Chân sư và Thánh Đạo – Phần IV

📘 Sách: Chân sư và Thánh đạo – Tác giả: C.W. Leadbeater

PART IV

THE HIERARCHY—THÁNH ĐOÀN

Chapter 11 — Chương 11

The Work Of The Masters — Công Việc của các Chân sư

A Summary

Tóm Lược

I HAVE just explained that of the human beings who attain Adeptship, but a few remain on our earth as members of the Occult Hierarchy, to promote the evolution of life upon it in accordance with God’s plan. At present there are some fifty or sixty of these Supermen so engaged, and of their general work Dr. Besant has written as follows in her pamphlet on The Masters:

Tôi VỪA giải thích rằng trong số những con người đạt đến cấp Chân sư, chỉ một ít vị ở lại trên Trái Đất của chúng ta như những thành viên của Thánh Đoàn Huyền Môn, để thúc đẩy sự tiến hoá của sự sống trên đó theo Thiên Cơ của Thượng đế. Hiện nay có chừng năm mươi hoặc sáu mươi Siêu Nhân như thế đang làm công việc này, và về công việc chung của các Ngài, Bà Besant đã viết như sau trong tập sách nhỏ của bà về Các Chân sư:

They aid, in countless ways, the progress of humanity. From the highest sphere they shed down light and life on all the world, that may be taken up and assimilated, as freely as the sunshine, by all who are receptive enough to take it in. As the physical world lives by the life of God, focused by the sun, so does the spiritual world live by that same life, focused by the occult Hierarchy. Next, the Masters specially connected with religions use these religions as reservoirs into which they pour spiritual energy, to be distributed to the faithful in each religion through the duly appointed “means of grace”. Next comes the great intellectual work, wherein the Masters send out thought-forms of high intellectual power to be caught up by men of genius, assimilated by them and given out to the world; on this level also they send out their wishes to their disciples, notifying them of the tasks to which they should set their hands. Then comes the work in the lower mental world, the generation of the thought-forms which influence the concrete mind and guide it along useful lines of activity in this world, and the teaching of those who are living in the heavenly world. Then the large activities of the intermediate world, the helping of the so-called dead, the general direction and supervision of the teaching of the younger pupils, and the sending of aid in numberless cases of need. In the physical world the watching of the tendencies of events, the corrections and neutralizing, as far as law permits, of evil currents, the constant balancing of the forces that work for and against evolution, the strengthening of the good, the weakening of the evil. In conjunction with the Angels of the Nations also they work, guiding the spiritual forces as the others guide the material.

Các Ngài trợ giúp, bằng vô số cách, sự tiến bộ của nhân loại. Từ khối cầu cao nhất, các Ngài rải ánh sáng và sự sống xuống toàn thế giới, để tất cả những ai đủ khả năng tiếp nhận có thể thu nhận và đồng hoá, tự do như ánh nắng mặt trời. Như thế giới hồng trần sống nhờ sự sống của Thượng đế, được hội tụ bởi mặt trời, thì thế giới tinh thần cũng sống nhờ chính sự sống ấy, được hội tụ bởi Thánh Đoàn huyền môn. Kế đó, những Chân sư đặc biệt liên hệ với các tôn giáo dùng các tôn giáo ấy như những hồ chứa mà các Ngài rót năng lượng tinh thần vào, để được phân phối cho tín đồ trong mỗi tôn giáo qua những “phương tiện ân sủng” đã được chỉ định đúng đắn. Kế đến là công việc trí tuệ lớn lao, trong đó các Chân sư phóng ra những hình tư tưởng có quyền năng trí tuệ cao để những thiên tài bắt lấy, đồng hoá và trao ra cho thế giới; trên cấp độ này, các Ngài cũng gửi ra ý muốn của mình đến các đệ tử, báo cho họ biết những nhiệm vụ mà họ nên bắt tay vào làm. Rồi đến công việc trong cõi hạ trí, việc tạo ra các hình tư tưởng ảnh hưởng đến trí cụ thể và hướng dẫn nó theo những đường hoạt động hữu ích trong thế giới này, cũng như việc giáo huấn những người đang sống trong cõi thiên giới. Rồi là những hoạt động rộng lớn của thế giới trung gian, việc trợ giúp những người gọi là đã chết, sự chỉ đạo và giám sát chung việc dạy dỗ các học trò trẻ hơn, và việc gửi sự trợ giúp trong vô số trường hợp cần thiết. Trong thế giới hồng trần, đó là việc quan sát các khuynh hướng của biến cố, điều chỉnh và trung hoà, trong chừng mực định luật cho phép, các dòng chảy tà ác, không ngừng quân bình các mãnh lực hoạt động thuận và nghịch với tiến hoá, tăng cường điều thiện, làm suy yếu điều ác. Các Ngài cũng làm việc cùng với các Thiên Thần của các Quốc Gia, hướng dẫn các mãnh lực tinh thần cũng như các vị kia hướng dẫn các mãnh lực vật chất.

The Parishes

Các Giáo Xứ

We may consider more fully some of the lines of work, here indicated in small compass with the sweep of vision for which Dr. Besant is world-renowned. Though the number of Adepts is small, they have arranged that in all the world no life shall be disregarded or neglected; so they have divided the earth into special areas in somewhat the same way as in older countries the Church has divided the whole land into parishes, so that wherever a man may live he is within one of these geographical divisions and has a definite Church organization to administer to his spiritual and sometimes to his bodily needs. The parishes of the Adepts, however, are not country districts or parts of towns, but huge countries and even continents.

Chúng ta có thể xem xét đầy đủ hơn một vài đường lối công việc, vốn được chỉ ra ở đây trong phạm vi nhỏ hẹp nhưng với tầm nhìn bao quát mà Bà Besant nổi tiếng khắp thế giới. Dù số Chân sư là ít, các Ngài đã sắp đặt để trên toàn thế giới không một sự sống nào bị bỏ qua hay bị lãng quên; vì vậy các Ngài đã chia Trái Đất thành những khu vực đặc biệt, theo cách phần nào giống như ở những quốc gia lâu đời hơn, Giáo Hội đã chia toàn bộ đất nước thành các giáo xứ, để bất cứ nơi nào một người có thể sống, y đều ở trong một trong những phân khu địa lý này và có một tổ chức Giáo Hội nhất định để chăm lo cho các nhu cầu tinh thần, và đôi khi cả nhu cầu thể xác của y. Tuy nhiên, các giáo xứ của các Chân sư không phải là những vùng quê hay các phần của thành phố, mà là những quốc gia rộng lớn và thậm chí là các châu lục.

As the world is at present divided, one great Adept may be said to be in charge of Europe, and another looks after India; and in the same way the whole world is parcelled out. The parishes do not follow our political or geographical boundaries, but within his territory the Adept has all the different grades and forms of evolution to regard—not only our own, but also the great kingdom of the Angels, of the various classes of nature-spirits, the animals, vegetables and minerals beneath us, the kingdoms of the elemental essence, and many others of which so far nothing has been heard by mankind; so there is a vast amount of work to be accomplished. In addition to the guardianship of the Adepts, each race or country has also the assistance of a Spirit of the Race, a Deva or guardian Angel who watches over it and helps to guide its growth, and corresponds in many ways to the ancient conception of a tribal Deity, though he stands at a considerably higher level. Such, for example, was Pallas Athene.

Như thế giới hiện nay được phân chia, có thể nói một Chân sư vĩ đại phụ trách châu Âu, và một vị khác chăm sóc Ấn Độ; và theo cùng cách đó toàn thế giới được phân khu. Các giáo xứ không theo các ranh giới chính trị hay địa lý của chúng ta, nhưng trong lãnh thổ của mình, Chân sư phải quan tâm đến mọi cấp độ và hình thức tiến hoá khác nhau—không chỉ của riêng chúng ta, mà còn của giới vĩ đại các Thiên Thần, của nhiều lớp tinh linh tự nhiên khác nhau, của các loài động vật, thực vật và khoáng vật bên dưới chúng ta, của các giới tinh chất hành khí, và nhiều giới khác mà cho đến nay nhân loại chưa từng nghe nói đến; vì vậy có một khối lượng công việc mênh mông phải hoàn thành. Ngoài sự bảo hộ của các Chân sư, mỗi nhân loại hay quốc gia cũng có sự trợ giúp của một Tinh thần của Nhân loại, một Deva hay Thiên Thần hộ mệnh trông nom và giúp hướng dẫn sự tăng trưởng của nó, và tương ứng theo nhiều cách với quan niệm cổ xưa về một Thượng đế bộ tộc, dù Ngài đứng ở một cấp độ cao hơn đáng kể. Chẳng hạn, Pallas Athene là một vị như thế.

There are many different sets of influences at work in the service of the Logos for the evolution of man, and naturally they all operate in the same direction, and in co-operation with one another.

Có nhiều nhóm ảnh hưởng khác nhau đang hoạt động trong việc phụng sự Thượng đế cho sự tiến hoá của con người, và tự nhiên tất cả đều vận hành theo cùng một hướng, và trong sự hợp tác với nhau.

We must never make the mistake of attributing to these great agencies the disasters which sometimes overtake countries, as in the case of the French Revolution and the recent upheavals in Russia. Those are due entirely to the savage passions of the people, which have run riot and caused destruction instead of construction, and they illustrate the danger to which the work of the Adepts and the Spirit of the Race is exposed, when they make experiments along democratic lines. There is terrible evil involved in tyranny, and sometimes great suffering also, but at least there is some sort of control; and the great problem in getting rid of the tyranny is how to do it without losing social stability and selfcontrol. When that goes, many persons fail to keep the human end uppermost in their own personalities, passion rises, crowds run riot, and the people become liable to obsession by great waves of undesirable influence. The national Angel tries to guide the feelings of the people; he is interested in them in great masses, and he would when necessary urge them to great patriotism and heroic deeds, just as a general might encourage his men to advance on the field of battle; but he is never reckless of their lives or careless of their suffering, any more than a wise general would be.

Chúng ta không bao giờ được phạm sai lầm khi quy cho các cơ quan vĩ đại này những tai họa đôi khi giáng xuống các quốc gia, như trong trường hợp Cách mạng Pháp và những biến động gần đây ở Nga. Những điều ấy hoàn toàn do các dục vọng man rợ của dân chúng, vốn đã bùng phát vô độ và gây phá hoại thay vì xây dựng; và chúng minh hoạ mối nguy mà công việc của các Chân sư và Tinh thần của Nhân loại phải đối diện, khi các Ngài tiến hành những thử nghiệm theo các đường lối dân chủ. Trong bạo quyền có điều ác khủng khiếp, và đôi khi cũng có đau khổ lớn lao, nhưng ít nhất vẫn có một dạng kiểm soát nào đó; và vấn đề lớn trong việc loại bỏ bạo quyền là làm thế nào để làm điều đó mà không đánh mất sự ổn định xã hội và khả năng tự chủ. Khi điều đó mất đi, nhiều người không giữ được phần người ở vị trí cao nhất trong chính phàm ngã của mình, dục vọng nổi lên, đám đông bạo loạn, và dân chúng trở nên dễ bị ám ảnh bởi những làn sóng lớn của ảnh hưởng không đáng mong muốn. Thiên Thần quốc gia cố gắng hướng dẫn cảm xúc của dân chúng; Ngài quan tâm đến họ như những khối đông lớn, và khi cần thiết, Ngài sẽ thúc giục họ đến lòng yêu nước vĩ đại và những hành động anh hùng, giống như một vị tướng có thể khích lệ binh sĩ của mình tiến lên trên chiến trường; nhưng Ngài không bao giờ bất chấp mạng sống của họ hay thờ ơ với nỗi đau khổ của họ, cũng như một vị tướng khôn ngoan sẽ không làm như vậy.

Distribution of Force

Sự Phân Phối Mãnh Lực

A large part of the Adepts’ work, as we have seen in an earlier chapter, lies at levels far beyond the physical, as they are engaged in pouring out their own power, and also the force from the great store filled by the Nirmanakaya. It is the karma of the world that it shall have a certain amount of this uplifting force at its service, and even ordinary men who turn their wills into line with the Divine Will (by directing their thought and feeling to the service of humanity) add a little to the reservoir, and are thus privileged to share in the great sacrifice. On account of this, humanity is evolving as a unit, and the miracle of brotherhood enables every one to make much more progress than would be even remotely possible were he standing entirely by himself. All this is part of the scheme of the Logos, who apparently has calculated upon our taking part in his plan. When he devised it he thought: “When my people shall rise to a certain level, they will begin to co-operate intelligently with me; therefore I will arrange so that when they come to that point they will be able to draw upon my power.” Thus he is counting upon every one.

Một phần lớn công việc của các Chân sư, như chúng ta đã thấy trong một chương trước, nằm ở những cấp độ vượt xa cõi hồng trần, vì các Ngài đang dốc đổ quyền năng của chính mình, cũng như mãnh lực từ kho dự trữ lớn được các Nirmanakaya làm đầy. Nghiệp quả của thế giới là nó có một lượng nhất định mãnh lực nâng cao này để sử dụng, và ngay cả những người bình thường nào đặt ý chí của mình thẳng hàng với Ý Chí thiêng liêng (bằng cách hướng tư tưởng và cảm xúc của mình vào việc phụng sự nhân loại) cũng thêm một chút vào hồ chứa ấy, và nhờ vậy được đặc ân chia sẻ trong sự hi sinh vĩ đại. Vì điều này, nhân loại đang tiến hoá như một đơn vị, và phép mầu của tình huynh đệ cho phép mỗi người tiến bộ nhiều hơn rất xa so với điều có thể xảy ra dù chỉ một cách xa xôi nếu y hoàn toàn đứng một mình. Tất cả điều này là một phần của hệ hành tinh của Thượng đế, Đấng dường như đã tính đến việc chúng ta tham dự vào Thiên Cơ của Ngài. Khi Ngài hoạch định nó, Ngài đã nghĩ: “Khi dân của Ta vươn lên đến một cấp độ nào đó, họ sẽ bắt đầu hợp tác một cách thông minh với Ta; vì vậy Ta sẽ sắp đặt để khi họ đi đến điểm ấy, họ có thể rút lấy quyền năng của Ta.” Như vậy, Ngài đang trông cậy vào từng người.

The Brotherhood is one with all humanity on higher levels, and through its agency the distribution of the supply of force from the great reservoir takes place for men. The Adepts are raying upon all egos without exception in the higher mental plane, and thus giving the greatest possible assistance to the unfoldment of the indwelling life. That life is like a seed which cannot die and must grow, because the principle of evolution, the Logos himself, is at the heart of its very being; in man the plant has already risen through the soil and is seeking the upper air, and the rapidity of its development is now very largely due to the sunlight of the spiritual force that comes through the channels of the Hierarchy. This is one of the many ways in which the more advanced help the less advanced, as they share more and more the divine nature, in accordance with the divine plan.

Huynh Đệ Đoàn là một với toàn thể nhân loại trên các cấp độ cao hơn, và qua cơ quan của Huynh Đệ Đoàn, sự phân phối nguồn cung mãnh lực từ hồ chứa lớn diễn ra cho con người. Các Chân sư đang chiếu rọi trên mọi chân ngã không ngoại lệ trong Cõi thượng trí, và nhờ đó ban sự trợ giúp lớn lao nhất có thể cho sự khai mở của sự sống nội tại. Sự sống ấy giống như một hạt giống không thể chết và phải lớn lên, bởi vì nguyên khí tiến hoá, chính Thượng đế, ở nơi trái tim của chính bản thể nó; trong con người, cây đã vươn lên khỏi đất và đang tìm kiếm không khí bên trên, và tốc độ phát triển của nó giờ đây phần lớn là do ánh sáng mặt trời của mãnh lực tinh thần đến qua các kênh của Thánh Đoàn. Đây là một trong nhiều cách mà những người tiến bộ hơn trợ giúp những người kém tiến bộ hơn, khi họ ngày càng chia sẻ nhiều hơn bản chất thiêng liêng, phù hợp với Thiên Cơ thiêng liêng.

Each of the Adepts who have undertaken this special work is raying out upon enormous numbers of people, running often into many millions simultaneously; and yet, such is the wonderful quality of this power which he pours forth, that it adapts itself to each one of these millions as though he were the only object of its influence, and it appears as though what for us would be full attention were being given to that one.

Mỗi Chân sư đã đảm nhận công việc đặc biệt này đều đang toả chiếu lên những số lượng người khổng lồ, thường lên đến hàng nhiều triệu cùng một lúc; vậy mà, phẩm tính kỳ diệu của quyền năng mà Ngài tuôn ra là như thế, đến nỗi nó thích nghi với từng người trong số hàng triệu người ấy như thể người ấy là đối tượng duy nhất của ảnh hưởng đó, và dường như điều mà đối với chúng ta là sự chú tâm trọn vẹn đang được ban cho riêng người ấy.

It is difficult to explain on the physical plane how this may be—but it arises from the fact the Master’s nirvanic consciousness is a kind of point which yet includes the entire plane. He can bring that point down through several planes and spread it out like a kind of vast bubble. On the outside of that huge sphere are all the causal bodies which he is trying to affect, and he, filling the sphere, appears all in all to each individual. In this way he fills with his life the ideals of millions of people, and is for them respectively the ideal Christ, the ideal Rama, the ideal Krishna, an Angel or perhaps a spirit-guide.

Thật khó giải thích trên cõi hồng trần làm sao điều này có thể như vậy—nhưng nó phát sinh từ sự kiện rằng tâm thức Niết Bàn của Chân sư là một loại điểm, song vẫn bao gồm toàn bộ cõi. Ngài có thể đưa điểm ấy xuống qua nhiều cõi và mở rộng nó ra như một thứ bong bóng bao la. Trên mặt ngoài của khối cầu khổng lồ ấy là tất cả các thể nguyên nhân mà Ngài đang cố gắng tác động, và Ngài, tràn đầy khối cầu ấy, hiện ra như tất cả trong tất cả đối với từng cá nhân. Theo cách này, Ngài đổ đầy sự sống của mình vào các lý tưởng của hàng triệu người, và đối với họ, lần lượt Ngài là Đức Christ lý tưởng, Rama lý tưởng, Krishna lý tưởng, một Thiên Thần hay có lẽ một tinh thần hướng dẫn.

This is quite a different kind of work from the superintendence of one of the great parishes, and in it the Master pays attention chiefly to people of one type, those who are developing along his own line of evolution, though naturally most of them are quite unconscious of his action. He has also many special cases to deal with, and for this purpose sometimes delegates part of this work to Devas, leaving them considerable liberty within certain well-defined limits. The Devas in their turn employ nature-spirits and make a variety of thought-forms, and there is thus a large field of activity connected with their work.

Đây là một loại công việc hoàn toàn khác với việc giám sát một trong các giáo xứ vĩ đại, và trong công việc này Chân sư chủ yếu chú tâm đến những người thuộc một loại, những người đang phát triển theo đường tiến hoá riêng của Ngài, dù tự nhiên phần lớn họ hoàn toàn không có ý thức về hành động của Ngài. Ngài cũng có nhiều trường hợp đặc biệt phải xử lý, và vì mục đích này đôi khi ủy nhiệm một phần công việc ấy cho các Deva, để các vị ấy có sự tự do đáng kể trong những giới hạn nhất định đã được xác lập rõ ràng. Đến lượt mình, các Deva sử dụng các tinh linh tự nhiên và tạo ra nhiều loại hình tư tưởng, và do đó có một lĩnh vực hoạt động rộng lớn liên hệ với công việc của các vị ấy.

The Use of Devotion

Việc Sử Dụng Lòng Sùng Tín

In The Science of the Sacraments I have explained how the Great Ones take advantage of the ceremonies of all religions to pour out their power over the world on the lower planes, and thus to stimulate in as many men as possible the spiritual growth of which each is capable. But it is not only in connection with religious ceremonial that this is done, for the Brotherhood makes use of every opportunity that offers. If there be a gathering of people who are all under the influence of devotion, all bent for the time being upon nobler and higher thought, such a gathering offers to the Adepts an unusual opportunity, of which they will straightway make use, since it forms a focus which they can employ as a channel for spiritual influence. When people are scattered and living in their homes, they are like a number of separated lines down each of which but a little force can flow, but when they come together at a meeting, it is as though these were combined to make a kind of pipe through which a much greater flood of blessing may be poured than the sum of what could descend through the separate lines.

Trong Khoa Học về các Bí Tích tôi đã giải thích cách các Đấng Cao Cả tận dụng các nghi lễ của mọi tôn giáo để tuôn đổ quyền năng của các Ngài trên thế giới ở các cõi thấp hơn, và nhờ vậy kích thích nơi càng nhiều người càng tốt sự tăng trưởng tinh thần mà mỗi người có khả năng đạt được. Nhưng điều này không chỉ được thực hiện trong liên hệ với nghi lễ tôn giáo, vì Huynh Đệ Đoàn sử dụng mọi cơ hội xuất hiện. Nếu có một cuộc tụ họp của những người đều ở dưới ảnh hưởng của lòng sùng tín, tất cả tạm thời hướng về tư tưởng cao quý hơn và cao siêu hơn, thì cuộc tụ họp như thế đem lại cho các Chân sư một cơ hội khác thường, mà các Ngài sẽ lập tức sử dụng, vì nó tạo thành một tiêu điểm mà các Ngài có thể dùng như một kênh cho ảnh hưởng tinh thần. Khi người ta phân tán và sống trong nhà mình, họ giống như một số đường dây riêng rẽ, qua mỗi đường chỉ một chút mãnh lực có thể chảy xuống; nhưng khi họ đến với nhau trong một cuộc họp, thì như thể các đường dây ấy được kết hợp lại để tạo thành một loại ống dẫn, qua đó một dòng phúc lành lớn hơn nhiều có thể được tuôn đổ so với tổng số những gì có thể giáng xuống qua các đường dây riêng rẽ.

I have seen a million pilgrims together in the holy city of Benares, many of them no doubt ignorant and superstitious, but for the time full of devotion and utterly one-pointed. The mass of devotional feeling, generated by such a crowd is almost incalculable, and the Adepts never miss the opportunity of utilizing it for good. It is, of course, unquestionable that a similar number of equally enthusiastic but intelligent people would supply vastly more force—and also force capable of playing upon a higher plane altogether; but we must not for a moment make the mistake of ignoring the value of the vast amount of energy produced by ignorant and even fanatical people. The members of the Brotherhood have a wonderful faculty of separating the evil from the good, or rather of drawing out the last ounce of force which can be used for good, even from the midst of a great deal that is evil.

Tôi đã thấy một triệu người hành hương tụ họp trong thánh thành Benares, nhiều người trong số họ chắc chắn là ngu dốt và mê tín, nhưng vào lúc đó tràn đầy lòng sùng tín và hoàn toàn nhất tâm. Khối cảm xúc sùng tín do một đám đông như thế tạo ra hầu như không thể tính đếm, và các Chân sư không bao giờ bỏ lỡ cơ hội sử dụng nó cho điều thiện. Dĩ nhiên, không thể nghi ngờ rằng một số lượng tương tự những người vừa nhiệt thành vừa thông minh sẽ cung cấp mãnh lực lớn hơn vô cùng—và cũng là mãnh lực có khả năng tác động trên một cõi hoàn toàn cao hơn; nhưng chúng ta không được dù chỉ trong khoảnh khắc phạm sai lầm khi bỏ qua giá trị của lượng năng lượng mênh mông do những người ngu dốt và thậm chí cuồng tín tạo ra. Các thành viên của Huynh Đệ Đoàn có một năng lực kỳ diệu trong việc tách điều ác khỏi điều thiện, hay đúng hơn là rút ra đến giọt mãnh lực cuối cùng có thể được dùng cho điều thiện, ngay cả từ giữa rất nhiều điều ác.

It is common to find the most intense devotion allied with bitter sectarian feeling; in such a case the Adept will extract and make use of every particle of the devotional feeling, simply ignoring and leaving behind the savage hatred which to us seems to be a part of it. Therefore people with most undesirable characteristics often produce a certain amount of good karma, though it is undeniable that it would be far greater if it were dissociated from the other unfortunate qualities.

Người ta thường thấy lòng sùng tín mãnh liệt nhất đi kèm với cảm giác giáo phái cay đắng; trong trường hợp như thế, Chân sư sẽ rút ra và sử dụng từng phần tử của cảm xúc sùng tín, chỉ đơn giản phớt lờ và bỏ lại phía sau lòng thù hận man rợ mà đối với chúng ta dường như là một phần của nó. Do đó, những người có các đặc tính hết sức không đáng mong muốn thường tạo ra một lượng nghiệp quả tốt nào đó, dù không thể phủ nhận rằng nó sẽ lớn hơn rất nhiều nếu được tách khỏi các phẩm tính bất hạnh khác.

Such a city as Benares is always a tremendous centre of force, even quite apart from the annual pilgrimages. It is a city of shrines and relics, and these also can be utilized as channels by the Adepts; and the same is true of such things the world over. In some place, for example, there may be a relic of a great saint belonging to any one of the religions of the world. If the relic is genuine, a certain amount of strong magnetism does radiate from it, on account of its connection with a worthy man, and it may therefore be used, by sending through it a stream of force, to bless those who reverence it. In many cases, however, the relic is not genuine; but that, which to us would seem a most important fact, in reality matters less than one might suppose.

Một thành phố như Benares luôn luôn là một trung tâm mãnh lực khổng lồ, ngay cả hoàn toàn tách khỏi các cuộc hành hương hằng năm. Đó là một thành phố của các đền thờ và thánh tích, và các Chân sư cũng có thể sử dụng những điều này như các kênh dẫn; và điều tương tự cũng đúng với những sự vật như thế trên toàn thế giới. Chẳng hạn, ở một nơi nào đó có thể có một thánh tích của một vị thánh lớn thuộc bất cứ tôn giáo nào trên thế giới. Nếu thánh tích ấy là chân thật, một lượng từ điện mạnh mẽ nào đó thật sự toả ra từ nó, do mối liên hệ của nó với một người xứng đáng, và vì thế nó có thể được sử dụng, bằng cách gửi qua nó một dòng mãnh lực, để ban phúc cho những ai tôn kính nó. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thánh tích không phải là chân thật; nhưng điều ấy, vốn đối với chúng ta dường như là một sự kiện tối quan trọng, trong thực tế lại ít quan trọng hơn người ta có thể tưởng.

If for a long time people have made a great centre of devotional feeling around it, on that account alone the Brotherhood can use it as effectively as a genuine relic, and the fact that the people are deluded in their belief does not affect its usefulness, since their devotion is genuine, and that is the important thing. If this were more fully understood, it would probably check many thoughtless people who are inclined to ridicule the superstitions of the Catholic peasants in Italy, Sicily or Spain, or to look down upon Indian coolies because they pay homage at some shrine which is obviously not what it is supposed to be. There is no doubt that truth is better than error, yet we must remember that it is not well to tear away from the ignorant the objects of their devotion until they are able to rise to higher things; by such iconoclasm the world is the poorer, for by it not only is devotion destroyed, but useful channels of the Masters’ force may be closed.

Nếu trong một thời gian dài người ta đã tạo nên quanh nó một trung tâm lớn của cảm xúc sùng tín, thì chỉ vì lý do ấy thôi Huynh Đệ Đoàn cũng có thể dùng nó hiệu quả như một thánh tích chân thật, và sự kiện rằng người ta bị lừa trong niềm tin của họ không ảnh hưởng đến tính hữu dụng của nó, vì lòng sùng tín của họ là chân thật, và đó là điều quan trọng. Nếu điều này được thấu hiểu đầy đủ hơn, có lẽ nó sẽ ngăn lại nhiều người thiếu suy nghĩ vốn có khuynh hướng chế giễu những mê tín của nông dân Công giáo ở Ý, Sicily hay Tây Ban Nha, hoặc khinh thường các phu khuân vác Ấn Độ vì họ tỏ lòng tôn kính tại một đền thờ nào đó hiển nhiên không phải là điều mà nó được giả định là. Không nghi ngờ gì rằng chân lý tốt hơn sai lầm, nhưng chúng ta phải nhớ rằng không nên giật khỏi người ngu dốt các đối tượng sùng tín của họ cho đến khi họ có thể vươn lên những điều cao hơn; bởi loại phá hoại thần tượng như thế, thế giới trở nên nghèo hơn, vì do nó không chỉ lòng sùng tín bị phá hủy, mà các kênh hữu ích của mãnh lực các Chân sư cũng có thể bị đóng lại.

Besides, it is obviously impossible for an ignorant peasant to judge as to the genuineness of a relic, and it would be grossly unfair that the effect of his devotion, poured out with good intention and in all innocence of heart, should be made to depend upon a fact as to which he can have no knowledge. In the great world of realities things are never so badly managed as that; the true devotion will find full and hearty response whether the object round which it is centred is or is not all that the devotee thinks it to be. The devotion is the real thing—the only thing that matters, and it must and does receive the real return which it deserves. The supposed relic is merely a point upon which it is focused, and an imaginary point will do for this as well as any other.

Hơn nữa, rõ ràng là một nông dân ngu dốt không thể phán đoán về tính chân thật của một thánh tích, và sẽ vô cùng bất công nếu hiệu quả của lòng sùng tín của y, được tuôn ra với ý hướng tốt lành và với tất cả sự trong sạch của tâm hồn, lại bị đặt tùy thuộc vào một sự kiện mà y không thể có tri thức nào. Trong thế giới vĩ đại của thực tại, mọi sự không bao giờ được sắp đặt tồi tệ như thế; lòng sùng tín chân thật sẽ tìm thấy sự đáp ứng đầy đủ và nồng hậu, dù đối tượng quanh đó nó được tập trung có hay không phải là tất cả những gì người sùng tín nghĩ về nó. Lòng sùng tín là điều chân thật—điều duy nhất quan trọng, và nó phải nhận, và thật sự nhận, sự hồi đáp chân thật mà nó xứng đáng. Thánh tích được cho là thánh tích chỉ là một điểm mà trên đó lòng sùng tín được tập trung, và một điểm tưởng tượng cũng phục vụ cho việc này tốt như bất kỳ điểm nào khác.

Work by the Pupils

Công Việc do các Học Trò Thực Hiện

I have already mentioned that the pupils of the Masters are also apprentices, that at their lower level they serve as transmitters of force, and also do a great variety of work in every branch of civilization and human culture all of which is part of the Adepts’ work in the world. A vast amount of this is done by others who have received inspiration or suggestion from these pupils, or though the various societies and agencies that they have set going or influenced. Without these influences humanity would be poor indeed, though for the most part it knows little of the source of its true wealth. The Adepts themselves cannot turn aside from their exalted work to do these lower and easier tasks, because if they did the whole machinery of evolution would suffer.

Tôi đã đề cập rằng các học trò của các Chân sư cũng là những người học việc, rằng ở cấp độ thấp hơn của mình, họ phụng sự như những người truyền dẫn mãnh lực, và cũng làm rất nhiều loại công việc trong mọi ngành của văn minh và văn hoá nhân loại, tất cả đều là một phần công việc của các Chân sư trong thế giới. Một lượng lớn công việc này được thực hiện bởi những người khác đã nhận được cảm hứng hay gợi ý từ các học trò này, hoặc qua các hội đoàn và cơ quan khác nhau mà họ đã khởi xướng hay ảnh hưởng. Nếu không có những ảnh hưởng này, nhân loại quả thật sẽ nghèo nàn, dù phần lớn y biết rất ít về nguồn gốc của sự giàu có chân thật của mình. Chính các Chân sư không thể rẽ khỏi công việc cao cả của các Ngài để làm những nhiệm vụ thấp hơn và dễ dàng hơn này, bởi nếu các Ngài làm như vậy, toàn bộ bộ máy tiến hoá sẽ chịu tổn hại.

Men sometimes ask why these Great Ones have not written books, for example. They forget that the Adepts are carrying on the evolution of the world; they can hardly drop that in order to give people information with regard to some part of it. It is true that if one of the Great Ones had the time to write a book, if his energy could not be better employed, that book would be far superior to any that we have. But if it were the plan of things that all work should be done by those who can already do it perfectly there would be no field for the exercise of our faculties, and it would be difficult to see any utility in our existence in this world.

Đôi khi người ta hỏi tại sao các Đấng Cao Cả này đã không viết sách, chẳng hạn. Họ quên rằng các Chân sư đang đảm trách sự tiến hoá của thế giới; các Ngài khó có thể bỏ điều đó để cung cấp cho con người thông tin về một phần nào đó của nó. Đúng là nếu một trong các Đấng Cao Cả có thời gian để viết một quyển sách, nếu năng lượng của Ngài không thể được sử dụng tốt hơn, thì quyển sách ấy sẽ vượt xa bất cứ quyển nào chúng ta có. Nhưng nếu theo Thiên Cơ của sự vật mà mọi công việc đều phải do những vị đã có thể làm nó một cách hoàn hảo thực hiện, thì sẽ không còn lĩnh vực nào cho việc vận dụng các năng lực của chúng ta, và sẽ khó thấy bất cứ ích lợi nào trong sự hiện hữu của chúng ta trong thế giới này.

A department of activity which has recently been organized on a large scale by pupils of the Masters is that of practical service on the astral plane, about which I have written in the book Invisible Helpers. The greater part of that work is among the newly-dead, who often find themselves there confused, bewildered, and even suffering, especially when they have been frightened during life by the hideous stories of dreadful torture after death, which form part of the stock-in-trade of some perverted religious sects. Though it is many years ago, it was still within the life of The Theosophical Society that the organized band of invisible helpers was founded and set to work. It was originally composed of people still living, who had decided to use their time during the sleep of the body in this definite way; but they soon drew to themselves a great many already dead, who had not thought of this work before.

Một ngành hoạt động gần đây đã được các học trò của các Chân sư tổ chức trên quy mô lớn là việc phụng sự thực tiễn trên cõi cảm dục, điều mà tôi đã viết trong quyển Những Người Trợ Giúp Vô Hình. Phần lớn công việc ấy là giữa những người mới chết, những người thường thấy mình ở đó trong trạng thái rối trí, hoang mang, và thậm chí đau khổ, đặc biệt khi lúc còn sống họ đã bị làm cho sợ hãi bởi những câu chuyện ghê tởm về sự tra tấn khủng khiếp sau khi chết, vốn là một phần hàng hóa nghề nghiệp của một số giáo phái tôn giáo bị sai lệch. Dù đã nhiều năm trước, nhưng vẫn còn trong đời sống của Hội Thông Thiên Học khi đoàn những người trợ giúp vô hình có tổ chức được thành lập và bắt đầu làm việc. Ban đầu đoàn ấy gồm những người vẫn còn sống, đã quyết định dùng thời gian trong khi thể xác ngủ theo cách xác định này; nhưng chẳng bao lâu họ đã thu hút về phía mình rất nhiều người đã chết, những người trước đó chưa nghĩ đến công việc này.

Until that time new-comers to the astral world were mostly left to themselves, unless it occurred to their relations to meet them and introduce them to the new life. For example, a mother who died would still watch over her children, and if any of the children died shortly after the mother she would give them what help and information she could; and generally the good-natured people among the dead would pass on to others what knowledge they possessed when they saw the need of help. In older civilizations, when large families and joint families were the rule, perhaps comparatively few people found themselves without a friend in need on the other side of death. Readers of Oriental literature will remember how much is said in Hindu religious books about the importance of family ties and duties as extending to the invisible regions beyond the veil of the death. Still, the condition there was somewhat like that of a country without hospitals, or schools, or bureaux of public information, where many must suffer, and in times of special calamity and war that was often most serious.

Cho đến thời điểm đó, những người mới đến thế giới cảm dục phần lớn bị để mặc tự lo cho mình, trừ khi các thân nhân của họ nảy ý đến gặp họ và giới thiệu họ với đời sống mới. Chẳng hạn, một người mẹ đã chết vẫn tiếp tục trông nom con cái mình, và nếu bất cứ đứa con nào chết không lâu sau người mẹ, bà sẽ cho chúng sự trợ giúp và thông tin mà bà có thể; và nói chung những người tốt bụng trong số người chết sẽ truyền lại cho những người khác tri thức mà họ sở hữu khi họ thấy có nhu cầu trợ giúp. Trong các nền văn minh xưa hơn, khi các gia đình lớn và gia đình chung là quy tắc, có lẽ tương đối ít người thấy mình không có một người bạn khi cần ở phía bên kia của cái chết. Độc giả văn học phương Đông sẽ nhớ rằng trong các sách tôn giáo Ấn giáo đã nói nhiều đến mức nào về tầm quan trọng của các mối dây và bổn phận gia đình như trải rộng đến các vùng vô hình bên kia bức màn của cái chết. Dẫu vậy, tình trạng ở đó phần nào giống như một quốc gia không có bệnh viện, trường học hay văn phòng thông tin công cộng, nơi nhiều người phải chịu khổ, và trong thời kỳ tai họa đặc biệt hay chiến tranh, điều đó thường rất nghiêm trọng.

The Centennial Effort

Nỗ Lực Trăm Năm

An excellent picture of the way in which the Adepts work for the betterment of civilization is given in Dr. Besant’s London Lectures of 1907 in which she tells us something of the steps that were taken by the Brotherhood to lift Europe out of the terrible darkness of the Middle Ages. She explains that in the thirteenth century a mighty Personage, then living in Tibet, promulgated his order to the Brotherhood that in the last quarter of every century an effort should be made to enlighten Europe. Looking through history carefully, we can see that from that time onward, a new ray of light was sent forth towards the end of each century from the Lodge. These have been worked out by Mr. Fritz Kunz as f ollows:

Một bức tranh tuyệt vời về cách các Chân sư làm việc cho sự cải thiện văn minh được trình bày trong Các Bài Giảng Luân Đôn Năm 1907 của Bà Besant, trong đó bà kể cho chúng ta điều gì đó về các bước đã được Huynh Đệ Đoàn thực hiện để nâng châu Âu ra khỏi bóng tối khủng khiếp của Thời Trung Cổ. Bà giải thích rằng vào thế kỷ mười ba, một Nhân Vật hùng mạnh, khi ấy đang sống ở Tây Tạng, đã ban hành mệnh lệnh của Ngài cho Huynh Đệ Đoàn rằng trong phần tư cuối cùng của mỗi thế kỷ, một nỗ lực phải được thực hiện để soi sáng châu Âu. Nhìn kỹ qua lịch sử, chúng ta có thể thấy rằng từ thời điểm đó trở đi, một tia sáng mới đã được phóng ra về cuối mỗi thế kỷ từ Thánh Đoàn. Những điều này đã được ông Fritz Kunz trình bày như sau:

EFFORT ABOUT

NATURE OF ADVANCE

ACHIEVEMENT

1275

Roger Bacon and the restoration of mental culture

Democracy of culture: renaissance¹

1375

Christian Rosenkreuz and the spread of culture

1475

The printed book: fixation of knowledge

Democracy of knowledge: reformation

1575

Francis Bacon and science: English language the medium

1675

Union of classes attempted: secret societies

Political democracy: revolution

1775

Political freedom, unfortunately mainly by revolution

1875

Theosophical Society: Society for Psychical Research: Liberal Catholic Church: Co-Masonry: Evolution

Democracy of occultism: evolution

1975

Wide spread of what is now called esotericism: Evolution (spiritual)

The latest of these efforts was the founding of the Theosophical Society in 1875. After careful consideration the Masters Morya and Kuthumi undertook the responsibility of that step, and chose that noble worker Madame Blavatsky to help them on the physical plane. Most students of Theosophical literature know how she was prepared for what she had to do; how in due course the Brotherhood sent her to America to search for Colonel Olcott, the comrade who would supply what was lacking in herself—the power of organization and of speaking to men and gathering them round him and shaping them into a movement in the outer world—and how the Society was founded in New York, and later had its Headquarters removed to India.

Nỗ lực gần đây nhất trong số này là việc thành lập Hội Thông Thiên Học vào năm 1875. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, các Chân sư Morya và Kuthumi nhận lấy trách nhiệm của bước này, và chọn người hoạt động cao quý Madame Blavatsky để giúp các Ngài trên cõi hồng trần. Phần lớn các đạo sinh văn học Thông Thiên Học đều biết bà đã được chuẩn bị như thế nào cho điều bà phải làm; biết cách, đúng thời điểm, Huynh Đệ Đoàn đã gửi bà đến Mỹ để tìm Đại tá Olcott, người đồng chí sẽ cung cấp điều còn thiếu nơi chính bà—quyền năng tổ chức, nói chuyện với con người, quy tụ họ quanh ông và định hình họ thành một phong trào trong thế giới bên ngoài—và biết cách Hội được thành lập tại New York, rồi sau đó Trụ Sở của nó được chuyển đến Ấn Độ.

As I write,[1] our Society has completed its fiftieth year of service to humanity, and it is impossible to estimate the vast amount of good it has done in every department of human life. Its influence cannot in the least be measured by the number of its members or branches, although that is by no means insignificant, since it extends to every civilized part of the globe. But in each field of human endeavour it has sounded its characteristic note, the reverberations of which multiply around us in the words and work of statesmen and scientists, literary men and artists, and many others, of whom, great numbers perhaps have never even heard the word Theosophy. It has drawn attention to the realities of the invisible world and the power of mind. It has voiced the claims in outward life of the fact of brotherhood, seeking no uniformity in human life, but the organization for mutual support of widely different individuals, each of whom shall be strong in his special type, and all of whom shall be bound together by the indissoluble bond of respect for the man who is different from oneself. It has brought together East and West as never before; it has demanded fair play in the comparison of religions, and revealed with unmistakable clearness their essential unity of teaching and their common source. And it has brought thousands to the feet of the Masters to serve them with all their power and with all their hearts for the good of mankind for all time to come.

Khi tôi viết, Hội của chúng ta đã hoàn tất năm mươi năm phụng sự nhân loại, và không thể ước lượng được lượng điều thiện mênh mông mà Hội đã thực hiện trong mọi ngành của đời sống nhân loại. Ảnh hưởng của Hội hoàn toàn không thể được đo bằng số thành viên hay chi nhánh, dù điều đó tuyệt nhiên không phải là không đáng kể, vì nó trải rộng đến mọi phần văn minh của địa cầu. Nhưng trong mỗi lĩnh vực nỗ lực của con người, Hội đã xướng lên âm điệu đặc trưng của mình, những âm vang của nó nhân lên quanh chúng ta trong lời nói và công việc của các chính khách và nhà khoa học, các nhà văn và nghệ sĩ, cùng nhiều người khác, trong số họ có lẽ rất nhiều người thậm chí chưa từng nghe từ Thông Thiên Học. Hội đã thu hút sự chú ý đến các thực tại của thế giới vô hình và quyền năng của thể trí. Hội đã lên tiếng cho các yêu sách trong đời sống bên ngoài của sự kiện tình huynh đệ, không tìm kiếm sự đồng dạng trong đời sống nhân loại, mà là sự tổ chức nhằm hỗ trợ lẫn nhau của những cá nhân rất khác nhau, mỗi người sẽ mạnh mẽ trong loại hình đặc thù của mình, và tất cả sẽ được ràng buộc với nhau bằng mối dây không thể tan vỡ của sự tôn trọng đối với người khác với chính mình. Hội đã đưa Đông và Tây lại gần nhau như chưa từng có trước đây; Hội đã đòi hỏi sự công bằng trong việc so sánh các tôn giáo, và mặc khải với sự rõ ràng không thể nhầm lẫn sự hợp nhất thiết yếu trong giáo lý của chúng và nguồn gốc chung của chúng. Và Hội đã đưa hàng ngàn người đến dưới chân các Chân sư để phụng sự các Ngài bằng tất cả quyền năng và bằng tất cả trái tim của họ vì lợi ích của nhân loại trong mọi thời sẽ đến.

The Races

Các Nhân Loại

In its work for the world the Brotherhood deals not only with the present, but looks far into the future, and prepares for the evolution of new races and nations in which the qualities of humanity shall be developed in harmonious sequence. As we shall see in Chapter 13, the progress of mankind takes place in no haphazard manner, but the formation of the races with their special characteristics, physical, emotional and mental (serving as classes in the great world-school, for the development of special qualities) is as precise and definite as the curriculum and time-table of any modern college.

Trong công việc của mình cho thế giới, Huynh Đệ Đoàn không chỉ đề cập đến hiện tại, mà còn nhìn xa vào tương lai, và chuẩn bị cho sự tiến hoá của các nhân loại và quốc gia mới, trong đó các phẩm tính của nhân loại sẽ được phát triển theo trình tự hài hoà. Như chúng ta sẽ thấy trong Chương 13, sự tiến bộ của loài người diễn ra không hề ngẫu nhiên, mà sự hình thành các nhân loại với những đặc tính riêng của chúng, hồng trần, cảm xúc và trí tuệ (phụng sự như các lớp học trong trường học thế giới vĩ đại, để phát triển các phẩm tính đặc biệt) là chính xác và xác định như chương trình học và thời khoá biểu của bất cứ trường đại học hiện đại nào.

* In 1925

* Năm 1925

The great Aryan race which, though not yet at its prime, dominates the world to-day with its supreme gift of intellect, has followed after the Atlantean race, the people of which still form the majority of mankind and occupy a great portion of the land surface of our globe.

Giống dân Arya vĩ đại, dù chưa đạt đến đỉnh cao của mình, đang thống trị thế giới ngày nay bằng thiên phú tối thượng là trí năng, đã đi theo sau giống dân Atlantis, dân tộc của nó vẫn còn tạo thành đa số nhân loại và chiếm một phần lớn diện tích đất liền của bầu hành tinh chúng ta.

The Coming

Sự Đến

In this connection three great pieces of work are in hand at the present time, the first of which is the preparation for the physical embodiment and activity among men of the Bodhisattva or WorldTeacher, who is the same great Personage, the Christ, who occupied the body of Jesus two thousand years ago. His coming must not be confused with the centennial events already mentioned; those belong to the First Ray, and are in the department of occult work that deals with the guidance of races and subdivisions of races; whereas this is an event which occurs only once in a long time, and is an activity of the Second Ray, the department of religion and education.

Trong mối liên hệ này, hiện nay có ba công việc vĩ đại đang được tiến hành, công việc thứ nhất là sự chuẩn bị cho việc hiện thân hồng trần và hoạt động giữa con người của Đức Bồ Tát hay Đức Chưởng Giáo, cũng chính là Nhân Vật vĩ đại ấy, Đức Christ, Đấng đã chiếm hữu thể xác của Đức Jesus hai ngàn năm trước. Sự đến của Ngài không được lẫn lộn với các biến cố trăm năm đã được đề cập; những biến cố ấy thuộc cung một, và nằm trong ngành công việc huyền môn đề cập đến việc hướng dẫn các nhân loại và các phân bộ của nhân loại; trong khi đây là một biến cố chỉ xảy ra một lần trong một thời gian dài, và là một hoạt động của cung hai, ngành tôn giáo và giáo dục.

The World-Teacher is even now at our doors, and we may hope for ever-increasing manifestations of his power, his wisdom and his love. The Order of the Star in the East was established in 1911 to prepare for that Coming by drawing together people of every sect and religion all over the world, who for various reasons believe in the near approach of the World-Teacher, and are willing to combine, in a grand effort to proclaim it to the world, and prepare themselves as far as may be to be useful servants of the Lord when he comes.

Đức Chưởng Giáo ngay lúc này đã ở trước cửa chúng ta, và chúng ta có thể hy vọng những biểu lộ ngày càng tăng của quyền năng, minh triết và bác ái của Ngài. Hội Ngôi Sao Phương Đông được thành lập năm 1911 để chuẩn bị cho Sự Đến ấy bằng cách quy tụ những người thuộc mọi giáo phái và tôn giáo trên khắp thế giới, những người vì nhiều lý do tin vào sự đến gần của Đức Chưởng Giáo, và sẵn lòng kết hợp trong một nỗ lực lớn lao để công bố điều đó cho thế giới, và chuẩn bị chính mình, trong chừng mực có thể, để trở thành những người phụng sự hữu ích của Chúa Tể khi Ngài đến.

Since the Lord Maitreya has chosen to announce his coming to the world through Dr. Besant, we are justified, I think, in assuming that his teaching will be somewhat along the line of the ideals that she has been promulgating with such wonderful eloquence during the last thirty seven years. Some sects of Christians still cling to the superstition that he will come to judge mankind and to destroy the earth, so that there is a great element of fear and uncertainty connected with their beliefs. But all fear of God comes from a misunderstanding.

Vì Đức Chúa Maitreya đã chọn công bố sự đến của Ngài với thế giới qua Bà Besant, tôi nghĩ chúng ta có lý khi giả định rằng giáo huấn của Ngài sẽ phần nào theo đường lối các lý tưởng mà bà đã truyền bá với sự hùng biện kỳ diệu như thế trong ba mươi bảy năm qua. Một số giáo phái Kitô giáo vẫn bám vào mê tín rằng Ngài sẽ đến để phán xét nhân loại và hủy diệt Trái Đất, đến nỗi có một yếu tố lớn lao của sợ hãi và bất định liên hệ với niềm tin của họ. Nhưng mọi nỗi sợ Thượng đế đều đến từ sự hiểu lầm.

