Tâm Lý Học Nội Môn (Douglas Baker) – Phần I

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn – Bảy Cung (Douglas Baker) – Tác giả: Douglas Baker

Cover

00002.jpeg

This edition is gratefully dedicated to Nicola & Maurice Griffin

at the Ultimate Health Clinic Centre for Nutritional and Esoteric Healing


FOREWORD—LỜI NÓI ĐẦU

Esoteric Psychology is based on two major precepts. Firstly, there is a cosmic force conveying seven streams of energy into our solar system that affect the nature, behaviour and evolution of all forms within the ring-pass-not of this system. These streams are termed the Seven Rays. Secondly, spiritual qualities emerging from the immortal component of Man s structure affect his behaviour and modify the contributing factors of his hereditary equipment and the environment into which it is thrust.

Tâm Lý Học Nội Môn dựa trên hai nguyên tắc chính. Thứ nhất, có một mãnh lực vũ trụ truyền dẫn bảy luồng năng lượng vào hệ mặt trời của chúng ta, vốn ảnh hưởng đến bản chất, hành vi và sự tiến hóa của mọi hình tướng bên trong vòng-giới-hạn của hệ thống này. Các luồng năng lượng này được gọi là Bảy Cung. Thứ hai, các phẩm tính tinh thần xuất phát từ phần bất tử trong cấu trúc của con người ảnh hưởng đến hành vi của y và điều chỉnh các yếu tố góp phần từ bộ máy di truyền và môi trường mà nó được đưa vào.

This book emphasises that all is energy and that Man is an energy unit affected from both without and within. It demonstrates that Ray Psychology is essentially practical and shows how the qualities of these energies may be understood and embraced in human behaviour.

Cuốn sách này nhấn mạnh rằng tất cả đều là năng lượng và Con người là một đơn vị năng lượng bị ảnh hưởng từ cả bên ngoài lẫn bên trong. Nó chứng minh rằng Tâm lý học Cung là một môn thực tiễn và cho thấy làm thế nào các phẩm tính của những năng lượng này có thể được thấu hiểu và thể hiện trong hành vi của con người.

In understanding the nature of esoteric Man we elaborate a formula, which is called the ‘Ray complement.’ It consists of the Ray of the Soul, in Roman numerals, followed by the personality Ray and, bracketed, the Rays of the mental, astral and physical bodies, e.g. :

Để thấu hiểu bản chất của con người huyền bí, chúng ta xây dựng một công thức, được gọi là ‘bộ Cung bổ sung’. Nó bao gồm Cung của Linh hồn, bằng chữ số La Mã, theo sau là Cung phàm ngã và, trong ngoặc, là các Cung của thể trí, thể cảm dục và thể xác, ví dụ:

00003.jpeg

The above is a typical Ray complement arrived at through a Ray Analysis (see Appendix I). This formula is used throughout this book.

Trên đây là một bộ Cung bổ sung điển hình được đưa ra thông qua Phân tích Cung (xem Phụ lục I). Công thức này được sử dụng xuyên suốt cuốn sách này.

GIỚI THIỆU

Sự Cần Thiết của một Nền Tâm Lý Học Nội Môn

Madame Blavatsky once said that knowledge of The Seven Rays brought power to the knower. Lack of knowledge concerning one’s nature is a serious defect. When we don’t understand ourselves we can’t change ourselves. Knowledge of our real nature and something of our totality brings the ability with it to reconstruct our vehicles and thenceforth to use them as the trained esotericist does, drawing on the hidden forces of nature to enrich them and to direct them towards the ultimate in creativeness, a creativeness which can be manifest twenty-four hours of every day!

Bà Blavatsky từng nói rằng kiến thức về Bảy Cung mang lại quyền năng cho người biết. Thiếu kiến thức về bản chất của chính mình là một khiếm khuyết nghiêm trọng. Khi chúng ta không hiểu chính mình, chúng ta không thể thay đổi chính mình. Kiến thức về bản chất thực sự của chúng ta và một vài điều về tính toàn thể của chúng ta mang lại khả năng tái cấu trúc các vận cụ của chúng ta và từ đó sử dụng chúng như một nhà bí truyền học lão luyện, dựa vào các mãnh lực ẩn tàng của tự nhiên để làm phong phú chúng và hướng chúng đến sự sáng tạo tối thượng, một sự sáng tạo có thể biểu hiện hai mươi bốn giờ mỗi ngày!

In the sacred temple of the initiates at Delphi, in the former days of Greece’s glory, there was an oracle that guided much of the nation’s thinking. Here, from an opening in the floor of the temple carbon dioxide gas rose gently into the most sacred part of the temple from the bowels of the Earth. Under the influence of its fumes the temple virgins succumbed and then, speaking through them, the voices of the gods on Mount Olympus were heard as the oracle. Through this mechanism, the minds of the important men of those days were seeded by the thoughts of the Masters of the Wisdom. It was here that in answer to a question put to the oracle Socrates was pronounced the wisest of all men.

Trong ngôi đền thiêng liêng của các điểm đạo đồ tại Delphi, vào những ngày vinh quang xưa kia của Hy Lạp, có một sấm truyền đã dẫn dắt phần lớn tư duy của quốc gia. Tại đây, từ một khe hở trên sàn đền, khí carbon dioxide nhẹ nhàng bốc lên từ lòng đất vào phần linh thiêng nhất của ngôi đền. Dưới ảnh hưởng của khí này, các trinh nữ trong đền đã bị ngất đi và sau đó, tiếng nói của các vị thần trên đỉnh Olympus được nghe thấy qua họ như là sấm truyền. Qua cơ chế này, tâm trí của những nhân vật quan trọng thời đó đã được gieo mầm bởi tư tưởng của các Chân sư Minh triết. Chính tại đây, để trả lời một câu hỏi được đặt ra cho sấm truyền, Socrates đã được tuyên bố là người khôn ngoan nhất trong tất cả mọi người.

Today, amongst esotericists, the Delphic Oracle is still a household word because of its famous injunction ‘Man, know thy Self’.

Ngày nay, trong giới bí truyền học, Sấm truyền Delphi vẫn là một từ quen thuộc vì lời răn nổi tiếng của nó ‘Hỡi con người, hãy biết chính mình’.

When Man can answer four eternal questions about himself, and by himself, he will have truly heeded that injunction:

Khi Con người có thể tự mình trả lời bốn câu hỏi vĩnh cửu về bản thân, y sẽ thực sự nghe theo lời răn đó:

• Who am I?

• Tôi là ai?

• Where do I come from? Why am I here? and

• Tôi từ đâu đến? Tại sao tôi ở đây? và

• Where do I go to from here ?

• Tôi sẽ đi đâu từ đây?

The answering of these questions takes Man to the gods on Olympus, to the feet of the Masters and the journey there is called The Path. There have always been those who have searched for the Path, for The Jewel in the Lotus, for the same Golden Fleece that Jason sought, for the Holy Grail of Christian Mysticism or the Shining Bowl of Judaic teachings.

Việc trả lời những câu hỏi này đưa Con người đến với các vị thần trên đỉnh Olympus, đến chân các Chân sư và cuộc hành trình đó được gọi là Thánh Đạo. Luôn có những người đã tìm kiếm Thánh Đạo, tìm kiếm Viên Ngọc trong Hoa Sen, tìm kiếm Bộ Lông Cừu Vàng mà Jason đã tìm, tìm kiếm Chén Thánh của Thần bí học Cơ đốc giáo hay Chiếc Bát Sáng của giáo lý Do Thái.

Today, we call that same search into spiritual enlightenment, ‘The Opening of the Third Eye’. I always say that looking for the Third Eye is like searching for your spectacles. You need the spectacles to find them! And Man needs spiritual equipment to find his spiritual Self

Ngày nay, chúng ta gọi cuộc tìm kiếm sự soi sáng tinh thần đó là ‘Sự Khai Mở Con Mắt Thứ Ba’. Tôi luôn nói rằng tìm kiếm Con Mắt Thứ Ba giống như tìm kiếm cặp kính của bạn. Bạn cần cặp kính để tìm thấy chúng! Và Con người cần trang bị tinh thần để tìm thấy Chân ngã tinh thần của mình.

In The Secret Doctrine, Madame Blavatsky tells us that we are given, in our lives, opportunities to acquire enough of the right sort of information to take us to perfection but we have not, within our personality equipment, the power to synthesise the knowledge we have gained. This is indeed true. There is no lack of teachings. Our library shelves are stacked with books, read and unread, our Halls of Learning bulge with enough knowledge to make Masters of us all and yet that wisdom, the deposit of the ages, given out by the initiates and Masters lies practically ignored. Very few, only a handful in each country are prepared to take the Secret Path to self-mastery. Only the Few will search deeper than that narrow margin or surface area of wisdom which merely brings comfort to some thwarted aspect of personality. Most search only long enough or deeply enough to find some balm for the wounds they have received from ‘the slings and arrows of outrageous fortune’ or for ‘the pangs of despised love.’ Too many use the occult as a sop for their frustrations at the personality level, and then drop it.

Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Bà Blavatsky cho chúng ta biết rằng, trong cuộc sống, chúng ta được trao những cơ hội để thu thập đủ loại thông tin đúng đắn để đưa chúng ta đến sự hoàn hảo nhưng chúng ta không có, trong bộ máy phàm ngã của mình, sức mạnh để tổng hợp kiến thức mà chúng ta đã thu được. Điều này thực sự đúng. Không thiếu các giáo lý. Các kệ sách thư viện của chúng ta chất đầy những cuốn sách, đã đọc và chưa đọc, các Phòng Hiểu Biết của chúng ta chứa đầy đủ kiến thức để biến tất cả chúng ta thành Chân sư, thế nhưng minh triết đó, di sản của các thời đại, được các điểm đạo đồ và Chân sư ban tặng, lại gần như bị phớt lờ. Rất ít người, chỉ một số ít ở mỗi quốc gia, sẵn sàng đi theo Con đường Bí mật để tự làm chủ bản thân. Chỉ một số ít sẽ tìm kiếm sâu hơn lề hẹp hoặc bề mặt của minh triết vốn chỉ mang lại sự an ủi cho một khía cạnh nào đó bị cản trở của phàm ngã. Hầu hết chỉ tìm kiếm đủ lâu hoặc đủ sâu để tìm một liều thuốc xoa dịu cho những vết thương mà họ đã nhận từ ‘những mũi tên và sỏi đá của số phận nghiệt ngã’ hoặc cho ‘nỗi đau của tình yêu bị khinh rẻ’. Quá nhiều người sử dụng huyền bí học như một liều thuốc an thần cho những thất vọng của họ ở cấp độ phàm ngã, rồi sau đó từ bỏ nó.

Drink deep or taste not the Pierian spring

Hãy uống thật sâu hoặc đừng nếm thử dòng suối Pierian

A little knowledge is a dangerous thing.

Một chút kiến thức là một điều nguy hiểm.

The untrained mind begins to flounder when it tries to get to grips with what amounts to a more complete picture of Man who is something more than the tip of the iceberg. We need a holistic approach to the phenomenon of Man in order to understand him and, thereby, change him. We must understand:-

Thể trí chưa được rèn luyện bắt đầu lúng túng khi cố gắng nắm bắt những gì được coi là một bức tranh hoàn chỉnh hơn về Con người, vốn là một cái gì đó nhiều hơn phần nổi của tảng băng trôi. Chúng ta cần một cách tiếp cận toàn diện đối với hiện tượng Con người để thấu hiểu y và, qua đó, thay đổi y. Chúng ta phải thấu hiểu:-

(1) Man as possessing Seven vehicles of consciousness, of which the physical is but the grossest and the brain of which we scarcely know anything …

(1) Con người sở hữu Bảy vận cụ tâm thức, trong đó thể xác chỉ là thô kệch nhất và bộ não mà chúng ta hầu như không biết gì về nó …

(2) Man in relation to the universe and the seven planes of which it is composed and the various hierarchies of lives visible and invisible that inhabit those planes and with which Man, willy-nilly interacts …

(2) Con người trong mối quan hệ với vũ trụ và bảy cõi giới cấu thành nên nó và các huyền giai khác nhau của các sự sống hữu hình và vô hình cư ngụ trên các cõi giới đó và với những cõi giới đó, Con người, dù muốn dù không, cũng tương tác …

The septenary natures of these two fields of knowledge spread into chakras and nadis, rounds and chains, races and root races, planes of consciousness and disciplines, colours, sound and magnetism, forward motion, spiralling cyclic motion and rotary motion, solar systems, constellations and galaxies … The list is endless. The Secret Doctrine itself and its sequel A Treatise on Cosmic Fire run to more than three thousand pages. This, my own treatise on the same subject—and one more by direct statement than by inference—runs to seven volumes with many parts still to come even though it is written with Fifth Ray briefness and backed, to assist brevity, with copious illustrations.

Bản chất thất phân của hai lĩnh vực kiến thức này lan tỏa thành các luân xa và nadis, các cuộc tuần hoàn và các dãy, các giống dân và giống dân gốc, các cõi tâm thức và các môn học, màu sắc, âm thanh và từ điện, chuyển động tới, chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ và chuyển động quay, các hệ mặt trời, các chòm sao và các thiên hà … Danh sách này là vô tận. Bản thân Giáo Lý Bí Nhiệm và phần tiếp theo của nó, Luận về Lửa Vũ Trụ, dài hơn ba nghìn trang. Luận thuyết của riêng tôi về cùng một chủ đề này—và một luận thuyết khác bằng cách trình bày trực tiếp hơn là bằng cách suy luận—gồm bảy tập với nhiều phần vẫn chưa ra mắt mặc dù nó được viết với sự ngắn gọn của Cung Năm và được hỗ trợ, để tăng tính súc tích, bằng nhiều hình ảnh minh họa phong phú.

Yet in these teachings, only a fragment of the Wisdom of the Ages has been presented. It is therefore inevitable that certain keys to the Wisdom have been fashioned through the ages. They precipitate the raincloud of knowable things and each age must use one appropriate to the language and qualities of that day, scientific, artistic or otherwise:

Tuy nhiên, trong những giáo lý này, chỉ có một phần nhỏ của Minh Triết Ngàn Đời được trình bày. Do đó, không thể tránh khỏi việc một số chìa khóa dẫn đến Minh Triết đã được tạo ra qua các thời đại. Chúng làm ngưng tụ đám mây mưa của những điều khả tri và mỗi thời đại phải sử dụng một chìa khóa phù hợp với ngôn ngữ và phẩm tính của thời đại đó, dù là khoa học, nghệ thuật hay khác:

• The Astrological Key

• Chìa khóa Chiêm tinh học

• The Astronomical key

• Chìa khóa Thiên văn học

• The Physiological key

• Chìa khóa Sinh lý học

• The Metaphysical key

• Chìa khóa Siêu hình học

• The Anthropological key, which recognises the dual origin of Man with his ancestry linked to life in other parts of the universe

• Chìa khóa Nhân loại học, vốn công nhận nguồn gốc kép của Con người với tổ tiên liên kết với sự sống ở các phần khác của vũ trụ

• The Geometrical key which Pythagoras used… ‘God geometrises’ is a truer expression than we sometimes recognise

• Chìa khóa Hình học mà Pythagoras đã sử dụng… ‘Thượng đế hình học hóa’ là một biểu hiện chân thực hơn những gì chúng ta đôi khi nhận ra

• The Mystical key

• Chìa khóa Thần bí

• The Numerical key and;

• Chìa khóa Số học và;

• The Symbolical key

• Chìa khóa Tượng trưng

These keys have usually incorporated many aids like the Tarot, mantras, crystal balls, words of power, peyote cactus, hatha yoga, etc.

Những chìa khóa này thường kết hợp nhiều công cụ hỗ trợ như Tarot, các mantram, quả cầu pha lê, các quyền năng từ, cây xương rồng peyote, hatha yoga, v.v.

Frequently the keys were incorporated into a religion which entrenched the key, made a dogma out of it and retained it long after its appropriateness had been superseded by that of another one. To this day, Christianity retains fragments of the original key in the incense, stained glass windows, etc., farcical relics of a devotional and ceremonial key pertaining to the Seventh Ray which rules the personality of the Catholic Church and the Sixth Ray which rules its soul.

Thông thường, các chìa khóa được tích hợp vào một tôn giáo, vốn củng cố chìa khóa đó, biến nó thành một giáo điều và giữ lại nó rất lâu sau khi sự phù hợp của nó đã bị thay thế bởi một chìa khóa khác. Cho đến ngày nay, Cơ đốc giáo vẫn giữ lại những mảnh vỡ của chìa khóa ban đầu trong hương trầm, cửa sổ kính màu, v.v., những di tích lố bịch của một chìa khóa sùng kính và nghi lễ thuộc về Cung Bảy vốn cai quản phàm ngã của Giáo hội Công giáo và Cung Sáu vốn cai quản linh hồn của nó.

Whatever the key, if it were successful, it opened the floodgates of higher consciousness.

Bất kể chìa khóa là gì, nếu nó thành công, nó sẽ mở ra những cánh cửa của tâm thức cao hơn.

The key had to make sense of the inherited but perennial Wisdom of the Ages. It had to bring not only a synthesis to it but make it applicable to the problems of the day. In this respect, the key used by some churches today is often outmoded and useless and no changing of its outer facade is going to bring back lost congregations. The knowledge concerning Man’s soul, which we term Ancient Wisdom, must be presented in the language of the Aquarian Age … in the vein of I KNOW rather than I BELIEVE. Man must know for himself, not be given something just to have belief in and second hand from the local priest. Hence the importance at this time of the Delphic Oracle as it posits the four eternal questions put earlier. Any teacher trying today to feed the young with teachings which must be accepted on blind faith, is doomed to failure. Present the young with the facts and let them judge for themselves … this is far more acceptable and will become more so as the new age sweeps into manifestation.

Chìa khóa phải làm sáng tỏ Minh Triết trường tồn được thừa hưởng của các thời đại. Nó không chỉ phải mang lại sự tổng hợp cho Minh Triết mà còn phải làm cho nó có thể áp dụng được cho các vấn đề của thời đại. Về mặt này, chìa khóa được một số nhà thờ sử dụng ngày nay thường đã lỗi thời và vô dụng, và không có sự thay đổi nào về mặt hình thức bên ngoài của nó sẽ mang lại những giáo đoàn đã mất. Kiến thức liên quan đến linh hồn của Con người, mà chúng ta gọi là Minh Triết Cổ Xưa, phải được trình bày bằng ngôn ngữ của Kỷ nguyên Bảo Bình … theo tinh thần TÔI BIẾT hơn là TÔI TIN. Con người phải tự mình biết, chứ không phải được cho một cái gì đó chỉ để tin tưởng và là thông tin thứ cấp từ vị linh mục địa phương. Do đó, tầm quan trọng của Sấm truyền Delphi vào thời điểm này khi nó đặt ra bốn câu hỏi vĩnh cửu đã được nêu trước đó. Bất kỳ huấn sư nào ngày nay cố gắng nuôi dưỡng những người trẻ tuổi bằng những giáo lý phải được chấp nhận bằng niềm tin mù quáng, đều sẽ thất bại. Hãy trình bày cho những người trẻ tuổi những sự thật và để họ tự phán xét … điều này dễ chấp nhận hơn nhiều và sẽ trở nên như vậy khi kỷ nguyên mới quét vào sự biểu hiện.

The key to the knowledge of Man’s totality for our day is the PSYCHOLOGICAL one. Through an understanding of the Seven Rays this psychological key becomes practical and effective in answering the problems of the day. It takes into account the whole picture of Man … holistic Man. It takes into consideration also the whole domain of Man’s attention, the world about him and the worlds of his inner space and out of it all there emerges a framework for understanding God’s plan for atom, cell, planet and galaxy, and, above all, for Man himself

Chìa khóa cho kiến thức về tính toàn thể của Con người trong thời đại của chúng ta là chìa khóa TÂM LÝ. Thông qua sự thấu hiểu về Bảy Cung, chìa khóa tâm lý này trở nên thực tiễn và hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề của thời đại. Nó xem xét toàn bộ bức tranh về Con người … Con người toàn diện. Nó cũng xem xét toàn bộ lĩnh vực chú ý của Con người, thế giới xung quanh y và các thế giới không gian nội tại của y, và từ tất cả những điều đó, một khuôn khổ để thấu hiểu thiên cơ của Thượng đế cho nguyên tử, tế bào, hành tinh và thiên hà, và trên hết, cho chính Con người, sẽ xuất hiện.

The Psychology of the Seven Rays takes into account a factor concerning man ignored by most contemporary psychologists. The two, more traditional factors come under the heading of environment and hereditary equipment. The third factor postulates an inner, spiritual nature for man, and only recently has it found some sort of representation in those current schools of psychology representing the so-called existential approach, as exemplified by Maslow (Towards a Psychology of Being), Assagioli (Psychosynthesis) and others.

Tâm lý học của Bảy Cung xem xét một yếu tố liên quan đến con người bị hầu hết các nhà tâm lý học đương đại bỏ qua. Hai yếu tố truyền thống hơn thuộc về môi trườngbộ máy di truyền. Yếu tố thứ ba giả định một bản chất tinh thần, nội tại cho con người, và chỉ gần đây nó mới tìm thấy một hình thức đại diện nào đó trong các trường phái tâm lý học hiện tại đại diện cho cách tiếp cận hiện sinh, như được minh họa bởi Maslow (Hướng tới một Tâm lý học của Bản thể), Assagioli (Tổng hợp Tâm lý) và những người khác.

The Seven Rays analyses the anatomy and function of these various units of spiritual energy which constitute the vehicle of expression of man’s soul and which constantly stimulate or moderate the elements of man’s personality from within, and which he comes to recognise as a ‘spiritual conscience.’ It is mainly through the effects of this inner nature that man is able to integrate his personality to the extent that it sounds forth as a single note. He is then able to express some of those inner powers said to be latent in man, which are now being examined by various scientific bodies and are known as extra sensory perception, parapsychology, psi-faculty, etc.

Bảy Cung phân tích cấu trúc và chức năng của các đơn vị năng lượng tinh thần khác nhau này, vốn cấu thành vận cụ biểu hiện của linh hồn con người và liên tục kích thích hoặc điều hòa các yếu tố trong phàm ngã của con người từ bên trong, mà y dần nhận ra là một ‘lương tâm tinh thần’. Chủ yếu là qua các tác động của bản chất nội tại này mà con người có thể tích hợp phàm ngã của mình đến mức nó vang lên như một âm điệu duy nhất. Khi đó, y có thể biểu lộ một số quyền năng nội tại được cho là tiềm ẩn trong con người, vốn hiện đang được các cơ quan khoa học khác nhau nghiên cứu và được biết đến với các tên gọi như ngoại cảm, cận tâm lý học, năng lực psi, v.v.

The teachings on the Seven Rays are a key to the true nature of man and embrace all scientific, occult and mystical knowledge, providing a framework for understanding God’s Plan for each atom, cell, planet, galaxy and for Man himself. The Rays give us new methods of healing, new light on the origin of disease (See my book Esoteric Healing) and teach the manipulation of soul energy (See my book Meditation, The Theory and Practice). They indicate the political character and destiny of nations and show us the origin, function and future of individual races and the race of mankind as a whole. They indicate geographic areas of harmony and chaos on the surface of our globe and point to future cataclysms and planetary illnesses. They categorise and analyse the reasons for human desire and indicate how these desires may be handled. They give a wider view of karma and offer information about the mechanics of reincarnation. They can indicate to the earnest student who is prepared to sieve and to meditate, to cross-check and synthesise, our individual places on the Path.

Các giáo lý về Bảy Cung là chìa khóa cho bản chất thực sự của con người và bao gồm tất cả kiến thức khoa học, huyền bí và thần bí, cung cấp một khuôn khổ để thấu hiểu Thiên Cơ của Thượng đế cho mỗi nguyên tử, tế bào, hành tinh, thiên hà và cho chính Con người. Các Cung cung cấp cho chúng ta các phương pháp chữa bệnh mới, ánh sáng mới về nguồn gốc của bệnh tật (Xem cuốn sách của tôi Trị Liệu Huyền Môn) và dạy cách điều khiển năng lượng linh hồn (Xem cuốn sách của tôi Tham Thiền, Lý Thuyết và Thực Hành). Chúng chỉ ra tính cách chính trị và vận mệnh của các quốc gia và cho chúng ta thấy nguồn gốc, chức năng và tương lai của các giống dân riêng lẻ và của toàn thể nhân loại. Chúng chỉ ra các khu vực địa lý hòa hợp và hỗn loạn trên bề mặt địa cầu của chúng ta và chỉ ra các thảm họa và bệnh tật của hành tinh trong tương lai. Chúng phân loại và phân tích các lý do cho ham muốn của con người và chỉ ra cách xử lý những ham muốn này. Chúng đưa ra một cái nhìn rộng hơn về nghiệp quả và cung cấp thông tin về cơ chế của sự tái sinh. Chúng có thể chỉ ra cho người môn sinh nghiêm túc, người sẵn sàng sàng lọc và tham thiền, kiểm tra chéo và tổng hợp, vị trí cá nhân của chúng ta trên Thánh Đạo.

The full teaching on the Rays expounds the three great laws of Synthesis, Attraction and Economy, which embrace all other laws of being. For the first time, the nature of fire is explained (See my book The Jewel in the Lotus) and categorised under three headings of Electric Fire, Solar Fire and Fire by Friction. It gives intimate knowledge about the working of hierarchical ashrams and methods by which Masters may be contacted.

Toàn bộ giáo lý về các Cung trình bày ba định luật vĩ đại là Tổng hợp, Hấp dẫn và Tiết kiệm, vốn bao gồm tất cả các định luật khác về sự tồn tại. Lần đầu tiên, bản chất của lửa được giải thích (Xem cuốn sách của tôi Viên Ngọc trong Hoa Sen) và được phân loại dưới ba tiêu đề Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa do ma sát. Nó cung cấp kiến thức sâu sắc về hoạt động của các đạo tràng của Thánh Đoàn và các phương pháp để có thể liên lạc với các Chân sư.

The Ray Psychology is a sharpened and polished instrument of the sprawling and unwieldy Wisdom of the Ages. Although the Psychology must remain esoteric for another hundred years, it is of profound importance to ‘the few’ who endeavour consciously to reduce the tedium of endless incarnations on the wheel of rebirth. I would repeat that The Psychology of the Seven Rays as here presented is a teaching by direct statement. It is the science of the antakarana, the building of the rainbow bridge from personality to soul, which I describe fully in my book Meditation, The Theory and Practice).

Tâm lý học Cung là một công cụ sắc bén và tinh xảo của Minh Triết Ngàn Đời rộng lớn và cồng kềnh. Mặc dù Tâm lý học phải vẫn còn là bí truyền trong một trăm năm nữa, nó có tầm quan trọng sâu sắc đối với ‘một số ít người’ cố gắng một cách có tâm thức để giảm bớt sự tẻ nhạt của vô số lần đầu thai trên bánh xe tái sinh. Tôi xin nhắc lại rằng Tâm lý học của Bảy Cung như được trình bày ở đây là một giáo lý bằng cách trình bày trực tiếp. Đó là khoa học về antakarana, việc xây dựng cây cầu vồng từ phàm ngã đến linh hồn, mà tôi mô tả đầy đủ trong cuốn sách của mình Tham thiền, Lý thuyết và Thực hành).


CHAPTER ONE

The Seven Rays: Nature, Origin and Function—Bảy Cung: Bản chất, Nguồn gốc và Chức năng

The Hylozoistic Theory—The nature of the Seven Rays is inextricably woven into the most basic theories of that unequalled classic of occult wisdom, The Secret Doctrine. Hylozoism is the most prominent of these theories. Hylo is a derivative of the Greek word for matter, and zoism means life. The theory propounds that everything lives … from the tiniest atom to the greatest galaxy. Even today, this theory, which is pantheism carried to its logical conclusion, is anathema to the biologist, and even the most earnest students of esotericism sometimes hesitate at it.

Thuyết Vạn Vật Hữu Linh—Bản chất của Bảy Cung gắn bó chặt chẽ với những lý thuyết cơ bản nhất của tác phẩm kinh điển vô song về minh triết huyền bí, Giáo Lý Bí Nhiệm. Thuyết vạn vật hữu linh là lý thuyết nổi bật nhất trong số đó. Hylo là một từ phái sinh của từ Hy Lạp có nghĩa là vật chất, và zoism có nghĩa là sự sống. Lý thuyết này cho rằng mọi thứ đều sống … từ nguyên tử nhỏ nhất đến thiên hà lớn nhất. Ngay cả ngày nay, lý thuyết này, vốn là thuyết phiếm thần được đưa đến kết luận hợp lý của nó, vẫn là một điều ghê tởm đối với nhà sinh vật học, và ngay cả những người nghiên cứu bí truyền học nghiêm túc nhất đôi khi cũng do dự về nó.

Madame Blavatsky’s proposition came at a time when science was only just beginning to reject the concept that the basic elements were made up of tiny balls of their respective substances, a concept which dated to 500 B.C., to Democritus. The possibility that atoms could contain life, or more incredulous, some degree of sentiency or consciousness, seemed absurd then, and the position has hardly changed in the following twenty-five centuries.

Đề xuất của Bà Blavatsky được đưa ra vào thời điểm khoa học chỉ mới bắt đầu bác bỏ khái niệm rằng các nguyên tố cơ bản được tạo thành từ những quả cầu nhỏ của các chất tương ứng của chúng, một khái niệm có từ năm 500 trước Công nguyên, của Democritus. Khả năng các nguyên tử có thể chứa sự sống, hoặc đáng kinh ngạc hơn, một mức độ cảm giác hoặc tâm thức nào đó, lúc đó có vẻ vô lý, và tình hình hầu như không thay đổi trong hai mươi lăm thế kỷ sau đó.

That atoms can be alive may still seem to the scientist a very foolish speculation, but there are signs that new thinking along these lines is occurring. The advent of the electron microscope and the influx of enlightened men like Nobel Prize winner John Howard Northrop, are casting new light on the subject. Northrop says:

Việc các nguyên tử có thể sống vẫn có vẻ như là một suy đoán rất ngớ ngẩn đối với các nhà khoa học, nhưng có những dấu hiệu cho thấy tư duy mới theo hướng này đang xuất hiện. Sự ra đời của kính hiển vi điện tử và sự xuất hiện của những người giác ngộ như người đoạt giải Nobel John Howard Northrop đang soi sáng mới cho chủ đề này. Northrop nói:

‘Today the division between organic and inorganic chemistry has completely disappeared and the mechanisms of a great many of the chemical reactions which occur in living matter are now thoroughly understood.’

‘Ngày nay, sự phân chia giữa hóa học hữu cơ và vô cơ đã hoàn toàn biến mất và cơ chế của rất nhiều phản ứng hóa học xảy ra trong vật chất sống hiện đã được hiểu rõ hoàn toàn.’

The barriers are creaking.

Các rào cản đang kêu cót két.

The enigmatic virus lies between the realm of the cell or of the bacteria and that of the atoms and the molecules. Outside of a tissue cell, in which it has to ‘live,’ the virus turns out to be nothing more than a crystal! The tobacco virus is a typical example. Within the cells of tobacco plants, it is able to multiply and grow and shows many of the accepted characteristics of life:

Virus bí ẩn nằm giữa lĩnh vực của tế bào hoặc vi khuẩn và lĩnh vực của nguyên tử và phân tử. Bên ngoài một tế bào mô, nơi nó phải ‘sống’, virus hóa ra không hơn gì một tinh thể! Virus thuốc lá là một ví dụ điển hình. Trong các tế bào của cây thuốc lá, nó có thể nhân lên và phát triển và thể hiện nhiều đặc điểm được chấp nhận của sự sống:

‘Certain proteins, in fact, provide the best possible evidence for the close relationship between chemistry and life. For among the proteins are viruses, those strange and tiny objects which sometimes act as though they were alive, and which at other times are pure chemical substances, as inert in a bottle as so much sugar or salt.’ The Scientists Speak, Boni and Gaer, Inc., New York, page 145.

‘Một số protein, trên thực tế, cung cấp bằng chứng tốt nhất có thể cho mối quan hệ chặt chẽ giữa hóa học và sự sống. Bởi vì trong số các protein có virus, những vật thể kỳ lạ và nhỏ bé đôi khi hoạt động như thể chúng đang sống, và vào những lúc khác lại là những chất hóa học tinh khiết, trơ như đường hoặc muối trong chai.’ Các nhà khoa học lên tiếng, Boni và Gaer, Inc., New York, trang 145.

Speaking of some other proteins known as enzymes, Northrop says:

Nói về một số protein khác được gọi là enzyme, Northrop nói:

‘Two of the enzymes, pepsin and trypsin, possess the extraordinary property of causing their own formation. These enzymes are not present, as such, in the body tissues. Instead, there is present, a peculiar protein, which has no effect on any reaction … if this inert protein is dissolved under certain conditions and a trace of either pepsin or trypsin added, all the inert protein present changes to pepsin or trypsin. These enzymes can therefore reproduce themselves, a property which has frequently been considered a distinguishing characteristic of living things. Thus, the criterion of reproduction, which has been used to distinguish the quick from the dead, has failed, and the problem of defining a living thing, always a difficult one, has become even more difficult. It begins to look as though this difficulty is inherent in the subject, and may be due to the fact that there exists no fundamental distinction between living things and inanimate things.

