LABOR II—KỲ CÔNG THỨ HAI
The Capture of the Cretan Bull
Bắt Giữ Con Bò Mộng Xứ Crete
(Taurus, April 21st—May 20th)

The Myth—Thần thoại
|
The presiding One spoke to the Teacher of the man whose light shone forth among the sons of men, who are the sons of God. |
Đấng Chủ Toạ nói với Huấn Sư của người mà ánh sáng chói lọi giữa những người con của nhân loại, và cũng là những người con của Thượng Đế. |
|
“Where is the man who stood with power before the Gods, received their gifts and entered through the first wide open Gate to labor at his task?” |
“Đâu rồi con người đứng với quyền năng trước những vị Thần, nhận quà tặng của các Ngài và bước qua Cửa Thứ Nhất rộng mở để thực hiện nhiệm vụ của mình?” |
|
“He rests, Oh, great presiding One, and ponders on his failure, and mourns for Abderis, and seeks for help within himself.” |
“Hỡi Đấng Chủ Tọa, y đang nghỉ ngơi và nghiền ngẫm về thất bại của y, than khóc cho Abderis, và tìm kiếm sự giúp đỡ bên trong y.” |
|
“It is well. The gifts of failure guarantee success, when rightly understood. Let him proceed to labor once again, enter the second Gate, returning with dispatch.” |
“Như vậy là tốt. Những món quà của sự thất bại sẽ đảm bảo thành công khi được hiểu đúng. Hãy để y thực hiện Kỳ Công lần nữa, đi qua Cổng Thứ Nhì, và trở lại khẩn trương.” |
|
The second Gate stood open wide and, from the light which veiled the distant scene, a voice emerged and said: |
Cửa thứ hai rộng mở, và từ ánh sáng che khuất cảnh tượng xa xăm, một giọng nói cất lên: |
|
“Pass through the Gate. Proceed upon thy way. Perform thy labor and return to me, reporting on the deed.” |
“Hãy đi qua Cửa. Hãy tiếp tục con đường của ngươi. Hãy thực hiện nhiệm vụ của ngươi và quay lại gặp ta, báo cáo về hành động đã thực hiện.” |
|
Alone and sad, conscious of need and worn with deep distress, Hercules slowly passed between the pillars of the Gate into the light which shines where stands the sacred bull. On the horizon rose the island fair where dwelt the bull, and where adventurous men could enter that vast maze which lured them to bewilderment, the maze of Minos, King of Crete, the keeper of the bull. |
Cô độc và buồn bã, ý thức về nhu cầu của mình và kiệt sức vì đau khổ sâu sắc, Hercules chậm rãi bước qua những trụ cột của Cửa, tiến vào ánh sáng tỏa chiếu nơi con bò thiêng đứng. Ở chân trời, hòn đảo tươi đẹp hiện ra, nơi con bò cư ngụ, và nơi những người mạo hiểm có thể bước vào mê cung rộng lớn quyến rũ họ đi vào sự lạc lối, mê cung của Minos, Vua xứ Crete, người giữ con bò. |
|
Crossing the ocean to the sunlit isle (though how we are not told) Hercules entered on his task to seek and find the bull, and lead it to the Holy Place where dwell the one-eyed men. From place to place he chased the bull, led by the gleaming [40] star which shone upon the forehead of the bull, a bright lamp in a dark place. This light, moving as moved the bull, led him from place to place. Alone, he sought the bull; alone he chased it to its lair; alone he captured it and mounted on its back. Around him stood the Sisters seven, urging him on his way and, in the shining light, he rode the bull across the glimmering water to the isle of Crete unto the land where dwelt the Cyclops three. |
Vượt qua đại dương đến hòn đảo rực nắng (mặc dù cách thức y đến không được nói rõ), Hercules bắt tay vào nhiệm vụ của mình: tìm kiếm và bắt giữ con bò, dẫn nó đến Thánh Địa, nơi những người một mắt cư ngụ. Từ nơi này đến nơi khác, chàng truy đuổi con bò, được dẫn dắt bởi ngôi sao lấp lánh chiếu sáng trên trán con bò, như một ngọn đèn rực rỡ trong bóng tối. Ánh sáng này, di chuyển theo từng bước chân của con bò, đã dẫn dắt chàng từ chỗ này đến chỗ khác. Chàng tìm kiếm con bò Một mình một mình, chàng truy đuổi nó về hang ổ; một mình, chàng bắt giữ nó và trèo lên lưng nó. Xung quanh chàng là bảy Chị Em, thúc giục chàng tiếp tục trên đường đi, và trong ánh sáng rực rỡ, chàng cưỡi con bò băng qua làn nước lung linh để đến đảo Crete, đến vùng đất nơi ba người Cyclops cư ngụ. |
|
These three great sons of God awaited his return, watching his progress through the waves. He rode the bull as if it were a horse, and with the Sisters singing as he went, drew near unto the land. |
Ba người con vĩ đại của Thượng Đế đang chờ đợi chàng trở về, dõi theo tiến trình của chàng qua những con sóng. Chàng cưỡi con bò như thể nó là một con ngựa, và khi đi cùng tiếng hát của các Chị Em, chàng dần tiếp cận vùng đất. |
|
“He comes with strength”, said Brontes, and went to meet him on the shore. |
“Hắn đến với sức mạnh,” Brontes nói và đi ra bờ biển để gặp chàng . |
|
“He rides in light,” said Steropes, “his inner light will brighter be,” then fanned the light to sudden flame. |
“Hắn cưỡi trong ánh sáng,” Steropes nói, “ánh sáng bên trong hắn sẽ càng rực rỡ hơn,” rồi thổi bùng ánh sáng thành ngọn lửa rực cháy. |
|
“He comes with speed,” said Arges, “he is riding through the waves.” |
“Hắn đến với tốc độ,” Arges nói, “hắn đang cưỡi qua những con sóng.” |
|
Hercules nearer drew, urging the sacred bull upon the Way, throwing the light upon the trail which led from Crete unto the Temple of the Lord, within the city of the one-eyed men. Upon the mainland, at the water’s edge, these three men stood and grasped the bull, taking it thus away from Hercules. |
Hercules đến gần hơn, thúc con bò thiêng đi trên Con Đường, chiếu ánh sáng trên con đường dẫn từ Crete đến Đền Thánh của Chúa, bên trong thành phố của những người một mắt. Trên đất liền, tại bờ biển, ba người đàn ông này đứng đợi và nắm lấy con bò, qua đó lấy nó từ Hercules. |
|
“What hast thou here?” said Brontes, arresting Hercules upon the Way. |
“Ngươi mang gì đến đây?” Brontes hỏi, chặn Hercules lại trên Đường. |
|
“The sacred bull, Oh, Holy One.” |
“Con bò thiêng, Hỡi Đấng Thiêng Liêng.” |
|
“Who art thou? Tell us now thy name,” said Steropes. |
“Ngươi là ai? Hãy cho chúng ta biết tên của ngươi,” Steropes hỏi. |
|
“I am the son of Hera, a son of man and yet a son of God. I have performed my task. Take now the bull into the Holy Place and save it from due death. Minos desired its sacrifice.” |
“Ta là con trai của Hera, một người con của nhân loại nhưng cũng là một người con của Thượng Đế. Ta đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Hãy đưa con bò vào Thánh Địa và cứu nó khỏi cái chết định sẵn. Minos muốn hiến tế nó.” |
|
“Who told you thus to seek and save the bull?” said Arges, moving towards the Holy Place. |
“Ai đã bảo ngươi tìm kiếm và cứu con bò?” Arges hỏi, tiến về phía Thánh Địa. |
|
“Within myself I felt the urge and sought my Teacher. Told by the great Presiding One, He sent me on the Way, and with long search and many pains, I found the bull. Helped by its [41] holy light, I rode it through the separating sea unto this Holy Place. |
“Ta cảm thấy sự thúc đẩy trong chính ta và đã tìm đến Huấn Sư của ta. Được Đấng Chủ Toạ vĩ đại chỉ dẫn, Ngài đã gửi ta đi trên Con Đường, và với sự tìm kiếm lâu dài cùng bao gian nan, ta đã tìm thấy con bò. Nhờ vào ánh sáng thiêng liêng của nó, ta đã cưỡi nó vượt qua biển ngăn cách để đến Thánh Địa này.” |
|
“Depart in peace, my son, your task is done.” |
“Hãy đi trong bình an, con trai của ta, nhiệm vụ của ngươi đã hoàn thành.” |
|
The Teacher saw him coming and went forth to meet him on the Way. Across the waters came the voices of the Sisters seven, singing around the bull, and nearer still the chanting of the one-eyed men within the Temple of the Lord, high in the Holy Place. |
