Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái – Phần I

📘 Sách: Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái – Tác giả: Alice Bailey

Cover

Table of Contents

Table of Contents………………………………………………………………… 2

TELEPATHY AND THE ETHERIC VEHICLE……………………………… 4

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN…………………. 6

THE GREAT INVOCATION……………………………………………………… 8

SECTION ONE—TEACHING ON TELEPATHY—PHẦN MỘT—HUẤN THỊ VỀ VIỄN CẢM……………………………………………………… 12

I. THE FIELD OF TELEPATHIC INTERPLAY—I. PHẠM VI CỦA TÁC ĐỘNG QUA LẠI BẰNG VIỄN CẢM……………………………….. 12

II. TELEPATHIC WORK—II. CÔNG VIỆC VIỄN CẢM……………. 22

III. THREE TYPES OF TELEPATHY—III. BA LOẠI VIỄN CẢM. 26

Two Other Groups of Telepathic Possibilities—Hai Nhóm Khả Năng Viễn Cảm Khác…………………………………………………………. 32

IV. THREE TYPES OF ENERGY INVOLVED—IV. BA LOẠI NĂNG LƯỢNG LIÊN QUAN…………………………………………………………… 36

V. THE GROWTH OF TELEPATHIC RAPPORT—V. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỐI GIAO CẢM VIỄN CẢM………………………………. 41

VI. GROUP TELEPATHIC WORK—VI. CÔNG VIỆC VIỄN CẢM NHÓM……………………………………………………………………………….. 46

VII. THE SCIENCE OF IMPRESSION—VII. KHOA HỌC VỀ SỰ ẤN TƯỢNG………………………………………………………………………… 51

Sources of Impression to the Three Planetary Centres—Các Nguồn Ấn Tượng Đến Ba Trung Tâm Hành Tinh……………….. 52

VIII. THE SUPREME SCIENCE OF CONTACT—VIII. KHOA HỌC TỐI THƯỢNG VỀ SỰ TIẾP XÚC…………………………………………… 61

Its Goal in the Evolutionary Life Process—Mục Tiêu Của Nó Trong Quá Trình Sự Sống Tiến Hóa……………………………………. 64

IX. EXPANDING AREAS OF CONSCIOUS INTERACTION—IX. CÁC LĨNH VỰC TƯƠNG TÁC CÓ Ý THỨC ĐANG MỞ RỘNG…. 67

X. SEQUENTIAL REVELATION OF RELATIONSHIPS—X. SỰ MẶC KHẢI TUẦN TỰ VỀ CÁC MỐI QUAN HỆ……………………… 72

Linking Groups Within the Planetary Life—Các Nhóm Liên Kết Bên Trong Sự Sống Hành Tinh…………………………………….. 76

Mind the Focus of Planetary Development—Trí Tuệ là Tiêu Điểm của Sự Phát Triển Hành Tinh……………………………………. 80

XI. RESULTS OF CONTACT AND RECEPTIVITY—XI. CÁC KẾT QUẢ CỦA TIẾP XÚC VÀ TÍNH THU NHẬN…………………………. 83

Planetary Sequence of Impression—Trình Tự Ấn Tượng Hành Tinh………………………………………………………………………………….. 88

XII. RELATION OF THE HUMAN TO THE HIERARCHICAL CENTRE—XII. MỐI QUAN HỆ CỦA TRUNG TÂM NHÂN LOẠI VỚI TRUNG TÂM THÁNH ĐOÀN……………………………………….. 92

Sources of Impression for the Disciple—Các Nguồn Ấn Tượng cho Đệ Tử………………………………………………………………………….. 95

His Contribution to the Divine Plan—Sự Đóng Góp của Y cho Thiên Cơ………………………………………………………………………….. 101

XIII. TELEPATHIC SENSITIVITY A NORMAL UNFOLDMENT—XIII. SỰ NHẠY CẢM VIỄN CẢM MỘT SỰ MỞ RA BÌNH THƯỜNG…………………………………………………………………………. 102

Paralleling Spiritual Development—Song Hành Với Sự Phát Triển Tinh Thần………………………………………………………………. 104

Registration, Recording and Interpretation—Sự Ghi Nhận, Ghi Lại và Diễn Giải……………………………………………………………….. 109

XIV. HIGHER ASPECTS OF RELATIONSHIP—XIV. CÁC KHÍA CẠNH CAO HƠN CỦA MỐI QUAN HỆ………………………………. 117

The Impressing Agents of the Divine Will—Các Tác Nhân Truyền Ấn Tượng của Ý Chí Thiêng Liêng……………………….. 127

XV. INTER-PLANETARY AND EXTRA-PLANETARY RELATIONSHIPS—XV. CÁC MỐI QUAN HỆ LIÊN HÀNH TINH VÀ NGOẠI HÀNH TINH…………………………………………………… 131

Humanity’s Key Role—Vai Trò Then Chốt của Nhân Loại… 134

Seven Statements Depicting the Pattern of the Present Planetary Work—Bảy Mệnh Đề Mô Tả Mô Hình của Công Việc Hành Tinh Hiện Tại…………………………………………………………. 139

The Centres and the Ray Energies—Các Trung Tâm và Năng Lượng Cung…………………………………………………………………….. 143

Separateness: the Great Illusion—Sự Chia Rẽ: Đại Ảo Tưởng………………………………………………………………………………………… 146

SECTION TWO — TEACHING ON THE ETHERIC VEHICLE—PHẦN HAI — HUẤN THỊ VỀ THỂ DĨ THÁI………………………….. 148

I. THE NATURE OF THE ETHERIC BODY—I. BẢN CHẤT CỦA THỂ DĨ THÁI…………………………………………………………………… 148

II. THE BASIS OF NON-SEPARATENESS—II. CƠ SỞ CỦA TÍNH KHÔNG CHIA RẼ……………………………………………………………… 157

The Changing Pattern of the Planetary Etheric Body—Mô Hình Đang Thay Đổi của Thể Dĩ Thái Hành Tinh……………………… 172

IV. THE CENTRES AND THE PERSONALITY—IV. CÁC TRUNG TÂM VÀ PHÀM NGÃ………………………………………………………… 174

Relationship Between the Higher and the Lower Centres—Mối Quan Hệ Giữa Các Trung Tâm Cao và Thấp……………………… 177

V. THE NATURE OF SPACE—V. BẢN CHẤT CỦA KHÔNG GIAN………………………………………………………………………………………… 185

VI. THE PLANETARY LIFE — A CENTRE IN THE SOLAR SYSTEM—VI. SỰ SỐNG HÀNH TINH — MỘT TRUNG TÂM TRONG HỆ MẶT TRỜI……………………………………………………… 190

The Central Triangle of Energies—Tam Giác Năng lượng Trung tâm……………………………………………………………………….. 193

The Sequence of Inter-Related Triangles—Trình Tự của Các Tam Giác Tương Quan…………………………………………………….. 199

Man’s Integral Relationship and Creative Function Within the Whole—Mối Quan Hệ Tích Hợp và Chức Năng Sáng Tạo của Con Người Trong Tổng Thể……………………………………………… 201

THE ARCANE SCHOOL—TRƯỜNG ARCANE……………………….. 208

TELEPATHY AND THE ETHERIC VEHICLE

by

ALICE A. BAILEY

BOOKS BY ALICE A. BAILEY

Initiation, Human and Solar

Letters on Occult Meditation

The Consciousness of the Atom

A Treatise on Cosmic Fire

The Light of the Soul

The Soul and its Mechanism

From Intellect to Intuition

A Treatise on White Magic

From Bethlehem to Calvary

Discipleship in the New Age–Vol. I

Discipleship in the New Age–Vol. II

Problems of Humanity

The Reappearance of the Christ

The Destiny of the Nations

Glamour: A World Problem

Telepathy and the Etheric Vehicle

The Unfinished Autobiography

Education in the New Age

The Externalisation of the Hierarchy

A Treatise on the Seven Rays:

Vol. I–Esoteric Psychology

Vol. II–Esoteric Psychology

Vol. III–Esoteric Astrology

Vol. IV–Esoteric Healing

Vol. V–The Rays and the Initiations

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity—not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các huấn sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với vẻ hết sức kính cẩn) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ thể trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói.

AUGUST 1934

THÁNG 8 NĂM 1934

THE GREAT INVOCATION

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”

ALICE A BAILEY

image_image-6.jpg
image_image-1.jpg

SECTION ONE—TEACHING ON TELEPATHY—PHẦN MỘT—HUẤN THỊ VỀ VIỄN CẢM

I. THE FIELD OF TELEPATHIC INTERPLAY—I. PHẠM VI CỦA TÁC ĐỘNG QUA LẠI BẰNG VIỄN CẢM

[1]

[1]

One of the characteristics, distinguishing the group of world servers and knowers, is that the outer organisation which holds them integrated is practically non-existent. They are held together by the inner structure of thought and by a telepathic medium of inter-relation. The Great Ones, Whom we all seek to serve, are thus linked, and can—at the slightest need and with the least expenditure of force—get en rapport with each other. They are all tuned to a particular vibration.

Một trong những đặc điểm phân biệt nhóm những người phụng sự thế gian và những thức giả là tổ chức bên ngoài giữ họ tích hợp với nhau hầu như không tồn tại. Họ được gắn kết với nhau bởi cấu trúc bên trong của tư tưởng và bởi một môi trường tương tác viễn cảm. Các Đấng Cao Cả, Mà tất cả chúng ta đều tìm cách phụng sự, được liên kết như vậy, và—khi có nhu cầu nhỏ nhất và với sự tiêu tốn mãnh lực ít nhất—có thể giao cảm với nhau. Tất cả Các Ngài đều được điều chỉnh theo một rung động cụ thể.

In the new groups are collected together people who are very diverse in their nature, who are found upon differing rays, who are of different nationalities, and who are each of them the product of widely varying environments and heredity. Besides these obvious factors which immediately attract attention, there is also to be found an equal diversity in the life experience of the souls concerned. The complexity of the problem is also tremendously increased when one remembers the long road which each has travelled and the many factors (emerging out of a dim and distant past) which have contributed to make each person what he now is. When, therefore, one dwells on the barriers and difficulties supervening upon such diverse conditions, the question arises at once: What provides the common meeting ground, and what makes it possible to have an interplay between the minds involved? The answer to this question is of paramount importance and necessitates a clear understanding.

Trong các nhóm mới tập hợp những người rất đa dạng về bản chất, thuộc các cung khác nhau, có quốc tịch khác nhau, và mỗi người là sản phẩm của những môi trường và di truyền rất khác biệt. Bên cạnh những yếu tố hiển nhiên này ngay lập tức thu hút sự chú ý, người ta cũng tìm thấy sự đa dạng tương đương trong kinh nghiệm sống của các linh hồn liên quan. Sự phức tạp của vấn đề cũng gia tăng khủng khiếp khi người ta nhớ đến con đường dài mà mỗi người đã đi qua và nhiều yếu tố (xuất hiện từ quá khứ mờ mịt và xa xăm) đã góp phần tạo nên mỗi người như hiện tại. Do đó, khi người ta nghĩ về những rào cản và khó khăn nảy sinh từ những điều kiện đa dạng như vậy, câu hỏi nảy sinh ngay lập tức: Điều gì cung cấp cơ sở gặp gỡ chung, và điều gì làm cho sự tác động qua lại giữa các thể trí liên quan trở nên khả thi? Câu trả lời cho câu hỏi này có tầm quan trọng tối cao và đòi hỏi một sự thấu hiểu rõ ràng.

[2]

[2]

When the Biblical words are used: “In Him we live and move and have our being,” we have the statement of a fundamental law in nature and the enunciated basis of the fact which we cover by the rather meaningless word: Omnipresence. Omnipresence has its basis in the substance of the universe, and in what the scientists call the ether; this word “ether” is a generic term covering the ocean of energies which are all inter-related and which constitute that one synthetic energy body of our planet.

Khi những lời trong Kinh Thánh được sử dụng: “Trong Ngài, chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu,” chúng ta có tuyên bố về một quy luật cơ bản trong tự nhiên và cơ sở được công bố của sự thật mà chúng ta bao hàm bằng từ ngữ khá vô nghĩa: Sự Hiện Diện Khắp Nơi. Sự Hiện Diện Khắp Nơi có cơ sở trong chất liệu của vũ trụ, và trong cái mà các nhà khoa học gọi là dĩ thái; từ “dĩ thái” này là một thuật ngữ chung bao hàm đại dương năng lượng đều có mối liên hệ với nhau và cấu thành nên một thể năng lượng tổng hợp của hành tinh chúng ta.

In approaching, therefore, the subject of telepathy, it must be carefully borne in mind that the etheric body of every form in nature is an integral part of the substantial form of God Himself—not the dense physical form, but what the esotericists regard as the form-making substance. We use the word God to signify the expression of the One Life which animates every form on the outer objective plane. The etheric or energy body, therefore, of every human being is an integral part of the etheric body of the planet itself and consequently of the solar system. Through this medium, every human being is basically related to every other expression of the Divine Life, minute or great. The function of the etheric body is to receive energy impulses and to be swept into activity by these impulses, or streams of force, emanating from some originating source or other. The etheric body is in reality naught but energy. It is composed of myriads of threads of force or tiny streams of energy, held in relation to the emotional and mental bodies and to the soul by their co-ordinating effect. These streams of energy, in their turn, have an effect on the physical body and swing it into activity of some kind or another, according to the nature and power of whatever type of energy may be dominating the etheric body at any particular time.

Do đó, khi tiếp cận chủ đề viễn cảm, cần phải ghi nhớ kỹ lưỡng rằng thể dĩ thái của mọi hình tướng trong tự nhiên là một phần không thể thiếu của hình tướng bằng chất liệu của chính Thượng đế—không phải hình tướng vật lý đậm đặc, mà là cái mà các nhà bí truyền học coi là chất liệu tạo hình. Chúng ta sử dụng từ Thượng đế để biểu thị sự biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất làm sinh động mọi hình tướng trên cõi khách quan bên ngoài. Do đó, thể dĩ thái hay thể năng lượng của mỗi con người là một phần không thể thiếu của thể dĩ thái của chính hành tinh và theo đó là của hệ mặt trời. Thông qua môi trường này, mỗi con người về cơ bản đều liên hệ với mọi biểu hiện khác của Sự Sống Thiêng Liêng, dù nhỏ hay lớn. Chức năng của thể dĩ thái là tiếp nhận các xung lực năng lượng và được các xung lực này thúc đẩy vào hoạt động, hay các dòng mãnh lực, phát xuất từ một nguồn gốc nào đó. Thể dĩ thái thực tế không là gì khác ngoài năng lượng. Nó được cấu thành từ vô số các sợi mãnh lực hoặc các dòng năng lượng nhỏ bé, nhờ tác động phối hợp của chúng mà duy trì mối liên hệ với thể cảm dục, thể trí và linh hồn. Các dòng năng lượng này, đến lượt mình, có tác động lên thể xác và đưa nó vào hoạt động thuộc loại này hay loại khác, tùy theo bản chất và sức mạnh của bất kỳ loại năng lượng nào đang thống trị thể dĩ thái vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào.

[3]

[3]

Through the etheric body, therefore, circulates energy emanating from some mind. With humanity in the mass, response is made unconsciously to the rulings of the Universal Mind; this is complicated in our time and age by a growing responsiveness to the mass ideas—called sometimes public opinion—of the rapidly evolving human mentality. Within the human family are also found those who respond to that inner group of Thinkers Who, working in mental matter, control from the subjective side of life the emergence of the great plan and the manifestation of divine purpose.

Do đó, thông qua thể dĩ thái, năng lượng phát xuất từ một thể trí nào đó luân chuyển. Đối với đại chúng nhân loại, sự đáp ứng được thực hiện một cách vô thức đối với các quy định của Vũ Trụ Trí; điều này trở nên phức tạp trong thời đại của chúng ta bởi sự phản ứng ngày càng tăng đối với các ý tưởng đại chúng—đôi khi được gọi là dư luận công chúng—của trí tuệ nhân loại đang tiến hóa nhanh chóng. Trong gia đình nhân loại cũng tìm thấy những người đáp ứng với nhóm Tư Tưởng Gia bên trong Đó, Những Vị làm việc trong vật chất cõi trí, kiểm soát từ phía chủ quan của sự sống sự xuất hiện của thiên cơ vĩ đại và sự biểu lộ của mục đích thiêng liêng.

This group of Thinkers falls into seven main divisions and is presided over by three great Lives or super-conscious Entities. These three are the Manu, the Christ, and the Mahachohan. These three work primarily through the method of influencing the minds of the adepts and the initiates. These latter in their turn influence the disciples of the world, and these disciples, each in his own place and on his own responsibility, work out their concept of the plan and seek to give expression to it as far as possible. It is, therefore, as you can surmise, a process of stepping down rates of vibration until they are sufficiently heavy to affect physical plane matter and thus make possible the building of organised effects on the physical plane. These disciples have hitherto worked very much alone except when karmic relationships have revealed them to each other, and telepathic intercommunication has been fundamentally confined to the Hierarchy of adepts and initiates, both in and out of incarnation, and to Their individual work with Their disciples.

Nhóm Tư Tưởng Gia này chia thành bảy bộ phận chính và được chủ trì bởi ba Sự Sống vĩ đại hay các Thực Thể siêu thức. Ba Vị này là Đức Manu, Đức Christ, và Đức Mahachohan. Ba Vị này làm việc chủ yếu thông qua phương pháp ảnh hưởng đến thể trí của các chân sư và các điểm đạo đồ. Những vị này đến lượt mình ảnh hưởng đến các đệ tử của thế gian, và những đệ tử này, mỗi người ở vị trí riêng và chịu trách nhiệm riêng, triển khai quan niệm của họ về thiên cơ và tìm cách biểu lộ nó càng nhiều càng tốt. Do đó, như các bạn có thể phỏng đoán, đó là một quá trình hạ thấp các mức rung động cho đến khi chúng đủ nặng để tác động đến vật chất cõi trần và do đó làm cho việc xây dựng các hiệu quả có tổ chức trên cõi trần trở nên khả thi. Cho đến nay, các đệ tử này đã làm việc rất đơn độc ngoại trừ khi các mối quan hệ nghiệp quả đã tiết lộ họ với nhau, và sự giao tiếp viễn cảm về cơ bản đã bị giới hạn trong Thánh đoàn của các chân sư và điểm đạo đồ, cả đang lâm phàm và không lâm phàm, và trong công việc cá nhân của Các Ngài với các đệ tử của Các Ngài.

It is, however, now deemed possible to establish a resembling condition and a telepathic relation between disciples on the physical plane. No matter where they may find themselves, this group of mystics and knowers will [4] eventually find it feasible to communicate with one another and frequently do even now. A basic mystical idea or some new revelation of truth is suddenly recognised by many and finds expression simultaneously through the medium of many minds. No one person can claim individual right to the enunciated principle or truth. Several minds have registered it. It is usually stated, however, in a wide generalisation, that these people have tapped the inner thought currents or have responded to the play of the Universal Mind. Literally and technically this is not so. The Universal Mind is tapped by some member of the planetary Hierarchy according to His mental bias and equipment, and the immediate needs sensed by the working adepts. He then presents the new idea, new discovery, or the new revelation to the group of adepts (telepathically, of course, my brother) and, when it has been discussed by them, He later presents it to His group of disciples. Among them He will find one who responds more readily and intelligently than the others and this one, through his clear thinking and the power of his formulated thoughtforms, can then influence other minds. These others grasp the concept as theirs; they seize upon it and work it out into manifestation. Each regards it as his special privilege so to do and, because of this specialising faculty and his automatically engendered responsibility, he throws back of it all the energy which is his, and works and fights for his thoughtforms.

Tuy nhiên, hiện nay người ta cho rằng có thể thiết lập một điều kiện tương tự và một mối quan hệ viễn cảm giữa các đệ tử trên cõi trần. Bất kể họ thấy mình ở đâu, nhóm những nhà thần bí và thức giả này [4] cuối cùng sẽ thấy khả thi để giao tiếp với nhau và thường xuyên làm như vậy ngay cả bây giờ. Một ý tưởng thần bí cơ bản hoặc một sự mặc khải mới về chân lý đột nhiên được nhiều người công nhận và tìm thấy sự biểu hiện đồng thời thông qua phương tiện của nhiều thể trí. Không một cá nhân nào có thể tuyên bố quyền cá nhân đối với nguyên tắc hoặc chân lý được công bố. Một số thể trí đã ghi nhận nó. Tuy nhiên, thường được tuyên bố, trong một sự khái quát rộng rãi, rằng những người này đã chạm vào các dòng tư tưởng bên trong hoặc đã đáp ứng với sự tác động của Vũ Trụ Trí. Theo nghĩa đen và kỹ thuật thì không phải như vậy. Một thành viên nào đó của Thánh đoàn hành tinh tiếp cận Vũ Trụ Trí tùy theo thiên hướng và trang bị trí tuệ của Ngài, và các nhu cầu cấp thiết mà các chân sư đang làm việc cảm nhận được. Sau đó, Ngài trình bày ý tưởng mới, khám phá mới, hoặc sự mặc khải mới cho nhóm các chân sư (tất nhiên là bằng viễn cảm, người huynh đệ của tôi) và, khi Các Ngài đã thảo luận về nó, sau đó Ngài trình bày nó cho nhóm đệ tử của Ngài. Trong số họ, Ngài sẽ tìm thấy một người đáp ứng sẵn sàng và thông minh hơn những người khác và người này, thông qua tư duy rõ ràng và sức mạnh của các hình tư tưởng được hình thành của mình, sau đó có thể ảnh hưởng đến các thể trí khác. Những người khác nắm bắt khái niệm như là của họ; họ nắm lấy nó và thực hiện nó thành biểu hiện. Mỗi người coi đó là đặc quyền đặc biệt của mình để làm như vậy và, do năng lực chuyên biệt hóa này và trách nhiệm tự động nảy sinh của mình, y dồn toàn bộ năng lượng của mình để hỗ trợ ý tưởng ấy, và làm việc cũng như chiến đấu cho các hình tư tưởng của mình.

An illustration of this is to be found in the history of the League of Nations. Before He took up special work, the Master Serapis sought to bring through some constructive idea for the helping of humanity. He conceived of a world unity in the realm of politics which would work out as an intelligent banding of the nations for the preservation of international peace. He presented it to the adepts in conclave and it was felt that something could be done. [5] The Master Jesus undertook to present it to His group of disciples as He was working in the occident. One of these disciples on the inner planes, seized upon the suggestion and passed it on (or rather stepped it down) until it registered in the brain of Colonel House. He, not recording the source (of which he was totally unaware), passed it on in turn to that sixth ray aspirant, called Woodrow Wilson. Then, fed by the wealth of analogous ideas in the minds of many, it was presented to the world. It should be borne in mind that the function of a disciple is to focus a stream of energy of some special kind upon the physical plane where it can become an attractive centre of force and draw to itself similar types of ideas and thought currents which are not strong enough to live by themselves or to make a sufficiently strong impact upon the human consciousness.

Một minh họa cho điều này có thể được tìm thấy trong lịch sử của Hội Quốc Liên. Trước khi Ngài đảm nhận công việc đặc biệt, Chân sư Serapis đã tìm cách đưa ra một số ý tưởng mang tính xây dựng để giúp đỡ nhân loại. Ngài đã quan niệm về một sự thống nhất thế giới trong lĩnh vực chính trị sẽ hoạt động như một sự liên kết thông minh của các quốc gia để bảo vệ hòa bình quốc tế. Ngài đã trình bày nó cho các chân sư trong mật nghị và người ta cảm thấy rằng điều gì đó có thể được thực hiện. [5] Chân sư Jesus đã đảm nhận việc trình bày nó cho nhóm đệ tử của Ngài vì Ngài đang làm việc ở phương Tây. Một trong những đệ tử này trên các cõi bên trong, đã nắm bắt gợi ý và chuyển nó đi (hay đúng hơn là hạ thấp nó xuống) cho đến khi nó được ghi nhận trong não bộ của Đại tá House. Ông ấy, không ghi lại nguồn gốc (mà ông hoàn toàn không hay biết), đã chuyển nó đến lượt mình cho người chí nguyện cung sáu đó, được gọi là Woodrow Wilson. Sau đó, được nuôi dưỡng bởi sự phong phú của các ý tưởng tương tự trong thể trí của nhiều người, nó đã được trình bày cho thế giới. Cần ghi nhớ rằng chức năng của một đệ tử là tập trung một dòng năng lượng thuộc loại đặc biệt nào đó lên cõi trần nơi nó có thể trở thành một trung tâm thu hút mãnh lực và lôi kéo về phía mình các loại ý tưởng và dòng tư tưởng tương tự vốn không đủ mạnh để tự tồn tại hoặc tạo ra một tác động đủ mạnh lên tâm thức con người.

In union is strength. This is the second law governing telepathic communication.

Trong sự đoàn kết có sức mạnh. Đây là định luật thứ hai chi phối giao tiếp viễn cảm.

The first law is:

Định luật thứ nhất là:

1. The power to communicate is to be found in the very nature of substance itself. It lies potentially within the ether, and the significance of telepathy is to be found in the word omnipresence.

1. Quyền năng giao tiếp được tìm thấy trong chính bản chất của chất liệu. Nó nằm tiềm tàng trong dĩ thái, và ý nghĩa của viễn cảm được tìm thấy trong từ Sự Hiện Diện Khắp Nơi.

The second law is:

Định luật thứ hai là:

2. The interplay of many minds produces a unity of thought which is powerful enough to be recognised by the brain.

2. Sự tác động qua lại của nhiều thể trí tạo ra một sự thống nhất tư tưởng đủ mạnh để được bộ não ghi nhận.

Here we have a law governing a subjective activity and another law governing objective manifestation. Let us voice these laws in the simplest manner possible. When [6] each member of the group can function in his mind-consciousness, untrammelled by the brain or the emotional nature, he will discover the universality of the mental principle which is the first exoteric expression of the soul consciousness. He will then enter into the world of ideas, becoming aware of them through the sensitive receiving plate of the mind. He then seeks to find those who respond to the same type of ideas and who react to the same mental impulse, simultaneously with himself. Uniting himself to them he discovers himself to be en rapport with them.

Ở đây chúng ta có một định luật chi phối một hoạt động chủ quan và một định luật khác chi phối biểu hiện khách quan. Chúng ta hãy diễn đạt những định luật này theo cách đơn giản nhất có thể. Khi [6] mỗi thành viên của nhóm có thể hoạt động trong tâm thức-trí tuệ của mình, không bị cản trở bởi bộ não hoặc bản chất cảm xúc, y sẽ khám phá ra tính phổ quát của nguyên khí trí tuệ vốn là biểu hiện ngoại môn đầu tiên của tâm thức linh hồn. Sau đó, y sẽ bước vào thế giới của các ý tưởng, nhận biết chúng thông qua tấm thu nhận nhạy cảm của thể trí. Sau đó, y tìm cách tìm những người đáp ứng với cùng loại ý tưởng và phản ứng với cùng một xung lực trí tuệ, đồng thời với chính y. Liên kết bản thân với họ, y khám phá ra mình giao cảm với họ.

The understanding of the first law produces results in the mind or mental body. The understanding of the second law produces results in a lesser receiving station, the brain. This is possible through the strengthening of a man’s own mental reaction by the mental reaction of others, similarly receptive. It will be found therefore that this process of communication, governed by these two laws, has always been in operation among the adepts, the initiates and the senior disciples who are in physical plane bodies. Now the operation of this process is to be extended and steadily developed by the emerging group of mystics and world servers who constitute, in embryo, the world Saviour.

Việc thấu hiểu định luật thứ nhất tạo ra các kết quả trong thể trí. Việc thấu hiểu định luật thứ hai tạo ra các kết quả trong một trạm thu nhận thấp hơn, bộ não. Điều này khả thi thông qua việc tăng cường phản ứng trí tuệ của chính con người bằng phản ứng trí tuệ của những người khác, có khả năng tiếp nhận tương tự. Do đó, người ta sẽ thấy rằng quá trình giao tiếp này, được chi phối bởi hai định luật này, đã luôn hoạt động giữa các chân sư, các điểm đạo đồ và các đệ tử cao cấp đang ở trong thể xác trên cõi trần. Giờ đây, hoạt động của quá trình này sẽ được mở rộng và phát triển đều đặn bởi nhóm các nhà thần bí và những người phụng sự thế gian đang nổi lên, những người hợp thành mầm mống của Đấng Cứu Thế của thế gian.

Only those who know something of the meaning of concentration and meditation and who can hold the mind steady in the light will be able to understand the first law and comprehend that interplay of thought-directed energies which finds one terminal of expression in the mind of some inspired Thinker, and the other terminal in the mind of the attentive world server who seeks to tune in on those mind processes which hold the clue to ultimate world salvation. The thought-directing energy has for its source a Thinker Who can enter into the divine Mind, owing to His having transcended human limitation; the thought-directed receiver [7] is the man, in exoteric expression, who has aligned his brain, his mind, and his soul.

Chỉ những người biết đôi chút về ý nghĩa của sự tập trung và tham thiền và những người có thể giữ thể trí ổn định trong ánh sáng mới có thể hiểu được định luật thứ nhất và lĩnh hội sự tác động qua lại của các năng lượng được định hướng bởi tư tưởng vốn tìm thấy một đầu cực biểu hiện trong thể trí của một Tư Tưởng Gia được truyền cảm hứng nào đó, và đầu cực kia trong thể trí của người phụng sự thế gian chăm chú, người tìm cách bắt nhịp với các tiến trình trí tuệ nắm giữ manh mối cho sự cứu rỗi thế giới tối hậu. Năng lượng định hướng tư tưởng có nguồn gốc từ một Tư Tưởng Gia, Người có thể đi vào Trí thiêng liêng, nhờ việc Ngài đã siêu việt hóa giới hạn con người; người thu nhận được định hướng bởi tư tưởng [7] là con người, trong biểu hiện ngoại môn, người đã chỉnh hợp bộ não, thể trí và linh hồn của mình.

It is a fact that omnipresence, which is a law in nature and based on the fact that the etheric bodies of all forms constitute the world etheric body, makes omniscience possible. The etheric body of the planetary Logos is swept into activity by His directed will; energy is the result of His thoughtform playing in and through His energy body. This thoughtform embodies and expresses His world Purpose. All the subhuman forms of life and the human forms up to the stage of advanced man are governed by divine thought through the medium of their energy bodies which are an integral part of the whole. They react, however, unconsciously and unintelligently. Advanced humanity, the mystics and the knowers, are becoming increasingly aware of the mind which directs the evolutionary process. When this awareness is cultivated and the individual mind is brought consciously into contact with the mind of God as it expresses itself through the illumined mind of the Hierarchy of adepts, we shall have the steady growth of omniscience. This is the whole story of telepathic interplay in the true sense; it portrays the growth of that oligarchy of elect souls who will eventually rule the world, who will be chosen so to rule, and who will be recognised by the mass as eligible for that high office through the co-ordination that they have established between:

Sự thật là tính hiện diện khắp nơi, vốn là một định luật trong tự nhiên và dựa trên thực tế là thể dĩ thái của mọi hình tướng cấu thành nên thể dĩ thái thế giới, làm cho tính toàn tri trở nên khả thi. Ý chí được định hướng của Hành Tinh Thượng Đế thúc đẩy thể dĩ thái của Ngài vào hoạt động; năng lượng là kết quả của hình tư tưởng của Ngài đang hoạt động trong và thông qua thể năng lượng của Ngài. Hình tư tưởng này hiện thân và biểu hiện Mục đích thế giới của Ngài. Tất cả các hình tướng dưới nhân loại của sự sống và các hình tướng con người cho đến giai đoạn con người tiến hóa đều được chi phối bởi tư tưởng thiêng liêng thông qua môi trường của các thể năng lượng của chúng vốn là một phần không thể thiếu của tổng thể. Tuy nhiên, chúng phản ứng một cách vô thức và không thông minh. Nhân loại tiến hóa, các nhà thần bí và các thức giả, đang ngày càng nhận thức được thể trí chỉ đạo quá trình tiến hóa. Khi sự nhận thức này được trau dồi và thể trí cá nhân được đưa vào tiếp xúc một cách có ý thức với trí của Thượng đế khi nó biểu hiện qua thể trí được soi sáng của Thánh đoàn các chân sư, chúng ta sẽ có sự tăng trưởng đều đặn của tính toàn tri. Đây là toàn bộ câu chuyện về sự tác động qua lại bằng viễn cảm theo đúng nghĩa; nó mô tả sự phát triển của chế độ thiểu số của những linh hồn tinh hoa, những người cuối cùng sẽ cai trị thế giới, những người sẽ được chọn để cai trị như vậy, và những người sẽ được quần chúng công nhận là đủ tư cách cho chức vụ cao cả đó thông qua sự phối hợp mà họ đã thiết lập giữa:

1. The universal mind.

1. Vũ trụ trí.

2. Their individual mind illumined by the soul consciousness.

2. Thể trí cá nhân của họ được soi sáng bởi tâm thức linh hồn.

3. The brain, reacting to the individual mind, and

3. Bộ não, phản ứng với thể trí cá nhân, và

4. The group of those whose minds and brains are similarly tuned and telepathically related.

4. Nhóm những người có thể trí và bộ não được điều chỉnh tương tự và có quan hệ viễn cảm.

[8]

[8]

In connection with disciples and aspirants to discipleship, it is presumed that their minds are somewhat attuned to the soul; that they are also so aligned that the soul, mind and brain are coordinated and are beginning to function as a unit. This is the individual responsibility. Now comes the task of learning to be responsive to the group and to find and contact those minds which are energised by similar thought currents. This has to be cultivated. How, my brother, shall this be done? Let us consider the various types of telepathic work.

Liên quan đến các đệ tử và những người chí nguyện trở thành đệ tử, người ta cho rằng thể trí của họ có phần hòa hợp với linh hồn; rằng họ cũng được chỉnh hợp sao cho linh hồn, thể trí và bộ não được phối hợp và bắt đầu hoạt động như một đơn vị. Đây là trách nhiệm cá nhân. Bây giờ đến nhiệm vụ học cách đáp ứng với nhóm và tìm kiếm cũng như tiếp xúc với những thể trí được tiếp năng lượng bởi các dòng tư tưởng tương tự. Điều này phải được trau dồi. Người huynh đệ của tôi, điều này sẽ được thực hiện như thế nào? Chúng ta hãy xem xét các loại công việc viễn cảm khác nhau.

The undeveloped human being and the unthinking, non-mental man or woman can be and often are telepathic, but the centre through which they work is the solar plexus. The line of communication is, therefore, from solar plexus to solar plexus. This is therefore instinctual telepathy and concerns feeling in every case. It involves, invariably, radiations from the solar plexus, which in the case of the animal world serves usually as the instinctual brain. This type of telepathic communication is definitely a characteristic of the animal body of man, and one of the best illustrations of this telepathic rapport is that existing between a mother and her child. It is this type of telepathy which is predominantly present in the average spiritualistic seance. There the medium, quite unconsciously, sets up a telepathic rapport with the people in the circle. Their feelings, worries, sorrows, and desires become apparent and form part of the reading, so called. Both the sitters and the medium are functioning through the same centre. With this class of medium, and in this type of seance, the highly intelligent and mentally polarised man or woman will learn nothing, and will probably receive no messages, unless faked. Hence, therefore, when it comes to scientific investigation by trained minds, physical phenomena has predominated and not the more subtle forms of psychism. Where [9] the more subtle forms of super- or extra-sensory perception have been involved, the subjects have been either adolescent or in their early twenties and have been primarily and rightly focussed in the emotional-feeling body. This is true even when they are highly intellectual.

Con người chưa phát triển và người nam hay nữ không suy nghĩ, phi trí tuệ có thể và thường có khả năng viễn cảm, nhưng trung tâm mà qua đó họ làm việc là tùng thái dương. Do đó, đường dây giao tiếp là từ tùng thái dương đến tùng thái dương. Vì vậy đây là viễn cảm bản năng và liên quan đến cảm giác trong mọi trường hợp. Nó liên quan, luôn luôn là như vậy, đến các bức xạ từ tùng thái dương, mà trong trường hợp của thế giới động vật thường đóng vai trò là bộ não bản năng. Loại giao tiếp viễn cảm này chắc chắn là một đặc điểm của thể động vật của con người, và một trong những minh họa tốt nhất về mối quan hệ viễn cảm này là mối quan hệ tồn tại giữa người mẹ và đứa con của bà. Chính loại viễn cảm này hiện diện chủ yếu trong buổi gọi hồn thông linh trung bình. Ở đó, đồng tử, hoàn toàn vô thức, thiết lập một mối quan hệ viễn cảm với những người trong vòng tròn. Cảm xúc, lo lắng, nỗi buồn và ham muốn của họ trở nên rõ ràng và tạo thành một phần của cái gọi là bài đọc. Cả người ngồi và đồng tử đều đang hoạt động qua cùng một trung tâm. Với tầng lớp đồng tử này, và trong loại buổi gọi hồn này, người nam hay nữ có trí thông minh cao và phân cực trí tuệ sẽ không học được gì, và có lẽ sẽ không nhận được thông điệp nào, trừ khi là giả mạo. Do đó, khi nói đến cuộc điều tra khoa học bởi những bộ óc được huấn luyện, các hiện tượng vật lý đã chiếm ưu thế chứ không phải các dạng thông linh tinh tế hơn. Nơi [9] các dạng tri giác siêu cảm hoặc ngoại cảm tinh tế hơn có liên quan, các chủ thể thường ở tuổi vị thành niên hoặc đầu những năm hai mươi và chủ yếu tập trung, và tập trung đúng đắn, vào thể cảm xúc-cảm giác. Điều này đúng ngay cả khi họ có trí thức cao.

This form of telepathic communication is therefore of two kinds, with the solar plexus always involved:

Do đó, hình thức giao tiếp viễn cảm này có hai loại, với tùng thái dương luôn luôn liên quan:

a. It will be from solar plexus to solar plexus between two people who are ordinary, emotional, governed by desire, and primarily centred in the astral and animal bodies.

a. Nó sẽ là từ tùng thái dương đến tùng thái dương giữa hai người bình thường, đầy cảm xúc, bị chi phối bởi dục vọng, và chủ yếu tập trung vào thể cảm dục và thể động vật.

b. It will be between such a “solar plexus” person, if I may so call him, and a higher type whose solar plexus centre is functioning actively but whose throat centre is also alive. This type of person registers in two places—provided that the thought sensed and sent out by the solar plexus person has in it something of mental substance or energy. Pure feeling and entirely emotional emanations between people necessitate only solar plexus contact.

b. Nó sẽ là giữa một người “tùng thái dương” như vậy, nếu tôi có thể gọi y như thế, và một loại người cao hơn có trung tâm tùng thái dương hoạt động tích cực nhưng trung tâm cổ họng cũng sống động. Loại người này ghi nhận ở hai nơi—miễn là tư tưởng mà người tùng thái dương cảm nhận và gửi đi có trong đó một chút chất liệu hoặc năng lượng trí tuệ. Cảm giác thuần túy và những phát xạ hoàn toàn cảm xúc giữa mọi người chỉ đòi hỏi sự tiếp xúc tùng thái dương.

Later, when group work in telepathy is undertaken, the centres of transmission wherein high and consecrated feeling, devotion, aspiration and love are concerned and where the groups work with pure love, communication will be from heart to heart, and from a group heart to another group heart. The phrase “heart to heart talk,” so often used, is usually a misnomer at this time, but will some day be true. At present it is usually a solar plexus conversation!

Sau này, khi công việc nhóm trong viễn cảm được thực hiện, các trung tâm truyền phát nơi cảm giác cao thượng và thánh hiến, lòng sùng tín, khát vọng và tình thương có liên quan và nơi các nhóm làm việc với tình thương thuần khiết, sự giao tiếp sẽ là từ trái tim đến trái tim, và từ trái tim nhóm này đến trái tim nhóm khác. Cụm từ “nói chuyện từ trái tim đến trái tim,” thường được sử dụng, thường là một cái tên sai vào thời điểm này, nhưng một ngày nào đó sẽ đúng. Hiện tại, nó thường là một cuộc trò chuyện tùng thái dương!

The second form of telepathic work is that of mind to mind, and it is with this form of communication that the highest investigation is at this time concerned. Only mental types are involved, and the more that emotion and feeling [10] and strong desire can be eliminated, the more accurate will be the work accomplished. The strong desire to achieve success in telepathic work, and the fear of failure, are the surest ways to offset fruitful effort. In all such work as this, an attitude of non-attachment and a spirit of ‘don’t care’ are of real assistance. Experimenters along this line need to give more time and thought to the recognition of types of force. They need to realise that emotion, and desire for anything, on the part of the receiving agent create streams of emanating energy which rebuff or repulse that which seeks to make contact, such as the directed thought of someone seeking rapport. When these streams are adequately strong, they act like a boomerang and return to the emanating centre, being attracted back there by the power of the vibration which sent them forth. In this thought lies hid the cause of:

Hình thức thứ hai của công việc viễn cảm là từ thể trí đến thể trí, và chính với hình thức giao tiếp này mà cuộc điều tra cao nhất vào thời điểm này có liên quan. Chỉ các loại người trí tuệ mới tham gia, và càng loại bỏ được nhiều cảm xúc và cảm giác [10] cũng như dục vọng mạnh mẽ, thì công việc hoàn thành sẽ càng chính xác. Dục vọng mạnh mẽ đạt được thành công trong công việc viễn cảm, và nỗi sợ thất bại, là những cách chắc chắn nhất để làm hỏng nỗ lực hiệu quả. Trong tất cả các công việc như thế này, thái độ không dính mắc và tinh thần ‘không màng đến’ là sự trợ giúp thực sự. Những người thử nghiệm theo hướng này cần dành nhiều thời gian và suy nghĩ hơn để nhận biết các loại mãnh lực. Họ cần nhận ra rằng cảm xúc, và dục vọng đối với bất cứ điều gì, về phía tác nhân nhận tin tạo ra các dòng năng lượng phát xuất đẩy lùi hoặc cự tuyệt cái đang tìm cách tiếp xúc, chẳng hạn như tư tưởng được định hướng của ai đó đang tìm cách giao cảm. Khi các dòng này đủ mạnh, chúng hoạt động giống như một chiếc boomerang và quay trở lại trung tâm phát ra, bị thu hút trở lại đó bởi sức mạnh của rung động đã gửi chúng đi. Trong tư tưởng này ẩn chứa nguyên nhân của:

a. The failure on the part of the broadcasting or transmitting agent. Intense desire to make a satisfactory impression will attract the outgoing thought back again to the transmitter.

a. Sự thất bại về phía tác nhân phát tin hoặc truyền tin. Dục vọng mãnh liệt muốn tạo ấn tượng thỏa đáng sẽ thu hút tư tưởng đi ra quay trở lại với người truyền tin.

b. The failure on the part of the receiving agent whose own intense desire to be successful sends out such a stream of outgoing energy that the stream of incoming energy is met, blocked and driven back whence it came; or, if the receiver is aware of this and seeks to stem the tide of his desire, he frequently succeeds in surrounding himself with a wall of inhibited desire through which naught can penetrate.

b. Sự thất bại về phía tác nhân nhận tin mà dục vọng mãnh liệt muốn thành công của chính y gửi ra một dòng năng lượng đi ra đến nỗi dòng năng lượng đi ra ấy gặp, chặn và đẩy dòng năng lượng đi vào trở lại nơi nó xuất phát; hoặc, nếu người nhận ý thức được điều này và tìm cách ngăn chặn làn sóng dục vọng của mình, y thường thành công trong việc bao quanh mình bằng một bức tường dục vọng bị ức chế mà qua đó không gì có thể thâm nhập.

II. TELEPATHIC WORK—II. CÔNG VIỆC VIỄN CẢM

[11]

[11]

Telepathy and the allied powers will only be understood when the nature of force, of emanations and radiations, and of energy currents, is better grasped. This is rapidly coming about as science penetrates more deeply into the arcana of energies and begins to work—as does the occultist—in the world of forces.

Viễn cảm và các quyền năng liên quan sẽ chỉ được thấu hiểu khi bản chất của mãnh lực, của sự xuất lộ và bức xạ, và của các dòng năng lượng, được nắm bắt tốt hơn. Điều này đang nhanh chóng diễn ra khi khoa học thâm nhập sâu hơn vào bí mật của các năng lượng và bắt đầu làm việc—như nhà huyền bí học làm—trong thế giới của các mãnh lực.

It should also be borne in mind that it is only as the centres employed are consciously used that we have that carefully directed work which will be fruitful of results. For instance, an emotional person, using primarily the solar plexus centre, will be endeavouring to enter into rapport with a mental type. From this will result only confusion. The two parties concerned are using different centres and are sensitive to certain types of force and closed to others. Again, some people, even if mentally polarised and therefore sensitive to similar vibrations attempt to make a telepathic contact when one party is under emotional strain and therefore not responsive, or one party is intensively occupied with some mental problem and is encased in a wall of thoughtforms and therefore impervious to impressions. You can see, therefore, how a cultivation of detachment is a necessary qualification for success in telepathic work.

Cũng cần ghi nhớ rằng chỉ khi các trung tâm được sử dụng một cách có ý thức thì chúng ta mới có công việc được định hướng cẩn thận mang lại kết quả. Ví dụ, một người đầy cảm xúc, sử dụng chủ yếu trung tâm tùng thái dương, sẽ nỗ lực để đi vào mối quan hệ với một người thuộc loại trí tuệ. Điều này chỉ dẫn đến sự nhầm lẫn. Hai bên liên quan đang sử dụng các trung tâm khác nhau và nhạy cảm với một số loại mãnh lực và đóng lại với những loại khác. Một lần nữa, một số người, ngay cả khi phân cực trí tuệ và do đó nhạy cảm với các rung động tương tự, cố gắng thực hiện tiếp xúc viễn cảm khi một bên đang chịu căng thẳng cảm xúc và do đó không đáp ứng, hoặc một bên đang bận rộn sâu sắc với một vấn đề trí tuệ nào đó và bị bao bọc trong một bức tường hình tư tưởng và do đó không thấm nhận các ấn tượng. Do đó, các bạn có thể thấy việc trau dồi sự tách rời là một phẩm chất cần thiết để thành công trong công việc viễn cảm như thế nào.

All who seek to tread the Path of Discipleship are endeavouring to live in the head centre, and—through meditation—to bring in the power of the soul. The problem which you face, as disciples learning telepathic sensitivity, is founded on two things:

Tất cả những ai tìm cách bước đi trên Con Đường Đệ Tử đều đang nỗ lực để sống trong trung tâm đầu, và—thông qua tham thiền—để mang vào quyền năng của linh hồn. Vấn đề mà các bạn đối mặt, với tư cách là các đệ tử đang học về sự nhạy cảm viễn cảm, được dựa trên hai điều:

a. Upon which of your three bodies is the most active; thereby is indicated where you live subjectively most of the time. [12]

a. Thể nào trong ba thể phàm ngã của các bạn hoạt động tích cực nhất; qua đó chỉ ra nơi các bạn sống một cách chủ quan phần lớn thời gian. [12]

b. Upon which centre is the most expressive in your equipment, and through which you contact most easily modern living conditions. I mean by these words: where, literally speaking, your life energy is predominantly focussed and your sentient energy expresses itself the most.

b. Trung tâm nào biểu hiện rõ nhất trong trang bị của các bạn, và qua đó các bạn tiếp xúc dễ dàng nhất với các điều kiện sống hiện đại. Tôi muốn nói qua những từ này: nơi nào, nói theo nghĩa đen, năng lượng sự sống của các bạn tập trung chủ yếu và năng lượng cảm giác của các bạn biểu hiện nhiều nhất.

An understanding of this will make you better able to work and to make intelligent experiment. Therefore, watch yourselves with care yet impersonally, and work out the why and the wherefore of the effects produced, for by this means you will learn.

Sự thấu hiểu điều này sẽ làm cho các bạn có khả năng làm việc tốt hơn và thực hiện thử nghiệm thông minh. Do đó, hãy quan sát bản thân một cách cẩn thận nhưng không mang tính cá nhân, và tìm ra lý do tại sao và do đâu của các hiệu quả được tạo ra, vì bằng phương tiện này các bạn sẽ học hỏi.

The third type of telepathic work is that from soul to soul. This is the highest type of telepathic work possible to humanity and is that form of communication which has been responsible for all the inspirational writings of real power, the world Scriptures, the illumined utterances, the inspired speakers, and the language of symbolism. It only becomes possible where there is an integrated personality, and, at the same time, the power to focus oneself in the soul consciousness. The mind and the brain have, at the same time, to be brought into perfect rapport and alignment.

Loại công việc viễn cảm thứ ba là từ linh hồn đến linh hồn. Đây là loại công việc viễn cảm cao nhất có thể đối với nhân loại và là hình thức giao tiếp chịu trách nhiệm cho tất cả các bài viết truyền cảm hứng có sức mạnh thực sự, các Kinh điển thế giới, những lời phát biểu được soi sáng, các diễn giả được truyền cảm hứng, và ngôn ngữ của biểu tượng. Nó chỉ trở nên khả thi khi có một phàm ngã tích hợp, và đồng thời, quyền năng tập trung bản thân trong tâm thức linh hồn. Thể trí và bộ não, đồng thời, phải được đưa vào mối quan hệ và sự chỉnh hợp hoàn hảo.

It is my intention to elucidate further this science of communication, which started through the sense of touch and developed through sound, symbols, words and sentences, languages, writing, art, and on again to the stage of higher symbols, vibratory contact, telepathy, inspiration and illumination. I have, however, in the above, dealt with the general outline and we will take the specific details later.

Ý định của tôi là làm sáng tỏ thêm khoa học giao tiếp này, vốn bắt đầu thông qua xúc giác và phát triển qua âm thanh, biểu tượng, từ ngữ và câu cú, ngôn ngữ, chữ viết, nghệ thuật, và tiếp tục đến giai đoạn của các biểu tượng cao hơn, tiếp xúc rung động, viễn cảm, cảm hứng và sự soi sáng. Tuy nhiên, ở trên, tôi đã đề cập đến phác thảo chung và chúng ta sẽ đi vào các chi tiết cụ thể sau.

The work of the telepathic communicators is one of the most important in the coming new age, and it will be of value to gain some idea of its significance and techniques. I [13] would, in summarising the above instruction, state that in connection with individuals:

Công việc của các nhà giao tiếp viễn cảm là một trong những công việc quan trọng nhất trong kỷ nguyên mới sắp tới, và sẽ có giá trị khi có được một số ý tưởng về ý nghĩa và kỹ thuật của nó. Tôi [13] muốn, khi tóm tắt hướng dẫn trên, tuyên bố rằng liên quan đến các cá nhân:

1. Telepathic communication is

1. Giao tiếp viễn cảm là

a. Between soul and mind.

a. Giữa linh hồn và thể trí.

b. Between soul, mind and brain.

b. Giữa linh hồn, thể trí và bộ não.

This is as far as interior individual development is concerned.

Điều này là xét về phương diện phát triển nội tâm cá nhân.

2. When it is found between individuals, telepathic communication is

2. Khi được tìm thấy giữa các cá nhân, giao tiếp viễn cảm là

a. Between soul and soul.

a. Giữa linh hồn và linh hồn.

b. Between mind and mind.

b. Giữa thể trí và thể trí.

c. Between solar plexus and solar plexus, and therefore purely emotional.

c. Giữa tùng thái dương và tùng thái dương, và do đó hoàn toàn thuộc về cảm xúc.

d. Between all these three aspects of energy simultaneously, in the case of very advanced people.

d. Giữa tất cả ba phương diện năng lượng này đồng thời, trong trường hợp của những người rất tiến hóa.

3. Telepathic communication is also:

3. Giao tiếp viễn cảm cũng là:

a. Between a Master and His disciples or disciple.

a. Giữa một Chân sư và các đệ tử hoặc một đệ tử của Ngài.

b. Between a Master and His group and a group or groups of sensitives and aspirants on the physical plane.

b. Giữa một Chân sư và nhóm của Ngài và một nhóm hoặc các nhóm những người nhạy cảm và người chí nguyện trên cõi trần.

c. Between subjective and objective groups.

c. Giữa các nhóm chủ quan và khách quan.

d. Between the occult Hierarchy and groups of disciples on the physical plane.

d. Giữa Thánh đoàn huyền môn và các nhóm đệ tử trên cõi trần.

e. Between the Hierarchy and the New Group of World Servers in order to reach humanity and lift it nearer the goal.

e. Giữa Thánh đoàn và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian để tiếp cận nhân loại và nâng nó lên gần hơn với mục tiêu.

This concerns the new science of group telepathic communication, of which herd or mass telepathy (so well known) is the lowest known expression. This instinctual telepathy which is shown by a flight of birds, acting as a unit, or that animal telepathy which serves to govern so mysteriously the movements of herds of animals, and the rapid transmission [14] of information among the savage races and non-intelligent peoples—these are all instances of that lower externalisation of an inner spiritual reality. An intermediate stage of this instinctual activity, based largely on solar plexus reactions, can be seen in modern mass psychology and public opinion. It is, as you know, predominantly emotional, unintelligent, astral and fluidic in its expression. This is changing rapidly and shifting into the realm of what is called “intelligent public opinion,” but this is, as yet, slow. It involves the activity of the throat and ajna centres. We have, therefore:

Điều này liên quan đến khoa học mới về giao tiếp viễn cảm nhóm, mà viễn cảm bầy đàn hay viễn cảm đại chúng (rất phổ biến) là biểu hiện thấp nhất được biết đến. Viễn cảm bản năng này được thể hiện bởi một đàn chim đang bay, hành động như một đơn vị, hoặc viễn cảm động vật dùng để chi phối một cách bí ẩn các chuyển động của các đàn thú, và sự truyền tải nhanh chóng [14] thông tin giữa các chủng tộc man dã và những người thiếu thông minh—tất cả những điều này đều là các ví dụ về sự ngoại hiện thấp hơn đó của một thực tại tinh thần bên trong. Một giai đoạn trung gian của hoạt động bản năng này, dựa phần lớn vào các phản ứng tùng thái dương, có thể thấy trong tâm lý học đám đông hiện đại và dư luận công chúng. Như các bạn biết, nó chủ yếu là cảm xúc, thiếu thông minh, thuộc về cảm dục và linh động trong biểu hiện của nó. Điều này đang thay đổi nhanh chóng và chuyển sang lĩnh vực của cái được gọi là “dư luận công chúng thông minh,” nhưng điều này, cho đến nay, vẫn còn chậm. Nó liên quan đến hoạt động của các trung tâm cổ họng và ajna. Do đó, chúng ta có:

1. Instinctual telepathy.

1. Viễn cảm bản năng.

2. Mental telepathy.

2. Viễn cảm trí tuệ.

3. Intuitional telepathy.

3. Viễn cảm trực giác.

I would remind you right at the outset that sensitivity to the thoughts of one’s Master, sensitivity to the world of ideas, and sensitivity to intuitional impressions are all forms of telepathic sensitivity.

Tôi muốn nhắc nhở các bạn ngay từ đầu rằng sự nhạy cảm với các tư tưởng của Chân sư mình, sự nhạy cảm với thế giới của các ý tưởng, và sự nhạy cảm với các ấn tượng trực giác đều là các hình thức của sự nhạy cảm viễn cảm.

In any consideration of this theme, it is obvious that there are three major factors which must be considered:

Trong bất kỳ sự xem xét nào về chủ đề này, rõ ràng là có ba yếu tố chính phải được xem xét:

1. The initiating agent. I use this word with deliberate intent, as the power to work telepathically, both as initiating agent and as recipient, is closely connected with initiation, and is one of the indications that a man is ready for that process.

1. Tác nhân khởi xướng. Tôi sử dụng từ này với ý định có chủ đích, vì quyền năng làm việc bằng viễn cảm, cả với tư cách là tác nhân khởi xướng và người nhận, có liên quan mật thiết với điểm đạo, và là một trong những dấu hiệu cho thấy một người đã sẵn sàng cho quá trình đó.

2. The recipient of that which is conveyed to him on the “wings of thought.”

2. Người nhận cái được chuyển đến y trên “đôi cánh của tư tưởng.”

3. The medium through which it is intended to convey the transfer of thought, of idea, of wish, of imprint, and therefore of some form of knowledge.

3. Môi trường dự kiến dùng để truyền tư tưởng, ý tưởng, mong muốn và dấu ấn, và do đó của một hình thức tri thức nào đó.

[15]

[15]

This is the simplest statement of the elementary mechanics of the process. This indicates, likewise, the most elementary comprehension of the thought covered so frequently by the Bhagavad Gita in the words which we have translated in the West by the terms: the Knower, the Field of Knowledge, and the Known. You have oft been told that every sacred book, such as the Bhagavad Gita, for instance, has various interpretations, dependent upon the point in evolution of the reader, or seeker after truth. This interpretation of the Bhagavad Gita in terms of Communicator, Communication and Communicant still demands elucidation, and in the idea which I have above conveyed to you, I have given you a hint.

Đây là tuyên bố đơn giản nhất về cơ chế sơ đẳng của quá trình. Tương tự như vậy, điều này chỉ ra sự hiểu biết sơ đẳng nhất về tư tưởng thường được đề cập bởi Chí Tôn Ca trong những từ ngữ mà chúng ta đã dịch ở phương Tây bằng các thuật ngữ: Thức Giả, Trường Tri Thức, và Cái Được Biết. Các bạn thường được bảo rằng mọi cuốn sách thiêng liêng, chẳng hạn như Chí Tôn Ca, đều có nhiều cách giải thích khác nhau, phụ thuộc vào điểm tiến hóa của người đọc, hay người tìm kiếm chân lý. Sự giải thích này về Chí Tôn Ca theo các thuật ngữ Người Truyền Tin, Sự Truyền Tin và Người Nhận Tin vẫn đòi hỏi sự làm sáng tỏ, và trong ý tưởng mà tôi đã truyền đạt cho các bạn ở trên, tôi đã đưa ra cho các bạn một gợi ý.

III. THREE TYPES OF TELEPATHY—III. BA LOẠI VIỄN CẢM

[16]

[16]

Let us now discuss in some detail the three types of telepathy enumerated above: instinctual telepathy, mental telepathy, and intuitional telepathy. These three produce differing modes of activity and tap (to use a familiar word) differing areas of communication.

Bây giờ chúng ta hãy thảo luận chi tiết hơn về ba loại viễn cảm được liệt kê ở trên: viễn cảm bản năng, viễn cảm trí tuệ, và viễn cảm trực giác. Ba loại này tạo ra các phương thức hoạt động khác nhau và khai thác (sử dụng một từ quen thuộc) các khu vực giao tiếp khác nhau.

1. Instinctual telepathy is based upon those impacts of energy which come from one etheric body and make an impression upon another. The medium of communication employed is, as we have seen, the etheric substance of all bodies, which is necessarily one with the etheric substance of the planet. The area around the solar plexus (though not in direct relation to that centre as it exists as an instrument differentiated from all other instruments or centres) is sensitive to the impact of etheric energy, for this area in the etheric body is in direct “touch” with the astral body, the feeling body. Also, close to the solar plexus is found that centre near the spleen which is the direct instrument for the entrance of prana into the human mechanism. This instinctual response to etheric contact was the mode of communication in Lemurian times, and largely took the place of thought and of speech. It concerned itself primarily with two types of impression: that which had to do with the instinct of self-preservation, and that which had to do with self-reproduction. A higher form of this instinctual telepathy has been preserved for us in the expression we so frequently use, “I have a feeling that…,” and allied phrases. These are more definitely astral in their implications and work through the astral substance, using the solar plexus area as a sensitive plate for impact and impression.

1. Viễn cảm bản năng dựa trên những tác động năng lượng đến từ một thể dĩ thái này và tạo ấn tượng lên thể dĩ thái khác. Môi trường giao tiếp được sử dụng, như chúng ta đã thấy, là chất liệu dĩ thái của tất cả các thân thể, vốn nhất thiết phải đồng nhất với chất liệu dĩ thái của hành tinh. Khu vực xung quanh tùng thái dương (mặc dù không liên quan trực tiếp đến trung tâm đó như nó tồn tại với tư cách một công cụ khác biệt với tất cả các công cụ hay trung tâm khác) nhạy cảm với tác động của năng lượng dĩ thái, vì khu vực này trong thể dĩ thái có sự “tiếp xúc” trực tiếp với thể cảm dục, thể cảm giác. Ngoài ra, gần tùng thái dương còn tìm thấy trung tâm gần lá lách vốn là công cụ trực tiếp cho sự xâm nhập của prana vào cơ chế con người. Sự đáp ứng bản năng này đối với tiếp xúc dĩ thái là phương thức giao tiếp trong thời Lemuria, và phần lớn thay thế cho tư tưởng và lời nói. Nó liên quan chủ yếu đến hai loại ấn tượng: loại liên quan đến bản năng tự bảo tồn, và loại liên quan đến sự tự sinh sản. Một hình thức cao hơn của viễn cảm bản năng này đã được bảo tồn cho chúng ta trong cách diễn đạt mà chúng ta thường xuyên sử dụng, “Tôi có cảm giác rằng…,” và các cụm từ liên quan. Những điều này mang ý nghĩa cảm dục rõ ràng hơn và hoạt động qua chất liệu cảm dục, sử dụng khu vực tùng thái dương như một tấm thu nhận nhạy cảm cho tác động và ấn tượng.

