Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái – Phần II

📘 Sách: Viễn Cảm và Thể Dĩ Thái – Tác giả: Alice Bailey

SECTION TWO — TEACHING ON THE ETHERIC VEHICLE—PHẦN HAI — HUẤN THỊ VỀ THỂ DĨ THÁI

I. THE NATURE OF THE ETHERIC BODY—I. BẢN CHẤT CỦA THỂ DĨ THÁI

(See Chart Evolution of a Solar Logos)

(Xem Biểu đồ Sự Tiến hóa của một Thái dương Thượng đế)

[139]

[139]

Much that I may say here may be familiar to a certain extent, because there is a vast amount of information anent the etheric body scattered throughout my various books. It will have its value however if students can receive in a few pages a general idea and the basic concepts which underlie the teaching—or should I say, the fact? If they have the time, students would find it of profit to re-read what I said; run their eyes rapidly through the books and papers in search of the word “etheric.” They will never regret it. Life itself, the training to be given in the future, the conclusions of science and a new mode of civilisation will all increasingly be focussed on this unique substance which is the true form to which all physical bodies in every kingdom in nature conform. Note that phraseology.

Nhiều điều mà tôi có thể nói ở đây có thể quen thuộc ở một mức độ nhất định, bởi vì có một lượng thông tin khổng lồ về thể dĩ thái nằm rải rác trong các cuốn sách khác nhau của tôi. Tuy nhiên, nó sẽ có giá trị nếu các đạo sinh có thể nhận được trong một vài trang một ý tưởng chung và các khái niệm cơ bản làm nền tảng cho sự giảng dạy—hay tôi nên nói là, sự thật? Nếu họ có thời gian, các đạo sinh sẽ thấy có lợi khi đọc lại những gì tôi đã nói; lướt nhanh mắt qua các cuốn sách và bài viết để tìm kiếm từ “dĩ thái”. Họ sẽ không bao giờ hối tiếc điều đó. Chính sự sống, sự huấn luyện sẽ được đưa ra trong tương lai, các kết luận của khoa học và một phương thức văn minh mới, tất cả sẽ ngày càng tập trung vào chất liệu độc đáo này vốn là hình thể thực sự mà mọi thể xác trong mọi giới trong tự nhiên đều tuân theo. Hãy lưu ý cách diễn đạt đó.

The attitude of occultism is, at this time, relatively negative to the fact and the nature of the etheric body. People are ready to admit its existence, but the dominant factors in their consciousness are the fact of the physical body (around whose comfort, security and care all life seems woven) and the fact of the astral or emotional nature. Not one among them, or among occult students generally, pays any attention to the etheric body, and there is a great hiatus or gap in consciousness today (only this time normally and rightly) between the personality and the Spiritual Triad. This gap will be bridged by the building of the antahkarana, and this can only be built by advanced students. There is no such planned bridge for the gap in [140] consciousness between the physical body and the etheric counterpart. The etheric body exists in subtle etheric matter, and factually there is no true gap; there is simply the ignoring by humanity of an aspect of the physical body which is of far more importance than is the dense physical vehicle. The consciousness of men today is physical-astral, and the factor of conditioning energies is ignored, overlooked, and—from the angle of consciousness—non-existent.

Thái độ của huyền bí học, vào lúc này, tương đối tiêu cực đối với thực tế và bản chất của thể dĩ thái. Mọi người sẵn sàng thừa nhận sự tồn tại của nó, nhưng các yếu tố thống trị trong tâm thức của họ là thực tế của thể xác (mà quanh sự thoải mái, an toàn và chăm sóc của nó, mọi cuộc sống dường như được dệt nên) và thực tế của bản chất cảm dục hay cảm xúc. Không một ai trong số họ, hay trong số các đạo sinh huyền môn nói chung, chú ý đến thể dĩ thái, và có một sự gián đoạn hay khoảng cách lớn trong tâm thức ngày nay (chỉ là lần này là bình thường và đúng đắn) giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần. Khoảng cách này sẽ được bắc cầu bằng việc xây dựng antahkarana, và điều này chỉ có thể được xây dựng bởi các đạo sinh cao cấp. Không có cây cầu được hoạch định như vậy cho khoảng cách trong [140] tâm thức giữa thể xác và đối phần dĩ thái. Thể dĩ thái tồn tại trong vật chất dĩ thái tinh tế, và trên thực tế không có khoảng cách thực sự nào; chỉ đơn giản là việc nhân loại lờ đi một phương diện của thể xác vốn quan trọng hơn nhiều so với hiện thể vật lý đậm đặc. Tâm thức của con người ngày nay là vật lý-cảm dục, và yếu tố của các năng lượng định hình bị lờ đi, bỏ qua, và—từ góc độ tâm thức—là không tồn tại.

One of the main obligations of occult students today is to testify to the fact of the etheric body; modern science is already thus testifying because its researches have now landed it in the realm of energy. Electro-therapy, the growing recognition that man is electrical in nature, and the realisation that even the atom in apparently inanimate objects is a living vibrant entity substantiate this occult point of view. Generally speaking, science has preceded esotericism in its recognition of energy as a dominant factor in all form expression. Theosophists and others pride themselves on being ahead of human thinking, but such is not the case. H.P.B., an initiate of high standing, presented views ahead of science, but that does not apply to the exponents of the theosophical teaching. The fact of all manifested forms being forms of energy, and that the true human form is no exception, is the gift of science to humanity and not the gift of occultism. The demonstration that light and matter are synonymous terms is also a scientific conclusion. Esotericists have always known this, but their aggressive and foolish presentations of the truth have greatly handicapped the Hierarchy. Frequently the Masters have deplored the technique of the theosophists and other occult groups. When the new presentation of the occult teaching made its appearance through the inspired activity of H.P.B., a number (an increasing number as the years slipped by) of theosophical members presented the occult [141] teaching in such a manner that it travestied the true teaching and outraged the intellectual perception of the mass of enquiring and intelligent men. The teaching on the etheric body is an instance of this. H.P.B. was largely responsible, because of utilising the word “astral” to cover a mass of information anent the etheric as well as the astral. This was due to the realisation of the fact that the astral body was doomed in a few generations (relatively speaking) to disappear, and for H.P.B. in particular was already nonexistent, owing to the advanced point in evolution reached by this disciple.

Một trong những nghĩa vụ chính của các đạo sinh huyền môn ngày nay là làm chứng cho thực tế của thể dĩ thái; khoa học hiện đại đã làm chứng như vậy vì các nghiên cứu của nó giờ đây đã đưa nó vào lĩnh vực năng lượng. Liệu pháp điện, sự thừa nhận ngày càng tăng rằng con người có bản chất điện, và sự chứng nghiệm rằng ngay cả nguyên tử trong các vật thể dường như vô tri vô giác cũng là một thực thể sống động rung động, chứng minh cho quan điểm huyền môn này. Nói chung, khoa học đã đi trước khoa học nội môn trong việc công nhận năng lượng là một yếu tố thống trị trong mọi biểu lộ hình tướng. Các nhà Thông Thiên Học và những người khác tự hào về việc đi trước tư duy của con người, nhưng thực tế không phải như vậy. H.P.B., một điểm đạo đồ cấp cao, đã trình bày những quan điểm đi trước khoa học, nhưng điều đó không áp dụng cho những người giải thích giáo lý thông thiên học. Thực tế về việc mọi hình tướng biểu hiện đều là các hình thức của năng lượng, và rằng hình thể con người thực sự không phải là ngoại lệ, là món quà của khoa học dành cho nhân loại chứ không phải món quà của huyền bí học. Việc chứng minh rằng ánh sáng và vật chất là các thuật ngữ đồng nghĩa cũng là một kết luận khoa học. Các nhà bí truyền luôn biết điều này, nhưng những sự trình bày hùng hổ và ngu ngốc của họ về chân lý đã gây trở ngại lớn cho Thánh Đoàn. Thường thì các Chân sư đã than phiền về kỹ thuật của các nhà thông thiên học và các nhóm huyền môn khác. Khi sự trình bày mới về giáo lý huyền môn xuất hiện thông qua hoạt động đầy cảm hứng của H.P.B., một số lượng (số lượng ngày càng tăng khi những năm tháng trôi qua) các thành viên thông thiên học đã trình bày giáo lý [141] huyền môn theo cách khiến nó xuyên tạc giáo lý chân chính và xúc phạm nhận thức trí tuệ của đại chúng những người tìm hiểu và thông minh. Giáo lý về thể dĩ thái là một ví dụ về điều này. H.P.B. chịu trách nhiệm lớn, vì đã sử dụng từ “cảm dục” để bao hàm một khối lượng thông tin về dĩ thái cũng như cảm dục. Điều này là do sự chứng nghiệm thực tế rằng thể cảm dục đã bị định đoạt sẽ biến mất trong một vài thế hệ (nói một cách tương đối), và đối với riêng H.P.B. thì đã không tồn tại, do điểm tiến hóa cao mà đệ tử này đạt được.

Realising that the etheric body was an expression always of the dominant energy controlling mankind in any particular cycle, H.P.B. used the term “astral body” as interchangeable with the etheric body. The etheric body, in the vast majority of cases is the vehicle or the instrument of astral energy. The mass of men are still Atlantean or astral in their natures, and this means a far larger percentage than the average occultist is willing to admit. H.P.B. was, however, truthful and knew that at that time and for several hundred years afterwards (probably about three hundred years) the astral body would continue to govern the mass of human reactions and their consequent daily life expression. Hence the apparent confusion in the writings between these two “bodies.”

Nhận ra rằng thể dĩ thái luôn là một sự biểu lộ của năng lượng thống trị kiểm soát nhân loại trong bất kỳ chu kỳ cụ thể nào, H.P.B. đã sử dụng thuật ngữ “thể cảm dục” như là hoán đổi được với thể dĩ thái. Thể dĩ thái, trong đại đa số các trường hợp, là hiện thể hay công cụ của năng lượng cảm dục. Quần chúng nhân loại vẫn là người Atlantis hay thuộc về cảm dục trong bản chất của họ, và điều này có nghĩa là một tỷ lệ phần trăm lớn hơn nhiều so với mức mà nhà huyền bí học trung bình sẵn sàng thừa nhận. Tuy nhiên, H.P.B. là người trung thực và biết rằng vào thời điểm đó và trong vài trăm năm sau đó (có lẽ khoảng ba trăm năm), thể cảm dục sẽ tiếp tục chi phối phần lớn các phản ứng của con người và sự biểu lộ đời sống hàng ngày theo sau của họ. Do đó có sự nhầm lẫn rõ ràng trong các bài viết giữa hai “thể” này.

Here is a basic statement—one that is so basic that it governs and controls all thinking anent the etheric body:

Đây là một phát biểu cơ bản—một phát biểu cơ bản đến mức nó chi phối và kiểm soát mọi suy nghĩ về thể dĩ thái:

The etheric body is primarily composed of the dominant energy or energies to which the man, the group, the nation, or the world reacts in any particular time cycle or world period.

Thể dĩ thái chủ yếu được cấu tạo bởi năng lượng hoặc các năng lượng thống trị mà con người, nhóm, quốc gia, hoặc thế giới phản ứng lại trong bất kỳ chu kỳ thời gian hoặc giai đoạn thế giới cụ thể nào.

If you are to understand clearly, it is essential that I lay down certain propositions anent the etheric body which [142] should govern all the student’s thinking; if they do not, he will be approaching the truth from the wrong angle; this, modern science does not do. The limitation of modern science is its lack of vision; the hope of modern science is that it does recognise truth when proven. Truth in all circumstances is essential and in this matter science gives a desirable lead, even though it ignores and despises occultism. Occult scientists handicap themselves either because of their presentation of the truth or because of a false humility. Both are equally bad.

Nếu các bạn muốn hiểu rõ ràng, điều thiết yếu là tôi phải đặt ra một số mệnh đề về thể dĩ thái mà [142] nên chi phối mọi suy nghĩ của đạo sinh; nếu không, y sẽ tiếp cận chân lý từ một góc độ sai lầm; điều này, khoa học hiện đại không làm. Hạn chế của khoa học hiện đại là sự thiếu tầm nhìn của nó; hy vọng của khoa học hiện đại là nó công nhận chân lý khi được chứng minh. Chân lý trong mọi hoàn cảnh là thiết yếu và trong vấn đề này khoa học đưa ra một sự dẫn dắt đáng mong muốn, mặc dù nó phớt lờ và coi thường huyền bí học. Các nhà khoa học huyền môn tự gây trở ngại cho mình hoặc vì cách trình bày chân lý của họ hoặc vì một sự khiêm tốn giả tạo. Cả hai đều tệ như nhau.

There are six major propositions which govern all consideration of the etheric body, and I would like to present them to students as a first step:

Có sáu mệnh đề chính chi phối mọi sự xem xét về thể dĩ thái, và tôi muốn trình bày chúng cho các đạo sinh như một bước đầu tiên:

1. There is nothing in the manifested universe—solar, planetary or the various kingdoms in nature—which does not possess an energy form, subtle and intangible yet substantial, which controls, governs and conditions the outer physical body. This is the etheric body.

1. Không có gì trong vũ trụ biểu hiện—thái dương, hành tinh hay các giới khác nhau trong tự nhiên—mà không sở hữu một hình thể năng lượng, tinh tế và vô hình nhưng có thực chất, vốn kiểm soát, cai quản và định hình thể xác bên ngoài. Đây là thể dĩ thái.

2. This energy form—underlying the solar system, the planets and all forms within their specific rings-pass-not—is itself conditioned and governed by the dominant solar or planetary energy which ceaselessly and without break in time, creates it, changes and qualifies it. The etheric body is subject to ceaseless change. This, being true of the Macrocosm, is equally true of man, the microcosm, and—through the agency of humanity—will eventually and mysteriously prove true of all the subhuman kingdoms in nature. Of this, the animal kingdom and the vegetable kingdom are already evidences.

2. Hình thể năng lượng này—nằm bên dưới hệ mặt trời, các hành tinh và tất cả các hình tướng bên trong các vòng-giới-hạn cụ thể của chúng—bản thân nó chịu sự định hình và cai quản của năng lượng thái dương hoặc hành tinh thống trị vốn không ngừng và không gián đoạn trong thời gian, tạo ra nó, thay đổi và định tính nó. Thể dĩ thái chịu sự thay đổi không ngừng. Điều này, đúng với Đại thiên địa, cũng đúng như vậy đối với con người, tiểu thiên địa, và—thông qua tác động của nhân loại—cuối cùng và một cách bí ẩn sẽ chứng minh là đúng đối với tất cả các giới dưới nhân loại trong tự nhiên. Về điều này, giới động vật và giới thực vật đã là những bằng chứng.

3. The etheric body is composed of interlocking and circulating lines of force emanating from one or [143] other, or from one or many, of the seven planes or areas of consciousness of our planetary Life.

3. Thể dĩ thái được cấu tạo bởi các dòng lực đan kết và luân chuyển phát ra từ cõi này hoặc [143] cõi khác, hoặc từ một hay nhiều cõi, trong bảy cõi hay khu vực tâm thức của Sự Sống hành tinh chúng ta.

4. These lines of energy and this closely interlocking system of streams of force are related to seven focal points or centres to be found within the etheric body. These centres are related, each of them, to certain types of incoming energy. When the energy reaching the etheric body is not related to a particular centre, then that centre remains quiescent and unawakened; when it is related and the centre is sensitive to its impact, then that centre becomes vibrant and receptive and develops as a controlling factor in the life of the man on the physical plane.

4. Các dòng năng lượng này và hệ thống các luồng lực đan kết chặt chẽ này có liên quan đến bảy tiêu điểm hoặc trung tâm được tìm thấy bên trong thể dĩ thái. Các trung tâm này có liên quan, mỗi trung tâm, đến các loại năng lượng đi vào nhất định. Khi năng lượng đến thể dĩ thái không liên quan đến một trung tâm cụ thể, thì trung tâm đó vẫn yên tĩnh và chưa thức tỉnh; khi nó có liên quan và trung tâm nhạy cảm với tác động của nó, thì trung tâm đó trở nên rung động và tiếp nhận và phát triển như một yếu tố kiểm soát trong cuộc sống của con người trên cõi trần.

5. The dense physical body, composed of atoms—each with its own individual life, light and activity—is held together by and is expressive of the energies which compose the etheric body. These, as will be apparent, are of two natures:

5. Thể xác đậm đặc, bao gồm các nguyên tử—mỗi nguyên tử có sự sống, ánh sáng và hoạt động cá biệt của riêng nó—được giữ lại với nhau bởi và là biểu hiện của các năng lượng cấu thành thể dĩ thái. Các năng lượng này, như sẽ thấy rõ, có hai bản chất:

a. The energies which form (through interlocked “lines of forceful energy”) the underlying etheric body, as a whole and in relation to all physical forms. This form is qualified then by the general life and vitality of the plane on which the Dweller in the body functions, and therefore where his consciousness is normally focussed.

a. Các năng lượng hình thành (thông qua các “dòng năng lượng mạnh mẽ” đan kết) thể dĩ thái nằm bên dưới, như một tổng thể và trong mối liên hệ với tất cả các hình thể vật lý. Hình thể này sau đó được định tính bởi sự sống và sức sống *chung* của cõi mà Người Ngụ trong thể xác hoạt động trên đó, và do đó nơi tâm thức của y thường tập trung.

b. The particularised or specialised energies by which the individual (at this particular point in evolution, through the circumstances of his daily life and his heredity) chooses to govern his daily activities.

b. Các năng lượng được cá biệt hóa hoặc chuyên biệt hóa mà cá nhân (tại điểm tiến hóa cụ thể này, thông qua hoàn cảnh sống hàng ngày và di truyền của mình) *lựa chọn* để cai quản các hoạt động hàng ngày của mình.

6. The etheric body has many centres of force, responsive to the manifold energies of our planetary Life, but we shall consider only the seven major [144] centres which respond to the inflowing energies of the seven rays. All lesser centres are conditioned by the seven major centres; this is a point which students are apt to forget. It is here that knowledge of the egoic and of the personality rays is of prime usefulness.

6. Thể dĩ thái có nhiều trung tâm lực, đáp ứng với các năng lượng đa dạng của Sự Sống hành tinh chúng ta, nhưng chúng ta sẽ chỉ xem xét bảy trung tâm [144] chính đáp ứng với các năng lượng đang tuôn vào của bảy cung. Tất cả các trung tâm nhỏ hơn đều chịu sự định hình của bảy trung tâm chính; đây là một điểm mà các đạo sinh dễ quên. Chính ở đây mà kiến thức về các cung chân ngã và cung phàm ngã có ích lợi chủ yếu.

It can be seen, therefore, how exceedingly important this subject of energy becomes, because it controls and makes the man what he is at any given moment, and likewise indicates the plane on which he should function, and the method whereby he should govern his environment, circumstances and relationships. If this is grasped by him, it will enable him to realise that he will have to shift his whole attention from the physical or the astral planes on to the etheric levels of awareness; his objective will then be to determine what energy should control his daily expression (or energies, if he is an advanced disciple). He will realise also that as his attitude, attainment and comprehension shift to ever higher levels, his etheric body will be constantly changing and responding to the newer energies. These energies he will be will-fully bringing in; this is the right use of the word “will-full.”

Do đó, có thể thấy chủ đề năng lượng này trở nên cực kỳ quan trọng như thế nào, bởi vì nó kiểm soát và tạo nên con người như y đang là tại bất kỳ thời điểm nào, và cũng chỉ ra cõi mà trên đó y nên hoạt động, và phương pháp mà nhờ đó y nên cai quản môi trường, hoàn cảnh và các mối quan hệ của mình. Nếu điều này được y nắm bắt, nó sẽ cho phép y nhận ra rằng y sẽ phải chuyển toàn bộ sự chú ý của mình từ cõi trần hoặc cõi cảm dục sang các cấp độ nhận biết dĩ thái; mục tiêu của y sau đó sẽ là xác định năng lượng nào nên kiểm soát sự biểu lộ hàng ngày của mình (hoặc các năng lượng, nếu y là một đệ tử cao cấp). Y cũng sẽ nhận ra rằng khi thái độ, thành tựu và sự thấu hiểu của y chuyển sang các cấp độ cao hơn bao giờ hết, thể dĩ thái của y sẽ liên tục thay đổi và đáp ứng với các năng lượng mới hơn. Những năng lượng này y sẽ mang vào một cách *đầy ý chí*; đây là cách sử dụng đúng của từ “đầy ý chí”.

It is not easy for the average seer or clairvoyant to distinguish the etheric body from its environment or to isolate its particular type of energy or livingness, for the reason that its automaton, the physical body—being composed of vibrant energetic atoms—is itself in constant movement, and such movement involves a necessary radiation as a consequence; animal magnetism is an illustration of this radiation. This emanation from the dense physical body normally and naturally mingles with the energies of the etheric body, and thus only the trained seer can differentiate between the two, particularly within the physical body itself.

Không dễ dàng cho nhà thông nhãn hay người thấy trung bình phân biệt thể dĩ thái với môi trường của nó hoặc tách biệt loại năng lượng hay sức sống cụ thể của nó, vì lý do là bộ máy tự động của nó, thể xác—vốn bao gồm các nguyên tử năng lượng rung động—bản thân nó đang chuyển động liên tục, và chuyển động như vậy bao hàm một sự bức xạ tất yếu như một hệ quả; từ khí động vật là một minh họa cho sự bức xạ này. Sự phát xạ này từ thể xác đậm đặc thường và tự nhiên hòa lẫn với các năng lượng của thể dĩ thái, và do đó chỉ có nhà thông nhãn được huấn luyện mới có thể phân biệt giữa hai loại này, đặc biệt là bên trong chính thể xác.

[145]

[145]

From one point of view the etheric body can be looked at in two ways: first, as it interpenetrates, underlies and occupies the entire physical organism and, secondly, as it extends beyond the physical form and surrounds it like an aura. According to the point in evolution will be the extent of the area which the etheric body covers beyond the outside of the physical body. It may extend for a few or many inches. It is only in this area that the vital body can be studied with relative ease, once the emanatory activity of the physical atoms is offset or allowed for.

Từ một quan điểm, thể dĩ thái có thể được nhìn theo hai cách: thứ nhất, khi nó thâm nhập, nằm bên dưới và chiếm giữ toàn bộ cơ thể vật lý và, thứ hai, khi nó mở rộng ra bên ngoài hình thể vật lý và bao quanh nó như một hào quang. Tùy theo điểm tiến hóa sẽ là mức độ của khu vực mà thể dĩ thái bao phủ bên ngoài thể xác. Nó có thể mở rộng một vài hoặc nhiều inch. Chỉ trong khu vực này, thể sinh lực mới có thể được nghiên cứu tương đối dễ dàng, một khi hoạt động phát xạ của các nguyên tử vật lý được hóa giải hoặc được tính đến.

Within the physical body, the network of the etheric body is to be found permeating every single part. It is peculiarly associated at this time with the nervous system, which is fed, nourished, controlled and galvanised by its etheric counterpart. This counterpart is present in millions of tiny streams or lines of energy, to which the Eastern occultist has given the name “nadis.” These nadis are the carriers of energy. They are in fact the energy itself and carry the quality of energy from some area of consciousness in which the “dweller in the body” may happen to be focussed. This may be the astral plane or the planes of the Spiritual Triad, for none of the energies can control the physical body from any plane, no matter how high, except in this manner. According to the focus of the consciousness, the psychic state of awareness, the potency of aspiration or desire, and the point in evolution or the spiritual status, so will be the type of energy carried by the nadis, passing from them to the outer nervous system. This general proposition must be accepted, for the whole subject is as yet too intricate, and the mechanism of observation of the student too undeveloped, for me to enter into greater detail. This will suffice as an initial hypothesis upon which to work.

Bên trong thể xác, mạng lưới của thể dĩ thái được tìm thấy thẩm thấu mọi bộ phận. Vào lúc này, nó đặc biệt liên kết với hệ thần kinh, vốn được nuôi dưỡng, bồi bổ, kiểm soát và kích hoạt bởi đối phần dĩ thái của nó. Đối phần này hiện diện trong hàng triệu dòng hoặc tuyến năng lượng nhỏ li ti, mà nhà huyền bí học phương Đông đã đặt tên là “các nadi”. Các nadi này là những vật mang năng lượng. Thực tế chúng chính là năng lượng và mang phẩm tính của năng lượng từ một khu vực tâm thức nào đó mà “người ngụ trong thể xác” có thể tình cờ tập trung tại đó. Đây có thể là cõi cảm dục hoặc các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần, vì không có năng lượng nào có thể kiểm soát thể xác từ bất kỳ cõi nào, dù cao đến đâu, ngoại trừ theo cách này. Tùy theo tiêu điểm của tâm thức, trạng thái nhận biết thông linh, tiềm năng của khát vọng hay dục vọng, và điểm tiến hóa hay địa vị tinh thần, sẽ là loại năng lượng được mang bởi các nadi, đi từ chúng đến hệ thần kinh bên ngoài. Mệnh đề chung này phải được chấp nhận, vì toàn bộ chủ đề vẫn còn quá phức tạp, và cơ chế quan sát của đạo sinh còn quá kém phát triển, để tôi có thể đi vào chi tiết hơn. Điều này sẽ đủ như một giả thuyết ban đầu để dựa vào đó mà làm việc.

The amount of energy and the type of energy controlling any aspect of the nervous system is conditioned by the centre [146] in its immediate area. A centre is a distributing agency, in the last analysis. Even though that energy will affect the entire body, the centre most responsive to the quality and type will potently affect the nadis, and therefore the nerves, in its immediate environment.

Lượng năng lượng và loại năng lượng kiểm soát bất kỳ khía cạnh nào của hệ thần kinh đều chịu sự định hình của trung tâm [146] trong khu vực trực tiếp của nó. Xét cho cùng, một trung tâm là một cơ quan phân phối. Mặc dù năng lượng đó sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể, trung tâm đáp ứng nhanh nhạy nhất với phẩm tính và loại hình sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nadi, và do đó đến các dây thần kinh, trong môi trường trực tiếp của nó.

