The Masters and the Path
by C. W. Leadbeater
Foreword
|
THERE IS only one reason why I should write this Foreword to the book written by my honoured colleague. It speaks of many things which have hitherto been studied and discussed within a comparatively small circle, consisting of students well versed in Theosophical knowledge, and ready to study statements concerning regions which they could not yet enter for themselves, but hoped to enter later, and then to verify for themselves the statements made by their seniors. The rapid changes in the world of thought, arising from the nearness of the Coming of the World-Teacher, render useful some information as to a part of the world in which he lives, information which may, perhaps, to some extent prepare the public mind for his teachings. |
THẬT CHỈ CÓ một lý do duy nhất khiến tôi nên viết Lời nói đầu này cho quyển sách do vị đồng sự đáng kính của tôi biên soạn. Quyển sách nói về nhiều điều cho đến nay chỉ được nghiên cứu và bàn luận trong một phạm vi tương đối nhỏ, gồm những đạo sinh thông thạo tri thức Thông Thiên Học, và sẵn sàng nghiên cứu các phát biểu liên quan đến những vùng mà họ chưa thể tự mình bước vào, nhưng hy vọng sau này sẽ bước vào, rồi tự mình kiểm chứng những phát biểu do các bậc đi trước đưa ra. Những biến đổi nhanh chóng trong thế giới tư tưởng, phát sinh từ sự cận kề của Cuộc Lâm Đến của Đức Chưởng Giáo, khiến một vài thông tin về một phần của thế giới nơi Ngài sống trở nên hữu ích; những thông tin ấy, có lẽ, ở một mức độ nào đó, có thể chuẩn bị tâm trí công chúng cho các giáo huấn của Ngài. |
|
Be that as it may, I desire to associate myself with the statements made in this book, for the accuracy of nearly all of which I can personally vouch; and also to say on behalf of my colleague as well of myself, that the book is issued as a record of observations carefully made and carefully recorded, but not claiming any authority, nor making any demand for acceptance. It makes no claim to inspiration, but is only an honest account of things seen by the writer. |
Dù sao đi nữa, tôi mong muốn tự liên kết mình với những phát biểu được đưa ra trong quyển sách này, vì tôi có thể đích thân bảo đảm tính chính xác của hầu như tất cả những điều ấy; và cũng xin nói, thay mặt cho vị đồng sự của tôi cũng như cho chính tôi, rằng quyển sách được ấn hành như một bản ghi chép các quan sát đã được thực hiện cẩn trọng và ghi lại cẩn trọng, nhưng không tự nhận bất cứ thẩm quyền nào, cũng không đòi hỏi sự chấp nhận nào. Quyển sách không tuyên bố có cảm hứng thiêng liêng, mà chỉ là một tường thuật trung thực về những điều tác giả đã thấy. |
|
ANNIE BESANT |
PART I
THE MASTERS—CÁC CHÂN SƯ
Chapter 1 — Chương 1
The Existence Of The Masters — Sự Hiện Hữu của Các Chân sư
General Considerations |
Những suy xét tổng quát |
|
THE EXISTENCE of Perfected Men is one of the most important of the many new facts which Theosophy puts before us. It follows logically from the other great Theosophical teachings of karma and evolution by reincarnation. As we look round us we see men obviously at all stages of their evolution—many far below ourselves in development, and others who in one way or another are distinctly in advance of us. Since that is so, there may well be others who are very much further advanced; indeed, if men are steadily growing better and better through a long series of successive lives, tending towards a definite goal, there should certainly be some who have already reached that goal. Some of us in the process of that development have already succeeded in unfolding some of those higher senses which are latent in every man, and will be the heritage of all in the future; and by means of those senses we are enabled to see the ladder of evolution extending far above us as well as far below us, and we can also see that there are men standing upon every rung of that ladder. |
SỰ HIỆN HỮU của những Con Người Hoàn Thiện là một trong nhiều sự kiện mới quan trọng nhất mà Thông Thiên Học đặt trước chúng ta. Điều đó tiếp nối một cách hợp lý từ các giáo huấn lớn khác của Thông Thiên Học về nghiệp quả và tiến hoá qua luân hồi. Khi nhìn quanh mình, chúng ta thấy rõ con người ở mọi giai đoạn tiến hoá của họ—nhiều người còn thấp hơn chúng ta rất xa trong sự phát triển, và những người khác, theo cách này hay cách khác, lại rõ ràng vượt trước chúng ta. Vì đã như thế, rất có thể cũng có những người khác đã tiến xa hơn rất nhiều; thật vậy, nếu con người đang đều đặn trở nên ngày càng tốt đẹp hơn qua một chuỗi dài những kiếp sống kế tiếp nhau, hướng về một mục tiêu xác định, thì chắc chắn phải có một số người đã đạt tới mục tiêu ấy. Một số người trong chúng ta, trong tiến trình phát triển đó, đã thành công trong việc khai mở một vài giác quan cao siêu vốn tiềm tàng trong mọi người, và sẽ là di sản của tất cả trong tương lai; và nhờ những giác quan ấy, chúng ta có thể thấy chiếc thang tiến hoá vươn lên rất cao phía trên chúng ta cũng như trải xuống rất xa phía dưới chúng ta, và chúng ta cũng có thể thấy rằng có những người đang đứng trên từng bậc của chiếc thang ấy. |
|
There is a considerable amount of direct testimony to the existence of these Perfected Men whom we call Masters, but I think that the first step which each one of us should take is to make certain that there must be such men; only as a later step will it follow that those with whom we have come into contact belong to that class. |
Có một khối lượng đáng kể chứng cứ trực tiếp về sự hiện hữu của những Con Người Hoàn Thiện này, những vị mà chúng ta gọi là các Chân sư; nhưng tôi nghĩ rằng bước đầu tiên mỗi người trong chúng ta nên thực hiện là tự xác tín rằng hẳn phải có những con người như thế; chỉ như một bước tiếp theo mới suy ra rằng những vị mà chúng ta đã tiếp xúc thuộc về lớp người ấy. |
|
The historical records of every nation are full of the doings of men of genius in all the different departments of human activity, men who in their special lines of work and ability have stood far above the rest—indeed, so far that at times (and probably more often than we know) their ideals were utterly beyond the comprehension of the people, so that not only the work that they may have done has been lost to mankind, but their very names even have not been preserved. It has been said that the history of every nation could be written in the biography of a few individuals, and that it is always the few, towering above the rest, who initiate the great forward steps in art, music, literature, science, philosophy, philanthropy, statecraft, and religion. They stand high sometimes in love of God and their fellow-men, as great saints and philanthropists; sometimes in understanding of man and Nature, as great philosophers, sages and scientists; sometimes in work for humanity, as great liberators and reformers. Looking at these men, and realizing how high they stand among humanity, how far they have gone in human evolution, is it not logical to say that we cannot see the bounds of human attainment, and that there may well have been, and even now may be, men far further developed even than they, men great in spirituality as well as knowledge or artistic power, men complete as regards human perfections—men precisely such as the Adepts or Supermen whom some of us have had the inestimable privilege to encounter? |
Các ghi chép lịch sử của mọi quốc gia đều đầy những hành trạng của các bậc thiên tài trong mọi ngành hoạt động khác nhau của nhân loại, những người mà trong lĩnh vực công việc và năng lực riêng của họ đã đứng cao hơn hẳn phần còn lại—thật vậy, cao đến mức đôi khi, và có lẽ thường xuyên hơn chúng ta biết, các lý tưởng của họ hoàn toàn vượt khỏi sự thấu hiểu của quần chúng, đến nỗi không chỉ công trình mà họ có thể đã làm bị mất đi đối với nhân loại, mà ngay cả chính tên tuổi của họ cũng không được lưu giữ. Người ta đã nói rằng lịch sử của mỗi quốc gia có thể được viết qua tiểu sử của một vài cá nhân, và luôn luôn chính một số ít người, vươn cao hơn phần còn lại, là những người khởi xướng các bước tiến lớn trong nghệ thuật, âm nhạc, văn học, khoa học, triết học, hoạt động bác ái, nghệ thuật trị quốc và tôn giáo. Đôi khi họ đứng cao trong tình thương đối với Thượng đế và đồng loại, như những bậc thánh lớn và những nhà bác ái lớn; đôi khi trong sự thấu hiểu con người và Thiên nhiên, như những triết gia, hiền nhân và nhà khoa học lớn; đôi khi trong công việc vì nhân loại, như những vị giải phóng và nhà cải cách lớn. Khi nhìn vào những người này, và nhận ra họ đứng cao đến thế nào giữa nhân loại, họ đã đi xa đến đâu trong tiến hoá nhân loại, chẳng phải hợp lý sao khi nói rằng chúng ta không thể thấy được giới hạn của thành tựu con người, và rất có thể đã từng có, và ngay cả hiện nay cũng có, những người phát triển xa hơn họ rất nhiều, những người vĩ đại về tinh thần cũng như về tri thức hoặc năng lực nghệ thuật, những người trọn vẹn xét theo các sự hoàn thiện của con người—chính xác là những người như các Chân sư hoặc Siêu Nhân mà một số chúng ta đã có đặc ân vô giá được gặp gỡ? |
|
This galaxy of human genius that enriches and beautifies the pages of history is at the same time the glory and the hope of all mankind, for we know that these Greater Ones are the forerunners of the rest, and that they flash out as beacons, as veritable light-bearers to show us the path which we must tread if we wish to reach the glory which shall presently be revealed. We have long accepted the doctrine of the evolution of the forms in which dwells the Divine Life; here is the complementary and far greater idea of the evolution of that Life itself, showing that the very reason for that wondrous development of higher and higher forms is that the ever-swelling Life needs them in order to express itself. Forms are born and die, forms grow, decay and break; but the Spirit grows on eternally, ensouling those forms, and developing by means of experience gained in and through them, and as each form has served its turn and is outgrown, it is cast aside that another and better form may take its place. |
Chòm sao những thiên tài nhân loại này, vốn làm phong phú và làm đẹp các trang sử, đồng thời là vinh quang và niềm hy vọng của toàn thể nhân loại, vì chúng ta biết rằng các Đấng Cao Cả này là những vị tiên phong của phần còn lại, và rằng Các Ngài lóe sáng như những ngọn hải đăng, như những người mang ánh sáng đích thực để chỉ cho chúng ta con đường mà chúng ta phải bước đi nếu muốn đạt tới vinh quang sẽ sớm được mặc khải. Từ lâu chúng ta đã chấp nhận giáo lý về sự tiến hoá của các hình tướng trong đó Sự Sống Thiêng Liêng ngự trú; ở đây có ý tưởng bổ sung và lớn lao hơn rất nhiều về sự tiến hoá của chính Sự Sống ấy, cho thấy rằng chính lý do của sự phát triển kỳ diệu thành các hình tướng ngày càng cao hơn là vì Sự Sống không ngừng dâng tràn cần đến chúng để biểu lộ chính mình. Các hình tướng sinh ra và chết đi, các hình tướng lớn lên, suy tàn và tan vỡ; nhưng Tinh thần vẫn tăng trưởng mãi mãi, phú linh cho những hình tướng ấy, và phát triển nhờ kinh nghiệm đạt được trong và qua chúng; và khi mỗi hình tướng đã phục vụ xong phần việc của mình và bị vượt qua, nó được đặt sang một bên để một hình tướng khác tốt đẹp hơn có thể thay thế. |
|
Behind the evolving form burgeons out ever the Life eternal, the Life Divine. That Life of God permeates the whole of nature, which is but the many-coloured cloak which he has donned; it is he who lives in the beauty of the flower, in the strength of the tree, in the swiftness and grace of the animal, as well as in the heart and soul of man. It is because his will is evolution that all life everywhere is pressing onward and upward; and it is therefore that the existence of Perfected Men at the end of this long line of ever-unfolding power and wisdom and love is the most natural thing in the world. Even beyond them—beyond our sight and our comprehension—stretches a vista of still greater glory; some hint of that we may endeavour to give later, but it is useless to speak of it now. |
Đằng sau hình tướng đang tiến hoá, Sự Sống vĩnh cửu, Sự Sống Thiêng Liêng, mãi mãi bừng nở. Sự Sống ấy của Thượng đế thấm nhuần toàn thể thiên nhiên, vốn chỉ là chiếc áo choàng muôn màu mà Ngài đã khoác lên; chính Ngài sống trong vẻ đẹp của bông hoa, trong sức mạnh của cây, trong sự nhanh nhẹn và duyên dáng của loài vật, cũng như trong trái tim và linh hồn của con người. Chính vì ý chí của Ngài là tiến hoá mà mọi sự sống ở khắp nơi đều đang thúc tiến về phía trước và đi lên; và vì vậy sự hiện hữu của những Con Người Hoàn Thiện ở cuối đường dài này của quyền năng, minh triết và bác ái không ngừng khai mở là điều tự nhiên nhất trên thế gian. Ngay cả vượt ngoài Các Ngài—vượt ngoài tầm nhìn và sự thấu hiểu của chúng ta—mở ra một viễn cảnh vinh quang còn lớn lao hơn nữa; chúng ta có thể cố gắng đưa ra một vài gợi ý về điều đó về sau, nhưng hiện nay nói đến nó thì vô ích. |
|
The logical consequence of all this is that there must be Perfected Men, and there are not wanting signs of the existence of such Men in all ages who, instead of leaving the world entirely, to pursue a life of their own in the divine or superhuman kingdoms, have remained in touch with humanity, through love of it, to assist its evolution in beauty and love and truth, to help, as it were, to cultivate the Perfect Man—just as here and there we find a botanist who has special love for plants, and glories in the production of a perfect orange or a perfect rose. |
Hệ quả hợp lý của tất cả những điều này là phải có những Con Người Hoàn Thiện, và không thiếu những dấu hiệu về sự hiện hữu của những Con Người như thế trong mọi thời đại, những vị thay vì rời bỏ thế gian hoàn toàn để theo đuổi một đời sống riêng của mình trong các giới thiêng liêng hoặc siêu nhân, đã ở lại trong sự tiếp xúc với nhân loại, do tình thương đối với nhân loại, để trợ giúp sự tiến hoá của nhân loại trong vẻ đẹp, bác ái và chân lý; có thể nói là để giúp vun trồng Con Người Hoàn Thiện—cũng như đây đó chúng ta gặp một nhà thực vật học có tình yêu đặc biệt đối với cây cối, và lấy làm vinh quang trong việc tạo ra một trái cam hoàn hảo hoặc một đóa hồng hoàn hảo. |
The Testimony of the Religions |
Chứng cứ của các tôn giáo |
|
The records of every great religion show the presence of such Supermen, so full of the Divine Life that again and again they have been taken as the very representatives of God Himself. In every religion, especially at its founding, has such an One appeared, and in many cases more than one. The Hindus have their great Avataras or divine incarnations, such as Shri Krishna, Shri Shankaracharya, and the Lord Gautama Buddha, whose religion has spread over the Far East, and a great galaxy of Rishis, of Saints, of Teachers; and these Great Ones took interest not only in awakening men’s spiritual natures, but also in all affairs that made for their well-being on earth. All who belong to the Christian world know, or ought to know, much about the great succession of prophets and teachers and saints in their own dispensation, and that in some way (perhaps not clearly understood) their Supreme Teacher, the Christ himself, was and is Man as well as God. And all the earlier religions (decadent as some of them may be amid the decay of nations), down even to those of primitive tribes of men, show as outstanding features the existence of Supermen, helpers in every way of the childlike people among whom they dwelt. An enumeration of these, interesting and valuable as it is, would take us too far aside from our present purpose, so I will refer the reader for it to Mr. W. Williamson’s excellent book The Great Law. |
Các ghi chép của mọi tôn giáo lớn đều cho thấy sự hiện diện của những Siêu Nhân như thế, tràn đầy Sự Sống Thiêng Liêng đến nỗi hết lần này đến lần khác các Ngài đã được xem là chính những đại diện của chính Thượng đế. Trong mỗi tôn giáo, đặc biệt vào lúc khai sáng tôn giáo ấy, một Đấng như thế đã xuất hiện, và trong nhiều trường hợp còn có hơn một vị. Người Ấn giáo có các Đấng Hoá Thân vĩ đại hay những hiện thân thiêng liêng của họ, như Shri Krishna, Shri Shankaracharya, và Đức Gautama Buddha, tôn giáo của Ngài đã lan rộng khắp Viễn Đông, cùng một chòm sao lớn các Rishi, các Thánh, các Huấn sư; và các Đấng Cao Cả này quan tâm không chỉ đến việc đánh thức bản chất tinh thần của con người, mà còn đến mọi sự việc góp phần cho hạnh phúc của họ trên trần gian. Tất cả những ai thuộc thế giới Kitô giáo đều biết, hoặc nên biết, nhiều điều về chuỗi kế tiếp vĩ đại của các ngôn sứ, các huấn sư và các thánh trong giáo kỳ của chính họ, và rằng theo một cách nào đó, có lẽ chưa được thấu hiểu rõ ràng, Huấn sư Tối Cao của họ, chính Đức Christ, đã và đang là Con Người cũng như Thượng đế. Và tất cả các tôn giáo sớm hơn, dù một số có thể đã suy tàn giữa sự suy tàn của các dân tộc, xuống đến cả những tôn giáo của các bộ lạc nguyên thủy, đều cho thấy như những đặc điểm nổi bật sự hiện hữu của các Siêu Nhân, những vị trợ giúp theo mọi cách cho các dân tộc như trẻ thơ giữa những người mà các Ngài đã cư ngụ. Việc liệt kê các vị này, dù thú vị và có giá trị, sẽ đưa chúng ta đi quá xa khỏi mục đích hiện tại, vì vậy tôi xin giới thiệu độc giả đến quyển sách xuất sắc The Great Law của ông W. Williamson. |
Recent Evidence |
Bằng chứng gần đây |
|
There is much direct and recent evidence for the existence of these Great Ones. In my earlier days I never needed any such evidence, because I was fully persuaded as a result of my studies that there must be such people. To believe that there were such glorified Men seemed perfectly natural, and my only desire was to meet them face to face Yet there are many among the newer members of the Society who, reasonably enough, want to know what evidence there is. There is a considerable amount of personal testimony. Madame Blavatsky and Colonel Olcott, the co-founders of The Theosophical Society, Dr. Annie Besant, our present President, and I myself—all of us have seen some of these Great Ones, and many other members of the Society have also been privileged to see one or two of them, and there is ample testimony in what all these people have written. |
