Nền Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới – Chương III

📘 Sách: Nền Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới – Tác giả: Alice Bailey

CHAPTER III – The Next Step in the Mental Development of Humanity – CHƯƠNG III – Bước Kế Tiếp trong Sự Phát Triển Trí Tuệ của Nhân Loại

The Present Transition Period – Thời Kỳ Chuyển Tiếp Hiện Nay

[69] There are three immediate steps ahead of the educational systems of the world, and some progress has already been made towards taking them. Bear in mind that under the evolutionary urge such steps are often made without any understanding of the true objectives, or any real grasp of the emerging significance and purpose. They are simply made because the need of the time makes them the obvious next step, because the old system is failing to accomplish its intended purpose, because the results are patently undesirable, and because some man of vision works out a newer method and imposes his will upon those around him in order to demonstrate the new ideal. These three immediate steps are:

[69] Có ba bước trước mắt dành cho các hệ thống giáo dục của thế giới, và một số tiến bộ đã được thực hiện hướng tới việc tiến hành chúng. Hãy ghi nhớ rằng dưới thôi thúc tiến hóa, những bước như thế thường được thực hiện mà không có sự thấu hiểu nào về các mục tiêu chân chính, hay bất cứ sự nắm bắt thực sự nào về thâm nghĩa và mục đích đang xuất hiện. Chúng được thực hiện đơn giản vì nhu cầu của thời đại khiến chúng trở thành bước kế tiếp hiển nhiên, vì hệ thống cũ không hoàn thành được mục đích đã định, vì các kết quả rõ ràng là không đáng mong muốn, và vì một người có tầm nhìn xây dựng một phương pháp mới hơn rồi áp đặt ý chí của mình lên những người chung quanh để chứng minh lý tưởng mới. Ba bước trước mắt ấy là:

First: The development of more adequate means of understanding and studying the human being. This will be made possible in three ways:

Thứ nhất: Sự phát triển những phương tiện thích đáng hơn để thấu hiểu và nghiên cứu con người. Điều này sẽ có thể thực hiện bằng ba cách:

1. The growth and the development of the Science of Psychology. This is the science of the essential man, and is at this time being more generally recognised as useful to, and consistent with, the right development of the human unit. The various schools of psychology, [70] so numerous and separative, will each eventually contribute its particular and peculiar truth, and thus the real science of the soul will emerge from this synthesis.

1. Sự tăng trưởng và phát triển của Khoa Học Tâm Lý. Đây là khoa học về con người bản yếu, và vào lúc này đang được công nhận rộng rãi hơn là hữu ích cho, và phù hợp với, sự phát triển đúng đắn của đơn vị nhân loại. Các trường phái tâm lý học khác nhau, [70] rất nhiều và phân ly, cuối cùng mỗi trường phái sẽ đóng góp chân lý riêng biệt và đặc thù của mình, và như thế khoa học chân chính về linh hồn sẽ xuất hiện từ sự tổng hợp này.

2. The growth and the development of the Science of the Seven Rays. This science will throw light upon racial and individual types; it will clearly formulate the nature of individual and racial problems, it will indicate the forces and energies which are struggling for expression in the individual and in the race; and when the two major rays and the three minor rays (which meet in every man) are recognised and studied by the educator in connection with the individual, the result will be right individual and group training, and correct vocational indications.

2. Sự tăng trưởng và phát triển của Khoa Học về Bảy Cung. Khoa học này sẽ soi sáng các kiểu mẫu nhân loại và cá nhân; nó sẽ trình bày rõ ràng bản chất của các vấn đề cá nhân và nhân loại, chỉ ra các mãnh lực và năng lượng đang đấu tranh để biểu hiện trong cá nhân và trong nhân loại; và khi hai cung chính cùng ba cung phụ, vốn gặp nhau trong mỗi con người, được nhà giáo dục nhận biết và nghiên cứu liên quan đến cá nhân, kết quả sẽ là sự rèn luyện cá nhân và nhóm đúng đắn, cùng những chỉ dẫn nghề nghiệp chính xác.

3. The acceptance of the Teaching anent the Constitution of Man given by the esotericists, with the implied relation of soul and body, the nature of those bodies, their qualities and purpose, and the interrelation existing between the soul and the three vehicles of expression in the three worlds of human endeavour.

3. Sự chấp nhận Giáo Huấn liên quan đến Cấu Tạo của Con Người do các nhà bí truyền học đưa ra, với mối liên hệ hàm ngụ giữa linh hồn và thân thể, bản chất của các thể ấy, các phẩm tính và mục đích của chúng, và sự tương quan hiện hữu giữa linh hồn với ba hiện thể biểu hiện trong ba cõi của nỗ lực nhân loại.

In order to bring this about, the best that the East has to offer and the knowledge of the West will have to be made available. The training of the physical body, the control of the emotional body, and the development of right mental apprehension must proceed sequentially, with due attention to the time factor, and also to that period wherein planned coordination of all aspects of the man should be carefully developed.

Để đưa điều này thành hiện thực, điều tốt nhất mà phương Đông có thể cống hiến và tri thức của phương Tây sẽ phải được đem ra sử dụng. Sự rèn luyện thể xác, sự kiểm soát thể cảm dục, và sự phát triển khả năng lĩnh hội trí tuệ đúng đắn phải diễn tiến tuần tự, với sự chú ý thích đáng đến yếu tố thời gian, cũng như đến giai đoạn trong đó sự phối hợp có kế hoạch của mọi phương diện nơi con người cần được phát triển cẩn thận.

Second: The recognition of the facts of Esoteric Astrology.

Thứ hai: Sự công nhận các sự kiện của Chiêm Tinh Học Nội Môn.

When this becomes possible there will be an opportunity to train the child from its earliest breath. A careful record will be kept of that exact moment, the moment of birth, or [71] of the first breath, often accompanied by the first cry. Character delineations will be noted and compared with the developing subject and also with the ray chart, and the relation of these two—the horoscope and the ray chart—will be subjected to a careful analysis every seven years. These processes will guide the educator in the necessary steps which should be taken wisely to hasten the child’s unfoldment. Modern ordinary astrology, with its prevision factor, its emphasis upon the nonessential points and upon the physical concerns of the incarnated soul, will be gradually superseded by the recognition of relationships, of life objectives, of basic character predispositions and of the soul purpose, and much will then become possible to the wise friend and guide of youth—which is what every educator should aim to be.

Khi điều này trở nên có thể, sẽ có cơ hội rèn luyện đứa trẻ từ hơi thở đầu tiên của nó. Một hồ sơ cẩn thận sẽ được giữ về khoảnh khắc chính xác ấy, khoảnh khắc chào đời, hay [71] hơi thở đầu tiên, thường đi kèm với tiếng khóc đầu tiên. Những phác họa tính cách sẽ được ghi nhận và so sánh với đối tượng đang phát triển cũng như với biểu đồ cung, và mối liên hệ giữa hai điều này, tức lá số chiêm tinh và biểu đồ cung, sẽ được phân tích cẩn thận mỗi bảy năm. Các tiến trình này sẽ hướng dẫn nhà giáo dục trong những bước cần thiết phải được thực hiện một cách khôn ngoan để thúc đẩy sự khai mở của đứa trẻ. Chiêm tinh học thông thường hiện đại, với yếu tố tiên đoán, sự nhấn mạnh vào các điểm không thiết yếu và vào những mối quan tâm hồng trần của linh hồn nhập thể, sẽ dần dần được thay thế bởi sự công nhận các mối liên hệ, các mục tiêu đời sống, những khuynh hướng tính cách căn bản và mục đích của linh hồn; và khi đó nhiều điều sẽ trở nên khả hữu đối với người bạn và người hướng dẫn khôn ngoan của tuổi trẻ, đó là điều mà mọi nhà giáo dục nên nhắm tới.

Third: The admittance of the fact of the Law of Rebirth as a governing, natural process.

Thứ ba: Sự thừa nhận sự kiện của Định Luật Tái Sinh như một tiến trình tự nhiên có tính cai quản.

This will serve as a determining factor in the racial life and will bring much light into the educational Field. The tracing and relating of basic trends to past racial unfoldments and to ancient racial episodes will prove of interest and of import, and though the recovery of past lives will be of no interest, the recognition of characteristics which have been inherited from the past will serve real purpose. Young people will then be studied from the standpoint of their probable point upon the ladder of evolution, and will be grouped as:

Điều này sẽ đóng vai trò như một yếu tố quyết định trong đời sống nhân loại và sẽ đem nhiều ánh sáng vào lĩnh vực giáo dục. Việc truy nguyên và liên hệ các khuynh hướng căn bản với những sự khai mở nhân loại trong quá khứ và với các giai đoạn nhân loại cổ xưa sẽ tỏ ra đáng quan tâm và quan trọng; và dù việc phục hồi các kiếp sống quá khứ sẽ không có gì đáng quan tâm, sự nhận biết các đặc tính được kế thừa từ quá khứ sẽ phục vụ một mục đích thực sự. Bấy giờ người trẻ sẽ được nghiên cứu từ lập trường điểm có thể có của họ trên nấc thang tiến hóa, và sẽ được phân nhóm như sau:

a. Lemurians, with physical predispositions.

a. Người Lemuria, với các khuynh hướng hồng trần.

b. Atlanteans, with emotional dominance.

b. Người Atlantis, với sự thống trị cảm xúc.

c. Aryans, with mental tendencies and inclinations.

c. Người Arya, với các xu hướng và khuynh hướng trí tuệ.

d. New race, with group qualities and consciousness and idealistic vision.

d. Giống dân mới, với các phẩm tính và tâm thức nhóm cùng tầm nhìn lý tưởng.

The time factor (from the angle of present attainment and possible goal in the immediate life) will be carefully considered, [72] and in this way there will be no lost motion; the boy or girl will meet with understanding help and with analysis, but not with ignorance and criticism; they will be safeguarded and not punished; they will be stimulated and not held back; they will be occultly recognised, and therefore will not constitute a problem.

Yếu tố thời gian, xét từ góc độ thành tựu hiện tại và mục tiêu khả hữu trong đời sống trước mắt, sẽ được cân nhắc cẩn thận, [72] và theo cách này sẽ không có chuyển động vô ích; bé trai hay bé gái sẽ gặp được sự trợ giúp đầy thấu hiểu và sự phân tích, chứ không phải sự vô minh và phê phán; chúng sẽ được bảo vệ chứ không bị trừng phạt; chúng sẽ được kích thích chứ không bị kìm hãm; chúng sẽ được nhận biết một cách huyền bí, và vì thế sẽ không tạo thành một vấn đề.

It will be obvious to you that some decades must elapse before such a state of affairs can become possible and usual, but you will note that I have said “decades” and not “centuries.” The earlier experiments along this line will become possible only in small schools of specially selected children or small colleges with a picked and trained faculty, cautiously ready to experiment. It is only by the demonstration of the advantage of the above methods of studying and training children that national educational authorities will be convinced of the light which these modes of approach to the delicate task of fitting the human being for life, can throw upon the problem. At the same time, it is essential that such schools and colleges preserve as much of the ordinary demanded curriculum as is possible, so as to be able to demonstrate their adequacy when in competition with other recognised educational systems.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng một vài thập niên phải trôi qua trước khi một tình trạng như thế có thể trở nên khả hữu và thông thường, nhưng các bạn sẽ lưu ý rằng Tôi đã nói “thập niên” chứ không phải “thế kỷ”. Những thử nghiệm ban đầu theo hướng này chỉ có thể trở nên khả hữu trong các trường nhỏ dành cho những trẻ em được tuyển chọn đặc biệt, hoặc các trường cao đẳng nhỏ với đội ngũ giảng viên được lựa chọn và huấn luyện, sẵn sàng thử nghiệm một cách thận trọng. Chỉ bằng việc chứng minh lợi ích của các phương pháp nghiên cứu và rèn luyện trẻ em nêu trên, các cơ quan giáo dục quốc gia mới được thuyết phục về ánh sáng mà những cách tiếp cận này có thể chiếu rọi lên vấn đề tinh tế là chuẩn bị con người cho đời sống. Đồng thời, điều thiết yếu là các trường học và cao đẳng như thế phải giữ lại càng nhiều càng tốt chương trình học thông thường được yêu cầu, để có thể chứng minh tính đầy đủ của mình khi cạnh tranh với các hệ thống giáo dục được công nhận khác.

If a true understanding of the seven ray types, of the constitution of man and of astrology, plus a right application of a synthetic psychology is of any use at all, it must demonstrate itself in the production of a correctly coordinated, wisely developed, highly intelligent and mentally directed human being.

Nếu sự thấu hiểu chân chính về bảy kiểu cung, về cấu tạo của con người và về chiêm tinh học, cộng với việc áp dụng đúng đắn một tâm lý học tổng hợp, có bất cứ giá trị nào, thì nó phải tự chứng minh qua việc tạo ra một con người được phối hợp đúng đắn, phát triển khôn ngoan, có trí tuệ cao và được trí tuệ định hướng.

The trouble with the majority of the previous attempts to impose a form of the new age education upon the modern child has been of a twofold nature:

Vấn đề của phần lớn những nỗ lực trước đây nhằm áp đặt một hình thức giáo dục kỷ nguyên mới lên trẻ em hiện đại có bản chất nhị phân:

First, there has been no compromise between the present form of education and the desired ideal; there has been no scientific bridging done; and no attempt has been made to correlate the best of the present methods (probably well adapted to the child of the period) and some of the more [73] appropriate methods embodied in the new vision, particularly those which can be easily approximated to those in use. Only in this way can the sequential steps be taken, until the new education is an accomplished fact and the old and the new techniques are welded into one appropriate whole. The visionary idealist has hitherto held the field and thus slowed up the process.

Thứ nhất, không có sự dung hòa nào giữa hình thức giáo dục hiện nay và lý tưởng mong muốn; không có sự bắt cầu khoa học nào được thực hiện; và cũng không có nỗ lực nào nhằm tương quan những gì tốt nhất của các phương pháp hiện tại, có lẽ rất thích hợp với trẻ em của thời kỳ này, với một số phương pháp [73] thích hợp hơn được thể hiện trong tầm nhìn mới, đặc biệt là những phương pháp có thể dễ dàng gần với những phương pháp đang được sử dụng. Chỉ theo cách này các bước tuần tự mới có thể được thực hiện, cho đến khi nền giáo dục mới trở thành một sự kiện đã hoàn thành và các kỹ thuật cũ cùng mới được hàn gắn thành một tổng thể thích hợp. Cho đến nay, nhà duy tâm viễn kiến đã chiếm lĩnh lĩnh vực này và vì thế làm chậm tiến trình.