It must always be remembered that the seven centres are not within the dense physical body. They exist only in etheric matter and in the etheric so-called aura, outside the physical body. They are closely related to the dense physical body by the network of nadis. Five of the centres are to be found in the etheric counterpart of the spinal column, and the energy passes (through large and responsive nadis) through the vertebrae of the spine and circulates then throughout the etheric body as it is interiorly active within the physical vehicle. The three head centres exist, one just above the top of the head, another just in front of the eyes and forehead, and the third at the back of the head, just above where the spinal column ends. This makes eight centres but is in reality seven, as the centre at the back of the head is not counted in the initiation process, any more than is the spleen.

Luôn phải nhớ rằng bảy trung tâm *không* nằm trong thể xác đậm đặc. Chúng *chỉ* tồn tại trong vật chất dĩ thái và trong cái gọi là hào quang dĩ thái, bên ngoài thể xác. Chúng liên quan chặt chẽ với thể xác đậm đặc bằng mạng lưới các nadi. Năm trong số các trung tâm được tìm thấy trong đối phần dĩ thái của cột sống, và năng lượng đi qua (thông qua các nadi lớn và nhạy bén) qua các đốt sống và sau đó lưu chuyển khắp thể dĩ thái khi nó hoạt động bên trong hiện thể vật lý. Ba trung tâm đầu tồn tại, một ở ngay trên đỉnh đầu, một ở ngay trước mắt và trán, và trung tâm thứ ba ở phía sau đầu, ngay phía trên nơi cột sống kết thúc. Điều này tạo thành tám trung tâm nhưng thực tế là bảy, vì trung tâm ở phía sau đầu không được tính trong quá trình điểm đạo, cũng như lá lách vậy.

The powerful effect of the inflow of energy, via the energy body, has itself automatically created these centres or these reservoirs of force, these focal points of energy, which the spiritual man must learn to use and through the means of which he can direct energy where needed. Each of these seven centres has appeared in the course of human evolution in response to energy from one or other, or from several, of the seven rays. The impact of these rays upon the etheric body, emanating as they do periodically and ceaselessly from the seven rays, is so potent that the seven areas in the etheric body become more highly sensitised than the rest of the vehicle, and these in due time develop into responsive distributing centres. The effect of these seven centres upon the physical body in due time produces a condensation or a [147] state of what is called “attracted response” from dense matter, and thus the seven major sets of endocrine glands slowly came into functioning activity. It must here be remembered that the whole development of the etheric body falls into two historical stages:

Hiệu quả mạnh mẽ của dòng năng lượng tuôn vào, thông qua thể năng lượng, đã tự động tạo ra các trung tâm này hay các hồ chứa lực này, các tiêu điểm năng lượng này, mà con người tinh thần phải học cách sử dụng và thông qua đó y có thể hướng năng lượng đến nơi cần thiết. Mỗi một trong bảy trung tâm này đã xuất hiện trong quá trình tiến hóa của con người để đáp ứng với năng lượng từ cung này hoặc cung khác, hoặc từ một số trong bảy cung. Tác động của các cung này lên thể dĩ thái, phát ra một cách định kỳ và không ngừng từ bảy cung, mạnh đến mức bảy khu vực trong thể dĩ thái trở nên nhạy cảm hơn phần còn lại của hiện thể, và đến đúng thời điểm, những khu vực này phát triển thành các trung tâm phân phối nhạy bén. Hiệu quả của bảy trung tâm này lên thể xác đến đúng thời điểm tạo ra một sự cô đặc hoặc một [147] trạng thái được gọi là “đáp ứng thu hút” từ vật chất đậm đặc, và do đó bảy bộ tuyến nội tiết chính dần dần đi vào hoạt động chức năng. Ở đây phải nhớ rằng toàn bộ sự phát triển của thể dĩ thái rơi vào hai giai đoạn lịch sử:

1. That in which the etheric energy, flowing through responsive centres and creating the endocrine glands as a consequence, gradually began to have a definite effect upon the blood stream; the energy worked through that medium solely for a very long time. This still remains true, for the life aspect of energy animates the blood, through the medium of the centres and their agents, the glands. Hence the words in the Bible that “the blood is the life.”

1. Giai đoạn trong đó năng lượng dĩ thái, tuôn chảy qua các trung tâm nhạy bén và tạo ra các tuyến nội tiết như một hệ quả, dần dần bắt đầu có tác động rõ rệt lên dòng máu; năng lượng hoạt động qua môi trường đó duy nhất trong một thời gian rất dài. Điều này vẫn còn đúng, vì phương diện sự sống của năng lượng làm sinh động máu, thông qua môi trường của các trung tâm và các tác nhân của chúng, các tuyến. Do đó có những lời trong Kinh Thánh rằng “máu là sự sống”.

2. As the race of men developed, and consciousness grew greater and certain great expansions took place, the centres began to extend their usefulness and to use the nadis, and thus to work upon and through the nervous system; this produced conscious and planned activity upon the physical plane, commensurate to the man’s place in evolution.

2. Khi giống dân của con người phát triển, và tâm thức phát triển lớn hơn và những sự mở rộng lớn lao nào đó diễn ra, các trung tâm bắt đầu mở rộng sự hữu ích của chúng và sử dụng các nadi, và do đó tác động lên và thông qua hệ thần kinh; điều này tạo ra hoạt động có ý thức và có kế hoạch trên cõi trần, tương xứng với vị trí của con người trong quá trình tiến hóa.

Thus the incoming energy forming the etheric body created a needed etheric mechanism with its corresponding dense physical counterparts; it therefore, as will be noted from its relationship to the blood via the glands, and to the nervous system via the nadis (both through the medium of the seven centres), became the transmitter of two aspects of energy: one of which was kama-manasic (desire-lower mind) and the other atmic-buddhic (spiritual will—spiritual love) in the case of advanced humanity. Herein lies full opportunity for all, as the Law of Evolution proceeds to dominate all manifestation. What is true of the Macrocosm is true also of the microcosm. [148]

Như vậy năng lượng đi vào hình thành nên thể dĩ thái đã tạo ra một cơ chế dĩ thái cần thiết với các đối phần vật lý đậm đặc tương ứng của nó; do đó, như sẽ được lưu ý từ mối quan hệ của nó với máu thông qua các tuyến, và với hệ thần kinh thông qua các nadi (cả hai đều thông qua môi trường của bảy trung tâm), nó trở thành bộ phát của hai phương diện năng lượng: một là trí-cảm (dục vọng-hạ trí) và cái kia là atma-bồ đề (ý chí tinh thần—tình thương tinh thần) trong trường hợp của nhân loại tiến hóa cao. Ở đây nằm cơ hội trọn vẹn cho tất cả, khi Định luật Tiến hóa tiến hành thống trị mọi biểu hiện. Những gì đúng với Đại thiên địa cũng đúng với tiểu thiên địa. [148]

II. THE BASIS OF NON-SEPARATENESS—II. CƠ SỞ CỦA TÍNH KHÔNG CHIA RẼ

The use of the creative imagination is of value here. It may not give a true picture on all points, but it will convey one great reality. The reality to which I refer is that there is no possible separateness in our manifested planetary life—or elsewhere for that matter, even beyond our planetary ring-pass-not. The concept of separateness, of individual isolation, is an illusion of the unillumined human mind. Everything—every form, every organism within all forms, all aspects of manifested life in every kingdom in nature—is intimately related each to each through the planetary etheric body (of which all etheric bodies are integral parts) which substands all that is. Little as it may mean, and useless as it may appear, the table at which you write, the flower you hold in your hand, the horse on which you ride, the man to whom you talk, are sharing with you the vast circulatory life of the planet as it streams into, through and out of every aspect of the form nature. The only differences which exist are those in consciousness, and peculiarly so in the consciousness of man and of the Black Lodge. There is only the ONE LIFE, pouring through the mass of forms which, in their sum total, constitute our planet—as we know it.

Việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo có giá trị ở đây. Nó có thể không đưa ra một bức tranh chân thực về mọi điểm, nhưng nó sẽ chuyển tải một thực tại lớn lao. Thực tại mà tôi đề cập đến là không có sự chia rẽ khả dĩ nào trong sự sống hành tinh biểu hiện của chúng ta—hoặc ở nơi nào khác về vấn đề đó, ngay cả bên ngoài vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta. Khái niệm về sự chia rẽ, về sự cô lập cá nhân, là một ảo tưởng của thể trí con người chưa được soi sáng. Mọi thứ—mọi hình tướng, mọi sinh vật bên trong tất cả các hình tướng, mọi phương diện của sự sống biểu hiện trong mọi giới trong tự nhiên—đều liên quan mật thiết với nhau thông qua thể dĩ thái hành tinh (mà tất cả các thể dĩ thái là những phần không thể tách rời) vốn làm nền tảng cho tất cả những gì đang hiện hữu. Dù nó có thể có ít ý nghĩa, và dù nó có vẻ vô ích, cái bàn nơi bạn viết, bông hoa bạn cầm trên tay, con ngựa bạn cưỡi, người mà bạn nói chuyện, đang chia sẻ với bạn sự sống luân chuyển rộng lớn của hành tinh khi nó tuôn chảy vào, qua và ra khỏi mọi phương diện của bản chất hình tướng. Những sự khác biệt duy nhất tồn tại là những khác biệt trong tâm thức, và đặc biệt là trong tâm thức của con người và của Hắc đoàn. Chỉ có SỰ SỐNG DUY NHẤT, tuôn chảy qua khối lượng các hình tướng mà, trong tổng thể của chúng, cấu thành hành tinh của chúng ta—như chúng ta biết về nó.

All forms are related, inter-related and interdependent; the planetary etheric body holds them together so that a cohesive, coherent, expressive Whole is presented to the eye of man, or one great unfolding consciousness to the perception of the Hierarchy. Lines of light pass from form to form. Some are bright and some are dim; some move or circulate with rapidity, others are lethargic and slow in their [149] interplay; some seem to circulate with facility in some particular kingdom in nature and some in another; some come from one direction and some from a different one, but all are in movement all the time; it is a constant circulation. All are passing on and into and through, and there is not one single atom in the body which is not the recipient of this living, moving energy; there is no single form that is not “kept in shape and livingness” by this determined inflow and outflow, and there is therefore no part of the body of manifestation (which is an integral part of the planetary vehicle of the Lord of the World) which is not in complex but complete touch with HIS divine intention—through the medium of HIS three major centres: Shamballa, the Hierarchy, and Humanity. In the multiplicity of the forms of which His great composite vehicle is composed, there is no need for Him to be in conscious touch. It is, however, possible, should He so desire it, but it would profit Him not, any more than it would profit you to be in conscious touch with some atom in some organ of your physical body. He works, however, through His three major centres: Shamballa, the planetary head centre; the Hierarchy, the planetary heart centre; and Humanity, the planetary throat centre. The play of the energies elsewhere (controlled from these three centres) is automatic. The objective of the circulating energies—as it appears to us when we seek to penetrate divine purpose—is to vivify all parts of His body, with the view of promoting the unfoldment of consciousness therein.

Tất cả các hình tướng đều liên quan, tương quan và phụ thuộc lẫn nhau; thể dĩ thái hành tinh giữ chúng lại với nhau để một Tổng Thể kết dính, mạch lạc, đầy biểu cảm được trình bày trước mắt con người, hoặc một tâm thức đang mở ra vĩ đại đối với nhận thức của Thánh Đoàn. Những dòng ánh sáng đi từ hình tướng này sang hình tướng khác. Một số sáng và một số mờ; một số di chuyển hoặc lưu chuyển nhanh chóng, những cái khác thì lờ đờ và chậm chạp trong [149] sự tác động qua lại của chúng; một số dường như lưu chuyển dễ dàng trong một giới cụ thể nào đó trong tự nhiên và một số trong giới khác; một số đến từ một hướng và một số từ một hướng khác, nhưng tất cả đều chuyển động mọi lúc; đó là một sự luân chuyển liên tục. Tất cả đều đang đi tiếp và đi vào và đi qua, và không có một nguyên tử đơn lẻ nào trong cơ thể không phải là người nhận lãnh năng lượng sống động, chuyển động này; không có hình tướng đơn lẻ nào không được “giữ trong hình dáng và sự sống động” bởi dòng tuôn vào và tuôn ra kiên quyết này, và do đó không có phần nào của cơ thể biểu hiện (vốn là một phần thiết yếu của hiện thể hành tinh của Đức Chúa Tể Thế Giới) không có sự tiếp xúc phức tạp nhưng hoàn toàn với ý định thiêng liêng của NGÀI—thông qua môi trường của ba trung tâm chính của NGÀI: Shamballa, Thánh Đoàn, và Nhân loại. Trong sự đa dạng của các hình tướng mà hiện thể hỗn hợp vĩ đại của Ngài được cấu thành, Ngài không cần phải tiếp xúc một cách có ý thức. Tuy nhiên, điều đó là có thể, nếu Ngài muốn như vậy, nhưng điều đó sẽ không mang lại lợi ích cho Ngài, cũng như việc bạn tiếp xúc một cách có ý thức với một nguyên tử nào đó trong một cơ quan nào đó của thể xác bạn sẽ không mang lại lợi ích cho bạn. Tuy nhiên, Ngài làm việc thông qua ba trung tâm chính của Ngài: Shamballa, trung tâm đầu hành tinh; Thánh Đoàn, trung tâm tim hành tinh; và Nhân loại, trung tâm cổ họng hành tinh. Sự hoạt động của các năng lượng ở nơi khác (được kiểm soát từ ba trung tâm này) là tự động. Mục tiêu của các năng lượng luân chuyển—như nó xuất hiện với chúng ta khi chúng ta tìm cách thâm nhập vào thiên ý—là làm sinh động tất cả các bộ phận trong cơ thể của Ngài, với mục đích thúc đẩy sự mở rộng tâm thức trong đó.

This is basically true from the angle of Shamballa “where the Will of God is known”; it is partially true of those Members of the Hierarchy Who sense the Purpose and formulate the Plan and then present it in an understandable form to the lesser initiates and disciples and aspirants. These two groups work entirely on the consciousness side, which motivates and directs (as needed) the moving, [150] circulating energies. This is not true of the bulk of humanity, who are conscious but only conscious within their ring-pass-not, and are therefore fundamentally separated off by their emphasis upon form as it exists in the three worlds—the dense physical levels of the cosmic physical plane. On the lowest of these levels, the outer physical form reacts and responds to the circulating energies through the medium of the etheric energy which comes from the lowest of the four levels of the etheric plane.

Điều này về cơ bản là đúng từ góc độ của Shamballa “nơi biết được Ý chí của Thượng đế”; nó đúng một phần đối với những Thành viên của Thánh Đoàn, Những Vị cảm nhận được Thiên Ý và hình thành Thiên Cơ và sau đó trình bày nó dưới một hình thức dễ hiểu cho các điểm đạo đồ thấp hơn và các đệ tử và người chí nguyện. Hai nhóm này làm việc hoàn toàn ở khía cạnh tâm thức, vốn thúc đẩy và chỉ đạo (khi cần thiết) các năng lượng đang di chuyển, [150] luân chuyển. Điều này không đúng với đại đa số nhân loại, những người có ý thức nhưng chỉ có ý thức bên trong vòng-giới-hạn của họ, và do đó về cơ bản bị tách biệt bởi sự nhấn mạnh của họ vào hình tướng khi nó tồn tại trong ba cõi—các cấp độ vật lý đậm đặc của cõi trần vũ trụ. Trên cấp độ thấp nhất của các cấp độ này, hình tướng vật lý bên ngoài phản ứng và đáp ứng với các năng lượng luân chuyển thông qua môi trường của năng lượng dĩ thái đến từ cấp độ thấp nhất trong bốn cấp độ của cõi dĩ thái.

Gradually the consciousness within these forms reacts to the nature of the outer vehicle as it is impulsed from etheric levels, and a profoundly significant development takes place. This development—to make a wide generalisation—falls into three categories:

Dần dần tâm thức bên trong các hình tướng này phản ứng với bản chất của hiện thể bên ngoài khi nó được thôi thúc từ các cấp độ dĩ thái, và một sự phát triển vô cùng quan trọng diễn ra. Sự phát triển này—để đưa ra một khái quát rộng rãi—rơi vào ba loại:

1. The outer form changes under the impact of the etheric energies entering in, passing through and disappearing from (ceaselessly aeon after aeon) the form. The energy that is there one minute is gone the next.

1. Hình tướng bên ngoài thay đổi dưới tác động của các năng lượng dĩ thái đi vào, đi qua và biến mất khỏi (không ngừng nghỉ thời đại này sang thời đại khác) hình tướng. Năng lượng ở đó phút này thì phút sau đã đi mất.

2. This ceaseless play of energy varies in time and space, and moves lethargically, rapidly or rhythmically according to the type or nature of the form through which it is at any moment passing.

2. Sự hoạt động không ngừng của năng lượng này thay đổi trong không gian và thời gian, và di chuyển lờ đờ, nhanh chóng hoặc nhịp nhàng tùy theo loại hoặc bản chất của hình tướng mà qua đó nó đang đi qua vào bất kỳ thời điểm nào.

3. The energy of the etheric plane changes considerably as the aeons pass away, according to the direction or the source from which it comes. The directing energy alters significantly as evolution proceeds.

3. Năng lượng của cõi dĩ thái thay đổi đáng kể khi các thời đại trôi qua, tùy theo hướng hoặc nguồn mà nó đến. Năng lượng chỉ đạo thay đổi đáng kể khi sự tiến hóa tiếp diễn.

Students have been apt to speak simply of the etheric body as an entire integral entity and as constituted solely of etheric substance, forgetting that the etheric body is the medium for the transfer of many types of energy. They forget the following facts: [151]

Các đạo sinh đã có khuynh hướng nói đơn giản về thể dĩ thái như một thực thể trọn vẹn và được cấu thành duy nhất bởi chất liệu dĩ thái, quên rằng thể dĩ thái là môi trường cho sự chuyển dịch của nhiều loại năng lượng. Họ quên các thực tế sau: [151]

1. That the etheric body is itself composed of four types of substance, each of which is definitely specialised and found on one or other of the etheric levels.

1. Rằng bản thân thể dĩ thái được cấu tạo bởi bốn loại chất liệu, mỗi loại được chuyên biệt hóa một cách xác định và được tìm thấy trên cấp độ dĩ thái này hoặc cấp độ dĩ thái khác.

2. That these substances, functioning actively in any particular etheric body, create a network of channels; they produce fine tubes (if I may use so inappropriate a word) which take the general form of the dense material or tangible form with which they may be associated. This form underlies every part of the physical body and can be seen extending for a certain distance outside of the recognisable form. This etheric body is not in reality an ovoid (as the older occult books teach) but usually takes the form or general outline of the physical vehicle with which it is associated. When, however, the head centre is awakened and functioning, then the ovoid appearance is far more frequent.

2. Rằng các chất liệu này, hoạt động tích cực trong bất kỳ thể dĩ thái cụ thể nào, tạo ra một mạng lưới các kênh; chúng tạo ra các ống nhỏ (nếu tôi có thể dùng một từ không thích hợp như vậy) mang hình dạng chung của hình tướng vật chất đậm đặc hoặc hữu hình mà chúng có thể liên kết. Hình tướng này nằm bên dưới mọi bộ phận của thể xác và có thể được nhìn thấy mở rộng ra một khoảng cách nhất định bên ngoài hình tướng có thể nhận biết được. Thể dĩ thái này thực tế không phải là một hình trứng (như các sách huyền môn cũ dạy) mà thường mang hình dạng hoặc đường nét chung của hiện thể vật lý mà nó liên kết. Tuy nhiên, khi trung tâm đầu được thức tỉnh và hoạt động, thì hình dáng quả trứng thường xuyên hơn nhiều.

3. These channels or tubes—according to the type of energy they carry—pass to certain areas of the body, via three main stations:

3. Các kênh hoặc ống này—tùy theo loại năng lượng chúng mang—đi đến các khu vực nhất định của cơ thể, thông qua ba trạm chính:

a. The seven major centres, of which you have heard much.

a. Bảy trung tâm chính, mà các bạn đã nghe nói nhiều.

b. The twenty-one minor centres, which I outlined for you earlier. (A Treatise on the Seven Rays, Volume IV, pp 72-73)

b. Hai mươi mốt trung tâm phụ, mà tôi đã phác thảo cho các bạn trước đó. (Luận về Bảy Cung, Tập IV, tr 72-73)

c. The forty-nine focal points, scattered all over the body.

c. Bốn mươi chín tiêu điểm, nằm rải rác khắp cơ thể.

4. All these centres and focal points for the transmission of energy are connected each with each by larger channels than the mass of channels which constitute the etheric body as a whole, because many lesser channels and lines of force or energy merge and blend as they near a centre or a focal point. [152]

4. Tất cả các trung tâm và tiêu điểm này cho việc truyền năng lượng được kết nối với nhau bằng các kênh lớn hơn những kênh thuộc tập hợp kênh cấu thành thể dĩ thái như một tổng thể, bởi vì nhiều kênh và dòng lực hoặc năng lượng nhỏ hơn hợp nhất và hòa trộn khi chúng đến gần một trung tâm hoặc một tiêu điểm. [152]

5. The mass of the smaller channels or the channelling tubes of energy eventually create in all forms that layer of corresponding nerves which are not yet recognised by medical science but which are like an intermediary web or network. These relate the etheric body as a whole to the entire two-fold nervous system (cerebro-spinal and the sympathetic nervous systems) which science does recognise. It is this system underlying the nerves which is the true response apparatus and which—via the brain—telegraphs information to the mind or, via the brain and the mind, keeps the soul informed. It is this system of nadis which is used in full consciousness by the initiate who has related the Spiritual Triad and the soul-infused personality, and has therefore seen the soul-body, the causal body or the egoic lotus totally disappear, being no longer of any true importance. There is a peculiar and at present inexplicable relation between this system of nadis and the antahkarana when it is in process of creation or is created.

5. Khối lượng các kênh nhỏ hơn hoặc các ống dẫn năng lượng cuối cùng tạo ra trong tất cả các hình tướng lớp dây thần kinh tương ứng chưa được y học công nhận nhưng giống như một mạng lưới trung gian. Những dây thần kinh này liên kết thể dĩ thái như một tổng thể với toàn bộ hệ thống thần kinh kép (hệ thần kinh não-tủy và hệ thần kinh giao cảm) mà khoa học có công nhận. Chính hệ thống nằm bên dưới các dây thần kinh này là bộ máy đáp ứng thực sự và—thông qua bộ não—truyền tin tức đến thể trí hoặc, thông qua bộ não và thể trí, giữ cho linh hồn được thông báo. Chính hệ thống các nadi này được sử dụng trong tâm thức trọn vẹn bởi điểm đạo đồ đã liên kết Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, và do đó đã thấy thể linh hồn, thể nguyên nhân hay hoa sen chân ngã hoàn toàn biến mất, không còn quan trọng thực sự nữa. Có một mối quan hệ đặc biệt và hiện tại chưa thể giải thích được giữa hệ thống các nadi này và antahkarana khi nó đang trong quá trình tạo lập hoặc đã được tạo lập.

6. The physical body, therefore, like so much else in nature, is itself triple in design. There is:

6. Do đó, thể xác, giống như nhiều thứ khác trong tự nhiên, bản thân nó là tam phân trong thiết kế. Có:

a. The etheric body.

a. Thể dĩ thái.

b. The substantial nadis.

b. Các nadi có thực chất.

c. The dense physical body.

c. Thể xác đậm đặc.

These form one unit and in incarnation are inseparable.

Những thứ này hình thành một đơn vị và trong lúc lâm phàm là không thể tách rời.

7. The centres in their totality and the many focal points of contact found in the etheric body are responsible for the creation and preservation of the endocrine glandular system in a form either limited and inadequate, or representative of the spiritual man and entirely adequate. The nadis, in their turn, [153] are responsible for the creation and precipitation of the twofold nervous system. This is a point most carefully to be borne in mind and is the clue to the problem of creativity.

7. Các trung tâm trong tổng thể của chúng và nhiều tiêu điểm tiếp xúc được tìm thấy trong thể dĩ thái chịu trách nhiệm cho việc tạo ra và bảo tồn hệ thống tuyến nội tiết trong một hình thức hoặc là hạn chế và không đầy đủ, hoặc là đại diện cho con người tinh thần và hoàn toàn đầy đủ. Các nadi, đến lượt chúng, [153] chịu trách nhiệm cho việc tạo ra và ngưng tụ hệ thống thần kinh kép. Đây là một điểm cần phải ghi nhớ cẩn thận nhất và là manh mối cho vấn đề sáng tạo.

8. The type of the etheric substance “substanding” any form is dependent upon two factors:

8. Loại chất liệu dĩ thái “làm nền tảng” cho bất kỳ hình tướng nào phụ thuộc vào hai yếu tố:

a. The kingdom of nature concerned. Basically the four kingdoms draw their pranic life each from one or other of the four levels of etheric substance, counting upwards from the lowest:

a. Giới tự nhiên có liên quan. Về cơ bản, bốn giới rút lấy sự sống prana của chúng mỗi giới từ cấp độ này hoặc cấp độ khác trong bốn cấp độ của chất liệu dĩ thái, tính từ dưới lên:

1. The mineral kingdom is sustained from plane 1.

1. Giới kim thạch được duy trì từ cõi 1.

2. The vegetable kingdom is sustained from plane 2.

2. Giới thực vật được duy trì từ cõi 2.

3. The animal kingdom is sustained from plane 3.

3. Giới động vật được duy trì từ cõi 3.

4. The human kingdom is sustained from plane 4.

4. Giới nhân loại được duy trì từ cõi 4.

That was the original condition; but as evolution proceeded and there was an inter-acting emanation established between all the kingdoms, this automatically changed. It was this “esoteric emanating change” which, aeons ago, produced animal-man. I give this as an illustration and a key to a great mystery.