Có nhiều bằng chứng trực tiếp và gần đây về sự hiện hữu của các Đấng Cao Cả này. Trong những ngày đầu của tôi, tôi chưa bao giờ cần bằng chứng nào như thế, vì tôi đã hoàn toàn xác tín do kết quả những nghiên cứu của mình rằng hẳn phải có những người như vậy. Tin rằng có những Con Người vinh quang như thế dường như hoàn toàn tự nhiên, và mong muốn duy nhất của tôi là được gặp Các Ngài mặt đối mặt. Tuy nhiên, có nhiều người trong số các hội viên mới hơn của Hội, một cách rất hợp lý, muốn biết có bằng chứng nào. Có một khối lượng đáng kể lời chứng cá nhân. Bà Blavatsky và Đại tá Olcott, những người đồng sáng lập Hội Thông Thiên Học, Tiến sĩ Annie Besant, vị Chủ tịch hiện nay của chúng ta, và chính tôi—tất cả chúng tôi đều đã thấy một số các Đấng Cao Cả này, và nhiều hội viên khác của Hội cũng đã được đặc ân thấy một hoặc hai trong số Các Ngài, và có chứng cứ dồi dào trong những gì tất cả những người ấy đã viết. |
|
It is sometimes objected that those who saw them, or fancied that they did so, may have been dreaming or perhaps deluded. The chief reason, I think, for the possibility of such a suggestion is that we have very rarely seen the Adepts at a time when both they and we were in our physical bodies. In the early days of the Society, when only Madame Blavatsky had developed higher faculties, the Masters not infrequently materialized themselves so that all could see them, and showed themselves thus physically on various occasions. You will find many records of such happenings in the earlier history of our Society, but of course the Great One so showing himself was not in his physical body, but in a materialized form. |
Đôi khi có người phản đối rằng những người đã thấy Các Ngài, hoặc tưởng rằng họ đã thấy, có thể đã mơ hoặc có lẽ bị ảo tưởng. Lý do chính, tôi nghĩ, khiến một gợi ý như thế có thể nảy sinh là vì chúng ta rất hiếm khi thấy các Chân sư vào lúc cả Các Ngài lẫn chúng ta đều ở trong thể xác của mình. Trong những ngày đầu của Hội, khi chỉ có Bà Blavatsky đã phát triển các quan năng cao siêu, các Chân sư không hiếm khi hiện hình để tất cả đều có thể thấy Các Ngài, và đã tự biểu lộ như thế trên phương diện hồng trần trong nhiều dịp khác nhau. Các bạn sẽ tìm thấy nhiều ghi chép về những sự việc như thế trong lịch sử ban đầu của Hội chúng ta, nhưng dĩ nhiên Đấng Cao Cả tự biểu lộ như thế không ở trong thể xác của Ngài, mà trong một hình tướng đã được hiện hình. |
|
Many of us habitually and constantly see them during our sleep. We go out in our astral bodies (or in the mental body, according to our development) and we visit them and see them in their physical bodies; but we are not at that time in ours, and that is why on the physical plane people tend to be sceptical about such experiences. Men object: “But in these cases either you who saw them were out of the physical body, and may have been dreaming or deluded, or those who appeared to you came phenomenally and then disappeared again; so how do you know that they were what you suppose them to be?” |
Nhiều người trong chúng ta thường xuyên và liên tục thấy Các Ngài trong khi ngủ. Chúng ta đi ra trong thể cảm dục của mình, hoặc trong thể trí, tùy theo sự phát triển của chúng ta, và chúng ta viếng thăm Các Ngài và thấy Các Ngài trong thể xác của Các Ngài; nhưng lúc ấy chúng ta không ở trong thể xác của mình, và đó là lý do vì sao trên cõi hồng trần người ta có khuynh hướng hoài nghi về những kinh nghiệm như thế. Người ta phản đối: “Nhưng trong những trường hợp này, hoặc các bạn là những người đã thấy Các Ngài thì ở ngoài thể xác và có thể đã mơ hoặc bị ảo tưởng, hoặc những vị đã hiện ra trước các bạn thì đến một cách phi thường rồi lại biến mất; vậy làm sao các bạn biết rằng Các Ngài là những gì các bạn giả định?” |
|
There are a few cases in which both the Adept and the person who saw him were in the physical body. It happened with Madame Blavatsky; I have heard her testify that she lived for some time in a monastery in Nepal, where she saw three of our Masters constantly in their physical vehicles. Some of them have come down more than once from their mountain retreats into India in their physical bodies. Colonel Olcott spoke of having seen two of them on those occasions; he had met the Master Morya and also the Master Kuthumi. Damodar K. Mavalankar, whom I knew in 1884, had encountered the Master Kuthumi in his physical body. There was the case of S. Ramaswami Iyer, a gentleman whom I knew well in those days, who had the experience of meeting the Master Morya physically, and has written an account of that meeting which I shall quote later; and there was the case of Mr. W. T. Brown of the London Lodge, who also was privileged to meet one of the Great Ones under similar conditions. There is also a vast amount of Indian testimony which has never been collected and sifted, mainly because those to whom these experiences came were so thoroughly persuaded of the existence of Supermen and of the possibility of meeting them that they did not regard any individual case as worthy of record. |
Có một vài trường hợp trong đó cả Chân sư lẫn người thấy Ngài đều ở trong thể xác. Điều đó đã xảy ra với Bà Blavatsky; tôi đã nghe bà làm chứng rằng bà đã sống một thời gian trong một tu viện ở Nepal, nơi bà thường xuyên thấy ba vị trong số các Chân sư của chúng ta trong các hiện thể hồng trần của Các Ngài. Một số Các Ngài đã hơn một lần từ các nơi ẩn tu trên núi đi xuống Ấn Độ trong thể xác của mình. Đại tá Olcott đã nói về việc ông đã thấy hai vị trong số Các Ngài vào những dịp ấy; ông đã gặp Chân sư Morya và cả Chân sư Kuthumi. Damodar K. Mavalankar, người tôi quen năm 1884, đã gặp Chân sư Kuthumi trong thể xác của Ngài. Có trường hợp của S. Ramaswami Iyer, một quý ông mà tôi biết rõ trong những ngày ấy, người đã có kinh nghiệm gặp Chân sư Morya trên phương diện hồng trần, và đã viết một tường thuật về cuộc gặp gỡ ấy mà tôi sẽ trích dẫn sau; và có trường hợp của ông W. T. Brown thuộc Chi bộ London, người cũng được đặc ân gặp một trong các Đấng Cao Cả trong những điều kiện tương tự. Cũng có một khối lượng rất lớn chứng cứ Ấn Độ chưa bao giờ được thu thập và sàng lọc, chủ yếu vì những người có các kinh nghiệm này đã hoàn toàn xác tín về sự hiện hữu của các Siêu Nhân và khả năng gặp Các Ngài đến nỗi họ không xem bất kỳ trường hợp cá biệt nào là đáng ghi lại. |
Personal Experience |
Kinh nghiệm cá nhân |
|
I myself can report two occasions on which I have met a Master, both of us being in the physical vehicle. One of them was the Adept to whom the name of Jupiter was assigned in the book of The Lives of Alcyone, who greatly assisted in the writing of portions of Madame Blavatsky’s famous work Isis Unveiled, when that was being done in Philadelphia and New York. When I was living at Adyar, he was so kind as to request my revered teacher, Swami T. Subba Row, to bring me to call upon him. Obeying his summons we journeyed to his house, and were most graciously received by him. After a long conversation of the deepest interest, we had the honour of dining with him, Brahman though he be, and spent the night and part of the next day under his roof. In that case it will be admitted that there could be no question of illusion. The other Adept whom I had the privilege of encountering physically was the Master the Comte de St. Germain, called sometimes the Prince Rakoczy. I met him under quite ordinary circumstances (without any previous appointment, and as though by chance) walking down the Corso in Rome, dressed just as any Italian gentleman might be. He took me up into the gardens on the Pincian hill, and we sat for more than an hour talking about the Society and its work; or perhaps I should rather say that he spoke and I listened, although when he asked questions I answered. |
Chính tôi có thể thuật lại hai dịp tôi đã gặp một Chân sư, cả hai chúng tôi đều ở trong hiện thể hồng trần. Một trong hai vị là Chân sư được gán cho danh xưng Jupiter trong quyển sách The Lives of Alcyone, vị đã trợ giúp rất nhiều trong việc viết các phần của tác phẩm nổi tiếng Isis Unveiled của Bà Blavatsky, khi công việc ấy đang được thực hiện tại Philadelphia và New York. Khi tôi sống ở Adyar, Ngài đã ân cần yêu cầu vị huấn sư đáng kính của tôi, Swami T. Subba Row, đưa tôi đến thăm Ngài. Tuân theo lời triệu thỉnh của Ngài, chúng tôi đi đến nhà Ngài, và được Ngài tiếp đón hết sức từ ái. Sau một cuộc đàm đạo dài đầy hứng thú sâu xa, chúng tôi được vinh dự dùng bữa tối với Ngài, dù Ngài là Brahman, và đã qua đêm cùng một phần ngày hôm sau dưới mái nhà của Ngài. Trong trường hợp ấy, hẳn phải thừa nhận rằng không thể có vấn đề ảo tưởng nào. Vị Chân sư kia mà tôi có đặc ân gặp gỡ trên phương diện hồng trần là Chân sư Comte de St. Germain, đôi khi được gọi là Hoàng thân Rakoczy. Tôi gặp Ngài trong những hoàn cảnh hoàn toàn bình thường, không có bất kỳ hẹn trước nào, và như thể tình cờ, khi đang đi xuống Corso ở Rome, ăn mặc đúng như một quý ông Ý có thể ăn mặc. Ngài đưa tôi lên các khu vườn trên đồi Pincian, và chúng tôi ngồi hơn một giờ nói chuyện về Hội và công việc của Hội; hoặc có lẽ tôi nên nói đúng hơn là Ngài nói và tôi lắng nghe, mặc dù khi Ngài đặt câu hỏi thì tôi trả lời. |
|
Other members of the Brotherhood I have seen under varying circumstances. My first encounter with one of them was in a hotel in Cairo; I was on my way out to India with Madame Blavatsky and some others, and we stayed in that city for a time. We all used to gather in Madame Blavatsky’s room for work, and I was sitting on the floor, cutting out and arranging for her a quantity of newspaper articles which she wanted. She sat at a table close by; indeed my left arm was actually touching her dress. The door of the room was in full sight, and it certainly did not open; but quite suddenly, without any preparation, there was a man standing almost between me and Madame Blavatsky, within touch of both of us. It gave me great start, and I jumped up in some confusion; Madame Blavatsky was much amused and said: “If you do not know enough not to be startled at such a trifle as that, you will not get far in this occult work.” I was introduced to the visitor, who was not then an Adept, but an Arhat, which is one grade below that state; he has since become the Master Djwal Kul. |
Tôi đã thấy các thành viên khác của Huynh Đệ Đoàn trong những hoàn cảnh khác nhau. Cuộc gặp đầu tiên của tôi với một vị trong số Các Ngài là trong một khách sạn ở Cairo; tôi đang trên đường sang Ấn Độ cùng với Bà Blavatsky và vài người khác, và chúng tôi lưu lại thành phố ấy một thời gian. Tất cả chúng tôi thường tụ họp trong phòng của Bà Blavatsky để làm việc, và tôi đang ngồi trên sàn, cắt ra và sắp xếp cho bà một số lượng lớn các bài báo mà bà cần. Bà ngồi ở một chiếc bàn gần đó; thật vậy, cánh tay trái của tôi thật sự chạm vào áo bà. Cửa phòng ở ngay trong tầm nhìn, và chắc chắn nó đã không mở ra; nhưng hết sức đột ngột, không có bất kỳ chuẩn bị nào, có một người đàn ông đứng gần như giữa tôi và Bà Blavatsky, trong tầm chạm của cả hai chúng tôi. Điều đó làm tôi hết sức giật mình, và tôi bật dậy trong chút bối rối; Bà Blavatsky rất thích thú và nói: “Nếu ông không biết đủ để khỏi giật mình trước một chuyện nhỏ như thế, ông sẽ không đi xa trong công việc huyền bí này đâu.” Tôi được giới thiệu với vị khách, người khi ấy chưa phải là một Chân sư, mà là một Arhat, tức một cấp bậc thấp hơn trạng thái ấy một bậc; từ đó đến nay Ngài đã trở thành Chân sư Djwal Kul. |
|
Some months after that the Master Morya came to us one day, looking exactly as though in a physical body; he walked through the room where I was in order to communicate with Madame Blavatsky, Who was in her bedroom inside. That was the first time I had seen him plainly and clearly, for I had not then developed my latent senses sufficiently to remember what I saw in the subtle body. I saw the Master Kuthumi under similar conditions on the roof of our Headquarters at Adyar; he was stepping over a balustrade as though he had just materialized from the empty air on the other side of it. I have also many times seen the Master Djwal Kul on that roof in the same way. |
Vài tháng sau đó, một ngày kia Chân sư Morya đến với chúng tôi, trông đúng như trong một thể xác; Ngài đi qua căn phòng nơi tôi đang ở để thông giao với Bà Blavatsky, người đang ở trong phòng ngủ bên trong. Đó là lần đầu tiên tôi thấy Ngài rõ ràng và minh bạch, vì khi ấy tôi chưa phát triển các giác quan tiềm tàng của mình đủ để nhớ những gì tôi thấy trong thể tinh tế. Tôi thấy Chân sư Kuthumi trong những điều kiện tương tự trên mái Trụ sở của chúng tôi tại Adyar; Ngài đang bước qua một lan can như thể Ngài vừa hiện hình từ không khí trống rỗng ở phía bên kia. Tôi cũng đã nhiều lần thấy Chân sư Djwal Kul trên mái nhà ấy theo cùng cách đó. |
|
This would, I suppose, be considered less certain evidence, since the Adepts came as apparitions do; but, as I have since learned to use my higher vehicles freely, and to visit these Great Ones in that way, I can testify that those who in the early years of the Society came and materialized for us are the same Men whom I have often since seen living in their own homes. People have suggested that I and others who have the same experience may be but dreaming, since these visits take place during the sleep of the body; I can only reply that it is a remarkably consistent dream, extending in my own case over forty years, and that it has been dreamt simultaneously by a large number of people. |
Tôi giả định rằng điều này sẽ được xem là bằng chứng kém chắc chắn hơn, vì các Chân sư đến như các bóng hiện ra; nhưng vì từ đó tôi đã học cách sử dụng các hiện thể cao siêu của mình một cách tự do, và viếng thăm các Đấng Cao Cả này theo cách ấy, tôi có thể làm chứng rằng những vị trong những năm đầu của Hội đã đến và hiện hình cho chúng tôi chính là những Con Người mà từ đó tôi đã thường thấy sống trong chính nhà của Các Ngài. Người ta đã gợi ý rằng tôi và những người khác có cùng kinh nghiệm có thể chỉ đang mơ, vì những cuộc viếng thăm này diễn ra trong khi thể xác ngủ; tôi chỉ có thể đáp rằng đó là một giấc mơ nhất quán một cách đáng chú ý, kéo dài trong trường hợp của chính tôi hơn bốn mươi năm, và rằng nó đã được một số đông người mơ thấy đồng thời. |
|
Those who wish to collect evidence about these matters (and it is quite reasonable that they should wish to do so) should turn to the earlier literature of the Society. If they meet Dr. Besant, they can hear from her how many of the Great Ones she has seen on different occasions; and there are many of our members who will bear witness without hesitation that they have seen a Master. It may be that in meditation they have seen his face, and later have had definite proof that he is a real being. Much evidence may be found in Colonel Olcott’s Old Diary Leaves, and there is an interesting treatise called Do the Brothers Exist? written by Mr. A. O. Hume, a man who stood high in the Civil Service in India, and worked much with our late Vice President, Mr. A. P. Sinnett. It was published in a book entitled Hints on Esoteric Theosophy. Mr. Hume, who was a sceptical Anglo-Indian with a legal mind, went into the question of the existence of the Brothers (as the Masters are also called, because they belong to a great Brotherhood, and also because they are the Elder Brothers of humanity) and even at that early date decided that he had overwhelming testimony that they did exist; and very much more evidence has accumulated since that book was published. |
Những ai muốn thu thập bằng chứng về các vấn đề này, và việc họ muốn làm như thế là hoàn toàn hợp lý, nên tìm đến các tài liệu sớm hơn của Hội. Nếu họ gặp Tiến sĩ Besant, họ có thể nghe từ bà rằng bà đã thấy bao nhiêu vị trong các Đấng Cao Cả vào những dịp khác nhau; và có nhiều hội viên của chúng ta sẽ làm chứng không chút do dự rằng họ đã thấy một Chân sư. Có thể trong tham thiền họ đã thấy gương mặt Ngài, và về sau đã có bằng chứng rõ ràng rằng Ngài là một hữu thể có thật. Nhiều bằng chứng có thể được tìm thấy trong Old Diary Leaves của Đại tá Olcott, và có một khảo luận thú vị nhan đề Do the Brothers Exist? do ông A. O. Hume viết, một người có địa vị cao trong ngành Dân chính tại Ấn Độ, và đã làm việc nhiều với vị Phó Chủ tịch quá cố của chúng ta, ông A. P. Sinnett. Tác phẩm ấy được xuất bản trong một quyển sách nhan đề Hints on Esoteric Theosophy. Ông Hume, vốn là một người Anglo-Indian hoài nghi với đầu óc pháp lý, đã khảo sát vấn đề sự hiện hữu của các Huynh đệ, như các Chân sư cũng được gọi như vậy vì Các Ngài thuộc về một Huynh Đệ Đoàn lớn, và cũng vì Các Ngài là các Huynh Trưởng của nhân loại, và ngay cả vào thời kỳ sớm như thế đã kết luận rằng ông có chứng cứ áp đảo cho thấy Các Ngài thật sự hiện hữu; và từ khi quyển sách ấy được xuất bản, còn có thêm rất nhiều bằng chứng tích lũy. |
|
The possession of extended vision and other faculties resulting from the unfolding of our latent powers has also brought within our constant experience the fact that there are other orders of beings than the human, some of whom rank alongside the Adepts in a grade of existence higher than our own. We meet with some whom we call Devas or Angels, and with others whom we see to be far beyond ourselves in every respect. |
Việc sở hữu tầm nhìn mở rộng và các quan năng khác phát sinh từ sự khai mở các quyền năng tiềm tàng của chúng ta cũng đã đưa vào trong kinh nghiệm thường xuyên của chúng ta sự kiện rằng có những cấp bậc hữu thể khác ngoài nhân loại, một số vị trong số đó được xếp ngang với các Chân sư trong một cấp độ hiện hữu cao hơn cấp độ của chúng ta. Chúng ta gặp một số vị mà chúng ta gọi là Deva hay Thiên thần, và những vị khác mà chúng ta thấy là vượt xa chúng ta về mọi phương diện. |
The Evolution of Life |
Sự tiến hoá của Sự Sống |
|
Since in the course of our development we have become able to communicate with the Adepts, we have naturally asked them with all reverence how they have attained to that level. They tell us with one accord that no long time ago they stood where we stand now. They have risen out of the ranks of ordinary humanity, and they have told us that we in time to come shall be as they are now, and that the whole system is a graded evolution of Life extending up and up, further than we can follow it, even unto the Godhead itself. |