Second, the new methods can be tried out successfully only through the medium of most carefully selected children. These children must be watched from babyhood, their parents must be willing to cooperate in the task of providing right early conditions and right atmosphere, and their lives (their case histories) must be studied along the lines suggested earlier in this instruction.

Thứ hai, các phương pháp mới chỉ có thể được thử nghiệm thành công qua trung gian của những trẻ em được tuyển chọn hết sức cẩn thận. Những trẻ này phải được quan sát từ lúc sơ sinh, cha mẹ chúng phải sẵn lòng hợp tác trong nhiệm vụ cung cấp các điều kiện ban đầu đúng đắn và bầu không khí đúng đắn, và đời sống của chúng, tức các hồ sơ trường hợp của chúng, phải được nghiên cứu theo những đường hướng đã được gợi ý trước đó trong huấn thị này.

Visionary, mystical hopes and dreams are useful in so far as they indicate a possible goal; they are of small use in determining process and method. The imposition of the new age ways in education, upon a child who is basically Atlantean or early Aryan in his consciousness, is a fruitless task and will do little really to help him. It is for this reason that a careful analysis of the child must be made from the very moment of birth. Then, with as full information as possible, the educator will endeavour to meet the need of the three major types of children: The Atlantean, or basically emotional, sensuous type; the early Aryan, or emotional-mental type; the later Aryan or early New Age type, which will be predominantly mental, and at the same time idealistic, brilliant, coordinated, and a personality.

Những hy vọng và giấc mơ viễn kiến, thần bí, hữu ích chừng nào chúng chỉ ra một mục tiêu khả hữu; chúng ít hữu ích trong việc xác định tiến trình và phương pháp. Việc áp đặt các đường lối giáo dục của kỷ nguyên mới lên một đứa trẻ về căn bản là Atlantis hoặc Arya sơ kỳ trong tâm thức của y là một nhiệm vụ vô ích và thật sự chẳng giúp được y bao nhiêu. Chính vì lý do này mà phải thực hiện một phân tích cẩn thận về đứa trẻ ngay từ khoảnh khắc chào đời. Khi đó, với thông tin đầy đủ nhất có thể, nhà giáo dục sẽ cố gắng đáp ứng nhu cầu của ba kiểu trẻ em chính: kiểu Atlantis, hay kiểu về căn bản là cảm xúc và cảm giác; kiểu Arya sơ kỳ, hay kiểu cảm xúc-trí tuệ; kiểu Arya hậu kỳ hay kiểu Kỷ Nguyên Mới sơ kỳ, vốn sẽ chủ yếu là trí tuệ, đồng thời lý tưởng, sáng chói, phối hợp và là một phàm ngã.

The question here arises: How can such methods be employed without the whole process appearing too much like a laboratory experiment in which the child is regarded as a specimen—or a sample child—to be subjected to certain types of impression in which he is deprived of that free scope to be himself—an individual (which seems at all times so desirable and necessary)—and in which the entire process appears as an infringement of the dignity which is the [74] heritage of every human being? Such educational questions and objectives sound important and fine and imposing, but what do they really mean?

Ở đây nảy sinh câu hỏi: Làm sao có thể sử dụng các phương pháp như thế mà toàn bộ tiến trình không có vẻ quá giống một thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, trong đó đứa trẻ được xem như một mẫu vật, hay một đứa trẻ mẫu, để chịu những loại ấn tượng nào đó, trong đó y bị tước mất phạm vi tự do để là chính mình, một cá nhân, điều dường như lúc nào cũng đáng mong muốn và cần thiết, và trong đó toàn bộ tiến trình có vẻ như xâm phạm phẩm giá vốn là [74] di sản của mọi con người? Những câu hỏi và mục tiêu giáo dục như thế nghe có vẻ quan trọng, tốt đẹp và uy nghi, nhưng chúng thực sự hàm ý điều gì?

I have suggested that the textbooks be rewritten in terms of right human relations and not from the present nationalistic and separative angles. I have also pointed out certain basic ideas which should be immediately inculcated: the unique value of the individual, the beauty of humanity, the relation of the individual to the whole and his responsibility to fit into the general picture in a constructive manner and voluntarily; I have noted the imminence of the coming spiritual renaissance. To all of these I would like to add that one of our immediate educational objectives must be the elimination of the competitive spirit and the substitution of the cooperative consciousness. Here the question at once arises: How can one achieve this and at the same time bring about a high level of individual attainment? Is not competition a major spur to all endeavour? This has hitherto been so, but it need not be.

Tôi đã gợi ý rằng các sách giáo khoa nên được viết lại theo tinh thần những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, chứ không theo các góc nhìn quốc gia chủ nghĩa và phân ly hiện nay. Tôi cũng đã chỉ ra một số ý tưởng căn bản cần được gieo vào ngay lập tức: giá trị độc nhất của cá nhân, vẻ đẹp của nhân loại, mối liên hệ của cá nhân với toàn thể và trách nhiệm của y trong việc hòa nhập vào bức tranh chung một cách xây dựng và tự nguyện; Tôi đã ghi nhận sự gần kề của cuộc phục hưng tinh thần sắp đến. Với tất cả những điều này, Tôi muốn thêm rằng một trong các mục tiêu giáo dục trước mắt của chúng ta phải là loại bỏ tinh thần cạnh tranh và thay thế bằng tâm thức hợp tác. Ở đây câu hỏi lập tức nảy sinh: Làm sao người ta có thể đạt được điều này mà đồng thời tạo ra một mức độ thành tựu cá nhân cao? Chẳng phải cạnh tranh là một động lực chính cho mọi nỗ lực sao? Cho đến nay điều này đã là như vậy, nhưng không nhất thiết phải như thế.

Today the average child is, for the first five or six years of his life, the victim of his parents’ ignorance or selfishness or lack of interest. He is frequently kept quiet and out of the way because his parents are too busy with their own affairs to give him the needed time—busy with nonessential matters, compared to the important and essential business of giving their child a right start upon the pathway of life in this incarnation. He is left to his own resources or those of some ignorant nursemaid, at a stage when a destructive little animal should be developed into a constructive little citizen. He is sometimes petted and often scolded. He is dragged hither and thither, according to his parents’ whims and interest, and he is sent to school with a sense of relief on their part, in order to get him occupied and out of the way. At school, he is frequently under the care of some young, ignorant though well-meaning person whose task it is to teach him the rudiments of civilisation—a certain superficial [75] attitude and form of manners which should govern his relations to the world of men, an ability to read and write and figure, and a smattering (rudimentary indeed) of history and geography and good form in speech and writing.

Ngày nay, đứa trẻ trung bình, trong năm hay sáu năm đầu đời, là nạn nhân của sự vô minh, ích kỷ hoặc thiếu quan tâm của cha mẹ. Y thường bị giữ cho yên lặng và tránh sang một bên vì cha mẹ y quá bận rộn với công việc riêng của họ nên không dành cho y thời gian cần thiết, bận rộn với những điều không thiết yếu, khi so với công việc quan trọng và thiết yếu là cho con họ một khởi đầu đúng đắn trên con đường đời sống trong lần lâm phàm này. Y bị phó mặc cho những nguồn lực của chính mình hoặc của một người giữ trẻ vô minh nào đó, ở giai đoạn khi một con thú nhỏ phá hoại cần được phát triển thành một công dân nhỏ mang tính xây dựng. Đôi khi y được cưng chiều và thường bị la mắng. Y bị kéo đi chỗ này chỗ nọ, tùy theo các ý thích và mối quan tâm của cha mẹ, và y được gửi đến trường với cảm giác nhẹ nhõm từ phía họ, để y được bận rộn và không vướng chân. Ở trường, y thường ở dưới sự chăm sóc của một người trẻ tuổi, vô minh dù có thiện chí, có nhiệm vụ dạy y những điều sơ đẳng của văn minh, tức một thái độ [75] và hình thức lễ nghi khá hời hợt vốn phải cai quản các mối quan hệ của y với thế giới con người, khả năng đọc, viết và tính toán, cùng một chút ít, thật ra là sơ đẳng, về lịch sử, địa lý và phép tắc tốt đẹp trong lời nói và chữ viết.

By that time however the mischief is done and the form which his later educational processes may take, from the age of eleven onward, is of small moment. An orientation has been effected, an attitude (usually defensive, and therefore inhibiting) has been established, a form of behaviour has been enforced or imposed which is superficial, and which is not based upon the realities of right relationships. The true person which is found in every child—expansive, outgoing and well-meaning as are the bulk of children in infancy—has consequently been driven within, out of sight, and has hidden itself behind an outer shell which custom and tuition have enforced. Add to this a multitude of misunderstandings on the part of loving but superficial and well-intentioned parents, a long series of small catastrophes in relation to others, and it is obvious that the majority of children get off to a wrong start and begin life basically handicapped. The damage done to children in the plastic and pliable years is often irremediable and is responsible for much of the pain and suffering in later life. What then can be done? What, apart from the more technical approaches outlined by me in earlier parts of this instruction, should be the effort on the part of parents and educators?

Tuy nhiên, đến lúc ấy thì sự tổn hại đã xảy ra, và hình thức mà các tiến trình giáo dục về sau của y có thể mang, từ tuổi mười một trở đi, chỉ còn ít quan trọng. Một định hướng đã được tạo lập, một thái độ, thường là phòng vệ và do đó ức chế, đã được thiết lập, một hình thức hành vi hời hợt đã bị cưỡng đặt hay áp đặt, và không đặt nền trên các thực tại của những mối quan hệ đúng đắn. Con người chân thật được tìm thấy trong mọi đứa trẻ, rộng mở, hướng ngoại và đầy thiện ý như phần lớn trẻ em trong thời thơ ấu, vì thế đã bị đẩy vào bên trong, khuất khỏi tầm nhìn, và đã ẩn mình sau một lớp vỏ bên ngoài do tập quán và sự dạy dỗ cưỡng đặt. Thêm vào đó là vô số hiểu lầm từ phía các bậc cha mẹ thương yêu nhưng hời hợt và có thiện chí, một chuỗi dài những thảm họa nhỏ trong quan hệ với người khác, và hiển nhiên là phần lớn trẻ em đã khởi đầu sai lạc và bắt đầu đời sống với bất lợi căn bản. Tổn hại gây ra cho trẻ em trong những năm mềm dẻo và dễ uốn nắn thường không thể sửa chữa và chịu trách nhiệm cho nhiều đau đớn, khổ sở trong đời sống về sau. Vậy có thể làm gì? Ngoài những cách tiếp cận kỹ thuật hơn mà Tôi đã phác thảo trong các phần trước của huấn thị này, cha mẹ và nhà giáo dục nên nỗ lực điều gì?

First, and above everything else, the effort should be made to provide an atmosphere wherein certain qualities can flourish and emerge.

Trước hết, và trên hết mọi điều, cần nỗ lực cung cấp một bầu không khí trong đó một số phẩm tính có thể nảy nở và xuất hiện.

1. An atmosphere of love, wherein fear is cast out and the child realises he has no cause for timidity, shyness or caution, and one in which he receives courteous treatment at the hands of others, and is expected also to render equally courteous treatment in return. This is rare indeed to find in schoolrooms [76] or in homes for that matter. This atmosphere of love is not an emotional, sentimental form of love but is based upon a realisation of the potentialities of the child as an individual, on a sense of true responsibility, freedom from prejudice, racial antagonisms, and above everything else, upon compassionate tenderness. This compassionate tenderness is founded on the recognition of the difficulty of living, upon sensitivity to the child’s normally affectionate response, and upon a knowledge that love always draws forth what is best in child and man.

1. Một bầu không khí của tình thương, trong đó sợ hãi bị xua đi và đứa trẻ nhận ra rằng y không có lý do gì để rụt rè, nhút nhát hay dè dặt, và trong đó y nhận được sự đối xử nhã nhặn từ người khác, đồng thời cũng được mong đợi đáp lại bằng sự nhã nhặn tương tự. Quả thật điều này hiếm thấy trong lớp học [76] hay trong gia đình. Bầu không khí tình thương này không phải là một hình thức tình thương xúc cảm, ủy mị, mà đặt nền trên việc nhận ra các tiềm năng của đứa trẻ như một cá nhân, trên ý thức trách nhiệm chân thật, sự thoát khỏi thành kiến, các đối kháng chủng tộc, và trên hết mọi điều, trên sự dịu dàng đầy lòng bi mẫn. Sự dịu dàng đầy lòng bi mẫn này đặt nền trên việc nhận biết khó khăn của đời sống, trên sự nhạy bén đối với đáp ứng trìu mến bình thường của đứa trẻ, và trên tri thức rằng tình thương luôn khơi dậy điều tốt đẹp nhất nơi trẻ em và con người.

2. An atmosphere of patience, wherein the child can become, normally and naturally, a seeker after the light of knowledge; wherein he is sure of always meeting with a quick response to inquiry and a careful reply to all questions, and wherein there is never the sense of speed or hurry. Most children’s natures are warped by the rush and hurry of those with whom they are perforce associated. There is no time to instruct them and to reply to their small and most necessary inquiries, and the time factor therefore becomes a menace to right development, and leads eventually to a life of evasions and of wrong perspectives. Their standard of values becomes distorted by watching those with whom they live, and much of it is brought to their attention by the impatience which is displayed towards them. This impatience on the part of those upon whom they are so pathetically dependent, sows in them the seeds of irritation, and more lives are ruined by irritation than can be counted.

2. Một bầu không khí của sự kiên nhẫn, trong đó đứa trẻ có thể trở thành, một cách bình thường và tự nhiên, người tìm kiếm ánh sáng tri thức; trong đó y chắc chắn luôn gặp được sự đáp ứng nhanh chóng đối với thắc mắc và lời trả lời cẩn thận cho mọi câu hỏi, và trong đó không bao giờ có cảm giác vội vã hay gấp gáp. Bản chất của phần lớn trẻ em bị làm lệch lạc bởi sự hối hả và vội vã của những người mà chúng buộc phải gắn bó. Không có thời gian để chỉ dạy chúng và trả lời những thắc mắc nhỏ bé nhưng rất cần thiết của chúng, và vì thế yếu tố thời gian trở thành một mối đe dọa đối với sự phát triển đúng đắn, cuối cùng dẫn đến một đời sống né tránh và những viễn cảnh sai lạc. Chuẩn mực giá trị của chúng bị bóp méo khi quan sát những người sống cùng chúng, và phần lớn điều ấy được đưa vào sự chú ý của chúng qua sự thiếu kiên nhẫn được bộc lộ đối với chúng. Sự thiếu kiên nhẫn này từ phía những người mà chúng phụ thuộc một cách đáng thương như thế gieo vào chúng những hạt giống bực bội, và nhiều đời sống bị hủy hoại bởi sự bực bội hơn mức có thể đếm được.