Vị Huấn Sư thấy chàng đang đến và bước ra gặp chàng trên Con Đường. Từ bên kia làn nước vọng đến tiếng của bảy Chị Em, hát ca chung quanh con bò, và gần hơn nữa là tiếng tụng xướng của những người một mắt ở trong Đền Thánh của Đấng Chúa Tể, cao trên Thánh Địa. |
|
“You came with empty hands, oh, Hercules,” the Teacher said. |
“Này Hercules, Con đến với đôi tay trống không,” Vị Huấn Sư nói. |
|
“I have these empty hands, because I have fulfiled the task to which I was assigned. The sacred bull is rescued, securely with the Three. What next?” |
“Con có đôi tay trống không vì con đã hoàn thành nhiệm vụ được giao. Con bò thiêng đã được cứu, an toàn với Ba Người. Tiếp theo là gì?” |
|
“Within the light shall you see light; walk in that light and there see light. Your light must brighter shine. The bull is in the Holy Place.” |
“Trong ánh sáng, con sẽ thấy ánh sáng; hãy bước đi trong ánh sáng ấy, và ở đó, con sẽ thấy ánh sáng. Ánh sáng của con phải tỏa rạng hơn nữa. Con bò đã ở trong Thánh Địa.” |
|
And Hercules reposed upon the grass and rested from his labor. Later the Teacher turned to Hercules and said: “Labor the second is performed, and easy was the task. Learn from this task the lesson of proportion. Strength to perform the arduous task; a willingness to do the task which taxes not your powers; such are two lessons learnt. Rise soon and seek the country, guarded by Gate the third, and find the golden apples. Bring them here. |
Và Hercules ngã lưng trên thảm cỏ, nghỉ ngơi sau kỳ công của mình. Sau đó, Huấn Sư quay sang Hercules và nói: “Nhiệm vụ thứ hai đã hoàn thành, và đó là một nhiệm vụ dễ dàng. Hãy học từ nhiệm vụ này bài học về sự cân đối. Sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ gian khổ; sự sẵn lòng làm nhiệm vụ không đòi hỏi quá nhiều năng lực của con; đó là hai bài học đã học được. Hãy sớm đứng lên và tìm kiếm vùng đất được bảo vệ bởi Cửa thứ ba, và tìm những quả táo vàng. Hãy mang chúng về đây.” |
|
The Tibetan (Djwhal Khul) |
Chân sư Tây Tạng (Djwhal Khul) |
The Meaning of the Labor
|
In spite of all initial partial failure, Hercules has made his start. In line with the universal law he has begun his work oil the mental plane. |
Mặc dù ban đầu chưa hoàn toàn thành công, Hercules đã khởi đầu hành trình của mình. Theo đúng luật phổ quát, chàng đã bắt đầu công việc của mình trên cõi trí. |
|
In the working out of the creative plan, thought-impulse is followed by desire. That state of consciousness, which we call mental, is succeeded by the state of sensitivity, and this second labor deals with the desire world and with the potency of desire. It is one of the most interesting labors and one that is [42] told us in fullest detail. Some of the accounts given of the various tests to which Hercules was subjected are exceedingly sketchy and brief in outline, but the tests in Taurus and Gemini, in Scorpio and Pisces, are related at greater length. They were drastic in their application and tried out every part of the aspirant’s nature. |
Trong tiến trình thực hiện kế hoạch sáng tạo, xung động tư tưởng được tiếp nối bởi khát vọng. Trạng thái tâm thức mà chúng ta gọi là trí tuệ được tiếp nối bởi trạng thái nhạy cảm, và nhiệm vụ thứ hai này liên quan đến thế giới ham muốn và năng lực của ham muốn. Đây là một trong những nhiệm vụ thú vị nhất và được kể lại một cách đầy đủ nhất. Một số ghi chép về các thử thách khác nhau mà Hercules phải trải qua được mô tả rất sơ lược và ngắn gọn, nhưng những thử thách trong dấu hiệu Kim Ngưu và Song Tử, trong Hổ Cáp và Song Ngư, lại được thuật lại chi tiết hơn. Chúng được áp dụng một cách nghiêm ngặt và thử thách mọi khía cạnh trong bản chất của người chí nguyện. |
|
The key to the labor in Taurus is the right understanding of the law of Attraction. This is the law that governs that magnetic force and that principle of coherence which builds the forms through which God, or the soul, manifests. It produces the stability which demonstrates in the persistence of the form throughout its cycle of existence, and concerns the interrelation between that which builds the form and the form itself; between the two poles, positive and negative; between spirit and matter; between the Self and the not-Self; between male and female, and thus between the opposites. |
Chìa khóa cho kỳ công trong Kim Ngưu là sự hiểu biết đúng đắn về Định luật Hấp Dẫn. Đây là định luật chi phối lực từ tính và nguyên lý kết dính, điều hình thành nên các hình tướng mà qua đó Thượng Đế, hay linh hồn, biểu lộ. Nó tạo ra sự ổn định, thể hiện qua sự bền vững của hình tướng trong suốt chu kỳ tồn tại của nó, và liên quan đến mối tương quan giữa yếu tố kiến tạo hình tướng và chính hình tướng đó; giữa hai cực dương và âm; giữa tinh thần và vật chất; giữa Ngã và phi Ngã; giữa nam và nữ, và do đó, giữa các cặp đối cực. |
Four Symbolic Words—Bốn Từ Biểu tượng
|
We find that this test concerns predominantly the problem of sex. There are four words in the English language which are ideographic and symbolic. They consist of three letters each and are as follows: God, Sex, Law and Sin. In these four words we find expressed the sum total of all that is. |
Chúng ta thấy rằng thử thách này chủ yếu liên quan đến vấn đề tính dục. Có bốn từ trong tiếng Anh mang tính tượng hình và biểu tượng, mỗi từ gồm ba chữ cái: God, Sex, Law, và Sin. Trong bốn từ này, chúng ta thấy được tổng thể của mọi sự hiện hữu. |
|
God, the sum total of all forms, the sum total of all states of consciousness, and the energizing Life. Sex, that Life in operation, attracting spirit and matter and instituting the interplay between the objective and the subjective and between the exoteric and the esoteric. Sex, desire, attraction, the instinctive urge to creation, the pull of the soul, the urge to divinity, desire of the male for the female, the lure of matter for spirit: all these phrases can be piled up to express some of the activities of Sex in its various relations. Law, the thought-impelled response of God to form; the habits instituted by the timeless interplay between the polar opposites which have been recognized by humanity as the inevitable laws of nature; the imposition [43] of the will of God and the impress of that will upon form and its recognition by man. Sin, according to its connotation, signifies “the one who it is,” the uprising of the unit against the whole, individuality versus the group, selfishness instead of universal interest. |
Thượng đế – Tổng thể của mọi hình tướng, tổng thể của mọi trạng thái tâm thức, và là Sự Sống ban năng lượng. Tính dục – đó là Sự Sống trong trạng thái vận hành, thu hút tinh thần và vật chất, thiết lập sự tương tác giữa chủ quan và khách quan, giữa ngoại môn và nội môn. Sex – ham muốn, hấp dẫn, sự thúc đẩy bản năng hướng đến sáng tạo, sức hút của linh hồn, sự thôi thúc hướng đến thiên tính, khao khát của nam đối với nữ, sự lôi cuốn của vật chất đối với tinh thần—tất cả những cụm từ này có thể được xếp chồng lên nhau để diễn đạt một số hoạt động của Sex trong các mối quan hệ khác nhau. Định Luật – Sự đáp ứng được thúc đẩy bởi tư tưởng của Thượng Đế đối với hình tướng; những thói quen được thiết lập bởi sự tương tác vô tận giữa các cực đối lập, mà nhân loại đã nhận thức như những định luật tất yếu của tự nhiên; sự áp đặt ý chí của Thượng Đế và dấu ấn của ý chí đó lên hình tướng, cũng như sự nhận thức của con người về điều đó. Sin – Tội lỗi, theo hàm nghĩa của nó, biểu thị “kẻ tự cho mình là trung tâm”, sự nổi dậy của đơn vị chống lại toàn thể, tính cá thể đối nghịch với nhóm, sự ích kỷ thay cho lợi ích phổ quát. |