[17]

[17]

One point should here be made clear, and upon it you should ponder. This astral (not etheric) sensitivity, or “feeling telepathy” is basically the Atlantean mode of communication, and involved finally the use of the solar plexus centre itself as the receiving agent; the emitting agent (if I may use such a phrase) worked, however, through the entire area of the diaphragm. It was as though there appeared, through emergence, a gathering of forces or outgoing waves of energy in that part of the human vehicle. The relatively wide area from which the information was sent out acted as a large general distributor; the area which received the impression, however, was more localised, involving only the solar plexus. The reason for this can be found in the fact that in Atlantean days the human being was still unable to think, as we understand thinking. The whole lower part of the body, in a sense difficult for us to grasp, was given up to feeling; the communicator’s one thought-contribution was the name of the recipient, plus the name or noun form of that which was the idea to be conveyed. This embryo thought winged its way to its goal, and the powerful “feeling” apparatus of the solar plexus received it (acting like a magnet) and drew the “feeling impression” powerfully there, drawing thus upon the communicator. It is this process which is pursued when, for instance, some mother “feels” that some danger threatens her child, or that some happening is taking place in connection with her child. She is thus sometimes enabled to send, by the medium of instinctual love, a most definite warning. The solar plexus is involved where the recipient is concerned; the area around the diaphragm is involved where the communicator is concerned.

Một điểm cần được làm rõ ở đây, và các bạn nên suy ngẫm về nó. Sự nhạy cảm cảm dục (không phải dĩ thái) này, hay “viễn cảm cảm giác” về cơ bản là phương thức giao tiếp Atlantis, và cuối cùng liên quan đến việc sử dụng chính trung tâm tùng thái dương làm tác nhân nhận tin; tuy nhiên, tác nhân phát tin (nếu tôi có thể sử dụng cụm từ như vậy) đã làm việc qua toàn bộ khu vực cơ hoành. Dường như, thông qua sự xuất lộ, xuất hiện một sự tập hợp các mãnh lực hoặc các sóng năng lượng đi ra trong phần đó của hiện thể con người. Khu vực tương đối rộng từ đó thông tin được gửi đi hoạt động như một bộ phân phối chung lớn; tuy nhiên, khu vực nhận ấn tượng lại cục bộ hơn, chỉ liên quan đến tùng thái dương. Lý do cho điều này có thể tìm thấy trong thực tế là vào thời Atlantis, con người vẫn chưa thể suy nghĩ, như chúng ta hiểu về suy nghĩ. Toàn bộ phần dưới của cơ thể, theo một nghĩa khó nắm bắt đối với chúng ta, đã được dành cho cảm giác; đóng góp tư tưởng duy nhất của người truyền tin là tên của người nhận, cộng với tên hoặc dạng danh từ của cái là ý tưởng cần được truyền đạt. Tư tưởng phôi thai này đã bay đến mục tiêu của nó, và bộ máy “cảm giác” mạnh mẽ của tùng thái dương đã nhận nó (hoạt động giống như một nam châm) và lôi kéo “ấn tượng cảm giác” một cách mạnh mẽ vào đó, do đó thu hút người truyền tin. Chính quá trình này được theo đuổi khi, ví dụ, một người mẹ nào đó “cảm thấy” rằng mối nguy hiểm nào đó đang đe dọa con mình, hoặc điều gì đó đang diễn ra liên quan đến con mình. Do đó, đôi khi bà có thể gửi đi, bằng phương tiện của tình thương bản năng, một cảnh báo dứt khoát nhất. Ở phía người nhận, tùng thái dương tham gia; ở phía người truyền tin, khu vực xung quanh cơ hoành tham gia.

2. In our race, the Aryan, instinctual telepathic work is still the major expression of this spiritual possibility, but at the same time mental telepathy is becoming increasingly [18] prevalent. This will be more and more so, as time goes on. It is most difficult in this transition period to define, or differentiate, the peculiar areas involved, because the solar plexus is still exceedingly active. What we have today is a mixture of instinctual telepathy and the beginning of mental telepathy. This manifests, however, very seldom, and then only in the educated classes. With the masses, instinctual telepathy is still the mode of contact. The throat centre is primarily involved where mental telepathy is concerned; there is also sometimes a little heart activity and always a measure of solar plexus reaction. Hence our problem. Frequently the communicator will send a message via the throat centre, and the recipient will still use the solar plexus. This is the most frequent method, and I would ask you to remember this. The sending out of a message may involve, and frequently does in connection with disciples, the throat centre, but the recipient will probably use the solar plexus centre. The throat centre is the centre, par excellence, or the medium, of all creative work. The heart and the throat, however, must eventually be used in synthesis. I stated the reason for this earlier in the words: “Only from the heart centre can stream, in reality, those lines of energy which link and bind together. It was for this reason that I have assigned certain meditations which stimulated the heart centre into action, linking the heart centre (between the shoulder blades) to the head centre, through the medium of the higher correspondence to the heart centre, found within the head centre (the thousand petalled lotus). This heart centre, when adequately radiatory and magnetic, relates disciples to each other and to all the world. It will also produce that telepathic interplay which is so much to be desired and which is so constructively useful to the spiritual Hierarchy—provided it is established within a group of pledged disciples, [19] dedicated to the service of humanity. They can then be trusted.” (Discipleship in the New Age, I. Page 87)

2. Trong giống dân của chúng ta, giống dân Arya, công việc viễn cảm bản năng vẫn là biểu hiện chính của khả năng tinh thần này, nhưng đồng thời viễn cảm trí tuệ đang trở nên ngày càng [18] phổ biến. Điều này sẽ càng ngày càng như vậy, khi thời gian trôi qua. Rất khó khăn trong giai đoạn chuyển tiếp này để xác định, hoặc phân biệt, các khu vực đặc biệt liên quan, bởi vì tùng thái dương vẫn còn cực kỳ hoạt động. Những gì chúng ta có ngày nay là sự pha trộn của viễn cảm bản năng và sự khởi đầu của viễn cảm trí tuệ. Tuy nhiên, điều này biểu hiện rất hiếm khi, và sau đó chỉ trong các tầng lớp có giáo dục. Với quần chúng, viễn cảm bản năng vẫn là phương thức tiếp xúc. Trung tâm cổ họng chủ yếu tham gia vào viễn cảm trí tuệ; đôi khi cũng có một chút hoạt động của tim và luôn luôn có một mức độ phản ứng tùng thái dương. Do đó vấn đề của chúng ta. Thường xuyên người truyền tin sẽ gửi một thông điệp thông qua trung tâm cổ họng, và người nhận vẫn sẽ sử dụng tùng thái dương. Đây là phương pháp thường xuyên nhất, và tôi muốn yêu cầu các bạn nhớ điều này. Việc gửi đi một thông điệp có thể sử dụng trung tâm cổ họng, và thường là như vậy ở các đệ tử, nhưng người nhận có lẽ sẽ sử dụng trung tâm tùng thái dương. Trung tâm cổ họng là trung tâm, ưu việt, hay phương tiện, của tất cả các công việc sáng tạo. Tuy nhiên, tim và cổ họng cuối cùng phải được sử dụng trong sự tổng hợp. Tôi đã nêu lý do cho điều này trước đó trong các từ ngữ: “Chỉ từ trung tâm tim mới có thể tuôn chảy, trong thực tế, những dòng năng lượng liên kết và gắn bó với nhau. Chính vì lý do này mà tôi đã chỉ định một số bài thiền kích thích trung tâm tim vào hoạt động, liên kết trung tâm tim (giữa hai bả vai) với trung tâm đầu, thông qua phương tiện của sự tương ứng cao hơn với trung tâm tim, được tìm thấy bên trong trung tâm đầu (hoa sen ngàn cánh). Trung tâm tim này, khi bức xạ và từ tính đầy đủ, liên hệ các đệ tử với nhau và với tất cả thế giới. Nó cũng sẽ tạo ra sự tác động qua lại bằng viễn cảm vốn rất được mong muốn và hữu ích mang tính xây dựng cho Thánh đoàn—miễn là nó được thiết lập trong một nhóm các đệ tử đã cam kết, [19] tận hiến cho việc phụng sự nhân loại. Sau đó, họ có thể được tin cậy.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, I. Trang 87)

3. Intuitional telepathy is one of the developments upon the Path of Discipleship. It is one of the fruits of true meditation. The area involved is the head and throat, and the three centres which will be rendered active in the process are the head centre, which is receptive to impression from higher sources, and the ajna centre which is the recipient of the idealistic intuitional impressions; this ajna centre can then “broadcast” that which is received and recognised, using the throat centre as the creative formulator of thought, and the factor which embodies the sensed or intuited idea.

3. Viễn cảm trực giác là một trong những sự phát triển trên Con Đường Đệ Tử. Nó là một trong những quả của tham thiền chân chính. Khu vực liên quan là đầu và cổ họng, và ba trung tâm sẽ được làm cho hoạt động trong quá trình này là trung tâm đầu, vốn tiếp nhận ấn tượng từ các nguồn cao hơn, và trung tâm ajna vốn tiếp nhận các ấn tượng trực giác lý tưởng; trung tâm ajna này sau đó có thể “phát sóng” những gì được tiếp nhận và nhận biết, sử dụng trung tâm cổ họng như người định hình sáng tạo của tư tưởng, và yếu tố hiện thân cho ý tưởng được cảm nhận hay nắm bắt bằng trực giác.

It will be apparent to you, therefore, how necessary it is to have a better recognition of the activity of the centres, as they are detailed in the Hindu philosophy; and until there is some real understanding of the part the vital body plays as the broadcaster and as the recipient of feelings, thoughts and ideas, there will be little progress made in the right understanding of modes of communication.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ sự cần thiết phải có một sự nhận biết rõ hơn về hoạt động của các trung tâm, như chúng được trình bày chi tiết trong triết học Hindu; và cho đến khi có một sự thấu hiểu thực sự về vai trò của thể sinh lực với tư cách là người phát sóng và người nhận các cảm giác, tư tưởng và ý tưởng, sẽ có rất ít tiến bộ đạt được trong sự thấu hiểu đúng đắn về các phương thức giao tiếp.

There is an interesting parallel between the three modes of telepathic work and their three techniques of accomplishment, and the three major ways of communicating on Earth:

Có một sự tương đồng thú vị giữa ba phương thức của công việc viễn cảm và ba kỹ thuật thành tựu của chúng, và ba cách giao tiếp chính trên Trái Đất:

Viễn cảm bản năng

đi lại bằng tàu hỏa, các ga ở khắp nơi

điện báo

Instinctual telepathy

train travel, stations everywhere

telegraph

Viễn cảm trí tuệ

đi lại trên đại dương, các cảng ở rìa tất cả các vùng đất

điện thoại

Mental telepathy

ocean travel, ports on the periphery of all lands

telephone

Viễn cảm trực giác

đi lại bằng đường hàng không, nơi hạ cánh

vô tuyến

Intuitional telepathy

air travel, landing place

radio

That which is going on in connection with the human consciousness is ever externalised or finds its analogy upon the physical plane, and so it is in connection with developed sensitivity to impression.

Cái đang diễn ra liên quan đến tâm thức con người luôn được ngoại hiện hoặc tìm thấy sự tương đồng của nó trên cõi trần, và điều này cũng vậy liên quan đến sự nhạy cảm đã phát triển đối với ấn tượng.

There is still another way in which we can look at the entire subject of response between broadcasting areas of [20] consciousness and the receiving areas of consciousness. We might list the divisions of this process. Much must remain theoretical, and little can, as yet, be worked out in practice. However, let me list the various forms of telepathic work for your general instruction:

Vẫn còn một cách khác mà chúng ta có thể xem xét toàn bộ chủ đề về sự đáp ứng giữa các khu vực phát truyền của [20] tâm thức và các khu vực nhận tin của tâm thức. Chúng ta có thể liệt kê các phân chia của quá trình này. Nhiều điều vẫn phải duy trì tính lý thuyết, và rất ít, cho đến nay, có thể được thực hiện trong thực tế. Tuy nhiên, hãy để tôi liệt kê các hình thức khác nhau của công việc viễn cảm cho sự hướng dẫn chung của các bạn:

1. Telepathic work from solar plexus to solar plexus. With this we have already dealt. This is closely connected with feeling, and little or no thought is involved; it concerns emotions (fear, hate, disgust, love, desire and many other purely astral reactions). It is carried on instinctively and below the diaphragm.

1. Công việc viễn cảm từ tùng thái dương đến tùng thái dương. Với điều này chúng ta đã đề cập. Điều này liên quan chặt chẽ với cảm giác, và rất ít hoặc không có tư tưởng nào liên quan; nó liên quan đến các cảm xúc (sợ hãi, căm ghét, ghê tởm, tình yêu, dục vọng và nhiều phản ứng hoàn toàn cảm dục khác). Nó được thực hiện theo bản năng và bên dưới cơ hoành.

2. Telepathic work from mind to mind. This is beginning to be possible, and many more people are capable of this kind of communication than is now realised. People today do not know whence various mental impressions come, and this greatly enhances the complexity of life at this time and increases the mental problem of thousands.

2. Công việc viễn cảm từ thể trí đến thể trí. Điều này đang bắt đầu trở nên khả thi, và nhiều người có khả năng giao tiếp loại này hơn là hiện nay được nhận ra. Con người ngày nay không biết các ấn tượng trí tuệ khác nhau đến từ đâu, và điều này làm tăng đáng kể sự phức tạp của cuộc sống vào thời điểm này và làm gia tăng vấn đề trí tuệ của hàng ngàn người.

3. Telepathic work from heart to heart. This type of impression is the sublimation of the “feeling” response registered earlier upon the ladder of evolution in the solar plexus. It concerns only group impressions, and is the basis of the condition spoken of in the Bible in connection with the greatest Sensitive humanity has ever produced, the Christ. There He is referred to as “A man of sorrows and acquainted with grief,” but in this condition no personal sorrow or grief is involved. It is simply the consciousness of the sorrow of the world and the weight of grief under which humanity struggles. “The fellowship of Christ’s suffering” is the reaction of the disciple to the same world condition. This is the true “broken heart,” and is as yet a very rare thing to find. The usual broken heart is literally a disrupted solar plexus centre, bringing complete demolition of what is occultly called “the centre of feeling,” and consequently the wrecking of the nervous system. It is [21] really brought about by a failure to handle conditions as a soul.

3. Công việc viễn cảm từ trái tim đến trái tim. Loại ấn tượng này là sự thăng hoa của phản ứng “cảm giác” được ghi nhận trước đó trên thang tiến hóa trong tùng thái dương. Nó chỉ liên quan đến các ấn tượng nhóm, và là cơ sở của điều kiện được nói đến trong Kinh Thánh liên quan đến Người Nhạy Cảm vĩ đại nhất mà nhân loại từng sản sinh, Đức Christ. Ở đó Ngài được gọi là “Một người của những nỗi buồn và quen thuộc với khổ đau,” nhưng trong điều kiện này không có nỗi buồn hay khổ đau cá nhân nào liên quan. Nó chỉ đơn giản là tâm thức về nỗi buồn của thế giới và sức nặng của khổ đau mà nhân loại đang đấu tranh dưới đó. “Sự thông công trong sự đau khổ của Đức Christ” là phản ứng của người đệ tử đối với cùng điều kiện thế giới đó. Đây là “trái tim tan vỡ” thực sự, và cho đến nay là một điều rất hiếm gặp. Trái tim tan vỡ thông thường theo nghĩa đen là một trung tâm tùng thái dương bị phá vỡ, mang lại sự phá hủy hoàn toàn cái được gọi một cách huyền bí là “trung tâm cảm giác,” và hậu quả là sự tàn phá hệ thần kinh. Nó [21] thực sự được mang lại bởi sự thất bại trong việc ứng phó với hoàn cảnh với tư cách một linh hồn.

4. Telepathic work from soul to soul. This is, for humanity, the highest possible type of work. When a man can begin, as a soul, to respond to other souls and their impacts and impressions, then he is rapidly becoming ready for the processes which lead to initiation.

4. Công việc viễn cảm từ linh hồn đến linh hồn. Đối với nhân loại, đây là loại công việc cao nhất có thể. Khi một người có thể bắt đầu, như một linh hồn, đáp ứng với các linh hồn khác và các tác động cũng như ấn tượng của họ, thì y đang nhanh chóng trở nên sẵn sàng cho các quá trình dẫn đến điểm đạo.

Two Other Groups of Telepathic Possibilities—Hai Nhóm Khả Năng Viễn Cảm Khác

There are two other groups of telepathic possibilities which I would like to list for you. They are possibilities only when the four above-mentioned groups of telepathic impression are beginning to form a conscious part of the disciple’s experience.

Có hai nhóm khả năng viễn cảm khác mà tôi muốn liệt kê cho các bạn. Chúng chỉ là những khả năng khi bốn nhóm ấn tượng viễn cảm đã đề cập ở trên đang bắt đầu trở thành một phần được nhận biết có ý thức trong trải nghiệm của người đệ tử.

5. Telepathic work between soul and mind. This is the technique whereby the mind is “held steady in the light,” and then becomes aware of the content of the soul’s consciousness, an innate content, or that which is part of the group life of the soul on its own level, and when in telepathic communication with other souls, as mentioned under our fourth heading. This is the true meaning of intuitional telepathy. Through this means of communication the mind of the disciple is fertilised with the new and spiritual ideas; he becomes aware of the great Plan; his intuition is awakened. One point should here be borne in mind, which is oft forgotten: The inflow of the new ideas from the buddhic levels, thus awakening the intuitional aspect of the disciple, indicates that his soul is beginning to integrate consciously and definitely with the Spiritual Triad, and therefore to identify itself less and less with the lower reflection, the personality. This mental sensitivity and rapport between soul and mind remain for a long time relatively inchoate on the mental plane. That which is sensed remains too vague or too abstract for formulation. It is the stage of the mystical vision and of mystical unfoldment.

5. Công việc viễn cảm giữa linh hồn và thể trí. Đây là kỹ thuật nhờ đó thể trí được “giữ ổn định trong ánh sáng,” và sau đó nhận biết nội dung của tâm thức linh hồn, một nội dung bẩm sinh, hoặc cái là một phần của sự sống nhóm của linh hồn trên cấp độ riêng của nó, và khi trong giao tiếp viễn cảm với các linh hồn khác, như đã đề cập dưới tiêu đề thứ tư của chúng ta. Đây là ý nghĩa thực sự của viễn cảm trực giác. Thông qua phương tiện giao tiếp này, thể trí của người đệ tử được làm phong phú bằng các ý tưởng mới mang tính tinh thần; y nhận biết Thiên Cơ vĩ đại; trực giác của y được đánh thức. Một điểm cần được ghi nhớ ở đây, vốn thường bị lãng quên: Sự tuôn chảy vào của các ý tưởng mới từ các cõi bồ đề, do đó đánh thức phương diện trực giác của người đệ tử, chỉ ra rằng linh hồn y đang bắt đầu tích hợp một cách có ý thức và dứt khoát với Tam Nguyên Tinh Thần, và do đó đồng nhất hóa bản thân ngày càng ít đi với phản chiếu thấp hơn, phàm ngã. Sự nhạy cảm và mối quan hệ trí tuệ này giữa linh hồn và thể trí vẫn còn tương đối sơ khai trong một thời gian dài trên cõi trí. Cái được cảm nhận vẫn còn quá mơ hồ hoặc quá trừu tượng để định hình. Đó là giai đoạn của linh ảnh thần bí và của sự mở ra thần bí.

6. Telepathic work between soul, mind and brain. In [22] this stage the mind still remains the recipient of impression from the soul but, in its turn, it becomes a “transmitting agent” or communicator. The impressions received from the soul, and the intuitions registered as coming from the Spiritual Triad, via the soul, are now formulated into thoughts; the vague ideas and the vision hitherto unexpressed can now be clothed in form and sent out as embodied thoughtforms to the brain of the disciple. In time, and as the result of technical training, the disciple can in this way reach the mind and brains of other disciples. This is an exceedingly interesting stage. It constitutes one of the major rewards of right meditation and involves much true responsibility. You will find more anent this stage of telepathy in my other books, particularly A Treatise on White Magic. (Pages 176-180, 415, 427-428, 477-478)

6. Công việc viễn cảm giữa linh hồn, thể trí và bộ não. Trong [22] giai đoạn này, thể trí vẫn là bộ phận tiếp nhận ấn tượng từ linh hồn nhưng, đến lượt mình, nó trở thành một “tác nhân truyền dẫn” hay người truyền tin. Các ấn tượng nhận được từ linh hồn, và các trực giác được ghi nhận là đến từ Tam Nguyên Tinh Thần, thông qua linh hồn, giờ đây được định hình thành các tư tưởng; các ý tưởng mơ hồ và linh ảnh cho đến nay chưa được biểu hiện giờ đây có thể được khoác lấy hình tướng và gửi đi như các hình tư tưởng đã hiện thân đến bộ não của người đệ tử. Theo thời gian, và là kết quả của việc huấn luyện kỹ thuật, người đệ tử có thể theo cách này tiếp cận thể trí và bộ não của các đệ tử khác. Đây là một giai đoạn cực kỳ thú vị. Nó cấu thành một trong những phần thưởng chính của tham thiền đúng đắn và liên quan đến nhiều trách nhiệm thực sự. Các bạn sẽ tìm thấy nhiều hơn về giai đoạn viễn cảm này trong các cuốn sách khác của tôi, đặc biệt là Luận về Chánh Thuật. (Trang 176-180, 415, 427-428, 477-478)

This much that I have outlined here is practically all that concerns man in his own inner individual contacts and work and training. There is, however, a whole range of telepathic contacts which should be noted because they constitute the goal for humanity.

Bấy nhiêu điều mà tôi đã phác thảo ở đây thực tế là tất cả những gì liên quan đến con người trong các tiếp xúc và công việc cũng như sự huấn luyện cá nhân bên trong của chính y. Tuy nhiên, có cả một loạt các tiếp xúc viễn cảm cần được lưu ý bởi vì chúng cấu thành mục tiêu cho nhân loại.

7. Telepathic work between a Master (the focal point of a group) and the disciple in the world. It is an occult truth that no man is really admitted into a Master’s group, as an accepted disciple, until he has become spiritually impressionable and can function as a mind in collaboration with his own soul. Prior to that he cannot be a conscious part of a functioning group on the inner planes gathered around a personalised force, the Master; he cannot work in true rapport with his fellow disciples. But when he can work somewhat as a conscious soul, then the Master can begin to impress him with group ideas via his own soul. He hovers then for quite a while upon the periphery of the group. Eventually, as his spiritual sensitivity increases, he [23] can be definitely impressed by the Master and taught the technique of contact. Later, the group of disciples, functioning as one synthetic thoughtform, can reach him and thus automatically he becomes one of them. To those who have the true esoteric sense, the above paragraph will convey a good deal of information, hitherto hidden.

7. Công việc viễn cảm giữa một Chân sư (tiêu điểm của một nhóm) và người đệ tử trong thế gian. Một sự thật huyền bí là không ai thực sự được nhận vào nhóm của một Chân sư, như một đệ tử được chấp nhận, cho đến khi y trở nên có thể tiếp nhận ấn tượng tinh thần và có thể hoạt động như một thể trí trong sự cộng tác với linh hồn của chính mình. Trước đó, y không thể là một phần có ý thức của một nhóm đang hoạt động trên các cõi bên trong tập hợp xung quanh một mãnh lực được nhân cách hóa, Chân sư; y không thể làm việc trong sự giao cảm thực sự với các đệ tử đồng môn của mình. Nhưng khi y có thể làm việc đôi chút như một linh hồn có ý thức, thì Chân sư có thể bắt đầu gây ấn tượng cho y với các ý tưởng nhóm thông qua linh hồn của chính y. Sau đó y ở vùng ngoại vi của nhóm trong một thời gian khá lâu. Cuối cùng, khi sự nhạy cảm tinh thần của y gia tăng, y [23] có thể được Chân sư gây ấn tượng một cách dứt khoát và dạy kỹ thuật tiếp xúc. Sau này, nhóm các đệ tử, hoạt động như một hình tư tưởng tổng hợp, có thể tiếp cận y và do đó y tự động trở thành một trong số họ. Đối với những người có ý thức huyền môn thực sự, đoạn văn trên sẽ truyền tải rất nhiều thông tin, cho đến nay vẫn còn ẩn giấu.

8. Telepathic work between a Master and His group. This is the mode of work whereby a Master trains and works through His disciples. He impresses them simultaneously with an idea or an aspect of truth. By watching their reactions, He can gauge the united activity of the group and the simultaneity of their response.

8. Công việc viễn cảm giữa một Chân sư và nhóm của Ngài. Đây là phương thức làm việc nhờ đó một Chân sư huấn luyện và làm việc thông qua các đệ tử của Ngài. Ngài gây ấn tượng đồng thời cho họ với một ý tưởng hoặc một phương diện của chân lý. Bằng cách quan sát các phản ứng của họ, Ngài có thể đo lường hoạt động thống nhất của nhóm và sự đồng thời trong phản ứng của họ.

9. Telepathic work between subjective and objective groups. I do not refer here to the contact between an inner group of disciples, functioning consciously on the subjective levels, and the outer form that group takes. I refer to an inner group and a different outer group or groups. These groups, on both levels, can be either good or bad, according to the quality or calibre of the group personnel and their motives. This opens up a wide range of contacts and is one of the ways in which the Hierarchy of Masters work, as individuals. It is, however, not possible for groups upon the outer plane to respond to this type of contact until the bulk of their members have the heart centre awakened. In this connection a most interesting point should be noted. The awakening of the heart centre indicates inclusiveness, group appreciation and contact, also group thought and group life-activity. Unless, however, the head centre is also awakened and active, the soul is not able to control, and this heart activity need not necessarily be what we call good or spiritual activity. It is quite impersonal, like the sun, of which the heart is, as you know, the symbol. It shines alike upon the good and the bad; and group activity, as a result of heart awakening, can include the bad groups [24] as well as the good groups. Therefore you can see the necessity of awakening the head centre and bringing in the control of the soul aspect; and hence the emphasis laid upon character building and the need for meditation.

9. Công việc viễn cảm giữa các nhóm chủ quan và khách quan. Tôi không đề cập ở đây đến sự tiếp xúc giữa một nhóm đệ tử bên trong, hoạt động có ý thức trên các cấp độ chủ quan, và hình tướng bên ngoài mà nhóm đó đảm nhận. Tôi đề cập đến một nhóm bên trong và một nhóm hoặc các nhóm bên ngoài khác. Các nhóm này, trên cả hai cấp độ, có thể tốt hoặc xấu, tùy thuộc vào phẩm tính hay năng lực của nhân sự nhóm và động cơ của họ. Điều này mở ra một loạt các tiếp xúc rộng lớn và là một trong những cách mà Thánh đoàn các Chân sư làm việc, với tư cách cá nhân. Tuy nhiên, không thể cho các nhóm trên cõi bên ngoài đáp ứng với loại tiếp xúc này cho đến khi phần lớn các thành viên của họ đã được đánh thức trung tâm tim. Trong mối liên hệ này, một điểm thú vị nhất cần được lưu ý. Việc đánh thức trung tâm tim chỉ ra tính bao gồm, sự đánh giá và tiếp xúc nhóm, cũng như tư tưởng nhóm và hoạt động sống nhóm. Tuy nhiên, trừ khi trung tâm đầu cũng được đánh thức và hoạt động, linh hồn không thể kiểm soát, và hoạt động tim này không nhất thiết phải là cái chúng ta gọi là hoạt động tốt hay tinh thần. Nó khá phi cá nhân, giống như mặt trời, mà trái tim, như các bạn biết, là biểu tượng. Nó chiếu sáng như nhau lên người tốt và kẻ xấu; và hoạt động nhóm, như là kết quả của việc đánh thức trái tim, có thể bao gồm các nhóm xấu [24] cũng như các nhóm tốt. Do đó, các bạn có thể thấy sự cần thiết của việc đánh thức trung tâm đầu và mang lại sự kiểm soát của phương diện linh hồn; và do đó sự nhấn mạnh được đặt vào việc lập hạnh và nhu cầu tham thiền.

10. Telepathic work between the Hierarchy of Masters as a group or a part of the Hierarchy, and groups of disciples. There is little I can tell you about this, and you would not and could not understand. The experiment we are now making, in connection with the New Group of World Servers, is related to this form of telepathic work.

10. Công việc viễn cảm giữa Thánh đoàn các Chân sư như một nhóm hoặc một phần của Thánh đoàn, và các nhóm đệ tử. Có rất ít điều tôi có thể nói với các bạn về điều này, và các bạn sẽ không và không thể hiểu được. Cuộc thử nghiệm mà chúng tôi đang thực hiện hiện nay, liên quan đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, có liên quan đến hình thức công việc viễn cảm này.

Some of these forms of telepathic work have necessarily their distorted reflections on the physical plane. These you might like to ponder upon, and trace the correspondences between them. What is “mass psychology” with its unreasoning quality and its blind activity, but a massed reaction to solar plexus impressions as passed from group to group? What is “public opinion,” so called, but vague mental reactions by the mass of men beginning to grope their way on the mental plane, to the activity and play of more active and powerful minds? The written and spoken words are not in themselves adequate to account for the display of modern opinion as we now have it. What is the apparently accurate information, so rapidly circulated among the savage races, but an expression of that instinctual telepathy which uses the vital body and the pranic fluids as its medium?

Một số hình thức công việc viễn cảm này nhất thiết có những phản chiếu méo mó của chúng trên cõi trần. Các bạn có thể muốn suy ngẫm về những điều này, và theo dõi các sự tương ứng giữa chúng. “Tâm lý học đám đông” với phẩm tính không suy xét và hoạt động mù quáng của nó là gì, nếu không phải là một phản ứng tập hợp đối với các ấn tượng tùng thái dương khi được truyền từ nhóm này sang nhóm khác? “Dư luận công chúng,” được gọi như vậy, là gì nếu không phải là những phản ứng trí tuệ mơ hồ của đại chúng con người bắt đầu dò dẫm con đường của họ trên cõi trí, đối với hoạt động và tác động của những thể trí hoạt động tích cực và mạnh mẽ hơn? Chỉ riêng lời viết và lời nói không đủ để giải thích cho sự phô bày của quan điểm hiện đại như chúng ta hiện có. Thông tin có vẻ chính xác, được lưu truyền nhanh chóng giữa các chủng tộc man dã, là gì nếu không phải là một biểu hiện của viễn cảm bản năng vốn sử dụng thể sinh lực và các lưu chất prana làm môi trường của nó?

IV. THREE TYPES OF ENERGY INVOLVED—IV. BA LOẠI NĂNG LƯỢNG LIÊN QUAN

[25]Telepathic inter-relation between the members of a group grows through the medium of a constant attitude of reflective thought and a steadfast love for each other. I would remind you that when I use these terms I am referring to the two major types of energy in the world today. Essentially, energy is active substance. These two types of force are of a vitality, potency and substance so subtle and fine that they can work through and “force into activity” the pranic fluids which constitute the substance of the etheric body and to which I referred in a much earlier instruction. (A Treatise on the Seven Rays, II, 113) The telepathic work, therefore, is concerned with three types of energy which demonstrate as forces with the power to motivate:

[25]Mối quan hệ tương tác viễn cảm giữa các thành viên của một nhóm phát triển thông qua môi trường của một thái độ thường xuyên của tư tưởng suy ngẫm và một tình thương kiên định dành cho nhau. Tôi muốn nhắc nhở các bạn rằng khi tôi sử dụng các thuật ngữ này, tôi đang đề cập đến hai loại năng lượng chính trên thế giới hiện nay. Về cơ bản, năng lượng là chất liệu hoạt động. Hai loại mãnh lực này có sức sống, tiềm năng và chất liệu tinh tế và thanh khiết đến nỗi chúng có thể hoạt động thông qua và “thúc đẩy vào hoạt động” các lưu chất prana vốn cấu thành nên chất liệu của thể dĩ thái và điều mà tôi đã đề cập trong một hướng dẫn trước đây rất lâu. (Luận về Bảy Cung, II, 113) Do đó, công việc viễn cảm liên quan đến ba loại năng lượng biểu hiện như các mãnh lực với quyền năng thúc đẩy:

1. The force of love with its negative quality which

1. Mãnh lực tình thương với phẩm tính âm của nó vốn

a. Attracts the needed material with which to clothe the idea, the thought or concept to be transmitted; it is also the attractive agency utilised by the recipient. Therefore both transmitter and recipient work with the same agency, but the transmitter uses the love energy of the larger whole whilst the recipient concentrates, upon the transmitter, the love energy of his own nature. If this be so, you can see why I emphasise the necessity for love and for non-criticism.

a. Thu hút vật liệu cần thiết để khoác lấy ý tưởng, tư tưởng hoặc khái niệm cần được truyền tải; nó cũng là tác nhân thu hút được người nhận sử dụng. Do đó, cả người truyền và người nhận đều làm việc với cùng một tác nhân, nhưng người truyền sử dụng năng lượng tình thương của tổng thể lớn hơn trong khi người nhận tập trung, vào người truyền, năng lượng tình thương của bản chất riêng mình. Nếu đúng như vậy, các bạn có thể thấy tại sao tôi nhấn mạnh sự cần thiết của tình thương và của sự không chỉ trích.

b. Constitutes the coherent quality which links together the transmitter and the recipient, and which also produces the coherency of that which is transmitted.

b. Cấu thành phẩm tính gắn kết liên kết người truyền và người nhận với nhau, và cũng tạo ra sự gắn kết của cái được truyền tải.

[26]

[26]

It will be apparent to you consequently that it is only at this time that we can begin to look for a wider and more general expression in the world today of the processes of telepathy, for only today is the love principle really beginning to affect the world on a large scale. Love of a cause, a party or an idea is becoming more and more prevalent, producing in the initial stages the apparently wide cleavages with which we are so familiar and by which we are so distressed at this time, yet producing finally a dominance of the attitudes of love which will heal breaches, and produce synthesis among the peoples. Love (not sentiment) is the clue to successful telepathic work. Therefore love one another with a fresh enthusiasm and devotion; seek to express that love in every possible way—upon the physical plane, upon the levels of emotion, and through right thought. Let the love of the soul sweep through all like a regenerating force.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng chỉ vào thời điểm này chúng ta mới có thể bắt đầu tìm kiếm một biểu hiện rộng lớn và phổ quát hơn trên thế giới ngày nay về các quá trình viễn cảm, vì chỉ ngày nay nguyên khí tình thương mới thực sự bắt đầu tác động đến thế giới trên quy mô lớn. Tình yêu đối với một lý tưởng, một đảng phái hay một ý tưởng đang trở nên ngày càng phổ biến, tạo ra trong các giai đoạn ban đầu những sự chia rẽ có vẻ rộng lớn mà chúng ta quá quen thuộc và khiến chúng ta đau khổ vào lúc này, nhưng cuối cùng tạo ra một sự thống trị của các thái độ tình thương sẽ hàn gắn các rạn nứt, và tạo ra sự tổng hợp giữa các dân tộc. Tình thương (không phải tình cảm) là manh mối cho công việc viễn cảm thành công. Do đó, hãy yêu thương nhau với một lòng nhiệt thành và sùng tín mới mẻ; hãy tìm cách thể hiện tình thương đó theo mọi cách có thể—trên cõi trần, trên các cấp độ cảm xúc, và thông qua tư tưởng đúng đắn. Hãy để tình thương của linh hồn quét qua tất cả như một mãnh lực tái sinh.

2. The force of mind. This is the illuminating energy which “lights the way” of an idea or form to be transmitted and received. Forget not that light is subtle substance. Upon a beam of light can the energy of the mind materialise. This is one of the most important statements made in connection with the science of telepathy.

2. Mãnh lực trí tuệ. Đây là năng lượng soi sáng “chiếu sáng con đường” của một ý tưởng hoặc hình tướng cần được truyền tải và tiếp nhận. Đừng quên rằng ánh sáng là chất liệu tinh tế. Trên một chùm ánh sáng, năng lượng của thể trí có thể hiện hình. Đây là một trong những tuyên bố quan trọng nhất được đưa ra liên quan đến khoa học viễn cảm.

The success of this is dependent upon the alignment of the bodies of the transmitter and the recipient. The double line of contact must be that of mental energy and brain electrical energy. The magnetic power of love to attract attention, to produce alignment, and to call forth rapport and understanding is not all that is necessary in the new telepathy which will distinguish the new age. There must also be mental development and mental control.

Sự thành công của điều này phụ thuộc vào sự chỉnh hợp của các thể phàm ngã của người truyền và người nhận. Đường dây tiếp xúc kép phải là năng lượng trí tuệ và năng lượng điện não bộ. Quyền năng từ tính của tình thương để thu hút sự chú ý, tạo ra sự chỉnh hợp, và khơi dậy sự giao cảm và sự thấu hiểu không phải là tất cả những gì cần thiết trong viễn cảm mới sẽ phân biệt kỷ nguyên mới. Cũng phải có sự phát triển trí tuệ và sự kiểm soát trí tuệ.

This form of telepathy is not a function of the animal soul, as in the case of the solar plexus contact and response [27] to messages by the emotionally polarised man or woman. This telepathic rapport and response is a characteristic of the human soul working from mind to mind and from brain to brain. It is literally a state of consciousness which is sufficiently conditioned by the integrated mental person so that he is aware of and inclusive of the mental state and thought processes of another person.

Hình thức viễn cảm này không phải là một chức năng của linh hồn thú vật, như trong trường hợp tiếp xúc tùng thái dương và phản ứng [27] với các thông điệp bởi người nam hay nữ phân cực cảm xúc. Mối quan hệ và phản ứng viễn cảm này là một đặc điểm của linh hồn con người làm việc từ thể trí đến thể trí và từ bộ não đến bộ não. Nó đúng nghĩa đen là một trạng thái tâm thức được người có trí tuệ đã tích hợp định hình đủ mức để y nhận biết và bao quát trạng thái trí tuệ cùng các tiến trình tư tưởng của người khác.

3. The energy of prana, or the etheric force of the vital body. This energy, by an act of the will and under the pressure of the magnetic power of love, responds to or is receptive to the dual energies mentioned above. The idea, thoughtform or mental impression which must be recorded in the brain consciousness of the recipient opens a way in the pranic fluids and so controls their activity (which is as ceaseless as the thoughtform-making propensities of the chitta) that the brain becomes responsive in two ways:

3. Năng lượng prana, hay mãnh lực dĩ thái của thể sinh lực. Năng lượng này, bởi một hành động của ý chí và dưới áp lực của quyền năng từ tính của tình thương, đáp ứng hoặc dễ tiếp nhận đối với hai năng lượng được đề cập ở trên. Ý tưởng, hình tư tưởng hoặc ấn tượng trí tuệ phải được ghi lại trong tâm thức não bộ của người nhận mở ra một con đường trong các lưu chất prana và kiểm soát hoạt động của chúng (vốn không ngừng nghỉ như những xu hướng tạo hình tư tưởng của chitta) đến nỗi bộ não trở nên đáp ứng theo hai cách:

a. It is rendered passive by the impact of the three types of energy, blended and fused into one stream of force.

a. Nó trở nên thụ động bởi tác động của ba loại năng lượng, hòa trộn và dung hợp thành một dòng mãnh lực.

b. It becomes actively responsive to the idea, impression, thoughtform, symbol, words, etc., which are being swept into the area of its conscious activity.

b. Nó trở nên đáp ứng tích cực với ý tưởng, ấn tượng, hình tư tưởng, biểu tượng, từ ngữ, v.v., đang được quét vào khu vực hoạt động có ý thức của nó.

Let me attempt to reduce the above information to practical simplicity, thus showing how these three types of energy can be used in practical work:

Hãy để tôi cố gắng trình bày thông tin trên một cách đơn giản, thiết thực, do đó cho thấy ba loại năng lượng này có thể được sử dụng trong công việc thực tế như thế nào:

1. By the use of the energy of love in three ways:

1. Bằng việc sử dụng năng lượng tình thương theo ba cách:

a. By sending out love (not sentiment) to your brothers at the time of transmission or reception. [28]

a. Bằng cách gửi đi tình thương (không phải tình cảm) đến các huynh đệ của bạn vào thời điểm truyền hoặc nhận. [28]

b. By capitalising on the inherent power of love to attract the material or the substance, and thus to “clothe” in the occult sense that which you send out.

b. Bằng cách tận dụng quyền năng vốn có của tình thương để thu hút vật liệu hoặc chất liệu, và do đó để “khoác lấy” theo nghĩa huyền môn cái mà bạn gửi đi.

c. By sending forth the “clothed” idea, impression, etc., on a stream of love which your brother—alert, receptive and waiting—will attract to himself by the means of his conscious love for you.

c. Bằng cách gửi đi ý tưởng, ấn tượng, v.v., đã được “khoác lấy” trên một dòng tình thương mà người huynh đệ của bạn—tỉnh táo, dễ tiếp nhận và chờ đợi—sẽ thu hút về mình bằng phương tiện tình thương có ý thức của y dành cho bạn.

2. By the use of mental energy through the effort to polarise yourself upon the mental levels of consciousness. By a definite act of the will you lift your consciousness onto the mental plane and hold it there. This action is a reflection upon a lower plane, and in the brain consciousness, of the mind’s ability to hold itself in the light. The success of all telepathic work you do, as a group or as individuals, will be dependent upon your capacity to “hold yourselves steady in the light” mentally. The difference is that this time you do it for the purpose of the planned work, and attempt to hold the mind steady in the light of the group, or in each other’s light, and not so specifically in the light of your own soul.

2. Bằng việc sử dụng năng lượng trí tuệ thông qua nỗ lực phân cực bản thân trên các cấp độ tâm thức trí tuệ. Bằng một hành động dứt khoát của ý chí, bạn nâng tâm thức của mình lên cõi trí và giữ nó ở đó. Hành động này là một sự phản chiếu trên một cõi thấp hơn, và trong tâm thức não bộ, về khả năng của thể trí để giữ bản thân nó trong ánh sáng. Sự thành công của tất cả công việc viễn cảm bạn làm, với tư cách một nhóm hoặc cá nhân, sẽ phụ thuộc vào khả năng của bạn để “giữ mình ổn định trong ánh sáng” về mặt trí tuệ. Sự khác biệt là lần này bạn làm điều đó cho mục đích của công việc đã hoạch định, và cố gắng giữ thể trí ổn định trong ánh sáng của nhóm, hoặc trong ánh sáng của nhau, và không quá cụ thể trong ánh sáng của linh hồn riêng bạn.

3. By the conscious organised use of the energy of the etheric ajna centre, and sometimes of the head centre, when receiving, and of the throat centre, when transmitting. This swings etheric force into activity when engaged in telepathic work, but entails its conscious subordination to the power of the other two energies. Practically, you will observe that this involves on the part of the disciple the power to do three things at once. You need to ponder more deeply upon the fact and necessity of active outgoing energy [29] when you are occupied with the task of transmission, and with active receptivity when you are functioning as a receiver.

3. Bằng việc sử dụng có tổ chức và có ý thức năng lượng của trung tâm ajna dĩ thái, và đôi khi của trung tâm đầu, khi nhận, và của trung tâm cổ họng, khi truyền. Điều này đưa mãnh lực dĩ thái vào hoạt động khi tham gia công việc viễn cảm, nhưng đòi hỏi sự phục tùng có ý thức của nó đối với sức mạnh của hai năng lượng kia. Về mặt thực tế, các bạn sẽ quan sát thấy rằng điều này liên quan về phía người đệ tử quyền năng làm ba việc cùng một lúc. Các bạn cần suy ngẫm sâu sắc hơn về thực tế và sự cần thiết của năng lượng đi ra tích cực [29] khi các bạn bận rộn với nhiệm vụ truyền tải, và với sự tiếp nhận tích cực khi các bạn đang hoạt động như một người nhận.

I would like to point out that successful telepathic work is dependent upon the following factors:

Tôi muốn chỉ ra rằng công việc viễn cảm thành công phụ thuộc vào các yếu tố sau:

First, that there are no barriers existing between the receiver and the broadcaster. Such barriers would be lack of love or of sympathy, criticism and suspicion.

Thứ nhất, rằng không có rào cản nào tồn tại giữa người nhận và người phát sóng. Những rào cản như vậy sẽ là thiếu tình thương hoặc sự cảm thông, sự chỉ trích và nghi ngờ.

Secondly, that the broadcaster is mainly occupied with the clarity of his symbol, with the word or thought, and not with the receiver. A quick glance toward the receiver, a momentary sending forth of love and understanding is sufficient to set up the rapport, and then attention must be paid to the clarity of the symbol.

Thứ hai, rằng người phát sóng chủ yếu bận tâm với sự rõ ràng của biểu tượng của mình, với từ ngữ hoặc tư tưởng, và không phải với người nhận. Một cái nhìn nhanh về phía người nhận, một sự gửi đi tình thương và sự thấu hiểu trong giây lát là đủ để thiết lập sự giao cảm, và sau đó phải chú ý đến sự rõ ràng của biểu tượng.

Thirdly, let the receivers think with love and affection of the broadcaster for a minute or two. Then let them forget the personality. A thread of energy, linking receiver and broadcaster, has been established and exists. Then forget it.

Thứ ba, hãy để những người nhận nghĩ với tình thương và lòng yêu mến về người phát sóng trong một hoặc hai phút. Sau đó hãy để họ quên đi phàm ngã. Một sợi dây năng lượng, liên kết người nhận và người phát sóng, đã được thiết lập và tồn tại. Sau đó hãy quên nó đi.

Fourthly, let the receivers work with detachment. Most receivers are so anxious to receive correctly that through their very intensity they counteract their own efforts. A casual and “don’t care” spirit and a close attentiveness to the inner “picturing faculty” will net better results than any violent and strong desire and effort to see the symbol and to contact the mind of the sender.

Thứ tư, hãy để những người nhận làm việc với sự tách rời. Hầu hết những người nhận đều quá lo lắng để nhận đúng đến nỗi thông qua chính sự căng thẳng của họ, họ chống lại những nỗ lực của chính mình. Một tinh thần thản nhiên và “không màng đến” và một sự chú ý chặt chẽ đến “năng lực hình dung” bên trong sẽ mang lại kết quả tốt hơn bất kỳ dục vọng và nỗ lực dữ dội, mạnh mẽ nào để nhìn thấy biểu tượng và tiếp xúc với thể trí của người gửi.

The brain should register a reflection of the mind content. If a ray of light is met by an outgoing force from the receiver’s mind or a powerfully emitted thoughtform, it can be prevented from reaching the mind. However, a transmitter with more expert training can overcome this barrier. Much of the trouble will be found to be based on the emitted thoughtforms, or in the rush of ill-regulated [30] mental energy or brain radiation which negates efforts. Therefore a quiet spirit and well regulated thoughts will aid much, and the cultivation of that dispassion which desires nothing for the separated self, and nothing violently.

Bộ não nên ghi nhận một sự phản chiếu của nội dung thể trí. Nếu một tia sáng gặp phải một mãnh lực đi ra từ thể trí người nhận hoặc một hình tư tưởng được phát ra mạnh mẽ, nó có thể bị ngăn cản không đến được thể trí. Tuy nhiên, một người truyền tin với sự huấn luyện chuyên môn hơn có thể vượt qua rào cản này. Nhiều rắc rối sẽ được tìm thấy là dựa trên các hình tư tưởng được phát ra, hoặc trong sự ào ạt của năng lượng [30] trí tuệ không được điều chỉnh tốt hoặc bức xạ não bộ phủ định các nỗ lực. Do đó, một tinh thần tĩnh lặng và những tư tưởng được điều chỉnh tốt sẽ hỗ trợ nhiều, và việc trau dồi sự vô tư vốn không mong muốn gì cho cái ngã tách biệt, và không mong muốn bất cứ điều gì một cách mãnh liệt.

The need of sensitive receivers is great. Train yourselves. Forget yourselves and your own petty little affairs—so petty and unimportant when viewed in relation to the momentous issues of the present time. Keep an attentive ear to the voices which issue forth from the world of spiritual Being, and love each other with loyalty and steadfastness.

Nhu cầu về những người tiếp nhận nhạy cảm là rất lớn. Hãy tự rèn luyện. Hãy quên bản thân mình và những công việc nhỏ nhặt của riêng mình—thật quá nhỏ nhặt và không quan trọng khi xem xét trong mối quan hệ với những vấn đề trọng đại của thời điểm hiện tại. Hãy lắng nghe những giọng nói phát ra từ thế giới của Bản thể tinh thần, và hãy yêu thương nhau với sự trung thành và kiên định.

V. THE GROWTH OF TELEPATHIC RAPPORT—V. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỐI GIAO CẢM VIỄN CẢM

[31]

[31]

I would like to point out that the use of words telepathically must be mastered as a preliminary step to the use of sentences and of thoughts. Choose a word and meditate upon it, knowing wherefore you have chosen it. Study it in the four ways indicated by Patanjali; (The Light of the Soul, page 33) that is:

Tôi muốn chỉ ra rằng việc sử dụng từ ngữ theo cách viễn cảm phải được làm chủ như một bước sơ khởi trước khi sử dụng các câu và các tư tưởng. Hãy chọn một từ và tham thiền về nó, biết lý do tại sao bạn đã chọn nó. Hãy nghiên cứu nó theo bốn cách được Patanjali chỉ ra; (Ánh Sáng của Linh Hồn, trang 33) đó là:

1. Study its form, study it symbolically, as a word picture.

1. Nghiên cứu hình tướng của nó, nghiên cứu nó một cách tượng trưng, như một hình ảnh bằng từ ngữ.

2. Study it from the angle of quality, of beauty, of desire.

2. Nghiên cứu nó từ khía cạnh phẩm tính, vẻ đẹp, và dục vọng.

3. Study its underlying purpose and teaching value, and its mental appeal.

3. Nghiên cứu mục đích ẩn tàng và giá trị giáo huấn của nó, cùng sức hấp dẫn trí tuệ của nó.

4. Study its very being and identify yourself with its divine underlying idea.

4. Nghiên cứu chính bản thể của nó và đồng hóa bản thân bạn với ý niệm thiêng liêng ẩn tàng của nó.

When you have reached this final stage, hold your consciousness steady at that high point as you (if you are a transmitter) send out the word to the receiver or to the receiving group. Receivers should in their turn achieve, as far as they can, complete alignment so as to be responsive to all these four aspects of the word. This method will serve to shift the receiver nearer to the plane where he should function—the level of the higher mind. The word goes out upon the life breath of the transmitter; his lower mind then sends out the purpose aspect; his astral consciousness is responsible for sending out the quality aspect; and the form aspect is sent out as he says the word—very softly and in a whisper.

Khi bạn đã đạt đến giai đoạn cuối cùng này, hãy giữ tâm thức của bạn ổn định tại điểm cao đó khi bạn (nếu bạn là người truyền phát) gửi từ đó đến người nhận hoặc đến nhóm tiếp nhận. Các người nhận đến lượt mình phải đạt được, trong khả năng có thể, sự chỉnh hợp hoàn toàn để có thể đáp ứng với tất cả bốn phương diện này của từ ngữ. Phương pháp này sẽ giúp chuyển người nhận đến gần hơn với cõi giới mà y nên hoạt động—cấp độ của thượng trí. Từ ngữ đi ra trên hơi thở sự sống của người truyền phát; hạ trí của y sau đó gửi đi phương diện mục đích; tâm thức cảm dục của y chịu trách nhiệm gửi đi phương diện phẩm tính; và phương diện hình tướng được gửi đi khi y nói từ ngữ đó—rất nhẹ nhàng và thì thầm.

The above is a good exercise and very simple; telepathic power should greatly increase if one faithfully follows these four stages—up and within, down and without—in the [32] work of transmitting. During the first or form stage one may use what symbolic forms one likes to embody the word, for such a word as “will” has no appropriate form like “pool” has; one may, if he choose, preserve the word form, seeing it letter for letter or as a whole. But one must be sure to end with the picture form or the word form with which he began; and that he sends out, at the close, what he formulated at the beginning.

Những điều trên là một bài tập tốt và rất đơn giản; quyền năng viễn cảm sẽ gia tăng đáng kể nếu một người tuân theo một cách trung thành bốn giai đoạn này—lên trên và vào trong, xuống dưới và ra ngoài—trong [32] công việc truyền phát. Trong giai đoạn đầu tiên hay giai đoạn hình tướng, người ta có thể sử dụng bất kỳ hình tướng tượng trưng nào mình thích để thể hiện từ ngữ đó, vì một từ như “ý chí” không có hình tướng thích hợp như từ “cái hồ”; người ta có thể, nếu chọn, giữ nguyên hình tướng chữ viết của từ, nhìn thấy nó từng chữ cái hoặc như một tổng thể. Nhưng người ta phải chắc chắn kết thúc với hình tướng bức tranh hoặc hình tướng chữ viết mà y đã bắt đầu; và rằng y gửi đi, vào lúc kết thúc, những gì y đã hình thành lúc bắt đầu.

To summarise: A group of disciples working in an Ashram has to learn that—

Để tóm tắt: Một nhóm các đệ tử làm việc trong một Ashram phải học rằng—

1. Groups are held together by an inner structure of thought.

1. Một cấu trúc tư tưởng bên trong gắn kết các nhóm với nhau.

2. The focus of the externalised group life is the etheric body.

2. Điểm tập trung của đời sống nhóm đã ngoại hiện là thể dĩ thái.

The etheric body is:

Thể dĩ thái là:

a. A receiving agency.

a. Một tác nhân tiếp nhận.

b. A circulating medium for energy coming from the mind, from the soul, from the Master, or from the group mind.

b. Một phương tiện luân chuyển cho năng lượng đến từ thể trí, từ linh hồn, từ Chân sư, hoặc từ trí nhóm.

3. The mind is the first exoteric expression of the soul consciousness, as far as the true aspirant is concerned.

3. Thể trí là biểu hiện ngoại môn đầu tiên của tâm thức linh hồn, xét đối với người chí nguyện chân chính.

4. The following telepathic relationships are possible and must be borne in mind:

4. Các mối quan hệ viễn cảm sau đây là có thể và phải được ghi nhớ:

a. Solar plexus to solar plexus.

a. Tùng thái dương đến tùng thái dương.

b. Mind to mind.

b. Thể trí đến thể trí.

c. Master to disciple.

c. Chân sư đến đệ tử.

d. Groups of disciples to other similar groups.

d. Các nhóm đệ tử đến các nhóm tương tự khác.

e. Subjective groups to objective receptive groups.

e. Các nhóm chủ quan đến các nhóm tiếp nhận khách quan.

f. The Hierarchy, through its great Leaders, to the various Ashrams of the Masters. [33]

f. Thánh Đoàn, thông qua các Lãnh Đạo vĩ đại của mình, đến các Ashram khác nhau của các Chân sư. [33]

g. The Hierarchy to the New Group of World Servers.

g. Thánh Đoàn đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

5. The major factors which must be considered in all telepathic work are:

5. Các yếu tố chính phải được xem xét trong mọi công việc viễn cảm là:

a. The initiating agent or emanating source.

a. Tác nhân khởi xướng hoặc nguồn phát ra.

b. The recipient of the ideas, thoughts or energy.

b. Người nhận các ý tưởng, tư tưởng hoặc năng lượng.

c. The medium of revelation.

c. Phương tiện của sự mặc khải.

The growth of telepathic rapport will bring in an era of universality and synthesis, with its qualities of recognised relationships and responsiveness. This will be, outstandingly, the glory of the Aquarian Age.

Sự phát triển của mối giao cảm viễn cảm sẽ mang lại một kỷ nguyên của tính phổ quát và sự tổng hợp, với các phẩm tính của nó về những mối quan hệ được công nhận và sự đáp ứng. Điều này sẽ là vinh quang nổi bật của Kỷ Nguyên Bảo Bình.

As the race achieves increasingly a mental polarisation through the developing attractive power of the mental principle, the use of language for the conveying of thoughts between equals or of communicating with superiors will fall into disuse. It will continue to be used in reaching the masses and those not functioning upon the mental plane. Already voiceless prayer and aspiration and worship are deemed of higher value than the pleadings and proclamations of voiced expression. It is for this stage in the unfoldment of the race for which preparation must be made, and the laws, techniques and process of telepathic communication must be made plain so that they can be intelligently and theoretically understood.

Khi nhân loại đạt được sự phân cực trí tuệ ngày càng tăng thông qua sức hút đang phát triển của nguyên khí trí tuệ, việc sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt tư tưởng giữa những người bình đẳng hoặc để giao tiếp với các cấp trên sẽ trở nên không còn được sử dụng. Nó sẽ tiếp tục được dùng để tiếp cận quần chúng và những người không hoạt động trên cõi trí. Hiện nay, lời cầu nguyện không thành tiếng, khát vọng và sự tôn thờ đã được coi là có giá trị cao hơn những lời cầu xin và tuyên bố bằng lời nói. Chính vì giai đoạn này trong sự mở ra của nhân loại mà sự chuẩn bị phải được thực hiện, và các quy luật, kỹ thuật và quy trình của giao tiếp viễn cảm phải được làm rõ để chúng có thể được thấu hiểu một cách thông minh và lý thuyết.

Disciples must occupy themselves increasingly with right understanding, right designation and right definition of the new science of telepathy. Mental comprehension and mental sympathy will make true interplay possible, and this will bridge between the old way of understanding thought through the medium of the spoken or written word (embodying that thought as the individual thinker seeks to convey it) and the future stage of immediate response to [34] thought, unlimited by speech or other medium of expression. Disciples will endeavour to work in both ways, and the medium of normal human relations and that of supernormal subjective relations must be studied by them and expressed by them. In this way the time of bridging and the period of transition can be spanned. It will take about five hundred years for the race to become normally telepathic, and when I say normally I mean consciously. This bridging work must be carried forward by disciples in three ways:

Các đệ tử phải ngày càng bận tâm với sự thấu hiểu đúng đắn, sự chỉ định đúng đắn và định nghĩa đúng đắn về khoa học viễn cảm mới mẻ này. Sự lĩnh hội trí tuệ và sự cảm thông trí tuệ sẽ làm cho sự tương tác thực sự trở nên khả thi, và điều này sẽ bắc cầu giữa cách thấu hiểu tư tưởng cũ thông qua phương tiện của lời nói hoặc chữ viết (thể hiện tư tưởng đó khi người suy nghĩ cá nhân tìm cách truyền đạt nó) và giai đoạn tương lai của sự đáp ứng tức thời với [34] tư tưởng, không bị giới hạn bởi lời nói hay phương tiện biểu đạt nào khác. Các đệ tử sẽ nỗ lực làm việc theo cả hai cách, và phương tiện của các mối quan hệ con người bình thường cũng như phương tiện của các mối quan hệ chủ quan siêu thường phải được họ nghiên cứu và thể hiện. Theo cách này, thời gian của việc bắc cầu và giai đoạn chuyển tiếp có thể được nối liền. Sẽ mất khoảng năm trăm năm để nhân loại trở nên viễn cảm một cách bình thường, và khi tôi nói bình thường, tôi muốn nói là một cách có ý thức. Công việc bắc cầu này phải được các đệ tử thực hiện theo ba cách:

1. By an endeavour to understand:

1. Bằng một nỗ lực để thấu hiểu:

a. The medium of transmission.

a. Phương tiện truyền phát.

b. The method of transmission.

b. Phương pháp truyền phát.

c. The manner of reception.

c. Cách thức tiếp nhận.

d. The mode of inter-related activity.

d. Phương thức hoạt động tương quan.

2. By the cultivation of sensitive reactions to each other and to the other human units with whom the lot of the disciples may be cast. This involves:

2. Bằng việc trau dồi các phản ứng nhạy cảm đối với nhau và đối với các đơn vị con người khác mà số phận của các đệ tử có thể gắn liền với họ. Điều này bao gồm:

a. Sensitive physical reaction, via the centres, to the forces emanating from the centres of those with whom the disciples are associated. Particularly should the sensitivity of the ajna centre be developed.

a. Phản ứng vật lý nhạy cảm, thông qua các luân xa, đối với các mãnh lực phát ra từ các luân xa của những người mà các đệ tử có liên kết. Đặc biệt cần phát triển sự nhạy cảm của trung tâm ajna.

b. Sensitivity to the state of feeling or to the emotional reactions of those around. This is done through the development of compassion and of sympathy, plus that detachment which will enable one to take right action.

b. Sự nhạy cảm đối với trạng thái cảm xúc hoặc các phản ứng tình cảm của những người xung quanh. Điều này được thực hiện thông qua sự phát triển lòng từ bi và sự cảm thông, cộng với sự tách rời vốn sẽ cho phép một người có hành động đúng đắn.

c. Sensitivity to the thoughts of others through mental rapport with them upon the plane of mind. [35]

c. Sự nhạy cảm đối với tư tưởng của người khác thông qua mối giao cảm trí tuệ với họ trên cõi trí. [35]

3. By all these done also in group formation as well as individually. All the activities mentioned above must constitute group activity.