Vì trong tiến trình phát triển của mình chúng ta đã trở nên có thể giao tiếp với các Chân sư, nên tự nhiên chúng ta đã cung kính hỏi Các Ngài bằng cách nào Các Ngài đạt tới cấp độ ấy. Các Ngài đồng thanh nói với chúng ta rằng cách đây không lâu, Các Ngài đã đứng nơi chúng ta đang đứng hiện nay. Các Ngài đã vươn lên từ hàng ngũ nhân loại bình thường, và Các Ngài đã nói với chúng ta rằng trong thời gian tới chúng ta sẽ như Các Ngài hiện nay, và rằng toàn bộ hệ thống là một sự tiến hoá có thứ bậc của Sự Sống, vươn lên mãi, xa hơn mức chúng ta có thể theo dõi, cho đến chính Thần tính. |
|
We find that as there are definite stages in the earlier evolution—the vegetable above the mineral, the animal above the vegetable and the human above the animal—so in the same way the human kingdom has a definite end, a boundary at which it passes into a kingdom distinctly higher than itself, that beyond men there are the Supermen. |
Chúng ta thấy rằng cũng như có những giai đoạn xác định trong tiến hoá sớm hơn—giới thực vật ở trên giới kim thạch, giới động vật ở trên giới thực vật, và giới nhân loại ở trên giới động vật—thì cũng theo cách ấy, giới nhân loại có một kết thúc xác định, một ranh giới tại đó nó chuyển sang một giới rõ ràng cao hơn chính nó, rằng vượt ngoài con người có các Siêu Nhân. |
|
In the study of this system of evolution, we have learnt that there are in every man three great divisions—body, soul and spirit; and each of these is capable of further subdivision. That is the definition which was given by St. Paul two thousand years ago. The Spirit or Monad is the breath of God (for the word spirit means breath, from the Latin spiro), the divine spark which is truly the Man, though it may more accurately be described as hovering over man as we know him. The scheme of its evolution is that it should descend into matter, and through its descent obtain definiteness and accuracy in material detail. |
Trong việc nghiên cứu hệ thống tiến hoá này, chúng ta đã học rằng trong mỗi người có ba phân chia lớn—thể, linh hồn và tinh thần; và mỗi phần này đều có thể được chia nhỏ thêm. Đó là định nghĩa đã được Thánh Paul đưa ra hai nghìn năm trước. Tinh thần hay chân thần là hơi thở của Thượng đế, vì từ tinh thần có nghĩa là hơi thở, từ tiếng Latin spiro, tia lửa thiêng liêng vốn thật sự là Con Người, dù chính xác hơn có thể được mô tả như lơ lửng bên trên con người như chúng ta biết y. Hệ hành tinh của sự tiến hoá của nó là nó phải đi xuống vào vật chất, và qua sự giáng xuống ấy đạt được tính xác định và độ chính xác trong chi tiết vật chất. |
|
So far as we able to see, this Monad, which is a spark of the Divine Fire, cannot descend as far as our present level, cannot directly reach this physical plane in which we are now thinking and working—probably because the rates of its vibration and those of physical matter differ too widely, so that there must be intermediate states and conditions. On what plane of nature that divine spark originally exists we do not know, for it is far above out of our reach. The lowest manifestation of it, which might be called a reflection of it, descends into the lowermost of the Cosmic Planes, as described in A Textbook of Theosophy. |
Trong chừng mực chúng ta có thể thấy, chân thần này, vốn là một tia lửa của Lửa Thiêng Liêng, không thể đi xuống xa đến cấp độ hiện nay của chúng ta, không thể trực tiếp chạm tới cõi hồng trần này nơi chúng ta hiện đang suy nghĩ và làm việc—có lẽ vì các tốc độ rung động của nó và của vật chất hồng trần khác nhau quá rộng, nên phải có những trạng thái và điều kiện trung gian. Tia lửa thiêng liêng ấy nguyên thủy hiện hữu trên cõi nào của thiên nhiên, chúng ta không biết, vì nó ở rất cao ngoài tầm với của chúng ta. Biểu hiện thấp nhất của nó, có thể gọi là một phản chiếu của nó, đi xuống cõi thấp nhất trong các Cõi Vũ Trụ, như được mô tả trong A Textbook of Theosophy. |
|
We speak commonly of seven planes of existence, which are subdivisions or subplanes of the lowest Cosmic Plane, called in our books the Prakritic, meaning the physical plane of the Cosmos. The Monad can descend to the second of these subplanes (which we consequently call the Monadic plane) but it does not seem able to penetrate lower than this. In order to obtain the necessary contact with still denser matter, it put down part of itself through two whole planes, and that fragment is what we call the ego or soul. |
Chúng ta thường nói đến bảy cõi hiện hữu, vốn là các phân chia hay cõi phụ của Cõi Vũ Trụ thấp nhất, được gọi trong các sách của chúng ta là Prakritic, nghĩa là cõi hồng trần của Vũ Trụ. Chân thần có thể đi xuống đến cõi phụ thứ hai trong số các cõi phụ này, do đó chúng ta gọi là cõi chân thần, nhưng dường như nó không thể xuyên thấu thấp hơn mức này. Để có được sự tiếp xúc cần thiết với vật chất còn đậm đặc hơn, nó đưa một phần của chính nó xuống qua trọn hai cõi, và mảnh ấy là điều chúng ta gọi là chân ngã hay linh hồn. |
|
The Divine Spirit far above us merely hovers over us; the soul, which is a small and partial representation of it (it is as though the Monad puts down a finger of fire, and the end of that finger is the soul) cannot descend below the higher part of the mental plane (which is the fifth plane counting downwards, the physical being the seventh and lowest); and, in order that it may reach a still lower level, it must in turn put down a small portion of itself, which becomes the personality that we know. So this personality, which each person commonly thinks to be himself, is in truth but the fragment of a fragment. |
Tinh thần Thiêng Liêng ở rất cao trên chúng ta chỉ lơ lửng bên trên chúng ta; linh hồn, vốn là một đại diện nhỏ bé và một phần của nó, như thể chân thần đưa xuống một ngón tay bằng lửa, và đầu của ngón tay ấy là linh hồn, không thể đi xuống thấp hơn phần cao của cõi trí, tức cõi thứ năm tính từ trên xuống, cõi hồng trần là cõi thứ bảy và thấp nhất; và để nó có thể chạm tới một cấp độ còn thấp hơn, đến lượt nó phải đưa xuống một phần nhỏ của chính nó, phần ấy trở thành phàm ngã mà chúng ta biết. Vì vậy phàm ngã này, điều mà mỗi người thường nghĩ là chính mình, thật ra chỉ là mảnh của một mảnh. |
|
All the evolution through the lower kingdom is preparatory to the development of this human constitution. An animal during its life on the physical plane (and for some time after that in the astral world) has a soul just as individual and separate as a man’s; but when the animal comes to the end of its astral life, that soul does not reincarnate again in a single body, but returns to a kind of reservoir of soul-matter, called in our books a group-soul. It is as though the group-soul were a bucket of water, supplying the need of several animals of the same kind—say, for example, twenty horses. When a horse is to be born from that group soul, it is as though one dipped a vessel into that bucket and brought it out full of water. During the life of that horse all kinds of experiences come to him which modify his soul, from which it learns lessons, and these may be compared to various kinds of colouring matter cast into the vessel of water. When the horse dies, the water in the vessel in emptied back into the bucket, and the colouring matter which it has acquired spreads all through the whole bucket. When another horse is born from the same group-soul, another vessel of water is filled from the bucket; but it will be obvious that it is impossible to take out it exactly the same drops of water which constituted the soul of the previous horse[1]. |
Toàn bộ sự tiến hoá qua giới thấp là sự chuẩn bị cho sự phát triển của cấu tạo nhân loại này. Một con vật trong đời sống của nó trên cõi hồng trần, và trong một thời gian sau đó trong thế giới cảm dục, có một linh hồn cũng cá biệt và riêng rẽ như linh hồn của một người; nhưng khi con vật đi đến cuối đời sống cảm dục của nó, linh hồn ấy không luân hồi trở lại trong một thể đơn lẻ, mà trở về một loại hồ chứa chất liệu linh hồn, được gọi trong các sách của chúng ta là hồn nhóm. Như thể hồn nhóm là một xô nước, cung cấp nhu cầu cho nhiều con vật cùng loài—chẳng hạn, hai mươi con ngựa. Khi một con ngựa sắp được sinh ra từ hồn nhóm ấy, như thể người ta nhúng một cái bình vào xô ấy và đưa ra đầy nước. Trong suốt đời sống của con ngựa ấy, mọi loại kinh nghiệm đến với nó, làm biến đổi linh hồn của nó, từ đó linh hồn học được các bài học, và những điều này có thể được so sánh với nhiều loại chất màu khác nhau được bỏ vào bình nước. Khi con ngựa chết, nước trong bình được đổ trở lại vào xô, và chất màu mà nó đã thu nhận lan ra khắp toàn bộ xô. Khi một con ngựa khác được sinh ra từ cùng hồn nhóm ấy, một bình nước khác được múc đầy từ xô; nhưng rõ ràng là không thể lấy ra đúng cùng những giọt nước đã cấu thành linh hồn của con ngựa trước đó. |
|
When an animal has developed far enough to become human, that means that at the end of his life his soul is not poured back again into the group-soul, but remains as a separate entity. And now a very curious but very beautiful fate befalls him. The soul-matter, the water in the vessel, becomes itself a vehicle for something much higher, and instead of acting as a soul, it is itself ensouled. We have no exact analogy on the physical plane, unless we think of pumping air into water under high pressure, and thereby making it aerated water. If we accept that symbolism, the water which was previously the animal soul has now become the causal body of a man; and the air pumped into it is the ego of which I have spoken—that soul of man which is but a partial manifestation of the Divine Spirit. This descent of the ego is symbolized in ancient mythology by the Greek idea of the krater or Cup, and by the mediaeval story of the Holy Grail; for the Grail or the Cup is the perfected result of all that evolution, into which is poured the Wine of the Divine Life, so that the soul of man may be born. So, as we have said, this which has previously been the animal soul becomes in the case of man what is called the causal body, which exists in the higher part of the mental plane as the permanent vehicle occupied by the ego or human soul; and all that has been learnt in its evolution is transferred to this new centre of life. |
Khi một con vật đã phát triển đủ xa để trở thành người, điều đó có nghĩa là vào cuối đời sống của nó, linh hồn của nó không được đổ trở lại vào hồn nhóm, mà vẫn còn như một thực thể riêng biệt. Và bấy giờ một số phận rất lạ lùng nhưng rất đẹp đẽ xảy đến với nó. Chất liệu linh hồn, tức nước trong bình, tự nó trở thành một hiện thể cho một điều gì cao hơn rất nhiều, và thay vì hành động như một linh hồn, chính nó được phú linh. Chúng ta không có một tương đồng chính xác nào trên cõi hồng trần, trừ phi chúng ta nghĩ đến việc bơm không khí vào nước dưới áp lực cao, và qua đó làm cho nó trở thành nước có ga. Nếu chúng ta chấp nhận biểu tượng ấy, thì nước trước đây là linh hồn con vật nay đã trở thành thể nguyên nhân của một người; và không khí được bơm vào đó là chân ngã mà tôi đã nói đến—linh hồn của con người vốn chỉ là một biểu hiện bộ phận của Tinh thần Thiêng Liêng. Sự giáng xuống này của chân ngã được biểu tượng trong thần thoại cổ xưa bằng ý niệm Hy Lạp về krater hay Chén, và bằng câu chuyện trung cổ về Chén Thánh; vì Chén Thánh hay Chén là kết quả hoàn thiện của toàn bộ sự tiến hoá ấy, vào đó Rượu của Sự Sống Thiêng Liêng được rót vào, để linh hồn con người có thể được sinh ra. Vì vậy, như chúng ta đã nói, điều trước đây là linh hồn con vật, trong trường hợp con người, trở thành cái được gọi là thể nguyên nhân, hiện hữu trong phần cao của cõi trí như hiện thể trường tồn do chân ngã hay linh hồn con người chiếm giữ; và tất cả những gì đã học được trong sự tiến hoá của nó được chuyển dịch sang trung tâm mới này của sự sống. |
|
The evolution of this soul consists in its gradual return to the higher level on the plane next below the Monadic, carrying with it the result of its descent in the shape of experiences gained and qualities acquired. The physical body in all of us is fully developed, and because that is so we are supposed to have conquered it; but it should be fully under the control of the soul. Among the higher races of mankind at the present day it usually is so, though it may break away and run wild for a little at times. The astral body is also fully developed, but it is not yet by any means under perfect control; even among the races to which we belong, there are many people who are the victims of their own emotions. Instead of being able to govern them perfectly, they too often allow themselves to be governed by them. They let their emotions run away with them, just as a wild horse may run away with its rider, and take him into many places whereto he does not wish to go. |
Sự tiến hoá của linh hồn này gồm ở sự trở về dần dần của nó tới cấp độ cao hơn trên cõi ngay bên dưới cõi chân thần, mang theo kết quả của sự giáng xuống của nó dưới dạng những kinh nghiệm đã đạt được và các phẩm tính đã thu nhận. Thể xác trong tất cả chúng ta đã phát triển đầy đủ, và bởi vì như thế chúng ta được giả định là đã chinh phục nó; nhưng nó phải hoàn toàn ở dưới quyền kiểm soát của linh hồn. Giữa các nhân loại cao hơn hiện nay, điều đó thường là như vậy, dù đôi khi nó có thể bứt ra và chạy loạn trong chốc lát. Thể cảm dục cũng đã phát triển đầy đủ, nhưng nó vẫn chưa hề ở dưới sự kiểm soát hoàn hảo; ngay cả trong những nhân loại mà chúng ta thuộc về, có nhiều người là nạn nhân của chính các cảm xúc của mình. Thay vì có thể cai quản chúng một cách hoàn hảo, họ quá thường để cho mình bị chúng cai quản. Họ để cho các cảm xúc cuốn mình đi, cũng như một con ngựa hoang có thể cuốn người cưỡi của nó đi, và đưa y đến nhiều nơi mà y không muốn đến. |
|
We may take it, then, that in all the best men of the more advanced races at the present day the physical body is fully developed, and fairly under control; the astral body is also fully developed, but not by any means under perfect control; the mental body is in process of unfoldment, but its growth is yet very far from complete. They have a long way to go yet before these three bodies, the physical, the astral and the mental, are entirely subordinate to the soul. When that happens the lower self will have been absorbed into the higher self, and the ego, the soul, will have dominated the man. Though the man is not yet perfect, the different vehicles are so far harmonized that they have but one aim. |
Vậy thì chúng ta có thể xem rằng trong tất cả những người tốt nhất thuộc các nhân loại tiến bộ hơn hiện nay, thể xác đã phát triển đầy đủ và khá ở dưới sự kiểm soát; thể cảm dục cũng đã phát triển đầy đủ, nhưng tuyệt nhiên chưa ở dưới sự kiểm soát hoàn hảo; thể trí đang trong tiến trình khai mở, nhưng sự tăng trưởng của nó vẫn còn rất xa mới hoàn tất. Họ còn một đoạn đường dài phải đi trước khi ba thể này, hồng trần, cảm dục và trí tuệ, hoàn toàn phụ thuộc vào linh hồn. Khi điều đó xảy ra, phàm ngã sẽ được hấp thu vào chân ngã, và chân ngã, linh hồn, sẽ chế ngự con người. Dù con người chưa hoàn hảo, các hiện thể khác nhau đã hài hòa đến mức chúng chỉ có một mục tiêu. |
|
Up to this time the soul has been slowly controlling the personal vehicles until they become one with it, but now the Monad in its turn begins to dominate the soul; and there will presently come a time when, just as the personality and the soul have become one, the Spirit and the soul will become one in their turn. This is the unification of the ego with the Monad; and when that is achieved the man has attained the object of his descent into matter—he has become the Superman, or Adept. |
Cho đến thời điểm này, linh hồn đã chậm rãi kiểm soát các hiện thể cá nhân cho đến khi chúng trở nên là một với nó, nhưng giờ đây đến lượt chân thần bắt đầu chế ngự linh hồn; và rồi sẽ sớm đến một thời điểm khi, cũng như phàm ngã và linh hồn đã trở thành một, Tinh thần và linh hồn cũng đến lượt trở thành một. Đây là sự hợp nhất của chân ngã với chân thần; và khi điều ấy được thành tựu, con người đã đạt tới mục đích của sự giáng xuống của mình vào vật chất—y đã trở thành Siêu Nhân, hay Chân sư. |
Superhuman Life |
Đời sống siêu nhân |
|
Now only, for the first time; does he enter upon his real life, for the whole of this stupendous process of evolution (through all the lower kingdoms and then through the human kingdom up to the attainment of Adeptship) is but a preparation for that true life of the Spirit which begins only when man becomes more than man. Humanity is the final class of the world-school; and when a man has been trained therein he passes out into the real life, the life of the glorified Spirit, the life of the Christ. What that is we know but little as yet, though we see some of those who are sharing it. It has a glory and a splendour which is beyond all comparison, beyond our comprehension; and yet it is a vivid and living fact, and the attainment of it by every one of us is an absolute certainty from which we cannot escape even if we would. If we act selfishly, if we set ourselves against the current of evolution, we can delay our progress; but we cannot finally prevent it. |
Chỉ bấy giờ, lần đầu tiên, y mới bước vào đời sống thật sự của mình, vì toàn bộ tiến trình tiến hoá kỳ vĩ này, qua tất cả các giới thấp rồi qua giới nhân loại cho đến khi đạt tới địa vị Chân sư, chỉ là sự chuẩn bị cho đời sống chân thật ấy của Tinh thần, vốn chỉ bắt đầu khi con người trở nên hơn cả con người. Nhân loại là lớp cuối cùng của trường học thế gian; và khi một người đã được huấn luyện trong đó, y bước ra vào đời sống thật, đời sống của Tinh thần được vinh quang hóa, đời sống của Đức Christ. Điều đó là gì, cho đến nay chúng ta chỉ biết rất ít, dù chúng ta thấy một số vị đang chia sẻ đời sống ấy. Nó có một vinh quang và một vẻ huy hoàng vượt ngoài mọi so sánh, vượt ngoài sự thấu hiểu của chúng ta; tuy vậy nó là một sự kiện sống động và sinh động, và việc mỗi người trong chúng ta đạt tới nó là một điều chắc chắn tuyệt đối mà chúng ta không thể tránh khỏi, dù chúng ta muốn. Nếu chúng ta hành động ích kỷ, nếu chúng ta đặt mình chống lại dòng tiến hoá, chúng ta có thể trì hoãn bước tiến của mình; nhưng cuối cùng chúng ta không thể ngăn cản nó. |
|