|
Thus is the story of the universe written for us in these four words. God, the Whole; Sex, the attraction between the parts within that Whole; Law, the habit of the Whole; and Sin, the revolt of the unit in the Whole. |
Như vậy, câu chuyện về vũ trụ được viết ra trong bốn từ này: God – Tổng thể; Sex – Sự hấp dẫn giữa các phần trong Tổng thể; Law – Thói quen của Tổng thể; và Sin – Sự nổi loạn của cá thể bên trong Tổng thể. |
The Story of the Labor—Câu chuyện của Kỳ Công

|
Minos, King of Crete, possessed a sacred bull, which he kept on the island of Crete. Eurystheus sent for Hercules and told him that it was necessary to capture the bull and bring it from the island to the mainland. No instructions were given as to how this was to be accomplished, and all that Hercules knew was that the bull was sacred, that it was born from the sea, and that its destiny was to be offered in sacrifice to Minos. Hercules, therefore, travelled to Crete and searched all over the island, pursuing the bull from place to place until at last he cornered it. Then, we are told, he rode the bull, like a horse, across the island and through the waters which separated Crete from the mainland, and so brought it into the city of the Cyclops. These Cyclops were peculiar beings of whom it was claimed that they possessed only one eye, set in the middle of the forehead. They were ruled over by three outstanding figures, whose names were Brontes, meaning thunder, Steropes, meaning lightning, and Arges, meaning whirling activity. When Hercules arrived with the bull at the gates of the city, he was met by the three Cyclops, who received the sacred bull from him and took charge of it. And thus ended the second labor. |
Minos, Vua xứ Crete, sở hữu một con bò thiêng mà ông ta giữ trên đảo Crete. Eurystheus triệu gọi Hercules và bảo rằng cần phải bắt con bò và mang nó từ đảo về đất liền. Không có hướng dẫn nào được đưa ra về cách thực hiện nhiệm vụ này, và tất cả những gì Hercules biết đó là con bò thiêng, nó sinh ra từ biển, và số phận của nó là bị hiến tế cho Minos. Vì vậy, Hercules đã du hành đến Crete và tìm kiếm khắp hòn đảo, truy đuổi con bò từ nơi này sang nơi khác cho đến khi cuối cùng chàng dồn được nó vào góc. Sau đó, theo những gì được kể lại, chàng đã cưỡi con bò như thể nó là một con ngựa, băng qua hòn đảo và vượt qua vùng nước ngăn cách Crete với đất liền, rồi mang nó đến thành phố của những người Cyclops. Những người Cyclops này là những con người kỳ lạ, được cho là chỉ có một con mắt ở giữa trán. Họ được cai trị bởi ba nhân vật nổi bật, có tên là Brontes, có nghĩa là sấm sét; Steropes, có nghĩa là tia chớp; và Arges, có nghĩa là sự vận động xoáy. Khi Hercules đến với con bò tại cổng thành phố, chàng được ba người Cyclops đón tiếp. Họ nhận con bò thiêng từ chàng và đảm nhận việc chăm sóc nó. Và như vậy, nhiệm vụ thứ hai đã kết thúc. |
The Theme of Illumination—Chủ đề Soi Sáng
|
Taurus is one of be most interesting of the zodiacal constellations, especially at this time. It is the Fixed Cross in the heavens, [44] the Cross of the Disciple, and the following extract is of interest in this connection: |
Kim Ngưu là một trong những chòm sao hoàng đạo thú vị nhất, đặc biệt là vào thời điểm này. Đây là Thập Giá Cố Định trên bầu trời, Thập Giá của người đệ tử, và trích đoạn sau đây có liên quan đáng chú ý đến điều này: |
|
“The sky is mystically spoken of as the Temple, and the eternal consciousness of God. Its altar is the sun, whose four arms or rays typify the four corners of the cardinal cross of the universe, which have become the four fixed signs of the zodiac, and as the four powerful sacred animal signs are both cosmical and spiritual, they represent the basic elements resembling our human principles. The sign Leo represents fire or spirit; Taurus, earth or body; Aquarius, air or mind; and Scorpio represents water likened to the soul. Leo, as the lion, is the strength of the lower nature, and is the serpent of force which, if directed upward, overcomes. Taurus, the bull, is always the symbol of creative force. Aquarius, the man, is the light-bearer, or light-bringer. Scorpio, the scorpion, is often transmuted with Aquila, the eagle … which rises at the same time with Scorpio; they are closely linked in symbolism. Scorpio is ‘the monster of darkness’, who stings to death, and yet preserves and reproduces, symbolizing not only generation but regeneration. As the latter it is Aquila, the eagle, the bird of the sun which has conquered the dark side of Scorpio (that adversary that can drag man down lower than the beasts), but when transmuted is the eagle of light, which can exalt above the gods.” |
“Bầu trời được nói đến một cách huyền bí như là Đền Thánh và là tâm thức vĩnh cửu của Thượng Đế. Bàn thờ của nó là Mặt Trời, có bốn cánh tay hoặc tia sáng tượng trưng cho bốn góc của Thập Giá Chủ Yếu trong vũ trụ, vốn đã trở thành bốn dấu hiệu cố định của hoàng đạo. Vì bốn dấu hiệu động vật thiêng liêng này mang cả ý nghĩa vũ trụ lẫn tinh thần, chúng tượng trưng cho những nguyên tố cơ bản tương ứng với các nguyên lý của con người. Sư Tử đại diện cho lửa hay tinh thần; Kim Ngưu, đất hay thể xác; Bảo Bình, khí hay trí tuệ; và Hổ Cáp, nước—được ví như linh hồn. Leo, với hình tượng sư tử, là sức mạnh của bản chất thấp và là con rắn của mãnh lực, nếu được hướng lên trên, sẽ chế ngự mọi thứ. Kim Ngưu, con bò, luôn là biểu tượng của mãnh lực sáng tạo. Bảo Bình, con người, là người mang ánh sáng hay người truyền ánh sáng. Hổ Cáp, con bọ cạp, thường được chuyển hóa thành Aquila, đại bàng… nó mọc lên cùng thời điểm với Hổ Cáp và có sự liên kết chặt chẽ trong biểu tượng học. Hổ Cáp là ‘con quái vật của bóng tối’, kẻ gây ra cái chết bằng nọc độc, nhưng cũng là kẻ bảo tồn và tái tạo, tượng trưng không chỉ cho sự sáng tạo mà còn cho sự tái sinh. Khi được thăng hoa, nó trở thành Aquila, đại bàng, loài chim của Mặt Trời, loài đã chế ngự mặt tối của Hổ Cáp—kẻ thù có thể kéo con người xuống thấp hơn cả loài thú vật. Nhưng khi được chuyển hóa, nó trở thành đại bàng ánh sáng, có thể vươn lên trên cả các vị thần.” |
|
The Celestial Ship of the North. Vol. I. (E. V. Straiton). |
(The Celestial Ship of the North, Vol. I, E. V. Straiton) |
|
The “eye of the bull” in Taurus, the magnificent fixed star, Aldebaran, is one of the reasons why this constellation is regarded as conferring illumination. In ancient days it was called the leading star of the heavens, and Taurus has always been connected with light and, therefore, with Christ, who proclaimed himself as the Light of the World. Light, illumination and sound, as an expression of the creative force: these are the three basic ideas connected with this constellation. The “interpreter of the divine voice”, as Taurus was called in ancient Egypt, can be paraphrased into Christian terminology and called “the Word made flesh”. It is an interesting sidelight on the power of the zodiacal influences to recall that the bull’s-eye lantern can be traced back to the bull’s eve in Taurus, and the pontifical bull, or the papal enunciations which were regarded [45] as interpreters of God’s voice, is a term in common usage today. |