3. Bằng tất cả những điều này được thực hiện trong đội hình nhóm cũng như cá nhân. Tất cả các hoạt động được đề cập ở trên phải cấu thành hoạt động nhóm.

In these three ways the vehicle of the personality can be so conditioned that it can become a sensitive receiving apparatus. When, however, soul consciousness is achieved or developing, then this triple instrument is superseded by the intuitional receptivity of the soul—whose inclusiveness is absolute and who is at-one with the soul in all forms.

Theo ba cách này, vận cụ của phàm ngã có thể được định hình để nó trở thành một bộ máy tiếp nhận nhạy cảm. Tuy nhiên, khi tâm thức linh hồn đạt được hoặc đang phát triển, thì công cụ tam phân này được thay thế bằng khả năng tiếp nhận trực giác của linh hồn—vốn có tính bao gồm tuyệt đối và hợp nhất với linh hồn trong mọi hình tướng.

Those disciples who are working along this line are the nurturers of the seed of the future intuitional civilisation, which will come to its full glory in the Aquarian Age. The intuition is the infallibly sensitive agent, latent in every human being; it is based, as you know, upon direct knowledge, unimpeded by any instrument normally functioning in the three worlds. Of this intuitional future age, Christ is the Seed Man, for “He knew what was in man.” Today, a group or a unit of groups can be the nurturers of the seed of the intuition; the cultivation of sensitivity to telepathic impression is one of the most potent agencies in developing the coming use of the intuitive faculty.

Những đệ tử đang làm việc theo đường lối này là những người nuôi dưỡng hạt giống của nền văn minh trực giác tương lai, vốn sẽ đi đến vinh quang trọn vẹn trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Trực giác là tác nhân nhạy cảm không thể sai lầm, tiềm tàng trong mỗi con người; như các bạn biết, nó dựa trên tri thức trực tiếp, không bị cản trở bởi bất kỳ công cụ nào hoạt động bình thường trong ba cõi. Đức Christ là Con Người Hạt Giống của kỷ nguyên trực giác tương lai này, vì “Ngài biết những gì có trong con người”. Ngày nay, một nhóm hoặc một đơn vị của các nhóm có thể là những người nuôi dưỡng hạt giống của trực giác; việc trau dồi sự nhạy cảm đối với ấn tượng viễn cảm là một trong những tác nhân mạnh mẽ nhất trong việc phát triển việc sử dụng năng lực trực giác sắp tới.

The truly telepathic man is the man who is responsive to impressions coming to him from all forms of life in the three worlds, but he is also equally responsive to impressions coming to him from the world of souls and the world of the intuition. It is the development of the telepathic instinct which will eventually make a man a master in the three worlds, and also in the five worlds of human and superhuman development. By a process of withdrawal (of occult abstraction) and of concentration upon the telepathic cult, the whole science of telepathy (as a seed of a future racial potency) can be developed and understood. This is a process now going forward, and it is going on in two ways: [36] through the medium of telepathic groups and of telepathic people, and through the medium of exoteric scientific investigation. The building of the thoughtform which will accustom the race to the idea of telepathic work is proceeding apace, and the seed of this development is becoming very vital and powerful and germinating with real rapidity. It is, in the last analysis, the seed of MASTERHOOD.

Người viễn cảm thực sự là người đáp ứng với các ấn tượng đến với y từ mọi hình thái sự sống trong ba cõi, nhưng y cũng đáp ứng ngang bằng với các ấn tượng đến với y từ thế giới của các linh hồn và thế giới của trực giác. Chính sự phát triển của bản năng viễn cảm cuối cùng sẽ làm cho một người trở thành một chân sư trong ba cõi, và cũng trong năm cõi của sự phát triển nhân loại và siêu nhân loại. Bằng một quá trình rút lui (của sự trừu tượng hóa huyền bí) và tập trung vào việc rèn luyện viễn cảm, toàn bộ khoa học về viễn cảm (như một hạt giống của quyền năng tương lai của nhân loại) có thể được phát triển và thấu hiểu. Đây là một quá trình hiện đang tiến triển, và nó đang diễn ra theo hai cách: [36] thông qua phương tiện của các nhóm viễn cảm và những người có khả năng viễn cảm, và thông qua phương tiện của sự điều tra khoa học ngoại môn. Việc xây dựng hình tư tưởng vốn sẽ làm cho nhân loại quen thuộc với ý tưởng về công việc viễn cảm đang tiến hành nhanh chóng, và hạt giống của sự phát triển này đang trở nên rất thiết yếu, mạnh mẽ và nảy mầm với tốc độ thực sự nhanh chóng. Trong phân tích cuối cùng, nó là hạt giống của ĐỊA VỊ CHÂN SƯ.

VI. GROUP TELEPATHIC WORK—VI. CÔNG VIỆC VIỄN CẢM NHÓM

[37]

[37]

I shall now take up with you the subject of united group telepathic work, its possibilities and the present opportunity, touching upon the dangers involved and the responsibility which will rest upon your shoulders and upon those of all disciples who may attempt to work in this way. You need to bear in mind the following three injunctions:

Bây giờ tôi sẽ cùng các bạn thảo luận về chủ đề công việc viễn cảm nhóm thống nhất, các khả năng của nó và cơ hội hiện tại, đề cập đến những nguy hiểm liên quan và trách nhiệm sẽ đặt lên vai các bạn và lên vai tất cả các đệ tử có thể cố gắng làm việc theo cách này. Các bạn cần ghi nhớ ba lệnh truyền sau đây:

First: It is essential that you acquire facility in tuning in on each other with deepest love and understanding; that you develop impersonality so that when a brother tunes in on a weakness or a strength, upon a mistake or a right attitude, it evokes from you no slightest reaction that could upset the harmony of the group united work as planned; that you cultivate a love which will ever seek to strengthen and to help, and a power to supplement or complement each other which will be of use in balancing the group, as a working unit under spiritual impression. The discovery of a weakness in a group brother should only produce the evocation of a deeper love; the discovery that you have made a mistake (if you have) in interpreting a brother should only prompt you to a renewed vital effort to approach more closely to his soul; the revelation to you of a brother’s strength will indicate where you can look for help in any hour of your own need. State frankly what you feel as you work month after month at this task of group rapport, deliberately tuning out criticism and substituting for it analysis—an analysis impersonally given; state truthfully what you sense and register. Your conclusions may be right or wrong, but a definite effort to comply and to recognise consciously the gained impression should aid the group blending without undue delay into an instrument of sensitive understanding. If disciples cannot tune in on each other [38] with ease after long periods of close relationship, how can they, as a group, tune in on some individual or some group of individuals unknown to them in their personalities? Unless such interplay is established fundamentally and unless there is a close integration between the members who constitute the group, it will not be possible for constructively useful and spiritually oriented and controlled work to be properly carried forward and successfully accomplished. But it is a task which you can accomplish if you will, and real application over a period of time should enable the group to work smoothly and well together. The three Rules (A Treatise on White Magic, page 320) for beginners, earlier given, embody the first steps leading to the attitude required in true hierarchical work; this is the objective of the accepted disciple.

Thứ nhất: Điều thiết yếu là các bạn phải đạt được sự thuần thục trong việc hòa điệu với nhau bằng tình thương và sự thấu hiểu sâu sắc nhất; rằng các bạn phát triển tính phi cá nhân để khi một huynh đệ hòa điệu vào một điểm yếu hay một điểm mạnh, vào một sai lầm hay một thái độ đúng đắn, nó không gợi lên từ các bạn bất kỳ phản ứng nhỏ nhất nào có thể làm đảo lộn sự hài hòa của công việc thống nhất nhóm như đã hoạch định; rằng các bạn trau dồi một tình thương luôn tìm cách củng cố và giúp đỡ, và một quyền năng để bổ sung hoặc hỗ trợ lẫn nhau vốn sẽ hữu ích trong việc cân bằng nhóm, như một đơn vị hoạt động dưới ấn tượng tinh thần. Việc phát hiện ra một điểm yếu ở một huynh đệ trong nhóm chỉ nên tạo ra sự gợi lên của một tình thương sâu sắc hơn; việc phát hiện ra rằng bạn đã phạm sai lầm (nếu có) trong việc diễn giải một huynh đệ chỉ nên thúc đẩy bạn một nỗ lực mới đầy sinh lực để tiếp cận gần hơn với linh hồn của người đó; sự mặc khải cho bạn về sức mạnh của một huynh đệ sẽ chỉ ra nơi bạn có thể tìm kiếm sự giúp đỡ trong bất kỳ giờ phút nào bạn cần. Hãy nêu rõ ràng những gì bạn cảm thấy khi bạn làm việc tháng này qua tháng khác ở nhiệm vụ giao cảm nhóm này, cố ý loại bỏ sự chỉ trích và thay thế nó bằng sự phân tích—một sự phân tích được đưa ra một cách phi cá nhân; hãy nêu một cách trung thực những gì bạn cảm nhận và ghi nhận. Các kết luận của bạn có thể đúng hoặc sai, nhưng một nỗ lực xác định để tuân thủ và nhận biết một cách có ý thức ấn tượng đã tiếp nhận sẽ hỗ trợ sự hòa quyện nhóm mà không bị chậm trễ quá mức để trở thành một công cụ của sự thấu hiểu nhạy cảm. Nếu các đệ tử không thể hòa điệu với nhau [38] một cách dễ dàng sau những giai đoạn dài có mối quan hệ chặt chẽ, làm sao họ, với tư cách là một nhóm, có thể hòa điệu với một cá nhân nào đó hoặc một nhóm cá nhân nào đó không được họ biết đến trong phàm ngã của những người đó? Trừ khi sự tương tác như vậy được thiết lập một cách nền tảng và trừ khi có một sự tích hợp chặt chẽ giữa các thành viên cấu thành nhóm, sẽ không thể nào thực hiện và hoàn thành thành công công việc hữu ích mang tính xây dựng, định hướng tinh thần và được kiểm soát. Nhưng đó là một nhiệm vụ mà các bạn có thể hoàn thành nếu các bạn muốn, và sự nỗ lực thực sự trong một khoảng thời gian sẽ cho phép nhóm làm việc trôi chảy và tốt đẹp cùng nhau. Ba Quy luật (Luận về Chánh Thuật, trang 320) dành cho người mới bắt đầu, đã được đưa ra trước đó, thể hiện những bước đầu tiên dẫn đến thái độ cần thiết trong công việc thực sự của Thánh đoàn; đây là mục tiêu của đệ tử đã được chấp nhận.

Secondly: Your constant effort—to be carried forward steadily and slowly—must be to bring about a group love of such strength that nothing can break it and no barriers rise up between you; to cultivate a group sensitivity of such a quality that your diagnosis of conditions will be relatively accurate; to develop and unfold a group ability to work as a unit, so that there will be nothing in the inner attitudes of any of the group members which could break into the carefully established rhythm. For it is quite possible for a member of the group to retard the work and to hold back the group because he is so engrossed in his own affairs or in his own ideas of self-development; when some members cease their activity it does affect the inner group vibration; when others become slowed up by definite changes in their outer or inner lives, this requires periods of adjustment and oft of re-organisation of the life. These changes, being externalised, can produce powerful psychological changes and upset the rhythm of the soul’s endeavour. A tried and [39] experienced disciple will not let such a change upset his inner rhythm, but a less experienced disciple needs real soul watchfulness to the danger of sidetracking the life interest from spiritual purposes to personality attentions and interests.

Thứ hai: Nỗ lực không ngừng của các bạn—được thực hiện một cách đều đặn và chậm rãi—phải là mang lại một tình thương nhóm có sức mạnh đến mức không gì có thể phá vỡ nó và không rào cản nào dựng lên giữa các bạn; trau dồi một sự nhạy cảm nhóm có phẩm tính sao cho sự chẩn đoán của các bạn về các điều kiện sẽ tương đối chính xác; phát triển và mở ra một khả năng nhóm để làm việc như một đơn vị, sao cho không có gì trong các thái độ nội tâm của bất kỳ thành viên nào trong nhóm có thể phá vỡ nhịp điệu đã được thiết lập cẩn thận. Bởi vì hoàn toàn có khả năng một thành viên của nhóm làm chậm trễ công việc và kìm hãm nhóm vì y quá mải mê với công việc riêng của mình hoặc với những ý tưởng của riêng mình về sự tự phát triển; khi một số thành viên ngừng hoạt động, điều đó thực sự ảnh hưởng đến rung động bên trong của nhóm; khi những người khác trở nên chậm chạp bởi những thay đổi xác định trong cuộc sống bên ngoài hoặc bên trong của họ, điều này đòi hỏi các giai đoạn điều chỉnh và thường là tái tổ chức cuộc sống. Những thay đổi này, khi được ngoại hiện, có thể tạo ra những thay đổi tâm lý mạnh mẽ và làm đảo lộn nhịp điệu nỗ lực của linh hồn. Một đệ tử đã được thử thách và [39] có kinh nghiệm sẽ không để sự thay đổi như vậy làm đảo lộn nhịp điệu bên trong của mình, nhưng một đệ tử ít kinh nghiệm hơn cần sự cảnh giác thực sự của linh hồn đối với nguy cơ chuyển hướng mối quan tâm của cuộc sống từ các mục đích tinh thần sang các sự chú ý và lợi ích của phàm ngã.

Thirdly: Any group work of this kind must be most carefully controlled; any group effort which seeks to impress the mind of any subject (whether an individual or a group) must be strenuously guarded as to motive and method; any group endeavour which involves a united applied effort to effect changes in the point of view, an outlook on life, or a technique of living must be utterly selfless, most wisely and cautiously undertaken, and must be kept free from any personality emphasis, any personality pressure and any mental pressure which is formulated in terms of individual belief, prejudice, dogmatism or ideas. I would ask you to study the above few words most carefully.

Thứ ba: Bất kỳ công việc nhóm nào thuộc loại này cũng phải được kiểm soát cẩn thận nhất; bất kỳ nỗ lực nhóm nào tìm cách gây ấn tượng lên thể trí của bất kỳ đối tượng nào (dù là một cá nhân hay một nhóm) đều phải được bảo vệ nghiêm ngặt về động cơ và phương pháp; bất kỳ nỗ lực nhóm nào liên quan đến một cố gắng áp dụng thống nhất để tạo ra những thay đổi trong quan điểm, cách nhìn về cuộc sống, hoặc kỹ thuật sống đều phải hoàn toàn vị tha, được thực hiện một cách khôn ngoan và thận trọng nhất, và phải được giữ không có bất kỳ sự nhấn mạnh nào về phàm ngã, bất kỳ áp lực nào của phàm ngã và bất kỳ áp lực trí tuệ nào được hình thành dưới dạng niềm tin cá nhân, định kiến, giáo điều hoặc ý tưởng. Tôi yêu cầu các bạn nghiên cứu vài từ trên một cách cẩn thận nhất.

The moment that there is the least tendency on the part of a group, or of an individual in a group, to force an issue, to bring so much mental pressure to bear that an individual or group is helpless under the impact of other minds, you have what is called “black magic.” Right motive may protect the group from any serious results to themselves, but the effect upon their victim will be definitely serious, rendering him negative, and with a weakened will.

Ngay khi có khuynh hướng nhỏ nhất từ phía một nhóm, hoặc một cá nhân trong nhóm, nhằm cưỡng ép một vấn đề, nhằm mang lại quá nhiều áp lực trí tuệ đến mức một cá nhân hoặc nhóm trở nên bất lực dưới tác động của các thể trí khác, các bạn có cái được gọi là “hắc thuật”. Động cơ đúng đắn có thể bảo vệ nhóm khỏi bất kỳ hậu quả nghiêm trọng nào đối với chính họ, nhưng ảnh hưởng lên nạn nhân của họ sẽ thực sự nghiêm trọng, khiến người đó trở nên thụ động và có ý chí suy yếu.

The result of all true telepathic work and rightly directed effort to “impress” a subject will be to leave him with a strengthened will to right action, an intensified interior light, an astral body freer from glamour, and a physical body more vital and purer. The potency of a united group activity is incredibly powerful. The occult aphorism that “energy follows thought” is either a statement of a truth or else a meaningless phrase.

Kết quả của mọi công việc viễn cảm chân chính và nỗ lực được định hướng đúng đắn để “gây ấn tượng” lên một đối tượng sẽ là để lại cho người đó một ý chí được củng cố đối với hành động đúng đắn, một ánh sáng nội tâm được tăng cường, một thể cảm dục tự do hơn khỏi ảo cảm, và một thể xác đầy sinh lực và tinh khiết hơn. Quyền năng của một hoạt động nhóm thống nhất là vô cùng mạnh mẽ. Câu châm ngôn huyền bí rằng “năng lượng đi theo tư tưởng” hoặc là một phát biểu về một chân lý hoặc là một cụm từ vô nghĩa.

[40]

[40]

Forget not that the method of work of the Hierarchy is that of impression upon the minds of Their disciples, of telepathic work carried on with the Master as broadcaster and the disciple as the recipient of impression and of energy. This reception of impression and energy has a dual effect:

Đừng quên rằng phương pháp làm việc của Thánh Đoàn là phương pháp gây ấn tượng lên thể trí của các đệ tử của Các Ngài, công việc viễn cảm được thực hiện với Chân sư là người phát và đệ tử là người nhận ấn tượng và năng lượng. Việc tiếp nhận ấn tượng và năng lượng này có tác dụng kép:

1. It brings into activity the latent seeds of action and of habits (good or bad), thus producing revelation, purification, enrichment and usefulness.

1. Nó đưa vào hoạt động các hạt giống tiềm tàng của hành động và thói quen (tốt hay xấu), từ đó tạo ra sự mặc khải, sự thanh lọc, sự làm giàu và tính hữu ích.

2. It vitalises and galvanises the personality into a right relation to the soul, to the environment, and to humanity.

2. Nó tiếp sinh lực và kích thích phàm ngã vào mối quan hệ đúng đắn với linh hồn, với môi trường, và với nhân loại.

It is necessary for you and for all disciples to grasp the correspondence to this hierarchical effort and any effort which you may make in order to work as a group of individuals with groups or individuals. An appreciation of the power which you may let loose, of the dynamic effect which you may succeed in awakening in the subject of your directed thought, and of the impression which you may imprint in the mind and consciousness of the subject should incite you to a guarded purity of life (astral and physical), to a watchfulness over thoughts and ideas, and to a love which will safeguard you from all love of power. Thus you will preserve the integrity of those you seek to help and will be enabled to suggest, to strengthen and to teach subjectively with no undue influence, no forcing, and no infringement of the liberty and spiritual franchise of the person concerned. A difficult task, my brothers, but one to which you are equal, given due attention and obedience to the above three injunctions as to motive, technique and method.

Điều cần thiết cho bạn và cho tất cả các đệ tử là nắm bắt sự tương ứng với nỗ lực này của Thánh đoàn và bất kỳ nỗ lực nào mà các bạn có thể thực hiện để làm việc như một nhóm các cá nhân với các nhóm hoặc các cá nhân khác. Sự đánh giá đúng về quyền năng mà các bạn có thể giải phóng, về tác động năng động mà các bạn có thể thành công trong việc đánh thức ở đối tượng của tư tưởng được định hướng của các bạn, và về ấn tượng mà các bạn có thể in vào thể trí và tâm thức của đối tượng nên thúc đẩy các bạn đến giữ gìn sự tinh khiết của đời sống (cảm dục và hồng trần), đến một sự cảnh giác đối với các tư tưởng và ý tưởng, và đến một tình thương sẽ bảo vệ các bạn khỏi mọi sự ham muốn quyền lực. Như vậy các bạn sẽ bảo tồn sự toàn vẹn của những người các bạn tìm cách giúp đỡ và sẽ có khả năng gợi ý, củng cố và giảng dạy một cách chủ quan mà không có ảnh hưởng thái quá, không cưỡng ép, và không xâm phạm quyền tự do và đặc quyền tinh thần của người liên quan. Một nhiệm vụ khó khăn, các huynh đệ của tôi, nhưng là nhiệm vụ mà các bạn có đủ khả năng, nếu chú ý đúng mức và tuân thủ ba lệnh truyền trên về động cơ, kỹ thuật và phương pháp.

VII. THE SCIENCE OF IMPRESSION—VII. KHOA HỌC VỀ SỰ ẤN TƯỢNG

[41]

[41]

The entire subject of telepathic communication can be approached under a more subjective designation or name, but one which is interpretive of the more universal and prior stage than that of direct telepathic reception. The occultist ever approaches the subject connected with the evolutionary process from the angle of the whole and then the part, from the periphery to the centre, from the universal to the particular. Among Themselves, the Masters do not deal with telepathy as a science warranting consideration, endeavour and impartation; They are concerned primarily with the Science of Impression. The term most often employed by Them is the esoteric equivalent of what the average person means when he says, “I have an impression.” Impression is the subtlest reaction (more or less accurate) to the vibratory mental activity of some other mind or group of minds, of some whole, as its radiatory influence affects the unit or aggregate of units.

Toàn bộ chủ đề về giao tiếp viễn cảm có thể được tiếp cận dưới một tên gọi hoặc định danh chủ quan hơn, nhưng là một định danh diễn giải giai đoạn phổ quát hơn và có trước so với giai đoạn tiếp nhận viễn cảm trực tiếp. Nhà huyền bí học luôn tiếp cận chủ đề liên quan đến quá trình tiến hóa từ góc độ của cái toàn thể và sau đó là bộ phận, từ ngoại vi đến trung tâm, từ cái phổ quát đến cái đặc thù. Giữa Các Ngài với nhau, các Chân sư không giải quyết viễn cảm như một khoa học cần xem xét, nỗ lực và truyền đạt; Các Ngài quan tâm chủ yếu đến Khoa học về Sự Ấn tượng. Thuật ngữ thường được Các Ngài sử dụng nhất là thuật ngữ tương đương trong huyền môn với điều mà người bình thường muốn nói khi y nói, “Tôi có một ấn tượng.” Ấn tượng là phản ứng tinh tế nhất (ít nhiều chính xác) đối với hoạt động rung động trí tuệ của một thể trí hoặc nhóm thể trí khác, của một cái toàn thể nào đó, khi ảnh hưởng lan tỏa của nó tác động đến đơn vị hoặc tập hợp các đơn vị.

The first stage of correct telepathic reception is ever the registering of an impression; it is generally vague at the beginning, but as a thought, idea, purpose or intention of the sending agent concretises, it slips into the second stage which appears as a definite thoughtform; finally, that thoughtform makes its impact upon the consciousness of the brain in the location lying just behind the ajna centre and consequently in the area of the pituitary body. It can appear also in the region of the solar plexus centre. But for those Lives Who have surmounted life in the three worlds and Who are not conditioned by the triple mechanism of the personality, the impression is the factor of importance; Their consciousness is impressed, and so sensitive is Their response to the higher impression, that They [42] absorb or appropriate the impression so that it becomes a part of Their own “impulsive energy.”

Giai đoạn đầu tiên của sự tiếp nhận viễn cảm chính xác luôn là việc ghi nhận một ấn tượng; nó thường mơ hồ lúc bắt đầu, nhưng khi một tư tưởng, ý tưởng, mục đích hoặc ý định của tác nhân gửi đi trở nên cụ thể hóa, nó trượt vào giai đoạn thứ hai xuất hiện như một hình tư tưởng xác định; cuối cùng, hình tư tưởng đó tạo ra tác động của nó lên tâm thức của bộ não tại vị trí nằm ngay phía sau trung tâm ajna và do đó trong khu vực của tuyến yên. Nó cũng có thể xuất hiện trong vùng của trung tâm tùng thái dương. Nhưng đối với những Sự Sống đã vượt qua đời sống trong ba cõi và Những Đấng không chịu sự chi phối của cơ chế tam phân của phàm ngã, ấn tượng là yếu tố quan trọng; Tâm thức của Các Ngài tiếp nhận ấn tượng, và sự đáp ứng của Các Ngài đối với ấn tượng cao hơn nhạy cảm đến mức Các Ngài [42] hấp thụ hoặc chiếm hữu ấn tượng đó để nó trở thành một phần của chính “năng lượng thúc đẩy” của Các Ngài.

This is by no means an easy subject for me to elucidate, and the reasons are two:

Đây hoàn toàn không phải là một chủ đề dễ dàng để tôi giải thích, và có hai lý do:

1. The members of the Hierarchy (among Whom I have the status of Master) (Discipleship in the New Age I, 777) are Themselves in process of learning this Science of Impression. This They do on the levels of the abstract mind, of the intuition, or of manas and buddhi.

1. Các thành viên của Thánh Đoàn (trong đó tôi có địa vị Chân sư) (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, 777) Chính Các Ngài đang trong quá trình học hỏi Khoa học về Sự Ấn tượng này. Các Ngài thực hiện điều này trên các cấp độ của trí trừu tượng, của trực giác, hoặc của manas và bồ đề.

2. The science is as yet without a vocabulary. It is not limited at any stage by thoughtforms but it is limited by word forms; and it is therefore a difficult problem for me to pass on any information anent this subtle mode of communication of which telepathy is in fact but an exoteric externalisation.

2. Khoa học này vẫn chưa có từ vựng. Nó không bị giới hạn ở bất kỳ giai đoạn nào bởi các hình tư tưởng nhưng nó bị giới hạn bởi các hình thức từ ngữ; và do đó, đối với tôi là một vấn đề khó khăn để chuyển tải bất kỳ thông tin nào về phương thức giao tiếp tinh tế này mà viễn cảm thực tế chỉ là một sự ngoại hiện bên ngoài.

Sources of Impression to the Three Planetary Centres—Các Nguồn Ấn Tượng Đến Ba Trung Tâm Hành Tinh

Impression, as an art to be mastered both from the angle of the impressing agent and of the impressed recipient, is definitely related to the world of ideas. As far as our planetary Life is concerned, there are certain great sources of impression and one or two of them might here be noted; you will thus gain some idea of the subtlety of the whole subject, of its close relation to energy impacts and of its group reception as differentiated from individual reception, as is the case in any telepathic rapport.

Ấn tượng, như một nghệ thuật cần phải làm chủ cả từ góc độ của tác nhân gây ấn tượng và của người nhận được ấn tượng, có liên quan xác định đến thế giới của các ý tưởng. Xét về Sự Sống hành tinh của chúng ta, có một số nguồn ấn tượng lớn và một hoặc hai trong số đó có thể được ghi chú ở đây; như vậy các bạn sẽ có được một vài ý tưởng về sự tinh tế của toàn bộ chủ đề, về mối quan hệ chặt chẽ của nó với các tác động năng lượng và về sự tiếp nhận nhóm của nó khác biệt với sự tiếp nhận cá nhân, như trường hợp trong bất kỳ mối giao cảm viễn cảm nào.

1. The impression of Shamballa by:

1. Shamballa tiếp nhận ấn tượng từ:

a. Members of the Great White Lodge on Sirius. The recipients of this impression are the highest Members of the Great Council, presided over by the Lord of the World. So subtle is this impression [43] that these Great Lives can only receive it with accuracy when in full joint conference of the entire Council, and also after due preparation.

a. Các thành viên của Thánh Đoàn trên sao Thiên Lang (Sirius). Những người nhận ấn tượng này là các Thành viên cao nhất của Đại Hội Đồng do Đức Chúa Tể Thế Giới chủ trì. Ấn tượng này tinh tế đến mức [43] những Sự Sống Vĩ Đại này chỉ có thể nhận nó một cách chính xác khi họp chung toàn thể Hội Đồng, và cũng sau khi đã chuẩn bị thích đáng.

b. From one or other of the constellations which are at any particular time astrologically en rapport with our planet. This impression can only be received by the Great Council when sitting in conclave with a majority of its Members present. This, I would have you note, does not entail the attendance of the entire Council.

b. Từ một chòm sao này hoặc chòm sao khác vốn vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào đang có mối giao cảm về mặt chiêm tinh với hành tinh của chúng ta. Ấn tượng này chỉ có thể được Đại Hội Đồng tiếp nhận khi đang họp kín với đa số các Thành viên hiện diện. Tôi muốn các bạn lưu ý điều này, nó không đòi hỏi sự tham dự của toàn bộ Hội Đồng.

c. From a triangle of circulating energy, emanating from the two planets which—with our planet, the Earth—form a triangle in any particular cycle. This impression is received by the three Buddhas of Activity for distribution to the Hierarchy.

c. Từ một tam giác năng lượng luân chuyển, phát ra từ hai hành tinh vốn—cùng với hành tinh của chúng ta, Trái Đất—tạo thành một tam giác trong bất kỳ chu kỳ cụ thể nào. Ấn tượng này được ba Đức Phật Hoạt Động tiếp nhận để phân phối cho Thánh Đoàn.

d. From the planet Venus, the Earth’s alter ego. This makes its entrance via the Lord of the World and three of His Council Who are chosen by Him at any specific time to act as recipients.

d. Từ hành tinh Sao Kim, đối phần của Trái Đất. Ấn tượng này đi vào thông qua Đức Chúa Tể Thế Giới và ba vị trong Hội Đồng của Ngài, Những Vị được Ngài chọn vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào để hành động như những người tiếp nhận.

These are the major entering impressions, recorded by what is glibly called “the Universal Mind,” the mind of God, our planetary Logos. There are other entering impressions, but to them I do not refer, as any reference would be meaningless to you.

Đây là những ấn tượng đi vào chính yếu, được ghi lại bởi cái được gọi một cách dễ dãi là “Vũ Trụ Trí,” trí của Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Có những ấn tượng đi vào khác, nhưng tôi không đề cập đến chúng, vì bất kỳ sự tham chiếu nào cũng sẽ vô nghĩa đối với các bạn.

2. The impression of the Hierarchy by:

2. Thánh Đoàn tiếp nhận ấn tượng từ:

a. Shamballa itself through the medium of groups within the Great Council; these step down the impression which they register so that the Hierarchy—as a whole—may cooperate with the purposes intended by those who are forming the needed Plan. [44]

a. Chính Shamballa thông qua phương tiện của các nhóm bên trong Đại Hội Đồng; những nhóm này giảm cấp ấn tượng mà họ ghi nhận để Thánh Đoàn—như một tổng thể—có thể hợp tác với các mục đích được dự định bởi những đấng đang hình thành Thiên Cơ cần thiết. [44]

b. Certain great Lives Who, at specific times and according to cyclic rhythm, or in times of emergency, are swung into this type of activity. For instance, one such time would be the Full Moon period, which is a time of reception by the Hierarchy as well as by Humanity; an instance of the second type of activity would be the Wesak Festival, or those acute crises when intervention is required from sources far higher than those with which the recipient is usually en rapport. Such a crisis is fast approaching.

b. Một số Sự Sống vĩ đại, Những Đấng mà vào những thời điểm cụ thể và theo nhịp điệu chu kỳ, hoặc trong những thời điểm khẩn cấp, được đưa vào loại hoạt động này. Ví dụ, một thời điểm như vậy sẽ là giai đoạn Trăng Tròn, là thời gian tiếp nhận của Thánh Đoàn cũng như của Nhân loại; một ví dụ về loại hoạt động thứ hai sẽ là Lễ Wesak, hoặc những cuộc khủng hoảng cấp bách khi cần sự can thiệp từ các nguồn cao hơn nhiều so với những nguồn mà người nhận thường có giao cảm. Một cuộc khủng hoảng như vậy đang đến rất nhanh.

The first type of impression is rhythmic, recurrent and therefore cumulative in its intended effects. The second type of impression is the result of invocation and evocation and is dependent upon both the recipient and the agent.

Loại ấn tượng thứ nhất có tính nhịp điệu, lặp lại và do đó tích lũy trong các tác dụng dự kiến của nó. Loại ấn tượng thứ hai là kết quả của sự khẩn cầu và gợi lên và phụ thuộc vào cả người nhận và tác nhân.

c. That great group of divine Contemplatives who are trained to act as an intermediate receptive group between Shamballa and the Hierarchy. They receive impression from Shamballa and transmit it to the Hierarchy, thus enabling the Members of the Hierarchy to receive it as “a sharpened impression” and to register it accurately because the emanating impression has passed through an area within the divine Mind where it is enhanced by the trained perception and the determined receptivity of this group. They are called, in the East, the divine Nirmanakayas. I only mention Their occult name so that you may learn to recognise Them when you meet reference to Them.

c. Nhóm vĩ đại các Đấng Chiêm Ngưỡng thiêng liêng được huấn luyện để hành động như một nhóm tiếp nhận trung gian giữa Shamballa và Thánh Đoàn. Các Ngài nhận ấn tượng từ Shamballa và truyền nó đến Thánh Đoàn, do đó cho phép các Thành viên của Thánh Đoàn nhận nó như “một ấn tượng được làm sắc nét” và ghi nhận nó một cách chính xác bởi vì ấn tượng phát ra đã đi qua một khu vực bên trong Trí tuệ thiêng liêng nơi nó được tăng cường bởi nhận thức được huấn luyện và khả năng tiếp nhận kiên định của nhóm này. Ở phương Đông, Các Ngài được gọi là các vị Nirmanakaya thiêng liêng. Tôi chỉ đề cập đến tên huyền bí của Các Ngài để các bạn có thể học cách nhận ra Các Ngài khi gặp tài liệu tham chiếu về Các Ngài.

d. The Buddha at the time when the Wesak Festival is celebrated. He then acts as a focal point or as the “distributor of the impression”; He then has [45] behind Him (little as you may realise it) the entire impressing force of the Buddhas of Activity Who are to Shamballa what the Nirmanakayas are to the Hierarchy.

d. Đức Phật vào thời điểm Lễ Wesak được cử hành. Ngài lúc đó hành động như một tiêu điểm hoặc như “người phân phối ấn tượng”; Ngài lúc đó có [45] phía sau Ngài (các bạn có thể ít nhận ra điều này) toàn bộ lực gây ấn tượng của các Đức Phật Hoạt Động, Những Vị đối với Shamballa cũng giống như các Nirmanakaya đối với Thánh Đoàn.

Let me here interpolate a remark which may prove helpful and illuminating. We are dealing (as you will undoubtedly have noted) with the reception of impression by groups or by aggregations of groups composed of living Beings Who have Their own agents of distribution or impression. The entire evolutionary history of our planet is one of reception and of distribution, of a taking in and of a giving out. The key to humanity’s trouble (focussing, as it has, in the economic troubles of the past two hundred years, and in the theological impasse of the orthodox churches) has been to take and not to give, to accept and not to share, to grasp and not to distribute. This is the breaking of the Law which has placed humanity in the position of guilt. The war is the dire penalty which humanity has had to pay for this great sin of separateness. Impressions from the Hierarchy have been received, distorted, misapplied and misinterpreted, and the task of the New Group of World Servers is to offset this evil. These Servers are to humanity what the Buddhas of Activity are to Shamballa, and the group of divine Contemplatives (the Nirmanakayas) are to the Hierarchy. It might be stated therefore that:

Hãy để tôi thêm vào đây một nhận xét có thể chứng minh là hữu ích và soi sáng. Chúng ta đang đề cập đến (như các bạn chắc chắn đã lưu ý) việc tiếp nhận ấn tượng bởi các nhóm hoặc bởi tập hợp các nhóm bao gồm những Sự Sống đang tồn tại, Những Đấng có các tác nhân phân phối hoặc gây ấn tượng riêng của Các Ngài. Toàn bộ lịch sử tiến hóa của hành tinh chúng ta là một lịch sử của sự tiếp nhận và phân phối, của việc lấy vào và đưa ra. Chìa khóa cho rắc rối của nhân loại (tập trung, như nó vốn có, vào các rắc rối kinh tế của hai trăm năm qua, và vào sự bế tắc thần học của các giáo hội chính thống) là lấy mà không cho, chấp nhận mà không chia sẻ, nắm giữ mà không phân phối. Đây là sự phá vỡ Định luật vốn đã đặt nhân loại vào vị trí tội lỗi. Chiến tranh là hình phạt thảm khốc mà nhân loại đã phải trả cho tội lỗi to lớn này của sự chia rẽ. Các ấn tượng từ Thánh Đoàn đã được tiếp nhận, bị bóp méo, áp dụng sai và diễn giải sai, và nhiệm vụ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là hóa giải sự xấu xa này. Những Người Phụng Sự này đối với nhân loại cũng giống như các Đức Phật Hoạt Động đối với Shamballa, và nhóm các Đấng Chiêm Ngưỡng thiêng liêng (các Nirmanakaya) đối với Thánh Đoàn. Do đó, có thể nói rằng:

1. The Buddhas of Activity are Themselves impressed by the WILL of God as it energises the entire planetary life.

1. Các Đức Phật Hoạt Động, chính Các Ngài, tiếp nhận ấn tượng từ Ý CHÍ của Thượng đế khi nó tiếp năng lượng cho toàn bộ sự sống hành tinh.

2. The Nirmanakayas are impressed by the LOVE of God as it demonstrates itself as the attractive force which impulses the Plan inspired by the Purpose. In other words, it is the Hierarchy, impelled to action [46] by Shamballa, or the Will-to-Good, externalising itself as goodwill.

2. Các Nirmanakaya tiếp nhận ấn tượng từ TÌNH THƯƠNG của Thượng đế khi nó thể hiện như lực hấp dẫn thúc đẩy Thiên Cơ được gợi cảm hứng bởi Mục Đích. Nói cách khác, đó là Thánh Đoàn, được thúc đẩy hành động [46] bởi Shamballa, hay Ý Chí-hướng Thiện, đang ngoại hiện chính nó thành thiện chí.

3. The New Group of World Servers are impressed by the active INTELLIGENCE of God; they translate this divine impression and step it down in two great stages, therefore, bringing it into concrete manifestation.

3. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian tiếp nhận ấn tượng từ TRÍ TUỆ hoạt động của Thượng đế; họ chuyển dịch ấn tượng thiêng liêng này và giảm cấp nó qua hai giai đoạn lớn, do đó, mang nó vào biểu hiện cụ thể.

We now carry this conception of divine impression down to the level of the human consciousness.

Bây giờ chúng ta mang quan niệm về ấn tượng thiêng liêng này xuống cấp độ của tâm thức con người.

3. The impression of Humanity by:

3. Nhân loại tiếp nhận ấn tượng từ:

a. The Hierarchy, through the stimulating of ideas. These demonstrate through a steadily growing and enlightened public opinion.

a. Thánh Đoàn, thông qua việc kích thích các ý tưởng. Những ý tưởng này thể hiện qua một dư luận công chúng ngày càng phát triển và được soi sáng.

b. The influence of the Ashrams of the Masters as they affect the aspirants of the world, the humanitarians and the idealists. These impressing agencies, being seven in number, constitute seven different streams of impressing energy which affect the seven ray types. The united Ashrams, forming the great Ashram of the Christ, affect humanity as a whole; this great united Ashram works solely through the New Group of World Servers whose members are on all rays, of all grades of development, and who work in all the various departments of human living and enterprise.

b. Ảnh hưởng của các Ashram của các Chân sư khi chúng tác động đến những người chí nguyện của thế giới, những người theo chủ nghĩa nhân đạo và những người theo lý tưởng. Những tác nhân gây ấn tượng này, với con số bảy, cấu thành bảy dòng năng lượng gây ấn tượng khác nhau ảnh hưởng đến bảy loại cung. Các Ashram thống nhất, hình thành nên Ashram vĩ đại của Đức Christ, ảnh hưởng đến nhân loại như một tổng thể; Ashram thống nhất vĩ đại này hoạt động duy nhất thông qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà các thành viên thuộc về tất cả các cung, tất cả các cấp độ phát triển, và những người làm việc trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống và hoạt động con người.

c. The activity of the New Group of World Servers about which I have already written in my various pamphlets; therefore repetition is not necessary. (A Treatise on the Seven rays, II, 629-751. A Treatise on White Magic, 398-433)

c. Hoạt động của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà tôi đã viết trong các tập sách nhỏ khác nhau của mình; do đó việc lặp lại là không cần thiết. (Luận về Bảy Cung, II, 629-751. Luận về Chánh Thuật, 398-433)

It will be obvious to you that I have only touched upon a few, a very few, of the impressing forces of the planet, and have [47] enumerated only a few of the major groups which are—in their intrinsic nature—both recipients of impression and agents later of the impressing agent. When we arrive at the human family, this reciprocal activity is blocked by human selfishness; it is this “interruption of impression” and this “interference with the divine circulatory flow” which (as I have said above) is responsible for sin, for disease, and for all the various factors which make humanity today what it is. When the free flow of divine energy, of divine interplay and of spiritual purpose is re-established, then evil will disappear and the will-to-good will become factual goodwill upon the outer physical plane.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng Tôi chỉ đề cập đến một vài—rất ít—mãnh lực tạo ấn tượng của hành tinh, và [47] chỉ liệt kê một vài nhóm chủ yếu mà, xét theo bản chất nội tại, vừa tiếp nhận ấn tượng, vừa về sau trở thành tác nhân của chủ thể tạo ấn tượng. Khi xét đến gia đình nhân loại, hoạt động tương hỗ này bị tính ích kỷ của con người ngăn trở; chính sự “gián đoạn ấn tượng” và sự “cản trở dòng lưu chuyển thiêng liêng” này (như Tôi đã nói ở trên) gây nên tội lỗi, bệnh tật và mọi yếu tố khiến nhân loại có tình trạng như ngày nay. Khi dòng lưu chuyển thông suốt của năng lượng thiêng liêng, sự tương tác thiêng liêng và mục đích tinh thần được tái lập, điều ác sẽ biến mất và Ý Chí-hướng Thiện sẽ trở thành thiện chí thực sự trên cõi hồng trần bên ngoài.

In the statements given above in connection with the three great planetary centres you have the basis for the new and coming Approach to Divinity which will be known under the expression: Invocative and Evocative religion. It is this new Science of Impression which forms the subjective basis and the uniting element which binds together the entire realm of knowledge, of science and of religion. The fundamental ideas which underlie these great areas of human thought all emanate from intuitional levels; they finally condition the human consciousness, evoking man’s aspiration to penetrate deeper into the arcana of all wisdom, for which knowledge is the preparatory stage. This Science of Impression is the mode of life of the subjective world which lies between the world of external happenings (the world of appearances and of exoteric manifestation) and the inner world of reality. This is a point which should be most carefully taken into the calculations of the occult investigators. Impressions are received and registered; they form the basis of reflection for those aspirants who are sensitive enough to their impact and wise enough to record carefully in consciousness their emanating source. After due practice, this period of brooding upon the registered [48] impression is followed by another period wherein the impression begins to take form as an idea; from that point it follows the familiar course of translation from an idea into a presented ideal; it then comes under the invocative appeal of the more concrete-minded until it finally precipitates itself into outer manifestation and takes form. You will see, therefore, that what I am doing is to take the student a step further into the world of reception and perception and point him to the more subtle contacts which lie behind those concepts which are regarded as definitely nebulous and to which we give the name of intuitions.

Trong các tuyên bố được đưa ra ở trên liên quan đến ba trung tâm hành tinh lớn, các bạn có cơ sở cho Sự Tiếp Cận Thiên Tính mới và đang đến, sẽ được biết đến dưới cụm từ: Tôn giáo Khẩn cầu và Gợi lên. Chính Khoa học về Sự Ấn tượng mới này hình thành nên cơ sở chủ quan và yếu tố liên kết gắn kết toàn bộ lĩnh vực tri thức, khoa học và tôn giáo lại với nhau. Các ý tưởng cơ bản nằm dưới các lĩnh vực tư tưởng lớn này của con người đều phát ra từ các cấp độ trực giác; cuối cùng chúng định hình tâm thức con người, gợi lên khát vọng của con người thâm nhập sâu hơn vào những bí ẩn của mọi minh triết, mà tri thức là giai đoạn chuẩn bị. Khoa học về Sự Ấn tượng này là phương thức sinh hoạt của thế giới chủ quan nằm giữa thế giới của các sự kiện bên ngoài (thế giới của các vẻ ngoài và của biểu hiện ngoại môn) và thế giới nội tâm của thực tại. Đây là một điểm nên được các nhà điều tra huyền bí đưa vào tính toán một cách cẩn thận nhất. Các ấn tượng được tiếp nhận và ghi nhận; chúng hình thành cơ sở của sự suy ngẫm cho những người chí nguyện đủ nhạy cảm với tác động của chúng và đủ khôn ngoan để ghi lại cẩn thận trong tâm thức nguồn phát ra của chúng. Sau khi thực hành thích đáng, giai đoạn ấp ủ ấn tượng đã được ghi nhận này [48] được theo sau bởi một giai đoạn khác, trong đó ấn tượng bắt đầu thành hình như một ý tưởng; từ điểm đó, nó đi theo lộ trình quen thuộc của việc chuyển dịch từ một ý tưởng thành một lý tưởng được trình bày; sau đó nó đi vào dưới sự kêu gọi khẩn cầu của những người có trí tuệ cụ thể hơn cho đến khi cuối cùng nó ngưng tụ chính nó vào biểu hiện bên ngoài và mang lấy hình tướng. Do đó, các bạn sẽ thấy rằng những gì tôi đang làm là đưa người học bước thêm một bước vào thế giới của sự tiếp nhận và nhận thức và chỉ cho y những tiếp xúc tinh tế hơn nằm sau những khái niệm được coi là chắc chắn mơ hồ và mà chúng ta đặt tên là trực giác.

The Science of Impression—if studied by the disciples in the world and by the New Group of World Servers—will greatly facilitate the presentation of those ideals which must and will condition the thinking of the New Age and will eventually produce the new culture and the new civilised expression which lies ahead of humanity, superseding the present civilisation and providing the next field of expression for mankind. This science is, in fact, the basis of the theory of relationships and will lead to the expansion of the idea of right human relations which has hitherto—as a phrase—been confined to an ideal desire for correct interplay between man and man, group and group, and nation and nation; it has also hitherto been restricted to the human society and interplay, and remains as yet a hope and a wish. When, however, the Science of Impression has been correctly apprehended and has been brought down to the level of an educational objective, it will be found to be closely linked to the emerging teaching anent invocation and evocation and will be expanded to include not only right human relations to the superhuman kingdoms, but right human relations with the subhuman kingdoms also. It will, therefore, be concerned with the sensitive response of the entire natural and supernatural world to the “One in Whom we [49] live and move and have our being”; it will put mankind into a right relationship with all aspects and expressions of the divine nature, deepening subjective contact and bringing about a diviner objective manifestation and one more in line with divine purpose. It will lead to a great shift of the human consciousness off the levels of emotional and physical life (where the bulk of humanity is focussed) on to the levels of mental perception.

Khoa học về Sự Ấn tượng—nếu được nghiên cứu bởi các đệ tử trên thế giới và bởi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—sẽ tạo điều kiện thuận lợi đáng kể cho việc trình bày những lý tưởng vốn phải và sẽ định hình tư duy của Kỷ Nguyên Mới và cuối cùng sẽ tạo ra nền văn hóa mới và biểu hiện văn minh mới nằm ở phía trước của nhân loại, thay thế nền văn minh hiện tại và cung cấp trường biểu hiện tiếp theo cho loài người. Khoa học này, thực tế, là cơ sở của lý thuyết về các mối quan hệ và sẽ dẫn đến sự mở rộng ý tưởng về các mối quan hệ đúng đắn của con người vốn cho đến nay—như một cụm từ—đã bị giới hạn trong một mong muốn lý tưởng về sự tương tác đúng đắn giữa người với người, nhóm với nhóm, và quốc gia với quốc gia; cho đến nay nó cũng bị hạn chế trong xã hội và sự tương tác của con người, và vẫn chỉ là một hy vọng và một mong ước. Tuy nhiên, khi Khoa học về Sự Ấn tượng đã được lĩnh hội một cách chính xác và đã được đưa xuống cấp độ của một mục tiêu giáo dục, người ta sẽ thấy nó liên kết chặt chẽ với giáo huấn đang nổi lên về sự khẩn cầu và gợi lên và sẽ được mở rộng để bao gồm không chỉ các mối quan hệ đúng đắn của con người với các giới siêu nhân loại, mà còn các mối quan hệ đúng đắn của con người với các giới dưới nhân loại nữa. Do đó, nó sẽ liên quan đến sự đáp ứng nhạy cảm của toàn bộ thế giới tự nhiên và siêu nhiên đối với “Đấng mà trong Ngài chúng ta [49] sống, hoạt động và hiện hữu”; nó sẽ đưa loài người vào một mối quan hệ đúng đắn với tất cả các phương diện và biểu hiện của bản chất thiêng liêng, làm sâu sắc thêm sự tiếp xúc chủ quan và mang lại một biểu hiện khách quan thiêng liêng hơn và phù hợp hơn với mục đích thiêng liêng. Nó sẽ dẫn đến một sự chuyển dịch lớn của tâm thức con người khỏi các cấp độ của đời sống cảm xúc và vật lý (nơi phần lớn nhân loại đang tập trung) lên các cấp độ của nhận thức trí tuệ.

You will understand, consequently, the reason why the Knowers of the world have ever referred to the dual action of the mind as it is sensitive to the higher impressions and active in the mental creation of the needed thoughtforms. The mind, rightly trained, will seize upon the fugitive impression, subject it to the concretising effect of mental activity, produce the required form, and this, when correctly created and oriented, will finally lead to the externalising of the registered impression, as it took form in an intuition and eventually found its place upon the mental plane. You will see also why disciples and world workers have to function as MINDS, as receptive and perceptive intelligences and as creators in mental matter. It is all related to this Science of Impression with which we have been dealing. You will note also that this whole process is capable of expansion in the processes of meditation, so that the aspirant can be sensitive to impression and (because he is oriented to the world of ideas and is aware of the subtlety and delicacy of the apparatus required to register the “overshadowing cloud of knowable things”) is safeguarded from the sensitivity required to register impacts from other minds, good or bad in their orientation, and from the thought currents of that which is in process of taking form as well as from the powerful pull or urge of the emotional and desire reactions of the astral plane and of the emotionally polarised world in which he lives physically.

Do đó, các bạn sẽ hiểu lý do tại sao các Thức Giả của thế giới luôn đề cập đến hoạt động kép của thể trí khi nó nhạy cảm với các ấn tượng cao hơn và tích cực trong việc tạo ra các hình tư tưởng cần thiết về mặt trí tuệ. Tâm trí, được huấn luyện đúng cách, sẽ nắm bắt ấn tượng thoáng qua, đưa nó vào tác động cụ thể hóa của hoạt động trí tuệ, tạo ra hình thể cần thiết, và điều này, khi được tạo ra và định hướng chính xác, cuối cùng sẽ dẫn đến việc ngoại hiện ấn tượng đã được ghi nhận, khi nó thành hình trong một trực giác và cuối cùng tìm thấy vị trí của nó trên cõi trí. Các bạn cũng sẽ thấy tại sao các đệ tử và những người làm việc cho thế giới phải hoạt động như những THỂ TRÍ, như những trí năng tiếp nhận và nhận thức và như những nhà sáng tạo trong vật chất cõi trí. Tất cả đều liên quan đến Khoa học về Sự Ấn tượng này mà chúng ta đang giải quyết. Các bạn cũng sẽ lưu ý rằng toàn bộ quá trình này có khả năng mở rộng trong các quá trình tham thiền, để người chí nguyện có thể nhạy cảm với ấn tượng và (vì y được định hướng đến thế giới của các ý tưởng và nhận thức được sự tinh tế và mong manh của bộ máy cần thiết để ghi nhận “đám mây bao phủ của những điều khả tri”) được bảo vệ khỏi sự nhạy cảm cần thiết để ghi nhận các tác động từ các thể trí khác, tốt hay xấu trong định hướng của chúng, và khỏi các dòng tư tưởng của cái đang trong quá trình thành hình cũng như khỏi sức lôi kéo hoặc thúc đẩy mạnh mẽ của các phản ứng cảm xúc và dục vọng của cõi cảm dục và của thế giới bị phân cực về mặt cảm xúc mà trong đó y sống về mặt vật lý.

[50]

[50]

More understanding will come also if you grasp the fact that this Science of Impression is concerned with the activity of the head centre as an anchoring centre for the antahkarana, and that the ajna centre is concerned with the process of translating the recorded intuition into a form (through recognition of and reaction to a mental thoughtform) and its subsequent direction, as an ideal objective, into the world of men. In the early stages and until the third initiation, the Science of Impression is concerned with the establishing of a sensitivity (an invocative sensitivity) between the Spiritual Triad (temporarily expressing itself through the abstract mind and the soul or the Son of Mind) and the concrete mind. This mental triangle is a reflection, in time and space, of the Monad and of the two higher aspects of the Triad, and is reflected (after the process of invocation and a succeeding process of evocation) in another triad—that of the lower mind, the soul and the vital body. When the relation between the lower and the higher mind is correctly and stably established, you have the swinging into activity of the lowest triad connected with the Science of Impression—the head centre, the ajna centre and the throat centre.

Sự thấu hiểu thêm cũng sẽ đến nếu các bạn nắm bắt thực tế rằng Khoa học về Sự Ấn tượng này liên quan đến hoạt động của trung tâm đầu như một trung tâm neo giữ cho antahkarana, và rằng trung tâm ajna liên quan đến quá trình chuyển dịch trực giác đã được ghi lại thành một hình thể (thông qua sự nhận biết và phản ứng với một hình tư tưởng trí tuệ) và sự hướng dẫn tiếp theo của nó, như một mục tiêu lý tưởng, vào thế giới của con người. Trong các giai đoạn đầu và cho đến lần điểm đạo thứ ba, Khoa học về Sự Ấn tượng liên quan đến việc thiết lập một sự nhạy cảm (một sự nhạy cảm mang tính khẩn cầu) giữa Tam Nguyên Tinh Thần (tạm thời thể hiện chính nó qua trí trừu tượng và linh hồn hay Con của Trí Tuệ) và trí cụ thể. Tam giác trí tuệ này là một phản chiếu, trong thời gian và không gian, của Chân Thần và của hai phương diện cao hơn của Tam Nguyên, và được phản chiếu (sau quá trình khẩn cầu và quá trình gợi lên kế tiếp) trong một bộ ba khác—bộ ba của hạ trí, linh hồn và thể sinh lực. Khi mối quan hệ giữa hạ trí và thượng trí được thiết lập một cách chính xác và ổn định, các bạn có sự chuyển sang hoạt động của bộ ba thấp nhất kết nối với Khoa học về Sự Ấn tượng—trung tâm đầu, trung tâm ajna và trung tâm cổ họng.

In the above I have given you an interesting and brief elucidation of the technique to be applied to the energising of the centres in the human body. I would remind you that what is true of the individual disciple must be and is true of that great disciple—Humanity, the entire human family. It is also true, as an outgrowth of this idea, of all the three planetary centres: Shamballa, the Hierarchy and Humanity. The name Science of Impression is that given to the process whereby the establishment of the required relationship in all these units of life takes place. The Technique of Invocation and Evocation is the name given to the mode or method whereby the desired relationship is brought about. [51] The Creative Work is the name given to the manifestation of the results of the two above processes. The three aspects of the Technique of Invocation and Evocation with which the average disciple should concern himself are those of the building of the antahkarana, the correct use of the lower mind in its two higher functions (the holding of the mind steady in the light and the creation of the desired thoughtforms), and the process of precipitation whereby the impression is enabled eventually to take tangible form.

Trong phần trên, tôi đã đưa ra cho các bạn một sự giải thích ngắn gọn và thú vị về kỹ thuật được áp dụng cho việc tiếp năng lượng cho các trung tâm trong cơ thể con người. Tôi muốn nhắc nhở các bạn rằng những gì đúng với đệ tử cá nhân phải đúng và thực sự đúng đối với đệ tử vĩ đại đó—Nhân loại, toàn thể gia đình nhân loại. Nó cũng đúng, như một sự phát triển của ý tưởng này, đối với tất cả ba trung tâm hành tinh: Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại. Tên gọi Khoa học về Sự Ấn tượng là tên được đặt cho quá trình nhờ đó việc thiết lập mối quan hệ cần thiết trong tất cả các đơn vị sự sống này diễn ra. Kỹ thuật của Khẩn cầu và Gợi lên là tên được đặt cho phương thức hoặc phương pháp nhờ đó mối quan hệ mong muốn được mang lại. [51] Công việc Sáng tạo là tên được đặt cho biểu hiện của các kết quả của hai quá trình trên. Ba khía cạnh của Kỹ thuật của Khẩn cầu và Gợi lên mà người đệ tử trung bình nên quan tâm là việc xây dựng antahkarana, việc sử dụng đúng đắn hạ trí trong hai chức năng cao hơn của nó (giữ thể trí ổn định trong ánh sáng và tạo ra các hình tư tưởng mong muốn), và quá trình ngưng tụ nhờ đó ấn tượng cuối cùng được cho phép mang lấy hình tướng hữu hình.

In the above exegesis I have given you much food for thought in connection with telepathic possibilities; it all fits into the theme of world service as it is to be applied in the expansion of the human consciousness on a large scale. This is one of the major tasks of the New Group of World Servers.

Trong phần giải thích ở trên, tôi đã cung cấp cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm liên quan đến các khả năng viễn cảm; tất cả đều phù hợp với chủ đề phụng sự thế giới khi nó được áp dụng trong sự mở rộng tâm thức con người trên quy mô lớn. Đây là một trong những nhiệm vụ chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

VIII. THE SUPREME SCIENCE OF CONTACT—VIII. KHOA HỌC TỐI THƯỢNG VỀ SỰ TIẾP XÚC

[52]

[52]

It would be useful if you attempted to master and to assimilate what I have to impart anent the three great sciences which form the three modes of expression of what we might term the SUPREME SCIENCE OF CONTACT. These three sciences are all equally interdependent and all related to the art of responsiveness. They are:

Sẽ hữu ích nếu các bạn cố gắng làm chủ và đồng hóa những gì tôi phải truyền đạt về ba khoa học vĩ đại vốn hình thành nên ba phương thức biểu hiện của cái mà chúng ta có thể gọi là KHOA HỌC TỐI THƯỢNG VỀ SỰ TIẾP XÚC. Ba khoa học này đều phụ thuộc lẫn nhau như nhau và tất cả đều liên quan đến nghệ thuật của sự đáp ứng. Chúng là:

1. The Science of Impression… The will-to-be.

1. Khoa học về Sự Ấn tượng… Ý chí-hiện hữu.

Relation to the Spiritual Triad.

Mối quan hệ với Tam Nguyên Tinh Thần.

Source of emanation… Shamballa.

Nguồn phát ra… Shamballa.

Connected with the abstract mind.

Kết nối với trí trừu tượng.

2. The Science of Invocation and Evocation… Love or attraction.

2. Khoa học của Khẩn cầu và Gợi lên… Tình thương hay lực hấp dẫn.

Relation to the soul in all forms.

Mối quan hệ với linh hồn trong mọi hình tướng.

Source of emanation (at this time)… The Hierarchy.

Nguồn phát ra (vào lúc này)… Thánh Đoàn.

Connected with the lower mind, as the agent of the soul.

Kết nối với hạ trí, như tác nhân của linh hồn.

3. The Science of Telepathy… Mind. Human intelligence.

3. Khoa học Viễn cảm… Trí tuệ. Trí thông minh con người.

Relation to the personality.

Mối quan hệ với phàm ngã.

Source of emanation… Humanity itself.

Nguồn phát ra… Chính Nhân loại.

Connected with the head centre.

Kết nối với trung tâm đầu.

You will see how all these pairs of opposites play their part, exemplifying the dualistic nature of our planetary Life: [53]

Các bạn sẽ thấy tất cả các cặp đối lập này đóng vai trò của chúng như thế nào, minh họa cho bản chất nhị nguyên của Sự Sống hành tinh của chúng ta: [53]

1. The abstract mind and the lower mind.

1. Trí trừu tượng và hạ trí.

2. The soul and the lower mind.

2. Linh hồn và hạ trí.

3. The lower mind and the head centre.

3. Hạ trí và trung tâm đầu.

Each of them acts as an invocative agent and produces evocation. All act as recipients and as transmitters, and all of them together establish the group inter-relation and the circulation of the energies which are the distinctive characteristic of the entire world of force.

Mỗi cái trong số chúng hành động như một tác nhân khẩn cầu và tạo ra sự gợi lên. Tất cả hành động như những người nhận và như những người truyền phát, và tất cả chúng cùng nhau thiết lập mối tương quan nhóm và sự luân chuyển của các năng lượng vốn là đặc điểm đặc trưng của toàn bộ thế giới của lực.