The Coming of Christ is indeed connected with an end—not the end of the world, but the end of an age or dispensation. The Greek word is aion, which is the same as aeon in English; and just as Christ said two thousand years ago that the dispensation of the Jewish law had come to an end, because he had come to found a new one, that of the gospel, so will the era of that gospel come to an end when he returns and founds yet another. He will give the same great teaching; the teaching must be the same, for there is only one Truth, though perhaps it may be put a little more clearly for us now, because we know a little more. It will be promulgated in some fresh dress, perhaps, with some beauty of expression which will be exactly suited to us in this present day, and there will be some statement of it which will appeal to a large number of people.

Sự Đến của Đức Christ quả thật liên hệ với một sự kết thúc—không phải sự kết thúc của thế giới, mà là sự kết thúc của một thời đại hay một chu kỳ thiên khải. Từ Hy Lạp là aion, tương đương với aeon trong tiếng Anh; và cũng như Đức Christ đã nói hai ngàn năm trước rằng chu kỳ thiên luật Do Thái đã đến hồi kết thúc, vì Ngài đã đến để thiết lập một chu kỳ mới, chu kỳ của phúc âm, thì thời đại của phúc âm ấy cũng sẽ đến hồi kết thúc khi Ngài trở lại và thiết lập một chu kỳ khác nữa. Ngài sẽ ban cùng một giáo huấn vĩ đại; giáo huấn ấy phải là như nhau, vì chỉ có một Chân Lý, dù có lẽ nay nó có thể được trình bày rõ ràng hơn đôi chút cho chúng ta, bởi vì chúng ta biết đôi chút nhiều hơn. Có lẽ nó sẽ được truyền bá trong một hình thức mới mẻ nào đó, với một vẻ đẹp diễn đạt nào đó hoàn toàn thích hợp với chúng ta trong thời hiện tại này, và sẽ có một cách trình bày nào đó của nó lôi cuốn được đông đảo người.

It will certainly be the same, because if has appeared in all the existing faiths. They have differed much in their method of presenting it, but they all agree absolutely in the life which they ask their followers to live. We find considerable difference between the external teachings of Christianity, Buddhism, Hinduism and Muhammadanism; but if we examine the good men of any one of those religions and inquire into their daily practice, we shall find that they are all leading precisely the same life—that they all agree as to the virtues a good man must possess and as to the evils he must avoid.

Nó chắc chắn sẽ là như nhau, bởi vì nó đã xuất hiện trong tất cả các tín ngưỡng hiện có. Chúng đã khác nhau nhiều trong phương pháp trình bày nó, nhưng tất cả đều hoàn toàn đồng thuận về đời sống mà chúng yêu cầu tín đồ của mình sống. Chúng ta thấy sự khác biệt đáng kể giữa các giáo lý bên ngoài của Kitô giáo, Phật giáo, Ấn giáo và Hồi giáo; nhưng nếu chúng ta khảo sát những người tốt lành thuộc bất cứ tôn giáo nào trong số ấy và tìm hiểu thực hành hằng ngày của họ, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả họ đang sống chính xác cùng một đời sống—rằng tất cả họ đồng thuận về các đức tính mà một người tốt phải có và về những điều ác mà y phải tránh.

They all tell us that a man must be charitable, truthful, kindly, honourable, helpful to the poor; they all tell us that a man who is hard and grasping and cruel, who is untruthful and dishonourable, is making no progress, and has no chance of success until he changes his ways. As practical people we must recognize that the things of real importance in any religion are not the vague metaphysical speculations on matters of which no one can really know anything for certain, for these can have no influence upon our conduct; the important things are the precepts which affect our daily lives, which make us this kind of man or that kind of man in our relations with our fellow-men. Those precepts are the same in all existing religions; they will be the same in the new teaching, whatever it may be.

Tất cả đều nói với chúng ta rằng một người phải bác ái, chân thật, tử tế, danh dự, hữu ích cho người nghèo; tất cả đều nói với chúng ta rằng một người cứng rắn, tham lam và tàn nhẫn, không chân thật và thiếu danh dự, thì không đang tiến bộ, và không có cơ hội thành công cho đến khi y thay đổi đường lối của mình. Là những người thực tiễn, chúng ta phải nhận ra rằng những điều thật sự quan trọng trong bất kỳ tôn giáo nào không phải là các suy đoán siêu hình mơ hồ về những vấn đề mà không ai thật sự có thể biết chắc điều gì, vì những điều này không thể có ảnh hưởng nào đến hành vi của chúng ta; những điều quan trọng là các giới luật ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày của chúng ta, làm cho chúng ta trở thành kiểu người này hay kiểu người kia trong các mối quan hệ với đồng loại của mình. Các giới luật ấy giống nhau trong mọi tôn giáo hiện có; chúng sẽ giống nhau trong giáo huấn mới, bất kể giáo huấn ấy có thể là gì.

Perhaps we may go a little further than that in Predicting what he will teach. Surely, the great central truth which he will emphasize is that the evils of the world come from lack of love and brotherliness—that if man will learn to love and to adopt the brotherly attitude, all evil will pass away and the golden age will dawn upon us. Not immediately—we cannot hope for that; but at least men will begin to see for themselves, and to understand how much more is to be gained along that line than the other.

Có lẽ chúng ta có thể đi xa hơn một chút trong việc dự đoán điều Ngài sẽ dạy. Chắc chắn, chân lý trung tâm vĩ đại mà Ngài sẽ nhấn mạnh là những điều ác của thế giới đến từ sự thiếu tình thương và tinh thần huynh đệ—rằng nếu con người học yêu thương và chấp nhận thái độ huynh đệ, mọi điều ác sẽ qua đi và thời đại hoàng kim sẽ rạng mở trên chúng ta. Không phải ngay lập tức—chúng ta không thể hy vọng điều đó; nhưng ít nhất con người sẽ bắt đầu tự mình thấy, và thấu hiểu rằng theo đường lối ấy có thể đạt được nhiều hơn biết bao so với đường lối kia.

The Sixth Sub-Race

Giống Dân Phụ Thứ Sáu

The second of these great events is the moulding of the form of body, emotions and mind of the sixth sub-race of our Aryan race, which has already begun to appear in America and Australia and perhaps in other parts of the world. The great modelling power of the Manu’s mind and will is at work on the inner planes, modifying even the physical type of the children of the new age, wherever they may be susceptible to it, and some of the junior members of the Brotherhood, working in the outer world, have their instructions to provide for these when possible the education and training that befits the new race. This work is small as yet, but it is destined to swell into voluminous proportions, until within a few short centuries the sixth sub-race will stand out distinct and admirable in its young manhood in the new world, while the old world continues to develop the fifth sub-race to its maturity and perfection. And perchance later still the sixth sub-race, radiant and glorious in its manhood, will shed its blessing upon the fifth, so that for the first time a race shall have a serene and dignified decline into fruitful and venerable age. That may be the reward of its present and coming service to the infant race, and of its fight, full of sacrifice but triumphant, against the powers of darkness, opening up possibilities for man such as the race has never known before.

Biến cố lớn thứ hai trong số này là việc nhào nặn hình thức của thể xác, cảm xúc và thể trí của giống dân phụ thứ sáu thuộc giống dân Arya của chúng ta, vốn đã bắt đầu xuất hiện ở Mỹ và Úc, và có lẽ ở những phần khác của thế giới. Quyền năng tạo mẫu vĩ đại của thể trí và ý chí của Đức Manu đang hoạt động trên các cõi bên trong, điều chỉnh ngay cả loại hình thể xác của trẻ em thời đại mới, ở bất cứ nơi nào chúng có thể đáp ứng với nó; và một số thành viên trẻ hơn của Huynh Đệ Đoàn, làm việc trong thế giới bên ngoài, có các chỉ thị của mình nhằm cung cấp cho những trẻ này, khi có thể, nền giáo dục và huấn luyện phù hợp với giống dân mới. Công việc này hiện còn nhỏ, nhưng định mệnh của nó là sẽ phồng lớn thành những tỉ lệ đồ sộ, cho đến khi trong vài thế kỷ ngắn ngủi, giống dân phụ thứ sáu sẽ nổi bật rõ ràng và đáng khâm phục trong tuổi thanh niên của nó ở thế giới mới, trong khi thế giới cũ tiếp tục phát triển giống dân phụ thứ năm đến sự trưởng thành và toàn thiện của nó. Và có lẽ về sau nữa, giống dân phụ thứ sáu, rạng rỡ và huy hoàng trong tuổi trưởng thành của mình, sẽ rải phúc lành của nó lên giống dân phụ thứ năm, để lần đầu tiên một giống dân sẽ có một sự suy tàn tĩnh lặng và trang nghiêm bước vào tuổi già phong nhiêu và đáng kính. Đó có thể là phần thưởng cho sự phụng sự hiện tại và sắp tới của nó đối với giống dân thơ ấu, và cho cuộc chiến đấu đầy hi sinh nhưng chiến thắng của nó chống lại các quyền lực của bóng tối, mở ra cho con người những khả năng mà giống dân chưa từng biết trước đây.

We must try to understand what is meant by belonging to the new sixth sub-race. Our ideas are liable to be too inelastic. When the sixth sub-race is fully established, it will show certain definite characteristics—physical, astral and mental—which are not to be seen in the average man of the fifth sub-race. Remember, it has to be built gradually out of the fifth sub-race, and these new characteristics must be developed one by one in each of the egos concerned. The process of’ preparation is a long one, and may well extend over several lives. So when we look round and examine people (and especially young people) from this point of view, we must not expect to be able to say off-hand that one belongs to the new sub-race, and another does not.

Chúng ta phải cố gắng thấu hiểu ý nghĩa của việc thuộc về giống dân phụ thứ sáu mới. Các ý tưởng của chúng ta dễ trở nên quá cứng nhắc. Khi giống dân phụ thứ sáu được thiết lập đầy đủ, nó sẽ biểu lộ những đặc tính xác định nào đó—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—mà không thể thấy trong người trung bình của giống dân phụ thứ năm. Hãy nhớ rằng nó phải được xây dựng dần dần từ giống dân phụ thứ năm, và các đặc tính mới này phải được phát triển từng cái một trong mỗi chân ngã liên quan. Tiến trình chuẩn bị là một tiến trình lâu dài, và rất có thể kéo dài qua nhiều kiếp sống. Vì vậy, khi chúng ta nhìn quanh và khảo sát người ta (và đặc biệt là những người trẻ) từ quan điểm này, chúng ta không nên mong có thể nói ngay rằng người này thuộc về giống dân phụ mới, còn người kia thì không.

A more accurate statement would be something like this: “A seems to possess about twenty-five per cent of the characteristics of the new sub-race; B has perhaps as much as fifty per cent; C has a large proportion—perhaps seventy-five per cent; in D I cannot see anything lacking; as far as I can tell, he is a fully developed example.” And you must understand that the average boy or girl whom you think hopeful is probably an A, for B’s are as yet very rare in the world, and C’s and D’s practically non-existent, except in our own tiny circle. Remember also that developments are very unequal; a boy may have made a considerable amount of astral or mental progress before it shows much in his physical body; and on the other hand, through good heredity, he may have a physical body, capable of expressing greater advancement on higher planes than he has yet attained. Very few can expect to show all the signs yet; they may be well satisfied if they show one or two.

Một phát biểu chính xác hơn sẽ là đại loại như thế này: “A dường như sở hữu khoảng hai mươi lăm phần trăm các đặc tính của giống dân phụ mới; B có lẽ có đến năm mươi phần trăm; C có một tỷ lệ lớn—có lẽ bảy mươi lăm phần trăm; ở D tôi không thấy thiếu điều gì; trong chừng mực tôi có thể nói, y là một ví dụ đã phát triển đầy đủ.” Và các bạn phải thấu hiểu rằng cậu bé hay cô bé trung bình mà các bạn cho là đầy triển vọng có lẽ là một A, vì các B hiện vẫn còn rất hiếm trong thế giới, còn các C và D hầu như không hiện hữu, ngoại trừ trong vòng tròn rất nhỏ của chúng ta. Cũng hãy nhớ rằng các sự phát triển rất không đồng đều; một cậu bé có thể đã đạt một lượng tiến bộ cảm dục hay trí tuệ đáng kể trước khi điều đó biểu lộ nhiều trong thể xác của y; và mặt khác, nhờ di truyền tốt, y có thể có một thể xác có khả năng biểu đạt sự tiến bộ lớn hơn trên các cõi cao hơn so với điều y đã đạt được. Rất ít người có thể mong biểu lộ tất cả các dấu hiệu; họ có thể hoàn toàn hài lòng nếu biểu lộ một hoặc hai dấu hiệu.

Even at its culmination it will not be uniform; for example, it is in the main a dolichocephalous race, but it will always have brachycephalous sub-divisions; it will contain fair-haired and dark-haired people, people with blue eyes and people with brown. Naturally the astral and mental traits are the more important, but in most cases it is only by the physical appearance that one can make an estimate. The keynote is unselfishness, and the dominant is eager enthusiasm for service; and these must he accompanied by active kindliness and large-hearted tolerance. He who forgets his own pleasure, and thinks only how he can help others, has already gone far on the path. Discrimination and common sense are also marked characteristics.

Ngay cả ở thời điểm cực thịnh, nó cũng sẽ không đồng nhất; chẳng hạn, về đại thể, đó là một nhân loại đầu dài, nhưng nó sẽ luôn có những phân bộ đầu ngắn; nó sẽ bao gồm những người tóc sáng và tóc sẫm, những người mắt xanh và những người mắt nâu. Dĩ nhiên, các đặc tính cảm dục và trí tuệ là quan trọng hơn, nhưng trong đa số trường hợp, chỉ qua vẻ ngoài hồng trần mà người ta mới có thể ước định. Chủ âm là tính vô ngã, và yếu tố trội là lòng nhiệt thành hăng hái đối với phụng sự; và những điều này phải được đi kèm với lòng nhân ái tích cực và sự khoan dung rộng lượng. Người nào quên lạc thú riêng của mình, và chỉ nghĩ đến cách y có thể giúp đỡ người khác, thì đã tiến xa trên Đường Đạo. Sự phân biện và lương tri cũng là những đặc điểm nổi bật.

If we wish to know for what physical tokens we may look, perhaps the most marked of all are delicate, well-shaped hands and feet, thin fingers and oval nails, especially thinness in fingers and thumb when seen edgewise. The texture of the skin is also important. It is always clear, and never coarse. Of faces there are three types—the markedly oval with high forehead, the slightly less oval with broad forehead, and the practically brachycephalous[1] (this last being rare; the definition of a brachycephalous skull is that its breadth is four-fifths of its length). There is about the person who is approaching the sixth sub-race a distinguishing expression which one who looks for it will soon begin to recognize.

Nếu chúng ta muốn biết có thể tìm những dấu hiệu hồng trần nào, có lẽ nổi bật nhất trong tất cả là bàn tay và bàn chân thanh tú, cân đối, các ngón tay thon và móng tay hình bầu dục, đặc biệt là độ mảnh của các ngón tay và ngón cái khi nhìn nghiêng. Kết cấu của da cũng quan trọng. Nó luôn trong trẻo, và không bao giờ thô ráp. Về khuôn mặt, có ba kiểu — kiểu bầu dục rõ rệt với trán cao, kiểu hơi kém bầu dục hơn với trán rộng, và kiểu gần như đầu ngắn[1] (kiểu cuối này hiếm; định nghĩa của một hộp sọ đầu ngắn là bề rộng của nó bằng bốn phần năm chiều dài). Nơi người đang tiến gần đến giống dân phụ thứ sáu có một biểu hiện đặc trưng mà ai tìm kiếm nó sẽ sớm bắt đầu nhận ra.

We frequently hear from independent observers and students of their recognition of a new racial type seen especially in California, Australia and New Zealand. For example, in 1923 an address was delivered by Captain Pape to the British Association, dealing with what he called the Austral-American Race, and his remarks included the following description of its peculiarities:

Chúng ta thường nghe từ các nhà quan sát và đạo sinh độc lập về việc họ nhận ra một kiểu nhân loại mới, thấy đặc biệt ở California, Australia và New Zealand. Chẳng hạn, vào năm 1923, một bài diễn thuyết được Đại úy Pape trình bày trước Hiệp hội Anh quốc, bàn về điều ông gọi là Nhân loại Austral-American, và những nhận xét của ông bao gồm mô tả sau đây về các đặc điểm riêng của nó:

The head tends to be dome-shaped, especially over the frontal region; there is a departure from what is known as the “low-set ear”; hair and skin are fine; eyes luminous, intelligent, but not full; bridge of the nose early developed; lips sensitive and mobile; eyebrows prominent; frontal brain development large; type of face somewhat triangular, but not sharp; general physiology harmonious, proportionate, healthy, not at all the “all brain and no body” type. The psychology of the new-race child manifests as a rapid response to sympathy, pity in suffering, power to comprehend principles easily, quick intuitions, thoroughness, sensitiveness, quick sense of justice, absence of parrot-like intelligence, eagerness to help others. They also show a dislike of coarse food, and often have not a large appetite along any lines. In other respects they are normal children but especially need sympathy and understanding teachers.

Đầu có khuynh hướng hình vòm, đặc biệt ở vùng trán; có sự rời khỏi kiểu được biết đến như “tai đặt thấp”; tóc và da mịn; mắt sáng, thông minh, nhưng không lồi; sống mũi phát triển sớm; môi nhạy cảm và linh động; lông mày nổi bật; sự phát triển não vùng trán lớn; kiểu khuôn mặt hơi tam giác, nhưng không nhọn; sinh lý tổng quát hài hòa, cân xứng, khỏe mạnh, hoàn toàn không thuộc kiểu “toàn não mà không có thân thể”. Tâm lý của trẻ thuộc nhân loại mới biểu lộ như một sự đáp ứng nhanh với thiện cảm, lòng thương xót trước đau khổ, năng lực dễ dàng thấu hiểu các nguyên lý, trực giác nhanh, sự triệt để, tính nhạy cảm, ý thức nhanh về công lý, không có trí thông minh bắt chước như vẹt, và sự hăng hái giúp đỡ người khác. Chúng cũng biểu lộ sự không thích thức ăn thô, và thường không có khẩu vị lớn theo bất cứ hướng nào. Về các phương diện khác, chúng là những trẻ bình thường nhưng đặc biệt cần những huấn sư có thiện cảm và sự thấu hiểu.

In the previous year there was a long article in The Los Angeles Sunday Times devoted to the subject of the new race appearing in California and New Zealand. After referring to some of the mental and physical characteristics ascribed to the children of the new race, it remarked particularly upon their qualities of exceptional poise and intuition.

Trong năm trước đó, có một bài dài trên The Los Angeles Sunday Times dành cho chủ đề nhân loại mới đang xuất hiện ở California và New Zealand. Sau khi đề cập đến một số đặc tính trí tuệ và hồng trần được quy cho trẻ em của nhân loại mới, bài ấy đặc biệt nhận xét về các phẩm tính quân bình và trực giác phi thường của chúng.

The Sixth Root Race

Giống Dân Gốc Thứ Sáu

The third great event is the foundation of the sixth root race, which is to take place physically in California about seven hundred years from now. A community will be established there with the Manu of that race, he who is now our Master Morya, at the Head of it, and beside him his co-worker throughout the ages, the Master Kuthumi, who is to be the Bodhisattva of the sixth root race. We have written of that community in Man: Whence, How and Whither. Although it lies some hundreds of years ahead, which after all is but a brief time in the life of a man, as all of us will realize when we look back upon it, preparations are already afoot for that also, and The Theosophical Society is playing no inconsiderable part in those.

Biến cố lớn thứ ba là việc đặt nền tảng cho giống dân gốc thứ sáu, điều sẽ diễn ra về mặt hồng trần tại California khoảng bảy trăm năm nữa kể từ nay. Một cộng đồng sẽ được thiết lập tại đó với Đức Manu của nhân loại ấy, Đấng hiện nay là Chân sư Morya của chúng ta, đứng đầu cộng đồng ấy, và bên cạnh Ngài là người cộng tác của Ngài qua các thời đại, Chân sư Kuthumi, Đấng sẽ là Đức Bồ Tát của giống dân gốc thứ sáu. Chúng tôi đã viết về cộng đồng đó trong Man: Whence, How and Whither. Dù nó còn ở phía trước vài trăm năm, xét cho cùng chỉ là một thời gian ngắn trong đời sống của một con người, như tất cả chúng ta sẽ nhận ra khi nhìn lại, những chuẩn bị cho điều ấy cũng đã bắt đầu, và Hội Thông Thiên Học đang đóng một phần không nhỏ trong những chuẩn bị đó.

Every branch of the Society is or ought to be encouraging each one of its members in his efforts to apply in the outer world the Theosophical knowledge that he has gained; he must of course do that according to his temperament and ability, and his opportunities as he mixes with men; but all that helps the present race. Within the Theosophical Lodge, where so many different types of men forgather and must help one another, if the Lodge be true to its ideals, a breadth of character should be developed in the members, for they receive in this respect an education in the spirit of brotherhood which can scarcely be had elsewhere in the world. Most societies are organized for the attainment of one goal or one purpose, but in The Theosophical Society we know that although one model of perfection appeals most strongly to one man and another to another, the brotherhood of man will not be achieved by the triumph of any one ideal, be it love, or truth, or beauty alone, but by the twisting of all these strands into one mighty rope which will bind man for ever to the Divine. As was said in the Hitopadesha long ago:

Mỗi chi nhánh của Hội đang, hoặc nên, khuyến khích từng hội viên của mình trong nỗ lực áp dụng vào thế giới bên ngoài tri thức Thông Thiên Học mà y đã đạt được; dĩ nhiên y phải làm điều đó tùy theo khí chất và khả năng của mình, cũng như các cơ hội của y khi giao tiếp với người đời; nhưng tất cả điều ấy đều giúp ích cho nhân loại hiện tại. Bên trong Chi bộ Thông Thiên Học, nơi có rất nhiều kiểu người khác nhau tụ hội và phải giúp đỡ lẫn nhau, nếu Chi bộ trung thành với các lý tưởng của mình, thì nơi các hội viên nên phát triển một bề rộng của tính cách, vì về phương diện này, họ nhận được một nền giáo dục trong tinh thần huynh đệ mà khó có thể đạt được ở nơi nào khác trên thế giới. Hầu hết các hội đoàn được tổ chức nhằm đạt một mục tiêu hay một mục đích, nhưng trong Hội Thông Thiên Học, chúng ta biết rằng tuy một mô hình hoàn thiện hấp dẫn mạnh mẽ nhất đối với người này và một mô hình khác đối với người kia, tình huynh đệ của nhân loại sẽ không đạt được nhờ sự chiến thắng của bất cứ lý tưởng đơn lẻ nào, dù đó chỉ là tình thương, hay chân lý, hay cái đẹp, mà nhờ việc xoắn tất cả những sợi ấy thành một sợi dây hùng mạnh duy nhất, sẽ ràng buộc con người mãi mãi với Thiêng Liêng. Như đã được nói trong Hitopadesha từ lâu:

Small things wax exceeding mighty,

Những điều nhỏ bé lớn lên thành vô cùng hùng mạnh,

Being cunningly combined:

Khi được khéo léo kết hợp:

Furious elephants are fastened

Những con voi hung dữ bị buộc chặt

With a rope of grass-blades twined.

Bằng một sợi dây bện từ cọng cỏ.

Such is the spirit of brotherhood gradually acquired by the true Theosophist, holding to his fellow by inner impulse, not by outward compulsion; and membership in the Society is verily a training by the Masters which, if successful, will fit the man to be reborn in the community of the sixth root race when it is established on the physical plane.

Đó là tinh thần huynh đệ mà nhà Thông Thiên Học chân chính dần dần thủ đắc, gắn bó với đồng loại của mình bằng xung lực bên trong, không bởi cưỡng bách bên ngoài; và tư cách hội viên trong Hội thật sự là một sự huấn luyện do các Chân sư thực hiện, điều mà, nếu thành công, sẽ giúp con người thích hợp để tái sinh trong cộng đồng của giống dân gốc thứ sáu khi nó được thiết lập trên cõi hồng trần.

Chapter 12 — Chương 12

The Chohans And The Rays — Các Chohan Và Các Cung

The Chohans

Các Chohan

IN THE last chapter I have tried to describe some of the numerous avenues of work of the great Masters, but there are of course many others, about some of which we know practically nothing; yet what we do know indicates that the work is vast and varied, and that the Adepts deal with it in different ways, according to their own temperaments and preferences. There is a sevenfold division running through all things, as I must explain more fully presently, and this appears also in the Great White Brotherhood. In the Hierarchy the seven Rays are clearly distinguished. The First or ruling Ray is governed by the Lord of the World; at the head of the Second Ray stands the Lord Buddha, and under these come respectively the Manu and the Bodhisattva of the root race which is predominant in the world at any given time. Parallel in rank with these is the Mahachohan, who supervises all the other five Rays, each of which nevertheless has also its own Head. In my next chapter I will explain what I can about the loftier ranks of the Hierarchy, attempting in this to render some account of the work of the Heads of Rays Three to Seven, and of the Masters Morya and Kuthumi, who stand at their level on the First and Second Rays.

TRONG chương trước, tôi đã cố gắng mô tả một số trong rất nhiều con đường hoạt động của các Chân sư vĩ đại, nhưng dĩ nhiên còn nhiều con đường khác, về một số trong đó chúng ta hầu như không biết gì; tuy vậy những gì chúng ta biết cho thấy công việc ấy rộng lớn và đa dạng, và các Chân sư xử lý nó theo những cách khác nhau, tùy theo khí chất và sở thích riêng của Các Ngài. Có một sự phân chia thất phân xuyên suốt mọi sự vật, như tôi sẽ phải giải thích đầy đủ hơn ngay sau đây, và điều này cũng xuất hiện trong Thánh Đoàn. Trong Thánh Đoàn, bảy Cung được phân biệt rõ rệt. Cung thứ nhất hay Cung cai trị do Đức Chúa Tể Thế Giới quản trị; đứng đầu Cung Hai là Đức Phật, và dưới Các Ngài lần lượt là Đức Manu và Đức Bồ Tát của giống dân gốc đang chiếm ưu thế trong thế giới vào bất cứ thời điểm nào. Đồng cấp với Các Ngài là Đức Mahachohan, Đấng giám sát tất cả năm Cung còn lại, tuy mỗi Cung trong số đó cũng có Vị Đứng Đầu riêng của mình. Trong chương kế tiếp, tôi sẽ giải thích những gì có thể về các cấp bậc cao hơn của Thánh Đoàn, cố gắng trong việc này trình bày phần nào về công việc của các Vị Đứng Đầu Cung Ba đến Cung Bảy, và của các Chân sư Morya và Kuthumi, những Đấng đứng ở cấp độ của Các Ngài trên Cung Một và Cung Hai.

The title Chohan is given to those Adepts who have taken the sixth Initiation, but the same word is employed also for the Heads of Rays Three to Seven, who hold very definite and exalted offices in the Hierarchy. We are given to understand that the meaning of the word Chohan is simply “Lord,” and that it is used both generally and specifically, in much the same way as the word Lord is employed in England. We speak of a man as a lord because he possesses that title, but that is quite different from what we mean when we speak, for example, of the Lord Chancellor or the Lord-Lieutenant of the County. The term appears again in the name Dhyan Chohan, which occurs in The Secret Doctrine and elsewhere, and then it refers to Beings of every high station, altogether outside the Occult Hierarchy of our planet.

Danh hiệu Chohan được trao cho những Chân sư đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu, nhưng cùng từ ấy cũng được dùng cho các Vị Đứng Đầu Cung Ba đến Cung Bảy, những Đấng nắm giữ các chức vụ rất xác định và cao cả trong Thánh Đoàn. Chúng ta được cho hiểu rằng nghĩa của từ Chohan đơn giản là “Chúa Tể”, và nó được dùng cả theo nghĩa chung lẫn nghĩa riêng, gần như cùng cách từ Lord được dùng ở Anh. Chúng ta nói một người là lord vì ông sở hữu tước hiệu ấy, nhưng điều đó hoàn toàn khác với điều chúng ta muốn nói khi, chẳng hạn, nói đến Lord Chancellor hay Lord-Lieutenant của một Quận. Thuật ngữ này lại xuất hiện trong danh xưng Dhyan Chohan, vốn có trong Giáo Lý Bí Nhiệm và ở nơi khác, và khi đó nó chỉ các Hữu Thể ở mọi địa vị cao, hoàn toàn ở bên ngoài Thánh Đoàn Huyền Bí của hành tinh chúng ta.

The Master Djwal Kul’s Table

Bảng Của Chân Sư Djwal Kul’s

It is necessary at this point, if we are to understand at all this part of the work of the Masters, to digress a little and say something of what is meant by the Seven Rays. This is a matter of considerable difficulty. Long ago we received some information, very incomplete certainly, but still very valuable, about these Rays. I remember well the occasion on which it was given to us. Mr. Cooper-Oakley and I and a Hindu brother were sitting talking on the roof at Adyar in the very early days, when there was only the one headquarters house and twenty-nine acres of half-jungle behind it; and there came to us suddenly the Master Djwal Kul, who was at that time the chief pupil of the Master Kuthumi. He gave us a great deal of teaching in those days, and was always very kind and patient, and while he sat and talked to us that day this question of the Rays came up. Mr. Cooper-Oakley in his characteristic way said: “Oh, please, Master, will you tell us all about the Rays?”

Ở điểm này, nếu chúng ta muốn thấu hiểu dù chỉ phần nào phần công việc này của các Chân sư, cần phải tạm rẽ sang một bên đôi chút và nói đôi điều về ý nghĩa của Bảy Cung. Đây là một vấn đề khá khó khăn. Từ lâu, chúng ta đã nhận được một số thông tin, chắc chắn rất không đầy đủ, nhưng vẫn rất quý giá, về các Cung này. Tôi nhớ rõ dịp mà thông tin ấy được trao cho chúng tôi. Ông Cooper-Oakley, tôi và một huynh đệ người Ấn đang ngồi trò chuyện trên mái nhà tại Adyar vào những ngày rất sớm, khi chỉ có một ngôi nhà trụ sở duy nhất và hai mươi chín mẫu Anh nửa rừng rậm phía sau; và Chân sư Djwal Kul, lúc ấy là đệ tử trưởng của Chân sư Kuthumi, bỗng đến với chúng tôi. Ngài đã trao cho chúng tôi rất nhiều giáo huấn trong những ngày đó, và luôn rất nhân từ cùng kiên nhẫn, và khi Ngài ngồi trò chuyện với chúng tôi hôm ấy, câu hỏi về các Cung được nêu lên. Ông Cooper-Oakley theo lối đặc trưng của mình nói: “Ồ, xin Chân sư vui lòng cho chúng con biết tất cả về các Cung được không?”

There was a twinkle in our Teacher’s eye as he said: “Well, I cannot tell you all about them until you have reached a very high Initiation. Will you have what I can tell you, which will be partial and inevitably misleading, or will you wait until you can be told the whole thing?” Not unnaturally we thought that half a loaf was better than no bread, so we said we would take what we could get. We noted down the very interesting information that he gave, but much of it was incomprehensible to us, as he had foretold. He said: “I cannot tell you any more than that, for I am bound by certain pledges; but if your intuition can make out more I will tell you whether you are right.” Even that little fragmentary information was of very great value to us.

Có một tia vui trong mắt Huấn sư của chúng tôi khi Ngài nói: “Chà, Ta không thể nói cho các con biết tất cả về chúng cho đến khi các con đạt tới một cuộc điểm đạo rất cao. Các con muốn nhận điều Ta có thể nói với các con, vốn sẽ là một phần và tất yếu gây hiểu lầm, hay các con sẽ chờ đến khi có thể được nói cho toàn bộ vấn đề?” Cũng dễ hiểu, chúng tôi nghĩ rằng có nửa ổ bánh còn hơn không có bánh, nên chúng tôi nói rằng chúng tôi sẽ nhận những gì có thể nhận được. Chúng tôi ghi lại thông tin rất thú vị mà Ngài trao, nhưng phần lớn điều đó đối với chúng tôi không thể hiểu được, như Ngài đã báo trước. Ngài nói: “Ta không thể nói cho các con biết thêm hơn thế, vì Ta bị ràng buộc bởi một số lời thệ nguyện; nhưng nếu trực giác của các con có thể suy ra thêm, Ta sẽ cho các con biết các con có đúng không.” Ngay cả mảnh thông tin nhỏ bé và rời rạc ấy cũng có giá trị rất lớn đối với chúng tôi.

The following Diagram 4 is the table of Rays and their characteristics which he then gave to us:

Sơ đồ 4 sau đây là bảng các Cung và đặc tính của chúng mà Ngài đã trao cho chúng tôi khi đó:

RAY

CHARACTERISTIC OF RAY

CHARACTERISTIC MAGIC

LAST RELIGION

I

Fohat-Shechinah

Brahmanical

II

Wisdom

Raja Yoga (Human Mind)

Buddhism

III

Akasha

Astrology (Natural Magnetic Forces)

Chaldaean

IV

Birth of Horus

Hatha Yoga (Physical Development)

Egyptian

V

Fire

Alchemy (Material Substances)

Zoroastrian

VI

Incarnation of Deity

Bhakti (Devotion)

Christianity (Kabala, etc.)

VII

Ceremonial Magic

Elemental Worship

 Diagram 4

Sơ đồ 4

It was explained that the religion written opposite each Ray is not to be taken as necessarily a perfect exposition of it, but is simply that which now remains on earth as a relic of the last occasion on which that Ray exercised dominant influence on the world. The Magic of the First Ray and the characteristics of the Seventh were not given, we may imagine the first to be kriyashakti and the second to be co-operation with the Deva kingdom. The meaning of the Birth of Horus could not be explained, but one of the characteristics of the Fourth Ray was stated to be the use of the forces of action and interaction—the male and female forces of nature, as it were. Whenever phallicism occurs in the various religions, it is always due to a materialization and misconception of some of the secrets connected with this Ray. The true development of the Seventh Ray would be communication with and instruction from the higher Devas.

Người ta đã giải thích rằng tôn giáo được viết đối diện mỗi Cung không nên được xem như nhất thiết là một sự trình bày hoàn hảo về nó, mà chỉ đơn giản là điều hiện còn lại trên trái đất như một di tích của lần cuối cùng Cung ấy thực thi ảnh hưởng chủ đạo trên thế giới. Huyền thuật của Cung Một và các đặc tính của Cung Bảy đã không được trao; chúng ta có thể hình dung điều thứ nhất là kriyashakti và điều thứ hai là sự hợp tác với giới thiên thần. Ý nghĩa của Sự Giáng Sinh của Horus không thể được giải thích, nhưng một trong các đặc tính của Cung Bốn được nói là việc sử dụng các mãnh lực của hành động và tương tác — có thể nói là các mãnh lực nam và nữ của thiên nhiên. Bất cứ khi nào sự thờ phụng sinh thực khí xuất hiện trong các tôn giáo khác nhau, nó luôn là do sự hiện hình và hiểu lầm về một số bí nhiệm liên quan đến Cung này. Sự phát triển chân chính của Cung Bảy sẽ là giao tiếp với và nhận giáo huấn từ các Thiên thần cao hơn.

After what I have said above it should be clear that the information that has as yet reached us about the Rays is fragmentary. It is not only not a full account of the subject, but it is not even a perfect outline, for we were plainly told that there were huge gaps in the description given to us, which could not possibly be filled up till much later. So far as we know, very little has hitherto been written on this subject, and that little so guardedly expressed as not to be at all readily intelligible, and occult teachers are markedly reticent when questioned about it.

Sau những gì tôi đã nói ở trên, hẳn phải rõ rằng thông tin đến nay đã tới với chúng ta về các Cung là rời rạc. Nó không những không phải là một tường thuật đầy đủ về chủ đề, mà thậm chí cũng không phải là một phác thảo hoàn hảo, vì chúng tôi đã được nói rõ rằng có những khoảng trống rất lớn trong phần mô tả được trao cho chúng tôi, vốn không thể nào được lấp đầy cho đến rất lâu về sau. Theo như chúng ta biết, cho đến nay rất ít điều đã được viết về chủ đề này, và ít điều ấy lại được diễn đạt thận trọng đến mức hoàn toàn không dễ thấu hiểu, còn các huấn sư huyền bí thì đặc biệt dè dặt khi được hỏi về nó.

The Sevenfold Division

Sự Phân Chia Thất Phân

The essential thing to understand is that there is a certain sevenfold division of everything that exists in the manifested world, whether of life or matter. All life which exists in our chain of worlds passes through and belongs to one or other of Seven Rays, each having seven subdivisions. In the universe there are forty-nine such Rays, making, in sets of seven, the Seven Great Cosmic Rays, flowing from or through the Seven Great Logoi. In our chain of worlds, however, and perhaps in our solar system, only one of these Great Cosmic Rays is operating, and its subdivisions are our seven Rays. It must not of course be supposed that our solar system is the only manifestation of that particular Logos, since each of the Seven Great Logoi may have millions of systems dependent on it. As I have explained in The Inner Life:

Điều cốt yếu cần thấu hiểu là có một sự phân chia thất phân nhất định của mọi thứ hiện hữu trong thế giới biểu hiện, dù là sự sống hay vật chất. Mọi sự sống hiện hữu trong dãy các thế giới của chúng ta đều đi qua và thuộc về một trong Bảy Cung, mỗi Cung có bảy phân bộ. Trong vũ trụ có bốn mươi chín Cung như thế, hợp thành, theo từng nhóm bảy, Bảy Cung Vũ Trụ Vĩ Đại, tuôn chảy từ hoặc qua Bảy Thượng đế Vĩ Đại. Tuy nhiên, trong dãy các thế giới của chúng ta, và có lẽ trong hệ mặt trời của chúng ta, chỉ một trong các Cung Vũ Trụ Vĩ Đại này đang hoạt động, và các phân bộ của nó là bảy Cung của chúng ta. Dĩ nhiên không nên giả định rằng hệ mặt trời của chúng ta là biểu hiện duy nhất của Thượng đế đặc biệt ấy, vì mỗi vị trong Bảy Thượng đế Vĩ Đại có thể có hàng triệu hệ thống tùy thuộc vào Ngài. Như tôi đã giải thích trong The Inner Life:

The whole of our solar system is a manifestation of its Logos, and every particle in it is definitely part of his vehicles. All the physical matter of the solar system taken as a totality constitutes his physical body; all the astral matter within it constitutes his astral body; all the mental matter, his mental body, and so on. Entirely above and beyond his system he has a far wider and greater existence of his own, but that does not in the least affect the truth of the statement which we have just made.

Toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta là một biểu hiện của Thượng đế của nó, và mỗi hạt trong đó rõ ràng là một phần các vận cụ của Ngài. Toàn bộ vật chất hồng trần của hệ mặt trời, xét như một tổng thể, cấu thành thể xác của Ngài; toàn bộ vật chất cảm dục trong đó cấu thành thể cảm dục của Ngài; toàn bộ vật chất trí tuệ, thể trí của Ngài, và cứ thế. Hoàn toàn ở trên và vượt ngoài hệ thống của Ngài, Ngài có một sự hiện hữu riêng rộng lớn và vĩ đại hơn nhiều, nhưng điều đó không hề ảnh hưởng chút nào đến chân lý của phát biểu mà chúng ta vừa đưa ra.

This Solar Logos contains within himself Seven Planetary Logoi, who are as it were centres of force within him, channels through which his force pours out. Yet at the same time there is a sense in which they may be said to constitute him. The matter which we have just described as composing his vehicles also composes theirs, for there is no particle of matter anywhere in the system which is not part of one or other of them. All this is true of every plane; but let us for a moment take the astral plane as an example, because its matter is fluid enough to answer the purposes of our inquiry, and at the same time it is near enough to the physical to be not entirely beyond the limits of our physical comprehension.

Thái dương Thượng đế này chứa trong chính Ngài Bảy Hành Tinh Thượng đế, các Ngài có thể nói là những trung tâm mãnh lực trong Ngài, những kênh qua đó mãnh lực của Ngài tuôn đổ. Tuy nhiên, đồng thời cũng có một ý nghĩa trong đó có thể nói Các Ngài cấu thành Ngài. Vật chất mà chúng ta vừa mô tả là hợp thành các vận cụ của Ngài cũng hợp thành các vận cụ của Các Ngài, vì không có hạt vật chất nào ở bất cứ nơi nào trong hệ thống mà không là một phần của một trong Các Ngài. Tất cả điều này đúng với mọi cõi; nhưng trong chốc lát, chúng ta hãy lấy cõi cảm dục làm ví dụ, vì vật chất của nó đủ linh động để đáp ứng các mục đích khảo sát của chúng ta, đồng thời nó cũng đủ gần với cõi hồng trần để không hoàn toàn vượt ngoài giới hạn của sự hiểu biết hồng trần của chúng ta.

Every particle of the astral matter of the system is part of the astral body of the Solar Logos, but it is also part of the astral body of one or other of the Seven Planetary Logoi. Remember that this includes the astral matter of which your astral body and mine are composed. We have no particle which is exclusively our own. In every astral body there are particles belonging to each one of the Seven Planetary Logoi, but the proportions vary infinitely. The bodies of those Monads which originally came forth through a Planetary Logos will continue all through their evolution to have more of the particles of that Planetary Logos than of any other, and in this way people may be distinguished as primarily belonging to one or other of the Seven Great Powers.

Mỗi hạt vật chất cảm dục của hệ thống là một phần thể cảm dục của Thái dương Thượng đế, nhưng nó cũng là một phần thể cảm dục của một trong Bảy Hành Tinh Thượng đế. Hãy nhớ rằng điều này bao gồm cả vật chất cảm dục cấu thành thể cảm dục của bạn và của tôi. Chúng ta không có hạt nào thuộc riêng độc quyền của mình. Trong mọi thể cảm dục đều có các hạt thuộc về từng vị trong Bảy Hành Tinh Thượng đế, nhưng các tỉ lệ thì biến thiên vô hạn. Các thể của những chân thần vốn ban đầu xuất phát qua một Hành Tinh Thượng đế sẽ tiếp tục trong suốt sự tiến hoá của chúng có nhiều hạt của Hành Tinh Thượng đế ấy hơn của bất cứ vị nào khác, và bằng cách này, người ta có thể phân biệt con người như chủ yếu thuộc về một trong Bảy Quyền Năng Vĩ Đại.

The Seven Spirits

Bảy Thánh Linh

In Christian terms these seven great Beings are found in the vision of St. John the Evangelist, who said: “And there were seven lamps of fire burning before the throne, which are the Seven Spirits of God.”[2] Those are the Mystical Seven, the great Planetary Logoi, who are life-centres in the very Logos himself. Those are the true Heads of our Rays—the Heads for the whole solar system, not for our world only. Out through one or other of that mighty Seven every one of us must have come, some through one, some through another.

Theo thuật ngữ Kitô giáo, bảy Hữu Thể vĩ đại này được tìm thấy trong linh ảnh của Thánh John Người Truyền Giáo, người đã nói: “Và có bảy ngọn đèn lửa cháy trước ngai, là Bảy Thánh Linh của Thượng đế.” Đó là Bảy Đấng Huyền Bí, các Hành Tinh Thượng đế vĩ đại, là những trung tâm sự sống trong chính Thượng đế. Đó là các Vị Đứng Đầu chân chính của các Cung chúng ta — các Vị Đứng Đầu cho toàn bộ hệ mặt trời, chứ không chỉ cho thế giới chúng ta. Qua một vị hay một vị khác trong Bảy Đấng hùng mạnh ấy, mỗi người chúng ta hẳn đã đi ra, người qua vị này, người qua vị khác.

They are the Seven Sublime Lords of The Secret Doctrine, the Primordial Seven, the Creative Powers, the Incorporeal Intelligences, the Dhyan Chohans, the Angels of the Presence. But remember that this last title is used in two quite different senses, which must not be confused. At every Celebration of the Holy Eucharist among our Christian brethren there appears an “Angel of the Presence,” who is in truth a thought-form of the Lord Christ, a vehicle of his consciousness, and so is rightly called a manifestation of his Presence; but these Seven Great Ones receive the title for a very different reason—because they stand ever in the very presence of the Logos himself, representing there the Rays of which they are the Heads—representing us therefore, since in every one of us is part of the Divine Life of every one of them.

Các Ngài là Bảy Chúa Tể Cao Siêu của Giáo Lý Bí Nhiệm, Bảy Đấng Nguyên Thủy, các Quyền Năng Sáng Tạo, các Trí Tuệ Vô Thể, các Dhyan Chohan, các Thiên Thần của Hiện Diện. Nhưng hãy nhớ rằng danh hiệu cuối này được dùng theo hai nghĩa hoàn toàn khác nhau, không được lẫn lộn. Trong mỗi Thánh Lễ Tạ Ơn nơi các huynh đệ Kitô giáo của chúng ta đều xuất hiện một “Thiên Thần của Hiện Diện”, thực ra là một hình tư tưởng của Đức Christ, một vận cụ của tâm thức Ngài, và do đó được gọi đúng là một biểu hiện của Sự Hiện Diện của Ngài; nhưng Bảy Đấng Cao Cả này nhận danh hiệu ấy vì một lý do rất khác — bởi vì Các Ngài luôn đứng trong chính Sự Hiện Diện của Thượng đế, đại diện tại đó cho các Cung mà Các Ngài là Vị Đứng Đầu — do đó đại diện cho chúng ta, vì trong mỗi người chúng ta đều có một phần Sự Sống Thiêng Liêng của mỗi vị trong Các Ngài.

For though each of us belongs fundamentally to one Ray—the channel through which he, as a Monad, flowed forth from the Eternal into Time—yet has he within himself something of all the Rays; there is in him no ounce of force, no grain of matter, which is not actually part of one or other of these wondrous Beings; he is literally compacted of their very substance—not of one, but of all, though always one predominates. Therefore, no slightest movement of any of these great Star Angels can occur without affecting to some extent every one of us, because we are bone of their bone, flesh of their flesh, Spirit of their Spirit; and this great fact is the real basis of the often misunderstood science of Astrology.

Vì tuy mỗi chúng ta về căn bản thuộc về một Cung — kênh qua đó y, với tư cách một chân thần, tuôn ra từ Vĩnh Cửu vào Thời Gian — tuy vậy y có trong chính mình một phần của tất cả các Cung; không có một phân lượng mãnh lực nào trong y, không có một hạt vật chất nào, mà không thực sự là một phần của một trong các Hữu Thể kỳ diệu này; y theo nghĩa đen được kết hợp chặt chẽ bằng chính chất liệu của Các Ngài — không phải của một vị, mà của tất cả, dù luôn luôn một vị chiếm ưu thế. Do đó, không một chuyển động nhỏ nhất nào của bất cứ Thiên Thần Sao vĩ đại nào này có thể xảy ra mà không ảnh hưởng ở một mức nào đó đến mỗi người chúng ta, bởi vì chúng ta là xương của xương Các Ngài, thịt của thịt Các Ngài, Tinh thần của Tinh thần Các Ngài; và sự kiện vĩ đại này là nền tảng thật sự của khoa Chiêm tinh học thường bị hiểu lầm.

We all stand always in the presence of the Solar Logos, for in his system there is no place where he is not, and all that is, is part of him. But in a very special sense these Seven Spirits are part of him, manifestations of him, almost qualities of his—centres in him through which his Power flows out. We may see a hint of this in the names assigned to them by the Jews. The first of them is always Michael, “your Prince,” as he is called; and this name means “The Strength of God,” or, as it is sometimes interpreted, “He who is like God in strength.” El, in Hebrew, means God; we find it in Beth-El, which is “The House of God”; and Elohim is the word used for “God” in the very first verse of the Bible. This word El occurs as a termination in the name of each of the Seven Spirits. Gabriel means “The Omniscience of God,” and he is sometimes called God’s Hero. He is connected with the planet Mercury, as Michael is with Mars. Raphael signifies “The Healing Power of God,” and he is associated with the Sun, which is the great health-giver for us on the physical plane. Uriel is “The Light or Fire of God”; Zadkiel is “The Benevolence of God,” and is connected with the planet Jupiter. The other Archangels are usually given as Chamuel and Jophiel, but I do not at present recollect their meanings or their planets.

