăm Sydney, nơi ông được thánh hiến làm giám mục khu vực cho Đại Anh quốc và Ireland. Giống như chính Giám mục Leadbeater, trước đó Giám mục Pigott từng là linh mục trong hàng giáo phẩm Anh giáo; ông cũng rất thông thạo thần học của thời kỳ ấy. Giám mục Leadbeater trao cho ông bản thảo còn chưa hoàn tất của cuốn sách “thần học” của mình để xin ý kiến.

After reading a few chapters, Bishop Pigott returned it to him with the remark that it was “not theology.” Bishop Leadbeater, who had great confidence in Pigott, put the manuscript away with the remark, “then we had better forget all about it.” That is the story as Bishop Lawrence Burt, at that time a priest and master of ceremonies at the pro-Cathedral of St. Alban in Sydney, told me many years later. Bishop Pigott also mentions the incident in The Liberal Catholic of April 1954:

Sau khi đọc vài chương, Giám mục Pigott trả lại cho ông với nhận xét rằng đó “không phải là thần học.” Giám mục Leadbeater, người rất tin tưởng Pigott, cất bản thảo đi với lời nhận xét: “vậy tốt hơn là chúng ta quên hẳn chuyện đó.” Đó là câu chuyện mà Giám mục Lawrence Burt, lúc ấy là linh mục và trưởng nghi lễ tại nhà thờ chính tòa tạm St. Alban ở Sydney, đã kể cho tôi nhiều năm sau. Giám mục Pigott cũng nhắc đến sự việc này trong The Liberal Catholic số tháng Tư 1954:

A book of Christian theology was written by him at about, or soon after, the time of the writing of The Science of the Sacraments, The Hidden Side of Christian Festivals and a masonic book. In the year 1924 the theological book in typescript was handed to me when I was at Sydney to read and, presumably, to comment upon. I read only a few chapters, then gave it up. It was mostly a very Leadbeaterish harangue against a variety of Christianity which by then was obsolete or at least obsolescent amongst Christians of education. It was rather a sort of Christianity which perhaps does or did survive amongst Salvation Army teachers but not amongst the more refined and thoughtful congregations. So I advised that it be not published, and apparently it never was published.

Một cuốn sách thần học Kitô giáo đã được ông viết vào khoảng, hoặc không lâu sau, thời điểm viết The Science of the Sacraments, The Hidden Side of Christian Festivals và một cuốn sách về Hội Tam Điểm. Năm 1924, cuốn sách thần học ở dạng bản đánh máy được trao cho tôi khi tôi ở Sydney để đọc và, có lẽ, để nhận xét. Tôi chỉ đọc vài chương rồi bỏ cuộc. Nó chủ yếu là một bài diễn thuyết rất kiểu Leadbeater nhằm chống lại một loại Kitô giáo mà đến lúc ấy đã lỗi thời hoặc ít nhất đang trở nên lỗi thời trong giới Kitô hữu có học. Đó đúng hơn là một loại Kitô giáo có lẽ vẫn còn, hoặc đã từng còn, tồn tại trong các huấn sư của Đội quân Cứu rỗi, nhưng không còn trong các cộng đoàn tinh tế và suy tư hơn. Vì vậy tôi khuyên rằng không nên xuất bản nó, và rõ ràng nó đã không bao giờ được xuất bản.

However, it is obvious that Bishop Pigott himself felt that a book on theology was needed, for, on the ship on his way back to England, he wrote The Parting of the Ways, a book which for many years was the main source of theological study for Liberal Catholic clergy.

Tuy nhiên, rõ ràng chính Giám mục Pigott cảm thấy cần có một cuốn sách về thần học, vì trên con tàu trở về Anh, ông đã viết The Parting of the Ways, một cuốn sách trong nhiều năm là nguồn chính cho việc nghiên cứu thần học của hàng giáo sĩ Công giáo Tự do.

With the great changes which took place in Christian theology after the Second World War, several bishops, including myself, felt that Bishop Leadbeater’s unpublished book, if it could be found, might still contain much useful material. A search for the manuscript was begun. It was finally located by Bishop Charles Shores at the headquarters of the Theosophical Society at Adyar, Madras, where Leadbeater had spent the last four years of his life. With the permission of the president of the Society, copies were made, one of which was sent to the presiding bishop at the time, Dr. A. G. Vreede, who had eight chapters from the manuscript—after some editing—published in The Liberal Catholic in various issues from 1961 to 1963.

Với những thay đổi lớn diễn ra trong thần học Kitô giáo sau Thế chiến thứ hai, một số giám mục, trong đó có tôi, cảm thấy rằng cuốn sách chưa xuất bản của Giám mục Leadbeater, nếu có thể tìm thấy, có lẽ vẫn chứa nhiều tài liệu hữu ích. Một cuộc tìm kiếm bản thảo được bắt đầu. Cuối cùng, Giám mục Charles Shores tìm thấy nó tại trụ sở Hội Thông Thiên Học ở Adyar, Madras, nơi Leadbeater đã sống bốn năm cuối đời. Với sự cho phép của chủ tịch Hội, các bản sao được thực hiện, một trong số đó được gửi đến giám mục chủ tọa lúc bấy giờ, Tiến sĩ A. G. Vreede, người đã cho xuất bản tám chương từ bản thảo—sau một số chỉnh sửa—trong The Liberal Catholic ở nhiều số từ 1961 đến 1963.

A copy of this manuscript forms the basis of this book. In addition, I was given at a later date, among other material, a number of chapters from the book. Some of these chapters contain additional material. As far as can be established, the original manuscript contained twenty-two chapters. The whole manuscript appears to be unfinished and contains perhaps a half or two-thirds of the contents originally planned by the author. No name had yet been given to the work.

Một bản sao của bản thảo này là cơ sở của cuốn sách này. Ngoài ra, vào một thời điểm sau đó, tôi được trao, cùng với các tài liệu khác, một số chương từ cuốn sách. Một vài chương trong số này chứa tài liệu bổ sung. Theo mức có thể xác lập, bản thảo nguyên thủy gồm hai mươi hai chương. Toàn bộ bản thảo dường như chưa hoàn tất và có lẽ chỉ chứa một nửa hoặc hai phần ba nội dung mà tác giả ban đầu dự định. Tác phẩm chưa được đặt tên.

When going through Bishop Leadbeater’s papers, including copies of talks and articles, I formed the opinion that most of his writings could be placed into four different categories:

Khi xem xét các giấy tờ của Giám mục Leadbeater, gồm các bản sao bài nói và bài viết, tôi hình thành quan điểm rằng phần lớn các trước tác của ông có thể được đặt vào bốn loại khác nhau:

Handwritten material: This is written by Bishop Leadbeater himself in ink or pencil in small, clear handwriting on scraps of paper, sometimes on the backs of envelopes, giving the impression that it must have been written at odd moments.

Tài liệu viết tay: Loại này do chính Giám mục Leadbeater viết bằng mực hoặc bút chì, với nét chữ nhỏ và rõ, trên những mảnh giấy vụn, đôi khi trên mặt sau phong bì, tạo ấn tượng rằng chắc hẳn chúng được viết vào những lúc rảnh rỗi bất chợt.

Dictated material: This was dictated by him to assistants or secretaries and usually taken down in shorthand. Many of his clairvoyant investigations were taken down in this way by Ernest Wood and others and later edited for publication.

Tài liệu đọc cho chép: Loại này được ông đọc cho các trợ lý hoặc thư ký ghi lại và thường được ghi bằng tốc ký. Nhiều cuộc khảo sát thông nhãn của ông được Ernest Wood và những người khác ghi lại theo cách này, rồi về sau được biên tập để xuất bản.

Lectures, talks, or sermons: During his period in Australia (1914– 1930), there were nearly always secretaries present who took down his talks in shorthand. He usually spoke from notes. The typewritten lecture or sermon was later corrected by himself or by one of his literary assistants, such as Professor Wood or the Rev. Herbrand Williams. Some of these were published as articles in various journals such as The Liberal Catholic or The Theosophist.

Bài giảng, bài nói hoặc bài giảng đạo: Trong thời kỳ ông ở Úc (1914–1930), hầu như luôn có các thư ký hiện diện để ghi tốc ký các bài nói của ông. Ông thường nói dựa trên ghi chú. Bản bài giảng hoặc bài giảng đạo đánh máy sau đó được chính ông hoặc một trong các trợ lý văn chương của ông, như Giáo sư Wood hoặc Linh mục Herbrand Williams, sửa lại. Một số trong đó được xuất bản thành bài viết trên nhiều tạp chí như The Liberal Catholic hoặc The Theosophist.

Question-and-answer sessions: These were a common feature during his days in Sydney. At one time they were weekly occurrences which usually took place at the pro-Cathedral of St. Alban or at Leadbeater’s residence, The Manor, Mosman. This material was also taken down in shorthand and later typed. Some of it was edited by his literary assistants and either condensed into articles or published as “Questions and Answers” in The Liberal Catholic.

Các buổi hỏi đáp: Đây là một đặc điểm thường thấy trong những ngày ông ở Sydney. Có thời chúng diễn ra hằng tuần, thường tại nhà thờ chính tòa tạm St. Alban hoặc tại nơi cư trú của Leadbeater, The Manor, Mosman. Tài liệu này cũng được ghi bằng tốc ký rồi đánh máy. Một số được các trợ lý văn chương của ông biên tập và hoặc được rút gọn thành bài viết, hoặc được xuất bản dưới dạng “Hỏi và Đáp” trong The Liberal Catholic.

Most of his later works contain material drawn from all the four sources mentioned. The present work is no exception. The talks and sermons usually have a more vivid style than the written or dictated sources. An example of this is the delightful chapter “About God,” which is a shortened version of a talk given to a group on the shore of the Pacific Ocean.

Phần lớn các tác phẩm về sau của ông chứa tài liệu rút từ cả bốn nguồn nêu trên. Tác phẩm hiện tại cũng không ngoại lệ. Các bài nói và bài giảng đạo thường có phong cách sống động hơn các nguồn viết hoặc đọc cho chép. Một ví dụ cho điều này là chương thú vị “Về Thượng đế,” vốn là phiên bản rút ngắn của một bài nói với một nhóm người bên bờ Thái Bình Dương.

In 1978, the present editor, after several requests, decided to make an attempt to complete the manuscript and prepare it for publication. This proved much more difficult and took much longer than anticipated, especially since my only qualification for this task was a deep appreciation of C. W. Leadbeater’s writings. I have also been somewhat hampered by lack of time and by my lack of proficiency in the English language. As editor, I had to attempt to conceive what would have been the intention of the author if he had completed the book himself. Some guidance was found in articles published in The Liberal Catholic between 1924 and 1930. There were indications that some of these would have been included in the proposed work.

Năm 1978, sau nhiều lời yêu cầu, người biên tập hiện tại quyết định thử hoàn tất bản thảo và chuẩn bị nó để xuất bản. Việc này tỏ ra khó hơn nhiều và mất nhiều thời gian hơn dự tính, đặc biệt vì phẩm chất duy nhất của tôi cho nhiệm vụ này là sự trân trọng sâu sắc đối với các trước tác của C. W. Leadbeater. Tôi cũng phần nào bị trở ngại vì thiếu thời gian và vì sự không thành thạo tiếng Anh của mình. Với tư cách biên tập viên, tôi phải cố hình dung ý định của tác giả sẽ là gì nếu chính ông đã hoàn tất cuốn sách. Một số chỉ dẫn được tìm thấy trong các bài viết đăng trên The Liberal Catholic từ 1924 đến 1930. Có những dấu hiệu cho thấy một số bài trong đó hẳn đã được đưa vào tác phẩm dự kiến.

The main sources from which the book as now presented has been compiled are:

Các nguồn chính từ đó cuốn sách như hiện được trình bày đã được biên soạn là:

The eighteen chapters of the unfinished manuscript;

Mười tám chương của bản thảo chưa hoàn tất;

Articles in The Liberal Catholic covering subjects not dealt with in the original manuscript;

Các bài viết trong The Liberal Catholic bao quát những đề tài không được bàn đến trong bản thảo gốc;

Some unpublished talks and sermons to which the editor had access.

Một số bài nói và bài giảng đạo chưa xuất bản mà người biên tập có thể tiếp cận.

The purpose of adding material of the last two categories was to try to complete the work by giving a fuller coverage of Liberal Catholic teaching as propounded by Bishop Leadbeater. This has, however, not been fully achieved because of lack of suitable material on some subjects. The resulting work is definitely not a book on theology in the usual sense (Bishop Pigott was quite right in this), but it is “theological” insofar as it deals with such subjects as God, Christ, man, and the universe and contains definite interpretations of the ancient doctrines of the Church.

Mục đích của việc thêm tài liệu thuộc hai loại sau là cố hoàn tất tác phẩm bằng cách đưa ra một sự bao quát đầy đủ hơn về giáo huấn Công giáo Tự do như Giám mục Leadbeater đã trình bày. Tuy nhiên, điều này chưa được thực hiện trọn vẹn vì thiếu tài liệu thích hợp về một số đề tài. Tác phẩm kết quả chắc chắn không phải là một cuốn sách về thần học theo nghĩa thông thường, trong điểm này Giám mục Pigott hoàn toàn đúng, nhưng nó có tính “thần học” trong chừng mực nó đề cập đến những đề tài như Thượng đế, Đức Christ, con người và vũ trụ, đồng thời chứa những diễn giải xác định về các giáo lý cổ xưa của Giáo hội.

Two chapters in the original manuscript, in which the author refutes the “hell and damnation” doctrines held by many Churches in the nineteenth century, have been omitted. Also a chapter entitled “Why is Christianity Not More Successful?” and another, entitled “God’s Attitude Towards Man,” which was published in the September 1929 issue of The Liberal Catholic, have been omitted as being no longer relevant. Some of the chapters and articles have been severely edited, mainly to avoid duplication of subject matter. Some of the material contained in various chapters of the original manuscript can also be found in The Christian Creed and has been omitted. Even so, some duplication here and there has been unavoidable. As far as possible. the original script has been followed. A title for the book had to be chosen, as the manuscript had no title.

Hai chương trong bản thảo gốc, trong đó tác giả bác bỏ các giáo lý “địa ngục và đọa phạt” được nhiều Giáo hội trong thế kỷ mười chín nắm giữ, đã bị lược bỏ. Ngoài ra, một chương mang nhan đề “Tại sao Kitô giáo không thành công hơn?” và một chương khác, mang nhan đề “Thái độ của Thượng đế đối với con người,” được xuất bản trong số tháng Chín 1929 của The Liberal Catholic, đã bị lược bỏ vì không còn thích hợp. Một số chương và bài viết đã được biên tập mạnh tay, chủ yếu để tránh trùng lặp đề tài. Một phần tài liệu chứa trong nhiều chương của bản thảo gốc cũng có thể tìm thấy trong The Christian Creed và đã bị lược bỏ. Dù vậy, một số trùng lặp đây đó là điều không thể tránh. Trong mức có thể, văn bản gốc đã được tuân theo. Cần phải chọn một nhan đề cho cuốn sách, vì bản thảo không có nhan đề.

We are much indebted to the Rev. John Clarke for his valuable advice and assistance in the final editing of this work.

Chúng tôi mang ơn sâu sắc Linh mục John Clarke vì lời khuyên và sự trợ giúp quý báu của ông trong việc biên tập cuối cùng tác phẩm này.

+ Sten von Krusenstierna

+ Sten von Krusenstierna

Presiding Bishop

Giám mục Chủ tọa

Liberal Catholic Church

Giáo hội Công giáo Tự do

Easter 1983

Lễ Phục Sinh 1983

A UTHOR’S P REFACE

L ỜI TỰA C ỦA TÁC GIẢ

L ong ago I was taught many things by certain great oriental teachers; I verified a number of these facts for myself by investigation and by experiment, and so I pass them on to you with confidence that I am not misleading you. Yet it is not because I say so that you should believe these things; if you accept them, it should be because they seem to you inherently reasonable.

 Từ lâu lắm rồi, tôi đã được dạy nhiều điều bởi một số vị huấn sư Đông phương vĩ đại; tôi đã tự mình kiểm chứng một số sự kiện ấy bằng khảo sát và thực nghiệm, và vì vậy tôi truyền lại chúng cho các bạn với niềm tin chắc rằng tôi không làm các bạn lầm lạc. Tuy nhiên, các bạn không nên tin những điều này chỉ vì tôi nói như vậy; nếu các bạn chấp nhận chúng, thì nên là vì chúng dường như hợp lý tự bản chất đối với các bạn.

This is no new doctrine. Two thousand five hundred years ago, people questioned the Lord Buddha as to which of the many forms of religious teaching was correct. “What are we to believe? There are many systems of philosophy; which of these do you recommend?”

Đây không phải là một giáo lý mới. Hai nghìn năm trăm năm trước, người ta đã hỏi Đức Phật rằng trong nhiều hình thức giáo huấn tôn giáo, hình thức nào là đúng. “Chúng con phải tin gì? Có nhiều hệ thống triết học; Ngài khuyên chúng con theo hệ thống nào?”

The answer of the Enlightened One was admirable, for was he not, after all, the wisest man on earth? “Do not believe in a thing,” he said, “merely because it is said, or because it has been handed down from antiquity. Nor in rumors as such.” (How many people accept rumors without the slightest attempt to verify them!) “Do not believe in the writings of sages, merely because sages wrote them; do not believe in fancies which you may suspect to have been inspired by a deva [that is, do not believe in supposed spiritual or angelic inspiration] nor in inferences drawn from some haphazard assumption you may have made.” (People often jump to a conclusion from which they build up a whole system of inferences, while the basis, founded on the merest imagination, may be wrong from the beginning.) “Do not believe because of what seems an analogical necessity,” because an analogy which holds good in one case does not necessarily hold good in another.

Câu trả lời của Đấng Giác Ngộ thật đáng khâm phục, vì rốt cuộc chẳng phải Ngài là người minh triết nhất trên Trái Đất sao? “Đừng tin vào một điều,” Ngài nói, “chỉ vì điều ấy được nói ra, hoặc vì nó đã được truyền lại từ thời cổ. Cũng đừng tin vào những lời đồn như thế.” Biết bao người chấp nhận lời đồn mà không hề cố gắng kiểm chứng dù chút nào! “Đừng tin vào các trước tác của những bậc hiền triết chỉ vì các bậc hiền triết đã viết chúng; đừng tin vào những điều tưởng tượng mà các con có thể nghi là được một thiên thần cảm hứng [nghĩa là, đừng tin vào cảm hứng tinh thần hay thiên thần được cho là như vậy], cũng đừng tin vào những suy luận rút ra từ một giả định tình cờ nào đó mà các con có thể đã đặt ra.” Người ta thường vội nhảy đến một kết luận, từ đó xây dựng cả một hệ thống suy luận, trong khi nền tảng, dựa trên sự tưởng tượng đơn thuần nhất, có thể đã sai ngay từ đầu. “Đừng tin vì điều có vẻ là một tất yếu theo phép tương đồng,” bởi một phép tương đồng đúng trong một trường hợp không nhất thiết đúng trong trường hợp khác.

“Do not believe on the mere authority of your own teachers. But believe when the writing, doctrine, or saying is corroborated by your own consciousness. For thus I have taught you, not to believe merely because you have heard; but when you believe of your own consciousness [that is, when it agrees with your own reason and common sense], then act accordingly and abundantly.”

“Đừng tin chỉ dựa trên thẩm quyền của chính các huấn sư của các con. Nhưng hãy tin khi văn bản, giáo lý hoặc lời nói được chính tâm thức của các con xác nhận. Vì như vậy Ta đã dạy các con, không tin chỉ vì các con đã nghe; nhưng khi các con tin bằng chính tâm thức của mình [nghĩa là, khi điều ấy phù hợp với lý trí và lẽ thường của chính các con], thì hãy hành động theo đó một cách trọn vẹn và phong phú.”

That is a very fine statement for any religious teacher to make. When you know for yourself, that is best of all; failing this, you can only take the best possible hypothesis—you can only accept that system which you see and feel to be reasonable and coherent, that which best accounts for all the various phenomena which you see before you.

Đó là một lời tuyên bố rất cao đẹp để bất cứ huấn sư tôn giáo nào cũng có thể đưa ra. Khi các bạn tự mình biết, đó là điều tốt nhất trong tất cả; nếu chưa được như vậy, các bạn chỉ có thể chấp nhận giả thuyết tốt nhất có thể—các bạn chỉ có thể chấp nhận hệ thống nào mà các bạn thấy và cảm nhận là hợp lý và nhất quán, hệ thống nào giải thích tốt nhất tất cả những hiện tượng khác nhau mà các bạn thấy trước mắt mình.

What we put before you here seems to us to follow that system. You may accept it if it seems so to you also; but if you find some other system which seems to account for things better, you must assent to that. Short of actual knowledge, there is a definite intuition of the truth that comes sometimes to a person. Generally it is quite safe to be guided by that, for it usually comes from an eager leaping out of the soul towards a truth which it had known in other lives.

Điều chúng tôi đặt ra trước các bạn ở đây, đối với chúng tôi, dường như đi theo hệ thống ấy. Các bạn có thể chấp nhận nó nếu nó cũng có vẻ như vậy đối với các bạn; nhưng nếu các bạn tìm thấy một hệ thống khác dường như giải thích sự vật tốt hơn, các bạn phải tán đồng hệ thống đó. Khi chưa có tri thức thực sự, đôi khi có một trực giác xác định về chân lý đến với một người. Nói chung, khá an toàn khi để trực giác ấy hướng dẫn, vì nó thường đến từ sự vươn bật đầy háo hức của linh hồn hướng tới một chân lý mà linh hồn đã biết trong những kiếp sống khác.

I base my confidence on what I know and what I have seen. May you all attain equal knowledge and equal certainty! That is the true basis, I believe, of religious faith—knowledge (when you reach it), and, in the meantime, your own reason and common sense. For God has given us our intellect, and He must mean us to use it with regard to the highest science of all—the science of our religion, the study of our relation to Himself.

Tôi đặt niềm tin của mình trên những gì tôi biết và những gì tôi đã thấy. Cầu mong tất cả các bạn đạt được tri thức ngang bằng và sự chắc chắn ngang bằng! Tôi tin rằng đó là nền tảng chân thật của đức tin tôn giáo—tri thức, khi các bạn đạt tới nó, và trong khi chờ đợi, là lý trí và lương tri của chính các bạn. Vì Thượng đế đã ban cho chúng ta trí năng, và hẳn Ngài muốn chúng ta dùng nó đối với khoa học cao cả nhất trong mọi khoa học—khoa học về tôn giáo của chúng ta, sự nghiên cứu mối liên hệ của chúng ta với chính Ngài.

The Author

Tác giả

PART ONE

PHẦN MỘT

T HE D IVINE P LAN: E VOLUTION

THIÊN CƠ: TIẾN HÓA

00005.jpeg

1 — 1

About God — Về Thượng đế

Because we are still comparatively unevolved, any god that we could fully understand would not be much of a god. We are better acquainted with things below—with animals, trees, and rocks. Now and again we meet a man whom, in an expansive moment, we might acknowledge to be greater than ourselves; but, as a general rule, we are rather inclined to think that we are as good as anyone else if not a great deal better.

Vì chúng ta vẫn còn tương đối chưa tiến hóa, nên bất cứ vị thần nào mà chúng ta có thể thấu hiểu trọn vẹn thì cũng không phải là một vị thần đáng kể. Chúng ta quen thuộc hơn với những sự vật ở bên dưới—với thú vật, cây cối và đá tảng. Thỉnh thoảng, trong một khoảnh khắc tâm hồn mở rộng, chúng ta gặp một người mà chúng ta có thể thừa nhận là lớn lao hơn mình; nhưng, như một quy luật chung, chúng ta lại khá có khuynh hướng nghĩ rằng mình cũng tốt như bất cứ ai khác, nếu không muốn nói là tốt hơn rất nhiều.

There is a certain danger of being conceited when we compare ourselves with things “beneath” us. We are proud, for example, of our intellect. But those who have come to know something of the Masters realize, first of all, that their own boasted intellect is merely the first rudiments of one; in comparison with the Masters’ it is as the slight lessening of the darkness which comes before the dawn. Further insight reveals that, in fact, we have nothing that we can truly call our own. Our intellect, together with our other good qualities, is but a dim reflection of the powers of the Logos shining through.

Có một nguy cơ nào đó của sự tự phụ khi chúng ta so sánh mình với những sự vật “bên dưới” mình. Chẳng hạn, chúng ta tự hào về trí năng của mình. Nhưng những ai đã biết đôi chút về các Chân sư nhận ra, trước hết, rằng trí năng mà họ tự hào chỉ là những mầm mống đầu tiên của trí năng; so với trí năng của các Chân sư, nó giống như sự giảm bớt rất nhẹ của bóng tối trước lúc bình minh. Cái nhìn sâu hơn mặc khải rằng, thật ra, chúng ta không có gì có thể thực sự gọi là của riêng mình. Trí năng của chúng ta, cùng với các phẩm tính tốt đẹp khác, chỉ là phản chiếu mờ nhạt của các quyền năng của Thượng đế đang chiếu xuyên qua.

The Masters tell us that they themselves, with their wonderful powers which seem to us so godlike, are but as dust under the feet of still higher beings. We cannot fully appreciate these Great Ones; still less can we comprehend the Logos. As for Parabrahma, the Absolute, He is not personal in any way; He is not what we would call an existence.

Các Chân sư bảo chúng ta rằng chính các Ngài, với những quyền năng kỳ diệu mà đối với chúng ta dường như thần thánh đến thế, cũng chỉ như bụi dưới chân của những Đấng còn cao hơn nữa. Chúng ta không thể cảm nhận trọn vẹn các Đấng Cao Cả này; càng không thể thấu hiểu Thượng đế. Còn về Parabrahma, Đấng Tuyệt Đối, Ngài không có tính cá nhân theo bất cứ nghĩa nào; Ngài không phải là điều mà chúng ta gọi là một sự hiện hữu.

Of the Absolute nothing whatever can be rightly said save He is not this, He is not that; He cannot be defined on any plane that we have ever imagined or thought. As the Buddha put it, “Look not for Brahm or the beginning there.” However earnest the seeker, He can never be grasped. “Veil after veil may lift but there must be veil after veil behind.” It is useless to speculate; Brahma can be understood only on His own level.

Về Đấng Tuyệt Đối, không thể nói đúng bất cứ điều gì ngoài việc Ngài không phải là cái này, Ngài không phải là cái kia; Ngài không thể được định nghĩa trên bất cứ cõi nào mà chúng ta từng tưởng tượng hay suy nghĩ. Như Đức Phật đã nói, “Đừng tìm Brahm hay sự khởi đầu ở đó.” Dù người tìm kiếm có tha thiết đến đâu, y cũng không bao giờ có thể nắm bắt được Ngài. “Tấm màn này có thể được vén lên sau tấm màn khác, nhưng phía sau vẫn phải còn tấm màn sau tấm màn.” Suy đoán là vô ích; Brahma chỉ có thể được thấu hiểu trên cấp độ của chính Ngài.

The Logos

Thượng đế

When we speak of God we mean, for all practical purposes, the Logos of our solar system. The Logos is more comprehensible than the Absolute because He has risen by slow degrees from our own humanity. The physical matter in the sun and in the planets of our system forms His physical body; the astral matter within the limits of the system is His astral body; the mental matter is His mental body. Thus we are all part of Him. We are part, too, of the “seven Mighty Spirits before [His) throne” [Rev. 4:5] through whom He pours Himself out into His universe. That is to say, the astral matter which makes up our astral bodies is also astral matter of one or other of the Seven Spirits. The force which flows out from the Logos reaches us principally through one of those seven channels, and so it is said that we belong to the Ray of which that particular Spirit is the head.

Khi nói về Thượng đế, đối với mọi mục đích thực tiễn, chúng ta muốn nói đến Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta. Thượng đế dễ thấu hiểu hơn Đấng Tuyệt Đối, vì Ngài đã vươn lên từng bước chậm rãi từ chính nhân loại của chúng ta. Vật chất hồng trần trong mặt trời và trong các hành tinh của hệ chúng ta tạo thành thể xác của Ngài; vật chất cảm dục trong giới hạn của hệ là thể cảm dục của Ngài; vật chất trí tuệ là thể trí của Ngài. Vì vậy, tất cả chúng ta đều là một phần của Ngài. Chúng ta cũng là một phần của “bảy Thánh Linh Hùng Mạnh trước ngai của Ngài” [Khải Huyền 4:5], qua các Đấng ấy Ngài tuôn đổ chính Ngài vào vũ trụ của Ngài. Nói cách khác, vật chất cảm dục cấu thành các thể cảm dục của chúng ta cũng là vật chất cảm dục của một trong Bảy Thánh Linh. Mãnh lực tuôn ra từ Thượng đế đến với chúng ta chủ yếu qua một trong bảy kênh ấy, và vì thế người ta nói rằng chúng ta thuộc về cung mà vị Thánh Linh đặc biệt ấy là đầu lĩnh.

All that we have been taught about God—all that is good and beautiful—is true of the Solar Logos. But we have also heard a great deal about God that is far from good. Men have said that He is capable of anger and jealousy, that He slaughtered thousands of people at different times because they did something of which He did not approve or failed to do something that He ordered. But the truth is that we all come from Him, we all belong to Him, and we are all on our way back to Him.

Tất cả những gì chúng ta đã được dạy về Thượng đế—tất cả những gì tốt đẹp và mỹ lệ—đều đúng với Thái dương Thượng đế. Nhưng chúng ta cũng đã nghe rất nhiều điều về Thượng đế vốn xa hẳn sự tốt lành. Người ta đã nói rằng Ngài có thể nổi giận và ghen tuông, rằng Ngài đã tàn sát hàng ngàn người vào những thời điểm khác nhau vì họ đã làm điều gì đó mà Ngài không tán thành, hoặc không làm điều gì đó mà Ngài truyền lệnh. Nhưng chân lý là tất cả chúng ta đều đến từ Ngài, tất cả chúng ta đều thuộc về Ngài, và tất cả chúng ta đều đang trên đường trở về với Ngài.

God is, and can only be, good. His laws are made for our evolution and our helping; He does not change His laws or outrage them, so if we break them certain effects are bound to follow. The suffering that results to ourselves is not inflicted by Him; it is the natural consequence of our own actions. On the other hand, the Great Ones, who have been men like ourselves and have risen from our humanity, assure us that by working according to the law (which is the law of evolution) we shall one day stand where they do now.

Thượng đế là thiện, và chỉ có thể là thiện. Các định luật của Ngài được lập ra cho sự tiến hóa và sự trợ giúp chúng ta; Ngài không thay đổi các định luật của Ngài hay vi phạm chúng, vì vậy nếu chúng ta phá vỡ chúng thì một số hệ quả nhất định tất yếu sẽ theo sau. Nỗi đau khổ đến với chính chúng ta không phải do Ngài giáng xuống; đó là hệ quả tự nhiên của những hành động của chính chúng ta. Mặt khác, các Đấng Cao Cả, những Đấng đã từng là người như chúng ta và đã vươn lên từ nhân loại của chúng ta, bảo đảm với chúng ta rằng bằng cách làm việc theo định luật, tức định luật tiến hóa, một ngày kia chúng ta sẽ đứng ở nơi các Ngài đang đứng hiện nay.

Our Solar Logos has a life of His own among His peers. Each of His worlds sends up to Him a stream of devotion, and He in turn pours back upon it a great flood of spiritual influence. That stream, flowing through space, caused initially by the devotion of His people, forms, as it were, the seven-stringed lyre of Apollo, which He plays upon as one plays upon a harp. This music of the spheres ascends to the Great Logos as the praise and glory which is due to Him.

Thái dương Thượng đế của chúng ta có một đời sống riêng của Ngài giữa các Đấng đồng đẳng. Mỗi thế giới của Ngài dâng lên Ngài một dòng sùng kính, và đến lượt Ngài tuôn trở lại trên đó một trận lũ lớn ảnh hưởng tinh thần. Dòng ấy, chảy xuyên qua không gian, ban đầu do lòng sùng kính của dân Ngài gây nên, tạo thành, như thể, cây thất huyền cầm của Apollo, mà Ngài gảy như người ta gảy đàn hạc. Âm nhạc của các khối cầu này thăng lên tới Đại Thượng đế như lời ca ngợi và vinh quang xứng đáng dâng lên Ngài.

Our sun is a sun of the fourth order; therefore our Logos is a Logos of the Fourth Order. Just as our planets depends upon their sun and derive from it the life which sustains them, so does our Solar Logos (and perhaps millions of others like Him) depend upon a Solar Logos of the Third Order. And the thousands of Logoi of the Third Order depend upon a Logos of the Second Order; He, in His turn, “circles around” one of the First Order, and those of the First Order depend upon Parabrahm. We have been told these things, but in reality they can have very little meaning for us since they are so far beyond the world of our present experience.

Mặt trời của chúng ta là một mặt trời thuộc trật tự thứ tư; do đó Thượng đế của chúng ta là một Thượng đế thuộc Trật Tự Thứ Tư. Cũng như các hành tinh của chúng ta tùy thuộc vào mặt trời của chúng và nhận từ đó sự sống nâng đỡ chúng, Thái dương Thượng đế của chúng ta, và có lẽ hàng triệu Đấng khác giống như Ngài, cũng tùy thuộc vào một Thái dương Thượng đế thuộc Trật Tự Thứ Ba. Và hàng ngàn Thượng đế thuộc Trật Tự Thứ Ba tùy thuộc vào một Thượng đế thuộc Trật Tự Thứ Hai; đến lượt Ngài, “xoay quanh” một Đấng thuộc Trật Tự Thứ Nhất, và các Đấng thuộc Trật Tự Thứ Nhất tùy thuộc vào Parabrahm. Chúng ta đã được bảo cho biết những điều này, nhưng trong thực tế chúng chỉ có thể có rất ít ý nghĩa đối với chúng ta, vì chúng quá xa vượt thế giới kinh nghiệm hiện tại của chúng ta.

It is good to remind ourselves that, in fact, even the things we think we understand are a very long way from our comprehension. Take the most ordinary things around us; we do not know how a tree grows, for instance. We know that it absorbs certain elements from the earth, but how it turns these into bark and leaves nobody really understands. We think we know things, and if we can name them and stick a label on them we are then quite sure that we have mastered them. But, as a matter of fact, there are very few things which we understand completely.

Thật tốt khi tự nhắc mình rằng, trên thực tế, ngay cả những điều chúng ta nghĩ mình thấu hiểu cũng còn rất xa khỏi sự lĩnh hội của chúng ta. Hãy lấy những điều thông thường nhất quanh ta; chẳng hạn, chúng ta không biết một cái cây lớn lên như thế nào. Chúng ta biết nó hấp thụ một số nguyên tố từ đất, nhưng làm thế nào nó biến chúng thành vỏ cây và lá thì không ai thực sự hiểu. Chúng ta nghĩ rằng mình biết các sự vật, và nếu có thể đặt tên cho chúng rồi dán nhãn lên chúng, chúng ta liền hoàn toàn chắc chắn rằng mình đã làm chủ được chúng. Nhưng thật ra, có rất ít điều mà chúng ta thấu hiểu hoàn toàn.

The Solar System

Hệ mặt trời

The solar system may be likened to a lotus flower. By raising one’s consciousness to a higher level one may see that the planets—those spheres of fire—circling round the sun are like the tips of the lotus petals, or like the tips of the fingers of a hand. Most of the petals grow under the water—only the tips emerge, and where they break the surface they appear to be separate. The sun, floating in space, might represent the pistil among the stamens. Or it might be seen as the center floating overhead, a reflection of that which is the heart of the flower down below. The planets are linked together, not only fundamentally but subordinately. They are all, as it were, part of one great calyx.

Hệ mặt trời có thể được ví như một hoa sen. Bằng cách nâng tâm thức của mình lên một cấp độ cao hơn, người ta có thể thấy rằng các hành tinh—những khối cầu lửa ấy—đang xoay quanh mặt trời giống như các đầu cánh của hoa sen, hoặc như các đầu ngón tay của một bàn tay. Phần lớn các cánh hoa mọc dưới nước—chỉ các đầu cánh nhô lên, và nơi chúng phá vỡ mặt nước, chúng dường như tách biệt. Mặt trời, lơ lửng trong không gian, có thể tượng trưng cho nhụy cái giữa các nhị hoa. Hoặc nó có thể được thấy như trung tâm lơ lửng phía trên, một phản chiếu của cái là trái tim của bông hoa ở bên dưới. Các hành tinh được liên kết với nhau, không chỉ một cách căn bản mà còn một cách phụ thuộc. Tất cả chúng, như thể, là một phần của một đài hoa vĩ đại duy nhất.

When the Logos begins to form a system, His first step is to delimit the sphere of His activities, which extends far outside the orbit of the outermost planet of the system-to-be. Having made His limit, it is said that He then thinks the whole of His system into existence on what, to Him, corresponds to our mental plane. He determines the number of planets and satellites that He will bring into being, and the stage of development that shall be reached on each set of worlds. He makes, in fact, a gigantic and detailed thought-form of the complete system.

Khi Thượng đế bắt đầu tạo lập một hệ, bước đầu tiên của Ngài là định ranh giới khối cầu hoạt động của Ngài, vốn mở rộng rất xa bên ngoài quỹ đạo của hành tinh ngoài cùng của hệ sắp thành hình. Sau khi lập giới hạn của Ngài, người ta nói rằng Ngài bèn tư duy toàn bộ hệ của Ngài thành hiện hữu trên cõi mà đối với Ngài tương ứng với cõi trí của chúng ta. Ngài xác định số lượng hành tinh và vệ tinh mà Ngài sẽ đưa vào hiện hữu, và giai đoạn phát triển sẽ đạt được trên mỗi nhóm thế giới. Thật ra, Ngài tạo nên một hình tư tưởng khổng lồ và chi tiết của toàn bộ hệ.

In Greek philosophy, the thought-form is built up in the intelligible world. This thought-plan is not exactly a mold into which matter is poured; it is rather an existence on that high plane which is brought down, bit by bit, to the lower planes as the great Beings who are working under the Logos require it as a pattern.

Trong triết học Hy Lạp, hình tư tưởng được xây dựng trong thế giới khả tri. Thiên Cơ bằng tư tưởng này không hoàn toàn là một khuôn đúc để vật chất được rót vào; đúng hơn, đó là một sự hiện hữu trên cõi cao ấy, được đưa xuống từng phần một đến các cõi thấp hơn khi các Hữu Thể vĩ đại đang làm việc dưới quyền Thượng đế cần nó như một mô hình.

It is in reference to the intelligible world that we say everything exists in the beginning. The physical world does not exist at that stage, but its plan in the mind of the Logos has existed from the time when He resolved to form this system. Each part, as has been said, is brought down into manifestation as it is needed.

Chính khi nói về thế giới khả tri mà chúng ta nói rằng mọi sự đều hiện hữu ngay từ lúc khởi đầu. Thế giới hồng trần chưa hiện hữu ở giai đoạn đó, nhưng Thiên Cơ của nó trong trí của Thượng đế đã hiện hữu từ khi Ngài quyết định tạo lập hệ này. Mỗi phần, như đã nói, được đưa xuống biểu hiện khi cần đến.

The Logos builds His system out of matter. The one thing which penetrates everywhere, as far as we know, is what the scientists call the ether of space. Theosophists call it koilon.   4    What we call matter is built out of bubbles blown in this substance. In The Secret Doctrine there is the statement that “Fohat digs holes in space.” When I first read that many years ago, I thought of each “hole in space” as a solar system. When I came to know a little more, I concluded that the “holes” which Fohat “dug” are these tiny bubbles of infinitesimal smallness.

Thượng đế xây dựng hệ của Ngài từ vật chất. Điều duy nhất xuyên thấu khắp nơi, theo chỗ chúng ta biết, là cái mà các nhà khoa học gọi là dĩ thái của không gian. Các nhà Thông Thiên Học gọi nó là koilon. 4 Cái mà chúng ta gọi là vật chất được xây dựng từ những bọt được thổi trong chất liệu này. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm có lời tuyên bố rằng “Fohat đào những lỗ trong không gian.” Khi tôi đọc điều đó lần đầu nhiều năm trước, tôi đã nghĩ mỗi “lỗ trong không gian” là một hệ mặt trời. Khi biết thêm đôi chút, tôi kết luận rằng những “lỗ” mà Fohat “đào” chính là các bọt cực nhỏ này, nhỏ đến vô cùng.

There are some 14,000 millions   5    of these bubbles in an ultimate physical atom. Eighteen of those atoms make up a chemical atom of hydrogen, the lightest of our elements.

Có khoảng 14.000 triệu 5 bọt như thế trong một nguyên tử hồng trần tối hậu. Mười tám nguyên tử ấy tạo thành một nguyên tử hóa học của hydro, nguyên tố nhẹ nhất của chúng ta.

To us, the bubbles may seem to be absolutely empty, but the breath of God is within them, and no power that we know can alter them in any way. An ancient Indian writing tells us that the Logos (not the Logos of our solar system) breathed into these bubbles and that thus it is His breath out of which everything is built. If He were to choose to draw in His breath, at that instant everything would fall into nothingness because the bubbles would have disappeared. St. Augustine declares that “If God were to cease from speaking the Word even for a moment, heaven and earth would vanish.”

Đối với chúng ta, các bọt có thể dường như hoàn toàn trống rỗng, nhưng hơi thở của Thượng đế ở trong chúng, và không quyền năng nào mà chúng ta biết có thể làm biến đổi chúng theo bất cứ cách nào. Một trước tác Ấn Độ cổ xưa nói với chúng ta rằng Thượng đế, không phải Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta, đã thở vào các bọt này, và như vậy chính hơi thở của Ngài là cái từ đó mọi sự được xây dựng. Nếu Ngài chọn rút hơi thở của Ngài vào, ngay khoảnh khắc ấy mọi sự sẽ rơi vào hư vô vì các bọt đã biến mất. Thánh Augustine tuyên bố rằng “Nếu Thượng đế ngừng xướng Linh từ dù chỉ trong một khoảnh khắc, trời và đất sẽ tan biến.”

2 — 2

The Descent Into Matter — Sự Giáng Vào Vật Chất

The Trinity

Ba Ngôi

We must now try to understand something about the nature of the Deity and His manifestation in matter, which, as far as we are concerned, means the making of our solar system. All religions put forth some kind of theory to explain the origin of man and of the worlds, and most agree in describing the manifestation of the Deity as threefold. The Absolute (of whom we can know nothing except that He is) is the supreme God who rules over millions of universes. It is said that the process of cosmic evolution is similar to that of our solar system and that even in the absolute Logos or Deity there is the same threefold manifestation. We cannot actually know that, because the Absolute is so far above anything that we can see or touch; we can only infer that it must be so from what we see at lower levels.

Bây giờ chúng ta phải cố gắng thấu hiểu đôi chút về bản chất của Thượng đế và sự biểu hiện của Ngài trong vật chất, điều mà xét theo chúng ta có nghĩa là sự tạo lập hệ mặt trời của chúng ta. Mọi tôn giáo đều đưa ra một loại lý thuyết nào đó để giải thích nguồn gốc của con người và của các thế giới, và đa số đều đồng ý trong việc mô tả sự biểu hiện của Thượng đế là tam phân. Đấng Tuyệt Đối, về Ngài chúng ta không thể biết gì ngoài việc Ngài hiện hữu, là Thượng đế tối thượng cai quản hàng triệu vũ trụ. Người ta nói rằng tiến trình tiến hóa vũ trụ tương tự như tiến trình của hệ mặt trời chúng ta và rằng ngay cả trong Thượng đế hay Thượng đế tuyệt đối cũng có cùng sự biểu hiện tam phân. Chúng ta không thể thực sự biết điều đó, vì Đấng Tuyệt Đối vượt quá xa bất cứ điều gì chúng ta có thể thấy hay chạm đến; chúng ta chỉ có thể suy ra rằng hẳn là như vậy từ những gì chúng ta thấy ở các cấp độ thấp hơn.

In the case of our own solar system it is certain that we have this threefold manifestation because it is possible to look back and to see what has happened in the past. It is possible to see how the forces are flowing now, and from that we can deduce that there must be three centers of activity—three such aspects through which the force flows; three Persons, as it is stated, in one God.

Trong trường hợp hệ mặt trời của chính chúng ta, chắc chắn rằng chúng ta có sự biểu hiện tam phân này, vì có thể nhìn lại và thấy những gì đã xảy ra trong quá khứ. Có thể thấy các mãnh lực đang chảy như thế nào hiện nay, và từ đó chúng ta có thể suy ra rằng phải có ba trung tâm hoạt động—ba phương diện như thế mà qua đó mãnh lực chảy; ba Ngôi, như người ta nói, trong một Thượng đế duy nhất.

It would be well, first, to define the word “person.” It is derived from two Latin words, per, “through,” and sona, “a sound.”   6    It therefore signifies “that through which the sound comes.” The name was first given in Rome to the mask which was worn by a minor actor or supernumerary who played several parts. He would, for instance, play the part of a soldier in one act, a man in the crowd in another, a policeman in a third. Only the principal actors dressed their part fully. The supernumerary wore an ordinary peasant’s dress and changed only his headdress and his mask, which indicated the particular part he was playing at the time. If, for example, he were acting the part of a soldier, he would wear an appropriate mask and a soldier’s helmet.

Trước hết, nên định nghĩa từ “ngôi vị.” Nó bắt nguồn từ hai từ La-tinh, per, “xuyên qua,” và sona, “một âm thanh.” 6 Vì vậy nó có nghĩa là “cái qua đó âm thanh đi ra.” Tên này lần đầu được dùng ở La Mã để chỉ chiếc mặt nạ mà một diễn viên phụ hoặc vai quần chúng mang khi đóng nhiều vai. Chẳng hạn, ông sẽ đóng vai một người lính trong một hồi, một người trong đám đông ở hồi khác, một cảnh sát trong hồi thứ ba. Chỉ các diễn viên chính mới mặc trang phục đầy đủ theo vai của họ. Diễn viên quần chúng mặc một bộ quần áo nông dân bình thường và chỉ thay đổi mũ đội đầu cùng mặt nạ của mình, vốn chỉ ra vai đặc biệt mà ông đang đóng vào lúc đó. Nếu, chẳng hạn, ông đóng vai một người lính, ông sẽ mang một mặt nạ thích hợp và một mũ chiến binh.

The mask was the persona because the sound of the actor’s voice came out through it. The three Persons of the Blessed Trinity are in reality three manifestations or aspects of the One God. Even that is not quite correct because they are more than mere aspects—a theory long ago condemned by the Church as heresy.

Chiếc mặt nạ là persona vì âm thanh của giọng nói diễn viên phát ra qua nó. Ba Ngôi của Ba Ngôi Chí Phúc thực ra là ba biểu hiện hay phương diện của Một Thượng đế. Ngay cả điều đó cũng chưa hoàn toàn đúng, vì các Ngài còn hơn là những phương diện đơn thuần—một lý thuyết đã bị Giáo hội kết án từ lâu là tà thuyết.

However, it is as near as we can come to representing this mystery to ourselves to say that in these three parts which the Deity plays He is represented by three Persons. We may employ analogies, but we must do so with care; they may help a little but it is well not to push them too far. To take a very simple analogy, we can imagine one man as the mayor of a city, the manager of a bank and, at the same time, the colonel of the local militia. In these three parts he would wear three different sets of clothing and, though he would act whatever part he was representing at a given moment, still he would always be one and the same man. Now the three Persons of the Blessed Trinity are very much more than that, but They may be thought of as God acting in different directions or in different capacities. This is indeed only a small part of the truth; the whole truth cannot be grasped at our present stage.

Tuy nhiên, điều gần nhất mà chúng ta có thể dùng để tự hình dung mầu nhiệm này là nói rằng trong ba vai trò mà Thượng đế đảm nhận, Ngài được đại diện bởi ba Ngôi. Chúng ta có thể dùng các tương đồng, nhưng phải làm như vậy một cách thận trọng; chúng có thể giúp đôi chút, nhưng tốt nhất là không đẩy chúng đi quá xa. Lấy một tương đồng rất đơn giản, chúng ta có thể tưởng tượng một người vừa là thị trưởng của một thành phố, vừa là quản lý của một ngân hàng, đồng thời là đại tá của lực lượng dân quân địa phương. Trong ba vai trò này, ông sẽ mặc ba bộ trang phục khác nhau, và dù ông hành động theo bất cứ vai nào mà ông đang đại diện vào một thời điểm nhất định, ông vẫn luôn luôn là một và cùng một người. Nay Ba Ngôi của Ba Ngôi Chí Phúc còn hơn thế rất nhiều, nhưng có thể nghĩ về các Ngài như Thượng đế hành động theo những hướng khác nhau hoặc trong những chức năng khác nhau. Quả thật đây chỉ là một phần nhỏ của chân lý; toàn bộ chân lý không thể được nắm bắt ở giai đoạn hiện tại của chúng ta.

