Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II – Phần IV

📘 Sách: Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới Tập II – Tác giả: Alice Bailey

SECTION FOUR—PERSONAL INSTRUCTIONS TO DISCIPLES – PHẦN BỐN—NHỮNG HUẤN THỊ CÁ NHÂN DÀNH CHO CÁC ĐỆ TỬ

PERSONAL INSTRUCTIONS TO DISCIPLES

NHỮNG HUẤN THỊ CÁ NHÂN DÀNH CHO CÁC ĐỆ TỬ

BY THE TIBETAN [443]

CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG [443]

To L.D.O. – Gửi L.D.O.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

One of the things, my brother, which is being developed in your consciousness is the basic spiritual fact that “whether in the body or out of the body” (as the initiate Paul expressed it), the life of the disciple does not stand still but inevitably—if he is sincere and earnest—proceeds from revelation to revelation. But for the pledged disciple, such as you are, this revelation is not confined to mystical depths and heights but becomes increasingly part of the recognisable brain consciousness. This is a lesson which you are learning rapidly and on that fact I congratulate you. Continue so to do and in the coming period of reconstruction you will be of effective service.

Huynh đệ của Tôi, một trong những điều đang được phát triển trong tâm thức của em là sự kiện tinh thần căn bản rằng “dù ở trong thể xác hay ra ngoài thể xác” như điểm đạo đồ Phao-lô đã diễn đạt, đời sống của đệ tử không đứng yên, mà tất yếu, nếu y chân thành và nghiêm túc, tiến từ thiên khải này sang thiên khải khác. Nhưng đối với đệ tử đã phát nguyện như em, sự thiên khải này không bị giới hạn vào những chiều sâu và đỉnh cao thần bí, mà ngày càng trở thành một phần của tâm thức bộ não có thể nhận biết. Đây là một bài học mà em đang học rất nhanh, và về sự kiện đó, Tôi chúc mừng em. Hãy tiếp tục như thế, và trong thời kỳ tái thiết sắp tới, em sẽ phụng sự một cách hữu hiệu.

But, brother of mine, to be truly effective in the manner desired, you must cultivate the attitude of being only a clear unobstructed channel, and you must not block that channel with your ideas, your plans and your physical plane activities. I would not have you cease planning and working actively but I would have you be more discriminating and cautious. I would have you ponder on the relative usefulness of inspiring many to active work in the service of humanity, or sponsoring your own activities and focussing all your efforts upon organisation work. Such organisation work has ever faintly glamoured you. The arousing of the desire to serve and the kindling of the flame of intelligent love for mankind in the hearts of your fellowmen could provide for you an adequate field of service. It would enlist both your personality and your soul in active cooperation and is something you can do unusually well. The gift of divine inspiration, as it can be used to affect and galvanise others into activity, is rare, but is for you a natural result of your spiritual polarisation. This [444] you know, and of this faculty you should increasingly avail yourself. Seek, as I have earlier told you, to be; aim at being a conduit for spiritual force; cultivate the power of identification with those you seek to inspire, for this leads to direct transference of energy; develop divine indifference as to your form of service and ponder deeply on the thought of “service by radiation.”

Nhưng, huynh đệ của Tôi, để thật sự hữu hiệu theo cách mong muốn, em phải vun trồng thái độ chỉ làm một kênh dẫn trong sáng, không bị ngăn trở, và em không được chặn kênh dẫn ấy bằng những ý tưởng của em, những kế hoạch của em và những hoạt động của em trên cõi hồng trần. Tôi không muốn em ngừng hoạch định và làm việc tích cực, nhưng Tôi muốn em phân biện và thận trọng hơn. Tôi muốn em suy ngẫm về tính hữu ích tương đối giữa việc truyền cảm hứng cho nhiều người hoạt động tích cực trong sự phụng sự nhân loại, và việc bảo trợ các hoạt động riêng của em rồi tập trung mọi nỗ lực của em vào công việc tổ chức. Công việc tổ chức như thế vẫn luôn phần nào gây ảo cảm cho em. Việc khơi dậy lòng mong muốn phụng sự và thắp sáng ngọn lửa tình thương thông minh đối với nhân loại trong tim đồng loại của em có thể đem lại cho em một lĩnh vực phụng sự đầy đủ. Nó sẽ huy động cả phàm ngã lẫn linh hồn của em vào sự hợp tác tích cực, và đó là điều em có thể làm tốt một cách khác thường. Thiên phú cảm hứng thiêng liêng, khi có thể được dùng để tác động và thúc đẩy người khác đi vào hoạt động, là điều hiếm có, nhưng đối với em lại là kết quả tự nhiên của sự phân cực tinh thần nơi em. Điều này [444] em biết, và em nên ngày càng vận dụng năng lực này nhiều hơn. Như Tôi đã nói với em trước đây, hãy tìm cách hiện tồn; hãy nhắm đến việc trở thành một ống dẫn cho mãnh lực tinh thần; hãy vun trồng quyền năng đồng nhất với những người em tìm cách truyền cảm hứng, vì điều này dẫn đến sự chuyển dịch năng lượng trực tiếp; hãy phát triển Điềm nhiên thiêng liêng đối với hình thức phụng sự của em, và suy ngẫm sâu xa về tư tưởng “phụng sự bằng bức xạ.”

As you already know, the five rays governing your monadic expression as soul and personality are not particularly well balanced. There is in this incarnation too much of the second ray line of approach to divinity; you are primarily 2-4 where your rays are concerned. Where the personality ray, the mental ray and the astral ray are closely allied there is always found an easy problem of inner contact, relation and integration. When, however, the aggregate of inner energy comes to outer expression upon the physical plane, there appears what I might call a lack of stiffening and a too fluid response to spiritual impulses and ideals. There is a correct and undeviating life tendency towards the realm of spiritual reality, but in the field of manifestation and of creative activity there is frequently a changeableness and a developed habit of experimentation. The very versatility of the second ray (twice repeated in your life expression) tends to confuse the issue of service and its correct rendering in your mind. You do so many things, my brother; if you look back over your life, you will find that it is composed of short periods wherein you were intensely preoccupied with what you sincerely believed was the purpose of the moment. The time has now come when the purpose of the soul, in time and space, must become a pronounced conviction governing all future activity and all expression upon the physical plane, subordinating your entire lower nature (the three bodies) with fixed intent to the directed will of the soul.

Như em đã biết, năm cung chi phối sự biểu hiện chân thần của em với tư cách linh hồn và phàm ngã không được quân bình đặc biệt. Trong lần lâm phàm này có quá nhiều đường lối tiếp cận thiên tính thuộc cung hai; về các cung của mình, em chủ yếu là 2-4. Khi cung phàm ngã, cung thể trí và cung thể cảm dục liên kết mật thiết với nhau, người ta luôn thấy có một vấn đề tương đối dễ dàng về sự tiếp xúc, liên hệ và tích hợp bên trong. Tuy nhiên, khi tổng hợp năng lượng bên trong đi ra biểu hiện bên ngoài trên cõi hồng trần, thì xuất hiện điều Tôi có thể gọi là sự thiếu cứng cáp và một đáp ứng quá linh động đối với các xung lực và lý tưởng tinh thần. Có một khuynh hướng sống đúng đắn và không sai lệch hướng về cõi thực tại tinh thần, nhưng trong lĩnh vực biểu hiện và hoạt động sáng tạo thường có tính hay thay đổi và một thói quen thử nghiệm đã phát triển. Chính tính đa năng của cung hai, được lặp lại hai lần trong sự biểu hiện đời sống của em, có khuynh hướng làm rối vấn đề phụng sự và cách thực hiện đúng đắn của nó trong trí em. Huynh đệ của Tôi, em làm quá nhiều việc; nếu nhìn lại đời mình, em sẽ thấy nó gồm những giai đoạn ngắn, trong đó em bận tâm mãnh liệt với điều mà em chân thành tin là mục đích của thời điểm ấy. Nay đã đến lúc mục đích của linh hồn, trong thời gian và không gian, phải trở thành một xác tín rõ rệt chi phối mọi hoạt động tương lai và mọi biểu hiện trên cõi hồng trần, đặt toàn bộ bản chất thấp của em, tức ba thể, dưới Ý Chí được định hướng của linh hồn với ý định cố định.

For you, I would repeat, service by radiation is the way. To bring this about, it will be necessary for you to evoke the latent will which must be developed and controlling in you by the time the third initiation comes; at that time the monadic influence is predominantly that of the divine, purposeful [445] will. The expression of this higher aspect of the will, in relation to the three rays of aspect on which all initiates are eventually to be found, is likewise threefold:

Đối với em, Tôi xin nhắc lại, phụng sự bằng bức xạ là con đường. Để đem điều này thành hiện thực, em cần gợi lên ý chí tiềm tàng, vốn phải được phát triển và trở nên chủ quản trong em vào lúc lần điểm đạo thứ ba đến; khi ấy, ảnh hưởng chân thần chủ yếu là ảnh hưởng của Ý Chí [445] thiêng liêng, có mục đích. Sự biểu hiện của phương diện cao hơn này của ý chí, trong liên hệ với ba cung trạng thái mà rốt cuộc mọi điểm đạo đồ đều sẽ được thấy ở trên đó, cũng có tính tam phân:

1. There is the dynamic will, as it is expressed by first ray egos.

1. Có ý chí năng động, như nó được biểu hiện bởi các chân ngã cung một.

2. There is the inclusive radiatory will of second ray souls. This is the kind of will-expression and recognised life purpose with which you must learn to put yourself in direct contact.

2. Có ý chí bức xạ bao gồm của các linh hồn cung hai. Đây là loại biểu hiện ý chí và mục đích sống được nhận biết mà em phải học cách đặt mình vào sự tiếp xúc trực tiếp.

3. There is the magnetic will of the third ray ego which draws, attracts, manipulates and arranges in accordance with divine purpose. This is not the same kind of magnetism as that of love.

3. Có ý chí từ tính của chân ngã cung ba, vốn lôi kéo, thu hút, điều khiển và sắp xếp phù hợp với Thiên Ý. Đây không phải là cùng một loại từ tính như từ tính của tình thương.

In the meditation, therefore, which I seek to give you, we will have this inclusive, radiatory will primarily in mind, and for the next few months I would have you follow these instructions….

Do đó, trong bài tham thiền mà Tôi tìm cách trao cho em, chúng ta sẽ chủ yếu ghi nhớ ý chí bức xạ bao gồm này, và trong vài tháng tới, Tôi muốn em theo những chỉ dẫn này….

Life is difficult these days but you lack not courage, and the sense of inner reality will hold you true to the goal and steady in expression. My attention turns towards you when you need it. I can be reached.

Đời sống những ngày này khó khăn, nhưng em không thiếu lòng can đảm, và ý thức về thực tại bên trong sẽ giữ cho em trung thành với mục tiêu và vững vàng trong biểu hiện. Sự chú ý của Tôi hướng về em khi em cần đến. Em có thể tiếp cận được Tôi.

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. Stand at the centre of dispassion with heart aflame, yet still.

1. Hãy đứng tại trung tâm của sự vô dục, với trái tim rực lửa nhưng vẫn tĩnh lặng.

2. Be not the centre of the work you undertake, the service rendered, but be its fluid life.

2. Đừng là trung tâm của công việc em đảm nhận, của sự phụng sự được thực hiện, mà hãy là sự sống linh động của nó.

3. Transmute devotion to a cause, to me, to your brothers or your group into a flaming love for all that breathes.

3. Hãy chuyển hoá lòng sùng tín đối với một chính nghĩa, đối với Tôi, đối với các huynh đệ của em hay nhóm của em, thành tình thương rực lửa dành cho mọi loài đang thở.