3. An atmosphere of ordered activity, wherein the child can learn the first rudiments of responsibility. The children who are coming into incarnation at this time, and who can profit by the new type of education, are necessarily on the very verge of soul consciousness. One of the first indications of such soul contact is a [77] rapidly developing sense of responsibility. This should be carefully borne in mind. for the shouldering of small duties and the sharing of responsibility (which is always concerned with some form of group relation) is a potent factor in determining a child’s character and future vocation.

3. Một bầu không khí của hoạt động có trật tự, trong đó đứa trẻ có thể học những điều sơ đẳng đầu tiên của trách nhiệm. Những trẻ em đang đi vào lâm phàm vào lúc này, và có thể hưởng lợi từ loại hình giáo dục mới, tất yếu ở ngay ngưỡng của tâm thức linh hồn. Một trong những dấu hiệu đầu tiên của sự tiếp xúc linh hồn như thế là [77] một ý thức trách nhiệm phát triển nhanh chóng. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận, vì việc gánh vác những bổn phận nhỏ và chia sẻ trách nhiệm, vốn luôn liên quan đến một hình thức quan hệ nhóm nào đó, là một yếu tố mạnh mẽ trong việc xác định tính cách và nghề nghiệp tương lai của đứa trẻ.

4. An atmosphere of understanding, wherein a child is always sure that the reasons and motives for his actions will be recognised, and that those who are his older associates will always comprehend the nature of his motivating impulses, even though they may not always approve of what he has done or of his activities. Many of the things which the average child does are not in themselves naughty or wicked or intentionally bad. They are frequently prompted by a thwarted inquiring spirit, by the desire to retaliate for some injustice (based on the adult’s lack of understanding his motivation), by an inability to employ time rightly (for the directional will is often, at this age, entirely quiescent and will not become active until the mind is beginning to function), and by the urge to attract attention—a necessary urge in the development of self-consciousness, but one which needs understanding and most careful guidance.

4. Một bầu không khí của sự thấu hiểu, trong đó đứa trẻ luôn chắc chắn rằng các lý do và động cơ cho hành động của y sẽ được nhận biết, và rằng những người là bạn đồng hành lớn tuổi hơn của y sẽ luôn lĩnh hội bản chất của các xung lực thúc đẩy y, dù họ không phải lúc nào cũng tán thành điều y đã làm hay các hoạt động của y. Nhiều điều mà đứa trẻ trung bình làm tự thân không hư hỏng, độc ác hay cố ý xấu. Chúng thường được thúc đẩy bởi một tinh thần tìm hiểu bị cản trở, bởi mong muốn đáp trả một bất công nào đó, dựa trên việc người lớn không thấu hiểu động cơ của y, bởi sự bất lực trong việc sử dụng thời gian đúng đắn, vì ý chí định hướng thường ở tuổi này hoàn toàn tĩnh lặng và sẽ không trở nên hoạt động cho đến khi thể trí bắt đầu vận hành, và bởi thôi thúc thu hút sự chú ý, một thôi thúc cần thiết trong sự phát triển ngã thức, nhưng là điều cần được thấu hiểu và hướng dẫn hết sức cẩn thận.

It is the older generation who foster in a child an early and most unnecessary sense of guilt, of sinfulness and of wrongdoing. So much emphasis is laid upon petty little things that are not really wrong but are annoying to the parent or teacher, that a true sense of wrong (which is the recognition of failure to preserve right relations with the group) gets overlaid and is not recognised for what it is. The many small and petty sins, imposed upon children by the constant reiteration of “No,” by the use of the word “naughty.” and based largely on parental failure to understand and occupy the child, are of no real moment. If these [78] aspects of the child’s life are rightly handled, then the truly wrong things, the infringements upon the rights of others, the encroachments of individual desire upon group requirements and conditions, and the hurting or damaging of others in order to achieve personal gain, will emerge in right perspective and at the right time. Then the voice of conscience (which is the whisper of the soul) will not be deadened, and the child will not become anti-social. He only becomes anti-social when he has not met with understanding and therefore does not understand or when circumstances demand too much of him.

Chính thế hệ lớn tuổi nuôi dưỡng nơi đứa trẻ một cảm giác tội lỗi, tội lỗi đạo đức và làm sai quá sớm và hết sức không cần thiết. Người ta đặt quá nhiều nhấn mạnh lên những điều nhỏ nhặt vụn vặt vốn thật ra không sai, nhưng gây khó chịu cho cha mẹ hay thầy cô, đến nỗi ý thức chân thật về điều sai, tức sự nhận biết việc không duy trì những mối quan hệ đúng đắn với nhóm, bị phủ lấp và không được nhận ra đúng như nó là. Nhiều lỗi nhỏ và vụn vặt, áp đặt lên trẻ em bằng sự lặp đi lặp lại liên tục tiếng “Không”, bằng việc dùng từ “hư”, và phần lớn dựa trên thất bại của cha mẹ trong việc thấu hiểu và tạo việc cho đứa trẻ, thật ra chẳng có tầm quan trọng thực sự nào. Nếu những [78] phương diện này của đời sống đứa trẻ được xử lý đúng đắn, thì những điều thật sự sai, những vi phạm quyền lợi của người khác, những sự lấn át của dục vọng cá nhân lên các yêu cầu và điều kiện của nhóm, và việc làm tổn thương hay gây thiệt hại cho người khác để đạt lợi ích cá nhân, sẽ xuất hiện trong viễn cảnh đúng đắn và vào đúng lúc. Khi ấy tiếng nói của lương tâm, vốn là tiếng thì thầm của linh hồn, sẽ không bị làm cho cùn mòn, và đứa trẻ sẽ không trở nên phản xã hội. Y chỉ trở nên phản xã hội khi y không gặp được sự thấu hiểu và vì thế không thấu hiểu, hoặc khi hoàn cảnh đòi hỏi quá nhiều ở y.

You might inquire here, after considering these four types of atmosphere regarded as essential preliminary steps to the new education: How, in this case, do you make allowance for inherited instinct, normal inclination based upon the point in evolution and character tendencies which are determined by ray forces and astrological influences?

Ở đây, sau khi cân nhắc bốn loại bầu không khí được xem là những bước sơ khởi thiết yếu cho nền giáo dục mới, các bạn có thể hỏi: Trong trường hợp này, làm sao các bạn xét đến bản năng kế thừa, khuynh hướng bình thường dựa trên điểm tiến hoá và các xu hướng tính cách được xác định bởi các mãnh lực cung và các ảnh hưởng chiêm tinh?

I have not emphasised them there, even while recognising them as conditioning factors which must receive attention, because I have been dealing with the unnecessary and vast accumulation of imposed difficulties which are not innate in the child or truly characteristic of him, but which are the result of his environment and the failure of his home circle and existing educational agencies rightly to aid him in making his adjustments to life and his period. When there is wise handling from infancy, when the child is regarded as the most important concern of his parents and teachers (because he is the future in embryo), and when, at the same time, he is taught a sense of proportion by right integration into the little world of which he is a part, we shall see the major lines of difficulty, the basic character trends and the gaps in his equipment emerge clearly. They will not be hidden until the years of adolescence by the little sins and evasions and by the petty embryonic complexes, which have been imposed upon him by others and did not form a part of his innate equipment when he came [79] into incarnation. Then these major difficulties can be handled in an enlightened manner, and those basic tendencies which are undesirable can be offset through the wisdom of the educator, plus the cooperation and understanding of the child. He will understand because he is understood and consequently fearless.

Tôi đã không nhấn mạnh chúng ở đó, dù vẫn nhận biết chúng như những yếu tố tác động cần được chú ý, bởi vì Tôi đang bàn đến sự tích lũy rộng lớn và không cần thiết của những khó khăn bị áp đặt, vốn không bẩm sinh nơi đứa trẻ hay thật sự đặc trưng cho y, mà là kết quả của môi trường và thất bại của vòng gia đình cùng các cơ quan giáo dục hiện hữu trong việc trợ giúp y đúng đắn để điều chỉnh với đời sống và thời kỳ của y. Khi có sự xử lý khôn ngoan từ thời thơ ấu, khi đứa trẻ được xem là mối quan tâm quan trọng nhất của cha mẹ và thầy cô, vì y là tương lai còn ở dạng phôi thai, và khi đồng thời y được dạy Ý thức về tỉ lệ bằng sự tích hợp đúng đắn vào thế giới nhỏ bé mà y là một phần, chúng ta sẽ thấy các đường hướng khó khăn chính, các xu hướng tính cách căn bản và những thiếu sót trong trang bị của y xuất hiện rõ ràng. Chúng sẽ không bị che giấu cho đến những năm thiếu niên bởi các lỗi nhỏ, sự né tránh và các phức cảm phôi thai vụn vặt đã bị người khác áp đặt lên y và không phải là một phần trang bị bẩm sinh của y khi y đi [79] vào lâm phàm. Khi ấy những khó khăn chính này có thể được xử lý một cách giác ngộ, và những khuynh hướng căn bản không đáng mong muốn có thể được hóa giải nhờ minh triết của nhà giáo dục, cộng với sự hợp tác và thấu hiểu của đứa trẻ. Y sẽ thấu hiểu vì y được thấu hiểu và do đó không sợ hãi.

Let us now formulate a more extended plan for the future education of the children of the world. We have noted that in spite of universal educational processes and many centres of learning in every country, we have not yet succeeded in giving our young people the kind of education which will enable them to live wholly and constructively. The development of world education has been progressively along three main lines, starting in the East and culminating today in the West. Naturally, I am speaking only in terms of the last two or three thousand years. In Asia, we have had the intensive training, down the centuries, of certain carefully chosen individuals and a complete neglect of the masses. Asia and Asia alone has produced those outstanding figures who are, even today, the object of universal veneration—Lao Tze, Confucius, the Buddha, Shri Krishna and the Christ. They have set Their mark upon millions and still do.

Bây giờ chúng ta hãy hình thành một kế hoạch mở rộng hơn cho nền giáo dục tương lai của trẻ em thế giới. Chúng ta đã ghi nhận rằng bất chấp các tiến trình giáo dục phổ quát và nhiều trung tâm học tập ở mọi quốc gia, chúng ta vẫn chưa thành công trong việc trao cho người trẻ loại giáo dục sẽ giúp họ sống trọn vẹn và mang tính xây dựng. Sự phát triển của giáo dục thế giới đã diễn tiến theo ba đường hướng chính, khởi đầu ở phương Đông và ngày nay đạt đến đỉnh cao ở phương Tây. Dĩ nhiên, Tôi chỉ nói trong phạm vi hai hay ba ngàn năm gần đây. Ở châu Á, qua nhiều thế kỷ, chúng ta đã có sự rèn luyện chuyên sâu dành cho một số cá nhân được lựa chọn cẩn thận và sự bỏ mặc hoàn toàn đối với quần chúng. Châu Á, và chỉ châu Á, đã sản sinh những nhân vật xuất chúng mà ngay cả ngày nay vẫn là đối tượng của sự tôn kính phổ quát: Lão Tử, Khổng Tử, Đức Phật, Shri Krishna và Đức Christ. Các Ngài đã in dấu ấn của Các Ngài lên hàng triệu người và vẫn tiếp tục như vậy.

Then in Europe, we have had educational attention concentrated upon a few privileged groups, giving them a carefully planned cultural training but teaching only the necessary rudiments of learning to the masses. This produced periodically such important epochs of cultural expression as the Elizabethan period, the Renaissance, the poets and writers of the Victorian era and the poets and musicians of Germany, as well as the clusters of artists whose memory is perpetuated in the Italian School, the Dutch and the Spanish groups.

Sau đó, ở châu Âu, chúng ta đã có sự chú ý giáo dục tập trung vào một vài nhóm đặc quyền, trao cho họ một sự rèn luyện văn hóa được hoạch định cẩn thận nhưng chỉ dạy quần chúng những điều sơ đẳng cần thiết của học vấn. Điều này định kỳ tạo ra những thời đại quan trọng của biểu hiện văn hóa như thời kỳ Elizabeth, thời Phục Hưng, các thi sĩ và tác giả của kỷ nguyên Victoria, các thi sĩ và nhạc sĩ của Đức, cũng như các nhóm nghệ sĩ mà ký ức của họ được lưu truyền trong Trường phái Ý, các nhóm Hà Lan và Tây Ban Nha.

Finally, in the newer countries of the world, such as the United States, Australia and Canada, mass education was instituted and was largely copied throughout the entire civilised world. The general level of cultural attainment [80] became much lower; the level of mass information and competency considerably higher. The question now arises: What will be the next evolutionary development in the educational world?

Cuối cùng, tại các quốc gia mới hơn của thế giới, như Hoa Kỳ, Úc và Canada, giáo dục đại chúng đã được thiết lập và phần lớn được sao chép trên toàn thế giới văn minh. Mức độ thành tựu văn hóa chung [80] trở nên thấp hơn nhiều; mức độ thông tin và năng lực của đại chúng cao hơn đáng kể. Bây giờ câu hỏi nảy sinh: Sự phát triển tiến hóa kế tiếp trong thế giới giáo dục sẽ là gì?

Let us remember one important thing. What education can do along undesirable lines has been well demonstrated in Germany with its wrecking of idealism, its inculcation of wrong human relations and attitudes and its glorification of all that is most selfish, brutal and aggressive. Germany has proved that educational processes when properly organised and supervised, systematically planned and geared to an ideology, are potent in effect, especially if the child is taken young enough and if he is shielded from all contrary teaching for a long enough time. Let us remember at the same time that this demonstrated potency can work two ways and that what has been wrought out along wrong lines can be equally successful along right ones.