Our Solar System

Hệ mặt trời của chúng ta

It is difficult for us to imagine anything antecedent to our solar system.

Thật khó cho chúng ta tưởng tượng bất cứ điều gì có trước hệ mặt trời của chúng ta.

One theory concerning the origins of our system is that two suns came into collision, striking one another, not head on, but glancingly, and thus set the planets in motion round the sun in their present orbits. That may or may not be true, but the reality goes a great deal further than that. Each solar system, as we learn from occult study, is the physical body, the expression of a Deity or Logos, and it may be that, in some cases, He indeed gathered the material for His physical body by means of such a collision. At any rate, in the case of our own solar system, occult investigation has shown that the Logos first decided upon a point where He could make His system, and then set up a great vortex into which He drew matter out of surrounding space and proceeded gradually to ensoul it. We do not know much about the original condition of that matter, but it appears that at a certain stage in the proceedings there is only atomic matter; that is to say, the atoms lie far apart and equidistant and are not in any way aggregated to make forms of any sort whatever. We do not know it as a definite fact, but they may be thought of as floating in empty space as motes float in a sunbeam. They are, however, indescribably smaller than any motes we can see with our physical eye. Ancient philosophy sometimes called this primordial matter “virgin matter,” meaning that it was not yet interpenetrated or affected by the stream of life from the Logos.

Một lý thuyết về nguồn gốc của hệ chúng ta là hai mặt trời đã va chạm, đánh vào nhau, không phải trực diện, mà lướt qua, và do đó khiến các hành tinh chuyển động quanh mặt trời theo quỹ đạo hiện nay của chúng. Điều đó có thể đúng hoặc không đúng, nhưng thực tại còn đi xa hơn rất nhiều. Mỗi hệ mặt trời, như chúng ta học được từ nghiên cứu huyền bí học, là thể xác, là biểu hiện của một Thượng đế hay Logos, và có thể trong một số trường hợp, quả thật Ngài đã gom vật liệu cho thể xác của Ngài bằng một sự va chạm như thế. Dù sao, trong trường hợp hệ mặt trời của chính chúng ta, sự khảo sát huyền bí đã cho thấy rằng trước hết Thượng đế quyết định một điểm nơi Ngài có thể tạo lập hệ của Ngài, rồi thiết lập một xoáy lớn mà vào đó Ngài hút vật chất từ không gian chung quanh và tiến hành dần dần phú linh nó. Chúng ta không biết nhiều về tình trạng nguyên thủy của vật chất ấy, nhưng dường như ở một giai đoạn nào đó trong tiến trình chỉ có vật chất nguyên tử; nghĩa là các nguyên tử nằm cách xa nhau và cách đều nhau, không kết tụ theo bất cứ cách nào để tạo nên các hình tướng thuộc bất cứ loại nào. Chúng ta không biết điều đó như một sự kiện xác định, nhưng có thể nghĩ về chúng như đang trôi nổi trong không gian trống rỗng như các hạt bụi trôi nổi trong một tia nắng. Tuy nhiên, chúng nhỏ không thể tả hơn bất cứ hạt bụi nào mà chúng ta có thể thấy bằng mắt hồng trần. Triết học cổ đôi khi gọi vật chất nguyên sơ này là “vật chất trinh nguyên,” nghĩa là nó chưa bị dòng sự sống từ Thượng đế thâm nhập hay tác động.

The Planes of Matter

Các cõi vật chất

Occult investigation has further shown that in our solar system there are seven great planes or levels of matter and that man possesses bodies corresponding to, and by which he is able to contact, each one of them. There is the physical world, which we know, to a certain extent, as far as its lower subdivisions are concerned; the astral plane, which is the world in which feelings are expressed; the mental plane, which is built of the matter set in motion by our thought; the intuitional plane; the spiritual plane, where the triple spirit of man manifests itself; the monadic plane, where the Monad, the divine spark in man, resides; and finally the divine plane, on which is the triple manifestation of the Logos.

Sự khảo sát huyền bí còn cho thấy rằng trong hệ mặt trời của chúng ta có bảy cõi hay cấp độ lớn của vật chất, và con người sở hữu các thể tương ứng với từng cõi ấy, nhờ đó y có thể tiếp xúc với từng cõi. Có thế giới hồng trần, mà chúng ta biết đến một mức nào đó, xét về các phân chi thấp của nó; cõi cảm dục, là thế giới nơi các cảm xúc được biểu lộ; cõi trí, được xây dựng bằng vật chất được tư tưởng của chúng ta đưa vào chuyển động; cõi trực giác; cõi tinh thần, nơi tinh thần tam phân của con người biểu hiện; cõi chân thần, nơi chân thần, tia lửa thiêng liêng trong con người, cư ngụ; và cuối cùng là cõi thiêng liêng, trên đó có sự biểu hiện tam phân của Thượng đế.

Each of these planes is divided into seven subplanes. They must not be imagined as lying one above the other like the shelves of a bookcase; rather must we think of them as filling the same space and interpenetrating one another just as air and water in a bottle of aerated water take up the same space, because the air “crowds in” between the molecules of the water. If we pour sugar into the aerated water, we have solid particles floating among the liquid and the gaseous matter; air, water and solids now interpenetrate each other and occupy the same space. In like manner, the different types of the matter of the solar system interpenetrate one another. When spirit ensouls matter, it comes into the finer matter first and gradually energizes matter of increasing density. We call this a “descent” because it is coming nearer to the physical-plane matter.

Mỗi cõi này được chia thành bảy cõi phụ. Không nên tưởng tượng chúng nằm chồng lên nhau như các kệ của một tủ sách; đúng hơn, chúng ta phải nghĩ về chúng như lấp đầy cùng một không gian và thâm nhập lẫn nhau, giống như không khí và nước trong một chai nước có ga chiếm cùng một không gian, vì không khí “chen vào” giữa các phân tử nước. Nếu chúng ta đổ đường vào nước có ga, chúng ta có các hạt rắn trôi nổi giữa vật chất lỏng và vật chất khí; không khí, nước và chất rắn bây giờ thâm nhập lẫn nhau và chiếm cùng một không gian. Cũng như vậy, các loại vật chất khác nhau của hệ mặt trời thâm nhập lẫn nhau. Khi tinh thần phú linh vật chất, nó đi vào vật chất tinh tế hơn trước và dần dần truyền năng lượng cho vật chất ngày càng đậm đặc hơn. Chúng ta gọi đây là một “sự giáng xuống” vì nó đang đến gần hơn với vật chất cõi hồng trần.

When the Deity of the solar system manifests Himself in these planes, He appears as threefold upon that highest division which we call the divine plane. It is obviously impossible to picture this divine manifestation in any way, for it is entirely beyond our power either of representation or comprehension. In our limited consciousness we imagine the Three Persons as separate, yet They are really one. The first manifestation, which in Christian terminology is called God the Father, remains always at that highest level; the second—God the Son—descends one level and manifests Himself on the sixth or monadic plane. The Third—God the Holy Ghost—descends yet further to the higher part of the spiritual plane. The Holy Trinity is often spoken of as manifesting as Power, Wisdom, and Intelligence. The Father is said to be the Creator, and yet He creates through the Son; that is to say, Power is exercised through Wisdom, and both Father and Son, as Power-Wisdom, work through Intelligence. Another definition of the three Persons is Will, Wisdom, and Activity, and in that case we may think of the Holy Ghost as the “Arm of the Lord” outstretched to do His work.

Khi Thượng đế của hệ mặt trời biểu hiện chính Ngài trong các cõi này, Ngài xuất hiện như tam phân trên phân chia cao nhất mà chúng ta gọi là cõi thiêng liêng. Hiển nhiên không thể hình dung sự biểu hiện thiêng liêng này theo bất cứ cách nào, vì nó hoàn toàn vượt ngoài quyền năng biểu tượng hay lĩnh hội của chúng ta. Trong tâm thức giới hạn của mình, chúng ta tưởng tượng Ba Ngôi là tách biệt, nhưng thực ra các Ngài là một. Biểu hiện thứ nhất, trong thuật ngữ Ki-tô giáo được gọi là Thượng đế Cha, luôn luôn ở lại cấp độ cao nhất ấy; biểu hiện thứ hai—Thượng đế Con—giáng xuống một cấp và biểu hiện chính Ngài trên cõi thứ sáu hay cõi chân thần. Biểu hiện thứ ba—Thượng đế Chúa Thánh Thần—giáng xuống xa hơn nữa tới phần cao của cõi tinh thần. Ba Ngôi Thánh thường được nói là biểu hiện như Quyền Năng, Minh Triết và Trí Tuệ. Người ta nói rằng Đức Cha là Đấng Sáng Tạo, tuy nhiên Ngài sáng tạo qua Đức Con; nghĩa là Quyền Năng được vận dụng qua Minh Triết, và cả Đức Cha lẫn Đức Con, với tư cách Quyền Năng-Minh Triết, làm việc qua Trí Tuệ. Một định nghĩa khác về ba Ngôi là Ý Chí, Minh Triết và Hoạt Động, và trong trường hợp ấy chúng ta có thể nghĩ về Chúa Thánh Thần như “Cánh Tay của Chúa” vươn ra để thực hiện công việc của Ngài.

Now we find the same arrangement in the soul of man on the lower part of the spiritual plane. On the plane below—the intuitional—two principles manifest, giving rise to the intuitive nature. On the higher mental, there appears only one, manifesting as the intelligence. These three principles in man (which we call spirit, intuition, and intelligence) not only represent or reflect the three Persons of the Blessed Trinity, but in some way that as yet we cannot fully comprehend they are that Blessed Trinity. God is in every man, and every man is a manifestation of Him, even to the extent of mirroring in his soul that mysterious arrangement of three who yet are one. Here, then, we have the true meaning of the saying that God created man in His own image—not the physical body of man, but the constitution of his soul reproducing with marvelous exactitude the method of divine manifestation.

Nay chúng ta thấy cùng cách bố trí ấy trong linh hồn con người trên phần thấp của cõi tinh thần. Trên cõi bên dưới—cõi trực giác—hai nguyên khí biểu hiện, làm nảy sinh bản chất trực giác. Trên cõi thượng trí, chỉ một nguyên khí xuất hiện, biểu hiện như trí tuệ. Ba nguyên khí này trong con người, mà chúng ta gọi là tinh thần, trực giác và trí tuệ, không chỉ đại diện hay phản chiếu Ba Ngôi của Ba Ngôi Chí Phúc, mà theo một cách nào đó chúng ta chưa thể thấu hiểu trọn vẹn, chúng Ba Ngôi Chí Phúc ấy. Thượng đế ở trong mỗi người, và mỗi người là một biểu hiện của Ngài, thậm chí đến mức phản chiếu trong linh hồn mình sự sắp đặt huyền nhiệm của ba mà vẫn là một ấy. Vậy ở đây chúng ta có ý nghĩa chân thật của lời nói rằng Thượng đế đã tạo nên con người theo hình ảnh của chính Ngài—không phải thể xác của con người, mà là cấu tạo của linh hồn y, tái hiện với độ chính xác kỳ diệu phương pháp biểu hiện thiêng liêng.

The Three Outpourings

Ba lần tuôn đổ

It is from the Third Person—the Holy Ghost—that the first movement towards the formation of the system comes. In the Jewish account of the Creation we are told that at this stage the Spirit “brooded upon the face of the water” of space or the seas of matter (Latin maria, plural of mare, “sea”). As soon as the Holy Spirit descends, this matter, which before was inert, unproductive or “virgin,” at once begins to show signs of life. Through His glorious vitality, the atoms, which were all alike and equidistant, are awakened to new powers of attraction and repulsion and form aggregations and combinations of all kinds, bringing into existence the lower subdivisions of each level until we have, in full activity, the marvelous complexity of the forty-nine subplanes of our system.

Chính từ Ngôi Ba—Chúa Thánh Thần—mà chuyển động đầu tiên hướng tới sự hình thành hệ thống phát sinh. Trong tường thuật Do Thái về Sáng Thế, chúng ta được bảo rằng ở giai đoạn này Tinh thần “ấp ủ trên mặt nước” của không gian hay các biển của vật chất, từ La-tinh maria, số nhiều của mare, “biển.” Ngay khi Chúa Thánh Thần giáng xuống, vật chất này, trước đó vốn trơ lì, không sinh sản hay “trinh nguyên,” lập tức bắt đầu biểu lộ các dấu hiệu của sự sống. Qua sức sống huy hoàng của Ngài, các nguyên tử, vốn tất cả đều giống nhau và cách đều nhau, được đánh thức tới những quyền năng mới của hút và đẩy, và hình thành các kết tụ cùng tổ hợp đủ loại, đưa vào hiện hữu các phân chi thấp hơn của mỗi cấp độ cho đến khi chúng ta có, trong hoạt động trọn vẹn, sự phức tạp kỳ diệu của bốn mươi chín cõi phụ trong hệ của chúng ta.

When the field has thus been prepared for its activity, the second great outpouring of the Divine Life begins—the outflow of what is sometimes called monadic essence. This comes from the Second Person of the Trinity—God the Son. Slowly and steadily, but with resistless force, this mighty influence pours itself in great waves downwards through the various planes, giving to matter further powers of combination and making for itself forms or bodies out of that matter, each successive wave spending a whole aeon in each of the seven kingdoms of nature. It thus ensouls in succession what are called the three elemental kingdoms in which the spirit, moving downwards, immerses itself at last in physical matter and passes into the mineral kingdom. Having thus reached the lowest point of its destined course, it turns to begin its grand upward sweep towards divinity, pressing onward through the vegetable and animal kingdoms until it reaches the human kingdom, where it meets the outpouring from the First Person of the Blessed Trinity.

Khi trường hoạt động như vậy đã được chuẩn bị, lần tuôn đổ lớn thứ hai của Sự Sống Thiêng Liêng bắt đầu—dòng tuôn ra của cái đôi khi được gọi là tinh chất chân thần. Điều này đến từ Ngôi Hai của Ba Ngôi—Thượng đế Con. Chậm rãi và đều đặn, nhưng với mãnh lực không thể cưỡng, ảnh hưởng hùng mạnh này tuôn đổ thành những làn sóng lớn xuống qua các cõi khác nhau, ban cho vật chất những quyền năng tổ hợp xa hơn và tạo cho chính nó các hình tướng hay các thể từ vật chất ấy, mỗi làn sóng kế tiếp trải qua trọn một đại kiếp trong mỗi một trong bảy giới của thiên nhiên. Như vậy nó lần lượt phú linh cái được gọi là ba giới hành khí, trong đó tinh thần, chuyển động xuống dưới, cuối cùng đắm mình trong vật chất hồng trần và đi vào giới kim thạch. Khi đã đạt tới điểm thấp nhất của lộ trình định sẵn, nó quay lại để bắt đầu vòng tiến lên vĩ đại hướng tới thiên tính, thúc tới qua giới thực vật và giới động vật cho đến khi đạt tới giới nhân loại, nơi nó gặp lần tuôn đổ từ Ngôi Một của Ba Ngôi Chí Phúc.

The life of the Second Person ensouls all these lower kingdoms until it reaches the human kingdom, where that which has been the ensouler becomes, in its turn, the ensouled, for from that vivified matter which has acted as a soul for the animal is formed the causal body of man. It is into the causal body, then, that the Third Outpouring from the First Person, God the Father, descends, and so the individuality, the Ego, of the man is formed.

Sự sống của Ngôi Hai phú linh tất cả các giới thấp này cho đến khi đạt tới giới nhân loại, nơi cái từng là tác nhân phú linh đến lượt nó trở thành cái được phú linh; vì từ vật chất đã được tiếp sinh lực ấy, vốn đã hoạt động như một linh hồn cho con vật, thể nguyên nhân của con người được hình thành. Vậy chính vào thể nguyên nhân mà Lần Tuôn Đổ Thứ Ba từ Ngôi Một, Thượng đế Cha, giáng xuống, và như thế cá thể tính, tức Chân ngã, của con người được hình thành.

It used to be thought that man was the only reasoning animal. Assuredly, man has a far better brain than an animal, but anyone who has kept a pet dog or cat and made a friend of it knows that along certain lines the higher domesticated animals do reason and deduce one thing from another. The animal, while alive, is a separate soul just as much as any man, but when its body dies its soul is no longer a permanently separate entity. It remains as a separate thing in the astral life for some considerable time, but after that it goes back into what is called the group soul, whereas the man’s soul, when the body dies, passes through various intermediate stages and then returns to take another body. Man is a separate entity, a living soul, forever. That is the difference between the lowest man and the highest animal. And so we are told in the Bible that the spirit of the beast goeth “downward”—that is, back again into his group-soul but “the spirit of man goeth upward” [Eccl. 3:21] and eventually attains union with the Monad or Spirit.

Người ta từng nghĩ rằng con người là con vật duy nhất biết lý luận. Chắc chắn, con người có bộ não tốt hơn con vật rất nhiều, nhưng bất cứ ai từng nuôi một con chó hay mèo cưng và kết bạn với nó đều biết rằng theo một vài đường hướng, các thú vật thuần dưỡng cao hơn có lý luận và suy ra điều này từ điều khác. Con vật, khi còn sống, là một linh hồn riêng biệt cũng nhiều như bất cứ người nào, nhưng khi thể xác của nó chết, linh hồn của nó không còn là một thực thể riêng biệt thường tồn. Nó vẫn còn như một sự vật riêng biệt trong đời sống cảm dục trong một thời gian khá dài, nhưng sau đó nó trở về cái được gọi là Hồn nhóm, trong khi linh hồn con người, khi thể xác chết, đi qua nhiều giai đoạn trung gian khác nhau rồi trở lại để nhận một thể khác. Con người là một thực thể riêng biệt, một linh hồn sống động, mãi mãi. Đó là sự khác biệt giữa con người thấp nhất và con vật cao nhất. Và vì vậy chúng ta được bảo trong Kinh Thánh rằng tinh thần của thú vật đi “xuống”—nghĩa là trở lại vào Hồn nhóm của nó, nhưng “tinh thần của con người đi lên” [Truyền Đạo 3:21] và cuối cùng đạt tới sự hợp nhất với chân thần hay tinh thần.

Nothing in this great system is lost. If it is true that the Second Outpouring is, as it were, absorbed into the first, without that second the first could not have been. All that has been gained by the Second Outpouring is transferred into and welded into the first. This is put clearly in the Quicunque vult:   7    “yet he is not two, but one Christ; one, not by conversion of the Godhead into flesh; but by taking the Manhood into God.”

Không có gì trong hệ thống vĩ đại này bị mất đi. Nếu đúng là Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, như thể, được hấp thụ vào lần thứ nhất, thì nếu không có lần thứ hai ấy, lần thứ nhất không thể hiện hữu. Tất cả những gì đã đạt được bởi Lần Tuôn Đổ Thứ Hai đều được chuyển vào và hàn gắn vào lần thứ nhất. Điều này được trình bày rõ ràng trong Quicunque vult: 7 “tuy nhiên Ngài không phải là hai, mà là một Christ; một, không phải do sự chuyển đổi Thần tính thành xác thịt; mà do việc đưa Nhân tính vào Thượng đế.”

Divine Energy

Năng lượng thiêng liêng

The Deity sends forth from itself various forces or forms of energy. There may be many of which we know nothing, but there are some which have been observed. It is not easy to find the origin or source of some of these forces, for they descend from planes higher than those which are accessible to us. But all power is divine power and comes forth from one or another of the three aspects of the Logos.

Thượng đế phát ra từ chính Ngài các mãnh lực hay các hình thức năng lượng khác nhau. Có thể có nhiều điều chúng ta không biết gì, nhưng có một số đã được quan sát. Không dễ tìm ra nguồn gốc hay cội nguồn của một số mãnh lực này, vì chúng giáng xuống từ các cõi cao hơn những cõi mà chúng ta có thể tiếp cận. Nhưng mọi quyền năng đều là quyền năng thiêng liêng và phát ra từ một hay một phương diện khác của Thượng đế.

We find, too, that a great many of these forces—light, heat, electricity, and certain rays described in scientific experiments—appear to be variants of the same force and under certain conditions they can be changed one into the other.

Chúng ta cũng thấy rằng rất nhiều mãnh lực này—ánh sáng, nhiệt, điện, và một số tia được mô tả trong các thí nghiệm khoa học—dường như là những biến thể của cùng một mãnh lực, và dưới một số điều kiện nhất định chúng có thể được chuyển đổi từ cái này thành cái kia.

Apart from the group of forces just mentioned, we find another force which we call the life force and which long ago subdivided itself to a great degree. It comes forth at the Second Outpouring from the second aspect of the Logos, through millions of channels, showing itself on every plane of our system, yet fundamentally it is one and the same force. On the intuitional or buddhic plane, it displays itself as the Christ-principle which gradually unfolds itself within the soul of man.

Ngoài nhóm mãnh lực vừa được đề cập, chúng ta tìm thấy một mãnh lực khác mà chúng ta gọi là mãnh lực sự sống, và từ lâu nó đã tự phân chia đến một mức độ rất lớn. Nó phát ra ở Lần Tuôn Đổ Thứ Hai từ phương diện thứ hai của Thượng đế, qua hàng triệu kênh, biểu lộ trên mọi cõi của hệ chúng ta, nhưng về căn bản nó là một và cùng một mãnh lực. Trên cõi trực giác hay Bồ đề, nó biểu lộ như nguyên khí Christ, dần dần khai mở trong linh hồn con người.

This force must not be confused with the force of vitality or prana, which pours forth from the sun and is an expression of the first or Father aspect of the Logos. The vitality itself is not life but is necessary for the maintenance of life in a form.

Không được nhầm lẫn mãnh lực này với mãnh lực sinh lực hay prana, vốn tuôn ra từ mặt trời và là một biểu hiện của phương diện thứ nhất hay phương diện Cha của Thượng đế. Bản thân sinh lực không phải là sự sống, nhưng cần thiết cho việc duy trì sự sống trong một hình tướng.

Another distinct force, coming forth from the third aspect of the Logos is called the Serpent Fire, known in India under the name of kundalini. This force is the same as that which emanates from the Holy Ghost at the First Outpouring, but now it is on its path of return. On its outgoing path, it forms out of the bubbles in koilon the atoms which are used as building stones by the Second Outpouring in the creation of living forms. On its return path—in the form of the Serpent Fire—it plays a part in the evolution of the bodies of all living creatures.

Một mãnh lực khác biệt nữa, phát ra từ phương diện thứ ba của Thượng đế, được gọi là Lửa Rắn, ở Ấn Độ được biết dưới tên kundalini. Mãnh lực này cũng chính là mãnh lực xuất lộ từ Chúa Thánh Thần trong Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, nhưng bây giờ nó đang ở trên đường trở về. Trên đường đi ra, nó tạo thành từ các bọt trong koilon các nguyên tử được Lần Tuôn Đổ Thứ Hai dùng như những viên đá xây dựng trong việc tạo tác các hình tướng sống động. Trên đường trở về—dưới hình thức Lửa Rắn—nó đóng một vai trò trong sự tiến hóa của các thể của mọi sinh vật.

We know all these forces as distinct and separate on the physical plane, but this does not mean that they may not be connected at a higher level. There is much that one knows on higher planes that simply cannot be put into language down here.

Chúng ta biết tất cả các mãnh lực này như riêng biệt và tách rời trên cõi hồng trần, nhưng điều này không có nghĩa là chúng không thể liên hệ với nhau ở một cấp độ cao hơn. Có nhiều điều người ta biết trên các cõi cao mà đơn giản là không thể đưa vào ngôn ngữ ở dưới này.

christian-gnosis-ph-n-i-ch-ng-1-10-04.png

Diagram 1. The Three Outpourings

Sơ đồ 1. Ba lần tuôn đổ

This diagram shows the seven planes of our system. The symbols used to designate the three Persons of the Trinity are of great antiquity. The First Person—the Father—is symbolized by a point within a circle; the Second Person—the Son—by a horizontal bar within a circle; and the Third Person—the Holy Spirit—by a cross within a circle. They are placed outside time and space, only the streams of life and force flowing from Them are shown descending into our system of planes. The First Outpouring, coming from the Third Person—God the Holy Ghost—is shown as a straight line descending to the lowest and densest plane, vivifying matter on its way. The Second Outpouring, emanating from the Second Person—God the Son—is that stream of life sent out into matter already vitalized by the First Outpouring and is shown descending to the lowest point in matter, after which it rises until it reaches the mental plane. In both of these outpourings the divine life becomes more veiled as it descends into matter (shown darker in the diagram). The Third Outpouring, coming from the First Person—God the Father—descends only as far as the intuitional plane, and its link with the Second Outpouring is symbolized by a triangle within a circle, representing the individual triune soul of man, the reincarnating Ego. The force of the Third Person also rises again after touching its lowest point in matter, but now in the form of what is called the Serpent Fire or kundalini, so we must imagine that the vertical line in the center returns upon its path.

Sơ đồ này cho thấy bảy cõi của hệ chúng ta. Các biểu tượng được dùng để chỉ ba Ngôi của Ba Ngôi có từ thời rất cổ. Ngôi Một—Đức Cha—được tượng trưng bằng một điểm trong một vòng tròn; Ngôi Hai—Đức Con—bằng một vạch ngang trong một vòng tròn; và Ngôi Ba—Chúa Thánh Thần—bằng một thập giá trong một vòng tròn. Các Ngài được đặt ngoài thời gian và không gian; chỉ các dòng sự sống và mãnh lực chảy từ các Ngài xuống hệ các cõi của chúng ta được trình bày. Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, đến từ Ngôi Ba—Thượng đế Chúa Thánh Thần—được trình bày như một đường thẳng giáng xuống tới cõi thấp nhất và đậm đặc nhất, tiếp sinh lực cho vật chất trên đường đi. Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, xuất lộ từ Ngôi Hai—Thượng đế Con—là dòng sự sống được phóng ra vào vật chất đã được Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất tiếp sinh lực, và được trình bày như giáng xuống tới điểm thấp nhất trong vật chất, sau đó nó vươn lên cho đến khi đạt tới cõi trí. Trong cả hai lần tuôn đổ này, sự sống thiêng liêng trở nên bị che phủ nhiều hơn khi nó giáng vào vật chất, được trình bày tối hơn trong sơ đồ. Lần Tuôn Đổ Thứ Ba, đến từ Ngôi Một—Thượng đế Cha—chỉ giáng xuống đến cõi trực giác, và liên kết của nó với Lần Tuôn Đổ Thứ Hai được tượng trưng bằng một tam giác trong một vòng tròn, đại diện cho linh hồn tam nhất cá biệt của con người, Chân ngã tái sinh. Mãnh lực của Ngôi Ba cũng lại vươn lên sau khi chạm tới điểm thấp nhất của nó trong vật chất, nhưng bây giờ dưới hình thức cái được gọi là Lửa Rắn hay kundalini, vì vậy chúng ta phải tưởng tượng rằng đường thẳng đứng ở trung tâm quay trở lại trên chính lộ trình của nó.

____________________

____________________

3 — 3

Made In The Image Of God — Được Tạo Nên Theo Hình Ảnh Của Thượng đế

We are told that God made man in His own image. Some have held this to mean that it is the physical body of man which is made in the likeness of the physical body of God. But that cannot be so, for God has no physical vehicle, unless we accept the manifestations of the solar system on the physical plane as the physical manifestation of God. That, indeed, they are, since there is nothing which is not God. He not only permeates everything, but He literally is everything. All the spirit, all the power, all the energy in the world is the Divine Spirit and Power and Energy, and the very matter through which it acts is only another manifestation of Him. It is literally true that there is nothing but God at all levels from the highest to the lowest, for it is the Divine Life itself which surrounds us everywhere. But when it is said that God made man in His own image, it is the man himself—the soul—to which we refer, and not the physical body.

Chúng ta được bảo rằng Thượng đế đã tạo nên con người theo hình ảnh của chính Ngài. Một số người cho rằng điều này có nghĩa là thể xác của con người được tạo nên giống như thể xác của Thượng đế. Nhưng điều đó không thể là như vậy, vì Thượng đế không có vận cụ hồng trần, trừ khi chúng ta chấp nhận các biểu hiện của hệ mặt trời trên cõi hồng trần như biểu hiện hồng trần của Thượng đế. Quả thật, chúng là như vậy, vì không có gì không phải là Thượng đế. Ngài không chỉ thấm nhuần mọi sự, mà Ngài đúng theo nghĩa đen mọi sự. Tất cả tinh thần, tất cả quyền năng, tất cả năng lượng trong thế giới đều là Tinh thần, Quyền năng và Năng lượng Thiêng Liêng, và chính vật chất qua đó chúng hoạt động chỉ là một biểu hiện khác của Ngài. Theo nghĩa đen, đúng là không có gì ngoài Thượng đế ở mọi cấp độ từ cao nhất đến thấp nhất, vì chính Sự Sống Thiêng Liêng bao quanh chúng ta khắp nơi. Nhưng khi nói rằng Thượng đế đã tạo nên con người theo hình ảnh của chính Ngài, thì chính con người—linh hồn—là điều chúng ta nói đến, chứ không phải thể xác.

How can the soul of man be made in the image of God? There are Three Persons in that ever-Blessed Trinity, and yet those Three are One. The same phenomenon appears in man. But man is threefold in another sense, as we are told in the New Testament. He is made up of body, soul, and Spirit; but it is not in this way that he is three in one. It is rather the soul itself which is triple, which has three aspects or manifestations.

Làm thế nào linh hồn con người có thể được tạo nên theo hình ảnh của Thượng đế? Có Ba Ngôi trong Ba Ngôi Chí Phúc đời đời ấy, tuy nhiên Ba ấy là Một. Cùng hiện tượng ấy xuất hiện trong con người. Nhưng con người còn tam phân theo một nghĩa khác, như chúng ta được bảo trong Tân Ước. Y được cấu thành bởi thể xác, linh hồn và Tinh thần; nhưng không phải theo cách này mà y là ba trong một. Đúng hơn, chính linh hồn là tam phân, có ba phương diện hay biểu hiện.

The Spirit in man is the divine power of the Godhead in him, the divine energy leaping forth directly from Him at a tremendously higher level than anything we can understand.

Tinh thần trong con người là quyền năng thiêng liêng của Thần tính trong y, năng lượng thiêng liêng phóng vọt trực tiếp từ Ngài ở một cấp độ cao hơn kinh khủng so với bất cứ điều gì chúng ta có thể thấu hiểu.

There are seven different planes of nature, which are sometimes called “worlds” or “heavens.” Thus we find references in the Bible to other and higher worlds, as when St. Paul speaks of having been caught up into the third heaven [2 Cor. 12:2], showing that he recognized at least three higher states than this earth.

Có bảy cõi khác nhau của thiên nhiên, đôi khi được gọi là “các thế giới” hay “các cõi trời.” Vì vậy chúng ta thấy các tham chiếu trong Kinh Thánh đến những thế giới khác và cao hơn, như khi Thánh Paul nói về việc được đưa lên tới tầng trời thứ ba [2 Cor. 12:2], cho thấy rằng ông thừa nhận ít nhất ba trạng thái cao hơn trái đất này.

Most people think of heaven as a place of happiness and delight, and so it is, for all higher levels are in every way better, more joyous, and less restricted than the physical plane. But, strictly speaking, “heaven” means that which is “heaved up” or raised above us; therefore any state higher than our own might be spoken of as heaven, and it is in that sense that we speak of the “seven heavens” or the seven conditions higher than this physical life.

Đa số người ta nghĩ về thiên đường như một nơi hạnh phúc và hoan lạc, và quả đúng như vậy, vì mọi cấp độ cao hơn đều tốt hơn về mọi mặt, hoan hỉ hơn và ít bị hạn chế hơn cõi hồng trần. Nhưng nói cho nghiêm ngặt, “thiên đường” nghĩa là cái được “nâng lên” hay được đưa lên cao hơn chúng ta; do đó bất cứ trạng thái nào cao hơn trạng thái của chính chúng ta đều có thể được gọi là thiên đường, và chính theo nghĩa đó mà chúng ta nói về “bảy tầng trời” hay bảy tình trạng cao hơn đời sống hồng trần này.

The Spirit

Tinh thần

The Spirit of man—the divine spark which is part of the divine fire—rests on a plane so high that at our present stage of evolution we cannot respond to it.

Tinh thần của con người—tia lửa thiêng liêng là một phần của lửa thiêng liêng—an trú trên một cõi cao đến nỗi ở giai đoạn tiến hóa hiện tại của chúng ta, chúng ta không thể đáp ứng với nó.

Further on in our evolution, when we have more fully developed our powers, we shall come clearly and definitely into touch with that Spirit, and we shall know that we are God and that God is in us. But for the present we are nearly at the bottom of the ladder that will take us to that stupendous height. The evolution before us is so vast that what we have already achieved will seem to us as nothing when we look back upon it from the immense heights of that distant future.

Xa hơn trong sự tiến hóa của mình, khi chúng ta đã phát triển đầy đủ hơn các quyền năng của mình, chúng ta sẽ tiếp xúc rõ ràng và xác định với Tinh thần ấy, và chúng ta sẽ biết rằng chúng ta là Thượng đế và Thượng đế ở trong chúng ta. Nhưng hiện nay chúng ta gần như ở đáy chiếc thang sẽ đưa chúng ta tới chiều cao kỳ vĩ ấy. Sự tiến hóa trước mặt chúng ta bao la đến nỗi những gì chúng ta đã đạt được sẽ dường như chẳng là gì đối với chúng ta khi chúng ta nhìn lại nó từ những độ cao mênh mông của tương lai xa xôi ấy.

There are those who approach this most profound of all subjects with the firm conviction that they are capable of understanding it fully. God alone understands it fully and because, in a sense, we also are God, we shall begin to comprehend it fully when we have developed to the full “measure of the stature of the fullness of Christ” (Eph. 4:13). At present we are but children in these studies. We can understand enough to guide us in our daily living; we can always understand enough to show us the next step which we have to take, and that is enough for us at the moment.

Có những người tiếp cận đề tài sâu xa nhất trong mọi đề tài này với niềm xác tín vững chắc rằng họ có khả năng thấu hiểu nó trọn vẹn. Chỉ Thượng đế mới thấu hiểu nó trọn vẹn, và vì, theo một nghĩa nào đó, chúng ta cũng là Thượng đế, nên chúng ta sẽ bắt đầu thấu hiểu nó trọn vẹn khi chúng ta đã phát triển tới trọn “tầm vóc sung mãn của Đức Christ” [Ê-phê-sô 4:13]. Hiện tại, chúng ta chỉ là trẻ thơ trong các nghiên cứu này. Chúng ta có thể thấu hiểu đủ để hướng dẫn mình trong đời sống hằng ngày; chúng ta luôn luôn có thể thấu hiểu đủ để chỉ cho mình bước kế tiếp mà chúng ta phải đi, và điều đó là đủ cho chúng ta trong lúc này.

The Spirit itself, which we sometimes call the Monad, exists on a plane which is far beyond the reach of our consciousness. The first contact which we can make with it is on a plane below its own, where it shows itself as threefold. Then, in its further downward movement, it puts out a very small part of itself into a much lower level, and that is what is called the soul, or Ego, in man. This soul or Ego passes on from life to life at its own level—a level very much lower than that of the Spirit, but still much higher than our life on this physical plane.

Chính Tinh thần, mà đôi khi chúng ta gọi là chân thần, hiện hữu trên một cõi vượt rất xa tầm với của tâm thức chúng ta. Tiếp xúc đầu tiên mà chúng ta có thể tạo với nó là trên một cõi thấp hơn cõi riêng của nó, nơi nó biểu lộ như tam phân. Rồi, trong chuyển động đi xuống xa hơn của nó, nó đưa ra một phần rất nhỏ của chính nó vào một cấp độ thấp hơn nhiều, và đó là cái được gọi là linh hồn, hay Chân ngã, trong con người. Linh hồn hay Chân ngã này đi tiếp từ đời sống này sang đời sống khác ở cấp độ riêng của nó—một cấp độ thấp hơn rất nhiều so với Tinh thần, nhưng vẫn cao hơn rất nhiều so với đời sống của chúng ta trên cõi hồng trần này.

The Soul

Linh hồn

The soul contains within itself the triple manifestation of the Spirit. It is said that God the Father remains on His own level and that God the Son descends into incarnation and takes upon Himself the robe of flesh. This was known to other and older religions than Christianity—to the great Hindu religion as well as to that of ancient Egypt. Indeed, it will be found to be implied, if not expressed, in all the great religions of the past.

Linh hồn chứa trong chính nó sự biểu hiện tam phân của Tinh thần. Người ta nói rằng Thượng đế Cha ở lại trên cấp độ riêng của Ngài, và Thượng đế Con giáng vào lâm phàm, khoác lấy áo choàng bằng xác thịt. Điều này đã được biết đến trong các tôn giáo khác và cổ hơn Ki-tô giáo—trong tôn giáo lớn của Ấn Độ cũng như trong tôn giáo của Ai Cập cổ đại. Thật vậy, người ta sẽ thấy nó được ngụ ý, nếu không được diễn đạt rõ, trong tất cả các tôn giáo lớn của quá khứ.

Just as the Second Person of the Trinity descends lower than the First, so does the Third Person—God the Holy Ghost, the Flame of God—pour Himself out upon His people at a still lower level. And we find this arrangement repeated also in the soul of man. For the soul of man (as has been said before) is triple, made up of atma, the Breath or Spirit of God; buddhi, Intuitional Wisdom; and manas, intelligence. These, taken together, make what is called the incarnating Ego which goes on from life to life. We have all had many of these earth lives in the past (although most of us do not remember them), and we shall have many more in the future.

Cũng như Ngôi Hai của Ba Ngôi giáng xuống thấp hơn Ngôi Một, Ngôi Ba — Thượng đế Chúa Thánh Thần, Ngọn Lửa của Thượng đế — cũng tuôn đổ chính Ngài xuống trên dân của Ngài ở một cấp độ còn thấp hơn nữa. Và chúng ta cũng thấy sự sắp đặt này được lặp lại trong linh hồn con người. Vì linh hồn con người, như đã nói trước đây, là tam phân, gồm có atma, Hơi Thở hay Tinh thần của Thượng đế; buddhi, Minh Triết Trực Giác; và manas, trí năng. Ba điều này, khi hợp lại, tạo thành cái được gọi là Chân ngã nhập thể, vốn đi tiếp từ kiếp sống này sang kiếp sống khác. Tất cả chúng ta đã có nhiều kiếp sống trên địa cầu trong quá khứ, mặc dù phần đông chúng ta không nhớ chúng, và chúng ta sẽ còn có nhiều kiếp sống nữa trong tương lai.

That is the method of the soul’s evolution. It descends into this earthly life, where it gains certain experiences and develops certain faculties and returns to its own plane for a time of rest and of assimilation.

Đó là phương pháp tiến hóa của linh hồn. Nó giáng xuống đời sống trần thế này, nơi nó thu nhận một số kinh nghiệm và phát triển một số năng lực, rồi trở về cõi riêng của nó trong một thời gian nghỉ ngơi và đồng hóa.

It is in his threefold constitution that man is made “in the image of God.” And this threefold manifestation is more than mere symbolism; it is the representation of the Trinity in the Godhead, which manifests itself through man just insofar as he will allow it to do so.

Chính trong cấu tạo tam phân của mình mà con người được tạo nên “theo hình ảnh của Thượng đế.” Và sự biểu hiện tam phân này còn hơn cả biểu tượng đơn thuần; đó là sự biểu thị của Ba Ngôi trong Thần tính, vốn biểu hiện qua con người đúng đến mức y cho phép điều ấy xảy ra.

When the soul “puts itself down” into incarnation, it takes not only a physical body but a mental one, which is commonly called the mind, and an emotional body, through which the emotions function. The latter is sometimes called the “astral” body because it shines and is luminous when it is seen by means of higher sight. In each life these bodies are taken anew.

Khi linh hồn “đặt mình xuống” vào sự nhập thể, nó không chỉ nhận lấy một thể xác mà còn nhận lấy một thể trí, thường được gọi là trí, và một thể cảm xúc, qua đó các cảm xúc vận hành. Thể sau đôi khi được gọi là thể “cảm dục” vì nó rực sáng và phát quang khi được nhìn thấy bằng nhãn quan cao hơn. Trong mỗi kiếp sống, các thể này lại được nhận lấy mới.

Only after having assumed these intermediate vehicles can the soul come into touch with an embryo and be born into the physical world. When, at the end of that life, the physical body is worn out, the process is reversed and the soul lays aside one by one the temporary vehicles which it had assumed. So it is that the soul, during incarnation, is temporarily reflected in its three lower vehicles, which collectively constitute the personality of man.

Chỉ sau khi đã khoác lấy các vận cụ trung gian này, linh hồn mới có thể tiếp xúc với một phôi thai và sinh vào thế giới hồng trần. Khi, vào cuối kiếp sống ấy, thể xác hao mòn, tiến trình được đảo ngược và linh hồn lần lượt gạt bỏ các vận cụ tạm thời mà nó đã khoác lấy. Vì vậy, trong thời gian nhập thể, linh hồn tạm thời được phản chiếu trong ba vận cụ thấp của nó, những vận cụ này hợp lại tạo thành phàm ngã của con người.

The Causal Body

Thể Nguyên Nhân

The causal body is the permanent vehicle of the soul or Ego in the higher mental world and consists of matter of the first, second, and third subdivisions of that world. In most people it is not yet fully active, only the matter belonging to the third subdivision being vivified. As the soul develops its latent possibilities through its long course of evolution, the higher matter is gradually brought into action, but it is only in the perfected man—the adept—that it is developed to its fullest capacity.

Thể nguyên nhân là vận cụ trường tồn của linh hồn hay Chân ngã trong cõi thượng trí và gồm chất liệu thuộc các phân cảnh thứ nhất, thứ hai và thứ ba của cõi ấy. Ở phần đông người, nó chưa hoạt động đầy đủ, chỉ có chất liệu thuộc phân cảnh thứ ba được làm sinh động. Khi linh hồn phát triển các khả năng tiềm tàng của mình qua tiến trình tiến hóa lâu dài, chất liệu cao hơn dần dần được đưa vào hoạt động, nhưng chỉ nơi con người toàn thiện — vị chân sư — nó mới phát triển đến trọn năng lực.

When a man reaches the stage where he is capable of abstract thought and unselfish emotions, the matter of the causal body is aroused in response. Its vibrations show themselves to the clairvoyant observer as colors and instead of being, as heretofore, merely a transparent ovoid, it gradually becomes a sphere filled with matter of the most lovely and delicate hues indicative of the spiritual development of the soul.

Khi một người đạt đến giai đoạn y có khả năng tư tưởng trừu tượng và những cảm xúc vô kỷ, chất liệu của thể nguyên nhân được khơi dậy để đáp ứng. Các rung động của nó hiện ra với nhà quan sát thông nhãn như những màu sắc; và thay vì trước kia chỉ là một hình trứng trong suốt, nó dần dần trở thành một khối cầu đầy chất liệu có những sắc thái đẹp đẽ và tinh tế nhất, biểu thị sự phát triển tinh thần của linh hồn.

In the course of evolution in the lower worlds, the soul introduces into its vehicles qualities which are undesirable for its development—qualities such as pride, irritability, and sensuality. These show themselves as vibrations in the various bodies, but since they are vibrations in the lower subdivisions of their respective worlds, they cannot reproduce themselves in the causal body, which is built exclusively of the matter of the three higher subdivisions of the mental world. Each section of the astral body, for instance, acts strongly upon the corresponding section of the mental body, but only upon that. The causal body can be affected only by the three higher sections of the astral body, and the vibrations of those parts represent only good qualities.

Trong tiến trình tiến hóa nơi các cõi thấp, linh hồn đưa vào các vận cụ của mình những phẩm tính không đáng mong muốn cho sự phát triển của nó — những phẩm tính như kiêu hãnh, dễ cáu giận và dục cảm. Những điều này biểu hiện như các rung động trong những thể khác nhau, nhưng vì chúng là các rung động trong những phân cảnh thấp của các cõi tương ứng, chúng không thể tự tái tạo trong thể nguyên nhân, vốn được xây dựng hoàn toàn bằng chất liệu của ba phân cảnh cao của cõi trí. Chẳng hạn, mỗi phần của thể cảm dục tác động mạnh lên phần tương ứng của thể trí, nhưng chỉ lên phần ấy mà thôi. Thể nguyên nhân chỉ có thể chịu tác động của ba phần cao hơn của thể cảm dục, và các rung động của những phần ấy chỉ biểu thị các phẩm tính tốt.

The practical effect of this is that the individual can build into the Ego or soul nothing but good qualities. Any evil qualities he may develop in his personality are transitory in nature and are discarded as he advances, because his causal body has no matter within it which can express such qualities.

Hiệu quả thực tiễn của điều này là cá nhân chỉ có thể xây dựng vào Chân ngã hay linh hồn những phẩm tính tốt mà thôi. Bất kỳ phẩm tính xấu nào y có thể phát triển trong phàm ngã đều có bản chất nhất thời và bị loại bỏ khi y tiến bước, bởi vì thể nguyên nhân của y không có chất liệu nào trong đó có thể biểu hiện những phẩm tính như thế.

The Mental Body

Thể Trí

The mental body, expressing the concrete thought of the individual, is ovoid in shape and built of matter of the four lower subdivisions of the mental world. We find here the same color scheme as in the causal body. There are in it certain segments which correspond to particular departments in the physical brain. The mental body is, in general, so imperfectly developed in most people that great numbers of these special departments have not yet been brought into activity, or only very slightly so. This is why, for instance, only some people have a head for mathematics, while others can appreciate music but not poetry, and so on. The matter of the mental body should be circulating freely, but sometimes thoughts on certain subjects are allowed to become set and they solidify and harden into a kind of wart. Such a “wart” manifests itself as a prejudice, and until free circulation is restored it is impossible for the person to think clearly in regard to that subject.

Thể trí, biểu hiện tư tưởng cụ thể của cá nhân, có hình trứng và được xây dựng bằng chất liệu của bốn phân cảnh thấp của cõi trí. Ở đây chúng ta thấy cùng một hệ màu như trong thể nguyên nhân. Trong đó có một số đoạn tương ứng với những bộ phận đặc thù trong bộ não hồng trần. Nói chung, thể trí ở phần đông người phát triển rất chưa hoàn chỉnh, đến mức nhiều bộ phận đặc biệt này chưa được đưa vào hoạt động, hoặc chỉ hoạt động rất ít. Vì thế, chẳng hạn, chỉ một số người có năng khiếu toán học, trong khi những người khác có thể cảm nhận âm nhạc nhưng không cảm nhận thơ ca, v.v. Chất liệu của thể trí phải lưu chuyển tự do, nhưng đôi khi các tư tưởng về một số chủ đề được để cho cố định lại, rồi chúng đông đặc và cứng lại thành một loại mụn cóc. Một “mụn cóc” như thế biểu hiện thành một định kiến, và cho đến khi sự lưu chuyển tự do được phục hồi, người ấy không thể suy nghĩ rõ ràng về chủ đề đó.

Good thoughts produce vibrations in the finer matter of the mental body, which tends to flow in the upper part of the ovoid, whereas bad thoughts such as those of selfishness or jealousy gravitate towards the lower part. Vague, ill-defined thoughts float for a while in space and then slowly disintegrate. Every thought builds a form. A man can make a thought-form and aim it at another with the object of helping him. This is one of the lines of activity adopted by those who wish to serve humanity. Such a thought-form may act like a “guardian angel.” Any person who habitually thinks pure and strong thoughts is a great power for good in the world.

Những tư tưởng tốt tạo ra các rung động trong chất liệu tinh tế hơn của thể trí, vốn có khuynh hướng lưu chuyển ở phần trên của hình trứng, trong khi những tư tưởng xấu như ích kỷ hay ganh tị lại chìm xuống phần dưới. Những tư tưởng mơ hồ, không xác định rõ, trôi nổi một thời gian trong không gian rồi chậm rãi tan rã. Mỗi tư tưởng đều xây dựng một hình tướng. Một người có thể tạo ra một hình tư tưởng và hướng nó đến người khác với mục đích giúp đỡ y. Đây là một trong những đường hoạt động được những ai muốn phụng sự nhân loại chọn lấy. Một hình tư tưởng như thế có thể hoạt động như một “thiên thần hộ mệnh.” Bất cứ người nào thường xuyên suy nghĩ những tư tưởng trong sạch và mạnh mẽ đều là một quyền năng lớn lao hướng thiện trong thế gian.