Đó là điều kiện ban đầu; nhưng khi sự tiến hóa tiếp diễn và có một sự phát xạ tương tác được thiết lập giữa tất cả các giới, điều này tự động thay đổi. Chính “sự thay đổi phát xạ huyền môn” này, từ nhiều thời đại xa xưa, đã tạo ra người-thú. Tôi đưa ra điều này như một minh họa và một chìa khóa cho một bí nhiệm lớn.

b. Curiously enough, in the human kingdom (and only in the human kingdom) the etheric body is now composed of all four types of etheric substance. The reason for this is that eventually (when mankind is spiritually developed) each of these four planes or types of etheric substance will be responsive to the [154] four higher levels of the cosmic physical plane—the etheric levels, to which we give the names: the logoic level, the monadic, the atmic level and the buddhic. This will happen as a result of conscious growth and initiation.

b. Khá kỳ lạ, trong giới nhân loại (và chỉ trong giới nhân loại) thể dĩ thái hiện nay được cấu tạo bởi cả bốn loại chất liệu dĩ thái. Lý do cho điều này là cuối cùng (khi nhân loại phát triển về mặt tinh thần) mỗi một trong bốn cõi hay bốn loại chất liệu dĩ thái này sẽ đáp ứng với [154] bốn cấp độ cao hơn của cõi trần vũ trụ—các cấp độ dĩ thái, mà chúng ta đặt tên là: cấp độ thượng đế, cấp độ chân thần, cấp độ atma và cấp độ bồ đề. Điều này sẽ xảy ra như một kết quả của sự tăng trưởng và điểm đạo *có ý thức*.

9. It must also be remembered that the substance of which these etheric channels or channelling tubes are composed is planetary prana, the life-giving, health-giving energy of the planet itself. Through these tubes, however, may flow all or any of the possible energies—emotional, mental, egoic, manasic, buddhic or atmic, according to the point in evolution which the man concerned has reached. This always means that several energies are pouring through these tubes, unless the point in evolution is exceedingly low or unless one is dealing with a cleavage; these various energies are fused and blended together but find their own focal points in the etheric body when entering directly within the circumference of the dense physical body. Just as it can be said of the soul or of the Deity, so it can be said of the energetic or vital etheric body or entity: “Having pervaded this whole universe with a fragment of myself, I remain.”

9. Cũng phải nhớ rằng chất liệu cấu thành các kênh dĩ thái hay các ống dẫn này là prana hành tinh, năng lượng ban sự sống, ban sức khỏe của chính hành tinh. Tuy nhiên, qua các ống này, tất cả hoặc bất kỳ năng lượng khả dĩ nào cũng có thể chảy qua—cảm xúc, trí tuệ, chân ngã, manas, bồ đề hoặc atma, tùy theo điểm tiến hóa mà con người liên quan đã đạt tới. Điều này luôn có nghĩa là một vài năng lượng đang tuôn chảy qua các ống này, trừ khi điểm tiến hóa cực kỳ thấp hoặc trừ khi người ta đang đối phó với một sự chia rẽ; các năng lượng khác nhau này được dung hợp và hòa quyện với nhau nhưng tìm thấy các tiêu điểm riêng của chúng trong thể dĩ thái khi đi trực tiếp vào chu vi của thể xác đậm đặc. Cũng giống như có thể nói về linh hồn hay về Thượng đế, thì cũng có thể nói về thể dĩ thái hay thực thể đầy năng lượng hoặc sinh lực: “Sau khi thâm nhập toàn bộ vũ trụ này bằng một mảnh của chính mình, ta vẫn tồn tại.”

The word “prana” is almost as much misunderstood as are the words “etheric” or “astral.” It is this loose connotation which is responsible for the great ignorance prevalent in occult circles.

Từ “prana” hầu như bị hiểu lầm nhiều như các từ “dĩ thái” hay “cảm dục”. Chính ý nghĩa lỏng lẻo này chịu trách nhiệm cho sự vô minh lớn đang thịnh hành trong các giới huyền môn.

Prana might be defined as the life-essence of every plane in the sevenfold area which we call the cosmic physical plane. It is the LIFE of the planetary Logos, reduced within limits, animating, vivifying and correlating all the seven [155] planes (in reality the seven subplanes of the cosmic physical plane) and all that is to be found within and upon them. The cosmic sutratma or life-thread of the planetary Logos enters His manifestation on the highest of our planes (the logoic plane) and, through the instrumentality of the informing Lives to be found in Shamballa (which, I must remind you, is not the name of a locality) is brought into contact with, or is related to, the matter of which the manifested worlds are made—formless, as on the cosmic etheric planes (our highest four planes), or tangible and objective, as on the lower three planes. The fact that we call only that tangible which we can see or touch and contact through the medium of the five senses is entirely wrong. All is regarded as belonging to the world of form which is found on the physical plane, the astral plane and the levels of the lower mind. This lower mental plane, referred to above, includes the level on which the causal body is found—the plane in which “the lotus of love is floating,” as the Old Commentary puts it. All that lies above that on mental levels, and on up to the highest of the cosmic physical planes, is formless. These distinctions must be most carefully borne in mind.

Prana có thể được định nghĩa là tinh chất sự sống của mọi cõi trong khu vực thất phân mà chúng ta gọi là cõi trần vũ trụ. Nó là SỰ SỐNG của Hành Tinh Thượng Đế, được giảm thiểu trong các giới hạn, làm sinh động, tiếp sinh lực và liên kết tất cả bảy [155] cõi (thực tế là bảy cõi phụ của cõi trần vũ trụ) và tất cả những gì được tìm thấy bên trong và trên chúng. Sutratma vũ trụ hay sợi dây sự sống của Hành Tinh Thượng Đế đi vào sự biểu hiện của Ngài trên cõi cao nhất trong các cõi của chúng ta (cõi thượng đế) và, thông qua phương tiện của các Sự Sống thấm nhuần được tìm thấy trong Shamballa (mà tôi phải nhắc nhở các bạn, *không* phải là tên của một địa phương) được đưa vào tiếp xúc với, hoặc được liên hệ với, vật chất mà các thế giới biểu hiện được tạo ra—vô sắc tướng, như trên các cõi dĩ thái vũ trụ (bốn cõi cao nhất của chúng ta), hoặc hữu hình và khách quan, như trên ba cõi thấp hơn. Việc chúng ta chỉ gọi cái hữu hình là cái chúng ta có thể nhìn thấy hoặc chạm vào và tiếp xúc thông qua môi trường của năm giác quan là hoàn toàn sai lầm. *Tất cả* những gì được tìm thấy trên cõi trần, cõi cảm dục và các cấp độ của hạ trí đều được coi là thuộc về thế giới hình tướng. Cõi hạ trí này, được đề cập ở trên, bao gồm cấp độ mà trên đó thể nguyên nhân được tìm thấy—cõi mà trong đó “hoa sen của tình thương đang trôi nổi”, như Cổ Luận diễn đạt. Tất cả những gì nằm trên đó trên các cấp độ trí tuệ, và lên đến cao nhất của các cõi trần vũ trụ, là vô sắc tướng. Những sự phân biệt này phải được ghi nhớ cẩn thận nhất.

There is within the human body a wonderful symbol of distinction between the higher etheric levels and the lower so-called physical levels. The diaphragm exists, separating that part of the body which contains the heart, throat and head, plus the lungs, from all the rest of the organs of the body; these are all of them of the utmost importance from the angle of LIFE, and that which is determined in the head, impulsed from the heart, sustained by the breath and expressed through the apparatus of the throat determines what the man IS.

Có bên trong cơ thể con người một biểu tượng tuyệt vời về sự phân biệt giữa các cấp độ dĩ thái cao hơn và các cấp độ thấp hơn được gọi là vật lý. Cơ hoành tồn tại, ngăn cách phần cơ thể chứa tim, cổ họng và đầu, cộng với phổi, khỏi tất cả các cơ quan còn lại của cơ thể; tất cả những cơ quan này đều có tầm quan trọng tối đa từ góc độ của SỰ SỐNG, và cái được xác định trong đầu, được thúc đẩy từ tim, được duy trì bởi hơi thở và được biểu lộ thông qua bộ máy của cổ họng xác định con người LÀ gì.

Below the diaphragm are found organs whose use is far more objective even if of great importance; though each [156] of these lower organs has a life and purpose of its own, their existence and functioning is impulsed, determined and conditioned by the life and rhythm emanating from the higher part of the vehicle. This is not easy for the average man to comprehend, but any serious limitation or physical disease above the diaphragm has a compelling and serious effect on all that is found below the diaphragm. The reverse is not the case to the same extent.

Bên dưới cơ hoành tìm thấy các cơ quan mà việc sử dụng chúng khách quan hơn nhiều ngay cả khi có tầm quan trọng lớn; mặc dù mỗi [156] cơ quan thấp hơn này có một sự sống và mục đích riêng của nó, sự tồn tại và hoạt động của chúng được thúc đẩy, xác định và định hình bởi sự sống và nhịp điệu phát ra từ phần cao hơn của hiện thể. Điều này không dễ để người bình thường hiểu được, nhưng bất kỳ sự hạn chế nghiêm trọng hoặc bệnh tật vật lý nào bên trên cơ hoành đều có ảnh hưởng mạnh mẽ và nghiêm trọng đến tất cả những gì được tìm thấy bên dưới cơ hoành. Điều ngược lại không đúng ở cùng mức độ.

This symbolises the potency and essentiality of the etheric body, both microcosmic and macrocosmic, and the macrocosmic expression of the fourfold Life conditions all living forms.

Điều này tượng trưng cho tiềm năng và tính thiết yếu của thể dĩ thái, cả tiểu thiên địa và đại thiên địa, và sự biểu lộ đại thiên địa của Sự Sống tứ phân định hình tất cả các hình tướng sống.

The Function of the Four Ethers Each of the four ethers, as they are sometimes called, is intended—as far as man is concerned—to be a channel or expression of the four cosmic ethers. At present this is very far from being the case. It can only truly be so when the antahkarana is built and acts, therefore, as a direct channel for the cosmic ethers to which we have given the names of universal life, monadic intensity, divine purpose and pure reason. Ponder for a while on these types of energy and creatively imagine their effect when, in due course of time and spiritual unfoldment, they can pour unrestrictedly into and through the etheric body of a human being. At present, the etheric body is responsive to energies from:

Chức Năng của Bốn Dĩ Thái. Mỗi một trong bốn dĩ thái, như chúng đôi khi được gọi, được dự định—về phía con người—là một kênh hoặc biểu hiện của bốn dĩ thái vũ trụ. Hiện tại điều này còn rất xa mới đúng. Nó chỉ có thể thực sự như vậy khi antahkarana được xây dựng và do đó hoạt động như một kênh trực tiếp cho các dĩ thái vũ trụ mà chúng ta đã đặt tên là sự sống phổ quát, cường độ chân thần, mục đích thiêng liêng và lý trí thuần khiết. Hãy suy ngẫm một lúc về các loại năng lượng này và tưởng tượng một cách sáng tạo hiệu quả của chúng khi, trong quá trình thời gian và sự mở ra về tinh thần, chúng có thể tuôn chảy không hạn chế vào và xuyên qua thể dĩ thái của một con người. Hiện tại, thể dĩ thái đáp ứng với các năng lượng từ:

1. The physical world. These are not principles but are the feeders and controllers of the animal appetites.

1. Thế giới vật lý. Đây không phải là các nguyên khí mà là những năng lượng nuôi dưỡng và kiểm soát các sự thèm khát thú tính.

2. The astral world, determining the desires, emotions and aspirations which the man will express and go after upon the physical plane.

2. Thế giới cảm dục, xác định những dục vọng, cảm xúc và khát vọng mà con người sẽ biểu lộ và theo đuổi trên cõi trần.

3. The lower mental plane, the lower mind, developing self-will, selfishness, separateness and the direction and trend of the life upon the physical plane. It is [157] this directive instinct which, when turned to higher matters, eventually opens the door to the higher cosmic etheric energies.

3. Cõi hạ trí, hạ trí, phát triển ý chí cá nhân, sự ích kỷ, sự chia rẽ và phương hướng và xu hướng của cuộc sống trên cõi trần. Chính [157] bản năng chỉ đạo này, khi hướng tới những vấn đề cao hơn, cuối cùng sẽ mở cánh cửa cho các năng lượng dĩ thái vũ trụ cao hơn.

4. The soul, the principle of individualism, the reflection in the microcosm of the divine intention and—speaking symbolically—being to the entire monadic expression that which “stands at the midway point,” the instrument of true sensitivity, of responsive ability, the spiritual counterpart of the solar plexus centre which is found at the midway point between that which lies above the diaphragm and that which is found below it.

4. Linh hồn, nguyên khí cá thể hóa, sự phản ánh trong tiểu thiên địa của ý định thiêng liêng và—nói một cách tượng trưng—là đối với toàn bộ biểu lộ chân thần cái “đứng tại điểm ở giữa”, công cụ của sự nhạy cảm thực sự, của khả năng đáp ứng, đối phần tinh thần của trung tâm tùng thái dương được tìm thấy tại điểm ở giữa cái nằm trên cơ hoành và cái được tìm thấy bên dưới nó.

When the antahkarana is constructed and the higher three are directly related to the lower three, then the soul is no longer needed. Then, reflecting this event, the four etheric levels become simply the transmitters of the energy emanating from the four cosmic etheric levels. The channel is then direct, completed and unimpeded; the etheric network of light is then of great brilliance, and all the centres in the body are awakened and functioning in unison and rhythm. Then—corresponding to the directly related Monad and Personality—the head centre, the thousand-petalled lotus, the brahmarandra, is as directly related to the centre at the base of the spine. Thus complete dualism, in place of the previous triple nature of the divine manifestation, is established:

Khi antahkarana được xây dựng và ba cái cao hơn liên hệ trực tiếp với ba cái thấp hơn, thì linh hồn không còn cần thiết nữa. Khi đó, phản ánh sự kiện này, bốn cấp độ dĩ thái trở thành đơn giản là các bộ phát của năng lượng phát ra từ bốn cấp độ dĩ thái vũ trụ. Kênh dẫn khi đó là trực tiếp, hoàn chỉnh và không bị cản trở; mạng lưới ánh sáng dĩ thái khi đó rực rỡ tuyệt vời, và tất cả các trung tâm trong cơ thể được thức tỉnh và hoạt động trong sự hòa hợp và nhịp điệu. Khi đó—tương ứng với Chân Thần và Phàm ngã liên hệ trực tiếp—trung tâm đầu, hoa sen ngàn cánh, brahmarandra, liên hệ trực tiếp với trung tâm tại đáy cột sống. Do đó tính nhị nguyên hoàn chỉnh, thay cho bản chất tam phân trước đây của biểu hiện thiêng liêng, được thiết lập:

1. Monad………………………. Personality.

1. Chân Thần………………………. Phàm ngã.

With the threefold soul no longer needed.

Với linh hồn tam phân không còn cần thiết nữa.

2. Head centre…………… Centre at base of spine.

2. Trung tâm đầu…………… Trung tâm tại đáy cột sống.

With the intermediate five centres no longer required.

Với năm trung tâm trung gian không còn cần thiết nữa.

[158]

[158]

The Old Commentary says, in this connection:

Cổ Luận nói, trong mối liên hệ này:

“Then the three that ranked as all that was, functioning as one and controlling all the seven, no longer are. The seven who responded to the three, responding to the One, no longer hear the triple call which determined all that was. Only the two remain to show the world the beauty of the living God, the wonder of the Will-to-Good, the Love which animates the Whole. These two are One, and thus the work, completed, stands. And then the Angels sing.” [159]

“Khi đó ba cái được xếp hạng là tất cả những gì đã là, hoạt động như một và kiểm soát tất cả bảy cái, không còn nữa. Bảy cái đã đáp ứng với ba, đáp ứng với Một, không còn nghe tiếng gọi tam phân đã xác định tất cả những gì đã là. Chỉ còn hai cái ở lại để cho thế giới thấy vẻ đẹp của Thượng Đế sống động, sự kỳ diệu của Ý Chí-hướng Thiện, Tình Thương làm sinh động Tổng Thể. Hai cái này là Một, và như thế công việc, hoàn tất, đứng vững. Và rồi các Thiên Thần hát ca.” [159]

III. PLANETARY AND HUMAN CENTRES

III. CÁC TRUNG TÂM HÀNH TINH VÀ CON NGƯỜI

There is a factor bearing upon the etheric body to which very little reference has ever been made, the reason being that it would have been utterly useless information. Let me embody it in a tabulated statement, beginning with a few points earlier imparted but which should here be repeated for clarity and placed in proper sequence:

Có một yếu tố liên quan đến thể dĩ thái mà rất ít tham chiếu từng được đưa ra, lý do là nó sẽ là thông tin hoàn toàn vô ích. Hãy để tôi thể hiện nó trong một phát biểu dạng bảng, bắt đầu với một vài điểm đã được truyền đạt trước đó nhưng nên được lặp lại ở đây cho rõ ràng và đặt theo trình tự thích hợp:

1. The planetary Logos works through the medium of the three major centres:

1. Hành Tinh Thượng Đế làm việc thông qua môi trường của ba trung tâm chính:

a. The Centre where the will of God is known: Shamballa.

a. Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế: Shamballa.

b. The Centre where the love of God is manifest: the Hierarchy.

b. Trung tâm nơi tình thương của Thượng Đế được biểu lộ: Thánh Đoàn.

c. The Centre where the intelligence of God is producing the evolutionary process: Humanity.

c. Trung tâm nơi trí tuệ của Thượng Đế đang tạo ra quá trình tiến hóa: Nhân loại.

2. The three major centres, both planetary and human, exist in etheric substance and they may or may not produce physical correspondences. All the Masters, for instance, do not work through a physical vehicle. They nevertheless have an etheric body composed of the substance of the cosmic etheric levels—buddhic, atmic, monadic and logoic levels—and these levels are the four cosmic ethers, the higher correspondence of our etheric planes; these higher levels are the four levels of the cosmic physical plane. Until They choose, at the sixth Initiation of Decision, one of the seven Paths of Ultimate Destiny, the Masters function in Their cosmic etheric bodies.

2. Ba trung tâm chính, cả hành tinh và con người, tồn tại trong chất liệu dĩ thái và chúng có thể hoặc không thể tạo ra các tương ứng vật lý. Chẳng hạn, không phải tất cả các Chân sư đều làm việc thông qua một hiện thể vật lý. Tuy nhiên, Các Ngài có một thể dĩ thái bao gồm chất liệu của các cấp độ dĩ thái vũ trụ—các cấp độ bồ đề, atma, chân thần và thượng đế—và các cấp độ này là bốn dĩ thái vũ trụ, sự tương ứng cao hơn của các cõi dĩ thái của chúng ta; các cấp độ cao hơn này là bốn cấp độ của cõi trần vũ trụ. Cho đến khi Các Ngài chọn, tại cuộc Điểm Đạo thứ sáu của Sự Quyết Định, một trong bảy Con Đường của Định Mệnh Tối Hậu, các Chân sư hoạt động trong các thể dĩ thái vũ trụ của Các Ngài.

These three major energy centres are closely related to each other, and through his own individual major centres (the head, the heart and the throat) [160] the disciple is in relation with the three planetary centres. I would have you ponder on this statement for it has practical value.

Ba trung tâm năng lượng chính này liên quan chặt chẽ với nhau, và thông qua các trung tâm chính cá nhân của riêng mình (đầu, tim và cổ họng) [160] đệ tử có mối quan hệ với ba trung tâm hành tinh. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về phát biểu này vì nó có giá trị thực tiễn.

3. The Monad, as you know, is to be found on the cosmic second etheric level, called the monadic plane. When the antahkarana has been built, then cosmic etheric substance can be slowly substituted for the ordinary and familiar etheric substance which “substands” the dense physical body of a man.

3. Chân Thần, như các bạn biết, được tìm thấy trên cấp độ dĩ thái vũ trụ thứ hai, gọi là cõi chân thần. Khi antahkarana đã được xây dựng, thì chất liệu dĩ thái vũ trụ có thể dần dần được thay thế cho chất liệu dĩ thái thông thường và quen thuộc vốn “làm nền tảng” cho thể xác đậm đặc của một con người.

4. The ray upon which the Monad is to be found—one of the three major rays and, therefore, related to one of the three major centres—conditions:

4. Cung mà trên đó Chân Thần được tìm thấy—một trong ba cung chính và, do đó, liên quan đến một trong ba trung tâm chính—định hình:

a. The disciple’s absorption into one of the three departments of hierarchical work, i.e., a first ray soul will go normally into such an Ashram as that of the Master M. in the department of the Manu; a second ray disciple will pass into a second ray Ashram such as mine (D.K.) or that of the Master K.H. and therefore into the department of the Christ; a third ray soul will be absorbed into one of the Ashrams (and there are many) functioning under the Lord of Civilisation, the Master R.

a. Sự hấp thu của đệ tử vào một trong ba ban của công việc thánh đoàn, tức là, một linh hồn cung một sẽ đi vào một cách bình thường một Ashram như Ashram của Chân sư M. trong ban của Đức Manu; một đệ tử cung hai sẽ đi vào một Ashram cung hai như của tôi (D.K.) hoặc của Chân sư K.H. và do đó vào ban của Đức Christ; một linh hồn cung ba sẽ được hấp thu vào một trong các Ashram (và có nhiều) hoạt động dưới quyền Chúa Tể của Nền Văn Minh, Chân sư R.

b. All who come into incarnation upon one of the Rays of Attribute—the fourth, fifth, sixth and seventh rays—find their way finally on to one of the three major Rays of Aspect. The changes of shifts in ray focus are made when the etheric body has in it an adequate measure of the substance of the lowest of the cosmic ethers, the buddhic substance; this is basic for all, on all the rays, for at the end of the age, when cosmic etheric substance [161] composes the etheric vehicles of the initiate, the three rays become the two rays, and later another absorption takes place into the second Ray of Love-Wisdom which is the ray of our present solar system.

b. Tất cả những ai lâm phàm trên một trong các *Cung Thuộc Tính*—cung bốn, năm, sáu và bảy—cuối cùng đều tìm đường đến một trong ba *Cung Trạng Thái* chính. Những thay đổi của sự chuyển dịch trong tiêu điểm cung được thực hiện khi thể dĩ thái có trong nó một lượng đầy đủ chất liệu của dĩ thái vũ trụ thấp nhất, chất liệu bồ đề; điều này là cơ bản cho tất cả, trên tất cả các cung, vì vào cuối thời đại, khi chất liệu dĩ thái vũ trụ [161] cấu thành các hiện thể dĩ thái của điểm đạo đồ, ba cung trở thành hai cung, và sau đó một sự hấp thu khác diễn ra vào Cung hai của Bác Ái-Minh Triết vốn là cung của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.

You can see, therefore, what conditioning factors the various energies become when appropriated and used, and how their substance, or rather the presence of certain energies in the etheric body of the personality, are essential before certain initiations can be taken. The theme is too complex to be enlarged upon here, but I would ask you to consider with care the various statements I have made and then seek illumination within yourself.

Do đó, các bạn có thể thấy các năng lượng khác nhau trở thành những yếu tố định hình như thế nào khi được chiếm đoạt và sử dụng, và chất liệu của chúng, hay đúng hơn là sự hiện diện của các năng lượng nhất định trong thể dĩ thái của phàm ngã, là thiết yếu như thế nào trước khi các cuộc điểm đạo nhất định có thể được thực hiện. Chủ đề này quá phức tạp để trình bày rộng thêm ở đây, nhưng tôi muốn yêu cầu các bạn xem xét cẩn thận các phát biểu khác nhau mà tôi đã đưa ra và sau đó tìm kiếm sự soi sáng bên trong chính mình.

The rays are the seven emanations from the “seven Spirits before the throne of God”; Their emanations come from the monadic level of awareness or from the second cosmic etheric plane. In a certain sense it could be said that these seven great and living Energies are in their totality the etheric vehicle of the planetary Logos. The evolutionary processes can equally well be stated to be those of eliminating the physical substance lying between the dense physical body and the astral sentient body, and substituting substance of the four highest planes, the four cosmic ethers. Physically speaking, it is this etheric substitution which enables a man successively to take the five initiations which make him a Master of the Wisdom.

Các cung là bảy sự phát xạ từ “bảy Thánh Linh trước ngai của Thượng Đế”; các sự phát xạ của Các Ngài đến từ cấp độ nhận biết chân thần hoặc từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ hai. Theo một nghĩa nào đó, có thể nói rằng bảy Năng Lượng vĩ đại và sống động này trong tổng thể của chúng là hiện thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế. Các quá trình tiến hóa cũng có thể được tuyên bố là các quá trình loại bỏ chất liệu vật lý nằm giữa thể xác đậm đặc và thể cảm dục, và thay thế bằng chất liệu của bốn cõi cao nhất, bốn dĩ thái vũ trụ. Về mặt vật lý, chính sự thay thế dĩ thái này cho phép một người liên tiếp thực hiện năm cuộc điểm đạo khiến y trở thành một Chân sư Minh Triết.

The first initiation is purely the concern of the man’s own soul, and the moment that that initiation has been taken, a measure of buddhic energy can enter and the process of transference of the higher ethers and their substitution for the lower can go forward. This, as you may well imagine, produces conflict; the personality etheric body rejects the incoming higher ether, and thus crises are produced in the initiate’s life.

Cuộc điểm đạo thứ nhất hoàn toàn là mối quan tâm của linh hồn riêng của con người, và ngay khi cuộc điểm đạo đó đã được thực hiện, một lượng năng lượng bồ đề có thể đi vào và quá trình chuyển dịch các dĩ thái cao hơn và sự thay thế của chúng cho các dĩ thái thấp hơn có thể tiến hành. Điều này, như các bạn có thể hình dung rõ, tạo ra xung đột; thể dĩ thái phàm ngã từ chối dĩ thái cao hơn đang đi vào, và do đó các cuộc khủng hoảng được tạo ra trong cuộc đời của điểm đạo đồ.

[162]

[162]

Progress and initiation have been presented to us mainly in terms of character-building and of service to humanity. This approach most surely also produces conflict and the personality fights the soul. But paralleling this well known conflict, another battle goes on between the ethers composing the disciple’s etheric body and the downpouring higher ethers. Of this a man is not so conscious, but the battle is a very real one, affecting primarily the health of the physical body, and falls into five natural stages which we call initiations. The symbolism of the Rod of Initiation teaches us that (during the initiatory process) this Rod, directed by the Christ or by the Lord of the World, as the case may be, is used to stabilise the higher ethers within the personality by an access of applied energy which enables the initiate to retain that which is from above, in order that “as above, so below.”