4. Learn that your causes are effects. Leave them behind and seek the world of causes.

4. Hãy học rằng các nguyên nhân của em là những hệ quả. Hãy bỏ chúng lại sau lưng và tìm kiếm thế giới của các nguyên nhân.

5. Three in this group stand close to you. Discover who they are and know the reason why.

5. Ba người trong nhóm này đứng gần em. Hãy khám phá họ là ai và biết lý do vì sao.

6. Ask your soul the question: Why is D.K. the Master Who has sought me out? [446]

6. Hãy hỏi linh hồn em câu hỏi: Vì sao Chân sư D.K. là Chân sư đã tìm đến tôi? [446]

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Since I last communicated with you, more than a year ago, life has brought you certain radical changes—some of them as a result of the war and your personality reaction to that war, and a few of them as a consequence of soul impulse. These changes and their resultant readjustments have been so many and have been brought about with such relative suddenness that you have not yet had time to know with clarity (within yourself) the distinctiveness of each change or its emanating source. Every change in a life condition upon the physical plane is the result of some inner cause. I hinted at this when I gave you the six statements which were intended to aid in the direction of your life. I said to you: “Learn that your causes are effects. Leave them behind and seek the world of causes.”

Từ lần cuối Tôi giao tiếp với em hơn một năm trước, đời sống đã đem đến cho em những thay đổi căn bản nào đó—một số do chiến tranh và phản ứng phàm ngã của em đối với cuộc chiến ấy, và một vài do hệ quả của xung lực linh hồn. Những thay đổi này và các điều chỉnh lại phát sinh từ chúng đã quá nhiều và xảy ra với một sự đột ngột tương đối đến nỗi em chưa có thời gian để biết rõ ràng trong chính mình tính riêng biệt của từng thay đổi hay nguồn xuất lộ của nó. Mọi thay đổi trong một tình trạng đời sống trên cõi hồng trần đều là kết quả của một nguyên nhân bên trong nào đó. Tôi đã gợi ý điều này khi trao cho em sáu mệnh đề nhằm trợ giúp trong việc định hướng đời sống của em. Tôi đã nói với em: “Hãy học rằng các nguyên nhân của em là những hệ quả. Hãy bỏ chúng lại sau lưng và tìm kiếm thế giới của các nguyên nhân.”

These words embody one of the first lessons which a disciple has to master, as you well know. The initiate lives in the world of causes, for this is obviously the world of initiation. He deals therefore with those basic happenings which act as life-impulses, and initiates only those activities which are formulated by him as a soul and (bear this in mind) as a soul whose personality is initiate. Because of this personality capacity of seeing “eye to eye” with the soul, his activities are results of deliberate spiritual intention.

Như em biết rõ, những lời này hàm chứa một trong những bài học đầu tiên mà một đệ tử phải làm chủ. Điểm đạo đồ sống trong thế giới của các nguyên nhân, vì hiển nhiên đây là thế giới của điểm đạo. Vì thế, y xử lý những biến cố nền tảng vốn tác động như các xung lực sống, và chỉ khởi xướng những hoạt động do y định hình với tư cách một linh hồn và, hãy ghi nhớ điều này, với tư cách một linh hồn có phàm ngã là điểm đạo đồ. Do năng lực phàm ngã này trong việc nhìn “mắt đối mắt” với linh hồn, các hoạt động của y là kết quả của ý định tinh thần có chủ đích.

This is, therefore, one of the first lessons which it is my duty (as it is the duty of every Master) to teach all those who have just been accepted into my Ashram. Such people are not beginners in the world of occult life as far as the average man is concerned, but from the angle of an Ashram most of you indisputably are. I have therefore to teach each of you something as to the nature of that world of causes, and how to discover whether you are not functioning as a personality seeking, as far as may be, to be sensitive to soul incentive, or whether you are literally functioning as a soul. These are two very different matters, my brother. How can you, as a disciple, decide what you are doing and know your reasons? All that I, as your Master, can do is to indicate an approach [447] to reality, and then leave you to arrive at right decision, via direct or intuitive knowledge, alone and unaided.

Vì vậy, đây là một trong những bài học đầu tiên mà bổn phận của Tôi, cũng như bổn phận của mọi Chân sư, là dạy cho tất cả những ai vừa được chấp nhận vào ashram của Tôi. Những người như thế không phải là người sơ cơ trong thế giới đời sống huyền bí, xét theo người trung bình; nhưng từ góc độ của một ashram, phần lớn các em chắc chắn là như vậy. Do đó, Tôi phải dạy mỗi em đôi điều về bản chất của thế giới nguyên nhân ấy, và cách khám phá xem em đang hoạt động như một phàm ngã tìm cách, trong khả năng có thể, trở nên nhạy cảm với sự thúc đẩy của linh hồn, hay em thật sự đang hoạt động như một linh hồn. Huynh đệ của Tôi, đây là hai vấn đề rất khác nhau. Là một đệ tử, làm sao em có thể quyết định mình đang làm gì và biết các lý do của mình? Tất cả những gì Tôi, với tư cách Chân sư của em, có thể làm là chỉ ra một cách tiếp cận [447] thực tại, rồi để em tự mình và không có trợ giúp đi đến quyết định đúng đắn, thông qua tri thức trực tiếp hay trực giác.

Decisions which a disciple has to make are based upon various urges, impulses and desires; they differ from those made by the average man because they are ever accompanied by questionings and by the practice of a constant and oft bewildering inner scrutiny of motive and purpose. You have faced many such periods of questioning in the past year, my brother, and your answers have definitely affected your personality life, your service to the Plan, your various group affiliations and your general attitude to the spiritual realm. This you know. One aspect of your nature is profoundly satisfied; the other is full of doubt and enquiry; your soul is on its way to a fuller and richer experience of life, and this involves difficulty.

Những quyết định mà một đệ tử phải đưa ra dựa trên nhiều sự thôi thúc, xung lực và dục vọng khác nhau; chúng khác với những quyết định của người trung bình vì chúng luôn đi kèm với những chất vấn và với việc thực hành một sự tự xét động cơ và mục đích bên trong thường xuyên, và thường gây bối rối. Trong năm qua, huynh đệ của Tôi, em đã đối diện nhiều thời kỳ chất vấn như thế, và các câu trả lời của em đã ảnh hưởng rõ rệt đến đời sống phàm ngã của em, sự phụng sự của em đối với Thiên Cơ, các liên hệ nhóm khác nhau của em và thái độ tổng quát của em đối với lĩnh vực tinh thần. Điều này em biết. Một phương diện trong bản chất em được thỏa mãn sâu xa; phương diện kia đầy hoài nghi và tìm hiểu; linh hồn em đang trên đường tiến tới một kinh nghiệm đời sống đầy đủ và phong phú hơn, và điều này hàm chứa khó khăn.

In some ways, the war has not really touched you very profoundly, even if you retaliate by saying that it has touched you astrally and emotionally. Emotions are, however, ephemeral. Personality enterprises have offset greatly your reactions, and changes in your personality life, in your environment and in your established habits have offset much reaction. This is, perhaps, just as well. Then, too, your attempted world service has intensely preoccupied you, and you have tried to be what I suggested in my statement to you, “the fluid life” of all that you seek to do. In connection with that work I have only this to say: Your service will be best rendered if you refrain from regarding your planned organisation as unique and if you do not attempt to live up so entirely to the world concept. Your work is inspired from my Ashram; it is an integral part of much larger plans and is largely modelled upon those ashramic plans (which are part of still greater hierarchical endeavours) and has little in it that is original. It is a small part of a much larger whole and has a very needed part to play. I would remind you that very large trees can grow from very small seeds. Your seed is one of many in a large pod (to use a botanical symbol). This pod contains many similar seeds which will bear many similar trees.

Theo một vài phương diện, chiến tranh thật sự chưa chạm đến em một cách rất sâu xa, ngay cả nếu em phản bác bằng cách nói rằng nó đã chạm đến em về mặt cảm dục và cảm xúc. Tuy nhiên, cảm xúc là phù du. Những công trình của phàm ngã đã hóa giải rất nhiều phản ứng của em, và những thay đổi trong đời sống phàm ngã, trong môi trường và trong các thói quen đã thiết lập của em đã hóa giải nhiều phản ứng. Có lẽ điều này cũng tốt. Rồi nữa, nỗ lực phụng sự thế giới của em đã khiến em bận tâm mãnh liệt, và em đã cố gắng trở thành điều Tôi đã gợi ý trong lời phát biểu với em, “sự sống linh động” của tất cả những gì em tìm cách làm. Liên quan đến công việc ấy, Tôi chỉ có điều này để nói: Sự phụng sự của em sẽ được thực hiện tốt nhất nếu em không xem tổ chức đã hoạch định của mình là độc nhất, và nếu em không cố gắng sống hoàn toàn theo ý niệm về phạm vi toàn thế giới. Công việc của em được truyền cảm hứng từ ashram của Tôi; nó là một phần tích hợp của những kế hoạch lớn hơn nhiều, và phần lớn được mô phỏng theo các kế hoạch ashram ấy, vốn là một phần của những nỗ lực thuộc Thánh Đoàn còn lớn hơn nữa, và trong đó có rất ít điều có tính độc sáng. Nó là một phần nhỏ của một toàn thể lớn hơn nhiều và có một vai trò rất cần thiết để đảm nhiệm. Tôi muốn nhắc em rằng những cây rất lớn có thể mọc lên từ những hạt rất nhỏ. Hạt giống của em là một trong nhiều hạt trong một vỏ lớn, dùng một biểu tượng thực vật học. Vỏ này chứa nhiều hạt giống tương tự sẽ sinh ra nhiều cây tương tự.

You have a fluid mind and can do much if your emphasis [448] is placed where I suggest—a fluid life. Otherwise your fluid mind will incite you to so many useful activities that many of them will amount to very little. One of your major needs is a planned concentration and an ability to make discriminating choice as to activity and technique. You cannot possibly do everything that you see needs to be done; therefore, do that which will bring about the greatest amount of good to the greatest number of seeking souls. This is always a difficult matter for the creative worker to grasp. The doing of the thing which he plans is to him oft the satisfactory reward of effort, and his focussed activity and attention is founded upon what he creates. Yet the created thing is only an effect—an effect of what, my brother?

Em có một thể trí linh động và có thể làm được nhiều nếu trọng tâm của em [448] được đặt nơi Tôi gợi ý—một sự sống linh động. Nếu không, thể trí linh động của em sẽ thúc đẩy em đi vào quá nhiều hoạt động hữu ích đến nỗi nhiều hoạt động trong số đó sẽ chẳng đem lại bao nhiêu. Một trong những nhu cầu chính yếu của em là sự tập trung có kế hoạch và khả năng chọn lựa có phân biện về hoạt động và kỹ thuật. Em không thể nào làm mọi điều mà em thấy cần phải làm; vì thế, hãy làm điều sẽ đem lại lượng thiện ích lớn nhất cho số lượng linh hồn đang tìm kiếm đông đảo nhất. Đây luôn là điều khó nắm bắt đối với người hoạt động sáng tạo. Việc làm điều y hoạch định thường là phần thưởng thỏa mãn của nỗ lực đối với y, và hoạt động cùng sự chú ý tập trung của y đặt nền trên điều y tạo ra. Tuy nhiên, vật được tạo ra chỉ là một hệ quả—hệ quả của điều gì, huynh đệ của Tôi?