The Astral Body

Thể Cảm Dục

The astral body is the expression of the soul on the astral plane and is the vehicle of passion and emotion. The name “astral” originated with the medieval alchemists. It means “starry” and was probably used because of the luminous appearance of the astral body. This body exhibits many colors expressing the great variety of human feelings and emotions.

Thể cảm dục là sự biểu hiện của linh hồn trên cõi cảm dục và là vận cụ của đam mê cùng cảm xúc. Danh xưng “cảm dục” bắt nguồn từ các nhà luyện kim thời trung cổ. Nó có nghĩa là “thuộc về sao” và có lẽ được dùng vì vẻ phát quang của thể cảm dục. Thể này phô bày nhiều màu sắc, biểu hiện sự đa dạng lớn lao của các cảm giác và cảm xúc nơi con người.

When the astral body is comparatively quiet, its colors indicate those emotions which the person habitually entertains. When there is a rush of a particular feeling, the rate of vibration which expresses that feeling dominates the entire astral body for a time. If it be, for example, devotion, the whole of the astral body is tinged with blue.

Khi thể cảm dục tương đối yên tĩnh, các màu sắc của nó biểu thị những cảm xúc mà người ấy thường nuôi dưỡng. Khi có một luồng cảm giác đặc thù trào lên, tốc độ rung động biểu hiện cảm giác ấy sẽ chi phối toàn bộ thể cảm dục trong một thời gian. Nếu đó là, chẳng hạn, lòng sùng tín, toàn bộ thể cảm dục sẽ nhuốm màu xanh lam.

The permanent colors of the astral react upon the mental body. They produce in it the corresponding colors, but several octaves higher, in the same way that a musical note produces overtones. The mental body, in its turn, influences the causal body in the same way, and thus all the good qualities expressed in the lower vehicles establish themselves by degrees in the soul. The negative qualities are unable to do this, as their rates of vibration find no corresponding vibrations in the higher mental matter of which the casual body is built.

Các màu sắc thường tồn của thể cảm dục phản ứng lên thể trí. Chúng tạo ra trong thể trí các màu sắc tương ứng, nhưng ở nhiều quãng tám cao hơn, cũng như một âm điệu âm nhạc tạo ra các bội âm. Đến lượt mình, thể trí ảnh hưởng lên thể nguyên nhân theo cùng cách ấy, và như vậy mọi phẩm tính tốt được biểu hiện trong các vận cụ thấp dần dần thiết lập chính chúng trong linh hồn. Các phẩm tính tiêu cực không thể làm điều này, vì tốc độ rung động của chúng không tìm được rung động tương ứng nào trong chất liệu thượng trí mà thể nguyên nhân được xây dựng từ đó.

The Physical Body

Thể Xác

We have described the vehicles which are the expressions of the soul in the mental world and in the world of emotions. They are vehicles which the soul provides for itself. But in the physical world, the vehicle is provided for it by nature under certain laws. Although also, in a sense, an expression of the soul, this vehicle is far from being a perfect manifestation.

Chúng ta đã mô tả các vận cụ là những biểu hiện của linh hồn trong cõi trí và trong thế giới của cảm xúc. Chúng là những vận cụ mà linh hồn tự cung cấp cho mình. Nhưng trong thế giới hồng trần, vận cụ được thiên nhiên cung cấp cho nó dưới một số định luật nhất định. Dù theo một nghĩa nào đó cũng là một biểu hiện của linh hồn, vận cụ này còn rất xa mới là một sự biểu hiện hoàn hảo.

The physical body of man is a wonderful instrument and one of great complexity. Besides the part which is dense enough to be visible to the eye, there is the part we call the etheric body. In this part of the body there are certain force centers through which energy flows from one vehicle or body to the other.

Thể xác của con người là một khí cụ kỳ diệu và vô cùng phức tạp. Ngoài phần đủ đậm đặc để mắt có thể thấy, còn có phần chúng ta gọi là thể dĩ thái. Trong phần này của thể có một số trung tâm mãnh lực mà qua đó năng lượng chảy từ vận cụ hay thể này sang vận cụ hay thể khác.

Three principal forces flow through the seven chakras or force centers in the etheric body, and we may think of them as representing the three aspects of the Logos. One is the expression of the Second Outpouring, from the Second Aspect of the Logos—that stream of life which is sent into the matter already vitalized by the action of the Third Aspect in the First Outpouring. This, the primary or life force, is reflected in the incarnation of Christ, who was born “of the Holy Ghost and the Virgin Mary.”

Ba mãnh lực chính chảy qua bảy luân xa hay trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái, và chúng ta có thể nghĩ về chúng như biểu thị ba phương diện của Thượng đế. Một là sự biểu hiện của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, từ Phương diện Thứ Hai của Thượng đế — dòng sự sống được gửi vào chất liệu đã được làm sinh động bởi tác động của Phương diện Thứ Ba trong Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất. Mãnh lực này, mãnh lực nguyên sơ hay sinh lực, được phản chiếu trong sự nhập thể của Đức Christ, Đấng được sinh ra “bởi Chúa Thánh Thần và Đức Trinh Nữ Mary.”

The second force is the Serpent Fire which comes forth from God the Holy Ghost. It rests in the chakra at the base of the spine. The third is what we call vitality.

Mãnh lực thứ hai là Lửa Rắn, phát xuất từ Thượng đế Chúa Thánh Thần. Nó an trụ trong luân xa ở đáy cột sống. Mãnh lực thứ ba là điều chúng ta gọi là sinh lực.

Vitality

Sinh Lực

We keep our physical bodies alive not only by food and drink and by breathing good air, but also by drawing into ourselves vitality, called in the East prana. Prana is a fluid, or perhaps we should rather call it a kind of element which comes to us from the sun. Those who have clairvoyant sight are able to see it as tiny particles, and even slightly sensitive people when looking at a clear sky can see myriads of tiny shining points dancing about in constant and rapid motion. They can more easily be seen on a fine day, because when there is bright sunlight they are generated in immense numbers and are especially active. We draw these vitality globules into our physical bodies, and currents of them flow along our nerves and through our whole system.

Chúng ta giữ cho thể xác sống không chỉ bằng thức ăn, nước uống và bằng việc hít thở không khí tốt, mà còn bằng cách thu hút vào mình sinh lực, được gọi ở phương Đông là prana. Prana là một lưu chất, hoặc có lẽ đúng hơn nên gọi nó là một loại nguyên tố đến với chúng ta từ mặt trời. Những ai có nhãn quan thông nhãn có thể thấy nó như những hạt li ti, và ngay cả những người hơi nhạy cảm, khi nhìn lên bầu trời trong, cũng có thể thấy vô số điểm sáng nhỏ li ti nhảy múa trong chuyển động liên tục và nhanh chóng. Chúng có thể được thấy dễ dàng hơn vào một ngày đẹp trời, vì khi có ánh nắng rực rỡ chúng được tạo ra với số lượng khổng lồ và đặc biệt linh hoạt. Chúng ta hút các sinh khí cầu này vào thể xác của mình, và những dòng của chúng chảy dọc theo các dây thần kinh và xuyên qua toàn bộ hệ thống của chúng ta.

When a person makes magnetic passes over another and tries to give him strength, what he really does is to pour into him more prana. When we take food into our bodies, before it can be assimilated it must go through the process of digestion. In the same way when we draw these vitality globules   8    into ourselves they must be broken up into their component parts before the body is able to assimilate them. A person who is ill has lost for the time being the power of breaking up these atoms of life and distributing them through his body, therefore he can be very much helped by someone else drawing the “predigested” atoms from his own body and pouring them into him. The patient feels stronger and better after that is done because life is coursing once more through his veins.

Khi một người thực hiện các động tác từ tính trên người khác và cố gắng truyền sức mạnh cho y, điều người ấy thực sự làm là tuôn vào y nhiều prana hơn. Khi chúng ta đưa thức ăn vào thân thể, trước khi nó có thể được đồng hóa, nó phải đi qua tiến trình tiêu hóa. Cũng vậy, khi chúng ta hút các sinh khí cầu này 8 vào trong mình, chúng phải được phân tách thành các phần cấu thành trước khi thân thể có thể đồng hóa chúng. Một người bị bệnh tạm thời đã mất năng lực phân tách những nguyên tử sự sống này và phân phối chúng khắp thân thể; do đó y có thể được giúp đỡ rất nhiều bởi một người khác hút các nguyên tử đã “tiêu hóa trước” từ chính thân thể mình và tuôn chúng vào y. Sau khi việc ấy được thực hiện, bệnh nhân cảm thấy mạnh hơn và khá hơn, vì sự sống lại một lần nữa lưu chuyển qua các mạch máu của y.

Those who are clairvoyant enough to see the health aura which radiates from the body will notice, in the case of a person who is ill, that the radiation is far less strong than in a man in good health and that, instead of shooting straight out in all directions from the body, the lines of radiation fall droopingly like the waters of a fountain which has been turned low.

Những ai đủ thông nhãn để thấy hào quang sức khỏe tỏa ra từ thân thể sẽ nhận thấy, trong trường hợp một người bị bệnh, rằng bức xạ yếu hơn rất nhiều so với ở một người khỏe mạnh, và thay vì phóng thẳng ra mọi hướng từ thân thể, các đường bức xạ lại rủ xuống như nước của một đài phun đã bị vặn nhỏ.

The vitality globules are a manifestation of God the Father who, by pouring out this stream of vitality, is in a very real sense giver of life to us and to His system.

Các sinh khí cầu là một biểu hiện của Thượng đế Cha, Đấng, bằng cách tuôn đổ dòng sinh lực này, theo một nghĩa rất thực, là Đấng ban sự sống cho chúng ta và cho hệ thống của Ngài.

This, then, is the constitution of man. In the first place he is a Spirit, a Monad, a spark of the Divine.

Vậy đó là cấu tạo của con người. Trước hết, y là một Tinh thần, một Chân thần, một tia lửa của Thiêng Liêng.

For the purposes of human evolution, the monad manifests itself in lower worlds. When it descends one stage into the spiritual world it shows itself as a triple spirit, just as the Deity in worlds infinitely higher has three aspects. One of these aspects remains always in that world, and we call that the spirit in man. The second aspect manifests itself in the intuitional world, and we speak of it as the intuition in man. The third manifests itself in the higher mental world, and we call it the intelligence in man.

Vì các mục đích của sự tiến hóa nhân loại, chân thần biểu hiện chính nó trong các cõi thấp hơn. Khi nó giáng xuống một giai đoạn vào thế giới tinh thần, nó hiện ra như một tinh thần tam phân, cũng như Thượng đế trong các thế giới cao hơn vô hạn có ba phương diện. Một trong các phương diện này luôn luôn ở lại trong thế giới ấy, và chúng ta gọi đó là tinh thần trong con người. Phương diện thứ hai biểu hiện trong thế giới trực giác, và chúng ta nói về nó như trực giác trong con người. Phương diện thứ ba biểu hiện trong cõi thượng trí, và chúng ta gọi nó là trí năng trong con người.

The soul or Ego is a partial expression of the monad, formed in order that he may enter evolution and may return eventually to the Spirit with qualities developed by experience. The soul in its turn puts down a part of itself for the same purpose into yet lower worlds, and we call that the personality. Just as the soul is a small and imperfect expression of the Monad, so is the personality an imperfect expression of the soul, so that what we usually think of as a person is in truth only a fragment of a fragment.

Linh hồn hay Chân ngã là một biểu hiện từng phần của chân thần, được hình thành để y có thể bước vào tiến hóa và cuối cùng trở về với Tinh thần cùng những phẩm tính được phát triển nhờ kinh nghiệm. Đến lượt mình, linh hồn đặt xuống một phần của chính nó vào những thế giới còn thấp hơn nữa với cùng mục đích ấy, và chúng ta gọi đó là phàm ngã. Cũng như linh hồn là một biểu hiện nhỏ bé và bất toàn của Chân thần, phàm ngã cũng là một biểu hiện bất toàn của linh hồn, đến nỗi điều chúng ta thường nghĩ là một con người, trong chân lý, chỉ là một mảnh của một mảnh.

We find, then, that man is the result of an elaborate evolutionary scheme, and that in him three streams of divine life converge. The idea of God having made man in His own image, when properly understood, is seen to embody a great truth.

Vậy chúng ta thấy rằng con người là kết quả của một hệ tiến hóa tinh vi, và trong y ba dòng sự sống thiêng liêng hội tụ. Ý tưởng rằng Thượng đế đã tạo ra con người theo hình ảnh của chính Ngài, khi được thấu hiểu đúng, được thấy là hàm chứa một chân lý lớn lao.

christian-gnosis-ph-n-i-ch-ng-1-10-05.png

Diagram 2. The Principles of Man

Sơ đồ 2. Các Nguyên Khí của Con Người

In the diagram on the opposite page, an attempt has been made to show the relationship between the Persons of the Holy Trinity in manifestation and how this relationship is mirrored in the principles of man. We do not know in what form the Logos exists outside the limits of His system; all that can be said with certainty is that when His life appears in the highest world of the solar system, it pours down in three mighty streams to give rise to the Triple Spirit or, what we call in Christianity, the Three Persons of the Trinity. They are here represented by three circles (A, B, and C). The First Person, the Father (A), does not descend below the divine plane. The Second Person, the Son, descends to the monadic plane, where He is represented as dual (D). The Third Person, the Holy Ghost, passing through the monadic plane, descends to the spiritual plane (F). The symbols used for the three aspects of the Trinity are the same as in diagram 1.

Trong sơ đồ ở trang đối diện, người ta đã cố gắng trình bày mối liên hệ giữa các Ngôi của Ba Ngôi Chí Thánh trong biểu hiện và cách mối liên hệ này được phản chiếu trong các nguyên khí của con người. Chúng ta không biết Thượng đế tồn tại dưới hình thức nào bên ngoài các giới hạn của hệ thống Ngài; tất cả những gì có thể nói chắc chắn là khi sự sống của Ngài xuất hiện trong thế giới cao nhất của hệ mặt trời, nó tuôn xuống thành ba dòng hùng mạnh để làm phát sinh Tinh thần Tam phân, hay điều mà trong Kitô giáo chúng ta gọi là Ba Ngôi của Ba Ngôi. Ở đây các Ngài được biểu thị bằng ba vòng tròn (A, B và C). Ngôi Một, Cha (A), không giáng xuống dưới cõi thiêng liêng. Ngôi Hai, Con, giáng xuống cõi chân thần, nơi Ngài được biểu thị là kép (D). Ngôi Ba, Chúa Thánh Thần, đi qua cõi chân thần, giáng xuống cõi tinh thần (F). Các biểu tượng dùng cho ba phương diện của Ba Ngôi giống như trong sơ đồ 1.

The consciousness of man is a unity, not a multiplicity; but as it manifests itself in the different bodies or vehicles, it presents different aspects. These aspects of consciousness are here termed “principles.” A principle is not a body, but the expression of consciousness in a body. The Monad (1), termed by St. Paul the Spirit, is the divine spark in man, the divine source of human consciousness. When the Monad manifests itself a plane lower—the spiritual plane—it is always as a triplicity (2, 3, and 4). Principle 2, the Spirit, does not descend below that level. The other two principles manifest in the next lower world—the intuitional—giving rise to the dual intuitive nature. Principle 5 does not manifest below that level. Principle 6 pours itself down into the next world—the higher mental—and manifests as the intelligence in man. Principles 2, 5, and 7 together constitute the soul or Ego in man, the reincarnating center of consciousness which persists through the whole series of human lives. In the lower worlds, the soul or Ego is reflected in principles 9 (the mind), 10 (the emotions), and 11 (the physical body). These three collectively constitute the transitory personality of one life. The link between the soul and the personality is called the antahkarana in Indian philosophy (8). If we think of the Ego as the true man, then the personality is the hand which he dips down into matter in order to work through it, and the antahkarana is the arm linking that hand to his body.

Tâm thức của con người là một nhất thể, không phải một bội thể; nhưng khi nó biểu hiện trong các thể hay vận cụ khác nhau, nó trình hiện các phương diện khác nhau. Những phương diện này của tâm thức ở đây được gọi là “nguyên khí.” Một nguyên khí không phải là một thể, mà là sự biểu hiện của tâm thức trong một thể. Chân thần (1), được Thánh Paul gọi là Tinh thần, là tia lửa thiêng liêng trong con người, nguồn thiêng liêng của tâm thức nhân loại. Khi Chân thần biểu hiện ở một cõi thấp hơn — cõi tinh thần — nó luôn luôn là một bộ ba (2, 3 và 4). Nguyên khí 2, Tinh thần, không giáng xuống dưới cấp độ ấy. Hai nguyên khí kia biểu hiện trong thế giới thấp kế tiếp — thế giới trực giác — làm phát sinh bản chất trực giác nhị phân. Nguyên khí 5 không biểu hiện dưới cấp độ ấy. Nguyên khí 6 tuôn xuống thế giới kế tiếp — cõi thượng trí — và biểu hiện như trí năng trong con người. Các nguyên khí 2, 5 và 7 cùng nhau tạo thành linh hồn hay Chân ngã trong con người, trung tâm tâm thức tái sinh tồn tại xuyên suốt toàn bộ chuỗi các kiếp sống nhân loại. Trong các cõi thấp, linh hồn hay Chân ngã được phản chiếu trong các nguyên khí 9 (trí), 10 (cảm xúc), và 11 (thể xác). Ba điều này hợp lại tạo thành phàm ngã nhất thời của một kiếp sống. Mối liên kết giữa linh hồn và phàm ngã được gọi là antahkarana trong triết học Ấn Độ (8). Nếu chúng ta nghĩ về Chân ngã như con người chân thật, thì phàm ngã là bàn tay mà y nhúng xuống vào vật chất để làm việc qua đó, và antahkarana là cánh tay nối bàn tay ấy với thân thể của y.

____________________

____________________

4 — 4

The Human Soul — Linh Hồn Con Người

In a previous chapter I described how the Holy Spirit, in the First Outpouring, descends into and vivifies matter of the various planes, first building their respective atoms and then aggregating those atoms into elements.

Trong một chương trước, tôi đã mô tả cách Chúa Thánh Thần, trong Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất, giáng xuống và làm sinh động chất liệu của các cõi khác nhau, trước hết xây dựng các nguyên tử tương ứng của chúng, rồi kết hợp các nguyên tử ấy thành các nguyên tố.

Into the matter so vivified the Second Outpouring comes down from God the Son, and the Divine Life, of which that outpouring consists, incarnates or draws the matter together into bodies or vehicles which it can inhabit. At the lowest level of materiality that Life ensouls the mineral kingdom. As it evolves, it becomes definite enough to ensoul the vegetable kingdom and still later, the animal. When it has risen to the highest level of the animal kingdom a remarkable change takes place and an entirely new factor is introduced—that of the Third Outpouring, which comes from the First Aspect of the Logos, commonly called God the Father.

Vào chất liệu đã được làm sinh động như thế, Lần Tuôn Đổ Thứ Hai giáng xuống từ Thượng đế Con, và Sự Sống Thiêng Liêng, vốn là bản chất của lần tuôn đổ ấy, nhập thể hoặc kéo chất liệu lại thành các thể hay vận cụ mà nó có thể cư ngụ. Ở cấp độ thấp nhất của tính vật chất, Sự Sống ấy phú linh giới kim thạch. Khi tiến hóa, nó trở nên xác định đủ để phú linh giới thực vật và về sau nữa là giới động vật. Khi nó đã vươn lên đến cấp độ cao nhất của giới động vật, một sự thay đổi đáng chú ý diễn ra và một yếu tố hoàn toàn mới được đưa vào — đó là Lần Tuôn Đổ Thứ Ba, đến từ Phương diện Thứ Nhất của Thượng đế, thường được gọi là Thượng đế Cha.

That force which has hitherto been the ensouler now becomes, in its turn, the ensouled, and the force from the First Person seizes upon what has heretofore been the soul of the animal and of it makes for itself a body of matter so exceedingly fine as to be utterly imperceptible to our physical senses.

Mãnh lực cho đến lúc ấy vốn là tác nhân phú linh nay đến lượt nó trở thành cái được phú linh, và mãnh lực từ Ngôi Một nắm lấy cái cho đến nay là linh hồn của con vật, rồi từ đó tạo cho chính nó một thể bằng chất liệu tinh tế đến mức hoàn toàn không thể được nhận biết bởi các giác quan hồng trần của chúng ta.

Thus is born the Ego or soul in its causal body. At once it draws into itself the result of all the experience that has been gained by the animal soul during all the aeons of its previous development, so that nothing of the qualities which have been acquired in the course of its evolution is lost.

Như vậy Chân ngã hay linh hồn được sinh ra trong thể nguyên nhân của nó. Ngay lập tức nó thu hút vào mình kết quả của tất cả kinh nghiệm mà hồn động vật đã đạt được trong mọi đại kiếp của sự phát triển trước đó, để không phẩm tính nào đã được thu nhận trong tiến trình tiến hóa của nó bị mất đi.

The wonderful force that rushes from the highest aspect known to us of the Solar Logos is, in very truth, the actual life of God Himself. So are also the First and Second Outpourings, but they have come down slowly and gradually through all the subplanes, drawing round themselves the matter of each of these and enmeshing themselves in it so thoroughly that it is scarcely possible to discern them for what they are, or to recognize them as divine life at all. But the Third Outpouring flashes straight down from its source without involving itself in any way in the intermediate matter. It is pure white light, uncontaminated by anything through which it has passed.

Mãnh lực kỳ diệu lao xuống từ phương diện cao nhất mà chúng ta biết của Thái dương Thượng đế, trong chân lý rất thật, là chính sự sống thực sự của Thượng đế. Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất và Thứ Hai cũng vậy, nhưng chúng đã giáng xuống chậm rãi và tuần tự qua mọi cõi phụ, thu hút quanh mình chất liệu của từng cõi phụ ấy và vướng mắc trong đó sâu đến mức hầu như không thể phân biệt chúng là gì, hay nhận ra chúng là sự sống thiêng liêng. Nhưng Lần Tuôn Đổ Thứ Ba lóe thẳng xuống từ nguồn của nó mà không hề vướng mắc bằng bất cứ cách nào vào chất liệu trung gian. Nó là ánh sáng trắng tinh khiết, không bị nhiễm bẩn bởi bất cứ điều gì nó đã đi qua.

The Monad

Chân Thần

This third stream of the Divine Life has, in fact, issued forth from the Logos long ages ago and is hovering at an intermediate point in the second of our planes. When hovering at that level it is called the Monad, which we may think of as a part of that which cannot be divided—a spark thrown off from the divine fire, yet ever united to it. A paradox, truly, to our mortal intellect, yet enshrining an eternal truth which is far beyond our comprehension.

Dòng thứ ba này của Sự Sống Thiêng Liêng, thật ra, đã phát xuất từ Thượng đế từ những thời đại rất xa xưa và đang lơ lửng tại một điểm trung gian trong cõi thứ hai của chúng ta. Khi lơ lửng ở cấp độ ấy, nó được gọi là Chân thần, mà chúng ta có thể nghĩ đến như một phần của cái không thể phân chia — một tia lửa được phóng ra từ ngọn lửa thiêng liêng, song vẫn mãi hợp nhất với nó. Đúng là một nghịch lý đối với trí năng phàm tục của chúng ta, nhưng lại cất giữ một chân lý vĩnh cửu vượt xa sự lĩnh hội của chúng ta.

The general method of the descent of spirit into matter seems to be always the same, though the diverse conditions of the different planes naturally produce many variations in detail. The Logos Himself puts down the Monad—a tiny fragment of Himself—into a level far below His own. Of course, such a descent must mean a most severe limitation, though it is all too far above the utmost reach of our consciousness to be described or understood. In exactly the same way, the Monad puts down a fragment of himself, which becomes the Ego or soul, and the limitation is enormously increased. The same thing happens once more when the Ego repeats the operation and projects a minute fragment which we call the personality into the mental, emotional, and physical bodies of man.

Phương pháp tổng quát của sự giáng xuống của tinh thần vào vật chất dường như luôn luôn giống nhau, dù các điều kiện đa dạng của những cõi khác nhau tự nhiên tạo ra nhiều biến thiên trong chi tiết. Chính Thượng đế đặt Chân thần — một mảnh nhỏ bé của chính Ngài — xuống một cấp độ thấp hơn rất xa cấp độ của Ngài. Dĩ nhiên, một sự giáng xuống như thế hẳn phải hàm ý một sự giới hạn cực kỳ nghiêm trọng, dù tất cả điều ấy vẫn quá cao vượt tầm với tối đa của tâm thức chúng ta để có thể được mô tả hay thấu hiểu. Theo đúng cùng cách đó, Chân thần đặt xuống một mảnh của chính mình, mảnh này trở thành Chân ngã hay linh hồn, và sự giới hạn gia tăng vô cùng lớn. Cùng điều ấy lại xảy ra một lần nữa khi Chân ngã lặp lại hoạt động này và phóng chiếu một mảnh cực nhỏ mà chúng ta gọi là phàm ngã vào các thể trí, cảm xúc và hồng trần của con người.

The last tiny fragment is the point of consciousness, which those who are clairvoyant can see moving about within man. According to one system of symbology it is seen as a “golden man the size of a thumb,”   9    who dwells in the heart; and to another it is seen as a brilliant star of light. A man may keep this star of consciousness where he will, that is to say, in any one of the seven principal centers of his body. Which of these is most natural to a man depends largely upon his Ray, and I think also upon his race and subrace. Those of us who belong to the fifth subrace of the fifth root race nearly always keep that consciousness in the brain, in the center dependent upon the pituitary body. There are, however, men of other races to whom it comes more natural to keep it habitually in the heart, the throat, or the solar plexus.

Mảnh nhỏ bé cuối cùng này là điểm tâm thức mà những người thông nhãn có thể thấy di chuyển bên trong con người. Theo một hệ thống biểu tượng, nó được thấy như một “người vàng lớn bằng ngón tay cái,” 9 cư ngụ trong tim; và theo một hệ thống khác, nó được thấy như một ngôi sao ánh sáng rực rỡ. Một người có thể giữ ngôi sao tâm thức này ở nơi nào y muốn, nghĩa là, trong bất kỳ một trong bảy trung tâm chính của thân thể y. Trung tâm nào trong số này là tự nhiên nhất đối với một người phần lớn tùy thuộc vào cung của y, và tôi nghĩ cũng tùy thuộc vào nhân loại và giống dân phụ của y. Những người trong chúng ta thuộc giống dân phụ thứ năm của giống dân gốc thứ năm hầu như luôn giữ tâm thức ấy trong bộ não, tại trung tâm tùy thuộc vào tuyến yên. Tuy nhiên, có những người thuộc các nhân loại khác thấy tự nhiên hơn khi thường xuyên giữ nó trong tim, cổ họng hoặc tùng thái dương.

The Personality

Phàm Ngã

This star of consciousness is the representative of the soul in these lower planes, and as it manifests through those vehicles we call it the personality; this is the man as he is known to his friends down here.

Ngôi sao tâm thức này là đại diện của linh hồn trong các cõi thấp này, và khi nó biểu hiện qua các vận cụ ấy, chúng ta gọi nó là phàm ngã; đây là con người như y được các bạn bè của y ở dưới này biết đến.

But though the personality is absolutely part of the Ego or soul—though the only life and power in it are those of the Ego—it nevertheless often forgets this fact and, coming to regard itself as an entirely separate entity, works down here for its own ends. It has always a line of communication with the Ego (sometimes referred to as the antahkarana), but it usually makes no effort to use it. In the case of those who have never studied these matters, the personality is, to all intents and purposes, the man, and the Ego manifests itself only very rarely and partially.

Nhưng dù phàm ngã tuyệt đối là một phần của Chân ngã hay linh hồn — dù sự sống và quyền năng duy nhất trong nó là của Chân ngã — tuy vậy nó thường quên sự kiện này và, khi xem mình như một thực thể hoàn toàn riêng biệt, hoạt động dưới này cho các mục đích riêng của nó. Nó luôn có một đường giao tiếp với Chân ngã, đôi khi được gọi là antahkarana, nhưng thường không nỗ lực sử dụng đường ấy. Trong trường hợp những người chưa từng nghiên cứu các vấn đề này, phàm ngã, xét theo mọi ý nghĩa thực tiễn, chính là con người, và Chân ngã chỉ biểu hiện rất hiếm hoi và từng phần.

Man’s evolution in its earlier stages consists in the opening up of his line of communication, so that the Ego may be increasingly able to assert itself through it, and finally entirely to dominate the personality, so that it may have no separate thought or will, but merely (as it should be) an expression of the Ego on these lower planes. It must, of course, be understood that the Ego, belonging as it does to an altogether higher plane, can never fully express itself down here; the most we can hope for is that the personality will contain nothing which is not intended by the Ego—that it will express as much of it as can be expressed in this lower world.

Sự tiến hóa của con người trong các giai đoạn đầu gồm việc mở ra đường giao tiếp của y, để Chân ngã ngày càng có thể tự khẳng định qua đó, và cuối cùng hoàn toàn chế ngự phàm ngã, đến mức phàm ngã không còn tư tưởng hay ý chí riêng biệt nào, mà chỉ là, như đúng ra phải thế, một biểu hiện của Chân ngã trên các cõi thấp này. Dĩ nhiên, cần thấu hiểu rằng Chân ngã, vì thuộc về một cõi hoàn toàn cao hơn, không bao giờ có thể biểu hiện trọn vẹn chính nó ở dưới này; điều nhiều nhất chúng ta có thể hy vọng là phàm ngã sẽ không chứa điều gì không được Chân ngã chủ định — rằng nó sẽ biểu hiện nhiều nhất có thể phần của Chân ngã có thể được biểu hiện trong thế giới thấp này.

The Evolution of the Soul

Sự Tiến Hóa của Linh Hồn

The spiritually untrained man has practically no communication with the Ego; the Initiate has full communication; consequently we find (as we should expect) that there are men among us at all stages between these two extremes. It must be remembered that the Ego itself is only in process of development, and that we have therefore to deal with Egos at very different stages of advancement. In any case, an Ego is in a great many ways enormously more developed than a personality can ever be.

Người chưa được rèn luyện tinh thần hầu như không có sự giao tiếp nào với Chân ngã; điểm đạo đồ có sự giao tiếp trọn vẹn; do đó chúng ta thấy, như chúng ta có thể mong đợi, rằng có những người ở giữa chúng ta thuộc mọi giai đoạn giữa hai cực đoan này. Cần nhớ rằng chính Chân ngã cũng đang trong tiến trình phát triển, và vì vậy chúng ta phải đề cập đến các Chân ngã ở những giai đoạn tiến bộ rất khác nhau. Trong mọi trường hợp, một Chân ngã theo rất nhiều cách đều phát triển vô cùng hơn bất cứ điều gì một phàm ngã có thể đạt được.

Life on this level is infinitely larger and more vivid than what we know as life down here. Just as it is evolution for the personality to learn to express the Ego more fully, so is it evolution for the Ego to learn to express the monad more fully.

Đời sống trên cấp độ này rộng lớn và sống động vô hạn hơn điều chúng ta biết là đời sống dưới này. Cũng như đối với phàm ngã, tiến hóa là học cách biểu hiện Chân ngã đầy đủ hơn, thì đối với Chân ngã, tiến hóa là học cách biểu hiện chân thần đầy đủ hơn.

Some Egos are more awake to the necessities of their evolution than others, which is only another way of saying that there are older and younger Egos and that the older are striving more earnestly than the younger to unfold their latent possibilities.

Một số Chân ngã tỉnh thức hơn đối với các nhu cầu tiến hóa của mình so với những Chân ngã khác, điều này chỉ là một cách nói khác rằng có những Chân ngã già hơn và trẻ hơn, và những Chân ngã già hơn đang nỗ lực nghiêm túc hơn những Chân ngã trẻ hơn để khai mở các khả năng tiềm tàng của mình.

We are apt to think that the only development possible for an Ego is through the personality, but that is not so—or rather it is only in connection with one small set of qualities. As I have explained at length in my book Man Visible and Invisible, the causal body of a primitive man is almost colorless. In the process of evolution he develops good qualities, which are able to find corresponding vibrations in the matter of the causal body; the colors expressive of these qualities begin to show themselves and, presently, the causal body, instead of being empty, is full of active, pulsating life. So much more of the Ego can now manifest through it that it has to increase enormously in size; it extends further and further from its physical center until the man is able to enfold hundreds and even thousands of persons within it and so exercise a vast influence for good.

Chúng ta dễ nghĩ rằng sự phát triển duy nhất có thể có đối với một Chân ngã là qua phàm ngã, nhưng không phải vậy — hay đúng hơn, điều ấy chỉ đúng trong liên hệ với một nhóm nhỏ các phẩm tính. Như tôi đã giải thích dài trong quyển Con Người Hữu Hình và Vô Hình của tôi, thể nguyên nhân của một người sơ khai hầu như không màu. Trong tiến trình tiến hóa, y phát triển các phẩm tính tốt, vốn có thể tìm thấy các rung động tương ứng trong chất liệu của thể nguyên nhân; các màu sắc biểu hiện những phẩm tính này bắt đầu hiện ra, và chẳng bao lâu, thay vì trống rỗng, thể nguyên nhân đầy sự sống hoạt động và rung nhịp. Bấy giờ, nhiều hơn rất nhiều phần của Chân ngã có thể biểu hiện qua nó đến mức nó phải gia tăng kích thước vô cùng; nó mở rộng càng lúc càng xa khỏi trung tâm hồng trần của nó, cho đến khi con người có thể bao bọc hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người trong đó, và như vậy thực hiện một ảnh hưởng rộng lớn hướng thiện.

But all this, wonderful though it be, is only one side of this development. There are other lines of progress of which we know nothing; the soul is living a life of its own among its peers, among the great arupadevas,   10    among all kinds of splendid angels in a world far beyond our ken. The young Ego is but little awake as yet to that glorious life, just as a baby in arms knows little of the world surrounding him; but as its consciousness gradually unfolds, it awakens to all this magnificence and becomes fascinated by its vividness and its beauty. Can we wonder that this seems immensely more important than the faint far-distant struggle of a cramped and half-formed personality veiled in the dense obscurity of a lower world? The soul knows that certain necessary parts of its evolution can be achieved only through a personality and its mental, astral, and physical bodies. But we can well understand that the task may often seem uninviting, that a given personality may appear anything but attractive or hopeful. If we look at many of the personalities around us, their physical bodies poisoned with meat, alcohol, and tobacco, their astral bodies reeking with greed and sensuality, and their mental bodies having no interest beyond business, or perhaps horse racing and prizefighting, it is not difficult to see why an Ego, surveying them from its lofty height, might decide to postpone any serious effort to another incarnation, in the hope that the next set of vehicles might be more amenable to its influence.

Nhưng tất cả điều này, dù kỳ diệu, chỉ là một mặt của sự phát triển ấy. Có những đường tiến bộ khác mà chúng ta không biết gì; linh hồn đang sống một đời sống riêng của nó giữa những đồng loại của nó, giữa các arupadevas vĩ đại, 10 giữa mọi loại thiên thần huy hoàng trong một thế giới vượt xa tầm hiểu biết của chúng ta. Chân ngã trẻ tuổi cho đến nay chỉ mới tỉnh thức rất ít với đời sống vinh quang ấy, cũng như một em bé còn bế trên tay biết rất ít về thế giới chung quanh mình; nhưng khi tâm thức của nó dần dần khai mở, nó thức tỉnh trước tất cả vẻ tráng lệ này và bị cuốn hút bởi sự sống động cùng vẻ đẹp của nó. Chúng ta có thể ngạc nhiên sao khi điều này dường như quan trọng hơn rất nhiều so với cuộc đấu tranh mờ nhạt, xa xôi của một phàm ngã bị hạn chế và mới hình thành một nửa, bị che phủ trong sự tối tăm đậm đặc của một thế giới thấp? Linh hồn biết rằng một số phần cần thiết trong tiến hóa của nó chỉ có thể được thành tựu qua một phàm ngã và các thể trí, cảm dục, hồng trần của phàm ngã ấy. Nhưng chúng ta có thể dễ dàng hiểu rằng nhiệm vụ ấy thường có vẻ không hấp dẫn, rằng một phàm ngã nào đó có thể tỏ ra chẳng hề lôi cuốn hay đầy hy vọng. Nếu chúng ta nhìn vào nhiều phàm ngã chung quanh mình, với thể xác bị đầu độc bởi thịt, rượu và thuốc lá, thể cảm dục nồng nặc lòng tham và dục cảm, còn thể trí không quan tâm đến điều gì ngoài việc kinh doanh, hoặc có lẽ đua ngựa và quyền Anh, thì không khó để thấy vì sao một Chân ngã, khi quan sát họ từ độ cao của mình, có thể quyết định hoãn mọi nỗ lực nghiêm túc sang một kiếp nhập thể khác, với hy vọng rằng bộ vận cụ kế tiếp có thể dễ tiếp nhận ảnh hưởng của nó hơn.

Personality Development

Sự Phát Triển Phàm Ngã

When the soul at last decides to turn the full force of its energy upon the personality, the change produced is marvelous. No one who has not himself investigated the matter can imagine how wonderful, how rapid, how radical such a change can be when conditions are favorable, that is, when the Ego is reasonably strong and the personality not incurably vicious. It is not easy to explain in physical words the differences which exist between Egos, since all of them are in many ways much greater than anything to which we are accustomed down here.

Khi cuối cùng linh hồn quyết định hướng toàn lực năng lượng của mình vào phàm ngã, sự thay đổi được tạo ra thật kỳ diệu. Không ai chưa tự mình khảo sát vấn đề có thể hình dung một sự thay đổi như thế có thể kỳ diệu, nhanh chóng và tận gốc đến mức nào khi các điều kiện thuận lợi, nghĩa là khi Chân ngã tương đối mạnh và phàm ngã không xấu xa đến mức vô phương cứu chữa. Không dễ giải thích bằng ngôn từ hồng trần các khác biệt tồn tại giữa các Chân ngã, vì tất cả các Chân ngã ấy theo nhiều cách đều lớn lao hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì chúng ta quen thuộc dưới này.

Analogies are notoriously misleading if pressed too far or taken too literally; but I may perhaps convey some faint reflection of the impression produced upon me by intercourse with them, if I say that an advanced Ego reminds me of a dignified, stately, and most courteous ambassador, full of wisdom and kindliness, while the less developed man is more like the bluff, hearty country squire. An Ego who is already on the Path, and is nearing adeptship, has much in common with the great angels and radiates spiritual influences of prodigious power; to come into contact with such a one is indeed a privilege and a blessing.

Các phép tương đồng nổi tiếng là dễ gây sai lạc nếu bị đẩy đi quá xa hoặc hiểu quá sát nghĩa; nhưng có lẽ tôi có thể truyền đạt một phản ánh mờ nhạt nào đó của ấn tượng tạo ra nơi tôi qua sự giao tiếp với các Chân ngã, nếu tôi nói rằng một Chân ngã tiến bộ gợi cho tôi nhớ đến một vị đại sứ trang nghiêm, đường bệ và vô cùng nhã nhặn, đầy minh triết và lòng nhân hậu, trong khi người kém phát triển hơn giống như một vị điền chủ miền quê thẳng thắn và hào sảng. Một Chân ngã đã ở trên Đường Đạo và đang đến gần địa vị chân sư có nhiều điểm chung với các thiên thần vĩ đại và tỏa ra những ảnh hưởng tinh thần có quyền năng phi thường; được tiếp xúc với một Đấng như thế quả thật là một đặc ân và một phúc lành.

The difficulty of this subject is greatly enhanced by the fact that it is necessary for us to regard it simultaneously from two points of view. Most of us down here are very emphatically personalities and think and act almost exclusively as such; yet we know all the time that in reality we are Egos, and those of us who, by many years of meditation, have rendered ourselves more sensitive to finer influences are often conscious of the intervention of this higher Self. The more we can make a habit of identifying ourselves with the Ego, the more clearly and sanely shall we view the problems of life; but insofar as we feel ourselves to be still personalities, looking up to our higher Selves, it is obviously our duty and our interest to open ourselves to them, to reach up towards them, and persistently to set up within ourselves such vibrations as will be of use to them.

Khó khăn của đề tài này tăng lên rất nhiều bởi sự kiện chúng ta cần nhìn nó đồng thời từ hai quan điểm. Phần đông chúng ta dưới này là những phàm ngã rất rõ rệt và suy nghĩ cũng như hành động gần như hoàn toàn như vậy; tuy nhiên, chúng ta luôn biết rằng trong thực tại chúng ta là các Chân ngã, và những người trong chúng ta, nhờ nhiều năm tham thiền, đã làm cho mình nhạy cảm hơn với các ảnh hưởng tinh tế, thường ý thức được sự can thiệp của Bản Ngã Cao Siêu này. Chúng ta càng có thể tạo thói quen đồng hoá với Chân ngã, chúng ta càng nhìn các vấn đề của đời sống rõ ràng và lành mạnh hơn; nhưng trong chừng mực chúng ta vẫn cảm thấy mình là các phàm ngã, hướng lên các Bản Ngã Cao Siêu của mình, thì rõ ràng bổn phận và lợi ích của chúng ta là mở mình ra với các Ngài, vươn lên về phía các Ngài, và kiên trì thiết lập bên trong mình những rung động có ích cho các Ngài.

Since selfishness is the intensification of the personality, our first step should be to get rid of that. Then we must keep our minds filled with high thoughts; for if they are continually occupied with lower matters (even though those lower matters may be quite estimable in their way) the Ego cannot readily use them as channels of expression.

Vì ích kỷ là sự tăng cường của phàm ngã, bước đầu tiên của chúng ta phải là loại bỏ nó. Rồi chúng ta phải giữ cho thể trí của mình đầy những tư tưởng cao thượng; vì nếu chúng liên tục bận rộn với các vấn đề thấp, dù những vấn đề thấp ấy theo cách riêng của chúng có thể khá đáng trọng, Chân ngã không thể dễ dàng dùng chúng làm các kênh biểu hiện.

Intuition

Trực Giác

We bring over our capacities from one life to another. But sometimes something definite can be brought through from the mind to the physical brain, and we call that an intuition. As far as we are concerned down here, what we should do in some crisis or the solution to some particular difficulty will suddenly flash upon the mind. A very good example of this is found in our attitude towards any new teaching which may come before us. I can remember very well in my own case, when I first came across this great body of oriental teaching on all these subjects, the moment it was presented to me I knew it must be true. Something flashed into me from above which convinced me of its truth so that at once I accepted it, because I could not doubt it. Since then I have learnt how to prove it for myself in many different ways, but even now, when I have done all that, I do not believe it any more strongly than I believed it in that first moment. I was just as certain then as I am now, only then Í could not have told you why I was certain, whereas now I can, because I have tried the experiments, I have myself gone through the experience. I have watched the phenomena and now I can say, “I know,” whereas before I could only say, “I believe,” and yet the belief was just as certain, because it was the result of the fact that I myself had been studying these things in other lives. This same philosophy was taught to us by Pythagoras in Greece 2300 years ago and more. I learnt then how to see the truth of some of it for myself, and therefore in my soul or Ego was the certain knowledge of this teaching. But this knowledge was not in the physical brain at all, and, so far as I can see, it might never have come through into my new mind unless the facts had been put before me from the outside. It needed that stimulus apparently to awaken the old recollection, which enabled the soul to impress upon the brain the fact that this is true. For that moment the soul and the lower mind became one to the extent that the conviction from the soul came through into the lower mind. That is one kind of intuition, and you will see at once that that also is only knowledge based on experience. We call it intuition because, so far as we are concerned, it comes into this lower mind from above.

Chúng ta mang các năng lực của mình từ kiếp sống này sang kiếp sống khác. Nhưng đôi khi một điều xác định có thể được đưa xuyên qua từ thể trí vào bộ não hồng trần, và chúng ta gọi điều đó là một trực giác. Xét theo chúng ta ở dưới này, điều chúng ta nên làm trong một cơn khủng hoảng nào đó, hoặc lời giải cho một khó khăn đặc thù nào đó, sẽ đột nhiên lóe lên trong thể trí. Một ví dụ rất hay về điều này được tìm thấy trong thái độ của chúng ta đối với bất kỳ giáo huấn mới nào có thể đến trước chúng ta. Tôi còn nhớ rất rõ trong trường hợp của chính mình, khi lần đầu tiên tôi gặp khối giáo huấn phương Đông vĩ đại này về tất cả các đề tài ấy, khoảnh khắc nó được trình bày cho tôi, tôi biết nó phải là chân thật. Một điều gì đó lóe vào tôi từ bên trên, thuyết phục tôi về chân lý của nó, đến nỗi tôi lập tức chấp nhận nó, vì tôi không thể nghi ngờ nó. Từ đó về sau tôi đã học cách tự mình chứng minh nó bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng ngay cả bây giờ, khi tôi đã làm tất cả điều đó, tôi cũng không tin nó mạnh mẽ hơn mức tôi đã tin trong khoảnh khắc đầu tiên ấy. Khi ấy tôi cũng chắc chắn như bây giờ, chỉ có điều khi ấy tôi không thể nói cho các bạn vì sao tôi chắc chắn, còn bây giờ thì tôi có thể, vì tôi đã thử các thí nghiệm, chính tôi đã trải qua kinh nghiệm. Tôi đã quan sát các hiện tượng và bây giờ tôi có thể nói: “Tôi biết,” trong khi trước kia tôi chỉ có thể nói: “Tôi tin,” thế mà niềm tin ấy cũng chắc chắn như vậy, bởi vì nó là kết quả của sự kiện rằng chính tôi đã nghiên cứu những điều này trong các kiếp sống khác. Cùng triết lý này đã được Pythagoras dạy cho chúng ta tại Hy Lạp hơn 2300 năm trước. Khi ấy tôi đã học cách tự mình thấy chân lý của một phần trong đó, và vì vậy trong linh hồn hay Chân ngã của tôi có tri thức chắc chắn về giáo huấn này. Nhưng tri thức này hoàn toàn không có trong bộ não hồng trần, và theo như tôi có thể thấy, nó có thể đã không bao giờ xuyên qua vào thể trí mới của tôi nếu các sự kiện không được đặt trước tôi từ bên ngoài. Dường như cần có kích thích ấy để đánh thức ký ức xưa, nhờ đó linh hồn có thể in vào bộ não sự kiện rằng điều này là chân thật. Trong khoảnh khắc ấy, linh hồn và hạ trí trở nên là một đến mức sự xác tín từ linh hồn xuyên qua vào hạ trí. Đó là một loại trực giác, và các bạn sẽ thấy ngay rằng điều ấy cũng chỉ là tri thức dựa trên kinh nghiệm. Chúng ta gọi nó là trực giác vì, xét theo chúng ta, nó đi vào hạ trí này từ bên trên.

Now besides intuition there is such a thing as impulse. Impulse is the result of feelings, of likes and dislikes, which come from the emotional body. But so far as the physical brain is concerned, an impulse is an impression from above just as intuition is, and the difficulty is to know the intuition from the impulse. We all know that likes and dislikes often come to us without any particular reason. We do not know definitely why we have a liking for certain people. We know that the first time we meet certain people the soul seems to leap out to them, and we feel at once that they are old friends. Why? Almost certainly because we have known those souls when both of us wore different vestures and were in other bodies and in other races. We have known those people before in other lives, and when we meet them again, though neither of us remembers it, still the old affection leaps out from soul to soul and we make friends with them very quickly.

Ngoài trực giác còn có một điều gọi là xung động. Xung động là kết quả của các cảm giác, của thích và không thích, đến từ thể cảm xúc. Nhưng xét theo bộ não hồng trần, một xung động là một ấn tượng từ bên trên giống như trực giác, và khó khăn là phân biệt trực giác với xung động. Tất cả chúng ta đều biết rằng những sự thích và không thích thường đến với chúng ta mà không có lý do đặc thù nào. Chúng ta không biết chắc vì sao mình có thiện cảm với một số người. Chúng ta biết rằng lần đầu tiên gặp một số người, linh hồn dường như nhảy vọt ra với họ, và chúng ta lập tức cảm thấy họ là bạn cũ. Tại sao? Hầu như chắc chắn vì chúng ta đã biết những linh hồn ấy khi cả hai bên còn khoác những y phục khác, ở trong những thân thể khác và trong những nhân loại khác. Chúng ta đã biết những người ấy trước đây trong những kiếp sống khác, và khi gặp lại họ, dù không ai trong chúng ta nhớ điều đó, tình cảm xưa vẫn nhảy vọt từ linh hồn này sang linh hồn kia và chúng ta kết bạn với họ rất nhanh.