“Con mắt của con bò” trong Kim Ngưu, ngôi sao cố định rực rỡ Aldebaran, là một trong những lý do khiến chòm sao này được xem là ban phát sự soi sáng. Trong thời cổ đại, nó được gọi là ngôi sao dẫn đường của các tầng trời, và từ xưa Kim Ngưu vẫn luôn gắn liền với ánh sáng, và do đó, với Đức Christ, Đấng đã tự xưng mình là Ánh Sáng của Thế Gian. Ánh sáng, sự soi sáng và âm thanh, như là sự biểu hiện của mãnh lực sáng tạo: đó là ba ý niệm nền tảng gắn liền với chòm sao này. “Kẻ diễn giải tiếng nói thiêng liêng”, như Kim Ngưu từng được gọi trong Ai Cập cổ đại, có thể được diễn đạt lại theo thuật ngữ Kitô giáo và gọi là “Ngôi Lời trở thành xác thịt”. Một khía cạnh phụ thú vị về quyền năng của các ảnh hưởng hoàng đạo là việc nhắc lại rằng chiếc đèn mắt bò có thể được truy nguyên về con mắt của con bò trong Kim Ngưu. Ngoài ra, sắc chỉ giáo hoàng (pontifical bull)—hoặc các tuyên ngôn của Giáo hoàng, được xem là sự diễn giải tiếng nói của Thượng Đế—vẫn là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ngày nay. |
|
It might well be asked here, in what way does Taurus, the bull, become the bringer of illumination? We are told that in this sign the moon is exalted and Venus is the ruler. The moon has always, from the standpoint of the esotericist, and among primitive agricultural peoples, been regarded as the form-building aspect. The moon is the symbol, therefore, of matter and is seen in many of our churches, closely connected with the Virgin Mary. |
Một câu hỏi đặt ra: Làm thế nào Kim Ngưu, con bò, trở thành người mang lại sự soi sáng? Chúng ta được cho biết rằng trong dấu hiệu này, Mặt Trăng “vượng” và Kim Tinh là chủ tinh. Mặt Trăng luôn được các nhà huyền môn và các dân tộc nông nghiệp nguyên thủy xem là khía cạnh hình tướng. Nó là biểu tượng của vật chất, và xuất hiện trong nhiều nhà thờ, gắn liền với hình ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. |
|
The consummation of the work that is undertaken in Taurus, and the result of the Taurian influence, is the glorification of matter and subsequent illumination through its medium. All that at present prevents the glory, which is the soul, and the radiance which emanates from the God within the form, from shining forth in its full power, is the matter or form aspect. When that has been consecrated, purified and spiritualized, then the glory and the light can indeed shine through and the moon aspect can, therefore, be exalted in Taurus. This is done through the influence of Venus, the symbol of earthly and of heavenly love, of both spiritual aspiration and of carnal desire, and is fittingly, therefore, the ruler of this sign. She is, above everything else, love, the creator of beauty and rhythm and unity. The bull and the cow together represent creation, and so Taurus and Venus are closely linked. The following is of interest: |
Sự hoàn tất công việc được đảm nhận trong Kim Ngưu, và kết quả của ảnh hưởng Kim Ngưu, là sự tôn vinh vật chất và sự soi sáng tiếp theo thông qua chính môi trường ấy. Tất cả những gì hiện nay ngăn cản vinh quang—vốn là linh hồn—và quang huy phát xuất từ Thượng đế nội tại trong hình tướng không thể chiếu rạng với trọn quyền năng của nó, chính là phương diện vật chất hay hình tướng. Khi phương diện ấy đã được thánh hoá, được thanh luyện và được tinh thần hoá, thì vinh quang và ánh sáng quả thật có thể chiếu xuyên qua, và vì thế phương diện mặt trăng có thể được tôn vinh (“vượng”) trong Kim Ngưu. Điều này được thực hiện thông qua ảnh hưởng của Sao Kim, biểu tượng của tình yêu trần gian và của tình yêu thiên thượng, của cả khát vọng tinh thần lẫn dục vọng xác thịt, và do đó, là chủ tinh phù hợp của dấu hiệu này. Trên tất cả, Sao Kim là tình yêu, đấng sáng tạo của cái đẹp, nhịp điệu, và hợp nhất. Con bò đực và con bò cái cùng nhau tượng trưng cho sự sáng tạo, và vì thế Bạch Dương và Sao Kim gắn kết chặt chẽ với nhau. Điều sau đây thật thú vị: |
|
“The bull or cow is the symbol of this sign, and in the celestial chart it will be observed that the little group of stars called Pleiades are represented just at the shoulder of the bull. Now, in Egyptian sculpture, or painting, the Pleiades are sometimes represented by the figure of a dove with wings outspread over the bull’s saddle. The dove as we remember, is the bird sacred to Venus, and as the Pleiades are part of the constellation Taurus and, as we shall see, more Taurian in nature, if possible, than Taurus itself, the dove becomes a specially appropriate symbol for this little star-group.” (The Zodiac: A Life Epitome,Walter H. Sampson, p. 24). [46] |
Hình tượng bò đực và bò cái cùng nhau đại diện cho sự sáng tạo, do đó Kim Ngưu và Kim Tinh có mối liên hệ chặt chẽ. Một trích đoạn thú vị khác như sau: “Con bò đực hoặc con bò cái là biểu tượng của dấu hiệu này, và trên bản đồ thiên thể, chúng ta có thể quan sát thấy nhóm sao nhỏ Pleiades nằm ngay trên vai của con bò. Trong điêu khắc hay hội họa Ai Cập, Pleiades đôi khi được thể hiện bằng hình tượng một con bồ câu với đôi cánh dang rộng trên yên con bò. Như chúng ta nhớ, bồ câu là loài chim thiêng liêng của Kim Tinh, và vì Pleiades là một phần của chòm sao Kim Ngưu, nên nó có tính chất Kim Ngưu mạnh mẽ hơn bất kỳ thứ gì khác. Vì thế, bồ câu trở thành một biểu tượng đặc biệt thích hợp cho nhóm sao nhỏ này.” (The Zodiac: A Life Epitome, Walter H. Sampson, p. 24). |
The Theme of Sex—Chủ đề Tính Dục
|
From this extract and many others which could be adduced, it is apparent how closely linked with sex, in its lower and in its higher aspects, is this important constellation of Taurus. This is why it has been called in some books, the “sign of generation”, both earthly and heavenly. We have seen that the power of the sign Taurus is that of attraction, or of bringing together. It exerts a steady and continuous pull and in both the symbolical and the astronomical sense it attracts. We have seen that in this sign are to be found the Pleiades, among them Alcyone, called the central sun of our universe, and around it circles our sun, with its attendant planets. The words of Job when he said: “Canst thou bind the sweet influences of Pleiades or loose the bands of Orion?”[1] thus become clear. The Pleiades are the symbol of the soul around which the wheel of life revolves. |
Từ đoạn trích này và từ nhiều đoạn khác nữa có thể được dẫn ra, hiển nhiên thấy rằng chòm sao quan trọng Kim Ngưu có mối liên hệ hết sức mật thiết với giới tính, cả trong phương diện thấp lẫn phương diện cao của nó. Chính vì lý do này mà trong một số sách, Kim Ngưu đã được gọi là “dấu hiệu của sự sinh thành”, vừa trần thế vừa thiên thượng. Chúng ta đã thấy rằng quyền năng của dấu hiệu Kim Ngưu là quyền năng của sự hấp dẫn, hay của việc kết hợp lại với nhau. Nó tạo ra một lực hút bền bỉ và liên tục, và trong cả ý nghĩa biểu tượng lẫn thiên văn học, nó đều mang tính thu hút. Chúng ta đã thấy rằng trong dấu hiệu này có nhóm sao Pleiades, trong đó có Alcyone, được gọi là mặt trời trung tâm của vũ trụ chúng ta, và quanh nó mặt trời của chúng ta, cùng với các hành tinh đi theo, xoay vần. Những lời của Job khi ông nói: “Ngươi có thể buộc chặt những ảnh hưởng êm dịu của Pleiades, hay tháo gỡ những dây trói của Orion chăng?” vì thế trở nên sáng tỏ. Pleiades là biểu tượng của linh hồn, quanh đó bánh xe sự sống xoay chuyển. |
|
It is interesting to discover again, in Taurus, the triplicity which is so constantly recurrent in astronomical lore and in mythology: Taurus, representing form and the attractive pull of matter; the Pleiades, representing soul and the vast recurring cycle of experience; and, among the seven Pleiades, [Note the “seven Sisters” singing about Hercules, in the statement of the Myth] the Lost Pleiad (for only six are visible) a symbol of the obscuration of spirit, whilst soul, through desire, takes a body. Thus the idea of the relation of the Self and the not-Self, in order to produce the ultimate revelation of the spirit, underlies all mythological teaching and the scriptures and symbols of all time, and thus we have also the emergence of the idea of the great illusion and glamor. Spirit or God is “lost”, or veiled, and disappears in the attractiveness of the outer form and in the glamor which the soul attracts around itself. |