Chúng ta hãy nhớ một điều quan trọng. Điều giáo dục có thể làm theo những đường hướng không đáng mong muốn đã được chứng minh rõ ràng ở Đức, với việc phá hủy chủ nghĩa lý tưởng, gieo vào những mối quan hệ và thái độ sai lạc giữa người với người, và tôn vinh mọi điều ích kỷ, tàn bạo và hiếu chiến nhất. Đức đã chứng minh rằng các tiến trình giáo dục, khi được tổ chức và giám sát đúng mức, được hoạch định có hệ thống và gắn vào một hệ tư tưởng, có hiệu quả mạnh mẽ, nhất là nếu đứa trẻ được tiếp nhận đủ sớm và nếu y được che chắn khỏi mọi giáo huấn trái ngược trong một thời gian đủ dài. Đồng thời, chúng ta hãy nhớ rằng uy lực đã được chứng minh này có thể vận hành theo hai cách, và điều đã được thực hiện theo những đường hướng sai lạc cũng có thể thành công tương tự theo những đường hướng đúng đắn.

We need also to realise that we must do two things: We must place the emphasis educationally upon those who are under sixteen years of age (and the younger the better) and. secondly. that we must begin with what we have, even whilst recognising the limitations of the present systems. We must strengthen those aspects which are good and desirable; we must develop the new attitudes and techniques which will fit a child for complete living and so make him truly human—a creative, constructive member of the human family. The very best of all that is past must be preserved but should only be regarded as the foundation for a better system and a wiser approach to the goal of world citizenship.

Chúng ta cũng cần nhận ra rằng chúng ta phải làm hai điều: Chúng ta phải đặt trọng tâm giáo dục vào những người dưới mười sáu tuổi, và càng nhỏ càng tốt; thứ hai, chúng ta phải bắt đầu với những gì chúng ta đang có, dù vẫn nhận biết các giới hạn của các hệ thống hiện tại. Chúng ta phải củng cố những phương diện tốt đẹp và đáng mong muốn; chúng ta phải phát triển các thái độ và kỹ thuật mới sẽ chuẩn bị đứa trẻ cho đời sống trọn vẹn, và như thế làm cho y thật sự là con người, một thành viên sáng tạo, xây dựng của gia đình nhân loại. Điều tốt đẹp nhất của tất cả quá khứ phải được gìn giữ, nhưng chỉ nên được xem như nền tảng cho một hệ thống tốt hơn và một cách tiếp cận khôn ngoan hơn đối với mục tiêu công dân thế giới.

It might be of value at this point to define what education can be, if it is impulsed by true vision and made responsive to sensed world need and to the demands of the times.

Ở điểm này, có thể hữu ích nếu định nghĩa giáo dục có thể là gì, nếu nó được thúc đẩy bởi tầm nhìn chân chính và được làm cho đáp ứng với nhu cầu thế giới được cảm nhận cùng những đòi hỏi của thời đại.

Education is the training, intelligently given, which will enable the youth of the world to contact their environment with intelligence and sanity, and adapt themselves to the [81] existing conditions. This today is of prime importance and is one of the signposts in a world which has fallen to pieces.

Giáo dục là sự rèn luyện được trao một cách thông minh, giúp thanh niên thế giới tiếp xúc với môi trường của họ bằng trí tuệ và sự lành mạnh, và thích nghi với [81] các điều kiện hiện hữu. Ngày nay điều này có tầm quan trọng hàng đầu và là một trong những cột mốc chỉ đường trong một thế giới đã tan vỡ.

Education is a process whereby the child is equipped with the information which will enable him to act as a good citizen and perform the functions of a wise parent. It should take into consideration his inherent tendencies, his racial and national attributes, and then endeavour to add to these that knowledge which will lead him to work constructively in his particular world setting and prove himself a useful citizen. The general trend of his education will be more psychological than in the past and the information thus gained will be geared to his peculiar situation. All children have certain assets and should be taught how to use them; these they share with the whole of humanity, irrespective of race or nationality. Educators will, therefore, lay emphasis in the future upon:

Giáo dục là một tiến trình qua đó đứa trẻ được trang bị thông tin sẽ giúp y hành động như một công dân tốt và thực hiện các chức năng của một bậc cha mẹ khôn ngoan. Nó phải xét đến các khuynh hướng vốn có của y, các thuộc tính chủng tộc và quốc gia của y, rồi cố gắng thêm vào những điều ấy tri thức sẽ dẫn y đến việc làm việc một cách xây dựng trong bối cảnh thế giới riêng của y và chứng tỏ mình là một công dân hữu ích. Xu hướng chung của nền giáo dục dành cho y sẽ mang tính tâm lý nhiều hơn quá khứ, và thông tin thu được như thế sẽ được điều chỉnh theo hoàn cảnh đặc thù của y. Mọi trẻ em đều có một số tài sản và cần được dạy cách sử dụng chúng; những điều này chúng chia sẻ với toàn thể nhân loại, bất kể chủng tộc hay quốc tịch. Do đó, trong tương lai các nhà giáo dục sẽ nhấn mạnh vào:

1. A developing mental control of the emotional nature.

1. Sự phát triển kiểm soát trí tuệ đối với bản chất cảm xúc.

2. Vision or the capacity to see beyond what is, to what might be.

2. Tầm nhìn, hay khả năng thấy vượt khỏi cái đang là, đến cái có thể là.

3. Inherited, factual knowledge upon which it will be possible to superimpose the wisdom of the future.

3. Tri thức sự kiện kế thừa, trên đó có thể đặt chồng lên minh triết của tương lai.

4. Capacity wisely to handle relationships and to recognise and assume responsibility.

4. Khả năng xử lý các mối quan hệ một cách khôn ngoan và nhận biết cũng như đảm nhận trách nhiệm.

5. The power to use the mind in two ways:

5. Quyền năng sử dụng thể trí theo hai cách:

a. As the “commonsense” (using this word in its old connotation), analysing and synthesising the information conveyed by the five senses.

a. Như “lương tri”, dùng từ này theo hàm nghĩa cũ của nó, phân tích và tổng hợp thông tin được truyền bởi năm giác quan.

b. As a searchlight, penetrating into the world of ideas and of abstract truth.

b. Như một đèn pha, xuyên vào thế giới của các ý tưởng và chân lý trừu tượng.

Knowledge comes from two directions. It is the result of the intelligent use of the five senses and it is also developed from the attempt to seize upon and understand ideas. Both of these are implemented by curiosity and investigation. [82]

Tri thức đến từ hai hướng. Nó là kết quả của việc sử dụng thông minh năm giác quan, và cũng được phát triển từ nỗ lực nắm bắt và thấu hiểu các ý tưởng. Cả hai điều này được thực hiện nhờ tính hiếu kỳ và sự điều tra. [82]

Education should be of three kinds and all three are necessary to bring humanity to a needed point of development.

Giáo dục nên có ba loại, và cả ba đều cần thiết để đưa nhân loại đến một điểm phát triển cần thiết.

It is. first of all, a process of acquiring facts—past and present—and of then learning to infer and gather from this mass of information. gradually accumulated. that which can be of practical use in any given situation. This process involves the fundamentals of our present educational systems.

Trước hết, đó là một tiến trình thu nhận các sự kiện, quá khứ và hiện tại, rồi học cách suy luận và rút ra từ khối thông tin được tích lũy dần dần này điều có thể hữu dụng trong bất cứ tình huống nhất định nào. Tiến trình này bao hàm các nền tảng của các hệ thống giáo dục hiện nay của chúng ta.

It is, secondly, a process of learning wisdom as an outgrowth of knowledge and of grasping understandingly the meaning which lies behind the outer imparted facts. It is the power to apply knowledge in such a manner that sane living and an understanding point of view, plus an intelligent technique of conduct, are the natural results. This also involves training for specialised activities. based upon innate tendencies, talents or genius.

Thứ hai, đó là một tiến trình học minh triết như sự phát triển từ tri thức, và nắm bắt với sự thấu hiểu ý nghĩa nằm phía sau các sự kiện bên ngoài được truyền đạt. Đó là quyền năng áp dụng tri thức theo cách mà đời sống lành mạnh và một quan điểm thấu hiểu, cộng với một kỹ thuật hành xử thông minh, trở thành các kết quả tự nhiên. Điều này cũng bao hàm sự rèn luyện cho các hoạt động chuyên biệt, dựa trên các khuynh hướng bẩm sinh, tài năng hay thiên tài.

It is, finally, a process whereby unity or a sense of synthesis is cultivated. Young people in the future will be taught to think of themselves in relation to the group, to the family unit and to the nation in which their destiny has put them. They will also be taught to think in terms of world relationship and of their nation in relation to other nations. This covers training for citizenship, for parenthood, and for world understanding; it is basically psychological and should convey an understanding of humanity. When this type of training is given, we shall develop men and women who are both civilised and cultured and who will also possess the capacity to move forward (as life unfolds) into that world of meaning which underlies the world of outer phenomena and who will begin to view human happenings in terms of the deeper spiritual and universal values.

Cuối cùng, đó là một tiến trình qua đó sự hợp nhất hay ý thức tổng hợp được vun trồng. Trong tương lai, người trẻ sẽ được dạy suy nghĩ về chính mình trong mối liên hệ với nhóm, với đơn vị gia đình và với quốc gia mà định mệnh đã đặt họ vào. Họ cũng sẽ được dạy suy nghĩ theo các mối quan hệ thế giới và về quốc gia của họ trong mối liên hệ với các quốc gia khác. Điều này bao gồm sự rèn luyện cho tư cách công dân, cho vai trò làm cha mẹ, và cho sự thấu hiểu thế giới; về căn bản nó có tính tâm lý và phải truyền đạt một sự thấu hiểu về nhân loại. Khi loại rèn luyện này được trao, chúng ta sẽ phát triển những người nam và nữ vừa văn minh vừa có văn hóa, và cũng sở hữu khả năng tiến tới, khi đời sống khai mở, vào Thế giới của ý nghĩa nằm bên dưới thế giới của các hiện tượng bên ngoài, và họ sẽ bắt đầu nhìn các biến cố nhân loại theo các giá trị tinh thần và phổ quát sâu xa hơn.

Education should be the process whereby youth is taught to reason from cause to effect, to know the reason why certain actions are bound inevitably to produce certain results and why (given a certain emotional and mental equipment, plus an ascertained psychological rating) definite life trends [83] can be determined and certain professions and life careers provide the right setting for development and a useful and profitable field of experience. Some attempts along this line have been undertaken by certain colleges and schools in an effort to ascertain the psychological aptitudes of a boy or a girl for certain vocations but the whole effort is still amateurish in nature. When made more scientific it opens the door for training in the sciences; it gives significance and meaning to history, biography and learning and thus avoids the bare impartation of facts and the crude process of memory training which has been distinctive of past methods.

Giáo dục phải là tiến trình qua đó tuổi trẻ được dạy lý luận từ nguyên nhân đến kết quả, biết lý do tại sao một số hành động tất yếu phải tạo ra một số kết quả nhất định, và tại sao, khi có một trang bị cảm xúc và trí tuệ nào đó, cộng với một mức đánh giá tâm lý đã được xác định, các xu hướng đời sống rõ rệt [83] có thể được xác định, và một số nghề nghiệp cùng sự nghiệp đời sống cung cấp bối cảnh đúng đắn cho sự phát triển và một lĩnh vực kinh nghiệm hữu ích, có lợi. Một số nỗ lực theo hướng này đã được một số trường cao đẳng và trường học thực hiện nhằm xác định các năng khiếu tâm lý của một bé trai hay bé gái đối với một số nghề nghiệp, nhưng toàn bộ nỗ lực vẫn còn mang bản chất nghiệp dư. Khi được làm cho khoa học hơn, nó mở cửa cho sự rèn luyện trong các khoa học; nó đem lại thâm nghĩa và ý nghĩa cho lịch sử, tiểu sử và học vấn, nhờ đó tránh việc truyền đạt sự kiện trần trụi và tiến trình thô sơ của rèn luyện trí nhớ vốn là nét đặc trưng của các phương pháp quá khứ.

The new education will consider a child with due reference to his heredity, his social position, his national conditioning, his environment and his individual mental and emotional equipment and will seek to throw the entire world of effort open to him, pointing out that apparent barriers to progress are only spurs to renewed endeavour and thus seeking to “lead him out” (the true meaning of the word “education”) from any limiting condition and train him to think in terms of constructive world citizenship. Growth and still more growth will be emphasised.

Nền giáo dục mới sẽ xem xét đứa trẻ với sự tham chiếu thích đáng đến di truyền của y, vị trí xã hội của y, tác động quốc gia lên y, môi trường của y và trang bị trí tuệ cùng cảm xúc cá nhân của y, và sẽ tìm cách mở ra cho y toàn bộ thế giới nỗ lực, chỉ ra rằng các rào cản bề ngoài đối với tiến bộ chỉ là những thôi thúc cho nỗ lực được đổi mới, và như thế tìm cách “dẫn y ra”, nghĩa chân chính của từ “giáo dục”, khỏi bất cứ điều kiện giới hạn nào, đồng thời rèn luyện y suy nghĩ theo tinh thần công dân thế giới mang tính xây dựng. Sự tăng trưởng, và càng tăng trưởng hơn nữa, sẽ được nhấn mạnh.

The educator of the future will approach the problem of youth from the angle of the instinctual reaction of the children, their intellectual capacity and their intuitional potentiality. In infancy and in the earlier school grades, the development of right instinctual reactions will be watched and cultivated; in the later grades, in what is equivalent to the high schools or the secondary schools, the intellectual unfoldment and control of the mental processes will be emphasised, whilst in the colleges and universities the unfoldment of the intuition, the importance of ideals and ideas and the development of abstract thinking and perception will be fostered; this latter phase will be soundly based upon the previous sound intellectual foundation. These three factors—instinct, intellect and intuition—provide the keynotes for the three scholastic institutions through which every [84] young person will pass and through which, today, many thousands do pass.