Tất cả chúng ta luôn đứng trong Sự Hiện Diện của Thái dương Thượng đế, vì trong hệ thống của Ngài không có nơi nào mà Ngài không hiện diện, và tất cả những gì hiện hữu đều là một phần của Ngài. Nhưng theo một nghĩa rất đặc biệt, Bảy Thánh Linh này là một phần của Ngài, những biểu hiện của Ngài, gần như các phẩm tính của Ngài — các trung tâm trong Ngài qua đó Quyền Năng của Ngài tuôn ra. Chúng ta có thể thấy một gợi ý về điều này trong các tên được người Do Thái gán cho Các Ngài. Vị thứ nhất trong số đó luôn là Michael, “Hoàng Tử của các ngươi”, như Ngài được gọi; và tên này có nghĩa là “Sức Mạnh của Thượng đế”, hoặc, như đôi khi được giải thích, “Đấng giống Thượng đế về sức mạnh”. El, trong tiếng Hebrew, có nghĩa là Thượng đế; chúng ta gặp nó trong Beth-El, nghĩa là “Nhà của Thượng đế”; và Elohim là từ được dùng cho “Thượng đế” trong câu đầu tiên của Kinh Thánh. Từ El này xuất hiện như một hậu tố trong tên của mỗi vị trong Bảy Thánh Linh. Gabriel có nghĩa là “Toàn Tri của Thượng đế”, và Ngài đôi khi được gọi là Anh Hùng của Thượng đế. Ngài liên hệ với hành tinh Sao Thủy, như Michael liên hệ với Sao Hỏa. Raphael biểu thị “Quyền Năng Chữa Lành của Thượng đế”, và Ngài được liên kết với Mặt Trời, vốn là nguồn ban sức khỏe vĩ đại cho chúng ta trên cõi hồng trần. Uriel là “Ánh Sáng hay Lửa của Thượng đế”; Zadkiel là “Lòng Từ Ái của Thượng đế”, và liên hệ với hành tinh Sao Mộc. Các Tổng Thiên Thần khác thường được nêu là Chamuel và Jophiel, nhưng hiện tại tôi không nhớ ý nghĩa hay các hành tinh của Các Ngài.

St. Denys speaks of these Seven Spirits as the Builders, and also calls them the Co-operators of God. St. Augustine says that they have possession of the Divine Thought, or the Prototype, and St. Thomas Aquinas wrote that God is the primary and these Angels are the secondary cause of all visible effects. Everything is done by the Logos, but through the mediation of these Planetary Spirits. Science will tell you that the planets are fortuitous aggregations of matter, condensations from the mass of the nebula, and so no doubt they are; but why at those particular points? Because behind each there is a Living Intelligence to choose the points so that they will balance one another. Truly whatsoever exists is the outcome of natural forces working under cosmic laws; but do not forget that behind every force is always its administrator, an Intelligence directing and managing. In thus describing them I have used the Christian terminology, but the same Beings can be found under different names in every great Religion.

Thánh Denys nói về Bảy Thánh Linh này như các Đấng Kiến Tạo, và cũng gọi Các Ngài là những Đấng Cộng Tác của Thượng đế. Thánh Augustine nói rằng Các Ngài sở hữu Tư Tưởng Thiêng Liêng, hay Nguyên Mẫu, và Thánh Thomas Aquinas viết rằng Thượng đế là nguyên nhân sơ cấp, còn các Thiên Thần này là nguyên nhân thứ cấp của mọi hiệu quả hữu hình. Mọi việc đều do Thượng đế thực hiện, nhưng qua sự trung gian của các Chân Linh Hành Tinh này. Khoa học sẽ nói với bạn rằng các hành tinh là những tập hợp ngẫu nhiên của vật chất, những sự cô đặc từ khối tinh vân, và chắc chắn chúng là như vậy; nhưng tại sao lại ở những điểm đặc thù ấy? Bởi vì phía sau mỗi hành tinh có một Trí Tuệ Sống Động để chọn các điểm ấy sao cho chúng cân bằng lẫn nhau. Thật vậy, bất cứ điều gì hiện hữu đều là kết quả của các mãnh lực tự nhiên hoạt động dưới các định luật vũ trụ; nhưng đừng quên rằng phía sau mọi mãnh lực luôn có vị quản trị của nó, một Trí Tuệ điều khiển và quản lý. Khi mô tả Các Ngài như thế, tôi đã dùng thuật ngữ Kitô giáo, nhưng cùng các Hữu Thể ấy có thể được tìm thấy dưới những tên khác nhau trong mọi Tôn giáo vĩ đại.

The Seven Types of Beings

Bảy Kiểu Hữu Thể

When, then, that primordial matter or spirit, which in the future was to become ourselves, first emerged from undifferentiated infinity, it issued through seven channels, as water might flow from a cistern through seven pipes, each of which, containing its peculiar colouring matter, would so tinge the water that passed through it that it would for ever after be distinguishable from the water of the other pipes. Through all the successive kingdoms, the elemental, the mineral, the vegetable, the animal, the Rays are always distinct one from another, as they are also distinct in man, though in the lower kingdoms the influence of the Ray naturally acts in a somewhat different manner. Since in them there is no individualization, it is obvious that the whole of one species of animals, for example, must be on the same Ray; so that the different kinds of animals in the world might be arranged in seven parallel columns according to the Rays to which they belong, and since an animal can individualize only through association with man, at the head of each of these Rays stands some class of domestic animal through which alone individualization on that particular Ray takes place. The elephant, dog, cat, horse and monkey are examples of such classes, so it is clear that the impulse of the Universal Life which is now animating, let us say, a dog, can never animate a horse or a cat, but will continue to manifest through the same species until individualization takes place.

Vậy, khi vật chất hay tinh thần nguyên thủy ấy, vốn trong tương lai sẽ trở thành chính chúng ta, lần đầu tiên xuất hiện từ vô tận chưa biến phân, nó đi ra qua bảy kênh, như nước có thể chảy từ một bể chứa qua bảy ống, mỗi ống chứa chất tạo màu riêng của nó, sẽ nhuộm màu nước đi qua nó đến mức từ đó về sau nước ấy sẽ mãi mãi có thể phân biệt với nước của các ống khác. Qua tất cả các giới kế tiếp nhau — giới hành khí, giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật — các Cung luôn luôn khác biệt với nhau, như chúng cũng khác biệt nơi con người, dù trong các giới thấp, ảnh hưởng của Cung tự nhiên tác động theo một cách hơi khác. Vì trong chúng không có sự biệt ngã hóa, hiển nhiên là toàn bộ một loài động vật, chẳng hạn, phải ở trên cùng một Cung; cho nên các loại động vật khác nhau trên thế giới có thể được sắp xếp thành bảy cột song song tùy theo các Cung mà chúng thuộc về, và vì một con vật chỉ có thể biệt ngã hóa thông qua sự liên kết với con người, ở đầu mỗi Cung này có một lớp động vật nuôi trong nhà nào đó mà chỉ qua nó sự biệt ngã hóa trên Cung đặc thù ấy mới diễn ra. Voi, chó, mèo, ngựa và khỉ là những ví dụ về các lớp như thế, nên rõ ràng xung lực của Sự Sống Vũ Trụ hiện đang làm linh hoạt, giả sử, một con chó, không bao giờ có thể làm linh hoạt một con ngựa hay một con mèo, mà sẽ tiếp tục biểu hiện qua cùng loài ấy cho đến khi sự biệt ngã hóa diễn ra.

Researches have not yet been made as to the particular animals and vegetables which stand on each Ray, but I had reason a few years ago to investigate the precious stones, and found that each Ray had its own representatives, through which the force of the Ray works more readily than through any other. I print here the table that appears in The Science of the Sacraments, in which is shown the jewel at the head of each Ray, and others which stand on the same Ray and therefore hold the same kind of force, though less strongly.

Các nghiên cứu vẫn chưa được thực hiện về những động vật và thực vật đặc thù đứng trên mỗi Cung, nhưng cách đây vài năm tôi đã có lý do để khảo sát các loại đá quý, và thấy rằng mỗi Cung có các đại diện riêng của nó, qua đó mãnh lực của Cung hoạt động dễ dàng hơn qua bất cứ thứ nào khác. Tôi in ở đây bảng xuất hiện trong The Science of the Sacraments, trong đó trình bày viên ngọc đứng đầu mỗi Cung, và những viên khác đứng trên cùng Cung, do đó giữ cùng một loại mãnh lực, dù yếu hơn.

RAY

JEWEL AT THE HEAD OF RAY

SUBSTITUTES

1

Diamond…..

Rock Crystal.

2

Sapphire…..

Lapis Lazuli, Turquoise, Sodalite.

3

Emerald…..

Aquamarine, Jade, Malachite.

4

Jasper…..

Chalcedony, Agate, Serpentine.

5

Topaz…..

Citrine, Steatite.

6

Ruby…..

Tourmaline, Garnet, Cornelian, Carbuncle.

7

Amethyst…..

Porphyry, Violane.

Diagram 5

Sơ đồ 5

From all that I have said above it follows that these seven types are visible among men, and that every one of us must belong to one or other of the Rays. Fundamental differences of this sort in the human race have always been recognized; a century ago men were described as of the lymphatic or the sanguine temperament, the vital or the phlegmatic, and astrologers classify us under the names of the planets, as Jupiter men, Mars men, Venus or Saturn men, and so on. I take it that these are only different methods of stating the basic differences of disposition due to the channel through which we happen to have come forth, or rather, through which it was ordained that we should come forth.

Từ tất cả những gì tôi đã nói ở trên, suy ra rằng bảy kiểu này có thể thấy được giữa con người, và mỗi người chúng ta phải thuộc về một trong các Cung. Những khác biệt căn bản thuộc loại này trong nhân loại luôn được nhận biết; một thế kỷ trước, người ta mô tả con người theo khí chất bạch huyết hoặc đa huyết, sinh lực hoặc lãnh đạm, và các nhà chiêm tinh học phân loại chúng ta dưới tên các hành tinh, như người Sao Mộc, người Sao Hỏa, người Sao Kim hay Sao Thổ, v.v. Tôi cho rằng đây chỉ là các phương pháp khác nhau để nêu lên những khác biệt căn bản về tính khí do kênh mà chúng ta tình cờ đã đi ra qua đó, hay đúng hơn, qua đó chúng ta đã được định rằng phải đi ra.

It is, however, by no means an easy matter to discover to what Ray an ordinary man belongs, for he has become very much involved in matter and has generated a great variety of karma, some portion of which may be of a kind that dominates and obscures his essential type, even perhaps through the whole of an incarnation; but the man who is approaching the Path ought to be showing in himself a definite driving impulse or leading power, which has the character of the Ray to which he belongs, and tends to lead him into the kind of work or service which distinguishes that Ray; and it will also bring him to the feet of one of the Masters upon it, so that he becomes enrolled, as it were, in the College of which the Chohan of the Ray may be regarded as the Principal.

Tuy nhiên, hoàn toàn không phải là một việc dễ dàng để khám phá một người bình thường thuộc về Cung nào, vì y đã trở nên dính líu rất nhiều vào vật chất và đã tạo ra một sự đa dạng lớn về nghiệp quả, một phần trong đó có thể thuộc loại chi phối và che khuất kiểu căn bản của y, thậm chí có lẽ xuyên suốt toàn bộ một kiếp nhập thể; nhưng người đang tiến gần đến Đường Đạo hẳn phải biểu lộ trong chính mình một xung lực thúc đẩy rõ rệt hay một quyền năng dẫn đạo, vốn mang tính chất của Cung mà y thuộc về, và có khuynh hướng dẫn y vào loại công việc hay phụng sự đặc trưng của Cung ấy; và nó cũng sẽ đưa y đến dưới chân một trong các Chân sư trên Cung ấy, để y được ghi danh, có thể nói vậy, vào Học viện mà Chohan của Cung có thể được xem là Hiệu trưởng.

Magic and Healing Powers

Huyền Thuật Và Các Quyền Năng Chữa Lành

It may help a little towards the comprehension of these differences of type if I give one or two examples of the methods likely to be employed, judging from the table that I have printed above, by persons on the different Rays when they want to use magic to produce a given result. The First Ray man would attain his object by sheer force of resistless will, without condescending to employ anything in the nature of means at all; he of the Second Ray would also work by force of will, but with the full comprehension of the various possible methods, and the conscious direction of his will into the channel of the most suitable one; to the Third Ray man it would come most naturally to use the forces of the mental plane, noticing very carefully the exact time when the influences were most favourable to his success; the Fourth Ray man would employ for the same purpose the finer physical forces of the ether, while his Fifth Ray brother would be more likely to set in motion the currents of what used to be called the astral light; the devotee of the Sixth Ray would achieve his result by the strength of his earnest faith in his particular Deity and in the efficacy of prayer to him, while the Seventh Ray man would use elaborate ceremonial magic, and probably invoke the assistance of non-human spirits if possible.

Có thể phần nào giúp thấu hiểu những khác biệt về kiểu này nếu tôi đưa ra một hoặc hai ví dụ về các phương pháp có khả năng được dùng, xét theo bảng mà tôi đã in ở trên, bởi những người trên các Cung khác nhau khi họ muốn dùng huyền thuật để tạo ra một kết quả nhất định. Người Cung Một sẽ đạt mục tiêu của mình bằng mãnh lực thuần túy của ý chí không thể cưỡng lại, không hạ mình đến mức dùng bất cứ điều gì có bản chất là phương tiện; người thuộc Cung Hai cũng sẽ làm việc bằng mãnh lực ý chí, nhưng với sự thấu hiểu đầy đủ về các phương pháp khả hữu khác nhau, và với sự điều hướng có ý thức ý chí của mình vào kênh của phương pháp thích hợp nhất; đối với người Cung Ba, điều tự nhiên nhất là sử dụng các mãnh lực của cõi trí, quan sát rất cẩn thận thời điểm chính xác khi các ảnh hưởng thuận lợi nhất cho thành công của y; người Cung Bốn sẽ dùng, cho cùng mục đích ấy, các mãnh lực hồng trần tinh tế hơn của dĩ thái, trong khi huynh đệ Cung Năm của y có nhiều khả năng sẽ làm chuyển động các dòng của điều từng được gọi là ánh sáng cảm dục; người sùng tín của Cung Sáu sẽ đạt kết quả của y bằng sức mạnh của đức tin tha thiết nơi Thượng đế đặc thù của y và hiệu quả của lời cầu nguyện hướng tới Ngài, còn người Cung Bảy sẽ dùng huyền thuật nghi lễ tinh vi, và có lẽ khẩn cầu sự trợ giúp của các tinh thần phi nhân loại nếu có thể.

Again, in attempting the cure of disease, the First Ray would simply draw health and strength from the great fountain of Universal Life; the Second would thoroughly comprehend the nature of the malady and know precisely how to exercise his will-power upon it to the best advantage; the Third would invoke the Great Planetary Spirits, and choose a moment when astrological influences were beneficent for the application of his remedies; the Fourth would trust chiefly to physical means such as massage; the Fifth would employ drugs; the Sixth faithhealing; and the Seventh mantras or magical invocations. In all the above cases the operator is of course free to use any of the different powers mentioned, but would probably find the most effective instrument in his hands to be that which is typical of his own Ray.

Lại nữa, khi cố gắng chữa bệnh, Cung Một sẽ đơn giản rút lấy sức khỏe và sức mạnh từ nguồn suối vĩ đại của Sự Sống Vũ Trụ; Cung Hai sẽ thấu hiểu trọn vẹn bản chất của bệnh tật và biết chính xác cách vận dụng quyền năng ý chí của mình lên nó sao cho có lợi nhất; Cung Ba sẽ khẩn cầu các Chân Linh Hành Tinh Vĩ Đại, và chọn một thời điểm khi các ảnh hưởng chiêm tinh thuận lợi cho việc áp dụng các phương thuốc của y; Cung Bốn sẽ chủ yếu tin cậy vào các phương tiện hồng trần như xoa bóp; Cung Năm sẽ dùng thuốc men; Cung Sáu chữa lành bằng đức tin; và Cung Bảy dùng các mantram hoặc các lời khẩn cầu huyền thuật. Trong tất cả các trường hợp trên, dĩ nhiên người thực hành được tự do dùng bất cứ quyền năng nào khác đã nêu, nhưng có lẽ sẽ thấy công cụ hiệu quả nhất trong tay mình là công cụ tiêu biểu cho Cung riêng của y.

The Chohans of the Rays

Các Chohan của Các Cung

In the members of the Adept Brotherhood the distinctions of Rays are much more clearly marked than in others, and are visible in the aura; the Ray to which an Adept belongs decidedly affects not only his appearance, but also the work that he has to do. We may perhaps best see what are the distinctive characters of the Rays by observing the work of the five Chohans of Rays Three to Seven, and of the two Chohans who stand at their level on the First and Second Rays, and carry on work of the same grade in the service of the Greater Ones who are their directing Heads. In the Seven Heads of the Rays in the Hierarchy we have a reflection of the Seven Spirits before the Throne.

Nơi các thành viên của Huynh Đệ Đoàn Chân Sư, những phân biệt về Cung được đánh dấu rõ rệt hơn nhiều so với người khác, và có thể thấy trong hào quang; Cung mà một Chân sư thuộc về rõ ràng ảnh hưởng không chỉ đến vẻ ngoài của Ngài, mà còn đến công việc Ngài phải làm. Có lẽ chúng ta có thể thấy rõ nhất những đặc tính phân biệt của các Cung bằng cách quan sát công việc của năm Chohan của Cung Ba đến Cung Bảy, và của hai Chohan đứng ở cấp độ của Các Ngài trên Cung Một và Cung Hai, và tiến hành công việc cùng cấp trong sự phụng sự các Đấng Cao Cả hơn là các Vị Đứng Đầu chỉ đạo của Các Ngài. Trong Bảy Vị Đứng Đầu các Cung trong Thánh Đoàn, chúng ta có một phản ánh của Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

It must be understood that we can here mention but the merest outline of the qualities that are grouped under each of the Rays, and but a fragment of the work that the Adepts on those Rays are doing; and care must be taken also to realize that full possession of the qualities of one Ray in no case implies a lack of those of the other Rays. If we speak of one of the Adepts as pre-eminent in strength, for example, it is also true that he has achieved nothing less than human perfection in devotion and love and every other quality as well.

Cần thấu hiểu rằng ở đây chúng ta chỉ có thể nêu lên phác thảo sơ lược nhất về các phẩm tính được nhóm lại dưới mỗi Cung, và chỉ một mảnh của công việc mà các Chân sư trên những Cung ấy đang làm; và cũng cần cẩn trọng để nhận ra rằng việc sở hữu đầy đủ các phẩm tính của một Cung trong không trường hợp nào hàm ý sự thiếu vắng các phẩm tính của các Cung khác. Nếu chúng ta nói về một trong các Chân sư là nổi bật về sức mạnh, chẳng hạn, thì cũng đúng rằng Ngài đã đạt được không gì kém hơn sự hoàn thiện nhân loại trong sùng tín, tình thương và mọi phẩm tính khác nữa.

Of the Master Morya, who is the representative of the First Ray at the level of the Chohan Initiation, I have already written to some extent. He stands with all the unshakable and serene strength of his Ray, playing a great part in that work of guiding men and forming nations, of which I must speak more fully in the next chapter. On that Ray, too, there is the Master whom we have called Jupiter, acting as Guardian of India for the Hierarchy, Guardian of that nation which throughout the long life-time of the fifth race cherishes the seeds of all its possibilities, and sends them out in due course to each sub-race, that there they may grow and ripen and fructify. He also penetrates deeply into the abstruser sciences of which chemistry and astronomy are the outer shells, and his work in this respect is an example of the variety of activity that may exist within the limits of one Ray.

Về Chân sư Morya, Đấng là đại diện của Cung Một ở cấp độ của Điểm Đạo Chohan, tôi đã viết ở một mức độ nào đó. Ngài đứng với toàn bộ sức mạnh bất lay chuyển và tĩnh lặng của Cung Ngài, đóng một vai trò lớn trong công việc dẫn dắt con người và hình thành các quốc gia, điều tôi sẽ phải nói đầy đủ hơn trong chương kế tiếp. Trên Cung ấy cũng có Chân sư mà chúng tôi đã gọi là Jupiter, hành động với tư cách Người Bảo Hộ Ấn Độ cho Thánh Đoàn, Người Bảo Hộ của quốc gia ấy, vốn trong suốt quãng đời dài của giống dân thứ năm ấp ủ các hạt giống của mọi khả năng của nó, và đến đúng thời gửi chúng ra cho từng giống dân phụ, để ở đó chúng có thể lớn lên, chín muồi và kết quả. Ngài cũng thâm nhập sâu vào các khoa học thâm áo hơn, mà hóa học và thiên văn học chỉ là lớp vỏ bên ngoài, và công việc của Ngài về phương diện này là một ví dụ về sự đa dạng của hoạt động có thể tồn tại trong giới hạn của một Cung.

The Master Kuthumi, who was formerly the great teacher Pythagoras, is also a Chohan, and he represents the Second Ray at the same level. This is the Ray of Wisdom, which gives great Teachers to the world, and the work that lies upon it can best be described in connection with that of the Bodhisattva and the Buddha in my next chapter. I have already spoken of the marvellous love and wisdom that radiate from the Master whom I have the inexpressible delight and honour to serve and follow, and all that I have said about the teaching and training of pupils expresses especially his method. Other teachers on other Rays bring their pupils to the same point and develop in them exactly the same noble qualities, and always by the most irreproachable means, yet there are distinct differences in their methods; indeed, there are varieties in the way in which the same Master deals with different pupils.

Chân sư Kuthumi, trước kia là vị huấn sư vĩ đại Pythagoras, cũng là một Chohan, và Ngài đại diện cho Cung Hai ở cùng cấp độ. Đây là Cung Minh Triết, cung ban cho thế giới các Huấn sư vĩ đại, và công việc nằm trên đó có thể được mô tả rõ nhất trong mối liên hệ với công việc của Đức Bồ Tát và Đức Phật trong chương kế tiếp của tôi. Tôi đã nói về tình thương và minh triết kỳ diệu tỏa ra từ Chân sư mà tôi có niềm vui và vinh dự không sao diễn tả được để phụng sự và noi theo, và tất cả những gì tôi đã nói về việc giảng dạy và huấn luyện các đệ tử đặc biệt diễn tả phương pháp của Ngài. Các huấn sư khác trên các Cung khác đưa đệ tử của Các Ngài đến cùng điểm ấy và phát triển nơi họ đúng các phẩm tính cao quý ấy, và luôn bằng các phương tiện không thể chê trách nhất, tuy vậy có những khác biệt rõ rệt trong phương pháp của Các Ngài; quả thật, có những biến thể trong cách cùng một Chân sư xử lý các đệ tử khác nhau.

At the Head of the Third Ray stands the great Master called the Venetian Chohan. In the men of that Ray engaged in the service of man there appears very strongly the characteristic of adaptability that belongs to the Ray and its influence tends to make them fit themselves to people, so as to help them the better, and thus become, as St. Paul said, “all things to all men”. Those who are advanced on this Ray have great tact, and a rare faculty for doing the right thing at the right moment. Astrology is connected with this Ray, because, so far as an outsider may understand, the science of it is to know exactly when is the best time to do anything, to set any given forces in motion, and to know also when the present time is not a fitting one to do a certain thing, and in that way save ourselves a great deal of trouble and make ourselves more useful.

Đứng đầu Cung Ba là Chân sư vĩ đại được gọi là Chohan Venice. Nơi những người thuộc Cung ấy, đang tham gia phụng sự con người, đặc tính thích nghi thuộc về Cung xuất hiện rất mạnh mẽ, và ảnh hưởng của nó có khuynh hướng khiến họ tự điều chỉnh cho phù hợp với con người, để giúp họ tốt hơn, và như vậy trở nên, như Thánh Paul đã nói, “mọi sự cho mọi người”. Những ai tiến xa trên Cung này có sự khéo léo lớn, và một năng lực hiếm có để làm điều đúng vào đúng lúc. Chiêm tinh học liên hệ với Cung này, bởi vì, trong chừng mực một người ngoài có thể thấu hiểu, khoa học ấy là biết chính xác lúc nào là thời điểm tốt nhất để làm bất cứ việc gì, để đặt bất cứ mãnh lực nào vào chuyển động, và cũng biết khi nào thời điểm hiện tại không thích hợp để làm một việc nhất định, và bằng cách ấy giúp chúng ta tránh được rất nhiều rắc rối và làm cho chúng ta hữu ích hơn.

The Fourth Ray is under the care of the Master Serapis. In the earlier days of The Theosophical Society we used to hear a good deal about him, because of the fact that he at one period took charge of the training of Colonel Olcott, when his own Master, the Master Morya, was otherwise engaged for a time. Such interchange of pupils among the Masters, for special and temporary purposes, is not infrequent. The particular line of this Chohan is harmony and beauty, and people who belong to his type are always unhappy until they can introduce harmony into their environment, for it is along that line that they do most of their work. Art counts for much on this Ray, and many artists belong to it.

Cung Bốn ở dưới sự chăm sóc của Chân sư Serapis. Trong những ngày đầu của Hội Thông Thiên Học, chúng tôi thường nghe khá nhiều về Ngài, vì sự kiện là có một thời kỳ Ngài đảm trách việc huấn luyện Đại tá Olcott, khi Chân sư riêng của ông, Chân sư Morya, trong một thời gian bận việc khác. Sự trao đổi đệ tử như thế giữa các Chân sư, vì những mục đích đặc biệt và tạm thời, không phải là hiếm. Đường lối đặc thù của Chohan này là hài hòa và vẻ đẹp, và những người thuộc về kiểu của Ngài luôn bất hạnh cho đến khi họ có thể đưa hài hòa vào môi trường của mình, vì chính theo đường lối ấy họ làm phần lớn công việc của mình. Nghệ thuật có ý nghĩa nhiều trên Cung này, và nhiều nghệ sĩ thuộc về nó.

At the Head of the Fifth Ray stands the Master Hilarion, with his splendid quality of scientific accuracy. He was once Iamblichus, of the Neoplatonic school, and he gave to us, through M. C., Light on the Path and The Idyll of the White Lotus, he being, as Dr. Besant puts it, a “skilled craftsman in poetic English prose and in melodious utterance”. His influence is upon most of the great scientists of the world, and people well advanced along his Ray are notable for their ability to make accurate observations, and be absolutely dependable where scientific investigation is concerned. The Master’s science extends, of course, far beyond what is commonly called by that name, and he knows and works with many of the forces which nature introduces into the life of man.

Đứng đầu Cung Năm là Chân sư Hilarion, với phẩm tính huy hoàng của Ngài về sự chính xác khoa học. Ngài từng là Iamblichus thuộc trường phái Tân Platon, và Ngài đã trao cho chúng ta, qua M. C., Ánh sáng trên Đường ĐạoThe Idyll of the White Lotus, vì Ngài, như Tiến sĩ Besant diễn đạt, là một “nghệ nhân khéo léo trong văn xuôi Anh ngữ thi vị và trong lời nói du dương”. Ảnh hưởng của Ngài tác động lên hầu hết các nhà khoa học vĩ đại của thế giới, và những người tiến xa theo Cung của Ngài nổi bật nhờ khả năng thực hiện các quan sát chính xác, và hoàn toàn đáng tin cậy trong những gì liên quan đến khảo cứu khoa học. Khoa học của Chân sư, dĩ nhiên, vươn xa vượt khỏi điều thường được gọi bằng tên ấy, và Ngài biết cũng như làm việc với nhiều mãnh lực mà thiên nhiên đưa vào đời sống con người.

Nature is responsive to the moods of mankind and intensifies them in various ways. If a man is happy and joyous, other creatures enjoy his presence; the nature-spirits go forth to meet him, and his own happiness is thus increased. This sort of reaction takes place everywhere. In the north of Europe, for example, the nature-spirits are somewhat wistful, and have moods of mournful introspection, and such as these find a ready home in Scotland, Ireland, Wales, Brittany and similar places; they respond less readily to joy, and the people there are also colder and more difficult to rouse. In those countries nature is less joyous; they are all lands of much rain and dull skies, grey and green, where life and poetry take a wistful turn.

Thiên nhiên đáp ứng với các tâm trạng của nhân loại và tăng cường chúng theo nhiều cách khác nhau. Nếu một người hạnh phúc và hoan hỉ, các sinh vật khác vui hưởng sự hiện diện của y; các tinh linh tự nhiên đi ra để gặp y, và hạnh phúc của chính y nhờ đó được gia tăng. Loại phản ứng này diễn ra khắp nơi. Ở Bắc Âu, chẳng hạn, các tinh linh tự nhiên có phần bâng khuâng, và có những tâm trạng nội quan buồn bã, và những tinh linh như thế tìm thấy một chỗ ở sẵn có tại Scotland, Ireland, Wales, Brittany và những nơi tương tự; chúng đáp ứng ít dễ dàng hơn với niềm vui, và con người ở đó cũng lạnh hơn và khó khơi dậy hơn. Tại các xứ ấy, thiên nhiên kém vui tươi hơn; tất cả đều là những vùng đất nhiều mưa và bầu trời u ám, xám và xanh, nơi đời sống và thi ca chuyển sang sắc thái bâng khuâng.

The contrast is tremendous between those and Greece or Sicily, where everything is radiant, golden and blue and red, and all the people are joyous and happy on the surface. The creatures of nature actually bathe in a person’s happiness, and most of all they are drawn to anyone who is full of joyous love, and they are happy in his aura and regard him with high favour. To-day much of this side of life is ignored, though our knowledge of the physical plane is wide and detailed. We know, for example, that water = H2O; the ancient Hindus and the ancient Greeks may or may not have been aware of that, but at any rate they recognized the presence of the different types of nature-spirits connected with the water, and utilized their services as definitely as we today use the power of electricity and the expansion of steam to drive many forms of machinery.

Sự tương phản thật lớn lao giữa những nơi ấy và Hy Lạp hay Sicily, nơi mọi sự đều rạng rỡ, vàng và xanh lam và đỏ, và tất cả mọi người trên bề mặt đều vui tươi và hạnh phúc. Các tạo vật của thiên nhiên thật sự tắm mình trong hạnh phúc của một người, và hơn hết chúng bị thu hút tới bất cứ ai tràn đầy tình thương hoan hỉ, và chúng hạnh phúc trong hào quang của y, cũng như nhìn y với thiện cảm lớn. Ngày nay, phần lớn phương diện này của đời sống bị bỏ qua, dù tri thức của chúng ta về cõi hồng trần rộng và chi tiết. Chúng ta biết, chẳng hạn, rằng nước = H2O; người Ấn cổ và người Hy Lạp cổ có thể đã biết hoặc không biết điều đó, nhưng dù sao họ cũng nhận ra sự hiện diện của các kiểu tinh linh tự nhiên khác nhau liên quan với nước, và sử dụng các phụng sự của chúng một cách xác định như ngày nay chúng ta dùng quyền năng của điện và sự giãn nở của hơi nước để vận hành nhiều dạng máy móc.

The Master Jesus, who became an adept in his incarnation as Apollonius of Tyana, and was afterwards the great South Indian religious reformer, Shri Ramanujacharya, rules the Sixth Ray, that of bhakti or devotion. This is the Ray of the devotional saints and mystics of every religion, and the Chohan Jesus has charge of such people, under whatever form they may worship the Divine Being. Nineteen hundred years ago Apollonius of Tyana was sent out by the Brotherhood upon a mission, one feature of which was that he was to found, in various countries, certain magnetic centres. Objects of the nature of talismans were given to him, which he was to bury at these chosen spots, in order that the forces which they radiated might prepare these places to be the centres of great events in the future. Some of these centres have already been utilized, but some have not, and all these latter are to be employed in the immediate future in connection with the work of the coming Christ; so that much of the detail of his work was already definitely planned nearly two thousand years ago, and arrangements even on the physical plane were being made to prepare for it.

Chân sư Jesus, Đấng đã trở thành một chân sư trong lần lâm phàm của Ngài với tư cách Apollonius xứ Tyana, và về sau là nhà cải cách tôn giáo vĩ đại ở Nam Ấn, Shri Ramanujacharya, cai quản Cung Sáu, cung của bhakti hay lòng sùng tín. Đây là Cung của các thánh nhân sùng tín và các nhà thần bí thuộc mọi tôn giáo, và Chohan Jesus chăm lo cho những người như thế, dưới bất cứ hình thức nào họ có thể tôn thờ Hữu Thể Thiêng Liêng. Một nghìn chín trăm năm trước, Apollonius xứ Tyana được Huynh Đệ Đoàn phái đi làm một sứ mệnh, một đặc điểm của sứ mệnh ấy là ông phải thiết lập, tại nhiều quốc gia khác nhau, một số trung tâm từ tính nhất định. Những vật có bản chất như bùa hộ mệnh đã được trao cho ông, để ông chôn tại những địa điểm đã chọn này, hầu cho các mãnh lực mà chúng phát xạ có thể chuẩn bị các nơi ấy trở thành trung tâm của những biến cố vĩ đại trong tương lai. Một số trung tâm này đã được sử dụng, nhưng một số thì chưa, và tất cả những trung tâm sau này sẽ được dùng trong tương lai gần, liên quan đến công việc của Đức Christ đang đến; vì thế, nhiều chi tiết trong công việc của Ngài đã được hoạch định rõ ràng gần hai nghìn năm trước, và ngay cả những sắp đặt trên cõi hồng trần cũng đã được thực hiện để chuẩn bị cho công việc ấy.

The Head of the Seventh Ray is the Master the Comte de St. Germain, known to history in the eighteenth century, whom we sometimes call the Master Rakoczy, as he is the last survivor of that royal house. He was Francis Bacon, Lord Verulam, in the seventeenth century, Robertus the monk in the sixteenth, Hunyadi Janos in the fifteenth, Christian Rosenkreuz in the fourteenth, and Roger Bacon in the thirteenth; he is the Hungarian Adept of The Occult World. Further back in time he was the great Neoplatonist Proclus and before that St. Alban. He works to a large extent through ceremonial magic, and employs the services of great Angels, who obey him implicitly and rejoice to do his will. Though he speaks all European and many Oriental languages, much of his working is in Latin, the language which is the especial vehicle of his thought, and the splendour and rhythm of it is unsurpassed by anything that we know down here. In his various rituals he wears wonderful and many-coloured robes and jewels. He has a suit of golden chain-mail, which once belonged to a Roman Emperor; over it is thrown a magnificent cloak of crimson, with on its clasp a seven-pointed star in diamond and amethyst, and sometimes he wears a glorious robe of violet. Though he is thus engaged with ceremonial, and still works some of the rituals of the Ancient Mysteries, even the names of which have long been forgotten in the outer world, he is also much concerned with the political situation in Europe and the growth of modern physical science.

Đứng đầu Cung Bảy là Chân sư Bá tước de St. Germain, được lịch sử biết đến trong thế kỷ mười tám, Đấng mà đôi khi chúng ta gọi là Chân sư Rakoczy, vì Ngài là người sống sót cuối cùng của hoàng tộc ấy. Ngài là Francis Bacon, Lord Verulam, vào thế kỷ mười bảy; Robertus, vị tu sĩ, vào thế kỷ mười sáu; Hunyadi Janos vào thế kỷ mười lăm; Christian Rosenkreuz vào thế kỷ mười bốn; và Roger Bacon vào thế kỷ mười ba; Ngài chính là Chân sư Hungary trong Thế Giới Huyền Bí. Xa hơn về trước trong thời gian, Ngài là nhà Tân Platon vĩ đại Proclus và trước đó là St. Alban. Ngài làm việc phần lớn qua huyền thuật nghi lễ, và sử dụng sự phụng sự của các Thiên Thần vĩ đại, những Đấng vâng phục Ngài tuyệt đối và hoan hỉ thực hiện ý muốn của Ngài. Dù Ngài nói tất cả các ngôn ngữ châu Âu và nhiều ngôn ngữ phương Đông, phần lớn công việc của Ngài được thực hiện bằng tiếng La-tinh, ngôn ngữ là vận cụ đặc biệt của tư tưởng Ngài, và vẻ huy hoàng cùng nhịp điệu của nó vượt hơn mọi điều chúng ta biết ở dưới này. Trong các nghi lễ khác nhau của Ngài, Ngài mặc những áo choàng và đeo châu báu kỳ diệu, nhiều màu sắc. Ngài có một bộ giáp xích bằng vàng, từng thuộc về một Hoàng đế La Mã; phủ trên đó là một chiếc áo choàng tráng lệ màu đỏ thẫm, với móc cài mang một ngôi sao bảy cánh bằng kim cương và thạch anh tím, và đôi khi Ngài mặc một áo choàng huy hoàng màu tím. Dù Ngài dấn thân như thế vào nghi lễ, và vẫn thực hiện một số nghi lễ của các Bí Nhiệm Cổ Xưa, mà ngay cả tên gọi của chúng từ lâu đã bị lãng quên trong thế giới bên ngoài, Ngài cũng quan tâm nhiều đến tình hình chính trị ở châu Âu và sự phát triển của khoa học hồng trần hiện đại.

The Qualities to Be Developed

Các Phẩm Tính Cần Được Phát Triển

The following is a summary of the characteristics of these Chohans and their Rays as I have given them in The Science of the Sacraments, with the thought to be held in mind by those who wish to serve along their respective lines:

Sau đây là phần tóm tắt các đặc tính của những Chohan này và các Cung của Các Ngài như tôi đã trình bày trong Khoa Học về các Bí Tích, cùng với tư tưởng cần được giữ trong trí bởi những ai muốn phụng sự theo các đường lối tương ứng của Các Ngài:

1. Strength.

1. Sức mạnh.

“I will be strong, brave, persevering in his service.”

“Tôi sẽ mạnh mẽ, can đảm, kiên trì trong sự phụng sự Ngài.”

2. Wisdom.

2. Minh triết.

“I will attain that intuitional wisdom which can be developed only through perfect love.”

“Tôi sẽ đạt được minh triết trực giác vốn chỉ có thể được phát triển qua tình thương hoàn hảo.”

3. Adaptability or Tact.

3. Khả năng thích nghi hay sự khéo xử.

“I will try to gain the power of saying and doing just the right thing at the right moment—of meeting each man on his own ground, in order to help him more efficiently.”

“Tôi sẽ cố gắng đạt được quyền năng nói và làm đúng điều cần làm vào đúng thời điểm—gặp gỡ mỗi người trên chính nền tảng của y, để giúp y hữu hiệu hơn.”

4. Beauty and Harmony.

4. Vẻ đẹp và Hài hòa.

“So far as I can, I will bring beauty and harmony into my life and surroundings, that they may be more worthy of him; I will learn to see beauty in all Nature, that so I may serve him better.”

“Trong chừng mực có thể, tôi sẽ đem vẻ đẹp và hài hòa vào đời sống và môi trường quanh mình, để chúng có thể xứng đáng hơn với Ngài; tôi sẽ học cách thấy vẻ đẹp trong toàn thể Thiên Nhiên, để nhờ đó tôi có thể phụng sự Ngài tốt hơn.”

5. Science (detailed knowledge).

5. Khoa học (tri thức chi tiết).

“I will gain knowledge and accuracy, that I may devote them to his work.”

“Tôi sẽ đạt được tri thức và sự chính xác, để có thể hiến dâng chúng cho công việc của Ngài.”

6. Devotion.

6. Sùng tín.

“I will unfold within myself the mighty power of devotion, that through it I may bring others to him.”

“Tôi sẽ khai mở trong chính mình quyền năng hùng mạnh của lòng sùng tín, để nhờ đó tôi có thể đưa những người khác đến với Ngài.”

7. Ordered Service.

7. Phụng sự có trật tự.

“I will so order and arrange my service of God along the lines which he has prescribed, that I may be able fully to take advantage of the loving help which his holy Angels are always waiting to render.”[3]

“Tôi sẽ sắp đặt và điều hòa sự phụng sự Thượng đế của tôi theo những đường lối mà Ngài đã quy định, để tôi có thể tận dụng trọn vẹn sự trợ giúp đầy yêu thương mà các Thiên Thần thánh thiện của Ngài luôn chờ đợi để ban phát.”

All these different qualities will have to be developed in each one of us in due time, but we shall possess them all perfectly only when we ourselves have reached perfection and become Supermen. At the present time one of the ways in which our imperfection shows itself in our lives is in the fact that we have some one characteristic developed in excess of the others. There are some, for example, who have scientific accuracy and discrimination well unfolded within them, but because as yet they have not cultivated affection and devotion their nature is cold and hard; they often appear unsympathetic and are liable to misjudge their fellowmen, and in matters of judgment or in the consideration of an intellectual problem their attitude is often intensely critical. Their decision would always tend to be against rather than in favour of any person who happened to cross their path, whereas the devotional of affectionate type of people would make far more allowance for the other man’s point of view, and would on the whole be more likely to judge favourably, and even if their judgement were wrong, as they might easily be swayed by their feelings, it would err on the side of mercy. Both these are deflections from strictly accurate judgement, and in ourselves it will be necessary in the course of time to balance these qualities perfectly, for the Superman is the perfectly balanced man. As it says in the Bhagavad Gita, “Equilibrium is called Yoga.”

Tất cả các phẩm tính khác nhau này sẽ phải được phát triển nơi mỗi người chúng ta đúng thời điểm, nhưng chúng ta sẽ chỉ sở hữu tất cả một cách hoàn hảo khi chính chúng ta đã đạt đến sự hoàn thiện và trở thành các Siêu Nhân. Vào thời hiện tại, một trong những cách mà sự bất toàn của chúng ta tự biểu lộ trong đời sống là việc chúng ta có một đặc tính nào đó được phát triển vượt quá các đặc tính khác. Chẳng hạn, có những người đã khai mở tốt sự chính xác khoa học và sự phân biện trong họ, nhưng vì họ chưa vun bồi tình cảm và lòng sùng tín, nên bản chất của họ lạnh lùng và cứng rắn; họ thường tỏ ra thiếu thông cảm và dễ phán đoán sai lạc về đồng loại, và trong các vấn đề phán đoán hoặc khi xem xét một vấn đề trí thức, thái độ của họ thường hết sức phê phán. Quyết định của họ luôn có khuynh hướng chống lại hơn là ủng hộ bất cứ người nào tình cờ đi ngang đường họ, trong khi loại người sùng tín hay giàu tình cảm sẽ dành nhiều sự khoan dung hơn cho quan điểm của người khác, và nhìn chung có nhiều khả năng phán đoán thuận lợi hơn; và ngay cả nếu sự phán đoán của họ sai, vì họ có thể dễ dàng bị cảm xúc chi phối, thì sai lầm ấy cũng nghiêng về phía lòng từ bi. Cả hai điều này đều là những sai lệch khỏi sự phán đoán chính xác nghiêm ngặt, và nơi chính chúng ta, theo thời gian, sẽ cần cân bằng các phẩm tính này một cách hoàn hảo, vì Siêu Nhân là con người được cân bằng hoàn hảo. Như đã nói trong Bhagavad Gita, “Sự quân bình được gọi là Yoga.”

Cyclic Changes

Những Thay Đổi Theo Chu Kỳ

In the seven Planetary Logoi certain cyclic changes periodically occur, which correspond perhaps to in-breathing and out-breathing or to the beating of the heart down here on the physical plane. However that may be, there seems to be an infinite number of possible permutations and combinations of them; and since our astral bodies are built of the very matter of their astral bodies, it is obvious that no one of these Planetary Logoi can change astrally in any way without thereby affecting the astral body of every man in the world, though of course more especially those in whom there is a preponderance of matter expressing him. If it be remembered that we take the astral plane merely as an example, and that exactly the same thing is true on all the other planes, we shall then begin to have some idea of the importance to us of the emotions and thoughts of these Planetary Spirits.

Trong bảy Hành Tinh Thượng đế, có những thay đổi theo chu kỳ nhất định định kỳ xảy ra, có lẽ tương ứng với sự hít vào và thở ra, hoặc với nhịp đập của trái tim ở dưới này trên cõi hồng trần. Dù điều đó là gì, dường như có vô số hoán vị và tổ hợp khả hữu của chúng; và vì các thể cảm dục của chúng ta được kiến tạo bằng chính vật chất của các thể cảm dục của Các Ngài, nên hiển nhiên không một Hành Tinh Thượng đế nào trong số này có thể thay đổi về phương diện cảm dục theo bất cứ cách nào mà không do đó ảnh hưởng đến thể cảm dục của mọi người trên thế gian, tuy dĩ nhiên đặc biệt hơn là những người trong đó có sự vượt trội của loại vật chất biểu lộ Ngài. Nếu nhớ rằng chúng ta chỉ lấy cõi cảm dục làm một ví dụ, và rằng chính điều tương tự cũng đúng trên tất cả các cõi khác, thì khi ấy chúng ta sẽ bắt đầu có một ý niệm nào đó về tầm quan trọng đối với chúng ta của các cảm xúc và tư tưởng của những Chân Linh Hành Tinh này.

Whatever these may be, they are visible in the long history of human races as regular cyclic changes in the temperament of the people and the consequent character of their civilization. Putting aside the thought of world-periods and considering only the period of a single root race, we find that in it the Seven Rays are preponderant in turn (perhaps more than once) but in the period of that dominance of each Ray there will be seven subcycles of influence, according to a rather curious rule which requires some explanation.

Dù những điều này là gì, chúng đều hiển hiện trong lịch sử lâu dài của các giống dân nhân loại như những thay đổi theo chu kỳ đều đặn trong khí chất của dân chúng và trong tính cách hệ quả của nền văn minh của họ. Gác sang một bên ý tưởng về các chu kỳ thế giới và chỉ xét đến chu kỳ của một giống dân gốc duy nhất, chúng ta thấy rằng trong đó Bảy Cung lần lượt chiếm ưu thế (có lẽ hơn một lần), nhưng trong chu kỳ thống trị của mỗi Cung sẽ có bảy tiểu chu kỳ ảnh hưởng, theo một quy luật khá kỳ lạ cần được giải thích đôi chút.

Let us take, for example, that period in the history of a race when the Fifth Ray is dominant. During the whole of that epoch the central idea of that Ray (and probably a religion founded upon it) will be prominent in the minds of men; but that time of predominance will be subdivided into seven periods, in the first of which this idea, though still principal one, will be coloured by the idea of the First Ray, and the methods of the First Ray will be to some extent combined with its own. In the second of its subdivisions its idea and methods will be similarly coloured by those of the Second Ray, and so on, so that in its fifth subdivisions it will naturally be at its purest and strongest. It would seem as if these divisions and subdivisions ought to correspond with the sub-races and branch races respectively, but it has not so far been possible for us to see that they do so.

Hãy lấy ví dụ, thời kỳ trong lịch sử của một giống dân khi Cung Năm chiếm ưu thế. Trong suốt kỷ nguyên đó, ý tưởng trung tâm của Cung ấy (và có lẽ một tôn giáo được thành lập dựa trên đó) sẽ nổi bật trong trí của con người; nhưng thời gian ưu thế ấy sẽ được chia nhỏ thành bảy thời kỳ, trong thời kỳ đầu tiên, ý tưởng này, dù vẫn là ý tưởng chính, sẽ được nhuộm màu bởi ý tưởng của Cung Một, và các phương pháp của Cung Một sẽ ở một mức độ nào đó kết hợp với phương pháp riêng của nó. Trong phân kỳ thứ hai, ý tưởng và phương pháp của nó sẽ tương tự được nhuộm màu bởi những điều thuộc về Cung Hai, và cứ thế, để trong phân kỳ thứ năm, tự nhiên nó sẽ ở trạng thái thuần khiết và mạnh mẽ nhất. Dường như các phân kỳ và tiểu phân kỳ này đáng lẽ phải tương ứng với các giống dân phụ và các nhánh giống dân, nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể thấy rằng chúng thực sự như vậy.

The Reign of Devotion

Triều Đại của Sùng Tín

In discussing a subject so complex and so obscure as this with a knowledge of it so slight as it so slight as is ours at present, it is perhaps hardly safe to adduce instances; yet since we are told that the Sixth or devotional Ray has been recently dominant, we may fancy that we can trace the influence of its first subcycle in the stories of the wonderful powers exhibited by the earlier saints; of its second in the Gnostic sect whose central idea was the necessity of the true wisdom, the Gnosis; of the third in the Astrologers; of the fourth in the strangely distorted efforts to develop will-power by the endurance of painful or loathsome conditions, as did St. Simeon Stylites or the Flagellants; of the fifth in the Alchemists and Rosicrucians of the Middle Ages; while its sixth division of the purest devotion might be imaged in the ecstasies of the contemplative monastic orders, and the seventh cycle would produce the invocations and exact adherence to external forms of the Roman Church.

Khi bàn đến một chủ đề phức tạp và tối tăm như thế này với một tri thức về nó còn ít ỏi như tri thức hiện nay của chúng ta, có lẽ hầu như không an toàn khi đưa ra các ví dụ; tuy nhiên, vì chúng ta được cho biết rằng Cung Sáu, hay Cung sùng tín, đã chiếm ưu thế gần đây, chúng ta có thể hình dung rằng mình có thể truy ra ảnh hưởng của tiểu chu kỳ thứ nhất của nó trong các câu chuyện về những quyền năng kỳ diệu được các vị thánh thời đầu biểu lộ; của tiểu chu kỳ thứ hai trong giáo phái Ngộ đạo, mà ý tưởng trung tâm là sự cần thiết của minh triết chân thật, Gnosis; của tiểu chu kỳ thứ ba trong các nhà Chiêm tinh; của tiểu chu kỳ thứ tư trong những nỗ lực bị bóp méo một cách kỳ lạ nhằm phát triển ý chí lực bằng cách chịu đựng các điều kiện đau đớn hoặc ghê tởm, như St. Simeon Stylites hay những người tự đánh mình; của tiểu chu kỳ thứ năm trong các nhà luyện kim và các Hội Rosicrucian thời Trung Cổ; trong khi phân kỳ thứ sáu của lòng sùng tín thuần khiết nhất có thể được hình dung trong các trạng thái xuất thần của các dòng tu chiêm ngưỡng, và chu kỳ thứ bảy sẽ tạo ra các lời khẩn cầu cùng sự tuân thủ chính xác các hình thức bên ngoài của Giáo hội La Mã.