‘Hai trong số các enzyme, pepsin và trypsin, có đặc tính phi thường là gây ra sự hình thành của chính chúng. Những enzyme này không có mặt, như vậy, trong các mô cơ thể. Thay vào đó, có một loại protein đặc biệt, không có tác dụng đối với bất kỳ phản ứng nào … nếu protein trơ này được hòa tan trong những điều kiện nhất định và một lượng nhỏ pepsin hoặc trypsin được thêm vào, tất cả protein trơ có mặt sẽ biến đổi thành pepsin hoặc trypsin. Do đó, những enzyme này có thể tự sinh sản, một đặc tính thường được coi là đặc điểm phân biệt của các vật sống. Như vậy, tiêu chí sinh sản, vốn được sử dụng để phân biệt vật sống với vật chết, đã thất bại, và vấn đề định nghĩa một vật sống, vốn luôn là một vấn đề khó khăn, đã trở nên khó khăn hơn nữa. Có vẻ như khó khăn này là cố hữu của chủ đề, và có thể là do thực tế không tồn tại sự phân biệt cơ bản nào giữa vật sống và vật vô tri vô giác.

So, it is evident that the teaching of The Secret Doctrine, which only elaborates on the same proposition propounded by Aristotle, is today far more acceptable to the most respectable scientists:

Vì vậy, rõ ràng là giáo lý của Giáo Lý Bí Nhiệm, vốn chỉ trình bày chi tiết hơn về cùng một mệnh đề do Aristotle đề xướng, ngày nay dễ chấp nhận hơn nhiều đối với các nhà khoa học đáng kính nhất:

‘Nature has made such a gradual transition from the non-living to the living, that the boundary is doubtful and probably non-existent. The Scientists Speak. Wendall M. Stanley, granted a Nobel prize for his work on viruses.

‘Thiên nhiên đã tạo ra một sự chuyển tiếp dần dần từ phi sinh vật sang sinh vật, đến nỗi ranh giới rất mơ hồ và có lẽ không tồn tại. Các nhà khoa học lên tiếng. Wendall M. Stanley, được trao giải Nobel cho công trình nghiên cứu về virus của mình.

Crystals are alive within cells and practising the equivalent of animal hibernation when outside of them. Are we not restricted from applying this proposition that all crystals are alive merely because we lack the scientific expertise to prove it?

Các tinh thể sống bên trong các tế bào và thực hiện tương đương với sự ngủ đông của động vật khi ở bên ngoài chúng. Phải chăng chúng ta bị hạn chế trong việc áp dụng mệnh đề này rằng tất cả các tinh thể đều sống chỉ vì chúng ta thiếu chuyên môn khoa học để chứng minh điều đó?

Once we accept that life may exist even in the smallest particles of matter, we must also accept that the whole planet is alive. Hylozoism does not stop with the atom or with Man. This theory proposes that atoms live within the body of the molecule, which, as has been shown, is accepted by many as alive. Living molecules sometimes form part of the body of a greater being, which is the tissue cell or unicellular organism. Many cells come together to form greater structures like Man himself Each entity, no matter how large or how small, is alive and lives within the body of a greater being somewhere along the scale of evolution.

Một khi chúng ta chấp nhận rằng sự sống có thể tồn tại ngay cả trong những hạt vật chất nhỏ nhất, chúng ta cũng phải chấp nhận rằng toàn bộ hành tinh này đang sống. Thuyết vạn vật hữu linh không dừng lại ở nguyên tử hay ở Con người. Lý thuyết này cho rằng các nguyên tử sống trong cơ thể của phân tử, vốn, như đã được chứng minh, được nhiều người chấp nhận là đang sống. Các phân tử sống đôi khi tạo thành một phần của cơ thể một đấng lớn hơn, đó là tế bào mô hoặc sinh vật đơn bào. Nhiều tế bào hợp lại để tạo thành các cấu trúc lớn hơn như chính Con người. Mỗi thực thể, dù lớn hay nhỏ, đều sống và tồn tại trong cơ thể của một đấng lớn hơn ở đâu đó trên thang tiến hóa.

What lies beyond this living entity which is Man? Does he live within the body of a greater being? The Wisdom of the Ages proposes that Man is no exception and lives within that sentient and great entity which we call a Root Race, whose centre is a Manu. Further, the Root Races are not only sensitive living entities in themselves, but also form a part of the body of that great, living entity, Humanity. Our Fifth Root Race (whose outer form is so well-known to us who compose it) is, inwardly, a living centre of etheric force within Humanity; this centre corresponds to our own throat chakra. The Atlantean Race, the Fourth Root Race, corresponds to the solar plexus centre in that distinguished Being. Similarly, the remnants of Lemuria correspond to the sacral centre. Even in Him, within Whom we live and move and have our being, there is evolution of consciousness, and His consciousness is drawing away from His sacral and solar plexus centres and shifting into His throat centre. The result is the upsurgence of the Fifth Root Race.

Điều gì nằm ngoài thực thể sống này là Con người? Liệu y có sống trong cơ thể của một đấng lớn hơn không? Minh Triết Ngàn Đời đề xuất rằng Con người không phải là ngoại lệ và sống trong thực thể có tri giác và vĩ đại mà chúng ta gọi là một Giống dân gốc, với trung tâm là một Manu. Hơn nữa, các Giống dân gốc không chỉ là các thực thể sống nhạy cảm tự thân, mà còn tạo thành một phần của cơ thể của thực thể vĩ đại, sống động đó, là Nhân loại. Giống dân gốc Thứ năm của chúng ta (mà hình tướng bên ngoài của nó rất quen thuộc với chúng ta, những người cấu thành nên nó) về mặt nội tại là một trung tâm sống động của mãnh lực dĩ thái trong Nhân loại; trung tâm này tương ứng với luân xa cổ họng của chúng ta. Giống dân Atlantis, Giống dân gốc Thứ tư, tương ứng với trung tâm tùng thái dương trong Đấng Cao quý đó. Tương tự, tàn tích của Lemuria tương ứng với trung tâm xương cùng. Ngay cả trong Ngài, Đấng mà chúng ta sống, di chuyển và tồn tại trong đó, cũng có sự tiến hóa của tâm thức, và tâm thức của Ngài đang rút khỏi các trung tâm xương cùng và tùng thái dương và chuyển vào trung tâm cổ họng của Ngài. Kết quả là sự trỗi dậy của Giống dân gốc Thứ năm.

While scientists may laugh about such apparently absurd statements, we can wait patiently until the day when it will be intuited by the great masses that the planets of our Solar System, and those of others, are but the outer expression of great living Beings, including even the galaxies. The Milky Way, the galaxy in which we live, is alive and sentient and has an evolving consciousness governed by the same great laws of Being which rule us, as well as the tiniest atoms. For centuries, our own Solar System has had the esoteric name of The Grand Man of the Heavens, and yet, even He is but the heart centre within the body of a far Greater Being, who can only be dimly sensed by even the highest initiate. It is no wonder that He is referred to as ‘The One About Whom Naught May Be Said. (See illustration below)

Trong khi các nhà khoa học có thể cười nhạo những phát biểu có vẻ vô lý như vậy, chúng ta có thể kiên nhẫn chờ đợi đến ngày mà các đại chúng sẽ trực giác được rằng các hành tinh trong Hệ Mặt trời của chúng ta, và của các hệ khác, chỉ là biểu hiện bên ngoài của các Đấng Cao Cả, sống động, bao gồm cả các thiên hà. Dải Ngân Hà, thiên hà mà chúng ta đang sống, đang sống và có tri giác và có một tâm thức đang tiến hóa được cai quản bởi cùng những định luật lớn của Bản Thể vốn cai quản chúng ta, cũng như những nguyên tử nhỏ bé nhất. Trong nhiều thế kỷ, Hệ Mặt trời của chúng ta đã có tên bí truyền là Đấng Thiên Nhân của các Bầu Trời, và tuy nhiên, ngay cả Ngài cũng chỉ là trung tâm tim trong cơ thể của một Đấng Vĩ Đại hơn nhiều, Đấng mà ngay cả điểm đạo đồ cao nhất cũng chỉ có thể cảm nhận một cách mơ hồ. Không có gì lạ khi Ngài được gọi là ‘Đấng Bất Khả Tư Nghị’. (Xem hình minh họa bên dưới)

We have arrived at a consideration of the universal, and this is essentially the occult method: to study the universal before considering the particular, which, in this instance, is Man. It is important to try to understand something about the stupendous consciousnesses of those great Beings in whom we live before trying to develop a psychological formula for ourselves.

Chúng ta đã đi đến việc xem xét cái phổ quát, và đây thực chất là phương pháp huyền bí: nghiên cứu cái phổ quát trước khi xem xét cái cụ thể, vốn, trong trường hợp này, là Con người. Điều quan trọng là phải cố gắng hiểu một chút về tâm thức phi thường của những Đấng Cao Cả mà chúng ta đang sống trong đó trước khi cố gắng phát triển một công thức tâm lý cho chính mình.

One of the great keys to understanding these stupendous Beings, who compose the consciousness of the Divinity, is the sacred science of astrology. Again, many esotericists refuse to accept this essential key to The Secret Doctrine. This attitude is generally the result of laziness or the fear of ridicule from others. Laziness prevents a thorough investigation and test of the key. While astronomers do magnificent work unravelling the anatomy of the universe, there is room for a physiology to explain the functions of the anatomical parts of the universe. Astrology, especially Esoteric Astrology, presently performs this function best.

Một trong những chìa khóa vĩ đại để thấu hiểu những Đấng Cao cả phi thường này, vốn cấu thành tâm thức của Thượng đế, là khoa học thiêng liêng của chiêm tinh học. Một lần nữa, nhiều nhà bí truyền học từ chối chấp nhận chìa khóa thiết yếu này cho Giáo Lý Bí Nhiệm. Thái độ này thường là kết quả của sự lười biếng hoặc nỗi sợ bị người khác chế nhạo. Sự lười biếng ngăn cản một cuộc điều tra và kiểm tra kỹ lưỡng về chìa khóa. Trong khi các nhà thiên văn học làm công việc tuyệt vời là làm sáng tỏ cấu trúc của vũ trụ, vẫn còn chỗ cho một môn sinh lý học để giải thích các chức năng của các bộ phận giải phẫu của vũ trụ. Chiêm tinh học, đặc biệt là Chiêm Tinh Học Nội Môn, hiện đang thực hiện chức năng này tốt nhất.

00004.jpeg

The reader should be familiar with the etheric or vital body of Man. There are seven major vortices of etheric energy located in well-known places of the body. Overlying these force centres or chakras are endocrine glands, which pour certain hormones or chemical messengers into the gross physical body to produce certain specific and well-understood results. The correct functioning of these glands greatly depends on the underlying ether body, which vitalises these special organs and also maintains the integrity of the various nervous systems through small etheric processes called nadis.

Người đọc nên quen thuộc với thể dĩ thái hay thể sinh lực của con người. Có bảy xoáy năng lượng dĩ thái chính nằm ở những vị trí quen thuộc trên cơ thể. Phủ lên các trung tâm mãnh lực hay luân xa này là các tuyến nội tiết, vốn tiết ra một số hormone hay sứ giả hóa học vào thể xác thô kệch để tạo ra những kết quả cụ thể và được hiểu rõ. Chức năng chính xác của các tuyến này phụ thuộc rất nhiều vào thể dĩ thái bên dưới, vốn tiếp sinh lực cho các cơ quan đặc biệt này và cũng duy trì sự toàn vẹn của các hệ thần kinh khác nhau thông qua các quá trình dĩ thái nhỏ gọi là nadis.

While there have been numerous and varied attempts to correlate the planets of our Solar System with their respective rulerships of the endocrine glands, there is no dispute among esotericists that the planets do influence them. This basic practice of the occultist implies, of course, that man is made in the image of a greater being; he is made in the image of the solar system in which he lives and moves and has his being.

Mặc dù đã có nhiều và đa dạng những nỗ lực để tương quan các hành tinh trong Hệ Mặt trời của chúng ta với sự cai quản tương ứng của chúng đối với các tuyến nội tiết, nhưng không có sự tranh cãi nào giữa các nhà bí truyền học rằng các hành tinh ảnh hưởng đến chúng. Thực hành cơ bản này của nhà huyền bí học ngụ ý, tất nhiên, rằng con người được tạo ra theo hình ảnh của một đấng vĩ đại hơn; y được tạo ra theo hình ảnh của hệ mặt trời mà y sống, di chuyển và tồn tại trong đó.

In the diagram opposite, man is represented as a microcosmic replica of a solar system, with planetary symbols positioned over the sites of his endocrine glands and underlying chakras. Carrying the pattern higher into the macrocosm, the seven sacred planets of the Solar System correspond to the endocrine glands and underlying chakras in The Grand Man of the Heavens, the living entity using our Solar System as a form within which to evolve and express himself. The Logoi or spiritual entities ensouling these centres are known as the Seven Spirits before the Throne. Their function is to receive, transmute and transform the energies stemming from the Solar Sphere and apply them in their own planetary systems.

Trong sơ đồ đối diện, con người được biểu thị như một bản sao tiểu thiên địa của một hệ mặt trời, với các biểu tượng hành tinh được đặt trên các vị trí của các tuyến nội tiết và các luân xa bên dưới. Đưa mô hình lên cao hơn vào đại thiên địa, bảy hành tinh thiêng liêng của Hệ Mặt trời tương ứng với các tuyến nội tiết và các luân xa bên dưới trong Đấng Thiên Nhân của các Bầu trời, thực thể sống sử dụng Hệ Mặt trời của chúng ta như một hình tướng để tiến hóa và biểu lộ chính mình. Các Thượng đế hay các thực thể tinh thần phú linh cho các trung tâm này được gọi là Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. Chức năng của Các Ngài là tiếp nhận, chuyển hóa và chuyển đổi các năng lượng phát ra từ Quả Cầu Thái Dương và áp dụng chúng trong các hệ hành tinh của chính Các Ngài.

We must go even further though, with each step towards the macrocosm, our understanding diminishes (as it does when we go into the microcosmic atoms). We must begin to speculate on the nature of that stupendous being in Whom our solar Logos is only a chakra. The Grand Man of the Heavens, or Solar Logos, corresponds to the Heart chakra in ‘The One About Whom Naught May Be Said.’

Tuy nhiên, chúng ta phải đi xa hơn nữa, với mỗi bước tiến về phía đại thiên địa, sự thấu hiểu của chúng ta lại giảm đi (giống như khi chúng ta đi vào các nguyên tử vi mô). Chúng ta phải bắt đầu suy đoán về bản chất của đấng phi thường đó mà trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ là một luân xa. Đấng Thiên Nhân của các Bầu Trời, hay Thái dương Thượng đế, tương ứng với luân xa Tim trong ‘Đấng Bất Khả Tư Nghị’.

The great star Sirius, the constellation of The Dragon, The Pleiades, and The Great Bear are also force centres of equal or even greater importance in that Being. It is taught that the seven stars of The Great Bear represent the seven etherico-physical head centres in ‘The One’, which are counterparts of those in our own human brains. The seven stars (one is not visible) of the Pleiades are said to correspond to the Throat Centre in Him. Sirius is to the Sun what Venus is to the Earth, that is, an alter ego. Sirius is probably the Head centre in ‘The One.’ The writer speculates that the function of the constellation of the Dragon, which is said to be the most occult of all of the constellations, is as a correspondent with the Brow chakra or Ajna centre. The great star Betelgeuse plays a part somewhere in this particular plan also. But, even ‘The One About Whom Naught May Be Said’ is living within the body of a much greater Being, who is the galaxy in which we live, The Milky Way.

Ngôi sao vĩ đại Sirius, chòm sao Long, chòm sao Pleiades, và chòm sao Đại Hùng cũng là những trung tâm mãnh lực có tầm quan trọng tương đương hoặc thậm chí lớn hơn trong Đấng đó. Người ta dạy rằng bảy ngôi sao của chòm sao Đại Hùng đại diện cho bảy trung tâm đầu dĩ thái-hồng trần trong ‘Đấng Duy Nhất’, vốn là đối phần của những trung tâm trong bộ não con người của chúng ta. Bảy ngôi sao (một ngôi không nhìn thấy được) của Pleiades được cho là tương ứng với Trung tâm Cổ họng trong Ngài. Sirius đối với Mặt trời cũng giống như Sao Kim đối với Trái đất, tức là, một bản ngã khác. Sirius có lẽ là trung tâm Đầu trong ‘Đấng Duy Nhất’. Người viết suy đoán rằng chức năng của chòm sao Long, vốn được cho là huyền bí nhất trong tất cả các chòm sao, là tương ứng với luân xa Trán hay trung tâm Ajna. Ngôi sao vĩ đại Betelgeuse cũng đóng một vai trò nào đó trong kế hoạch đặc biệt này. Nhưng, ngay cả ‘Đấng Bất Khả Tư Nghị’ cũng đang sống trong cơ thể của một Đấng Vĩ Đại hơn nhiều, đó là thiên hà mà chúng ta đang sống, Dải Ngân Hà.

The opposite drawing depicts the origin of The Seven Rays, arising from the Seven stars of The Great Bear, also known as The Plough. They are the outer manifestation of the seven head centres of “The One About Whom Naught May Be Said.” He is using the great Sun Sirius, known as the Dog-star, the star of Mercury and the star of the Buddha to focus the light of the Seven Rays (of Logoic Mind), as symbolised by the mirror, onto the Sign of Aquarius and the planet Earth …

Bức vẽ đối diện mô tả nguồn gốc của Bảy Cung, phát sinh từ Bảy ngôi sao của chòm sao Đại Hùng, còn được gọi là chòm sao Bắc Đẩu. Chúng là biểu hiện bên ngoài của bảy trung tâm đầu của “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. Ngài đang sử dụng Mặt trời vĩ đại Sirius, được gọi là sao Thiên Lang, ngôi sao của Sao Thủy và ngôi sao của Đức Phật để tập trung ánh sáng của Bảy Cung (của Trí Tuệ Thượng đế), như được tượng trưng bởi tấm gương, vào Dấu hiệu Bảo Bình và hành tinh Trái đất …

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí của Thượng đế

Let light stream forth into the minds of men.

Xin cho ánh sáng tuôn chảy vào tâm trí con người.

Let light descend on Earth.

Xin cho ánh sáng giáng xuống Trần gian.

He points the Finger of God at the new Age, and ‘energy follows thought.’ Beneath his beard, concealed by the Wisdom of the Ages, lies the secret of The Pleiades worn as a seven-staffed necklace overlying His throat centre.

Ngài chỉ Ngón tay của Thượng đế vào Kỷ nguyên mới, và ‘năng lượng theo sau tư tưởng’. Dưới bộ râu của Ngài, được che giấu bởi Minh Triết Ngàn Đời, là bí mật của chòm sao Pleiades được đeo như một chiếc vòng cổ bảy trượng phủ lên trung tâm cổ họng của Ngài.

Our Sun lies over His heart centre and rays out its note of Love-Wisdom …

Mặt trời của chúng ta nằm trên trung tâm tim của Ngài và tỏa ra âm điệu Bác Ái – Minh Triết …

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tim của Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Xin cho tình thương tuôn chảy vào trái tim con người.

May Christ return to Earth.

Cầu mong Đức Christ trở lại Trần gian.

The symbol of Earth lies directly in the two streams of energy and contains, at its centre, the Sign of Christos. The Finger of God has not quite drawn the full Sign of Aquarius, implying that the Age is not yet fully manifested. There is a constant interplay between the great zodiacal constellations depicted in the lower ellipse and their ruling planets in the higher ellipse. Great Triangles of energy should have been depicted between, for instance, the Pleiades, Sirius and our Sun, but they were omitted for the sake of simplicity. These triangles have little meaning until they are translated by Ray correspondences to our own human microcosm, which then reveals the powerful human triangle of the Head, the Heart and the Throat Centres.

Biểu tượng của Trái đất nằm ngay trong hai luồng năng lượng và chứa đựng, tại trung tâm của nó, Dấu hiệu của Christos. Ngón tay của Thượng đế chưa vẽ hoàn chỉnh Dấu hiệu Bảo Bình, ngụ ý rằng Kỷ nguyên chưa hoàn toàn biểu hiện. Có một sự tương tác liên tục giữa các chòm sao hoàng đạo lớn được mô tả trong hình elip dưới và các hành tinh cai quản chúng trong hình elip trên. Các Tam Giác năng lượng lớn lẽ ra phải được mô tả giữa, ví dụ, Pleiades, Sirius và Mặt trời của chúng ta, nhưng chúng đã bị bỏ qua vì sự đơn giản. Các tam giác này có ít ý nghĩa cho đến khi chúng được chuyển dịch bởi các tương ứng Cung sang tiểu thiên địa của chính chúng ta, vốn sau đó tiết lộ tam giác con người mạnh mẽ của các Trung tâm Đầu, Tim và Cổ họng.

00005.jpeg

The drawing in no way attempts to depict God. The Grand Architect of the Universe always hides Himself beyond the furthest horizons of the most enlightened conjecture. What has been attempted is a synthesised concept of the origin and overall function of the Seven Rays. It is necessary to search this far to locate the origin of the Seven Rays, for they represent the Seven Great Qualities permeating the entire nature of ‘The One About Whom Naught May Be Said.’ They not only originate there, but they are the Seven Builders of any and all of the lesser entities contained within Him or comprising Him. Nothing exists below His level or among the many entities which have been described macrocosmically or microcosmically, which is not filled with these Seven Rays or fashioned under their influence.

Bức vẽ không hề cố gắng mô tả Thượng đế. Đấng Kiến Trúc Sư Vĩ Đại của Vũ trụ luôn ẩn mình sau những chân trời xa xôi nhất của những phỏng đoán giác ngộ nhất. Điều đã được cố gắng là một khái niệm tổng hợp về nguồn gốc và chức năng tổng thể của Bảy Cung. Cần phải tìm kiếm xa đến vậy để xác định nguồn gốc của Bảy Cung, vì chúng đại diện cho Bảy Phẩm tính Vĩ đại thấm nhuần toàn bộ bản chất của ‘Đấng Bất Khả Tư Nghị’. Chúng không chỉ bắt nguồn từ đó, mà chúng còn là Bảy Đấng Kiến Tạo của bất kỳ và tất cả các thực thể nhỏ hơn chứa trong Ngài hoặc cấu thành Ngài. Không có gì tồn tại bên dưới cấp độ của Ngài hoặc trong số nhiều thực thể đã được mô tả theo cấp độ đại thiên địa hoặc tiểu thiên địa, mà không được lấp đầy bởi Bảy Cung này hoặc được tạo hình dưới ảnh hưởng của chúng.

The Seven Rays are not only the Great Builders, but they are the custodians of The Plan. They produce the radiant temple of the Lord under the guidance of the mind of the Great Architect of the Universe. Each of the Seven Rays is necessary, and all are coloured by a divine quality needed for the perfection of the latent and unrevealed purpose of God.

Bảy Cung không chỉ là các Đấng Kiến Tạo Vĩ Đại, mà chúng còn là những người trông coi Thiên Cơ. Chúng tạo ra ngôi đền rực rỡ của Thượng đế dưới sự hướng dẫn của thể trí của Đấng Kiến Trúc Sư Vĩ Đại của Vũ trụ. Mỗi Cung trong Bảy Cung đều cần thiết, và tất cả đều được tô điểm bởi một phẩm tính thiêng liêng cần thiết cho sự hoàn hảo của thiên ý tiềm ẩn và chưa được tiết lộ của Thượng đế.

Our Sun, or Solar Logos, is the great channel for the Second of these Seven Rays; He, Himself a Heart chakra in the greater being, channels the Ray of Love-Wisdom. Therefore, the predominant guiding force for all within our Solar System is Love, wisely applied. All of the other six Rays are sub-rays to this particular one in our Solar System. The colour of the great Ray of Love-Wisdom is indigo, the colour of the sky on a moonless night. The colours of the sub-rays are scarlet, green, yellow, orange, blue, rose-red and violet. We speak of the colour of the First Ray in our Solar System as indigo-scarlet, while the Third Ray is indigo-green, and so on. So, the colour of the Second Ray is really indigo-indigo.

Mặt trời của chúng ta, hay Thái dương Thượng đế, là kênh dẫn vĩ đại cho Cung thứ hai trong Bảy Cung này; Bản thân Ngài là một luân xa Tim trong đấng vĩ đại hơn, truyền dẫn Cung Bác Ái – Minh Triết. Do đó, mãnh lực hướng dẫn chủ đạo cho tất cả mọi thứ trong Hệ Mặt trời của chúng ta là Tình thương, được áp dụng một cách minh triết. Tất cả sáu Cung còn lại đều là cung phụ của Cung đặc biệt này trong Hệ Mặt trời của chúng ta. Màu của Cung Bác Ái – Minh Triết vĩ đại là màu chàm, màu của bầu trời trong một đêm không trăng. Màu của các cung phụ là đỏ tươi, xanh lục, vàng, cam, xanh dương, đỏ hồng và tím. Chúng ta nói về màu của Cung Một trong Hệ Mặt trời của chúng ta là chàm-đỏ tươi, trong khi Cung Ba là chàm-xanh lục, và cứ thế. Vì vậy, màu của Cung Hai thực sự là chàm-chàm.

While the dominating ray of our Solar System is indigo, it would be green for the Pleiades because the latter represents the throat chakra in that being which has our Solar System as a heart centre. Saturn represents the throat centre in our Solar System, and its colour is green. Saturn is also on the Third Ray. There is, then, a special affinity between Saturn, the Pleiades and the human throat centre.

Mặc dù cung chủ đạo của Hệ Mặt trời của chúng ta là màu chàm, nhưng nó sẽ là màu xanh lục đối với chòm sao Pleiades vì chòm sao này đại diện cho luân xa cổ họng trong thực thể mà có Hệ Mặt trời của chúng ta là trung tâm tim. Sao Thổ đại diện cho trung tâm cổ họng trong Hệ Mặt trời của chúng ta, và màu của nó là màu xanh lục. Sao Thổ cũng thuộc Cung Ba. Do đó, có một mối liên hệ đặc biệt giữa Sao Thổ, chòm sao Pleiades và trung tâm cổ họng của con người.

In my other major works, particularly Anthropogeny, The Esoteric History of Man’s Origin and The Jewel in the Lotus, we traced the origin of Man to his nature as a spark of the Divine, a Monad. It was shown that the Monad constructs mechanisms by which it is able to perceive, cognise and control the various manifestations of the Seven Planes (see coloured illustration titled ‘The Personality and the Soul’). That device elaborated through the aeons for the understanding and control of the three lowest planes, i. e., the mental, astral and physical, is the human personality. The creation, maintenance and destruction of a personality is under Divine Law and life after life, through the mechanism of rebirth, a new personality, more appropriate than the last is fashioned under the influence of the Seven Ray Lords, the builders of Form.

Trong các tác phẩm lớn khác của tôi, đặc biệt là Nhân loại học, Lịch sử Nội môn về Nguồn gốc Con ngườiViên Ngọc trong Hoa Sen, chúng ta đã truy nguyên nguồn gốc của Con người đến bản chất của y là một tia lửa của Thượng đế, một Chân thần. Người ta đã chỉ ra rằng Chân thần xây dựng các bộ máy mà qua đó nó có thể nhận thức, nhận biết và kiểm soát các biểu hiện khác nhau của Bảy Cõi giới (xem hình minh họa màu có tựa đề ‘Phàm ngã và Linh hồn’). Thiết bị đó được xây dựng qua hàng thiên niên kỷ để thấu hiểu và kiểm soát ba cõi giới thấp nhất, tức là cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần, là phàm ngã của con người. Việc tạo ra, duy trì và hủy diệt một phàm ngã tuân theo Định luật thiêng liêng và hết kiếp này đến kiếp khác, thông qua cơ chế tái sinh, một phàm ngã mới, phù hợp hơn phàm ngã trước đó được tạo ra dưới ảnh hưởng của Bảy Đấng Chúa Tể của các Cung, những người xây dựng Hình tướng.

Just as white light will split into its component rays when passed through a prism, the light of form, the Seven Rays pass into the lower triad of Man’s bodies and there expresses its qualities through the Seven Chakras in each of these three vehicles. Thereafter the shape of the form, its radiatory qualities and creative capacities will depend to a large extent on the types of Rays which dominate the various vehicles.

Giống như ánh sáng trắng sẽ phân tách thành các cung màu thành phần của nó khi đi qua một lăng kính, ánh sáng của hình tướng, Bảy Cung đi vào tam nguyên thấp của các thể của Con người và ở đó biểu hiện các phẩm tính của nó thông qua Bảy Luân xa trong mỗi thể trong ba vận cụ này. Sau đó, hình dạng của hình tướng, phẩm tính bức xạ và năng lực sáng tạo của nó sẽ phụ thuộc phần lớn vào các loại Cung chi phối các vận cụ khác nhau.

In each life on Earth we are provided with a different triad of bodily equipment into which the Seven Rays and their 49 minor or sub-rays pour in ever-altering combinations. In each life, therefore, the overall colouring or aura varies with an ever increasing tendency to develop a colouring of the three major rays, which are Red, Indigo and Green, or Rays One, Two, Three.

Trong mỗi kiếp sống trên Trái đất, chúng ta được cung cấp một bộ ba cơ thể khác nhau, vào đó Bảy Cung và 49 cung phụ của chúng tuôn đổ trong các tổ hợp luôn thay đổi. Do đó, trong mỗi kiếp sống, màu sắc tổng thể hay hào quang thay đổi với xu hướng ngày càng tăng là phát triển màu sắc của ba cung chính, đó là Đỏ, Chàm và Xanh lục, hay các Cung Một, Hai, Ba.

This permeation of our vehicles by the all-pervading, quality-bearing rays of the Divine is not peculiar to the human kingdom. The process occurs in the microcosm and in the macrocosm too. Thus, atom, cell, man, and even that great living entity which we call the solar system are flooded and directed by the SEVEN RAYS.

Sự thấm nhuần các vận cụ của chúng ta bởi các cung mang phẩm tính, lan tỏa khắp nơi của Thượng đế không chỉ đặc trưng cho giới nhân loại. Quá trình này cũng xảy ra trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa. Do đó, nguyên tử, tế bào, con người, và ngay cả thực thể sống vĩ đại mà chúng ta gọi là hệ mặt trời đều được BẢY CUNG tràn ngập và định hướng.

When we look at the light of the Sun through a prism, we see the Seven Rays which colour the Aura of the Solar Logos, or great entity which uses the threefold body of the sun as a vehicle of incarnation. Were we clairvoyant we could see our own auras too. The spectrum or aura of the sun is seen in two dimensions but the clairvoyant perceives a human aura in four dimensions.

Khi chúng ta nhìn ánh sáng Mặt trời qua lăng kính, chúng ta thấy Bảy Cung tô màu cho Hào quang của Thái dương Thượng đế, hay thực thể vĩ đại sử dụng thể tam phân của mặt trời làm hiện thể lâm phàm. Nếu chúng ta có khả năng thông nhãn, chúng ta cũng có thể nhìn thấy hào quang của chính mình. Phổ quang hay hào quang của mặt trời được nhìn thấy ở hai chiều nhưng người thông nhãn nhận thức được hào quang của con người ở bốn chiều.

Not only do the seven rays of our inner being pour out from within us but we are bathed also and continuously by the seven rays of the aura of the Solar System in which we live and move and have our being. So really our bodies or lower triads are like battle-grounds in which opposing rays from within and from without interact. There is a constant changing and mixing of colours and all this reflects in our consciousness, our health and our position on the path. Over many lives, our rays slowly change, and there is a sort of re-polarisation, influenced by continuous rebirth.

Không chỉ bảy cung của bản thể bên trong chúng ta tuôn ra từ bên trong chúng ta mà chúng ta còn được tắm gội liên tục bởi bảy cung của hào quang của Hệ Mặt trời mà chúng ta sống, di chuyển và tồn tại trong đó. Vì vậy, thực sự cơ thể hoặc tam nguyên thấp của chúng ta giống như những chiến trường nơi các cung đối lập từ bên trong và từ bên ngoài tương tác với nhau. Có một sự thay đổi và pha trộn liên tục của các màu sắc và tất cả những điều này phản ánh trong tâm thức, sức khỏe và vị trí của chúng ta trên con đường. Qua nhiều kiếp sống, các cung của chúng ta từ từ thay đổi, và có một loại tái phân cực, bị ảnh hưởng bởi sự tái sinh liên tục.

The purpose of incarnation in matter is to learn to dominate the material world and to add this quality of dominating matter to the spark within us.

Mục đích của việc lâm phàm trong vật chất là để học cách thống trị thế giới vật chất và thêm phẩm tính thống trị vật chất này vào tia lửa bên trong chúng ta.

One might well ask ‘If the Spark of the Divine is already perfect, how can we add further qualities to it?’ Two Grecian urns may be perfect and yet one may have a design added to it. Both remain urns; both remain perfect, and yet the one has had a quality added to it. This may help to explain crudely the metaphysics involved in the problem of the perfect.

Người ta có thể hỏi ‘Nếu Tia lửa của Thượng đế đã hoàn hảo, làm sao chúng ta có thể thêm các phẩm tính khác vào nó?’ Hai chiếc bình Hy Lạp có thể hoàn hảo nhưng một chiếc có thể được thêm vào một thiết kế. Cả hai vẫn là bình; cả hai vẫn hoàn hảo, nhưng chiếc kia đã được thêm vào một phẩm tính. Điều này có thể giúp giải thích một cách thô thiển siêu hình học liên quan đến vấn đề của sự hoàn hảo.

But we are concerned here with the Seven Rays and their meaning. As the triad of the lower bodies undergoes the welter of experience in matter, the three become repolarised over many lives and the symbolically inverted triangle is slowly replaced or rather superimposed by the upright triangle of the soul or causal body.

Nhưng ở đây chúng ta quan tâm đến Bảy Cung và ý nghĩa của chúng. Khi tam nguyên của các thể thấp trải qua sự hỗn loạn của kinh nghiệm trong vật chất, ba thể này được tái phân cực qua nhiều kiếp sống và tam giác đảo ngược tượng trưng dần dần được thay thế hoặc đúng hơn là được chồng lên bởi tam giác thẳng đứng của linh hồn hoặc thể nguyên nhân.