Having finished with human life, the Perfected Man usually drops his various material bodies, but he retains the power to take up any of them if ever he should need them in course of his work. In the majority of cases, one who gains that level no longer needs a physical body. He no longer retains an astral, a mental or even a causal body, but lives permanently at his highest level. Whenever for any purpose he needs to deal with a lower plane, he must take a temporary vehicle belonging to that plane, because only through the medium of its matter can he come into contact with those who live therein. If he wishes to talk to men physically, he must take a physical body; he must have at least a partial materialization, or he cannot speak. In the same way, if he wishes to impress our minds, he must draw round himself a mental body. Whenever he needs in his work to take a lower vehicle, he has the power to do so; but he holds it only temporarily. There are seven lines of still further progress along which the Perfected Man can go, a list of which we shall give in a later chapter. |
Sau khi hoàn tất đời sống nhân loại, Con Người Hoàn Thiện thường bỏ các thể vật chất khác nhau của mình, nhưng Ngài giữ lại quyền năng khoác lấy bất kỳ thể nào trong số đó nếu Ngài từng cần đến chúng trong tiến trình công việc của Ngài. Trong đa số trường hợp, một vị đạt tới cấp độ ấy không còn cần một thể xác nữa. Ngài không còn giữ lại thể cảm dục, thể trí, hay ngay cả thể nguyên nhân, mà sống thường hằng ở cấp độ cao nhất của Ngài. Bất cứ khi nào vì một mục đích nào đó Ngài cần đề cập đến một cõi thấp hơn, Ngài phải khoác lấy một hiện thể tạm thời thuộc về cõi ấy, vì chỉ qua trung gian chất liệu của cõi đó Ngài mới có thể đi vào tiếp xúc với những người sống trong đó. Nếu Ngài muốn nói chuyện với con người trên phương diện hồng trần, Ngài phải khoác lấy một thể xác; Ngài phải có ít nhất một sự hiện hình bộ phận, nếu không Ngài không thể nói. Cũng theo cách ấy, nếu Ngài muốn gây ấn tượng lên thể trí của chúng ta, Ngài phải rút quanh mình một thể trí. Bất cứ khi nào trong công việc của mình Ngài cần khoác lấy một hiện thể thấp hơn, Ngài có quyền năng làm như vậy; nhưng Ngài chỉ giữ nó tạm thời. Có bảy đường tiến bộ xa hơn nữa mà Con Người Hoàn Thiện có thể đi theo, danh sách của chúng tôi sẽ đưa ra trong một chương sau. |
The Brotherhood of Adepts |
Huynh Đệ Đoàn các Chân sư |
|
The world is guided and directed to a large extent by a Brotherhood of Adepts to which our Masters belong. Theosophical students make all sorts of mistakes about them. They often regard them as a great monastic community, all living together in some secret place. They suppose them sometimes to be Angels, and many of our students have thought that they were all Indian, or that they all resided in the Himalayas. None of these hypotheses is true. There is a great Brotherhood, and its Members are in constant communication with one another; but their communication is on higher planes and they do not necessarily live together. As part of their work, some of these great Brothers whom we call Masters of the Wisdom are willing to take pupil apprentices and teach them; but they form only a small section of the mighty Body of Perfected Men. |
Thế gian được hướng dẫn và chỉ đạo ở một mức độ lớn bởi một Huynh Đệ Đoàn các Chân sư mà các Chân sư của chúng ta thuộc về. Các đạo sinh Thông Thiên Học phạm đủ mọi loại sai lầm về Các Ngài. Họ thường xem Các Ngài như một cộng đồng tu viện lớn, tất cả cùng sống trong một nơi bí mật nào đó. Đôi khi họ cho rằng Các Ngài là Thiên thần, và nhiều đạo sinh của chúng ta đã nghĩ rằng tất cả Các Ngài đều là người Ấn Độ, hoặc tất cả Các Ngài đều cư ngụ trong dãy Himalaya. Không giả thuyết nào trong số này là đúng. Có một Huynh Đệ Đoàn lớn, và các Thành viên của Huynh Đệ Đoàn ấy ở trong sự thông giao thường xuyên với nhau; nhưng sự thông giao của Các Ngài diễn ra trên các cõi cao hơn, và Các Ngài không nhất thiết sống cùng nhau. Như một phần công việc của mình, một số trong các Huynh Đệ vĩ đại này mà chúng ta gọi là các Chân sư Minh Triết sẵn lòng nhận các môn sinh tập sự và dạy dỗ họ; nhưng Các Ngài chỉ tạo thành một phân khu nhỏ của Thân Thể hùng mạnh gồm những Con Người Hoàn Thiện. |
|
As will be explained later on, there are seven types of men, for every one belongs to one of the seven Rays into which the great wave of evolving life is distinctly divided. It would seem that one Adept on each of the Rays is appointed to attend to the training of beginners, and all those who are coming along his particular Ray of evolution pass through his hands. |
Như sẽ được giải thích về sau, có bảy loại người, vì mỗi người thuộc về một trong bảy cung mà làn sóng lớn của sự sống đang tiến hoá được phân chia rõ rệt. Dường như một Chân sư trên mỗi cung được chỉ định để chăm lo việc huấn luyện những người mới bắt đầu, và tất cả những ai đang đi theo cung tiến hoá riêng của Ngài đều đi qua tay Ngài. |
|
No one below the rank of Adept is permitted to assume full responsibility for a novice, though those who have been chelas for a number of years are often employed as deputies, and receive the privilege of helping and advising promising young aspirants. These older pupils are gradually being trained for their future work when they in turn shall become Adepts, and they are learning to take more and more of the routine work off the hands of their Masters, so that the latter may be set free for higher labours which only they can undertake. The preliminary selection of candidates for discipleship is now left to a large extent in the hands of these older workers, and the candidates are temporarily linked with such representatives rather than directly with the great Adepts. But the pupils and the Master are so wonderfully one that perhaps this is almost “a distinction without a difference.” |
Không ai dưới phẩm cấp Chân sư được phép đảm nhận trách nhiệm trọn vẹn đối với một người sơ cơ, mặc dù những người đã là đệ tử trong nhiều năm thường được sử dụng như các phó nhiệm, và nhận đặc ân giúp đỡ và khuyên bảo những người chí nguyện trẻ tuổi đầy hứa hẹn. Những môn sinh lớn tuổi này dần dần được huấn luyện cho công việc tương lai của họ khi đến lượt họ trở thành Chân sư, và họ đang học cách nhận lấy ngày càng nhiều công việc thường lệ khỏi tay các Chân sư của mình, để các Ngài có thể được tự do cho những lao tác cao hơn mà chỉ Các Ngài mới có thể đảm nhận. Việc tuyển chọn sơ bộ các ứng viên cho địa vị đệ tử hiện nay được để lại phần lớn trong tay những người hoạt động lớn tuổi này, và các ứng viên được liên kết tạm thời với những đại diện như thế hơn là trực tiếp với các Chân sư vĩ đại. Nhưng các môn sinh và Chân sư là một một cách kỳ diệu đến nỗi có lẽ điều này gần như là “một sự phân biệt không có khác biệt.” |
The Powers of the Adept |
Các quyền năng của Chân sư |
|
The powers of the Adept are indeed many and wonderful, but they all follow in natural sequence from faculties which we ourselves possess. It is only that they have these faculties in a very much greater degree. I think that the outstanding characteristic of the Adept, as compared with ourselves, is that he looks upon everything from an absolutely different point of view; for there is in him nothing whatever of the thought of self which is so prominent in the majority of men. The Adept has eliminated the lower self, and is living not for self but for all, and yet, in a way that only he can really understand, that all is truly himself also. He has reached that stage in which there is no flaw in his character, nothing of a thought or feeling for a personal, separated self, and his only motive is that of helping forward evolution, of working in harmony with the Logos who directs it. |
Các quyền năng của Chân sư quả thật nhiều và kỳ diệu, nhưng tất cả đều tiếp nối theo trình tự tự nhiên từ những quan năng mà chính chúng ta sở hữu. Chỉ là Các Ngài có những quan năng ấy ở một mức độ lớn hơn rất nhiều. Tôi nghĩ rằng đặc điểm nổi bật của Chân sư, khi so sánh với chúng ta, là Ngài nhìn mọi sự từ một quan điểm tuyệt đối khác biệt; vì trong Ngài không hề có bất cứ điều gì thuộc về ý nghĩ về bản ngã vốn rất nổi bật trong đa số con người. Chân sư đã loại bỏ phàm ngã, và sống không vì bản ngã mà vì tất cả, tuy vậy theo một cách mà chỉ Ngài mới thật sự có thể thấu hiểu, tất cả ấy thật sự cũng là chính Ngài. Ngài đã đạt tới giai đoạn trong đó không có khuyết điểm nào trong Tính cách của Ngài, không có bất cứ ý nghĩ hay cảm xúc nào dành cho một bản ngã cá nhân, tách biệt, và động lực duy nhất của Ngài là trợ giúp thúc đẩy tiến hoá, làm việc trong hòa điệu với Thượng đế, Đấng chỉ đạo nó. |
|
Perhaps the next most prominent characteristic is his all-round development. We are all of us imperfect; none has attained the highest level in any line, and even the great scientist or the great saint has usually reached high excellence in one thing only, and there remain other sides of his nature not yet unfolded. All of us possess some germ of all the different characteristics, but always they are but partially awakened, and one much more than another. An Adept, however, is an all-round Man, a Man whose devotion and love and sympathy and compassion are perfect, while at the same time his intellect is something far grander than we can as yet realize, and his spirituality is wonderful and divine. He stands out above and beyond all men whom we know, because of the fact that he is fully developed. |
Có lẽ đặc điểm nổi bật kế tiếp là sự phát triển toàn diện của Ngài. Tất cả chúng ta đều bất toàn; không ai đã đạt tới cấp độ cao nhất trong bất kỳ đường nào, và ngay cả nhà khoa học lớn hay vị thánh lớn thường cũng chỉ đạt tới sự xuất sắc cao trong một điều duy nhất, còn những mặt khác trong bản chất của ông vẫn chưa khai mở. Tất cả chúng ta đều sở hữu một vài mầm của mọi đặc tính khác nhau, nhưng luôn luôn chúng chỉ được đánh thức một phần, và đặc tính này nhiều hơn đặc tính kia rất nhiều. Tuy nhiên, một Chân sư là một Con Người toàn diện, một Con Người mà lòng sùng tín, bác ái, sự cảm thông và lòng từ bi đều hoàn hảo, đồng thời trí tuệ của Ngài là điều gì đó lớn lao hơn rất nhiều so với điều chúng ta hiện nay có thể nhận ra, và tinh thần của Ngài thì kỳ diệu và thiêng liêng. Ngài nổi bật lên trên và vượt ngoài tất cả những người mà chúng ta biết, bởi sự kiện rằng Ngài đã phát triển trọn vẹn. |
Chapter 2 — Chương 2
The Physical Bodies Of The Masters — Các Thể Xác của Các Chân sư

|
Figure 1- A Ravine in Tibet |
Hình 1- Một khe núi ở Tây Tạng |

|
The Masters Morya and Kuthumi occupy houses on opposite sides of this narrow ravine, the slopes of which are covered with pine trees. Paths run down the ravine past their houses, and meet at the bottom, where there is a little bridge. Close to the bridge a narrow door, which may be seen on the left at the bottom of the picture, leads to a system of vast subterranean halls containing an occult museum of which the Master Kuthumi is the Guardian on behalf of the Great White Brotherhood. |
Các Chân sư Morya và Kuthumi ở trong những ngôi nhà trên hai phía đối diện của khe núi hẹp này, mà các sườn dốc của nó được phủ đầy thông. Những con đường mòn chạy xuống khe núi ngang qua nhà các Ngài, và gặp nhau ở đáy khe, nơi có một cây cầu nhỏ. Gần cây cầu, một cánh cửa hẹp, có thể thấy ở bên trái dưới đáy bức tranh, dẫn đến một hệ thống các đại sảnh ngầm rộng lớn, chứa một bảo tàng huyền bí mà Chân sư Kuthumi là Người Giữ Gìn thay mặt cho Thánh đoàn. |
|
The contents of this museum are of the most varied character. They appear to be intended as a kind of illustration of the whole process of evolution. For example, there are here the most life-like images of every type of man which has existed on this planet from the commencement—from gigantic loose-jointed Lemurians to pigmy remains of even earlier and less human races. Models in alto relievo show all the variations of the surface of the earth—the conditions before and after the great cataclysms which have changed it so much. Huge diagrams illustrate the migrations of the different races of the world, and show exactly how far they spread from their respective sources. Other similar diagrams are devoted to the influence of the various religions of the world, showing where each was practised in its original purity, and where it became mingled with and distorted by the remains of other religions. |
Nội dung của bảo tàng này có tính chất vô cùng đa dạng. Chúng dường như được dự định làm một loại minh họa cho toàn bộ tiến trình tiến hoá. Chẳng hạn, tại đây có những hình tượng sống động như thật của mọi kiểu người đã từng tồn tại trên hành tinh này từ thuở ban đầu — từ những người Lemuria khổng lồ với các khớp lỏng lẻo cho đến những di tích người lùn của các nhân loại còn sớm hơn và ít mang tính người hơn. Những mô hình chạm nổi cao cho thấy tất cả các biến đổi của bề mặt Trái Đất — các tình trạng trước và sau những đại hồng tai đã làm thay đổi nó rất nhiều. Những biểu đồ khổng lồ minh họa các cuộc di cư của những nhân loại khác nhau trên thế giới, và cho thấy chính xác mức độ lan rộng của họ từ những nguồn gốc tương ứng. Những biểu đồ tương tự khác được dành cho ảnh hưởng của các tôn giáo khác nhau trên thế giới, cho thấy nơi mỗi tôn giáo được thực hành trong sự tinh khiết nguyên thủy của nó, và nơi nó trở nên pha trộn với, cũng như bị làm sai lệch bởi, tàn dư của các tôn giáo khác. |
|
Amazingly life-like statues perpetuate the physical appearance of certain of the great leaders and teachers of long-forgotten races; and various objects of interest connected with important and even unnoticed advancements in civilization are preserved for the examination of posterity. Original manuscripts of incredible antiquity and of priceless value are here to be seen—a manuscript, for example, written by the hand of the Lord Buddha himself in his final life as Prince Siddartha, and another written by the Lord Christ during his birth in Palestine. Here is kept that marvellous original of the Book of Dzyan, which Madame Blavatsky describes in the opening of The Secret Doctrine. Here too are strange scripts from other worlds than ours. Animal and vegetable forms are also depicted, some few of which are known to us as fossils, though most of them are unimagined by our modern science. Actual models of some of the great cities of remote and forgotten antiquity are here for the study of the pupils. |
Những pho tượng sống động như thật đến kinh ngạc duy trì mãi dáng vẻ thể xác của một số nhà lãnh đạo và huấn sư vĩ đại thuộc những nhân loại đã bị lãng quên từ lâu; và nhiều vật thể đáng quan tâm liên hệ với những bước tiến quan trọng, thậm chí không được chú ý, trong văn minh được bảo tồn cho sự khảo sát của hậu thế. Tại đây có thể thấy những bản thảo nguyên bản có niên đại cổ xưa khó tin và giá trị vô giá — chẳng hạn, một bản thảo do chính tay Đức Phật viết trong kiếp sống cuối cùng của Ngài với tư cách là Hoàng tử Siddartha, và một bản khác do Đức Christ viết trong lần sinh ra của Ngài ở Palestine. Tại đây lưu giữ bản nguyên thủy kỳ diệu của Sách Dzyan, mà Bà Blavatsky mô tả ở phần mở đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm. Tại đây cũng có những chữ viết kỳ lạ từ các thế giới khác ngoài thế giới của chúng ta. Các hình tướng động vật và thực vật cũng được mô tả, một số ít trong đó chúng ta biết đến như hóa thạch, dù phần lớn chúng không được khoa học hiện đại của chúng ta hình dung tới. Những mô hình thực của một số thành phố vĩ đại thuộc thời cổ xa xôi và bị lãng quên được đặt tại đây cho các môn sinh nghiên cứu. |
|
All statues and models are vividly coloured exactly as were the originals; and we may note that the collection here was intentionally put together at the time, in order to represent to posterity the exact stages through which the evolution or civilization of the time was passing, so that instead of mere incomplete fragments, such as our museums so often present to us, we have in all cases an intentionally educative series of presentations. There we find models of all the kinds of machinery which the different civilizations have evolved, and also there are elaborate and abundant illustrations of the types of magic in use at the various periods of history. |
Tất cả các tượng và mô hình đều được tô màu sống động đúng như các nguyên bản; và chúng ta có thể lưu ý rằng bộ sưu tập tại đây đã được cố ý tập hợp vào thời ấy, nhằm trình bày cho hậu thế những giai đoạn chính xác mà tiến hoá hay văn minh của thời kỳ ấy đang trải qua, để thay vì chỉ có những mảnh vụn không đầy đủ như các bảo tàng của chúng ta thường trình ra cho chúng ta, trong mọi trường hợp chúng ta có một loạt trình bày mang tính giáo dục được cố ý sắp đặt. Ở đó, chúng ta tìm thấy những mô hình của mọi loại máy móc mà các nền văn minh khác nhau đã phát triển, và cũng có những minh họa công phu, phong phú về các loại huyền thuật được sử dụng trong những thời kỳ khác nhau của lịch sử. |
|
In the vestibule leading to these vast halls are kept the living images of those pupils of the Masters Morya and Kuthumi who happen at the time to be on probation, which I will describe later. These images are ranged round the walls like statues, and are perfect representations of the pupils concerned. It is not probable, however, that they are visible to physical eyes, for the lowest matter entering into their composition is etheric. |
Trong tiền sảnh dẫn vào các đại sảnh rộng lớn này, người ta giữ những hình ảnh sống động của các môn sinh thuộc các Chân sư Morya và Kuthumi, những người vào thời điểm ấy tình cờ đang trong giai đoạn dự bị, mà tôi sẽ mô tả về sau. Những hình ảnh này được xếp quanh các bức tường như các pho tượng, và là những biểu hiện hoàn hảo của các môn sinh liên hệ. Tuy nhiên, không chắc rằng chúng có thể thấy được bằng mắt hồng trần, vì loại vật chất thấp nhất đi vào cấu tạo của chúng là dĩ thái. |
|
Near the bridge there is also a small Temple with turrets of somewhat Burmese form, to which a few villagers go to make offerings of fruit and flowers, and to burn camphor and recite the Pancha Sila. A rough and uneven track leads down the valley by the side of the stream. From either of the two houses of the Masters the other house can be seen; they are both above the bridge, but both cannot be seen from it, since the ravine bends round. If we follow the path up the valley past the house of the Master Kuthumi it will lead us to a large pillar of rock, beyond which, the ravine bending round again, it passes out of sight. Some distance further on the ravine opens out into a plateau on which there is a lake, in which, tradition tells us, Madame Blavatsky used to bathe; and it is said that she found it very cold. The valley is sheltered and faces south, and though the surrounding country is under snow during the winter, I do not remember having seen any near the Masters’ houses. These houses are of stone, very heavily and strongly built. |