Sự tiến bộ và điểm đạo đã được trình bày cho chúng ta chủ yếu dưới dạng việc xây dựng tính cách và phụng sự nhân loại. Cách tiếp cận này chắc chắn cũng tạo ra xung đột và phàm ngã chiến đấu với linh hồn. Nhưng song song với cuộc xung đột nổi tiếng này, một trận chiến khác diễn ra giữa các dĩ thái cấu thành thể dĩ thái của đệ tử và các dĩ thái cao hơn đang tuôn xuống. Con người không nhận biết rõ lắm về điều này, nhưng trận chiến là một trận chiến rất thực, *ảnh hưởng chủ yếu đến sức khỏe của thể xác*, và rơi vào năm giai đoạn tự nhiên mà chúng ta gọi là các cuộc điểm đạo. Biểu tượng của Thần Trượng Điểm đạo dạy chúng ta rằng (trong quá trình điểm đạo) Thần Trượng này, được chỉ đạo bởi Đức Christ hoặc bởi Đức Chúa Tể Thế Giới, tùy từng trường hợp, được sử dụng để ổn định các dĩ thái cao hơn bên trong phàm ngã bằng một luồng năng lượng bổ sung được đưa vào cho phép điểm đạo đồ giữ lại cái từ bên trên, để “trên sao, dưới vậy”.

There are three angles from which the etheric body must be considered:

Có ba góc độ mà từ đó thể dĩ thái phải được xem xét:

1. As the mechanism which externalises itself through the nadis, or that fine system of related lines of force which, in their turn, externalise themselves through the physical system of nerves.

1. Như là cơ chế ngoại hiện chính nó thông qua các nadi, hay hệ thống tinh vi của các dòng lực liên quan vốn, đến lượt chúng, ngoại hiện chính chúng thông qua hệ thống dây thần kinh vật lý.

2. As a transmitter of many different types of energy, coming from many different sources; these energies run through or along (both words are equally true) the lines of force which underlie the nadis. A while ago I used the word “tubes,” thus inferring a network of tubes through which the transmitted energies can pour; here you have a case where words are wholly inadequate and even misleading.

2. Như là một bộ phát của nhiều loại năng lượng khác nhau, đến từ nhiều nguồn khác nhau; các năng lượng này chạy xuyên qua hoặc dọc theo (cả hai từ đều đúng như nhau) các dòng lực nằm bên dưới các nadi. Một lúc trước tôi đã sử dụng từ “các ống”, do đó suy ra một mạng lưới các ống mà qua đó các năng lượng được truyền đi có thể tuôn chảy; ở đây các bạn có một trường hợp mà từ ngữ hoàn toàn không đầy đủ và thậm chí gây hiểu lầm.

3. These energies—according to their source, quality and purpose—create the seven major centres which condition the many smaller subsidiary centres [163] and finally externalise themselves through the seven major glands of the endocrine system.

3. Các năng lượng này—tùy theo nguồn gốc, phẩm tính và mục đích của chúng—tạo ra bảy trung tâm chính vốn định hình nhiều trung tâm phụ nhỏ hơn [163] và cuối cùng ngoại hiện chính chúng thông qua bảy tuyến chính của hệ thống nội tiết.

I have said earlier that the intersecting energies in the etheric body of the planet are at this time a network of squares. When the creative process is complete and evolution has done its work, these squares will become a network of triangles. Necessarily this is a symbolic way of speaking. In the Book of Revelations which was dictated 1900 years ago by the disciple who is now known as the Master Hilarion, reference is made to the “city which stands four-square.” The etheric vehicle of the planet was inherited from a former solar system, with the purpose or intention in view of its transformation into a network of triangles in this solar system. In the next one of the triplicity of solar systems (the third or last) in which the will of God works out, the etheric body will begin as a network of triangles, but this will be resolved into a network of interlinked circles or of linked rings, indicating the fulfilment of interlocking relationships. In this present system, the result of evolution, as far as the etheric body is concerned, will be the contact established between all three points of each triangle, making a ninefold contact and a ninefold flow of energy; this is consistent with the fact that nine is the number of initiation, and by the time the destined number of disciples have taken the nine possible initiations, this triangular formation of the planetary etheric body will be complete.

Tôi đã nói trước đó rằng các năng lượng giao nhau trong thể dĩ thái của hành tinh vào lúc này là một *mạng lưới các hình vuông*. Khi quá trình sáng tạo hoàn tất và sự tiến hóa đã hoàn thành công việc của nó, các hình vuông này sẽ trở thành một mạng lưới các hình tam giác. Nhất thiết đây là một cách nói tượng trưng. Trong Sách Khải Huyền được đọc cho viết cách đây 1900 năm bởi người đệ tử mà nay được biết đến là Chân sư Hilarion, có sự tham chiếu đến “thành phố đứng bốn phương”. Hiện thể dĩ thái của hành tinh được thừa hưởng từ một hệ mặt trời trước đó, với mục đích hay ý định chuyển đổi nó thành một mạng lưới các hình tam giác trong hệ mặt trời này. Trong hệ tiếp theo của bộ ba hệ mặt trời (thứ ba hoặc cuối cùng) mà trong đó ý chí của Thượng Đế thực hiện, thể dĩ thái sẽ bắt đầu như một mạng lưới các hình tam giác, nhưng điều này sẽ chuyển hóa thành một mạng lưới các vòng tròn liên kết hoặc các vòng nhẫn được liên kết, chỉ ra sự hoàn thành của các mối quan hệ đan kết. Trong hệ thống hiện tại này, kết quả của sự tiến hóa, xét về thể dĩ thái, sẽ là sự tiếp xúc được thiết lập giữa tất cả ba điểm của mỗi tam giác, tạo ra sự tiếp xúc cửu phân và dòng năng lượng cửu phân; điều này nhất quán với thực tế rằng số chín là con số của điểm đạo, và vào lúc số lượng đệ tử được định mệnh đã thực hiện chín cuộc điểm đạo khả dĩ, sự hình thành tam giác này của thể dĩ thái hành tinh sẽ hoàn tất.

The idea can be conveyed symbolically by the diagram below, which pictures the triangular formation and the mode of a dual growth or progression and expansion of the network because, starting with the initial triangle, two points only are left for the processes of extension.

Ý tưởng có thể được chuyển tải một cách tượng trưng bằng sơ đồ dưới đây, mô tả sự hình thành tam giác và phương thức của một sự tăng trưởng hoặc tiến triển kép và sự mở rộng của mạng lưới bởi vì, bắt đầu với tam giác ban đầu, chỉ còn lại hai điểm cho các quá trình mở rộng.

image_image-3.jpg

[164]

[164]

The initial triangle was formed by Sanat Kumara, and we call the three energies which circulate through its medium the three major Rays of Aspect. The four Rays of Attribute formed their own triangles and yet, in a paradoxical manner, they are responsible for the “squares” through which their energies at this time pass. Thus the work of transforming the inherited etheric body was begun and has proceeded ever since. In the etheric body of the human being you have a repetition of the same process in the triangle of energies created by the relationship between the Monad, the Soul, and the Personality.

Tam giác ban đầu được hình thành bởi Sanat Kumara, và chúng ta gọi ba năng lượng lưu chuyển thông qua môi trường của nó là ba Cung Trạng Thái chính. Bốn Cung Thuộc Tính đã hình thành các tam giác riêng của chúng và tuy nhiên, theo một cách nghịch lý, chúng chịu trách nhiệm cho các “hình vuông” mà qua đó năng lượng của chúng vào lúc này đi qua. Như vậy công việc biến đổi thể dĩ thái được thừa hưởng đã bắt đầu và đã tiến hành kể từ đó. Trong thể dĩ thái của con người, các bạn có một sự lặp lại của cùng một quá trình trong tam giác các năng lượng được tạo ra bởi mối quan hệ giữa Chân Thần, Linh hồn, và Phàm ngã.

The Changing Pattern of the Planetary Etheric Body—Mô Hình Đang Thay Đổi của Thể Dĩ Thái Hành Tinh

It is well-nigh impossible for man to draw or make a picture of the network of triangles and, at the same time, see them taking the circular form in their totality of the etheric body of the planetary sphere. The reason is that the whole etheric body is in constant motion and ceaseless transformation, and the energies of which it is composed are in a state of constant change and circulation.

Hầu như không thể để con người vẽ hoặc tạo ra một bức tranh về mạng lưới các hình tam giác và, đồng thời, thấy chúng mang hình dạng tròn trong tổng thể thể dĩ thái của bầu hành tinh. Lý do là toàn bộ thể dĩ thái đang chuyển động liên tục và biến đổi không ngừng, và các năng lượng cấu tạo nên nó đang trong trạng thái thay đổi và luân chuyển liên tục.

It is wise to have in mind that it is the mechanism which changes and that this transformation of the square into the triangle has no reference whatsoever to the transmitted energies or to the various centres, except in so far that it becomes far easier for the energies to flow through the triangular formation of the etheric body than it is to flow—as is now the case—through or around a square and a network of squares.

Sẽ là khôn ngoan khi ghi nhớ rằng chính cơ chế thay đổi và sự biến đổi này của hình vuông thành hình tam giác không có tham chiếu gì đến các năng lượng được truyền đi hoặc đến các trung tâm khác nhau, ngoại trừ việc năng lượng tuôn chảy qua sự hình thành tam giác của thể dĩ thái trở nên dễ dàng hơn nhiều so với việc tuôn chảy—như trường hợp hiện nay—qua hoặc xung quanh một hình vuông và một mạng lưới các hình vuông.

I am quite aware that what I am here communicating may seem to you the veriest nonsense and there is, of course, no possible way in which I can prove to you the factual nature of this inter-communicating system or in which you can check and confirm what I say; but then, my brothers, you have no way as yet of ascertaining the factual existence of Sanat Kumara and yet from the very night of time His existence has been proclaimed by the Hierarchy and accepted [165] by millions. Every human being believes a great deal more than he can prove or the validity of which he can establish.

Tôi hoàn toàn ý thức rằng những gì tôi đang truyền đạt ở đây có vẻ đối với các bạn là điều vô nghĩa nhất và, tất nhiên, không có cách nào khả dĩ để tôi có thể chứng minh cho các bạn bản chất thực tế của hệ thống giao tiếp qua lại này hoặc để các bạn có thể kiểm tra và xác nhận những gì tôi nói; nhưng xét lại, các huynh đệ của tôi, các bạn chưa có cách nào để xác minh sự tồn tại thực tế của Sanat Kumara và tuy nhiên từ tận đêm tối của thời gian, sự tồn tại của Ngài đã được Thánh Đoàn tuyên bố và được chấp nhận [165] bởi hàng triệu người. Mỗi con người tin nhiều điều hơn những gì y có thể chứng minh hoặc xác lập tính hợp lệ của nó.

The centres are in reality those “crossing points” of energies where the etheric body possesses seven triangles or transformed points. From the angle of Shamballa the centres in a human being resemble a triangle with a point at the centre.

Các trung tâm thực tế là những “điểm giao nhau” của các năng lượng nơi thể dĩ thái sở hữu bảy tam giác hoặc các điểm được chuyển đổi. Từ góc độ của Shamballa, các trung tâm trong một con người giống như một tam giác với một điểm ở trung tâm.

From the angle of the Hierarchy, conditions are somewhat different. You have the seven centres portrayed as lotuses, with varying numbers of petals; nevertheless there is always preserved and recognisably present a triangle, at the very heart of the lotus; always there is the triangle with its communicating point, and to this we give the name, the “jewel in the lotus.” You have therefore the following symbolic presentation of the lotus, and you would do well to study it with care.

Từ góc độ của Thánh Đoàn, các điều kiện có đôi chút khác biệt. Các bạn có bảy trung tâm được mô tả như những đóa sen, với số lượng cánh hoa khác nhau; tuy nhiên luôn luôn được bảo tồn và hiện diện một cách dễ nhận biết là một tam giác, ngay tại tâm của hoa sen; luôn luôn có tam giác với điểm giao tiếp của nó, và đối với cái này chúng tôi đặt tên là “ngọc trong hoa sen”. Do đó, các bạn có sự trình bày mang tính biểu tượng sau đây về hoa sen, và các bạn nên nghiên cứu nó một cách cẩn thận.

The personality of the man is conditioned by the circle, which is the emanating influence of the lotus, and an interplay is thereby set up. The lotus itself is conditioned by the soul and in its turn conditions the “sphere of influence in the aura of the lotus” thus reaching into and conditioning the personality life. The triangle is conditioned by the Spiritual Triad, when the antahkarana is built or in process of building, and in its turn first of all inspires or fires the soul, and then finally destroys it. The dot at the centre is indicative of monadic life, first of all in its lowest expression of physical life and vitality, and finally as the “point of sensitivity.” Therefore we have:

Phàm ngã của con người chịu sự định hình của vòng tròn, vốn là ảnh hưởng phát xuất của hoa sen, và một sự tác động qua lại do đó được thiết lập. Chính hoa sen chịu sự định hình của linh hồn và đến lượt nó lại định hình “phạm vi ảnh hưởng trong hào quang của hoa sen”, do đó vươn tới và định hình đời sống phàm ngã. Tam giác chịu sự định hình của Tam Nguyên Tinh Thần, khi antahkarana được xây dựng hoặc đang trong quá trình xây dựng, và đến lượt nó trước hết truyền cảm hứng hoặc kích hoạt linh hồn, và sau đó cuối cùng hủy diệt nó. Điểm chấm tại trung tâm biểu thị cho đời sống chân thần, trước hết trong biểu hiện thấp nhất của nó là đời sống hồng trần và sinh lực, và cuối cùng như là “điểm nhạy cảm”. Do đó chúng ta có:

image_image-4.jpg

1. The Point at the centre, indicative of the monadic life. [166]

1. Điểm tại trung tâm, biểu thị đời sống chân thần. [166]

2. The related energies of the egoic lotus, conditioned by the soul.

2. Các năng lượng liên quan của Hoa Sen Chân Ngã, chịu sự định hình của linh hồn.

3. The sphere of radiation, the emanating influence of the lotus, conditioning the personality.

3. Phạm vi bức xạ, ảnh hưởng phát xuất của hoa sen, định hình phàm ngã.

4. The triangle of energy, conditioned by the Spiritual Triad.

4. Tam giác năng lượng, chịu sự định hình của Tam Nguyên Tinh Thần.

The foregoing instruction on the etheric body is not long but it contains much that is relatively new and provides much food for assimilation. [167]

Huấn thị đã qua về thể dĩ thái tuy không dài nhưng nó chứa đựng nhiều điều tương đối mới mẻ và cung cấp nhiều nội dung để lĩnh hội. [167]

IV. THE CENTRES AND THE PERSONALITY—IV. CÁC TRUNG TÂM VÀ PHÀM NGÃ

We will now consider the centres as controlling factors in the life of the personality in the three worlds, and their relation to each other, always studying the subject from the angle of their relation to one of the three major planetary centres—Shamballa, the Hierarchy and Humanity—in connection with:

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các trung tâm như là những yếu tố kiểm soát trong đời sống của phàm ngã tại ba cõi, và mối quan hệ của chúng với nhau, luôn luôn nghiên cứu chủ đề này từ góc độ mối quan hệ của chúng với một trong ba trung tâm hành tinh chủ yếu—Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại—trong mối liên hệ với:

1. The Point at the Centre.

1. Điểm tại Trung tâm.

2. Related Energies.

2. Các Năng lượng Liên quan.

3. Sphere of Radiation.

3. Phạm vi Bức xạ.

4. The Triangle of Energy.

4. Tam giác Năng lượng.

The abstruseness of this theme is very great; a basic statement will, however, serve somewhat to clarify the subject; it is a statement which has seldom found expression elsewhere. Let me phrase it as simply as possible:

Chủ đề này rất khó lĩnh hội; tuy nhiên, một phát biểu cơ bản sẽ phần nào giúp làm sáng tỏ chủ đề; đó là một phát biểu hiếm khi được diễn đạt ở nơi khác. Hãy để tôi diễn đạt nó đơn giản nhất có thể:

The centres below the diaphragm, i.e., the solar plexus centre, the sacral centre and the centre at the base of the spine, are controlled by the four ethers of the planetary physical plane; the centres above the diaphragm, i.e., the heart centre, the throat centre, the ajna centre and the head centre, are controlled by the four cosmic ethers, to which we give the names of the energies of the buddhic plane, the energies of the atmic plane, the energies of the monadic plane and the energies of the logoic plane.

Các trung tâm bên dưới cơ hoành, tức là trung tâm tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm tại đáy cột sống, được kiểm soát bởi bốn dĩ thái của cõi hồng trần hành tinh; các trung tâm bên trên cơ hoành, tức là trung tâm tim, trung tâm cổ họng, trung tâm ajna và trung tâm đầu, được kiểm soát bởi bốn dĩ thái vũ trụ, mà chúng ta đặt tên là các năng lượng của cõi bồ đề, các năng lượng của cõi atma, các năng lượng của cõi chân thần và các năng lượng của cõi thượng đế (logoic).

This statement involves a somewhat new concept; it creates a basic relation, making possible the fact that “as above so below.” Think this out. It has serious implications.

Phát biểu này bao hàm một khái niệm phần nào mới mẻ; nó tạo ra một mối quan hệ cơ bản, làm cho sự kiện “trên sao dưới vậy” trở nên khả thi. Hãy suy ngẫm điều này. Nó có những hàm ý nghiêm trọng.

[168]

[168]

The centres below the diaphragm are—during the evolutionary process—controlled by the first, the second and the third ethers, counting from below upward; when evolution has brought the aspirant to the point of personal integration, then the energies of the highest, the etheric-atomic plane can and do control. When that takes place, then the possibility is present of the energies of the cosmic etheric planes bringing the centres above the diaphragm into full expression. This takes place upon the Path of Discipleship and the Path of Initiation. This interesting process of transference of energies is called by several names, such as “radiatory substitution,” “energising at-one-ment,” and “inspirational reflected light of energy.” All these terms are efforts to express in somewhat inadequate words what happens when the higher energies are substituted for the lower, when the magnetic “pull” of the spiritual energies draws upward and absorbs the lower energies which are concerned primarily with the personality life, or when the reflecting light of the Spiritual Triad and of the Monadic Glory are transferred into the higher energy centres in the final vehicle used by the developed human being.

Các trung tâm bên dưới cơ hoành—trong suốt quá trình tiến hóa—bị kiểm soát bởi dĩ thái thứ nhất, thứ hai và thứ ba, tính từ dưới lên; khi sự tiến hóa đã đưa người chí nguyện đến điểm tích hợp phàm ngã, thì các năng lượng của cõi cao nhất, cõi dĩ thái-nguyên tử có thể và thực sự kiểm soát. Khi điều đó xảy ra, thì khả năng hiện diện là các năng lượng của các cõi dĩ thái vũ trụ đưa các trung tâm bên trên cơ hoành vào sự biểu hiện trọn vẹn. Điều này diễn ra trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo. Quy trình chuyển dịch năng lượng thú vị này được gọi bằng nhiều cái tên, chẳng hạn như “sự thay thế bức xạ”, “sự hợp nhất đầy năng lượng”, và “ánh sáng phản chiếu đầy cảm hứng của năng lượng”. Tất cả các thuật ngữ này là những nỗ lực để diễn đạt bằng những từ ngữ có phần không đầy đủ về những gì xảy ra khi các năng lượng cao hơn được thay thế cho các năng lượng thấp hơn, khi “sức hút” từ tính của các năng lượng tinh thần kéo lên trên và hấp thu các năng lượng thấp hơn vốn liên quan chủ yếu đến đời sống phàm ngã, hoặc khi ánh sáng phản chiếu của Tam Nguyên Tinh Thần và của Vinh quang Chân thần được chuyển vào các trung tâm năng lượng cao hơn trong vận cụ cuối cùng được sử dụng bởi con người đã phát triển.

Little has as yet been given out anent the relation of the four physical ethers and the four cosmic ethers; there is nevertheless a direct relation between them, and this the initiatory process reveals. This also brings about significant changes in the vehicles of humanity. There is also a direct relation between the four aspects of karma (the Law of Cause and Effect) and the four physical ethers, as well as the four cosmic ethers; this relationship will later constitute the basis of a new occult science. Therefore, there is yet much to be grasped by students concerning energy, its emanating sources, its mode of transfer or its transitional processes, and its anchorage within the planetary body, or the physical body of the individual. With some of these [169] ideas we will now deal, thus laying the foundation for future investigation, but saying little which will be of immediate use to the individual student.

Cho đến nay hiếm có điều gì được đưa ra về mối quan hệ giữa bốn dĩ thái hồng trần và bốn dĩ thái vũ trụ; tuy nhiên có một mối quan hệ trực tiếp giữa chúng, và quy trình điểm đạo tiết lộ điều này. Điều này cũng mang lại những thay đổi quan trọng trong các hiện thể của nhân loại. Cũng có một mối quan hệ trực tiếp giữa bốn phương diện của nghiệp quả (Định luật Nhân quả) và bốn dĩ thái hồng trần, cũng như bốn dĩ thái vũ trụ; mối quan hệ này sau này sẽ cấu thành cơ sở của một khoa học huyền môn mới. Vì vậy, vẫn còn nhiều điều học viên cần phải nắm bắt liên quan đến năng lượng, các nguồn phát xuất của nó, phương thức chuyển dịch hoặc các quy trình chuyển tiếp của nó, và sự neo đậu của nó bên trong cơ thể hành tinh, hoặc thể xác của cá nhân. Với một số trong những ý tưởng này [169], giờ đây chúng ta sẽ đề cập đến, do đó đặt nền tảng cho sự điều tra trong tương lai, nhưng nói rất ít những gì sẽ hữu ích ngay lập tức cho cá nhân học viên.

Relationship Between the Higher and the Lower Centres—Mối Quan Hệ Giữa Các Trung Tâm Cao và Thấp

It is relatively easy to list the four cosmic ethers and then list the four ethers of the physical plane as we know them, and then make the statement that the average person is controlled by the centres below the diaphragm, which are responsive to the physical plane ethers as they transmit energies from the three worlds of human evolution, and that the initiate is responsive to the cosmic ethers, as they play through and awaken the centres above the diaphragm. It must at the same time be remembered that the seven centres in the etheric vehicle of man are always composed of the physical ethers, but become—upon the Path of Discipleship—the vehicles of the cosmic ethers. To retain the picture with clarity, it might be well to consider very briefly the four aspects of the centres as I have listed them above, or that totality which they present to the eye of the See-er. These are:

Tương đối dễ dàng để liệt kê bốn dĩ thái vũ trụ và sau đó liệt kê bốn dĩ thái của cõi hồng trần như chúng ta biết, và sau đó đưa ra phát biểu rằng người bình thường bị kiểm soát bởi các trung tâm bên dưới cơ hoành, vốn đáp ứng với các dĩ thái cõi hồng trần khi chúng truyền tải các năng lượng từ ba cõi của sự tiến hóa nhân loại, và rằng điểm đạo đồ đáp ứng với các dĩ thái vũ trụ, khi chúng tác động qua và đánh thức các trung tâm bên trên cơ hoành. Đồng thời cũng phải nhớ rằng bảy trung tâm trong thể dĩ thái của con người luôn luôn được cấu tạo từ các dĩ thái hồng trần, nhưng trở thành—trên Con Đường Đệ Tử—các vận cụ của các dĩ thái vũ trụ. Để giữ lại hình ảnh một cách rõ ràng, có lẽ sẽ tốt nếu xem xét thật ngắn gọn bốn phương diện của các trung tâm như tôi đã liệt kê ở trên, hoặc cái tổng thể mà chúng trình bày trước mắt của nhà thông nhãn. Đó là:

1. The Point at the Centre. This is the “jewel in the lotus,” to use the ancient oriental appellation; it is the point of life by means of which the Monad anchors itself upon the physical plane, and is the life principle therefore of all the transient vehicles—developed, undeveloped or developing. This point of life contains within itself all possibilities, all potentialities, all experiences and all vibratory activities. It embodies the will-to-be, the quality of magnetic attraction (commonly called love), and the active intelligence which will bring the livingness and the love into full expression. The above statement or definition is one of major importance. This point at the centre is in reality, therefore, all that IS and the other three aspects of life—as listed—are merely indications of its existence. It is that which has capacity to withdraw to its Source, or to impose upon itself [170] layer upon layer of substance; it is the cause of the return of the so-called Eternal Pilgrim to the Father’s Home after many aeons of experience, as well as that which produces experiment, leading to eventual experience and final expression. It is also that which the other three aspects shield, and which the seven principles (expressing themselves as vehicles) protect. There are seven of these “points” or “jewels,” expressing the sevenfold nature of consciousness, and as they are brought one by one into living expression, the seven subrays of the dominating monadic ray are also one by one made manifest, so that each initiate-disciple is (in due time) a Son of God in full and outer glory.

1. Điểm tại Trung tâm. Đây là “ngọc trong hoa sen”, sử dụng danh xưng cổ xưa của phương Đông; nó là điểm sự sống mà nhờ đó Chân Thần neo mình trên cõi hồng trần, và do đó là nguyên khí sự sống của tất cả các hiện thể tạm thời—đã phát triển, chưa phát triển hoặc đang phát triển. Điểm sự sống này chứa đựng bên trong chính nó mọi khả năng, mọi tiềm năng, mọi kinh nghiệm và mọi hoạt động rung động. Nó thể hiện ý chí-hiện hữu, phẩm tính của lực hút từ tính (thường được gọi là tình thương), và trí tuệ hoạt động sẽ đưa sự sống động và tình thương vào biểu hiện trọn vẹn. Phát biểu hoặc định nghĩa trên là một trong những điều quan trọng chính yếu. Do đó, điểm tại trung tâm này thực tế là tất cả những gì HIỆN HỮU và ba phương diện khác của sự sống—như được liệt kê—chỉ là những dấu hiệu về sự tồn tại của nó. Nó là cái có năng lực rút về Nguồn cội của nó, hoặc áp đặt lên chính nó [170] lớp này qua lớp khác của chất liệu; nó là nguyên nhân của sự trở về của cái gọi là Chàng Lữ Khách Vĩnh Cửu về Ngôi Nhà của Cha sau nhiều thời đại dài trải nghiệm, cũng như cái tạo ra sự thử nghiệm, dẫn đến kinh nghiệm rốt ráo và biểu hiện cuối cùng. Nó cũng là cái mà ba phương diện kia che chở, và là cái mà bảy nguyên khí (tự biểu hiện như là các hiện thể) bảo vệ. Có bảy “điểm” hay “viên ngọc” này, biểu hiện bản chất thất phân của tâm thức, và khi chúng được đưa từng cái một vào biểu hiện sống động, bảy cung phụ của cung chân thần chủ đạo cũng từng cái một được hiển lộ, để mỗi đệ tử-điểm đạo đồ (vào đúng thời điểm) là một Người Con của Thượng đế trong vinh quang trọn vẹn và bên ngoài.