This occurs when man begins to release himself from the bonds of the material world and hearing the inner call of the monad or Spark, starts the longer journey back to his Father’s home. Under the processing of the Seven Rays, the consciousness pervading the physical body is shifted to its higher counterpart … the atmic body The pervading consciousness of the Astral body is transferred to the Buddhic body and in the same way the lower mental body is replaced in function by the higher mental body. The channel between the lower and higher mental bodies is the pathway or antakarana through which these major transfers of consciousness are achieved. After the sixth initiation (or extension of consciousness), the disciple, now a Chohan, no longer uses a physical body but may fashion and use another if the necessity arises. Though all this may seem to involve many abstract principles (and this is true) the process is one of altering vibrations in order to align oneself with the ray forces or colours.

Điều này xảy ra khi con người bắt đầu giải thoát khỏi xiềng xích của thế giới vật chất và nghe thấy tiếng gọi nội tại của chân thần hay Tia lửa, bắt đầu cuộc hành trình dài hơn trở về nhà Cha. Dưới quá trình xử lý của Bảy Cung, tâm thức thấm nhuần thể xác được chuyển sang đối phần cao hơn của nó … thể atma. Tâm thức thấm nhuần của Thể Cảm dục được chuyển sang thể Bồ đề và theo cách tương tự, thể hạ trí được thay thế chức năng bởi thể thượng trí. Kênh nối giữa thể hạ trí và thể thượng trí là con đường hay antakarana qua đó những sự chuyển dịch tâm thức chính này được thực hiện. Sau lần điểm đạo thứ sáu (hay sự mở rộng tâm thức), người đệ tử, giờ là một Chohan, không còn sử dụng thể xác nữa nhưng có thể tạo ra và sử dụng một thể khác nếu cần thiết. Mặc dù tất cả những điều này có vẻ liên quan đến nhiều nguyên lý trừu tượng (và điều này là đúng) nhưng quá trình này là một quá trình thay đổi các rung động để chỉnh hợp bản thân với các mãnh lực của các cung hay các màu sắc.

Thus the Spark of divine white light, originally a son of the Father, or pure flame, enters the world of matter and uses a material form to cognise, comprehend and conquer the material world. Victorious he turns and faces Calvary and treads the long Path back to the Father.

Do đó, Tia lửa của ánh sáng trắng thiêng liêng, ban đầu là một người con của Cha, hay một ngọn lửa tinh khiết, đi vào thế giới vật chất và sử dụng một hình tướng vật chất để nhận biết, thấu hiểu và chinh phục thế giới vật chất. Chiến thắng, y quay lại đối mặt với Calvary và bước đi trên Con Đường dài trở về với Cha.

In the analogy of Light (which is more than an analogy) white light diffuses into seven colourings in the lower triad or prism; it then returns to its previous purity through the higher prism and is accepted back, a prodigal son, into the Father’s home, enriched by his earthly experiences. Had we sufficient awareness we should know that the process is purely one of vibration from start to finish.

Trong phép ẩn dụ về Ánh sáng (vốn không chỉ là một phép ẩn dụ), ánh sáng trắng khuếch tán thành bảy màu trong tam nguyên thấp hay lăng kính; sau đó nó trở lại sự tinh khiết trước đây của nó thông qua lăng kính cao hơn và được chấp nhận trở lại, một đứa con hoang đàng, vào nhà của Cha, được làm giàu bởi những kinh nghiệm trần thế của mình. Nếu chúng ta có đủ nhận thức, chúng ta sẽ biết rằng quá trình này hoàn toàn là một quá trình rung động từ đầu đến cuối.

‘The Law of Vibration … is the key measure … it governs the transmutation of differentiated colours back to their synthesis. It controls the breaking up of the One into the seven, and then re-absorption back into the One. It is really the basic law of evolution which necessitates involution.’ A Treatise on Cosmic Fire by Alice A. Bailey, Lucis Press, New York.

‘Định luật Rung động … là thước đo chính … nó chi phối sự chuyển hóa của các màu sắc biến phân trở lại sự tổng hợp của chúng. Nó kiểm soát sự phân rã của cái Một thành cái bảy, và sau đó sự tái hấp thụ trở lại vào cái Một. Nó thực sự là định luật cơ bản của sự tiến hóa, vốn đòi hỏi sự giáng hạ tiến hóa.’ Luận về Lửa Vũ Trụ của Alice A. Bailey, Lucis Press, New York.

About 63,000 million monads or Sparks are using the Earth Chain at the moment to evolve under the Plan. Many of these have used the Moon chain as a stepping stone to life on this planet. On this basis there are ten monads out of incarnation for each one holding a physical vehicle at this time.

Khoảng 63.000 triệu chân thần hay Tia lửa đang sử dụng Dãy Địa Cầu vào lúc này để tiến hóa theo Thiên Cơ. Nhiều trong số này đã sử dụng Dãy Mặt Trăng như một bước đệm cho sự sống trên hành tinh này. Trên cơ sở này, cứ một chân thần có một hiện thể hồng trần thì có mười chân thần không lâm phàm.

A small coin thrown into Lake Victoria is potentially capable of setting up vibrations in the water which would be felt on the shores of the lake, had we instruments to measure them. So, too, in our Solar System are there vibrations classed under the heading of the Seven Rays which are felt in every part of the Solar Ring-Pass-Not. The great planet Saturn picks up Third Ray vibrations because it is predominantly Third Ray in nature. It adds its own vibrations to these and transmits its Third Ray emanations to all entities within the Solar System which are Third Ray. In our own bodies the thyroid gland is most susceptible to the Third Ray. It reacts, therefore, strongly to Saturnine influence. The overall result of the latter would be an increase in the body’s rate of activity and, of course, the Third Ray is the Ray of Active Intelligence.

Một đồng xu nhỏ được ném vào Hồ Victoria có khả năng tạo ra những rung động trong nước mà có thể cảm nhận được trên bờ hồ, nếu chúng ta có dụng cụ để đo chúng. Tương tự như vậy, trong Hệ Mặt trời của chúng ta cũng có những rung động được phân loại dưới tiêu đề Bảy Cung vốn được cảm nhận ở mọi nơi trong Vòng-Giới-Hạn của Mặt trời. Hành tinh vĩ đại Sao Thổ tiếp nhận những rung động của Cung Ba vì nó có bản chất chủ yếu là Cung Ba. Nó thêm những rung động của riêng mình vào những rung động này và truyền những phát xạ của Cung Ba của nó đến tất cả các thực thể trong Hệ Mặt trời thuộc Cung Ba. Trong cơ thể của chúng ta, tuyến giáp nhạy cảm nhất với Cung Ba. Do đó, nó phản ứng mạnh mẽ với ảnh hưởng của Sao Thổ. Kết quả tổng thể của ảnh hưởng sau sẽ là sự gia tăng tốc độ hoạt động của cơ thể và, tất nhiên, Cung Ba là Cung của Trí Tuệ Năng Động.

Every part of the human body reacts more strongly to a particular ray than to others. From the ancient science of Astrology we are able to ascertain that the spectrum or aura of the Sun is correlated by its colours to the parts of the human body. Thus it is found that the colour red and also white light reacts most strongly upon glands and nervous tissue of the head region.

Mỗi bộ phận trong cơ thể con người phản ứng mạnh mẽ hơn với một cung cụ thể hơn những cung khác. Từ khoa học cổ xưa của Chiêm tinh học, chúng ta có thể xác định rằng quang phổ hoặc hào quang của Mặt trời tương quan với các bộ phận của cơ thể con người bằng màu sắc của nó. Do đó, người ta thấy rằng màu đỏ và cả ánh sáng trắng phản ứng mạnh nhất lên các tuyến và mô thần kinh của vùng đầu.

The shape and function of the human body is dependent to a large measure upon the structure of the original chromosomes. The Solar System has been spoken of by Madame Blavatsky (The Secret Doctrine) and others as a giant cell, as such a close correspondence exists between the planets and a cell’s chromosomes. Both carry the forces which mould and assist the developing system of which they are a part. In this analogy there is contained much food for thought.

Hình dạng và chức năng của cơ thể con người phụ thuộc phần lớn vào cấu trúc của các nhiễm sắc thể ban đầu. Hệ Mặt trời đã được Bà Blavatsky (Giáo Lý Bí Nhiệm) và những người khác nói đến như một tế bào khổng lồ, vì có một sự tương ứng rất gần giữa các hành tinh và nhiễm sắc thể của một tế bào. Cả hai đều mang những mãnh lực định hình và hỗ trợ hệ thống đang phát triển mà chúng là một phần. Trong phép ẩn dụ này có chứa nhiều điều đáng suy ngẫm.

The Seven Ray qualities are suggested by keywords:-

Bảy phẩm tính của Cung được gợi ý bởi các từ khóa:-

• Ray One of Will and Power

• Cung Một của Ý Chí và Quyền Năng

• Ray Two of Love-wisdom

• Cung Hai của Bác ái-Minh triết

• Ray Three of Active Intelligence and Abstract Mind

• Cung Ba của Trí Tuệ Năng Động và Trí Trừu tượng

• Ray Four of Art and Harmony through conflict

• Cung Bốn của Nghệ Thuật và Hòa Hợp qua Xung Đột

• Ray Five of Concrete Knowledge and Analytical Science

• Cung Năm của Tri Thức Cụ Thể và Khoa Học Phân Tích

• Ray Six of Devotion and Idealism

• Cung Sáu của Sùng Kính và Lý Tưởng

• Ray Seven of Ceremonial Order and Organisation

• Cung Bảy của Trật Tự Nghi Lễ và Tổ Chức

It is helpful to synthesise one’s Ray thinking in such a manner that a certain homogeneity is seen and their unity in Ray-relationship becomes clearer. Remembering constantly that ‘all is energy’ at different levels of manifestation, the Seven Rays may be seen in two main divisions, or streams of that energy.

Việc tổng hợp tư duy về Cung của mình theo cách mà một sự đồng nhất nhất định được nhìn thấy và sự hợp nhất của chúng trong mối quan hệ Cung trở nên rõ ràng hơn là điều hữu ích. Luôn nhớ rằng ‘tất cả là năng lượng’ ở các cấp độ biểu hiện khác nhau, Bảy Cung có thể được nhìn thấy trong hai phân khu chính, hoặc các luồng năng lượng đó.

Rays One, Three, Five and Seven are concerned with what has been called the form side of manifestation; while Rays Two, Four, and Six are expressive of the life side. Thus Power of Will, Mind and Organisation, form as it were, the channel or vessel for Love, Beauty (or Harmony) and Devotion.

Các Cung Một, Ba, Năm và Bảy liên quan đến cái đã được gọi là phương diện hình tướng của sự biểu hiện; trong khi các Cung Hai, Bốn và Sáu biểu hiện phương diện sự sống. Do đó, Quyền Năng của Ý Chí, Thể Trí và Tổ chức, tạo thành, như thể, kênh dẫn hay bình chứa cho Tình thương, Vẻ đẹp (hay Hòa hợp) và Sự sùng kính.

Another view one may take, is to see Rays One and Seven, Two and Six, and Three and Five, as three sets of pairs or dualities in which the second one of the pair reflects the first at a more material level.

Một quan điểm khác mà người ta có thể có, là xem Cung Một và Bảy, Hai và Sáu, và Ba và Năm, như ba bộ cặp hay nhị nguyên tính, trong đó cái thứ hai của cặp phản ánh cái thứ nhất ở một cấp độ vật chất hơn.

Ray One of Power is reflected in the organising qualities of Ray Seven, Ray Two of Love-Wisdom will work out in personality levels as devotion in Ray Six, while the Abstract Mind principles of Ray Three filter into the human brain as lower or Concrete thoughts embodied in Ray Five.

Cung Một của Quyền Năng được phản ánh trong các phẩm tính tổ chức của Cung Bảy, Cung Hai của Bác Ái-Minh Triết sẽ thể hiện ở các cấp độ phàm ngã như sự sùng kính trong Cung Sáu, trong khi các nguyên lý Trí Trừu tượng của Cung Ba lọc vào bộ não con người như những tư tưởng hạ trí hoặc Cụ thể được thể hiện trong Cung Năm.

All the Rays are equally important to us but at this time, some are more actively moulding civilisation than others. To begin with, Ray Four is of great import, being the special Ray of humanity as a whole, so that Harmony through Conflict is more obviously our mode of achievement at this time. It also accentuates the numerical value of the number four since we are in the Fourth Round of the Fourth Great Chain, and Atlantis peopled the Fourth Root Race (of this Fourth Round).

Tất cả các Cung đều quan trọng như nhau đối với chúng ta nhưng vào thời điểm này, một số cung đang tích cực định hình nền văn minh hơn những cung khác. Để bắt đầu, Cung Bốn có tầm quan trọng lớn, là Cung đặc biệt của toàn thể nhân loại, do đó Hòa Hợp qua Xung Đột rõ ràng hơn là phương thức thành tựu của chúng ta vào thời điểm này. Nó cũng nhấn mạnh giá trị số của con số bốn vì chúng ta đang ở trong Cuộc tuần hoàn Thứ tư của Dãy Vĩ đại Thứ tư, và Atlantis đã cư ngụ Giống dân gốc Thứ tư (của Cuộc tuần hoàn Thứ tư này).

Four is the halfway mark between Seven and we may note with encouragement that after the halfway period of the Atlantean Root Race (the fourth) we are past the densest periods of the chain, round and root races for humanity is well on into the Fifth or Aryan Root Race and there are still two more root races to come.

Bốn là điểm giữa của Bảy và chúng ta có thể ghi nhận với sự khích lệ rằng sau thời kỳ giữa của Giống dân gốc Atlantis (giống dân thứ tư), chúng ta đã qua những giai đoạn đậm đặc nhất của dãy, cuộc tuần hoàn và giống dân gốc vì nhân loại đã tiến xa vào Giống dân gốc Thứ năm hay Aryan và vẫn còn hai giống dân gốc nữa sẽ đến.

But to return to the Rays in the light of the latter remarks, our membership of the Fifth (or Aryan) Race during which we have developed the lower mind (almost overdeveloped it) shows the influence and importance of Ray Five at this time. The atomic discoveries and continued research in quantum have so far marked the highest achievements of the brain-mind. But fortunately for this planet there is always the over-all Ray of the Solar System (Ray Two) which is persistently active and we may well pray that its exalting and ennobling influences will continue to guide the fine Fifth Ray activities in the direction of true evolution.

Nhưng trở lại với các Cung theo những nhận xét sau cùng, tư cách thành viên của chúng ta trong Giống dân Thứ năm (hay Aryan) trong đó chúng ta đã phát triển hạ trí (gần như phát triển quá mức) cho thấy ảnh hưởng và tầm quan trọng của Cung Năm vào thời điểm này. Các khám phá nguyên tử và nghiên cứu tiếp tục trong lượng tử cho đến nay đã đánh dấu những thành tựu cao nhất của trí-não. Nhưng may mắn cho hành tinh này, luôn có Cung tổng thể của Hệ Mặt trời (Cung Hai) vốn hoạt động bền bỉ và chúng ta có thể cầu nguyện rằng những ảnh hưởng cao quý và tôn quý của nó sẽ tiếp tục hướng dẫn các hoạt động tinh tế của Cung Năm theo hướng tiến hóa thực sự.

The fact that Ray Six which rules the Piscean era is on the way out and that of Ray Seven (ruling the Aquarian Age) is replacing it, and that we are now in the transition period between the two conflicting influences, is well-known to many in the world today. The spreading of the knowledge regarding this changeover, backed by factual astronomical data and by astrological teaching concerning the Sun’s entry into a new constellation of the zodiac, is something that might well dispel the despondency of those about us who see everywhere bewildering changes and immense conflict.

Thực tế là Cung Sáu vốn cai quản kỷ nguyên Song Ngư đang đi ra và Cung Bảy (cai quản Kỷ nguyên Bảo Bình) đang thay thế nó, và rằng chúng ta hiện đang trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai ảnh hưởng xung đột, là điều được nhiều người trên thế giới ngày nay biết đến. Việc truyền bá kiến thức về sự thay đổi này, được hỗ trợ bởi dữ liệu thiên văn thực tế và bởi giáo lý chiêm tinh về việc Mặt trời đi vào một chòm sao mới của hoàng đạo, là một điều có thể xua tan sự tuyệt vọng của những người xung quanh chúng ta, những người thấy ở khắp mọi nơi những thay đổi khó hiểu và xung đột to lớn.

While it is not so very easy at our level of development to assess either our own Rays or the Rays of others with any great degree of accuracy we can, nevertheless, study the whole Ray philosophy and, through it, apply what we can to understanding the psychology of our fellowmen. This most revealing’ Spiritual Psychology of the Future’ is tremendously important in assessing the character of people, their behaviour and also the nature of the group or nation to which they belong. In this matter we should consider, too, the level on the evolutionary ladder of those we are assessing. There are old souls and young souls, soul-age being gauged not by physical years but by the number of incarnations a soul has experienced in the many different and succeeding personalities. Ray quality and soul age help determine the amazing complexity of the human unit.

Mặc dù ở cấp độ phát triển của chúng ta, việc đánh giá các Cung của chính mình hoặc của người khác với bất kỳ mức độ chính xác cao nào không phải là điều dễ dàng, nhưng chúng ta vẫn có thể nghiên cứu toàn bộ triết lý về Cung và, qua đó, áp dụng những gì có thể để hiểu tâm lý của đồng loại. ‘Tâm lý học Tinh thần của Tương lai’ mang tính mặc khải này vô cùng quan trọng trong việc đánh giá tính cách của con người, hành vi của họ và cả bản chất của nhóm hoặc quốc gia mà họ thuộc về. Trong vấn đề này, chúng ta cũng nên xem xét cấp độ trên thang tiến hóa của những người mà chúng ta đang đánh giá. Có những linh hồn già và những linh hồn trẻ, tuổi linh hồn được đo không phải bằng năm tháng vật chất mà bằng số lần lâm phàm mà một linh hồn đã trải qua trong nhiều phàm ngã khác nhau và nối tiếp nhau. Phẩm tính của cung và tuổi của linh hồn giúp xác định sự phức tạp đáng kinh ngạc của đơn vị con người.

With regard to soul age, the ‘Tibetan’ has stated that it is the existence of a deep sense of responsibility that marks the true disciple. This does not however imply any niggling fussiness nor the minding of someone else’s business! The question ‘How much do I or does he or she really care at heart about humanity,’ should bring some realisation as to the age of the soul.

Về tuổi của linh hồn, ‘Chân sư Tây Tạng’ đã tuyên bố rằng chính sự tồn tại của một ý thức trách nhiệm sâu sắc mới đánh dấu một người đệ tử thực sự. Tuy nhiên, điều này không ngụ ý bất kỳ sự phiền nhiễu nào hay việc lo chuyện của người khác! Câu hỏi ‘Tôi hoặc y hoặc cô ấy thực sự quan tâm đến nhân loại ở mức độ nào,’ sẽ mang lại một số nhận thức về tuổi của linh hồn.

The Seven Rays, the sevenfold energy of God constitute the basis of all that is. In the Christian Scriptures they are symbolically described as The Seven Spirits before the Throne. Their mighty power is stepped down and modified as they enter our Solar System through the Twelve Gates (of Revelations), which are really the twelve signs of the Zodiac. They express within All that exists the the attributes of the Divine. The seven fundamental qualities of the Rays permeate everything from the atom to the highest Spiritual Intelligence.

Bảy Cung, năng lượng thất phân của Thượng đế cấu thành nên cơ sở của tất cả những gì . Trong Kinh Thánh Cơ đốc giáo, chúng được mô tả một cách tượng trưng là Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. Quyền năng vĩ đại của chúng được hạ xuống và điều chỉnh khi chúng đi vào Hệ Mặt trời của chúng ta qua Mười Hai Cổng (của sách Khải Huyền), vốn thực sự là mười hai dấu hiệu của Hoàng đạo. Chúng biểu hiện trong Tất cả những gì tồn tại các thuộc tính của Thượng đế. Bảy phẩm tính cơ bản của các Cung thấm nhuần mọi thứ từ nguyên tử đến Trí Tuệ Tinh Thần cao nhất.

Briefly listed here is the basic influence of each of the Seven Rays:-

Dưới đây liệt kê ngắn gọn ảnh hưởng cơ bản của mỗi Cung trong Bảy Cung:-

• First Ray : Will or Power

• Cung Một : Ý Chí hoặc Quyền Năng

• Second Ray : Love-Wisdom

• Cung Hai : Bác Ái – Minh Triết

• Third Ray : Active Intelligence

• Cung Ba : Trí Tuệ Năng Động

These three, called the Rays of Aspect, underlie the Trinitarian teachings of the World Religions. From the last of these three great primaries, the Third Ray, there streams the other four rays known as the Rays of Attribute. These are:

Ba cung này, được gọi là các Cung Trạng Thái, làm nền tảng cho các giáo lý Ba Ngôi của các Tôn giáo Thế giới. Từ cung cuối cùng trong ba cung chính này, Cung Ba, tuôn ra bốn cung khác được gọi là các Cung Thuộc Tính. Đó là:

• Fourth Ray : Art and Harmony through Conflict

• Cung Bốn : Nghệ thuật và Hòa hợp qua Xung đột

• Fifth Ray : Conflict Concrete

• Cung Năm : Xung đột Cụ thể

• Sixth Ray : Devotion and Idealism

• Cung Sáu : Sùng Kính và Lý Tưởng

• Seventh Ray : Ceremonial Order, Organisation

• Cung Bảy : Trật tự nghi lễ, Tổ chức

The above categorical statements are required as a minimum basis for understanding that which follows and are not meant to be accepted without questioning and study and contemplation to which at all times it is hoped the reader will resort.

Các tuyên bố phân loại trên là yêu cầu tối thiểu để hiểu những gì sẽ theo sau và không có ý định được chấp nhận mà không đặt câu hỏi, nghiên cứu và chiêm ngưỡng, mà người đọc luôn được hy vọng sẽ sử dụng.

Of what value is it to study and assimilate knowledge of the Seven Rays? Since the Seven Rays comprise the all-embracing, life-side of the Ageless Wisdom’s philosophy, such study throws light on the nature of the seeker’s own life, his special qualities, as well as his specific value to the whole scheme of creation, insignificant though he may be from one aspect. It links him in an understanding, life-relationship with a person or problem, be that problem individual, national or world-wide. Situations are being increasingly approached from the standpoint of their meaning or deeper still, from the level of causes rather than from the level of effects only. The effects themselves become more fully understood and in a different spirit. History sheds its disproportionate aspects and distortions and the underlying reasons for world events become somewhat clearer, when it is realised that every nation is in special affinity with one or two of the Rays. All seven Rays cycle into and out of manifested power in accordance with certain time cycles which may endure one decade or a thousand decades. In these rhythmic cycles of time we may sense the great rhythms of Creation Itself, called in Hindu symbolic religious phraseology, the ‘Dance of Shiva’.

Nghiên cứu và tiếp thu kiến thức về Bảy Cung có giá trị gì? Vì Bảy Cung bao gồm phương diện sự sống, bao trùm tất cả của triết học Minh Triết Ngàn Đời, việc nghiên cứu như vậy sẽ soi sáng bản chất cuộc sống của chính người tìm kiếm, những phẩm tính đặc biệt của y, cũng như giá trị cụ thể của y đối với toàn bộ kế hoạch sáng tạo, dù y có thể không đáng kể từ một phương diện. Nó liên kết y trong một mối quan hệ sự sống, thấu hiểu với một người hay một vấn đề, dù vấn đề đó là cá nhân, quốc gia hay toàn cầu. Các tình huống đang ngày càng được tiếp cận từ quan điểm ý nghĩa của chúng hoặc sâu hơn nữa, từ cấp độ nguyên nhân thay vì chỉ từ cấp độ kết quả. Bản thân các kết quả trở nên được thấu hiểu đầy đủ hơn và trong một tinh thần khác. Lịch sử loại bỏ các phương diện không cân xứng và các sự bóp méo của nó và những lý do tiềm ẩn cho các sự kiện thế giới trở nên rõ ràng hơn một chút, khi người ta nhận ra rằng mỗi quốc gia đều có mối liên hệ đặc biệt với một hoặc hai trong số các Cung. Tất cả bảy Cung đều xoay vòng vào và ra khỏi quyền năng biểu hiện theo các chu kỳ thời gian nhất định có thể kéo dài một thập kỷ hoặc một nghìn thập kỷ. Trong các chu kỳ nhịp nhàng của thời gian này, chúng ta có thể cảm nhận được các nhịp điệu vĩ đại của chính Sự Sáng Tạo, được gọi trong thuật ngữ tôn giáo biểu tượng của Ấn Độ giáo là ‘Vũ điệu của Shiva’.

That most important statement, namely that ‘All is Energy,’ a fact now accepted by Science, is basic to a study of the Seven Rays, and must always be kept in mind when considering this subject, because in this factual statement we have the cause of the underlying unity between the Ageless Wisdom’s teaching and the very ancient science of Astrology. For the Seven Rays underlie, permeate and condition the planets in their courses, and although our Earth is one of the least spiritually advanced of the planets within our Solar System, and since all are linked by distinct but invisible bonds, it is nevertheless of great importance to that whole of which it, the Earth, forms a part.

Tuyên bố quan trọng nhất, đó là ‘Tất cả là Năng lượng’, một sự thật hiện đã được Khoa học chấp nhận, là nền tảng cho việc nghiên cứu Bảy Cung, và phải luôn được ghi nhớ khi xem xét chủ đề này, bởi vì trong tuyên bố thực tế này, chúng ta có nguyên nhân của sự thống nhất cơ bản giữa giáo lý Minh Triết Ngàn Đời và khoa học rất cổ xưa của Chiêm tinh học. Vì Bảy Cung làm nền tảng, thấm nhuần và điều kiện hóa các hành tinh trong các quỹ đạo của chúng, và mặc dù Trái đất của chúng ta là một trong những hành tinh ít tiến bộ về mặt tinh thần nhất trong Hệ Mặt trời của chúng ta, và vì tất cả đều được liên kết bởi những mối liên kết riêng biệt nhưng vô hình, nó vẫn có tầm quan trọng lớn đối với cái toàn thể mà nó, Trái đất, là một phần.

These principles of Being … for such they are … are true of each one of us individually, God having made man in His own image. For with our own individual Ray make-up and our unity in the underlying sevenfold energy, we are as important to our planet and therefore to the Solar System as each organ of the body and each cell of those organs is important to its own specific whole which in turn forms part of a greater one. Atom, man, planet, solar system, and beyond are ONE and are coloured by this sevenfold energy stream which is God Himself in manifestation.

Những nguyên khí của Bản thể này … vì chúng là như vậy … là đúng với mỗi cá nhân chúng ta, Thượng đế đã tạo ra con người theo hình ảnh của chính Ngài. Vì với cấu trúc Cung riêng của mỗi chúng ta và sự hợp nhất của chúng ta trong năng lượng thất phân cơ bản, chúng ta quan trọng đối với hành tinh của chúng ta và do đó đối với Hệ Mặt trời cũng như mỗi cơ quan của cơ thể và mỗi tế bào của các cơ quan đó quan trọng đối với cái toàn thể cụ thể của nó, vốn lần lượt là một phần của một cái lớn hơn. Nguyên tử, con người, hành tinh, hệ mặt trời và xa hơn nữa là MỘT và được tô màu bởi dòng năng lượng thất phân này, vốn là chính Thượng đế trong sự biểu hiện.

There are certain other fundamental statements which must be made and understood gradually by the reader before entering on anything more discursive and in detail.

Có một số tuyên bố cơ bản khác phải được đưa ra và dần dần được người đọc thấu hiểu trước khi đi vào bất cứ điều gì lan man và chi tiết hơn.

Every solar system (and ours is on the Second Ray), every planet and every human being, responds to one of these mighty Seven Rays and to any or several of the other six, according to (from the human standpoint) the need of the soul and its work in any one incarnation. Here we need to note the following:

Mọi hệ mặt trời (và hệ của chúng ta thuộc Cung Hai), mọi hành tinh và mọi con người, đều đáp ứng với một trong bảy Cung hùng mạnh này và với bất kỳ hoặc một số trong sáu cung còn lại, tùy theo (từ quan điểm của con người) nhu cầu của linh hồn và công việc của nó trong bất kỳ một kiếp lâm phàm nào. Ở đây chúng ta cần lưu ý những điều sau:

1. The Spirit or Monad of each of us, is always and unchangingly on one of the three Major Rays of either Will, Love-Wisdom or Divine Intelligence.

1. Tinh thần hay Chân thần của mỗi người chúng ta, luôn luôn và không thay đổi, thuộc một trong ba Cung Chính là Ý Chí, Bác Ái-Minh Triết hoặc Trí Tuệ Thiêng Liêng.

2. The Soul can be on anyone of the Rays for many incarnations, changing to one of the three Major Rays during discipleship.

2. Linh hồn có thể thuộc bất kỳ Cung nào trong nhiều kiếp, chuyển sang một trong ba Cung Chính trong giai đoạn làm đệ tử.

3. The Personality as a totality is on one Ray while its three components parts: Mind, Emotions and Physical Body each respond to a specific Ray. Anyone of these can remain the same for more than one incarnation, but usually change from life to life according to soul need for experience, or for certain qualities which must be developed.

3. Phàm ngã như một tổng thể thuộc một Cung trong khi ba thành phần của nó: Thể Trí, Cảm Xúc và Thể Xác mỗi thành phần đáp ứng với một Cung cụ thể. Bất kỳ thành phần nào trong số này có thể giữ nguyên trong hơn một kiếp, nhưng thường thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác tùy theo nhu cầu kinh nghiệm của linh hồn, hoặc cho những phẩm chất nhất định phải được phát triển.

00006.jpeg @url:https://minhtrietmoi.com/wp-content/uploads/pictures/the-egoic-lotus_-song-ngu_upscaled_20260719_021859-14.webp

In every kingdom of nature there is a peak of attainment along each Ray. In the mineral kingdom the peak of attainment is reached in the precious stones. For example, the diamond marks the apotheosis of those units in that kingdom working along the First Ray of Will and Power. Within the animal kingdom a domestic animal of one type heads each Ray. It is said that the dog is on the Second Ray, the horse on the Sixth, the cat on the Third and the elephant on the First. The few existing authorities differ interestingly on the subject.

Trong mỗi giới của tự nhiên, có một đỉnh cao thành tựu dọc theo mỗi Cung. Trong giới kim thạch, đỉnh cao thành tựu đạt được ở các loại đá quý. Ví dụ, kim cương đánh dấu sự tôn vinh của những đơn vị trong giới đó làm việc theo Cung Một của Ý Chí và Quyền Năng. Trong giới động vật, một loài động vật thuần hóa thuộc một loại đứng đầu mỗi Cung. Người ta nói rằng con chó thuộc Cung Hai, con ngựa thuộc Cung Sáu, con mèo thuộc Cung Ba và con voi thuộc Cung Một. Một số ít các nhà chức trách hiện có lại có quan điểm khác biệt thú vị về chủ đề này.

In fact the Rays of the animals might be better classified as follows:-

Thực tế, các Cung của động vật có thể được phân loại tốt hơn như sau:-

• First Ray : The Horse

• Cung Một : Con Ngựa

• Second Ray : The Elephant

• Cung Hai : Con Voi

• Third Ray : The Monkey

• Cung Ba : Con Khỉ

• Fourth Ray : The Cat

• Cung Bốn : Con Mèo

• Fifth Ray : The Camel

• Cung Năm : Con Lạc Đà

• Sixth Ray : The Dog

• Cung Sáu : Con Chó

• Seventh Ray : The Peacock.

• Cung Bảy : Con Công.

The Rays are highlighted in these animal types but there remain hundreds of species to be classified. Probably a Third Ray Soul will undertake this work one day.

Các Cung được làm nổi bật trong các loại động vật này nhưng vẫn còn hàng trăm loài cần được phân loại. Có lẽ một linh hồn Cung Ba một ngày nào đó sẽ đảm nhận công việc này.

To return to the fourth kingdom of nature, the Human, we find that as a whole it is allied to the Fourth Ray of Harmony through Conflict at this stage of its progress. As each human begins to pass out of his kingdom into the super-human kingdom, after the third Initiation he expresses increasingly the Ray of his Monad or Spirit until at the fifth Initiation and beyond he becomes a perfect exemplar of one of these seven mighty streams of cosmic energy or rays. He is then ready to tread the Way of the Higher Evolution along one of the Seven Paths … a Way known only to the higher initiates and to Those beyond.

Để trở lại với giới thứ tư của tự nhiên, giới Nhân loại, chúng ta thấy rằng về tổng thể, nó liên kết với Cung Bốn của Hòa Hợp qua Xung Đột ở giai đoạn tiến bộ này của nó. Khi mỗi con người bắt đầu ra khỏi giới của mình để vào giới siêu nhân, sau lần Điểm đạo thứ ba, y ngày càng biểu lộ Cung của Chân thần hay Tinh thần của mình cho đến khi ở lần Điểm đạo thứ năm và xa hơn nữa, y trở thành một tấm gương hoàn hảo của một trong bảy dòng năng lượng hay cung vũ trụ hùng mạnh này. Khi đó, y đã sẵn sàng để bước đi trên Con đường Tiến hóa Cao siêu dọc theo một trong Bảy Thánh Đạo … một Con đường chỉ được biết đến bởi các điểm đạo đồ cao hơn và bởi Các Đấng ở xa hơn.

This is new study! It stems from the most ancient teachings ever known. It was taught by Madame Blavatsky in The Secret Doctrine, scattered (purposely some think) through the many pages in obscure terminology. In a simplified form Annie Besant and C.W. Leadbeater gave out some further knowledge of the Rays. Later a much fuller insight into the subject and a considerably more detailed teaching was given on the Rays by the so-called Tibetan teacher, writing through Mrs. Alice A. Bailey. Geoffrey Hodson and Professor Ernest Wood have also contributed significantly to available knowledge. My own writings on this subject arise from forty years of practical application of Ray theory to the outside world through which I have passed as a doctor, teacher and businessman.