Nhà giáo dục của tương lai sẽ tiếp cận vấn đề tuổi trẻ từ góc độ phản ứng bản năng của trẻ em, năng lực trí năng của chúng và tiềm năng trực giác của chúng. Trong thời thơ ấu và các lớp học đầu tiên, sự phát triển những phản ứng bản năng đúng đắn sẽ được quan sát và vun trồng; ở các lớp cao hơn, tương đương với trung học phổ thông hay trung học, sự khai mở trí năng và kiểm soát các tiến trình trí tuệ sẽ được nhấn mạnh; trong khi ở các trường cao đẳng và đại học, sự khai mở trực giác, tầm quan trọng của các lý tưởng và ý tưởng, cùng sự phát triển tư duy và tri giác trừu tượng sẽ được nuôi dưỡng; giai đoạn sau này sẽ được đặt nền vững chắc trên nền tảng trí năng lành mạnh trước đó. Ba yếu tố này, bản năng, trí năng và trực giác, cung cấp các chủ âm cho ba cơ sở học đường mà mọi [84] người trẻ sẽ đi qua và qua đó, ngày nay, nhiều ngàn người đang đi qua.

In the future, education will make a far wider use of psychology than heretofore. A trend in this direction is definitely to be seen. The nature—physical, vital, emotional and mental—of the boy or girl will be carefully investigated and his incoherent life purposes directed along right lines; he will be taught to recognise himself as the one who acts, who feels and who thinks. Thus the responsibility of the central “I,” or the occupant of the body will be taught. This will alter the entire present attitude of the youth of the world to their surroundings and foster, from the earliest days, the recognition of a part to be played and a responsibility to be assumed and that education is a method of preparation for that useful and interesting future.

Trong tương lai, giáo dục sẽ sử dụng tâm lý học rộng rãi hơn nhiều so với trước đây. Một xu hướng theo hướng này rõ ràng đang được thấy. Bản chất, hồng trần, sinh lực, cảm xúc và trí tuệ, của bé trai hay bé gái sẽ được khảo sát cẩn thận, và các mục đích đời sống thiếu mạch lạc của y sẽ được định hướng theo các đường lối đúng đắn; y sẽ được dạy nhận biết chính mình như người hành động, người cảm nhận và người suy nghĩ. Như thế trách nhiệm của cái “Tôi” trung tâm, hay cư dân của thể xác, sẽ được dạy. Điều này sẽ thay đổi toàn bộ thái độ hiện tại của tuổi trẻ thế giới đối với môi trường chung quanh và nuôi dưỡng, từ những ngày đầu tiên, sự nhận biết một vai trò phải đảm nhận, một trách nhiệm phải gánh vác, và rằng giáo dục là một phương pháp chuẩn bị cho tương lai hữu ích và thú vị ấy.

It, therefore, becomes increasingly apparent that the coming education could be defined in a new and broader sense as the Science of Right Human Relations and of Social Organisation. This gives a comparatively new purpose to any curriculum imparted and yet indicates that nothing hitherto included need be excluded, only a better motivation will be obvious and a nationalistic, selfish presentation avoided. If history is, for instance, presented on the basis of the conditioning ideas which have led humanity onward and not on the basis of aggressive wars and international or national thievery, then education will concern itself with the right perception and use of ideas, of their transformation into working ideals and their application as the will-to-good, the will-to-truth and the will-to-beauty. Thus a much needed alteration of humanity’s aims from our present competitive and materialistic objectives into those that will more fully express the Golden Rule will come about and right relations between individuals, groups, parties, nations and throughout the entire international world will be established.

Do đó, ngày càng hiển nhiên rằng nền giáo dục sắp đến có thể được định nghĩa theo một nghĩa mới và rộng hơn như Khoa Học về Những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người và về Tổ Chức Xã Hội. Điều này đem lại một mục đích tương đối mới cho bất cứ chương trình học nào được truyền đạt, nhưng vẫn cho thấy rằng không điều gì đã được bao gồm từ trước đến nay cần bị loại bỏ; chỉ có động cơ tốt hơn sẽ trở nên rõ ràng, và cách trình bày quốc gia chủ nghĩa, ích kỷ sẽ được tránh. Chẳng hạn, nếu lịch sử được trình bày trên nền tảng các ý tưởng tác động đã dẫn nhân loại tiến tới, chứ không trên nền tảng các cuộc chiến tranh xâm lược và sự trộm cướp quốc tế hay quốc gia, thì giáo dục sẽ quan tâm đến sự tri giác đúng đắn và việc sử dụng các ý tưởng, đến sự chuyển đổi chúng thành các lý tưởng hoạt động và sự áp dụng chúng như Ý Chí-hướng Thiện, ý chí hướng chân lý và ý chí hướng cái đẹp. Nhờ vậy, một sự thay đổi rất cần thiết trong các mục tiêu của nhân loại, từ các mục tiêu cạnh tranh và duy vật hiện nay sang những mục tiêu sẽ biểu hiện đầy đủ hơn Quy Luật Vàng, sẽ diễn ra, và những mối quan hệ đúng đắn giữa các cá nhân, nhóm, đảng phái, quốc gia và trên toàn bộ thế giới quốc tế sẽ được thiết lập.

Increasingly, education should be concerned with the [85] wholes of life as well as with the details of daily individual living. The child, as an individual, will be developed and equipped, trained and motivated and taught then his responsibilities to the whole and the value of the contribution which he can and must make to the group.

Ngày càng nhiều, giáo dục phải quan tâm đến [85] các tổng thể của đời sống cũng như các chi tiết của đời sống cá nhân hằng ngày. Đứa trẻ, với tư cách một cá nhân, sẽ được phát triển và trang bị, rèn luyện và tạo động lực, rồi được dạy các trách nhiệm của y đối với toàn thể và giá trị của sự đóng góp mà y có thể và phải thực hiện cho nhóm.

It is perhaps a platitude to say that education should occupy itself necessarily with the development of the reasoning powers of the child and not primarily—as is now usually the case—with the training of the memory and the parrot-like recording of facts and dates and uncorrelated and ill-digested items of information. The history of the growth of man’s perceptive faculties under differing national and racial conditions is of profound interest. The outstanding figures of history, literature and art and of religion will surely be studied from the angle of their effort and their influence for good or evil upon their period; the quality and purpose of their leadership will be considered. Thus the child will absorb a vast amount of historical information, of creative activity and of idealism and philosophy not only with the maximum of ease but with permanent effect upon his character.

Có lẽ là một điều sáo mòn khi nói rằng giáo dục tất yếu phải bận tâm đến sự phát triển các quyền năng lý luận của đứa trẻ, chứ không chủ yếu, như hiện nay thường là trường hợp, đến việc rèn luyện trí nhớ và sự ghi chép như con vẹt các sự kiện, niên đại cùng các mẩu thông tin rời rạc, chưa được tương quan và tiêu hóa kém. Lịch sử về sự tăng trưởng các năng lực tri giác của con người dưới những điều kiện quốc gia và chủng tộc khác nhau có mối quan tâm sâu sắc. Các nhân vật nổi bật của lịch sử, văn học, nghệ thuật và tôn giáo chắc chắn sẽ được nghiên cứu từ góc độ nỗ lực của họ và ảnh hưởng tốt hay xấu của họ lên thời kỳ của họ; phẩm tính và mục đích của sự lãnh đạo của họ sẽ được xem xét. Như thế đứa trẻ sẽ hấp thu một lượng lớn thông tin lịch sử, hoạt động sáng tạo, chủ nghĩa lý tưởng và triết học, không chỉ với mức dễ dàng tối đa mà còn với hiệu quả lâu dài lên tính cách của y.

The continuity of effort, the effects upon civilisation of ancient tradition, good and evil happenings and the interplay of varying cultural aspects of civilisation will be brought to his attention and the dry-as-dust information, dates and names will fall into the discard. All branches of human knowledge could, in this way, become alive and reach a new level of constructive usefulness. There is already a definite tendency in this direction and it is good and sound. The past of humanity as the foundation for present happenings and the present as the determining factor for the future, will increasingly be recognised and thus great and needed changes will be brought about in human psychology as a whole.

Sự liên tục của nỗ lực, các hiệu quả của truyền thống cổ xưa lên văn minh, những biến cố tốt và xấu, và sự tương tác của các phương diện văn hóa khác nhau của văn minh sẽ được đưa vào sự chú ý của y, còn những thông tin khô như bụi, niên đại và tên gọi sẽ bị loại bỏ. Theo cách này, mọi ngành tri thức của con người có thể trở nên sống động và đạt đến một mức độ hữu dụng xây dựng mới. Đã có một xu hướng rõ rệt theo hướng này, và điều đó là tốt đẹp, lành mạnh. Quá khứ của nhân loại như nền tảng cho các biến cố hiện tại, và hiện tại như yếu tố quyết định tương lai, sẽ ngày càng được công nhận, và như thế những thay đổi lớn lao, cần thiết sẽ được tạo ra trong tâm lý nhân loại nói chung.

The creative aptitude of the human being should also, under the new era, receive fuller attention; the child will be spurred on to individual effort suited to his temperament [86] and capacity. Thus he will be induced to contribute what he can of beauty to the world and of right thought to the sumtotal of human thinking; he will be encouraged to investigate and the world of science will open up before him. Behind all these applied incentives, the motives of goodwill and right human relations will be found.

Năng khiếu sáng tạo của con người cũng phải, dưới kỷ nguyên mới, nhận được sự chú ý đầy đủ hơn; đứa trẻ sẽ được thúc đẩy hướng tới nỗ lực cá nhân phù hợp với khí chất [86] và năng lực của y. Như thế y sẽ được dẫn dắt để đóng góp những gì y có thể về cái đẹp cho thế giới và về tư tưởng đúng đắn cho tổng số tư duy của nhân loại; y sẽ được khuyến khích điều tra, và thế giới khoa học sẽ mở ra trước y. Phía sau tất cả những thôi thúc được áp dụng này, sẽ thấy các động cơ của thiện chí và những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

Finally, education should surely present the hypothesis of the soul in man as the interior factor which produces the good, the true and the beautiful. Creative expression and humanitarian effort will, therefore, receive a logical basis. This will not be done through a theological or doctrinal presentation, as is today the case, but as presenting a problem for investigation and as an effort to answer the question: What is man; what is his intrinsic purpose in the scheme of things? The livingness of the influence and the proclaimed purpose behind the constant appearance of spiritual, cultural and artistic world leaders down the ages will be studied and their lives subjected to research, both historical and psychological. This will open up before the youth of the world the entire problem of leadership and of motive. Education will, therefore, be given in the form of human interest, human achievement and human possibility. This will be done in such a manner that the content of the student’s mind will not only be enriched with historical and literary facts but his imagination will be fired, and his ambition and aspiration evoked along true and right lines; the world of past human effort will be presented to him in a truer perspective and the future thrown open to him also in an appeal for his individual effort and personal contribution.

Sau cùng, giáo dục chắc chắn nên trình bày giả thuyết về linh hồn trong con người như yếu tố nội tại tạo ra điều thiện, điều chân và điều mỹ. Do đó, sự biểu đạt sáng tạo và nỗ lực nhân đạo sẽ nhận được một nền tảng hợp lý. Điều này sẽ không được thực hiện qua một sự trình bày thần học hay giáo điều, như trường hợp ngày nay, mà như việc nêu ra một vấn đề để khảo cứu và như một nỗ lực trả lời câu hỏi: Con người là gì; mục đích nội tại của y trong hệ thống vạn vật là gì? Tính sống động của ảnh hưởng và mục đích được tuyên bố phía sau sự xuất hiện liên tục của các nhà lãnh đạo tinh thần, văn hóa và nghệ thuật trên thế giới qua các thời đại sẽ được nghiên cứu, và đời sống của họ sẽ được khảo cứu cả về phương diện lịch sử lẫn tâm lý. Điều này sẽ mở ra trước thanh niên thế giới toàn bộ vấn đề về lãnh đạo và động cơ. Do đó, giáo dục sẽ được trao truyền dưới hình thức quan tâm của con người, thành tựu của con người và khả năng của con người. Điều này sẽ được thực hiện theo cách sao cho nội dung thể trí của học sinh không chỉ được làm phong phú bằng các sự kiện lịch sử và văn học, mà sự tưởng tượng của y cũng được khơi cháy, và hoài bão cùng khát vọng của y được gợi lên theo những đường hướng chân thật và đúng đắn; thế giới của nỗ lực nhân loại trong quá khứ sẽ được trình bày cho y trong một viễn cảnh chân thật hơn, và tương lai cũng sẽ được mở ra trước y như một lời kêu gọi đến nỗ lực cá nhân và sự đóng góp riêng của y.

What I have written above in no way implies an indictment of past methods except in so far that the world today itself presents an indictment; it does not either constitute an impractical vision or a mystical hope, based on wishful thinking. It concerns an attitude to life and the future which many thousands of people hold today, and among them [87] many, many educators in every country. The errors and mistakes of the past techniques are obvious but there is no need to waste time in emphasising them or in piling up instances. What is needed is a realisation of the immediate opportunity, plus the recognition that the required shift in objectives and change in methods will take much time. We shall have to train our teachers differently and much time will be lost as we grope for the new and better ways, develop the new textbooks and find the men and women who can be impressed with the new vision and who will work for the new civilisation. I have sought only to emphasise principles and I do this with the recognition that many of them are by no means new but that they require new emphasis. I have endeavoured to show that now is the day of opportunity, for everything has to be built up again, for everything has been destroyed in the greater part of the world. The war has demonstrated that we have not taught aright. A better educational system should, therefore, be worked out which will present the possibilities of human living in such a manner that barriers will be broken down, prejudices removed and a training given to the developing child which will enable him, when grownup, to live with other men in harmony and goodwill. This can be done, if patience and understanding are developed and if educators realise that “where there is no vision, the people perish.”