The time comes when the individual etheric body is submerged or lost to sight in the light emanating from these seven points and coloured by the light of the “jewel in the lotus” in the head, the thousand petalled lotus. Each centre is then related by a line of living fire and each is then in full divine expression.

Thời điểm đến khi thể dĩ thái cá nhân bị chìm ngập hoặc mất hút khỏi tầm nhìn trong ánh sáng phát ra từ bảy điểm này và được nhuốm màu bởi ánh sáng của “ngọc trong hoa sen” trong đầu, hoa sen ngàn cánh. Khi đó mỗi trung tâm được liên kết bởi một dòng lửa sống động và mỗi cái sau đó đều ở trong sự biểu hiện thiêng liêng trọn vẹn.

Much emphasis has been placed by teachers in the past upon the “killing out” of the centres below the diaphragm, or upon the transference of the energies of these centres into their higher correspondences. This I also have pointed out in other writings and instructions, because it is a definite way in which to convey essential truth. These methods of expression are, however, only symbolic phrases, and to that extent are true; nevertheless, at the close of the evolutionary process every single centre in the etheric body is a living, vibrant and beautiful expression of the basic energy which has ever sought to use it. They are, however, energies which are dedicated to divine and not to material living, and are clear, pure and radiant; their central point of light is of such a brilliance that the ordinary eye of man can scarcely register it. At this point it must be remembered that though there are seven of these points, one at the centre of each lotus, [171] there are only three types of such “jewels in the lotus” because the Monad expresses only the three major aspects of divinity, or the three major rays.

Nhiều sự nhấn mạnh đã được các giáo lý viên trong quá khứ đặt vào việc “diệt trừ” các trung tâm bên dưới cơ hoành, hoặc vào sự chuyển dịch các năng lượng của các trung tâm này vào các tương ứng cao hơn của chúng. Điều này tôi cũng đã chỉ ra trong các bài viết và huấn thị khác, bởi vì đó là một cách xác định để truyền đạt chân lý cốt yếu. Tuy nhiên, các phương pháp diễn đạt này chỉ là các cụm từ mang tính biểu tượng, và ở mức độ đó là đúng; tuy nhiên, vào lúc kết thúc quy trình tiến hóa, mỗi một trung tâm trong thể dĩ thái là một biểu hiện sống động, rung động và đẹp đẽ của năng lượng cơ bản vốn luôn tìm cách sử dụng nó. Tuy nhiên, chúng là những năng lượng được dâng hiến cho đời sống thiêng liêng chứ không phải đời sống vật chất, và chúng trong trẻo, thuần khiết và rạng rỡ; điểm sáng trung tâm của chúng có độ sáng chói đến nỗi con mắt thường của con người khó có thể ghi nhận được. Tại điểm này cần phải nhớ rằng mặc dù có bảy điểm này, mỗi điểm tại trung tâm của mỗi hoa sen, [171] chỉ có ba loại “ngọc trong hoa sen” như vậy bởi vì Chân Thần chỉ biểu hiện ba phương diện chính của thiên tính, hay ba cung chính.

2. The Related Energies. This expression has reference to what have been called the “petals” of the lotus: with these differentiations of the various energies I seek not here to deal; too much emphasis has ever been laid upon them both by oriental and occidental writers; there is far too much curiosity about the number of petals in any particular centre, about their arrangement and about their colouring and quality. If these matters interest you, you can search in the standard books for this information, remembering as you garner the proffered information that you are not in a position to prove its accuracy; its usefulness, therefore, to you is highly problematical. I write this for real students and for those who seek to live the life of the spirit; the information which theorists seek is amply provided for both by me and many other exponents of the technicalities of the Ageless Wisdom.

2. Các Năng lượng Liên quan. Cách diễn đạt này tham chiếu đến những gì đã được gọi là “cánh hoa” của hoa sen: với những sự biến phân này của các năng lượng khác nhau, tôi không tìm cách bàn đến ở đây; quá nhiều sự nhấn mạnh đã từng được đặt lên chúng bởi cả các tác giả phương Đông và phương Tây; có quá nhiều sự tò mò về số lượng cánh hoa trong bất kỳ trung tâm cụ thể nào, về sự sắp xếp của chúng và về màu sắc và phẩm tính của chúng. Nếu những vấn đề này làm bạn quan tâm, bạn có thể tìm kiếm trong các sách tiêu chuẩn để có thông tin này, hãy nhớ rằng khi bạn thu thập thông tin được cung cấp, bạn không ở vị thế để chứng minh độ chính xác của nó; do đó, sự hữu ích của nó đối với bạn là rất đáng ngờ. Tôi viết điều này cho những học viên thực thụ và cho những ai tìm cách sống đời sống của tinh thần; thông tin mà các nhà lý thuyết tìm kiếm được cung cấp phong phú bởi cả tôi và nhiều người trình bày khác về các chi tiết kỹ thuật của Minh Triết Ngàn Đời.

All I would remark is that as the point in the centre is the point of life and the permanent, persistent Eternal ONE, so the related energies or petals are indicative of the state of consciousness which that Eternal One is able—at any stated point in time and space—to express. This may be the relatively undeveloped state of consciousness of the savage, the consciousness of the average man or the highly developed consciousness of the initiate up to the third degree, or the still more vibrant awareness of the initiate of still higher grades. It is ever concerned with CONSCIOUSNESS; only the point at the centre is concerned with the first or life aspect; the petals concern the second or the consciousness aspect, and this must be most carefully borne in mind.

Tất cả những gì tôi muốn nhận xét là cũng như điểm ở trung tâm là điểm sự sống và là ĐẤNG DUY NHẤT Vĩnh Cửu thường hằng, kiên định, thì các năng lượng liên quan hay các cánh hoa là biểu thị của trạng thái tâm thức mà Đấng Vĩnh Cửu đó có thể—tại bất kỳ điểm đã nêu nào trong không gian và thời gian—biểu hiện. Đây có thể là trạng thái tâm thức tương đối kém phát triển của người dã man, tâm thức của người bình thường hoặc tâm thức phát triển cao của điểm đạo đồ cho đến bậc ba, hoặc nhận thức rung động còn cao hơn nữa của điểm đạo đồ thuộc các cấp bậc cao hơn. Nó luôn liên quan đến TÂM THỨC; chỉ điểm tại trung tâm mới liên quan đến phương diện thứ nhất hay phương diện sự sống; các cánh hoa liên quan đến phương diện thứ hai hay phương diện tâm thức, và điều này phải được ghi nhớ cẩn thận nhất.

[172]

[172]

The state of the consciousness is ever indicated by the size, the colour and the activity of the energies which compose the petals of the lotus; their unfoldment and their development is conditioned by the governing rays, as well as by the age and the length of the soul’s expression. The extent and the nature of the relative “brightness” is also conditioned by the point of focus in any particular life, as well as by the trend of the thinking of the soul which is in incarnation; it must be remembered here that “energy follows thought.” The natural focus or point of polarisation is at times most definitely offset by a man’s line of thought (whatever that may currently be) or by the fact that he is living, consciously or unconsciously, the life of every day. An instance of this can be found in the fact that a disciple’s natural focus might be the solar plexus centre, but because of his fixed and determined thought, the energy which he wields can be directed to one of the centres above the diaphragm, thus producing a temporary atrophying of the centre below the diaphragm and the consequent stimulation of that which lies above that dividing line. Thus are the needed changes made.

Trạng thái của tâm thức luôn được biểu thị bởi kích thước, màu sắc và hoạt động của các năng lượng cấu thành các cánh hoa của hoa sen; sự khai mở và sự phát triển của chúng chịu sự định hình của các cung cai quản, cũng như bởi tuổi và độ dài của sự biểu hiện của linh hồn. Mức độ và bản chất của “độ sáng” tương đối cũng chịu sự định hình của điểm tập trung trong bất kỳ kiếp sống cụ thể nào, cũng như bởi khuynh hướng suy nghĩ của linh hồn đang lâm phàm; cần phải nhớ ở đây rằng “năng lượng đi theo tư tưởng”. Tiêu điểm tự nhiên hay điểm phân cực đôi khi bị hóa giải một cách dứt khoát nhất bởi dòng tư tưởng của một người (bất kể hiện tại nó có thể là gì) hoặc bởi thực tế là y đang sống, một cách ý thức hay vô thức, cuộc sống hàng ngày. Một ví dụ về điều này có thể được tìm thấy trong thực tế là tiêu điểm tự nhiên của một đệ tử có thể là trung tâm tùng thái dương, nhưng do tư tưởng cố định và kiên quyết của y, năng lượng mà y sử dụng có thể được hướng đến một trong các trung tâm bên trên cơ hoành, do đó tạo ra sự teo đi tạm thời của trung tâm bên dưới cơ hoành và sự kích thích tiếp theo của cái nằm bên trên đường phân chia đó. Do đó những thay đổi cần thiết được thực hiện.

When the cycle of evolution is nearing its close and the initiate-disciple has well-nigh run his course, the energies are all fully developed, active and vibrant, and are therefore consciously used as essential aspects of the initiate’s contact mechanism. This is often forgotten and the emphasis of the student’s thinking is laid upon the centres as expressions of his natural unfoldment, whereas that is of relatively secondary importance. The centres are, in reality, focal points through which energy can be distributed, under skilled direction, in order to make a needed impact upon those centres or individuals which the disciple seeks to aid. These impacts can be stimulated or vitalised at need, or they can be deliberately [173] destructive, thus aiding in the liberation from substance or matter of the one to be aided.

Khi chu kỳ tiến hóa đang gần kết thúc và đệ tử-điểm đạo đồ đã gần như chạy xong hành trình của mình, các năng lượng đều phát triển trọn vẹn, hoạt động và rung động, và do đó được sử dụng một cách có ý thức như những phương diện thiết yếu của cơ chế tiếp xúc của điểm đạo đồ. Điều này thường bị lãng quên và sự nhấn mạnh trong tư duy của học viên được đặt lên các trung tâm như là những biểu hiện của sự khai mở tự nhiên của y, trong khi đó là điều có tầm quan trọng tương đối thứ yếu. Các trung tâm, thực tế, là những tiêu điểm qua đó năng lượng có thể được phân phối, dưới sự chỉ đạo khéo léo, để tạo ra một tác động cần thiết lên những trung tâm hoặc những cá nhân mà người đệ tử tìm cách giúp đỡ. Những tác động này có thể được kích thích hoặc tiếp sinh lực khi cần thiết, hoặc chúng có thể phá hủy [173] một cách có chủ ý, do đó hỗ trợ việc giải thoát khỏi chất liệu hay vật chất của người cần được giúp đỡ.

It is high time that students paid attention to the service angle of the centres, and to the focussing and the use of energy in service. It is here that the knowledge of the number of the petals which form a centre is involved, because this knowledge indicates the number of the energies which are available for service, i.e., two energies, twelve energies, sixteen energies, and so forth. No attention has hitherto been paid to this important point, but it embodies the practical use of the new occultism in the coming New Age. The oriental symbols which are often superimposed upon the illustrations of the centres should now be discontinued, because they convey no real use to the occidental mind.

Đã đến lúc các học viên chú ý đến góc độ phụng sự của các trung tâm, và đến việc tập trung và sử dụng năng lượng trong phụng sự. Chính tại đây mà kiến thức về số lượng cánh hoa tạo nên một trung tâm có liên quan, bởi vì kiến thức này chỉ ra số lượng các năng lượng sẵn có cho việc phụng sự, nghĩa là, hai năng lượng, mười hai năng lượng, mười sáu năng lượng, và vân vân. Cho đến nay chưa có sự chú ý nào được dành cho điểm quan trọng này, nhưng nó bao hàm việc sử dụng thực tiễn của huyền môn mới trong Kỷ Nguyên Mới sắp tới. Các biểu tượng phương Đông thường được chồng lên các hình minh họa về các trung tâm giờ đây nên được ngưng sử dụng, bởi vì chúng không truyền đạt công dụng thực sự nào cho tâm trí phương Tây.

3. The Sphere of Radiation. This obviously concerns the radius of influence or the outgoing vibratory effect of the centres, as they are gradually and slowly brought into activity. These centres, or their vibrations, are in reality what creates or constitutes the so-called aura of the human being, even though that aura is frequently confused with the health aura. Instead of the word “frequently” I had almost said “usually,” because that would be more definitely correct. It is the etheric body which indicates and conditions the aura, which is presumed to demonstrate what the personality is, emotionally and mentally, and (occasionally) what is indicated of soul control. This is not a false premise, and I would have you register this fact. It is, however, excessively limited in its import, because the aura is in reality indicative of the subject’s centres. From the study of this aura certain things can be ascertained:

3. Phạm vi Bức xạ. Điều này rõ ràng liên quan đến bán kính ảnh hưởng hoặc hiệu quả rung động hướng ngoại của các trung tâm, khi chúng dần dần và chậm rãi được đưa vào hoạt động. Các trung tâm này, hay những rung động của chúng, thực tế là những gì tạo ra hoặc cấu thành cái gọi là hào quang của con người, mặc dù hào quang đó thường bị nhầm lẫn với hào quang sức khỏe. Thay vì từ “thường”, tôi gần như đã nói “thông thường”, bởi vì điều đó sẽ chính xác hơn một cách dứt khoát. Chính thể dĩ thái chỉ ra và định hình hào quang, vốn được cho là chứng minh phàm ngã là gì, về mặt cảm xúc và trí tuệ, và (thỉnh thoảng) những gì được biểu thị về sự kiểm soát của linh hồn. Đây không phải là một tiền đề sai lầm, và tôi muốn các bạn ghi nhận sự kiện này. Tuy nhiên, nó cực kỳ hạn chế trong ý nghĩa của nó, bởi vì hào quang thực tế là biểu thị các trung tâm của chủ thể. Từ việc nghiên cứu hào quang này, một số điều có thể được xác định:

a. Whether the development is above or below the diaphragm.

a. Liệu sự phát triển ở bên trên hay bên dưới cơ hoành.

b. Whether the centres are undeveloped or developed. [174]

b. Liệu các trung tâm chưa phát triển hay đã phát triển. [174]

c. Whether the nature of the controlling rays is adequately clear.

c. Liệu bản chất của các cung kiểm soát có đủ rõ ràng hay không.

d. Whether the point at the centre and the petals of the lotus are controlled, or whether a balance is being achieved.

d. Liệu điểm tại trung tâm và các cánh hoa sen có được kiểm soát, hay liệu một sự cân bằng đang đạt được.

e. Whether the personality is outgoing, and is therefore in a state of livingness, or whether a withdrawing is taking place due to introspection and self-centredness, or to the slow oncoming of the death process.

e. Liệu phàm ngã đang hướng ngoại, và do đó đang ở trong trạng thái sống động, hay liệu sự rút lui đang diễn ra do sự nội tâm và sự tập trung vào bản thân, hoặc do sự đến chậm chạp của quy trình cái chết.

f. Whether the personality or the soul is in control, and whether, therefore, a struggle between the two is going on.

f. Liệu phàm ngã hay linh hồn đang kiểm soát, và do đó, liệu một cuộc đấu tranh giữa hai bên có đang diễn ra hay không.

You can see, therefore, how revealing the aura can be to the individual who has the ability to read it with accuracy, and how thankful you should be that such a capacity is relatively rare, or is in the possession of an Initiate or of a Master Whose nature is LOVE.

Do đó, các bạn có thể thấy hào quang có thể tiết lộ như thế nào đối với cá nhân có khả năng đọc nó một cách chính xác, và các bạn nên biết ơn như thế nào rằng khả năng như vậy là tương đối hiếm, hoặc thuộc sở hữu của một Điểm đạo đồ hoặc của một Chân sư Mà bản chất của Ngài là TÌNH THƯƠNG.

The “sphere of radiation” is a potent instrument in service, and its extent and purity of contact should he cultivated by the pledged disciple. There is true occult teaching in the statement in The New Testament that “the shadow of Peter passing by healed.” His aura was of such a nature that it had a beneficent effect wherever and whenever it touched or contacted those in his environment. The control of the Christ over His aura was such that “He knew when virtue had gone out of Him”—He knew, therefore, that healing energies had poured through one of His centres to a needy person or group of persons. It is the aura, and its potency of attraction, and its stability, which also holds a group together, which also keeps an audience listening, and which makes an individual of importance along some definite [175] line of approach to his fellowmen. The “sphere of radiation” is easily determined by those who seek it out and who watch the effect of the radiation upon people in their community and environment. One highly emotional person, working through an overdeveloped and uncontrolled solar plexus centre, can wreck a home or an institution. I give this as an illustration. One radiant, creative life, consciously using the heart or the throat centres, can carry inspiration to hundreds. These are points well worth careful consideration. You must, however, bear in mind that these centres are brought into activity by the cultivation of certain major virtues, and not by meditation or concentration upon the centres. They are brought automatically into the needed radiatory condition by right living, high thinking and loving activity. These virtues may seem to you dull and uninteresting, but they are most potent and scientifically effective in bringing the centres into the desired radiatory activity. When the task is done, and when all the centres are living spheres of outgoing, radiatory activity, they swing into each others’ orbit so that the initiate becomes a centre of living light and not a composite of seven radiant centres. Think on this.

“Phạm vi bức xạ” là một công cụ mạnh mẽ trong phụng sự, và mức độ cùng sự thuần khiết trong tiếp xúc của nó nên được trau dồi bởi người đệ tử đã cam kết. Có giáo lý huyền môn thực sự trong câu nói ở Tân Ước rằng “cái bóng của Peter đi ngang qua đã chữa lành.” Hào quang của ông có bản chất như thế nên nó có tác dụng tốt lành ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào nó chạm vào hoặc tiếp xúc với những người trong môi trường của ông. Sự kiểm soát của Đức Christ đối với hào quang của Ngài là như thế nên “Ngài biết khi nào quyền năng đã tuôn ra từ Ngài”—do đó Ngài biết rằng các năng lượng chữa lành đã tuôn đổ qua một trong các trung tâm của Ngài đến một người hoặc nhóm người đang cần giúp đỡ. Chính hào quang, và tiềm năng thu hút của nó, và sự ổn định của nó, cũng giữ một nhóm lại với nhau, cũng giữ cho một cử tọa lắng nghe, và làm cho một cá nhân trở nên quan trọng theo một hướng [175] tiếp cận xác định nào đó đối với đồng loại của mình. “Phạm vi bức xạ” được xác định dễ dàng bởi những người tìm kiếm nó và những người quan sát hiệu quả của bức xạ lên mọi người trong cộng đồng và môi trường của họ. Một người rất giàu cảm xúc, làm việc thông qua một trung tâm tùng thái dương phát triển quá mức và không được kiểm soát, có thể phá hỏng một gia đình hoặc một tổ chức. Tôi đưa ra điều này như một minh họa. Một đời sống rạng rỡ, sáng tạo, sử dụng một cách có ý thức trung tâm tim hoặc cổ họng, có thể mang lại cảm hứng cho hàng trăm người. Đây là những điểm rất đáng để xem xét cẩn thận. Tuy nhiên, các bạn phải ghi nhớ rằng các trung tâm này được đưa vào hoạt động bằng cách trau dồi các đức hạnh chính yếu nào đó, chứ không phải bằng cách tham thiền hay tập trung vào các trung tâm. Chúng được đưa một cách tự động vào điều kiện bức xạ cần thiết bằng cách sống đúng đắn, suy nghĩ cao thượng và hoạt động yêu thương. Những đức hạnh này có vẻ buồn tẻ và không thú vị đối với các bạn, nhưng chúng hữu hiệu nhất và hiệu quả một cách khoa học trong việc đưa các trung tâm vào hoạt động bức xạ mong muốn. Khi nhiệm vụ được hoàn thành, và khi tất cả các trung tâm là những khối cầu sống động của hoạt động bức xạ hướng ngoại, chúng chuyển vào quỹ đạo của nhau để điểm đạo đồ trở thành một trung tâm của ánh sáng sống động và không phải là một tổ hợp của bảy trung tâm rạng rỡ. Hãy suy nghĩ về điều này.

4. The Central Triangle of Energies. This central triangle indicates unmistakably the three rays which condition a man’s “periodical vehicles,” as H.P.B. expresses it. These are: the monadic ray, the soul ray and the personality ray. To the watching and attentive Master it is also apparent which ray is the controlling ray, but this is not possible to anyone below the grade of Master. Disciples and other onlookers must form their conclusions from the “nature of the sphere of radiation.” An element of error can creep in at this point, which is not possible to a Master; it must, however, be remembered that until the sixth Initiation of Decision, “the Monad guards two secrets, but loses three [176] when it takes control and the soul fades out.” This, I may not further elucidate.

4. Tam Giác Năng lượng Trung tâm. Tam giác trung tâm này chỉ ra một cách không thể nhầm lẫn ba cung định hình “các hiện thể định kỳ” của một người, như H.P.B. diễn đạt. Đó là: cung chân thần, cung linh hồn và cung phàm ngã. Đối với Chân sư đang quan sát và chú tâm, cũng rõ ràng cung nào là cung kiểm soát, nhưng điều này là không thể đối với bất kỳ ai dưới cấp bậc Chân sư. Các đệ tử và những người quan sát khác phải hình thành kết luận của họ từ “bản chất của phạm vi bức xạ”. Một yếu tố sai sót có thể len lỏi vào tại điểm này, điều không thể xảy ra đối với một Chân sư; tuy nhiên, phải nhớ rằng cho đến Cuộc Điểm Đạo thứ sáu của Sự Quyết Định, “Chân Thần giữ hai bí mật, nhưng mất ba [176] khi nó nắm quyền kiểm soát và linh hồn mờ dần”. Điều này, tôi không thể làm sáng tỏ thêm.

I have here given a somewhat new slant or picture of the centres. It is one of great value to students could they but realise it, because it is not truly in line with the information given to them in the occult books. An understanding of what I have said will lead the earnest student to a more practical application of his attitude to the centres, and also to a fixed endeavour to make his sphere of radiatory activity more useful to his fellowmen. The reason for this will be that his attitude will express the quality of the subjective spirit and not the quality—hitherto rampant—of objective matter. Forget not that the etheric body is a material and substantial body, and is therefore an integral part of the physical plane; forget not that it is intended, first of all, to carry the energies of the emotional and of the mental plane in the unconscious experimental stage of incarnation; that it is also intended to carry the threefold energies of the soul in the stage of consciously gaining experience; and that also, as the antahkarana is built, it is intended to carry the energies of the Monad in the stage of consciously expressed divinity. See you, therefore, the beauty of the spiritual process, and the planned aid given to the sons of men at all stages of their return to the centre from whence they came? [177]

Ở đây tôi đã đưa ra một cái nhìn hoặc hình ảnh có phần mới mẻ về các trung tâm. Nó có giá trị to lớn đối với các học viên nếu họ có thể nhận ra nó, bởi vì nó không thực sự phù hợp với thông tin được đưa cho họ trong các sách huyền môn. Một sự thấu hiểu về những gì tôi đã nói sẽ dẫn người học viên nghiêm túc đến một ứng dụng thực tiễn hơn về thái độ của y đối với các trung tâm, và cũng đến một nỗ lực kiên định để làm cho phạm vi hoạt động bức xạ của y hữu ích hơn cho đồng loại. Lý do cho điều này sẽ là thái độ của y sẽ biểu hiện phẩm tính của tinh thần chủ quan chứ không phải phẩm tính—vốn lan tràn cho đến nay—của vật chất khách quan. Đừng quên rằng thể dĩ thái là một thể vật chất và có thực chất, và do đó là một bộ phận hợp thành của cõi hồng trần; đừng quên rằng nó được dự định, trước hết, để mang các năng lượng của cõi cảm dục và cõi trí trong giai đoạn thử nghiệm vô thức của sự lâm phàm; rằng nó cũng được dự định để mang các năng lượng tam phân của linh hồn trong giai đoạn thu thập kinh nghiệm một cách có ý thức; và rằng cũng như vậy, khi antahkarana được xây dựng, nó được dự định để mang các năng lượng của Chân Thần trong giai đoạn thiên tính được biểu hiện một cách có ý thức. Do đó, các bạn có thấy vẻ đẹp của quy trình tinh thần, và sự hỗ trợ được hoạch định dành cho những người con của nhân loại ở tất cả các giai đoạn trở về trung tâm từ nơi họ đã đến không? [177]

V. THE NATURE OF SPACE—V. BẢN CHẤT CỦA KHÔNG GIAN

Certain wide generalisations anent the etheric body should be recalled at this point. The existence of an etheric body in relation to all tangible and exoteric forms is accepted today by many scientific schools; nevertheless the original teaching has been amended in order to bring it into line with the usual theories of energy and its forms of expression. Recognition is given today, by thinkers, to the factual nature of energy (and I am using that word “factual” most advisedly); energy is now regarded as all that IS; manifestation is the manifestation of a sea of energies, some of which are built into forms, others constitute the medium in which those forms live and move and have their being, and still others are in process of animating both the forms and their environing substantial media. It must also be remembered that forms exist within forms; this is the basis of the symbolism which is to be found in the intricate carved ivory balls of the Chinese craftsmen where ball within ball is to be discovered, all elaborately carved and all free and yet confined. You—as you sit in your room—are a form within a form; that room is itself a form within a house, and that house (another form) is probably one of many similar houses, placed the one on top of another or else side by side, and together composing a still larger form. Yet all these diverse forms are composed of tangible substance which—when coordinated and brought together by some recognised design or idea in the mind of some thinker—creates a material form. This tangible substance is composed of living energies, vibrating in relation to each other, yet owning their own quality and their own [178] qualified life. I dealt with much of this in A Treatise on Cosmic Fire and you would find it profitable to reread what I there said. I will not repeat it here as I am seeking a different approach.