One point you all need to grasp is that the progressing disciple does not move into new fields or areas of awareness, like a steady marching forward from one plane to another (as the visual symbols of the theosophical literature would indicate). What must be grasped is that all that IS is ever present. What we are concerned with is the constant awakening to that which eternally IS, and to what is ever present in the environment but of which the subject is unaware, owing to short-sightedness. The aim must be to overcome the undue concentration upon the foreground of daily life which characterises most people, the intense preoccupation with the interior states or moods of the lower self which characterises the spiritually minded people and the aspirants, and the imperviousness or lack of sensitivity which characterises the mass of men. The Kingdom of God is present on Earth today and forever has been, but only a few, relatively speaking, are aware of its signs and manifestations. The world of subtle phenomena (called formless, because unlike the physical phenomena with which we are so familiar) is ever with us and can be seen and contacted and proved as a field for experiment and experience and activity if the mechanism of perception is developed as it surely can be. The sounds and sights of the heavenly world (as the mystics call it) are as clearly perceived by [54] the higher initiate as are the sights and sounds of the physical plane as you contact it in your daily round of duties. The world of energies, with its streams of directed force and its centres of concentrated light is likewise present, and the eye of the see-er can see it, just as the eye of the mental clairvoyant can see the geometrical pattern which thoughts assume upon the mental plane, or as the lower psychic can contact the glamours, the illusions and delusions of the astral world. The subjective realm is vitally more real than is the objective, once it is entered and known. It is simply (how simple to some and how insuperably difficult to others, apparently!) a question of the acceptance, first of all, of its existence, the development of a mechanism of contact, the cultivation of the ability to use this mechanism at will, and then inspired interpretation.

Một điểm mà tất cả các bạn cần nắm bắt là người đệ tử đang tiến bước không di chuyển vào các lĩnh vực hoặc khu vực nhận thức mới, giống như một cuộc hành quân đều đặn về phía trước từ cõi này sang cõi khác (như các biểu tượng trực quan của văn học thông thiên học có thể chỉ ra). Điều cần phải nắm bắt là tất cả những gì HIỆN HỮU luôn hiện diện. Điều chúng ta quan tâm là sự thức tỉnh liên tục đối với cái vĩnh viễn HIỆN HỮU, và đối với những gì luôn hiện diện trong môi trường nhưng chủ thể không nhận thức được, do sự thiển cận. Mục tiêu phải là vượt qua sự tập trung thái quá vào cận cảnh của cuộc sống hàng ngày vốn đặc trưng cho hầu hết mọi người, sự bận tâm mãnh liệt với các trạng thái nội tâm hoặc tâm trạng của phàm ngã vốn đặc trưng cho những người hướng đến tinh thần và những người chí nguyện, và sự không tiếp nhận hoặc thiếu nhạy cảm vốn đặc trưng cho đại chúng. Thiên Giới đang hiện diện trên Trái Đất hôm nay và đã luôn hiện diện, nhưng chỉ một số ít, nói một cách tương đối, nhận thức được các dấu hiệu và biểu hiện của nó. Thế giới của các hiện tượng tinh tế (được gọi là vô tướng, vì không giống như các hiện tượng vật lý mà chúng ta quá quen thuộc) luôn ở bên chúng ta và có thể được nhìn thấy, tiếp xúc và chứng minh như một lĩnh vực cho thử nghiệm và trải nghiệm và hoạt động nếu cơ chế nhận thức được phát triển như nó chắc chắn có thể được. Những âm thanh và cảnh tượng của thế giới thiên thượng (như các nhà thần bí gọi nó) được nhận thức rõ ràng bởi [54] điểm đạo đồ cao cấp cũng như những cảnh tượng và âm thanh của cõi hồng trần khi bạn tiếp xúc với nó trong vòng quay nhiệm vụ hàng ngày của mình. Thế giới của các năng lượng, với các dòng lực được định hướng và các trung tâm ánh sáng tập trung của nó cũng hiện diện tương tự, và mắt của nhà thông nhãn có thể nhìn thấy nó, cũng giống như mắt của nhà thông nhãn trí tuệ có thể nhìn thấy mô hình hình học mà các tư tưởng đảm nhận trên cõi trí, hoặc như nhà thông linh thấp có thể tiếp xúc với các ảo cảm, ảo tưởng và vọng tưởng của thế giới cảm dục. Lĩnh vực chủ quan thực sự thực hơn so với khách quan, một khi nó được thâm nhập và được biết đến. Đơn giản (thật đơn giản đối với một số người và khó khăn không thể vượt qua đối với những người khác, dường như vậy!) chỉ là một vấn đề của sự chấp nhận, trước hết, về sự tồn tại của nó, sự phát triển của một cơ chế tiếp xúc, sự trau dồi khả năng sử dụng cơ chế này theo ý muốn, và sau đó là sự diễn giải được soi sáng.

Its Goal in the Evolutionary Life Process—Mục Tiêu Của Nó Trong Quá Trình Sự Sống Tiến Hóa

It might be said that consciousness itself, which is the goal—on this planet—of all the evolutionary process, is simply the demonstrated result of the Science of Contact. It is likewise the goal in some form or other and at some stage or other of all planetary existences within the solar system itself. The unfoldment of this conscious response is, in reality, the growth of the sensitive awareness of the planetary Logos HIMSELF. The human mechanism and its ability to respond to its environment (as science well knows) has been developed in response to an inner urge, present in every human being and in all forms of life, and to the “pull” and magnetic effect of the surrounding environment. Step by step, the forms of life upon the physical plane, down through the ages, have unfolded one sense after another; one form of sensitive response after another becomes possible as the mechanism is produced, until the human being can receive impressions from the physical plane and rightly interpret them; can respond to the emotional contacts of the astral plane and succumb to them or [55] surmount them; and can become telepathic to the world of the mental plane, thus sharing—physically, emotionally and mentally—in the life and contacts of the three worlds which constitute his environment and in which he is submerged whilst in incarnation. What he gets out of this life of constant impression is largely dependent upon his power to invoke his environment and draw from it (in evocative response) what he needs in all the various departments of his being. This, in its turn, forces him—whether he likes it or not—to produce an effect upon other people; this can be far more potent for good or evil, and from the telepathic angle, than he likes to think or can conceive. You see, therefore, how these sciences of Impression, of Invocation and Evocation, and of Telepathy are naturally concerned with what is inherent in man and in his relation to his environment and circumstances.

Có thể nói rằng chính tâm thức, vốn là mục tiêu—trên hành tinh này—của tất cả quá trình tiến hóa, chỉ đơn giản là kết quả biểu hiện của Khoa học về Sự Tiếp xúc. Nó cũng là mục tiêu dưới hình thức này hay hình thức khác và ở giai đoạn này hay giai đoạn khác của tất cả các sự tồn tại hành tinh trong chính hệ mặt trời. Sự mở ra của đáp ứng có ý thức này, trong thực tế, là sự phát triển của nhận thức nhạy cảm của CHÍNH Hành Tinh Thượng Đế. Cơ chế con người và khả năng đáp ứng với môi trường của nó (như khoa học biết rõ) đã được phát triển để đáp ứng với một sự thúc đẩy bên trong, hiện diện trong mỗi con người và trong mọi hình thái sự sống, và với “sức lôi kéo” và tác dụng từ tính của môi trường xung quanh. Từng bước một, các hình thái sự sống trên cõi hồng trần, trải qua các thời đại, đã mở ra hết giác quan này đến giác quan khác; hết hình thức đáp ứng nhạy cảm này đến hình thức khác trở nên khả thi khi cơ chế được tạo ra, cho đến khi con người có thể nhận các ấn tượng từ cõi hồng trần và diễn giải chúng đúng đắn; có thể đáp ứng với các tiếp xúc cảm xúc của cõi cảm dục và khuất phục trước chúng hoặc [55] vượt qua chúng; và có thể trở nên viễn cảm đối với thế giới của cõi trí, do đó chia sẻ—về mặt vật lý, cảm xúc và trí tuệ—trong sự sống và các tiếp xúc của ba cõi vốn cấu thành môi trường của y và trong đó y bị chìm ngập khi đang lâm phàm. Những gì y nhận được từ cuộc sống đầy ấn tượng liên tục này phần lớn phụ thuộc vào quyền năng của y để khẩn cầu môi trường của mình và rút ra từ đó (trong sự đáp ứng gợi lên) những gì y cần trong tất cả các bộ phận khác nhau của bản thể mình. Điều này, đến lượt nó, buộc y—dù y có thích hay không—phải tạo ra một tác dụng lên những người khác; điều này có thể mạnh mẽ hơn nhiều cho điều tốt hoặc điều xấu, và từ góc độ viễn cảm, hơn là y thích nghĩ hoặc có thể quan niệm. Do đó, các bạn thấy các khoa học về Sự Ấn tượng, về Khẩn cầu và Gợi lên, và về Viễn cảm này liên quan một cách tự nhiên như thế nào với những gì vốn có trong con người và trong mối quan hệ của y với môi trường và hoàn cảnh của mình.

The germ or embryonic capacity for all types of planetary contact is inherent in every man and will not be frustrated in the long run. In this knowledge of goals already achieved in the three worlds lies the guarantee of achievement in the more subjective worlds which are present within the aspirant’s surroundings but to which he remains as yet unawakened and unenlightened. I am seeking to make the matter as simple as I can, for much of the abstract formulations of the occult sciences and the academic psychologists are incident to the over-activity of men’s minds and emotional natures. If you can grasp certain broad and relatively simple facts and recognise that you possess the key or the clue in your already developed capacities, then you will go forward with simplicity, making no undue intellectual difficulties when dealing with these more subtle phases of your ever-existent environment. It is, in the last analysis, just a question as to what “impresses” you at any given moment, and then in what manner it conditions you. [56]

Mầm mống hay khả năng phôi thai cho mọi loại tiếp xúc hành tinh vốn có trong mỗi người và sẽ không bị thất bại về lâu dài. Trong sự hiểu biết về các mục tiêu đã đạt được trong ba cõi này nằm sự đảm bảo cho thành tựu trong các thế giới chủ quan hơn vốn hiện diện trong môi trường xung quanh của người chí nguyện nhưng đối với chúng y vẫn chưa thức tỉnh và chưa được soi sáng. Tôi đang tìm cách làm cho vấn đề trở nên đơn giản nhất có thể, vì phần lớn các công thức trừu tượng của các khoa học huyền bí và các nhà tâm lý học hàn lâm là hệ quả của sự hoạt động thái quá của thể trí và bản chất cảm xúc của con người. Nếu các bạn có thể nắm bắt một số sự kiện rộng lớn và tương đối đơn giản và nhận ra rằng các bạn sở hữu chìa khóa hoặc manh mối trong các khả năng đã phát triển của mình, thì các bạn sẽ tiến tới với sự đơn giản, không tạo ra những khó khăn trí tuệ không đáng có khi giải quyết những giai đoạn tinh tế hơn này của môi trường luôn tồn tại của các bạn. Trong phân tích cuối cùng, nó chỉ là một câu hỏi về cái gì “gây ấn tượng” cho bạn tại bất kỳ thời điểm nhất định nào, và sau đó nó ảnh hưởng và định hình bạn theo cách nào. [56]

You will see, therefore, how much that I have already said links up with the teaching I have given upon the Points of Revelation. In the very condensed summation of the Science of Impression, I touched briefly upon the three great groups of Lives that are constantly under “impression” and which, in their turn, become “impressing agents.” There is little that can be added to this theme with profit at this time; what has already been given should be studied and related to the teaching on the Points of Revelation. (Discipleship in the New Age, Vol II, Section 3)

Do đó, các bạn sẽ thấy bao nhiêu điều tôi đã nói liên kết với giáo huấn tôi đã đưa ra về các Điểm Mặc Khải. Trong phần tóm tắt rất cô đọng của Khoa học về Sự Ấn tượng, tôi đã chạm ngắn gọn vào ba nhóm Sự Sống vĩ đại thường xuyên chịu “sự ấn tượng” và những nhóm này, đến lượt mình, trở thành các “tác nhân gây ấn tượng”. Có rất ít điều có thể được thêm vào chủ đề này với lợi ích vào lúc này; những gì đã được đưa ra nên được nghiên cứu và liên hệ với giáo huấn về các Điểm Mặc Khải. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Quyển II, Phần 3)

Revelation is a generic term covering all the responses to the activities of the eye of the mind, the eye of the soul, and the “insight” of the Universal Mind which contact with the Monad gives. Sight is the greatest of all the developments in this world period in which the Logos is seeking to bring the subhuman kingdoms to the point where human vision is theirs, to bring humanity to the point where spiritual vision is developed and hierarchical insight is the normal quality of the initiate sight, and to bring the Members of the Hierarchy to the point where universal perception is Theirs. Therefore, it might be said that:

Mặc khải là một thuật ngữ chung bao gồm tất cả các phản ứng đối với các hoạt động của con mắt của thể trí, con mắt của linh hồn, và “cái nhìn thấu suốt” của Vũ Trụ Trí mà sự tiếp xúc với Chân Thần mang lại. Thị giác là sự phát triển vĩ đại nhất trong tất cả các sự phát triển trong chu kỳ thế giới này, trong đó Thượng đế đang tìm cách đưa các giới dưới nhân loại đến điểm mà tầm nhìn con người là của họ, đưa nhân loại đến điểm mà tầm nhìn tinh thần được phát triển và cái nhìn thấu suốt của thánh đoàn là phẩm tính bình thường của thị giác điểm đạo đồ, và đưa các Thành viên của Thánh Đoàn đến điểm mà nhận thức phổ quát là của Các Ngài. Do đó, có thể nói rằng:

1. Through the door of individualisation the subhuman kingdoms pass to human vision, leading to mental contact and intelligent impression.

1. Qua cửa ngõ biệt ngã hóa các giới dưới nhân loại đi đến tầm nhìn con người, dẫn đến tiếp xúc trí tuệ và ấn tượng thông minh.

2. Through the door of initiation humanity passes to spiritual vision, leading to soul contact and spiritual impression.

2. Qua cửa ngõ điểm đạo nhân loại đi đến tầm nhìn tinh thần, dẫn đến tiếp xúc linh hồn và ấn tượng tinh thần.

3. Through the door of identification the Hierarchy passes to universal vision, leading to monadic contact and extra-planetary impression.

3. Qua cửa ngõ đồng nhất hóa Thánh Đoàn đi đến tầm nhìn phổ quát, dẫn đến tiếp xúc chân thần và ấn tượng ngoài hành tinh.

Each time that there is a fresh vision of a compelling and conditioning nature, it is the result of invocation by the [57] one seeking the new impression. When this invocative spirit is present, the results are inevitable and sure and the response evoked cannot be stopped. This is the basis of all the success of desire (material or otherwise), aspiration, prayer and meditation. Always we get—in time and space—what we invoke; and the knowledge of this fact, scientifically applied, will be one of the great liberating forces for humanity.

Mỗi khi có một tầm nhìn mới mẻ có sức thôi thúc và định hình, đó là kết quả của sự khẩn cầu bởi [57] người đang tìm kiếm ấn tượng mới. Khi tinh thần khẩn cầu này hiện diện, các kết quả là không thể tránh khỏi và chắc chắn và sự đáp ứng được gợi lên không thể bị ngăn chặn. Đây là cơ sở của tất cả sự thành công của dục vọng (vật chất hay cách khác), khát vọng, cầu nguyện và tham thiền. Luôn luôn chúng ta nhận được—trong thời gian và không gian—những gì chúng ta khẩn cầu; và tri thức về thực tế này, được áp dụng một cách khoa học, sẽ là một trong những lực giải phóng vĩ đại cho nhân loại.

IX. EXPANDING AREAS OF CONSCIOUS INTERACTION—IX. CÁC LĨNH VỰC TƯƠNG TÁC CÓ Ý THỨC ĐANG MỞ RỘNG

[58]

[58]

The training given by the Masters in Their Ashrams to Their disciples has one main objective: to increase, develop and enable them to utilise in service their inherent and innate sensitivity. Let us, as we discuss these matters, avoid that much over-worked word “vibration” and use instead the more simple and more easily understood word “impact”. Response to impact is something we all register. Our five senses have opened to all people five great realms from which impact comes, and we are so familiar with them all that our response is now automatic and, though registered, is not consciously so, unless there is a planned reason and direction intended. We respond similarly and as automatically to emotional stimuli, and rapidly (very rapidly) the race is reaching out towards mental telepathy. Some few are beginning to work along the lines of spiritual telepathy. Few do more than register occasionally contacts emanating from a high source, and the result is usually also over-mixed with personality reactions.

Sự huấn luyện được các Chân sư đưa ra trong các Ashram của Các Ngài cho các đệ tử của Các Ngài có một mục tiêu chính: gia tăng, phát triển và cho phép họ sử dụng trong phụng sự sự nhạy cảm vốn có và bẩm sinh của họ. Khi thảo luận về những vấn đề này, chúng ta hãy tránh từ “rung động” bị lạm dụng quá nhiều và thay vào đó sử dụng từ đơn giản hơn và dễ hiểu hơn là “tác động”. Đáp ứng với tác động là điều tất cả chúng ta đều ghi nhận. Năm giác quan của chúng ta đã mở ra cho tất cả mọi người năm lĩnh vực lớn từ đó tác động đến, và chúng ta quá quen thuộc với tất cả chúng đến nỗi phản ứng của chúng ta giờ đây là tự động và, mặc dù được ghi nhận, nhưng không phải là một cách có ý thức, trừ khi có một lý do được hoạch định và hướng đi được dự định. Chúng ta đáp ứng tương tự và tự động như vậy đối với các kích thích cảm xúc, và nhanh chóng (rất nhanh chóng) nhân loại đang vươn tới viễn cảm trí tuệ. Một số ít đang bắt đầu làm việc theo các đường lối của viễn cảm tinh thần. Rất ít người làm được nhiều hơn việc thỉnh thoảng ghi nhận các tiếp xúc phát ra từ một nguồn cao cả, và kết quả thường cũng bị pha trộn quá mức với các phản ứng của phàm ngã.

Contact, with resultant impact from the soul, is also quite rapidly developing, hence the necessity for my laying the foundations of further knowledge which will clarify still higher contact, emanating from the Spiritual Triad and opening up areas of interaction hitherto known only to the Hierarchy. I refer here to the teaching which I have given out through a group of my disciples anent the Antahkarana. (Education in the New Age. A Treatise on the Seven rays, Volume V) All such developing contacts involve conditions covered by the two words: Contact and Impact. [59]

Sự tiếp xúc, với tác động từ linh hồn phát sinh qua sự tiếp xúc ấy, cũng đang phát triển khá nhanh chóng, do đó sự cần thiết cho việc tôi đặt nền móng của tri thức xa hơn vốn sẽ làm rõ sự tiếp xúc còn cao hơn nữa, phát ra từ Tam Nguyên Tinh Thần và mở ra các lĩnh vực tương tác cho đến nay chỉ được Thánh Đoàn biết đến. Tôi tham chiếu ở đây đến giáo huấn mà tôi đã đưa ra thông qua một nhóm các đệ tử của tôi về Antahkarana. (Giáo Dục trong Kỷ Nguyên Mới. Luận về Bảy Cung, Quyển V) Tất cả các tiếp xúc đang phát triển như vậy đều liên quan đến các điều kiện được bao hàm bởi hai từ: Tiếp xúc và Tác động. [59]

1. Contact can be defined (for our particular purposes) as recognition of an environment, an area of the hitherto unknown, of that which has somehow been evoked, of a something other which has made its presence felt. This something other than the Perceiver has usually been earlier sensed, has been propounded into a theoretical possibility, has later been invoked by the directed and conscious attention of the one who has sensed its presence, and finally contact is made.

1. Tiếp xúc có thể được định nghĩa (cho các mục đích cụ thể của chúng ta) như sự nhận biết về một môi trường, một khu vực của cái chưa được biết đến cho đến nay, về cái gì đó bằng cách nào đó đã được gợi lên, về một cái gì đó khác đã làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy. Cái gì đó khác này ngoài Người Nhận Thức thường đã được cảm nhận trước đó, đã được đề xuất thành một khả năng lý thuyết, sau đó đã được khẩn cầu bởi sự chú ý có định hướng và có ý thức của người đã cảm nhận sự hiện diện của nó, và cuối cùng sự tiếp xúc được thực hiện.

2. Impact is something more than simply registering contact. It develops into conscious interaction; it conveys later information; it is revelatory in nature, and can be defined in its initial stages as the guarantee to the one who responds to it of a new area for exploration and for spiritual adventure, and as the indication of a wider field wherein consciousness may expand more and more and register increasingly the divine purpose waiting to be more fully known.

2. Tác động là một cái gì đó hơn cả việc đơn thuần ghi nhận sự tiếp xúc. Nó phát triển thành sự tương tác có ý thức; nó truyền tải thông tin sau đó; nó có tính chất mặc khải, và có thể được định nghĩa trong các giai đoạn ban đầu của nó như sự đảm bảo cho người đáp ứng với nó về một khu vực mới cho sự khám phá và cho cuộc phiêu lưu tinh thần, và như chỉ báo về một lĩnh vực rộng lớn hơn trong đó tâm thức có thể mở rộng ngày càng nhiều và ghi nhận ngày càng tăng mục đích thiêng liêng đang chờ đợi để được biết đến đầy đủ hơn.

Therefore, from the more normal field of what we may call ordinary telepathic perception (just now coming to recognition by ordinary science), through a slowly learnt process of invocation and evocation, to a state of consciousness distinguished by a trained sensitivity, the disciple moves. He unfolds a spiritual recognition which is controlled, understood, and directed to useful hierarchical ends. In these words, you have a very simple definition of the process to which we give, technically, the name: The Science of Impression.

Do đó, từ lĩnh vực bình thường hơn của cái mà chúng ta có thể gọi là nhận thức viễn cảm thông thường (ngay bây giờ mới được khoa học thông thường công nhận), thông qua một quá trình khẩn cầu và gợi lên được học hỏi chậm rãi, đến một trạng thái tâm thức được phân biệt bởi một sự nhạy cảm được huấn luyện, người đệ tử tiến bước. Y mở ra một sự nhận biết tinh thần được kiểm soát, thấu hiểu, và hướng đến các mục đích hữu ích của Thánh đoàn. Trong những lời này, các bạn có một định nghĩa rất đơn giản về quá trình mà chúng ta đặt tên, về mặt kỹ thuật, là: Khoa học về Sự Ấn tượng.

Another point to remember is that this science is the basic Science of Sensitivity; it is the art of all responsiveness to phenomena and is peculiarly applied to the reaction, the recognition, the responsiveness, and the registration of all [60] phenomena to be found throughout the cosmic physical plane. This is the plane whereon our entire threefold planetary Life finds expression and which we have subdivided (for the sake of clear thinking) into the seven planes (so called) of our solar system—from what we call our lowest physical plane up to our highest plane, the logoic. In the earlier stages of responsiveness to the two phases of contact and impact, the first task is to develop the needed apparatus of contact, the medium of learning, the mechanism of registration, and then learning to use it constructively and intelligently. This work proceeds from cycle to cycle, in the earliest stages, with no conscious intention on the part of the unit of life, thus developing; yet field after field of consciousness is slowly recorded, and area after area of the surrounding physical, mental and spiritual worlds come within the arena of perception, and are mastered and controlled, until eventually the unit of life (I know not what else to call it) becomes the human being, self-directed, an individual. Finally the man becomes the Master, controlling and directing within the periphery of His wide awareness, in consonance with the divine Mind and Plan.

Một điểm khác cần nhớ là khoa học này là Khoa học cơ bản về Tính Nhạy cảm; nó là nghệ thuật của mọi sự đáp ứng đối với các hiện tượng và được áp dụng đặc biệt cho phản ứng, sự nhận biết, sự đáp ứng, và sự ghi nhận của tất cả [60] các hiện tượng được tìm thấy trên khắp cõi hồng trần vũ trụ. Đây là cõi giới mà trên đó toàn bộ Sự Sống hành tinh tam phân của chúng ta tìm thấy biểu hiện và cái mà chúng ta đã chia nhỏ (vì mục đích tư duy rõ ràng) thành bảy cõi (được gọi như vậy) của hệ mặt trời của chúng ta—từ cái chúng ta gọi là cõi hồng trần thấp nhất lên đến cõi cao nhất của chúng ta, cõi thượng đế. Trong các giai đoạn sớm hơn của sự đáp ứng đối với hai giai đoạn tiếp xúc và tác động, nhiệm vụ đầu tiên là phát triển bộ máy tiếp xúc cần thiết, phương tiện học hỏi, cơ chế ghi nhận, và sau đó học cách sử dụng nó một cách xây dựng và thông minh. Công việc này tiến hành từ chu kỳ này sang chu kỳ khác, trong các giai đoạn sớm nhất, không có ý định có ý thức từ phía đơn vị sự sống đang phát triển như vậy; tuy nhiên hết lĩnh vực tâm thức này đến lĩnh vực tâm thức khác được ghi lại một cách chậm rãi, và hết khu vực này đến khu vực khác của các thế giới vật lý, trí tuệ và tinh thần xung quanh đi vào đấu trường của nhận thức, và được làm chủ và kiểm soát, cho đến khi cuối cùng đơn vị sự sống (tôi không biết gọi nó là gì khác) trở thành con người, tự định hướng, một cá thể. Cuối cùng con người trở thành Chân sư, kiểm soát và chỉ đạo trong phạm vi nhận thức rộng lớn của Ngài, phù hợp với Trí tuệ và Thiên Cơ thiêng liêng.

But—and this is a point I seek to impress upon you—humanity, subjected to this constant process of expansion from the emergence of the fourth kingdom in nature, the human, has now reached the stage where it can begin to pass out of the control of what has been called the Law of Triple Response into a new phase of unfoldment where a recognised dualism dominates. This is a most important statement. Let me word it in this way and let me commend to you a very careful consideration of my words. I will express what I seek to impart in certain short sentences and in tabulation form: [61]

Nhưng—và đây là một điểm tôi tìm cách khắc sâu vào các bạn—nhân loại, chịu sự chi phối của quá trình mở rộng liên tục này từ sự xuất hiện của giới thứ tư trong tự nhiên, giới nhân loại, giờ đây đã đạt đến giai đoạn mà nó có thể bắt đầu thoát ra khỏi sự kiểm soát của cái được gọi là Định luật về Sự Đáp Ứng Tam Phân vào một giai đoạn mở ra mới nơi một tính nhị nguyên được công nhận thống trị. Đây là một tuyên bố quan trọng nhất. Hãy để tôi diễn đạt nó theo cách này và để tôi đề nghị các bạn xem xét thật cẩn thận những lời của tôi. Tôi sẽ diễn đạt những gì tôi tìm cách truyền đạt trong những câu ngắn nhất định và dưới dạng bảng biểu: [61]

1. The advanced man in the three worlds is conscious of two inherent triplicities:

1. Con người tiến hóa trong ba cõi có ý thức về hai bộ ba vốn có:

a. The lower man…….. Physical body. Astral nature. Mind.

a. Con người phàm tục…….. Thể xác. Bản chất cảm dục. Thể trí.

b. The three periodical vehicles….. Monad. Soul. Personality.

b. Ba vận cụ định kỳ….. Chân Thần. Linh hồn. Phàm ngã.

2. Soul and personality have made contact. He is now technically soul-infused. Two periodical vehicles have been at-oned. Three lower vehicles and the soul are united.

2. Linh hồn và phàm ngã đã tiếp xúc. Y giờ đây về mặt kỹ thuật là được linh hồn thấm nhuần. Hai vận cụ định kỳ đã được hợp nhất. Ba thể thấp và linh hồn được hợp nhất.

3. The etheric body is at the point of assuming great power. It can now be consciously used as a transmitter of:

3. Thể dĩ thái đang ở điểm đảm nhận quyền năng lớn lao. Giờ đây nó có thể được sử dụng một cách có ý thức như một thiết bị truyền phát của:

a. Energy and forces, consciously directed.

a. Năng lượng và các lực, được định hướng một cách có ý thức.

b. Impacts from the highest of the periodical vehicles, working through its instrument, the Spiritual Triad.

b. Các tác động từ vận cụ cao nhất trong các vận cụ định kỳ, hoạt động thông qua công cụ của nó, Tam Nguyên Tinh Thần.

4. The etheric body is, therefore, the agent consciously directed, of the rapidly integrating spiritual unity. It can convey into the brain the needed energies and that occult information which together make a man a Master of the Wisdom and eventually a Christ—all-inclusive in HIS developed attractive and magnetic power.

4. Do đó, thể dĩ thái là tác nhân được định hướng một cách có ý thức, của sự thống nhất tinh thần đang tích hợp nhanh chóng. Nó có thể chuyển tải vào bộ não những năng lượng cần thiết và thông tin huyền bí vốn cùng nhau làm cho một người trở thành một Chân sư Minh triết và cuối cùng là một Đấng Christ—bao gồm tất cả trong quyền năng hấp dẫn và từ tính đã phát triển của NGÀI.

Earlier I made the following statement which, as you study it, will summarise the above detailed analysis. I said, defining impression, that it “concerns the engendering of a magnetic aura on which the highest impressions can play.” (See Chart The Constitution of Man.) This might also serve as a definition of the art of invocation and evocation. As the man (for we will not consider this science apart from him, as it would include too vast a field) becomes sensitive to his environment, as the forces of evolution [62] play upon him and lead him on from stage to stage, from point to point, from plane to plane, and from height to height, he becomes enriched and increasingly magnetic. As this attractive or magnetic force increases, he himself becomes invocative; this outgoing demand, emanating from or through the aura which he has engendered brings to him a developing revelation. This revelation, in its turn, enriches the magnetic field of his aura so that he becomes a revealing centre to those whose field of experience and aura need the stimulus of his practised assurance.

Trước đó tôi đã đưa ra tuyên bố sau đây, khi các bạn nghiên cứu nó, sẽ tóm tắt phân tích chi tiết ở trên. Tôi đã nói, khi định nghĩa ấn tượng, rằng nó “liên quan đến việc tạo ra một hào quang từ tính mà trên đó các ấn tượng cao nhất có thể tác động.” (Xem Biểu đồ Cấu tạo của Con người.) Điều này cũng có thể phục vụ như một định nghĩa về nghệ thuật khẩn cầu và gợi lên. Khi con người (vì chúng ta sẽ không xem xét khoa học này tách biệt khỏi y, vì nó sẽ bao gồm một lĩnh vực quá rộng lớn) trở nên nhạy cảm với môi trường của mình, khi các lực của tiến hóa [62] tác động lên y và dẫn dắt y đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, từ điểm này sang điểm khác, từ cõi này sang cõi khác, và từ đỉnh cao này sang đỉnh cao khác, y được làm phong phú và ngày càng có từ tính. Khi lực hấp dẫn hoặc từ tính này gia tăng, chính y trở nên có tính khẩn cầu; nhu cầu hướng ra ngoài này, phát ra từ hoặc thông qua hào quang mà y đã tạo ra mang đến cho y một sự mặc khải đang phát triển. Sự mặc khải này, đến lượt nó, làm giàu từ trường hào quang của y để y trở thành một trung tâm mặc khải cho những người mà lĩnh vực kinh nghiệm và hào quang của họ cần sự kích thích từ sự vững tin mà y đã rèn luyện được.

Finally, it might be said that the entire human kingdom will eventually be a major magnetic centre upon our planet, invoking all the higher kingdoms upon the formless planes and evoking all the lower or subhuman kingdoms upon the planes of form. Some day, two-thirds of the human family will be sensitive to impacts coming from the Mind of God, as that Mind fulfils its intentions and carries out its purposes within our planetary ring-pass-not. In its turn, humanity will provide the area of mind within whose ring-pass-not the subhuman kingdoms will find the correspondence of the Universal Mind which they need for their unfoldment; man, as you well know, is the macrocosm for the microcosm of the lower kingdoms in nature. This is the goal of all human service.

Cuối cùng, có thể nói rằng toàn bộ giới nhân loại cuối cùng sẽ là một trung tâm từ tính lớn trên hành tinh của chúng ta, khẩn cầu tất cả các giới cao hơn trên các cõi vô tướng và gợi lên tất cả các giới thấp hơn hoặc dưới nhân loại trên các cõi hình tướng. Một ngày nào đó, hai phần ba gia đình nhân loại sẽ nhạy cảm với các tác động đến từ Trí của Thượng đế, khi Trí đó hoàn thành các ý định của nó và thực hiện các mục đích của nó trong vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta. Đến lượt mình, nhân loại sẽ cung cấp lĩnh vực trí tuệ mà trong vòng-giới-hạn của nó các giới dưới nhân loại sẽ tìm thấy sự tương ứng của Vũ Trụ Trí mà chúng cần cho sự mở ra của chúng; con người, như các bạn biết rõ, là đại thiên địa đối với tiểu thiên địa của các giới thấp hơn trong tự nhiên. Đây là mục tiêu của tất cả sự phụng sự của con người.

What I have said up to this point anent the Science of Impression, if read also in connection with the teaching on the Points of Revelation, (Discipleship in the New Age, Volume. II, Section 3) will convey much enlightenment. However, deep reflection is called for. The Science of Impression might be regarded, in the last analysis, as the fundamental science of consciousness itself, for the result of contact and impact leads to the awakening and the unfoldment of consciousness and of that growing awareness which distinguishes every form throughout the manifested [63] world.Every form has its own area of awareness, and evolution is the process whereby forms respond to contact, react to impact, and pass on to greater development, usefulness and effectiveness. The Law of Evolution and the Science of Impression cover the unfoldment of consciousness and bring about adaptability to the immanent soul. Modern science, through its work in the fields of psychology and medicine (to mention only two) and its experiments with forms which have established the modes of constructing and bringing into being the varying mechanisms of contact found in the different kingdoms of nature, has mastered much of the evolutionary development of the exoteric response apparatus. With all this we shall not attempt to deal; it is correct as far as it goes. We shall confine ourselves to a consideration of the contacts and impacts which confront the disciples and initiates of the world today, as they work in the Hierarchy and through an Ashram, and whose path of advance is as a shining light which shineth ever more until full enlightenment has been achieved.

Những gì tôi đã nói đến điểm này về Khoa học về Sự Ấn tượng, nếu được đọc cũng trong mối liên hệ với giáo huấn về các Điểm Mặc Khải, (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Quyển II, Phần 3) sẽ chuyển tải nhiều sự khai sáng. Tuy nhiên, sự suy ngẫm sâu sắc được yêu cầu. Khoa học về Sự Ấn tượng có thể được coi, trong phân tích cuối cùng, là khoa học cơ bản của chính tâm thức, vì kết quả của sự tiếp xúc và tác động dẫn đến sự thức tỉnh và sự mở ra của tâm thức và của nhận thức ngày càng tăng vốn phân biệt mọi hình tướng trong thế giới [63] biểu hiện. Mọi hình tướng đều có khu vực nhận thức riêng của nó, và tiến hóa là quá trình nhờ đó các hình tướng đáp ứng với tiếp xúc, phản ứng với tác động, và chuyển sang sự phát triển, tính hữu ích và hiệu quả lớn hơn. Định luật Tiến hóa và Khoa học về Sự Ấn tượng bao trùm sự mở ra của tâm thức và mang lại khả năng thích ứng với linh hồn nội tại. Khoa học hiện đại, thông qua công việc của nó trong các lĩnh vực tâm lý học và y học (chỉ kể tên hai lĩnh vực) và các thí nghiệm của nó với các hình tướng vốn đã thiết lập các phương thức xây dựng và đưa vào hiện hữu các cơ chế tiếp xúc khác nhau được tìm thấy trong các giới tự nhiên khác nhau, đã làm chủ được nhiều sự phát triển tiến hóa của bộ máy đáp ứng ngoại môn. Với tất cả những điều này chúng ta sẽ không cố gắng giải quyết; nó là chính xác trong phạm vi của nó. Chúng ta sẽ giới hạn bản thân trong việc xem xét các tiếp xúc và tác động đối mặt với các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới ngày nay, khi họ làm việc trong Thánh Đoàn và thông qua một Ashram, và con đường tiến bước của họ giống như một ánh sáng chói lọi chiếu sáng ngày càng nhiều cho đến khi đạt được sự giác ngộ trọn vẹn.

X. SEQUENTIAL REVELATION OF RELATIONSHIPS—X. SỰ MẶC KHẢI TUẦN TỰ VỀ CÁC MỐI QUAN HỆ

[64]

[64]

I would like to refer you back to page 52 where I outlined this extra-ordinary science which is—inherently in itself—the evidence of evolution, of the essential dualism in manifestation, and the testimony, unalterable and incontrovertible, to the unfoldment of consciousness. At the same time, it proceeds upon the basic premise that the various phases of consciousness which are steadily and sequentially revealed in time and space are (from the point of view of the Eternal Now) the sum total of the states of consciousness of the “One in Whom we live and move and have our being.” All these phases of conscious acceptance of existent phenomena and their related reactions are, to Sanat Kumara, what a day’s experience and reactions or the current life experiences are to the intelligent man—only vastly more enveloping and comprehensive.

Tôi muốn hướng các bạn trở lại trang 52 nơi tôi đã phác thảo khoa học phi thường này vốn là—vốn có trong chính nó—bằng chứng của sự tiến hóa, của tính nhị nguyên thiết yếu trong biểu hiện, và là lời chứng, không thể thay đổi và không thể chối cãi, cho sự mở ra của tâm thức. Đồng thời, nó tiến hành dựa trên tiền đề cơ bản rằng các giai đoạn khác nhau của tâm thức vốn được mặc khải một cách đều đặn và tuần tự trong thời gian và không gian là (từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu) tổng cộng các trạng thái tâm thức của “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu.” Tất cả các giai đoạn chấp nhận có ý thức về các hiện tượng đang tồn tại và các phản ứng liên quan của chúng, đối với Sanat Kumara, cũng giống như trải nghiệm và phản ứng của một ngày hoặc các trải nghiệm cuộc sống hiện tại đối với người thông minh—chỉ bao trùm và toàn diện hơn rất nhiều.

There were a number of points to which I did not refer then, but which I would like to take up now in the interests of clarity and understanding. I have called this science of rapport and of reaction, the Supreme Science of Contact. That is essentially what it is. The reaction to this contact, whether cosmic as in the case of Sanat Kumara, or planetary as in the case of the Members of the Hierarchy, is nevertheless limited and circumscribed (from the point of view of the informed aspirant), is responsible for the creation of Karma or the setting in motion of causes which must unalterably have their effects—these effects being negated and rendered useless (or innocuous, if you prefer that word) when the entity concerned brings to the engendered circumstances the needed intelligence, wisdom, [65] intuition or will. Ponder on this. Consciousness is inherent in all forms of life. That is an occult platitude. It is an innate potency which forever accompanies life in manifestation. These two, related through manifestation, are in reality atma-buddhi, spirit-reason, dedicated for the term of the creative period to a simultaneous functioning; the first result of their relation is the appearance of that which will enable the Lord of the World to express His Own unknown inscrutable purpose.

Có một số điểm mà tôi đã không đề cập đến lúc đó, nhưng tôi muốn đề cập bây giờ vì lợi ích của sự rõ ràng và thấu hiểu. Tôi đã gọi khoa học về sự giao cảm và phản ứng này là Khoa học Tối thượng về Sự Tiếp xúc. Đó thực chất là những gì nó là. Phản ứng đối với sự tiếp xúc này, dù là vũ trụ như trong trường hợp của Sanat Kumara, hay hành tinh như trong trường hợp của các Thành viên của Thánh Đoàn, tuy nhiên vẫn bị hạn chế và giới hạn (từ quan điểm của người chí nguyện có hiểu biết), chịu trách nhiệm cho việc tạo ra Nghiệp quả hoặc việc khởi động các nguyên nhân vốn phải có các hiệu quả của chúng một cách không thể thay đổi—những hệ quả này được hóa giải và không còn hiệu lực (hoặc vô hại, nếu bạn thích từ đó hơn) khi thực thể liên quan mang đến cho các hoàn cảnh được tạo ra trí thông minh, minh triết, [65] trực giác hoặc ý chí cần thiết. Hãy suy ngẫm về điều này. Tâm thức vốn có trong tất cả các hình thái sự sống. Đó là một sự thật hiển nhiên trong huyền môn. Nó là một quyền năng bẩm sinh mãi mãi đi kèm với sự sống trong biểu hiện. Hai cái này, liên quan qua sự biểu hiện, trong thực tế là atma-buddhi, tinh thần-lý trí, được hiến dâng trong thời hạn của chu kỳ sáng tạo cho một sự hoạt động đồng thời; kết quả đầu tiên của mối quan hệ của chúng là sự xuất hiện của cái sẽ cho phép Đức Chúa Tể Thế Giới thể hiện mục đích không thể dò lường chưa được biết đến của Chính Ngài.

During the cycle of manifestation, this combination of life-awareness, spirit-reason, atma-buddhi, is the product of the multiplicity in unity of which we hear so much—demonstrating as activity, quality, ideology, rationality, relationship, unity, and many other expressions of the divine nature. In the earlier part of A Treatise on the Seven Rays, I spoke of life, quality and appearance, mentioning the major triplicity which could be and is already proven and apparent to man. Quality was emphasised as the second aspect, not because on all planes and for all time that is so, but because at the present point in human evolution, quality plus activity appear to be the two lower aspects of divine manifestation. Already, however, two others are, if anything, superseding them in the consciousness of thinking humanity—relationship and ideas. Still others will be rapidly added as the consciousness of man is more effectively employed.

Trong chu kỳ biểu hiện, sự kết hợp này của sự sống-nhận thức, tinh thần-lý trí, atma-buddhi, là sản phẩm của sự đa dạng trong tính thống nhất mà chúng ta nghe nói đến rất nhiều—thể hiện như hoạt động, phẩm tính, hệ tư tưởng, tính hợp lý, mối quan hệ, sự thống nhất, và nhiều biểu hiện khác của bản chất thiêng liêng. Trong phần trước của Luận về Bảy Cung, tôi đã nói về sự sống, phẩm tính và sắc tướng, đề cập đến bộ ba chính yếu có thể được và đã được chứng minh và rõ ràng đối với con người. Phẩm tính được nhấn mạnh như phương diện thứ hai, không phải vì trên mọi cõi và trong mọi thời đại điều đó là như vậy, mà bởi vì tại điểm hiện tại trong sự tiến hóa của con người, phẩm tính cộng với hoạt động có vẻ là hai phương diện thấp hơn của biểu hiện thiêng liêng. Tuy nhiên, đã có hai cái khác, thậm chí, đang thay thế chúng trong tâm thức của nhân loại biết suy nghĩ—mối quan hệ và các ý tưởng. Những cái khác nữa sẽ nhanh chóng được thêm vào khi tâm thức của con người được sử dụng hiệu quả hơn.

The Science of Contact will not only reveal quality, but is revealing the lines of relationship which underlie all manifestation and of which the etheric body is the symbol. It is also rendering man sensitive to ideas as the unfolding intellect of man permits it. The reaction of humanity to these two revelations (which come, if you could but realise it, as the result, the reward, of contact and of the impact of life-reason upon that manifestation which has always been present though unrealised) will bring about vast [66] changes and more far-reaching results than has the reaction to quality. Curiously enough, the discovery of quality as the second aspect in manifestation (later to be superseded), called for, and developed, the critical faculty in man; this critical faculty (so destructive in its present use) will be correctly expressed when the nature of relationship is better grasped and the true function of ideas is properly understood.

Khoa học Tiếp xúc sẽ không chỉ tiết lộ phẩm tính, mà còn đang tiết lộ các đường lối quan hệ nằm bên dưới mọi biểu hiện và mà thể dĩ thái là biểu tượng. Nó cũng đang làm cho con người nhạy cảm với các ý tưởng khi trí tuệ đang mở ra của con người cho phép điều đó. Phản ứng của nhân loại đối với hai tiết lộ này (điều mà, nếu các bạn có thể nhận ra, sẽ đến như là kết quả, là phần thưởng, của sự tiếp xúc và của tác động của sự sống-lý trí lên biểu hiện đó, vốn đã luôn hiện diện mặc dù chưa được nhận biết) sẽ mang lại những thay đổi lớn lao [66] và những kết quả sâu rộng hơn so với phản ứng đối với phẩm tính. Thật kỳ lạ, việc khám phá phẩm tính như là phương diện thứ hai trong biểu hiện (sau này sẽ bị thay thế), đã đòi hỏi và phát triển năng lực phê phán ở con người; năng lực phê phán này (vốn rất mang tính phá hoại trong cách sử dụng hiện nay) sẽ được thể hiện một cách đúng đắn khi bản chất của mối quan hệ được nắm bắt tốt hơn và chức năng thực sự của các ý tưởng được thấu hiểu một cách thích hợp.

This Supreme Science of Contact governs all reactions to impact. This statement includes the cosmic reactions of Sanat Kumara down to the scarcely discernible reactions (invisible almost even to the eye of the seer) of the infinitesimal atom. For the sake of clarity, I divided this science into three major divisions, basing them upon the reactions of the three major planetary centres to their environment. This is a point which I would have you carefully bear in mind. I could write a treatise longer than this one purely on the creation of the response apparatus which each of these three centres of divine life-reason had to form in order to make the needed contact and to interpret correctly. There are many paradoxes in what I am here giving you, and apparently some contradictions where orthodox occultism is concerned, but that is ever the case as the teaching expands in content and the earlier all-inclusive facts are seen to be minor aspects of still greater facts. You can see, therefore, the significance and the importance of the dictum in The Secret Doctrine that the Hierarchy and all in the Council Chamber of Sanat Kumara (or Shamballa) have invariably passed through the human stage of evolution, for only human beings can perfectly blend and express life-reason, and only human intellect can consciously create what is needed in order to bring the needed stages of manifested life into being.

Khoa học Tiếp xúc Tối cao này chi phối mọi phản ứng đối với tác động. Tuyên bố này bao gồm các phản ứng vũ trụ của Sanat Kumara xuống đến các phản ứng khó có thể nhận thấy (hầu như vô hình ngay cả đối với mắt của nhà thông nhãn) của nguyên tử cực nhỏ. Vì sự rõ ràng, tôi đã chia khoa học này thành ba bộ phận chính, dựa trên các phản ứng của ba trung tâm hành tinh chủ yếu đối với môi trường của chúng. Đây là một điểm mà tôi muốn các bạn ghi nhớ kỹ. Tôi có thể viết một luận thuyết dài hơn cuốn này chỉ thuần túy về việc tạo ra bộ máy đáp ứng mà mỗi một trong ba trung tâm sự sống-lý trí thiêng liêng này phải hình thành để thực hiện sự tiếp xúc cần thiết và để diễn giải một cách chính xác. Có nhiều nghịch lý trong những gì tôi đang đưa ra cho các bạn ở đây, và dường như có một số mâu thuẫn khi liên quan đến huyền bí học chính thống, nhưng đó luôn là trường hợp khi sự giảng dạy mở rộng về nội dung và các sự kiện bao hàm tất cả trước đây được nhìn thấy là những khía cạnh nhỏ của các sự kiện còn lớn hơn nữa. Do đó, các bạn có thể thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của lời tuyên bố trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng Thánh đoàn và tất cả những ai trong Phòng Mật Nghị của Sanat Kumara (hay Shamballa) đều đã luôn trải qua giai đoạn tiến hóa của con người, bởi vì chỉ có con người mới có thể hòa quyện và thể hiện sự sống-lý trí một cách hoàn hảo, và chỉ có trí tuệ con người mới có thể tạo ra một cách có ý thức những gì cần thiết để đưa các giai đoạn cần thiết của sự sống biểu hiện vào sự hiện hữu.

[67]

[67]

Here again emerges another reason for the importance of the “centre which we call the race of men”; upon the shoulders of humanity rests unbelievable responsibility. Therefore, whether we are dealing with simple telepathy, or with invocation and evocation, or with impression, we are in reality considering the effect of life-reason as it manifests in relation to the available and suitable environment. Note this phrase. All this takes place through men in process of being made perfect, through men who have attained a relative perfection, and through men who—in the majority of cases—arrived at perfection elsewhere than in this present manifesting cycle. This should indicate to you the potentiality hidden in the very lowest of the human family, and the future of wonder and of usefulness which lies ahead for each and all in due time and after due effort.

Ở đây lại xuất hiện một lý do khác cho tầm quan trọng của “trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người”; trên vai của nhân loại đặt một trách nhiệm không thể tin được. Do đó, dù chúng ta đang bàn về viễn cảm đơn giản, hay về khẩn cầu và gợi lên, hay về ấn tượng, thì trong thực tế chúng ta đang xem xét tác dụng của sự sống-lý trí khi nó biểu hiện trong mối quan hệ với môi trường sẵn có và phù hợp. Hãy lưu ý cụm từ này. Tất cả điều này diễn ra thông qua những con người đang trong quá trình được làm cho hoàn hảo, thông qua những con người đã đạt được một sự hoàn hảo tương đối, và thông qua những con người mà—trong đa số trường hợp—đã đạt đến sự hoàn hảo ở nơi khác không phải trong chu kỳ biểu hiện hiện tại này. Điều này sẽ chỉ cho các bạn thấy tiềm năng ẩn giấu trong những người thấp kém nhất của gia đình nhân loại, và tương lai kỳ diệu và hữu ích đang chờ đợi phía trước cho từng người và tất cả mọi người vào đúng thời điểm và sau nỗ lực thích đáng.

Technically speaking, it is the Hierarchy which is “impressed” from Shamballa, and Humanity which is reached by the Hierarchy via the method of invocation and evocation. Within the human family two things occur as the result of this received and recognised activity of a phase of the Science of Contact.

Nói một cách kỹ thuật, chính Thánh đoàn tiếp nhận “ấn tượng” từ Shamballa, và Nhân loại được Thánh đoàn tiếp cận thông qua phương pháp khẩn cầu và gợi lên. Trong gia đình nhân loại, hai điều xảy ra như là kết quả của hoạt động được tiếp nhận và được công nhận này của một giai đoạn của Khoa học Tiếp xúc.

Linking Groups Within the Planetary Life—Các Nhóm Liên Kết Bên Trong Sự Sống Hành Tinh

1. Telepathic relationship is set up. This, my brother, has ever existed between members of the human family and, as previously explained, is of two kinds: Solar plexus telepathy, instinctual, uncontrolled, widely prevalent and allied to many of the surprising activities of forms of life other than the human, i. e., the instinct of the homing pigeon or the method whereby cats and dogs and horses will find their homes over immense distances. The telepathic interplay between a mother and her children is instinctual and seated in the animal nature. Mental telepathy is now being recognised and studied. This is the activity and rapport established from mind to mind; it also includes the telepathic response to current [68] thoughtforms and thought conditions in the world today. Interest in this is already very great.

1. Mối quan hệ viễn cảm được thiết lập. Điều này, người huynh đệ của tôi, đã luôn tồn tại giữa các thành viên của gia đình nhân loại và, như đã giải thích trước đây, thuộc hai loại: Viễn cảm tùng thái dương, mang tính bản năng, không kiểm soát, phổ biến rộng rãi và liên kết với nhiều hoạt động đáng ngạc nhiên của các hình tướng sự sống khác ngoài con người, nghĩa là, bản năng của chim bồ câu đưa thư hay phương pháp mà nhờ đó mèo, chó và ngựa sẽ tìm thấy nhà của chúng qua những khoảng cách to lớn. Sự tương tác viễn cảm giữa một người mẹ và con cái bà là theo bản năng và nằm ở bản chất thú tính. Viễn cảm trí tuệ hiện nay đang được công nhận và nghiên cứu. Đây là hoạt động và mối giao cảm được thiết lập từ thể trí đến thể trí; nó cũng bao gồm sự đáp ứng viễn cảm đối với các hình tư tưởng [68] và các điều kiện tư tưởng hiện hành trên thế giới ngày nay. Mối quan tâm đến điều này đã rất lớn.

2. Intuitional telepathy begins to manifest increasingly among advanced human beings in all lands and all races. This indicates soul contact and the consequent awakening of group consciousness, for sensitivity to intuitional impressions has to do only with group concerns.

2. Viễn cảm trực giác bắt đầu biểu hiện ngày càng tăng trong những con người tiến hóa ở mọi vùng đất và mọi chủng tộc. Điều này chỉ ra sự tiếp xúc linh hồn và sự thức tỉnh tâm thức nhóm theo sau đó, bởi vì sự nhạy cảm với các ấn tượng trực giác chỉ liên quan đến các mối quan tâm của nhóm.

This Science of Contact governs relations within our entire planetary life and includes, for instance, the rapport being established between humanity and the domesticated animals. These animals are to their own kingdom what the New Group of World Servers is to humanity. The New Group of World Servers is the linking bridge and the mode of communication between the Hierarchy (the fifth kingdom) and Humanity (the fourth kingdom) under the present divine Plan; the domesticated animals fulfil, therefore, an analogous function between Humanity (the fourth kingdom) and the animal kingdom (the third). These analogies are often fertile fields of illumination.

Khoa học Tiếp xúc này chi phối các mối quan hệ bên trong toàn bộ sự sống hành tinh của chúng ta và bao gồm, chẳng hạn, mối giao cảm đang được thiết lập giữa nhân loại và các loài vật nuôi trong nhà. Những con vật này đối với giới của riêng chúng cũng giống như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đối với nhân loại. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là cây cầu liên kết và là phương thức giao tiếp giữa Thánh đoàn (giới thứ năm) và Nhân loại (giới thứ tư) dưới Thiên Cơ hiện tại; do đó, các loài vật nuôi trong nhà hoàn thành một chức năng tương tự giữa Nhân loại (giới thứ tư) và giới động vật (giới thứ ba). Những sự tương đồng này thường là những lĩnh vực soi sáng phong phú.

As regards Shamballa, the impression there received is not the result of invocation which in due course evokes extra-planetary response, as is the case between the Hierarchy and Shamballa, and the Hierarchy and Humanity, with certain changes during the process of stepping down or of descent. That which impresses Shamballa and is received by the Grand Council of the Lord of the World, comes via Sanat Kumara because HE is in close contact with other planetary Logoi or groups of planetary Logoi, wielding a united, focussed, intelligent Will. It is Sanat Kumara Whose task it is to impress the Lives Who meet periodically in the Council Chamber with the next phase of unfolding Purpose. This Purpose is later “occultly reduced” or stepped down until it emerges as the hierarchical Plan. This Plan is contingent upon imminence, atmic realisation [69] and pure reason, as the Hierarchy has termed these three “aspects of reaction” to impression from Shamballa. Let me make myself clear. The Hierarchy is no group of mystical workers; only those aspects of divine Purpose which can be immediately grasped and developed and which are patently valuable to humanity—when presented in right form by the Hierarchy—are registered by Them. They know what consciously to “repudiate” as it is occultly called, and They act ever in response to a Law of Imminence or of occult prevision which is almost unrecognisable and indefinable by advanced humanity. The words, “atmic realisation” are most interesting, for they refer to the quality and the mass of will energy which could be made available by the pledged and unified Hierarchy to carry out the imminent Plan. Never forget that in considering Shamballa and the Plan, we are thinking entirely within the limits of the expression of the WILL aspect of the Lord of the World, and this—except for advanced initiates—is well-nigh impossible. This factor has to be accepted theoretically, even if not yet understood.

Đối với Shamballa, ấn tượng nhận được ở đó không phải là kết quả của sự khẩn cầu mà theo đúng trình tự sẽ gợi lên sự đáp ứng ngoài hành tinh, như trường hợp giữa Thánh đoàn và Shamballa, và giữa Thánh đoàn và Nhân loại, với những thay đổi nhất định trong quá trình giảm cấp hoặc giáng hạ. Điều gây ấn tượng lên Shamballa và được Đại Hội đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới tiếp nhận, đến thông qua Sanat Kumara bởi vì NGÀI có sự tiếp xúc chặt chẽ với các Hành Tinh Thượng Đế khác hoặc các nhóm Hành Tinh Thượng Đế, vận dụng một Ý Chí thông tuệ, tập trung và thống nhất. Chính Sanat Kumara Là Đấng có nhiệm vụ gây ấn tượng lên các Sự Sống họp mặt định kỳ trong Phòng Mật Nghị với giai đoạn tiếp theo của Mục Đích đang mở ra. Mục Đích này sau đó được “giảm lược một cách huyền bí” hoặc giảm cấp cho đến khi nó xuất hiện như là Thiên Cơ của thánh đoàn. Thiên Cơ này tùy thuộc vào tính sắp xảy ra, sự chứng nghiệm atma [69] và lý trí thuần khiết, như Thánh đoàn đã gọi ba “phương diện phản ứng” này đối với ấn tượng từ Shamballa. Hãy để tôi làm rõ ý mình. Thánh đoàn không phải là một nhóm những người làm việc thần bí; chỉ những phương diện nào của Mục Đích thiêng liêng có thể được nắm bắt và phát triển ngay lập tức và có giá trị rõ ràng đối với nhân loại—khi được trình bày dưới hình thức đúng đắn bởi Thánh đoàn—mới được Các Ngài ghi nhận. Các Ngài biết phải “từ chối” điều gì một cách có ý thức như cách gọi trong huyền bí học, và Các Ngài luôn hành động để đáp ứng với một Định luật về Tính Sắp Xảy Ra hoặc sự tiên kiến huyền bí vốn hầu như không thể nhận biết và không thể định nghĩa bởi nhân loại tiến hóa. Các từ, “sự chứng nghiệm atma” rất thú vị, vì chúng đề cập đến phẩm tính và khối lượng năng lượng ý chí mà Thánh đoàn đã cam kết và thống nhất có thể huy động để thực hiện Thiên Cơ sắp được thực hiện. Đừng bao giờ quên rằng khi xem xét Shamballa và Thiên Cơ, chúng ta đang suy nghĩ hoàn toàn trong giới hạn của sự thể hiện phương diện Ý CHÍ của Đức Chúa Tể Thế Giới, và điều này—ngoại trừ đối với các điểm đạo đồ cấp cao—gần như là không thể. Yếu tố này phải được chấp nhận về mặt lý thuyết, ngay cả khi chưa được thấu hiểu.

To these two unalterable requirements the Hierarchy contributes the faculty of pure reason, which is the governing faculty of the Hierarchy and which brings into activity the quality to which man has erroneously given the name of “love”. This emphasises the sentimental aspect and signifies to the majority, very largely, simply the sentimental and emotional aspect, which is entirely of an astral nature. Pure reason, which is the supreme characteristic of the Members of the Hierarchy, will ever express itself in right action and right human relations, and that will manifest—when present—what love in reality is. Pure love is a quality or effect of pure reason.

Đối với hai yêu cầu bất di bất dịch này, Thánh đoàn đóng góp năng lực lý trí thuần khiết, vốn là năng lực chi phối của Thánh đoàn và mang lại hoạt động cho phẩm tính mà con người đã đặt tên sai lầm là “tình thương”. Điều này nhấn mạnh phương diện tình cảm và đối với đa số, phần lớn chỉ đơn giản biểu thị phương diện tình cảm và cảm xúc, vốn hoàn toàn thuộc bản chất cảm dục. Lý trí thuần khiết, vốn là đặc điểm tối cao của các Thành viên của Thánh đoàn, sẽ luôn tự thể hiện trong hành động đúng đắn và các quan hệ nhân loại đúng đắn, và điều đó sẽ biểu hiện—khi hiện diện—tình thương trong thực tế là gì. Tình thương thuần khiết là một phẩm tính hoặc hệ quả của lý trí thuần khiết.

The pure reason of the hierarchical response is needed for the grasping and the comprehension of the Purpose as [70] it works out through the Plan sponsored at any one time by the Hierarchy, and the quality of pure love is needed and demanded (even if unrealised) by a waiting humanity.

Lý trí thuần khiết của sự đáp ứng thuộc thánh đoàn là cần thiết để nắm bắt và thấu hiểu Mục Đích khi [70] nó được thực hiện thông qua Thiên Cơ được bảo trợ tại bất kỳ thời điểm nào bởi Thánh đoàn, và phẩm tính của tình thương thuần khiết là cần thiết và được đòi hỏi (ngay cả khi chưa được nhận biết) bởi một nhân loại đang chờ đợi.

This “impression” emanating from Shamballa takes the form of a focussed emanation which employs the higher aspect of the antahkarana as its channel of contact. I refer not here to the thread as built by the disciple between the mental unit and the abstract mind. I refer to its continuation through the buddhic and atmic levels of consciousness into the area of magnetised consciousness (I use this word as we have not yet the necessary word to express the exact nature of this higher awareness, and the term “identification” seems somewhat unsuitable) which surrounds and protects the true Shamballa centre. It is essential that you here bear in mind that just as the mass of men do not know, recognise or respond to the Hierarchy, so—within the Hierarchy itself—you have a group analogous to this mass of men. There are many lesser members of the Hierarchy and many, very many, disciples who do not know, recognise or as yet respond to the influence or the potency of Shamballa.