At other times we may meet someone who does not attract us; we may even feel repelled by that person. There, again, in old days you have been together, and one may have harmed the other. In such cases it is wiser not to come into close relations with that person but, while keeping at a distance lest this feeling should grow stronger, to think kindly of him. Continue to think kindly, and then when next time you meet you may find that the kindly feeling has overpowered the old dislike and that you are able to make friends.

Vào những lúc khác, chúng ta có thể gặp một người không hấp dẫn mình; thậm chí chúng ta có thể cảm thấy bị đẩy lùi bởi người ấy. Ở đó cũng vậy, trong những ngày xưa các bạn đã ở cùng nhau, và một người có thể đã làm hại người kia. Trong những trường hợp như vậy, khôn ngoan hơn là không đi vào quan hệ gần gũi với người ấy, nhưng trong khi giữ khoảng cách để cảm giác này khỏi trở nên mạnh hơn, hãy nghĩ về y một cách tử tế. Hãy tiếp tục nghĩ tử tế, rồi lần tới khi gặp, bạn có thể thấy rằng cảm giác tử tế đã vượt thắng sự không thích xưa và bạn có thể kết bạn.

All these things are perfectly scientific and, if we counteract one force by another, we presently get a condition of stability just as we should in mechanics on the physical plane. The spiritual world is higher and finer and is vibrating far more rapidly than the physical world, but it obeys the same general laws with only such modifications as are necessary for the change of substances. Generally speaking, when we come into touch in this way with someone whom we have met before, the old feeling is likely to be revived. It is there in the two souls, but the coming through into the physical plane often seems to be practically impossible until some physical plane suggestion revives the old remembrance and brings it through. I cannot say exactly that it reestablishes it, because the two physical bodies have not met before and have had no previous contact with each other, but it is the breaking through of the veil of rebirth, and so the souls are able to regain their communication on this lower level through their physical bodies.

Tất cả những điều này đều hoàn toàn khoa học, và nếu chúng ta đối kháng một mãnh lực bằng một mãnh lực khác, chẳng bao lâu chúng ta đạt được một trạng thái ổn định, cũng như trong cơ học trên cõi hồng trần. Thế giới tinh thần cao hơn, tinh tế hơn và rung động nhanh hơn rất nhiều so với thế giới hồng trần, nhưng nó tuân theo cùng các định luật tổng quát, chỉ với những biến đổi cần thiết do sự thay đổi chất liệu. Nói chung, khi chúng ta tiếp xúc theo cách này với một người mà chúng ta đã gặp trước đây, cảm giác xưa có khả năng được làm sống lại. Nó có đó trong hai linh hồn, nhưng việc xuyên qua vào cõi hồng trần thường dường như gần như bất khả cho đến khi một gợi ý nào đó trên cõi hồng trần làm sống lại ký ức xưa và đưa nó xuyên qua. Tôi không thể nói chính xác rằng điều ấy tái lập nó, bởi vì hai thể xác chưa từng gặp nhau trước đó và chưa có tiếp xúc trước nào với nhau, nhưng đó là sự xuyên phá qua bức màn tái sinh, và như vậy các linh hồn có thể phục hồi sự giao tiếp của mình trên cấp độ thấp này qua các thể xác của họ.

The Larger Consciousness Within

Tâm Thức Lớn Hơn Bên Trong

I have spoken of the remembrance of the soul as being the work of the intelligence, which is part of that soul, through the lower mind. But there is another possibility of intuition. Remember that that higher mind which is part of the soul itself may still err, though it is much less likely to do so than the mind down here, because it has had far greater experience, although it is still not perfect. It is not yet fully developed, and certainly it may err, though it is not liable to do so. But there is that higher part of the soul, which in the East is called the buddhi or intuitional wisdom. It is possible for that sometimes to press through and to seize upon the subconscious rather than the conscious self.

Tôi đã nói về ký ức của linh hồn như là công việc của trí năng, vốn là một phần của linh hồn ấy, qua hạ trí. Nhưng còn có một khả năng trực giác khác. Hãy nhớ rằng thượng trí ấy, vốn là một phần của chính linh hồn, vẫn có thể sai lầm, dù ít có khả năng như vậy hơn nhiều so với trí dưới này, vì nó đã có kinh nghiệm lớn hơn rất nhiều, mặc dù nó vẫn chưa hoàn hảo. Nó chưa phát triển đầy đủ, và chắc chắn có thể sai lầm, dù không dễ mắc phải điều ấy. Nhưng có phần cao hơn ấy của linh hồn, ở phương Đông được gọi là buddhi hay minh triết trực giác. Đôi khi phần ấy có thể ép xuyên qua và nắm lấy bản ngã tiềm thức hơn là bản ngã hữu thức.

There is within us a far larger consciousness, which is sometimes called “subliminal” consciousness, from sub, “under” or “below,” and limen, “threshold”—that which is below the threshold, which does not come into ordinary life. The “supraliminal” is that which is above the threshold, and which we sometimes think we know all about. Through this subliminal consciousness we may occasionally receive a flash of real knowledge, which is sure to be right, because it comes from the atma, of which the buddhi is only the sheath or the vehicle. But even when that comes to us we may misinterpret it, although it comes from the divine within us and is therefore true.

Bên trong chúng ta có một tâm thức lớn hơn rất nhiều, đôi khi được gọi là tâm thức “dưới ngưỡng,” từ sub, “dưới” hoặc “bên dưới,” và limen, “ngưỡng” — tức cái nằm dưới ngưỡng, không đi vào đời sống thông thường. “Trên ngưỡng” là cái ở trên ngưỡng, và đôi khi chúng ta nghĩ mình biết tất cả về nó. Qua tâm thức dưới ngưỡng này, thỉnh thoảng chúng ta có thể nhận được một tia lóe của tri thức thực sự, chắc chắn là đúng, vì nó đến từ atma, mà buddhi chỉ là vỏ bọc hay vận cụ. Nhưng ngay cả khi điều ấy đến với chúng ta, chúng ta vẫn có thể diễn giải sai nó, mặc dù nó đến từ thiêng liêng bên trong chúng ta và do đó là chân thật.

Each man certainly has the germ of an intuitional body. Let us go a stage further, although in so doing I am afraid that it will be somewhat incomprehensible. When one reaches the spiritual consciousness which functions on the spiritual or atmic plane, one finds a consciousness which is indeed an atom, and yet at the same time apparently the whole. This is the condition which St. Bonaventure tried to describe when he made the statement that we must think of it as “a circle with its center everywhere and its circumference nowhere”—not very helpful to the mind, and yet somehow marvelously illuminative. One may have a kind of intuitive grasp of his idea. This is the consciousness of Divine Union which, in the East, has been called nirvana.

Mỗi người chắc chắn có mầm của một thể trực giác. Chúng ta hãy đi thêm một giai đoạn nữa, dù khi làm vậy tôi e rằng điều ấy sẽ phần nào khó hiểu. Khi một người đạt đến tâm thức tinh thần vận hành trên cõi tinh thần hay atmic, y thấy một tâm thức quả thật là một nguyên tử, thế nhưng đồng thời dường như là toàn thể. Đây là trạng thái mà Thánh Bonaventure đã cố gắng mô tả khi ông đưa ra phát biểu rằng chúng ta phải nghĩ về nó như “một vòng tròn có tâm ở khắp nơi và chu vi không ở đâu cả” — không hữu ích lắm cho thể trí, nhưng bằng cách nào đó lại soi sáng một cách kỳ diệu. Người ta có thể có một loại nắm bắt trực giác về ý tưởng của ông. Đây là tâm thức của Sự Hợp Nhất Thiêng Liêng mà ở phương Đông đã được gọi là Niết Bàn.

You can come down from that and imagine that you are yourself, that you yourself include many other selves, that that number is increasing, and that on the highest subplane of the intuitional plane it would be practically coextensive with our worlds. Yet in all that, though you share the consciousness of others, you can yet so hold yourself as to see their consciousness as a separate thing; the normal condition of the plane being that all the consciousnesses are merged into one. Thus we have something which is greatly less than the nirvanic condition and is yet much more than the causal body.

Bạn có thể đi xuống từ đó và tưởng tượng rằng bạn là chính mình, rằng chính bạn bao gồm nhiều bản ngã khác, rằng con số ấy đang gia tăng, và rằng trên cõi phụ cao nhất của cõi trực giác, nó thực tế sẽ đồng phạm vi với các thế giới của chúng ta. Tuy vậy trong tất cả điều ấy, dù bạn chia sẻ tâm thức của những người khác, bạn vẫn có thể giữ chính mình đến mức thấy tâm thức của họ như một điều riêng biệt; trạng thái bình thường của cõi này là mọi tâm thức hòa nhập vào một. Như vậy chúng ta có một điều thấp hơn rất nhiều so với trạng thái Niết Bàn, nhưng vẫn cao hơn rất nhiều so với thể nguyên nhân.

This germ is often quite undeveloped in the ordinary man of the world who has never thought of these matters; but in those of us who have given much time to meditation it has already grown at least to some slight extent, and it is capable of rapid unfoldment when we really turn our attention to it.

Mầm này thường khá chưa phát triển nơi người thế gian bình thường, người chưa từng nghĩ đến những vấn đề này; nhưng nơi những người trong chúng ta đã dành nhiều thời gian cho tham thiền, nó đã phát triển ít nhất ở một mức độ nào đó, và có khả năng khai mở nhanh chóng khi chúng ta thực sự hướng sự chú ý của mình vào nó.

5 — 5

The Method Of Human Progress — Phương Pháp Tiến Bộ của Con Người

A boy went to school. He was very little. All that he knew he had drawn in with his mother’s milk. His teacher (who was God) placed him in the lowest class and gave him these lessons to learn: Thou shalt not kill. Thou shalt do no hurt to any living thing. Thou shalt not steal.

Một cậu bé đi học. Cậu còn rất nhỏ. Tất cả những gì cậu biết, cậu đã hấp thụ cùng với dòng sữa mẹ. Vị thầy của cậu, vốn là Thượng đế, đặt cậu vào lớp thấp nhất và trao cho cậu những bài học này để học: Ngươi chớ giết. Ngươi chớ làm tổn hại bất cứ sinh vật nào. Ngươi chớ trộm cắp.

So the man did not kill, but he was cruel and he stole. At the end of the day, when his beard was grey, when the night was come, the teacher (who was God) said: “Thou hast learned not to kill. But the other lessons thou hast not learned. Come back tomorrow.”

Vì vậy, người ấy không giết, nhưng y tàn nhẫn và y trộm cắp. Cuối ngày, khi râu y đã bạc, khi đêm đã xuống, vị thầy của y, vốn là Thượng đế, nói: “Ngươi đã học được bài học không giết. Nhưng những bài học kia ngươi chưa học được. Ngày mai hãy trở lại.”

On the morrow he came back, a little boy. And his teacher (who was God) put him in a class a little higher and gave him these lessons to learn: Thou shalt do no hurt to any living thing. Thou shalt not steal. Thou shalt not cheat.

Sáng hôm sau y trở lại, là một cậu bé. Và vị thầy của y, vốn là Thượng đế, đặt y vào một lớp cao hơn đôi chút và trao cho y những bài học này để học: Ngươi chớ làm tổn hại bất cứ sinh vật nào. Ngươi chớ trộm cắp. Ngươi chớ lừa gạt.

So the man did no hurt to any living thing, but he stole and he cheated. At the end of the day, when his beard was grey, when the night was come, his teacher (who was God) said: “Thou hast learned to be merciful. But the other lessons thou has not learned. Come back tomorrow.”

Vì vậy, người ấy không làm tổn hại bất cứ sinh vật nào, nhưng y trộm cắp và y lừa gạt. Cuối ngày, khi râu y đã bạc, khi đêm đã xuống, vị thầy của y, vốn là Thượng đế, nói: “Ngươi đã học được lòng nhân từ. Nhưng những bài học kia ngươi chưa học được. Ngày mai hãy trở lại.”

Again on the morrow he came back, a little boy. And his teacher (who was God) put him in a class yet a little higher, and gave him these lessons to learn: “Thou shalt not steal. Thou shalt not cheat. Thou shalt not covet.”

Một lần nữa, sáng hôm sau y trở lại, là một cậu bé. Và vị thầy của y, vốn là Thượng đế, đặt y vào một lớp cao hơn nữa đôi chút, và trao cho y những bài học này để học: “Ngươi chớ trộm cắp. Ngươi chớ lừa gạt. Ngươi chớ tham muốn.”

So the man did not steal, but he cheated and coveted. And at the end of the day, when his beard was grey, when the night was come, his teacher (who was God) said: “Thou hast learned not to steal. But the other lessons thou hast not learned. Come back, my child, tomorrow.”

Vì vậy, người ấy không trộm cắp, nhưng y lừa gạt và tham muốn. Và cuối ngày, khi râu y đã bạc, khi đêm đã xuống, vị thầy của y, vốn là Thượng đế, nói: “Ngươi đã học được bài học không trộm cắp. Nhưng những bài học kia ngươi chưa học được. Con của ta, ngày mai hãy trở lại.”

This is what I have read in the faces of men and women, in the book of the world, and in the scroll of the heavens, which is writ with the stars (Berry Benson, The Century Magazine, May 1894).

Đó là điều tôi đã đọc thấy trên gương mặt của những người nam và nữ, trong quyển sách của thế gian, và trong cuộn sách của các tầng trời, vốn được viết bằng những vì sao (Berry Benson, Tạp Chí Thế Kỷ, tháng Năm năm 1894).

Humanity is part of a gigantic sweep of the divine life into matter. We have long ago passed the lower level of descent and have risen up to the other side of the curve, to the human level. We shall pass on higher and higher to the levels of the angels, the great spirits, levels beyond our reach as yet, and so back to Him from whom we came.

Nhân loại là một phần của dòng tuôn chảy vĩ đại của sự sống thiêng liêng vào vật chất. Từ lâu chúng ta đã vượt qua mức thấp của sự đi xuống và đã vươn lên phía bên kia của đường cong, đến cấp độ nhân loại. Chúng ta sẽ tiếp tục đi lên ngày càng cao hơn, đến các cấp độ của các thiên thần, các tinh thần vĩ đại, những cấp độ hiện nay còn ngoài tầm với của chúng ta, và như thế trở về với Ngài, Đấng mà từ Ngài chúng ta đã đến.

There is a great deal of work in that climbing, a vast number of little intermediate expeditions, so to speak. There is one mighty curve of the whole evolution, but human progress along that line consists of a number of little curves, a number of little dippings down into matter and rising out of it again, each little curve representing a life or incarnation.

Trong cuộc leo lên ấy có rất nhiều công việc, có vô số những cuộc viễn chinh trung gian nhỏ, có thể nói như vậy. Có một đường cong hùng mạnh của toàn bộ tiến hoá, nhưng sự tiến bộ của con người dọc theo đường ấy gồm nhiều đường cong nhỏ, nhiều lần nhúng xuống vật chất rồi lại vươn ra khỏi nó, mỗi đường cong nhỏ tượng trưng cho một đời sống hay một lần nhập thể.

Again and again the soul puts himself down, each time to develop a new quality in himself, each time to strengthen himself until he can rise to the fullness of the measure of the stature of the Christ. Man’s life is not merely a matter of seventy or eighty years; it is a matter of many millions of years, and what we are in the habit of calling a life is only one day out of that long life. It is not even one whole day; there are twenty-four hours in our day down here, but we do not spend the whole of it in active work; part of the time we have to rest and refresh ourselves. It is exactly the same with these little descents into matter, except that the periods of rest and refreshment are much longer in proportion to the period of manifestation. Human evolution is a slow process, and it takes many days and many of the nights which come in between them when, though the man has no physical body, he is developing and assimilating all that he has learnt during these lives. It must always be remembered that the soul is as yet, even in the best and cleverest of us, an undeveloped soul. He is indeed a spark of the divine fire, and so has within himself the most wonderful divine possibilities; but as yet they are but germs, and they need development.

Hết lần này đến lần khác, linh hồn tự đưa mình xuống, mỗi lần để phát triển một phẩm tính mới nơi chính mình, mỗi lần để củng cố chính mình cho đến khi y có thể vươn lên tới mức viên mãn của tầm vóc Đức Christ. Đời sống con người không chỉ là vấn đề bảy mươi hay tám mươi năm; đó là vấn đề của nhiều triệu năm, và điều chúng ta quen gọi là một đời sống chỉ là một ngày trong đời sống dài lâu ấy. Thậm chí đó không phải là một ngày trọn vẹn; trong ngày của chúng ta dưới đây có hai mươi bốn giờ, nhưng chúng ta không dùng toàn bộ thời gian ấy cho công việc tích cực; một phần thời gian chúng ta phải nghỉ ngơi và làm mới lại mình. Với những lần đi xuống nhỏ bé này vào vật chất cũng đúng y như vậy, ngoại trừ các thời kỳ nghỉ ngơi và hồi phục dài hơn nhiều so với thời kỳ biểu hiện. Tiến hoá của con người là một tiến trình chậm, và nó cần nhiều ngày cùng nhiều đêm xen giữa chúng, khi tuy con người không có thể xác, y vẫn đang phát triển và đồng hoá tất cả những gì y đã học trong các đời sống ấy. Luôn luôn cần nhớ rằng linh hồn, ngay cả nơi những người tốt nhất và thông minh nhất trong chúng ta, vẫn còn là một linh hồn chưa phát triển. Quả thật, y là một tia lửa của ngọn lửa thiêng liêng, và vì thế trong chính mình y có những khả năng thiêng liêng kỳ diệu nhất; nhưng hiện nay chúng vẫn chỉ là những mầm mống, và chúng cần được phát triển.

He is not capable yet of functioning fully at his own level where he lives as a fellow with other souls, having all sorts of wider faculties and greater knowledge than he has down here. He is not fully developed at that level, but he is gradually becoming so.

Y chưa có khả năng hoạt động trọn vẹn ở cấp độ riêng của mình, nơi y sống như một bạn đồng hành với các linh hồn khác, có đủ loại năng lực rộng lớn hơn và tri thức lớn lao hơn những gì y có dưới đây. Y chưa phát triển đầy đủ ở cấp độ ấy, nhưng y đang dần dần trở nên như vậy.

More Rapid Vibrations

Những Rung Động Nhanh Hơn

The higher worlds or planes, to the finer movements of which the undeveloped soul cannot yet respond, are material, as is this physical plane, but they are built of a finer kind of matter, whose vibrations are far more rapid than the vibrations of matter down here. We have, of course, always to keep in mind the scientific conception that all material objects are really in a state of rapid vibration all the time. The objects as a whole appear to our rather coarse and clumsy sight to be at rest, but science tells us that there is rapid vibration going on among the particles, and however dense the substance may appear no two particles actually touch one another. There is a fairly wide gamut of vibration, and within certain rates of vibration all matter exists. The matter of the higher planes is, as I have said, vibrating far more rapidly than that of the physical plane, but even the vibrations down here when expressed in numbers and time are tremendously rapid. In any scientific book on the subject there will be found tables showing how certain rates of vibration appeal to the ear and make sound, how certain other rates of vibration appeal to the eye and make sight. Others make what are called Hertzian rays, electrical vibrations, X-rays, and so on. We get a vast number of differentiated rates of vibration. That goes on and on into infinity, getting shorter and more rapid all the while. We do not know what the limit is.

Các thế giới hay các cõi cao hơn, với những chuyển động tinh tế hơn mà linh hồn chưa phát triển vẫn chưa thể đáp ứng, cũng có tính vật chất như cõi hồng trần này, nhưng chúng được xây dựng bằng một loại vật chất tinh tế hơn, có các rung động nhanh hơn rất nhiều so với những rung động của vật chất dưới đây. Dĩ nhiên, chúng ta luôn phải ghi nhớ quan niệm khoa học rằng mọi vật thể vật chất thật ra luôn luôn ở trong trạng thái rung động nhanh chóng. Nhìn như một toàn thể, các vật thể dường như đứng yên trước thị giác khá thô và vụng của chúng ta, nhưng khoa học cho chúng ta biết rằng có sự rung động nhanh chóng đang diễn ra giữa các hạt, và dù chất liệu có vẻ đậm đặc đến đâu, thật ra không có hai hạt nào chạm vào nhau. Có một thang rung động khá rộng, và trong những tốc độ rung động nhất định, mọi vật chất đều hiện hữu. Như tôi đã nói, vật chất của các cõi cao rung động nhanh hơn rất nhiều so với vật chất của cõi hồng trần, nhưng ngay cả những rung động dưới đây, khi được diễn tả bằng con số và thời gian, cũng nhanh khủng khiếp. Trong bất cứ quyển sách khoa học nào về đề tài này, người ta sẽ thấy các bảng cho biết bằng cách nào một số tốc độ rung động nhất định tác động đến tai và tạo ra âm thanh, bằng cách nào những tốc độ rung động khác tác động đến mắt và tạo ra thị giác. Những tốc độ khác tạo ra cái gọi là các tia Hertz, các rung động điện, tia X, v.v. Chúng ta có một số lượng rất lớn các tốc độ rung động đã được biến phân. Điều đó tiếp diễn mãi vào vô tận, trong khi các rung động ngày càng ngắn hơn và nhanh hơn. Chúng ta không biết giới hạn là gì.

There is a vast difference in the power of response to these vibrations in different individuals. One way of testing this is by listening to the sound of the squeak of the bat, which is just on the border of human audibility. One man may hear the air full of those needlelike cries; another standing close by him will not be able to hear them at all; they are just a little too high for him to catch. We undoubtedly vary in our power of response, but it is quite feasible for some of us to get beyond the average physical response.

Có sự khác biệt rất lớn trong năng lực đáp ứng với những rung động này nơi các cá nhân khác nhau. Một cách để thử điều này là lắng nghe âm thanh tiếng kêu the thé của con dơi, vốn nằm ngay trên ranh giới của khả năng nghe của con người. Một người có thể nghe thấy không khí đầy những tiếng kêu sắc như kim ấy; một người khác đứng sát bên y lại hoàn toàn không thể nghe thấy chúng; chúng chỉ hơi quá cao để y bắt được. Chắc chắn chúng ta khác nhau về năng lực đáp ứng, nhưng một số người trong chúng ta hoàn toàn có thể vượt quá mức đáp ứng hồng trần trung bình.

The same thing is true with regard to those higher levels. The Ego or soul lives in a world of vibration, but the undeveloped soul cannot fully respond to those vibrations. He realizes only a small part of them, and so he has to learn how to respond to the rest. How is this to be done? Only by coming down to some level where the vibrations are slower, so that he can first get used to responding to them. Then as his evolution proceeds he learns to respond to vibrations a little faster and still a little faster, until he will eventually get back to his own level with full power to respond to all that is going on there.

Điều tương tự cũng đúng đối với các cấp độ cao hơn ấy. Chân ngã hay linh hồn sống trong một thế giới rung động, nhưng linh hồn chưa phát triển không thể đáp ứng trọn vẹn với những rung động ấy. Y chỉ nhận ra một phần nhỏ trong đó, và vì thế y phải học cách đáp ứng với phần còn lại. Điều này được thực hiện như thế nào? Chỉ bằng cách đi xuống một cấp độ nào đó nơi các rung động chậm hơn, để trước hết y có thể quen với việc đáp ứng với chúng. Rồi khi sự tiến hoá của y tiếp diễn, y học cách đáp ứng với những rung động nhanh hơn đôi chút rồi lại nhanh hơn đôi chút nữa, cho đến cuối cùng y sẽ trở về cấp độ riêng của mình với đầy đủ năng lực đáp ứng với tất cả những gì đang diễn ra ở đó.

That is the mechanical aspect of the soul’s periodical descents into matter. He takes on the lower vehicles because at his own level he does not feel fully alive. He puts himself into the lower part of the mental world and draws round him matter of that plane which is not so fine, though very fine still from our point of view. Out of that he constructs for himself a mental body. That is practically what we call the mind; it is a vehicle the vibrations of which are his thoughts. He comes down a little lower and draws round himself astral matter, and that makes the body of his emotions; it is with that he is able to feel. Then he comes down to the physical plane and enters a physical body—he is born as a little baby and gradually takes hold of that body and tries to mold it a little as it is growing.

Đó là phương diện cơ học của những lần linh hồn định kỳ đi xuống vật chất. Y khoác lấy các hiện thể thấp hơn vì ở cấp độ riêng của mình y không cảm thấy hoàn toàn sống động. Y đưa mình vào phần thấp hơn của thế giới trí tuệ và thu hút quanh mình vật chất của cõi ấy, vốn không tinh tế bằng, dù theo quan điểm của chúng ta vẫn còn rất tinh tế. Từ đó y kiến tạo cho mình một thể trí. Về thực chất, đó là điều chúng ta gọi là thể trí; đó là một hiện thể mà các rung động của nó là những tư tưởng của y. Y đi xuống thấp hơn đôi chút và thu hút quanh mình vật chất cảm dục, và điều đó tạo nên thể cảm xúc của y; chính nhờ thể ấy mà y có thể cảm nhận. Rồi y đi xuống cõi hồng trần và nhập vào một thể xác—y sinh ra như một em bé nhỏ và dần dần nắm lấy thể ấy, cố gắng uốn nắn nó đôi chút khi nó đang lớn lên.

This is a birth or incarnation—the commencement of a physical life. During that life all kinds of experiences come to him through his physical body, and from them he should learn some lessons and develop some qualities within himself. After a time he begins to withdraw again into himself and puts off by degrees the vestures that he has assumed. The first of these to drop away is the physical body, and his withdrawal from that is what we call death. It is not the end of his activities, as many people suppose; nothing could be further from the fact. He is simply withdrawing from one effort, bearing back with him its results; he returns, as is said in the Gospel, bearing his sheaves with him;   11    and after a certain period of comparative repose, he will make another effort of the same kind. Each life gives certain results, and these results are assimilated and worked up into faculties and powers during the time that intervenes between the death of a man and his next incarnation. Down here on the physical plane he gets vibrations pouring in from all sides; he gets a fuller, a more vivid life of a kind, but of course it is of a lower kind. Gradually as the soul evolves life after life, he becomes able to respond to more and higher vibrations. So there will come a time when he will return to his own home—to his own soul plane—and find himself fully responsive there, fully alive, as it were.

Đó là một sự sinh ra hay một lần nhập thể—khởi đầu của một đời sống hồng trần. Trong đời sống ấy, đủ loại kinh nghiệm đến với y qua thể xác, và từ đó y phải học một số bài học và phát triển một số phẩm tính nơi chính mình. Sau một thời gian, y bắt đầu rút trở lại vào chính mình và dần dần cởi bỏ những lớp áo mà y đã khoác lấy. Lớp đầu tiên rơi rụng là thể xác, và sự rút lui của y khỏi nó là điều chúng ta gọi là cái chết. Đó không phải là sự chấm dứt các hoạt động của y, như nhiều người tưởng; không gì có thể xa sự thật hơn thế. Y chỉ đơn giản rút lui khỏi một nỗ lực, mang theo trở về những kết quả của nó; y trở về, như đã nói trong Phúc Âm, mang theo những bó lúa của mình; 11 và sau một thời kỳ nghỉ ngơi tương đối nào đó, y sẽ thực hiện một nỗ lực khác cùng loại. Mỗi đời sống đem lại một số kết quả nhất định, và những kết quả này được đồng hoá và chế biến thành các năng lực và quyền năng trong khoảng thời gian xen giữa cái chết của một người và lần nhập thể kế tiếp của y. Dưới đây, trên cõi hồng trần, y nhận được các rung động tuôn vào từ mọi phía; y có được một đời sống đầy đủ hơn, sống động hơn theo một cách nào đó, nhưng dĩ nhiên đó là loại thấp hơn. Dần dần, khi linh hồn tiến hoá qua đời này sang đời khác, y có khả năng đáp ứng với nhiều rung động hơn và cao hơn. Vì vậy, sẽ đến lúc y trở về nhà riêng của mình—về cõi linh hồn riêng của mình—và thấy mình đáp ứng trọn vẹn ở đó, hoàn toàn sống động, có thể nói như vậy.

Needless to say, when he does reach that stage he will have a far more magnificent and splendid life than anything we know about here. Before he has reached that high level, whenever he has the experience of returning to that plane which is his true home between these days at school which we call lives, he finds that, with all its splendor and its glory and its beauty, for him it is unsatisfactory because he is not yet up to that level. He is not fully alive there, and he yearns again for that full response. That yearning is spoken of in the Oriental scriptures as trishna (Sanskrit) or tanha (Pali), both words meaning thirst—the thirst for fuller life, the thirst to feel himself in full activity—and so the soul puts himself down again in order that he may experience this. It is by virtue of that experience and the use that he makes of it that he is able to carry back with him more and more results of experience—more and more material for working up into powers.

Không cần phải nói, khi y đạt tới giai đoạn ấy, y sẽ có một đời sống huy hoàng và rực rỡ hơn rất xa bất cứ điều gì chúng ta biết ở đây. Trước khi y đạt tới cấp độ cao ấy, mỗi khi y có kinh nghiệm trở về cõi vốn là quê hương đích thực của mình giữa những ngày ở trường mà chúng ta gọi là các đời sống, y thấy rằng, với tất cả vẻ huy hoàng, vinh quang và vẻ đẹp của nó, đối với y cõi ấy vẫn chưa thỏa mãn, vì y chưa đạt tới cấp độ ấy. Y chưa hoàn toàn sống động ở đó, và y lại khao khát sự đáp ứng trọn vẹn ấy. Niềm khao khát đó được nói đến trong các kinh sách Đông phương là trishna (tiếng Sanskrit) hay tanha (tiếng Pali), cả hai từ đều có nghĩa là khát—cơn khát đời sống đầy đủ hơn, cơn khát cảm thấy mình hoạt động trọn vẹn—và vì thế linh hồn lại tự đưa mình xuống để y có thể trải nghiệm điều này. Chính nhờ kinh nghiệm ấy và cách y sử dụng nó mà y có thể mang trở về ngày càng nhiều kết quả của kinh nghiệm—ngày càng nhiều vật liệu để chế biến thành các quyền năng.

All this life of which we are so full, in which we think we are so busy and so clever, is but a preparation for a very much bigger life. Exactly as the boy’s life at school is only a preparation for real life in the world, this physical life of ours is a preparation for the life on higher planes. Down here our efforts are feeble and often seem fruitless and futile. When we are able to reach the levels of the higher life, we shall have tasks to carry out which will be really worth our while. Then we shall have a life that is worth living to an extent we cannot possibly imagine down here—a life of glorious activity and success, a life of helping others, of managing, directing, and guiding systems, worlds, nations—a far higher life than we know anything about down here, but to equip ourselves for that we must go through this school. Thus only can the divine spark which is the soul of man fulfill its glorious destiny and develop into a flame, into a great fire, into a very sun—a sun pouring out light and heat and strength and help on all around it, just as God Himself pours His life through the whole of His universe. In a distant, but nevertheless a quite certain future, we shall have the power of exercising the divinity that is within us, and of working always within it and under its direction, each in his own way.

Toàn bộ đời sống này, mà chúng ta đầy ắp trong đó, nơi chúng ta tưởng mình bận rộn và khôn khéo đến thế, chỉ là sự chuẩn bị cho một đời sống lớn lao hơn rất nhiều. Cũng y như đời sống của cậu bé ở trường chỉ là sự chuẩn bị cho đời sống thật trong thế gian, đời sống hồng trần này của chúng ta là sự chuẩn bị cho đời sống trên các cõi cao hơn. Dưới đây, các nỗ lực của chúng ta yếu ớt và thường có vẻ không kết quả, vô ích. Khi chúng ta có thể đạt tới các cấp độ của đời sống cao hơn, chúng ta sẽ có những nhiệm vụ để thực hiện thật sự xứng đáng với công sức của mình. Khi ấy chúng ta sẽ có một đời sống đáng sống tới mức dưới đây chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi—một đời sống hoạt động và thành công huy hoàng, một đời sống trợ giúp người khác, quản trị, điều khiển và hướng dẫn các hệ thống, các thế giới, các quốc gia—một đời sống cao hơn rất xa bất cứ điều gì chúng ta biết dưới đây; nhưng để trang bị cho mình cho đời sống ấy, chúng ta phải đi qua ngôi trường này. Chỉ như vậy tia lửa thiêng liêng vốn là linh hồn của con người mới có thể hoàn thành vận mệnh huy hoàng của nó và phát triển thành một ngọn lửa, thành một đám lửa lớn, thành chính một mặt trời—một mặt trời tuôn đổ ánh sáng, hơi ấm, sức mạnh và sự trợ giúp cho tất cả xung quanh nó, cũng như chính Thượng đế tuôn đổ sự sống của Ngài qua toàn thể vũ trụ của Ngài. Trong một tương lai xa xôi, nhưng dù vậy hoàn toàn chắc chắn, chúng ta sẽ có quyền năng vận dụng thiên tính ở trong chúng ta, và luôn làm việc trong thiên tính ấy cũng như dưới sự hướng dẫn của nó, mỗi người theo cách riêng của mình.

The Great Ones

Các Đấng Cao Cả

It may be asked: “How can we be certain of that?” All I can say is that to myself as well as to other students of occultism these things are unquestionable facts. We have, during our investigation, come into touch with great numbers of people far more highly developed than ourselves. They are so much grander in every way than we that we might well think of them almost as gods, but they themselves disclaim any such idea. They say, “We are men just as you are; but we have gone further on the way than you have yet gone.” Every step on that way between us and them is occupied by those who are climbing up towards them. Beyond even them we see greater spirits, mightier ones still, reaching on and on until all is lost for us in a cloud of glory that we cannot penetrate. But on every step of that long ladder are human beings like ourselves—only faultless, whereas we are full of faults; thoroughly developed, whereas as yet we are only partially developed. In just the same way we can look down that ladder on men standing at lower stages than ourselves. We know from studying the subject that those men, now occupying lower steps, will presently climb to where we are, but while they are climbing to this level we will climb onwards and upwards. Those great Masters of the Wisdom who seem so divine to us tell us that they were not long ago at the stage where we are now; that we have only to keep on climbing and we shall become as they are; but in the meantime they will have passed on to greater heights still.

Có thể có người hỏi: “Làm sao chúng ta có thể chắc chắn về điều đó?” Tất cả những gì tôi có thể nói là, đối với chính tôi cũng như đối với các đạo sinh khác của huyền bí học, những điều này là các sự kiện không thể nghi ngờ. Trong khi nghiên cứu, chúng tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người phát triển cao hơn chúng tôi rất xa. Các Ngài lớn lao hơn chúng tôi về mọi phương diện đến nỗi chúng tôi rất có thể nghĩ về Các Ngài gần như các vị thần, nhưng chính Các Ngài bác bỏ bất cứ ý tưởng nào như thế. Các Ngài nói: “Chúng tôi là con người y như các bạn; nhưng chúng tôi đã đi xa hơn trên con đường so với các bạn hiện nay.” Mỗi bậc trên con đường ấy giữa chúng ta và Các Ngài đều có những người đang leo lên hướng về Các Ngài. Vượt xa hơn cả Các Ngài, chúng ta thấy những tinh thần lớn lao hơn, những Đấng hùng mạnh hơn nữa, vươn lên mãi cho đến khi tất cả đối với chúng ta mất hút trong một đám mây vinh quang mà chúng ta không thể xuyên thấu. Nhưng trên mỗi bậc của chiếc thang dài ấy đều là những con người như chúng ta—chỉ khác là không lỗi lầm, trong khi chúng ta đầy lỗi lầm; phát triển hoàn toàn, trong khi hiện nay chúng ta chỉ mới phát triển một phần. Cũng theo cách ấy, chúng ta có thể nhìn xuống chiếc thang ấy về những người đứng ở các giai đoạn thấp hơn chúng ta. Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng ta biết rằng những người ấy, hiện đang ở các bậc thấp hơn, sẽ rồi đây leo lên tới nơi chúng ta đang đứng; nhưng trong khi họ leo lên tới cấp độ này, chúng ta sẽ leo tiếp tới trước và lên cao hơn. Những Chân sư Minh Triết vĩ đại, những Đấng đối với chúng ta có vẻ thiêng liêng đến thế, nói với chúng ta rằng chưa lâu trước đây Các Ngài cũng ở giai đoạn mà chúng ta đang ở hiện nay; rằng chúng ta chỉ cần tiếp tục leo lên và chúng ta sẽ trở nên như Các Ngài; nhưng trong khi đó, Các Ngài sẽ đã tiến tới những đỉnh cao lớn lao hơn nữa.

What will be the ultimate end of all this age-long climbing we do not know. We are told that we came forth from God and that we must go back to Him, and I see quite sufficient evidence to convince me that it is so; but there is certainly no end within my power of perception, and the greater people tell us also that they know nothing about an end. But we do see what happens to be an infinity of progress stretching before us, and however great it may be in the ultimate, it is achieved—like all other progress—step by step, little by little. There is no question at all but that each of us can do it, because, as I have said, those glorious perfected beings, our great Masters, stood no long time ago, as time goes with them, where we stand now. We have only to follow in their footsteps, and we also shall attain.

Chúng ta không biết đâu sẽ là kết cuộc tối hậu của toàn bộ cuộc leo lên kéo dài qua các thời đại này. Chúng ta được bảo rằng chúng ta đã đi ra từ Thượng đế và phải trở về với Ngài, và tôi thấy có đủ bằng chứng để thuyết phục tôi rằng điều ấy là như vậy; nhưng chắc chắn trong phạm vi tri giác của tôi không có một kết thúc nào, và những vị cao cả hơn cũng nói với chúng ta rằng Các Ngài không biết gì về một kết thúc. Nhưng chúng ta quả có thấy điều dường như là một vô tận của sự tiến bộ trải rộng trước mắt mình, và dù trong tối hậu nó có lớn lao đến đâu, nó vẫn được thành tựu—như mọi tiến bộ khác—từng bước một, từng chút một. Hoàn toàn không có vấn đề gì về việc mỗi người chúng ta đều có thể làm được điều đó, bởi vì, như tôi đã nói, những Hữu Thể hoàn thiện huy hoàng ấy, các Chân sư vĩ đại của chúng ta, chưa lâu trước đây, theo cách Các Ngài tính thời gian, đã đứng nơi chúng ta đang đứng hiện nay. Chúng ta chỉ cần đi theo dấu chân Các Ngài, và chúng ta cũng sẽ đạt tới.

The Laws of Evolution

Các Định Luật của Tiến Hoá

All this evolution is taking place under never-changing laws. If that were not so, there could be no real progress. We can understand how it would be for a boy at school if he found all the school rules changing every day—sometimes kept and sometimes not kept—he would never know where he was; but in the school of life we are working under natural laws which never change. The first great law is that of evolution, the steady pressure onward and upward, and the next great law is the law of divine justice, the law of cause and effect. There is in the latter no thought of reward or punishment; it does not work that way. It is simply a matter of the effects produced by causes. There is no effect anywhere without a cause, and there is no cause which does not produce some effect somewhere.

Tất cả sự tiến hoá này đang diễn ra dưới những định luật không bao giờ thay đổi. Nếu không như vậy, sẽ không thể có sự tiến bộ thật sự. Chúng ta có thể hiểu một cậu bé ở trường sẽ ra sao nếu y thấy mọi quy luật của nhà trường thay đổi mỗi ngày—lúc được giữ, lúc không được giữ—y sẽ chẳng bao giờ biết mình đang ở đâu; nhưng trong trường đời, chúng ta đang làm việc dưới các định luật tự nhiên không bao giờ thay đổi. Định luật vĩ đại đầu tiên là định luật tiến hoá, áp lực bền bỉ hướng tới trước và lên cao, và định luật vĩ đại kế tiếp là định luật công lý thiêng liêng, định luật nhân quả. Trong định luật sau này không có ý tưởng thưởng hay phạt; nó không vận hành theo cách ấy. Đó chỉ đơn giản là vấn đề các kết quả do những nguyên nhân tạo ra. Không nơi nào có một kết quả mà không có nguyên nhân, và không có nguyên nhân nào lại không tạo ra một kết quả nào đó ở đâu đó.

Now we know that is so in science; it is so in chemistry and mechanics, because there we can generally see the result immediately. Action and reaction are equal and opposite always, and that is true in the spiritual world just as much as it is in mechanics or chemistry. We cannot see reaction in the higher worlds, because, for one thing, it is not instantaneous. It may come quickly or after a long period, but the reaction always takes place and is always equal and opposite. If we send out evil to others, evil will come back to us; if we send out good, good will come back to us, and so we may be sure that the same great law of cause and effect obtains in the higher worlds as it does down here.

Hiện nay chúng ta biết điều ấy đúng trong khoa học; nó đúng trong hoá học và cơ học, vì ở đó chúng ta thường có thể thấy kết quả ngay lập tức. Tác động và phản tác động luôn bằng nhau và đối nghịch, và điều đó đúng trong thế giới tinh thần cũng y như trong cơ học hay hoá học. Chúng ta không thể thấy phản tác động trong các thế giới cao hơn, bởi một lý do là nó không tức thời. Nó có thể đến nhanh chóng hoặc sau một thời kỳ dài, nhưng phản tác động luôn diễn ra và luôn bằng nhau, đối nghịch. Nếu chúng ta gửi điều ác đến người khác, điều ác sẽ trở lại với chúng ta; nếu chúng ta gửi điều thiện, điều thiện sẽ trở lại với chúng ta, và như vậy chúng ta có thể chắc chắn rằng cùng một định luật nhân quả vĩ đại ấy cũng có hiệu lực trong các thế giới cao hơn như nó có dưới đây.

The result of good action, yes, and good speech and good thought too, is always happiness in some way and further opportunity, whereas the result of evil is always eventually sorrow and limitation. If we find ourselves limited in any way in this life, then the limitation is of our own making. If we have suffering or sorrow we alone are responsible for it, because it is the result of something that we did in the past. The manifold and complex destinies of men answer with rigid exactitude to the balance between good and evil in their previous actions. Therefore nothing whatever can come to any man unless he has deserved it, and everything that happens to him (whether it be sorrow or joy) is, on the one hand, the direct result of his own action in the past and, on the other, an opportunity by means of which he can deliberately mold his future.

Kết quả của hành động thiện, vâng, cả lời nói thiện và tư tưởng thiện nữa, luôn luôn là hạnh phúc theo một cách nào đó và cơ hội xa hơn, trong khi kết quả của điều ác cuối cùng luôn là đau khổ và giới hạn. Nếu chúng ta thấy mình bị giới hạn theo bất cứ cách nào trong đời sống này, thì sự giới hạn ấy do chính chúng ta tạo nên. Nếu chúng ta có đau đớn hay buồn khổ, chỉ riêng chúng ta chịu trách nhiệm về điều đó, vì nó là kết quả của một điều gì đó chúng ta đã làm trong quá khứ. Những vận mệnh đa dạng và phức tạp của con người đáp ứng với sự chính xác nghiêm ngặt đối với cán cân giữa thiện và ác trong các hành động trước kia của họ. Vì vậy, không điều gì có thể đến với bất cứ người nào trừ phi y đã xứng đáng nhận nó, và mọi điều xảy ra với y, dù là đau khổ hay hoan hỉ, một mặt là kết quả trực tiếp của chính hành động của y trong quá khứ, và mặt khác là một cơ hội nhờ đó y có thể chủ tâm uốn nắn tương lai của mình.

This great law works both ways; it does not only react upon us from our past, but it also reaches forward from our present into our future. Every thought, word, or action produces its definite result—not a reward or punishment imposed from without, but a result inherent in the action itself, definitely connected with it in the relation of cause and effect, these being really but two inseparable parts of one whole; so that just as our present is the absolute result of what we thought and said and did in the past, so are we absolutely, definitely, and unfailingly building our future for ourselves by what we think and say and do now.

Định luật vĩ đại này vận hành theo cả hai chiều; nó không chỉ phản tác động lên chúng ta từ quá khứ của chúng ta, mà còn vươn tới từ hiện tại của chúng ta vào tương lai của chúng ta. Mỗi tư tưởng, lời nói hay hành động tạo ra kết quả xác định của nó—không phải một phần thưởng hay hình phạt áp đặt từ bên ngoài, mà là một kết quả vốn có trong chính hành động ấy, được liên kết xác định với nó trong tương quan nhân quả, mà thật ra chỉ là hai phần không thể tách rời của một toàn thể; vì thế, cũng như hiện tại của chúng ta là kết quả tuyệt đối của những gì chúng ta đã nghĩ, đã nói và đã làm trong quá khứ, thì chúng ta cũng đang xây dựng tương lai cho chính mình một cách tuyệt đối, xác định và không sai lệch bằng những gì chúng ta nghĩ, nói và làm hiện nay.

Therefore it is both our duty and our interest to study this divine law of cause and effect very closely, so that we shall be able to adapt ourselves to it and to use it, as we use other great laws of nature.

Vì vậy, vừa là bổn phận vừa là lợi ích của chúng ta khi nghiên cứu rất kỹ định luật nhân quả thiêng liêng này, để chúng ta có thể thích ứng với nó và sử dụng nó, như chúng ta sử dụng các định luật vĩ đại khác của tự nhiên.

We are all moving steadily forward under the divine order towards a final consummation of good, but we are working our way towards it under the great laws of nature which we may quite rightly call the laws of God. For it is God’s will that we should evolve; and that we should do so by ordering our lives intelligently in accordance with His laws.

Tất cả chúng ta đang bền bỉ tiến tới dưới trật tự thiêng liêng hướng về một sự viên mãn tối hậu của điều thiện, nhưng chúng ta đang tự mở đường tới đó dưới các định luật vĩ đại của tự nhiên, mà chúng ta hoàn toàn có thể gọi đúng là các định luật của Thượng đế. Vì Ý Chí của Thượng đế là chúng ta phải tiến hoá; và chúng ta phải làm như vậy bằng cách sắp đặt đời sống của mình một cách thông minh phù hợp với các định luật của Ngài.

The Future of Man

Tương Lai của Con Người

It may be of interest to see what light is thrown upon the problem of the future by the higher extensions of human consciousness of which we have spoken elsewhere. We find that from this point of view the future divides itself into three parts—the immediate, the remote, and the ultimate; and, oddly enough, it is of that which is furthest from us that we are able to speak with the greatest certainly, because the plan of evolution is visible to the higher sight and its goal is clear. Nothing can interfere with the attainment of that goal, but the stages that lead up to it may be largely modified by the free will of the individuals concerned and can therefore be foreseen only in their general outline.

Có thể hữu ích khi xem ánh sáng nào được soi rọi lên vấn đề tương lai bởi những sự mở rộng cao hơn của tâm thức con người mà chúng ta đã nói đến ở nơi khác. Chúng ta thấy rằng từ quan điểm này, tương lai tự chia thành ba phần—gần, xa và tối hậu; và, lạ thay, chính về điều xa chúng ta nhất mà chúng ta có thể nói với sự chắc chắn lớn nhất, vì Thiên Cơ tiến hoá hiển hiện trước nhãn quan cao hơn và mục tiêu của nó rõ ràng. Không điều gì có thể cản trở việc đạt tới mục tiêu ấy, nhưng các giai đoạn dẫn tới đó có thể được điều chỉnh rất nhiều bởi ý chí tự do của các cá nhân liên hệ, và do đó chỉ có thể được tiên liệu trong những nét đại cương.

The end, so far as this cycle is concerned, is the accomplishment of the perfection of man. Each individual is to become something very much more than what we now mean by a great and good man, for he is to be perfect in intellect and capacity as well as spirituality. All the intellect of the greatest philosopher or man of science, and far more; all the devotion and spirituality of the greatest of saints, and far more; these are to be possessions of every unit of humanity before our cycle ends.

Kết thúc, trong phạm vi chu kỳ này, là sự hoàn thành sự hoàn thiện của con người. Mỗi cá nhân sẽ trở thành một điều gì đó vượt xa rất nhiều điều hiện nay chúng ta hiểu là một người vĩ đại và tốt lành, vì y sẽ hoàn thiện về trí tuệ và năng lực cũng như về tinh thần. Toàn bộ trí tuệ của triết gia hay nhà khoa học vĩ đại nhất, và còn hơn thế rất nhiều; toàn bộ lòng sùng tín và tinh thần của vị thánh lớn nhất, và còn hơn thế rất nhiều; những điều này sẽ là sở hữu của mỗi đơn vị nhân loại trước khi chu kỳ của chúng ta kết thúc.