The advent of modern spiritualism and the devotion to elemental worship which is so often a characteristic of its degraded forms, may be regarded as a premonition of the influence of the coming Seventh Ray, the more so as this movement was originated by a secret society which has existed in the world since the last period of the Seventh Ray predominance in Atlantis.

Sự xuất hiện của thần linh học hiện đại và lòng sùng tín đối với việc thờ phụng hành khí, vốn rất thường là một đặc tính của các hình thức suy đồi của nó, có thể được xem như một điềm báo trước ảnh hưởng của Cung Bảy đang đến, càng như vậy hơn vì phong trào này được khởi xướng bởi một hội kín đã tồn tại trong thế gian từ thời kỳ cuối cùng của sự ưu thế của Cung Bảy ở Atlantis.

How real and decided a dominance is exerted by a Ray in the course of its cycle of influence is very evident to those who have read anything of Church history. They realize how much of utterly blind devotion there was all through the Middle Ages, how people who were very ignorant about religion nevertheless spoken in its name, and tried to force the ideas bred of their ignorance on other people who in many cases knew much more. Those who wielded the power—the dogmatic Christians—were precisely the people who knew least about the real meaning of the dogmas they taught. There were those who could have told them a great deal more, and could have explained the meaning of many points in Christian doctrine; but the majority would not hear, and they cast out these more learned men as heretics.

Một Cung thực sự và quyết định thống trị mạnh mẽ đến mức nào trong tiến trình chu kỳ ảnh hưởng của nó là điều rất hiển nhiên đối với những ai đã đọc bất cứ điều gì về lịch sử Giáo hội. Họ nhận ra trong suốt thời Trung Cổ có biết bao lòng sùng tín hoàn toàn mù quáng, và những người rất thiếu hiểu biết về tôn giáo tuy vậy lại nói nhân danh tôn giáo, rồi cố áp đặt những ý tưởng sinh ra từ sự ngu dốt của họ lên những người khác, trong nhiều trường hợp lại hiểu biết nhiều hơn. Những người nắm quyền lực—các Kitô hữu giáo điều—chính là những người ít hiểu biết nhất về ý nghĩa thật sự của các giáo điều mà họ giảng dạy. Có những người có thể nói cho họ biết nhiều hơn nữa, và có thể giải thích ý nghĩa của nhiều điểm trong giáo lý Kitô giáo; nhưng đa số không chịu nghe, và họ loại bỏ những người uyên bác hơn ấy như những kẻ dị giáo.

Throughout this dark period the people who really knew something, such as the alchemists (not that all alchemists knew very much, but certainly some of them knew more than the Christians), were to be found among such secret orders as the Templars and the Rosicrucians, and some of the truth was hidden in Freemasonry. All these people were persecuted by the ignorant Christians in those days, in the name of devotion to God. A great many of the mediaeval saints were very full of a devotion that was often beautiful, and even spiritual; but it was generally so narrow in form that it usually allowed them, in spite of their spirituality, to hold uncharitable views about others who differed from them, and even to persecute them openly. There were a few who held really spiritual ideals, but they were regarded with suspicion. Such were the Quietists: Ruysbroek, Margaret and Christina Ebner, Molinos and Jacob Boehme. In almost all cases the more ignorant people rode down those who knew; they always did it in the name of devotion, and we must not forget that their devotion was very real and very intense.

Trong suốt thời kỳ tối tăm này, những người thực sự biết đôi điều, chẳng hạn các nhà luyện kim (không phải tất cả các nhà luyện kim đều biết rất nhiều, nhưng chắc chắn một số người trong họ biết nhiều hơn các Kitô hữu), được tìm thấy trong các hội kín như các Hiệp sĩ Đền Thánh và các Hội Rosicrucian, và một phần chân lý được ẩn giấu trong Hội Tam Điểm. Tất cả những người này đều bị các Kitô hữu ngu dốt thời ấy bức hại, nhân danh lòng sùng tín đối với Thượng đế. Rất nhiều vị thánh thời Trung Cổ tràn đầy một lòng sùng tín thường rất đẹp đẽ, thậm chí tinh thần; nhưng hình thức của nó thường hẹp hòi đến mức, bất chấp tinh thần của họ, nó thường cho phép họ giữ những quan điểm thiếu bác ái về những người khác biệt với họ, và thậm chí công khai bức hại họ. Có một số ít người giữ các lý tưởng thật sự tinh thần, nhưng họ bị nhìn với sự nghi ngờ. Đó là các nhà Tĩnh lặng: Ruysbroek, Margaret và Christina Ebner, Molinos và Jacob Boehme. Trong hầu hết mọi trường hợp, những người ngu dốt hơn đã chà đạp những người hiểu biết; họ luôn làm điều đó nhân danh lòng sùng tín, và chúng ta không được quên rằng lòng sùng tín của họ rất thật và rất mãnh liệt.

It was not only in Christianity that the reign of devotion showed itself. It reflected itself powerfully into the religions left behind by the earlier Rays. Hinduism might be thought distinctly cold by devotional people. The religion of Shiva, God the Father, the First Person of the Blessed Trinity, spread almost entirely over India; and even to this day three-fourths of the Hindus are worshippers of that aspect of the Divine. Before these people is set up the ideal of duty—dharma—which is unquestionably the strong point of that religion. They held that men were born in the different castes according to their deserts; that wheresoever a man was born, it was his duty to carry on the dharma of his caste, and to rise out of it he must be so exceptional that for a long time such a thing was almost unknown. They worshipped law and order, and did not approve of discontent as applied to environment, but taught that the way to God was to use to the utmost the conditions in which a man found himself. If he did that, those conditions would improve from birth to birth. Nevertheless, they always said that the door to God was open to a man from any caste if he lived rightly, not seeking to better his opportunities by strife, but by doing his dharma to the uttermost in the state of life to which God had called him.

Không chỉ trong Kitô giáo mà triều đại của sùng tín tự biểu lộ. Nó phản chiếu mạnh mẽ vào các tôn giáo do những Cung trước đó để lại. Ấn Độ giáo có thể được những người sùng tín xem là rõ rệt lạnh lùng. Tôn giáo của Shiva, Thượng đế Ngôi Cha, Ngôi Thứ Nhất của Ba Ngôi Chân Phúc, lan rộng gần như khắp Ấn Độ; và ngay cả đến ngày nay, ba phần tư người Ấn giáo là những người tôn thờ phương diện ấy của Đấng Thiêng Liêng. Trước những người này, lý tưởng về bổn phận—dharma—được đặt ra, và đó chắc chắn là điểm mạnh của tôn giáo ấy. Họ cho rằng con người được sinh vào các đẳng cấp khác nhau tùy theo công trạng của mình; rằng bất cứ nơi nào một người được sinh ra, bổn phận của y là tiếp tục dharma của đẳng cấp mình, và để vượt ra khỏi đó, y phải đặc biệt đến mức trong một thời gian dài điều như vậy hầu như chưa từng được biết đến. Họ tôn thờ luật lệ và trật tự, và không tán thành sự bất mãn đối với hoàn cảnh, nhưng dạy rằng con đường đến với Thượng đế là tận dụng đến mức tối đa các điều kiện trong đó một người thấy mình ở. Nếu y làm điều đó, các điều kiện ấy sẽ cải thiện từ kiếp này sang kiếp khác. Tuy nhiên, họ luôn nói rằng cánh cửa đến với Thượng đế mở ra cho một người thuộc bất cứ đẳng cấp nào nếu y sống đúng đắn, không tìm cách cải thiện cơ hội của mình bằng tranh đấu, mà bằng cách thực hiện dharma của mình đến tận cùng trong trạng thái đời sống mà Thượng đế đã gọi y vào.

To the very devotional mind that would seem cold and scientific, and perhaps it was; but when the devotional Ray began to influence the world there came a great change, and the worship of the Second Person of the Trinity, Vishnu, incarnating as Shri Krishna, came prominently forward. Then devotion surged forth without restraint; so extreme it was that it became in many ways a mere orgy of emotion; and it is probable that there is greater devotion at this moment among the followers of Vishnu in India than can be found even among Christians, whose religion is confessedly devotional. The emotion is so great that its demonstration is often uncomfortable for us of the colder races to watch. I have seen hard men of business throw themselves into an ecstasy of devotion, which led them to burst into tears and apparently to break up and change entirely, merely at the mention of the Child Shri Krishna. All that has ever been felt for the Child Jesus among Western nations, is felt for the Child Krishna amongst the Hindus.

Đối với thể trí rất sùng tín, điều đó có vẻ lạnh lùng và khoa học, và có lẽ đúng như vậy; nhưng khi Cung sùng tín bắt đầu ảnh hưởng đến thế gian, đã có một thay đổi lớn, và sự tôn thờ Ngôi Thứ Hai của Ba Ngôi, Vishnu, nhập thể với tư cách Shri Krishna, nổi bật lên. Khi ấy lòng sùng tín trào dâng không bị kìm hãm; nó cực đoan đến mức theo nhiều cách đã trở thành một cơn cuồng nhiệt cảm xúc đơn thuần; và có lẽ vào lúc này, trong số những tín đồ của Vishnu ở Ấn Độ, có lòng sùng tín lớn hơn cả điều có thể tìm thấy trong các Kitô hữu, những người mà tôn giáo của họ được thừa nhận là sùng tín. Cảm xúc lớn đến mức sự biểu lộ của nó thường khiến chúng ta thuộc các giống dân lạnh lùng hơn thấy không thoải mái khi chứng kiến. Tôi đã thấy những người kinh doanh cứng rắn tự ném mình vào một trạng thái xuất thần sùng tín, khiến họ bật khóc và dường như tan vỡ rồi hoàn toàn biến đổi, chỉ vì nhắc đến Hài Nhi Shri Krishna. Tất cả những gì đã từng được cảm nhận đối với Hài Nhi Jesus giữa các dân tộc phương Tây, đều được cảm nhận đối với Hài Nhi Krishna giữa những người Ấn giáo.

This was the effect of devotion on a religion which in itself was not devotional in character. Buddhism also can hardly be called a devotional faith. The Buddhist religion was a gift of Hinduism to the great Fourth Race, and the devotional cycle for that race does not necessarily coincide with ours. That religion does not hold the necessity for prayers; it tells its people, in so far as it recognizes the existence of God, that he knows his own business very much better than they can hope to know it; that it is quite useless for them to pray to him, or to try to influence him, for he is already doing better than any man can think. The Buddhists in Burma would say: “The boundless Light exists, but that is not for us. We shall reach that one day; meantime our business is to follow the teaching of our Lord, and see to it that we do those things which he would have us do.”

Đó là tác động của sùng tín lên một tôn giáo tự thân không có tính chất sùng tín. Phật giáo cũng khó có thể được gọi là một đức tin sùng tín. Tôn giáo Phật giáo là một món quà của Ấn Độ giáo dành cho Nhân Loại Thứ Tư vĩ đại, và chu kỳ sùng tín của nhân loại ấy không nhất thiết trùng hợp với chu kỳ của chúng ta. Tôn giáo ấy không nêu sự cần thiết của các lời cầu nguyện; trong chừng mực nó công nhận sự hiện hữu của Thượng đế, nó nói với dân chúng của mình rằng Ngài biết công việc của chính Ngài tốt hơn rất nhiều so với điều họ có thể hy vọng biết; rằng việc họ cầu nguyện với Ngài, hoặc cố gắng ảnh hưởng đến Ngài, là hoàn toàn vô ích, vì Ngài đã và đang làm điều tốt hơn bất cứ con người nào có thể nghĩ. Người Phật tử ở Miến Điện sẽ nói: “Ánh Sáng vô biên hiện hữu, nhưng điều ấy không dành cho chúng ta. Một ngày nào đó chúng ta sẽ đạt đến điều ấy; trong khi đó, công việc của chúng ta là noi theo giáo huấn của Đức Chúa chúng ta, và bảo đảm rằng chúng ta làm những điều mà Ngài muốn chúng ta làm.”

It is not that they disbelieve in a God, but that they set God so far—so infinitely far—above us all; they are so sure about him, that they take it all for granted. The missionaries say that they are atheistical. I have lived among them and know them more intimately than does the average missionary, and my impression is that they are not in the least atheistical in spirit, but that their reverence would be too great for them to put themselves on such familiar terms with God, or, like many in the West, to talk with intimacy of him, as if they knew precisely what he is going to do and all about his work. That would strike the Oriental as a very irreverent attitude.

Không phải là họ không tin vào một Thượng đế, mà là họ đặt Thượng đế quá xa—xa vô tận—trên tất cả chúng ta; họ quá chắc chắn về Ngài, đến nỗi họ xem tất cả điều đó là đương nhiên. Các nhà truyền giáo nói rằng họ là vô thần. Tôi đã sống giữa họ và hiểu họ thân mật hơn nhà truyền giáo trung bình, và ấn tượng của tôi là về tinh thần, họ hoàn toàn không vô thần, mà lòng tôn kính của họ quá lớn để họ tự đặt mình vào quan hệ thân mật như thế với Thượng đế, hoặc, như nhiều người ở phương Tây, nói về Ngài một cách thân mật, như thể họ biết chính xác Ngài sẽ làm gì và mọi điều về công việc của Ngài. Điều đó sẽ khiến người phương Đông thấy là một thái độ rất thiếu tôn kính.

Buddhism itself has been touched by this fire of devotion, and in Burma they worship the Lord Buddha almost as a God. I noticed this when I had to write a catechism for Buddhist children. Colonel Olcott wrote the first catechism of Buddhism, intending it for the use of children, but he made his answers difficult even for grown-up people to understand. We found it necessary to write an introduction to it for children, and to reserve his catechism, which was a splendid work, for older students. He asked in that catechism: “Was Buddha a God?” and the answer was: “No, not a God, but a man like ourselves, only far more advanced than we.” That was accepted fully in Ceylon and Siam, but when we came to Burma they objected to the negative answer, saying: “He is greater than any God of whom we know anything.” The Sanskrit word for God is “Deva” and the Hindus never use “God” in our sense of the word, unless they are speaking of Ishvara, or else of the Trinity, Shiva, Vishnu and Brahma.

Chính Phật giáo đã được ngọn lửa sùng tín này chạm đến, và tại Miến Điện họ tôn thờ Đức Phật gần như một Thượng đế. Tôi nhận thấy điều này khi phải viết một sách giáo lý cho trẻ em Phật giáo. Đại tá Olcott đã viết sách giáo lý Phật giáo đầu tiên, định dùng cho trẻ em, nhưng ông khiến các câu trả lời của mình khó hiểu ngay cả đối với người lớn. Chúng tôi thấy cần phải viết một phần nhập môn cho trẻ em, và dành sách giáo lý của ông, vốn là một công trình tuyệt diệu, cho các đạo sinh lớn tuổi hơn. Trong sách giáo lý ấy, ông hỏi: “Đức Phật có phải là một Thượng đế không?” và câu trả lời là: “Không, không phải một Thượng đế, mà là một người như chúng ta, chỉ là tiến hóa hơn chúng ta rất nhiều.” Điều đó được chấp nhận hoàn toàn tại Ceylon và Xiêm, nhưng khi chúng tôi đến Miến Điện, họ phản đối câu trả lời phủ định ấy, nói rằng: “Ngài vĩ đại hơn bất cứ Thượng đế nào mà chúng tôi biết.” Từ Sanskrit dành cho Thượng đế là “Deva” và người Ấn giáo không bao giờ dùng “Thượng đế” theo nghĩa của chúng ta, trừ khi họ nói về Ishvara, hoặc về Ba Ngôi, Shiva, Vishnu và Brahma.

When the missionaries talk about the Hindus as having thirty-three million (or three hundred and thirty million) gods, the word which they translate as god is “deva,” and that includes a great many beings—angels, nature-spirits and so on—but the Indians no more worship them than we should. They know that they exist and they catalogue them, that is all. In Burma we found that devotion had thus appeared in Buddhism, but in Ceylon, where the people are mostly descendants of Hindu immigrants, they will tell you, if you ask them why they make offerings to the Lord Buddha, that it is out of gratitude for what he has done for them. When we asked if they thought that he knew of it and was pleased, they said: “Oh no! He has passed far away into Paranirvana; we do not expect him to know anything about it, but to him we owe this knowledge of the Law which he has taught us, and for that we perpetuate his Name, and make our offerings out of gratitude.”

Khi các nhà truyền giáo nói về người Ấn giáo như có ba mươi ba triệu (hoặc ba trăm ba mươi triệu) thần, thì từ mà họ dịch là thần là “deva”, và từ ấy bao gồm rất nhiều hữu thể—các thiên thần, các tinh linh tự nhiên, vân vân—nhưng người Ấn không tôn thờ họ hơn gì chúng ta. Họ biết rằng các hữu thể ấy hiện hữu và họ phân loại họ, chỉ có thế. Ở Miến Điện, chúng tôi thấy rằng lòng sùng tín đã xuất hiện như vậy trong Phật giáo, nhưng ở Ceylon, nơi dân chúng phần lớn là hậu duệ của những người nhập cư Ấn giáo, nếu bạn hỏi họ tại sao họ dâng lễ vật lên Đức Phật, họ sẽ nói với bạn rằng đó là vì lòng biết ơn đối với những gì Ngài đã làm cho họ. Khi chúng tôi hỏi liệu họ có nghĩ rằng Ngài biết điều đó và hài lòng không, họ nói: “Ồ không! Ngài đã đi xa vào Paranirvana; chúng tôi không mong Ngài biết gì về điều đó, nhưng chúng tôi mang ơn Ngài về tri thức này của Định luật mà Ngài đã dạy chúng tôi, và vì điều ấy chúng tôi duy trì Danh Ngài, và dâng lễ vật của mình vì lòng biết ơn.”

So this wave of devotion has influenced the world powerfully since the coming of the Child Krishna two thousand four hundred years ago, but now the special intensity of that sixth phase has gone, and is rapidly giving place to the influence of the incoming Ray, the Seventh. There is still ignorant devotion among the peasantry in many Aryan countries, but the more educated people are not now readily moved to devotion unless they have at the same time some understanding of its object. There was a phase which had its own value, in the fourth sub-race particularly, when the people were prepared to be devoted to almost anything that would draw out their emotion, and from that, with the stronger development of the lower mind in the fifth sub-race, there was a reaction into agnosticism. That now in its turn has proved unsatisfactory, so that that wave has practically passed over, and men are now ready at least to inquire and examine instead of frantically denying everything.

Vì vậy, làn sóng sùng tín này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến thế gian kể từ khi Hài Nhi Krishna xuất hiện hai nghìn bốn trăm năm trước, nhưng nay cường độ đặc biệt của giai đoạn thứ sáu ấy đã qua, và đang nhanh chóng nhường chỗ cho ảnh hưởng của Cung đang đi vào, Cung Bảy. Vẫn còn lòng sùng tín vô minh trong tầng lớp nông dân ở nhiều quốc gia Arya, nhưng những người có học hơn ngày nay không dễ bị lay động đến lòng sùng tín trừ khi đồng thời họ có một sự thấu hiểu nào đó về đối tượng của nó. Đã có một giai đoạn có giá trị riêng, đặc biệt trong giống dân phụ thứ tư, khi dân chúng sẵn sàng sùng tín đối với gần như bất cứ điều gì khơi dậy cảm xúc của họ, và từ đó, với sự phát triển mạnh mẽ hơn của hạ trí trong giống dân phụ thứ năm, đã có một phản ứng chuyển sang thuyết bất khả tri. Đến lượt nó, điều ấy nay đã tỏ ra không thỏa đáng, đến mức làn sóng ấy thực tế đã trôi qua, và con người hiện nay ít nhất cũng sẵn sàng tìm hiểu và khảo sát thay vì điên cuồng phủ nhận mọi sự.

There is a double change now taking place, for in addition to the modification of Ray influence, there is also the beginning of the sixth sub-race, which brings in intuition and wisdom, blending all that is best in the intelligence of the fifth sub-race and the emotion of the fourth.

Hiện nay có một sự thay đổi kép đang diễn ra, vì ngoài sự điều chỉnh của ảnh hưởng Cung, còn có sự khởi đầu của giống dân phụ thứ sáu, đem đến trực giác và minh triết, hòa trộn tất cả những gì tốt đẹp nhất trong trí thông minh của giống dân phụ thứ năm và cảm xúc của giống dân phụ thứ tư.

The Advent of Ceremonial

Sự Xuất Hiện của Nghi Lễ

The Ray that is now coming into force is very largely one of ceremonial. There was plenty of that in the Middle Ages, but it was chiefly due to the influence of the seventh sub-ray of the Sixth Ray, whereas ours is due rather to the first sub-ray of the Seventh; so it will not be regarded principally from the point of view of its devotional effect, but rather from that of its usefulness in connection with the great Deva evolution. It will be most beneficial when the people make it their business to understand, as much as may be, what is going on.

Cung hiện đang đi vào tác lực phần lớn là một cung của nghi lễ. Điều đó đã có rất nhiều trong thời Trung Cổ, nhưng chủ yếu là do ảnh hưởng của cung phụ thứ bảy của Cung Sáu, trong khi của chúng ta đúng hơn là do cung phụ thứ nhất của Cung Bảy; vì vậy nó sẽ không được xem chủ yếu từ quan điểm về tác động sùng tín của nó, mà đúng hơn từ quan điểm về tính hữu dụng của nó liên quan đến cuộc tiến hóa thiên thần vĩ đại. Nó sẽ có lợi nhất khi dân chúng lấy việc thấu hiểu, trong chừng mực có thể, những gì đang diễn ra làm công việc của mình.

In modern religion, ceremonial is year by year playing a more prominent part. In the middle of the last century in England the churches and cathedrals had but little life in them. The average country church was then scarcely different from a dissenting chapel; there were no vestments, no painted windows nor decorations of any kind, and everything was as dull and unornamental as could be. No attention was paid to making things beautiful and reverent and worthy of God and his service; thought was given to preaching more than to anything else, and even that was done mainly from a practical point of view. If we were to go into the same churches in England to-day, we should find hardly a parish in that condition. The old carelessness has been replaced by reverence; the churches have in many cases been beautifully decorated, and in many of them, and of the cathedrals, the ceremonies are performed with accuracy and reverence. The whole conception of church work has changed.

Trong tôn giáo hiện đại, nghi lễ năm này qua năm khác đang đóng một vai trò nổi bật hơn. Vào giữa thế kỷ trước ở Anh, các nhà thờ và thánh đường hầu như không có nhiều sinh khí. Nhà thờ trung bình ở thôn quê khi ấy hầu như chẳng khác gì một nhà nguyện của giáo phái ly khai; không có lễ phục, không có cửa sổ kính màu hay bất cứ loại trang trí nào, và mọi thứ đều buồn tẻ, thiếu trang hoàng hết mức có thể. Không ai chú ý đến việc làm cho mọi thứ đẹp đẽ, trang nghiêm và xứng đáng với Thượng đế cùng sự phụng sự Ngài; người ta chú trọng đến giảng thuyết hơn bất cứ điều gì khác, và ngay cả việc ấy cũng được thực hiện chủ yếu theo quan điểm thực dụng. Nếu ngày nay chúng ta bước vào chính những nhà thờ ấy ở Anh, chúng ta hầu như sẽ không tìm thấy một giáo xứ nào còn trong tình trạng đó. Sự cẩu thả cũ đã được thay thế bằng lòng tôn kính; trong nhiều trường hợp, các nhà thờ đã được trang hoàng đẹp đẽ, và trong nhiều nhà thờ cũng như thánh đường, các nghi lễ được cử hành với sự chính xác và lòng tôn kính. Toàn bộ quan niệm về công việc của giáo hội đã thay đổi.

The influence of the change of Ray is beginning to manifest in other ways as well. There is now rising a special form of Freemasonry, called Co-Masonry, which differs from other forms of the same Craft in that the necessity of our time is met by accepting women as well as men, for it is the tendency of our present age that women shall take their place beside men and be equal to them in every respect. Those who initiated the movement were not thinking about the influence of the Ray; nevertheless, it has been formed and directed by the ceremonial tendency of the age. I remember that for a long time in the reign of Queen Victoria there was but little ceremonial to be seen in the streets of London, but it was revived towards the end of her rule, and Edward VII restored it to its original splendour. Many people will now begin to feel the influence of the new Ray, and will desire to see and perhaps take part in ceremonial as they have not done before.

Ảnh hưởng của sự thay đổi Cung cũng bắt đầu biểu lộ theo những cách khác. Hiện nay đang xuất hiện một hình thức đặc biệt của Hội Tam Điểm, gọi là Đồng Tam Điểm, khác với các hình thức khác của cùng Hội Nghề ở chỗ nhu cầu của thời đại chúng ta được đáp ứng bằng việc chấp nhận phụ nữ cũng như nam giới, vì khuynh hướng của thời đại hiện nay là phụ nữ sẽ giữ vị trí của mình bên cạnh nam giới và bình đẳng với họ trong mọi phương diện. Những người khởi xướng phong trào này đã không nghĩ đến ảnh hưởng của Cung; tuy nhiên, nó đã được hình thành và hướng dẫn bởi khuynh hướng nghi lễ của thời đại. Tôi nhớ rằng trong một thời gian dài dưới triều đại Nữ hoàng Victoria, hầu như không có nghi lễ nào được thấy trên các đường phố London, nhưng nó đã được phục hồi vào cuối thời trị vì của bà, và Edward VII đã khôi phục nó về vẻ huy hoàng nguyên thủy. Nhiều người nay sẽ bắt đầu cảm nhận ảnh hưởng của Cung mới, và sẽ mong muốn thấy, và có lẽ tham gia vào, nghi lễ theo cách họ chưa từng làm trước đây.

part-iv-01.png

Figure 4 – The Logos

Hình 4 – Thượng đế

Chapter 13 — Chương 13

The Trinity And The Triangles — Ba Ngôi Và Các Tam Giác

The Divine Trinity

Ba Ngôi Thiêng Liêng

WE KNOW that the Logos of our solar system—and that is what most men mean when they speak of God—is a Trinity; he has, or rather is, Three Persons; he functions through Three Aspects. These are called by many different names in the different religions, but they are not always viewed in the same way; for this mighty scheme of a Trinity has so many Aspects that no one religion has ever succeeded in symbolizing the whole truth. In some faiths we have a Trinity of Father, Mother, Son, which is at least comprehensible to us when we think of methods of generation and interaction. Of this type we find Osiris, Isis and Horus in the Egyptian teaching, and in Scandinavian mythology Odin, Freya and Thor. The Assyrians and Phoenicians believed in a Trinity the Persons of which were Anu, Ea and Bel. The Druids called them Taulac, Fan and Mollac. In Northern Buddhism we hear of Amitabha, Avalokiteshvara and Manjushri. In the Kabala of the Jews the Three are Kether, Binah and Chokma, and in the Zoroastrian religion Ahuramazda, Asha and Vohumano, or sometimes Ahuramazda, Mithra and Ahriman. Everywhere the principle of the Trinity is acknowledged, though the manifestations are different.

CHÚNG TA BIẾT rằng Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta—và đó là điều hầu hết con người hàm ý khi họ nói về Thượng đế—là một Ba Ngôi; Ngài có, hay đúng hơn là, Ba Ngôi Vị; Ngài hoạt động qua Ba Phương diện. Các Phương diện này được gọi bằng nhiều tên khác nhau trong các tôn giáo khác nhau, nhưng không phải lúc nào cũng được nhìn nhận theo cùng một cách; vì hệ thống hùng mạnh của một Ba Ngôi này có quá nhiều Phương diện đến nỗi không một tôn giáo nào từng thành công trong việc biểu tượng hóa toàn bộ chân lý. Trong một số đức tin, chúng ta có một Ba Ngôi Cha, Mẹ, Con, điều này ít nhất có thể hiểu được đối với chúng ta khi nghĩ về các phương pháp sinh thành và tương tác. Thuộc loại này, chúng ta tìm thấy Osiris, Isis và Horus trong giáo lý Ai Cập, và trong thần thoại Scandinavia là Odin, Freya và Thor. Người Assyria và Phoenicia tin vào một Ba Ngôi mà các Ngôi Vị là Anu, Ea và Bel. Các Druid gọi Các Ngài là Taulac, Fan và Mollac. Trong Phật giáo phương Bắc, chúng ta nghe nói đến Amitabha, Avalokiteshvara và Manjushri. Trong Kabala của người Do Thái, Ba Ngôi là Kether, Binah và Chokma, và trong tôn giáo Zoroastrian là Ahuramazda, Asha và Vohumano, hoặc đôi khi Ahuramazda, Mithra và Ahriman. Ở khắp nơi nguyên lý Ba Ngôi được thừa nhận, dù các biểu lộ thì khác nhau.

In the great Hindu system there is the Trinity of Shiva, Vishnu and Brahma. The Mother element is not shown in this Trinity, but it is indirectly recognized in that each of these Three is said to have a Shakti or power, which is sometimes in the symbolism named his consort. This is evidently a manifestation of his power in matter, perhaps a somewhat lower manifestation than that of which we must think when we mention the Trinity Itself. In the Christian system we have the Trinity of Father, Son and Holy Ghost; and it is interesting in this connection to note that in some of the old books the Holy Ghost is definitely mentioned as being feminine. Apart from this, the instinctive need of man to recognize the Divine Motherhood has in Christianity found expression in the cult of the Blessed Virgin, who, though not a Person of the Holy Trinity, is nevertheless the Universal Mother, the Queen of the Angels, the Star of the Sea.

Trong hệ thống Ấn giáo vĩ đại có Ba Ngôi Shiva, Vishnu và Brahma. Yếu tố Mẹ không được biểu lộ trong Ba Ngôi này, nhưng được công nhận gián tiếp ở chỗ mỗi vị trong Ba Ngôi này được nói là có một Shakti hay quyền năng, đôi khi trong biểu tượng được gọi là phối ngẫu của Ngài. Đây hiển nhiên là một biểu lộ quyền năng của Ngài trong vật chất, có lẽ là một biểu lộ có phần thấp hơn điều mà chúng ta phải nghĩ đến khi nhắc đến chính Ba Ngôi. Trong hệ thống Kitô giáo, chúng ta có Ba Ngôi Cha, Con và Chúa Thánh Thần; và trong mối liên hệ này thật thú vị khi lưu ý rằng trong một số sách cổ, Chúa Thánh Thần được nêu rõ là mang tính nữ. Ngoài điều này, nhu cầu bản năng của con người nhằm công nhận Tình Mẫu Tử Thiêng Liêng đã tìm được biểu hiện trong Kitô giáo qua sự sùng kính Đức Trinh Nữ Chân Phúc, người tuy không phải là một Ngôi Vị của Ba Ngôi Thánh, nhưng vẫn là Mẹ Phổ Quát, Nữ Hoàng của các Thiên Thần, Ngôi Sao Biển.

Students should understand that a great department of Motherhood exists, and has an important place in the Inner Government of the world. Just as the Manu is the head of a great department which looks after the physical development of races and sub-races, just as the Bodhisattva is the head of another which attends to religion and education, so is the great Official who is called the Jagat-Amba or World-Mother the head of a department of Motherhood. Just as the Lord Vaivasvata is at present filling the office of the Manu, and the Lord Maitreya that of the World-Teacher, so is the great Angel who was once the mother of the body of Jesus filling the post of World-Mother.

Các đạo sinh nên thấu hiểu rằng có một bộ phận lớn về Tình Mẫu Tử hiện hữu, và có một vị trí quan trọng trong Chính Quyền Nội Tại của thế giới. Cũng như Đức Manu là người đứng đầu một bộ phận lớn chăm lo sự phát triển hồng trần của các giống dân và giống dân phụ, cũng như Đức Bồ Tát là người đứng đầu một bộ phận khác chăm lo tôn giáo và giáo dục, thì vị Đại Quan Chức được gọi là Jagat-Amba hay Mẹ Thế Giới cũng là người đứng đầu một bộ phận về Tình Mẫu Tử. Cũng như Đức Chúa Vaivasvata hiện đang đảm nhiệm chức vụ Manu, và Đức Chúa Maitreya chức vụ Đức Chưởng Giáo, thì vị Thiên Thần vĩ đại từng là mẹ của thể xác của Jesus đang giữ chức vụ Mẹ Thế Giới.

It is the work of this department to look especially after the mothers of the world. From the occult standpoint the greatest glory of woman is not to become a leader in society, nor is it to take a high university degree and live in a flat in scornful isolation, but to provide vehicles for the egos that are to come into incarnation. And that is regarded not as something to hide and to put away, something of which one should be half-ashamed; it is the greatest glory of the feminine incarnation, the grand opportunity which women have and men have not. Men have other opportunities, but that really wonderful privilege of motherhood is not theirs. It is the women who do this great work for the helping of the world, for the continuance of the race; and they do it at a cost of suffering of which we who are men can have no idea.

Công việc của bộ phận này là đặc biệt chăm lo cho những người mẹ của thế giới. Từ quan điểm huyền bí học, vinh quang lớn nhất của người phụ nữ không phải là trở thành một người lãnh đạo trong xã hội, cũng không phải là lấy một học vị đại học cao và sống trong một căn hộ với sự cô lập khinh bạc, mà là cung cấp các vận cụ cho các chân ngã sắp đi vào lâm phàm. Và điều đó không được xem như một điều gì phải che giấu và cất đi, một điều mà người ta nên nửa hổ thẹn; đó là vinh quang lớn nhất của lần lâm phàm nữ giới, cơ hội lớn lao mà phụ nữ có và nam giới không có. Nam giới có những cơ hội khác, nhưng đặc ân mẫu tử thật sự kỳ diệu ấy không thuộc về họ. Chính phụ nữ là những người thực hiện công việc vĩ đại này để giúp đỡ thế giới, để tiếp tục nhân loại; và họ làm điều ấy với cái giá đau khổ mà chúng ta, những người nam, không thể có ý niệm nào.

Because this is so—because of the great work done and the terrible suffering which it entails—there is this special department of the government of the world, and the duty of its officials is to look after every woman in the time of her suffering, and give her such help and strength as her karma allows. As we have said, the World-Mother has at her command vast hosts of angelic beings, and at the birth of every child one of these is always present as her representative. To every celebration of the Holy Eucharist comes an Angel of the Presence, who is in effect a thought-form of the Christ himself—the form through which he endorses and ratifies the Priest’s act of consecration; and so it is absolutely true that, though the Christ is one and indivisible, he is nevertheless simultaneously present upon many thousands of altars. In something the same way, though of course at a far lower level, the World-Mother herself is present in and through her representative at the bedside of every suffering mother. Many women have seen her under such conditions, and many who have not been privileged to see have yet felt the help and the strength which she outpours.

Bởi vì điều này là như vậy—bởi công việc vĩ đại được thực hiện và nỗi đau khủng khiếp mà nó kéo theo—nên có bộ phận đặc biệt này trong chính quyền của thế giới, và bổn phận của các viên chức trong đó là chăm lo cho mọi phụ nữ trong thời gian đau khổ của bà, và ban cho bà sự trợ giúp cùng sức mạnh mà nghiệp quả của bà cho phép. Như chúng ta đã nói, Mẹ Thế Giới có dưới quyền mình những đạo quân đông đảo các hữu thể thiên thần, và trong lúc sinh ra mỗi đứa trẻ, luôn có một vị trong số này hiện diện như đại diện của bà. Đến mỗi buổi cử hành Thánh Thể có một Thiên Thần của Hiện Diện, thực chất là một hình tư tưởng của chính Đức Christ—hình tướng qua đó Ngài chuẩn y và xác nhận hành vi thánh hiến của Linh mục; và vì thế hoàn toàn đúng rằng, dù Đức Christ là một và bất khả phân, Ngài tuy vậy đồng thời hiện diện trên nhiều nghìn bàn thờ. Theo một cách phần nào tương tự, dù dĩ nhiên ở một cấp độ thấp hơn nhiều, chính Mẹ Thế Giới hiện diện trong và qua đại diện của bà bên giường của mọi người mẹ đang đau khổ. Nhiều phụ nữ đã thấy bà trong những điều kiện như thế, và nhiều người không có đặc ân thấy bà tuy vậy vẫn cảm nhận sự trợ giúp và sức mạnh mà bà tuôn đổ.

It is the earnest desire of the World-Mother that every woman in her time of trial should have the best possible surroundings—that she should be enfolded in deep and true affection, that she should be filled with the holiest and noblest thoughts, so that none but the highest influences may be brought to bear upon the child who is to be born, so that he may have a really favourable start in life. Nothing but the purest and best magnetism should await him, and it is imperatively necessary that the most scrupulous physical cleanliness should be observed in all particulars. Only by the strictest attention to the rules of hygiene can such favourable conditions be obtained as will permit of the birth of a noble and healthy body, fit for the habitation of an exalted ego.

Ước muốn tha thiết của Mẹ Thế Giới là mỗi phụ nữ trong thời kỳ thử thách của mình nên có môi trường tốt nhất có thể—rằng bà được bao bọc trong tình cảm sâu xa và chân thật, rằng bà được lấp đầy bằng những tư tưởng thánh thiện và cao quý nhất, để không gì ngoài những ảnh hưởng cao nhất có thể tác động đến đứa trẻ sắp được sinh ra, hầu y có thể có một khởi đầu thật sự thuận lợi trong đời. Không gì ngoài từ điện thuần khiết nhất và tốt đẹp nhất nên chờ đợi y, và điều cấp thiết là sự sạch sẽ hồng trần tỉ mỉ nhất phải được tuân thủ trong mọi chi tiết. Chỉ bằng sự chú ý nghiêm ngặt nhất đến các quy luật vệ sinh mới có thể đạt được những điều kiện thuận lợi như thế, cho phép sự ra đời của một thể cao quý và khỏe mạnh, thích hợp cho sự cư ngụ của một chân ngã cao cả.

This matter of providing a suitable incarnation for highly developed egos is one which causes considerable anxiety to the World-Mother and to her attendant angels. Many thousands of advanced souls are ready for incarnation and anxious to take it, in order that they may help in the work of the World-Teacher; but the difficulty of finding appropriate bodies is very great. In consequence of foolish and wasteful ostentation an evil tradition is growing up in the Western world that men and women cannot afford to marry, and that large families are too expensive to be practically possible. Not understanding the wonderful opportunity which their sex gives them, women desire to be free from the restraints of marriage in order that they may ape the lives and the actions of men, instead of taking advantage of their peculiar privileges. Such a line of thought and action is obviously disastrous to the future of the race, for it means that many of the better-class parents take no part in its perpetuation, but leave it entirely in the hands of the more undesirable and undeveloped egos.

Vấn đề cung cấp một lần lâm phàm thích hợp cho các chân ngã phát triển cao là điều gây nhiều lo âu cho Mẹ Thế Giới và các thiên thần tùy tùng của bà. Nhiều nghìn linh hồn tiến hóa đã sẵn sàng cho lâm phàm và nóng lòng nhận lấy nó, để họ có thể giúp đỡ trong công việc của Đức Chưởng Giáo; nhưng khó khăn trong việc tìm các thể thích hợp là rất lớn. Do sự phô trương ngu xuẩn và lãng phí, một truyền thống xấu đang lớn lên trong thế giới phương Tây rằng những người nam và nữ không đủ khả năng kết hôn, và rằng gia đình đông con quá tốn kém để có thể khả thi trên thực tế. Không thấu hiểu cơ hội kỳ diệu mà giới tính của họ ban cho họ, phụ nữ mong muốn được tự do khỏi các ràng buộc của hôn nhân để có thể bắt chước đời sống và hành động của nam giới, thay vì tận dụng những đặc quyền riêng của mình. Một đường lối tư tưởng và hành động như thế hiển nhiên tai hại cho tương lai của nhân loại, vì nó có nghĩa là nhiều bậc cha mẹ thuộc tầng lớp tốt hơn không tham gia vào sự tiếp nối của nhân loại, mà để việc ấy hoàn toàn trong tay các chân ngã kém mong muốn và chưa phát triển hơn.

In India the conditions are different, for every one marries as a matter of course; but even in the higher castes there is often a lamentable lack of supervision, and the conditions provided are very unfavourable for the production of sound and healthy bodies. This is a very serious matter, earnestly to be commended to the consideration of all students of occultism, who should assuredly do everything in their power to bring about a more satisfactory state of affairs.

Ở Ấn Độ, các điều kiện khác, vì mọi người kết hôn như một việc đương nhiên; nhưng ngay cả trong các đẳng cấp cao hơn, thường vẫn có sự thiếu giám sát đáng tiếc, và những điều kiện được cung cấp rất bất lợi cho việc tạo ra các thể lành mạnh và khỏe mạnh. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng, cần được thành khẩn khuyến nghị để tất cả đạo sinh huyền bí học suy xét, những người chắc chắn nên làm mọi điều trong quyền năng của mình để đem lại một tình trạng sự việc thỏa đáng hơn.

It would indeed be well that women in all countries should band themselves together in an endeavour to spread abroad among their sisters accurate information on this most important subject; every women should fully realize the magnificent opportunities which the feminine incarnation gives her; every woman should be taught the absolute necessity for proper conditions before, during and after her pregnancy. Not only the most perfect cleanliness and the most careful attention should surround the baby body, but also it should be encompassed by perfect astral and mental conditions, by love and trust, by happiness and holiness. In this way the work of the World-Mother would be immensely facilitated and the future of the race would be assured.

Quả thật sẽ là điều tốt nếu phụ nữ ở mọi quốc gia liên kết với nhau trong một nỗ lực phổ biến rộng rãi giữa các chị em của họ những thông tin chính xác về chủ đề tối quan trọng này; mỗi phụ nữ nên nhận ra trọn vẹn các cơ hội huy hoàng mà lần lâm phàm nữ giới ban cho mình; mỗi phụ nữ nên được dạy về sự cần thiết tuyệt đối của các điều kiện thích hợp trước, trong và sau thời kỳ mang thai của mình. Không chỉ sự sạch sẽ hoàn hảo nhất và sự chăm sóc cẩn thận nhất nên bao quanh thể hài nhi, mà nó cũng nên được bao bọc bởi các điều kiện cảm dục và trí tuệ hoàn hảo, bởi tình thương và niềm tin, bởi hạnh phúc và sự thánh thiện. Bằng cách này, công việc của Mẹ Thế Giới sẽ được tạo thuận lợi vô cùng, và tương lai của nhân loại sẽ được bảo đảm.

It has often been asked whether there are any Adepts living in feminine bodies. The existence of the World-Mother is an answer to that question. Because of her wonderful quality of intense purity and because of her development in other ways, she was chosen to be the mother of the body of the disciple Jesus long ago in Palestine; and because of the wonderful patience and nobility of soul with which she bore all the terrible suffering which came to her as the consequence of that position, she attained in that same life the level of Adeptship. Having reached that, and finding the seven paths open before her, she chose to enter the glorious Deva evolution and was received into it with great honour and distinction.

Người ta thường hỏi liệu có Chân sư nào đang sống trong các thể nữ giới hay không. Sự hiện hữu của Mẹ Thế Giới là câu trả lời cho câu hỏi ấy. Vì phẩm tính kỳ diệu của sự thanh khiết mãnh liệt nơi bà, và vì sự phát triển của bà theo những cách khác, bà đã được chọn làm mẹ của thể xác của đệ tử Jesus từ lâu ở Palestine; và vì sự kiên nhẫn kỳ diệu cùng sự cao quý của linh hồn mà với đó bà đã chịu đựng mọi đau khổ khủng khiếp đến với bà như hệ quả của vị trí ấy, bà đã đạt trong chính đời ấy cấp độ Chân sư. Khi đã đạt đến điều đó, và thấy bảy con đường mở ra trước bà, bà chọn bước vào cuộc tiến hóa thiên thần huy hoàng và được tiếp nhận vào đó với vinh dự và sự tôn quý lớn lao.

That is the truth which lies behind the Roman Catholic doctrine of her Assumption; not that she was carried up into heaven among the Angels in her physical body, but that when she left that body she took her place among the Angels, and being presently appointed to the office of World-Mother she became very truly a queen among them, as the Church so poetically says. A great Deva needs no physical body; but while she holds her present office she will always appear to us in feminine form, as will those Adepts who have chosen to help her in her work.

Đó là chân lý nằm sau giáo lý Công giáo La Mã về sự Thăng Thiên của bà; không phải là bà được đưa lên thiên đường giữa các Thiên Thần trong thể xác của mình, mà là khi bà rời bỏ thể ấy, bà đã nhận vị trí của mình giữa các Thiên Thần, và khi hiện nay được bổ nhiệm vào chức vụ Mẹ Thế Giới, bà trở thành thật sự một nữ hoàng giữa họ, như Giáo hội đã nói một cách đầy thi vị. Một Đại Thiên Thần không cần thể xác; nhưng trong khi bà giữ chức vụ hiện tại, bà sẽ luôn hiện ra với chúng ta trong hình tướng nữ giới, cũng như những Chân sư đã chọn giúp bà trong công việc của bà.

All through the centuries thousands upon thousands both of men and of women have poured heartfelt devotion at her feet, and it is very certain that no jot or tittle of that devotion has been misdirected or wasted; for she, whose love for mankind has evoked it, has always used its force to the uttermost in the onerous task which she has undertaken. However little men have known it, they have poured such a splendid wealth of love at her feet not because she was once the mother of Jesus, but because she is now the Mother of all living.

Qua suốt nhiều thế kỷ, hàng nghìn hàng vạn người nam cũng như nữ đã dâng trọn lòng sùng tín chân thành dưới chân bà, và chắc chắn rằng không một mảy may nào của lòng sùng tín ấy đã bị hướng sai hay lãng phí; vì bà, người mà tình thương dành cho nhân loại đã gợi lên lòng sùng tín ấy, luôn sử dụng mãnh lực của nó đến mức tối đa trong nhiệm vụ nặng nề mà bà đã đảm nhận. Dù con người biết điều đó ít đến đâu, họ đã tuôn đổ một kho tàng tình thương huy hoàng như thế dưới chân bà, không phải vì bà từng là mẹ của Jesus, mà vì nay bà là Mẹ của tất cả những gì sống động.

We must not think of this knowledge about the World-Mother as exclusively the possession of Christianity; she is clearly recognized in India as the Jagat-Amba, and in China as Kwan-Yin, the Mother of Mercy and Knowledge. She is essentially the representative, the very type and essence of love, devotion and purity; the heavenly wisdom indeed, but most of all Consolatrix Afflictorum, the Consoler, Comforter, Helper of all who are in trouble, sorrow, need, sickness or any other adversity.

Chúng ta không được nghĩ rằng tri thức này về Mẹ Thế Giới là sở hữu riêng của Kitô giáo; bà được công nhận rõ ràng ở Ấn Độ là Jagat-Amba, và ở Trung Quốc là Kwan-Yin, Mẹ của Lòng Từ Bi và Tri Thức. Về bản chất, bà là đại diện, là chính kiểu mẫu và tinh túy của tình thương, sùng tín và thanh khiết; quả thật là minh triết thiên thượng, nhưng trên hết là Consolatrix Afflictorum, Đấng An Ủi, Đấng Xoa Dịu, Đấng Trợ Giúp tất cả những ai đang gặp khổ đau, sầu muộn, thiếu thốn, bệnh tật hay bất cứ nghịch cảnh nào khác.

The Shakti or feminine element in each Person of the Blessed Trinity is also recognized in certain quarters in the well-known emblem of the Triple Tau, as shown in diagram 7.

Shakti hay yếu tố nữ tính trong mỗi Ngôi Vị của Ba Ngôi Chân Phúc cũng được công nhận ở một số nơi qua biểu tượng nổi tiếng của Triple Tau, như được trình bày trong sơ đồ 7.

There is also a similar Trinity in the case of higher and greater Logoi; and far behind and beyond all that we can know or imagine there is the Absolute, of which the presentation is also a Trinity. At the other end of the scale we find a Trinity in man, his Spirit, his Intuition and his Intelligence; which represent the threefold qualities of will, wisdom and activity. This Trinity in man is an image of that other and greater Trinity; yet it is also much more than an image. It is not only symbolical of the Three Persons of the Logos, but in some way impossible to understand in physical consciousness, it is also an actual expression and manifestation of those Three Persons at this lower level.