Thật thú vị khi ta khám phá lần nữa trong Kim Ngưu bộ ba thường xuyên lặp lại trong truyền thuyết thiên văn và thần thoại: Kim Ngưu, đại diện cho hình thể và sự thu hút hấp dẫn của vật chất; các Pleiades, tượng trưng cho linh hồn và chu kỳ kinh nghiệm rộng lớn; và trong số bảy Pleiades, [Ghi chú “bảy chị em” hát quanh Hercules trong câu chuyện Huyền thoại], ngôi sao đi lạc (chỉ có sáu ngôi sao có thể nhìn thấy được) một biểu tượng của sự che khuất của tinh thần, trong khi linh hồn, qua ham muốn khoác lấy một hình thể. Do đó, ý tưởng về mối quan hệ của Ngã và Phi Ngã, để tạo ra sự mặc khải tối thượng về tinh thần, nằm đằng sau tất cả các giáo lý thần thoại, kinh điển và biểu tượng của mọi thời đại, và do đó chúng ta cũng thấy xuất hiện ý tưởng về đại ảo tưởng và ảo cảm. Tinh Thần hay Thượng đế bị “thất lạc”, hoặc che đậy, và biến mất trong sự hấp dẫn của hình thể bên ngoài và trong ảo cảm mà linh hồn thu hút xung quanh chính nó. |
|
It should be remembered here that the opposite sign to Taurus is that of Scorpio, and these two signs constitute the [47] field of a stupendous effort on the part of Hercules; for in one he wrestles with the problem of sex, and in the other, he overcomes the great illusion. |
Ở đây, cần nhớ ở đây rằng dấu hiệu ngược lại của Kim Ngưu là Hổ Cáp, và hai dấu hiệu này tạo thành môi trường [47] của một nỗ lực phi thường của Hercules; trong Kim Ngưu chàng đấu tranh với vấn đề tình dục, và trong Hổ Cáp chàng vượt qua ảo tưởng lớn. |
Significance of the Constellations—Ý nghĩa của các Chòm Sao
|
The three constellations connected with this sign are Orion, Eridanus, Auriga; and the nature of the work in Taurus is beautifully foretold by the three pictures in the heavens which they present to us. The ancient name of Orion was “the three Kings”, because of the three beautiful stars found in Orion’s Belt. The Three Kings represent the three divine aspects of Will, Love and Intelligence, and Orion, therefore, symbolizes the spirit. The name Orion literally means “the breaking forth of light.” |
Ba chòm sao liên kết với dấu hiệu này là Orion, Eridanus, và Auriga; và bản chất của công việc trong Kim Ngưu được tiên báo một cách tuyệt đẹp qua ba hình ảnh mà chúng trình bày trên bầu trời. Tên cổ xưa của Orion là “Ba vị Vua”, do ba ngôi sao sáng rực rỡ nằm trên đai lưng của Orion. Ba vị Vua này tượng trưng cho ba khía cạnh thiêng liêng của Ý Chí, Bác Ái và Trí Tuệ, và do đó, Orion tượng trưng cho tinh thần. Tên Orion có nghĩa đen là “sự bùng nổ của ánh sáng”. |
|
Again and again, as we circle around the zodiac, shall we find appearing what might be called “the spiritual prototype” of Hercules; Perseus, the Coming Prince, who slew the Medusa, symbol of the great illusion. He is found in Aries; Orion, whose name means “light”, is found in Taurus; in Scorpio, Hercules himself, triumphant and victorious, appears. Then we have Sagittarius, the Archer on the Horse, going straight for his goal, and in Pisces we find the King. The more closely we study this heavenly picture book, the more we realize that ever before us is held the symbol of our divinity, the symbol of the soul in incarnation, and the story of matter, as it receives purification and glorification through the laborious work of the soul. |
Hết lần này đến lần khác, khi chúng ta quay quanh vòng hoàng đạo, chúng ta sẽ bắt gặp những biểu tượng mà ta có thể gọi là “nguyên mẫu tinh thần” của Hercules: Perseus, Hoàng Tử Đang Đến, kẻ đã chém đầu Medusa, biểu tượng của đại ảo tưởng, được tìm thấy trong Bạch Dương. Orion, có tên mang ý nghĩa “ánh sáng”, thuộc về Kim Ngưu. Trong Hổ Cáp, Hercules xuất hiện, chiến thắng và vinh quang. Trong Nhân Mã, hình ảnh của xạ thủ trên lưng ngựa, tiến thẳng về mục tiêu của mình. Và trong Song Ngư, chúng ta tìm thấy Nhà Vua. Càng nghiên cứu kỹ cuốn sách thiên thể này, chúng ta càng nhận ra rằng trước mắt chúng ta luôn hiện hữu biểu tượng của tính thiêng liêng, biểu tượng của linh hồn đang nhập thể, và câu chuyện của vật chất, khi nó được thanh tẩy và vinh quang hóa thông qua công cuộc lao động đầy gian khổ của linh hồn. |
|
The second constellation connected with this sign is an immense river of stars, which streams forth from under the feet of Orion. It is called Eridanus, or the “River of the Judge”, and is a symbol of the river of life, carrying souls into incarnation, where they learn the meaning of the words, “as a man sows, so shall he reap”, and where they undertake the stupendous task of working out their own salvation. just as Orion [48] symbolizes the spirit aspect, so Eridanus concerns itself’ with the form-taking aspect and holds before its the thought of incarnation; whilst the third constellation, Auriga, is the charioteer, leading forth to new lands and so symbolizing the soul. |
Chòm sao thứ hai liên kết với dấu hiệu này là một dòng sông sao khổng lồ, tuôn chảy từ dưới chân của Orion. Nó được gọi là Eridanus, hay “Dòng Sông của Đấng Phán Xét”, và là biểu tượng của dòng sông sự sống, nơi dẫn dắt các linh hồn vào sự nhập thể, nơi họ học được ý nghĩa của câu: “Người gieo gì, sẽ gặt nấy”, và nơi họ gánh vác nhiệm vụ vĩ đại của việc tự giải thoát chính mình. Cũng giống như Orion tượng trưng cho khía cạnh tinh thần, Eridanus liên quan đến khía cạnh hình tướng, và nhắc nhở chúng ta về ý niệm nhập thể. Trong khi đó, chòm sao thứ ba, Auriga, chính là người đánh xe ngựa, dẫn dắt đến những vùng đất mới, và do đó tượng trưng cho linh hồn. |
Nature of the Tests—Bản Chất của các Thử Thách
|
The broad lesson to be learned in this sign is to achieve right understanding of the law of attraction and right use and control of matter. In this way matter is raised up into heaven, figuratively speaking, and can enter upon its right function; which is, to constitute a medium of expression and a field of endeavor for the indwelling Christ or soul. The aspirant, therefore, is tested in two ways: first as to the caliber of his animal nature and the motives underlying its utilization; second, he is tested as to the attraction which the great illusion can exert over him. Maya, or the great illusion, and sex are but two aspects of the same force, that of attraction: one, as it manifests on the physical plane, and the other, as it expresses itself in the field of the emotional-desire nature. |
Bài học lớn để học trong dấu hiệu này là đạt được sự hiểu biết đúng đắn về luật hấp dẫn, cách sử dụng và kiểm soát đúng đắn vật chất. Nói một cách tượng trưng, bằng cách này vật chất được nâng lên trời và có thể hoạt động đúng chức năng của nó; đó là, để tạo thành một phương tiện cho sự thể hiện và một lĩnh vực nỗ lực cho đức Christ hoặc linh hồn nội tại. Do đó, người chí nguyện được thử thách theo hai cách: đầu tiên là mức độ của bản chất động vật của y và động cơ phía sau của việc sử dụng nó; thứ hai, y được thử nghiệm về sự hấp dẫn mà ảo cảm vĩ đại có thể gây ra cho y. Maya, hay Đại Ảo tưởng, và tình dục là hai khía cạnh của cùng một lực, lực hấp dẫn: một cái khi nó thể hiện trên cõi trần, và cái kia khi nó tự thể trong lĩnh vực bản chất ham muốn tình cảm. |
The Disciple and Sex—Đệ tử và Tính Dục