“Sự ấn tượng” này phát xuất từ Shamballa mang hình thức của một sự phát xạ tập trung sử dụng phương diện cao hơn của antahkarana làm kênh tiếp xúc của nó. Tôi không đề cập ở đây đến đường dây được xây dựng bởi đệ tử giữa đơn vị hạ trí và trí trừu tượng. Tôi đề cập đến sự tiếp nối của nó qua các cấp độ tâm thức bồ đề và atma vào khu vực tâm thức được từ hóa (tôi sử dụng từ này vì chúng ta chưa có từ cần thiết để diễn tả bản chất chính xác của nhận thức cao hơn này, và thuật ngữ “đồng nhất hóa” có vẻ hơi không phù hợp) bao quanh và bảo vệ trung tâm Shamballa thực sự. Điều thiết yếu là các bạn phải ghi nhớ ở đây rằng cũng giống như đại chúng không biết, không công nhận hay đáp ứng với Thánh đoàn, thì—trong chính Thánh đoàn—các bạn cũng có một nhóm tương tự như đại chúng này. Có nhiều thành viên thấp hơn của Thánh đoàn và nhiều, rất nhiều, đệ tử không biết, không công nhận hoặc chưa đáp ứng với ảnh hưởng hay quyền lực của Shamballa.

Within the Hierarchy, the Science of Impression conditions the relation between senior and junior members in the various Ashrams. All do not respond in the same way, for in its higher aspects it is a science in process of mastering. It might be said, in order that you may understand more easily, that “impression” governs and conditions all those within the Hierarchy whose abstract mind is highly developed. It is not fully developed in the case of many disciples in the Ashram, and hence only certain Members of the Hierarchy (the Masters, the Adepts and Initiates of the third degree) are permitted to know the details of the Plan; these are protected by means of this very Science [71] of Impression. The remaining members of the Hierarchy take their orders from their seniors.

Trong Thánh đoàn, Khoa học Ấn tượng định hình mối quan hệ giữa các thành viên thâm niên và các thành viên cấp thấp trong các Ashram khác nhau. Không phải tất cả đều đáp ứng theo cùng một cách, vì trong các khía cạnh cao hơn của nó, đó là một khoa học đang trong quá trình được làm chủ. Có thể nói, để các bạn có thể hiểu dễ dàng hơn, rằng “ấn tượng” chi phối và định hình tất cả những ai trong Thánh đoàn có trí trừu tượng phát triển cao. Nó không được phát triển đầy đủ trong trường hợp của nhiều đệ tử trong Ashram, và do đó chỉ một số Thành viên nhất định của Thánh đoàn (các Chân sư, các Chân sư và các Điểm đạo đồ bậc ba) mới được phép biết các chi tiết của Thiên Cơ; những điều này được bảo vệ bằng chính Khoa học [71] Ấn tượng này. Các thành viên còn lại của Thánh đoàn nhận mệnh lệnh từ các bậc đàn anh của họ.

Mind the Focus of Planetary Development—Trí Tuệ là Tiêu Điểm của Sự Phát Triển Hành Tinh

I would ask you to remember that, in our planetary development, the emphasis of the entire evolutionary process is on the MIND and on the various aspects of the mind—intelligence, mental perception, the Son of Mind, the lower mind, the abstract mind, the mind as will, the Universal Mind. The three which are of major importance and which form an esoteric triangle requiring to be brought into a vital inter-relation are the Son of Mind, the abstract mind, and the Universal Mind. They are, when fully related and active, the factors which engineer divine purpose and step it down into such form that we call it the hierarchical Plan and can act upon it. Only when the initiate has attained, through monadic contact, a touch of the Universal Mind can the Purpose be sensed by him; this involves also the development of the abstract mind, plus the residue of mental perception which the Son of Mind (the soul) has bequeathed to him; through all this unfoldment he can join the group who are the Formulators of the Plan. We are dealing here with most difficult and complex matters, inherent in the initiate consciousness and for which we have as yet no correct terminology. Also, the average aspirant has no idea what is the nature of the awareness or the reactions to contact of Those Who have passed beyond the third initiation; these limitations of the average student must constantly be borne in mind.

Tôi muốn các bạn nhớ rằng, trong sự phát triển hành tinh của chúng ta, sự nhấn mạnh của toàn bộ tiến trình tiến hóa nằm ở TRÍ TUỆ và vào các phương diện khác nhau của trí tuệ—sự thông tuệ, nhận thức trí tuệ, Con của Trí Tuệ, hạ trí, trí trừu tượng, trí tuệ như là ý chí, Vũ Trụ Trí. Ba phương diện có tầm quan trọng chủ yếu và hình thành nên một tam giác huyền bí đòi hỏi phải được đưa vào một mối tương quan thiết yếu là Con của Trí Tuệ, trí trừu tượng và Vũ Trụ Trí. Khi được liên kết đầy đủ và hoạt động, chúng là những yếu tố thiết kế mục đích thiêng liêng và giảm cấp nó thành hình thức mà chúng ta gọi là Thiên Cơ của thánh đoàn và có thể hành động dựa trên đó. Chỉ khi điểm đạo đồ đã đạt được, thông qua sự tiếp xúc chân thần, một sự chạm vào Vũ Trụ Trí thì Mục Đích mới có thể được cảm nhận bởi y; điều này cũng bao hàm sự phát triển của trí trừu tượng, cộng với phần còn lại của nhận thức trí tuệ mà Con của Trí Tuệ (linh hồn) đã để lại cho y; thông qua tất cả sự mở ra này, y có thể gia nhập nhóm những Người Định Hình Thiên Cơ. Chúng ta đang bàn ở đây về những vấn đề khó khăn và phức tạp nhất, vốn có trong tâm thức điểm đạo đồ và chúng ta chưa có thuật ngữ chính xác cho chúng. Ngoài ra, người chí nguyện trung bình không có ý niệm gì về bản chất của nhận thức hay các phản ứng đối với sự tiếp xúc của Những Đấng đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba; những hạn chế này của người môn sinh trung bình phải luôn được ghi nhớ.

The Science of Invocation and Evocation—which embodies the technique of interplay within the Hierarchy itself, to a certain degree between Shamballa and the Hierarchy, and to an increasing extent between Humanity and the Hierarchy—is based entirely on a sense of relation. Therefore only a certain level of conscious Lives can invoke Shamballa and evoke response, and this because They [72] have Themselves developed some of the aspects of that type of mental understanding which is the hierarchical expression of the Universal Mind. The light and futile talk of certain writers and thinkers anent the cosmic consciousness, and their flippant use of such phrases as “tuning in with the Infinite” or “tapping the Universal Mind” serve only to show how very little is known in reality about the responses and the reactions of those of high initiate rank or of those on the highest levels of hierarchical life.

Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên—vốn thể hiện kỹ thuật tương tác bên trong chính Thánh đoàn, ở một mức độ nhất định giữa Shamballa và Thánh đoàn, và ở mức độ ngày càng tăng giữa Nhân loại và Thánh đoàn—hoàn toàn dựa trên ý thức về mối quan hệ. Do đó, chỉ một cấp độ nhất định của các Sự Sống có ý thức mới có thể khẩn cầu Shamballa và gợi lên sự đáp ứng, và điều này là vì Các Ngài [72] Chính Mình đã phát triển một số phương diện của loại hiểu biết trí tuệ vốn là sự biểu hiện của Thánh đoàn của Vũ Trụ Trí. Những lời nói nhẹ hợt và vô ích của một số nhà văn và nhà tư tưởng về tâm thức vũ trụ, và việc họ sử dụng một cách khiếm nhã những cụm từ như “hòa điệu với Đấng Vô Hạn” hay “khai thác Vũ Trụ Trí” chỉ cho thấy thực tế người ta biết rất ít về các sự đáp ứng và phản ứng của những vị ở cấp bậc điểm đạo đồ cao hay của những vị ở các cấp độ cao nhất của đời sống của Thánh đoàn.

True capacity to invoke and evoke (within initiate ranks) is based upon a mysterious development—impossible before the time of the third initiation—of the esoteric sense. The active use of the esoteric sense in the occult training offered to aspirants, disciples and initiates of lesser degree produces certain changes within the brain, with corresponding changes within the buddhic vehicle; these changes enable one at will (after the third Initiation of Transfiguration) to contact the Being, Life, or the monadic POINT of contact with Whom he will be increasingly affiliated, or the Member of the Hierarchy Whom he may desire to consult. It does not involve the use of speech or words but is simply a technical method whereby an initiate within the Hierarchy or en rapport with Shamballa can make his presence felt and certain ideas can be presented by him. Upon this I will not further enlarge.

Khả năng thực sự để khẩn cầu và gợi lên (trong hàng ngũ điểm đạo đồ) dựa trên một sự phát triển bí ẩn—không thể có trước thời điểm điểm đạo lần thứ ba—của giác quan huyền bí. Việc sử dụng tích cực giác quan huyền bí trong sự huấn luyện huyền bí dành cho các người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ cấp thấp tạo ra những thay đổi nhất định trong bộ não, với những thay đổi tương ứng trong vận cụ bồ đề; những thay đổi này cho phép một người tùy ý (sau Cuộc Điểm đạo Biến hình lần thứ ba) tiếp xúc với Đấng, Sự Sống, hay ĐIỂM tiếp xúc chân thần mà y sẽ ngày càng liên kết với Ngài, hoặc Thành viên của Thánh đoàn Mà y có thể muốn tham vấn. Nó không bao hàm việc sử dụng lời nói hay từ ngữ mà chỉ đơn giản là một phương pháp kỹ thuật nhờ đó một điểm đạo đồ trong Thánh đoàn hoặc có mối giao cảm với Shamballa có thể làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận và những ý tưởng nhất định có thể được trình bày bởi y. Về điều này tôi sẽ không nói rộng thêm nữa.

For average humanity, the development of the intuition is the lower correspondence to this type of esoteric sense employed by initiates of high degree—or this mode of perceptive intercourse, as it is sometimes called. Within the Ashrams, advanced disciples are taught how to discover within themselves and to use this new potency and thus develop the needed mechanism. They can know simultaneously both the demand and the answer or response which their invocation application has evoked. All disciples who [73] have taken the third initiation have the power to invoke and to be evoked, and hence this technique is not permitted to those of lower status. A highly developed discriminative faculty is here needed. It is in reality an advanced part of the technique whereby—in the earliest stages—the disciple is permitted to attract the attention of the Master. This he does through the very importunity of his desire; later, through the use of his acquired knowledge, he proceeds to what is called “the regulated nature of his appeal.” The appeal is then less regulated by desire and more under the control of will.

Đối với nhân loại trung bình, sự phát triển của trực giác là sự tương ứng thấp hơn với loại giác quan huyền bí này được sử dụng bởi các điểm đạo đồ cấp cao—hay phương thức giao tiếp nhận thức này, như đôi khi nó được gọi. Trong các Ashram, các đệ tử tiến hóa được dạy cách khám phá bên trong chính mình và sử dụng quyền năng mới này và do đó phát triển cơ chế cần thiết. Họ có thể biết đồng thời cả nhu cầu và câu trả lời hoặc sự đáp ứng mà việc ứng dụng sự khẩn cầu của họ đã gợi lên. Tất cả các đệ tử [73] đã nhận cuộc điểm đạo thứ ba đều có quyền năng khẩn cầu và được gợi lên, và do đó kỹ thuật này không được phép đối với những người có địa vị thấp hơn. Một năng lực phân biện phát triển cao độ là cần thiết ở đây. Trong thực tế, đây là một phần nâng cao của kỹ thuật mà nhờ đó—trong các giai đoạn sớm nhất—đệ tử được phép thu hút sự chú ý của Chân sư. Y thực hiện điều này thông qua chính sự khẩn thiết trong mong muốn của mình; sau đó, thông qua việc sử dụng kiến thức đã thu được, y tiến tới cái được gọi là “bản chất được điều chỉnh của lời thỉnh cầu của y.” Lời thỉnh cầu khi đó ít bị chi phối bởi dục vọng hơn và nằm dưới sự kiểm soát của ý chí nhiều hơn.

I am not here dealing with invocation and evocation as it is carried on between Humanity and the Hierarchy. I gave much along this line when I made public the various Invocations whereby I have been attempting to substitute the invocative method for the selfish use of prayer and the limiting mode of the average meditation process. It is a slow process by means of which this method of intercourse must be learnt and mastered, and no textbook or information on the subject is of much use. Nor am I going to deal with the ordinary telepathy prevalent among men and natural to so many, as this has been dealt with earlier in this book. But at this point I should like to emphasise something which applies to every human being. When animal-man passed through the door of individualisation and became a human being he came possessed of an innate potency of sight; for aeons he has seen in the three worlds, and many have for several lives sought after the vision which stabilises the aspirant upon the Path. Through the door of initiation, having attained the mystical vision, each aspirant will become aware of that within himself which permits of a spiritual perception of such an expansive nature that he gets his first real and individual glimpse of the divine Plan; from that moment his entire life is altered. Later (and this [74] I cannot expect the student to understand; if he thinks he does, he is being misled by words), he will pass through the door of identification. This is a perfectly meaningless phrase, since its significance is most carefully guarded. Symbolically speaking and in order to preserve the concept of this door in the mind of humanity, true esoteric meetings are entered on the password. Only the WORD can enter through this door—this highest and widest of all doors. Once through that door and once eligible to the Council Chamber of the Great Lord, the Initiate will comprehend what is meant by “monadic impression.” It is not impression by a Monad (that meaningless term) upon the brain of a man who has constructed the antahkarana and passed the fourth initiation. It is an innate responsiveness to the Purpose of the Universal Mind of the One in Whom we live and move and have our being.

Tôi không bàn đến ở đây việc khẩn cầu và gợi lên khi nó được thực hiện giữa Nhân loại và Thánh đoàn. Tôi đã đưa ra nhiều điều theo hướng này khi tôi công bố các Bài Khẩn Nguyện khác nhau mà qua đó tôi đã cố gắng thay thế phương pháp khẩn cầu cho việc sử dụng ích kỷ của sự cầu nguyện và phương thức giới hạn của quy trình tham thiền trung bình. Đó là một quá trình chậm chạp mà nhờ đó phương pháp giao tiếp này phải được học hỏi và làm chủ, và không có sách giáo khoa hay thông tin nào về chủ đề này là hữu ích nhiều. Tôi cũng sẽ không đề cập đến viễn cảm thông thường phổ biến giữa con người và tự nhiên đối với rất nhiều người, vì điều này đã được đề cập trước đó trong cuốn sách này. Nhưng tại điểm này, tôi muốn nhấn mạnh một điều áp dụng cho mọi con người. Khi người-thú đi qua cánh cửa biệt ngã hóa và trở thành một con người, y đã sở hữu một quyền năng bẩm sinh về sự thấy; trong nhiều thời đại, y đã nhìn thấy trong ba cõi, và nhiều người trong vài kiếp sống đã tìm kiếm linh ảnh giúp ổn định người chí nguyện trên Đường Đạo. Thông qua cánh cửa điểm đạo, sau khi đạt được linh ảnh thần bí, mỗi người chí nguyện sẽ nhận thức được cái bên trong chính mình cho phép có một nhận thức tinh thần có bản chất mở rộng đến mức y có được cái nhìn thoáng qua thực sự và mang tính cá nhân đầu tiên về Thiên Cơ; từ thời điểm đó, toàn bộ cuộc đời y thay đổi. Sau này (và điều này [74] tôi không thể mong đợi đạo sinh hiểu được; nếu y nghĩ mình hiểu, y đang bị lừa dối bởi ngôn từ), y sẽ đi qua cánh cửa của sự đồng nhất hóa. Đây là một cụm từ hoàn toàn vô nghĩa, vì thâm nghĩa của nó được bảo vệ cẩn thận nhất. Nói một cách tượng trưng và để bảo tồn khái niệm về cánh cửa này trong tâm trí nhân loại, các cuộc họp mặt huyền bí thực sự được tham dự nhờ mật khẩu. Chỉ có LINH TỪ mới có thể đi qua cánh cửa này—cánh cửa cao nhất và rộng nhất trong tất cả các cánh cửa. Một khi qua cánh cửa đó và một khi đủ điều kiện vào Phòng Mật Nghị của Đấng Chúa Tể Vĩ Đại, Điểm đạo đồ sẽ hiểu được ý nghĩa của “ấn tượng chân thần”. Đó không phải là ấn tượng bởi một Chân thần (thuật ngữ vô nghĩa đó) lên bộ não của một người đã xây dựng antahkarana và trải qua lần điểm đạo thứ tư. Đó là sự đáp ứng bẩm sinh đối với Mục Đích của Vũ Trụ Trí của Đấng Mà Trong Ngài chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu.

XI. RESULTS OF CONTACT AND RECEPTIVITY—XI. CÁC KẾT QUẢ CỦA TIẾP XÚC VÀ TÍNH THU NHẬN

[75]

[75]

I am not indicating in any way how an individual can become telepathic. All those developments within the area or region of progressive contacts are only useful and truly available when they are developed normally and naturally and are not the result of premature unfoldment. When the development is premature there is always the danger of wrong, erroneous and self-centred interpretations. The telepathic information can be of purely selfish or personal import and that type of telepathy has no place in what I am seeking to impart. People today frequently evidence a telepathic tendency or capacity. They tune in (a phrase they regard as more euphonious than the words “telepathic rapport”) with something or someone, though they know not what it is. Everything that they purport to register is regarded by them as of major importance: it is usually self-related and not due to their high point of spiritual unfoldment which warrants their being the custodians of mysterious spiritual messages—usually of a most unimportant and platitudinous nature. There are many sources of these messages and it might be useful if I here mentioned some of them; what I have to say may prove to be of value to the general occult public.

Tôi không chỉ ra theo bất kỳ cách nào làm sao một cá nhân có thể trở nên có khả năng viễn cảm. Tất cả những sự phát triển đó trong khu vực hoặc vùng của các tiếp xúc tiến triển chỉ hữu ích và thực sự sẵn có khi chúng được phát triển một cách bình thường và tự nhiên và không phải là kết quả của sự mở ra sớm. Khi sự phát triển là sớm, luôn có nguy cơ của những diễn giải sai lầm, sai lạc và tập trung vào bản thân. Thông tin viễn cảm có thể mang ý nghĩa hoàn toàn ích kỷ hoặc cá nhân và loại viễn cảm đó không có chỗ trong những gì tôi đang tìm cách truyền đạt. Con người ngày nay thường xuyên biểu lộ một khuynh hướng hoặc năng lực viễn cảm. Họ hòa điệu (một cụm từ họ coi là êm tai hơn các từ “mối giao cảm viễn cảm”) với cái gì đó hoặc ai đó, mặc dù họ không biết đó là gì. Mọi thứ mà họ cho là ghi nhận được đều được họ coi là có tầm quan trọng chủ yếu: nó thường liên quan đến bản thân và không phải do điểm mở ra tinh thần cao của họ đảm bảo cho việc họ trở thành những người trông coi các thông điệp tinh thần bí ẩn—thường là có bản chất không quan trọng nhất và sáo rỗng. Có nhiều nguồn của các thông điệp này và có thể hữu ích nếu tôi đề cập đến một số trong chúng ở đây; những gì tôi sắp nói có thể chứng minh là có giá trị đối với công chúng huyền bí nói chung.

1. Messages emanating from the relatively nice, well-trained subconscious nature of the recipient. These well up from the subconscious but are regarded by the recipient as coming from an outside source. Introspective people frequently penetrate into the layer of subconscious recollection and are quite unaware of so doing. Their interest in themselves is so intense. Not knowing that they have done this, [76] they regard what they find as unusual, beautiful and important, and then proceed to formulate it into messages, which they expect their friends and the general public to regard as spiritually based. These messages are normally innocuous, sometimes beautiful, because they are a mixture of what the recipients have read and gathered from the mystical writing or have heard from Christian sources and the Bible. It is really the content of their right thinking along spiritual lines and can do no one any harm, but is of no true importance whatsoever. It accounts, however, for eighty-five percent (85%) of the so-called telepathic or inspired writings so prevalent at this time.

1. Các thông điệp phát xuất từ bản chất tiềm thức tương đối tốt đẹp, được huấn luyện tốt của người nhận. Những điều này trào lên từ tiềm thức nhưng được người nhận coi là đến từ một nguồn bên ngoài. Những người hay nội tâm thường xuyên thâm nhập vào tầng ký ức tiềm thức và hoàn toàn không biết mình đang làm như vậy. Mối quan tâm của họ đối với bản thân mãnh liệt đến thế. Không biết rằng mình đã làm điều này, [76] họ coi những gì họ tìm thấy là bất thường, đẹp đẽ và quan trọng, và sau đó tiến hành định hình nó thành các thông điệp, mà họ mong đợi bạn bè và công chúng nói chung coi là có nền tảng tinh thần. Những thông điệp này thường vô hại, đôi khi đẹp đẽ, bởi vì chúng là sự pha trộn của những gì người nhận đã đọc và thu thập từ các tác phẩm thần bí hoặc đã nghe từ các nguồn Kitô giáo và Kinh Thánh. Đó thực sự là nội dung của tư duy đúng đắn của họ theo các đường lối tinh thần và không thể gây hại cho ai, nhưng không có tầm quan trọng thực sự nào. Tuy nhiên, nó chiếm tám mươi lăm phần trăm (85%) của cái gọi là các bài viết viễn cảm hoặc được linh hứng quá phổ biến vào thời điểm này.

2. Impressions from the soul, which are translated into concepts and written down by the personality; the recipient is deeply impressed by the relatively high vibration which accompanies them, forgetting that the vibration of the soul is that of a Master, for the soul is a Master on its own plane. These are true soul impressions but usually have in them nothing new or of major importance; they are, again, the result of past ages of soul development (as far as the personality is concerned); they are, therefore, that which an awakening personality has contributed to the soul of the good, the true and the beautiful, plus that which has entered into the personality consciousness as a result of soul contact. This accounts for eight percent (8%) of the writings and communications put before the general public by aspirants today.

2. Các ấn tượng từ linh hồn, được chuyển dịch thành các khái niệm và viết xuống bởi phàm ngã; người nhận bị ấn tượng sâu sắc bởi rung động tương đối cao đi kèm với chúng, quên rằng rung động của linh hồn là rung động của một Chân sư, vì linh hồn là một Chân sư trên cõi riêng của nó. Đây là những ấn tượng linh hồn thực sự nhưng thường không có gì mới hay quan trọng chủ yếu trong chúng; chúng, một lần nữa, là kết quả của các thời đại phát triển linh hồn trong quá khứ (xét về phương diện phàm ngã); do đó, chúng là những gì mà một phàm ngã đang thức tỉnh đã đóng góp cho linh hồn về chân, thiện và mỹ, cộng với những gì đã đi vào tâm thức phàm ngã như là kết quả của tiếp xúc linh hồn. Điều này chiếm tám phần trăm (8%) các bài viết và thông tin liên lạc được đưa ra trước công chúng bởi các người chí nguyện ngày nay.

3. Teachings given by a senior or more advanced disciple on the inner planes to a disciple under training or who has just been admitted into an Ashram. These teachings bear the impress and conclusions of the senior disciple and are frequently of value; they may—and often do—contain information of which the recipient is totally unaware. The criterion here is that nothing (literally nothing) will concern [77] the recipient, either spiritually or mentally or in any other way connected with his personality, nor will they contain the platitudes of the religious background of the recipient. They will account for five percent (5%) of the teaching given, but this is in relation to the entire world and the percentage does not refer to some one occult group, one religious faith or one nation. The recognition of this is of vital importance.

3. Các giáo huấn được đưa ra bởi một đệ tử thâm niên hoặc tiến hóa hơn trên các cõi nội tâm cho một đệ tử đang được huấn luyện hoặc vừa được nhận vào một Ashram. Những giáo huấn này mang dấu ấn và kết luận của đệ tử thâm niên và thường có giá trị; chúng có thể—và thường—chứa thông tin mà người nhận hoàn toàn không biết. Tiêu chí ở đây là không có gì (nghĩa đen là không có gì) liên quan [77] đến người nhận, hoặc về mặt tinh thần hoặc trí tuệ hoặc theo bất kỳ cách nào khác kết nối với phàm ngã của y, cũng như chúng sẽ không chứa đựng những điều sáo rỗng về nền tảng tôn giáo của người nhận. Chúng sẽ chiếm năm phần trăm (5%) giáo huấn được đưa ra, nhưng điều này là trong mối quan hệ với toàn thế giới và tỷ lệ phần trăm không đề cập đến một nhóm huyền bí nào đó, một đức tin tôn giáo hay một quốc gia nào. Việc nhận biết điều này có tầm quan trọng sống còn.

4. Communications from a Master to His disciple. This accounts for two percent (2%) of the entire telepathic receptivity, demonstrated by humanity as a whole throughout the entire world. Western students would here do well to remember that the subjective Eastern student is far more prone to telepathic receptivity than is his Western brother; this has a definite bearing on all the above classifications, which is somewhat humiliating for the Western mystic and occult student. The World Scriptures emanate from another department of the second ray teaching faculty. In this statement I do not include The Old Testament except such passages as the Twenty-third Psalm and certain passages out of the Prophets, particularly the Prophet Isaiah. The World Scriptures were written for mystics, occupied with beauty, comfort, and encouragement, and were not written for occultists. I would call this to your attention.

4. Các giao tiếp từ một Chân sư đến đệ tử của Ngài. Điều này chiếm hai phần trăm (2%) toàn bộ khả năng tiếp thu viễn cảm, được thể hiện bởi nhân loại nói chung trên toàn thế giới. Các môn sinh phương Tây ở đây nên nhớ rằng môn sinh phương Đông hướng nội có thiên hướng tiếp nhận viễn cảm mạnh hơn nhiều so với người anh em phương Tây của mình; điều này có ảnh hưởng xác định đến tất cả các phân loại trên, vốn hơi bẽ bàng đối với nhà thần bí và môn sinh huyền bí phương Tây. Các Kinh Điển Thế Giới phát xuất từ một bộ phận khác của năng lực giảng dạy cung hai. Trong tuyên bố này, tôi không bao gồm Cựu Ước ngoại trừ các đoạn như Thánh Vịnh 23 và một số đoạn trích từ các Tiên Tri, đặc biệt là Tiên Tri Isaiah. Các Kinh Điển Thế Giới được viết cho các nhà thần bí, quan tâm đến vẻ đẹp, sự an ủi và khích lệ, và không được viết cho các nhà huyền bí học. Tôi muốn các bạn chú ý điều này.

In this section of the teaching I am dealing with the nature and results of contact, of receptivity. I am giving no rules for individual development, and would not, if I could. Humanity today is developing receivers of every kind of concept, beginning with the lowest of them all—the masses of men who, through demagogues, the newspapers, the radio, books and lectures, are conditioned by many minds, according to their ray type of receptivity. As true intelligence develops and as love begins to permeate human thinking, these conditioning factors will get increasingly [78] less attractive. This means when the soul becomes of greater life importance and man-made ideas (if such a phrase is permissible) of less importance. There are, in reality, no man-made ideas. There are only ideas as grasped by the intelligentsia and then as “stepped down” by humanity’s constant reaction to glamour, to emotional or astral conclusions, and to selfish interpretations.

Trong phần giáo huấn này, tôi đang bàn về bản chất và các kết quả của sự tiếp xúc, của tính thu nhận. Tôi không đưa ra quy tắc nào cho sự phát triển cá nhân, và ngay cả nếu có thể, tôi cũng sẽ không làm vậy. Nhân loại ngày nay đang phát triển các bộ thu nhận của mọi loại khái niệm, bắt đầu với loại thấp nhất trong tất cả—đại chúng, những người mà thông qua các kẻ mị dân, báo chí, đài phát thanh, sách vở và bài giảng, chịu ảnh hưởng của nhiều thể trí, tùy theo loại cung thu nhận của họ. Khi trí thông minh thực sự phát triển và khi tình thương bắt đầu thấm nhuần tư duy con người, các yếu tố gây ảnh hưởng này sẽ ngày càng trở nên [78] ít hấp dẫn hơn. Điều này có nghĩa là khi linh hồn trở nên quan trọng hơn đối với sự sống và các ý tưởng do con người tạo ra (nếu cụm từ như vậy được phép dùng) trở nên ít quan trọng hơn. Trong thực tế, không có ý tưởng nào do con người tạo ra. Chỉ có các ý tưởng được nắm bắt bởi giới trí thức và sau đó được “giảm cấp” bởi phản ứng liên tục của nhân loại đối với ảo cảm, đối với các kết luận cảm xúc hay cảm dục, và đối với các diễn giải ích kỷ.

It must be remembered that the activity of all these “impressing agencies” is felt in a wide and general sense throughout the entire planet and the planetary aura. No kingdom in nature escapes this impact, and it is thus that the purpose of the Lord of the World is carried out. Being, Coherence and Activity are thus blended into one created and creative whole; life, quality and appearance respond unitedly to the imposed intention of the planetary Logos and yet, at the same time, remain creatively free as regards their reaction to these contacted impressions; this reaction is necessarily dependent upon the type and quality of the mechanism which registers the impression. This mechanism has been developed by the life within the form throughout the creative period and—as far as the time element has been involved—the indwelling entity in any kingdom in nature has been free, and the time has been long or short, and the reaction to impression has been rapid or slow, according to the will of the controlling life. In the mineral kingdom, this reaction is very slow, for inertia or tamas controls the spiritual life within the mineral form; in the vegetable kingdom, it is more rapid, and under the invocative appeal of the lives in that kingdom the deva world is invoked and greatly aids and hastens the unfoldment of the vegetable consciousness; this is one reason for its relative sinlessness and extraordinary purity.

Cần phải nhớ rằng hoạt động của tất cả các “tác nhân gây ấn tượng” này được cảm nhận theo một nghĩa rộng và chung trên khắp toàn bộ hành tinh và hào quang hành tinh. Không giới nào trong tự nhiên thoát khỏi tác động này, và chính nhờ vậy mà mục đích của Đức Chúa Tể Thế Giới được thực hiện. Bản thể, Sự Gắn kết và Hoạt động do đó được hòa quyện thành một tổng thể được tạo ra và sáng tạo; sự sống, phẩm tính và sắc tướng đáp ứng một cách thống nhất với ý định được áp đặt của Hành Tinh Thượng Đế và tuy nhiên, cùng lúc đó, vẫn tự do một cách sáng tạo đối với phản ứng của chúng với các ấn tượng được tiếp xúc này; phản ứng này nhất thiết phụ thuộc vào loại và phẩm tính của cơ chế ghi nhận ấn tượng. Cơ chế này đã được phát triển bởi sự sống bên trong hình tướng trong suốt thời kỳ sáng tạo và—xét về yếu tố thời gian—thực thể nội trú trong bất kỳ giới nào trong tự nhiên đã được tự do, và thời gian đã dài hay ngắn, và phản ứng đối với ấn tượng đã nhanh hay chậm, tùy theo ý chí của sự sống kiểm soát. Trong giới kim thạch, phản ứng này rất chậm, vì quán tính hay tamas kiểm soát sự sống tinh thần bên trong hình tướng kim thạch; trong giới thực vật, nó nhanh hơn, và dưới lời thỉnh cầu khẩn nguyện của các sự sống trong giới đó, thế giới thiên thần được khẩn cầu và hỗ trợ rất nhiều cũng như đẩy nhanh sự mở ra của tâm thức thực vật; đây là một lý do cho sự tương đối vô tội và sự tinh khiết phi thường của nó.

The major impression registered in the second kingdom of nature emanates from the angel worlds and from the [79] deva hierarchy. The angels and devas are to the vegetable kingdom what the spiritual Hierarchy is to humanity. This is, of course, a mystery with which you have no concern. But impressions and reactions are to be found in both these kingdoms, and upon such response depends the evolution of the indwelling consciousness.

Ấn tượng chính được ghi nhận trong giới thứ hai của tự nhiên phát xuất từ các thế giới thiên thần và từ [79] huyền giai thiên thần. Các thiên thần và deva đối với giới thực vật cũng giống như Thánh đoàn đối với nhân loại. Dĩ nhiên, đây là một bí nhiệm mà các bạn không cần quan tâm. Nhưng các ấn tượng và phản ứng được tìm thấy trong cả hai giới này, và sự tiến hóa của tâm thức nội trú phụ thuộc vào sự đáp ứng đó.

The animal kingdom has a peculiar relation to the fourth kingdom in nature, and the unfolding of the animal consciousness proceeds along lines paralleling, yet dissimilar to that of the human being who is beginning to respond to the kingdom of souls, the fifth kingdom. It is the karma and destiny of the fourth kingdom to be the impressing agent for the third; the problem is complicated, however, by the fact that the animal kingdom antedates the human and had, therefore, generated a measure of karma—both good and evil—prior to the appearance of mankind. The “impressing process” carried forward by humanity is modified and often negated by two factors:

Giới động vật có một mối quan hệ đặc biệt với giới thứ tư trong tự nhiên, và sự mở ra của tâm thức động vật tiến triển theo các đường lối song song, nhưng khác biệt với con người, kẻ đang bắt đầu đáp ứng với giới của các linh hồn, giới thứ năm. Nghiệp quả và định mệnh của giới thứ tư là trở thành tác nhân gây ấn tượng cho giới thứ ba; tuy nhiên, vấn đề trở nên phức tạp do thực tế là giới động vật có trước con người và do đó, đã tạo ra một lượng nghiệp quả—cả tốt và xấu—trước khi nhân loại xuất hiện. “Quá trình gây ấn tượng” được thực hiện bởi nhân loại bị sửa đổi và thường bị phủ định bởi hai yếu tố:

1. Human ignorance and selfishness, plus inability to work consciously and intelligently with the embryonic minds within animal forms; this is true except in a few (a very few) cases which involve the domestic animals. When humanity is itself further advanced, its intelligent impression upon the consciousness of the animal kingdom will produce planetary results. At present this is not so. It will only come when the animal kingdom (as a result of human understanding) becomes invocative.

1. Sự vô minh và ích kỷ của con người, cộng với sự bất lực trong việc làm việc một cách có ý thức và thông minh với các thể trí ở dạng mầm mống bên trong các hình tướng động vật; điều này đúng ngoại trừ trong một vài (rất ít) trường hợp liên quan đến các loài vật nuôi trong nhà. Khi chính nhân loại tiến bộ hơn nữa, ấn tượng thông minh của họ lên tâm thức của giới động vật sẽ tạo ra các kết quả hành tinh. Hiện tại điều này không phải như vậy. Nó sẽ chỉ đến khi giới động vật (như là kết quả của sự thấu hiểu của con người) trở nên có tính khẩn cầu.

2. The self-generated karma of the animal kingdom which is largely being worked off in its relation to mankind today. The karmic entity—holding a type of rule within the third kingdom—is a part of the planetary Dweller on the Threshold.

2. Nghiệp quả tự tạo của giới động vật vốn phần lớn đang được giải trừ trong mối quan hệ của nó với nhân loại ngày nay. Thực thể nghiệp quả—nắm giữ một loại quyền cai trị trong giới thứ ba—là một phần của Kẻ Chận Ngõ hành tinh.

Planetary Sequence of Impression—Trình Tự Ấn Tượng Hành Tinh

[80]

[80]

You will note, therefore, the amazing planetary sequence of impression—all of it emanating from the highest possible sources, though stepped down and regulated to the receiving factors; all of it concerned to a greater or less degree (according to the quality of the mechanism of reception) with the will and purpose of Sanat Kumara; all of it, during the aeons, achieving a group potency and a responding sensitivity.

Do đó, các bạn sẽ lưu ý trình tự ấn tượng hành tinh đáng kinh ngạc—tất cả đều phát xuất từ các nguồn cao nhất có thể, mặc dù được giảm cấp và điều chỉnh cho các yếu tố tiếp nhận; tất cả đều liên quan ở mức độ lớn hơn hay nhỏ hơn (tùy theo phẩm tính của cơ chế tiếp nhận) với ý chí và mục đích của Sanat Kumara; tất cả, trong suốt các thời đại, đạt được một quyền năng nhóm và một sự nhạy cảm đáp ứng.

The main factor preventing a completely unimpeded sequence of impression from Shamballa straight down into the mineral kingdom, via all the other kingdoms, is the factor of freewill, resulting in karmic responsibility. This can be either good or bad. It is interesting to note here that both the good and the bad karma produce conditions which not only have to be worked out, but that they lead to conditions which delay what we—from our limited point of view—might look upon as the liberation of the planet. The generating of good karma necessitates the “living through” of conditions where everything (for the man responsible or for any other form within its limitations) is good, happy, beneficent and useful. The evil karma generated in any kingdom in relation to the “realm where dwelleth the planetary Dweller on the Threshold” stands between the cosmic Door of Initiation and our planetary Logos. This Dweller represents all the mistakes and errors due to wrong reactions, unrecognised contacts, deliberate choices made in defiance of known good, and mass movements and mass activities which are temporarily not progressive in time and space. I realise that where these facts apply to the subhuman kingdoms in nature you are not aware of what I mean, but that does not alter the law or movements which are in no way related to human evolution. In connection with the planetary Logos I would like to add that in that great planetary struggle and His subsequent [81] initiation, we are all implicated—from the atom of substance up to and including all the Lives which form the Council Chamber of the Lord of the World; it is this titanic effort which is made by the sum total of all the living processes and entities that compose the manifestation of Sanat Kumara which is responsible for the creative evolutionary processes; it is also responsible for what we call time, with all that that concept involves of events, opportunity, the past, the present and the future, the good and the evil.

Yếu tố chính ngăn cản một trình tự ấn tượng hoàn toàn không bị cản trở từ Shamballa thẳng xuống giới kim thạch, qua tất cả các giới khác, là yếu tố tự do ý chí, dẫn đến trách nhiệm nghiệp quả. Điều này có thể tốt hoặc xấu. Thật thú vị khi lưu ý ở đây rằng cả nghiệp tốt và nghiệp xấu đều tạo ra các điều kiện không chỉ phải được giải quyết, mà chúng còn dẫn đến các điều kiện làm trì hoãn cái mà chúng ta—từ quan điểm hạn hẹp của mình—có thể coi là sự giải thoát của hành tinh. Việc tạo ra nghiệp tốt đòi hỏi phải “sống qua” các điều kiện nơi mà mọi thứ (đối với người chịu trách nhiệm hoặc đối với bất kỳ hình tướng nào khác trong giới hạn của nó) đều tốt đẹp, hạnh phúc, thiện lành và hữu ích. Nghiệp xấu được tạo ra trong bất kỳ giới nào trong mối quan hệ với “vương quốc nơi Kẻ Chận Ngõ hành tinh cư ngụ” đứng giữa Cánh Cửa Điểm Đạo vũ trụ và Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Kẻ Chận Ngõ này đại diện cho tất cả những sai lầm và lỗi lầm do phản ứng sai, tiếp xúc không được nhận biết, những lựa chọn cố ý được thực hiện bất chấp điều tốt đã biết, và các phong trào đại chúng và hoạt động đại chúng tạm thời không tiến bộ trong không gian và thời gian. Tôi nhận ra rằng khi những thực tế này áp dụng cho các giới dưới nhân loại trong tự nhiên, các bạn không biết ý tôi là gì, nhưng điều đó không thay đổi quy luật hay các chuyển động không liên quan gì đến sự tiến hóa của con người. Liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế, tôi muốn thêm rằng trong cuộc đấu tranh hành tinh vĩ đại đó và cuộc điểm đạo [81] tiếp theo của Ngài, tất cả chúng ta đều bị lôi cuốn vào—từ nguyên tử chất liệu lên đến và bao gồm tất cả các Sự Sống hình thành nên Phòng Mật Nghị của Đức Chúa Tể Thế Giới; chính nỗ lực phi thường này được thực hiện bởi tổng số tất cả các quá trình sống và thực thể cấu thành nên biểu hiện của Sanat Kumara chịu trách nhiệm cho các quá trình tiến hóa sáng tạo; nó cũng chịu trách nhiệm cho cái mà chúng ta gọi là thời gian, với tất cả những gì khái niệm đó bao hàm về các sự kiện, cơ hội, quá khứ, hiện tại và tương lai, điều thiện và điều ác.

The dynamic impression which emanates from Shamballa reaches forth in great cycles and cyclic waves; these are impulsed from extra-planetary sources, as demanded or invoked by the Lord of the World and His Associates; they emanate in response to the “acclaimed will” of Sanat Kumara in the Council Chamber.

Ấn tượng năng động phát xuất từ Shamballa vươn ra trong các chu kỳ lớn và các sóng chu kỳ; những cái này được thúc đẩy từ các nguồn ngoài hành tinh, khi được yêu cầu hoặc khẩn cầu bởi Đức Chúa Tể Thế Giới và Các Cộng sự của Ngài; chúng phát xuất để đáp ứng với “ý chí được tôn xưng” của Sanat Kumara trong Phòng Mật Nghị.

This high spiritual and ultimate impression moves outward along the seven rays, viewing them as seven streams of spiritual energy, qualified and coloured by the Shamballic impression; this process repeats itself when hierarchical invocation is effective and successfully established.

Ấn tượng tinh thần cao cả và tối hậu này di chuyển ra ngoài dọc theo bảy cung, xem chúng như bảy dòng năng lượng tinh thần, được định tính và nhuộm màu bởi ấn tượng Shamballa; quá trình này tự lặp lại khi sự khẩn cầu của thánh đoàn có hiệu quả và được thiết lập thành công.

This again is repeated between the Hierarchy and Humanity in response to human invocation; this is becoming increasingly intelligent, potent and evocative.

Điều này lại được lặp lại giữa Thánh đoàn và Nhân loại để đáp ứng với sự khẩn cầu của con người; điều này đang trở nên ngày càng thông minh, mạnh mẽ và có khả năng gợi lên sự đáp ứng mạnh hơn.

The problem of the human kingdom is, however, very great. Humanity is the recipient of so many impacts, so many impressions, so many telepathic and mental currents and so many qualified vibratory impressions from all the seven kingdoms in nature that aeons have elapsed in developing the adequate discriminative sensitivity and in establishing the certitude of the point in evolution from which conscious invocation must arise and upon which the evoked impression must be registered. Unconscious invocation proceeds all the time; when it becomes conscious, it becomes exceedingly powerful.

Tuy nhiên, vấn đề của giới nhân loại là rất lớn. Nhân loại là người nhận của rất nhiều tác động, rất nhiều ấn tượng, rất nhiều dòng viễn cảm và tư tưởng và rất nhiều ấn tượng rung động được định tính từ tất cả bảy giới trong tự nhiên đến nỗi nhiều thời đại đã trôi qua để phát triển sự nhạy cảm phân biện thỏa đáng và thiết lập sự chắc chắn về điểm tiến hóa mà từ đó sự khẩn cầu có ý thức phải nảy sinh và trên đó ấn tượng được gợi lên phải được ghi nhận. Sự khẩn cầu vô thức diễn ra mọi lúc; khi nó trở nên có ý thức, nó trở nên cực kỳ mạnh mẽ.

[82]

[82]

The entire human family is today an amazing receiver of impressions, owing to its myriad types of susceptible mechanisms. These impressionable instruments are capable of registering tamasic impressions, coming from the sub-human kingdoms, particularly the third and the first; they record rajasic impressions coming from mental sources of all kinds; they are also—to a much less degree—responsive to sattvic or rhythmic impressions. Their response to these high impressions and their registration of truth, light and quality, coming from the highest sources is, however, growing.

Toàn thể gia đình nhân loại ngày nay là một bộ máy thu nhận các ấn tượng đáng kinh ngạc, nhờ vào vô số loại cơ chế dễ tiếp nhận của nó. Những công cụ dễ bị ấn tượng này có khả năng ghi nhận các ấn tượng thuộc tamas, đến từ các giới dưới nhân loại, đặc biệt là giới thứ ba và thứ nhất; chúng ghi lại các ấn tượng thuộc rajas đến từ các nguồn trí tuệ thuộc mọi loại; chúng cũng—ở mức độ ít hơn nhiều—đáp ứng với các ấn tượng thuộc sattva hoặc nhịp điệu. Tuy nhiên, sự đáp ứng của họ đối với những ấn tượng cao này và sự ghi nhận chân lý, ánh sáng và phẩm tính, đến từ các nguồn cao nhất, đang gia tăng.

It is because of this that the human kingdom (the great middle kingdom whose function it is to mediate between the higher and the lower) is the subject of much divine impression, conveying the Purpose of Sanat Kumara. This you know. I have taught you much along this line in A Treatise on the Seven Rays and also in the earlier A Treatise on Cosmic Fire. In these present instructions I am dealing with group possibilities, with groups which can be trained to record, register and be impressed by the Hierarchy. Such a group can be in the position of being able to invoke the Hierarchy with power if it so choose. I am again bringing these things to your attention as aspirants and disciples, but from an angle different to those in my earlier writings. The responsibility of impressionability, of telepathic registration and of invocative appeal is very great; hence what I have written here.

Chính vì điều này mà giới nhân loại (giới trung gian vĩ đại có chức năng làm trung gian giữa cái cao hơn và cái thấp hơn) là chủ thể của rất nhiều ấn tượng thiêng liêng, truyền tải Mục Đích của Sanat Kumara. Điều này các bạn đã biết. Tôi đã dạy các bạn nhiều theo hướng này trong Luận về Bảy Cung và cũng trong cuốn trước đó Luận về Lửa Vũ Trụ. Trong các huấn thị hiện tại này, tôi đang bàn về các khả năng nhóm, với các nhóm có thể được huấn luyện để ghi chép, ghi nhận và tiếp nhận ấn tượng từ Thánh đoàn. Một nhóm như vậy có thể ở vị thế có thể khẩn cầu Thánh đoàn với quyền năng nếu nó chọn như vậy. Tôi một lần nữa mang những điều này đến sự chú ý của các bạn như là những người chí nguyện và đệ tử, nhưng từ một góc độ khác với những gì trong các bài viết trước của tôi. Trách nhiệm về khả năng nhận ấn tượng, về việc ghi nhận viễn cảm và về sự thỉnh cầu khẩn nguyện là rất lớn; do đó tôi đã viết những điều này ở đây.

XII. RELATION OF THE HUMAN TO THE HIERARCHICAL CENTRE—XII. MỐI QUAN HỆ CỦA TRUNG TÂM NHÂN LOẠI VỚI TRUNG TÂM THÁNH ĐOÀN

[83]

[83]

True telepathic rapport is part of the Supreme Science of Contact and has peculiar and definite reference to humanity. Many different terms might be used in the effort to convey some understanding of this subtle, subjective mode of relationship, and I have used among others the following:

Mối giao cảm viễn cảm đích thực là một phần của Khoa học Tiếp xúc Tối cao và có sự tham chiếu đặc biệt và xác định đối với nhân loại. Nhiều thuật ngữ khác nhau có thể được sử dụng trong nỗ lực truyền đạt một số hiểu biết về phương thức quan hệ tinh tế, chủ quan này, và tôi đã sử dụng trong số những thuật ngữ khác những cái sau:

1. The Science of Contact.

1. Khoa học Tiếp xúc.

2. The Science of Impression.

2. Khoa học Ấn tượng.

3. The Science of Invocation and Evocation.

3. Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên.

4. The Science of Relationship.

4. Khoa học về Mối Quan hệ.

5. The Science of Sensitivity.

5. Khoa học về Tính Nhạy cảm.

All these terms convey different aspects of the reaction of form or forms to contact, to impression, to impact, to environment, to the thought context of various minds, to ascending and descending energies, to the invocation of agents and the evocation of their response. The whole planetary system is in reality a vast interlocking, inter-dependent and inter-related complexity of vehicles communicating or responsive to communication.

Tất cả các thuật ngữ này chuyển tải những khía cạnh khác nhau của phản ứng của hình tướng hay các hình tướng đối với sự tiếp xúc, đối với ấn tượng, đối với tác động, đối với môi trường, đối với bối cảnh tư tưởng của các thể trí khác nhau, đối với các năng lượng thăng lên và giáng xuống, đối với sự khẩn cầu các tác nhân và sự gợi lên đáp ứng của họ. Toàn bộ hệ thống hành tinh trong thực tế là một sự phức tạp rộng lớn đan xen, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan tương hỗ của các vận cụ đang giao tiếp hoặc đáp ứng với sự giao tiếp.

The moment that this inter-related and communicating system is studied from the angle of relationships, then the processes of evolution and the goal of the spirit of man (which is in reality the Spirit of the planetary Logos) become of vital and supreme importance, but are at the same time most difficult to comprehend. So immense is the theme that it is profitless for us to do more than deal with two factors: [84]

Thời điểm mà hệ thống liên hệ tương hỗ và giao tiếp này được nghiên cứu từ góc độ của các mối quan hệ, thì các quá trình tiến hóa và mục tiêu của tinh thần con người (vốn trong thực tế là Tinh thần của Hành Tinh Thượng Đế) trở nên quan trọng sống còn và tối cao, nhưng đồng thời cũng khó thấu hiểu nhất. Chủ đề này quá mênh mông đến nỗi chúng ta chẳng có lợi ích gì khi làm nhiều hơn là bàn về hai yếu tố: [84]

1. The Science of Impression in relation to mankind.

1. Khoa học Ấn tượng trong mối quan hệ với nhân loại.

2. The impressing Centres, as they affect the understanding of relationship.

2. Các Trung tâm gây ấn tượng, khi chúng ảnh hưởng đến sự thấu hiểu về mối quan hệ.

The many modes of contact between the many subhuman and superhuman forms, groupings, and kingdoms are too intricate in their nature to be grasped at this time by students, and—which is more important—the information would be of small use to them. We will, therefore, confine ourselves to the Science of Impression and the Science of Invocation and Evocation only in so far as they affect humanity. These—from the human angle—cover reception of impression and of ideas, and expressions of the consequences of sensitivity at this time and in this particular cycle.

Nhiều phương thức tiếp xúc giữa nhiều hình tướng, nhóm và giới dưới nhân loại và siêu nhân loại quá phức tạp trong bản chất của chúng để các môn sinh có thể nắm bắt vào lúc này, và—điều quan trọng hơn—thông tin sẽ ít hữu ích cho họ. Do đó, chúng ta sẽ tự giới hạn mình vào Khoa học Ấn tượng và Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên chỉ trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến nhân loại. Những điều này—từ góc độ con người—bao hàm sự tiếp nhận ấn tượng và ý tưởng, và các biểu hiện của những hệ quả của tính nhạy cảm vào thời điểm này và trong chu kỳ cụ thể này.

We are to consider, therefore, the relation of the human centre to the hierarchical centre and the growing responsiveness of humanity to the “Centre where the Will of God is known”. As I said before, it is not my intention to give here the rules governing telepathic intercourse. Such intercourse is found between man and man and groups and groups. The relationship is slowly and normally developed and requires no hastening. It is developing as the other senses of man and his apparatus of perception have developed. Humanity is, however, outstripping telepathic development in the rapid responsiveness of entire groups, and of human beings en masse, to group impression and to group impartation of ideas. The sudden response of groups and nations to mass ideologies has been both unexpected and difficult to handle wisely and constructively. It was not anticipated by either Shamballa or the Hierarchy that mass impression would develop more quickly than that of individual sensitivity, but it has happened that way. The individual within a group and working within a group is far [85] more correctly sensitive than is the man struggling alone to render himself sensitive to impression.

Do đó, chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ của trung tâm nhân loại với trung tâm thánh đoàn và sự đáp ứng ngày càng tăng của nhân loại đối với “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế”. Như tôi đã nói trước đây, tôi không có ý định đưa ra ở đây các quy luật chi phối sự giao tiếp viễn cảm. Sự giao tiếp như vậy được tìm thấy giữa người với người và giữa nhóm với nhóm. Mối quan hệ được phát triển chậm chạp và bình thường và không cần thúc đẩy. Nó đang phát triển khi các giác quan khác của con người và bộ máy nhận thức của y đã phát triển. Tuy nhiên, nhân loại đang vượt xa sự phát triển viễn cảm trong sự đáp ứng nhanh chóng của toàn bộ các nhóm, và của con người nói chung, đối với ấn tượng nhóm và sự truyền đạt ý tưởng nhóm. Phản ứng đột ngột của các nhóm và các quốc gia đối với các hệ tư tưởng đại chúng vừa bất ngờ vừa khó xử lý một cách khôn ngoan và mang tính xây dựng. Cả Shamballa lẫn Thánh đoàn đều không dự đoán rằng ấn tượng đại chúng sẽ phát triển nhanh hơn sự nhạy cảm cá nhân, nhưng nó đã xảy ra theo cách đó. Cá nhân bên trong một nhóm và làm việc trong một nhóm nhạy cảm chính xác hơn [85] nhiều so với người đang đấu tranh một mình để làm cho bản thân nhạy cảm với ấn tượng.

One of the factors militating against personal telepathic development lies in the fact that the strong, potent and modern ascension of the spirit in man—as a whole—frequently offsets personality reactions, and telepathy is a personality matter depending upon contact between mind and mind. The moment, however, that man tries to be telepathic, he is immediately swept into a vortex of abstract energies which condition him for spiritual impression far more than they fit him for personal relationships telepathically established.

Một trong những yếu tố cản trở sự phát triển viễn cảm cá nhân nằm ở thực tế là sự thăng lên mạnh mẽ, đầy quyền năng và hiện đại của tinh thần nơi con người—như một toàn thể—thường xuyên hóa giải các phản ứng phàm ngã, và viễn cảm là một vấn đề phàm ngã phụ thuộc vào sự tiếp xúc giữa thể trí và thể trí. Tuy nhiên, thời điểm mà con người cố gắng trở nên viễn cảm, y ngay lập tức bị cuốn vào một vòng xoáy của các năng lượng trừu tượng định hình y để tiếp nhận ấn tượng tinh thần nhiều hơn là làm cho y phù hợp với các mối quan hệ cá nhân được thiết lập bằng viễn cảm.

This surprising development freed the supervising Masters for some of Their plans and led Them to abandon the training of individual disciples in telepathic rapport and to recognise the opportunity to train and develop invocative groups. Instead of working in lower mental substance with picked aspirants, They changed the medium of contact to that of the soul and launched the relatively new Science of Invocation and Evocation. The lower mind then became simply an interpreter of impressions with the emphasis upon the group mind, the group purpose and the group will. This developing system of trained invocatives made the mind a positive acting factor and tuned out all tendency to negativity.

Sự phát triển đáng ngạc nhiên này đã giải phóng các Chân sư giám sát cho một số kế hoạch của Các Ngài và khiến Các Ngài từ bỏ việc huấn luyện các đệ tử cá nhân về mối giao cảm viễn cảm và nhận ra cơ hội để huấn luyện và phát triển các nhóm khẩn cầu. Thay vì làm việc trong chất liệu hạ trí với các người chí nguyện được chọn lọc, Các Ngài đã thay đổi phương tiện tiếp xúc sang linh hồn và khởi xướng Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên tương đối mới mẻ. Hạ trí khi đó trở thành đơn giản là một bộ phận diễn giải các ấn tượng với sự nhấn mạnh vào tâm trí nhóm, mục đích nhóm và ý chí nhóm. Hệ thống phát triển của những người khẩn cầu được huấn luyện này đã biến thể trí thành một yếu tố hoạt động chủ động và loại bỏ mọi khuynh hướng thụ động.

This hierarchical decision then necessarily led to the instituting of the processes of group initiation, thus shifting the area of training and the whole of the teaching process and of preparation for initiation on to higher levels. The experiment of giving mankind the Great Invocation was tried and is proving successful, though much yet remains to be done.

Quyết định này của Thánh đoàn sau đó tất yếu dẫn đến việc thiết lập các quá trình điểm đạo nhóm, do đó chuyển dịch khu vực huấn luyện và toàn bộ quá trình giảng dạy và chuẩn bị cho điểm đạo lên các cấp độ cao hơn. Thử nghiệm trao cho nhân loại Đại Khấn Nguyện đã được thử và đang chứng minh là thành công, mặc dù còn nhiều việc phải làm.

It might be said, therefore, that the four requirements which are needed to aid the disciple to meet the demands of [86] the initiatory process are “the ability to be impressed, the capacity accurately to register the impression, the power to record what has been given, and then to give it word forms in the mind consciousness.” On the basis of the information received, the disciple must then properly invoke the needed energies and learn through experience to produce a responsive evocation. My earlier statement on this subject a few pages back was intended to lead up to this teaching and I repeat it here:

Do đó, có thể nói rằng bốn yêu cầu cần thiết để hỗ trợ đệ tử đáp ứng các đòi hỏi của [86] quá trình điểm đạo là “khả năng tiếp nhận ấn tượng, năng lực ghi nhận ấn tượng một cách chính xác, quyền năng ghi lại những gì đã được ban cho, và sau đó trao cho nó các hình thức ngôn ngữ trong tâm thức trí tuệ.” Trên cơ sở thông tin nhận được, đệ tử sau đó phải khẩn cầu một cách thích hợp các năng lượng cần thiết và học qua kinh nghiệm để tạo ra một sự gợi lên đáp ứng. Tuyên bố trước đó của tôi về chủ đề này vài trang trước nhằm mục đích dẫn đến giáo huấn này và tôi lặp lại nó ở đây:

“The entire human family is today an amazing receiver of impressions, owing to the myriad types of susceptible mechanisms…. It is because of this that the human kingdom (the great middle kingdom whose function it is to mediate between the higher and the lower) is the subject of so much divine impression, conveying the purpose of Sanat Kumara…. In these present instructions I am dealing with group possibilities, with groups which can be trained to record, register and be impressed by the Hierarchy. Such a group can be in the position of being able to invoke the Hierarchy with power if it so choose. I am again bringing these things to your attention as aspirants and disciples, but from an angle different to those in my earlier writings. The responsibility of impressionability, of telepathic registration and of invocative appeal is very great.”

“Toàn thể gia đình nhân loại ngày nay là một bộ máy thu nhận các ấn tượng đáng kinh ngạc, nhờ vào vô số loại cơ chế dễ tiếp nhận…. Chính vì điều này mà giới nhân loại (giới trung gian vĩ đại có chức năng làm trung gian giữa cái cao hơn và cái thấp hơn) là chủ thể của rất nhiều ấn tượng thiêng liêng, truyền tải mục đích của Sanat Kumara…. Trong các huấn thị hiện tại này, tôi đang bàn về các khả năng nhóm, với các nhóm có thể được huấn luyện để ghi chép, ghi nhận và tiếp nhận ấn tượng từ Thánh đoàn. Một nhóm như vậy có thể ở vị thế có thể khẩn cầu Thánh đoàn với quyền năng nếu nó chọn như vậy. Tôi một lần nữa mang những điều này đến sự chú ý của các bạn như là những người chí nguyện và đệ tử, nhưng từ một góc độ khác với những gì trong các bài viết trước của tôi. Trách nhiệm về khả năng nhận ấn tượng, về việc ghi nhận viễn cảm và về sự thỉnh cầu khẩn nguyện là rất lớn.”

Sources of Impression for the Disciple—Các Nguồn Ấn Tượng cho Đệ Tử

For the aspirant and particularly for the conscious disciple, the impression to be considered comes from four sources:

Đối với người chí nguyện và đặc biệt là đối với đệ tử có ý thức, ấn tượng cần xem xét đến từ bốn nguồn:

1. From the disciple’s own soul.

1. Từ chính linh hồn của đệ tử.

2. From the Ashram with which he is to be affiliated.

2. Từ Ashram mà y sẽ liên kết.

3. Directly from the Master.

3. Trực tiếp từ Chân sư.

4. From the Spiritual Triad, via the antahkarana.

4. Từ Tam Nguyên Tinh Thần, thông qua antahkarana.

[87]

[87]

The first two stages cover the period of the first two initiations; the third precedes the third initiation and persists until the disciple is himself a Master; the fourth type of informative impression can be registered after the third initiation and reach the disciple in the Ashram; he then has the task himself of impressing his mind with what he has been told and known within the Ashram; eventually, as a Master of an Ashram, he starts upon one of the major hierarchical tasks of mastering the Science of Impression. There are therefore, two aspects to this work of impression: one deals with the capacity to be impressed; the other with the ability to be an impressing agent. The disciple is not permitted to practise the art of impressing until he himself is among those who receive Triadal impression and therefore impression from Shamballa, within the protective area or aura of the Ashram with which he is affiliated. It must be remembered that this Science of Impression is in reality the science of thoughtform-making, thoughtform vitalisation and thoughtform direction; and only a disciple who has passed through the processes of Transfiguration and is no longer the victim of his own personality can be entrusted with so dangerous a cycle of powers. As long as there exists any desire for selfish power, for unspiritual control and for influence over the minds of other human beings or over groups, the disciple cannot be trusted, under the hierarchical rules, with the deliberate creation of thoughtforms designed to produce specific effects, and with their dispersal to men and groups. After he has passed the tests of the Transfiguration Initiation he may do so.

