SECTION TWO — THE GENERAL WORLD PICTURE
THE CAUSES OF THE WORLD DIFFICULTY—NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA KHÓ KHĂN THẾ GIỚI
THE HIDDEN SOURCE OF THE OUTER TURMOIL—NGUỒN GỐC ẨN KHUẤT CỦA SỰ HỖN LOẠN BÊN NGOÀI
THE SPIRITUAL TREND OF HUMAN DESTINY—XU HƯỚNG TINH THẦN CỦA ĐỊNH MỆNH NHÂN LOẠI
|
Wesak, May 1939 |
Lễ Wesak, tháng Năm 1939 |
|
In this hour of crisis, anxiety and suspense, it has seemed that there are certain things which you would do well to remember, and certain things which you should endeavour to do. |
Trong giờ phút khủng hoảng, lo âu và hồi hộp này, dường như có một số điều các bạn nên ghi nhớ, và một số điều các bạn nên cố gắng thực hiện. |
|
The first thing, therefore, of which I would like to remind you is that The Hierarchy stands. Behind all that is going on today, the same group of spiritual Forces and the [80] same Elder Brothers and Masters are to be found as heretofore, guiding humanity along the path of life and bringing us safely and satisfactorily to our present point of development. The Buddha, Whose festival we are celebrating, and the Christ, Who expresses to us the unchanging love of God, are still with us, and the Hierarchy stands as a bulwark of strength between us and possible disaster; this centre of spiritual life is “like the shadow of a great rock in a weary land”. |
Vì vậy, điều đầu tiên mà tôi muốn nhắc các bạn là Thánh đoàn vẫn đứng vững. Đằng sau tất cả những gì đang diễn ra ngày nay, vẫn có cùng một nhóm các Mãnh Lực tinh thần và [80] cùng những Huynh Trưởng và các Chân sư như trước đây, đang hướng dẫn nhân loại trên con đường sự sống và đưa chúng ta một cách an toàn và thỏa đáng đến điểm phát triển hiện nay. Đức Phật, Đấng mà lễ hội của Ngài chúng ta đang cử hành, và Đức Christ, Đấng biểu lộ cho chúng ta tình yêu bất biến của Thượng Đế, vẫn ở cùng chúng ta, và Thánh đoàn đứng như một thành luỹ sức mạnh giữa chúng ta và tai hoạ có thể xảy ra; trung tâm của sự sống tinh thần này “như bóng của một tảng đá lớn trong miền đất mệt mỏi”. |
|
The second thing I would have you all remember is that mankind has marched steadily forward from a state of blind ignorance and unawareness to one of an intelligent preoccupation with life and a growing sense of responsibility. This sense of responsibility, which is awakening in all of you, is—on its present large scale—relatively new and is one of the factors definitely increasing the distress and pain you are all feeling. You ask yourselves, where, as a race, have we failed and what can we do to rectify our mistakes? In spite of everything, however, men have gone from stage to stage of intelligent and spiritual unfoldment and no matter what the outer happenings have been or may be, the race has made real progress. There has been no turning back, and there will be none. Mankind has weathered many storms and survived many difficulties; men have emerged from periods of crisis better and stronger, purified “so as by fire” and definitely nearer the goal. |
Điều thứ hai mà tôi muốn tất cả các bạn ghi nhớ là nhân loại đã tiến bước vững vàng từ một trạng thái vô minh mù quáng và không nhận biết đến một trạng thái bận tâm thông minh với sự sống và một ý thức trách nhiệm ngày càng tăng. Ý thức trách nhiệm này, đang thức tỉnh nơi tất cả các bạn, xét trên quy mô lớn hiện nay của nó, là tương đối mới và là một trong những yếu tố chắc chắn làm gia tăng nỗi đau khổ và thống khổ mà tất cả các bạn đang cảm thấy. Các bạn tự hỏi, với tư cách một nhân loại, chúng ta đã thất bại ở đâu và chúng ta có thể làm gì để sửa chữa những sai lầm của mình? Tuy nhiên, bất chấp mọi sự, con người đã đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của sự khai mở trí tuệ và tinh thần, và dù những biến cố bên ngoài đã là gì hay có thể là gì, nhân loại đã đạt được tiến bộ thực sự. Không hề có sự quay lui, và sẽ không có. Nhân loại đã vượt qua nhiều cơn bão và sống sót qua nhiều khó khăn; con người đã bước ra khỏi các thời kỳ khủng hoảng tốt đẹp hơn và mạnh mẽ hơn, được thanh luyện “như bởi lửa” và chắc chắn gần mục tiêu hơn. |
|
I would remind you also of the integrity and solidarity of the human family. We are one people—one in our relationships, and capacities and desires, our origin and our goal. It is this essential and recognisable integrity which is emerging at this time powerfully in the human consciousness. You are apt to think that this may not be so, that your position in believing this is somewhat unique and that you stand somewhat alone. But this is your error and is not true to the facts of the case. In every land and among widely differing peoples, the same desire exists for understanding, for the establishing of right and peaceful relations, and for the [81] expression of that basic goodwill which is one of the deepest human characteristics and our divine inheritance. |
Tôi cũng muốn nhắc các bạn về tính toàn vẹn và tính đoàn kết của gia đình nhân loại. Chúng ta là một dân tộc—một trong các mối liên hệ, các khả năng và các ham muốn, nguồn gốc và mục tiêu của chúng ta. Chính tính toàn vẹn cốt yếu và có thể nhận ra này hiện đang xuất hiện mạnh mẽ trong tâm thức nhân loại. Các bạn thường nghĩ rằng có thể không phải như vậy, rằng lập trường của các bạn khi tin điều này có phần nào độc đáo và rằng các bạn đứng khá đơn độc. Nhưng đó là sai lầm của các bạn và không đúng với sự thật của tình hình. Trong mọi quốc gia và giữa những dân tộc rất khác nhau, vẫn tồn tại cùng một khát vọng về sự thấu hiểu, về việc thiết lập các mối liên hệ đúng đắn và hoà bình, và về [81] sự biểu lộ của thiện chí căn bản vốn là một trong những đặc tính sâu xa nhất của con người và là di sản thiêng liêng của chúng ta. |
|
These are the things which, it seems to me, are important at this time, and which all of us would do well to remember. Will you try to do so? No matter what may take place in the world—whether war or peace, strife and aggression or understanding conciliation and conference—we face a difficult period of adjustment, and for this we must be prepared. The next three years are critical, and this we have often been told. |
Đó là những điều mà, theo tôi, là quan trọng vào lúc này, và là những điều mà tất cả chúng ta nên ghi nhớ. Các bạn có sẵn lòng cố gắng làm như vậy không? Dù điều gì có thể xảy ra trong thế giới—chiến tranh hay hoà bình, xung đột và xâm lược hay sự hoà giải và hội nghị trong tinh thần thấu hiểu—chúng ta đang đối diện một giai đoạn điều chỉnh khó khăn, và vì điều này chúng ta phải chuẩn bị. Ba năm tới là then chốt, và điều này chúng ta đã thường được bảo như thế. |
|
Much will depend upon what you and all men of goodwill and disciples think and what they do. I would like to remind you of another most encouraging thing, and that is that the power wielded by those who are seeking to live as souls and in touch with the soul and the world of spiritual realities is out of all proportion to their registered sense of power and usefulness. You are, as you endeavour to wield spiritual force constructively and selflessly, far more potent than you realise. If you add to this realisation the recognition that you are not alone in this, but that people with a vision similar to yours and with the same ideals and spiritual aspiration are to be found in every country without exception of any kind, in every religion, group and organisation, then indeed you can go forward with courage and with hopeful faith. If this is a statement of fact (and I believe it to be so) then let us go forward in unison with our brothers everywhere, conscious of opportunity, of strength, of responsibility and of the joy of service. |
Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào điều các bạn và tất cả những người có thiện chí cùng các đệ tử suy nghĩ và điều họ làm. Tôi muốn nhắc các bạn một điều rất đáng khích lệ khác, đó là quyền năng được vận dụng bởi những ai đang tìm cách sống như các linh hồn và tiếp xúc với linh hồn cùng thế giới của các thực tại tinh thần vượt xa cảm nhận đã được ghi nhận của họ về quyền năng và tính hữu dụng của chính mình. Khi các bạn cố gắng vận dụng mãnh lực tinh thần một cách xây dựng và vô ngã, các bạn mạnh mẽ hơn rất nhiều so với điều các bạn nhận ra. Nếu các bạn thêm vào sự nhận thức này việc nhận ra rằng các bạn không đơn độc trong điều đó, mà rằng những người có tầm nhìn tương tự như của các bạn và có cùng lý tưởng cùng khát vọng tinh thần có thể được tìm thấy ở mọi quốc gia không có bất kỳ ngoại lệ nào, trong mọi tôn giáo, nhóm và tổ chức, thì quả thật các bạn có thể tiến bước với dũng khí và với niềm tin đầy hy vọng. Nếu đây là một phát biểu sự thật (và tôi tin là như vậy) thì chúng ta hãy tiến bước trong hợp nhất với các huynh đệ của mình ở khắp nơi, ý thức về cơ hội, về sức mạnh, về trách nhiệm và về niềm vui của sự phụng sự. |
|
As regards some of the things which you can do, I would suggest the following. Refuse to allow yourselves to be swept by any fear psychosis or to be stampeded into any attitude through which the anxiety and unrest and distress in the world can overwhelm you. Strive to stand in spiritual being. Each morning, in your meditation, seek to take that attitude with a new and fresh definiteness and to hold it during the hours of service which lie ahead each day. This will not be an easy thing to do, but it can be done if you can get quiet enough for five minutes each morning—completely [82] and interiorly quiet—and if you fill your days with vital occupation and true service, guarding with care all thought and speech. |
Liên quan đến một số điều mà các bạn có thể làm, tôi xin gợi ý như sau. Hãy từ chối không để mình bị cuốn theo bất kỳ chứng loạn sợ hãi nào hoặc bị dồn ép vào bất kỳ thái độ nào khiến sự lo âu, bất ổn và đau khổ trong thế giới có thể áp đảo các bạn. Hãy cố gắng đứng vững trong bản thể tinh thần. Mỗi buổi sáng, trong lúc tham thiền, hãy tìm cách đảm nhận thái độ ấy với một sự dứt khoát mới mẻ và rõ ràng, và giữ nó trong những giờ phụng sự đang chờ phía trước mỗi ngày. Đây sẽ không phải là điều dễ làm, nhưng có thể làm được nếu mỗi sáng các bạn có thể trở nên đủ tĩnh lặng trong năm phút—hoàn toàn [82] và nội tại tĩnh lặng—và nếu các bạn lấp đầy ngày sống của mình bằng hoạt động sinh động và sự phụng sự chân chính, đồng thời cẩn trọng canh giữ mọi tư tưởng và lời nói. |
|
Between now and the Wesak Festival in 1940 let each of you gain that control of speech which has often been your goal but seldom your achievement, and remember that the most powerful factor in the control of speech is a loving heart. Wild and fearful talk, hateful gossip, cruel innuendo, suspicion, the ascribing of wrong and wicked motives to persons and peoples, and the divergences of attitude which have separated the many different nations in the world are rampant today and have brought the world to its present distressing situation. It is so easy to drift into the same habits of speech and thought which we find around us and to discover ourselves participating in attack and the spirit of hate. Guard yourselves strenuously against this and say nothing which could inflame hate and suspicion in connection with any race, any person, any group or any leaders of groups and nations. You will have to guard yourselves with care, so that even in defense of that which you may personally or nationally approve you do not find yourselves full of hate and breaking the law of love—the only law which can truly save the world. Perhaps the key to your success along this line will be the silence of a loving heart. |
Từ nay đến Lễ Wesak năm 1940, mong mỗi người trong các bạn đạt được sự kiểm soát lời nói vốn thường là mục tiêu của các bạn nhưng hiếm khi là thành tựu của các bạn, và hãy nhớ rằng yếu tố mạnh mẽ nhất trong việc kiểm soát lời nói là một trái tim bác ái. Những lời nói hoang dại và đầy sợ hãi, chuyện ngồi lê đôi mách đầy hận thù, những lời bóng gió tàn nhẫn, sự nghi ngờ, việc gán những động cơ sai trái và độc ác cho cá nhân và dân tộc, và những khác biệt trong thái độ đã chia cắt nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đang lan tràn ngày nay và đã đưa thế giới đến tình trạng đau đớn hiện nay. Thật dễ dàng để trôi vào cùng những thói quen nói năng và suy nghĩ mà chúng ta thấy quanh mình và nhận ra rằng chính mình đang tham gia vào sự công kích và tinh thần hận thù. Hãy nghiêm ngặt tự canh giữ mình trước điều này và đừng nói điều gì có thể làm bùng lên hận thù và nghi ngờ liên quan đến bất kỳ chủng tộc nào, bất kỳ cá nhân nào, bất kỳ nhóm nào hay bất kỳ lãnh đạo nào của các nhóm và các quốc gia. Các bạn sẽ phải cẩn trọng tự canh giữ mình để ngay cả khi bảo vệ điều mà cá nhân hay quốc gia các bạn có thể tán thành, các bạn cũng không thấy mình đầy hận thù và phá vỡ định luật bác ái—định luật duy nhất thực sự có thể cứu thế giới. Có lẽ chìa khoá cho thành công của các bạn theo đường hướng này sẽ là sự im lặng của một trái tim bác ái. |
|
It will be good also to cultivate the joy that brings strength. This is not the time for gloom, despair or depression. If you give way to these, you become negative and destructive focal points in your environment. If you truly believe that the spiritual life is fundamental in the world today, if you do believe that divinity guides the world, if you truly grasp the fact that all men are your brothers and that we are all the children of the One Father, and if you are convinced that the heart of humanity is sound—are these not adequately potent ideas to hold us joyously steady in the midst of a changing world? |
Cũng sẽ tốt nếu nuôi dưỡng niềm vui đem lại sức mạnh. Đây không phải là lúc cho u ám, tuyệt vọng hay trầm uất. Nếu các bạn buông theo những điều ấy, các bạn sẽ trở thành những tiêu điểm tiêu cực và phá hoại trong môi trường của mình. Nếu các bạn thực sự tin rằng đời sống tinh thần là nền tảng trong thế giới ngày nay, nếu các bạn thực sự tin rằng thiên tính đang hướng dẫn thế giới, nếu các bạn thực sự nắm được sự kiện rằng mọi người đều là huynh đệ của các bạn và rằng tất cả chúng ta đều là con cái của Một Người Cha, và nếu các bạn xác tín rằng trái tim của nhân loại là lành mạnh—chẳng phải đó là những ý tưởng đủ mạnh để giữ chúng ta vững vàng một cách hoan hỉ giữa một thế giới đang đổi thay hay sao? |
|
Will you, therefore, carry with you the following ideas? |
Vậy, các bạn có sẵn lòng mang theo những ý tưởng sau đây không? |
|
First, that the Hierarchy of spiritual Forces stands in spiritual Being. |
Thứ nhất, rằng Thánh đoàn của các Mãnh Lực tinh thần đứng vững trong Bản Thể tinh thần. |
|
[83] Second, that we too can stand steady in spiritual Being. |
[83] Thứ hai, rằng chính chúng ta cũng có thể đứng vững trong Bản Thể tinh thần. |
|
Third, that the silence of a loving heart should be our keynote for the coming year. |
Thứ ba, rằng sự im lặng của một trái tim bác ái phải là chủ âm của chúng ta cho năm sắp tới. |
|
Fourth, that strength to stand is the result of a joyous attitude and a true orientation to the soul. |
Thứ tư, rằng sức mạnh để đứng vững là kết quả của một thái độ hoan hỉ và một sự định hướng chân chính về linh hồn. |
|
~ |
~ |
CONFLICT BETWEEN FORCES OF ANCIENT ORIGIN—XUNG ĐỘT GIỮA CÁC MÃNH LỰC CÓ NGUỒN GỐC CỔ XƯA
|
Tháng Tám 1939 |
|
|
I have already written anent the fivefold stream of energy which is today in conflict with world forces or with the forces of light or darkness, so called. (I would remind you that there would be no darkness without the light and no light without the dark. Ponder on this.) I would ask you to realise that the organised efforts of the Great White Lodge are directed toward lifting the organised forces of materialism to a higher and spiritual plane. Today, gold and separativeness, materialism and selfishness are in conflict with spiritual energy and with the spirit of cooperation or understanding fusion. The law which will determine the results can be expressed in the words that have been often used: by holding, man loses; by relinquishing, he gains; by seeking to grasp that which he has, it must and will inevitably disappear. Reflect upon this law. |
Tôi đã viết về dòng năng lượng ngũ phân hiện đang xung đột với các mãnh lực thế giới hay với các mãnh lực của ánh sáng hoặc bóng tối, như người ta gọi. (Tôi xin nhắc các bạn rằng sẽ không có bóng tối nếu không có ánh sáng và sẽ không có ánh sáng nếu không có bóng tối. Hãy suy ngẫm về điều này.) Tôi muốn các bạn nhận ra rằng những nỗ lực có tổ chức của Thánh đoàn được hướng tới việc nâng các mãnh lực duy vật có tổ chức lên một cõi cao hơn và tinh thần hơn. Ngày nay, vàng bạc và tính chia rẽ, chủ nghĩa duy vật và ích kỷ đang xung đột với năng lượng tinh thần và với tinh thần hợp tác hay dung hợp trong thấu hiểu. Định luật sẽ quyết định kết quả có thể được diễn tả bằng những lời thường được dùng: bằng cách nắm giữ, con người mất; bằng cách từ bỏ, y được; bằng cách tìm cách chộp lấy điều mình có, nó phải và chắc chắn sẽ biến mất. Hãy suy tư về định luật này. |
|
The method whereby the forces of separation and of selfishness work are by competitive cooperation. Throughout the world, groups are already formed (or are in process of forming) to bring about the attainment of various materialistic goals, the achievement of personal or national ambitions, and the imposition of intellectual plans and concepts (the so-called ideologies) upon the mass of the people. Parties, organisations, groups, societies, associations and alliances exist for the furtherance of political and sociological aims and to carry forward the projects of many peoples and the many and differing points of view, plus the many attitudes toward life and its arrangement and re-arrangement. I am not here dealing with the churches, the [84] great religions or the religious organisations. I am concerned with the determining factors which are today conditioning the material life of the planet. Speaking broadly, these forces and groups are occupied with material values and mental ideas. They are not principally occupied with the more subtle values, though these are incidentally present. The emphasis is upon the economic situation; upon the possession of land or cultural predispositions and tendencies and with the relations between people and nations; these latter are based fundamentally, as you know, on that which is tangible and objective, guarded, defended or gained and procured by definitely tangible means which are in themselves separative and divided. This statement, I think, the people of every nation would regard as true. The basic underlying methods employed are those of organisational arrangement (large, as in nations, or smaller, as in the groups within the nations), propaganda, the imposition of favoured ideas through the use of the spoken and written word in every country, group loyalty, group adherence to the leader, and group methods. Success depends upon the gained group cohesion, the group willingness to sacrifice, plus loyalty and allegiance to some directing personality. |
Phương pháp mà các mãnh lực của chia rẽ và ích kỷ vận hành là sự hợp tác cạnh tranh. Trên khắp thế giới, các nhóm đã được hình thành (hoặc đang trong tiến trình hình thành) để đem lại việc đạt được nhiều mục tiêu duy vật khác nhau, thành tựu những tham vọng cá nhân hay quốc gia, và sự áp đặt các kế hoạch và khái niệm trí tuệ (cái gọi là các hệ tư tưởng) lên quần chúng. Các đảng phái, tổ chức, nhóm, hội, hiệp hội và liên minh tồn tại để thúc đẩy các mục tiêu chính trị và xã hội học và để xúc tiến các dự án của nhiều dân tộc cùng nhiều quan điểm khác nhau, cộng với nhiều thái độ đối với đời sống và việc sắp xếp hay tái sắp xếp nó. Ở đây tôi không bàn đến các giáo hội, các [84] tôn giáo lớn hay các tổ chức tôn giáo. Tôi quan tâm đến những yếu tố quyết định hiện đang tác động lên đời sống vật chất của hành tinh. Nói một cách khái quát, các mãnh lực và các nhóm này bận tâm với các giá trị vật chất và các ý tưởng trí tuệ. Chúng không chủ yếu bận tâm với các giá trị tinh tế hơn, dù những giá trị này hiện diện một cách phụ thuộc. Sự nhấn mạnh đặt trên tình hình kinh tế; trên việc sở hữu đất đai hay các khuynh hướng và xu thế văn hoá; và trên các mối liên hệ giữa con người và các quốc gia; như các bạn biết, những mối liên hệ sau này về căn bản dựa trên những gì hữu hình và khách quan, được canh giữ, bảo vệ hay đạt được và thu nhận bằng những phương tiện rõ rệt hữu hình mà tự chúng có tính chia rẽ và phân tách. Tôi nghĩ rằng dân chúng của mọi quốc gia sẽ xem phát biểu này là đúng. Những phương pháp căn bản nằm bên dưới được sử dụng là sự sắp xếp có tổ chức (quy mô lớn như trong các quốc gia, hay nhỏ hơn như trong các nhóm bên trong các quốc gia), tuyên truyền, áp đặt các ý tưởng được ưu ái qua việc sử dụng lời nói và chữ viết ở mọi quốc gia, lòng trung thành với nhóm, sự gắn bó của nhóm với người lãnh đạo, và các phương pháp nhóm. Thành công tùy thuộc vào sự cố kết nhóm đã đạt được, sự sẵn lòng hy sinh của nhóm, cộng với lòng trung thành và sự quy phục đối với một phàm ngã chỉ đạo nào đó. |
|
Behind these many groups stand the forces of ancient origin which are pledged either to the material or the spiritual values. Because many ages have gone by in the building up of the material values, to the development of the personality consciousness, and to the achievement of a tangible and objective civilisation, the forces of materialism are apparently far stronger and more potent than the forces of the spirit or of the intangible worlds. Up to the present this has not been wrong, though it has been accompanied by much that has been undesirable and which has led to a one-sided evolution. But the time has now come for the shift of the human consciousness into the world of true and spiritual understanding and of the intangible and more desirable standards of living. |
Đằng sau nhiều nhóm này là các mãnh lực có nguồn gốc cổ xưa đã cam kết hoặc với các giá trị vật chất hoặc với các giá trị tinh thần. Bởi vì đã có nhiều thời đại trôi qua trong việc xây dựng các giá trị vật chất, trong việc phát triển tâm thức phàm ngã, và trong việc đạt được một nền văn minh hữu hình và khách quan, nên các mãnh lực của chủ nghĩa duy vật dường như mạnh hơn và hữu hiệu hơn nhiều so với các mãnh lực của tinh thần hay của các thế giới vô hình. Cho đến nay điều này không sai, dù nó đã đi kèm với nhiều điều không đáng mong muốn và đã dẫn đến một sự tiến hoá phiến diện. Nhưng nay đã đến lúc tâm thức nhân loại phải chuyển dịch vào thế giới của sự thấu hiểu chân chính và tinh thần, và của những tiêu chuẩn sống vô hình và đáng mong muốn hơn. |
|
Pouring through the chaos of offensive and defensive groups and through the many warring organisations (political [85] for the most part, or religious), and affecting both the reactionary bodies and those who stand for the new ideals and the coming civilisation and culture, are the five streams above mentioned—streams of energy. |
Đang tuôn qua tình trạng hỗn loạn của các nhóm công kích và phòng thủ, và qua nhiều tổ chức đang giao tranh (phần lớn là chính trị [85] hoặc tôn giáo), đồng thời tác động lên cả các tập thể phản động lẫn những người đứng về các lý tưởng mới và nền văn minh cùng văn hoá đang đến, là năm dòng đã nói ở trên—những dòng năng lượng. |
|
At this point I would remind you that the effect of the impact of energy is dependent upon the nature of the vehicle of response. According to his equipment and the nature of his bodies, so will man react to the inflowing energies. This is a fundamental statement. It is a law and should be most carefully considered. The effects of a Master or initiate upon men are widely different, because each man brings to the impact of His vibration a type of physical body, an astral or emotional nature, and a mind which are in each case different from all the others. The use each makes of the stimulating energy will be different; the focus of his consciousness is very different; his type of mind is quite different; his centres, their activity and their internal organisation are different. And it is the same for groups, organisations and nations. |
Tại điểm này, tôi muốn nhắc các bạn rằng hiệu quả của tác động của năng lượng tùy thuộc vào bản chất của vận cụ đáp ứng. Tùy theo trang bị của mình và bản chất các thể của mình mà con người sẽ phản ứng với các năng lượng đang tuôn vào. Đây là một phát biểu căn bản. Đó là một định luật và cần được suy xét hết sức cẩn trọng. Các hiệu quả của một Chân sư hay điểm đạo đồ lên con người rất khác nhau, bởi vì mỗi người đem đến sự tác động của rung động của Ngài một loại thể xác, một bản chất cảm dục hay cảm xúc, và một trí tuệ mà trong mỗi trường hợp đều khác với tất cả những người khác. Việc sử dụng mà mỗi người thực hiện đối với năng lượng kích thích ấy sẽ khác nhau; tiêu điểm tâm thức của y rất khác; loại trí tuệ của y hoàn toàn khác; các trung tâm của y, hoạt động của chúng và tổ chức nội tại của chúng đều khác. Và điều này cũng đúng với các nhóm, các tổ chức và các quốc gia. |
|
Nations, for instance, have seven centres, as have all forms of existence from the human and animal upwards, and it is an interesting study to discover these centres and note the type of energy which flows through them. In connection with the United States of America, Chicago is the solar plexus centre, whilst New York is the throat centre and Washington the head centre. The heart centre is Los Angeles. The heart centre of Germany is Munich, and its head centre is Nuremberg, whilst Berlin is the throat centre. London is, of course, the heart centre for Great Britain (and temporarily it is also the head centre, though this will not always be the case), whilst Ottawa is the throat centre and Sydney is the solar plexus centre of the British Empire. Some day I may indicate to you the centres through which the forces of manifestation have to work for the various nations. This information constitutes one of the major hierarchical sciences and indicates to us who know it the possibilities latent in any nation, the point of attainment and the opportunities for work and advancement, or the obstacles [86] to progress; this is gauged by the light in the centres and the heightening and the obscuration of their vibration. It is this that makes possible or hinders the growth of what is called spirituality in individuals and in nations, and this science will later be recognised. It is by means of this science that the Hierarchy can form its larger plans and know in what manner individual nations will react to stimulation and to progress of the desired kind. This is the modern form of the ancient Atlantean laya-yoga, or the yoga of the centres. |
Chẳng hạn, các quốc gia có bảy trung tâm, cũng như mọi hình thức tồn tại từ con người và động vật trở lên, và đó là một sự nghiên cứu thú vị để khám phá các trung tâm này và ghi nhận loại năng lượng chảy qua chúng. Liên quan đến Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, Chicago là trung tâm tùng thái dương, trong khi New York là trung tâm cổ họng và Washington là trung tâm đầu. Trung tâm tim là Los Angeles. Trung tâm tim của Đức là Munich, và trung tâm đầu của nó là Nuremberg, trong khi Berlin là trung tâm cổ họng. Dĩ nhiên London là trung tâm tim của Đại Anh (và tạm thời nó cũng là trung tâm đầu, dù điều này sẽ không luôn luôn như vậy), trong khi Ottawa là trung tâm cổ họng và Sydney là trung tâm tùng thái dương của Đế quốc Anh. Một ngày nào đó tôi có thể chỉ cho các bạn các trung tâm mà qua đó các mãnh lực biểu hiện phải hoạt động đối với các quốc gia khác nhau. Thông tin này cấu thành một trong những khoa học lớn của Thánh đoàn và chỉ cho chúng tôi, những người biết nó, các khả năng tiềm ẩn trong bất kỳ quốc gia nào, điểm thành tựu và các cơ hội cho công việc và sự tiến bộ, hay các chướng ngại [86] đối với tiến bộ; điều này được đo bằng ánh sáng trong các trung tâm và sự tăng cường hay che mờ rung động của chúng. Chính điều này làm cho sự tăng trưởng của cái được gọi là tinh thần nơi cá nhân và quốc gia trở nên khả hữu hoặc cản trở nó, và khoa học này về sau sẽ được công nhận. Chính nhờ khoa học này mà Thánh đoàn có thể hình thành các kế hoạch lớn hơn của mình và biết các quốc gia riêng lẻ sẽ phản ứng theo cách nào đối với sự kích thích và đối với tiến bộ thuộc loại mong muốn. Đây là hình thức hiện đại của laya-yoga Atlantis cổ xưa, hay yoga của các trung tâm. |
|
According, therefore, to the condition of the sensitive bodies of the planet, of nations and of individuals, so will be their reaction to the five kinds of inflowing forces. The Shamballa force, for instance, in making its impact upon first ray types, and upon the other ray types on that line of major energy—the third, fifth and seventh ray types—evokes widely differing results than when it makes an impact upon the second ray line of energy; the results of the impact of Shamballa energy upon the first ray individuals and nations can be potent in the extreme. This impact, being relatively a new one to humanity, evokes in the world today all the political and organisational changes which are so prevalent and so disturbing. There is little that humanity can do about this except endeavour to balance this first ray display of energy with second ray or hierarchical force. This latter energy—working through the world religions and the men and women who respond to the love influence—can change methods (though not the purpose or the direction) by pouring in the love force. |
Vì vậy, tùy theo tình trạng của các thể nhạy cảm của hành tinh, của các quốc gia và của các cá nhân mà phản ứng của họ đối với năm loại mãnh lực tuôn vào sẽ như thế. Chẳng hạn, mãnh lực Shamballa, khi tạo tác động lên những người cung một, và lên các loại cung khác trên đường năng lượng chính ấy—những người cung ba, cung năm và cung bảy—gợi ra những kết quả rất khác so với khi nó tạo tác động lên đường năng lượng cung hai; các kết quả của tác động của năng lượng Shamballa lên các cá nhân và quốc gia cung một có thể cực kỳ mạnh mẽ. Tác động này, vì tương đối là một điều mới mẻ đối với nhân loại, gợi ra trong thế giới ngày nay tất cả những thay đổi chính trị và tổ chức đang rất phổ biến và rất gây xáo trộn. Nhân loại hầu như không thể làm gì về điều này ngoài việc cố gắng quân bình sự biểu lộ năng lượng cung một này bằng mãnh lực cung hai hay mãnh lực của Thánh đoàn. Năng lượng sau này—hoạt động qua các tôn giáo thế giới và những người nam và nữ đáp ứng với ảnh hưởng của bác ái—có thể thay đổi các phương pháp (dù không thay đổi mục đích hay phương hướng) bằng cách tuôn vào mãnh lực bác ái. |
|
Again, that force which we regard as emanating from the strictly human centre, the third ray type of energy, is of the third or creative order; and in these three energies you have, in reality, the expression of the three major centres of the planetary Logos. The first or will energy is, as you know, focussed in Sanat Kumara, the Ancient of Days (as He is called in the Christian Bible), the Lord of Shamballa, Who is the embodiment of the Personality of the planetary Logos. The love force is focussed through the two great spiritual Lords of the Hierarchy, the Buddha and the [87] Christ, Who are both embodiments of the heart centre of the planetary Logos, for the Buddha represents the twelve-petalled lotus in the head, of which the Christ represents the counterpart, the twelve-petalled lotus of the heart centre. This is a fact seldom grasped or even mentioned. The petals of the throat centre are represented at this time by certain of the leading world rulers, whose activity is responsible for the rapid creation of the new world with its rapidly altering civilisations and culture. These thoughts will provide much that you would do well to consider. |
Một lần nữa, mãnh lực mà chúng ta xem là phát ra từ trung tâm nhân loại theo nghĩa chặt chẽ, loại năng lượng cung ba, thuộc về trật tự thứ ba hay sáng tạo; và trong ba năng lượng này, trên thực tế các bạn có sự biểu lộ của ba trung tâm chính của Hành Tinh Thượng đế. Năng lượng thứ nhất hay năng lượng ý chí, như các bạn biết, được tập trung nơi Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Kinh Thánh Cơ Đốc), Chúa Tể Shamballa, Đấng là hiện thân của Phàm Ngã của Hành Tinh Thượng đế. Mãnh lực bác ái được tập trung qua hai Đấng Chúa Tể tinh thần lớn của Thánh đoàn, Đức Phật và [87] Đức Christ, cả hai đều là hiện thân của trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế, vì Đức Phật tượng trưng cho hoa sen mười hai cánh trong đầu, mà Đức Christ tượng trưng cho đối phần của nó, hoa sen mười hai cánh của trung tâm tim. Đây là một sự kiện hiếm khi được nắm bắt hay thậm chí được nhắc đến. Các cánh của trung tâm cổ họng hiện nay được tượng trưng bởi một số nhà cai trị hàng đầu của thế giới, mà hoạt động của họ chịu trách nhiệm cho sự sáng tạo nhanh chóng của thế giới mới với các nền văn minh và văn hoá đang thay đổi mau lẹ của nó. Những tư tưởng này sẽ cung cấp nhiều điều mà các bạn nên suy xét. |
|
The fourth type of force, which is responsible for the state of world affairs at this time, is that of the Jews; they, as a whole, constitute the solar plexus of the planetary Logos; their problem is being used today to focus, qualify and condition the world feeling-nature and the emotional reactions of the sensitive nature of humanity and of the planetary Logos. Forget not that the Personality of our planetary Logos is not yet perfect, hence the fact that His body of manifestation, the planet, is not reckoned as being one of the sacred planets. Through the Jewish people throughout the world, feeling—sympathetic or antagonistic, expressive of love or conditioned by hate—is being gathered to a focus in the planetary solar plexus centre, preparatory to a great and permanent change. It is for this reason that I have said to some of my pupils that when humanity will have solved correctly the Jewish problem, and when it has been resolved in a humanitarian and sound manner, then the energy of the planetary solar plexus centre will have been raised to the heart and a great transmutation will have taken place. |
Loại mãnh lực thứ tư, chịu trách nhiệm về tình trạng của các công việc thế giới vào lúc này, là mãnh lực của người Do Thái; xét như một toàn thể, họ cấu thành tùng thái dương của Hành Tinh Thượng đế; vấn đề của họ ngày nay đang được dùng để quy tụ, định tính và tác động lên bản chất cảm xúc của thế giới cùng các phản ứng cảm xúc của bản chất nhạy cảm nơi nhân loại và nơi Hành Tinh Thượng đế. Đừng quên rằng phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta vẫn chưa hoàn hảo, do đó mới có sự kiện là thể biểu hiện của Ngài, tức hành tinh này, không được kể là một trong các hành tinh thiêng liêng. Qua dân tộc Do Thái trên khắp thế giới, cảm xúc—đồng cảm hay đối kháng, biểu lộ tình thương hay bị điều kiện hóa bởi hận thù—đang được gom lại thành một tiêu điểm trong trung tâm tùng thái dương hành tinh, để chuẩn bị cho một sự thay đổi lớn lao và thường tồn. Chính vì lý do này mà tôi đã nói với một số môn sinh của tôi rằng khi nhân loại giải quyết đúng đắn vấn đề Do Thái, và khi vấn đề ấy được giải quyết theo cách nhân đạo và lành mạnh, thì năng lượng của trung tâm tùng thái dương hành tinh sẽ được nâng lên tim và một sự chuyển hoá lớn lao sẽ diễn ra. |
|
The Dark or Materialistic Forces correspond in their entirety to the energies of the sacral centre of the planet, dealing with the generation of forms, and their work is to keep the direction of planetary interest upon the form side of divine expression. They are concerned with the life of matter itself, with its magical usage, and with that which is regarded as dark because, for humanity at its present stage of development, that divine aspect should have lost its major [88] hold and should lie behind “in the darkness of that which has been outgrown and which has no further hold upon the son of God”. You therefore have the following tabulation expressing what I have sought above to make clear to you. |
Các Mãnh Lực Bóng Tối hay Duy Vật, trong toàn bộ của chúng, tương ứng với các năng lượng của trung tâm xương cùng của hành tinh, liên quan đến việc sinh thành các hình tướng, và công việc của chúng là giữ cho hướng quan tâm của hành tinh đặt trên phương diện hình tướng của sự biểu lộ thiêng liêng. Chúng liên hệ đến chính sự sống của vật chất, đến việc sử dụng huyền thuật của nó, và đến điều được xem là tối tăm bởi vì, đối với nhân loại ở giai đoạn phát triển hiện nay, phương diện thiêng liêng ấy lẽ ra phải mất đi sự chi phối chủ yếu của nó [88] và phải nằm lại phía sau “trong bóng tối của điều đã bị vượt qua và không còn nắm giữ gì nữa đối với Con của Thượng đế”. Vì vậy, các bạn có bảng sau đây diễn đạt điều mà ở trên tôi đã tìm cách làm sáng tỏ cho các bạn. |
|
I would point out here that the fourth energy, focussed in the Jewish problem, is definitely producing cleavage as a part of the divine plan. The Jews are instruments in the working out of the Plan for the production of certain syntheses and to bring humanity to certain realisations and decisions. A close study of this tabulation will bring you much of knowledge. However, it only expresses the present situation in this interim period between the old Piscean age which is passing and the new Aquarian age which is coming in. It depicts this present world cycle. The emphasis of the rays changes in connection with the last two types of energy expressions quite constantly, because they are symbolic (in this day and age) of the personality nature in its physical and emotional forms. |
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng năng lượng thứ tư, được tập trung trong vấn đề Do Thái, rõ ràng đang tạo ra sự phân rẽ như một phần của Thiên Cơ. Người Do Thái là những công cụ trong việc triển khai Thiên Cơ nhằm tạo ra một số tổng hợp và đưa nhân loại đến một số chứng nghiệm và quyết định nhất định. Việc nghiên cứu kỹ bảng này sẽ đem lại cho các bạn nhiều tri thức. Tuy nhiên, nó chỉ diễn tả tình hình hiện tại trong giai đoạn chuyển tiếp này giữa kỷ nguyên Song Ngư cũ đang qua đi và kỷ nguyên Bảo Bình mới đang đến. Nó mô tả chu kỳ thế giới hiện nay. Sự nhấn mạnh của các cung thay đổi khá liên tục liên quan đến hai loại biểu lộ năng lượng cuối cùng, bởi vì trong thời đại ngày nay chúng mang tính biểu tượng cho bản chất phàm ngã trong các hình thức hồng trần và cảm xúc của nó. |
|
I wonder whether you can grasp the implications of this paragraph. When the mind aspect (the third aspect of the personality) is more fully developed, then the focus of the effort of the Dark Forces will change and the problem of the Jews will disappear. Mankind is not yet handling its problems intelligently. Thus the forces and energies of the creative process are exceedingly active at this time in preparing what I might call the “material of the world” and the substance of all the four kingdoms in nature for the coming changes. As the ploughman turns the soil of his field and harrows it, and so brings that which is underneath to eventual fruition, so a similar process is taking place in the world today, and all is preparatory for the sowing and its resultant effects. These effects will constitute the new Aquarian culture and civilisation. In this process the Hierarchy is taking a definite and influential part and is working more uniquely and specifically than ever before in the history of the world, under instruction and vital aid from Shamballa. |
Tôi tự hỏi liệu các bạn có thể nắm được những hàm ý của đoạn này không. Khi phương diện trí tuệ (phương diện thứ ba của phàm ngã) được phát triển đầy đủ hơn, thì tiêu điểm nỗ lực của các Mãnh Lực Bóng Tối sẽ thay đổi và vấn đề Do Thái sẽ biến mất. Nhân loại vẫn chưa xử lý các vấn đề của mình một cách thông minh. Vì vậy, các mãnh lực và năng lượng của tiến trình sáng tạo hiện đang cực kỳ hoạt động để chuẩn bị điều mà tôi có thể gọi là “chất liệu của thế giới” và chất liệu của cả bốn giới trong thiên nhiên cho những thay đổi sắp đến. Cũng như người cày lật đất ruộng của mình và bừa nó, nhờ đó đưa điều nằm bên dưới đến chỗ kết quả sau cùng, thì một tiến trình tương tự cũng đang diễn ra trong thế giới ngày nay, và tất cả đều là sự chuẩn bị cho việc gieo hạt và các hiệu quả phát sinh từ đó. Những hiệu quả này sẽ cấu thành nền văn hóa và văn minh Bảo Bình mới. Trong tiến trình này, Thánh Đoàn đang giữ một phần xác định và có ảnh hưởng, và đang hoạt động độc đáo và chuyên biệt hơn bao giờ hết trong lịch sử thế giới, dưới sự chỉ dẫn và trợ giúp thiết yếu từ Shamballa. |
|
[89] |
[89] |
|
[table 89] |
[table 89] |
|
[90] Seed groups are in process of being “esoterically anchored” in the field of the world, having in them those who can respond to the subtler forces and who can—through the strength of their clear thought at this stage of the proceedings—produce those conditions (within the present existing world trends and world groups) which will enable the new sciences, the new approaches to divinity, the new education, and the new modes of handling the economic situation and the political problems, to precipitate and further the growth of the Kingdom of God in such a manner that this fifth kingdom in nature may be a tangible, factual and objective occurrence upon the Earth. |
[90] Các Nhóm hạt giống đang trong tiến trình được “neo giữ một cách huyền bí” vào cánh đồng thế giới, trong đó có những người có thể đáp ứng với các mãnh lực tinh tế hơn và những người có thể—nhờ sức mạnh của tư tưởng sáng rõ của họ ở giai đoạn hiện nay của tiến trình—tạo ra những điều kiện (trong các xu hướng thế giới và các nhóm thế giới hiện tồn) sẽ giúp cho các khoa học mới, các cách tiếp cận mới đối với thiên tính, nền giáo dục mới, và các phương thức mới để xử lý tình hình kinh tế và các vấn đề chính trị, được ngưng tụ và thúc đẩy sự tăng trưởng của Thiên Giới theo cách sao cho giới thứ năm này trong thiên nhiên có thể trở thành một sự kiện hữu hình, thực tế và khách quan trên Trái Đất. |
|
In the founding of the fourth kingdom in nature, the human kingdom, the process is spoken of in the ancient books and archives in the library of the Hierarchy in the following terms which are (some of them) paraphrased and expanded in The Secret Doctrine: |
Trong việc thiết lập giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại, tiến trình này được nói đến trong các sách và văn khố cổ xưa trong thư viện của Thánh Đoàn bằng những lời sau đây, một số trong đó được diễn giải và khai triển trong Giáo Lý Bí Nhiệm: |
|
“Seven men appeared, the prisoners of the Prajapatis and the prisoners also of the earthly Barhishads… Seven men of seven colours… Seven men, each on his own lot and related to the eighth. They spoke and knew each other. They saw and they desired that which then appeared. They sensed the first, the second and the third. They were themselves the fourth, but of the fifth they had as yet no knowledge for they were prisoners of the world and the fifth could not appear. The fires which were forty-nine in number proceeded then to do their work, and the prison bars grew firm as steel… But time persisted and the seven—each on his own lot—began to grow too large for the confining bars.” |
“Bảy người xuất hiện, những tù nhân của các Prajapati và cũng là những tù nhân của các Barhishad trần thế… Bảy người thuộc bảy màu sắc… Bảy người, mỗi người trên mảnh đất riêng của mình và liên hệ với người thứ tám. Họ nói chuyện và biết nhau. Họ thấy và họ ham muốn điều khi ấy xuất hiện. Họ cảm nhận được thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Chính họ là thứ tư, nhưng về thứ năm thì họ chưa biết gì vì họ là tù nhân của thế giới và thứ năm chưa thể xuất hiện. Bốn mươi chín ngọn lửa khi ấy tiến hành công việc của chúng, và các song sắt nhà tù trở nên cứng như thép… Nhưng thời gian vẫn tiếp diễn và bảy người—mỗi người trên mảnh đất riêng của mình—bắt đầu trở nên quá lớn đối với các song sắt giam hãm.” |
|
This parable will be apparent to esotericists. The clue to what I have to say comes later in the same ancient writing, and here I will roughly paraphrase or freely translate it for you. |
Dụ ngôn này sẽ hiển nhiên đối với các nhà bí truyền học. Manh mối cho điều tôi phải nói đến xuất hiện về sau trong cùng bản văn cổ ấy, và ở đây tôi sẽ diễn giải sơ lược hoặc dịch thoáng cho các bạn. |
|
“The seven—each on his own lot—acquired knowledge. The knowledge was the same, but the soil within [91] the lots differed. Nevertheless, the goal of reaching towards the heavens was the same as in the second (a reference to the vegetable kingdom and its symbolically skyward aspiration)… No further do they reach. Upon the lot of each, nine points of light appear, reflected in the heavens; they brought to seeding point that human seed which has within it that which is not of man. The light produced the germination and thus the new and better forms of life. And yet the form remains and yet its quality is changed. (I can find no better word than `quality’ wherewith to translate the ancient symbol). Some things are lost and disappear and rightly so. Some newer modes of life and what life builds appear, and thus the fifth is seen on earth like to the second and nurtured by the fourth. Within it are the one, the two, the three and then the fifth. And thus the glory of the One is seen.” |
“Bảy người—mỗi người trên mảnh đất riêng của mình—đạt được tri thức. Tri thức là như nhau, nhưng đất trong [91] các mảnh đất thì khác nhau. Tuy nhiên, mục tiêu vươn tới các tầng trời vẫn giống như ở giới thứ hai (ám chỉ giới thực vật và khát vọng hướng lên trời mang tính biểu tượng của nó)… Họ không vươn xa hơn nữa. Trên mảnh đất của mỗi người, chín điểm sáng xuất hiện, phản chiếu trên các tầng trời; chúng đưa hạt giống nhân loại đến điểm gieo hạt, hạt giống ấy chứa trong nó điều không thuộc về con người. Ánh sáng tạo ra sự nảy mầm và do đó tạo nên các hình thức sự sống mới và tốt đẹp hơn. Tuy nhiên hình tướng vẫn còn đó mà phẩm tính của nó đã đổi khác. (Tôi không tìm được từ nào tốt hơn từ ‘phẩm tính’ để dịch biểu tượng cổ này). Một số điều bị mất đi và biến mất, và điều đó là đúng. Một số phương thức sống mới hơn và những gì sự sống kiến tạo xuất hiện, và như thế thứ năm được thấy trên trần gian giống như thứ hai và được thứ tư nuôi dưỡng. Trong nó có một, hai, ba rồi đến năm. Và như thế vinh quang của Đấng Duy Nhất được thấy.” |
|
One meaning is obvious if you study with care the implications and relate it to the kingdoms of nature. There are of course several meanings to these ancient writings. |
Một ý nghĩa là hiển nhiên nếu các bạn nghiên cứu cẩn thận các hàm ý và liên hệ nó với các giới trong thiên nhiên. Dĩ nhiên, các bản văn cổ này có nhiều ý nghĩa. |
|
I have referred above to the five streams of energy and have related them to the five centres. Let me extend the idea somewhat by pointing out that these five energies are related to the centres or the lotuses to which I referred in A Treatise on Cosmic Fire, or to the dynamic point within the lotus, through which the central life of the lotus flows; in the case of the first three energies (of Shamballa, the Hierarchy and Humanity) you have the permanent point of life, light and activity in the lotus; in the case of that potent energy connected with the Jews, you have a very temporary inflow of energy, and in the case of the Forces of Materialism, you have a relatively temporary—though apparently permanent—focal point of reactionary energy. |
Ở trên tôi đã đề cập đến năm dòng năng lượng và đã liên hệ chúng với năm trung tâm. Hãy để tôi mở rộng ý tưởng này đôi chút bằng cách chỉ ra rằng năm năng lượng này liên hệ với các trung tâm hay các hoa sen mà tôi đã nói đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ, hoặc với điểm động bên trong hoa sen, qua đó sự sống trung tâm của hoa sen tuôn chảy; trong trường hợp của ba năng lượng đầu tiên (của Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại), các bạn có điểm thường tồn của sự sống, ánh sáng và hoạt động trong hoa sen; trong trường hợp của năng lượng mạnh mẽ liên hệ với người Do Thái, các bạn có một dòng năng lượng tuôn vào rất tạm thời, và trong trường hợp của các Mãnh Lực Duy Vật, các bạn có một tiêu điểm tương đối tạm thời—dù có vẻ thường tồn—của năng lượng phản động. |
|
In connection with the petals of the lotus, you will find a close connection with the forces of the five kingdoms in nature; therefore, to the tabulation which was earlier given I would add the following for your consideration: [92] |
Liên quan đến các cánh hoa của hoa sen, các bạn sẽ thấy có một mối liên hệ chặt chẽ với các mãnh lực của năm giới trong thiên nhiên; vì vậy, vào bảng đã được đưa ra trước đây, tôi muốn thêm điều sau đây để các bạn suy ngẫm: [92] |
|
[table 92] |
[table 92] |
|
To this you may add the following: |
Vào đó các bạn có thể thêm điều sau đây: |
|
[table 92b] |
[table 92b] |
|
[93] These can be linked up with the kingdoms in nature, but in this particular cycle it is not possible to fit them in such a way that the correspondence will appear to you as accurate. The mineral kingdom and the Forces of Materialism do not really coincide today, for the one works through the sacral centre at this time, and the other through the centre at the base of the spine. Esoteric students must always remember that no correspondences are correct and entirely accurate in their parallelism in this solar system of changing forces, shifting cycles and constant mutation directed towards the inscrutable ends of Deity—inscrutable as far as the human consciousness is concerned. They remain inscrutable to humanity, because the three major ends or purposes which affect you, for instance, as members of the fourth kingdom in nature are: |
[93] Những điều này có thể được liên kết với các giới trong thiên nhiên, nhưng trong chu kỳ đặc biệt này không thể sắp xếp chúng theo cách mà sự tương ứng sẽ hiện ra với các bạn là chính xác. Giới kim thạch và các Mãnh Lực Duy Vật thực ra không thật sự trùng khớp ngày nay, vì một bên hoạt động qua trung tâm xương cùng vào lúc này, còn bên kia qua trung tâm ở đáy cột sống. Các đạo sinh nội môn phải luôn nhớ rằng không có sự tương ứng nào là đúng và hoàn toàn chính xác trong tính song hành của chúng trong hệ mặt trời này của các mãnh lực biến đổi, các chu kỳ chuyển dịch và sự biến đổi không ngừng được hướng đến những cứu cánh bất khả tư nghị của Thượng đế—bất khả tư nghị xét theo tâm thức con người. Chúng vẫn bất khả tư nghị đối với nhân loại, bởi vì ba cứu cánh hay mục đích chính ảnh hưởng đến các bạn, chẳng hạn như những thành viên của giới thứ tư trong thiên nhiên, là: |
|
1. The direction in which the solar Logos is going upon the Cosmic Path. |
1. Hướng đi mà Thái dương Thượng đế đang tiến tới trên Con Đường Vũ Trụ. |
|
Esoterically…… The Way towards the Central Spiritual Sun. |
Về mặt huyền bí…… Con Đường hướng tới Mặt trời Tinh thần Trung Ương. |
|
2. The plans of the planetary Logos upon the Systemic Path. |
2. Các kế hoạch của Hành Tinh Thượng đế trên Con Đường Hệ Thống. |
|
Esoterically…… The Way towards the Heart of the Sun. |
Về mặt huyền bí…… Con Đường hướng tới Trái Tim của Mặt Trời. |
|
3. The purpose ahead for the human family upon the Path of Light. |
3. Mục đích ở phía trước dành cho gia đình nhân loại trên Con Đường Ánh sáng. |
|
Esoterically…… The Way of the Sun. |
Về mặt huyền bí…… Con Đường của Mặt Trời. |
|
I put this in here only to show you how vague and uncertain are your very highest speculations. Be content with your duty and the immediate service which will lead you a step further upon the way to which you are ordained, and this way you can travel rapidly and with eager feet or slowly and with lagging steps. |
Tôi đưa điều này vào đây chỉ để cho các bạn thấy những suy đoán cao nhất của các bạn mơ hồ và bất định đến mức nào. Hãy bằng lòng với bổn phận của mình và sự phụng sự trước mắt sẽ đưa các bạn tiến thêm một bước trên con đường mà các bạn được chỉ định, và con đường này các bạn có thể đi nhanh với đôi chân hăm hở hoặc chậm chạp với những bước chân nặng nề. |
|
The above enumerated forces are, however, part of the temporary interlocking of energies which is going on between the many expressions of the creative process at this time. They are likewise conditioned by the incoming Aquarian force and “measured” by the outgoing Piscean forces. I [94] would have you note here my use of the word “forces” and “force,” for not idly have I made them singular and plural. |
Tuy nhiên, các mãnh lực được liệt kê ở trên là một phần của sự đan kết tạm thời của các năng lượng đang diễn ra giữa nhiều biểu lộ của tiến trình sáng tạo vào lúc này. Chúng cũng bị điều kiện hóa bởi mãnh lực Bảo Bình đang đi vào và được “đo lường” bởi các mãnh lực Song Ngư đang rút đi. Tôi [94] muốn các bạn lưu ý ở đây cách tôi dùng các từ “forces” và “force”, vì không phải vô cớ mà tôi dùng chúng ở số nhiều và số ít. |
|
In this process of founding the kingdom of heaven upon earth, the same procedure is being followed as was used in the earlier stage of founding the fourth kingdom. The “seven men, each on his own lot,” reach a moment of tension and of creative power wherein the seeds of life, which they contain within themselves, can come to fruition, and groups of such appearing seeds can appear in the world “on their own lot.” Putting it more simply and in terms symbolic, and therefore more easy of understanding, we might state that the seven rays, expressing themselves in the human family through the seven ray types, are now at the stage of unfoldment where the process can be carried forward into the formation of the seven ray groups, and these in their totality will express the Kingdom of God. Groups will be formed which will be outstandingly of a particular ray type but which will work in all the nine major fields of human expression. These I outlined when indicating the work of the nine groups planned by me. However, let me here point out that the groups which I planned are not in themselves the coming groups nor are they the only evidences of the emergence of these ray groups in the world. There are several similar experiments going on at this time upon the various streams of ray energy and under the direction of various Masters of the Wisdom. The groups for which I have made myself responsible are second ray groups essentially and are in the nature of a tentative move to see if the time is really ripe for the distribution of such seed groups throughout the entire world. Will the response of humanity and the reaction of these groups be such that a network of them may be started on a large scale everywhere—groups which will be characterised by vision, cohesion, love, impersonality, sacrifice, persistency and creative ability? These are the questions which we, the teachers on the inner side, are today asking ourselves as we study the problem of the best way of helping the human family through this crisis. |
Trong tiến trình thiết lập thiên đàng trên mặt đất này, cùng một thủ tục đang được theo như đã được dùng trong giai đoạn trước kia của việc thiết lập giới thứ tư. “Bảy người, mỗi người trên mảnh đất riêng của mình,” đạt đến một thời điểm tập trung nhất tâm và quyền năng sáng tạo, trong đó các hạt giống sự sống mà họ chứa trong chính mình có thể đi đến kết quả, và các nhóm hạt giống như thế đang xuất hiện có thể hiện ra trong thế giới “trên mảnh đất riêng của chúng.” Nói đơn giản hơn và bằng những thuật ngữ biểu tượng, do đó dễ hiểu hơn, chúng ta có thể phát biểu rằng bảy cung, biểu lộ trong gia đình nhân loại qua bảy loại người theo cung, hiện đang ở giai đoạn khai mở mà tại đó tiến trình có thể được tiếp tục để hình thành bảy nhóm cung, và các nhóm này trong tính toàn thể của chúng sẽ biểu lộ Thiên Giới. Các nhóm sẽ được hình thành nổi bật theo một loại cung đặc biệt nhưng sẽ hoạt động trong cả chín lĩnh vực chính của sự biểu lộ nhân loại. Tôi đã phác thảo các lĩnh vực này khi chỉ ra công việc của chín nhóm do tôi hoạch định. Tuy nhiên, ở đây xin để tôi chỉ ra rằng các nhóm mà tôi đã hoạch định không tự chúng là các nhóm sắp đến, cũng không phải là những bằng chứng duy nhất về sự xuất hiện của các nhóm cung này trong thế giới. Hiện nay có một số thử nghiệm tương tự đang diễn ra trên các dòng năng lượng cung khác nhau và dưới sự chỉ đạo của nhiều Chân sư Minh Triết khác nhau. Các nhóm mà tôi đã nhận trách nhiệm về cơ bản là các nhóm cung hai và có tính chất của một bước đi thử nghiệm để xem liệu thời cơ đã thực sự chín muồi cho việc phân bố các Nhóm hạt giống như thế trên toàn thế giới hay chưa. Liệu sự đáp ứng của nhân loại và phản ứng của các nhóm này có đến mức một mạng lưới của chúng có thể được khởi sự trên quy mô lớn ở khắp nơi—những nhóm được đặc trưng bởi tầm nhìn, sự cố kết, tình thương, tính vô ngã, sự hi sinh, tính kiên trì và khả năng sáng tạo—hay không? Đó là những câu hỏi mà chúng tôi, những huấn sư ở phía bên trong, ngày nay đang tự hỏi khi nghiên cứu vấn đề về cách tốt nhất để giúp gia đình nhân loại vượt qua cơn khủng hoảng này. |
|
Bear in mind that the objective before these groups is [95] to relate the Hierarchy, and that for which it stands, to humanity; to bring into a close rapport the two centres whose energy must eventually be fused and blended into one whole. Perhaps you will grasp the underlying idea with greater clarity if you will remember the personal work which you should be endeavouring to do with yourself. This is, is it not, the effort to fuse and blend the personality and the soul, or the higher Self and the lower selves. To do this you have to realise that the illumination of the mind is a vital and essential factor. There are, therefore, three points to consider: the Soul, the illumined Mind and the Personality. To these three you have to add a consecrated and awakened heart, full of love to all, vibrant with compassion and with understanding. Bear, therefore, these four factors in mind: |
Hãy ghi nhớ rằng mục tiêu trước mắt của các nhóm này là [95] liên hệ Thánh Đoàn, và điều mà Thánh Đoàn đại diện, với nhân loại; đưa vào một sự tương giao mật thiết hai trung tâm mà năng lượng của chúng cuối cùng phải được dung hợp và hòa trộn thành một toàn thể. Có lẽ các bạn sẽ nắm được ý tưởng nền tảng rõ ràng hơn nếu nhớ đến công việc cá nhân mà các bạn nên cố gắng thực hiện với chính mình. Chẳng phải đó là nỗ lực dung hợp và hòa trộn phàm ngã với linh hồn, hay Bản Ngã Cao Siêu với các phàm ngã thấp sao? Để làm được điều này, các bạn phải chứng nghiệm rằng sự soi sáng của trí tuệ là một yếu tố sống còn và thiết yếu. Vì vậy, có ba điểm cần xem xét: Linh hồn, Trí tuệ được soi sáng và phàm ngã. Vào ba điểm này các bạn phải thêm một trái tim đã được thánh hiến và thức tỉnh, đầy tình thương đối với tất cả, rung động với lòng từ bi và sự thấu hiểu. Vì vậy, hãy ghi nhớ bốn yếu tố này: |
|
1. The dedicated oriented man…… the personality |
1. Con người tận hiến và có định hướng…… phàm ngã |
|
2. The overshadowing, spiritual man…the soul |
2. Con người tinh thần phủ bóng…….. linh hồn |
|
3. The illumined mind………….the medium of relation |
3. Trí tuệ được soi sáng………… trung gian liên hệ |
|
4. The consecrated, loving heart…. the expression of these three. |
4. Trái tim thánh hiến, yêu thương….. biểu lộ của ba yếu tố ấy. |
|
This is the personality and individual correspondence to the broader picture and the world factors and the wider undertakings with which humanity is at this time faced. Just as in the life of the individual a man is confronted with the opportunity to function as a disciple in training with a view to initiation, so today humanity is faced in the same way with a similar situation and possibilities. The higher correspondence with which the Hierarchy is occupied at this time, and of which the outline just given is an inadequate analogy, is as follows: |
Đây là sự tương ứng nơi cá nhân và phàm nhân đối với bức tranh rộng lớn hơn cùng các yếu tố thế giới và các công cuộc rộng lớn hơn mà nhân loại đang phải đối diện vào lúc này. Cũng như trong đời sống cá nhân, một người đối diện với cơ hội hoạt động như một đệ tử đang được huấn luyện nhằm hướng tới điểm đạo, thì ngày nay nhân loại cũng đang đối diện theo cùng cách như vậy với một tình huống và những khả năng tương tự. Sự tương ứng cao hơn mà Thánh Đoàn đang bận tâm vào lúc này, và mà dàn ý vừa nêu chỉ là một phép loại suy chưa đầy đủ, như sau: |
|
1. The intellectual centre, Humanity, receptive, ready and expectant. |
1. Trung tâm trí tuệ, Nhân Loại, tiếp nhận, sẵn sàng và mong đợi. |
|
2. The spiritual centre, the Hierarchy, positive, deliberate and munificent—ready and waiting to bestow that which is desired, reached for and claimed. [96] |
2. Trung tâm tinh thần, Thánh Đoàn, tích cực, có chủ đích và quảng đại—sẵn sàng và chờ đợi để ban phát điều được mong muốn, được vươn tới và được đòi hỏi. [96] |
|
3. The New Group of World Servers. They are the more advanced members of the human family, sensitive to hierarchical inspiration and to human need and to spiritual unfoldment as a determining factor in world affairs. |
3. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Họ là những thành viên tiến bộ hơn của gia đình nhân loại, nhạy cảm với cảm hứng từ Thánh Đoàn và với nhu cầu của con người cũng như với sự khai mở tinh thần như một yếu tố quyết định trong các công việc thế giới. |
|
4. Small groups which correspond to the illumined minds of the individuals—intuitional and acting as a cohesive element and a fusing factor between humanity and the Hierarchy. They are gathered out of the New Group of World Servers. |
4. Các nhóm nhỏ tương ứng với các trí tuệ được soi sáng của các cá nhân—mang tính trực giác và hoạt động như một yếu tố cố kết và một nhân tố dung hợp giữa nhân loại và Thánh Đoàn. Họ được tập hợp từ Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
Let me now present you with another vital consideration. Looking back over your individual lives, you will be conscious that it was the points of crisis and the cycles of tension which constituted for you the major opportunities and the moments of “moving forward.” Of these opportunities you either profited or—by neglecting them—you temporarily failed. This same critical factor (if I might call it so) acts also in the world of men and in groups and masses; today the point of tension for humanity in such a situation, similar to that to be found in the individual life, can be noted. The Hierarchy stands also at a point of extreme and scientific tension—scientific because induced and directed; you can, if you so choose, picture these two great groups as facing each other. The Hierarchy is aware of the need, of the purpose of the dual tension, and desirous of bringing this tension to such a “crisis of precipitation” that the fusion of the two groups will be inevitable, whilst the other group, humanity, unaware generally of the implications of the situation, is suffering, bewildered and full of fear. Between these two groups stands the New Group of World Servers, constituted today of two bodies of people: |
Bây giờ hãy để tôi trình bày với các bạn một điểm suy xét thiết yếu khác. Khi nhìn lại đời sống cá nhân của mình, các bạn sẽ ý thức rằng chính những điểm khủng hoảng và những chu kỳ căng thẳng đã tạo nên cho các bạn những cơ hội lớn lao và những khoảnh khắc “tiến lên phía trước.” Các bạn hoặc đã tận dụng những cơ hội ấy hoặc—do lơ là chúng—đã tạm thời thất bại. Yếu tố khủng hoảng này (nếu tôi có thể gọi như vậy) cũng tác động trong thế giới loài người và trong các nhóm và quần chúng; ngày nay có thể nhận thấy điểm tập trung nhất tâm của nhân loại trong một tình huống như thế, tương tự như điều được thấy trong đời sống cá nhân. Thánh Đoàn cũng đang đứng tại một điểm căng thẳng cực độ và có tính khoa học—có tính khoa học vì được tạo ra và được định hướng; nếu các bạn muốn, các bạn có thể hình dung hai nhóm lớn này đang đối diện nhau. Thánh Đoàn ý thức được nhu cầu, mục đích của sự căng thẳng kép ấy, và mong muốn đưa sự căng thẳng này đến một “khủng hoảng ngưng tụ” sao cho sự dung hợp của hai nhóm sẽ là điều không thể tránh khỏi, trong khi nhóm kia, nhân loại, nhìn chung không ý thức được các hàm ý của tình huống, đang đau khổ, hoang mang và đầy sợ hãi. Giữa hai nhóm này đứng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, ngày nay gồm hai tập thể người: |
|
1. Those who are aware of the Plan, are subject to and sensitive to hierarchical impression and dedicated to the task of bringing about the desired fusion or group at-one-ment. These are the consecrated servers of the world who are free from all taint of separativeness, full of love to all men and eager for the [97] spread of understanding goodwill. They correspond to the “consecrated loving heart,” mentioned above. |
1. Những người ý thức được Thiên Cơ, chịu và nhạy cảm với ấn tượng từ Thánh Đoàn và tận hiến cho nhiệm vụ mang lại sự dung hợp mong muốn hay sự hợp nhất nhóm. Đây là những người phụng sự thế giới đã được thánh hiến, không còn mọi vết tích của tính chia rẽ, đầy tình thương đối với mọi người và tha thiết với sự [97] lan rộng của thiện chí thấu hiểu. Họ tương ứng với “trái tim thánh hiến yêu thương” đã được nhắc đến ở trên. |
|
2. A small minority who have emerged out of the New Group of World Servers and who can (in every country) function in group formation if they choose, and so bring about the fusion for which the New Group of World Servers is working and for which the point of tension in humanity and in the Hierarchy predisposes and has prepared the hearts of men. Their opportunity and responsibility is great, because they know the Plan, they are in touch with the guiding teachers on the inner side—and are sensitive to the higher impression. They correspond to the points of illumination, and so to the “illumined minds,” referred to above. |
2. Một thiểu số nhỏ đã xuất hiện từ Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người này có thể (ở mọi quốc gia) hoạt động trong sự hình thành nhóm nếu họ chọn như vậy, và nhờ đó mang lại sự dung hợp mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang nỗ lực và mà điểm tập trung nhất tâm trong nhân loại và trong Thánh Đoàn đã tạo khuynh hướng và đã chuẩn bị lòng người cho điều đó. Cơ hội và trách nhiệm của họ rất lớn, bởi vì họ biết Thiên Cơ, họ tiếp xúc với các huấn sư hướng dẫn ở phía bên trong—và nhạy cảm với ấn tượng cao hơn. Họ tương ứng với các điểm soi sáng, và do đó với “các trí tuệ được soi sáng” đã được nói đến ở trên. |
|
Here is the picture of these esoteric interrelations, and here you can note the position which you could hold, for these groups have a definite opportunity to bring about this world fusion and so precipitate the “crisis of love” to which I have so oft referred. The Great Approach upon the side of humanity is now going on, with the tension induced thereby growing momentarily; this will increase with growing speed and tension until 1942 when either the first stage of fusion will have been made upon earth, resulting in widespread goodwill and world understanding or in postponement—with sad results to the human family and an inevitable break in the tension which will take a form that will cause much real suffering and widespread disaster. This disaster can take many forms, but upon them we will not speculate, except to realise the urgency and the need for immediate action which is demanded at this time. |
Đây là bức tranh về các tương quan huyền bí này, và ở đây các bạn có thể lưu ý vị trí mà các bạn có thể nắm giữ, vì các nhóm này có một cơ hội xác định để mang lại sự dung hợp thế giới này và nhờ đó làm ngưng tụ “khủng hoảng của tình thương” mà tôi đã nhiều lần nhắc đến. Cuộc Tiếp Cận Vĩ Đại từ phía nhân loại hiện đang diễn ra, với sự căng thẳng do đó gây ra đang tăng lên từng lúc; điều này sẽ gia tăng với tốc độ và cường độ ngày càng lớn cho đến năm 1942, khi hoặc giai đoạn đầu của sự dung hợp sẽ được thực hiện trên trái đất, đưa đến thiện chí lan rộng và sự thấu hiểu thế giới, hoặc sẽ bị trì hoãn—với những hậu quả đáng buồn cho gia đình nhân loại và một sự đứt gãy tất yếu trong tình trạng căng thẳng, sẽ mang một hình thức gây ra nhiều đau khổ thực sự và tai họa lan rộng. Tai họa này có thể mang nhiều hình thức, nhưng về chúng chúng ta sẽ không suy đoán, ngoại trừ việc nhận ra tính cấp bách và nhu cầu hành động ngay lập tức đang được đòi hỏi vào lúc này. |
|
There are two points to remember in connection with these seed groups, and these are in line with, but also expansions of, analogous conditions in the “seeds” which fructified—after implantation and development—in animal-man, producing the living self-conscious individual and, in [98] their totality, the fourth kingdom in nature. The first point has reference to the quality of the implanted seed, and the second to the method of its implantation. |
Có hai điểm cần ghi nhớ liên quan đến các Nhóm hạt giống này, và chúng phù hợp với, đồng thời cũng là sự mở rộng của, các điều kiện tương tự nơi các “hạt giống” đã kết trái—sau khi được cấy vào và phát triển—trong người thú, tạo ra cá nhân sống có ngã thức và, trong [98] tính toàn thể của chúng, giới thứ tư trong thiên nhiên. Điểm thứ nhất liên quan đến phẩm tính của hạt giống được cấy vào, và điểm thứ hai liên quan đến phương pháp cấy nó. |
|
The quality of the “seed of the sons of God” which was effectual in producing the human family was intellectual, and the self-conscious self-directed man was the result. The fruit of this quality, plus the livingness of the seed itself, can be seen today in the more advanced and cultured thinking people and in those who are in any sense of the word personalities. |
Phẩm tính của “hạt giống của các Con của Thượng đế” có hiệu lực trong việc tạo ra gia đình nhân loại là trí tuệ, và con người có ngã thức, tự định hướng là kết quả. Hoa trái của phẩm tính này, cộng với sức sống của chính hạt giống, ngày nay có thể thấy nơi những người suy tư tiến bộ và có văn hóa hơn, và nơi những ai theo bất kỳ nghĩa nào của từ này là các phàm ngã. |
|
The method employed was the gift of mind to the more advanced among the animal-men in a majority of cases, the stimulation of the instinctual faculty in others, whilst a third method was the leaving of a minority to the ordinary course of evolution. These latter today constitute the least developed and the most backward of the races upon the Earth. They are, in fact, a very small number indeed. |
Phương pháp được dùng là ban cho trí tuệ đối với những người thú tiến bộ hơn trong đa số trường hợp, kích thích năng lực bản năng ở những trường hợp khác, trong khi một phương pháp thứ ba là để mặc một thiểu số theo tiến trình tiến hoá thông thường. Những người sau này ngày nay cấu thành những nhân loại kém phát triển nhất và lạc hậu nhất trên Trái Đất. Thực ra số lượng của họ rất nhỏ. |
|
In connection with the “seed-groups” which are fusing and blending in humanity at this time, and which—in their totality—constitute the nucleus of the fifth kingdom, the distinguishing quality is the ability to respond intuitionally to higher impression and to present the mind (with which humanity was endowed in the earlier process) to the light of the intuition and hence to illumination. This intuition is a blend of the two divine qualities of buddhi-manas, or intuitive spiritual understanding (involving interpretation and identification) and the higher abstract mind, which is essentially the power to comprehend that which is not concrete or tangible but which is, in reality, an innate recognition of the lower aspects of the divine Plan as it must affect life in the three worlds. Humanity, being still primarily self-conscious and self-centred, regards this Plan as the divine Plan for man, but—as the seed groups grow and develop—the narrowness of this partial view will become increasingly apparent. God’s Plan is all-embracing and His purposes are inclusive of all forms of life and their relationships. This quality of the seed groups is described in current esoteric literature as love-wisdom (the heart nature and the higher [99] mind), and this is descriptive of the future groups; it is not love, however, as usually understood, or wisdom as man generally defines it. This is free of emotion and of the astralism which is distinctive of the solar plexus life which most people live; love, esoterically and in reality, is perceptive understanding, the ability to recognise that which has produced an existing situation, and a consequent freedom from criticism; it involves that beneficent silence which carries healing in its wings and which is only expressive when the inhibition aspect of silence is absent and the man no longer has to still his lower nature and quiet the voices of his own ideas in order to understand and achieve identification with that which must be loved. Can you follow the beauty of this concept and comprehend the nature of this silent depth of true understanding? |
Liên quan đến các “Nhóm hạt giống” đang dung hợp và hòa trộn trong nhân loại vào lúc này, và những nhóm này—trong tính toàn thể của chúng—cấu thành hạt nhân của giới thứ năm, phẩm tính phân biệt là khả năng đáp ứng bằng trực giác với ấn tượng cao hơn và đưa trí tuệ (mà nhân loại đã được phú cho trong tiến trình trước kia) ra trước ánh sáng của trực giác và do đó đi đến sự soi sáng. Trực giác này là sự hòa trộn của hai phẩm tính thiêng liêng là buddhi-manas, hay sự thấu hiểu tinh thần bằng trực giác (bao hàm sự diễn giải và đồng hoá với) và trí trừu tượng cao hơn, vốn về bản chất là quyền năng lĩnh hội điều không cụ thể hay hữu hình nhưng thực ra là một sự nhận biết bẩm sinh về các phương diện thấp hơn của Thiên Cơ thiêng liêng trong chừng mực nó phải ảnh hưởng đến sự sống trong ba cõi thấp. Nhân loại, vì vẫn chủ yếu còn ngã thức và tập trung vào bản thân, xem Thiên Cơ này như là Thiên Cơ thiêng liêng dành cho con người, nhưng—khi các Nhóm hạt giống tăng trưởng và phát triển—sự hạn hẹp của quan điểm phiến diện này sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên. Thiên Cơ của Thượng đế bao trùm tất cả và các mục đích của Ngài bao gồm mọi hình thức sự sống và các mối liên hệ của chúng. Phẩm tính này của các Nhóm hạt giống được mô tả trong văn liệu huyền bí hiện nay là Bác Ái – Minh Triết (bản chất tim và thượng [99] trí), và điều này mô tả các nhóm tương lai; tuy nhiên, đó không phải là tình thương như thường được hiểu, hay minh triết như con người thường định nghĩa. Nó không có cảm xúc và không có tính cảm dục vốn là đặc trưng của đời sống tùng thái dương mà đa số người ta đang sống; tình thương, về mặt huyền bí và trong thực tại, là sự thấu hiểu có tính tri giác, khả năng nhận ra điều đã tạo ra một tình huống hiện hữu, và do đó là sự tự do khỏi phê phán; nó bao hàm sự im lặng từ ái mang sự chữa lành trong đôi cánh của nó và chỉ biểu lộ khi phương diện ức chế của sự im lặng vắng mặt và con người không còn phải làm lặng bản chất thấp của mình và làm yên các tiếng nói của những ý tưởng riêng của mình để thấu hiểu và đạt đến sự đồng hoá với điều phải được yêu thương. Các bạn có thể theo được vẻ đẹp của khái niệm này và hiểu được bản chất của chiều sâu im lặng ấy của sự thấu hiểu chân thật không? |
|
Wisdom is the sublimation of the intellect, but this involves the sublimation of the higher as well as of the lower aspects of the mind. It is a blend of intuition, spiritual perception, cooperation with the plan and spontaneous intellectual appreciation of that which is contacted, and all this is fused and blended with and by the love which I have defined above, plus that esoteric sense which must be unfolded before the second initiation can be taken. I call this especially to your attention. Seek to understand and perceive the subtle evidences of the esoteric sense, and then define it and explain its processes and evidences, invoking as you do so the higher sensibilities. |
Minh triết là sự thăng hoa của trí năng, nhưng điều này bao hàm sự thăng hoa của cả các phương diện cao hơn lẫn thấp hơn của trí tuệ. Nó là sự hòa trộn của trực giác, linh thị tinh thần, sự hợp tác với Thiên Cơ và sự đánh giá trí tuệ tự phát đối với điều được tiếp xúc, và tất cả điều này được dung hợp và hòa trộn với và bởi tình thương mà tôi đã định nghĩa ở trên, cộng thêm giác quan huyền bí phải được khai mở trước khi lần điểm đạo thứ hai có thể được tiếp nhận. Tôi đặc biệt lưu ý các bạn về điều này. Hãy tìm cách thấu hiểu và nhận ra những bằng chứng tinh tế của giác quan huyền bí, rồi định nghĩa nó và giải thích các tiến trình và bằng chứng của nó, đồng thời khẩn cầu các tính nhạy cảm cao hơn. |
|
And now, as to the methods to be employed in creating these groups. The primary method is the presentation of the more advanced ideas (which are stimulating in their effects upon the minds which are receptive) and the presentation of the vision, which is evocative in its influence and produces amazing results. Ponder on this. |
Và bây giờ, về các phương pháp sẽ được dùng để tạo ra các nhóm này. Phương pháp chính yếu là trình bày các ý tưởng tiến bộ hơn (vốn có tác dụng kích thích đối với các trí tuệ biết tiếp nhận) và trình bày linh ảnh, vốn có tính gợi lên trong ảnh hưởng của nó và tạo ra những kết quả đáng kinh ngạc. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
The basic method employed, which lay behind the three methods outlined in The Secret Doctrine and referred to above, was the presentation (very dimly and vaguely) of the concept of the self, of the lower integrated self and its correlated inner implications of self-centredness and self-direction. [100] The presentation made today to self-conscious man and to this self-directed individual is the revelation of the larger Whole of which the individual is a part. To this Whole the self must dedicate its life, love and light. Those are the three gifts which the fourth kingdom in nature has finally and consciously to make to the planet—gifts of definitely directed energies producing peculiar and equally definite relations of forces; they are not the gift of strength, kindness and knowledge, which is man’s feeble interpretation of the divine energies with which he will some day salvage the planetary life. |
Phương pháp căn bản được dùng, nằm phía sau ba phương pháp được phác thảo trong Giáo Lý Bí Nhiệm và được nhắc đến ở trên, là sự trình bày (rất mờ nhạt và mơ hồ) khái niệm về cái ngã, về cái ngã thấp đã tích hợp và các hàm ý nội tại tương quan của nó là sự tập trung vào bản thân và tự định hướng. [100] Sự trình bày được thực hiện ngày nay cho con người có ngã thức và cho cá nhân tự định hướng này là sự mặc khải về Toàn Thể lớn lao hơn mà cá nhân là một phần của nó. Đối với Toàn Thể này, cái ngã phải tận hiến sự sống, tình thương và ánh sáng của mình. Đó là ba tặng phẩm mà giới thứ tư trong thiên nhiên cuối cùng và một cách có ý thức phải trao cho hành tinh—những tặng phẩm của các năng lượng được định hướng rõ rệt tạo ra những tương quan mãnh lực đặc thù và cũng rõ rệt như vậy; đó không phải là tặng phẩm của sức mạnh, lòng tốt và tri thức, vốn chỉ là sự diễn giải yếu ớt của con người về các năng lượng thiêng liêng mà một ngày kia y sẽ dùng để cứu vãn sự sống hành tinh. |
|
The presentation of this vision to the aspirants and disciples of the world has had a dual effect; first of all, it has produced an immediate responsive cohesion among them which resulted in the appearance of the New Group of World Servers, and secondly, it led to the formation along the line of the seven rays throughout the world of small groups (within the New Group of World Servers) who were dedicated to the production of this innate synthesis and subjective fusion and to the expression of this blended dedicated consciousness. These latter groups, a small minority, correspond to the earlier and first method of mind-implantation in animal man, whilst the New Group of World Servers corresponds to the second method of general stimulation. |
Việc trình bày linh ảnh này cho những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới đã có một tác động kép; trước hết, nó tạo ra một sự cố kết đáp ứng tức thời giữa họ, đưa đến sự xuất hiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và thứ hai, nó dẫn đến sự hình thành, theo đường lối của bảy cung trên khắp thế giới, của các nhóm nhỏ (bên trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian) tận hiến cho việc tạo ra sự tổng hợp bẩm sinh và sự dung hợp chủ quan này cùng sự biểu lộ của tâm thức tận hiến hòa trộn này. Các nhóm sau này, một thiểu số nhỏ, tương ứng với phương pháp cấy trí tuệ đầu tiên và trước kia vào người thú, trong khi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian tương ứng với phương pháp kích thích tổng quát thứ hai. |
|
In both of these embryonic activities, which will eventually be responsible for producing the manifestation of the Kingdom of God on earth, the two great necessities are vision, plus living organisation. The vision has to be sensed, sought and discovered individually by each group member, and it is this personal knowledge and this personal dedication to the revelation which leads next to the organisation of the group life and relation, or to a determined process of correlation with the life and purpose of the Whole. The individual who has for himself seen the vision relates himself to the group which is conscious of this vision along with him, and then follows the relating of this “visioning group” to the kingdom of God as it exists on the subtler planes, in the effort to exteriorise it and make the vision a fact upon the [101] plane of manifestation. It is a process of vision, activity and precipitation. |
Trong cả hai hoạt động phôi thai này, vốn cuối cùng sẽ chịu trách nhiệm tạo ra sự biểu hiện của Thiên Giới trên trái đất, hai nhu cầu lớn là linh ảnh cộng với tổ chức sống động. Linh ảnh phải được mỗi thành viên nhóm tự mình cảm nhận, tìm kiếm và khám phá, và chính tri thức cá nhân này cùng sự tận hiến cá nhân này đối với sự mặc khải sẽ dẫn tiếp đến việc tổ chức đời sống và mối liên hệ của nhóm, hay đến một tiến trình tương quan có chủ đích với sự sống và mục đích của Toàn Thể. Cá nhân đã tự mình thấy được linh ảnh sẽ liên hệ mình với nhóm đang ý thức linh ảnh này cùng với y, và tiếp theo là việc liên hệ “nhóm có linh ảnh” này với Thiên Giới như nó tồn tại trên các cõi tinh tế hơn, trong nỗ lực ngoại hiện nó và biến linh ảnh thành một sự kiện trên [101] cõi biểu hiện. Đó là một tiến trình của linh ảnh, hoạt động và ngưng tụ. |
|
It is in connection with vision that much of the group difficulty lies. Let me be specific and illustrate. I, your Tibetan brother, friend and teacher, have a vision of the Plan; I am aware (because of my status as an initiate of a certain degree) of the nature of the purpose for this particular cycle and what its conditioning activities should be and to what end they are directed, for there is an esoteric distinction between the Plan as it exists for humanity and for the planet, and the purpose of the present world situation. Upon this, reflection would be profitable. Through the cooperation of A.A.B. I put this plan—as far as was possible—before you, calling your attention to the New Group of World Servers. As far as I could and dared I put it before the world aspirants and called attention to the general trend of world events from the spiritual and subjective angles. This evoked from all of you an immediate and gratifying response; but it is possible, is it not, that this response has remained subjective, intellectually perceived and aspirationally desired, but that the Plan and the purposes of the kingdom of God are not yet truly a part of your life pattern and do not yet thoroughly condition your brain and your life activity. |
Chính liên quan đến linh ảnh mà phần lớn khó khăn của nhóm nằm ở đó. Hãy để tôi nói cụ thể và minh họa. Tôi, huynh đệ Tây Tạng, bằng hữu và huấn sư của các bạn, có một linh ảnh về Thiên Cơ; tôi ý thức (do địa vị của tôi là một điểm đạo đồ ở một cấp độ nhất định) về bản chất của mục đích dành cho chu kỳ đặc biệt này và các hoạt động tác động của nó nên là gì và chúng được hướng đến cứu cánh nào, vì có một sự phân biệt huyền bí giữa Thiên Cơ như nó tồn tại đối với nhân loại và đối với hành tinh, và mục đích của tình hình thế giới hiện nay. Suy tư về điều này sẽ có ích. Qua sự hợp tác của A.A.B. tôi đã đặt Thiên Cơ này—trong chừng mực có thể—trước các bạn, thu hút sự chú ý của các bạn đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Trong chừng mực tôi có thể và dám, tôi đã đặt nó trước những người chí nguyện của thế giới và lưu ý đến xu hướng chung của các biến cố thế giới từ các góc độ tinh thần và chủ quan. Điều này đã gợi lên từ tất cả các bạn một sự đáp ứng tức thời và đáng khích lệ; nhưng có thể chăng sự đáp ứng này vẫn còn là chủ quan, được nhận thức bằng trí tuệ và được mong muốn bằng khát vọng, nhưng Thiên Cơ và các mục đích của Thiên Giới vẫn chưa thật sự là một phần trong mô hình đời sống của các bạn và vẫn chưa hoàn toàn tác động lên bộ não và hoạt động sống của các bạn. |
|
Perhaps, therefore, the vision is not a part of your life and so integrated into your consciousness that you attach yourself to it as you have, in the past, attached yourself to individuals; the vision is a vision of group work, of group relationships, of group objectives, and of the group fusion to the larger Whole. When this is realised, then the vision determines your life incentives, tendencies and work, and when it is thus truly a part of your mental equipment, your emotional aspiration and your activities, and when there are sufficient groups thus actuated, then the Kingdom of God will function objectively upon the earth. This is not yet the case, because the needed conditions are not fulfilled. |
Vì vậy, có lẽ linh ảnh chưa phải là một phần của đời sống các bạn và chưa được tích hợp vào tâm thức các bạn đến mức các bạn gắn mình với nó như trong quá khứ các bạn đã gắn mình với các cá nhân; linh ảnh là linh ảnh về công việc nhóm, về các mối liên hệ nhóm, về các mục tiêu nhóm, và về sự dung hợp của nhóm vào Toàn Thể lớn hơn. Khi điều này được chứng nghiệm, thì linh ảnh sẽ quyết định các động cơ sống, các khuynh hướng và công việc của các bạn, và khi nó thực sự là một phần của trang bị trí tuệ, khát vọng cảm xúc và các hoạt động của các bạn, và khi có đủ số nhóm được thúc đẩy như vậy, thì Thiên Giới sẽ hoạt động một cách khách quan trên trái đất. Điều này vẫn chưa phải như thế, bởi vì các điều kiện cần thiết chưa được hoàn tất. |
|
The early seeds sown among animal-men were imbued with, or qualified by, separateness—a necessary quality for [102] the unfoldment of self-consciousness, but one which must now be superseded. |
Những hạt giống đầu tiên được gieo giữa những người thú đã được thấm nhuần, hay được định tính bởi, tính chia cách—một phẩm tính cần thiết cho [102] sự khai mở của ngã thức, nhưng nay phải được vượt bỏ. |
|
The seed groups now in process of forming will be distinguished by the quality of fusion, and this should be as inevitable a development as is the separative and protective nature of the ordinary human consciousness. It is this sense of union and of at-one-ment which is the protective and essential characteristic of the fifth kingdom, and it is this latent, yet actively present, factor which leads unerringly and inevitably to the organisation—interior and subjective—of the seed groups, to their radiatory activity, and to the magnetic pull they evidence when duly organised. Thus they produce fusion and blending. |
Các Nhóm hạt giống hiện đang trong tiến trình hình thành sẽ được phân biệt bởi phẩm tính dung hợp, và điều này phải là một sự phát triển tất yếu cũng như bản chất chia cách và tự bảo vệ của tâm thức con người thông thường là điều tất yếu. Chính cảm thức hợp nhất và đồng nhất này là đặc tính bảo vệ và thiết yếu của giới thứ năm, và chính yếu tố tiềm ẩn nhưng hiện diện tích cực này dẫn dắt một cách không sai lầm và tất yếu đến sự tổ chức—nội tại và chủ quan—của các Nhóm hạt giống, đến hoạt động phóng xạ của chúng, và đến sức hút từ tính mà chúng biểu lộ khi được tổ chức đúng cách. Nhờ đó chúng tạo ra sự dung hợp và hòa trộn. |
|
I am here putting new ideals and possibilities into as simple language as possible; I seek not to veil and obscure their simplicity and truth by many explanatory paragraphs. What I have here said must be read with the eye of vision and the understanding of the heart. Disciples must have these two faculties as part of their usable equipment. Have you got them, or are you trying to cultivate and unfold them, my brothers? |
Ở đây tôi đang trình bày những lý tưởng và khả năng mới bằng ngôn ngữ đơn giản nhất có thể; tôi không tìm cách che phủ và làm mờ sự đơn giản và chân lý của chúng bằng nhiều đoạn giải thích. Điều tôi đã nói ở đây phải được đọc bằng con mắt của tầm nhìn và sự thấu hiểu của trái tim. Các đệ tử phải có hai năng lực này như một phần trong trang bị có thể sử dụng của mình. Các bạn có chúng không, hay các bạn đang cố gắng vun bồi và khai mở chúng, Huynh đệ của Tôi? |
|
Another of the aspects of this group work is that its influence is pervasive, and not at the beginning dynamic. The force which it later exerts will be due to constant pervasive pressures and the steady spreading of the group influence and ideals. It is therefore ultimately very far-reaching in its effectiveness, providing the work is done as indicated. This will be due eventually to two factors: one, the power of the groups upon the subtler planes of thought and desire, and finally upon egoic levels; this will become steadily more potent; secondly, to the activity of those who form part of the key groups; they will themselves form corresponding groups of nine, or seven or five, and thus there will be a gradual spreading throughout the world of an esoteric network. For this the majority are not yet ready, but I would have you bear it in mind. True interest and acceptance of that which is indicated as essential to the disciple and to the work must first of all be patiently evidenced. |
Một phương diện khác của công việc nhóm này là ảnh hưởng của nó có tính thấm lan, chứ lúc đầu không có tính năng động. Mãnh lực mà về sau nó phát huy sẽ là do những áp lực thấm lan liên tục và sự lan rộng đều đặn của ảnh hưởng và các lý tưởng của nhóm. Vì vậy, rốt cuộc nó có hiệu quả rất sâu rộng, miễn là công việc được thực hiện như đã chỉ ra. Cuối cùng điều này sẽ là do hai yếu tố: một là quyền năng của các nhóm trên các cõi tinh tế hơn của tư tưởng và ham muốn, và sau cùng trên các cấp độ chân ngã; điều này sẽ ngày càng mạnh hơn; thứ hai là hoạt động của những người tạo thành một phần của các nhóm chủ chốt; chính họ sẽ lập nên các nhóm tương ứng gồm chín, hoặc bảy hoặc năm người, và như thế sẽ có một sự lan rộng dần dần của một mạng lưới huyền bí khắp thế giới. Đa số vẫn chưa sẵn sàng cho điều này, nhưng tôi muốn các bạn ghi nhớ nó. Trước hết phải kiên nhẫn biểu lộ sự quan tâm chân thật và sự chấp nhận đối với điều được chỉ ra là thiết yếu cho đệ tử và cho công việc. |
|
[103] I have used the word “subjective” a great deal in my writings; I have done this in an effort to shift the focus of attention to that which lies below the surface. This refers, in the case of aspirants, to the subjective synthesis in the three worlds and not to the astral and mental planes per se, or specifically to egoic levels. If the inner kingdom of divine realities is to demonstrate upon earth, it will come through the emergence of the inner synthesis on to the physical plane, and this is brought about by vital recognition and an expression of the realities and laws governing that kingdom. The organisation which follows the Vision is entirely subjective in nature and pervasive in quality. It is a process of germination, but if that which germinates does not eventually appear in objective manifestation the activity is then abortive. |
[103] Tôi đã dùng từ “chủ quan” rất nhiều trong các trước tác của mình; tôi làm như vậy trong nỗ lực chuyển tiêu điểm chú ý đến điều nằm dưới bề mặt. Trong trường hợp của những người chí nguyện, điều này ám chỉ sự tổng hợp chủ quan trong ba cõi giới chứ không phải cõi cảm dục và cõi trí chính chúng, hay đặc biệt là các cấp độ chân ngã. Nếu vương quốc bên trong của các thực tại thiêng liêng phải biểu lộ trên trái đất, thì nó sẽ đến qua sự xuất hiện của sự tổng hợp bên trong lên cõi hồng trần, và điều này được mang lại bởi sự nhận biết sống động và sự biểu lộ các thực tại và các định luật chi phối vương quốc ấy. Tổ chức theo sau linh ảnh hoàn toàn có bản chất chủ quan và có phẩm tính thấm lan. Đó là một tiến trình nảy mầm, nhưng nếu điều đang nảy mầm cuối cùng không xuất hiện trong biểu hiện khách quan thì hoạt động ấy là vô hiệu. |
|
The influence of these new groups is due to the close inner relation demonstrated through uniform thinking and a recognised unity of purpose. It is for this reason (a truly scientific one in its nature) that I have emphasised so strongly the ordinary characteristics of the trained disciple, which are non-criticism, sensitivity and love. Where these are lacking, this simultaneous oneness and directed thought and this “group aroma” (as it is esoterically called, though the word I am attempting to translate is more adequate than the above) become impossible. I have not been interested in the elimination of hindering faults for the individual’s sake, but for the carrying forward of the desired group purposes. The need is for group thinking of a powerful nature along the indicated lines; for visualisation of the Vision of such a clear nature that it becomes a fact for the individual; for the development and functioning of the imagination, applied to the lines of outcome and results, and functioning so creatively that the results are seen with clarity and must inevitably materialise. It involves also the holding of the inner subjective link with each other with such firmness that potent centres of force and of creative energy—working under inspiration from the Hierarchy, via the focussed minds of group members who are definitely en rapport with their [104] souls and with each other—may function so successfully that the new civilisation and the new culture can be rapidly established. As this has to be founded on a basis of loving goodwill and upon nondestruction, and as its methods lead to right relations between men and nations, it is essential that the establishing groups should themselves express the subtler aspects of these desired virtues. |