Again we come back to the subtle question which your soul seeks to have you answer this life, because in answering it you will find a release which will give you a definite opportunity in your next life. What motives are impelling you to action in your personality life, in your group relation, and in your service to humanity? A general answer will not suffice, for you will find that several widely different motives condition each field of expression, and when you know what they are, you will be able to bring all the three phases of your life into one rightly oriented functioning whole. Is your creative work the result of a desire to create, or is it impelled by love of humanity and, therefore, an automatic intelligent response to human appeal? Are you nurturing a small and healthy seed or are you endeavouring to transplant a tree? This last question has far more significance than perhaps you guess. It holds in its correct answering the secret of your success. Are you cooperating with the Plan, or in reality with your plans? Again a question of importance.

Một lần nữa, chúng ta quay lại câu hỏi vi tế mà linh hồn em tìm cách khiến em trả lời trong đời này, bởi trong việc trả lời nó, em sẽ tìm thấy một sự giải thoát đem lại cho em một cơ hội rõ rệt trong đời sau. Những động cơ nào đang thúc đẩy em hành động trong đời sống phàm ngã, trong liên hệ nhóm của em, và trong sự phụng sự nhân loại của em? Một câu trả lời chung chung sẽ không đủ, vì em sẽ thấy rằng có nhiều động cơ rất khác nhau tác động lên mỗi lĩnh vực biểu hiện; và khi em biết chúng là gì, em sẽ có thể đưa cả ba giai đoạn đời sống của mình vào một toàn thể hoạt động được định hướng đúng đắn. Công việc sáng tạo của em là kết quả của dục vọng muốn sáng tạo, hay nó được thúc đẩy bởi tình thương nhân loại và do đó là một đáp ứng thông minh tự động đối với lời kêu gọi của nhân loại? Em đang nuôi dưỡng một hạt giống nhỏ và lành mạnh, hay đang cố gắng dời trồng một cái cây? Câu hỏi cuối này có thâm nghĩa lớn hơn em có lẽ đoán. Trong câu trả lời đúng đắn cho nó chứa đựng bí quyết thành công của em. Em đang hợp tác với Thiên Cơ, hay thật ra với các kế hoạch của em? Lại là một câu hỏi quan trọng.

A rich life of service lies ahead for you in the coming period of reconstruction, but its full expression is dependent upon your achieving a point of focus, leading to a point of tension which will, in its turn, inevitably lead to a point of crisis. When these—focus, tension, and crisis—condition all your living, then your work will move ahead towards a most desirable fruition.

Một đời sống phụng sự phong phú đang ở phía trước em trong thời kỳ tái thiết sắp đến, nhưng sự biểu hiện trọn vẹn của nó tùy thuộc vào việc em đạt được một điểm tập trung, dẫn đến một điểm tập trung nhất tâm, đến lượt nó chắc chắn sẽ dẫn đến một điểm khủng hoảng. Khi ba điều này—tập trung, căng lực và khủng hoảng—tác động lên toàn bộ đời sống của em, thì công việc của em sẽ tiến tới một sự kết trái rất đáng mong muốn.

Like all creative workers, my brother and my friend, you [449] resent all forms which you do not yourself initiate. I am not, therefore, giving you a set form for meditation, but I am giving you a loose structure of thought which I would like to see govern your approach to life, to work and to all you do as a disciple coming forth from my Ashram. This will constitute your cooperative contribution to the group need and to humanity.

Như mọi người hoạt động sáng tạo, huynh đệ và bạn của Tôi, em [449] chống đối mọi hình thức mà chính em không khởi xướng. Vì vậy, Tôi không trao cho em một hình thức tham thiền cố định, mà trao cho em một cấu trúc tư tưởng lỏng, điều Tôi muốn thấy chi phối cách em tiếp cận đời sống, công việc và mọi điều em làm với tư cách một đệ tử xuất phát từ ashram của Tôi. Điều này sẽ cấu thành đóng góp hợp tác của em cho nhu cầu của nhóm và của nhân loại.

Take the three words which I have given you and seek to weave the energies which they represent into your life pattern, welcoming the changes which they may bring and knowing that they are, for you, the correct procedure because these three concepts govern the needed evolutionary process for you at this time—as they do for the bulk of disciples and, to a certain degree, all lesser developing nature.

Hãy lấy ba từ mà Tôi đã trao cho em và tìm cách dệt những năng lượng mà chúng đại diện vào mô hình đời sống của em, hoan nghênh những thay đổi mà chúng có thể đem đến, và biết rằng đối với em, chúng là phương pháp đúng đắn, bởi ba khái niệm này chi phối tiến trình tiến hoá cần thiết cho em vào lúc này—cũng như chúng chi phối phần lớn các đệ tử và, ở một mức độ nào đó, toàn bộ bản chất thấp hơn đang phát triển.

I. Focus

I. Tập trung

Seek to ascertain in a wide and general sense where your major life focus is established. Is it emotional, mental, or on soul levels? Is it focussed consciously in the Hierarchy, in my Ashram, or where? What is your daily focus as you watch yourself each day of living? Where, each day, has your attention been, having in mind that a disciple’s focus is frequently in one place whilst his attention is in another? Do you know what I mean when I say this?

Hãy tìm cách xác định, theo nghĩa rộng và tổng quát, trọng tâm chính yếu của đời em được thiết lập ở đâu. Nó thuộc cảm xúc, trí tuệ, hay trên các cấp độ linh hồn? Nó có được tập trung một cách có ý thức trong Thánh Đoàn, trong ashram của Tôi, hay ở đâu? Trọng tâm hằng ngày của em là gì khi em tự quan sát mình qua từng ngày sống? Mỗi ngày, sự chú ý của em đã ở đâu, khi ghi nhớ rằng trọng tâm của một đệ tử thường ở một nơi trong khi sự chú ý của y lại ở nơi khác? Em có hiểu ý Tôi khi Tôi nói điều này không?

II. Tension

II. Căng lực

Study for the next year whether you know the true significance of tension. For you, it should mean (speaking in a symbolism which you ought to understand) that moment of exquisite sensitivity which appears just as the life within reaches the point of “breaking forth” into the light. It is that moment of alert conscious anticipatory direction which distinguishes the runner in the Olympic games as he stands poised for his supreme effort and test. It should be, for you, the moment when you switch your identification with that which you do, away from that act of doing (which is in reality only an effect of an initiating cause or motive) into the world of origins, of motives and causes. In that supreme moment of tension you relate life [450] and form, the fluid and the concrete; then an organism, and not an organisation, takes shape before your eyes.

Trong năm tới, hãy nghiên cứu xem em có biết thâm nghĩa đích thực của căng lực hay không. Đối với em, nó phải có nghĩa là, nói bằng một biểu tượng mà em nên hiểu, khoảnh khắc của sự nhạy cảm tinh tế xuất hiện ngay khi sự sống bên trong đạt đến điểm “bừng vỡ” vào ánh sáng. Đó là khoảnh khắc của sự định hướng mong chờ, tỉnh thức và có ý thức, điều phân biệt người chạy trong các cuộc thi Olympic khi y đứng thăng bằng cho nỗ lực và thử thách tối thượng của mình. Đối với em, đó phải là khoảnh khắc khi em chuyển sự đồng nhất của mình với điều em làm, rời khỏi hành vi làm ấy, vốn thật ra chỉ là một hệ quả của một nguyên nhân hay động cơ khởi phát, vào thế giới của các nguồn gốc, của các động cơ và nguyên nhân. Trong khoảnh khắc căng lực tối thượng ấy, em liên hệ sự sống [450] và hình tướng, cái linh động và cái cụ thể; rồi một cơ thể sống, chứ không phải một tổ chức, thành hình trước mắt em.

III. Crisis

III. Khủng hoảng

The comprehension and the system of right reflection which the two above processes will generate must inevitably eventuate in a point of crisis. About such a crisis I can say little. It will take place in conformity with your ability to focus, in line with your attainment of the right tension, and the precipitation of the crisis will, therefore, give you release, freedom, clarity of vision and entrance into light.

Sự lĩnh hội và hệ thống phản tư đúng đắn mà hai tiến trình trên sẽ tạo ra chắc chắn phải kết thành một điểm khủng hoảng. Về một cuộc khủng hoảng như thế, Tôi có thể nói rất ít. Nó sẽ diễn ra phù hợp với khả năng tập trung của em, theo đường lối thành tựu căng lực đúng đắn của em, và vì vậy sự ngưng tụ của khủng hoảng sẽ đem lại cho em sự giải thoát, tự do, tầm nhìn rõ ràng và lối vào ánh sáng.

In closing let me say: Preserve your essential and innate integrity, my brother. Be like the sapling which bears up against the storms of wind and rain, holding its life in form intact and gaining added beauty as strength develops.

Để kết thúc, hãy để Tôi nói: Huynh đệ của Tôi, hãy giữ gìn tính toàn vẹn cốt yếu và bẩm sinh của em. Hãy như cây non chống chọi với bão gió và mưa, giữ sự sống của nó trong hình tướng được nguyên vẹn và đạt thêm vẻ đẹp khi sức mạnh phát triển.

My blessing rests ever upon you, and my cooperation and my help when need arises. On that you may count. Meet happiness and distress alike with equilibrium, and be a strong hand in the dark to all you meet.

Phúc lành của Tôi luôn ở trên em, cùng sự hợp tác và trợ giúp của Tôi khi nhu cầu phát sinh. Em có thể tin chắc điều đó. Hãy đón nhận hạnh phúc và khổ đau như nhau với sự quân bình, và hãy là một bàn tay mạnh mẽ trong bóng tối cho tất cả những ai em gặp.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I believe that when this reaches you and you scan the interval between these instructions and the previous one, you will realise the significance of your life events in a new way. They have been many, and they have been varied. Do you appreciate what they mean? The past year brought you crisis after crisis; it involved periods of quiescence and of enforced activity; it also brought periods of a definite recognition of growth wherein you registered expansion and arrived at certain inner decisions by which you must and will abide, because they marked a certain high water mark of your soul’s development.

Tôi tin rằng khi thư này đến với em và em nhìn lại khoảng thời gian giữa những chỉ dẫn này và chỉ dẫn trước, em sẽ nhận ra thâm nghĩa của các biến cố đời em theo một cách mới. Chúng đã nhiều và đa dạng. Em có hiểu chúng muốn nói gì không? Năm vừa qua đem đến cho em hết khủng hoảng này đến khủng hoảng khác; nó bao gồm những thời kỳ yên lặng và hoạt động bắt buộc; nó cũng đem đến những thời kỳ nhận biết rõ ràng về sự tăng trưởng, trong đó em ghi nhận sự mở rộng và đi đến những quyết định bên trong nào đó mà em phải và sẽ tuân giữ, bởi chúng đánh dấu một mức nước cao nhất nào đó trong sự phát triển của linh hồn em.

Your problem is now concerned with this point of attainment. Is the high water mark reached a temporary one, preliminary to a still higher attainment, or have you—for this life—set your pace and can proceed no faster? Disciples, such [451] as you, need to learn that this type of decision indicates no choice between right and wrong, or between progress or non-progress. It is simply a decision, specifically related to timing. Such a decision calls for assessment, for recognition of presented opportunity in both karma and service, and for discreet decisions in relation to your activities upon the Path.

Vấn đề của em giờ đây liên quan đến điểm thành tựu này. Mức nước cao nhất đã đạt được là tạm thời, chuẩn bị cho một thành tựu còn cao hơn, hay em—trong đời này—đã định nhịp tiến của mình và không thể tiến nhanh hơn nữa? Những đệ tử như [451] em cần học rằng loại quyết định này không biểu thị sự chọn lựa giữa đúng và sai, hay giữa tiến bộ và không tiến bộ. Nó chỉ đơn giản là một quyết định, liên hệ đặc biệt đến thời điểm. Một quyết định như thế đòi hỏi sự thẩm định, sự nhận biết cơ hội được trình hiện trong cả nghiệp quả lẫn phụng sự, và những quyết định thận trọng liên quan đến các hoạt động của em trên Đường Đạo.