Đây là một nghiên cứu mới! Nó bắt nguồn từ những giáo lý cổ xưa nhất từng được biết đến. Nó đã được Bà Blavatsky dạy trong Giáo Lý Bí Nhiệm, rải rác (có lẽ là có chủ ý) qua nhiều trang trong thuật ngữ khó hiểu. Dưới một hình thức đơn giản hơn, bà Annie Besant và ông C.W. Leadbeater đã đưa ra một số kiến thức sâu hơn về các Cung. Sau này, một cái nhìn sâu sắc hơn nhiều về chủ đề này và một giáo lý chi tiết hơn đáng kể đã được đưa ra về các Cung bởi vị huấn sư được gọi là người Tây Tạng, viết thông qua bà Alice A. Bailey. Ông Geoffrey Hodson và Giáo sư Ernest Wood cũng đã đóng góp đáng kể vào kiến thức hiện có. Các tác phẩm của riêng tôi về chủ đề này phát sinh từ bốn mươi năm áp dụng thực tế lý thuyết Cung vào thế giới bên ngoài mà tôi đã trải qua với tư cách là một bác sĩ, giáo viên và doanh nhân.

The following is taken from A Treatise on Cosmic Fire. Therein, Alice Bailey describes three fundamental modes of motion in the universe: Rotary; Spiral-cyclic; and Forward-Progressive. All three can be seen in connection with the Seven Rays, but at present we shall apply the first of these only, namely Rotary Motion.

Phần sau đây được trích từ Luận về Lửa Vũ Trụ. Trong đó, Alice Bailey mô tả ba phương thức chuyển động cơ bản trong vũ trụ: Quay; Xoắn ốc-chu kỳ; và Tiến-tiến. Cả ba đều có thể được nhìn thấy liên quan đến Bảy Cung, nhưng hiện tại chúng ta sẽ chỉ áp dụng phương thức đầu tiên trong số này, đó là Chuyển động Quay.

It is stated that the Seven Planes, regarded as seven vast spheres, rotate latitudinally within the solar periphery, and that the Seven Rays, seven spheroidal bands of ‘colour’ regarded as the seven veiling forms of ‘The Spirits before the Throne of God’ rotate longitutidinally.

Người ta nói rằng Bảy Cõi giới, được coi là bảy quả cầu khổng lồ, quay theo vĩ độ bên trong chu vi mặt trời, và Bảy Cung, bảy dải hình cầu của ‘màu sắc’ được coi là bảy hình tướng che phủ của ‘Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế’ quay theo kinh độ.

These two sets of spheres, the Seven Rays and the Seven Planes together result in a ‘vast interlocking network’ forming the entire Solar System and producing the latter’s own spheroidal shape. Each Plane is a vast sphere of matter actuated by latent heat, progressing or rotating in one particular direction. Each Ray of light, no matter what the colour, is likewise a sphere of matter of the utmost tenuity, rotating at right angles to that of the planes. The Planes rotate front East to West, The Rays rotate from North to South. We are not here referring to points in space; we are simply making this distinction and employing words to make an abstruse idea more comprehensible.

Hai bộ quả cầu này, Bảy Cung và Bảy Cõi giới cùng nhau tạo thành một ‘mạng lưới đan xen rộng lớn’ hình thành toàn bộ Hệ Mặt trời và tạo ra hình dạng hình cầu của chính hệ này. Mỗi Cõi giới là một quả cầu vật chất rộng lớn được kích hoạt bởi nhiệt tiềm ẩn, tiến triển hoặc quay theo một hướng cụ thể. Mỗi Cung ánh sáng, bất kể màu sắc nào, cũng là một quả cầu vật chất có độ loãng cực đại, quay vuông góc với các cõi giới. Các Cõi giới quay từ Đông sang Tây, Các Cung quay từ Bắc xuống Nam. Chúng ta không nói đến các điểm trong không gian ở đây; chúng ta chỉ đơn giản là tạo ra sự phân biệt này và sử dụng các từ để làm cho một ý tưởng khó hiểu trở nên dễ hiểu hơn.

We might see these two great component parts of our Solar System as the warp and woof of an immense tapestry. For design we have the planets with their various kingdoms of nature in their different stages of development. Threading in and out in scintillating gold, silver and an iridescence of many colours we have the intricate embroidery, a design of many patterns, shapes and sizes within the framework of our particular Solar System, seven planets constituting one celestial family—of which our Earth is a relatively minor member.

Chúng ta có thể xem hai thành phần vĩ đại này của Hệ Mặt trời của chúng ta như là sợi dọc và sợi ngang của một tấm thảm khổng lồ. Để thiết kế, chúng ta có các hành tinh với các giới tự nhiên khác nhau của chúng ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Len lỏi vào và ra trong sắc vàng, bạc lấp lánh và sự óng ánh của nhiều màu sắc, chúng ta có những đường thêu phức tạp, một thiết kế của nhiều mẫu mã, hình dạng và kích cỡ trong khuôn khổ của Hệ Mặt trời đặc biệt của chúng ta, bảy hành tinh tạo thành một gia đình thiên thể—mà Trái đất của chúng ta là một thành viên tương đối nhỏ.

Here we might consider the relation in quality or ‘colouring’ between each Ray and Plane; but we should realise that in another solar system, the scale of correspondences would be different due to different stages of evolution and to reasons quite beyond and unknown to our minds.

Ở đây chúng ta có thể xem xét mối quan hệ về phẩm tính hay ‘màu sắc’ giữa mỗi Cung và Cõi; nhưng chúng ta nên nhận ra rằng trong một hệ mặt trời khác, thang tương ứng sẽ khác do các giai đoạn tiến hóa khác nhau và do các lý do hoàn toàn vượt ngoài và không được tâm trí chúng ta biết đến.

• Ray One of Power is related to the highest plane, called the plane of Adi or Spirit;

• Cung Một của Quyền Năng liên quan đến cõi cao nhất, được gọi là cõi Adi hay Tinh thần;

• Ray Two of Love-Wisdom to the second plane, Anupadaka, called the Monadic plane. It is the plane of our own Monads and conditions them all because this is a Second Ray solar system, bearing out the oft-quoted saying that ‘God is Love.’

• Cung Hai của Bác Ái-Minh Triết liên quan đến cõi thứ hai, Anupadaka, được gọi là cõi Chân thần. Đây là cõi của các Chân thần của chúng ta và điều kiện hóa tất cả chúng bởi vì đây là một hệ mặt trời thuộc Cung Hai, minh chứng cho câu nói thường được trích dẫn rằng ‘Thượng đế là Tình thương’.

• Ray Three of Divine Mind is correlated with the third plane of Atma, or Will, suggesting the quality needed for human mind-control.

• Cung Ba của Trí Tuệ Thiêng Liêng tương quan với cõi thứ ba của Atma, hay Ý Chí, gợi ý phẩm chất cần thiết để kiểm soát thể trí của con người.

• Ray Four of Harmony is seen as connected with the fourth plane of Buddhi or Intuition.

• Cung Bốn của Sự Hòa hợp được xem là liên kết với cõi thứ tư của Bồ đề hay Trực giác.

• Ray Five of Mentality with the fifth or Mental plane.

• Cung Năm của Trí Tuệ liên quan đến cõi thứ năm hay cõi Trí.

• Ray Six of Idealistic Devotion with the sixth plane of Emotion.

• Cung Sáu của Sùng Kính Lý Tưởng liên quan đến cõi thứ sáu của Cảm Xúc.

• Ray Seven of Ordered Service (and Ceremonial Activity) with the physico-etheric plane.

• Cung Bảy của Phụng Sự Có Trật Tự (và Hoạt Động Nghi Lễ) với cõi hồng trần-dĩ thái.

Here for easy reference, is the tabulation:

Dưới đây để dễ tham khảo, là bảng liệt kê:

RAY and QUALITY

CUNG và PHẨM TÍNH

• Ray One : Power

• Cung Một : Quyền Năng

• Ray Two : Love-Wisdom

• Cung Hai : Bác Ái – Minh Triết

• Ray Three : Divine Mind

• Cung Ba : Trí Tuệ Thiêng Liêng

• Ray Four : Harmony

• Cung Bốn : Hòa Hợp

• Ray Five : Mentality

• Cung Năm : Trí Tuệ

• Ray Six : Devotion

• Cung Sáu : Sùng Kính

• Ray Seven : Ordered Activity

• Cung Bảy : Hoạt Động Có Trật Tự

PLANE and QUALITY

CÕI và PHẨM TÍNH

• ADI : Pure Spirit

• ADI : Tinh thần thuần túy

• ANUPADAKA : Monadic

• ANUPADAKA : Chân thần

• ATMA : Will

• ATMA : Ý Chí

• BUDDHI : Intuition

• BUDDHI : Trực giác

• MANAS : Mind

• MANAS : Thể trí

• ASTRAL : Emotion

• ASTRAL : Cảm xúc

• PHYSICO-ETHERIC : Physical Being & Action

• PHYSICO-ETHERIC : Bản thể và Hành động Vật lý

The Pythagorean System taught the importance of Number, and the correlation between the number of a Ray and the correspondingly numbered plane with the thus shared similarity of quality is a fruitful subject for thought.

Hệ thống Pythagorean đã dạy về tầm quan trọng của Con số, và sự tương quan giữa số của một Cung và cõi được đánh số tương ứng với sự tương đồng về phẩm chất được chia sẻ như vậy là một chủ đề đáng suy ngẫm.

Particularly at this time we should consider the outgoing sixth Ray of the Piscean era and the incoming Seventh Ray of Aquarius, their qualities being related to the sixth and seventh planes respectively. We should investigate the qualities now fading out and those we can expect to manifest in the future, and remember that always the negative aspects appear first. Is it not true at this time in the world when the quality of the incoming Seventh Ray, which is really ordered activity, seems to be manifesting disorder, almost chaos?

Đặc biệt vào thời điểm này, chúng ta nên xem xét cung thứ sáu sắp tàn của kỷ nguyên Song Ngư và cung thứ bảy sắp đến của Bảo Bình, phẩm tính của chúng lần lượt liên quan đến cõi thứ sáu và thứ bảy. Chúng ta nên điều tra những phẩm tính hiện đang phai mờ và những phẩm tính mà chúng ta có thể mong đợi sẽ biểu hiện trong tương lai, và hãy nhớ rằng các khía cạnh tiêu cực luôn xuất hiện trước. Có phải điều đó không đúng vào thời điểm này trên thế giới khi phẩm tính của cung thứ bảy sắp đến, vốn thực sự là hoạt động có trật tự, dường như đang biểu hiện sự rối loạn, gần như hỗn loạn?

Having a Ray and Plane tabulation before us indicating the high spiritual level of the human monad, we can readily understand why it takes time for our brains to register which Ray our Monad belongs to. However, it is not quite profitless to speculate provided one knows that only faint intimations of it are registered in the consciousness and that all monads are (for our planetary evolution) only on anyone of the first three (major) Rays.

Có một bảng liệt kê Cung và Cõi trước mắt chúng ta cho thấy cấp độ tinh thần cao của chân thần con người, chúng ta có thể dễ dàng hiểu tại sao bộ não của chúng ta cần thời gian để ghi nhận Chân thần của chúng ta thuộc Cung nào. Tuy nhiên, việc suy đoán cũng không hoàn toàn vô ích miễn là người ta biết rằng chỉ có những dấu hiệu mờ nhạt của nó được ghi nhận trong tâm thức và rằng tất cả các chân thần (đối với sự tiến hóa hành tinh của chúng ta) chỉ thuộc một trong ba Cung (chính) đầu tiên.

It is less difficult to determine the Ray of one’s soul ( or ego) since its lowest level of existence is the higher part of the Mental plane. (See diagram ‘The Seven Planes of Evolution’). We should in fact try to ascertain this, for such attempts strengthen the soul’s control and its connection with the personality. It helps to build the bridge between the higher and lower mind and the fresh focus of vision spoken about earlier. To induce this knowledge of our soul’s quality and to bring that quality into action, a sustained question broached inwardly and worded somewhat as follows, can be helpful: ‘In times of greatest stress or need, do I rely mostly on mind (Ray Three), love (Ray Two), or power-will (Ray One), to bring about a result or deal with a problem?’ Of course, we use all three, but in the last analysis one of these is usually the more constant or else the final resort.

Việc xác định Cung của linh hồn (hay chân ngã) của một người ít khó khăn hơn vì cấp độ tồn tại thấp nhất của nó là phần cao hơn của cõi Trí. (Xem sơ đồ ‘Bảy Cõi Tiến Hóa’). Chúng ta thực sự nên cố gắng xác định điều này, vì những nỗ lực như vậy sẽ củng cố sự kiểm soát của linh hồn và sự kết nối của nó với phàm ngã. Nó giúp xây dựng cây cầu giữa thượng trí và hạ trí và trọng tâm mới của tầm nhìn đã được nói đến trước đó. Để tạo ra kiến thức này về phẩm chất của linh hồn chúng ta và để đưa phẩm chất đó vào hành động, một câu hỏi kiên trì được đặt ra bên trong và được diễn đạt tương tự như sau có thể hữu ích: ‘Trong những lúc căng thẳng hoặc cần thiết nhất, tôi chủ yếu dựa vào thể trí (Cung Ba), tình thương (Cung Hai), hay quyền năng-ý chí (Cung Một), để mang lại kết quả hoặc giải quyết một vấn đề?’ Tất nhiên, chúng ta sử dụng cả ba, nhưng xét cho cùng, một trong số này thường là phương tiện thường xuyên hơn hoặc là phương sách cuối cùng.

In time, such an existing ‘open-question’ resting in the mind will indicate whether the soul belongs to one of the three major Rays of Aspect, and to which one; or, as is quite likely, to one of the Rays of Attribute, viz. Four, Five, Six, Seven. However, we should know that at this time by far the majority of spiritually advanced people have souls expressing the Ray of Love-Wisdom.

Theo thời gian, một ‘câu hỏi mở’ như vậy tồn tại trong tâm trí sẽ chỉ ra liệu linh hồn có thuộc một trong ba Cung Trạng thái chính hay không, và thuộc cung nào; hoặc, như rất có thể, thuộc một trong các Cung Thuộc tính, tức là Bốn, Năm, Sáu, Bảy. Tuy nhiên, chúng ta nên biết rằng vào thời điểm này, phần lớn những người tiến bộ về mặt tinh thần có linh hồn biểu hiện Cung Bác Ái-Minh triết.

For many lives the soul remains in one of the Rays of Attribute, changing to one of the major three of Aspect during discipleship, in its earlier or later stages. Knowledge about some of the Masters and Their work in connection with the Rays, and one’s own feeling of attraction to some particular line of work of one of the Great Ones will often give a strong indication of one’s soul Ray.

Trong nhiều kiếp, linh hồn vẫn ở trong một trong các Cung Thuộc tính, chuyển sang một trong ba Cung Trạng thái chính trong giai đoạn đệ tử, ở giai đoạn đầu hoặc cuối. Kiến thức về một số Chân sư và công việc của các Ngài liên quan đến các Cung, và cảm giác thu hút của chính mình đối với một lĩnh vực công việc cụ thể của một trong các Đấng Cao Cả thường sẽ cho một dấu hiệu mạnh mẽ về Cung linh hồn của mình.

By manipulating the Seven Rays, our Solar Logos is able to obtain the endless variations of form within His system. There is nothing in our Solar System, at whatever stage of evolution, which does not belong to the Seven Rays or respond to them. The Rays flow from the centre of the Sun, from the so-called Heart of the Sun, and are received into the Solar System through the Central Spiritual Sun. They are transmitted to the Seven Spirits before the Throne, which are the Seven Heavenly Men or Logoi of the seven sacred planets of our system. Intermingling and blending with each other, according to their missions, they reach the Earth through its seven centres. One of these centres is near London, England; others are in Italy, Australia and the USA.

Bằng cách điều khiển Bảy Cung, Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể tạo ra vô số biến thể của hình tướng trong Hệ thống của Ngài. Không có gì trong Hệ Mặt trời của chúng ta, ở bất kỳ giai đoạn tiến hóa nào, không thuộc về Bảy Cung hoặc không đáp ứng với chúng. Các Cung chảy từ trung tâm của Mặt trời, từ cái gọi là Trái tim của Mặt trời, và được tiếp nhận vào Hệ Mặt trời thông qua Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Chúng được truyền đến Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai, vốn là Bảy Đấng Thiên Nhân hay các Thượng đế của bảy hành tinh thiêng liêng trong hệ thống của chúng ta. Hòa trộn và hòa quyện với nhau, tùy theo sứ mệnh của chúng, chúng đến Trái đất qua bảy trung tâm của nó. Một trong những trung tâm này ở gần London, Anh; những trung tâm khác ở Ý, Úc và Hoa Kỳ.

We have begun to see that each human is a replica of the great plan for the universe, and the Seven Rays are the linking and synthesising qualities which bring the cosmos into relationship according to the Will and Plan of the Architect of the Universe. The Seven Rays are, therefore, the embodiments of seven types of force which demonstrate to us the qualities of the Deity, whether these be in the form of sound, colour, fragrance, taste or in a host of other manifestations. The Seven Ray qualities of the One Life pervade the whole universe and, yet remain individual and undiminished. As the Bhagavad Gila says: ‘Having pervaded the entire Universe with a fragment of myself, I remain.’

Chúng ta đã bắt đầu thấy rằng mỗi con người là một bản sao của kế hoạch vĩ đại cho vũ trụ, và Bảy Cung là những phẩm chất liên kết và tổng hợp đưa vũ trụ vào mối quan hệ theo Ý Chí và Thiên Cơ của Đấng Kiến Trúc Sư của Vũ trụ. Do đó, Bảy Cung là hiện thân của bảy loại mãnh lực chứng tỏ cho chúng ta thấy những phẩm chất của Thượng đế, cho dù đó là dưới dạng âm thanh, màu sắc, hương thơm, mùi vị hay trong vô số các biểu hiện khác. Bảy phẩm chất của Cung của Sự sống Duy Nhất thấm nhuần toàn bộ vũ trụ, nhưng vẫn giữ được tính cá nhân và không bị suy giảm. Như Bhagavad Gita đã nói: ‘Sau khi đã thấm nhuần toàn bộ Vũ trụ bằng một mảnh của chính mình, Ta vẫn còn lại.’

There are references to the Seven Spirits before the Throne of God in the writings of Plato and all of the initiates who, in ancient and modern times, laid down basic propositions for the guidance of the human mentality. The Pythagorean school of initiates spoke of the Music of the Spheres, and they spoke with good cause because each one of the Seven Rays emits its own sound, which sets in motion the forces which must work in unison with it. The sound of the Word of each Ray passes down through the heavens, reaching into every solar or planetary sphere on that Ray note and continuing into ourselves and into the myriad lives of lesser entities whom we comprise. The Seven Rays are the Seven Breaths of that One Life, and in Him, just as in us, there is an important relationship between Breath, Sound and Thought.

Có những tài liệu tham khảo về Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế trong các tác phẩm của Plato và tất cả các điểm đạo đồ, những người, trong thời cổ đại và hiện đại, đã đặt ra những mệnh đề cơ bản để hướng dẫn tâm trí con người. Trường phái Pythagorean của các điểm đạo đồ đã nói về Âm nhạc của các Thiên thể, và họ nói có lý do chính đáng vì mỗi một trong Bảy Cung đều phát ra âm thanh riêng, vốn khởi động các mãnh lực phải hoạt động đồng bộ với nó. Âm thanh của Linh từ của mỗi Cung đi xuống qua các tầng trời, vươn tới mọi quả cầu mặt trời hoặc hành tinh trên âm điệu của Cung đó và tiếp tục đi vào chính chúng ta và vào vô số sự sống của các thực thể nhỏ hơn mà chúng ta cấu thành. Bảy Cung là Bảy Hơi thở của Sự sống Duy Nhất đó, và trong Ngài, cũng như trong chúng ta, có một mối quan hệ quan trọng giữa Hơi thở, Âm thanh và Tư tưởng.

00007.jpeg

Some of the better known descriptions of the trinity are listed above. The list is as long as is the human experience of his environment.

Một số mô tả nổi tiếng hơn về ba ngôi được liệt kê ở trên. Danh sách này dài bằng kinh nghiệm của con người về môi trường của mình.

The Second Ray dominates the Second Solar System, which is our own present one. The First Ray will dominate the successor of the Second Solar System, the system that will follow this one after the solar pralaya. The Third Ray dominated the last Solar System.

Cung Hai chi phối Hệ Mặt trời thứ hai, là hệ hiện tại của chúng ta. Cung Một sẽ chi phối hệ kế thừa của Hệ Mặt trời thứ hai, hệ sẽ theo sau hệ này sau đại giai kỳ qui nguyên thái dương. Cung Ba chi phối Hệ Mặt trời cuối cùng.

The four remaining rays are the Rays of Attribute, and they are products of the Major Three Rays. For instance, Ray Four is a blending of Rays I and II. The following list shows how the Seven Rays issue from an interplay with each other. There are seven possible combinations of the three Major aspects of the Trinity. The aspect of the Trinity concerned is underlined:

Bốn cung còn lại là các Cung Thuộc tính, và chúng là sản phẩm của Ba Cung Chính. Ví dụ, Cung Bốn là sự pha trộn của Cung I và II. Danh sách sau đây cho thấy Bảy Cung phát sinh từ sự tương tác với nhau như thế nào. Có bảy sự kết hợp có thể có của ba Trạng thái chính của Ba Ngôi. Trạng thái của Ba Ngôi liên quan được gạch chân:

1 : 2 : 3 = Ray One

1 : 2 : 3 = Cung Một

1 : 2 : 3 = Ray Two

1 : 2 : 3 = Cung Hai

1 : 2 : 3 = Ray Three

1 : 2 : 3 = Cung Ba

The Minor four Rays are made up in the following way:

Bốn Cung phụ được tạo thành theo cách sau:

1 : 2 : 3 = Ray Four

1 : 2 : 3 = Cung Bốn

1 : 2 : 3 = Ray Five

1 : 2 : 3 = Cung Năm

1 : 2 : 3 = Ray Six

1 : 2 : 3 = Cung Sáu

1 : 2 : 3 = Ray Seven

1 : 2 : 3 = Cung Bảy

It is apparent that there is some overlapping of the qualities of the Rays, but this is due to their common derivation and their ultimate purpose.

Rõ ràng là có một số sự chồng chéo về phẩm chất của các Cung, nhưng điều này là do nguồn gốc chung và mục đích cuối cùng của chúng.

Ray Cycles

Các chu kỳ Cung

At solar and planetary levels:

Ở cấp độ mặt trời và hành tinh:

In previous manvantaras, physical, emotional and mental matter became organised to varying degrees. Pralaya intervenes. Then, when the cycle of manifestation returns (the manvantara), the notes of each Ray are sounded forth. The previously organised matter of each particular Ray responds to the Ray once more, or rather to its note, and the building continues. As a Ray influence wanes under cyclic law, another will take over its work, according to the Plan.

Trong các giai kỳ sinh hóa trước đây, vật chất hồng trần, cảm xúc và trí tuệ đã được tổ chức ở các mức độ khác nhau. Giai kỳ qui nguyên xen vào. Sau đó, khi chu kỳ biểu hiện trở lại (giai kỳ sinh hóa), các âm điệu của mỗi Cung được xướng lên. Vật chất đã được tổ chức trước đây của mỗi Cung cụ thể lại đáp ứng với Cung đó một lần nữa, hay đúng hơn là với âm điệu của nó, và việc xây dựng tiếp tục. Khi ảnh hưởng của một Cung suy yếu theo định luật chu kỳ, một Cung khác sẽ tiếp quản công việc của nó, theo Thiên Cơ.

At human levels:-

Ở cấp độ con người:-

The Rays are the builders of the entire human entity, that is, all of its subtle bodies. They build

Các Cung là những người xây dựng toàn bộ thực thể con người, tức là tất cả các thể tinh vi của nó. Chúng xây dựng

• at the Monadic level, as anyone of the three major Rays

• ở cấp độ Chân thần, là một trong ba Cung chính

• at the level of the Soul, and its higher Triad of Atma, Buddhi and Manas,

• ở cấp độ Linh hồn, và Tam nguyên tinh thần cao hơn của nó là Atma, Bồ đề và Manas,

• at the Personality level, and its lower Triad of Physical, Emotional and Mental bodies.

• ở cấp độ Phàm ngã, và Tam nguyên thấp hơn của nó là các thể Xác, Cảm xúc và Trí.

The Rays cyclically come in and out of manifestation. Every human being is swept into incarnation on the impulse of some Ray, and the Life and Form are coloured by that Ray quality. The same applies to every animal, plant and mineral.

Các Cung tuần hoàn đi vào và ra khỏi sự biểu hiện. Mỗi con người được cuốn vào sự lâm phàm theo xung động của một Cung nào đó, và Sự sống và Hình tướng được tô màu bởi phẩm chất của Cung đó. Điều này cũng áp dụng cho mọi động vật, thực vật và khoáng vật.

The Ray of the human Monad continues unchanged through the aeons. There are 63 thousand million Monads working through our planetary system, and they are divided between the three major Rays only. Only three thousand million are on the Ray of Will and Power. The balance is almost evenly divided between the Second and Third Rays.

Cung của Chân thần con người tiếp tục không thay đổi qua hàng thiên niên kỷ. Có 63 nghìn triệu Chân thần đang hoạt động thông qua hệ hành tinh của chúng ta, và chúng được phân chia chỉ giữa ba Cung chính. Chỉ có ba nghìn triệu thuộc Cung Ý Chí và Quyền Năng. Số dư gần như được chia đều giữa Cung Hai và Cung Ba.

The Ray of the Soul varies from round to round, and, in the more evolved souls, from race to race. Thus, we tend to change the Ray of our Soul as we take up bodies in the Lemurian, Atlantean and Aryan Races. The Ray of the Soul may be anyone of the Seven Rays. At this time, there are relatively few First Ray Souls manifesting, and even fewer Fourth Ray Souls. Most of the souls treading the Path are on the Second Ray of Love-Wisdom or on the Sixth Ray of Devotion, especially Christians. Seventh Ray Souls are coming in fast under the stimulus of the New Age.

Cung của Linh hồn thay đổi từ cuộc tuần hoàn này sang cuộc tuần hoàn khác, và, ở những linh hồn tiến hóa hơn, từ giống dân này sang giống dân khác. Do đó, chúng ta có xu hướng thay đổi Cung của Linh hồn khi chúng ta nhập vào các thể xác trong các Giống dân Lemuria, Atlantis và Arya. Cung của Linh hồn có thể là bất kỳ Cung nào trong Bảy Cung. Vào thời điểm này, có tương đối ít Linh hồn Cung Một biểu hiện, và thậm chí còn ít Linh hồn Cung Bốn hơn. Hầu hết các linh hồn đang bước trên Thánh Đạo đều thuộc Cung Hai của Bác Ái-Minh Triết hoặc Cung Sáu của Sùng Kính, đặc biệt là những người theo đạo Cơ đốc. Các Linh hồn Cung Bảy đang đến nhanh chóng dưới sự kích thích của Kỷ nguyên mới.

There will be an influx of the Fourth Ray, especially in Europe to such an extent as to influence the Rays of the lower triads there and will bring in another Renaissance of Art.

Sẽ có một dòng chảy của Cung Bốn, đặc biệt là ở châu Âu đến mức ảnh hưởng đến các Cung của tam nguyên thấp ở đó và sẽ mang lại một thời kỳ Phục hưng khác của Nghệ thuật.

The Path for Man constitutes the long process in which the Rays of his personality, soul and monad successively stimulate the ultimate atoms of his various vehicles life after life until they become capable of accepting the highest possible spiritual consciousness.

Thánh Đạo của Con người cấu thành một quá trình dài trong đó các cung của phàm ngã, linh hồn và chân thần của y liên tiếp kích thích các nguyên tử tối hậu của các hiện thể khác nhau của y hết kiếp này đến kiếp khác cho đến khi chúng có khả năng chấp nhận tâm thức tinh thần cao nhất có thể.

The effect of The Seven Rays is felt at all levels as they drive form on to greater and more perfect manifestations of Truth, Beauty and Goodness. This is true of the tiniest atom, of Man himself and equally so of the solar system in which he lives.

Ảnh hưởng của Bảy Cung được cảm nhận ở mọi cấp độ khi chúng thúc đẩy hình tướng tiến tới những biểu hiện ngày càng hoàn hảo hơn của Chân, Thiện, Mỹ. Điều này đúng với nguyên tử nhỏ nhất, với chính Con người và cũng đúng với hệ mặt trời mà y đang sống.

It is inevitable that the esoteric psychologist must confront himself with that structure which is the ultimate physical unit of his being, because, in acquiring knowledge of it, he learns to apply natural but hidden forces to it in order to obtain changes in its construction. These changes enable a simultaneous increase in the flow of the Life Force and the Consciousness of the Logos through it. The unit of ultimate matter is the anu. Out of it is constructed all forms.

Không thể tránh khỏi việc nhà tâm lý học nội môn phải đối mặt với cấu trúc là đơn vị vật chất cuối cùng của bản thể mình, bởi vì, khi có được kiến thức về nó, y học cách áp dụng các mãnh lực tự nhiên nhưng ẩn tàng vào nó để tạo ra những thay đổi trong cấu trúc của nó. Những thay đổi này cho phép dòng chảy của Mãnh Lực Sự Sống và Tâm thức của Thượng đế qua nó tăng lên đồng thời. Đơn vị vật chất tối hậu là anu. Từ nó mà mọi hình tướng được tạo ra.

00009.jpeg @url:https://minhtrietmoi.com/wp-content/uploads/pictures/the-human-aura-douglas-m.-baker-song-ng-03.jpg

In it are situated the potential for all states of consciousness. It is through the action of The Seven Rays as these play through the personality, the soul and the monad that these anu, of which Man and all other forms are made, move inexorably towards greater consciousness. The process is certain but it takes many lives and often involves many planetary systems. It may, however, be speeded up when an individual chooses to tread the Path of Discipleship and thus comes under the instruction, supervision and stimulation of a Master of the Wisdom. In the Science of Meditation, the neophyte may learn processes which enable him to stimulate some of the organelles within these tiny, sentient beings out of which he is constructed. These are called ‘spirillae.’

Trong đó có tiềm năng cho mọi trạng thái tâm thức. Chính thông qua hành động của Bảy Cung khi chúng hoạt động qua phàm ngã, linh hồn và chân thần mà những anu này, mà Con người và mọi hình tướng khác được tạo thành từ đó, di chuyển không ngừng về phía tâm thức lớn hơn. Quá trình này là chắc chắn nhưng mất nhiều kiếp và thường liên quan đến nhiều hệ hành tinh. Tuy nhiên, nó có thể được tăng tốc khi một cá nhân chọn bước đi trên Con Đường Đệ Tử và do đó được sự hướng dẫn, giám sát và kích thích của một Chân sư Minh triết. Trong Khoa học Tham Thiền, người sơ cơ có thể học các quy trình cho phép y kích thích một số bào quan bên trong những sinh vật nhỏ bé, có tri giác này mà y được cấu tạo từ đó. Chúng được gọi là ‘spirillae’.

00010.jpeg

The Fifth spirilla on every whorl of the anu is, in particular, sensitive to arousal when, in deep meditation, its Ray note is sounded. In initiation, the walls of the anu are thinned so that they may, where they exist in impure or unsuitable states be broken up and eliminated from the aura and thereafter replaced with atoms of finer structure capable of holding greater awareness.

Spirilla thứ năm trên mỗi vòng xoắn của anu đặc biệt nhạy cảm với sự thức tỉnh khi, trong tham thiền sâu, âm điệu Cung của nó được xướng lên. Trong điểm đạo, các thành của anu được làm mỏng để chúng có thể, ở những nơi tồn tại ở trạng thái không tinh khiết hoặc không phù hợp, bị phá vỡ và loại bỏ khỏi hào quang và sau đó được thay thế bằng các nguyên tử có cấu trúc tinh vi hơn có khả năng chứa đựng nhận thức lớn hơn.

The anu or ultimate physical atom is that vortex of energy which constitutes the building block out of which all matter is fashioned;* and yet, even at this level the Rays mould, build, influence, create, maintain and destroy the form.

Anu hay nguyên tử vật chất tối hậu là xoáy năng lượng cấu thành nên khối xây dựng mà từ đó mọi vật chất được tạo ra;* và tuy nhiên, ngay cả ở cấp độ này, các Cung vẫn định hình, xây dựng, ảnh hưởng, tạo ra, duy trì và hủy diệt hình tướng.

The colour illustration of the anu shows how in each atom, the three Fires that constructed the Solar System in its triune nature, enter at the vortex of the anu, i.e. Fire by Friction, Solar Fire and Electric Fire. They are carried also by the three major whorls on the surface of the anu. The seven minor whorls represent the energies of The Seven Rays which add their corresponding qualities to each atom and thence to the form fashioned out of them.

Hình minh họa màu của anu cho thấy trong mỗi nguyên tử, ba Ngọn Lửa đã xây dựng nên Hệ Mặt trời trong bản chất tam phân của nó, đi vào xoáy của anu, tức là. Lửa do ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện. Chúng cũng được mang bởi ba vòng xoáy chính trên bề mặt của anu. Bảy vòng xoáy nhỏ hơn đại diện cho năng lượng của Bảy Cung, vốn thêm các phẩm chất tương ứng của chúng vào mỗi nguyên tử và từ đó vào hình tướng được tạo ra từ chúng.

*See pages 141-7 of my book, Meditation, The Theory and Practice.

*Xem các trang 141-7 của cuốn sách của tôi, Tham Thiền, Lý Thuyết và Thực Hành.