Ảnh hưởng của các nhóm mới này là do mối liên hệ bên trong chặt chẽ được biểu lộ qua tư tưởng đồng nhất và một sự hợp nhất mục đích được thừa nhận. Chính vì lý do này (một lý do thực sự có tính khoa học trong bản chất của nó) mà tôi đã nhấn mạnh rất mạnh các đặc tính thông thường của đệ tử được huấn luyện, đó là không phê phán, nhạy cảm và tình thương. Nơi nào thiếu những điều này, sự nhất thể đồng thời và tư tưởng có định hướng này cùng “hương thơm nhóm” này (như nó được gọi một cách huyền bí, dù từ mà tôi đang cố dịch còn thích đáng hơn từ trên) sẽ trở nên bất khả. Tôi không quan tâm đến việc loại bỏ các lỗi cản trở vì lợi ích của cá nhân, mà vì việc thúc đẩy các mục đích nhóm mong muốn. Nhu cầu là tư tưởng nhóm có tính mạnh mẽ theo các đường lối đã chỉ ra; là sự hình dung linh ảnh với tính sáng rõ đến mức nó trở thành một sự kiện đối với cá nhân; là sự phát triển và hoạt động của sự tưởng tượng, được áp dụng vào các đường lối của kết quả và thành quả, và hoạt động một cách sáng tạo đến mức các kết quả được thấy rõ ràng và tất yếu phải hiện hình. Điều đó cũng bao hàm việc giữ mối liên kết chủ quan bên trong với nhau vững chắc đến mức các trung tâm mãnh lực và năng lượng sáng tạo mạnh mẽ—hoạt động dưới cảm hứng từ Thánh Đoàn, qua các trí tuệ tập trung của các thành viên nhóm vốn rõ ràng đang tương giao với [104] linh hồn của họ và với nhau—có thể hoạt động thành công đến mức nền văn minh mới và nền văn hóa mới có thể được thiết lập nhanh chóng. Vì điều này phải được xây dựng trên nền tảng thiện chí yêu thương và trên sự không hủy diệt, và vì các phương pháp của nó dẫn đến các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người và giữa các quốc gia, nên điều thiết yếu là chính các nhóm thiết lập phải biểu lộ các phương diện tinh tế hơn của những đức tính mong muốn này. |
|
The emphasis upon the work which serving groups must seek to develop is that of an organised, scientific activity. Esoterically, this involves an understanding of the basic science of occultism, which is that of energy. The qualities, characteristics and activity upon which you should be engaged are definitely the expression and understanding of energy along some line; hitherto, for the majority, force has been used and its impact on other forces has been noted and recorded as force impacting force, leading thus to forceful results. But I seek to have you, as esotericists, deal with energy and the result of its impact upon forces. This is the scientific aspect of the occult life. |
Sự nhấn mạnh đối với công việc mà các nhóm phụng sự phải tìm cách phát triển là hoạt động có tổ chức và có tính khoa học. Về mặt huyền bí, điều này bao hàm sự thấu hiểu khoa học căn bản của huyền bí học, tức khoa học về năng lượng. Các phẩm tính, đặc tính và hoạt động mà các bạn nên dấn thân vào rõ ràng là sự biểu lộ và thấu hiểu năng lượng theo một đường lối nào đó; cho đến nay, đối với đa số, mãnh lực đã được sử dụng và tác động của nó lên các mãnh lực khác đã được ghi nhận và ghi chép như mãnh lực tác động lên mãnh lực, do đó dẫn đến các kết quả đầy mãnh lực. Nhưng tôi tìm cách khiến các bạn, với tư cách các nhà bí truyền học, đề cập đến năng lượng và kết quả của tác động của nó lên các mãnh lực. Đây là phương diện khoa học của đời sống huyền bí. |
|
The world is today full of forces in conflict and in wrong relation with each other, and this produces the present chaos. The new order will be brought into expression by the play of the spiritual energy upon the forces in the three worlds, and this will be the task of the New Groups when organised and functioning correctly. In these words, I have summed up one of the first and most important objectives of the group work with which I and others of the workers upon the spiritual side of life are at this time occupied. Some small understanding of the significance of these words can be gained if you will watch the effect that you produce in your environment during those times when you do succeed in living as souls, and are therefore expressing soul energy, and are thus counteracting the personality forces in yourselves and in those around you. |
Thế giới ngày nay đầy những mãnh lực xung đột và ở trong mối liên hệ sai lạc với nhau, và điều này tạo ra tình trạng hỗn loạn hiện nay. Trật tự mới sẽ được đưa vào biểu lộ bởi sự tác động của năng lượng tinh thần lên các mãnh lực trong ba cõi giới, và đây sẽ là nhiệm vụ của các Nhóm Mới khi được tổ chức và hoạt động đúng đắn. Trong những lời này, tôi đã tóm lược một trong những mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của công việc nhóm mà tôi và những người hoạt động khác ở phía tinh thần của sự sống đang bận tâm vào lúc này. Có thể đạt được một chút thấu hiểu về ý nghĩa của những lời này nếu các bạn quan sát hiệu quả mà các bạn tạo ra trong môi trường của mình trong những lúc các bạn thực sự thành công trong việc sống như linh hồn, và do đó đang biểu lộ năng lượng linh hồn, và nhờ vậy đang hóa giải các mãnh lực phàm ngã trong chính mình và trong những người quanh mình. |
|
The desire of the Hierarchy at this time is to fill the world of striving forces with points of spiritual energy, and to distribute everywhere those who are affiliated with spiritual groups and are therefore linked subjectively to [105] their group brothers in all lands, so that a pervasive, intelligent influence can ceaselessly make its impact felt upon the minds of men and produce finally the needed good feeling, good will and good lives. |
Ước muốn của Thánh Đoàn vào lúc này là làm đầy thế giới của các mãnh lực đang phấn đấu bằng những điểm năng lượng tinh thần, và phân bố khắp nơi những người liên kết với các nhóm tinh thần và do đó được nối kết một cách chủ quan với [105] các huynh đệ nhóm của họ ở mọi xứ sở, để một ảnh hưởng thấm lan, thông minh có thể không ngừng tạo tác động lên trí tuệ của con người và cuối cùng tạo ra thiện cảm cần thiết, thiện chí và đời sống tốt đẹp. |
|
~ |
~ |
THE WORLD CRISIS—CUỘC KHỦNG HOẢNG THẾ GIỚI

|
This Shamballa energy now for the first time is making its impact upon humanity directly and is not stepped down, as [108] has hitherto been the case, through transmission via the Hierarchy of Masters. This change of direction constituted a somewhat dangerous experiment as it necessarily stimulated the personalities of men, particularly those whose personalities were along the line of will or power and in whom the love aspect of divinity was not sufficiently expressing itself; it was, however, permitted because it was realised that it would not affect the man in the street or the masses who would remain unresponsive to it, though it might greatly stimulate and intensify the mental and more potent type of man. |
Năng lượng Shamballa này hiện nay lần đầu tiên đang tạo tác động trực tiếp lên nhân loại và không còn được giảm hạ, như từ trước đến nay [108] vẫn là trường hợp, qua sự truyền dẫn thông qua Thánh đoàn các Chân sư. Sự đổi hướng này cấu thành một thử nghiệm phần nào nguy hiểm vì tất yếu nó kích thích các phàm ngã của con người, đặc biệt là những người có phàm ngã theo đường lối ý chí hay quyền lực và nơi họ phương diện bác ái của thiên tính chưa biểu lộ đầy đủ; tuy nhiên, điều đó đã được cho phép vì người ta nhận ra rằng nó sẽ không ảnh hưởng đến người bình thường ngoài đường phố hay quần chúng, những người sẽ vẫn không đáp ứng với nó, mặc dù nó có thể kích thích và tăng cường mạnh mẽ kiểu người trí tuệ hơn và mãnh lực hơn. |
|
The effects of this widespread stimulation have been all that was anticipated and the so-called “evil results” of the Shamballa force upon ambitious and powerful personalities in all countries and all schools of thought have, nevertheless, been offset to some extent by the growth of the sense of relationship everywhere and by the spread of the Christ energy which generates at-one-ment, loving understanding and goodwill. |
Các hiệu quả của sự kích thích lan rộng này đều đúng như đã được dự liệu, và những cái gọi là “kết quả xấu” của mãnh lực Shamballa trên các phàm ngã đầy tham vọng và quyền lực ở mọi quốc gia và mọi trường phái tư tưởng, tuy vậy, đã được hóa giải phần nào bởi sự tăng trưởng của ý thức về liên hệ ở khắp nơi và bởi sự lan tỏa của năng lượng Christ, năng lượng tạo ra sự hợp nhất, sự thấu hiểu đầy bác ái và thiện chí. |
|
You might here rightly enquire how this can be so when humanity is overwhelmed by a ghastly world war at this time. I would remind you that the Hierarchy is guided in its conclusions by the mass light and by the inner subjective oft unexpressed reactions of the multitude and never by the outer happenings upon the physical plane. The fate of the form life and of outer organisations is deemed of small importance compared with the sensed inner spiritual development. That development must necessarily outrun the outer manifestation. Humanity is today further advanced spiritually and mentally than might appear from external happenings. The first result of such development is eventually the destruction of the outer form because it is proving inadequate to the pulsing, inner, spiritual life; then, secondly, comes the building of the new and more adequate outer expression. This accounts for the world crisis at this time. The cause is based upon four major factors upon which I would like somewhat to enlarge: [109] |
Ở đây, bạn có thể hoàn toàn đúng khi hỏi làm sao điều này có thể như vậy khi nhân loại hiện đang bị một cuộc thế chiến khủng khiếp nhấn chìm. Tôi xin nhắc bạn rằng Thánh đoàn được hướng dẫn trong các kết luận của mình bởi ánh sáng của quần chúng và bởi những phản ứng nội tại chủ quan, thường không được biểu lộ, của số đông, chứ không bao giờ bởi các biến cố bên ngoài trên cõi hồng trần. Số phận của sự sống hình tướng và của các tổ chức bên ngoài được xem là ít quan trọng so với sự phát triển tinh thần nội tại được cảm nhận. Sự phát triển đó tất yếu phải vượt trước biểu hiện bên ngoài. Nhân loại ngày nay đã tiến bộ hơn về tinh thần và trí tuệ so với điều có thể thấy từ các biến cố bên ngoài. Kết quả đầu tiên của sự phát triển như thế rốt cuộc là sự hủy diệt hình tướng bên ngoài vì nó tỏ ra không thích hợp với sự sống tinh thần nội tại đang rung động; rồi đến thứ hai là việc xây dựng biểu hiện bên ngoài mới và thích hợp hơn. Điều này giải thích cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay. Nguyên nhân dựa trên bốn yếu tố chính mà tôi muốn khai triển đôi chút: [109] |
|
1. Upon the point achieved in racial evolution. This today warrants the building of a better vehicle for human and racial expression. |
1. Dựa trên điểm đã đạt được trong tiến hoá của nhân loại. Điều này ngày nay bảo đảm cho việc xây dựng một vận cụ tốt hơn cho sự biểu lộ của con người và của nhân loại. |
|
2. Upon the karmic causes which—as far as present humanity is concerned—can be traced back to an ancient conflict upon old Atlantis. |
2. Dựa trên các nguyên nhân nghiệp quả mà—xét theo nhân loại hiện nay—có thể truy nguyên về một cuộc xung đột cổ xưa trên Atlantis xưa. |
|
3. Upon the coming into incarnation of certain potent personalities whose dharma or destiny it is to bring about great evolutionary changes. |
3. Dựa trên việc một số phàm ngã đầy mãnh lực đang lâm phàm, mà dharma hay định mệnh của họ là đem lại những thay đổi tiến hoá lớn lao. |
|
4. Upon certain planetary happenings, connected with the life of the One “in Whom we live and move and have our being.” These involve the impact upon our planet of Forces and Energies which will be instrumental in altering the existing civilisation and culture, in climaxing karmic necessity and in thus engineering release, presenting humanity with that stage in the experience of the disciple which we call “the meeting of the Dweller on the Threshold with the Angel of the Presence,” and inducing as a consequence a certain planetary initiation. |
4. Dựa trên một số biến cố hành tinh, liên hệ với sự sống của Đấng “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” Những điều này bao hàm sự tác động lên hành tinh chúng ta của các Mãnh lực và Năng lượng sẽ là công cụ làm thay đổi nền văn minh và văn hóa hiện hữu, đưa nhu cầu nghiệp quả đến cao điểm và như thế tạo ra sự giải thoát, đặt trước nhân loại giai đoạn trong kinh nghiệm của đệ tử mà chúng ta gọi là “cuộc gặp gỡ của Kẻ Chận Ngõ với Thiên Thần của Hiện Diện,” và do đó dẫn đến một điểm đạo hành tinh nào đó. |
|
These four stages of the Law of Cause and Effect (as it affects humanity at this time) might be called: |
Bốn giai đoạn này của Định luật Nhân Quả (khi nó ảnh hưởng đến nhân loại vào lúc này) có thể được gọi là: |
|
1. The perfecting of form expression…Law of Evolution |
1. Sự hoàn thiện biểu hiện hình tướng… Định luật Tiến hoá |
|
2. The precipitation of karma………Law of Cause and Effect |
2. Sự ngưng tụ nghiệp quả……… Định luật Nhân Quả |
|
3. The achievement of personality….. Law of Polar Opposites |
3. Sự thành tựu của phàm ngã….. Định luật Các Cực Đối Lập |
|
(The Dweller on the Threshold) |
(Kẻ Chận Ngõ) |
|
4. The attainment of planetary initiation.Law of Initiation |
4. Sự đạt đến điểm đạo hành tinh.. Định luật Điểm đạo |
|
You may perhaps think at this point that I am being academic and that the world stress at this time is such that love, sympathy and kind words are needed far more than [110] learned, historical retrospection and suggested hypotheses. I seek, however, to foster in you the spirit of understanding. Such true comprehension necessitates head knowledge as well as heart reaction. The disciples of the world today must endeavour to see why and to what end the present terrible happenings have occurred. A clear expression and statement of causes is needed—free from emotional bias and partisan emphasis. What is happening today is not the result of immediate occurrences. When I say “immediate,” I refer to all happenings which have occurred within the Christian era. I want you to attempt to regard the present crisis as being caused or initiated by events which are of so ancient an origin that modern, orthodox historians have no record of them. |
Có lẽ lúc này bạn nghĩ rằng tôi đang trở nên hàn lâm và rằng áp lực của thế giới hiện nay là như thế nên tình thương, cảm thông và những lời tử tế cần thiết hơn nhiều so với [110] sự hồi cố lịch sử uyên bác và những giả thuyết được nêu ra. Tuy nhiên, tôi tìm cách nuôi dưỡng trong bạn tinh thần thấu hiểu. Sự thấu hiểu chân chính như thế đòi hỏi tri thức của đầu óc cũng như phản ứng của trái tim. Các đệ tử của thế giới ngày nay phải cố gắng thấy được vì sao và nhằm mục đích gì mà những biến cố khủng khiếp hiện nay đã xảy ra. Cần có một sự trình bày và phát biểu rõ ràng về các nguyên nhân—không bị thiên lệch cảm xúc và nhấn mạnh phe phái. Điều đang xảy ra ngày nay không phải là kết quả của những biến cố gần đây. Khi tôi nói “gần đây,” tôi muốn nói đến mọi biến cố đã xảy ra trong kỷ nguyên Cơ Đốc. Tôi muốn bạn cố gắng nhìn cuộc khủng hoảng hiện nay như được gây ra hay khởi phát bởi những biến cố có nguồn gốc cổ xưa đến mức các sử gia chính thống hiện đại không hề có ghi chép nào về chúng. |
|
Only two points of view will serve truly to clarify what is happening at this time. |
Chỉ có hai quan điểm mới thực sự giúp làm sáng tỏ điều đang xảy ra vào lúc này. |
|
First of all, a recognition that modern academic history constitutes only one page in a vast historical record and that the initiating events of which we are in search and which are working out as effects in the planetary life at this time belong to an age so distant that no modern historian recognises its episodes. Information anent this ancient period must be sought in the many world Scriptures, in ancient monuments, in the science of symbols, in the racial myths, and in inherited and transmitted legends. |
Trước hết, cần nhận ra rằng lịch sử hàn lâm hiện đại chỉ cấu thành một trang trong hồ sơ lịch sử bao la, và rằng những biến cố khởi đầu mà chúng ta đang tìm kiếm và hiện đang biểu lộ thành các hiệu quả trong sự sống hành tinh vào lúc này thuộc về một thời đại xa xôi đến nỗi không một sử gia hiện đại nào thừa nhận các tình tiết của nó. Thông tin liên quan đến thời kỳ cổ xưa này phải được tìm trong nhiều Kinh điển thế giới, trong các di tích cổ, trong khoa học biểu tượng, trong các huyền thoại của nhân loại, và trong các truyền thuyết được thừa hưởng và truyền lại. |
|
Secondly, that a study of the microcosm, man, will be found to hold, as always, the key to the study of human affairs as a whole. Just as the aspirants and disciples are at this time being tested and tried and subjected to the working out of inexplicable conflicts and drastic changes in their lives, so the same is true of the world aspirant, Humanity. |
Thứ hai, việc nghiên cứu tiểu thiên địa là con người sẽ được thấy là luôn luôn nắm giữ chìa khóa cho việc nghiên cứu toàn bộ các vấn đề nhân loại. Cũng như những người chí nguyện và các đệ tử hiện nay đang bị thử thách và khảo nghiệm, và bị đặt dưới sự vận hành của những xung đột khó giải thích cùng những thay đổi quyết liệt trong đời sống của họ, thì điều đó cũng đúng với người chí nguyện của thế giới là Nhân loại. |
|
To the above two reasons another might perhaps be added which will have significance and meaning to esotericists and to all who have in any way grasped the teaching I have attempted to give you in my books anent the three world centres—Humanity, the Hierarchy and Shamballa. This world crisis is related to the approach or the relation [111] of the Hierarchy to Humanity. That great spiritual centre of force, the Human Kingdom, has now reached a point of such potency and of such a high vibratory activity that it is shaken to its very depths; all its evolutionary grades and groups are responding to the stimulation, generated within the centre itself and also stimulated by Forces emanating from the hierarchical centre and from Shamballa. |
Vào hai lý do trên, có lẽ có thể thêm một lý do nữa, lý do sẽ có thâm nghĩa và ý nghĩa đối với các nhà bí truyền học và với tất cả những ai bằng cách nào đó đã nắm bắt được giáo huấn mà tôi đã cố gắng trao cho bạn trong các sách của tôi liên quan đến ba trung tâm thế giới—Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa. Cuộc khủng hoảng thế giới này liên hệ với sự tiếp cận hay mối liên hệ [111] của Thánh đoàn với Nhân loại. Trung tâm mãnh lực tinh thần vĩ đại ấy, giới nhân loại, nay đã đạt đến một điểm có mãnh lực lớn lao và có hoạt động rung động cao đến nỗi nó bị rung chuyển đến tận nền sâu nhất; mọi cấp độ tiến hoá và mọi nhóm của nó đều đang đáp ứng với sự kích thích, được phát sinh bên trong chính trung tâm ấy và cũng được kích thích bởi các Mãnh lực phát xuất từ trung tâm thánh đoàn và từ Shamballa. |
|
This precipitates a crisis which has had no parallel in human history but which finds a faint reflection in the crisis which overtook the animal kingdom and which resulted in the formation of a new kingdom in nature—the human. As I have earlier told you, this present world crisis, if met correctly and rightly controlled, will result in the manifestation of the fifth or spiritual kingdom upon earth. This (as you know) will be brought about by the at-one-ing of the two centres—the human centre and the Hierarchy. One of the major planetary syntheses is taking place or, perhaps I should say, can take place. (I am wording this with care and would call your attention to my wording.) |
Điều này làm ngưng tụ một cuộc khủng hoảng chưa từng có song song nào trong lịch sử nhân loại, nhưng có một phản ánh mờ nhạt trong cuộc khủng hoảng đã ập đến giới động vật và dẫn đến sự hình thành một giới mới trong thiên nhiên—giới nhân loại. Như tôi đã nói với bạn trước đây, cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay này, nếu được đối diện đúng đắn và được kiểm soát đúng cách, sẽ dẫn đến sự biểu lộ của giới thứ năm hay giới tinh thần trên trái đất. Điều này (như bạn biết) sẽ được mang lại bởi sự hợp nhất của hai trung tâm—trung tâm nhân loại và Thánh đoàn. Một trong những tổng hợp hành tinh chủ yếu đang diễn ra hoặc, có lẽ tôi nên nói, có thể diễn ra. (Tôi dùng từ rất cẩn trọng và muốn bạn lưu ý đến cách dùng từ của tôi.) |
|
It might serve a useful purpose if I enlarged somewhat upon the four stages of the early causes, mentioned above. In so doing, I can give you some idea of the underlying purpose of all the present happenings and some understanding of the predisposing conditions which are to be found, lying far back in the night of time. If I can do this adequately and if you can read and study with understanding and an open mind, some of your natural bewilderment may disappear and you may then be able to help others to live calmly through this crisis and to preserve an attitude of patience, goodwill, balance and compassion. Let us, therefore, consider these four points because, in so doing, we shall cover the field sufficiently—I believe—to bring at least some measure of light to you. Later I will try to explain the significance of the Great Invocation and to give you some idea of the nature of the Forces invoked and of the esoteric meaning which these words (used so frequently by you) are intended to convey. [112] |
Sẽ có ích nếu tôi khai triển đôi chút về bốn giai đoạn của các nguyên nhân ban đầu đã được nêu trên. Khi làm như vậy, tôi có thể cho bạn một vài ý niệm về mục đích nền tảng của mọi biến cố hiện nay và một ít thấu hiểu về các điều kiện tiền định vốn nằm rất xa về trước trong đêm tối của thời gian. Nếu tôi có thể làm điều này một cách đầy đủ và nếu bạn có thể đọc và nghiên cứu với sự thấu hiểu và một tâm trí cởi mở, thì phần nào sự bối rối tự nhiên của bạn có thể tan biến và khi đó bạn có thể giúp người khác sống bình tĩnh qua cuộc khủng hoảng này và giữ được thái độ kiên nhẫn, thiện chí, quân bình và từ bi. Vì vậy, chúng ta hãy xem xét bốn điểm này bởi vì khi làm như thế, chúng ta sẽ bao quát lĩnh vực này đủ mức—tôi tin vậy—để đem đến cho bạn ít nhất một phần ánh sáng nào đó. Sau này tôi sẽ cố gắng giải thích ý nghĩa của Đại Khấn Nguyện và cho bạn một vài ý niệm về bản chất của các Mãnh lực được khẩn cầu và về ý nghĩa huyền bí mà những lời này (được bạn dùng rất thường xuyên) nhằm chuyển tải. [112] |
|
The Cause of the Present Crisis |
Nguyên Nhân của Cuộc Khủng Hoảng Hiện Nay |
|
It is well known to you that the great Law of Rebirth is the controlling and major law in all the processes of manifestation. It governs the exoteric expression of a solar Logos or of a human being, and the object of this constantly recurring process is to bring an increasingly perfect form to the expanding service of the soul. For the first time since its inception, the human family is in a position to note for itself the processes of the rebirth of a civilisation as an expression of spiritual culture at a particular point in evolution. Hence the magnitude of this crisis as it assumes its place in the human consciousness. Many lesser crises, initiating specific tribal, national and racial experiments in the renewal of form have gone on and have been registered by some group within a nation or by a nation itself (if advanced enough). Such a national registration took place for the first time in connection with the French Revolution. Such registrations of evolutionary intent have taken place with increasing clarity and understanding during the past two hundred years. Such crises have taken place in practically every nation in modern times and have been recognised to some degree, and upon them historians have enlarged and philosophers speculated. But the crisis today is far vaster, embracing as it does the majority of nations in both hemispheres. No nation remains at this time unaffected and the results are and must be registered in some aspect of the national life. |
Bạn đã biết rõ rằng Định luật Tái Sinh vĩ đại là định luật kiểm soát và chủ yếu trong mọi tiến trình biểu hiện. Nó chi phối sự biểu lộ ngoại môn của một Thái dương Thượng đế hay của một con người, và mục tiêu của tiến trình liên tục tái diễn này là đem một hình tướng ngày càng hoàn hảo hơn vào sự phụng sự đang mở rộng của linh hồn. Lần đầu tiên kể từ khi khởi đầu, gia đình nhân loại ở vào vị thế có thể tự mình ghi nhận các tiến trình tái sinh của một nền văn minh như một biểu hiện của văn hóa tinh thần tại một điểm tiến hoá nhất định. Do đó mới có tầm vóc của cuộc khủng hoảng này khi nó chiếm vị trí của mình trong tâm thức nhân loại. Nhiều cuộc khủng hoảng nhỏ hơn, khởi đầu những thử nghiệm bộ lạc, quốc gia và nhân loại đặc thù trong việc đổi mới hình tướng, đã diễn ra và đã được một nhóm nào đó trong một quốc gia hay bởi chính một quốc gia ghi nhận (nếu đủ tiến bộ). Sự ghi nhận ở tầm quốc gia như thế lần đầu tiên đã diễn ra liên hệ với Cách mạng Pháp. Những sự ghi nhận về ý định tiến hoá như thế đã diễn ra với sự rõ ràng và thấu hiểu ngày càng tăng trong hai trăm năm qua. Những cuộc khủng hoảng như thế đã xảy ra trong hầu như mọi quốc gia thời hiện đại và đã được nhận ra ở một mức độ nào đó, và các sử gia đã khai triển về chúng còn các triết gia thì suy đoán về chúng. Nhưng cuộc khủng hoảng ngày nay rộng lớn hơn nhiều, vì nó bao trùm đa số các quốc gia ở cả hai bán cầu. Hiện nay không một quốc gia nào không bị ảnh hưởng và các kết quả đang được và phải được ghi nhận trong một phương diện nào đó của đời sống quốc gia. |
|
Owing to the factual interrelation between nations everywhere and to the rapidity of intercommunication, the present crisis is the first major international crisis in human affairs and covers a period of twenty-eight years (from 1914 till 1942). These are interesting numbers, for 28 is 4 x 7, which are the years of a complete personality cycle. I do not wish you to infer from the above that the period of active combat and conflict must necessarily be prolonged until 1942. Such is not the case. The early termination of the conflict or its indefinite extension lies in the keeping of [113] humanity itself; men must increasingly determine their own fate as they emerge from the stage of adolescence into that of maturity, responsibility and achievement. This period of twenty-eight years is, however, of paramount importance and upon the next three years much depends. |
Do mối liên hệ thực tế giữa các quốc gia ở khắp nơi và do tốc độ thông tin liên lạc nhanh chóng, cuộc khủng hoảng hiện nay là cuộc khủng hoảng quốc tế lớn đầu tiên trong các vấn đề nhân loại và bao trùm một thời kỳ hai mươi tám năm (từ 1914 đến 1942). Đây là những con số thú vị, vì 28 là 4 x 7, tức là số năm của một chu kỳ phàm ngã trọn vẹn. Tôi không muốn bạn suy ra từ điều trên rằng thời kỳ chiến đấu và xung đột tích cực nhất thiết phải kéo dài đến năm 1942. Điều đó không phải như vậy. Việc chấm dứt sớm cuộc xung đột hay sự kéo dài vô định của nó nằm trong tay [113] chính nhân loại; con người ngày càng phải tự quyết định số phận của mình khi họ bước ra khỏi giai đoạn thiếu niên để đi vào giai đoạn trưởng thành, trách nhiệm và thành tựu. Tuy nhiên, thời kỳ hai mươi tám năm này có tầm quan trọng tối thượng, và rất nhiều điều tùy thuộc vào ba năm kế tiếp. |
|
Again I tell you that even the Hierarchy itself, with all its knowledge, vision and understanding and with all its resources, cannot coerce and cannot forecast what mankind will do. It can and does stimulate to right action; it can and does indicate possibility and responsibility; it can and does send out its teachers and disciples to educate and lead the race; but at no point and in no situation does it command or assume control. It can and does bring good out of evil, illuminating situations and indicating the solution of a problem, but further than this the Hierarchy cannot go. If it assumed authoritative control, a race of automatons would be developed and not a race of responsible, self-directed, aspiring men. This must surely be apparent to you and may serve to answer the question which is uppermost in the minds of the unthinking, occult students today: Why could not the Hierarchy have prevented this catastrophe? Unquestionably the Masters of the Wisdom with Their knowledge and Their command of forces could have interfered, but in so doing They would have broken an occult law and hindered the true development of mankind. This They will never do. At all costs, man must learn to stand and act alone. Instead, having done all that was permissible, They now stand beside suffering and bewildered humanity and—with the deepest compassion and love—will help men to right the wrongs they have initiated, to learn the needed lessons and to come through this crisis (which they have themselves precipitated) enriched thereby, and purified in the fires of adversity. These are not platitudes but eternal truths. |
Tôi lại nói với bạn rằng ngay cả chính Thánh đoàn, với tất cả tri thức, tầm nhìn và sự thấu hiểu của mình cùng với mọi nguồn lực của mình, cũng không thể cưỡng bách và không thể tiên đoán nhân loại sẽ làm gì. Thánh đoàn có thể và thực sự kích thích hành động đúng; có thể và thực sự chỉ ra khả năng và trách nhiệm; có thể và thực sự gửi ra các huấn sư và đệ tử của mình để giáo dục và dẫn dắt nhân loại; nhưng không ở điểm nào và trong hoàn cảnh nào mà Thánh đoàn ra lệnh hay nắm quyền kiểm soát. Thánh đoàn có thể và thực sự rút điều thiện từ điều ác, soi sáng các tình huống và chỉ ra giải pháp của một vấn đề, nhưng vượt quá điều này thì Thánh đoàn không thể đi xa hơn. Nếu Thánh đoàn nắm quyền kiểm soát có tính uy quyền, thì một nhân loại những kẻ tự động sẽ được phát triển chứ không phải một nhân loại gồm những người có trách nhiệm, tự định hướng và đầy khát vọng. Điều này hẳn phải rõ ràng với bạn và có thể giúp trả lời câu hỏi đang nổi bật trong tâm trí của những đạo sinh huyền bí học thiếu suy nghĩ ngày nay: Tại sao Thánh đoàn không thể ngăn chặn thảm họa này? Không nghi ngờ gì, các Chân sư Minh triết với tri thức của Các Ngài và quyền chỉ huy các mãnh lực của Các Ngài đã có thể can thiệp, nhưng khi làm như vậy Các Ngài sẽ vi phạm một định luật huyền bí và cản trở sự phát triển chân chính của nhân loại. Điều này Các Ngài sẽ không bao giờ làm. Bằng mọi giá, con người phải học cách đứng vững và hành động một mình. Thay vào đó, sau khi đã làm mọi điều được phép, Các Ngài nay đứng bên cạnh nhân loại đang đau khổ và hoang mang, và—với lòng từ bi và tình thương sâu xa nhất—sẽ giúp con người sửa chữa những sai lầm mà họ đã khởi tạo, học những bài học cần thiết và đi qua cuộc khủng hoảng này (mà chính họ đã làm ngưng tụ) với sự phong phú hơn nhờ đó, và được thanh luyện trong những ngọn lửa nghịch cảnh. Đây không phải là những lời sáo rỗng mà là những chân lý vĩnh cửu. |
|
This world crisis, with all its horror and suffering, is—in the last analysis—the result of successful evolutionary processes. We are ready to recognise that when a man’s life cycle has been run and he has learnt the lessons which the [114] experience of any particular life has been intended to teach, his physical body and the inner form aspects (making the sum total of his personality expression) will begin to deteriorate; destructive agencies within the form itself will become active and eventually death will take place, resulting in the liberation of the indwelling life in order that a new and better form may be built. This, we perforce accept either blindly or intelligently, regarding it as a natural and unavoidable process, but normal and inevitable. We are apt, however, to forget that what is true of the individual is true of humanity. Cycles of civilisation such as that we call our modern civilisation are analogous to a particular, individual, human incarnation with its inception, its progress and growth, its useful maturity and its ensuing deterioration and subsequent death or the passing away of the form. |
Cuộc khủng hoảng thế giới này, với tất cả nỗi kinh hoàng và đau khổ của nó, xét đến cùng là kết quả của những tiến trình tiến hoá thành công. Chúng ta sẵn sàng thừa nhận rằng khi chu kỳ đời sống của một người đã hoàn tất và y đã học được những bài học mà [114] kinh nghiệm của một đời sống cụ thể nhằm dạy cho y, thì thể xác của y và các phương diện hình tướng bên trong (tạo nên tổng thể biểu hiện phàm ngã của y) sẽ bắt đầu suy thoái; các tác nhân hủy diệt bên trong chính hình tướng sẽ trở nên hoạt động và cuối cùng cái chết sẽ xảy ra, dẫn đến sự giải thoát của sự sống ngự bên trong để một hình tướng mới và tốt hơn có thể được xây dựng. Điều này, chúng ta buộc phải chấp nhận hoặc một cách mù quáng hoặc một cách thông minh, xem đó là một tiến trình tự nhiên và không thể tránh khỏi, nhưng bình thường và tất yếu. Tuy nhiên, chúng ta thường quên rằng điều gì đúng với cá nhân thì cũng đúng với nhân loại. Những chu kỳ văn minh như chu kỳ mà chúng ta gọi là nền văn minh hiện đại của mình tương tự với một lần nhập thể cá nhân của con người, với sự khởi đầu, tiến trình và tăng trưởng, sự trưởng thành hữu ích, rồi sự suy thoái tiếp theo và cái chết sau đó hay sự qua đi của hình tướng. |
|
Forms are ever open to attack. A strong subjective life and spiritual detachment are the two safeguards. Where the form is more potent than the life, danger is imminent; where attachment to the material aspect or organisation is present, spiritual values are lost. |
Các hình tướng luôn luôn mở ra cho sự tấn công. Một sự sống chủ quan mạnh mẽ và sự tách rời tinh thần là hai sự bảo vệ. Nơi nào hình tướng mạnh hơn sự sống, ở đó nguy hiểm cận kề; nơi nào có sự bám chấp vào phương diện vật chất hay tổ chức, ở đó các giá trị tinh thần bị đánh mất. |
|
Today we are watching the death of a civilisation or cycle of incarnation of humanity. In all fields of human expression, crystallisation and deterioration had set in. Worn-out religious dogmas and the grip of theology and the orthodox churches have no longer sufficed to hold the allegiance of the potent, inner, spiritual life; humanity is deeply spiritual and innately religious but needs today a new form with which to clothe the ancient verities. Old political schools have been deemed inadequate and new ideologies bear witness to the strength of the life which is seeking more adequate expression; the educational systems, having served their purpose, are fast being recognised as inadequate to meet the need of the demanding life of the race; there is everywhere a cry for change and for those new forms in the religious, political, educational and economic life of the race which will allow of freer and better spiritual expression. Such a change is rapidly coming and is regarded by some as death—terrible and to be avoided if possible. It is [115] indeed death but it is beneficent and needed. It is this realisation of the passing of a civilisation which gives rise to the recurrent and foreboding cry, “This is the death of civilisation; it must not be”; “This is the end of the order, and the old order must be saved”; “This is the destruction of the old and loved values, and it must not be permitted.” |
Ngày nay chúng ta đang chứng kiến cái chết của một nền văn minh hay một chu kỳ nhập thể của nhân loại. Trong mọi lĩnh vực biểu hiện của con người, sự kết tinh và suy thoái đã xuất hiện. Những giáo điều tôn giáo đã cũ kỹ và sự kềm giữ của thần học cùng các giáo hội chính thống không còn đủ để giữ lòng trung thành của sự sống tinh thần nội tại đầy mãnh lực; nhân loại có tính tinh thần sâu sắc và bẩm sinh có tính tôn giáo nhưng ngày nay cần một hình tướng mới để khoác lên các chân lý muôn đời. Những trường phái chính trị cũ đã bị xem là không thích hợp và các hệ tư tưởng mới làm chứng cho sức mạnh của sự sống đang tìm kiếm một biểu hiện thích hợp hơn; các hệ thống giáo dục, sau khi đã phụng sự mục đích của chúng, đang nhanh chóng được nhận ra là không thích hợp để đáp ứng nhu cầu của sự sống đòi hỏi nơi nhân loại; ở khắp nơi đều có tiếng kêu đòi thay đổi và đòi những hình tướng mới trong đời sống tôn giáo, chính trị, giáo dục và kinh tế của nhân loại, những hình tướng sẽ cho phép sự biểu lộ tinh thần tự do hơn và tốt đẹp hơn. Một sự thay đổi như thế đang đến rất nhanh và được một số người xem là cái chết—khủng khiếp và cần tránh nếu có thể. Quả thật đó là [115] cái chết nhưng là cái chết có ích và cần thiết. Chính sự nhận ra sự qua đi của một nền văn minh này làm phát sinh tiếng kêu lặp đi lặp lại và đầy điềm gở: “Đây là cái chết của văn minh; điều đó không được xảy ra”; “Đây là sự chấm dứt của trật tự, và trật tự cũ phải được cứu”; “Đây là sự hủy diệt những giá trị cũ và được yêu quý, và điều đó không được phép.” |
|
That humanity is bringing about this needed change in unnecessary, cruel and painful ways is indeed true, just as it is true today that human beings by their wrong thinking, foolish habits of physical living and undesirable emotional attitudes do precipitate a final, physical breakdown and eventually death. Nevertheless, for the progress of the soul of the individual and the soul of humanity, death is inevitable, good and necessary; it is also a practice with which we are all most familiar in our own experience and in watching it in others. But we need to remember that the worst death of all (as far as humanity is concerned) would be if a form of civilisation or a body form became static and eternal; if the old order never altered and the old values were never transmuted into higher and better ones, that would indeed be a disaster. |
Việc nhân loại đang tạo ra sự thay đổi cần thiết này bằng những cách không cần thiết, tàn nhẫn và đau đớn quả thật là đúng, cũng như ngày nay đúng là các con người do tư tưởng sai lầm, những thói quen sống hồng trần ngu xuẩn và những thái độ cảm xúc không mong muốn mà làm ngưng tụ một sự suy sụp hồng trần cuối cùng và rốt cuộc là cái chết. Tuy nhiên, đối với sự tiến bộ của linh hồn cá nhân và linh hồn nhân loại, cái chết là điều tất yếu, tốt lành và cần thiết; nó cũng là một thực hành mà tất cả chúng ta đều rất quen thuộc trong kinh nghiệm của chính mình và khi quan sát nó nơi người khác. Nhưng chúng ta cần nhớ rằng cái chết tệ hại nhất trong mọi cái chết (xét theo nhân loại) sẽ là nếu một hình tướng văn minh hay một hình thể trở nên tĩnh tại và vĩnh cửu; nếu trật tự cũ không bao giờ thay đổi và các giá trị cũ không bao giờ được chuyển hoá thành những giá trị cao hơn và tốt hơn, thì đó quả thật sẽ là một tai họa. |
|
We need to bear in mind also that the forces of destruction or death are two-fold: first, the rapidly emerging and developing life with its demand for more room for expression and fuller experience, and its spiritual aspiration for change and progress; and secondly, the reactionary forces and the conservative attitudes which adhere to the well-known and the familiar, and which hate the new, the untried and the unknown. Both of these produce the great and divine transition from the past into the future, and from the old into the new, from experience into fruition and then into experience again. The realities are eternal and undying; the forms are ephemeral and temporary; the soul is persistent and deathless; the form is changing and doomed to die. The processes of evolution have in the past and will in the future prove successful in bringing forms to birth, to maturity and to death. |
Chúng ta cũng cần ghi nhớ rằng các mãnh lực hủy diệt hay cái chết có hai mặt: thứ nhất, sự sống đang nhanh chóng xuất hiện và phát triển với đòi hỏi có thêm không gian để biểu lộ và kinh nghiệm đầy đủ hơn, cùng khát vọng tinh thần của nó đối với sự thay đổi và tiến bộ; và thứ hai, các mãnh lực phản động và các thái độ bảo thủ bám chặt vào điều quen biết và quen thuộc, và ghét cái mới, cái chưa được thử nghiệm và cái chưa biết. Cả hai điều này tạo ra cuộc chuyển tiếp vĩ đại và thiêng liêng từ quá khứ sang tương lai, và từ cái cũ sang cái mới, từ kinh nghiệm đến kết quả viên mãn rồi lại đến kinh nghiệm. Các thực tại là vĩnh cửu và bất diệt; các hình tướng là phù du và tạm thời; linh hồn là bền bỉ và bất tử; hình tướng thì thay đổi và bị định phải chết. Các tiến trình tiến hoá trong quá khứ đã và trong tương lai sẽ chứng tỏ thành công trong việc đưa các hình tướng đến sinh ra, trưởng thành và chết đi. |
|
But (and this is the interesting and significant point) [116] humanity is for the first time aware of process. It has for the first time chosen intelligently to observe what is going on and to relate it to experience and to environment. This in itself indicates a stage of true and much to be desired development. Reasoning, analysis and the presentation of differing viewpoints are going on in every country on a large scale with varying results, based on differences of temperament, of tradition, of development and of training. |
Nhưng (và đây là điểm thú vị và có ý nghĩa) [116] nhân loại lần đầu tiên ý thức được tiến trình. Lần đầu tiên, nhân loại đã chọn một cách thông minh để quan sát điều đang diễn ra và liên hệ nó với kinh nghiệm và môi trường. Điều này tự nó cho thấy một giai đoạn phát triển chân chính và rất đáng mong muốn. Sự lý luận, phân tích và trình bày các quan điểm khác nhau đang diễn ra ở mọi quốc gia trên quy mô lớn với những kết quả khác nhau, dựa trên sự khác biệt về khí chất, truyền thống, phát triển và đào luyện. |
|
This stage of death and of birth (for the two are proceeding simultaneously) can be easily grasped by the esotericist as he studies the world war in its two distinctive periods: 1914 to 1918, and 1939 until 1942. The first stage (if you could see the situation as it truly is) was most definitely the death stage; the second stage, in which we now find ourselves, is literally the stage of birth—the birth pangs of the new order and of the new civilisation through which humanity’s sense of life can express itself. The mother dies in order that the child may live; the form is sacrificed to the life. But today, the form aspect, the Mother or matter aspect, is dying consciously, and just as consciously the child, the infant civilisation, is coming into being. This is the new thing and it is in this that we are all participating. It is the death of the personality of humanity and the coming in of the soul. |
Giai đoạn chết và sinh này (vì cả hai đang diễn ra đồng thời) có thể được nhà bí truyền học nắm bắt dễ dàng khi y nghiên cứu cuộc thế chiến trong hai thời kỳ phân biệt của nó: 1914 đến 1918, và 1939 đến 1942. Giai đoạn thứ nhất (nếu bạn có thể thấy tình hình như nó thực sự là) rõ ràng nhất là giai đoạn chết; giai đoạn thứ hai, trong đó hiện nay chúng ta đang ở, theo nghĩa đen là giai đoạn sinh—những cơn đau đẻ của trật tự mới và của nền văn minh mới qua đó ý thức về sự sống của nhân loại có thể biểu lộ. Người mẹ chết để đứa con có thể sống; hình tướng được hi sinh cho sự sống. Nhưng ngày nay, phương diện hình tướng, Mẹ hay phương diện vật chất, đang chết một cách có ý thức, và cũng một cách có ý thức như thế, đứa con, nền văn minh sơ sinh, đang đi vào hiện hữu. Đây là điều mới mẻ và chính trong đó mà tất cả chúng ta đang tham dự. Đó là cái chết của phàm ngã của nhân loại và sự đi vào của linh hồn. |
|
Such a dying is ever a painful process. Pain has always been the purifying agent, employed by the Lords of Destiny, to bring about liberation. The accumulated pain of the present war and the inherited pain of the earlier stage (begun in 1914) is bringing about a salutary and changing world consciousness. The Lord of Pain has descended from His throne and is treading the ways of earth today, bringing distress, agony and terror to those who cannot interpret His ends, but bringing also a re-stimulation of the instinct to self-preservation which—in its higher aspect—is the instinct to immortality; it tends to focus humanity’s attention upon the life aspect and not upon the form. The names of the Lords of Karma signify, symbolically and from the angle of their inner meaning, Relationship, Enlightenment, Pain [117] and Return. Ponder on this. They are all peculiarly active at this time, and in their activity lies the hope of humanity. |
Một sự chết như thế luôn luôn là một tiến trình đau đớn. Đau khổ từ lâu vẫn là tác nhân thanh luyện, được các Đấng Chúa Tể của Định Mệnh sử dụng để đem lại sự giải thoát. Nỗi đau tích lũy của cuộc chiến hiện nay và nỗi đau được thừa hưởng từ giai đoạn trước đó (bắt đầu năm 1914) đang đem lại một tâm thức thế giới lành mạnh và đang thay đổi. Chúa Tể của Đau Khổ đã bước xuống khỏi ngai của Ngài và đang đi trên những nẻo đường của trái đất ngày nay, mang đến khốn khổ, thống khổ và kinh hoàng cho những ai không thể diễn giải mục đích của Ngài, nhưng cũng mang đến một sự tái kích thích bản năng tự bảo tồn mà—trong phương diện cao hơn của nó—là bản năng bất tử; nó có khuynh hướng tập trung sự chú ý của nhân loại vào phương diện sự sống chứ không phải vào hình tướng. Tên gọi của các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả, theo biểu tượng và từ góc độ ý nghĩa nội tại của các Ngài, là Liên Hệ, Giác Ngộ, Đau Khổ [117] và Trở Về. Hãy suy ngẫm về điều này. Tất cả các Ngài đều đặc biệt hoạt động vào lúc này, và trong hoạt động của các Ngài có niềm hy vọng của nhân loại. |
|
Ancient Karmic Events |
Những Biến Cố Nghiệp Quả Cổ Xưa |
|
It is not my intention to explain or elaborate the subject of Karma. This occult yet fundamentally exoteric theme, the Law of Cause and Effect, evokes a general recognition when called by this name. When called the Law of Karma, it is immediately regarded as mysterious, Oriental and new. Called (as it sometimes is) the Law of Retribution, an entirely erroneous connotation has become attached to it. Today, the karma of humanity is descending upon it. I would remind you, however, that the continuous emphasis laid upon the malevolent aspects of karma conveys a wrong impression and negates the full grasp of the truth. There is as much good karma as there is bad; even in the present world situation, the good karma emanating from the soul of humanity balances the evil which comes from the material aspect and is continuously over-emphasised. It is the rhythm of matter in contradistinction to the rhythm of the soul, and these constitute the initiating causes of the present conflict, both in individual lives and in the general world situation. When this is properly grasped, the true picture may emerge in your hearts and minds with greater clarity. |
Tôi không có ý định giải thích hay khai triển chủ đề Nghiệp Quả. Chủ đề huyền bí nhưng về căn bản lại ngoại môn này, Định luật Nhân Quả, khơi dậy một sự thừa nhận chung khi được gọi bằng tên ấy. Khi được gọi là Định luật Nghiệp Quả, nó lập tức bị xem là huyền bí, phương Đông và mới lạ. Khi được gọi (như đôi khi vẫn gọi) là Định luật Báo Ứng, một hàm ý hoàn toàn sai lầm đã gắn liền với nó. Ngày nay, nghiệp quả của nhân loại đang giáng xuống trên chính nó. Tuy nhiên, tôi muốn nhắc bạn rằng sự nhấn mạnh liên tục đặt lên các phương diện ác hại của nghiệp quả tạo ra một ấn tượng sai lầm và phủ nhận sự nắm bắt trọn vẹn chân lý. Có nghiệp tốt nhiều như có nghiệp xấu; ngay cả trong tình hình thế giới hiện nay, nghiệp tốt phát xuất từ linh hồn nhân loại cũng cân bằng điều ác đến từ phương diện vật chất và điều này liên tục bị nhấn mạnh quá mức. Đó là nhịp điệu của vật chất đối lập với nhịp điệu của linh hồn, và chúng cấu thành các nguyên nhân khởi đầu của cuộc xung đột hiện nay, cả trong đời sống cá nhân lẫn trong tình hình thế giới nói chung. Khi điều này được nắm bắt đúng đắn, bức tranh chân thực có thể hiện ra trong tim và trí bạn với sự rõ ràng lớn hơn. |
|
In my effort to make clear the picture, I shall have to overlook many essential details; I shall also be forced to take the always debatable position of making statements which cannot be checked and which find their sole arguments (as far as the average thinker is concerned) in deduction from the effects produced by causes that do not appear to the occultly unenlightened. In time to come, man will develop that mental attitude which will consider causes of greater importance than effects; he will then learn to consider with care the first steps taken in initiating any line of action, pondering upon and deducing the probable effects before committing himself to any specific deed. Only through pain, [118] error and consequent price-paying will this salutary stage be reached. |
Trong nỗ lực làm sáng tỏ bức tranh, tôi sẽ phải bỏ qua nhiều chi tiết thiết yếu; tôi cũng sẽ buộc phải giữ lập trường luôn luôn có thể tranh luận là đưa ra những phát biểu không thể kiểm chứng và chỉ tìm được lập luận duy nhất của chúng (xét theo nhà tư tưởng trung bình) trong sự suy diễn từ các hiệu quả do những nguyên nhân không hiện ra đối với người chưa được soi sáng về huyền bí học tạo ra. Trong tương lai, con người sẽ phát triển thái độ trí tuệ coi các nguyên nhân quan trọng hơn các hiệu quả; khi đó y sẽ học cách xem xét cẩn trọng những bước đầu tiên được thực hiện khi khởi xướng bất kỳ đường lối hành động nào, suy ngẫm và suy diễn các hiệu quả có thể xảy ra trước khi dấn thân vào bất kỳ hành động cụ thể nào. Chỉ qua đau khổ, [118] sai lầm và cái giá phải trả kéo theo mà giai đoạn lành mạnh này mới đạt được. |
|
Today, all that is taking place is due, first of all, to the essential duality of man; in the second place, it is due to certain major lines of cleavage which were brought about by this essential dualism in an early stage of human history, and thirdly, to the growing tendency towards synthesis which the inflow of the Shamballa force is producing at this time. This is the simplest statement I find it possible to make anent this complex problem. With broad generalities I cover the past, indicate the effects which are now being experienced in the present, and forecast the future. |
Ngày nay, mọi điều đang diễn ra trước hết là do tính nhị nguyên tính cốt yếu của con người; thứ hai, là do một số đường phân rẽ lớn đã được tạo ra bởi tính nhị nguyên cốt yếu này trong một giai đoạn sớm của lịch sử nhân loại; và thứ ba, là do khuynh hướng ngày càng tăng hướng tới tổng hợp mà dòng tuôn đổ của mãnh lực Shamballa đang tạo ra vào lúc này. Đây là phát biểu đơn giản nhất mà tôi thấy có thể đưa ra liên quan đến vấn đề phức tạp này. Bằng những khái quát rộng, tôi bao quát quá khứ, chỉ ra các hiệu quả hiện đang được kinh nghiệm trong hiện tại, và báo trước tương lai. |
|
It was the coming into incarnation of the spiritually self-conscious human being which is the inciting cause of the present conflict. Had the sons of God not “come in unto the daughters of men” (which is the Biblical and symbolic way of expressing the great relationship between spirit and matter which was established in the human kingdom), had the spiritual entities which are humanity itself not taken unto themselves material forms, and had the positive spiritual element not attached itself to the negative material aspect, the present world conflict would not be taking place. But the divine plan of evolution was based upon the production of this relationship between spiritually conscious man and the form aspect, and thus the great Law of Duality came into action, bringing about the “fall of the angels,” as they descended from their sinless and free state of existence in order to develop full divine awareness upon earth, through the medium of material incarnation and the use of the principle of mind. This was the divine plan, emanating from the Mind of God and swept into activity and progressive unfoldment by an act of His Will. At its inception, there took place the original “war in the heavens,” when the sons of God who responded to the divine urge to experience, to serve and to sacrifice, separated themselves from the sons of God who responded to no such inspiration but who chose to stay in their original and high state of being. To this truth, Christ Himself bore witness in the story of [119] the Prodigal Son and his relationship to his elder brother, who had not left the Father’s home. It is obvious, is it not, from this parable, where the approbation of the Father lay; a careful study of this story and an intuitive understanding of its implications may evoke some day a response to the “sin of experience,” as it has been called, and a comprehension of the two major laws governing the process: the Law of Evolution and the Law of Rebirth. Here lies the prime initiating cause of what is taking place today. |
Chính việc con người có ngã thức tinh thần đi vào lâm phàm là nguyên nhân kích động của cuộc xung đột hiện nay. Nếu các con của Thượng đế đã không “đến cùng các con gái của loài người” (đó là cách diễn đạt Kinh Thánh và biểu tượng về mối liên hệ lớn lao giữa tinh thần và vật chất đã được thiết lập trong giới nhân loại), nếu các thực thể tinh thần là chính nhân loại đã không khoác lấy cho mình các hình tướng vật chất, và nếu yếu tố tinh thần tích cực đã không gắn mình với phương diện vật chất tiêu cực, thì cuộc xung đột thế giới hiện nay đã không xảy ra. Nhưng thiên cơ tiến hoá thiêng liêng được đặt nền trên việc tạo ra mối liên hệ này giữa con người có tâm thức tinh thần và phương diện hình tướng, và như thế Định luật Nhị nguyên tính vĩ đại đã đi vào hoạt động, đem lại “sự sa ngã của các thiên thần,” khi họ đi xuống từ trạng thái hiện hữu vô tội và tự do của mình để phát triển sự nhận biết thiêng liêng trọn vẹn trên trái đất, qua trung gian của sự nhập thể vật chất và việc sử dụng nguyên khí trí tuệ. Đây là thiên cơ thiêng liêng, phát xuất từ Trí của Thượng đế và được cuốn vào hoạt động cùng sự khai mở tiến bộ bởi một hành động của Ý Chí của Ngài. Khi khởi đầu, đã diễn ra “cuộc chiến trên thiên giới” nguyên thủy, khi các con của Thượng đế đáp ứng với thôi thúc thiêng liêng hướng đến kinh nghiệm, phụng sự và hi sinh, đã tách mình khỏi các con của Thượng đế không đáp ứng với cảm hứng như thế mà chọn ở lại trong trạng thái hiện hữu nguyên thủy và cao cả của mình. Chính chân lý này, Đức Christ đã làm chứng trong câu chuyện về [119] Người Con Hoang Đàng và mối liên hệ của y với người anh cả, người đã không rời khỏi nhà Cha. Từ dụ ngôn này, hiển nhiên phải không, sự tán thành của người Cha nằm ở đâu; một nghiên cứu cẩn trọng câu chuyện này và một sự thấu hiểu trực giác về các hàm ý của nó có thể một ngày nào đó khơi dậy một đáp ứng đối với “tội lỗi của kinh nghiệm,” như nó đã được gọi, và một sự hiểu biết về hai định luật chính chi phối tiến trình: Định luật Tiến hoá và Định luật Tái Sinh. Chính trong đó có nguyên nhân khởi đầu chủ yếu của điều đang diễn ra ngày nay. |
|
The second cause arose slowly out of the first. Matter and spirit, focussed in the human family and expressing their basic qualities and essential nature, were eternally in conflict. In the early stages and during the long Lemurian cycle, infant humanity steadily evolved and yet in spite of this the lines of cleavage, though present, were not recognised. The latent spark of mind served only to bring a relative enlightenment to the five senses and their purely physical application. The physical life was strong; the deductive or self-registering life was practically nil. The life of humanity was then focussed within the physical body, thus fortifying and stimulating the animal nature and developing the physical organism and the various internal organs through the unfoldment of the five senses; man became primarily a selfish and a fighting animal with, however, at times, vague tendencies towards something dimly sensed as better and with moments of high grade desire which was not aspiration and the urge to progress, as we know it, but their embryonic forms. |
Nguyên nhân thứ hai nảy sinh chậm chạp từ nguyên nhân thứ nhất. Vật chất và tinh thần, được tập trung trong gia đình nhân loại và biểu lộ các phẩm tính căn bản cùng bản chất cốt yếu của chúng, đã vĩnh viễn ở trong xung đột. Trong các giai đoạn đầu và trong chu kỳ Lemuria dài lâu, nhân loại sơ sinh tiến hoá đều đặn, nhưng mặc dù vậy các đường phân rẽ, tuy hiện diện, vẫn không được nhận ra. Tia lửa trí tuệ tiềm ẩn chỉ phục vụ để đem lại một sự soi sáng tương đối cho năm giác quan và sự ứng dụng thuần hồng trần của chúng. Sự sống hồng trần rất mạnh; sự sống suy diễn hay tự ghi nhận hầu như bằng không. Khi ấy sự sống của nhân loại được tập trung trong thể xác, do đó củng cố và kích thích bản chất động vật và phát triển cơ thể hồng trần cùng các cơ quan nội tạng khác nhau qua sự khai mở của năm giác quan; con người trở thành chủ yếu là một con vật ích kỷ và hiếu chiến, tuy nhiên đôi khi có những khuynh hướng mơ hồ hướng về một điều gì đó được cảm nhận lờ mờ là tốt đẹp hơn và có những lúc ham muốn ở cấp độ cao, tuy chưa phải là khát vọng và cũng chưa phải là thôi thúc tiến bộ như chúng ta biết, mà chỉ là những hình thức phôi thai của chúng. |
|
It is not possible for modern man to vision or understand such a state of consciousness, for he has left it too far behind. The focus of the life force was also in the region of the adrenal glands, producing animal courage and resistance to shock. But the dualism of man’s essential nature was, as always, present and the lines of cleavage gradually appeared; slowly yet steadily, the pioneering souls (a very small minority) shifted their consciousness gradually higher into the solar plexus and a recognition of the factor of desire for that which was material and a capacity for emotional reaction [120] began to develop. Hitherto, in Lemurian times, desire and instinct were identical. Ponder on this, for it is interesting because it concerns a state of consciousness of which modern man knows practically nothing. But, in Atlantean times, the lines of demarcation between what constituted purely physical life and that which—though still material—could be the goal of effort and thus acquired, began to control the purely animal nature; man began to be acquisitive and to surround himself with that which he wanted. The lines of cleavage between the instinctual animal and acquisitive man began to be more clearly defined. |
Con người hiện đại không thể có linh ảnh hay thấu hiểu một trạng thái tâm thức như thế, vì y đã bỏ nó lại quá xa phía sau. Trọng tâm của lực sống khi ấy cũng ở vùng các tuyến thượng thận, tạo ra lòng can đảm động vật và sức chống chịu trước chấn động. Nhưng tính nhị nguyên của bản chất cốt yếu của con người, như mọi khi, vẫn hiện diện và các đường phân rẽ dần dần xuất hiện; chậm rãi nhưng đều đặn, các linh hồn tiên phong (một thiểu số rất nhỏ) dần dần chuyển tâm thức của mình lên cao hơn vào tùng thái dương, và sự nhận biết yếu tố ham muốn đối với điều thuộc vật chất cùng năng lực phản ứng cảm xúc [120] bắt đầu phát triển. Cho đến lúc đó, trong thời Lemuria, ham muốn và bản năng là đồng nhất. Hãy suy ngẫm điều này, vì nó thú vị bởi nó liên quan đến một trạng thái tâm thức mà con người hiện đại hầu như không biết gì. Nhưng trong thời Atlantis, các đường ranh giới giữa điều cấu thành đời sống thuần hồng trần và điều mà—dù vẫn còn vật chất—có thể là mục tiêu của nỗ lực và do đó có thể đạt được, bắt đầu kiểm soát bản chất thuần động vật; con người bắt đầu có tính chiếm hữu và bao quanh mình bằng những gì y muốn. Các đường phân rẽ giữa con vật bản năng và con người chiếm hữu bắt đầu được xác định rõ hơn. |
|
Gradually the mental element unfolded among these pioneers just as the intuitive element is today unfolding among the mental types; men began to acquire some form of mental perception and to bring what little mind they had to the processes of increasing their material possessions. The stage of civilisation (which is basically a recognition of group relation) began. A period of urban existence superseded that of a pure nomadic and agricultural existence. Men began to congregate together for their greater material comfort and protection, and the rhythmic processes of concentration and their world-wide extension began. These cycles are similar to the inbreathing and the outbreathing of the physical organism of man. Some day a study will be made of these basic and controlling factors of human existence, dispersion or decentralisation, and community life or the expression of the herd instinct on a higher or lower turn of the spiral of existence. The past few hundred years have seen a major problem arise in the present tendency of humanity to collect together in great cities and to congregate in vast herds, leaving the countryside denuded of its population and creating serious problems of sustenance, of health and also of crime. Right before our eyes this rhythm is today changing and a serious problem is being solved; cities are being evacuated and—as men and women are driven forth for one reason or another into the country—the lords of evolution are forcing the breaking up of the rhythm of concentration and substituting for it the rhythm [121] of dispersion. This will do much for the race and will facilitate the unfoldment of a subjective synthesis which will greatly enrich humanity and give new values to living. |
Dần dần yếu tố trí tuệ khai mở nơi những người tiên phong này cũng như ngày nay yếu tố trực giác đang khai mở nơi các kiểu người trí tuệ; con người bắt đầu đạt được một hình thức tri giác trí tuệ nào đó và đem chút ít trí tuệ mình có vào các tiến trình gia tăng tài sản vật chất của mình. Giai đoạn văn minh (vốn về căn bản là sự nhận biết liên hệ nhóm) bắt đầu. Một thời kỳ tồn tại đô thị thay thế cho thời kỳ tồn tại thuần du mục và nông nghiệp. Con người bắt đầu tụ họp lại với nhau để có sự tiện nghi vật chất và sự bảo vệ lớn hơn, và các tiến trình nhịp điệu của sự tập trung cùng sự mở rộng của chúng trên toàn thế giới bắt đầu. Những chu kỳ này tương tự như sự hít vào và thở ra của cơ thể hồng trần của con người. Một ngày nào đó sẽ có sự nghiên cứu về những yếu tố căn bản và kiểm soát này của sự tồn tại nhân loại, sự phân tán hay phi tập trung vào bản thân, và đời sống cộng đồng hay sự biểu lộ của bản năng bầy đàn ở một vòng xoắn cao hơn hay thấp hơn của sự tồn tại. Vài trăm năm qua đã chứng kiến một vấn đề lớn nảy sinh trong khuynh hướng hiện nay của nhân loại là tụ tập trong các thành phố lớn và quần tụ thành những bầy đàn khổng lồ, bỏ lại vùng nông thôn trống vắng dân cư và tạo ra những vấn đề nghiêm trọng về sinh kế, sức khỏe và cả tội phạm. Ngay trước mắt chúng ta, nhịp điệu này ngày nay đang thay đổi và một vấn đề nghiêm trọng đang được giải quyết; các thành phố đang được di tản và—khi những người nam và nữ bị đẩy ra nông thôn vì lý do này hay lý do khác—các chúa tể của tiến hoá đang buộc phải phá vỡ nhịp điệu tập trung và thay thế nó bằng nhịp điệu [121] phân tán. Điều này sẽ làm được nhiều điều cho nhân loại và sẽ tạo thuận lợi cho sự khai mở của một tổng hợp chủ quan, điều sẽ làm phong phú lớn lao cho nhân loại và đem lại những giá trị mới cho đời sống. |
|
The lines of cleavage between the animal, instinctual nature and some form of desire (embryonic aspiration) steadily grew during Atlantean times and this early civilisation began to demonstrate its own note and to set new standards of material comfort and of selfish control on an increasingly large scale as the urban existence developed. It is perhaps difficult for us to visualise a world as densely populated then as is the modern world but so it was. The animal nature, being dominant, the tendency was towards sexual relationship and the production of large families, just as it is among the lower orders in our civilised areas today, for the peasantry and the slum dwellers produce more children than do the intelligentsia. In those far-off times, the only people who had any true measure of intelligence were the disciples and initiates; they guided and guarded infant humanity, much as modern parents guide and guard their children, and as the state assumes responsibility for the welfare of the nation. The Hierarchy was, in those days, present upon the earth as the priest-kings and they acted as focal points of attractive energy, drawing to themselves those in whom the more intangible values were slowly assuming a vague control, thus making the lines of cleavage between materialism and spirituality still more clear and definite. |
Các đường phân rẽ giữa bản chất động vật, bản năng và một hình thức ham muốn nào đó (khát vọng phôi thai) đã tăng trưởng đều đặn trong thời Atlantis, và nền văn minh sơ kỳ này bắt đầu biểu lộ chủ âm riêng của nó và đặt ra những tiêu chuẩn mới về tiện nghi vật chất và sự kiểm soát ích kỷ trên một quy mô ngày càng lớn khi đời sống đô thị phát triển. Có lẽ chúng ta khó hình dung một thế giới khi ấy đông dân như thế giới hiện đại, nhưng quả thật là như vậy. Vì bản chất động vật chiếm ưu thế, khuynh hướng là hướng tới quan hệ tính dục và sinh ra các gia đình đông con, cũng như ngày nay nơi các tầng lớp thấp hơn trong các khu vực văn minh của chúng ta, vì nông dân và cư dân khu ổ chuột sinh nhiều con hơn giới trí thức. Trong những thời xa xưa ấy, những người duy nhất có bất kỳ mức độ trí tuệ chân chính nào là các đệ tử và các điểm đạo đồ; họ hướng dẫn và bảo vệ nhân loại sơ sinh, cũng như cha mẹ hiện đại hướng dẫn và bảo vệ con cái mình, và như nhà nước nhận trách nhiệm về phúc lợi của quốc gia. Thánh đoàn, vào những ngày ấy, hiện diện trên trái đất như các vị vua-tư tế và các Ngài hành động như những tiêu điểm của năng lượng hấp dẫn, thu hút về mình những người nơi họ các giá trị vô hình hơn đang dần dần nắm quyền kiểm soát mơ hồ, do đó làm cho các đường phân rẽ giữa chủ nghĩa vật chất và tinh thần càng rõ ràng và xác định hơn. |
|
We must remember that the spirituality of that time was of a very different quality from that which now goes under that name. It was in the nature of an aspiration towards a sensed hereafter, for a satisfying beauty and for emotional completion. There was no thought—as we know thought—in this attitude but only a reaching out after a sensed unattainable and for that which was desirable. This was fostered in the people by the Hierarchy through the gift of various inventions and by the use of the instinctual masses of men in building great and beautiful cities and stupendous structures, the remnants of which persist until [122] today. This was done under the expert guidance of the initiates and adepts who employed their knowledge of the nature of matter and energy to produce much that today man is gropingly endeavouring to discover and make possible. All that the modern processes of civilisation have made possible, and much more than that which today comes under the name of scientific discovery were known in old Atlantis, but they were not developed by men themselves but given to them as a free gift, much as people today give to a child beautiful and wonderful things which the child uses and enjoys but which he does not understand in any way. Great and beautiful cities, full of temples and great buildings (of which the Chaldean and Babylonian remains are the degenerate remnants, and the modern skyscraper the child) were everywhere to be found. Most of our modern scientific knowledge was possessed by these priest-kings and constituted in the eyes of the masses a form of wonderful magic. Sanitation, hygiene, means of transportation and air machines were developed and of a very high order; these were not the result however of man’s achievement but gifts from the Hierarchy, developed or constructed under a wise guidance. There was command of air and water because the guides of the race knew how to control and master the forces of nature and of the elements, but none of it was the result of human understanding, knowledge or effort. The minds of men were undeveloped and not adequate to such a task, any more than is the mind of a little child. |
Chúng ta phải nhớ rằng tính tinh thần của thời đó có phẩm tính rất khác với điều ngày nay được gọi bằng tên ấy. Nó mang bản chất của một khát vọng hướng tới một đời sau được cảm nhận, hướng tới một vẻ đẹp thỏa mãn và một sự hoàn tất cảm xúc. Trong thái độ này không có tư tưởng—như chúng ta biết về tư tưởng—mà chỉ có sự vươn tới một điều được cảm nhận là không thể đạt tới và hướng tới điều đáng mong muốn. Điều này được Thánh đoàn nuôi dưỡng trong dân chúng qua việc ban tặng nhiều phát minh khác nhau và qua việc sử dụng quần chúng bản năng của loài người trong việc xây dựng những thành phố lớn và đẹp cùng những công trình đồ sộ, tàn tích của chúng vẫn còn tồn tại cho đến [122] ngày nay. Điều này được thực hiện dưới sự hướng dẫn chuyên môn của các điểm đạo đồ và các chân sư, những vị đã dùng tri thức của mình về bản chất của vật chất và năng lượng để tạo ra nhiều điều mà ngày nay con người đang lần mò cố gắng khám phá và thực hiện. Tất cả những gì các tiến trình văn minh hiện đại đã làm cho trở nên khả hữu, và còn nhiều hơn thế nữa so với điều ngày nay mang tên khám phá khoa học, đều đã được biết ở Atlantis xưa, nhưng chúng không do chính con người phát triển mà được ban cho họ như một tặng phẩm miễn phí, cũng như ngày nay người ta trao cho một đứa trẻ những vật đẹp đẽ và kỳ diệu mà đứa trẻ sử dụng và thích thú nhưng hoàn toàn không hiểu. Những thành phố lớn và đẹp, đầy đền đài và những công trình vĩ đại (mà các di tích Chaldea và Babylon là những tàn dư suy đồi, còn nhà chọc trời hiện đại là đứa con) có thể được tìm thấy ở khắp nơi. Phần lớn tri thức khoa học hiện đại của chúng ta đã được các vị vua-tư tế này sở hữu và trong mắt quần chúng nó cấu thành một hình thức huyền thuật kỳ diệu. Vệ sinh, y tế, phương tiện vận chuyển và máy bay đã được phát triển và ở trình độ rất cao; tuy nhiên, đó không phải là kết quả của thành tựu con người mà là những tặng phẩm từ Thánh đoàn, được phát triển hay xây dựng dưới sự hướng dẫn minh triết. Có sự làm chủ không khí và nước vì các vị hướng đạo của nhân loại biết cách kiểm soát và chế ngự các mãnh lực của thiên nhiên và của các nguyên tố, nhưng không điều nào trong đó là kết quả của sự thấu hiểu, tri thức hay nỗ lực của con người. Trí tuệ của con người chưa phát triển và không đủ cho một nhiệm vụ như thế, cũng như trí tuệ của một đứa trẻ nhỏ vậy. |
|
The cleavage between the two groups (the one expressing the forces of materialism and the other the energy of light) grew gradually wider until towards the close of the Atlantean Age it was so wide, and the lines of demarcation between the two schools of life and thought were so clear, that a crisis was precipitated in the then civilised world of which the present conflict is a definite effect. Let us also hope that it constitutes a climax which will never again occur. Then took place the great war between the Lords of Form and the Lords of Being, or between the Forces of Matter and the Great White Lodge. A careful study of [123] volume two of The Secret Doctrine will prove enlightening to students, if they will study with particular care pages 275-466. To our understanding, this account may seem vague and obscure, but the issues at the time were clear. The Forces of Light triumphed because the Hierarchy was forced to intervene potently, and, with the aid of certain great Lives extraneous to our planetary life, They brought the Atlantean civilisation to an abrupt end after a long period of chaos and disaster. This took place through the medium of a culminating catastrophe which wiped hundreds of thousands of human beings off the face of the earth. This historical event has been preserved for us in the universal legend of the great flood. |
Sự phân rẽ giữa hai nhóm (một nhóm biểu lộ các mãnh lực của chủ nghĩa vật chất và nhóm kia biểu lộ năng lượng của ánh sáng) dần dần rộng ra cho đến gần cuối Thời Đại Atlantis, nó đã rộng đến mức, và các đường ranh giới giữa hai trường phái đời sống và tư tưởng đã rõ đến mức, một cuộc khủng hoảng đã được làm ngưng tụ trong thế giới văn minh khi ấy mà cuộc xung đột hiện nay là một hiệu quả rõ rệt. Chúng ta cũng hãy hy vọng rằng nó cấu thành một cao điểm sẽ không bao giờ tái diễn nữa. Khi ấy đã diễn ra cuộc chiến lớn giữa các Chúa Tể của Hình Tướng và các Chúa Tể của Bản Thể, hay giữa các Mãnh lực của Vật Chất và Thánh đoàn. Một nghiên cứu cẩn trọng [123] quyển hai của Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ soi sáng cho các đạo sinh, nếu họ nghiên cứu đặc biệt cẩn thận các trang 275-466. Theo sự hiểu biết của chúng ta, tường thuật này có thể có vẻ mơ hồ và tối nghĩa, nhưng các vấn đề khi ấy thì rõ ràng. Các Mãnh lực Ánh sáng đã chiến thắng vì Thánh đoàn buộc phải can thiệp mạnh mẽ, và với sự trợ giúp của một số Sự sống vĩ đại ở ngoài sự sống hành tinh của chúng ta, Các Ngài đã chấm dứt nền văn minh Atlantis một cách đột ngột sau một thời kỳ dài hỗn loạn và tai họa. Điều này diễn ra qua trung gian của một thảm họa cực điểm đã quét hàng trăm ngàn con người khỏi mặt đất. Biến cố lịch sử này đã được lưu giữ cho chúng ta trong truyền thuyết phổ quát về trận đại hồng thủy. |
|
Those who survived are symbolically spoken of in the Bible as those who were saved in Noah’s ark, and in the ancient writings it is expressed in the following terms: |
Những người sống sót được nói đến một cách biểu tượng trong Kinh Thánh như những người được cứu trong con tàu của Noah, và trong các trước tác cổ điều đó được diễn đạt bằng những lời sau: |
|
“Like as a dragon snake uncoils slowly its body, so the sons of men, led on by the Sons of Wisdom, opened their folds and spreading out like a running stream of sweet waters…. Many of the faint-hearted among them perished on their way. But most were saved.” |
“Như một con rắn rồng từ từ tháo cuộn thân mình, các con của loài người, được dẫn dắt bởi các Con của Minh Triết, đã mở các nếp gấp của họ và lan ra như một dòng nước ngọt đang chảy…. Nhiều kẻ nhát đảm trong số họ đã chết trên đường đi. Nhưng phần lớn đã được cứu.” |
|
A close study of the tale as given in The Secret Doctrine will reveal the state of immature development (from the angle of our modern standards) and of the basically emotional and physical focus of the humanity of the period; it will show also man’s magical ability to subdue and control the subhuman kingdoms and the elemental forces of the planet. These are two angles which have been but little studied. |
Một nghiên cứu kỹ câu chuyện như được trình bày trong Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ cho thấy trạng thái phát triển chưa trưởng thành (xét theo tiêu chuẩn hiện đại của chúng ta) và sự tập trung về căn bản vào cảm xúc và hồng trần của nhân loại thời kỳ ấy; nó cũng sẽ cho thấy khả năng huyền thuật của con người trong việc khuất phục và kiểm soát các giới dưới nhân loại và các mãnh lực hành khí của hành tinh. Đây là hai góc độ ít được nghiên cứu. |
|
Emphasis has, however, been rightly placed upon divine interference and intervention; this succeeded in salvaging an ethically sound minority (the word “spiritual” would not yet apply, except relatively) and in destroying those who were wrongly focussed or oriented and, therefore, dedicated to the life of material aspiration and perception. |
Tuy nhiên, sự nhấn mạnh đã được đặt đúng chỗ vào sự can thiệp và can dự thiêng liêng; điều này đã thành công trong việc cứu vãn một thiểu số lành mạnh về mặt đạo đức (từ “tinh thần” vẫn chưa thể áp dụng, trừ theo nghĩa tương đối) và trong việc hủy diệt những kẻ bị tập trung hay định hướng sai, và do đó tận hiến cho đời sống của khát vọng và tri giác vật chất. |
|
[124] This nucleus which was saved, formed the basis of our present root race, the Aryan. The whole theme of the Old Testament is built around the development and growth of this nucleus. Symbolically speaking, the inhabitants of the ark and their descendants and the Jewish race stand for the salvaged remnant of humanity—salvaged in spite of themselves and in face of stupendous difficulties by the Great White Lodge. |
[124] Hạt nhân được cứu này đã hình thành nền tảng cho giống dân gốc hiện nay của chúng ta, giống dân Arya. Toàn bộ chủ đề của Cựu Ước được xây dựng quanh sự phát triển và tăng trưởng của hạt nhân này. Nói theo biểu tượng, những cư dân của con tàu và con cháu của họ cùng chủng tộc Do Thái tượng trưng cho phần còn lại của nhân loại đã được cứu vớt—được cứu bất chấp chính họ và trước những khó khăn to lớn bởi Thánh đoàn. |
|
Two points warrant attention here. The first and least important from the standpoint of the soul is the disappearance off the earth of practically all signs of the wonderful Atlantean civilisation except for those few archaeological treasures which intrigue and interest modern research workers, plus those dim memories of ancient scientific achievement which lead the modern student to investigation and invention, and which incite him to discovery and the production of what we call the triumphs of modern science. |
Có hai điểm đáng được chú ý ở đây. Điểm thứ nhất và ít quan trọng hơn xét từ quan điểm của linh hồn là sự biến mất khỏi trái đất của hầu như mọi dấu vết của nền văn minh Atlantis kỳ diệu, ngoại trừ một vài báu vật khảo cổ gây tò mò và thu hút các nhà nghiên cứu hiện đại, cộng với những ký ức mờ nhạt về thành tựu khoa học cổ xưa dẫn dắt đạo sinh hiện đại đến sự khảo cứu và phát minh, và kích thích y khám phá và tạo ra điều mà chúng ta gọi là những chiến thắng của khoa học hiện đại. |
|
Điểm thứ hai là vì lợi ích của nhân loại, Thánh đoàn đã rút vào hậu trường, để con người tự tìm lối thoát khỏi ảo ảnh và ảo tưởng của chủ nghĩa vật chất bằng những cách đúng đắn và cuối cùng chấm dứt các sự phân rẽ cổ xưa. Chiến tranh phải được đưa đến sự hoàn tất và biểu lộ cuối cùng của nó nhằm loại bỏ nó như một phương tiện để đạt đến các mục đích mong muốn. |
|
|
The Modern Era |
Thời Đại Hiện Đại |
|
I would like to pause here and remind you of one or two points which should be recognised as we approach this modern era in which all these culminating effects are taking place. Let me state them concisely and clearly. |
Tôi muốn dừng lại ở đây và nhắc bạn về một hay hai điểm cần được nhận ra khi chúng ta tiếp cận thời đại hiện đại này, trong đó mọi hiệu quả cực điểm này đang diễn ra. Hãy để tôi phát biểu chúng một cách ngắn gọn và rõ ràng. |
|
The lines of cleavage between materialism and spirituality (as we now understand the terms) have become increasingly clear. Two things have tended to bring this about. First, the pronouncement of the Ten Commandments. These, though negative in their form and dogmatic in their attitude, have made the issues and the required attitudes adequately clear. Owing to the relatively low stage of the [125] universal human intelligence at the time that they were given (for the Biblical dates are not correct and the date of their pronouncement is far older than is thought) they were expressed by the formula, “Thou shalt not,” thus turning human attention to the material expression of material tendencies. In days to come, the Ten Commandments will be expressed in a reversed form of which the Sermon on the Mount and the Beatitudes are the embryonic form. |
Các đường phân rẽ giữa chủ nghĩa vật chất và tính tinh thần (như hiện nay chúng ta hiểu các thuật ngữ ấy) đã ngày càng trở nên rõ ràng. Có hai điều đã có khuynh hướng đem lại điều này. Thứ nhất, là sự công bố Mười Điều Răn. Những điều này, tuy mang tính phủ định trong hình thức và giáo điều trong thái độ, đã làm cho các vấn đề và các thái độ được đòi hỏi trở nên đủ rõ. Do giai đoạn tương đối thấp của [125] trí tuệ nhân loại phổ quát vào thời điểm chúng được ban ra (vì niên đại Kinh Thánh không đúng và ngày công bố chúng cổ xưa hơn nhiều so với người ta nghĩ) chúng đã được diễn đạt bằng công thức “Ngươi chớ,” do đó hướng sự chú ý của con người đến biểu hiện vật chất của các khuynh hướng vật chất. Trong những ngày sắp tới, Mười Điều Răn sẽ được diễn đạt dưới một hình thức đảo ngược mà Bài Giảng trên Núi và các Mối Phúc là hình thức phôi thai. |
|
Second, the Hierarchy withdrew in order that humanity, on reaching maturity and years of discretion, should not be handicapped and hindered by coercion and undue safeguarding but should express its major divine characteristics. Of these, free will and the discriminating use of the mind are the outstanding qualities. There was no free will in Atlantean days. There is a tendency to free will (note that term) today and we call it liberty and independence, freedom of thought and the right of the individual to determine the issues which control or should control the group of which he is a part. These are all attributes and qualities of free will but not the divine principle of free will per se. Of that we know as yet but little. Only the disciples of the world and the initiates know the true significance and implications of freedom of choice, and the right use of the will, and this because they are motivated by group good and the need of the majority. |
Thứ hai, Thánh đoàn đã rút lui để nhân loại, khi đạt đến trưởng thành và tuổi biết suy xét, không bị làm cho tàn tật và cản trở bởi sự cưỡng bách và sự bảo vệ quá mức, mà có thể biểu lộ các đặc tính thiêng liêng chủ yếu của mình. Trong số đó, ý chí tự do và việc sử dụng trí tuệ một cách phân biện là những phẩm tính nổi bật. Không có ý chí tự do trong thời Atlantis. Ngày nay có một khuynh hướng hướng tới ý chí tự do (hãy lưu ý thuật ngữ đó) và chúng ta gọi nó là tự do và độc lập, tự do tư tưởng và quyền của cá nhân được quyết định các vấn đề kiểm soát hay nên kiểm soát nhóm mà y là một phần trong đó. Tất cả những điều này đều là các thuộc tính và phẩm tính của ý chí tự do nhưng chưa phải là nguyên khí thiêng liêng của chính ý chí tự do. Về điều đó, cho đến nay chúng ta biết rất ít. Chỉ các đệ tử của thế giới và các điểm đạo đồ mới biết ý nghĩa và hàm ý chân thực của tự do lựa chọn, và việc sử dụng đúng đắn ý chí, và điều này là vì họ được thúc đẩy bởi thiện ích của nhóm và nhu cầu của đa số. |
|
The test to which humanity was to be subjected and which is today the controlling factor was whether—given mental development and knowledge—it would consecrate that knowledge and its scientific and mental attainment to group good or to selfish ends, to material issues or to spiritual incentives and impulses. This ancient conflict has now been carried through into another field of human expression, that of the mind and—as the race has progressed and the personalities of human beings have reached a high stage of integration and achievement—the conflict has become acute, the issues clearer and the ranging of the opponents into two clearly defined groups is now so complete that the final struggle has become possible. |
Phép thử mà nhân loại phải chịu và hiện nay là yếu tố kiểm soát là liệu—khi đã có sự phát triển trí tuệ và tri thức—nhân loại có thánh hiến tri thức ấy cùng thành tựu khoa học và trí tuệ của mình cho thiện ích của nhóm hay cho các mục đích ích kỷ, cho các vấn đề vật chất hay cho các động cơ và xung lực tinh thần. Cuộc xung đột cổ xưa này nay đã được đưa sang một lĩnh vực biểu lộ khác của con người, đó là lĩnh vực trí tuệ, và—khi nhân loại đã tiến bộ và các phàm ngã của con người đã đạt đến một giai đoạn cao của sự tích hợp và thành tựu—cuộc xung đột đã trở nên gay gắt, các vấn đề rõ ràng hơn và sự xếp hàng của các đối thủ vào hai nhóm được xác định rõ nay đã hoàn tất đến mức cuộc đấu tranh cuối cùng đã trở nên khả hữu. |
|
[126] Intelligent appreciation of the situation and a general capacity to present to the mind the underlying conditions has now been achieved by the bulk of the intelligent people upon the planet and, though the point of view is necessarily coloured by national traditions, inherited ideas and policies as well as by environmental control and bias, the race has gone a long way towards its final emancipation. There is, therefore, a certain measure of free will displayed, and this constitutes an entirely new factor and a most satisfactory development. But I would remind you of a most important point and that is that the masses of the people—the middle classes, the bourgeoisie and the proletariat (I use these words in their general sense and simply because of their significance and meaning)—are still victims of authority, of control, and remain relatively unthinking and childlike. This means that the true conflict is between a small minority to whom the issues are illuminatingly clear and who have definitely ranged themselves on one side or other of the embattled forces. A mere handful of men, the direct descendants or rather the reincarnations of the leaders in the ancient Atlantean conflict, are now on earth, directing the forces of light or of darkness and bringing into being a direct line-up of millions of men whose will is that of their leaders. |
[126] Sự đánh giá thông minh về tình hình và một năng lực chung trong việc trình bày cho trí tuệ các điều kiện nền tảng nay đã được phần lớn những người thông minh trên hành tinh đạt tới, và mặc dù quan điểm tất yếu bị nhuốm màu bởi các truyền thống quốc gia, các ý tưởng và chính sách được thừa hưởng cũng như bởi sự kiểm soát và thiên lệch của môi trường, nhân loại đã đi một chặng đường dài hướng tới sự giải phóng cuối cùng của mình. Do đó, có một mức độ ý chí tự do nào đó được biểu lộ, và điều này cấu thành một yếu tố hoàn toàn mới và là một sự phát triển rất đáng thỏa mãn. Nhưng tôi muốn nhắc bạn về một điểm hết sức quan trọng, đó là quần chúng—giai cấp trung lưu, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản (tôi dùng những từ này theo nghĩa tổng quát và chỉ vì thâm nghĩa và ý nghĩa của chúng)—vẫn còn là nạn nhân của quyền uy, của sự kiểm soát, và vẫn tương đối thiếu suy nghĩ và trẻ con. Điều này có nghĩa là cuộc xung đột thực sự là giữa một thiểu số nhỏ mà đối với họ các vấn đề sáng tỏ một cách soi sáng và những người này đã dứt khoát đứng về bên này hay bên kia của các mãnh lực đang giao chiến. Chỉ một nắm nhỏ người, là hậu duệ trực tiếp hay đúng hơn là các tái sinh của những nhà lãnh đạo trong cuộc xung đột Atlantis cổ xưa, hiện đang ở trên trái đất, chỉ huy các mãnh lực ánh sáng hay bóng tối và đưa vào hiện hữu một sự xếp hàng trực tiếp của hàng triệu người mà ý chí của họ là ý chí của các nhà lãnh đạo của họ. |
|
The lines of cleavage have grown steadily until now they can be expressed in terms of a humanity which is oriented towards the higher spiritual and altruistic values and whose keynotes are sacrifice, group good and world understanding, and those whose focus is predominantly material and whose aims are selfish, animated by ambition and the spirit of acquisition. |
Các đường phân rẽ đã tăng trưởng đều đặn cho đến nay chúng có thể được diễn đạt bằng những thuật ngữ của một nhân loại được định hướng về các giá trị tinh thần và vị tha cao hơn, mà các chủ âm của nó là hi sinh, thiện ích của nhóm và sự thấu hiểu thế giới, và những kẻ có trọng tâm chủ yếu là vật chất và mục tiêu là ích kỷ, được sinh động bởi tham vọng và tinh thần chiếm hữu. |
|
It was the acuteness of this situation, and the wide extent of the cleavage, which induced the watching Hierarchy to permit a direct inflow of the Shamballa force (in spite of its attendant risks) to pour into the world. The objective was to stimulate the free will of the masses; the result upon them has been relatively good as it has led to the formulation and expression of the great world ideologies—Fascism, [127] Democracy and Communism as well as that peculiarly distorted blend of Fascism and Communism which goes by the name of Hitlerism or Nazism. All these ideologies are fostered by the desire of the masses for the betterment of the condition in which the populace in any country lives and it has become focussed, expressive and creative by the force of the Shamballa influence. But another result of this inflow of the will-to-power has been to stimulate a certain group of outstanding personalities in many lands so that they have assumed control of the masses and can thus determine the policies and methods—religious, political and social—of the different nations. In every nation a relatively small group of people decide all important issues and determine all major national activities. This they do either by force, terror and deception or by persuasion, fair words and the application of ideological motives. Of this situation in the world the Lords of Destiny are availing themselves in order to bring the ancient conflict to an end and so enable humanity to pass into the new Aquarian Age relatively free and with a clearer understanding of right human aims, right relationships and man’s predestined future. |
Chính sự gay gắt của tình thế này, và mức độ rộng lớn của sự phân rẽ, đã khiến Thánh đoàn đang quan sát cho phép một luồng trực tiếp của mãnh lực Shamballa (bất chấp những nguy cơ đi kèm) tuôn đổ vào thế giới. Mục tiêu là kích thích ý chí tự do của quần chúng; kết quả nơi họ tương đối tốt vì đã dẫn đến việc hình thành và biểu lộ các hệ tư tưởng lớn của thế giới—Chủ nghĩa Phát xít, [127] Dân chủ và Chủ nghĩa Cộng sản, cũng như sự pha trộn méo mó đặc biệt giữa Chủ nghĩa Phát xít và Chủ nghĩa Cộng sản mang tên Hitlerism hay Nazism. Tất cả các hệ tư tưởng này đều được nuôi dưỡng bởi khát vọng của quần chúng muốn cải thiện tình trạng sống của dân chúng trong bất cứ quốc gia nào, và đã trở nên tập trung, biểu lộ và sáng tạo nhờ mãnh lực của ảnh hưởng Shamballa. Nhưng một kết quả khác của luồng tuôn đổ này của ý chí-quyền lực là kích thích một nhóm phàm ngã nổi bật nào đó ở nhiều xứ sở, khiến họ nắm quyền kiểm soát quần chúng và do đó có thể quyết định các chính sách và phương pháp—tôn giáo, chính trị và xã hội—của các quốc gia khác nhau. Trong mọi quốc gia, một nhóm người tương đối nhỏ quyết định mọi vấn đề quan trọng và định đoạt mọi hoạt động lớn của quốc gia. Họ làm điều này hoặc bằng vũ lực, khủng bố và lừa dối, hoặc bằng thuyết phục, lời lẽ tốt đẹp và việc vận dụng các động cơ ý thức hệ. Các Đấng Chúa Tể của Định Mệnh đang tận dụng tình trạng này trên thế giới để chấm dứt cuộc xung đột cổ xưa và nhờ đó giúp nhân loại bước vào Kỷ nguyên Bảo Bình mới một cách tương đối tự do và với sự thấu hiểu rõ ràng hơn về các mục tiêu đúng đắn của con người, các mối quan hệ đúng đắn và tương lai tiền định của con người. |
|
It will serve no purpose for me to trace the relation of the present world conflict and the present world leaders to the conflict and the leaders in Atlantean times. Suffice it to say that many of the same personalities (on a higher turn of the spiral) are again playing their various parts in the great drama. It is no service to you and to your mental grip upon the situation for me to emphasise the details of that great war and its modern correspondences; it is of no value for me to compare the old methods and the modern usages whereby one side or the other carries forward the struggle for supremacy. You are in no position to verify what I say or to check the accuracy of my statements. The point which is, however, of major importance is for you to arrive at a clear understanding of what is at stake and a just appreciation of the values involved and also a correct grasp of the ideals animating the two groups of opponents. |
Việc tôi truy nguyên mối liên hệ giữa cuộc xung đột thế giới hiện nay và các nhà lãnh đạo thế giới hiện nay với cuộc xung đột và các nhà lãnh đạo trong thời Atlantis sẽ không phục vụ mục đích nào. Chỉ cần nói rằng nhiều phàm ngã giống nhau ấy (ở một vòng xoắn cao hơn) lại đang đóng những vai trò khác nhau của họ trong vở kịch lớn. Việc tôi nhấn mạnh các chi tiết của cuộc chiến lớn đó và những tương ứng hiện đại của nó không giúp ích gì cho bạn và cho sự nắm bắt bằng trí tuệ của bạn đối với tình hình; việc tôi so sánh các phương pháp cũ và các cách thức hiện đại nhờ đó bên này hay bên kia tiếp tục cuộc đấu tranh giành quyền tối thượng cũng không có giá trị gì. Bạn không ở vào vị thế có thể kiểm chứng điều tôi nói hay xác nhận độ chính xác của các phát biểu của tôi. Tuy nhiên, điểm có tầm quan trọng chủ yếu là bạn phải đi đến một sự thấu hiểu rõ ràng về điều gì đang bị đặt vào thế nguy cấp, một sự đánh giá công bằng về các giá trị liên hệ, và cũng là một sự nắm bắt đúng đắn các lý tưởng đang thúc đẩy hai nhóm đối thủ. |
|
In Atlantean days, it was stated that the battle was between [128] the Forces of Darkness (the so-called “Black Lodge of Adepts”) and the Forces of Light (the so-called Great White Lodge, the Hierarchy of Masters). That was then approximately true, for the conflict was between two small groups and the masses of the people were simply the blind and miserable victims of the fight and of the situation. |
Trong thời Atlantis, người ta nói rằng trận chiến diễn ra giữa [128] Các Mãnh Lực Bóng Tối (cái gọi là “Hắc đoàn của các chân sư”) và Các Mãnh Lực Ánh Sáng (cái gọi là Thánh đoàn, Thánh đoàn các Chân sư). Khi ấy điều đó gần đúng, vì cuộc xung đột là giữa hai nhóm nhỏ và quần chúng chỉ đơn giản là những nạn nhân mù quáng và khốn khổ của cuộc chiến và của tình thế. |
|
Today, it is not possible to make such a clear distinction between the forces engaged, nor is it properly admissible. No nation or group of nations can be classed in a broad generalisation as either black or white. Bear this in mind. Only those with no vision and an intolerant and prejudiced spirit will speak thus. All nations have within them those who belong in their thousands to the category of those who are swayed by the Forces of Light and who, therefore, respond normally and easily to the concept of goodwill, to the desire for right relationship between all men and to the ideal of true international and world understanding. In all nations there are those to whom this position makes no appeal at all and they are still in darkness and blinded to the true issues. This is a statement of fact. Those who seek to see the establishment of goodwill and understanding are in the majority but are—as I pointed out in earlier writings—relatively futile to control the situation as yet or to force their leaders to follow the mass will-to-good. They are either inspired or protected by the Hierarchy of Light and it is with them that the task of stimulating the free expression of this goodwill must be carried forward when the conflict ends. |