Gần cây cầu cũng có một ngôi Đền nhỏ với các tháp nhỏ theo dạng hơi giống Miến Điện, nơi một vài dân làng đến dâng cúng trái cây và hoa, đốt long não và tụng Pancha Sila. Một lối mòn gồ ghề và không bằng phẳng dẫn xuống thung lũng dọc theo bờ suối. Từ một trong hai ngôi nhà của các Chân sư có thể thấy ngôi nhà kia; cả hai đều nằm phía trên cây cầu, nhưng từ cây cầu không thể thấy cả hai, vì khe núi uốn cong. Nếu chúng ta đi theo con đường mòn lên thung lũng ngang qua nhà của Chân sư Kuthumi, nó sẽ dẫn chúng ta đến một cột đá lớn, vượt qua đó, do khe núi lại uốn cong, con đường khuất khỏi tầm nhìn. Xa hơn một khoảng, khe núi mở ra thành một cao nguyên, trên đó có một hồ nước, nơi mà truyền thống kể rằng Bà Blavatsky thường tắm; và người ta nói rằng bà thấy nước rất lạnh. Thung lũng được che chắn và quay về hướng nam, và mặc dù vùng đất xung quanh phủ tuyết trong mùa đông, tôi không nhớ đã từng thấy tuyết nào gần các ngôi nhà của các Chân sư. Những ngôi nhà này bằng đá, được xây rất nặng nề và vững chắc. |

|
Figure 2- Diagram 1 Plan of House of Master Kuthumi |
Hình 2- Sơ đồ 1 Mặt bằng nhà của Chân sư Kuthumi |
The House of the Master Kuthumi |
Ngôi nhà của Chân sư Kuthumi |
|
The house of the Master Kuthumi is divided into two parts by a passage-way running straight through it. As will be seen from our diagram 1, which shows the ground plan of the southern half of the house, on entering the passage, the first door on the right leads into the principal room of the house, in which our Master usually sits. It is large and lofty (about fifty feet by thirty feet), in many ways more like a hall than a room, and it occupies the whole of the front of the house on that side of the passage. Behind that large room are two other nearly square rooms, one of which he uses as a library, and the other as a bedroom. That completes that side or division of the house, which is apparently reserved for the Master’s personal use, and is surrounded by a broad veranda. The other side of the house, on the left of the passage as one enters, seems to be divided into smaller rooms and offices of various kinds; we have had no opportunity of closely examining them, but we have noted that just across the passage from the bedroom is a wellappointed bathroom. |
Ngôi nhà của Chân sư Kuthumi được chia làm hai phần bởi một lối đi chạy thẳng xuyên qua. Như sẽ thấy từ sơ đồ 1 của chúng ta, cho thấy mặt bằng tầng trệt của nửa phía nam ngôi nhà, khi bước vào lối đi, cánh cửa đầu tiên bên phải dẫn vào căn phòng chính của ngôi nhà, nơi Chân sư của chúng ta thường ngồi. Phòng ấy rộng và cao (khoảng năm mươi bộ nhân ba mươi bộ), về nhiều phương diện giống một đại sảnh hơn là một căn phòng, và chiếm toàn bộ mặt trước của ngôi nhà ở phía đó của lối đi. Phía sau căn phòng lớn ấy là hai phòng khác gần như vuông, một phòng Ngài dùng làm thư viện, và phòng kia làm phòng ngủ. Như vậy là trọn vẹn phía hay khu ấy của ngôi nhà, dường như được dành cho việc sử dụng riêng của Chân sư, và được bao quanh bởi một hiên rộng. Phía bên kia của ngôi nhà, ở bên trái lối đi khi người ta bước vào, dường như được chia thành những phòng nhỏ hơn và các phòng làm việc thuộc nhiều loại; chúng tôi chưa có cơ hội xem xét chúng kỹ lưỡng, nhưng chúng tôi đã ghi nhận rằng ngay đối diện qua lối đi từ phòng ngủ là một phòng tắm được trang bị chu đáo. |
|
The large room is well supplied with windows, both along the front and the end—so well that on entering one gets the impression of an almost continuous outlook; and under the windows runs a long seat. There is also a somewhat unusual feature for that country, a large open fireplace in the middle of the wall opposite the front windows. This is so arranged as to heat all three rooms, and it has a curious hammered iron cover, which I am told is unique in Tibet. Over the opening of that fire-place is a mantelpiece, and nearby stands the Master’s armchair of very old carved wood, hollowed to fit the sitter, so that for it no cushions are required. Dotted about the room are tables and settees or sofas, mostly without backs, and in one corner is the keyboard of the Master’s organ. The ceiling is perhaps twenty feet high, and is very handsome, with its fine carved beams, which descend into ornamental points where they meet one another and divide the ceiling into oblong sections. An arched opening with a pillar in the centre, somewhat in the Gothic style, but without glass, opens into the study, and a similar window opens into the bedroom. This latter room is very simply furnished. There is an ordinary bed, swung hammock-like between two carved wooden supports fixed in the wall (one of these carved to imitate a lion’s head, and the other an elephant’s), and the bed when not in use folds up against the wall. |
Căn phòng lớn có rất nhiều cửa sổ, cả dọc theo mặt trước lẫn phía đầu phòng — nhiều đến mức khi bước vào, người ta có ấn tượng về một tầm nhìn gần như liên tục; và dưới các cửa sổ chạy dài một băng ghế. Cũng có một đặc điểm hơi khác thường đối với xứ ấy: một lò sưởi mở lớn ở giữa bức tường đối diện các cửa sổ phía trước. Nó được sắp đặt để sưởi ấm cả ba phòng, và có một nắp sắt rèn kỳ lạ, mà tôi được cho biết là độc nhất vô nhị ở Tây Tạng. Trên miệng lò sưởi ấy là một bệ lò, và gần đó đặt chiếc ghế bành của Chân sư bằng gỗ chạm rất cổ, được khoét lõm để vừa người ngồi, đến mức không cần đệm. Rải rác trong phòng là các bàn và trường kỷ hay ghế dài, phần lớn không có lưng tựa, và ở một góc là bàn phím chiếc đàn organ của Chân sư. Trần có lẽ cao hai mươi bộ, và rất đẹp, với những dầm chạm tinh xảo, hạ xuống thành các điểm trang trí nơi chúng gặp nhau và chia trần thành các ô thuôn dài. Một ô cửa vòm có cột ở giữa, phần nào theo phong cách Gothic nhưng không có kính, mở vào phòng làm việc, và một cửa sổ tương tự mở vào phòng ngủ. Căn phòng sau này được bài trí rất giản dị. Có một chiếc giường bình thường, treo như võng giữa hai giá đỡ bằng gỗ chạm cố định vào tường (một trong hai giá này được chạm mô phỏng đầu sư tử, và giá kia đầu voi), và khi không dùng, chiếc giường gập lên sát tường. |
|
The library is a fine room, containing thousands of volumes. Running out from the wall there are tall book-shelves, filled with books in many languages, a number of them being modern European works and at the top there are open shelves for manuscripts. The Master is a great linguist, and besides being a fine English scholar has a thorough knowledge of French and German. The library also contains a typewriter, which was presented to the Master by one of his pupils. |
Thư viện là một căn phòng đẹp, chứa hàng ngàn tập sách. Từ tường nhô ra là những kệ sách cao, đầy sách bằng nhiều ngôn ngữ, một số là các tác phẩm châu Âu hiện đại, và ở phía trên có những kệ mở dành cho bản thảo. Chân sư là một nhà ngôn ngữ học lớn, và ngoài việc là một học giả Anh ngữ xuất sắc, Ngài còn có tri thức thấu đáo về tiếng Pháp và tiếng Đức. Thư viện cũng có một máy đánh chữ, do một trong các môn sinh của Ngài tặng Chân sư. |
|
Of the Master’s family I know but little. There is a lady, evidently a pupil, whom he calls ‘sister’. Whether she is actually his sister or not I do not know; she might possibly be a cousin or a niece. She looks much older than he, but that would not make the relationship improbable, as he has appeared of about the same age for a long time. She resembles him to a certain extent, and once or twice when there have been gatherings she has come and joined the party; though her principal work seems to be to look after the house-keeping and manage the servants. Among the latter are an old man and his wife, who have been for a long time in the Master’s service. They do not know anything of the real dignity of their employer, but regard him as a very indulgent and gracious patron, and naturally they benefit greatly by being in his service. |
Về gia đình của Chân sư, tôi biết rất ít. Có một phụ nữ, hiển nhiên là một môn sinh, mà Ngài gọi là “chị/em gái”. Bà ấy thực sự có phải là chị/em gái của Ngài hay không thì tôi không biết; có thể bà là em họ hay cháu gái. Bà trông già hơn Ngài nhiều, nhưng điều đó không làm cho mối quan hệ trở nên khó có thể xảy ra, vì Ngài đã hiện ra ở khoảng cùng một tuổi trong một thời gian dài. Bà giống Ngài ở một mức độ nào đó, và đôi khi, khi có các buổi họp mặt, bà đến và tham gia cùng nhóm; tuy công việc chính của bà dường như là trông nom việc nhà và quản lý những người hầu. Trong số những người sau có một ông già và vợ ông, đã phục vụ Chân sư từ lâu. Họ không biết gì về phẩm vị thực sự của chủ mình, mà xem Ngài như một người bảo trợ rất khoan dung và ân cần, và tự nhiên họ được lợi ích lớn lao nhờ phục vụ Ngài. |
The Master’s Activities |
Các hoạt động của Chân sư |
|
The Master has a large garden of his own. He possesses, too, a quantity of land, and employs labourers to cultivate it. Near the house there are flowering shrubs and masses of flowers growing freely, with ferns among them. Through the garden there flows a streamlet; which forms a little waterfall, and over it a tiny bridge is built. Here he often sits when he is sending out streams of thought and benediction upon his people; it would no doubt appear to the casual observer as though he were sitting idly watching Nature, and listening heedlessly to the song of the birds, and to the splash and tumble of the water. Sometimes, too, he rests in his great armchair, and when his people see him thus, they know that he must not be disturbed; they do not know exactly what he is doing, but suppose him to be in samadhi. The fact that people in the East understand this kind of meditation and respect it may be one of the reasons why the Adepts prefer to live there rather than in the West. |
Chân sư có một khu vườn lớn của riêng Ngài. Ngài cũng sở hữu một số đất đai, và thuê thợ làm để canh tác. Gần nhà có những bụi cây có hoa và các khóm hoa mọc tự do, với dương xỉ xen giữa. Xuyên qua khu vườn có một dòng suối nhỏ chảy qua; nó tạo thành một thác nước nhỏ, và bắc qua đó là một cây cầu tí hon. Ở đây Ngài thường ngồi khi đang phóng ra những dòng tư tưởng và phúc lành trên dân chúng của Ngài; đối với người quan sát tình cờ, chắc hẳn trông như thể Ngài đang ngồi nhàn rỗi ngắm thiên nhiên, và lơ đãng lắng nghe tiếng chim hót cùng tiếng nước văng và đổ xuống. Đôi khi, Ngài cũng nghỉ trong chiếc ghế bành lớn của mình, và khi dân chúng của Ngài thấy Ngài như thế, họ biết rằng không được quấy rầy Ngài; họ không biết chính xác Ngài đang làm gì, nhưng cho rằng Ngài đang ở trong samadhi. Việc người phương Đông thấu hiểu loại tham thiền này và tôn trọng nó có thể là một trong những lý do vì sao các Chân sư thích sống ở đó hơn là ở phương Tây. |
|
In this way we get the effect of the Master sitting quietly for a considerable part of the day and, as we should say, meditating; but while he is apparently resting so calmly, he is in reality engaged all the time in most strenuous labour on higher planes, manipulating various natural forces and pouring forth influences of the most diverse character on thousands of souls simultaneously; for the Adepts are the busiest people in the world. The Master, however, does much physical-plane work as well; he has composed some music, and has written notes and papers for various purposes. He is also much interested in the growth of physical science, although this is especially the province of one of the other great Masters of the Wisdom. |
Theo cách này, chúng ta có ấn tượng rằng Chân sư ngồi yên lặng trong một phần đáng kể của ngày và, như chúng ta sẽ nói, đang tham thiền; nhưng trong khi Ngài có vẻ nghỉ ngơi rất bình thản, thực ra Ngài luôn luôn dấn mình vào lao động căng thẳng nhất trên các cõi cao, điều khiển những mãnh lực tự nhiên khác nhau và tuôn đổ những ảnh hưởng thuộc đủ loại khác nhau lên hàng ngàn linh hồn đồng thời; vì các Chân sư là những người bận rộn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, Chân sư cũng làm nhiều công việc trên cõi hồng trần; Ngài đã sáng tác một số âm nhạc, và đã viết các ghi chú cùng các bài viết cho nhiều mục đích khác nhau. Ngài cũng rất quan tâm đến sự phát triển của khoa học hồng trần, mặc dù điều này đặc biệt là lãnh vực của một trong các Chân sư Minh triết vĩ đại khác. |
|
From time to time the Master Kuthumi rides on a big bay horse, and occasionally, when their work lies together, he is accompanied by the Master Morya, who always rides a magnificent white horse. Our Master regularly visits some of the monasteries, and sometimes goes up a great pass to a lonely monastery in the hills. Riding in the course of his duties seems to be his principal exercise, but he sometimes walks with the Master Djwal Kul, who lives in a little cabin which he built with his own hands, quite near to the great crag on the way up to the plateau. |
Thỉnh thoảng Chân sư Kuthumi cưỡi một con ngựa hồng lớn, và đôi khi, khi công việc của các Ngài trùng nhau, Ngài được Chân sư Morya tháp tùng, vị luôn cưỡi một con ngựa trắng tuyệt đẹp. Chân sư của chúng ta thường xuyên thăm một số tu viện, và đôi khi đi lên một đèo lớn đến một tu viện cô tịch trên núi. Cưỡi ngựa trong khi thực hiện các nhiệm vụ dường như là hình thức vận động chính của Ngài, nhưng đôi khi Ngài đi bộ với Chân sư Djwal Kul, vị sống trong một căn lều nhỏ do chính tay Ngài xây, khá gần vách đá lớn trên đường lên cao nguyên. |
|
Sometimes our Master plays on the organ which is in the large room in his house. He had it made in Tibet under his direction, and it is in fact a combined piano and organ, with a keyboard like those which we have in the West, on which he can play all our western music. It is unlike any other instrument with which I am acquainted, for it is in a sense double-fronted, as it can be played either from the sitting-room or the library. The principal keyboard (or rather the three keyboards, great organ, swell and choir) is in the sitting-room, whereas the piano keyboard is in the library; and these keyboards can be used either together or separately. The full organ with its pedals can be played in the ordinary way from the sitting-room; but by turning a handle somewhat equivalent to a stop, the piano mechanism can be linked with the organ, so that it all plays simultaneously. From that point of view, in fact, the piano is treated as an additional stop on the organ. |
Đôi khi Chân sư của chúng ta chơi đàn organ đặt trong căn phòng lớn của nhà Ngài. Ngài đã cho chế tạo nó ở Tây Tạng dưới sự chỉ dẫn của Ngài, và thực ra đó là một sự kết hợp giữa piano và organ, với bàn phím giống những bàn phím chúng ta có ở phương Tây, trên đó Ngài có thể chơi toàn bộ âm nhạc phương Tây của chúng ta. Nó không giống bất cứ nhạc cụ nào mà tôi biết, vì theo một nghĩa nào đó nó có hai mặt trước, bởi có thể chơi nó từ phòng khách hoặc từ thư viện. Bàn phím chính (hay đúng hơn là ba bàn phím: đại organ, swell và choir) ở trong phòng khách, trong khi bàn phím piano ở trong thư viện; và các bàn phím này có thể được sử dụng cùng nhau hoặc riêng rẽ. Toàn bộ organ với các bàn đạp có thể được chơi theo cách thông thường từ phòng khách; nhưng bằng cách xoay một tay cầm phần nào tương đương với một chốt âm, cơ chế piano có thể được nối với organ, khiến tất cả cùng vang lên đồng thời. Từ quan điểm ấy, thực ra piano được xem như một chốt âm bổ sung trên organ. |
|
From the keyboard in the library, however, the piano can be played alone as a separate instrument, quite dissociated from the organ; but by some complicated mechanism the choir-organ is also linked to that keyboard, so that by it one can play the piano alone precisely as though it were an ordinary piano, or one can play the piano accompanied by the choir-organ, or at any rate by certain stops of that organ. It is also possible, as I said, to separate the two completely, and so, with a performer at each keyboard, to play a piano-organ duet. The mechanism and the pipes of this strange instrument occupy almost the whole of what might be called the upper story of this part of the Master’s house. By magnetization he has placed it in communication with the Gandharvas, or Devas of music, so that whenever it is played they co-operate, and thus he obtains combinations of sound never to be heard on the physical plane; and there is, too, an effect produced by the organ itself as of an accompaniment of string and wind instruments. |
Tuy nhiên, từ bàn phím trong thư viện, piano có thể được chơi riêng như một nhạc cụ độc lập, hoàn toàn tách rời khỏi organ; nhưng nhờ một cơ chế phức tạp nào đó, choir-organ cũng được nối với bàn phím ấy, để nhờ đó người ta có thể chơi piano riêng đúng như thể nó là một cây piano thông thường, hoặc có thể chơi piano với choir-organ đệm theo, hay ít nhất bằng một số chốt âm của organ ấy. Cũng có thể, như tôi đã nói, tách hoàn toàn hai phần, và do đó, với một người biểu diễn ở mỗi bàn phím, chơi một bản song tấu piano-organ. Cơ chế và các ống của nhạc cụ kỳ lạ này chiếm gần như toàn bộ phần có thể gọi là tầng trên của khu này trong nhà của Chân sư. Bằng sự từ điện hoá, Ngài đã đặt nó trong giao tiếp với các Gandharva, hay các thiên thần của âm nhạc, để mỗi khi nó được chơi, các vị ấy hợp tác, và nhờ vậy Ngài đạt được những tổ hợp âm thanh chưa từng nghe thấy trên cõi hồng trần; và cũng có một hiệu quả do chính organ tạo ra, như một phần đệm của các nhạc cụ dây và hơi. |
|
The song of the Devas is ever being sung in the world; it is ever sounding in men’s ears, but they will not listen to its beauty. There is the deep bourdon of the sea, the sighing of the wind in the trees, the roar of the mountain torrent, the music of stream, river and waterfall, which together with many others form the mighty song of Nature as she lives. This is but the echo in the physical world of a far grander sound, that of the Being of the Devas. As is said in Light on the Path: |