To understand how such a stupendous result can be possible, we must grasp the plan by which evolution works. Obviously, on the ordinary theory of one poor little life of seventy years, followed by an eternity of purposeless joy or suffering, nothing of this sort could ever be achieved; but when once we realize that what we commonly call our life is only one day in the real life, and that we may have just as many of such days as are necessary for our development, we see that the command of Christ, “Be ye perfect even as your Father in heaven is perfect” [Matt. 5:48], is no vain hyperbole, but a plain direction which we may reasonably expect to be able in due time to obey.

Để thấu hiểu làm thế nào một kết quả kỳ vĩ như vậy có thể khả hữu, chúng ta phải nắm được Thiên Cơ qua đó tiến hoá vận hành. Hiển nhiên, theo lý thuyết thông thường về một đời sống nhỏ bé nghèo nàn kéo dài bảy mươi năm, tiếp theo là một vĩnh cửu của hoan hỉ hay đau khổ không mục đích, không điều gì thuộc loại này có thể từng được thành tựu; nhưng một khi chúng ta nhận ra rằng điều chúng ta thường gọi là đời sống của mình chỉ là một ngày trong đời sống thật, và rằng chúng ta có thể có bao nhiêu ngày như thế tùy cần cho sự phát triển của mình, chúng ta thấy rằng mệnh lệnh của Đức Christ, “Vậy các ngươi hãy nên hoàn thiện, như Cha các ngươi ở trên trời là hoàn thiện” [Matt. 5:48], không phải là một lời phóng đại vô ích, mà là một chỉ dẫn rõ ràng mà chúng ta có thể hợp lý mong đợi rằng đến đúng thời, mình sẽ có thể tuân theo.

The ultimate future, then, is perfection for every human being, no matter how low or undeveloped he may now be. Man will become more than man. This is what was meant in the early Church by the doctrine of “deification,”   12    to which many of the Fathers refer. It is a matter, not of pious opinion but of utter certainty to those who see the working of the scheme.

Vậy, tương lai tối hậu là sự hoàn thiện cho mọi hữu thể nhân loại, bất kể hiện nay y thấp kém hay chưa phát triển đến đâu. Con người sẽ trở thành hơn cả con người. Đó là điều trong Giáo Hội sơ kỳ được hàm ý bởi giáo lý “thần hoá,” 12 mà nhiều Giáo phụ nhắc đến. Đối với những ai thấy sự vận hành của hệ thống, đây không phải là vấn đề ý kiến mộ đạo, mà là sự chắc chắn tuyệt đối.

Obviously, however, we are yet very far from this attainment; a long upward path lies before us before we can reach that far-distant summit, and though on the whole it rises steadily, there must necessarily be many minor ups and downs in the future, as there have been in the past. History shows us that hitherto the advancement of mankind has been cyclic in character. Each unit lives his long series of progressive lives not in one race, but in many successive races, in order that he may learn the special lessons which each has to teach. One can imagine a soul incarnating in ancient India to develop religious fervor, in classical Greece to gain artistic capacity, in the Rome of the Caesars to learn the immense power of discipline and order, among ourselves at the present day to acquire the scientific habit of mind, and so on.

Tuy nhiên, hiển nhiên chúng ta vẫn còn rất xa thành tựu này; một con đường dài hướng lên còn nằm trước mắt chúng ta trước khi chúng ta có thể đạt tới đỉnh xa xôi ấy, và dù xét chung nó vươn lên đều đặn, trong tương lai tất yếu vẫn phải có nhiều thăng trầm nhỏ, như đã từng có trong quá khứ. Lịch sử cho chúng ta thấy rằng cho đến nay sự tiến bộ của nhân loại có tính chu kỳ. Mỗi đơn vị sống chuỗi dài các đời sống tiến bộ của mình không trong một nhân loại, mà trong nhiều nhân loại kế tiếp nhau, để y có thể học những bài học đặc biệt mà mỗi nhân loại phải dạy. Người ta có thể hình dung một linh hồn nhập thể ở Ấn Độ cổ đại để phát triển nhiệt tâm tôn giáo, ở Hy Lạp cổ điển để đạt được năng lực nghệ thuật, ở La Mã của các Caesar để học quyền năng bao la của kỷ luật và trật tự, giữa chúng ta ngày nay để đạt được thói quen trí tuệ khoa học, v.v.

The same great host of souls sweeps on through all the ages animating all these races in turn and learning from all; but the races themselves arise, grow, decay, and fall as they are needed. So when a nation loses its former glory and falls behind in the race (as, for example, modern Greece seems to have done in comparison with ancient Greece), it does not mean that a certain group of men is decadent, but that there are at the moment no souls who need precisely the type of training which that race at its best used to give. Consequently, the physical bodies of the descendants of those great men of old are now animated by souls of a lower type, while the great men themselves are now as ever in the forefront of evolution, but incarnated in some other race in order to grow still greater by developing in new directions. A race dies precisely as a class at a university might die if there were no longer any students taking up that particular subject.

Cùng một đoàn đông linh hồn vĩ đại quét qua mọi thời đại, lần lượt làm sinh động tất cả các nhân loại này và học hỏi từ tất cả; nhưng chính các nhân loại ấy phát sinh, lớn lên, suy tàn và sụp đổ khi chúng còn cần thiết. Vì vậy, khi một quốc gia đánh mất vinh quang trước kia và tụt lại phía sau trong cuộc đua, như chẳng hạn Hy Lạp hiện đại dường như đã làm so với Hy Lạp cổ đại, điều đó không có nghĩa là một nhóm người nào đó đang suy đồi, mà là vào lúc ấy không có linh hồn nào cần chính xác loại huấn luyện mà nhân loại ấy, khi ở mức tốt nhất, từng đem lại. Do đó, thể xác của hậu duệ những con người vĩ đại thời xưa ấy hiện nay được làm sinh động bởi những linh hồn thuộc loại thấp hơn, trong khi chính những con người vĩ đại ấy hiện nay, như bao giờ, vẫn ở hàng đầu của tiến hoá, nhưng nhập thể trong một nhân loại khác để còn trở nên vĩ đại hơn bằng cách phát triển theo những hướng mới. Một nhân loại chết đi đúng như một lớp học ở đại học có thể chết đi nếu không còn sinh viên nào theo học môn đặc biệt ấy nữa.

Clairvoyance enables us to examine a much larger section of the earth’s past history than can be reached along ordinary lines; and this fuller study of the past makes it possible to some extent to forecast by analogy some of the steps in the more immediate future. From such a study of the records it appears fairly certain that we are at the moment passing through a transition period, and that instead of representing, as we often fondly imagine, the very highest development yet seen on earth, we are in reality in the trough between two waves of progress. The democratic tendency of which some of us are so proud does not represent, as is generally supposed, the ultimate achievement of human wisdom, but is an experiment which was tried very thoroughly and carried out to its logical conclusion thousands of years ago and then abandoned as irrational, unworkable, and leading to endless confusion.   13    If we are to repeat the course of that last experiment, it seems unpleasantly certain that we shall have to pass through a good deal of this confusion and suffering once again.

Thông nhãn cho phép chúng ta khảo sát một phần lớn hơn nhiều của lịch sử quá khứ Trái Đất so với điều có thể đạt được theo những đường lối thông thường; và sự nghiên cứu quá khứ đầy đủ hơn này khiến ở một mức độ nào đó có thể dự báo bằng định luật tương đồng một số bước trong tương lai gần hơn. Từ việc nghiên cứu các ký lục như vậy, có vẻ khá chắc chắn rằng hiện nay chúng ta đang đi qua một thời kỳ chuyển tiếp, và thay vì đại diện, như chúng ta thường trìu mến tưởng tượng, cho sự phát triển cao nhất từng thấy trên Trái Đất, thật ra chúng ta đang ở đáy lõm giữa hai làn sóng tiến bộ. Khuynh hướng dân chủ mà một số người trong chúng ta rất tự hào không đại diện, như thường được giả định, cho thành tựu tối hậu của minh triết nhân loại, mà là một cuộc thử nghiệm đã từng được thử rất kỹ lưỡng và được đưa đến kết luận hợp lý của nó hàng ngàn năm trước, rồi sau đó bị từ bỏ như là phi lý, không thể vận hành và dẫn tới sự hỗn loạn vô tận. 13 Nếu chúng ta phải lặp lại tiến trình của cuộc thử nghiệm sau cùng ấy, có vẻ chắc chắn một cách khó chịu rằng chúng ta sẽ phải đi qua khá nhiều hỗn loạn và đau khổ ấy một lần nữa.

But when that is over and reason begins to reassert itself, there will be before us a period of far more rapid progress in which we shall be able to avail ourselves of many aids which are not now at our disposal. The mere fact that the use of the higher faculties is slowly spreading among humanity will presently make an almost incalculable difference in many directions.

Nhưng khi điều đó qua đi và lý trí bắt đầu tự khẳng định trở lại, trước mắt chúng ta sẽ có một thời kỳ tiến bộ nhanh hơn rất nhiều, trong đó chúng ta sẽ có thể tận dụng nhiều sự trợ giúp hiện nay chưa thuộc quyền sử dụng của mình. Chỉ riêng sự kiện việc sử dụng các năng lực cao hơn đang dần lan rộng trong nhân loại sẽ chẳng bao lâu tạo nên một khác biệt gần như không thể tính toán trong nhiều hướng.

Imagine a state of affairs in which all deception or fraud will be impossible, in which misunderstandings can no longer occur, because each man can read the thoughts of the other; in which no one will ever again be set to do work for which he is unfitted because, from the first, parents and tutors will be able to see exactly the capabilities of those committed to their care; in which a doctor cannot make mistakes because he will see for himself exactly what is the matter with his patient and can watch in detail the action of his remedies. Think what a difference it will make in our lives when death no longer separates us from those whom we love, because the astral world lies open to us just as does the physical; when it will be impossible for men any longer to doubt the reality of the divine scheme, because its lower stages are visible before their eyes. Art and music will be far grander then, for astral colors and harmonies will be at our command as well as those which we now know. Every feature of life will be wider and fuller because we shall see so much more than we do now of the wonderful and beautiful world in which our lot is cast; understanding more, we cannot but admire and love more, and so we shall be infinitely happier, as we draw steadily nearer to that ultimate perfection which is absolute happiness, because it is union with the Eternal Love.

Hãy hình dung một tình trạng trong đó mọi lừa dối hay gian trá đều không thể xảy ra, trong đó những hiểu lầm không còn có thể phát sinh, vì mỗi người có thể đọc được tư tưởng của người khác; trong đó không ai còn bị đặt vào công việc mà y không thích hợp, bởi ngay từ đầu cha mẹ và người dạy dỗ có thể thấy chính xác những năng lực của những người được giao cho sự chăm sóc của họ; trong đó một bác sĩ không thể phạm sai lầm vì ông sẽ tự mình thấy chính xác bệnh nhân của mình mắc điều gì và có thể theo dõi chi tiết tác động của các phương thuốc. Hãy nghĩ xem điều đó sẽ tạo nên khác biệt thế nào trong đời sống chúng ta khi cái chết không còn chia lìa chúng ta khỏi những người mình yêu thương, vì thế giới cảm dục mở ra trước chúng ta y như cõi hồng trần; khi con người không còn có thể nghi ngờ thực tại của hệ thống thiêng liêng, vì các giai đoạn thấp của nó hiển hiện trước mắt họ. Nghệ thuật và âm nhạc khi ấy sẽ lớn lao hơn rất nhiều, vì các màu sắc và hoà âm cảm dục sẽ thuộc quyền sử dụng của chúng ta cũng như những gì hiện nay chúng ta biết. Mọi đặc điểm của đời sống sẽ rộng lớn hơn và đầy đủ hơn, vì chúng ta sẽ thấy nhiều hơn rất nhiều so với hiện nay về thế giới kỳ diệu và đẹp đẽ mà số phận chúng ta được đặt vào; thấu hiểu nhiều hơn, chúng ta không thể không ngưỡng mộ và yêu thương nhiều hơn, và như vậy chúng ta sẽ hạnh phúc vô hạn, khi bền bỉ tiến gần hơn tới sự hoàn thiện tối hậu ấy, vốn là hạnh phúc tuyệt đối, bởi vì đó là sự hợp nhất với Tình Thương vĩnh cửu.

6 — 6

Reincarnation — Luân Hồi

The doctrine of reincarnation or rebirth was widely known in ancient civilizations and is even today held by the majority of the human race. For instance, it is held by the Hindus, the Buddhists, and by a certain section of the followers of Islam, some of the Sufis, who study the esoteric side of their religion. It appears in some private books of the Jewish religion, and there are certain definite statements of the Christ which seem to prove that this belief was both held and taught by Him.   14    Modern as well as ancient philosophers recognize this hypothesis as one deserving the most serious consideration. Lessing taught it; it is advocated in Schopenhauer’s works, and Hume in his Essay on Immortalit y wrote: “What is incorruptible must be ungenerable. The soul, therefore, if it is immortal, existed before our birth. Metempsychosis, therefore, is the only system of this kind to which philosophy can hearken.”

Giáo lý luân hồi hay tái sinh đã được biết đến rộng rãi trong các nền văn minh cổ đại và ngay cả ngày nay vẫn được đa số nhân loại chấp nhận. Chẳng hạn, giáo lý này được người Ấn giáo, Phật tử, và một bộ phận nhất định trong những người theo Hồi giáo, một số người Sufi, những người nghiên cứu phương diện huyền bí của tôn giáo mình, chấp nhận. Nó xuất hiện trong một số sách riêng của tôn giáo Do Thái, và có những phát biểu xác định của Đức Christ dường như chứng minh rằng niềm tin này vừa được Ngài chấp nhận vừa được Ngài giảng dạy. 14 Các triết gia hiện đại cũng như cổ đại đều nhìn nhận giả thuyết này là một điều xứng đáng được xem xét nghiêm túc nhất. Lessing đã dạy nó; nó được bênh vực trong các tác phẩm của Schopenhauer, và Hume trong Luận Về Sự Bất Tử đã viết: “Điều không thể hư hoại phải là điều không được sinh ra. Vì vậy, linh hồn, nếu bất tử, đã hiện hữu trước khi chúng ta sinh ra. Do đó, thuyết chuyển sinh là hệ thống duy nhất thuộc loại này mà triết học có thể lắng nghe.”

That is to say, the common idea that the soul began with our birth and is eternal is philosophically impossible. If it began with our birth, it will end with our death; if it had a beginning, it will have an ending. If it comes forth from eternity then it must at last go back to eternity, but we cannot philosophically hold the idea that a thing begins in time and does not end in time.

Điều đó có nghĩa là ý tưởng thông thường rằng linh hồn bắt đầu cùng với sự sinh ra của chúng ta và là vĩnh cửu là điều bất khả về mặt triết học. Nếu nó bắt đầu cùng với sự sinh ra của chúng ta, nó sẽ chấm dứt cùng với cái chết của chúng ta; nếu nó có một khởi đầu, nó sẽ có một kết thúc. Nếu nó đi ra từ vĩnh cửu thì cuối cùng nó phải trở về vĩnh cửu, nhưng về mặt triết học chúng ta không thể giữ ý tưởng rằng một sự vật bắt đầu trong thời gian mà lại không chấm dứt trong thời gian.

Again, Huxley writes in his Evolution and Ethics: “Like the doctrine of evolution itself, that of transmigration has its roots in the world of reality; and it may claim such support as the great argument from analogy is capable of supplying.”   15    

Một lần nữa, Huxley viết trong Tiến Hoá và Đạo Đức: “Giống như chính giáo lý tiến hoá, giáo lý chuyển sinh có cội rễ trong thế giới của thực tại; và nó có thể đòi hỏi sự ủng hộ mà lập luận vĩ đại từ định luật tương đồng có khả năng cung cấp.” 15

Max Müller, the great orientalist, began by writing of this theory as a superstition, but at the end of his life, in a work which was published after his death, he admitted that he himself believed in it. So it is clear that many of the greatest minds have held this idea, and for that reason alone it is not to be dismissed as a mere superstition.

Max Müller, nhà Đông phương học vĩ đại, lúc đầu viết về lý thuyết này như một mê tín, nhưng vào cuối đời, trong một tác phẩm được xuất bản sau khi ông qua đời, ông thừa nhận rằng chính ông tin vào nó. Vì vậy, rõ ràng nhiều bộ óc vĩ đại nhất đã giữ ý tưởng này, và chỉ riêng vì lý do đó, không thể gạt bỏ nó như một mê tín đơn thuần.

Some Misconceptions

Một Số Ngộ Nhận

Like other teachings, the doctrine of reincarnation has been very much corrupted and misunderstood. There has been a great deal of misconception due to the idea of metempsychosis   16    which was held in later days in Greece and Rome and also in India. Those who held this idea taught that it was possible for a very wicked man to be reborn in an animal body as a punishment for his sins. There is no foundation for that idea, and it has never been taught in the Mysteries or in the inner teaching of any religion.

Giống như các giáo huấn khác, giáo lý luân hồi đã bị làm sai lệch và hiểu lầm rất nhiều. Đã có rất nhiều ngộ nhận do ý tưởng chuyển sinh 16 vốn được giữ trong thời kỳ về sau ở Hy Lạp và La Mã cũng như ở Ấn Độ. Những người giữ ý tưởng này dạy rằng một người rất gian ác có thể tái sinh trong một thể động vật như một hình phạt cho tội lỗi của y. Không có nền tảng nào cho ý tưởng ấy, và nó chưa bao giờ được giảng dạy trong các Huyền Nhiệm hay trong giáo huấn nội môn của bất cứ tôn giáo nào.

It is perhaps not unnatural that it should have arisen. There are various indications that might be taken to suggest it; for instance, we very often see a person whose face recalls some kind of animal. It is not unnatural that uninstructed people should have imagined that such a one had been born in an animal body previously and had brought over some trace of it into his life. Then also some of the lower types of man distinctly show animal characteristics; cunning such as is attributed to the fox, ferocity such as is credited to the wolf, in fact, many qualities that are supposed to be typical of animals. It is not surprising that people should have thought that if a man showed such distinctly animal characteristics during his present life, he might find himself hereafter in a body more suitable for their expression. But there is no truth in that idea.

Có lẽ cũng không phải là điều không tự nhiên khi ý tưởng ấy nảy sinh. Có nhiều dấu hiệu khác nhau có thể được hiểu như gợi ý điều đó; chẳng hạn, chúng ta rất thường thấy một người có khuôn mặt gợi nhớ đến một loại động vật nào đó. Không lạ khi những người không được chỉ dạy tưởng rằng một người như vậy trước kia đã sinh ra trong một thể động vật và đã mang theo một dấu vết nào đó của nó vào đời sống của mình. Rồi cũng có một số loại người thấp kém bộc lộ rõ rệt các đặc tính động vật; sự xảo quyệt như được gán cho cáo, sự hung dữ như được gán cho sói, thật ra là nhiều phẩm tính được cho là tiêu biểu của động vật. Không đáng ngạc nhiên khi người ta nghĩ rằng nếu một người biểu lộ những đặc tính động vật rõ rệt như thế trong đời sống hiện tại, thì về sau y có thể thấy mình ở trong một thể thích hợp hơn để biểu lộ chúng. Nhưng không có sự thật nào trong ý tưởng ấy.

It is true that each man in one life reaps the result not only of his last life but of all his previous ones. They mold him in certain ways, and he receives a physical body capable of expressing the type of man that he is. It is therefore possible for a man by a very foolish or sensual, or perhaps by a very wicked, life to fall back somewhat, though not very much, even at the worst; a man who is capable of a very coarse, animal life is not in any case a highly evolved person, and therefore he does not throw himself very far back by living such a life. He does thereby reduce his chances of progress but, since the current of evolution always tends to help and not to hinder us, it is difficult for a man to behave so badly as to throw himself back to a much lower level of human life.

Đúng là mỗi người trong một đời sống gặt hái kết quả không chỉ của đời sống cuối cùng trước đó mà của tất cả các đời sống trước kia của y. Chúng uốn nắn y theo những cách nhất định, và y nhận một thể xác có khả năng biểu lộ loại người mà y là. Vì vậy, một người do một đời sống rất ngu dại hay nhục dục, hoặc có lẽ rất gian ác, có thể tụt lùi phần nào, dù ngay cả trong trường hợp xấu nhất cũng không nhiều lắm; một người có khả năng sống một đời sống rất thô thiển, thú tính thì trong bất cứ trường hợp nào cũng không phải là người tiến hoá cao, và do đó y không ném mình lùi lại quá xa bằng cách sống một đời như thế. Bằng điều đó, y quả có làm giảm cơ hội tiến bộ của mình, nhưng vì dòng tiến hoá luôn có xu hướng trợ giúp chứ không cản trở chúng ta, thật khó cho một người cư xử tệ đến mức ném mình trở lại một cấp độ thấp hơn nhiều của đời sống nhân loại.

So far as we have seen in the investigations we have made (and altogether we have examined many thousands of cases), it is absolutely impossible for any human being to throw himself back into a lower kingdom from which he came up thousands of years ago. But, it might be objected, a man who has just emerged from the animal kingdom might possibly throw himself back again. Not so, because the man who has just come out could not have the strength of will to be wicked enough to produce any such results, and the animal and human kingdoms are very definitely divided. Certainly there is a great deal of overlapping, but when an individual reaches the human kingdom, he receives a divine spark and cannot again relinquish it. A man belonging to a highly evolved race who lives an exceptionally evil life might be reborn in some less-evolved race; he might possibly throw himself back far enough to deserve birth in some primitive tribe, though such a man has already so many more interests, so much more capacity than the primitive man that it is doubtful if he could throw himself back into such an incarnation as that. But he certainly might, in exceptional circumstances, be reborn into surroundings where he would have not so good an opportunity of progress as he has now.

Theo những gì chúng tôi đã thấy trong các cuộc nghiên cứu đã thực hiện, và tổng cộng chúng tôi đã khảo sát nhiều ngàn trường hợp, thì tuyệt đối không thể có chuyện bất cứ hữu thể nhân loại nào ném mình trở lại một giới thấp hơn, nơi y đã đi lên từ hàng ngàn năm trước. Nhưng có thể có người phản đối rằng một người vừa mới nổi lên từ giới động vật có lẽ có thể ném mình trở lại đó. Không phải vậy, bởi vì người vừa mới đi ra ấy không thể có sức mạnh ý chí để trở nên gian ác đủ nhằm tạo ra bất cứ kết quả nào như thế, và giới động vật với giới nhân loại được phân chia rất rõ rệt. Chắc chắn có rất nhiều sự chồng lấn, nhưng khi một cá thể đạt tới giới nhân loại, y nhận một tia lửa thiêng liêng và không thể lại từ bỏ nó. Một người thuộc một nhân loại tiến hoá cao, sống một đời sống đặc biệt tà ác, có thể tái sinh trong một nhân loại kém tiến hoá hơn; y có thể ném mình lùi lại đủ xa để xứng đáng sinh ra trong một bộ lạc nguyên thuỷ nào đó, dù một người như vậy đã có quá nhiều mối quan tâm hơn, quá nhiều năng lực hơn người nguyên thuỷ, đến nỗi còn đáng ngờ liệu y có thể ném mình trở lại một lần nhập thể như thế hay không. Nhưng chắc chắn, trong những hoàn cảnh đặc biệt, y có thể tái sinh vào môi trường nơi y không có cơ hội tiến bộ tốt như hiện nay.

The old theory of falling back into animal life is an impossibility; we cannot do that because life is a continual progress and when once a man comes into existence as a human soul inhabiting a causal body, he can never again fall back into a lower kingdom of nature, whatever mistakes he may make, or however he may fail to take advantage of his opportunities. If he is idle in the school of life, he may need to take the same lesson over and over again before he has really learnt it; but still, on the whole, progress is steady, even though it may often be slow.

Lý thuyết cũ về việc rơi trở lại đời sống động vật là một điều bất khả; chúng ta không thể làm điều đó vì sự sống là một tiến bộ liên tục, và một khi con người đi vào hiện hữu như một linh hồn nhân loại cư ngụ trong thể nguyên nhân, y không bao giờ có thể lại rơi trở lại một giới thấp hơn của tự nhiên, dù y có thể phạm những sai lầm nào, hay dù y có thể không tận dụng được các cơ hội của mình đến đâu. Nếu y lười biếng trong trường đời, y có thể cần học đi học lại cùng một bài học trước khi y thật sự học được nó; nhưng dù vậy, xét chung, sự tiến bộ vẫn bền bỉ, cho dù thường có thể chậm chạp.

Reincarnation Solves Many Problems

Luân Hồi Giải Quyết Nhiều Vấn Đề

There are many problems in life which can be solved if we accept the idea of reincarnation, while they remain hopeless puzzles in any other theory. First of all, there is the awful problem of the different destinies of men. We talk about men being born free and equal. Are they? If we really think of it, we shall see very soon that they are not.

Có nhiều vấn đề trong đời sống có thể được giải quyết nếu chúng ta chấp nhận ý tưởng luân hồi, trong khi chúng vẫn là những bí ẩn vô vọng trong bất cứ lý thuyết nào khác. Trước hết, có vấn đề khủng khiếp về những vận mệnh khác nhau của con người. Chúng ta nói về việc con người sinh ra tự do và bình đẳng. Có thật vậy không? Nếu chúng ta thật sự suy nghĩ về điều đó, chúng ta sẽ rất nhanh chóng thấy rằng không phải vậy.

We must try to realize that the world is a school and that the savage is a young soul in a lower class of this world-school, whereas the civilized man is an older soul in a much higher class, and each is getting what he can appreciate and assimilate. One has passed through the lower stage long ago, and it is not unfair that he should have the higher chance now because he has earned it by working through the lower classes. It is not unfair that the savage should be in the lower class. It is no more unfair than that one child should be six and another twelve or sixteen. One is younger than the other, but he will one day grow up to be something comparable to what the other is now. We would not say a school is unjustly ruled because the small children are in one class and the bigger children are in another. That is exactly how it must be and how it ought to be.

Chúng ta phải cố gắng nhận ra rằng thế gian là một ngôi trường và người hoang dã là một linh hồn trẻ trong một lớp thấp của ngôi trường thế gian này, trong khi người văn minh là một linh hồn già hơn trong một lớp cao hơn nhiều, và mỗi người nhận được điều y có thể trân trọng và đồng hoá. Một người đã đi qua giai đoạn thấp từ lâu, và không bất công khi hiện nay y có cơ hội cao hơn vì y đã kiếm được nó bằng cách làm việc qua các lớp thấp hơn. Không bất công khi người hoang dã ở trong lớp thấp hơn. Điều đó không bất công hơn việc một đứa trẻ sáu tuổi còn đứa khác mười hai hay mười sáu tuổi. Một đứa trẻ nhỏ tuổi hơn đứa kia, nhưng một ngày nào đó nó sẽ lớn lên thành điều gì đó có thể so sánh với điều đứa kia hiện nay đang là. Chúng ta sẽ không nói rằng một ngôi trường được cai quản bất công vì các em nhỏ ở một lớp và các em lớn ở một lớp khác. Đó chính xác là cách mọi sự phải là và nên là.

Again, if we are to believe that there is only one life and that all eternity depends on that one life, it is utterly useless to talk about divine justice or to suppose that there is a beneficent Deity. That is the truth about it, if we face the facts; but people do not think of these things. The belief in reincarnation alone makes it possible for us to see things as they are and yet to hold the theory of absolute divine justice.

Một lần nữa, nếu chúng ta tin rằng chỉ có một đời sống và toàn bộ vĩnh cửu tùy thuộc vào một đời sống ấy, thì hoàn toàn vô ích khi nói về công lý thiêng liêng hay giả định rằng có một Thượng đế nhân từ. Đó là sự thật về điều ấy, nếu chúng ta đối diện với các sự kiện; nhưng người ta không nghĩ đến những điều này. Chỉ niềm tin vào luân hồi mới khiến chúng ta có thể thấy mọi sự như chúng là, mà vẫn giữ được lý thuyết về công lý thiêng liêng tuyệt đối.

Then take the question of the innate qualities of men. There is no doubt that some people are born cleverer than others. Those who have had anything to do with education know that in a school there are clever boys and stupid boys. It is not a question there of the age of the body. Some learn eagerly and quickly, others find it practically impossible to get along at all, and then, on the other hand, and perhaps as a sort of corollary to that, you also find that some are very quick along one line and exceedingly stupid along another.

Rồi hãy xét vấn đề các phẩm tính bẩm sinh của con người. Không nghi ngờ gì rằng một số người sinh ra thông minh hơn những người khác. Những ai từng liên quan đến giáo dục đều biết rằng trong một trường học có những cậu bé thông minh và những cậu bé chậm hiểu. Ở đó không phải là vấn đề tuổi của thể xác. Một số học một cách háo hức và nhanh chóng, những người khác hầu như thấy không thể tiến lên chút nào; rồi, mặt khác, và có lẽ như một hệ luận của điều đó, bạn cũng thấy rằng một số người rất nhanh nhạy theo một đường hướng và cực kỳ chậm hiểu theo một đường hướng khác.

Why? A man has practiced one of these things, and so he does it perfectly. The other thing he is attempting for the first time, and so he does it clumsily. It is quite natural when we grant that there are many lives.

Tại sao? Một người đã thực hành một trong những điều này, và vì vậy y làm nó một cách hoàn hảo. Điều kia y đang thử lần đầu tiên, và vì vậy y làm nó vụng về. Điều đó hoàn toàn tự nhiên khi chúng ta thừa nhận rằng có nhiều đời sống.

Takes the case of a genius. Mozart as a little boy of four years old could play beautifully and compose really splendid and difficult music. Haydn was also a composer at the age of ten. Now the business of making harmonies is to a certain extent a complicated matter. The ordinary man has to study for some years in order to do it perfectly, but Mozart as a little child four years of age composes, offhand, harmonies to which no one can take exception. How could that little child do that? Why should not every child be equally capable? The common explanation is that he came of a musical family. But some hundreds of people must have come from the same line of descent, and yet we do not get hundreds of famous musicians.

Hãy xét trường hợp của một thiên tài. Mozart khi còn là một cậu bé bốn tuổi đã có thể chơi đàn tuyệt đẹp và sáng tác âm nhạc thật sự rực rỡ, khó khăn. Haydn cũng là một nhà soạn nhạc ở tuổi mười. Hiện nay, công việc tạo nên các hòa âm ở một mức độ nào đó là một vấn đề phức tạp. Người bình thường phải học trong vài năm để làm điều đó một cách hoàn hảo, nhưng Mozart, khi còn là một đứa trẻ bốn tuổi, đã ứng khẩu sáng tác những hòa âm mà không ai có thể chê trách. Làm sao đứa trẻ nhỏ ấy có thể làm điều đó? Tại sao không phải mọi đứa trẻ đều có khả năng như nhau? Lời giải thích thông thường là ông xuất thân từ một gia đình âm nhạc. Nhưng phải có hàng trăm người xuất thân từ cùng một dòng dõi, thế mà chúng ta không có hàng trăm nhạc sĩ nổi tiếng.

The reason is perfectly clear. The man who is a genius along one line has worked along that line before. He knows how to compose music just precisely for the same reason that you and I know certain things. I know something about occultism and theology. Why? Because I have spent a great many years in the study of these things. It may be that you have meanwhile been immersed in business. It is not unfair that I know more about occultism and theology than you do. If it came to the question of business you would probably know more than I do, but that is not unfair because you have spent your life in business and you have acquired that faculty, whereas I have been acquiring others. In each case, we have the straightforward result of what we have done. A man is born with certain qualities and faculties because in other lives he has done certain things, and so he brings over a general familiarity with them, and interest in them, and a talent for them. That accounts for precocious children.

Lý do hoàn toàn rõ ràng. Người là thiên tài theo một đường hướng nào đó đã từng làm việc theo đường hướng ấy trước đây. Y biết cách sáng tác âm nhạc chính xác vì cùng lý do mà bạn và tôi biết một số điều. Tôi biết điều gì đó về huyền bí học và thần học. Tại sao? Vì tôi đã dành rất nhiều năm nghiên cứu những điều này. Có thể trong khi đó bạn đã chìm sâu trong kinh doanh. Không bất công khi tôi biết nhiều hơn bạn về huyền bí học và thần học. Nếu xét đến vấn đề kinh doanh, có lẽ bạn sẽ biết nhiều hơn tôi, nhưng điều đó không bất công vì bạn đã dành đời mình cho kinh doanh và bạn đã đạt được năng lực ấy, trong khi tôi đã đạt được những năng lực khác. Trong mỗi trường hợp, chúng ta có kết quả trực tiếp của những gì mình đã làm. Một người sinh ra với những phẩm tính và năng lực nhất định vì trong các đời sống khác y đã làm những điều nhất định, và vì vậy y mang theo một sự quen thuộc tổng quát với chúng, sự quan tâm đến chúng, và tài năng đối với chúng. Điều đó giải thích các trẻ em phát triển sớm.

Then there is the way in which we at once recognize certain things. I can remember quite well when the mystic teaching which is often called Theosophy first came to me; it was absolutely new to me, and yet as I read, I recognized point after point as the truth. I could not then have explained by argument how I knew it to be true, but I did know it. Many others probably have had similar experiences. Why? Because they too have studied these things in other lives, and the soul within them knows it. Again we meet a person and suddenly are strongly drawn to him. We know at once that we are going to like him and get on with him. Why? Because we have met that person before and he is a friend of old. And we have met other persons from whom we have instinctively recoiled. Why? Because we have met them before and perhaps they did us some injury or we ourselves did them some harm, and that is why we feel instinctively that we shall not get on with them.

Rồi có cách chúng ta lập tức nhận ra một số điều. Tôi còn nhớ rất rõ khi giáo huấn thần bí thường được gọi là Thông Thiên Học lần đầu đến với tôi; nó hoàn toàn mới đối với tôi, thế nhưng khi đọc, tôi nhận ra hết điểm này đến điểm khác là chân lý. Khi ấy tôi không thể dùng lý luận để giải thích làm sao tôi biết nó là thật, nhưng tôi đã biết. Có lẽ nhiều người khác cũng đã có những kinh nghiệm tương tự. Tại sao? Vì họ cũng đã nghiên cứu những điều này trong các kiếp sống khác, và linh hồn bên trong họ biết điều đó. Lại nữa, chúng ta gặp một người và đột nhiên bị thu hút mạnh mẽ về phía y. Chúng ta biết ngay rằng mình sẽ thích y và hòa hợp với y. Tại sao? Vì chúng ta đã gặp người ấy trước kia và y là một người bạn từ thuở xưa. Và chúng ta cũng đã gặp những người khác mà theo bản năng chúng ta lùi lại. Tại sao? Vì chúng ta đã gặp họ trước kia và có lẽ họ đã gây tổn thương cho chúng ta, hoặc chính chúng ta đã làm hại họ, và đó là lý do vì sao theo bản năng chúng ta cảm thấy mình sẽ không hòa hợp với họ.

There is another point which this theory explains. Why do great races die out in the world? Why did the glory that was Greece die out as well as the grandeur that was Rome? Why are some races apparently on the downward arc, their birth rate decreasing and fewer and fewer people appearing among them? There is a good reason for it. As I have said before, each race represents a class—a class in which certain lessons are taught. Some of the souls going to school in this world have already learnt all the lessons that a particular race has to teach, therefore they will not go back into it, and when all the Egos who need these lessons have passed through it, it is no longer required. Each soul goes where he can best acquire the teaching he especially needs. That is the scheme of evolution, therefore when its special lesson to the world has been given by a race, it begins to die out, but so long as there still remain souls who require that particular lesson that race will persist.

Có một điểm khác mà thuyết này giải thích. Tại sao những nhân loại vĩ đại lại tàn lụi trên thế giới? Tại sao vinh quang từng là Hy Lạp đã tàn lụi, cũng như sự huy hoàng từng là La Mã? Tại sao một số nhân loại dường như đang ở trên cung đi xuống, tỉ lệ sinh của họ giảm sút và ngày càng có ít người xuất hiện trong họ? Có một lý do chính đáng cho điều đó. Như tôi đã nói trước đây, mỗi nhân loại đại diện cho một lớp—một lớp trong đó những bài học nhất định được giảng dạy. Một số linh hồn đi học trong thế giới này đã học xong mọi bài học mà một nhân loại đặc thù phải dạy, vì vậy họ sẽ không trở lại trong đó nữa; và khi tất cả các Chân ngã cần những bài học ấy đã đi qua nó, nó không còn cần thiết nữa. Mỗi linh hồn đi đến nơi y có thể tiếp thu tốt nhất giáo huấn mà y đặc biệt cần. Đó là hệ thống tiến hoá; vì vậy khi bài học đặc biệt của một nhân loại dành cho thế giới đã được trao truyền, nó bắt đầu tàn lụi, nhưng chừng nào vẫn còn những linh hồn cần bài học đặc thù ấy, nhân loại đó sẽ còn tồn tại.

Various objections are made to the theory of reincarnation. People often say: “I could not possibly think of having another life. I have had such a lot of misery and suffering, I could not possibly endure another; it cannot be true.” But the universe is not arranged to suit our personal wishes, but to give us whatever is good for us in the way of evolution; so the mere fact that man thinks he could not possibly endure another life is no proof that he may not eventually have to take another. True, his strong desire in the matter would be a factor in holding him back from another incarnation for some time, but it would only be holding him back from the opportunity of learning the lessons he needs. The mere fact that he does not want to live again does not affect the case at all.

Nhiều phản đối khác nhau được đưa ra đối với thuyết tái sinh. Người ta thường nói: “Tôi không thể nào nghĩ đến việc có một kiếp sống khác. Tôi đã chịu quá nhiều khổ đau và đau đớn, tôi không thể nào chịu đựng thêm một kiếp nữa; điều đó không thể là thật.” Nhưng vũ trụ không được sắp đặt để chiều theo những ước muốn cá nhân của chúng ta, mà để trao cho chúng ta bất cứ điều gì tốt cho chúng ta theo đường lối tiến hoá; vì vậy, chỉ riêng việc con người nghĩ rằng y không thể nào chịu đựng một kiếp sống khác không phải là bằng chứng rằng cuối cùng y sẽ không phải nhận lấy một kiếp nữa. Đúng là ước muốn mạnh mẽ của y trong vấn đề này sẽ là một yếu tố giữ y lại khỏi một lần lâm phàm khác trong một thời gian, nhưng điều đó chỉ giữ y lại khỏi cơ hội học những bài học y cần. Chỉ riêng việc y không muốn sống lại hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến vấn đề.

Why We Do Not Remember Our Previous Lives

Tại Sao Chúng Ta Không Nhớ Các Kiếp Sống Trước

People often say: “Why do we not remember those other lives?” Why do we not remember, now, in this life, every day we spent in learning to read? We do not remember every stroke we made in learning to write, but we can write. We have acquired the faculty, but we have forgotten the details through which we learnt it. Now exactly the same thing is true with regard to reincarnation.

Người ta thường nói: “Tại sao chúng ta không nhớ những kiếp sống khác ấy?” Tại sao bây giờ, trong kiếp sống này, chúng ta không nhớ từng ngày mình đã trải qua khi học đọc? Chúng ta không nhớ từng nét bút mình đã viết khi học viết, nhưng chúng ta có thể viết. Chúng ta đã đạt được năng lực, nhưng đã quên những chi tiết qua đó mình học được năng lực ấy. Bây giờ, điều hoàn toàn tương tự cũng đúng đối với tái sinh.

That with which we remember is our mind. It is not the same mind that learnt those lessons of the past, because at every birth the soul puts itself down afresh and draws round it new astral matter, new mental matter, and a new physical body. Therefore, just as the body a man has now cannot recall the feelings of another body he had many hundreds of years ago, so his present mind cannot remember the detailed experiences of a life long ago when it did not exist; but the soul behind—the real man—remembers at his own level. He cannot make this physical brain of his remember down here, but he knows well enough at his own level what he can do. He can throw down into these lower vehicles the powers which he acquired in that previous life because these powers are drawn up into him, and when he puts himself down again he puts down the powers which he acquired as the result of all these lives, but he does not remember the details.

Cái mà nhờ đó chúng ta nhớ là thể trí của chúng ta. Nó không phải là cùng một thể trí đã học những bài học của quá khứ, vì trong mỗi lần sinh ra, linh hồn lại đặt mình xuống mới mẻ và thu hút quanh nó chất liệu cảm dục mới, chất liệu trí tuệ mới, và một thể xác mới. Vì vậy, cũng như thể xác mà một người hiện có không thể nhớ lại những cảm giác của một thể xác khác mà y đã có nhiều trăm năm trước, thể trí hiện tại của y cũng không thể nhớ những kinh nghiệm chi tiết của một kiếp sống xa xưa khi nó chưa tồn tại; nhưng linh hồn phía sau—con người thật—nhớ ở cấp độ riêng của y. Y không thể làm cho bộ não hồng trần này của y nhớ ở dưới đây, nhưng y biết rất rõ ở cấp độ riêng của y những gì y có thể làm. Y có thể đưa xuống các hiện thể thấp này những quyền năng mà y đã đạt được trong kiếp sống trước, vì những quyền năng ấy được thu hút lên vào y, và khi y lại đặt mình xuống, y đặt xuống những quyền năng mà y đã đạt được như kết quả của tất cả những kiếp sống ấy, nhưng y không nhớ các chi tiết.

At the same time there are a great many people who do remember. I am not referring to those who have been taught how to do it (as I was long ago in India), but I am thinking of people who do it naturally. Now and then we find children who do remember, chiefly when they have died in early childhood and have been reborn almost immediately. They will say, “I had another mother once.” They will describe this former mother and perhaps even remember her name.

Đồng thời có rất nhiều người thật sự nhớ. Tôi không nói đến những người đã được dạy cách làm điều đó, như tôi đã được dạy từ lâu ở Ấn Độ, mà tôi đang nghĩ đến những người làm điều đó một cách tự nhiên. Thỉnh thoảng chúng ta gặp những trẻ em thật sự nhớ, chủ yếu khi chúng đã chết trong thời thơ ấu và được tái sinh gần như ngay lập tức. Chúng sẽ nói: “Con từng có một người mẹ khác.” Chúng sẽ mô tả người mẹ trước kia này và có lẽ thậm chí nhớ cả tên bà.

In Eastern countries like Burma, it is not uncommon for children to remember their immediate past. I have investigated several cases of this sort where a child asserted that he had been born previously in such and such a village, perhaps fifty miles away. I have had the child taken to that village to see whether going to the spot would stimulate his memory, and it has done so very often. He has been able to point out the people whom he used to know and to call to memory things which proved he had lived there before.

Ở các nước phương Đông như Miến Điện, việc trẻ em nhớ quá khứ gần nhất của mình không phải là hiếm. Tôi đã điều tra vài trường hợp thuộc loại này, trong đó một đứa trẻ khẳng định rằng trước kia nó đã sinh ra ở làng nọ làng kia, có lẽ cách đó năm mươi dặm. Tôi đã cho đưa đứa trẻ đến làng ấy để xem việc đến đúng nơi có kích thích ký ức của nó không, và điều đó đã xảy ra rất thường. Nó đã có thể chỉ ra những người mà nó từng quen biết và nhớ lại những điều chứng minh rằng nó đã từng sống ở đó trước kia.

One should attach but little importance to claims by people to have been somebody of great power and influence in the past. For one reason because the person who was in a position of power in any incarnation must have made a very widespread karma—karma which acted on many hundreds of people and they must have reacted on him—and therefore such a person could never have an ordinary obscure life such as most of us have, because it would be useless to him. He (or she) would not be able to work out the karma which he had already made under such conditions. It is almost certain that he would be in some prominent position again, because only in that prominent position could such a tremendously mixed karma work itself out. We find that people of great distinction in the past were usually people of prominence in other lives.

Người ta chỉ nên xem nhẹ những tuyên bố của những người cho rằng họ từng là nhân vật có quyền lực và ảnh hưởng lớn trong quá khứ. Một lý do là vì người từng ở địa vị quyền lực trong bất cứ lần lâm phàm nào hẳn đã tạo ra một nghiệp quả rất rộng lớn—nghiệp quả tác động lên nhiều trăm người và họ hẳn đã phản ứng lại y—vì vậy một người như thế không bao giờ có thể có một đời sống bình thường, mờ nhạt như phần lớn chúng ta đang có, bởi điều đó sẽ vô ích đối với y. Y, hoặc bà, sẽ không thể thanh toán nghiệp quả mà y đã tạo ra dưới những điều kiện như vậy. Gần như chắc chắn rằng y sẽ lại ở một địa vị nổi bật nào đó, vì chỉ trong địa vị nổi bật ấy một nghiệp quả pha trộn khổng lồ như thế mới có thể tự thanh toán. Chúng ta thấy rằng những người có sự nổi bật lớn trong quá khứ thường là những người nổi bật trong các kiếp sống khác.

Intervals between Lives

Khoảng Cách Giữa Các Kiếp Sống

There are two great groups of people among those who are likely to incarnate in the more advanced races, one of them taking an interval of about 1000 to 1200 years between births and the other about 700 years. But those are averages, and a great many take very much shorter periods than that. It depends upon a very large number of different factors. Our examination of the subject has shown us that, and there may well be other factors we have not yet discovered. But it is quite certain that there can be very large variations.

Có hai nhóm lớn trong số những người có khả năng lâm phàm trong các nhân loại tiến bộ hơn, một nhóm lấy khoảng cách chừng 1000 đến 1200 năm giữa các lần sinh, và nhóm kia chừng 700 năm. Nhưng đó là các mức trung bình, và rất nhiều người lấy những giai đoạn ngắn hơn nhiều. Điều đó tùy thuộc vào một số lượng rất lớn các yếu tố khác nhau. Việc khảo sát đề tài này đã cho chúng ta thấy như vậy, và rất có thể còn có những yếu tố khác mà chúng ta chưa khám phá. Nhưng chắc chắn rằng có thể có những biến thiên rất lớn.

Those who are less developed come back very much sooner because it is the wearing out first of the astral vehicle and secondly of the mental vehicle that takes up the interval between lives. The people who have very little mentality come back very quickly because there is little or no time spent in using up their mental processes. That is why, although their number is actually not as large as it appears to be, there seems to be such an enormous preponderance of undeveloped people in the world. There are, in fact, many more highly developed Egos than one would suppose, but they come back at longer intervals.

Những người kém phát triển hơn trở lại sớm hơn rất nhiều, vì chính sự hao mòn trước hết của hiện thể cảm dục và thứ hai của hiện thể trí tuệ chiếm lấy khoảng cách giữa các kiếp sống. Những người có rất ít trí lực trở lại rất nhanh, vì có rất ít hoặc không có thời gian dành cho việc tiêu hao các tiến trình trí tuệ của họ. Đó là lý do vì sao, mặc dù số lượng của họ thực sự không lớn như vẻ ngoài, dường như có một sự vượt trội khổng lồ của những người chưa phát triển trên thế giới. Thật ra có nhiều Chân ngã phát triển cao hơn người ta tưởng, nhưng họ trở lại với những khoảng cách dài hơn.

For myself, I believe in reincarnation, or rather I know it is true, because I have been taught to look back into previous lives of my own. I have proved to myself that I was not hallucinating, or dreaming, or imagining things by having been able to verify certain facts. I have been able, for example, to complete certain inscriptions, parts of which were missing, and I have been able, in a number of instances, to supply certain details with regard to early times which could only have been explained by personal memory of the case.

Về phần tôi, tôi tin vào tái sinh, hay đúng hơn, tôi biết nó là thật, vì tôi đã được dạy nhìn lại các kiếp sống trước của chính mình. Tôi đã chứng minh cho chính mình rằng tôi không bị ảo giác, không mơ, cũng không tưởng tượng ra sự việc, bằng việc có thể kiểm chứng một số sự kiện. Chẳng hạn, tôi đã có thể hoàn tất một số minh văn, những phần của chúng bị thiếu, và trong nhiều trường hợp, tôi đã có thể cung cấp một số chi tiết liên quan đến những thời xa xưa, vốn chỉ có thể được giải thích bằng ký ức cá nhân về sự việc.

7 — 7

The Just Law — Định Luật Công Bằng

It is a fundamental article in our Liberal Catholic teaching that perfect justice rules the world. We have heard a great deal about “God’s holy law that changes not,” the law of karma, of cause and effect, of action and reaction, or of readjustment; and those who have succeeded to some extent in opening the faculties of the soul (and have thereby obtained the power to see upon other planes than the physical) have seen enough to convince them of its existence and of the perfection of its working.