Ngày nay, không thể đưa ra một sự phân biệt rõ ràng như thế giữa các mãnh lực đang tham chiến, và điều đó cũng không thực sự được phép. Không một quốc gia hay nhóm quốc gia nào có thể được xếp, bằng một sự khái quát rộng, là đen hay trắng. Hãy ghi nhớ điều này. Chỉ những ai không có tầm nhìn và có tinh thần bất khoan dung cùng thành kiến mới nói như vậy. Mọi quốc gia đều có trong mình hàng ngàn người thuộc loại bị Các Mãnh Lực Ánh Sáng chi phối và vì thế đáp ứng một cách bình thường và dễ dàng với khái niệm thiện chí, với khát vọng về mối quan hệ đúng đắn giữa mọi người và với lý tưởng về sự thấu hiểu chân chính giữa các quốc gia và trên toàn thế giới. Trong mọi quốc gia cũng có những người mà lập trường này hoàn toàn không hấp dẫn họ, và họ vẫn còn ở trong bóng tối và bị che mù trước các vấn đề thực sự. Đây là một phát biểu sự kiện. Những người tìm cách thấy thiện chí và sự thấu hiểu được thiết lập là đa số nhưng—như tôi đã chỉ ra trong các trước tác trước đây—vẫn còn tương đối bất lực trong việc kiểm soát tình hình hoặc buộc các nhà lãnh đạo của họ đi theo ý chí-hướng thiện của quần chúng. Họ hoặc được Thánh đoàn Ánh Sáng truyền cảm hứng hoặc được bảo vệ, và chính với họ mà nhiệm vụ kích thích sự biểu lộ tự do của thiện chí này phải được tiếp tục khi cuộc xung đột chấm dứt. |
|
As for the other group, they are those who through inclination or ancient karma are the descendants of the Lords of darkness; their actions and ideals make possible the activity of the forces of materialism. I would have you note that phrasing. Even the most dangerous of them are nevertheless conscious of some form or another of idealism, but they are misguided and full of response to the will-to-power (power upon the physical plane and through the medium of form activity). This is stimulated by the inflow of the Shamballa energy. Because of these reactions and tendencies, they constitute focal points for those Lives and [129] Energies which are inherent in matter itself and whose influence and work are dedicated to the preservation of form, and of that which is. They endeavour constantly to negate the new and to hold back the evolution and development of the human consciousness. Forget not that the real issue is in the field of consciousness and that the struggle is between form and the life within the form, and between progress, leading to the liberation of the human spirit, and reactionary activity, leading to the imprisonment of the human consciousness and the restriction of its free expression. |
Còn về nhóm kia, họ là những người do khuynh hướng hoặc nghiệp quả cổ xưa mà là hậu duệ của các chúa tể bóng tối; hành động và lý tưởng của họ khiến cho hoạt động của các mãnh lực duy vật trở nên khả hữu. Tôi muốn bạn lưu ý cách diễn đạt đó. Ngay cả những người nguy hiểm nhất trong số họ, tuy vậy, vẫn có ý thức về một hình thức lý tưởng nào đó, nhưng họ bị lầm lạc và đầy sự đáp ứng với ý chí-quyền lực (quyền lực trên cõi hồng trần và thông qua trung gian của hoạt động hình tướng). Điều này được kích thích bởi luồng tuôn đổ của năng lượng Shamballa. Vì những phản ứng và khuynh hướng này, họ tạo thành các điểm tập trung cho những Sự Sống và [129] Năng Lượng vốn cố hữu trong chính vật chất và có ảnh hưởng cùng công việc được hiến dâng cho việc bảo tồn hình tướng, và điều đang hiện hữu. Họ không ngừng cố gắng phủ nhận cái mới và kìm hãm sự tiến hoá và phát triển của tâm thức con người. Đừng quên rằng vấn đề thực sự nằm trong lĩnh vực tâm thức và cuộc đấu tranh là giữa hình tướng và sự sống bên trong hình tướng, giữa tiến bộ dẫn đến sự giải thoát tinh thần con người, và hoạt động phản động dẫn đến sự giam hãm tâm thức con người và sự hạn chế biểu lộ tự do của nó. |
|
I would pause here and solemnly beg you not to make the lines of cleavage wider by placing yourself, and all who follow your form of ideology, upon the side of the Forces of Light and all other people and their ideologies, with which you may not agree, upon the side of the Forces of Darkness. The issue is, in the last analysis, the right to express the will-to-good, the right to express human relationships, untrammelled by territorial barriers and national habits of thought; it involves the right and the felt necessity to shew love to all beings and thus stamp out all hate and separateness. It concerns the right of all nations to live at peace with their neighbours and harmoniously with each other and to express the true and subjective synthesis of humanity, and not place national possessions, frontiers, culture, power and ambition before the general good and the happiness of the world of men. This is the real and underlying issue. All the national challenges and patriotic calls are simply the attempts of the leaders everywhere to hold the people to a particular line of thought and of action. To make the world safe for democracy, to gain room to live, to defend the rights of little nations, to preserve the balance of power, to meet force with force, to restore ancient and historical boundaries, to impose some culture deemed desirable, to prevent economic destruction, to conserve national stakes and interests are all the talking points of the leaders today. But the real issue is the intangible one of Direction. Which way will humanity go? [130] Will it go the way of selflessness, expressed in a willingness to act always in the interests of all, thus promoting world understanding and world unity, or the way of selfishness and aggression, expressed in an intense nationalism, thus sacrificing the true and larger values of liberty, independence and freedom to think. This selfishness may show itself through active aggression or an active neutrality. Those nations who participate in no way in this struggle will lose much and—enhancing their own selfish struggle and clouding the real issue in beautiful words—will help to prolong the struggle and hold back their own people from useful opportunity. |
Tôi muốn dừng lại ở đây và tha thiết cầu xin bạn đừng làm cho các đường phân rẽ rộng thêm bằng cách đặt chính mình, và tất cả những ai theo hình thức ý thức hệ của bạn, về phía Các Mãnh Lực Ánh Sáng, còn tất cả những người khác và các hệ tư tưởng của họ, mà bạn có thể không đồng ý, về phía Các Mãnh Lực Bóng Tối. Xét đến cùng, vấn đề là quyền biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện, quyền biểu lộ các mối quan hệ nhân loại không bị trói buộc bởi các rào cản lãnh thổ và các thói quen tư tưởng quốc gia; nó bao hàm quyền và nhu cầu được cảm nhận là phải biểu lộ tình thương đối với mọi chúng sinh và nhờ đó dập tắt mọi hận thù và chia cách. Nó liên quan đến quyền của mọi quốc gia được sống hòa bình với các nước láng giềng và hài hòa với nhau, và biểu lộ sự tổng hợp chân thực và chủ quan của nhân loại, chứ không đặt tài sản quốc gia, biên giới, văn hóa, quyền lực và tham vọng lên trước lợi ích chung và hạnh phúc của thế giới loài người. Đây là vấn đề thực sự và căn bản. Tất cả những thách thức quốc gia và những lời kêu gọi ái quốc chỉ đơn giản là những nỗ lực của các nhà lãnh đạo ở khắp nơi nhằm giữ dân chúng theo một đường lối tư tưởng và hành động nhất định. Làm cho thế giới an toàn cho dân chủ, giành không gian để sinh tồn, bảo vệ quyền của các quốc gia nhỏ, duy trì thế cân bằng quyền lực, lấy vũ lực đáp lại vũ lực, khôi phục các biên giới cổ xưa và lịch sử, áp đặt một nền văn hóa được cho là đáng mong muốn, ngăn ngừa sự hủy hoại kinh tế, bảo tồn các quyền lợi và lợi ích quốc gia—tất cả đều là những luận điểm mà các nhà lãnh đạo ngày nay nêu ra. Nhưng vấn đề thực sự là vấn đề vô hình của Sự Định Hướng. Nhân loại sẽ đi theo hướng nào? [130] Nhân loại sẽ đi theo con đường vô ngã, được biểu lộ trong sự sẵn lòng luôn hành động vì lợi ích của tất cả, nhờ đó thúc đẩy sự thấu hiểu thế giới và sự hợp nhất thế giới, hay con đường ích kỷ và xâm lược, được biểu lộ trong một chủ nghĩa dân tộc mãnh liệt, nhờ đó hy sinh các giá trị chân thực và lớn lao hơn của tự do, độc lập và tự do tư tưởng. Sự ích kỷ này có thể biểu lộ qua sự xâm lược tích cực hoặc sự trung lập tích cực. Những quốc gia không tham gia theo bất cứ cách nào vào cuộc đấu tranh này sẽ mất mát nhiều và—khi làm tăng thêm cuộc đấu tranh ích kỷ của chính mình và che mờ vấn đề thực sự bằng những lời đẹp đẽ—sẽ giúp kéo dài cuộc đấu tranh và ngăn cản chính dân tộc mình khỏi những cơ hội hữu ích. |
|
I would point out here also that as in all families, business and organisations there are those who are the focal points of authority and the designers of the planned activities, so within that group or organised body which goes by the name of humanity there are similar focal points or those who plan, direct and produce the outer happenings and events. They are in the period of personality achievement—that time in which human beings, having achieved integration and a blended expression of feeling and perception and mind, are actively and effectively working upon the physical plane. These focal points are used to bring about two major changes in the world; the first is the fusion and blending of peoples and minorities so that coordinated empires and cultural nations are appearing everywhere and, secondly, the changing of frontiers and the altering of boundaries so that a complete re-adjustment of the map of the world in Asia, Europe and Africa can take place. |
Tôi cũng muốn chỉ ra ở đây rằng cũng như trong mọi gia đình, doanh nghiệp và tổ chức đều có những người là các điểm tập trung của quyền lực và là những người thiết kế các hoạt động có kế hoạch, thì trong nhóm hay cơ thể có tổ chức mang tên nhân loại cũng có những điểm tập trung tương tự, hay những người hoạch định, chỉ đạo và tạo ra các biến cố và sự kiện bên ngoài. Họ đang ở trong giai đoạn thành tựu của phàm ngã—thời kỳ mà trong đó con người, sau khi đã đạt được sự tích hợp và một sự biểu lộ hòa trộn của cảm xúc, tri giác và trí tuệ, đang hoạt động tích cực và hữu hiệu trên cõi hồng trần. Những điểm tập trung này được sử dụng để đem lại hai thay đổi lớn trong thế giới; thứ nhất là sự dung hợp và hòa trộn các dân tộc và các nhóm thiểu số để các đế quốc phối hợp và các quốc gia văn hóa đang xuất hiện khắp nơi, và thứ hai là việc thay đổi biên giới và điều chỉnh ranh giới để một sự tái điều chỉnh hoàn toàn bản đồ thế giới ở châu Á, châu Âu và châu Phi có thể diễn ra. |
|
It will be apparent to you that three major methods or modes of producing these fusions can be noted. Great Britain, the United States of America and the Union of Socialist Soviet Republics (the U.S.S.R.) are working out the principle of federation, of relation and of the fusion of bodies into concentrated wholes, responding to the same inspiration but employing their own specialised methods to bring about the desired ends. Be not surprised by my [131] including Russia in this triplicity. Their ideology is fundamentally as sound as that in the other groups, but the difference lies in the factors of personality and the mode of applying the ideology. The control of powerful and dangerous personalities, and the use of the methods of force and cruelty have been avoided in the first two groups of nations, and the reason is based upon the different source of the inspiration producing the effects. Another reason is to be found in the placing of power in the hands of those who are historically unprepared to rule and of those whose past unfoldment has as yet brought them only to the nursery stage of evolution. |
Bạn sẽ thấy rõ rằng có thể nhận ra ba phương pháp hay cách thức lớn để tạo ra những sự dung hợp này. Đại Anh, Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết (U.S.S.R.) đang triển khai nguyên lý liên bang, quan hệ và sự dung hợp các cơ thể thành những toàn thể tập trung, đáp ứng cùng một cảm hứng nhưng sử dụng các phương pháp chuyên biệt riêng của họ để đạt đến các mục tiêu mong muốn. Đừng ngạc nhiên vì tôi [131] đưa nước Nga vào bộ ba này. Hệ tư tưởng của họ về căn bản cũng lành mạnh như trong các nhóm kia, nhưng sự khác biệt nằm ở các yếu tố phàm ngã và phương thức áp dụng hệ tư tưởng. Việc kiểm soát bởi các phàm ngã quyền lực và nguy hiểm, và việc sử dụng các phương pháp vũ lực và tàn bạo, đã được tránh trong hai nhóm quốc gia đầu tiên, và lý do dựa trên nguồn cảm hứng khác nhau tạo ra các hiệu quả ấy. Một lý do khác nằm ở việc trao quyền lực vào tay những người về mặt lịch sử chưa sẵn sàng để cai quản và những người mà sự khai mở trong quá khứ cho đến nay mới chỉ đưa họ đến giai đoạn nhà trẻ của tiến hoá. |
|
Nevertheless in these three groups there is much of interest to be noted. One of them, Great Britain, represents a fusion, the foundations of which have been laid in a long historical past of preparation for government; another, that of the U.S.A. represents a fusion which is unfolding and developing in the present which is new in its experiments, though employing factors from every nation in Europe; the U.S.S.R. in its turn represents a coming fusion or future synthesis. In these three, you have an interesting and immediate expression of the three divine aspects, each of which inspires and colours the embryonic civilisation. Great Britain expresses the will-to-power but on account of age and experience, dearly bought, this is today mellowed by justice and a growing understanding of human need. This, in its turn, is the result of the control for many centuries in the past by the aristocracy, with its paternalism, conservatism and its method of slow adjustment. The U.S.A. expresses the will-to-love, which shows itself in an ability to absorb vastly divergent elements and yet to present equal opportunity to all. This is brought about very largely because the control is, in this federation of states, in the hands of the bourgeoisie, with its financial goals, its power to determine living conditions, and its quick and sympathetic touch upon life. Its method is not that of slow adjustment but of quick assimilation. It is in that country also that people are most sensitive [132] to the influence of the Hierarchy. The U.S.S.R. expresses the will-to-create and to produce new conditions and a new order—planned and determined and foreseen. This has been brought about through cruelty very often, by a willingness to compromise and to change or lower the original ideal. This, in its turn, is brought about by the activity of the proletariat with its inability to govern, its desire to retaliate, and its ignorance of tradition and of inherited procedures. |
Tuy nhiên, trong ba nhóm này có nhiều điều đáng chú ý. Một nhóm, Đại Anh, tượng trưng cho một sự dung hợp mà nền tảng của nó đã được đặt trong một quá khứ lịch sử lâu dài chuẩn bị cho việc cai trị; một nhóm khác, Hoa Kỳ, tượng trưng cho một sự dung hợp đang khai mở và phát triển trong hiện tại, mới mẻ trong các thử nghiệm của mình, dù sử dụng các yếu tố từ mọi quốc gia ở châu Âu; đến lượt mình, U.S.S.R. tượng trưng cho một sự dung hợp đang đến hay một sự tổng hợp của tương lai. Trong ba nhóm này, bạn có một biểu lộ thú vị và tức thời của ba phương diện thiêng liêng, mỗi phương diện truyền cảm hứng và tô màu cho nền văn minh phôi thai. Đại Anh biểu lộ ý chí-quyền lực nhưng do tuổi đời và kinh nghiệm, phải trả giá đắt mới có được, ngày nay điều này đã được làm dịu bởi công lý và sự thấu hiểu ngày càng tăng về nhu cầu của con người. Điều này, đến lượt nó, là kết quả của sự kiểm soát trong nhiều thế kỷ trước đây bởi giới quý tộc, với tính gia trưởng, tính bảo thủ và phương pháp điều chỉnh chậm rãi của họ. Hoa Kỳ biểu lộ ý chí-yêu thương, thể hiện trong khả năng hấp thụ những yếu tố cực kỳ dị biệt mà vẫn đem lại cơ hội bình đẳng cho tất cả. Điều này phần lớn được tạo ra vì quyền kiểm soát, trong liên bang các tiểu bang này, nằm trong tay giai cấp tư sản, với các mục tiêu tài chính, quyền lực quyết định điều kiện sống, và sự tiếp xúc nhanh nhạy, cảm thông với đời sống. Phương pháp của họ không phải là điều chỉnh chậm mà là đồng hóa nhanh. Cũng chính ở quốc gia đó mà con người nhạy cảm nhất [132] với ảnh hưởng của Thánh đoàn. U.S.S.R. biểu lộ ý chí-sáng tạo và tạo ra những điều kiện mới cùng một trật tự mới—được hoạch định, quyết định và thấy trước. Điều này thường được thực hiện qua sự tàn bạo, bằng sự sẵn lòng thỏa hiệp và thay đổi hay hạ thấp lý tưởng ban đầu. Điều này, đến lượt nó, được tạo ra bởi hoạt động của giai cấp vô sản với sự bất lực trong cai trị, khát vọng trả đũa, và sự thiếu hiểu biết về truyền thống cùng các thủ tục được thừa hưởng. |
|
A most interesting experiment is, therefore, working out in these three groups of interrelated elements and differing national ideals. The U.S.S.R. will eventually place its emphasis and direct its major interest upon Asia, bringing about great changes on that continent, as far as the Pacific. The other, Great Britain, through its successful demonstration of the principle of federation, can affect major changes in Europe if there is an awakened insight, a true and sympathetic justice and wise patience. The U.S.A. has a similar task to perform for the Americas, calling for statesmanship of a high order and a spirit of understanding. |
Vì vậy, một thí nghiệm hết sức thú vị đang được triển khai trong ba nhóm gồm các yếu tố liên hệ lẫn nhau và các lý tưởng quốc gia khác biệt này. U.S.S.R. cuối cùng sẽ đặt trọng tâm và hướng mối quan tâm chính của mình vào châu Á, đem lại những thay đổi lớn trên lục địa đó, xa đến tận Thái Bình Dương. Nhóm kia, Đại Anh, thông qua sự chứng minh thành công nguyên lý liên bang, có thể tạo ra những thay đổi lớn ở châu Âu nếu có linh thị được thức tỉnh, một công lý chân thực và cảm thông, cùng sự kiên nhẫn minh triết. Hoa Kỳ có một nhiệm vụ tương tự phải thực hiện đối với châu Mỹ, đòi hỏi nghệ thuật chính trị ở cấp độ cao và một tinh thần thấu hiểu. |
|
It will also be apparent to you if you have rightly understood the above suggestions that the Shamballa force is working through that community of federated nations called the British Empire and is expressing the will-towards-synthesis and the will to just and legal procedure. It is the force of the Hierarchy which can express itself increasingly through the United States of America, for an intuitive recognition of subjective realities and a real sense of the higher values can and frequently do control the impulses governing this group of federated states. The will-to-be of Humanity with its almost extravagant emphasis upon human values and the will-to-rule creatively is the contribution of the U.S.S.R., that great federation of republics. Thus the influence of the three great world centres about which I have earlier written can be seen expressing itself through these three groups of nations. At the same time, the Shamballa force is active in all of them, for it produces federation and synthesis. Its first great expression or demonstration [133] of the spirit of fusion took place in the 18th and 19th centuries, and led to the formation of such countries as Italy and Germany which were created out of many smaller states, duchies and kingdoms. A history of the trend towards fusion in the modern world would prove a most illuminating study. It would be found that the first faint indications were felt around 1575 A.D. This was due to the fact that permission for the inflow of this force was given when demanded at the Centennial Conference of the Hierarchy, held in 1425. I referred to this conference in my earlier writings. (A Treatise on White Magic, pp. 401-433. A Treatise on the Seven Rays”, Vol.I (Esoteric Psychology), pp. 170-189.) |
Bạn cũng sẽ thấy rõ, nếu đã hiểu đúng các gợi ý trên, rằng mãnh lực Shamballa đang hoạt động thông qua cộng đồng các quốc gia liên bang được gọi là Đế quốc Anh và đang biểu lộ ý chí-hướng-tới-tổng-hợp cùng ý chí đối với thủ tục công bằng và hợp pháp. Chính mãnh lực của Thánh đoàn có thể ngày càng biểu lộ qua Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, vì một sự nhận biết trực giác về các thực tại chủ quan và một ý thức thực sự về các giá trị cao hơn có thể, và thường xuyên, kiểm soát các xung lực chi phối nhóm các tiểu bang liên bang này. Ý chí-hiện-hữu của Nhân loại với sự nhấn mạnh gần như quá mức vào các giá trị nhân loại và ý chí cai quản một cách sáng tạo là đóng góp của U.S.S.R., liên bang cộng hòa vĩ đại ấy. Như vậy, có thể thấy ảnh hưởng của ba trung tâm lớn của thế giới mà tôi đã viết trước đây đang biểu lộ qua ba nhóm quốc gia này. Đồng thời, mãnh lực Shamballa hoạt động trong tất cả họ, vì nó tạo ra liên bang và tổng hợp. Biểu lộ lớn đầu tiên hay sự chứng minh [133] đầu tiên của tinh thần dung hợp của nó đã diễn ra trong các thế kỷ 18 và 19, và dẫn đến sự hình thành những quốc gia như Ý và Đức, được tạo nên từ nhiều tiểu bang, công quốc và vương quốc nhỏ hơn. Một lịch sử về xu hướng hướng tới dung hợp trong thế giới hiện đại sẽ là một nghiên cứu hết sức soi sáng. Người ta sẽ thấy rằng những dấu hiệu mờ nhạt đầu tiên được cảm nhận vào khoảng năm 1575 sau Công nguyên. Điều này là do sự cho phép luồng mãnh lực này tuôn vào đã được ban ra khi được yêu cầu tại Hội nghị Bách niên của Thánh đoàn, tổ chức năm 1425. Tôi đã đề cập đến hội nghị này trong các trước tác trước đây của tôi. (Luận về Chánh Thuật, tr. 401-433. “Luận về Bảy Cung”, Tập I (Tâm Lý Học Nội Môn), tr. 170-189.) |
|
In the second group of changing ideologies and of reaction to mass need, you will find France, Germany, Italy, Spain and Portugal, all of whom have altered their ancient policies, changed their forms of government and reacted gradually and slowly to the Shamballa force. They have, however, reacted to that force through the medium of certain great and outstanding personalities who were peculiarly sensitive to the will-to-power and the will-to-change and who (during the past 150 years) have altered the character of their national life, and emphasised increasingly the wider human values. The men who inspired the initiating French revolution; the great conqueror, Napoleon; Bismarck, the creator of a nation; Mussolini, the regenerator of his people; Hitler who lifted a distressed people upon his shoulders; Lenin, the idealist, Stalin and Franco are all expressions of the Shamballa force and of certain little understood energies. These have wrought significant changes in their day and generation and altered the face of Europe, incidentally affecting Asia and conditioning attitudes and policies in America. |
Trong nhóm thứ hai của các hệ tư tưởng đang thay đổi và của sự đáp ứng với nhu cầu của quần chúng, bạn sẽ thấy Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, tất cả đều đã thay đổi các chính sách cổ xưa của mình, thay đổi các hình thức chính quyền và đáp ứng dần dần, chậm rãi với mãnh lực Shamballa. Tuy nhiên, họ đã đáp ứng với mãnh lực đó thông qua trung gian của một số phàm ngã lớn và nổi bật, những người đặc biệt nhạy cảm với ý chí-quyền lực và ý chí-thay đổi, và những người ấy (trong 150 năm qua) đã làm thay đổi tính chất của đời sống quốc gia họ, và ngày càng nhấn mạnh các giá trị nhân loại rộng lớn hơn. Những người đã truyền cảm hứng cho cuộc cách mạng Pháp khởi đầu; nhà chinh phục vĩ đại Napoleon; Bismarck, người tạo dựng một quốc gia; Mussolini, người tái sinh dân tộc mình; Hitler, người đã nâng một dân tộc khốn khổ lên trên vai mình; Lenin, nhà lý tưởng, Stalin và Franco—tất cả đều là những biểu lộ của mãnh lực Shamballa và của một số năng lượng ít được hiểu biết. Những năng lượng này đã tạo ra những thay đổi có ý nghĩa trong thời đại và thế hệ của họ, và làm thay đổi bộ mặt châu Âu, đồng thời ảnh hưởng đến châu Á và tác động lên các thái độ cùng chính sách ở châu Mỹ. |
|
The results even when dangerous and terrible, have developed two vital characteristics in humanity. One has been the widespread development of the discriminating faculty, and secondly, a tendency to dispersion with its [134] consequences of diffusing civilised and cultural values and the diverse gifts of the many people to the world soul. The drift of people to the colonies from Great Britain, the drift of the people from every nation in Europe to America, North and South, the dispersal of people within national boundaries as the result of war and expediency such as the evacuation of cities has brought about today, the removal of people out of Italy and of groups of people within Russia, and the constant moving onwards of the wandering Jews indicate a breaking down, upon a world-wide scale, of all outer boundaries and the institution of a process of blending and amalgamation such as the world has never seen before. It constitutes an educational system of untold value, leading as it does to the constant necessity to readjust viewpoints, to change modes of living, to intermarriage and so-called illicit relations. The outer change is producing an inner synthesis and outer dispersion, and cleavages are working out interiorly in closer relations and a more tolerant spirit of understanding. The power to consider, to choose, to think and to discriminate is rapidly developing among all classes everywhere as a result of the many cataclysmic happenings, the presentation of many changing circumstances and the many points of view and theories of government and of religion; these grow naturally out of new contacts and the rapid presentation of events through the medium of the press and the radio. |
Các kết quả, ngay cả khi nguy hiểm và khủng khiếp, đã phát triển hai đặc tính thiết yếu nơi nhân loại. Một là sự phát triển rộng khắp của năng lực phân biện, và thứ hai là một khuynh hướng phân tán với [134] hậu quả là khuếch tán các giá trị văn minh và văn hóa cùng những tặng phẩm đa dạng của nhiều dân tộc vào linh hồn thế giới. Sự di chuyển của dân chúng đến các thuộc địa từ Đại Anh, sự di chuyển của dân chúng từ mọi quốc gia ở châu Âu sang châu Mỹ, Bắc và Nam, sự phân tán dân chúng trong phạm vi biên giới quốc gia do chiến tranh và sự tiện lợi như việc sơ tán các thành phố ngày nay, việc di chuyển dân chúng ra khỏi nước Ý và các nhóm dân trong nước Nga, cùng sự tiến bước không ngừng của những người Do Thái phiêu bạt cho thấy sự phá vỡ, trên quy mô toàn thế giới, mọi ranh giới bên ngoài và việc thiết lập một tiến trình hòa trộn và hợp nhất mà thế giới chưa từng thấy trước đây. Điều đó tạo thành một hệ thống giáo dục có giá trị không thể kể xiết, vì nó dẫn đến nhu cầu thường xuyên phải điều chỉnh lại quan điểm, thay đổi lối sống, hôn nhân dị chủng và những quan hệ gọi là bất hợp pháp. Sự thay đổi bên ngoài đang tạo ra một sự tổng hợp bên trong và sự phân tán bên ngoài, còn các phân rẽ đang được giải quyết nội tại thành những quan hệ gần gũi hơn và một tinh thần thấu hiểu khoan dung hơn. Năng lực cân nhắc, lựa chọn, suy nghĩ và phân biện đang phát triển nhanh chóng trong mọi giai tầng ở khắp nơi do nhiều biến cố mang tính đại hồng thủy, sự xuất hiện của nhiều hoàn cảnh thay đổi và nhiều quan điểm cùng lý thuyết về chính quyền và tôn giáo; những điều này nảy sinh tự nhiên từ các tiếp xúc mới và sự trình hiện nhanh chóng của các sự kiện qua trung gian báo chí và radio. |
|
It is this that is of importance from the standpoint of evolution and the growth of the world consciousness. The physical plane happenings are incidental and of no permanent lasting power. |
Chính điều này mới quan trọng từ quan điểm của tiến hoá và sự tăng trưởng của tâm thức thế giới. Những biến cố trên cõi hồng trần chỉ là phụ thuộc và không có quyền năng bền vững lâu dài. |
|
The physical plane events and precipitations are carried forward and made possible through focal points of energy who are the world dictators, the world statesmen, and the outstanding human beings in all lands as well as by groups which are actively working in every country for their own ends or—as is more often the case—under the influence of some group ideal or wisdom plus personal ambition, personal will-to-power and personal aggrandisement. [135] We call these people dictators, demagogues, inspired leaders, or just and wise men, according to our peculiar ideology, tradition, attitudes to our fellowmen and our particular political, economic and religious training. But all these leaders are simply human beings and like other men—idealistic, mistaken, lovers of their country, egoists, impressionable, foolish, cunning, powerful, focussed on some goal or ambition, with clear vision and at the same time myopic reactions, cruel or wise as the case may be—but, in the last analysis, highly developed personalities. They are being used to engineer great and needed changes and to alter the face of civilisation. The wrong methods employed and the evil things done are the fault of humanity as a whole, and of the habits of thought which have made mankind selfish and cruel and cause this great and universal spirit of the will-to-change to manifest so powerfully and cruelly. |
Các sự kiện và sự ngưng tụ trên cõi hồng trần được thúc đẩy và trở nên khả hữu thông qua các điểm tập trung năng lượng là những nhà độc tài thế giới, những chính khách thế giới, và những con người nổi bật ở mọi xứ sở, cũng như bởi các nhóm đang hoạt động tích cực trong mọi quốc gia vì mục đích riêng của họ hoặc—như thường xảy ra hơn—dưới ảnh hưởng của một lý tưởng nhóm hay minh triết nào đó cộng với tham vọng cá nhân, ý chí-quyền lực cá nhân và sự đề cao cá nhân. [135] Chúng ta gọi những người này là các nhà độc tài, các nhà mị dân, các lãnh tụ được truyền cảm hứng, hay những người công chính và minh triết, tùy theo hệ tư tưởng riêng, truyền thống, thái độ đối với đồng loại và sự huấn luyện chính trị, kinh tế và tôn giáo đặc thù của chúng ta. Nhưng tất cả những nhà lãnh đạo này chỉ đơn giản là những con người và giống như những người khác—duy tâm, sai lầm, yêu nước, vị ngã, dễ bị ảnh hưởng, ngu xuẩn, xảo quyệt, quyền lực, tập trung vào một mục tiêu hay tham vọng nào đó, có tầm nhìn rõ ràng và đồng thời có những phản ứng cận thị, tàn nhẫn hay minh triết tùy trường hợp—nhưng, xét đến cùng, là những phàm ngã phát triển cao. Họ đang được sử dụng để điều hành những thay đổi lớn và cần thiết và để làm thay đổi bộ mặt của nền văn minh. Những phương pháp sai lầm được sử dụng và những điều ác đã làm là lỗi của toàn thể nhân loại, và của những thói quen tư tưởng đã khiến loài người trở nên ích kỷ và tàn nhẫn, và làm cho tinh thần to lớn và phổ quát này của ý chí-thay đổi biểu lộ mạnh mẽ và tàn bạo đến thế. |
|
Blame not the personalities involved or the men who produce these events before which we stand today bewildered and appalled. They are only the product of the past and the victims of the present. At the same time, they are the agents of destiny, the creators of the new order and the initiators of the new civilisation; they are the destroyers of what must be destroyed before humanity can go forward along the Lighted Way. They are the embodiment of the personality of humanity. Blame yourselves, therefore, for what is today transpiring and seek not to evade responsibility by placing it upon the shoulders of spectacular men or any statesmen, dictator or upon any group. Look not to one person or to one group of persons and accuse them of causing the present world condition. Look not also to any one person or group to bring liberation or to find a solution of the world problem. That is for humanity itself to do. Humanity must take action and will do so, when the right time comes. To recognise joint responsibility, joint mistakes, ancient errors of judgment, wrong attitudes and habits of thought, world-wide selfish purpose and intent, a universal spirit of aggression which, down the ages, has [136] influenced first one nation and then another, the tendency last century to crystallise and become static, the reactionary forces on every hand—these are universal qualities and no nation and no race is free of guilt or has entirely clean hands. Also, no one national group is purely wrong and evil or purely good and unselfish. There are mixed motives everywhere. Nationalism, aggression, selfishness and cruelty in all countries face a desire for world understanding, peaceful relations, and an unselfish and beneficent spirit also in all countries. The Forces of Light find their adherents and their workers in every country though some are subjected to greater handicaps in expression than others. So also do the Forces of Materialism. And in between these two great groups stand the masses—waiting for the emergence of fresh opportunity and new revelations. |
Đừng đổ lỗi cho các phàm ngã liên hệ hay cho những người tạo ra các biến cố mà trước đó ngày nay chúng ta đứng bối rối và kinh hoàng. Họ chỉ là sản phẩm của quá khứ và là nạn nhân của hiện tại. Đồng thời, họ là những tác nhân của định mệnh, những người tạo ra trật tự mới và những người khởi xướng nền văn minh mới; họ là những kẻ hủy diệt điều phải bị hủy diệt trước khi nhân loại có thể tiến bước trên Con Đường được Soi Sáng. Họ là hiện thân của phàm ngã của nhân loại. Vì vậy, hãy tự trách mình về những gì đang diễn ra hôm nay và đừng tìm cách trốn tránh trách nhiệm bằng cách đặt nó lên vai những con người nổi bật hay bất cứ chính khách, nhà độc tài hay nhóm nào. Cũng đừng nhìn vào một người hay một nhóm người nào để buộc tội họ gây ra tình trạng thế giới hiện nay. Cũng đừng nhìn vào bất cứ một người hay nhóm nào để đem lại giải thoát hay tìm ra giải pháp cho vấn đề thế giới. Điều đó là việc của chính nhân loại. Nhân loại phải hành động và sẽ hành động khi thời điểm thích hợp đến. Nhận ra trách nhiệm chung, sai lầm chung, những lỗi phán đoán cổ xưa, những thái độ và thói quen tư tưởng sai lầm, mục đích và ý đồ ích kỷ trên toàn thế giới, một tinh thần xâm lược phổ quát mà qua các thời đại đã [136] ảnh hưởng trước hết đến quốc gia này rồi đến quốc gia khác, khuynh hướng của thế kỷ trước là kết tinh và trở nên tĩnh tại, các mãnh lực phản động ở khắp nơi—đó là những phẩm tính phổ quát và không quốc gia nào, không nhân loại nào thoát khỏi tội lỗi hay hoàn toàn sạch tay. Cũng vậy, không một nhóm quốc gia nào hoàn toàn sai lầm và xấu ác hay hoàn toàn tốt lành và vô ngã. Ở khắp nơi đều có những động cơ pha trộn. Chủ nghĩa dân tộc, sự xâm lược, ích kỷ và tàn nhẫn ở mọi quốc gia đang đối diện với khát vọng về sự thấu hiểu thế giới, các quan hệ hòa bình, và một tinh thần vô ngã và nhân từ cũng hiện diện trong mọi quốc gia. Các Mãnh Lực Ánh Sáng tìm thấy những người ủng hộ và những người hoạt động của mình trong mọi quốc gia, dù một số người bị đặt dưới những trở ngại biểu lộ lớn hơn những người khác. Các Mãnh Lực Duy Vật cũng vậy. Và ở giữa hai nhóm lớn này là quần chúng—đang chờ đợi sự xuất hiện của cơ hội mới và những mặc khải mới. |
|
It is the universality of these conditions and the clear-cut issues that have made this period one of planetary opportunity and planetary initiation. Initiation is essentially a moving out from under ancient controls into the control of more spiritual and increasingly higher values. Initiation is an expansion of consciousness which leads to a growing recognition of the inner realities. It is equally the recognition of a renewed sense of the need for change and the wise engineering of these needed changes so that real progress can be made; the consciousness is expanded and becomes more generously and divinely inclusive and there is a fresh and more potent control by the soul as it assumes increasingly the direction of the life of the individual, of a nation and of the world. |
Chính tính phổ quát của những điều kiện này và những vấn đề rõ rệt ấy đã khiến giai đoạn này trở thành một thời kỳ cơ hội hành tinh và điểm đạo hành tinh. Điểm đạo về bản chất là một sự bước ra khỏi sự kiểm soát cổ xưa để đi vào sự kiểm soát của những giá trị tinh thần hơn và ngày càng cao hơn. Điểm đạo là một sự mở rộng tâm thức dẫn đến sự nhận biết ngày càng tăng về các thực tại bên trong. Nó cũng là sự nhận biết một cảm thức mới về nhu cầu thay đổi và việc điều hành minh triết những thay đổi cần thiết này để tiến bộ thực sự có thể được thực hiện; tâm thức được mở rộng và trở nên bao gồm hơn một cách quảng đại và thiêng liêng, và có một sự kiểm soát mới mẻ và mạnh mẽ hơn của linh hồn khi linh hồn ngày càng đảm nhận sự chỉ đạo đời sống của cá nhân, của một quốc gia và của thế giới. |
|
In the last analysis, and from the standpoint of the Hierarchy, the present conflict between the personality of humanity (expressing the material values as the dominating factor in life experience) and the soul of humanity (expressing the spiritual values as the dominating factor in human affairs) is identical with the conflict which takes place within a human being’s consciousness when he has reached the stage of discipleship and is faced with the problem of the pairs of opposites. This conflict is expressed in many [137] ways according to the point of view and the background of thought. It can be called the conflict between Christ and anti-Christ but not as those who usually employ those phrases understand them. No one nation is expressive of the spirit of anti-Christ, just as no one nation expresses the spirit of Christ. Christ and anti-Christ are the dualities of spirituality and materialism, both in the individual and in humanity as a whole. Or you can speak of God and the Devil with the same basic implications. For what is man himself but an expression of divinity (God) in a material form (the Devil), and what is matter but the medium through which divinity must eventually manifest in all its glory? But when that takes place, matter will no longer be a controlling factor but simply a medium of expression. |
Xét đến cùng, và từ quan điểm của Thánh đoàn, cuộc xung đột hiện nay giữa phàm ngã của nhân loại (biểu lộ các giá trị vật chất như yếu tố chi phối trong kinh nghiệm sống) và linh hồn của nhân loại (biểu lộ các giá trị tinh thần như yếu tố chi phối trong các công việc của con người) đồng nhất với cuộc xung đột diễn ra trong tâm thức của một con người khi y đã đạt đến giai đoạn địa vị đệ tử và đối diện với vấn đề các cặp đối đãi. Cuộc xung đột này được biểu lộ theo nhiều [137] cách tùy theo quan điểm và nền tảng tư tưởng. Nó có thể được gọi là cuộc xung đột giữa Đức Christ và phản-Christ nhưng không theo cách những người thường dùng các cụm từ ấy hiểu. Không một quốc gia nào biểu lộ tinh thần phản-Christ, cũng như không một quốc gia nào biểu lộ tinh thần của Đức Christ. Đức Christ và phản-Christ là các nhị nguyên tính của tinh thần và duy vật, cả trong cá nhân lẫn trong toàn thể nhân loại. Hoặc bạn có thể nói về Thượng đế và Quỷ dữ với cùng những hàm ý căn bản. Vì chính con người là gì nếu không phải là một biểu lộ của thiên tính (Thượng đế) trong một hình tướng vật chất (Quỷ dữ), và vật chất là gì nếu không phải là môi trường mà qua đó thiên tính cuối cùng phải biểu lộ trong tất cả vinh quang của nó? Nhưng khi điều đó diễn ra, vật chất sẽ không còn là một yếu tố kiểm soát mà chỉ đơn giản là một phương tiện biểu lộ. |
|
The battle is therefore on between the form side of life and the soul. The Dweller on the Threshold (the threshold of divinity, my brothers) is humanity itself with its ancient habits of thought, its selfishness and greed. Humanity today stands face to face with the Angel of the Presence—the Soul Whose nature is love and light and inclusive understanding. The great problem today is which of these two will emerge the victor out of the conflict, and which of these two great agencies of life will determine humanity’s future and indicate the way which humanity will decide to go. |
Vì vậy, trận chiến đang diễn ra giữa phương diện hình tướng của sự sống và linh hồn. Kẻ Chận Ngõ (ngưỡng cửa của thiên tính, Huynh đệ của Tôi) chính là nhân loại với những thói quen tư tưởng cổ xưa, sự ích kỷ và lòng tham của mình. Nhân loại ngày nay đang đứng đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện—Linh Hồn mà bản chất là tình thương, ánh sáng và sự thấu hiểu bao gồm. Vấn đề lớn ngày nay là trong hai bên này, bên nào sẽ xuất hiện như kẻ chiến thắng từ cuộc xung đột, và trong hai tác nhân lớn của sự sống này, tác nhân nào sẽ quyết định tương lai của nhân loại và chỉ ra con đường mà nhân loại sẽ quyết định đi theo. |
|
The issues at stake are clear to all right-thinking people. Intolerance and an intense national pride and self-satisfaction can blind men to the facts of the case today, but there are enough people thinking clearly to make the future of right decision more probable than at any previous time in the history of the race. |
Những vấn đề đang bị đặt vào thế nguy cấp đều rõ ràng đối với mọi người suy nghĩ đúng đắn. Sự bất khoan dung và lòng kiêu hãnh dân tộc mãnh liệt cùng sự tự mãn có thể làm mù mắt con người trước các sự kiện của tình hình ngày nay, nhưng có đủ số người đang suy nghĩ sáng suốt để khiến tương lai của quyết định đúng đắn có nhiều khả năng hơn bất cứ thời điểm nào trước đây trong lịch sử nhân loại. |
|
Preparation for World Goodwill |
Chuẩn Bị cho Thiện Chí Thế Giới |
|
The causes of the present war are ancient. This historical sequence of the predisposing factors can be clearly traced in the exoteric records of all nations as well as in the esoteric records of the Hierarchy. The inherent human [138] qualities which have led to the development of the present war are well known. All who are conscious of and observers of the war within their own natures, between personality selfishness and the selflessness of the soul, are aware of the implications and the correspondences. Where then lies the solution? What must be done to arrest the fires of hate and of aggression, of revenge and of fear? What also must be done to prepare for that time when the rebuilding of the world of men and the inauguration of the new and better civilisation arrives? With this we might now briefly deal. |
Nguyên nhân của cuộc chiến hiện nay là cổ xưa. Chuỗi lịch sử của các yếu tố tiền định này có thể được truy ra rõ ràng trong các ghi chép ngoại môn của mọi quốc gia cũng như trong các ghi chép nội môn của Thánh đoàn. Những phẩm tính cố hữu của con người [138] đã dẫn đến sự phát triển của cuộc chiến hiện nay đều đã được biết rõ. Tất cả những ai có ý thức và quan sát cuộc chiến trong chính bản chất mình, giữa sự ích kỷ của phàm ngã và tính vô ngã của linh hồn, đều nhận thức được những hàm ý và những tương ứng. Vậy thì giải pháp nằm ở đâu? Phải làm gì để chặn đứng những ngọn lửa hận thù và xâm lược, trả thù và sợ hãi? Cũng phải làm gì để chuẩn bị cho thời điểm mà việc tái thiết thế giới loài người và khai mở nền văn minh mới và tốt đẹp hơn sẽ đến? Giờ đây chúng ta có thể bàn ngắn gọn về điều này. |
|
As regards active participation in the work to be done in preparing the world for the expression of goodwill, there is little to be done of an active exoteric nature at this time; it is necessary to wait with patience and to see what is going to happen and along what lines the activity of the nations will run. But there is very much to be done of an esoteric and a preparatory nature and it is this which I seek to impress upon your minds. |
Về sự tham gia tích cực vào công việc phải làm để chuẩn bị thế giới cho sự biểu lộ của thiện chí, hiện nay có rất ít điều có thể làm theo tính chất ngoại môn tích cực; cần phải kiên nhẫn chờ đợi và xem điều gì sẽ xảy ra và hoạt động của các quốc gia sẽ diễn ra theo những đường hướng nào. Nhưng có rất nhiều điều phải làm theo tính chất nội môn và chuẩn bị, và chính điều này tôi tìm cách khắc sâu vào tâm trí các bạn. |
|
Up to date and in spite of appearances, the Forces of Light are victorious and are definitely holding things steady. It is for this reason that nothing has yet quenched the spirit of goodwill and of sympathetic understanding which exists among the peoples of all nations, not excluding Germany; this has been the outstanding significant characteristic of the present conflict. There is little hate or vindictiveness to be found, and this fact constitutes the difference between this war and the last, in 1914. It indicates a triumph for the Forces of Light and in it lies the hope of the future. It is here, however, that the time factor must be considered, for a prolonged war may cause a change in this desirable attitude, and much drastic experience may produce deep psychological and unavoidable changes in human thought and action. This must be consciously offset. It has not yet occurred but it could happen and if it does much pain, terror, fearful anticipation, suffering and the agony entailed by the sight of suffering might eventually turn this goodwill into a [139] dynamic spirit of hate and revenge unless it is definitely and consciously offset. Groups who are adhering to the principles of the Forces of Light, who are bending every effort to end the spirit of aggression and to rid the world of the focal points for material influence and power, must yet carry forward the task of binding men and women of every nation together in a spirit of loving understanding; they must interpret nation to nation in terms of brotherhood and of the new order. |
Cho đến nay và bất chấp bề ngoài, Các Mãnh Lực Ánh Sáng đang chiến thắng và chắc chắn đang giữ cho mọi sự ổn định. Chính vì lý do này mà chưa có gì dập tắt được tinh thần thiện chí và sự thấu hiểu cảm thông đang tồn tại giữa các dân tộc của mọi quốc gia, không loại trừ nước Đức; đây là đặc tính nổi bật và có ý nghĩa của cuộc xung đột hiện nay. Có rất ít hận thù hay lòng báo oán được tìm thấy, và sự kiện này tạo nên sự khác biệt giữa cuộc chiến này và cuộc chiến trước, vào năm 1914. Nó cho thấy một chiến thắng của Các Mãnh Lực Ánh Sáng và trong đó có niềm hy vọng của tương lai. Tuy nhiên, chính ở đây mà yếu tố thời gian phải được xét đến, vì một cuộc chiến kéo dài có thể gây ra sự thay đổi trong thái độ đáng mong muốn này, và nhiều kinh nghiệm khắc nghiệt có thể tạo ra những thay đổi tâm lý sâu sắc và không thể tránh khỏi trong tư tưởng và hành động của con người. Điều này phải được hóa giải một cách hữu thức. Điều đó chưa xảy ra nhưng có thể xảy ra, và nếu xảy ra thì nhiều đau đớn, kinh hoàng, sự chờ đợi đầy sợ hãi, đau khổ và nỗi thống khổ do chứng kiến đau khổ gây ra cuối cùng có thể biến thiện chí này thành một [139] tinh thần hận thù và trả thù năng động, trừ phi nó được hóa giải một cách rõ rệt và hữu thức. Những nhóm đang gắn bó với các nguyên lý của Các Mãnh Lực Ánh Sáng, đang dốc mọi nỗ lực để chấm dứt tinh thần xâm lược và giải thoát thế giới khỏi các điểm tập trung của ảnh hưởng và quyền lực duy vật, vẫn phải tiếp tục nhiệm vụ kết nối những người nam và nữ của mọi quốc gia lại với nhau trong một tinh thần thấu hiểu đầy thương yêu; họ phải diễn giải quốc gia với quốc gia theo các thuật ngữ của tình huynh đệ và của trật tự mới. |
|
This is no easy thing to do at this time. The astral or emotional bodies of human beings (which constitute the astral body of humanity as a whole) are today in a state of chaos, and are swept by ancient desires, ancient and deep-seated selfish attitudes and by ancient hatreds. The task is also complicated by the activity of the mental processes of man which is characterised by pronounced and developed illusions, by separative attitudes and by specious arguments. But there are, at the same time, enough people in the world who are responsive to the spirit of goodwill, of tolerant understanding, and animated by a desire for permanent right human relations. |
Đây không phải là điều dễ làm vào lúc này. Các thể cảm dục hay cảm xúc của con người (vốn cấu thành thể cảm dục của toàn thể nhân loại) ngày nay đang ở trong tình trạng hỗn loạn, và bị cuốn đi bởi những ham muốn cổ xưa, những thái độ ích kỷ cổ xưa và ăn sâu, cùng những hận thù cổ xưa. Nhiệm vụ cũng bị làm cho phức tạp bởi hoạt động của các tiến trình trí tuệ của con người, vốn được đặc trưng bởi những ảo tưởng rõ rệt và phát triển, bởi những thái độ chia rẽ và bởi những lý lẽ ngụy biện. Nhưng đồng thời, trên thế giới vẫn có đủ số người đáp ứng với tinh thần thiện chí, sự thấu hiểu khoan dung, và được thúc đẩy bởi khát vọng về những mối quan hệ nhân loại đúng đắn và bền vững. |
|
I have earlier suggested to you (A Treatise on the Seven Rays, Vol.II (Esoteric Psychology), page 647.) that it should be possible to have—at a later date—a world-wide recognition of a Day of Forgetfulness, of Forgiveness and of Fulfilment of the Biblical injunction to “forget the things which lie behind and to press forward” into the New Age, the new relationships and the new civilisation. For that time we can all begin to plan, and to work for that psychological moment wherein this idea can be presented. It will come immediately after the cessation of hostilities. But today and in every land, where possible, the peoples must be educated in this expression of human synthesis and human interrelation. |
Trước đây tôi đã gợi ý với các bạn (“Luận về Bảy Cung”, Tập II (Tâm Lý Học Nội Môn), trang 647.) rằng về sau nên có thể có—một sự công nhận trên toàn thế giới về một Ngày Quên Lãng, Tha Thứ và Hoàn Thành lời huấn thị trong Kinh Thánh là “quên đi những điều ở phía sau và tiến bước” vào Kỷ nguyên Mới, những mối quan hệ mới và nền văn minh mới. Chúng ta đều có thể bắt đầu hoạch định và làm việc cho thời điểm tâm lý mà trong đó ý tưởng này có thể được trình bày. Nó sẽ đến ngay sau khi chiến sự chấm dứt. Nhưng ngày nay và ở mọi xứ sở, ở đâu có thể, dân chúng phải được giáo dục trong sự biểu lộ này của tổng hợp nhân loại và tương liên nhân loại. |
|
It involves, however, an emphasising of the values to which I have referred earlier in this article. This is humanity’s [140] joint responsibility because of humanity’s general mistakes, and the ancient wrong attitudes and controls. It involves, consequently, a stepping down from the position of critics and assigners of responsibility to that of a joint shouldering of the stupendous task of changing present conditions and of instituting those reversals of policy which will make a united world order possible and beautiful. This is no easy task. It is one which calls all men and women of goodwill in the world today and challenges them to prepare whilst the conflict is on for what can be done when it is over. |
Tuy nhiên, điều đó bao hàm việc nhấn mạnh các giá trị mà tôi đã đề cập trước đó trong bài viết này. Đây là [140] trách nhiệm chung của nhân loại vì những sai lầm chung của nhân loại, và những thái độ cùng sự kiểm soát sai lầm cổ xưa. Do đó, nó bao hàm việc bước xuống khỏi vị trí của những người chỉ trích và quy trách nhiệm để đi vào vị trí cùng nhau gánh vác nhiệm vụ to lớn là thay đổi các điều kiện hiện tại và thiết lập những sự đảo ngược chính sách sẽ làm cho một trật tự thế giới hợp nhất trở nên khả hữu và tốt đẹp. Đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Đó là nhiệm vụ kêu gọi tất cả những người nam và nữ thiện chí trên thế giới ngày nay và thách thức họ chuẩn bị, trong khi cuộc xung đột vẫn đang diễn ra, cho điều có thể được thực hiện khi nó chấm dứt. |
|
I have given much in the past which can provide a platform of objectives and of methods. Nothing that I have outlined is now abrogated; only fulfilment is postponed. For seven critical years, it lay in the hands of the spiritually minded men of the world, in the hands of the Churches in all lands and of the men of goodwill and of the world aspirants so to work that the present conflict could have been avoided. But the spirit of Christ was lost in clerical organisation; emphasis has been laid upon technical theology; the spirit of goodwill was not expressed dynamically and practically, but theoretically and negatively; the aspirants of the world had no true sense of values but were content to give a little time to the spiritual life and to other people, but much time was lost in individual, personal aims. A spirit of inertia settled down upon the better inclined and upon the more understanding people; nothing that we could do served to arouse them to powerful action or to sacrifice personal temporary values to the lasting and universal values. The individual remained more important to himself than did the good of the whole. |
Trước đây tôi đã đưa ra nhiều điều có thể cung cấp một nền tảng về mục tiêu và phương pháp. Không điều gì tôi đã phác họa nay bị bãi bỏ; chỉ có sự hoàn thành là bị trì hoãn. Trong bảy năm quyết định, điều đó nằm trong tay những người có tinh thần trên thế giới, trong tay các Giáo hội ở mọi xứ sở và những người thiện chí cùng những người chí nguyện của thế giới, để làm việc sao cho cuộc xung đột hiện nay có thể đã được tránh khỏi. Nhưng tinh thần của Đức Christ đã bị đánh mất trong tổ chức giáo quyền; sự nhấn mạnh đã được đặt vào thần học kỹ thuật; tinh thần thiện chí đã không được biểu lộ một cách năng động và thực tiễn, mà chỉ về mặt lý thuyết và tiêu cực; những người chí nguyện của thế giới không có ý thức chân thực về các giá trị mà bằng lòng dành một ít thời gian cho đời sống tinh thần và cho người khác, nhưng nhiều thời gian đã bị mất vào các mục tiêu cá nhân, riêng tư. Một tinh thần trì trệ đã phủ xuống những người có khuynh hướng tốt hơn và những người thấu hiểu hơn; không điều gì chúng tôi có thể làm đã đủ để đánh thức họ đến hành động mạnh mẽ hay hy sinh những giá trị cá nhân tạm thời cho những giá trị bền vững và phổ quát. Đối với chính mình, cá nhân vẫn quan trọng hơn lợi ích của toàn thể. |
|
Be not over-distressed, my brothers. You are not alone in this but part of a vast number, if that is to you any real satisfaction. |
Đừng quá đau buồn, Huynh đệ của Tôi. Bạn không đơn độc trong điều này mà là một phần của một số lượng rất lớn, nếu điều đó đem lại cho bạn chút an ủi thực sự nào. |
|
But a renewed opportunity lies in front of you and it is of a practical nature, falling into definite spheres of work and of planned activity. You are asked, first of all, to [141] prepare for the great opportunity which will come at the close of this conflict, and |
Nhưng một cơ hội mới đang ở trước mặt bạn và nó có tính thực tiễn, rơi vào những lĩnh vực công việc xác định và hoạt động có kế hoạch. Trước hết, các bạn được yêu cầu [141] chuẩn bị cho cơ hội lớn sẽ đến khi cuộc xung đột này kết thúc, và |
|
1. To explain clearly to all people the cause which produces the opportunity and which is dedicated to the ending of the present state of affairs. |
1. Giải thích rõ ràng cho mọi người nguyên nhân tạo ra cơ hội ấy và nguyên nhân ấy được hiến dâng cho việc chấm dứt tình trạng hiện nay. |
|
2. To engineer some dramatic and universal event which will serve as the inspiration and the inauguration of the new era of goodwill and of right human relations. |
2. Điều hành một biến cố đầy kịch tính và phổ quát nào đó sẽ phục vụ như nguồn cảm hứng và sự khai mở của kỷ nguyên mới của thiện chí và các mối quan hệ nhân loại đúng đắn. |
|
Secondly, to keep up a steady process of right thought, right interpretation of current events and a right preparation whilst the war lasts, so that any weakening of the gained spirit of goodwill can be immediately offset, and so that understanding can grow in potency and not suffer obscuration. In order to bring this about, the following activities are suggested beginning with those which concern the individual worker. |
Thứ hai, duy trì một tiến trình ổn định của tư tưởng đúng đắn, sự diễn giải đúng đắn các biến cố hiện thời và sự chuẩn bị đúng đắn trong khi chiến tranh còn kéo dài, để bất cứ sự suy yếu nào của tinh thần thiện chí đã đạt được có thể được hóa giải ngay lập tức, và để sự thấu hiểu có thể tăng trưởng về sức mạnh mà không bị che mờ. Để thực hiện điều này, các hoạt động sau đây được gợi ý, bắt đầu với những hoạt động liên quan đến người hoạt động cá nhân. |
|
1. A close personal watch over every word said or written, so that nothing said or written by any of you will have in it hate or bias of the wrong kind and your minds and hearts will be kept clear of all undesirable reactions. This is the personal and practical thing to do and the difficult task set before each of you who read my words. |
1. Theo dõi cá nhân chặt chẽ đối với mọi lời nói hay viết ra, để không điều gì được bất cứ ai trong các bạn nói hay viết chứa đựng hận thù hay thiên kiến sai lầm, và để tâm trí cùng trái tim các bạn được giữ cho trong sáng khỏi mọi phản ứng không mong muốn. Đây là điều cá nhân và thực tiễn phải làm, và là nhiệm vụ khó khăn đặt ra trước mỗi người trong các bạn đang đọc lời tôi. |
|
2. Study and apprehend clearly the issues which lie behind this conflict, so that there is no inner wavering as to the rightness of the side on which your interests lie—the side of the Forces of Light. Parallel this with an understanding appreciation of the problem of those who are bewildered by the emphasis and the dynamic activities of those through whom the Forces of materialism are working. At the same time, also, kill out all hateful criticism in your minds. |
2. Nghiên cứu và nắm bắt rõ ràng những vấn đề nằm sau cuộc xung đột này, để không có sự dao động nội tâm nào về tính đúng đắn của phía mà quyền lợi của bạn gắn liền—phía của Các Mãnh Lực Ánh Sáng. Song song với điều này là một sự đánh giá thấu hiểu đối với vấn đề của những người bị bối rối bởi sự nhấn mạnh và các hoạt động năng động của những người mà qua họ các Mãnh Lực Duy Vật đang hoạt động. Đồng thời, cũng hãy diệt trừ mọi sự chỉ trích đầy hận thù trong tâm trí các bạn. |
|
3. Endeavour to use the following formula or mantram every day. It is a modernised and mystically worded version [142] of the one which was used widely in Atlantean days during the period of the ancient conflict of which the present is an effect. For many of you this mantram will be in the nature of a recovery of an old and well-known form of words: |
3. Hãy cố gắng sử dụng công thức hay mantram sau đây mỗi ngày. Đây là một phiên bản hiện đại hóa và được diễn đạt theo lối thần bí [142] của công thức đã được dùng rộng rãi trong thời Atlantis trong giai đoạn của cuộc xung đột cổ xưa mà cuộc xung đột hiện nay là một kết quả. Đối với nhiều người trong các bạn, mantram này sẽ có tính chất của sự phục hồi một hình thức ngôn từ cũ và quen thuộc: |
|
“The sons of men are one and I am one with them. I seek to love not hate: I seek to serve and not exact due service. I seek to heal, not hurt. |
“Những người con của nhân loại là một và tôi là một với họ. Tôi tìm cách yêu thương chứ không hận thù; tôi tìm cách phụng sự chứ không đòi hỏi sự phụng sự chính đáng. Tôi tìm cách chữa lành, chứ không làm tổn thương. |
|
“Let pain bring due reward of light and love. Let the soul control the outer form and life and all events, and bring to light the love which underlies the happenings of the time. Let vision come and insight; let the future stand revealed. Let inner union demonstrate and outer cleavages be gone. Let love prevail. Let all men love.” |
“Cầu mong đau khổ mang lại phần thưởng xứng đáng của ánh sáng và tình thương. Cầu mong linh hồn kiểm soát hình tướng bên ngoài và đời sống cùng mọi biến cố, và đưa ra ánh sáng tình thương làm nền tảng cho những sự việc của thời đại. Cầu mong linh thị và minh tri kiến xuất hiện; cầu mong tương lai đứng ra mặc khải. Cầu mong sự hợp nhất bên trong được chứng minh và các phân rẽ bên ngoài biến mất. Cầu mong tình thương ngự trị. Cầu mong mọi người yêu thương.” |
|
These words may seem inadequate, but said with power and an understanding of their significance and with the potency of the mind and heart behind them, they can prove unbelievably potent in the life of the one who says them. They will produce also an effect in his environment, and the accumulated effects in the world, as you spread the knowledge of the formula, will be great and effective. It will change attitudes, enlighten the vision and lead the aspirant to fuller service and to a wider cooperation based upon sacrifice. My brothers, you cannot evade the sacrifice in the long run, even if you have evaded it until now. |
Những lời này có thể có vẻ không đầy đủ, nhưng nếu được nói ra với mãnh lực và với sự thấu hiểu về ý nghĩa của chúng, cùng với năng lực của trí tuệ và trái tim ở phía sau, chúng có thể chứng tỏ mạnh mẽ đến khó tin trong đời sống của người nói ra chúng. Chúng cũng sẽ tạo ra một hiệu quả trong môi trường của y, và những hiệu quả tích lũy trong thế giới, khi các bạn truyền bá sự hiểu biết về công thức này, sẽ lớn lao và hữu hiệu. Nó sẽ thay đổi các thái độ, soi sáng tầm nhìn và dẫn người chí nguyện đến sự phụng sự đầy đủ hơn và sự hợp tác rộng lớn hơn dựa trên hy sinh. Huynh đệ của Tôi, về lâu dài bạn không thể né tránh sự hy sinh, dù cho đến nay bạn đã né tránh nó. |
|
4. Then apply yourselves to the spreading of the use of the Great Invocation and help to carry forward the plan for distribution. The Great Invocation, as you will see in the next article which I am writing for your information, is a potent solar instrument designed to bring about changes and needed readjustments. It is so powerful that when it was suggested for general use in the world of men some opposition was evoked among the members of the Hierarchy because They feared its potent effects upon the unready, and undeveloped people. Its use has, however, been justified [143] and it is desired that its usefulness should be very greatly increased and its use far more widely spread. |
4. Sau đó hãy áp dụng chính mình vào việc truyền bá việc sử dụng Đại Khấn Nguyện và giúp tiếp tục kế hoạch phân phối. Đại Khấn Nguyện, như bạn sẽ thấy trong bài viết kế tiếp mà tôi đang viết để cung cấp thông tin cho các bạn, là một công cụ thái dương mạnh mẽ được thiết kế để đem lại những thay đổi và những sự điều chỉnh cần thiết. Nó mạnh mẽ đến mức khi được đề nghị sử dụng rộng rãi trong thế giới loài người, đã gợi lên một số phản đối trong các thành viên của Thánh đoàn vì Các Ngài e ngại những hiệu quả mạnh mẽ của nó đối với những người chưa sẵn sàng và chưa phát triển. Tuy nhiên, việc sử dụng nó đã được chứng minh là chính đáng [143] và mong muốn rằng tính hữu ích của nó phải được gia tăng rất nhiều và việc sử dụng nó phải được truyền bá rộng rãi hơn nữa. |
|
5. I would have you in your own way prepare for a major spiritual effort which is to take place when this conflict has worn itself out and some measure of peace and calm has come about. Each of you has your own sphere of influence and of contacts and each of you is in touch with similarly minded or enquiring people, with groups and churches, clubs, organisations and societies which are pledged to some form of effort towards human betterment, of goodwill effort, and of endeavour of some kind towards human welfare. Now is the time for much work to be done with the leaders and senior workers in such groups and with people who can be prepared by each of you for active effort when the right time comes. To this task I call each of you. Later you can swing these people into active goodwill work and to effort which will tend to world understanding and fusion. You can with them bring about the healing of the wounds of humanity which will be greatly needed and for which you can now prepare. You can get in touch with such people, keep records of names and addresses and capacity to serve and help, establish group contacts and so systematise your work that when the call goes out (as it did in 1936) there will be found available to the organisers a wealth of ready contacts and of interested and prepared people who will then work intelligently to establish the new order. |
5. Tôi muốn các bạn, theo cách riêng của mình, chuẩn bị cho một nỗ lực tinh thần lớn sẽ diễn ra khi cuộc xung đột này đã tự hao mòn và một mức độ hòa bình cùng bình lặng nào đó đã xuất hiện. Mỗi người trong các bạn có phạm vi ảnh hưởng và tiếp xúc riêng, và mỗi người trong các bạn đều tiếp xúc với những người cùng chí hướng hay đang tìm hiểu, với các nhóm và giáo hội, câu lạc bộ, tổ chức và hội đoàn đã cam kết với một hình thức nỗ lực nào đó hướng tới sự cải thiện của con người, nỗ lực thiện chí, và một loại cố gắng nào đó hướng tới phúc lợi nhân loại. Bây giờ là lúc phải làm nhiều việc với các nhà lãnh đạo và những người hoạt động cao cấp trong các nhóm như thế, và với những người mà mỗi người trong các bạn có thể chuẩn bị cho nỗ lực tích cực khi thời điểm thích hợp đến. Tôi kêu gọi mỗi người trong các bạn vào nhiệm vụ này. Về sau các bạn có thể đưa những người này vào công việc thiện chí tích cực và vào nỗ lực có xu hướng dẫn đến sự thấu hiểu và dung hợp thế giới. Cùng với họ, các bạn có thể đem lại sự chữa lành những vết thương của nhân loại, điều sẽ rất cần thiết và cho điều đó các bạn có thể chuẩn bị ngay từ bây giờ. Các bạn có thể liên hệ với những người như thế, lưu giữ hồ sơ tên tuổi, địa chỉ và năng lực phụng sự cùng giúp đỡ, thiết lập các tiếp xúc nhóm và hệ thống hóa công việc của mình để khi lời kêu gọi được phát ra (như đã xảy ra năm 1936), những người tổ chức sẽ thấy sẵn có một kho tàng các tiếp xúc đã sẵn sàng và những người quan tâm, đã được chuẩn bị, rồi khi ấy sẽ làm việc một cách thông minh để thiết lập trật tự mới. |
|
6. The instructions in my earlier pamphlets remain as before and should be carefully followed in preparation for a campaign at the close of hostilities. Mailing lists can be gradually brought alive by judicious correspondence and new lists can be compiled; the Great Invocation can be increasingly used if the method outlined by me is studied and rightly organised by each of you, and so the goodwill already present in the world can be brought to a point of dynamic livingness, ready for later use. But, my brothers, nothing can be done unless you do it. [144] |
6. Những chỉ dẫn trong các tập sách nhỏ trước đây của tôi vẫn giữ nguyên như trước và cần được cẩn thận tuân theo để chuẩn bị cho một chiến dịch vào lúc chiến sự chấm dứt. Các danh sách gửi thư có thể dần dần được làm sống động bằng thư từ khôn khéo và các danh sách mới có thể được biên soạn; Đại Khấn Nguyện có thể ngày càng được sử dụng nếu phương pháp tôi đã phác họa được nghiên cứu và được mỗi người trong các bạn tổ chức đúng đắn, và như vậy thiện chí vốn đã hiện diện trong thế giới có thể được đưa đến một điểm sống động năng động, sẵn sàng cho việc sử dụng về sau. Nhưng, Huynh đệ của Tôi, không điều gì có thể được thực hiện trừ phi các bạn làm điều đó. [144] |
|
THE GREAT INVOCATION |
ĐẠI KHẤN NGUYỆN |
|
Stanza One |
Bài kệ Một |
|
Let the Forces of Light bring illumination to all mankind. |
Cầu mong Các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho toàn thể nhân loại. |
|
Let the Spirit of Peace be spread abroad. |
Cầu mong Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi. |
|
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation. |
Cầu mong những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong một tinh thần hợp tác. |
|
May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time. |
Cầu mong sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này. |
|
Let power attend the efforts of the Great Ones. |
Cầu mong quyền năng đi cùng những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả. |
|
So let it be and help us to do our part. |
Cầu mong điều ấy được thành tựu và giúp chúng ta làm phần việc của mình. |
|
OCTOBER 1939 |
THÁNG MƯỜI 1939 |
|
In my last article, I suggested giving you some facts anent the Great Invocation and some explanation of its significance and meanings. These may enable the occult students in the world today to use it with greater fervour and with greater understanding and, consequently, with greater success. |
Trong bài viết trước, tôi đã gợi ý sẽ cung cấp cho các bạn một số sự kiện liên quan đến Đại Khấn Nguyện và một số giải thích về ý nghĩa và các tầng nghĩa của nó. Những điều này có thể giúp các đạo sinh huyền bí học trên thế giới ngày nay sử dụng nó với nhiệt tâm lớn hơn và với sự thấu hiểu lớn hơn, và do đó với thành công lớn hơn. |
|
There are several such mantric formulas and Words of Power in use by such students but they fail to accomplish very much because the person using them has no real understanding of their import and purpose and is usually so focussed in his emotional, aspirational, astral nature that all that he says and does (in connection with such Words of Power) is entirely innocuous and futile. Words of Power, ancient mantrams (such as the Lord’s Prayer) and the Great Invocation are only effective if used upon the mental plane and with the power of a controlled mind—focussed on their intent and meaning—behind the spoken effort. They then become potent. When said with the power of the soul as well as with the directed attention of the mind, they automatically become dynamically effective. |
Có một số công thức mantram và Quyền năng từ như thế được các đạo sinh ấy sử dụng nhưng chúng không đạt được bao nhiêu vì người sử dụng chúng không có sự thấu hiểu thực sự về tầm quan trọng và mục đích của chúng, và thường quá tập trung trong bản chất cảm xúc, chí nguyện, cảm dục của mình đến nỗi mọi điều y nói và làm (liên quan đến những Quyền năng từ như thế) hoàn toàn vô hại và vô hiệu. Các Quyền năng từ, các mantram cổ xưa (như Kinh Lạy Cha) và Đại Khấn Nguyện chỉ hữu hiệu nếu được sử dụng trên cõi trí và với quyền năng của một trí tuệ được kiểm soát—tập trung vào ý định và ý nghĩa của chúng—ở phía sau nỗ lực được phát ngôn. Khi ấy chúng trở nên mạnh mẽ. Khi được nói ra với quyền năng của linh hồn cũng như với sự chú tâm có định hướng của trí tuệ, chúng tự động trở nên hữu hiệu một cách năng động. |
|
Students all the world over have for years used the Sacred Word, and have sounded the O.M. with great diligence. I would like here to ask: With what results? I myself will reply. With practically no results except a slight stimulation of the aspiration and a small awakening of the creative imagination. This means that the results achieved have had effect only within the aura of the person concerned and have not penetrated into his environment or produced any recognisable effects. The O.M. is potent and [145] dynamically effective when rightly used and will produce changes, destroy that which must be eliminated or ended, and will build in, by attraction and consolidation that which is desired into the fabric of the group life, producing incidentally (though none the less certainly) needed changes and the wise reconstruction of the individual life. Ponder upon this. |
Trong nhiều năm, các đạo sinh khắp thế giới đã sử dụng Linh từ Thiêng liêng, và đã xướng O.M. với sự chuyên cần lớn. Ở đây tôi muốn hỏi: Với kết quả gì? Chính tôi sẽ trả lời. Hầu như không có kết quả gì ngoại trừ một sự kích thích nhẹ đối với khát vọng và một sự thức tỉnh nhỏ của sự tưởng tượng sáng tạo. Điều này có nghĩa là các kết quả đạt được chỉ có tác dụng trong hào quang của người liên hệ và không thâm nhập vào môi trường của y hay tạo ra bất kỳ hiệu quả có thể nhận biết nào. O.M. là mạnh mẽ và [145] hữu hiệu một cách năng động khi được sử dụng đúng đắn, và sẽ tạo ra những thay đổi, hủy diệt điều phải bị loại bỏ hay chấm dứt, và sẽ xây dựng vào, bằng sự hấp dẫn và củng cố, điều được mong muốn vào kết cấu của đời sống nhóm, đồng thời tạo ra (dù không kém phần chắc chắn) những thay đổi cần thiết và sự tái thiết minh triết của đời sống cá nhân. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
If the above is true of the O.M. and of its group effects, it is infinitely more true of the Great Invocation. Words of Power (and this is true also of the O.M.) are all of second ray origin. This is the ray of the manifestation of consciousness. They are, therefore, intended for soul use because the soul is the expression of the second aspect of divinity, and only the soul can really employ these Words and sounds and thus produce the desired results which are always in line with the divine Plan. It is frequently forgotten that they must be used by the soul in a dynamic manner, involving the serious recognition of the will aspect. The Great Invocation, the O.M. and all such Words of Power must go forth from the soul (whose nature is love and whose purpose is solely group good), backed by or “occultly propelled forth” (to use a translation of an almost untranslatable occult idea) by the dynamic will aspect, and carried outwards as an integrated thoughtform upon a stream of living, illumined mental substance. This process therefore brings into activity the will, the love and the intelligence of the man who is using these words and formulas. Frequently, however, an hiatus occurs even when a man has integrated these three controlling factors within himself as far as he is able to do so at his particular point in evolution. All that he has succeeded in doing is the retaining of the created thoughtform upon the mental plane; he fails to make its presence felt upon the physical plane and to achieve the desired results because his brain (the lower receiving and distributing centre within the head) is incapable of the needed dual activity—retaining awareness of the intent, meaning and purpose of the formula being used and, at the same time, carrying on the task of sending forth the potency, [146] hidden yet conveyed by the Words or sounds. These two activities must be carried on simultaneously by the soul on its own plane through the medium of the mind and the brain. Here again is one of the objectives of all meditation work but one which is not emphasised as it is a sequential happening and not an objective. Effectiveness is, therefore, dependent upon a grasp of the above facts and a developed and trained integration between soul, mind, desire, brain and the spoken Word or sound. |
Nếu điều trên là đúng đối với O.M. và các hiệu quả nhóm của nó, thì điều đó còn đúng hơn vô hạn đối với Đại Khấn Nguyện. Các Quyền năng từ (và điều này cũng đúng với O.M.) đều có nguồn gốc từ cung hai. Đây là cung của sự biểu hiện của tâm thức. Vì vậy, chúng được dành cho linh hồn sử dụng, bởi vì linh hồn là biểu hiện của phương diện thứ hai của thiên tính, và chỉ linh hồn mới thực sự có thể sử dụng các Linh từ và âm thanh này, nhờ đó tạo ra những kết quả mong muốn vốn luôn phù hợp với Thiên Cơ thiêng liêng. Người ta thường quên rằng chúng phải được linh hồn sử dụng một cách năng động, bao hàm sự thừa nhận nghiêm túc phương diện ý chí. Đại Khấn Nguyện, O.M. và mọi Quyền năng từ như thế phải phát ra từ linh hồn (mà bản chất là bác ái và mục đích chỉ duy nhất là thiện ích nhóm), được hậu thuẫn hay “được phóng ra một cách huyền bí” (dùng một bản dịch của một ý niệm huyền bí hầu như không thể dịch được) bởi phương diện ý chí năng động, và được mang ra bên ngoài như một hình tư tưởng tích hợp trên một dòng chất liệu trí tuệ sống động, được soi sáng. Vì vậy, tiến trình này đưa vào hoạt động ý chí, bác ái và trí tuệ của con người đang sử dụng các từ ngữ và công thức này. Tuy nhiên, thường xảy ra một khoảng gián đoạn ngay cả khi một người đã tích hợp ba yếu tố kiểm soát này trong chính mình đến mức y có thể làm được ở điểm tiến hoá riêng của mình. Tất cả những gì y đã thành công làm được chỉ là giữ hình tư tưởng đã tạo ra trên cõi trí; y không làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trên cõi hồng trần và không đạt được các kết quả mong muốn, bởi vì bộ não của y (trung tâm tiếp nhận và phân phối thấp hơn trong đầu) không có khả năng thực hiện hoạt động kép cần thiết—vừa duy trì nhận biết về ý định, ý nghĩa và mục đích của công thức đang được sử dụng, vừa đồng thời tiếp tục nhiệm vụ phát ra mãnh lực, [146] ẩn tàng nhưng được chuyên chở bởi các Linh từ hay âm thanh. Hai hoạt động này phải được linh hồn tiến hành đồng thời trên cõi riêng của nó qua trung gian của trí tuệ và bộ não. Ở đây lại là một trong những mục tiêu của mọi công việc tham thiền, nhưng là mục tiêu không được nhấn mạnh vì đó là một diễn tiến tuần tự chứ không phải một mục tiêu. Vì vậy, hiệu quả tùy thuộc vào sự nắm bắt các sự kiện trên và vào một sự tích hợp đã phát triển và được rèn luyện giữa linh hồn, trí tuệ, dục vọng, bộ não và Linh từ hay âm thanh được phát ra. |
|
What I am here telling you refers not only to the use of the Great Invocation but also to the daily and constant use of the Sacred Word by occult students and aspirants in their daily meditation. They could change their lives, reorient their life purpose and focus, and achieve spiritual unfoldment and expansion if they could use the OM as it should be used. The Great Invocation, rightly used by the many hundred thousand people who have already attempted to use it, could reorient the consciousness of humanity, stabilise men in spiritual being, disrupt and rebuild the planetary thoughtform which men have created in the past and which has had (and is having) such disastrous and cataclysmic results, and open the door into the New Age, thus ushering in the new and better civilisation. This could be done so rapidly, that the needed changes would come about almost overnight; the present reign of horror would end and the race of men could settle down to a life of group goodwill, individual harmlessness and right human relations. |
Điều tôi đang nói với các bạn ở đây không chỉ liên quan đến việc sử dụng Đại Khấn Nguyện mà còn liên quan đến việc sử dụng hằng ngày và liên tục Linh từ Thiêng liêng bởi các đạo sinh huyền bí học và những người chí nguyện trong bài tham thiền hằng ngày của họ. Họ có thể thay đổi đời sống mình, định hướng lại mục đích và điểm tập trung của đời sống mình, và đạt được sự khai mở và mở rộng tinh thần nếu họ có thể sử dụng OM như nó cần phải được sử dụng. Đại Khấn Nguyện, nếu được sử dụng đúng đắn bởi nhiều trăm ngàn người đã từng cố gắng dùng nó, có thể định hướng lại tâm thức của nhân loại, làm cho những người nam và nữ ổn định trong bản thể tinh thần, phá vỡ rồi tái kiến tạo hình tư tưởng hành tinh mà con người đã tạo ra trong quá khứ và đã gây ra (và đang gây ra) những kết quả tai hại và mang tính đại biến động như thế, đồng thời mở cánh cửa đi vào Kỷ Nguyên Mới, nhờ đó khai mở nền văn minh mới và tốt đẹp hơn. Điều này có thể được thực hiện nhanh đến mức những thay đổi cần thiết sẽ diễn ra gần như chỉ sau một đêm; triều đại kinh hoàng hiện nay sẽ chấm dứt và nhân loại có thể an định vào một đời sống của thiện chí nhóm, tính vô tổn hại cá nhân và những tương quan nhân loại đúng đắn. |
|
Nevertheless, for your encouragement, I would state that the use of it has materially hastened world events, even though it has definitely stirred up a great deal of the trouble and brought it into manifestation upon the physical plane. The basically selfish purpose (even if unrecognised) of those who have used the Great Invocation has served to stimulate the selfish purposes of the forces of materialism. I would ask you: How many used the Great Invocation in a purely detached, spiritually potent and fully understanding manner? The merest handful. How many sent forth the Great Invocation in a spirit of pure love and with a completely [147] unbiased attitude? Very few indeed. How many sounded it out through the medium of a controlled mind, with a recognition and deep belief that it embodied the will of the planetary Logos and must, therefore, become dynamically effective upon the physical plane? Hardly more than a tiny handful. Most of those who used it were intrigued by its novelty, or felt it to be comprehensive though in an unrealisable manner, or considered it must be occultly effective because they heard that it emanated from a member of the Hierarchy, was used by the occult Hierarchy of the planet, and was endorsed by those they trusted, or because—foremost reason of all—anything that could make the world nicer, more comfortable, happier and provide eventually easier living conditions must be at least tried; it did not take long to say and was probably well worth doing. But the dynamic power behind the effort in individual cases has often been personal self-interest, distress at the existing terrible and unhappy world conditions and an emotional reaction at pain and horror and fear. In many ways, this has been a normal reaction to world tension and was to be expected. The standard that I have indicated above is, I well know, too high and too impossible for the average aspirant, and most people are average. But the world need is such that they must now swing out of the normal and, for the sake of service, heighten their consciousness and work more definitely from a higher plane of awareness. |
Tuy nhiên, để khích lệ các bạn, tôi muốn nói rằng việc sử dụng nó đã thúc đẩy đáng kể các biến cố thế giới, mặc dù nó chắc chắn cũng đã khuấy động rất nhiều rắc rối và đưa chúng biểu hiện trên cõi hồng trần. Mục đích căn bản ích kỷ (dù không được nhận ra) của những người đã sử dụng Đại Khấn Nguyện đã phục vụ cho việc kích thích các mục đích ích kỷ của các lực lượng duy vật. Tôi muốn hỏi các bạn: Có bao nhiêu người đã sử dụng Đại Khấn Nguyện theo cách hoàn toàn tách rời, đầy mãnh lực tinh thần và với sự thấu hiểu trọn vẹn? Chỉ là một nhúm rất nhỏ. Có bao nhiêu người đã phát ra Đại Khấn Nguyện trong tinh thần bác ái thuần khiết và với một thái độ hoàn toàn [147] vô tư? Quả thật là rất ít. Có bao nhiêu người đã xướng nó qua trung gian của một trí tuệ được kiểm soát, với sự nhận biết và niềm tin sâu xa rằng nó thể hiện ý chí của Hành Tinh Thượng đế và vì vậy phải trở nên hữu hiệu một cách năng động trên cõi hồng trần? Hầu như không hơn một nhúm rất nhỏ. Phần lớn những người sử dụng nó bị hấp dẫn bởi tính mới lạ của nó, hoặc cảm thấy nó bao quát dù theo một cách không thể chứng nghiệm, hoặc cho rằng nó hẳn phải hữu hiệu một cách huyền bí vì họ nghe nói rằng nó phát xuất từ một thành viên của Thánh đoàn, được Huyền Giai huyền bí của hành tinh sử dụng, và được những người họ tin cậy tán thành, hoặc bởi vì—lý do hàng đầu hơn hết—bất cứ điều gì có thể làm cho thế giới dễ chịu hơn, thoải mái hơn, hạnh phúc hơn và cuối cùng đem lại điều kiện sống dễ dàng hơn thì ít nhất cũng phải được thử; nói nó cũng không mất bao lâu và có lẽ rất đáng làm. Nhưng quyền năng năng động đứng sau nỗ lực trong các trường hợp cá nhân thường là tư lợi cá nhân, sự đau khổ trước những điều kiện thế giới khủng khiếp và bất hạnh hiện có, và phản ứng cảm xúc trước đau đớn, kinh hoàng và sợ hãi. Theo nhiều cách, đây là một phản ứng bình thường trước sự căng thẳng của thế giới và là điều có thể dự đoán. Tiêu chuẩn mà tôi đã nêu trên, tôi biết rõ, là quá cao và quá bất khả đối với người chí nguyện trung bình, mà phần lớn mọi người đều là trung bình. Nhưng nhu cầu của thế giới là như vậy nên giờ đây họ phải vươn ra khỏi cái bình thường và, vì mục đích phụng sự, nâng cao tâm thức của mình và làm việc rõ rệt hơn từ một cõi nhận biết cao hơn. |
|
I am seeking today all over the world for a group of aspirants and disciples who can and will use the Great Invocation in the right way and who will be willing, consequently, to be trained to do so. In this way there will be a group upon the physical plane and in everyday life who will be able to combine their efforts with those of the Hierarchy and thus produce an effective use of the Great Invocation with its stupendous results. |
Ngày nay, trên khắp thế giới, tôi đang tìm kiếm một nhóm người chí nguyện và đệ tử có thể và sẽ sử dụng Đại Khấn Nguyện theo đúng cách, và do đó sẽ sẵn lòng được huấn luyện để làm như vậy. Bằng cách này sẽ có một nhóm trên cõi hồng trần và trong đời sống hằng ngày có thể kết hợp nỗ lực của họ với nỗ lực của Thánh đoàn và nhờ đó tạo ra việc sử dụng Đại Khấn Nguyện một cách hữu hiệu với những kết quả phi thường của nó. |
|
I would remind you that for the purpose of developing human will and human freedom of action, motivated by group consciousness, the Hierarchy chooses to produce the desired unfoldments and changes upon the physical plane [148] only through the medium of a conscious and awakening humanity. Such a humanity (and it is rapidly coming to this state of awareness through joint pain and suffering) will be impressed by and responsive to the directed thought of the guiding Elder Brothers of the race, but will be free at all times to reject that impression and to proceed as they personally may choose. There is no authoritative control over the minds of men assumed or cultivated by the Hierarchy; all aspirants and disciples are free to choose a different way to the one suggested if they so prefer, or if they are unconvinced of the advisability of the indicated method of work, or fear the arduous task of carrying forward the stage of the plan which has been indicated to them, or if they shirk the discipline implied and required by those who seek to make man correctly responsive to spiritual contact and teaching and so able rightly to interpret the intent of the Hierarchy. |
Tôi muốn nhắc các bạn rằng, nhằm mục đích phát triển ý chí con người và tự do hành động của con người, được thúc đẩy bởi tâm thức nhóm, Thánh đoàn chọn tạo ra những sự khai mở và thay đổi mong muốn trên cõi hồng trần [148] chỉ qua trung gian của một nhân loại hữu thức và đang thức tỉnh. Một nhân loại như thế (và nhân loại đang nhanh chóng tiến đến trạng thái nhận biết này qua đau đớn và khổ đau chung) sẽ được ghi nhận ấn tượng bởi và đáp ứng với tư tưởng được định hướng của các Huynh Trưởng dẫn dắt nhân loại, nhưng luôn luôn tự do bác bỏ ấn tượng đó và tiến hành theo cách mà cá nhân họ có thể chọn. Không có sự kiểm soát có thẩm quyền nào đối với trí tuệ con người được Thánh đoàn giả định hay nuôi dưỡng; mọi người chí nguyện và đệ tử đều tự do chọn một con đường khác với con đường được gợi ý nếu họ thích như vậy, hoặc nếu họ không bị thuyết phục về tính thích đáng của phương pháp làm việc đã được chỉ ra, hoặc sợ nhiệm vụ gian khổ là tiếp tục giai đoạn của kế hoạch đã được chỉ cho họ, hoặc nếu họ né tránh kỷ luật được hàm ý và đòi hỏi bởi những người tìm cách làm cho con người đáp ứng đúng đắn với sự tiếp xúc và giáo huấn tinh thần, nhờ đó có thể diễn giải đúng ý định của Thánh đoàn. |
|
Ability to use the Great Invocation so that it may be effective can be developed if those who are working along the lines of true meditation can make a beginning by the right use of the Sacred Word, which does not require such a sustained effort in occult concentration. They must learn to breathe it forth in the manner I have indicated above when speaking of the Great Invocation, and must also learn to gauge its results in their individual lives, thus viewing those lives from the angle of the trained spiritual Observer. |
Khả năng sử dụng Đại Khấn Nguyện sao cho nó có thể hữu hiệu có thể được phát triển nếu những người đang làm việc theo đường lối tham thiền chân chính có thể bắt đầu bằng việc sử dụng đúng đắn Linh từ Thiêng liêng, vốn không đòi hỏi một nỗ lực tập trung huyền bí bền bỉ như vậy. Họ phải học cách thở nó ra theo cách tôi đã chỉ ra ở trên khi nói về Đại Khấn Nguyện, và cũng phải học cách đo lường các kết quả của nó trong đời sống cá nhân của mình, nhờ đó nhìn đời sống ấy từ góc độ của Nhà Quan Sát tinh thần đã được rèn luyện. |
|
I would like to touch briefly and for a few minutes upon the significance of the entire process and method of invocation. |
Tôi muốn đề cập ngắn gọn trong ít phút đến ý nghĩa của toàn bộ tiến trình và phương pháp khẩn cầu. |
|
Much has been said and written in the past by the curious investigator and by those engaged in magical work of any kind anent the use of invocation as it applies to elemental forces and subhuman agents, with the consequent evocation of active agents and responsible energies of some kind or another upon the physical plane. What is oft forgotten is that this process consists entirely of the production of contact and subsequent control of the forces of earth, water, fire and air. This is one of the aims of the magical [149] workers but it concerns material nature and the control of substance and, in the realm of the lower occultism, is allied to the invocation and evocation of money, good health and the tangible material results as practised in the realm of mysticism by many schools of thought. Note this, for it holds a clue to the relation of occultism and mysticism upon the lower levels of consciousness and indicates the need of both groups to shift their focus of interest and their emphasis on to the higher and more spiritual values. The control of the natural forces and the evocation of the desired material rewards will arrive normally and inevitably but as secondary effects; they will depend also upon the karma or destiny of man recognised and considered, and the man will escape the danger of being himself controlled and motivated by the forces of materialism, letting in—as this condition must—much that is evil and dangerous. |
Trong quá khứ, nhà khảo cứu hiếu kỳ và những người dấn thân vào công việc huyền thuật dưới bất kỳ hình thức nào đã nói và viết rất nhiều về việc sử dụng sự khẩn cầu khi nó được áp dụng cho các mãnh lực hành khí và các tác nhân dưới nhân loại, với sự gợi lên tiếp theo của các tác nhân hoạt động và các năng lượng có trách nhiệm thuộc loại này hay loại khác trên cõi hồng trần. Điều thường bị quên là tiến trình này hoàn toàn bao gồm việc tạo ra sự tiếp xúc và sự kiểm soát tiếp theo đối với các lực của đất, nước, lửa và khí. Đây là một trong những mục tiêu của những người hoạt động huyền thuật [149] nhưng nó liên quan đến bản chất vật chất và sự kiểm soát chất liệu, và trong lĩnh vực huyền bí học thấp hơn, nó liên kết với sự khẩn cầu và gợi lên tiền bạc, sức khỏe tốt và các kết quả vật chất hữu hình như được thực hành trong lĩnh vực thần bí học bởi nhiều trường phái tư tưởng. Hãy lưu ý điều này, vì nó nắm giữ một đầu mối về mối liên hệ giữa huyền bí học và thần bí học trên các cấp độ thấp của tâm thức và chỉ ra nhu cầu của cả hai nhóm phải chuyển điểm tập trung quan tâm và sự nhấn mạnh của họ sang các giá trị cao hơn và tinh thần hơn. Sự kiểm soát các lực tự nhiên và sự gợi lên các phần thưởng vật chất mong muốn sẽ đến một cách bình thường và tất yếu, nhưng như những hiệu quả thứ yếu; chúng cũng sẽ tùy thuộc vào nghiệp quả hay số mệnh của con người được nhận biết và cân nhắc, và con người sẽ thoát khỏi nguy cơ bị chính các lực lượng duy vật kiểm soát và thúc đẩy, qua đó—như tình trạng này tất phải làm—đưa vào nhiều điều xấu xa và nguy hiểm. |
|
The invocation, evocation and resultant activity of the Hierarchy and of those Forces, Energies and Beings Who are not controlled by matter in any way, or by substance (the lower pole of manifestation) but Who are related to the positive spiritual pole is a new activity, and as yet relatively an untried experiment on the part of humanity and the formulas unknown. Of what use was it to impart the formulas to humanity when it was as yet controlled by the lower values and unable to lay hold upon the soul aspect and to function on that level of consciousness whereon the soul is found. Only those can use the formulas effectively who live, work, think and feel as souls, which means ever in group terms. |
Sự khẩn cầu, gợi lên và hoạt động kết quả của Thánh đoàn và của những Mãnh lực, Năng lượng và Đấng không bị vật chất kiểm soát theo bất kỳ cách nào, hay bởi chất liệu (cực thấp của biểu hiện), mà có liên hệ với cực tinh thần dương tính, là một hoạt động mới, và cho đến nay vẫn còn là một thử nghiệm tương đối chưa được nhân loại thực hiện, còn các công thức thì chưa được biết đến. Có ích gì khi truyền đạt các công thức cho nhân loại trong khi nhân loại vẫn còn bị các giá trị thấp hơn kiểm soát và không thể nắm bắt phương diện linh hồn cũng như hoạt động trên cấp độ tâm thức nơi linh hồn được tìm thấy? Chỉ những ai sống, làm việc, suy nghĩ và cảm nhận như các linh hồn, nghĩa là luôn luôn theo các thuật ngữ nhóm, mới có thể sử dụng các công thức một cách hữu hiệu. |
|
Today, however, there are those in every land who are rapidly becoming aware of the soul as a controlling factor in consciousness, who respond to world affairs and conditions increasingly as souls, and who can, therefore, be trained to work upon the physical plane. When this is so, it becomes possible to impart certain of these Words of Power and mantrams and to institute that new and potent activity which will bring the Hierarchy and Humanity into conscious and direct cooperation, as well as Shamballa and certain great [150] Forces which are interplanetary or solar, and also great cosmic Energies. It is now possible to discover those who—being free within themselves and who are learning rapidly to be detached and selfless—can institute and carry forward the task of invoking these higher spiritual forces, thus reinforcing the efforts of the Great White Lodge. It is this process of spiritual invocation which will motivate the new and coming world religion. This is not magical invocation, as man understands it, and which is concerned with the invocation and control of the substantial and elemental forces of the manifested world, but the invocation which will evoke contact with the spiritual Lives and the divine embodied Energies as well as with the Hierarchy (which is Their intermediary) in order to bring about the manifestation on earth of the soul of humanity and the qualities of the subjective and inner divine life which all outer forms veil. This is now for the first time possible in the life of the planet. |