|
An aspirant to discipleship has in sex a real problem with which to contend. Self-indulgence and the control of the human being by any part of his organism are always inevitably wrong. When a man’s entire mind is occupied with the thought of women, or vice versa; when he lives mainly to satisfy an animal craving; when he finds himself unable to resist the lure of his polar opposite, then he is a victim of and is controlled by the lowest part of his nature, the animal. |
Một người chí nguyện hướng đến Con đường Đệ tử phải tranh đấu với vấn đề tính dục. Tự buông thả và để cho bất kỳ bộ phận nào của cơ thể mình kiểm soát luôn luôn điều sai lầm không thể tránh khỏi. Khi toàn bộ tâm trí của một người bị ám ảnh bởi ý nghĩ về phụ nữ, hay ngược lại, toàn bộ tâm trí của người phụ nữ bị ám ảnh bợi tư tưởng về người đàn ông; khi người đó sống chủ yếu để thỏa mãn ham muốn thú vật; khi y thấy mình không thể chống lại sự quyến rũ của đối cực của mình, khi đó y là một nạn nhân và bị kiểm soát bởi phần thấp nhất của bản chất của mình, bản chất động vật. |
|
But when man recognizes his physical functions as a divine heritage, and his equipment as having been given him for the good of the group and to be rightly used for the benefit of the human family, then we shall see a new motivating impulse underlying human conduct where sex is concerned. We shall see the elimination of promiscuity, with its attendant evil, [49] disease. We shall see the solution of the problem of too many children and, incidentally, easement of the economic problem. Through right control of the sex function and its relegation to the purpose for which it exists (the carrying onward of the human family and the providing of bodies whereby souls call gain experience) then right use will be made of sex. Then, passion, Lust, self-gratification, disease, and over-population will die out in the world. Matter will no longer be prostituted to selfish desire, and the relation between the sexes will be governed by understanding of divine purpose and skill-in-action. |
Nhưng khi con người nhận ra các chức năng thể chất của mình như là một di sản thiêng liêng, và trang bị của y được trao cho y vì lợi ích của nhóm và được sử dụng đúng đắn cho lợi ích của gia đình nhân loại, chúng ta sẽ thấy một động lực mới đằng sau hành vi của con người trong quan hệ tình dục. Chúng ta sẽ thấy việc loại bỏ sự chung chạ bừa bãi kèm theo đó là các bệnh tật liên quan [49]. Chúng ta sẽ thấy giải pháp cho vấn đề có quá nhiều trẻ em, và một cách tình cờ, giải quyết vấn đề kinh tế. Thông qua sự kiểm soát đúng đắn chức năng tình dục và điều tiết nó với mục đích mà nó tồn tại (sự duy trì gia đình nhân loại và việc cung cấp các cơ thể qua đó linh hồn có thể trãi nghiệm), khi đó vấn đề tình dục sẽ được sử dụng đúng đắn. Khi đó, dục vọng, ham muốn, sự tự mãn, bệnh tật và sự gia tăng dân số quá mức sẽ biến mất dần trên thế giới. Vật chất sẽ không còn bị lợi dụng cho dục vọng ích kỷ, và mối quan hệ giữa các giới sẽ bị chi phối bởi sự hiểu biết về mục đích thiêng liêng và kỹ năng hành động. |
|
Two points of view are equally wrong: in the one case we have practices taught which lead eventually to sexual orgies[2]. These have been dignified by the name of sex magic, and in the sexual orgasm, deliberately induced, a man is led to believe that the physical sex act is his highest point of spiritual opportunity and that, at such a moment, he can touch, if he will, the kingdom of Heaven. |
Hai quan điểm đều sai lầm như nhau: trong một trường hợp, chúng ta có những thực hành được dạy mà cuối cùng dẫn đến các hành vi tình dục bừa bãi. Những điều này đã được khoác dưới tên ma thuật tình dục, và trong sự cực khoái tình dục được cố ý gây ra, một người được dẫn dắt để tin rằng hành vi tình dục thể chất là điểm cao nhất của cơ hội tâm linh của y và tại thời điểm đó, y có thể chạm vào, nếu y muốn, vương quốc Thiên Đàng. |
|
The other attitude, which makes marriage and all expression of the sex life a sin for a disciple and which says that a man cannot be pure in the truly spiritual aspect if he marries and raises a family, is as devastatingly dangerous. There is no state of consciousness and no condition of life in which it is impossible for a man to function as a son of God. If it is not possible for a man to live the life of discipleship and the life of initiation and, with due self-control and understanding, live a normal, balanced sex life; then there is a department of human expression in which divinity is helpless, and this I refuse to recognize. There is no department of life, no field of expression, no meeting of obligation, no use of the physical apparatus, in which the soul cannot fulfil the part of the dominating factor and all things be done truly to the glory of God. But the soul must control, and not the lower nature. People forget that some of the greatest of the world initiates married; that the Buddha married and had a son, and must have been an initiate of high degree when he entered into the married state. [50] They forget that Moses, David the Psalmist, and many of the outstanding figures in the world of mysticism in both hemispheres, were married and raised families. |
Thái độ khác, cho rằng hôn nhân và mọi biểu hiện của đời sống tính dục là tội lỗi đối với một đệ tử và nói rằng một người không thể trong sạch theo khía cạnh thật sự tinh thần nếu y kết hôn và nuôi nấng gia đình, cũng nguy hiểm một cách tàn phá. Không có trạng thái tâm thức nào và không có điều kiện sống nào mà trong đó một người không thể hoạt động như một con của Thượng đế. Nếu một người không thể sống cuộc sống của địa vị đệ tử và cuộc sống của điểm đạo, và với sự tự chủ và thấu hiểu thích đáng, sống một đời sống tính dục bình thường, cân bằng; thì có một lĩnh vực biểu hiện của con người mà trong đó thiên tính bất lực, và điều này tôi từ chối thừa nhận. Không có lĩnh vực sống nào, không có phạm vi biểu hiện nào, không có cuộc gặp gỡ nghĩa vụ nào, không có sử dụng bộ máy hồng trần nào, mà trong đó linh hồn không thể hoàn thành vai trò là nhân tố chi phối và mọi việc được thực hiện thật sự cho vinh quang của Thượng đế. Nhưng linh hồn phải kiểm soát, chứ không phải bản chất thấp hơn. Mọi người quên rằng một số trong những điểm đạo đồ vĩ đại nhất của thế giới đã kết hôn; rằng Đức Phật đã kết hôn và có một người con trai, và hẳn đã là một điểm đạo đồ cấp bậc cao khi Ngài bước vào trạng thái hôn nhân. [50] Họ quên rằng Moses, David nhà Thánh vịnh, và nhiều nhân vật nổi bật trong thế giới thần bí học ở cả hai bán cầu, đã kết hôn và nuôi nấng gia đình. |
|
Disciples belong to all races, both in the occident and in the orient, and the attitude of different races towards sex is widely diversified. Standards of conduct differ. The legality or the illegality of relations varies. Different epochs and different civilizations have seen relationships that were legal at one time, and illegal at another. Some races are monogamous and some races are polygamous. In some civilizations the woman is regarded as the dominant factor, and in others the man. Down the ages sex perverts, homosexuals, true and spurious, have been with us, and today is probably no worse than 5,000 years ago, except that everything is now dragged out into the light, which is good. Everybody talks about the problem; and the rising generation are asking in no uncertain tones: “What about sex? What is right and what is wrong?” How can they be expected to deal with a question which has been discussed, seemingly in the most futile manner, down the ages? |