Những gì Tôi đã viết ở trên hoàn toàn không hàm ý một sự kết án các phương pháp trong quá khứ, ngoại trừ trong chừng mực chính thế giới ngày nay tự nó đưa ra sự kết án; nó cũng không tạo thành một tầm nhìn phi thực tiễn hay một hy vọng thần bí dựa trên tư duy mong cầu. Nó liên quan đến một thái độ đối với đời sống và tương lai mà ngày nay nhiều ngàn người đang nắm giữ, và trong số họ [87] có rất, rất nhiều nhà giáo dục ở mọi quốc gia. Những sai lầm và lỗi lầm của các kỹ thuật quá khứ là hiển nhiên, nhưng không cần phí thời gian nhấn mạnh chúng hay chồng chất thêm các ví dụ. Điều cần thiết là sự nhận biết về cơ hội trước mắt, cộng với sự công nhận rằng sự chuyển đổi cần thiết trong các mục tiêu và sự thay đổi trong các phương pháp sẽ mất nhiều thời gian. Chúng ta sẽ phải đào tạo các giáo viên của mình theo một cách khác, và nhiều thời gian sẽ mất đi khi chúng ta dò dẫm tìm những phương cách mới và tốt đẹp hơn, phát triển những sách giáo khoa mới, và tìm những người nam và nữ có thể được gây ấn tượng bởi tầm nhìn mới và sẽ làm việc cho nền văn minh mới. Tôi chỉ tìm cách nhấn mạnh các nguyên lý, và Tôi làm điều này với sự công nhận rằng nhiều nguyên lý trong số đó hoàn toàn không mới, nhưng chúng cần được nhấn mạnh theo cách mới. Tôi đã cố gắng cho thấy rằng hiện nay là ngày của cơ hội, vì mọi sự phải được xây dựng lại, bởi mọi sự đã bị phá hủy trong phần lớn thế giới. Chiến tranh đã chứng minh rằng chúng ta đã không dạy dỗ đúng đắn. Do đó, một hệ thống giáo dục tốt đẹp hơn cần được hoạch định, hệ thống ấy sẽ trình bày những khả năng của đời sống con người theo cách sao cho các rào cản sẽ bị phá vỡ, các định kiến được loại bỏ, và một sự đào tạo được trao cho đứa trẻ đang phát triển, giúp y khi trưởng thành có thể sống với những người khác trong sự hài hòa và thiện chí. Điều này có thể được thực hiện nếu sự kiên nhẫn và thấu hiểu được phát triển, và nếu các nhà giáo dục nhận ra rằng “nơi nào không có tầm nhìn, dân chúng sẽ diệt vong.”

An international system of education, developed in joint conference by broadminded teachers and educational authorities in every country, is today a crying need and would provide a major asset in preserving world peace. Steps towards this are already being taken and today groups of educators are getting together and discussing the formation of a better system which will guarantee that the children of the different nations (beginning with the millions of children now demanding education) will be taught truth, without bias or prejudice. World democracy will take form when men everywhere are regarded in reality as equal; when boys [88] and girls are taught that it does not matter whether a man is an Asiatic, an American, a European, British, a Jew or a Gentile but only that each has an historical background and history which enables him to contribute something to the good of the whole, and that the major requirement is an attitude of goodwill and a constant effort to foster right human relations. World Unity will be a fact when the children of the world are taught that religious differences are largely a matter of birth; that if a man is born in Italy, the probability is that he will be a Roman Catholic; if he is born a Jew, he will follow the Jewish teaching; if born in Asia, he may be a Mohammedan, a Buddhist, or belong to one of the Hindu sects; if born in other countries, he may be a Protestant and so on. He will learn that the religious differences are largely the result of man made quarrels over human interpretations of truth. Thus gradually, our quarrels and differences will be offset and the idea of the One Humanity will take their place.

Một hệ thống giáo dục quốc tế, được phát triển trong hội nghị chung bởi các giáo viên và nhà chức trách giáo dục có đầu óc rộng mở ở mọi quốc gia, ngày nay là một nhu cầu cấp thiết và sẽ cung cấp một tài sản lớn trong việc gìn giữ hòa bình thế giới. Những bước tiến hướng tới điều này đã và đang được thực hiện, và ngày nay các nhóm nhà giáo dục đang cùng nhau thảo luận về việc hình thành một hệ thống tốt đẹp hơn, bảo đảm rằng trẻ em của các quốc gia khác nhau, bắt đầu với hàng triệu trẻ em hiện đang đòi hỏi giáo dục, sẽ được dạy chân lý, không thiên lệch hay định kiến. Nền dân chủ thế giới sẽ thành hình khi con người ở khắp nơi thực sự được xem là bình đẳng; khi các bé trai [88] và bé gái được dạy rằng việc một người là người châu Á, người Mỹ, người châu Âu, người Anh, người Do Thái hay người không phải Do Thái không quan trọng, mà chỉ quan trọng rằng mỗi người đều có một bối cảnh lịch sử và một lịch sử giúp y đóng góp điều gì đó cho lợi ích của toàn thể, và rằng yêu cầu chính yếu là một thái độ thiện chí cùng nỗ lực liên tục nhằm nuôi dưỡng những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. Sự Thống Nhất Thế Giới sẽ là một sự kiện khi trẻ em thế giới được dạy rằng những khác biệt tôn giáo phần lớn là vấn đề sinh ra ở đâu; rằng nếu một người sinh ra ở Ý, khả năng là y sẽ là người Công giáo La Mã; nếu y sinh ra là người Do Thái, y sẽ theo giáo huấn Do Thái; nếu sinh ra ở châu Á, y có thể là người Hồi giáo, Phật tử, hoặc thuộc một trong các giáo phái Ấn giáo; nếu sinh ra ở các quốc gia khác, y có thể là người Tin Lành, vân vân. Y sẽ học rằng những khác biệt tôn giáo phần lớn là kết quả của các cuộc tranh cãi do con người tạo ra quanh những diễn giải của con người về chân lý. Như vậy, dần dần, các cuộc tranh cãi và khác biệt của chúng ta sẽ được hóa giải, và ý tưởng về Nhân Loại Duy Nhất sẽ thay thế chúng.

Much greater care will have to be given in picking and training the teachers of the future. Their mental attainments and their knowledge of their particular subject will be of importance, but more important still will be the need for them to be free from prejudice and to see all men as members of a great family. The educator of the future will need to be more of a trained psychologist than he is today. Besides imparting academic knowledge, he will realise that his major task is to evoke out of his class of students a real sense of responsibility; no matter what he has to teach—history, geography, mathematics, languages, science in its various branches or philosophy—he will relate it all to the Science of Right Human Relations and try to give a truer perspective than in the past upon social organisation.

Cần phải dành sự chăm sóc lớn hơn nhiều trong việc chọn lựa và đào tạo các giáo viên của tương lai. Những thành tựu trí tuệ của họ và kiến thức của họ về môn học chuyên biệt sẽ quan trọng, nhưng còn quan trọng hơn nữa là nhu cầu họ phải thoát khỏi định kiến và thấy mọi người như các thành viên của một gia đình lớn. Nhà giáo dục của tương lai sẽ cần là một nhà tâm lý học được đào luyện nhiều hơn so với ngày nay. Ngoài việc truyền đạt kiến thức học thuật, y sẽ nhận ra rằng nhiệm vụ chính yếu của y là gợi lên từ lớp học sinh của mình một ý thức thực sự về trách nhiệm; bất kể y phải dạy điều gì—lịch sử, địa lý, toán học, ngôn ngữ, khoa học trong các ngành khác nhau hay triết học—y sẽ liên hệ tất cả với Khoa Học về Những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người và cố gắng trao một viễn cảnh chân thật hơn so với quá khứ về tổ chức xã hội.

When the young people of the future—under the proposed application of principles—are civilised, cultured and responsive to world citizenship, we shall have a world of men awakened, creative and possessing a true sense of values [89] and a sound and constructive outlook on world affairs. It will take a long time to bring this about, but it is not impossible as history itself has proved.

Khi những người trẻ của tương lai—dưới sự áp dụng được đề xuất của các nguyên lý—trở nên văn minh, có văn hóa và đáp ứng với quyền công dân thế giới, chúng ta sẽ có một thế giới gồm những con người đã thức tỉnh, sáng tạo và sở hữu một ý thức chân thật về các giá trị [89] cùng một quan điểm lành mạnh và xây dựng về các sự vụ thế giới. Sẽ cần một thời gian dài để đem điều này thành hiện thực, nhưng nó không phải là bất khả, như chính lịch sử đã chứng minh.

It will be only common sense, however, to realise that this integration is not possible for every student passing through the hands of our teachers. All, however, no matter what their initial capacity, can be trained in the Science of Right Human Relations and thus respond to the major objective of the coming educational systems. Indications of this can be seen on every hand but as yet the emphasis is not laid on it when training teachers or influencing parents. Much, very much, has been done by enlightened groups of men in all lands and this they have done whilst studying the requirements for citizenship, whilst undertaking research work connected with correct social relations (communal, national and international) and through the many organisations which are trying to bring to the mass of human beings a sense of responsibility for human happiness and human welfare. Nevertheless, the real work along these lines should be started in infancy so that the consciousness of the child (so easily directed) can from its earliest days assume an unselfish attitude towards his associates. It can be started very simply if the parents so desire; it can be carried forward progressively if parents and teachers demonstrate in their own lives what they teach. Finally the time will come, under these conditions, when in late adolescence a crisis, needed and planned, is precipitated in the young person’s life, and he will then stabilise himself in the particular manner in which destiny ordains that he shall fulfil his task of right relationship through the means of vocational service.

Tuy nhiên, chỉ là lẽ thường khi nhận ra rằng sự tích hợp này không thể có đối với mọi học sinh đi qua tay các giáo viên của chúng ta. Tuy nhiên, tất cả, bất kể năng lực ban đầu của họ là gì, đều có thể được đào tạo trong Khoa Học về Những Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người và do đó đáp ứng với mục tiêu chính yếu của các hệ thống giáo dục sắp đến. Các dấu hiệu của điều này có thể thấy ở mọi nơi, nhưng cho đến nay sự nhấn mạnh vẫn chưa được đặt vào đó khi đào tạo giáo viên hay tác động đến cha mẹ. Nhiều, rất nhiều điều đã được thực hiện bởi các nhóm người giác ngộ ở mọi xứ sở, và họ đã làm điều này trong khi nghiên cứu các yêu cầu đối với quyền công dân, trong khi đảm nhiệm công việc khảo cứu liên quan đến các mối quan hệ xã hội đúng đắn, cộng đồng, quốc gia và quốc tế, và qua nhiều tổ chức đang cố gắng đem đến cho đại chúng nhân loại một ý thức trách nhiệm đối với hạnh phúc và phúc lợi của con người. Tuy nhiên, công việc thực sự theo các đường hướng này nên bắt đầu từ thời thơ ấu, để tâm thức của đứa trẻ, vốn rất dễ được định hướng, ngay từ những ngày đầu tiên có thể nhận lấy một thái độ không ích kỷ đối với các bạn đồng hành của y. Điều đó có thể bắt đầu rất đơn giản nếu cha mẹ mong muốn như vậy; nó có thể được tiến hành dần dần nếu cha mẹ và giáo viên chứng minh trong đời sống riêng của họ điều họ dạy. Sau cùng, dưới những điều kiện này, thời gian sẽ đến khi, vào cuối tuổi thiếu niên, một cuộc khủng hoảng cần thiết và được hoạch định được ngưng tụ trong đời sống của người trẻ, và bấy giờ y sẽ tự ổn định mình theo cách đặc thù mà định mệnh chỉ định để y hoàn thành nhiệm vụ của mình về mối quan hệ đúng đắn thông qua phương tiện của phụng sự theo thiên hướng nghề nghiệp.

It is bridging work which has now to be done—bridging between what is today and what can be in the future. If, during the next 150 years, we develop this technique of bridging the many cleavages found in the human family and in offsetting the racial hatreds and the separative attitudes of nations and people, we shall have succeeded in implementing [90] a world in which war will be impossible and humanity will be realising itself as one human family and not as a fighting aggregate of many nations and people, competitively engaged in getting the best of each other and successfully fostering prejudices and hatred. This has, as we have seen, been the history of the past. Man has been developed from an isolated animal, prompted only by the instincts of self -preservation, eating, and mating, through the stages of family life, tribal life and national life to the point where today a still broader ideal is grasped by him—international unity or the smooth functioning of the One Humanity. This growing idealism is fighting its way into the forefront of the human consciousness in spite of all separative enmities. It is largely responsible for the present chaos and for the banding together of the United Nations. It has produced the conflicting ideologies which are seeking world expression; it has produced the dramatic emergence of national saviours (so-called), world prophets and world workers, idealists, opportunists, dictators, investigators and humanitarians. These conflicting idealisms are a wholesome sign, whether we agree with them or not. They are definitely exploiting the human demand—urgent and right—for better conditions, for more light and understanding, for greater cooperation, for security and peace and plenty in the place of terror, fear and starvation.

Công việc bắt cầu là điều hiện nay phải được thực hiện—bắt cầu giữa điều đang là hôm nay và điều có thể là trong tương lai. Nếu trong 150 năm tới, chúng ta phát triển kỹ thuật bắt cầu qua nhiều rạn nứt được tìm thấy trong gia đình nhân loại, và trong việc hóa giải những hận thù chủng tộc cùng thái độ chia rẽ của các quốc gia và các dân tộc, chúng ta sẽ thành công trong việc thực hiện [90] một thế giới trong đó chiến tranh sẽ là điều bất khả, và nhân loại sẽ nhận ra chính mình như một gia đình nhân loại duy nhất, chứ không phải như một tập hợp đấu tranh gồm nhiều quốc gia và dân tộc, cạnh tranh với nhau để giành phần hơn và nuôi dưỡng thành công các định kiến và hận thù. Như chúng ta đã thấy, đây đã là lịch sử của quá khứ. Con người đã được phát triển từ một con vật cô lập, chỉ bị thúc đẩy bởi các bản năng tự bảo tồn, ăn uống và giao phối, qua các giai đoạn của đời sống gia đình, đời sống bộ tộc và đời sống quốc gia, đến điểm mà ngày nay một lý tưởng còn rộng lớn hơn được y nắm bắt—sự thống nhất quốc tế hay sự vận hành thông suốt của Nhân Loại Duy Nhất. Chủ nghĩa lý tưởng đang lớn mạnh này đang tự mở đường tiến lên hàng đầu trong tâm thức nhân loại, bất chấp mọi thù nghịch chia rẽ. Nó chịu trách nhiệm phần lớn cho tình trạng hỗn loạn hiện tại và cho sự liên kết của Liên Hiệp Quốc. Nó đã tạo ra các hệ tư tưởng xung đột đang tìm cách biểu đạt trên thế giới; nó đã tạo ra sự xuất hiện đầy kịch tính của những vị cứu tinh quốc gia, gọi là như vậy, các nhà tiên tri thế giới và những người hoạt động thế giới, các nhà lý tưởng, những kẻ cơ hội, các nhà độc tài, các nhà khảo cứu và những người nhân đạo. Những chủ nghĩa lý tưởng xung đột này là một dấu hiệu lành mạnh, dù chúng ta có đồng ý với chúng hay không. Chúng chắc chắn đang khai thác nhu cầu của con người—khẩn thiết và đúng đắn—về những điều kiện tốt đẹp hơn, về nhiều ánh sáng và sự thấu hiểu hơn, về sự hợp tác lớn hơn, về an ninh, hòa bình và sung túc thay cho kinh hoàng, sợ hãi và đói khát.