Hai giai đoạn đầu bao trùm thời kỳ của hai cuộc điểm đạo đầu tiên; giai đoạn thứ ba đi trước cuộc điểm đạo thứ ba và kéo dài cho đến khi đệ tử tự mình là một Chân sư; loại ấn tượng thông tin thứ tư có thể được ghi nhận sau cuộc điểm đạo thứ ba và đến với đệ tử trong Ashram; sau đó y tự mình có nhiệm vụ ghi khắc vào thể trí của mình những gì y đã được bảo và biết bên trong Ashram; cuối cùng, với tư cách là Chân sư của một Ashram, y bắt đầu thực hiện một trong những nhiệm vụ lớn của thánh đoàn là làm chủ Khoa học Ấn tượng. Do đó, có hai khía cạnh đối với công việc ấn tượng này: một liên quan đến năng lực tiếp nhận ấn tượng; khía cạnh kia liên quan đến khả năng trở thành một tác nhân gây ấn tượng. Đệ tử không được phép thực hành nghệ thuật gây ấn tượng cho đến khi chính y nằm trong số những người nhận ấn tượng từ Tam Nguyên và do đó ấn tượng từ Shamballa, bên trong khu vực hoặc hào quang bảo vệ của Ashram mà y liên kết. Cần nhớ rằng Khoa học Ấn tượng này thực tế là khoa học về việc tạo hình tư tưởng, tiếp sinh lực cho hình tư tưởng và hướng dẫn hình tư tưởng; và chỉ một đệ tử đã trải qua các quá trình Biến hình và không còn là nạn nhân của phàm ngã của chính mình mới có thể được giao phó một chu kỳ quyền năng nguy hiểm như vậy. Chừng nào còn tồn tại bất kỳ ham muốn nào về quyền lực ích kỷ, về sự kiểm soát phi tinh thần và về ảnh hưởng đối với thể trí của những người khác hoặc đối với các nhóm, đệ tử không thể được tin tưởng, theo các quy luật của thánh đoàn, với việc cố ý tạo ra các hình tư tưởng được thiết kế để tạo ra các hiệu quả cụ thể, và với việc phân tán chúng đến con người và các nhóm. Sau khi y đã vượt qua các thử thách của Cuộc Điểm đạo Biến hình, y có thể làm như vậy.

The Science of Impression is the bedrock or the foundation for the practice of telepathy. If a major world test were to be made, those receptive to impression would be found to fall into two groups: [88]

Khoa học Ấn tượng là nền tảng hay cơ sở cho việc thực hành viễn cảm. Nếu một bài kiểm tra lớn của thế giới được thực hiện, những người dễ tiếp nhận ấn tượng sẽ được tìm thấy rơi vào hai nhóm: [88]

1. Those possessing unconscious receptivity to telepathic impression. They at present constitute a majority wherein the impression is received via the solar plexus, and the thoughtforms thus generated are dispatched from the throat centre of the one who is the impressing agent.

1. Những người sở hữu khả năng tiếp thu vô thức đối với ấn tượng viễn cảm. Họ hiện nay cấu thành một đa số trong đó ấn tượng được nhận qua tùng thái dương, và các hình tư tưởng được tạo ra như vậy được gửi đi từ trung tâm cổ họng của người là tác nhân gây ấn tượng.

2. Those who are developing or have developed a conscious receptivity wherein the impression is, first of all, received by the mind and then imparted to and registered by the brain. The one who is the impressing agent in this case works via the centre between the eyebrows, the ajna centre.

2. Những người đang phát triển hoặc đã phát triển một khả năng tiếp thu có ý thức trong đó ấn tượng, trước hết, được thể trí tiếp nhận, rồi truyền đến bộ não để bộ não ghi nhận. Người là tác nhân gây ấn tượng trong trường hợp này làm việc qua trung tâm giữa hai lông mày, trung tâm ajna.

The first group of recipients are purely personality grounded or focussed. In some cases they are only physically aware of the life processes and of some contact which remains for them unrecognised and unchecked or uncontrolled in any way. Under this group we must, therefore, class all mediumistic phenomena, even those of the highest astral or spiritual nature, plus the messages received from the usually beautiful subconscious of the average person upon the Probationary Path. Messages from the disciple’s own soul are intermediate between those mediumistic expressions and those which are definitely mental in nature.

Nhóm người nhận đầu tiên hoàn toàn dựa trên nền tảng hoặc tập trung vào phàm ngã. Trong một số trường hợp, họ chỉ nhận thức về mặt vật lý về các quá trình sống và về một sự tiếp xúc nào đó vẫn còn đối với họ là không được nhận biết và không được kiểm tra hoặc không được kiểm soát theo bất kỳ cách nào. Dưới nhóm này, do đó, chúng ta phải phân loại tất cả các hiện tượng đồng tử, ngay cả những hiện tượng có bản chất cảm dục hoặc tinh thần cao nhất, cộng với các thông điệp nhận được từ tiềm thức thường đẹp đẽ của người bình thường trên Con Đường Dự Bị. Các thông điệp từ chính linh hồn đệ tử là trung gian giữa các biểu hiện đồng tử đó và những biểu hiện hoàn toàn mang tính trí tuệ.

With this last mentioned type of communication, there will be found mixed certain messages or impressions from the Ashram which the disciple will be apt to confuse with group telepathy, soul communication and direct relation with the Master—a relationship at this stage non-existent. This will not greatly matter, because when the disciple begins to realise certain differences, a new type of registration will awaken and guide the disciple’s consciousness.

Với loại giao tiếp được đề cập cuối cùng này, sẽ tìm thấy sự pha trộn của một số thông điệp hoặc ấn tượng từ Ashram mà đệ tử sẽ dễ nhầm lẫn với viễn cảm nhóm, giao tiếp linh hồn và mối quan hệ trực tiếp với Chân sư—một mối quan hệ ở giai đoạn này là không tồn tại. Điều này sẽ không quan trọng lắm, bởi vì khi đệ tử bắt đầu nhận ra những khác biệt nhất định, một loại ghi nhận mới sẽ thức tỉnh và hướng dẫn tâm thức của đệ tử.

This stage, which embraces the second type of impression in its earliest forms, can be quite a long one, for it [89] covers a very definite period of transition from the astral plane to the mental plane. The time equation varies according to ray and the age of the soul. Sixth ray people, for instance, are very slow in making this transition, owing to the pronounced factor of glamour; first and second ray people are relatively quick. Third ray people are also slow, for they are lost in the threads of their own glamorous manipulations and their devious thinking, and hardly know where truth begins and delusion ends; illusion, which is the problem of the mental types on all rays, is far more temporary in its effects than is delusion.

Giai đoạn này, bao gồm loại ấn tượng thứ hai trong các hình thức sớm nhất của nó, có thể khá dài, vì nó [89] bao trùm một thời kỳ chuyển tiếp rất xác định từ cõi cảm dục sang cõi trí. Phương trình thời gian thay đổi tùy theo cung và tuổi của linh hồn. Chẳng hạn, những người cung sáu rất chậm trong việc thực hiện sự chuyển tiếp này, do yếu tố rõ rệt của ảo cảm; những người cung một và cung hai tương đối nhanh. Những người cung ba cũng chậm, vì họ lạc lối trong những sợi dây của các thao tác đầy ảo cảm của chính họ và tư duy quanh co của họ, và hầu như không biết đâu là sự thật bắt đầu và đâu là vọng tưởng kết thúc; ảo tưởng, vốn là vấn đề của các loại trí tuệ trên tất cả các cung, mang tính tạm thời hơn nhiều trong các tác động của nó so với vọng tưởng.

When the disciple has mastered to some degree the significant difference between messages from his own subconscious or the subconscious of other people with whom he may be en rapport, and the messages coming from his own soul, his life then becomes more self-directed and organised, more fruitful from the angle of service, and therefore of definite use to the Hierarchy. He learns to distinguish the messages coming from his own soul from those which are hierarchical; his life becomes more clearly directed; he next distinguishes definitely and accurately the communications which come to him from the Ashram and which are sent out to make impression upon the minds of aspirants and disciples of all degrees and of all ray types. When he can distinguish between these various communications, then and only then does the third type of communication become possible—direct messages which are due to contact with the Master of his Ashram in person. He, by that time, possesses what has been called “the freedom of the Ashram” and “the keys to the Kingdom of God”; he can then be trusted with some of the directive potency of the Ashram itself. His thinking will then affect and reach others. This developing effectiveness grows with rapidity when the fourth type of impression is familiar to the disciple: [90] that coming from the Spiritual Triad, and therefore from the Monad and Shamballa. There are consequently (to this final stage of impression) three lesser though definite states, each marking an expansion in the realm of service and each related to the last three initiations of the total possible nine initiations which confront developing humanity. The sixth initiation, in which only Masters can participate, marks a transition from the first three stages of impressibility required by the disciples as preludes to the fifth initiation—or in reality to the third, fourth and fifth—and are related to the three stages of Triadal communication, each of which is related to the seventh, the eighth and the ninth initiations.

Khi đệ tử đã làm chủ ở một mức độ nào đó sự khác biệt đáng kể giữa các thông điệp từ tiềm thức của chính mình hoặc tiềm thức của người khác mà y có thể có mối giao cảm, và các thông điệp đến từ chính linh hồn mình, cuộc sống của y khi đó trở nên tự định hướng và có tổ chức hơn, hiệu quả hơn từ góc độ phụng sự, và do đó có ích lợi xác định đối với Thánh đoàn. Y học cách phân biệt các thông điệp đến từ chính linh hồn mình với những thông điệp thuộc thánh đoàn; cuộc sống của y trở nên được định hướng rõ ràng hơn; tiếp theo y phân biệt một cách dứt khoát và chính xác các thông tin liên lạc đến với y từ Ashram và được gửi đi để tạo ấn tượng lên thể trí của các người chí nguyện và đệ tử ở mọi cấp độ và mọi loại cung. Khi y có thể phân biệt giữa các thông tin liên lạc khác nhau này, thì và chỉ khi đó, loại giao tiếp thứ ba mới trở nên khả thi—các thông điệp trực tiếp do trực tiếp tiếp xúc với chính Chân sư của Ashram y. Đến lúc đó, y sở hữu cái được gọi là “sự tự do của Ashram” và “chìa khóa vào Thiên Giới”; khi đó y có thể được tin tưởng với một số quyền năng chỉ đạo của chính Ashram. Tư duy của y khi đó sẽ ảnh hưởng và tiếp cận những người khác. Tính hiệu quả đang phát triển này tăng lên nhanh chóng khi loại ấn tượng thứ tư trở nên quen thuộc với đệ tử: [90] loại đến từ Tam Nguyên Tinh Thần, và do đó từ Chân thần và Shamballa. Do đó (đến giai đoạn ấn tượng cuối cùng này) có ba trạng thái nhỏ hơn nhưng xác định, mỗi trạng thái đánh dấu một sự mở rộng trong lĩnh vực phụng sự và mỗi trạng thái liên quan đến ba cuộc điểm đạo cuối cùng trong tổng số chín cuộc điểm đạo có thể có đối mặt với nhân loại đang phát triển. Cuộc điểm đạo thứ sáu, trong đó chỉ các Chân sư mới có thể tham gia, đánh dấu sự chuyển tiếp từ ba giai đoạn đầu tiên của khả năng nhận ấn tượng được yêu cầu bởi các đệ tử như là khúc dạo đầu cho cuộc điểm đạo thứ năm—hoặc thực tế là cho cuộc điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm—và liên quan đến ba giai đoạn giao tiếp Tam Nguyên, mỗi giai đoạn liên quan đến cuộc điểm đạo thứ bảy, thứ tám và thứ chín.

Never does the geometrical pattern, the numerical progression or the Law of Correspondences break down in the understanding of the purpose and the plans of the planetary Logos—established before the worlds were created and finding their prototypes upon the cosmic mental planes. These points are peculiarly difficult for men to grasp at this time wherein their state of consciousness is concentratedly individualised.

Mô hình hình học, sự tiến triển về số học hoặc Định luật Tương ứng không bao giờ bị phá vỡ trong sự thấu hiểu mục đích và các kế hoạch của Hành Tinh Thượng Đế—được thiết lập trước khi các thế giới được tạo ra và tìm thấy nguyên mẫu của chúng trên các cõi trí vũ trụ. Những điểm này đặc biệt khó khăn cho con người nắm bắt vào lúc này khi trạng thái tâm thức của họ được cá nhân hóa một cách tập trung.

Nevertheless, there is on man’s part a steadily growing responsiveness to an expanding environment, as for instance man’s recognition of the distinction between nationalism and inter-nationalism. This responsiveness is naturally conditioned by human freewill, effective peculiarly in the timing process. He may learn rapidly and fast or he may go the slow way, but his state of consciousness remains one of a developing reaction to his environment, as registered by his consciousness, and in which he (stage by stage) becomes an integral factor. This integration into his environment, his absorption of its atmosphere and his potency in progression are all related to the fact that he is created to receive impression and that he possesses a mechanism of response to all [91] the facets of the divine expression in manifestation. It is for that reason that the truly illumined man and all who have taken the three highest initiations are always referred to as “the diamond souled”; they, in their totality constitute the “jewel in the lotus”—that twelve-petalled lotus which is the symbol and expression of the potency of the planetary Logos.

Tuy nhiên, về phía con người, có một sự đáp ứng ngày càng tăng đều đặn đối với một môi trường đang mở rộng, chẳng hạn như sự nhận biết của con người về sự phân biệt giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế. Sự đáp ứng này tự nhiên chịu ảnh hưởng của tự do ý chí của con người, có hiệu lực đặc biệt trong tiến trình thời gian. Y có thể học nhanh và mau lẹ hoặc y có thể đi theo con đường chậm chạp, nhưng trạng thái tâm thức của y vẫn là một phản ứng đang phát triển đối với môi trường của mình, như được ghi nhận bởi tâm thức y, và trong đó y (từng giai đoạn) trở thành một yếu tố không thể tách rời. Sự tích hợp này vào môi trường của y, sự hấp thụ bầu không khí của nó và quyền năng của y trong sự tiến triển đều liên quan đến thực tế là y được tạo ra để nhận ấn tượng và y sở hữu một cơ chế đáp ứng với tất cả [91] các khía cạnh của biểu hiện thiêng liêng trong sự hiện hình. Chính vì lý do đó mà người thực sự giác ngộ và tất cả những ai đã nhận ba cuộc điểm đạo cao nhất luôn được gọi là “linh hồn kim cương”; trong tổng thể của mình, họ cấu thành “ngọc trong hoa sen”—hoa sen mười hai cánh vốn là biểu tượng và sự thể hiện quyền năng của Hành Tinh Thượng Đế.

You can see, therefore, how the theme of revelation runs throughout the entire evolutionary process; it must never be forgotten that step by step, stage by stage, expansion after expansion, initiation after initiation, the divine WHOLE is realised by man. The method is impressed from a hitherto unrecognised environment; this only becomes possible in this particular form when “the Sons of Mind who are the Sons of God and whose nature is at-one with His began to move on Earth”. The Science of Impression is in reality the technique whereby Humanity has been taught by the Spiritual Hierarchy from the moment of its first appearance upon Earth; it is the technique which all disciples have to learn (no matter which of the Seven Paths they may eventually choose) and it is also the sublime art which every Master practises on inspiration from Shamballa; it is a technique which is implemented by the Will, and its consummation is the complete assimilation of the “little wills of men” into the divine Purpose; it is the acceptance on their part of the promotion of that Purpose through right impression on all forms of life at any particular point of evolution. Disciples then become agents of the divine will and are entrusted with the direction of energies, with the plan and with the secrets and the inspiration which are hidden in the Mind of God.

Do đó, các bạn có thể thấy chủ đề về sự mặc khải chạy xuyên suốt toàn bộ quá trình tiến hóa như thế nào; không bao giờ được quên rằng từng bước, từng giai đoạn, mở rộng này đến mở rộng khác, điểm đạo này đến điểm đạo khác, TOÀN THỂ thiêng liêng được con người nhận ra. Phương pháp được truyền qua ấn tượng từ một môi trường chưa được nhận biết cho đến nay; điều này chỉ trở nên khả thi trong hình thức cụ thể này khi “các Con của Trí Tuệ, vốn là các Con của Thượng Đế và bản chất hợp nhất với Ngài bắt đầu di chuyển trên Trái Đất”. Khoa học Ấn tượng thực tế là kỹ thuật nhờ đó Nhân loại đã được dạy bởi Thánh đoàn từ thời điểm xuất hiện đầu tiên trên Trái Đất; đó là kỹ thuật mà tất cả các đệ tử phải học (bất kể họ chọn con đường nào trong Bảy Con Đường cuối cùng) và nó cũng là nghệ thuật cao cả mà mọi Chân sư thực hành dựa trên cảm hứng từ Shamballa; đó là một kỹ thuật được thực thi bởi Ý Chí, và sự hoàn thành của nó là sự đồng hóa hoàn toàn các “ý chí nhỏ bé của con người” vào Mục Đích thiêng liêng; đó là sự chấp nhận về phía họ đối với việc thúc đẩy Mục Đích đó thông qua ấn tượng đúng đắn lên mọi hình tướng sự sống tại bất kỳ điểm tiến hóa cụ thể nào. Các đệ tử sau đó trở thành tác nhân của ý chí thiêng liêng và được giao phó sự chỉ đạo các năng lượng, với kế hoạch và với các bí mật và cảm hứng được ẩn giấu trong Trí Tuệ của Thượng Đế.

His Contribution to the Divine Plan—Sự Đóng Góp của Y cho Thiên Cơ

To that knowledge—germinated and formed in the solar system previous to this—they add that which the present solar system has to give and to mature; the magnetic [92] attractiveness of the second Ray of Love-Wisdom in one of its three major forms or Rays of Aspect, implemented by the four Rays of Attribute. This power to use the ray energies to attract and impress the constantly expanding revelation is the clue to all the work going forward today, and to this activity we give the name of the Science of Impression. It involves the constant opening up of a new environment—an environment which reaches all the way from the lowest grade of daily living, undertaken by the least developed of human beings, to that point upon the ladder of evolution when the aspirant becomes consciously susceptible to what we call spiritual impression. At that point he becomes capable of being more sensitive to a higher range of impression and—at the same time—he himself begins to learn the art of impressing the minds of others, to master the understanding of the level from which he works as an impressing agent, and to know who are the sons of men he can impress. He has to master also the secondary lesson of adapting his environment in such a manner that he can impress others and the impression can find its way through his environing circumstances and into the usually inattentive minds for whom he feels a responsibility.

Vào kiến thức đó—được nảy mầm và hình thành trong hệ mặt trời trước hệ này—họ thêm vào những gì hệ mặt trời hiện tại phải ban cho và làm cho trưởng thành; sức thu hút [92] từ tính của Cung hai của Bác Ái-Minh Triết trong một trong ba hình thức chính của nó hay Các Cung Trạng Thái, được thực thi bởi bốn Cung Thuộc Tính. Quyền năng sử dụng các năng lượng cung này để thu hút và ấn tượng sự mặc khải không ngừng mở rộng là đầu mối cho tất cả công việc đang diễn ra ngày nay, và đối với hoạt động này chúng ta đặt tên là Khoa học Ấn tượng. Nó bao hàm việc liên tục mở ra một môi trường mới—một môi trường vươn dài từ cấp độ thấp nhất của cuộc sống hàng ngày, được thực hiện bởi những con người kém phát triển nhất, đến điểm đó trên nấc thang tiến hóa khi người chí nguyện trở nên nhạy cảm một cách có ý thức với cái mà chúng ta gọi là ấn tượng tinh thần. Tại điểm đó, y trở nên có khả năng nhạy cảm hơn với một phạm vi ấn tượng cao hơn và—đồng thời—chính y bắt đầu học nghệ thuật truyền ấn tượng vào thể trí của người khác, làm chủ sự hiểu biết về cấp độ mà từ đó y làm việc như một tác nhân gây ấn tượng, và biết ai là những người con của nhân loại mà y có thể truyền ấn tượng cho. Y cũng phải làm chủ bài học thứ yếu về việc thích ứng môi trường của mình theo cách mà y có thể truyền ấn tượng cho người khác và ấn tượng có thể tìm đường qua các hoàn cảnh môi trường của y và vào những thể trí thường không chú ý mà y cảm thấy có trách nhiệm.

This he does through a growing knowledge of himself and through learning the art of registering. The clearer and the more deeply apprehending is his capacity to register the impression to which he is subjected and to which he is sensitive, the more easily will he reach those he must aid towards a wider and deeper insight. This registering of his own expanding environment—with all its implications of a new vision, a new goal, a wider field of service—leads to the inflowing energies ( arriving on the wings of inspiration) becoming a reservoir of thought-substance, to the use of which he must accustom himself.

Y thực hiện điều này thông qua kiến thức ngày càng tăng về bản thân và thông qua việc học nghệ thuật ghi nhận. Khả năng ghi nhận ấn tượng mà y chịu tác động và nhạy cảm càng rõ ràng và thấu hiểu sâu sắc bao nhiêu, y sẽ càng dễ dàng tiếp cận những người y phải giúp đỡ hướng tới một cái nhìn sâu sắc và rộng lớn hơn bấy nhiêu. Việc ghi nhận môi trường đang mở rộng của chính y—với tất cả những hàm ý của nó về một tầm nhìn mới, một mục tiêu mới, một lĩnh vực phụng sự rộng lớn hơn—dẫn đến việc các năng lượng đang tuôn đổ vào (đến trên đôi cánh của cảm hứng) trở thành một hồ chứa chất liệu tư tưởng, mà y phải làm quen với việc sử dụng nó.

[93]

[93]

The first step then is the fact of recording and of reducing into correct and available concepts, ideas and thoughtforms, that which he has registered. This marks the first stage in his truly occult service, and to this new type of service he will be increasingly dedicated. From the reservoir of thought-substance he learns to project those forms, those magnetic ideas, which will invoke the attention of those he seeks to help; this is called the stage of resultant invocation. It is an invocative act, an invocative way of living, which will find its way into the minds of men, and which will call forth or evoke from them a response and a widening consciousness; the processes of spiritual impression are thereby set up; it is also an invocation—on the part of the disciple—for further and greater impression and inspiration in order to increase his ability to serve.

Bước đầu tiên sau đó là việc ghi chép và chuyển thành các khái niệm, ý tưởng và hình tư tưởng chính xác và sẵn có, những gì y đã ghi nhận. Điều này đánh dấu giai đoạn đầu tiên trong sự phụng sự thực sự huyền bí của y, và đối với loại phụng sự mới này, y sẽ ngày càng tận hiến. Từ hồ chứa chất liệu tư tưởng, y học cách phóng chiếu những hình tướng đó, những ý tưởng đầy từ tính đó, vốn sẽ khẩn cầu sự chú ý của những người y tìm cách giúp đỡ; điều này được gọi là giai đoạn sự khẩn cầu hệ quả. Đó là một hành động mang tính khẩn cầu, một lối sống mang tính khẩn cầu, vốn sẽ tìm đường vào thể trí con người, và sẽ gọi ra hoặc gợi lên từ họ một sự đáp ứng và một tâm thức mở rộng; các quá trình ấn tượng tinh thần nhờ đó được thiết lập; đó cũng là một sự khẩn cầu—về phía đệ tử—cho ấn tượng và cảm hứng xa hơn và lớn hơn để gia tăng khả năng phụng sự của y.

XIII. TELEPATHIC SENSITIVITY A NORMAL UNFOLDMENT—XIII. SỰ NHẠY CẢM VIỄN CẢM MỘT SỰ MỞ RA BÌNH THƯỜNG

[94]

[94]

You will have noticed that I have given no instructions as to the art of developing telepathic sensitivity. The reason is, as I told you before, that this sensitivity should be, and always is, a normal unfoldment when the disciple is correctly oriented, completely dedicated and learning decentralisation. If it is a forced process, then the sensitivity developed is not normal and carries with it much difficulty and future danger. Where the disciple is concerned, release from the constant consideration of personal circumstances and problems leads inevitably to a clear mental release; this then provides those areas of free mental perception which make the higher sensitivity possible. Gradually, as the disciple acquires true freedom of thought and the power to be receptive to the impression of the abstract mind, he creates for himself a reservoir of thought which becomes available at need for the helping of other people and for the necessities of his growing world service. Later, he becomes sensitive to impression from the Hierarchy. This is at first purely ashramic, but is later transformed into total hierarchical impression by the time the disciple is a Master; the Plan is then the dynamic substance providing the content of the reservoir of thought upon which he can draw. This is a statement of unique and unusual importance. Later still, he becomes sensitive to impression from Shamballa, and the quality of the Will which implements planetary Purpose is added to the content of his available knowledge. The point which I seek to make here, however, is the fact of the existence of a growing reservoir of thought which the disciple has created in response to the many [95] varying impressions to which he is becoming increasingly sensitive; the ideas, concepts and spiritual objectives of which he is becoming aware are steadily being formulated by him into thoughts with their appropriated thoughtforms, and upon these he learns to draw as he seeks to serve his fellowmen. He finds himself in possession of a reservoir or pool of thought-substance which is the result of his own mental activity, of his innate receptivity, and which provides the material for teaching and the “fount of knowledge” upon which he can draw when he seeks to aid other people.

Các bạn sẽ nhận thấy rằng tôi đã không đưa ra hướng dẫn nào về nghệ thuật phát triển sự nhạy cảm viễn cảm. Lý do là, như tôi đã nói với các bạn trước đây, sự nhạy cảm này nên là, và luôn là, một sự mở ra bình thường khi đệ tử được định hướng chính xác, hoàn toàn tận hiến và đang học cách không lấy bản thân làm trung tâm. Nếu đó là một quá trình cưỡng ép, thì sự nhạy cảm phát triển không bình thường và mang theo nó nhiều khó khăn và nguy hiểm trong tương lai. Đối với đệ tử, sự giải thoát khỏi việc liên tục xem xét các hoàn cảnh và vấn đề cá nhân chắc chắn dẫn đến một sự giải thoát trí tuệ rõ ràng; điều này sau đó cung cấp những vùng nhận thức trí tuệ tự do giúp cho sự nhạy cảm cao hơn trở nên khả thi. Dần dần, khi đệ tử đạt được tự do tư tưởng thực sự và quyền năng để tiếp thu ấn tượng của trí trừu tượng, y tạo ra cho mình một hồ chứa tư tưởng vốn trở nên sẵn sàng khi cần thiết cho việc giúp đỡ người khác và cho những nhu cầu của sự phụng sự thế gian đang phát triển của y. Sau đó, y trở nên nhạy cảm với ấn tượng từ Thánh đoàn. Điều này ban đầu hoàn toàn thuộc ashram, nhưng sau đó được chuyển đổi thành ấn tượng từ toàn thể Thánh đoàn vào thời điểm đệ tử là một Chân sư; Thiên Cơ khi đó là chất liệu năng động cung cấp nội dung cho hồ chứa tư tưởng mà y có thể lấy từ đó. Đây là một tuyên bố có tầm quan trọng độc đáo và bất thường. Sau này nữa, y trở nên nhạy cảm với ấn tượng từ Shamballa, và phẩm tính của Ý Chí thực thi Mục Đích hành tinh được thêm vào nội dung kiến thức sẵn có của y. Tuy nhiên, điểm mà tôi tìm cách đưa ra ở đây là thực tế về sự tồn tại của một hồ chứa tư tưởng đang phát triển mà đệ tử đã tạo ra để đáp ứng với nhiều [95] ấn tượng khác nhau mà y đang trở nên ngày càng nhạy cảm; y đều đặn định hình các ý tưởng, khái niệm và mục tiêu tinh thần mà y đang nhận biết thành các tư tưởng với các hình tư tưởng thích hợp của chúng, và dựa vào đó y học cách rút ra khi y tìm cách phụng sự đồng loại. Y thấy mình sở hữu một hồ chứa hoặc bể chứa chất liệu tư tưởng là kết quả của hoạt động trí tuệ của chính y, của khả năng tiếp thu bẩm sinh của y, và cung cấp vật liệu cho việc giảng dạy và “nguồn kiến thức” mà y có thể rút ra khi tìm cách hỗ trợ người khác.

The essential point to be grasped is that sensitivity to impression is a normal and natural unfoldment, paralleling spiritual development. I gave you a clue to the entire process when I said that

Điểm cốt yếu cần nắm bắt là sự nhạy cảm với ấn tượng là một sự mở ra bình thường và tự nhiên, song hành với sự phát triển tinh thần. Tôi đã cho các bạn một đầu mối cho toàn bộ quá trình khi tôi nói rằng

“Sensitivity to impression involves the engendering of a magnetic aura upon which the highest impressions can play.”

“Sự nhạy cảm với ấn tượng bao hàm việc tạo ra một hào quang từ tính mà trên đó các ấn tượng cao nhất có thể tác động.”

I would have you give the deepest consideration to these words. As the disciple begins to demonstrate soul quality, and the second divine aspect takes possession of him and controls and colours his entire life, automatically the higher sensitivity is developed; he becomes a magnet for spiritual ideas and concepts; he attracts into his field of consciousness the outline, and later the details, of the hierarchical Plan; he becomes aware eventually of the planetary Purpose; all these impressions are not things which he must seek out and learn laboriously to ascertain, to hold and seize upon. They drop into his field of consciousness because he has created a magnetic aura which invokes them and brings them “into his mind”. This magnetic aura begins to form itself from the first moment he makes a contact with his soul; it deepens and grows as those contacts increase in frequency and become eventually an habitual state of consciousness; [96] then, at will and at all times, he is en rapport with his soul, the second divine aspect.

Tôi muốn các bạn suy ngẫm sâu sắc về những lời này. Khi đệ tử bắt đầu thể hiện phẩm tính linh hồn, và phương diện thiêng liêng thứ hai chiếm hữu y và kiểm soát cũng như nhuộm màu toàn bộ cuộc sống y, sự nhạy cảm cao hơn được phát triển một cách tự động; y trở thành một nam châm cho các ý tưởng và khái niệm tinh thần; y thu hút vào trường tâm thức của mình phác thảo, và sau đó là các chi tiết, của Thiên Cơ của Thánh đoàn; cuối cùng y trở nên nhận thức được Mục Đích hành tinh; tất cả các ấn tượng này không phải là những thứ y phải tìm kiếm và học hỏi một cách vất vả để xác định, nắm giữ và chộp lấy. Chúng rơi vào trường tâm thức của y bởi vì y đã tạo ra một hào quang từ tính khẩn cầu chúng và đưa chúng “vào thể trí y”. Hào quang từ tính này bắt đầu tự hình thành từ thời điểm đầu tiên y thực hiện sự tiếp xúc với linh hồn mình; nó sâu sắc hơn và phát triển khi những tiếp xúc đó tăng tần suất và cuối cùng trở thành một trạng thái tâm thức thường xuyên; [96] sau đó, tùy ý và mọi lúc, y có mối giao cảm với linh hồn mình, phương diện thiêng liêng thứ hai.

Paralleling Spiritual Development—Song Hành Với Sự Phát Triển Tinh Thần

It is this aura which is in reality the reservoir of thought-substance upon which he can spiritually rely. His point of focus is upon the mental plane. He is no longer controlled by the astral nature; he is successfully constructing the antahkarana along which the higher impressions can flow; he learns not to dissipate this inflow but to accumulate within the aura (with which he has surrounded himself) the knowledge and the wisdom which he realises his service to his fellowmen requires. A disciple is a magnetic centre of light and knowledge just in so far as the magnetic aura is held by him in a state of receptivity. It is then constantly invocative of the higher range of impressions; it can be evoked and set into “distributing activity” by that which is lower and which is demanding aid. The disciple therefore, in due time, becomes a tiny or minute correspondence of the Hierarchy—invocative as it is to Shamballa and easily evoked by human demand. These are points warranting careful consideration. They involve a primary recognition of points of tension and their consequent expansion into magnetic auras or areas, capable of invocation and evocation.

Chính hào quang này thực sự là hồ chứa chất liệu tư tưởng mà y có thể dựa vào về mặt tinh thần. Điểm tập trung của y nằm trên cõi trí. Y không còn bị kiểm soát bởi bản chất cảm dục; y đang xây dựng thành công antahkarana dọc theo đó các ấn tượng cao hơn có thể tuôn chảy; y học cách không làm tiêu tan dòng chảy vào này mà tích lũy bên trong hào quang (mà y đã bao quanh mình) kiến thức và minh triết mà y nhận ra sự phụng sự của y đối với đồng loại đòi hỏi. Một đệ tử là một trung tâm từ tính của ánh sáng và kiến thức chỉ trong chừng mực hào quang từ tính được y giữ trong trạng thái tiếp thu. Khi đó, nó liên tục khẩn cầu phạm vi ấn tượng cao hơn; nó có thể được gợi lên và đưa vào “hoạt động phân phối” bởi cái thấp hơn và đang đòi hỏi sự trợ giúp. Do đó, đệ tử, vào đúng thời điểm, trở thành một sự tương ứng nhỏ bé hay vi mô của Thánh đoàn—có tính khẩn cầu đối với Shamballa và dễ dàng được gợi lên bởi nhu cầu của con người. Đây là những điểm cần được cân nhắc cẩn thận. Chúng bao hàm sự nhận biết sơ khởi về các điểm tập trung nhất tâm và sự mở rộng hệ quả của chúng thành các hào quang hay khu vực từ tính, có khả năng khẩn cầu và gợi lên.

These areas of sensitivity pass through three stages, upon which it is not my intention to enlarge:

Các vùng nhạy cảm này trải qua ba giai đoạn mà tôi không có ý định trình bày rộng thêm:

1. Sensitivity to impression from other human beings. This sensitivity becomes of use in service when the needed magnetic aura has been engendered and is brought under scientific control.

1. Sự nhạy cảm với ấn tượng từ những con người khác. Sự nhạy cảm này trở nên hữu ích trong phụng sự khi hào quang từ tính cần thiết đã được tạo ra và được đưa vào sự kiểm soát khoa học.

2. Sensitivity to group impression—the passage of ideas from group to group. The disciple can become a receptive agent within any group of which he is a part, and this ability indicates progress in his part. [97]

2. Sự nhạy cảm với ấn tượng nhóm—sự chuyển giao ý tưởng từ nhóm này sang nhóm khác. Đệ tử có thể trở thành một tác nhân tiếp nhận bên trong bất kỳ nhóm nào mà y là một phần, và khả năng này chỉ ra sự tiến bộ của y. [97]

3. Sensitivity to hierarchical impressions, reaching the disciple via the antahkarana and—later—from the Hierarchy as a whole, when he has attained some of the higher initiations. This indicates ability to register impression from Shamballa.

3. Sự nhạy cảm với các ấn tượng từ Thánh đoàn, đến với đệ tử qua antahkarana và—sau này—từ toàn thể Thánh đoàn, khi y đã đạt được một số cuộc điểm đạo cao hơn. Điều này chỉ ra khả năng ghi nhận ấn tượng từ Shamballa.

It would be of value if we now considered three points which are concerned with sensitivity to impression, with the construction of the resultant reservoir of thought, and with responsiveness to subsequent invocative appeals. These three points are:

Sẽ có giá trị nếu bây giờ chúng ta xem xét ba điểm liên quan đến sự nhạy cảm với ấn tượng, đến việc xây dựng hồ chứa tư tưởng hình thành từ đó, và đến sự đáp ứng với các thỉnh cầu khẩn nguyện tiếp theo. Ba điểm này là:

1. Processes of Registration.

1. Các Quy trình Ghi nhận.

2. Processes of Recording Interpretations.

2. Các Quy trình Ghi lại Những Diễn giải.

3. Processes of Resultant Invocative Response.

3. Các Quy trình Đáp ứng Khẩn cầu Hệ quả.

I would recall to your minds the knowledge that the aura which each of you has created around the central nucleus of your incarnated self or soul is a fragment of the over-shadowing soul which brought you into manifestation. This aura is (as you well know) composed of the emanations of the etheric body, and this in its turn embodies three types of energy for which you are individually responsible. These three types are (when added to the energy of prana which composes the etheric vehicles):

Tôi muốn gợi lại trong tâm trí các bạn kiến thức rằng hào quang mà mỗi người trong các bạn đã tạo ra xung quanh hạt nhân trung tâm của bản ngã nhập thể hay linh hồn là một mảnh của linh hồn phủ bóng đã đưa các bạn vào biểu hiện. Hào quang này (như các bạn đều biết) được cấu thành từ các sự phát xạ của thể dĩ thái, và đến lượt nó thể hiện ba loại năng lượng mà các bạn chịu trách nhiệm cá nhân. Ba loại này là (khi cộng với năng lượng prana cấu thành các hiện thể dĩ thái):

1. The health aura. This is essentially physical.

1. Hào quang sức khỏe. Đây chủ yếu là về mặt vật lý.

2. The astral aura, which is usually by far the most dominant factor, extensive and controlling.

2. Hào quang cảm dục, thường là yếu tố vượt trội nhất, rộng lớn và kiểm soát.

3. The mental aura, which is in most cases relatively small but which develops rapidly once the disciple takes his own development consciously in hand, or once the polarisation of the personality is upon the mental plane. The time will eventually come when [98] the mental aura will obliterate (if I may use such an inadequate term) the emotional or astral aura, and then the soul quality of love will create a substitute, so that the needed sensitivity does not entirely disappear but is of a higher and far more acute nature.

3. Hào quang trí tuệ, trong hầu hết các trường hợp tương đối nhỏ nhưng phát triển nhanh chóng một khi đệ tử chủ động đảm trách sự phát triển của chính mình một cách có ý thức, hoặc một khi sự phân cực của phàm ngã nằm trên cõi trí. Thời điểm cuối cùng sẽ đến khi [98] hào quang trí tuệ sẽ xóa bỏ (nếu tôi có thể sử dụng một thuật ngữ không đầy đủ như vậy) hào quang cảm xúc hay cảm dục, và sau đó phẩm tính tình thương của linh hồn sẽ tạo ra một sự thay thế, để sự nhạy cảm cần thiết không hoàn toàn biến mất mà có bản chất cao hơn và sắc bén hơn nhiều.

In this threefold aura (or more correctly, fourfold, if you count the etheric vehicle) every individual lives and moves and has his being; it is this living, vital aura which is the recording agent of all impressions, both objective and subjective. It is this “agent of sensitive response” which the indwelling self has to control and use in order to register impression or to direct etheric or mental impression out into the world of men. Astral impression is purely selfish and individual and, though it may affect a man’s surroundings, is not directed as are the other energies registered. It is the aura which predominantly creates the effects which a person has upon his associates; it is not primarily his words which produce reactions even though they are supposed to embody his reactions and his thinking but which are, in reality, usually expressions of his emotional desires.

Trong hào quang tam phân này (hoặc chính xác hơn là tứ phân, nếu các bạn tính cả vận cụ dĩ thái), mọi cá nhân sống, hoạt động và hiện hữu; chính hào quang sống động, đầy sinh lực này là tác nhân ghi lại mọi ấn tượng, cả khách quan và chủ quan. Chính “tác nhân của sự đáp ứng nhạy cảm” này mà bản ngã nội trú phải kiểm soát và sử dụng để ghi nhận ấn tượng hoặc hướng ấn tượng dĩ thái hay trí tuệ ra thế giới của con người. Ấn tượng cảm dục hoàn toàn ích kỷ và cá nhân và, mặc dù nó có thể ảnh hưởng đến môi trường xung quanh của một người, nhưng không được định hướng như các năng lượng khác được ghi nhận. Chính hào quang chủ yếu tạo ra những tác động mà một người có đối với các cộng sự của mình; chủ yếu không phải lời nói của y tạo ra phản ứng mặc dù chúng được cho là thể hiện các phản ứng và tư duy của y nhưng thực tế, thường là biểu hiện của những ham muốn cảm xúc của y.

All of us, therefore, carry around with us a subjective mechanism which is a true and perfect picture of our peculiar point in evolution. It is the aura which a Master watches, and this is a factor of major importance in the life of the disciple. The light of the soul within the aura and the condition of the various aspects of the aura indicate whether or not the disciple is nearing the Path of Discipleship. As the emotional reactions lessen, and as the mental apparatus clarifies, the progress of the aspirant can be exactly noted. I would have you distinguish carefully between the astral and the mental bodies and that which they emanate. The bodies (so called) are substantial in nature; the aura is essentially radiatory and extends from each substantial [99] vehicle in every direction. This is a point which should be most carefully noted.

Vì vậy, tất cả chúng ta đều mang theo bên mình một bộ máy chủ quan, vốn là một bức tranh trung thực và hoàn hảo về điểm tiến hóa riêng biệt của chúng ta. Đó là hào quang mà một Chân sư quan sát, và đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong đời sống của người đệ tử. Ánh sáng của linh hồn bên trong hào quang và tình trạng của các phương diện khác nhau của hào quang cho biết liệu người đệ tử có đang đến gần Con Đường Đệ Tử hay không. Khi các phản ứng cảm xúc giảm bớt, và khi bộ máy trí tuệ trở nên trong sáng, sự tiến bộ của người chí nguyện có thể được ghi nhận chính xác. Tôi muốn các bạn phân biệt cẩn thận giữa thể cảm dục và thể trí với những gì mà chúng phóng xuất ra. Thể cảm dục và thể trí (được gọi như vậy) có bản chất là chất liệu; hào quang về cơ bản có tính bức xạ và mở rộng từ mỗi vận cụ [99] cấu thành từ chất liệu theo mọi hướng. Đây là điểm cần được lưu ý cẩn thận nhất.

The problem of the aspirant as he “engenders” his magnetic aura is himself to withdraw, and thus lessen the extent and the power of the astral aura, and extend and increase the potency of the mental aura. It should be remembered that the large majority of aspirants are definitely polarised in the astral nature, and that therefore their problem is to achieve a different polarisation and to become focussed upon the mental plane. This takes time and vast effort. Eventually—as mentioned above—the radiation of the soul is substituted in place of the hitherto present emotional activity of the aspirant; this emanation is, in reality, a radiation from the love petals of the egoic lotus.

Vấn đề của người chí nguyện khi y “tạo ra” hào quang từ tính của mình là tự y phải rút lui, và do đó làm giảm phạm vi và sức mạnh của hào quang cảm dục, đồng thời mở rộng và gia tăng tiềm lực của hào quang trí tuệ. Cần nhớ rằng đại đa số những người chí nguyện đều phân cực rõ rệt trong bản chất cảm dục, và vì vậy vấn đề của họ là đạt được một sự phân cực khác và trở nên tập trung vào cõi trí. Điều này cần thời gian và nỗ lực to lớn. Cuối cùng—như đã đề cập ở trên—bức xạ của linh hồn được thay thế cho hoạt động cảm xúc hiện diện cho đến lúc đó của người chí nguyện; sự phóng xuất này, trong thực tế, là một bức xạ từ các cánh hoa bác ái của hoa sen chân ngã.

The moment an aspirant begins to work consciously at his own unfoldment and to consider and deal with the aura with which he is equipped, he then passes through three stages during his progress upon the Path of Return. These are:

Ngay khi một người chí nguyện bắt đầu làm việc một cách có ý thức cho sự mở mang của chính mình, cũng như xem xét và xử lý hào quang mà y được trang bị, y sẽ trải qua ba giai đoạn trong quá trình tiến bước trên Con Đường Trở Về. Đó là:

1. The stage wherein he discovers the potency and the quality of his astral aura. Owing to the fact that this is (in this second solar system) the quality of love and its distortion into the astral nature, the development of emotional sensitivity is peculiarly and almost unnaturally strong. It is stronger than the mental body and its mental direction.

1. Giai đoạn trong đó y khám phá ra tiềm lực và phẩm tính của hào quang cảm dục của mình. Do thực tế rằng đây là (trong hệ mặt trời thứ hai này) phẩm tính của tình thương và sự biến dạng của nó vào trong bản chất cảm dục, nên sự phát triển của tính nhạy cảm cảm xúc mạnh mẽ một cách đặc biệt và gần như không tự nhiên. Nó mạnh hơn thể trí và sự định hướng của trí tuệ.

2. The stage wherein the mental vehicle increases its potency and produces, finally, a mental radiation which is so strong that it dominates and controls the astral aura.

2. Giai đoạn trong đó hiện thể trí gia tăng tiềm lực của nó và cuối cùng tạo ra một bức xạ trí tuệ mạnh đến nỗi nó chế ngự và kiểm soát hào quang cảm dục.

3. The stage wherein the soul expresses its essential nature of love and begins to pour its radiation into the astral aura, via the astral body. Eventually the [100] sensitivity of love is substituted for emotional sensitivity and desire.

3. Giai đoạn trong đó linh hồn biểu lộ bản chất tình thương cốt yếu của nó và bắt đầu tuôn đổ bức xạ của nó vào hào quang cảm dục, thông qua thể cảm dục. Cuối cùng, sự [100] nhạy cảm của tình thương được thay thế cho sự nhạy cảm cảm xúc và dục vọng.

Aspirants are to be found at all these three stages of sensitivity. There comes a moment during the second initiation when the soul of the initiate sweeps into activity and fundamental force (if I might use such a term) submerges the astral nature, vitalising and inspiring the astral body, changing temporarily the quality of the astral aura, and establishing a control which will lead finally to the substitution which I have mentioned above. This is an aspect of the truth which underlies the doctrine of “vicarious atonement”—a doctrine which has been woefully distorted by Christian theology.

Những người chí nguyện được tìm thấy ở tất cả ba giai đoạn nhạy cảm này. Đến một thời điểm trong cuộc điểm đạo thứ hai, khi linh hồn của vị điểm đạo đồ bừng lên hoạt động và mãnh lực cơ bản (nếu tôi có thể dùng thuật ngữ như vậy) làm ngập tràn bản chất cảm dục, tiếp sinh lực và truyền cảm hứng cho thể cảm dục, thay đổi tạm thời phẩm tính của hào quang cảm dục, và thiết lập một sự kiểm soát mà cuối cùng sẽ dẫn đến sự thay thế như tôi đã đề cập ở trên. Đây là một khía cạnh của chân lý nằm bên dưới giáo lý về “sự chuộc tội thay”—một giáo lý đã bị thần học Cơ Đốc giáo bóp méo một cách tồi tệ.

Registration, Recording and Interpretation—Sự Ghi Nhận, Ghi Lại và Diễn Giải

Let us now deal with the aforementioned “Processes of Registration, of Recording Interpretations, and the Resultant Invocative Response.” We must bear in mind always that I am stating general rules and that I am not dealing either with the ideal or with the undesirable; the sources of impression change as the disciple makes progress, though always the larger and the greater source will include all lesser sources.

Giờ đây chúng ta hãy đề cập đến “Các Quá trình Ghi Nhận, Ghi Lại các Diễn Giải, và Sự Đáp Ứng Khẩn Cầu Theo Sau” đã nói ở trên. Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng tôi đang nêu lên các quy luật chung và tôi không đề cập đến điều lý tưởng hay điều không mong muốn; các nguồn ấn tượng thay đổi khi người đệ tử tiến bộ, mặc dù nguồn lớn hơn và vĩ đại hơn sẽ luôn bao gồm tất cả các nguồn nhỏ hơn.

The fact that a man is sensitive to hierarchical impression in his mental aura will not prevent his being sensitive in his astral nature to the invocative and emotional call of human beings. The two together are most useful in effect, if the disciple sees to it that they are related. Forget this not, brother of mine. The capacity to interpret recorded impressions is likewise learnt as the mental aura develops under the influence of the “mind held steady in the light” of the soul; the disciple learns that all recorded truth is susceptible to many interpretations, and that these unfold with increasing clarity as he takes one initiation after another, and as he develops conscious responsiveness. The ability to invoke demonstrates from life to life and involves [101] the invocation of conscious response from the anima mundi or from the subconscious soul of all things, as well as from the human consciousness and from the world of super-conscious contact.

Việc một người nhạy cảm với ấn tượng của Thánh đoàn trong hào quang trí tuệ của mình sẽ không ngăn cản việc y nhạy cảm trong bản chất cảm dục đối với tiếng gọi khẩn cầu và cảm xúc của con người. Hai điều này cùng nhau mang lại hiệu quả hữu ích nhất, nếu người đệ tử đảm bảo rằng chúng có liên quan với nhau. Đừng quên điều này, hỡi người huynh đệ của tôi. Khả năng diễn giải các ấn tượng được ghi lại cũng được học hỏi khi hào quang trí tuệ phát triển dưới ảnh hưởng của “thể trí được giữ vững vàng trong ánh sáng” của linh hồn; người đệ tử học được rằng mọi chân lý được ghi lại đều có thể có nhiều cách diễn giải, và những cách diễn giải này mở ra với sự rõ ràng ngày càng tăng khi y trải qua hết cuộc điểm đạo này đến cuộc điểm đạo khác, và khi y phát triển khả năng đáp ứng có ý thức. Khả năng khẩn cầu thể hiện từ kiếp sống này sang kiếp sống khác và bao hàm [101] sự khẩn cầu sự đáp ứng có ý thức từ anima mundi hay từ linh hồn tiềm thức của vạn vật, cũng như từ tâm thức con người và từ thế giới của tiếp xúc siêu thức.

This ability develops steadily as the aspirant treads the Path of Discipleship; it is frequently prefaced in the earlier stages by much confusion, much astral psychism and frequent wrong interpretations. There is no need at this stage, however, for undue distress, because all that is needed is experience, and that experience is gained through experiment and its expression in the daily life. In no case is the truism of learning through a system of trial and error proved more correct than it is in the life and experience of the accepting disciple. When he is an accepted disciple, the errors decrease in number even though the trials (or the experimental use of the many varying energies) become more extensive and, therefore, cover a much wider range of activities.

Khả năng này phát triển đều đặn khi người chí nguyện bước đi trên Con Đường Đệ Tử; trong các giai đoạn đầu, nó thường được mở đầu bằng nhiều sự nhầm lẫn, nhiều thông linh cảm dục và thường xuyên diễn giải sai. Tuy nhiên, không cần phải đau khổ quá mức ở giai đoạn này, bởi vì tất cả những gì cần thiết là kinh nghiệm, và kinh nghiệm đó có được thông qua thực nghiệm và sự thể hiện của nó trong đời sống hàng ngày. Không trường hợp nào mà chân lý về việc học hỏi qua hệ thống thử và sai lại được chứng minh là đúng đắn hơn trong cuộc đời và trải nghiệm của người đệ tử đang chấp nhận. Khi y là một đệ tử được chấp nhận, các sai lầm giảm đi về số lượng mặc dù các lần thử nghiệm (hay việc sử dụng thực nghiệm nhiều loại năng lượng khác nhau) trở nên rộng lớn hơn và do đó, bao trùm một phạm vi hoạt động rộng lớn hơn nhiều.

The Processes of Registration are founded upon what I might call invocative approaches from a wide area of possible contacts. The disciple has to learn to distinguish between these many impacts upon his sensitive aura. In the early stages the majority of them are unconsciously registered, though the registration is acute and accurate; the goal, nevertheless, is conscious registration; this is brought about through the constant and steady holding of the attitude of the Observer. It is developed through the attainment of detachment—the detachment of the Observer from all desires and longings which concern the separated self. It will therefore be obvious to you that the use of the word “observer” involves the concept of duality and, therefore, of separation. In this case, however, the motive prompting observation is not self-interest, but the determination to clarify the aura so that it can register only [102] that which will be illuminating and related to the divine Plan, which will be to the benefit of humanity and, therefore, to the creation of a new server within the Ashrams of the Hierarchy.

Các Quá trình Ghi Nhận được thiết lập dựa trên cái mà tôi có thể gọi là các tiếp cận khẩn cầu từ một vùng rộng lớn các tiếp xúc khả dĩ. Người đệ tử phải học cách phân biệt giữa nhiều tác động này lên hào quang nhạy cảm của mình. Trong các giai đoạn đầu, phần lớn chúng được ghi nhận một cách vô thức, mặc dù sự ghi nhận đó nhạy bén và chính xác; tuy nhiên, mục tiêu là sự ghi nhận có ý thức; điều này được mang lại thông qua việc giữ vững liên tục và đều đặn thái độ của Người Quan Sát. Nó được phát triển thông qua việc đạt được sự tách rời—sự tách rời của Người Quan Sát khỏi mọi dục vọng và khao khát liên quan đến cái ngã tách biệt. Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng việc sử dụng từ “người quan sát” bao hàm khái niệm về nhị nguyên tính và vì thế, về sự chia rẽ. Tuy nhiên, trong trường hợp này, động cơ thúc đẩy sự quan sát không phải là tư lợi, mà là quyết tâm làm trong sáng hào quang để nó chỉ có thể ghi nhận [102] những gì soi sáng và liên quan đến Thiên Cơ, những gì mang lại lợi ích cho nhân loại và do đó, cho việc tạo ra một người phụng sự mới bên trong các Ashram của Thánh đoàn.

The divisions made by certain psychologists of the consciousness of man into subconscious, conscious or self-conscious, and superconscious have a real measure of value here. It must be remembered, however, that the disciple, first of all, becomes a truly conscious unit of humanity and thus develops a true self-consciousness. This he arrives at by discriminating between the lower self and the higher self, and this renders his magnetic aura sensitive to an aspect of himself which has not hitherto been a controlling factor. From that achieved point he begins to register impressions with increasing clarity and accuracy. Usually, in the early stages, the one desire of the disciple is to register impressions from the Hierarchy; he much prefers that idea to the idea of registering impressions from his own soul or from the surrounding human factors, his fellowmen and the environment and the circumstances which they create. He longs for what might be called “vertical impression.” This motive, being very largely self-centredness, turns the disciple introspectively in upon himself, and it is in this stage that many aspirants become prisoners, astrally speaking, because they register in their magnetic aura the many astrally motivated thoughtforms of what they believe and hope “vertical impression” supposedly would convey. They contact with facility the astral counterparts of the higher worlds, which are reflected (and thereby distorted) into the astral plane; the world there registered is glamoured by wrong and selfish desires and by the wishful thinking of well-meaning devotees. Upon this I need not enlarge. All disciples—at some point or another of their training—have to work through this phase of glamour; in so doing they [103] clarify and intensify the magnetic aura and, simultaneously, clarify the surrounding astral world with which they are in contact. They learn also that the longing to register impressions from the Hierarchy must give place to the determination to place their magnetic aura at the disposal of humanity; they then learn to register human need and to understand thereby where help is possible and their fellowmen can be served. By means of this conscious registration of invocative appeals from the world of horizontal contacts, the magnetic aura of the disciple is cleared of the hindering and engrossing thoughtforms, and from the aspirational desires and longings which have hitherto prevented right registration. The disciple then ceases to create them, and those which have been created die out or atrophy for lack of attention.

Sự phân chia của một số nhà tâm lý học về tâm thức của con người thành tiềm thức, ý thức hay tự ý thức, và siêu thức có một giá trị thực sự ở đây. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng, trước hết, người đệ tử trở thành một đơn vị thực sự có ý thức của nhân loại và do đó phát triển một ngã thức chân thực. Y đạt được điều này bằng cách phân biện giữa phàm ngã và chân ngã, và điều này làm cho hào quang từ tính của y nhạy cảm với một khía cạnh của chính y vốn chưa từng là một yếu tố kiểm soát cho đến nay. Từ điểm đạt được đó, y bắt đầu ghi nhận các ấn tượng với sự rõ ràng và chính xác ngày càng tăng. Thông thường, trong các giai đoạn đầu, mong muốn duy nhất của người đệ tử là ghi nhận các ấn tượng từ Thánh đoàn; y thích ý tưởng đó hơn nhiều so với ý tưởng ghi nhận các ấn tượng từ chính linh hồn mình hay từ các yếu tố con người xung quanh, từ đồng loại và môi trường cùng hoàn cảnh mà họ tạo ra. Y khao khát cái có thể được gọi là “ấn tượng theo chiều dọc”. Động cơ này, phần lớn là sự tập trung vào bản thân, khiến người đệ tử hướng nội vào chính mình, và chính trong giai đoạn này mà nhiều người chí nguyện trở thành tù nhân, nói theo khía cạnh cảm dục, bởi vì họ ghi nhận trong hào quang từ tính của mình nhiều hình tư tưởng được thúc đẩy bởi cảm dục về những gì họ tin và hy vọng “ấn tượng theo chiều dọc” được cho là sẽ truyền tải. Họ tiếp xúc một cách dễ dàng với các đối phần cảm dục của các thế giới cao hơn, vốn được phản chiếu (và qua đó bị bóp méo) vào cõi cảm dục; thế giới được ghi nhận ở đó bị bao phủ bởi ảo cảm do những dục vọng sai lầm và ích kỷ cũng như bởi tư duy mơ mộng của những người sùng tín có ý tốt. Tôi không cần phải nói thêm về điều này. Tất cả các đệ tử—tại một thời điểm nào đó trong quá trình huấn luyện của họ—đều phải làm việc xuyên qua giai đoạn ảo cảm này; khi làm như vậy, họ [103] làm trong sáng và tăng cường hào quang từ tính, và đồng thời, làm trong sáng thế giới cảm dục xung quanh mà họ tiếp xúc. Họ cũng học được rằng khao khát ghi nhận các ấn tượng từ Thánh đoàn phải nhường chỗ cho quyết tâm đặt hào quang từ tính của họ vào việc phục vụ nhân loại; sau đó, họ học cách ghi nhận nhu cầu của con người và qua đó hiểu được nơi nào có thể giúp đỡ và đồng loại của họ có thể được phụng sự. Bằng cách ghi nhận có ý thức các lời kêu gọi khẩn cầu từ thế giới của các tiếp xúc theo chiều ngang, hào quang từ tính của người đệ tử được làm sạch khỏi các hình tư tưởng cản trở và thu hút sự chú ý, cũng như khỏi những dục vọng và khao khát đầy khát vọng vốn đã ngăn cản sự ghi nhận đúng đắn cho đến nay. Khi đó, người đệ tử ngừng tạo ra chúng, và những thứ đã được tạo ra sẽ chết dần hoặc teo đi vì thiếu sự chú ý.

Later on, when the accepting disciple becomes the accepted disciple and is permitted to participate in ashramic activity, he adds the ability to register hierarchical impression; this however is only possible after he has learnt to register impression coming to him from his own soul (the vertical impression) and from the surrounding world of men (the horizontal impression). When he has taken certain important initiations, his magnetic aura will be capable of registering impression from the subhuman kingdoms in nature. Again, later on, when he is a Master of the Wisdom and, therefore, a full member of the fifth kingdom in nature, the world of hierarchical life and activity will be the world from which horizontal impression will be made upon his magnetic aura, and vertical impression will come from the higher levels of the Spiritual Triad and, still later, from Shamballa. Then the world of humanity will be to him what the subhuman kingdoms were when the fourth kingdom, the human, was the field of his registered horizontal impression. [104] You have here the true significance of the Cross of humanity clearly revealed.

Về sau, khi đệ tử đang chấp nhận trở thành đệ tử được chấp nhận và được phép tham gia vào hoạt động ashram, y thêm vào khả năng ghi nhận ấn tượng từ Thánh đoàn; tuy nhiên, điều này chỉ có thể thực hiện được sau khi y đã học cách ghi nhận ấn tượng đến với y từ chính linh hồn mình (ấn tượng theo chiều dọc) và từ thế giới con người xung quanh (ấn tượng theo chiều ngang). Khi y đã trải qua một số cuộc điểm đạo quan trọng, hào quang từ tính của y sẽ có khả năng ghi nhận ấn tượng từ các giới dưới nhân loại trong tự nhiên. Một lần nữa, về sau, khi y là một Chân sư Minh triết và do đó là một thành viên đầy đủ của giới thứ năm trong tự nhiên, thế giới của sự sống và hoạt động của Thánh đoàn sẽ là thế giới từ đó ấn tượng theo chiều ngang sẽ được tạo ra trên hào quang từ tính của y, và ấn tượng theo chiều dọc sẽ đến từ các cấp độ cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần và, sau này nữa, từ Shamballa. Khi đó, thế giới nhân loại đối với y sẽ giống như các giới dưới nhân loại khi giới thứ tư, giới nhân loại, là trường ghi nhận ấn tượng theo chiều ngang của y. [104] Ở đây, các bạn có thâm nghĩa thực sự của Thập Giá nhân loại được tiết lộ rõ ràng.

The fact of registration is no unusual phenomenon. Sensitive people are constantly being impressed from some level of consciousness or other, and are receptive to these impressions according to the level of consciousness upon which they normally function; mediums, for instance, are exceedingly prone to receive impressions from etheric or astral levels, as are the vast majority of astral psychics—and their name is legion. Impressions from mental levels (concrete, abstract or of a more exalted nature) make their impress upon the minds of those who have attained a true measure of focus upon the mental plane. Scientists, mystics, mathematicians, occult students, aspirants and disciples, educators and humanitarians and all who love their fellowmen are all susceptible to such impression, and one of the outstanding needs of the disciple is to develop adequate sensitivity to ashramic impression and contact. Then he moves out of the group of mental sensitives listed above.

Thực tế của sự ghi nhận không phải là hiện tượng bất thường. Những người nhạy cảm liên tục tiếp nhận ấn tượng từ cấp độ tâm thức này hay cấp độ khác, và dễ tiếp nhận những ấn tượng này tùy theo cấp độ tâm thức mà họ hoạt động bình thường; ví dụ, các đồng tử cực kỳ dễ nhận ấn tượng từ các cấp độ dĩ thái hoặc cảm dục, cũng như đại đa số các nhà thông linh cảm dục—và số lượng của họ là vô kể. Các ấn tượng từ các cấp độ trí tuệ (cụ thể, trừu tượng hoặc có bản chất cao siêu hơn) tạo dấu ấn lên thể trí của những người đã đạt được một mức độ tập trung thực sự trên cõi trí. Các nhà khoa học, nhà thần bí, nhà toán học, môn sinh huyền bí, người chí nguyện và đệ tử, các nhà giáo dục và nhà nhân đạo cũng như tất cả những ai yêu thương đồng loại đều dễ tiếp nhận ấn tượng như vậy, và một trong những nhu cầu nổi bật của người đệ tử là phát triển sự nhạy cảm đầy đủ đối với ấn tượng và tiếp xúc ashram. Khi đó, y bước ra khỏi nhóm những người nhạy cảm trí tuệ được liệt kê ở trên.