Đó là một điều căn bản trong giáo huấn Công giáo Tự do của chúng ta rằng sự công bằng hoàn hảo cai quản thế giới. Chúng ta đã nghe rất nhiều về “định luật thánh thiện của Thượng đế không đổi thay”, định luật nghiệp quả, định luật nhân và quả, hành động và phản động, hay điều chỉnh lại; và những ai đã thành công đến một mức nào đó trong việc mở ra các năng lực của linh hồn, và nhờ đó đạt được quyền năng thấy trên các cõi khác hơn cõi hồng trần, đã thấy đủ để thuyết phục họ về sự tồn tại của nó và về sự hoàn hảo trong cách vận hành của nó.

Those who do not yet see on higher planes will realize, if they will follow the argument out logically and carefully, that this law is a necessity. It is a great truth that “God is not mocked” and that “as a man soweth so shall he also reap” [Gal. 6:7]. Even without the inner sight one may arrive at a reasonable certainty with regard to the fact of this law. But as to the method of its working little is known, and it is not easy for us to form even a rudimentary conception upon the subject.

Những ai chưa thấy trên các cõi cao hơn sẽ nhận ra, nếu họ theo dõi lập luận một cách hợp lý và cẩn thận, rằng định luật này là một tất yếu. Đó là một chân lý lớn lao rằng “Thượng đế không để cho người ta nhạo báng” và rằng “ai gieo giống nào thì cũng sẽ gặt giống ấy” [Gal. 6:7]. Ngay cả không có linh thị bên trong, người ta vẫn có thể đạt đến một sự chắc chắn hợp lý về sự kiện của định luật này. Nhưng về phương pháp vận hành của nó thì người ta biết rất ít, và không dễ gì cho chúng ta hình thành dù chỉ một quan niệm sơ đẳng về đề tài này.

We know that its administration is in the hands of the four great beings who in India are called the four devarajas (or Angel Kings). Sometimes they are spoken of as the Four Regents of the earth or of the elements, or sometimes of the four quarters of the globe. Sir Edwin Arnold speaks of them in that way in The Light of Asia.   17    A poetical oriental description, you may say; yet it has a definite foundation in fact. The form in which it is cast is obviously traditional—a sort of fairy tale; but there is a fact behind it.

Chúng ta biết rằng việc quản trị nó nằm trong tay bốn hữu thể vĩ đại mà ở Ấn Độ được gọi là bốn thiên thần vương, hay các Vua Thiên Thần. Đôi khi các Ngài được nói đến như Bốn Vị Nhiếp Chính của Trái Đất hay của các nguyên tố, hoặc đôi khi của bốn phương của bầu hành tinh. Ngài Edwin Arnold nói về các Ngài theo cách ấy trong Ánh Sáng Á Châu. 17 Các bạn có thể nói đó là một mô tả phương Đông đầy thi vị; thế nhưng nó có một nền tảng xác định trong sự kiện. Hình thức trong đó nó được trình bày rõ ràng là truyền thống—một loại truyện thần tiên; nhưng phía sau nó có một sự kiện.

Both the prophet Ezekiel and the evangelist St. John speak of these lipika    18    as living wheels of fire full of eyes within, or as the Four Creatures round the throne of God [Ezek. 1:18; Rev. 4:6, 8]. They are the Holy Ones for whom, and for their armies, fohat    19    builds the four winged wheels. Madame Blavatsky writes of them in The Secret Doctrine:

Cả tiên tri Êdêkien lẫn thánh sử Thánh Gioan đều nói về các vị ghi chép nghiệp quả    18 này như những bánh xe lửa sống động đầy mắt ở bên trong, hay như Bốn Sinh Vật quanh ngai của Thượng đế [Ezek. 1:18; Rev. 4:6, 8]. Các Ngài là những Đấng Thánh mà vì các Ngài và vì các đạo quân của các Ngài, điện lực vũ trụ    19 xây dựng bốn bánh xe có cánh. Bà Blavatsky viết về các Ngài trong Giáo Lý Bí Nhiệm:

These are the “Four Maharajas,” or great Kings, of the Dhyan Chohans, the Devas, who preside each over one of the four cardinal points. They are the Regents, or Angels, who rule over the Cosmical Forces of North, South, East and West, Forces having each a distinct occult property. These beings are also connected with Karma, as the latter needs physical and material agents to carry out its degree, such as the four kinds of winds, for instance, professedly admitted by science to have their respective evil and beneficent influences upon the health of mankind and every living thing.

Đây là “Bốn Maharaja”, hay các vị Vua vĩ đại, của các Dhyan Chohan, các thiên thần, mỗi vị chủ trì một trong bốn phương chính. Các Ngài là những Vị Nhiếp Chính, hay Thiên Thần, cai quản các Mãnh Lực Vũ Trụ của Bắc, Nam, Đông và Tây, những Mãnh Lực mà mỗi mãnh lực có một đặc tính huyền bí riêng biệt. Các hữu thể này cũng liên hệ với Nghiệp quả, vì Nghiệp quả cần những tác nhân hồng trần và vật chất để thi hành sắc lệnh của nó, chẳng hạn như bốn loại gió, vốn được khoa học công khai thừa nhận là có những ảnh hưởng tà hại và lợi ích tương ứng lên sức khỏe của nhân loại và mọi sinh vật.

Vossius   20    writes to the same effect:

Vossius   20 viết cùng một ý như vậy:

Though St. Augustine has said that every visible thing in this world has an angelic virtue as an overseer near it, it is not individuals but entire species of things that must be understood, each such species having indeed its particular Angel to watch it.

Mặc dù Thánh Augustine đã nói rằng mỗi vật hữu hình trong thế giới này đều có một đức năng thiên thần làm vị giám sát ở gần nó, không nên hiểu là từng cá thể riêng lẻ mà là toàn bộ các loài sự vật, mỗi loài như thế thật sự có vị Thiên Thần riêng để trông coi nó.

All these descriptions are incomprehensible to many, and yet no one who has seen these strange and wondrous potencies can doubt for a moment, reading these accounts, that those men of old had seen them too. But even this vivid description gives us no hint of the manner of their actions, of the way in which they do their wonderful work.

Tất cả những mô tả này đều khó hiểu đối với nhiều người, thế nhưng không ai đã từng thấy những tiềm năng kỳ lạ và kỳ diệu này lại có thể nghi ngờ dù chỉ trong khoảnh khắc, khi đọc các tường thuật ấy, rằng những người xưa kia cũng đã thấy các Ngài. Nhưng ngay cả mô tả sống động này cũng không cho chúng ta gợi ý nào về cách thức hành động của các Ngài, về cách các Ngài thực hiện công việc kỳ diệu của mình.

They are “full of eyes within,” typifying unceasing watchfulness on all planes and in all dimensions; yet they never see the millions of human beings for whom they legislate with such amazing accuracy—never see them, I mean, as beings, as individuals, as entities of any kind. How, then do they see them, and how do they carry out their work?

Các Ngài “đầy mắt ở bên trong”, biểu trưng cho sự canh chừng không ngừng trên mọi cõi và trong mọi chiều kích; thế nhưng các Ngài không bao giờ thấy hàng triệu con người mà các Ngài lập luật cho với sự chính xác đáng kinh ngạc như thế—ý tôi là, không bao giờ thấy họ như những hữu thể, như các cá nhân, như các thực thể thuộc bất cứ loại nào. Vậy thì các Ngài thấy họ như thế nào, và các Ngài thực hiện công việc của mình ra sao?

A Stupendous Mathematical Problem

Một Bài Toán Vĩ Đại Đến Choáng Ngợp

Perhaps the nearest that we can come to the truth is to say that to the lipika the whole of our evolution is a stupendous mathematical problem, a vast equation to be solved, a sum so immense that all heaven and earth are but the slate upon which it is written; and that in that vast sum each man is a little subsidiary calculation, a tiny yet quite necessary part of that inconceivable whole, a single item in a colossal celestial account—infinitesimal in itself and yet indispensable to the balance and symmetry of that tremendous total, and therefore to be treated with the uttermost care and respect and worked out with meticulous accuracy.

Có lẽ điều gần nhất mà chúng ta có thể nói về chân lý là đối với các vị ghi chép nghiệp quả, toàn bộ tiến hoá của chúng ta là một bài toán vĩ đại đến choáng ngợp, một phương trình bao la phải được giải, một phép tính lớn đến nỗi cả trời và đất chỉ là tấm bảng trên đó nó được viết; và trong phép tính bao la ấy, mỗi con người là một phép tính phụ nhỏ bé, một phần rất nhỏ nhưng hoàn toàn cần thiết của toàn thể không thể quan niệm nổi ấy, một mục đơn lẻ trong một bản kế toán thiên giới khổng lồ—vô cùng nhỏ bé tự nó, nhưng không thể thiếu cho sự cân bằng và đối xứng của tổng thể khủng khiếp ấy, và vì vậy phải được đối xử với sự cẩn trọng và tôn trọng tột cùng, và được tính toán với độ chính xác tỉ mỉ.

That is no doubt a somewhat mechanical view, but we must observe that this law of karma is one of the great laws of nature, that it does thus act mechanically, and that there is a close and real analogy between it and the mathematical idea. When the One becomes many, when the Logos puts Himself down into matter, He may be said to state that prodigious problem. Indeed, He makes an almost infinite number of separate statements which He throws forth in ever greater and greater quantity as the universe passes onward; and all these influence one another, borrow factors one from another, act and react upon one another creating ever-increasing complexities until all possible combinations and permutations have been made, until the fullest expression has been attained. This is the pravritti marga, the Path of Outgoing.

Không nghi ngờ gì, đó là một quan điểm hơi máy móc, nhưng chúng ta phải quan sát rằng định luật nghiệp quả này là một trong những định luật lớn của thiên nhiên, rằng nó thật sự hành động một cách máy móc như thế, và rằng có một sự tương đồng gần gũi và thực sự giữa nó với ý niệm toán học. Khi Đấng Duy Nhất trở thành nhiều, khi Thượng đế đặt Chính Ngài xuống vào vật chất, có thể nói rằng Ngài nêu ra bài toán phi thường ấy. Thật vậy, Ngài tạo ra một số lượng gần như vô hạn các phát biểu riêng biệt mà Ngài phóng ra với số lượng ngày càng lớn hơn khi vũ trụ tiến tới; và tất cả những điều này ảnh hưởng lẫn nhau, mượn các yếu tố của nhau, tác động và phản tác động lên nhau, tạo nên những phức tạp ngày càng tăng cho đến khi mọi kết hợp và hoán vị khả hữu đã được thực hiện, cho đến khi sự biểu lộ đầy đủ nhất đã đạt được. Đây là con đường xuất ly, Con Đường Đi Ra.

When this has been trodden, when its results have been fully achieved, then commences the nivritti marga, the Path of Return—the process of simplification and solution. Each minor equation balances itself, cancels itself out; one by one these are withdrawn as men attain adept-ship, until finally all is withdrawn; the great effort is over, the Hidden Work is done, and nothing is left upon the lower planes. Each one who achieves adeptship reduces the complexity and lessens the pressure for all the others until finally all is balanced; the operation has succeeded, the harvest is garnered, the victory is won, the purpose of the Logos is accomplished in the consummation of the ages.

Khi con đường này đã được bước đi, khi các kết quả của nó đã được hoàn thành trọn vẹn, bấy giờ bắt đầu con đường trở về, Con Đường Trở Về—tiến trình đơn giản hóa và giải quyết. Mỗi phương trình nhỏ tự cân bằng, tự triệt tiêu; từng cái một được rút lại khi con người đạt đến địa vị chân sư, cho đến cuối cùng tất cả được rút lại; nỗ lực vĩ đại đã kết thúc, Công Việc Ẩn Tàng đã hoàn thành, và không còn gì sót lại trên các cõi thấp. Mỗi người đạt đến địa vị chân sư đều làm giảm sự phức tạp và giảm bớt áp lực cho tất cả những người khác, cho đến cuối cùng tất cả được cân bằng; công cuộc đã thành công, mùa gặt đã được thu vào, chiến thắng đã đạt được, mục đích của Thượng đế được hoàn thành trong sự viên mãn của các thời đại.

That statement of karma may be new to some, but I think it will be found an illuminative statement; and if we follow it out carefully and fully it will be seen that the analogy is a close and real one. I do not know the higher mathematics sufficiently well to trace it fully, but I am sure that along that line there is illumination to be attained. As Pythagoras said long ago, “God geometrizes,” and he will surely get some hint who thinks of man the variable, always drawing nearer and nearer to the limit, but never fully touching it—if he thinks of the different variables and of the constantly changing relation between them which in mathematics is called the differential, which has to be calculated at every moment by these great Lords of Karma.

Cách trình bày ấy về nghiệp quả có thể mới mẻ đối với một số người, nhưng tôi nghĩ nó sẽ được thấy là một cách trình bày soi sáng; và nếu chúng ta theo dõi nó một cách cẩn thận và đầy đủ, sẽ thấy sự tương đồng là gần gũi và thực sự. Tôi không biết toán học cao cấp đủ rõ để lần theo nó trọn vẹn, nhưng tôi chắc chắn rằng theo đường lối ấy có sự soi sáng để đạt được. Như Pythagoras đã nói từ lâu: “Thượng đế hình học hóa”, và người suy nghĩ về con người như một biến số, luôn luôn tiến gần hơn và gần hơn đến giới hạn nhưng không bao giờ hoàn toàn chạm đến nó—nếu y nghĩ đến các biến số khác nhau và mối tương quan luôn thay đổi giữa chúng, điều mà trong toán học được gọi là vi phân, vốn phải được các Chúa Tể vĩ đại của Nghiệp quả này tính toán từng khoảnh khắc—chắc chắn sẽ nhận được một gợi ý nào đó.

Meantime we are in the midst of all this intricate calculation and far as yet from that great fulfillment. Each man is still striving to find expression for himself—that full expression of what the Logos means him to be which is needed for the realization of the Divine Plan. And because as yet we are so far from the goal, man finds his expression often in unbalanced forms, in incomplete statements, leaving many reactions for the present unsatisfied, putting aside one part of the sum until another has been worked out.

Trong khi đó, chúng ta đang ở giữa tất cả phép tính phức tạp này và còn xa sự thành tựu vĩ đại ấy. Mỗi người vẫn đang cố gắng tìm sự biểu lộ cho chính mình—sự biểu lộ đầy đủ của điều mà Thượng đế muốn y trở thành, vốn cần thiết cho sự thực hiện Thiên Cơ. Và vì chúng ta vẫn còn rất xa mục tiêu, con người thường tìm thấy sự biểu lộ của mình trong những hình thức mất cân bằng, trong những phát biểu chưa hoàn chỉnh, để lại nhiều phản ứng hiện tại chưa được thỏa mãn, gác lại một phần của phép tính cho đến khi phần khác đã được giải quyết.

The whole problem with all its manifold ramifications is before the lipika; that is their work, and they are fully competent to deal with it. But they can give it to us only bit by bit as we come to it and as we are capable of handling it.

Toàn bộ vấn đề với mọi nhánh rẽ đa dạng của nó ở trước các vị ghi chép nghiệp quả; đó là công việc của các Ngài, và các Ngài hoàn toàn đủ năng lực để xử lý nó. Nhưng các Ngài chỉ có thể trao nó cho chúng ta từng chút một khi chúng ta đi đến đó và khi chúng ta có khả năng xử lý nó.

As each man ends his life in the heaven-world, they glance over the state of his account and its relation to scores—perhaps hundreds—of other accounts around it; and they at once decide for him two things—the kind of physical body which he has earned for his next birth and the amount of karma that he can work out during the forthcoming incarnation. This latter is his prarabdha karma, the destiny which he has to work out during that life.

Khi mỗi người kết thúc đời sống của mình trong thiên giới, các Ngài nhìn qua tình trạng tài khoản của y và mối liên hệ của nó với hàng chục—có lẽ hàng trăm—tài khoản khác quanh nó; và các Ngài lập tức quyết định cho y hai điều—loại thể xác mà y đã xứng đáng nhận cho lần sinh kế tiếp và lượng nghiệp quả mà y có thể thanh toán trong lần lâm phàm sắp tới. Điều sau là nghiệp quả phải trả của y, số phận mà y phải thanh toán trong đời sống ấy.

The design of the future body is thrown out in the shape of a thought-form into which, as into a mold, the matter of his etheric body will be poured; the prescribed karma presents itself as a mathematical problem to be solved by the legion of agents of the lipika on the various planes who have to find suitable methods for its application. In each birth some advancement is made towards the working out of the greater problem, and some of its factors are resolved; but necessarily in this process fresh karma is generated and certain new factors are introduced which have to be resolved or adjusted in turn. Often some sort of surd or apparently irreducible quantity will be left over and will have to be handed on from life to life until some factor turns up which will balance or absorb it. Sometimes quite a large amount of entirely fresh, but reducible, karma has to be introduced in order to get rid of that surd—thus creating fresh complications in order to solve others, but always bringing the whole nearer to the final solution.

Thiết kế của thể tương lai được phóng ra dưới hình dạng một hình tư tưởng, vào đó, như vào một khuôn đúc, chất liệu của thể dĩ thái của y sẽ được rót vào; nghiệp quả đã được ấn định tự trình hiện như một bài toán phải được giải bởi đạo quân tác nhân của các vị ghi chép nghiệp quả trên các cõi khác nhau, những vị phải tìm các phương pháp thích hợp cho việc áp dụng nó. Trong mỗi lần sinh, có một số tiến bộ được thực hiện hướng tới việc giải quyết vấn đề lớn hơn, và một số yếu tố của nó được giải quyết; nhưng tất yếu trong tiến trình này nghiệp quả mới được tạo ra và một số yếu tố mới được đưa vào, vốn đến lượt chúng phải được giải quyết hoặc điều chỉnh. Thường thì một loại số vô tỉ hay một lượng dường như không thể giản lược nào đó sẽ còn sót lại và phải được chuyển từ đời này sang đời khác cho đến khi xuất hiện một yếu tố nào đó có thể cân bằng hoặc hấp thụ nó. Đôi khi một lượng khá lớn nghiệp quả hoàn toàn mới, nhưng có thể giản lược, phải được đưa vào để loại bỏ lượng vô tỉ ấy—như vậy tạo ra những phức tạp mới nhằm giải quyết những phức tạp khác, nhưng luôn luôn đưa toàn bộ đến gần hơn với lời giải cuối cùng.

Thus it is that these great Lords of Karma envisage the magnificent task which is entrusted to them; complexity which no human mind could grasp is simplicity to them. All is absolutely impersonal, for they see men only as equations, and the law which they administer works with flawless accuracy. Remember how it is said in The Light of Asia:

Như vậy, các Chúa Tể vĩ đại của Nghiệp quả hình dung nhiệm vụ huy hoàng được giao phó cho các Ngài; sự phức tạp mà không thể trí con người nào nắm bắt được lại là sự đơn giản đối với các Ngài. Tất cả đều tuyệt đối phi cá nhân, vì các Ngài chỉ thấy con người như các phương trình, và định luật mà các Ngài quản trị vận hành với sự chính xác không tì vết. Hãy nhớ điều được nói trong Ánh Sáng Á Châu:

It knows not wrath nor pardon; utter-true

Nó không biết giận dữ cũng chẳng biết tha thứ; chân thật tuyệt đối,

Its measures mete, its faultless balance weighs;

Các thước đo của nó đo lường, cán cân không lỗi của nó cân định;

Times are as nought, to-morrow it will judge,

Thời gian chẳng là gì, ngày mai nó sẽ phán xét,

Or after many days.

Hoặc sau nhiều ngày.

Their ingenuity is taxed, if we can reverently put it in that way, to find the readiest solution for each man’s problem, giving due consideration to all the myriad influences involved and ever taking heed that the weight of long-past evil shall not press too hardly in any one incarnation and so defeat the ultimate object of human evolution.

Sự khéo léo của các Ngài được vận dụng, nếu chúng ta có thể kính cẩn nói như vậy, để tìm lời giải sẵn nhất cho vấn đề của mỗi người, cân nhắc đúng mức mọi ảnh hưởng vô số liên quan, và luôn lưu ý rằng sức nặng của điều ác đã qua từ lâu không được đè nặng quá mức trong bất cứ lần lâm phàm nào, đến nỗi làm thất bại mục tiêu tối hậu của tiến hoá nhân loại.

When the end is reached, perfect justice has been done to all even in the most minute particular. But that very fact implies that to our consciousness, limited as it is by our illusion of space and time, there must be intermediate points at which justice is not yet complete, at which we still have many debts to pay to others and many compensations to receive from them. Observing this, as sometimes we must, let us not allow ourselves to be misled by the appearance of the moment into doubting the perfect working of the Divine Law. Be sure that it is there. “Though the mills of God grind slowly, yet they grind exceeding small.”   21    

Khi đến điểm cuối, sự công bằng hoàn hảo đã được thực hiện cho tất cả, ngay cả trong chi tiết nhỏ nhất. Nhưng chính sự kiện ấy hàm ý rằng đối với tâm thức của chúng ta, vốn bị giới hạn bởi ảo tưởng của chúng ta về không gian và thời gian, hẳn phải có những điểm trung gian tại đó công lý chưa hoàn tất, tại đó chúng ta vẫn còn nhiều món nợ phải trả cho người khác và nhiều sự đền bù phải nhận từ họ. Khi quan sát điều này, như đôi khi chúng ta phải làm, chúng ta đừng để mình bị vẻ ngoài của khoảnh khắc dẫn lầm đến chỗ nghi ngờ sự vận hành hoàn hảo của Định luật Thiêng Liêng. Hãy chắc chắn rằng nó có đó. “Dù cối xay của Thượng đế nghiền chậm, nhưng chúng nghiền cực kỳ mịn.” 21

But it is only at the end that the perfect consummation shall be seen. Yet all the way through, at every point, unsleeping vigilance is being exercised. Every man has his little quota to contribute to this great sum; every man is a necessary part of that august and sacred plan. Therefore it is that we lean upon His justice as upon a pillar of His throne; therefore we know that all is well even when roads are rough and skies seem dark; for behind all clouds shines always the Sun of Righteousness and above our heads gleams ever the Star of the King.

Nhưng chỉ ở đoạn cuối sự viên mãn hoàn hảo mới được thấy. Tuy nhiên suốt dọc đường, tại mọi điểm, sự canh chừng không ngủ đang được thực hiện. Mỗi người có phần nhỏ của mình để đóng góp vào phép tính lớn này; mỗi người là một phần cần thiết của Thiên Cơ uy nghiêm và thiêng liêng ấy. Vì vậy chúng ta nương tựa vào sự công bằng của Ngài như nương tựa vào một trụ cột của ngai Ngài; vì vậy chúng ta biết rằng tất cả đều tốt đẹp ngay cả khi đường gập ghềnh và bầu trời có vẻ tối tăm; vì phía sau mọi đám mây luôn tỏa sáng Mặt Trời của Chính Trực, và trên đầu chúng ta mãi lấp lánh Ngôi Sao của Vị Vua.

God’s Justice Surest Proof of His Love

Sự Công Bằng của Thượng Đế là Bằng Chứng Chắc Chắn Nhất về Tình Thương của Ngài

God’s eternal justice, working through His mighty law of cause and effect, is one of the surest proofs of His love, because without that law of eternal justice we should never know what would be the result of any of our thoughts and words and actions. We should live in a chaos of ignorance and misery. It is the inevitability of that great law of cause and effect, that “whatsoever a man soweth that shall he also reap,” which enables us to plan our own future with absolute certainty and so to obey His command that we shall presently become “perfect even as [our] Father in heaven is perfect” [Matt. 5:48]. That is a high ideal for any man to set before himself, but the Christ Himself has said it, and He never told His people to do that which was impossible for them. It would indeed be impossible if we had only this single life and had to achieve this ideal in a limited and circumscribed time; but when we realize that we have all time before us and that all things work together for good to them that love God; when we learn that we may come back into earth life again and again so that the temptation which has been too much for us in one life may be vanquished in another, we understand how it is possible for man at last to become perfect. We see how every man will finally attain what God means him to attain, no matter how far away he may seem to be straying from the path.

Sự công bằng vĩnh cửu của Thượng đế, vận hành qua định luật hùng mạnh của Ngài về nhân và quả, là một trong những bằng chứng chắc chắn nhất về tình thương của Ngài, vì nếu không có định luật công bằng vĩnh cửu ấy, chúng ta sẽ không bao giờ biết kết quả của bất cứ tư tưởng, lời nói và hành động nào của mình sẽ là gì. Chúng ta sẽ sống trong một hỗn mang của vô minh và khổ đau. Chính tính tất yếu của định luật lớn về nhân và quả ấy, rằng “bất cứ điều gì một người gieo, y cũng sẽ gặt điều ấy”, cho phép chúng ta hoạch định tương lai của chính mình với sự chắc chắn tuyệt đối, và do đó vâng theo mệnh lệnh của Ngài rằng rốt cuộc chúng ta sẽ trở nên “hoàn hảo như Cha của các ngươi trên trời là hoàn hảo” [Matt. 5:48]. Đó là một lý tưởng cao cả để bất cứ người nào đặt trước chính mình, nhưng chính Đức Christ đã nói điều đó, và Ngài không bao giờ bảo dân của Ngài làm điều gì bất khả đối với họ. Điều đó quả thật sẽ bất khả nếu chúng ta chỉ có một kiếp sống duy nhất này và phải đạt lý tưởng ấy trong một thời gian giới hạn và bị vây hãm; nhưng khi chúng ta nhận ra rằng chúng ta có toàn bộ thời gian trước mặt và rằng mọi sự cùng làm việc cho điều thiện đối với những ai yêu Thượng đế; khi chúng ta học rằng chúng ta có thể trở lại đời sống trần gian hết lần này đến lần khác, để cám dỗ đã quá sức đối với chúng ta trong một kiếp có thể bị chinh phục trong một kiếp khác, chúng ta hiểu làm thế nào cuối cùng con người có thể trở nên hoàn hảo. Chúng ta thấy làm thế nào mỗi người cuối cùng sẽ đạt được điều Thượng đế muốn y đạt, bất kể y dường như đang lạc xa khỏi con đường đến mức nào.

Those who are called the wicked are young souls who do things they should not do because they are young and ignorant. They make mistakes because they know no better. When these souls grow up, they will know more, so that those who are now wicked or careless men will be the good men of the future. No man is forced, no man is driven, except insofar as the eternal law of cause and effect brings inconvenience and suffering as the result of deviation from the path; and so at last by slow degrees the soul learns that he must control his bodies and prevent them from controlling him, from doing such things as will bring him into difficulties in the future. To that extent he is driven by the action of the universal law, but otherwise God interferes with no man. Our choice is free; we have more and more free will given to us as we grow better and stronger. As we ascend higher and higher on the ladder of evolution, more and more power is given to us. Only a little power is given at first, lest if we misuse it we should wreck ourselves altogether. It is like a little child learning to walk. The mother must let it try; she knows it will fall, but she takes care that it may fall softly. In the same way, the young soul will inevitably make mistakes, but the amount of free will given is not enough to allow him to wreck himself, but just enough for him to learn by experience what he should do and what he should not do.

Những người được gọi là kẻ ác là các linh hồn trẻ, làm những điều họ không nên làm vì họ trẻ và vô minh. Họ phạm sai lầm vì họ không biết gì hơn. Khi các linh hồn này lớn lên, họ sẽ biết nhiều hơn, để những người hiện nay là kẻ ác hay người bất cẩn sẽ là những người tốt của tương lai. Không ai bị cưỡng ép, không ai bị thúc ép, ngoại trừ trong chừng mực định luật vĩnh cửu của nhân và quả đem đến bất tiện và đau khổ như kết quả của sự lệch khỏi con đường; và như vậy cuối cùng, từng bước chậm rãi, linh hồn học được rằng y phải kiểm soát các thể của mình và ngăn chúng kiểm soát y, ngăn chúng làm những điều sẽ đưa y vào khó khăn trong tương lai. Đến mức đó, y bị thúc đẩy bởi tác động của định luật vũ trụ, nhưng ngoài ra Thượng đế không can thiệp vào bất cứ người nào. Sự lựa chọn của chúng ta là tự do; chúng ta được trao ngày càng nhiều tự do ý chí hơn khi chúng ta trở nên tốt đẹp hơn và mạnh mẽ hơn. Khi chúng ta đi lên ngày càng cao trên chiếc thang tiến hoá, ngày càng nhiều quyền năng được trao cho chúng ta. Ban đầu chỉ trao một ít quyền năng, e rằng nếu chúng ta lạm dụng nó, chúng ta sẽ hoàn toàn làm hỏng chính mình. Nó giống như một đứa trẻ nhỏ học đi. Người mẹ phải để nó thử; bà biết nó sẽ ngã, nhưng bà chăm sóc để nó có thể ngã nhẹ nhàng. Cũng như vậy, linh hồn trẻ tất yếu sẽ phạm sai lầm, nhưng lượng tự do ý chí được trao không đủ để cho phép y làm hỏng chính mình, mà chỉ vừa đủ để y học qua kinh nghiệm điều y nên làm và điều y không nên làm.

Karma and Divine Grace

Nghiệp Quả và Ân Sủng Thiêng Liêng

Karma is the effect of what we have done. It is not a cold, lifeless destiny or fate. It is the effect, the very pliable and adaptable effect, of what we have done in this or in past lives. How can it be reconciled with divine grace? It depends on what we mean by divine grace. If we are thinking of it as some scheme by which we can escape results of what we have done then, certainly, the two cannot be reconciled. If we have set certain forces in motion, then the result will come to us. Not only that we cannot escape it, but if we know anything at all about the divine law we would not even wish to escape it. Cause and effect are simply two sides of the same thing.

Nghiệp quả là kết quả của những gì chúng ta đã làm. Nó không phải là một định mệnh hay số phận lạnh lùng, vô sinh khí. Nó là kết quả, kết quả rất mềm dẻo và thích nghi, của những gì chúng ta đã làm trong kiếp này hay trong các kiếp trước. Làm sao nó có thể được hòa giải với ân sủng thiêng liêng? Điều đó tùy thuộc vào điều chúng ta muốn nói bằng ân sủng thiêng liêng. Nếu chúng ta nghĩ về nó như một phương thức nào đó nhờ đó chúng ta có thể thoát khỏi kết quả của những gì mình đã làm, thì chắc chắn hai điều ấy không thể được hòa giải. Nếu chúng ta đã đặt một số mãnh lực vào chuyển động, thì kết quả sẽ đến với chúng ta. Không chỉ là chúng ta không thể thoát khỏi nó, mà nếu chúng ta biết bất cứ điều gì về định luật thiêng liêng, chúng ta thậm chí sẽ không muốn thoát khỏi nó. Nhân và quả đơn giản là hai mặt của cùng một sự việc.

Divine grace is divine power and divine help poured down upon us. It flows out over the world like sunlight. We can take advantage of the sunlight, or we can shut ourselves away and not take advantage of it. In the same way divine grace is the power with which God floods His world. If we do not take advantage of it that is not His fault. It is the same with that great outpouring of grace, the Sacrament of the Altar. No one is compelled to come and partake of it, but there it is ready for those who will take it.

Ân sủng thiêng liêng là quyền năng thiêng liêng và sự trợ giúp thiêng liêng được tuôn xuống trên chúng ta. Nó tuôn tràn trên thế giới như ánh sáng mặt trời. Chúng ta có thể tận dụng ánh sáng mặt trời, hoặc chúng ta có thể tự khép mình lại và không tận dụng nó. Cũng như vậy, ân sủng thiêng liêng là quyền năng mà Thượng đế làm ngập tràn thế giới của Ngài. Nếu chúng ta không tận dụng nó, đó không phải lỗi của Ngài. Điều đó cũng giống với lần tuôn đổ ân sủng vĩ đại ấy, Bí tích Bàn thờ. Không ai bị buộc phải đến và dự phần vào đó, nhưng nó sẵn đó cho những ai muốn nhận lấy.

Those two, karma and divine grace, do not contradict each other. Whatever we have done, the result comes to us. But we can modify the action of karma by setting up fresh causes, by applying a new force which counteracts the old. Karma is very adaptable, and it will work itself out in one way or another.

Hai điều ấy, nghiệp quả và ân sủng thiêng liêng, không mâu thuẫn với nhau. Bất cứ điều gì chúng ta đã làm, kết quả đến với chúng ta. Nhưng chúng ta có thể biến đổi tác động của nghiệp quả bằng cách thiết lập những nguyên nhân mới, bằng cách áp dụng một mãnh lực mới chống lại mãnh lực cũ. Nghiệp quả rất thích nghi, và nó sẽ tự thanh toán theo cách này hay cách khác.

All things are arranged for our helping and not for our hindrance, so if we cry out when things go wrong with us that God has forgotten us or that He is not a God of love, we are only betraying our ignorance and showing that we do not understand the experiences through which we are passing. Under this most marvelous law of cause and effect, nothing can fall upon us unless we have deserved it in the past; and because we have deserved it, and we owe that much of debt, the sooner we can clear it off, the better for us in every way. It is in love that this evil comes to us, and we must receive it understandingly and not rebelliously and ignorantly, knowing that it comes because it has to come, and the sooner we get rid of it the sooner we shall be free for further evolution.

Mọi sự được sắp đặt để giúp đỡ chúng ta chứ không phải để cản trở chúng ta; vì vậy nếu chúng ta kêu lên khi sự việc trở nên sai lệch với mình rằng Thượng đế đã quên chúng ta hoặc rằng Ngài không phải là một Thượng đế của tình thương, chúng ta chỉ đang phơi bày sự vô minh của mình và cho thấy rằng chúng ta không thấu hiểu những kinh nghiệm mà mình đang đi qua. Dưới định luật kỳ diệu nhất này về nhân và quả, không gì có thể rơi xuống trên chúng ta trừ khi chúng ta đã xứng đáng với nó trong quá khứ; và vì chúng ta đã xứng đáng với nó, và chúng ta mắc món nợ chừng ấy, nên càng sớm thanh toán nó, chúng ta càng tốt đẹp hơn về mọi mặt. Chính trong tình thương mà điều ác này đến với chúng ta, và chúng ta phải tiếp nhận nó một cách thấu hiểu chứ không nổi loạn và vô minh, biết rằng nó đến vì nó phải đến, và chúng ta càng sớm loại bỏ nó thì càng sớm được tự do cho tiến hoá xa hơn.

Sometimes, looking at things from the physical point of view only, we find it hard to see how the love is working. He who is clairvoyant and can see what happens on higher planes can also see much more of the working of this great Law. We cannot pretend to explain everything as yet by any clairvoyant sight to which we have attained, but we can at least tell our people with absolute certainty that the utter love of God has been proved over and over again beyond all possibility of mistake or error, and that when we see what we think to be failures in the working of that mighty law, it is because we see only in part and therefore cannot understand what is being done. All that happens is being guided and used for our benefit, and the best that under all the circumstances is possible is being done for all; when we can see from the higher level we are utterly certain of that.

Đôi khi, khi nhìn sự việc chỉ từ quan điểm hồng trần, chúng ta thấy khó nhận ra tình thương đang vận hành như thế nào. Người có thông nhãn và có thể thấy điều xảy ra trên các cõi cao hơn cũng có thể thấy nhiều hơn về sự vận hành của Định luật vĩ đại này. Chúng ta chưa thể giả vờ giải thích mọi điều bằng bất cứ nhãn quan thông nhãn nào mà chúng ta đã đạt được, nhưng ít nhất chúng ta có thể nói với người của mình với sự chắc chắn tuyệt đối rằng tình thương trọn vẹn của Thượng đế đã được chứng minh hết lần này đến lần khác, vượt khỏi mọi khả năng nhầm lẫn hay sai lầm; và rằng khi chúng ta thấy điều mình cho là thất bại trong sự vận hành của định luật hùng mạnh ấy, đó là vì chúng ta chỉ thấy một phần và do đó không thể thấu hiểu điều đang được thực hiện. Tất cả những gì xảy ra đều đang được hướng dẫn và sử dụng vì lợi ích của chúng ta, và điều tốt nhất có thể dưới mọi hoàn cảnh đang được thực hiện cho tất cả; khi chúng ta có thể thấy từ cấp độ cao hơn, chúng ta hoàn toàn chắc chắn về điều đó.

For the moment, most of us have to take it to some extent on faith, though I believe that even on the physical plane there is abundant proof of the love of God and of the evolution which is His plan for men. It is only because we are short-sighted, because we are only just beginning to climb the Path of Return to Him from whom we came, that we seem to see so much of evil and cannot understand the ever underlying good, though there is indeed overwhelming proof of it. We must never forget, if we wish to understand, that God’s arrangements are always for the evolution of the man himself, the soul; so we must look at what happens always from the point of view of the soul, not of the body.

Hiện giờ, phần lớn chúng ta phải chấp nhận điều ấy ở một mức nào đó bằng đức tin, mặc dù tôi tin rằng ngay cả trên cõi hồng trần cũng có bằng chứng phong phú về tình thương của Thượng đế và về tiến hoá vốn là Thiên Cơ của Ngài dành cho con người. Chỉ vì chúng ta thiển cận, vì chúng ta mới chỉ bắt đầu leo lên Con Đường Trở Về với Ngài, Đấng mà từ Ngài chúng ta đã đến, nên dường như chúng ta thấy quá nhiều điều ác và không thể thấu hiểu điều thiện luôn nằm bên dưới, mặc dù quả thật có bằng chứng áp đảo về nó. Nếu muốn thấu hiểu, chúng ta không bao giờ được quên rằng các sắp đặt của Thượng đế luôn vì sự tiến hoá của chính con người, tức linh hồn; vì vậy chúng ta phải luôn nhìn điều xảy ra từ quan điểm của linh hồn, chứ không phải của thể xác.

This certainty of the utter love of God permeates the whole of our Liberal Catholic theology. It is all based on that great fact; and he who wishes to comprehend the truth of things as we see it must always have that idea in mind and never allow himself to be turned aside from it or lose sight of it for a moment. That is the fundamental rock upon which the structure of true religion is built, that God is Love and Light and that in Him there is no darkness at all; and if we wish to serve God as He wishes to be served, we must show that Love and that Light in ourselves as far as we can. We must imitate Him, and in us also there must be no doubt of the Love or the Light, no failure in love towards our brethren, because by showing love to others we may truly follow our Master the Christ, who is the Lord of Love.

Sự chắc chắn này về tình thương trọn vẹn của Thượng đế thấm nhuần toàn bộ thần học Công giáo Tự do của chúng ta. Tất cả đều đặt nền trên sự kiện lớn lao ấy; và người nào muốn lĩnh hội chân lý của sự vật như chúng ta thấy nó phải luôn giữ ý tưởng ấy trong trí và không bao giờ để mình bị lôi lệch khỏi nó hay mất dấu nó dù chỉ trong khoảnh khắc. Đó là tảng đá căn bản trên đó cấu trúc của tôn giáo chân chính được xây dựng, rằng Thượng đế là Tình thương và Ánh sáng, và trong Ngài không có bóng tối nào cả; và nếu chúng ta muốn phụng sự Thượng đế như Ngài muốn được phụng sự, chúng ta phải biểu lộ Tình thương ấy và Ánh sáng ấy trong chính mình đến mức có thể. Chúng ta phải noi theo Ngài, và trong chúng ta cũng không được có nghi ngờ nào về Tình thương hay Ánh sáng, không có sự thiếu sót nào trong tình thương đối với các huynh đệ của chúng ta, vì bằng cách biểu lộ tình thương với người khác, chúng ta có thể thật sự đi theo Chân sư của mình là Đức Christ, Đấng là Chúa Tể của Tình thương.

8 — 8

Salvation — Sự Cứu Rỗi

We are now in a position to understand something of the real truths which lie behind the idea of salvation. The idea of salvation from an imagined hell is entirely out of touch with the facts, because that from which men are supposed to be saved simply does not exist. None of the texts which are supposed to justify this idea can in reality bear the meaning popularly attached to them. “Eternal hell” is a figment of the imagination and has nothing whatever at the back of it which is worthy of the attention of a thinking man.

Bây giờ chúng ta ở vào vị thế có thể thấu hiểu phần nào những chân lý thật sự nằm sau ý tưởng về sự cứu rỗi. Ý tưởng về sự cứu rỗi khỏi một địa ngục tưởng tượng hoàn toàn không phù hợp với các sự kiện, vì điều mà người ta được cho là cần được cứu khỏi đơn giản là không tồn tại. Không văn bản nào được cho là biện minh cho ý tưởng này thật sự có thể mang ý nghĩa mà quần chúng gán cho chúng. “Địa ngục vĩnh cửu” là một sản phẩm của tưởng tượng và phía sau nó hoàn toàn không có gì xứng đáng với sự chú ý của một người biết suy nghĩ.

There are various uses of the word “saved,” and we find at least one or two texts in which its use not only does not fit in with the popular idea but even indicates something of the real truth.

Có nhiều cách dùng khác nhau của từ “được cứu”, và chúng ta tìm thấy ít nhất một hay hai đoạn văn trong đó cách dùng của nó không những không phù hợp với ý tưởng phổ thông mà còn chỉ ra phần nào chân lý thật sự.

Let us, to begin with, examine some exceedingly significant texts. In Luke 23:13, someone asks the Christ: “Lord, are there few that be saved?” In His answer He makes a very remarkable statement. He says: “Strive to enter in at the strait gate; for many… will seek to enter in, and shall not be able.” In Matt. 7:13, 14, we find the same statement in another form: “Enter ye in at the strait gate: for wide is the gate, and broad is the way, that leadeth to destruction, and many there be which go in thereat: because strait is the gate, and narrow is the way, which leadeth unto life, and few there be that find it.” There are actually some exponents of scripture who apply these texts to the gates of heaven after death. But the meaning of these texts, when properly understood, is something entirely different and something quite reasonable, as we shall see further on.

Để bắt đầu, chúng ta hãy xem xét một số đoạn văn cực kỳ quan trọng. Trong Luke 23:13, có người hỏi Đức Christ: “Lạy Chúa, có ít người được cứu chăng?” Trong câu trả lời của Ngài, Ngài đưa ra một phát biểu rất đáng chú ý. Ngài nói: “Hãy cố gắng vào qua cửa hẹp; vì nhiều người… sẽ tìm cách vào mà không thể.” Trong Matt. 7:13, 14, chúng ta tìm thấy cùng phát biểu ấy dưới một hình thức khác: “Hãy vào qua cửa hẹp: vì cửa rộng và đường thênh thang dẫn đến sự hủy diệt, và có nhiều người đi vào đó; vì cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, và ít người tìm được nó.” Thật sự có một số nhà giải thích kinh văn áp dụng các đoạn này cho các cổng thiên đàng sau khi chết. Nhưng ý nghĩa của các đoạn này, khi được thấu hiểu đúng, là một điều hoàn toàn khác và khá hợp lý, như chúng ta sẽ thấy ở phần sau.

As has been pointed out before, we must take words written at a certain time in the world’s history in the sense in which people, in that country and at that time, used them and understood them. If a writer uses a word, we may be sure he uses it as other authors of his period use it, and therefore it is useful to examine other literature written at the same time and see how those words were used then.

Như đã được chỉ ra trước đây, chúng ta phải hiểu những lời được viết vào một thời điểm nhất định trong lịch sử thế giới theo nghĩa mà người dân, ở quốc gia ấy và vào thời ấy, đã dùng và thấu hiểu chúng. Nếu một tác giả dùng một từ, chúng ta có thể chắc rằng ông dùng nó như các tác giả khác cùng thời dùng nó, và vì vậy việc khảo sát văn chương khác được viết cùng thời và xem những từ ấy khi đó đã được dùng như thế nào là hữu ích.

The word saved (from Latin salvus, “safe”) has a technical meaning which was just as well known to students then as it is now to those who have studied the literature of that period. In order that I may make its exact meaning clear, I must ask the reader to bear in mind the conception of evolution outlined in the preceding chapters. We have seen that man is the resultant of a great evolutionary scheme. The true man within is royal and divine, and the object of evolution is to let that divine man manifest through his lower vehicles which are constantly evolving and learning to express more and more of his divine nature, until at last the man becomes a perfect channel for the life and power of the Logos. This is the glorious goal which every man must some day reach.

Từ được cứu, từ tiếng Latinh bình an, có một ý nghĩa kỹ thuật mà các đạo sinh khi ấy biết rõ chẳng khác gì những người ngày nay đã nghiên cứu văn chương của thời kỳ ấy. Để tôi có thể làm rõ ý nghĩa chính xác của nó, tôi phải yêu cầu độc giả ghi nhớ quan niệm về tiến hoá đã được phác họa trong các chương trước. Chúng ta đã thấy rằng con người là kết quả của một hệ thống tiến hoá vĩ đại. Con người thật bên trong mang tính vương giả và thiêng liêng, và mục tiêu của tiến hoá là để con người thiêng liêng ấy biểu lộ qua các hiện thể thấp của y, vốn không ngừng tiến hoá và học cách diễn đạt ngày càng nhiều hơn bản chất thiêng liêng của y, cho đến cuối cùng con người trở thành một kênh hoàn hảo cho sự sống và quyền năng của Thượng đế. Đây là mục tiêu huy hoàng mà một ngày nào đó mỗi người đều phải đạt đến.

But we must not think of this development as happening simultaneously for everyone. Not all men now on earth are at the same level of development; we know that as a matter of everyday experience. How is that to be accounted for? If we were to suppose that all mankind started even and equal at some remote period in the past, some must have gone ahead more rapidly and others have fallen back in the most amazing manner. That is not at all the explanation. What we find to be the fact in investigating it is that constantly waves of divine life come pouring down in succession into this universe. That fact is exactly in harmony with all that we see round us in this world.

Nhưng chúng ta không được nghĩ rằng sự phát triển này xảy ra đồng thời cho mọi người. Không phải mọi người hiện nay trên Trái Đất đều ở cùng một cấp độ phát triển; chúng ta biết điều đó như một kinh nghiệm hằng ngày. Làm sao giải thích điều ấy? Nếu chúng ta giả định rằng toàn thể nhân loại đã bắt đầu ngang nhau và bình đẳng vào một thời kỳ xa xưa nào đó trong quá khứ, thì hẳn một số đã tiến lên nhanh hơn và những người khác đã tụt lại một cách đáng kinh ngạc. Đó hoàn toàn không phải là lời giải thích. Điều chúng ta thấy là sự kiện khi khảo sát vấn đề là các làn sóng sự sống thiêng liêng không ngừng tuôn xuống nối tiếp nhau vào vũ trụ này. Sự kiện ấy hoàn toàn hài hòa với mọi điều chúng ta thấy quanh mình trong thế giới này.

Take as an example any human family. Its members are not all the same age; they did not all start in life at the same moment. They represent a number of successive generations, and therefore some are children still, some are young people, some are middle-aged, some growing old. It is a fact in nature which we have to recognize, and just as several generations follow one another so do successive waves of evolution follow one another.

Hãy lấy bất cứ gia đình nhân loại nào làm ví dụ. Các thành viên của nó không cùng tuổi; họ không bắt đầu đời sống cùng một khoảnh khắc. Họ đại diện cho một số thế hệ kế tiếp nhau, và vì vậy một số vẫn là trẻ em, một số là người trẻ, một số ở tuổi trung niên, một số đang già đi. Đó là một sự kiện trong thiên nhiên mà chúng ta phải nhận ra, và cũng như nhiều thế hệ nối tiếp nhau, các làn sóng tiến hoá kế tiếp nhau cũng nối tiếp nhau như vậy.

A better illustration still is to think of classes in a school. In any school there are a number of classes. It is not the fault of one particular boy that he is ten years old, while another boy is fifteen. It is not the fault of the more primitive races that they are not highly developed. It is simply that they are generally younger souls, and they have not yet had the teaching and experience which some of us have had in the past. Of course, it is perfectly possible for those in the same class to advance, or to slip back, to take advantage or not of the teaching which is given to them. That makes a comparatively small variation, whereas the big variation of age decides the “class” in which the people begin their lives, and it is only rarely that one here and there gets very far ahead of his contemporaries.

Một minh họa còn tốt hơn là nghĩ đến các lớp học trong một trường. Trong bất cứ trường nào cũng có một số lớp. Không phải lỗi của một cậu bé nào đó khi cậu mười tuổi, trong khi một cậu bé khác mười lăm tuổi. Không phải lỗi của các nhân loại nguyên thủy hơn khi họ chưa phát triển cao. Đơn giản là họ nói chung là các linh hồn trẻ hơn, và họ chưa có giáo huấn và kinh nghiệm mà một số chúng ta đã có trong quá khứ. Dĩ nhiên, hoàn toàn có thể cho những người trong cùng một lớp tiến bộ, hoặc tụt lại, tận dụng hay không tận dụng giáo huấn được trao cho họ. Điều đó tạo ra một biến thiên tương đối nhỏ, trong khi biến thiên lớn về tuổi quyết định “lớp” trong đó người ta bắt đầu đời sống của mình, và chỉ hiếm khi người này hay người kia tiến rất xa trước những người cùng thời với mình.