It is difficult for modern man to conceive of a time when there will be no racial, national or separative religious consciousness present in human thinking. It was equally difficult for prehistoric man to conceive of a time when there would be national thinking and this is a good thing for us to bear in mind. The time when humanity will be able to think in universal terms still lies far ahead but the fact that we can speak of it, desire it and plan for it is surely the guarantee that it is not impossible. Humanity has always progressed from stage to stage of enlightenment and from glory to glory. We are today on our way to a far better civilisation [91] than the world has ever known and towards conditions which will ensure a much happier humanity and which will see the end of national differences, of class distinctions (whether based on an hereditary or a financial status) and which will ensure a fuller and richer life for everyone.

Thật khó cho con người hiện đại quan niệm về một thời kỳ khi trong tư tưởng nhân loại sẽ không còn hiện diện tâm thức chủng tộc, quốc gia hay tôn giáo chia rẽ. Cũng khó như vậy đối với con người tiền sử khi quan niệm về một thời kỳ sẽ có tư tưởng quốc gia, và đây là một điều tốt để chúng ta ghi nhớ. Thời kỳ khi nhân loại có thể tư duy bằng những thuật ngữ phổ quát vẫn còn nằm rất xa phía trước, nhưng sự kiện rằng chúng ta có thể nói về nó, mong muốn nó và hoạch định cho nó chắc chắn là bảo đảm rằng nó không phải là điều bất khả. Nhân loại luôn tiến bộ từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của giác ngộ và từ vinh quang này đến vinh quang khác. Ngày nay chúng ta đang trên đường đi tới một nền văn minh tốt đẹp hơn nhiều [91] so với bất cứ nền văn minh nào thế giới từng biết, và hướng tới những điều kiện sẽ bảo đảm một nhân loại hạnh phúc hơn nhiều, sẽ chứng kiến sự kết thúc của các khác biệt quốc gia, của các phân biệt giai cấp, dù dựa trên địa vị thừa kế hay tài chính, và sẽ bảo đảm một đời sống đầy đủ và phong phú hơn cho mọi người.

It will be obvious that very many decades must elapse before such a state of affairs will be actively present—but it will be decades and not centuries, if humanity can learn the lessons of war and if the reactionary and the conservative peoples in every nation can be prevented from swinging civilisation back on to the bad old lines. But a beginning can immediately be made. Simplicity should be our watchword for it is simplicity which will kill our old materialistic way of living. Cooperative goodwill is surely the first idea to be presented to the masses and taught in our schools, thereby guaranteeing the new and better civilisation. Loving understanding, intelligently applied, should be the hallmark of the cultured and wiser groups, plus effort on their part to relate the world of meaning to the world of outer efforts —for the benefit of the masses. World Citizenship as an expression of both goodwill and understanding should be the goal of the enlightened everywhere and the hallmark of the spiritual man, and in these three, you have right relations established between education, religion and politics.

Hiển nhiên là rất nhiều thập niên phải trôi qua trước khi một tình trạng sự việc như thế có mặt một cách hoạt động—nhưng sẽ là các thập niên chứ không phải các thế kỷ, nếu nhân loại có thể học các bài học của chiến tranh, và nếu những người phản động cùng bảo thủ trong mọi quốc gia có thể bị ngăn không cho kéo nền văn minh trở lại các đường lối cũ tồi tệ. Nhưng một khởi đầu có thể được thực hiện ngay lập tức. Sự giản dị nên là khẩu hiệu của chúng ta, vì chính sự giản dị sẽ giết chết lối sống duy vật cũ của chúng ta. Thiện chí hợp tác chắc chắn là ý tưởng đầu tiên cần được trình bày cho quần chúng và được dạy trong trường học của chúng ta, nhờ đó bảo đảm nền văn minh mới và tốt đẹp hơn. Sự thấu hiểu thương yêu, được áp dụng một cách thông minh, nên là dấu hiệu của các nhóm có văn hóa và minh triết hơn, cộng với nỗ lực của họ nhằm liên hệ Thế giới của ý nghĩa với thế giới của những nỗ lực bên ngoài—vì lợi ích của quần chúng. Quyền Công Dân Thế Giới, như một biểu hiện của cả thiện chí lẫn sự thấu hiểu, nên là mục tiêu của những người giác ngộ ở khắp nơi và là dấu hiệu của con người tinh thần; và trong ba điều này, các bạn có những mối quan hệ đúng đắn được thiết lập giữa giáo dục, tôn giáo và chính trị.

All the work being done now is definitely transitional work and therefore most difficult. It infers a bridging process between the old and the new, and would present almost insuperable difficulties were it not for the fact that the coming two generations will bring in those types of egos who are competent to deal with the problem. Upon this fact those of you who are concerned with the educational system and situation, and who are bewildered by the presented vision and by the task of approximating the cherished possibilities, must rest back with confidence. Clear thinking, much love and a sense of true compromise (note this phrase) will do much to lay the needed foundations and keep the door of the [92] future wide open. A balancing process is going forward in this interim period, and to it the modern educator should pay due attention.

Tất cả công việc đang được thực hiện hiện nay chắc chắn là công việc chuyển tiếp, và do đó cực kỳ khó khăn. Nó hàm ý một tiến trình bắt cầu giữa cái cũ và cái mới, và sẽ đưa ra những khó khăn hầu như không thể vượt qua nếu không vì sự kiện rằng hai thế hệ sắp đến sẽ mang vào những loại chân ngã có năng lực đề cập đến vấn đề này. Những ai trong các bạn quan tâm đến hệ thống và tình hình giáo dục, và đang bối rối trước tầm nhìn được trình bày cũng như trước nhiệm vụ làm cho các khả năng được yêu quý trở nên gần đúng với hiện thực, phải dựa vào sự kiện này với niềm tin tưởng. Tư duy rõ ràng, nhiều tình thương và một ý thức về sự thỏa hiệp chân thật, hãy lưu ý cụm từ này, sẽ làm được nhiều điều để đặt các nền tảng cần thiết và giữ cho cánh cửa của [92] tương lai rộng mở. Một tiến trình cân bằng đang diễn ra trong giai đoạn chuyển tiếp này, và nhà giáo dục hiện đại nên dành sự chú ý thích đáng cho nó.

I can perhaps indicate the nature of this process. I have stated here and elsewhere that the soul anchors itself in the body at two points:

Có lẽ Tôi có thể chỉ ra bản chất của tiến trình này. Ở đây và ở nơi khác, Tôi đã nói rằng linh hồn neo chính nó vào thân thể ở hai điểm:

1. There is a thread of energy, which we call the life or spirit aspect, anchored in the heart. It uses the blood stream, as is well known, as its distributing agency and, through the medium of the blood, life-energy carries regenerating power and coordinating energy to all the physical organisms and keeps the body “whole.”

1. Có một sợi dây năng lượng mà chúng ta gọi là phương diện sự sống hay tinh thần, được neo trong tim. Như đã biết rõ, nó dùng dòng máu làm tác nhân phân phối của mình, và qua trung gian của máu, năng lượng sự sống mang quyền năng tái sinh và năng lượng phối hợp đến mọi cơ quan hồng trần và giữ cho thân thể được “toàn vẹn.”

2. There is a thread of energy, which we call the consciousness aspect or the faculty of soul knowledge, anchored in the centre of the head. It controls that response mechanism which we call the brain, and through its medium it directs activity and induces awareness throughout the body by means of the nervous system.

2. Có một sợi dây năng lượng mà chúng ta gọi là phương diện tâm thức hay năng lực tri thức của linh hồn, được neo trong trung tâm đầu. Nó kiểm soát bộ máy đáp ứng mà chúng ta gọi là bộ não, và qua trung gian của bộ não, nó chỉ đạo hoạt động và khơi dẫn sự nhận biết khắp thân thể bằng phương tiện hệ thần kinh.

These two energy factors, which are recognised by human beings as life and knowledge, or as living energy and intelligence, are the two poles of a child’s being. The task ahead of him is to develop consciously the middle or balancing aspect which is love or group relationship, in order that knowledge should be subordinated to the group need and interests, and that living energy should be turned consciously and with intention into the group whole. In doing this a true balance will be achieved and it will be brought about by the recognition that the Way of Service is a scientific technique for the achieving of this balance. Educators therefore have three things to bear in mind during this present period of transition: [93]

Hai yếu tố năng lượng này, được con người công nhận là sự sống và tri thức, hay là năng lượng sống và trí tuệ, là hai cực trong hiện tồn của một đứa trẻ. Nhiệm vụ trước mắt y là phát triển một cách có ý thức phương diện trung gian hay quân bình, vốn là tình thương hay mối quan hệ nhóm, để tri thức được đặt dưới nhu cầu và lợi ích của nhóm, và để năng lượng sống được chuyển hướng một cách có ý thức và có chủ đích vào toàn thể nhóm. Khi làm điều này, một sự quân bình chân thật sẽ đạt được, và nó sẽ được mang lại bởi sự công nhận rằng Con Đường Phụng Sự là một kỹ thuật khoa học để đạt được sự quân bình này. Do đó, các nhà giáo dục có ba điều cần ghi nhớ trong giai đoạn chuyển tiếp hiện tại này: [93]

1. To reorient the knowledge, the consciousness aspect or the sense of awareness in the child in such a manner that he realises from infancy that all that he has been taught or is being taught is with the view to the good of others more than of himself. He will therefore be trained to be definitely forward looking. Information as to the past history of the race will be given to him from the angle of the racial growth in consciousness and not so much from the angle of the facts of material or aggressive achievement as is now the case. As the past, in the child’s mind, is correlated with the present, his capacity to correlate, unify and bridge, in the different aspects of his life and on various planes, will be developed.

1. Tái định hướng tri thức, phương diện tâm thức hay ý thức nhận biết trong đứa trẻ theo cách sao cho y nhận ra từ thời thơ ấu rằng tất cả những gì y đã được dạy hay đang được dạy đều nhằm tới lợi ích của người khác hơn là của chính y. Do đó, y sẽ được đào luyện để chắc chắn hướng về phía trước. Thông tin về lịch sử quá khứ của nhân loại sẽ được trao cho y từ góc độ sự tăng trưởng của nhân loại trong tâm thức, chứ không quá nhiều từ góc độ các sự kiện của thành tựu vật chất hay hiếu chiến như trường hợp hiện nay. Khi quá khứ, trong thể trí của đứa trẻ, được liên hệ với hiện tại, năng lực của y trong việc liên hệ, hợp nhất và bắt cầu, trong các phương diện khác nhau của đời sống y và trên các cõi khác nhau, sẽ được phát triển.

2. To teach him that the life which he feels pulsing through his veins is only one small part of the total life pulsing throughout all forms, all kingdoms in nature, all planets, and the solar system. He will learn that he shares it with all that exists, and that therefore a true “blood Brotherhood” is everywhere to be found. Consequently, from the very start of his life, he can be taught relationship, and this the small child will be apt to recognise more quickly than will the average adult, trained in the ways and attitudes of the old age. When these two realisations—responsibility and relationship—are inculcated in the child from infancy, then the third objective of the new education will come with greater ease.

2. Dạy y rằng sự sống mà y cảm thấy đang đập nhịp qua các tĩnh mạch của mình chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ sự sống đang đập nhịp khắp mọi hình tướng, mọi giới trong thiên nhiên, mọi hành tinh và hệ mặt trời. Y sẽ học rằng y chia sẻ nó với tất cả những gì hiện hữu, và do đó một “tình huynh đệ cùng huyết thống” chân thật có thể được tìm thấy ở khắp nơi. Do đó, ngay từ khởi đầu đời sống của y, y có thể được dạy về mối quan hệ, và điều này đứa trẻ nhỏ sẽ dễ nhận ra nhanh hơn người trưởng thành trung bình, vốn được đào luyện theo các phương cách và thái độ của thời đại cũ. Khi hai nhận biết này—trách nhiệm và mối quan hệ—được gieo vào đứa trẻ từ thời thơ ấu, thì mục tiêu thứ ba của nền giáo dục mới sẽ đến dễ dàng hơn.

3. The unification in consciousness of the life impulse and the urge to knowledge will lead eventually to a planned activity. This planned activity will constitute service, and this, in its turn, will do three things for the child who is taught to practice it:

3. Sự hợp nhất trong tâm thức giữa xung lực sự sống và thôi thúc hướng tới tri thức cuối cùng sẽ dẫn đến một hoạt động được hoạch định. Hoạt động được hoạch định này sẽ tạo thành sự phụng sự, và đến lượt nó, điều này sẽ làm ba việc cho đứa trẻ được dạy thực hành nó:

a. It will serve as a directional agency from the earliest years, finally indicating vocation and avocation and thus aiding in the choice of a life career. [94]

a. Nó sẽ phụng sự như một tác nhân định hướng từ những năm đầu đời, cuối cùng chỉ ra thiên hướng nghề nghiệp và hoạt động phụ trợ, và như vậy trợ giúp trong việc lựa chọn sự nghiệp đời sống. [94]

b. It will draw out the best that is in the child and will make him a magnetic radiating centre in the place where he is. It will enable him to attract to himself those who can help him or be helped by him, those who can serve him and whom he best can serve.

b. Nó sẽ khơi mở điều tốt nhất có trong đứa trẻ và sẽ làm cho y trở thành một trung tâm từ tính và tỏa rạng tại nơi y đang ở. Nó sẽ giúp y thu hút đến với mình những người có thể giúp y hoặc được y giúp, những người có thể phụng sự y và những người mà y có thể phụng sự tốt nhất.

c. It will therefore make him definitely creative, and so enable him to spin that thread of energy which, when added to the life thread and to the consciousness thread, will link head, heart and throat into one unified and functioning agency.

c. Do đó, nó chắc chắn sẽ làm cho y trở nên sáng tạo, và như thế giúp y xe nên sợi dây năng lượng ấy, khi được thêm vào sinh mệnh tuyến và thức tuyến, sẽ liên kết đầu, tim và cổ họng thành một tác nhân hợp nhất và vận hành.