CHAPTER TWO

Cung Một: Ý Chí và Quyền Năng

Cung của Đấng Hủy Diệt

The West finds it hard to accept the concept of a destroyer. We take so unkindly to death that we often forcibly hold an aged person needlessly in a physical body when the soul has long since withdrawn its interest in its lower triad. The death of form is no more necessarily a terrible change than the birth of a form or the change of a caterpillar into a butterfly. Sometimes we just cannot see the end process which continues after the physical form has disintegrated. An example of this was the Nazi bombing of London during their blitzkrieg on England. Nazism, a destroyer aspect of Shamballa force …

Phương Tây thấy khó chấp nhận khái niệm về một đấng hủy diệt. Chúng ta rất không ưa cái chết đến nỗi chúng ta thường ép buộc một người già phải ở lại trong một thể xác một cách không cần thiết khi linh hồn từ lâu đã không còn quan tâm đến tam nguyên thấp của mình. Cái chết của hình tướng không nhất thiết là một sự thay đổi khủng khiếp hơn sự ra đời của một hình tướng hay sự thay đổi của một con sâu bướm thành một con bướm. Đôi khi chúng ta không thể thấy được quá trình cuối cùng tiếp tục sau khi hình tướng vật chất đã tan rã. Một ví dụ về điều này là cuộc ném bom của Đức Quốc xã vào London trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng của họ ở Anh. Chủ nghĩa Quốc xã, một khía cạnh hủy diệt của mãnh lực Shamballa …

From the centre where the Will of God is known

Từ trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến

Let purpose guide the little wills of men …

Xin cho thiên ý dẫn dắt những ý chí nhỏ bé của con người …

was hideous to witness and worse to experience but its action cleared the way for new forms. Who today, would deny that the destruction of London’s East end slums was a ‘godsend’? In their place, there has arisen townships more worthy of their inhabitants than their previous hideous dwellings. It is extremely unlikely that such clearance, enforced or otherwise, world have been achieved by other means this century!

thật khủng khiếp khi chứng kiến và còn tồi tệ hơn khi trải nghiệm nhưng hành động của nó đã dọn đường cho những hình tướng mới. Ngày nay, ai có thể phủ nhận rằng việc phá hủy các khu ổ chuột ở phía đông London là một ‘ân huệ trời cho’? Thay vào đó, đã mọc lên những thị trấn xứng đáng với cư dân của chúng hơn là những ngôi nhà gớm ghiếc trước đây. Rất khó có khả năng việc giải tỏa như vậy, dù bị ép buộc hay không, lại có thể được thực hiện bằng các phương tiện khác trong thế kỷ này!

Acting through a single individual, the destroyer force of the First Ray can produce incredible destruction and until that personality is completely stabilised, integrated, mature and oriented to its soul there is always the risk that the true, the beautiful and the good will suffer some destruction along with the ugly, the bad and the spurious. But the destroyer aspect is indispensable to shattering crystallised ways, entrenched concepts and methods that slow evolution down. Alice Bailey in her brilliant analysis of Ray types writes:

Khi hoạt động thông qua một cá nhân, mãnh lực hủy diệt của Cung Một có thể tạo ra sự tàn phá không thể tin được và cho đến khi phàm ngã đó được ổn định, tích hợp, trưởng thành và hướng về linh hồn của nó một cách hoàn toàn, luôn có nguy cơ rằng cái thật, cái đẹp và cái thiện sẽ bị hủy diệt phần nào cùng với cái xấu, cái ác và cái giả. Nhưng khía cạnh hủy diệt là không thể thiếu để phá vỡ những lối mòn đã kết tinh, những khái niệm và phương pháp đã ăn sâu làm chậm quá trình tiến hóa. Alice Bailey trong phân tích xuất sắc của mình về các loại Cung đã viết:

‘Such integrated personalities are frequently ruthless at first, selfish, ambitious, self-centred, cruel, one-pointed, implacable, undeviating, aware of implications, of significances, and of the results of action, but, at the same time, unalterable and undeviating, moving forward to their purposes. They destroy and tear down in order to rise to greater heights upon the ruin they have wrought. They do thus rise. They trample on other men and upon the destinies of the little person. They integrate their surroundings into an instrument for their will and move relentlessly forward upon their own occasions. This type of man will be found expressing these qualities in all walks of life and all spheres of action, and is a destroying force in his home, business or in the nation.

‘Những phàm ngã tích hợp như vậy thường tàn nhẫn lúc đầu, ích kỷ, tham vọng, tự cho mình là trung tâm, độc ác, nhất tâm, không thể lay chuyển, không đi chệch hướng, nhận thức được những ẩn ý, những thâm nghĩa, và những kết quả của hành động, nhưng, đồng thời, không thay đổi và không đi chệch hướng, tiến về phía mục đích của họ. Họ phá hủy và xé nát để vươn lên những tầm cao hơn trên đống đổ nát mà họ đã tạo ra. Họ thực sự vươn lên như vậy. Họ chà đạp lên những người khác và lên số phận của những người nhỏ bé. Họ tích hợp môi trường xung quanh thành một công cụ cho ý chí của mình và tiến về phía trước một cách không ngừng nghỉ theo những dịp của riêng họ. Loại người này sẽ được tìm thấy biểu hiện những phẩm chất này trong mọi tầng lớp xã hội và mọi lĩnh vực hoạt động, và là một mãnh lực hủy diệt trong gia đình, công việc kinh doanh hoặc trong quốc gia của mình.

‘All this is made possible because the First Ray has at this stage integrated the personality vehicles and has achieved their simultaneous control. The man functions as a whole.’ Esoteric Psychology, Vol. I, by Alice A. Bailey, Lucis Press, NY.

‘Tất cả những điều này có thể thực hiện được bởi vì Cung Một ở giai đoạn này đã tích hợp các hiện thể của phàm ngã và đã đạt được sự kiểm soát đồng thời của chúng. Con người hoạt động như một tổng thể.’ Tâm Lý Học Nội Môn, Tập I, của Alice A. Bailey, Lucis Press, NY.

The way is a lonely one. It emphasises that outstanding quality of all Ray One vehicles … isolation. Out of isolation, two more important qualities develop, complementing each other:-

Con đường là một con đường cô đơn. Nó nhấn mạnh phẩm chất nổi bật của tất cả các hiện thể Cung Một … sự cô lập. Từ sự cô lập, hai phẩm chất quan trọng khác phát triển, bổ sung cho nhau:-

• Independence … the ability to stand alone … on his own feet.

• Độc lập … khả năng đứng một mình … trên đôi chân của chính mình.

Dependence… not on the world outside, generally hostile to his methods, but dependence on inner resources.

Sự phụ thuộc… không phải vào thế giới bên ngoài, thường thù địch với các phương pháp của y, mà là sự phụ thuộc vào các nguồn lực nội tại.

It is then that the soul can come to his aid, and, for such a person, it is most frequently on the Second Ray of Love- Wisdom. Any step that is made now towards inclusiveness, instead of separativeness, towards furthering the hierarchical Plan rather than his own, towards serving mankind rather than himself, towards controlling himself as a prelude to controlling others, is rewarded from within. Defeats in his struggles to serve mankind are rewarded instead of the victories gained in serving himself.

Chính lúc đó, linh hồn có thể đến giúp y, và, đối với một người như vậy, linh hồn thường thuộc Cung Hai của Bác Ái-Minh triết. Bất kỳ bước nào được thực hiện bây giờ hướng tới tính bao gồm, thay vì tính chia rẽ, hướng tới việc thúc đẩy Thiên Cơ của Thánh đoàn hơn là của riêng mình, hướng tới việc phụng sự nhân loại hơn là chính mình, hướng tới việc kiểm soát bản thân như một khúc dạo đầu để kiểm soát người khác, đều được khen thưởng từ bên trong. Những thất bại trong cuộc đấu tranh để phụng sự nhân loại được khen thưởng thay vì những chiến thắng giành được khi phục vụ chính mình.

In this way, the qualities of the integrated First Ray personality, used as an instrument of the soul, are fashioned.

Bằng cách này, các phẩm tính của phàm ngã Cung Một đã được tích hợp, được sử dụng như một công cụ của linh hồn, được tạo ra.

The supreme moment of dedication comes when the integrated personality, so often the, instrument of destruction, is now turned on itself. Having reached scintillating heights of control and integration the First Ray personality is prepared to offer himself, to give his personality, to sacrifice it to the Master’s intent. In the Old Testament this is symbolised by Abraham taking Isaac, his dearest possession, to the mountain top (of initiation) to offer in sacrifice to the Lord (the Monad).

Thời điểm tối cao của sự hiến dâng đến khi phàm ngã tích hợp, vốn thường là công cụ của sự hủy diệt, giờ đây lại hướng vào chính nó. Sau khi đạt đến những đỉnh cao rực rỡ của sự kiểm soát và tích hợp, phàm ngã Cung Một sẵn sàng hiến dâng chính mình, hiến dâng phàm ngã của mình, hy sinh nó cho ý định của Chân sư. Trong Cựu Ước, điều này được tượng trưng bởi việc Abraham đưa Isaac, tài sản quý giá nhất của mình, lên đỉnh núi (của sự điểm đạo) để hiến tế cho Thượng đế (Chân thần).

This is where experience counts. The personality on the Ray of Will and Power must not only create, he must maintain what he has created, despite all odds. There are many highly spiritual souls corning into incarnation today with genius manifesting. But more is needed than the seed of genius. The phallus with which to implant the seed is implicit and yet so rarely present. So many young people of our day have spiritual concepts that could better the planet immeasurably but lack the personality to implant and maintain their rare contribution be it truth, beauty or goodness, in our present planetary conditions of selfishness and competition. The First Ray personality feeds constantly his embryonic idea, no matter what the opposition, be he a revolutionary, a reformer, an innovator, an explorer or a frontiersman, he will hurl back the frontier and hold it until the Second Ray builders come up to consolidate, and the Fourth Ray souls enrich culturally the newly-won lands. More than anything the Ray of Will and Power prepares the initiate for the Mountain Face, that climb up the Mountain of Initiation, when Capricorn-like, he must leap from vantage point to vantage point holding to the cliff-face though the whole mountain disintegrate about him. He seeks the Burning Ground, the secret place of initiation on the Mountain’s top. The esoteric disciplines, especially those in their First Ray connotations, prepare the few for the ‘burning ground’ which comes when every call of the flesh has been answered and found wanting, when every material mesh has clung and finally fallen from you. It is a process of self-immolation which comes easiest to those richest in experience and poorest in attachment to those same experiences. Because the ‘burning ground’ is so appropriately First Ray in the concepts that it conjures up in the mind, I might be forgiven for quoting some relevant passages from The Ravings of a Mystic which I wrote several years ago. The article probably marked the end of my ‘angry-young-man’ period:

Đây là nơi kinh nghiệm có giá trị. Phàm ngã trên Cung Ý Chí và Quyền Năng không chỉ phải sáng tạo, mà còn phải duy trì những gì mình đã tạo ra, bất chấp mọi khó khăn. Có nhiều linh hồn rất tinh thần đang lâm phàm ngày nay với thiên tài biểu hiện. Nhưng cần nhiều hơn là hạt giống của thiên tài. Cơ quan sinh dục nam để gieo hạt giống là ngụ ý và tuy nhiên rất hiếm khi có mặt. Rất nhiều người trẻ ngày nay có những khái niệm tinh thần có thể cải thiện hành tinh một cách vô cùng nhưng lại thiếu phàm ngã để gieo trồng và duy trì sự đóng góp hiếm có của họ dù đó là sự thật, vẻ đẹp hay sự tốt lành, trong điều kiện hành tinh hiện tại của chúng ta về sự ích kỷ và cạnh tranh. Phàm ngã Cung Một liên tục nuôi dưỡng ý tưởng phôi thai của mình, bất kể sự phản đối nào, dù y là một nhà cách mạng, một nhà cải cách, một nhà đổi mới, một nhà thám hiểm hay một người tiên phong, y sẽ đẩy lùi biên giới và giữ vững nó cho đến khi những người xây dựng Cung Hai đến để củng cố, và những linh hồn Cung Bốn làm phong phú về mặt văn hóa những vùng đất mới giành được. Hơn bất cứ điều gì, Cung Ý Chí và Quyền Năng chuẩn bị cho người điểm đạo đồ đối mặt với Núi, cuộc leo núi của Sự Điểm đạo, khi, giống như Ma Kết, y phải nhảy từ điểm thuận lợi này sang điểm thuận lợi khác, bám vào vách đá mặc dù cả ngọn núi tan rã xung quanh y. Y tìm kiếm Vùng Đất Cháy, nơi bí mật của sự điểm đạo trên đỉnh núi. Các môn học huyền bí, đặc biệt là những môn có ý nghĩa Cung Một, chuẩn bị cho một số ít người cho ‘vùng đất cháy’ đến khi mọi tiếng gọi của xác thịt đã được đáp lại và thấy là thiếu sót, khi mọi lưới vật chất đã bám lấy và cuối cùng rơi khỏi bạn. Đó là một quá trình tự thiêu dễ dàng nhất đối với những người giàu kinh nghiệm nhất và nghèo nhất trong sự chấp trước vào những kinh nghiệm đó. Bởi vì ‘vùng đất cháy’ rất phù hợp với Cung Một trong các khái niệm mà nó gợi lên trong tâm trí, tôi có thể được tha thứ khi trích dẫn một số đoạn văn liên quan từ Những lời nói mê sảng của một nhà thần bí mà tôi đã viết vài năm trước. Bài viết có lẽ đã đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn ‘người trẻ tuổi giận dữ’ của tôi:

‘If you have never known the sickening thrill of a straight-flush, if you have never paused, guilty, “in the rank sweat of an ensemened bed”, or clapped your hands to ears that would shut out the screams of scorching tank-entombed men, or true blue have never quelled the nausea of protesting organs with gushes of C20H5, or friendless, in the great alone, have never heard the winds speak, or the earth move, or hounded by some know-not-what force have not plunged deep in every glittering pool and have not emerged from all these and something too, crying ever, “Not this, not this,” then these words are not for you.

‘Nếu bạn chưa từng biết đến cảm giác rùng rợn đến phát ốm của một ván bài thẳng, nếu bạn chưa từng dừng lại, tội lỗi, “trong mồ hôi hôi hám của một chiếc giường đầy tinh dịch”, hoặc vỗ tay vào tai để ngăn chặn tiếng la hét của những người đàn ông bị thiêu đốt trong xe tăng, hoặc thực sự chưa bao giờ dập tắt cơn buồn nôn của các cơ quan phản kháng bằng những dòng C20H5, hoặc không bạn bè, trong sự cô đơn vĩ đại, chưa từng nghe thấy tiếng gió nói, hoặc trái đất chuyển động, hoặc bị săn đuổi bởi một thế lực không biết là gì đã không lao sâu vào mọi hồ nước lấp lánh và đã không nổi lên từ tất cả những điều này và một cái gì đó nữa, luôn luôn kêu lên, “Không phải cái này, không phải cái này,” thì những lời này không dành cho bạn.

‘Not for you the Burning Ground, not yet. Not till every call of flesh is answered, not till every material mesh has clung to you. But when richest in experience, beyond your wildest dreams and poorest in attachment to them, then comes the Burning Ground.

‘Vùng Đất Cháy không dành cho bạn, chưa đâu. Cho đến khi mọi tiếng gọi của xác thịt được trả lời, cho đến khi mọi lưới vật chất đã bám vào bạn. Nhưng khi giàu kinh nghiệm nhất, vượt xa những giấc mơ hoang đường nhất của bạn và nghèo nàn nhất trong sự chấp trước vào chúng, thì Vùng Đất Cháy sẽ đến.

‘Then Paul, three days blinded by the shaft of light, Hiram Abiff taking the blow, Arjuna on the field of battle, Augustin reeling before the City of God, Lulley confronting the cancerous breast, Socrates drinking the hemlock, More facing the block, Swedenborg’s madness, Bacon’s treason, all these (and something too) will have their meaning for you; “not this” will become THIS.

‘Khi đó, Paul, ba ngày bị mù bởi tia sáng, Hiram Abiff nhận đòn, Arjuna trên chiến trường, Augustin loạng choạng trước Thành phố của Thượng đế, Lulley đối mặt với vú ung thư, Socrates uống thuốc độc, More đối mặt với máy chém, sự điên rồ của Swedenborg, sự phản bội của Bacon, tất cả những điều này (và một cái gì đó nữa) sẽ có ý nghĩa đối với bạn; “không phải cái này” sẽ trở thành CÁI NÀY.

‘ “THIS” comes to everyone eventually, as certainly as Golden lads and girls all must as chimney sweepers come to dust. It comes in that last, desperate and bitter ‘run-in’ of incarnations that pin us in quick succession to the crosses of the Zodiac. It comes to us after the welter of experience, broad, varied and intense, has brought us to our knees. And with that experience comes self-reliance, without which none can survive the Burning Ground. There is no other criterion but experience in matter, for nothing, not even spirit evolves without it. One does not have to be a trained occultist to come within reach of the Burning Ground nor need one be a rambling mystic.

‘ “CÁI NÀY” cuối cùng sẽ đến với mọi người, chắc chắn như Chàng trai vàng, cô gái vàng tất cả phải như người quét ống khói trở về với cát bụi. Nó đến trong cái ‘chạy nước rút’ cuối cùng, tuyệt vọng và cay đắng của những kiếp lâm phàm đã đóng đinh chúng ta vào những thập giá của Hoàng đạo một cách nhanh chóng. Nó đến với chúng ta sau khi sự hỗn loạn của kinh nghiệm, rộng lớn, đa dạng và mãnh liệt, đã đưa chúng ta đến chỗ quỳ gối. Và với kinh nghiệm đó đến sự tự lực, mà không có nó không ai có thể sống sót qua Vùng Đất Cháy. Không có tiêu chí nào khác ngoài kinh nghiệm trong vật chất, vì không có gì, ngay cả tinh thần cũng không tiến hóa nếu không có nó. Người ta không cần phải là một nhà huyền bí học được đào tạo để đến gần Vùng Đất Cháy cũng không cần phải là một nhà thần bí lang thang.

It is the crises gained from experience that matter and not the ecclesiastical, commercial or social rank of the man.’

Đó là những cuộc khủng hoảng thu được từ kinh nghiệm mới quan trọng chứ không phải là địa vị giáo hội, thương mại hay xã hội của con người.’

Out of this welter of experience, slowly there emerges ‘the few’ in every generation. The English Master, Robert Browning described them thus in his poem Paracelsus:

Từ sự hỗn loạn của kinh nghiệm này, từ từ nổi lên ‘một số ít’ trong mỗi thế hệ. Chân sư người Anh, Robert Browning đã mô tả họ như sau trong bài thơ Paracelsus của mình:

For men begin to pass their nature’s bound,

Vì con người bắt đầu vượt qua giới hạn của bản chất mình,

And find new hopes and cares which fast supplant

Và tìm thấy những hy vọng và lo lắng mới nhanh chóng thay thế

Their proper joys and grief; they grow too great

Những niềm vui và nỗi buồn riêng của họ; họ trở nên quá lớn

For narrow creeds of right and wrong, which fade

Đối với những tín điều hẹp hòi về đúng và sai, vốn phai nhạt

Before the unmeasured thirst for good; while peace

Trước cơn khát thiện vô bờ; trong khi sự bình yên

Rises within them ever more and more

Trỗi dậy trong họ ngày càng nhiều hơn

Such men are even now upon the earth,

Những người như vậy hiện đang ở trên trái đất,

Serene amid the half-formed creatures round.

Thanh thản giữa những sinh vật nửa vời xung quanh.

The Ray of Will and Power is one facet of seven used for the expression of divinity in man. With the other rays, it constantly forms, maintains and destroys the various bodies of man. In every one of us there is to be found the Ray of Will and Power. In some of our vehicles it is more potently expressed than others. Though basically ‘perfect’ (because they are divine), the Rays manifest their qualities in man as virtues and vices at a personality level. But they rule all kingdoms and are responsible for the qualities of physical form in mineral, plant and animal as well as in man. The Ray of Will and Power is called the First Ray, although it is only a sub-ray of the great Ray of Love-Wisdom which rules our Solar System.

Cung Ý Chí và Quyền Năng là một trong bảy phương diện được sử dụng để biểu hiện thiên tính trong con người. Cùng với các cung khác, nó liên tục hình thành, duy trì và hủy diệt các thể khác nhau của con người. Trong mỗi chúng ta đều có Cung Ý Chí và Quyền Năng. Trong một số hiện thể của chúng ta, nó được biểu hiện mạnh mẽ hơn những hiện thể khác. Mặc dù về cơ bản là ‘hoàn hảo’ (vì chúng là thiêng liêng), các Cung biểu hiện phẩm chất của chúng trong con người như những đức tính và tật xấu ở cấp độ phàm ngã. Nhưng chúng cai quản tất cả các giới và chịu trách nhiệm cho các phẩm chất của hình tướng vật chất trong kim thạch, thực vật và động vật cũng như trong con người. Cung Ý Chí và Quyền Năng được gọi là Cung Một, mặc dù nó chỉ là một cung phụ của Cung Bác Ái-Minh triết vĩ đại vốn cai quản Hệ Mặt trời của chúng ta.

The Ray of Will and Power plays the greatest part in the evolution of form and therefore rules the physical body of Man. Most especially, in the human kingdom, its energies are manipulated by the Manus of the races. Each Race and Sub-Race has a Manu, who originally founded the race, strengthened it by actually incarnating in it at points of time and location when and where the race needed strengthening.

Cung Ý Chí và Quyền Năng đóng vai trò lớn nhất trong sự tiến hóa của hình tướng và do đó cai quản thể xác của Con người. Đặc biệt nhất, trong giới nhân loại, năng lượng của nó được điều khiển bởi các Manu của các giống dân. Mỗi Giống dân và Giống dân phụ đều có một Manu, người ban đầu đã sáng lập ra giống dân đó, củng cố nó bằng cách thực sự lâm phàm trong nó vào những thời điểm và địa điểm mà giống dân đó cần được củng cố.

The Lord of the Fifth Root Race, our own, is Vaivasvata Manu, whose stock flows in the blood of every one of us. In the earliest days of the Race, known as the Aryan (but not to be confused with the Hitlerian concept), He acted as a sort of Moses, teaching the race the disciplines of body and mind which were to ensure its survival for the great work of unfoldment of planetary consciousness which lay ahead for the Race.

Đức Chúa Tể của Giống dân gốc Thứ năm, giống dân của chúng ta, là Vaivasvata Manu, mà dòng dõi của Ngài chảy trong máu của mỗi chúng ta. Trong những ngày đầu tiên của Giống dân, được gọi là Arya (nhưng không được nhầm lẫn với khái niệm của Hitler), Ngài đã hành động như một loại Moses, dạy cho giống dân những kỷ luật về thể xác và thể trí vốn sẽ đảm bảo sự sống còn của nó cho công việc vĩ đại của sự mở rộng tâm thức hành tinh nằm phía trước cho Giống dân đó.

Through men like Lycurgus of Sparta, the First Ray works. Through the efforts of Lycurgus, the Greeks were later to throw off the marauding hordes of Persians who threatened survival of the Grecian and Roman subrace of the Aryan. His spartan discipline and code has become part of the tradition of the Fifth Race. The Manus, and their elect, carry in their aurae and permanent atoms the racial characteristics which act on that race like the genes and chromosomes in the living cell. (The First Ray rules the nucleus of the cell and the atom wherein lie the organising and empowering forces of those microcosms).

Thông qua những người như Lycurgus của Sparta, Cung Một hoạt động. Thông qua những nỗ lực của Lycurgus, người Hy Lạp sau này đã đánh đuổi được lũ cướp bóc người Ba Tư đe dọa sự tồn vong của giống dân phụ Hy Lạp và La Mã của người Arya. Kỷ luật và luật lệ spartan của ông đã trở thành một phần của truyền thống của Giống dân Thứ năm. Các Manu, và những người được chọn của họ, mang trong hào quang và nguyên tử trường tồn của họ những đặc điểm chủng tộc tác động lên giống dân đó giống như gen và nhiễm sắc thể trong tế bào sống. (Cung Một cai quản nhân của tế bào và nguyên tử nơi chứa đựng các mãnh lực tổ chức và trao quyền của các tiểu thiên địa đó).

The Manus plant their characteristics continuously in the Race, where they are mutated and improved upon during the Race’s unfolding history. The Manu reabsorbs the newly-won qualities and holds them for later use. Thus, we have the reincarnation of Ancient Rome in the British Commonwealth, a process of development guided by Vaivasvata.

Các Manu liên tục gieo rắc những đặc tính của mình vào Giống dân, nơi chúng được biến đổi và cải thiện trong suốt lịch sử phát triển của Giống dân. Manu tái hấp thu những phẩm chất mới giành được và giữ chúng lại để sử dụng sau này. Do đó, chúng ta có sự tái sinh của La Mã Cổ đại trong Khối thịnh vượng chung Anh, một quá trình phát triển được Vaivasvata hướng dẫn.

The Lords of Karma work through the First Ray too. And via the genes and chromosomes they exact their cruellest debts in physical deformity. And so, a fast developing soul, for instance, in life after life, may waste away his talents in incessant and useless activity. The Lords of Karma through the First Ray might intercede, slow down and eliminate this serious defect by imposing a series of lives in a crippled or paralysed form.

Các Đức Chúa Tể của Nghiệp quả cũng hoạt động thông qua Cung Một. Và qua các gen và nhiễm sắc thể, các Ngài đòi những món nợ tàn khốc nhất bằng sự dị dạng về thể xác. Và vì vậy, một linh hồn đang phát triển nhanh, chẳng hạn, hết kiếp này đến kiếp khác, có thể lãng phí tài năng của mình trong những hoạt động không ngừng và vô ích. Các Đức Chúa Tể của Nghiệp quả thông qua Cung Một có thể can thiệp, làm chậm lại và loại bỏ khiếm khuyết nghiêm trọng này bằng cách áp đặt một loạt các kiếp sống trong một hình tướng bị què quặt hoặc tê liệt.

The growth of a solar system into maturity has often been likened to that of a cell and, more frequently to that of a cell that has been fertilised and is rapidly undergoing transformation within the egg into a foetus (See ‘The Auric Egg,’ ‘The Cell as an Auric Egg’ and ‘Solar Mitosis’ in my book The Jewel in the Lotus). In the great auric egg of the Divine, the fluidic content is composed of the Seven Great Planes which can be said to be rotating clockwise. At right angles to These, as for instance with the spirillae within the whorl of an anu, there act The Seven Rays, or Divine Builders of all within the auric egg. Operating under the three great Laws of Being* (which are seven) the Rays, as in an embryo, act upon the embryonic plate, tugging, repulsing, stimulating, rejecting, coaxing, nurturing and fashioning the growing life of the solar system.

Sự phát triển của một hệ mặt trời đến khi trưởng thành thường được ví như sự phát triển của một tế bào, và thường xuyên hơn là của một tế bào đã được thụ tinh và đang nhanh chóng trải qua sự biến đổi bên trong trứng thành một bào thai (Xem ‘Noãn Hào quang’, ‘Tế bào như một Noãn Hào quang’ và ‘Sự phân bào của Mặt trời’ trong cuốn sách của tôi Viên Ngọc trong Hoa Sen). Trong noãn hào quang vĩ đại của Thượng đế, chất lỏng bên trong được cấu tạo bởi Bảy Cõi giới Vĩ đại có thể nói là đang quay theo chiều kim đồng hồ. Vuông góc với Những Cõi giới này, chẳng hạn như với các spirillae trong vòng xoắn của một anu, có Bảy Cung, hay Bảy Đấng Kiến Tạo Thiêng Liêng của tất cả những gì bên trong noãn hào quang, hoạt động. Hoạt động dưới ba Định luật Lớn của Bản Thể* (vốn là bảy) các Cung, như trong một phôi thai, tác động lên đĩa phôi, kéo, đẩy, kích thích, từ chối, dỗ dành, nuôi dưỡng và định hình sự sống đang phát triển của hệ mặt trời.

* See the ‘Law of Synthesis,’ the ‘Law of Attraction’ and the ‘Law of Economy’ in my book The Jewel in the Lotus.

* Xem ‘Định luật Tổng hợp’, ‘Định luật Hấp dẫn’ và ‘Định luật Tiết kiệm’ trong cuốn sách của tôi Viên Ngọc trong Hoa Sen.

00011.jpeg @url:https://minhtrietmoi.com/wp-content/uploads/pictures/the-egoic-lotus_-song-ngu_upscaled_20260719_021859-10.webp

H. P. Blavatsky went to great lengths to draw an analogy between developing embryonic tissue and features of the Divine Planes. She gives analogies between the chorion, the amnion and the placenta and aspects of Atma, Buddhi and Manas, etc.

Bà H. P. Blavatsky đã rất nỗ lực để vẽ ra một sự tương đồng giữa các mô phôi đang phát triển và các đặc điểm của các Cõi giới Thiêng liêng. Bà đưa ra các sự tương đồng giữa màng đệm, màng ối và nhau thai và các phương diện của Atma, Buddhi và Manas, v.v.

The embryo analogy, with regard to a human development becomes closer when the embryonic tissues appear. There is a direct correlation now between’-

Phép ẩn dụ về phôi thai, liên quan đến sự phát triển của con người, trở nên gần gũi hơn khi các mô phôi xuất hiện. Bây giờ có một mối tương quan trực tiếp giữa’-

• Ray One—Atma—Ectoderm

• Cung Một—Atma—Ngoại bì

• Ray Two—Buddhi—Mesoderm

• Cung Hai—Bồ đề—Trung bì

• Ray Three—Manas—Endoderm.

• Cung Ba—Manas—Nội bì.

Thus, the three Major Rays, the Rays of Aspect, are related to the three primary tissues: ectoderm, mesoderm and endoderm. The Rays of Attribute (minor Rays), are related to variations of the basic three tissues of Man, e.g., splanchnopleur, mesopleur, etc.

Do đó, ba Cung Chính, các Cung Trạng Thái, liên quan đến ba mô nguyên thủy: ngoại bì, trung bì và nội bì. Các Cung Thuộc Tính (các Cung phụ), liên quan đến các biến thể của ba mô cơ bản của Con người, ví dụ như splanchnopleur, mesopleur, v.v.

The First Ray, as one would have guessed, rules fascism, ultra-conservatism and despotism, whereas the Second Ray of Love-Wisdom rules democracy and the Third Ray, socialism. With Ray One, the accent is upon ‘might is right.’ Hitler was the arch-prince of fascism. He was the Destroyer aspect rampant, the Machiavelli of the twentieth century. He was said to have had some direct contact with the forces of Shamballa.

Cung Một, như người ta có thể đoán, cai quản chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa bảo thủ cực đoan và chủ nghĩa chuyên chế, trong khi Cung Hai của Bác Ái-Minh Triết cai quản nền dân chủ và Cung Ba, chủ nghĩa xã hội. Với Cung Một, trọng tâm là ‘kẻ mạnh là người có lý’. Hitler là hoàng tử của chủ nghĩa phát xít. Ông ta là hiện thân của khía cạnh Hủy diệt, là Machiavelli của thế kỷ hai mươi. Người ta nói rằng ông ta đã có một số liên hệ trực tiếp với các mãnh lực của Shamballa.

• Shamballa : Ray One

• Shamballa : Cung Một

• The Hierarchy : Ray Two

• Thánh Đoàn : Cung hai

• Mankind : Ray Three

• Nhân loại : Cung ba

Shamballa is said to be the place ‘Where the Will of God is known’ and recreates form ever anew by shattering the old and crystallised. It inspires the frontiersman that breaks down old barriers and hews out new paths and then ( often unwillingly) stands aside for the Fourth Ray builders of culture and refined taste to entrench their newly-won attributes and to elaborate on them.

Shamballa được cho là nơi ‘Ý Chí của Thượng Đế được biết đến’ và tái tạo hình tướng mãi mãi bằng cách phá vỡ những gì cũ kỹ và kết tinh. Nó truyền cảm hứng cho người tiên phong phá vỡ những rào cản cũ kỹ và mở ra những con đường mới và sau đó (thường là không muốn) đứng sang một bên cho những người xây dựng văn hóa và thẩm mỹ tinh tế của Cung Bốn để củng cố những thuộc tính mới giành được của họ và để phát triển chúng.

There is no better poetic illustration of these First Ray qualities and vices to be found in the English language outside of the poet John Dryden’s description of the politically-minded First Ray personality of the Earl of Shaftesbury in Absalom and Achitophel:-

Không có minh họa thơ ca nào tốt hơn về những phẩm chất và thói hư tật xấu của Cung Một này trong tiếng Anh ngoài mô tả của nhà thơ John Dryden về phàm ngã Cung Một có khuynh hướng chính trị của Bá tước Shaftesbury trong Absalom và Achitophel:-

Sagacious, bold and turbulent of wit;

Thông minh, táo bạo và tài trí đầy biến động;

Restless, unfixed in principles and place;

Bất định, không ổn định trong nguyên tắc và địa vị;

In power unpleased, impatient of disgrace …

Trong quyền lực không hài lòng, không kiên nhẫn trước sự thất sủng …

A daring pilot in extremity;

Một hoa tiêu táo bạo trong lúc nguy cấp;

Pleased with the danger, when the waves went high,

Thích thú với nguy hiểm, khi sóng cả dâng cao,

He sought the storms; but, for a calm unfit,

Ông tìm kiếm bão tố; nhưng, không hợp với sự yên bình,

Would steer too nigh the sands, to boast his wit …

Sẽ lái quá gần bờ cát, để khoe tài trí của mình …

In friendship false, implacable in hate,

Trong tình bạn giả dối, không thể dung thứ trong hận thù,

Resolved to ruin or to rule the state …

Quyết tâm hủy hoại hoặc cai trị đất nước …

We shall later see how close this description is to a First Ray mind, emotions or personality.

Sau này chúng ta sẽ thấy mô tả này gần gũi như thế nào với một thể trí, cảm xúc hoặc phàm ngã Cung Một.