Tuy nhiên, ngày nay có những người ở mọi quốc gia đang nhanh chóng trở nên nhận biết linh hồn như một yếu tố kiểm soát trong tâm thức, những người ngày càng đáp ứng với các sự vụ và điều kiện thế giới như các linh hồn, và vì vậy có thể được huấn luyện để làm việc trên cõi hồng trần. Khi điều này xảy ra, việc truyền đạt một số Quyền năng từ và mantram này trở nên khả thi, và thiết lập hoạt động mới và đầy mãnh lực đó, hoạt động sẽ đưa Thánh đoàn và Nhân loại vào sự hợp tác hữu thức và trực tiếp, cũng như đưa Shamballa và một số [150] Mãnh lực lớn mang tính liên hành tinh hay thái dương, và cả các Năng lượng vũ trụ vĩ đại, vào đó. Giờ đây có thể tìm ra những người—vì được tự do trong chính mình và đang nhanh chóng học cách tách rời và vô ngã—có thể khởi xướng và tiếp tục nhiệm vụ khẩn cầu các lực tinh thần cao hơn này, nhờ đó tăng cường các nỗ lực của Thánh đoàn. Chính tiến trình khẩn cầu tinh thần này sẽ thúc đẩy tôn giáo thế giới mới đang đến. Đây không phải là sự khẩn cầu huyền thuật như con người hiểu, vốn liên quan đến việc khẩn cầu và kiểm soát các lực chất liệu và hành khí của thế giới biểu hiện, mà là sự khẩn cầu sẽ gợi lên sự tiếp xúc với các Sự Sống tinh thần và các Năng lượng thiêng liêng nhập thể cũng như với Thánh đoàn (là trung gian của Các Ngài), nhằm đem lại sự biểu hiện trên trái đất của linh hồn nhân loại và các phẩm tính của sự sống thiêng liêng chủ quan và bên trong mà mọi hình tướng bên ngoài đều che phủ. Điều này hiện nay lần đầu tiên trở nên khả thi trong đời sống của hành tinh. |
|
The objective of these processes of invocation is threefold: |
Mục tiêu của các tiến trình khẩn cầu này là tam phân: |
|
1. To invoke the soul of humanity and so bring about its freer expression upon the physical plane. This can be brought about in two ways: |
1. Khẩn cầu linh hồn của nhân loại và nhờ đó đem lại sự biểu hiện tự do hơn của nó trên cõi hồng trần. Điều này có thể được thực hiện theo hai cách: |
|
a. The stimulation of the souls of men everywhere by the increased inflow of the Christ principle of love, which will express itself in world understanding, goodwill, cooperation, and peace. |
a. Kích thích các linh hồn của con người ở khắp nơi bằng sự tuôn đổ gia tăng của nguyên khí Christ của bác ái, nguyên khí sẽ biểu hiện thành sự thấu hiểu thế giới, thiện chí, hợp tác và hòa bình. |
|
b. The setting up of a vibration within humanity itself of such potency that it will magnetically attract a response from the waiting, watching Hierarchy and bring about a much closer and likewise conscious rapport between the two planetary centres, the Hierarchy and Humanity. |
b. Thiết lập trong chính nhân loại một rung động có mãnh lực đến mức nó sẽ thu hút bằng từ tính một sự đáp ứng từ Thánh đoàn đang chờ đợi và quan sát, và đem lại một mối tương giao gần gũi hơn nhiều và cũng hữu thức giữa hai trung tâm hành tinh, Thánh đoàn và Nhân loại. |
|
This is called the invocation of the Great White Lodge. Much of this invocation of the Christ principle is carried forward by true believers in all lands (Christian and non-Christian) who address themselves to the Christ, no matter under what name they recognise Him and then, with love in their hearts to Him and their fellowmen, seek to ameliorate [151] world conditions, end hatred and misery and demonstrate goodwill everywhere. This refers to the first stage of evoking the response to love and understanding in human hearts and minds as the result of the invocation of the Christ and of the Christ principle. Ponder on these words and see on every hand the process going forward. Esoteric students are apt to overestimate the effectiveness of the work that they are doing. The focussed aspiration and the unselfish struggle to serve which characterises millions of people in the world who do pray to, follow and seek to invoke the great spiritual head of the Hierarchy, the Master of all Masters, the Christ, has now reached a point of true and real effectiveness. It may be, and usually is, untinged by much mental activity or intellectual perception of the implications or the scientific nature of their procedure but is, for that very reason, potent. Esoteric and occult students demonstrate almost unavoidably a divided focus, owing to the activity of the mind and their failure as yet to blend perfectly both soul and personality. This leads to the dissipation of energy and oft renders their good intent futile. But, out of these groups are rapidly emerging those who can work in the right way and the results will be increasingly effective. |
Điều này được gọi là sự khẩn cầu Thánh đoàn. Phần lớn sự khẩn cầu nguyên khí Christ này được thực hiện bởi những tín đồ chân chính ở mọi quốc gia (Cơ Đốc giáo và phi Cơ Đốc giáo), những người hướng mình đến Đức Christ, bất kể họ nhận biết Ngài dưới danh xưng nào, rồi với bác ái trong tim dành cho Ngài và cho đồng loại, tìm cách cải thiện [151] các điều kiện thế giới, chấm dứt hận thù và khốn khổ, và biểu lộ thiện chí ở khắp nơi. Điều này liên quan đến giai đoạn đầu tiên của việc gợi lên sự đáp ứng đối với bác ái và thấu hiểu trong tim và trí tuệ con người như là kết quả của sự khẩn cầu Đức Christ và nguyên khí Christ. Hãy suy ngẫm về những lời này và nhìn thấy tiến trình đang diễn ra ở khắp nơi. Các đạo sinh huyền bí học có khuynh hướng đánh giá quá cao hiệu quả của công việc mà họ đang làm. Khát vọng tập trung và cuộc đấu tranh vô ngã để phụng sự, vốn đặc trưng cho hàng triệu người trên thế giới đang cầu nguyện với, đi theo và tìm cách khẩn cầu vị thủ lãnh tinh thần vĩ đại của Thánh đoàn, Chân sư của mọi Chân sư, Đức Christ, nay đã đạt đến một điểm hữu hiệu chân thật và thực sự. Điều đó có thể, và thường là, không pha trộn nhiều hoạt động trí tuệ hay nhận thức trí năng về các hàm ý hoặc bản chất khoa học của thủ tục của họ, nhưng chính vì lý do đó mà lại đầy mãnh lực. Các đạo sinh bí truyền và huyền bí học hầu như không tránh khỏi việc biểu lộ một điểm tập trung bị phân đôi, do hoạt động của trí tuệ và do họ chưa thể dung hợp hoàn hảo cả linh hồn lẫn phàm ngã. Điều này dẫn đến sự làm tiêu tan năng lượng và thường khiến thiện ý của họ trở nên vô hiệu. Nhưng từ các nhóm này đang nhanh chóng xuất hiện những người có thể làm việc theo đúng cách, và các kết quả sẽ ngày càng hữu hiệu. |
|
The evocation of the Hierarchy through right invocation is proceeding also rapidly, producing much activity and response from the Hierarchy of Light. |
Sự gợi lên Thánh đoàn qua sự khẩn cầu đúng đắn cũng đang tiến triển nhanh chóng, tạo ra nhiều hoạt động và đáp ứng từ Thánh đoàn Ánh sáng. |
|
2. To set up a closer relation with the third, major divine centre on our planet, Shamballa. From that centre, the will of God goes forth and the power of God becomes the messenger of His will. Hitherto that highest form of spiritual energy has only reached humanity (as I have before told you) via the Hierarchy. Today, it is deemed desirable that it should be ascertained whether there are enough selfless and group-conscious people upon the planet to warrant a direct inflow of that higher energy to humanity, thus producing upon the physical plane a hastening of the divine plan and a more rapid working out of that which is to be. This direct contact can be produced if the Great Invocation [152] is used by the world aspirants and disciples in collaboration with the Hierarchy. Hence the emphasis I have laid upon all of you using this Great Invocation as souls and as those who are in touch in some small measure with the Hierarchy. When the note of humanity and the note of the Hierarchy are synchronised by the use of the Great Invocation, there will come a dynamic and immediate response from Shamballa, and that will rapidly take place which the Hierarchy and the world disciples desire to see. |
2. Thiết lập một mối liên hệ gần gũi hơn với trung tâm thiêng liêng lớn thứ ba trên hành tinh chúng ta, Shamballa. Từ trung tâm đó, Ý Chí của Thượng Đế phát ra và quyền năng của Thượng Đế trở thành sứ giả của Ý Chí Ngài. Cho đến nay, hình thức năng lượng tinh thần cao nhất đó chỉ đến được với nhân loại (như tôi đã nói với các bạn trước đây) qua Thánh đoàn. Ngày nay, người ta cho là đáng mong muốn phải xác định xem có đủ số người vô ngã và có tâm thức nhóm trên hành tinh để bảo đảm cho một sự tuôn đổ trực tiếp của năng lượng cao hơn đó vào nhân loại hay không, nhờ đó tạo ra trên cõi hồng trần [152] một sự thúc đẩy nhanh hơn của Thiên Cơ thiêng liêng và một sự triển khai mau lẹ hơn của điều sẽ phải là. Sự tiếp xúc trực tiếp này có thể được tạo ra nếu Đại Khấn Nguyện được các người chí nguyện và đệ tử thế giới sử dụng trong sự cộng tác với Thánh đoàn. Do đó mà tôi đã nhấn mạnh việc tất cả các bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện này như các linh hồn và như những người có tiếp xúc ở một mức độ nào đó với Thánh đoàn. Khi chủ âm của nhân loại và chủ âm của Thánh đoàn được đồng bộ hóa bằng việc sử dụng Đại Khấn Nguyện, sẽ có một sự đáp ứng năng động và tức thời từ Shamballa, và điều mà Thánh đoàn và các đệ tử thế giới mong muốn thấy sẽ nhanh chóng diễn ra. |
|
The primary result of the correct use of the Great Invocation (as far as humanity is concerned) is acceleration. As I have also earlier pointed out, such an acceleration carries with it its own risks, and consequently we have the appearance of the truly terrific problems and the dire happenings which have for many years overtaken the aspirants and the disciples in the world. They are by this process learning the work of world salvage and becoming gradually fitted for the post of world saviour and to be absorbers of evil karma. You might here quite correctly point out that all the world is now suffering and that the past twenty-five years have been those of a general and most unhappy world karma. Wherein then lies the distinction between the pain and suffering of the world in general and that of aspirants and disciples in particular? I would reply that aspirants and disciples are conscious of this karma and its results in all three vehicles simultaneously—in the mind as well as in the emotional body with resultant physical reactions. This produces an intensification, retrospection and anticipation which the larger group does not register, involving as it does the entire personality. To this, in the case of the disciple in particular, must be added sensitivity and the ability to tune in and to absorb world pain, world reactions, and world conditions, thereby greatly increasing that which they may have individually to bear. The capacity to shoulder and register group pain as well as to bear his own personal karma greatly aggravates the disciple’s task. |
Kết quả chủ yếu của việc sử dụng đúng đắn Đại Khấn Nguyện (xét theo phương diện nhân loại) là sự gia tốc. Như tôi cũng đã chỉ ra trước đây, một sự gia tốc như vậy mang theo những rủi ro riêng của nó, và do đó chúng ta có sự xuất hiện của những vấn đề thực sự khủng khiếp và những biến cố thảm khốc đã ập đến các người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới trong nhiều năm qua. Qua tiến trình này, họ đang học công việc cứu vớt thế giới và dần dần trở nên thích hợp với cương vị cứu tinh thế giới và trở thành những người hấp thụ nghiệp quả xấu. Ở đây, các bạn hoàn toàn có thể chỉ ra rằng toàn thế giới hiện đang đau khổ và hai mươi lăm năm qua là những năm của một nghiệp quả thế giới chung và hết sức bất hạnh. Vậy thì sự khác biệt giữa đau đớn và khổ đau của thế giới nói chung với của các người chí nguyện và đệ tử nói riêng nằm ở đâu? Tôi xin trả lời rằng các người chí nguyện và đệ tử ý thức được nghiệp quả này và các kết quả của nó trong cả ba vận cụ cùng một lúc—trong trí tuệ cũng như trong thể cảm dục, với các phản ứng hồng trần phát sinh. Điều này tạo ra một sự tăng cường, hồi cố và dự cảm mà nhóm lớn hơn không ghi nhận, vì nó liên quan đến toàn bộ phàm ngã. Thêm vào đó, trong trường hợp của đệ tử nói riêng, còn phải kể đến tính nhạy cảm và khả năng chỉnh hợp và hấp thụ đau khổ của thế giới, các phản ứng của thế giới và các điều kiện của thế giới, nhờ đó làm gia tăng rất nhiều điều mà cá nhân họ có thể phải gánh chịu. Năng lực gánh vác và ghi nhận đau khổ của nhóm cũng như chịu đựng nghiệp quả cá nhân của chính mình làm cho nhiệm vụ của đệ tử trở nên nặng nề hơn rất nhiều. |
|
When, therefore, I call the world aspirants and disciples to the use of the Great Invocation, I call them also to the [153] “fellowship of Christ’s sufferings”; this is ever preliminary to the resurrection or to the release of the human consciousness into higher realms of spiritual awareness. The Forces which are contacted by the use of this Great Invocation, in conjunction with trained hierarchical effort, are thereby attracted or magnetically impelled to respond and then potent energies can be sent direct to the waiting planetary centre, Humanity. Two effects of an immediate nature are consequently induced over a specific period of time: |
Vì vậy, khi tôi kêu gọi các người chí nguyện và đệ tử thế giới sử dụng Đại Khấn Nguyện, tôi cũng kêu gọi họ bước vào [153] “sự thông công trong những đau khổ của Đức Christ”; điều này luôn luôn là bước chuẩn bị cho sự phục sinh hay cho sự giải phóng tâm thức con người vào các lĩnh vực cao hơn của nhận biết tinh thần. Các Mãnh lực được tiếp xúc nhờ việc sử dụng Đại Khấn Nguyện này, kết hợp với nỗ lực Thánh đoàn đã được huấn luyện, do đó bị thu hút hay bị thôi thúc bằng từ tính để đáp ứng, và rồi các năng lượng đầy mãnh lực có thể được gửi trực tiếp đến trung tâm hành tinh đang chờ đợi là Nhân loại. Vì vậy, trong một khoảng thời gian nhất định, hai hiệu quả có tính tức thời được tạo ra: |
|
a. The energy of the Will of God serves to awaken the illumined but latent will-to-good in men and this, once dynamically awakened, will flower forth as goodwill. There is so much of this which remains latent and unexpressed because the will to demonstrate goodwill activity has not been aroused; it will be automatically aroused in the general public once the world disciples have invoked and evoked the inflow of this higher dynamic energy. Humanity awaits this and its arrival is dependent upon the efforts of those who know what should be done and who should now make their spiritual theories facts in outer expression. Nothing can arrest the eventual progress of this will-to-good and its planned activity any more than a bud which has started to unfold its petals in the light of the sun and subject to the proper stimulation can revert again to the condition of a tightly closed bud, potential but unexpressed. The expression of what has been potential will be the result of the impact of first ray force, of the will-to-good at this time, induced by the efforts of the world disciples. |
a. Năng lượng của Ý Chí của Thượng Đế phục vụ để đánh thức ý chí-hướng Thiện được soi sáng nhưng còn tiềm ẩn trong con người, và điều này, một khi được đánh thức một cách năng động, sẽ nở hoa thành thiện chí. Có quá nhiều điều như thế vẫn còn tiềm ẩn và không được biểu lộ vì ý chí biểu lộ hoạt động thiện chí chưa được khơi dậy; nó sẽ tự động được khơi dậy trong công chúng nói chung một khi các đệ tử thế giới đã khẩn cầu và gợi lên sự tuôn đổ của năng lượng năng động cao hơn này. Nhân loại đang chờ đợi điều này, và sự xuất hiện của nó tùy thuộc vào nỗ lực của những người biết điều gì cần phải làm và giờ đây phải biến các lý thuyết tinh thần của mình thành sự kiện trong biểu hiện bên ngoài. Không gì có thể ngăn cản sự tiến triển cuối cùng của ý chí-hướng Thiện này và hoạt động đã được hoạch định của nó, cũng như một nụ hoa đã bắt đầu hé mở cánh dưới ánh sáng mặt trời và dưới sự kích thích thích hợp thì không thể quay trở lại tình trạng của một nụ khép kín chặt chẽ, tiềm năng nhưng chưa biểu lộ. Sự biểu lộ của điều vốn là tiềm năng sẽ là kết quả của tác động của mãnh lực cung một, của ý chí-hướng Thiện vào lúc này, được gây ra bởi các nỗ lực của các đệ tử thế giới. |
|
b. The second effect will be the forming or constitution of a planetary triangle or recognisable triad which will be the correspondence between the three planetary centres to the spiritual triad of Monad, Soul and Personality (the atma-buddhi-manas of the theosophical literature). Hitherto the word alignment has best described the planetary situation; there has been a straight line along which energy has poured from Shamballa to the [154] Hierarchy and from the Hierarchy to Humanity, but this has meant no direct interplay between Humanity and Shamballa. If the Great Invocation can be rendered effective, humanity can then set up a direct relationship with Shamballa. The resultant triangle of force-relationship will promote the circulation of spiritual energies between the three centres from point to point so that there will be a triple relation. A planetary process of give and take between all three will then be established, and the emphasis upon giving will be far more pronounced. |
b. Hiệu quả thứ hai sẽ là sự hình thành hay cấu tạo của một tam giác hành tinh hay một tam nguyên tinh thần có thể nhận biết, sẽ là sự tương ứng giữa ba trung tâm hành tinh với Tam Nguyên Tinh Thần của chân thần, linh hồn và phàm ngã (atma-buddhi-manas trong văn liệu Thông Thiên Học). Cho đến nay, từ chỉnh hợp mô tả đúng nhất tình hình hành tinh; đã có một đường thẳng dọc theo đó năng lượng tuôn đổ từ Shamballa đến [154] Thánh đoàn và từ Thánh đoàn đến Nhân loại, nhưng điều này không có nghĩa là có sự tương tác trực tiếp giữa Nhân loại và Shamballa. Nếu Đại Khấn Nguyện có thể được làm cho hữu hiệu, khi đó nhân loại có thể thiết lập một mối liên hệ trực tiếp với Shamballa. Tam giác tương quan lực phát sinh sẽ thúc đẩy sự lưu thông các năng lượng tinh thần giữa ba trung tâm từ điểm này sang điểm khác để sẽ có một mối liên hệ tam phân. Khi đó, một tiến trình hành tinh của cho và nhận giữa cả ba sẽ được thiết lập, và sự nhấn mạnh vào cho đi sẽ rõ rệt hơn nhiều. |
|
You will now see a little of the occult objective which lay behind the words which I asked you all to repeat in connection with the Great Invocation: |
Giờ đây các bạn sẽ thấy phần nào mục tiêu huyền bí nằm sau những lời mà tôi đã yêu cầu tất cả các bạn lặp lại liên quan đến Đại Khấn Nguyện: |
|
We know, O Lord of Life and Love, |
Chúng con biết, ôi Chúa Tể của Sự sống và Bác ái, |
|
about the need; |
về nhu cầu; |
|
Touch our hearts anew with love, |
Xin chạm lại trái tim chúng con bằng bác ái, |
|
that we too may love and give. |
để chúng con cũng có thể yêu thương và cho đi. |
|
It is this thought of the free circulation of energy between the three world centres which motivates this mantric sentence. A study of this will show you how the implication and significance of apparently simple words may be far deeper and far more wide-reaching in effect than you have been able to conceive. A recognition of this and a creative impassioned use of the imagination may serve to add greater potency to your thought and to your personal will-to-good as you use the Great Invocation and its subsidiary mantram. The keynote of the first aspect is Sacrifice, and of the second, Love. The words therefore “that we too may love and give” can produce a contact between the two. |
Chính tư tưởng về sự lưu thông tự do của năng lượng giữa ba trung tâm thế giới thúc đẩy câu mantram này. Nghiên cứu điều này sẽ cho các bạn thấy hàm ý và ý nghĩa của những từ ngữ có vẻ đơn giản có thể sâu xa hơn và có hiệu quả rộng lớn hơn nhiều so với điều các bạn có thể hình dung. Sự nhận biết điều này và việc sử dụng sự tưởng tượng một cách sáng tạo, đầy nhiệt thành có thể giúp tăng thêm mãnh lực cho tư tưởng của các bạn và cho ý chí-hướng Thiện cá nhân của các bạn khi các bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện và mantram phụ thuộc của nó. Chủ âm của phương diện thứ nhất là Hi sinh, và của phương diện thứ hai là Bác ái. Vì vậy, những lời “để chúng con cũng có thể yêu thương và cho đi” có thể tạo ra một sự tiếp xúc giữa hai phương diện ấy. |
|
A clue also to the significance of pain and of suffering will gradually emerge in the world consciousness as study is made of the above statements. Suffering is the most effective and most rapid way of evoking world understanding and of burning away the barriers which human beings have set up to the expression of the will-to-good. One of the most beneficent results of the inflow of the Shamballa force through [155] the focussed demand of the aspirants and world disciples will be the intelligent recognition of the uses of pain and suffering. It is this truth—distorted and selfishly misapplied and interpreted—which has led certain types of people and certain types of governing bodies among the nations to take the position that the greater the suffering inflicted (as, for instance, in war time) and the greater the process of terrorism, the quicker the end which is desirable and right; they hold often that the more dire the effects of planned conditions, the more rapidly will the correct consummation be achieved. It is not, however, the duty or right of man to turn first ray force to selfish ends or material objectives; responsibility cannot be veiled behind specious and distorted half truths and evil cannot be done in order that good may come. What is applied by the Lord of the World in Shamballa under the motivation of love, wisdom and selflessness with a sure touch and a judgment as to times and seasons cannot be so used by those motivated by personality objectives, either on an individual or a personality scale (for nations as well as individuals have personalities). Ponder on this and seek enlightenment from the soul. |
Một đầu mối về ý nghĩa của đau đớn và khổ đau cũng sẽ dần dần xuất hiện trong tâm thức thế giới khi người ta nghiên cứu các phát biểu trên. Khổ đau là con đường hữu hiệu nhất và nhanh nhất để gợi lên sự thấu hiểu thế giới và để đốt cháy các rào cản mà con người đã dựng lên đối với sự biểu lộ của ý chí-hướng Thiện. Một trong những kết quả từ thiện nhất của sự tuôn đổ mãnh lực Shamballa qua [155] lời đòi hỏi tập trung của các người chí nguyện và các đệ tử thế giới sẽ là sự nhận biết thông minh về công dụng của đau đớn và khổ đau. Chính chân lý này—bị bóp méo và bị áp dụng, diễn giải một cách ích kỷ—đã khiến một số loại người và một số loại cơ quan cai trị trong các quốc gia giữ lập trường rằng càng gây ra nhiều đau khổ (chẳng hạn trong thời chiến) và tiến trình khủng bố càng lớn thì mục đích mong muốn và đúng đắn sẽ càng nhanh đạt được; họ thường cho rằng các hậu quả của những điều kiện được hoạch định càng khủng khiếp thì sự hoàn tất đúng đắn sẽ càng nhanh được thực hiện. Tuy nhiên, không phải là bổn phận hay quyền của con người khi chuyển mãnh lực cung một sang các mục đích ích kỷ hay các mục tiêu vật chất; trách nhiệm không thể được che đậy sau những nửa sự thật có vẻ hợp lý nhưng bị bóp méo, và điều ác không thể được làm ra để điều thiện có thể đến. Điều được Đức Chúa Tể Thế Giới áp dụng tại Shamballa dưới động cơ bác ái, minh triết và vô ngã, với sự chuẩn xác chắc chắn và sự phán đoán về thời điểm và chu kỳ, không thể được sử dụng như thế bởi những ai bị thúc đẩy bởi các mục tiêu của phàm ngã, dù ở quy mô cá nhân hay quy mô phàm ngã (vì các quốc gia cũng như các cá nhân đều có phàm ngã). Hãy suy ngẫm về điều này và tìm kiếm sự soi sáng từ linh hồn. |
|
3. When the Great Invocation is thus rightly used and the world centres are consequently consciously interrelated, then certain extra-planetary Energies can be called in by the Ruler of Shamballa to aid in the re-adjustments required for the New Age and its coming civilisation. These Forces—spiritual and potent in nature—exist in two categories: solar Forces which are inter-planetary and cosmic Forces which enter into our solar system via Jupiter as the transmitter of divine energies from Virgo and Aquarius which Jupiter esoterically governs. Virgo is esoterically the mother of the Christ child and is, therefore, the emanator of energies which nourish and aid the growth of the Christ consciousness; Aquarius is the coming expression of the group consciousness which is the first and immediate revelation of the ever present Christ consciousness on a large scale in humanity. Jupiter also, exoterically and from the angle of orthodox [156] astrology, rules Sagittarius, the sign of discipleship, and also Pisces, the sign of the world saviours. The implications will, therefore, be obvious to real students. |
3. Khi Đại Khấn Nguyện được sử dụng đúng đắn như vậy và các trung tâm thế giới do đó được liên hệ với nhau một cách hữu thức, thì một số Năng lượng ngoài hành tinh có thể được chủ tinh của Shamballa kêu gọi để trợ giúp trong các sự điều chỉnh cần thiết cho Kỷ Nguyên Mới và nền văn minh đang đến của nó. Các Mãnh lực này—mang bản chất tinh thần và đầy mãnh lực—tồn tại trong hai loại: các Mãnh lực thái dương mang tính liên hành tinh và các Mãnh lực vũ trụ đi vào hệ mặt trời của chúng ta qua Sao Mộc như là đấng truyền dẫn các năng lượng thiêng liêng từ Xử Nữ và Bảo Bình mà Sao Mộc một cách huyền bí cai quản. Xử Nữ về mặt huyền bí là mẹ của hài nhi Christ và vì vậy là đấng phát xạ các năng lượng nuôi dưỡng và trợ giúp sự tăng trưởng của tâm thức Christ; Bảo Bình là biểu hiện sắp đến của tâm thức nhóm, vốn là sự mặc khải đầu tiên và trực tiếp của tâm thức Christ luôn hiện diện trên quy mô lớn trong nhân loại. Sao Mộc cũng, theo ngoại môn và từ góc độ của [156] chiêm tinh học chính thống, cai quản Nhân Mã, dấu hiệu của địa vị đệ tử, và cả Song Ngư, dấu hiệu của các cứu tinh thế giới. Vì vậy, các hàm ý sẽ hiển nhiên đối với các đạo sinh chân chính. |
|
In considering these great Energies, there is little you can do beyond accepting—if you care to do so—my statements anent them, regarding them as interesting and simply explanatory hypotheses. There is little that you can do (or I either) to arrive at first hand knowledge of the facts along this line. Few even of the Members of the Hierarchy are conscious of the impact of force from extra-solar centres or reservoirs of spiritual force. Only the group of Contemplatives in the Hierarchy which are given the exoteric name of Nirmanakayas are responsive to Their influence in any conscious manner and then only when that influence has been stepped down by certain powerful agencies in Shamballa. It is not necessary for me or for you to say more anent Them though I shall touch upon Them again later in this article. |
Khi xem xét các Năng lượng vĩ đại này, các bạn hầu như không thể làm gì ngoài việc chấp nhận—nếu các bạn muốn làm như vậy—những phát biểu của tôi về chúng, coi chúng như những giả thuyết thú vị và chỉ có tính giải thích. Có rất ít điều các bạn có thể làm (và tôi cũng vậy) để đạt tới tri thức trực tiếp về các sự kiện theo đường hướng này. Ngay cả rất ít Thành viên của Thánh đoàn cũng ý thức được tác động của mãnh lực từ các trung tâm ngoài thái dương hay các kho chứa mãnh lực tinh thần. Chỉ có nhóm các Đấng Chiêm Ngưỡng trong Thánh đoàn, những vị được gọi theo ngoại môn là các Nirmanakayas, mới đáp ứng với ảnh hưởng của Các Ngài theo một cách hữu thức nào đó, và ngay cả như vậy cũng chỉ khi ảnh hưởng đó đã được giảm xuống bởi một số tác nhân đầy quyền năng trong Shamballa. Tôi hay các bạn không cần nói thêm gì về Các Ngài, mặc dù sau này trong bài viết này tôi sẽ lại đề cập đến Các Ngài. |
|
Prior to taking up the Great Invocation sentence by sentence, I would like briefly to touch upon the needed procedure as you attempt to say it correctly and effectively: |
Trước khi bắt đầu xét Đại Khấn Nguyện từng câu một, tôi muốn ngắn gọn đề cập đến thủ tục cần thiết khi các bạn cố gắng đọc nó một cách đúng đắn và hữu hiệu: |
|
Forget not, first of all, the necessary process of alignment wherein you do two things: |
Trước hết, đừng quên tiến trình chỉnh hợp cần thiết, trong đó các bạn làm hai việc: |
|
1. Endeavour consciously (which for most of you at present means imaginatively) to align or link soul, mind and brain so that there is a direct and free inflow from the higher Self to the lower. |
1. Cố gắng một cách hữu thức (điều này đối với phần lớn các bạn hiện nay có nghĩa là bằng sự hình dung) chỉnh hợp hay nối kết linh hồn, trí tuệ và bộ não để có một sự tuôn đổ trực tiếp và tự do từ Bản Ngã Cao Siêu xuống phàm ngã. |
|
2. Endeavour to realise or register your relation to the Hierarchy, via your own group of disciples (if you know which it is) or in relation to whichever one of the Great Ones or Masters appeals the most to your heart and mind. If neither makes any appeal to your consciousness, the same results will be achieved if you seek to link up with the Christ. |
2. Cố gắng chứng nghiệm hay ghi nhận mối liên hệ của các bạn với Thánh đoàn, qua nhóm đệ tử riêng của các bạn (nếu các bạn biết đó là nhóm nào) hoặc trong mối liên hệ với bất kỳ một Đấng Cao Cả hay Chân sư nào hấp dẫn nhất đối với tim và trí tuệ của các bạn. Nếu cả hai điều đó đều không hấp dẫn tâm thức của các bạn, thì cũng sẽ đạt được cùng kết quả nếu các bạn tìm cách nối kết với Đức Christ. |
|
I might here point out that the difference between the linking up that you can effectively do and that which is done by a Member of the Hierarchy itself is that you link up [157] via the Hierarchy and then through the medium of the Great Invocation reach forth to Shamballa whereas the initiates and the Masters link Themselves directly with Shamballa and use the Great Invocation in a manner totally different to that in which you use it. There is for you and the average aspirant no direct contact, and that is definitely fortunate for you. I may not further elucidate. |
Ở đây, tôi có thể chỉ ra rằng sự khác biệt giữa sự nối kết mà các bạn có thể thực hiện một cách hữu hiệu và sự nối kết được thực hiện bởi chính một Thành viên của Thánh đoàn là ở chỗ các bạn nối kết [157] qua Thánh đoàn rồi qua trung gian của Đại Khấn Nguyện vươn tới Shamballa, trong khi các điểm đạo đồ và các Chân sư nối kết trực tiếp với Shamballa và sử dụng Đại Khấn Nguyện theo một cách hoàn toàn khác với cách các bạn sử dụng nó. Đối với các bạn và người chí nguyện trung bình, không có sự tiếp xúc trực tiếp, và điều đó rõ ràng là may mắn cho các bạn. Tôi không thể làm sáng tỏ thêm. |
|
The second thing which you do is then to focus yourself in as high a consciousness as you are capable of achieving. Then you aim at complete self-forgetfulness and when that has been gained you direct your attention to the dual activity of the true disciple to which I earlier referred, i.e., the task of emphasising a significant understanding of the implications and meanings of the words said and of the results to be achieved. There comes next the sending forth of the words with their hidden potency and this must be done by you as a soul, using the mind and the brain as agents. |
Điều thứ hai các bạn làm là sau đó tập trung chính mình vào một tâm thức cao nhất mà các bạn có khả năng đạt được. Rồi các bạn nhắm đến sự quên mình hoàn toàn, và khi điều đó đã đạt được, các bạn hướng sự chú ý của mình đến hoạt động kép của đệ tử chân chính mà tôi đã nói đến trước đây, tức là nhiệm vụ nhấn mạnh một sự thấu hiểu có ý nghĩa về các hàm ý và ý nghĩa của những lời được nói ra và về các kết quả cần đạt được. Tiếp theo là việc phát ra các lời với mãnh lực ẩn tàng của chúng, và điều này phải được các bạn thực hiện như một linh hồn, sử dụng trí tuệ và bộ não như các tác nhân. |
|
Integration, conscious activity, and the expression of the work to be done upon the physical plane will cover the entire story. These rightly carried forward will prove effective. Would it clarify matters for you if I state that: |
Sự tích hợp, hoạt động hữu thức, và sự biểu lộ công việc cần được thực hiện trên cõi hồng trần sẽ bao quát toàn bộ câu chuyện. Nếu được tiến hành đúng đắn, những điều này sẽ chứng tỏ là hữu hiệu. Liệu điều này có làm sáng tỏ vấn đề cho các bạn không nếu tôi nói rằng: |
|
1. Integration is a correspondence in consciousness to the Inhalation of the breath. This is the withdrawing of the consciousness to as high a point as possible. |
1. Sự tích hợp là một sự tương ứng trong tâm thức với sự Hít vào của hơi thở. Đây là sự rút tâm thức về một điểm cao nhất có thể. |
|
2. Conscious activity corresponds to the right use of the Interlude between inhalation and exhalation. It involves the recognition of the forces contacted and their purpose. |
2. Hoạt động hữu thức tương ứng với việc sử dụng đúng đắn Khoảng Dừng giữa hít vào và thở ra. Nó bao hàm sự nhận biết các mãnh lực được tiếp xúc và mục đích của chúng. |
|
3. Right expression corresponds to the period of Exhalation. This is the sending forth of the forces contacted by an act of the will in order that they may produce the desired ends. |
3. Sự biểu lộ đúng đắn tương ứng với giai đoạn Thở ra. Đây là việc phát ra các mãnh lực đã được tiếp xúc bằng một hành động của ý chí để chúng có thể tạo ra các mục đích mong muốn. |
|
Forget not that this has to be a group endeavour and must be carried forward in cooperation with the Hierarchy. It involves also the recognition that the soul is one and that there is no such thing as my soul—only our soul. |
Đừng quên rằng đây phải là một nỗ lực nhóm và phải được tiến hành trong sự hợp tác với Thánh đoàn. Nó cũng bao hàm sự nhận biết rằng linh hồn là một và không có cái gọi là linh hồn của tôi—chỉ có linh hồn của chúng ta. |
|
In considering the five sentences which form what might [158] be called the mandate of the Great Invocation (see page 144), I would like, first of all, to point out a few underlying and basic ideas. |
Khi xem xét năm câu tạo thành điều có thể [158] được gọi là mệnh lệnh của Đại Khấn Nguyện (xem trang 144), trước hết tôi muốn chỉ ra một vài ý tưởng nền tảng và căn bản. |
|
This Great Invocation has been used by the Hierarchy ever since the year 1425 A.D. though it is thousands of years older than that. Owing, however, to the unreadiness of humanity to cooperate in its use, the results have been delayed and are regarded as “hovering.” I know not how else to express the results already achieved. Today, they can precipitate, if right cooperation can be extended by humanity, and such cooperation now seems immediately possible. |
Đại Khấn Nguyện này đã được Thánh đoàn sử dụng kể từ năm 1425 sau Công nguyên, mặc dù nó cổ xưa hơn thế hàng ngàn năm. Tuy nhiên, do nhân loại chưa sẵn sàng hợp tác trong việc sử dụng nó, các kết quả đã bị trì hoãn và được xem là “lơ lửng.” Tôi không biết phải diễn đạt các kết quả đã đạt được bằng cách nào khác. Ngày nay, chúng có thể ngưng tụ, nếu nhân loại có thể mở rộng sự hợp tác đúng đắn, và sự hợp tác như thế hiện nay dường như có thể xảy ra ngay lập tức. |
|
The first phase, Let the Forces of Light bring illumination to mankind, definitely invokes potencies which are to be found upon monadic levels of consciousness and upon what is occultly called the second plane of divine manifestation. These Forces include the Lord of the World and the Representatives of the seven sacred planets Who are spoken of in the Christian Bible as the “seven Spirits before the Throne of God.” They include also the three Agents of the Divine Triplicity Who are known, esoterically and in the East as the three Kumaras, or the three Buddhas of Activity. |
Giai đoạn đầu tiên, Cầu xin các Mãnh lực Ánh sáng đem soi sáng đến cho nhân loại, rõ ràng khẩn cầu các quyền năng được tìm thấy trên các cấp độ tâm thức chân thần và trên điều được gọi một cách huyền bí là cõi thứ hai của biểu hiện thiêng liêng. Các Mãnh lực này bao gồm Đức Chúa Tể Thế Giới và các Đại Diện của bảy hành tinh thiêng liêng, những Đấng được nói đến trong Kinh Thánh Cơ Đốc là “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế.” Chúng cũng bao gồm ba Tác Nhân của Bộ Ba thiêng liêng, những Đấng được biết đến, về mặt huyền bí và ở phương Đông, là ba Kumaras, hay ba Đức Phật Hoạt Động. |
|
What do these names and these great Individualities mean to you and to average humanity? Nothing at all and this is necessarily so. They remain but names and possible hypothetical expressions of divinity until after the third initiation when the conscious recognition of the Monad becomes possible; then Forces and Energies, personified for us in these great and stupendous Lives, can be demonstrated as having true existence. On the way to these fundamental recognitions, Their three Representatives within the limits of the Hierarchy must be accepted and known to be correspondingly functioning Activities. These Three are, the Manu, the focal point of the first Ray of Will or Power; the Christ, the head of the Hierarchy and the representative of the second Ray of Love-Wisdom; and the Lord of Civilisation, the expression of the third Ray of Active Intelligence. [159] This knowledge is achieved during the process of training for the first three initiations. Therefore, all that I here tell you must be regarded as possible of verification, and as being testified to by all the world Scriptures and by the initiates of all lands, but it must necessarily remain personally unverified by you until a much later date in your unfoldment. |
Những danh xưng này và những Cá Thể vĩ đại này có ý nghĩa gì đối với các bạn và đối với nhân loại trung bình? Hoàn toàn không có gì cả, và điều này tất nhiên là như vậy. Chúng chỉ còn là những danh xưng và những biểu hiện giả định có thể có của thiên tính cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, khi sự nhận biết hữu thức về chân thần trở nên khả thi; khi đó các Mãnh lực và Năng lượng, được nhân cách hóa đối với chúng ta trong các Sự Sống vĩ đại và phi thường này, có thể được chứng minh là có sự tồn tại thực sự. Trên con đường đi đến những sự nhận biết căn bản này, ba Đại Diện của Các Ngài trong giới hạn của Thánh đoàn phải được chấp nhận và được biết là những Hoạt Động tương ứng đang vận hành. Ba Đấng này là Đức Manu, tiêu điểm của Cung một của Ý Chí hay Quyền năng; Đức Christ, thủ lãnh của Thánh đoàn và là đại diện của Cung hai của Bác Ái – Minh Triết; và Chúa Tể của Văn Minh, biểu hiện của Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động. [159] Tri thức này đạt được trong tiến trình huấn luyện cho ba lần điểm đạo đầu tiên. Vì vậy, tất cả những gì tôi nói với các bạn ở đây phải được xem là có thể kiểm chứng, và như được chứng thực bởi mọi Kinh điển thế giới và bởi các điểm đạo đồ ở mọi quốc gia, nhưng tất yếu vẫn phải là điều chưa được chính các bạn kiểm chứng cho đến một ngày muộn hơn nhiều trong sự khai mở của các bạn. |
|
The Spirit of Peace Who is invoked in the second phrase, Let the Spirit of Peace be spread abroad, is that mysterious and divine Entity with Whom the Christ came into touch and Whose influence played through Him at the time that He earned the right to be called the “Prince of Peace.” As I have elsewhere told you in my earlier writings, the Christ embodied in Himself the cosmic principle of love, the expression of which in manifestation will work out as “glory to God, peace on earth and goodwill towards men.” To this the angels testified at His birth. When He expressed this principle of love in His life and world service, He definitely linked up our planet and humanity (in particular) with the Source of the light, love and life to which we refer in this second phrase. This was the world salvation which He brought—a fact which is as yet little realised and which will not be widely recognised until this powerful Invocation has taken due effect. |
Đấng Tinh thần Hòa Bình, Đấng được khẩn cầu trong cụm từ thứ hai, Cầu xin Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi, là Thực Thể huyền nhiệm và thiêng liêng mà Đức Christ đã tiếp xúc và ảnh hưởng của Ngài đã vận hành qua Đức Christ vào lúc Ngài xứng đáng được gọi là “Hoàng Tử Hòa Bình.” Như tôi đã nói với các bạn ở nơi khác trong các trước tác trước đây của tôi, Đức Christ đã hiện thân trong chính Ngài nguyên khí vũ trụ của bác ái, mà biểu hiện của nó trong sự hiển lộ sẽ được triển khai thành “vinh quang cho Thượng đế, hòa bình trên trái đất và thiện chí đối với loài người.” Các thiên thần đã làm chứng cho điều này vào lúc Ngài giáng sinh. Khi Ngài biểu lộ nguyên khí bác ái này trong đời sống và công cuộc phụng sự thế giới của Ngài, Ngài đã rõ ràng nối kết hành tinh chúng ta và nhân loại (đặc biệt là nhân loại) với Nguồn của ánh sáng, bác ái và sự sống mà chúng ta nhắc đến trong cụm từ thứ hai này. Đây là sự cứu rỗi thế giới mà Ngài đã mang đến—một sự kiện cho đến nay vẫn ít được nhận ra và sẽ không được thừa nhận rộng rãi cho đến khi Khấn Nguyện đầy quyền năng này phát huy tác dụng thích đáng. |
|
When the world aspirants and disciples use this Invocation, the first phrase takes the consciousness to the Hierarchy of Light, which is the intermediate centre between Humanity and Shamballa. It serves then to emphasise and establish a close rapport, blending and fusing the human and the hierarchical centres. When this has taken place, the Hierarchy can then use this Great Invocation with greater potency and can carry the relation to a higher state still and produce a blending with the Shamballa centre, where the Forces of Light are found as embodied Presences and where Their focussed energy serves to provide great reservoirs of light and love. These have hitherto not been made available for planetary distribution, owing to the lack of established relation between the three centres: Humanity, Hierarchy and [160] Shamballa. That relation is now becoming somewhat established; the inflow of light and love to humanity is now possible if the disciples and aspirants of the world can be led to make the needed effort to stand in spiritual being and, from that poised attentive attitude, to invoke these great Entities. It was to this possibility that the story in the New Testament refers where reference is made to the pool which was stirred at times by the Angel and thus a condition was produced which led to the healing of the sick. The Angel of the Presence, the soul of humanity, as embodied in the Hierarchy and those who are consciously endeavouring to function as souls can now stir these reservoirs of force and light upon etheric levels in Shamballa so that a definite “healing of the nations” can take place. |
Khi các người chí nguyện và đệ tử thế giới sử dụng Khấn Nguyện này, cụm từ thứ nhất đưa tâm thức đến Thánh đoàn Ánh sáng, là trung tâm trung gian giữa Nhân loại và Shamballa. Khi đó nó phục vụ để nhấn mạnh và thiết lập một mối tương giao gần gũi, dung hợp và hòa nhập các trung tâm nhân loại và Thánh đoàn. Khi điều này đã diễn ra, Thánh đoàn khi đó có thể sử dụng Đại Khấn Nguyện này với mãnh lực lớn hơn và có thể nâng mối liên hệ lên một trạng thái cao hơn nữa và tạo ra một sự dung hợp với trung tâm Shamballa, nơi các Mãnh lực Ánh sáng được tìm thấy như những Hiện Diện nhập thể và nơi năng lượng tập trung của Các Ngài phục vụ để cung cấp những kho chứa lớn của ánh sáng và bác ái. Cho đến nay, những kho này chưa được đưa vào sử dụng cho sự phân phối hành tinh, do thiếu mối liên hệ được thiết lập giữa ba trung tâm: Nhân loại, Thánh đoàn và [160] Shamballa. Mối liên hệ đó hiện nay đang phần nào được thiết lập; sự tuôn đổ của ánh sáng và bác ái vào nhân loại hiện nay là điều có thể, nếu các đệ tử và người chí nguyện của thế giới có thể được dẫn dắt để thực hiện nỗ lực cần thiết nhằm đứng vững trong bản thể tinh thần và, từ thái độ chú tâm quân bình đó, khẩn cầu các Thực Thể vĩ đại này. Chính đến khả năng này mà câu chuyện trong Tân Ước đã nhắc đến khi nói về hồ nước thỉnh thoảng được Thiên Thần khuấy động và nhờ đó tạo ra một điều kiện dẫn đến việc chữa lành người bệnh. Thiên Thần của Hiện Diện, linh hồn của nhân loại, như được nhập thể trong Thánh đoàn và trong những người đang hữu thức cố gắng hoạt động như các linh hồn, giờ đây có thể khuấy động các kho chứa mãnh lực và ánh sáng này trên các cấp độ dĩ thái trong Shamballa để một sự “chữa lành các quốc gia” rõ rệt có thể diễn ra. |
|
When the thought behind the Great Invocation can be carried high enough in the consciousness of those using it through a joint effort of the world disciples and the Hierarchy of Light—as well as being reinforced by the Forces of Light—then the Spirit of Peace can be invoked. |
Khi tư tưởng đứng sau Đại Khấn Nguyện có thể được nâng đủ cao trong tâm thức của những người sử dụng nó qua nỗ lực chung của các đệ tử thế giới và Thánh đoàn Ánh sáng—cũng như được tăng cường bởi các Mãnh lực Ánh sáng—thì Đấng Tinh thần Hòa Bình có thể được khẩn cầu. |
|
On a lower turn of the spiral, you will note that the Wesak Festival enacts a similar invocation and process. It is a re-enacting and training process. There and at that time, the three Representatives of Shamballa within the Hierarchy—the Manu, the Christ and the Mahachohan—invoke the Buddha, Who in His turn is the transmitter of still higher Forces. He is invoked by a special mantram and transmits the appeal to the One Whose agent He is. If this Great Invocation which we are studying can be rightly said, the three great planetary centres can be related in a similar manner. The Lord of Civilisation, the Master R., representing humanity, the Christ representing the Hierarchy and the Lord of the World, linked through the Manu and representing Shamballa can be brought into a close relation so that the result will be the setting up of such a potent vibration and note that the Spirit of Peace will be invoked and contacted. By the voiced appeal His attention will be forced to turn itself towards our planet. The consequences will be significant and potent but as to the form which they [161] will take it is impossible for me to say. Perhaps it will lead to some peculiar and powerful demonstration of the meaning of peace as the expression of universal and planetary love; perhaps it will produce the sending of an Avatar or Messenger of Peace to lead the nations to right action; perhaps some happening will take place of such significance that its import will be immediately recognised by humanity as a whole, leading them to take all the needed steps to restore right human relations. The nature of the activities which the Spirit of Peace will institute is not our responsibility. Our duty is to learn rightly to contact the Hierarchy, via our own souls; rightly to use the Great Invocation as souls, and rightly to render ourselves responsive to and sensitive to the resultant effects. Ponder on the above. |
Ở một vòng xoắn thấp hơn của đường xoắn ốc, các bạn sẽ nhận thấy rằng Lễ Hội Wesak diễn lại một sự khẩn cầu và tiến trình tương tự. Đó là một tiến trình tái diễn và huấn luyện. Tại đó và vào thời điểm ấy, ba Đại Diện của Shamballa trong Thánh đoàn—Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan—khẩn cầu Đức Phật, Đấng đến lượt Ngài là đấng truyền dẫn các Mãnh lực còn cao hơn nữa. Ngài được khẩn cầu bằng một mantram đặc biệt và truyền lời thỉnh cầu đến Đấng mà Ngài là tác nhân. Nếu Đại Khấn Nguyện mà chúng ta đang nghiên cứu có thể được đọc đúng đắn, ba trung tâm hành tinh lớn có thể được liên hệ theo một cách tương tự. Chúa Tể của Văn Minh, Chân sư R., đại diện cho nhân loại, Đức Christ đại diện cho Thánh đoàn, và Đức Chúa Tể Thế Giới, được nối kết qua Đức Manu và đại diện cho Shamballa, có thể được đưa vào một mối liên hệ gần gũi đến mức kết quả sẽ là việc thiết lập một rung động và chủ âm đầy mãnh lực đến nỗi Đấng Tinh thần Hòa Bình sẽ được khẩn cầu và tiếp xúc. Bằng lời thỉnh cầu được phát ra, sự chú ý của Ngài sẽ buộc phải hướng về hành tinh chúng ta. Các hậu quả sẽ có ý nghĩa và đầy mãnh lực, nhưng về hình thức mà chúng [161] sẽ mang lấy thì tôi không thể nói. Có lẽ điều đó sẽ dẫn đến một sự biểu lộ đặc biệt và mạnh mẽ nào đó về ý nghĩa của hòa bình như là biểu hiện của bác ái phổ quát và hành tinh; có lẽ nó sẽ tạo ra việc gửi đến một Đấng Hoá Thân hay Sứ Giả Hòa Bình để dẫn dắt các quốc gia đến hành động đúng đắn; có lẽ sẽ xảy ra một biến cố có ý nghĩa đến mức tầm quan trọng của nó sẽ được toàn thể nhân loại nhận ra ngay lập tức, khiến họ thực hiện mọi bước cần thiết để phục hồi những tương quan nhân loại đúng đắn. Bản chất của các hoạt động mà Đấng Tinh thần Hòa Bình sẽ khởi xướng không phải là trách nhiệm của chúng ta. Bổn phận của chúng ta là học cách tiếp xúc đúng đắn với Thánh đoàn, qua chính linh hồn của mình; sử dụng đúng đắn Đại Khấn Nguyện như các linh hồn; và làm cho mình đáp ứng đúng đắn và nhạy cảm với các hiệu quả phát sinh. Hãy suy ngẫm về điều trên. |
|
It might, therefore, be noted that the Forces of Light express Themselves through the Hierarchy of Light and Their major effect is the illumination of the minds of men with love and light. This precipitates upon the mental plane. The personality or the form aspect of humanity is thereby pervaded and illumined. Thus the third great planetary centre, Humanity, becomes creative and magnetic, and two divine aspects—intelligence and love—will reach fruition upon the physical plane, making it possible for the first aspect and the will of God (understood by humanity as the Plan) to be consciously carried forward on earth in conformity with the activity instituted at Shamballa. The will of God is purpose and this is, for the first time, to be recognised consciously by man. |
Vì vậy, có thể lưu ý rằng các Mãnh lực Ánh sáng biểu lộ chính Các Ngài qua Thánh đoàn Ánh sáng và hiệu quả chính của Các Ngài là soi sáng trí tuệ con người bằng bác ái và ánh sáng. Điều này ngưng tụ trên cõi trí. Phàm ngã hay phương diện hình tướng của nhân loại nhờ đó được thấm nhuần và soi sáng. Như vậy, trung tâm hành tinh lớn thứ ba, Nhân loại, trở nên sáng tạo và từ tính, và hai phương diện thiêng liêng—trí tuệ và bác ái—sẽ đạt đến thành tựu trên cõi hồng trần, khiến cho phương diện thứ nhất và Ý Chí của Thượng Đế (được nhân loại hiểu là Thiên Cơ) có thể được thực hiện một cách hữu thức trên trái đất phù hợp với hoạt động được khởi xướng tại Shamballa. Ý Chí của Thượng Đế là mục đích, và đây là điều lần đầu tiên sẽ được con người nhận biết một cách hữu thức. |
|
The Spirit of Peace will, when the right time comes, vitalise the responsiveness of humanity, via the influence of the Hierarchy, to the will of God which has for basic intent the bringing of peace on earth. What is peace? It is essentially the establishing of right human relations, of synthetic rapport with its resultant cooperation, of correct interplay between the three planetary centres and an illumined, loving understanding of the will of God as it affects humanity and works out divine intent. It is for this reason that the Christ, Who established for the first time in planetary history a [162] contact between the Hierarchy, Humanity, Shamballa and the Spirit of Peace in His Own high place, in His first recorded utterance said that He must be about His Father’s business and then at the end of His life, reiterated the same thought in the words: “Father, not my will but Thine be done,” thus carrying the thought up to the highest plane for He addressed the Father, the first Aspect of Divinity. He then focussed in Himself the two major divine attributes and aspects—will and love (atma-buddhi)—and because of this, His consciousness became extra-planetary as is the consciousness of the Lord of the World, and He could then touch certain heights of awareness and contact certain solar Agencies which had never before been contacted by man. This achievement enabled Him to put Humanity in touch with the Spirit of Peace. He thus Himself became the Light of the World and the Prince of Peace. |
Đấng Tinh thần Hòa Bình, khi thời điểm thích hợp đến, sẽ tiếp sinh lực cho khả năng đáp ứng của nhân loại, qua ảnh hưởng của Thánh đoàn, đối với Ý Chí của Thượng Đế, vốn có ý định căn bản là đem lại hòa bình trên trái đất. Hòa bình là gì? Về bản chất, đó là việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn, một mối tương giao tổng hợp với kết quả là sự hợp tác, một sự tương tác đúng đắn giữa ba trung tâm hành tinh, và một sự thấu hiểu được soi sáng, đầy bác ái về Ý Chí của Thượng Đế khi nó tác động đến nhân loại và triển khai ý định thiêng liêng. Chính vì lý do này mà Đức Christ, Đấng lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh đã thiết lập một [162] sự tiếp xúc giữa Thánh đoàn, Nhân loại, Shamballa và Đấng Tinh thần Hòa Bình trong địa vị cao cả của chính Ngài, trong lời phát biểu đầu tiên được ghi lại của Ngài đã nói rằng Ngài phải lo công việc của Cha Ngài, và rồi vào cuối đời Ngài, lặp lại cùng một tư tưởng trong những lời: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con mà theo Ý Cha,” nhờ đó nâng tư tưởng lên cõi cao nhất vì Ngài đã hướng đến Đức Cha, Phương diện thứ nhất của thiên tính. Khi đó Ngài đã tập trung trong chính mình hai thuộc tính và phương diện thiêng liêng chủ yếu—ý chí và bác ái (atma-buddhi)—và vì điều này, tâm thức của Ngài trở thành ngoài hành tinh như tâm thức của Đức Chúa Tể Thế Giới, và khi đó Ngài có thể chạm đến một số đỉnh cao của nhận biết và tiếp xúc với một số Tác Nhân thái dương mà trước đây con người chưa từng tiếp xúc. Thành tựu này đã giúp Ngài đặt Nhân loại vào sự tiếp xúc với Đấng Tinh thần Hòa Bình. Nhờ đó chính Ngài đã trở thành Ánh Sáng của Thế Gian và Hoàng Tử Hòa Bình. |
|
In this manner, Shamballa and the Hierarchy were brought into a close relationship and two great streams of force were blended and a definite interplay set up between them. The Buddha, through His achievement of illumination, established the first major link with the Forces of Light. The Christ, through His ability to express the will of God in love and as world salvage, established the first major link with the Spirit of Peace. |
Theo cách này, Shamballa và Thánh đoàn được đưa vào một mối liên hệ gần gũi và hai dòng mãnh lực lớn được hòa trộn, đồng thời một sự tương tác rõ rệt được thiết lập giữa chúng. Đức Phật, qua thành tựu giác ngộ của Ngài, đã thiết lập mối liên kết lớn đầu tiên với các Mãnh lực Ánh sáng. Đức Christ, qua khả năng biểu lộ Ý Chí của Thượng Đế trong bác ái và như sự cứu vớt thế giới, đã thiết lập mối liên kết lớn đầu tiên với Đấng Tinh thần Hòa Bình. |
|
If you will study the above information with care, you will find that the importance of the Wesak Festival at the time of the full moon of May will assume increasing importance in your minds. It is the festival at which three factors of importance to humanity are brought into relation: |
Nếu các bạn nghiên cứu cẩn thận thông tin trên, các bạn sẽ thấy tầm quan trọng của Lễ Hội Wesak vào lúc trăng tròn tháng Năm sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong trí tuệ các bạn. Đó là lễ hội mà tại đó ba yếu tố quan trọng đối với nhân loại được đưa vào mối liên hệ: |
|
1. The Buddha, the embodiment or agent of the Forces of Light can then be contacted and that which They seek to transmit to humanity can be consciously appropriated. |
1. Đức Phật, hiện thân hay tác nhân của các Mãnh lực Ánh sáng, khi đó có thể được tiếp xúc và điều mà Các Ngài tìm cách truyền đạt cho nhân loại có thể được tiếp nhận một cách hữu thức. |
|
2. The Christ, the embodiment of the love and the will of God and the agent of the Spirit of Peace, can also be contacted and humanity can be trained to appropriate this extra-planetary type of energy. [163] |
2. Đức Christ, hiện thân của bác ái và Ý Chí của Thượng Đế và là tác nhân của Đấng Tinh thần Hòa Bình, cũng có thể được tiếp xúc và nhân loại có thể được huấn luyện để tiếp nhận loại năng lượng ngoài hành tinh này. [163] |
|
3. Through the Christ and the Buddha, humanity can now establish a close relationship with Shamballa and then make its own contribution—as a world centre—to the planetary life. Pervaded by light and controlled by the Spirit of Peace, the expression of humanity’s will-to-good can emanate powerfully from this third planetary centre. Humanity will then for the first time enter upon its destined task as the intelligent, loving intermediary between the higher states of planetary consciousness, the super-human states and the sub-human kingdoms. Thus humanity will become eventually the planetary saviour. |
3. Qua Đức Christ và Đức Phật, nhân loại giờ đây có thể thiết lập một mối liên hệ gần gũi với Shamballa và rồi đóng góp phần riêng của mình—như một trung tâm thế giới—vào sự sống hành tinh. Được thấm nhuần bởi ánh sáng và được Đấng Tinh thần Hòa Bình kiểm soát, sự biểu lộ của ý chí-hướng Thiện của nhân loại có thể phát xạ đầy quyền năng từ trung tâm hành tinh thứ ba này. Khi đó, lần đầu tiên nhân loại sẽ bước vào nhiệm vụ đã được định sẵn của mình như là trung gian thông minh, đầy bác ái giữa các trạng thái cao hơn của tâm thức hành tinh, các trạng thái siêu nhân và các giới dưới nhân loại. Như vậy, cuối cùng nhân loại sẽ trở thành vị cứu tinh hành tinh. |
|
If you will have these thoughts in mind, the first three phrases of the Great Invocation will assume great significance. Let me put some of these significances in tabular form: |
Nếu các bạn giữ những tư tưởng này trong trí, ba cụm từ đầu tiên của Đại Khấn Nguyện sẽ mang một ý nghĩa lớn lao. Hãy để tôi trình bày một số ý nghĩa này dưới dạng bảng: |
|
Let the Forces of Light bring illumination to mankind |
Cầu xin các Mãnh lực Ánh sáng đem soi sáng đến cho nhân loại |
|
Intermediary The Hierarchy. Soul consciousness |
Trung gian Thánh đoàn. Tâm thức linh hồn |
|
Agent The Buddha |
Tác nhân Đức Phật |
|
Expression Light. Understanding. The illumined mind |
Biểu hiện Ánh sáng. Sự thấu hiểu. Trí tuệ được soi sáng |
|
Planes of emphasis The second or monadic plane |
Các cõi được nhấn mạnh Cõi thứ hai hay cõi chân thần |
|
The buddhic or intuitional plane |
Cõi Bồ đề hay cõi trực giác |
|
The mental plane |
Cõi trí |
|
Focal point The head centre |
Điểm tập trung Trung tâm đầu |
|
Planetary centre The Hierarchy |
Trung tâm hành tinh Thánh Đoàn |
|
Let the Spirit of Peace be spread abroad |
Hãy để Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi |
|
Intermediary Shamballa. Spiritual consciousness |
Trung gian Shamballa. Tâm thức tinh thần |
|
Agent The Christ |
Tác nhân Đức Christ |
|
Expression The will of God as love and peace |
Biểu hiện Ý Chí của Thượng Đế như tình thương và hòa bình |
|
Sentient response |
Đáp ứng hữu cảm |
|
Planes of emphasis The logoic or first plane |
Các cõi được nhấn mạnh Cõi logoic hay cõi thứ nhất |
|
The buddhic, or intuitional plane |
Cõi Bồ đề, hay cõi trực giác |
|
The astral or emotional plane |
Cõi cảm dục hay cõi cảm xúc |
|
Focal point The heart centre |
Điểm tập trung Trung tâm tim |
|
Planetary centre Shamballa |
Trung tâm hành tinh Shamballa |
|
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation [164] |
Nguyện cho những người nam và nữ thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác [164] |
|
Intermediary Humanity itself. Self-consciousness |
Trung gian Bản thân nhân loại. Ngã thức |
|
Agent The Lord of Civilisation |
Tác nhân Chúa Tể của Văn Minh |
|
Expression Intelligent love, dedicated to the Plan |
Biểu hiện Tình thương thông tuệ, hiến dâng cho Thiên Cơ |
|
Creativity |
Sáng tạo |
|
The will-to-good |
Ý Chí-hướng Thiện |
|
Planes of emphasis The atmic or plane of spiritual will |
Các cõi được nhấn mạnh Cõi atma hay cõi ý chí tinh thần |
|
The mental plane |
Cõi trí |
|
The physical plane |
Cõi hồng trần |
|
Focal point The throat centre |
Điểm tập trung Trung tâm cổ họng |
|
Planetary centre Humanity |
Trung tâm hành tinh Nhân loại |
|
Thus all the great centres are linked and all the planes are interrelated; the past has contributed its finished work; the present is evoking its just and right development; the future of wonder and of divine possibility appears—its results contingent upon a spirit of right understanding and invocation. Three statements in the New Testament begin now to demonstrate their profound esoteric significance and their amazing living potency: |
Như vậy mọi trung tâm lớn đều được nối kết và mọi cõi đều tương liên; quá khứ đã đóng góp công trình đã hoàn tất của nó; hiện tại đang gợi lên sự phát triển đúng đắn và chính đáng của nó; tương lai của điều kỳ diệu và của khả năng thiêng liêng đang xuất hiện—kết quả của nó tùy thuộc vào một tinh thần thấu hiểu đúng đắn và khẩn cầu. Ba phát biểu trong Tân Ước giờ đây bắt đầu chứng minh ý nghĩa huyền bí sâu xa và năng lực sống động kỳ diệu của chúng: |
|
[table 164] |
[table 164] |
|
The three aspects of divinity in man achieve practical expression through the influence of the Great Invocation, both in living usefulness and true comprehension—true at least in so far as man’s present point in evolution permits of his correct apprehension of significance. Goodwill, as the practical and possible expression of love demonstrates on earth, evoking right relationship; light, as the expression of the Hierarchy pours into the human consciousness, irradiating all dark places and evoking a response from all [165] forms of life in the three worlds of manifestation, and in the three subhuman kingdoms through the medium of the human; peace, as the expression of the will of Shamballa produces balance, equilibrium, synthesis and understanding, plus a spirit of invocation which is basically an action, producing reaction. This demonstrates as the first great creative and magical work of which humanity is capable, swinging, as it does, all the three divine aspects into a simultaneous activity in line with the will of God. |
Ba phương diện của thiên tính trong con người đạt được biểu hiện thực tiễn qua ảnh hưởng của Đại Khấn Nguyện, cả trong tính hữu dụng sống động lẫn trong sự thấu hiểu chân chính—ít nhất là chân chính trong chừng mực mà điểm tiến hoá hiện nay của con người cho phép y lĩnh hội đúng đắn thâm nghĩa. Thiện chí, như biểu hiện thực tiễn và khả hữu của tình thương được chứng minh trên địa cầu, gợi lên tương quan đúng đắn; ánh sáng, như biểu hiện của Thánh Đoàn tuôn vào tâm thức nhân loại, chiếu rạng mọi nơi tối tăm và gợi lên một đáp ứng từ mọi [165] hình tướng sự sống trong ba cõi thấp của biểu hiện, và trong ba giới dưới nhân loại qua trung gian của con người; hòa bình, như biểu hiện của ý chí Shamballa tạo ra sự quân bình, thăng bằng, tổng hợp và thấu hiểu, cùng với một tinh thần khẩn cầu vốn căn bản là một hành động, tạo ra phản ứng. Điều này chứng minh công trình sáng tạo và huyền thuật lớn đầu tiên mà nhân loại có khả năng thực hiện, vì nó đưa cả ba phương diện thiêng liêng vào một hoạt động đồng thời phù hợp với Ý Chí của Thượng Đế. |
|
We come now to the last two phrases which summarise the effects—synthetic and eternal (and consequently lasting) which the establishment of direct relationship with Shamballa will produce in the two other planetary centres, the Hierarchy and Humanity. I refer to effects which will express themselves as a group activity, motivated by the essential values of selflessness and persistent effort (which is sustained concentration, in the last analysis) and thereby producing conditions for which the Lord of the World, the Ancient of Days, has long waited. The patience and sustaining love of Shamballa is infinite. |
Giờ đây chúng ta đến với hai cụm từ cuối cùng, những cụm từ tóm lược các hiệu quả—tổng hợp và vĩnh cửu (và do đó bền lâu)—mà việc thiết lập mối liên hệ trực tiếp với Shamballa sẽ tạo ra trong hai trung tâm hành tinh kia là Thánh Đoàn và Nhân loại. Tôi muốn nói đến những hiệu quả sẽ biểu lộ như một hoạt động nhóm, được thúc đẩy bởi các giá trị cốt yếu của tính vô ngã và nỗ lực bền bỉ (mà xét đến cùng là sự tập trung duy trì), và nhờ đó tạo ra những điều kiện mà Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, đã chờ đợi từ lâu. Sự kiên nhẫn và tình thương nâng đỡ của Shamballa là vô hạn. |
|
The fourth phrase runs: May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time. As you know, the word “forgiveness” is a curious and unusual one and signifies (according to the best derivative sources) simply “to give for.” Forgiveness is not therefore, a synonym for pardon though the word has been distorted in theological circles to mean this, so little has the Church understood the basic, motivating power behind divine expression in our solar system. Theologians ever think in terms of the human mind and not in terms of the divine mind. Forgiveness is sacrifice, and is the giving up of one’s self, even of one’s very life, for the sake of others and for the good of the whole group. This spirit of sacrifice is ever found when the Shamballa force is rightly contacted, even in the smallest degree, and the underlying impulse behind the loving will of God is sensed and understood, accompanied as this always is with the desire to participate in that will and its spirit of divine sacrifice. Manifestation is itself the Great Forgiveness. The [166] stupendous Lives—outside manifested existence—entered into manifestation in order to give Themselves for the lesser lives and forms of existence in order that these lesser lives might be enabled to proceed onward towards a goal which is known to Deity alone, and thus eventually reach high places of spiritual expression. Achievement is ever followed by sacrifice and the giving of the greater for the lesser. This is an aspect of the Law of Evolution. Such is the note and theme of the entire creative process and is the basic meaning of the phrase, “God is Love,” for love signifies giving and sacrifice, at least in this solar system. |
Cụm từ thứ tư là: Nguyện cho sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này. Như các bạn biết, từ “tha thứ” là một từ lạ và bất thường, và theo những nguồn gốc từ nguyên tốt nhất, nó chỉ đơn giản có nghĩa là “cho vì”. Vì vậy, tha thứ không phải là từ đồng nghĩa với sự khoan thứ, mặc dù trong giới thần học từ này đã bị bóp méo để mang nghĩa ấy; Giáo hội đã hiểu quá ít về mãnh lực căn bản, thúc đẩy đằng sau biểu hiện thiêng liêng trong hệ mặt trời của chúng ta. Các nhà thần học luôn suy nghĩ theo thuật ngữ của trí tuệ con người chứ không theo thuật ngữ của trí tuệ thiêng liêng. Tha thứ là hi sinh, và là sự cho đi chính mình, thậm chí cả chính sự sống của mình, vì người khác và vì lợi ích của toàn nhóm. Tinh thần hi sinh này luôn được tìm thấy khi mãnh lực Shamballa được tiếp xúc đúng đắn, dù chỉ ở mức nhỏ nhất, và khi xung lực nền tảng đằng sau ý chí đầy bác ái của Thượng đế được cảm nhận và thấu hiểu, luôn đi kèm với ước muốn tham dự vào ý chí đó và tinh thần hi sinh thiêng liêng của nó. Bản thân biểu hiện chính là Sự Tha Thứ Vĩ Đại. Các [166] Sự Sống kỳ vĩ—ở ngoài sự tồn tại biểu hiện—đã đi vào biểu hiện để hiến dâng Chính Các Ngài cho những sự sống và hình tướng tồn tại nhỏ hơn, hầu cho những sự sống nhỏ hơn ấy có thể được giúp tiến bước về một mục tiêu mà chỉ Thượng đế biết, và nhờ đó cuối cùng đạt đến những đỉnh cao của biểu hiện tinh thần. Thành tựu luôn được tiếp theo bởi hi sinh và sự cho đi của cái lớn hơn vì cái nhỏ hơn. Đây là một phương diện của Định luật tiến hoá. Đó là âm điệu và chủ đề của toàn bộ tiến trình sáng tạo và là ý nghĩa căn bản của cụm từ “Thượng đế là Tình thương”, vì tình thương hàm ý sự cho đi và hi sinh, ít nhất trong hệ mặt trời này. |
|
It is for this reason that the esoteric teaching emphasises the fact that the soul of man is a Lord of Sacrifice and of loving persistent Devotion—the two outstanding qualities of the Shamballa Lives, sustaining life and giving. This is lasting devotion to the good of the whole or the expression of the spirit of synthesis and sacrifice in order again that all lesser lives (such as those embodied in the personality of man) may rise to the “resurrection which is in Christ,” through the crucifixion or sacrifice of the soul upon the Cross of Matter. |
Chính vì lý do đó mà giáo huấn huyền bí nhấn mạnh sự kiện rằng linh hồn con người là một Chúa Tể của Hi Sinh và của sự Sùng kính đầy bác ái, bền bỉ—hai phẩm tính nổi bật của các Sự Sống Shamballa, nâng đỡ sự sống và cho đi. Đây là sự sùng kính bền lâu đối với lợi ích của toàn thể, hay biểu hiện của tinh thần tổng hợp và hi sinh để một lần nữa mọi sự sống nhỏ hơn (như những sự sống được hiện thân trong phàm ngã con người) có thể vươn lên tới “sự phục sinh trong Đức Christ”, qua sự đóng đinh hay hi sinh của linh hồn trên Thập Giá của Vật Chất. |
|
It is this thought again which gives significance to the life of Christ on earth for He re-enacted for us an eternal process, externalising it in such a way that it became the symbol of the motive of the entire manifested universe and the impulse which should direct each of us—crucifixion and death, resurrection and life, and the consequent salvation of the whole. |
Chính tư tưởng này lại đem ý nghĩa cho cuộc đời của Đức Christ trên địa cầu, vì Ngài đã tái hiện cho chúng ta một tiến trình vĩnh cửu, ngoại hiện nó theo cách khiến nó trở thành biểu tượng cho động cơ của toàn thể vũ trụ biểu hiện và cho xung lực phải hướng dẫn mỗi chúng ta—đóng đinh và cái chết, phục sinh và sự sống, và kết quả là sự cứu rỗi của toàn thể. |
|
It is this thought which is embodied in the challenge of this fourth phrase of the Great Invocation, and means literally, “May all men everywhere respond to the keynote of the universe and give themselves for others.” |
Chính tư tưởng này được hàm chứa trong thách thức của cụm từ thứ tư của Đại Khấn Nguyện, và theo nghĩa đen có nghĩa là: “Nguyện cho mọi người ở khắp nơi đáp ứng với chủ âm của vũ trụ và hiến mình vì người khác.” |
|
And, is not this in a faint and dim manner, the present keynote of human effort? In spite of a real inability to think truly, effectively and intuitively, the mass of men in all lands are responding clearly and definitely to this note of sacrifice. Leaders of the great nations everywhere are using this note and call to sacrifice in their appeals at this time to [167] their peoples. Men in Germany were called to battle by their leaders with the challenge of sacrifice and told that they must give their lives in order that Germany may live. A study of the speeches by the German leaders will be found to contain this note. The other group, whom you call the Allies (because they stand more specifically for the good of the whole and not for the good of the separated nation or unit) are also calling the masses of their people to fight for the good of civilisation and for the preservation of those values which are next upon the evolutionary scale and essential to the general good. The wording of these calls and the objectives expressed may differ in formulation but the theme is the same and the effect is to call forth the spirit of sacrifice in the nations. Though the motives behind such a call may be mixed and the leaders guided as much by expediency and selfish, national interests as by the general good, yet they know that the note which will evoke an immediate response from the unit and the individual is fundamentally the good of the larger unit (the nation or the group of nations). Therefore, forgiveness or sacrifice in order to save others is increasingly the recognised needed keynote at this time and in this recognition lies much to justify the sorry story of past evolutionary processes and methods. When it is recognised that the “giving-for” involves right living upon the physical plane and not (as is so often thought) the dying of the physical body then we shall see a revitalised world. It is the living Christ (the living world Saviour) Who saves humanity. It is the sacrifice, day by day, in the process of daily living which can save the world of men—the sacrifice of selfish personal interests for the good of the whole and the giving up of one’s practical life to the salvage of the world. It is living in order that others too may live which is the theme of the New Testament. When, therefore, the mode of sacrifice enters into the realm of the subtler and subjective values and the true meaning of forgiveness is intellectually, practically and spiritually comprehended, the New Age will be abundantly realised with its truly human civilisation and a culture which will embody [168] the realities of the esoteric teaching, as well as the best of the externalised past. Then and only then will the new esotericism be revealed to a race of men who have made aspiration a fact in their outer experience. The attitude of the masses in the present conflict is the guarantee of this and the proof also of the success of Christ’s mission. |
Và chẳng phải đây, dù chỉ một cách mờ nhạt, chính là chủ âm hiện nay của nỗ lực nhân loại sao? Mặc cho sự bất lực thực sự trong việc suy nghĩ chân chính, hữu hiệu và trực giác, quần chúng ở mọi xứ sở đang đáp ứng rõ ràng và dứt khoát với âm điệu hi sinh này. Các nhà lãnh đạo của những quốc gia lớn ở khắp nơi đang dùng âm điệu và lời kêu gọi hi sinh này trong những lời hiệu triệu hiện nay gửi tới [167] dân chúng của họ. Những người ở Đức đã được các lãnh đạo của họ kêu gọi ra trận bằng thách thức hi sinh và được bảo rằng họ phải hiến mạng sống mình để nước Đức có thể sống. Nghiên cứu các bài diễn văn của các lãnh đạo Đức sẽ thấy có âm điệu này. Nhóm kia, mà các bạn gọi là Đồng minh (vì họ đứng một cách đặc biệt hơn cho lợi ích của toàn thể chứ không phải cho lợi ích của quốc gia hay đơn vị tách biệt), cũng đang kêu gọi quần chúng của họ chiến đấu vì lợi ích của nền văn minh và vì sự bảo tồn những giá trị đang ở nấc kế tiếp trên thang tiến hoá và thiết yếu cho lợi ích chung. Cách diễn đạt của những lời kêu gọi này và các mục tiêu được nêu ra có thể khác nhau về hình thức, nhưng chủ đề thì giống nhau và hiệu quả là khơi dậy tinh thần hi sinh trong các quốc gia. Dù động cơ đằng sau lời kêu gọi ấy có thể pha tạp và các nhà lãnh đạo được dẫn dắt bởi tính cơ hội và quyền lợi ích kỷ quốc gia cũng nhiều như bởi lợi ích chung, tuy nhiên họ biết rằng âm điệu sẽ gợi lên đáp ứng tức thì từ đơn vị và cá nhân về căn bản là lợi ích của đơn vị lớn hơn (quốc gia hay nhóm quốc gia). Vì vậy, tha thứ hay hi sinh để cứu người khác ngày càng được nhìn nhận là chủ âm cần thiết vào lúc này, và chính trong sự nhìn nhận này có nhiều điều để biện minh cho câu chuyện đáng buồn của các tiến trình và phương pháp tiến hoá trong quá khứ. Khi người ta nhận ra rằng “cho vì” bao hàm sống đúng đắn trên cõi hồng trần chứ không phải (như thường được nghĩ) là cái chết của thể xác, thì chúng ta sẽ thấy một thế giới được tiếp sinh lực. Chính Đức Christ hằng sống (Đấng Cứu Thế của thế giới hằng sống) cứu rỗi nhân loại. Chính sự hi sinh, ngày này qua ngày khác, trong tiến trình sống hằng ngày mới có thể cứu thế giới loài người—sự hi sinh những quyền lợi cá nhân ích kỷ vì lợi ích của toàn thể và sự từ bỏ đời sống thực tiễn của mình để cứu vớt thế giới. Sống để những người khác cũng có thể sống là chủ đề của Tân Ước. Vì vậy, khi phương thức hi sinh đi vào lĩnh vực của những giá trị tinh tế hơn và chủ quan hơn, và ý nghĩa chân thật của sự tha thứ được thấu hiểu về mặt trí tuệ, thực tiễn và tinh thần, thì Kỷ Nguyên Mới sẽ được chứng nghiệm dồi dào với nền văn minh thực sự nhân bản của nó và một nền văn hóa sẽ thể hiện [168] các thực tại của giáo huấn huyền bí, cũng như những gì tốt đẹp nhất của quá khứ đã được ngoại hiện. Khi đó và chỉ khi đó, huyền bí học mới mới được mặc khải cho một nhân loại đã biến khát vọng thành một sự kiện trong kinh nghiệm bên ngoài của họ. Thái độ của quần chúng trong cuộc xung đột hiện nay là sự bảo đảm cho điều này và cũng là bằng chứng về thành công của sứ mệnh của Đức Christ. |
|
The result of what is happening today must, sooner or later, produce an at-one-ment between all nations and peoples. At-one-ment is ever (under evolutionary law) the consequence of sacrifice. Of this, Christ’s sacrifice was the symbol and the guarantee, impulsed as His life and activities were by the Spirit of Peace. As He made “of twain, one new man, so making peace” (Ephesians 2:15) so today out of the duality of soul and body, humanity is achieving the same ends and the result of this final stage of the Piscean Age will be the fusion in consciousness of soul and body. The Aquarian Age will demonstrate an increasing expression of this at-one-ment, wrought out in the crucifixion of humanity at the present time. The difference between this coming stage and that of the past is that, in the past, the soul has sought this development and at-one-ment and (from the angle of evolution) it has been slowly and gradually attained, but in the future, it will be consciously sought, achieved and recognised by man upon the physical plane as a result of the present period of “giving-for” the whole, of the best which the individual can give. |
Kết quả của những gì đang xảy ra hôm nay, sớm hay muộn, phải tạo ra một sự hợp nhất giữa mọi quốc gia và dân tộc. Sự hợp nhất luôn luôn là (dưới định luật tiến hoá) hệ quả của hi sinh. Về điều này, sự hi sinh của Đức Christ là biểu tượng và sự bảo chứng, vì đời sống và hoạt động của Ngài được thúc đẩy bởi Đấng Tinh thần Hòa Bình. Cũng như Ngài đã làm cho “hai bên thành một người mới, nhờ đó tạo nên hòa bình” (Ê-phê-sô 2:15), thì ngày nay từ nhị nguyên tính của linh hồn và thể xác, nhân loại đang đạt đến cùng mục đích ấy, và kết quả của giai đoạn cuối cùng này của Kỷ Nguyên Song Ngư sẽ là sự dung hợp trong tâm thức của linh hồn và thể xác. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ chứng minh một biểu hiện ngày càng tăng của sự hợp nhất này, được thực hiện qua sự đóng đinh của nhân loại vào thời điểm hiện nay. Sự khác biệt giữa giai đoạn sắp tới này và giai đoạn quá khứ là ở chỗ, trong quá khứ, linh hồn đã tìm kiếm sự phát triển và sự hợp nhất này và (xét từ góc độ tiến hoá) nó đã đạt được một cách chậm chạp và dần dần; nhưng trong tương lai, nó sẽ được con người tìm kiếm một cách có ý thức, đạt được và nhìn nhận trên cõi hồng trần như kết quả của giai đoạn hiện nay của việc “cho vì” toàn thể, của điều tốt đẹp nhất mà cá nhân có thể cho đi. |
|
I would point out that just as the energies released by use of the first three phrases of the Invocation relate to the Head, Shamballa; to the Heart, the Hierarchy; and to the Throat centre, Humanity; so the right use of this fourth phrase will bring into conscious, functioning activity the centre between the eyebrows, the ajna centre in individual man and in humanity as whole. This centre begins to become active and to function dynamically, governing and directing the individual energies, once any real measure of personality integration has been achieved. It is, as you know, the fourth centre found above the diaphragm [169] in the human body and the phrase which awakens it (both individually and in the group) is this fourth phrase. There is, therefore, a numerical relationship. When used wisely and intelligently by human beings, many of the blended potencies which the first three phrases have made available are invoked and so made available to the individual as well as to the group. They can then be focussed for his use in the ajna centre. In many ways, therefore, this fourth phrase of the Great Invocation is of paramount importance to the individual as well as to humanity, invoking as it does great and vital potencies and indicating process (Sacrifice) and purpose, plus the identification of the unit and the group with the basic intent of manifestation. |
Tôi muốn chỉ ra rằng cũng như các năng lượng được giải phóng nhờ sử dụng ba cụm từ đầu của Khấn Nguyện liên hệ với Đầu, Shamballa; với Tim, Thánh Đoàn; và với trung tâm Cổ Họng, Nhân loại; thì việc sử dụng đúng đắn cụm từ thứ tư này sẽ đưa vào hoạt động hữu thức và chức năng trung tâm giữa hai chân mày, trung tâm ajna trong con người cá nhân và trong toàn thể nhân loại. Trung tâm này bắt đầu trở nên hoạt động và vận hành một cách năng động, cai quản và chỉ đạo các năng lượng cá nhân, một khi đã đạt được bất kỳ mức độ tích hợp phàm ngã thực sự nào. Như các bạn biết, đây là trung tâm thứ tư nằm phía trên cơ hoành [169] trong thể người, và cụm từ đánh thức nó (cả nơi cá nhân lẫn trong nhóm) chính là cụm từ thứ tư này. Vì vậy, có một tương quan số học. Khi được con người sử dụng một cách khôn ngoan và thông tuệ, nhiều năng lực dung hợp mà ba cụm từ đầu đã làm cho khả dụng sẽ được khẩn cầu và nhờ đó trở nên khả dụng cho cá nhân cũng như cho nhóm. Khi ấy chúng có thể được tập trung để y sử dụng trong trung tâm ajna. Vì thế, theo nhiều cách, cụm từ thứ tư này của Đại Khấn Nguyện có tầm quan trọng tối thượng đối với cá nhân cũng như đối với nhân loại, vì nó khẩn cầu những năng lực lớn lao và thiết yếu, đồng thời chỉ ra tiến trình (Hi sinh) và mục đích, cùng với sự đồng hoá của đơn vị và nhóm với ý định căn bản của biểu hiện. |
|
The fifth phrase, Let power attend the efforts of the Great Ones, is definitely related to the effect in the Hierarchy of a constructive use of the Great Invocation, just as the previous one is related to the effect in humanity. This effect in the Hierarchy is a relatively new one and is due to the participation of humanity in the process of invocation, thus producing new effects and contacts. It is the united effort of the two great centres which is of such paramount importance and upon which I desire to have you concentrate. Its utterance by man throws the weight of human appeal and desire behind the age-old efforts of the Hierarchy and this is now, for the first time, truly possible on a large scale. For aeons, the Hierarchy has struggled alone to help and lift humanity and to stimulate the potency of the human planetary centre so that its vibratory activity would eventually be sufficiently powerful to swing it into the radius or magnetic field of hierarchical activity. This long task has at last achieved success. The Hierarchy and humanity are at last en rapport. This is the higher reflection or correspondence to what goes on within the consciousness of a human being who—having reached the stage of discipleship—is at the point of blending the light of the personality (as it is expressed through the ajna centre and its externalisation, the pituitary body) and the light of the soul (as it is, in its turn, expressed [170] by the light in the head, or by the head centre and its externalisation, the pineal gland). |
Cụm từ thứ năm, Nguyện cho quyền năng đi kèm những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả, rõ ràng liên hệ với hiệu quả trong Thánh Đoàn của việc sử dụng Đại Khấn Nguyện một cách xây dựng, cũng như cụm từ trước liên hệ với hiệu quả trong nhân loại. Hiệu quả này trong Thánh Đoàn là một điều tương đối mới và là do sự tham gia của nhân loại vào tiến trình khẩn cầu, nhờ đó tạo ra những hiệu quả và tiếp xúc mới. Chính nỗ lực hợp nhất của hai trung tâm lớn này có tầm quan trọng tối thượng như vậy, và đó là điều tôi muốn các bạn tập trung vào. Việc con người xướng lên cụm từ này đặt sức nặng của lời kêu cầu và khát vọng nhân loại đằng sau những nỗ lực lâu đời của Thánh Đoàn, và điều này giờ đây lần đầu tiên thực sự có thể thực hiện trên quy mô lớn. Trong nhiều đại kiếp, Thánh Đoàn đã đơn độc phấn đấu để giúp đỡ và nâng cao nhân loại, và để kích thích năng lực của trung tâm hành tinh nhân loại sao cho hoạt động rung động của nó cuối cùng đủ mạnh để đưa nó vào trong bán kính hay từ trường của hoạt động phân cấp. Công việc lâu dài này cuối cùng đã thành công. Thánh Đoàn và nhân loại cuối cùng đã tương thông. Đây là sự phản chiếu cao hơn hay tương ứng với điều diễn ra trong tâm thức của một con người mà—sau khi đạt đến giai đoạn địa vị đệ tử—đang ở điểm dung hợp ánh sáng của phàm ngã (như được biểu lộ qua trung tâm ajna và sự ngoại hiện của nó là tuyến yên) với ánh sáng của linh hồn (như đến lượt nó được biểu lộ [170] bởi ánh sáng trong đầu, hay bởi trung tâm đầu và sự ngoại hiện của nó là tuyến tùng quả). |
|
You will, therefore, note afresh the practical significance of these fourth and fifth phrases of the Great Invocation. One serves to arouse humanity (as a planetary centre) to activity and realisation and the other serves to aid the Hierarchy in its ancient efforts so that the two are then related to each other’s magnetic fields and produce a blending and a synthesis which will lead to a fuller expression of the soul of divinity through the medium of humanity. Ponder on this statement. |
Vì vậy, các bạn sẽ lại lưu ý ý nghĩa thực tiễn của các cụm từ thứ tư và thứ năm này của Đại Khấn Nguyện. Một cụm từ giúp khơi dậy nhân loại (như một trung tâm hành tinh) đi vào hoạt động và chứng nghiệm, còn cụm từ kia giúp Thánh Đoàn trong những nỗ lực cổ xưa của mình, để rồi cả hai được liên hệ với từ trường của nhau và tạo ra một sự dung hợp và tổng hợp sẽ dẫn đến biểu hiện đầy đủ hơn của linh hồn của thiên tính qua trung gian nhân loại. Hãy suy ngẫm về phát biểu này. |
|
In the esoteric teaching, this takes place in the life of the individual when—by an act of the will—the centre at the base of the spine is aroused and the fire and the light of the personal threefold life (one aspect of which is often called the kundalini fire) is carried upwards and merged with the power and the light of the soul. The major approach of the two basic energies of form and soul (as an expression of spirit) are thereby related within the human being; the “marriage in the heavens” takes place and the task of the creative process of incarnation or individual manifestation is on the way to completion. Within the planetary life, the same process goes on. The life of humanity as a whole (which is intelligent form life) and the life of the Hierarchy (which is the life of the soul), under impulse from the Spirit or will aspect as symbolised in Shamballa, are fused and blended and then a new departure in the evolutionary process becomes possible. The kingdom of God, which is the kingdom of souls, and the human kingdom as mutually expressive and interrelated, are perfectly synthesised and anchored on earth. The glory of the One can then be faintly seen, which is the glory of Shamballa. The Dweller upon the threshold of divinity and the Angel of the Presence then stand face to face. |
Trong giáo huấn huyền bí, điều này diễn ra trong đời sống cá nhân khi—bằng một hành động của ý chí—trung tâm ở đáy cột sống được khơi dậy và lửa cùng ánh sáng của đời sống tam phân cá nhân (một phương diện của nó thường được gọi là lửa kundalini) được mang lên trên và hòa nhập với quyền năng và ánh sáng của linh hồn. Nhờ đó, sự tiếp cận chủ yếu của hai năng lượng căn bản là hình tướng và linh hồn (như một biểu hiện của tinh thần) được liên hệ trong con người; “cuộc hôn phối trên thiên giới” diễn ra và nhiệm vụ của tiến trình sáng tạo của sự nhập thể hay biểu hiện cá nhân đang trên đường hoàn tất. Trong sự sống hành tinh, cùng một tiến trình cũng diễn ra. Sự sống của toàn thể nhân loại (là sự sống hình tướng thông tuệ) và sự sống của Thánh Đoàn (là sự sống của linh hồn), dưới xung lực từ phương diện Tinh thần hay ý chí như được tượng trưng trong Shamballa, được dung hợp và hòa trộn, và khi ấy một khởi đầu mới trong tiến trình tiến hoá trở nên khả hữu. Thiên Giới, là giới của các linh hồn, và giới nhân loại như những biểu hiện hỗ tương và tương liên, được tổng hợp hoàn hảo và neo chặt trên địa cầu. Khi ấy vinh quang của Đấng Duy Nhất có thể được thấy lờ mờ, đó là vinh quang của Shamballa. Kẻ Chận Ngõ trên ngưỡng cửa của thiên tính và Thiên Thần của Hiện Diện khi ấy đứng đối diện nhau. |
|
This is the situation today. Tomorrow they will blend and synthesise and the glory of God will appear on earth. The second great Approach will have been achieved. [171] |
Đó là tình hình hôm nay. Ngày mai chúng sẽ dung hợp và tổng hợp, và vinh quang của Thượng đế sẽ xuất hiện trên địa cầu. Cuộc Tiếp Cận lớn thứ hai sẽ đã được thành tựu. [171] |
CALL TO A UNITED ACT OF SERVICE—LỜI KÊU GỌI CHO MỘT HÀNH ĐỘNG PHỤNG SỰ HỢP NHẤT
THE COMING WORLD ORDER—TRẬT TỰ THẾ GIỚI SẮP ĐẾN
|
April 1940 |
Tháng Tư 1940 |
|
This analysis of world conditions is being written in America, where there is, as yet, relative physical safety and [175] time for the re-adjustment of views, and the opportunity also to give direction—along with embattled Britain and her Allies—to a world sorely needing guidance and vision. There is great confusion of voices. Those who know the least speak ever the loudest and apportion the blame for events with facility. There is much mental distress everywhere, occasioned by the war and also by the desire of the well-intentioned to stress their particular solutions of the world problem. |
Bản phân tích này về các điều kiện thế giới được viết tại Mỹ, nơi hiện vẫn còn sự an toàn hồng trần tương đối và [175] thời gian để điều chỉnh lại quan điểm, cũng như cơ hội để cùng với nước Anh đang chiến đấu và các nước Đồng minh của bà, định hướng cho một thế giới đang rất cần sự hướng dẫn và tầm nhìn. Có một sự hỗn loạn lớn của các tiếng nói. Những người biết ít nhất lại luôn nói to nhất và dễ dàng quy trách nhiệm cho các biến cố. Khắp nơi có nhiều khổ sở trí tuệ, do chiến tranh gây ra và cũng do mong muốn của những người có thiện ý muốn nhấn mạnh các giải pháp riêng của họ cho vấn đề thế giới. |
|
It is necessary, therefore, to speak with directness, to indicate the inherent dangers of the present situation, to present its amazing opportunity to bring about needed changes, and to point out the lines of demarcation between the right and the wrong ways of living, between a vision of the new world order and the retrograde plans of the so-called “new order” with which the totalitarian powers seek to bewilder humanity. |
Vì vậy, cần phải nói một cách trực tiếp, chỉ ra những nguy hiểm cố hữu của tình hình hiện nay, trình bày cơ hội kỳ diệu của nó để tạo ra những thay đổi cần thiết, và vạch ra những đường ranh giới giữa lối sống đúng và sai, giữa linh ảnh về trật tự thế giới mới và những kế hoạch thoái bộ của cái gọi là “trật tự mới” mà các cường quốc toàn trị tìm cách dùng để làm mê hoặc nhân loại. |
|
We start with the premise that two opposing world visions confront humanity and that two world orders are presented to mankind. Between these man must choose, and his choice will determine the future. |
Chúng ta bắt đầu với tiền đề rằng hai linh ảnh thế giới đối nghịch đang đối diện nhân loại và rằng hai trật tự thế giới đang được trình ra trước loài người. Giữa hai điều này con người phải chọn, và sự lựa chọn của y sẽ quyết định tương lai. |
|
The years 1941 and 1942 will be years of crisis and of tension. Those who perceive the risks, the opportunity, and the important decision to be made are struggling with almost frantic haste to awaken the masses to the uniqueness of this moment. What mankind decides during the next twelve months will condition the future as no other human decision has ever before done in the history of mankind. |
Các năm 1941 và 1942 sẽ là những năm khủng hoảng và căng thẳng. Những ai nhận thấy các nguy cơ, cơ hội và quyết định quan trọng cần được đưa ra đang vật lộn với sự vội vã gần như cuống cuồng để đánh thức quần chúng trước tính độc nhất của thời điểm này. Điều mà nhân loại quyết định trong mười hai tháng tới sẽ tác động lên tương lai theo cách chưa từng có một quyết định nào khác của con người từng làm trong lịch sử nhân loại. |
|
There have been points of crisis before in history, but not one that involved the entire planetary population. There have been periods of danger, difficulty, war, famine and distress, but none which conditioned the lives of untold millions as does the present. Time and again there has been the emergence of leaders, conquerors, dictators and world figures, but they have hitherto come at a time when their influence was limited by world communications and by national limitations; therefore their power was not universal and their progress was arrested by the conditions of the [176] period in which they lived. Today, the entire planet is involved and all the nations of the world are definitely affected. |
Trước đây trong lịch sử đã từng có những điểm khủng hoảng, nhưng chưa từng có điểm nào liên quan đến toàn bộ dân số hành tinh. Đã từng có những thời kỳ nguy hiểm, khó khăn, chiến tranh, đói kém và khốn khổ, nhưng chưa từng có thời kỳ nào tác động lên đời sống của hàng triệu người không kể xiết như hiện nay. Hết lần này đến lần khác đã xuất hiện những nhà lãnh đạo, những kẻ chinh phục, những nhà độc tài và những nhân vật thế giới, nhưng cho đến nay họ xuất hiện vào thời mà ảnh hưởng của họ bị giới hạn bởi thông tin liên lạc thế giới và bởi những giới hạn quốc gia; vì vậy quyền lực của họ không mang tính phổ quát và bước tiến của họ bị ngăn lại bởi các điều kiện của [176] thời kỳ mà họ sống. Ngày nay, toàn bộ hành tinh đều bị cuốn vào và mọi quốc gia trên thế giới đều bị ảnh hưởng rõ rệt. |
|
There is the setting up of barriers in a futile effort to keep out of trouble and avoid war; dominant groups are swinging many nations under their banners so that they are either associated with the totalitarian powers or with those nations which are opposing them. The nations which are not actually belligerents are equally active in the task of endeavouring to preserve their national integrity. |
Các rào cản đang được dựng lên trong một nỗ lực vô ích nhằm tránh rắc rối và né chiến tranh; các nhóm thống trị đang lôi kéo nhiều quốc gia dưới cờ của họ để các quốc gia ấy либо liên kết với các cường quốc toàn trị, либо với những quốc gia đang chống lại họ. Những quốc gia chưa thực sự tham chiến cũng tích cực như nhau trong nhiệm vụ cố gắng bảo toàn sự toàn vẹn quốc gia của mình. |
|
The conflict today is a world conflict. The following groups of people are involved: |
Cuộc xung đột hôm nay là một cuộc xung đột thế giới. Những nhóm người sau đây đều bị cuốn vào: |
|
1. The fighting aggressor nations, ruled by ambitious dictators. |
1. Các quốc gia xâm lược đang chiến đấu, bị cai trị bởi những nhà độc tài đầy tham vọng. |
|
2. The nations which are seeking to defend themselves and the liberties of humanity. |
2. Các quốc gia đang tìm cách tự vệ và bảo vệ các quyền tự do của nhân loại. |
|
3. The neutral nations, seeing the issues involved and faced with the immediate necessity to take sides. |
3. Các quốc gia trung lập, nhìn thấy những vấn đề liên quan và đang đối diện với nhu cầu cấp bách phải chọn phe. |
|