Cũng có một Ba Ngôi tương tự trong trường hợp các Thượng đế cao hơn và vĩ đại hơn; và xa phía sau cũng như vượt ngoài mọi điều chúng ta có thể biết hay tưởng tượng, có Tuyệt Đối, mà sự trình hiện của nó cũng là một Ba Ngôi. Ở đầu kia của thang bậc, chúng ta thấy một Ba Ngôi trong con người: Tinh Thần, Trực Giác và Trí Thông Minh của y; những điều này biểu thị các phẩm tính tam phân của ý chí, minh triết và hoạt động. Ba Ngôi này trong con người là một hình ảnh của Ba Ngôi kia, vĩ đại hơn; tuy vậy nó cũng còn hơn một hình ảnh rất nhiều. Nó không chỉ là biểu tượng của Ba Ngôi Vị của Thượng đế, mà theo một cách nào đó bất khả thấu hiểu trong tâm thức hồng trần, nó cũng là một biểu hiện và biểu lộ thực sự của Ba Ngôi Vị ấy ở cấp độ thấp hơn này.

part-iv-02.png

Figure 5 – Diagram 7

Hình 5 – Sơ đồ 7

The Triangle of Agents

Tam Giác của các Tác Nhân

As the Logos is a Trinity, so the Occult Government of the world is in three great departments, ruled by three mighty Officials, who are not merely reflections of the Three Aspects of the Logos, but are in a very real way actual manifestations of them. They are the Lord of the World, the Lord Buddha and the Mahachohan, who have reached grades of Initiation which give them waking consciousness on the planes of nature beyond the field of evolution of humanity, where dwells the manifested Logos.* The Lord of the World is one with the First Aspect on the highest of our seven planes, and wields the divine Will on earth; the Buddha is united with the Second Aspect which dwells on the Anupadaka plane, and sends the divine Wisdom down to mankind; the Mahachohan is utterly one with the Third Aspect, which resides in the Nirvanic plane and exercises the divine Activity—representing the Holy Ghost. He is verily the Arm of the Lord stretched out into the world to do his work. The following table will make this clear.

As the Logos is a Trinity, so the Occult Government of the world is in three great departments, ruled by three mighty Officials, who are not merely reflections of the Three Aspects of the Logos, but are in a very real way actual manifestations of them. They are the Lord of the World, the Lord Buddha and the Mahachohan, who have reached grades of Initiation which give them waking consciousness on the planes of nature beyond the field of evolution of humanity, where dwells the manifested Logos.* The Lord of the World is one with the First Aspect on the highest of our seven planes, and wields the divine Will on earth; the Buddha is united with the Second Aspect which dwells on the Anupadaka plane, and sends the divine Wisdom down to mankind; the Mahachohan is utterly one with the Third Aspect, which resides in the Nirvanic plane and exercises the divine Activity—representing the Holy Ghost. He is verily the Arm of the Lord stretched out into the world to do his work. The following table will make this clear.

LOGOS

DIVINE POWERS

PLANES OF NATURE

TRIANGLE OF AGENTS

RAY

1 Aspect

Will

Adi or Originating

The Lord of the World

1

2 Aspect

Wisdom

Anupadaka or Monadic

The Lord Buddha

2

3 Aspect

Activity

Atmic or Spiritual

The Mahachohan

3-7

DIAGRAM 8

BIỂU ĐỒ 8

part-iv-03.png

Figure 6 – Diagram 9

Hình 6 – Biểu đồ 9

The first and second members of this great Triangle are different from the third, being engaged in work of a character that does not descend to the physical plane, but only to the level of the buddhic body in the case of the Lord Buddha, and the atmic plane in that of the great Agent of the First Aspect. Yet without their higher work none of that at lower levels would be possible, so they provide for the transmission of their influence even to the lowest plane through their representatives, the Manu Vaivasvata and the Lord Maitreya respectively.

Vị thứ nhất và vị thứ hai của Tam giác vĩ đại này khác với vị thứ ba, vì Các Ngài đảm nhận công việc có tính chất không giáng xuống đến cõi hồng trần, mà chỉ đến cấp độ của thể Bồ đề trong trường hợp Đức Phật, và đến cõi atma trong trường hợp Đấng Đại Diện vĩ đại của Phương diện thứ Nhất. Tuy nhiên, nếu không có công việc cao siêu của Các Ngài, không một công việc nào ở các cấp độ thấp hơn có thể thực hiện được; vì vậy Các Ngài lo liệu việc truyền dẫn ảnh hưởng của mình xuống tận cõi thấp nhất qua các vị đại diện của Các Ngài, lần lượt là Đức Manu Vaivasvata và Đức Maitreya.

These two great Adepts stand parallel with the Mahachohan on their respective Rays, both having taken the Initiation that bears that name; and thus another Triangle is formed, to administer the powers of the Logos down to the physical plane. We may express the two Triangles in one diagram (No. 9).

Hai Chân sư vĩ đại này đứng song song với Đức Mahachohan trên các Cung tương ứng của Các Ngài, cả hai đều đã nhận cuộc Điểm đạo mang danh hiệu ấy; và như thế một Tam giác khác được hình thành, để quản trị các quyền năng của Thượng đế xuống đến cõi hồng trần. Chúng ta có thể biểu thị hai Tam giác trong một biểu đồ duy nhất (số 9).

Diagram 9

Biểu đồ 9

For the entire period of a root race the Manu works out the details of its evolution, and the Bodhisattva, as World-Teacher, Minister of Education and Religion, helps its members to develop whatever of spirituality is possible for them at that stage, while the Mahachohan directs the minds of men so that the different forms of culture and civilization shall be unfolded according to the cyclic plan. Head and Heart are these, and the Hand with five Fingers, all active in the world, moulding the race into one organic being, a Heavenly Man.

Trong suốt toàn bộ thời kỳ của một giống dân gốc, Đức Manu thực hiện các chi tiết của sự tiến hoá của giống dân ấy, và Đức Bồ Tát, với tư cách là Đức Chưởng Giáo, Bộ trưởng Giáo dục và Tôn giáo, giúp các thành viên của giống dân ấy phát triển bất cứ mức độ tinh thần nào khả hữu đối với họ ở giai đoạn đó, trong khi Đức Mahachohan hướng dẫn trí tuệ của con người để các hình thức khác nhau của văn hoá và văn minh được khai mở theo Thiên Cơ tuần hoàn. Đây là Đầu và Tim, cùng với Bàn Tay có năm Ngón, tất cả đều hoạt động trong thế giới, uốn nắn nhân loại thành một hữu thể hữu cơ duy nhất, một Đấng Thiên Nhân.

This last term is no mere simile, but describes a literal fact, for at the close of each root race effort those who have attained Adeptship within it form a mighty organism which is in a very real sense one, a Heavenly Man, in whom, as in an earthly man, are seven great centres, each of which is a mighty Adept. The Manu and the Bodhisattva will occupy in this great Being the place of the brain and heart centres, and in them and as part of them, gloriously one with them, shall we their servants be; and the splendid totality will go on in its further evolution to become a Minister of some future Solar Deity. Yet so transcending all comprehension is the wonder of it all that this union with others does not mar the freedom of any Adept in the Heavenly Man, nor preclude his acting quite outside its scope.

Thuật ngữ sau cùng này không chỉ là một phép ví von, mà mô tả một sự kiện theo nghĩa đen; vì vào lúc kết thúc nỗ lực của mỗi giống dân gốc, những vị đã đạt đến Chân sư đoàn trong giống dân ấy hợp thành một cơ cấu hùng mạnh, trong một ý nghĩa rất thật là một, một Đấng Thiên Nhân, trong Ngài, cũng như trong con người trần thế, có bảy trung tâm vĩ đại, mỗi trung tâm là một Chân sư hùng mạnh. Đức Manu và Đức Bồ Tát sẽ chiếm giữ trong Hữu Thể vĩ đại này vị trí của các trung tâm bộ não và tim, và trong Các Ngài, như một phần của Các Ngài, hiển vinh hợp nhất với Các Ngài, chúng ta, các người phụng sự của Các Ngài, cũng sẽ hiện hữu; và tổng thể huy hoàng ấy sẽ tiếp tục trong sự tiến hoá xa hơn của mình để trở thành một Vị Bộ trưởng của một Thái dương Thượng đế tương lai nào đó. Tuy nhiên, điều kỳ diệu ấy vượt quá mọi sự thấu hiểu đến nỗi sự hợp nhất này với những vị khác không làm tổn hại tự do của bất cứ Chân sư nào trong Đấng Thiên Nhân, cũng không ngăn Ngài hành động hoàn toàn ngoài phạm vi của Đấng ấy.

Until recently it was not the rule that the office of Mahachohan should be occupied by a permanent Adept of that grade. It was usual that each of the five Chohans, in rotation, should be appointed to leadership over all five Rays, though before occupying that position he was required to take the Mahachohan Initiation. At present, however, we find a Chohan in charge of each of the five Rays, and also a Mahachohan separate from all of them—a departure from what we understand to be the ordinary method which may be due principally to the near Coming of the World-Teacher.

Cho đến gần đây, việc chức vụ Mahachohan do một Chân sư thường trực thuộc cấp độ ấy đảm nhiệm không phải là quy luật. Thông thường, mỗi một trong năm Chohan, theo luân phiên, được bổ nhiệm lãnh đạo toàn thể năm Cung, mặc dù trước khi giữ vị trí ấy, vị ấy phải nhận cuộc Điểm đạo Mahachohan. Tuy nhiên hiện nay, chúng ta thấy có một Chohan phụ trách mỗi một trong năm Cung, và đồng thời có một Đức Mahachohan tách biệt với tất cả các vị ấy—một sự khác với điều chúng ta hiểu là phương pháp thông thường, có thể chủ yếu do sự Đang Đến gần kề của Đức Chưởng Giáo.

Limits of the Rays

Giới hạn của các Cung

On these five Rays, Three to Seven, the highest Initiation that can be taken on our globe is that of the Mahachohan, but it is possible to go further on the First and Second Rays, as is indicated in the following table of Initiations, in which it will be seen that the Buddha Initiation is possible on the Second and First Rays, and that the Adept may go still further on the First.

Trên năm Cung này, từ Cung ba đến Cung bảy, cuộc Điểm đạo cao nhất có thể được nhận trên bầu hành tinh của chúng ta là cuộc Điểm đạo Mahachohan, nhưng có thể tiến xa hơn trên Cung một và Cung hai, như được chỉ rõ trong bảng Điểm đạo sau đây, trong đó sẽ thấy rằng cuộc Điểm đạo Phật có thể thực hiện trên Cung hai và Cung một, và rằng Chân sư có thể còn tiến xa hơn nữa trên Cung một.

INITIATIONS POSSIBLE ON THE RAYS

FIRST RAY

SECOND RAY

RAYS THREE TO SEVEN

Initiation 9

LORD OF THE WORLD

Initiation 8

THE PRATYEKA BUDDHA

THE BUDDHA

Initiation 7

THE MANU

THE BODHISATTVA

THE MAHACHOHAN

Initiations 1 to 6

 Diagram 10

Biểu đồ 10

Lest it should seem as though in this fact there lay something in the nature of an injustice, it must be made clear that Nirvana is attainable as soon on one Ray as on another: any man on reaching the Asekha level is at once free to enter this condition of bliss for a period that to us would seem eternity; but he enters its first stage only, which, exalted infinitely beyond our comprehension as it is, is yet far below the higher stages available to the Chohan and Mahachohan respectively, while even these, in turn, pale before the glory of those divisions of the Nirvanic state which those Adepts reach who make the tremendous effort necessary to take during earth-life the still higher Initiations of the First and Second Ray. Further progress is also possible on the five Rays to those who take up other lines of work outside our Hierarchy.

Để tránh có vẻ như trong sự kiện này hàm chứa điều gì thuộc bản chất của một sự bất công, cần phải nói rõ rằng Niết Bàn có thể đạt được trên Cung này cũng sớm như trên Cung khác: bất cứ người nào, khi đạt đến cấp độ Asekha, đều lập tức tự do bước vào trạng thái chí phúc này trong một thời kỳ mà đối với chúng ta dường như là vĩnh cửu; nhưng y chỉ bước vào giai đoạn đầu của nó, giai đoạn ấy, dù cao cả vô hạn vượt ngoài sự thấu hiểu của chúng ta, vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với những giai đoạn cao hơn dành cho Chohan và Mahachohan tương ứng, trong khi ngay cả những giai đoạn này, đến lượt chúng, cũng lu mờ trước vinh quang của những phân khu thuộc trạng thái Niết Bàn mà các Chân sư đạt tới, những vị thực hiện nỗ lực phi thường cần thiết để, trong đời sống trên trái đất, nhận những cuộc Điểm đạo còn cao hơn của Cung một và Cung hai. Sự tiến bộ xa hơn cũng có thể có trên năm Cung đối với những vị đảm nhận các đường lối công việc khác bên ngoài Thánh Đoàn của chúng ta.

Change of Ray

Sự thay đổi Cung

The possibility of changing one’s Ray by the firm determination to do so leaves all paths alike open to the occult student. It is known that both the Masters with whom The Theosophical Society has been most closely connected have chosen to make this effort, and those of us who wish to retain our affiliation to them as individuals are therefore, consciously or unconsciously, in course of making it also. The method by which the transfer is effected is simple enough in theory, though often very difficult to carry out in practice. If a student on the Sixth or devotional Ray wishes to transfer himself to the Second Ray, that of wisdom, he must first endeavour to bring himself under the influence of the second sub-division of his own Sixth Ray. Then he will try steadily to intensify the influence of that sub-ray in his life, until finally it becomes dominant. Thus instead of being on the second sub-division of the Sixth Ray he will find himself on the sixth sub-division of the Second Ray; in a word, he has tempered his devotion by increasing knowledge till it has become devotion to the Divine Wisdom. From that he can if he wishes, by sufficiently strenuous and long-continued effort, further transfer himself to some other sub-division of the Second Ray.

Khả năng thay đổi Cung của một người bằng quyết tâm vững chắc muốn làm như vậy khiến mọi con đường đều mở ra như nhau trước đạo sinh huyền bí học. Người ta biết rằng cả hai Chân sư mà Hội Thông Thiên Học đã có liên hệ mật thiết nhất đều đã chọn thực hiện nỗ lực này, và những ai trong chúng ta muốn duy trì sự liên kết của mình với Các Ngài với tư cách cá nhân, vì thế, dù có ý thức hay vô thức, cũng đang trong tiến trình thực hiện điều ấy. Phương pháp nhờ đó sự chuyển dịch được thực hiện thì đủ đơn giản trên lý thuyết, mặc dù trong thực hành thường rất khó thực hiện. Nếu một đạo sinh trên Cung sáu hay Cung sùng tín muốn tự chuyển sang Cung hai, tức Cung của minh triết, trước hết y phải cố gắng đặt mình dưới ảnh hưởng của phân bộ thứ hai thuộc chính Cung sáu của y. Rồi y sẽ đều đặn cố gắng tăng cường ảnh hưởng của cung phụ ấy trong đời sống của mình, cho đến cuối cùng nó trở nên chi phối. Như vậy, thay vì ở trên phân bộ thứ hai của Cung sáu, y sẽ thấy mình ở trên phân bộ thứ sáu của Cung hai; nói gọn, y đã làm dịu sự sùng tín của mình bằng tri thức gia tăng cho đến khi nó trở thành sự sùng tín đối với Minh Triết Thiêng Liêng. Từ đó, nếu muốn, bằng nỗ lực đủ mạnh mẽ và kéo dài, y có thể tiếp tục chuyển mình sang một phân bộ khác nào đó của Cung hai.

Evidently here we have a departure from the ordinary rules of procedure, for a Monad who came forth through one Planetary Spirit will return through another. Such changes are comparatively rare, and tend to balance one another satisfactorily at the end. The transfers are usually to the First and Second Rays, and there are relatively few persons on those two at the lower levels of evolution.

Hiển nhiên ở đây chúng ta có một sự khác với các quy luật thông thường của thủ tục, vì một chân thần vốn đi ra qua một Chân Linh Hành Tinh sẽ trở về qua một Chân Linh Hành Tinh khác. Những thay đổi như thế tương đối hiếm, và có khuynh hướng tự cân bằng nhau một cách thoả đáng vào cuối cùng. Các sự chuyển dịch thường là sang Cung một và Cung hai, và ở các cấp độ tiến hoá thấp hơn có tương đối ít người trên hai Cung ấy.

Perfect Unity

Sự Hợp Nhất Hoàn Hảo

The marvellous unity of the members of these Triangles with the Logos may be well illustrated by the case of the Bodhisattva. We have seen that the union of pupil with Master is closer than any tie imaginable on earth; closer still, because at a higher level, was that between the Master Kuthumi and his Teacher the Master Dhruva, who was in his turn a pupil of the Lord Maitreya, during the time when the latter took pupils. Thereby the Master Kuthumi became also one with the Lord Maitreya, and as at their level unity is still more perfect, the Master Kuthumi is one with the Bodhisattva in a very wonderful way.

Sự hợp nhất kỳ diệu của các thành viên trong những Tam giác này với Thượng đế có thể được minh hoạ rõ qua trường hợp Đức Bồ Tát. Chúng ta đã thấy rằng sự hợp nhất của học trò với Chân sư gần gũi hơn bất cứ mối dây nào có thể tưởng tượng được trên trái đất; còn gần gũi hơn nữa, vì ở một cấp độ cao hơn, là mối quan hệ giữa Chân sư Kuthumi và Huấn sư của Ngài là Chân sư Dhruva, vị này đến lượt mình là học trò của Đức Maitreya, trong thời kỳ khi vị sau nhận học trò. Nhờ đó Chân sư Kuthumi cũng trở nên một với Đức Maitreya, và vì ở cấp độ của Các Ngài sự hợp nhất còn hoàn hảo hơn, Chân sư Kuthumi là một với Đức Bồ Tát theo một cách hết sức kỳ diệu.

The Adepts seem so far above us that we can hardly distinguish any difference in glory between the lower and the higher levels. They all look like stars above us, and yet they speak of themselves as dust under the feet of the Lord Maitreya. There must be an enormous difference there, even though we cannot see it. We look up to these stupendous heights and all appears a blinding glory, in which we cannot presume to distinguish one as greater than another, except that we can see by the size of the aura that there are differences. But at least we can comprehend that the unity of the Master Kuthumi with the Lord Maitreya must be a far greater and more real union than anything imaginable at lower levels.

Các Chân sư dường như ở quá xa bên trên chúng ta đến nỗi chúng ta hầu như không thể phân biệt bất cứ khác biệt nào về vinh quang giữa các cấp độ thấp hơn và cao hơn. Tất cả Các Ngài trông như những vì sao bên trên chúng ta, vậy mà Các Ngài lại nói về chính mình như bụi dưới chân Đức Maitreya. Hẳn phải có một sự khác biệt khổng lồ ở đó, dù chúng ta không thể thấy được. Chúng ta ngước nhìn lên những độ cao kỳ vĩ này và tất cả hiện ra như một vinh quang chói loà, trong đó chúng ta không dám tự cho mình có thể phân biệt vị này lớn hơn vị kia, ngoại trừ việc chúng ta có thể thấy qua kích thước của hào quang rằng có những khác biệt. Nhưng ít nhất chúng ta có thể hiểu rằng sự hợp nhất của Chân sư Kuthumi với Đức Maitreya hẳn phải là một sự hợp nhất lớn lao và thực hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì có thể tưởng tượng được ở các cấp độ thấp hơn.

Still more is the Bodhisattva one with that Second Person of the Logos whom he represents. He has taken the office of representing him here on earth, and that is the meaning of the hypostatic union between Christ as God and Christ as man. For he, the Bodhisattva, whom in the West we call the Lord Christ, is the Intuitional Wisdom, the Representative and Expression of the Second Person of the Blessed Trinity. Herein is the mystery which underlies the two natures of the Christ, “who, although he be God and Man, yet he is not two, but one Christ—One, not by conversion of the Godhead into flesh, but by taking of the manhood into God.”

Còn hơn thế nữa, Đức Bồ Tát là một với Ngôi thứ Hai của Thượng đế mà Ngài đại diện. Ngài đã nhận chức vụ đại diện cho Ngôi ấy ở đây trên trái đất, và đó là ý nghĩa của sự hợp nhất ngôi vị giữa Đức Christ với tư cách là Thượng đế và Đức Christ với tư cách là con người. Vì Ngài, Đức Bồ Tát, Đấng mà ở phương Tây chúng ta gọi là Đức Chúa Christ, là Minh Triết Trực Giác, là Vị Đại Diện và Biểu Lộ của Ngôi thứ Hai trong Tam Vị Chân Phúc. Chính trong đây có mầu nhiệm nền tảng của hai bản tính nơi Đức Christ, “Đấng, mặc dù Ngài là Thượng đế và Con người, nhưng Ngài không phải là hai, mà là một Đức Christ—Một, không phải do việc Thần tính chuyển thành xác thịt, mà do việc nhân tính được đưa vào Thượng đế.”

The Second Person of the Ever-blessed Trinity existed ages before the Lord Maitreya came into evolution; and the first descent of that Second Person into incarnation was when as the Second Outpouring he took the vehicles of his manifestation out of the virgin matter of his new solar system, already impregnated and vivified by God the Holy Spirit. When that had been done we had for the first time Christ unmanifested as opposed to Christ manifested, and even at that time it must have been true that Christ as God was in one sense greater than Christ as man. As the Bodhisattvas, who are to represent this Second Person on different planets of his system, one by one attain the Headship of their Ray, they in turn become so thoroughly one with him that they deserve the title of Christ as Man; and so at the moment of the consummation of such Initiation the hypostatic union takes place for each of them.

Ngôi thứ Hai của Tam Vị Hằng Chân Phúc đã hiện hữu nhiều thời đại trước khi Đức Maitreya bước vào tiến hoá; và lần giáng lâm đầu tiên của Ngôi thứ Hai ấy vào lâm phàm là khi, với tư cách là Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, Ngài lấy các vận cụ cho sự biểu hiện của mình từ vật chất đồng trinh của hệ mặt trời mới của Ngài, vốn đã được Chúa Thánh Thần thấm nhuần và tiếp sinh lực. Khi điều ấy đã được thực hiện, lần đầu tiên chúng ta có Đức Christ không biểu hiện đối lập với Đức Christ biểu hiện, và ngay cả vào thời điểm đó hẳn cũng đúng rằng Đức Christ với tư cách là Thượng đế theo một nghĩa nào đó lớn hơn Đức Christ với tư cách là con người. Khi các Đức Bồ Tát, những vị sẽ đại diện cho Ngôi thứ Hai này trên các hành tinh khác nhau trong hệ của Ngài, lần lượt đạt đến địa vị đứng đầu Cung của mình, Các Ngài đến lượt mình trở nên hoàn toàn một với Ngài đến nỗi xứng đáng với danh hiệu Đức Christ với tư cách Con Người; và như thế vào thời điểm viên mãn của cuộc Điểm đạo như vậy, sự hợp nhất ngôi vị diễn ra cho từng vị trong Các Ngài.

This Second Aspect of the Logos pours himself down into matter, is incarnated, and becomes man; and is therefore “equal to the Father as touching his Godhead, and inferior to the Father as touching his manhood,” as is said in the Athanasian Creed. Our Lord the Bodhisattva has been a man like ourselves, and is such a man still, though a perfected man; yet that manhood has so been taken into the Godhead that he is in truth a very Christ, a Representation of the Second Aspect of the Trinity; for in him and through him it is possible for us to reach to that Divine Power. That is why the Christ is spoken of as the Mediator between God and man; it is not that he is making a bargain on our behalf, or buying us off from some horrible punishment, as many orthodox Christians believe, but that he is in truth a Mediator, One who stands between the Logos and man, whom man can see, and through whom the power of the Deity pours forth to humankind. Therefore is he the Head of all religions through which these blessings come.

Phương diện thứ Hai này của Thượng đế tuôn mình xuống vào vật chất, được lâm phàm, và trở thành con người; và vì thế “ngang bằng với Cha xét theo Thần tính của Ngài, và thấp hơn Cha xét theo nhân tính của Ngài,” như được nói trong Tín điều Athanasius. Đức Bồ Tát của chúng ta đã từng là một con người như chính chúng ta, và vẫn là một con người như vậy, dù là một con người hoàn thiện; tuy nhiên nhân tính ấy đã được đưa vào Thần tính đến mức Ngài thật sự là một Đức Christ, một Sự Đại Diện của Phương diện thứ Hai của Ba Ngôi; vì trong Ngài và qua Ngài, chúng ta có thể vươn tới Quyền Năng Thiêng Liêng ấy. Đó là lý do vì sao Đức Christ được nói đến như Đấng Trung Gian giữa Thượng đế và con người; không phải vì Ngài đang thương lượng thay cho chúng ta, hay chuộc chúng ta khỏi một hình phạt khủng khiếp nào đó, như nhiều Kitô hữu chính thống tin, mà vì Ngài thật sự là một Đấng Trung Gian, Đấng đứng giữa Thượng đế và con người, Đấng mà con người có thể thấy, và qua Ngài quyền năng của Thượng đế tuôn trào đến nhân loại. Vì thế Ngài là Đầu của tất cả các tôn giáo qua đó những phúc lành này đến.

Chapter 14 — Chương 14

The Wisdom In The Triangles — Minh Triết Trong Các Tam Giác

The Buddha

Đức Phật

THE BUDDHA of the present time is the Lord Gautama, who took his last birth in India about two thousand five hundred years ago, and in that incarnation finished his series of lives as Bodhisattva, and succeeded the previous Buddha Kasyapa as Head of the Second Ray in the Occult Hierarchy of our globe. His life as Siddartha Gautama has been wonderfully told in Sir Edwin Arnold’s Light of Asia, one of the most beautiful and inspiring poems in our language.

THE BUDDHA của thời hiện tại là Đức Gautama, Đấng đã nhận lần sinh cuối cùng của mình tại Ấn Độ khoảng hai nghìn năm trăm năm trước, và trong lần lâm phàm ấy đã hoàn tất chuỗi đời sống của Ngài với tư cách Bồ Tát, rồi kế vị Đức Phật Kasyapa trước đó làm Đầu của Cung hai trong Thánh Đoàn Huyền Bí của bầu hành tinh chúng ta. Đời sống của Ngài với tên Siddartha Gautama đã được kể lại một cách tuyệt diệu trong Ánh Sáng Á Châu, của Ngài Edwin Arnold, một trong những thi phẩm đẹp đẽ và đầy cảm hứng nhất trong ngôn ngữ của chúng ta.

Seven Buddhas appear in succession during a world-period, one for each race, and each in turn takes charge of the special work of the Second Ray for the whole world, devoting himself to that part of it which lies in the higher worlds, while he entrusts to his assistant and representative, the Bodhisattva, the office of World-Teacher for the lower planes. For One who attains this position Oriental writers think no praise too high, no devotion too deep, and just as we regard those Masters to whom we look up as all but divine in goodness and wisdom, so to an even greater degree do they regard the Buddha. Our present Buddha was the first of our humanity to attain that stupendous height, the previous Buddhas having been the product of other evolutions, and a very special effort was needed on his part to prepare himself for this lofty post, an effort so stupendous that it is spoken of constantly by the Buddhists as the Mahabhinishkramana, the Great Sacrifice.

Bảy Đức Phật xuất hiện kế tiếp nhau trong một chu kỳ thế giới, mỗi vị cho một nhân loại, và mỗi vị lần lượt đảm nhận công việc đặc biệt của Cung hai cho toàn thế giới, hiến mình cho phần công việc ấy nằm trong các thế giới cao hơn, trong khi Ngài giao cho phụ tá và đại diện của mình, Đức Bồ Tát, chức vụ Đức Chưởng Giáo cho các cõi thấp hơn. Đối với Đấng đạt được địa vị này, các tác giả phương Đông cho rằng không lời ca ngợi nào là quá cao, không lòng sùng kính nào là quá sâu; và cũng như chúng ta xem những Chân sư mà chúng ta ngưỡng vọng gần như thiêng liêng trong lòng thiện lành và minh triết, thì họ còn xem Đức Phật như vậy ở mức độ lớn hơn nữa. Đức Phật hiện tại của chúng ta là vị đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt tới độ cao kỳ vĩ ấy, những Đức Phật trước kia là sản phẩm của các cuộc tiến hoá khác, và về phần Ngài cần một nỗ lực rất đặc biệt để tự chuẩn bị cho chức vị cao cả này, một nỗ lực phi thường đến nỗi các Phật tử thường xuyên nói đến nó như Mahabhinishkramana, Cuộc Hy Sinh Vĩ Đại.

Many thousands of years ago there arose the need for one of the Adepts to become the World-Teacher of the fourth root race; for the time had come when humanity should be able to supply its own Buddhas. Up to the middle of the fourth round of the fourth incarnation of our Chain, which was exactly the central point of the scheme of evolution to which we belong, the great Officers who were required—the Manus and the World-Teachers and others—were supplied to our humanity by more advanced humanities of other Chains, which had made more progress or perhaps were older than we; and we ourselves, having been thus assisted, shall in our turn have later on the privilege to make provision for other and more backward schemes of evolution.

Nhiều nghìn năm trước, đã phát sinh nhu cầu cần một trong các Chân sư trở thành Đức Chưởng Giáo của giống dân gốc thứ tư; vì thời điểm đã đến khi nhân loại phải có khả năng cung cấp các Đức Phật của chính mình. Cho đến giữa cuộc tuần hoàn thứ tư của lần lâm phàm thứ tư của Dãy chúng ta, vốn chính là điểm trung tâm của hệ tiến hoá mà chúng ta thuộc về, các Đại Chức Sắc cần thiết—các Đức Manu và các Đức Chưởng Giáo cùng những vị khác—được cung cấp cho nhân loại chúng ta bởi các nhân loại tiến bộ hơn thuộc những Dãy khác, vốn đã tiến bộ hơn hoặc có lẽ cổ xưa hơn chúng ta; và chính chúng ta, sau khi đã được trợ giúp như vậy, về sau đến lượt mình sẽ có đặc ân lo liệu cho những hệ tiến hoá khác và lạc hậu hơn.

In such ways the real brotherhood of all that lives is demonstrated; and we see that it is not merely a brotherhood of humanity, or even of the life in this chain of worlds, but that all the chains in the solar system mutually interact and help one another. I have no direct evidence that solar systems give assistance to each other in such ways, but I should imagine it by analogy to be almost certain that even that is done. At least I have myself seen Visitors from other systems, as I have said before, and have noticed that they are not merely travelling for pleasure, but are certainly in our system for some good purpose. What their purpose is I do not know; but of course it is not my business.

Bằng những cách như thế, tình huynh đệ chân thật của tất cả những gì sống được chứng minh; và chúng ta thấy rằng đó không chỉ là tình huynh đệ của nhân loại, hay thậm chí của sự sống trong dãy các thế giới này, mà tất cả các dãy trong hệ mặt trời tác động lẫn nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Tôi không có bằng chứng trực tiếp rằng các hệ mặt trời trợ giúp nhau theo những cách như vậy, nhưng theo định luật tương đồng, tôi tưởng rằng gần như chắc chắn điều ấy cũng được thực hiện. Ít nhất bản thân tôi đã thấy các Vị Khách từ những hệ khác, như tôi đã nói trước đây, và đã nhận thấy rằng Các Ngài không chỉ du hành để vui chơi, mà chắc chắn ở trong hệ của chúng ta vì một mục đích tốt đẹp nào đó. Mục đích của Các Ngài là gì tôi không biết; nhưng dĩ nhiên đó không phải việc của tôi.

Now at this time in the remote past to which we have referred, humanity should have begun to provide its own Teachers; but we are told that no one had quite reached the level required for the incurring of so tremendous a responsibility. The first-fruits of Humanity at this period were two Brothers who stood equal in occult development; one being he whom we now call the Lord Gautama Buddha, and the other our present World-Teacher, the Lord Maitreya. In what way they fell short of the required qualifications we do not know; but, out of his great love for humanity the Lord Gautama instantly offered to make himself ready to undertake whatever additional effort might be necessary to attain the required development. We learn from tradition that life after life he practised special virtues, each life showing out some great quality achieved.

Bấy giờ, vào thời điểm xa xưa mà chúng ta đã nhắc đến, nhân loại lẽ ra phải bắt đầu cung cấp các Huấn sư của chính mình; nhưng chúng ta được cho biết rằng chưa ai hoàn toàn đạt đến cấp độ cần thiết để gánh lấy một trách nhiệm phi thường như vậy. Những hoa trái đầu tiên của Nhân loại trong thời kỳ này là hai Huynh đệ đứng ngang nhau về sự phát triển huyền bí; một vị là Đấng mà nay chúng ta gọi là Đức Gautama Buddha, và vị kia là Đức Chưởng Giáo hiện tại của chúng ta, Đức Maitreya. Các Ngài còn thiếu những phẩm tính cần thiết theo cách nào thì chúng ta không biết; nhưng, vì tình thương lớn lao của Ngài đối với nhân loại, Đức Gautama lập tức đề nghị tự chuẩn bị để đảm nhận bất cứ nỗ lực bổ sung nào có thể cần thiết nhằm đạt đến sự phát triển đòi hỏi. Từ truyền thống, chúng ta biết rằng đời này sang đời khác Ngài thực hành những đức hạnh đặc biệt, mỗi đời biểu lộ một phẩm tính vĩ đại nào đó đã đạt được.

That great sacrifice of the Buddha is spoken of in all the sacred books of the Buddhists; but they have not understood the nature of the sacrifice, for many believe it to have been the descent of the Lord Buddha from Nirvanic levels after his Illumination to teach his Law. It is true that he did so descend, but that would not be anything in the nature of a sacrifice; it would only be an ordinary, but not very pleasant piece of work. The great sacrifice that he made was this spending of thousands of years in order to qualify himself to be the first of mankind who should help his brother-men by teaching to them the Wisdom which is life eternal.

Cuộc hy sinh vĩ đại ấy của Đức Phật được nói đến trong tất cả các thánh thư của Phật tử; nhưng họ đã không hiểu bản chất của cuộc hy sinh, vì nhiều người tin rằng đó là sự giáng xuống của Đức Phật từ các cấp độ Niết Bàn sau khi Ngài Giác Ngộ để giảng dạy Định luật của Ngài. Đúng là Ngài đã giáng xuống như vậy, nhưng điều đó không có gì thuộc bản chất của một cuộc hy sinh; nó chỉ là một công việc bình thường, tuy không mấy dễ chịu. Cuộc hy sinh vĩ đại mà Ngài đã thực hiện là việc Ngài trải qua hàng nghìn năm để đủ tư cách trở thành người đầu tiên của nhân loại giúp các huynh đệ loài người của mình bằng cách dạy cho họ Minh Triết vốn là sự sống vĩnh cửu.

That work was done, and nobly done. We know something of the various incarnations that he took after that, as Bodhisattva of his time, though there may be many more of which we know nothing. He appeared as Vyasa; he came to ancient Egypt as Hermes, the ThriceGreatest, who was called the Father of All Wisdom; he was the first of the twenty-nine Zoroasters, the Teachers of the Religion of the Fire; still later he walked amongst the Greeks as Orpheus, and taught them by means of music and of song; and finally he took his last birth in the north of India, and wandered up and down the Ganges valley for five and forty years, preaching his Law, and drawing round himself all those who in previous lives had been his pupils.

Công việc ấy đã được thực hiện, và được thực hiện một cách cao quý. Chúng ta biết đôi điều về những lần lâm phàm khác nhau mà Ngài đã nhận sau đó, với tư cách là Bồ Tát của thời Ngài, mặc dù có thể còn nhiều lần khác mà chúng ta không biết gì. Ngài xuất hiện với tên Vyasa; Ngài đến Ai Cập cổ đại với tên Hermes, Đấng Ba Lần Vĩ Đại, được gọi là Cha của Mọi Minh Triết; Ngài là vị đầu tiên trong hai mươi chín Zoroaster, các Huấn sư của Tôn giáo Lửa; muộn hơn nữa, Ngài bước đi giữa người Hy Lạp với tên Orpheus, và dạy họ bằng âm nhạc và ca khúc; và cuối cùng Ngài nhận lần sinh cuối cùng của mình ở miền bắc Ấn Độ, rồi đi khắp thung lũng sông Hằng trong bốn mươi lăm năm, giảng dạy Định luật của Ngài, và quy tụ quanh mình tất cả những ai trong các đời trước đã từng là học trò của Ngài.

In some way which we cannot hope yet to understand, because of the great strain of those many ages of effort, there were certain points in the work of the Lord Buddha which it may be that he had not time to perfect utterly. It is impossible at such a level for there to be anything in the nature of a failure or a fault, but perhaps the strain of the past was too great even for such power as his. We cannot know; but the fact remains that there were certain minor matters to which at the time he could not perfectly attend, and therefore the after-life of the Lord Gautama was not quite the same as that of his Predecessors. It is usual, as I have said, for a Bodhisattva when he has lived his final life and become Buddha—when he has entered into glory, bearing his sheaves with him, as it is put in the Christian Scriptures—to hand over his external work entirely to his Successor, and devote himself to his labours for humanity at higher levels. Whatever may be these manifold activities of a Dhyani Buddha, they do not bring him again into birth on earth; but because of the peculiar circumstances surrounding the life of the Lord Gautama two differences were made, two supplementary acts were performed.

Theo một cách nào đó mà chúng ta chưa thể hy vọng thấu hiểu, do sức căng lớn lao của nỗ lực trong nhiều thời đại ấy, đã có một số điểm trong công việc của Đức Phật mà có thể Ngài chưa có thời gian hoàn thiện trọn vẹn. Ở một cấp độ như vậy, không thể có bất cứ điều gì thuộc bản chất của thất bại hay lỗi lầm, nhưng có lẽ sức căng của quá khứ quá lớn ngay cả đối với một quyền năng như quyền năng của Ngài. Chúng ta không thể biết; nhưng sự thật vẫn là đã có một số vấn đề nhỏ mà vào thời điểm ấy Ngài không thể chăm lo hoàn hảo, và vì thế đời sống sau đó của Đức Gautama không hoàn toàn giống đời sống của các Vị Tiền Nhiệm của Ngài. Như tôi đã nói, thông thường một Đức Bồ Tát, khi Ngài đã sống đời cuối cùng và trở thành Phật—khi Ngài đã bước vào vinh quang, mang theo những bó lúa của mình, như được diễn tả trong Kinh Thánh Kitô giáo—sẽ trao toàn bộ công việc bên ngoài của mình cho Vị Kế Nhiệm, và hiến mình cho những công việc vì nhân loại ở các cấp độ cao hơn. Dù các hoạt động đa dạng ấy của một Đức Phật Dhyani là gì, chúng cũng không đưa Ngài trở lại sinh ra trên trái đất; nhưng vì những hoàn cảnh đặc biệt bao quanh đời sống của Đức Gautama, hai điều khác biệt đã được thực hiện, hai hành vi bổ sung đã được tiến hành.

The Supplementary Acts

Các Hành Vi Bổ Sung

The first was the sending by the Lord of the World, the Great King, the One Initiator, of one of his three Pupils, who are all Lords of the Flame from Venus, to take earthly incarnation almost immediately after the attainment of Buddhahood by the Lord Gautama, in order that by a very short life spent in travelling over India He might establish therein certain centres of religion called mathas. His name in that incarnation was Shankaracharya—not he who wrote the commentaries, but the great Founder of his line, who lived more than two thousand years ago.

Điều thứ nhất là việc Đức Chúa Tể Thế Giới, Đại Vương, Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, phái một trong ba Đệ tử của Ngài, tất cả đều là các Chúa Tể Lửa từ Sao Kim, nhận lâm phàm trên trái đất gần như ngay sau khi Đức Gautama đạt Phật quả, để bằng một đời sống rất ngắn dành cho việc du hành khắp Ấn Độ, Ngài có thể thiết lập ở đó một số trung tâm tôn giáo gọi là mathas. Tên của Ngài trong lần lâm phàm ấy là Shankaracharya—không phải vị đã viết các chú giải, mà là Đấng Sáng Lập vĩ đại của dòng Ngài, sống hơn hai nghìn năm trước.

Shri Shankaracharya founded a certain school of Hindu Philosophy, revived Hinduism to a large extent, putting new life into its forms, and gathering together many of the teachings of the Buddha. Hinduism today, though in many ways it may fall short of its high ideal, is a very much more living faith than in the old days before the coming of the Buddha, when it had degenerated into a system of formalism. Shri Shankaracharya was also largely responsible for the disappearance of animal sacrifices; although such sacrifices are still offered in India, they are but few, and those are on a very small scale. Besides his teaching on the physical plane, Shri Shankaracharya accomplished certain occult work in connection with the higher planes of nature which was of considerable importance to the later life of India.

Shri Shankaracharya đã sáng lập một trường phái nhất định của Triết học Ấn giáo, phục hưng Ấn giáo ở một mức độ lớn, thổi sự sống mới vào các hình thức của nó, và tập hợp nhiều giáo huấn của Đức Phật. Ấn giáo ngày nay, mặc dù theo nhiều cách có thể còn chưa đạt tới lý tưởng cao cả của mình, vẫn là một đức tin sống động hơn rất nhiều so với thời xưa trước khi Đức Phật đến, khi nó đã suy thoái thành một hệ thống hình thức chủ nghĩa. Shri Shankaracharya cũng chịu trách nhiệm rất lớn đối với sự biến mất của các lễ hiến tế súc vật; mặc dù những lễ hiến tế như vậy vẫn còn được dâng ở Ấn Độ, chúng chỉ còn ít, và những lễ ấy ở quy mô rất nhỏ. Bên cạnh giáo huấn của Ngài trên cõi hồng trần, Shri Shankaracharya đã hoàn thành một số công việc huyền bí liên quan đến các cõi cao hơn của thiên nhiên, có tầm quan trọng đáng kể đối với đời sống về sau của Ấn Độ.

The second supplementary act to which I have referred above was undertaken by the Lord Gautama himself. Instead of devoting himself wholly to other and higher work, he has remained sufficiently in touch with his world to be reached by the invocation of his successor when necessary, so that his advice and help can still be obtained in any great emergency. He also undertook to return to the world once in each year, on the anniversary of his death, and shed upon it a flood of blessing.

Hành vi bổ sung thứ hai mà tôi đã nhắc đến ở trên do chính Đức Gautama đảm nhận. Thay vì hiến mình hoàn toàn cho công việc khác và cao hơn, Ngài vẫn duy trì đủ liên hệ với thế giới của mình để có thể được sự khẩn cầu của vị kế nhiệm Ngài chạm tới khi cần, nhờ đó lời khuyên và sự trợ giúp của Ngài vẫn có thể được nhận trong bất cứ tình trạng khẩn cấp lớn nào. Ngài cũng đảm nhận việc trở lại thế giới mỗi năm một lần, vào ngày kỷ niệm sự viên tịch của Ngài, và tuôn xuống thế giới một dòng phúc lành tràn ngập.

The Lord Buddha has his own special type of force, which he outpours when he gives his blessing to the world, and this benediction is a unique and very marvellous thing; for by his authority and position a Buddha has access to planes of nature which are altogether beyond our reach, hence he can transmute and draw down to our level the forces peculiar to those planes. Without this mediation of the Buddha these forces would be of no use to us here in physical life; their vibrations are so tremendous, so incredibly rapid, that they would pass through us unsensed at any level we can reach, and we should never even know of their existence. But as it is, the force of the blessing is scattered all over the world; and it instantly finds for itself channels through which it can pour (just as water instantly finds an open pipe), thereby strengthening all good work and bringing peace to the hearts of those who are able to receive it.

Đức Phật có loại mãnh lực đặc biệt riêng của Ngài, mà Ngài tuôn đổ khi ban phúc lành cho thế giới, và sự ban phúc này là một điều độc nhất và rất kỳ diệu; vì nhờ thẩm quyền và địa vị của Ngài, một Đức Phật có thể tiếp cận các cõi của thiên nhiên hoàn toàn vượt ngoài tầm với của chúng ta, do đó Ngài có thể chuyển hoá và kéo xuống cấp độ của chúng ta các mãnh lực đặc thù của những cõi ấy. Nếu không có sự trung gian này của Đức Phật, các mãnh lực ấy sẽ chẳng có ích gì cho chúng ta ở đây trong đời sống hồng trần; các rung động của chúng quá phi thường, quá nhanh không thể tin nổi, đến nỗi chúng sẽ đi xuyên qua chúng ta mà không được cảm nhận ở bất cứ cấp độ nào chúng ta có thể đạt tới, và chúng ta thậm chí sẽ không bao giờ biết đến sự tồn tại của chúng. Nhưng như hiện nay, mãnh lực của phúc lành được phân tán khắp thế giới; và nó lập tức tự tìm cho mình các kênh qua đó có thể tuôn chảy, giống như nước lập tức tìm thấy một ống mở, nhờ đó tăng cường mọi công việc thiện lành và đem bình an đến cho trái tim của những ai có thể tiếp nhận nó.

The Wesak Festival

Lễ hội Wesak

part-iv-04.png

Figure 7- Place of the Festival Wesak

Hình 7- Địa điểm của Lễ hội Wesak

The occasion selected for this wonderful outpouring is the full moon day of the Indian month of Vaisakh (called in Ceylon Wesak, and usually corresponding to the English May), the anniversary of all the momentous occurrences of his last earthly life—His birth, his attainment of Buddhahood, and his departure from the physical body.

Dịp được chọn cho lần tuôn đổ kỳ diệu này là ngày trăng tròn của tháng Vaisakh theo Ấn Độ, gọi là Wesak ở Ceylon, và thường tương ứng với tháng Năm theo Anh lịch, ngày kỷ niệm tất cả những biến cố trọng đại trong đời sống cuối cùng của Ngài trên trái đất—sự sinh ra của Ngài, sự đạt Phật quả của Ngài, và sự rời bỏ thể xác của Ngài.

In connection with this visit of his, and quite apart from its tremendous esoteric significance, an exoteric ceremony is performed on the physical plane at which the Lord actually shows himself in the presence of a crowd of ordinary pilgrims. Whether he shows himself to pilgrims I am not certain; they all prostrate themselves at the moment when he appears, but that may be only in imitation of the prostration of the Adepts and their pupils, who do see the Lord Gautama. It seems probable that some at least of the pilgrims have seen him for themselves, for the existence of the ceremony is widely known among the Buddhists of central Asia, and it is spoken of as the appearance of the Shadow or Reflection of the Buddha, the description given of it in such traditional accounts being as a rule fairly accurate. So far as we can see there appears to be no reason why any person whatever who happens to be in the neighbourhood at the time may not be present at the ceremony; no apparent effort is made to restrict the number of spectators; though it is true that one hears stories of parties of pilgrims who have wandered for years without being able to find the spot.

Liên quan đến cuộc viếng thăm này của Ngài, và hoàn toàn tách khỏi thâm nghĩa huyền bí to lớn của nó, một nghi lễ ngoại môn được thực hiện trên cõi hồng trần, trong đó Đức Phật thật sự hiển lộ trước sự hiện diện của một đám đông khách hành hương bình thường. Ngài có hiển lộ với các khách hành hương hay không thì tôi không chắc; tất cả họ đều phủ phục vào khoảnh khắc Ngài xuất hiện, nhưng điều đó có thể chỉ là sự bắt chước việc phủ phục của các Chân sư và các học trò của Các Ngài, những vị quả thật thấy Đức Gautama. Dường như có khả năng ít nhất một số khách hành hương đã tự mình thấy Ngài, vì sự tồn tại của nghi lễ này được biết rộng rãi trong giới Phật tử Trung Á, và người ta nói về nó như sự xuất hiện của Bóng hay Phản chiếu của Đức Phật, mô tả được đưa ra về nó trong các tường thuật truyền thống như vậy thường khá chính xác. Theo chừng mức chúng ta có thể thấy, dường như không có lý do nào khiến bất cứ người nào tình cờ ở vùng lân cận vào lúc ấy lại không thể hiện diện tại nghi lễ; không thấy có nỗ lực rõ ràng nào nhằm hạn chế số người quan sát; dù đúng là người ta nghe những câu chuyện về các nhóm khách hành hương đã lang thang nhiều năm mà không thể tìm được địa điểm ấy.

All members of the Great White Brotherhood, except the King himself and his three disciples, usually attend this ceremony; and there is no reason why any of our earnest Theosophical members should not be present at it in their astral bodies. Those to whom the secret has been confided usually try so to arrange matters as to put their physical bodies to sleep an hour or so before the exact moment of full moon, and to be undisturbed until about an hour after it.

Tất cả thành viên của Thánh Đoàn, ngoại trừ chính Đức Vua và ba đệ tử của Ngài, thường tham dự nghi lễ này; và không có lý do nào khiến bất cứ thành viên Thông Thiên Học chân thành nào của chúng ta lại không thể hiện diện ở đó trong thể cảm dục của mình. Những người đã được phó thác bí mật thường cố gắng sắp xếp mọi việc sao cho đưa thể xác của họ vào giấc ngủ khoảng một giờ trước đúng khoảnh khắc trăng tròn, và không bị quấy rầy cho đến khoảng một giờ sau đó.