The problem with which I now deal is far deeper and concerns the interpretation and the clear and correct recording of the impression, which is a far more difficult matter. The subject who is impressed must know the source of the impression; he must be able to relate it to some field of demanded information, correction, instruction, or energy distribution. He must be able to state clearly on what aspect of his recording mechanism (the mind, the astral body, the energy body, or the brain) the imparted and registered impression has made impact. One of the difficulties, for instance, facing the aspiring disciple and the earnest occult student is to record directly in the brain impressions from the Spiritual Triad (and later from the Monad), via the antahkarana.

Vấn đề mà tôi đề cập bây giờ sâu sắc hơn nhiều và liên quan đến việc diễn giải cũng như ghi lại rõ ràng và chính xác ấn tượng, vốn là một vấn đề khó khăn hơn nhiều. Chủ thể tiếp nhận ấn tượng phải biết nguồn gốc của ấn tượng; y phải có khả năng liên hệ nó với một lĩnh vực thông tin, sự sửa chữa, chỉ dẫn hoặc phân phối năng lượng được yêu cầu nào đó. Y phải có khả năng nêu rõ khía cạnh nào trong cơ chế ghi lại của mình (thể trí, thể cảm dục, thể năng lượng hay bộ não) mà ấn tượng được truyền đạt và ghi nhận đã tác động đến. Ví dụ, một trong những khó khăn đối với người đệ tử đầy khát vọng và môn sinh huyền bí tha thiết là ghi lại trực tiếp trong bộ não các ấn tượng từ Tam Nguyên Tinh Thần (và sau này là từ Chân thần), thông qua antahkarana.

[105]

[105]

This impression must be a direct descent from mental levels to the brain, avoiding all contact with the astral body; only in so far as this direct descent is attained will the recorded impression be devoid of error. It will not then be tinctured with any emotional complex whatsoever, for it is the astral level of consciousness which is the great distorter of essential truth. Impressions from the Ashram or from the Spiritual Triad (which are the only type of impressions with which I am here concerned) pass through three stages:

Ấn tượng này phải là một sự giáng hạ trực tiếp từ các cấp độ trí tuệ xuống bộ não, tránh mọi tiếp xúc với thể cảm dục; chỉ khi nào đạt được sự giáng hạ trực tiếp này thì ấn tượng được ghi lại mới không có sai sót. Khi đó, nó sẽ không bị nhuốm màu bởi bất kỳ phức cảm cảm xúc nào, vì cấp độ tâm thức cảm dục chính là kẻ bóp méo vĩ đại đối với chân lý cốt yếu. Các ấn tượng từ Ashram hoặc từ Tam Nguyên Tinh Thần (vốn là loại ấn tượng duy nhất mà tôi quan tâm ở đây) trải qua ba giai đoạn:

1. The stage of mental recording. The clarity and the accuracy of this recording will be dependent upon the condition of the channel of reception, the antahkarana; in this recording, curiously enough, a certain element of time enters in. It is not time as you know it upon the physical plane, which is but the registration by the brain of passing “events”; it is the higher mental correspondence to time. Into this, I cannot here enter as the theme is too abstruse; for time, in this connection, is related to distance, to descent, to focus, and to the power to record.

1. Giai đoạn ghi lại bằng trí tuệ. Sự rõ ràng và chính xác của việc ghi lại này sẽ phụ thuộc vào tình trạng của kênh tiếp nhận, antahkarana; thật kỳ lạ, trong việc ghi lại này, một yếu tố thời gian nhất định tham gia vào. Nó không phải là thời gian như các bạn biết trên cõi hồng trần, vốn chỉ là sự ghi nhận của bộ não về các “sự kiện” trôi qua; nó là sự tương ứng về mặt thượng trí với thời gian. Tôi không thể đi sâu vào điều này ở đây vì chủ đề quá trừu tượng; bởi vì thời gian, trong mối liên hệ này, liên quan đến khoảng cách, đến sự giáng hạ, đến sự tập trung và đến khả năng ghi lại.

2. The stage of brain reception. The accuracy of this reception will be dependent upon the quality of the physical brain cells, upon the polarisation of the thinking man in the head centre, and the freedom of the brain cells from all emotional impression. The difficulty lies here, that the receiving aspirant or the focussed thinker is always aware emotionally of the descent of the higher impression and of the consequent clarification of the theme of his thought. This must, however, be recorded by a perfectly quiescent astral vehicle, and therefore you will see one of the main objectives of true meditation. [106]

2. Giai đoạn tiếp nhận của bộ não. Sự chính xác của việc tiếp nhận này sẽ phụ thuộc vào chất lượng của các tế bào não vật lý, vào sự phân cực của người tư duy trong trung tâm đầu, và sự tự do của các tế bào não khỏi mọi ấn tượng cảm xúc. Khó khăn nằm ở đây, rằng người chí nguyện tiếp nhận hoặc nhà tư tưởng đang tập trung luôn nhận thức về mặt cảm xúc đối với sự giáng hạ của ấn tượng cao hơn và sự làm sáng tỏ theo sau của chủ đề suy nghĩ của mình. Tuy nhiên, điều này phải được ghi lại bởi một hiện thể cảm dục hoàn toàn tĩnh lặng, và do đó các bạn sẽ thấy một trong những mục tiêu chính của sự tham thiền chân chính. [106]

3. The stage of recognised interpretation. This is an exceedingly difficult phase. Interpretation is dependent upon many factors: the educational background, the point reached in evolution, the mystical or the occult approach of the disciple to the centre of truth, his freedom from the lower psychism, his essential humility (which plays a major part in proper understanding), and his personality decentralisation. In fact, the character in its entirety is involved in this important matter of correct interpretation.

3. Giai đoạn diễn giải được nhận biết. Đây là một giai đoạn cực kỳ khó khăn. Sự diễn giải phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nền tảng giáo dục, điểm đạt được trong tiến hóa, cách tiếp cận thần bí hay huyền bí của người đệ tử đối với trung tâm chân lý, sự tự do của y khỏi thông linh thấp kém, sự khiêm tốn cốt yếu của y (vốn đóng vai trò chính trong sự thấu hiểu đúng đắn), và việc phàm ngã y không còn lấy bản thân làm trung tâm. Thực tế, toàn bộ tính cách đều tham gia vào vấn đề quan trọng về sự diễn giải chính xác này.

In this aspect of impression the subject of SYMBOLS must necessarily be involved. All impressions must necessarily be translated and interpreted in symbols, in word forms or in pictorial representations; these the aspirant cannot avoid; and it is in the word forms (which are, needless to point out, in the nature of symbols) that he is apt to go astray. They are the media through which the registered impression is conveyed to the brain consciousness, i.e., to the physical plane awareness of the disciple, thus making possible his useful comprehension of abstract ideas or of those aspects of the Path which it is his duty to understand and teach.

Trong khía cạnh ấn tượng này, chủ đề về CÁC BIỂU TƯỢNG nhất thiết phải tham gia vào. Mọi ấn tượng nhất thiết phải được chuyển dịch và diễn giải thành các biểu tượng, thành các hình thức ngôn ngữ hoặc các hình ảnh đại diện; người chí nguyện không thể tránh khỏi những điều này; và chính trong các hình thức ngôn ngữ (vốn có bản chất là các biểu tượng, không cần phải chỉ ra) mà y dễ đi lạc lối. Chúng là phương tiện qua đó ấn tượng được ghi nhận được truyền tải đến tâm thức não bộ, tức là đến nhận thức cõi hồng trần của người đệ tử, do đó giúp y có thể lĩnh hội hữu ích các ý tưởng trừu tượng hoặc những khía cạnh của Con Đường mà y có bổn phận phải thấu hiểu và giảng dạy.

There is no need for me to elaborate this theme. The true disciple is ever aware of the possibility of error, of the intervention of psychic intrusions and distortions; he knows well that true and effective interpretation of the imparted impression is dependent largely upon the purity of the receiving channel and upon the freedom of his nature from all aspects of the lower psychism—a point oft forgotten. A thick veil of concrete thoughtforms can also distort the true interpretation, as can astral intervention; the teaching upon the Path and the spiritual impression can be interfered with by glamour from the astral plane or by separative and concrete [107] ideas emanating from mental levels. In this case it can be truly said that “the mind is the slayer of the real.” There is a deep occult significance to the words “an open mind”; it is as essential to correct interpretation as is freedom from glamour and the psychic expressions to be found upon the astral plane.

Tôi không cần phải nói chi tiết thêm về chủ đề này. Người đệ tử chân chính luôn nhận thức được khả năng sai lầm, về sự can thiệp của những xâm nhập và biến dạng thông linh; y biết rõ rằng sự diễn giải trung thực và hiệu quả đối với ấn tượng được truyền đạt phụ thuộc phần lớn vào sự tinh khiết của kênh tiếp nhận và vào sự tự do của bản chất y khỏi mọi khía cạnh của thông linh thấp kém—một điểm thường bị lãng quên. Một lớp màn dày đặc của các hình tư tưởng cụ thể cũng có thể làm sai lệch sự diễn giải đúng đắn, cũng như sự can thiệp của cảm dục; giáo huấn trên Con Đường và ấn tượng tinh thần có thể bị can thiệp bởi ảo cảm từ cõi cảm dục hoặc bởi các ý tưởng [107] chia rẽ và cụ thể phát xuất từ các cấp độ trí tuệ. Trong trường hợp này, có thể nói một cách xác thực rằng “tâm trí là kẻ sát hại cái thực”. Có một ý nghĩa huyền bí sâu sắc trong các từ “một tâm trí cởi mở”; nó thiết yếu cho sự diễn giải chính xác cũng như sự tự do khỏi ảo cảm và các biểu hiện thông linh được tìm thấy trên cõi cảm dục.

Here again you can grasp the necessity of a factual alignment so that a direct channel is created, along which the impression (directed by some higher source than the personality) can descend into the brain. At first, this channel and alignment must be established between the brain and the soul; this will involve all the three aspects of the personality—the etheric body, the astral vehicle and the mind nature; basically, this aligning process should be started and developed upon the Probationary Path and brought to a relatively high state of effectiveness upon the earlier stages of the Path of Discipleship. Later, as the disciple consciously creates the antahkarana and becomes a functioning part of the Ashram, he learns (whilst practising alignment) to by-pass—if I may use such a word—two aspects of himself which have hitherto been of major importance: the astral vehicle and the soul body or causal body. The astral body is thus by-passed before the fourth initiation, and the soul body before the fifth; the entire process of “by-passing” takes much time and must be worked at with intensity, first of all with the focus upon the emotional nature through conscious discrimination, and finally upon the soul nature under the inspiration of the Spiritual Triad which is eventually substituted for the soul. All this will take many incarnations. For the registration and the interpretation of the higher impressions is a basic occult science and takes much learning and application to perfect.

Một lần nữa, ở đây các bạn có thể nắm bắt sự cần thiết của một sự chỉnh hợp thực tế để tạo ra một kênh trực tiếp, dọc theo đó ấn tượng (được chỉ đạo bởi một nguồn cao hơn phàm ngã) có thể giáng hạ vào bộ não. Lúc đầu, kênh và sự chỉnh hợp này phải được thiết lập giữa bộ não và linh hồn; điều này sẽ liên quan đến cả ba phương diện của phàm ngã—thể dĩ thái, hiện thể cảm dục và bản chất thể trí; về cơ bản, quá trình chỉnh hợp này nên được bắt đầu và phát triển trên Con Đường Dự Bị và đưa đến một trạng thái hiệu quả tương đối cao trong các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử. Về sau, khi người đệ tử tạo ra antahkarana một cách có ý thức và trở thành một phần hoạt động của Ashram, y học (trong khi thực hành chỉnh hợp) cách đi vòng qua—nếu tôi có thể dùng từ như vậy—hai khía cạnh của bản thân vốn có tầm quan trọng lớn lao cho đến nay: hiện thể cảm dục và thể linh hồn hay thể nguyên nhân. Thể cảm dục do đó bị đi vòng qua trước cuộc điểm đạo thứ tư, và thể linh hồn trước cuộc điểm đạo thứ năm; toàn bộ quá trình “đi vòng qua” này mất nhiều thời gian và phải được thực hiện với cường độ cao, trước hết với sự tập trung vào bản chất cảm xúc thông qua sự phân biện có ý thức, và cuối cùng vào bản chất linh hồn dưới cảm hứng của Tam Nguyên Tinh Thần vốn cuối cùng sẽ thay thế cho linh hồn. Tất cả điều này sẽ mất nhiều kiếp sống. Bởi vì sự ghi nhận và diễn giải các ấn tượng cao hơn là một khoa học huyền bí cơ bản và đòi hỏi nhiều học hỏi cùng sự áp dụng để hoàn thiện.

As the two processes are slowly developed, the third stage automatically becomes increasingly effective. The received [108] and interpreted impression brings about fundamental changes in the life and the state of consciousness of the aspirant and, above all, in his orientation. He becomes an evocative and invocative centre of energy. That which he has received through the medium of his aligning channel becomes a potent factor in invoking a fresh flood of higher impression; it also makes him evocative upon the physical plane, so that the magnetic aura which he has engendered becomes increasingly sensitive to these spiritual inflowing impressions, and also increasingly sensitive to that which he evokes from his surrounding physical environment and from humanity. He becomes a power station en rapport with the Hierarchy and he receives and distributes (in response to the evocative call of humanity and human need) the energy received. He also becomes a “receiver of light” and of spiritual illumination, and a distributor of light in the dark places of the world and into human hearts. He is, therefore, an invocative and evocative centre for use by the Hierarchy in the three worlds of human evolution.

Khi hai quá trình này được phát triển chậm rãi, giai đoạn thứ ba tự động trở nên ngày càng hiệu quả. Ấn tượng được tiếp nhận [108] và diễn giải mang lại những thay đổi cơ bản trong cuộc sống và trạng thái tâm thức của người chí nguyện và, trên hết, trong sự định hướng của y. Y trở thành một trung tâm năng lượng có tính gợi lên và khẩn cầu. Cái mà y đã nhận được thông qua phương tiện kênh chỉnh hợp của mình trở thành một yếu tố mạnh mẽ trong việc khẩn cầu một luồng ấn tượng cao hơn mới mẻ; nó cũng làm cho y có tính gợi lên trên cõi hồng trần, để hào quang từ tính mà y đã tạo ra trở nên ngày càng nhạy cảm với các ấn tượng tinh thần đang tuôn chảy vào này, và cũng ngày càng nhạy cảm với những gì y gợi lên từ môi trường vật lý xung quanh và từ nhân loại. Y trở thành một trạm năng lượng có mối tương giao với Thánh đoàn và y tiếp nhận cũng như phân phối (để đáp ứng tiếng gọi gợi lên của nhân loại và nhu cầu con người) năng lượng đã nhận được. Y cũng trở thành một “người tiếp nhận ánh sáng” và sự soi sáng tinh thần, và một người phân phối ánh sáng vào những nơi tăm tối của thế giới và vào trái tim con người. Do đó, y là một trung tâm có tính khẩn cầu và gợi lên để Thánh đoàn sử dụng trong ba cõi tiến hóa của con người.

XIV. HIGHER ASPECTS OF RELATIONSHIP—XIV. CÁC KHÍA CẠNH CAO HƠN CỦA MỐI QUAN HỆ

[109]

[109]

The word telepathy has been used primarily to cover the many phases of mental contact and the exchange of thought without the use of the spoken or written word or sign. However, what is thus understood in this modern usage does not cover the higher aspects of “relationship within the Universal Mind.” The third aspect, that of intelligence, is involved when interpretation of contact occurs; the second aspect, that of love-wisdom, is the factor which makes the higher impression possible, and this it does whilst that aspect is developing or in process of coming into functioning activity. During this developing process, only straight telepathy is possible and this is of two kinds:

Từ viễn cảm đã được sử dụng chủ yếu để bao gồm nhiều giai đoạn tiếp xúc trí tuệ và sự trao đổi tư tưởng mà không sử dụng lời nói hoặc chữ viết hay ký hiệu. Tuy nhiên, những gì được hiểu theo cách sử dụng hiện đại này không bao gồm các khía cạnh cao hơn của “mối quan hệ bên trong Vũ Trụ Trí”. Phương diện thứ ba, phương diện thông tuệ, tham gia vào khi sự diễn giải về tiếp xúc xảy ra; phương diện thứ hai, phương diện bác ái-minh triết, là yếu tố làm cho ấn tượng cao hơn trở nên khả thi, và nó thực hiện điều này trong khi phương diện đó đang phát triển hoặc đang trong quá trình đi vào hoạt động chức năng. Trong quá trình phát triển này, chỉ có viễn cảm trực tiếp là khả thi và nó có hai loại:

1. Sympathetic telepathy or immediate understanding, awareness of events, apprehensions of happenings, and identification with personality reactions. This is all connected with the solar plexus activity of the personality and this—when the love nature or second aspect is unfolded or unfolding—becomes the “seed or germ” of the intuitive faculty. The entire process is, therefore, astral-buddhic and involves the lower aspects of the Universal Mind as an agent.

1. Viễn cảm giao cảm hay sự thấu hiểu tức thời, nhận thức về các sự kiện, nắm bắt những điều đang xảy ra, và đồng nhất hóa với các phản ứng của phàm ngã. Tất cả điều này liên quan đến hoạt động tùng thái dương của phàm ngã và điều này—khi bản chất tình thương hay phương diện thứ hai được mở ra hoặc đang mở ra—trở thành “hạt giống hay mầm mống” của năng lực trực giác. Do đó, toàn bộ quá trình là cảm dục-bồ đề và liên quan đến các khía cạnh thấp hơn của Vũ Trụ Trí như một tác nhân.

2. Mental telepathy or the interplay of transmitted thought. Though this is a constant phenomenon among advanced intellectual people, it is still scarcely recognised, its laws and modes of expression are as yet unknown, and the best minds and interpreters on subjective levels still confuse it with solar plexus reactions. It is a relatively new and unexplored science, [110] but the range of its activities is not astral and, therefore, related to the solar plexus centre, for the substance in which this science is carried forward is not astral substance but mental substance, and therefore another vehicle is involved and employed, that of the mental body. It is the “seed or germ” of higher contacts and of impressions coming from levels higher than the buddhic or intuitional plane. It is related to the higher aspect of the Universal Mind, to the intelligent Will. In both cases, the lower aspect of love (emotional and sensitive astral response) and the pure love of the soul are involved.

2. Viễn cảm trí tuệ hay sự tương tác của tư tưởng được truyền đi. Mặc dù đây là một hiện tượng thường xuyên giữa những người trí thức tiến bộ, nó vẫn hiếm khi được công nhận, các quy luật và phương thức biểu hiện của nó vẫn chưa được biết đến, và những bộ óc cũng như những nhà diễn giải tốt nhất trên các cấp độ chủ quan vẫn nhầm lẫn nó với các phản ứng tùng thái dương. Nó là một khoa học tương đối mới và chưa được khám phá, [110] nhưng phạm vi hoạt động của nó không thuộc cảm dục và, do đó, không liên quan đến trung tâm tùng thái dương, bởi vì chất liệu mà khoa học này được thực hiện trong đó không phải là chất liệu cảm dục mà là chất liệu trí tuệ, và do đó một hiện thể khác tham gia và được sử dụng, đó là thể trí. Nó là “hạt giống hay mầm mống” của các tiếp xúc cao hơn và của các ấn tượng đến từ các cấp độ cao hơn cõi bồ đề hay cõi trực giác. Nó liên quan đến khía cạnh cao hơn của Vũ Trụ Trí, đến Ý Chí thông tuệ. Trong cả hai trường hợp, khía cạnh thấp của tình thương (phản ứng cảm dục đầy cảm xúc và nhạy cảm) và tình thương thuần khiết của linh hồn đều tham gia vào.

Astral, sympathetic sensitivity is fallible and frequently erroneous in its conjectures and interpretations. The higher telepathy—also a form of sensitivity, and which is as an entering door or concept—becomes eventually infallible; in its earlier stages (where methods of interpretation and of deduction are concerned) it may prove frequently at fault.

Sự nhạy cảm giao cảm, cảm dục dễ sai lầm và thường xuyên sai lệch trong các phỏng đoán và diễn giải của nó. Viễn cảm cao hơn—cũng là một hình thức nhạy cảm, và giống như một cánh cửa hay khái niệm dẫn vào—cuối cùng trở nên không thể sai lầm; trong các giai đoạn đầu (nơi liên quan đến các phương pháp diễn giải và suy luận), nó có thể thường xuyên mắc lỗi.

Straight mental telepathy is one of the highest demonstrations of the personality; it is in the nature of a bridging faculty, for it is one of the major steps towards the higher impression; it always presupposes a relatively high stage of mental development, and that is one reason why it is not yet regarded as a reputable, proved and provable capacity of the human being. In this case, the mind is truly “the slayer of the Real,” and the sources and modes of subjective knowledge still remain in a dark area of the human consciousness. The normal processes of evolution will, however, prove incontrovertibly the existence of faculties which make the higher spiritual and subjective impressions possible, and eventually normal.

Viễn cảm trí tuệ trực tiếp là một trong những biểu hiện cao nhất của phàm ngã; nó có bản chất của một năng lực bắc cầu, vì nó là một trong những bước chính hướng tới ấn tượng cao hơn; nó luôn giả định một giai đoạn phát triển trí tuệ tương đối cao, và đó là một lý do tại sao nó chưa được coi là một năng lực đáng tin cậy, đã được chứng minh và có thể chứng minh của con người. Trong trường hợp này, tâm trí thực sự là “kẻ sát hại cái Thực”, và các nguồn cũng như phương thức của kiến thức chủ quan vẫn nằm trong một vùng tối của tâm thức con người. Tuy nhiên, các quá trình tiến hóa bình thường sẽ chứng minh một cách không thể chối cãi sự tồn tại của các năng lực làm cho các ấn tượng tinh thần và chủ quan cao hơn trở nên khả thi, và cuối cùng là bình thường.

This “Supreme Science of Contact” can be—as already explained—broken up into the following phases which are [111] all progressively developed from each other. Forget not the inevitable continuity which is the outstanding characteristic of the evolutionary process.

“Khoa học Tối cao về Sự Tiếp Xúc” này có thể được—như đã giải thích—chia thành các giai đoạn sau đây, tất cả [111] đều phát triển dần dần từ nhau. Đừng quên tính liên tục tất yếu vốn là đặc điểm nổi bật của quá trình tiến hóa.

1. Astral sensitive awareness. This is based upon the reactions of the solar plexus, and the entire process is carried forward upon the astral plane and with astral substance. This, in its highest form, becomes the factor which later makes intuitive awareness and intuitive sensitivity possible; then the process is carried forward in buddhic substance. Aspirants are, at one stage of their development, strongly astral-buddhic in nature. This should be remembered.

1. Nhận thức nhạy cảm cảm dục. Điều này dựa trên các phản ứng của tùng thái dương, và toàn bộ quá trình được thực hiện trên cõi cảm dục và với chất liệu cảm dục. Điều này, ở hình thức cao nhất của nó, trở thành yếu tố sau này làm cho nhận thức trực giác và sự nhạy cảm trực giác trở nên khả thi; khi đó quá trình được thực hiện trong chất liệu bồ đề. Những người chí nguyện, ở một giai đoạn phát triển nào đó, có bản chất cảm dục-bồ đề mạnh mẽ. Điều này cần được ghi nhớ.

2. Mental telepathy. This involves naturally two minds or several minds, and the process is carried forward in the substance of the mental plane. It is the factor which makes possible the activity which we call “impression.” This impression comes largely from certain aspects of the mental plane, such as:

2. Viễn cảm trí tuệ. Điều này tự nhiên liên quan đến hai thể trí hoặc nhiều thể trí, và quá trình được thực hiện trong chất liệu của cõi trí. Nó là yếu tố làm cho hoạt động mà chúng ta gọi là “ấn tượng” trở nên khả thi. Ấn tượng này phần lớn đến từ các khía cạnh nhất định của cõi trí, chẳng hạn như:

a. The soul of the telepathic individual, using the knowledge petals of the egoic lotus—a high form of mental intelligence.

a. Linh hồn của cá nhân có khả năng viễn cảm, sử dụng các cánh hoa tri thức của hoa sen chân ngã—một hình thức cao của sự thông tuệ thuộc trí.

b. The abstract mind, so called. This aspect of mental substance is largely used by the Hierarchy in order to reach the minds of disciples. It is only within the last few centuries that the Hierarchy has shifted the focus of its living attention on to the buddhic plane and away from the mental plane. This has become possible because the aspirants of the world are now sensitive to contacts which are founded upon an astral-buddhic consciousness but which are strictly carried on within mental [112] substance. This necessarily involves the three aspects of the mind, found therein: the concrete mind, the Son of Mind, and the abstract sensitivity or reaction. This involves (on the physical plane) an activity of the pituitary body (as you can readily see) and also the use of the ajna centre.

b. Trí trừu tượng, được gọi như vậy. Khía cạnh chất liệu trí tuệ này được Thánh đoàn sử dụng phần lớn để tiếp cận thể trí của các đệ tử. Chỉ trong vài thế kỷ qua, Thánh đoàn mới chuyển trọng tâm sự chú ý sống động của mình sang cõi bồ đề và rời khỏi cõi trí. Điều này đã trở nên khả thi bởi vì những người chí nguyện trên thế giới hiện nay nhạy cảm với các tiếp xúc được thiết lập dựa trên một tâm thức cảm dục-bồ đề nhưng được thực hiện nghiêm ngặt bên trong chất liệu [112] trí tuệ. Điều này nhất thiết liên quan đến ba phương diện của tâm trí, được tìm thấy trong đó: trí cụ thể, Con của Trí Tuệ, và sự nhạy cảm hay phản ứng trừu tượng. Điều này bao hàm (trên cõi hồng trần) một hoạt động của tuyến yên (như các bạn có thể dễ dàng thấy) và cả việc sử dụng trung tâm ajna.

3. The occult Science of Impression. This becomes possible when the other two forms of telepathic rapport are present and are developing to a certain point of accuracy. It is dependent also upon the construction of the antahkarana and upon the steady orientation of the aspirant or disciple toward the Spiritual Triad; it also becomes possible when the abstract mind is developed and sensitive, and can thus become the seed or germ of the spiritual Will; this will involve responsiveness to divine purpose. The higher aspect of this abstract mind is the atmic plane. It is useful to realise the substantial nature of these two levels of consciousness. It is within the substance of the atmic plane that the activity is set up which can impress the abstract mind, which then becomes the seat of the consciousness of the spiritual man; at the same time, he remains in active possession and use of his personality and continues to employ the concrete mind; astral sensitivity, however, then begins to fall below the threshold of consciousness and thus joins the great array of instincts and of instinctual reactions of which the human being is possessed and which admit him into the life and conditioned awareness of all that exists in the three worlds, including the three subhuman kingdoms of nature. It is with these subliminated and [113] controlled instincts that those Masters and disciples work whose task it is to oversee the evolution of the forms of life in the subhuman kingdoms.

3. Khoa học Huyền bí về Sự Ấn Tượng. Điều này trở nên khả thi khi hai hình thức tương giao viễn cảm kia hiện diện và đang phát triển đến một điểm chính xác nhất định. Nó cũng phụ thuộc vào việc xây dựng antahkarana và vào sự định hướng kiên định của người chí nguyện hoặc đệ tử về phía Tam Nguyên Tinh Thần; nó cũng trở nên khả thi khi trí trừu tượng được phát triển và nhạy cảm, và do đó có thể trở thành hạt giống hay mầm mống của Ý Chí tinh thần; điều này sẽ bao hàm sự đáp ứng với mục đích thiêng liêng. Khía cạnh cao hơn của trí trừu tượng này là cõi atma. Sẽ hữu ích khi nhận ra bản chất chất liệu của hai cấp độ tâm thức này. Chính trong chất liệu của cõi atma mà hoạt động được thiết lập, có thể truyền ấn tượng vào trí trừu tượng, vốn sau đó trở thành trụ sở tâm thức của con người tinh thần; đồng thời, y vẫn sở hữu và sử dụng tích cực phàm ngã của mình và tiếp tục sử dụng trí cụ thể; tuy nhiên, sự nhạy cảm cảm dục khi đó bắt đầu rơi xuống dưới ngưỡng của tâm thức và do đó gia nhập vào hàng ngũ to lớn của các bản năng và phản ứng bản năng mà con người sở hữu, vốn cho phép y đi vào cuộc sống và nhận thức bị quy định của tất cả những gì tồn tại trong ba cõi, bao gồm cả ba giới dưới nhân loại của tự nhiên. Chính với những bản năng được thăng hoa và [113] được kiểm soát này mà các Chân sư và đệ tử làm việc, những người có nhiệm vụ giám sát sự tiến hóa của các hình hài sự sống trong các giới dưới nhân loại.

The higher forms of mental telepathy, involving the soul and the abstract mind are concerned solely with the divine Plan—as the Hierarchy works it out in the three worlds. The Science of Impression is concerned, therefore, primarily, with the divine Purpose as Shamballa is working it out, and also with those higher aspects of hierarchical work which are not concerned with work in the three worlds. This is a point upon which I would ask you to ponder.

Các hình thức viễn cảm trí tuệ cao hơn, liên quan đến linh hồn và trí trừu tượng, chỉ quan tâm đến Thiên Cơ—khi Thánh đoàn thực hiện nó trong ba cõi. Do đó, Khoa học về Sự Ấn Tượng chủ yếu quan tâm đến Thiên Ý khi Shamballa đang thực hiện nó, và cũng quan tâm đến những khía cạnh cao hơn của công việc thuộc Thánh đoàn vốn không liên quan đến công việc trong ba cõi. Đây là một điểm mà tôi muốn các bạn suy ngẫm.

Today, owing to the curious evolutionary stage reached in the human kingdom, an intermediate aspect of the three above forms of impression has been instituted; it is like an interim period between full human expression and the full expression of the kingdom of souls. This we call:

Ngày nay, do giai đoạn tiến hóa kỳ lạ đạt được trong giới nhân loại, một khía cạnh trung gian của ba hình thức ấn tượng trên đã được thiết lập; nó giống như một giai đoạn tạm thời giữa sự biểu hiện trọn vẹn của con người và sự biểu hiện trọn vẹn của giới linh hồn. Chúng ta gọi điều này là:

4. The Science of Invocation and Evocation. This science can and does use the unintelligent urges and the higher (yet inchoate) longings of the masses of men in an invocative form; it does so in order to bridge the gap existing in consciousness between the life of the ordinary man, the life of the integrated personality and the life of the soul. Through the use of this invocative demand—oft speechless and not consciously expressed—the disciples of the world can focus; they can employ it and thus generate an energy which will be strong enough to make a true impact and a definite impression upon Beings and Lives found on levels higher than those in the three worlds. This impact evokes a reaction from these higher Beings, and then a spiritual and intelligent interplay is set up which is of great value in promoting [114] an added stimulus and an increased vitalisation of the normal and usually slow evolutionary process. This is happening today in an acute form and accounts for much that is taking place in the world of human affairs at this time. The spreading stimulation is of a very intense nature. The invocative cry of humanity is not only the voiceless appeal which the hierarchical workers are everywhere mobilising, but it finds expression also in all the plans and schemes, the formulated platforms, and the many groups and organisations which are dedicated to the betterment of human living.

4. Khoa học về Khẩn Cầu và Gợi Lên. Khoa học này có thể và thực sự sử dụng những thôi thúc không thông tuệ và những khao khát cao hơn (nhưng chưa định hình) của quần chúng con người dưới một hình thức khẩn cầu; nó làm như vậy để bắc cầu qua khoảng cách tồn tại trong tâm thức giữa cuộc sống của người bình thường, cuộc sống của phàm ngã tích hợp và cuộc sống của linh hồn. Thông qua việc sử dụng nhu cầu khẩn cầu này—thường không lời và không được diễn đạt một cách có ý thức—các đệ tử của thế giới có thể tập trung; họ có thể sử dụng nó và do đó tạo ra một năng lượng đủ mạnh để tạo ra một tác động thực sự và một ấn tượng xác định lên các Đấng và các Sự Sống được tìm thấy trên các cấp độ cao hơn so với ba cõi thấp. Tác động này gợi lên một phản ứng từ các Đấng cao cả này, và sau đó một sự tương tác tinh thần và thông tuệ được thiết lập, có giá trị to lớn trong việc thúc đẩy [114] một sự kích thích gia tăng và sự tiếp sinh lực tăng cường cho quá trình tiến hóa bình thường và thường chậm chạp. Điều này đang xảy ra ngày nay dưới một hình thức cấp thiết và giải thích cho nhiều điều đang diễn ra trong thế giới của các vấn đề con người vào lúc này. Sự kích thích lan rộng có bản chất rất mãnh liệt. Tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại không chỉ là lời kêu gọi không lời mà các nhân viên của Thánh đoàn đang huy động ở khắp mọi nơi, mà nó còn tìm thấy sự biểu hiện trong tất cả các kế hoạch và dự án, các nền tảng được hình thành, và nhiều nhóm cũng như tổ chức được cống hiến cho sự tốt đẹp hơn của đời sống con người.

Certain basic concepts underlie every phase of the Science of Contact, and without them there would be no basis for any effort to master this science. Please grasp this fact. There are three which must always be borne in mind:

Một số khái niệm cơ bản nằm bên dưới mọi giai đoạn của Khoa học về Sự Tiếp Xúc, và nếu không có chúng thì sẽ không có cơ sở cho bất kỳ nỗ lực nào để làm chủ khoa học này. Hãy nắm bắt thực tế này. Có ba điều phải luôn được ghi nhớ:

1. The medium through which the thought currents or impressions (from no matter what source) must pass in order to make an impact upon the human brain is the planetary etheric body. This is fundamental in its implications. This etheric vehicle makes all relationships possible, because the individual etheric body is an integral part of the vital body of the planet. This vital body is the medium also of all instinctual reactions, such as an animal will evidence when danger is around. The closer that this etheric body is interwoven (if I may use such a word) with the dense physical vehicle, the clearer will be the instinctual reaction—as in the illustration which I have given and which is based upon millennia of such reactions; the greater also will be the sensitivity and the more aptitude will there be for telepathic [115] contact and recognition of the higher impressions. It might also be added that the etheric body of a disciple or even of an advanced person can be so handled and dealt with that it can reject much that might otherwise impinge upon it, pass through it or use it as a channel. This training is automatic; evidence of it can also be seen in the ability which the human mechanism possesses to tune out all contacts and impressions that it may not need, to which it is so accustomed that they do not even register, and all that it deems undesirable or not fit for consideration. The reason that true telepathic contact between minds is not more prevalent is due to the fact that few people think with an adequate clarity or with the energy required; they do not create true, concise or powerful thoughtforms or—if they do—these thoughtforms are not correctly directed towards the intended objective. When a man is a disciple and deliberately seeks to be impressed by his soul, by the Master or by the Spiritual Triad, the task of the impressing agent is relatively simple; all the disciple has to do is to develop right receptivity, plus an intuitive intelligence which will enable him to make correct interpretations, and to recognise also the source of the communication or impression.

1. Phương tiện mà qua đó các dòng tư tưởng hay ấn tượng (từ bất kỳ nguồn nào) phải đi qua để tạo ra tác động lên bộ não con người là thể dĩ thái hành tinh. Điều này là cơ bản trong các hàm ý của nó. Hiện thể dĩ thái này làm cho mọi mối quan hệ trở nên khả thi, bởi vì thể dĩ thái cá nhân là một phần không thể tách rời của thể sinh lực của hành tinh. Thể sinh lực này cũng là phương tiện của tất cả các phản ứng bản năng, chẳng hạn như một con vật sẽ biểu lộ khi nguy hiểm ở xung quanh. Thể dĩ thái này càng đan xen chặt chẽ (nếu tôi có thể dùng từ như vậy) với hiện thể vật lý đậm đặc, thì phản ứng bản năng sẽ càng rõ ràng—như trong minh họa mà tôi đã đưa ra và vốn dựa trên hàng thiên niên kỷ của các phản ứng như vậy; sự nhạy cảm cũng sẽ càng lớn hơn và sẽ có năng khiếu nhiều hơn đối với tiếp xúc [115] viễn cảm và sự nhận biết các ấn tượng cao hơn. Cũng có thể nói thêm rằng thể dĩ thái của một đệ tử hoặc thậm chí của một người tiến bộ có thể được xử lý và giải quyết sao cho nó có thể từ chối nhiều điều mà nếu không sẽ va chạm vào nó, đi qua nó hoặc sử dụng nó như một kênh dẫn. Sự huấn luyện này là tự động; bằng chứng về nó cũng có thể được thấy trong khả năng mà cơ chế con người sở hữu để điều chỉnh nhằm loại bỏ tất cả các tiếp xúc và ấn tượng mà nó có thể không cần, mà nó đã quá quen thuộc đến mức chúng thậm chí không được ghi nhận, và tất cả những gì mà nó cho là không mong muốn hoặc không đáng xem xét. Lý do mà sự tiếp xúc viễn cảm thực sự giữa các thể trí không phổ biến hơn là do thực tế rằng ít người suy nghĩ với sự rõ ràng đầy đủ hoặc với năng lượng cần thiết; họ không tạo ra các hình tư tưởng chân thực, súc tích hoặc mạnh mẽ, hoặc—nếu họ làm vậy—những hình tư tưởng này không được hướng dẫn chính xác tới mục tiêu dự định. Khi một người là một đệ tử và cố ý tìm cách để tiếp nhận ấn tượng từ linh hồn mình, từ Chân sư hoặc từ Tam Nguyên Tinh Thần, nhiệm vụ của tác nhân gây ấn tượng tương đối đơn giản; tất cả những gì người đệ tử phải làm là phát triển khả năng tiếp nhận đúng đắn, cộng với một trí thông minh trực giác cho phép y thực hiện các diễn giải chính xác, và cũng nhận biết nguồn gốc của sự giao tiếp hoặc ấn tượng.

This brings us to the second basic concept:

Điều này đưa chúng ta đến khái niệm cơ bản thứ hai:

2. Sensitivity to impression involves the engendering of a magnetic aura upon which the highest impressions can play. This I dealt with (in some measure) in the preceding section. It should be borne in mind that the potency of the magnetic aura which envelops all human beings is to be found at present in four [116] areas of substance; these four areas are close to four major centres. When the individual is strictly low grade and is predominantly animal in nature, then the majority of impacting impressions will reach him automatically through the sacral centre; such impacting impressions (as you can well imagine) will be heavy and yet dynamic; they will have reference to all that concerns his physical being, his physical appetites, and his physical comfort or discomfort. There are however, today, relatively few persons in proportion to the planetary population who use the sacral centre as the major registering organ. The magnetic aura (when this is the case) is relatively small; all the tendencies of this tiny aura are downward in nature, and all impressions (which cannot possibly come from a higher source than the man himself) work down through the aura of the sacral centre. Most of the impressions are therefore purely instinctual in nature and little or no thought is involved; there is evidence, however, of what can be understood as aspiration even if it is not what a true aspirant might regard as spiritual in nature.

2. Sự nhạy cảm với ấn tượng bao hàm việc tạo ra một hào quang từ tính mà trên đó các ấn tượng cao nhất có thể tác động. Điều này tôi đã đề cập (ở một mức độ nào đó) trong phần trước. Cần ghi nhớ rằng tiềm lực của hào quang từ tính bao bọc tất cả con người được tìm thấy hiện nay trong bốn [116] khu vực của chất liệu; bốn khu vực này gần với bốn trung tâm chính. Khi cá nhân hoàn toàn ở cấp thấp và chủ yếu có bản chất thú tính, thì phần lớn các ấn tượng tác động sẽ đến với y một cách tự động thông qua trung tâm xương cùng; những ấn tượng tác động như vậy (như các bạn có thể hình dung rõ) sẽ nặng nề nhưng năng động; chúng sẽ liên quan đến tất cả những gì thuộc về con người vật lý của y, những ham muốn vật lý của y, và sự thoải mái hay khó chịu về thể xác của y. Tuy nhiên, ngày nay, có tương đối ít người so với dân số hành tinh sử dụng trung tâm xương cùng làm cơ quan ghi nhận chính. Hào quang từ tính (khi trường hợp này xảy ra) tương đối nhỏ; tất cả các khuynh hướng của hào quang nhỏ bé này đều có bản chất hướng xuống, và tất cả các ấn tượng (vốn không thể đến từ một nguồn cao hơn chính con người đó) hoạt động xuống qua hào quang của trung tâm xương cùng. Do đó, hầu hết các ấn tượng hoàn toàn có bản chất bản năng và rất ít hoặc không có suy nghĩ nào tham gia vào; tuy nhiên, có bằng chứng về cái có thể được hiểu là khát vọng ngay cả khi nó không phải là cái mà một người chí nguyện chân chính có thể coi là có tính tinh thần.

The average, though still unthinking, human being works through his astral body and, because he is there polarised, works through his solar plexus centre—etherically and primarily. All impressions find entrance into the aura via the area around that part of the etheric vehicle. It is through this major centre that the ordinary medium works, receiving impressions and communications from astral entities or from the animated astral forms to be found in the glamours created by humanity.

Con người trung bình, mặc dù vẫn chưa tư duy, làm việc thông qua thể cảm dục của mình và, vì y phân cực ở đó, nên làm việc thông qua trung tâm tùng thái dương của mình—về mặt dĩ thái và chủ yếu. Mọi ấn tượng tìm thấy lối vào hào quang thông qua khu vực xung quanh phần đó của hiện thể dĩ thái. Chính thông qua trung tâm chính này mà đồng tử bình thường làm việc, tiếp nhận các ấn tượng và thông tin liên lạc từ các thực thể cảm dục hoặc từ các hình tướng cảm dục được hoạt hóa được tìm thấy trong các ảo cảm do nhân loại tạo ra.

Forget not, nevertheless, that true aspiration is essentially an astral product or reaction; all aspirants—[117] in the early stages of their slow re-orientation—work through the solar plexus centre, and thus only gradually focus the lower energies there, prior to their transmutation and elevation to the higher centre, the heart centre. There are certain disciples who work deliberately upon the astral plane, under instruction from the Master of their Ashram, in order to reach such neophytes and thus to impress them with the knowledge and the subtle information needed for their progress. No Master works in this manner, and the Masters have therefore to use certain of Their disciples in this service. Such disciples direct the desired impression to the solar plexus area of the magnetic aura. This magnetic aura has another point of entry in the region of the throat centre, utilising it as the recipient of higher impressions. This centre or area of energy is largely used and vitally activated by those who are the creative workers of the world; they have necessarily made a direct contact with the soul and are therefore wide open to those intuitive ideas which are the source of their creative work. According to the success they have in such creative production, and according to the beauty of their work, will be the impression they thereby convey to other men. Curiously enough, the new and peculiar forms of art which delight some people and which outrage the sense of beauty in others are largely solar plexus creations and are therefore not of a truly high order. In a few of them—a very few—the throat centre is involved.

Tuy nhiên, đừng quên rằng khát vọng chân chính về cơ bản là một sản phẩm hoặc phản ứng của cảm dục; tất cả những người chí nguyện—[117] trong các giai đoạn đầu của sự tái định hướng chậm chạp của họ—làm việc thông qua trung tâm tùng thái dương, và do đó chỉ dần dần tập trung các năng lượng thấp hơn tại đó, trước khi chuyển hóa và nâng cao chúng lên trung tâm cao hơn, trung tâm tim. Có một số đệ tử làm việc một cách cố ý trên cõi cảm dục, dưới sự chỉ dẫn từ Chân sư của Ashram họ, để tiếp cận những người sơ cơ như vậy và do đó truyền cho họ ấn tượng về kiến thức và thông tin tinh tế cần thiết cho sự tiến bộ của họ. Không Chân sư nào làm việc theo cách này, và do đó các Chân sư phải sử dụng một số đệ tử của Các Ngài trong công việc phụng sự này. Những đệ tử như vậy hướng ấn tượng mong muốn đến khu vực tùng thái dương của hào quang từ tính. Hào quang từ tính này có một điểm xâm nhập khác trong vùng của trung tâm cổ họng, sử dụng nó như là nơi tiếp nhận các ấn tượng cao hơn. Trung tâm hay khu vực năng lượng này được sử dụng phần lớn và được kích hoạt một cách mạnh mẽ bởi những người là những người làm việc sáng tạo của thế giới; họ nhất thiết phải tạo ra một sự tiếp xúc trực tiếp với linh hồn và do đó hoàn toàn mở rộng đối với những ý tưởng trực giác vốn là nguồn gốc cho công việc sáng tạo của họ. Tùy theo sự thành công mà họ có được trong việc sản xuất sáng tạo như vậy, và tùy theo vẻ đẹp trong công việc của họ, sẽ là ấn tượng mà qua đó họ truyền tải đến những người khác. Thật kỳ lạ, những hình thức nghệ thuật mới và lạ lùng làm vui lòng một số người và xúc phạm ý thức về cái đẹp ở những người khác phần lớn là các sáng tạo của tùng thái dương và do đó không thực sự thuộc trật tự cao. Trong một vài trường hợp—rất ít—trung tâm cổ họng có tham gia vào.

The magnetic aura around the head is that which is truly sensitive to the highest impressions and is the point of entry to the head centre. Upon this I need not enlarge; all that I have taught you is related [118] to the awakening of this highest centre, prior to the aspirant’s becoming a member of the Kingdom of God. The ajna centre is not involved and it will remain for several more centuries the agent of directed impression and not the objective of such impressions.

Hào quang từ tính quanh đầu là cái thực sự nhạy cảm với các ấn tượng cao nhất và là điểm xâm nhập vào trung tâm đầu. Tôi không cần phải nói chi tiết về điều này; tất cả những gì tôi đã dạy các bạn đều liên quan [118] đến việc đánh thức trung tâm cao nhất này, trước khi người chí nguyện trở thành một thành viên của Thiên Giới. Trung tâm ajna không tham gia và nó sẽ vẫn là tác nhân của ấn tượng được định hướng trong vài thế kỷ nữa chứ không phải là mục tiêu của những ấn tượng như vậy.

The next key-thought which is of importance is found in the words:

Tư tưởng chủ đạo tiếp theo có tầm quan trọng được tìm thấy trong các từ:

3. “The Plan is the dynamic substance, providing the content of the reservoir upon which the impressing agent can draw and to which the recipient of the impression must become sensitive.”

3. “Thiên Cơ là chất liệu năng động, cung cấp nội dung của kho chứa mà tác nhân gây ấn tượng có thể rút ra và người tiếp nhận ấn tượng phải trở nên nhạy cảm với nó.”

This sentence requires probably a quite serious readjustment in the thinking of most students. The concept of the Plan as Substance will assuredly be new to them, and new perhaps also to you. It is nevertheless a concept which they must endeavour to grasp. Let me phrase it somewhat differently: The Plan constitutes or is composed of the substance in which the Members of the Hierarchy consistently work. Let us take this important concept and break it up into its component parts for the sake of clarity. I am strongly emphasising these words because this concept is of an importance almost beyond human comprehension, and because its understanding may revise and re-vitalise your entire approach to the Plan, and you will therefore be enabled to work in a fresh and in an entirely new manner:

Câu này có lẽ đòi hỏi một sự điều chỉnh khá nghiêm túc trong suy nghĩ của hầu hết các môn sinh. Khái niệm về Thiên Cơ như là Chất Liệu chắc chắn sẽ mới mẻ đối với họ, và có lẽ cũng mới mẻ đối với các bạn. Tuy nhiên, đó là một khái niệm mà họ phải nỗ lực nắm bắt. Hãy để tôi diễn đạt nó hơi khác một chút: Thiên Cơ cấu thành hoặc được cấu tạo bởi chất liệu mà trong đó các Thành Viên của Thánh đoàn làm việc một cách kiên định. Chúng ta hãy lấy khái niệm quan trọng này và chia nhỏ nó thành các bộ phận hợp thành của nó để cho rõ ràng. Tôi đang nhấn mạnh mạnh mẽ những từ này bởi vì khái niệm này có một tầm quan trọng gần như vượt quá sự lĩnh hội của con người, và bởi vì sự thấu hiểu nó có thể sửa đổi và tiếp sinh lực lại cho toàn bộ cách tiếp cận của các bạn đối với Thiên Cơ, và do đó các bạn sẽ được cho phép làm việc theo một cách thức mới mẻ và hoàn toàn mới:

1. The Plan IS substance. It is essentially substantial energy. And energy is substance and nothing else.

1. Thiên Cơ LÀ chất liệu. Nó về cơ bản là năng lượng chất liệu. Và năng lượng là chất liệu và không gì khác.

2. The substance (which is the Plan) is dynamic in nature, and is therefore impregnated with the energy of WILL. [119]

2. Chất liệu (vốn là Thiên Cơ) có bản chất năng động, và do đó được thấm nhuần với năng lượng của Ý CHÍ. [119]

3. The Plan constitutes a reservoir of energised substance, held in solution by the WILL of Sanat Kumara and embodying His intangible purpose (intangible to us but not intangible to Him).

3. Thiên Cơ cấu thành một kho chứa chất liệu được nạp năng lượng, được giữ ở trạng thái hòa tan bởi Ý CHÍ của Sanat Kumara và hiện thân cho mục đích vô hình của Ngài (vô hình đối với chúng ta nhưng không vô hình đối với Ngài).

4. It is this planetary Substance upon which the “impressing agents” must draw—the Nirmanakayas, the Members of the Hierarchy and the working disciples of the world, plus all spiritual sensitives of a certain degree.

4. Chính Chất Liệu hành tinh này mà các “tác nhân gây ấn tượng” phải rút ra từ đó—các vị Nirmanakaya, các Thành Viên của Thánh đoàn và các đệ tử đang làm việc của thế giới, cộng với tất cả những người nhạy cảm tinh thần ở một mức độ nhất định.

5. Recipients of the desired impression must become sensitive to this substantial energy.

5. Những người tiếp nhận ấn tượng mong muốn phải trở nên nhạy cảm với năng lượng chất liệu này.

This entire proposition can be referred back to the originating Thinker Who brought our manifested world into being, and Who sequentially and under the Law of Evolution is bringing to fruition the objective of His thinking. In the larger and wider sense, it is that sum total of the ocean of energies in which “we live and move and have our being.” This is the sevenfold body of the planetary Logos.

Toàn bộ mệnh đề này có thể được tham chiếu trở lại Tư Tưởng Gia khởi nguyên, Đấng đã đưa thế giới biểu hiện của chúng ta vào sự hiện hữu, và Đấng theo trình tự và dưới Định luật Tiến hóa đang đưa mục tiêu suy nghĩ của Ngài đến sự thành tựu. Theo nghĩa rộng lớn hơn và bao quát hơn, đó là tổng thể của đại dương năng lượng mà trong đó “chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu”. Đây là thể thất phân của Hành Tinh Thượng Đế.

The Impressing Agents of the Divine Will—Các Tác Nhân Truyền Ấn Tượng của Ý Chí Thiêng Liêng

We are not here, however, considering the larger Whole, but we are dealing with a specific and focussed area of the planetary consciousness. This is found midway between the highest plane whereon the Council Chamber of the Great Lord is found and the three planes which form the active arena for hierarchical work—the three levels of consciousness of the Spiritual Triad. This “focussed area” has been precipitated by the Agents of the divine Will; They know the ultimate purpose of Sanat Kumara and hold it steadfastly in view, making it available to those Masters of the Wisdom Who can act as the “impressing Agents of Sanat Kumara’s Will.” These are the Manu, the Christ, and the Mahachohan, the Lord of Civilisation.

Tuy nhiên, chúng ta không xem xét ở đây về Tổng Thể rộng lớn hơn, mà chúng ta đang đề cập đến một khu vực cụ thể và tập trung của tâm thức hành tinh. Khu vực này được tìm thấy ở giữa cõi cao nhất nơi có Phòng Mật Nghị của Đấng Chúa Tể Vĩ Đại và ba cõi tạo nên vũ đài hoạt động cho công việc của Thánh đoàn—ba cấp độ tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần. “Khu vực tập trung” này đã được kết tụ bởi các Tác Nhân của Ý Chí thiêng liêng; Các Ngài biết mục đích tối hậu của Sanat Kumara và giữ nó kiên định trong tầm nhìn, làm cho nó sẵn sàng cho các Chân sư Minh triết, Những Vị có thể hành động như là “các Tác Nhân gây ấn tượng của Ý Chí Sanat Kumara”. Đó là Đức Manu, Đức Christ, và Đức Mahachohan, Đấng Chúa Tể của Nền Văn Minh.

It might be said here that the three Buddhas of Activity are the prime impressing Agents and that the three Great [120] Lords are the “impressed Recipients” at an exceedingly high level; this is the atmic level of awareness, which is the area energised by the divine Will.

Có thể nói ở đây rằng ba Đức Phật Hoạt Động là các Tác Nhân gây ấn tượng chính yếu và ba [120] Đấng Chúa Tể Vĩ Đại là những “Vị Tiếp Nhận ấn tượng” ở một cấp độ cực kỳ cao; đây là cấp độ nhận thức atma, vốn là khu vực được nạp năng lượng bởi Ý Chí thiêng liêng.

When dealing with the fifth Point of Revelation (Discipleship in the New Age, Vol II) I said that it concerned itself with the highest aspect of the Will—with that which produces the highest synthesis, the final synthesis. The planetary Purpose is the eventual synthesis of the initial thought of the planetary Logos, and to this thought we give always the unmeaning name of “GLORY”; this stands for all that we can conceive of the divine purpose; it is, for us, a “blaze of glory.” The human mind is at this stage (in time and space) unable to register any aspect of the Purpose; all that we can do is to cooperate with the efforts of the Hierarchy to activate those things and events which will make the manifestation of the Purpose eventually possible. This purpose will constitute the ultimate revelation to the final root-race of men; it therefore lies a very long way ahead of our present point in evolution.

Khi đề cập đến Điểm Mặc Khải thứ năm (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập II), tôi đã nói rằng nó liên quan đến khía cạnh cao nhất của Ý Chí—với cái tạo ra sự tổng hợp cao nhất, sự tổng hợp cuối cùng. Thiên Ý hay Mục Đích hành tinh là sự tổng hợp rốt ráo của tư tưởng ban đầu của Hành Tinh Thượng Đế, và đối với tư tưởng này, chúng ta luôn đặt cái tên vô nghĩa là “VINH QUANG”; điều này đại diện cho tất cả những gì chúng ta có thể quan niệm về mục đích thiêng liêng; đối với chúng ta, nó là một “luồng vinh quang rực rỡ”. Thể trí con người ở giai đoạn này (trong thời gian và không gian) không thể ghi nhận bất kỳ khía cạnh nào của Mục Đích; tất cả những gì chúng ta có thể làm là hợp tác với những nỗ lực của Thánh đoàn để kích hoạt những sự việc và sự kiện vốn sẽ làm cho sự biểu lộ của Mục Đích cuối cùng trở nên khả thi. Mục đích này sẽ cấu thành sự mặc khải tối hậu cho giống dân gốc cuối cùng của con người; do đó, nó nằm ở một chặng đường rất dài phía trước điểm tiến hóa hiện tại của chúng ta.

I will here make a statement which will probably convey nothing to the intelligence of the average disciple, but which may constitute a fruitful seed thought to the initiate who may read these words:

Ở đây tôi sẽ đưa ra một tuyên bố có lẽ sẽ không truyền tải điều gì đến trí thông minh của người đệ tử trung bình, nhưng có thể cấu thành một tư tưởng hạt giống phong phú cho vị điểm đạo đồ có thể đọc những lời này:

The Purpose of Sanat Kumara is created at present by the synthesis which the nature of the final seven Paths reveals. It is adapted in time and space to human intelligence by the presented Plan, and—in the glory of consummation—the completed Plan will reveal the Purpose on all the seven planes of evolution. Then evolution, as formulated and imposed by the Hierarchy, will end and a greater dynamic expansion will take its place.

Mục Đích của Sanat Kumara hiện được tạo ra bởi sự tổng hợp mà bản chất của bảy Con Đường cuối cùng tiết lộ. Nó được thích nghi trong thời gian và không gian với trí thông minh của con người bằng Thiên Cơ được trình bày, và—trong vinh quang của sự hoàn tất—Thiên Cơ trọn vẹn sẽ tiết lộ Mục Đích trên tất cả bảy cõi tiến hóa. Khi đó sự tiến hóa, như được Thánh đoàn xây dựng công thức và áp đặt, sẽ kết thúc và một sự mở rộng năng động vĩ đại hơn sẽ thay thế nó.

You will note that all along the lines of teaching there comes an eventual merging and blending, and that, at a [121] certain point in the development of consciousness, the many lines of spiritual approach become the few lines of conscious spiritual awareness. So it is in relation to the detail of the evolutionary process, with the formulation of the hierarchical Plan, and with the recognition of the Purpose. Speaking practically (and that is always of major importance), it might be said that evolution controls the form of the Purpose; the Plan concerns the hierarchical recognition of the Purpose, whilst the Purpose is the synthetic Thought which pours into the supernal consciousness of the Lord of the World along the seven Paths of which the Masters become aware at a certain very high initiation.

Các bạn sẽ lưu ý rằng dọc theo các dòng giáo huấn luôn đi đến một sự hợp nhất và hòa quyện rốt ráo, và rằng, tại một [121] điểm nhất định trong sự phát triển tâm thức, nhiều dòng tiếp cận tinh thần trở thành một vài dòng nhận thức tinh thần có ý thức. Điều này cũng đúng trong mối quan hệ với chi tiết của quá trình tiến hóa, với sự hình thành Thiên Cơ của Thánh đoàn, và với sự nhận biết Mục Đích. Nói một cách thực tế (và điều đó luôn có tầm quan trọng hàng đầu), có thể nói rằng sự tiến hóa kiểm soát hình thức của Mục Đích; Thiên Cơ liên quan đến sự nhận biết Mục Đích của Thánh đoàn, trong khi Mục Đích là Tư Tưởng tổng hợp tuôn đổ vào tâm thức thiên thượng của Đức Chúa Tể Thế Giới dọc theo bảy Con Đường mà các Chân sư trở nên nhận biết tại một cuộc điểm đạo rất cao nào đó.

The seven great energies flow into our manifested world along the lines of the seven Paths; these are not the direct energies of the seven Rays, because these concern consciousness in a most specific manner; they are the substantial energies of material expression and their origin concerns a great mystery. These two lines of energy—material energy and the energy of consciousness—when brought together by divine Purpose, constitute the essential dualism of our manifested life.

Bảy năng lượng vĩ đại tuôn chảy vào thế giới biểu hiện của chúng ta dọc theo các dòng của bảy Con Đường; đây không phải là các năng lượng trực tiếp của bảy Cung, bởi vì chúng liên quan đến tâm thức theo một cách thức cụ thể nhất; chúng là các năng lượng chất liệu của biểu hiện vật chất và nguồn gốc của chúng liên quan đến một bí nhiệm vĩ đại. Hai dòng năng lượng này—năng lượng vật chất và năng lượng tâm thức—khi được mang lại với nhau bởi Mục Đích thiêng liêng, cấu thành nhị nguyên tính cốt yếu của cuộc sống biểu hiện của chúng ta.

All that we are able to recognise of that Purpose is the hierarchical Plan, and this only disciples and advanced aspirants can judge and recognise. This Plan is based upon knowledge of divine guidance in the Past, the recognition of progress out of that Past into the Present, plus the effort to become sensitive to the right emergence of that Plan (embodying ever an aspect of the Purpose) in the immediate Future. The Purpose is related to the Past, the Present and the Future; the Agents of the Plan are impressed from Shamballa, via the Nirmanakayas; the process is then repeated, and advanced humanity become the recipients, the sensitive recipients, of the Plan as transmitted to them by the impressing Agents, the Masters, working through the [122] New Group of World Servers. This group is the lower correspondence of the Nirmanakayas, the recipients of impression from Shamballa. See you, therefore, the beauty and the synthesis, the inter-dependence and the cooperative interplay which is demonstrated right through the chain of Hierarchy from the very highest Agent to the very lowest recipient of divine impression.