It is easy to overestimate the importance of any particular incarnation upon the path of life; it is easy to foster the consciousness of the personality in time and space, and thus fail to register the “insight” of the soul, regulating timelessness and knowing no past or future, but only a sense of Being (faintly and dimly, because this sense is a monadic prerogative) and of relationship (strongly and urgently).

Thật dễ đánh giá quá cao tầm quan trọng của bất kỳ lần lâm phàm riêng biệt nào trên con đường đời sống; thật dễ nuôi dưỡng tâm thức của phàm ngã trong thời gian và không gian, và vì thế không ghi nhận được “nội kiến” của linh hồn, vốn điều chỉnh tính phi thời gian và không biết quá khứ hay tương lai, mà chỉ biết ý thức về Bản Thể, một cách mờ nhạt và lờ mờ, vì ý thức này là đặc quyền chân thần, và về mối liên hệ, một cách mạnh mẽ và cấp bách.

Some souls in incarnation need constantly to spur their personalities on to action; they require to urge them to achievement and towards freedom from inertia. That is not a problem which confronts you, my disciple. For you, the “lesson of the interludes” is of major importance. I use this word in its most technical sense and as the Masters use it when attempting to incline any life within the Ashram into ways which are, for that unit of life, the essential process for the immediate moment.

Một số linh hồn đang nhập thể cần liên tục thúc giục các phàm ngã của mình đi vào hành động; họ cần thôi thúc chúng hướng tới thành tựu và thoát khỏi Quán tính. Đó không phải là vấn đề đối diện với em, đệ tử của Tôi. Đối với em, “bài học về các quãng ngưng” có tầm quan trọng chính yếu. Tôi dùng từ này theo nghĩa kỹ thuật nhất của nó và như các Chân sư dùng khi tìm cách hướng bất kỳ sự sống nào trong ashram vào những đường lối vốn, đối với đơn vị sự sống ấy, là tiến trình thiết yếu cho thời điểm trước mắt.

In all breathing exercises, there are, as you know, the processes of inhalation and of exhalation, with two points intermediate between these two—that of the interludes. Beginners in the mechanics of right breathing seem inevitably engrossed with the processes involved, with the amount of air to be indrawn or out-breathed and with the consequent physiological effects and their etheric correspondence. Knowers and disciples pay small attention to this dual activity. They are preoccupied with what is proceeding within their consciousness during the interludes between the fixed inhalations and exhalations. These phases of registered consciousness are in reality points of detachment. They mark the cycles of tension and should be carefully studied and employed by you. This is a point in your future development to which I earnestly call your attention.

Trong mọi bài tập thở, như em biết, có các tiến trình hít vào và thở ra, với hai điểm trung gian giữa hai tiến trình này—đó là các quãng ngưng. Những người sơ cơ trong cơ chế thở đúng dường như tất yếu bị cuốn hút vào các tiến trình liên hệ, vào lượng không khí cần hít vào hay thở ra, và vào những hiệu quả sinh lý kế tiếp cùng tương ứng dĩ thái của chúng. Các thức giả và đệ tử ít chú ý đến hoạt động nhị phân này. Họ bận tâm với điều đang diễn ra trong tâm thức của họ trong các quãng ngưng giữa những lần hít vào và thở ra cố định. Những giai đoạn tâm thức được ghi nhận này thật ra là những điểm tách rời. Chúng đánh dấu các chu kỳ căng lực và em nên nghiên cứu cũng như sử dụng chúng cẩn thận. Đây là một điểm trong sự phát triển tương lai của em mà Tôi tha thiết kêu gọi em chú ý.

In my last instruction to you I gave you three words upon which to meditate and which were intended to constitute [452] the theme of your meditation work throughout the year. By the means of these words you could be enabled to gauge your life processes and determine activity. By means of them also (rightly used) you can arrive at a real understanding of the Law of Cycles—in your own life, in the life of any related group, and in the life of humanity itself. They are also closely related, as you can well imagine, to the rhythm of breathing. It might be regarded in the following way, holding the suggested relations in mind:

Trong chỉ dẫn gần nhất của Tôi cho em, Tôi đã trao cho em ba từ để tham thiền và chúng được dự định cấu thành [452] chủ đề cho công việc tham thiền của em suốt năm. Nhờ những từ này, em có thể được giúp để đo lường các tiến trình đời sống của mình và xác định hoạt động. Nhờ chúng nữa, nếu được dùng đúng đắn, em có thể đi đến một sự thấu hiểu thật sự về Định luật Chu Kỳ—trong đời sống của chính em, trong đời sống của bất kỳ nhóm liên hệ nào, và trong đời sống của chính nhân loại. Chúng cũng liên hệ mật thiết, như em có thể dễ dàng hình dung, với nhịp điệu của hơi thở. Có thể xem xét điều đó theo cách sau đây, khi ghi nhớ các mối liên hệ được gợi ý:

1. Inhalation……….. Focus…………………….. Life centralisation.

1. Hít vào……….. Tập trung…………………….. Sự quy tâm của sự sống.

2. Interlude……….. Point of Tension……….. Initiation of causes.

2. Quãng ngưng……….. Điểm Tập Trung Nhất Tâm……….. Khởi phát các nguyên nhân.

3. Exhalation………. Crisis……………………… Production of effects.

3. Thở ra………. Khủng hoảng……………………… Sản sinh các hệ quả.

4. Interlude……….. Recognition…………….. Prelude to refocussing.

4. Quãng ngưng……….. Nhận biết…………….. Khúc dạo đầu cho sự tái tập trung.

These phases of activity—both positive and negative—can be applied in all aspects of life and in all activities. You can experience them and institute them as a personality, and the entire effect of these phases will then be contained within the personality life of the three worlds; you are meanwhile in process of learning them as a soul and as a disciple, and for the remainder of your life they should establish the rhythm of your effort; later, upon the Path of Initiation, you will re-learn this same process on the highest possible turn of the spiral within the planetary rhythm—but that time is not yet.

Những giai đoạn hoạt động này—cả chủ động lẫn thụ động—có thể được áp dụng trong mọi phương diện của đời sống và trong mọi hoạt động. Em có thể trải nghiệm chúng và thiết lập chúng với tư cách một phàm ngã, và toàn bộ hiệu quả của các giai đoạn này khi ấy sẽ được chứa trong đời sống phàm ngã của ba cõi thấp; đồng thời, em đang trong tiến trình học chúng với tư cách một linh hồn và một đệ tử, và trong phần đời còn lại của em, chúng nên thiết lập nhịp điệu nỗ lực của em; về sau, trên Con Đường Điểm Đạo, em sẽ học lại cùng tiến trình này trên vòng xoắn cao nhất có thể trong nhịp điệu hành tinh—nhưng thời điểm ấy chưa đến.

As I give you this individual instruction, my brother, I would enjoin upon you the need to establish this rhythmic, cyclic “breath of consciousness.” Ponder on this phrase and make this objective a matter of real importance to you until the time comes when you will work upon inner levels, free of the physical body; you will find the effort both interesting and also practical.

Khi trao cho em chỉ dẫn cá nhân này, huynh đệ của Tôi, Tôi muốn truyền cho em nhu cầu thiết lập “hơi thở của tâm thức” có nhịp điệu và chu kỳ này. Hãy suy ngẫm về cụm từ này và làm cho mục tiêu này trở thành một vấn đề thật sự quan trọng đối với em cho đến khi thời điểm đến, lúc em sẽ làm việc trên các cấp độ bên trong, tự do khỏi thể xác; em sẽ thấy nỗ lực này vừa thú vị vừa thực tiễn.

Let these four stages condition the pattern of your daily meditation. Let them also mark the pattern of your daily life, indicating the gathering in of the sources of supply for that life of service which is your aspiration (I refer at this point to the meditation process, practised daily). Let them mark also the carefully planned and silently implemented allocation [453] of such energies to the arranged duties of the day, and to the active outer task of breathing forth into the world of men that which it is your duty to contribute. Then let there be the final interlude of recognition.

Hãy để bốn giai đoạn này tác động lên mô hình tham thiền hằng ngày của em. Hãy để chúng cũng đánh dấu mô hình đời sống hằng ngày của em, biểu thị sự thu gom các nguồn cung ứng cho đời sống phụng sự vốn là khát vọng của em, ở điểm này Tôi đang nói đến tiến trình tham thiền được thực hành hằng ngày. Hãy để chúng cũng đánh dấu sự phân bổ đã hoạch định cẩn thận và thực hiện âm thầm [453] những năng lượng ấy cho các bổn phận đã sắp xếp trong ngày, và cho nhiệm vụ bên ngoài tích cực là thở ra vào thế giới loài người điều mà em có bổn phận đóng góp. Rồi hãy để có quãng ngưng cuối cùng của sự nhận biết.

The point I seek to emphasise to you is the need—imperative and permanent where the remainder of your life is concerned—for the interludes. These interludes are, for you, the growing times; they are essentially the “epochs for storage” (if I may use such an arresting and unusual phrase), and they are the “seed of samadhi.” What is samadhi, from the initiate point of view and esoterically comprehended? Simply those interludes in the initiate’s life of service wherein he withdraws all his forces into a “well of silence”—a well, full of the water of life. In this state of consciousness two definite activities transpire: Tension and Recognition. Without these interludes of abstraction, his work would slowly weaken as the tension, earlier initiated, weakened; his ability to attract and to hold others true to the vision would likewise slowly disappear, as his power to recognise became myopic. The initiate, therefore, as he works within the Ashram, withdraws at the needed times. As he inhales the life of the Hierarchy, and increasingly that of the Monad (which he gradually learns to do), and as he exhales the living essence into the “world of serving lives,” he becomes steadily more and more dependent upon the “interludes” wherein both these phases of activity cease and he becomes immersed in Being and in Consciousness—the intrinsic parts of the animating Whole. I use this phrase “animating Whole” advisedly to indicate that the points of interlude are not related to form life at all, but to the life of Life itself.

Điểm Tôi tìm cách nhấn mạnh với em là nhu cầu—cấp thiết và lâu dài đối với phần đời còn lại của em—về các quãng ngưng. Đối với em, những quãng ngưng này là các thời kỳ tăng trưởng; về bản chất, chúng là “các kỷ nguyên tích trữ,” nếu Tôi có thể dùng một cụm từ gây chú ý và khác thường như thế, và chúng là “hạt giống của samadhi.” Samadhi là gì, từ quan điểm của điểm đạo đồ và được hiểu một cách huyền bí? Đơn giản là những quãng ngưng trong đời sống phụng sự của điểm đạo đồ, trong đó y rút toàn bộ các mãnh lực của mình vào một “giếng im lặng”—một cái giếng đầy nước của sự sống. Trong trạng thái tâm thức này, hai hoạt động rõ rệt diễn ra: Căng lực và Nhận biết. Không có những quãng ngưng trừu xuất này, công việc của y sẽ dần suy yếu khi căng lực đã khởi phát trước đó suy yếu; khả năng thu hút và giữ người khác trung thành với tầm nhìn của y cũng sẽ dần biến mất, khi quyền năng nhận biết của y trở nên thiển cận. Vì thế, điểm đạo đồ, khi làm việc trong ashram, rút lui vào những thời điểm cần thiết. Khi y hít vào sự sống của Thánh Đoàn, và ngày càng hít vào sự sống của Chân Thần, điều y dần học làm, và khi y thở ra tinh chất sống vào “thế giới của các sự sống phụng sự,” y ngày càng trở nên lệ thuộc hơn vào các “quãng ngưng,” trong đó cả hai giai đoạn hoạt động này chấm dứt và y đắm mình trong Bản Thể và trong Tâm Thức—những phần nội tại của Toàn Thể đang linh hoạt hoá. Tôi dùng cụm từ “Toàn Thể đang linh hoạt hoá” một cách có chủ ý để chỉ ra rằng các điểm quãng ngưng không liên hệ chút nào đến đời sống hình tướng, mà liên hệ đến sự sống của chính Sự Sống.