We, all of us, represent a certain stage in development. We are, let us say, a class in God’s mighty school. We are supposed to be learning certain lessons. Some of us are learning those lessons quickly, and some are slow learners.

Tất cả chúng ta đại diện cho một giai đoạn nhất định trong phát triển. Có thể nói chúng ta là một lớp trong ngôi trường hùng mạnh của Thượng đế. Chúng ta được kỳ vọng học những bài học nhất định. Một số chúng ta học các bài học ấy nhanh chóng, và một số là những học trò chậm.

Souls differ, just as boys in a school differ. Some boys are clever and some are stupid; some take the trouble to learn the rules of the school and conform to them; others are ignorant and careless.

Các linh hồn khác nhau, cũng như các cậu bé trong trường khác nhau. Một số cậu bé thông minh và một số ngu đần; một số chịu khó học các quy luật của trường và tuân theo chúng; những người khác vô minh và bất cẩn.

Just like that are the souls that come down into incarnation. Some of them at once try to learn the rules of life and live according to them. They are like the good boys of the school; they get on quickly, and their way is comparatively easy. Those who are dull and ignorant, who do not understand the rules, or even if they do, will not take the trouble to follow them, are the less developed people, and they have a great deal of trouble with their progress. They do not learn rapidly; they have to keep on coming back time after time to learn the same lesson all over again.

Các linh hồn đi xuống vào lâm phàm cũng giống như vậy. Một số trong họ lập tức cố gắng học các quy luật của đời sống và sống theo chúng. Họ giống như những cậu bé ngoan trong trường; họ tiến bộ nhanh chóng, và con đường của họ tương đối dễ dàng. Những người trì độn và vô minh, không thấu hiểu các quy luật, hoặc dù có thấu hiểu cũng không chịu khó theo chúng, là những người kém phát triển hơn, và họ gặp rất nhiều khó khăn trong sự tiến bộ của mình. Họ không học nhanh; họ phải tiếp tục trở lại hết lần này đến lần khác để học lại cùng một bài học từ đầu.

The people who are earnestly trying to improve certainly do improve, even though they may not be able to see much fruit of their effort in a few years’ time. As they pass from life to life, they do very certainly show great advancement. But those other people, who are not really trying to evolve, only make very gradual progress. Some advance they must make, because everything round us is very slowly moving onward and upward and they are swept along with the current, but it will be so slow as to be scarcely perceptible.

Những người đang chân thành cố gắng cải thiện chắc chắn sẽ cải thiện, dù họ có thể không thấy nhiều thành quả của nỗ lực mình trong vài năm. Khi đi từ đời này sang đời khác, họ chắc chắn biểu lộ sự tiến bộ lớn. Nhưng những người khác, những người không thật sự cố gắng tiến hoá, chỉ tiến bộ rất dần dần. Họ phải có một ít tiến bộ, vì mọi thứ quanh chúng ta đang rất chậm rãi chuyển động tiến tới và đi lên, và họ bị cuốn theo dòng chảy, nhưng điều đó sẽ chậm đến mức hầu như không thể nhận thấy.

The Day of Judgment

Ngày Phán Xét

Each successive age or aeon has its special form of life, its own special virtues to develop, its own evil qualities to overcome, and so on, and represents a class in the divine school. There have been other ages before our own; they were higher classes or classes, at any rate, where the people had been longer in the school. There are others coming on behind us, younger souls than we; they will belong to their own separate class. We are expected, by the end of our particular aeon, to reach a certain level. Long before that, a great examination, a great testing, will take place, and a decision will be made as to which of the people will be able to reach the required level in the time allotted.

Mỗi thời đại hay đại kiếp kế tiếp có hình thức sự sống đặc biệt của nó, những đức hạnh đặc biệt riêng để phát triển, những phẩm tính xấu riêng để vượt qua, vân vân, và đại diện cho một lớp trong ngôi trường thiêng liêng. Đã có những thời đại khác trước thời đại của chúng ta; chúng là những lớp cao hơn, hoặc dù sao cũng là những lớp trong đó người ta đã ở trong trường lâu hơn. Có những lớp khác đang đến phía sau chúng ta, các linh hồn trẻ hơn chúng ta; họ sẽ thuộc về lớp riêng biệt của họ. Đến cuối đại kiếp đặc thù của mình, chúng ta được kỳ vọng đạt đến một cấp độ nhất định. Rất lâu trước lúc đó, một kỳ khảo hạch lớn, một cuộc thử thách lớn, sẽ diễn ra, và một quyết định sẽ được đưa ra về việc những người nào sẽ có thể đạt cấp độ cần thiết trong thời gian được ấn định.

It is that examination which is symbolized in our scriptures by the Day of Judgment. The Christ is simply examining His people on that occasion; He is not condemning them for evil done or rewarding them in a material way for the good they may have done, but He is testing them to see whether they are fit for certain progress, or whether they are not. Those who are fit for that progress He moves on. Those who would be lagging behind and be a hindrance to the more advanced, would, by dropping back, themselves become the more advanced members of the next wave of souls. So that would be an excellent arrangement for all concerned. That is a rough analogy of what the Logos of the system does with us. His Day of Judgment is still a long way off, but it will certainly come.

Đó là cuộc khảo sát được tượng trưng trong thánh thư của chúng ta bằng Ngày Phán Xét. Đức Christ chỉ đơn giản khảo sát dân của Ngài vào dịp ấy; Ngài không kết án họ vì điều ác đã làm, cũng không thưởng cho họ theo cách vật chất vì điều thiện họ có thể đã làm, mà Ngài thử nghiệm họ để xem họ có thích hợp cho một bước tiến nào đó hay không. Những ai thích hợp với bước tiến ấy thì Ngài đưa họ tiến lên. Những ai sẽ tụt lại phía sau và trở thành một trở ngại cho những người tiến bộ hơn, thì bằng cách lùi lại, chính họ sẽ trở thành những thành viên tiến bộ hơn của làn sóng linh hồn kế tiếp. Như vậy, đó sẽ là một sự sắp đặt tuyệt hảo cho tất cả những ai liên hệ. Đó là một phép tương đồng sơ lược về điều Thượng đế của hệ thống làm với chúng ta. Ngày Phán Xét của Ngài vẫn còn rất xa, nhưng chắc chắn sẽ đến.

At that critical period, a considerable portion of humanity will have to drop out from our scheme of evolution simply because they have not yet developed themselves enough to be able to take advantage of the opportunities which will then be opening before mankind. This is the separation of the “sheep” from the “goats.” The sheep will pass on into aeonian (age-long) life;   22    the goats into temporary aeonian death—or, more correctly, into a condition of comparatively suspended evolution, but not for a moment to be looked upon as eternal. Those who thus fall out of the current of progress for a period of time will take up the work again in the next scheme of evolution.

Vào thời kỳ trọng yếu ấy, một phần đáng kể của nhân loại sẽ phải rời khỏi hệ tiến hoá của chúng ta, đơn giản vì họ chưa phát triển bản thân đủ để có thể tận dụng những cơ hội khi ấy sẽ mở ra trước nhân loại. Đây là sự phân tách “chiên” khỏi “dê.” Chiên sẽ đi vào sự sống đại kiếp; 22 dê sẽ đi vào cái chết đại kiếp tạm thời — hay nói đúng hơn, vào một tình trạng tiến hoá tương đối bị đình chỉ, nhưng tuyệt nhiên không được xem là vĩnh viễn. Những ai như vậy rơi khỏi dòng tiến bộ trong một khoảng thời gian sẽ tiếp tục công việc ấy trong hệ tiến hoá kế tiếp.

He who is salvus, or saved, is the man who is even now already quite sure to pass that examination and is certain to go on with the present wave of evolution. The man who is not saved is the one who may not be ready when the time comes to go on and will have to drop back and learn some of his lessons all over again. There is merely a decision against him as far as that aeon or age is concerned.

Người nào là salvus, hay được cứu, là người ngay cả hiện nay đã hoàn toàn chắc chắn vượt qua cuộc khảo sát ấy và chắc chắn tiếp tục đi cùng làn sóng tiến hoá hiện tại. Người chưa được cứu là người có thể chưa sẵn sàng khi thời điểm đến để tiếp tục tiến lên, và sẽ phải lùi lại để học lại một số bài học của mình từ đầu. Chỉ đơn thuần có một quyết định bất lợi đối với y trong phạm vi đại kiếp hay thời đại ấy.

What the occult student understands by salvation is thus being safe from this adverse decision and absolutely certain to go on with the particular life wave into which God has put us from the beginning. Those who are able to do that, to use the Buddhist term, “enter the stream,” which means that they take what is called the first great initiation. The man who enters the stream is swept on by that stream and will quickly reach the further shore; that is to say, he will reach adeptship in a few lives.

Vì thế, điều mà đạo sinh huyền bí hiểu về sự cứu rỗi là được an toàn khỏi quyết định bất lợi này và hoàn toàn chắc chắn tiếp tục đi với làn sóng sự sống đặc thù mà Thượng đế đã đặt chúng ta vào ngay từ đầu. Những ai có thể làm điều đó, dùng thuật ngữ Phật giáo, là “nhập lưu,” nghĩa là họ nhận điều được gọi là lần điểm đạo vĩ đại thứ nhất. Người nhập lưu được chính dòng ấy cuốn đi và sẽ nhanh chóng đến bờ bên kia; nghĩa là y sẽ đạt địa vị chân sư trong vài kiếp sống.

All Will Eventually Be “Saved”

Tất Cả Cuối Cùng Sẽ Được “Cứu”

None can fail eventually. Failure is absolutely impossible because all the time required is given to us. We cannot remove ourselves from the stream of evolution; we can delay on the way, and to delay means further lives on earth. To get away from these repeated incarnations is to escape, as it is put in the Buddhist religion, “from the wheel of birth and death.” This is what the Christ meant when He spoke of the broad way that leads to destruction and how many there be that follow it and of the narrow and difficult path that leads to life and how comparatively few there are who follow it [Matt. 7:13].

Không ai rốt cuộc có thể thất bại. Thất bại là điều hoàn toàn bất khả, vì tất cả thời gian cần thiết đều được ban cho chúng ta. Chúng ta không thể tự tách mình khỏi dòng tiến hoá; chúng ta có thể trì hoãn trên đường, và trì hoãn nghĩa là còn thêm những kiếp sống trên Trái Đất. Thoát khỏi những lần lâm phàm lặp đi lặp lại này là thoát, như cách nói trong Phật giáo, “khỏi bánh xe sinh tử.” Đây là điều Đức Christ muốn nói khi Ngài nói về con đường rộng dẫn đến hủy diệt và có biết bao người đi theo nó, và về con đường hẹp, khó khăn dẫn đến sự sống và tương đối ít người đi theo nó [Matt. 7:13].

He said again and again that the broad way leads to death. So it does; it leads to death and birth; it leads, in fact, to a continuation of what we have been doing for many thousands of years—being born over and over again and making just a little progress each time. The other way—the narrow, steep, upward path—leads to escape from rebirth and to an endless life outside these physical conditions. It is just that—the broad road is a slow way, the steep, rocky, rugged upward path is a swift way; the goal in the end is the same.

Ngài đã nói đi nói lại rằng con đường rộng dẫn đến cái chết. Quả đúng như vậy; nó dẫn đến chết và sinh; thật ra, nó dẫn đến sự tiếp tục của điều chúng ta đã làm trong nhiều ngàn năm — sinh ra hết lần này đến lần khác và mỗi lần chỉ tiến bộ thêm một chút. Con đường kia — con đường hẹp, dốc, đi lên — dẫn đến sự thoát khỏi tái sinh và đến một sự sống vô tận bên ngoài những điều kiện hồng trần này. Chính là như vậy — con đường rộng là con đường chậm; con đường đi lên dốc đứng, đầy đá và gồ ghề là con đường nhanh; mục tiêu cuối cùng vẫn là một.

But when the Christ said that there are few who take the swift but steep and rugged path, He did not mean in the least that there were few who enter into the heaven-world after death; that is a misrepresentation of the facts. Moreover, it absolutely contradicts a number of other texts in which the heaven-world is clearly indicated. For instance, when the apostle John is attempting to describe the heaven-world, he speaks of a great multitude which no man could number, of all nations and kindreds and people and tongues, clothed with white robes and with palms in their hands (Rev. 7:9).

Nhưng khi Đức Christ nói rằng ít người đi theo con đường nhanh nhưng dốc đứng và gồ ghề ấy, Ngài tuyệt nhiên không muốn nói rằng ít người đi vào cõi thiên sau khi chết; đó là sự trình bày sai lệch các sự kiện. Hơn nữa, điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với nhiều đoạn văn khác trong đó cõi thiên được chỉ rõ. Chẳng hạn, khi sứ đồ John cố gắng mô tả cõi thiên, ông nói về một đám đông vĩ đại không ai có thể đếm được, thuộc mọi dân tộc, chi tộc, dân chúng và tiếng nói, mặc áo trắng và cầm nhành cọ trong tay (Rev. 7:9).

When Christ speaks of the “kingdom of God” or the “kingdom of heaven,” He is really using a technical term belonging to the Mysteries. He thereby means the Great White Brotherhood—the great Initiates, the great Saints, as they are generally called in the Church. They are the “safe” or “saved” ones, and the man who joins their ranks rises to a higher level altogether; he becomes a superman, and to attain that, certainly “strait is the gate and narrow is the way and few there be that find it.” Few choose that difficult path; the majority of mankind will certainly travel along the broad and easy road and will take innumerable lives to reach the goal. But, eventually, as Sir Edwin Arnold has put it, “All will reach the sunlit snows.”

Khi Đức Christ nói về “Thiên Giới” hay “nước trời,” thật ra Ngài đang dùng một thuật ngữ chuyên môn thuộc về các Bí nhiệm. Bởi đó Ngài muốn nói đến Thánh đoàn — các điểm đạo đồ vĩ đại, các Thánh vĩ đại, như họ thường được gọi trong Giáo hội. Họ là những người “an toàn” hay “được cứu,” và người gia nhập hàng ngũ của họ vươn lên một cấp độ hoàn toàn cao hơn; y trở thành một siêu nhân, và để đạt được điều đó, chắc chắn “cửa thì hẹp, đường thì chật, và ít người tìm thấy.” Ít người chọn con đường khó khăn ấy; đa số nhân loại chắc chắn sẽ đi theo con đường rộng và dễ, và sẽ trải qua vô số kiếp sống để đạt mục tiêu. Nhưng rốt cuộc, như Sir Edwin Arnold đã diễn đạt, “Tất cả sẽ đến những đỉnh tuyết ngập nắng.”

Though all will be gradually shepherded along the path of progress, whether they understand it or not, it is obvious that the slower we go, the more we delay ourselves on the way, the more trouble we shall have and the more difficulties we shall find.

Dù tất cả sẽ dần dần được chăn dắt theo con đường tiến bộ, dù họ hiểu điều đó hay không, hiển nhiên là chúng ta càng đi chậm, càng tự trì hoãn trên đường, thì chúng ta càng gặp nhiều phiền toái và càng thấy nhiều khó khăn hơn.

If we apply our intelligence to try to understand God’s plan and our will to work with it, we shall save ourselves a vast amount not only of time and trouble but of the suffering which is inseparable from all these physical lives. But to say that those who take the broad road will not be saved is to make a mockery of the Savior of the world; it is to say that He does not save the enormous majority of human beings. Of course He does, but only in His own time and in His own way. It is perfectly true to say that Christ is the Savior of the world. It is the Christ in every man that is our hope of glory and, without that Christ within, indeed our chances of evolution would be very poor; it would be practically impossible for us to rise “to the measure of the stature of the fullness of Christ.”

Nếu chúng ta vận dụng trí tuệ để cố gắng thấu hiểu Thiên Cơ của Thượng đế và vận dụng ý chí của mình để cộng tác với Thiên Cơ ấy, chúng ta sẽ tự tiết kiệm cho mình một khối lượng rất lớn không chỉ thời gian và phiền toái, mà cả đau khổ vốn không thể tách rời khỏi tất cả những kiếp sống hồng trần này. Nhưng nói rằng những ai đi theo con đường rộng sẽ không được cứu là biến Đấng Cứu Thế của thế gian thành trò chế nhạo; tức là nói rằng Ngài không cứu đại đa số khổng lồ của nhân loại. Dĩ nhiên Ngài cứu, nhưng chỉ trong thời gian riêng của Ngài và theo cách riêng của Ngài. Nói rằng Đức Christ là Đấng Cứu Thế của thế gian là hoàn toàn đúng. Chính Đức Christ trong mỗi người là niềm hy vọng vinh quang của chúng ta, và nếu không có Đức Christ nội tại ấy, thật vậy, cơ hội tiến hoá của chúng ta sẽ rất nghèo nàn; hầu như không thể nào để chúng ta vươn lên “đến tầm vóc viên mãn của Đức Christ.”

PART TWO

PHẦN HAI

T HE I NNER T EACHING OF E ARLY C HRISTIANITY

GIÁO HUẤN NỘI TẠI CỦA CƠ ĐỐC GIÁO SƠ KỲ

00005.jpeg

9 — 9

The Original Teaching — Giáo Huấn Nguyên Thủy

With the passage of time all religions gradually depart from the original form in which they were cast by their founders. Nearly always this change is for the worse. There is a certain lessening of the first enthusiasm and a certain effort to adapt the religion to the laxity of the times. Also, when a Church of any account becomes established, it usually acquires property of some sort and then, inevitably, the original purity is affected and there arises orthodoxy, narrowness, bigotry. All this is true of Christianity as well as of other religions.

Theo dòng thời gian, mọi tôn giáo dần dần rời xa hình thức nguyên thủy mà các vị sáng lập đã đúc khuôn cho chúng. Hầu như luôn luôn, sự thay đổi này là theo chiều hướng xấu hơn. Có một sự suy giảm nào đó của nhiệt thành ban đầu, và có một nỗ lực nào đó nhằm thích nghi tôn giáo với sự buông lỏng của thời đại. Ngoài ra, khi một Giáo hội có tầm vóc nào đó được thiết lập, nó thường sở hữu một thứ tài sản nào đó, và khi ấy, tất yếu, sự thuần khiết nguyên thủy bị ảnh hưởng, rồi nảy sinh chính thống, hẹp hòi, cuồng tín. Tất cả điều này đúng với Cơ Đốc giáo cũng như với các tôn giáo khác.

In all cases there is some change. In the case of Christianity there has been an almost absolute reversal—a most extraordinary change, so that the very foundations are different now from what they were in the beginning.

Trong mọi trường hợp đều có một sự thay đổi nào đó. Trong trường hợp Cơ Đốc giáo đã có một sự đảo ngược gần như tuyệt đối — một sự thay đổi hết sức phi thường, đến nỗi chính các nền tảng hiện nay đã khác với những gì chúng đã là vào lúc khởi đầu.

Originally, Christianity was a magnificently elaborate doctrine—the one doctrine which lies at the foundation of all religions. When the Gospel story, which was meant allegorically, was degraded to a pseudo-historical report of the life of a man, the religion became confused. Hence all texts relating to higher things have become distorted and therefore do not any more correspond with the truth lying behind the thought. Because Christianity has forgotten much of its original teaching, it is customary nowadays to deny that it ever possessed any esoteric teaching.

Nguyên thủy, Cơ Đốc giáo là một giáo lý được triển khai tuyệt đẹp — giáo lý duy nhất nằm nơi nền tảng của mọi tôn giáo. Khi câu chuyện Phúc Âm, vốn được hiểu theo nghĩa ẩn dụ, bị hạ thấp thành một bản tường thuật giả lịch sử về đời sống của một người, tôn giáo trở nên rối loạn. Vì thế, mọi đoạn văn liên quan đến những điều cao siêu hơn đều bị xuyên tạc và do đó không còn tương ứng với chân lý nằm phía sau tư tưởng. Vì Cơ Đốc giáo đã quên mất nhiều phần giáo huấn nguyên thủy của mình, ngày nay người ta thường phủ nhận rằng nó từng sở hữu bất kỳ giáo huấn nội môn nào.

In that original teaching of Christianity there was an aspect deeper than that which is commonly presented to us in its name today. Very much of what originally formed part of the Christian faith has been neglected and almost forgotten.

Trong giáo huấn nguyên thủy ấy của Cơ Đốc giáo có một phương diện sâu hơn điều thường được trình bày với chúng ta ngày nay dưới danh nghĩa của nó. Rất nhiều điều nguyên là một phần của đức tin Cơ Đốc đã bị sao lãng và hầu như bị quên lãng.

Modern orthodox teaching is based largely on a few texts which have been badly mistranslated and are, in consequence, in opposition to many others that contain the liberal and generous spirit of Christ’s own teaching. On these few texts has been built an insecure edifice of unreasonable doctrine which, when assailed by the light of reason, immediately proves indefensible. The true and noble teaching of the Christ, which, if Christianity is to live on into the future, must sooner or later take its place, is indicated quite clearly in the very scriptures themselves. They constantly tell us of a hidden doctrine which was not given to the public. It has long been the custom to deny this and to boast that Christianity contains nothing which is beyond the reach of the meanest intellect. It is surely a very serious reproach to Christianity to say that there is nothing in it for the thinking man.

Giáo huấn chính thống hiện đại phần lớn dựa trên một vài đoạn văn đã bị dịch sai nghiêm trọng, và do đó đối lập với nhiều đoạn khác chứa đựng tinh thần khoáng đạt và bao dung của chính giáo huấn Đức Christ. Trên vài đoạn văn này, người ta đã dựng nên một tòa kiến trúc bấp bênh của giáo điều phi lý, vốn khi bị ánh sáng của lý trí công kích thì lập tức chứng tỏ không thể bênh vực được. Giáo huấn chân thật và cao quý của Đức Christ, vốn nếu Cơ Đốc giáo muốn sống tiếp vào tương lai thì sớm muộn phải chiếm lấy vị trí của nó, được chỉ rõ khá rõ ràng ngay trong chính thánh thư. Chúng liên tục nói với chúng ta về một giáo lý ẩn tàng không được trao cho công chúng. Từ lâu người ta có thói quen phủ nhận điều này và khoe khoang rằng Cơ Đốc giáo không chứa điều gì vượt quá tầm với của trí năng thấp kém nhất. Chắc chắn thật là một lời chê trách rất nghiêm trọng đối với Cơ Đốc giáo khi nói rằng trong đó không có gì dành cho người biết suy tư.

It is evident that all religions have to provide for different classes of men and all grades of intellect. There is a vast host of simple people who would be entirely unable to appreciate metaphysics or to follow abstruse philosophical arguments. They must have plain, definite, ethical teaching; they must be told how to live. They must have it clearly put before them that their happiness or their suffering depends entirely upon the life which they choose to live. In every religion there is always such simple teaching which is necessary for their progress and is suited to them at the stage where they are.

Hiển nhiên mọi tôn giáo đều phải cung ứng cho những hạng người khác nhau và mọi cấp độ trí năng. Có một đoàn đông đảo những người đơn sơ hoàn toàn không thể đánh giá siêu hình học hay theo dõi những lập luận triết học sâu kín. Họ phải có giáo huấn đạo đức rõ ràng, xác định, đơn giản; họ phải được chỉ bảo cách sống. Họ phải được đặt trước mắt một cách rõ ràng rằng hạnh phúc hay đau khổ của họ hoàn toàn tùy thuộc vào đời sống mà họ chọn sống. Trong mọi tôn giáo luôn có giáo huấn đơn giản như thế, cần thiết cho sự tiến bộ của họ và thích hợp với họ ở giai đoạn nơi họ đang đứng.

There are others who need the philosophy and the metaphysics, who would be entirely unsatisfied unless they were able to fit their ideas in with some definite scheme. They want to know whence man came and whither he is going; how this universe began and what is the object of it. Therefore a philosophy has been given by every religion worthy of its name.

Có những người khác cần triết học và siêu hình học, những người sẽ hoàn toàn không thỏa mãn nếu họ không thể đặt các ý tưởng của mình vào một hệ thống xác định nào đó. Họ muốn biết con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu; vũ trụ này đã bắt đầu như thế nào và mục đích của nó là gì. Vì thế, một nền triết học đã được trao bởi mọi tôn giáo xứng đáng với danh xưng ấy.

Since in every other great world-religion there have been these higher teachings, if we are to regard Christianity as the only exception to the rule, it stands self-convicted as an imperfect religion; but that is not true at all. The inner teaching is found in Christianity as in all the other religions; it could not be otherwise, since all are endeavors to state, from different points of view, the truth which lies behind all of them alike.

Vì trong mọi tôn giáo thế giới vĩ đại khác đều có những giáo huấn cao hơn này, nếu chúng ta xem Cơ Đốc giáo là ngoại lệ duy nhất đối với quy luật, thì nó tự kết án mình là một tôn giáo bất toàn; nhưng điều đó hoàn toàn không đúng. Giáo huấn nội tại được tìm thấy trong Cơ Đốc giáo cũng như trong tất cả các tôn giáo khác; không thể khác được, vì tất cả đều là những nỗ lực nhằm trình bày, từ những điểm nhìn khác nhau, chân lý nằm phía sau tất cả như nhau.

In his Retractions (Book 1,chapter 13, verse 3), St. Augustine, one of the greatest of the Christian Fathers, in a remarkable passage, says: “This which we now call the Christian religion existed among the ancients and was from the beginning of the human race until Christ himself came in the flesh, from which time the already existing true religion began to be styled Christianity.” One could not have a plainer statement than that from a Father of the Church, that the true religion had existed all the time; since Christ came, people began to call it Christianity because they were now putting forth the form of it which He had taught, which was only a new statement of the truth that had always been known.

Trong tác phẩm Retractions của ông (Quyển 1, chương 13, câu 3), Thánh Augustine, một trong các Giáo phụ Cơ Đốc vĩ đại nhất, trong một đoạn đáng chú ý, nói: “Điều mà nay chúng ta gọi là tôn giáo Cơ Đốc đã tồn tại nơi người xưa và đã có từ khởi đầu của nhân loại cho đến khi chính Đức Christ đến trong xác thịt, từ thời điểm ấy tôn giáo chân thật vốn đã hiện hữu bắt đầu được gọi là Cơ Đốc giáo.” Người ta không thể có một phát biểu nào rõ ràng hơn từ một Giáo phụ, rằng tôn giáo chân thật đã tồn tại suốt mọi thời; từ khi Đức Christ đến, người ta bắt đầu gọi nó là Cơ Đốc giáo vì bấy giờ họ đang đưa ra hình thức của nó mà Ngài đã dạy, vốn chỉ là một cách trình bày mới về chân lý đã luôn được biết đến.

The Mysteries of the Kingdom

Các Bí Nhiệm của Thiên Giới

In the Gospels we find that Christ frequently told His disciples that He explained only to them the full meaning of what He wanted to teach and that He spoke to the public at large in parables. If we want to understand what that means we must first observe what Christ Himself declared, then what His apostles taught, and finally what was said by the Fathers of the Church who followed the apostles. In Mark 4:11 Christ says to His disciples: “Unto you it is given to know the mystery of the kingdom of God; but unto them that are without, all these things are done in parables.” Then a few verses lower down we read, with reference to His public teaching: “Without a parable spake he not to them,” but when He was alone with His disciples He explained all these things to them. It is a matter of common knowledge to students that in old traditions it is always stated that there was a triple meaning in all parables. First of all, there was the story just as it was told—a story for simple souls, an illustrative story; secondly, there was the intellectual meaning. For example, take the parable of the sower. It tells that a sower went forth to sow his seed, and some fell on good ground, some on rocky ground, some in sandy soil, and some among thorns. That is a story which we might tell to a child or to any simple person. Then comes the intellectual interpretation: Christ explained that the seed is the word of God and the different kinds of soil are the different types of hearts into which the seed falls. Behind that again, according to universal tradition, there was the deep, mystic, spiritual meaning, which was never written down at all, but was always conveyed from mouth to ear. In the secret teaching given only to those proved and tried members who showed that they were worthy of it, the inner meaning of that parable refers to the outpouring of the divine life into nature, and the different strata which it touches as it pours down, and the results which it is able to produce at those different levels.

Trong các sách Phúc Âm, chúng ta thấy Đức Christ thường nói với các đệ tử của Ngài rằng Ngài chỉ giải thích cho họ ý nghĩa đầy đủ của điều Ngài muốn dạy, và rằng Ngài nói với công chúng nói chung bằng các dụ ngôn. Nếu muốn thấu hiểu điều đó có nghĩa gì, trước hết chúng ta phải quan sát điều chính Đức Christ đã tuyên bố, rồi điều các sứ đồ của Ngài đã dạy, và sau cùng điều các Giáo phụ kế tiếp các sứ đồ đã nói. Trong Mark 4:11 Đức Christ nói với các đệ tử của Ngài: “Các ngươi được ban cho biết mầu nhiệm của Thiên Giới; nhưng đối với những kẻ ở ngoài, mọi điều này đều được thực hiện bằng dụ ngôn.” Rồi vài câu bên dưới, chúng ta đọc thấy, liên quan đến giáo huấn công khai của Ngài: “Ngài không nói với họ mà không dùng dụ ngôn,” nhưng khi Ngài ở riêng với các đệ tử, Ngài giải thích tất cả những điều này cho họ. Đối với các đạo sinh, đó là điều thường biết rằng trong các truyền thống xưa, người ta luôn nói rằng mọi dụ ngôn đều có ý nghĩa tam phân. Trước hết, có câu chuyện đúng như nó được kể — một câu chuyện dành cho các linh hồn đơn sơ, một câu chuyện minh họa; thứ hai, có ý nghĩa trí tuệ. Chẳng hạn, hãy lấy dụ ngôn người gieo giống. Dụ ngôn ấy kể rằng một người gieo giống đi ra gieo hạt, và một số hạt rơi trên đất tốt, một số trên đất đá, một số trong đất cát, và một số giữa gai góc. Đó là câu chuyện chúng ta có thể kể cho một đứa trẻ hay bất kỳ người đơn sơ nào. Rồi đến cách diễn giải trí tuệ: Đức Christ giải thích rằng hạt giống là Linh từ của Thượng đế và các loại đất khác nhau là các loại tâm hồn khác nhau nơi hạt giống rơi vào. Đằng sau đó nữa, theo truyền thống phổ quát, có ý nghĩa sâu xa, thần bí, tinh thần, vốn tuyệt nhiên không bao giờ được viết xuống, mà luôn được truyền từ miệng đến tai. Trong giáo huấn bí mật chỉ được trao cho những thành viên đã được chứng nghiệm và thử thách, những người tỏ ra xứng đáng với nó, ý nghĩa nội tại của dụ ngôn ấy liên quan đến lần tuôn đổ của sự sống thiêng liêng vào thiên nhiên, và những tầng lớp khác nhau mà nó chạm đến khi tuôn xuống, cùng những kết quả mà nó có thể tạo ra ở các cấp độ khác nhau ấy.

Then again, according to John 16:12, Christ said, on the night before His death: “I have yet many things to say unto you, but ye cannot bear them now.” When was He to say these “many things” to them, and when was it that they would be able to bear them? Obviously, it must have been in that time after the Resurrection when, we are informed, He taught them all things concerning the kingdom of God. But where is the record of that teaching? It is impossible to suppose that it was forgotten. It must have been treasured with the rest of the disciples’ memories.

Lại nữa, theo John 16:12, Đức Christ nói vào đêm trước khi Ngài chết: “Ta còn nhiều điều phải nói với các ngươi, nhưng bây giờ các ngươi chưa thể chịu nổi.” Khi nào Ngài sẽ nói “nhiều điều” ấy với họ, và khi nào họ có thể chịu nổi? Hiển nhiên, hẳn phải là trong thời gian sau Phục Sinh, khi, như chúng ta được cho biết, Ngài dạy họ mọi điều liên quan đến Thiên Giới. Nhưng đâu là bản ghi chép giáo huấn ấy? Không thể giả định rằng nó đã bị quên lãng. Hẳn nó đã được trân giữ cùng với phần còn lại trong ký ức của các đệ tử.

There are many gospels besides those generally known, and in some of them are traces of these secret teachings. One of those is the great Gnostic gospel called the Pistis Sophia— the “Faith Wisdom”—and in that it is stated that Christ communicated with His disciples and taught them after His death; not for forty days only, until the time of the Ascension, but for eleven years after His resurrection He continued to teach them. Some of His instruction is given in that very book, but much of it is obscure and very hard to understand because it has passed through three translations before we read it. If ever an original copy is found, we shall probably obtain from it a very much better idea of the teachings of the Gnostics than is available at present.   23    

Có nhiều sách Phúc Âm ngoài những sách thường được biết đến, và trong một số sách có dấu vết của các giáo huấn bí mật này. Một trong số đó là sách Phúc Âm Ngộ đạo vĩ đại gọi là Pistis Sophia— “Minh Triết Đức Tin” — và trong đó nói rằng Đức Christ đã giao tiếp với các đệ tử và dạy họ sau khi Ngài chết; không chỉ trong bốn mươi ngày, cho đến thời điểm Thăng Thiên, mà trong mười một năm sau Phục Sinh, Ngài tiếp tục dạy họ. Một phần giáo huấn của Ngài được đưa ra trong chính quyển sách ấy, nhưng phần lớn tối nghĩa và rất khó thấu hiểu vì đã đi qua ba lần dịch trước khi chúng ta đọc nó. Nếu một bản nguyên thủy từng được tìm thấy, có lẽ chúng ta sẽ từ đó có được một ý niệm tốt hơn nhiều về giáo huấn của các nhà Ngộ đạo so với điều hiện có ngày nay. 23

Christ Himself, throughout the New Testament, constantly uses technical terms which were employed in what used to be called the “heathen” Mysteries. One of those terms, “the kingdom of heaven,” I have already explained elsewhere. Then there is the text which relates that when the young man came and asked how he could reach aeonian life—the life proper to that aeon—Christ said: “If thou wilt be perfect [a term used in the Mysteries to indicate a certain degree—the fourth initiation], go and sell that thou hast, and give to the poor,… and come and follow me” (Matt. 19:21). That meant: “If you wish to reach the level of the perfect you will have to give a great deal of time to the work, therefore you must get rid of all your worldly encumbrances.” We are told that the young man went away sorrowful because he had great possessions. Then follows the statement by Christ that it is easier for a camel to go through the eye of a needle than for a rich man to enter the Kingdom of God.

Chính Đức Christ, trong suốt Tân Ước, liên tục dùng các thuật ngữ chuyên môn vốn được sử dụng trong những điều từng được gọi là các Bí nhiệm “ngoại giáo.” Một trong các thuật ngữ ấy, “nước trời,” tôi đã giải thích ở nơi khác. Rồi có đoạn văn thuật lại rằng khi người thanh niên đến hỏi làm thế nào y có thể đạt sự sống đại kiếp — sự sống thích hợp với đại kiếp ấy — Đức Christ nói: “Nếu ngươi muốn nên hoàn hảo [một thuật ngữ được dùng trong các Bí nhiệm để chỉ một cấp độ nào đó — lần điểm đạo thứ tư], hãy đi bán những gì ngươi có, cho người nghèo,… rồi hãy đến theo ta” (Matt. 19:21). Điều ấy có nghĩa là: “Nếu ngươi muốn đạt cấp độ của người hoàn hảo, ngươi sẽ phải dành rất nhiều thời gian cho công việc, vì thế ngươi phải loại bỏ mọi vướng bận trần thế của mình.” Chúng ta được kể rằng người thanh niên buồn rầu bỏ đi vì y có nhiều tài sản. Rồi tiếp theo là phát biểu của Đức Christ rằng con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Thiên Giới.

In all religions it has been held that poverty, chastity, and obedience were necessary for the highest form of development, and Christ here repeats the teaching of the Eastern sages: “It is exceedingly difficult for a rich man to become a great initiate” because, to reach that level, a man must devote most of his time to study and work, and if he be a rich man cumbered with all sorts of business cares and worldly duties, he cannot very well do that. Worldly wealth is a great privilege, and it is given to a man as an opportunity, as a test, to see whether he will use it rightly. But besides being a test and an opportunity it implies very serious responsibility. The man who has great wealth must surely administer it for Christ and for His work, and that will mean that he must devote much time and attention to it, and while he is fulfilling that duty it would be very difficult for him to have time to devote to meditation and spiritual advancement.

Trong mọi tôn giáo, người ta cho rằng nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục là cần thiết cho hình thức phát triển cao nhất, và ở đây Đức Christ lặp lại giáo huấn của các hiền triết phương Đông: “Người giàu trở thành một điểm đạo đồ vĩ đại là điều cực kỳ khó,” vì để đạt cấp độ ấy, con người phải hiến dâng phần lớn thời gian của mình cho học hỏi và công việc, và nếu y là người giàu bị chất nặng bởi đủ loại lo âu kinh doanh và bổn phận trần thế, y khó có thể làm điều đó. Của cải trần thế là một đặc quyền lớn, và nó được trao cho con người như một cơ hội, như một thử thách, để xem y có dùng nó đúng đắn hay không. Nhưng ngoài việc là một thử thách và một cơ hội, nó hàm ý một trách nhiệm rất nghiêm trọng. Người có của cải lớn chắc chắn phải quản trị nó cho Đức Christ và cho công việc của Ngài, và điều đó có nghĩa là y phải dành nhiều thời gian và sự chú tâm cho nó; và trong khi y đang chu toàn bổn phận ấy, sẽ rất khó để y có thời gian dành cho tham thiền và sự tiến bộ tinh thần.

Again, the Christ speaks about not giving that which is holy to the dogs, or casting pearls before swine (Matt. 7:6). We should not consider it polite to call people dogs and swine in these days, but those are technical terms in the Mysteries. One of them is used in a great secret society of the present day, though many of its members are not aware of its origin. Probably those words were used in the Mysteries to indicate outsiders, and because no one outside the Mysteries knew about it there was no misunderstanding.

Lại nữa, Đức Christ nói về việc không trao điều thánh cho chó, hay ném ngọc trai trước heo (Matt. 7:6). Ngày nay chúng ta sẽ không xem việc gọi người ta là chó và heo là lịch sự, nhưng đó là các thuật ngữ chuyên môn trong các Bí nhiệm. Một trong những thuật ngữ ấy được dùng trong một hội kín lớn của thời hiện tại, dù nhiều thành viên của hội ấy không biết nguồn gốc của nó. Có lẽ những từ ấy đã được dùng trong các Bí nhiệm để chỉ những người ở ngoài, và vì không ai ngoài các Bí nhiệm biết về điều đó nên không có sự hiểu lầm.

St. Paul

Thánh Paul

The writings of St. Paul are also full of references to occult teaching. He speaks of the Mysteries, and he uses technical terms, even as Christ does, very freely. In the first Epistle to the Corinthians he says: “We speak wisdom among them that are perfect” (1 Cor. 2:6–7). If it meant “perfect” in the ordinary sense of the word, what would be the use of teaching them at all? What he means is, “We give that higher teaching to the people to whose degree it belongs.” There were different degrees in the Mysteries just as there are in other organizations; to each degree belonged the teaching of the degree, and it was never given to any one in a lower stage. So to the “perfect” was given the “wisdom” or gnosis.

Các trước tác của Thánh Paul cũng đầy những ám chỉ đến giáo huấn huyền bí. Ông nói về các Bí nhiệm, và ông dùng các thuật ngữ chuyên môn, cũng như Đức Christ, một cách rất tự do. Trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Corinth, ông nói: “Chúng tôi nói minh triết giữa những người hoàn hảo” (1 Cor. 2:6–7). Nếu nó có nghĩa là “hoàn hảo” theo nghĩa thông thường của từ ấy, thì dạy họ còn có ích gì? Điều ông muốn nói là: “Chúng tôi trao giáo huấn cao hơn ấy cho những người thuộc về cấp độ đó.” Trong các Bí nhiệm có những cấp độ khác nhau, cũng như trong các tổ chức khác; mỗi cấp độ có giáo huấn của cấp độ ấy, và giáo huấn ấy không bao giờ được trao cho bất kỳ ai ở giai đoạn thấp hơn. Vì vậy, cho những người “hoàn hảo” đã được trao “minh triết” hay gnosis.

Gnosis, or “wisdom,” was another technical term.   24    It did not mean ordinary wisdom, but the special religious teaching given to those who are at the stage of the perfect. The whole passage to which I am referring is full of significance. It runs: “Howbeit we speak wisdom among them that are perfect; yet not the wisdom of this world, nor of the princes of this world, that come to nought. But we speak the wisdom of God in a mystery, even the hidden wisdom, which God ordained before the world unto our glory.” If St. Paul meant any ordinary Christian teaching, that statement is flagrantly untrue. It has often been asserted that all these references to Mysteries were to the Holy Eucharist. It is true that only those who had reached a certain level were permitted to be present at it, but it was not a Mystery in that sense.

Gnosis, hay “minh triết,” là một thuật ngữ chuyên môn khác. 24 Nó không có nghĩa là minh triết thông thường, mà là giáo huấn tôn giáo đặc biệt được trao cho những ai ở giai đoạn của người hoàn hảo. Toàn bộ đoạn văn mà tôi đang đề cập đầy thâm nghĩa. Nó viết: “Tuy nhiên, chúng tôi nói minh triết giữa những người hoàn hảo; nhưng không phải minh triết của thế gian này, cũng không phải của các vương hầu thế gian này, là những kẻ sẽ tiêu vong. Nhưng chúng tôi nói minh triết của Thượng đế trong một mầu nhiệm, tức minh triết ẩn tàng, mà Thượng đế đã định trước khi có thế gian để đem lại vinh quang cho chúng ta.” Nếu Thánh Paul muốn nói đến bất kỳ giáo huấn Cơ Đốc thông thường nào, thì phát biểu ấy rõ ràng là không đúng. Người ta thường quả quyết rằng tất cả những ám chỉ này đến các Bí nhiệm là ám chỉ Bí tích Thánh Thể. Đúng là chỉ những ai đã đạt một cấp độ nào đó mới được phép hiện diện ở đó, nhưng đó không phải là một Bí nhiệm theo nghĩa ấy.

It could not have been the Holy Eucharist, because the apostle was writing to the Corinthian Church and, from what he says in other parts of the epistle (as where he speaks of certain rites which attended their celebrations of the Holy Communion), it is evident that those Corinthians were full communicants, fit only for the earlier wisdom; so certainly the Mysteries which were not taught to them were not the Eucharist. Continuing, St. Paul speaks of the teaching known of God which the Holy Ghost teaches. Again, he uses also other technical terms, calling himself a master builder and a steward of the Mysteries of Christ. He also speaks of striving if by any means he “might attain to the resurrection of the dead” (Phil. 3:11). People generally take that to mean that he, the great apostle, was not sure whether he would rise again at the last day. But all are to rise again according to the teaching—the good and the bad alike. There is no effort needed for that. What was it he was striving so earnestly to attain? Of course, he was aiming to reach the great initiation which liberates men, which sets them free from the earth. He says: “I press toward the mark for the prize of the high calling of God in Christ Jesus”; and in a verse or two later on he urges “as many as be perfect” to strive, as he is striving, to attain the resurrection from death—the escape from the wheel of birth and death—but he does not recommend the ordinary church members to do it because he knows it is out of their reach as yet. He concludes his exhortation to the “perfect” with the significant words: “For our conversation is in heaven; from whence also we look for the Savior, the Lord Jesus Christ, who shall change our vile body, that it may be fashioned like unto his glorious body, according to the working whereby he is able to subdue all things unto himself ” (Phil. 3:20–21).

Đó không thể là Bí tích Thánh Thể, vì sứ đồ đang viết cho Giáo hội Corinth và, từ những điều ông nói trong các phần khác của bức thư (như nơi ông nói về một số nghi lễ đi kèm các buổi cử hành Tiệc Thánh của họ), hiển nhiên những tín hữu Corinth ấy là những người được rước lễ đầy đủ, chỉ thích hợp với minh triết ban đầu; vì vậy chắc chắn các Bí nhiệm không được dạy cho họ không phải là Bí tích Thánh Thể. Tiếp tục, Thánh Paul nói về giáo huấn được biết bởi Thượng đế mà Chúa Thánh Thần dạy. Lại nữa, ông cũng dùng những thuật ngữ chuyên môn khác, tự gọi mình là một bậc thầy kiến tạo và là người quản nhiệm các Bí nhiệm của Đức Christ. Ông cũng nói về việc phấn đấu để bằng mọi cách ông “có thể đạt đến sự phục sinh từ cõi chết” (Phil. 3:11). Người ta thường hiểu điều đó có nghĩa là ông, vị sứ đồ vĩ đại, không chắc mình có sống lại vào ngày sau hết hay không. Nhưng theo giáo huấn, tất cả đều sẽ sống lại — người tốt và kẻ xấu như nhau. Không cần nỗ lực nào cho điều đó. Vậy điều gì ông đang phấn đấu hết sức để đạt tới? Dĩ nhiên, ông đang nhắm đến lần điểm đạo vĩ đại vốn giải thoát con người, vốn làm họ tự do khỏi Trái Đất. Ông nói: “Tôi nhắm mục tiêu mà chạy, để giành giải thưởng của tiếng gọi cao cả của Thượng đế trong Đức Christ Jesus”; và một hai câu sau đó, ông thúc giục “tất cả những ai hoàn hảo” hãy phấn đấu, như ông đang phấn đấu, để đạt sự phục sinh khỏi cái chết — sự thoát khỏi bánh xe sinh tử — nhưng ông không khuyên các thành viên thông thường của giáo hội làm điều ấy, vì ông biết điều ấy hiện vẫn nằm ngoài tầm với của họ. Ông kết thúc lời khích lệ đối với những người “hoàn hảo” bằng những lời đầy thâm nghĩa: “Vì sự giao tiếp của chúng ta ở trên trời; từ đó chúng ta cũng trông đợi Đấng Cứu Thế, Đức Chúa Jesus Christ, Đấng sẽ biến đổi thân thể hèn mọn của chúng ta, để nó có thể được tạo hình giống như thân thể vinh quang của Ngài, theo quyền năng nhờ đó Ngài có thể quy phục mọi sự về chính Ngài” (Phil. 3:20–21).

Clement of Alexandria

Clement xứ Alexandria

The Christian Fathers also constantly use the technical terms of the Mysteries. St. Clement of Alexandria borrows a whole sentence from neo-Pythagorean documents when he says, “It is not lawful to reveal to the profane the mysteries of the Word.” The profane are those outside the temple. The last term is a translation of the Greek logos. In this sentence he inserts that word in the place of the Eleusinian goddesses who are mentioned in the original document.

Các Giáo phụ Cơ Đốc cũng liên tục dùng những thuật ngữ chuyên môn của các Bí nhiệm. Thánh Clement xứ Alexandria mượn nguyên một câu từ các văn kiện tân Pythagoras khi ông nói: “Không được phép tiết lộ cho kẻ phàm tục các bí nhiệm của Linh từ.” Kẻ phàm tục là những người ở ngoài đền thờ. Thuật ngữ cuối cùng là một bản dịch của từ Hy Lạp logos. Trong câu này, ông đặt từ ấy vào chỗ các nữ thần Eleusis được nhắc đến trong văn kiện nguyên thủy.

Nowadays Christianity considers it to be its highest glory that it has produced great saints, though it does not profess to be producing them at the present day. In earlier times it had the three degrees, purification, illumination, and perfection or deification. Then, purification meant what we now call saintship. The man who was purified was the man of high and holy living; the second degree gave him a knowledge of the Mysteries, and the third degree gave him unity with the Divine at a certain stage. We find the same three stages under other names in the oriental religions. In later days, all that was laid aside when the more ignorant section of the Church gained the upper hand, so we now have a maimed form of Christianity which is by no means as satisfactory a presentation of the eternal verities as are some of the other great religions of the world. The Church now contents herself with the preliminary purification; she has no illumination or perfection to give.

Ngày nay Cơ Đốc giáo xem vinh quang cao nhất của mình là đã tạo ra các vị thánh vĩ đại, dù hiện nay nó không tuyên bố đang tạo ra họ. Trong các thời kỳ trước, nó có ba cấp độ: thanh tẩy, soi sáng, và hoàn hảo hay thần hóa. Khi ấy, thanh tẩy có nghĩa là điều ngày nay chúng ta gọi là thánh thiện. Người đã được thanh tẩy là người sống cao thượng và thánh thiện; cấp độ thứ hai trao cho y tri thức về các Bí nhiệm, và cấp độ thứ ba trao cho y sự hợp nhất với Thiêng Liêng ở một giai đoạn nào đó. Chúng ta thấy cùng ba giai đoạn ấy dưới những tên gọi khác trong các tôn giáo phương Đông. Về sau, tất cả điều đó bị gạt sang một bên khi bộ phận vô minh hơn của Giáo hội giành được ưu thế, nên ngày nay chúng ta có một hình thức Cơ Đốc giáo bị tàn khuyết, hoàn toàn không phải là một sự trình bày thỏa đáng về các chân lý vĩnh cửu như một số tôn giáo lớn khác của thế giới. Giáo hội ngày nay tự bằng lòng với sự thanh tẩy sơ khởi; nó không có soi sáng hay hoàn hảo để trao.