Cần nhớ lại một số khái quát hóa rộng rãi về thể dĩ thái tại điểm này. Sự tồn tại của một thể dĩ thái trong mối quan hệ với tất cả các hình tướng hữu hình và ngoại môn ngày nay được chấp nhận bởi nhiều trường phái khoa học; tuy nhiên, giáo lý nguyên thủy đã được sửa đổi để đưa nó phù hợp với các lý thuyết thông thường về năng lượng và các hình thức biểu hiện của nó. Sự công nhận được đưa ra ngày nay, bởi các nhà tư tưởng, đối với bản chất thực tế của năng lượng (và tôi đang sử dụng từ “thực tế” đó một cách cân nhắc nhất); năng lượng hiện nay được coi là tất cả những gì HIỆN HỮU; sự biểu hiện là sự biểu hiện của một biển năng lượng, một số trong đó được xây dựng thành các hình tướng, số khác cấu thành môi trường trong đó các hình tướng đó sống và chuyển động và hiện tồn, và vẫn còn những số khác đang trong quá trình làm sinh động cả các hình tướng và môi trường chất liệu bao quanh chúng. Cũng phải nhớ rằng các hình tướng tồn tại bên trong các hình tướng; đây là cơ sở của biểu tượng được tìm thấy trong các quả cầu ngà chạm khắc tinh xảo của các nghệ nhân Trung Hoa, nơi quả cầu bên trong quả cầu được khám phá, tất cả đều được chạm khắc tỉ mỉ và tất cả đều tự do nhưng vẫn bị giới hạn. Bạn—khi bạn ngồi trong phòng của mình—là một hình tướng bên trong một hình tướng; căn phòng đó chính nó là một hình tướng bên trong một ngôi nhà, và ngôi nhà đó (một hình tướng khác) có lẽ là một trong nhiều ngôi nhà tương tự, được đặt cái này trên cái kia hoặc sát cạnh nhau, và cùng nhau tạo thành một hình tướng lớn hơn nữa. Tuy nhiên, tất cả các hình tướng đa dạng này được cấu tạo từ chất liệu hữu hình mà—khi được phối hợp và đưa lại với nhau bởi một thiết kế hoặc ý tưởng được công nhận nào đó trong thể trí của một nhà tư tưởng nào đó—tạo ra một hình tướng vật chất. Chất liệu hữu hình này được cấu tạo từ các năng lượng sống động, rung động trong mối quan hệ với nhau, nhưng sở hữu phẩm tính riêng của chúng và [178] sự sống có phẩm tính riêng của chúng. Tôi đã đề cập đến nhiều điều này trong Luận về Lửa Vũ Trụ và các bạn sẽ thấy hữu ích khi đọc lại những gì tôi đã nói ở đó. Tôi sẽ không lặp lại ở đây vì tôi đang tìm kiếm một cách tiếp cận khác.

It might be profitable to point out that the entire universe is etheric and vital in nature and of an extension beyond the grasp of the greatest mind of the age, mounting into more than astronomical figures—if that statement even conveys sense to your minds. This extent cannot be computed, even in terms of light years; this cosmic etheric area is the field of untold energies and the basis of all astrological computations; it is the playground of all historical cycles—cosmic, systemic and planetary—and is related to the constellations, to the worlds of suns, to the most distant stars and to the numerous recognised universes, as well as to our own solar system, to the many planets, and to that planet upon which and in which we move and live and have our being, as well as to the smallest form of life known to science and perhaps covered by the meaningless term “an atom.” All are found existing in Space—Space is etheric in nature and—so we are told in the occult science—Space is an Entity. The glory of man lies in the fact that he is aware of space and can imagine this space as the field of divine living activity, full of active intelligent forms, each placed in the etheric body of this unknown Entity, each related to each other through the potency which not only holds them in being but which preserves their position in relation to each other; yet each of these differentiated forms possesses its own differentiated life, its own unique quality or integral colouring, and its own specific and peculiar form of consciousness.

Có thể hữu ích khi chỉ ra rằng toàn bộ vũ trụ có bản chất dĩ thái và đầy sinh lực và có một sự mở rộng vượt ra ngoài sự nắm bắt của tâm trí vĩ đại nhất của thời đại, lên tới hơn cả những con số thiên văn—nếu phát biểu đó thậm chí truyền đạt ý nghĩa cho tâm trí các bạn. Phạm vi này không thể tính toán được, ngay cả tính bằng năm ánh sáng; khu vực dĩ thái vũ trụ này là trường của vô số năng lượng và là cơ sở của tất cả các tính toán chiêm tinh; nó là sân chơi của tất cả các chu kỳ lịch sử—vũ trụ, thái dương hệ và hành tinh—và liên quan đến các chòm sao, đến các thế giới của các mặt trời, đến các ngôi sao xa xôi nhất và đến vô số vũ trụ được công nhận, cũng như đến hệ mặt trời của chúng ta, đến nhiều hành tinh, và đến hành tinh mà trên đó và trong đó chúng ta chuyển động và sống và hiện tồn, cũng như đến hình thức sự sống nhỏ nhất được khoa học biết đến và có lẽ được bao hàm bởi thuật ngữ vô nghĩa “một nguyên tử”. Tất cả được tìm thấy đang tồn tại trong Không Gian—Không Gian có bản chất dĩ thái và—như chúng ta được bảo trong khoa học huyền môn—Không Gian là một Thực Thể. Vinh quang của con người nằm ở chỗ y nhận thức được không gian và có thể hình dung không gian này là trường hoạt động sống động thiêng liêng, đầy những hình tướng thông tuệ tích cực, mỗi cái được đặt trong thể dĩ thái của Thực Thể vô danh này, mỗi cái liên quan với nhau thông qua tiềm năng không chỉ giữ chúng trong sự hiện tồn mà còn bảo tồn vị trí của chúng trong mối quan hệ với nhau; tuy nhiên mỗi một trong các hình tướng được biến phân này sở hữu sự sống được biến phân của riêng nó, phẩm tính độc đáo hoặc màu sắc tích hợp của riêng nó, và hình thức tâm thức cụ thể và riêng biệt của nó.

This etheric body—vast and unknown as it is, as to its extent—is nevertheless limited in nature and static (relatively speaking) in capacity; it preserves a set form, a form [179] of which we know absolutely nothing, but which is the etheric form of the Unknown Entity. To this form the esoteric science gives the name of SPACE; it is the fixed area in which every form, from a universe to an atom, finds its location.

Thể dĩ thái này—rộng lớn và chưa được biết đến như nó vốn thế, về mặt phạm vi của nó—tuy nhiên bị giới hạn về bản chất và tĩnh tại (nói một cách tương đối) về năng lực; nó bảo tồn một hình tướng cố định, một hình tướng [179] mà chúng ta hoàn toàn không biết gì về nó, nhưng lại là hình tướng dĩ thái của Thực Thể Chưa Biết. Đối với hình tướng này, khoa học bí truyền đặt tên là KHÔNG GIAN; nó là khu vực cố định trong đó mọi hình tướng, từ một vũ trụ đến một nguyên tử, tìm thấy vị trí của nó.

We speak at times of an expanding universe; what we really mean is an expanding consciousness, for this etheric body of the Entity, Space, is the recipient of many types of informing and penetrating energies, and it is also the field for the intelligent activity of the indwelling Lives of the Universe, of the many constellations, of the distant stars, of our solar system, of the planets within the system, and of all that constitutes the sum total of these separated living forms. The factor which relates them is consciousness and nothing else, and the field of conscious awareness is created through the interplay of all living intelligent forms within the area of the etheric body of that great Life which we call SPACE.

Đôi khi chúng ta nói về một vũ trụ đang giãn nở; điều chúng ta thực sự muốn nói là một tâm thức đang mở rộng, vì thể dĩ thái này của Thực Thể, Không Gian, là nơi tiếp nhận nhiều loại năng lượng đang phú linh và thâm nhập, và nó cũng là trường cho hoạt động thông tuệ của các Sự Sống nội trú của Vũ trụ, của nhiều chòm sao, của các ngôi sao xa xôi, của hệ mặt trời của chúng ta, của các hành tinh bên trong hệ thống, và của tất cả những gì cấu thành tổng thể của các hình tướng sống động tách biệt này. Yếu tố liên kết chúng là tâm thức và không gì khác, và trường nhận thức có ý thức được tạo ra thông qua sự tác động qua lại của tất cả các hình tướng thông tuệ sống động bên trong khu vực của thể dĩ thái của Sự Sống vĩ đại đó mà chúng ta gọi là KHÔNG GIAN.

Every form within the etheric body is like a centre in a planet or in the human body, and the resemblance—based upon what I gave you herein in relation to the human centres—is correct and recognisable.

Mọi hình tướng bên trong thể dĩ thái giống như một trung tâm trong một hành tinh hoặc trong cơ thể con người, và sự tương đồng—dựa trên những gì tôi đã đưa cho các bạn ở đây liên quan đến các trung tâm của con người—là chính xác và có thể nhận biết được.

Each form (because it constitutes an aggregated area of substantial lives or atoms) is a centre within the etheric body of the form of which it is a constituent part. It has, as the basis of its existence, a living dynamic point which integrates the form and preserves it in essential being. This form or centre—large or small, a man or an atom of substance—is related to all other forms and expressing energies in the environing space, and is automatically receptive to some, and repudiates others through the process of non-recognition; it relays or transmits other energies, radiating from other forms, and it thus becomes in its turn an impressing agent. You see, therefore, where differentiated truths approach each other and blend, forcing us to use the [180] same terminologies in order to express the same factual truths or ideas.

Mỗi hình tướng (bởi vì nó cấu thành một khu vực tập hợp của các sự sống chất liệu hoặc các nguyên tử) là một trung tâm bên trong thể dĩ thái của hình tướng mà nó là một bộ phận cấu thành. Nó có, như là cơ sở cho sự tồn tại của nó, một điểm năng động sống động tích hợp hình tướng và bảo tồn nó trong sự hiện tồn thiết yếu. Hình tướng hoặc trung tâm này—lớn hay nhỏ, một con người hay một nguyên tử chất liệu—liên quan đến tất cả các hình tướng khác và các năng lượng biểu hiện trong không gian bao quanh, và tự động tiếp nhận một số, và khước từ những cái khác thông qua quy trình không nhận biết; nó chuyển tiếp hoặc truyền tải các năng lượng khác, bức xạ từ các hình tướng khác, và do đó đến lượt nó trở thành một tác nhân gây ấn tượng. Do đó, các bạn thấy nơi các chân lý được biến phân tiếp cận nhau và hòa quyện, buộc chúng ta phải sử dụng các [180] thuật ngữ giống nhau để diễn đạt các chân lý hoặc ý tưởng thực tế giống nhau.

Again, each point of life within a centre has its own sphere of radiation or its own extending field of influence; this field is necessarily dependent upon the type and the nature of the indwelling Consciousness. It is this magnetic interplay between the many vast centres of energy in space which is the basis of all astronomical relationships—between universes, solar systems and planets. Bear in mind, however, that it is the CONSCIOUSNESS aspect which renders the form magnetic, receptive, repudiating and transmitting; this consciousness differs according to the nature of the entity which informs or works through a centre, great or small. Bear in mind also that the life which pours through all centres and which animates the whole of space is the life of an Entity; it is, therefore, the same life in all forms, limited in time and space by the intention, the wish, the form and the quality of the indwelling consciousness: the types of consciousness are many and diverse, yet life remains ever the same and indivisible, for it is the ONE LIFE.

Một lần nữa, mỗi điểm sự sống bên trong một trung tâm có phạm vi bức xạ riêng của nó hoặc trường ảnh hưởng mở rộng của riêng nó; trường này nhất thiết phụ thuộc vào loại và bản chất của Tâm Thức nội trú. Chính sự tác động qua lại từ tính này giữa nhiều trung tâm năng lượng rộng lớn trong không gian là cơ sở của tất cả các mối quan hệ thiên văn—giữa các vũ trụ, các hệ mặt trời và các hành tinh. Tuy nhiên, hãy ghi nhớ rằng chính phương diện TÂM THỨC làm cho hình tướng có từ tính, tiếp nhận, khước từ và truyền tải; tâm thức này khác nhau tùy theo bản chất của thực thể phú linh hoặc làm việc thông qua một trung tâm, lớn hay nhỏ. Cũng hãy ghi nhớ rằng sự sống tuôn đổ qua tất cả các trung tâm và làm sinh động toàn bộ không gian là sự sống của một Thực Thể; do đó, nó là cùng một sự sống trong tất cả các hình tướng, bị giới hạn trong thời gian và không gian bởi ý định, ước muốn, hình tướng và phẩm tính của tâm thức nội trú: các loại tâm thức thì nhiều và đa dạng, nhưng sự sống vẫn mãi là một và không thể phân chia, vì nó là SỰ SỐNG DUY NHẤT.

The sphere of radiation is conditioned always by the point of evolution of the life within the form; the correlating, integrating factor, relating centre to centre, is life itself; life establishes contact; livingness is the basis of every relation, even if this is not immediately apparent to you; consciousness qualifies the contact and colours the radiation. Thus again we are returned to the same fundamental triplicity to which I gave the names of Life, Quality, Appearance in an earlier book (A Treatise on the Seven Rays Volume I). A form is therefore a centre of life within some aspect of the etheric body of the Entity, Space, where a living animated existence, such as that of a planet, is concerned. The same is true also of all lesser forms, such as those found upon and within a plane.

Phạm vi bức xạ luôn chịu sự định hình của điểm tiến hóa của sự sống bên trong hình tướng; yếu tố tương quan, tích hợp, liên kết trung tâm với trung tâm, chính là sự sống; sự sống thiết lập tiếp xúc; sự sống động là cơ sở của mọi mối quan hệ, ngay cả khi điều này không ngay lập tức rõ ràng đối với các bạn; tâm thức định tính sự tiếp xúc và nhuốm màu bức xạ. Do đó một lần nữa chúng ta được đưa trở lại với bộ ba cơ bản giống nhau mà tôi đã đặt tên là Sự Sống, Phẩm Tính, Sắc Tướng trong một cuốn sách trước đó (Luận về Bảy Cung Tập I). Do đó, một hình tướng là một trung tâm của sự sống bên trong một phương diện nào đó của thể dĩ thái của Thực Thể, Không Gian, nơi một sự tồn tại sinh động, chẳng hạn như của một hành tinh, có liên quan. Điều tương tự cũng đúng với tất cả các hình tướng nhỏ hơn, chẳng hạn như những hình tướng được tìm thấy trên và trong một cõi.

[181]

[181]

This centre has within it a point of life and is related to all surrounding energies; it has its own sphere of radiation or of influence which is dependent upon the nature or strength of its consciousness and upon the dynamic conditioning factor of the ensouling entity’s thought life. These are points worthy of your most careful consideration. Finally, every centre has its central triangle of energies; one of these energies expresses the ensouling life of the form; another expresses the quality of its consciousness, whilst the third—the dynamic, integrating life which holds form and consciousness together in one expressive livingness—conditions the radiation of the form, its responsiveness or non-responsiveness to the environing energies and the general nature of the informing life, plus its creative ability.

Trung tâm này có bên trong nó một điểm sự sống và liên quan đến tất cả các năng lượng xung quanh; nó có phạm vi bức xạ hoặc ảnh hưởng riêng phụ thuộc vào bản chất hoặc sức mạnh của tâm thức của nó và vào yếu tố định hình năng động của đời sống tư tưởng của thực thể phú linh. Đây là những điểm xứng đáng để các bạn xem xét cẩn thận nhất. Cuối cùng, mọi trung tâm đều có tam giác năng lượng trung tâm của nó; một trong những năng lượng này biểu hiện sự sống phú linh của hình tướng; năng lượng khác biểu hiện phẩm tính của tâm thức của nó, trong khi năng lượng thứ ba—sự sống năng động, tích hợp giữ hình tướng và tâm thức lại với nhau trong một sự sống động đầy biểu cảm—định hình bức xạ của hình tướng, sự đáp ứng hoặc không đáp ứng của nó với các năng lượng môi trường và bản chất chung của sự sống phú linh, cộng với khả năng sáng tạo của nó.

Much that I have given you here will serve to elucidate that which I have written upon esoteric astrology (A Treatise on the Seven Rays, Volume III. The Destiny of the Nations); it will give you the key to that science of relationships which is essentially the key to astrology and also to the science of Laya Yoga. This latter science has (fortunately for the Aryan race) fallen into disrepute since later Atlantean days; it will, however, be restored and used upon a higher turn of the spiral, during the next five hundred years. When correctly and rightly restored, its emphasis will not be upon the nature of the centre involved, but upon the quality of the consciousness which distinguishes any particular centre and which will then necessarily condition its sphere of radiation. Under the great Law of Correspondences, all that I have here given or indicated can be applied by the student to all forms of life: to a universe, to a solar system, to a planet, to a human being, to any subhuman form and to the tiniest atom of substance (whatever you may mean by that last term!). [182]

Nhiều điều tôi đã đưa cho các bạn ở đây sẽ giúp làm sáng tỏ những gì tôi đã viết về chiêm tinh học nội môn (Luận về Bảy Cung, Tập III. Vận Mệnh của Các Quốc Gia); nó sẽ trao cho các bạn chìa khóa cho khoa học về các mối quan hệ vốn về cơ bản là chìa khóa cho chiêm tinh học và cũng cho khoa học Laya Yoga. Khoa học thứ hai này (may mắn cho giống dân Arya) đã rơi vào tình trạng mang tiếng xấu kể từ những ngày cuối thời Atlantis; tuy nhiên, nó sẽ được khôi phục và sử dụng trên một vòng xoắn ốc cao hơn, trong năm trăm năm tới. Khi được khôi phục một cách chính xác và đúng đắn, sự nhấn mạnh của nó sẽ không nằm ở bản chất của trung tâm liên quan, mà ở phẩm tính của tâm thức phân biệt bất kỳ trung tâm cụ thể nào và sau đó nhất thiết sẽ định hình phạm vi bức xạ của nó. Theo Định luật Tương ứng vĩ đại, tất cả những gì tôi đã đưa ra hoặc chỉ ra ở đây có thể được học viên áp dụng cho mọi hình thức của sự sống: cho một vũ trụ, một hệ mặt trời, một hành tinh, một con người, bất kỳ hình tướng hạ nhân loại nào và cho nguyên tử chất liệu nhỏ nhất (bất kể các bạn có thể hàm ý gì bởi thuật ngữ cuối cùng đó!). [182]

VI. THE PLANETARY LIFE — A CENTRE IN THE SOLAR SYSTEM—VI. SỰ SỐNG HÀNH TINH — MỘT TRUNG TÂM TRONG HỆ MẶT TRỜI

We shall now endeavour to apply whatever knowledge is available to you at this time in relation to the planetary Life, expressing itself as a centre in the solar system. We shall also study its secondary expression through the medium of three major centres: Shamballa, the Hierarchy, and Humanity.

Bây giờ chúng ta sẽ nỗ lực áp dụng bất cứ kiến thức nào có sẵn cho các bạn vào lúc này liên quan đến Sự Sống hành tinh, biểu hiện như một trung tâm trong hệ mặt trời. Chúng ta cũng sẽ nghiên cứu sự biểu hiện thứ yếu của nó thông qua phương tiện của ba trung tâm chủ yếu: Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại.

The fundamental concept of hylozoism underlies all the esoteric teaching upon the theme of manifesting life. All forms are composed of many forms, and all forms—aggregated or single in nature—are the expression of an indwelling or ensouling life. The fusion of life with living substance produces another aspect of expression: that of consciousness. This consciousness varies according to the natural receptivity of the form, according to its point in evolution, and to its position also in the great chain of Hierarchy.

Khái niệm cơ bản của thuyết hoạt vật nằm bên dưới tất cả các giáo lý huyền môn về chủ đề sự sống biểu hiện. Tất cả các hình tướng được cấu tạo từ nhiều hình tướng, và tất cả các hình tướng—dù là tập hợp hay đơn lẻ về bản chất—là sự biểu hiện của một sự sống nội trú hoặc phú linh. Sự dung hợp của sự sống với chất liệu sống tạo ra một phương diện biểu hiện khác: đó là tâm thức. Tâm thức này thay đổi tùy theo khả năng tiếp nhận tự nhiên của hình tướng, tùy theo điểm của nó trong tiến hóa, và cũng tùy theo vị trí của nó trong chuỗi thứ bậc vĩ đại.

However, dwarfing every other concept, is the concept of life itself. There is—as far as we have ever been permitted to know—only one Life, expressing itself as Being, as responsive consciousness, and as material appearance. That One Life knows itself (if such a term can be used) as the will-to-be, the will-to-good, and the will-to-know. It will be obvious to you that these are only terms or methods organised to convey a better picture than heretofore.

Tuy nhiên, làm lu mờ mọi khái niệm khác, là khái niệm về chính sự sống. Chỉ có—theo như chúng ta từng được phép biết—một Sự Sống duy nhất, biểu hiện như là Bản thể, như là tâm thức đáp ứng, và như là hình hài vật chất. Một Sự Sống đó biết chính nó (nếu có thể sử dụng một thuật ngữ như vậy) là ý chí-hiện hữu, ý chí-hướng thiện, và ý chí-hiểu biết. Sẽ rõ ràng với các bạn rằng đây chỉ là những thuật ngữ hoặc phương pháp được tổ chức để truyền đạt một bức tranh tốt hơn so với trước đây.

This is also a brief preamble to another statement, which can be worded as follows: The planetary Logos, the One in Whom we live and move and have our being, is the informing, ensouling life of this planet, the Earth; it is His life which integrates the planet as a whole, and His life which pours through all forms—great or small—which, [183] in their aggregate, constitute the planetary form. Preserve, therefore, in your conscious imagination and by means of the innate symbol-making faculty which all men possess, the concept of our planet as a great lotus composed of many interweaving energies, located within the greater form of the solar system which is, as we know, esoterically portrayed as a twelve-petalled lotus. This lotus, the Earth, is responsive to the many entering energies with which I dealt at some length in my book upon Esoteric Astrology. (A Treatise on the Seven Rays, Vol III)

Đây cũng là một lời mở đầu ngắn gọn cho một phát biểu khác, có thể được diễn đạt như sau: Hành Tinh Thượng Đế, Đấng mà trong Ngài chúng ta sống và chuyển động và hiện tồn, là sự sống thấm nhuần, phú linh của hành tinh này, Trái Đất; chính sự sống của Ngài tích hợp toàn bộ hành tinh, và sự sống của Ngài tuôn đổ qua tất cả các hình tướng—lớn hay nhỏ—mà, [183] trong tổng thể của chúng, cấu thành hình tướng hành tinh. Do đó, hãy gìn giữ, trong trí tưởng tượng có ý thức của các bạn và bằng phương tiện của năng lực tạo biểu tượng bẩm sinh mà tất cả mọi người đều sở hữu, khái niệm về hành tinh của chúng ta như một hoa sen vĩ đại bao gồm nhiều năng lượng đan xen, nằm bên trong hình tướng lớn hơn của hệ mặt trời mà, như chúng ta biết, được mô tả về mặt huyền môn như một hoa sen mười hai cánh. Hoa sen này, Trái Đất, đáp ứng với nhiều năng lượng đi vào mà tôi đã đề cập khá dài trong cuốn sách của tôi về Chiêm Tinh Học Nội Môn. (Luận về Bảy Cung, Tập III)

At the heart of this vast sea of energies is to be found that cosmic Consciousness to Whom we give the name of Sanat Kumara, the Lord of the World, the Ancient of Days. It is His Will-to-Be which brought His manifested form into the tangible arena of life; it is His Will-to-Good which activates the Law of Evolution and carries His Form, with the myriad lesser forms of which it is composed, on to the ultimate glory which He alone visions and knows. It is His consciousness and His sensitive response to all forms and to all states of being and to all possible impacts and contacts which guarantees the developing consciousness of all the many lives within or upon this Earth of ours.

Tại tâm của biển năng lượng bao la này có thể tìm thấy Tâm thức vũ trụ đó mà chúng ta đặt tên là Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ. Chính Ý Chí-Hiện Hữu của Ngài đã đưa hình tướng biểu hiện của Ngài vào vũ đài hữu hình của sự sống; chính Ý Chí-hướng Thiện của Ngài kích hoạt Định luật Tiến hóa và mang Hình tướng của Ngài, với vô số hình tướng nhỏ hơn tạo thành nó, đi đến vinh quang tối thượng mà chỉ mình Ngài nhìn thấy và biết. Chính tâm thức của Ngài và sự đáp ứng nhạy cảm của Ngài với mọi hình tướng và mọi trạng thái hiện tồn và mọi tác động và tiếp xúc có thể có, đảm bảo cho tâm thức đang phát triển của vô số sự sống bên trong hoặc trên Trái Đất này của chúng ta.

This great Centre of Existence works through a triangle of energies or through lesser centres, each of which is brought into active expression by one of the three major Rays or Energies. The Centre which is created by the Ray of Will or Power is called Shamballa and its major activity is bequeathing, distributing and circulating the basic principle of life itself to every form which is held within the planetary ring-pass-not of the planetary Life or Logos. This energy is the dynamic incentive at the heart of every form and the sustained expression of the intention of Sanat Kumara—an intention working out as the planetary Purpose which is known only to Him.

Trung tâm Hiện tồn vĩ đại này làm việc thông qua một tam giác năng lượng hoặc thông qua các trung tâm nhỏ hơn, mỗi trung tâm được đưa vào biểu hiện tích cực bởi một trong ba Cung hay Năng lượng chủ yếu. Trung tâm được tạo ra bởi Cung của Ý Chí hay Quyền Năng được gọi là Shamballa và hoạt động chính của nó là ban truyền, phân phối và luân chuyển nguyên khí cơ bản của chính sự sống đến mọi hình tướng được giữ bên trong vòng-giới-hạn hành tinh của Sự Sống hay Thượng đế hành tinh. Năng lượng này là động lực năng động tại tâm của mọi hình tướng và là sự biểu hiện bền vững của ý định của Sanat Kumara—một ý định đang thực thi như là Mục Đích hành tinh vốn chỉ mình Ngài biết.