Am I being too abstract with you, my brother? I believe not. As I look ahead into your future and sense the quality of your life, I know that the keynote of your inner programme should be ever the recognition of the essential demand of your soul for rhythmic interludes; your personality emphasis should be, therefore, upon this withdrawing. I refer not to the withdrawing from outer service but to an inner, constant, cyclic attitude of determined and planned abstraction. [454]

Tôi có quá trừu tượng với em không, huynh đệ của Tôi? Tôi tin là không. Khi nhìn tới tương lai của em và cảm nhận phẩm tính đời sống của em, Tôi biết rằng chủ âm của chương trình bên trong của em phải luôn là sự nhận biết đòi hỏi cốt yếu của linh hồn em về các quãng ngưng có nhịp điệu; do đó, trọng tâm phàm ngã của em phải đặt trên sự rút lui này. Tôi không nói đến việc rút lui khỏi sự phụng sự bên ngoài, mà nói đến một thái độ trừu xuất bên trong, thường xuyên, có chu kỳ, kiên quyết và có hoạch định. [454]

If you will study your ray combinations, you will note that you have only one of your ray energies along the line of the first ray—that is the ray of the seventh type of energy. All your other rays are related to the great Second Ray of Love-Wisdom. This necessarily constitutes a problem until you remember that the seventh ray is the ray of interlude—an interlude and a ray which becomes active when the attractive, magnetic work of the building rays is ready to precipitate into the phenomenal world and bring about—under the Law of Ritual and of Divine Ceremonial—new phases of work. These are initiated in the silence of the process of abstraction, released when the interlude of tension has completed its work, and become effective when the interlude of recognition has made a new refocussing possible.

Nếu em nghiên cứu các phối hợp cung của mình, em sẽ lưu ý rằng em chỉ có một trong các năng lượng cung của mình theo đường lối của cung một—đó là cung của loại năng lượng thứ bảy. Tất cả các cung khác của em đều liên hệ đến Cung Hai vĩ đại của Bác Ái – Minh Triết. Điều này tất yếu tạo thành một vấn đề cho đến khi em nhớ rằng cung bảy là cung của quãng ngưng—một quãng ngưng và một cung trở nên hoạt động khi công việc thu hút, từ tính của các cung kiến tạo đã sẵn sàng ngưng tụ vào thế giới hiện tượng và đem lại, dưới Định luật Nghi Lễ và Nghi Thức Thiêng Liêng, những giai đoạn công việc mới. Những giai đoạn này được khởi phát trong sự im lặng của tiến trình trừu xuất, được phóng thích khi quãng ngưng của căng lực đã hoàn tất công việc của nó, và trở nên hữu hiệu khi quãng ngưng của sự nhận biết đã làm cho một sự tái tập trung mới trở nên khả hữu.

I am not going to indicate to you the lines along which your service, as a disciple in my Ashram, should proceed. You have already initiated certain activities, both in your personality life through your marriage and in the world through the order which you have attempted to establish. With that which you have started you must proceed; and you can regard these words either as a statement of fact, as a predictory announcement, or as a command from your own soul. But your success in both these departments of life will depend upon your effective use of “interludes.” Only you can determine their timing, and this—to be successful—will require the application and the recognition of need, but also the recognition of unfolding spiritual opportunity.

Tôi sẽ không chỉ cho em các đường lối mà sự phụng sự của em, với tư cách một đệ tử trong ashram của Tôi, nên tiến hành. Em đã khởi xướng một số hoạt động, cả trong đời sống phàm ngã của em qua hôn nhân, lẫn trên thế giới qua hội đoàn mà em đã cố gắng thiết lập. Với điều em đã khởi sự, em phải tiếp tục; và em có thể xem những lời này hoặc như một tuyên bố sự kiện, hoặc như một lời báo trước, hoặc như một mệnh lệnh từ chính linh hồn em. Nhưng thành công của em trong cả hai lĩnh vực đời sống này sẽ tùy thuộc vào việc em sử dụng hữu hiệu các “quãng ngưng.” Chỉ em mới có thể xác định thời điểm của chúng, và điều này—để thành công—sẽ đòi hỏi sự áp dụng và sự nhận biết nhu cầu, nhưng cũng đòi hỏi sự nhận biết cơ hội tinh thần đang khai mở.

As a beginning, and in order to help you to find the length of your cycles of inhalation and exhalation, I would suggest that you attempt to place one of the interludes at the time of the full moon each month, and the second interlude might come at the close of every three months of work, at the time of the third new moon. You will have to work this out for yourself, but in doing so you could establish a basic rhythm in your life which you would never regret. You could work along the following lines of rhythmic abstraction:

Như một khởi đầu, và để giúp em tìm ra độ dài các chu kỳ hít vào và thở ra của mình, Tôi gợi ý rằng em cố gắng đặt một trong các quãng ngưng vào thời điểm trăng tròn mỗi tháng, và quãng ngưng thứ hai có thể đến vào cuối mỗi ba tháng làm việc, vào thời điểm trăng non thứ ba. Em sẽ phải tự mình tìm ra điều này, nhưng khi làm như vậy, em có thể thiết lập một nhịp điệu căn bản trong đời sống mà em sẽ không bao giờ hối tiếc. Em có thể làm việc theo những đường lối trừu xuất có nhịp điệu sau đây:

1. Twelve brief, abstract monthly interludes at the time of the twelve yearly full moons. [455]

1. Mười hai quãng ngưng ngắn, trừu xuất, hằng tháng vào thời điểm mười hai kỳ trăng tròn hằng năm. [455]

2. Four brief quarterly abstractions at the time of the four new moons, dependent upon the date of the initial, major interlude.

2. Bốn lần trừu xuất ngắn theo quý vào thời điểm bốn kỳ trăng non, tùy thuộc vào ngày của quãng ngưng chính yếu ban đầu.

3. Two longer periods of interludes or of abstraction at the time of May and June full moons.

3. Hai giai đoạn dài hơn của các quãng ngưng hay của sự trừu xuất vào thời điểm trăng tròn tháng Năm và tháng Sáu.

These points of inner abstraction, of interludes in your subjective life, can be carried on without interfering with your objective life of service, of obligation and of duty. I commend these three words to you also as three themes for meditation.

Những điểm trừu xuất bên trong này, những quãng ngưng trong đời sống nội giới của em, có thể được tiến hành mà không gây trở ngại cho đời sống ngoại giới của em trong phụng sự, nghĩa vụ và bổn phận. Tôi cũng trao cho em ba từ này như ba chủ đề để tham thiền.

Last year I gave you the three words: Focus, Tension, Crisis. For this coming year I give you another three: Obligation, Service, Duty. For the year beginning September, I give you: Emotion, Intuition, Wisdom. You have, therefore, themes for three years’ work in the meditation field and “as a man thinketh in his heart, so is he.” When you have covered these nine themes for reflection, I would suggest that you start again, thus establishing a three year cycle in your process of rhythmic mental building.

Năm ngoái, Tôi đã trao cho em ba từ: Tập trung, Căng lực, Khủng hoảng. Cho năm sắp tới, Tôi trao cho em ba từ khác: Nghĩa vụ, Phụng sự, Bổn phận. Cho năm bắt đầu từ tháng Chín, Tôi trao cho em: Cảm xúc, Trực giác, Minh triết. Như vậy, em có các chủ đề cho ba năm làm việc trong lĩnh vực tham thiền, và “con người nghĩ thế nào trong lòng mình thì y là như thế.” Khi em đã bao quát chín chủ đề phản tư này, Tôi gợi ý rằng em bắt đầu lại, nhờ đó thiết lập một chu kỳ ba năm trong tiến trình kiến tạo trí tuệ có nhịp điệu của em.

Keep close to your group brothers. Seek to establish a contact—subjective and real—with F.C.D. who is so close to you in nature, though with more first ray strength. Whether you ever work for and with him on the outer plane is of no great matter. The need is for you to work with him on the inner planes, giving him what support you can, and receiving from him the strength that you need. Some time, during each morning meditation, I would request you to call him by name three times, and then to send out your heart’s thoughts to him. A link would thereby be established which you would never regret.

Hãy giữ gần gũi với các huynh đệ trong nhóm của em. Hãy tìm cách thiết lập một sự tiếp xúc—nội giới và thật sự—với F.C.D., người rất gần với em về bản chất, dù có sức mạnh cung một nhiều hơn. Việc em có bao giờ làm việc cho và cùng bạn ấy trên cõi bên ngoài hay không không phải là vấn đề lớn. Nhu cầu là em làm việc với bạn ấy trên các cõi bên trong, trao cho bạn ấy sự hỗ trợ em có thể, và nhận từ bạn ấy sức mạnh mà em cần. Vào một lúc nào đó trong mỗi buổi tham thiền sáng, Tôi yêu cầu em gọi tên bạn ấy ba lần, rồi gửi những tư tưởng của trái tim em đến bạn ấy. Nhờ vậy, một mối liên kết sẽ được thiết lập mà em sẽ không bao giờ hối tiếc.

And as for your relation to me, my brother—naught can change that. You are integrated into my Ashram; you have my confidence and trust; the love of your brothers in the outer group of the Ashram surrounds you at all times. Seek to get in touch with me every Full Moon period, and expect results.

Còn về mối liên hệ của em với Tôi, huynh đệ của Tôi—không gì có thể thay đổi điều đó. Em đã được tích hợp vào ashram của Tôi; em có sự tín nhiệm và lòng tin của Tôi; tình thương của các huynh đệ em trong nhóm bên ngoài của ashram bao quanh em mọi lúc. Hãy tìm cách liên lạc với Tôi vào mỗi kỳ Trăng Tròn, và hãy trông đợi kết quả.

My love and blessing rest upon you, and the service of my Ashram holds you. [456]

Tình thương và phúc lành của Tôi ở trên em, và sự phụng sự của ashram Tôi giữ gìn em. [456]

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I have for you today naught but a happy recognition. You have proceeded with your life task with patience, serenity and foresight. The dual life of a disciple (covering personality obligations and the chosen field of soul service) is being successfully attempted by you. Where the word “success” is used, I would remind you that the Master neither sees nor notices the small failures, the moments of distress or disturbance or the personality frictions which (from the angle of the observing disciple) seem to mar the picture. At intervals—rare at first but more frequent when the service rendered attains greater importance—the Master makes Himself aware of the general progress, the growth of the general structure of service which the disciple is creating and the extension of his light in the world. It amuses us at times to note that some disciples (particularly those trained in the earlier, personality-tainted groups) believe the Masters pry into their daily lives, know their petty faults and silly little failures and are fully aware of all they think and do. We wonder sometimes where they think the Masters find the time, and why They should be so interested in habits of thought and action and speech which the disciple is rapidly overcoming.