Let us read what St. Clement of Alexandria has to say on this subject. Speaking of purification he writes: “Purity is only a negative state, valuable chiefly as the condition of insight”; that is to say, one cannot gain the higher levels through purity alone. He continues: “He who has been purified in baptism, and then initiated into the little Mysteries [has acquired the habit of self-control and reflection], becomes ripe for the greater Mysteries, for Epopteia or Gnosis, the scientific knowledge of God.”   25    

Chúng ta hãy đọc điều Thánh Clement xứ Alexandria nói về chủ đề này. Nói về thanh tẩy, ông viết: “Sự thanh sạch chỉ là một trạng thái phủ định, có giá trị chủ yếu như điều kiện của sự thấu thị”; nghĩa là, người ta không thể đạt các cấp độ cao hơn chỉ nhờ sự thanh sạch. Ông tiếp tục: “Người đã được thanh tẩy trong phép báp-têm, rồi được điểm đạo vào các Bí nhiệm nhỏ [đã đạt được thói quen tự chủ và suy xét], trở nên chín muồi cho các Bí nhiệm lớn hơn, cho Epopteia hay Gnosis, tri thức khoa học về Thượng đế.” 25

This latter, from the modern orthodox point of view, is a startling claim to make. Few preachers at the present day would claim to have scientific knowledge of God or ever to know in the least what such an expression meant. Yet there it stands in the writing of one of the earliest and greatest of the Church Fathers. Of course, there have always been doctors of the Church—men who have studied philosophy and theology, but generally only in a narrow and partisan spirit. Since the days of the great Gnostic teachers who were expelled for heresy, they have produced nothing at all to compare with the splendid metaphysics and philosophy of the Hindus or the Buddhists.

Điều sau này, từ quan điểm chính thống hiện đại, là một lời tuyên bố đáng kinh ngạc. Ít nhà giảng thuyết ngày nay dám tuyên bố có tri thức khoa học về Thượng đế, hay thậm chí biết chút nào ý nghĩa của một cách diễn đạt như vậy. Tuy nhiên, nó đứng đó trong trước tác của một trong các Giáo phụ sớm nhất và vĩ đại nhất. Dĩ nhiên, luôn luôn đã có các tiến sĩ của Giáo hội — những người đã nghiên cứu triết học và thần học, nhưng nói chung chỉ trong một tinh thần hẹp hòi và phe phái. Kể từ thời các huấn sư Ngộ đạo vĩ đại, những người bị trục xuất vì dị giáo, họ không tạo ra được gì có thể so sánh với nền siêu hình học và triết học huy hoàng của người Ấn giáo hay Phật giáo.

As to the third stage, that of perfection, they have simply forgotten all about it; yet it was clearly held by the early Fathers that man was capable of attaining “deification,” as that degree is often called in their writings.

Về giai đoạn thứ ba, giai đoạn hoàn hảo, họ đơn giản đã quên hết về nó; tuy nhiên, các Giáo phụ sơ kỳ rõ ràng cho rằng con người có khả năng đạt “thần hóa,” như cấp độ ấy thường được gọi trong các trước tác của họ.

What has become of this magnificent heritage of Christianity? Why was this wonderful wisdom lost, and how can it be regained? Happily it has not been lost. Though the ignorant majority endeavored with pious fury to destroy all traces of it, yet here and there a book has been discovered where something of the Gnostic teaching has been preserved. Moreover, as will be shown in the following chapters, an attempt has at least been made by some of the higher powers to guide those who have compiled those great symbols called the creeds, so that, whatever they themselves may have known, their language still clearly conveys the grand truths of the original teachings to all who have ears to hear; for much now incomprehensible in those formulae becomes at once luminous and full of meaning when understood in that inner sense which exalts it, from a fragment of unreliable biography into a declaration of eternal truth.

Di sản huy hoàng này của Cơ Đốc giáo đã trở thành gì? Vì sao minh triết kỳ diệu này bị mất, và làm thế nào nó có thể được khôi phục? May thay, nó chưa bị mất. Dù đa số vô minh đã cố gắng với cơn cuồng tín sùng đạo để tiêu hủy mọi dấu vết của nó, nhưng đây đó một quyển sách đã được phát hiện, nơi một phần nào đó của giáo huấn Ngộ đạo đã được bảo tồn. Hơn nữa, như sẽ được trình bày trong các chương sau, ít nhất đã có một nỗ lực của một số quyền năng cao hơn nhằm hướng dẫn những người đã biên soạn các biểu tượng vĩ đại gọi là các tín điều ấy, để cho, bất kể chính họ có thể đã biết gì, ngôn ngữ của họ vẫn truyền đạt rõ ràng những chân lý lớn lao của các giáo huấn nguyên thủy cho tất cả những ai có tai để nghe; vì nhiều điều nay không thể hiểu nổi trong những công thức ấy lập tức trở nên sáng tỏ và đầy ý nghĩa khi được thấu hiểu theo ý nghĩa nội tại ấy, vốn nâng nó lên từ một mảnh tiểu sử không đáng tin thành một tuyên ngôn về chân lý vĩnh cửu.

10 — 10

The Origin Of The Creeds — Nguồn Gốc Của Các Tín Điều

The Christian Church uses three creeds:    26    the Apostles’, the Nicene, and the Athanasian. I shall not deal with the last here since it is of much later origin than the first two. As at present found in the Prayer Book of the Church of England, these two creeds are as follows:

Giáo hội Cơ Đốc dùng ba tín điều: 26 Tín điều các Sứ đồ, Tín điều Nicaea, và Tín điều Athanasius. Ở đây tôi sẽ không bàn đến tín điều cuối, vì nó có nguồn gốc muộn hơn nhiều so với hai tín điều đầu. Như hiện nay thấy trong Sách Cầu Nguyện của Giáo hội Anh, hai tín điều này như sau:

The Apostles’ Creed

Tín Điều Các Sứ Đồ

I believe in God the Father Almighty, Maker of heaven and earth:

Tôi tin kính Thượng đế là Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng trời và đất:

And in Jesus Christ, his only Son our Lord, Who was conceived by the Holy Ghost, born of the Virgin Mary, suffered under Pontius Pilate, was crucified, dead and buried, He descended into hell. The third day he rose again from the dead, He ascended into heaven, and sitteth on the right hand of God the Father Almighty; from thence he shall come to judge the quick and the dead.

Và tin Đức Jesus Christ, Con duy nhất của Ngài, Chúa chúng ta, Đấng được hoài thai bởi Chúa Thánh Thần, sinh bởi Đức Trinh Nữ Mary, chịu khổ nạn dưới thời Pontius Pilate, bị đóng đinh trên thập giá, chết và được chôn, Ngài xuống địa ngục. Ngày thứ ba Ngài sống lại từ cõi chết, Ngài thăng lên trời, và ngự bên hữu Thượng đế là Cha Toàn Năng; từ đó Ngài sẽ đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết.

I believe in the Holy Ghost; the holy Catholick [sic] Church; the Communion of Saints; the Forgiveness of sins; The Resurrection of the body, and the life everlasting. Amen.

Tôi tin Chúa Thánh Thần; Giáo hội thánh phổ quát [sic]; sự hiệp thông của các Thánh; sự tha tội; sự phục sinh của thân thể, và sự sống đời đời. Amen.

The Nicene Creed

Tín Điều Nicaea

I believe in one God, the Father Almighty, Maker of heaven and earth, and of all things, visible and invisible:

Tôi tin kính một Thượng đế, là Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng trời và đất, cùng mọi sự hữu hình và vô hình:

And in one Lord Jesus Christ, the only-begotten Son of God, begotten of his Father before all worlds, God of God; Light of Light, very God of very God, begotten, not made, being of one substance with the Father, by whom all things were made: Who for us men, and for our salvation came down from heaven, and was incarnate by the Holy Ghost of the Virgin Mary, and was made man, and was crucified also for us under Pontius Pilate. He suffered and was buried, and the third day he rose again according to the Scriptures, and ascended into heaven, and sitteth on the right hand of the Father. And he shall come again with glory to judge both the quick and dead: Whose kingdom shall have no end.

Và tin một Chúa là Đức Jesus Christ, Con độc sinh của Thượng đế, được sinh bởi Cha trước mọi thế giới, Thượng đế bởi Thượng đế; Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thượng đế thật bởi Thượng đế thật, được sinh ra, không phải được tạo thành, đồng một chất với Cha, nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành: Đấng vì chúng ta là con người, và vì sự cứu rỗi của chúng ta, đã từ trời xuống, và nhập thể bởi Chúa Thánh Thần nơi Đức Trinh Nữ Mary, và trở thành người, và cũng vì chúng ta bị đóng đinh trên thập giá dưới thời Pontius Pilate. Ngài chịu khổ nạn và được chôn, và ngày thứ ba Ngài sống lại theo Thánh Kinh, và thăng lên trời, và ngự bên hữu Cha. Và Ngài sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét cả kẻ sống lẫn kẻ chết: Vương quốc của Ngài sẽ không cùng tận.

And I believe in the Holy Ghost; the Lord and giver of life, Who proceedeth from the Father and the Son, who with the Father and the Son together is worshipped and glorified, who spake by the Prophets. And I believe in one Catholick and Apostolic Church. I acknowledge one Baptism for the remission of sins. And I look for the Resurrection of the dead, and life of the world to come. Amen.

Và tôi tin Chúa Thánh Thần; Chúa và Đấng ban sự sống, Đấng phát xuất từ Cha và Con, Đấng cùng với Cha và Con được thờ phượng và tôn vinh, Đấng đã phán qua các Tiên tri. Và tôi tin một Giáo hội phổ quát và tông truyền. Tôi thừa nhận một phép báp-têm để được tha tội. Và tôi trông đợi sự phục sinh của kẻ chết, và sự sống của thế giới sẽ đến. Amen.

A century ago, the general opinion was that the Apostles’ Creed was the earlier of these and that the other two were merely amplifications of it, but it is now believed that the Nicene Creed is the oldest of the three. Some sort of creed seems to have been in use in the Church from the very beginning. In fact, in the days when the Christians were persecuted they used a very short form of the creed as a kind of password to secure admission to their meetings; a few words such as: “I believe in God the Father in whom are all things and in God the Son by whom are all things,” but the form varied very much in different places and at different times.

Một thế kỷ trước, ý kiến chung là Tín điều các Sứ đồ là tín điều sớm hơn trong các tín điều này, và hai tín điều kia chỉ là những sự khuếch đại của nó, nhưng hiện nay người ta tin rằng Tín điều Nicaea là cổ nhất trong ba tín điều. Dường như một hình thức tín điều nào đó đã được sử dụng trong Giáo hội ngay từ đầu. Thật vậy, vào những ngày người Cơ Đốc bị bách hại, họ dùng một hình thức tín điều rất ngắn như một loại mật khẩu để được vào các buổi nhóm họp; vài lời như: “Tôi tin Thượng đế là Cha, trong Ngài có muôn vật, và tin Thượng đế là Con, nhờ Ngài có muôn vật,” nhưng hình thức ấy thay đổi rất nhiều ở các nơi khác nhau và vào các thời điểm khác nhau.

The earliest mention we find of the Apostles’ Creed is in the fourth century, by Rufinus,   27    who tells us that each of the Twelve Apostles wrote one of the twelve clauses of it. I may mention that Rufinus is not a reliable author and that this curious idea of his is certainly not held by any scholar at the present day. The earliest date at which we find the Apostles’ Creed in anything like the form in which it now exists in the churches of Rome and England is in the eighth century, and it is supposed by the historians who have investigated the matter to be a mere conglomeration, a gathering together, of a number of separate and shorter creeds.

Lần nhắc đến sớm nhất mà chúng ta thấy về Tín điều các Sứ đồ là vào thế kỷ thứ tư, bởi Rufinus, 27 người kể với chúng ta rằng mỗi một trong Mười Hai Sứ đồ đã viết một trong mười hai mệnh đề của nó. Tôi có thể nhắc rằng Rufinus không phải là một tác giả đáng tin cậy, và ý tưởng kỳ lạ này của ông chắc chắn không được bất kỳ học giả nào ngày nay chấp nhận. Niên đại sớm nhất mà chúng ta thấy Tín điều các Sứ đồ ở một dạng nào đó giống với hình thức hiện nay của nó trong các giáo hội Rome và Anh là vào thế kỷ thứ tám, và các sử gia đã nghiên cứu vấn đề này cho rằng nó chỉ là một khối kết tập, một sự gom góp, của nhiều tín điều riêng biệt và ngắn hơn.

The Creed of Nicaea

Tín Điều Nicaea

As to the Nicene Creed, there is no doubt as to its origin. It was drawn up, though not exactly as we have it now, in the year 325 at the Council of Nicaea. That council was convened for the purpose of dealing with what is called the Arian heresy. There was a certain priest named Arius who maintained that the orthodox beliefs were in various ways inaccurate and, in consequence of his teaching, great controversies raged between his followers and the materialistic ecclesiastical party as to whether the Father had existed before the Son and whether the Father and the Son were of the same nature or of like nature. In English, we have two distinct words to express this difference of meaning, but the distinction in Greek is marked only by a very slight thing, the difference of a mere point. “Of the same nature” is homos; “of like nature” homoios. It is oi instead of o, and when the i comes in a word like that it is generally written as a small i, but when it comes as the second letter of a diphthong it is frequently written as a little dot. So the difference about which the whole Church fought for years was a question of a dot!

Về Tín điều Nicaea, không có nghi ngờ gì về nguồn gốc của nó. Nó được soạn thảo, dù không chính xác như bản hiện nay của chúng ta, vào năm 325 tại Công đồng Nicaea. Công đồng ấy được triệu tập nhằm xử lý điều gọi là dị giáo Arius. Có một linh mục tên Arius chủ trương rằng các niềm tin chính thống không chính xác theo nhiều cách, và do giáo huấn của ông, những tranh luận lớn đã bùng lên giữa các môn đồ của ông và phe giáo hội duy vật về việc Cha có hiện hữu trước Con hay không, và Cha với Con là cùng một bản chất hay là bản chất giống nhau. Trong tiếng Anh, chúng ta có hai từ riêng biệt để diễn tả sự khác biệt ý nghĩa này, nhưng sự phân biệt trong tiếng Hy Lạp chỉ được đánh dấu bằng một điều rất nhỏ, sự khác biệt của một chấm đơn thuần. “Cùng một bản chất” là homos; “bản chất giống nhau” là homoios. Đó là oi thay vì o, và khi chữ i xuất hiện trong một từ như vậy, nó thường được viết như một chữ i nhỏ, nhưng khi nó xuất hiện như chữ thứ hai của một nguyên âm đôi, nó thường được viết như một chấm nhỏ. Vì vậy, sự khác biệt mà toàn thể Giáo hội đã tranh đấu trong nhiều năm chỉ là vấn đề một chấm!

When we consider that the exact truth about the matter is a thing which no human being could possibly know, and, moreover, it could not possibly make the slightest difference to any of us which of the two theories is true, it is clear that the squabble was futile and unnecessary. It is noticeable in all those theological controversies that the smaller the difference of opinion, the greater was the amount of bitterness and hatred aroused in connection with it: probably there was never a worse squabble in the Church. It is not altogether surprising that Arius should have maintained that the Father must have existed before His Son; there is a certain claim of reasonableness about such an idea. However, the Council of Nicaea, largely directed by the emperor Constantine, decided that that was not so, but that they were coeternal and coequal. Undoubtedly they are from one point of view, for one must not be bound down by material conceptions of Father and Son when these words are employed symbolically. The Nicene Creed, as it was drawn up by that council, omitting the final clauses (it ends with a terrible curse on all who would not accept it) is as follows:

Khi chúng ta xét rằng chân lý chính xác về vấn đề này là điều không một con người nào có thể biết được, và hơn nữa, việc thuyết nào trong hai thuyết ấy là đúng cũng không thể tạo ra chút khác biệt nào cho bất kỳ ai trong chúng ta, thì rõ ràng cuộc cãi vã ấy là vô ích và không cần thiết. Điều đáng chú ý trong tất cả những tranh luận thần học ấy là sự khác biệt quan điểm càng nhỏ, thì mức độ cay đắng và thù hận được khơi dậy liên quan đến nó càng lớn: có lẽ chưa từng có cuộc cãi vã nào tệ hơn trong Giáo hội. Không hoàn toàn đáng ngạc nhiên khi Arius chủ trương rằng Cha hẳn phải hiện hữu trước Con của Ngài; có một mức độ hợp lý nào đó trong ý tưởng như vậy. Tuy nhiên, Công đồng Nicaea, phần lớn do hoàng đế Constantine chỉ đạo, đã quyết định rằng điều đó không phải như vậy, mà các Ngài đồng vĩnh cửu và đồng bình đẳng. Không nghi ngờ gì, xét từ một quan điểm, các Ngài là như vậy, vì người ta không được bị trói buộc bởi những quan niệm vật chất về Cha và Con khi các từ này được dùng một cách biểu tượng. Tín điều Nicaea, như được soạn thảo bởi công đồng ấy, bỏ đi các mệnh đề cuối cùng (nó kết thúc bằng một lời nguyền khủng khiếp dành cho tất cả những ai không chấp nhận nó), như sau:

We believe in one God, the Father Almighty, Maker of all things both visible and invisible; and in one Lord, Jesus Christ, the Son of God, begotten of the Father, only-begotten, that is to say, of the substance of the Father, God of God, Light of Light, very God of very God,   28    begotten, not made, being of one substance with the Father, by whom all things were made, both things in heaven and things in earth—who for us men and for our salvation came down and was made flesh, and was made man, suffered and rose again on the third day, went up into the heavens and is to come again to judge the quick and the dead, and in the Holy Ghost. (Translation by G.R.S. Mead)

Chúng tôi tin một Thượng đế, là Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng mọi vật cả hữu hình lẫn vô hình; và tin một Chúa, Đức Jesus Christ, Con của Thượng đế, được sinh bởi Cha, độc sinh, nghĩa là, từ chất liệu của Cha, Thượng đế bởi Thượng đế, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thượng đế thật bởi Thượng đế thật, 28 được sinh ra, không phải được tạo thành, đồng một chất với Cha, nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành, cả những sự trên trời lẫn những sự dưới đất — Đấng vì chúng ta là con người và vì sự cứu rỗi của chúng ta đã từ trời xuống và trở thành xác thịt, và trở thành người, chịu khổ nạn và sống lại vào ngày thứ ba, lên các tầng trời và sẽ lại đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết, và tin Chúa Thánh Thần. (Bản dịch của G.R.S. Mead)

Comparing it with the form in which it appears in the Prayer Book of the Church of England, we notice several differences. There is not a word about Christ being crucified. It does not mention the birth from the Holy Ghost or by the Holy Ghost from the Virgin Mary, which is found in the more modern form and is a wrong translation. We also observe that there is nothing in it about Pontius Pilate, and, furthermore, all the latter part is omitted. That, with the exception of the words “and the Son,” was added to it at the Council of Constantinople in the year 381, so that really it is the Constantinopolitan rather than the Nicene Creed which the Church uses now. That other very important addition, the word filioque, which means “and the Son,” was made by the Western Church at the Council of Toledo in the year 587, and thereby hangs the whole of the difference between the Greek Church and the Western Church of Rome and England as to whether the Holy Ghost proceeds from the Father alone or from the Father and the Son.

So sánh nó với hình thức trong Sách Cầu Nguyện của Giáo hội Anh, chúng ta nhận thấy vài khác biệt. Không có một lời nào về việc Đức Christ bị đóng đinh trên thập giá. Nó không nhắc đến việc sinh bởi Chúa Thánh Thần hay nhờ Chúa Thánh Thần từ Đức Trinh Nữ Mary, điều có trong hình thức hiện đại hơn và là một bản dịch sai. Chúng ta cũng thấy rằng trong đó không có gì về Pontius Pilate, và hơn nữa, toàn bộ phần sau bị lược bỏ. Phần ấy, ngoại trừ các từ “và Con,” đã được thêm vào tại Công đồng Constantinople năm 381, đến nỗi thực sự Giáo hội hiện nay dùng Tín điều Constantinople hơn là Tín điều Nicaea. Sự bổ sung rất quan trọng khác, từ filioque, nghĩa là “và Con,” đã được Giáo hội Tây phương thêm vào tại Công đồng Toledo năm 587, và từ đó phát sinh toàn bộ sự khác biệt giữa Giáo hội Hy Lạp và Giáo hội Tây phương của Rome và Anh về việc Chúa Thánh Thần phát xuất từ riêng Cha hay từ Cha và Con.

Three Sources

Ba Nguồn

This is the history of the creed as generally accepted. Clairvoyant investigation has modified these conclusions to some extent.   29    It has shown that there are three separate sources which we must take into account if we want to understand how the creeds grew to be what they are now. These are: (1) an ancient formula, explaining the descent into matter, given by Christ Himself to the Essenes;   30    (2) the rubric for the guidance of the hierophant in the Egyptian form of the first initiation;   31    and (3) the materializing tendency, which sought to bring the whole teaching down to the physical plane and to interpret it as relating to the biography of an individual.

Đây là lịch sử của tín điều như thường được chấp nhận. Sự khảo sát thông nhãn đã điều chỉnh những kết luận này đến một mức nào đó. 29 Nó đã cho thấy rằng có ba nguồn riêng biệt mà chúng ta phải tính đến nếu muốn thấu hiểu các tín điều đã phát triển thành hình thức hiện nay như thế nào. Đó là: (1) một công thức cổ xưa, giải thích sự giáng xuống vào vật chất, do chính Đức Christ trao cho người Essene; 30 (2) nghi thức chỉ dẫn cho vị chủ lễ điểm đạo trong hình thức Ai Cập của lần điểm đạo thứ nhất; 31 và (3) khuynh hướng hiện hình hóa, vốn tìm cách kéo toàn bộ giáo huấn xuống cõi hồng trần và diễn giải nó như liên quan đến tiểu sử của một cá nhân.

Let us consider each of these sources in a little more detail. Every religion in the world has some theory, some statement, as to how the world came into existence. In Christianity we have, unfortunately, very largely accepted the Jewish statement, which contains two contradictory versions. In the Book of Genesis we find one very elaborate statement which runs through the first chapter and up to the third verse of the second, and then another account begins, which does not agree with the first one at all. Neither of these is a clear or comprehensive statement, and each needs a great deal of explanation to make it agree in any way with our scientific knowledge.   32    It can, with a certain amount of latitude, be translated into some kind of symbol of the order in which things came forth from the Deity. The idea of creation in six days is, of course, sheer nonsense, and all the higher critics agree that those days were vast aeons. Even so, the statement given in the creed is a clearer and better one, if people would only see it; but, instead of accepting it, Christians have preferred to accept the Jewish idea.

Chúng ta hãy xem xét từng nguồn này chi tiết hơn một chút. Mọi tôn giáo trên thế giới đều có một lý thuyết nào đó, một phát biểu nào đó, về cách thế giới đi vào hiện hữu. Trong Cơ Đốc giáo, thật đáng tiếc, chúng ta phần lớn đã chấp nhận phát biểu của Do Thái giáo, vốn chứa hai bản tường thuật mâu thuẫn nhau. Trong Sách Sáng Thế, chúng ta thấy một phát biểu rất công phu kéo dài suốt chương thứ nhất cho đến câu thứ ba của chương thứ hai, rồi sau đó một bản tường thuật khác bắt đầu, hoàn toàn không phù hợp với bản thứ nhất. Cả hai đều không phải là một phát biểu rõ ràng hay bao quát, và mỗi bản đều cần rất nhiều giải thích để có thể phù hợp theo bất cứ cách nào với tri thức khoa học của chúng ta. 32 Với một mức độ linh hoạt nào đó, nó có thể được chuyển dịch thành một loại biểu tượng nào đó về trật tự trong đó các sự vật xuất lộ từ Thượng đế. Ý tưởng về sáng tạo trong sáu ngày, dĩ nhiên, là điều hoàn toàn vô nghĩa, và tất cả các nhà phê bình cao cấp đều đồng ý rằng những ngày ấy là những đại kiếp mênh mông. Dù vậy, phát biểu được đưa ra trong tín điều vẫn rõ ràng hơn và tốt hơn, giá như người ta chịu thấy điều đó; nhưng, thay vì chấp nhận nó, các tín đồ Cơ Đốc lại thích chấp nhận ý tưởng Do Thái hơn.

The formula of cosmogenesis taught by Christ to His disciples was certainly the first source of our creed. I do not profess to be able to give the exact words used by the Christ, but merely a paraphrase of its meaning as enshrined in the hearts of those to whom it was taught. It runs as follows:

Công thức về vũ trụ sinh luận do Đức Christ dạy cho các đệ tử của Ngài chắc chắn là nguồn đầu tiên của tín điều chúng ta. Tôi không tự nhận là có thể đưa ra đúng nguyên văn những lời Đức Christ đã dùng, mà chỉ là một diễn ý về thâm nghĩa của nó như đã được lưu giữ trong tâm hồn những người được Ngài dạy. Công thức ấy như sau:

We believe in God the Father, from whom comes the system—yea, our world and all things therein, whether seen or unseen;

Chúng tôi tin nơi Thượng đế là Cha, từ Ngài hệ thống phát sinh—đúng vậy, thế giới của chúng ta và mọi sự trong đó, dù hữu hình hay vô hình;

And in God the Son, most holy, alone-born from his Father before all the aeons, not made but emanated, being of the very substance of the Father, true God from the true God, true Light from the true Light, by whom all forms were made; who for us men came down from heaven and entered the dense sea, yet riseth thence again in ever greater glory to a Kingdom without end;

Và nơi Thượng đế là Con, chí thánh, được sinh ra một mình từ Cha của Ngài trước mọi đại kiếp, không được tạo thành mà được xuất lộ, đồng bản chất với Cha, Thượng đế thật từ Thượng đế thật, Ánh sáng thật từ Ánh sáng thật, bởi Ngài mọi hình tướng được tạo thành; Đấng vì chúng ta là con người đã từ trời xuống và đi vào biển đậm đặc, nhưng từ đó lại trỗi dậy trong vinh quang ngày càng lớn lao hơn, đi vào một Thiên Giới không cùng tận;

And in God the Holy Ghost, the Life-Giver, emanating also from the Father, equal with him and with the Son in glory; who manifested through his Angels.

Và nơi Thượng đế là Chúa Thánh Thần, Đấng Ban Sự Sống, cũng xuất lộ từ Cha, ngang bằng với Ngài và với Con trong vinh quang; Đấng biểu hiện qua các Thiên Thần của Ngài.

We recognize one brotherhood of men as leading to the Greater Brotherhood above, one initiation for emancipation from the fetters of sin and for escape from the wheel of birth and death into eternal life.

Chúng tôi nhận biết một tình huynh đệ của nhân loại như dẫn đến Đại Huynh Đệ cao hơn ở trên, một cuộc điểm đạo để giải thoát khỏi xiềng xích của tội lỗi và thoát khỏi bánh xe sinh tử đi vào sự sống vĩnh cửu.

That is a very rough approximation to the original formula as it was given by the Christ—not to the general public, but to the Essenes, the community among whom Jesus was brought up.

Đó là một bản xấp xỉ rất thô sơ với công thức nguyên thủy như Đức Christ đã ban ra—không phải cho công chúng nói chung, mà cho phái Essene, cộng đồng trong đó Đức Jesus đã được nuôi dạy.

In considering the second source, we have to remember that in the Mysteries of ancient Egypt there was a very elaborate symbolical ritual in which the candidate for initiation was made to play the part of a mythical hero; he was put through a figurative death burial and resurrection, and was laid upon a wooden cross at one part of the ceremony. That is where the idea of the crucifixion of Christ took its rise. It is not historical, because the death of Jesus took place before the Romans occupied Judea, and crucifixion was a Roman, not a Jewish form, of punishment.   33    But the rubric for the guidance of the officiating hierophant in the Egyptian ritual became incorporated with our creed, though it had existed thousands and thousands of years before the time of the Christ. Jesus had visited Egypt and had been initiated there, so the Christ must have been entirely familiar with all these ideas, as were most of the Essenes whom He taught. It is very natural, therefore, that He should have used that rubric to illustrate the descent of the Logos in His Second Aspect into matter.

Khi xét đến nguồn thứ hai, chúng ta phải nhớ rằng trong các Bí Nhiệm của Ai Cập cổ đại có một nghi thức biểu tượng rất công phu, trong đó ứng viên điểm đạo được cho đóng vai một anh hùng thần thoại; y phải trải qua một cái chết, một cuộc mai táng và một sự phục sinh theo nghĩa tượng trưng, và trong một phần của nghi lễ, y được đặt trên một thập giá bằng gỗ. Chính từ đó ý tưởng về việc Đức Christ bị đóng đinh trên thập giá đã phát sinh. Điều đó không có tính lịch sử, vì cái chết của Đức Jesus xảy ra trước khi người La Mã chiếm đóng xứ Giuđê, và đóng đinh trên thập giá là một hình thức trừng phạt của La Mã, không phải của Do Thái. 33 Nhưng phần chỉ dẫn nghi lễ dành cho vị tư tế chủ lễ trong nghi thức Ai Cập đã được đưa vào tín điều của chúng ta, dù nó đã tồn tại hàng ngàn và hàng ngàn năm trước thời Đức Christ. Đức Jesus đã từng viếng thăm Ai Cập và đã được điểm đạo tại đó, cho nên Đức Christ hẳn phải hoàn toàn quen thuộc với tất cả những ý tưởng này, cũng như phần lớn các Essene mà Ngài đã dạy. Vì vậy, thật rất tự nhiên khi Ngài dùng phần nghi lễ ấy để minh họa sự giáng hạ của Thượng đế Ngôi Lời trong Phương diện Thứ Hai của Ngài vào vật chất.

The Materializing Tendency

Khuynh Hướng Vật Chất Hóa

Let us now examine the third source, the materializing tendency. At a very early period in the history of Christianity we find three schools or sections in the Church arising from different phases of the Christ’s life work. We read in the Gospels of His preaching to the people. We are in one passage given the impression that He did this for one year only, but in others we find the idea of three years. He did, as a matter of fact, teach for three years after He took possession of the body of the disciple Jesus at His Baptism by John the Baptist.   34    Two of these were devoted to teaching the higher philosophy to the community of the Essenes, these being already very highly spiritually trained people. This private teaching contained certain secret formulae which were never written down. Later on, when the original Essene community had been broken up, the different Gnostic sects alone represented something of the inner teaching given to the Essenes, though in many cases it was considerably influenced by Zoroastrian beliefs or by Assyrian and Babylonian teachings, so that we find various fragments of creeds very much mixed and often very confused and mutually contradictory.

Bây giờ chúng ta hãy khảo sát nguồn thứ ba, khuynh hướng vật chất hóa. Vào một thời kỳ rất sớm trong lịch sử Cơ Đốc giáo, chúng ta thấy có ba trường phái hay ba bộ phận trong Giáo Hội phát sinh từ những giai đoạn khác nhau trong công tác đời sống của Đức Christ. Chúng ta đọc trong các sách Phúc Âm về việc Ngài giảng dạy cho dân chúng. Trong một đoạn, chúng ta có ấn tượng rằng Ngài chỉ làm việc này trong một năm, nhưng trong những đoạn khác, chúng ta thấy ý tưởng về ba năm. Trên thực tế, Ngài đã giảng dạy trong ba năm sau khi Ngài tiếp nhận thể xác của đệ tử Jesus vào lúc Đức Jesus được John the Baptist làm phép rửa. 34 Hai năm trong số đó được dành cho việc giảng dạy triết học cao siêu hơn cho cộng đồng Essene, những người này vốn đã được huấn luyện tinh thần ở mức rất cao. Giáo huấn riêng tư này chứa một số công thức bí mật không bao giờ được ghi chép lại. Về sau, khi cộng đồng Essene nguyên thủy đã tan rã, chỉ các giáo phái Ngộ giáo khác nhau mới còn đại diện phần nào cho giáo huấn nội môn được ban cho các Essene, dù trong nhiều trường hợp giáo huấn ấy chịu ảnh hưởng đáng kể bởi các tín ngưỡng Zoroaster hoặc bởi những giáo huấn Assyria và Babylon, đến nỗi chúng ta thấy nhiều mảnh vụn tín điều khác nhau bị pha trộn rất nhiều, và thường rất rối rắm cũng như mâu thuẫn lẫn nhau.

After his sojourn with the Essenes, the Christ, for one year, did as is related in the Gospels—He wandered about the country preaching to the people. During this time He seems to have delivered two distinct kinds of addresses, the first being the logia or “sayings,” a series of short sentences each containing an important truth or a rule of conduct, and the second, the parakle eteria or “words of comfort”—moved by the deep compassion he felt for the misery and degradation of the lower classes. The logia are mentioned in the Church Fathers. We find a number of them in the Gospels as they are now: “I am the light of the world” [John 8:12]; “judge not that ye be not judged” [Matt. 7:1]; “Whatever ye would that men should do unto you, do ye also unto them” [Matt. 7:12]; and so on. During the first two centuries after Christ’s death, many of His disciples seem to have made and written down collections of the sayings which were ascribed to Him by oral tradition.

Sau thời gian lưu trú với các Essene, Đức Christ, trong một năm, đã làm như được thuật lại trong các sách Phúc Âm—Ngài đi khắp miền quê giảng dạy cho dân chúng. Trong thời gian này, dường như Ngài đã đưa ra hai loại diễn từ khác nhau, loại thứ nhất là logia hay “những lời dạy”, một loạt câu ngắn, mỗi câu chứa một chân lý quan trọng hoặc một quy luật ứng xử, và loại thứ hai là parakle eteria hay “những lời an ủi”—phát xuất từ lòng từ bi sâu xa mà Ngài cảm thấy đối với nỗi khốn cùng và sự suy đồi của các giai cấp thấp. Các logia được nhắc đến trong các Giáo Phụ. Chúng ta thấy một số trong đó trong các sách Phúc Âm như hiện nay: “Ta là ánh sáng của thế gian” [John 8:12]; “Đừng xét đoán để các ngươi khỏi bị xét đoán” [Matt. 7:1]; “Điều gì các ngươi muốn người ta làm cho mình, hãy làm điều ấy cho họ” [Matt. 7:12]; vân vân. Trong hai thế kỷ đầu sau cái chết của Đức Christ, dường như nhiều đệ tử của Ngài đã lập và ghi lại các tuyển tập những lời dạy được truyền khẩu quy cho Ngài.

There was a great stir when Grenfell and Hunt, working in Egypt, found a portion of one of these collections.   35    Many of the sayings it contained were those which already exist in our Bible, but there were some new ones also of great power and beauty. An exceedingly graceful one runs: “Cleave the wood and there thou shalt find Me; Raise the stone and there am I.” This is a very beautiful statement of the omnipresence of the Deity, of the immanence of God. There was a large body of Christians who took these logia as their guide in life. These were quiet and respectable people who did not embroil themselves with the authorities or get into trouble but quietly and steadfastly tried to follow these teachings. They represented what might be called the moderate party of the Church.

Có một sự xôn xao lớn khi Grenfell và Hunt, trong khi làm việc tại Ai Cập, tìm thấy một phần của một trong những tuyển tập này. 35 Nhiều lời dạy trong đó là những câu đã có trong Kinh Thánh của chúng ta, nhưng cũng có một số câu mới đầy quyền năng và vẻ đẹp. Một câu hết sức duyên dáng viết rằng: “Hãy chẻ gỗ ra, và ở đó con sẽ tìm thấy Ta; hãy nhấc hòn đá lên, và ở đó có Ta.” Đây là một phát biểu rất đẹp về tính hiện diện khắp nơi của Thượng đế, về tính nội tại của Thượng đế. Có một tập thể lớn các tín đồ Cơ Đốc đã lấy các logia này làm kim chỉ nam cho đời sống. Họ là những người trầm lặng và đáng kính, không tự vướng mình vào xung đột với nhà cầm quyền hay gặp rắc rối, mà âm thầm và kiên định cố gắng noi theo những giáo huấn ấy. Họ đại diện cho điều có thể gọi là phái ôn hòa của Giáo Hội.

The third section consisted of a turbulent and troublesome set of “poor men” whose only religion was a vague hope of revolution. Our Lord was profoundly impressed with the terrible oppression of the lower classes, with the slavery which was then universal, and with the degradation and the despair by which all these unfortunate people were overwhelmed, and it was in the endeavor to comfort and to help them that He uttered the parakle teria or “words of comfort.” Again and again He told them that they must endure nobly unto the end, but He never advised rebellion. He said: “If you will but follow my teaching, out of your sufferings will certainly arise a better time both after death and in your future lives. Work hard, take courage; there will come a time when those who oppress you will suffer in their turn, and you who have been oppressed will rise into higher and happier condition.” As there was a great deal of human nature in the first century as well as in the twentieth, there is no wonder that comparatively soon the people to whom these addresses were given forgot the qualifications: “If you bear this nobly and well, if you live according to my teaching,” and they translated His words into a vague general idea of a good time coming. Most of them thought that the injustice under which they suffered was to be righted by savage retribution; they imagined a time when they would be the oppressors and those who now trampled them down would suffer at their hands.

Bộ phận thứ ba gồm một nhóm “những người nghèo” náo loạn và gây phiền hà, tôn giáo duy nhất của họ là một hy vọng mơ hồ về cách mạng. Đức Chúa của chúng ta vô cùng xúc động trước sự áp bức khủng khiếp đối với các giai cấp thấp, trước chế độ nô lệ lúc ấy phổ biến khắp nơi, và trước sự suy đồi cùng tuyệt vọng đè nặng lên tất cả những con người bất hạnh này; và chính trong nỗ lực an ủi và giúp đỡ họ mà Ngài đã thốt ra các parakle teria hay “những lời an ủi”. Hết lần này đến lần khác, Ngài bảo họ rằng họ phải chịu đựng một cách cao thượng cho đến cuối cùng, nhưng Ngài không bao giờ khuyên nổi loạn. Ngài nói: “Nếu các con chỉ cần noi theo giáo huấn của Ta, thì từ những đau khổ của các con chắc chắn sẽ nảy sinh một thời kỳ tốt đẹp hơn, cả sau khi chết lẫn trong các kiếp sống tương lai của các con. Hãy làm việc chăm chỉ, hãy can đảm; sẽ đến một thời khi những kẻ áp bức các con sẽ đến lượt họ chịu khổ, và các con, những người đã bị áp bức, sẽ vươn lên một trạng thái cao hơn và hạnh phúc hơn.” Vì trong thế kỷ thứ nhất cũng như trong thế kỷ hai mươi có rất nhiều bản chất con người, nên không có gì lạ khi tương đối chẳng bao lâu sau, những người được nghe các diễn từ này đã quên mất các điều kiện: “Nếu các con chịu đựng điều này một cách cao thượng và đúng đắn, nếu các con sống theo giáo huấn của Ta,” và họ chuyển lời Ngài thành một ý tưởng chung mơ hồ về một thời kỳ tốt đẹp sẽ đến. Phần lớn họ nghĩ rằng sự bất công mà họ chịu đựng sẽ được sửa chữa bằng sự báo thù hung bạo; họ tưởng tượng một thời khi họ sẽ trở thành những kẻ áp bức, còn những người hiện đang chà đạp họ sẽ chịu khổ dưới tay họ.

This lower section of the early Christian Church become like David’s cave of Adullam in which all who were in distress, or in debt, or discontented, gathered together [1 Sam. 22:1; 2 Sam. 23:13; 1 Chron. 11:15]; in fact, there was a good deal of what we might call riffraff in that early Christian Church, and they very soon eliminated from their doctrine the condition of good living and simply banded together as believers in a good time coming when they would enter into possession of wealth and enjoyment of luxury. As this tendency developed they became imbued with all sorts of political and revolutionary ideas, and it was this great body of ignorant followers of Christ that made all the trouble between the early Church and the Roman government. I suppose there never was a more tolerant government in the world than that of Rome with regard to religious beliefs. It even went out of its way to take into account all the religions of all the people subject to it. For instance, as soon as it penetrated to the Roman authorities that Christ was being worshipped as a deity they promptly set up a statue to Him in the Pantheon. Most of them believed little themselves and they cared not at all what other people believed, but they were deeply concerned about what people did, and when the curious revolutionary beliefs of some of these early Christians led them to get athwart the government, they were at once suppressed with a heavy hand not because of what they believed but because of what they did or did not do.

Bộ phận thấp này của Giáo Hội Cơ Đốc sơ khai trở nên giống như hang Adullam của David, nơi tất cả những ai khốn khổ, mắc nợ hoặc bất mãn tụ họp lại [1 Sam. 22:1; 2 Sam. 23:13; 1 Chron. 11:15]; thật vậy, trong Giáo Hội Cơ Đốc sơ khai ấy có khá nhiều điều mà chúng ta có thể gọi là thành phần tạp nhạp, và họ rất nhanh chóng loại khỏi giáo lý của mình điều kiện về đời sống thiện lành, rồi đơn giản liên kết với nhau như những tín đồ tin vào một thời kỳ tốt đẹp sắp đến, khi họ sẽ được sở hữu của cải và hưởng thụ xa hoa. Khi khuynh hướng này phát triển, họ thấm nhuần đủ loại ý tưởng chính trị và cách mạng, và chính khối đông lớn lao những người theo Đức Christ trong vô minh này đã tạo ra mọi rắc rối giữa Giáo Hội sơ khai và chính quyền La Mã. Tôi cho rằng chưa từng có một chính quyền nào trên thế giới khoan dung hơn chính quyền La Mã đối với các tín ngưỡng tôn giáo. Nó thậm chí còn cố ý lưu tâm đến tất cả các tôn giáo của mọi dân tộc nằm dưới quyền cai trị của mình. Chẳng hạn, ngay khi các nhà cầm quyền La Mã hiểu rằng Đức Christ đang được tôn thờ như một thần linh, họ lập tức dựng một pho tượng cho Ngài trong Pantheon. Phần lớn họ tự mình tin rất ít và hoàn toàn không quan tâm người khác tin gì, nhưng họ hết sức quan tâm đến việc người ta làm gì; và khi những niềm tin cách mạng kỳ lạ của một số tín đồ Cơ Đốc sơ khai này khiến họ chống lại chính quyền, họ lập tức bị đàn áp bằng bàn tay nặng nề, không phải vì điều họ tin, mà vì điều họ làm hoặc không làm.

As time went on, these ignorant people became jealous of the Gnostics and their higher teachings. They utterly decried the idea that it was necessary that any one should know more than they did. They took the attitude that the Christian teaching was revealed unto babes and regarded ignorance as practically a qualification for salvation. As Christianity spread and the Church gained a certain amount of influence, the respectable people who followed the logia and the “poor men” drew together and gradually united to form what was called the orthodox party. Being united in its distrust of the higher teachings of the Gnostics, this body found itself compelled to develop some sort of doctrinal system to offer instead of theirs. The formula given to the Essenes by Christ had by this time become known among them in various more or less perfect forms and accepted without much understanding as a creed; and, of course, some interpretation of it had to be produced to set up against the one propounded by the Gnostics. Then it was that they translated the great Mystery drama—that beautiful allegorical illustration of the descent into matter of the Second Person of the Trinity contained in the symbolic ritual of the Egyptian initiation—into the life story of a human being whom they identified with Jesus the Nazarene. Thus, through this materializing, it was made to mean something that had never before been thought of in connection with it. If we try to contain it all in the life history of a man it plainly will not fit; as a physical-plane story there are great gaps. It does not cohere; it is contradictory to the history of the time. No idea could have been more unfitting or misleading, yet one can understand its welcome by ignorant people as being more nearly within the grasp of their limited mental caliber than the magnificent breadth of the true interpretation.

Theo thời gian, những người vô minh này trở nên ganh tị với các nhà Ngộ giáo và các giáo huấn cao siêu hơn của họ. Họ hoàn toàn bài bác ý tưởng rằng bất cứ ai cần phải biết nhiều hơn họ. Họ có thái độ cho rằng giáo huấn Cơ Đốc đã được mặc khải cho trẻ thơ và coi sự vô minh gần như là một điều kiện để được cứu rỗi. Khi Cơ Đốc giáo lan rộng và Giáo Hội đạt được một mức ảnh hưởng nào đó, những người đáng kính đi theo các logia và “những người nghèo” xích lại gần nhau và dần dần hợp nhất để tạo thành cái được gọi là phái chính thống. Vì cùng thống nhất trong sự nghi ngờ đối với các giáo huấn cao siêu hơn của các nhà Ngộ giáo, tập thể này thấy mình buộc phải phát triển một loại hệ thống giáo lý nào đó để đưa ra thay thế cho hệ thống của họ. Công thức Đức Christ ban cho các Essene đến lúc này đã được biết đến giữa họ dưới nhiều hình thức ít nhiều hoàn chỉnh, và được chấp nhận như một tín điều mà không có nhiều sự thấu hiểu; và dĩ nhiên, phải tạo ra một lối diễn giải nào đó về nó để đặt đối lập với lối diễn giải do các nhà Ngộ giáo đề xướng. Chính lúc ấy họ đã chuyển vở kịch Bí Nhiệm vĩ đại—minh họa ẩn dụ đẹp đẽ ấy về sự giáng hạ vào vật chất của Ngôi Thứ Hai của Ba Ngôi, chứa trong nghi thức biểu tượng của cuộc điểm đạo Ai Cập—thành câu chuyện đời của một con người mà họ đồng nhất với Jesus xứ Nazareth. Như vậy, qua sự vật chất hóa này, nó bị làm cho mang một ý nghĩa chưa bao giờ từng được nghĩ đến trước đó liên quan với nó. Nếu chúng ta cố gói ghém tất cả vào lịch sử đời sống của một con người, rõ ràng nó sẽ không khớp; như một câu chuyện trên cõi hồng trần, nó có những khoảng trống lớn. Nó không kết dính; nó mâu thuẫn với lịch sử của thời ấy. Không ý tưởng nào có thể bất thích hợp hoặc gây lầm lạc hơn, nhưng người ta có thể hiểu vì sao những người vô minh lại đón nhận nó, vì nó gần với tầm nắm bắt của năng lực trí tuệ hạn hẹp của họ hơn là bề rộng huy hoàng của lối diễn giải chân thật.

The slight additions necessary to engraft this theory upon the growing creed were easily made and, not very long after, fragmentary versions of it began to be made in writing. These early fragments are imperfect recollections of an oral tradition out of which eventually a very fair representation of the original was compiled and formally adopted by the Council of Nicaea. Thus we have seen that though the creed, as is generally believed, is a conglomeration gradually gathered together, the true genesis of the greater part of it is a very high one indeed, coming direct from Christ Himself. It is the materialistic quasi-historical corruption of the centuries which has obscured the magnificent truths it embodies. How these great truths are still mirrored even in what is left to us of the creeds I hope to show as we consider them clause by clause in the following chapters.

Những phần thêm thắt nhỏ cần thiết để ghép lý thuyết này vào tín điều đang phát triển đã dễ dàng được thực hiện, và không lâu sau, những phiên bản rời rạc của nó bắt đầu được ghi chép. Những mảnh vụn sơ khai này là những hồi ức không hoàn chỉnh về một truyền thống truyền khẩu, từ đó cuối cùng một bản trình bày khá tốt về nguyên bản đã được biên soạn và chính thức chấp thuận bởi Công đồng Nicaea. Như vậy, chúng ta đã thấy rằng mặc dù tín điều, như người ta thường tin, là một khối kết hợp được gom góp dần dần, nhưng nguồn gốc chân thật của phần lớn nó quả thật rất cao cả, đến trực tiếp từ chính Đức Christ. Chính sự xuyên tạc gần như lịch sử và duy vật qua nhiều thế kỷ đã che khuất những chân lý huy hoàng mà nó chứa đựng. Những chân lý vĩ đại ấy vẫn còn được phản chiếu như thế nào ngay cả trong phần còn lại của các tín điều, tôi hy vọng sẽ chỉ ra khi chúng ta xét từng mệnh đề một trong các chương sau.

Leave a Comment

Scroll to Top