The meeting of the three aforesaid requirements will be the primary step (made on a racial scale) to the building of the antahkarana or the bridge between:

Việc đáp ứng ba yêu cầu nói trên sẽ là bước đầu tiên, được thực hiện trên quy mô nhân loại, hướng tới việc xây dựng antahkarana hay cây cầu giữa:

1. Various aspects of the form nature.

1. Các phương diện khác nhau của bản chất hình tướng.

2. The personality and the soul.

2. Phàm ngã và linh hồn.

3. The man and other human beings.

3. Con người và những con người khác.

4. The man as a member of the human family, and his environing world.

4. Con người với tư cách là một thành viên của gia đình nhân loại, và thế giới bao quanh y.

You will note from this that education should be basically concerned with relations and interrelations, with the bridging or the healing of cleavages, and thus with the restoration of unity or synthesis. The establishment of the Science of Right Relations is the next immediate step in the mental unfoldment of the race. It is the major activity of the new education.

Từ điều này, các bạn sẽ lưu ý rằng giáo dục về căn bản nên quan tâm đến các mối quan hệ và tương quan, đến việc bắt cầu hay chữa lành các rạn nứt, và do đó đến việc phục hồi sự thống nhất hay tổng hợp. Việc thiết lập Khoa Học về Những Mối Quan Hệ Đúng Đắn là bước kế tiếp trước mắt trong sự khai mở trí tuệ của nhân loại. Đó là hoạt động chính yếu của nền giáo dục mới.

The Aquarian Age – Thời Đại Bảo Bình

As a result of the bridging work which will be done in the immediate one hundred and fifty years ahead of us, the technique of bridging the various cleavages found in the human family, and of weaving into one strong cable the various threads of energy which tenuously, as yet, connect the various aspects of the inner man with the outer form, will have made [95] so much progress that the bulk of the intelligent people in the world and of all classes and nations will be integrated personalities. When this is the case, the science of the antahkarana will be a planned part of their training. Today, as we study this science and its related sciences of meditation and service, the appeal will be only to the world aspirants and disciples. Its usefulness will only be found at present to be for those special incarnating souls who are today coming into incarnation with such rapidity as a response to the world’s need for help. But later the appeal will be general and its usefulness more nearly universal.

Như kết quả của công việc bắt cầu sẽ được thực hiện trong một trăm năm mươi năm ngay trước mắt chúng ta, kỹ thuật bắt cầu qua các rạn nứt khác nhau được tìm thấy trong gia đình nhân loại, và kỹ thuật dệt thành một sợi cáp mạnh mẽ duy nhất các sợi dây năng lượng khác nhau vốn cho đến nay mới chỉ nối kết mong manh các phương diện khác nhau của con người bên trong với hình tướng bên ngoài, sẽ đạt được [95] tiến bộ lớn đến mức phần đông những người thông minh trên thế giới, thuộc mọi giai cấp và quốc gia, sẽ là các phàm ngã tích hợp. Khi điều này xảy ra, khoa học về antahkarana sẽ là một phần được hoạch định trong sự đào tạo của họ. Ngày nay, khi chúng ta nghiên cứu khoa học này và các khoa học liên hệ của nó về tham thiền và phụng sự, sự hấp dẫn của nó sẽ chỉ hướng đến những người chí nguyện và đệ tử thế giới. Hiện tại, tính hữu dụng của nó sẽ chỉ được thấy đối với những linh hồn nhập thể đặc biệt hiện đang đi vào nhập thể rất nhanh chóng như một đáp ứng với nhu cầu được giúp đỡ của thế giới. Nhưng về sau, sự hấp dẫn sẽ mang tính phổ quát, và tính hữu dụng của nó sẽ gần như phổ quát hơn.

It is needless for me to outline for you the nature of the educational systems of the Aquarian Age because they would prove most unsuitable at this time. I mention them as it is necessary to remember that the work done during the next two centuries in the field of education is definitely temporary and balancing, and that out of the fulfillment of the task assigned to education will grow those more permanent systems which, in the new age, will be found flourishing everywhere.

Tôi không cần phác họa cho các bạn bản chất của các hệ thống giáo dục trong Thời Đại Bảo Bình, vì vào lúc này chúng sẽ tỏ ra rất không thích hợp. Tôi đề cập đến chúng vì cần nhớ rằng công việc được thực hiện trong hai thế kỷ tới trong lĩnh vực giáo dục chắc chắn là tạm thời và có tính cân bằng, và rằng từ sự hoàn thành nhiệm vụ được giao cho giáo dục sẽ nảy sinh những hệ thống bền vững hơn, vốn trong thời đại mới sẽ được thấy đang nở rộ ở khắp nơi.

Three major sciences will eventually dominate the field of education in the new age. They will not negate the activities of modern science but will integrate them into a wider subjective whole. These three sciences are:

Ba khoa học chính yếu cuối cùng sẽ chi phối lĩnh vực giáo dục trong thời đại mới. Chúng sẽ không phủ nhận các hoạt động của khoa học hiện đại, mà sẽ tích hợp chúng vào một toàn thể chủ quan rộng lớn hơn. Ba khoa học này là:

1. The Science of the Antahkarana. This is the new and true science of the mind, which will utilise mental substance for the building of the bridge between personality and soul, and then between the soul and the spiritual triad. This constitutes active work in substance subtler than the substance of the three worlds of ordinary human evolution. It concerns the substance of the three higher levels of the mental plane. These symbolic bridges, when constructed, will facilitate the stream or flow of consciousness and will produce that continuity of consciousness, or that sense of unimpeded awareness, which will finally end the fear of death, [96] negate all sense of separateness, and make a man responsive in his brain consciousness to impressions coming to him from the higher spiritual realms or from the Mind of God. Thus he will more easily be initiated into the purposes and plans of the Creator.

1. Khoa Học về Antahkarana. Đây là khoa học mới và chân thật về thể trí, sẽ sử dụng chất liệu trí để xây dựng cây cầu giữa phàm ngã và linh hồn, rồi giữa linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần. Điều này tạo thành công việc hoạt động trong chất liệu tinh vi hơn chất liệu của ba cõi thuộc tiến hoá nhân loại thông thường. Nó liên quan đến chất liệu của ba cấp độ cao hơn của cõi trí. Những cây cầu biểu tượng này, khi được xây dựng, sẽ làm dễ dàng dòng chảy hay luồng chảy của tâm thức, và sẽ tạo ra sự liên tục của tâm thức, hay ý thức nhận biết không bị cản trở, điều cuối cùng sẽ chấm dứt nỗi sợ chết, [96] phủ nhận mọi ý thức chia rẽ, và làm cho con người trong tâm thức não bộ của y đáp ứng với các ấn tượng đến với y từ những cảnh giới tinh thần cao hơn hay từ Trí của Thượng đế. Như vậy, y sẽ dễ dàng hơn được khai mở vào các mục đích và Thiên Cơ của Đấng Sáng Tạo.

2. The Science of Meditation. At present meditation is associated in the minds of men with religious matters. But that relates only to theme. The science can be applied to every possible life process. In reality, this science is a subsidiary branch, preparatory to the Science of the Antahkarana. It is really the true science of occult bridge building or bridging in consciousness. By its means, particularly in the early stages, the building process is facilitated. It is one of the major ways of spiritual functioning; it is one of the many ways to God; it relates the individual mind eventually to the higher mind and later to the Universal Mind. It is one of the major building techniques and will eventually dominate the new educational methods in schools and colleges. It is intended primarily to:

2. Khoa Học về Tham Thiền. Hiện nay, tham thiền trong thể trí con người được liên kết với các vấn đề tôn giáo. Nhưng điều đó chỉ liên quan đến chủ đề. Khoa học này có thể được áp dụng cho mọi tiến trình đời sống khả hữu. Trong thực tế, khoa học này là một nhánh phụ trợ, chuẩn bị cho Khoa Học về Antahkarana. Nó thực sự là khoa học chân thật về việc xây cầu huyền bí hay bắt cầu trong tâm thức. Nhờ phương tiện của nó, đặc biệt trong các giai đoạn đầu, tiến trình xây dựng được làm dễ dàng. Nó là một trong những phương cách chính yếu của sự vận hành tinh thần; nó là một trong nhiều con đường đến Thượng đế; cuối cùng nó liên hệ thể trí cá nhân với thượng trí và về sau với Vũ Trụ Trí. Nó là một trong những kỹ thuật xây dựng chính yếu và cuối cùng sẽ chi phối các phương pháp giáo dục mới trong các trường học và đại học. Nó chủ yếu nhằm:

a. Produce sensitivity to the higher impressions.

a. Tạo ra sự nhạy cảm đối với các ấn tượng cao hơn.

b. Build the first half of the antahkarana, that between the personality and the soul.

b. Xây dựng nửa đầu của antahkarana, tức phần giữa phàm ngã và linh hồn.

c. Produce an eventual continuity of consciousness. Meditation is essentially the science of light, because it works in the substance of light. One branch of it is concerned with the science of visualisation because, as the light continues to bring revelation, the power to visualise can grow with the aid of the illumined mind, and the later work of training the disciple to create is then made possible. It might be added here that the building of the second half of the antahkarana (that which bridges the gap in consciousness between the soul and the spiritual triad) is called the science of vision, because [97] just as the first half of the bridge is built through the use of mental substance, so the second half is built through the use of light substance.

c. Tạo ra sự liên tục cuối cùng của tâm thức. Tham thiền về bản chất là khoa học về ánh sáng, bởi vì nó làm việc trong chất liệu của ánh sáng. Một nhánh của nó liên quan đến khoa học về sự hình dung, bởi khi ánh sáng tiếp tục đem lại sự mặc khải, quyền năng hình dung có thể tăng trưởng với sự trợ giúp của thể trí được soi sáng, và khi ấy công việc về sau nhằm đào tạo đệ tử sáng tạo trở nên khả hữu. Có thể thêm ở đây rằng việc xây dựng nửa thứ hai của antahkarana, tức phần bắt cầu qua khoảng trống trong tâm thức giữa linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần, được gọi là khoa học về tầm nhìn, bởi vì [97] cũng như nửa đầu của cây cầu được xây dựng qua việc sử dụng chất liệu trí, thì nửa thứ hai được xây dựng qua việc sử dụng chất liệu ánh sáng.

3. The Science of Service grows normally and naturally out of the successful application of the other two sciences. As the linking up of soul and personality proceeds, and as the knowledge of the plan and the light of the soul pour into the brain consciousness, the normal result is the subordination of the lower to the higher. Identification with group purposes and plans is the natural attribute of the soul. As this identification is carried forward on mental and soul levels, it produces a corresponding activity in the personal life and this activity we call service. Service is the true science of creation and is a scientific method of establishing continuity.

3. Khoa Học về Phụng Sự tăng trưởng một cách bình thường và tự nhiên từ sự áp dụng thành công hai khoa học kia. Khi sự nối kết giữa linh hồn và phàm ngã tiến hành, và khi tri thức về Thiên Cơ cùng ánh sáng của linh hồn tuôn vào tâm thức não bộ, kết quả bình thường là sự đặt cái thấp dưới cái cao. Sự đồng hoá với các mục đích và Thiên Cơ của nhóm là thuộc tính tự nhiên của linh hồn. Khi sự đồng hoá này được tiến hành trên các cấp độ trí và linh hồn, nó tạo ra một hoạt động tương ứng trong đời sống cá nhân, và hoạt động này chúng ta gọi là phụng sự. Phụng sự là khoa học chân thật của sự sáng tạo và là một phương pháp khoa học để thiết lập sự liên tục.

These three sciences will be regarded eventually as the three major concerns of the educational process and upon them will the emphasis increasingly be placed.

Ba khoa học này cuối cùng sẽ được xem là ba mối quan tâm chính yếu của tiến trình giáo dục, và sự nhấn mạnh sẽ ngày càng được đặt vào chúng.

We have now laid the ground for a consideration of the three sciences which will dominate the thought of educators in the coming age. The building and the development of the antahkarana, the development of the power to control life and to work white magic through the science of meditation, and also the science of service whereby group control and group relationship are fostered and developed—these are the three fundamental sciences which will guide the psychologist and the educator of the future. These will also cause a radical change in the attitude of parents towards their children and in the methods which they employ to train and teach them when they are very young and in the formative years of their consciousness.

Giờ đây chúng ta đã đặt nền tảng cho việc xem xét ba khoa học sẽ chi phối tư tưởng của các nhà giáo dục trong thời đại sắp đến. Việc xây dựng và phát triển antahkarana, việc phát triển quyền năng kiểm soát đời sống và thực hành Chánh Thuật qua khoa học tham thiền, cũng như khoa học phụng sự nhờ đó sự kiểm soát nhóm và mối quan hệ nhóm được nuôi dưỡng và phát triển—đây là ba khoa học nền tảng sẽ hướng dẫn nhà tâm lý học và nhà giáo dục của tương lai. Chúng cũng sẽ gây ra một sự thay đổi triệt để trong thái độ của cha mẹ đối với con cái họ và trong các phương pháp họ sử dụng để đào tạo và dạy dỗ chúng khi chúng còn rất nhỏ và trong những năm tháng định hình tâm thức.

It should here be remembered that these parents themselves will have been brought up under this new and different regime and will themselves have been developed [98] under this changed mode of approaching the educational process. What may therefore seem to you mystical and vague (because of its newness, or its idealism and its emphasis upon a seeming abstract group consciousness), will seem to them normal and natural. What I am here outlining to you is a possibility which lies ahead for the next two or three generations; I am also referring to a recognition which a new educational ideology will normally permit to govern the mode of instruction.

Ở đây cần nhớ rằng chính các bậc cha mẹ này sẽ được nuôi dạy dưới chế độ mới và khác biệt này, và chính họ sẽ được phát triển [98] dưới phương thức đã thay đổi này trong cách tiếp cận tiến trình giáo dục. Do đó, điều có thể dường như thần bí và mơ hồ đối với các bạn, vì tính mới mẻ của nó, hay vì chủ nghĩa lý tưởng của nó và sự nhấn mạnh của nó vào một tâm thức nhóm có vẻ trừu tượng, sẽ dường như bình thường và tự nhiên đối với họ. Điều Tôi đang phác họa cho các bạn ở đây là một khả năng nằm phía trước cho hai hoặc ba thế hệ tới; Tôi cũng đang đề cập đến một sự công nhận mà một hệ tư tưởng giáo dục mới sẽ tự nhiên cho phép chi phối phương thức giảng dạy.

Leave a Comment

Scroll to Top