Hôm nay, Tôi không có gì dành cho em ngoài một sự nhận biết hoan hỉ. Em đã tiến hành nhiệm vụ đời mình với kiên nhẫn, sự tĩnh lặng và tầm nhìn xa. Đời sống kép của một đệ tử, bao gồm các nghĩa vụ phàm ngã và lĩnh vực phụng sự linh hồn đã chọn, đang được em thực hiện thành công. Khi dùng từ “thành công,” Tôi muốn nhắc em rằng Chân sư không nhìn thấy cũng không lưu ý đến những thất bại nhỏ, những khoảnh khắc khổ đau hay xáo trộn, hoặc những va chạm phàm ngã mà, từ góc độ của đệ tử đang quan sát, dường như làm hỏng bức tranh. Theo từng khoảng thời gian—ban đầu hiếm hoi nhưng thường xuyên hơn khi sự phụng sự được thực hiện đạt tầm quan trọng lớn hơn—Chân sư tự nhận biết tiến bộ tổng quát, sự tăng trưởng của cấu trúc phụng sự tổng quát mà đệ tử đang tạo ra, và sự mở rộng ánh sáng của y trong thế gian. Đôi khi chúng tôi thấy thú vị khi lưu ý rằng một số đệ tử, đặc biệt là những người được huấn luyện trong các nhóm trước kia còn nhuốm màu phàm ngã, tin rằng các Chân sư dò xét đời sống hằng ngày của họ, biết các lỗi nhỏ nhặt và những thất bại bé bỏng ngu xuẩn của họ, và hoàn toàn biết mọi điều họ nghĩ và làm. Đôi khi chúng tôi tự hỏi họ nghĩ các Chân sư tìm đâu ra thời gian, và vì sao Các Ngài lại phải quan tâm đến những thói quen tư tưởng, hành động và lời nói mà đệ tử đang nhanh chóng vượt qua.

We are only interested in the good which any individual may be demonstrating; only the good reaches us, except in the case of an entire group where the group interplay, the group action and the group effect does affect the Ashram. The quality of the vibration which is felt when contacting you is of the nature of harmlessness and of goodwill to all men.

Chúng tôi chỉ quan tâm đến điều thiện mà bất kỳ cá nhân nào có thể đang biểu lộ; chỉ điều thiện mới đến được với chúng tôi, ngoại trừ trường hợp của toàn bộ một nhóm, nơi sự tương tác nhóm, hành động nhóm và hiệu quả nhóm thật sự ảnh hưởng đến ashram. Phẩm tính rung động được cảm nhận khi tiếp xúc với em mang bản chất của tính vô tổn hại và thiện chí đối với mọi người.

I am pleased that you are following along the line of your second ray energy, and are occupied with seventh ray activity; that means that, inspired by the sense of unity which is inherent in the soul, you are working on the physical plane (the point of expression for the seventh ray) and bringing spirit and matter together. Remember always that this ray which is again coming into cyclic manifestation is the one [457] that relates the new and incoming spiritual energy and the substance or matter aspect which will respond to it, utilise it and eventually give it due form. Know therefore clearly what it is you are attempting to do.

Tôi hài lòng rằng em đang đi theo đường lối năng lượng cung hai của mình và bận rộn với hoạt động cung bảy; điều đó có nghĩa là, được truyền cảm hứng bởi ý thức hợp nhất vốn cố hữu trong linh hồn, em đang làm việc trên cõi hồng trần, điểm biểu hiện của cung bảy, và đang đưa tinh thần và vật chất lại với nhau. Hãy luôn nhớ rằng cung này, vốn một lần nữa đang đi vào biểu hiện theo chu kỳ, là cung [457] liên hệ năng lượng tinh thần mới đang đi vào với phương diện chất liệu hay vật chất sẽ đáp ứng với nó, sử dụng nó và rốt cuộc trao cho nó hình tướng thích đáng. Vì vậy, hãy biết rõ em đang cố gắng làm gì.

The main hierarchical need today (apart from its need for workers) is the forming everywhere of such groups as yours, the relating of group with group within the range of influence of that super group, the Hierarchy. Such groups are forming now in their thousands and are to be found in every land, and they will eventually blend and fuse together into one great movement of goodwill, which is spirit in actual expression. Aspirants everywhere, Arcane School students the world over, and my group of special workers such as yourself, must contact these groups, bringing them together on one point only, and that is Goodwill. Each group must necessarily be left free to proceed with its own destiny and mode of work. Unity is a necessary ideal and is the reverse side of Goodwill. Unitedly, when the right time comes, these groups must issue a great manifesto to the world—identical manifestos being issued in each country by all the groups who stand for world unity and goodwill. Thus they will make the word “goodwill” carry power throughout the planet, whilst the disciples and aspirants will, through their thought, make the word “unity” carry hidden power. Thus a vast band of men of goodwill will be working unitedly, yet independently, and there will be made available—in moments of world crisis—an organised, ready and world-wide public opinion of such strength and organisation that it cannot be ignored.

Nhu cầu chính yếu của Thánh Đoàn ngày nay, ngoài nhu cầu về những người hoạt động, là hình thành khắp nơi những nhóm như nhóm của em, liên hệ nhóm này với nhóm khác trong phạm vi ảnh hưởng của siêu nhóm ấy, tức Thánh Đoàn. Những nhóm như thế hiện đang hình thành hàng ngàn và có mặt ở mọi xứ sở, và rốt cuộc chúng sẽ hòa trộn và dung hợp với nhau thành một phong trào thiện chí vĩ đại, vốn là tinh thần trong biểu hiện thực tế. Những người chí nguyện khắp nơi, các đạo sinh Trường Arcane trên toàn thế giới, và nhóm những người hoạt động đặc biệt của Tôi như em, phải tiếp xúc với các nhóm này, đưa họ lại với nhau trên chỉ một điểm, đó là Thiện Chí. Mỗi nhóm tất yếu phải được để tự do tiến hành theo định mệnh và phương thức làm việc riêng của mình. Sự hợp nhất là một lý tưởng cần thiết và là mặt kia của Thiện Chí. Một cách hợp nhất, khi thời điểm đúng đến, những nhóm này phải đưa ra một tuyên ngôn vĩ đại cho thế giới—những tuyên ngôn giống hệt nhau được đưa ra ở mỗi quốc gia bởi tất cả các nhóm đứng vì sự hợp nhất thế giới và thiện chí. Như thế, họ sẽ làm cho từ “thiện chí” mang quyền năng khắp hành tinh, trong khi các đệ tử và người chí nguyện sẽ, qua tư tưởng của họ, làm cho từ “hợp nhất” mang quyền năng ẩn tàng. Nhờ vậy, một đoàn thể rộng lớn gồm những người thiện chí sẽ làm việc hợp nhất nhưng độc lập; và trong những thời khắc khủng hoảng thế giới, sẽ có sẵn một dư luận công chúng có tổ chức, sẵn sàng và toàn cầu, với sức mạnh và tổ chức đến mức không thể bị phớt lờ.

Your life pattern, my brother, is now established; seek not unduly to change it, but seek to make your home a centre of spiritual light, and seek to make your order so vibrant, so alive, that other groups may gain stimulation from it. You have therefore a full life’s work, and in that all aspects of your nature will find full mode of expression. For disciples, only those tasks which call forth the full quota of innate effectiveness are of real value.

Huynh đệ của Tôi, mô hình đời sống của em giờ đây đã được thiết lập; đừng tìm cách thay đổi nó quá mức, mà hãy tìm cách biến ngôi nhà của em thành một trung tâm ánh sáng tinh thần, và tìm cách làm cho hội đoàn của em rung động mạnh mẽ, sống động đến nỗi các nhóm khác có thể nhận được sự kích thích từ đó. Vì vậy, em có một công việc trọn đời đầy đủ, và trong đó mọi phương diện của bản chất em sẽ tìm được phương thức biểu hiện trọn vẹn. Đối với các đệ tử, chỉ những nhiệm vụ nào khơi dậy trọn vẹn phần hiệu năng bẩm sinh mới có giá trị thật sự.

Should you find it possible, I would ask you to aid (to the utmost of your ability) your brother disciple, F.C.D., whose rays are closely allied with yours. He has thrown himself into [458] a supremely difficult task… and his future work will not be easy. Help him; he is one of our agents who is worthy of all aid, and though temporarily in my Ashram, is a powerful worker in the Ashram of K.H.—his Master and mine. You can work also with power with J.W.K-P. whose rays, with one difference, are the same as yours.

Nếu em thấy có thể, Tôi xin em hãy trợ giúp, đến mức tối đa trong khả năng của em, huynh đệ đệ tử của em là F.C.D., người có các cung liên hệ mật thiết với các cung của em. Bạn ấy đã dấn thân vào [458] một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn… và công việc tương lai của bạn ấy sẽ không dễ dàng. Hãy giúp bạn ấy; bạn ấy là một trong những tác nhân của chúng ta, xứng đáng nhận mọi sự trợ giúp, và tuy tạm thời ở trong Ashram của Tôi, bạn ấy là một người hoạt động đầy quyền năng trong Ashram của Chân sư K.H.—Chân sư của bạn ấy và của Tôi. Em cũng có thể làm việc đầy quyền năng với J.W.K-P., người có các cung, chỉ khác một điểm, giống như các cung của em.

In twenty-five years’ time enough work will have been done by groups such as yours so that the pattern of unity in the world will be distinctly seen. The theory will be comprehended and much straight application will be made. Unity will become a definite world goal in a sense different to the present one. The words “The souls of men are one” will be recognised doctrine of every world faith. So go on with the work of unifying, my brother—in rain or shine.

Trong hai mươi lăm năm nữa, các nhóm như nhóm của em sẽ thực hiện đủ công việc để mô hình hợp nhất trong thế gian được nhìn thấy rõ ràng. Lý thuyết sẽ được thấu hiểu và nhiều ứng dụng trực tiếp sẽ được thực hiện. Sự hợp nhất sẽ trở thành một mục tiêu thế giới rõ rệt theo một ý nghĩa khác với hiện nay. Những lời “Linh hồn của nhân loại là một” sẽ được công nhận là giáo lý của mọi tín ngưỡng thế giới. Vì vậy, huynh đệ của Tôi, hãy tiếp tục công việc hợp nhất—dù mưa hay nắng.

I have asked myself what I could suggest to you for meditation. The vision you have, and I believe will never lose it. Definitely planned meditation is not so easy for you, and yet—in order to make the vision factual—meditation is a basic essential, for just as it remains eternally true that “as a man meditateth in his heart so is he,” it is also equally true that as a man meditateth in his head so will his vision appear on Earth. A great safeguard for you exists in the elimination of all personality problems—yours or those of anyone else—from your current meditation project; that project you will have to set for yourself each year, and adhere to it. Its theme must grow out of the work of unifying—out of the work you have set yourself.

Tôi đã tự hỏi mình có thể gợi ý gì cho em về tham thiền. Em có tầm nhìn, và Tôi tin em sẽ không bao giờ đánh mất nó. Việc tham thiền được hoạch định rõ ràng không dễ đối với em, tuy nhiên—để làm cho tầm nhìn trở thành sự kiện—tham thiền là một điều thiết yếu căn bản, vì cũng như chân lý vĩnh cửu vẫn là “con người tham thiền trong tâm mình như thế nào thì y là như thế ấy”, thì cũng đúng như vậy rằng con người tham thiền trong đầu mình như thế nào thì tầm nhìn của y sẽ xuất hiện trên Trái Đất như thế ấy. Một sự bảo hộ lớn lao cho em nằm trong việc loại bỏ mọi vấn đề của phàm ngã—của em hoặc của bất cứ ai khác—khỏi dự án tham thiền hiện tại của em; dự án ấy em sẽ phải tự đặt ra cho mình mỗi năm, và bám sát nó. Chủ đề của nó phải phát sinh từ công việc hợp nhất—từ công việc mà em đã đặt ra cho chính mình.

My brother, link humility with that task; seek not to link groups with your group, but recognise your group and all other similar groups as parts of a worldwide spiritual movement which (when it reaches momentum) results in unity for all. A super-organisation which emphasises unity is the last thing to be desired; a multiplicity of living organisms held loosely together by cooperation, constant communication and possessing identity of goal and of purpose is what the world needs today….