The Valley

Thung lũng

The place selected is a small plateau surrounded by low hills, which lies on the northern side of the Himalayas, not far from the frontier of Nepal, and perhaps about four hundred miles west of the city of Lhassa. This little plain (see Diagram 11) is roughly oblong in shape, its length being perhaps a mile and a half and its breadth rather less. The ground slopes slightly downwards from south to north, and is mostly bare and stony, though in some places covered with coarse wiry grass and rough scrubby vegetation. A stream runs down part of the west side of the plateau, crosses its north-west corner, and escapes about the middle of the north side through a pine-clothed ravine, eventually reaching a lake which is visible at a distance of some miles. The surrounding country seems wild and uninhabited, and there are no buildings in sight except a single ruined stupa with two or three huts beside it, on the slope of one of the hills on the eastern sides of the plain. About the centre of the southern half of the plain lies a huge block of greyish-white stone, veined with some glittering substance—an altar-like block, perhaps twelve feet in length by six feet wide, and standing about three feet out of the ground.

Địa điểm được chọn là một cao nguyên nhỏ được bao quanh bởi những ngọn đồi thấp, nằm ở phía bắc dãy Himalaya, không xa biên giới Nepal, và có lẽ cách thành phố Lhassa khoảng bốn trăm dặm về phía tây. Đồng bằng nhỏ này (xem Biểu đồ 11) có hình dạng gần như thuôn dài, chiều dài có lẽ khoảng một dặm rưỡi và chiều rộng hơi nhỏ hơn. Mặt đất hơi dốc xuống từ nam sang bắc, và phần lớn trơ trụi, nhiều đá, mặc dù ở vài nơi có phủ cỏ thô cứng và cây bụi thấp rậm rạp. Một con suối chảy xuống một phần phía tây của cao nguyên, băng qua góc tây bắc của nó, rồi thoát ra khoảng giữa phía bắc qua một khe núi phủ thông, cuối cùng đến một hồ có thể nhìn thấy từ khoảng cách vài dặm. Vùng xung quanh dường như hoang dã và không có người ở, và không có công trình nào trong tầm mắt ngoài một bảo tháp đổ nát duy nhất với hai hoặc ba túp lều bên cạnh, trên sườn của một trong những ngọn đồi ở phía đông của đồng bằng. Khoảng giữa nửa phía nam của đồng bằng có một khối đá khổng lồ màu trắng xám, có những vân của một chất lấp lánh nào đó—một khối giống bàn thờ, có lẽ dài mười hai bộ, rộng sáu bộ, và nhô lên khỏi mặt đất khoảng ba bộ.

part-iv-05.png

Figure 8 – DIAGRAM 11

Hình 8 – BIỂU ĐỒ 11

On his materialization in the centre of the circle all the Adepts and Initiates bow gravely towards him, and another verse is chanted. After this, still intoning verses, the inner rings divide into eight parts, so as to form a cross within the outer circle, the Lord Maitreya still remaining at the centre. At the next movement of this stately ritual, the cross becomes a triangle, the Lord Maitreya moving forward so as to stand at its apex, and therefore close to the altar-stone. Upon that altar, in the open space left in front of the golden bowl, the Lord Maitreya reverently lays the Rod of Power, while behind him the circle changes into a rather involved curved figure, so that all are facing the altar. At the next change the curved figure becomes a reversed triangle, so that we have a representation of the well-known sign of The Theosophical Society, though without its encircling snake. This figure in turn resolves into the five-pointed star, the Lord Maitreya being still at the southern point nearest the altar-stone, and the other great Officials or Chohans at the five pints where the lines intersect. A diagram of the symbolic figures is herewith appended, as some of them are not easy to describe. Diagram 13.

Khi Ngài hiện hình ở trung tâm vòng tròn, tất cả các Chân sư và điểm đạo đồ đều nghiêm trang cúi chào Ngài, và một câu kệ khác được xướng lên. Sau đó, vẫn trong khi ngân xướng các câu kệ, các vòng trong chia thành tám phần, để tạo thành một thập giá bên trong vòng ngoài, Đức Maitreya vẫn ở trung tâm. Ở chuyển động tiếp theo của nghi lễ trang nghiêm này, thập giá trở thành một tam giác, Đức Maitreya tiến về phía trước để đứng ở đỉnh của tam giác ấy, và vì thế ở gần tảng đá bàn thờ. Trên bàn thờ ấy, trong khoảng trống để lại phía trước chiếc bát vàng, Đức Maitreya cung kính đặt Thần Trượng Quyền Năng, trong khi phía sau Ngài vòng tròn chuyển thành một hình cong khá phức tạp, sao cho tất cả đều hướng mặt về bàn thờ. Ở sự thay đổi tiếp theo, hình cong trở thành một tam giác đảo ngược, nhờ đó chúng ta có một sự trình bày dấu hiệu nổi tiếng của Hội Thông Thiên Học, dù không có con rắn bao quanh. Hình này đến lượt nó biến thành ngôi sao năm cánh, Đức Maitreya vẫn ở điểm phía nam gần tảng đá bàn thờ nhất, và các Đại Chức Sắc hay Chohan khác ở năm điểm nơi các đường giao nhau. Một biểu đồ của các hình tượng trưng được đính kèm ở đây, vì một số hình không dễ mô tả. Biểu đồ 13.

Diagram 12

Biểu đồ 12

part-iv-06.png

Figure 9

Hình 9

When this seventh and final stage is reached the chanting ceases, and after a few moments of solemn silence the Lord Maitreya, again taking the Rod of Power into his hands and raising it above his head, utters in a few sonorous words of Pali:

Khi giai đoạn thứ bảy và cuối cùng này đạt tới, tiếng xướng dừng lại, và sau vài khoảnh khắc im lặng trang nghiêm, Đức Maitreya, lại cầm Thần Trượng Quyền Năng trong tay và giơ nó lên trên đầu, thốt ra bằng vài lời Pali vang ngân:

“All is ready; Master, come!”

“Tất cả đã sẵn sàng; Thầy, xin hãy đến!”

Then as he again lays down the fiery rod, at the exact moment of the full moon, the Lord Buddha appears as a gigantic figure floating in the air just above the southern hills. The members of the Brotherhood bow with joined hands, and the multitude behind them fall on their faces and remain prostrate, while the others sing the three verses which were taught by the Lord Buddha himself during his earth life to the schoolboy Chatta:

Rồi khi Ngài lại đặt cây trượng rực lửa xuống, đúng vào khoảnh khắc trăng tròn, Đức Phật xuất hiện như một hình thể khổng lồ lơ lửng trong không trung ngay phía trên các ngọn đồi phía nam. Các thành viên của Huynh đệ Đoàn chắp tay cúi chào, và đám đông phía sau họ phủ phục sát đất và vẫn nằm phủ phục, trong khi những vị khác hát ba câu kệ do chính Đức Phật dạy trong đời sống trên trái đất của Ngài cho cậu học trò Chatta:

The Lord Buddha, the Sage of the Sakyas, is among mankind the best of Teachers. He has done that which was to be done, and has crossed to the other shore (Nirvana). He is filled with strength and energy; him, the Blessed One I take for my guide.

Đức Phật, Hiền Giả của dòng Sakya, là bậc Huấn sư cao nhất giữa nhân loại. Ngài đã làm điều phải làm, và đã vượt sang bờ bên kia, Niết Bàn. Ngài tràn đầy sức mạnh và năng lượng; con nhận Ngài, Đấng Chân Phúc, làm vị dẫn đường của con.

The truth is non-material; it brings freedom from passion, desire and sorrow; it is free from all stain; it is sweet, plain and logical; this truth I take as my guide.

Chân lý là phi vật chất; nó đem lại sự tự do khỏi đam mê, dục vọng và sầu khổ; nó không có mọi vết nhơ; nó dịu ngọt, giản dị và hợp lý; con nhận chân lý này làm người dẫn đường của con.

Whatever is given to the eight kinds of the Noble Ones, who in pairs form the four grades, who know the truth, verily brings great reward; this Brotherhood of the Noble Ones I take as my guide.

Bất cứ điều gì được dâng cho tám hạng Thánh giả, những vị theo từng đôi hợp thành bốn cấp độ, những vị biết chân lý, quả thật đều đem lại phần thưởng lớn lao; con nhận Huynh đệ Đoàn của các Thánh giả này làm vị dẫn đường của con.

The Greatest Blessing

Phúc lành Lớn Lao Nhất

Then the people rise and stand gazing at the presence of the Lord while the Brotherhood chants for the benefit of the people noble words of the Mahamangala Sutta, which has been translated thus by Professor Rhys Davids (Certain slight modifications have been introduced from other sources, when they seemed decided improvements):

Rồi dân chúng đứng dậy và đứng nhìn chăm chú vào sự hiện diện của Đức Phật, trong khi Huynh đệ Đoàn xướng lên vì lợi ích của dân chúng những lời cao quý của Mahamangala Sutta, đã được Giáo sư Rhys Davids dịch như sau (Một vài sửa đổi nhỏ đã được đưa vào từ các nguồn khác, khi chúng tỏ ra là những cải thiện rõ rệt):

When yearning for good, many devas and men

Khi khao khát điều thiện, nhiều thiên thần và con người

Have held divers things to be blessing;

Đã xem nhiều điều khác nhau là phúc lành;

Do thou then inform us, O Master,

Vậy xin Ngài hãy cho chúng con biết, ôi Thầy,

What is the greatest blessing?

Đâu là phúc lành lớn lao nhất?

Not to serve the foolish,

Không phụng sự kẻ ngu,

But to serve the wise;

Mà phụng sự người hiền;

To honour those worthy of honour;

Tôn kính những ai đáng được tôn kính;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

To dwell in a pleasant land,

Sống trong một vùng đất an vui,

To have done good deeds in a former birth,

Đã làm việc thiện trong một lần sinh trước,

To have a soul filled with right desire;

Có một linh hồn tràn đầy ước muốn chân chính;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

Much insight and much education,

Nhiều linh thị và nhiều học vấn,

Self-control and a well-trained mind,

Tự chủ và một thể trí được rèn luyện tốt,

Pleasant words that are well spoken;

Những lời dễ mến được nói khéo;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

To support father and mother,

Nuôi dưỡng cha và mẹ,

To cherish wife and child,

Yêu thương vợ và con,

To follow a peaceful calling;

Theo đuổi một nghề nghiệp an bình;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

To bestow alms and live righteously,

Bố thí và sống chính trực,

To give help to one’s kindred,

Giúp đỡ thân tộc của mình,

To do deeds which cannot be blamed;

Làm những việc không thể bị chê trách;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

To abhor and cease from sin,

Ghê sợ và chấm dứt tội lỗi,

To abstain from strong drink,

Kiêng rượu mạnh,

Not to be weary in well-doing;

Không mỏi mệt trong việc làm điều thiện;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

Reverence and lowliness,

Lòng tôn kính và sự khiêm hạ,

Contentment and gratitude,

Sự mãn nguyện và lòng biết ơn,

The hearing of the Law at due seasons;

Lắng nghe Định luật vào đúng thời;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

To be long-suffering and meek,

Nhẫn nhục lâu dài và hiền hoà,

To associate with the tranquil,

Kết giao với những người tĩnh lặng,

Religious talk at due seasons;

Đàm đạo tôn giáo vào đúng thời;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

Self-restraint and purity,

Tự chế và thanh khiết,

The knowledge of the Four Great Truths,

Tri thức về Bốn Chân Lý Vĩ Đại,

The realization of Nirvana;

Sự chứng nghiệm Niết Bàn;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

Beneath the stroke of life’s changes

Dưới những cú đánh của các biến đổi trong đời sống

The soul that stands unshaken,

Linh hồn vẫn đứng bất động,

Passionless, unsorrowing, secure;

Không đam mê, không sầu khổ, an toàn;

This is the greatest blessing.

Đó là phúc lành lớn lao nhất.

Invincible on every side

Bất khả chiến bại ở mọi phía

Is he who acteth thus;

Là người hành động như vậy;

On every side he walks in safety;

Ở mọi phía y bước đi trong an toàn;

And his is the greatest blessing.

Và của y là phúc lành lớn lao nhất.

The figure which floats above the hills is of enormous size, but exactly reproduces the form and features of the body in which the Lord last lived on earth. He appears seated cross-legged, with the hands together, dressed in the yellow robe of the Buddhist monk, but wearing it so as to leave the right arm bare. No description can give an idea of the face—a face truly God-like, for it combines calmness and power, wisdom and love in an expression containing all that our minds can imagine of the Divine. We may say that the complexion is clear yellowish-white, and the features clearly cut; that the forehead is broad and noble; the eyes large, luminous and of a deep dark blue; the nose slightly aquiline; the lips red and firmly set; but all this puts before us merely the outer mask and gives but a little grasp of the living whole. The hair is black—almost blue-black—and wavy; curiously, it is neither worn long according to Indian custom, nor shaved altogether in the manner of Oriental monks, but is cut off just before it reaches the shoulders, parted in the centre and swept back from the forehead. The story is told that when the Prince Siddartha left home to seek the truth, he seized his long hair and cut it off close above his head with a sweep of his sword, and that ever afterwards he kept it at the same length.

Hình ảnh lơ lửng phía trên những ngọn đồi có kích thước khổng lồ, nhưng tái hiện chính xác hình tướng và các nét của thể xác mà Đức Chúa đã sống lần cuối trên Trái Đất. Ngài hiện ra trong tư thế ngồi kiết già, hai bàn tay chắp lại, khoác chiếc y vàng của vị tăng Phật giáo, nhưng mặc sao cho cánh tay phải để trần. Không một lời mô tả nào có thể gợi được ý niệm về gương mặt ấy—một gương mặt thật sự giống như Thượng đế, vì nó kết hợp sự an tĩnh và quyền năng, minh triết và tình thương trong một biểu lộ chứa đựng tất cả những gì thể trí chúng ta có thể hình dung về Thiêng Liêng. Chúng ta có thể nói rằng nước da trong sáng, hơi vàng trắng, và các đường nét thật rõ ràng; trán rộng và cao quý; đôi mắt lớn, sáng rực và có màu lam thẫm sâu; mũi hơi khoằm; môi đỏ và mím chắc; nhưng tất cả những điều này chỉ đặt trước chúng ta chiếc mặt nạ bên ngoài và chỉ đem lại một chút nắm bắt về toàn thể sống động. Tóc Ngài đen—gần như xanh đen—và gợn sóng; điều lạ là tóc ấy không để dài theo tập tục Ấn Độ, cũng không cạo trọc hoàn toàn theo cách các nhà sư phương Đông, mà được cắt ngay trước khi chạm tới vai, rẽ ngôi giữa và chải ngược khỏi trán. Chuyện kể rằng khi Thái tử Siddartha rời nhà để tìm chân lý, Ngài nắm lấy mái tóc dài của mình và dùng một nhát gươm cắt sát phía trên đầu, và từ đó về sau Ngài luôn giữ tóc ở cùng độ dài ấy.

One of the most striking features of this wondrous apparition is the splendid aura which surrounds the figure. It falls into concentric spheres, as do the auras of all highly advanced men; its general plan is the same as that of the Arhat depicted in Plate xxvi in Man Visible and Invisible but the arrangement of its colours is unique. The figure is englobed in light which is somehow at the same time dazzling and yet transparent—so bright that the eye can hardly rest upon it, and yet through it the face and the colour of the robe stand out with perfect clearness. Outside of that comes a ring of glorious ultramarine; then in succession glowing golden yellow, the richest crimson, pure silvery white and a magnificent scarlet—all these being of course really spheres, though showing as bands when seen against the sky. Shooting out at right angles, outside all these, are rays of all these hues intermingled, and interspersed with flashes of green and violet, as will be observed when we refer to our frontispiece.

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của hiện tượng kỳ diệu này là hào quang rực rỡ bao quanh hình ảnh ấy. Nó phân thành những khối cầu đồng tâm, như hào quang của tất cả những người tiến hóa rất cao; bố cục tổng quát của nó giống với bố cục hào quang của vị A-la-hán được minh họa trong Hình xxvi trong Con Người Hữu Hình và Vô Hình, nhưng cách sắp đặt màu sắc của nó thì độc đáo. Hình ảnh ấy được bao bọc trong ánh sáng bằng cách nào đó vừa chói lòa lại vừa trong suốt—sáng đến mức mắt hầu như không thể dừng lại trên đó, vậy mà xuyên qua đó, gương mặt và màu sắc của chiếc y vẫn nổi bật với sự rõ ràng hoàn hảo. Bên ngoài lớp ấy là một vòng màu lam biển sâu rực rỡ; rồi lần lượt là vàng kim chói sáng, đỏ thẫm đậm nhất, trắng bạc tinh khiết và đỏ tươi lộng lẫy—tất cả những màu này dĩ nhiên thật sự là các khối cầu, dù hiện ra như những dải khi nhìn trên nền trời. Bên ngoài tất cả những lớp này, bắn ra theo các góc vuông, là những tia sáng gồm tất cả các sắc thái ấy hòa lẫn, xen kẽ với những lóe sáng xanh lục và tím, như sẽ được quan sát khi chúng ta tham chiếu tới hình đầu sách.

These colours, in exactly this order, are described in ancient Buddhist scriptures as constituting the aura of the Lord; and when in 1885 it was thought desirable that a special flag should be found for the Buddhists of Ceylon, our President-Founder Colonel Olcott, in consultation with our Sinhalese brothers at Colombo, evolved the idea of utilizing for that purpose that same significant grouping of colours. The Colonel tells us [4] that he learnt some years later from the Tibetan ambassador to the Viceroy of India, whom he met at Darjeeling, that the colours are the same as those in the flag of the Dalai Lama. The idea of this symbolical standard seems to have been widely accepted; I have myself seen it in Buddhist Temples at places as far apart as Rangoon and Sacramento in California.

Những màu sắc này, đúng theo trật tự ấy, được mô tả trong các kinh điển Phật giáo cổ xưa như cấu thành hào quang của Đức Chúa; và khi vào năm 1885, người ta cho rằng nên tìm một lá cờ đặc biệt cho các Phật tử Ceylon, vị Chủ tịch-Sáng lập của chúng ta, Đại tá Olcott, sau khi tham khảo ý kiến các huynh đệ Sinhalese của chúng ta tại Colombo, đã nảy ra ý tưởng dùng chính nhóm màu đầy thâm nghĩa ấy cho mục đích đó. Đại tá cho chúng ta biết rằng vài năm sau, ông biết được từ vị đại sứ Tây Tạng bên cạnh Phó vương Ấn Độ, người mà ông gặp tại Darjeeling, rằng các màu ấy cũng giống như những màu trên lá cờ của Đạt-lai Lạt-ma. Ý tưởng về lá cờ biểu tượng này dường như đã được chấp nhận rộng rãi; chính tôi đã thấy nó trong các chùa Phật giáo ở những nơi xa cách nhau như Rangoon và Sacramento tại California.

Through a most unfortunate mistake these bands of colour were given in a wrong order in the plate accompanying the first edition of this book; the error has now been corrected. It is of course impossible to obtain in a printed illustration any approach to the brilliancy and purity of the colours as seen in the sky; all we can do is to offer a suggestion to help the imagination of the reader.

Do một sai lầm hết sức đáng tiếc, các dải màu này đã được trình bày sai thứ tự trong hình kèm theo ấn bản đầu tiên của quyển sách này; nay lỗi ấy đã được sửa chữa. Dĩ nhiên không thể nào có được trong một minh họa in ấn bất cứ sự gần đúng nào với vẻ rực rỡ và tinh khiết của các màu sắc như khi thấy trên bầu trời; tất cả những gì chúng ta có thể làm là đưa ra một gợi ý để trợ giúp sự tưởng tượng của độc giả.

In earlier books we have described scarlet in man’s aura as expressing anger only; so it does in the ordinary lower astral; but quite apart from this, we find that at higher levels a far more magnificent and luminous scarlet, the very essence of living flame, betokens the presence of dauntless courage and high determination. It is of course as denoting the possession of these qualities in a superlative degree that it appears in the aura of the Lord Buddha. We might conjecture that the somewhat unusual prominence of this brilliant scarlet band may be significant of the special manifestation of those qualities in that age-long work of self development to which I have referred on page 298.

Trong các sách trước đây, chúng ta đã mô tả màu đỏ tươi trong hào quang con người như chỉ biểu lộ cơn giận; quả đúng như thế trong cõi cảm dục thấp thông thường; nhưng hoàn toàn ngoài điều này, chúng ta thấy rằng ở các cấp độ cao hơn, một màu đỏ tươi huy hoàng và sáng rực hơn rất nhiều, chính tinh chất của ngọn lửa sống động, biểu thị sự hiện diện của lòng can đảm không hề nao núng và quyết tâm cao cả. Dĩ nhiên, chính với tư cách biểu thị sự sở hữu những phẩm tính này ở mức độ siêu việt mà màu ấy xuất hiện trong hào quang của Đức Phật. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng sự nổi bật hơi khác thường của dải đỏ tươi chói lọi này có thể hàm ý sự biểu hiện đặc biệt của các phẩm tính ấy trong công trình tự phát triển kéo dài qua nhiều thời đại mà tôi đã đề cập ở trang 298.

The Lord Maitreya, who takes so prominent a part in this ceremony, will in due course of time succeed to the office now held by the Lord Gautama. It will perhaps be of interest to compare his aura with that which we have just described. The easiest way to imagine it is to look at the illustration of the aura of an Arhat on Plate xxvi of Man Visible and Invisible and then modify it in imagination as here indicated. It has a general resemblance to that, but besides being so much larger the colours are somewhat differently arranged.

Đức Di Lặc, Đấng giữ một vai trò rất nổi bật trong nghi lễ này, đến thời kỳ thích hợp sẽ kế nhiệm chức vụ hiện do Đức Gautama nắm giữ. Có lẽ sẽ thú vị khi so sánh hào quang của Ngài với hào quang mà chúng ta vừa mô tả. Cách dễ nhất để hình dung nó là nhìn vào minh họa về hào quang của một vị A-la-hán ở Hình xxvi trong Con Người Hữu Hình và Vô Hình, rồi trong sự tưởng tượng sửa đổi nó theo những chỉ dẫn sau đây. Nó có nét tương đồng tổng quát với hình ấy, nhưng ngoài việc lớn hơn rất nhiều, các màu sắc còn được sắp xếp hơi khác.

The heart of it is blinding white light, just as in the case of the Arhat; then, eliminating the yellow from that part, let the rose-coloured oval retain its present position, but extend inwards up to the edge of the white. Outside that rose-coloured oval put a band of yellow instead of the blue; outside the green comes a belt of blue; outside of that the violet, as in the book, but outside of the violet again a broad band of the most glorious pale rose, into which the violet imperceptibly melts. Outside of all comes the radiation of mixed colours, just as in the book. The rays of white light flash through it in the same way, yet even they seem faintly tinged with the ever-present pale rose. The whole aura gives the impression of being suffused with the most delicate yet glowing rose, much as is Plate xi in Man Visible and Invisible.

Trung tâm của nó là ánh sáng trắng chói lòa, giống hệt như trường hợp của vị A-la-hán; rồi, loại bỏ màu vàng khỏi phần ấy, hãy để hình bầu dục màu hồng giữ vị trí hiện tại của nó, nhưng mở rộng vào trong cho tới mép của vùng trắng. Bên ngoài hình bầu dục màu hồng ấy đặt một dải màu vàng thay cho màu lam; bên ngoài màu xanh lục là một vành đai màu lam; bên ngoài đó là màu tím, như trong sách, nhưng bên ngoài màu tím lại có một dải rộng màu hồng nhạt huy hoàng nhất, vào đó màu tím tan hòa một cách không thể nhận ra. Bên ngoài tất cả là sự tỏa chiếu của các màu pha trộn, giống như trong sách. Những tia sáng trắng lóe xuyên qua nó theo cùng cách, tuy vậy ngay cả chúng dường như cũng nhuốm nhẹ màu hồng nhạt luôn hiện diện. Toàn bộ hào quang tạo ấn tượng như được thấm đẫm một sắc hồng tinh tế nhất nhưng vẫn rực sáng, gần giống như Hình xi trong Con Người Hữu Hình và Vô Hình.

A point which seems worthy of notice is that in this aura the colours come exactly in the same order as in the solar spectrum, though orange and indigo are omitted. First the rose (which is a form of red) then the yellow, shading into green, blue, violet in succession. And then it goes on into the ultra-violet, melting into rose—the spectrum beginning again in a higher octave, just as the lowest astral follows upon the highest physical.

Một điểm dường như đáng chú ý là trong hào quang này, các màu xuất hiện đúng theo cùng trật tự như trong quang phổ mặt trời, dù màu cam và màu chàm bị lược bỏ. Trước hết là màu hồng, vốn là một dạng của đỏ, rồi đến màu vàng, chuyển sắc sang xanh lục, lam, tím theo thứ tự. Rồi nó tiếp tục vào vùng siêu tím, tan hòa vào hồng—quang phổ lại bắt đầu trong một quãng tám cao hơn, đúng như cõi cảm dục thấp nhất tiếp nối cõi hồng trần cao nhất.

Of course that is a very poor description, but it seems the best that we can do. It must be understood that it exists in many more dimensions than we can anyhow represent. In order to say thus much about it I have tried to do something nearly equivalent to taking a threedimensional section of it. But it is wise for us to remember that it is by no means impossible that another section might be taken in a slightly different manner, which would yield somewhat dissimilar results, and yet be quite as true. It is hopeless to try to explain on the physical plane the realities of the higher worlds.

Dĩ nhiên đó là một mô tả rất nghèo nàn, nhưng dường như là điều tốt nhất chúng ta có thể làm. Cần thấu hiểu rằng nó tồn tại trong nhiều chiều kích hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì chúng ta có thể biểu diễn. Để có thể nói được chừng ấy về nó, tôi đã cố làm một điều gần tương đương với việc lấy một mặt cắt ba chiều của nó. Nhưng sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta nhớ rằng hoàn toàn không phải là không thể có một mặt cắt khác được lấy theo một cách hơi khác, điều này sẽ cho những kết quả phần nào khác biệt, mà vẫn hoàn toàn đúng. Thật vô vọng khi cố giải thích trên cõi hồng trần các thực tại của những thế giới cao hơn.

When the Mahamangala Sutta is finished, the Lord Maitreya takes the golden bowl of water from the altar-stone, and holds it above his head for a few moments, while the multitude behind, who have also provided themselves with vessels filled with water, follow his example. As he replaces it on the altar-stone another verse is chanted:

Khi Mahamangala Sutta kết thúc, Đức Di Lặc cầm lấy chiếc bát vàng đựng nước từ phiến đá bàn thờ, và giữ nó phía trên đầu Ngài trong vài khoảnh khắc, trong khi đám đông phía sau, những người cũng đã chuẩn bị cho mình các bình chứa đầy nước, làm theo gương Ngài. Khi Ngài đặt nó trở lại phiến đá bàn thờ, một bài kệ khác được tụng lên:

He is the Lord, the Saint who is perfect in knowledge, who possesses the eight kinds of knowledge and has accomplished the fifteen holy practices, who has come the good journey which led to the Buddhahood, who knows the three worlds, the unrivalled, the Teacher of gods and men, the Blessed One, the Lord Buddha.

Ngài là Đức Chúa, Đấng Thánh hoàn hảo trong tri thức, Đấng sở hữu tám loại tri thức và đã hoàn thành mười lăm thực hành thánh thiện, Đấng đã đi cuộc hành trình thiện lành dẫn tới quả vị Phật, Đấng biết ba thế giới, Đấng vô song, Huấn sư của chư thiên và loài người, Đấng Chân Phúc, Đức Phật.

As this ends, a smile of ineffable love beams forth from the face of the Lord as he raises his right hand in the attitude of benediction, while a great shower of flowers falls among the people. Again the members of the Brotherhood bow, again the crowd prostrates itself, and the figure slowly fades out of the sky, while the multitude relieves itself in shouts of joy and praise. The members of the Brotherhood come up to the Lord Maitreya in the order of their admission, and each sips the water in the golden bowl, and the people also sip theirs, taking the remainder home in their quaint leather bottles as holy water to drive away all evil influences from their houses, or perhaps to cure the sick. Then the vast company breaks up with mutual congratulations, and the people bear away to their far-distant homes an ineffaceable memory of the wonderful ceremony in which they have taken part.

Khi bài kệ này kết thúc, một nụ cười của tình thương không thể diễn tả tỏa sáng từ gương mặt Đức Chúa khi Ngài nâng bàn tay phải trong tư thế ban phúc, trong khi một trận mưa hoa lớn rơi xuống giữa dân chúng. Một lần nữa các thành viên của Huynh Đệ Đoàn cúi lạy, một lần nữa đám đông phủ phục, và hình ảnh ấy từ từ tan biến khỏi bầu trời, trong khi đám đông giải tỏa cảm xúc của mình bằng những tiếng reo mừng và tán dương. Các thành viên của Huynh Đệ Đoàn tiến đến Đức Di Lặc theo thứ tự được kết nạp của họ, và mỗi người nhấp một ngụm nước trong chiếc bát vàng, dân chúng cũng nhấp nước của họ, rồi mang phần còn lại về nhà trong những chiếc bình da kỳ lạ như nước thánh để xua đuổi mọi ảnh hưởng tà ác khỏi nhà họ, hoặc có lẽ để chữa bệnh. Sau đó, đoàn người đông đảo tan ra với những lời chúc mừng lẫn nhau, và dân chúng mang về những mái nhà xa xôi của họ một ký ức không thể xóa nhòa về nghi lễ kỳ diệu mà họ đã tham dự.

The Predecessors of the Buddha

Những vị Tiền nhiệm của Đức Phật

An interesting glimpse of the predecessors of the Buddha is to be found in the Vision of St. John the Divine: “And round about the throne were four and twenty seats; and upon the seats I saw four and twenty elders sitting, clothed in white raiment; and they had on their heads crowns of gold.”

Một thoáng nhìn thú vị về những vị tiền nhiệm của Đức Phật có thể được tìm thấy trong Khải tượng của Thánh John Thần học gia: “Và chung quanh ngai có hai mươi bốn chỗ ngồi; và trên các chỗ ngồi tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi, mặc áo trắng; và trên đầu họ có những vương miện bằng vàng.”

He who is privileged to see this—and remember, it will come to every one some day—does so from the special point of view of his own beliefs. Therefore St. John saw what he expected to see, the twenty-four elders of the Jewish tradition. That number, twenty-four, marks the date at which this vision was first seen, or rather the date at which the Jewish idea of that glory was formulated. If we now could raise ourselves into the Spirit, and could see that ineffable glory, we should see twentyfive, not twenty-four Elders, for there has been one Lord Buddha who has attained since this vision was crystallized in the Jewish scheme of higher thought. For those elders are the Great Teachers who have taught the worlds in this our Round. There are seven Buddhas to each world; that makes twenty-one for the three worlds which we have passed, and then the Lord Gautama was the fourth of the Buddhas of this world. Therefore, twenty-four were the elders in those old days, but they would be twenty-five if we could see them now.

Người nào có đặc ân thấy điều này—và hãy nhớ rằng, một ngày nào đó nó sẽ đến với mọi người—thì thấy từ quan điểm đặc biệt của các niềm tin riêng mình. Vì vậy Thánh John đã thấy điều ông trông đợi sẽ thấy, hai mươi bốn trưởng lão của truyền thống Do Thái. Con số ấy, hai mươi bốn, đánh dấu thời điểm mà linh ảnh này lần đầu được thấy, hay đúng hơn là thời điểm mà ý niệm Do Thái về vinh quang ấy được hình thành. Nếu bây giờ chúng ta có thể nâng mình vào Tinh thần, và có thể thấy vinh quang không thể diễn tả ấy, chúng ta sẽ thấy hai mươi lăm, chứ không phải hai mươi bốn Trưởng lão, vì đã có một Đức Phật đạt thành kể từ khi linh ảnh này được kết tinh trong hệ thống tư tưởng cao của Do Thái. Bởi các trưởng lão ấy là những Huấn sư Vĩ Đại đã giảng dạy các thế giới trong cuộc tuần hoàn này của chúng ta. Có bảy vị Phật cho mỗi thế giới; điều đó làm thành hai mươi mốt vị cho ba thế giới mà chúng ta đã đi qua, và rồi Đức Gautama là vị thứ tư trong các vị Phật của thế giới này. Vì vậy, hai mươi bốn là số trưởng lão trong những ngày xa xưa ấy, nhưng họ sẽ là hai mươi lăm nếu chúng ta có thể thấy các Ngài bây giờ.

The Christian Church has translated that some-what differently, taking those elders as its twelve apostles and the twelve Jewish prophets. If those twenty-four were the apostles and the prophets, the seer must have seen himself among the rest, which would surely have been mentioned. Those elders had on their heads crowns of gold, it is said, and a little later on we read that they cast their crowns before him, as we sing in the glorious Trinity hymn.

Giáo hội Thiên Chúa giáo đã dịch điều đó hơi khác, coi các trưởng lão ấy là mười hai tông đồ của mình và mười hai tiên tri Do Thái. Nếu hai mươi bốn vị ấy là các tông đồ và các tiên tri, nhà thông nhãn hẳn đã thấy chính mình ở giữa những người còn lại, điều chắc chắn đã được nhắc đến. Người ta nói rằng các trưởng lão ấy có trên đầu những vương miện bằng vàng, và ít lâu sau chúng ta đọc rằng họ ném vương miện của mình xuống trước Ngài, như chúng ta hát trong thánh ca Ba Ngôi vinh quang.

I remember that as a child I marvelled much how that could be. It seemed a strange thing that these men could constantly cast down those crowns, and still have crowns to cast. I could not understand it, and I wondered what scheme there was for the returning of the crowns to their heads, so that they could cast them down again. Such faintly ridiculous ideas are perhaps not unnatural in a child; but they disappear when one understands. If we have seen images of the Lord Buddha we must have noticed that out of the crown of his head there usually comes a little mound or cone. It is as a crown, golden in colour, which represents the outpouring spiritual force from what is called the sahasrara chakra, the centre at the top of the man’s head—the thousand-petalled lotus, as it is poetically called in Oriental books.[5]

Tôi nhớ rằng khi còn là một đứa trẻ, tôi rất ngạc nhiên không hiểu điều ấy có thể xảy ra như thế nào. Dường như là một điều lạ lùng khi những người này có thể không ngừng ném xuống những vương miện ấy, mà vẫn có vương miện để ném. Tôi không thể thấu hiểu điều đó, và tôi tự hỏi có cơ chế nào để đưa các vương miện trở lại trên đầu họ, để họ có thể lại ném chúng xuống. Những ý tưởng hơi buồn cười như thế có lẽ không phải là không tự nhiên nơi một đứa trẻ; nhưng chúng biến mất khi người ta thấu hiểu. Nếu chúng ta đã thấy các tượng Đức Phật, hẳn chúng ta phải nhận thấy rằng từ đỉnh đầu Ngài thường có một ụ nhỏ hay hình nón nhô lên. Nó giống như một vương miện, có màu vàng kim, tượng trưng cho mãnh lực tinh thần tuôn đổ từ cái được gọi là luân xa sahasrara, trung tâm ở đỉnh đầu con người—hoa sen nghìn cánh, như nó được gọi một cách thi vị trong các sách phương Đông.

In the highly developed man that centre pours out splendour and glory, which makes for him a veritable crown; and the meaning of the passage is that all that he has developed, all the splendid karma that he makes, all the glorious spiritual force that he generates—all that he casts perpetually at the feet of the Logos to be used in his work. So, over and over again, can he continue to cast down his golden crown, because it perpetually re-forms as the force wells up from within him.

Ở người phát triển cao, trung tâm ấy tuôn đổ vẻ huy hoàng và vinh quang, tạo cho y một vương miện thực sự; và ý nghĩa của đoạn văn là tất cả những gì y đã phát triển, tất cả nghiệp quả huy hoàng mà y tạo nên, tất cả mãnh lực tinh thần rực rỡ mà y phát sinh—tất cả những điều ấy y không ngừng ném xuống dưới chân Thượng đế để được sử dụng trong công việc của Ngài. Vì thế, hết lần này đến lần khác, y có thể tiếp tục ném xuống vương miện vàng của mình, bởi nó liên tục tái tạo khi mãnh lực trào lên từ bên trong y.

The Bodhisattva Maitreya

Đức Bồ Tát Di Lặc

The Lord Maitreya, whose name means kindliness or compassion, took up the office of Bodhisattva when the Lord Gautama laid it down, and since then he has made many efforts for the promotion of Religion. One of his first steps on assuming office was to take advantage of the tremendous magnetism generated in the world by the presence of the Buddha, to arrange that great Teachers should simultaneously appear in many different parts of the earth; so that within a comparatively short space of time we find not only the Buddha himself, Shri Shankaracharya and Mahavira in India, but also Mithra in Persia, Laotse and Confucius in China, and Pythagoras in ancient Greece.

Đức Di Lặc, danh xưng của Ngài có nghĩa là lòng nhân từ hay lòng từ bi, đảm nhận chức vụ Bồ Tát khi Đức Gautama đặt nó xuống, và từ đó đến nay Ngài đã thực hiện nhiều nỗ lực nhằm thúc đẩy Tôn giáo. Một trong những bước đầu tiên của Ngài khi đảm nhận chức vụ là tận dụng từ điện mãnh liệt được tạo ra trong thế giới bởi sự hiện diện của Đức Phật, để sắp đặt cho các Huấn sư vĩ Đại đồng thời xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau trên Trái Đất; nhờ vậy, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, chúng ta thấy không chỉ chính Đức Phật, Shri Shankaracharya và Mahavira ở Ấn Độ, mà còn Mithra ở Ba Tư, Laotse và Khổng Tử ở Trung Hoa, và Pythagoras ở Hy Lạp cổ đại.

Twice he has himself appeared—as Krishna in the Indian plains, and as Christ amid the hills of Palestine. In the incarnation as Krishna the great feature was always love; the Child Krishna drew round him people who felt for him the deepest, the most intense affection. Again in his birth in Palestine, love was the central feature of his teaching. He said: “This new commandment I give unto you, that ye love one another as I have loved you.” He asked that his disciples might all be one in him even as he was one with the Father. His closest disciple, St. John, insisted most strongly upon the same idea: “He that loveth not knoweth not God, for God is Love.”

Hai lần chính Ngài đã xuất hiện—như Krishna trên các đồng bằng Ấn Độ, và như Đức Christ giữa những ngọn đồi Palestine. Trong lần nhập thể như Krishna, đặc điểm lớn lao luôn luôn là tình thương; Hài nhi Krishna thu hút quanh mình những người cảm thấy dành cho Ngài tình cảm sâu xa nhất, mãnh liệt nhất. Một lần nữa, trong sự giáng sinh của Ngài tại Palestine, tình thương là đặc điểm trung tâm trong giáo lý của Ngài. Ngài nói: “Điều răn mới này Ta ban cho các ngươi, rằng các ngươi hãy thương yêu nhau như Ta đã thương yêu các ngươi.” Ngài cầu xin để các đệ tử của Ngài hết thảy đều hiệp nhất trong Ngài, cũng như Ngài hiệp nhất với Cha. Đệ tử thân cận nhất của Ngài, Thánh John, đã nhấn mạnh mạnh mẽ nhất cùng một ý tưởng: “Ai không thương yêu thì không biết Thượng đế, vì Thượng đế là Tình thương.”

What is now called Christianity was undoubtedly a magnificent conception as he originally taught it, sadly as it has fallen away from that high level in the hands of ignorant exponents since. It must not be assumed, of course, that the teaching of brotherly and neighbourly love was new in the world. As St. Augustine said in his book De Civitate Dei,

Điều ngày nay được gọi là Cơ Đốc giáo chắc chắn là một quan niệm huy hoàng khi Ngài nguyên thủy giảng dạy nó, dù đáng buồn thay nó đã sa sút khỏi cấp độ cao ấy trong tay những người diễn giải vô minh kể từ đó. Dĩ nhiên, không nên giả định rằng giáo huấn về tình thương huynh đệ và tình thương đối với người lân cận là điều mới mẻ trong thế giới. Như Thánh Augustine đã nói trong sách De Civitate Dei,

The identical thing that we now call the Christian religion existed among the ancients, and has not been lacking from the beginnings of the human race until the coming of Christ in the flesh, from which moment on the true religion, which already existed, began to be called Christian.

Chính điều giống hệt mà nay chúng ta gọi là tôn giáo Cơ Đốc đã tồn tại giữa người xưa, và không hề thiếu vắng từ những khởi thủy của nhân loại cho đến khi Đức Christ đến trong xác thịt, từ khoảnh khắc ấy trở đi tôn giáo chân thật, vốn đã tồn tại, bắt đầu được gọi là Cơ Đốc.

Readers of the Bhagavad Gita will also remember the teaching of love and devotion with which it is filled. The Bodhisattva also occupied occasionally the body of Tsong-ka-pa, the great Tibetan religious reformer, and throughout the centuries he has sent forth a stream of his pupils, including Nagarjuna, Aryasanga, Ramanujacharya, Madhavacharya, and many others, who founded new sects or threw new light upon the mysteries of religion, and among these was one of his pupils who was sent to found the Muhammadan faith.

Độc giả của Bhagavad Gita cũng sẽ nhớ giáo huấn về tình thương và sự sùng tín tràn đầy trong đó. Đức Bồ Tát cũng thỉnh thoảng sử dụng thể xác của Tsong-ka-pa, vị cải cách tôn giáo vĩ đại của Tây Tạng, và suốt các thế kỷ Ngài đã phóng ra một dòng các môn sinh của Ngài, gồm Nagarjuna, Aryasanga, Ramanujacharya, Madhavacharya, và nhiều vị khác, những người đã sáng lập các giáo phái mới hoặc rọi ánh sáng mới lên các bí nhiệm của tôn giáo, và trong số này có một môn sinh của Ngài được phái đi để sáng lập đức tin Hồi giáo.

The sending out of the teachers I have mentioned above is only part of his work, which is not confined to humanity, but includes the education of all creatures on earth, and among them the Deva evolution. He is thus the Head of all the faiths at present existing, and of many others which have died out in the course of time, though he is of course responsible for them only in their original form, and not for the corruption which man has naturally and inevitably introduced into all of them as the ages have rolled by. He varies the type of religion to suit the period of the world’s history at which it is put forth, and the people to whom it is given; but though the form may vary as evolution proceeds, the ethics are ever the same.

Việc phái đi các huấn sư mà tôi đã nhắc tới ở trên chỉ là một phần công việc của Ngài, công việc ấy không chỉ giới hạn nơi nhân loại mà còn bao gồm việc giáo dục mọi sinh vật trên Trái Đất, và trong số đó có cuộc tiến hóa thiên thần. Như vậy, Ngài là Đứng Đầu của tất cả các đức tin hiện đang tồn tại, và của nhiều đức tin khác đã biến mất theo dòng thời gian, dù dĩ nhiên Ngài chỉ chịu trách nhiệm về chúng trong hình thức nguyên thủy của chúng, chứ không phải về sự hư hỏng mà con người đã tự nhiên và không tránh khỏi đưa vào tất cả chúng khi các thời đại trôi qua. Ngài thay đổi loại hình tôn giáo cho phù hợp với thời kỳ của lịch sử thế giới mà nó được đưa ra, và với dân chúng mà nó được ban cho; nhưng dù hình thức có thể thay đổi khi tiến hoá diễn ra, luân lý thì luôn luôn như nhau.

He will come to earth many times more during the progress of the root race, founding many such religions, and each time drawing round himself such men of that race as are prepared to follow him, from among whose number he chooses some whom he can draw into closer relation with himself, some who are pupils in the innermost sense. Then towards the end of the race, when it is already far past its prime, and a new race is beginning to dominate the world, he will arrange that all his special pupils, who have followed him in those previous incarnations, shall come to birth together about the time of his last life in the world.

Ngài sẽ đến Trái Đất nhiều lần nữa trong tiến trình của giống dân gốc, sáng lập nhiều tôn giáo như thế, và mỗi lần thu hút quanh Ngài những người thuộc giống dân ấy đã sẵn sàng đi theo Ngài, từ số họ Ngài chọn một số người mà Ngài có thể kéo vào mối liên hệ gần gũi hơn với chính Ngài, một số người là môn sinh theo ý nghĩa thâm sâu nhất. Rồi về cuối giống dân, khi nó đã qua rất xa thời cực thịnh, và một giống dân mới đang bắt đầu thống trị thế giới, Ngài sẽ sắp đặt cho tất cả các môn sinh đặc biệt của Ngài, những người đã đi theo Ngài trong các lần nhập thể trước đó, cùng được sinh ra vào khoảng thời gian của đời sống cuối cùng của Ngài trong thế giới.

In it he will attain the great Initiation of the Buddha, and thus gain perfect enlightenment; at that time these pupils of his, without physically knowing or remembering him, will all be strongly attracted towards him, and under his influence great numbers of them will enter the Path, and many will advance to tile higher stages, having already in previous incarnations made considerable progress. We thought at first that the accounts given in the Buddhist books of the large numbers of men who instantly attained the Arhat level when the Lord Gautama became the Buddha were beyond the bounds of possibility; but we found on closer examination that there was truth underlying those accounts. It is possible that the numbers were exaggerated, but that very many pupils did suddenly attain these higher degrees of Initiation under the impetus given by the mighty magnetism and power of the Buddha is undoubtedly a fact.

Trong đời sống ấy, Ngài sẽ đạt Cuộc Điểm Đạo vĩ đại của Đức Phật, và nhờ vậy đạt sự giác ngộ hoàn hảo; vào lúc ấy, các môn sinh này của Ngài, dù không biết hay nhớ Ngài trên phương diện hồng trần, tất cả sẽ bị hấp dẫn mạnh mẽ về phía Ngài, và dưới ảnh hưởng của Ngài, số đông trong họ sẽ bước vào Đường Đạo, và nhiều người sẽ tiến tới các giai đoạn cao hơn, vì trong các lần nhập thể trước họ đã có sự tiến bộ đáng kể. Lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng các tường thuật trong các sách Phật giáo về số đông người tức khắc đạt cấp độ A-la-hán khi Đức Gautama trở thành Đức Phật là vượt ngoài giới hạn khả hữu; nhưng khi khảo sát kỹ hơn, chúng tôi thấy rằng có chân lý nằm dưới các tường thuật ấy. Có thể các con số đã được phóng đại, nhưng việc rất nhiều môn sinh đã đột ngột đạt các cấp độ Điểm Đạo cao hơn này dưới xung lực do từ điện và quyền năng hùng mạnh của Đức Phật ban cho chắc chắn là một sự kiện.

The Asala Festival

Lễ hội Asala

Besides the great Wesak Festival, there is one other occasion in each year when the members of the Brotherhood all meet together officially. The meeting in this case is usually held in the private house of the Lord Maitreya, situated also in the Himalayas, but on the southern instead of the northern slopes. On this occasion no pilgrims on the physical plane are present, but all astral visitors who know of the celebration are welcome to attend it. It is held on the full moon day of the month of Asala, (in Sanskrit Asâdha), usually corresponding to the English July.

Ngoài Đại lễ Wesak, còn có một dịp khác mỗi năm khi các thành viên của Huynh Đệ Đoàn đều chính thức tụ họp. Trong trường hợp này, cuộc gặp thường được tổ chức tại nhà riêng của Đức Di Lặc, cũng nằm trong dãy Himalaya, nhưng ở sườn phía nam thay vì phía bắc. Vào dịp này không có khách hành hương nào trên cõi hồng trần hiện diện, nhưng mọi khách viếng thăm trên cõi cảm dục biết về buổi lễ đều được chào đón tham dự. Nó được tổ chức vào ngày trăng tròn của tháng Asala, trong Sanskrit là Asâdha, thường tương ứng với tháng Bảy theo lịch Anh.

This is the anniversary of the delivery by the Lord Buddha of his first announcement of the great discovery—the sermon which he preached to his five disciples, commonly known as the Dhammachakkappavattana Sutta, which has been poetically translated by Rhys Davids as “The Setting in Motion of the Royal Chariot Wheels of the Kingdom of Righteousness”. It is often more briefly described in Buddhist books as “The Turning of the Wheel of the Law”. It explains for the first time the Four Noble Truths and the Noble Eightfold Path, expounding the great middle way of the Buddha—the life of perfect righteousness in the world, which lies midway between the extravagances of asceticism on the one hand and the carelessness of mere worldly life on the other.

Đây là ngày kỷ niệm Đức Phật ban bố lời tuyên ngôn đầu tiên về phát hiện vĩ đại—bài thuyết pháp mà Ngài giảng cho năm đệ tử của mình, thường được biết đến như Dhammachakkappavattana Sutta, đã được Rhys Davids dịch một cách thi vị là “Sự Khởi Chuyển các Bánh Xe Vương Giả của Cỗ Xe trong Vương Quốc Chính Nghĩa”. Nó thường được mô tả ngắn gọn hơn trong các sách Phật giáo là “Sự Chuyển Pháp Luân”. Bài ấy lần đầu giải thích Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo Cao Quý, trình bày trung đạo vĩ đại của Đức Phật—đời sống chính nghĩa hoàn hảo trong thế giới, nằm ở khoảng giữa những cực đoan của khổ hạnh một bên và sự buông thả của đời sống thế tục đơn thuần bên kia.