Tất cả những gì chúng ta có thể nhận biết về Mục Đích đó là Thiên Cơ của Thánh đoàn, và điều này chỉ có các đệ tử và những người chí nguyện tiến bộ mới có thể đánh giá và nhận biết. Thiên Cơ này dựa trên kiến thức về sự dẫn dắt thiêng liêng trong Quá khứ, sự nhận biết về sự tiến bộ từ Quá khứ đó vào Hiện tại, cộng với nỗ lực để trở nên nhạy cảm với sự xuất hiện đúng đắn của Thiên Cơ đó (luôn hiện thân cho một khía cạnh của Mục Đích) trong Tương lai gần. Mục Đích liên quan đến Quá khứ, Hiện tại và Tương lai; các Tác Nhân của Thiên Cơ tiếp nhận ấn tượng từ Shamballa, thông qua các vị Nirmanakaya; quá trình này sau đó được lặp lại, và nhân loại tiến bộ trở thành những người tiếp nhận, những người tiếp nhận nhạy cảm, đối với Thiên Cơ khi được truyền tống đến họ bởi các Tác Nhân gây ấn tượng, các Chân sư, làm việc thông qua [122] Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhóm này là sự tương ứng thấp hơn của các vị Nirmanakaya, những người tiếp nhận ấn tượng từ Shamballa. Do đó, các bạn hãy thấy vẻ đẹp và sự tổng hợp, sự phụ thuộc lẫn nhau và sự tương tác hợp tác được thể hiện ngay xuyên suốt chuỗi Thánh đoàn từ Tác Nhân cao nhất đến người tiếp nhận thấp nhất của ấn tượng thiêng liêng.

The key to all this is energy. Energy is substance, and this substance is qualified by divine dynamic WILL. There is much to be learnt anent the Will. Will as dynamic energy is not yet understood in its true sense by human beings. Mankind usually recognises will as fixed determination; this is in reality their individual effort to impress substance (personal or environing) with their own self-will or with their well-intended effort to conform to what they believe to be the will of God, speaking symbolically. But men know nothing yet of the process of working with dynamic energised substance, for it basically impresses them and uses them as they become aware of the Plan and thus come under the influence of the Spiritual Triad. They are used and not using that which is available for the furtherance of the Plan—the dynamic energy of the divine Will. This dynamic Will cannot become available nor can disciples truly work with the Plan until the antahkarana is to some measure adequately constructed, though not yet perfected.

Chìa khóa cho tất cả điều này là năng lượng. Năng lượng là chất liệu, và chất liệu này được định tính bởi Ý CHÍ năng động thiêng liêng. Có nhiều điều cần học hỏi về Ý Chí. Ý Chí như là năng lượng năng động vẫn chưa được con người hiểu theo đúng nghĩa của nó. Nhân loại thường nhận biết ý chí như là sự quyết tâm cố định; đây thực tế là nỗ lực cá nhân của họ để ghi dấu lên chất liệu (cá nhân hoặc môi trường) bằng ý chí riêng của họ hoặc bằng nỗ lực có thiện ý của họ để tuân theo những gì họ tin là ý chí của Thượng đế, nói theo cách tượng trưng. Nhưng con người vẫn chưa biết gì về quá trình làm việc với chất liệu được nạp năng lượng năng động, vì về cơ bản nó truyền ấn tượng cho họ và sử dụng họ khi họ trở nên nhận thức về Thiên Cơ và do đó đi vào dưới ảnh hưởng của Tam Nguyên Tinh Thần. Họ được sử dụng chứ không phải đang sử dụng cái có sẵn cho sự thúc đẩy của Thiên Cơ—năng lượng năng động của Ý Chí thiêng liêng. Ý Chí năng động này không thể trở nên sẵn có cũng như các đệ tử không thể thực sự làm việc với Thiên Cơ cho đến khi antahkarana được xây dựng đầy đủ ở một mức độ nào đó, mặc dù chưa hoàn thiện.

It becomes of service, therefore, for the aspirant and the disciple to know the nature of the Agents Who can locate their magnetic aura and impress upon it Their understanding of the Plan; these Agents may be accepted disciples or initiates and Masters; then the aspirant or disciple must find those to whom he can personally act as an impressing agent. He has consequently to study himself as a recipient and also as an agent, as a responsive factor and also as an [123] originating and impressing factor. This might be regarded as the scientific approach to the spiritual life, and it is of value because the necessity of service is implicit in the necessity for receptivity; all is, therefore, related to Invocation and Evocation.

Do đó, việc người chí nguyện và đệ tử biết bản chất của các Tác Nhân có thể định vị hào quang từ tính của họ và truyền vào đó ấn tượng về sự thấu hiểu của Các Ngài về Thiên Cơ trở nên hữu ích; những Tác Nhân này có thể là các đệ tử được chấp nhận hoặc các điểm đạo đồ và Chân sư; sau đó người chí nguyện hoặc đệ tử phải tìm những người mà y có thể đích thân hành động như một tác nhân gây ấn tượng. Do đó, y phải nghiên cứu bản thân như là một người tiếp nhận và cũng như là một tác nhân, như một yếu tố đáp ứng và cũng như một [123] yếu tố khởi nguyên và gây ấn tượng. Điều này có thể được coi là cách tiếp cận khoa học đối với đời sống tinh thần, và nó có giá trị bởi vì sự cần thiết của việc phụng sự là ngầm định trong sự cần thiết đối với khả năng tiếp nhận; do đó, tất cả đều liên quan đến Khẩn Cầu và Gợi Lên.

It is in our next basic theme, the nature of the etheric body, that we shall find again the higher relationships and the interdependence of many allied factors. This interdependence emerges acutely the higher one progresses into the scheme of correspondences. Eventually, a point of fusion is reached.

Chính trong chủ đề cơ bản tiếp theo của chúng ta, bản chất của thể dĩ thái, mà chúng ta sẽ tìm thấy lại các mối quan hệ cao hơn và sự phụ thuộc lẫn nhau của nhiều yếu tố liên kết. Sự phụ thuộc lẫn nhau này biểu lộ rõ nét khi người ta càng tiến cao vào sơ đồ của các sự tương ứng. Cuối cùng, một điểm dung hợp đạt được.

XV. INTER-PLANETARY AND EXTRA-PLANETARY RELATIONSHIPS—XV. CÁC MỐI QUAN HỆ LIÊN HÀNH TINH VÀ NGOẠI HÀNH TINH

[124]

[124]

The subject of the etheric body of all forms and of the etheric body of the planetary Logos is necessarily of major importance in any consideration of the Supreme Science of Contact. It is this concept of sensitive contact which I seek to emphasise as we study the three points or the three basic concepts outlined in the preceding section. All such terms as planes, groups, creative Hierarchies, and centres are simply word modes of inferring relationship, interplay and mutual impression between the beings or the lives who make up the sum total of our manifested universe; they are nevertheless signs of our leading up to a planetary synthesis or a planetary integrity of a nature hitherto not even visioned by man.

Chủ đề về thể dĩ thái của tất cả các hình tướng và về thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế nhất thiết có tầm quan trọng lớn lao trong bất kỳ sự xem xét nào về Khoa học Tối cao về Sự Tiếp Xúc. Chính khái niệm về tiếp xúc nhạy cảm này là điều tôi tìm cách nhấn mạnh khi chúng ta nghiên cứu ba điểm hoặc ba khái niệm cơ bản được phác thảo trong phần trước. Tất cả các thuật ngữ như cõi giới, nhóm, các Huyền Giai sáng tạo, và các trung tâm chỉ đơn giản là các phương thức từ ngữ để suy luận về mối quan hệ, sự tương tác và ấn tượng lẫn nhau giữa các đấng hoặc các sự sống tạo nên tổng thể vũ trụ biểu hiện của chúng ta; tuy nhiên, chúng là những dấu hiệu dẫn chúng ta đến một sự tổng hợp hành tinh hoặc một sự toàn vẹn hành tinh có bản chất chưa từng được con người hình dung tới.

The subject is necessarily one of immense difficulty, for all human beings think in terms of their own contacts and relationships, which are strictly limited and are not expressed in terms of the One Life, flowing through all forms and all kingdoms, or through all the diverse planetary evolutions (of which you know nothing) and thus creating in time and space a living intelligent planetary Entity of systemic maturity, qualified by immense attractive and integrating energies, motivated by a supreme Purpose—a Purpose which is part of the vast purpose of the solar Logos, working through the planetary Logoi, and therefore responsible for the well-being and progressive evolution of all lives and groups of lives within the framework and the essential structure of our planet.

Chủ đề này nhất thiết là một chủ đề vô cùng khó khăn, vì tất cả con người đều suy nghĩ theo khía cạnh các tiếp xúc và mối quan hệ của riêng họ, vốn bị giới hạn nghiêm ngặt và không được diễn đạt theo khía cạnh của Sự Sống Duy Nhất, tuôn chảy qua tất cả các hình tướng và tất cả các giới, hoặc qua tất cả các cuộc tiến hóa hành tinh đa dạng (mà các bạn không biết gì về chúng) và do đó tạo ra trong thời gian và không gian một Thực Thể hành tinh thông tuệ sống động, đã trưởng thành ở cấp thái dương hệ, được định tính bởi các năng lượng thu hút và tích hợp to lớn, được thúc đẩy bởi một Mục Đích tối cao—một Mục Đích vốn là một phần của mục đích rộng lớn của Thái Dương Thượng đế, hoạt động thông qua các Hành Tinh Thượng Đế, và do đó chịu trách nhiệm cho sự an sinh và tiến hóa lũy tiến của tất cả các sự sống và nhóm các sự sống bên trong khuôn khổ và cấu trúc thiết yếu của hành tinh chúng ta.

The relation evoked is, as you can well imagine, inter-planetary and extra-planetary; these terms mean little to [125] the average disciple and he has to wait until the initiatory process puts him in a position where he can frankly evaluate the situation. Of the latter stages, we can know nothing; only in the Council Chamber of Shamballa are these extra-planetary contacts and relationships recognisable. But one basic fact must be grasped, and that is that the medium of relationship and of contact is SUBSTANCE; and the effect of these relationships, carried on through this medium, is the gradual development and progressive unfoldment of the three divine Aspects which all esotericists recognise, and of others which the coming millennia will reveal. The contributing factor, therefore, within and upon our planet is what we might regard as the three major centres of the planetary Logos:

Mối quan hệ được gợi lên, như các bạn có thể hình dung rõ, là liên hành tinh và ngoại hành tinh; những thuật ngữ này ít có ý nghĩa đối với [125] người đệ tử trung bình và y phải chờ đợi cho đến khi quy trình điểm đạo đặt y vào một vị trí nơi y có thể đánh giá tình huống một cách thẳng thắn. Về các giai đoạn sau, chúng ta không thể biết gì; chỉ trong Phòng Mật Nghị của Shamballa thì những tiếp xúc và mối quan hệ ngoại hành tinh này mới có thể nhận biết được. Nhưng một thực tế cơ bản phải được nắm bắt, và đó là phương tiện của mối quan hệ và của sự tiếp xúc là CHẤT LIỆU; và hiệu quả của những mối quan hệ này, được thực hiện thông qua phương tiện này, là sự phát triển dần dần và sự mở ra lũy tiến của ba Phương diện thiêng liêng mà tất cả các nhà bí truyền đều công nhận, và của những phương diện khác mà các thiên niên kỷ sắp tới sẽ tiết lộ. Do đó, yếu tố đóng góp bên trong và trên hành tinh của chúng ta là cái mà chúng ta có thể coi là ba trung tâm chính của Hành Tinh Thượng Đế:

1. The Head Centre, the dynamic Agent of the extra-planetary Purpose, the expression of the divine planetary Will as focussed in Shamballa. This is the energy of Synthesis, the source of all planetary life; it connotes essential Being.

1. Trung tâm Đầu, Tác Nhân năng động của Mục Đích ngoại hành tinh, sự biểu hiện của Ý Chí hành tinh thiêng liêng được tập trung tại Shamballa. Đây là năng lượng của Sự Tổng hợp, nguồn gốc của mọi sự sống hành tinh; nó bao hàm Bản Thể cốt yếu.

2. The Heart Centre, the Agent of the Plan of evolution. This is the expression of divine Love or pure Reason, the Hierarchy. It is essentially the energy of Attraction, the kingdom of souls.

2. Trung tâm Tim, Tác Nhân của Thiên Cơ tiến hóa. Đây là sự biểu hiện của Tình Thương thiêng liêng hay Lý trí thuần khiết, Thánh đoàn. Về cơ bản, nó là năng lượng của Sự Thu hút, giới của các linh hồn.

3. The Throat Centre, the Agent of all the three Aspects in relation to the three subhuman kingdoms in nature, the expression also of the divine Intelligence, Humanity. This is the energy of active Mind and makes humanity the macrocosm of the microcosm, the three subhuman kingdoms. Humanity is to these kingdoms what the Hierarchy is to the fourth kingdom in nature, the human kingdom.

3. Trung tâm Cổ họng, Tác Nhân của tất cả ba Phương diện trong mối quan hệ với ba giới dưới nhân loại trong tự nhiên, cũng là sự biểu hiện của Trí Tuệ thiêng liêng, Nhân loại. Đây là năng lượng của Trí Tuệ hoạt động và làm cho nhân loại trở thành đại thiên địa của tiểu thiên địa, ba giới dưới nhân loại. Nhân loại đối với các giới này giống như Thánh đoàn đối với giới thứ tư trong tự nhiên, giới nhân loại.

These are the elements of the occult science and—for students such as you—contain nothing new. Nevertheless, they [126] need to be seen in their triple relationship if the mode of working of the One Life is to be grasped more clearly than is now the case. The aim of the entire evolutionary scheme is to bring these three Centres into such a close relationship that the synthesis of the divine Purpose can work out harmoniously on every possible (note that phrase) level of consciousness. If this can take place, then the basic Thought, the fundamental Proposition of the planetary Logos can eventually be disclosed to man.

Đây là những yếu tố của khoa học huyền bí và—đối với các môn sinh như các bạn—không chứa đựng điều gì mới mẻ. Tuy nhiên, chúng [126] cần được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa cả ba của chúng nếu phương thức hoạt động của Sự Sống Duy Nhất được nắm bắt rõ ràng hơn so với hiện nay. Mục tiêu của toàn bộ sơ đồ tiến hóa là đưa ba Trung tâm này vào một mối quan hệ gần gũi đến mức sự tổng hợp của Mục Đích thiêng liêng có thể diễn ra hài hòa trên mọi cấp độ tâm thức khả dĩ (lưu ý cụm từ đó). Nếu điều này có thể diễn ra, thì Tư Tưởng cơ bản, Mệnh Đề nền tảng của Hành Tinh Thượng Đế cuối cùng có thể được tiết lộ cho con người.

May I remind you of the occult statement that every living being or manifested life—from the planetary Logos down to the tiniest atom—either has been, is, or will be a man. This has reference to the past, to the present and to the future of every manifested life. Therefore, the fact of humanity and of that for which humanity stands is probably the primary and major aspect of the divine purpose. Pause and think about this statement. It is, therefore, the first clear fact which indicates the measure and the magnitude of a human being; and until two other facts are sequentially revealed to us, it will not be possible correctly to gauge the wider aspects of the purpose of Sanat Kumara. Everything subhuman is slowly moving towards a definite human experience; it is also passing through the phase of human effort and consequent experience, or else it has moved out of that phase of limitation and—through initiation—is drafting human nature into a state of divinity (to use a most inadequate phrase).

Tôi xin nhắc các bạn về tuyên bố huyền bí rằng mọi sinh linh hay sự sống biểu hiện—từ Hành Tinh Thượng Đế xuống đến nguyên tử nhỏ bé nhất—hoặc đã từng, đang là, hoặc sẽ là một con người. Điều này có tham chiếu đến quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi sự sống biểu hiện. Vì vậy, thực tế về nhân loại và về những gì nhân loại đại diện có lẽ là khía cạnh chính yếu và quan trọng của mục đích thiêng liêng. Hãy dừng lại và suy nghĩ về tuyên bố này. Do đó, đây là thực tế rõ ràng đầu tiên chỉ ra thước đo và tầm vóc của một con người; và cho đến khi hai thực tế khác được tiết lộ theo trình tự cho chúng ta, sẽ không thể đánh giá chính xác các khía cạnh rộng lớn hơn của mục đích của Sanat Kumara. Mọi thứ dưới nhân loại đang di chuyển chậm chạp hướng tới một trải nghiệm con người xác định; nó cũng đang trải qua giai đoạn nỗ lực của con người và kinh nghiệm theo sau, hoặc nếu không thì nó đã di chuyển ra khỏi giai đoạn giới hạn đó và—thông qua điểm đạo—đang đưa bản chất con người vào trạng thái thiên tính (sử dụng một cụm từ không đầy đủ nhất).

Humanity’s Key Role—Vai Trò Then Chốt của Nhân Loại

The keynote, therefore, of the Lord of the World is HUMANITY for it is the basis, the goal and the essential inner structure of all being. Humanity itself is the key to all evolutionary processes and to all correct understanding of the divine Plan, expressing in time and space the divine Purpose. Why HE chose that this should be so, we know not; but it is a point to be accepted and remembered in all study of [127] the Science of Impression because it is the factor that makes relationship and contact possible and it is also the source of all understanding. These are most difficult things to express and to enlarge upon, my brothers, and only the penetrating intuition can make these matters clearer to your avid and active intelligence.

Do đó, chủ âm của Đức Chúa Tể Thế Giới là NHÂN LOẠI vì đó là cơ sở, mục tiêu và cấu trúc nội tại thiết yếu của mọi sự hiện hữu. Chính nhân loại là chìa khóa cho tất cả các quá trình tiến hóa và cho tất cả sự thấu hiểu đúng đắn về Thiên Cơ, biểu hiện trong thời gian và không gian Thiên Ý hay Mục Đích thiêng liêng. Tại sao NGÀI chọn điều này phải như vậy, chúng ta không biết; nhưng đó là một điểm cần được chấp nhận và ghi nhớ trong mọi nghiên cứu về [127] Khoa học về Sự Ấn Tượng bởi vì đó là yếu tố làm cho mối quan hệ và sự tiếp xúc trở nên khả thi và đó cũng là nguồn gốc của mọi sự thấu hiểu. Đây là những điều khó diễn đạt và trình bày rộng thêm nhất, các huynh đệ của tôi, và chỉ có trực giác sắc bén mới có thể làm cho những vấn đề này rõ ràng hơn đối với trí thông minh khao khát và tích cực của các bạn.

You will note, therefore, that though we call one of the major centres HUMANITY, yet—in the last analysis—all the centres are constituted of lives progressing towards the human stage, of those units of life who are at the human stage, and those who have left that stage far behind but who are endowed with all the faculties and all the knowledges wrought out into human expression in earlier planetary schemes or solar systems, or through our own definite and characteristic planetary life.

Do đó, các bạn sẽ lưu ý rằng mặc dù chúng ta gọi một trong các trung tâm chính là NHÂN LOẠI, nhưng—trong phân tích cuối cùng—tất cả các trung tâm đều được cấu thành từ các sự sống đang tiến tới giai đoạn con người, từ những đơn vị sự sống đang ở giai đoạn con người, và những người đã bỏ lại giai đoạn đó xa phía sau nhưng được phú bẩm với tất cả các năng lực và tất cả các kiến thức được rèn luyện thành biểu hiện con người trong các hệ hành tinh hoặc thái dương hệ trước đó, hoặc thông qua đời sống hành tinh xác định và đặc trưng của chính chúng ta.

Because of this uniformity of experience, the art of contact and the science of impression become entirely possible and normally effective. The great and omnipotent Lives in Shamballa can impress the omniscient Lives and lesser lives in the Hierarchy because They share a common humanity; the hierarchical Workers or Masters and Initiates can consequently impress humanity because of shared experience and understanding; then the lives that compose the human family present the goal to the subhuman kingdoms and can, and do, impress them because of basic instinctual tendencies which are expressed in the human group but which are latent instinctual tendencies and potential assets in the three subhuman groups.

Nhờ sự đồng nhất về kinh nghiệm này, nghệ thuật tiếp xúc và khoa học về ấn tượng trở nên hoàn toàn khả thi và hiệu quả một cách bình thường. Các Sự Sống vĩ đại và toàn năng trong Shamballa có thể truyền ấn tượng cho các Sự Sống toàn tri và các sự sống nhỏ bé hơn trong Thánh đoàn bởi vì Các Ngài chia sẻ một nhân tính chung; các Nhân viên của Thánh đoàn hoặc các Chân sư và Điểm đạo đồ do đó có thể truyền ấn tượng cho nhân loại nhờ kinh nghiệm và sự thấu hiểu được chia sẻ; sau đó, các sự sống cấu thành gia đình nhân loại trình bày mục tiêu cho các giới dưới nhân loại và có thể, và thực sự, truyền ấn tượng cho chúng nhờ các khuynh hướng bản năng cơ bản được thể hiện trong nhóm con người nhưng là các khuynh hướng bản năng tiềm tàng và tài sản tiềm năng trong ba nhóm dưới nhân loại.

This teaching has always been implicit in the esoteric doctrines but has not been sufficiently emphasised, owing to the point in evolution of mankind. Today, mankind has made such progress that these points can be made effectively. I would call to your attention that this was the keynote of the Gospel story: the human-divine nature of the Christ, [128] relating Him to the Father through His essential divinity, and also to man through His essential humanity. The Christian Church gave a wrong slant to the teaching by making Christ appear as unique, though the higher criticism (deemed so shocking fifty years ago) has done much to correct this false impression.

Giáo huấn này luôn ngầm định trong các học thuyết huyền môn nhưng chưa được nhấn mạnh đầy đủ, do điểm tiến hóa của nhân loại. Ngày nay, nhân loại đã đạt được sự tiến bộ đến mức những điểm này có thể được trình bày một cách hiệu quả. Tôi muốn các bạn chú ý rằng đây là chủ âm của câu chuyện Tin Mừng: bản chất nhân-thần của Đức Christ, [128] liên hệ Ngài với Cha thông qua thiên tính cốt yếu của Ngài, và cũng với con người thông qua nhân tính cốt yếu của Ngài. Giáo hội Cơ Đốc đã đưa ra một cái nhìn lệch lạc về giáo huấn bằng cách làm cho Đức Christ có vẻ như là duy nhất, mặc dù sự phê bình cao cấp (được coi là quá sốc năm mươi năm trước) đã làm nhiều điều để sửa chữa ấn tượng sai lầm này.

The outstanding characteristic of humanity is intelligent sensitivity to impression. Ponder on this definite and emphatic statement. The work of science is, after all, simply the development of the knowledge of substance and of form; this knowledge will make it possible for humanity eventually to act as the major impressing agent in relation to the three subhuman kingdoms in nature; that is humanity’s primary responsibility. This work of relationship is practically the work of developing or the mode of unfoldment of human sensitivity. I refer here to sensitivity to impression from or by the Hierarchy.

Đặc điểm nổi bật của nhân loại là sự nhạy cảm thông tuệ đối với ấn tượng. Hãy suy ngẫm về tuyên bố xác định và dứt khoát này. Rốt cuộc, công việc của khoa học chỉ đơn giản là sự phát triển kiến thức về chất liệu và hình tướng; kiến thức này cuối cùng sẽ giúp nhân loại có khả năng hành động như là tác nhân gây ấn tượng chính trong mối quan hệ với ba giới dưới nhân loại trong tự nhiên; đó là trách nhiệm hàng đầu của nhân loại. Công việc của mối quan hệ này thực tế là công việc phát triển hoặc phương thức mở ra sự nhạy cảm của con người. Tôi đề cập ở đây đến sự nhạy cảm đối với ấn tượng từ hoặc bởi Thánh đoàn.

The work done through the processes of initiation is intended to fit disciples and initiates to receive impression from Shamballa; the initiate is essentially a blend of scientific and religious training; he has been re-oriented to certain phases of divine existence which are not yet recognised by the average human being. I am endeavouring to make clear to you the basic synthesis underlying all manifested life upon our planet, and also the close interplay or relationship which forever exists and expresses itself through the supreme science of contact or of impression.

Công việc được thực hiện thông qua các quá trình điểm đạo nhằm mục đích làm cho các đệ tử và điểm đạo đồ thích hợp để nhận ấn tượng từ Shamballa; vị điểm đạo đồ về cơ bản là một sự pha trộn của sự huấn luyện khoa học và tôn giáo; y đã được tái định hướng đối với các giai đoạn nhất định của sự tồn tại thiêng liêng vốn chưa được con người bình thường nhận biết. Tôi đang nỗ lực làm rõ cho các bạn sự tổng hợp cơ bản nằm bên dưới tất cả sự sống biểu hiện trên hành tinh của chúng ta, và cũng là sự tương tác hoặc mối quan hệ chặt chẽ vĩnh viễn tồn tại và thể hiện chính nó thông qua khoa học tối cao về sự tiếp xúc hay ấn tượng.

The three great Centres are in close relationship at all times, even if this is not yet recognised by the intelligent disciple; an unbroken series of impressions is ever present, relating one centre to another and bringing about an evolutionary unity of objective, and developing (with exceeding rapidity at this time) a secondary science, that of Invocation [129] and Evocation. This science is in reality the science of impression in activity and not simply in theory.

Ba Trung tâm vĩ đại luôn ở trong mối quan hệ chặt chẽ, ngay cả khi điều này chưa được người đệ tử thông tuệ nhận biết; một chuỗi các ấn tượng không đứt đoạn luôn hiện diện, liên kết trung tâm này với trung tâm khác và mang lại một sự thống nhất về mục tiêu tiến hóa, và phát triển (với tốc độ cực nhanh vào lúc này) một khoa học thứ cấp, đó là Khẩn Cầu [129] và Gợi Lên. Khoa học này trong thực tế là khoa học về ấn tượng đang hoạt động chứ không chỉ đơn giản là trên lý thuyết.

The first great Invocation was uttered by the planetary Logos when He expressed the desire to manifest and thus invoked and brought to Himself the substance needed for His designed expression. That started the chain of being or of hierarchy; inter-relation was then set up between all “substantial” units; the more potent and the more dynamic and greater could then impress the lesser and the weaker until gradually—as the aeons swept by—the seven Centres were created and were in close impressionable relationship. Of these seven we are at this time considering only three; the others we know very little about, for they are largely composed of units of the deva evolutions (and I would ask you to note the plurality there) and of subhuman lives, working under impression from the head, the heart and the throat centres of the planetary Logos.

Lời Khẩn Cầu vĩ đại đầu tiên được thốt ra bởi Hành Tinh Thượng Đế khi Ngài bày tỏ mong muốn biểu hiện và do đó đã khẩn cầu và mang đến cho Chính Ngài chất liệu cần thiết cho sự biểu hiện được thiết kế của Ngài. Điều đó bắt đầu chuỗi hiện hữu hay thứ bậc; sự tương giao sau đó được thiết lập giữa tất cả các đơn vị “chất liệu”; cái mạnh mẽ hơn và năng động hơn và vĩ đại hơn sau đó có thể truyền ấn tượng cho cái nhỏ hơn và yếu hơn cho đến khi dần dần—khi các thời đại dài đằng đẵng trôi qua—bảy Trung tâm được tạo ra và ở trong mối quan hệ ấn tượng chặt chẽ. Trong bảy trung tâm này, vào lúc này chúng ta chỉ xem xét ba; những cái khác chúng ta biết rất ít, vì chúng phần lớn được cấu tạo bởi các đơn vị của các cuộc tiến hóa thiên thần (và tôi muốn các bạn lưu ý số nhiều ở đó) và của các sự sống dưới nhân loại, làm việc dưới ấn tượng từ trung tâm đầu, trung tâm tim và trung tâm cổ họng của Hành Tinh Thượng Đế.

Students are apt to make their thinking unduly complicated when they seek to itemise and define, to separate into academic groups and brackets the multiplicity of energies with which they feel confronted when considering the planetary and the human centres. I would advise you that you think simply and (certainly, at first) in terms of the three major energies as they emanate from some centre, become impressing agents, and then are again transmitted or stepped down:

Các môn sinh có khuynh hướng làm cho suy nghĩ của họ trở nên phức tạp quá mức khi họ tìm cách liệt kê chi tiết và định nghĩa, phân chia thành các nhóm học thuật và các dấu ngoặc cho vô số năng lượng mà họ cảm thấy phải đối mặt khi xem xét các trung tâm hành tinh và con người. Tôi khuyên các bạn nên suy nghĩ đơn giản và (chắc chắn, lúc đầu) theo khía cạnh ba năng lượng chính khi chúng xuất lộ từ một trung tâm nào đó, trở thành các tác nhân gây ấn tượng, và sau đó lại được truyền đi hoặc giảm cấp:

1. The dynamic electrical energy of Life itself or divine potency, of embodied Purpose, expressing through evolutionary manifestation the divine Will. It might be well to realise that purpose emanates from the cosmic mental plane and is the all-inclusive, synthetic, motivating principle which expresses itself as the divine will upon the cosmic physical plane—the seven planes of our planetary Life. This dynamic energy focuses itself through the Lives or Beings [130] Who control and dominate Shamballa. Until the divine purpose has been achieved, the planetary Logos holds all in manifestation through the potency of His Will, and animates all forms with electric fire. Knowledge of this Will and Purpose comes to the student who is constructing the antahkarana and who is, therefore, coming under the control of the Spiritual Triad, the threefold expression of the Monad.

1. Năng lượng điện năng động của chính Sự Sống hay tiềm lực thiêng liêng, của Mục Đích hiện thân, biểu hiện thông qua sự biểu lộ tiến hóa Ý Chí thiêng liêng. Có lẽ nên nhận ra rằng mục đích xuất lộ từ cõi trí vũ trụ và là nguyên khí thúc đẩy, tổng hợp, bao gồm tất cả, vốn biểu hiện chính nó như là ý chí thiêng liêng trên cõi hồng trần vũ trụ—bảy cõi của Sự Sống hành tinh của chúng ta. Năng lượng năng động này tập trung chính nó thông qua các Sự Sống hay các Đấng [130] kiểm soát và chế ngự Shamballa. Cho đến khi mục đích thiêng liêng đạt được, Hành Tinh Thượng Đế giữ tất cả trong biểu hiện thông qua tiềm lực Ý Chí của Ngài, và làm cho tất cả các hình tướng trở nên sống động với lửa điện. Kiến thức về Ý Chí và Mục Đích này đến với người môn sinh đang xây dựng antahkarana và do đó, đang đi vào dưới sự kiểm soát của Tam Nguyên Tinh Thần, biểu hiện tam phân của Chân thần.

2. The attractive magnetic solar energy to which we give the quite unsuitable name of Love. It is this energy which constitutes the cohering, unifying force which holds the manifested universe or planetary form together and is responsible for all relationships; it is this energy which is the soul of all things or of all forms, beginning with the anima mundi and reaching its highest point of expression in the human soul which is the constituent factor in the fifth kingdom in nature, the Kingdom of God or of Souls. An understanding of this human potency comes as a man makes contact with his own soul and sets up a stable relationship with that soul; then he becomes a soul-infused personality. As you well know, the threefold personality is to the soul what the Spiritual Triad is to the Monad: a clear medium of expression. Most students are or should be today occupied with this attractive energy, for until they have mastered the desire nature and have transmuted it into aspiration and soul control, they cannot hope to comprehend the dynamic energy of electric fire. This attractive magnetism is the energy dominating and controlling the Hierarchy.

2. Năng lượng thái dương từ tính thu hút mà chúng ta đặt cho cái tên khá không phù hợp là Tình Thương. Chính năng lượng này cấu thành lực gắn kết, thống nhất giữ cho vũ trụ biểu hiện hoặc hình tướng hành tinh lại với nhau và chịu trách nhiệm cho tất cả các mối quan hệ; chính năng lượng này là linh hồn của vạn vật hoặc của tất cả các hình tướng, bắt đầu với anima mundi và đạt đến điểm biểu hiện cao nhất của nó trong linh hồn con người vốn là yếu tố cấu thành trong giới thứ năm của tự nhiên, Thiên Giới hay Vương quốc của các Linh hồn. Sự thấu hiểu về tiềm lực con người này đến khi một người thực hiện tiếp xúc với linh hồn của chính mình và thiết lập một mối quan hệ ổn định với linh hồn đó; khi đó y trở thành một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Như các bạn đã biết rõ, phàm ngã tam phân đối với linh hồn giống như Tam Nguyên Tinh Thần đối với Chân thần: một phương tiện biểu hiện rõ ràng. Hầu hết các môn sinh ngày nay đang hoặc nên bận rộn với năng lượng thu hút này, vì cho đến khi họ làm chủ được bản chất dục vọng và chuyển hóa nó thành khát vọng và sự kiểm soát của linh hồn, họ không thể hy vọng lĩnh hội được năng lượng năng động của lửa điện. Từ tính thu hút này là năng lượng chế ngự và kiểm soát Thánh đoàn.

3. The intelligent activity of fire by friction. Students would be well advised to re-read A Treatise on Cosmic Fire where I deal at length with these three conditioning energies. This third energy is the basic energy expressing itself in the three worlds and in the four kingdoms in nature, climaxing its expression in the creative energy of the human kingdom. [131] This energy emanated originally (as far as our solar system and our planetary scheme are concerned) in the first solar system and is the best proven and the best known energy in manifestation. It is the medium for activity in all forms through which the planetary Logos expresses Himself; it is the result of the activity of the divine Mind, as that peculiar type of divine energy plays upon and through all atoms and upon all atomic forms. The fission of the nucleus of the atom in the past few years is the outer sign or demonstration that humanity has “encompassed” the divine Mind and can now move on to “encompass” the love or the attractive nature of divinity. Ponder upon this statement. I know not what word to use but encompass and it is entirely inadequate. A new and deeper esoteric terminology is badly needed.

3. Hoạt động thông tuệ của lửa do ma sát. Các môn sinh nên đọc lại Luận về Lửa Vũ Trụ nơi tôi đề cập chi tiết đến ba năng lượng định hình này. Năng lượng thứ ba này là năng lượng cơ bản biểu hiện chính nó trong ba cõi và trong bốn giới của tự nhiên, đạt đến đỉnh điểm biểu hiện của nó trong năng lượng sáng tạo của giới nhân loại. [131] Năng lượng này bắt nguồn ban đầu (theo như hệ mặt trời của chúng ta và hệ hành tinh của chúng ta có liên quan) trong hệ mặt trời thứ nhất và là năng lượng được chứng minh rõ nhất và được biết đến nhiều nhất trong sự biểu hiện. Nó là phương tiện cho hoạt động trong tất cả các hình tướng mà qua đó Hành Tinh Thượng Đế biểu hiện chính Ngài; nó là kết quả của hoạt động của Trí Tuệ thiêng liêng, khi loại năng lượng thiêng liêng đặc biệt đó tác động lên và xuyên qua tất cả các nguyên tử và lên tất cả các hình tướng nguyên tử. Sự phân hạch hạt nhân của nguyên tử trong vài năm qua là dấu hiệu bên ngoài hay sự chứng minh rằng nhân loại đã “bao trùm” Trí Tuệ thiêng liêng và bây giờ có thể tiếp tục “bao trùm” tình thương hay bản chất thu hút của thiên tính. Hãy suy ngẫm về tuyên bố này. Tôi không biết dùng từ nào ngoài từ bao trùm và nó hoàn toàn không đầy đủ. Một thuật ngữ huyền môn mới và sâu sắc hơn đang rất cần thiết.

If you will work with and reflect upon these three fundamental energies and search for their expression within yourself, you will greatly simplify your occult thinking. Let me here make a few more statements which you have perforce to accept hypothetically, but which can nevertheless be substantiated by you if you arrive at an understanding of the Law of Analogy or of Correspondences, and if you will also accept the truism that the microcosm reflects the macrocosm and, therefore, each human being is related to Deity through essential similarity.

Nếu các bạn làm việc với và suy ngẫm về ba năng lượng nền tảng này và tìm kiếm sự biểu hiện của chúng bên trong chính mình, các bạn sẽ đơn giản hóa rất nhiều tư duy huyền bí của mình. Hãy để tôi đưa ra ở đây thêm một vài tuyên bố mà các bạn buộc phải chấp nhận theo giả thuyết, nhưng tuy nhiên có thể được chứng minh bởi các bạn nếu các bạn đạt đến một sự thấu hiểu về Định luật Tương đồng hay Tương ứng, và nếu các bạn cũng chấp nhận chân lý rằng tiểu thiên địa phản chiếu đại thiên địa và, do đó, mỗi con người liên hệ với Thượng đế thông qua sự tương đồng cốt yếu.

Seven Statements Depicting the Pattern of the Present Planetary Work—Bảy Mệnh Đề Mô Tả Mô Hình của Công Việc Hành Tinh Hiện Tại

Statement One.

Mệnh Đề Một.

Dynamic electric energy entered into our planetary sphere from extra-planetary sources and from a point of definite focus upon the cosmic mental plane; this energy was paralleled by a secondary energy from the sun Sirius, thus accounting for the dualism of manifestation.

Năng lượng điện năng động đã đi vào bầu hành tinh của chúng ta từ các nguồn ngoại hành tinh và từ một điểm tập trung xác định trên cõi trí vũ trụ; năng lượng này được song hành bởi một năng lượng thứ cấp từ mặt trời Sirius, do đó giải thích cho nhị nguyên tính của sự biểu hiện.

Statement Two.

Mệnh Đề Hai.

This energy expanded outward from its central focus (the centre called Shamballa) and in this expansion became [132] the agency which impressed the Plan upon the serving Hierarchy. The Plan is that measure of possibility of immediate importance which the divine Purpose can present at any given moment in time and space.

Năng lượng này mở rộng ra bên ngoài từ tiêu điểm trung tâm của nó (trung tâm được gọi là Shamballa) và trong sự mở rộng này đã trở thành [132] tác nhân truyền ấn tượng về Thiên Cơ cho Thánh Đoàn đang phụng sự. Thiên Cơ là thước đo về khả năng có tầm quan trọng tức thời mà Thiên Ý có thể trình bày tại bất kỳ thời điểm nào trong không gian và thời gian.

Statement Three.

Phát biểu Thứ Ba.

This process of expansion set up another focal point of energy, and the heart centre of the planet, the Hierarchy came into being; thus two centres were created and en rapport, which constitutes a major event upon the involutionary arc; to this, little attention has hitherto been paid. It coincided with” the advent or the arrival of the Lords of Flame from the alter ego of our Earth, the planet Venus. They created the nucleus of the Hierarchy which—in that far, very distant time—consisted of only forty-nine members; these were advanced human beings and not souls awaiting incarnation in human form on Earth, as was the case with the vast majority of these visiting Solar Angels.

Quá trình mở rộng này thiết lập một tiêu điểm năng lượng khác, và trung tâm tim của hành tinh, Thánh Đoàn, đã ra đời; do đó hai trung tâm đã được tạo ra và có mối giao cảm, điều này cấu thành một sự kiện trọng đại trên vòng cung giáng hạ; cho đến nay, rất ít sự chú ý được dành cho điều này. Nó trùng hợp với sự xuất hiện hay sự đến của các Đấng Chúa Tể của Lửa từ đối phần của Trái Đất chúng ta, hành tinh Sao Kim. Các Ngài đã tạo ra hạt nhân của Thánh Đoàn mà—vào thời gian xa xưa, rất xa đó—chỉ bao gồm bốn mươi chín thành viên; đây là những con người tiến hóa cao chứ không phải là những linh hồn đang chờ đợi tái sinh trong hình hài con người trên Trái Đất, như trường hợp của đại đa số các Thái dương Thiên Thần viếng thăm này.

Statement Four.

Phát biểu Thứ Tư.

Alignment between the head centre and the heart centre upon the involutionary arc was thus set up; another expansion took place which resulted, as you know well, in the creation of a new kingdom in nature, the fourth or human kingdom. This kingdom was destined to become and is today the third major centre in the planetary life. Then another alignment, but one which is still contained upon the involutionary arc, took place.

Do đó sự chỉnh hợp giữa trung tâm đầu và trung tâm tim trên cung giáng hạ đã được thiết lập; một sự mở rộng khác đã diễn ra mà kết quả là, như các bạn biết rõ, sự tạo thành một giới mới trong tự nhiên, giới thứ tư hay giới nhân loại. Giới này được định mệnh trở thành và ngày nay là trung tâm chính thứ ba trong sự sống hành tinh. Sau đó một sự chỉnh hợp khác, nhưng là sự chỉnh hợp vẫn còn nằm trên cung giáng hạ, đã diễn ra.

Statement Five.

Phát biểu Thứ Năm.

Today, an evolutionary alignment is taking place. The planetary centre which we call Humanity is active and vibrant, and it is now possible to “progress along the Upward Way and create the line which links the lesser with the higher, permitting thus an interplay.” Men are rapidly moving out of the human centre into [133] the hierarchical centre; the mass of men are responding to spiritual impression.

Ngày nay, một sự chỉnh hợp thăng thượng đang diễn ra. Trung tâm hành tinh mà chúng ta gọi là Nhân loại đang hoạt động và rung động, và giờ đây có thể “tiến bước trên Con Đường Đi Lên và tạo ra đường dây liên kết cái thấp hơn với cái cao hơn, do đó cho phép một sự tác động qua lại.” Con người đang nhanh chóng di chuyển ra khỏi trung tâm nhân loại để đi vào [133] trung tâm của thánh đoàn; quần chúng nhân loại *đang* đáp ứng với ấn tượng tinh thần.

Statement Six.

Phát biểu Thứ Sáu.

At the same time, the heart centre of the planetary Logos, the Hierarchy, whilst it is being responsive to the invocation of the throat centre, Humanity, is becoming increasingly evocative and is itself attaining a much higher contact and alignment with the head centre of the planetary Logos; it is, therefore, capable of receiving a constantly developing dynamic impression from Shamballa.

Đồng thời, trung tâm tim của Hành Tinh Thượng Đế, Thánh Đoàn, trong khi đang đáp ứng với sự khẩn cầu của trung tâm cổ họng, Nhân loại, thì ngày càng trở nên có tính gợi lên và bản thân nó đang đạt tới một sự tiếp xúc và chỉnh hợp cao hơn nhiều với trung tâm đầu của Hành Tinh Thượng Đế; do đó, nó có khả năng tiếp nhận một *ấn tượng* năng động đang phát triển không ngừng từ Shamballa.

Statement Seven.

Phát biểu Thứ Bảy.

Thus a great alignment is being achieved through the relationship and the interplay going on between these three major planetary centres; this produces a constant inflow of energies from several different sources, and these energies galvanise these three centres into a new and increased activity. Invocation is arising all the time between these centres and producing a consequent evocation of impressing energies.

Như thế một sự chỉnh hợp vĩ đại đang đạt được thông qua mối quan hệ và sự tác động qua lại đang diễn ra giữa ba trung tâm hành tinh chính này; điều này tạo ra một dòng năng lượng tuôn chảy liên tục từ một vài nguồn khác nhau, và những năng lượng này kích hoạt ba trung tâm này thành một hoạt động mới và gia tăng. Sự khẩn cầu đang khởi lên mọi lúc giữa các trung tâm này và tạo ra một sự gợi lên tương ứng của các năng lượng ấn tượng.

In these seven statements, you have depicted a PATTERN of the present planetary work or the present logoic thesis. An involutionary alignment (the guarantee of future successful alignments) constitutes most ancient history; an evolutionary alignment in which all three centres are involved is constantly producing an interplay of energies as well as a constantly successful impression of one centre upon another. Humanity, as the throat centre of the planetary Logos and the prime planetary creative agency (which modern science demonstrates), invokes the heart centre, the Hierarchy, and then receives the needed impression which will result in the developing civilisations and cultures as well as the eventual appearance on Earth of the fifth or spiritual [134] kingdom. The Hierarchy or the planetary heart centre invokes Shamballa, the planetary head centre, and the Plan—as an expression of the Purpose—is impressed upon the hierarchical consciousness. If there is redundancy in these various comments of mine, it is entirely intentional; repetition serves the purposes of accurate presentation where esotericism is concerned.

Trong bảy phát biểu này, các bạn đã mô tả một MÔ HÌNH của công việc hành tinh hiện nay hoặc luận đề thượng đế hiện nay. Một sự chỉnh hợp giáng hạ (sự đảm bảo cho các sự chỉnh hợp thành công trong tương lai) cấu thành lịch sử cổ xưa nhất; một sự chỉnh hợp thăng thượng trong đó cả ba trung tâm đều tham gia đang liên tục tạo ra một sự tác động qua lại của các năng lượng cũng như một sự ấn tượng thành công liên tục của trung tâm này lên trung tâm khác. Nhân loại, với tư cách là trung tâm cổ họng của Hành Tinh Thượng Đế và là cơ quan sáng tạo hành tinh chủ yếu (điều mà khoa học hiện đại chứng minh), khẩn cầu trung tâm tim, Thánh Đoàn, và sau đó tiếp nhận ấn tượng cần thiết vốn sẽ dẫn đến các nền văn minh và văn hóa đang phát triển cũng như sự xuất hiện cuối cùng trên Trái Đất của giới thứ năm hay giới tinh thần [134]. Thánh Đoàn hay trung tâm tim hành tinh khẩn cầu Shamballa, trung tâm đầu hành tinh, và Thiên Cơ—như một sự biểu lộ của Thiên Ý—được truyền bằng ấn tượng vào tâm thức của Thánh đoàn. Nếu có sự thừa thãi trong các bình luận khác nhau này của tôi, thì điều đó hoàn toàn là cố ý; sự lặp lại phục vụ cho các mục đích của việc trình bày chính xác khi liên quan đến khoa học nội môn.

As the invocative system spreads and a greater alignment is attained, Shamballa—the planetary head centre—invokes energies outside the planetary life and the inflow of cosmic and solar energies will be very much greater; for this the esotericists of the world must be prepared. It will also produce the advent or appearance of many AVATARS, bringing with Them many and very different kinds of energies to those which hitherto have controlled human affairs and the events and evolution of the other, the subhuman kingdoms in nature. With the reappearance of the Christ as the focal point or the supreme Agent of the planetary heart centre, a new era or “divine epoch” will be instituted. The Avatar of Synthesis will draw very close to humanity and He will inaugurate the “reign of Avatars” Who will be embodied Purpose and spiritual Will; They will initiate both the Hierarchy and Humanity into phases of the divine character of which, at present, nothing is known and for which we have no terminology that could convey the exact facts and nature. All that I am attempting to do here is to give you a general outline of events which may lie centuries ahead but which will inevitably occur—once the Christ is again in physical Presence and recognition on Earth.

Khi hệ thống khẩn cầu lan rộng và một sự chỉnh hợp lớn hơn đạt được, Shamballa—trung tâm đầu hành tinh—khẩn cầu các năng lượng bên ngoài sự sống hành tinh và dòng tuôn chảy của các năng lượng vũ trụ và thái dương sẽ lớn hơn rất nhiều; đối với điều này các nhà bí truyền trên thế giới phải được chuẩn bị. Nó cũng sẽ tạo ra sự đến hay sự xuất hiện của nhiều ĐẤNG HÓA THÂN, mang theo Các Ngài nhiều loại năng lượng rất khác biệt so với những năng lượng cho đến nay vẫn kiểm soát các công việc của con người và các sự kiện cũng như sự tiến hóa của các giới khác, các giới dưới nhân loại trong tự nhiên. Với sự tái xuất hiện của Đức Christ như là tiêu điểm hay Tác Nhân tối cao của trung tâm tim hành tinh, một kỷ nguyên mới hay “thời đại thiêng liêng” sẽ được thiết lập. Đấng Hóa Thân của Sự Tổng Hợp sẽ đến rất gần với nhân loại và Ngài sẽ khai mạc “triều đại của các Đấng Hóa Thân”, Những Vị sẽ là hiện thân của Thiên Ý và Ý Chí tinh thần; Các Ngài sẽ điểm đạo cả Thánh Đoàn và Nhân loại vào các giai đoạn của tính cách thiêng liêng mà hiện nay chưa được biết đến và chúng ta không có thuật ngữ nào có thể chuyển tải các sự kiện và bản chất chính xác của nó. Tất cả những gì tôi đang cố gắng làm ở đây là cung cấp cho các bạn một phác thảo chung về các sự kiện có thể nằm ở phía trước hàng thế kỷ nhưng chắc chắn sẽ xảy ra—một khi Đức Christ lại hiện diện về mặt vật lý và được công nhận trên Trái Đất.

H.P.B. speaks in The Secret Doctrine of the “three periodical vehicles,” referring as he does so to the Monad, the Soul and the Personality; he is dealing, therefore, with the nine aspects of divinity which connote the nine major initiations and those divine characteristics through which [135] the three major aspects of divinity reflect themselves. In this connection, it is well known to students that the Monad expresses itself through the Spiritual Triad, the Soul through the three aspects of the Egoic Lotus, and the Personality through the three mechanical vehicles. It will be obvious to you surely that these three periodical vehicles are under the influence or impression of the three major planetary centres and are, therefore, finally conditioned by the three major energies to which I referred earlier in this section. I do not feel it to be necessary to enlarge upon this basic relation; it is that which integrates the human soul into the vast general whole and makes the individual an intrinsic part of the sum total.

H.P.B. nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm về “ba hiện thể định kỳ”, khi nói như vậy là ám chỉ đến Chân Thần, Linh hồn và Phàm ngã; vì thế, bà đang đề cập đến chín phương diện của thiên tính vốn bao hàm chín cuộc điểm đạo chính và những đặc tính thiêng liêng đó mà qua đó [135] ba phương diện chính của thiên tính phản ánh chính chúng. Trong mối liên hệ này, các đạo sinh đều biết rõ rằng Chân Thần biểu lộ chính nó thông qua Tam Nguyên Tinh Thần, Linh hồn thông qua ba phương diện của Hoa Sen Chân Ngã, và Phàm ngã thông qua ba hiện thể cơ giới. Chắc chắn các bạn sẽ thấy rõ rằng ba hiện thể định kỳ này chịu ảnh hưởng hay ấn tượng của ba trung tâm hành tinh chính và, do đó, cuối cùng chịu sự định hình của ba năng lượng chính mà tôi đã đề cập trước đó trong phần này. Tôi không cảm thấy cần thiết phải trình bày rộng thêm về mối quan hệ cơ bản này; chính điều đó tích hợp linh hồn con người vào cái toàn thể chung rộng lớn và làm cho cá nhân trở thành một phần nội tại của tổng thể.

The Centres and the Ray Energies—Các Trung Tâm và Năng Lượng Cung

There is one aspect of the Science of Impression upon which I have not yet touched and that is the place of the centres as focal points, as transmitters or as agencies for the seven ray energies. It is known to esotericists that each of the seven centres comes under the influence or is the recipient of some ray energy, and there is a general acceptance of the fact that the head centre is the agent of the first Ray of Will or Power, the heart centre is the custodian of second Ray energy of Love-Wisdom, whilst the third Ray of active creative Intelligence passes through and energises the throat centre. These Rays of Aspect do find expression through the three centres above the diaphragm, and—on the larger scale—through Shamballa, the Hierarchy and Humanity. It is, however, equally true that Shamballa is primarily second ray as it is expressed, because that is the ray of the present solar system of which Shamballa is a part; and that the first ray, or its dynamic life aspect, is focused in the heart, for the heart is the centre of life. The great centre which we call Humanity is predominantly governed by the third Ray of Active Intelligence. This ray energy arrives at the throat centre via the head and the heart centres. I [136] am pointing this out for two reasons which must form part of your thinking as you study this science:

Có một khía cạnh của Khoa học về Sự Ấn tượng mà tôi chưa đề cập đến và đó là vị trí của các trung tâm như là các tiêu điểm, như là các bộ phát hay như là các cơ quan cho bảy năng lượng cung. Các nhà bí truyền biết rằng mỗi một trong bảy trung tâm đều chịu ảnh hưởng hoặc là nơi tiếp nhận của một năng lượng cung nào đó, và có một sự chấp nhận chung về thực tế rằng trung tâm đầu là tác nhân của Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, trung tâm tim là người giám hộ của năng lượng Cung hai của Bác Ái-Minh Triết, trong khi Cung ba của Trí Tuệ Sáng Tạo hoạt động đi qua và tiếp năng lượng cho trung tâm cổ họng. Các Cung Trạng Thái này thực sự tìm thấy sự biểu lộ thông qua ba trung tâm bên trên cơ hoành, và—trên quy mô lớn hơn—thông qua Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại. Tuy nhiên, cũng đúng là Shamballa chủ yếu là cung hai như nó được biểu lộ, bởi vì đó là cung của hệ mặt trời hiện tại mà Shamballa là một phần; và rằng cung một, hay phương diện sự sống năng động của nó, được tập trung trong tim, vì tim là trung tâm của sự sống. Trung tâm vĩ đại mà chúng ta gọi là Nhân loại chủ yếu được cai quản bởi Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động. Năng lượng cung này đi đến trung tâm cổ họng thông qua các trung tâm đầu và tim. Tôi [136] đang chỉ ra điều này vì hai lý do vốn phải hình thành một phần trong tư duy của các bạn khi các bạn nghiên cứu khoa học này:

1. All the centres come under the influence of all the rays, and this must surely be obvious in relation to average and undeveloped human beings. Were this not so, such human beings would he unable to respond to first ray, second ray and third ray energy, for the centres above the diaphragm are, in their case, inactive.

1. Tất cả các trung tâm đều chịu ảnh hưởng của tất cả các cung, và điều này chắc chắn phải hiển nhiên đối với những con người trung bình và chưa phát triển. Nếu không như vậy, những con người như thế sẽ không thể đáp ứng với năng lượng cung một, cung hai và cung ba, vì các trung tâm bên trên cơ hoành, trong trường hợp của họ, là không hoạt động.

2. In time and space and during the evolutionary process, it is not possible to say which centre is expressing the energy of any particular ray, for there is a constant movement and activity. The centre at the base of the spine is frequently the expression of first ray energies. This is apt to be confusing. The human mind seeks to make everything precise, stable, to bracket certain relations or to assign certain centres to certain ray energies. This cannot be done.

2. Trong không gian và thời gian và trong suốt quá trình tiến hóa, không thể nói trung tâm nào đang biểu lộ năng lượng của bất kỳ cung cụ thể nào, vì có một sự chuyển động và hoạt động liên tục. Trung tâm tại đáy cột sống thường là sự biểu lộ của các năng lượng cung một. Điều này dễ gây nhầm lẫn. Thể trí con người tìm cách làm cho mọi thứ trở nên chính xác, ổn định, để đóng khung các mối quan hệ nhất định hoặc gán các trung tâm nhất định cho các năng lượng cung nhất định. Điều này không thể làm được.

At the end of the world cycle, when divine purpose is fulfilled and the evolutionary process has brought about the changes and adjustments needed for the full expression of the Will of Sanat Kumara, then the situation will be different and men will know (as the Members of the Hierarchy know) which centres express the seven ray energies. It must be remembered also that the Rays of Attribute shift and change constantly; for instance, humanity as the planetary throat centre is under the constant influence of the seventh ray, as is the solar plexus centre of the planet. To that sub-diaphragmatic centre I give no name. Though the human throat centre is primarily expressing the third ray, there is an interesting situation to be noted in this connection: two ray energies control this centre at this time.

Vào cuối chu kỳ thế giới, khi thiên ý được hoàn thành và quá trình tiến hóa đã mang lại những thay đổi và điều chỉnh cần thiết cho sự biểu lộ trọn vẹn Ý Chí của Sanat Kumara, thì tình hình sẽ khác và con người sẽ biết (như các Thành viên của Thánh Đoàn biết) trung tâm nào biểu lộ bảy năng lượng cung. Cũng cần nhớ rằng các Cung Thuộc Tính thay đổi và biến đổi liên tục; ví dụ, nhân loại như là trung tâm cổ họng hành tinh chịu ảnh hưởng liên tục của cung bảy, cũng như trung tâm tùng thái dương của hành tinh. Đối với trung tâm dưới cơ hoành đó tôi không đặt tên. Mặc dù trung tâm cổ họng của con người chủ yếu biểu lộ cung ba, nhưng có một tình huống thú vị cần lưu ý trong mối liên hệ này: hai năng lượng cung kiểm soát trung tâm này vào lúc này.

[137]

[137]

The throat centre of the average integrated personality is governed by the third ray and is strongly energised by third ray energies (again seven in number), whilst the throat centre of the spiritual aspirant, of disciples and initiates below the third initiation is responding primarily to seventh ray influence, and this is peculiarly the case now as the seventh ray is in incarnation. The rays which are manifesting at any particular time affect powerfully all the other centres as well as the one through which they are normally expressing. This is a point oft forgotten.

Trung tâm cổ họng của phàm ngã tích hợp trung bình được cai quản bởi cung ba và được tiếp năng lượng mạnh mẽ bởi các năng lượng cung ba (cũng là bảy về số lượng), trong khi trung tâm cổ họng của người chí nguyện tinh thần, của các đệ tử và các điểm đạo đồ dưới cấp bậc điểm đạo thứ ba thì đáp ứng chủ yếu với ảnh hưởng của cung bảy, và đây là trường hợp đặc biệt hiện nay khi cung bảy đang lâm phàm. Các cung đang biểu lộ tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các trung tâm khác cũng như trung tâm mà qua đó chúng thường biểu lộ. Đây là một điểm thường bị lãng quên.

It is needless for me to point out that—as man progresses upon the Path of Return—he consistently comes under the impression of the centre of which he is an integral part: that is, first of all, the planetary throat centre, the human family; then, as a soul, he comes under the impression of the Hierarchy, the planetary heart centre, and at that point he begins to express the combined energies of the intelligence and of love; finally, on the Path of Initiation, he comes under the impression of Shamballa, the planetary head centre, and becomes a participant in the divine Purpose and an Agent of the divine Plan.

Tôi không cần phải chỉ ra rằng—khi con người tiến bộ trên Con Đường Trở Về—y liên tục chịu sự ấn tượng của trung tâm mà y là một phần thiết yếu: nghĩa là, trước hết, trung tâm cổ họng hành tinh, gia đình nhân loại; sau đó, như là một linh hồn, y chịu sự ấn tượng của Thánh Đoàn, trung tâm tim hành tinh, và tại điểm đó y bắt đầu biểu lộ các năng lượng kết hợp của trí tuệ và của tình thương; cuối cùng, trên Con Đường Điểm Đạo, y chịu sự ấn tượng của Shamballa, trung tâm đầu hành tinh, và trở thành một người tham dự vào Thiên Ý và một Tác Nhân của Thiên Cơ.

Separateness: the Great Illusion—Sự Chia Rẽ: Đại Ảo Tưởng

It is therefore literally and eternally true that the same energetic Life pours through the planetary centres, into and through the three periodical vehicles of the incarnated Monad, and finally into and through the three centres in the human etheric body which correspond to the three major centres of the planetary Logos. There is, therefore, nowhere to be found any basis for separation or any possible point of separation or of essential division. Any sense of separateness is due simply to ignorance and to the fact that certain energies are as yet unable to make adequate impression upon the human consciousness, functioning in time and space. The essential synthesis exists and the end is sure and [138] inevitable; unity is attainable because unity exists and the sense of separateness is simply the Great Illusion.

Do đó, hoàn toàn đúng theo nghĩa đen và vĩnh viễn là cùng một Sự Sống đầy năng lượng tuôn chảy qua các trung tâm hành tinh, đi vào và xuyên qua ba hiện thể định kỳ của Chân Thần đã nhập thể, và cuối cùng đi vào và xuyên qua ba trung tâm trong thể dĩ thái con người vốn tương ứng với ba trung tâm chính của Hành Tinh Thượng Đế. Do đó, không tìm thấy ở đâu bất kỳ cơ sở nào cho sự chia rẽ hay bất kỳ điểm chia rẽ khả dĩ nào hay sự phân chia cốt yếu nào. Bất kỳ cảm giác chia rẽ nào cũng chỉ đơn giản là do vô minh và do thực tế là các năng lượng nhất định vẫn chưa thể tạo ra ấn tượng đầy đủ lên tâm thức con người đang hoạt động trong không gian và thời gian. Sự tổng hợp cốt yếu tồn tại và kết cục là chắc chắn và [138] không thể tránh khỏi; sự hợp nhất là có thể đạt được bởi vì sự hợp nhất tồn tại và cảm giác chia rẽ chỉ đơn giản là Đại Ảo Tưởng.

It was in order to hasten the dispelling of this great illusion of separateness in the minds of men, and to bring about the emergence of the basic existing unity, that the new world prayer was given to men and its use on a world-wide scale inaugurated. Elsewhere (The Reapperarance of the Christ) I have told you of the origin and the impulsing of the Great Invocation. Here I am simply placing it before you as a fitting conclusion to this portion of my labour of love in the presentation of truth, and as a possible starting point in yours.

Chính là để đẩy nhanh việc xua tan đại ảo tưởng về sự chia rẽ này trong thể trí con người, và để mang lại sự xuất hiện của sự hợp nhất cơ bản đang hiện hữu, mà bài cầu nguyện thế giới mới đã được trao cho con người và việc sử dụng nó trên quy mô toàn thế giới đã được khai mạc. Ở nơi khác (Sự Tái Xuất Hiện của Đức Christ) tôi đã nói với các bạn về nguồn gốc và sự thôi thúc của Đại Khấn Nguyện. Ở đây tôi chỉ đơn giản đặt nó trước các bạn như một kết luận phù hợp cho phần này trong công việc của tôi vì tình thương trong việc trình bày chân lý, và như một điểm khởi đầu khả dĩ trong công việc của các bạn.

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The Purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

Leave a Comment

Scroll to Top