Bài ca của các thiên thần luôn luôn được hát lên trong thế gian; nó luôn luôn vang lên bên tai con người, nhưng họ không chịu lắng nghe vẻ đẹp của nó. Có tiếng trầm sâu của biển, tiếng gió thở dài trong cây, tiếng gầm của dòng thác núi, âm nhạc của suối, sông và thác nước, tất cả cùng với nhiều âm thanh khác tạo thành bài ca hùng vĩ của thiên nhiên khi nàng sống động. Đây chỉ là âm vang trong thế giới hồng trần của một âm thanh lớn lao hơn rất nhiều, âm thanh của Bản Thể các thiên thần. Như đã nói trong Ánh sáng trên Đường Đạo: |
|
Only fragments of the great song come to your ears while yet you are but man. But, if you listen to it, remember it faithfully, so that none which has reached you is lost, and endeavour to learn from it the meaning of the mystery which surrounds you. In time you will need no teacher. For as the individual has voice, so has that in which the individual exists. Life itself has speech, and is never silent. And its utterance is not, as you that are deaf may suppose, a cry: it is a song. Learn from it that you are part of the harmony; learn from it to obey the laws of the harmony. |
Chỉ những mảnh vụn của bài ca vĩ đại mới đến tai bạn khi bạn vẫn chỉ là con người. Nhưng nếu bạn lắng nghe nó, hãy trung thành ghi nhớ nó, để không điều gì đã đến với bạn bị mất đi, và hãy cố học từ đó ý nghĩa của huyền nhiệm bao quanh bạn. Đến lúc, bạn sẽ không cần huấn sư. Vì cũng như cá nhân có tiếng nói, điều trong đó cá nhân tồn tại cũng có tiếng nói. Chính Sự sống có lời nói, và không bao giờ im lặng. Và lời phát ra của nó không phải, như bạn là kẻ điếc có thể tưởng, là một tiếng kêu: đó là một bài ca. Hãy học từ đó rằng bạn là một phần của sự hài hòa; hãy học từ đó để tuân theo các định luật của sự hài hòa. |
|
Every morning a number of people—not exactly pupils, but followers—come to the Master’s house, and sit on the veranda and outside it. Sometimes he gives them a little talk—a sort of lecturette; but more often he goes on with his work and takes no notice of them beyond a friendly smile, with which they seem equally contented. They evidently come to sit in his aura and venerate him. Sometimes he takes his food in their presence, sitting on the veranda, with this crowd of Tibetans and others on the ground around him; but generally he eats by himself at a table in his room. It is possible that he keeps the rule of the Buddhist monks, and takes no food after noon; for I do not remember ever to have seen him eat in the evening; it is even possible that he does not need food every day. Most probably when he feels inclined he orders the food that he would like, and does not take his meals at stated times. I have seen him eating little round cakes, brown and sweet; they are made of wheat and sugar and butter, and are of the ordinary kind used in the household, cooked by his sister. He also eats curry and rice, the curry being somewhat in the form of soup, like dhal. He uses a curious and beautiful golden spoon, with an exquisite image of an elephant at the end of the handle, the bowl of which is set at an unusual angle to the stem. It is a family heirloom, very old and probably of great value. He generally wears white clothes, but I do not remember ever having seen him wearing a head-dress of any kind, except on the rare occasions when he assumes the yellow robe of the Gelugpa sect or clan, which includes a hood somewhat of the shape of the Roman helmet. The Master Morya, however, generally wears a turban. |
Mỗi buổi sáng, một số người — không hẳn là môn sinh, mà là những người đi theo — đến nhà Chân sư, và ngồi trên hiên cũng như bên ngoài hiên. Đôi khi Ngài ban cho họ một bài nói ngắn — một loại bài giảng nhỏ; nhưng thường hơn, Ngài tiếp tục công việc của mình và không chú ý đến họ ngoài một nụ cười thân thiện, điều mà dường như họ cũng hoàn toàn mãn nguyện. Hiển nhiên họ đến để ngồi trong hào quang của Ngài và tôn kính Ngài. Đôi khi Ngài dùng thức ăn trước sự hiện diện của họ, ngồi trên hiên, với đám đông người Tây Tạng và những người khác trên mặt đất quanh Ngài; nhưng thông thường Ngài ăn một mình tại một chiếc bàn trong phòng. Có thể Ngài giữ quy luật của các tu sĩ Phật giáo, và không dùng thức ăn sau buổi trưa; vì tôi không nhớ đã từng thấy Ngài ăn vào buổi tối; thậm chí có thể Ngài không cần thức ăn mỗi ngày. Rất có thể khi Ngài thấy muốn, Ngài gọi món ăn mà Ngài thích, và không dùng bữa vào những giờ định sẵn. Tôi đã thấy Ngài ăn những chiếc bánh tròn nhỏ, màu nâu và ngọt; chúng được làm bằng lúa mì, đường và bơ, và thuộc loại thông thường được dùng trong gia đình, do chị/em gái của Ngài nấu. Ngài cũng ăn cà-ri và cơm, món cà-ri hơi có dạng súp, như dhal. Ngài dùng một chiếc thìa vàng kỳ lạ và đẹp, với một hình voi tinh xảo ở cuối cán, phần lòng thìa được đặt ở một góc khác thường so với cán. Đó là một vật gia truyền, rất cổ và có lẽ rất giá trị. Ngài thường mặc y phục trắng, nhưng tôi không nhớ đã từng thấy Ngài đội bất cứ loại khăn hay mũ nào, ngoại trừ những dịp hiếm hoi khi Ngài khoác áo vàng của phái hay dòng Gelugpa, áo ấy có một mũ trùm phần nào có hình dạng như mũ chiến La Mã. Tuy nhiên, Chân sư Morya thường đội khăn xếp. |
Other Houses |
Những ngôi nhà khác |
|
The house of the Master Morya is on the opposite side of the valley, but much lower down—quite close, in fact, to the little temple and the entrance to the caves. It is of an entirely different style of architecture, having at least two stories, and the front facing the road has verandas at each level which are almost entirely glassed in. The general method and arrangement of his life is much the same as that already described in the case of the Master Kuthumi. |
Ngôi nhà của Chân sư Morya nằm ở phía đối diện của thung lũng, nhưng thấp hơn nhiều — thật ra khá gần ngôi đền nhỏ và lối vào các hang động. Nó thuộc một phong cách kiến trúc hoàn toàn khác, có ít nhất hai tầng, và mặt trước hướng ra đường có các hiên ở mỗi tầng, hầu như được lắp kính hoàn toàn. Phương pháp và cách sắp đặt chung của đời sống Ngài phần nhiều giống như đã mô tả trong trường hợp của Chân sư Kuthumi. |
|
If we walk up the road on the left bank of the stream, rising gradually along the side of the valley, we pass on the right the house and grounds of the Master Kuthumi, and further up the hill we find on the same side of the road a small hut or cabin which he who is now the Master Djwal Kul constructed for himself with his own hands in the days of his pupilage, in order that he might have an abiding-place quite near to his Master. In that cabin hangs a sort of plaque upon which at his request one of the English pupils of the Master Kuthumi precipitated many years ago an interior view of the large room in the house of the Master Kuthumi, showing the figures of various Masters and pupils. This was done in commemoration of a certain especially happy and fruitful evening at the Master’s house. |
Nếu chúng ta đi lên con đường trên bờ trái của dòng suối, dần dần lên cao theo sườn thung lũng, chúng ta đi qua, bên phải, ngôi nhà và khu đất của Chân sư Kuthumi; và xa hơn lên đồi, chúng ta thấy ở cùng phía con đường một căn chòi hay lều nhỏ mà vị hiện nay là Chân sư Djwal Kul đã tự tay dựng cho mình trong những ngày còn là môn sinh, để Ngài có một nơi cư trú thật gần Chân sư của mình. Trong căn lều ấy treo một loại tấm bảng, trên đó, theo yêu cầu của Ngài, một trong các môn sinh người Anh của Chân sư Kuthumi nhiều năm trước đã ngưng tụ một cảnh bên trong căn phòng lớn trong nhà Chân sư Kuthumi, cho thấy hình ảnh của nhiều Chân sư và môn sinh khác nhau. Việc này được thực hiện để kỷ niệm một buổi tối đặc biệt hạnh phúc và phong phú tại nhà Chân sư. |
The First Ray Adepts |
Các Chân sư Cung một |
|
Turning now to a consideration of the personal appearance of these Great Ones; that is modified to some extent by the Ray or type to which each of them belongs. The First Ray has power for its most prominent characteristic, and those who are born upon it are the kings, the rulers, the governors of the world—of the inner and spiritual world in the first place, but also of the physical plane. Any man who possesses in a very unusual degree the qualities which enable him to dominate men and to guide them smoothly along the course which he desires is likely to be either a First-Ray man or one who is tending towards the First Ray. |
Bây giờ chuyển sang xem xét dáng vẻ cá nhân của các Đấng Cao Cả này; điều đó được điều chỉnh ở một mức độ nào đó bởi Cung hay kiểu mẫu mà mỗi Ngài thuộc về. Cung Một có quyền năng là đặc tính nổi bật nhất của nó, và những ai sinh ra trên cung này là các vị vua, các nhà cai trị, các vị thống trị của thế giới — trước hết là của thế giới bên trong và tinh thần, nhưng cũng là của cõi hồng trần. Bất cứ người nào sở hữu ở mức độ rất khác thường những phẩm tính giúp y thống trị con người và hướng dẫn họ một cách êm thuận theo con đường mà y mong muốn, đều có khả năng là một người Cung Một hoặc là người đang hướng về Cung Một. |
|
Such a kingly figure is the Lord Vaivasvata Manu, the Ruler of the fifth root race, who is the tallest of all the Adepts, being six feet eight inches in height, and perfectly proportioned. He is the Representative Man of our Race, its prototype, and every member of that race is directly descended from him. The Manu has a very striking face of great power, with an aquiline nose, a full and flowing brown beard, brown eyes, and a magnificent head of leonine poise. “Tall is he,” says our Dr. Besant, “and of King-like majesty, with eyes piercing as an eagle’s, tawny and brilliant with golden lights.” He is living at present in the Himalaya mountains, not far from the house of his great Brother, the Lord Maitreya. |
Một hình ảnh vương giả như thế là Đức Vaivasvata Manu, Đấng Cai Quản giống dân gốc thứ năm, vị cao nhất trong tất cả các Chân sư, cao sáu bộ tám inch, và có tỉ lệ hoàn hảo. Ngài là Con Người Đại Diện của Nhân loại chúng ta, nguyên mẫu của nó, và mỗi thành viên của nhân loại ấy đều trực tiếp xuất thân từ Ngài. Đức Manu có một gương mặt rất nổi bật đầy quyền năng, với chiếc mũi khoằm, bộ râu nâu đầy và buông dài, đôi mắt nâu, và một cái đầu tuyệt đẹp với dáng vẻ sư tử. “Ngài cao lớn,” Tiến sĩ Besant của chúng ta nói, “và có vẻ uy nghi như vua, với đôi mắt xuyên thấu như mắt đại bàng, hung vàng và rực rỡ với ánh vàng.” Hiện nay Ngài sống trong dãy Himalaya, không xa nhà của vị Huynh Đệ vĩ đại của Ngài, Đức Maitreya. |
|
Such a figure also is the Master Morya, the lieutenant and successor of the Lord Vaivasvata Manu, and the future Manu of the sixth root race. He is a Rajput King by birth, and has a dark beard divided into two parts, dark, almost black, hair falling to his shoulders, and dark and piercing eyes, full of power. He is six feet six inches in height, and bears himself like a soldier, speaking in short terse sentences as if he were accustomed to being instantly obeyed. In his presence there is a sense of overwhelming power and strength, and he has an imperial dignity that compels the deepest reverence. |
Một hình ảnh như thế nữa là Chân sư Morya, phụ tá và người kế nhiệm của Đức Vaivasvata Manu, và là Đức Manu tương lai của giống dân gốc thứ sáu. Ngài là một vị Vua Rajput do dòng dõi, và có bộ râu sẫm chia làm hai phần, mái tóc sẫm, gần như đen, buông tới vai, và đôi mắt sẫm, xuyên thấu, đầy quyền năng. Ngài cao sáu bộ sáu inch, và mang dáng vẻ như một quân nhân, nói bằng những câu ngắn gọn, súc tích như thể đã quen được vâng lệnh tức khắc. Trong sự hiện diện của Ngài có một cảm giác về quyền năng và sức mạnh áp đảo, và Ngài có một phẩm cách đế vương buộc người ta phải hết sức tôn kính. |
|
Madame Blavatsky has often told us how she met the Master Morya in Hyde Park, London, in the year 1851, when he came over with a number of other Indian Princes to attend the first great International Exhibition. Strangely enough, I myself, then a little child of four, saw him also, all unknowing. I can remember being taken to see a gorgeous procession, in which among many other wonders came a party of richly dressed Indian horsemen. Magnificent horsemen they were, riding steeds as fine, I suppose, as any in the world, and it was only natural that my childish eyes were fixed upon them in great delight, and that they were perhaps to me the finest exhibit of that marvellous and fairylike show. And even as I watched them pass, as I stood holding my father’s hand, one of the tallest of those heroes fixed me with gleaming black eyes, which half-frightened me, and yet at the same time filled me somehow with indescribable happiness and exaltation. He passed with the others and I saw him no more, yet often the vision of that flashing eye returned to my childish memory. |
Bà Blavatsky thường kể cho chúng ta việc bà gặp Chân sư Morya ở Công viên Hyde, Luân Đôn, vào năm 1851, khi Ngài đến cùng với một số Vương công Ấn Độ khác để tham dự Cuộc Triển lãm Quốc tế vĩ đại đầu tiên. Lạ thay, chính tôi, khi ấy là một đứa trẻ nhỏ bốn tuổi, cũng đã thấy Ngài, mà hoàn toàn không biết. Tôi có thể nhớ mình được đưa đi xem một đoàn rước lộng lẫy, trong đó, giữa nhiều điều kỳ diệu khác, có một đoàn kỵ sĩ Ấn Độ ăn mặc rực rỡ. Họ là những kỵ sĩ tuyệt đẹp, cưỡi những con tuấn mã, tôi cho là đẹp chẳng kém bất kỳ con nào trên thế giới, và thật tự nhiên khi đôi mắt trẻ thơ của tôi dán chặt vào họ trong niềm thích thú lớn lao, và có lẽ đối với tôi họ là tiết mục đẹp nhất của cuộc trình diễn kỳ diệu như chuyện thần tiên ấy. Và ngay khi tôi nhìn họ đi qua, trong lúc tôi đứng nắm tay cha mình, một trong những vị anh hùng cao lớn nhất ấy nhìn thẳng vào tôi bằng đôi mắt đen sáng rực, khiến tôi phần nào sợ hãi, nhưng đồng thời bằng cách nào đó lại tràn đầy trong tôi niềm hạnh phúc và sự nâng cao không thể diễn tả. Ngài đi qua cùng những người khác và tôi không còn thấy Ngài nữa, nhưng linh ảnh về đôi mắt chớp sáng ấy thường trở lại trong ký ức trẻ thơ của tôi. |
|
Of course, l knew nothing then of who he was, and I should never have identified him had it not been for a gracious remark which he made to me many years afterwards. Speaking one day in his presence of the earlier days of the Society I happened to say that the first time I had had the privilege of seeing him in materialized form was on a certain occasion when he came into Madame Blavatsky’s room at Adyar, for the purpose of giving her strength and issuing certain directions. He himself, who was engaged in conversation with some other Adepts, turned sharply upon me and said: “No, that was not the first time. You had seen me before then in my physical body. Do you not remember, as a tiny child, watching the Indian horsemen ride past in Hyde Park, and did you not see how even then I singled you out?” I remembered instantly, of course, and said “Oh, Master, was that you? But I ought to have known it.” I do not mention this incident among the occasions when I have met and spoken with a Master, both parties to the interview being in the physical body, because I did not at the time know that great horseman to be the Master, and because the evidence of so small a child might well be doubted or discounted. |
Dĩ nhiên, lúc ấy tôi không biết gì về việc Ngài là ai, và tôi hẳn sẽ không bao giờ nhận ra Ngài nếu không nhờ một lời nhận xét ân cần mà Ngài nói với tôi nhiều năm sau. Một ngày kia, khi nói trước sự hiện diện của Ngài về những ngày đầu của Hội, tình cờ tôi nói rằng lần đầu tiên tôi có đặc ân thấy Ngài trong hình tướng hiện hình là vào một dịp nào đó khi Ngài đi vào phòng của Bà Blavatsky tại Adyar, nhằm ban sức mạnh cho bà và ban ra một số chỉ thị. Chính Ngài, lúc ấy đang trò chuyện với vài Chân sư khác, quay phắt về phía tôi và nói: “Không, đó không phải là lần đầu tiên. Con đã thấy Ta trước đó trong thể xác của Ta. Con không nhớ sao, khi còn là một đứa trẻ rất nhỏ, đã nhìn các kỵ sĩ Ấn Độ cưỡi ngựa đi qua ở Công viên Hyde, và con đã không thấy sao rằng ngay cả khi ấy Ta đã chọn riêng con?” Dĩ nhiên, tôi nhớ lại tức khắc, và nói: “Ôi, Chân sư, đó là Ngài sao? Nhưng con lẽ ra phải biết.” Tôi không kể sự việc này trong số những dịp tôi đã gặp và nói chuyện với một Chân sư, khi cả hai bên trong cuộc gặp đều ở trong thể xác, bởi vì lúc ấy tôi không biết vị kỵ sĩ vĩ đại ấy là Chân sư, và bởi vì bằng chứng của một đứa trẻ quá nhỏ rất có thể bị nghi ngờ hoặc giảm giá trị. |
|
Mr. S. Ramaswami Iyer, in his account of the experience mentioned in Chapter I, writes: |
Ông S. Ramaswami Iyer, trong tường thuật của ông về kinh nghiệm được nhắc đến trong Chương I, viết: |
|
I was following the road to the town, whence, I was assured by people I met on the road, I could cross over to Tibet easily in my pilgrim’s garb, when I suddenly saw a solitary horseman galloping towards me from the opposite direction. From his tall stature and skill in horsemanship, I thought he was some military officer of the Sikkhim Rajah…. As he approached me, he reined up. I looked at and recognized him instantly…. I was in the awful presence of him, of the same Mahatma, my own revered Guru, whom I had seen before in his astral body on the balcony of the Theosophical Headquarters. It was he, the Himalayan Brother of the evermemorable night of December last, who had so kindly dropped a letter in answer to one I had given but an hour or so before in a sealed envelope to Madame Blavatsky, whom I had never lost sight of for one moment during the interval. The very same instant saw me prostrated on the ground at his feet. I arose at his command, and, leisurely looking into his face, forgot myself entirely in the contemplation of the image I knew so well, having seen his portrait (that in Colonel Olcott’s possession) times out of number. I knew not what to say; joy and reverence tied my tongue. The majesty of his countenance, which seemed to me to be the impersonation of power and thought, held me rapt in awe. I was at last face to face with the Mahatma of the Himavat, and he was no myth, no creation of the imagination of a medium, as some sceptics had suggested. It was no dream of the night; it was between nine and ten o’ clock of the forenoon. There was the sun shining and silently witnessing the scene from above. I see him before me in flesh and blood, and he speaks to me in accents of kindness and gentleness. What more could I want? My excess of happiness made me dumb. Nor was it until some time had elapsed that I was able to utter a few words, encouraged by his gentle tone and speech. His complexion is not as fair as that of Mahatma Kuthumi; but never have I seen a countenance so handsome, a stature so tall and so majestic. As in his portrait, he wears a short black beard, and long black hair hanging down to his breast; only his dress was different. Instead of a white, loose robe he wore a yellow mantle lined with fur, and on his head, instead of the turban, a yellow Tibetan felt Cap, such as I have seen some Bhutanese wear in this country. When the first moments of rapture and surprise were over, and I calmly comprehended the situation, I had a long talk with him[2]. |