In his love for his great predecessor the Lord Maitreya has ordained that, whenever the anniversary of that first preaching comes round, the same sermon shall be recited once more in the presence of the assembled Brotherhood; and he usually adds to it a simple address of his own, expounding and applying it. The recitation of the sermon commences at the moment of full moon, and the reading and the address are usually over in about half an hour. The Lord Maitreya generally takes his place upon the marble seat which is set at the edge of a raised terrace in the lovely garden just in front of his house. The greatest of the Officials sit close about him, while the rest of the Brotherhood is grouped in the garden a few feet below. On this occasion, as on the other, there is often an opportunity for pleasant converse, and kindly greetings and benedictions are distributed by the Masters among their pupils and those who aspire to be their pupils.

Trong tình thương của Ngài dành cho vị tiền nhiệm vĩ đại, Đức Di Lặc đã quy định rằng mỗi khi ngày kỷ niệm bài thuyết pháp đầu tiên ấy trở lại, chính bài thuyết pháp ấy sẽ được tụng lại một lần nữa trước sự hiện diện của Huynh Đệ Đoàn đang tụ họp; và Ngài thường thêm vào đó một bài giảng giản dị của riêng mình, giảng giải và áp dụng nó. Việc tụng bài thuyết pháp bắt đầu vào khoảnh khắc trăng tròn, và phần đọc cùng bài giảng thường kết thúc trong khoảng nửa giờ. Đức Di Lặc thường ngự trên chiếc ghế cẩm thạch đặt ở mép một sân thượng trong khu vườn xinh đẹp ngay phía trước nhà Ngài. Những Vị Chức Sắc cao cả nhất ngồi gần quanh Ngài, trong khi phần còn lại của Huynh Đệ Đoàn tụ nhóm trong khu vườn thấp hơn vài bộ. Vào dịp này, cũng như dịp kia, thường có cơ hội cho cuộc trò chuyện vui vẻ, và các Chân sư ban phát những lời chào thân ái cùng phúc lành cho các môn sinh của Các Ngài và những người khát vọng trở thành môn sinh của Các Ngài.

It may be useful to give some account of the ceremony, and of what is usually said at these Festivals, though it is, of course, utterly impossible to reproduce the wonder and the beauty and the eloquence of the words of the Lord Maitreya on such occasions. The account which follows does not attempt to report any single discourse; it is a combination of, I fear, very imperfectly remembered fragments, some of which have already appeared elsewhere; but it will give to those who have not previously heard of it some idea of the line generally taken.

Có thể hữu ích khi đưa ra một vài mô tả về nghi lễ, và về những điều thường được nói trong các Lễ hội này, dù dĩ nhiên hoàn toàn không thể tái hiện vẻ kỳ diệu, vẻ đẹp và sự hùng biện trong lời của Đức Di Lặc vào những dịp như thế. Bản tường thuật sau đây không cố ghi lại một bài giảng riêng lẻ nào; nó là sự kết hợp của những mảnh rời, tôi e rằng được nhớ lại rất không hoàn hảo, một vài trong số đó đã xuất hiện ở nơi khác; nhưng nó sẽ đem đến cho những ai trước đây chưa nghe nói về điều này một ý niệm nào đó về đường hướng thường được chọn.

That great sermon is wonderfully simple, and its points are repeated over and over again. There was no shorthand in those days, so that it might be taken down and read by every one afterwards; his disciples had to remember his words by the impression made on them at the time. So he made them simple, and he repeated them again and again like a refrain, so that the people might be sure of them. One may readily see in reading it that it is constructed for this special purpose—that it may be easily remembered. Its points are arranged categorically, so that when it has once been heard each point reminds one of the next, as though it were a kind of mnemonic, and to the Buddhist each of these separate and easily remembered words suggests a whole body of related ideas, so that the sermon, short and simple as it is, contains an explanation and a rule of life.

Bài thuyết pháp vĩ đại ấy giản dị một cách kỳ diệu, và các điểm của nó được lặp đi lặp lại nhiều lần. Vào những ngày ấy không có tốc ký, để có thể ghi lại rồi sau đó mọi người đọc; các đệ tử của Ngài phải ghi nhớ lời Ngài bằng ấn tượng được tạo ra trên họ vào lúc ấy. Vì vậy Ngài làm cho chúng giản dị, và Ngài lặp lại chúng nhiều lần như một điệp khúc, để dân chúng có thể chắc chắn về chúng. Khi đọc nó, người ta có thể dễ dàng thấy rằng nó được cấu tạo cho mục đích đặc biệt này—để nó có thể được ghi nhớ dễ dàng. Các điểm của nó được sắp xếp theo phạm trù, đến nỗi một khi đã nghe rồi, mỗi điểm nhắc người ta nhớ đến điểm kế tiếp, như thể nó là một loại trợ ký, và đối với người Phật tử, mỗi từ riêng biệt và dễ nhớ này gợi lên cả một khối ý tưởng liên hệ, đến nỗi bài thuyết pháp, tuy ngắn và giản dị, lại chứa đựng một sự giải thích và một quy luật sống.

One might well think that all that can be said about the sermon has been said already many times over; yet the Lord, with his wonderful eloquence and the way in which he puts it, makes it every year seem something new, and each person feels its message as though it were specially addressed to himself. On that occasion, as in the original preaching, the Pentecostal miracle repeats itself. The Lord speaks in the original sonorous Pali, but every one present hears him “in his own tongue wherein he was born,” as is said in the Acts of the Apostles.

Người ta có thể nghĩ rằng tất cả những gì có thể nói về bài thuyết pháp ấy đã được nói nhiều lần rồi; vậy mà Đức Chúa, với sự hùng biện kỳ diệu của Ngài và cách Ngài trình bày, mỗi năm làm cho nó dường như thành một điều mới mẻ, và mỗi người cảm nhận thông điệp của nó như thể nó được gửi riêng cho chính mình. Vào dịp ấy, cũng như trong bài thuyết pháp nguyên thủy, phép lạ Ngũ Tuần tự lặp lại. Đức Chúa nói bằng tiếng Pali nguyên thủy ngân vang, nhưng mỗi người hiện diện đều nghe Ngài “trong tiếng mẹ đẻ của mình,” như được nói trong Công vụ các Tông đồ.

The Four Noble Truths

Tứ Diệu Đế

The sermon begins with a proclamation that the Middle Path is the safest, and indeed the only true Path. To plunge on the one hand into the sensual excesses and pleasures of the ordinary worldly life is mean and degrading, and leads a man nowhither. On the other hand, extravagant asceticism is also evil and useless. There may be a few to whom the high ascetic and solitary life appeals, and they may be capable of leading it rightly, though even then it must not be carried to excess; but for all ordinary people the Middle Way of a good life lived in the world is in every way best and safest. The first step towards the leading of such a life is to understand its conditions; and the Lord Buddha lays these down for us in what he has called the Four Noble Truths. These are:

Bài thuyết pháp bắt đầu bằng lời tuyên bố rằng Trung Đạo là Con Đường an toàn nhất, và thật ra là Con Đường chân thật duy nhất. Một mặt, lao mình vào những thái quá và khoái lạc giác quan của đời sống thế tục thông thường là thấp hèn và suy đồi, và chẳng dẫn con người đến đâu. Mặt khác, sự khổ hạnh cực đoan cũng là xấu và vô ích. Có thể có một số ít người mà đời sống khổ hạnh cao cả và cô tịch lôi cuốn, và họ có thể đủ khả năng sống đời ấy một cách đúng đắn, dù ngay cả khi đó cũng không được đưa nó đến mức thái quá; nhưng đối với mọi người bình thường, Trung Đạo của một đời sống tốt lành được sống trong thế giới là tốt nhất và an toàn nhất về mọi mặt. Bước đầu tiên để dẫn dắt một đời sống như thế là thấu hiểu các điều kiện của nó; và Đức Phật nêu ra cho chúng ta những điều này trong cái mà Ngài gọi là Tứ Diệu Đế. Đó là:

1. Sorrow or Suffering.

1. Khổ đau hay Đau khổ.

2. The Cause of Sorrow.

2. Nguyên nhân của Khổ đau.

3. The Ceasing of Sorrow (or the Escape from Sorrow).

3. Sự chấm dứt Khổ đau, hay sự Thoát khỏi Khổ đau.

4. The Way which leads to the Escape from Sorrow. 1. The First Truth is an assertion that all manifested life is sorrow, unless man knows how to live it. In commenting upon this, the Bodhisattva said that there are two senses in which manifested life is sorrowful. One of these is to some extent inevitable, but the other is an entire mistake and is very easily to be avoided. To the Monad, who is the true Spirit of man, all manifested life is in one sense a sorrow, because it is a limitation; a limitation which we in our physical brain cannot in the least conceive, because we have no idea of the glorious freedom of the higher life. In exactly the same sense it has always been said that the Christ offers himself as a Sacrifice when he descends into matter. It is a sacrifice undoubtedly, because it is an inexpressibly great limitation, for it shuts off from him all the glorious powers which are his on his own level. The same is true of the Monad of man; he undoubtedly makes a great sacrifice when he brings himself into connection with lower matter, when he hovers over it through the long ages of its development up to the human level, when he puts down a tiny fragment of himself (a finger-tip as it were) and thereby makes an ego, or individual soul.

4. Con Đường dẫn tới sự Thoát khỏi Khổ đau. 1. Chân lý Thứ nhất là một khẳng định rằng mọi sự sống biểu hiện đều là khổ đau, trừ khi con người biết cách sống nó. Khi bình giảng điều này, Đức Bồ Tát nói rằng có hai nghĩa trong đó sự sống biểu hiện là đau khổ. Một trong hai nghĩa này ở một mức độ nào đó là không tránh khỏi, nhưng nghĩa kia là một sai lầm hoàn toàn và rất dễ tránh. Đối với chân thần, vốn là Tinh thần chân thật của con người, mọi sự sống biểu hiện theo một nghĩa nào đó là khổ đau, bởi vì nó là một giới hạn; một giới hạn mà chúng ta trong bộ não hồng trần của mình không thể nào quan niệm được chút nào, vì chúng ta không có ý niệm về tự do huy hoàng của đời sống cao hơn. Chính theo cùng nghĩa đó, người ta luôn nói rằng Đức Christ tự hiến mình như một Hy sinh khi Ngài giáng xuống vật chất. Đó chắc chắn là một hy sinh, bởi vì nó là một sự giới hạn lớn lao không thể diễn tả, vì nó che khuất khỏi Ngài tất cả các quyền năng huy hoàng vốn thuộc về Ngài trên cấp độ riêng của Ngài. Điều tương tự cũng đúng với chân thần của con người; y chắc chắn thực hiện một hy sinh lớn lao khi y đưa mình vào liên hệ với vật chất thấp, khi y lơ lửng trên nó suốt các thời đại dài của sự phát triển của nó cho tới cấp độ nhân loại, khi y đưa xuống một mảnh rất nhỏ của chính mình, có thể nói như đầu ngón tay, và nhờ đó tạo nên một chân ngã, hay linh hồn cá thể.

Even though we may be only a tiny fragment—indeed, a fragment of a fragment—we are nevertheless a part of a magnificent reality. There is nothing to be proud of in being only a fragment, but there is a certainty that because we are therefore part of the higher, we can eventually rise into the higher and become one therewith. That is the end and aim of our evolution. And even when we attain that, remember that it is not for the sake of our delight in the advancement, but that we may be able to help in the scheme. All these sacrifices and limitations may rightly be described as involving suffering; but they are undertaken gladly as soon as the ego fully understands. An ego has not the perfection of the Monad, and so he does not fully understand at first; he has to learn like everybody else. That quite tremendous limitation at each further descent into matter is an unavoidable fact, and so there is that much of suffering inseparable from manifestation. We have to accept that limitation as a means to an end, as part of the Divine Scheme.

Dù chúng ta có thể chỉ là một mảnh rất nhỏ—thật vậy, một mảnh của một mảnh—tuy nhiên chúng ta vẫn là một phần của một thực tại huy hoàng. Không có gì để tự hào khi chỉ là một mảnh, nhưng có một sự chắc chắn rằng bởi vì như vậy chúng ta là một phần của cái cao hơn, cuối cùng chúng ta có thể vươn lên vào cái cao hơn và trở nên hợp nhất với nó. Đó là cứu cánh và mục đích của sự tiến hoá của chúng ta. Và ngay cả khi chúng ta đạt được điều đó, hãy nhớ rằng không phải vì niềm vui thích của chúng ta trong sự tiến bộ, mà để chúng ta có thể trợ giúp trong hệ hành tinh. Tất cả những hy sinh và giới hạn này có thể được mô tả đúng đắn là bao hàm đau khổ; nhưng chúng được đảm nhận một cách vui lòng ngay khi chân ngã thấu hiểu đầy đủ. Một chân ngã không có sự hoàn hảo của chân thần, và vì vậy ban đầu y không thấu hiểu đầy đủ; y phải học như mọi người khác. Sự giới hạn vô cùng lớn lao ấy ở mỗi lần đi xuống sâu hơn vào vật chất là một sự kiện không thể tránh, và vì vậy có chừng ấy đau khổ không thể tách rời khỏi sự biểu hiện. Chúng ta phải chấp nhận sự giới hạn ấy như một phương tiện đưa tới cứu cánh, như một phần của Thiên Cơ.

There is another sense in which life is often sorrow, but a kind of sorrow that can be entirely avoided. The man who lives the ordinary life of the world often finds himself in trouble of various kinds. It would not be true to say that he is always in sorrow, but he is often in anxiety, and he is always liable at any moment to fall into great sorrow or anxiety. The reason for this is that he is full of lower desires of various kinds, not at all necessarily wicked, but desires for lower things; and because of these desires he is tied down and confined. He is constantly striving to attain something which he has not, and he is full of anxiety as to whether he will attain it; and when he has attained it, he is anxious lest he should lose it. This is true not only of money but of position and power, of fame and of social advancement. All these cravings cause incessant trouble in many different ways. It is not only the individual anxiety of the man who has or has not some object of general desire; we have also to take into account all the envy and jealousy and ill-feeling caused in the hearts of others who are striving for the same object. There are other objects of desire which seem higher than these and yet are not the highest. How often, for example, a young man desires affection from someone who cannot give it to him, who has it not to give! From such a desire as that comes often a great deal of sadness, jealousy and much other ill-feeling. You will say that such a desire is natural; undoubtedly it is, and affection which is returned is a great source of happiness. Yet if it cannot be returned, a man should have the strength to accept the situation, and not allow sorrow to be caused by the unsatisfied desire. When we say that a thing is natural, we mean that it is what we might expect from the average man. But the student of occultism must try to rise somewhat above the level of the average man—otherwise how can he help that man? We must rise above that level in order that we may be able to reach down a helping hand. We must aim not at the natural (in the sense of the average), but at the supernatural.

Có một nghĩa khác trong đó đời sống thường là khổ đau, nhưng là một loại khổ đau có thể hoàn toàn tránh được. Người sống đời sống thông thường của thế gian thường thấy mình ở trong những rắc rối đủ loại. Sẽ không đúng khi nói rằng y luôn luôn ở trong khổ đau, nhưng y thường ở trong lo âu, và y luôn luôn có thể bất cứ lúc nào rơi vào khổ đau hay lo âu lớn lao. Lý do của điều này là y đầy dẫy những dục vọng thấp thuộc nhiều loại khác nhau, không nhất thiết là xấu xa, nhưng là những ham muốn đối với những điều thấp hơn; và vì những ham muốn này, y bị trói buộc và hạn chế. Y không ngừng nỗ lực đạt được một điều gì đó mà y chưa có, và y đầy lo âu liệu mình có đạt được nó hay không; và khi đã đạt được nó, y lại lo sợ rằng mình có thể mất nó. Điều này đúng không chỉ về tiền bạc mà còn về địa vị và quyền lực, về danh tiếng và sự thăng tiến xã hội. Tất cả những thèm muốn này gây ra rắc rối không ngừng theo nhiều cách khác nhau. Không chỉ có nỗi lo âu cá nhân của người có hay không có một đối tượng nào đó của ham muốn chung; chúng ta cũng phải tính đến tất cả sự ganh tị, ghen tuông và ác cảm gây ra trong lòng những người khác đang nỗ lực vì cùng một đối tượng. Có những đối tượng ham muốn khác dường như cao hơn những điều này nhưng vẫn không phải là cao nhất. Chẳng hạn, biết bao lần một người trẻ tuổi khao khát tình cảm từ một người không thể trao nó cho y, người không có nó để trao! Từ một ham muốn như thế thường phát sinh rất nhiều buồn bã, ghen tuông và nhiều ác cảm khác. Các bạn sẽ nói rằng một ham muốn như thế là tự nhiên; chắc chắn là thế, và tình cảm được đáp lại là một nguồn hạnh phúc lớn. Nhưng nếu nó không thể được đáp lại, con người nên có sức mạnh để chấp nhận tình thế, và không cho phép khổ đau phát sinh bởi ham muốn không được thỏa mãn. Khi chúng ta nói rằng một điều là tự nhiên, chúng ta muốn nói rằng đó là điều chúng ta có thể mong đợi nơi con người trung bình. Nhưng đạo sinh huyền bí học phải cố vươn lên phần nào trên cấp độ của con người trung bình—nếu không thì làm sao y có thể giúp người ấy? Chúng ta phải vươn lên trên cấp độ ấy để có thể đưa xuống một bàn tay trợ giúp. Chúng ta phải nhắm không phải tới cái tự nhiên, theo nghĩa trung bình, mà tới cái siêu nhiên.

One who is clairvoyant will readily subscribe to the truth of this great teaching of the Buddha, that on the whole life is sorrow; for if he looks at the astral and mental bodies of those whom he meets he will see that they are filled with a vast number of small vortices all whirling vigorously, representing all sorts of odd little thoughts, little anxieties, little troubles about one thing or another. All these cause disturbance and suffering, and what is needed most of all for progress is serenity. The only way to gain peace is to get rid of them altogether, and that brings us to our Second Noble Truth, the Cause of Sorrow. 2. We have already seen that the Cause of Sorrow is always desire. If a man has no desires, if he is not striving for place or power or wealth, then he is equally tranquil whether the wealth or position comes or whether it goes. He remains unruffled and serene because he does not care. Being human, he will of course wish for this or that, but always mildly and gently, so that he does not allow himself to be disturbed. We know, for example, how often people are prostrated with sorrow when they lose those whom they love by death. But if their affection be at the higher level, if they love their friend and not the body of their friend, there can be no sense of separation, and therefore no sorrow. If they are filled with desire for bodily contact with that friend on the physical plane, then at once that desire will cause sadness. But if they will put aside that desire and live in the communion of the higher life, the mourning passes away.

Người thông nhãn sẽ dễ dàng tán đồng chân lý của giáo huấn vĩ đại này của Đức Phật, rằng xét toàn thể, đời sống là khổ đau; vì nếu y nhìn vào các thể cảm dục và thể trí của những người y gặp, y sẽ thấy chúng đầy dẫy một số lượng lớn các xoáy nhỏ, tất cả quay cuồng mạnh mẽ, tượng trưng cho đủ loại tư tưởng nhỏ lạ lùng, những lo âu nhỏ, những phiền toái nhỏ về điều này hay điều kia. Tất cả những điều này gây xáo trộn và đau khổ, và điều cần thiết nhất cho sự tiến bộ là sự tĩnh lặng. Cách duy nhất để đạt được bình an là hoàn toàn loại bỏ chúng, và điều đó đưa chúng ta đến Chân lý Cao Quý Thứ hai, Nguyên nhân của Khổ đau. 2. Chúng ta đã thấy rằng Nguyên nhân của Khổ đau luôn luôn là ham muốn. Nếu một người không có ham muốn, nếu y không nỗ lực vì địa vị, quyền lực hay của cải, thì y vẫn bình thản như nhau dù của cải hay địa vị đến hay đi. Y vẫn không xao động và tĩnh lặng vì y không quan tâm. Là con người, dĩ nhiên y sẽ mong muốn điều này hay điều kia, nhưng luôn luôn nhẹ nhàng và ôn hòa, để y không cho phép mình bị xáo trộn. Chẳng hạn, chúng ta biết người ta thường gục ngã trong đau buồn biết bao khi họ mất những người họ yêu thương do cái chết. Nhưng nếu tình cảm của họ ở cấp độ cao hơn, nếu họ yêu thương người bạn của mình chứ không phải thể xác của người bạn ấy, thì không thể có cảm giác chia lìa, và do đó không có khổ đau. Nếu họ đầy ham muốn tiếp xúc thân xác với người bạn ấy trên cõi hồng trần, thì ngay lập tức ham muốn ấy sẽ gây buồn bã. Nhưng nếu họ gạt bỏ ham muốn ấy và sống trong sự giao cảm của đời sống cao hơn, sự than khóc sẽ qua đi.

Sometimes people grieve when they find old age coming upon them, when they find their vehicles not so strong as they used to be. They desire the strength and the faculties that they once had. It is wise for them to repress that desire, to realize that their bodies have done good work, and if they can no longer do the same amount as of yore, they should do gently and peacefully what they can, but not worry themselves over the change. Presently they will have new bodies; and the way to ensure a good vehicle is to make such use as one can of the old one, but in any case to be serene and calm and unruffled. The only way to do that is to forget self, to let all selfish desires cease, and to turn the thought outward to the helping of others as far as one’s capabilities go. 3. The Ceasing of Sorrow. Already we see how grief ceases and how calm is to be attained; it is by always keeping the thought on the highest things. We have still to live in this world, which has been poetically described as the sorrowful star—as indeed it is for so many, perhaps for most people, though it need not be; yet we may live in it quite happily if we are not attached to it by desire. We are in it, but we must not be of it—at least not to such an extent as to let it cause worry and trouble and vexation. Undoubtedly our duty is to help others in their afflictions and troubles and worries; but in order to do that effectively we must have none of our own; we must let those ruffles which might cause them slip smoothly past us, leaving us calm and contented. If we take this lower life with philosophy we shall find that for us sadness almost entirely ceases.

Đôi khi người ta đau buồn khi thấy tuổi già đến với mình, khi thấy các hiện thể của mình không còn mạnh mẽ như trước. Họ ham muốn sức mạnh và các năng lực mà họ từng có. Sẽ là khôn ngoan nếu họ kìm nén ham muốn ấy, nhận ra rằng các thể của họ đã làm công việc tốt đẹp, và nếu chúng không còn có thể làm nhiều như xưa, họ nên làm một cách dịu dàng và bình an những gì họ có thể, nhưng không tự làm khổ mình vì sự thay đổi. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ có các thể mới; và cách bảo đảm một hiện thể tốt là tận dụng hiện thể cũ trong khả năng của mình, nhưng trong mọi trường hợp vẫn phải tĩnh lặng, an nhiên và không xao động. Cách duy nhất để làm điều đó là quên bản ngã, để mọi ham muốn ích kỷ chấm dứt, và hướng tư tưởng ra ngoài vào việc trợ giúp người khác trong phạm vi khả năng của mình. 3. Sự chấm dứt Khổ đau. Chúng ta đã thấy khổ đau chấm dứt như thế nào và sự bình an phải được đạt tới ra sao; đó là bằng cách luôn giữ tư tưởng nơi những điều cao nhất. Chúng ta vẫn phải sống trong thế giới này, vốn đã được mô tả một cách thi vị là ngôi sao sầu khổ—quả thật nó là như thế đối với rất nhiều người, có lẽ đối với hầu hết mọi người, dù không cần phải như vậy; nhưng chúng ta có thể sống trong đó một cách khá hạnh phúc nếu chúng ta không gắn bó với nó bằng ham muốn. Chúng ta ở trong nó, nhưng không được thuộc về nó—ít nhất không đến mức để nó gây lo âu, rắc rối và phiền muộn. Không nghi ngờ gì, bổn phận của chúng ta là giúp người khác trong những khổ nạn, rắc rối và lo âu của họ; nhưng để làm điều đó một cách hiệu quả, chúng ta không được có những điều ấy nơi chính mình; chúng ta phải để những gợn sóng có thể gây ra chúng trôi êm qua chúng ta, để lại chúng ta an tĩnh và mãn nguyện. Nếu chúng ta đón nhận đời sống thấp này bằng tinh thần triết lý, chúng ta sẽ thấy rằng đối với chúng ta nỗi buồn gần như hoàn toàn chấm dứt.

There may be some who think such an attitude unattainable. It is not so, for if it were the Lord Buddha would never have prescribed it for us. We can all reach it, and, we ought to do so, because only when we have attained it can we really and effectively help our brother man.

Có thể có một số người nghĩ rằng thái độ như thế là không thể đạt được. Không phải vậy, vì nếu đúng thế thì Đức Phật đã chẳng bao giờ chỉ định nó cho chúng ta. Tất cả chúng ta đều có thể đạt tới nó, và chúng ta nên làm như thế, bởi chỉ khi đã đạt tới nó chúng ta mới thật sự và hiệu quả có thể giúp người huynh đệ nhân loại của mình.

The Noble Eightfold Path

Bát Chánh Đạo Cao Quý

4. The Way which leads to the Escape from Sorrow. This is given to us in what is called the Noble Eightfold Path—another of the Lord Buddha’s wonderful tabulations or categories. It is a very beautiful statement, because it can be taken at all levels. The man in the world, even the uneducated man, can take it in its lowest aspects and find a way to peace and comfort through it. And yet the highest philosopher may also take it and interpret it at his level and learn very much from it.

4. Con Đường dẫn tới sự Thoát khỏi Khổ đau. Điều này được trao cho chúng ta trong cái gọi là Bát Chánh Đạo Cao Quý—một trong những bảng liệt kê hay phạm trù kỳ diệu khác của Đức Phật. Đó là một lời trình bày rất đẹp, bởi vì nó có thể được tiếp nhận ở mọi cấp độ. Người trong thế gian, ngay cả người không học thức, có thể tiếp nhận nó trong các phương diện thấp nhất của nó và nhờ đó tìm thấy một con đường dẫn tới bình an và an ổn. Tuy nhiên, nhà triết học cao nhất cũng có thể tiếp nhận nó và diễn giải nó ở cấp độ của mình, rồi học được rất nhiều từ đó.

The first step in this Path is Right Belief. Some people object to that qualification, because they say that it demands from them something in the nature of blind faith. It is not at all that sort of belief which is required; it is rather a demand for a certain amount of knowledge as to the ruling factors in life. It demands that we shall understand a little of the Divine Scheme as far as it applies to us, and if we cannot yet see that for ourselves, that we should accept it as it is always put before us. Certain broad facts are always put before men in some form or other. They are explained even to savage tribes by their medicine-men, and to the rest of mankind by various religious teachers and in all kinds of scriptures. It is very true that scriptures and religions differ, but the points in which they all agree have to be accepted by a man before he can understand life sufficiently to live happily.

Bước đầu tiên trên Con Đường này là Chánh Tín. Một số người phản đối phẩm định ấy, vì họ nói rằng nó đòi hỏi nơi họ một điều gì đó thuộc bản chất đức tin mù quáng. Hoàn toàn không phải loại niềm tin ấy được đòi hỏi; đúng hơn, đó là một đòi hỏi về một lượng tri thức nào đó liên quan đến các yếu tố cai quản đời sống. Nó đòi hỏi chúng ta phải thấu hiểu đôi chút về Thiên Cơ trong chừng mực áp dụng cho chúng ta, và nếu chúng ta chưa thể tự mình thấy điều ấy, thì chúng ta nên chấp nhận nó như nó luôn được đặt trước chúng ta. Một số sự kiện rộng lớn luôn được đặt trước con người dưới hình thức này hay hình thức khác. Chúng được giải thích ngay cả cho các bộ lạc hoang dã bởi các thầy thuốc-pháp sư của họ, và cho phần còn lại của nhân loại bởi những huấn sư tôn giáo khác nhau và trong đủ loại kinh điển. Rất đúng là kinh điển và tôn giáo khác nhau, nhưng những điểm mà tất cả đều đồng ý phải được một người chấp nhận trước khi y có thể thấu hiểu đời sống đủ để sống hạnh phúc.

One of these facts is the eternal Law of Cause and Effect. If a man lives under the delusion that he can do anything that he likes, and that the effect of his actions will never recoil upon himself, he will most certainly find that some of these actions eventually involve him in unhappiness and suffering. If, again, he does not understand that the object of his life is progress, that God’s Will for him is that he shall grow to be something better and nobler than he is now, then also he will bring unhappiness and suffering upon himself, because he will be likely to live for the lower side of life only, and that lower side of life never finally satisfies the inner man. And so it comes about that he must at least know something of these great laws of Nature, and if he cannot yet know them for himself it will be well for him to believe them. Later on, and at a higher level, before the second Initiation can be attained, we are told that we must kill out all doubt.

Một trong những sự kiện này là Định luật vĩnh cửu về Nhân và Quả. Nếu một người sống trong ảo tưởng rằng y có thể làm bất cứ điều gì y thích, và rằng hậu quả của các hành động của y sẽ không bao giờ dội lại trên chính y, thì chắc chắn y sẽ thấy rằng một số hành động ấy cuối cùng kéo y vào bất hạnh và đau khổ. Lại nữa, nếu y không thấu hiểu rằng mục tiêu đời sống của y là sự tiến bộ, rằng Ý Chí của Thượng Đế dành cho y là y phải lớn lên thành một điều gì tốt đẹp hơn và cao quý hơn hiện nay, thì khi ấy y cũng sẽ đem bất hạnh và đau khổ đến cho chính mình, bởi y sẽ có khuynh hướng chỉ sống cho mặt thấp của đời sống, và mặt thấp ấy của đời sống rốt cuộc không bao giờ làm thỏa mãn con người bên trong. Và vì thế, y ít nhất phải biết đôi chút về các định luật vĩ đại này của Thiên nhiên, và nếu y chưa thể tự mình biết chúng, sẽ tốt cho y nếu tin chúng. Về sau, và ở một cấp độ cao hơn, trước khi lần điểm đạo thứ hai có thể đạt được, chúng ta được dạy rằng chúng ta phải tiêu diệt mọi nghi ngờ.

When the Lord Buddha was asked whether this meant that we must accept some form of belief blindly, he replied: “No, but you must know for yourself three great things—that only upon the Path of Holiness and good living can man finally attain perfection; that in order to attain it he moves through many lives, gradually rising higher and higher; and that there is a Law of Eternal Justice under which all these things work.” At that stage the man must cast out all doubt, and must be thoroughly and inwardly convinced of these things; but for the man of the world it is well that he should at least believe that much because unless he has that as a guide in life he cannot get any further.

Khi Đức Phật được hỏi liệu điều này có nghĩa là chúng ta phải mù quáng chấp nhận một hình thức niềm tin nào đó hay không, Ngài đáp: “Không, nhưng các bạn phải tự mình biết ba điều vĩ đại—rằng chỉ trên Con Đường Thánh thiện và sống tốt lành con người mới có thể cuối cùng đạt tới sự hoàn hảo; rằng để đạt tới điều ấy, y đi qua nhiều đời sống, dần dần vươn lên ngày càng cao; và rằng có một Định luật Công lý Vĩnh cửu theo đó tất cả những điều này vận hành.” Ở giai đoạn ấy, con người phải loại bỏ mọi nghi ngờ, và phải được thuyết phục hoàn toàn và từ bên trong về những điều này; nhưng đối với con người của thế gian, sẽ tốt nếu y ít nhất tin chừng ấy, bởi nếu y không có điều đó làm kim chỉ nam trong đời sống thì y không thể tiến xa hơn.

The second step of the Noble Eightfold Path is Right Thought. Now, Right Thought means two separate things. The first demands that we should think about right things and not about wrong things. We can have at the back of our minds always high and beautiful thoughts, or on the other hand those minds may be filled with thoughts of common everyday matters. Let there be no mistake here; whatever work we are doing should be done thoroughly and earnestly, and with whatever concentration of thought upon it is necessary for that perfection. But most people, even when their work is done, or when there comes a pause in it, still have their thoughts running upon unimportant and comparatively ignoble things. Those who are devoted to the Master seek always to hold the thought of that Master in the back of their minds, so that when there is a moment’s respite from worldly action, at once that thought of him comes forward and occupies the mind. At once the pupil thinks: “What can I do to make my life like the Master’s? How can I so improve myself that I can show forth the beauty of the Lord to those around me? What can I do to carry on his work of helping other people?” One of the things we can all do is to send out helpful and sympathetic thought.

Bước thứ hai của Bát Chánh Đạo cao quý là Chánh Tư Duy. Nay, Chánh Tư Duy có hai ý nghĩa riêng biệt. Ý nghĩa thứ nhất đòi hỏi chúng ta phải nghĩ về những điều đúng đắn chứ không phải những điều sai trái. Trong nền sau của thể trí, chúng ta luôn có thể giữ những tư tưởng cao đẹp, hoặc trái lại, thể trí ấy có thể đầy những tư tưởng về các việc thường ngày tầm thường. Ở đây đừng hiểu lầm; bất cứ công việc nào chúng ta đang làm cũng phải được thực hiện một cách trọn vẹn, nghiêm túc, và với mức tập trung tư tưởng cần thiết để đạt đến sự hoàn hảo ấy. Nhưng phần đông người ta, ngay cả khi công việc đã xong, hoặc khi có một khoảng ngừng trong công việc, vẫn để tư tưởng chạy theo những điều không quan trọng và tương đối thấp kém. Những ai tận hiến cho Chân sư luôn tìm cách giữ tư tưởng về Chân sư ấy trong nền sau của thể trí, để khi có một phút nghỉ ngơi khỏi hoạt động thế tục, tức khắc tư tưởng về Ngài hiện ra phía trước và chiếm lĩnh thể trí. Ngay lập tức người môn sinh nghĩ: “Tôi có thể làm gì để đời sống của tôi giống như đời sống của Chân sư? Tôi có thể tự cải thiện như thế nào để biểu lộ vẻ đẹp của Chúa đến những người chung quanh tôi? Tôi có thể làm gì để tiếp nối công việc giúp đỡ những người khác của Ngài?” Một trong những điều tất cả chúng ta đều có thể làm là phóng ra tư tưởng hữu ích và đầy cảm thông.

Remember, also, that Right Thought must be definite and not scattered; thoughts resting for a moment on one thing and then flying instantly to something else are useless, and will not help us at all in learning to manage our thoughts. Right Thought must never have the slightest touch of evil in it; there must be nothing doubtful about it. There are many people who would not deliberately think of anything impure or horrible, and yet they will cherish thoughts which are on the brink of that—not definitely evil, but certainly a little doubtful. In Right Thought there must be nothing like that; wherever there is anything which seems in the least suspicious or unkind, it must be shut out. We must be quite sure that all our thoughts are thoroughly kind and good.

Cũng hãy nhớ rằng Chánh Tư Duy phải xác định và không tản mạn; những tư tưởng chỉ dừng lại trong chốc lát nơi một điều rồi lập tức bay sang điều khác là vô ích, và sẽ không giúp chúng ta chút nào trong việc học cách điều khiển tư tưởng của mình. Chánh Tư Duy không bao giờ được có dù chỉ một chút vết tích của điều ác; trong đó không được có điều gì khả nghi. Có nhiều người sẽ không cố ý nghĩ đến bất cứ điều gì bất tịnh hay ghê tởm, thế nhưng họ lại nuôi dưỡng những tư tưởng ở sát bờ vực của điều ấy—không hẳn là xấu ác, nhưng chắc chắn có phần đáng ngờ. Trong Chánh Tư Duy không được có điều gì như thế; nơi nào có bất cứ điều gì có vẻ dù chỉ hơi đáng ngờ hoặc thiếu tử tế, nó phải bị loại ra. Chúng ta phải hoàn toàn chắc chắn rằng mọi tư tưởng của mình đều triệt để tử tế và thiện lành.

There is another meaning of Right Thought, and that is correct thought—that we should think the truth only. So often we think untruly and wrongly of persons just because of prejudice or ignorance. We get an idea that a certain person is a bad person, and, therefore, that all that he does must be evil. We attribute motives to him which are often absolutely without foundation, and in doing so we are thinking untruly of him, and therefore our thought is not Right Thought. All men not yet Adepts have in them something of evil as well as something of good; but most unfortunately it is our custom to fix all our attention on the evil, and to forget all about the good—never to look for it at all. Therefore our thought about these people is not Right Thought, not only because it is uncharitable, but because it is untrue. We are looking only at one side of the person and we ignore the other side. Furthermore, by fixing our attention on the evil in the man instead of the good, we strengthen and encourage that evil; whereas by Right Thought we might give just the same encouragement to the good side of that man’s nature.

Có một ý nghĩa khác của Chánh Tư Duy, đó là tư tưởng đúng đắn—rằng chúng ta chỉ nên nghĩ sự thật. Chúng ta thường nghĩ một cách không thật và sai lầm về người khác chỉ vì thành kiến hoặc vô minh. Chúng ta có ý tưởng rằng một người nào đó là người xấu, và vì vậy, mọi điều y làm đều phải là xấu. Chúng ta gán cho y những động cơ thường hoàn toàn không có căn cứ, và khi làm như thế, chúng ta đang nghĩ không thật về y; do đó tư tưởng của chúng ta không phải là Chánh Tư Duy. Tất cả những người chưa phải là Chân sư đều có trong mình một phần xấu cũng như một phần tốt; nhưng thật đáng tiếc, thói quen của chúng ta là dồn toàn bộ sự chú ý vào điều xấu, và quên hẳn điều tốt—thậm chí không bao giờ tìm kiếm nó. Vì vậy tư tưởng của chúng ta về những người ấy không phải là Chánh Tư Duy, không chỉ vì nó thiếu bác ái, mà còn vì nó không thật. Chúng ta chỉ nhìn vào một mặt của con người và bỏ qua mặt kia. Hơn nữa, bằng cách dồn sự chú ý vào điều xấu nơi con người thay vì điều tốt, chúng ta củng cố và khuyến khích điều xấu ấy; trong khi bằng Chánh Tư Duy, chúng ta có thể trao cùng một sự khích lệ như thế cho mặt tốt trong bản chất của người ấy.

The next stage is Right Speech; and here again we find just the same two divisions. First, we should speak always of good things. It is not our business to speak of the evil deeds of others. In most cases the stories about other people which reach us are not true, and so if we repeat them our words also are untrue, and we are doing harm to ourselves as well as to the person of whom we speak. And even if the story is true it is still wrong to repeat it, for we can do no good to the man by saying over and over again that he has done wrong; the kindest thing that we could do would be to say nothing about it. We should do that instinctively if the wrong thing were done by a husband, a son, a brother; we should certainly feel that it would be wrong to advertise the misdeed of one whom we loved to many people who would not otherwise hear of it. But if there is any truth at all in our profession of universal brotherhood we should realize that we have no right to circulate evil about any man, that we should speak with regard to others as we should wish them to speak with regard to us. Yet again we must remember that many people make their speech untrue because they allow themselves to fall into exaggeration and inaccuracy. They make little things into enormous stories; assuredly that is not Right Speech.

Giai đoạn kế tiếp là Chánh Ngữ; và ở đây một lần nữa chúng ta thấy đúng hai phân chia như thế. Trước hết, chúng ta phải luôn nói về những điều tốt đẹp. Việc nói về những hành vi xấu của người khác không phải là việc của chúng ta. Trong phần lớn trường hợp, những câu chuyện về người khác đến tai chúng ta là không thật; vì vậy nếu chúng ta lặp lại chúng thì lời nói của chúng ta cũng không thật, và chúng ta gây hại cho chính mình cũng như cho người mà chúng ta nói đến. Và ngay cả nếu câu chuyện là thật, việc lặp lại nó vẫn là sai, vì chúng ta chẳng thể làm điều gì tốt cho người ấy bằng cách cứ nói đi nói lại rằng y đã làm sai; điều tử tế nhất chúng ta có thể làm là không nói gì về điều đó. Chúng ta sẽ làm như vậy một cách bản năng nếu việc sai trái ấy do một người chồng, một người con, một người anh em gây ra; chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy rằng việc quảng bá lỗi lầm của một người mình yêu thương cho nhiều người vốn không biết chuyện ấy nghe là điều sai trái. Nhưng nếu trong lời tuyên xưng tình huynh đệ phổ quát của chúng ta có chút sự thật nào, chúng ta phải nhận ra rằng mình không có quyền truyền bá điều xấu về bất kỳ người nào, rằng chúng ta phải nói về người khác như chúng ta muốn họ nói về chúng ta. Lại nữa, chúng ta phải nhớ rằng nhiều người làm cho lời nói của mình trở nên không thật vì họ để mình rơi vào sự phóng đại và thiếu chính xác. Họ biến những điều nhỏ bé thành những câu chuyện khổng lồ; chắc chắn đó không phải là Chánh Ngữ.

Again, speech must be kindly; and it must be direct and forceful, not silly. A large section of the world exists under the delusion that it must make conversation; that it is odd or rude not to be perpetually babbling. The idea seems to be that when one meets a friend one must keep talking all the time, or the friend will be hurt. Remember that when the Christ was on earth he made a very strict statement that for every idle word that a man should speak he would have to account hereafter. The idle word is so often a mischievous word; but quite apart from that, even innocent idle words involve waste of time; if we must talk, at least we might say something useful and helpful. Some people, with the idea of seeming smart, keep up a stream of constant half-joking or sneering talk. They must always be capping something that someone else has said. They must always be showing everything in a ridiculous or amusing aspect. Certainly all that comes under the heading of idle words, and there is no doubt that it is seriously necessary that we should exercise exceeding care in this matter of Right Speech.[6]

Lại nữa, lời nói phải tử tế; và nó phải trực tiếp, mạnh mẽ, không ngớ ngẩn. Một phần lớn thế gian sống dưới ảo tưởng rằng họ phải trò chuyện; rằng không ba hoa liên tục là kỳ quặc hoặc bất lịch sự. Dường như ý tưởng là khi gặp một người bạn, người ta phải nói mãi không ngừng, nếu không người bạn ấy sẽ bị tổn thương. Hãy nhớ rằng khi Đức Christ còn ở trên Trái Đất, Ngài đã đưa ra một lời tuyên bố rất nghiêm khắc rằng về mỗi lời nhàn rỗi mà con người nói ra, y sẽ phải khai trình về sau. Lời nhàn rỗi thường là lời gây tai hại; nhưng hoàn toàn ngoài điều đó, ngay cả những lời nhàn rỗi vô hại cũng hàm chứa sự lãng phí thời gian; nếu chúng ta phải nói, ít nhất chúng ta có thể nói điều gì đó hữu ích và giúp đỡ. Một số người, với ý muốn tỏ ra lanh lợi, duy trì một dòng nói năng liên tục nửa đùa cợt hoặc mỉa mai. Họ luôn phải thêm thắt vào điều người khác vừa nói. Họ luôn phải trình bày mọi sự dưới một khía cạnh lố bịch hoặc buồn cười. Chắc chắn tất cả những điều đó đều thuộc về hạng mục những lời nhàn rỗi, và không nghi ngờ gì nữa, việc chúng ta phải hết sức cẩn trọng trong vấn đề Chánh Ngữ này là điều nghiêm trọng cần thiết.

The next step is Right Action. We see at once that these three steps necessarily follow one from another. If we think always of good things, we shall certainly not speak of evil things, because we speak what is in our mind; and if our thought and speech are good, then the action which follows will also be good. Action must be prompt and yet well considered. We all know some people who, when any emergency arises, seem to become helpless; they potter about and do not know what to do, and they get in the way of those who have their brains in better working order. Others plunge into some rash action without thinking at all. Learn to think quickly and act promptly, and yet always with consideration. Above all, always let action be unselfish; let it never be actuated in the least by personal considerations. That is very hard for most people, and yet it is a power which must be acquired. We who try to live for the Master have many opportunities in our work to put that idea into practice. We must all think only what is best for the work and what we can do to help others, and we must entirely put aside any personal considerations. We must not think what part in the work we should like to bear, but we must try to do best that we possibly can with the part that is assigned to us.

Bước kế tiếp là Chánh Nghiệp. Chúng ta thấy ngay rằng ba bước này tất yếu nối tiếp nhau. Nếu chúng ta luôn nghĩ về những điều tốt đẹp, chắc chắn chúng ta sẽ không nói về những điều xấu, vì chúng ta nói ra điều ở trong thể trí mình; và nếu tư tưởng cùng lời nói của chúng ta là tốt, thì hành động theo sau cũng sẽ tốt. Hành động phải mau lẹ nhưng vẫn được cân nhắc kỹ. Tất cả chúng ta đều biết một số người, khi có bất cứ tình huống khẩn cấp nào phát sinh, dường như trở nên bất lực; họ lúng túng xoay xở mà không biết phải làm gì, và họ cản trở những người có bộ não hoạt động tốt hơn. Những người khác thì lao vào một hành động hấp tấp nào đó mà chẳng suy nghĩ gì. Hãy học suy nghĩ nhanh và hành động kịp thời, nhưng vẫn luôn có sự cân nhắc. Trên hết, hãy luôn để hành động là vô ngã; đừng bao giờ để nó bị thúc đẩy dù chỉ chút ít bởi những cân nhắc cá nhân. Điều đó rất khó đối với phần đông người ta, nhưng đó là một quyền năng phải được đạt tới. Chúng ta, những người cố gắng sống vì Chân sư, có nhiều cơ hội trong công việc của mình để đưa ý tưởng ấy vào thực hành. Tất cả chúng ta chỉ phải nghĩ điều gì là tốt nhất cho công việc và điều gì chúng ta có thể làm để giúp người khác, và chúng ta phải hoàn toàn gạt sang một bên mọi cân nhắc cá nhân. Chúng ta không được nghĩ mình muốn đảm nhận phần nào trong công việc, mà phải cố gắng làm tốt nhất có thể với phần được giao cho mình.

In these days few people live by themselves as monks or hermits used to do. We live among others, so that whatever we think or say or do will necessarily affect a great many people. We should always bear in mind that our thought, our speech and our action are not merely qualities, but powers—powers given to us to use, for the use of which we are directly responsible. All are meant to be used for service, and to use them otherwise is to fail in our duty.

Ngày nay ít người sống một mình như các tu sĩ hay ẩn sĩ từng làm. Chúng ta sống giữa những người khác, vì thế bất cứ điều gì chúng ta nghĩ, nói hay làm tất yếu sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều người. Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta không chỉ là những phẩm tính, mà là các quyền năng—những quyền năng được trao cho chúng ta để sử dụng, và chúng ta trực tiếp chịu trách nhiệm về việc sử dụng chúng. Tất cả đều nhằm được dùng cho phụng sự, và dùng chúng theo cách khác là thất bại trong bổn phận của mình.

We come now to the fifth step—Right Means of Livelihood—and that is a matter which may touch quite a large number of us. The right means of livelihood is that which causes no harm to any living thing. We see at once that that would rule out such trades as those of a butcher or a fisherman; but the command reaches much further than that. We should not obtain our livelihood by harming any creature, and therefore we see at once that the selling of alcohol is not a right means of livelihood. The seller of alcohol does not necessarily kill people, but he is unquestionably doing harm, and he is living on the harm he does to the people.

Bây giờ chúng ta đến bước thứ năm—Chánh Mạng—và đó là một vấn đề có thể chạm đến khá nhiều người trong chúng ta. Phương tiện sinh sống đúng đắn là phương tiện không gây hại cho bất cứ sinh vật nào. Chúng ta thấy ngay rằng điều đó sẽ loại trừ những nghề như đồ tể hoặc ngư phủ; nhưng mệnh lệnh này còn vươn xa hơn thế nhiều. Chúng ta không được kiếm sống bằng cách làm hại bất cứ tạo vật nào, và vì thế chúng ta thấy ngay rằng việc bán rượu không phải là một phương tiện sinh sống đúng đắn. Người bán rượu không nhất thiết giết người, nhưng y chắc chắn đang gây hại, và y sống nhờ vào sự tổn hại mà y gây ra cho người khác.

The idea goes yet further. Take the case of a merchant who in the course of his trade is dishonest. That is not a right means of livelihood, because his trading is not fair and he is cheating the people. If a merchant deals fairly, buying his articles wholesale and selling them retail at a reasonable profit, that is a right means of livelihood; but the moment he begins to mislead people and sells a poor article for a good one, he is cheating them. A right means of livelihood may become a wrong means if it is treated in a wrong way. We must deal as honestly with people as we should wish them to deal with us. If a person is a trader in a certain class of goods, he has special knowledge of those goods. The customer trusts himself in the hands of the trader, because he himself has not that special knowledge. When you trust a doctor or a lawyer, you expect to be treated fairly. But it is exactly in the same way that the customer comes to the trader, and therefore the latter should be as honest with his customer as the lawyer or the doctor is with his client or his patient. When a man thrust you in that way, he puts you on your honour to do your best for him. You have a right to make a reasonable profit in the course of your bargain, but you must also look to your duty.