Các đệ tử thuộc về mọi chủng tộc, cả ở phương Tây lẫn phương Đông, và thái độ của các chủng tộc khác nhau đối với giới tính thì đa dạng rộng rãi. Những tiêu chuẩn về hành vi khác nhau. Tính hợp pháp hay bất hợp pháp của các mối quan hệ thay đổi. Những kỷ nguyên khác nhau và những nền văn minh khác nhau đã chứng kiến các mối quan hệ hợp pháp tại thời điểm này, và bất hợp pháp tại thời điểm khác. Một số chủng tộc theo chế độ một vợ một chồng và một số chủng tộc theo chế độ đa thê. Trong một số nền văn minh, người phụ nữ được coi là nhân tố chi phối, và trong những nền văn minh khác thì là người đàn ông. Qua các thời đại, những kẻ đồi bại tính dục, những người đồng tính luyến ái, thật và giả, đã ở cùng chúng ta, và ngày nay có lẽ không tệ hơn 5.000 năm trước, trừ việc bây giờ mọi thứ đều được kéo ra ánh sáng, điều này là tốt. Mọi người đều nói về vấn đề này; và thế hệ đang lớn lên đang hỏi một cách không mơ hồ: “Còn về tính dục thì sao? Cái gì đúng và cái gì sai?” Làm sao có thể mong đợi họ giải quyết một câu hỏi đã được thảo luận, dường như theo cách vô ích nhất, qua các thời đại? |
|
Here it is pertinent to note that Minos, King of Crete, who owned the sacred bull also possessed the maze in which the Minotaur lived, and the maze has ever been the symbol of the great illusion. The word “maze” comes from an old English word, meaning to bewilder, to confuse, to puzzle. The island of Crete with its maze and its bull is an outstanding symbol of the great illusion. It was separated from the mainland, and illusion and bewilderment are characteristics of the separated self, but not of the soul on its own plane, where group realities and universal truths constitute its kingdom. The bull, to Hercules, typified animal desire, and the many aspects of desire in the world of form which, in their totality, constitute the great illusion. The disciple, like Hercules, is a separated unit, divided from the mainland, the symbol of the group, by the world of illusion and the maze in which he lives. The bull of desire has to be caught and mastered and chased from one point to another [51] in the life of the separated self, until the time comes when the aspirant can do what Hercules succeeded in doing: ride the bull. To ride an animal, in the ancient myths, signifies control. The bull is not slaughtered, it is ridden and guided, and under the mastery of the man. |
Ở đây, thật thích đáng khi lưu ý rằng Minos, Vua của Crete, người sở hữu con bò đực thiêng liêng cũng sở hữu mê cung trong đó Minotaur sống, và mê cung từ lâu đã là biểu tượng của ảo tưởng vĩ đại. Từ “maze” (mê cung) bắt nguồn từ một từ tiếng Anh cổ, có nghĩa là làm bối rối, làm lẫn lộn, làm hoang mang. Đảo Crete với mê cung và con bò đực của nó là một biểu tượng nổi bật của ảo tưởng vĩ đại. Nó tách rời khỏi đất liền, và ảo tưởng và sự hoang mang là những đặc điểm của cái ngã tách biệt, nhưng không phải của linh hồn trên cõi của chính nó, nơi các thực tại nhóm và các chân lý phổ quát tạo thành vương quốc của nó. Đối với Hercules, con bò đực tượng trưng cho dục vọng thú vật, và nhiều khía cạnh của dục vọng trong thế giới hình tướng mà, trong toàn thể của chúng, tạo thành ảo tưởng vĩ đại. Đệ tử, giống như Hercules, là một đơn vị tách biệt, phân chia khỏi đất liền, biểu tượng của nhóm, bởi thế giới ảo tưởng và mê cung mà y sống trong đó. Con bò đực của dục vọng phải được bắt và làm chủ và đuổi từ điểm này đến điểm khác [51] trong cuộc sống của cái ngã tách biệt, cho đến khi thời điểm đến mà người chí nguyện có thể làm những gì Hercules đã thành công trong việc làm: cưỡi con bò đực. Cưỡi một con vật, trong các thần thoại cổ đại, biểu thị sự kiểm soát. Con bò đực không bị giết thịt, nó được cưỡi và dẫn dắt, và dưới sự làm chủ của con người. |
|
There are potencies and faculties hidden in the human being that, when developed and unfolded, may bring new powers to bear upon this problem. But, in the meantime, what shall the aspirant do? Certain suggestions may be made: |
Có những mãnh lực và khả năng tiềm ẩn trong con người, khi được phát triển và khai mở, có thể mang lại những năng lực mới để giải quyết vấn đề này. Nhưng trong lúc chờ đợi điều đó xảy ra, người chí nguyện nên làm gì? Một số gợi ý có thể được đưa ra: |
|
1. Ride, control and master the bull and let the aspirant remember that the bull has to be ridden across the waters to the mainland; which means that the solution of the whole sex problem will come when the disciple subordinates his separated personal island self to group purpose and endeavor, and begins to rule his life by the question, “What is best for the group with which I am associated?” It is by doing this that the bull is ridden to the mainland. |
1. Cưỡi, kiểm soát và làm chủ con bò, và hãy để người chí nguyện nhớ rằng con bò phải được cưỡi trên mặt nước đến đất liền; có nghĩa là giải pháp của toàn bộ vấn đề tình dục sẽ đến khi đệ tử phục tùng hòn đảo cá nhân riêng biệt của mình cho mục đích và nỗ lực tập thể, và bắt đầu cai quản cuộc sống của mình bằng câu hỏi, “Điều gì là tốt nhất cho nhóm mà tôi liên kết? Chính bằng cách này mà con bò được cưỡi đến đất liền. |
|
2. Use common sense. The ancient meaning of the word “common sense” was that there was a sense which synthesized and unified the five senses and so constituted a “common sense”, literally, the mind. Let the aspirant use his mind, and through the medium of intelligent perception, guide and control the bull of desire. If common sense is used, certain dangers will be avoided. There is a danger in the method of many aspirants in inhibiting or shutting off all sex expression. Physiologically they may succeed, but the experience of psychologists and teachers is that where inhibition and a drastic suppression is imposed upon the organism, the result is some form of nervous or mental complex. Many physically clean people have unclean minds. Many who would scorn the practise of any of the sex perversions and who hold that marriage is not for the disciple, have mental apparatuses which will not bear investigation. Their minds and their interpretations of other people’s actions are so salacious and their capacity to think evil so great, that, dangerous as this may sound, one feels that it would be better [52] for them to be ridden by the bull of desire than to continue their present practice of substituting mental indulgence for outer sin. A clean mind and a pure heart, a rightly organized and rightly used physical body, conformity to the laws of the land in which his destiny is cast, utter consideration for the welfare of those with whom he is associated, and a life of loving service: these constitute the ideals of the aspirant. |
2. Sử dụng lương tri. Ý nghĩa cổ xưa của từ “lương tri” là có giác quan tổng hợp và thống nhất năm giác quan, và do đó tạo nên một “giác quan chung”, theo nghĩa đen là tâm trí. Hãy để người chí nguyện sử dụng tâm trí của mình, và thông qua phương tiện nhận thức thông minh, hướng dẫn và kiểm soát con bò của ham muốn. Nếu lương tri được sử dụng, một số nguy hiểm sẽ được tránh khỏi. Có một mối nguy hiểm trong phương pháp của nhiều người chí nguyện trong việc ức chế hoặc dập tắt tất cả các biểu hiện tình dục. Về mặt sinh lý họ có thể thành công, nhưng kinh nghiệm của các nhà tâm lý học và các huấn sư là khi sự ức chế và đàn áp mạnh mẽ được áp đặt lên cơ quan, kết quả sẽ là một dạng rối loạn thần kinh hoặc tinh thần. Nhiều người sạch sẽ về thể chất lại có tâm trí ô uế. Nhiều người sẽ khinh miệt việc thực hành bất kỳ tình dục nào và những người cho rằng hôn nhân không dành cho người đệ tử, lại có những bộ máy tâm trí không chịu sự thẩm tra. Tâm trí của họ và sự giải thích của họ về hành động của người khác rất tục tĩu, khả năng của họ nghĩ đến cái ác quá lớn đến mức nguy hiểm khiến người ta nghĩ rằng tốt hơn [52] là để họ bị con bò dục vọng cưỡi, còn hơn là tiếp tục thực hành hiện tại của họ, thay thế sự đam mê tinh thần cho tội lỗi bên ngoài. Một thể trí sạch sẽ và trái tim thuần khiết, cơ thể vật chất được tổ chức hợp lý và đúng đắn, phù hợp với luật lệ của xứ xở của y, hoàn toàn cân nhắc về phúc lợi của những người mà y có liên quan và một đời sống phụng sự trong yêu thương: đây là những lý tưởng của người chí nguyện. |