Tôi đang đi theo con đường đến thị trấn, từ đó, những người tôi gặp trên đường quả quyết với tôi rằng tôi có thể dễ dàng vượt sang Tây Tạng trong y phục hành hương của mình, thì đột nhiên tôi thấy một kỵ sĩ đơn độc phi ngựa về phía tôi từ hướng ngược lại. Từ vóc dáng cao lớn và kỹ năng cưỡi ngựa của Ngài, tôi nghĩ Ngài là một sĩ quan quân đội nào đó của Rajah Sikkhim…. Khi Ngài đến gần tôi, Ngài ghìm ngựa lại. Tôi nhìn và nhận ra Ngài tức khắc…. Tôi đang ở trong sự hiện diện uy nghiêm của Ngài, của chính vị Mahatma ấy, Guru tôn kính của riêng tôi, người tôi đã thấy trước đó trong thể cảm dục của Ngài trên ban công Trụ sở Thông Thiên Học. Chính là Ngài, vị Huynh Đệ Himalaya của đêm đáng ghi nhớ mãi vào tháng Mười Hai vừa qua, Đấng đã hết sức ân cần thả xuống một bức thư để đáp lại bức thư tôi mới trao chỉ khoảng một giờ trước đó, trong phong bì niêm kín, cho Bà Blavatsky, người tôi không rời mắt một khoảnh khắc nào trong khoảng thời gian ấy. Ngay trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy mình phủ phục xuống đất dưới chân Ngài. Tôi đứng dậy theo lệnh Ngài, và khi thong thả nhìn vào mặt Ngài, tôi hoàn toàn quên mình trong sự chiêm ngưỡng hình ảnh mà tôi biết rất rõ, vì đã thấy chân dung Ngài (bức thuộc sở hữu của Đại tá Olcott) vô số lần. Tôi không biết phải nói gì; niềm hoan hỉ và lòng tôn kính buộc chặt lưỡi tôi. Vẻ uy nghi trên dung mạo Ngài, vốn đối với tôi dường như là hiện thân của quyền năng và tư tưởng, giữ tôi chìm trong niềm kính sợ. Cuối cùng tôi đã đối diện trực tiếp với vị Mahatma của Himavat, và Ngài không phải là huyền thoại, không phải là tạo vật của sự tưởng tượng của một đồng tử, như một số người hoài nghi đã gợi ý. Đó không phải là giấc mộng ban đêm; đó là vào khoảng giữa chín và mười giờ sáng. Mặt trời đang chiếu sáng và lặng lẽ chứng kiến cảnh ấy từ trên cao. Tôi thấy Ngài trước mặt tôi bằng xương bằng thịt, và Ngài nói với tôi bằng giọng nhân từ và dịu dàng. Tôi còn có thể muốn gì hơn nữa? Niềm hạnh phúc quá mức khiến tôi câm lặng. Và chỉ sau một lúc trôi qua, tôi mới có thể thốt ra vài lời, được khích lệ bởi giọng điệu và lời nói dịu dàng của Ngài. Nước da của Ngài không sáng như của Mahatma Kuthumi; nhưng tôi chưa từng thấy một dung mạo nào đẹp đến thế, một vóc dáng nào cao lớn và uy nghi đến thế. Như trong chân dung của Ngài, Ngài để một bộ râu đen ngắn, và mái tóc đen dài rủ xuống ngực; chỉ có y phục của Ngài là khác. Thay vì một áo choàng trắng rộng, Ngài mặc một áo choàng vàng lót lông, và trên đầu, thay vì khăn xếp, là một mũ nỉ Tây Tạng màu vàng, giống loại tôi đã thấy một số người Bhutan đội ở xứ này. Khi những khoảnh khắc đầu tiên của sự xuất thần và ngạc nhiên đã qua, và tôi bình tĩnh thấu hiểu tình thế, tôi đã có một cuộc trò chuyện dài với Ngài. |
|
Another such regal figure is the Lord Chakshusha Manu, the Manu of the fourth root race, who is Chinese by birth, and of very high caste. He has the high Mongolian cheek-bones, and his face looks as though it were delicately carven from old ivory. He generally wears magnificent robes of flowing cloth-of-gold. As a rule we do not come into contact with him in our regular work, except when it happens that we have to deal with a pupil belonging to his root race. |
Một hình ảnh vương giả khác như thế là Đức Chakshusha Manu, Đức Manu của giống dân gốc thứ tư, người Trung Hoa do sinh ra, và thuộc đẳng cấp rất cao. Ngài có xương gò má cao kiểu Mông Cổ, và gương mặt Ngài trông như thể được chạm khắc tinh tế từ ngà cổ. Ngài thường mặc những áo choàng tuyệt đẹp bằng vải kim tuyến buông rủ. Theo thường lệ, chúng tôi không tiếp xúc với Ngài trong công việc đều đặn của mình, trừ khi tình cờ chúng tôi phải đề cập đến một môn sinh thuộc giống dân gốc của Ngài. |
The Second Ray Adepts |
Các Chân sư Cung hai |
|
In the persons of our Lord the Bodhisattva, the World-Teacher, and of the Master Kuthumi, his principal lieutenant, the influence that is especially noticeable is the radiance of their all-embracing Love. The Lord Maitreya is wearing a body of the Keltic race at the present time, though when he comes forth to the world to teach his people, as he intends to do very shortly, he will make use of a body prepared for him by one of his disciples. His is a face of wondrous beauty, strong and yet most tender, with rich hair flowing like red gold about his shoulders. His beard is pointed, as in some of the old pictures, and his eyes, of a wonderful violet, are like twin flowers, like stars, like deep and holy pools filled with the waters of everlasting peace. His smile is dazzling beyond words, and a blinding glory of Light surrounds him, intermingled with that marvellous rose-coloured glow which ever shines from the Lord of Love. |
Nơi thân vị của Đức Bồ Tát, Đức Chưởng Giáo của chúng ta, và của Chân sư Kuthumi, phụ tá chính của Ngài, ảnh hưởng đặc biệt dễ nhận thấy là hào quang của Bác Ái bao trùm tất cả của các Ngài. Đức Maitreya hiện đang mang một thể thuộc nhân loại Celt, mặc dù khi Ngài xuất hiện trước thế giới để dạy dân của Ngài, như Ngài dự định làm rất sớm, Ngài sẽ sử dụng một thể được một trong các đệ tử của Ngài chuẩn bị cho Ngài. Gương mặt của Ngài có vẻ đẹp kỳ diệu, mạnh mẽ mà vẫn vô cùng dịu dàng, với mái tóc phong phú buông quanh vai như vàng đỏ. Râu của Ngài nhọn, như trong một số tranh cổ, và đôi mắt Ngài, có màu tím kỳ diệu, giống như đôi hoa, như các vì sao, như những hồ sâu thẳm và thánh thiện đầy nước của bình an vĩnh cửu. Nụ cười của Ngài chói lọi vượt mọi lời, và một vinh quang Ánh sáng làm lóa mắt bao quanh Ngài, hòa lẫn với ánh hồng kỳ diệu luôn tỏa ra từ Chúa Tể của Tình thương. |
|
We may think of him as seated in the great front room of his house in the Himalayas, the room with many windows, that overlooks the gardens and the terraces and, far below, the rolling Indian plains; or in flowing robes of white, edged with a deep border of gold, as walking in his garden in the cool of the evening, among the glorious flowers, whose perfume fills the surrounding air with a rich, sweet fragrance. Wondrous beyond measure is our Holy Lord the Christ, wondrous beyond any power of description, for through him flows the Love which comforts millions, and his is the Voice that speaks, as never man spake, the words of teaching that bring peace to angels and to men. Within a very few years that Voice will be heard and that Love be felt by those who dwell in the dark ways of earth; may we prepare ourselves to receive him when he comes and give him fitting welcome and faithful service! |
Chúng ta có thể hình dung Ngài đang ngồi trong căn phòng lớn phía trước của nhà Ngài ở dãy Himalaya, căn phòng có nhiều cửa sổ, nhìn xuống các khu vườn và các thềm đất, và xa bên dưới là những đồng bằng Ấn Độ cuộn trải; hoặc trong những áo choàng trắng buông rủ, viền bằng một đường vàng đậm, đang đi trong vườn của Ngài vào lúc chiều mát, giữa những bông hoa rực rỡ, mà hương thơm của chúng làm đầy không khí xung quanh bằng một mùi hương ngọt ngào, phong phú. Kỳ diệu vượt mọi đo lường là Đức Chúa Thánh Thiện của chúng ta, Đức Christ, kỳ diệu vượt mọi khả năng mô tả, vì qua Ngài tuôn chảy Tình thương an ủi hàng triệu người, và của Ngài là Tiếng Nói cất lên, như chưa từng có người nào nói, những lời dạy đem bình an đến cho các thiên thần và loài người. Chỉ trong rất ít năm nữa, Tiếng Nói ấy sẽ được nghe và Tình thương ấy sẽ được cảm nhận bởi những ai cư ngụ trong các nẻo tối của Trái Đất; mong sao chúng ta chuẩn bị chính mình để đón nhận Ngài khi Ngài đến, và dâng lên Ngài sự chào đón xứng đáng cùng sự phụng sự trung thành! |
|
The Master Kuthumi wears the body of a Kashmiri Brahman, and is as fair in complexion as the average Englishman. He, too, has flowing hair, and his eyes are blue and full of joy and love. His hair and beard are brown, which, as the sunlight catches it, becomes ruddy with glints of gold. His face is somewhat hard to describe, for his expression is ever changing as he smiles; the nose is finely chiselled, and the eyes are large and of a wonderful liquid blue. Like the great Lord, he, too, is a Teacher and Priest, and many centuries hence he will succeed him in his high Office, and will assume the sceptre of the World-Teacher, and become the Bodhisattva of the sixth root race. |
Chân sư Kuthumi mang thể của một Bà-la-môn Kashmir, và có nước da sáng như người Anh trung bình. Ngài cũng có mái tóc buông dài, và đôi mắt Ngài xanh lam, đầy hoan hỉ và tình thương. Tóc và râu Ngài màu nâu, mà khi ánh mặt trời bắt vào, trở nên ánh đỏ với những tia vàng. Gương mặt Ngài hơi khó mô tả, vì biểu cảm của Ngài luôn thay đổi khi Ngài mỉm cười; mũi được chạm khắc tinh tế, và đôi mắt lớn, có màu xanh lam trong trẻo kỳ diệu. Giống như Đức Chúa vĩ đại, Ngài cũng là một Huấn sư và Tư tế, và nhiều thế kỷ về sau Ngài sẽ kế nhiệm Đức Chúa trong Chức vụ cao cả của Ngài, sẽ cầm lấy vương trượng của Đức Chưởng Giáo, và trở thành Đức Bồ Tát của giống dân gốc thứ sáu. |
The Other Rays |
Các Cung khác |
|
The Mahachohan is the type of the Statesman, the great Organizer, though he too has many military qualities. He wears an Indian body, and is tall and thin, with a sharp profile, very fine and clear-cut, and no hair on the face. His face is rather stern, with a strong, square chin; his eyes are deep and penetrating, and he speaks somewhat abruptly, as a soldier speaks. He generally wears Indian robes and a white turban. |
Đức Mahachohan là mẫu hình của Nhà Chính Khách, vị Tổ Chức vĩ đại, mặc dù Ngài cũng có nhiều phẩm tính quân sự. Ngài mang một thể Ấn Độ, cao và gầy, với nét nhìn nghiêng sắc sảo, rất thanh tú và rõ nét, và không có râu tóc trên mặt. Gương mặt Ngài khá nghiêm nghị, với chiếc cằm vuông, mạnh mẽ; đôi mắt sâu và xuyên thấu, và Ngài nói hơi đột ngột, như một quân nhân nói. Ngài thường mặc áo choàng Ấn Độ và đội khăn xếp trắng. |
|
The Master the Comte de St. Germain resembles him in many ways. Though he is not especially tall, he is very upright and military in his bearing, and he has the exquisite courtesy and dignity of a grand seigneur of the eighteenth century; we feel at once that he belongs to a very old and noble family. His eyes are large and brown, and are filled with tenderness and humour, though there is in them a glint of power; and the splendour of his Presence impels men to make obeisance. His face is olive-tanned; his close-cut brown hair is parted in the centre and brushed back from the forehead, and he has a short and pointed beard. Often he wears a dark uniform with facings of gold lace—often also a magnificent red military cloak—and these accentuate his soldier-like appearance. He usually resides in an ancient castle in Eastern Europe that has belonged to his family for many centuries. |
Chân sư Comte de St. Germain giống Ngài ở nhiều phương diện. Dù Ngài không đặc biệt cao lớn, Ngài rất ngay thẳng và có phong thái quân nhân, đồng thời có sự lịch thiệp tinh tế và phẩm cách của một vị lãnh chúa lớn thuộc thế kỷ mười tám; chúng ta lập tức cảm thấy rằng Ngài thuộc về một dòng họ rất cổ kính và cao quý. Đôi mắt Ngài lớn và nâu, đầy vẻ dịu dàng và hài hước, dù trong đó có ánh lóe của quyền năng; và vẻ huy hoàng của Sự Hiện Diện nơi Ngài thúc đẩy con người phải cúi mình tôn kính. Khuôn mặt Ngài rám màu ô-liu; mái tóc nâu cắt ngắn rẽ ngôi giữa và chải ngược khỏi trán, và Ngài có bộ râu ngắn, nhọn. Ngài thường mặc một bộ quân phục sẫm màu với các viền ren vàng—cũng thường khoác một áo choàng quân sự đỏ lộng lẫy—và những điều này làm nổi bật dáng vẻ như một người lính của Ngài. Ngài thường cư ngụ trong một lâu đài cổ ở Đông Âu, vốn thuộc về gia đình Ngài qua nhiều thế kỷ. |
|
The Master Serapis is tall, and fair in complexion. He is a Greek by birth, though all his work has been done in Egypt and in connection with the Egyptian Lodge. He is very distinguished and ascetic in face, somewhat resembling the late Cardinal Newman. |
Chân sư Serapis cao lớn và có nước da sáng. Ngài là người Hy Lạp theo huyết thống, dù toàn bộ công việc của Ngài đã được thực hiện tại Ai Cập và liên hệ với Hội Quán Ai Cập. Khuôn mặt Ngài rất lỗi lạc và khổ hạnh, phần nào giống Đức Hồng y Newman quá cố. |
|
Perhaps the Venetian Chohan is the handsomest of all the Members of the Brotherhood. He is very tall—about six feet five inches, and has a flowing beard and golden hair somewhat like those of the Manu; and his eyes are blue. Although he was born in Venice, his family undoubtedly has Gothic blood in its veins, for he is a man distinctly of that type. |
Có lẽ Chohan người Venice là vị đẹp trai nhất trong tất cả các Thành viên của Huynh đệ Đoàn. Ngài rất cao—khoảng sáu feet năm inch, có bộ râu dài buông xuống và mái tóc vàng phần nào giống Đức Manu; và đôi mắt Ngài màu xanh. Dù Ngài sinh tại Venice, gia đình Ngài chắc chắn có huyết thống Gothic trong huyết quản, vì Ngài rõ ràng là người thuộc kiểu ấy. |
|
The Master Hilarion is a Greek and, except that he has a slightly aquiline nose, is of the ancient Greek type. His forehead is low and broad, and resembles that of the Hermes of Praxiteles. He too is wonderfully handsome, and looks rather younger than most of’ the Adepts. |
Chân sư Hilarion là người Hy Lạp và, ngoại trừ chiếc mũi hơi khoằm, Ngài thuộc kiểu Hy Lạp cổ. Trán Ngài thấp và rộng, giống trán của Hermes do Praxiteles tạc. Ngài cũng đẹp trai lạ thường, và trông có vẻ trẻ hơn phần lớn các Chân sư. |
|
He who was once the disciple Jesus is now wearing a Syrian body. He has the dark skin, dark eyes and black beard of the Arab, and generally wears white robes and a turban. He is the Master of devotees, and the key-note of his Presence is an intense purity, and a fiery type of devotion that brooks no obstacles. He lives amongst the Druses of Mount Lebanon. |
Đấng từng là đệ tử Jesus nay đang mang một thể Syria. Ngài có làn da sẫm, đôi mắt đen và bộ râu đen của người Ả Rập, và thường mặc y phục trắng cùng khăn xếp. Ngài là Chân sư của những người sùng tín, và chủ âm của Sự Hiện Diện nơi Ngài là một sự tinh khiết mãnh liệt, cùng một kiểu sùng tín bừng lửa không dung thứ bất cứ trở ngại nào. Ngài sống giữa người Druse ở núi Lebanon. |
|
Two of the Great Ones with whom we have come into contact diverge slightly from what perhaps we may call, with all reverence, the usual type of the physical body of the Adept. One of these is the spiritual Regent of India, he of whom Colonel Olcott several times writes, to whom the name Jupiter was assigned in the book Man: Whence, How and Whither. He is shorter than most members of the Brotherhood, and is the only one of them, so far as I am aware, whose hair shows streaks of grey. He holds himself very upright and moves with alertness and military precision. He is a landed proprietor, and during the visit which I paid to him with Swami T. Subba Row, I saw him several times transacting business with men who appeared to be foremen, bringing reports to him and receiving instructions. The other is the Master Djwal Kul, who is still wearing the same body in which he attained Adeptship only a few years ago. Perhaps for that reason it has not been possible to make that body a perfect reproduction of the Augoeides. His face is distinctly Tibetan in character, with high cheek bones, and is somewhat rugged in appearance, showing signs of age. |
Hai trong số Các Đấng Cao Cả mà chúng tôi đã tiếp xúc hơi khác với điều mà có lẽ chúng ta có thể gọi, với tất cả lòng tôn kính, là kiểu thông thường của thể xác nơi Chân sư. Một trong hai vị ấy là Đấng Nhiếp Chính tinh thần của Ấn Độ, Đấng mà Đại tá Olcott đã nhiều lần viết đến, và được gán tên Sao Mộc trong sách Con Người: Từ Đâu Đến, Như Thế Nào và Đi Về Đâu. Ngài thấp hơn phần lớn các thành viên của Huynh đệ Đoàn, và theo chừng mực tôi biết, là vị duy nhất trong số các Ngài có tóc điểm những vệt bạc. Ngài giữ dáng rất thẳng và di chuyển với sự nhanh nhẹn cùng độ chính xác kiểu quân nhân. Ngài là một địa chủ, và trong chuyến viếng thăm mà tôi cùng Swami T. Subba Row đến với Ngài, tôi đã thấy Ngài nhiều lần giao dịch công việc với những người có vẻ là quản đốc, họ đem các báo cáo đến cho Ngài và nhận chỉ thị. Vị kia là Chân sư Djwal Kul, Ngài vẫn đang mang cùng thể mà trong đó Ngài đã đạt Chân sư quả chỉ mới vài năm trước. Có lẽ vì lý do ấy mà chưa thể làm cho thể ấy trở thành một bản sao hoàn hảo của Augoeides. Khuôn mặt Ngài rõ rệt mang tính chất Tây Tạng, với gò má cao, và có vẻ ngoài phần nào thô ráp, biểu lộ dấu hiệu tuổi tác. |
|
Sometimes an Adept for some special purpose wants a body to use temporarily amid the bustle of the world. That will be the case when the World-Teacher comes, and we have been told that several other Adepts also may then appear, to act as his lieutenants and assist him in his great work for humanity. Most of these Great Ones will follow the example of their Chief, and borrow temporarily the bodies of their pupils, so it is necessary that a certain number of such vehicles should be ready for their use. Students sometimes ask why, since the Adepts have physical bodies already, they will need others on this occasion. |
Đôi khi, vì một mục đích đặc biệt nào đó, một Chân sư muốn có một thể để dùng tạm thời giữa sự náo nhiệt của thế gian. Đó sẽ là trường hợp khi Đức Chưởng Giáo đến, và chúng tôi được cho biết rằng khi ấy một số Chân sư khác cũng có thể xuất hiện, để hành động như các phụ tá của Ngài và trợ giúp Ngài trong công việc vĩ đại dành cho nhân loại. Phần lớn Các Đấng Cao Cả này sẽ theo gương Vị Lãnh Đạo của các Ngài, và tạm thời mượn các thể của môn đồ mình, vì vậy cần phải có một số hiện thể như thế sẵn sàng cho các Ngài sử dụng. Đôi khi các đạo sinh hỏi tại sao, vì các Chân sư đã có thể xác rồi, các Ngài lại cần những thể khác trong dịp này. |