It is not surprising, therefore, that the religion of Judaism is ruled by the First Ray, as is also the Jewish Race itself. The Ram (Aries) was a most prominent symbol amongst the Jews and figured in their sacrificial rites. Judaism has a most clearly demarcated monotheism. It contains the concept of a wrathful and revengeful God demanding ‘an eye for an eye’ in true karmic and First Ray style.

Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi tôn giáo Do Thái giáo được cai quản bởi Cung Một, cũng như chính Chủng tộc Do Thái. Con Cừu đực (Bạch Dương) là một biểu tượng rất nổi bật của người Do Thái và xuất hiện trong các nghi lễ hiến tế của họ. Do Thái giáo có một thuyết độc thần được phân định rất rõ ràng. Nó chứa đựng khái niệm về một vị Thần giận dữ và báo thù đòi hỏi ‘mắt đền mắt’ theo đúng phong cách nghiệp quả và Cung Một.

Because of its Ray equipment the Jewish Race has been able to survive against impossible odds. Isolation comes to it easily and in such isolation the culture of the Jew often flourishes. The Jew can show all the necessary one-pointedness of the First Ray in both religion and in business. He often dresses loudly and is quick to demonstrate his success with ostentatious living all through the week until Saturday, and then vanishes into austerity, isolation and devotion to his ancestral form of worship without any ado. It is no wonder that people with First Ray equipment have an unequalled opportunity to work off karma. ‘The Tibetan’ says that the Jewish race is a karmic clearing house for souls overloaded with difficult karma. Some of us tend to accumulate an excess of karma through a cycle of lives. We then choose a Jewish body in order to be certain of opportunities to work that karma off

Do bộ Cung của mình, Chủng tộc Do Thái đã có thể tồn tại trước những khó khăn không thể tưởng tượng được. Sự cô lập đến với nó một cách dễ dàng và trong sự cô lập đó, văn hóa của người Do Thái thường phát triển mạnh mẽ. Người Do Thái có thể thể hiện tất cả sự nhất tâm cần thiết của Cung Một trong cả tôn giáo và kinh doanh. Y thường ăn mặc lòe loẹt và nhanh chóng thể hiện sự thành công của mình bằng lối sống phô trương suốt cả tuần cho đến thứ Bảy, rồi biến mất vào sự khổ hạnh, cô lập và sùng kính hình thức thờ cúng tổ tiên của mình mà không cần bất kỳ sự ồn ào nào. Không có gì lạ khi những người có bộ Cung Một có cơ hội không gì sánh được để hóa giải nghiệp quả. ‘Chân sư Tây Tạng’ nói rằng chủng tộc Do Thái là một trung tâm thanh toán nghiệp quả cho những linh hồn bị quá tải bởi nghiệp quả khó khăn. Một số người trong chúng ta có xu hướng tích lũy quá nhiều nghiệp quả qua một chu kỳ các kiếp sống. Sau đó, chúng ta chọn một thân xác Do Thái để chắc chắn có cơ hội hóa giải nghiệp quả đó.

This ability to isolate and thrive is seen clearly in the First Ray approach to idealism which appears to the observer as both callous and insincere. A First Ray will approach an ideal and give his all to it (never less!). He will drive it with every human (and some say superhuman) energy and then, when another ideal comes along that is higher, he will switch over to it without compunction and with a completeness that is devastating to those on the Sixth Ray, devoted to idealism. The First Ray may then even turn on the older ideal and destroy it in order to be free for unstinting energising of the succeeding ideal.

Khả năng cô lập và phát triển mạnh mẽ này được thấy rõ trong cách tiếp cận của Cung Một đối với chủ nghĩa lý tưởng, vốn đối với người quan sát có vẻ vừa nhẫn tâm vừa không thành thật. Một người Cung Một sẽ tiếp cận một lý tưởng và cống hiến hết mình cho nó (không bao giờ ít hơn!). Y sẽ thúc đẩy nó bằng mọi năng lượng của con người (và một số người nói là siêu nhân) và sau đó, khi một lý tưởng khác cao hơn xuất hiện, y sẽ chuyển sang nó mà không hề do dự và với một sự hoàn toàn tàn khốc đối với những người trên Cung Sáu, vốn sùng kính chủ nghĩa lý tưởng. Người Cung Một sau đó thậm chí có thể quay lại chống lại lý tưởng cũ và phá hủy nó để được tự do tiếp năng lượng không ngừng cho lý tưởng kế tiếp.

If he respects someone, he will take orders from that one in true martial style, but, unlike the Sixth Ray, he must be left alone to work out for himself how to implement the commands given him. When they drive an ideal, they will proclaim it from the rooftops. They will unfurl gaudy banners and draw to themselves and their ideals the brazen blare of public attention. And come what odds, they will, even in failure, confound their opponents with their tenacity of purpose, their one-pointedness, their unrelenting devotion. To the exasperation of their competitors, they will press on regardless (Aries) … they will live on the smell of an oilrag and climb the sheer face of the mountain in preference to the longer but easier way (Capricorn). They will stand on a desolate outcrop … or lie for years in exile until their time is right. They will win their point or die in the effort.

Nếu y tôn trọng ai đó, y sẽ nhận lệnh từ người đó theo đúng phong cách quân đội, nhưng, không giống như Cung Sáu, y phải được để yên để tự mình tìm ra cách thực hiện các mệnh lệnh được giao. Khi họ theo đuổi một lý tưởng, họ sẽ công bố nó từ trên các mái nhà. Họ sẽ giương cao những biểu ngữ sặc sỡ và thu hút sự chú ý ồn ào của công chúng đến bản thân và lý tưởng của họ. Và bất kể khó khăn nào, họ sẽ, ngay cả khi thất bại, làm cho đối thủ của họ bối rối với sự kiên trì trong mục đích, sự nhất tâm, sự tận tụy không ngừng của họ. Trước sự tức giận của các đối thủ cạnh tranh, họ sẽ tiếp tục bất chấp (Bạch Dương) … họ sẽ sống bằng mùi của một miếng giẻ dầu và leo lên vách núi thẳng đứng thay vì con đường dài hơn nhưng dễ dàng hơn (Ma Kết). Họ sẽ đứng trên một mỏm đá hoang vắng … hoặc nằm lưu vong trong nhiều năm cho đến khi thời cơ của họ đến. Họ sẽ thắng hoặc chết trong nỗ lực đó.

An understanding of these dominant points of First Ray approach is important because they illustrate the profound difference which is accorded to disciples on the First Ray and those on the Second Ray of Love-Wisdom. The neophyte on the Ray of Love-Wisdom is gently coaxed and constantly kept within the aura of the Master. He is most easily reached by visual and mystical impression. He can draw continuously on the ashram for energy and encouragement. His period of instruction is protracted and his tasks are those of building and integrating, working in groups and most frequently at subjective levels.

Sự thấu hiểu về những điểm nổi bật này trong cách tiếp cận của Cung Một là quan trọng vì chúng minh họa sự khác biệt sâu sắc được dành cho các đệ tử trên Cung Một và những người trên Cung Hai của Bác Ái-Minh triết. Người sơ cơ trên Cung Bác Ái-Minh triết được nhẹ nhàng dỗ dành và liên tục được giữ trong hào quang của Chân sư. Y dễ dàng tiếp cận nhất bằng ấn tượng thị giác và thần bí. Y có thể liên tục lấy năng lượng và sự khuyến khích từ đạo tràng. Thời gian hướng dẫn của y kéo dài và nhiệm vụ của y là xây dựng và tích hợp, làm việc theo nhóm và thường xuyên nhất ở các cấp độ chủ quan.

Not so with the disciple on the First Ray. When a task is assigned him, he is given a minimum of instruction, usually accompanied with a vast but brief recharging of his subjective energies. He is then “on his own,” and although he is helped where possible by his occult superiors, he must fend for himself and take the consequences on his own shoulders for the results of his First Ray techniques, though these techniques are the very ones needed for the task involved … and the task is usually a difficult one . . . perhaps to hold a bridgehead of some important aspect of hierarchical work secure in a hostile world, come what may . . . to break down some entrenched and crystallised thought form or organised group, blocking the way of Man’s progress . . . or to create some new form and hold it until the public grows to accept (and therefore to energise) it. His training is so often harsh, telescoped into short periods of time and accompanied by stress-producing stimulation. He is given seed thoughts or impressions and must search and rack his intuition to obtain the growth of them into meaningful and synthesised organisms. They work alone with their own methods. They give no quarter and expect none. Their training and final infusion with LOVE forms a very definite course of development and unfoldment.

Không giống như vậy với người đệ tử trên Cung Một. Khi một nhiệm vụ được giao cho y, y được hướng dẫn tối thiểu, thường đi kèm với một sự nạp lại năng lượng chủ quan lớn nhưng ngắn gọn. Sau đó, y “tự mình”, và mặc dù được các bề trên huyền bí giúp đỡ khi có thể, y phải tự lo liệu và tự chịu trách nhiệm về kết quả của các kỹ thuật Cung Một của mình, mặc dù những kỹ thuật này chính là những kỹ thuật cần thiết cho nhiệm vụ liên quan … và nhiệm vụ thường là một nhiệm vụ khó khăn … có lẽ là để giữ một đầu cầu của một khía cạnh quan trọng nào đó của công việc của Thánh đoàn được an toàn trong một thế giới thù địch, dù có chuyện gì xảy ra … để phá vỡ một hình tư tưởng hoặc một nhóm có tổ chức đã ăn sâu và kết tinh, cản trở con đường tiến bộ của Con người … hoặc để tạo ra một hình tướng mới và giữ nó cho đến khi công chúng dần chấp nhận (và do đó tiếp năng lượng cho) nó. Sự huấn luyện của y thường khắc nghiệt, được rút ngắn trong các khoảng thời gian ngắn và đi kèm với sự kích thích gây căng thẳng. Y được trao những tư tưởng hạt giống hoặc những ấn tượng và phải tìm kiếm và vận dụng trực giác của mình để phát triển chúng thành những sinh vật có ý nghĩa và tổng hợp. Họ làm việc một mình với các phương pháp của riêng mình. Họ không nhân nhượng và không mong đợi điều đó. Sự huấn luyện và sự thấm nhuần cuối cùng của họ với TÌNH THƯƠNG tạo thành một quá trình phát triển và mở rộng rất rõ ràng.

Surprisingly, it is self-pity that is the First Ray disciple’s greatest weakness and it is out of this condition that some of the worst of the Ray’s vices stem.

Đáng ngạc nhiên thay, chính sự tự thương hại là điểm yếu lớn nhất của người đệ tử Cung Một và chính từ tình trạng này mà một số thói hư tật xấu tồi tệ nhất của Cung bắt nguồn.

• Courage to persist against all odds …

• Can đảm để kiên trì chống lại mọi khó khăn …

• Certain knowledge of his destiny and ultimate success and the confidence that goes with this …

• Kiến thức chắc chắn về vận mệnh và thành công cuối cùng của mình và sự tự tin đi kèm với điều này …

• The ability to set afire those about with the same zeal and enthusiasm …

• Khả năng truyền lửa cho những người xung quanh với cùng lòng nhiệt thành và nhiệt huyết …

• The ability to blend mercy with justice …

• Khả năng kết hợp lòng thương xót với công lý …

• Loyalty to the Master and the capacity to shoulder blame for his occult superiors …

• Lòng trung thành với Chân sư và khả năng nhận trách nhiệm thay cho các cấp trên huyền bí của mình …

• To work alone, unpraised and unsupported …

• Làm việc một mình, không được khen ngợi và không được hỗ trợ …

• To make large decisions unaided and snap judgements that are fair if not always wise …

• Đưa ra các quyết định lớn mà không cần trợ giúp và các phán đoán nhanh chóng công bằng nếu không phải lúc nào cũng khôn ngoan …

• The ability to handle both the strong and the weak in men and in situations …

• Khả năng xử lý cả kẻ mạnh và kẻ yếu trong con người và trong các tình huống …

• The ability to call forth the best qualities of those about him …

• Khả năng khơi dậy những phẩm chất tốt nhất của những người xung quanh …

• A pride that will brook no criticism …

• Một niềm kiêu hãnh không chịu bất kỳ lời chỉ trích nào …

• An ambition that knows no bounds … ‘Better to reign in hell than serve in heaven’ …

• Một tham vọng không biết giới hạn … ‘Thà thống trị địa ngục còn hơn phục vụ thiên đường’ …

• A wilfulness that knows no reason …

• Một sự ương ngạnh không biết lý lẽ …

• An anger, when aroused that has no placating. An arrogance that cannot be bridled …

• Một cơn giận, khi bị kích động không thể nguôi ngoai. Một sự kiêu ngạo không thể kìm hãm …

• An obstinacy that survives all persuasion and punishment …

• Một sự bướng bỉnh tồn tại qua mọi lời thuyết phục và trừng phạt …

We have gathered sufficient information about the First Ray as it manifests through a personality, to be able to come to a more specialised conclusion as to the nature of the individual bodies which make up the triad of a personality.

Chúng ta đã thu thập đủ thông tin về Cung Một khi nó biểu hiện qua một phàm ngã, để có thể đi đến một kết luận chuyên biệt hơn về bản chất của các thể riêng lẻ tạo nên tam nguyên của một phàm ngã.

00012.jpeg

This indicates a mind that is capable of one-pointed concentration and prolonged study. ‘Egg-head’ could almost be given as a description here. There is mental isolation with the impression that no one will ever understand him because of his unusual, almost genius-like approach to thinking. There is over-reaction to criticism which may well up as a volcanic temper or may seethe inwardly, plunging the thinker into even greater mental isolation.

Điều này chỉ ra một thể trí có khả năng tập trung nhất tâm và nghiên cứu kéo dài. ‘Đầu trứng’ gần như có thể được dùng làm mô tả ở đây. Có sự cô lập về trí tuệ với ấn tượng rằng không ai sẽ bao giờ hiểu được y vì cách tiếp cận tư duy khác thường, gần như thiên tài của y. Có sự phản ứng thái quá với những lời chỉ trích có thể bùng lên như một cơn thịnh nộ núi lửa hoặc có thể sôi sục bên trong, đẩy người suy nghĩ vào sự cô lập trí tuệ lớn hơn nữa.

There is love of reading but the books chosen are for a purpose, usually extraction of knowledge that can be applied or used in some specific project. Usually the book is first thumbed through for appraisal as to whether it is the subject really being sought and then a sustained penetration of the material is made from page one through to the end. This attack on the contents will be exhaustive but rapid and may take only one night. There is often a search for synthesis, not only in books but in all excursions into mental activity of some duration. The search for an underlying meaning will enable the First Ray mind to put up with many defects in his subject matter until that synthesis is located.

Có tình yêu đọc sách nhưng những cuốn sách được chọn là vì một mục đích, thường là để trích xuất kiến thức có thể được áp dụng hoặc sử dụng trong một dự án cụ thể nào đó. Thông thường, cuốn sách đầu tiên được lướt qua để đánh giá xem nó có phải là chủ đề thực sự đang được tìm kiếm hay không và sau đó một sự thâm nhập bền bỉ vào tài liệu được thực hiện từ trang một đến cuối. Cuộc tấn công vào nội dung này sẽ rất toàn diện nhưng nhanh chóng và có thể chỉ mất một đêm. Thường có một sự tìm kiếm sự tổng hợp, không chỉ trong sách mà còn trong tất cả các cuộc thám hiểm vào hoạt động trí tuệ kéo dài. Việc tìm kiếm một ý nghĩa tiềm ẩn sẽ cho phép thể trí Cung Một chịu đựng nhiều khiếm khuyết trong chủ đề của mình cho đến khi sự tổng hợp đó được xác định.

There is frequently mental cruelty, not so much because it is intended, but because it arises out of callous indifference to the feelings of others and the spectre of isolation that is ever present. Mental domination, with or without cruelty, is frequent. These types are useful in a group for the pursuance of a specific task, but they lack rapport and magnetic qualities so important in holding groups together. When they are aroused, they can be a menace to intra- and intergroup relationships When there are no Love Rays to support this Will Ray, all that is characteristic of the First Ray may show. There is not only tenacity of purpose but the retention of an idea and its constant energisation until its purpose is secured, and then sudden destruction of it. These individuals never have difficulty clearing the mind of thoughtforms or images but they do have difficulty in the actual act of visualisation.

Thường có sự tàn nhẫn về tinh thần, không phải vì nó có chủ ý, mà vì nó phát sinh từ sự thờ ơ nhẫn tâm với cảm xúc của người khác và bóng ma của sự cô lập luôn hiện hữu. Sự thống trị về tinh thần, có hoặc không có sự tàn nhẫn, là thường xuyên. Những loại người này hữu ích trong một nhóm để theo đuổi một nhiệm vụ cụ thể, nhưng họ thiếu sự hòa hợp và những phẩm chất từ tính rất quan trọng trong việc giữ các nhóm lại với nhau. Khi họ bị kích động, họ có thể là một mối đe dọa cho các mối quan hệ trong và giữa các nhóm. Khi không có các Cung Tình thương để hỗ trợ Cung Ý chí này, tất cả những gì đặc trưng của Cung Một có thể xuất hiện. Không chỉ có sự kiên trì trong mục đích mà còn có sự duy trì một ý tưởng và sự tiếp năng lượng liên tục cho nó cho đến khi mục đích của nó được đảm bảo, và sau đó là sự phá hủy đột ngột của nó. Những cá nhân này không bao giờ gặp khó khăn trong việc dọn dẹp tâm trí khỏi các hình tư tưởng hoặc hình ảnh nhưng họ lại gặp khó khăn trong chính hành động hình dung.

The qualities described above apply here but at the emotional level. Frequently the astral body and the mental body are on the same Ray of Will and Power:

Các phẩm chất được mô tả ở trên áp dụng ở đây nhưng ở cấp độ cảm xúc. Thường thì thể cảm dục và thể trí cùng thuộc Cung Ý Chí và Quyền Năng:

00013.jpeg

In the examples given above there is exaggeration of First Ray qualities and vices, almost a caricature of them. The type has difficulty expressing himself emotionally. He just cannot seem to establish emotional relationships with people like others can. It is not through lack of emotion but rather because the emotions are so deep-seated. There is awkwardness in public, extreme reservation and isolation. Usually they will respond to only a few stimuli and these may be completely veiled to all around except those who know him best and from bitter experience of the sudden upsurge of feeling that ensues when the stimulus triggers off the deep-seated reaction. They are awkward in sexual matters until the relationship is firmly established and then can be loyal, faithful and ardent.

Trong các ví dụ được đưa ra ở trên có sự phóng đại các phẩm chất và thói hư tật xấu của Cung Một, gần như là một bức biếm họa về chúng. Loại người này gặp khó khăn trong việc thể hiện cảm xúc của mình. Y dường như không thể thiết lập các mối quan hệ tình cảm với mọi người như những người khác. Điều này không phải do thiếu cảm xúc mà là vì cảm xúc quá sâu sắc. Có sự lúng túng ở nơi công cộng, sự dè dặt và cô lập tột độ. Thường thì họ sẽ chỉ phản ứng với một vài kích thích và những kích thích này có thể bị che giấu hoàn toàn với mọi người xung quanh ngoại trừ những người biết y rõ nhất và từ kinh nghiệm cay đắng về sự trỗi dậy đột ngột của cảm xúc xảy ra khi kích thích kích hoạt phản ứng sâu sắc. Họ lúng túng trong các vấn đề tình dục cho đến khi mối quan hệ được thiết lập vững chắc và sau đó có thể trung thành, chung thủy và nồng nàn.

They do not form attachments easily, and when they do, they are easily broken. The desire to make themselves the dramatic centre of the emotional stage can be tedious and disconcerting to those not already aware of the difficulty.

Họ không dễ dàng hình thành các mối quan hệ, và khi họ làm vậy, chúng dễ dàng bị phá vỡ. Mong muốn biến mình thành trung tâm kịch tính của sân khấu cảm xúc có thể gây mệt mỏi và khó chịu cho những người chưa nhận thức được khó khăn.

The great advantage of First Ray vehicles is the ease with which they can shatter old forms of thinking and feeling as a preliminary to building these into a personality set at a higher level of consciousness. Robert Assagioli calls this psychosynthesis. It is not always realised how creative Man can be. His creativity is not merely confined to the accomplishments of his personality. These are indeed important, and, in fact, set the pace, very frequently for his inner creativeness. In my book Meditation, The Theory and Practice I have gone into some detail as to how visualisation can be exercised as a basis for creating a bridge of symbols across the frontier between the Fourth and Fifth Kingdoms. Advanced Man can help to rebuild the inner worlds, polluted through long ages by the negative experiences of Man en masse. World wars, for instance, create conditions in the astral world that remain a source of concern to the Hierarchy of Masters long after the sounds of battle have rolled away. The awareness of anyone who clears his mind of the clutter of waking activities can be a source of imagination for the wastelands of inner space, spoiled by centuries of negative feeling and thinking by humanity. The occultist should be very much more creative inwardly than he is outwardly. I have tried to describe some of my own attempts in this direction in my spiritual diaries through the years. In 1961, 1 published the following excerpt of an inner series of experiences in the creative field of visualisation:

Ưu điểm lớn của các hiện thể Cung Một là chúng dễ dàng phá vỡ các hình thức tư duy và cảm xúc cũ kỹ như một bước chuẩn bị để xây dựng chúng thành một phàm ngã được đặt ở một cấp độ tâm thức cao hơn. Roberto Assagioli gọi đây là tổng hợp tâm lý. Không phải lúc nào người ta cũng nhận ra Con người có thể sáng tạo đến mức nào. Sự sáng tạo của y không chỉ giới hạn trong những thành tựu của phàm ngã. Những điều này thực sự quan trọng, và trên thực tế, thường xuyên thiết lập nhịp độ cho sự sáng tạo bên trong của y. Trong cuốn sách của tôi Tham thiền, Lý thuyết và Thực hành, tôi đã đi vào một số chi tiết về cách hình dung có thể được thực hành như một cơ sở để tạo ra một cây cầu biểu tượng qua biên giới giữa Giới thứ tư và thứ năm. Con người tiên tiến có thể giúp xây dựng lại các thế giới bên trong, bị ô nhiễm qua nhiều thời đại bởi những trải nghiệm tiêu cực của Con người en masse. Các cuộc chiến tranh thế giới, chẳng hạn, tạo ra các điều kiện trong thế giới cảm dục mà vẫn là một nguồn lo ngại cho Thánh đoàn các Chân sư rất lâu sau khi âm thanh của trận chiến đã qua đi. Sự nhận thức của bất kỳ ai dọn dẹp tâm trí của mình khỏi sự lộn xộn của các hoạt động thức tỉnh có thể là một nguồn tưởng tượng cho những vùng đất hoang của không gian bên trong, bị hủy hoại bởi hàng thế kỷ của cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực của nhân loại. Nhà huyền bí học nên sáng tạo hơn nhiều ở bên trong so với bên ngoài. Tôi đã cố gắng mô tả một số nỗ lực của riêng mình về hướng này trong các nhật ký tinh thần của mình qua các năm. Năm 1961, tôi đã xuất bản đoạn trích sau đây của một loạt các trải nghiệm bên trong trong lĩnh vực sáng tạo của sự hình dung:

‘This was something new for me . . . fabulous, incredible, an unknown capacity, latent, ever there and showing that peculiar quality ‘faith’ but in the most unusual way. It suddenly seemed as if I had direct contact with the central motivating power of Life . . . and by applying my powers of visualisation I was able to give what was visualised a life, a meaning, a function. And the certainty or faith with which I created—for suddenly I was a creator, a son of God … was with Him and Him … confident, sure, right, detached and yet all-entering. It may never happen again, and yet it could, should, must, WILL happen again . . . for it is a capacity which expresses all the hidden, latent, non-manifested, aborted attempts at visualisation in full consciousness.

‘Đây là một điều gì đó mới mẻ đối với tôi … tuyệt vời, không thể tin được, một năng lực chưa được biết đến, tiềm ẩn, luôn ở đó và thể hiện phẩm chất đặc biệt ‘niềm tin’ nhưng theo một cách khác thường nhất. Đột nhiên dường như tôi có liên hệ trực tiếp với sức mạnh thúc đẩy trung tâm của Sự sống … và bằng cách áp dụng sức mạnh hình dung của mình, tôi đã có thể mang lại cho những gì được hình dung một sự sống, một ý nghĩa, một chức năng. Và sự chắc chắn hay niềm tin mà tôi đã tạo ra—vì đột nhiên tôi là một người sáng tạo, một người con của Thượng đế … đã ở cùng Ngài và là Ngài … tự tin, chắc chắn, đúng đắn, tách rời và tuy nhiên là tất cả. Điều đó có thể không bao giờ xảy ra nữa, và tuy nhiên nó có thể, nên, phải, SẼ xảy ra nữa … vì đó là một năng lực biểu hiện tất cả những nỗ lực hình dung bị che giấu, tiềm ẩn, không biểu hiện, bị phá thai trong tâm thức hoàn toàn.

Many factors might have had to be present or absent for this to have been possible … it surprised even You. It was as if I was in a cylinder … the centre of a column rising ever upwards … and all the time, I was making it a pillar of light and it incorporated a billion details and tributes to all I have learnt in all my lives. It was a Giotto’s tower, turned inside out and with all its detail multiplied a million times and ever-changing with facets of the innumerable manifestations of life … and I, knowing myself to be immortally, indestructibly part of the Creator, though yet a miserable expression of Him, was the life within the tower … was the tower, and the builder of it as it rose higher and higher and stood out on its plane (whichever that was) like a beacon, a tribute to the energies which You and Others have invested in me . . . and it was my creation.

Nhiều yếu tố có thể đã phải có mặt hoặc vắng mặt để điều này có thể xảy ra … nó đã làm ngạc nhiên cả Ngài. Dường như tôi đang ở trong một hình trụ … trung tâm của một cột luôn vươn lên … và suốt thời gian đó, tôi đã biến nó thành một cây cột ánh sáng và nó kết hợp một tỷ chi tiết và sự tôn vinh cho tất cả những gì tôi đã học trong tất cả các kiếp sống của mình. Đó là một tháp Giotto, lộn ngược từ trong ra ngoài và với tất cả các chi tiết của nó được nhân lên một triệu lần và luôn thay đổi với các phương diện của vô số biểu hiện của sự sống … và tôi, biết mình là một phần bất tử, không thể phá hủy của Đấng Sáng Tạo, mặc dù vẫn là một biểu hiện khốn khổ của Ngài, là sự sống bên trong tháp … là tháp, và là người xây dựng nó khi nó vươn lên ngày càng cao và nổi bật trên cõi giới của nó (bất kể đó là cõi nào) như một ngọn hải đăng, một sự tôn vinh cho những năng lượng mà Ngài và những người khác đã đầu tư vào tôi … và đó là sự sáng tạo của tôi.

In industry, this is the Ray of armament manufacturers, the war Lords and therefore, in times of peace, the motor industry and the effects which it has on government decisions (especially in the USA and Great Britain). In commerce it is the Ray of mining, especially of precious stones, and minerals. The Republic of South Africa is a good example of this and the Sign of Aries (predominantly First and Seventh Rays) rules the Soul of that country which is on the First Ray.

Trong công nghiệp, đây là Cung của các nhà sản xuất vũ khí, các Lãnh chúa chiến tranh và do đó, trong thời bình, là ngành công nghiệp ô tô và những ảnh hưởng mà nó có đối với các quyết định của chính phủ (đặc biệt là ở Hoa Kỳ và Vương quốc Anh). Trong thương mại, đó là Cung của khai thác mỏ, đặc biệt là đá quý và khoáng sản. Cộng hòa Nam Phi là một ví dụ điển hình về điều này và Dấu hiệu Bạch Dương (chủ yếu là Cung Một và Bảy) cai quản Linh hồn của quốc gia đó, vốn thuộc Cung Một.

In politics there is a correlation with Fascism and Nazism, and, somewhat less emphatic now, Conservatism (as opposed to Labour in Great Britain). At the highest levels this is the Ray of Shamballa, the place ‘Where the Will of God is known’ and as it operates through power politics in the world. It rules the magnetic centre of the Earth but not magnetism. In Britain, with a Second Ray Soul, the balance of power has been the mechanism whereby, traditionally, this land has held sway over her rivals in Europe and elsewhere. This involves, of course, the pitting of one armed camp against the other and then stepping in on the side that favours the furtherance of ideals commensurate with the policies of the interceder.

Trong chính trị, có một mối tương quan với Chủ nghĩa Phát xít và Chủ nghĩa Quốc xã, và, hiện nay ít nhấn mạnh hơn, Chủ nghĩa Bảo thủ (trái ngược với Đảng Lao động ở Vương quốc Anh). Ở các cấp độ cao nhất, đây là Cung của Shamballa, nơi ‘Ý Chí của Thượng Đế được biết đến’ và khi nó hoạt động thông qua chính trị quyền lực trên thế giới. Nó cai quản trung tâm từ tính của Trái đất nhưng không phải là từ tính. Ở Anh, với một Linh hồn Cung Hai, sự cân bằng quyền lực là cơ chế mà qua đó, theo truyền thống, vùng đất này đã thống trị các đối thủ của mình ở châu Âu và những nơi khác. Tất nhiên, điều này liên quan đến việc đặt một phe vũ trang chống lại phe kia và sau đó can thiệp vào phe ủng hộ việc thúc đẩy các lý tưởng phù hợp với chính sách của người can thiệp.

In art, boldness of expression is characteristic of the First Ray and the work of the Impressionists was Ray One and Four. In poetry there is a preference for epics and stories concerning the birth of a race or its early history. The Iliad and the Odyssey, the Beowulf, Paradise Lost and the Morte D ‘Arthur of Alfred, Lord Tennyson are most characteristic of the Ray. The relentless force at work in the Rape of Lucrece (William Shakespeare) and the deepest emotions expressed in Lycidas (John Milton) are First Ray. Note that emotions are not absent; they are present but at deep levels and are expressed only when some powerful but deep sentiment arouses them.

Trong nghệ thuật, sự táo bạo trong biểu hiện là đặc trưng của Cung Một và tác phẩm của các họa sĩ Ấn tượng là Cung Một và Bốn. Trong thơ ca, có sự ưa thích đối với các sử thi và những câu chuyện liên quan đến sự ra đời của một giống dân hoặc lịch sử ban đầu của nó. IliadOdyssey, Beowulf, Thiên đường đã mấtCái chết của Vua Arthur của Alfred, Lord Tennyson là đặc trưng nhất của Cung. Mãnh lực không ngừng trong Sự hiếp dâm của Lucrece (William Shakespeare) và những cảm xúc sâu sắc nhất được thể hiện trong Lycidas (John Milton) là Cung Một. Lưu ý rằng cảm xúc không vắng mặt; chúng có mặt nhưng ở các cấp độ sâu và chỉ được thể hiện khi một tình cảm mạnh mẽ nhưng sâu sắc nào đó khơi dậy chúng.

In accounting, this Ray is the statement rather than the invoice, the overall tally without the detail, the bare facts, harsh and demanding, invoking justice and no nonsense, the eye for an eye and tooth for a tooth, the karmic debt at cosmic levels, the IOU at lesser levels.

Trong kế toán, Cung này là báo cáo hơn là hóa đơn, tổng số cuối cùng mà không có chi tiết, những sự thật trần trụi, khắc nghiệt và đòi hỏi, kêu gọi công lý và không có sự vô lý, mắt đền mắt và răng đền răng, món nợ nghiệp quả ở cấp độ vũ trụ, giấy nợ ở cấp độ thấp hơn.

In death, which it rules, it is the Will that is still powerful after death.

Trong cái chết, mà nó cai quản, đó là Ý Chí vẫn còn mạnh mẽ sau khi chết.


CHAPTER THREE

Cung Hai: Bác ái-Minh triết

After the turmoil, stresses and strains of the First Ray of Will and Power, the Second Ray, like Portia’s mercy ‘droppeth as the gentle rain from heaven.’ Like mercy also, it is twice blessed. It is blessed with Love and Wisdom; Love wisely applied and Wisdom lovingly applied. It operates as a duality in almost every respect and at all times. It produces not only the great healers of the world but the teachers of the world as well. The Sign of Gemini in the Zodiac, itself the most dual of the Twelve, is the most receptive to the qualities of Love-Wisdom.

Sau những hỗn loạn, căng thẳng và mệt mỏi của Cung Một của Ý Chí và Quyền Năng, Cung Hai, giống như lòng thương xót của Portia ‘nhỏ giọt như cơn mưa dịu dàng từ thiên đường’. Giống như lòng thương xót, nó được ban phước hai lần. Nó được ban phước với Tình thương và Minh triết; Tình thương được áp dụng một cách minh triết và Minh triết được áp dụng một cách yêu thương. Nó hoạt động như một nhị nguyên tính trong hầu hết mọi phương diện và mọi lúc. Nó không chỉ tạo ra những người chữa bệnh vĩ đại của thế giới mà còn cả những huấn sư của thế giới nữa. Dấu hiệu Song Tử trong Hoàng đạo, bản thân nó là dấu hiệu kép nhất trong Mười hai, là dấu hiệu dễ tiếp thu nhất các phẩm chất của Bác ái-Minh triết.

The Second Ray, welling up within an individual, seeks out the consciousness in another by means of an engulfing sympathy, establishes a rapport with that consciousness and then attempts to achieve an interplay between the two. Hence the concept of brotherhood, Universal Brotherhood, which the Ray nurtures at all times . . . a brotherhood not merely confined to the human race but inclusive of all life . . . the Brotherhood of Life. Hence also its quality of harmlessness towards all living things and its link with the spiritual plane of Buddhi, one of the three planes on which the human Soul resides, with Atma and Manas.