[184]

[184]

The second Centre is created by the Ray of Love-Wisdom; this is the basic energy which brought into being the entire manifested universe, for it is the energy of the Builder Aspect. To it we give—as far as humanity is concerned—the name of Hierarchy, for it is the controlling factor of the great chain of Hierarchy. The prime activity of this Centre is related to the unfolding consciousness of the planet, and therefore of all forms of life within or upon the planet; it is not related to the life aspect in any sense.

Trung tâm thứ hai được tạo ra bởi Cung Bác Ái-Minh Triết; đây là năng lượng cơ bản đã đưa toàn bộ vũ trụ biểu hiện vào hiện tồn, vì nó là năng lượng của Phương diện Kiến Tạo. Đối với nó chúng ta đặt tên—theo như nhân loại được biết—là Thánh Đoàn, vì nó là yếu tố kiểm soát của chuỗi thứ bậc vĩ đại. Hoạt động chính của Trung tâm này liên quan đến tâm thức đang khai mở của hành tinh, và do đó của tất cả các hình thức sự sống bên trong hoặc trên hành tinh; nó không liên quan đến phương diện sự sống theo bất kỳ nghĩa nào.

The task of the “units of Energy” who constitute the personnel of this Centre is to awaken and arouse the sense of awareness and of consciousness which is sensitive in its response to the life within all forms. Just as the basic mode of activity in and through Shamballa could be called the Science of Life or of dynamic livingness, so the basic science by means of which the Hierarchy works could be called the Science of Relationships. Consciousness is not only the sense of identity or of self-awareness, but it concerns also the sense of relation of that recognised self or the “I” to all other selves. This consciousness is progressively developed, and the Members of this second Centre, the Hierarchy, have the major and important task, in this particular solar systemic cycle, of bringing all the units in each kingdom of nature to an understanding of place, position, responsibility and relationships. This probably sounds entirely meaningless in relation to those conditions where the units of life are, for instance, in the vegetable or the animal kingdom, but a glimmering of understanding may come when you remember that the seed or germ of all states of consciousness is latent in every form, and of this the instinct to perpetuate and the instinct to mate are the major incubating areas.

Nhiệm vụ của các “đơn vị Năng lượng” cấu thành nhân sự của Trung tâm này là đánh thức và khơi dậy ý thức nhận biết và tâm thức vốn nhạy cảm trong sự đáp ứng của nó với sự sống bên trong mọi hình tướng. Cũng như phương thức hoạt động cơ bản trong và thông qua Shamballa có thể được gọi là Khoa học của Sự Sống hay của sự sống động năng động, thì khoa học cơ bản nhờ đó Thánh Đoàn làm việc có thể được gọi là Khoa học của các Mối Quan Hệ. Tâm thức không chỉ là ý thức về bản sắc hay về sự tự nhận thức, mà nó còn liên quan đến ý thức về mối quan hệ của cái ngã được nhận biết đó hay “cái tôi” với tất cả các cái ngã khác. Tâm thức này được phát triển dần dần, và các Thành viên của Trung tâm thứ hai này, Thánh Đoàn, có nhiệm vụ chính yếu và quan trọng, trong chu kỳ hệ mặt trời cụ thể này, là đưa tất cả các đơn vị trong mỗi giới của tự nhiên đến một sự thấu hiểu về vị trí, địa vị, trách nhiệm và các mối quan hệ. Điều này có lẽ nghe hoàn toàn vô nghĩa đối với những điều kiện mà các đơn vị sự sống, chẳng hạn, đang ở trong giới thực vật hay động vật, nhưng một tia sáng hiểu biết có thể đến khi các bạn nhớ rằng hạt giống hay mầm mống của mọi trạng thái tâm thức đều tiềm tàng trong mọi hình tướng, và về điều này bản năng duy trì nòi giống và bản năng giao phối là những khu vực ấp ủ chính.

The third Centre is that of the Human Kingdom, which is brought into being by means of the energy of the third [185] Ray of Active Intelligence. Its major function is intelligent creation; but it has nevertheless a secondary activity which is to relate the second and the third Centres to each other and to assume progressive control of the subhuman kingdoms and relate them to each other. This secondary function is only now assuming proportions which can be recognised and noted.

Trung tâm thứ ba là của Giới Nhân Loại, được đưa vào hiện tồn nhờ năng lượng của Cung ba [185] của Trí Tuệ Hoạt Động. Chức năng chính yếu của nó là sáng tạo thông tuệ; nhưng tuy nhiên nó có một hoạt động thứ yếu là liên kết Trung tâm thứ hai và thứ ba với nhau và đảm nhận sự kiểm soát dần dần đối với các giới dưới nhân loại và liên kết chúng với nhau. Chức năng thứ yếu này chỉ bây giờ mới đạt đến quy mô có thể được nhận biết và ghi nhận.

The Central Triangle of Energies—Tam Giác Năng lượng Trung tâm

Each of these three Centres has a governing and controlling Triangle or central Triangle of Energies. In relation to Shamballa, this Triangle is composed of the three Buddhas of Activity Who represent conscious intelligent life, conscious, intelligent and active wisdom, and conscious, intelligent and active creation.

Mỗi một trong ba Trung tâm này đều có một Tam giác cai quản và kiểm soát hay Tam giác Năng lượng trung tâm. Trong mối quan hệ với Shamballa, Tam giác này bao gồm ba Đức Phật Hoạt Động, Những Đấng đại diện cho sự sống thông tuệ có ý thức, minh triết tích cực, thông tuệ có ý thức, và sự sáng tạo tích cực, thông tuệ có ý thức.

In connection with the Hierarchy, the central Triangle is composed of the Manu, representing loving intelligent life, the Christ, representing loving intelligent consciousness, and the Mahachohan, representing loving intelligent activity, and therefore between Them representing every phase of group livingness, group expression and group action; these qualities focus through the Mahachohan, primarily because He is the Lord of Civilisation and the civilisations of humanity represent progressive growth and unfoldment.

Trong mối liên hệ với Thánh Đoàn, Tam giác trung tâm bao gồm Đức Manu, đại diện cho sự sống thông tuệ yêu thương, Đức Christ, đại diện cho tâm thức thông tuệ yêu thương, và Đức Mahachohan, đại diện cho hoạt động thông tuệ yêu thương, và do đó giữa Các Ngài đại diện cho mọi giai đoạn của sự sống động nhóm, biểu hiện nhóm và hành động nhóm; những phẩm tính này tập trung qua Đức Mahachohan, chủ yếu bởi vì Ngài là Chúa Tể của Nền Văn Minh và các nền văn minh của nhân loại đại diện cho sự tăng trưởng và khai mở lũy tiến.

Only in the final root-race of men upon our planet will the essential central Triangle make its appearance and function openly in the third planetary Centre, that of Humanity. Men are not yet ready for this, but the areas of conscious creative activity, out of which this triangle of functioning embodied energies will emerge, is already in preparation. One point of this future triangle will emerge out of the field of world governments, of politics and of statesmanship; another will appear out of the world religions, and a third out of the general field of world economics and finance. Today no such men of spiritual will, of spiritual love and of [186] spiritual intelligence are to be found upon Earth; even if they did emerge in these three fields of expression they could do little good, for the sense of recognition and of responsibility is as yet inadequately developed; later, they will appear and will then openly relate the department of the Manu to that of world government, the department of the Christ to that of the world religions, and the department of the Lord of Civilisation to that of the social and financial order. That time will surely come, but it will come only after the externalisation of the Hierarchy and its open functioning upon the physical plane. Then, some senior disciples from each of the three hierarchical departments will appear and will attempt the experiment of this centralising and embodiment of the three qualities of the central Triangle. They will then discover, by direct action, when and if mankind is ready for such an experiment of direct control and if it has developed the needed sense of responsibility—a responsibility which will produce cooperation.

Chỉ trong giống dân gốc cuối cùng của con người trên hành tinh của chúng ta, Tam giác trung tâm cốt yếu mới xuất hiện và hoạt động công khai trong Trung tâm hành tinh thứ ba, Nhân loại. Con người vẫn chưa sẵn sàng cho điều này, nhưng các lĩnh vực của hoạt động sáng tạo có ý thức, mà từ đó tam giác của các năng lượng hiện thân hoạt động này sẽ xuất hiện, đã đang được chuẩn bị. Một điểm của tam giác tương lai này sẽ xuất hiện từ lĩnh vực của các chính phủ thế giới, của chính trị và của thuật lãnh đạo quốc gia; một điểm khác sẽ xuất hiện từ các tôn giáo thế giới, và điểm thứ ba từ lĩnh vực chung của kinh tế và tài chính thế giới. Ngày nay không có những người nào của ý chí tinh thần, của tình thương tinh thần và của [186] trí tuệ tinh thần như vậy được tìm thấy trên Trái Đất; ngay cả nếu họ có xuất hiện trong ba lĩnh vực biểu hiện này, họ cũng có thể làm rất ít điều tốt, vì ý thức công nhận và trách nhiệm vẫn chưa được phát triển đầy đủ; sau này, họ sẽ xuất hiện và khi đó sẽ công khai liên kết bộ phận của Đức Manu với bộ phận của chính phủ thế giới, bộ phận của Đức Christ với bộ phận của các tôn giáo thế giới, và bộ phận của Đức Chúa Tể của Nền Văn Minh với bộ phận của trật tự xã hội và tài chính. Thời điểm đó chắc chắn sẽ đến, nhưng nó sẽ chỉ đến sau sự ngoại hiện của Thánh Đoàn và sự hoạt động công khai của nó trên cõi hồng trần. Khi đó, một số đệ tử cấp cao từ mỗi một trong ba bộ phận của Thánh Đoàn sẽ xuất hiện và sẽ thử nghiệm cuộc thí nghiệm tập trung và hiện thân ba phẩm tính của Tam giác trung tâm này. Sau đó họ sẽ khám phá, bằng hành động trực tiếp, khi nào và liệu nhân loại có sẵn sàng cho một cuộc thí nghiệm kiểm soát trực tiếp như vậy hay không và liệu nó đã phát triển ý thức trách nhiệm cần thiết hay chưa—một trách nhiệm sẽ tạo ra sự hợp tác.

All these three Centres can therefore be depicted in the following manner: with the completed circle of the entire energy form, with the central triangle of energies carrying the qualities of the three major rays, and then the point at the centre which stands for the dynamic embodied Life.

Do đó, tất cả ba Trung tâm này có thể được mô tả theo cách sau: với vòng tròn hoàn chỉnh của toàn bộ hình thái năng lượng, với tam giác năng lượng trung tâm mang các phẩm tính của ba cung chủ yếu, và sau đó điểm tại trung tâm tượng trưng cho Sự Sống hiện thân năng động.

image_image-5.jpg

In connection with Shamballa, that point is Sanat Kumara Himself; when the right time comes (though the hour is not yet) He will place His Representatives as the central points in both the Hierarchy and in Humanity. For this relatively distant event the doctrine or the theory of Avatars, of Mediators or of Inter-Mediaries is preparing the way, thus enabling men to think in these representative and inclusive terms. Not even in the Hierarchy is the time yet [187] ripe for the “residence in state of the divine Representative.” Each year, the Buddha comes and carries the force of Sanat Kumara to the Hierarchy but—He cannot stay. The “units of energy,” the Members of the Hierarchy, cannot bear for long the strong quality of the incoming vibration, except after due preparation and in group form, and then only for a few scant minutes; nevertheless the “period of dynamic potency” is being prolonged during this century from one day to five; the next century may see an even longer period of registration instituted.

Liên quan đến Shamballa, điểm đó là Chính Sanat Kumara; khi thời điểm thích hợp đến (dù giờ đó vẫn chưa tới), Ngài sẽ đặt các Đại diện của Ngài làm các điểm trung tâm trong cả Thánh Đoàn và trong Nhân loại. Đối với sự kiện tương đối xa xôi này, học thuyết hay lý thuyết về các Đấng Hóa Thân, về các Đấng Trung Gian hay các Đấng Môi Giới đang dọn đường, do đó cho phép con người suy nghĩ theo các thuật ngữ mang tính đại diện và bao gồm này. Thậm chí trong Thánh Đoàn thời điểm vẫn chưa [187] chín muồi cho sự “cư ngụ trong trạng thái của Đại diện thiêng liêng.” Mỗi năm, Đức Phật đến và mang theo mãnh lực của Sanat Kumara đến Thánh Đoàn nhưng—Ngài không thể ở lại. Các “đơn vị năng lượng”, các Thành viên của Thánh Đoàn, không thể chịu đựng lâu phẩm tính mạnh mẽ của rung động đi vào, ngoại trừ sau khi có sự chuẩn bị thích hợp và dưới hình thức nhóm, và sau đó chỉ trong một vài phút ngắn ngủi; tuy nhiên “giai đoạn của tiềm năng năng động” đang được kéo dài trong thế kỷ này từ một ngày lên năm ngày; thế kỷ tới có thể chứng kiến một giai đoạn ghi nhận thậm chí còn dài hơn được thiết lập.

At the close of the age, the three major Centres will be in complete, unified and synchronised activity, with Sanat Kumara in Shamballa overshadowing and informing His Representatives in the hierarchical and human Centres; then the central Triangle in each Centre will not be only actively functioning, but they will be working together in the closest rapport, thus forming symbolically a “Star with nine points, ever revolving”; then the massed energies of the three major Centres will dominate the other four centres, controlling the manifestation of the Life Expression in all the kingdoms of nature.

Vào lúc kết thúc thời đại, ba Trung tâm chủ yếu sẽ ở trong hoạt động hoàn chỉnh, thống nhất và đồng bộ, với Sanat Kumara ở Shamballa phủ bóng và phú linh cho các Đại diện của Ngài trong các Trung tâm của Thánh Đoàn và nhân loại; khi đó Tam giác trung tâm trong mỗi Trung tâm sẽ không chỉ hoạt động tích cực, mà chúng sẽ làm việc cùng nhau trong mối giao cảm chặt chẽ nhất, do đó hình thành một cách tượng trưng một “Ngôi Sao chín cánh, luôn xoay chuyển”; khi đó các năng lượng tập hợp của ba Trung tâm chủ yếu sẽ thống trị bốn trung tâm khác, kiểm soát sự biểu hiện của Biểu Hiện Sự Sống trong tất cả các giới của tự nhiên.

When one comes to the consideration of the sphere of radiation of these three major Centres, it is interesting to note that, at this time and in this present world cycle, the most potent radiation and the widest range of influence is that of the Hierarchy. Apart from “giving life” to all forms upon and within the planet, the influence or radiation of Shamballa is definitely and consciously restricted, until such time as the Hierarchy and Humanity can respond constructively. It is present, needless to say, and evokes response from those able to swing within its sphere of radiation; but it is felt that as yet there are too many forms of expression which could not react correctly to the work of the “Destroyer of forms,” which is the most potent [188] aspect of this first ray centre and the one which manifests first, because its work must be accomplished before the two other aspects of its potency can function rightly. The centre called humanity has as yet an inadequate radiation because of its—at present—inadequate development; its sphere of influence is relatively limited, though men are beginning to work outward in the direction of the subhuman kingdoms and to attract more forcefully the kingdom of souls than heretofore. The Hierarchy has, however, no interior restrictions such as are consciously and deliberately imposed upon itself by Shamballa or which are unconsciously imposed by humanity; any blocking of the hierarchical radiation (if I may use such a term) will come from the forms on which the impact of its radiation is sought, but the outgoing influence of the central Triangle of the Hierarchy is unique and far-reaching.

Khi người ta đi đến việc xem xét phạm vi bức xạ của ba Trung tâm chủ yếu này, thật thú vị khi lưu ý rằng, vào thời điểm này và trong chu kỳ thế giới hiện tại này, bức xạ mạnh mẽ nhất và phạm vi ảnh hưởng rộng nhất là của Thánh Đoàn. Ngoài việc “ban sự sống” cho tất cả các hình tướng trên và trong hành tinh, ảnh hưởng hay bức xạ của Shamballa bị hạn chế một cách dứt khoát và có ý thức, cho đến khi Thánh Đoàn và Nhân loại có thể đáp ứng một cách xây dựng. Không cần phải nói, nó hiện diện và khơi dậy sự đáp ứng từ những người có thể tiến vào phạm vi bức xạ của nó; nhưng người ta cảm thấy rằng hiện tại có quá nhiều hình thức biểu hiện không thể phản ứng chính xác với công việc của “Đấng Hủy diệt hình tướng”, vốn là phương diện mạnh mẽ nhất [188] của trung tâm cung một này và là phương diện biểu hiện đầu tiên, bởi vì công việc của nó phải được hoàn thành trước khi hai phương diện khác của tiềm năng của nó có thể hoạt động đúng đắn. Trung tâm gọi là nhân loại cho đến nay có một bức xạ không đầy đủ vì sự phát triển—vào lúc này—chưa đầy đủ của nó; phạm vi ảnh hưởng của nó tương đối hạn chế, mặc dù con người đang bắt đầu làm việc hướng ngoại về phía các giới hạ nhân loại và thu hút mạnh mẽ hơn vương quốc của các linh hồn so với trước đây. Tuy nhiên, Thánh Đoàn không có những hạn chế bên trong như những hạn chế được áp đặt một cách có ý thức và cố ý lên chính nó bởi Shamballa hoặc những hạn chế được áp đặt một cách vô thức bởi nhân loại; bất kỳ sự tắc nghẽn nào đối với bức xạ của thánh đoàn (nếu tôi có thể sử dụng thuật ngữ như vậy) sẽ đến từ các hình tướng mà tác động của bức xạ của nó được tìm kiếm, nhưng ảnh hưởng hướng ngoại của Tam giác trung tâm của Thánh Đoàn là độc đáo và sâu rộng.

All that we have here been considering takes place within the etheric body of the planet, for all these centres exist etherically, and only etherically, and are not affected by the fact that the “units of energy” in Shamballa or in the Hierarchy may be functioning in physical vehicles. Some are and some are not. The conditioning Lives in both these Centres work entirely through etheric means, wielding and controlling energies; the Human Centre, with its “units of energy” works largely at present upon purely physical levels or in the medium of that type of substance which we call “material”; men work with outer forms, with the tangible elements and with material factors. The “units” in the other Centres work with substance and not with matter. This is an interesting and vital distinction. The Hierarchy is existent upon the buddhic plane, which is the first of the cosmic ethers, and it works from there, impressing mental matter. Shamballa works on the levels of the three highest ethers whilst Humanity works primarily in the three worlds [189] of the dense cosmic physical plane. The New Group of World Servers has in it “units of energy” who can work both with matter and with substance.

Tất cả những gì chúng ta đang xem xét ở đây diễn ra bên trong thể dĩ thái của hành tinh, vì tất cả các trung tâm này tồn tại về mặt dĩ thái, và chỉ về mặt dĩ thái, và không bị ảnh hưởng bởi thực tế là các “đơn vị năng lượng” trong Shamballa hoặc trong Thánh Đoàn có thể đang hoạt động trong các hiện thể xác. Một số thì có và một số thì không. Các Sự Sống định hình trong cả hai Trung tâm này làm việc hoàn toàn thông qua các phương tiện dĩ thái, vận dụng và kiểm soát các năng lượng; Trung tâm Nhân loại, với các “đơn vị năng lượng” của nó làm việc phần lớn hiện nay trên các cấp độ hoàn toàn thuộc hồng trần hoặc trong môi trường của loại chất liệu đó mà chúng ta gọi là “vật chất”; con người làm việc với các hình tướng bên ngoài, với các yếu tố hữu hình và với các yếu tố vật chất. Các “đơn vị” trong các Trung tâm khác làm việc với chất liệu chứ không phải với vật chất. Đây là một sự phân biệt thú vị và quan trọng. Thánh Đoàn tồn tại trên cõi bồ đề, vốn là cái thứ nhất của các dĩ thái vũ trụ, và nó làm việc từ đó, truyền ấn tượng vào vật chất trí tuệ. Shamballa làm việc trên các cấp độ của ba dĩ thái cao nhất trong khi Nhân loại làm việc chủ yếu trong ba cõi [189] của cõi hồng trần vũ trụ đậm đặc. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có trong đó các “đơn vị năng lượng” có thể làm việc với cả vật chất và chất liệu.

There is here a most interesting distinction and one that is seldom grasped. Esoterically speaking, the word “matter” or material is given to all forms in the three worlds; and though the average human being finds it difficult to understand that the medium in which the mental processes take place and that of which all thoughtforms are made is matter from the spiritual angle, yet so it is; substance—technically speaking and esoterically understood—is in reality cosmic etheric matter, or that of which the four higher planes of our seven planes are composed. From the human angle, ability to work with and in the cosmic etheric substance demonstrates first of all when the abstract mind awakens and begins to impress the concrete mind; an intuition is an idea clothed in etheric substance, and the moment a man becomes responsive to those ideas, he can begin to master the techniques of etheric control. All this is, in reality, an aspect of the great creative process: ideas, emanating from the buddhic levels of being (the first or lowest cosmic ether) must be clothed in matter of the abstract levels of the mental plane; then they must be clothed in matter of the concrete mental plane; later, with desire matter, and finally (if they live so long) they assume physical form. An idea which comes from the intuitive levels of the divine consciousness is a true idea. It is noted or apprehended by the man who has, within his equipment, substance of the same quality—for it is the magnetic relation between the man and the idea which has made its apprehension possible. In the great creative process he must give form to the idea, if he possibly can, and thus the creative artist or the creative humanitarian comes into being and the divine creative intention is thereby aided. [190] Ideas can, however, be stillborn and abortive, and thus fail to arrive at manifestation.

Ở đây có một sự phân biệt thú vị nhất và là điều hiếm khi được nắm bắt. Về mặt huyền môn, từ “vật chất” hay thuộc về vật chất được gán cho tất cả các hình tướng trong ba cõi; và mặc dù con người bình thường thấy khó hiểu rằng môi trường trong đó các quy trình trí tuệ diễn ra và cái mà tất cả các hình tư tưởng được tạo thành là vật chất từ góc độ tinh thần, nhưng nó là như vậy; chất liệu—nói một cách kỹ thuật và được hiểu về mặt huyền môn—thực tế là vật chất dĩ thái vũ trụ, hay cái mà bốn cõi cao hơn trong bảy cõi của chúng ta được cấu tạo thành. Từ góc độ con người, khả năng làm việc với và trong chất liệu dĩ thái vũ trụ biểu lộ trước hết khi trí trừu tượng thức tỉnh và bắt đầu truyền ấn tượng vào trí cụ thể; một trực giác là một ý tưởng được khoác trong chất liệu dĩ thái, và khoảnh khắc một người trở nên đáp ứng với những ý tưởng đó, y có thể bắt đầu làm chủ các kỹ thuật kiểm soát dĩ thái. Tất cả điều này, thực tế, là một phương diện của quy trình sáng tạo vĩ đại: các ý tưởng, phát xuất từ các cấp độ hiện hữu bồ đề (cõi dĩ thái vũ trụ thứ nhất hay thấp nhất) phải được khoác trong vật chất của các cấp độ trừu tượng của cõi trí; sau đó chúng phải được khoác trong vật chất của cõi trí cụ thể; sau đó, với vật chất dục vọng, và cuối cùng (nếu chúng sống lâu đến thế) chúng khoác lấy hình tướng vật lý. Một ý tưởng đến từ các cấp độ trực giác của tâm thức thiêng liêng là một ý tưởng chân thực. Nó được ghi nhận hoặc lĩnh hội bởi người có, bên trong trang thiết bị của mình, chất liệu có cùng phẩm tính—vì chính mối quan hệ từ tính giữa người đó và ý tưởng đã làm cho sự lĩnh hội nó trở nên khả thi. Trong quy trình sáng tạo vĩ đại, y phải trao hình tướng cho ý tưởng, nếu y có thể, và do đó người nghệ sĩ sáng tạo hoặc nhà nhân đạo sáng tạo ra đời và ý định sáng tạo thiêng liêng nhờ đó được hỗ trợ. [190] Tuy nhiên, các ý tưởng có thể bị chết yểu và sẩy thai, và do đó thất bại trong việc đi đến biểu hiện.

The student is well aware that the three major Centres have their correspondences in the human etheric body and that each of them is related to its higher correspondence and can thus be “impressed” or affected and awakened by the corresponding higher agent. It might be stated that:

Học viên nhận thức rõ rằng ba Trung tâm chủ yếu có các tương ứng của chúng trong thể dĩ thái của con người và rằng mỗi cái trong chúng liên quan đến tương ứng cao hơn của nó và do đó có thể được “truyền ấn tượng” hoặc bị ảnh hưởng và được đánh thức bởi tác nhân cao hơn tương ứng. Có thể phát biểu rằng:

1. Energy from the planetary centre, Shamballa, utilises the head centre, the thousand petalled lotus, when the man is adequately developed. This centre is the agent of the divine will within the life of the spiritual man, working through the Spiritual Triad. It is only actively useful when the antahkarana is constructed or in process of construction.

1. Năng lượng từ trung tâm hành tinh, Shamballa, sử dụng trung tâm đầu, hoa sen ngàn cánh, khi con người được phát triển đầy đủ. Trung tâm này là tác nhân của ý chí thiêng liêng bên trong đời sống của con người tinh thần, làm việc thông qua Tam Nguyên Tinh Thần. Nó chỉ hữu ích một cách tích cực khi antahkarana được xây dựng hoặc đang trong quá trình xây dựng.

2. Energy from the planetary centre, the Hierarchy, utilises the heart centre. This centre is the agent of divine love (expressing basically the will-to-good) working through the soul of the individual aspirant or disciple; this becomes possible when contact with the soul has been attained in some measure and the aspirant is on the way to become a soul-infused personality.

2. Năng lượng từ trung tâm hành tinh, Thánh Đoàn, sử dụng trung tâm tim. Trung tâm này là tác nhân của tình thương thiêng liêng (biểu hiện cơ bản ý chí-hướng thiện) làm việc thông qua linh hồn của người chí nguyện hoặc đệ tử cá nhân; điều này trở nên khả thi khi sự tiếp xúc với linh hồn đã đạt được ở một mức độ nào đó và người chí nguyện đang trên đường trở thành một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.

3. Energy from the third planetary centre, Humanity, utilises the throat centre, working through the integrated personality, and therefore only when a relatively high degree of evolutionary unfoldment has been attained. The throat centre only becomes creatively and spiritually active when the lower nature has been to some degree subordinated to idealistic aspiration: this aspiration need not be one that is usually regarded as spiritual and religious by the orthodox and therefore imprisoned thinker. It must, however, be one of which the whole integrated man [191] is the instrument and which will be of such a large nature that it will call all his creative faculty into expression.