Perfect Physical Vehicles |
Các Hiện Thể Hồng Trần Hoàn Hảo |
|
Those who, attaining the level of Adeptship, choose as their future career to remain upon this world and help directly in the evolution of their own humanity, find it convenient for their work to retain physical bodies. In order to be suitable for their purposes, these bodies must be of no ordinary kind. Not only must they be absolutely sound in health, but they must also be perfect expressions of as much of the ego as can be manifested on the physical plane. |
Những vị, khi đạt đến cấp độ Chân sư quả, chọn con đường tương lai là ở lại thế giới này và trực tiếp trợ giúp trong sự tiến hoá của chính nhân loại mình, thấy rằng việc duy trì các thể xác là thuận tiện cho công việc của các Ngài. Để thích hợp với mục đích của các Ngài, những thể này không thể thuộc loại bình thường. Chúng không chỉ phải tuyệt đối lành mạnh về sức khỏe, mà còn phải là những biểu hiện hoàn hảo của phần chân ngã nhiều nhất có thể được biểu lộ trên cõi hồng trần. |
|
The building up of such a body as this is no light task. When the ego of an ordinary man comes down to his new baby body, he finds it in charge of an artificial elemental, which has been created according to his karma, as I have described in The Inner Life. This elemental is industriously occupied in modelling the form which is soon to be born in the outer world, and it remains after birth and continues that moulding process usually until the body is six or seven years old. During this period the ego is gradually acquiring closer contact with his new vehicles, emotional and mental as well as physical, and is becoming accustomed to them; but the actual work done by himself upon these new vehicles up to the point at which the elemental withdraws is, in most cases, inconsiderable. He is certainly in connection with the body, but generally pays but little attention to it, preferring to wait until it has reached a stage where it is more responsive to his efforts. |
Việc xây dựng một thể như thế không phải là nhiệm vụ nhẹ nhàng. Khi chân ngã của một người bình thường đi xuống thể hài nhi mới của y, y thấy thể ấy nằm dưới sự trông coi của một hành khí nhân tạo, được tạo ra theo nghiệp quả của y, như tôi đã mô tả trong Đời Sống Bên Trong. Hành khí này chuyên cần bận rộn trong việc nặn tạo hình tướng sắp được sinh ra trong thế giới bên ngoài, và nó vẫn ở lại sau khi sinh, tiếp tục tiến trình nhào nặn ấy thường cho đến khi thể được sáu hoặc bảy tuổi. Trong giai đoạn này, chân ngã dần dần đạt được sự tiếp xúc gần gũi hơn với các hiện thể mới của y, thuộc cảm xúc và trí tuệ cũng như hồng trần, và trở nên quen thuộc với chúng; nhưng công việc thực sự do chính y thực hiện trên các hiện thể mới này cho đến thời điểm hành khí rút lui, trong phần lớn trường hợp, là không đáng kể. Chắc chắn y có liên hệ với thể ấy, nhưng nói chung y chỉ chú ý rất ít đến nó, thích chờ cho đến khi nó đạt đến một giai đoạn có thể đáp ứng nhiều hơn với các nỗ lực của y. |
|
The case of an Adept is very different from this. As there is no evil karma to be worked out, no artificial elemental is at work, and the ego himself is in sole charge of the development of the body from the beginning finding himself limited only by its heredity. This enables a far more refined and delicate instrument to be produced, but it also involves more trouble for the ego, and engages for some years a considerable amount of his time and energy. In consequence of this, and no doubt for other reasons as well, an Adept does not wish to repeat the process more often than is strictly necessary, and he therefore makes his physical body last as long as possible. Our bodies grow old and die for various reasons, from inherited weakness, disease, accident and self indulgence, worry and overwork. But in the case of an Adept none of these causes is present, though we must of course remember that his body is fit for work and capable of endurance immeasurably beyond those of ordinary men. |
Trường hợp của một Chân sư thì rất khác với điều này. Vì không có nghiệp quả xấu phải được giải quyết, nên không có hành khí nhân tạo nào hoạt động, và chính chân ngã là đấng duy nhất phụ trách sự phát triển của thể ngay từ đầu, chỉ thấy mình bị giới hạn bởi tính di truyền của nó. Điều này cho phép tạo ra một khí cụ tinh vi và tế nhị hơn rất nhiều, nhưng nó cũng bao hàm nhiều phiền toái hơn cho chân ngã, và trong vài năm chiếm một lượng đáng kể thời gian và năng lượng của y. Do đó, và chắc chắn cũng vì những lý do khác, một Chân sư không muốn lặp lại tiến trình này thường xuyên hơn mức tuyệt đối cần thiết, và vì vậy Ngài làm cho thể xác của mình tồn tại càng lâu càng tốt. Thể của chúng ta già đi và chết vì nhiều lý do khác nhau, do yếu nhược di truyền, bệnh tật, tai nạn và sự buông thả bản thân, lo âu và làm việc quá sức. Nhưng trong trường hợp của một Chân sư, không có nguyên nhân nào trong số này hiện diện, dù dĩ nhiên chúng ta phải nhớ rằng thể của Ngài thích hợp cho công việc và có khả năng chịu đựng vượt xa không thể đo lường được so với thể của người bình thường. |
|
The bodies of the Adepts being such as we have described, they are usually able to hold possession of them much longer than an ordinary man can, and the consequence is that we find on inquiry that the age of any such body is usually much greater than from appearances we had supposed it to be. The Master Morya, for example, appears to be a man absolutely in the prime of life—possibly thirty-five or forty years of age; yet many of the stories which his pupils tell of him assign to him an age four or five times greater than that, and Madame Blavatsky herself told us that when she first saw him in her childhood he appeared to her exactly the same as at the present time. Again, the Master Kuthumi has the appearance of being about the same age as his constant friend and companion, the Master Morya; yet it has been said that he took a University Degree in Europe just before the middle of last century, which would certainly make him something very like a centenarian. We have at present no means of knowing what is the limit of prolongation, though there is evidence to show that it may easily extend to more than double the three-score years and ten of the Psalmist. |
Vì các thể của các Chân sư là như chúng ta đã mô tả, nên các Ngài thường có thể giữ quyền sở hữu chúng lâu hơn rất nhiều so với một người bình thường, và kết quả là khi tìm hiểu, chúng ta thấy rằng tuổi của bất kỳ thể nào như thế thường lớn hơn nhiều so với điều chúng ta đã giả định từ vẻ ngoài. Chẳng hạn, Chân sư Morya có vẻ là một người hoàn toàn ở thời kỳ sung mãn của đời sống—có thể ba mươi lăm hoặc bốn mươi tuổi; tuy vậy nhiều câu chuyện mà các môn đồ của Ngài kể về Ngài gán cho Ngài một tuổi đời lớn gấp bốn hoặc năm lần như thế, và chính Bà Blavatsky đã nói với chúng tôi rằng khi bà lần đầu thấy Ngài trong thời thơ ấu, Ngài hiện ra trước bà đúng hệt như hiện nay. Lại nữa, Chân sư Kuthumi có vẻ ngoài khoảng cùng tuổi với người bạn và bạn đồng hành thường xuyên của Ngài, Chân sư Morya; tuy vậy người ta nói rằng Ngài đã nhận một bằng Đại học ở châu Âu ngay trước giữa thế kỷ trước, điều đó chắc chắn khiến Ngài gần như là một vị bách niên. Hiện nay chúng ta không có phương tiện nào để biết giới hạn của việc kéo dài sự sống là gì, dù có bằng chứng cho thấy nó có thể dễ dàng vượt quá gấp đôi tuổi thọ bảy mươi năm của tác giả Thánh Vịnh. |
|
A body thus made suitable for higher work is inevitably a sensitive one, and for that very reason it requires careful treatment if it is to be always at its best. It would wear out as ours do if it were subjected to the innumerable petty frictions of the outer world, and its constant torrent of unsympathetic vibrations. Therefore the Great Ones usually live in comparative seclusion, and appear but rarely in that cyclonic chaos which we call daily life. If they were to bring their bodies into the whirl of curiosity and vehement emotion which is likely to surround the World-Teacher when he comes, there can be no doubt that the life of these bodies would be greatly shortened, and also, because of their extreme sensitiveness, there would be much unnecessary suffering. |
Một thể được làm cho thích hợp với công việc cao siêu như thế tất yếu là một thể nhạy cảm, và chính vì lý do đó nó cần được đối xử cẩn trọng nếu muốn nó luôn ở trạng thái tốt nhất. Nó sẽ hao mòn như thể của chúng ta nếu bị đặt dưới vô số ma sát nhỏ nhặt của thế giới bên ngoài, và dòng thác liên tục những rung động thiếu thiện cảm của nó. Vì vậy Các Đấng Cao Cả thường sống trong sự ẩn cư tương đối, và chỉ hiếm khi xuất hiện trong cơn hỗn mang xoáy lốc mà chúng ta gọi là đời sống hằng ngày. Nếu các Ngài đem thể của mình vào vòng xoáy của tính tò mò và cảm xúc dữ dội vốn có khả năng vây quanh Đức Chưởng Giáo khi Ngài đến, không thể nghi ngờ rằng đời sống của các thể ấy sẽ bị rút ngắn rất nhiều, và cũng vì tính cực kỳ nhạy cảm của chúng, sẽ có nhiều đau khổ không cần thiết. |
Borrowed Vehicles |
Các Hiện Thể Được Mượn |
|
By temporarily occupying the body of a pupil, the Adept avoids these inconveniences, and at the same time gives an incalculable impetus to the pupil’s evolution. He inhabits the vehicle only when he needs it—to deliver a lecture, perhaps, or to pour out a special flood of blessing; and as soon as he has done what he wishes, he steps out of the body, and the pupil, who has all the while been in attendance, resumes it, as the Adept goes back to his own proper vehicle to continue his usual work for the helping of the world. In this way his regular business is but little affected, yet he has always at his disposal a body through which he can co-operate, when required, on the physical plane, in the beatific mission of the World-Teacher. |
Bằng cách tạm thời chiếm ngự thể của một môn đồ, Chân sư tránh được những bất tiện này, đồng thời ban một xung lực không thể tính được cho sự tiến hoá của môn đồ. Ngài cư ngụ trong hiện thể chỉ khi Ngài cần nó—có lẽ để giảng một bài, hoặc để tuôn đổ một dòng ân phúc đặc biệt; và ngay khi Ngài đã làm xong điều mình muốn, Ngài bước ra khỏi thể, và môn đồ, người suốt thời gian ấy vẫn ở bên chờ, tiếp nhận lại nó, trong khi Chân sư trở về hiện thể riêng thích hợp của Ngài để tiếp tục công việc thường lệ nhằm trợ giúp thế gian. Bằng cách này, công việc đều đặn của Ngài chỉ bị ảnh hưởng rất ít, tuy vậy Ngài luôn có sẵn một thể qua đó Ngài có thể hợp tác, khi cần, trên cõi hồng trần, trong sứ mệnh phúc lạc của Đức Chưởng Giáo. |
|
We can readily imagine in what way this will affect the pupil who is so favoured as to have the opportunity of thus lending his body to a Great One, though the extent of its action may well be beyond our calculation. A vehicle tuned by such an influence will be to him verily an assistance, not a limitation; and while his body is in use he will always have the privilege of bathing in the Adept’s marvellous magnetism, for he must be at hand to resume charge as soon as the Master has finished with it. |
Chúng ta có thể dễ dàng hình dung điều này sẽ tác động thế nào đến môn đồ được ân huệ có cơ hội cho một Đấng Cao Cả mượn thể mình như thế, dù mức độ tác động của nó có lẽ vượt ngoài sự tính toán của chúng ta. Một hiện thể được điều chỉnh bởi một ảnh hưởng như thế sẽ thực sự là một trợ lực cho y, chứ không phải một giới hạn; và trong khi thể của y đang được dùng, y sẽ luôn có đặc ân tắm mình trong từ điện kỳ diệu của Chân sư, vì y phải ở gần để tiếp nhận lại trách nhiệm ngay khi Chân sư đã dùng xong. |
|
This plan of borrowing a suitable body is always adopted by the Great Ones when they think it well to descend among men, under conditions such as those which now obtain in the world. The Lord Gautama employed it when he came to attain the Buddha-hood, and the Lord Maitreya took the same course when he visited Palestine two thousand years ago. The only exception known to me is that when a new Bodhisattva assumes the office of World-Teacher after his predecessor has become the Buddha, on his first appearance in the world in that capacity he takes birth as a little child in the ordinary way. Thus did our Lord, the present Bodhisattva, when he took birth as Shri Krishna on the glowing plains of India, to be reverenced and loved with a passion of devotion that has scarcely ever been equalled. |
Kế hoạch mượn một thể thích hợp này luôn được Các Đấng Cao Cả áp dụng khi các Ngài cho là tốt để giáng xuống giữa loài người, dưới những điều kiện như hiện nay đang có trong thế giới. Đức Gautama đã dùng phương thức ấy khi Ngài đến để đạt Phật quả, và Đức Maitreya cũng chọn cùng con đường khi Ngài viếng Palestine hai nghìn năm trước. Ngoại lệ duy nhất mà tôi biết là khi một Đức Bồ Tát mới đảm nhận chức vụ Đức Chưởng Giáo sau khi vị tiền nhiệm của Ngài đã thành Phật, thì trong lần xuất hiện đầu tiên trên thế gian với tư cách ấy, Ngài sinh ra như một trẻ nhỏ theo cách thông thường. Đức Chúa của chúng ta, Đức Bồ Tát hiện nay, cũng đã làm như vậy khi Ngài sinh ra là Shri Krishna trên những đồng bằng rực sáng của Ấn Độ, để được tôn kính và yêu thương bằng một niềm sùng tín nồng nhiệt hầu như chưa từng có điều gì sánh bằng. |
|
This temporary occupation of a pupil’s body should not be confused with the permanent use by an advanced person of a vehicle prepared for him by some one else. It is generally known among her followers that our great Founder, Madame Blavatsky, when she left the body in which we knew her, entered another which had just been abandoned by its original tenant. As to whether that body had been specially prepared for her use, I have no information; but other instances are known in which that was done. There is always in such cases a certain difficulty in adapting the vehicle to the needs and idiosyncrasies of the new occupant; and it is probable that it never becomes a perfectly fitting garment. There is for the incoming ego a choice between devoting a considerable amount of time and trouble to superintending the growth of a new vehicle, which would be a perfect expression of him, as far as that is possible on the physical plane; or of avoiding all that difficulty by entering the body of another—a process which will provide a reasonably good instrument for all ordinary purposes; but it will never fulfil in every respect all that its owner desires. In all cases, a pupil is naturally eager to have the honour of giving up his body to his Master; but few indeed are the vehicles pure enough to be so used. |
Việc tạm thời chiếm ngự thể của một môn đồ như thế không nên bị nhầm lẫn với việc một người tiến bộ sử dụng thường xuyên một hiện thể đã được người khác chuẩn bị cho mình. Trong số những người theo bà, người ta thường biết rằng Vị Sáng Lập vĩ đại của chúng ta, Bà Blavatsky, khi bà rời khỏi thể mà chúng ta biết bà trong đó, đã nhập vào một thể khác vừa bị người cư ngụ nguyên thủy của nó bỏ lại. Còn thể ấy có được chuẩn bị đặc biệt cho bà sử dụng hay không thì tôi không có thông tin; nhưng có những trường hợp khác được biết đến trong đó điều ấy đã được thực hiện. Trong những trường hợp như vậy luôn có một khó khăn nhất định trong việc thích nghi hiện thể với các nhu cầu và những nét riêng của người cư ngụ mới; và có lẽ nó không bao giờ trở thành một y phục hoàn toàn vừa vặn. Đối với chân ngã đi vào, có một lựa chọn giữa việc dành một lượng thời gian và phiền toái đáng kể để giám sát sự tăng trưởng của một hiện thể mới, vốn sẽ là một biểu hiện hoàn hảo của y, trong chừng mực điều đó có thể trên cõi hồng trần; hoặc tránh mọi khó khăn ấy bằng cách nhập vào thể của người khác—một tiến trình sẽ cung cấp một khí cụ khá tốt cho mọi mục đích thông thường; nhưng nó sẽ không bao giờ đáp ứng trọn vẹn, trong mọi phương diện, tất cả những gì chủ nhân của nó mong muốn. Trong mọi trường hợp, một môn đồ tự nhiên tha thiết muốn có vinh dự hiến dâng thể mình cho Chân sư của mình; nhưng quả thật rất ít hiện thể đủ tinh khiết để được sử dụng như thế. |
|
The question is often raised as to why an Adept, whose work seems to lie almost entirely on higher planes, needs a physical body at all. It is really no concern of ours, but if speculation on such a matter be not irreverent, various reasons suggest themselves. The Adept spends much of his time in projecting streams of influence, and while, so far as has been observed, these are most often on the higher mental level, or on the plane above that, it is probable that they may sometimes at least be etheric currents, and for the manipulation of these the possession of a physical body is undoubtedly an advantage. Again, most of the Masters whom I have seen have a few pupils or assistants who live with or near them on the physical plane, and a physical body may be necessary for their sake. Of this we may be certain, that if an Adept chooses to take the trouble to maintain such a body, he has a good reason for it; for we know enough of their methods of working to be fully aware that they always do everything in the best way, and by the means which involve the least expenditure of energy. |
Câu hỏi thường được nêu lên là tại sao một Chân sư, công việc của Ngài dường như hầu như hoàn toàn nằm trên các cõi cao, lại cần một thể xác. Thực ra điều đó không liên quan gì đến chúng ta, nhưng nếu suy đoán về một vấn đề như vậy không phải là bất kính, thì có nhiều lý do tự gợi ra. Chân sư dành nhiều thời gian để phóng chiếu các luồng ảnh hưởng, và trong khi, theo chừng mực đã được quan sát, những luồng này thường nhất ở trên cấp độ thượng trí, hoặc trên cõi phía trên đó, có lẽ đôi khi ít nhất chúng là các dòng dĩ thái, và để điều khiển chúng, việc sở hữu một thể xác chắc chắn là một lợi thế. Lại nữa, phần lớn các Chân sư mà tôi đã thấy có một vài môn đồ hoặc phụ tá sống với các Ngài hoặc gần các Ngài trên cõi hồng trần, và một thể xác có thể cần thiết vì lợi ích của họ. Về điều này chúng ta có thể chắc chắn, rằng nếu một Chân sư chọn chịu phiền toái để duy trì một thể như thế, Ngài có lý do chính đáng cho việc đó; vì chúng ta biết đủ về các phương pháp làm việc của các Ngài để hoàn toàn nhận thức rằng các Ngài luôn làm mọi sự theo cách tốt nhất, và bằng những phương tiện đòi hỏi sự tiêu hao năng lượng ít nhất. |
[1] For further details of this process, see A Textbook of Theosophy.
[2] Five Years of Theosophy (2nd Edition), p. 284.