Cung Hai, trào dâng trong một cá nhân, tìm kiếm tâm thức của người khác bằng một sự cảm thông bao trùm, thiết lập một mối liên hệ với tâm thức đó và sau đó cố gắng đạt được một sự tương tác giữa hai bên. Do đó, khái niệm về tình huynh đệ, Tình Huynh đệ Toàn cầu, mà Cung nuôi dưỡng mọi lúc … một tình huynh đệ không chỉ giới hạn trong loài người mà bao gồm tất cả sự sống … Tình Huynh đệ của Sự sống. Do đó, cũng là phẩm chất vô tổn hại của nó đối với mọi sinh vật sống và mối liên hệ của nó với cõi tinh thần Bồ đề, một trong ba cõi mà Linh hồn con người cư ngụ, cùng với Atma và Manas.

This whole Solar System represents but a chakra within the body of that great cosmic Entity, the One About Whom Naught May Be Said. This Solar System, described in ancient days as The Grand Man of the Heavens, is the Heart Chakra of Love- Wisdom in that elevated One.

Toàn bộ Hệ Mặt trời này chỉ đại diện cho một luân xa trong cơ thể của Thực thể vũ trụ vĩ đại đó, Đấng Bất Khả Tư Nghị. Hệ Mặt trời này, được mô tả trong những ngày xưa là Đấng Thiên Nhân của các Bầu Trời, là Luân xa Tim của Bác ái-Minh triết trong Đấng Cao cả đó.

Thus, in the qualities of the Second Ray resides the Unity of all Life. Interaction between beings where there is the common factor of a Second Ray soul, is always in depth and it is a gentle process. The techniques used by a Master to unfold a disciple with a predominantly Second Ray complement of energies, is far different than that used to stimulate a disciple with predominantly First Ray qualities ruling his personality. The former method is one of gentle application of stimulatory forces with support and sustenance given in times of hardship and trial. But with the latter, the independence of the disciple is encouraged.

Do đó, trong các phẩm tính của Cung Hai tồn tại Sự Hợp Nhất của mọi Sự Sống. Sự tương tác giữa các chúng sinh nơi có yếu tố chung là một linh hồn Cung Hai, luôn sâu sắc và là một quá trình nhẹ nhàng. Các kỹ thuật được một Chân sư sử dụng để mở rộng một đệ tử có bộ năng lượng Cung Hai chiếm ưu thế, khác xa với kỹ thuật được sử dụng để kích thích một đệ tử có các phẩm chất Cung Một chiếm ưu thế cai quản phàm ngã của y. Phương pháp trước là một phương pháp áp dụng nhẹ nhàng các mãnh lực kích thích với sự hỗ trợ và nâng đỡ trong những lúc khó khăn và thử thách. Nhưng với phương pháp sau, sự độc lập của người đệ tử được khuyến khích.

He must often stand alone and unaided. His instructions are brief and to the point. There are no frills. Energy when required is given but only when absolutely necessary. For the rare few, working within the ashrams of both the First and Second Rays, modifications of these two approaches are used, the disciple throwing himself utterly into the outer work and leaving the Master to deal with those matters of the most subjective nature. For those who ask why they have not been chosen to work directly under Adept guidance, the following may be appropriate:

Y thường phải đứng một mình và không có sự giúp đỡ. Hướng dẫn của y ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề. Không có những điều rườm rà. Năng lượng khi cần thiết được cung cấp nhưng chỉ khi thực sự cần thiết. Đối với một số ít người hiếm hoi, làm việc trong các đạo tràng của cả Cung Một và Cung Hai, các sửa đổi của hai phương pháp tiếp cận này được sử dụng, người đệ tử hoàn toàn lao vào công việc bên ngoài và để Chân sư giải quyết những vấn đề có bản chất chủ quan nhất. Đối với những người hỏi tại sao họ không được chọn để làm việc trực tiếp dưới sự hướng dẫn của Chân sư, câu sau đây có thể phù hợp:

‘Master, tell me without words how I may spiritually unfold …

‘Thưa Chân sư, xin hãy nói cho con biết mà không cần lời nói làm thế nào con có thể phát triển về mặt tinh thần …

‘Ask me without words and I will tell you.’

‘Hãy hỏi ta mà không cần lời nói và ta sẽ nói cho con biết.’

The incredible struggles of H.P. Blavatsky (First Ray Soul) to reach the Masters and thereafter to do Their work, almost alone and unaided must surely contrast with the experiences of C.W. Leadbeater, whose access to Them was easier and through whom much teaching was conveyed with comparatively less effort on his part. Yet, in retrospect, H.P.B. subsequently went on to run the whole gamut of initiations to become the Master Blavatsky, whereas C.W.L. (Second Ray soul) was known not to have reached such eminence.

Những cuộc đấu tranh đáng kinh ngạc của bà H.P. Blavatsky (Linh hồn Cung Một) để đến với các Chân sư và sau đó để thực hiện công việc của các Ngài, gần như một mình và không được giúp đỡ, chắc chắn phải tương phản với những trải nghiệm của ông C.W. Leadbeater, người có quyền tiếp cận các Ngài dễ dàng hơn và qua đó nhiều giáo lý đã được truyền đạt với nỗ lực tương đối ít hơn về phía ông. Tuy nhiên, nhìn lại, bà H.P.B. sau đó đã trải qua toàn bộ các cuộc điểm đạo để trở thành Chân sư Blavatsky, trong khi ông C.W.L. (linh hồn Cung Hai) được biết là không đạt được sự nổi bật như vậy.

‘Master, I have been praying loudly and persistently for many years, why do you not answer me?’

‘Thưa Chân sư, con đã cầu nguyện lớn tiếng và kiên trì trong nhiều năm, tại sao Ngài không trả lời con?’

‘I have only been waiting for you to stop shouting.’

‘Ta chỉ chờ con ngừng la hét.’

It should always be remembered that union with another person is a fact. It remains only to be confirmed by personality contact and interplay. Our inward concern with each other, especially where two Second Ray vehicles are involved, comes progressively into awareness as human relationships are firmly established in the outer world. The gentle, outwardly moving, energies of Love-Wisdom are eventually recognised in the consciousness and they are peculiarly different from other Ray energies. They are embracing and engulfing but not smothering. The choice of the word ‘smothering’ is deliberate, because frequently, when a soul cannot establish contact with its personality vehicle or call it gently on to the Path, it will convey a sensation of smothering with its energies during a waking dream. An example of this is given amongst the Case Histories in Chapter 9 of this book under the title ‘G.W.’

Cần luôn nhớ rằng sự hợp nhất với người khác là một sự thật. Nó chỉ còn chờ được xác nhận bởi sự tiếp xúc và tương tác của phàm ngã. Mối quan tâm nội tại của chúng ta với nhau, đặc biệt là khi có sự tham gia của hai hiện thể Cung Hai, dần dần đi vào nhận thức khi các mối quan hệ của con người được thiết lập vững chắc trong thế giới bên ngoài. Các năng lượng nhẹ nhàng, hướng ngoại của Bác ái-Minh triết cuối cùng được nhận ra trong tâm thức và chúng khác biệt một cách đặc biệt so với các năng lượng của các Cung khác. Chúng bao trùm và nhấn chìm nhưng không làm ngột ngạt. Việc chọn từ ‘ngột ngạt’ là có chủ ý, bởi vì thường xuyên, khi một linh hồn không thể thiết lập liên lạc với hiện thể phàm ngã của mình hoặc gọi nó một cách nhẹ nhàng lên Thánh Đạo, nó sẽ truyền một cảm giác ngột ngạt với năng lượng của nó trong một giấc mơ thức tỉnh. Một ví dụ về điều này được đưa ra trong các Trường hợp Lịch sử trong Chương 9 của cuốn sách này dưới tiêu đề ‘G.W.’

The Second Ray person is more frequently confronted with direction from within than he might have previously recognised. When on the Path, and after the First Initiation, he may have his attention drawn dramatically to the plight of another by hearing his name breathed or even loudly called by the one in trouble and it usually comes in a waking dream. This is the soul of that individual calling on your ‘soulinfused’ personality (always by Christian name) to render a service, in the name of Love-Wisdom, to its lower vehicles.

Người Cung Hai thường xuyên đối mặt với sự chỉ dẫn từ bên trong hơn là y có thể đã nhận ra trước đây. Khi ở trên Thánh Đạo, và sau lần Điểm đạo Thứ nhất, y có thể bị thu hút một cách kịch tính đến hoàn cảnh của người khác bằng cách nghe tên mình được thì thầm hoặc thậm chí được gọi lớn tiếng bởi người đang gặp khó khăn và điều đó thường xảy ra trong một giấc mơ thức tỉnh. Đây là linh hồn của cá nhân đó đang kêu gọi phàm ngã ‘được linh hồn thấm nhuần’ của bạn (luôn bằng tên thánh) để phụng sự, nhân danh Bác ái-Minh triết, cho các hiện thể thấp hơn của nó.

Some of the most beautiful personalities emerge on the Second Ray and once you have met one you will never forget its qualities . . . poise, calmness, inner strength, quiet but dynamic equilibrium. All these radiate out into the world from such ‘chosen’ individuals.

Một số phàm ngã đẹp đẽ nhất xuất hiện trên Cung Hai và một khi bạn đã gặp một người, bạn sẽ không bao giờ quên những phẩm chất của nó … sự điềm tĩnh, sự bình tĩnh, sức mạnh nội tâm, sự cân bằng yên tĩnh nhưng năng động. Tất cả những điều này tỏa ra thế giới từ những cá nhân ‘được chọn’ như vậy.

Water is a symbol of the emotions and frequently depicts their turbidity or calm, but just as the Sixth Ray has an alter ego in the Second Ray, there is a higher interpretation for water. It has the universality about it of the Second Ray, an all-inclusiveness so that we immediately understand what is meant by such statements that ‘The drop sinks into the ocean and becomes the ocean . . .’

Nước là biểu tượng của cảm xúc và thường mô tả sự hỗn loạn hoặc sự tĩnh lặng của chúng, nhưng cũng giống như Cung Sáu có một bản ngã khác trong Cung Hai, có một cách giải thích cao hơn cho nước. Nó có tính phổ quát của Cung Hai, một sự bao hàm tất cả để chúng ta ngay lập tức hiểu được ý nghĩa của những câu nói như ‘Giọt nước chìm vào đại dương và trở thành đại dương …’

Water has many mystical properties as well as its numerous and unusual physical ones (See ‘The Element Water,’ in my book Meditation, The Theory and Practice, pages 148-161). Not the least of these is its action as a universal solvent. Given time, water will dissolve all materials with which it comes into contact. Compare this symbol to the Ray of Love- Wisdom, universal in its application within our Solar System to act as a solvent to the barriers of separativeness. By its rhythmic nature it engulfs all life and absorbs the ills that still maintain a man separate from another or Man from the other Kingdoms of Nature. We know only too well in our society the factors which produce separativeness: wealth; deprivation; class; culture; creed and sex. The Second Ray is the panacea for all these.

Nước có nhiều đặc tính thần bí cũng như nhiều đặc tính vật lý khác thường của nó (Xem ‘Nguyên tố Nước,’ trong cuốn sách của tôi Tham Thiền, Lý Thuyết và Thực Hành, trang 148-161). Một trong những đặc tính quan trọng nhất là tác dụng của nó như một dung môi phổ quát. Nếu có thời gian, nước sẽ hòa tan tất cả các vật liệu mà nó tiếp xúc. Hãy so sánh biểu tượng này với Cung Bác ái-Minh triết, phổ quát trong ứng dụng của nó trong Hệ Mặt trời của chúng ta để hoạt động như một dung môi cho các rào cản của sự chia rẽ. Bằng bản chất nhịp nhàng của nó, nó bao trùm tất cả sự sống và hấp thụ những căn bệnh vẫn duy trì một người tách biệt khỏi người khác hoặc Con người khỏi các Giới Tự nhiên khác. Chúng ta biết quá rõ trong xã hội của mình các yếu tố tạo ra sự chia rẽ: sự giàu có; sự thiếu thốn; giai cấp; văn hóa; tín ngưỡng và giới tính. Cung Hai là liều thuốc chữa bách bệnh cho tất cả những điều này.

Even where wealth (and lack of it) has created barriers, there will come, quite unobtrusively, the voluntary sacrifice of wealth by a few for the many. Yes, we know it is all too rare but when it does come it is so very effective. It is rare but more beautiful because it is. The millions which Lord Nuffield gave away in England (Second Ray soul) before his death, benefitted numerous organisations and through them, masses of people and in unusual ways. Today, the National Lottery performs the role of philanthropist on an institutional and regular basis, annually distributing millions to charities and causes across the board.

Ngay cả khi sự giàu có (và sự thiếu thốn) đã tạo ra những rào cản, một cách khá kín đáo, sự hy sinh tự nguyện của một số ít người giàu có cho số đông sẽ đến. Vâng, chúng ta biết điều đó quá hiếm nhưng khi nó đến, nó rất hiệu quả. Nó hiếm nhưng đẹp hơn vì nó như vậy. Hàng triệu bảng Anh mà Lãnh chúa Nuffield đã cho đi ở Anh (linh hồn Cung Hai) trước khi ông qua đời, đã mang lại lợi ích cho nhiều tổ chức và qua đó, cho đông đảo người dân và theo những cách khác thường. Ngày nay, Xổ số Quốc gia thực hiện vai trò của nhà từ thiện trên cơ sở thể chế và thường xuyên, hàng năm phân phối hàng triệu bảng cho các tổ chức từ thiện và các mục đích trên diện rộng.

Also at a national level, Britain (First Ray personality) has had to sacrifice her system of Imperial preference in trade, give up her mighty Empire and concern herself with the creation of a true commonwealth within her island borders where social benefits like medicine and education (healing and teaching) are now shared equally by all as her soul (Second Ray) infuses and moderates her personality with all the qualities of its Ray.

Cũng ở cấp độ quốc gia, nước Anh (phàm ngã Cung Một) đã phải hy sinh hệ thống ưu đãi thương mại Đế quốc của mình, từ bỏ Đế chế hùng mạnh và quan tâm đến việc tạo ra một khối thịnh vượng chung thực sự trong biên giới hòn đảo của mình, nơi các lợi ích xã hội như y tế và giáo dục (chữa bệnh và giảng dạy) hiện được chia sẻ bình đẳng bởi tất cả mọi người khi linh hồn của nó (Cung Hai) thấm nhuần và điều hòa phàm ngã của nó với tất cả các phẩm chất của Cung đó.

The true Second Ray person can give away or lose a fortune and glow with joy at the thought that somewhere, somehow, someone is better for the loss or sacrifice.

Người Cung Hai thực sự có thể cho đi hoặc mất cả một gia tài và rạng rỡ niềm vui khi nghĩ rằng ở đâu đó, bằng cách nào đó, ai đó tốt hơn vì sự mất mát hoặc hy sinh đó.

This is the domain of holism where the Soul on this Ray increasingly demonstrates, through its personalities, that unity in diversity is of more concern to it than coherence of the merely homogeneous. When I was a child, one of my favourite playthings was a magnet. I would drag this on the end of a piece of string through the garden (and especially through the ashes of a bonfire) and was always amazed and delighted at the mass of metallic knickknacks that it would attract to itself. . . nails, buttons, screws, rusty wire. Only a few of them were useful but that precious salvage was worth more to me than anything purchased. The Second Ray group leader is not unlike this, salvaging for higher use, those of mankind who have a special affinity (magnetic attraction) for someone who will make a stand on the borders of a New Age, sound a new note and attract those with Ray affinities to the cause. The many and varied are then held together loosely, perhaps not even given a group name, but in their flexibility, in their unity out of diversity, they can be powerful and effective.

Đây là lĩnh vực của chủ nghĩa toàn diện, nơi Linh hồn trên Cung này ngày càng chứng tỏ, thông qua các phàm ngã của mình, rằng sự thống nhất trong đa dạng quan trọng hơn đối với nó so với sự mạch lạc của những gì chỉ đồng nhất. Khi tôi còn là một đứa trẻ, một trong những món đồ chơi yêu thích của tôi là một cục nam châm. Tôi sẽ kéo nó bằng một sợi dây qua khu vườn (và đặc biệt là qua tro của một đống lửa) và luôn ngạc nhiên và thích thú trước khối lượng đồ lặt vặt bằng kim loại mà nó sẽ hút vào … đinh, nút, ốc vít, dây gỉ. Chỉ một vài trong số chúng là hữu ích nhưng món đồ cứu vớt quý giá đó đối với tôi còn quý hơn bất cứ thứ gì mua được. Người lãnh đạo nhóm Cung Hai không khác gì điều này, cứu vớt để sử dụng cho mục đích cao hơn, những người trong nhân loại có một mối liên hệ đặc biệt (sức hút từ tính) với một người sẽ đứng vững trên biên giới của một Kỷ nguyên Mới, phát ra một âm điệu mới và thu hút những người có mối liên hệ Cung đến với chính nghĩa. Sau đó, nhiều và đa dạng được giữ lại với nhau một cách lỏng lẻo, có lẽ thậm chí không được đặt tên nhóm, nhưng trong sự linh hoạt của họ, trong sự thống nhất của họ từ sự đa dạng, họ có thể mạnh mẽ và hiệu quả.

I little realised then that my (Second Ray) soul would lead me to later extensive research into the effects of magnetism on human tissue and psychic faculties and that the tug of my own magnetism would bring together in common purpose men of goodwill from the four corners of the Earth in the International Festivals of Yoga and Esoteric Sciences that I organised.

Lúc đó, tôi ít nhận ra rằng linh hồn của tôi (Cung Hai) sẽ dẫn tôi đến những nghiên cứu sâu rộng sau này về tác động của từ điện đối với mô và các năng lực thông linh của con người và sức hút của từ điện của chính tôi sẽ quy tụ những người thiện chí từ bốn phương trời của Trái đất trong các Lễ hội Yoga và Khoa học Huyền môn Quốc tế mà tôi đã tổ chức.

This is the Ray that gave the Lord Buddha cause to pause on His pathway to certain nirvana and consider those who yet remained on Earth, the Little Ones. He, that representative of the Second Ray, personified in that religion to which He gave His name, chose to retain a link with all men of the Earth until the last of them is freed from the thrall of maya and dharma to tread the Lighted Way.

Đây là Cung đã khiến Đức Phật dừng lại trên con đường chắc chắn đến Niết Bàn và suy ngẫm về những người vẫn còn ở lại trên Trái đất, những Đứa con Nhỏ. Ngài, vị đại diện của Cung Hai, được nhân cách hóa trong tôn giáo mà Ngài đã đặt tên, đã chọn giữ lại một mối liên kết với tất cả mọi người trên Trái đất cho đến khi người cuối cùng trong số họ được giải thoát khỏi sự trói buộc của ảo lực và nghiệp quả để bước đi trên Con Đường Ánh sáng.

The Second Ray expresses perfectly the Solar Fire which stems from the Heart of the Sun and it should never be forgotten that the future of Man is one of transition into deva form, into a solar angel. Already in each of us this process is well under way. A miniature sun, a solar angel dwells at causal levels within every human auric egg. It acts as an outpost, a receiver and transmitter of Solar Fire for its parent angelic host whose residence is in the planet behind the disc of the Sun. This is the Fire that produces evolution, that urges all forms towards perfection, towards the expression of Truth, Beauty and Goodness.

Cung Hai biểu hiện hoàn hảo Lửa Thái dương bắt nguồn từ Trái tim của Mặt trời và không bao giờ nên quên rằng tương lai của Con người là một sự chuyển tiếp sang hình tướng thiên thần, sang một thái dương thiên thần. Quá trình này đã diễn ra tốt đẹp trong mỗi chúng ta. Một mặt trời thu nhỏ, một thái dương thiên thần cư ngụ ở các cấp độ nguyên nhân trong mỗi noãn hào quang của con người. Nó hoạt động như một tiền đồn, một bộ thu và phát Lửa Thái dương cho thiên đoàn thiên thần mẹ của nó, có nơi cư ngụ ở hành tinh phía sau đĩa Mặt trời. Đây là Lửa tạo ra sự tiến hóa, thúc đẩy mọi hình tướng hướng tới sự hoàn hảo, hướng tới sự biểu hiện của Chân, Thiện, Mỹ.

The disciple on the Second Ray does not so much regret adversity as he might the fact that he is not there to share it with those whom he loves and who are in travail. The author recalls vividly men in the World War, gravely wounded by gunfire who fled from their hospital beds to rejoin their decimated regiments when these were called back into battle, the agony of a torn body being far less to bear than the inability to share the impending adversity of their comrades whom they had grown to love. In any analysis of a person’s Rays, doubt the existence of a Second Ray soul when the good of humanity is not expressed somewhere or the other spontaneously as his prime concern. The Ray gives the disciple an all-consuming aspiration to serve, to form groups with this intent, and, more than anything, to teach and to heal, for ignorance and illness (of mind, emotions and body) are the two greatest barriers to the rapid unfoldment of humanity as a whole at this time.

Người đệ tử trên Cung Hai không hối tiếc nghịch cảnh nhiều bằng việc y không ở đó để chia sẻ nó với những người y yêu thương và đang đau khổ. Tác giả nhớ lại một cách sống động những người lính trong Thế chiến, bị thương nặng do đạn pháo đã trốn khỏi giường bệnh để tái gia nhập trung đoàn đã bị tiêu diệt của họ khi họ được gọi trở lại chiến đấu, nỗi đau của một cơ thể bị xé nát ít hơn nhiều so với việc không thể chia sẻ nghịch cảnh sắp xảy ra của những người đồng đội mà họ đã yêu thương. Trong bất kỳ phân tích nào về Cung của một người, hãy nghi ngờ sự tồn tại của một linh hồn Cung Hai khi lợi ích của nhân loại không được thể hiện ở đâu đó một cách tự phát như mối quan tâm hàng đầu của y. Cung này mang lại cho người đệ tử một khát vọng phụng sự mãnh liệt, thành lập các nhóm với ý định này, và hơn bất cứ điều gì, để giảng dạy và chữa lành, vì sự thiếu hiểu biết và bệnh tật (của thể trí, cảm xúc và thể xác) là hai rào cản lớn nhất đối với sự mở rộng nhanh chóng của toàn thể nhân loại vào thời điểm này.

‘… pure love … requires nothing back. .. rejoices where there is response, but looks not for it.’Initiation, Human and Solar, p.55, by Alice Bailey.

‘… tình yêu thuần khiết … không đòi hỏi gì đáp lại … vui mừng khi có sự đáp ứng, nhưng không tìm kiếm nó.’—Điểm đạo, Con người và Thái dương, tr.55, của Alice Bailey.

The Second Ray does not judge by results (as all this world does). He gets on with the job of doing good. He soon learns the meaning of the old esoteric injunction:

Cung Hai không phán xét bằng kết quả (như cả thế giới này vẫn làm). Y tiếp tục công việc làm điều tốt. Y sớm học được ý nghĩa của lời răn huyền bí cổ xưa:

‘Love where you are, who you are with and what you are doing.’

‘Yêu thương nơi bạn ở, người bạn ở cùng và những gì bạn đang làm.’

The sense of duty and responsibility to the community is high. No animal misses his meal, no plant its water when a Second Ray soul inhabits an establishment, whereas less busy individuals on other rays can let animals go hungry and plants die before their eyes. No wonder plants recognise the emotions of humans readily. Perhaps the work of Cleve Backster et alia will show in the years to come what Ray combinations in humans excite or alarm plants most! The assumption of responsibility in a Second Ray type begins early and grows progressively and this is one way in which they themselves grow, through the assumption of increasing responsibility … at first for the home, then for the community (more subjectively albeit) and finally, almost wholly subjectively, conditions in the world at large. Every loving thought becomes a directed source of sustenance to every visualised object of suffering.

Ý thức về bổn phận và trách nhiệm đối với cộng đồng rất cao. Không có con vật nào bị bỏ đói, không có cây nào bị thiếu nước khi một linh hồn Cung Hai cư ngụ trong một cơ sở, trong khi những cá nhân ít bận rộn hơn ở các cung khác có thể để động vật đói và cây chết trước mắt họ. Không có gì lạ khi thực vật nhận ra cảm xúc của con người một cách dễ dàng. Có lẽ công trình của Cleve Backster et alia sẽ cho thấy trong những năm tới những sự kết hợp Cung nào ở con người kích thích hoặc báo động thực vật nhất! Việc đảm nhận trách nhiệm ở một người thuộc Cung Hai bắt đầu sớm và tăng dần và đây là một cách mà chính họ phát triển, thông qua việc đảm nhận trách nhiệm ngày càng tăng … lúc đầu là cho gia đình, sau đó là cho cộng đồng (mặc dù chủ quan hơn) và cuối cùng, gần như hoàn toàn chủ quan, là các điều kiện trên thế giới nói chung. Mỗi tư tưởng yêu thương trở thành một nguồn nuôi dưỡng có định hướng cho mọi đối tượng đau khổ được hình dung.

The Second Ray soul constantly forms groups. Bring one of them into a situation fraught with problems and his first instinct is to form a group to deal with it. The group will include those most in need of help as well as those best able to assist. The Second Ray will bring them all together, if for no other immediate reason than to talk but already the engulfing process will be at work. The warm, cohesive forces of the Ray will he linking but not cementing, neutralising but not sterilising, attracting but not forcing the elements of the parts into a coherent, self-regenerating whole which is a group and, included with it, will be the one who was the original target of the exercise, the one who needed the help. By this Second Ray method strength is imparted to the weak or the needy without the worst qualities of charity being felt.

Linh hồn Cung Hai liên tục thành lập các nhóm. Đưa một người trong số họ vào một tình huống đầy rẫy vấn đề và bản năng đầu tiên của y là thành lập một nhóm để giải quyết nó. Nhóm sẽ bao gồm những người cần giúp đỡ nhất cũng như những người có khả năng giúp đỡ tốt nhất. Cung Hai sẽ đưa tất cả họ lại với nhau, nếu không vì lý do trực tiếp nào khác ngoài việc nói chuyện nhưng quá trình bao trùm đã bắt đầu hoạt động. Các mãnh lực ấm áp, gắn kết của Cung sẽ liên kết nhưng không xi măng, trung hòa nhưng không khử trùng, thu hút nhưng không ép buộc các yếu tố của các bộ phận thành một tổng thể mạch lạc, tự tái tạo, đó là một nhóm và, bao gồm trong đó, sẽ là người ban đầu là mục tiêu của bài tập, người cần sự giúp đỡ. Bằng phương pháp Cung Hai này, sức mạnh được truyền cho người yếu hoặc người thiếu thốn mà không cảm thấy những phẩm chất tồi tệ nhất của lòng từ thiện.

It is surprising what can be accomplished by a group in gentle, unobtrusive ways. It is not the way of the First Ray who, in any case can’t bear to work through committees. He will say that if Moses had depended on a committee, the Children of Israel would still be in Egypt. The Second Ray might well retort that if a committee had operated, the Children of Israel might well have taken a turn to the right at the Red Sea instead of to the left, and all the world would have oil in abundance today!

Thật đáng ngạc nhiên về những gì một nhóm có thể hoàn thành bằng những cách nhẹ nhàng, kín đáo. Đó không phải là cách của Cung Một, người trong mọi trường hợp không thể chịu đựng được việc làm việc thông qua các ủy ban. Y sẽ nói rằng nếu Moses phụ thuộc vào một ủy ban, con cháu Israel vẫn sẽ ở Ai Cập. Cung Hai có thể đáp lại rằng nếu một ủy ban đã hoạt động, con cháu Israel có thể đã rẽ phải ở Biển Đỏ thay vì rẽ trái, và cả thế giới sẽ có dầu mỏ dồi dào ngày nay!

The First Ray brings monopoly and capitalism to bear strongly in business; the Third Ray brings in competition but the Second Ray makes all these secondary to service and goodwill. Still, in England, the term ‘goodwill’ is heard in business dealings. A man may sell his business for a very much larger sum of money than the value of his stocks and fittings and for the monopoly that may exist and we call this goodwill. For years this goodwill has been built up with customers, based on honesty, fair (merciful) prices and it is this goodwill that really counts when a business changes hands. If it were only realised, such goodwill is beyond price for it is helping to establish a great world need, the establishment of right human relations as a preliminary to a more ordered and equitable society. It is all part of the philosophy of sharing, one between two, the essence of the Ray of Love-Wisdom.

Cung Một mang lại sự độc quyền và chủ nghĩa tư bản mạnh mẽ trong kinh doanh; Cung Ba mang lại sự cạnh tranh nhưng Cung Hai làm cho tất cả những điều này trở nên thứ yếu so với sự phụng sự và thiện chí. Ở Anh, thuật ngữ ‘thiện chí’ vẫn còn được nghe thấy trong các giao dịch kinh doanh. Một người có thể bán doanh nghiệp của mình với một số tiền lớn hơn nhiều so với giá trị hàng tồn kho và đồ đạc của mình và cho sự độc quyền có thể tồn tại và chúng ta gọi đó là thiện chí. Trong nhiều năm, thiện chí này đã được xây dựng với khách hàng, dựa trên sự trung thực, giá cả hợp lý (nhân từ) và chính thiện chí này mới thực sự có giá trị khi một doanh nghiệp đổi chủ. Nếu chỉ được nhận ra, thiện chí như vậy là vô giá vì nó đang giúp thiết lập một nhu cầu lớn của thế giới, việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn của con người như một bước chuẩn bị cho một xã hội có trật tự và công bằng hơn. Tất cả đều là một phần của triết lý chia sẻ, một giữa hai, bản chất của Cung Bác Ái-Minh Triết.

The Second Ray always trusts. Others wonder at their capacity to do so. ‘How can you trust people like you do … you will be taken for a ride.’ My own answer, probably typical of a Second Ray soul with a First Ray personality is ‘If I can’t trust people, I don’t want to go on living in the world.’ But I do want to go on living. I have much to do (for humanity) and therefore I must trust. To the second remark ‘You will be taken for a ride,’ my answer is that I have complete faith in the Laws of Karma. They are infallible and work their way sooner or later. No man escapes. The man who abuses the best that a Second Ray soul can offer, is a man at odds with the Solar System itself.

Cung Hai luôn tin tưởng. Những người khác tự hỏi về khả năng của họ để làm như vậy. ‘Làm sao bạn có thể tin tưởng người khác như vậy … bạn sẽ bị lừa.’ Câu trả lời của riêng tôi, có lẽ điển hình của một linh hồn Cung Hai với một phàm ngã Cung Một là ‘Nếu tôi không thể tin tưởng người khác, tôi không muốn tiếp tục sống trên thế giới.’ Nhưng tôi muốn tiếp tục sống. Tôi có nhiều việc phải làm (cho nhân loại) và do đó tôi phải tin tưởng. Đối với nhận xét thứ hai ‘Bạn sẽ bị lừa,’ câu trả lời của tôi là tôi hoàn toàn tin tưởng vào các Định luật Nghiệp quả. Chúng là không thể sai lầm và hoạt động theo cách của chúng sớm hay muộn. Không ai thoát được. Người lạm dụng những gì tốt nhất mà một linh hồn Cung Hai có thể mang lại, là một người mâu thuẫn với chính Hệ Mặt trời.

In England, shops where there is goodwill still exist but they are slowly being replaced by impersonal (Fifth Ray) and very ordered (Seventh Ray) supermarkets with greater variety (Third Ray) at the most competitive and sometimes monopolistic (First Ray) prices. I prefer the former where available. I will shop there as much as possible in preference to the supermarkets. I never question prices. If goods are faulty, they are replaced without question, even months later. Credit or cash is accepted without question. That is how I like to see a business run; it may be very old-world and a little more expensive but it is also very Second Ray and good for human relationships. Many a civilisation has arisen around a market place.

Ở Anh, các cửa hàng có thiện chí vẫn còn tồn tại nhưng chúng đang dần bị thay thế bởi các siêu thị vô cảm (Cung Năm) và rất có trật tự (Cung Bảy) với sự đa dạng lớn hơn (Cung Ba) với giá cả cạnh tranh nhất và đôi khi độc quyền (Cung Một). Tôi thích loại cửa hàng cũ hơn khi có thể. Tôi sẽ mua sắm ở đó càng nhiều càng tốt thay vì các siêu thị. Tôi không bao giờ thắc mắc về giá cả. Nếu hàng hóa bị lỗi, chúng sẽ được thay thế mà không cần hỏi, ngay cả nhiều tháng sau đó. Tín dụng hoặc tiền mặt được chấp nhận mà không cần hỏi. Đó là cách tôi thích thấy một doanh nghiệp hoạt động; nó có thể rất cổ điển và đắt hơn một chút nhưng nó cũng rất Cung Hai và tốt cho các mối quan hệ của con người. Nhiều nền văn minh đã hình thành xung quanh một khu chợ.

The First Ray hates letter writing. The Second Ray loves it. The first prefers the telephone or at worst the cable. The latter will go into detail and add courtesy, politeness and concern without formality. The former is brief, to the point of terseness, loathes explanations and uses one word to express many. The Mahatma Letters to AP. Sinnett give classical examples of contrasting Rays in regard to correspondence. These letters, now in the British Museum were sent via Madame Blavatsky to A.P. Sinnett, an editor in India. They were from two Adepts, Masters of the Wisdom, viz., the Lord Morya (First Ray) and the Master Koot Hoomi Lal Singh (K.H.), a Lord of the Second Ray.

Cung Một ghét viết thư. Cung Hai yêu thích nó. Cung Một thích điện thoại hoặc tệ nhất là điện báo. Cung Hai sẽ đi vào chi tiết và thêm sự lịch sự, lịch thiệp và quan tâm mà không cần hình thức. Cung Một ngắn gọn, đến mức cộc lốc, ghét giải thích và dùng một từ để diễn đạt nhiều ý. Các Bức thư Mahatma gửi cho AP. Sinnett là những ví dụ kinh điển về các Cung tương phản liên quan đến thư từ. Những bức thư này, hiện đang ở Bảo tàng Anh, được gửi qua Bà Blavatsky đến A.P. Sinnett, một biên tập viên ở Ấn Độ. Chúng đến từ hai Chân sư, các Chân sư Minh triết, tức là, Đức Chân sư Morya (Cung Một) và Chân sư Koot Hoomi Lal Singh (K.H.), một Đấng Chúa Tể của Cung Hai.