3. Năng lượng từ trung tâm hành tinh thứ ba, Nhân loại, sử dụng trung tâm cổ họng, làm việc thông qua phàm ngã tích hợp, và do đó chỉ khi một mức độ khai mở tiến hóa tương đối cao đã đạt được. Trung tâm cổ họng chỉ trở nên tích cực về mặt sáng tạo và tinh thần khi bản chất thấp hơn đã ở một mức độ nào đó phục tùng khát vọng lý tưởng: khát vọng này không cần phải là một khát vọng thường được coi là thuộc về tinh thần và tôn giáo bởi nhà tư tưởng chính thống và do đó bị giam cầm. Tuy nhiên, nó phải là một khát vọng mà toàn bộ con người tích hợp [191] là công cụ và nó sẽ có bản chất lớn lao đến mức nó sẽ kêu gọi tất cả năng lực sáng tạo của y vào biểu hiện.

In this solar system, the heart centre is the first usually to be awakened and active; as soon as there is life in that centre and a measure of activity, the other two major centres can begin to awaken. The correspondence to this can be seen in the fact that the Hierarchy is the mediating or middle factor between the planetary head and throat centres, between Shamballa and Humanity. That is why the emphasis is laid upon the heart aspect in all the teachings.

Trong hệ mặt trời này, trung tâm tim thường là trung tâm đầu tiên được đánh thức và hoạt động; ngay khi có sự sống trong trung tâm đó và một mức độ hoạt động, hai trung tâm chủ yếu khác có thể bắt đầu thức tỉnh. Sự tương ứng với điều này có thể được thấy trong thực tế là Thánh Đoàn là yếu tố trung gian hay ở giữa giữa các trung tâm đầu và cổ họng của hành tinh, giữa Shamballa và Nhân loại. Đó là lý do tại sao sự nhấn mạnh được đặt vào phương diện tim trong tất cả các giáo lý.

There are two centres which are regarded as “receptive and distributing agents” in an unique manner:

Có hai trung tâm được coi là “các tác nhân tiếp nhận và phân phối” theo một cách độc đáo:

1. The Ajna Centre (the centre between the eyebrows) works in connection with the three major centres but mainly, at this stage of human development, as the distributor of soul force and of spiritual energy as received from the heart and throat centres.

1. Trung tâm Ajna (trung tâm giữa lông mày) làm việc trong sự kết nối với ba trung tâm chủ yếu nhưng chủ yếu, ở giai đoạn phát triển này của con người, như là tác nhân phân phối lực linh hồn và năng lượng tinh thần được nhận từ các trung tâm tim và cổ họng.

2. The Solar Plexus Centre works in connection with the sacral centre and with the centre at the base of the spine, the centre of life; it works also with all subsidiary centres below the diaphragm, gathering and transmuting their energies and transmitting “that which has been purified” into the higher major centre.

2. Trung tâm Tùng thái dương làm việc trong sự kết nối với trung tâm xương cùng và với trung tâm tại đáy cột sống, trung tâm của sự sống; nó cũng làm việc với tất cả các trung tâm phụ bên dưới cơ hoành, thu thập và chuyển hóa các năng lượng của chúng và truyền “cái đã được thanh lọc” vào trung tâm chủ yếu cao hơn.

It might here be added that the will-to-be is, from one angle, the energy of immortality; it is the energy which pours into and works through the head centre, whilst the will-to-live demonstrates as the fundamental instinct of self-preservation and is to be found positively focussed in the centre at the base of the spine. The latter is related to the personality [192] and is closely allied to desire, and therefore to the solar plexus centre; there is a direct line of hitherto unrecognised energy between the lowest centre in the spine and the solar plexus; the other is related to the divine-spiritual man and is closely allied to the soul, and therefore to the heart centre.

Ở đây có thể nói thêm rằng ý chí-hiện hữu, từ một góc độ, là năng lượng của sự bất tử; đó là năng lượng tuôn đổ vào và làm việc thông qua trung tâm đầu, trong khi ý chí-sống biểu lộ như là bản năng cơ bản của sự tự bảo tồn và được tìm thấy tập trung một cách dương tính trong trung tâm tại đáy cột sống. Cái sau liên quan đến phàm ngã [192] và liên kết chặt chẽ với dục vọng, và do đó với trung tâm tùng thái dương; có một đường dây trực tiếp của năng lượng cho đến nay chưa được công nhận giữa trung tâm thấp nhất trong cột sống và tùng thái dương; cái kia liên quan đến con người tinh thần-thiêng liêng và liên kết chặt chẽ với linh hồn, và do đó với trung tâm tim.

Man’s Integral Relationship and Creative Function Within the Whole—Mối Quan Hệ Tích Hợp và Chức Năng Sáng Tạo của Con Người Trong Tổng Thể

The intricacy of all these relationships is most difficult for the neophyte to grasp, and this difficulty is further increased by the many and varying stages of development, of ray distinctions, and also by the numerous emphases or principles which are laid upon vehicles, upon differing planes and planetary levels of consciousness and of existence. With all this the student is not asked to deal. The factors of importance which he should attempt to realise and upon which he can construct the temple of his life and his current mode of living are simply the following—and they are the same for each and all, no matter what his ray or his point in evolution may be:

Sự phức tạp của tất cả các mối quan hệ này là khó nắm bắt nhất đối với người sơ cơ, và khó khăn này càng tăng thêm bởi nhiều giai đoạn phát triển đa dạng, các sự phân biệt về cung, và cũng bởi vô số những điểm nhấn hoặc nguyên tắc được đặt lên các hiện thể, lên các cõi và các cấp độ hành tinh khác nhau của tâm thức và của sự hiện tồn. Học viên không được yêu cầu phải giải quyết tất cả những điều này. Các yếu tố quan trọng mà y nên cố gắng nhận ra và dựa vào đó y có thể xây dựng ngôi đền của đời mình và phương thức sống hiện tại của mình đơn giản là những điều sau đây—và chúng giống nhau cho từng người và mọi người, bất kể cung của y hay điểm của y trong tiến hóa có thể là gì:

1. Man’s etheric body is an integral part of the planetary etheric body and is responsive to the free distribution of the many circulating energies.

1. Thể dĩ thái của con người là một bộ phận hợp thành của thể dĩ thái hành tinh và đáp ứng với sự phân phối tự do của nhiều năng lượng đang luân chuyển.

2. The three periodical vehicles which compose the expression of the human being and which make him what he is (the Monad, the Soul, and the Personality) are each related to the three planetary centres: Shamballa, the Hierarchy, and Humanity, and therefore to each of man’s individual three major centres.

2. Ba hiện thể định kỳ cấu thành sự biểu hiện của con người và làm cho y là những gì y là (Chân Thần, Linh hồn, và Phàm ngã) mỗi cái đều liên quan đến ba trung tâm hành tinh: Shamballa, Thánh Đoàn, và Nhân loại, và do đó đến từng cái trong ba trung tâm chủ yếu của cá nhân con người.

3. The three centres in the human being which are to be found above the diaphragm (the head, the heart and the throat centres) are the organs of reception for energies coming from the three planetary centres. [193]

3. Ba trung tâm trong con người được tìm thấy bên trên cơ hoành (các trung tâm đầu, tim và cổ họng) là các cơ quan tiếp nhận cho các năng lượng đến từ ba trung tâm hành tinh. [193]

4. The agent for the distribution of the energies received via the head, the heart and the throat centres is the ajna centre between the eyebrows.

4. Tác nhân cho sự phân phối các năng lượng nhận được qua các trung tâm đầu, tim và cổ họng là trung tâm ajna giữa lông mày.

5. The agent for the purification, transmutation and transmission of the energies of all centres below the diaphragm is the solar plexus centre. It is this centre through which the majority of human beings are at this time working. It is the major controlling centre, both for the reception and the distribution of energies, until such time as the heart centre is awakening and beginning to control the personality.

5. Tác nhân cho sự thanh lọc, chuyển hóa và truyền dẫn các năng lượng của tất cả các trung tâm bên dưới cơ hoành là trung tâm tùng thái dương. Chính trung tâm này qua đó đa số con người vào lúc này đang làm việc. Nó là trung tâm kiểm soát chính yếu, cho cả sự tiếp nhận và phân phối các năng lượng, cho đến khi trung tâm tim thức tỉnh và bắt đầu kiểm soát phàm ngã.

There is necessarily much more to be said anent this subject of the major planetary and human centres, but I have here given the student enough upon which to ponder (I had almost said upon which to puzzle). The one important thing to be borne in mind is the relationship between the centres, i.e.:

Nhất thiết còn nhiều điều phải nói về chủ đề này của các trung tâm chủ yếu của hành tinh và con người, nhưng tôi đã đưa cho học viên ở đây đủ để suy ngẫm (tôi gần như đã nói là để làm khó). Một điều quan trọng cần ghi nhớ là mối quan hệ giữa các trung tâm, tức là:

1. Between the centres below the diaphragm and those above it.

1. Giữa các trung tâm bên dưới cơ hoành và những cái bên trên nó.

2. Between the three major centres with each other.

2. Giữa ba trung tâm chủ yếu với nhau.

3. Between the three major centres and the three planetary centres.

3. Giữa ba trung tâm chủ yếu và ba trung tâm hành tinh.

All of this must be thought of in terms of circulating and freely moving energies, distributing themselves throughout the etheric body of the planet (and therefore through the human etheric body) under the essential purpose of Shamballa and under the direction of the Hierarchy.

Tất cả điều này phải được nghĩ đến theo các thuật ngữ của các năng lượng đang luân chuyển và di chuyển tự do, tự phân phối chúng khắp thể dĩ thái của hành tinh (và do đó qua thể dĩ thái của con người) dưới mục đích thiết yếu của Shamballa và dưới sự chỉ đạo của Thánh Đoàn.

It is the theme of relationship therefore, which is the basic pattern in the evolutionary process of unfoldment in this, the second solar system (of three systems) which is [194] that of the Son, wherein the quality of the second divine aspect, Love, is being perfected. In this perfecting process man participates unconsciously at first, during the long cycle of evolutionary unfoldment under the Law of Necessity; but when he becomes the aspirant and takes the first steps upon the path towards spiritual maturity, he begins to play a crucial role which he maintains until he attains spiritual liberation and himself becomes a member of the Hierarchy, of the fifth or spiritual kingdom, through perfected service in the fourth or the human kingdom.

Do đó, chính chủ đề về mối quan hệ là mô hình cơ bản trong quy trình khai mở tiến hóa trong hệ mặt trời này, hệ thống thứ hai (trong ba hệ thống) vốn [194] là hệ thống của Người Con, trong đó phẩm tính của phương diện thiêng liêng thứ hai, Tình thương, đang được hoàn thiện. Trong quy trình hoàn thiện này, con người thoạt đầu tham gia một cách vô thức, trong suốt chu kỳ dài của sự khai mở tiến hóa dưới Định luật Tất yếu; nhưng khi y trở thành người chí nguyện và thực hiện những bước đầu tiên trên con đường hướng tới sự trưởng thành tinh thần, y bắt đầu đóng một vai trò quan trọng mà y duy trì cho đến khi đạt được sự giải thoát tinh thần và bản thân y trở thành một thành viên của Thánh Đoàn, của giới thứ năm hay giới tinh thần, thông qua sự phụng sự hoàn hảo trong giới thứ tư hay giới nhân loại.

The relationship between the fourth and the fifth kingdoms is being continually increased. bringing new powers and more vital livingness into the human family which is registered by its most advanced members consciously. The distribution of energies from the Hierarchy constitutes a very interesting sequence, some of which can be indicated briefly. As we know the Hierarchy is the ashram of the Lord of Love, the Christ; we also know that this greater Ashram is constituted of the seven Ray Ashrams, each having at its centre a Chohan or a Master of the Wisdom; each of the seven Ashrams has connected with it one or more subsidiary Ashrams.

Mối quan hệ giữa giới thứ tư và thứ năm đang liên tục được gia tăng, mang lại những quyền năng mới và sức sống dồi dào hơn vào gia đình nhân loại vốn được ghi nhận bởi các thành viên tiên tiến nhất của nó một cách có ý thức. Sự phân phối các năng lượng từ Thánh Đoàn cấu thành một trình tự rất thú vị, một số trong đó có thể được chỉ ra ngắn gọn. Như chúng ta biết Thánh Đoàn là ashram của Chúa Tể Tình Thương, Đức Christ; chúng ta cũng biết rằng Ashram lớn hơn này được cấu tạo từ bảy Ashram Cung, mỗi cái có tại trung tâm của nó một Chohan hoặc một Chân sư Minh Triết; mỗi một trong bảy Ashram có liên kết với nó một hoặc nhiều Ashram phụ.

An Ashram is an emanating source of hierarchical impression upon the world. Its “impulsive energies” and its inciting forces are directed toward the expansion of the human consciousness, through the magnetic lives of the group members as they carry on their duties, obligations and responsibilities in the outer world: it is aided also by the steady vibratory activity of the members of the Ashram who are not in physical incarnation and by the united clear thinking and convinced awareness of the entire Ashram. Beginners, such as are most aspirants (though not all), are usually engrossed with the fact of the Ashram. Trained disciples are engrossed with the work to be done, and the [195] Ashram—as an Ashram—plays little part in their thinking; they are so pre-occupied with the task ahead and with the need of humanity and of these to be served that they seldom think of the Ashram or of the Master at its centre. They are an integral part of the ashramic consciousness and their conscious occupation is called, in the ancient writings, “the emanating of that which flows through them, the teaching of the doctrine of the heart which is the force of truth itself, the radiating of the light of life, borne upon the stream to which the non-initiate gives the name, ‘the light of love’.”

Một Ashram là một nguồn phát xuất của ấn tượng thánh đoàn lên thế giới. “Các năng lượng thúc đẩy” của nó và các lực kích động của nó được hướng tới sự mở rộng tâm thức nhân loại, thông qua các đời sống từ tính của các thành viên nhóm khi họ thực hiện các nhiệm vụ, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong thế giới bên ngoài: nó cũng được hỗ trợ bởi hoạt động rung động ổn định của các thành viên của Ashram không đang trong sự lâm phàm xác thân và bởi sự tư duy rõ ràng thống nhất và sự nhận biết vững chắc của toàn bộ Ashram. Những người mới bắt đầu, chẳng hạn như hầu hết những người chí nguyện (mặc dù không phải tất cả), thường mải mê với sự kiện về Ashram. Các đệ tử đã được huấn luyện thì mải mê với công việc phải làm, và [195] Ashram—với tư cách là một Ashram—đóng vai trò nhỏ trong suy nghĩ của họ; họ quá bận tâm với nhiệm vụ phía trước và với nhu cầu của nhân loại và của những người cần được phục vụ đến nỗi họ hiếm khi nghĩ về Ashram hoặc về Chân sư tại trung tâm của nó. Họ là một bộ phận hợp thành của tâm thức ashram và công việc có ý thức của họ được gọi, trong các bản văn cổ, là “sự phát xuất của cái tuôn chảy qua họ, sự giảng dạy về giáo lý của con tim vốn là mãnh lực của chính chân lý, sự tỏa rạng ánh sáng của sự sống, được mang trên dòng suối mà người chưa được điểm đạo đặt tên là, ‘ánh sáng của tình thương’.”

The members of the Ashram constitute a united channel for the new energies which are, at this time, entering the world; these energies pour dynamically through the Ashram out into the world of men; they stream with potency through the Master at the heart of the Ashram; they move with “luminous speed” throughout the inner circle; they are stepped down by those who constitute the outer circle, and this is right and good; they are delayed by the beginner and the new disciple from breaking forth into the world of men, and this is not so good. They are delayed because the new disciple has turned his back upon the world of men and his eyes are fastened upon the inner goal and not upon the outer service; they remain fixed upon the Master and His senior disciples and workers, and not upon the mass of human need.

Các thành viên của Ashram cấu thành một kênh dẫn thống nhất cho các năng lượng mới mà, vào lúc này, đang đi vào thế giới; các năng lượng này tuôn đổ một cách năng động qua Ashram ra thế giới của con người; chúng tuôn chảy với uy lực qua Chân sư tại tâm của Ashram; chúng di chuyển với “tốc độ sáng chói” khắp vòng tròn bên trong; chúng được giảm áp bởi những người cấu thành vòng tròn bên ngoài, và điều này là đúng và tốt; người mới bắt đầu và người đệ tử mới trì hoãn việc các năng lượng này tuôn vào thế giới con người, và điều này không tốt lắm. Chúng bị trì hoãn bởi vì người đệ tử mới đã quay lưng lại với thế giới của con người và mắt y dán chặt vào mục tiêu bên trong chứ không phải vào sự phụng sự bên ngoài; ánh mắt y vẫn dán chặt vào Chân sư và các đệ tử cao cấp và những người làm việc của Ngài, chứ không phải vào khối lượng nhu cầu của con người.

It is essential that servers everywhere—the intelligent men and women of good will—get a grasp, fresh and clear, of the work to be done and that they become “relaying channels and not delaying points of selfish interest” in the divine flow. This takes vision and courage. It takes courage to adjust their lives—daily and in all relations—to the need of the hour and to the service of mankind; it takes courage to attack life problems on behalf of others and [196] to obliterate one’s own personal wishes in the emergency and need, and to do so consistently and persistently. However, there is much to encourage the server. Humanity has now reached a point in development where there is a definite grasp of the Plan of the Hierarchy—call it brotherhood, sharing, internationalism, unity or what you will. This is a growing and factual apprehension and is a general recognition by the thinkers and esotericists of the world, by the religious people of enlightenment, by broad minded statesmen, by industrialists and business men of inclusive vision and humanitarian insight, and even today by the man in the street. There is also a more definite recognition of emerging spiritual values and a greater readiness to relinquish hindrances to service. The plans of the Christ for humanity’s release are more matured, for they had to wait until such time that the trend of human aspiration became more clearly emphatic; and the new era, with its latent possibilities can now be seen upon the horizon, stripped of the veils of glamour and wishful thinking which obscured it ten years ago. All of this is a challenge to the disciple. What is it that he must do?

Điều thiết yếu là những người phụng sự ở khắp mọi nơi—những người nam và nữ thiện chí thông tuệ—nắm bắt được một cách mới mẻ và rõ ràng công việc phải làm và rằng họ trở thành “các kênh chuyển tiếp chứ không phải các điểm trì hoãn của lợi ích ích kỷ” trong dòng chảy thiêng liêng. Điều này cần tầm nhìn và lòng can đảm. Cần can đảm để điều chỉnh cuộc sống của họ—hàng ngày và trong mọi mối quan hệ—với nhu cầu của thời cuộc và với việc phụng sự nhân loại; cần can đảm để giải quyết các vấn đề cuộc sống vì người khác và [196] xóa bỏ những mong muốn cá nhân của chính mình trong tình huống khẩn cấp và nhu cầu, và làm như vậy một cách nhất quán và kiên trì. Tuy nhiên, có nhiều điều để khuyến khích người phụng sự. Nhân loại hiện nay đã đạt đến một điểm trong sự phát triển nơi có một sự nắm bắt xác định về Thiên Cơ của Thánh Đoàn—gọi nó là tình huynh đệ, sự chia sẻ, chủ nghĩa quốc tế, sự thống nhất hay bất cứ điều gì bạn muốn. Đây là một sự lĩnh hội đang phát triển và thực tế và là một sự công nhận chung bởi các nhà tư tưởng và các nhà bí truyền của thế giới, bởi những người tôn giáo giác ngộ, bởi các chính khách có tư tưởng rộng mở, bởi các nhà công nghiệp và doanh nhân có tầm nhìn bao quát và cái nhìn nhân đạo, và thậm chí ngày nay bởi người bình thường trên đường phố. Cũng có một sự công nhận xác định hơn về các giá trị tinh thần đang nổi lên và một sự sẵn sàng lớn hơn để từ bỏ những trở ngại đối với việc phụng sự. Các kế hoạch của Đức Christ cho sự giải thoát của nhân loại đã chín muồi hơn, vì chúng phải chờ đợi cho đến khi khuynh hướng khát vọng của con người trở nên nhấn mạnh rõ ràng hơn; và kỷ nguyên mới, với những khả năng tiềm tàng của nó giờ đây có thể được nhìn thấy trên đường chân trời, được lột bỏ những bức màn của ảo cảm và suy nghĩ viển vông đã che khuất nó mười năm trước. Tất cả điều này là một thách thức đối với người đệ tử. Y phải làm gì?

The disciple has to take himself as he is, at any time, with any given equipment, and under any given circumstances; he then proceeds to subordinate himself, his affairs and his time to the need of the hour—particularly during the phase of group, national or world crisis. When he does this within his own consciousness and is, therefore, thinking along lines of the true values, he will discover that his own private affairs are taken care of, his capacities are increased and his limitations are forgotten. He takes his place with those who perceive the needs of the coming cycle—a cycle wherein the new ideas and ideals must be stressed and for which a fight must be made, wherein the wider plans for the good of the whole must be understood, [197] endorsed and preached, the new and clearer vision for human living must be grasped and finally brought into being, and a cycle wherein the effort of all members of the New Group of World Servers must be given to the lifting of humanity’s load.

Người đệ tử phải chấp nhận bản thân y như y vốn thế, vào bất kỳ lúc nào, với bất kỳ trang thiết bị nhất định nào, và dưới bất kỳ hoàn cảnh nhất định nào; sau đó y tiến hành phục tùng bản thân mình, công việc của mình và thời gian của mình cho nhu cầu của thời cuộc—đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng nhóm, quốc gia hoặc thế giới. Khi y làm điều này bên trong tâm thức của chính mình và, do đó, đang suy nghĩ theo các dòng của những giá trị chân thực, y sẽ khám phá ra rằng các vấn đề riêng tư của chính y được chăm sóc, năng lực của y được gia tăng và những hạn chế của y bị lãng quên. Y chiếm vị trí của mình với những người nhận thức được các nhu cầu của chu kỳ sắp tới—một chu kỳ trong đó các ý tưởng và lý tưởng mới phải được nhấn mạnh và phải đấu tranh vì chúng, trong đó các kế hoạch rộng lớn hơn cho lợi ích của tổng thể phải được thấu hiểu, [197] được tán thành và được rao giảng, tầm nhìn mới và rõ ràng hơn cho đời sống con người phải được nắm bắt và cuối cùng được đưa vào hiện tồn, và một chu kỳ trong đó nỗ lực của tất cả các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải được dành cho việc làm nhẹ gánh nặng của nhân loại.

There is a certain esoteric Mantram which embodies this attitude—the attitude of the disciple who is striving, in cooperative endeavour with others, to link hierarchical intent with human aspiration and thus bring humanity nearer to its goal. The intent of the Hierarchy is to increase men’s capacity for freedom in order to function effectively with that “life more abundantly” which the Christ will bring and which demands that the spirit of man be free—free to approach divinity and free also to choose the Way of that approach. The Mantram bears the name, “The Affirmation of the Disciple.” It involves certain inner recognitions and acceptances which are readily perceived by those whose intuition is sufficiently awake; but its meaning should not be beyond the ability of any sincere student and thinker to penetrate if it appeals to them as significant and warranting their effort.

Có một Mantram huyền môn nhất định thể hiện thái độ này—thái độ của người đệ tử đang phấn đấu, trong nỗ lực hợp tác với những người khác, để liên kết ý định của thánh đoàn với khát vọng của con người và do đó đưa nhân loại đến gần mục tiêu của nó hơn. Ý định của Thánh Đoàn là gia tăng khả năng tự do của con người để hoạt động hiệu quả với “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ sẽ mang lại và vốn đòi hỏi tinh thần của con người phải tự do—tự do để tiếp cận thiên tính và cũng tự do để chọn Con Đường của sự tiếp cận đó. Mantram mang tên, “Lời Khẳng Định của Đệ Tử”. Nó bao hàm những sự công nhận và chấp nhận bên trong nhất định vốn được nhận thức dễ dàng bởi những người mà trực giác của họ đã thức tỉnh đầy đủ; nhưng ý nghĩa của nó không nên vượt quá khả năng thâm nhập của bất kỳ học viên và nhà tư tưởng chân thành nào nếu nó hấp dẫn họ như là điều quan trọng và xứng đáng với nỗ lực của họ.

I am a point of light within a greater Light.

Tôi là một điểm ánh sáng bên trong Ánh sáng vĩ đại hơn.

I am a strand of loving energy within the stream of Love divine.

Tôi là một tia năng lượng yêu thương bên trong dòng chảy của Tình thương thiêng liêng.

I am a point of sacrificial Fire, focussed within the fiery Will of God.

Tôi là một điểm của Ngọn Lửa hi sinh, bên trong Ý Chí rực lửa của Thượng Đế.

And thus I stand.

Và như thế, tôi đứng.

I am a way by which men may achieve.

Tôi là con đường giúp con người có thể đạt đến.

I am a source of strength, enabling them to stand.

Tôi là nguồn sức mạnh, giúp họ có thể trụ vững.

I am a beam of light, shining upon their way.

Tôi là chùm tia sáng, chiếu trên con đường của họ.

And thus I stand.

Và như thế, tôi đứng.

And standing thus, revolve

Và như thế tôi đứng, xoay vòng,

And tread this way the ways of men,

bước theo con đường của nhân loại,

And know the ways of God.

Và cũng biết những con đường của Thượng Đế.

And thus I stand.

Và như thế, tôi đứng.

THE ARCANE SCHOOL—TRƯỜNG ARCANE

Training for new age discipleship

Việc huấn luyện cho địa vị đệ tử kỷ nguyên mới

is provided by the Arcane School.

được cung cấp bởi Trường Arcane.

The principles of the Ageless Wisdom

Các nguyên tắc của Minh Triết Ngàn Đời

are presented through esoteric meditation,

được trình bày thông qua tham thiền huyền môn,

study and service as a way of life.

học tập và phụng sự như một lối sống.

Contact the publishers for information

Liên hệ với nhà xuất bản để biết thông tin

www.lucistrust.org/arcaneschool.

Leave a Comment

Scroll to Top