The momentum of this struggle is gaining daily. Fresh areas of the world are being swept into the conflict every week. The real issues, the impending economic results and the political implications are emerging with growing clarity in every land and—make no mistake—even in those lands which lie numbed and suffering under the heel of the conqueror. Among them there is a silent and at present voiceless revolt. The inner speechless revolt in itself constitutes a menace to world peace and, if evoked into full expression, may plunge the world still deeper into conflict. |
Động lực của cuộc đấu tranh này đang tăng lên từng ngày. Mỗi tuần những khu vực mới của thế giới lại bị cuốn vào xung đột. Những vấn đề thực sự, các hậu quả kinh tế sắp tới và các hàm ý chính trị đang xuất hiện ngày càng rõ ở mọi xứ sở và—đừng nhầm lẫn—ngay cả ở những xứ sở đang tê liệt và đau khổ dưới gót chân của kẻ chinh phục. Trong số họ có một cuộc nổi dậy âm thầm và hiện giờ chưa có tiếng nói. Bản thân cuộc nổi dậy câm lặng bên trong ấy đã là một mối đe dọa đối với hòa bình thế giới và, nếu được khơi dậy thành biểu hiện đầy đủ, có thể đẩy thế giới chìm sâu hơn nữa vào xung đột. |
|
Facing humanity today are two major dangers. These are: first, the conflict will be so prolonged that humanity will be completely exhausted, and thus a stalemate will be reached and a situation will arise which will bring to an end all civilised relationships and all hope of an ordered life of beauty, peace and culture. Secondly, the nations not yet involved will fail to see the realities of the situation and will not come to the assistance of those fighting for the preservation of national and individual freedom. If this [177] should prove to be the case, then—without so intending and yet inevitably—they will stand on the side of evil and share in the responsibility of engineering world disaster. |
Hiện nay nhân loại đang đối diện với hai nguy cơ lớn. Đó là: thứ nhất, cuộc xung đột sẽ kéo dài đến mức nhân loại hoàn toàn kiệt quệ, và như vậy sẽ đạt đến một thế bế tắc, tạo ra một tình trạng chấm dứt mọi quan hệ văn minh và mọi hy vọng về một đời sống có trật tự, đẹp đẽ, hòa bình và văn hóa. Thứ hai, các quốc gia chưa bị cuốn vào sẽ không thấy được thực tại của tình hình và sẽ không đến trợ giúp những nước đang chiến đấu để bảo tồn tự do quốc gia và cá nhân. Nếu [177] điều này xảy ra, thì—dù không có ý như vậy nhưng tất yếu—họ sẽ đứng về phía điều ác và chia sẻ trách nhiệm gây ra thảm họa thế giới. |
|
Ngày nay, trên thế giới không còn quá hai phe—những người đứng về phía các tương quan nhân loại đúng đắn và những người đứng về phía nền chính trị quyền lực ích kỷ và tàn nhẫn. Các cường quốc toàn trị đang tiến bước—tàn nhẫn, ích kỷ, độc ác và xâm lược; các cường quốc đang chiến đấu cho tự do của con người và cho quyền của những quốc gia nhỏ bé không được bảo vệ đang đứng lưng dựa tường, đối diện với sự phô bày sức mạnh con người lớn nhất mà thế giới từng thấy. Những quốc gia chưa bị cuốn vào về mặt hồng trần đang chuẩn bị cho một hình thức hành động nào đó và cho sự phòng vệ—phòng vệ chống lại các cường quốc độc tài chứ không phải chống lại các nền dân chủ đang chiến đấu. |
|
|
The battle today is being fought out on the land, on the sea, and in the air. From the economic standpoint, every country is involved, and ruin stalks in the wake of war; the stopping of imports or of exports in many lands is bringing about the financial ruin of thousands; the pressure of economic disaster, the fear of famine and pestilence and the constant risk of becoming actively a part of the war faces every country not yet actually in the fighting line. The fear of defeat, of death and injury, and of the loss of all possessions is added to these problems, where the nations at war are concerned. |
Trận chiến hôm nay đang được tiến hành trên đất liền, trên biển và trên không. Xét từ quan điểm kinh tế, mọi quốc gia đều bị cuốn vào, và sự tàn phá đang theo sau chiến tranh; việc ngưng nhập khẩu hay xuất khẩu ở nhiều xứ sở đang gây ra sự phá sản tài chính cho hàng ngàn người; áp lực của thảm họa kinh tế, nỗi sợ đói kém và dịch bệnh, và nguy cơ thường trực trở thành một phần tích cực của chiến tranh đang đối diện với mọi quốc gia chưa thực sự ở tuyến chiến đấu. Nỗi sợ thất bại, chết chóc và thương tích, cùng sự mất mát mọi tài sản được cộng thêm vào những vấn đề này, đối với các quốc gia đang có chiến tranh. |
|
Humanity must face up to these facts. No matter how people may evade the truth, no matter how they may escape into a dream world of wishful thinking, the fact remains—inevitable and undeniable—that the world is at war and everyone is involved. |
Nhân loại phải đối diện với những sự kiện này. Dù người ta có né tránh sự thật thế nào, dù họ có trốn vào một thế giới mộng tưởng của ước muốn viển vông ra sao, sự kiện vẫn còn đó—không thể tránh và không thể phủ nhận—rằng thế giới đang có chiến tranh và mọi người đều bị cuốn vào. |
|
The Goodwill Work |
Công Việc Thiện Chí |
|
Prior to September, 1939, the objectives of our world-wide work, over a period of nine years, were the spreading of world goodwill, the discovery of the men and women of goodwill throughout the world, and the endeavour to teach the meaning of the will-to-good. This is the main task of [178] the New Group of World Servers. We inculcated a non-separative attitude and the need for right human relations. We endeavoured to make clear that differing forms of government and varying ideological systems were right and possible, provided that human beings lived together in goodwill and recognised their blood brotherhood. |
Trước tháng Chín năm 1939, các mục tiêu của công việc toàn cầu của chúng ta, trong suốt chín năm, là truyền bá thiện chí thế giới, tìm ra những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới, và cố gắng dạy ý nghĩa của Ý Chí-hướng Thiện. Đây là nhiệm vụ chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chúng tôi đã hun đúc một thái độ không chia rẽ và nhu cầu về những tương quan nhân loại đúng đắn. Chúng tôi đã cố gắng làm sáng tỏ rằng những hình thức chính quyền khác nhau và những hệ thống ý thức hệ khác nhau đều đúng và khả hữu, miễn là con người sống với nhau trong thiện chí và nhận ra tình huynh đệ cùng huyết thống của mình. |
|
Then humanity made its decision to fight, and the war broke out: one group, the instigators of the war, fighting to acquire material power, the glory of a nation and the subjugation of the defenceless; and the other, fighting to preserve its own liberty of action, the preservation of its integrity, the right of the little nations and the spiritual values. Immediately, the issue was abundantly clear in the minds of those who were in touch with human affairs; immediately certain nations took sides against the forces of aggression; immediately, other nations, biased by similar distorted ideologies and equally selfish purposes, stood with the aggressor nation; immediately, panic swept the remaining nations, who took refuge in short-sighted neutrality and defence programmes—a neutrality and programmes which have proved quite futile to protect them. |
Rồi nhân loại đã đưa ra quyết định chiến đấu, và chiến tranh bùng nổ: một nhóm, những kẻ khởi xướng chiến tranh, chiến đấu để giành quyền lực vật chất, vinh quang của một quốc gia và sự khuất phục những kẻ không được bảo vệ; còn nhóm kia chiến đấu để bảo vệ quyền tự do hành động của mình, bảo tồn sự toàn vẹn của mình, quyền của các quốc gia nhỏ và các giá trị tinh thần. Ngay lập tức, vấn đề đã hoàn toàn rõ ràng trong tâm trí những ai tiếp xúc với các công việc nhân loại; ngay lập tức một số quốc gia đã đứng về phía chống lại các mãnh lực xâm lược; ngay lập tức những quốc gia khác, bị thiên lệch bởi những ý thức hệ méo mó tương tự và những mục đích ích kỷ tương đương, đã đứng với quốc gia xâm lược; ngay lập tức, sự hoảng loạn quét qua các quốc gia còn lại, những nước này tìm nơi trú ẩn trong sự trung lập thiển cận và các chương trình phòng vệ—một sự trung lập và những chương trình đã tỏ ra hoàn toàn vô ích trong việc bảo vệ họ. |
|
Where, then, should the New Group of World Servers stand? What should the men and women of goodwill do? Should they side with the totalitarian powers because in so doing they will bring the conflict more rapidly to an end, or should they stand on the side of the neutral powers, frantically pursuing ineffective peace programmes, policies of appeasement, and play into the hands of the totalitarian powers? |
Vậy thì Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải đứng ở đâu? Những người nam và nữ thiện chí phải làm gì? Họ có nên đứng về phía các cường quốc toàn trị vì làm như vậy sẽ chấm dứt xung đột nhanh hơn, hay họ nên đứng về phía các cường quốc trung lập, đang cuống cuồng theo đuổi những chương trình hòa bình không hiệu quả, những chính sách nhân nhượng, và như thế tiếp tay cho các cường quốc toàn trị? |
|
Humanity having decided to fight out the battle physically, there was nothing left to do but issue a challenge to the men and women of goodwill to take their stand on the side of such action as would release humanity through the destruction of the evil forces. These had determined to prove that might was right. Therefore, the forces fighting for progress and civilisation had to meet force with force. |
Một khi nhân loại đã quyết định giải quyết trận chiến bằng phương tiện hồng trần, thì không còn gì khác để làm ngoài việc đưa ra một lời thách thức đối với những người nam và nữ thiện chí là hãy đứng về phía hành động nào sẽ giải phóng nhân loại bằng cách tiêu diệt các mãnh lực ác. Những mãnh lực này đã quyết tâm chứng minh rằng sức mạnh là lẽ phải. Vì vậy, các mãnh lực chiến đấu cho tiến bộ và văn minh đã phải lấy lực đối lực. |
|
The challenge was taken up by the democracies who [179] stand for human rights and liberty. Because of the decision to fight on the side of spiritual progress, the spiritual forces of the planet had no alternative but to align themselves on the side of the allied democracies, and endeavour to awaken the neutral nations to the issue. They ranged themselves against the leaders of the aggressor nations, though not against their poor deluded or subdued peoples. They too must be liberated by the allied democracies. |
Lời thách thức ấy đã được các nền dân chủ tiếp nhận, những nước [179] đứng cho quyền con người và tự do. Vì quyết định chiến đấu về phía tiến bộ tinh thần, các mãnh lực tinh thần của hành tinh không có lựa chọn nào khác ngoài việc chỉnh hợp về phía các nền dân chủ đồng minh, và cố gắng đánh thức các quốc gia trung lập trước vấn đề. Các mãnh lực ấy xếp hàng chống lại các nhà lãnh đạo của các quốc gia xâm lược, dù không chống lại những dân tộc đáng thương bị mê lầm hay bị khuất phục của họ. Họ cũng phải được các nền dân chủ đồng minh giải phóng. |
|
On the basis of an active will-to-good, the men and women of goodwill, acting under the inspiration of the New Group of World Servers, had no alternative but to take their stand with the spiritual forces and join the struggle for the liberation of humanity from totalitarian ambitions and the intentions of a group of evil men. But the spirit of goodwill must be, steadily and unchangingly, the motivating impulse. No hate must be allowed to enter in. The greatest good of the greatest number lies today in the release of the nations from the domination of the totalitarian powers. |
Trên cơ sở của một Ý Chí-hướng Thiện tích cực, những người nam và nữ thiện chí, hành động dưới cảm hứng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, không có lựa chọn nào khác ngoài việc đứng về phía các mãnh lực tinh thần và tham gia cuộc đấu tranh để giải phóng nhân loại khỏi những tham vọng toàn trị và những ý đồ của một nhóm người ác. Nhưng tinh thần thiện chí phải luôn luôn và không thay đổi là xung lực thúc đẩy. Không được để hận thù xâm nhập. Điều thiện lớn nhất cho số đông nhất ngày nay nằm ở việc giải phóng các quốc gia khỏi sự thống trị của các cường quốc toàn trị. |
|
The Pacifist Position |
Lập Trường Hòa Bình Chủ Nghĩa |
|
The second point upon which I would touch is the arguments brought out by the pacifists of the world. All true and good people are pacifically minded and all hate war. This is a fact which the academic idealist and pacifist often forgets. Such people tell us that two wrongs do not make a right; and to meet murder with murder (which is their definition of war) is sinful; that war is evil (which no one denies) and that one must not take part in it. They contend that thinking thoughts of peace and of love can put the world straight and end the war. Such people, fighting the existent fact of war, usually do little or nothing concrete to right the wrongs which are responsible for the war, and permit their defence—personal, municipal, national and international—to be undertaken by others. The sincerity of these people cannot be questioned. |
Điểm thứ hai mà tôi muốn đề cập đến là những luận điểm do những người theo chủ nghĩa hòa bình trên thế giới đưa ra. Mọi người chân chính và thiện lương đều có khuynh hướng hòa bình và đều ghét chiến tranh. Đây là một sự kiện mà nhà lý tưởng học hàn lâm và người theo chủ nghĩa hòa bình thường quên mất. Những người như vậy nói với chúng ta rằng hai điều sai không tạo thành một điều đúng; và đáp lại giết người bằng giết người (đó là định nghĩa của họ về chiến tranh) là tội lỗi; rằng chiến tranh là điều ác (điều mà không ai phủ nhận) và rằng người ta không được tham gia vào nó. Họ cho rằng nghĩ những tư tưởng hòa bình và tình thương có thể sửa lại thế giới và chấm dứt chiến tranh. Những người như vậy, chống lại sự kiện hiện hữu là chiến tranh, thường làm rất ít hoặc không làm gì cụ thể để sửa chữa những sai trái gây ra chiến tranh, và để cho sự phòng vệ của họ—cá nhân, đô thị, quốc gia và quốc tế—được người khác đảm nhận. Không thể nghi ngờ sự chân thành của những người này. |
|
It should be remembered, in countering these ideas and in justifying the fighting spirit of the Christian democracies, [180] that it is motive that counts. War can be and is mass murder, where the motive is wrong. It can be sacrifice and right action, where the motive is right. The slaying of a man in the act of killing the defenceless is not regarded as murder. The principle remains the same, whether it is killing an individual who is murdering, or fighting a nation which is warring on the defenceless. The material means, which evil uses for selfish ends, can also be employed for good purposes. The death of the physical body is a lesser evil than the setting back of civilisation, the thwarting of the divine purposes of the human spirit, the negating of all spiritual teaching, and the control of men’s minds and liberties. War is always evil, but it can be the lesser of two evils, as is the case today. |
Cần nhớ, khi phản bác những ý tưởng này và khi biện minh cho tinh thần chiến đấu của các nền dân chủ Cơ Đốc, [180] rằng chính động cơ mới là điều quan trọng. Chiến tranh có thể là và quả thực là giết người hàng loạt, khi động cơ sai. Nó có thể là hi sinh và hành động đúng đắn, khi động cơ đúng. Việc giết một người đang trong hành vi sát hại những kẻ không được bảo vệ không bị xem là giết người. Nguyên tắc vẫn như nhau, dù là giết một cá nhân đang giết người, hay chiến đấu với một quốc gia đang gây chiến với những kẻ không được bảo vệ. Những phương tiện vật chất mà điều ác dùng cho những mục đích ích kỷ cũng có thể được sử dụng cho những mục đích thiện. Cái chết của thể xác là điều ác nhỏ hơn so với việc kéo lùi nền văn minh, cản trở các mục đích thiêng liêng của tinh thần con người, phủ nhận mọi giáo huấn tinh thần, và kiểm soát trí tuệ cùng tự do của con người. Chiến tranh luôn là điều ác, nhưng nó có thể là điều ác nhỏ hơn trong hai điều ác, như trường hợp hiện nay. |
|
The present war, if carried forward to a successful completion by the defeat of the totalitarian powers, constitutes a far lesser evil than the subjugation of many nations to the unparalleled cupidity, the appalling educational process and the defiance of all recognised spiritual values by the Axis powers. If the totalitarian powers should conquer, it would mean years of turmoil and revolt; their victory would result in untold misery. |
Cuộc chiến hiện nay, nếu được tiến hành đến chỗ hoàn tất thành công bằng sự đánh bại các cường quốc toàn trị, là một điều ác nhỏ hơn rất nhiều so với việc nhiều quốc gia bị khuất phục trước lòng tham vô song, tiến trình giáo dục kinh hoàng và sự thách thức mọi giá trị tinh thần được công nhận của các cường quốc Trục. Nếu các cường quốc toàn trị chiến thắng, điều đó sẽ có nghĩa là nhiều năm hỗn loạn và nổi dậy; chiến thắng của họ sẽ dẫn đến khổ đau không kể xiết. |
|
It is no doubt an undeniable spiritual truth that right thought can change and save the world, but it is also true that there are not enough people able to think to do this work. Also, there is not enough time in which to do it. The thoughts of peace are mainly founded upon a stubborn idealism that loves the ideal more than humanity. They are based also upon an unrecognised fear of war and upon an individual inertia which prefers the dream world of wishful thinking to the shouldering of responsibility for the security of humanity. |
Không nghi ngờ gì, đó là một chân lý tinh thần không thể phủ nhận rằng tư tưởng đúng đắn có thể thay đổi và cứu thế giới, nhưng cũng đúng là không có đủ người có khả năng suy nghĩ để làm công việc này. Ngoài ra, cũng không có đủ thời gian để làm điều đó. Những tư tưởng về hòa bình chủ yếu dựa trên một chủ nghĩa lý tưởng cố chấp yêu lý tưởng hơn yêu nhân loại. Chúng cũng dựa trên một nỗi sợ chiến tranh không được nhận ra và trên một tính trì trệ cá nhân thích thế giới mộng tưởng của ước muốn viển vông hơn là gánh lấy trách nhiệm đối với sự an toàn của nhân loại. |
|
Thus briefly have I sought to make the position of the New Group of World Servers clear as it fights for the rights of man, for the spiritual future of humanity, and for the new world order. What I have now to say will fall into four parts: [181] |
Tóm lại như vậy, tôi đã cố gắng làm sáng tỏ lập trường của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian khi đoàn này chiến đấu cho quyền của con người, cho tương lai tinh thần của nhân loại, và cho trật tự thế giới mới. Điều tôi sắp nói bây giờ sẽ chia thành bốn phần: [181] |
|
I. Thế giới như hiện tồn ngày nay. Tình hình hiện nay là kết quả của những khuynh hướng quá khứ, của những áp lực nền tảng và của các quyết định của con người. |
|
|
II. The new world order. This we will contrast with the old order and with the so-called “new order” of the totalitarian powers. |
II. Trật tự thế giới mới. Chúng ta sẽ đối chiếu điều này với trật tự cũ và với cái gọi là “trật tự mới” của các cường quốc toàn trị. |
|
III. Some problems involved. Four major world problems will call for discussion and these we must consider. |
III. Một số vấn đề liên quan. Bốn vấn đề lớn của thế giới sẽ cần được bàn đến và chúng ta phải xem xét chúng. |
|
IV. The task ahead. We will then deal with the interlude until peace is achieved plus some suggestions for the coming period of reconstruction. |
IV. Nhiệm vụ phía trước. Khi đó chúng ta sẽ đề cập đến giai đoạn chuyển tiếp cho đến khi hòa bình đạt được cùng với một số gợi ý cho thời kỳ tái thiết sắp tới. |
|
I. THE WORLD TODAY |
I. THẾ GIỚI NGÀY NAY |
|
What are the causes which have produced present world conditions? What are the underlying pressures which are producing the present chaos or those which can produce eventual order? Before there can be correction, there must be appreciation of error; there must be understanding of the predisposing causes producing the necessity; there must be realisation of the general guilt and a shared responsibility for the evil conditions; there must be determination to make restitution, and to cease from evil doing. |
Những nguyên nhân nào đã tạo ra các điều kiện thế giới hiện nay? Những áp lực nền tảng nào đang tạo ra tình trạng hỗn loạn hiện nay hoặc những áp lực nào có thể tạo ra trật tự cuối cùng? Trước khi có thể sửa chữa, phải có sự nhận thức về sai lầm; phải có sự thấu hiểu những nguyên nhân tiền định tạo ra nhu cầu; phải có sự chứng nghiệm về tội lỗi chung và trách nhiệm chia sẻ đối với các điều kiện xấu xa; phải có quyết tâm hoàn nguyên, và chấm dứt việc làm điều ác. |
|
The tendency to fasten the war on Hitler and his gang of evil men should not blind us to the causes which have made his evil work possible. He is mainly a precipitating agency, for through him world selfishness and cruelty have been brought to a focus. But, as Christ has said: “Woe unto the world because of offences! for it must needs be that offences come; but woe to that man by whom the offence cometh.” (Matthew 18:7.) The causes of this rampant evil are inherent in humanity itself. |
Khuynh hướng quy trách cuộc chiến cho Hitler và bọn người ác của hắn không nên làm chúng ta mù quáng trước những nguyên nhân đã khiến công việc tà ác của hắn trở nên khả hữu. Hắn chủ yếu là một tác nhân ngưng tụ, vì qua hắn mà tính ích kỷ và sự tàn bạo của thế giới đã được gom lại thành một tiêu điểm. Nhưng, như Đức Christ đã nói: “Khốn cho thế gian vì những cớ vấp phạm! vì những cớ vấp phạm tất phải đến; nhưng khốn cho kẻ bởi đó mà cớ vấp phạm đến.” (Matthew 18:7.) Những nguyên nhân của sự ác hoành hành này vốn cố hữu trong chính nhân loại. |
|
Ancient and untrammelled selfishness has ever been a characteristic of man; the desire for power and for possession has ever motivated men and nations; cruelty, lust, and sacrifice of the higher values to the lower have been deeply rooted human habits for ages. Of these ancient habits of thought and behaviour all peoples and all nations are guilty. Steadily, [182] as the world grew closer, the lines of cleavage and the antagonism of the nations increased, and thus the present war (beginning in 1914) is the inevitable result of wrong thought, selfish goals and ancient hatreds. Individualistic interest, separative aims and aggressive desire march towards their inevitable finale—war and chaos. |
Tính ích kỷ cổ xưa và không bị kiềm chế từ lâu vẫn là một đặc tính của con người; lòng ham muốn quyền lực và chiếm hữu từ lâu vẫn thúc đẩy những người nam và nữ cùng các quốc gia; sự tàn bạo, dục vọng, và việc hi sinh các giá trị cao hơn cho những giá trị thấp hơn đã là những thói quen nhân loại ăn sâu từ bao thời đại. Về những thói quen tư tưởng và hành vi cổ xưa ấy, mọi dân tộc và mọi quốc gia đều có tội. Đều đặn, [182] khi thế giới trở nên gần gũi hơn, các đường phân rẽ và sự đối kháng giữa các quốc gia gia tăng, và do đó cuộc chiến hiện nay (bắt đầu vào năm 1914) là kết quả tất yếu của tư tưởng sai lầm, những mục tiêu ích kỷ và những hận thù cổ xưa. Quyền lợi cá nhân chủ nghĩa, những mục tiêu chia rẽ và ham muốn xâm lược đang tiến bước tới kết cục tất yếu của chúng—chiến tranh và hỗn loạn. |
|
The economic situation also provides a symbol of this condition. The nations divide themselves into the “Haves” and the “Have Nots,” and thus bring in the present era of gangsterism. Organised gangs in the United States came into being as an expression of these tendencies in national life. In the international world, three nations are now playing the same part. The allied nations and the United States are recognising the menace of national and international gangsterism and are endeavouring to crush it. But—and this is the point of importance—these conditions have been made possible by humanity as a whole. |
Tình hình kinh tế cũng cung cấp một biểu tượng cho trạng thái này. Các quốc gia tự chia mình thành “những kẻ có” và “những kẻ không có,” và do đó đưa vào kỷ nguyên hiện tại của chủ nghĩa du đãng. Những băng nhóm có tổ chức tại Hoa Kỳ đã xuất hiện như một biểu hiện của các khuynh hướng ấy trong đời sống quốc gia. Trong thế giới quốc tế, hiện nay ba quốc gia đang đóng cùng một vai trò. Các quốc gia đồng minh và Hoa Kỳ đang nhận ra mối đe dọa của chủ nghĩa du đãng quốc gia và quốc tế và đang nỗ lực đập tan nó. Nhưng—và đây là điểm quan trọng—những điều kiện này đã trở nên khả hữu bởi toàn thể nhân loại. |
|
Materialism and Spirituality |
Chủ nghĩa duy vật và tinh thần |
|
There are today three major human trends: First of all, a trend towards a spiritual and free way of life; secondly, a trend towards intellectual unfoldment; and lastly, a potent trend towards material living and aggression. At present, the last of these innate tendencies is in the saddle, with the second, the intellectual attitude, throwing its weight upon the side of the material goals. A relatively small group is throwing the weight of human aspiration upon the side of the spiritual values. The war between the pairs of opposites—materialism and spirituality—is raging fiercely. Only as men turn away from material aggression and towards spiritual objectives will the world situation change, and men—motivated by goodwill—force the aggressors back to their own place and release humanity from fear and force. We are today reaping the results of our own sowing. The recognition of the cause of the problem provides humanity with the opportunity to end it. The time has arrived in which it is possible to institute those changes [183] in attitude which will bring an era of peace and goodwill, founded on right human relations. |
Ngày nay có ba xu hướng lớn của nhân loại: trước hết là một xu hướng hướng tới một lối sống tinh thần và tự do; thứ hai là một xu hướng hướng tới sự khai mở trí tuệ; và sau cùng là một xu hướng mạnh mẽ hướng tới đời sống vật chất và sự xâm lược. Hiện nay, xu hướng cuối cùng trong các xu hướng bẩm sinh này đang chiếm ưu thế, còn xu hướng thứ hai, thái độ trí tuệ, thì đang dồn sức nặng của nó về phía các mục tiêu vật chất. Một nhóm tương đối nhỏ đang dồn sức nặng của khát vọng nhân loại về phía các giá trị tinh thần. Cuộc chiến giữa các cặp đối cực—chủ nghĩa duy vật và tinh thần—đang diễn ra dữ dội. Chỉ khi những người nam và nữ quay lưng khỏi sự xâm lược vật chất và hướng tới các mục tiêu tinh thần thì tình hình thế giới mới thay đổi, và những người nam và nữ—được thúc đẩy bởi thiện chí—mới đẩy lùi những kẻ xâm lược về đúng chỗ của chúng và giải phóng nhân loại khỏi sợ hãi và bạo lực. Ngày nay chúng ta đang gặt hái kết quả của chính điều mình đã gieo. Việc nhận ra nguyên nhân của vấn đề đem lại cho nhân loại cơ hội để chấm dứt nó. Thời điểm đã đến khi có thể thiết lập những thay đổi [183] trong thái độ, những thay đổi sẽ mang lại một kỷ nguyên hòa bình và thiện chí, đặt nền trên những tương quan nhân loại đúng đắn. |
|
These two forces—materialism and spirituality—face each other. What will be the outcome? Will men arrest the evil and initiate a period of understanding, cooperation and right relationship, or will they continue the process of selfish planning and of economic and militant competition? This question must be answered by the clear thinking of the masses and by the calm and unafraid challenges of the democracies. |
Hai lực này—chủ nghĩa duy vật và tinh thần—đang đối diện nhau. Kết quả sẽ ra sao? Những người nam và nữ sẽ ngăn chặn điều ác và khởi xướng một thời kỳ thấu hiểu, hợp tác và tương quan đúng đắn, hay họ sẽ tiếp tục tiến trình hoạch định ích kỷ và cạnh tranh kinh tế cùng quân sự? Câu hỏi này phải được trả lời bằng tư duy sáng suốt của quần chúng và bằng những thách thức bình tĩnh, không sợ hãi của các nền dân chủ. |
|
On all sides the need for a new world order is being recognised. The totalitarian powers are talking of the “new order in Europe”; the idealists and thinkers are unfolding schemes and plans which vision entirely new conditions that will bring the old bad order to an end. There is a constant demand for the Allies to state their peace aims and indicate clearly what adjustments will be made after the war, because a vision of the future world policy will help humanity through the present crisis. |
Khắp nơi, nhu cầu về một trật tự thế giới mới đang được thừa nhận. Các cường quốc toàn trị đang nói về “trật tự mới ở châu Âu”; các nhà lý tưởng và tư tưởng gia đang triển khai những đề án và kế hoạch hình dung những điều kiện hoàn toàn mới sẽ chấm dứt trật tự cũ xấu xa. Có một đòi hỏi liên tục rằng các nước Đồng minh phải tuyên bố các mục tiêu hòa bình của mình và chỉ rõ những điều chỉnh nào sẽ được thực hiện sau chiến tranh, bởi vì một linh ảnh về chính sách thế giới tương lai sẽ giúp nhân loại vượt qua cuộc khủng hoảng hiện nay. |
|
Historical Background |
Bối cảnh lịch sử |
|
Throughout the Middle Ages, the rule of powerful monarchs, the spread of empires and the march of national conquerors were outstanding characteristics. A relatively small number of people were involved. The Church of the time had immense power in all European countries; it controlled the education of the people, but laid no foundation for right political thought. The history of the past is the history of many forms of government. Races and nations have come and gone. Political regimes and religious forms have played their part, have persisted or disappeared. The sorry history of humanity has been one of kings and potentates, rulers and warriors, presidents and dictators—rising into power at the expense of their own or other nations. Conquerors come and go—Akbar, Genghis Khan, the Pharaohs, Alexander the Great, Caesar, Charlemagne, William the Conqueror, Napoleon, Hitler and Mussolini. These have all upset the rhythm [184] of their times and have come to power through aggression and slaughter. As the nations grew more closely interrelated, their influence and their field of expression increased. The growing means of communication brought this about; Great Britain knew nothing of the movements of Alexander; the peoples of America knew naught about Genghis Khan; but the sound of the marching armies of Napoleon was heard over a far wider area, and the triumphs of Hitler—diplomatic and military—are known throughout the world. |
Suốt thời Trung Cổ, sự cai trị của các quân vương quyền lực, sự lan rộng của các đế quốc và bước tiến của những kẻ chinh phục quốc gia là những đặc điểm nổi bật. Chỉ có một số tương đối ít người liên quan. Giáo hội thời đó có quyền lực to lớn ở mọi quốc gia châu Âu; nó kiểm soát việc giáo dục dân chúng, nhưng không đặt nền tảng nào cho tư tưởng chính trị đúng đắn. Lịch sử quá khứ là lịch sử của nhiều hình thức chính quyền. Các nhân loại và các quốc gia đã đến rồi đi. Các chế độ chính trị và các hình thức tôn giáo đã đóng vai trò của mình, đã tồn tại hoặc biến mất. Lịch sử đáng buồn của nhân loại là lịch sử của các vua chúa và bạo chúa, những người cai trị và chiến binh, tổng thống và nhà độc tài—vươn lên nắm quyền bằng cái giá của chính quốc gia mình hay của các quốc gia khác. Những kẻ chinh phục đến rồi đi—Akbar, Thành Cát Tư Hãn, các Pharaoh, Alexander Đại Đế, Caesar, Charlemagne, William Kẻ Chinh Phục, Napoleon, Hitler và Mussolini. Tất cả những kẻ này đã làm đảo lộn nhịp điệu [184] của thời đại họ và đã lên nắm quyền bằng xâm lược và tàn sát. Khi các quốc gia trở nên liên hệ chặt chẽ hơn, ảnh hưởng và phạm vi biểu hiện của họ gia tăng. Các phương tiện liên lạc ngày càng phát triển đã tạo ra điều đó; Đại Anh quốc không biết gì về các cuộc hành quân của Alexander; các dân tộc châu Mỹ không biết gì về Thành Cát Tư Hãn; nhưng tiếng bước quân hành của các đạo quân Napoleon đã được nghe trên một vùng rộng lớn hơn nhiều, và những chiến thắng của Hitler—về ngoại giao và quân sự—được biết đến trên khắp thế giới. |
|
The totalitarian powers have turned the world into one armed camp—for offence or defence. Motivating all these conquerors was lust for gold, lust for land, lust for power, lust for personal triumph. The modern dictators are no exception. They bring nothing new. |
Các cường quốc toàn trị đã biến thế giới thành một trại vũ trang—để tấn công hay phòng thủ. Thúc đẩy tất cả những kẻ chinh phục này là lòng tham vàng, tham đất đai, tham quyền lực, tham chiến thắng cá nhân. Các nhà độc tài hiện đại không phải là ngoại lệ. Họ không mang lại điều gì mới. |
|
World Anarchy |
Tình trạng vô chính phủ của thế giới |
|
The history of the world has been built around the theme of war; its points of crisis have been the great battles. The thought of revenge motivates some nations; the demand for the righting of ancient historical wrongs influences others; the restitution of lands, earlier held, directs the acts of others. For instance: the ancient glory of the Roman Empire must be restored—at the expense of the helpless little peoples; the culture of France must be paramount and French security must outweigh all other considerations; British imperialism has in the past outraged other nations; German hegemony and “living space” must dominate Europe, and the German superman must be the arbiter of human life; American isolationism would leave humanity defenceless in its hour of need and hand men over to the rule of Hitler; Russia, in her silence, cannot be trusted; Japan is upsetting the balance of power in Asia. Such is the picture today. Anarchy rules the world; famine stalks the inhabitants of Europe; the civilian population of cities, the women and children, are in grave danger of injury and death and are forced to live underground; pestilence appears; there is no safety on land or sea or in the air; the [185] nations are on the verge of financial ruin; science has turned to the invention of the instruments of death; the populations of cities and entire districts are shifted from one part of a country to another; families and homes are broken up; there is intense fear, hopeless looking into the future, bewildered questioning, suicide and murder; the smoke of countless fires blackens the skies; the seas are strewn with dead and with wrecked vessels; the thunder of guns and the noise of exploding bombs are heard in approximately twenty countries; war rises up from the waters, marches over the lands and descends from the skies. |
Lịch sử thế giới được xây dựng quanh chủ đề chiến tranh; những điểm khủng hoảng của nó là các trận chiến lớn. Tư tưởng báo thù thúc đẩy một số quốc gia; đòi hỏi sửa lại những bất công lịch sử cổ xưa ảnh hưởng đến những quốc gia khác; việc hoàn nguyên những vùng đất từng nắm giữ trước đây chi phối hành động của những quốc gia khác nữa. Thí dụ: vinh quang cổ xưa của Đế quốc La Mã phải được khôi phục—bằng cái giá của những dân tộc nhỏ bé bất lực; văn hóa Pháp phải là tối thượng và an ninh của Pháp phải vượt trên mọi cân nhắc khác; chủ nghĩa đế quốc Anh trong quá khứ đã xúc phạm các quốc gia khác; quyền bá chủ của Đức và “không gian sinh tồn” phải thống trị châu Âu, và siêu nhân Đức phải là kẻ phân xử đời sống con người; chủ nghĩa biệt lập của Mỹ sẽ để mặc nhân loại không được bảo vệ trong giờ phút cần thiết và trao con người cho sự cai trị của Hitler; nước Nga, trong sự im lặng của mình, không thể được tin cậy; Nhật Bản đang làm đảo lộn thế cân bằng quyền lực ở châu Á. Đó là bức tranh ngày nay. Tình trạng vô chính phủ cai trị thế giới; nạn đói rình rập cư dân châu Âu; dân thường ở các thành phố, phụ nữ và trẻ em, đang ở trong hiểm nguy nghiêm trọng bị thương tích và tử vong và bị buộc phải sống dưới lòng đất; dịch bệnh xuất hiện; không có sự an toàn trên đất liền, trên biển hay trên không; các quốc gia [185] đang ở bên bờ vực phá sản tài chính; khoa học đã quay sang phát minh những công cụ của cái chết; dân cư các thành phố và cả những khu vực rộng lớn bị chuyển từ phần này của một quốc gia sang phần khác; gia đình và mái ấm bị tan vỡ; có nỗi sợ hãi dữ dội, cái nhìn tuyệt vọng vào tương lai, những câu hỏi hoang mang, tự sát và giết người; khói của vô số đám cháy làm đen bầu trời; biển cả đầy xác chết và tàu thuyền đắm; tiếng đại bác và tiếng bom nổ được nghe thấy ở khoảng hai mươi quốc gia; chiến tranh trỗi dậy từ mặt nước, tiến qua đất liền và giáng xuống từ bầu trời. |
|
It is to this situation that the old order has brought humanity. It is to this disaster that man’s cruelty and selfishness have tended; no nations are exempt from this criticism, and all are more rapidly moved by selfish purpose than by the spirit of sacrifice. |
Chính vào tình trạng này mà trật tự cũ đã đưa nhân loại đến. Chính tới thảm họa này mà sự tàn bạo và ích kỷ của con người đã dẫn tới; không quốc gia nào được miễn khỏi lời phê phán này, và tất cả đều bị thúc đẩy nhanh hơn bởi mục đích ích kỷ hơn là bởi tinh thần hi sinh. |
|
Even idealistic America can only be aroused into action by an appeal to her self-interest and security. |
Ngay cả nước Mỹ đầy lý tưởng cũng chỉ có thể được đánh thức để hành động bằng một lời kêu gọi hướng tới quyền lợi và an ninh của chính mình. |
|
For our encouragement let us recognise that the same humanity which has brought about these terrible conditions can also create the new world, the new order and the new way of life. The selfish, wicked past can give way to a future of understanding, of cooperation, of right human relations and of good. Separativeness must be superseded by unity. The combination of totalitarian aggressors, of allied democracies and of anxious neutral nations must be changed into a world which is characterised by one endeavour—the establishing of those relations which will produce the happiness and peace of the whole, and not only of the part. |
Để khích lệ chúng ta, hãy nhận ra rằng chính cùng một nhân loại đã tạo ra những điều kiện khủng khiếp này cũng có thể tạo ra thế giới mới, trật tự mới và lối sống mới. Quá khứ ích kỷ, xấu xa có thể nhường chỗ cho một tương lai của sự thấu hiểu, hợp tác, tương quan nhân loại đúng đắn và điều thiện. Tính chia rẽ phải được thay thế bởi sự hợp nhất. Sự kết hợp của những kẻ xâm lược toàn trị, của các nền dân chủ đồng minh và của các quốc gia trung lập đầy lo âu phải được chuyển thành một thế giới được đặc trưng bởi một nỗ lực duy nhất—thiết lập những tương quan sẽ tạo ra hạnh phúc và hòa bình cho toàn thể, chứ không chỉ cho một phần. |
|
II. THE NEW WORLD ORDER |
II. TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI |
|
I assume that my readers recognise some intelligent or spiritual direction of humanity. I care not by what name they call that guiding Purpose. Some may call it the Will of God; others, the inevitable trends of the evolutionary process; still others may believe in the spiritual forces of the planet; others may regard it as the spiritual Hierarchy of the [186] planet, or the great White Lodge; many millions speak of the guidance of Christ and His disciples. Be that as it may, there is a universal recognition of a guiding Power, exerting pressure throughout the ages, which appears to be leading all towards an ultimate good. |
Tôi giả định rằng độc giả của tôi thừa nhận một sự chỉ đạo nào đó, có trí tuệ hoặc tinh thần, đối với nhân loại. Tôi không quan tâm họ gọi Mục Đích hướng dẫn ấy bằng tên gì. Một số người có thể gọi đó là Ý Chí của Thượng Đế; những người khác gọi là các xu hướng tất yếu của tiến trình tiến hoá; những người khác nữa có thể tin vào các mãnh lực tinh thần của hành tinh; những người khác có thể xem đó là Thánh Đoàn tinh thần của [186] hành tinh, hay Thánh đoàn; nhiều triệu người nói đến sự hướng dẫn của Đức Christ và các đệ tử của Ngài. Dù là thế nào đi nữa, vẫn có một sự thừa nhận phổ quát về một Quyền Năng hướng dẫn, gây áp lực qua các thời đại, dường như đang dẫn dắt tất cả tới một điều thiện tối hậu. |
|
Một sự chỉ đạo xác định nào đó đã dẫn dắt con người từ giai đoạn người nguyên thủy đến điểm tiến hoá mà ở đó một Plato, một Shakespeare, một da Vinci, một Beethoven có thể xuất hiện. Một quyền năng nào đó đã gợi lên nơi con người khả năng hình thành các ý tưởng, tạo ra các hệ thống thần học, khoa học và chính quyền; một quyền năng thúc đẩy bên trong nào đó đã ban cho con người khả năng sáng tạo cái đẹp, khám phá những bí mật của bản chất; một sự chứng nghiệm nào đó về trách nhiệm thiêng liêng nằm phía sau hoạt động từ thiện, các hệ thống giáo dục và các phong trào phúc lợi trên khắp thế giới. Sự tiến bộ của tinh thần nhân loại là một sự khai mở không thể cưỡng lại, một sự phát triển trong việc trân trọng thực tại, cái đẹp và minh triết. Bản năng đã phát triển thành trí tuệ; trí tuệ đang bắt đầu khai mở thành trực giác. Thâm nghĩa của Thượng đế, sự ghi nhận các tiềm năng thiêng liêng của con người, và năng lực ngày càng tăng để thấu hiểu và chia sẻ trong các tiến trình tư tưởng của người khác—tất cả những điều này đều chỉ ra sự tiến bộ và sự khai mở. |
|
|
This picture of the beauty of the human spirit must be placed beside the earlier picture of man’s selfishness and cruelty, of man’s inhumanity to man. Both pictures are true, but only the one of beauty is eternal; the other is but transient. Man is a composite of higher and lower expressions, and behind all the wars and difficulties which accompany man’s progress through the ages lies this major factor—an ancient persistent fight between man’s spiritual aspiration and his material desires. This condition is today brought to a focus in the conflict raging between the totalitarian powers and the nations which are fighting for the rights of the human spirit and for the freedom of humanity. |
Bức tranh về vẻ đẹp của tinh thần nhân loại này phải được đặt bên cạnh bức tranh trước đó về tính ích kỷ và sự tàn bạo của con người, về sự vô nhân đạo của con người đối với con người. Cả hai bức tranh đều đúng, nhưng chỉ bức tranh về vẻ đẹp là vĩnh cửu; bức tranh kia chỉ là tạm thời. Con người là một tổng hợp của những biểu hiện cao và thấp, và đằng sau mọi cuộc chiến tranh và khó khăn đi kèm với sự tiến bộ của con người qua các thời đại là yếu tố lớn này—một cuộc chiến dai dẳng cổ xưa giữa khát vọng tinh thần của con người và những ham muốn vật chất của y. Tình trạng này ngày nay được gom lại thành một tiêu điểm trong cuộc xung đột đang diễn ra giữa các cường quốc toàn trị và các quốc gia đang chiến đấu cho các quyền của tinh thần nhân loại và cho tự do của nhân loại. |
|
My use of the word spiritual has nothing to do with the use of this word as the orthodox religions use it, except in so far as the religious expression is a part of the general spirituality of mankind. Everything is spiritual which tends [187] towards understanding, towards kindness, towards that which is productive of beauty and which can lead man on to a fuller expression of his divine potentialities. All is evil which drives man deeper into materialism, which omits the higher values of living, which endorses selfishness, which sets up barriers to the establishing of right human relations, and which feeds the spirit of separateness, of fear, of revenge. |
Việc tôi dùng từ tinh thần không liên quan gì đến cách các tôn giáo chính thống dùng từ này, ngoại trừ trong chừng mực biểu hiện tôn giáo là một phần của tinh thần chung của nhân loại. Mọi điều đều là tinh thần nếu nó hướng [187] tới sự thấu hiểu, tới lòng tử tế, tới điều gì tạo ra cái đẹp và có thể dẫn con người tới một biểu hiện đầy đủ hơn của các tiềm năng thiêng liêng của y. Mọi điều đều là ác nếu nó đẩy con người sâu hơn vào chủ nghĩa duy vật, nếu nó loại bỏ các giá trị cao hơn của đời sống, nếu nó tán thành tính ích kỷ, nếu nó dựng lên các rào cản đối với việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn, và nếu nó nuôi dưỡng tinh thần chia rẽ, sợ hãi, báo thù. |
|
On the basis of these distinctions, it is surely apparent that God is on the side of the allied nations, for it cannot be supposed that Christ is on the side of Hitler and the rule of cruel aggression. The spiritual Hierarchy of the planet is throwing the weight of its strength against the Axis powers just in so far as the spiritually minded peoples of the world can collaborate, for there can be no coercion of man’s free will. No one is afraid of the allied nations; the situation has not been precipitated by the Allies; their methods are not the methods of lying propaganda and the terrorising of the weak and the defenceless. Facts prove these points, and it is this recognition which lies behind the constant aid of the United States. The way of living and the spiritual objects of the democracies are recognised by all, and it is these which are threatened by the totalitarian concepts of life. Through the democracies humanity speaks. |
Dựa trên những phân biệt này, hiển nhiên là Thượng đế đứng về phía các quốc gia đồng minh, vì không thể giả định rằng Đức Christ đứng về phía Hitler và sự cai trị bằng xâm lược tàn bạo. Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh đang dồn sức mạnh của mình chống lại các cường quốc Trục trong chừng mực mà các dân tộc có tinh thần trên thế giới có thể cộng tác, vì không thể có sự cưỡng bách đối với ý chí tự do của con người. Không ai sợ các quốc gia đồng minh; tình hình không bị làm cho bùng phát bởi Đồng minh; các phương pháp của họ không phải là các phương pháp tuyên truyền dối trá và khủng bố những kẻ yếu đuối, không được bảo vệ. Sự kiện chứng minh những điểm này, và chính sự nhận thức ấy nằm phía sau sự trợ giúp liên tục của Hoa Kỳ. Cách sống và các mục tiêu tinh thần của các nền dân chủ được mọi người thừa nhận, và chính những điều này đang bị đe dọa bởi các quan niệm toàn trị về đời sống. Qua các nền dân chủ, nhân loại lên tiếng. |
|
The Axis World Order |
Trật tự thế giới của phe Trục |
|
The totalitarian order must go because it is contrary to the spiritual vision. The world order, as visioned by Hitler, is based upon the subjection of the weak to the rule of a super-Germany; it is one in which the life of the little nations will be allowed to go on just in so far as they serve the need of Germany. The lesser Axis powers are permitted existence only because they benefit German aims—Italy, to give Germany scope in the Mediterranean; Japan, to handle the Asiatic problem which is too large for Germany to handle alone. It is an order whose intention is that the best of all industrial and agricultural products shall go to Germany and the unwanted residue to the little nations. It is an order [188] in which the educational processes will be controlled by the dominant super-race. All departments of knowledge will be subordinated to the glorification of Germany. Germany will be portrayed as the seed of all world glory, and as the ruthless saviour of mankind; the beauties of war, of struggle and of physical strength will be emphasised, and these so-called admirable objectives of the human spirit will be developed to produce a race of men in whom the “effeminate” beauties of loving kindness and wise consideration for others will find no place. |
Trật tự toàn trị phải ra đi vì nó trái với linh ảnh tinh thần. Trật tự thế giới, như Hitler hình dung, dựa trên sự khuất phục của kẻ yếu dưới sự cai trị của một nước Đức siêu cường; đó là một trật tự trong đó đời sống của các quốc gia nhỏ sẽ chỉ được phép tiếp diễn trong chừng mực họ phục vụ nhu cầu của Đức. Các cường quốc Trục nhỏ hơn chỉ được phép tồn tại vì chúng có lợi cho các mục tiêu của Đức—Ý, để cho Đức phạm vi hoạt động ở Địa Trung Hải; Nhật Bản, để xử lý vấn đề châu Á vốn quá lớn để một mình Đức xử lý. Đó là một trật tự có chủ ý rằng phần tốt nhất của mọi sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp sẽ về Đức, còn phần thừa không mong muốn sẽ dành cho các quốc gia nhỏ. Đó là một trật tự [188] trong đó các tiến trình giáo dục sẽ bị kiểm soát bởi siêu chủng tộc thống trị. Mọi ngành tri thức sẽ bị đặt dưới sự tôn vinh nước Đức. Đức sẽ được mô tả như hạt giống của mọi vinh quang thế giới, và như đấng cứu tinh tàn nhẫn của nhân loại; vẻ đẹp của chiến tranh, của đấu tranh và của sức mạnh thể xác sẽ được nhấn mạnh, và những mục tiêu được gọi là đáng ngưỡng mộ này của tinh thần nhân loại sẽ được phát triển để tạo ra một chủng người trong đó những vẻ đẹp “ủy mị” của lòng nhân ái yêu thương và sự quan tâm khôn ngoan đến người khác sẽ không có chỗ đứng. |
|
I would call your attention to the teaching now being given to the German youth. Might is right. The German belongs to the super-race, and all other races are inferior. Only a chosen aristocracy should be permitted the privilege of education and of rule. The masses of the people are no more than cattle and exist only to be slaves of the superior race. War is to men what childbirth is to women. War is a natural process and therefore eternally right. All sources of supply must be controlled by Germany, and consequently even those nations at present neutral must be brought under the German sphere of influence. The totalitarian powers will dominate the economic system of the world and control all imports and exports. The standard of living in both hemispheres will be lowered; everything will be related to the good of Germany, and no other nation will be considered. Christian teaching and Christian ethics must necessarily be eliminated, because Germany regards Christianity and its divine Founder as effeminate and weak, as emphasising the softer qualities of human nature, and as responsible for the decadence of all nations, except Germany. Christianity must also be overthrown because it is based on Jewish sources; the rule of Christ must come to an end, because only the rule of force is right. |
Tôi muốn kêu gọi sự chú ý của các bạn đến giáo huấn hiện đang được truyền dạy cho thanh niên Đức. Sức mạnh là lẽ phải. Người Đức thuộc về siêu chủng tộc, và mọi chủng tộc khác đều thấp kém. Chỉ một tầng lớp quý tộc được chọn mới nên được phép có đặc quyền giáo dục và cai trị. Quần chúng nhân dân không hơn gì súc vật và chỉ tồn tại để làm nô lệ cho chủng tộc thượng đẳng. Chiến tranh đối với đàn ông cũng như sinh nở đối với phụ nữ. Chiến tranh là một tiến trình tự nhiên và vì thế vĩnh viễn đúng. Mọi nguồn cung ứng phải do Đức kiểm soát, và do đó ngay cả những quốc gia hiện đang trung lập cũng phải bị đưa vào phạm vi ảnh hưởng của Đức. Các cường quốc toàn trị sẽ thống trị hệ thống kinh tế của thế giới và kiểm soát mọi nhập khẩu và xuất khẩu. Mức sống ở cả hai bán cầu sẽ bị hạ thấp; mọi thứ sẽ được quy về lợi ích của Đức, và không quốc gia nào khác sẽ được xét đến. Giáo huấn Cơ Đốc và đạo đức Cơ Đốc tất yếu phải bị loại bỏ, vì Đức xem Cơ Đốc giáo và Đấng Sáng Lập thiêng liêng của nó là ủy mị và yếu đuối, là nhấn mạnh những phẩm tính mềm mại hơn của bản chất con người, và là nguyên nhân của sự suy đồi của mọi quốc gia, ngoại trừ Đức. Cơ Đốc giáo cũng phải bị lật đổ vì nó dựa trên các nguồn gốc Do Thái; sự cai trị của Đức Christ phải chấm dứt, vì chỉ có sự cai trị bằng vũ lực mới là đúng. |
|
In the world order of the Axis powers, the individual has no rights; he has no freedom except in so far as he serves the state; there will be no liberty of thought or conscience, all issues will be decided by the state, and the private citizen [189] will have no right to an opinion. Men will be drafted like slaves into the service of the state. |
Trong trật tự thế giới của các cường quốc Trục, cá nhân không có quyền gì; y không có tự do ngoại trừ trong chừng mực y phục vụ nhà nước; sẽ không có tự do tư tưởng hay lương tâm, mọi vấn đề sẽ do nhà nước quyết định, và công dân cá nhân [189] sẽ không có quyền có ý kiến. Những người nam và nữ sẽ bị trưng dụng như nô lệ vào việc phục vụ nhà nước. |
|
Such is the picture of the order which the Axis powers are preparing to impose upon the world, and to this their own words testify. Only insight into the true nature of this crisis, a determination to face the facts, and fearlessness will suffice to defeat Hitler. This conquering fearlessness must be based on a recognition of the spiritual values involved, on a belief in God, and on a commonsense which is determined to establish security, right human relations and liberty. |
Đó là bức tranh về trật tự mà các cường quốc Trục đang chuẩn bị áp đặt lên thế giới, và chính lời nói của họ làm chứng cho điều đó. Chỉ có sự thấu suốt vào bản chất thật của cuộc khủng hoảng này, một quyết tâm đối diện với sự kiện, và lòng vô úy mới đủ để đánh bại Hitler. Lòng vô úy chiến thắng này phải dựa trên sự nhận ra các giá trị tinh thần liên quan, trên niềm tin vào Thượng đế, và trên một lương tri quyết tâm thiết lập an ninh, những tương quan nhân loại đúng đắn và tự do. |
|
It is important that people face up to the facts immediately. They must realise what is the nature of the world order which Hitler is preparing to enforce, and what lies ahead of humanity if the Axis powers triumph. It is essential that the little children of the world be rescued from this overshadowing evil and from the false education to which they will be subjected if the totalitarian powers hold Europe in their grasp. The intensive culture given to the youth of Germany during the past twenty years has proved the effects of environing mental attitudes. These boys who roll their tanks and fly their planes over the countries of Europe and who wage war on women and children are the product of an educational system, and are therefore the victims of an evil process. The children of Germany must be rescued from the future which Hitler plans, as well as the children of other countries; the women of Germany must be set free from fear, as must the women in other lands; the population of Germany must also be liberated from the evil rule of Hitler. This is recognised by the allied nations. Make no mistake. The German is as dear to the heart of humanity, to God, to Christ and to all right thinking people as are any other people. The German must be rescued from Hitler’s world order as much as the Pole, the Jew, the Czech or any captive nation. In effecting this freedom, the allied nations and the neutral powers must preserve the spirit of goodwill, even when using force, which is the only means of conquest the totalitarian powers understand. [190] |
Điều quan trọng là mọi người phải lập tức đối diện với các sự kiện. Họ phải nhận ra bản chất của trật tự thế giới mà Hitler đang chuẩn bị cưỡng bách thi hành, và điều gì đang chờ phía trước nhân loại nếu các cường quốc Trục chiến thắng. Điều thiết yếu là những trẻ nhỏ của thế giới phải được cứu khỏi điều ác đang phủ bóng này và khỏi nền giáo dục sai lạc mà chúng sẽ phải chịu nếu các cường quốc toàn trị nắm châu Âu trong tay. Nền giáo dưỡng chuyên sâu dành cho thanh niên Đức trong hai mươi năm qua đã chứng minh các tác động của những thái độ trí tuệ bao quanh. Những chàng trai đang lăn xe tăng và lái máy bay qua các quốc gia châu Âu và đang tiến hành chiến tranh chống lại phụ nữ và trẻ em này là sản phẩm của một hệ thống giáo dục, và vì thế là nạn nhân của một tiến trình tà ác. Trẻ em Đức phải được cứu khỏi tương lai mà Hitler hoạch định, cũng như trẻ em của các quốc gia khác; phụ nữ Đức phải được giải thoát khỏi sợ hãi, cũng như phụ nữ ở các xứ khác; dân chúng Đức cũng phải được giải phóng khỏi sự cai trị tà ác của Hitler. Điều này được các quốc gia đồng minh thừa nhận. Đừng nhầm lẫn. Người Đức cũng thân yêu đối với trái tim của nhân loại, đối với Thượng đế, đối với Đức Christ và đối với mọi người có tư duy đúng đắn như bất kỳ dân tộc nào khác. Người Đức phải được cứu khỏi trật tự thế giới của Hitler cũng như người Ba Lan, người Do Thái, người Czech hay bất kỳ quốc gia bị giam cầm nào. Khi thực hiện sự giải phóng này, các quốc gia đồng minh và các cường quốc trung lập phải giữ gìn tinh thần thiện chí, ngay cả khi dùng đến vũ lực, vốn là phương tiện chinh phục duy nhất mà các cường quốc toàn trị hiểu được. [190] |
|
Steps Towards the New World Order |
Những bước tiến tới trật tự thế giới mới |
|
Đối lập với trật tự thế giới toàn trị, phần còn lại của thế giới nên hoạch định điều gì? Các nền dân chủ nên hướng tới những mục tiêu thế giới nào? Những đề án không tưởng, những hình thức chính quyền lý tưởng và những tiến trình sinh hoạt văn hóa từ lâu vẫn là trò chơi của trí tuệ con người qua các thế kỷ. Nhưng những không tưởng này đã vượt quá xa khả năng thực hiện đến nỗi việc trình bày chúng dường như vô ích. Phần lớn chúng hoàn toàn không thực tế. |
|
|
Certain immediate possibilities and attainable objectives can, however, be worked out, given a definite will-to-good and patience on the part of humanity. |
Tuy nhiên, một số khả năng trước mắt và những mục tiêu có thể đạt được có thể được triển khai, nếu nhân loại có một Ý Chí-hướng Thiện xác định và sự kiên nhẫn. |
|
Certain major and spiritual premises should lie back of all efforts to formulate the new world order. Let me state some of them: |
Một số tiền đề lớn và tinh thần phải nằm phía sau mọi nỗ lực hình thành trật tự thế giới mới. Hãy để tôi nêu ra một vài điều trong số đó: |
|
1. The new world order must meet the immediate need and not be an attempt to satisfy some distant, idealistic vision. |
1. Trật tự thế giới mới phải đáp ứng nhu cầu trước mắt chứ không phải là một nỗ lực nhằm thỏa mãn một linh ảnh lý tưởng xa vời nào đó. |
|
2. The new world order must be appropriate to a world which has passed through a destructive crisis and to a humanity which is badly shattered by the experience. |
2. Trật tự thế giới mới phải thích hợp với một thế giới đã trải qua một cuộc khủng hoảng tàn phá và với một nhân loại bị tan tác nặng nề bởi kinh nghiệm ấy. |
|
3. The new world order must lay the foundation for a future world order which will be possible only after a time of recovery, of reconstruction, and of rebuilding. |
3. Trật tự thế giới mới phải đặt nền móng cho một trật tự thế giới tương lai, chỉ có thể khả hữu sau một thời kỳ phục hồi, tái thiết và xây dựng lại. |
|
4. The new world order will be founded on the recognition that all men are equal in origin and goal but that all are at differing stages of evolutionary development; that personal integrity, intelligence, vision and experience, plus a marked goodwill, should indicate leadership. The domination of the proletariat over the aristocracy and bourgeoisie, as in Russia, or the domination of an entrenched aristocracy over the proletariat and middle classes, as has been until lately the case in Great Britain, must disappear. The control of labour by capital or the control of capital by labour must also go. [191] |
4. Trật tự thế giới mới sẽ được đặt nền trên sự thừa nhận rằng mọi người đều bình đẳng về nguồn gốc và mục tiêu nhưng tất cả đang ở những giai đoạn phát triển tiến hoá khác nhau; rằng sự chính trực cá nhân, trí tuệ, tầm nhìn và kinh nghiệm, cộng với một thiện chí nổi bật, phải là dấu hiệu của năng lực lãnh đạo. Sự thống trị của giai cấp vô sản đối với tầng lớp quý tộc và tư sản, như ở Nga, hay sự thống trị của một tầng lớp quý tộc cố thủ đối với giai cấp vô sản và tầng lớp trung lưu, như cho đến gần đây vẫn là trường hợp ở Đại Anh quốc, phải biến mất. Sự kiểm soát lao động bởi tư bản hay sự kiểm soát tư bản bởi lao động cũng phải chấm dứt. [191] |
|
5. In the new world order, the governing body in any nation should be composed of those who work for the greatest good of the greatest number and who at the same time offer opportunity to all, seeing to it that the individual is left free. Today the men of vision are achieving recognition, thus making possible a right choice of leaders. It was not possible until this century. |
5. Trong trật tự thế giới mới, cơ quan cai trị ở bất kỳ quốc gia nào phải gồm những người hoạt động vì lợi ích lớn nhất của số đông nhất và đồng thời đem lại cơ hội cho mọi người, bảo đảm rằng cá nhân vẫn được tự do. Ngày nay những người có tầm nhìn đang được công nhận, nhờ đó làm cho việc lựa chọn đúng các nhà lãnh đạo trở nên khả hữu. Điều đó chưa thể có trước thế kỷ này. |
|
6. The new world order will be founded on an active sense of responsibility. The rule will be “all for one and one for all.” This attitude among nations will have to be developed. It is not yet present. |
6. Trật tự thế giới mới sẽ được đặt nền trên một ý thức trách nhiệm tích cực. Quy luật sẽ là “tất cả vì một và một vì tất cả.” Thái độ này giữa các quốc gia sẽ phải được phát triển. Nó chưa hiện diện. |
|
7. The new world order will not impose a uniform type of government, a synthetic religion and a system of standardisation upon the nations. The sovereign rights of each nation will be recognised and its peculiar genius, individual trends and racial qualities will be permitted full expression. In one particular only should there be an attempt to produce unity, and that will be in the field of education. |
7. Trật tự thế giới mới sẽ không áp đặt một loại hình chính quyền đồng nhất, một tôn giáo tổng hợp và một hệ thống tiêu chuẩn hóa lên các quốc gia. Các quyền chủ quyền của mỗi quốc gia sẽ được thừa nhận và thiên tài đặc thù, các khuynh hướng cá biệt và các phẩm tính chủng tộc của quốc gia ấy sẽ được phép biểu hiện đầy đủ. Chỉ trong một phương diện mới nên có nỗ lực tạo ra sự hợp nhất, và đó sẽ là trong lĩnh vực giáo dục. |
|
8. The new world order will recognise that the produce of the world, the natural resources of the planet and its riches, belong to no one nation but should be shared by all. There will be no nations under the category “haves” and others under the opposite category. A fair and properly organised distribution of the wheat, the oil and the mineral wealth of the world will be developed, based upon the needs of each nation, upon its own internal resources and the requirements of its people. All this will be worked out in relation to the whole. |
8. Trật tự thế giới mới sẽ thừa nhận rằng sản vật của thế giới, các tài nguyên thiên nhiên của hành tinh và sự giàu có của nó, không thuộc về riêng quốc gia nào mà phải được chia sẻ bởi tất cả. Sẽ không có những quốc gia thuộc loại “những kẻ có” và những quốc gia khác thuộc loại đối nghịch. Một sự phân phối công bằng và được tổ chức đúng đắn về lúa mì, dầu mỏ và tài sản khoáng sản của thế giới sẽ được phát triển, dựa trên nhu cầu của mỗi quốc gia, trên các nguồn lực nội tại của chính quốc gia ấy và các nhu cầu của dân chúng. Tất cả điều này sẽ được triển khai trong tương quan với toàn thể. |
|
9. In the preparatory period for the new world order there will be a steady and regulated disarmament. It will not be optional. No nation will be permitted to produce and organise any equipment for destructive purposes or to infringe the security of any other nation. One of the first tasks of any future peace conference will be to regulate this matter and gradually see to the disarming of the nations. |
9. Trong thời kỳ chuẩn bị cho trật tự thế giới mới sẽ có một sự giải trừ quân bị đều đặn và được điều tiết. Điều đó sẽ không phải là tùy chọn. Không quốc gia nào sẽ được phép sản xuất và tổ chức bất kỳ trang bị nào cho các mục đích hủy diệt hay xâm phạm an ninh của bất kỳ quốc gia nào khác. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của bất kỳ hội nghị hòa bình tương lai nào sẽ là điều tiết vấn đề này và dần dần bảo đảm việc giải trừ quân bị của các quốc gia. |
|
[192] These are the simple and general premises upon which the new world order must begin its work. These preliminary stages must be kept fluid and experimental; the vision of possibility must never be lost, and the foundations must be preserved inviolate, but the intermediate processes and the experimentations must be carried forward by men who, having the best interests of the whole at heart, can change the detail of organisation whilst preserving the life of the organism. |
[192] Đây là những tiền đề đơn giản và tổng quát mà trên đó trật tự thế giới mới phải bắt đầu công việc của mình. Những giai đoạn sơ bộ này phải được giữ linh động và có tính thử nghiệm; linh ảnh về khả năng không bao giờ được đánh mất, và các nền tảng phải được giữ gìn bất khả xâm phạm, nhưng các tiến trình trung gian và các thử nghiệm phải được tiến hành bởi những người, với lợi ích tốt nhất của toàn thể trong tim, có thể thay đổi chi tiết tổ chức trong khi vẫn bảo tồn sự sống của cơ thể. |
|
Right Human Relations |
Những tương quan nhân loại đúng đắn |
|
The objective of their work can be summed up thus: the new world order will facilitate the establishing of right human relations, based on justice, on the recognition of inherited rights, on opportunity for all—irrespective of race, colour or creed—on the suppression of crime and selfishness through right education, and on the recognition of divine potentialities in man as well as the recognition of a divine directing Intelligence in Whom man lives, and moves and has his being. |
Mục tiêu công việc của họ có thể được tóm lược như sau: trật tự thế giới mới sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập những tương quan nhân loại đúng đắn, dựa trên công lý, trên sự thừa nhận các quyền thừa hưởng, trên cơ hội cho mọi người—bất kể nhân loại, màu da hay tín ngưỡng—trên việc ngăn chặn tội ác và tính ích kỷ bằng giáo dục đúng đắn, và trên sự thừa nhận các tiềm năng thiêng liêng trong con người cũng như sự thừa nhận một Trí Tuệ chỉ đạo thiêng liêng, trong Đấng ấy con người sống, vận động và hiện hữu. |
|
The difficulties confronting the nations when the war is over may seem insuperable but—given vision, goodwill and patience—they can be solved. Assuming that humanity will not rest until the aggressor nations are subdued, it will be necessary for the conquering democracies to be generous, merciful, understanding and attentive to the voice of the people as a whole. It is that voice (usually sound in its pronouncements) which must be evoked, recognised and listened to, and not the voices of the separative exponents of any ideology, of any form of government, religion or party. The objective of those who are entrusted with the straightening out of the world is not the imposition of democracy upon the entire world or to force Christianity upon a world of diversified religions. It is surely to foster the best elements in any national government to which the people may subscribe, or which they intelligently endorse. Each nation should recognise that its form of government may be suited [193] to it and quite unsuited to another nation; it should be taught that the function of each nation is the perfecting of its national life, rhythm and machinery, so that it can be an efficient co-partner with all other nations. |
Những khó khăn đối diện các quốc gia khi chiến tranh kết thúc có thể dường như không thể vượt qua nhưng—nếu có tầm nhìn, thiện chí và kiên nhẫn—chúng có thể được giải quyết. Giả định rằng nhân loại sẽ không nghỉ cho đến khi các quốc gia xâm lược bị khuất phục, thì các nền dân chủ chiến thắng sẽ cần phải rộng lượng, từ bi, thấu hiểu và chú ý đến tiếng nói của toàn thể dân chúng. Chính tiếng nói ấy (thường là lành mạnh trong các phán đoán của nó) phải được gợi lên, được thừa nhận và được lắng nghe, chứ không phải tiếng nói của những người chủ trương chia rẽ của bất kỳ hệ tư tưởng nào, bất kỳ hình thức chính quyền, tôn giáo hay đảng phái nào. Mục tiêu của những người được giao phó việc chỉnh đốn thế giới không phải là áp đặt nền dân chủ lên toàn thế giới hay cưỡng bách Cơ Đốc giáo lên một thế giới có nhiều tôn giáo khác nhau. Chắc chắn đó là nuôi dưỡng những yếu tố tốt nhất trong bất kỳ chính quyền quốc gia nào mà dân chúng có thể chấp nhận, hay mà họ tán thành một cách sáng suốt. Mỗi quốc gia nên nhận ra rằng hình thức chính quyền của mình có thể thích hợp [193] với mình và hoàn toàn không thích hợp với một quốc gia khác; quốc gia ấy nên được dạy rằng chức năng của mỗi quốc gia là hoàn thiện đời sống quốc gia, nhịp điệu và bộ máy của mình, để có thể là một đối tác hữu hiệu với mọi quốc gia khác. |
|
It is equally essential that the new world order should develop in humanity a sense of divinity and of relationship to God, yet with no emphasis upon racial theologies and separative creeds. The essentials of religious and political beliefs must be taught and a new simplicity of life inculcated. Today, these are lost in the emphasis laid upon material possession, upon things and upon money. The problem of money will have to be faced; the problem of the distribution of wealth—whether natural or human—will need careful handling and a compromise reached between those nations which possess unlimited resources and those who have few or none; the problem of the varying forms of national government must be faced with courage and insight; the restoration—psychological, spiritual and physical—of mankind must constitute a primary responsibility. The sense of security must be put on a firm basis—the basis of right relationship, and not the basis of force. Men must feel secure because they are seeking to develop international goodwill and can trust each other, and are not therefore dependent upon the strength of their armies and fleets. |
Điều cũng thiết yếu không kém là trật tự thế giới mới phải phát triển trong nhân loại một ý thức về thiên tính và về mối liên hệ với Thượng đế, nhưng không nhấn mạnh vào các thần học chủng tộc và các tín điều chia rẽ. Những điều cốt yếu của niềm tin tôn giáo và chính trị phải được giảng dạy và một sự đơn giản mới trong đời sống phải được inculcated. Ngày nay, những điều này bị đánh mất trong sự nhấn mạnh đặt lên sự sở hữu vật chất, lên các thứ và lên tiền bạc. Vấn đề tiền bạc sẽ phải được đối diện; vấn đề phân phối của cải—dù là tự nhiên hay nhân lực—sẽ cần được xử lý cẩn trọng và phải đạt được một sự thỏa hiệp giữa những quốc gia sở hữu nguồn lực vô hạn và những quốc gia có ít hoặc không có; vấn đề các hình thức chính quyền quốc gia khác nhau phải được đối diện với can đảm và thấu suốt; sự phục hồi—về tâm lý, tinh thần và hồng trần—của nhân loại phải là một trách nhiệm hàng đầu. Ý thức an ninh phải được đặt trên một nền tảng vững chắc—nền tảng của tương quan đúng đắn, chứ không phải nền tảng của vũ lực. Những người nam và nữ phải cảm thấy an toàn vì họ đang tìm cách phát triển thiện chí quốc tế và có thể tin cậy lẫn nhau, và do đó không phụ thuộc vào sức mạnh của quân đội và hạm đội của mình. |
|
The recognition of a spiritual Hierarchy which is working through the New Group of World Servers must steadily grow in some form or another. This will happen when the world statesmen and the rulers of the different nations and governing bodies—political and religious—are men of vision, spiritually motivated and selflessly inspired. |
Sự thừa nhận một Thánh Đoàn tinh thần đang hoạt động qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải đều đặn tăng trưởng dưới hình thức này hay hình thức khác. Điều này sẽ xảy ra khi các chính khách thế giới và những người cai trị các quốc gia khác nhau cùng các cơ quan cai trị—chính trị và tôn giáo—là những người có tầm nhìn, được thúc đẩy bởi tinh thần và được cảm hứng một cách vô ngã. |
|
The future world order will be the effective expression of a fusion of the inner spiritual way of life and the outer civilised and cultural way of acting; this is a definite possibility because humanity, in its upper brackets, has already developed the power to live in the intellectual and physical worlds simultaneously. Many today are living in the spiritual world also. Tomorrow there will be many more. [194] |
Trật tự thế giới tương lai sẽ là biểu hiện hữu hiệu của một sự dung hợp giữa lối sống tinh thần bên trong và lối hành động văn minh và văn hóa bên ngoài; đây là một khả năng xác định vì nhân loại, trong các tầng lớp cao hơn của mình, đã phát triển quyền năng sống đồng thời trong các thế giới trí tuệ và hồng trần. Nhiều người ngày nay cũng đang sống trong thế giới tinh thần. Ngày mai sẽ có nhiều người hơn nữa. [194] |
|
III. SOME PROBLEMS INVOLVED |
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN |
|
Trật tự thế giới mới sẽ phải đối diện với nhiều vấn đề. Những vấn đề này sẽ không được giải quyết bằng việc áp đặt một giải pháp bằng vũ lực, như trong trật tự thế giới của phe Trục. Chúng sẽ được giải quyết bằng các tiến trình giáo dục đúng đắn và bằng việc thấu hiểu các mục tiêu của trật tự thế giới chân chính. Chúng đại thể thuộc vào bốn loại: vấn đề chủng tộc, vấn đề kinh tế, vấn đề chính quyền, và vấn đề tôn giáo. |
|
|
The Racial Problem |
Vấn đề chủng tộc |
|
There is no way of solving the racial problem by legislation, segregation, or by the effort to produce national blocs, as in the case in Germany today when she proclaims Germany as the super-race. Such efforts will only produce insuperable barriers. With very few exceptions, there are no pure races. Germany in particular, by its place at the crossroads of Europe, is definitely the fusion of many strains. Tides of emigration, marching armies throughout the centuries, and modern travel have inextricably mixed and fused all the races. It may therefore be assumed that any attempt to isolate a race or to enforce so-called “racial purity” is foredoomed to failure. The only solution of this problem is the basic recognition that all men are brothers; that one blood pours through human veins; that we are all the children of the one Father and that our failure to recognise this fact is simply an indication of man’s stupidity. Historical backgrounds, climatic conditions and widespread inter-marriage have made the different races what they are today. Essentially, however, humanity is one—the heir of the ages, the product of many fusions, conditioned by circumstances and enriched by the processes of evolutionary development. This basic unity must now be recognised. |
Không có cách nào giải quyết vấn đề chủng tộc bằng luật pháp, bằng sự phân ly, hay bằng nỗ lực tạo ra các khối quốc gia, như trường hợp ở Đức ngày nay khi nước này tuyên bố Đức là siêu chủng tộc. Những nỗ lực như thế chỉ tạo ra những rào cản không thể vượt qua. Ngoại trừ rất ít trường hợp, không có chủng tộc thuần chủng. Đặc biệt, Đức, do vị trí ở ngã tư châu Âu, rõ ràng là sự dung hợp của nhiều dòng giống. Những làn sóng di cư, những đạo quân hành tiến qua các thế kỷ, và sự đi lại hiện đại đã trộn lẫn và dung hợp mọi chủng tộc một cách không thể gỡ rối. Vì vậy có thể giả định rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm cô lập một chủng tộc hay cưỡng bách cái gọi là “sự thuần khiết chủng tộc” đều đã được định trước là thất bại. Giải pháp duy nhất cho vấn đề này là sự thừa nhận căn bản rằng mọi người đều là huynh đệ; rằng cùng một dòng máu chảy trong huyết quản con người; rằng tất cả chúng ta đều là con của một Cha duy nhất và việc chúng ta không nhận ra sự kiện này chỉ đơn giản là một dấu hiệu của sự ngu xuẩn của con người. Bối cảnh lịch sử, điều kiện khí hậu và hôn phối rộng khắp đã làm cho các chủng tộc khác nhau trở thành như ngày nay. Tuy nhiên, về bản chất, nhân loại là một—người thừa kế của các thời đại, sản phẩm của nhiều sự dung hợp, được tác động bởi hoàn cảnh và được làm phong phú bởi các tiến trình phát triển tiến hoá. Sự hợp nhất căn bản này giờ đây phải được thừa nhận. |
|
The major racial problem has, for many centuries, been the Jewish, which has been brought to a critical point by Germany. This problem is also capable of solution if properly recognised for what it is, and if coupled with an effort by [195] the Jews themselves to solve it, and to be cooperative in the world efforts to adjust their problem. This they have not yet done because the average Jew is lonely and unsettled, able to do little to put himself right before the world. Instinctively and intellectually, the Jew is separative; intuitively he has vision, but at the same time he possesses no sense of fusion with other peoples. |
Vấn đề chủng tộc lớn nhất, trong nhiều thế kỷ, là vấn đề Do Thái, và nó đã bị Đức đẩy tới một điểm khủng hoảng. Vấn đề này cũng có thể được giải quyết nếu được nhận ra đúng như bản chất của nó, và nếu đi kèm với một nỗ lực của [195] chính người Do Thái để giải quyết nó, và để hợp tác trong những nỗ lực của thế giới nhằm điều chỉnh vấn đề của họ. Họ chưa làm điều đó vì người Do Thái trung bình cô đơn và bất ổn, ít có khả năng tự đặt mình vào vị trí đúng đắn trước thế giới. Theo bản năng và trí tuệ, người Do Thái có tính chia rẽ; theo trực giác y có linh ảnh, nhưng đồng thời y không có ý thức dung hợp với các dân tộc khác. |
|
There is no scientific and hitherto unknown mode of solving racial problems. It is finally a question of right thinking, decent behaviour, and simple kindness. The question will not be solved by inter-marriage, or by isolating groups for occupation of special areas, or by any man-made ideas of superiority or inferiority. Right human relations will come by a mutual recognition of mistakes, by sorrow for wrong action in the past, and by restitution, if possible. It will come when nations can be educated to appreciate the good qualities of other nations and to comprehend the part they play in the whole picture. It will be developed when the sense of racial superiority is killed; when racial differences and racial quarrels are relegated to the unholy past and only a future of cooperation and of understanding is actively developed; it will make its presence felt when the living standards of right relation (sought by the enlightened people of every race) become the habitual attitude of the masses and when it is regarded as contrary to the best interests of any nation to spread those ideas which tend to erect racial or national barriers, arouse hatreds or foster differences and separation. Such a time will surely come. Humanity will master the problem of right human relations and attitudes. |
Không có phương thức khoa học và chưa từng biết nào để giải quyết các vấn đề chủng tộc. Cuối cùng, đó là vấn đề của tư duy đúng đắn, hành xử tử tế, và lòng nhân hậu đơn giản. Vấn đề sẽ không được giải quyết bằng hôn phối hỗn hợp, hay bằng việc cô lập các nhóm để chiếm giữ những khu vực đặc biệt, hay bằng bất kỳ ý tưởng nào do con người tạo ra về sự ưu việt hay thấp kém. Những tương quan nhân loại đúng đắn sẽ đến bằng sự thừa nhận lẫn nhau về những sai lầm, bằng nỗi buồn vì hành động sai trái trong quá khứ, và bằng hoàn nguyên, nếu có thể. Nó sẽ đến khi các quốc gia có thể được giáo dục để trân trọng những phẩm tính tốt đẹp của các quốc gia khác và thấu hiểu phần họ đóng trong toàn cảnh. Nó sẽ được phát triển khi ý thức về sự ưu việt chủng tộc bị tiêu diệt; khi những khác biệt chủng tộc và những cuộc cãi vã chủng tộc bị đẩy về quá khứ bất thánh và chỉ một tương lai của hợp tác và thấu hiểu được tích cực phát triển; nó sẽ làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận khi các tiêu chuẩn sống của tương quan đúng đắn (được những người giác ngộ của mọi chủng tộc tìm kiếm) trở thành thái độ thường xuyên của quần chúng và khi việc truyền bá những ý tưởng có khuynh hướng dựng lên các rào cản chủng tộc hay quốc gia, khơi dậy hận thù hay nuôi dưỡng khác biệt và chia rẽ được xem là trái với lợi ích tốt nhất của bất kỳ quốc gia nào. Một thời như thế chắc chắn sẽ đến. Nhân loại sẽ làm chủ vấn đề những tương quan và thái độ nhân loại đúng đắn. |
|
It is inevitable that racial differences, national quarrels and caste distinction exist, but it is equally imperative that they disappear. The world is one world. Humanity is one unit in the evolutionary process. Differences are man-made and engender hatreds and separation. When the children of the various races are taught from their earliest years that there are no differences, that all men are brothers, and that the apparent distinctions are essentially superficial, then [196] future generations will approach the problem of world interrelations unhandicapped by prejudice, by pride of race, or by instilled historical resentments. By right education little children can be taught right attitudes and will respond, for a child sees and recognises no differences, and the truth of the Biblical promise that “a little child shall lead them” will be proven scientifically true. In the new world order this educational process will be started. |
Điều tất yếu là những khác biệt chủng tộc, những tranh chấp quốc gia và sự phân biệt đẳng cấp tồn tại, nhưng cũng tuyệt đối cần thiết là chúng phải biến mất. Thế giới là một thế giới duy nhất. Nhân loại là một đơn vị trong tiến trình tiến hoá. Những khác biệt là do con người tạo ra và sinh ra hận thù cùng chia rẽ. Khi trẻ em của các chủng tộc khác nhau được dạy từ những năm đầu đời rằng không có khác biệt nào, rằng mọi người đều là huynh đệ, và rằng những phân biệt bề ngoài về bản chất chỉ là hời hợt, thì [196] các thế hệ tương lai sẽ tiếp cận vấn đề các tương quan thế giới mà không bị cản trở bởi thành kiến, bởi niềm kiêu hãnh chủng tộc, hay bởi những oán hận lịch sử được gieo cấy. Bằng giáo dục đúng đắn, trẻ nhỏ có thể được dạy những thái độ đúng đắn và sẽ đáp ứng, vì một đứa trẻ không thấy và không nhận ra khác biệt nào, và chân lý của lời hứa trong Kinh Thánh rằng “một trẻ nhỏ sẽ dẫn dắt họ” sẽ được chứng minh là đúng một cách khoa học. Trong trật tự thế giới mới, tiến trình giáo dục này sẽ được khởi sự. |
|
The Economic Problem |
Vấn đề kinh tế |
|
This problem is basically far less difficult of solution. Sound commonsense can solve it. There are adequate resources for the sustenance of human life, and these science can increase and develop. The mineral wealth of the world, the oil, the produce of the fields, the contribution of the animal kingdom, the riches of the sea, and the fruits and the flowers are all offering themselves to humanity. Man is the controller of it all, and they belong to everyone and are the property of no one group, nation or race. It is solely due to man’s selfishness that (in these days of rapid transportation) thousands are starving whilst food is rotting or destroyed; it is solely due to the grasping schemes and the financial injustices of man’s making that the resources of the planet are not universally available under some wise system of distribution. There is no justifiable excuse for the lack of the essentials of life in any part of the world. Such a state of lack argues short-sighted policy and the blocking of the free circulation of necessities for some reason or other. All these deplorable conditions are based on some national or group selfishness and on the failure to work out some wise impartial scheme for the supplying of human need throughout the world. |
Về căn bản, vấn đề này ít khó giải quyết hơn nhiều. Lương tri lành mạnh có thể giải quyết nó. Có đủ tài nguyên để duy trì sự sống con người, và khoa học có thể gia tăng và phát triển chúng. Tài sản khoáng sản của thế giới, dầu mỏ, sản vật đồng ruộng, sự đóng góp của giới động vật, sự giàu có của biển cả, cùng hoa trái và hoa lá đều đang hiến mình cho nhân loại. Con người là kẻ kiểm soát tất cả điều đó, và chúng thuộc về mọi người chứ không phải là tài sản của bất kỳ nhóm, quốc gia hay chủng tộc nào. Chỉ vì tính ích kỷ của con người mà (trong những ngày vận chuyển nhanh chóng này) hàng ngàn người đang chết đói trong khi thực phẩm bị thối rữa hoặc bị hủy bỏ; chỉ vì những mưu đồ tham lam và những bất công tài chính do con người tạo ra mà các tài nguyên của hành tinh không được phổ biến rộng rãi dưới một hệ thống phân phối khôn ngoan nào đó. Không có lý do chính đáng nào cho sự thiếu thốn những nhu yếu phẩm của đời sống ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Một tình trạng thiếu thốn như thế cho thấy chính sách thiển cận và sự ngăn chặn lưu thông tự do của các nhu yếu phẩm vì lý do này hay lý do khác. Tất cả những điều kiện đáng thương này đều dựa trên một sự ích kỷ quốc gia hay nhóm nào đó và trên sự thất bại trong việc xây dựng một kế hoạch khôn ngoan, vô tư nào đó để cung ứng nhu cầu của con người trên khắp thế giới. |
|
What then must be done, apart from the education of the coming generations in the need for sharing, for a free circulation of all the essential commodities? The cause of this evil way of living is very simple. It is a product of past wrong educational methods, of competition and the facility with which the helpless and weak can be exploited. [197] No one group is responsible as certain fanatical ideologists might lead the ignorant to suppose. Our period is simply one in which human selfishness has come to its climax and must either destroy humanity or be brought intelligently to an end. |
Vậy thì phải làm gì, ngoài việc giáo dục các thế hệ sắp tới về nhu cầu chia sẻ, về sự lưu thông tự do của mọi hàng hóa thiết yếu? Nguyên nhân của lối sống xấu xa này rất đơn giản. Nó là sản phẩm của những phương pháp giáo dục sai lầm trong quá khứ, của sự cạnh tranh và của sự dễ dàng mà người bất lực và yếu đuối có thể bị bóc lột. [197] Không một nhóm nào phải chịu trách nhiệm, như một số nhà ý thức hệ cuồng tín có thể khiến người thiếu hiểu biết tưởng như vậy. Thời kỳ của chúng ta chỉ đơn giản là thời kỳ mà tính ích kỷ của con người đã lên đến đỉnh điểm và hoặc phải hủy diệt nhân loại hoặc phải được chấm dứt một cách sáng suốt. |
|
Three things will end this condition of great luxury and extreme poverty, of gross over-feeding of the few and the starvation of the many, plus the centralisation of the world’s produce under the control of a handful of people in each country. These are: first, the recognition that there is enough food, fuel, oil and minerals in the world to meet the need of the entire population. The problem, therefore, is basically one of distribution. Secondly, this premise of adequate supply handled through right distribution must be accepted, and the supplies which are essential to the health, security and happiness of mankind must be made available. Third, that the entire economic problem and the institution of the needed rules and distributing agencies should be handled by an economic league of nations. In this league, all the nations will have their place; they will know their national requirements (based on population and internal resources, etc.) and will know also what they can contribute to the family of nations; all will be animated by the will to the general good—a will-to-good that will probably at first be based on expediency and national need but which will be constructive in its working out. |
Ba điều sẽ chấm dứt tình trạng xa hoa lớn lao và nghèo đói cực độ này, tình trạng ăn uống quá mức thô bạo của số ít và nạn đói của số đông, cộng với sự tập trung sản vật thế giới dưới sự kiểm soát của một nhúm người ở mỗi quốc gia. Đó là: thứ nhất, sự thừa nhận rằng trên thế giới có đủ lương thực, nhiên liệu, dầu mỏ và khoáng sản để đáp ứng nhu cầu của toàn thể dân số. Vì vậy, về căn bản, vấn đề là vấn đề phân phối. Thứ hai, tiền đề về nguồn cung đầy đủ được xử lý qua sự phân phối đúng đắn này phải được chấp nhận, và những nguồn cung thiết yếu cho sức khỏe, an ninh và hạnh phúc của nhân loại phải được làm cho sẵn có. Thứ ba, toàn bộ vấn đề kinh tế và việc thiết lập những quy luật cùng các cơ quan phân phối cần thiết phải được xử lý bởi một liên minh kinh tế các quốc gia. Trong liên minh này, mọi quốc gia sẽ có vị trí của mình; họ sẽ biết các nhu cầu quốc gia của mình (dựa trên dân số và tài nguyên nội tại, v.v.) và cũng sẽ biết họ có thể đóng góp gì cho gia đình các quốc gia; tất cả sẽ được sinh động hóa bởi ý chí hướng tới thiện ích chung—một Ý Chí-hướng Thiện mà lúc đầu có lẽ sẽ dựa trên tính thiết thực và nhu cầu quốc gia nhưng sẽ có tính xây dựng trong quá trình triển khai. |
|
Certain facts are obvious. The old order has failed. The resources of the world have fallen into the hands of the selfish, and there has been no just distribution. Some nations have had too much, and have exploited their surplus; other nations have had too little, and their national life and their financial situation have been crippled thereby. At the close of this war all the nations will be in financial difficulties. All nations will require re-building; all will have to attend actively to the settlement of the future economic life of the planet and its adjustment upon sounder lines. |
Một số sự kiện là hiển nhiên. Trật tự cũ đã thất bại. Các tài nguyên của thế giới đã rơi vào tay những kẻ ích kỷ, và đã không có sự phân phối công bằng. Một số quốc gia có quá nhiều, và đã khai thác phần dư thừa của mình; những quốc gia khác có quá ít, và đời sống quốc gia cùng tình trạng tài chính của họ vì thế bị tê liệt. Khi cuộc chiến này kết thúc, mọi quốc gia sẽ ở trong khó khăn tài chính. Mọi quốc gia sẽ cần được tái thiết; tất cả sẽ phải tích cực chú ý đến việc ổn định đời sống kinh tế tương lai của hành tinh và điều chỉnh nó trên những đường hướng lành mạnh hơn. |
|
This period of adjustment offers the opportunity to effect drastic and deeply needed changes and the establishing [198] of a new economic order, based on the contribution of each nation to the whole, the sharing of the fundamental necessities of life and the wise pooling of all resources for the benefit of everybody, plus a wise system of distribution. Such a plan is feasible. |
Thời kỳ điều chỉnh này đem lại cơ hội để thực hiện những thay đổi triệt để và rất cần thiết, và thiết lập [198] một trật tự kinh tế mới, dựa trên sự đóng góp của mỗi quốc gia cho toàn thể, sự chia sẻ những nhu yếu phẩm căn bản của đời sống và sự gom chung khôn ngoan mọi tài nguyên vì lợi ích của mọi người, cộng với một hệ thống phân phối khôn ngoan. Một kế hoạch như thế là khả thi. |
|
The solution here offered is so simple that, for that very reason, it may fail to make an appeal. The quality required by those engineering this change of economic focus is so simple also—the will-to-good—that again it may be over-looked, but without simplicity and goodwill little can be effected after the world war. The great need will be for men of vision, of wide sympathy, technical knowledge and cosmopolitan interest. They must possess also the confidence of the people. They must meet together and lay down the rules whereby the world can be adequately fed; they must determine the nature and extent of the contribution which any one nation must make; they must settle the nature and extent of the supplies which should be given to any nation, and so bring about those conditions which will keep the resources of the world circulating justly and engineer those preventive measures which will offset human selfishness and greed. |
Giải pháp được đưa ra ở đây đơn giản đến mức, chính vì lý do đó, nó có thể không tạo được sức hấp dẫn. Phẩm tính cần có nơi những người thiết kế sự thay đổi trọng tâm kinh tế này cũng đơn giản như vậy—Ý Chí-hướng Thiện—nên một lần nữa nó có thể bị bỏ qua, nhưng không có sự đơn giản và thiện chí thì sau cuộc thế chiến sẽ ít điều có thể được thực hiện. Nhu cầu lớn lao sẽ là những người có tầm nhìn, có lòng cảm thông rộng lớn, có tri thức kỹ thuật và mối quan tâm quốc tế. Họ cũng phải có được sự tin cậy của dân chúng. Họ phải gặp nhau và đặt ra những quy luật nhờ đó thế giới có thể được nuôi dưỡng đầy đủ; họ phải xác định bản chất và mức độ đóng góp mà bất kỳ quốc gia nào phải thực hiện; họ phải quyết định bản chất và mức độ các nguồn cung nên được trao cho bất kỳ quốc gia nào, và như thế tạo ra những điều kiện sẽ giữ cho các tài nguyên của thế giới lưu thông một cách công bằng và thiết lập những biện pháp phòng ngừa sẽ hóa giải tính ích kỷ và lòng tham của con người. |
|
Can such a group of men be found? I believe it can. Everywhere there are deep students of human nature, scientific investigators with wide human sympathies, and conscientious men and women who have for long—under the old and cruel system—wrestled with the problem of human pain and need. |
Liệu có thể tìm thấy một nhóm người như thế không? Tôi tin là có thể. Khắp nơi đều có những người nghiên cứu sâu sắc về bản chất con người, những nhà điều tra khoa học với lòng cảm thông nhân loại rộng lớn, và những người nam và nữ tận tâm, từ lâu—dưới hệ thống cũ và tàn nhẫn—đã vật lộn với vấn đề đau khổ và nhu cầu của con người. |
|
The new era of simplicity must come in. The new world order will inaugurate this simpler life based on adequate food, right thought, creative activity and happiness. These essentials are only possible under a right economic rule. This simplification and this wise distribution of the world’s resources must embrace the high and the low, the rich and the poor, thus serving all men alike. |
Kỷ nguyên mới của sự đơn giản phải đến. Trật tự thế giới mới sẽ khai mở lối sống đơn giản hơn này, dựa trên thực phẩm đầy đủ, tư duy đúng đắn, hoạt động sáng tạo và hạnh phúc. Những điều cốt yếu này chỉ có thể có dưới một quy luật kinh tế đúng đắn. Sự đơn giản hóa này và sự phân phối khôn ngoan các tài nguyên của thế giới phải bao trùm cả cao lẫn thấp, giàu lẫn nghèo, nhờ đó phụng sự mọi người như nhau. |
|
The Problem Of Government |
Vấn đề chính quyền |
|
Coming now to the realm of government, under the new world order, one is faced with a very complex situation. [199] Certain great ideological regimes have divided the world into opposing groups. There are the great democracies, under which certain of the few remaining monarchies find a place; there are the totalitarian powers in which the ancient dictatorships and autocracies of the past are summed up. There is nothing new in the Axis policies. They are essentially reactionary groups, for tyrants, cruelty and the exploitation of the weak are part of ancient history. The democracies, with all their present ineffectiveness, have in them the germ of that which is truly new, for they are the expression of an upward surging towards self-rule and self-mastery by humanity as a whole. There is also the communistic ideal which is a curious blend of individualism, dictatorship, the ancient conflict between labour and capital, the Sermon on the Mount, and the worst aspects of revolution and exploitation. The lines which it will follow, even in the immediate future, are unpredictable. There are other countries and peoples whose governments are conditioned by their environment and who at present play no real determining part in world events, except in so far as a greater power uses them. Again, there are peoples and tribes who still pursue their little lives, unaffected by the turmoil to be found in the more highly civilised parts of the world. |