Ý tưởng ấy còn đi xa hơn nữa. Hãy lấy trường hợp một thương nhân bất lương trong quá trình buôn bán. Đó không phải là phương tiện sinh sống đúng đắn, vì việc buôn bán của y không công bằng và y đang lừa gạt người khác. Nếu một thương nhân giao dịch công bằng, mua hàng sỉ và bán lẻ với lợi nhuận hợp lý, đó là phương tiện sinh sống đúng đắn; nhưng ngay khi y bắt đầu làm người khác hiểu lầm và bán một món hàng kém như một món hàng tốt, y đang lừa gạt họ. Một phương tiện sinh sống đúng đắn có thể trở thành phương tiện sai trái nếu nó được xử lý theo một cách sai trái. Chúng ta phải giao dịch với người khác một cách trung thực như chúng ta muốn họ giao dịch với mình. Nếu một người là người buôn một loại hàng hóa nào đó, y có tri thức đặc biệt về những hàng hóa ấy. Khách hàng phó thác mình vào tay người buôn, vì chính họ không có tri thức đặc biệt ấy. Khi các bạn tin cậy một bác sĩ hoặc một luật sư, các bạn mong được đối xử công bằng. Nhưng khách hàng cũng đến với người buôn đúng theo cách như vậy, và vì thế người sau phải trung thực với khách hàng của mình như luật sư hoặc bác sĩ đối với thân chủ hay bệnh nhân của họ. Khi một người tin cậy bạn theo cách ấy, y đặt bạn vào danh dự phải làm điều tốt nhất cho y. Bạn có quyền kiếm một khoản lợi nhuận hợp lý trong giao dịch của mình, nhưng bạn cũng phải lưu tâm đến bổn phận của mình.

The sixth step is Right Exertion or Right Endeavour, and it is a very important one. We must not be content to be negatively good. What is desired of us is not merely absence of evil, but the positive doing of good. When the Lord Buddha made that wonderful short statement of his doctrine in a single verse, he began by saying: “Cease to do evil,” but the next line runs: “Learn to do good.” It is not enough to be passively good. There are so many well-meaning people who yet achieve nothing.

Bước thứ sáu là Chánh Tinh Tấn hay Chánh Nỗ Lực, và đó là một bước rất quan trọng. Chúng ta không được hài lòng với việc chỉ tốt theo nghĩa tiêu cực. Điều được mong muốn nơi chúng ta không chỉ là sự vắng mặt của điều ác, mà là sự tích cực làm điều thiện. Khi Đức Phật đưa ra lời tuyên bố ngắn gọn kỳ diệu về giáo lý của Ngài trong một câu kệ, Ngài bắt đầu bằng câu: “Hãy ngừng làm điều ác,” nhưng dòng kế tiếp là: “Hãy học làm điều thiện.” Chỉ tốt một cách thụ động là không đủ. Có rất nhiều người có thiện ý nhưng lại chẳng đạt được điều gì.

Every person has a certain amount of strength, not only physical, but mental. When we have a day’s work before us, we know that we must reserve our strength for that, and therefore before we begin it we do not undertake something else which would so exhaust us as that the day’s work could not be properly done. Similarly we have a certain amount of strength of mind and of will, and we can perform only a certain amount of work on that level; therefore we must take care how we spend that power. There are other powers too. Every person has a certain amount of influence among his friends and relations. That influence means power, and we are responsible for making good use of that power. All about us are children, relations, clerks, workmen, servants, and over all of these we have a certain amount of influence, at least by example; we must be careful what we do and what we say, because others will copy us.

Mỗi người có một lượng sức mạnh nhất định, không chỉ hồng trần mà còn trí tuệ. Khi trước mặt chúng ta là công việc của một ngày, chúng ta biết rằng mình phải dành sức cho nó, và vì thế trước khi bắt đầu, chúng ta không đảm nhận một việc khác có thể làm chúng ta kiệt sức đến mức công việc trong ngày không thể được thực hiện đúng đắn. Tương tự, chúng ta có một lượng sức mạnh nhất định của thể trí và của ý chí, và chúng ta chỉ có thể thực hiện một lượng công việc nhất định trên cấp độ ấy; do đó chúng ta phải cẩn thận trong cách tiêu dùng quyền năng đó. Còn có những quyền năng khác nữa. Mỗi người có một mức ảnh hưởng nào đó giữa bạn bè và thân quyến của mình. Ảnh hưởng ấy có nghĩa là quyền năng, và chúng ta có trách nhiệm sử dụng tốt quyền năng ấy. Quanh chúng ta là trẻ em, thân quyến, thư ký, công nhân, người phục vụ, và đối với tất cả những người ấy chúng ta có một mức ảnh hưởng nào đó, ít nhất là bằng gương mẫu; chúng ta phải cẩn thận trong điều mình làm và điều mình nói, vì người khác sẽ noi theo chúng ta.

Right Exertion means putting our work into useful lines and not wasting it. There are many things that can be done, but some of them are immediate and more urgent than others. We must look about and see where our exertion would be most useful. It is not well that all should do the same thing; it is wiser that the work should be divided among us so that it may be perfectly rounded off and not left in a onesided condition. In all these matters we must use our reason and common sense.

Chánh Tinh Tấn có nghĩa là đưa công việc của chúng ta vào những đường hướng hữu ích và không lãng phí nó. Có nhiều việc có thể làm, nhưng một số việc là cấp bách và khẩn thiết hơn những việc khác. Chúng ta phải nhìn quanh và xem nơi nào nỗ lực của mình sẽ hữu ích nhất. Không tốt nếu tất cả đều làm cùng một việc; khôn ngoan hơn là công việc nên được phân chia giữa chúng ta để nó có thể được hoàn tất tròn đầy và không bị bỏ lại trong tình trạng phiến diện. Trong mọi vấn đề này, chúng ta phải dùng lý trí và lẽ thường.

Right Memory or Right Remembrance is the seventh step, and it means many things. The Right Memory of which the Lord Buddha spoke has often been taken by his followers to mean the memory of past incarnations, which he himself possessed most fully. In one of the Jataka stories, a person spoke ill of him. He turned to his disciples and said: “I have insulted this man in a pervious life, and therefore he speaks ill of me now; I have no right to resent it.” No doubt if we remembered everything that had happened to us before, we could arrange our present life better than we do. Most of us, however, have not the power of remembering our past lives; but we must not therefore think that the teaching as to Right Memory does not apply to us.

Chánh Niệm hay Chánh Ức Niệm là bước thứ bảy, và nó có nhiều ý nghĩa. Chánh Niệm mà Đức Phật nói đến thường được các tín đồ của Ngài hiểu là ký ức về những lần lâm phàm quá khứ, điều mà chính Ngài sở hữu đầy đủ nhất. Trong một trong các truyện Tiền thân, có người nói xấu Ngài. Ngài quay sang các đệ tử và nói: “Ta đã xúc phạm người này trong một kiếp trước, và vì thế bây giờ y nói xấu Ta; Ta không có quyền oán giận điều đó.” Không nghi ngờ gì, nếu chúng ta nhớ mọi điều đã xảy ra với mình trước kia, chúng ta có thể sắp xếp đời sống hiện tại của mình tốt hơn hiện nay. Tuy nhiên, phần đông chúng ta không có quyền năng nhớ các kiếp sống quá khứ; nhưng vì thế chúng ta không được nghĩ rằng giáo huấn về Chánh Niệm không áp dụng cho mình.

First of all it means self-recollectedness. It means that we must remember all the time who we are, what our work is, what is our duty, and what we should be doing for the Master. Then again Right Memory means the exercise of a reasonable choice as to what we shall remember. To all of us in our lives there come pleasant things, and also things unpleasant. A wise person will take care to remember the good things, but he will let the evil die. Suppose someone comes and speaks rudely to us; a foolish person will remember that for weeks, months and years, and will continue to say that such-and-such a person spoke unkindly to him. It will rankle on his mind. But what good will that do him? Obviously, none at all; it will only annoy him and keep alive in his mind an evil thought. That certainly is not Right Memory. We should immediately forget and forgive an evil thing done to us; but we should always bear in mind the kindness which people have done us, because they will fill our minds with love and with gratitude. Again, we have all made many mistakes; it is well that we should remember them in so far as not to repeat them; but otherwise, to brood over them, to be always filling our minds with regret and with sorrow because of them, is not Right Memory.

Trước hết, nó có nghĩa là sự tự hồi niệm. Nó có nghĩa là chúng ta phải luôn luôn nhớ mình là ai, công việc của mình là gì, bổn phận của mình là gì, và mình phải làm gì cho Chân sư. Lại nữa, Chánh Niệm có nghĩa là thực hành một sự chọn lựa hợp lý về điều chúng ta sẽ ghi nhớ. Trong đời sống của tất cả chúng ta đều có những điều dễ chịu, và cả những điều khó chịu. Một người khôn ngoan sẽ chú ý ghi nhớ những điều tốt, nhưng y sẽ để điều xấu chết đi. Giả sử có ai đó đến và nói năng thô lỗ với chúng ta; một người ngu dại sẽ nhớ điều đó trong nhiều tuần, nhiều tháng và nhiều năm, và sẽ tiếp tục nói rằng người này người nọ đã nói với y một cách thiếu tử tế. Điều ấy sẽ làm thể trí y đau nhức. Nhưng điều đó đem lại lợi ích gì cho y? Rõ ràng là chẳng có gì cả; nó chỉ làm y khó chịu và duy trì trong thể trí y một tư tưởng xấu. Điều đó chắc chắn không phải là Chánh Niệm. Chúng ta phải lập tức quên và tha thứ một điều xấu đã làm đối với mình; nhưng chúng ta phải luôn ghi nhớ lòng tốt mà người khác đã dành cho mình, vì chúng sẽ làm đầy thể trí chúng ta bằng tình thương và lòng biết ơn. Lại nữa, tất cả chúng ta đều đã phạm nhiều sai lầm; thật tốt khi chúng ta nhớ chúng đến mức không lặp lại chúng; nhưng ngoài ra, cứ nghiền ngẫm về chúng, luôn làm đầy thể trí mình bằng sự hối tiếc và buồn đau vì chúng, thì không phải là Chánh Niệm.

The teaching given above as to right memory has been well illustrated in some verses by S.E.G., as follows:

Giáo huấn nêu trên về Chánh Niệm đã được minh họa rõ trong vài câu thơ của S.E.G., như sau:

Let us forget the things that vexed and tried us,

Hãy để chúng ta quên những điều từng làm ta bực bội và thử thách,

The worrying things that caused our souls to fret;

Những điều lo âu khiến linh hồn ta phiền muộn;

The hopes that, cherished long, were still denied us, Letusforget.

Những hy vọng, được ấp ủ lâu dài, nhưng vẫn bị khước từ, hãyđểtaquên.

Let us forget the little slights that pained us,

Hãy để chúng ta quên những khinh suất nhỏ nhoi từng làm ta đau,

The greater wrongs that rankle sometimes yet;

Những sai trái lớn hơn đôi khi vẫn còn nhức nhối;

The pride with which some lofty one disdained us,

Niềm kiêu hãnh mà một kẻ cao ngạo nào đó đã dùng để khinh miệt ta,

Letusforget.

Hãyđểtaquên.

Let us forget our brother’s fault and failing,

Hãy để chúng ta quên lỗi lầm và khuyết điểm của huynh đệ mình,

The yielding to temptations that beset,

Sự nhượng bộ trước những cám dỗ vây quanh,

That he, perchance, though grief be unavailing,

Điều mà y, có lẽ, dù đau buồn chẳng ích gì,

Cannotforget.

Khôngthểquên.

But blessings manifold, and past deserving,

Nhưng những phúc lành muôn mặt, vượt quá điều đáng được nhận,

Kind words and helpful deeds, a countless throng;

Những lời tử tế và việc làm hữu ích, một đám đông không kể xiết;

The fault o’ercome, the rectitude unswerving,

Lỗi lầm đã vượt qua, sự chính trực không lay chuyển,

Letusrememberlong.

Hãyđểtaghinhớlâu.

The sacrifice of love, the generous giving

Sự hy sinh của tình thương, sự cho đi hào phóng

When friends were few, the handclasp warm and strong;

Khi bạn bè còn ít, cái bắt tay ấm áp và mạnh mẽ;

The fragrance of each life of holy living,

Hương thơm của mỗi đời sống thánh thiện,

Letusrememberlong.

Hãyđểtaghinhớlâu.

Whatever things were good and true and gracious,

Bất cứ điều gì tốt đẹp, chân thật và đầy ân phúc,

Whate’er of right has triumphed over wrong,

Bất cứ điều chính đáng nào đã chiến thắng điều sai trái,

What love of God or man has rendered precious,

Bất cứ tình thương nào đối với Thượng đế hay con người đã làm cho trở nên quý giá,

Letusrememberlong.

Hãyđểtaghinhớlâu.

The last step is called Right Meditation or Right Concentration. This refers not only to the set meditation which we perform as part of our discipline, but it also means that all through our lives we should concentrate ourselves on the object of doing good and of being useful and helpful. In daily life we cannot be always meditating, because of the daily work that we must all do in the course of our ordinary lives; and yet I am not sure that a statement like that, made without reservation, is entirely true. We cannot always have our consciousness drawn away from the physical plane to higher levels; yet it is possible to live a life of meditation in this sense—that the higher things are always so strongly present in the background of our minds that, as I said when speaking about Right Thought, they may instantly come to the front when that mind is not otherwise occupied. Our life will then be really a life of perpetual meditation upon the highest and noblest objects, interrupted now and then by the necessity of putting our thoughts into practice in daily life.

Bước cuối cùng được gọi là Chánh Tham Thiền hay Chánh Định. Điều này không chỉ ám chỉ bài tham thiền cố định mà chúng ta thực hiện như một phần kỷ luật của mình, mà còn có nghĩa là suốt đời chúng ta phải tập trung chính mình vào mục tiêu làm điều thiện, trở nên hữu ích và giúp đỡ. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta không thể luôn luôn tham thiền, vì công việc hằng ngày mà tất cả chúng ta phải làm trong đời sống bình thường; tuy vậy tôi không chắc rằng một phát biểu như thế, nếu nói không kèm hạn định, là hoàn toàn đúng. Chúng ta không thể luôn giữ tâm thức mình rút khỏi cõi hồng trần để lên các cấp độ cao hơn; nhưng có thể sống một đời sống tham thiền theo nghĩa này—rằng những điều cao hơn luôn hiện diện mạnh mẽ trong nền sau của thể trí chúng ta đến mức, như tôi đã nói khi bàn về Chánh Tư Duy, chúng có thể lập tức tiến ra phía trước khi thể trí ấy không bận việc khác. Khi ấy đời sống của chúng ta sẽ thật sự là một đời sống tham thiền liên tục về những đối tượng cao nhất và cao quý nhất, thỉnh thoảng bị gián đoạn bởi sự cần thiết phải đưa tư tưởng của mình vào thực hành trong đời sống hằng ngày.

Such a habit of thought will influence us in more ways than we see at the first glance. Like always attracts like; two people who adopt such a line of thought will presently be drawn together, will feel an attraction one for the other; and so it may well be that in time a nucleus of those who habitually hold the higher thought will be gathered together, and will gradually develop, perhaps into a Theosophical Lodge; at any rate, they will draw together, their thoughts will react upon one another, and in that way each will greatly help the advancement of the rest. Again, wherever we go we are surrounded by invisible hosts, Angels, naturespirits, and men who have laid aside their physical bodies. The condition of Right Concentration will attract to us all the best of those various orders of beings, so that wherever we go we shall be surrounded by good and holy influences.

Một thói quen tư tưởng như thế sẽ ảnh hưởng đến chúng ta theo nhiều cách hơn ta thấy thoạt nhìn. Cái giống nhau luôn thu hút cái giống nhau; hai người áp dụng một đường hướng tư tưởng như thế sẽ sớm được kéo lại với nhau, sẽ cảm thấy một sự hấp dẫn dành cho nhau; và vì vậy rất có thể theo thời gian, một hạt nhân gồm những người thường xuyên giữ tư tưởng cao hơn sẽ được quy tụ, và sẽ dần dần phát triển, có lẽ thành một Chi hội Thông Thiên Học; dù sao đi nữa, họ sẽ kéo lại gần nhau, tư tưởng của họ sẽ tác động qua lại lẫn nhau, và theo cách đó mỗi người sẽ giúp rất nhiều cho sự tiến bộ của những người còn lại. Lại nữa, bất cứ nơi nào chúng ta đi, chúng ta đều được bao quanh bởi những đoàn vô hình, các Thiên Thần, tinh linh tự nhiên, và những người đã đặt thể xác của họ sang một bên. Trạng thái Chánh Định sẽ thu hút đến với chúng ta tất cả những điều tốt đẹp nhất của các cấp bậc hiện tồn đa dạng ấy, để bất cứ nơi nào chúng ta đi, chúng ta sẽ được bao quanh bởi những ảnh hưởng tốt lành và thánh thiện.

This is the teaching of the Lord Buddha as he gave it in that first Sermon; it is upon this teaching that the world-wide Kingdom of Righteousness is founded, the Royal Chariot-Wheels of which he set in motion for the first time on that Asala Festival so many centuries ago.

Đây là giáo huấn của Đức Phật như Ngài đã ban ra trong Bài Thuyết Pháp đầu tiên ấy; chính trên giáo huấn này mà Vương Quốc Công Chính trên toàn thế giới được đặt nền móng, những Bánh Xe Xe Ngựa Hoàng Gia mà Ngài đã khởi động lần đầu tiên trong Lễ hội Asala ấy, cách đây rất nhiều thế kỷ.

When in the far future the time shall come for the advent of another Buddha, and the present Bodhisattva takes that final incarnation in which the great step will be achieved, he will preach the Divine Law to the world in whatever form may seem to him most suited to the requirements of the era, and then will follow him in his high office the Master Kuthumi, who has transferred himself to the Second Ray to take the responsibility of becoming the Bodhisattva of the sixth root race.

Khi trong tương lai xa xôi, thời điểm đến của một Đức Phật khác sẽ tới, và Đức Bồ Tát hiện tại nhận lần lâm phàm cuối cùng ấy, trong đó bước tiến vĩ đại sẽ được hoàn thành, Ngài sẽ thuyết giảng Định Luật Thiêng Liêng cho thế gian dưới bất kỳ hình thức nào có vẻ thích hợp nhất với nhu cầu của thời đại đối với Ngài, và khi đó Chân sư Kuthumi, Đấng đã chuyển mình sang Cung Hai để đảm nhận trách nhiệm trở thành Đức Bồ Tát của giống dân gốc thứ sáu, sẽ theo sau Ngài trong chức vụ cao cả ấy.

Chapter 15 — Chương 15

The Power In The Triangles — Quyền Năng Trong Các Tam Giác

The Lord of the World

Đức Chúa Tể Thế Giới

OUR WORLD is governed by a Spiritual King—one of the Lords of the Flame who came long ago from Venus. He is called by the Hindus Sanat Kumara, the last word being a title, meaning Prince or Ruler. Other names given to him are the One Initiator, the One without a Second, the Eternal Youth of Sixteen Summers; and often we speak of him as the Lord of the World. He is the Supreme Ruler; in his Hand and within his actual aura lies the whole of his planet. He represents the Logos, as far as this world is concerned, and directs the whole of its evolution—not that of humanity alone, but also the evolution of the Devas, the nature-spirits, and all other creatures connected with the earth. He is, of course, entirely distinct from the great Entity called the Spirit of the Earth, who uses our world as a physical body.

THẾ GIỚI CỦA CHÚNG TA được cai quản bởi một Vị Vua Tinh Thần—một trong các Chúa Tể của Lửa, những Đấng đã đến từ Sao Kim từ rất lâu. Ngài được người Ấn Độ gọi là Đức Sanat Kumara, từ cuối là một tước hiệu, có nghĩa là Hoàng Tử hay Đấng Cai Quản. Những danh xưng khác được trao cho Ngài là Đấng Điểm đạo Duy Nhất, Đấng Duy Nhất Không Có Thứ Hai, Thiếu Niên Vĩnh Cửu của Mười Sáu Mùa Hạ; và chúng ta thường nói về Ngài như Đức Chúa Tể Thế Giới. Ngài là Đấng Cai Quản Tối Cao; trong Bàn Tay của Ngài và bên trong chính hào quang thực sự của Ngài là toàn thể hành tinh của Ngài. Ngài đại diện cho Thượng đế, trong phạm vi liên quan đến thế giới này, và điều khiển toàn bộ sự tiến hoá của nó—không chỉ sự tiến hoá của nhân loại, mà cả sự tiến hoá của các Thiên Thần, các tinh linh tự nhiên, và mọi tạo vật khác có liên hệ với Trái Đất. Dĩ nhiên, Ngài hoàn toàn khác biệt với Thực Thể vĩ đại được gọi là Tinh Linh Địa Cầu, Đấng sử dụng thế giới của chúng ta như một thể xác.

In his mind he holds the whole plan of evolution at some high level of which we know nothing; he is the Force which drives the whole world-machine, the embodiment of the Divine Will on this planet, and strength, courage, decision, perseverance and all similar characteristics, when they show themselves down here in the lives of men, are reflections from him. His consciousness is of so extended a nature that it comprehends at once all the life on our globe. In his hands are the powers of cyclic destruction, for he wields Fohat in its higher forms and can deal directly with cosmic forces outside our chain. His work is probably usually connected with humanity en masse rather than with individuals, but when he does influence any single person we are told that it is through the atma, and not through the ego, that his influence is brought to bear.

Trong thể trí của Ngài, Ngài giữ toàn bộ Thiên Cơ tiến hoá ở một cấp độ cao nào đó mà chúng ta không biết gì; Ngài là Mãnh Lực thúc đẩy toàn bộ guồng máy thế giới, hiện thân của Ý Chí Thiêng Liêng trên hành tinh này, và sức mạnh, lòng can đảm, sự quyết định, tính kiên trì cùng mọi đặc tính tương tự, khi chúng biểu lộ ở dưới này trong đời sống con người, đều là những phản chiếu từ Ngài. Tâm thức của Ngài có bản chất rộng lớn đến mức nó bao gồm cùng lúc toàn bộ sự sống trên bầu hành tinh của chúng ta. Trong tay Ngài là những quyền năng hủy diệt theo chu kỳ, vì Ngài vận dụng Fohat trong các hình thức cao hơn của nó và có thể xử lý trực tiếp các mãnh lực vũ trụ bên ngoài Dãy của chúng ta. Công việc của Ngài có lẽ thường liên hệ với nhân loại trên bình diện tập thể hơn là với các cá nhân, nhưng khi Ngài thật sự ảnh hưởng đến một người đơn lẻ nào, chúng ta được cho biết rằng ảnh hưởng của Ngài tác động qua atma, chứ không qua chân ngã.

At a certain point in the progress of an aspirant on the Path he is formally presented to the Lord of the World, and those who have thus met him face to face speak of him as in appearance a handsome youth, dignified, benignant beyond all description, yet with a mien of omniscient, inscrutable majesty, conveying such a sense of resistless power that some have found themselves unable to bear his gaze, and have veiled their faces in awe. Thus, for example, did our great Founder, Madame Blavatsky. One who has had this experience can never forget it, nor can he ever thereafter doubt that, however terrible the sin and sorrow on earth may be, all things are somehow working together for the eventual good of all, and humanity is being steadily guided towards its final goal.

Ở một điểm nhất định trong sự tiến bộ của một người chí nguyện trên Đường Đạo, y được chính thức trình diện với Đức Chúa Tể Thế Giới, và những ai đã gặp Ngài mặt đối mặt như vậy nói về Ngài như có vẻ ngoài của một thiếu niên tuấn tú, trang nghiêm, nhân từ vượt ngoài mọi mô tả, nhưng vẫn mang một phong thái của uy nghi toàn tri và khôn dò, truyền đạt một cảm thức về quyền năng không thể cưỡng lại đến mức một số người thấy mình không thể chịu nổi ánh mắt của Ngài, và đã che mặt trong niềm kính sợ. Chẳng hạn, vị Sáng lập vĩ đại của chúng ta, Bà Blavatsky, đã làm như vậy. Người đã có kinh nghiệm này không bao giờ có thể quên nó, cũng như sau đó không bao giờ có thể nghi ngờ rằng, dù tội lỗi và đau khổ trên Trái Đất có khủng khiếp đến đâu, mọi sự bằng cách nào đó đang cùng vận hành vì lợi ích sau cùng của tất cả, và nhân loại đang được hướng dẫn vững vàng về mục tiêu cuối cùng của mình.

During each world-period, we are told, there are three successive Lords of the World, and the present holder of the office is already the third. He resides with his three Pupils in an oasis in the Gobi desert called Shamballa, often spoken of as the Sacred Island, in remembrance of the time when it was an island in the Central Asian Sea. These four greatest of the Adepts are often called “The Children of the Fire-Mist,” since they belong to an evolution different from ours. Their bodies, though human in appearance, differ widely from ours in constitution, being rather garments assumed for convenience than bodies in the ordinary sense, since they are artificial and their particles do not change as do those of the human frame. They require no nourishment, and remain unchanged through thousands of years.

Trong mỗi thời kỳ thế giới, chúng ta được cho biết, có ba Đức Chúa Tể Thế Giới kế tiếp nhau, và vị đang giữ chức vụ hiện nay đã là vị thứ ba. Ngài cư trú cùng ba Môn đồ của mình trong một ốc đảo ở sa mạc Gobi gọi là Shamballa, thường được nói đến như Hòn Đảo Thiêng, để tưởng nhớ thời kỳ khi nơi ấy là một hòn đảo trong Biển Trung Á. Bốn Chân sư vĩ đại nhất này thường được gọi là “Những Đứa Con của Sương Lửa,” vì các Ngài thuộc về một cuộc tiến hoá khác với chúng ta. Thân thể của các Ngài, tuy có vẻ ngoài là người, khác xa thân thể chúng ta về cấu tạo, đúng hơn là những y phục được khoác vào cho tiện dụng hơn là các thân thể theo nghĩa thông thường, vì chúng là nhân tạo và các hạt của chúng không thay đổi như các hạt của khung người. Các Ngài không cần dưỡng chất, và vẫn không đổi qua hàng ngàn năm.

The three Pupils, who stand at the level of the Buddha, and are called Pratyeka or Pachcheka Buddhas, assist the Lord in his work, and are themselves destined to be our three Lords of the World when humanity is occupying the Planet Mercury.

Ba Môn đồ, những Đấng đứng ở cấp độ của Đức Phật và được gọi là Pratyeka hay Pachcheka Buddhas, trợ giúp Đức Chúa Tể trong công việc của Ngài, và chính các Ngài được định sẵn sẽ là ba Đức Chúa Tể Thế Giới của chúng ta khi nhân loại đang chiếm ngụ Hành Tinh Sao Thủy.

Once in every seven years, the Lord of the World conducts at Shamballa a great ceremony somewhat similar to the Wesak event, but on a still grander scale and of a different type, when all the Adepts and even some Initiates below that grade are invited, and have thus an opportunity to come into touch with their great Leader. At other times he deals only with the Heads of the Official Hierarchy, except when for special reasons he summons others to his presence.

Cứ mỗi bảy năm một lần, Đức Chúa Tể Thế Giới cử hành tại Shamballa một nghi lễ vĩ đại phần nào tương tự sự kiện Wesak, nhưng trên một quy mô còn lớn lao hơn và thuộc một loại khác, khi tất cả các Chân sư và thậm chí một số Điểm đạo đồ dưới cấp ấy được mời, và nhờ vậy có cơ hội tiếp xúc với Vị Lãnh Đạo vĩ đại của mình. Vào những lúc khác, Ngài chỉ đề cập đến các Vị Đứng Đầu của Thánh Đoàn Chính Thức, ngoại trừ khi vì những lý do đặc biệt, Ngài triệu gọi những người khác đến trước Sự Hiện Diện của Ngài.

The exalted position of this our spiritual King as been described in The Secret Doctrine. It is there stated that as the ages pass the great steps which we now recognize as leading to perfection will remain unchanged as to their relative positions, though the system of things as a whole is moving upwards, and thus the actual attainments which in the remote future will mark a particular step will be far fuller than they are at present. The Perfected Men of the Seventh Round [7] of our Chain will be, it is said, “but one remove from the Root-Base of their Hierarchy, the highest on Earth and our Terrestrial Chain.” That is to say, the King stands even now one stage beyond the point to which only ages of evolution will bring the perfected men of our humanity—ages that must run into millions of years, taking us through two and a half rounds of varied experience. This wondrous Being came during the third-race period to take charge of the Earth evolution. That coming of the World’s future King is thus described in Man: Whence, How and Whither:

Địa vị tôn quý của Vị Vua tinh thần này của chúng ta đã được mô tả trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Ở đó nói rằng khi các thời đại trôi qua, những bước tiến vĩ đại mà hiện nay chúng ta nhận ra là dẫn đến sự hoàn hảo sẽ vẫn không đổi về vị trí tương đối của chúng, dù toàn bộ hệ thống vạn vật đang đi lên, và do đó những thành tựu thực tế mà trong tương lai xa xôi sẽ đánh dấu một bước cụ thể sẽ đầy đủ hơn nhiều so với hiện nay. Những Con Người Hoàn Thiện của Cuộc Tuần Hoàn Thứ Bảy của Dãy chúng ta, người ta nói, “chỉ còn cách Căn Nền của Thánh Đoàn của họ một bậc, là cấp cao nhất trên Trái Đất và Dãy Địa Cầu của chúng ta.” Nghĩa là, Đức Vua ngay lúc này đã đứng vượt một giai đoạn so với điểm mà chỉ những thời đại tiến hoá mới đưa được những con người hoàn thiện của nhân loại chúng ta đến—những thời đại phải kéo dài hàng triệu năm, đưa chúng ta qua hai cuộc tuần hoàn rưỡi của kinh nghiệm đa dạng. Hữu Thể kỳ diệu này đã đến trong thời kỳ giống dân thứ ba để đảm trách cuộc tiến hoá của Trái Đất. Sự xuất hiện của Đức Vua tương lai của Thế Giới ấy được mô tả như sau trong Con Người: Từ Đâu, Như Thế Nào và Đi Về Đâu:

The great Lemurian Polar Star was still perfect, and the huge Crescent still stretched along the equator, including Madagascar. The sea which occupied what is now the Gobi Desert still broke against the rocky barriers of the northern Himalayan slopes, and all was being prepared for the most dramatic moment in the history of the Earth—the Coming of the Lords of the Flame.

Ngôi Sao Bắc Cực Lemuria vĩ đại vẫn còn nguyên vẹn, và Lưỡi Liềm khổng lồ vẫn trải dài theo đường xích đạo, bao gồm Madagascar. Biển cả chiếm nơi nay là Sa mạc Gobi vẫn còn vỗ vào những rào chắn đá của các sườn núi phía bắc Hy Mã Lạp Sơn, và mọi sự đang được chuẩn bị cho khoảnh khắc kịch tính nhất trong lịch sử Trái Đất—Sự Quang Lâm của các Chúa Tể của Lửa.

The Lords of the Moon and the Manu of the third Root Race had done all that was possible to bring men up to the point at which the germ of mind could be quickened, and the descent of the ego could be made. All the laggards had been pushed on; there were no more in the animal ranks capable of rising into man. The door against further immigrants into the human kingdom from the animal was shut only when no more were in sight, nor would be capable of reaching it without a repetition of the tremendous impulse given only once in the evolution of a Scheme, at its midmost point.

Các Chúa Tể của Mặt Trăng và Đức Manu của giống dân gốc thứ ba đã làm tất cả những gì có thể để đưa con người đến điểm mà mầm trí tuệ có thể được kích hoạt, và sự giáng xuống của chân ngã có thể diễn ra. Tất cả những kẻ chậm trễ đã được thúc đẩy tiến lên; không còn ai trong hàng ngũ động vật có khả năng vươn lên thành người. Cánh cửa chống lại những người nhập cư thêm vào giới nhân loại từ giới động vật chỉ đóng lại khi không còn ai trong tầm mắt, cũng như sẽ không ai có khả năng đạt tới đó nếu không có sự lặp lại của xung lực khủng khiếp chỉ được ban một lần trong sự tiến hoá của một hệ hành tinh, tại điểm chính giữa của nó.

A great astrological event, when a very special collocation of planets occurred and the magnetic condition of the Earth was the most favourable possible, was chosen as the time. It was about six and a half million years ago. Nothing more remained to be done, save what only they could do.

Một sự kiện chiêm tinh vĩ đại, khi một sự sắp xếp rất đặc biệt của các hành tinh xảy ra và tình trạng từ tính của Trái Đất là thuận lợi nhất có thể, đã được chọn làm thời điểm. Đó là khoảng sáu triệu rưỡi năm trước. Không còn gì khác phải làm, ngoại trừ điều chỉ các Ngài có thể làm.

Then, with the mighty roar of swift descent from incalculable heights, surrounded by blazing masses of fire which filled the sky with shooting tongues of flame, flashed through the aerial spaces the chariot of the Sons of the Fire, the Lords of the Flame from Venus; it halted, hovering over the “White Island,” which lay smiling in the bosom of the Gobi Sea; green was it, and radiant with masses of fragment manycoloured blossoms, Earth offering her best and fairest to welcome her coming King. There he stood, “the Youth of sixteen summers,” Sanat Kumara, the “Eternal Virgin-Youth,” the new Ruler of Earth, come to his kingdom, his Pupils, the three Kumaras, with him, his Helpers around him; thirty mighty Beings were there, great beyond Earth’s reckoning, though in graded order, clothed in the glorious bodies they had created by Kriyashakti, the first Occult Hierarchy, branches of the one spreading Banyan-Tree, the nursery of future Adepts, the centre of all occult life. Their dwelling-place was and is the Imperishable Sacred Land, on which ever shines down the Blazing Star, the symbol of Earth’s Monarch, the changeless Pole round which the life of our Earth is ever spinning.[8]

Rồi, với tiếng gầm hùng mạnh của cuộc giáng xuống nhanh chóng từ những độ cao không thể tính đếm, được bao quanh bởi những khối lửa rực cháy lấp đầy bầu trời bằng các lưỡi lửa phóng vút, cỗ xe của các Con của Lửa, các Chúa Tể của Lửa từ Sao Kim, lóe qua các khoảng không; nó dừng lại, lơ lửng trên “Hòn Đảo Trắng,” nằm mỉm cười trong lòng Biển Gobi; nơi ấy xanh tươi và rạng rỡ với những khối hoa thơm nhiều màu, Trái Đất dâng lên những gì tốt đẹp và xinh đẹp nhất của mình để chào đón Đức Vua đang đến của nàng. Nơi đó Ngài đứng, “Thiếu Niên của mười sáu mùa hạ,” Đức Sanat Kumara, “Trinh Thiếu Niên Vĩnh Cửu,” Đấng Cai Quản mới của Trái Đất, đến với vương quốc của Ngài, các Môn đồ của Ngài, ba Kumara, ở cùng Ngài, các Trợ thủ của Ngài vây quanh Ngài; ba mươi Hữu Thể hùng mạnh hiện diện ở đó, vĩ đại vượt ngoài sự ước lượng của Trái Đất, tuy theo trật tự cấp bậc, khoác những thân thể vinh quang mà các Ngài đã tạo ra bằng Kriyashakti, Thánh Đoàn Huyền Bí đầu tiên, những cành của một Cây Đa duy nhất đang tỏa rộng, vườn ươm của các Chân sư tương lai, trung tâm của mọi đời sống huyền bí. Nơi cư ngụ của các Ngài đã và đang là Vùng Đất Thiêng Bất Hoại, nơi Ngôi Sao Rực Cháy, biểu tượng của Quân Vương Trái Đất, luôn chiếu xuống, Cực bất biến mà quanh đó sự sống của Trái Đất chúng ta mãi xoay vần.

Madame Blavatsky says in The Secret Doctrine:

Bà Blavatsky nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm:

The “Being” just referred to, who has to remain nameless, is the Tree from which, in subsequent ages, all the great historically known Sages and Hierophants, such as the Rishi Kapila, Hermes, Enoch, Orpheus, etc., have branched off. As objective man, he is the mysterious (to the profane—the ever invisible, yet ever present) Personage, about whom legends are rife in the East, especially among the Occultists and the students of the Sacred Science. It is he who changes form, yet remains ever the same. And it is he, again, who holds spiritual sway over the initiated Adepts throughout the whole world. He is, as said, the “Nameless One” who has so many names, and yet whose names and whose very nature are unknown. He is the “Initiator,” called the “Great Sacrifice”. For, sitting at the Threshold of Light, he looks into it from within the Circle of Darkness, which he will not cross; not will he quit his post till the last Day of this Life-Cycle. Why does the Solitary Watcher remain at his self-chosen post? Why does he sit by the Fountain of Primeval Wisdom, of which he drinks no longer, for he has naught to learn which he does not know—aye, neither on this Earth, nor in its Heaven? Because the lonely sore-footed Pilgrims, on their journey back to their Home, are never sure, to the last moment, of not losing their way, in this limitless desert of Illusion and Matter called Earth-Life. Because he would fain show the way to that region of freedom and light, from which he is a voluntary exile himself, to every prisoner who has succeeded in liberating himself from the bonds of flesh and illusion. Because, in short, he has sacrificed himself for the sake of Mankind, though but a few elect may profit by the Great Sacrifice.

“Đấng” vừa được nói đến, Đấng phải không được nêu danh, là Cây mà từ đó, trong các thời đại về sau, tất cả những Hiền triết và Tư tế tối cao vĩ đại được biết đến trong lịch sử, như Rishi Kapila, Hermes, Enoch, Orpheus, v.v., đã phân nhánh ra. Với tư cách là con người khách quan, Ngài là Nhân vật huyền bí đối với kẻ phàm tục—luôn vô hình nhưng luôn hiện diện—về Ngài, các truyền thuyết lan truyền nhiều ở phương Đông, đặc biệt giữa các nhà huyền bí học và các môn sinh của Khoa Học Thiêng Liêng. Chính Ngài là Đấng thay đổi hình tướng, nhưng vẫn mãi là một. Và lại chính Ngài là Đấng giữ quyền chủ trị tinh thần trên các Chân sư được điểm đạo khắp toàn thế giới. Ngài, như đã nói, là “Đấng Vô Danh,” Đấng có rất nhiều danh xưng, nhưng danh xưng cũng như chính bản chất của Ngài đều không được biết đến. Ngài là Đấng “Điểm đạo,” được gọi là “Đại Hy Sinh”. Vì, ngồi nơi Ngưỡng Cửa Ánh Sáng, Ngài nhìn vào đó từ bên trong Vòng Tròn Bóng Tối, nơi Ngài sẽ không vượt qua; và Ngài cũng sẽ không rời bỏ vị trí của mình cho đến Ngày cuối cùng của Chu Kỳ Sống này. Vì sao Vị Canh Gác Đơn Độc vẫn ở lại vị trí do mình tự chọn? Vì sao Ngài ngồi bên Suối Nguồn Minh Triết Nguyên Sơ, từ đó Ngài không còn uống nữa, vì Ngài không có gì để học mà Ngài chưa biết—đúng vậy, chẳng những trên Trái Đất này mà cả trong Thiên Đàng của nó? Bởi vì những Lữ khách cô độc với đôi chân đau nhức, trên hành trình trở về Nhà của họ, cho đến khoảnh khắc cuối cùng, không bao giờ chắc chắn rằng mình sẽ không lạc đường trong sa mạc vô hạn của Ảo tưởng và Vật chất gọi là Đời Sống Trần Gian này. Bởi vì Ngài tha thiết muốn chỉ đường đến miền tự do và ánh sáng ấy, nơi chính Ngài là một người tự nguyện lưu đày, cho mọi tù nhân đã thành công trong việc giải thoát mình khỏi xiềng xích của xác thịt và ảo tưởng. Tóm lại, bởi vì Ngài đã hy sinh chính mình vì Nhân Loại, dù chỉ một số ít được chọn có thể hưởng lợi từ Đại Hy Sinh ấy.

It is under the direct, silent guidance of this Maha-Guru that all the other less divine Teachers and Instructors of Mankind became, from the first awakening of human consciousness, the guides of early Humanity. It is through these “Sons of God” that infant Humanity learned its first notions of all the arts and sciences, as well as of spiritual knowledge; and it is they who laid the first foundation-stone of those ancient civilizations that so sorely puzzle our modern generation of students and scholars.[9]

Chính dưới sự hướng dẫn trực tiếp, thầm lặng của vị Maha-Guru này mà tất cả các Huấn sư và Giảng huấn sư khác, ít thiêng liêng hơn, của Nhân Loại đã trở thành, từ buổi đầu thức tỉnh của tâm thức con người, những vị hướng đạo của Nhân Loại sơ khai. Chính qua các “Con của Thượng đế” này mà Nhân Loại ấu thơ học được những khái niệm đầu tiên về mọi nghệ thuật và khoa học, cũng như về tri thức tinh thần; và chính các Ngài đã đặt viên đá nền đầu tiên của những nền văn minh cổ xưa khiến thế hệ môn sinh và học giả hiện đại của chúng ta vô cùng bối rối.

The Highest Initiations

Các Cuộc Điểm Đạo Cao Nhất

It is on the First Ray that the greatest progress for man is possible within the Hierarchy of our Globe, for there are on it two Initiations beyond that of the Manu. The Pachcheka Buddhas, who stand next above the Manu, have been strangely misunderstood by some writers, who have described them as selfish men who refused to teach what they had learnt, and passed away into Nirvana. It is true that these Buddhas do not teach, for they have the other work of their own Ray to do, and true also that a time comes when they will leave the world, but only to carry on their glorious work elsewhere.

Chính trên Cung Một mà sự tiến bộ lớn nhất cho con người có thể đạt được bên trong Thánh Đoàn của Bầu Hành Tinh chúng ta, vì trên đó có hai cuộc Điểm Đạo vượt quá cuộc điểm đạo của Đức Manu. Các Pachcheka Buddhas, những Đấng đứng ngay trên Đức Manu, đã bị một số tác giả hiểu lầm một cách kỳ lạ; họ mô tả các Ngài như những người ích kỷ, từ chối dạy điều mình đã học, rồi đi vào Niết Bàn. Đúng là các Đức Phật này không giảng dạy, vì các Ngài có công việc khác của Cung riêng mình để làm, và cũng đúng là đến một lúc các Ngài sẽ rời bỏ thế giới, nhưng chỉ để tiếp tục công việc vinh quang của mình ở nơi khác.

The next step, the Initiation that none can give, but each must take for himself, puts the Adepts on the level of the Lord of the World, an Office which is held first for the shorter period of a First or Second Lord on one World, and when that has been achieved, for the longer responsibility of the Third upon some other.

Bước kế tiếp, cuộc Điểm Đạo mà không ai có thể ban, nhưng mỗi người phải tự nhận lấy cho chính mình, đặt các Chân sư lên cấp độ của Đức Chúa Tể Thế Giới, một Chức Vụ được giữ trước hết trong thời kỳ ngắn hơn của Đức Chúa Tể Thứ Nhất hoặc Thứ Hai trên một Thế Giới, và khi điều đó đã được hoàn thành, thì trong trách nhiệm lâu dài hơn của Đức Chúa Tể Thứ Ba trên một thế giới khác.

The task of the Third Lord of the World is far greater than those of the First and Second Lords, because it is his duty to round off satisfactorily that period of evolution, and to deliver over the countless millions of evolving creatures into the hands of the Seed-Manu, who will be responsible for them during the inter-planetary Nirvana, and will hand them over in turn to the Root-Manu of the next globe. The Third Lord of the World, having fulfilled this duty, takes another Initiation entirely outside of our world and its Hierarchy, and attains the level of the Silent Watcher. In that capacity he remains on guard for the whole period of a Round, and it is only when the life-wave has again occupied our planet and is again ready to leave it that he abandons his strange self-imposed task, and hands it over to his Successor.

Nhiệm vụ của Đức Chúa Tể Thế Giới Thứ Ba lớn lao hơn nhiều so với nhiệm vụ của Đức Chúa Tể Thứ Nhất và Thứ Hai, bởi vì bổn phận của Ngài là hoàn tất một cách thỏa đáng thời kỳ tiến hoá ấy, và trao vô số triệu tạo vật đang tiến hoá vào tay Đức Chủng Manu, Đấng sẽ chịu trách nhiệm về họ trong Niết Bàn liên hành tinh, và đến lượt Ngài sẽ trao họ cho Đức Căn Manu của bầu hành tinh kế tiếp. Đức Chúa Tể Thế Giới Thứ Ba, sau khi hoàn thành bổn phận này, nhận một cuộc Điểm Đạo khác hoàn toàn bên ngoài thế giới của chúng ta và Thánh Đoàn của nó, và đạt đến cấp độ của Vị Canh Gác Thầm Lặng. Trong tư cách ấy, Ngài vẫn canh giữ suốt toàn bộ thời kỳ của một Cuộc Tuần Hoàn, và chỉ khi làn sóng sự sống lại chiếm ngụ hành tinh của chúng ta và một lần nữa sẵn sàng rời bỏ nó, Ngài mới từ bỏ nhiệm vụ kỳ lạ do chính mình tự đặt ra, và trao nó lại cho Vị Kế Nhiệm của Ngài.

The Goal for All

Mục Tiêu Cho Tất Cả

Far above us as is all the splendour of these great heights at present, it is worth our while to lift our thought towards them and try to realize them a little. They show the goal before every one of us, and the clearer our sight of it the swifter and steadier will be our progress towards it, though we may not all hope to fulfil the ancient ideal in this, and fly as an arrow to the mark.

Dù hiện nay tất cả vẻ huy hoàng của những đỉnh cao vĩ đại này còn ở rất xa trên chúng ta, vẫn đáng để chúng ta nâng tư tưởng hướng về chúng và cố gắng nhận ra chúng đôi chút. Chúng chỉ ra mục tiêu trước mỗi người chúng ta, và tầm nhìn của chúng ta về mục tiêu ấy càng rõ ràng, sự tiến bộ của chúng ta hướng về nó sẽ càng nhanh và vững chắc, dù không phải tất cả chúng ta đều có thể hy vọng hoàn thành lý tưởng cổ xưa này, và bay như mũi tên đến đích.

In the course of this great progress every man will some day reach full consciousness on the highest of our planes, the Divine plane, and be conscious simultaneously at all levels of this Prakritic Cosmic plane, so that having in himself the power of the highest, he shall yet be able to comprehend and function on the very lowest, and help where help is needed. That omnipotence and omnipresence surely await every one of us, and though this lower life may not be worth living for anything that we may gain from it for ourselves, yet it is magnificently worth enduring as a necessary stage for the true life that lies before us. “Eye hath not seen, nor ear heard, neither hath it entered into heart of man to conceive the things which God hath prepared for them that love him,” for the love of God, the wisdom of God, the power of God, and the glory of God pass all understanding, even as does his peace.

Trong tiến trình của sự tiến bộ vĩ đại này, một ngày nào đó mỗi người sẽ đạt đến tâm thức đầy đủ trên cõi cao nhất của chúng ta, cõi Thiêng Liêng, và đồng thời có ý thức ở mọi cấp độ của cõi Vũ trụ Prakritic này, để khi có trong chính mình quyền năng của cõi cao nhất, y vẫn có thể thấu hiểu và vận hành trên cõi thấp nhất, và giúp đỡ nơi nào cần giúp đỡ. Quyền năng toàn năng và sự hiện diện khắp nơi ấy chắc chắn đang chờ đợi mỗi người chúng ta; và dù đời sống thấp hơn này có thể không đáng sống vì bất cứ điều gì chúng ta có thể thu được từ nó cho riêng mình, nó vẫn đáng được chịu đựng một cách rạng rỡ như một giai đoạn cần thiết cho đời sống chân thật đang ở trước mặt chúng ta. “Mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, và lòng người cũng chưa từng nghĩ tới những điều Thượng đế đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài,” vì tình thương của Thượng đế, minh triết của Thượng đế, quyền năng của Thượng đế, và vinh quang của Thượng đế vượt quá mọi sự thấu hiểu, cũng như sự bình an của Ngài.

PEACE TO ALL BEINGS

BÌNH AN CHO TẤT CẢ CHÚNG SINH



[1] In 1925

[2] Rev. iv, 5.

[3] Op. cit., p. 92.

[4] Old Diary Leaves. Vol. III, page 352.

[5] See The Chakras, by C. W. Leadbeater.

[6] With regard to Right Speech, the student is recommended to read Ecclesiasticus—xxix, 6– 17.

[7] This is a silent correction of a mistake in The Secret Doctrine (4th ed., vol. I, p. 255, Line 17 from the top) where H. P. Blavatsky had written “Rootrace” instead of “Round.” A.A.

[8] Op. cit., p. 101.

[9] Op. cit., 4th ed., Vol. I, p.256

Leave a Comment

Scroll to Top