Huynh đệ của Tôi, hãy liên kết sự khiêm nhường với nhiệm vụ ấy; đừng tìm cách liên kết các nhóm với nhóm của em, mà hãy nhận ra nhóm của em và tất cả các nhóm tương tự khác như những phần của một phong trào tinh thần toàn cầu, phong trào này, khi đạt được đà tiến, sẽ đưa đến sự hợp nhất cho tất cả. Một siêu tổ chức nhấn mạnh sự hợp nhất là điều ít đáng mong muốn nhất; điều thế gian cần hôm nay là một số nhiều các cơ thể sống, được giữ liên kết lỏng lẻo với nhau bằng sự hợp tác, giao tiếp thường xuyên, và có cùng mục tiêu và mục đích….

I assign you no specific meditation. Work out your own, but let it adhere to the general concept with which I have constantly presented all of you. You can (on your own and as [459] an accepted disciple) seek entrance into the life of the Ashram and thus contact me. This may take time, but the link is strong and elastic (ponder on that term) and adherence to the rules will ensure success.

Tôi không giao cho em một bài tham thiền chuyên biệt nào. Hãy tự triển khai bài của em, nhưng hãy để nó bám sát ý niệm tổng quát mà Tôi đã không ngừng trình bày với tất cả các em. Em có thể, tự mình và với tư cách [459] một đệ tử được chấp nhận, tìm lối vào sự sống của Ashram và nhờ đó tiếp xúc với Tôi. Điều này có thể cần thời gian, nhưng mối liên kết mạnh mẽ và co giãn; hãy suy ngẫm về thuật ngữ đó; và việc tuân thủ các quy luật sẽ bảo đảm thành công.

My blessing rests upon you and on your aspiration.

Phúc lành của Tôi ngự trên em và trên khát vọng của em.

To F. C. D. – Gửi F. C. D.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

The past few months have been extremely difficult for you, have they not. Twice I have myself felt the necessity to envelop you with shielding care and stand as a wall between you and circumstance. Are you conscious of these two contacts? They came at moments of extreme fatigue and tension. The future also holds for you much anxiety and of this I warn you, for to be prepared is—in the case of sensitive, imaginative disciples—a great deal of help. It is conditions more than circumstances which will cause the anxiety. Can you understand the distinction? Racial, national, and personal conditions meet in your life and create a perfect whirlpool of difficulty and a mixture of glamour and reality. Disciples work hard (as you have ever done) to render their relation to humanity inclusive and they struggle to bring about those conditions which will produce this desirable expanded consciousness. But they oft forget that this expansion of consciousness will not make them susceptible only to superhuman influences and inclusive of soul conditions, but must necessarily include also all intermediate stages of awareness as well as the power to include the reactions, mental and emotional conditions and the pain and suffering of bewildered and sorely tried humanity. It includes also its joys and aspirations.

Vài tháng vừa qua đã cực kỳ khó khăn đối với em, phải vậy không? Hai lần chính Tôi đã cảm thấy cần bao bọc em bằng sự chăm sóc che chở và đứng như một bức tường giữa em và hoàn cảnh. Em có ý thức về hai lần tiếp xúc này không? Chúng đến vào những thời điểm cực kỳ mệt mỏi và căng thẳng. Tương lai cũng dành cho em nhiều lo âu, và Tôi báo trước điều này cho em, vì được chuẩn bị—trong trường hợp các đệ tử nhạy cảm, giàu sự tưởng tượng—là một trợ giúp rất lớn. Chính các điều kiện, hơn là hoàn cảnh, sẽ gây ra lo âu. Em có thấu hiểu sự phân biệt này không? Các điều kiện nhân loại, quốc gia và cá nhân gặp nhau trong đời em và tạo nên một xoáy nước khó khăn hoàn hảo, cùng một sự pha trộn giữa ảo cảm và thực tại. Các đệ tử làm việc cần mẫn, như em vẫn luôn làm, để khiến mối liên hệ của họ với nhân loại trở nên bao gồm, và họ phấn đấu để tạo ra những điều kiện sẽ sản sinh tâm thức mở rộng đáng mong muốn này. Nhưng họ thường quên rằng sự mở rộng tâm thức này sẽ không chỉ làm cho họ nhạy cảm với các ảnh hưởng siêu nhân và bao gồm các điều kiện của linh hồn, mà nhất thiết cũng phải bao gồm mọi giai đoạn trung gian của nhận thức, cũng như năng lực bao gồm các phản ứng, các điều kiện trí tuệ và cảm xúc, cùng nỗi đau và sự khổ của nhân loại hoang mang và bị thử thách khốc liệt. Nó cũng bao gồm những niềm vui và khát vọng của nhân loại.

The glamour of an extreme sensitivity is your major handicap, my brother, and definitely limits your usefulness. The solar plexus is wide open to all impressions. But you, as a soul, are quite indifferent and—as a soul—you suffer not at all. Of this I believe you are conscious. Spring free, therefore, [460] upon the physical plane from all psychic impressions, via the solar plexus, and seek instead to register only those impressions and contacts which concern your service and deal with man’s next definite step forward. Watch this process with care in your life. Your extreme psychic sensitivity and impressionability (of a very high order, I must admit, but nevertheless of a personality nature) must be overcome by a paralleling extreme spiritual sensitivity. This again I think you realise, and you know also that this spiritual tendency is accompanied in you by a corresponding powerful, physical and mental inertia. The potency of your astral activity depletes the other two points of the personality triangle. Your spiritual knowledge is so real that you will apprehend my meaning without further extended elucidation.

Ảo cảm của sự nhạy cảm cực độ là chướng ngại chính của em, huynh đệ của Tôi, và chắc chắn giới hạn sự hữu dụng của em. Tùng thái dương mở rộng trước mọi ấn tượng. Nhưng em, với tư cách linh hồn, thì hoàn toàn điềm nhiên, và—với tư cách linh hồn—em không hề đau khổ. Tôi tin em có ý thức về điều này. Vì vậy, trên [460] cõi hồng trần, hãy giải thoát khỏi mọi ấn tượng thông linh đi qua tùng thái dương, và thay vào đó hãy tìm cách chỉ ghi nhận những ấn tượng và tiếp xúc liên quan đến sự phụng sự của em và đề cập đến bước tiến rõ rệt kế tiếp của con người. Hãy quan sát tiến trình này một cách cẩn trọng trong đời em. Sự nhạy cảm và khả năng tiếp nhận ấn tượng thông linh cực độ của em, thuộc một cấp độ rất cao, Tôi phải thừa nhận, nhưng dù vậy vẫn thuộc bản chất phàm ngã, phải được vượt qua bằng một sự nhạy cảm tinh thần cực độ song hành. Điều này, Tôi nghĩ, em cũng nhận ra; và em cũng biết rằng khuynh hướng tinh thần này nơi em đi kèm với một tính trì trệ tương ứng, mạnh mẽ, về hồng trần và trí tuệ. Sức mạnh của hoạt động cảm dục nơi em làm cạn kiệt hai điểm còn lại của tam giác phàm ngã. Tri thức tinh thần của em chân thực đến nỗi em sẽ lĩnh hội ý nghĩa của Tôi mà không cần giải thích thêm dài dòng.

You are, my brother, upon the path of the Christ, and in preparation for treading this path of aiding and salvaging humanity, you have to learn (through intense feeling) the futility of emotion and feeling as a means of salvaging your brothers. You need to acquire that divine indifference which leaves the soul free to serve—untrammelled by personality reactions, for that is what all solar plexus conditions basically are.

Huynh đệ của Tôi, em đang ở trên con đường của Đức Christ, và để chuẩn bị bước trên con đường trợ giúp và cứu vớt nhân loại này, em phải học, qua cảm xúc mãnh liệt, sự vô ích của xúc cảm và cảm giác như một phương tiện cứu vớt các huynh đệ của em. Em cần đạt được Điềm nhiên thiêng liêng, điều để linh hồn tự do phụng sự—không bị vướng mắc bởi các phản ứng phàm ngã, vì về căn bản, mọi điều kiện của tùng thái dương đều là như thế.

Above, I gave you one important hint or imparted fact, as the case may be, when I said that the “potency of your astral activity depletes the other two points of the personality triangle.” Your problem this life has been the same as that of A.A.B.—the transfer of energy from the solar plexus to the heart. The first stage of that process is, esoterically speaking, the discovery of how potent is the astral polarisation of all your personality forces; the entire focus of your life is upon the highest level of the astral plane. This in your case (not in that of A.A.B.) has led to the withdrawal of energy from the physical body (the etheric body), leading to physical debility and fatigue and also to a pronounced inability to “ground” yourself upon the physical plane. It has also brought about a considerable depletion or enervation of the Will aspect. I refer here specifically to the will aspect as it produces physical plane expression of directed soul activity as the intelligence (focussed in the mind) must condition it. I do not refer to [461] the will in the sense of any fluctuation of your spiritual aspiration or failure to progress undeviatingly towards your goal. But it must surely be apparent to you that if the focus of all your energies inherent in the personality life and also those inpouring from the soul is the astral body, then there must certainly be a condition of attrition or of semi-starvation of the etheric body (determining the physical condition) and also of the mental body. This militates against the full manifestation of a very fine mental equipment. I am putting the problem quite clearly to you, because you are a tried and trusty disciple. Before you can take the initiation for which you are being prepared, there must be a change of life focus and a transfer of energy from the astral body into the mental body, and consequently from the solar plexus to the heart.

Ở trên, Tôi đã trao cho em một gợi ý quan trọng, hay truyền đạt một sự kiện, tùy trường hợp, khi Tôi nói rằng “sức mạnh của hoạt động cảm dục nơi em làm cạn kiệt hai điểm còn lại của tam giác phàm ngã.” Vấn đề của em trong kiếp này cũng giống như vấn đề của A.A.B.—sự chuyển dịch năng lượng từ tùng thái dương lên tim. Giai đoạn đầu của tiến trình ấy, nói một cách huyền bí, là khám phá mức độ mạnh mẽ của sự phân cực cảm dục nơi mọi mãnh lực phàm ngã của em; toàn bộ trọng tâm đời em đặt trên cấp độ cao nhất của cõi cảm dục. Điều này trong trường hợp của em, không phải trong trường hợp của A.A.B., đã dẫn đến sự rút năng lượng khỏi thể xác, tức thể dĩ thái, đưa đến sự suy nhược và mệt mỏi hồng trần, đồng thời đưa đến một sự bất lực rõ rệt trong việc “neo” chính mình trên cõi hồng trần. Nó cũng gây nên một sự cạn kiệt đáng kể hay sự suy nhược của phương diện Ý chí. Ở đây Tôi đặc biệt nói đến phương diện ý chí khi nó tạo ra biểu hiện trên cõi hồng trần của hoạt động linh hồn được định hướng, như trí tuệ, vốn tập trung trong thể trí, phải tác động lên nó. Tôi không nói đến [461] ý chí theo nghĩa bất cứ dao động nào trong khát vọng tinh thần của em, hay sự thất bại trong việc tiến thẳng không lệch hướng đến mục tiêu của em. Nhưng chắc chắn em phải thấy rõ rằng nếu trọng tâm của mọi năng lượng vốn có trong đời sống phàm ngã, cũng như các năng lượng tuôn vào từ linh hồn, là thể cảm dục, thì chắc chắn phải có một tình trạng hao mòn hoặc gần như thiếu nuôi dưỡng nơi thể dĩ thái, vốn quyết định tình trạng hồng trần, và cũng nơi thể trí. Điều này chống lại sự biểu hiện đầy đủ của một trang bị trí tuệ rất tốt đẹp. Tôi trình bày vấn đề khá rõ ràng với em, vì em là một đệ tử đã được thử thách và đáng tin cậy. Trước khi em có thể nhận cuộc điểm đạo mà em đang được chuẩn bị, phải có một sự thay đổi trọng tâm đời sống và một sự chuyển dịch năng lượng từ thể cảm dục vào thể trí, và do đó từ tùng thái dương lên tim.