Giờ đây, khi đi vào lĩnh vực chính quyền dưới trật tự thế giới mới, người ta phải đối diện với một tình hình rất phức tạp. [199] Một số chế độ ý thức hệ lớn đã chia thế giới thành những nhóm đối nghịch. Có các nền dân chủ lớn, trong đó một số ít chế độ quân chủ còn sót lại tìm được chỗ đứng; có các cường quốc toàn trị, trong đó các chế độ độc tài và chuyên chế cổ xưa của quá khứ được tổng hợp lại. Không có gì mới trong các chính sách của phe Trục. Về bản chất, chúng là những nhóm phản động, vì bạo chúa, sự tàn bạo và việc bóc lột kẻ yếu là một phần của lịch sử cổ xưa. Các nền dân chủ, với tất cả sự kém hiệu quả hiện nay của chúng, chứa trong mình mầm mống của điều gì đó thật sự mới, vì chúng là biểu hiện của một làn sóng dâng lên hướng tới tự trị và tự chủ của toàn thể nhân loại. Cũng có lý tưởng cộng sản, là một sự pha trộn kỳ lạ giữa chủ nghĩa cá nhân, độc tài, cuộc xung đột cổ xưa giữa lao động và tư bản, Bài Giảng Trên Núi, và những phương diện tệ hại nhất của cách mạng và bóc lột. Những đường hướng mà nó sẽ theo, ngay cả trong tương lai gần, là điều không thể dự đoán. Có những quốc gia và dân tộc khác mà chính quyền của họ bị tác động bởi môi trường của họ và hiện nay không đóng vai trò quyết định thực sự nào trong các biến cố thế giới, ngoại trừ trong chừng mực một cường quốc lớn hơn sử dụng họ. Lại nữa, có những dân tộc và bộ lạc vẫn tiếp tục những đời sống nhỏ bé của mình, không bị ảnh hưởng bởi cơn hỗn loạn có thể thấy ở những phần văn minh hơn của thế giới. |
|
Behind all this diversity of governmental methods, certain clear outlines are emerging which indicate wider fusions and a tendency to bring about certain syntheses. Various basic trends of thought are appearing which, in the new world order, will unfold into that major synthesis so much desired by the spiritual Hierarchy of the planet, and which, whilst preserving the large national and racial outlines, will produce an underlying and subjective state of mind which will end the age of separateness. Desire is today being evoked for the Federated States of Europe, modelled on the lines of the British Commonwealth of Nations or the United States of America; there is talk of a new order in Asia, of the Good Neighbour policy in America, of a Federal Union of the democratic nations; there is also the steady spread of the Soviet Socialist Republics. Certain major groupings [200] would seem possible and probably advisable. They might be divided as follows: |
Đằng sau tất cả sự đa dạng của các phương pháp chính quyền này, một số đường nét rõ ràng đang xuất hiện, cho thấy những sự dung hợp rộng lớn hơn và một khuynh hướng đưa đến một số tổng hợp. Nhiều xu hướng tư tưởng căn bản đang xuất hiện, những xu hướng mà trong trật tự thế giới mới sẽ khai mở thành sự tổng hợp lớn lao mà Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh rất mong muốn, và sự tổng hợp này, trong khi vẫn bảo tồn những đường nét lớn của quốc gia và chủng tộc, sẽ tạo ra một trạng thái tâm thức nền tảng và chủ quan, chấm dứt thời đại chia rẽ. Ngày nay đang được gợi lên khát vọng về Các Quốc Gia Liên Bang Châu Âu, được mô phỏng theo đường hướng của Khối Thịnh vượng chung Anh hay Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ; có lời bàn về một trật tự mới ở châu Á, về chính sách Láng giềng Tốt ở châu Mỹ, về một Liên bang của các quốc gia dân chủ; cũng có sự lan rộng đều đặn của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết. Một số nhóm lớn [200] dường như là khả hữu và có lẽ đáng khuyến nghị. Chúng có thể được phân chia như sau: |
|
1. A Federal Union of the great democracies after the war. This might include the British Empire as a whole, the United States, the Scandinavian countries and certain northern European nations, including Germany. |
1. Một Liên bang của các nền dân chủ lớn sau chiến tranh. Liên bang này có thể bao gồm toàn bộ Đế quốc Anh, Hoa Kỳ, các quốc gia Scandinavia và một số quốc gia Bắc Âu, kể cả Đức. |
|
2. A Union of the Latin countries, including France, Spain, all the Mediterranean countries, the Balkan countries (except one or two which might be absorbed into the U.S.S.R.), and South America. |
2. Một Liên minh các quốc gia La-tinh, bao gồm Pháp, Tây Ban Nha, tất cả các quốc gia Địa Trung Hải, các quốc gia Balkan (ngoại trừ một hay hai quốc gia có thể bị sáp nhập vào U.S.S.R.), và Nam Mỹ. |
|
3. The United Soviet Socialist Republics and certain Asiatic nations working in collaboration with them, such as China, and later Japan. |
3. Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết và một số quốc gia châu Á hợp tác với họ, như Trung Quốc, và sau này là Nhật Bản. |
|
These three great blocs would not be antagonistic blocs but simply geographical spheres of influence. They would all three work in the closest unity and economic relation. Each nation within the three blocs would preserve its sovereign independence, but between these independent nations and between these blocs there would be identity of purpose, unity of effort and the recognition of the economic control of a league of nations. This league, being formed of the representatives of all the nations and its inner governing body being chosen by the three blocs, would control all sources of supply, distribute all such supplies and determine all economic policies. |
Ba khối lớn này sẽ không phải là những khối đối kháng mà chỉ đơn giản là những phạm vi ảnh hưởng địa lý. Cả ba sẽ cùng hoạt động trong sự hợp nhất chặt chẽ nhất và trong mối liên hệ kinh tế mật thiết. Mỗi quốc gia trong ba khối sẽ duy trì nền độc lập có chủ quyền của mình, nhưng giữa các quốc gia độc lập này và giữa các khối này sẽ có sự đồng nhất về mục đích, sự hợp nhất trong nỗ lực và sự thừa nhận quyền kiểm soát kinh tế của một liên minh các quốc gia. Liên minh này, được hình thành từ các đại diện của mọi quốc gia và có cơ quan điều hành nội bộ do ba khối lựa chọn, sẽ kiểm soát mọi nguồn cung ứng, phân phối mọi nguồn cung ấy và quyết định mọi chính sách kinh tế. |
|
With the details of these future adjustments I shall not deal. They must be wrought out by the men and women of goodwill in the crucible of experiment and experience. Only universal disaster could have brought men to a state of mind wherein such propositions and solutions could be presented. The general recognition that the old order has lamentably failed is most valuable. |
Tôi sẽ không bàn đến các chi tiết của những điều chỉnh tương lai này. Chúng phải được những người nam và nữ thiện chí thực hiện trong lò nung của thử nghiệm và kinh nghiệm. Chỉ có tai họa phổ quát mới có thể đưa con người đến một trạng thái tâm trí trong đó những đề nghị và giải pháp như thế có thể được trình bày. Sự thừa nhận rộng rãi rằng trật tự cũ đã thất bại một cách đáng buồn là điều vô cùng có giá trị. |
|
The Religious Problem |
Vấn Đề Tôn Giáo |
|
When we come to consider religion in the new world order, we are faced with a far more complicated problem [201] and yet, at the same time, with a far easier one. The reason for this is that the subject of religion is one which is studied and somewhat understood by the majority of men. On theological interpretations there are wide differences; on a widespread recognition of a universal divine Intelligence or of God (by whatever name the all-embracing Life may be called) there is a general similarity of reaction. Forms of religion are so different, and the theological adherents are so fierce in their loyalties and partisanships, that the emergence of a world religion is necessarily of profound difficulty. But that emergence is very close at hand and the differences are relatively superficial. The new world religion is nearer than many think, and this is due to two things: first, the theological quarrels are mainly over non-essentials, and secondly, the younger generation is basically spiritual but quite uninterested in theology. |
Khi chúng ta bắt đầu xem xét tôn giáo trong trật tự thế giới mới, chúng ta đối diện với một vấn đề phức tạp hơn nhiều [201] nhưng đồng thời cũng dễ hơn nhiều. Lý do là vì chủ đề tôn giáo là một chủ đề được đa số con người nghiên cứu và phần nào thấu hiểu. Về các cách giải thích thần học thì có những khác biệt rất lớn; nhưng về sự thừa nhận rộng rãi một Trí Tuệ thiêng liêng phổ quát hay Thượng đế (dù Sự sống bao trùm tất cả ấy được gọi bằng bất cứ danh xưng nào) thì lại có một sự tương đồng chung trong phản ứng. Các hình thức tôn giáo khác biệt đến mức như vậy, và những người theo thần học lại mãnh liệt trong lòng trung thành và tính đảng phái của họ đến mức sự xuất hiện của một tôn giáo thế giới tất yếu là điều vô cùng khó khăn. Nhưng sự xuất hiện ấy đã rất gần kề và những khác biệt ấy tương đối chỉ là bề mặt. Tôn giáo thế giới mới gần hơn nhiều người nghĩ, và điều này là do hai nguyên nhân: thứ nhất, các cuộc tranh cãi thần học chủ yếu xoay quanh những điều không cốt yếu, và thứ hai, thế hệ trẻ về căn bản là tinh thần nhưng hoàn toàn không quan tâm đến thần học. |
|
The intelligent youth of all countries are rapidly repudiating orthodox theology, state ecclesiasticism and the control of the church. They are neither interested in man-made interpretations of truth nor in past quarrels between the major world religions. At the same time, they are profoundly interested in the spiritual values and are earnestly seeking verification of their deep-seated unvoiced recognitions. They look to no bible or system of so-called inspired spiritual knowledge and revelation, but their eyes are on the undefined larger wholes in which they seek to merge and lose themselves, such as the state, an ideology, or humanity itself. In this expression of the spirit of self-abnegation may be seen the appearance of the deepest truth of all religion and the justification of the Christian message. Christ, in His high place, cares not whether men accept the theological interpretations of scholars and churchmen, but He does care whether the keynote of His life of sacrifice and service is reproduced among men; it is immaterial to Him whether the emphasis laid upon the detail and the veracity of the Gospel story is recognised and accepted, for He is more interested that the search for truth and for subjective spiritual experience should persist; He knows that within [202] each human heart is found that which responds instinctively to God, and that the hope of ultimate glory lies hid in the Christ-consciousness. |
Thanh niên thông minh ở mọi quốc gia đang nhanh chóng bác bỏ thần học chính thống, giáo hội quốc gia và sự kiểm soát của giáo hội. Họ không quan tâm đến những cách giải thích chân lý do con người tạo ra, cũng không quan tâm đến những cuộc tranh cãi trong quá khứ giữa các tôn giáo lớn của thế giới. Đồng thời, họ thật sự quan tâm sâu sắc đến các giá trị tinh thần và đang tha thiết tìm kiếm sự xác chứng cho những nhận biết sâu kín nhưng không thốt nên lời của mình. Họ không hướng đến bất kỳ kinh thánh hay hệ thống nào của cái gọi là tri thức tinh thần và sự mặc khải được linh hứng, nhưng ánh mắt họ hướng về những toàn thể lớn lao chưa xác định mà trong đó họ tìm cách hòa nhập và đánh mất chính mình, như quốc gia, một hệ tư tưởng, hay chính nhân loại. Trong biểu hiện này của tinh thần tự xả thân, có thể thấy sự xuất hiện của chân lý sâu xa nhất trong mọi tôn giáo và sự biện minh cho thông điệp Ki-tô giáo. Đức Christ, ở cương vị cao cả của Ngài, không quan tâm việc con người có chấp nhận những cách giải thích thần học của các học giả và giáo sĩ hay không, nhưng Ngài thật sự quan tâm đến việc chủ âm của đời sống hy sinh và phụng sự của Ngài có được tái hiện giữa loài người hay không; đối với Ngài, việc sự nhấn mạnh đặt trên chi tiết và tính chân thực của câu chuyện Phúc Âm có được thừa nhận và chấp nhận hay không là điều không quan trọng, vì Ngài quan tâm nhiều hơn đến việc cuộc tìm kiếm chân lý và kinh nghiệm tinh thần chủ quan phải được tiếp tục; Ngài biết rằng bên trong [202] mỗi trái tim con người đều có điều gì đó đáp ứng theo bản năng với Thượng đế, và rằng niềm hy vọng về vinh quang tối hậu được ẩn giấu trong tâm thức Christ. |
|
Therefore, in the new world order, spirituality will supersede theology; living experience will take the place of theological acceptances. The spiritual realities will emerge with increasing clarity and the form aspect will recede into the background; dynamic, expressive truth will be the keynote of the new world religion. The living Christ will assume His rightful place in human consciousness and see the fruition of His plans, sacrifice and service, but the hold of the ecclesiastical orders will weaken and disappear. Only those will remain as guides and leaders of the human spirit who speak from living experience, and who know no creedal barriers; they will recognise the onward march of revelation and the new emerging truths. These truths will be founded on the ancient realities but will be adapted to modern need and will manifest progressively the revelation of the divine nature and quality. God is now known as Intelligence and Love. That the past has given us. He must be known as Will and Purpose, and that the future will reveal. |
Do đó, trong trật tự thế giới mới, tinh thần sẽ thay thế thần học; kinh nghiệm sống động sẽ thay chỗ cho sự chấp nhận thần học. Những thực tại tinh thần sẽ xuất hiện ngày càng rõ ràng hơn và phương diện hình tướng sẽ lùi vào hậu cảnh; chân lý năng động và biểu đạt sẽ là chủ âm của tôn giáo thế giới mới. Đức Christ hằng sống sẽ đảm nhận vị trí chính đáng của Ngài trong tâm thức nhân loại và chứng kiến sự kết quả của các kế hoạch, sự hy sinh và sự phụng sự của Ngài, nhưng sự kềm giữ của các giáo quyền sẽ suy yếu và biến mất. Chỉ những ai còn lại như những người hướng dẫn và lãnh đạo tinh thần nhân loại là những người nói từ kinh nghiệm sống động và không biết đến những rào cản tín điều; họ sẽ thừa nhận bước tiến không ngừng của sự mặc khải và những chân lý mới đang xuất hiện. Những chân lý này sẽ được đặt nền trên các thực tại cổ xưa nhưng sẽ được thích nghi với nhu cầu hiện đại và sẽ biểu lộ dần dần sự mặc khải về bản chất và phẩm tính thiêng liêng. Thượng đế hiện nay được biết đến như Trí Tuệ và Tình thương/Bác ái. Quá khứ đã trao cho chúng ta điều đó. Ngài phải được biết đến như Ý Chí và Mục Đích, và tương lai sẽ mặc khải điều ấy. |
|
When the racial problem has disappeared through the recognition of the one Life, when the economic problem has been solved by the nations working cooperatively together, when the problem of right government within each nation has been determined by the free will of their respective peoples, and the spirit of true religion is unobstructed by ancient forms and interpretations, then we shall see a world in process of right experience, right human relations and a spiritual moving forward to reality. |
Khi vấn đề chủng tộc đã biến mất nhờ sự thừa nhận một Sự sống duy nhất, khi vấn đề kinh tế đã được giải quyết bởi các quốc gia cùng hợp tác với nhau, khi vấn đề cai trị đúng đắn trong mỗi quốc gia đã được quyết định bởi ý chí tự do của các dân tộc tương ứng của họ, và tinh thần của tôn giáo chân chính không còn bị cản trở bởi các hình thức và cách giải thích cổ xưa, thì khi ấy chúng ta sẽ thấy một thế giới đang trong tiến trình đạt đến kinh nghiệm đúng đắn, những quan hệ nhân loại đúng đắn và một sự tiến bước tinh thần hướng đến thực tại. |
|
A study of these four lines of human living will show how truly Germany is today the focal point of the world situation. In that unhappy nation, the racial problem has attained such importance that the entire world is affected. From the economic angle, Hitler has said that Germany has been forced to fight in order to preserve the life, economically speaking, of her people; factually, the economic life of Germany was not as critically threatened as that of many [203] smaller nations. The problem of government has also been brought to a critical point by German activity and conquest and by the emphasis laid by the Axis powers upon the relation of the state to the individual. The attitude of the German rulers to religion is recognised as one of pronounced antagonism. Thus the four major world problems are today being precipitated by Germany into the arena of action; they are evoking enquiry everywhere; the attention of men in every land is now focussed on these problems, and solution is inevitable when the war is over. When these problems are rightly approached by the men and women of goodwill, then we shall see a “world planning” for the production of harmonious living such as never before has been possible. |
Một nghiên cứu về bốn đường lối sinh hoạt nhân loại này sẽ cho thấy nước Đức ngày nay thật sự là tiêu điểm của tình hình thế giới như thế nào. Trong quốc gia bất hạnh ấy, vấn đề chủng tộc đã đạt đến tầm quan trọng đến mức toàn thế giới đều bị ảnh hưởng. Xét từ góc độ kinh tế, Hitler đã nói rằng nước Đức bị buộc phải chiến đấu để bảo toàn sự sống, xét về mặt kinh tế, của dân chúng mình; trên thực tế, đời sống kinh tế của nước Đức không bị đe dọa nghiêm trọng bằng nhiều quốc gia nhỏ hơn [203]. Vấn đề cai trị cũng đã bị đẩy đến một điểm khủng hoảng bởi hoạt động và sự chinh phục của Đức cũng như bởi sự nhấn mạnh mà các cường quốc Trục đặt lên mối liên hệ giữa quốc gia và cá nhân. Thái độ của những người cai trị Đức đối với tôn giáo được thừa nhận là một thái độ đối kháng rõ rệt. Như vậy, bốn vấn đề lớn của thế giới ngày nay đang được nước Đức đẩy vào đấu trường hành động; chúng đang khơi dậy sự khảo cứu ở khắp nơi; sự chú ý của con người ở mọi miền đất hiện nay đang tập trung vào các vấn đề này, và giải pháp là điều không thể tránh khỏi khi chiến tranh kết thúc. Khi những vấn đề này được những người nam và nữ thiện chí tiếp cận một cách đúng đắn, khi ấy chúng ta sẽ thấy một “sự hoạch định thế giới” nhằm tạo ra một đời sống hài hòa như trước đây chưa từng có thể thực hiện được. |
|
It is for humanity to solve its serious problems on the basis of brotherhood, and so bring in a way of living which will provide adequate supply of the necessities of life through the proper organising of time, labour and goods. This will lead to an interplay between the citizen and the state which will evoke the service of the individual and the right protection of the state. Humanity will then be free for the experiment of spiritual living, and this will express itself through awakened human lives. Can more be asked for or expected than this? Such a way of life can be made possible if the men and women of goodwill, of intelligence and of idealism can begin the task of inaugurating the new world order. |
Nhân loại phải tự giải quyết những vấn đề nghiêm trọng của mình trên nền tảng tình huynh đệ, và như thế đưa vào một lối sống sẽ cung cấp đầy đủ các nhu yếu phẩm của đời sống thông qua việc tổ chức đúng đắn thời gian, lao động và hàng hóa. Điều này sẽ dẫn đến một sự tương tác giữa công dân và quốc gia, điều sẽ khơi dậy sự phụng sự của cá nhân và sự bảo vệ đúng đắn của quốc gia. Khi ấy nhân loại sẽ được tự do cho cuộc thử nghiệm đời sống tinh thần, và điều này sẽ biểu lộ qua những đời sống con người đã thức tỉnh. Có thể đòi hỏi hay mong đợi điều gì hơn thế nữa không? Một lối sống như vậy có thể trở thành khả hữu nếu những người nam và nữ thiện chí, có trí tuệ và có lý tưởng có thể bắt đầu nhiệm vụ khai mở trật tự thế giới mới. |
|
IV. THE TASK AHEAD |
IV. NHIỆM VỤ PHÍA TRƯỚC |
|
Điều này giờ đây đưa chúng ta đến các phương diện thực tiễn của chủ đề và đến việc trả lời câu hỏi sau đây: Với khả năng của trật tự thế giới mới, có thể làm gì để đưa nó vào hiện hữu vào lúc này, giữa cuộc xung đột? |
|
|
The period into which we are now entering divides itself into two parts: |
Thời kỳ mà chúng ta hiện đang bước vào tự chia thành hai phần: |
|
1. The present period of the war itself, until the defeat of Germany and the end of the actual fighting. [204] |
1. Thời kỳ hiện tại của chính cuộc chiến, cho đến khi nước Đức bị đánh bại và cuộc chiến thực sự chấm dứt. [204] |
|
2. The period after the guns have ceased roaring. The needed peace, reconstruction and rebuilding will then have to be determined. |
2. Thời kỳ sau khi tiếng súng đã ngừng gầm vang. Khi ấy nền hòa bình cần thiết, công cuộc tái thiết và xây dựng lại sẽ phải được xác định. |
|
It is with these periods that we must concern ourselves. They are, and will be, times of great difficulty and of painful conflict and adjustment. The task of restoring the world to harmony and order is a stupendous one. The educating of people everywhere in the necessity for new ideals of right living, for the new rhythms and the new “sharing” will not be easy. The work of healing the wounds of humanity, of rebuilding the shattered civilisation, of instituting disarmament, of recognising national, material and psychological needs, and of rescuing and restoring the happiness of the little children of the world and planning their future security will take the best that is in the men and women of goodwill; it will call for the wise guidance of the New Group of World Servers and will engage the attention of intelligent people and understanding minds in every nation. |
Chính với những thời kỳ này mà chúng ta phải quan tâm. Chúng là, và sẽ là, những thời kỳ vô cùng khó khăn và của xung đột cùng điều chỉnh đau đớn. Nhiệm vụ khôi phục thế giới trở lại hài hòa và trật tự là một nhiệm vụ khổng lồ. Việc giáo dục con người ở khắp nơi về sự cần thiết của những lý tưởng mới về đời sống đúng đắn, về những nhịp điệu mới và sự “chia sẻ” mới sẽ không dễ dàng. Công việc chữa lành những vết thương của nhân loại, xây dựng lại nền văn minh bị tan nát, thiết lập giải trừ quân bị, thừa nhận các nhu cầu quốc gia, vật chất và tâm lý, và cứu vớt cũng như khôi phục hạnh phúc cho những trẻ thơ bé nhỏ của thế giới và hoạch định sự an toàn tương lai của chúng sẽ đòi hỏi điều tốt đẹp nhất nơi những người nam và nữ thiện chí; nó sẽ cần đến sự hướng dẫn minh triết của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và sẽ thu hút sự chú ý của những người thông minh và những trí tuệ thấu hiểu ở mọi quốc gia. |
|
The first preliminary is for the men and women of goodwill to decide once and for all with which of the two forces, battling together, they will take their stand, mentally and spiritually, even if they are not called upon by their country to do so physically. I write at this time for those who take their stand on the side of the constructive forces which are fighting for the democratic values and the freedom of the peoples. I would here remind you that among the people in Germany and Italy there are thousands who also silently take their stand with those struggling for victory over the Axis powers. This must never be forgotten, for such people exist in their multitudes under totalitarian rule. The Forces of Light are found in every land but are at present only able to express themselves effectively in the countries ranged against Germany. |
Điều sơ bộ đầu tiên là những người nam và nữ thiện chí phải quyết định một lần dứt khoát rằng, giữa hai lực lượng đang chiến đấu với nhau, họ sẽ đứng về phía lực lượng nào về mặt trí tuệ và tinh thần, ngay cả khi quốc gia của họ không kêu gọi họ làm như vậy về mặt thể xác. Tôi viết vào lúc này cho những ai đứng về phía các lực lượng xây dựng đang chiến đấu cho các giá trị dân chủ và tự do của các dân tộc. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng giữa dân chúng ở Đức và Ý có hàng ngàn người cũng âm thầm đứng về phía những ai đang đấu tranh để chiến thắng các cường quốc Trục. Điều này không bao giờ được quên, vì những người như thế tồn tại rất đông dưới chế độ toàn trị. Các Mãnh Lực của Ánh sáng hiện diện ở mọi miền đất nhưng hiện nay chỉ có thể biểu lộ hữu hiệu tại các quốc gia đang đứng chống lại nước Đức. |
|
The men and women of goodwill, associated with the New Group of World Servers, should seek intelligently to understand the current problem, and to study the world situation from all possible angles. Intelligent understanding, [205] love of one’s fellowmen and sound commonsense are prerequisites of all demanded service. Men should cultivate these qualities, divorcing them from all sentimental emotion and dealing factually with circumstance and environing conditions. It must be realised that the task to be done will take time, and the men and women of goodwill must brace themselves for sustained effort, for opposition, and for that dead lethargy and sick inertia which afflicts the masses of the people in every land. The immediate activities are two in number: |
Những người nam và nữ thiện chí, liên kết với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, nên cố gắng một cách thông minh để thấu hiểu vấn đề hiện tại và nghiên cứu tình hình thế giới từ mọi góc độ có thể. Sự thấu hiểu thông minh, [205] tình thương đối với đồng loại và lẽ thường lành mạnh là những điều kiện tiên quyết của mọi sự phụng sự được đòi hỏi. Con người nên vun bồi những phẩm tính này, tách chúng khỏi mọi cảm xúc đa cảm và đề cập đến hoàn cảnh cùng các điều kiện môi trường một cách thực tế. Phải nhận ra rằng nhiệm vụ cần làm sẽ đòi hỏi thời gian, và những người nam và nữ thiện chí phải tự chuẩn bị cho nỗ lực bền bỉ, cho sự chống đối, và cho tình trạng trì trệ chết lặng cùng quán tính bệnh hoạn đang làm khổ quần chúng ở mọi miền đất. Các hoạt động trước mắt có hai việc: |
|
1. The finding of those people in every country who react to the vision of the new world order and who are the men and women of goodwill. |
1. Tìm ra những người ở mọi quốc gia đáp ứng với tầm nhìn về trật tự thế giới mới và là những người nam và nữ thiện chí. |
|
2. The presentation of the future possibilities, by them, to the masses of people in all lands. |
2. Do chính họ trình bày những khả năng tương lai ấy cho quần chúng ở mọi miền đất. |
|
I would here remind you that members of the New Group of World Servers and men and women of goodwill must be sought for in every department of life. They will be found among the adherents of all the current ideologies and in political and scientific circles, among the world educators and philanthropists, among the creative workers, the industrialists, in ordinary homes and in the ranks of labour. |
Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người nam và nữ thiện chí phải được tìm kiếm trong mọi lĩnh vực của đời sống. Họ sẽ được tìm thấy giữa những người theo mọi hệ tư tưởng hiện hành và trong các giới chính trị và khoa học, giữa các nhà giáo dục thế giới và các nhà từ thiện, giữa những người hoạt động sáng tạo, các nhà công nghiệp, trong những gia đình bình thường và trong hàng ngũ lao động. |
|
The New Group of World Servers |
Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian |
|
The New Group of World Servers is not a new organisation which is forming in the world. It is simply a loose linking together of all men of constructive peace aims and goodwill who lay the emphasis upon the prior need of establishing right human relations before any lasting peace is possible. This group in no way interferes with the allegiance and loyalties of any man. It is a banding together of all who seek to express the spirit of Christ and who are free from the spirit of hatred and revenge. The challenge of this group to the world is to drop all antagonisms and antipathies, all hatred and racial differences, and attempt to live in terms of the one family, the one life, and the one humanity. |
Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian không phải là một tổ chức mới đang hình thành trong thế giới. Nó chỉ đơn giản là một sự liên kết lỏng lẻo của tất cả những người có mục tiêu hòa bình mang tính xây dựng và thiện chí, những người nhấn mạnh đến nhu cầu ưu tiên là thiết lập những quan hệ nhân loại đúng đắn trước khi bất kỳ nền hòa bình lâu bền nào có thể có được. Nhóm này hoàn toàn không can thiệp vào sự trung thành và lòng tận tụy của bất kỳ ai. Đó là sự kết hợp của tất cả những ai tìm cách biểu lộ tinh thần của Đức Christ và những người thoát khỏi tinh thần hận thù và báo thù. Thách thức mà nhóm này đưa ra cho thế giới là từ bỏ mọi đối kháng và ác cảm, mọi hận thù và khác biệt chủng tộc, và cố gắng sống theo một gia đình duy nhất, một Sự sống duy nhất và một nhân loại duy nhất. |
|
[206] The New Group of World Servers believes that (through the agency of goodwill) the new world order can be firmly established on Earth. Today, in the interim period of the war, preparation for reconstruction can go forward simultaneously with the effort to defeat the totalitarian powers. |
[206] Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian tin rằng, thông qua tác nhân của thiện chí, trật tự thế giới mới có thể được thiết lập vững chắc trên Trái Đất. Ngày nay, trong thời kỳ chuyển tiếp của chiến tranh, việc chuẩn bị cho tái thiết có thể tiến hành đồng thời với nỗ lực đánh bại các cường quốc toàn trị. |
|
The men and women of goodwill must not be energised into activity with the note of sacrifice. The war has exacted much of that from them. The clarion note of joy through goodwill activity must be sent out. Let the beauty of what can be, the glory of the vision and the spiritual, scientific and physical rebuilding of humanity be held before them, inspiring them to renewed effort. |
Những người nam và nữ thiện chí không được khơi động vào hoạt động bằng nốt hy sinh. Chiến tranh đã đòi hỏi nơi họ quá nhiều điều đó rồi. Phải phát đi tiếng kèn vang của sự hoan hỉ qua hoạt động thiện chí. Hãy đặt trước mắt họ vẻ đẹp của điều có thể thành tựu, vinh quang của tầm nhìn và công cuộc tái thiết nhân loại về mặt tinh thần, khoa học và hồng trần, để truyền cảm hứng cho họ nỗ lực trở lại. |
|
Through the work earlier done all over the world by the men of vision and of goodwill, there exist today many thousands of people in Europe, America and elsewhere who are waiting for the guidance which will start them into right activity. In every land the men and women of goodwill are to be found, ready to respond to a clear call and intelligent organisation in the service of reconstruction. Let them be found. |
Nhờ công việc đã được những người có tầm nhìn và thiện chí thực hiện trước đây trên khắp thế giới, ngày nay có nhiều ngàn người ở châu Âu, châu Mỹ và những nơi khác đang chờ đợi sự hướng dẫn sẽ khởi động họ vào hoạt động đúng đắn. Ở mọi miền đất đều có thể tìm thấy những người nam và nữ thiện chí, sẵn sàng đáp ứng một lời kêu gọi rõ ràng và một sự tổ chức thông minh trong công cuộc phụng sự tái thiết. Hãy tìm ra họ. |
|
The message to be taught prior to any future peace consists of the following three clear and practical truths: |
Thông điệp cần được giảng dạy trước bất kỳ nền hòa bình tương lai nào gồm ba chân lý rõ ràng và thực tiễn sau đây: |
|
1. That the errors and mistakes of past centuries, culminating in the present world war, are the joint errors and mistakes of humanity as a whole. This recognition will lead to the establishing of the principle of sharing, so needed in the world today. |
1. Rằng những sai lầm và lỗi lầm của các thế kỷ đã qua, lên đến đỉnh điểm trong cuộc chiến tranh thế giới hiện nay, là những sai lầm và lỗi lầm chung của toàn thể nhân loại. Sự thừa nhận này sẽ dẫn đến việc thiết lập nguyên lý chia sẻ, điều rất cần thiết trong thế giới ngày nay. |
|
2. That there are no problems and conditions which cannot be solved by the will-to-good. Goodwill nourishes the spirit of understanding and fosters the manifestation of the principle of cooperation. This cooperative spirit is the secret of all right human relations and the enemy of competition. |
2. Rằng không có vấn đề hay hoàn cảnh nào không thể được giải quyết bằng Ý Chí-hướng Thiện. Thiện chí nuôi dưỡng tinh thần thấu hiểu và thúc đẩy sự biểu lộ của nguyên lý hợp tác. Tinh thần hợp tác này là bí quyết của mọi quan hệ nhân loại đúng đắn và là kẻ thù của sự cạnh tranh. |
|
3. That there is a blood relationship between men which, when recognised, dissolves all barriers and ends the spirit of separativeness and hate. The peace and happiness of each is the concern, therefore, of all. [207] This develops the principle of responsibility and lays the foundation of right corporate action. |
3. Rằng có một mối liên hệ huyết thống giữa con người với nhau, mà khi được thừa nhận, sẽ làm tan biến mọi rào cản và chấm dứt tinh thần chia rẽ và hận thù. Vì vậy, hòa bình và hạnh phúc của mỗi người là mối quan tâm của tất cả. [207] Điều này phát triển nguyên lý trách nhiệm và đặt nền tảng cho hành động tập thể đúng đắn. |
|
These are the basic beliefs of the men and women of goodwill and provide the incentive to all service and action. These three practical and scientific truths embody the three basic facts and the initial acceptance of all world servers. They are contrary to no world position, subversive of no government or religious attitude and are innate in the consciousness of all men, evoking immediate response. Their acceptance will “heal” international sores. |
Đó là những niềm tin căn bản của những người nam và nữ thiện chí và cung cấp động lực cho mọi sự phụng sự và hành động. Ba chân lý thực tiễn và khoa học này bao hàm ba sự kiện căn bản và sự chấp nhận ban đầu của mọi Người Phụng Sự Thế Gian. Chúng không trái với bất kỳ lập trường thế giới nào, không lật đổ bất kỳ chính quyền hay thái độ tôn giáo nào và vốn bẩm sinh trong tâm thức của mọi người, khơi dậy sự đáp ứng tức thì. Sự chấp nhận chúng sẽ “chữa lành” những vết thương quốc tế. |
|
I call on all the men and women of goodwill in the world to study the principles of the new world order. I call upon them, as they fight for justice and the rights of the little nations and the future of the children of all nations, to begin to educate those whom they can reach, in right attitudes and in that foresighted vision which will make the mistakes of the past impossible in the future. |
Tôi kêu gọi tất cả những người nam và nữ thiện chí trên thế giới nghiên cứu các nguyên lý của trật tự thế giới mới. Tôi kêu gọi họ, trong khi chiến đấu cho công lý và quyền lợi của các quốc gia nhỏ bé cùng tương lai của trẻ em thuộc mọi quốc gia, hãy bắt đầu giáo dục những người mà họ có thể tiếp cận, về những thái độ đúng đắn và về tầm nhìn xa trông rộng sẽ khiến những sai lầm của quá khứ không thể tái diễn trong tương lai. |
|
One basic divine attribute is not yet as strong as it should be in humanity—the attribute of forgiveness. It is still associated with magnanimity. It is not seen to be essentially a condition of future relation between all nations, based upon a recognition of our common humanity. Germany, under her misguided and evil rulers, needs forgiveness. All the great Powers have also sinned in some degree and all have grievously erred in the past. Germany has precipitated the evil which has come upon the world, but she has within herself the seeds of her own punishment; these seeds will not come to fruition if excessive punishment is inflicted from outside. |
Một thuộc tính thiêng liêng căn bản vẫn chưa mạnh nơi nhân loại như lẽ ra phải thế — thuộc tính tha thứ. Nó vẫn còn được gắn với lòng quảng đại. Người ta chưa thấy rằng về bản chất nó là một điều kiện của mối quan hệ tương lai giữa mọi quốc gia, dựa trên sự thừa nhận nhân tính chung của chúng ta. Nước Đức, dưới những nhà cai trị lầm lạc và xấu ác của mình, cần được tha thứ. Tất cả các cường quốc lớn cũng đã phạm lỗi ở một mức độ nào đó và tất cả đều đã sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Nước Đức đã làm kết tủa điều ác đã giáng xuống thế giới, nhưng trong chính mình nước ấy có những hạt giống của sự trừng phạt riêng; những hạt giống này sẽ không kết quả nếu sự trừng phạt quá mức bị áp đặt từ bên ngoài. |
|
Three recognitions will save the world when the guns cease firing: |
Ba sự thừa nhận sẽ cứu thế giới khi tiếng súng ngừng nổ: |
|
1. The recognition of joint responsibility for past world conditions. The truth that “all have sinned” must be faced. |
1. Sự thừa nhận trách nhiệm chung đối với các điều kiện thế giới trong quá khứ. Chân lý rằng “mọi người đều đã phạm lỗi” phải được đối diện. |
|
2. The recognition that, though the German people weakly acquiesced in the rule of Hitler, they are basically the victims of an organised deception. Since [208] 1914 they have been told only lies. The future new world order will inaugurate an era of truthful propaganda and national and international information. |
2. Sự thừa nhận rằng, dù dân tộc Đức đã yếu đuối thuận theo sự cai trị của Hitler, về căn bản họ là nạn nhân của một sự lừa dối có tổ chức. Từ [208] năm 1914, họ chỉ được nghe những lời dối trá. Trật tự thế giới mới trong tương lai sẽ khai mở một kỷ nguyên tuyên truyền chân thật và thông tin quốc gia cũng như quốc tế. |
|
3. The recognition that the past has gone with all its evils, and that a future of unlimited possibilities for good and for constructive changes lies ahead. The future must be developed by all nations in the closest collaboration. |
3. Sự thừa nhận rằng quá khứ đã qua đi cùng với mọi điều ác của nó, và rằng một tương lai với những khả năng vô hạn cho điều thiện và cho những thay đổi mang tính xây dựng đang ở phía trước. Tương lai phải được mọi quốc gia phát triển trong sự cộng tác chặt chẽ nhất. |
|
These three points must be constantly presented to the public in the simplest language, because it is the inert mass of unthinking people who will constitute the hardest problem. Appeal must be made to the best that is in them, because the immediate task ahead is the development of those right attitudes without which no peace can be lasting and justice will not be possible. Peace must not be imposed by those who hate war. Peace must be a natural outcome and expression of the human spirit, and of a determination to change the world attitude into one of right human relations. |
Ba điểm này phải được trình bày liên tục trước công chúng bằng ngôn ngữ đơn giản nhất, vì chính khối quần chúng trì trệ và không suy nghĩ sẽ tạo thành vấn đề khó khăn nhất. Phải kêu gọi điều tốt đẹp nhất nơi họ, vì nhiệm vụ trước mắt là phát triển những thái độ đúng đắn mà nếu không có chúng thì không nền hòa bình nào có thể lâu bền và công lý sẽ không thể có được. Hòa bình không được áp đặt bởi những người ghét chiến tranh. Hòa bình phải là kết quả tự nhiên và là biểu hiện của tinh thần nhân loại, và của quyết tâm chuyển đổi thái độ thế giới thành thái độ của những quan hệ nhân loại đúng đắn. |
|
This is no impossible idealistic dream, but an immediate possibility, given the spirit of forgiveness and goodwill. Patience will be required, because the nervous strain of war and pain and anxiety, fear and underfeeding will have to be reckoned with. Human beings will be the same as before the war, except for exhaustion and a willingness on the part of the majority to accept almost any terms which will allow them to live quietly again, free from the immediate fear of bombs and starvation and ruin. The great need will be for slow action, leaving time for the needed healing processes and adjustment before the final peace terms are settled by the nations, sitting in conclave. Nations will have to shift from a war footing to settled peace activities, and from the organised tensions of war to the comparative relaxations of peace. Disarmament must go forward as an initial move, but in such a manner that the question of unemployment is not unduly aggravated. The “turning of the cannon into ploughshares” must be carried out with judgment, and only wide international planning can take care [209] of this stupendous process. The settling of national boundaries and spheres of influence will be one of the utmost difficulty and can only be satisfactorily determined if goodwill is actively present and consciously used, and when the wishes of the people involved are consulted in a non-partisan spirit. The emphasis upon past historical boundaries as a determining factor is ever dangerous. Wise and slow action will here be needed and proper consideration of population desires. It is not the restoration of the ancient landmarks which is desirable, but the restoration of national and racial spheres of influence in accordance with the present situation. |
Đây không phải là một giấc mơ duy tâm bất khả thi, mà là một khả năng trước mắt, nếu có tinh thần tha thứ và thiện chí. Sẽ cần đến sự kiên nhẫn, vì phải tính đến sự căng thẳng thần kinh do chiến tranh, đau đớn và lo âu, sợ hãi và thiếu ăn. Con người sẽ vẫn như trước chiến tranh, ngoại trừ sự kiệt quệ và sự sẵn lòng của đa số chấp nhận gần như bất kỳ điều kiện nào cho phép họ lại được sống yên ổn, thoát khỏi nỗi sợ bom đạn, đói khát và đổ nát trước mắt. Nhu cầu lớn lao sẽ là hành động chậm rãi, để lại thời gian cho các tiến trình chữa lành và điều chỉnh cần thiết trước khi các điều khoản hòa bình cuối cùng được các quốc gia ngồi trong mật nghị quyết định. Các quốc gia sẽ phải chuyển từ tư thế chiến tranh sang các hoạt động hòa bình ổn định, và từ những căng thẳng có tổ chức của chiến tranh sang sự thư giãn tương đối của hòa bình. Giải trừ quân bị phải được tiến hành như một bước đầu tiên, nhưng theo cách không làm trầm trọng quá mức vấn đề thất nghiệp. Việc “biến đại bác thành lưỡi cày” phải được thực hiện với sự phán đoán sáng suốt, và chỉ có sự hoạch định quốc tế rộng lớn mới có thể đảm đương [209] tiến trình khổng lồ này. Việc giải quyết các biên giới quốc gia và các phạm vi ảnh hưởng sẽ là một trong những việc khó khăn nhất và chỉ có thể được xác định một cách thỏa đáng nếu thiện chí hiện diện một cách tích cực và được sử dụng một cách hữu thức, và khi nguyện vọng của những dân chúng liên hệ được tham khảo trong một tinh thần vô tư. Sự nhấn mạnh vào các biên giới lịch sử quá khứ như một yếu tố quyết định luôn luôn nguy hiểm. Ở đây sẽ cần đến hành động minh triết và chậm rãi cùng sự cân nhắc thích đáng đối với nguyện vọng của dân cư. Điều đáng mong muốn không phải là khôi phục những mốc giới cổ xưa, mà là khôi phục các phạm vi ảnh hưởng quốc gia và chủng tộc phù hợp với tình hình hiện tại. |
|
It is not the imposition of any particular ideology upon the world, or its removal, which is of importance, but the establishing of those world conditions which will give all the nations adequate food, the necessities of life, and opportunity then to express themselves, and to make their unique contribution to the welfare of the whole family of nations. |
Điều quan trọng không phải là áp đặt bất kỳ hệ tư tưởng riêng biệt nào lên thế giới, hay loại bỏ nó, mà là thiết lập những điều kiện thế giới sẽ cung cấp cho mọi quốc gia đầy đủ lương thực, các nhu yếu phẩm của đời sống, và cơ hội để rồi tự biểu lộ và đóng góp độc đáo của mình cho phúc lợi của toàn thể gia đình các quốc gia. |
|
The working details will have to be developed by all peoples in the closest collaboration. Men of vision, and not just politicians; world servers, and not just military leaders; and humanitarians, and not just the rulers of nations, must determine these tremendous issues. As they do so they must be able to count upon the support of the men and women of goodwill in every land. To sum up: |
Các chi tiết thực hiện sẽ phải được mọi dân tộc phát triển trong sự cộng tác chặt chẽ nhất. Những người có tầm nhìn, chứ không chỉ các chính trị gia; những người phụng sự thế giới, chứ không chỉ các nhà lãnh đạo quân sự; và những nhà nhân đạo, chứ không chỉ những người cai trị các quốc gia, phải quyết định những vấn đề trọng đại này. Khi làm như vậy, họ phải có thể trông cậy vào sự ủng hộ của những người nam và nữ thiện chí ở mọi miền đất. Tóm lại: |
|
The interim between the present time and the final adjustment falls into two major periods and the practical work in each can be clearly defined: |
Khoảng chuyển tiếp giữa hiện tại và sự điều chỉnh cuối cùng rơi vào hai thời kỳ lớn và công việc thực tiễn trong mỗi thời kỳ có thể được xác định rõ ràng: |
|
1. The interim between today and the cessation of war. This must be used in the following ways: |
1. Khoảng chuyển tiếp giữa hôm nay và sự chấm dứt chiến tranh. Khoảng này phải được sử dụng theo những cách sau: |
|
a. To educate and stabilise all men and women of goodwill. |
a. Giáo dục và làm ổn định tất cả những người nam và nữ thiện chí. |
|
b. To discover the workers, humanitarians and those men and women of understanding and vision who will respond to the principles here given. |
b. Tìm ra những người hoạt động, những nhà nhân đạo và những người nam và nữ có sự thấu hiểu và tầm nhìn, những người sẽ đáp ứng với các nguyên lý được nêu ra ở đây. |
|
c. To prepare these men and women to work in unison for justice and right human relations in all countries after the cessation of the war. [210] |
c. Chuẩn bị những người nam và nữ này để cùng làm việc trong sự hợp nhất vì công lý và những quan hệ nhân loại đúng đắn ở mọi quốc gia sau khi chiến tranh chấm dứt. [210] |
|
2. The interim between the end of the physical fighting and the final peace settlement. It is to be hoped—for the sake of justice—that this interlude will cover several years of rehabilitation and education. During these interludes between the past and the new world order, the men and women of goodwill can actively aid the statesmen of all nations by intelligent cooperation, in the planned focussing of enlightened public opinion, and in defining and teaching the real meaning of right human relations. |
2. Khoảng chuyển tiếp giữa lúc chấm dứt chiến sự hồng trần và việc dàn xếp hòa bình cuối cùng. Hy vọng rằng — vì lợi ích của công lý — khoảng xen này sẽ bao gồm vài năm phục hồi và giáo dục. Trong những khoảng chuyển tiếp giữa quá khứ và trật tự thế giới mới này, những người nam và nữ thiện chí có thể tích cực trợ giúp các chính khách của mọi quốc gia bằng sự hợp tác thông minh, trong việc tập trung có kế hoạch dư luận công chúng đã được soi sáng, và trong việc xác định cũng như giảng dạy ý nghĩa thực sự của những quan hệ nhân loại đúng đắn. |
|
It is with the first interlude that we are now concerned. |
Chính với khoảng chuyển tiếp thứ nhất mà hiện nay chúng ta đang quan tâm. |
|
It is desirable to get into immediate touch with those whose names are already known to you, and set them to work and let them—in their turn—find others, and guide them also into the way of reconstruction. Let all these names and addresses be gathered together in central and national mailing lists, but let them also be kept in both New York and London, for it is the task of the English speaking peoples to rebuild the world with the help of all other nations. There must, therefore, be some measure of centralisation of the work and some way in which these people can be reached and swept into cooperative activity. |
Điều mong muốn là lập tức liên lạc với những người mà tên tuổi của họ đã được các bạn biết đến, giao việc cho họ và để họ — đến lượt mình — tìm ra những người khác, và cũng hướng dẫn họ vào con đường tái thiết. Hãy tập hợp tất cả những tên tuổi và địa chỉ này vào các danh sách gửi thư trung ương và quốc gia, nhưng cũng hãy lưu giữ chúng ở cả New York và London, vì nhiệm vụ của các dân tộc nói tiếng Anh là xây dựng lại thế giới với sự trợ giúp của mọi quốc gia khác. Do đó, phải có một mức độ tập trung hóa nào đó trong công việc và phải có một phương cách để những người này có thể được tiếp cận và được cuốn vào hoạt động hợp tác. |
|
With goodwill to all, with a staunch belief in the divine possibilities of human beings and in the future resurrection of humanity, with an exalted recognition of God, with an acknowledgment of the fundamental values of Christ’s teaching, and with a joyful determination to go forward with the work of reconstruction, I call upon those who respond to this vision immediately to set to work. |
Với thiện chí dành cho tất cả, với niềm tin kiên định vào những khả năng thiêng liêng của con người và vào sự phục sinh tương lai của nhân loại, với sự thừa nhận cao cả về Thượng đế, với sự công nhận các giá trị căn bản trong giáo huấn của Đức Christ, và với quyết tâm hoan hỉ tiến lên trong công cuộc tái thiết, tôi kêu gọi những ai đáp ứng với tầm nhìn này hãy lập tức bắt tay vào việc. |
|
I call you to no organisational loyalties, but only to love your fellowmen, be they German, American, Jewish, British, French, Negro or Asiatic. I call you from your dreams of vague beauty, impossible Utopias and wishful thinking to face life as it is today; and then to begin, in the place where you are, to make it better. I call you to the experiment of right human relations, beginning with your own personal relations to your family and friends, and then [211] to the task of educating those you contact so that they also start a similar work. It is the work of attaining right individual relations, right group relations, right intergroup relations, right national relations and right international relations. I call you to the realisation that in this work no one is futile or useless, but that all have a place of practical value. I call you to recognise that goodwill is a dynamic energy which can bring about world changes of a fundamental kind, and that its mode of expression is through the activity of the individual man and woman and through their massed intent. The massed power of goodwill, the dynamic effect of intelligent and active understanding, and the potency of a trained and alive public opinion which desires the greatest good of the greatest number, are beyond belief. This dynamic power has never been employed. It can, today, save the world. |
Tôi không kêu gọi các bạn đến với bất kỳ lòng trung thành tổ chức nào, mà chỉ kêu gọi các bạn yêu thương đồng loại của mình, dù họ là người Đức, người Mỹ, người Do Thái, người Anh, người Pháp, người da đen hay người Á châu. Tôi kêu gọi các bạn rời khỏi những giấc mơ về vẻ đẹp mơ hồ, những Utopia bất khả thi và những ước vọng viển vông để đối diện với đời sống như nó đang là hôm nay; rồi bắt đầu, ngay tại nơi các bạn đang ở, làm cho nó tốt đẹp hơn. Tôi kêu gọi các bạn đến với cuộc thử nghiệm những quan hệ nhân loại đúng đắn, bắt đầu bằng chính những quan hệ cá nhân của các bạn với gia đình và bạn bè, rồi [211] đến nhiệm vụ giáo dục những người các bạn tiếp xúc để họ cũng bắt đầu một công việc tương tự. Đó là công việc đạt đến những quan hệ cá nhân đúng đắn, những quan hệ nhóm đúng đắn, những quan hệ liên nhóm đúng đắn, những quan hệ quốc gia đúng đắn và những quan hệ quốc tế đúng đắn. Tôi kêu gọi các bạn chứng nghiệm rằng trong công việc này không ai là vô ích hay vô dụng, mà tất cả đều có một vị trí mang giá trị thực tiễn. Tôi kêu gọi các bạn thừa nhận rằng thiện chí là một năng lượng năng động có thể mang lại những thay đổi thế giới thuộc loại căn bản, và phương thức biểu lộ của nó là qua hoạt động của từng người nam và nữ riêng lẻ và qua ý hướng tập thể của họ. Quyền năng tập thể của thiện chí, hiệu quả năng động của sự thấu hiểu thông minh và tích cực, và mãnh lực của một dư luận công chúng được huấn luyện và sống động, mong muốn điều thiện lớn nhất cho số đông nhất, vượt ngoài sức tin. Quyền năng năng động này chưa bao giờ được sử dụng. Ngày nay, nó có thể cứu thế giới. |
|
~ |
~ |
THE WORLD CRISIS FROM HIERARCHICAL VIEWPOINT—CUỘC KHỦNG HOẢNG THẾ GIỚI TỪ QUAN ĐIỂM CỦA THÁNH ĐOÀN
THE WORLD CRISIS TODAY—CUỘC KHỦNG HOẢNG THẾ GIỚI NGÀY NAY
|
June 30, 1940 |
Ngày 30 tháng 6 năm 1940 |
|
Events and situations change with such rapidity at this time, as humanity takes action or refrains from action (which latter course is just as determining for good or evil as is the former), that I feel again the need of writing on the world crisis, as I did last autumn, thus carrying forward my theme. I write as one who is working on the inner side today, sensing and seeing what is hidden from many of you. The exoteric outer history of events is known to all of you, and with its detail I need not deal. The action taken by the combatant nations, or withheld by the neutral nations, is also registered in your consciousness. The implications of such activity can only be truly known and appreciated by those people who today think in terms of humanity as a [230] whole, and not in terms of a particular nation, such as the good of Germany or the destiny of America. Few disciples there are at this time who can thus think synthetically or who see the vision as a whole, precipitating as that which will condition eventually the entire human family. Many there are who are awakening to the need so to do and who are finding, in their processes of readjustment, many bewildering problems. For these sincere but bewildered people, I write. I find that there is little that I can say to the provincially minded or to those with the purely parochial point of view. Their limitations of vision lie within themselves and only dire events and strenuous emergency will enable them finally to transcend the petty quibbling and quality of their lower mind, with its concrete tendency to hark back to the past and its fear to venture with faith into the future. |
Các biến cố và tình huống thay đổi với tốc độ quá nhanh vào lúc này, khi nhân loại hành động hoặc không hành động (mà con đường sau này cũng có tính quyết định đối với thiện hay ác chẳng kém gì con đường trước), đến nỗi tôi lại cảm thấy cần phải viết về cuộc khủng hoảng thế giới, như tôi đã làm vào mùa thu năm ngoái, để tiếp tục chủ đề của mình. Tôi viết như một người đang hoạt động ở nội giới ngày nay, cảm nhận và thấy được những gì bị che khuất đối với nhiều bạn. Lịch sử ngoại môn bên ngoài của các biến cố thì tất cả các bạn đều biết, và tôi không cần bàn đến các chi tiết của nó. Hành động được các quốc gia tham chiến thực hiện, hoặc bị các quốc gia trung lập không thực hiện, cũng đã được ghi nhận trong tâm thức các bạn. Những hàm ý của hoạt động như thế chỉ có thể được biết và đánh giá đúng đắn bởi những người ngày nay suy nghĩ theo các điều kiện của nhân loại như một [230] toàn thể, chứ không theo các điều kiện của một quốc gia riêng biệt, như lợi ích của nước Đức hay vận mệnh của nước Mỹ. Hiện nay có rất ít đệ tử có thể suy nghĩ một cách tổng hợp như thế hoặc thấy được linh ảnh như một toàn thể, đang ngưng tụ thành điều cuối cùng sẽ tác động lên toàn bộ gia đình nhân loại. Có nhiều người đang thức tỉnh trước nhu cầu phải làm như vậy và đang gặp nhiều vấn đề rối rắm trong các tiến trình tái điều chỉnh của mình. Chính cho những người chân thành nhưng hoang mang ấy mà tôi viết. Tôi thấy rằng tôi có rất ít điều để nói với những người có đầu óc địa phương hoặc với những người có quan điểm hoàn toàn cục bộ. Những giới hạn về tầm nhìn của họ nằm trong chính họ, và chỉ những biến cố nghiêm trọng cùng tình trạng khẩn cấp căng thẳng mới có thể cuối cùng giúp họ vượt qua sự cãi vã vụn vặt và phẩm tính của hạ trí họ, với khuynh hướng cụ thể luôn ngoái nhìn về quá khứ và nỗi sợ không dám mạo hiểm bước vào tương lai với đức tin. |
|
I have been interested in the response to my earlier article, written in April, 1940. The majority of those whom I sought to reach and with whom I have communicated for many years accepted my premises without much questioning but refrained from positive action or the use of any influence. A few resented the implications of the existent divisions between the Forces of Light (focussed through the allied nations) and the Forces of Aggression (focussed through Germany). They embody a true, but erroneously interpreted, idea of human unity. They fail to understand that—as the New Age is ushered in—there must inevitably come a judgment day (speaking symbolically) and the emergence of a clear line of demarcation between that which is new and that which is of the old age; there must appear the distinction between exoteric happenings and esoteric attitudes and between those who see a new world order, developed and brought to functioning activity by the Forces of Light, through cooperation, coordination and understanding, and a world order which will be imposed by terror, through dictatorial government, by the suppression of liberty of conscience, and by the enthronement of a race whose values are, at this time, anti-spiritual and anti-social. This judgment day is now upon humanity, and the final decision will be [231] arrived at by those whose normal inclinations and natural tendencies are on the side of law and order, and whose will-to-good is directed towards right human relations and true human welfare. These enlightened people will back their judgment with a focussed will to bring in the era wherein these values will dominate, and they are also willing to take the necessary measures to make these values possible. |
Tôi đã quan tâm đến phản ứng đối với bài viết trước của tôi, được viết vào tháng Tư năm 1940. Đa số những người mà tôi tìm cách tiếp cận và với những người tôi đã liên lạc trong nhiều năm đã chấp nhận các tiền đề của tôi mà không chất vấn nhiều, nhưng lại không có hành động tích cực hay sử dụng bất kỳ ảnh hưởng nào. Một số ít phẫn nộ trước những hàm ý của sự phân chia hiện hữu giữa Các Mãnh Lực Ánh Sáng (được tập trung qua các quốc gia đồng minh) và Các Mãnh Lực Xâm Lược (được tập trung qua nước Đức). Họ hiện thân cho một ý tưởng chân thật, nhưng bị diễn giải sai, về sự hợp nhất của nhân loại. Họ không hiểu rằng—khi Kỷ Nguyên Mới được khai mở—ắt phải có một ngày phán xét (nói theo biểu tượng) và sự xuất hiện của một đường ranh giới phân định rõ ràng giữa điều gì là mới và điều gì thuộc về thời đại cũ; phải xuất hiện sự phân biệt giữa những biến cố ngoại môn và những thái độ nội môn, và giữa những người nhìn thấy một trật tự thế giới mới, được phát triển và đưa vào hoạt động bởi Các Mãnh Lực Ánh Sáng qua hợp tác, phối hợp và thấu hiểu, với một trật tự thế giới sẽ bị áp đặt bằng khủng bố, qua chính quyền độc tài, bằng sự đàn áp tự do lương tâm, và bằng việc tôn lên ngai vàng một chủng tộc mà các giá trị của nó, vào lúc này, là phản tinh thần và phản xã hội. Ngày phán xét này hiện đang ở trên nhân loại, và quyết định cuối cùng sẽ [231] được đưa ra bởi những người mà khuynh hướng bình thường và xu hướng tự nhiên đứng về phía luật pháp và trật tự, và có Ý Chí-hướng Thiện hướng đến những tương quan nhân loại đúng đắn và phúc lợi nhân loại chân chính. Những người được soi sáng này sẽ hậu thuẫn phán đoán của mình bằng một ý chí tập trung nhằm mang đến kỷ nguyên trong đó các giá trị ấy sẽ chi phối, và họ cũng sẵn lòng thực hiện những biện pháp cần thiết để làm cho các giá trị ấy trở nên khả hữu. |
|
I would like to deal openly and frankly with the problems with which you are being confronted when you face the world as it is today and the world as it may be tomorrow—a world whose fate is still unsettled. I would present possibilities with a definite application to the reactions of such empires as those of Great Britain, France and Holland, and with indication as to how the United States of America should be expected to respond. I write as one who represents the Hierarchy, as a member of a certain standing in its ranks, and as one also who works day and night for the success of those nations in the human family who, with their backs to a wall of misunderstanding, vilification and dislike, are strenuously opposing Germany and her satellite, Italy. I refer to that group of Allies who today stand with their purpose focussed in Great Britain, driven there by the trend of events. I do this because the basic hope of right human relations, of true and lasting peace, of liberty of conscience and of free and happy homes rests upon their triumphing; they are, at this time, the point of positive attack by the Forces of Evil. It is not possible for us as yet to reach the soul of the German people within that unhappy land, so complete is the glamour under which they are labouring. The day will come when again they will be reached, and this responsibility rests upon those Germans who remain free from glamour in other lands; it will come when the forces acting through the medium of a band of evil-intentioned men have been removed. With their disappearance will come the dissipation of the clouds of evil propaganda, lying information and distorted imputations and interpretations with which the masses of people, even in neutral lands, have been deluged. |
Tôi muốn đề cập một cách cởi mở và thẳng thắn đến những vấn đề mà các bạn đang phải đối diện khi nhìn vào thế giới như nó đang là hôm nay và thế giới như nó có thể là ngày mai—một thế giới mà số phận của nó vẫn chưa được định đoạt. Tôi muốn trình bày những khả năng với sự áp dụng rõ ràng vào các phản ứng của những đế quốc như Anh, Pháp và Hà Lan, và với sự chỉ dẫn về cách Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ nên được mong đợi đáp ứng. Tôi viết như một người đại diện cho Thánh Đoàn, như một thành viên có vị thế nhất định trong hàng ngũ của Thánh Đoàn, và cũng như một người làm việc ngày đêm cho sự thành công của những quốc gia trong gia đình nhân loại đang, với lưng dựa vào bức tường của sự hiểu lầm, phỉ báng và ác cảm, kiên cường chống lại nước Đức và vệ tinh của nó là nước Ý. Tôi nói đến nhóm Đồng Minh ngày nay đang đứng với mục đích của mình được tập trung tại Anh Quốc, bị xu hướng của các biến cố dồn về đó. Tôi làm điều này vì niềm hy vọng căn bản về những tương quan nhân loại đúng đắn, về nền hòa bình chân thật và bền vững, về tự do lương tâm và về những mái ấm tự do và hạnh phúc đặt nền trên chiến thắng của họ; vào lúc này, họ là điểm bị Các Mãnh Lực Ác tấn công tích cực. Hiện nay chúng tôi vẫn chưa thể tiếp cận linh hồn của dân tộc Đức trong vùng đất bất hạnh ấy, vì ảo cảm mà họ đang chịu đựng quá hoàn toàn. Sẽ đến ngày họ lại được tiếp cận, và trách nhiệm này nằm trên những người Đức vẫn còn tự do khỏi ảo cảm ở các xứ khác; điều đó sẽ đến khi các mãnh lực đang hoạt động qua trung gian của một nhóm người có ý đồ xấu ác đã bị loại bỏ. Cùng với sự biến mất của chúng sẽ đến sự làm tiêu tan những đám mây tuyên truyền xấu ác, thông tin dối trá và những sự quy kết cùng diễn giải bóp méo mà quần chúng, ngay cả ở các xứ trung lập, đã bị nhấn chìm trong đó. |
|
[232] Would you have me at this time of planetary crisis refrain from direct speech, have me withhold from you who read my words the truth—a truth which is already apparent to those who ponder the signs of the times with an unprejudiced mind, unbiased thought and a true love of humanity? This last quality, a true love of humanity, constitutes a basic test of wrong or right action. It is phenomenally clarifying if applied at this time to the combatants. Would you have me deal with pleasant platitudes anent a future happy world, when perhaps the very possibility of such a world trembles in the balance? Would you have me present the attitude of the Hierarchy as that of a placid band of onlookers, ready to help the world when the conflict is over, but at present insulated from all action and simply waiting till the dust and clamour of battle settle, to stimulate in men’s minds the vision of a new world order wherein everyone will have a good time, where there will be no unemployment, wherein fear and terror will find no place and everyone will be happy, well fed and reasonably intelligent? Would you have me picture to you the great band of disciples, initiates and aspirants as a band of pacifists, cherishing the form side of life, afraid of death and remaining passive in the face of the death struggle of human liberty, of life, conscience and mind? |
[232] Các bạn có muốn tôi, vào lúc khủng hoảng hành tinh này, tránh lời nói trực tiếp, muốn tôi giữ lại với các bạn là những người đọc lời tôi chân lý—một chân lý vốn đã hiển nhiên đối với những ai suy ngẫm về các dấu hiệu của thời đại bằng một trí tuệ không thiên kiến, tư tưởng không thành kiến và một tình thương chân thật đối với nhân loại chăng? Phẩm tính cuối cùng này, một tình thương chân thật đối với nhân loại, cấu thành một phép thử căn bản cho hành động sai hay đúng. Nếu được áp dụng vào lúc này cho các bên tham chiến, nó làm sáng tỏ một cách phi thường. Các bạn có muốn tôi nói những lời sáo rỗng dễ nghe về một thế giới hạnh phúc tương lai, khi có lẽ chính khả năng của một thế giới như thế đang run rẩy trên bàn cân chăng? Các bạn có muốn tôi trình bày thái độ của Thánh Đoàn như thái độ của một nhóm người quan sát điềm tĩnh, sẵn sàng giúp thế giới khi xung đột chấm dứt, nhưng hiện tại lại cách ly khỏi mọi hành động và chỉ đơn giản chờ cho bụi và tiếng ồn của chiến trận lắng xuống, để kích thích trong trí tuệ con người linh ảnh về một trật tự thế giới mới trong đó mọi người sẽ có khoảng thời gian vui vẻ, nơi sẽ không có thất nghiệp, nơi sợ hãi và khủng bố không có chỗ đứng và mọi người sẽ hạnh phúc, đủ ăn và khá thông minh chăng? Các bạn có muốn tôi vẽ ra cho các bạn hình ảnh đại nhóm đệ tử, điểm đạo đồ và người chí nguyện như một nhóm người chủ hòa, trân quý mặt hình tướng của sự sống, sợ chết và vẫn thụ động trước cuộc tử chiến của tự do nhân loại, của sự sống, lương tâm và trí tuệ chăng? |
|
I tell you that this I cannot do. The Hierarchy is very different from this. Pacifism, as interpreted by you, has no place in its ranks. The destruction of form in battle (which causes so much fear to many of you) is of small importance to those who know that reincarnation is a basic law of nature and that there is no death. The forces of death are abroad today, but it is the death of liberty, the death of free speech, the death of freedom in human action, the death of truth and of the higher spiritual values. These are the vital factors in the life of humanity; the death of the physical form is a negligible factor in relation to these, and one easily righted again through the processes of rebirth and fresh opportunity. |
Tôi nói với các bạn rằng tôi không thể làm điều đó. Thánh Đoàn rất khác với điều ấy. Chủ nghĩa chủ hòa, như các bạn diễn giải, không có chỗ trong hàng ngũ của Thánh Đoàn. Sự hủy diệt hình tướng trong chiến trận (điều gây ra quá nhiều sợ hãi cho nhiều bạn) ít quan trọng đối với những ai biết rằng luân hồi là một định luật căn bản của bản chất và rằng không có cái chết. Các mãnh lực của cái chết đang lan tràn ngày nay, nhưng đó là cái chết của tự do, cái chết của ngôn luận tự do, cái chết của tự do trong hành động của con người, cái chết của chân lý và của các giá trị tinh thần cao hơn. Đó mới là những yếu tố sống còn trong đời sống nhân loại; cái chết của hình thể hồng trần là một yếu tố không đáng kể so với những điều ấy, và có thể dễ dàng được sửa lại qua các tiến trình tái sinh và cơ hội mới. |
|
I would say to those who preach a passive attitude in the face of evil and human suffering and who endorse a [233] pacifism which involves no risks: With what do you propose to fight the forces of aggression, of treachery, evil and destruction which are today stalking over our planet? What weapons do you bring to this combat? How will you begin to stem the onslaught and arrest the whirlwind? Will you use prayers for peace, and then patiently wait for the forces of good to fight your battle and for God to do the work? I tell you that your prayers and your wishes are unavailing when divorced from right and potent action. Your prayers and petitions may reach the throne of God, symbolically speaking, but then the reply comes forth: The Forces of Light will strengthen your arms and turn the tide in your favour if you stand up and fight for that which you desire. Who will arrest the progress of aggressive selfishness if the men and women of goodwill rest back upon their idealism and do naught that is practical to justify their hope or aid in the materialisation of the desired ideal. |
Tôi muốn nói với những ai rao giảng một thái độ thụ động trước cái ác và nỗi khổ đau của con người, và những ai tán thành một [233] chủ nghĩa chủ hòa không bao hàm rủi ro nào: Các bạn định dùng gì để chiến đấu với các mãnh lực xâm lược, phản bội, xấu ác và hủy diệt đang ngày nay rình rập trên hành tinh chúng ta? Các bạn mang đến những vũ khí nào cho cuộc chiến này? Các bạn sẽ bắt đầu ngăn chặn cuộc tấn công và chặn đứng cơn lốc bằng cách nào? Các bạn sẽ dùng những lời cầu nguyện cho hòa bình, rồi kiên nhẫn chờ các mãnh lực thiện chiến đấu trận chiến của các bạn và chờ Thượng đế làm công việc ấy sao? Tôi nói với các bạn rằng những lời cầu nguyện và mong ước của các bạn là vô hiệu khi tách rời khỏi hành động đúng đắn và mạnh mẽ. Những lời cầu nguyện và thỉnh nguyện của các bạn có thể đạt đến ngai của Thượng đế, nói theo biểu tượng, nhưng rồi câu trả lời phát ra là: Các Mãnh Lực Ánh Sáng sẽ tăng cường cánh tay các bạn và xoay chuyển tình thế có lợi cho các bạn nếu các bạn đứng lên và chiến đấu cho điều mình mong muốn. Ai sẽ chặn đứng bước tiến của tính ích kỷ xâm lược nếu những người nam và nữ thiện chí chỉ dựa lưng vào chủ nghĩa lý tưởng của mình và không làm gì thực tế để biện minh cho hy vọng của mình hay trợ giúp trong việc hiện hình lý tưởng mong muốn? |
|
There are those in the world today who (despite past national selfishness and wrong) are fearlessly and with true insight fighting humanity’s battle, and with them the Hierarchy stands, as it has ever stood on the side of liberty, right understanding and correct attitudes in human affairs. I would say to those who cry, “Peace, peace when there is no peace”: Are you going to profit by their death and sacrifice when the ultimate triumph of the Forces of Light comes to pass? Are you going to take the position that you can then live in a safe world because others gave their lives that you might do so? Are you going to issue forth from the safe security of your pacifist alibi and gratefully acknowledge what they have done and grasp your share of the gains which they have purchased at such a cost? I would warn you not to be glamoured by the false premise that you must stand by your hard-earned convictions, even at the expense of other peoples’ lives and the downfall of nations, forgetting that fear and false pride will make this argument of importance to you. Are the peace-minded people of the world going to reap the benefits of a peace for which they have paid no price? It is the people who value peace above all [234] else who are today seeking by every possible method to stop Germany. |
Ngày nay có những người trên thế giới, dù bất chấp tính ích kỷ và sai lầm quốc gia trong quá khứ, đang không sợ hãi và với linh thị chân chính chiến đấu cho trận chiến của nhân loại, và Thánh Đoàn đứng cùng họ, như Thánh Đoàn luôn luôn đứng về phía tự do, sự thấu hiểu đúng đắn và những thái độ đúng đắn trong các công việc nhân loại. Tôi muốn nói với những ai kêu lên: “Hòa bình, hòa bình khi không có hòa bình”: Các bạn có định hưởng lợi từ cái chết và sự hi sinh của họ khi chiến thắng cuối cùng của Các Mãnh Lực Ánh Sáng xảy đến không? Các bạn có định giữ lập trường rằng khi ấy các bạn có thể sống trong một thế giới an toàn vì những người khác đã hiến mạng sống để các bạn có thể làm như vậy không? Các bạn có định bước ra từ sự an toàn chắc chắn của cái cớ chủ hòa của mình và biết ơn thừa nhận điều họ đã làm, rồi nắm lấy phần lợi ích mà họ đã mua bằng một giá đắt như thế không? Tôi muốn cảnh báo các bạn đừng để bị ảo cảm bởi tiền đề sai lầm rằng các bạn phải giữ vững những xác tín khó nhọc mới đạt được của mình, ngay cả với cái giá là sinh mạng của những dân tộc khác và sự sụp đổ của các quốc gia, quên rằng sợ hãi và kiêu hãnh sai lầm sẽ khiến lập luận này trở nên quan trọng đối với các bạn. Những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới có định gặt hái những lợi ích của một nền hòa bình mà họ không phải trả giá gì không? Chính những người coi trọng hòa bình hơn [234] mọi thứ khác ngày nay đang tìm mọi phương cách có thể để ngăn chặn nước Đức. |
|
Let me tell you something about the peace for which the Hierarchy works and which the spiritually minded people of the world envisage even whilst they fight, and for which they are ready to pay the ultimate price. Peace, when it comes, will be the result of right world conditions and right human relationships. It is an effect and not a cause; it is the effect of certain subjective attitudes which are not yet present in the world on a sufficiently wide scale. Against these emerging conditions Germany has assembled her potent war machine, after years of scientific and planned preparation. Today the Allies stand waiting the opportunity for the final struggle with that potent nation, prepared to institute afterwards those conditions which will guarantee peace. There is no peace on the planet anywhere today. There is no peace in the questioning hearts of those who are not actively sharing in the struggle against evil. There is no peace in any field of human endeavour. It is not to be found in the economic field, torn as it is by the conflict between labour and capital, and between great schools of economic thought; it is not to be found in the religious field, where the struggle is going on between authority (tainted with old world churchianity) and experimental religion; it is not to be found in the social order, where class is ranged against class, poor against rich, and man against his brother; it is certainly not in the political field, where party strife controls and blinds the warring groups, hiding the wider vision of world affairs and the needs of humanity as a whole. There is no peace, and peace will not come through an applied and fanatical pacifism or through the loud talking and wishful thinking of those who hate war and who at the same time swell the tide of conquest and delay true victory by their violently uttered opposing views. |
Hãy để tôi nói với các bạn đôi điều về nền hòa bình mà Thánh Đoàn hoạt động vì nó và mà những người có tinh thần trên thế giới hình dung ra ngay cả trong khi họ chiến đấu, và vì nó họ sẵn sàng trả giá tối hậu. Hòa bình, khi đến, sẽ là kết quả của những điều kiện thế giới đúng đắn và những tương quan nhân loại đúng đắn. Nó là một kết quả chứ không phải một nguyên nhân; nó là kết quả của những thái độ chủ quan nhất định mà hiện nay chưa hiện diện trong thế giới trên một quy mô đủ rộng. Chống lại những điều kiện đang xuất hiện này, nước Đức đã tập hợp bộ máy chiến tranh hùng mạnh của mình, sau nhiều năm chuẩn bị khoa học và có kế hoạch. Ngày nay các nước Đồng Minh đang chờ cơ hội cho cuộc đấu tranh cuối cùng với quốc gia hùng mạnh ấy, sẵn sàng sau đó thiết lập những điều kiện sẽ bảo đảm hòa bình. Hiện nay không có hòa bình ở bất cứ đâu trên hành tinh. Không có hòa bình trong những trái tim đầy nghi vấn của những người không tích cực chia sẻ cuộc đấu tranh chống lại cái ác. Không có hòa bình trong bất kỳ lĩnh vực nỗ lực nào của con người. Không thể tìm thấy nó trong lĩnh vực kinh tế, vốn bị xé nát bởi cuộc xung đột giữa lao động và tư bản, và giữa các trường phái tư tưởng kinh tế lớn; không thể tìm thấy nó trong lĩnh vực tôn giáo, nơi cuộc đấu tranh đang diễn ra giữa quyền uy (bị nhuốm màu giáo hội chủ nghĩa của thế giới cũ) và tôn giáo thực nghiệm; không thể tìm thấy nó trong trật tự xã hội, nơi giai cấp đối đầu giai cấp, người nghèo đối đầu người giàu, và người đối đầu huynh đệ của mình; chắc chắn nó cũng không có trong lĩnh vực chính trị, nơi xung đột đảng phái kiểm soát và làm mù quáng các nhóm đang tranh chiến, che khuất tầm nhìn rộng lớn hơn về tình hình thế giới và nhu cầu của nhân loại như một toàn thể. Không có hòa bình, và hòa bình sẽ không đến qua một chủ nghĩa chủ hòa được áp dụng và cuồng tín hoặc qua những lời nói ồn ào và tư duy ước muốn của những người ghét chiến tranh nhưng đồng thời lại làm dâng cao làn sóng chinh phục và trì hoãn chiến thắng chân chính bằng những quan điểm đối lập được họ phát biểu một cách dữ dội. |
|
I tell you that all nations hate and oppose war; even Germany, behind the imposed terror, shrinks in horror at what is being done. The same love of peace which inspires the ordinary pacifist inspires those who are today fighting [235] in order that peace may be the result of their sacrifice and the effect of the establishing of those right conditions which Germany is set to prevent. Yet many neutrally minded and pacifist people are unwilling to pay any price for what they profess so much to cherish. A complete refusal to fight on the part of the Allies and of those who are seeing with clarity the issues at stake would open the door to the world domination of the Forces of Materialism and Aggression. It is upon this that these evil forces count when they face the greatest neutral of all, the United States of America, and for which they are preparing as they disseminate their lying propaganda and plant their agents in every country and every state—preparatory to a peaceful conquest of a people who refuse sufficiently to value the spiritual issues at stake to take positive action. |
Tôi nói với các bạn rằng mọi quốc gia đều ghét và chống chiến tranh; ngay cả nước Đức, đằng sau nỗi khủng bố bị áp đặt, cũng co rúm trong kinh hoàng trước những gì đang được thực hiện. Chính cùng một tình yêu hòa bình truyền cảm hứng cho người chủ hòa bình thường cũng truyền cảm hứng cho những người ngày nay đang chiến đấu [235] để hòa bình có thể là kết quả của sự hi sinh của họ và là hiệu quả của việc thiết lập những điều kiện đúng đắn mà nước Đức quyết tâm ngăn cản. Tuy nhiên, nhiều người có đầu óc trung lập và chủ hòa lại không sẵn lòng trả bất kỳ giá nào cho điều mà họ tuyên xưng là rất trân quý. Việc các nước Đồng Minh và những người thấy rõ các vấn đề đang bị đe dọa hoàn toàn từ chối chiến đấu sẽ mở cửa cho sự thống trị thế giới của Các Mãnh Lực Duy Vật và Xâm Lược. Chính vào điều này mà các mãnh lực xấu ác ấy trông cậy khi chúng đối diện với quốc gia trung lập lớn nhất trong tất cả, Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, và vì điều này mà chúng đang chuẩn bị khi phổ biến tuyên truyền dối trá của mình và cài cắm các tay sai của chúng vào mọi quốc gia và mọi tiểu bang—chuẩn bị cho một cuộc chinh phục hòa bình đối với một dân tộc không đủ coi trọng các vấn đề tinh thần đang bị đe dọa để có hành động tích cực. |
|
And we, the teachers on the inner side, who for aeons have aided in the preparation of humanity for the coming age of peaceful cooperation and brotherhood, see all this future hope imperilled. Aggression and the rape of peaceful nations go steadily forward, as nation after nation crumbles under the iron heel of Germany, grinding the peoples of the world and sweeping them into slavery on a scale of serfdom and cruelty that the world has never before seen. As those who sought to arrest German progress succumb to treachery and pain and desert their comrades, the machine of evil marches on; neutral nations, resting back upon their peaceful intent and the claims of civilisation, are absorbed by the forces which impose the German demand for living space, and are thus denuded of liberty, of territory, and of all economic resources. And, at the same time, the greatest and most powerful neutral nation in the world arms for defence of its territorial rights, but refuses to arm for the defence of human liberty. |
Và chúng tôi, các huấn sư ở nội giới, những người trong nhiều đại kiếp đã trợ giúp chuẩn bị nhân loại cho thời đại sắp đến của hợp tác hòa bình và tình huynh đệ, đang thấy toàn bộ hy vọng tương lai này bị đe dọa. Sự xâm lược và sự cưỡng đoạt các quốc gia yêu chuộng hòa bình vẫn đều đặn tiến tới, khi hết quốc gia này đến quốc gia khác sụp đổ dưới gót sắt của nước Đức, nghiền nát các dân tộc trên thế giới và cuốn họ vào cảnh nô lệ với quy mô nông nô và tàn bạo mà thế giới chưa từng thấy trước đây. Khi những người tìm cách chặn đứng bước tiến của nước Đức khuất phục trước phản bội và đau đớn và bỏ rơi đồng đội của mình, cỗ máy của cái ác vẫn tiếp tục tiến bước; các quốc gia trung lập, dựa lưng vào ý định hòa bình của mình và những đòi hỏi của văn minh, bị hấp thụ bởi các mãnh lực áp đặt yêu sách của Đức về không gian sinh tồn, và do đó bị tước mất tự do, lãnh thổ và mọi tài nguyên kinh tế. Đồng thời, quốc gia trung lập lớn nhất và hùng mạnh nhất thế giới vũ trang để phòng vệ các quyền lãnh thổ của mình, nhưng lại từ chối vũ trang để phòng vệ tự do của con người. |
|
Do I speak too strongly to those of you who are not participating in this planetary war? I speak with clarity because I seek to arouse you to the true issues whilst there is yet time. I seek to arrest in you the idea that the western hemisphere is the seat of all civilisation, the custodian of [236] the best that there is in humanity, and that the spiritual future of humanity lies in the cherished land of liberty. Liberty is a thing of the human soul and is found throughout the entire human race. Civilisation is a universal human right and not the prerogative of one nation. I tell you that humanity is everywhere spiritually minded and that the new race, the coming civilisation, and the new age culture will be found throughout the world—the universal inheritance of the human race. But everywhere humanity is the victim of propaganda—a propaganda which can only be seen in its true light when men think in terms of human liberty; when they together take the needed steps to ensure human happiness, and learn in so doing to face world conditions as they are, not hiding their heads in a dream world of their own making. The world of the future, of which men in all lands dream, is more than a possibility if men will shoulder their just responsibilities and together make it a fact in human experience. But such a world will not be possible for many long years if Europe goes down in the crash of battle and under the impact of the German war machine. It will emerge into realisation when there are enough people in the world who think clearly, see the vision truly, act intelligently, and meet force with force, which is the only method which the forces of aggression can understand. |
Tôi có nói quá mạnh với những bạn không tham gia vào cuộc chiến hành tinh này chăng? Tôi nói một cách minh bạch vì tôi tìm cách đánh thức các bạn trước những vấn đề chân thực khi vẫn còn thời gian. Tôi tìm cách ngăn chặn trong các bạn ý tưởng rằng bán cầu Tây là chỗ ngồi của toàn bộ văn minh, là người gìn giữ [236] điều tốt đẹp nhất trong nhân loại, và rằng tương lai tinh thần của nhân loại nằm trong vùng đất tự do được trân quý ấy. Tự do là một điều thuộc linh hồn con người và được tìm thấy trong toàn thể nhân loại. Văn minh là một quyền phổ quát của con người chứ không phải đặc quyền của một quốc gia. Tôi nói với các bạn rằng nhân loại ở khắp nơi đều có tinh thần và rằng nhân loại mới, nền văn minh sắp đến, và văn hóa của kỷ nguyên mới sẽ được tìm thấy trên khắp thế giới—di sản phổ quát của nhân loại. Nhưng ở khắp nơi nhân loại là nạn nhân của tuyên truyền—một thứ tuyên truyền chỉ có thể được nhìn thấy trong ánh sáng chân thực của nó khi con người suy nghĩ theo tự do của con người; khi họ cùng nhau thực hiện những bước cần thiết để bảo đảm hạnh phúc của con người, và qua đó học cách đối diện với các điều kiện thế giới như chúng đang là, chứ không giấu đầu trong một thế giới mộng tưởng do chính mình tạo ra. Thế giới tương lai mà con người ở mọi xứ sở mơ ước còn hơn cả một khả năng nếu con người gánh vác những trách nhiệm chính đáng của mình và cùng nhau biến nó thành một sự kiện trong kinh nghiệm nhân loại. Nhưng một thế giới như thế sẽ không thể có được trong nhiều năm dài nếu châu Âu sụp đổ trong cơn va chạm của chiến trận và dưới tác động của cỗ máy chiến tranh Đức. Nó sẽ đi vào chứng nghiệm khi có đủ người trên thế giới suy nghĩ minh bạch, thấy linh ảnh chân thực, hành động thông minh, và lấy mãnh lực đáp lại mãnh lực, đó là phương pháp duy nhất mà các mãnh lực xâm lược có thể hiểu. |
|
Today the forces of evil have swept over France, Belgium, Holland, Norway, Poland, Finland and Roumania. Nothing has arrested their progress—neither truth nor armed might nor sacrifice. Today Great Britain stands with a handful of her allies upholding the banner of human liberty. With her stand France (for France is still loyal in her thousands to truth and liberty), Poland, Holland, Norway and Belgium—all represented in that small fortress of the Forces of Light which is the British Isles. Behind stand their great empires with their resources as yet untouched. Behind them again stand the spiritually minded peoples in every nation, and behind them all stands the Hierarchy of Light. In this interlude prior to the final struggle I write to those [237] who are looking on with sympathy but without sacrifice and I ask you: Where do you stand? |
Ngày nay các mãnh lực xấu ác đã tràn qua Pháp, Bỉ, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, Phần Lan và Romania. Không điều gì đã chặn đứng bước tiến của chúng—không phải chân lý, không phải sức mạnh vũ trang, cũng không phải sự hi sinh. Ngày nay Anh Quốc đứng cùng với một số ít đồng minh của mình, giương cao ngọn cờ tự do của con người. Cùng đứng với nước Anh là nước Pháp (vì nước Pháp vẫn còn trung thành trong hàng ngàn người của mình với chân lý và tự do), Ba Lan, Hà Lan, Na Uy và Bỉ—tất cả đều được đại diện trong pháo đài nhỏ bé của Các Mãnh Lực Ánh Sáng là Quần đảo Anh. Phía sau họ là những đế quốc rộng lớn của họ với các tài nguyên vẫn chưa bị đụng đến. Phía sau họ nữa là những dân tộc có tinh thần trong mọi quốc gia, và phía sau tất cả là Thánh Đoàn Ánh Sáng. Trong khoảng tạm ngưng trước cuộc đấu tranh cuối cùng này, tôi viết cho những người [237] đang nhìn với thiện cảm nhưng không có hi sinh, và tôi hỏi các bạn: Các bạn đứng ở đâu? |
|
I bring to you some of the contrasts in this war, in all simplicity and in an effort to enable you to choose right action. |
Tôi mang đến cho các bạn một số tương phản trong cuộc chiến này, với tất cả sự đơn giản và trong nỗ lực giúp các bạn chọn hành động đúng đắn. |
|
The first great contrast might be called the way of appeasement and the way of aggression. The method of peaceful discussion was tried by the peace-loving peoples of France and Great Britain, and the way of aggression, developed for many years, is the way of Germany, of Russia, and in a lesser degree of Italy. I would remind you that it is to the eternal credit of the Allies (e’en though it lacked worldly common sense) that their preparations for war proved inadequate in the face of German preparedness. They were not one-pointed in their war effort, for the higher value of world civilisation engrossed them and the activities of their empires, which live at peace within themselves. They have made many grievous errors in the past (as have all peoples), but the way of expiation and of sacrifice is theirs, willingly accepted, and their reward is the freedom of humanity. |
Sự tương phản lớn đầu tiên có thể được gọi là con đường xoa dịu và con đường xâm lược. Phương pháp thảo luận ôn hòa đã được các dân tộc yêu chuộng hòa bình của Pháp và Anh thử áp dụng, còn con đường xâm lược, được phát triển trong nhiều năm, là con đường của Đức, của Nga, và ở mức độ thấp hơn là của Ý. Tôi muốn nhắc bạn rằng chính điều này là vinh dự vĩnh cửu của phe Đồng Minh (dù thiếu sự khôn ngoan thường tình của thế gian) khi sự chuẩn bị chiến tranh của họ tỏ ra không đầy đủ trước sự chuẩn bị của Đức. Họ không nhất tâm trong nỗ lực chiến tranh của mình, vì giá trị cao hơn của nền văn minh thế giới đã cuốn hút họ cùng các hoạt động của các đế quốc của họ, vốn sống trong hòa bình nội tại. Trong quá khứ họ đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng (cũng như mọi dân tộc khác), nhưng con đường chuộc lỗi và hi sinh là của họ, được tự nguyện chấp nhận, và phần thưởng của họ là tự do của nhân loại. |
|
I will give you another contrast, growing out of the above. This is the emphasis upon a new world order within a rapidly changing world. The Allies uphold one point of view; the Germans, another. It is for this new and better world and the bringing in of the conditions wherein peace can be possible and the new world order developed that today the men of vision fight and die. The contrast is the enforced world order, emphasised by the so-called “German super-race,” which will centralise the world around Germany, for the aggrandisement of Germany, for the expansion of the German living space and the supply of Germany’s economic need—an order enforced by terror, by cruelty and death, ignoring the needs of humanity as a whole and the rights of all other nations, and sacrificing the whole world, if need be, to the glory of Germany. With this German-enforced rule and order, her greed for territorial expansion and her ruthless acquisition of the goods and possession [238] of other nations, I would ask you to contrast the expressed aim of the Allies, reiterated again and again in the speeches of the statesmen of both France and Great Britain and summed up in the words of a great Englishman, a government official and an aspirant to right and truth: |
Tôi sẽ nêu cho bạn một sự tương phản khác, phát sinh từ điều trên. Đó là sự nhấn mạnh vào một trật tự thế giới mới trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Phe Đồng Minh duy trì một quan điểm; người Đức duy trì một quan điểm khác. Chính vì thế giới mới và tốt đẹp hơn này, và vì việc thiết lập những điều kiện trong đó hòa bình có thể trở thành khả hữu và trật tự thế giới mới có thể được phát triển, mà ngày nay những người có tầm nhìn chiến đấu và chết đi. Sự tương phản ở đây là trật tự thế giới bị cưỡng bức, được nhấn mạnh bởi cái gọi là “siêu chủng tộc Đức”, sẽ tập trung thế giới quanh nước Đức, vì sự bành trướng của nước Đức, vì sự mở rộng không gian sinh tồn của người Đức và việc đáp ứng nhu cầu kinh tế của nước Đức—một trật tự được áp đặt bằng khủng bố, bằng tàn ác và cái chết, phớt lờ nhu cầu của toàn thể nhân loại và quyền lợi của mọi quốc gia khác, và hi sinh cả thế giới, nếu cần, cho vinh quang của nước Đức. Đối chiếu với quy luật và trật tự do Đức cưỡng bức này, với lòng tham mở rộng lãnh thổ và sự chiếm đoạt tàn nhẫn tài sản và sở hữu [238] của các quốc gia khác, tôi muốn bạn đối chiếu mục tiêu được tuyên bố của phe Đồng Minh, được lặp đi lặp lại trong các bài diễn văn của các chính khách cả Pháp lẫn Anh và được tóm kết trong lời của một người Anh vĩ đại, một viên chức chính phủ và một người chí nguyện hướng đến điều đúng đắn và chân lý: |
|
“We shall use all our influence when the time comes in the building of a new world in which the nations will not permit insane armed rivalry to deny their hopes of fuller life and future confidence nor be forever overborne by grim foreboding of disaster. The new world that we seek will enlist the cooperation of all peoples on a basis of human equality, self-respect and mutual tolerance. We shall have to think out many things that lie on the route of international contacts—social, political and economic—and find means of reconciling the necessity of change in a constantly changing world with security against the disturbance of the general peace through resort to violence. To this order that we shall create, all nations have their contribution to make, and a great responsibility both in thought and action will rest upon our people. We, not less than others, have our lesson to learn from past failures and disappointments.” |
“Chúng ta sẽ dùng toàn bộ ảnh hưởng của mình khi thời điểm đến trong việc xây dựng một thế giới mới, trong đó các quốc gia sẽ không cho phép sự ganh đua vũ trang điên cuồng tước mất hy vọng của họ về một đời sống đầy đủ hơn và niềm tin vào tương lai, cũng không để mình mãi mãi bị đè nặng bởi nỗi lo sợ thảm họa nghiệt ngã. Thế giới mới mà chúng ta tìm kiếm sẽ huy động sự hợp tác của mọi dân tộc trên nền tảng bình đẳng nhân loại, tự trọng và khoan dung lẫn nhau. Chúng ta sẽ phải suy nghĩ thấu đáo nhiều điều nằm trên con đường của các tiếp xúc quốc tế—xã hội, chính trị và kinh tế—và tìm ra phương tiện để hòa giải sự cần thiết của thay đổi trong một thế giới luôn thay đổi với sự bảo đảm chống lại việc làm xáo trộn nền hòa bình chung bằng cách dùng bạo lực. Đối với trật tự mà chúng ta sẽ tạo ra này, mọi quốc gia đều có phần đóng góp của mình, và một trách nhiệm lớn cả trong tư tưởng lẫn hành động sẽ đặt lên dân tộc chúng ta. Chúng ta, không kém gì những dân tộc khác, có bài học của mình cần học từ những thất bại và thất vọng trong quá khứ.” |
|
I would have you note the recognition, by this spokesman for the Allies, of the need of change, the realisation of the coming world order and the humble statement anent past mistakes. |
Tôi muốn bạn lưu ý sự thừa nhận, từ người phát ngôn này của phe Đồng Minh, về nhu cầu thay đổi, sự chứng nghiệm về trật tự thế giới sắp đến và lời phát biểu khiêm tốn liên quan đến những sai lầm trong quá khứ. |
|
I would call your attention very briefly also to the contrast in the methods employed: cruelty versus kindness, merciless bombing and machine gunning on the one side, and the constant refraining from attack upon the enemy by the Allies, for fear of killing the defenceless; I would call your attention to the broadcast from Great Britain, warning the Germans to take cover when they hear the British planes over Germany. I would call your attention to the reticent but truthful propaganda which lays no [239] emphasis upon that which could stir up hate, and the lying information from Berlin and conquered cities. It is not my purpose to do more than indicate these contrasts which grow out of a widely differing subjective attitude to humanity. It is, however, of value for us all to face them in the process of clarifying issues. The basic contrast between freedom of speech, thought and action which distinguishes the democracies, and the cruel suppression of all liberty of thought and personal activity which controls the masses in Germany today, is too well known to require emphasising by me. But I bring these contrasts to your attention, asking you to recognise your responsibility to stand behind those who fight for liberty and to end the activity of those who are the enemies of all human freedom. |