|
3. A right understanding, of the meaning, of celibacy. The word means “single” and the meaning usually given to the word is, to refrain from the marriage relation. Many young men and women, driven by spiritual desire and under the influence of the thought-form of the church during the Middle Ages, with its many monasteries and convents, believe that for them the celibate state is essential and right, and are puzzled when they find that complexes result. But may it not be that the true celibacy has been expressed for us in the words of Christ, when he said, “If thine eye be single, thy whole body shall be full of light”? May it not be that true celibacy is the refusal of the soul any longer to identify itself with the form? May not the real marriage relation, of which the physical plane relation is but the symbol, be that of the union of the soul and the form, the positive spirit aspect and the negative mother-matter? |
3. Một sự hiểu biết đúng đắn, về ý nghĩa, của sự độc thân. Từ celibacy (độc thân) có nghĩa là “duy nhất”, và ý nghĩa thông thường được gán cho từ này là từ bỏ quan hệ hôn nhân. Nhiều thanh niên và phụ nữ, được thúc đẩy bởi ham muốn tâm linh và dưới ảnh hưởng của hình thức tư tưởng của Giáo Hội trong thời Trung Cổ, với nhiều tu viện của nó, tin rằng đối với họ, tình trạng độc thân là điều cần thiết và đúng đắn, nhưng họ ngạc nhiên khi thấy rằng kết quả phức tạp. Nhưng chẳng phải sự thật về sự độc thân thực sự đã được bày tỏ cho chúng ta trong lời của Đức Christ, khi Ngài Phán rằng, “Nếu mắt ngươi đơn độc, toàn thân ngươi sẽ đầy ánh sáng”? Chẳng phải rằng sự độc thân thực sự là sự từ chối của linh hồn để đồng hoá chính nó với hình tướng? Chẳng phải rằng mối quan hệ hôn nhân thực sự, mà hôn nhân trên cõi trần là biểu tượng, là sự kết hợp của linh hồn và hình thể, giữa khía cạnh tinh thần dương và người mẹ vật chất âm? |
|
Let the soul be single in its purpose and freed from the thralldom of matter, and then right action and a right point of view will inevitably be the characteristics of the physical plane life. Let the soul ride the form, controlling and mastering it, and then it will surely know its right obligations. It will recognize the relation that it should hold to other human beings, whether its destiny is to be that of husband or wife, father or mother, brother or sister, friend or companion. Through right use of the form and right understanding of purpose, through right orientation to reality and right use of spiritual energy, the soul will act as the controlling factor and the whole body will be full of light. Through control, through the use of common sense, by a right understanding of celibacy, and by [53] identification with group purpose, the disciple will arrive at liberation from the control of sex. He will succeed in following the example of Hercules and will ride the bull of desire over to the mainland where, in the Temple of God, he will hand it over into the care of the Cyclops who were early initiates, having the single eye about which we have been speaking, the eye of Shiva, the Bull’s eye in the constellation Taurus. For Hercules himself was not only the disciple, but he was, in his lower nature, the bull, and in his higher nature the Cyclops. |
Hãy để linh hồn trở thành duy nhất trong mục đích của nó và được giải phóng khỏi sự kiểm soát của vật chất, và khi đó hành động đúng và một quan điểm đúng đắn chắc chắn sẽ là những đặc điểm của cuộc sống trần gian. Hãy để linh hồn cưỡi hình thể, kiểm soát và làm chủ nó, và khi đó nó chắc chắn sẽ biết nghĩa vụ đúng đắn của nó. Nó sẽ nhận ra mối quan hệ mà nó nên giữ với người khác, cho dù định mệnh của nó là vợ hay chồng, cha hoặc mẹ, anh trai hoặc chị em, bạn bè hoặc người đồng hành. Thông qua việc sử dụng đúng hình thể và hiểu đúng mục đích, thông qua định hướng đúng với thực tế và sử dụng đúng năng lượng tinh thần, linh hồn sẽ đóng vai trò là yếu tố kiểm soát và toàn thân sẽ tràn đầy ánh sáng. Thông qua sự kiểm soát, thông qua việc sử dụng lương tri, bởi sự hiểu biết đúng đắn về sự độc thân, và bằng cách đồng hoá [53] với mục đích nhóm, người đệ tử sẽ đạt đến sự giải thoát khỏi sự kiểm soát của tình dục. Y sẽ thành công trong việc làm theo gương của Hercules, sẽ cưỡi con bò dục vọng đến đất liền, vào trong Đền thờ của Thượng đế, y sẽ giao việc chăm sóc nó cho các Cyclops là những điểm đạo đồ thuở xưa, những người có một con mắt duy nhất, mà như chúng ta đã nói,đó là con mắt của Shiva, con mắt của con bò trong chòm sao Kim Ngưu. Vì Hercules không chỉ là một đệ tử, mà trong bản chất thấp của mình, chàng còn là con bò, và trong bản chất cao là các Người Khổng Lồ Một Mắt. |
|
When the bull of desire has been handed over to the Cyclops, to the initiate with the single eye, which is himself, the soul, the three divine aspects, will begin to manifest: Brontes, Steropes and Arges will guard the sacred bull, and Hercules, the disciple, will no longer have any responsibility. Brontes is the symbol of the first aspect of God, the Father who spoke and is the creative sound. Steropes means lightning, or light, and is the second aspect, the soul. Arges means whirling activity, the third aspect of divinity, expressing itself in the intense activity of physical plane life. These divine aspects constitute the controlling factor and once they have gained possession of the sacred bull, the problem of Hercules is solved. |
Khi con bò đực của dục vọng đã được trao cho các Cyclops, cho điểm đạo đồ với con mắt duy nhất, chính là bản thân y, linh hồn, ba phương diện thiêng liêng, sẽ bắt đầu biểu hiện: Brontes, Steropes và Arges sẽ canh giữ con bò đực thiêng liêng, và Hercules, đệ tử, sẽ không còn bất kỳ trách nhiệm nào nữa. Brontes là biểu tượng của phương diện thứ nhất của Thượng đế, Đức Chúa Cha đã phán và là âm thanh sáng tạo. Steropes có nghĩa là chớp, hay ánh sáng, và là phương diện thứ hai, linh hồn. Arges có nghĩa là hoạt động xoay cuồng, phương diện thứ ba của thiên tính, tự biểu hiện trong hoạt động mãnh liệt của đời sống cõi hồng trần. Những phương diện thiêng liêng này tạo thành nhân tố kiểm soát, và một khi chúng đã giành được quyền sở hữu con bò đực thiêng liêng, vấn đề của Hercules được giải quyết. |
|
The two Keywords of Taurus are (From Esoteric Astrology, p. 403): |
Hai chủ âm của Kim Ngưu là (From Esoteric Astrology, p. 403): |
|
“Let struggle be undismayed”. (The Form Aspect.) |
“Hãy để sự đấu tranh không nao núng”. (The Form Aspect.) |
|
“I see and when the Eye is opened, all is light”. (The Soul Aspect.) [54] |
“Tôi thấy, khi Mắt đã mở ra, tất cả là ánh sáng”. (The Soul Aspect.) [54] |
[1] Ngươi có thế riết các dây chằng Sao rua lại, Và tách các xiềng Sao cầy ra chăng—Job 31:38
[2] cuộc chè chén say sưa, cuộc truy hoan, cuộc trác táng