Certainly, this Ray type is often imposed upon, involved by the unscrupulous who easily detect their sensitivity and overriding compassion, their concern for the embattled. They are used by the astrally undisciplined as emotional waste-paper baskets; they are manipulated by power seekers and pushed into the background by individualists but they are teachers at heart and know that the lessons of goodwill and right relationships must be repeated many times before the young souls (never on the Second Ray) respond. Self-sacrifice is the essence of the Ray of Love-Wisdom and nowhere can it be seen to better effect than in teaching. In subsequent parts to this volume we shall deal with the teaching methods and qualities of the Second Ray.

Chắc chắn, loại cung này thường bị lợi dụng, bị những kẻ vô đạo đức lôi kéo, những kẻ dễ dàng nhận ra sự nhạy cảm và lòng trắc ẩn vượt trội của họ, sự quan tâm của họ đối với những người đang gặp khó khăn. Họ bị những người không có kỷ luật về cảm xúc sử dụng như những thùng rác cảm xúc; họ bị những người tìm kiếm quyền lực điều khiển và bị những người theo chủ nghĩa cá nhân đẩy lùi, nhưng họ là những người thầy trong lòng và biết rằng những bài học về thiện chí và mối quan hệ đúng đắn phải được lặp lại nhiều lần trước khi những linh hồn trẻ (không bao giờ thuộc Cung Hai) đáp ứng. Sự hy sinh là bản chất của Cung Bác ái-Minh triết và không nơi nào có thể thấy rõ hơn điều đó bằng việc giảng dạy. Trong các phần tiếp theo của tập này, chúng ta sẽ đề cập đến các phương pháp giảng dạy và phẩm chất của Cung Hai.

This is the Ray that rules the Health Services and New Age education. In industry it is conciliation between workers and management rather than confrontation (First Ray). It is the benign factory manager beloved by all, workers and management alike. In terms of theatre, it is light comedy rather than farce with the banter between Beatrice and Benedict in Shakespeare’s Much Ado about Nothing being typical as is Tchaikovsky’s 1812 Overture in music. In politics it is democracy, so delicately situated between fascism (First Ray) and socialism (Third Ray) with specialisation of the latter into communism (Seventh Ray).

Đây là Cung cai quản các Dịch vụ Y tế và giáo dục Kỷ nguyên Mới. Trong công nghiệp, đó là sự hòa giải giữa công nhân và ban quản lý thay vì đối đầu (Cung Một). Đó là người quản lý nhà máy nhân từ được mọi người yêu mến, cả công nhân và ban quản lý. Về sân khấu, đó là hài kịch nhẹ nhàng hơn là hài kịch với những lời trêu chọc giữa Beatrice và Benedict trong vở Much Ado about Nothing của Shakespeare là điển hình cũng như Bản giao hưởng 1812 Overture của Tchaikovsky trong âm nhạc. Trong chính trị, đó là dân chủ, nằm rất tinh tế giữa chủ nghĩa phát xít (Cung Một) và chủ nghĩa xã hội (Cung Ba) với sự chuyên môn hóa của chủ nghĩa xã hội thành chủ nghĩa cộng sản (Cung Bảy).

I think that Hamlet’s advice to the itinerant players to ‘use all gently’ summarises the qualities of the Ray of Love Wisdom as they should apply to human relationships:

Tôi nghĩ rằng lời khuyên của Hamlet cho những người chơi lang thang ‘sử dụng tất cả một cách nhẹ nhàng’ tóm tắt những phẩm chất của Cung Bác ái-Minh triết khi chúng nên áp dụng cho các mối quan hệ của con người:

‘Speak the speech, I pray you, as I pronounced it to You, trippingly on the tongue: but if you mouth it, as many of your players do, I had as lief the town-crier spoke my lines. Nor do not saw the air too much with your hands, but use all gently; for in the very torrent, tempest, and I may say, the whirlwind of passion, you must acquire and beget a temperance that may give it smoothness … Be not too tame neither, but let your own discretion be your tutor: suit the action to the word, the word to the action; with this special observance, that you not o’er step the modesty of nature; to show virtue her own feature, scorn her own image . . .’

‘Hãy đọc lời thoại, tôi cầu xin các bạn, như tôi đã phát âm nó cho các bạn, một cách trôi chảy trên lưỡi: nhưng nếu các bạn đọc nó một cách trịnh trọng, như nhiều người chơi của các bạn làm, tôi thà để người rao tin của thị trấn đọc lời thoại của tôi. Cũng đừng vung tay quá nhiều, mà hãy sử dụng tất cả một cách nhẹ nhàng; vì trong dòng chảy, cơn bão, và tôi có thể nói, cơn lốc của đam mê, các bạn phải có được và sinh ra một sự ôn hòa có thể mang lại sự mượt mà cho nó … Cũng đừng quá hiền lành, mà hãy để sự thận trọng của riêng các bạn làm người dạy của các bạn: phù hợp hành động với lời nói, lời nói với hành động; với sự quan sát đặc biệt này, rằng các bạn không vượt quá sự khiêm tốn của tự nhiên; để thể hiện đức hạnh với đặc điểm riêng của nó, khinh bỉ hình ảnh riêng của nó …’

Because of their calm and unrippled nature, the personally vehicles have general rather than specific qualities, and an overall pattern can be given which can be applied in analysis to each body in turn. Much has already been said about predisposing factors that colour a Second Ray personality. They are all potential group leaders, because of their powerful, but not always obvious personal magnetism. They do things, many things well. This makes them different from the Third Ray where many things are done but with the inclination towards superficiality rather than depth. The Second Ray personality understands people, their motives and their impulses. The Fifth Ray questions them! Second Ray types tend to overestimate qualities in people often giving them the benefit of the doubt whereas the First Ray usually underestimates and seldom makes concessions. The Second Ray, however, will tend to underestimate himself, always questioning his own motives … “Who am I to make judgement? Who am I to lead this group?” Their poor opinion of themselves is often based upon their acceptance of Divine standards for everything, but each, if he only knew it, is an outpost of the Corning Christ (principle), especially in the last twenty-five years of every century. It is difficult for the First Ray to attach himself to people, to organisations. It is difficult for the Second Ray to detach himself. They love books for the sake of learning rather than for their usefulness; they are most appealing when they go into endless and all-encompassing detail for this type makes a good scholar, a rarity in this day and age. One of the Ray ‘vices’ is that they tend to engulf others too quickly instead of practising mere inclusiveness. They care too much about what others think of them whereas the First Ray doesn’t give a damn. The latter suffers from pride but the former suffers from fear. The Second Ray is that of the builder, rather than the creator, of plodding persistence where each brick is laid with love and the project visualised ahead all the time.

Do bản chất điềm tĩnh và không gợn sóng của chúng, các hiện thể phàm ngã có những phẩm chất chung hơn là cụ thể, và một mô hình tổng thể có thể được đưa ra để áp dụng trong phân tích cho từng thể. Nhiều điều đã được nói về các yếu tố tiền định tô màu cho một phàm ngã Cung Hai. Tất cả họ đều là những nhà lãnh đạo nhóm tiềm năng, vì từ tính cá nhân mạnh mẽ nhưng không phải lúc nào cũng rõ ràng của họ. Họ làm nhiều việc, nhiều việc tốt. Điều này khiến họ khác biệt với Cung Ba, nơi nhiều việc được thực hiện nhưng với xu hướng hời hợt hơn là chiều sâu. Phàm ngã Cung Hai thấu hiểu con người, động cơ và xung động của họ. Cung Năm đặt câu hỏi cho họ! Những người thuộc Cung Hai có xu hướng đánh giá quá cao phẩm chất của mọi người, thường cho họ sự nghi ngờ, trong khi Cung Một thường đánh giá thấp và hiếm khi nhượng bộ. Tuy nhiên, Cung Hai sẽ có xu hướng đánh giá thấp bản thân, luôn đặt câu hỏi về động cơ của chính mình … “Tôi là ai mà đưa ra phán xét? Tôi là ai mà lãnh đạo nhóm này?” Ý kiến thấp kém của họ về bản thân thường dựa trên việc họ chấp nhận các tiêu chuẩn Thiêng liêng cho mọi thứ, nhưng mỗi người, nếu họ biết, là một tiền đồn của Đấng Christ Sắp đến (nguyên khí), đặc biệt là trong hai mươi lăm năm cuối cùng của mỗi thế kỷ. Điều khó khăn đối với Cung Một là gắn bó với con người, với các tổ chức. Điều khó khăn đối với Cung Hai là tách rời bản thân. Họ yêu sách vì mục đích học hỏi hơn là vì sự hữu ích của chúng; họ hấp dẫn nhất khi đi vào chi tiết vô tận và bao quát vì loại người này là một học giả giỏi, một điều hiếm có trong thời đại này. Một trong những ‘thói hư tật xấu’ của Cung là họ có xu hướng bao trùm người khác quá nhanh thay vì chỉ thực hành tính bao gồm. Họ quan tâm quá nhiều đến những gì người khác nghĩ về họ trong khi Cung Một không quan tâm. Cung Một bị kiêu ngạo nhưng Cung Hai bị sợ hãi. Cung Hai là của người xây dựng, hơn là của người sáng tạo, của sự kiên trì cần mẫn nơi mỗi viên gạch được đặt bằng tình yêu thương và dự án được hình dung trước mọi lúc.

The Second Ray astral body is always calm and unrattled. It dislikes displays of emotion. Husbands may sometimes think them cold fish. They carry love with them everywhere they go but it is a discriminating and well-disciplined love. When criticised, their first consideration is for the person who levelled the criticism and that he be thanked for his concern. They hoard books and always keep a library from which they will lend out their books to the group.

Thể cảm dục Cung Hai luôn điềm tĩnh và không bị xáo trộn. Nó không thích những màn biểu lộ cảm xúc. Các ông chồng đôi khi có thể nghĩ rằng họ là những con cá lạnh lùng. Họ mang tình yêu theo mình khắp mọi nơi nhưng đó là một tình yêu có phân biện và được kỷ luật tốt. Khi bị chỉ trích, điều đầu tiên họ xem xét là người đưa ra lời chỉ trích và rằng y nên được cảm ơn vì sự quan tâm của mình. Họ tích trữ sách và luôn giữ một thư viện mà từ đó họ sẽ cho nhóm mượn sách.

The Second Ray physical body is a rarity, perhaps with an incidence at this time of two per cent of the population. It is characterised by a small and lightly built frame. The skin is soft and women of this type are like china dolls. They are short in stature and there is a degree of vanity. The hair is often built high on the head, and excessive attention is paid to it. Frequently things are worn in the hair decoratively. Older students will remember perhaps the typical form of Carmen Miranda in her hey-day. Generally the physical body is a vehicle for a Second Ray soul and there is strong rapport with it to the extent of conscious mediumship but never unconscious. The temptation to wear platformed shoes to make up for slightness in form is seldom resisted.

Thể xác Cung Hai là một điều hiếm có, có lẽ với tỷ lệ hiện nay là hai phần trăm dân số. Nó được đặc trưng bởi một khung xương nhỏ và nhẹ. Da mềm và phụ nữ thuộc loại này giống như búp bê sứ. Họ thấp bé và có một mức độ kiêu hãnh. Tóc thường được búi cao trên đầu, và được chú ý quá mức. Thường thì họ đeo các vật trang trí trên tóc. Các môn sinh lớn tuổi hơn có thể nhớ hình dạng điển hình của Carmen Miranda trong thời kỳ đỉnh cao của bà. Nói chung, thể xác là một hiện thể cho một linh hồn Cung Hai và có một mối liên hệ mạnh mẽ với nó đến mức có thể là đồng tử có tâm thức nhưng không bao giờ là vô tâm thức. Sự cám dỗ đeo giày cao gót để bù đắp cho vóc dáng nhỏ bé hiếm khi bị từ chối.

Roberto Assagioli, M.D., of Florence, Italy, was a world authority on psychosynthesis and made many valuable contributions to the field of existential psychology during the past half-century (Dr. Assagioli died in August 1974). His was one of the keenest minds ever to probe the depths of esoteric astrology* and psychology.**

Roberto Assagioli, M.D., ở Florence, Ý, là một chuyên gia hàng đầu thế giới về tổng hợp tâm lý và đã có nhiều đóng góp giá trị cho lĩnh vực tâm lý học hiện sinh trong nửa thế kỷ qua (Tiến sĩ Assagioli qua đời vào tháng 8 năm 1974). Ông là một trong những bộ óc nhạy bén nhất từng thăm dò chiều sâu của chiêm tinh học nội môn* và tâm lý học.**

*See Esoteric Astrology, Vol. I, by the author **Psychosynthesis and The Act of Will, by Roberto Assagioli, M.D., Penguin Books.

*Xem Chiêm Tinh Học Nội Môn, Tập I, của tác giả **Tổng hợp Tâm lý và Hành động Ý chí, của Roberto Assagioli, M.D., Penguin Books.

Preferring to keep his orthodox teachings quite distinct from his work in the esoteric sciences, Dr. Assagioli published his observations on the Ancient Wisdom under the pen name of Considerator in my journal Aquarius Rising. So valuable are these fragments of his work that I am including them in this work where possible. He had this to say about the qualities of the Second Ray and their psycho synthetic possibilities:

Thích giữ các giáo lý chính thống của mình hoàn toàn khác biệt với công việc của mình trong các khoa học bí truyền, Tiến sĩ Assagioli đã xuất bản những quan sát của mình về Minh Triết Cổ Xưa dưới bút danh Considerator trên tạp chí của tôi Aquarius Rising. Những mảnh ghép này trong công trình của ông có giá trị đến nỗi tôi đang đưa chúng vào tác phẩm này ở những nơi có thể. Ông đã nói điều này về các phẩm chất của Cung Hai và các khả năng tổng hợp tâm lý của chúng:

‘The Second Ray has a particular meaning and special significance because it corresponds to the fundamental ‘note’ of that Great Being which uses our solar system as His visible body of manifestation: the Solar Logos. In fact, according to the esoteric teachings, the Solar Logos has Love-Wisdom for His basic quality.

‘Cung Hai có một ý nghĩa đặc biệt và một thâm nghĩa đặc biệt vì nó tương ứng với ‘âm điệu’ cơ bản của Đấng Vĩ Đại sử dụng hệ mặt trời của chúng ta làm thể hiện biểu hiện hữu hình của Ngài: Thái dương Thượng đế. Thực tế, theo các giáo lý bí truyền, Thái dương Thượng đế có Bác ái-Minh triết là phẩm chất cơ bản của Ngài.

These teachings give the profound explanation and the justification for the religious and mystical affirmation: God is LOVE.

Những giáo lý này đưa ra lời giải thích sâu sắc và sự biện minh cho lời khẳng định tôn giáo và thần bí: Thượng đế là TÌNH THƯƠNG.

‘The mystics felt and perceived clearly that God in His most universal, transcendent and absolute aspect—Parabrahman—is the ALL and one can not attribute to him any quality or particular note in preference to the others. God, manifested by our own solar system, that is the Solar Logos, is above all LOVE, and the Law of Life is the Law of Love.

‘Các nhà thần bí cảm nhận và nhận thức rõ ràng rằng Thượng đế trong khía cạnh phổ quát, siêu việt và tuyệt đối nhất của Ngài—Parabrahman—là TẤT CẢ và người ta không thể gán cho Ngài bất kỳ phẩm chất hay âm điệu cụ thể nào ưu tiên hơn những phẩm chất khác. Thượng đế, được biểu hiện bởi hệ mặt trời của chính chúng ta, tức là Thái dương Thượng đế, trên hết là TÌNH THƯƠNG, và Định luật của Sự sống là Định luật của Tình thương.

‘But this Divine Love is understood in the highest and purest and most universal sense. It was Love that was the profound motive determining the manifestation, and it is Love that maintains its order and rhythm.

‘Nhưng Tình thương thiêng liêng này được hiểu theo nghĩa cao nhất, tinh khiết nhất và phổ quát nhất. Chính Tình thương là động cơ sâu xa quyết định sự biểu hiện, và chính Tình thương duy trì trật tự và nhịp điệu của nó.

‘Love guides all Beings along the Path of Return to the Father; Love works for the perfection’ of all that lives. Love creates the forms which temporarily house Life hidden in it, and the same Love produces disintegration of those forms so that Life can continue onward. Taken as a whole, this Love is then Supreme Wisdom.

‘Tình thương dẫn dắt mọi chúng sinh trên Con Đường Trở Về với Cha; Tình thương hoạt động cho sự hoàn hảo của mọi sinh vật sống. Tình thương tạo ra những hình tướng tạm thời chứa đựng Sự sống ẩn giấu trong đó, và chính Tình thương đó tạo ra sự tan rã của những hình tướng đó để Sự sống có thể tiếp tục tiến về phía trước. Nói chung, Tình thương này chính là Minh triết Tối cao.

‘The Ray of Love- Wisdom shows itself in reflections from plane to plane and in various beings, always limiting itself further and further as it descends and adapts itself to the qualities and imperfections of the various grades of entities of which those planes are made up.

‘Cung Bác ái-Minh triết thể hiện mình trong những phản chiếu từ cõi này sang cõi khác và trong các chúng sinh khác nhau, luôn tự giới hạn mình ngày càng nhiều khi nó đi xuống và thích nghi với các phẩm chất và sự không hoàn hảo của các cấp độ thực thể khác nhau tạo nên các cõi đó.

‘Every Ray has an affinity and connection with a plane, which corresponds to it numerically. Thus, the First Ray of Will and Power, is connected with the First Plane of Manifestation, the Plane of Agni, also known as the ‘Sea of Fire’.

‘Mỗi Cung đều có một mối liên hệ và kết nối với một cõi, vốn tương ứng với nó về mặt số học. Do đó, Cung Một của Ý Chí và Quyền Năng, được kết nối với Cõi Biểu hiện Thứ nhất, Cõi Agni, còn được gọi là ‘Biển Lửa’.

‘The Second Ray, on the other hand, has a particular connection with the Second Plane, the Monadic, but then it also tends to show itself in the planes complementary to this one: the Fourth or Buddhic, and the Sixth, the Astral or Emotive.

‘Mặt khác, Cung Hai có một mối liên hệ đặc biệt với Cõi thứ hai, cõi Chân thần, nhưng sau đó nó cũng có xu hướng thể hiện mình trong các cõi bổ sung cho cõi này: cõi thứ tư hay Bồ đề, và cõi thứ sáu, cõi Cảm dục hay Cảm xúc.

‘Translating this data into human psychological terms and starting from the bottom, one can say that the Love which shows itself in the world of the emotions corresponds to love of the personality, passionate or sentimental love, pervaded by desire, limited to one or few beings.

‘Dịch dữ liệu này sang thuật ngữ tâm lý học con người và bắt đầu từ dưới lên, người ta có thể nói rằng Tình thương thể hiện trong thế giới của cảm xúc tương ứng với tình yêu của phàm ngã, tình yêu đam mê hoặc tình cảm, thấm nhuần bởi ham muốn, giới hạn trong một hoặc một vài chúng sinh.

‘This Love, with the progressive evolution of Man, is enlarged, purified and elevated as far as the Soul, or higher Self. It is a vast impersonal Love which embraces groups that are ever larger until the whole of humanity is involved and included.

‘Tình thương này, cùng với sự tiến hóa dần dần của Con người, được mở rộng, thanh lọc và nâng cao đến mức Linh hồn, hay chân ngã. Đó là một Tình thương rộng lớn, vô ngã, bao trùm các nhóm ngày càng lớn hơn cho đến khi toàn thể nhân loại được tham gia và bao gồm.

‘Yet, this Love can become even higher and even more vast, more universal, to include Hierarchies of Beings other than human, achieving a unity with all that lives in the entire solar system and even radiates beyond this so far as to become cosmic. This is the sublime Love of the Monad. It follows that Love, while in the primitive and more human stages, also has egotistical and separative aspects and can, with its tenacious attachments, passionate intoxications, and sweet enchantments, constitute an obstacle to spiritual development.

‘Tuy nhiên, Tình thương này có thể trở nên cao hơn và rộng lớn hơn, phổ quát hơn, bao gồm các Huyền Giai của các Chúng sinh khác ngoài con người, đạt được sự hợp nhất với tất cả những gì sống trong toàn bộ hệ mặt trời và thậm chí tỏa ra ngoài điều này đến mức trở thành vũ trụ. Đây là Tình thương cao cả của Chân thần. Theo đó, Tình thương, trong khi ở giai đoạn sơ khai và mang tính người hơn, cũng có các khía cạnh vị kỷ và chia rẽ và có thể, với những sự chấp trước ngoan cố, những cơn say đắm, và những sự mê hoặc ngọt ngào, tạo thành một trở ngại cho sự phát triển tinh thần.

‘It becomes, in its further stages, a potent means of spiritual elevation and expansion, helping to break the narrow incasement of the separated ‘I’, and transforming desire into aspiration, the thirst to possess into that impetus of dedication, the wish for individual completion into gradual unification with the Universal Life.

‘Nó trở thành, trong các giai đoạn tiếp theo của nó, một phương tiện mạnh mẽ của sự nâng cao và mở rộng tinh thần, giúp phá vỡ vỏ bọc hẹp hòi của cái ‘tôi’ tách biệt, và chuyển đổi ham muốn thành khát vọng, cơn khát sở hữu thành động lực cống hiến, mong muốn hoàn thiện cá nhân thành sự hợp nhất dần dần với Sự sống Vũ trụ.

‘Certainly, such a conquest, this purification and sublimation, is not achieved without acute suffering and harsh toll, even in a life that is directed and in a certain sense, of minor resistance. This is true, above all, for those who, by basic constitution belong to the Second Ray while those who belong to other Rays must follow other lives and lines of development.

‘Chắc chắn, một cuộc chinh phục như vậy, sự thanh lọc và thăng hoa này, không thể đạt được nếu không có đau khổ sâu sắc và cái giá phải trả khắc nghiệt, ngay cả trong một cuộc sống được định hướng và theo một nghĩa nào đó, ít kháng cự hơn. Điều này đúng, trên hết, đối với những người, theo cấu trúc cơ bản thuộc Cung Hai trong khi những người thuộc các Cung khác phải theo những cuộc sống và đường lối phát triển khác.

‘Though one can say that in a certain sense, the Life of Love and Sublimation is the central life for everyone, because in a world (Solar System) in which Love predominates, we can consider all the other Rays as sub-Rays of the Second Ray. Thus, while many souls belong to other Rays, the Vibration of the Second strikes them all and causes them to pulsate.

‘Mặc dù người ta có thể nói rằng theo một nghĩa nào đó, Cuộc sống của Tình thương và Sự thăng hoa là cuộc sống trung tâm cho mọi người, bởi vì trong một thế giới (Hệ Mặt trời) mà Tình thương chiếm ưu thế, chúng ta có thể coi tất cả các Cung khác là các Cung phụ của Cung Hai. Do đó, trong khi nhiều linh hồn thuộc các Cung khác, Rung động của Cung Hai tác động đến tất cả chúng và khiến chúng rung động.

‘What now of the other aspect of this two-fold Ray, the aspect of WISDOM.

‘Bây giờ, về phương diện khác của Cung kép này, phương diện MINH TRIẾT.

‘It is highly significant that Love and Wisdom which seem first and foremost, two qualities that are different and independent, constitute two aspects of the same Ray or Divine Quality.

‘Điều rất có ý nghĩa là Tình thương và Minh triết, vốn thoạt đầu có vẻ như là hai phẩm chất khác biệt và độc lập, lại cấu thành hai khía cạnh của cùng một Cung hay Phẩm chất thiêng liêng.

‘A deeper examination gives a clear reason for this fact. There cannot really be a spiritual Love, truly beneficial, disinterested and inclusive, unless it is pervaded by Wisdom … Without this, Love can wander and over-reach its limits. On the other hand, Wisdom, isolated from Love, an impersonal vision of Reality, would remain cold and inactive, unless it were pervaded by Love’s warm flame.

‘Một cuộc kiểm tra sâu hơn sẽ đưa ra lý do rõ ràng cho sự thật này. Không thể thực sự có một Tình thương tinh thần, thực sự có lợi, vô tư và bao gồm, trừ khi nó được thấm nhuần bởi Minh triết … Nếu không có điều này, Tình thương có thể lang thang và vượt quá giới hạn của nó. Mặt khác, Minh triết, bị cô lập khỏi Tình thương, một tầm nhìn vô ngã về Thực tại, sẽ vẫn lạnh lùng và không hoạt động, trừ khi nó được thấm nhuần bởi ngọn lửa ấm áp của Tình thương.

‘These two notes—Eros and Logos—bring together a wonderful synthesis that is the essence of the Second Ray of Love-Wisdom.

‘Hai âm điệu này—Eros và Logos—kết hợp lại thành một sự tổng hợp tuyệt vời, đó là bản chất của Cung Hai của Bác ái-Minh triết.

‘Wisdom implies knowing, that is, an exact knowledge of the facts but it is also something more profound. It not only knows but it comprehends. It comprehends by intuition, through a fusing with the Soul. It is the ‘intelligence of heart’ symbolised in Dante’s Matilda, the ‘Loving Comprehension.’

‘Minh triết ngụ ý sự hiểu biết, tức là, một kiến thức chính xác về các sự kiện nhưng nó cũng là một cái gì đó sâu sắc hơn. Nó không chỉ biết mà còn thấu hiểu. Nó thấu hiểu bằng trực giác, thông qua sự dung hợp với Linh hồn. Đó là ‘trí tuệ của trái tim’ được tượng trưng trong Matilda của Dante, ‘Sự Thấu hiểu Yêu thương.’

‘On this theme Maurice Maeterlink has written:

‘Về chủ đề này Maurice Maeterlink đã viết:

There is a great difference between saying “this thing is reasonable” and “this thing is wise.” At first, reason and love are in violent contrast in the Soul which is ascending, but wisdom is born from the final conciliation of Love and Reason. And this Love is the more perfect to the degree that Reason has given way to Love. The more profound, the wiser Love becomes, the more Wisdom rises, the more it approaches Love. Love … and you will become wise; become wise and it will suit you to love. One does not truly love unless one becomes better, and to become better is to get wise. (La Sagesse et la Destinee by Maurice Maeterlink).

Có một sự khác biệt lớn giữa việc nói “điều này là hợp lý” và “điều này là khôn ngoan.” Lúc đầu, lý trí và tình yêu có sự tương phản gay gắt trong Linh hồn đang đi lên, nhưng minh triết được sinh ra từ sự hòa giải cuối cùng của Tình yêu và Lý trí. Và Tình yêu này càng hoàn hảo hơn ở mức độ mà Lý trí đã nhường chỗ cho Tình yêu. Tình yêu càng sâu sắc, càng khôn ngoan, thì Minh triết càng vươn cao, càng đến gần Tình yêu. Hãy yêu … và bạn sẽ trở nên khôn ngoan; hãy trở nên khôn ngoan và bạn sẽ hợp với việc yêu. Người ta không thực sự yêu trừ khi người ta trở nên tốt hơn, và trở nên tốt hơn là trở nên khôn ngoan. (La Sagesse et la Destinee của Maurice Maeterlink).

‘Another function of the Second Ray is the constructive one. The First Ray puts out and formulates the proposition, the aim of the evolutionary drama and the fixing of the sublime objective. The Second Ray elaborates the Plane of Evolution, traces the life and chooses the ways. It creates the forms and the means for implementing that proposition.

‘Một chức năng khác của Cung Hai là chức năng xây dựng. Cung Một đưa ra và hình thành mệnh đề, mục đích của vở kịch tiến hóa và việc xác định mục tiêu cao cả. Cung Hai xây dựng Thiên Cơ Tiến hóa, vạch ra cuộc sống và chọn lựa các con đường. Nó tạo ra các hình tướng và phương tiện để thực hiện mệnh đề đó.

‘It is therefore called the Great Constructor, the Geometer, (Plato called it ‘God Geometrising’.) Thus, the Second Ray corresponds to the Second Person of the Trinity, the Word, Logos, Christ, the other Instructors and Saviours of Humanity (both those who come down among men to bring them light and indicate the Way of Liberation from suffering, giving comfort and encouragement, and also those Masters of the Wisdom and of Compassion who, for the love of Mankind, have made the great renunciation and have stayed to work ‘behind the scenes’ but in a way no less real and effective.)

‘Do đó, nó được gọi là Đấng Kiến Tạo Vĩ Đại, Nhà Hình học, (Plato gọi nó là ‘Thượng đế Hình học hóa’.) Do đó, Cung Hai tương ứng với Ngôi thứ hai của Ba Ngôi, Linh từ, Thượng đế, Đức Christ, các Huấn sư và các Đấng Cứu Rỗi khác của Nhân loại (cả những vị xuống trần gian để mang ánh sáng cho con người và chỉ ra Con đường Giải thoát khỏi đau khổ, mang lại sự an ủi và khích lệ, và cả những Chân sư Minh triết và Từ bi, vì tình yêu thương Nhân loại, đã thực hiện sự từ bỏ vĩ đại và ở lại làm việc ‘phía sau hậu trường’ nhưng theo một cách không kém phần thực tế và hiệu quả.)

‘The Law which operates as an effect of this Ray is that of Attraction, which links, attracts and tends to unite every manifested thing. The Cross is the symbol of this Ray, both in its fundamental and cosmic union of spirit and matter, and in all the other mystical, religious and symbolic senses. The centre or chakra of the etheric body which is the point of support of the special force and quality of the Second Ray is the Heart. Its instrument of perception is the hearing or the Word made flesh.

‘Định luật hoạt động như một hệ quả của Cung này là Định luật Hấp dẫn, vốn liên kết, thu hút và có xu hướng hợp nhất mọi vật biểu hiện. Thập giá là biểu tượng của Cung này, cả trong sự hợp nhất cơ bản và vũ trụ của tinh thần và vật chất, và trong tất cả các ý nghĩa thần bí, tôn giáo và biểu tượng khác. Trung tâm hay luân xa của thể dĩ thái là điểm tựa của mãnh lực và phẩm chất đặc biệt của Cung Hai là Tim. Công cụ nhận thức của nó là thính giác hay Linh từ hóa thành xác thịt.

One can easily deduce the human manifestations of the Second Ray from its essential qualities. The Love aspect gives the tendency to union, to inclusiveness and universality, desire in man … desire to possess, to have, even in the egotistical sense of hoarding (especially knowledge).

Người ta có thể dễ dàng suy ra những biểu hiện của con người về Cung Hai từ những phẩm chất thiết yếu của nó. Khía cạnh Tình thương mang lại xu hướng hợp nhất, bao gồm và phổ quát, ham muốn ở con người … ham muốn sở hữu, có, ngay cả theo nghĩa vị kỷ là tích trữ (đặc biệt là kiến thức).

‘It brings the yearning for material well-being, physical and emotional love, the gregarious instinct. It also brings the solitude of isolation. Its tendency to know, united to the inclusive tendency, can give place to excessive interest in details and facts—study and erudition as ends in themselves. Its ability to see many sides of a question often leads to indecision and so inaction.

‘Nó mang lại sự khao khát hạnh phúc vật chất, tình yêu thể xác và tình cảm, bản năng bầy đàn. Nó cũng mang lại sự cô đơn của sự cô lập. Xu hướng hiểu biết của nó, kết hợp với xu hướng bao gồm, có thể dẫn đến sự quan tâm quá mức đến các chi tiết và sự kiện—học tập và uyên bác như là mục đích tự thân. Khả năng nhìn thấy nhiều mặt của một vấn đề thường dẫn đến sự do dự và do đó không hành động.

‘Another characteristic of the Second Ray is sensitivity, which, if excessive and unmanageable, can be a source of suffering and difficulty. But if it is wisely disciplined and directed, it can produce intuitive knowledge and identification.

‘Một đặc điểm khác của Cung Hai là sự nhạy cảm, mà nếu quá mức và không thể kiểm soát được, có thể là nguồn gốc của đau khổ và khó khăn. Nhưng nếu được rèn luyện và định hướng một cách khôn ngoan, nó có thể tạo ra kiến thức trực giác và sự đồng hóa.

‘The activities in which the energies of the Second Ray are best employed are: priesthood (above all as a cure for the sou!!), teaching (character formation in general) and every form of philanthropic and social service to Man.

‘Các hoạt động mà năng lượng của Cung Hai được sử dụng tốt nhất là: chức tư tế (trên hết là phương thuốc chữa bệnh cho linh hồn!!), giảng dạy (hình thành tính cách nói chung) và mọi hình thức phụng sự từ thiện và xã hội cho Con người.

‘At this grave and decisive moment for Humanity when the old forms are declining and being violently broken down from their concretisation, there is urgent need for the note and quality of the Second Ray of Love-Wisdom which helps in the building of new forms to replace the old.

‘Vào thời điểm nghiêm trọng và quyết định này đối với Nhân loại khi các hình tướng cũ đang suy tàn và bị phá vỡ một cách dữ dội khỏi sự cụ thể hóa của chúng, có một nhu cầu cấp thiết về âm điệu và phẩm chất của Cung Hai của Bác ái-Minh triết vốn giúp xây dựng các hình tướng mới để thay thế những cái cũ.

‘It is the Ray which is stirring in the breasts of those who desire peace intensely and in whom there is a growing wish for comprehension, co-operation and unity, all in the spirit of goodwill.’

‘Đó là Cung đang khuấy động trong lồng ngực của những người khao khát hòa bình mãnh liệt và trong những người có mong muốn ngày càng tăng về sự thấu hiểu, hợp tác và hợp nhất, tất cả đều trong tinh thần thiện chí.’

Leave a Comment

Scroll to Top