Tôi cũng muốn rất ngắn gọn thu hút sự chú ý của bạn đến sự tương phản trong các phương pháp được sử dụng: tàn ác đối lập với tử tế, ném bom và bắn súng máy không thương xót ở một bên, và sự liên tục kiềm chế không tấn công kẻ thù của phe Đồng Minh ở bên kia, vì sợ giết hại những người không có khả năng tự vệ; tôi muốn thu hút sự chú ý của bạn đến chương trình phát thanh từ Anh, cảnh báo người Đức hãy tìm nơi trú ẩn khi họ nghe máy bay Anh trên bầu trời nước Đức. Tôi muốn thu hút sự chú ý của bạn đến lối tuyên truyền kín đáo nhưng chân thật, không [239] nhấn mạnh vào điều gì có thể khơi dậy hận thù, và đối chiếu với thông tin dối trá từ Berlin và các thành phố bị chinh phục. Mục đích của tôi không phải làm gì hơn ngoài việc chỉ ra những sự tương phản này, vốn phát sinh từ một thái độ chủ quan rất khác nhau đối với nhân loại. Tuy nhiên, đối với tất cả chúng ta, việc đối diện với chúng trong tiến trình làm sáng tỏ các vấn đề là điều có giá trị. Sự tương phản căn bản giữa tự do ngôn luận, tư tưởng và hành động vốn phân biệt các nền dân chủ, với sự đàn áp tàn bạo mọi tự do tư tưởng và hoạt động cá nhân đang kiểm soát quần chúng ở Đức ngày nay, đã quá nổi tiếng nên tôi không cần nhấn mạnh thêm. Nhưng tôi đưa những sự tương phản này đến sự chú ý của bạn, yêu cầu bạn nhận ra trách nhiệm của mình là đứng phía sau những người chiến đấu cho tự do và chấm dứt hoạt động của những kẻ là kẻ thù của mọi tự do nhân loại. |
|
I would ask you to exercise your imagination in an effort to visualise a world in which there is a complete defeat of the Allies, expressing as they do the ideals for which the Forces of Light have ever stood. I would remind you of two things: First, that these Forces were defeated in the earlier phase of the conflict thousands of years ago, and secondly that—if They again go down to defeat—it will be largely due to the unpreparedness and to the pacific attitude of the neutrals of the world. Had the Allies been ready (and that in itself would have indicated attitudes similar to those now being expressed by Germany) and had the neutrals stood together from the outbreak of hostilities and proclaimed as one voice: This thing must not be—Germany would then have been arrested in her triumphant progress. |
Tôi muốn yêu cầu bạn vận dụng sự tưởng tượng của mình trong nỗ lực hình dung một thế giới trong đó phe Đồng Minh hoàn toàn thất bại, trong khi họ chính là những người biểu hiện các lý tưởng mà các Lực lượng Ánh sáng từ trước đến nay vẫn luôn đứng về phía đó. Tôi muốn nhắc bạn hai điều: thứ nhất, rằng các Lực lượng này đã bị đánh bại trong giai đoạn đầu của cuộc xung đột từ hàng ngàn năm trước, và thứ hai, rằng—nếu Các Ngài lại một lần nữa thất bại—thì phần lớn sẽ là do sự không chuẩn bị và thái độ hòa bình thụ động của các nước trung lập trên thế giới. Nếu phe Đồng Minh đã sẵn sàng (và bản thân điều đó đã cho thấy những thái độ tương tự như những gì nước Đức hiện đang biểu lộ) và nếu các nước trung lập đã đứng cùng nhau ngay từ khi chiến sự bùng nổ và đồng thanh tuyên bố: Điều này không được phép xảy ra—thì nước Đức hẳn đã bị chặn lại trong bước tiến chiến thắng của mình. |
|
The Allies, however, were not prepared for the onslaught of the forces of evil; on the physical plane, their position was not impregnable. The neutrals at the same time have chosen and are still choosing the negative and weak way; and through fear, a misplaced idealism, or a separative spirit, plus the failure to grasp the acuteness of the world crisis and its significant implications, have placed humanity in a position of imminent though not inevitable disaster. These are points which require careful consideration and consequent readjustment of the attitude of those who are doing [240] nothing to further the efforts of the Forces of Light and of the men of goodwill throughout the world. |
Tuy nhiên, phe Đồng Minh đã không chuẩn bị cho cuộc tấn công dữ dội của các lực lượng ác; trên cõi hồng trần, vị thế của họ không phải là bất khả xâm phạm. Đồng thời, các nước trung lập đã chọn và vẫn đang chọn con đường tiêu cực và yếu đuối; và vì sợ hãi, vì một lý tưởng sai chỗ, hoặc vì tinh thần chia rẽ, cộng thêm sự thất bại trong việc nắm bắt tính gay gắt của cuộc khủng hoảng thế giới và những hàm ý đầy thâm nghĩa của nó, họ đã đặt nhân loại vào một vị thế của thảm họa cận kề dù không phải là không thể tránh khỏi. Đây là những điểm đòi hỏi phải được xem xét cẩn trọng và do đó phải có sự điều chỉnh lại thái độ của những người đang không làm [240] gì để thúc đẩy các nỗ lực của các Lực lượng Ánh sáng và của những người thiện chí trên khắp thế giới. |
|
What shall be done to stop the progress of aggression, of selfish nationalism and cruel attack upon the weak and the defenceless? These qualities are rampant in Germany. They are to be found in a lesser extent in many other nations and selfish nationalism is to be found in all to some degree, even when unaccompanied by militancy or paralleled by a true idealism. It is self-interest, short vision, and prejudice that basically govern neutrality and make the neutral nations, including the Americas, arm for defence but refuse to fight for human welfare. How, then, shall we awaken the world to the realities of the situation and so focus and direct a great world effort to throw off the yoke of the dictators as they seek to dominate the lands outside their own? How shall we free humanity to take its next step forward, without fear and terror and only conditioned by a world which is seeking unitedly to do that which is best for the whole, and not simply that which is best materially for the part? These are the questions with which we are today confronted. Desperately and fearfully, men are seeking a solution and turning hither and thither for help and comfort. Shall the demand, so widely prevalent at this time, for divine intervention, rise so strongly to heaven that it will perforce draw forth a response and, at the same time, deprive mankind of its right to settle its own affairs, decide its own issues and make progress by the method of trial and error, by the success of its own clear vision and its firm determination to find the right way out of the situation? Such intervention is possible, but it is not deemed desirable by the Forces of spiritual knowledge. They are therefore holding Their hand, feeling that this time humanity must be encouraged to battle to the end on behalf of its hope and its vision. Men pray for peace but will not pay the price of peace. Calmly praying and leaving the work to other men, forces or God, is the easy way, satisfying the emotional nature, but not involving clear thinking. Humanity has come of age; the child stage is over, and for [241] weal or woe, for good or ill, men must decide for themselves the way that the world, their governments and their social order must go. |
Phải làm gì để ngăn chặn bước tiến của sự xâm lược, của chủ nghĩa dân tộc ích kỷ và của cuộc tấn công tàn bạo vào kẻ yếu và người không có khả năng tự vệ? Những phẩm tính này đang hoành hành ở Đức. Chúng cũng có thể được tìm thấy ở mức độ thấp hơn tại nhiều quốc gia khác, và chủ nghĩa dân tộc ích kỷ thì hiện diện ở mọi nơi ở một mức độ nào đó, ngay cả khi không đi kèm tính hiếu chiến hoặc được song hành bởi một lý tưởng chân chính. Chính tư lợi, tầm nhìn ngắn và thành kiến là những gì căn bản chi phối tính trung lập và khiến các quốc gia trung lập, kể cả châu Mỹ, vũ trang để phòng vệ nhưng từ chối chiến đấu vì phúc lợi nhân loại. Vậy thì, làm sao chúng ta có thể đánh thức thế giới trước thực tại của tình hình và nhờ đó tập trung và định hướng một nỗ lực lớn của thế giới để giũ bỏ ách thống trị của các nhà độc tài khi họ tìm cách thống trị những vùng đất ngoài lãnh thổ của chính họ? Làm sao chúng ta có thể giải phóng nhân loại để thực hiện bước tiến tiếp theo của mình, không còn sợ hãi và khủng bố, và chỉ được tác động bởi một thế giới đang cùng nhau tìm cách làm điều tốt nhất cho toàn thể, chứ không chỉ đơn giản là điều tốt nhất về vật chất cho bộ phận? Đó là những câu hỏi mà ngày nay chúng ta đang phải đối diện. Trong tuyệt vọng và sợ hãi, con người đang tìm kiếm một giải pháp và quay hết hướng này đến hướng khác để tìm sự trợ giúp và an ủi. Liệu nhu cầu, hiện đang rất phổ biến vào lúc này, về sự can thiệp thiêng liêng có dâng lên trời mạnh đến mức sẽ buộc phải kéo ra một sự đáp ứng và đồng thời tước mất quyền của nhân loại trong việc tự giải quyết công việc của mình, tự quyết định các vấn đề của mình và tiến bộ bằng phương pháp thử và sai, bằng thành công của chính tầm nhìn sáng suốt của mình và quyết tâm vững chắc của mình để tìm ra lối thoát đúng đắn khỏi tình thế? Sự can thiệp như vậy là có thể, nhưng không được các Lực lượng của tri thức tinh thần xem là điều đáng mong muốn. Vì thế Các Ngài đang giữ tay lại, cảm thấy rằng lần này nhân loại phải được khuyến khích chiến đấu đến cùng vì hy vọng và tầm nhìn của mình. Con người cầu nguyện cho hòa bình nhưng không chịu trả giá cho hòa bình. Bình thản cầu nguyện và để công việc cho những người khác, cho các mãnh lực hoặc cho Thượng đế, là con đường dễ dàng, thỏa mãn bản chất cảm xúc, nhưng không bao hàm tư duy sáng suốt. Nhân loại đã trưởng thành; giai đoạn trẻ con đã qua, và [241] dù là phúc hay họa, tốt hay xấu, con người phải tự quyết định con đường mà thế giới, các chính phủ của họ và trật tự xã hội của họ phải đi. |
|
A new world order is possible, and there are certain steps which need to be taken if the vision of this new world is to enter into the realm of accomplished fact. Certain angles of the vision I can—with the greatest brevity—point out to you; I can indicate the sign posts on the way to the future world order. I shall find myself in the position of assuring you at the same time that every step of that way will entail a fight, the overturning of that which is old and loved and the destruction of that which is inhuman, selfish and cruel; I shall have to impress upon you the prime and initial necessity to overthrow the entrenched forces of aggression as they function today through the medium of the totalitarian powers. |
Một trật tự thế giới mới là điều khả hữu, và có những bước nhất định cần phải được thực hiện nếu linh ảnh về thế giới mới này muốn đi vào lĩnh vực của sự kiện đã thành tựu. Một vài góc độ của linh ảnh này tôi có thể—với sự ngắn gọn tối đa—chỉ ra cho bạn; tôi có thể chỉ ra những biển chỉ đường trên con đường dẫn đến trật tự thế giới tương lai. Đồng thời tôi sẽ ở vào vị thế phải bảo đảm với bạn rằng mỗi bước trên con đường đó sẽ kéo theo một cuộc chiến, sự lật đổ những gì cũ kỹ và được yêu mến, và sự hủy diệt những gì vô nhân đạo, ích kỷ và tàn bạo; tôi sẽ phải gây ấn tượng nơi bạn về sự cần thiết hàng đầu và khởi đầu là phải lật đổ các lực lượng xâm lược đã cố thủ khi chúng đang hoạt động ngày nay thông qua các cường quốc toàn trị. |
|
First, I would ask you all to ponder on the vision of this new world order, preserving an open mind and realising that this new mode of living hovers over humanity and will materialise when selfishness is defeated, right human relations are correctly envisaged, and the ideal of this new world order is divorced from all nationalistic concepts and aspirations. It will not be an American world, or a French world, or a British world, or a totalitarian world. It will be the outcome of the civilisation which is passing and the culture which is the flower of that civilisation, but at the same time it will be neither of them. It will be a human world, based on right understanding of correct human relations, upon the recognition of equal educational opportunities for all men, for all races and all nations, and upon the fundamental realisation that “God hath made of one blood all the peoples upon the earth.” It will be a world in which racial distinctions and national unities will be recognised as enriching the whole and as contributing to the significance of humanity. Such distinctions and nationalities will be preserved and cultured, not in a separative isolation, but in the realisation that the many aspects of human unfoldment and differentiation produce one noble [242] whole, and that all the parts of this whole are interdependent. All will comprehend their relation to each other in one progressive, synthetic, human endeavour, and the enterprise of united living will produce an interior work which will flower forth in the production of a beauty and a richness which will distinguish humanity as a whole. In this all will share, with wisdom and a planned efficiency, offering to the planetary life and to each other that which they have to contribute. This will be made possible because the whole of mankind will be recognised as the essential unit and as being of greater spiritual importance than the part. |
Trước hết, tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn suy ngẫm về linh ảnh của trật tự thế giới mới này, giữ một tâm trí cởi mở và chứng nghiệm rằng phương thức sống mới này đang lơ lửng trên nhân loại và sẽ hiện hình khi tính ích kỷ bị đánh bại, các tương quan nhân loại đúng đắn được hình dung một cách chính xác, và lý tưởng của trật tự thế giới mới này được tách rời khỏi mọi khái niệm và khát vọng dân tộc chủ nghĩa. Đó sẽ không phải là một thế giới của Mỹ, hay của Pháp, hay của Anh, hay của chủ nghĩa toàn trị. Nó sẽ là kết quả của nền văn minh đang qua đi và nền văn hóa là hoa trái của nền văn minh ấy, nhưng đồng thời nó sẽ không phải là một trong hai. Nó sẽ là một thế giới nhân loại, dựa trên sự thấu hiểu đúng đắn về các tương quan nhân loại chính xác, trên sự công nhận cơ hội giáo dục bình đẳng cho mọi người nam và nữ, cho mọi nhân loại và mọi quốc gia, và trên sự chứng nghiệm căn bản rằng “Thượng đế đã tạo nên từ một dòng máu tất cả các dân tộc trên trái đất.” Đó sẽ là một thế giới trong đó các khác biệt chủng tộc và các thống nhất dân tộc sẽ được công nhận như làm phong phú cho toàn thể và như góp phần vào thâm nghĩa của nhân loại. Những khác biệt và quốc tịch ấy sẽ được bảo tồn và nuôi dưỡng, không phải trong sự cô lập chia rẽ, mà trong sự chứng nghiệm rằng nhiều phương diện của sự khai mở và biến phân của nhân loại tạo nên một toàn thể cao quý [242], và rằng mọi phần của toàn thể ấy đều phụ thuộc lẫn nhau. Mọi người sẽ hiểu mối liên hệ của mình với nhau trong một nỗ lực nhân loại tiến bộ, tổng hợp, và công cuộc sống hợp nhất sẽ tạo ra một công việc nội tại sẽ nở hoa trong việc sản sinh ra một vẻ đẹp và một sự phong phú sẽ phân biệt toàn thể nhân loại. Trong điều này mọi người sẽ cùng chia sẻ, với minh triết và một hiệu quả được hoạch định, dâng hiến cho sự sống hành tinh và cho nhau điều mà họ có để đóng góp. Điều này sẽ trở nên khả hữu vì toàn thể nhân loại sẽ được công nhận là đơn vị cốt yếu và có tầm quan trọng tinh thần lớn hơn bộ phận. |
|
This is no idle and visionary dream. It is already happening. Embryonic movements toward this world synthesis are already being made. There is a dream of federation, of economic interdependence and of religious unity, plus social and national interrelation which is rapidly taking form, first in the minds of men, and then in experiments. There is a tie of united purpose, felt by many in the political and economic fields, which is no wish fulfilment or fantasy but indicative of an emerging reality. It is felt and recognised by thinkers everywhere, and has worked out in the field of government through the medium of the federation of the British Dominions and their relation to Great Britain, and in the federation of the United States of America. It finds itself distorted and parodied in the concept of the superstate with which the dictators of the world glamour their peoples. But the links are being forged which will draw down the vision and precipitate on earth the pattern of things as they should be in this next world cycle. |
Đây không phải là một giấc mơ viển vông và đầy linh ảnh suông. Nó đã đang xảy ra rồi. Những vận động phôi thai hướng tới sự tổng hợp thế giới này đã bắt đầu được thực hiện. Có một giấc mơ về liên bang, về sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau và về sự hợp nhất tôn giáo, cộng thêm sự tương liên xã hội và quốc gia đang nhanh chóng thành hình, trước tiên trong trí tuệ con người, rồi sau đó trong các thử nghiệm. Có một mối dây của mục đích hợp nhất, được nhiều người trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế cảm nhận, không phải là sự thỏa mãn ước muốn hay ảo tưởng mà là dấu hiệu của một thực tại đang xuất hiện. Nó được các nhà tư tưởng ở khắp nơi cảm nhận và công nhận, và đã được triển khai trong lĩnh vực chính quyền thông qua liên bang của các lãnh thổ tự trị Anh và mối quan hệ của họ với Anh quốc, cũng như trong liên bang Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Nó bị bóp méo và bị nhại lại trong khái niệm siêu quốc gia mà các nhà độc tài trên thế giới dùng để ảo cảm dân chúng của họ. Nhưng những mối liên kết đang được rèn đúc, những mối liên kết sẽ kéo linh ảnh xuống và ngưng tụ trên Trái Đất mô hình của sự vật như chúng phải là trong chu kỳ thế giới kế tiếp này. |
|
When this vision of the new world order has been grasped by the men and women of goodwill throughout the nations, and has become part of the life and mind of every disciple and aspirant, then the next step will be to study the factors which are hindering its materialisation. For this a broad tolerance and an unprejudiced mind are essential, and these qualities are rare in the average student and the small town man. Past national mistakes must be faced; [243] selfishness in the spheres of both capital and labour must be recognised; blindness, nationalistic ambitions, adherence to ancient territorial demands and assumed rights, inherited possessiveness, the refusal to relinquish past gains, disturbances in the religious and social areas of consciousness, uncertainty as to the realities of subjective and spiritual life, and the insincerities which are based on glamour and fear—all these factors are woven into the life pattern of every nation, without exception, and are exploited by the evil forces and evaded by the well-meaning but weak people of the world. These must all be seen in their true perspective. The eyes of the people who seek to work under the Forces of Light must be lifted from the world of effects into the realm of causes; there must be appreciation of the factors which have made and conditioned the modern world, and these predisposing factors must be recognised for what they are. This sizing up of the situation and this recognition of blame and responsibility must preface every attempt to bring down into active being the new world order. |
Khi linh ảnh về trật tự thế giới mới này đã được những người nam và nữ thiện chí trong khắp các quốc gia nắm bắt, và đã trở thành một phần của đời sống và trí tuệ của mọi đệ tử và người chí nguyện, thì bước tiếp theo sẽ là nghiên cứu các yếu tố đang cản trở sự hiện hình của nó. Để làm điều này, một sự khoan dung rộng lớn và một tâm trí không thành kiến là điều thiết yếu, và những phẩm tính này lại hiếm thấy nơi đạo sinh trung bình và người dân thị trấn nhỏ. Những sai lầm quốc gia trong quá khứ phải được đối diện; [243] tính ích kỷ trong các lĩnh vực của cả tư bản lẫn lao động phải được nhìn nhận; sự mù quáng, các tham vọng dân tộc chủ nghĩa, sự bám chấp vào những đòi hỏi lãnh thổ cổ xưa và những quyền được giả định, tính chiếm hữu thừa hưởng, sự từ chối từ bỏ những lợi lộc quá khứ, những xáo trộn trong các lĩnh vực tôn giáo và xã hội của tâm thức, sự bất định đối với các thực tại của đời sống chủ quan và tinh thần, và những sự thiếu chân thành dựa trên ảo cảm và sợ hãi—tất cả những yếu tố này đều được dệt vào mô hình đời sống của mọi quốc gia, không ngoại lệ, và bị các lực lượng ác khai thác cũng như bị những người có thiện ý nhưng yếu đuối trên thế giới né tránh. Tất cả những điều này phải được nhìn thấy trong viễn cảnh chân thực của chúng. Đôi mắt của những người tìm cách hoạt động dưới các Lực lượng Ánh sáng phải được nâng lên khỏi thế giới của các hiệu quả để đi vào lĩnh vực của các nguyên nhân; phải có sự đánh giá đúng các yếu tố đã tạo nên và tác động lên thế giới hiện đại, và những yếu tố tiền định này phải được nhận ra đúng như bản chất của chúng. Sự lượng định tình hình này và sự nhìn nhận lỗi lầm cùng trách nhiệm này phải đi trước mọi nỗ lực nhằm đưa trật tự thế giới mới vào hiện hữu tích cực. |
|
This new world will not come as an answer to prayer or by the passive wishful thinking and expectation of the peace-loving idealist and mystical visionary. They point the way and indicate the needed objective. It will come when the mystic and the man of vision awakens to the need of the hour and comes down from the world of dreams, of theories, and of words into the hard arena of daily and public life. He must be willing to fight for that which he desires and knows to be good and true and right, and must stand firm against those who seek to distort the vision and to arrest its appearance, arming for battle so that final disarmament may be possible. |
Thế giới mới này sẽ không đến như một câu trả lời cho lời cầu nguyện hay nhờ lối mong ước thụ động và chờ đợi của nhà lý tưởng yêu chuộng hòa bình và nhà thần bí có linh ảnh. Họ chỉ ra con đường và nêu rõ mục tiêu cần thiết. Nó sẽ đến khi nhà thần bí và người có tầm nhìn thức tỉnh trước nhu cầu của thời đại và bước xuống khỏi thế giới của những giấc mơ, lý thuyết và lời nói để đi vào đấu trường khắc nghiệt của đời sống hằng ngày và công cộng. Y phải sẵn sàng chiến đấu cho điều mà y mong muốn và biết là thiện, là chân, là đúng, và phải đứng vững chống lại những kẻ tìm cách bóp méo linh ảnh và ngăn chặn sự xuất hiện của nó, vũ trang để chiến đấu hầu cho việc giải trừ vũ trang cuối cùng có thể trở thành khả hữu. |
|
A clear vision of the future world order (in broad and general outline but not in detail), an intelligent recognition of the hindrances and impediments which block its appearance, and a willingness to take the necessary steps upon the physical plane and to pay the required price and tender the demanded sacrifices are essential attitudes, prior to the elimination of the hindrances which stand in the way of the [244] coming new world. It is a practical vision—long desired, much discussed and clearly outlined. The hindrances appear to be many, but they can all be summed up in the one word Selfishness—national, racial, political, religious and individual selfishness. |
Một tầm nhìn rõ ràng về trật tự thế giới tương lai (trong những nét rộng và tổng quát chứ không phải chi tiết), một sự nhìn nhận thông minh về những cản trở và chướng ngại ngăn chặn sự xuất hiện của nó, và một sự sẵn lòng thực hiện những bước cần thiết trên cõi hồng trần, trả cái giá đòi hỏi và dâng những hi sinh được yêu cầu là những thái độ thiết yếu, trước khi loại bỏ các chướng ngại đang đứng trên đường của [244] thế giới mới sắp đến. Đây là một linh ảnh thực tiễn—đã được mong mỏi từ lâu, được bàn đến nhiều và được phác họa rõ ràng. Các chướng ngại dường như rất nhiều, nhưng tất cả đều có thể được tóm lại trong một từ duy nhất là Ích kỷ—ích kỷ quốc gia, chủng tộc, chính trị, tôn giáo và cá nhân. |
|
The practical aspect of the mode of elimination of the hindrances can also be simply stated. The vision will appear as fact on Earth when individuals willingly submerge their personal interests in the good of the group; when the group or groups merge their interests in the national good, when nations give up their selfish purposes and aims for international good, and when this international right relation is based upon the total good of humanity itself. Thus the individual can play his part in the bigger whole, and his help is needed, and thus the sense of individual futility is negated. To the most unimportant man in the most unimportant national unit there comes the call for sacrifice and service to the group of which he is part. Eventually humanity itself is thus swung—again as an integral unit—into the service of the Planetary Life. |
Phương diện thực tiễn của phương thức loại bỏ các chướng ngại cũng có thể được phát biểu một cách đơn giản. Linh ảnh sẽ xuất hiện như một sự kiện trên Trái Đất khi các cá nhân sẵn lòng dìm lợi ích cá nhân của mình vào thiện ích của nhóm; khi nhóm hay các nhóm hòa nhập lợi ích của mình vào thiện ích quốc gia; khi các quốc gia từ bỏ những mục đích và mục tiêu ích kỷ của mình vì thiện ích quốc tế; và khi tương quan quốc tế đúng đắn này được đặt nền trên thiện ích toàn thể của chính nhân loại. Như vậy cá nhân có thể đóng vai trò của mình trong toàn thể lớn hơn, và sự trợ giúp của y là cần thiết, và như vậy cảm giác vô dụng của cá nhân bị phủ nhận. Đối với người ít quan trọng nhất trong đơn vị quốc gia ít quan trọng nhất cũng có lời kêu gọi hi sinh và phụng sự cho nhóm mà y là một phần của nó. Cuối cùng, chính nhân loại nhờ đó lại được đưa—như một đơn vị toàn vẹn—vào sự phụng sự Sự sống Hành tinh. |
|
In the above you have an attempt to portray the wider vision with its demanded, practical effort, and also an indication of the larger possibility which faces humanity. It is in truth for this the Allies fight and against which Germany today rallies her war machine. |
Trong phần trên, bạn có một nỗ lực nhằm phác họa linh ảnh rộng lớn hơn cùng với nỗ lực thực tiễn được đòi hỏi của nó, và cũng có một chỉ dẫn về khả năng lớn lao hơn đang đối diện nhân loại. Thật ra, chính vì điều này mà phe Đồng Minh chiến đấu và cũng chính chống lại điều này mà nước Đức ngày nay huy động cỗ máy chiến tranh của mình. |
|
What now of the immediate present, and what can the individual do to aid the cause of humanity and arrest the tide of evil? If he is fighting already upon the side of the Forces of Light and of the Allies, he knows his destiny and service. But what of those who question what they can do, and yet are eager to see clearly and to play their part when right vision is theirs? To them I would say the following things: |
Vậy còn hiện tại trước mắt thì sao, và cá nhân có thể làm gì để trợ giúp chính nghĩa của nhân loại và ngăn chặn làn sóng ác? Nếu y đã đang chiến đấu về phía các Lực lượng Ánh sáng và phe Đồng Minh, thì y biết định mệnh và sự phụng sự của mình. Nhưng còn những người tự hỏi họ có thể làm gì, mà vẫn tha thiết muốn thấy rõ và đóng vai trò của mình khi họ có được tầm nhìn đúng đắn thì sao? Với họ tôi muốn nói những điều sau đây: |
|
1. Eliminate prejudice, national pride, and religious antipathies out of your consciousness. The past mistakes of the Allies, as history gives them, are facts which they themselves do not deny. They stand not alone in selfishness, for [245] the same faults taint every national record. But they stand today for a new and spiritual order, based on a desire for synthesis, right methods of government and the good of the people. The unhappy past of all nations is today used as an alibi by those who do not choose to shoulder responsibility, or to sacrifice anything for the cause of humanity. A recognition of our own shortcomings and a spirit of tolerance and forgiveness are needed by all today. |
1. Hãy loại bỏ thành kiến, kiêu hãnh dân tộc và những ác cảm tôn giáo ra khỏi tâm thức của bạn. Những sai lầm trong quá khứ của phe Đồng Minh, như lịch sử ghi lại, là những sự kiện mà chính họ cũng không phủ nhận. Họ không đơn độc trong tính ích kỷ, vì [245] những lỗi lầm ấy làm hoen ố hồ sơ của mọi quốc gia. Nhưng ngày nay họ đang đứng về một trật tự mới và tinh thần, dựa trên khát vọng tổng hợp, các phương pháp cai trị đúng đắn và thiện ích của dân chúng. Quá khứ bất hạnh của mọi quốc gia ngày nay đang bị dùng như một cái cớ bởi những kẻ không chọn gánh lấy trách nhiệm, hay hi sinh bất cứ điều gì cho chính nghĩa của nhân loại. Sự nhìn nhận những thiếu sót của chính chúng ta và một tinh thần khoan dung cùng tha thứ là điều ngày nay mọi người đều cần. |
|
2. Refuse to be afraid of any results of right and positive action. Fear lies behind much of the dissenting attitudes today, and fear kills truth, hides the vision and arrests right action. The great Leader of this Christian era has warned us not to be afraid of those who kill the body, but to fear only those who seek to kill the soul. The forces of aggression are slowly and ruthlessly killing out love and hope (qualities of the soul) in the conquered lands and in Germany. This, along with the great humanitarian plea, is sufficient reason to impel all men of goodwill to take up arms on the side of the Forces of Light. I would commend this to your imaginative attention. To put it even more practically, I would ask you if you would care to have your children subjected to the educational processes of the Nazi regime—with its crushing of all humanity, its emphasis upon pride of race and its cult of cruelty? Can you then stand idly by or simply resort to prayer and talk about the beauties of peace when the little children in the appropriated lands come under the soul-killing system of Germany? Refuse, then, in their interests, to be afraid. |
2. Hãy từ chối sợ hãi bất kỳ kết quả nào của hành động đúng đắn và tích cực. Sợ hãi nằm phía sau phần lớn những thái độ bất đồng ngày nay, và sợ hãi giết chết chân lý, che khuất linh ảnh và ngăn chặn hành động đúng đắn. Vị Lãnh Đạo vĩ đại của kỷ nguyên Cơ Đốc này đã cảnh báo chúng ta đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà chỉ nên sợ những kẻ tìm cách giết linh hồn. Các lực lượng xâm lược đang chậm rãi và tàn nhẫn giết chết tình thương và hy vọng (những phẩm tính của linh hồn) tại các vùng đất bị chinh phục và tại nước Đức. Điều này, cùng với lời kêu gọi nhân đạo lớn lao, là lý do đầy đủ để thúc đẩy mọi người thiện chí cầm vũ khí về phía các Lực lượng Ánh sáng. Tôi muốn khuyến nghị điều này đến sự chú ý bằng tưởng tượng của bạn. Nói một cách thực tiễn hơn nữa, tôi muốn hỏi bạn liệu bạn có muốn con cái mình bị đặt dưới các tiến trình giáo dục của chế độ Quốc Xã—với sự nghiền nát mọi tính người, sự nhấn mạnh vào kiêu hãnh chủng tộc và sự sùng bái tàn ác—hay không? Vậy thì bạn có thể đứng yên không làm gì hoặc chỉ cầu nguyện và nói về vẻ đẹp của hòa bình khi những đứa trẻ nhỏ ở các vùng đất bị chiếm đoạt đang rơi vào hệ thống giết chết linh hồn của nước Đức sao? Vậy thì, vì lợi ích của chúng, hãy từ chối sợ hãi. |
|
3. Having sensed the vision, recognised the hindrances, and dealt with innate prejudice and fear, it will then become apparent to you what (in the face of this dangerous crisis) you must do. It is not for me to tell you what it is. The details are for you to decide; the methods which you must employ will become clear to you; the humanitarian issues will become increasingly plain to you; you will then range yourself on the side of the Forces of Light, and will uphold the hands of those who are fighting for world peace and security, preparatory to the inauguration of the new world [246] order. This you will do with no thought of self. You will face life truly and sincerely, with a fully dedicated sacrifice of time, self, money and, if need be, of life. You will realise dynamically that the attitude of the passive onlooker is not that of the agent of the Forces of Light or of a lover of humanity. |
3. Sau khi đã cảm nhận linh ảnh, nhận ra các chướng ngại, và xử lý thành kiến bẩm sinh cùng nỗi sợ, thì điều bạn phải làm (trước cuộc khủng hoảng nguy hiểm này) sẽ trở nên hiển nhiên với bạn. Tôi không phải là người nói cho bạn biết điều đó là gì. Chi tiết là để bạn tự quyết định; các phương pháp mà bạn phải sử dụng sẽ trở nên rõ ràng với bạn; các vấn đề nhân đạo sẽ ngày càng sáng tỏ đối với bạn; khi đó bạn sẽ đứng về phía các Lực lượng Ánh sáng, và sẽ nâng đỡ tay những người đang chiến đấu cho hòa bình và an ninh thế giới, như sự chuẩn bị cho việc khai mở trật tự thế giới mới [246]. Bạn sẽ làm điều này mà không nghĩ đến bản thân. Bạn sẽ đối diện đời sống một cách chân thật và chân thành, với sự hi sinh trọn vẹn thời gian, bản thân, tiền bạc và, nếu cần, cả mạng sống. Bạn sẽ chứng nghiệm một cách năng động rằng thái độ của kẻ đứng ngoài thụ động không phải là thái độ của tác nhân của các Lực lượng Ánh sáng hay của người yêu thương nhân loại. |
|
4. You will also learn to keep your mind free from hate, refusing to hate the deluded sinner even when imposing upon him the penalty of his sin. Hate and separation must cease, and they will cease as the individual aspirant stamps them out in his own life. The great error of the neutrally minded and of the pacifist is his refusal to identify himself constructively with human pain. Even when he reacts with violent emotion over the suffering, for instance, of little children in this great war, and of the defenceless refugee, he does not truly care enough to do anything about the situation, involving as it does sacrifice. This sounds harsh, but is a needed statement of fact. Sympathy which does not produce positive action of some kind becomes a festering sore. |
4. Bạn cũng sẽ học cách giữ cho trí tuệ mình không có hận thù, từ chối ghét bỏ kẻ tội lỗi bị mê lầm ngay cả khi áp đặt lên y hình phạt của tội lỗi y. Hận thù và chia rẽ phải chấm dứt, và chúng sẽ chấm dứt khi người chí nguyện cá nhân dập tắt chúng trong chính đời sống của mình. Sai lầm lớn của người có đầu óc trung lập và của người chủ hòa là y từ chối đồng hoá với nỗi đau của nhân loại theo cách xây dựng. Ngay cả khi y phản ứng bằng cảm xúc mãnh liệt trước nỗi khổ, chẳng hạn, của những đứa trẻ nhỏ trong cuộc đại chiến này, và của người tị nạn không có khả năng tự vệ, y vẫn không thật sự quan tâm đủ để làm điều gì đó đối với tình hình, bởi điều đó đòi hỏi hi sinh. Điều này nghe có vẻ khắc nghiệt, nhưng là một phát biểu sự thật cần thiết. Lòng cảm thông không tạo ra hành động tích cực dưới một hình thức nào đó sẽ trở thành một vết thương mưng mủ. |
|
Thus, by thought and word and deed, the lover of humanity will enter the battle against evil; with complete self-forgetfulness, he will take up the cause of humanity, hiding not behind the sense of futility and seeking no alibi in a misinterpreted idealism. He will face the facts of the present situation in the light which streams from the vision itself. He will then press forward into the age of right human relations, of spiritual unity and shared resources with complete confidence because his sense of values is adjusted. He knows that humanity has a divine mission which must be carried out on the wings of love, through understanding action, selfless service and the willingness to die in battle if that is the only way in which his brother can be served and freed. |
Như vậy, bằng tư tưởng, lời nói và hành động, người yêu thương nhân loại sẽ bước vào cuộc chiến chống lại điều ác; với sự quên mình hoàn toàn, y sẽ đảm nhận chính nghĩa của nhân loại, không ẩn nấp sau cảm giác vô dụng và không tìm cớ trong một lý tưởng bị diễn giải sai. Y sẽ đối diện các sự kiện của tình hình hiện tại trong ánh sáng tuôn chảy từ chính linh ảnh ấy. Khi đó y sẽ tiến bước vào kỷ nguyên của các tương quan nhân loại đúng đắn, của sự hợp nhất tinh thần và của tài nguyên được chia sẻ với sự tin tưởng trọn vẹn vì ý thức về giá trị của y đã được điều chỉnh. Y biết rằng nhân loại có một sứ mệnh thiêng liêng phải được thực hiện trên đôi cánh của tình thương, qua hành động đầy thấu hiểu, sự phụng sự vô ngã và sự sẵn lòng chết trong chiến trận nếu đó là cách duy nhất mà huynh đệ của y có thể được phụng sự và giải thoát. |
|
Having now presented the attitude towards the present world crisis which seems to me consistent with all that I have taught in the past and in line with the teaching of the [247] Hierarchy, and having made clear the basic dualism which underlies this conflict, and pointed out the lines of demarcation which are clearly emerging, I now call upon all of you to stand with the Forces of Light. |
Sau khi giờ đây đã trình bày thái độ đối với cuộc khủng hoảng thế giới hiện tại mà theo tôi là phù hợp với tất cả những gì tôi đã giảng dạy trong quá khứ và phù hợp với giáo huấn của [247] Thánh đoàn, và sau khi đã làm rõ tính nhị nguyên căn bản nằm dưới cuộc xung đột này, cũng như chỉ ra những đường ranh giới đang hiện ra rõ rệt, giờ đây tôi kêu gọi tất cả các bạn hãy đứng cùng các Lực lượng Ánh sáng. |
|
Đây là những ngày khó khăn và khủng khiếp. Cần có những người nam và nữ có can đảm và linh thị để đứng vững vàng và thực hiện những bước cần thiết—dù đó là gì đi nữa—để chấm dứt cuộc chiến này. Những bộ phận rộng lớn của nhân loại không thể làm gì hơn ngoài việc cam chịu số phận bất hạnh đã ập xuống họ. Họ không thể suy nghĩ hay cầu nguyện hay thậm chí triệu tập đức tin để trợ giúp mình. Họ cảm thấy không còn hy vọng. Thay cho họ, bạn phải suy nghĩ; thay cho họ, bạn phải cầu nguyện; thay cho họ, bạn phải có đức tin và—trên hết vào lúc này—thay cho họ, bạn phải hành động. Công việc tái thiết nằm trong tương lai. Nhu cầu ngày nay là xây dựng một bức thành phòng thủ quanh nhân loại; rồi sau đó—sau khi đã hoàn thành mọi đòi hỏi của cõi hồng trần—hãy đứng bất lay chuyển. Nhưng bạn phải đứng với khuôn mặt hướng về kẻ thù của linh hồn con người, sẵn sàng chiến đấu, theo nghĩa đen và trên phương diện hồng trần, sẵn sàng thực hiện mọi bước cần thiết để đẩy lùi kẻ thù, và sẵn sàng hi sinh đến mức tận cùng để y không thể tiến xa hơn nữa. |
|
|
Your work will, therefore, be of a threefold nature. On the levels of mental consciousness, your vision of the need and of the future will be clear, inspiring you and enabling you to be a source of strength to all around you; your faith will see behind the obvious to the “substance of things hoped for, the evidence of things not seen,” as the initiate, Paul, expresses it; your thought will then be anchored in right action, soul directed. On the emotional side of life, you will find no time for idle tears or for vague, sympathetic talk, because you will be completely identified with what is going on and all emotional energy will be directed to the pursuit of every available mode of practically alleviating the pain. The heart energy will be occupied with the task of giving understanding help so that there is no scope for the usual emotional solar plexus reactions. On the physical plane you will not be occupied with the problem of what to do, [248] because every physical effort, time, and personality emphasis will be directed to the shouldering of your due share in arresting the forces of aggression from any further advance. This might mean fighting in the ranks of the Allied Armies, or it might mean driving an ambulance under Red Cross auspices; raising funds to succour the refugees; speaking on public platforms or to groups upon the issues at stake, or participating in some form of national effort to bring aid and strength to the Allies. Whatever it is, it will call for all that is in you and all that you are, integrated and directed to a sustained, substantial, one-pointed effort. |
Vì vậy, công việc của bạn sẽ có tính tam phân. Trên các cấp độ của tâm thức trí tuệ, tầm nhìn của bạn về nhu cầu và về tương lai sẽ rõ ràng, truyền cảm hứng cho bạn và giúp bạn trở thành một nguồn sức mạnh cho tất cả những người quanh bạn; đức tin của bạn sẽ nhìn xuyên qua cái hiển nhiên để thấy “chất liệu của những điều được hy vọng, bằng chứng của những điều không thấy được,” như điểm đạo đồ Paul đã diễn tả; khi đó tư tưởng của bạn sẽ được neo trong hành động đúng đắn, do linh hồn chỉ đạo. Về mặt đời sống cảm xúc, bạn sẽ không còn thời gian cho những giọt nước mắt vô ích hay những lời nói cảm thông mơ hồ, vì bạn sẽ hoàn toàn đồng hoá với những gì đang diễn ra và toàn bộ năng lượng cảm xúc sẽ được hướng vào việc theo đuổi mọi phương cách sẵn có để làm dịu nỗi đau một cách thực tiễn. Năng lượng tim sẽ bận rộn với nhiệm vụ trao sự trợ giúp đầy thấu hiểu để không còn chỗ cho những phản ứng cảm xúc thông thường của tùng thái dương. Trên cõi hồng trần, bạn sẽ không bận tâm với vấn đề phải làm gì, [248] vì mọi nỗ lực hồng trần, thời gian và sự nhấn mạnh phàm ngã sẽ được hướng vào việc gánh lấy phần trách nhiệm chính đáng của bạn trong việc ngăn chặn các lực lượng xâm lược tiến xa hơn nữa. Điều này có thể có nghĩa là chiến đấu trong hàng ngũ các quân đội Đồng Minh, hoặc có thể có nghĩa là lái xe cứu thương dưới sự bảo trợ của Hội Hồng Thập Tự; quyên góp quỹ để cứu trợ người tị nạn; diễn thuyết trên diễn đàn công cộng hoặc trước các nhóm về những vấn đề đang bị đe dọa, hoặc tham gia vào một hình thức nỗ lực quốc gia nào đó để mang sự trợ giúp và sức mạnh đến cho phe Đồng Minh. Dù đó là gì, nó cũng sẽ đòi hỏi tất cả những gì ở trong bạn và tất cả những gì bạn là, được tích hợp và hướng vào một nỗ lực bền bỉ, thực chất, nhất tâm. |
|
It will throw your will-to-good behind every attempt to frustrate the activities of the evil alliance which you may find in your environment; it will lead you to work with watchfulness for the good of your own country, whilst at the same time swelling the tide of the national effort to end war through the tangible victory of the Forces of Light. Ponder on these words. |
Điều đó sẽ đặt Ý Chí-hướng Thiện của bạn phía sau mọi nỗ lực nhằm làm thất bại các hoạt động của liên minh ác mà bạn có thể thấy trong môi trường của mình; nó sẽ dẫn bạn đến chỗ làm việc với sự tỉnh thức vì thiện ích của chính đất nước bạn, đồng thời làm dâng cao làn sóng nỗ lực quốc gia nhằm chấm dứt chiến tranh qua chiến thắng hữu hình của các Lực lượng Ánh sáng. Hãy suy ngẫm về những lời này. |
|
The goodwill effort of the world, which I sought earlier to inaugurate and to synthesise, has passed through a negative stage and through an interlude wherein it was not possible to work actively. The needs of the New Group of World Servers calls it now into a renewed positive activity. The rediscovery and the immediate sustaining of the members of this group must be undertaken anew. In all lands they must be reached, if possible, and rehabilitated with wisdom, and re-established subjectively. They must be aided objectively and again inspired to work in order that they may form the nucleus of the Forces of Reconstruction when the Forces of Light have won the victory over the forces of aggression. This is the first point which I would ask you to consider doing. |
Nỗ lực thiện chí của thế giới, mà trước đây tôi đã tìm cách khai mở và tổng hợp, đã đi qua một giai đoạn tiêu cực và một quãng xen giữa trong đó không thể hoạt động tích cực. Nhu cầu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nay kêu gọi nó bước vào một hoạt động tích cực được đổi mới. Việc tái khám phá và ngay lập tức nâng đỡ các thành viên của nhóm này phải được thực hiện lại. Ở mọi quốc gia, nếu có thể, họ phải được tiếp cận, được phục hồi với minh triết, và được tái lập một cách chủ quan. Họ phải được trợ giúp một cách khách quan và lại được truyền cảm hứng để hoạt động hầu họ có thể tạo thành hạt nhân của Các Lực lượng Tái Thiết khi các Lực lượng Ánh sáng đã giành chiến thắng trước các lực lượng xâm lược. Đây là điểm đầu tiên mà tôi muốn yêu cầu bạn cân nhắc thực hiện. |
|
The second thing is to begin the dynamic use of another Stanza of the Great Invocation. That which you have hitherto used has now served its immediate purpose, though it can again be called into use after the war is over. I give you now another set of phrases which can (if rightly used) invoke the Forces of the Divine Will on to the side of the [249] Forces of Light. It is not easy to give an adequate translation or paraphrase of this power-mantram, nor is it easy to step it down sufficiently so that it can be safely used by all, yet at the same time preserve its challenging, dynamic quality. The following sentences will suffice, however, and if used by you with focussed intention and with the attitude of a sacrificial personality (held silently dedicated in the light of the soul), much power may be generated. Along the lines of power which you may thus succeed in setting up may come that which is needed to release humanity from the thraldom of evil, provided the nature of the sacrificial will is somewhat understood by you. |
Điều thứ hai là bắt đầu sử dụng một cách năng động một Bài kệ khác của Đại Khấn Nguyện. Điều mà cho đến nay bạn đã sử dụng nay đã phục vụ mục đích trước mắt của nó, dù sau khi chiến tranh kết thúc nó có thể lại được dùng đến. Giờ đây tôi trao cho bạn một tập hợp cụm từ khác, những cụm từ có thể (nếu được dùng đúng) khẩn cầu các Lực lượng của Ý Chí thiêng liêng đứng về phía [249] các Lực lượng Ánh sáng. Không dễ để đưa ra một bản dịch hay diễn giải đầy đủ về quyền năng mantram này, cũng không dễ để hạ thấp nó đủ mức để mọi người đều có thể dùng một cách an toàn, mà đồng thời vẫn giữ được phẩm tính đầy thách thức và năng động của nó. Tuy nhiên, những câu sau đây là đủ, và nếu được bạn sử dụng với ý định tập trung và với thái độ của một phàm ngã hi sinh (được giữ trong sự thánh hiến thầm lặng dưới ánh sáng của linh hồn), thì nhiều mãnh lực có thể được tạo ra. Dọc theo những đường mãnh lực mà nhờ đó bạn có thể thành công thiết lập, điều cần thiết để giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ của điều ác có thể đến, miễn là bản chất của ý chí hi sinh được bạn phần nào thấu hiểu. |
|
Let the Lords of Liberation issue forth. |
Cầu xin các Đấng Giải Thoát xuất hiện. |
|
Let Them bring succour to the sons of men. |
Cầu xin Các Ngài mang cứu trợ đến cho những người con của nhân loại. |
|
Let the Rider from the secret Place come forth, |
Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi bí mật xuất hiện, |
|
And coming, save. |
Và khi đến, cứu vớt. |
|
Come forth, O Mighty One. |
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng. |
|
~ |
~ |
|
Let the souls of men awaken to the Light, |
Cầu xin linh hồn con người thức tỉnh trước Ánh sáng, |
|
And may they stand with massed intent. |
Và cầu xin họ đứng lên với ý định tập thể. |
|
Let the fiat of the Lord go forth: |
Cầu xin phán lệnh của Chúa Tể được ban ra: |
|
The end of woe has come! |
Sự khổ đau đã chấm dứt! |
|
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng. |
|
|
The hour of service of the Saving Force has now arrived. |
Giờ phụng sự của Mãnh Lực Cứu Rỗi nay đã đến. |
|
Let it be spread abroad, O Mighty One. |
Cầu xin nó được lan truyền rộng khắp, hỡi Đấng Đại Hùng. |
|
~ |
~ |
|
Let Light and Love and Power and Death |
Cầu xin Ánh sáng và Tình thương và Quyền năng và Cái Chết |
|
Fulfil the purpose of the Coming One. |
Hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến. |
|
The Will to save is here, |
Ý chí cứu vớt đang hiện diện, |
|
The Love to carry forth the work is widely spread abroad. |
Tình thương để tiếp tục công việc đang được lan truyền rộng khắp. |
|
The Active Aid of all who know the truth is also here. |
Sự Trợ Giúp Tích Cực của tất cả những ai biết chân lý cũng đang hiện diện. |
|
Come forth, O Mighty One and blend these three. |
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng và dung hợp ba điều này. |
|
Construct a great defending wall. |
Hãy kiến tạo một bức tường phòng thủ vĩ đại. |
|
The rule of evil now must end. |
Sự cai trị của điều ác nay phải chấm dứt. |
|
If, therefore, you will say these three stanzas with a focussed affirmative will, a great potency may be released for [250] the salvaging of humanity and the immediate defeat of the forces of aggression. But I would reiterate that the use of these words must be accompanied by the dedication of your personality life to the cause of humanity, and by the transmutation of your personal will into the sacrificial will of the soul. |
Vì vậy, nếu bạn đọc ba bài kệ này với một ý chí khẳng định tập trung, một mãnh lực lớn có thể được giải phóng để [250] cứu vớt nhân loại và đánh bại ngay lập tức các lực lượng xâm lược. Nhưng tôi xin nhắc lại rằng việc sử dụng những lời này phải đi kèm với sự hiến dâng đời sống phàm ngã của bạn cho chính nghĩa của nhân loại, và với sự chuyển hoá ý chí cá nhân của bạn thành ý chí hi sinh của linh hồn. |
|
Finally, I would ask you to get in touch as soon as you can with the headquarters of the goodwill work and indicate also your willingness to cooperate to the fullest extent with the Forces of Light. This will serve practically to focus your effort. I would ask you also to make it possible to disseminate this article on the widest scale that is possible, so that the use of the new Invocation may be widespread. There are many to whom it could be sent, and it would arouse them anew to fresh activity and hopeful effort. I would ask you to use this new Invocation with faith, for it blends into a magnetic unity the forces of the divine Will-to-Good, the Love which underlies the efforts of the Hierarchy, and the Intelligent Activity of humanity, thus creating a reservoir of power into which the energy of the three divine centres can pour and upon which the Forces of Light can draw. The saying of this Invocation is not a substitute for the physical plane effort on your part; it is complementary to that, and the more you are serving upon the physical plane, the more effective will be your use of the new Invocation. |
Sau cùng, tôi muốn yêu cầu bạn hãy liên lạc càng sớm càng tốt với trụ sở công tác thiện chí và cũng cho biết sự sẵn lòng của bạn trong việc hợp tác đến mức tối đa với các Lực lượng Ánh sáng. Điều này sẽ phục vụ một cách thực tiễn cho việc tập trung nỗ lực của bạn. Tôi cũng muốn yêu cầu bạn làm cho bài viết này có thể được phổ biến ở quy mô rộng nhất có thể, để việc sử dụng Đại Khấn Nguyện mới này được lan rộng. Có nhiều người mà nó có thể được gửi đến, và nó sẽ đánh thức họ một lần nữa để bước vào hoạt động mới mẻ và nỗ lực đầy hy vọng. Tôi muốn yêu cầu bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện mới này với đức tin, vì nó dung hợp trong một hợp nhất từ tính các lực lượng của Ý Chí-hướng Thiện thiêng liêng, Tình thương làm nền cho các nỗ lực của Thánh đoàn, và Hoạt Động Thông Minh của nhân loại, nhờ đó tạo ra một hồ chứa mãnh lực mà vào đó năng lượng của ba trung tâm thiêng liêng có thể tuôn đổ và trên đó các Lực lượng Ánh sáng có thể rút dùng. Việc đọc Đại Khấn Nguyện này không thay thế cho nỗ lực trên cõi hồng trần của bạn; nó bổ sung cho điều đó, và bạn càng phụng sự trên cõi hồng trần bao nhiêu thì việc bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện mới càng hữu hiệu bấy nhiêu. |
|
I said earlier that the war could have been averted from expression on the physical plane had the disciples and aspirants of the world measured up to their opportunity and responsibilities. The Great Invocation was rendered relatively powerless, from the angle of dynamic usefulness, because the majority of those who used it turned it into a peace prayer. It was instead a great spiritually militant invocative demand. This must not happen with this Stanza of Invocation. It is a demand; it is also an authoritative affirmation of existent fact; it sets in motion agencies and forces hitherto quiescent, and these can change the face of the world battlefield; it invokes the Prince of Peace, but He [251] carries a sword, and the effects of His activity may prove surprising to those who see only the needs of the form aspect of humanity. |
Trước đây tôi đã nói rằng chiến tranh có thể đã được ngăn không cho biểu hiện trên cõi hồng trần nếu các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới đã đáp ứng đúng cơ hội và trách nhiệm của mình. Đại Khấn Nguyện đã trở nên tương đối bất lực, xét từ góc độ tính hữu dụng năng động, vì đa số những người sử dụng nó đã biến nó thành một lời cầu nguyện cho hòa bình. Thay vào đó, nó là một lời khẩn cầu chiến đấu tinh thần vĩ đại. Điều này không được phép xảy ra với Bài kệ Khẩn Cầu này. Nó là một lời yêu cầu; nó cũng là một sự khẳng định có thẩm quyền về một sự kiện hiện hữu; nó đặt vào chuyển động những tác nhân và mãnh lực từ trước đến nay vẫn yên lặng, và những điều này có thể thay đổi bộ mặt của chiến trường thế giới; nó khẩn cầu Hoàng Tử Hòa Bình, nhưng Ngài [251] mang một thanh gươm, và các hiệu quả của hoạt động của Ngài có thể gây ngạc nhiên cho những ai chỉ nhìn thấy các nhu cầu của phương diện hình tướng của nhân loại. |
|
That strength and enlightenment may be yours and the power to stand and the ability to fight for the release of humanity is the prayer and the appeal of your brother, the Tibetan. |
Nguyện cầu sức mạnh và sự soi sáng thuộc về bạn, cùng quyền năng để đứng vững và khả năng chiến đấu cho sự giải phóng của nhân loại, đó là lời cầu nguyện và lời kêu gọi của huynh đệ của bạn, Chân sư Tây Tạng. |
|
~ |
~ |
|
THE GREAT INVOCATION |
ĐẠI KHẤN NGUYỆN |
|
Stanza Two |
KHỔ THI TỤNG HAI |
|
September 1940 |
Tháng chín năm 1940 |
|
It has seemed to me after due thought that it would serve a most useful purpose if I elucidated somewhat the theme of the new Invocation and dealt also with the idea of divine intervention. There is much loose thinking in this connection, due to the truth as well as the misinterpretation of the Christian teaching anent the return of the Christ. Men’s theological, analytical minds have distorted God’s revelation, and I would like to do something to produce a wiser attitude to the reality of this inevitable return. This loose thinking prevents much intelligent and cooperative work. I would remind you that the success of invocation and the true efficacy of prayer are dependent upon clear thinking and not upon emotional desire or a powerful wish complex. They are dependent, too, upon a certain dynamic freshness and enthusiasm which it is hard to attain in a time of stress and strain. The present time is peculiarly hard. Perhaps a clearer understanding of the nature and purpose of divine intervention may clarify somewhat the issue. |
Sau khi suy nghĩ chín chắn, đối với tôi dường như sẽ phục vụ một mục đích rất hữu ích nếu tôi làm sáng tỏ phần nào chủ đề của Đại Khấn Nguyện mới và cũng bàn đến ý tưởng về sự can thiệp thiêng liêng. Có rất nhiều tư duy lỏng lẻo liên quan đến điều này, do cả chân lý lẫn sự diễn giải sai giáo huấn Cơ Đốc về sự trở lại của Đức Christ. Trí tuệ thần học và phân tích của con người đã bóp méo sự mặc khải của Thượng đế, và tôi muốn làm điều gì đó để tạo ra một thái độ minh triết hơn đối với thực tại của sự trở lại tất yếu này. Lối tư duy lỏng lẻo này ngăn cản nhiều công việc thông minh và hợp tác. Tôi muốn nhắc bạn rằng sự thành công của khẩn cầu và hiệu lực chân thực của lời cầu nguyện tùy thuộc vào tư duy sáng suốt chứ không tùy thuộc vào ham muốn cảm xúc hay một phức hợp ước muốn mạnh mẽ. Chúng cũng tùy thuộc vào một sự tươi mới năng động và một nhiệt tâm nhất định mà rất khó đạt được trong thời kỳ căng thẳng và áp lực. Thời điểm hiện tại đặc biệt khó khăn. Có lẽ một sự thấu hiểu rõ ràng hơn về bản chất và mục đích của sự can thiệp thiêng liêng có thể phần nào làm sáng tỏ vấn đề. |
|
To the casual thinker and the untrained occult student it might appear that—given an almighty Deity or Planetary Logos—He could with little trouble and much usefulness and compassion intervene in this sad world situation and bring to an end the warring of the nations through the medium of some spectacular happening, some dramatic cataclysm of natural process or some supreme appearing which [252] would work much good. It might, it could be argued, conclusively convince the attacking, aggressive groups that their day is ended and that their efforts had better be drawn to an immediate finish. Would that it were so relatively simple a matter; but the laws of nature, the free will of humanity itself and the inevitability of karma combine to prevent an intervention in just these terms. This does not mean that some form of intervention may not be possible but it must conform to law; it must not interfere with humanity’s right to handle its own affairs, and it must be timed in such a way that the best and maximum results can be attained. |
Đối với nhà tư tưởng hời hợt và đạo sinh huyền bí học chưa được huấn luyện, có thể dường như rằng—nếu có một Thượng đế toàn năng hay một Hành Tinh Thượng đế—Ngài có thể với rất ít khó khăn và với nhiều hữu ích cùng từ bi can thiệp vào tình hình thế giới buồn thảm này và chấm dứt chiến tranh giữa các quốc gia thông qua một biến cố ngoạn mục nào đó, một đại biến động kịch tính của tiến trình tự nhiên hoặc một sự xuất hiện tối cao nào đó [252] sẽ mang lại nhiều điều tốt lành. Người ta có thể lập luận rằng điều đó sẽ thuyết phục dứt khoát các nhóm tấn công và xâm lược rằng ngày của họ đã hết và tốt hơn hết là họ nên lập tức chấm dứt nỗ lực của mình. Ước gì vấn đề tương đối đơn giản như thế; nhưng các định luật của tự nhiên, ý chí tự do của chính nhân loại và tính tất yếu của nghiệp quả kết hợp lại để ngăn cản một sự can thiệp theo đúng những điều kiện ấy. Điều này không có nghĩa là một hình thức can thiệp nào đó là không thể có, nhưng nó phải phù hợp với định luật; nó không được can thiệp vào quyền của nhân loại trong việc tự xử lý công việc của mình, và nó phải được định thời sao cho có thể đạt được những kết quả tốt nhất và tối đa. |
|
I would like first of all to touch upon the three points which I have made above—natural law, free will and karma. In so doing I may succeed in clearing up some of the confused thinking of many students. |
Trước hết tôi muốn đề cập đến ba điểm mà tôi đã nêu trên—định luật tự nhiên, ý chí tự do và nghiệp quả. Khi làm như vậy, tôi có thể thành công trong việc làm sáng tỏ phần nào lối tư duy lẫn lộn của nhiều đạo sinh. |
|
Natural law is the inevitable working out upon the physical plane of forces and energies which have long been generated. People are apt to think that these must lie outside of human control and constitute part of the inscrutable will of God, and that with them man has naught to do. When it is realised that certain aspects of natural law are concerned purely with the forces—subterranean, superficial and aerial—of our planet, the premise will be seen as correct in the present condition of the mental attitudes of the race and will remain so for a very long time. There are, nevertheless, causes and effects which can come under the category of natural law which are yet not so far removed from human control. For ages man has generated energies which must inevitably produce events upon the physical plane, evoke response upon the plane of the emotions, and induce mental reactions. It is here that natural law and the law of karma meet and interact upon each other. |
Định luật tự nhiên là sự triển khai tất yếu trên cõi hồng trần của các mãnh lực và năng lượng đã được tạo ra từ lâu. Con người thường có khuynh hướng nghĩ rằng những điều này phải nằm ngoài sự kiểm soát của con người và cấu thành một phần của Ý Chí bất khả tư nghị của Thượng đế, và rằng con người không có gì liên quan đến chúng. Khi người ta chứng nghiệm rằng một số phương diện của định luật tự nhiên chỉ liên quan thuần túy đến các mãnh lực—dưới lòng đất, trên bề mặt và trên không—của hành tinh chúng ta, thì tiền đề ấy sẽ được thấy là đúng trong tình trạng hiện tại của các thái độ trí tuệ của nhân loại và sẽ còn như vậy trong một thời gian rất dài. Tuy nhiên, vẫn có những nguyên nhân và hiệu quả có thể được xếp vào loại định luật tự nhiên mà lại không quá xa khỏi sự kiểm soát của con người. Trong nhiều thời đại, con người đã tạo ra những năng lượng mà tất yếu phải sản sinh ra các biến cố trên cõi hồng trần, khơi lên sự đáp ứng trên cõi cảm xúc, và gây ra các phản ứng trí tuệ. Chính ở đây mà định luật tự nhiên và định luật nghiệp quả gặp nhau và tương tác lẫn nhau. |
|
There are many people today who find an alibi for themselves in the present world situation, and a consequent release from definite action and responsibility, by saying that what is today happening is simply karma or the working out of cause and effect, and that there is nothing, therefore, that they can do about it; they take the position that [253] it is not their affair, and that in due course of time the process will be worked out and everything will be all right again. The slate will then be cleaner and incidentally they will not have been embroiled, but will have safely (even if uncomfortably) looked on. In so doing they overlook the third aspect of this same law, to which we have given the name of free will. It is the right use of free will and its understanding expression which must eventually straighten out and adjust the working out of karma and transmute that which now works such evil and havoc in the world into a demonstration of good and of the successful foundation for the pursuit of true happiness. Therefore, those who are looking on at the tragic sufferings of humanity and who refuse to be implicated, and thus succeed in evading responsibility as an integral part of the human family, are definitely storing up for themselves much evil karma. In some way they must learn participation, because the present situation has in it the seeds of release for humanity when the nature of evil is somewhat grasped, and above all when the oneness of humanity and the rights of human beings are truly recognised. Those who war against the race of men and who seek to wrest from them their God-given goal of freedom must be driven back from whence they came. Those who refuse to share in that struggle for freedom will be left out of the gains of freedom, even if it only means within their own home limits, in their life habits and in their private circumstances. When I here speak of “being driven back from whence they came” I am using phrases in both the simple and the occult sense. |
Ngày nay có nhiều người tìm cho mình một cái cớ trong tình hình thế giới hiện tại, và do đó tự giải thoát khỏi hành động và trách nhiệm rõ rệt, bằng cách nói rằng điều đang xảy ra hôm nay chỉ đơn giản là nghiệp quả hay sự triển khai của nhân và quả, và vì thế họ không thể làm gì được; họ giữ lập trường rằng [253] đó không phải việc của họ, và rằng theo thời gian tiến trình ấy sẽ tự hoàn tất và rồi mọi sự sẽ lại ổn thỏa. Khi đó tấm bảng sẽ sạch hơn và ngẫu nhiên là họ sẽ không bị cuốn vào, mà sẽ an toàn (dù không thoải mái) đứng nhìn. Khi làm như vậy, họ đã bỏ qua phương diện thứ ba của cùng định luật này, mà chúng ta đã gọi là ý chí tự do. Chính việc sử dụng đúng ý chí tự do và sự biểu hiện đầy thấu hiểu của nó cuối cùng phải làm thẳng lại và điều chỉnh sự triển khai của nghiệp quả, và chuyển hoá điều hiện đang gây ra quá nhiều ác và tàn phá trên thế giới thành một biểu hiện của thiện và thành nền tảng thành công cho việc theo đuổi hạnh phúc chân chính. Vì vậy, những ai đang đứng nhìn những đau khổ bi thảm của nhân loại và từ chối bị liên lụy, và nhờ đó thành công trong việc né tránh trách nhiệm với tư cách là một phần toàn vẹn của gia đình nhân loại, thì rõ ràng đang tích lũy cho chính mình rất nhiều nghiệp quả xấu. Bằng cách nào đó họ phải học sự tham dự, bởi vì tình hình hiện tại chứa trong nó những hạt giống giải thoát cho nhân loại khi bản chất của điều ác được phần nào nắm bắt, và trên hết là khi tính nhất thể của nhân loại và các quyền của con người được thực sự công nhận. Những kẻ gây chiến chống lại nhân loại và tìm cách cướp khỏi họ mục tiêu tự do do Thượng đế ban cho phải bị đẩy lùi về nơi chúng đã đến. Những ai từ chối chia sẻ trong cuộc đấu tranh cho tự do ấy sẽ bị loại khỏi những thành quả của tự do, dù điều đó chỉ có nghĩa là trong phạm vi gia đình riêng của họ, trong thói quen sống và trong hoàn cảnh riêng tư của họ. Khi ở đây tôi nói “bị đẩy lùi về nơi chúng đã đến”, tôi đang dùng cụm từ này theo cả nghĩa đơn giản lẫn nghĩa huyền bí. |
|
It is therefore the free will and the will-to-good of humanity which must actively end the present conflict. One of these, the first, concerns man’s responsibility to man; the other, rightly understood, concerns the right relationship of man to divine purpose, his right orientation to the divine goodwill, and his correct participation in its expression. Where these conditions exist, there can be drawn forth an act of divine intervention. |
Vì vậy, chính ý chí tự do và Ý Chí-hướng Thiện của nhân loại phải chủ động chấm dứt cuộc xung đột hiện tại. Một trong hai điều này, điều thứ nhất, liên quan đến trách nhiệm của con người đối với con người; điều kia, nếu được hiểu đúng, liên quan đến tương quan đúng đắn của con người với Thiên Ý, sự định hướng đúng đắn của y đối với thiện chí thiêng liêng, và sự tham dự đúng đắn của y vào sự biểu hiện của nó. Ở nơi nào những điều kiện này hiện hữu, ở đó một hành động can thiệp thiêng liêng có thể được kéo ra. |
|
Natural law is today producing great changes in nature [254] through the effects of aerial and physical combat, through the results of the fluid movement of whole sections of the world population and through the effects of vast economic changes and processes. Conditions have been set in motion which must now work out to their predestined end, and it is the task of those who guide humanity spiritually to see that out of the surface evil and material activity good may eventuate, and that out of the wicked, materialistic intent lying behind the present aggressive activity of certain groups ultimate good may be engineered and the evil activity ended. But this possible good will be the result of the spiritual activity of those who know the law and who understand the purpose of the will of God; it will be wrought out in spite of, and not because of, the brute force and the selfish goals of the world aggressors; these embody and ensoul the materialistic forces of the planet in a manner utterly new in expression. |
Ngày nay định luật tự nhiên đang tạo ra những thay đổi lớn trong thiên nhiên [254] qua các hiệu quả của chiến đấu trên không và trên mặt đất, qua các kết quả của sự di chuyển lưu động của toàn bộ những bộ phận lớn dân số thế giới và qua các hiệu quả của những thay đổi và tiến trình kinh tế to lớn. Những điều kiện đã được đặt vào chuyển động mà giờ đây phải triển khai đến cùng đích đã được tiền định của chúng, và nhiệm vụ của những người hướng dẫn nhân loại về mặt tinh thần là bảo đảm rằng từ điều ác bề mặt và hoạt động vật chất, điều thiện có thể xuất hiện, và rằng từ ý đồ vật chất ác độc nằm sau hoạt động xâm lược hiện tại của một số nhóm, điều thiện tối hậu có thể được kiến tạo và hoạt động ác có thể chấm dứt. Nhưng điều thiện khả hữu này sẽ là kết quả của hoạt động tinh thần của những ai biết định luật và thấu hiểu mục đích của Ý Chí của Thượng đế; nó sẽ được thực hiện bất chấp, chứ không phải vì, bạo lực thô bạo và các mục tiêu ích kỷ của những kẻ xâm lược thế giới; những kẻ này hiện thân và phú linh cho các lực lượng vật chất của hành tinh theo một cách hoàn toàn mới trong biểu hiện. |
|
Free will involves a basic understanding of the lines of world cleavage; it concerns right choice and consequent correct action for the group and is determined every time by that which is right for the whole and not so much by that which is right for the part. Humanity is only now reaching the point where free will can be of significant importance. There has been little free will to date. This is definitely the needed demonstration at this moment. It is the lack of true free will which is today holding up the final activity. This is a statement of importance and it is here that the great and free neutrals can give a right lead to human affairs. Aggression, fear, terror, foreboding and the numbness that comes from undue and ceaseless mental and physical pain are stultifying and negating free will in many sections of the world at this time. There is no free will in many parts of Europe today. |
Ý chí tự do bao hàm một sự thấu hiểu căn bản về các đường phân rẽ của thế giới; nó liên quan đến sự lựa chọn đúng đắn và hành động đúng đắn tiếp theo cho nhóm, và mỗi lần đều được quyết định bởi điều gì là đúng cho toàn thể chứ không quá nhiều bởi điều gì là đúng cho bộ phận. Nhân loại chỉ mới đang đạt đến điểm mà ý chí tự do có thể có tầm quan trọng đáng kể. Cho đến nay đã có rất ít ý chí tự do. Đây rõ ràng là biểu hiện cần thiết vào lúc này. Chính sự thiếu vắng ý chí tự do chân thực đang trì hoãn hoạt động cuối cùng ngày nay. Đây là một phát biểu quan trọng, và chính ở đây mà các nước trung lập lớn và tự do có thể đưa ra sự dẫn dắt đúng đắn cho công việc nhân loại. Sự xâm lược, sợ hãi, khủng bố, lo âu và sự tê liệt đến từ đau đớn trí tuệ và hồng trần quá mức và liên miên đang làm trì độn và phủ nhận ý chí tự do tại nhiều khu vực trên thế giới vào lúc này. Ngày nay không có ý chí tự do tại nhiều nơi ở châu Âu. |
|
Prejudice, the misinterpretation of presented facts, false and overemphasised idealism, racial and nationalistic thoughtforms and the withdrawing fear of responsibility are hindering the expression of free will in the less damaged parts of the world. Moral unpreparedness and the [255] refusal to relinquish the many and differing misinterpretations of truth or of Christ’s teaching are hindering many people today. Release for humanity will come when the so-called good people of the world give up their pet theories and their beloved ideals and grasp the essential fact that entry into the Kingdom of Heaven and into the new age will take place when mankind is truly loved and selflessly served, and when the true, divine purpose is seen and humanity is found to be one indivisible whole. Then petty nationalisms, religious differences and selfish idealisms (for that is what they often are as most people are idealists because they seek to save their own souls) are subordinated to human need, human good and the future happiness of the whole. The simplification of the attitude of men is the crying need at this time. Ideologies must go; old ideals must be relinquished; petty political, religious and social schemes must be discarded, and the one driving purpose and the one outstanding determination must be the release of humanity from the imposition of fear, from enforced slavery and the reinstatement of men in freedom and with due opportunity to express themselves through right human relations. This is not as yet possible and it is the appalling situation of terror, of slavery and of imposed and penalising rule which is breaking the heart of humanity and causing deep distress and questioning in those whose hearts are not yet so broken. |
Thành kiến, sự diễn giải sai các sự kiện được trình bày, chủ nghĩa lý tưởng sai lạc và bị cường điệu, các hình tư tưởng chủng tộc và dân tộc chủ nghĩa, cùng nỗi sợ trách nhiệm khiến người ta co rút lại, đang cản trở sự biểu lộ của ý chí tự do tại những phần ít bị tàn phá hơn của thế giới. Sự thiếu chuẩn bị về mặt đạo đức và việc [255] từ chối từ bỏ vô số cách diễn giải sai khác nhau về chân lý hay về giáo huấn của Đức Christ đang cản trở nhiều người ngày nay. Sự giải thoát cho nhân loại sẽ đến khi những người được gọi là tốt lành trên thế giới từ bỏ các lý thuyết riêng ưa thích và các lý tưởng yêu quý của mình, và nắm được sự kiện cốt yếu rằng việc đi vào Thiên Giới và vào kỷ nguyên mới sẽ diễn ra khi nhân loại thực sự được yêu thương và được phụng sự vô ngã, và khi mục đích thiêng liêng chân chính được nhìn thấy, và nhân loại được nhận ra là một toàn thể bất khả phân. Khi đó, những chủ nghĩa dân tộc nhỏ nhen, những khác biệt tôn giáo và những chủ nghĩa lý tưởng ích kỷ (vì đó thường chính là như thế, bởi đa số người ta là những người theo chủ nghĩa lý tưởng vì họ tìm cách cứu lấy linh hồn riêng của mình) sẽ được đặt dưới nhu cầu của con người, thiện ích của con người và hạnh phúc tương lai của toàn thể. Việc đơn giản hóa thái độ của những người nam và nữ là nhu cầu cấp bách vào lúc này. Các hệ tư tưởng phải ra đi; các lý tưởng cũ phải được từ bỏ; các hệ thống chính trị, tôn giáo và xã hội nhỏ nhen phải bị loại bỏ, và mục đích thúc đẩy duy nhất cùng quyết tâm nổi bật duy nhất phải là sự giải thoát nhân loại khỏi sự áp đặt của sợ hãi, khỏi tình trạng nô lệ cưỡng bức, và việc phục hồi con người vào tự do cùng cơ hội thích đáng để biểu lộ chính mình qua những tương quan nhân loại đúng đắn. Điều này hiện vẫn chưa thể thực hiện được, và chính tình trạng khủng khiếp của kinh hoàng, nô lệ và sự cai trị áp đặt đầy trừng phạt ấy đang làm tan nát trái tim nhân loại và gây nên nỗi đau sâu xa cùng sự chất vấn nơi những ai mà trái tim chưa bị tan vỡ đến thế. |
|
As to Karma, what man has made he can unmake. This is oft forgotten. Karma is not a hard and fast rule. It is changeable, according to man’s attitude and desire. It is the presenting of the opportunity to change; this grows out of past activities, and these rightly met and correctly handled lay the foundation for future happiness and progress. The present situation is the fault of all peoples in all countries (particularly the more intelligent) and includes also the great neutrals if the Law of Rebirth and of joint responsibility means anything at all. Karma is not all that is bad and evil. Men make it so through their stupidities. There are today great forces of evil seeking expression in the world; [256] these emerge out of the past and seek to determine and bring about a very evil future wherein selfishness, material objectives, and the good and well-being of one race out of the many must be imposed upon the world—a world which innately revolts against such an imposition and distortion of reality. The force of evil example is shown in the fact that two other races seek abjectly to copy or aid the forces of aggression, focussed at this time through the aggressor race. |
Về nghiệp quả, điều gì con người đã tạo ra thì y có thể tháo gỡ. Điều này thường bị quên lãng. Nghiệp quả không phải là một quy luật cứng nhắc bất biến. Nó có thể thay đổi, tùy theo thái độ và khát vọng của con người. Nó là sự trình ra cơ hội để thay đổi; điều này phát sinh từ các hoạt động quá khứ, và nếu được đối diện đúng đắn và xử lý chính xác, chúng sẽ đặt nền tảng cho hạnh phúc và tiến bộ tương lai. Tình hình hiện nay là lỗi của mọi dân tộc ở mọi quốc gia (đặc biệt là những dân tộc thông minh hơn), và cũng bao gồm cả các nước trung lập lớn nếu Định luật Tái Sinh và trách nhiệm chung thực sự có ý nghĩa nào đó. Nghiệp quả không phải toàn là điều xấu và ác. Con người làm cho nó thành như vậy qua sự ngu xuẩn của mình. Ngày nay có những mãnh lực ác lớn đang tìm cách biểu lộ trong thế giới; [256] chúng xuất hiện từ quá khứ và tìm cách quyết định, tạo nên một tương lai rất xấu xa, trong đó tính ích kỷ, các mục tiêu vật chất, và thiện ích cùng phúc lợi của một chủng tộc giữa nhiều chủng tộc khác phải bị áp đặt lên thế giới—một thế giới vốn bẩm sinh phản kháng sự áp đặt và bóp méo thực tại như thế. Sức mạnh của tấm gương xấu được cho thấy ở chỗ hai chủng tộc khác đang hèn hạ tìm cách bắt chước hoặc trợ giúp các mãnh lực xâm lược, hiện đang tập trung qua chủng tộc xâm lược. |
|
At the same time, the forces of good are seeking to offset this imposition of material selfishness and are now at bay with the issue still undecided—except upon the mental plane. It has yet to work out as the triumph of good upon the physical plane. When those who are not so drastically implicated in the present conflict relinquish their selfishness, their prejudices and their interpretations and see the basic duality of this conflict in its true light, they will throw the weight of their influence increasingly on the side of goodwill and right human relations; then the bad karma which they apparently placidly accept for others and reject for themselves will be changed into the good karma which is the true destiny of humanity and will usher in the new era of joy and of peace and spiritual synthesis—that synthesis which we call brotherhood. |
Đồng thời, các mãnh lực thiện đang tìm cách hóa giải sự áp đặt của tính ích kỷ vật chất này và hiện đang bị dồn vào thế thủ, trong khi kết cục vẫn chưa được quyết định—ngoại trừ trên cõi trí. Nó vẫn còn phải được triển khai thành chiến thắng của điều thiện trên cõi hồng trần. Khi những ai không bị liên lụy quá nghiêm trọng vào cuộc xung đột hiện nay từ bỏ tính ích kỷ, thành kiến và các cách diễn giải của mình, và nhìn thấy tính nhị nguyên căn bản của cuộc xung đột này dưới ánh sáng chân thực của nó, họ sẽ ngày càng dồn sức nặng ảnh hưởng của mình về phía thiện chí và những tương quan nhân loại đúng đắn; khi đó, nghiệp xấu mà họ dường như bình thản chấp nhận cho người khác nhưng lại khước từ cho chính mình sẽ được chuyển thành thiện nghiệp, vốn là định mệnh chân chính của nhân loại, và sẽ mở ra kỷ nguyên mới của hoan hỉ, hòa bình và tổng hợp tinh thần—sự tổng hợp mà chúng ta gọi là tình huynh đệ. |
|
It is because of the delay in right understanding, and the slowness of many to appreciate the true situation, that Those Who guide the race and work on the spiritual side of life have been unable to do much up to date except spiritually strengthen the hands of the workers with the Forces of Light. The faith of many has kept the door ajar, yet even these have forgotten frequently that “faith without works is dead.” It is only when faith finds active expression upon the physical plane in right cooperation and sacrifice (even unto death) that the door can be forced wide open and divine intervention become possible. It is only when the vision and dream of peace—which beguiles so many well-meaning people—gives way to the determination to take every possible means to achieve that peace in practical [257] ways upon the physical plane that the inner spiritual forces will be enabled to work also more actively on earth. |
Chính vì sự chậm trễ trong việc thấu hiểu đúng đắn, và vì nhiều người chậm nhận ra tình hình chân thực, mà Những Đấng hướng dẫn nhân loại và hoạt động ở phương diện tinh thần của sự sống đã không thể làm được nhiều cho đến nay, ngoại trừ việc tăng cường tinh thần cho những người hoạt động cùng Các Mãnh Lực Ánh Sáng. Đức tin của nhiều người đã giữ cho cánh cửa hé mở, tuy nhiên ngay cả những người này cũng thường quên rằng “đức tin không có việc làm là đức tin chết.” Chỉ khi đức tin tìm được sự biểu lộ tích cực trên cõi hồng trần qua sự hợp tác đúng đắn và sự hy sinh (thậm chí cho đến chết), thì cánh cửa mới có thể bị mở toang và sự can thiệp thiêng liêng mới trở nên khả hữu. Chỉ khi linh ảnh và giấc mơ về hòa bình—điều mê hoặc biết bao người thiện chí—nhường chỗ cho quyết tâm dùng mọi phương tiện có thể để đạt được hòa bình ấy bằng những [257] cách thức thực tiễn trên cõi hồng trần, thì các mãnh lực tinh thần bên trong mới có thể được phép hoạt động tích cực hơn trên Trái Đất. |
|
Curiously enough, they are often hindered today by the idealists, who love their ideals more than they love humanity and who cling to their special interpretations of what they think Christ meant, at the same time excluding that real love which characterised His every act and which would drive them into active, selfless service to the Forces of Light. They do nothing to bring the conflict to an end because they are preoccupied with their own dreams, ideals and interpretations; when they can let these go because of love of humanity, then the new vision will come and the world will be saved; the Forces of Light will find potent expression and the forces of aggression will go down to defeat. |
Điều lạ lùng là ngày nay họ thường bị cản trở bởi những người theo chủ nghĩa lý tưởng, những người yêu lý tưởng của mình hơn là yêu nhân loại, và bám chặt vào những cách diễn giải riêng của mình về điều họ nghĩ Đức Christ muốn nói, đồng thời loại trừ tình thương chân thật đã đặc trưng cho mọi hành động của Ngài và lẽ ra phải thúc đẩy họ đi vào sự phụng sự tích cực, vô ngã đối với Các Mãnh Lực Ánh Sáng. Họ không làm gì để chấm dứt cuộc xung đột vì họ bị ám ảnh bởi chính những giấc mơ, lý tưởng và cách diễn giải của mình; khi họ có thể buông bỏ những điều ấy vì tình thương đối với nhân loại, thì linh ảnh mới sẽ đến và thế giới sẽ được cứu; Các Mãnh Lực Ánh Sáng sẽ tìm được sự biểu lộ mạnh mẽ và các mãnh lực xâm lược sẽ bị đánh bại. |
|
Given, therefore, an eventual fusing of vision and physical plane activity (the major need at this time), what form is it possible for the hoped-for divine intervention to take? I make no prophecies. All that I seek to show is that the blocking or hindrance is to be found today on the side of humanity. It does not lie on the side of the forces of light, life and love; it is not to be found on the side of Christ and His disciples or of the Masters of Wisdom, as these (under diverse names) constitute the spiritual Hierarchy of the planet. Call Them by what name you choose, the most cherished belief of humanity is that there exists in the world always and for ever a hidden Reality, Those Who have conquered death, Who possess illimitable powers to help, and Who can be reached by prayer and invocation. |
Vì vậy, giả sử có một sự dung hợp sau cùng giữa linh ảnh và hoạt động trên cõi hồng trần (nhu cầu lớn nhất vào lúc này), thì sự can thiệp thiêng liêng được hy vọng có thể mang hình thức nào? Tôi không đưa ra lời tiên tri nào. Tất cả điều tôi tìm cách chỉ ra là sự ngăn chặn hay cản trở ngày nay nằm về phía nhân loại. Nó không nằm về phía các mãnh lực của ánh sáng, sự sống và tình thương; nó không nằm về phía Đức Christ và các đệ tử của Ngài hay các Chân sư Minh triết, vì các Ngài này (dưới nhiều danh xưng khác nhau) cấu thành Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh. Hãy gọi Các Ngài bằng bất cứ tên nào bạn chọn, niềm tin được trân quý nhất của nhân loại là trong thế giới luôn luôn và mãi mãi tồn tại một Thực Tại ẩn giấu, Những Đấng đã chiến thắng cái chết, sở hữu những quyền năng vô hạn để trợ giúp, và có thể được tiếp cận bằng lời cầu nguyện và khẩn cầu. |
|
It is the potency and grasp of things material and the fact of undivided focus upon the physical plane that has given the forces of aggression so much success up to the present time. These forces, through their very potency, have fused and blended together a group of seven men who personify in themselves great and specific aspects of material forces (connected with the seven types of energy in their lowest and most material expressions) and their manifestations—war, fear and cruelty. They are united by one point [258] of view and by one goal, and hence their success. (It is interesting that, again in their case, there appears inevitably an initiatory seven—the base and dark parallel of the initiating Seven who lead human beings into light and who are symbolised in the seven Masons who constitute a Lodge of Masons.) They are the custodians of forces which control them and over which they themselves have no slightest control. You ask who these seven are: Hitler, von Ribbentrop, Goebbels, Goering, Hess, Himmler and Streicher—names well-known to you all. These men embody and personify the forces of aggression and rule by fear not only the enslaved nations but also their few allies who are not by any means in the same category of power—fortunately for them. |
Chính sức mạnh và sự nắm giữ của những điều vật chất cùng sự kiện tập trung không phân chia trên cõi hồng trần đã đem lại cho các mãnh lực xâm lược quá nhiều thành công cho đến thời điểm hiện tại. Các mãnh lực này, qua chính sức mạnh của chúng, đã dung hợp và hòa trộn với nhau thành một nhóm bảy người, những kẻ hiện thân nơi chính mình các phương diện lớn và đặc thù của các mãnh lực vật chất (liên hệ với bảy loại năng lượng trong những biểu lộ thấp nhất và vật chất nhất của chúng) cùng các biểu hiện của chúng—chiến tranh, sợ hãi và tàn ác. Họ được hợp nhất bởi một điểm [258] quan điểm và một mục tiêu, và do đó có được thành công. (Thật thú vị là, một lần nữa trong trường hợp của họ, tất yếu cũng xuất hiện một bộ bảy điểm đạo—sự song hành thấp hèn và đen tối của Bảy Đấng điểm đạo dẫn dắt con người vào ánh sáng và được biểu tượng hóa trong bảy người Thợ Nề cấu thành một Hội quán Thợ Nề.) Họ là những kẻ gìn giữ các mãnh lực đang kiểm soát họ và chính họ không có chút kiểm soát nào đối với các mãnh lực ấy. Bạn hỏi bảy người này là ai: Hitler, von Ribbentrop, Goebbels, Goering, Hess, Himmler và Streicher—những cái tên tất cả các bạn đều biết rõ. Những người này hiện thân và nhân cách hóa các mãnh lực xâm lược và cai trị bằng sợ hãi không chỉ các quốc gia bị nô dịch mà cả một vài đồng minh của họ, những kẻ hoàn toàn không thuộc cùng một cấp độ quyền lực—may mắn thay cho họ. |
|
When those who are on the side of the Forces of Light and of non-aggression can see their goal with equal clarity and are equally and uniformly united with the objective of ending oppression and slavery and of freeing humanity, then we shall see also an embodiment of spiritual force which will bring disaster to these potent seven. Such a unification of objective and of purpose is possible and needed; and when it does take place, the force generated and the power let loose upon the physical plane will be of so stupendous a nature that human liberation will rapidly be brought about. |
Khi những ai đứng về phía Các Mãnh Lực Ánh Sáng và bất xâm lược có thể nhìn thấy mục tiêu của mình với sự rõ ràng tương đương và cũng được hợp nhất đồng đều với mục tiêu chấm dứt áp bức và nô lệ, giải phóng nhân loại, thì chúng ta cũng sẽ thấy một sự hiện thân của mãnh lực tinh thần sẽ đem tai họa đến cho bảy kẻ đầy quyền lực này. Một sự hợp nhất như thế về mục tiêu và chủ đích là điều có thể và cần thiết; và khi nó thực sự diễn ra, mãnh lực được tạo ra và quyền năng được giải phóng trên cõi hồng trần sẽ có tính chất vĩ đại đến mức sự giải phóng con người sẽ nhanh chóng được thực hiện. |
|
It is for this that I have worked and for this I have sought to arouse all of you. This spirit is growing among the allied forces, though the falling away of France was inevitable. France was animated by somewhat selfish purposes—the security and safety of France more than with the integrity and happiness of humanity, and this led to an inevitable collapse; France is learning, however, and its unshakable masses and its spiritual nucleus will save the day for the broken nation. The neutral powers are still selfish (though they seek by philanthropy to veil it), but they are rapidly awakening to the true issues, and when there is real synthesis of goal and of purpose and a true unification of vision upon the mental plane, of fixed and unalterable desire upon the emotional plane, and a dedication to practical effort [259] upon the physical plane, then there will be hope that the embodiment of “the desire of all nations” will appear. |
Chính vì điều này mà tôi đã làm việc, và vì điều này mà tôi đã tìm cách đánh thức tất cả các bạn. Tinh thần này đang tăng trưởng giữa các lực lượng đồng minh, mặc dù sự sụp đổ của Pháp là điều không thể tránh khỏi. Pháp được thúc đẩy bởi những mục đích phần nào ích kỷ—an ninh và an toàn của nước Pháp hơn là sự toàn vẹn và hạnh phúc của nhân loại, và điều này dẫn đến một sự sụp đổ tất yếu; tuy nhiên, Pháp đang học hỏi, và quần chúng bất khuất cùng hạt nhân tinh thần của nước này sẽ cứu vãn tình thế cho quốc gia tan vỡ ấy. Các cường quốc trung lập vẫn còn ích kỷ (dù họ tìm cách che đậy điều đó bằng lòng từ thiện), nhưng họ đang nhanh chóng thức tỉnh trước các vấn đề chân thực, và khi có sự tổng hợp thực sự về mục tiêu và chủ đích, cùng một sự hợp nhất chân chính của linh ảnh trên cõi trí, của khát vọng kiên định và bất biến trên cõi cảm dục, và của sự hiến dâng cho nỗ lực thực tiễn [259] trên cõi hồng trần, thì khi ấy sẽ có hy vọng rằng sự hiện thân của “điều muôn dân mong đợi” sẽ xuất hiện. |
|
That embodiment is one mode in which divine intervention can take place. The Prince of Peace will lead His people—through war—to peace. Those who think only in terms of peace as they understand it and desire it are apt to forget the Biblical implication that the Prince of Peace takes a definite part in the battle of Armageddon (now in full progress). After achieving victory, He will then lead His triumphant cohorts through the gates into “Jerusalem,” the city of peace. The symbolic and practical significance of this is becoming increasingly apparent. This notable event can and will take place when the free will of the people, blended by invocation and prayer, can make this possible. |
Sự hiện thân ấy là một phương thức mà qua đó sự can thiệp thiêng liêng có thể diễn ra. Hoàng Tử Hòa Bình sẽ dẫn dắt dân của Ngài—qua chiến tranh—đến hòa bình. Những ai chỉ suy nghĩ theo các thuật ngữ của hòa bình như họ hiểu và mong muốn nó thường dễ quên hàm ý Kinh Thánh rằng Hoàng Tử Hòa Bình giữ một vai trò xác định trong trận chiến Armageddon (nay đang diễn ra trọn vẹn). Sau khi đạt được chiến thắng, Ngài sẽ dẫn các đoàn quân chiến thắng của mình qua các cổng vào “Jerusalem,” thành phố hòa bình. Ý nghĩa biểu tượng và thực tiễn của điều này đang ngày càng trở nên hiển nhiên. Biến cố đáng chú ý này có thể và sẽ diễn ra khi ý chí tự do của con người, được hòa trộn bởi khẩn cầu và cầu nguyện, có thể làm cho điều đó trở nên khả hữu. |
|
Divine intervention could also take the form of a cataclysmic happening which would bring aggression to an end through destruction. It would probably be at such a cost of human life that there is definite hesitation over employing it by the custodians of natural law and the workers who understand divine purpose, apart from the fact that humanity has now reached the point in evolution where the expression of human free will is definitely possible. The use of cataclysm was the method employed in Atlantean days, as you well know from the tales of the flood; and through the flood there was almost complete destruction of the civilisation of that time. It is hoped that such a drastic step will not be needed today, though there are ancient prophecies which foretell the possibility of the destruction of this world at this time through fire—instead of flood. Which of the two methods—divine embodiment and natural cataclysm—will be employed will really be decided by humanity through its use or non-use of free will and understanding. If humanity fails to unite under the banner of the Forces of Light against the forces of material aggression and selfishness, then the “fiery ordeal” might be unavoidable. |
Sự can thiệp thiêng liêng cũng có thể mang hình thức của một biến cố đại hồng biến, chấm dứt xâm lược bằng hủy diệt. Có lẽ cái giá về sinh mạng con người sẽ lớn đến mức những vị gìn giữ định luật tự nhiên và những người hoạt động hiểu Thiên Ý tỏ ra do dự rõ rệt trong việc sử dụng nó, ngoài sự kiện là nhân loại nay đã đạt đến điểm tiến hoá mà tại đó sự biểu lộ của ý chí tự do con người rõ ràng là có thể. Việc dùng đại hồng biến là phương pháp đã được sử dụng trong thời Atlantis, như các bạn đều biết rõ qua những câu chuyện về trận đại hồng thủy; và qua trận lụt ấy, nền văn minh thời đó gần như bị hủy diệt hoàn toàn. Người ta hy vọng rằng ngày nay sẽ không cần đến một bước đi quyết liệt như vậy, dù có những lời tiên tri cổ xưa báo trước khả năng thế giới này bị hủy diệt vào lúc này bằng lửa—thay vì bằng lụt. Phương pháp nào trong hai phương pháp—hiện thân thiêng liêng hay đại hồng biến tự nhiên—sẽ được sử dụng, thực sự sẽ do nhân loại quyết định qua việc sử dụng hay không sử dụng ý chí tự do và sự thấu hiểu của mình. Nếu nhân loại không thể hợp nhất dưới ngọn cờ của Các Mãnh Lực Ánh Sáng để chống lại các mãnh lực xâm lược vật chất và ích kỷ, thì “thử thách bằng lửa” có thể là điều không thể tránh khỏi. |
|
There are also sleeping hosts which may be evoked for the aiding of the spiritual forces, and certain ancient prophecies hint at these, but as we study the new Invocation phrase [260] by phrase, I may be able to make this matter clearer, for there are several significances and meanings behind each phrase. The one thing I seek to make clear in these opening remarks is that natural law, free will, and karma are becoming increasingly related and are all aspects of one great law, embodying divine purpose—a purpose which must work out through the medium of humanity itself if the present opportunity is to be met correctly and in line with divine purpose. |
Cũng có những đạo quân đang ngủ yên có thể được gợi lên để trợ giúp các mãnh lực tinh thần, và một số lời tiên tri cổ xưa có ám chỉ đến họ, nhưng khi chúng ta nghiên cứu Đại Khấn Nguyện mới từng [260] cụm từ một, tôi có thể làm sáng tỏ vấn đề này hơn, vì đằng sau mỗi cụm từ có nhiều thâm nghĩa và ý nghĩa. Điều duy nhất tôi tìm cách làm rõ trong những nhận xét mở đầu này là định luật tự nhiên, ý chí tự do và nghiệp quả đang ngày càng liên hệ với nhau và đều là các phương diện của một định luật lớn, hiện thân cho Thiên Ý—một mục đích phải được triển khai qua trung gian của chính nhân loại nếu cơ hội hiện tại được đáp ứng đúng đắn và phù hợp với Thiên Ý. |
|
The stimulation of certain people to phenomenal action, and the instigation of others to emerge as dynamic and inspired leaders, is also another way in which divine intervention might find expression. Oft, down the ages, men have been overshadowed by divinity and inspired by God to accept positive leadership, and so make divine purpose a fact in conditioning world affairs. Had they not so responded to the influencing impression, and had they not accepted the responsibility imposed upon them, the course of world affairs and world events might have been very different. I refer not here specifically to spiritual leaders but also to leaders in other departments of human living—to such expressions of the divine will as Moses, the Lawgiver, Akbar, the warrior and student, Leonardo da Vinci, the inspired artist, and to other great and outstanding figures who have determined the basic trends of human civilisation; I refer also to the constructive forces which have guided mankind into the increasing light of knowledge and understanding. All these leaders have produced lasting effects upon the human consciousness and their work has lain therefore in the domain of the second aspect of divinity. Their activities parallel those of the workers who are, or have been, inspired by the material or matter aspect of manifestation, whose influence has been predominantly upon the physical plane, and whose effect has been outstandingly along selfish personal lines. This type of influence is felt predominantly upon the physical plane, and therefore, from certain angles, the present conflict might be regarded as one between the second aspect, the developed spiritual consciousness, and the material aspect of [261] manifestation, with humanity constituting the great field of divine conflict at this time. |
Sự kích thích một số người đi đến hành động phi thường, và sự thôi thúc những người khác xuất hiện như những nhà lãnh đạo năng động và đầy cảm hứng, cũng là một cách khác mà qua đó sự can thiệp thiêng liêng có thể tìm được sự biểu lộ. Thường xuyên, qua các thời đại, con người đã được thiên tính phủ bóng và được Thượng đế truyền cảm hứng để chấp nhận vai trò lãnh đạo tích cực, và như thế biến mục đích thiêng liêng thành một sự kiện trong việc tác động lên các công việc thế giới. Nếu họ đã không đáp ứng với ấn tượng gây ảnh hưởng ấy, và nếu họ đã không chấp nhận trách nhiệm được đặt lên mình, thì tiến trình của các công việc và biến cố thế giới hẳn đã rất khác. Ở đây tôi không chỉ riêng các nhà lãnh đạo tinh thần mà còn cả các nhà lãnh đạo trong những lĩnh vực khác của đời sống con người—những biểu lộ như thế của ý chí thiêng liêng như Moses, nhà lập pháp, Akbar, chiến binh và học giả, Leonardo da Vinci, nghệ sĩ được truyền cảm hứng, và những nhân vật lớn lao, nổi bật khác đã quyết định các xu hướng căn bản của nền văn minh nhân loại; tôi cũng nói đến các mãnh lực xây dựng đã hướng dẫn nhân loại đi vào ánh sáng ngày càng tăng của tri thức và thấu hiểu. Tất cả các nhà lãnh đạo này đã tạo ra những hiệu quả lâu dài trên tâm thức con người và do đó công việc của họ nằm trong lĩnh vực của phương diện thứ hai của thiên tính. Các hoạt động của họ song hành với các hoạt động của những người hoạt động đã hoặc đang được truyền cảm hứng bởi phương diện vật chất hay vật chất của biểu hiện, những người mà ảnh hưởng chủ yếu ở trên cõi hồng trần, và hiệu quả của họ nổi bật theo những đường lối ích kỷ cá nhân. Loại ảnh hưởng này được cảm nhận chủ yếu trên cõi hồng trần, và vì thế, từ một số góc độ, cuộc xung đột hiện nay có thể được xem như một cuộc xung đột giữa phương diện thứ hai, tức tâm thức tinh thần đã phát triển, và phương diện vật chất của [261] biểu hiện, với nhân loại cấu thành chiến trường lớn của cuộc xung đột thiêng liêng vào lúc này. |
|
We have, therefore, hinted at the following forms of divine intervention: |
Vì vậy, chúng ta đã gợi ý đến các hình thức can thiệp thiêng liêng sau đây: |
|
1. Divine embodiments |
1. Các hiện thân thiêng liêng |
|
2. Natural cataclysms |
2. Các đại hồng biến tự nhiên |
|
3. Evocation of slumbering Entities |
3. Sự gợi lên các Thực Thể đang ngủ yên |
|
4. Emergence of inspired leadership. |
4. Sự xuất hiện của lãnh đạo được truyền cảm hứng. |
|
There still remains one mode of intervention which is still more mysterious, illimitably more powerful, and definitely more difficult both to evoke and subsequently to contact. This is the emergence, response, or appearing of great Sons of God Who dwell in sources far removed from our planetary life altogether; this involves the appearance of Lives of such stupendous and divine expression and potency that only the massed spiritual purpose of vast numbers of men can be potent enough and far-reaching enough to pierce beyond the veil which protects the Earth, to those far distant realms where They have Their natural and everlasting abode. They cannot be reached by prayer or even by well formulated desire—the expression of the wish life of the masses. They lie utterly beyond the realm of feeling (as humanity understands it) and dwell ever in that high place which can only be reached by intentionally directed, selfless thought. |
Vẫn còn một phương thức can thiệp nữa còn huyền nhiệm hơn, mạnh mẽ hơn vô hạn, và rõ ràng khó gợi lên cũng như khó tiếp xúc về sau hơn. Đó là sự xuất hiện, đáp ứng hay hiển lộ của các Con của Thượng đế vĩ đại, những Đấng cư ngụ trong những cội nguồn hoàn toàn xa rời sự sống hành tinh của chúng ta; điều này bao hàm sự xuất hiện của những Sự Sống có biểu lộ và quyền năng vĩ đại, thiêng liêng đến mức chỉ có mục đích tinh thần được tập hợp của vô số người mới có thể đủ mạnh và đủ vươn xa để xuyên qua bức màn bảo vệ Trái Đất, đến những cõi giới xa xăm nơi Các Ngài có nơi cư ngụ tự nhiên và vĩnh cửu của mình. Các Ngài không thể được tiếp cận bằng cầu nguyện hay thậm chí bằng khát vọng được hình thành tốt—sự biểu lộ của đời sống ước muốn của quần chúng. Các Ngài hoàn toàn vượt ngoài lĩnh vực cảm xúc (theo cách nhân loại hiểu) và luôn cư ngụ ở chốn cao siêu chỉ có thể đạt tới bằng tư tưởng vô ngã được định hướng có chủ ý. |
|
Are there enough people in the world today whose focussed and illumined thought can be organised and directed towards these Lives in such a manner that They can be attracted and led to respond to human need for deliverance? Such is the problem. It is possible, but not, perhaps, probable. The problem of a blended demand from the spiritual Hierarchy and from humanity—simultaneously expressed—will have to be met, and this is by no means easy of accomplishment. |
Ngày nay trên thế giới có đủ người mà tư tưởng tập trung và được soi sáng của họ có thể được tổ chức và hướng về các Sự Sống này theo cách khiến Các Ngài bị thu hút và được dẫn đến đáp ứng nhu cầu giải thoát của nhân loại chăng? Đó là vấn đề. Điều đó là có thể, nhưng có lẽ không phải là điều có khả năng xảy ra. Vấn đề về một lời kêu gọi hòa trộn từ Thánh Đoàn tinh thần và từ nhân loại—được biểu lộ đồng thời—sẽ phải được đáp ứng, và điều này hoàn toàn không dễ thực hiện. |
|
It is for this reason that these three stanzas from a very ancient invocation have been made available and put in your hands at this time. If you can use these phrases as voiced demands and affirmed beliefs—in unison with the [262] highest spiritual forces which claim your allegiance, no matter under what name—then there is just a chance that this type of divine activity might be set in motion along a particular line, and this might lead to changes of so auspicious a nature that a new heaven and a new earth might be rapidly precipitated. There is at least no harm in this attempt and this effort at participation in hierarchical endeavour. Planned collaboration with the work of the Christ at this time is useful and needed; it will serve at least to elevate humanity and its thought, and produce a permanent spiritual stabilisation. Great potencies and the expression of ancient evil from the past are rampant upon earth at this time, released through unusual human selfishness, cruelty and error, and focussed through the medium of one unhappy race and the power of certain dangerous men—men who are easily subject to evil impression and influenced, obsessed, by selfishness and evil—by forces of destruction. Is it possible to evoke at this time eternal good, latent in Lives which would normally contact humanity in some far distant future, and thus hasten the day of heightened and deepened spiritual contact in the immediate present? Such is the question. If this can be done, the evil past and the glorious future may perhaps be brought into contact in the unhappy present, and an event take place which will produce stupendous changes. |
Chính vì lý do này mà ba bài kệ từ một lời khẩn cầu rất cổ xưa đã được trao ra và đặt vào tay các bạn vào lúc này. Nếu các bạn có thể dùng những cụm từ này như những đòi hỏi được cất tiếng và những niềm tin được khẳng định—hòa cùng với các [262] mãnh lực tinh thần cao nhất đòi hỏi sự trung thành của các bạn, bất kể dưới danh xưng nào—thì vẫn có một cơ may rằng loại hoạt động thiêng liêng này có thể được khởi động theo một đường hướng đặc biệt, và điều này có thể dẫn đến những thay đổi tốt lành đến mức một trời mới và một đất mới có thể nhanh chóng được ngưng tụ. Ít nhất cũng không có hại gì trong nỗ lực này và trong cố gắng tham dự vào công cuộc của Thánh đoàn. Sự cộng tác có kế hoạch với công việc của Đức Christ vào lúc này là hữu ích và cần thiết; ít nhất nó sẽ giúp nâng cao nhân loại và tư tưởng của nhân loại, và tạo ra một sự ổn định tinh thần lâu dài. Những quyền năng lớn lao và sự biểu lộ của cái ác cổ xưa từ quá khứ đang hoành hành trên Trái Đất vào lúc này, được giải phóng qua tính ích kỷ, tàn ác và sai lầm bất thường của con người, và được tập trung qua trung gian của một chủng tộc bất hạnh cùng quyền lực của một số người nguy hiểm—những kẻ dễ dàng chịu ảnh hưởng của ấn tượng xấu xa và bị tính ích kỷ cùng điều ác—bởi các mãnh lực hủy diệt—chi phối, ám nhập. Có thể nào vào lúc này gợi lên điều thiện vĩnh cửu, tiềm ẩn trong những Sự Sống mà bình thường chỉ tiếp xúc với nhân loại trong một tương lai rất xa, và như thế thúc đẩy ngày tiếp xúc tinh thần được nâng cao và đào sâu ngay trong hiện tại gần kề? Đó là câu hỏi. Nếu điều này có thể được thực hiện, thì quá khứ xấu ác và tương lai huy hoàng có lẽ có thể được đưa vào tiếp xúc trong hiện tại bất hạnh, và một biến cố có thể xảy ra sẽ tạo nên những thay đổi vĩ đại. |
|
I would remind you here that the evocation of this divine contact will be, in itself, dangerous, disrupting and destroying. The results are unpredictable for the human being, for men are as yet unaccustomed to respond to Lives and Influences of so high and divine a nature. There is nevertheless a possibility that it might now be more safely permitted if enough people can stand together spiritually and selflessly, and so offer themselves as channels for these new and unknown spiritual Forces. There are divine attributes, divine qualities and divine potencies which the most enlightened humanity of all time have as yet failed even to register, sense or vision—all three aspects escaping contact with these potencies. Yet these powers exist, and the right [263] handling of the present crisis by spiritually oriented humanity may bring about the release of some of these higher energies and the establishing of a line of factual influence along which They can move and consequently contact the Earth. Ponder on this and limit not Deity through the rigidity and finiteness of little minds. |
Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng việc gợi lên sự tiếp xúc thiêng liêng này tự nó sẽ là điều nguy hiểm, gây xáo trộn và hủy diệt. Kết quả là không thể tiên đoán đối với con người, vì con người vẫn chưa quen đáp ứng với những Sự Sống và Ảnh Hưởng có bản chất cao siêu và thiêng liêng đến thế. Tuy nhiên, vẫn có một khả năng là điều đó nay có thể được cho phép một cách an toàn hơn nếu có đủ người có thể đứng cùng nhau về mặt tinh thần và vô ngã, và như thế hiến mình làm các kênh dẫn cho những Mãnh Lực tinh thần mới mẻ và chưa biết này. Có những thuộc tính thiêng liêng, những phẩm tính thiêng liêng và những quyền năng thiêng liêng mà nhân loại giác ngộ nhất của mọi thời đại cho đến nay vẫn chưa thể ghi nhận, cảm nhận hay linh thị—cả ba phương diện đều chưa tiếp xúc được với các quyền năng ấy. Tuy nhiên, những quyền năng này vẫn tồn tại, và việc [263] xử lý đúng đắn cuộc khủng hoảng hiện nay bởi nhân loại có định hướng tinh thần có thể đem lại sự giải phóng một số năng lượng cao hơn này và thiết lập một đường ảnh hưởng thực sự mà theo đó Các Ngài có thể vận hành và do đó tiếp xúc với Trái Đất. Hãy suy ngẫm về điều này và đừng giới hạn Thượng đế bằng sự cứng nhắc và hữu hạn của những trí óc nhỏ bé. |
|
The release of great impersonal forces is ever a critical matter. The effects produced are dependent upon the quality of the recipient aspects and the nature of the form quality upon which they make their impact. In the world of chemistry, a catalyst, brought into contact with certain substances, will produce something entirely new and bring about changes not normally anticipated. These we are now beginning to study and to understand. The intervention into the situation of certain potencies of stupendous gravity and uniqueness, and their effect upon the interacting Forces of Light and forces of aggression, is still more unpredictable, and only the grasp of the spiritually minded people of the world and their steadfastness in sacrifice—plus their clarity of vision and their united world focus—can make the situation safe for humanity as a whole. Bear these thoughts in mind as you use the great and new Invocation. |
Sự giải phóng các mãnh lực vô ngã lớn lao luôn là một vấn đề hệ trọng. Các hiệu quả được tạo ra tùy thuộc vào phẩm tính của các phương diện tiếp nhận và bản chất của phẩm tính hình tướng mà trên đó chúng tạo tác động. Trong thế giới hóa học, một chất xúc tác, khi được đưa vào tiếp xúc với một số chất liệu nhất định, sẽ tạo ra một điều gì đó hoàn toàn mới và đem lại những thay đổi thường không được dự liệu. Hiện nay chúng ta đang bắt đầu nghiên cứu và thấu hiểu những điều này. Sự can thiệp vào tình hình của một số quyền năng có tính chất nghiêm trọng và độc đáo phi thường, cùng ảnh hưởng của chúng lên sự tương tác giữa Các Mãnh Lực Ánh Sáng và các mãnh lực xâm lược, còn khó lường hơn nữa, và chỉ có sự nắm bắt của những người có tâm trí tinh thần trên thế giới cùng sự kiên định của họ trong hy sinh—cộng với sự rõ ràng của tầm nhìn và sự tập trung thế giới hợp nhất của họ—mới có thể làm cho tình hình trở nên an toàn cho toàn thể nhân loại. Hãy ghi nhớ những tư tưởng này khi các bạn sử dụng Đại Khấn Nguyện mới mẻ và vĩ đại. |
|
One other thought I would like to touch upon prior to an analysis of the phrases of the Invocation. |
Còn một tư tưởng nữa tôi muốn đề cập đến trước khi phân tích các cụm từ của Đại Khấn Nguyện. |
|
It is a recognized truth today that all expression upon the physical plane is the result, first of all, of thought, then of desire, and finally of physical plane activity. A man sees a vision and a possibility. He broods over it and it enters then into the realm of mental invention. A thoughtform is then organised, whether it is the thoughtform of a sewing machine, of a political party, of an economic idea, or some other type of organisation with some planned objective. Much reflection and brooding will eventually produce a magnetic field which will become so potent that desire will enter in; then the dream or vision enters into a new stage of vitalisation. In due time, when the processes of desire have adequately developed, the vision will precipitate upon the physical plane. Physical activity and concrete methods [264] of manifestation are then coordinated and gradually the thoughtform becomes an expressed reality, recognisable by all men. |
Ngày nay, đó là một chân lý được công nhận rằng mọi biểu lộ trên cõi hồng trần trước hết đều là kết quả của tư tưởng, rồi đến khát vọng, và cuối cùng là hoạt động trên cõi hồng trần. Một người thấy một linh ảnh và một khả năng. Y suy tư về nó và rồi nó đi vào lĩnh vực phát minh trí tuệ. Khi đó một hình tư tưởng được tổ chức, dù đó là hình tư tưởng của một máy may, của một đảng chính trị, của một ý tưởng kinh tế, hay của một loại tổ chức nào khác với một mục tiêu đã được hoạch định. Nhiều suy tư và nghiền ngẫm cuối cùng sẽ tạo ra một trường từ tính trở nên mạnh đến mức khát vọng sẽ đi vào; khi đó giấc mơ hay linh ảnh bước vào một giai đoạn tiếp sinh lực mới. Đến đúng lúc, khi các tiến trình của khát vọng đã phát triển đầy đủ, linh ảnh sẽ ngưng tụ trên cõi hồng trần. Khi ấy hoạt động hồng trần và các phương pháp biểu hiện cụ thể [264] được phối hợp, và dần dần hình tư tưởng trở thành một thực tại được biểu lộ, có thể được mọi người nhận biết. |
|
Thought, desire, activity—such is the history of human vision and dream. Down the ages, from the very night of time, man has dreamed, expectant of divine revelation and of divine intervention. When all else seems to fail, men look to God. Again and again in the history of the race, the vision has taken form and the dream has materialised upon the wings of powerful desire and demand. Again and again, God has revealed and sent His Messengers and Representatives to aid and guide humanity. But this happens only when the demand is adequately voiced and the need has cried to high heaven. Never yet has the response failed. Again and again lately, the nations of the world have been called to prayer, and this proclaimed appeal of millions cannot be disregarded or remain negligible. An answer must be forthcoming, though it may not take the same form as of old, because man is today—in spite of appearances—more capable of handling his own affairs and determining consciously his own events. No matter how unrealised, back of all these demands and prayers in the many Christian countries, lies a subtle, deep-seated conviction that the return of Christ is imminent; there is widespread acceptance of the concept that the Presence of the Son of God can be evoked and that He must come to the assistance of His people. No matter what the dogmatic interpretation or the theological idealism, some form of this belief lies behind the cry of the millions. |
Tư tưởng, khát vọng, hoạt động—đó là lịch sử của linh ảnh và giấc mơ của con người. Qua các thời đại, từ chính đêm tối của thời gian, con người đã mơ ước, mong chờ sự mặc khải thiêng liêng và sự can thiệp thiêng liêng. Khi mọi thứ khác dường như thất bại, con người hướng về Thượng đế. Hết lần này đến lần khác trong lịch sử nhân loại, linh ảnh đã thành hình và giấc mơ đã hiện hình trên đôi cánh của khát vọng và lời đòi hỏi mạnh mẽ. Hết lần này đến lần khác, Thượng đế đã mặc khải và gửi đến các Sứ giả cùng Đại diện của Ngài để trợ giúp và hướng dẫn nhân loại. Nhưng điều này chỉ xảy ra khi lời đòi hỏi được cất lên đầy đủ và nhu cầu đã kêu thấu trời cao. Chưa bao giờ sự đáp ứng lại thất bại. Gần đây, hết lần này đến lần khác, các quốc gia trên thế giới đã được kêu gọi cầu nguyện, và lời kêu gọi được công bố của hàng triệu người này không thể bị xem nhẹ hay bị bỏ qua. Một câu trả lời ắt phải đến, dù có thể nó không mang cùng hình thức như xưa, bởi vì ngày nay con người—bất chấp vẻ bề ngoài—có khả năng hơn trong việc xử lý các công việc của chính mình và quyết định một cách hữu thức các biến cố của mình. Dù chưa được nhận ra đến đâu, đằng sau tất cả những lời cầu xin và cầu nguyện này trong nhiều quốc gia Cơ Đốc giáo vẫn có một niềm xác tín tinh tế, ăn sâu rằng sự trở lại của Đức Christ đang cận kề; có một sự chấp nhận rộng khắp đối với quan niệm rằng Sự Hiện Diện của Con của Thượng đế có thể được gợi lên và rằng Ngài phải đến trợ giúp dân của Ngài. Dù cách diễn giải giáo điều hay chủ nghĩa lý tưởng thần học có là gì đi nữa, một hình thức nào đó của niềm tin này vẫn nằm sau tiếng kêu của hàng triệu người. |
|
Will this demand from the hearts of men induce the return of the Christ of Galilee? Will it bring about the emergence into manifestation of some great Son of God Who will embody perhaps another and unknown aspect of God’s life and quality? Will it perhaps produce the embodiment of another divine revelation, and—just as the Buddha expressed the Wisdom of God and Christ revealed to us the Love of God—is it not possible that He Who may come will unfold to us the nature of the Will or Purpose of God, thus presenting that will-to-good which must be called into [265] activity if the evil will-to-power is to be swept from the Earth. I present this possibility to your attention and would ask you to think about it. Thus, if this should prove the correct result of all invocation and prayer, we shall have the balancing of the personality will, of material selfishness and acquisitiveness, and the selfless will which seeks to aid the whole of humanity. The will of the lower self and the will of the Self or Soul will be brought into conflict with each other, with humanity throwing the weight of its influence upon one side or the other. |
Liệu lời kêu gọi này từ trái tim con người có dẫn đến sự trở lại của Đức Christ xứ Galilee không? Liệu nó có đem lại sự xuất hiện vào biểu hiện của một Con của Thượng đế vĩ đại nào đó, Đấng có lẽ sẽ hiện thân cho một phương diện khác, chưa biết, của sự sống và phẩm tính của Thượng đế không? Liệu có thể nó sẽ tạo ra sự hiện thân của một mặc khải thiêng liêng khác, và—cũng như Đức Phật đã biểu lộ Minh triết của Thượng đế và Đức Christ đã mặc khải cho chúng ta Tình thương của Thượng đế—chẳng phải có thể rằng Đấng có thể đến sẽ khai mở cho chúng ta bản chất của Ý Chí hay Mục Đích của Thượng đế, nhờ đó trình bày ý chí-hướng thiện phải được đưa vào [265] hoạt động nếu ý chí-hướng quyền lực xấu ác bị quét khỏi Trái Đất. Tôi trình bày khả năng này để các bạn lưu tâm và xin các bạn suy nghĩ về nó. Như vậy, nếu đây chứng tỏ là kết quả đúng đắn của mọi khẩn cầu và cầu nguyện, chúng ta sẽ có sự quân bình giữa ý chí của phàm ngã, của tính ích kỷ vật chất và lòng tham chiếm hữu, với ý chí vô ngã tìm cách trợ giúp toàn thể nhân loại. Ý chí của phàm ngã và ý chí của Bản Ngã Cao Siêu hay linh hồn sẽ được đưa vào xung đột với nhau, với nhân loại dồn sức nặng ảnh hưởng của mình về phía này hay phía kia. |
|
When I speak of throwing the weight of human influence upon one side or another, I refer not alone to thought power and to what so many euphemistically call “work on mental levels.” I refer to the conscious activity of the whole man, working mentally, emotionally and most emphatically physically also. Only those, therefore, who are integrated personalities can work in this manner, and herein lies a difficulty. Those people today who work only mentally or who sit and send thoughts of love broadcast into the world, and who bask thus in the beauty of their own idealism (making frequently no adequate balancing physical effort to bring this present evil situation to an end through right choice, sacrifice and strenuous service), are in reality of no service at all to any except themselves. There are those who send thoughts of love to the group of evil men who are responsible for world disaster, believing thereby to influence them for good. I would remind them that love is essentially an impersonal potency or energy, dependent for its effect upon the type of form which it contacts and upon which it makes an impact. Pouring, therefore, upon the selfish materialistic nature, it will only enhance desire and promote increased acquisitive aggression, and thus foster the lower nature and distort the true expression of love, leading to increased evil activity. Pouring upon the selfless, the pure and the disinterested, it will foster reality and true love. These are points which should be remembered at this time by the well-intentioned but occultly ignorant server. |
Khi tôi nói đến việc dồn sức nặng ảnh hưởng của con người về phía này hay phía kia, tôi không chỉ nói đến quyền năng tư tưởng và điều mà quá nhiều người uyển ngữ gọi là “công việc trên các cấp độ trí tuệ.” Tôi nói đến hoạt động hữu thức của toàn thể con người, hoạt động về mặt trí tuệ, cảm xúc và nhất là cả về mặt hồng trần nữa. Vì vậy, chỉ những ai là các Phàm ngã tích hợp mới có thể hoạt động theo cách này, và chính trong đó có một khó khăn. Những người ngày nay chỉ hoạt động về mặt trí tuệ hoặc ngồi gửi những tư tưởng tình thương phát tán vào thế giới, và nhờ thế đắm mình trong vẻ đẹp của chính chủ nghĩa lý tưởng của mình (thường không có nỗ lực hồng trần cân bằng thích đáng nào để chấm dứt tình trạng ác hiện nay qua sự lựa chọn đúng đắn, hy sinh và phụng sự mãnh liệt), thì thực ra hoàn toàn không phụng sự ai ngoài chính họ. Có những người gửi những tư tưởng tình thương đến nhóm người ác chịu trách nhiệm về thảm họa thế giới, tin rằng nhờ đó sẽ ảnh hưởng họ theo hướng thiện. Tôi muốn nhắc họ rằng tình thương về bản chất là một quyền năng hay năng lượng vô ngã, hiệu quả của nó tùy thuộc vào loại hình tướng mà nó tiếp xúc và tạo tác động lên. Vì vậy, khi tuôn đổ lên bản chất ích kỷ vật chất, nó sẽ chỉ làm tăng cường khát vọng và thúc đẩy sự xâm lược chiếm hữu gia tăng, và như thế nuôi dưỡng bản chất thấp và bóp méo sự biểu lộ chân chính của tình thương, dẫn đến hoạt động ác gia tăng. Khi tuôn đổ lên người vô ngã, thanh khiết và vô tư lợi, nó sẽ nuôi dưỡng thực tại và tình thương chân thật. Đây là những điểm mà người phụng sự thiện chí nhưng thiếu hiểu biết huyền bí học nên ghi nhớ vào lúc này. |
|
[266] Let us now proceed to the analysis of the three stanzas or verses. The first of these refers to the waiting attentive group of spiritual Lives who seek to aid when right demand coincides with right time. The second stanza refers to humanity and its reactions, and to the possibility of interplay between the two groups—of spiritual Lives and men. The third indicates methods and results. We will take each phrase or expressed idea separately, for each carries its own import and all of them possess several significances. With all the meanings I cannot deal, but will present the simplest and the most important. |
[266] Giờ đây chúng ta hãy tiến hành phân tích ba bài kệ hay ba đoạn thơ. Bài thứ nhất nói đến nhóm các Sự Sống tinh thần đang chờ đợi và chú tâm, những Đấng tìm cách trợ giúp khi lời kêu gọi đúng đắn trùng hợp với thời điểm đúng đắn. Bài thứ hai nói đến nhân loại và các phản ứng của nhân loại, cùng khả năng tương tác giữa hai nhóm—các Sự Sống tinh thần và con người. Bài thứ ba chỉ ra các phương pháp và kết quả. Chúng ta sẽ xét từng cụm từ hay từng ý tưởng được biểu lộ riêng biệt, vì mỗi cụm từ mang ý nghĩa riêng của nó và tất cả đều có nhiều tầng ý nghĩa. Tôi không thể bàn đến mọi ý nghĩa, nhưng sẽ trình bày những ý nghĩa đơn giản nhất và quan trọng nhất. |
|
Let the Lords of Liberation issue forth. Let Them bring succour to the sons of men. |
Hãy để các Đấng Giải Thoát xuất hiện. Hãy để Các Ngài mang sự cứu trợ đến cho những người con của nhân loại. |
|
Who are the Lords of Liberation, and from whence do They come? All the ideas and concepts which control human life and have given rise to our civilisation have started as emanations from certain great Lives, Who are Themselves an expression of a divine Idea. The note They strike and the quality They emanate reaches out and makes an impact upon the most developed of the sons of men found at any particular time upon the Earth. These then proceed to make the sensed idea their own and to familiarise the thinkers of their time with the formulated concept. In this way great motivating, divine purposes become controlling factors in human progress. It is in this way that the basic urge to liberation and to freedom has slowly and consistently dominated human endeavour, leading first of all to the struggle for individual freedom and liberation (with the incidental ideal of heaven, of initiation and of spiritual attainment), and gradually moulding human thought to such an extent that the greater ideal takes shape. The freedom of humanity and the liberation of its power to be self-determining (which is an aspect of freedom) has become the dearest ideal and the best thought of the thinkers in all nations. In the last analysis, it is this interference with individual and group freedom which is the worst sin of the evil men who seek at this time to enslave the weaker nations and bend them to the rule of Germany, depriving them of [267] their national assets and means of subsistence, and wresting from them—by force and fear—their dearest possessions, liberty of life and conscience. |
Các Đấng Giải Thoát là ai, và Các Ngài đến từ đâu? Mọi ý tưởng và quan niệm kiểm soát đời sống con người và đã làm phát sinh nền văn minh của chúng ta đều khởi đầu như những phát xạ từ một số Sự Sống vĩ đại, chính Các Ngài là biểu lộ của một Ý Tưởng thiêng liêng. Âm điệu mà Các Ngài phát ra và phẩm tính mà Các Ngài phát xạ vươn ra và tạo tác động lên những người con của nhân loại phát triển nhất được tìm thấy vào bất kỳ thời điểm nào trên Trái Đất. Khi đó, những người này tiến tới biến ý tưởng được cảm nhận thành của riêng mình và làm cho các nhà tư tưởng của thời đại họ quen thuộc với quan niệm đã được hình thành. Bằng cách này, những mục đích thiêng liêng lớn lao mang tính thúc đẩy trở thành các yếu tố kiểm soát trong tiến bộ của con người. Chính theo cách này mà xung lực căn bản hướng đến giải thoát và tự do đã chậm rãi nhưng kiên định chi phối nỗ lực của con người, trước hết dẫn đến cuộc đấu tranh cho tự do và giải thoát cá nhân (với lý tưởng phụ là thiên đàng, điểm đạo và thành tựu tinh thần), và dần dần nhào nặn tư tưởng con người đến mức lý tưởng lớn hơn thành hình. Tự do của nhân loại và sự giải phóng quyền năng tự quyết của nhân loại (vốn là một phương diện của tự do) đã trở thành lý tưởng thân yêu nhất và tư tưởng tốt đẹp nhất của các nhà tư tưởng ở mọi quốc gia. Xét đến cùng, chính sự can thiệp vào tự do cá nhân và tập thể này là tội lỗi tệ hại nhất của những kẻ ác đang tìm cách vào lúc này nô dịch các quốc gia yếu hơn và bẻ cong họ dưới sự cai trị của Đức, tước đoạt [267] tài sản quốc gia và phương tiện sinh tồn của họ, và giật lấy khỏi họ—bằng bạo lực và sợ hãi—những sở hữu quý giá nhất của họ, là tự do sống và tự do lương tâm. |
|
All great ideas have their emanating Sources of life, therefore, and These are called in the ancient invocation with which we are occupied “Lords of Liberation.” They are three in number, and one of Them is closer to the Earth and to humanity than are the other two, and it is He Who can be reached by those who comprehend the nature of freedom and who desire beyond all things to be liberated and to see all the oppressed and enslaved people of the world also liberated. |
Vì vậy, mọi ý tưởng lớn đều có những Cội Nguồn sự sống phát xạ của chúng, và các Đấng này được gọi trong lời khẩn cầu cổ xưa mà chúng ta đang bàn đến là “các Đấng Giải Thoát.” Các Ngài có ba vị, và một trong Các Ngài gần Trái Đất và nhân loại hơn hai vị kia, và chính Ngài là Đấng có thể được tiếp cận bởi những ai hiểu bản chất của tự do và trên hết mọi sự đều khát khao được giải thoát và thấy mọi dân tộc bị áp bức, nô dịch trên thế giới cũng được giải thoát. |
|
Every move of an enlightened consciousness (such as that of a Lord of Liberation) towards humanity produces a corresponding shift or move on the part of men. This in itself constitutes a definite problem, because no such move can be made by a Lord of Liberation unless humanity is ready to raise its ideal of freedom to a higher level of expression. Unless this world war has in it the seeds of a revelation of a higher human freedom, and unless humanity is ready to express this higher freedom to the best of its ability, it will not be possible for the Lords of Liberation to take action. They cannot be moved by prayer, demand and invocation alone. Such demand must have behind it the ideal of a newer freedom and a greater liberty for man. In the abrogation of the French idealism, summed up in the words—”Liberty, Equality, Fraternity”—the attention of the whole world was focussed on the theme of liberty, and the symbolism of the event is of far greater import than has yet been grasped. France has not relinquished the ideal of human liberty which she originally brought (on a large scale) to the attention of mankind. Her action, under the influence of the enemies of human freedom, simply focussed the danger with which humanity was confronted, and brought it emphatically to the attention of humanity, numbed by disaster, and bewildered by the accumulated weight of misery. By so doing, the problem was simplified for the untrained mind. It also produced, spiritually speaking, a direct line of [268] communication between men who know the significance of freedom and long for human release, and the Lords of Liberation Who are responsible for implanting this innate desire in humanity. |
Mỗi chuyển động của một tâm thức giác ngộ (như tâm thức của một Đấng Giải Thoát) hướng về nhân loại đều tạo ra một sự chuyển dịch hay chuyển động tương ứng nơi con người. Điều này tự nó cấu thành một vấn đề xác định, bởi vì không một chuyển động nào như thế có thể được thực hiện bởi một Đấng Giải Thoát trừ phi nhân loại sẵn sàng nâng lý tưởng tự do của mình lên một cấp độ biểu lộ cao hơn. Trừ phi cuộc thế chiến này chứa đựng những hạt giống của một mặc khải về một tự do nhân loại cao hơn, và trừ phi nhân loại sẵn sàng biểu lộ tự do cao hơn này theo khả năng tốt nhất của mình, thì các Đấng Giải Thoát sẽ không thể hành động. Các Ngài không thể bị lay động chỉ bởi cầu nguyện, đòi hỏi và khẩn cầu. Đằng sau lời đòi hỏi ấy phải có lý tưởng về một tự do mới hơn và một sự giải phóng lớn hơn cho con người. Trong sự bãi bỏ chủ nghĩa lý tưởng của Pháp, được tóm kết trong những lời—“Tự do, Bình đẳng, Bác ái”—sự chú ý của toàn thế giới đã được tập trung vào chủ đề tự do, và tính biểu tượng của biến cố này có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với điều cho đến nay đã được nắm bắt. Pháp đã không từ bỏ lý tưởng về tự do nhân loại mà ban đầu nước này đã đưa ra trước sự chú ý của nhân loại (trên quy mô lớn). Hành động của nước này, dưới ảnh hưởng của những kẻ thù của tự do con người, chỉ đơn giản là tập trung sự nguy hiểm mà nhân loại đang phải đối mặt, và nhấn mạnh đưa nó đến trước sự chú ý của nhân loại, vốn đã tê liệt vì tai họa và hoang mang vì sức nặng chồng chất của khổ đau. Khi làm như vậy, vấn đề đã được đơn giản hóa cho trí óc chưa được huấn luyện. Về mặt tinh thần, điều đó cũng tạo ra một đường [268] liên lạc trực tiếp giữa những người biết ý nghĩa của tự do và khát khao sự giải thoát của con người, với các Đấng Giải Thoát, những Đấng chịu trách nhiệm cấy vào nhân loại khát vọng bẩm sinh này. |
|
The reason why these Lords of Liberation are the first mentioned in the stanza is that They are essentially related to desire-will, and are therefore the more easily contacted by man. The place from which They issue forth to the aiding of humanity is a certain area of the divine Consciousness which is open to the human sense of awareness, if sufficiently enlightened and selfless. You can see from the above remark how the effective use of invocation is therefore dependent upon the point of spiritual development of the one who seeks the aid of true prayer and invocation. One thing which should be grasped anent all these great Lives is that what is commonly called “worship” is abhorred by Them. Worship, the power to adore and the sense of awe (which is one of the highest aspects of fear) are not desired by Them. Such attitudes are emotional in origin and based upon the sense of duality, and therefore upon feeling. These Lives are embodiments of service and can be reached by true servers with the appeal of service. Bear this in mind. As man progresses upon the Path he forgets worship; he loses all sense of fear, and adoration fails to engross his attention. All these attitudes are obliterated by the realisation of an overpowering love and its consequent interplay and tendency to increase identification. The Lords of Liberation can be reached, therefore, by the call of the world servers, and They will then issue forth through the agency of One of Them, Who will unify the energies of all Three, and so produce those conditions which will bring about effective and recognised freedom. How They will do this is not for us to say; the most probable method will be through the overshadowing of some man, or some group of men, so that they will be inspired to bring about the victory of liberty. |
Lý do các Đấng Giải Thoát được nhắc đến đầu tiên trong bài kệ là vì Các Ngài về bản chất có liên hệ với khát vọng-ý chí, và do đó con người dễ tiếp xúc hơn. Nơi mà từ đó Các Ngài xuất hiện để trợ giúp nhân loại là một khu vực nào đó của Tâm thức thiêng liêng, mở ra cho cảm nhận nhận biết của con người, nếu đủ được soi sáng và vô ngã. Từ nhận xét trên, các bạn có thể thấy việc sử dụng khẩn cầu một cách hữu hiệu vì thế tùy thuộc vào điểm phát triển tinh thần của người tìm kiếm sự trợ giúp của cầu nguyện chân chính và khẩn cầu. Một điều cần được nắm vững liên quan đến tất cả các Sự Sống vĩ đại này là điều thường được gọi là “thờ phụng” bị Các Ngài ghê sợ. Sự thờ phụng, năng lực tôn thờ và cảm thức kính sợ (vốn là một trong những phương diện cao nhất của sợ hãi) không phải là điều Các Ngài mong muốn. Những thái độ như thế có nguồn gốc cảm xúc và dựa trên cảm thức nhị nguyên tính, do đó dựa trên cảm giác. Các Sự Sống này là hiện thân của phụng sự và có thể được tiếp cận bởi những người phụng sự chân chính bằng lời kêu gọi của phụng sự. Hãy ghi nhớ điều này. Khi con người tiến bước trên Con Đường, y quên đi sự thờ phụng; y đánh mất mọi cảm thức sợ hãi, và sự tôn thờ không còn chiếm trọn sự chú ý của y nữa. Tất cả những thái độ này bị xóa bỏ bởi sự chứng nghiệm về một tình thương áp đảo và sự tương tác cùng khuynh hướng gia tăng đồng hoá với nó. Vì vậy, các Đấng Giải Thoát có thể được tiếp cận bằng tiếng gọi của những Người Phụng Sự Thế Gian, và khi đó Các Ngài sẽ xuất hiện qua tác nhân của Một Vị trong Các Ngài, Đấng sẽ hợp nhất các năng lượng của cả Ba, và như thế tạo ra những điều kiện sẽ đem lại tự do hữu hiệu và được công nhận. Các Ngài sẽ làm điều này như thế nào thì không phải để chúng ta nói; phương pháp có khả năng nhất sẽ là qua việc phủ bóng một người nào đó, hoặc một nhóm người nào đó, để họ được truyền cảm hứng đem lại chiến thắng của tự do. |
|
Let the Rider from the secret place come forth and coming—save. Come forth, O Mighty One. |
Hãy để Đấng Kỵ Sĩ từ nơi bí mật xuất hiện và khi xuất hiện—cứu độ. Hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng. |
|
Here we come up against one of the oldest traditions [269] in the world and of the ancient East; one, too, which finds its counterpart in the New Testament, where the Coming One is seen coming forth to the rescue of the people “riding upon a white horse.” In the Occident we have for long thought in terms of the “Lamb, slain from the foundations of the world,” and in this statement lies a profound astrological truth. It refers to that great round of the zodiac (a period of approximately 25,000 years) in which the sun passes through all the twelve signs of the zodiac. The period to which reference is made started in the sign Aries, the Ram. The Orient, however, harks still further back, to a much earlier period and to a still more ancient date, remote in the night of time, when the greater world cycle started in the sign Sagittarius, the Archer. The symbol of this is sometimes (towards the latter part of the cycle) depicted as an archer, riding on a horse and (in the early part of the cycle) as a centaur, half man and half horse. Both refer to an emerging revelation of the consciousness of Deity as revealed through some Great Divine Expression, through some manifesting Son of God. The point to bear in mind is that this Rider on the white horse is no extra-planetary Entity or Life, but is essentially One like unto ourselves—human and animal combined as are we all, but fused with divinity and inspired from on high, informed by some cosmic and divine Principle, as Christ was informed with the Love of God and carried the revelation of love to man. The Rider is one of our humanity Who has reached a pre-destined goal and Who—for very love and understanding of man—has remained for ages in the secret place of revelation (as it is esoterically called), waiting until His hour comes around again and He can then issue forth to lead His people to triumphant victory. This coming One is on the Path of a world Saviour just as the more potent Lives, the Lords of Liberation, are on the Path of world Service. They issue forth via that highest spiritual centre wherein the Will of God is held in solution or custody, for gradual release or revelation as humanity can arrive at the needed point of understanding response and receptivity. Though They can [270] be reached relatively easily, it must be through the massed intent of the many focussed minds. The Rider on the white horse can be reached by the individual aspirant if he can raise his consciousness adequately high. This Rider comes forth (from the centre wherein the Love of God is held for distribution) as the human centre (which we call humanity) becomes attuned to true love and can identify itself with all men, responding freely and without any inhibition to divine Love—which is wisdom, understanding, and effective, skilful activity. |
Ở đây chúng ta chạm đến một trong những truyền thống cổ xưa nhất [269] của thế giới và của phương Đông cổ đại; đồng thời cũng là một truyền thống có đối phần trong Tân Ước, nơi Đấng Đang Đến được thấy xuất hiện để cứu giúp dân chúng “cưỡi trên một con bạch mã.” Ở phương Tây, từ lâu chúng ta đã suy nghĩ theo các thuật ngữ của “Chiên Con, bị giết từ thuở sáng thế,” và trong lời phát biểu này có một chân lý chiêm tinh sâu xa. Nó nói đến cuộc tuần hoàn lớn của hoàng đạo (một thời kỳ xấp xỉ 25.000 năm) trong đó mặt trời đi qua cả mười hai dấu hiệu hoàng đạo. Thời kỳ được nhắc đến đã bắt đầu trong dấu hiệu Bạch Dương, Con Cừu Đực. Tuy nhiên, phương Đông còn truy ngược xa hơn nữa, đến một thời kỳ sớm hơn nhiều và một niên đại còn cổ xưa hơn, xa khuất trong đêm tối của thời gian, khi chu kỳ thế giới lớn hơn bắt đầu trong dấu hiệu Nhân Mã, Cung Thủ. Biểu tượng của điều này đôi khi (về phần sau của chu kỳ) được mô tả như một cung thủ cưỡi ngựa và (ở phần đầu của chu kỳ) như một nhân mã, nửa người nửa ngựa. Cả hai đều nói đến một mặc khải đang xuất hiện về tâm thức của Thượng đế như được bày tỏ qua một Biểu Lộ Thiêng Liêng Vĩ Đại nào đó, qua một Con của Thượng đế đang biểu hiện nào đó. Điểm cần ghi nhớ là Đấng Kỵ Sĩ trên bạch mã này không phải là một Thực Thể hay Sự Sống ngoài hành tinh, mà về bản chất là Một Đấng giống như chúng ta—kết hợp con người và động vật như tất cả chúng ta, nhưng được dung hợp với thiên tính và được truyền cảm hứng từ cõi cao, được thấm nhuần bởi một Nguyên Khí vũ trụ và thiêng liêng nào đó, cũng như Đức Christ đã được thấm nhuần bằng Tình thương của Thượng đế và mang mặc khải về tình thương đến cho con người. Đấng Kỵ Sĩ là một người trong nhân loại chúng ta, Đấng đã đạt đến một mục tiêu tiền định và Đấng—vì tình thương và sự thấu hiểu đối với con người—đã lưu lại qua nhiều thời đại trong nơi bí mật của mặc khải (như được gọi một cách huyền bí), chờ đợi cho đến khi giờ của Ngài lại đến và khi đó Ngài có thể xuất hiện để dẫn dắt dân của mình đến chiến thắng vẻ vang. Đấng Đang Đến này đang ở trên con đường của một Đấng Cứu Thế gian cũng như những Sự Sống mạnh mẽ hơn, các Đấng Giải Thoát, đang ở trên con đường Phụng Sự thế gian. Các Ngài xuất hiện qua trung tâm tinh thần cao nhất ấy, nơi Ý Chí của Thượng Đế được giữ trong tình trạng tiềm tàng hay gìn giữ, để dần dần được giải phóng hay mặc khải khi nhân loại có thể đạt đến điểm đáp ứng và tiếp nhận thấu hiểu cần thiết. Dù Các Ngài có thể [270] được tiếp cận tương đối dễ dàng, điều đó phải thông qua chủ đích tập hợp của nhiều trí óc tập trung. Đấng Kỵ Sĩ trên bạch mã có thể được người chí nguyện cá nhân tiếp cận nếu y có thể nâng tâm thức của mình lên đủ cao. Đấng Kỵ Sĩ này xuất hiện (từ trung tâm nơi Tình thương của Thượng đế được giữ để phân phối) khi trung tâm nhân loại (mà chúng ta gọi là nhân loại) trở nên hòa điệu với tình thương chân chính và có thể đồng hoá với mọi người, đáp ứng một cách tự do và không bị ngăn trở đối với Tình thương thiêng liêng—vốn là minh triết, thấu hiểu và hoạt động hữu hiệu, khéo léo. |
|
When this invocation is rightly used and voiced by an adequate number of people, those who can in some measure employ the enlightened will may succeed in reaching the Lords of Liberation and produce, as a result, a phenomenal intervention of some kind. Those who work more emotionally will reach the Rider from the secret place and may bring Him forth to save and lead the masses of people. Are there enough focussed minds and intense attentive hearts to reach the two centres where wait Those Who can aid at this time? That is the question. It will happen when the three centres—humanity, the spiritual Hierarchy of the planet, and the “place where the will of God lies hidden” (called in the ancient scriptures Shamballa)—are aligned and en rapport with each other. There will then be established a direct relation between all three, and a direct channel for the inflow of liberating force. This has happened only once before in the history of the race. |
Khi lời khẩn cầu này được sử dụng và cất lên đúng đắn bởi một số lượng người thích đáng, những ai có thể ở một mức độ nào đó sử dụng ý chí được soi sáng có thể thành công trong việc tiếp cận các Đấng Giải Thoát và kết quả là tạo ra một sự can thiệp phi thường nào đó. Những ai hoạt động thiên về cảm xúc hơn sẽ tiếp cận Đấng Kỵ Sĩ từ nơi bí mật và có thể đưa Ngài xuất hiện để cứu và dẫn dắt quần chúng. Có đủ những trí óc tập trung và những trái tim mãnh liệt, chú tâm để tiếp cận hai trung tâm nơi Những Đấng có thể trợ giúp vào lúc này đang chờ đợi chăng? Đó là câu hỏi. Điều đó sẽ xảy ra khi ba trung tâm—nhân loại, Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh, và “nơi ý chí của Thượng đế ẩn giấu” (được gọi trong các kinh thư cổ là Shamballa)—được chỉnh hợp và có liên hệ cảm ứng với nhau. Khi đó sẽ thiết lập được một mối liên hệ trực tiếp giữa cả ba, và một kênh trực tiếp cho dòng mãnh lực giải thoát tuôn vào. Điều này mới chỉ xảy ra một lần trước đây trong lịch sử nhân loại. |
|
Owing to the fact that mankind is so weakened by pain, strain and suffering, the probability is that it will not be deemed wise for the Lords of Liberation directly to contact humanity. They will more probably do three things: |
Do sự kiện là nhân loại đã quá suy kiệt vì đau đớn, căng thẳng và khổ đau, có khả năng là các Đấng Giải Thoát sẽ không được xem là khôn ngoan nếu trực tiếp tiếp xúc với nhân loại. Có lẽ Các Ngài sẽ làm ba điều sau đây: |
|
1. Stand behind and strengthen the Rider on the white horse as He responds to the demand of the people everywhere, pouring through Him that dynamic energy which embodies the first divine aspect, the will aspect, the power expression. Thus They will enable Him to carry out the will of God in such a manner that humanity can grasp [271] what is being done. Mankind will then see the Love which animates the Will and Power of God. The true significance of liberty will then be revealed. It is not yet understood. |
1. Đứng phía sau và tăng cường cho Đấng Kỵ Sĩ trên bạch mã khi Ngài đáp ứng lời kêu gọi của con người ở khắp nơi, tuôn qua Ngài năng lượng năng động hiện thân cho phương diện thiêng liêng thứ nhất, phương diện ý chí, sự biểu lộ của quyền năng. Như thế Các Ngài sẽ giúp Ngài thực hiện Ý Chí của Thượng Đế theo cách mà nhân loại có thể nắm bắt [271] điều đang được thực hiện. Khi đó nhân loại sẽ thấy Tình thương làm sinh động Ý Chí và Quyền năng của Thượng đế. Ý nghĩa chân chính của tự do khi ấy sẽ được mặc khải. Hiện nay nó vẫn chưa được thấu hiểu. |
|
2. Pour Their strengthening will-to-good into the New Group of World Servers in all lands, so that there may be potent, simultaneous action in line with the purposes of the Rider from the secret place. |
2. Tuôn ý chí-hướng thiện tăng cường của Các Ngài vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian ở mọi quốc gia, để có thể có hành động mạnh mẽ, đồng thời, phù hợp với các mục đích của Đấng Kỵ Sĩ từ nơi bí mật. |
|
3. Stimulate and integrate into the minds of certain advanced disciples a number of new ideals which must govern the liberating process and find expression in the New Age. This was done in a small way at the time of the French Revolution when the three major concepts of freedom were expressed in the three words, Liberty, Equality, Fraternity, and were intellectually presented to the race. These have now been temporarily relinquished, and this in itself constitutes an important symbolic happening. It had to occur, because these three words stood for no factual truth but simply for a hope and for an academic concept; the events of the last few months reduced them to a farce. So they were deliberately withdrawn in order to enhance their importance, and will later be restored and will then assume a new and potent significance in the minds of all men. They are the three words which must govern the New Age. |
3. Kích thích và tích hợp vào trí óc của một số đệ tử tiến bộ một số lý tưởng mới phải chi phối tiến trình giải phóng và tìm được sự biểu lộ trong Kỷ Nguyên Mới. Điều này đã được thực hiện ở quy mô nhỏ vào thời Cách mạng Pháp khi ba khái niệm lớn về tự do được biểu lộ trong ba từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái, và được trình bày về mặt trí tuệ cho nhân loại. Hiện nay chúng đã tạm thời bị từ bỏ, và điều này tự nó cấu thành một biến cố biểu tượng quan trọng. Điều đó đã phải xảy ra, vì ba từ này không đại diện cho chân lý thực tế nào mà chỉ đơn giản cho một hy vọng và một khái niệm hàn lâm; các biến cố của vài tháng gần đây đã biến chúng thành một trò hề. Vì vậy chúng đã được cố ý rút lại để làm tăng tầm quan trọng của chúng, và về sau sẽ được phục hồi, khi ấy sẽ mang một ý nghĩa mới và mạnh mẽ trong tâm trí mọi người. Chúng là ba từ phải chi phối Kỷ Nguyên Mới. |
|
Certain racial interpretations of ideals will also have to disappear in order to be succeeded by new and better ones. This applies even to man’s understanding of the three words which we have been considering. “Liberty,” as the Lords of Liberation may endorse it, is in reality the recognition of right human relations, freely adjusted, willingly undertaken and motivated by a sense of responsibility which will act as a protective wall; this will take place, not through coercive measures, but through correct interpretation and quick appreciation by the masses, who are apt to confound licence (personality freedom to do as the lower nature chooses) and liberty of soul and conscience. Yet this liberty is the easiest aspect of the divine will for humanity to grasp. [272] It is in reality the first revelation given to man of the nature of the Will of God and of the quality of Shamballa. “Equality” is that peculiar understanding which the Coming One will reveal and which is based on a right sense of proportion, correct Self-respect, and understanding of the spiritual, yet natural, laws of Rebirth and of Cause and Effect, and which will be founded in future centuries on the recognition of the age of a soul’s experience and gained development, and not at all on the loud emphatic affirmation that “all men are equal.” “Fraternity” is something that humanity itself will contribute as an expression of the third aspect of divinity, basing it on right contact and right reaction to contact. Thus there will be developed gradually the true life-theme of humanity, which is brotherhood, founded on divine origin (equality) and leading to a free and true expression of divinity (liberty). |
Một số cách diễn giải lý tưởng theo chủng tộc cũng sẽ phải biến mất để được thay thế bằng những cách diễn giải mới và tốt hơn. Điều này áp dụng ngay cả với sự thấu hiểu của con người về ba từ mà chúng ta đang xét. “Tự do,” như các Đấng Giải Thoát có thể xác nhận, thực ra là sự nhận biết những tương quan nhân loại đúng đắn, được điều chỉnh một cách tự do, được tự nguyện đảm nhận và được thúc đẩy bởi một ý thức trách nhiệm sẽ hoạt động như một bức tường bảo vệ; điều này sẽ diễn ra không phải bằng các biện pháp cưỡng bức, mà bằng sự diễn giải đúng đắn và sự nhận thức mau lẹ của quần chúng, những người dễ nhầm lẫn giữa phóng túng (tự do của phàm ngã để làm theo điều bản chất thấp chọn lựa) với tự do của linh hồn và lương tâm. Tuy nhiên, tự do này là phương diện dễ nắm bắt nhất của ý chí thiêng liêng đối với nhân loại. [272] Thực ra, đó là mặc khải đầu tiên được ban cho con người về bản chất của Ý Chí của Thượng Đế và về phẩm tính của Shamballa. “Bình đẳng” là sự thấu hiểu đặc biệt mà Đấng Đang Đến sẽ mặc khải, và nó dựa trên ý thức đúng đắn về tỉ lệ, lòng tự trọng đúng đắn, và sự thấu hiểu các định luật tinh thần nhưng tự nhiên của Tái Sinh và Nhân Quả, và trong các thế kỷ tương lai sẽ được đặt nền trên sự công nhận tuổi đời kinh nghiệm của một linh hồn và sự phát triển đã đạt được, chứ hoàn toàn không dựa trên lời khẳng định ồn ào, nhấn mạnh rằng “mọi người đều bình đẳng.” “Bác ái” là điều mà chính nhân loại sẽ đóng góp như một biểu lộ của phương diện thứ ba của thiên tính, đặt nền trên tiếp xúc đúng đắn và phản ứng đúng đắn với tiếp xúc. Như thế, chủ đề sự sống chân chính của nhân loại sẽ dần dần được phát triển, đó là tình huynh đệ, được đặt nền trên nguồn gốc thiêng liêng (bình đẳng) và dẫn đến sự biểu lộ tự do và chân thật của thiên tính (tự do). |
|
Perhaps with these thoughts in mind, this first stanza of the new Invocation will assume more importance, and you will then be able intelligently to invoke Those Who can inspire to right action, thus bringing succour, and call forth the One Who can save the situation through right leadership. |
Có lẽ với những tư tưởng này trong tâm trí, bài kệ thứ nhất của Đại Khấn Nguyện mới sẽ mang nhiều tầm quan trọng hơn, và khi đó các bạn sẽ có thể một cách thông minh khẩn cầu Những Đấng có thể truyền cảm hứng cho hành động đúng đắn, nhờ đó mang lại sự cứu trợ, và kêu gọi Đấng có thể cứu vãn tình thế qua sự lãnh đạo đúng đắn. |
|
On what level of consciousness He will ride, it is not for us to say. It is possible that He will not appear upon the physical plane at all. Who can say? But the sound of His coming will be known and, speaking symbolically, the thunder of His horse’s hoofs will be heard. The influence which He will wield and the energy which He will transmit from the Lords of Liberation will inevitably be potently felt, evoking an immediate human response. This will prove an incontrovertible fact. That His radiation will reach forth and surround His disciples, struggling in the conflict with evil, is also certain and sure. This will enable them to make the supreme effort which will win the battle for humanity. That He will come in “the air” is a well-known prophecy from the New Testament, thus enabling “every eye to see Him.” These words have more meaning today than when written nearly two thousand years ago, for this world conflict [273] is outstandingly an aerial one. Students and those using this Invocation would be wise to bear this in mind or they may fail to see and recognise the Deliverer when He comes—a thing which has happened before. |
Ngài sẽ cưỡi trên cấp độ tâm thức nào, điều đó không phải để chúng ta nói. Có thể Ngài sẽ hoàn toàn không xuất hiện trên cõi hồng trần. Ai có thể nói được? Nhưng âm thanh của sự đến của Ngài sẽ được biết đến và, nói một cách biểu tượng, tiếng vó ngựa của Ngài sẽ được nghe thấy. Ảnh hưởng mà Ngài sẽ vận dụng và năng lượng mà Ngài sẽ truyền từ các Đấng Giải Thoát chắc chắn sẽ được cảm nhận một cách mạnh mẽ, gợi lên một đáp ứng tức thời của con người. Điều này sẽ chứng minh là một sự kiện không thể chối cãi. Việc bức xạ của Ngài sẽ vươn ra và bao bọc các đệ tử của Ngài, đang chiến đấu trong cuộc xung đột với điều ác, cũng là điều chắc chắn và xác thực. Điều này sẽ giúp họ thực hiện nỗ lực tối thượng sẽ giành chiến thắng cho nhân loại. Việc Ngài sẽ đến “trong không trung” là một lời tiên tri nổi tiếng từ Tân Ước, nhờ đó “mọi mắt sẽ thấy Ngài.” Những lời này ngày nay có nhiều ý nghĩa hơn khi được viết ra gần hai ngàn năm trước, vì cuộc xung đột thế giới [273] này nổi bật là một cuộc chiến trên không. Các đạo sinh và những người sử dụng lời Khẩn Cầu này nên khôn ngoan ghi nhớ điều đó, nếu không họ có thể không nhìn thấy và nhận ra Đấng Giải Thoát khi Ngài đến—điều đã từng xảy ra trước đây. |
|
We come now to the second stanza, with its direct references to human attitudes and recognitions. For decades, I, as one of the spiritual teachers, along with many others, have sought to awaken all to the fact of Light—light in the world, light coming from the plane of desire (called the astral plane quite often), light illumining science and human knowledge, the light of the soul, producing in due time the light in the head. You have been carefully taught that the right use of the mind in meditation and reflection will lead to the correct relation of soul and personality, and that when this has taken place, the light of the soul ignites or fosters the light in the head and the man reaches the stage of illumination. The reference in this second stanza is to the more extended idea of the relation of humanity (the kingdom of men) to the spiritual Hierarchy (the kingdom of God). When these two are more closely aligned and related, light will break out among the sons of men as a whole, just as light breaks out in the individual aspirant. This much-to-be-desired event can be brought about by the spiritually minded people in the world, by the men and women of goodwill, and by the world disciples, standing with “massed intent.” This means with a uniform, united focus—a thing as yet rarely seen and much needed at this time. So many people are animated by wishful thinking, by hoping and by prayer; so few are motivated by intention. Intention here is that unbreakable, immovable determination that a situation shall be handled, that what is needed in order to release mankind assuredly must appear, for such is the mental intention of the focussed minds of many. I would ask you to give much thought to these words “massed intent” and to differentiate with care between intention and desire. When humanity has fulfilled the conditions through a focussed mental demand, based on correctly formulated mass [274] intent, then will come the affirmation from the spiritual Forces. |
Giờ đây chúng ta đến với bài kệ thứ hai, với những quy chiếu trực tiếp của nó đến các thái độ và sự nhận biết của con người. Trong nhiều thập niên, tôi, với tư cách là một trong các huấn sư tinh thần, cùng với nhiều vị khác, đã tìm cách đánh thức mọi người về sự kiện của Ánh sáng—ánh sáng trong thế giới, ánh sáng đến từ cõi dục vọng (khá thường được gọi là cõi cảm dục), ánh sáng soi rọi khoa học và tri thức nhân loại, ánh sáng của linh hồn, đến đúng lúc sẽ tạo ra ánh sáng trong đầu. Các bạn đã được dạy cẩn thận rằng việc sử dụng đúng đắn trí tuệ trong tham thiền và suy tư sẽ dẫn đến mối liên hệ đúng đắn giữa linh hồn và phàm ngã, và rằng khi điều này đã diễn ra, ánh sáng của linh hồn sẽ châm ngòi hoặc nuôi dưỡng ánh sáng trong đầu và con người đạt đến giai đoạn soi sáng. Sự quy chiếu trong bài kệ thứ hai này là đến ý niệm rộng lớn hơn về mối liên hệ của nhân loại (giới người) với Thánh Đoàn tinh thần (Thiên Giới). Khi hai bên này được chỉnh hợp và liên hệ mật thiết hơn, ánh sáng sẽ bừng lên giữa những người con của nhân loại như một toàn thể, cũng như ánh sáng bừng lên nơi người chí nguyện cá nhân. Biến cố rất đáng mong ước này có thể được mang lại bởi những người có tâm trí tinh thần trên thế giới, bởi những người nam và nữ thiện chí, và bởi các đệ tử thế gian, đứng cùng với “nhất tâm tập thể.” Điều này có nghĩa là với một tiêu điểm đồng nhất, hợp nhất—một điều cho đến nay hiếm khi thấy và hiện rất cần thiết. Có quá nhiều người được thúc đẩy bởi tư tưởng mong cầu, bởi hy vọng và bởi cầu nguyện; có quá ít người được thúc đẩy bởi ý định. Ý định ở đây là quyết tâm không thể bẻ gãy, bất lay chuyển rằng một tình huống phải được xử lý, rằng điều cần thiết để giải thoát nhân loại chắc chắn phải xuất hiện, vì đó là ý định trí tuệ của các trí tuệ nhất tâm của nhiều người. Tôi muốn yêu cầu các bạn suy nghĩ nhiều về những lời “nhất tâm tập thể” này và cẩn thận phân biệt giữa ý định và dục vọng. Khi nhân loại đã hoàn tất các điều kiện bằng một đòi hỏi trí tuệ nhất tâm, dựa trên ý định tập thể [274] được hình thành đúng đắn, thì khi đó sẽ đến sự khẳng định từ các Mãnh Lực tinh thần. |
|
Let the fiat of the Lord go forth: the end of woe has come. |
Hãy để sắc lệnh của Chúa Tể được ban ra: sự khốn khổ đã chấm dứt. |
|
Vì vậy, việc chấm dứt tình trạng ác độc hiện nay là một biện pháp hợp tác; và ở đây, trong mối liên hệ này, chúng ta có sự xuất hiện của Chúa Tể của Văn Minh, Đấng phát biểu và thực hiện trên cõi hồng trần sắc lệnh của các Đấng Giải Thoát và của Đấng Kỵ Sĩ từ nơi bí mật. Nhờ sự kiểm soát của Ngài, Ngài trợ giúp và làm cho có thể việc ngưng tụ xuống Trái Đất và vào đấu trường chiến đấu quyền năng do các Đấng Giải Thoát tạo ra, được biểu lộ bởi Đấng Đang Đến và được tập trung qua Ngài với tư cách là Đại Diện của Thánh Đoàn tại châu Âu. Công việc của Chân sư R. từ lâu đã được nhìn nhận là có bản chất đặc biệt và liên quan đến các vấn đề của văn minh, cũng như công việc của Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư, liên quan đến sự phát triển tinh thần của nhân loại, và công việc của Đức Manu thì gắn với khoa học về sự cai quản thiêng liêng, với chính trị và luật pháp. Như vậy, năng lượng tập trung đang đi vào, được gọi ra để đáp ứng với sự khẩn cầu đúng đắn, lại được hạ xuống gần nhân loại hơn nữa, và khi đó quần chúng có thể đáp ứng với các xung lực mới. Vì vậy, các bạn có: |
|
|
1. The Lords of Liberation, reached by the advanced spiritual thinkers of the world whose minds are rightly focussed. |
1. các Đấng Giải Thoát, được tiếp cận bởi các nhà tư tưởng tinh thần tiến bộ của thế giới, những người có trí tuệ được tập trung đúng đắn. |
|
2. The Rider on the white horse or from the secret place, reached by those whose hearts are rightly touched. |
2. Đấng Kỵ Sĩ trên bạch mã hay từ nơi bí mật, được tiếp cận bởi những người có trái tim được chạm đến đúng đắn. |
|
3. The Lord of Civilisation, the Master R., reached by all who, with the first two groups, can stand with “massed intent.” |
3. Chúa Tể của Văn Minh, Chân sư R., được tiếp cận bởi tất cả những ai, cùng với hai nhóm đầu tiên, có thể đứng với “nhất tâm tập thể.” |
|
On the united work of these Three, if humanity can succeed in calling Them forth, will come the alignment and the correct relation of three great spiritual centres of the planet, a thing which has never occurred before. Then: [275] |
Trên công việc hợp nhất của Ba Đấng này, nếu nhân loại có thể thành công trong việc gọi Các Ngài ra, sẽ đến sự chỉnh hợp và mối liên hệ đúng đắn của ba trung tâm tinh thần lớn của hành tinh, một điều chưa từng xảy ra trước đây. Khi đó: [275] |
|
1. The Lords of Liberation will receive and transmit to the Hierarchy energy from the centre where God’s Will is known and furthered. |
1. các Đấng Giải Thoát sẽ tiếp nhận và truyền đến Thánh Đoàn năng lượng từ trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến và được thúc đẩy. |
|
2. The Rider will receive this energy and take such action as will express it, plus the motivating energy from the centre where God’s Love is expressed. |
2. Đấng Kỵ Sĩ sẽ tiếp nhận năng lượng này và thực hiện hành động sao cho biểu lộ được nó, cộng thêm năng lượng thúc đẩy từ trung tâm nơi Tình Thương của Thượng Đế được biểu lộ. |
|
3. The Lord of Civilisation will stimulate and prepare the centre which we call humanity for right reception of this re-vitalising, stimulating and releasing force. |
3. Chúa Tể của Văn Minh sẽ kích thích và chuẩn bị trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại để tiếp nhận đúng đắn mãnh lực tiếp sinh lực, kích thích và giải phóng này. |
|
Thus Shamballa, the Hierarchy and Humanity will stand consciously related and dynamically in touch with each other. The Will of God, the Love of God and the Intelligence of God will thus fuse and blend on Earth and in relation to human problems. Conditions will consequently be brought about and energies will be set in motion which will end the rule of evil and bring war to an end through the victory of the Forces of Light, recognised and aided by Humanity. |
Như vậy Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại sẽ đứng trong mối liên hệ hữu thức và tiếp xúc năng động với nhau. Ý Chí của Thượng Đế, Tình Thương của Thượng Đế và Trí Tuệ của Thượng Đế như thế sẽ dung hợp và hòa trộn trên Trái Đất và trong mối liên hệ với các vấn đề của con người. Do đó, các điều kiện sẽ được tạo ra và các năng lượng sẽ được khởi động để chấm dứt sự cai trị của điều ác và đưa chiến tranh đến chỗ kết thúc qua chiến thắng của các Mãnh Lực Ánh Sáng, được Nhân Loại nhận biết và trợ giúp. |
|
This synthesis of the three energies, evoked through invocation and the response of certain divine Potencies, is esoterically given the name of “the saving Force.” Of its exact nature and intended effects we know practically nothing. It has never before appeared in action on the physical plane, though it has been for some time active upon the mental plane. Though it is a blend of the energies of the three centres referred to above, it is primarily the energy of the divine Will, which will be its outstanding characteristic. One hint here I will give. Just as the externalisation of the materialistic lodge of seven men, to which I made reference above, has made its appearance and must be dealt with prior to the future externalisation of the lodge of spiritual Lives (the appearance of the kingdom of God on Earth) which we call the planetary Hierarchy, so the will-to-power of the forces of aggression has appeared on Earth and sought to gain control over humanity. Note that aim. This will-to-power can only be dissipated when the highest aspect of the same energy is given free rein among the sons of men. The divine [276] and spiritual Will, carried on the impulse of selfless love, can and must be evoked for the destruction of the selfish and wicked will-to-power, rampant now on earth under the direction of the focussed seven in Germany. |
Sự tổng hợp của ba năng lượng này, được gợi lên qua Khẩn Cầu và Gợi Lên cùng sự đáp ứng của một số Quyền Năng thiêng liêng, trong huyền bí học được gọi là “Mãnh Lực Cứu Rỗi.” Về bản chất chính xác và các hiệu quả dự định của nó, thực tế chúng ta hầu như không biết gì. Trước đây nó chưa từng xuất hiện trong hoạt động trên cõi hồng trần, dù đã hoạt động một thời gian trên cõi trí. Dù là một sự hòa trộn của các năng lượng từ ba trung tâm đã nói ở trên, nhưng chủ yếu nó là năng lượng của Ý Chí thiêng liêng, và đó sẽ là đặc tính nổi bật của nó. Ở đây tôi sẽ đưa ra một gợi ý. Cũng như sự ngoại hiện của đoàn vật chất gồm bảy người, mà tôi đã nhắc đến ở trên, đã xuất hiện và phải được xử lý trước khi có sự ngoại hiện trong tương lai của đoàn các Sự Sống tinh thần (sự xuất hiện của Thiên Giới trên Trái Đất) mà chúng ta gọi là Thánh Đoàn hành tinh, thì ý chí-quyền lực của các lực lượng xâm lược cũng đã xuất hiện trên Trái Đất và tìm cách giành quyền kiểm soát nhân loại. Hãy lưu ý mục tiêu đó. Ý chí-quyền lực này chỉ có thể bị làm tiêu tan khi phương diện cao nhất của cùng một năng lượng ấy được tự do tuôn chảy giữa những người con của nhân loại. Ý Chí [276] thiêng liêng và tinh thần, được mang trên xung lực của tình thương vô ngã, có thể và phải được gợi lên để hủy diệt ý chí-quyền lực ích kỷ và độc ác, hiện đang hoành hành trên địa cầu dưới sự chỉ đạo của nhóm bảy người tập trung tại Đức. |
|
The “saving force” must, therefore, be spread abroad. For long ages men have prayed in the words of St. Paul: “Let the love of God be shed abroad in our hearts.” Today the need is for the spread of the “saving force” to take hold of our minds and to control from that directing centre, for it embodies the needed salvation at this time. It will take the united efforts of all the three focal points of divine expression on our planet to make this possible, but it can be done. |
Vì vậy, “Mãnh Lực Cứu Rỗi” phải được lan truyền rộng khắp. Trong nhiều thời đại dài, con người đã cầu nguyện bằng những lời của Thánh Paul: “Xin cho tình thương của Thượng đế được tuôn đổ rộng khắp trong tim chúng con.” Ngày nay, nhu cầu là sự lan tỏa của “Mãnh Lực Cứu Rỗi” phải nắm lấy trí tuệ chúng ta và kiểm soát từ trung tâm chỉ đạo đó, vì nó hàm chứa sự cứu rỗi cần thiết vào lúc này. Điều này sẽ đòi hỏi nỗ lực hợp nhất của cả ba tiêu điểm biểu lộ thiêng liêng trên hành tinh chúng ta để làm cho nó thành hiện thực, nhưng điều đó có thể được thực hiện. |
|
In the final stanzas (which we need not take phrase by phrase, as their significance is sufficiently clear) we have plainly put before us the methods whereby humanity can play its part and do its share in aiding all those who are cooperating with the Forces of Light to bring this planetary war to an end. |
Trong các bài kệ cuối cùng (mà chúng ta không cần xét từng cụm từ, vì ý nghĩa của chúng đã đủ rõ), chúng ta thấy được trình bày minh bạch các phương pháp nhờ đó nhân loại có thể đóng vai trò của mình và làm phần việc của mình trong việc trợ giúp tất cả những ai đang hợp tác với các Mãnh Lực Ánh Sáng để chấm dứt cuộc chiến tranh hành tinh này. |
|
Look for a moment at the four words which embody the thought of what can be done by men to bring to fruition the mission of the Coming One, the Rider from the secret place. We are told that Light and Love and Power and Death must be invoked to fulfil the purpose of the Coming One. Here we come right down to the practical theme of man’s individual part in the processes of liberation. Here we are concerned with that which—within humanity itself—needs evocation in order to produce right cooperation, right preparation and right understanding. Four potencies within the soul of man are available for his individual use in helping the Forces of Light—potencies he shares with all men to a greater or less degree, according to the expressive power of the soul. They are potencies which are not innate in the lower self, but only in the higher. The lower self reflects only distorted forms of the higher divine energies. This is a point to be carefully noted. Of Light and Love I can say but little to you. To esoteric students, these words are so familiar as to be somewhat meaningless, and only those [277] who can walk in the light, and whose major reaction is love of humanity, will comprehend the significance and the inter-relation of these four words. |
Hãy nhìn trong chốc lát vào bốn từ bao hàm tư tưởng về điều con người có thể làm để đưa sứ mệnh của Đấng Đang Đến, Đấng Kỵ Sĩ từ nơi bí mật, đến chỗ kết quả. Chúng ta được bảo rằng Ánh sáng và Tình thương và Quyền năng và Cái Chết phải được khẩn cầu để hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến. Ở đây chúng ta đi thẳng xuống chủ đề thực tiễn về phần việc cá nhân của con người trong các tiến trình giải thoát. Ở đây chúng ta quan tâm đến điều mà—ngay trong chính nhân loại—cần được gợi lên để tạo ra sự hợp tác đúng đắn, sự chuẩn bị đúng đắn và sự thấu hiểu đúng đắn. Có bốn quyền năng trong linh hồn con người sẵn có để y sử dụng cá nhân nhằm trợ giúp các Mãnh Lực Ánh Sáng—những quyền năng mà y chia sẻ với mọi người ở mức độ nhiều hay ít, tùy theo năng lực biểu lộ của linh hồn. Đó là những quyền năng không bẩm sinh trong phàm ngã, mà chỉ có trong chân ngã. Phàm ngã chỉ phản chiếu những hình thức méo mó của các năng lượng thiêng liêng cao hơn. Đây là một điểm cần được lưu ý cẩn thận. Về Ánh sáng và Tình thương tôi chỉ có thể nói rất ít với các bạn. Đối với các đạo sinh huyền bí, những từ này quá quen thuộc đến mức phần nào trở nên vô nghĩa, và chỉ những ai [277] có thể bước đi trong ánh sáng, và có phản ứng chủ yếu là tình thương đối với nhân loại, mới hiểu được ý nghĩa và mối liên hệ qua lại của bốn từ này. |
|
Light, with which to see the new vision, is needed by all. This will probably not be an intensification of any earlier vision, no matter how apparently spiritual, but something so entirely new that you will need all the light that is in you, and a trained insight, if you are to recognise it when contacted. |
Ánh sáng, để nhìn thấy linh ảnh mới, là điều mọi người đều cần. Có lẽ đây sẽ không phải là sự tăng cường của bất kỳ linh ảnh nào trước đó, dù có vẻ tinh thần đến đâu, mà là một điều gì hoàn toàn mới đến mức các bạn sẽ cần toàn bộ ánh sáng đang có trong mình, cùng một linh thị đã được rèn luyện, nếu các bạn muốn nhận ra nó khi tiếp xúc. |
|
Love, which is not emotion or sentiment, and which is not related to feeling (which is a distortion of true love), but is the fixed determination to do what is best for the whole of humanity, or for the group (if the larger concept is not possible to you), and to do this at any personal cost and by means of the uttermost sacrifice. Only those who truly love their fellowmen can see the issues clear and can grasp the inevitability of the things which must be done to end the present rule of terror and so usher in the new rule of peace. Peace is not the goal for our race or time, no matter what many men think. This is a cycle of steadily growing activity, with the aim in view of establishing right human relations, intelligently carried forward. Such activity and intense change is not consonant with what is usually understood as peace. Peace has relation to the emotional side of life and was the goal in Atlantean days, where peace was a great spiritual issue. But peace and the love of peace can be a deadening soporific, and are so at this time. It is usually selfish in purpose, and people long for peace because they want to be happy. Happiness and peace will come when there are right human relations. Peace and war are not a true pair of opposites. Peace and change, peace and movement, are the real ones. War is but an aspect of change, and has its roots deep in matter. The peace usually desired and discussed concerns material peace, and in every case is related to the personality, whether it is the individual personality or that of humanity as a whole. Therefore I deal not with peace, but am concerned with love, which oft disturbs [278] the equilibrium of matter and material circumstance, and can consequently work against so-called peace. |
Tình thương, vốn không phải là cảm xúc hay tình cảm, và không liên hệ với cảm giác (vốn là sự méo mó của tình thương chân thật), mà là quyết tâm kiên định làm điều tốt nhất cho toàn thể nhân loại, hoặc cho nhóm (nếu khái niệm lớn hơn là điều các bạn chưa thể nắm được), và làm điều này bằng bất cứ giá cá nhân nào và bằng sự hy sinh tối đa. Chỉ những ai thật sự yêu thương đồng loại mới có thể thấy rõ các vấn đề và nắm được tính tất yếu của những điều phải làm để chấm dứt sự cai trị khủng bố hiện nay và như thế mở đường cho sự cai trị mới của hòa bình. Hòa bình không phải là mục tiêu cho nhân loại hay thời đại chúng ta, bất kể nhiều người nghĩ gì. Đây là một chu kỳ hoạt động tăng trưởng đều đặn, với mục tiêu là thiết lập các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người, được xúc tiến một cách thông minh. Hoạt động như thế và sự thay đổi mãnh liệt như thế không phù hợp với điều thường được hiểu là hòa bình. Hòa bình có liên hệ với phương diện cảm xúc của đời sống và là mục tiêu trong thời Atlantis, khi hòa bình là một vấn đề tinh thần lớn. Nhưng hòa bình và lòng yêu chuộng hòa bình có thể là một thứ thuốc mê làm tê liệt, và hiện nay đúng là như vậy. Mục đích của nó thường là ích kỷ, và người ta khao khát hòa bình vì họ muốn được hạnh phúc. Hạnh phúc và hòa bình sẽ đến khi có các mối liên hệ đúng đắn giữa người với người. Hòa bình và chiến tranh không phải là một cặp đối cực chân thật. Hòa bình và thay đổi, hòa bình và chuyển động, mới là như vậy. Chiến tranh chỉ là một phương diện của sự thay đổi, và có gốc rễ sâu trong vật chất. Sự hòa bình thường được mong muốn và bàn luận liên quan đến hòa bình vật chất, và trong mọi trường hợp đều liên hệ với phàm ngã, dù đó là phàm ngã cá nhân hay của toàn thể nhân loại. Vì vậy tôi không bàn đến hòa bình, mà quan tâm đến tình thương, thứ thường làm xáo trộn [278] sự quân bình của vật chất và hoàn cảnh vật chất, và do đó có thể hoạt động chống lại cái gọi là hòa bình. |
|
Power is something which has ever been of interest, down the ages, to advanced humanity and to those men who could respond to the will aspect through their mental unfoldment. It is today becoming of interest to the masses and to the more mediocre types of men, and is hence oft misused and turned to selfish purposes. The power here to be evoked out of the human soul, in this hour of need, is the ability to know the Plan and to work for its furtherance, thus cooperating with those forces which are endeavouring to re-establish order on Earth and to end the cycle of aggressive wickedness in which today we find ourselves. |
Quyền năng là điều từ bao thời đại luôn gây quan tâm cho phần nhân loại tiến bộ và cho những người có thể đáp ứng với phương diện ý chí qua sự khai mở trí tuệ của họ. Ngày nay nó đang trở thành điều gây quan tâm cho quần chúng và cho những hạng người tầm thường hơn, và vì thế thường bị lạm dụng và chuyển sang các mục đích ích kỷ. Quyền năng ở đây cần được gợi lên từ linh hồn con người, trong giờ phút cần thiết này, là khả năng biết Thiên Cơ và làm việc để thúc đẩy nó, nhờ đó hợp tác với những lực lượng đang nỗ lực tái lập trật tự trên Trái Đất và chấm dứt chu kỳ độc ác xâm lược mà ngày nay chúng ta đang ở trong đó. |
|
The question arises here whether the cycle is susceptible to interference and whether it must not perforce run its appointed course. I would remind you that the law of cycles is the law governing the appearing and the disappearing of great and active energies which pass in and out of manifestation, fulfilling the purposes of Deity and yet limited and handicapped by the quality of the forms upon which they make their impact. If any intervention is possible and takes place, it will be an “intervention in time.” Such an intervention is hinted at in the sacred scriptures, such as the New Testament, where it is foretold that “for the sake of the elect, the time shall be shortened.” The real meaning of this (which is not apparent in the rather inadequate translation which we have) is “because of the elect or because of those who know and who take right action, the progress of evil can be arrested.” This is encouraging, and I commend the thought to your attention. There is a power which such “elect” can wield—understanding its nature, preparatory and selfless. |
Ở đây nảy sinh câu hỏi liệu chu kỳ này có thể bị can thiệp hay không và liệu nó có nhất thiết phải chạy hết tiến trình đã định của nó hay không. Tôi muốn nhắc các bạn rằng định luật chu kỳ là định luật chi phối sự xuất hiện và biến mất của các năng lượng lớn và hoạt động, những năng lượng đi vào và ra khỏi biểu hiện, hoàn thành các mục đích của Thượng đế nhưng vẫn bị giới hạn và cản trở bởi phẩm tính của các hình tướng mà chúng tác động vào. Nếu có thể có sự can thiệp và nếu điều đó xảy ra, thì đó sẽ là một “sự can thiệp đúng lúc.” Một sự can thiệp như thế được ám chỉ trong các thánh thư, chẳng hạn như Tân Ước, nơi có lời tiên báo rằng “vì những người được chọn, thời gian sẽ được rút ngắn.” Ý nghĩa thực sự của điều này (không hiển lộ trong bản dịch khá thiếu sót mà chúng ta có) là “bởi vì những người được chọn, hay bởi vì những người biết và hành động đúng đắn, sự tiến triển của điều ác có thể bị chặn lại.” Điều này thật khích lệ, và tôi khuyến nghị tư tưởng ấy cho sự chú ý của các bạn. Có một quyền năng mà những “người được chọn” như thế có thể vận dụng—nếu hiểu bản chất của nó, có chuẩn bị và vô ngã. |
|
And Death—to what does this refer? Not to the death of the body or form, for that is relatively unimportant; but to the “power to relinquish,” which becomes in time the characteristic of the pledged disciple. The new era is coming; the new ideals, the new civilisation, the new modes of life, of education, of religious presentation and of government [279] are slowly precipitating and naught can stop them. They can, however, be delayed by the reactionary types of people, by the ultra-conservative and closed minds, and by those who cling with adamantine determination to their beloved theories, their dreams and their visions, their interpretations and their peculiar and oft narrow understanding of the presented ideals. They are the ones who can and do hold back the hour of liberation. A spiritual fluidity, a willingness to let all preconceived ideas and ideals go, as well as all beloved tendencies, cultivated habits of thought and every determined effort to make the world conform to a pattern which seems to the individual the best because, to him, the most enticing—these must all be brought under the power of death. They can be relinquished with safety and security and no fear of results, if the motive of the life is a real and lasting love of humanity. Love, true spiritual love as the soul knows it, can ever be trusted with power and opportunity and will never betray that trust. It will bring all things into line with soul vision. |
Và Cái Chết—điều này quy chiếu đến cái gì? Không phải cái chết của thể xác hay hình tướng, vì điều đó tương đối không quan trọng; mà là “quyền năng từ bỏ,” thứ theo thời gian trở thành đặc tính của người đệ tử đã phát nguyện. Kỷ nguyên mới đang đến; các lý tưởng mới, nền văn minh mới, các phương thức mới của đời sống, của giáo dục, của sự trình bày tôn giáo và của chính quyền [279] đang chậm rãi ngưng tụ, và không gì có thể ngăn chúng. Tuy nhiên, chúng có thể bị trì hoãn bởi những hạng người phản động, bởi những trí tuệ cực kỳ bảo thủ và khép kín, và bởi những ai bám chặt với quyết tâm cứng như kim cương vào các lý thuyết yêu quý của họ, các giấc mơ và linh ảnh của họ, các cách diễn giải của họ, và sự thấu hiểu đặc thù và thường là hẹp hòi của họ về các lý tưởng được trình bày. Họ là những người có thể và thực sự đang trì hoãn giờ giải thoát. Một sự linh động tinh thần, một thiện chí buông bỏ mọi ý tưởng và lý tưởng định sẵn, cũng như mọi khuynh hướng yêu thích, các thói quen tư tưởng đã được vun bồi và mọi nỗ lực cương quyết nhằm làm cho thế giới phù hợp với một mô hình mà cá nhân cho là tốt nhất vì, đối với ông, nó hấp dẫn nhất—tất cả những điều này phải được đặt dưới quyền năng của cái chết. Chúng có thể được từ bỏ một cách an toàn và vững chắc, không sợ hậu quả, nếu động cơ của đời sống là một tình thương chân thật và bền vững đối với nhân loại. Tình thương, tình thương tinh thần chân thật như linh hồn biết đến, luôn có thể được tin cậy khi được trao quyền năng và cơ hội, và sẽ không bao giờ phản bội sự tín nhiệm đó. Nó sẽ đưa mọi sự vào đúng hàng ngũ với linh thị của linh hồn. |
|
Again we have the energy of the three centres with which we are becoming familiar, and can see them being brought together and their triumphant relation being fused and blended. It thus becomes apparent that Those Who formulated this new and vital Invocation believed firmly in the power of humanity—upon its own levels of consciousness—to express the three divine potencies, Will, Love and Activity, in some measure. The demand goes forth to the Coming One to aid in the blending of the three upon Earth, so bringing them into physical plane expression, and thus unite the potencies of the human kingdom with the potencies which He will bring with Him for the saving of humanity. Only when humanity offers all that it has to give to the service of the sad, the suffering, and the oppressed, and will work actively and intelligently to bring about release, can that full cooperation be established between the inner and the outer potencies which is so deplorably needed at this time. Unless, for instance, those who can use this Invocation parallel its voiced expression with some form of definite [280] physical plane service, and so aid constructively the Forces of Light, their efforts will prove negligible. It is humanity alone which can precipitate the new incoming energies from the Lords of Liberation and make possible Their activity on Earth. It is humanity alone which can open the door on to the physical plane for the Rider from the secret place. The stupendous inner Potencies can reach certain levels of human activity and contact, such as the mental plane, but their further progress downward into outer expression, power and manifestation, is dependent upon the potent, magnetic, indrawing power of man himself. |
Một lần nữa chúng ta lại có năng lượng của ba trung tâm mà chúng ta đang dần quen thuộc, và có thể thấy chúng được đưa lại với nhau và mối liên hệ chiến thắng của chúng được dung hợp và hòa trộn. Như vậy trở nên hiển nhiên rằng Những Đấng đã hình thành Khấn Nguyện mới mẻ và đầy sinh lực này đã tin tưởng vững chắc vào quyền năng của nhân loại—trên các cấp độ tâm thức riêng của mình—để biểu lộ ba quyền năng thiêng liêng là Ý Chí, Tình Thương và Hoạt Động ở một mức độ nào đó. Lời thỉnh cầu được gửi đến Đấng Đang Đến để trợ giúp trong việc hòa trộn ba quyền năng ấy trên Trái Đất, nhờ đó đưa chúng vào biểu lộ trên cõi hồng trần, và như thế hợp nhất các quyền năng của giới nhân loại với các quyền năng mà Ngài sẽ mang theo để cứu rỗi nhân loại. Chỉ khi nhân loại dâng hiến tất cả những gì mình có thể cho vào việc phụng sự những người buồn khổ, đau đớn và bị áp bức, và sẽ hoạt động tích cực và thông minh để mang lại sự giải thoát, thì sự hợp tác trọn vẹn ấy mới có thể được thiết lập giữa các quyền năng bên trong và bên ngoài, điều hiện đang rất đáng buồn là cần thiết. Chẳng hạn, nếu những ai có thể sử dụng Khấn Nguyện này không song hành sự xướng lên của nó với một hình thức phụng sự xác định nào đó trên [280] cõi hồng trần, và như thế trợ giúp một cách xây dựng cho các Mãnh Lực Ánh Sáng, thì nỗ lực của họ sẽ tỏ ra không đáng kể. Chỉ riêng nhân loại mới có thể ngưng tụ các năng lượng mới đang đi vào từ các Đấng Giải Thoát và làm cho hoạt động của Các Ngài trên Trái Đất trở nên khả hữu. Chỉ riêng nhân loại mới có thể mở cánh cửa lên cõi hồng trần cho Đấng Kỵ Sĩ từ nơi bí mật. Các Quyền Năng nội tại vĩ đại có thể đạt đến một số cấp độ hoạt động và tiếp xúc của con người, chẳng hạn như cõi trí, nhưng sự tiến triển xa hơn của chúng đi xuống biểu lộ, quyền năng và hiện hình bên ngoài lại tùy thuộc vào quyền năng từ tính mạnh mẽ, hút vào của chính con người. |
|
The thought lying behind the words Construct a great defending wall might be simply expressed in the words: Thus far and no further. The limit of effectiveness of the evil expression and of the power of the aggressors has been reached if the disciples and the men of goodwill actually now play their proper part. Symbolically, they can put up an impregnable wall of spiritual light which will utterly confound the enemy of humanity. It will be a wall of energy—vibrating, protective, and at the same time of such power that it can repulse those who seek to pass in their pursuit of evil and wicked objectives. I speak in symbols but my meaning will be clear. |
Tư tưởng nằm sau những lời Hãy xây dựng một bức tường phòng vệ vĩ đại có thể được diễn đạt đơn giản bằng những lời: Đến đây thôi và không xa hơn nữa. Giới hạn hiệu lực của biểu hiện ác độc và của quyền lực của những kẻ xâm lược đã đạt tới nếu các đệ tử và những người thiện chí thực sự hiện nay đóng đúng phần việc của mình. Theo biểu tượng, họ có thể dựng lên một bức tường bất khả xâm phạm bằng ánh sáng tinh thần, thứ sẽ hoàn toàn làm rối loạn kẻ thù của nhân loại. Đó sẽ là một bức tường năng lượng—rung động, bảo vệ, và đồng thời có quyền năng đến mức có thể đẩy lùi những kẻ tìm cách vượt qua trong cuộc truy đuổi các mục tiêu ác độc và tà vạy của chúng. Tôi nói bằng biểu tượng nhưng ý tôi sẽ rõ. |
|
One point you need to grasp more clearly, and it is both an encouragement and a point difficult of belief. If the sons of men who are cooperating with the Forces of Light at this time stand with steadfastness, and if the “massed intent” of the men of goodwill is brought down from the mental plane (where most goodwill, desire, prayer and invocation becomes “frozen”) and is carried away from its easy focus in the wish life of the aspirant, goodwill becomes active in expression and in tangible deed upon the physical plane, so that the work done through the means of invocation and prayer, plus the needed fighting for the right, is done by those who can truly coordinate and integrate on all three levels and thus function as a whole. This will mean the finish of the dominance of matter for all time. Such a desirable [281] condition may come very slowly, from the standpoint of man’s myopic vision, and may even not become apparent in its full significance to you in this life; nevertheless the victory will have been gained. Matter and materialistic interests will no longer rule the coming generation as they have ruled the last two. When the forces of aggression, of greed and cruelty are driven back, it will mean the conquest of selfish desire by unselfish love and sacrifice. This is the reward of those with whom we work, if reward is desired. This achieved situation will then bring into closer relation humanity and the spiritual Hierarchy; they will be en rapport in a manner new in history. The defeat of the oppressing nations and the liberation of the oppressed will be only the outer and visible sign of an inner and spiritual event—one for which all enlightened people are working. It will—after a period of adjustment, which will necessarily bring its own peculiar difficulties—usher in the new world, with all that is entailed in that phrase. |
Có một điểm các bạn cần nắm rõ hơn, và đó vừa là một sự khích lệ vừa là một điểm khó tin. Nếu những người con của nhân loại đang hợp tác với các Mãnh Lực Ánh Sáng vào lúc này đứng vững vàng, và nếu “nhất tâm tập thể” của những người thiện chí được đưa xuống từ cõi trí (nơi phần lớn thiện chí, dục vọng, cầu nguyện và khẩn cầu trở nên “đóng băng”) và được mang ra khỏi tiêu điểm dễ dãi của nó trong đời sống mong cầu của người chí nguyện, thì thiện chí sẽ trở nên tích cực trong biểu lộ và trong hành động hữu hình trên cõi hồng trần, để công việc được thực hiện qua phương tiện khẩn cầu và cầu nguyện, cộng với cuộc chiến đấu cần thiết cho lẽ phải, được thực hiện bởi những ai thực sự có thể phối hợp và tích hợp trên cả ba cấp độ và như thế hoạt động như một toàn thể. Điều này sẽ có nghĩa là sự chấm dứt quyền thống trị của vật chất mãi mãi. Tình trạng đáng mong ước [281] như thế có thể đến rất chậm, theo quan điểm của linh thị thiển cận của con người, và thậm chí có thể không trở nên hiển nhiên trong toàn bộ ý nghĩa của nó đối với các bạn trong kiếp này; tuy nhiên chiến thắng sẽ đã được giành lấy. Vật chất và các lợi ích duy vật sẽ không còn cai trị thế hệ sắp tới như chúng đã cai trị hai thế hệ vừa qua. Khi các lực lượng xâm lược, tham lam và tàn bạo bị đẩy lùi, điều đó sẽ có nghĩa là sự chinh phục dục vọng ích kỷ bởi tình thương vô ngã và sự hy sinh. Đây là phần thưởng của những người mà chúng ta đang cùng làm việc, nếu phần thưởng là điều được mong muốn. Tình trạng đã đạt được này khi đó sẽ đưa nhân loại và Thánh Đoàn tinh thần vào mối liên hệ gần gũi hơn; họ sẽ ở trong sự tương giao theo một cách mới mẻ trong lịch sử. Sự thất bại của các quốc gia áp bức và sự giải phóng những người bị áp bức sẽ chỉ là dấu hiệu bên ngoài và hữu hình của một biến cố nội tại và tinh thần—một biến cố mà mọi người được soi sáng đều đang làm việc cho nó. Nó sẽ—sau một giai đoạn điều chỉnh, vốn tất yếu sẽ mang theo những khó khăn đặc thù riêng—mở ra thế giới mới, với tất cả những gì hàm chứa trong cụm từ đó. |
|
I have placed before you the possibility. I would reiterate, as I have in the past, that it is humanity which determines its own fate. Men have transcended the child stage and are now adult, though not mature. Maturity is achieved through self-engendered experience and decision, and for some time we who seek to guide have confined our efforts to reaching the intelligent people, impressing the spiritually minded, and in stimulating humanity to right action without encroaching upon man’s growing expression of freewill. So the outcome is unpredictable, though we may see a certain measure of inevitability in future happenings. But man is free to choose the way that he shall go, and much of the responsibility for his choices rests upon the shoulders of the more instructed of the human family and upon those who have achieved some measure of vision. |
Tôi đã đặt trước các bạn khả năng ấy. Tôi muốn nhắc lại, như tôi đã từng làm trong quá khứ, rằng chính nhân loại quyết định số phận của mình. Con người đã vượt qua giai đoạn trẻ con và hiện nay là người trưởng thành, dù chưa chín muồi. Sự chín muồi đạt được qua kinh nghiệm và quyết định do chính mình tạo ra, và trong một thời gian, chúng tôi, những người tìm cách hướng dẫn, đã giới hạn nỗ lực của mình vào việc tiếp cận những người thông minh, gây ấn tượng lên những người có tâm trí tinh thần, và kích thích nhân loại hành động đúng đắn mà không xâm phạm sự biểu lộ ngày càng tăng của tự do ý chí nơi con người. Vì vậy kết quả là điều không thể dự đoán, dù chúng tôi có thể thấy một mức độ tất yếu nào đó trong các biến cố tương lai. Nhưng con người tự do chọn con đường mà mình sẽ đi, và phần lớn trách nhiệm đối với các lựa chọn của mình nằm trên vai những người được giáo huấn nhiều hơn trong gia đình nhân loại và trên những ai đã đạt được một mức độ tầm nhìn nào đó. |
|
With these thoughts upon the new Invocation I would leave you to work out these ideas in the recesses of your reflective consciousness. I would ask you to use the Invocation frequently, with dynamic intent and true understanding, [282] and thus cooperate—by its use, by your love of humanity, and by your activity on the side of the Forces of Light—with those on the outer and inner planes who are seeking to drive aggression back to the place from whence it came, and to end the rule of hate and fear. |
Với những tư tưởng này về Khấn Nguyện mới, tôi để các bạn tự triển khai những ý tưởng ấy trong những nơi sâu kín của tâm thức suy tư của mình. Tôi muốn yêu cầu các bạn sử dụng Khấn Nguyện thường xuyên, với ý định năng động và sự thấu hiểu chân thật, [282] và như thế hợp tác—bằng việc sử dụng nó, bằng tình thương của các bạn đối với nhân loại, và bằng hoạt động của các bạn đứng về phía các Mãnh Lực Ánh Sáng—với những người trên các cõi bên ngoài và bên trong đang tìm cách đẩy lùi sự xâm lược trở về nơi nó đã đến, và chấm dứt sự cai trị của hận thù và sợ hãi. |