In this process, the group meditation should materially help and I advise you to follow it with real care. I advise also that you endeavour in the different circumstances of your life to insulate yourself (for selfless purpose) from too close a contact with those in distress. Aid them; love them; but do not identify yourself with them. I speak of an astral insulation and not of a refusal to meet and contact suffering humanity upon the physical plane. I refer to an attitude assumed and held by the soul and mind in regard to the astral body which enables you to express that divine indifference to feeling and to personal suffering as a result of that compassion which is the hallmark of the salvaging Elder Brothers of Humanity. Such is your basic problem.

Trong tiến trình này, tham thiền nhóm hẳn sẽ giúp ích đáng kể, và Tôi khuyên em hãy theo nó với sự cẩn trọng thật sự. Tôi cũng khuyên em, trong các hoàn cảnh khác nhau của đời mình, hãy nỗ lực cách ly bản thân, vì mục đích vô ngã, khỏi sự tiếp xúc quá gần gũi với những người đang đau khổ. Hãy trợ giúp họ; hãy yêu thương họ; nhưng đừng đồng nhất mình với họ. Tôi nói đến một sự cách ly cảm dục, chứ không phải một sự từ chối gặp gỡ và tiếp xúc với nhân loại đau khổ trên cõi hồng trần. Tôi nói đến một thái độ do linh hồn và thể trí đảm nhận và duy trì đối với thể cảm dục, cho phép em biểu lộ Điềm nhiên thiêng liêng đối với cảm giác và đau khổ cá nhân, như là kết quả của lòng từ bi vốn là dấu hiệu của các Huynh Trưởng cứu vớt Nhân loại. Đó là vấn đề căn bản của em.

Because of this, you will have to watch the earlier effects of this group meditation with care so that the solar plexus is not unduly stimulated, and thus your difficulty increased.

Vì điều này, em sẽ phải cẩn trọng quan sát các hiệu quả ban đầu của tham thiền nhóm này, để tránh việc tùng thái dương bị kích thích quá mức và do đó làm gia tăng khó khăn của em.

I wish also to give you a personal meditation which will, I believe, prove useful. It is more in the nature of an exercise and its results are based upon your ability to focus yourself in the soul consciousness and to hold that position undeviatingly. It is dependent also upon the power of sustained imagination which you may possess and is a good exercise in constructive creative work. It is also rendered more effective if aided by the will and as your mental body is on the first ray and as this work is largely the steady withdrawal of energy [462] to the mental body, you should find it relatively easy and possible to get the desired results.

Tôi cũng muốn trao cho em một bài tham thiền cá nhân mà Tôi tin sẽ tỏ ra hữu ích. Nó mang tính chất một bài tập nhiều hơn, và các kết quả của nó dựa trên khả năng của em trong việc tập trung chính mình trong tâm thức linh hồn và giữ vững vị trí ấy không lệch hướng. Nó cũng tùy thuộc vào năng lực sự tưởng tượng được duy trì mà em có thể có, và là một bài tập tốt trong công việc sáng tạo mang tính xây dựng. Nó cũng trở nên hiệu quả hơn nếu được ý chí trợ giúp; và vì thể trí của em ở cung một, và vì công việc này phần lớn là sự rút năng lượng đều đặn [462] về thể trí, em sẽ thấy tương đối dễ dàng và có thể đạt được các kết quả mong muốn.

1. Focus yourself in the head. Sound the OM as the soul and believe that contact has been made between soul-mind-brain.

1. Hãy tập trung chính mình trong đầu. Xướng linh từ OM với tư cách linh hồn và tin rằng sự tiếp xúc đã được thiết lập giữa linh hồn-thể trí-bộ não.

2. Then see yourself as focussed esoterically upon the mental plane and (from the angle of the soul) exoterically in the brain.

2. Rồi hãy thấy chính mình như được tập trung một cách huyền bí trên cõi trí và, từ góc độ của linh hồn, một cách ngoại môn trong bộ não.

3. Then inhale deeply, drawing the breath up from the solar plexus in the spine and seeing that upward moving breath carrying the solar plexus energy up the spine into the head, after passing it through the heart. Believe that this takes place.

3. Rồi hãy hít vào thật sâu, kéo hơi thở lên từ tùng thái dương trong cột sống, và thấy hơi thở đang chuyển động lên ấy mang năng lượng tùng thái dương lên theo cột sống vào đầu, sau khi đưa nó đi qua tim. Hãy tin rằng điều này diễn ra.

4. In the interlude between inhalation and exhalation dedicate the energy thus withdrawn by the soul, believing in its consequent and subsequent transmutation. (I would remind you that transmutation is the changing of one vibration and one vibratory activity into another and higher one.)

4. Trong khoảng lặng giữa hít vào và thở ra, hãy hiến dâng năng lượng đã được linh hồn rút lên như thế, tin vào sự chuyển hoá tất yếu và tiếp theo của nó. Tôi muốn nhắc em rằng chuyển hoá là sự đổi một rung động và một hoạt động rung động thành một rung động khác và cao hơn.

5. During exhalation—in which the breath is carried on the OM sounded inaudibly—breathe the solar plexus energy, now focussed in the head, to the throat centre. This should produce increased creative output for humanity.

5. Trong khi thở ra—khi hơi thở được mang trên linh từ OM được xướng không thành tiếng—hãy thở năng lượng tùng thái dương, nay đã tập trung trong đầu, đến trung tâm cổ họng. Điều này nên tạo ra sự tuôn trào sáng tạo gia tăng cho nhân loại.

6. In the following interlude, after exhalation, go over in your mind (pictorially) as a sort of recapitulation, what you have done.

6. Trong khoảng lặng tiếp theo, sau khi thở ra, hãy ôn lại trong thể trí của em, theo hình ảnh, như một hình thức tóm lược, điều em đã làm.

OM. OM. OM.

OM. OM. OM.

Repeat this exercise three times and do this transference exercise three times a day. Do not look for results. A year’s steady work with a detached attitude as to these results will be needed before you yourself will recognise difference of reaction and lessened emotional activities.

Hãy lặp lại bài tập này ba lần và thực hiện bài tập chuyển dịch này ba lần mỗi ngày. Đừng tìm kiếm kết quả. Cần một năm làm việc đều đặn với một thái độ tách rời đối với các kết quả ấy, trước khi chính em nhận ra sự khác biệt trong phản ứng và sự giảm bớt các hoạt động cảm xúc.

This exercise, coupled to the group meditation, will (as you will have undoubtedly noted) produce in the long run the linking up of the three centres above the diaphragm—the heart, the head and the throat. The exercise just given [463] must be done before the group meditation as it is of the nature of a clearing exercise. If done properly, it will hasten the results of the group meditation for it will clear the solar plexus of undesirable emotional force and leave “room for reception,” as the process is sometimes technically called. True love will then take the place of emotion, and compassion will be substituted for pity; understanding will take the place of apprehension of suffering.

Bài tập này, kết hợp với tham thiền nhóm, về lâu dài sẽ, như chắc chắn em đã nhận thấy, tạo nên sự liên kết của ba trung tâm ở trên cơ hoành—tim, đầu và cổ họng. Bài tập vừa được trao [463] phải được thực hiện trước tham thiền nhóm, vì nó có tính chất một bài tập thanh lọc. Nếu được thực hiện đúng, nó sẽ thúc đẩy các kết quả của tham thiền nhóm, vì nó sẽ làm sạch tùng thái dương khỏi mãnh lực cảm xúc không đáng muốn và để lại “chỗ cho sự tiếp nhận”, như tiến trình này đôi khi được gọi theo thuật ngữ chuyên môn. Khi ấy tình thương chân thật sẽ thay thế xúc cảm, và lòng từ bi sẽ thay thế sự thương hại; sự thấu hiểu sẽ thay thế việc cảm nhận đau khổ.

Disciples are apt often to think that the injunction to identify themselves with other people must involve complete identification with all their experiences, moods and reactions. It does not. It should not. It involves identification (through the intuition) with underlying soul purpose and a consequent ability to interpret and explain the present. Ponder on this, my beloved brother.

Các đệ tử thường có khuynh hướng nghĩ rằng huấn thị đồng nhất chính mình với người khác phải bao hàm sự đồng nhất hoàn toàn với mọi kinh nghiệm, tâm trạng và phản ứng của họ. Không phải vậy. Không nên như vậy. Nó bao hàm sự đồng nhất, qua trực giác, với mục đích nền tảng của linh hồn và năng lực theo sau đó để diễn giải và giải thích hiện tại. Hãy suy ngẫm về điều này, huynh đệ yêu dấu của Tôi.

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. You have given all you had to give. Now take it back enriched. Then give again.

1. Em đã cho tất cả những gì em có để cho. Giờ hãy lấy lại, đã được làm phong phú. Rồi lại cho nữa.

2. Peace is to you the clearest light of all. The lessons of the dark have likewise been revealed. Pass out between the two.

2. Đối với em, bình an là ánh sáng trong trẻo nhất trong mọi ánh sáng. Những bài học của bóng tối cũng đã được thiên khải. Hãy đi ra giữa hai điều ấy.

3. The best is yet to be. Hold thou to Me.

3. Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước. Hãy bám chặt vào Tôi.

4. The bridge of light is firmly built and on it you can move this way or that, but always on the Way.

4. Cây cầu ánh sáng đã được xây vững chắc, và trên đó em có thể đi về phía này hay phía kia, nhưng luôn luôn trên Đường Đạo.

5. The sorrows of the Cross of Man have weighted thee down but not submerged or blotted out the light. The joy of resurrection lies ahead.

5. Những nỗi buồn của Thập Giá Con Người đã đè nặng em xuống, nhưng không nhận chìm hay xoá tắt ánh sáng. Sự hoan hỉ của phục sinh nằm phía trước.

6. Love is thy note and wisdom is thy guide. You need naught else but fire.

6. Tình thương là âm điệu của em và minh triết là người dẫn đường của em. Em không cần gì khác ngoài lửa.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY BROTHER AND MY CO-WORKER:

HUYNH ĐỆ VÀ ĐỒNG SỰ CỦA TÔI:

I am not telling your co-disciples whether you are on this side of the separating veil or not. I am not informing them whether you have crossed the “bridge of light,” to which I referred in my last communication to you. You need their [464] protective love, no matter whether you are here or there; the turmoil on the other side is so great—as great as the turmoil on the physical plane. Whether you are in the body or out of the body, you are therefore peculiarly vulnerable, because, my brother (as I have told you oft during the past years), your intense sensitivity has complicated your life problem. Your karma… holds you back from that complete freedom and liberation which you deeply desire. Only those who have achieved freedom can return to that group with immunity and helpfulness in their hands—the group from which they have been freed.

Tôi không nói với các đệ tử đồng môn của em rằng em đang ở bên này bức màn ngăn cách hay không. Tôi không cho họ biết em đã băng qua “cây cầu ánh sáng” mà Tôi đã nhắc đến trong lần trao đổi gần nhất với em hay chưa. Em cần [464] tình thương che chở của họ, bất kể em đang ở đây hay ở đó; sự hỗn loạn ở phía bên kia lớn lao đến thế—lớn như sự hỗn loạn trên cõi hồng trần. Vì vậy, dù em ở trong thể xác hay ngoài thể xác, em đặc biệt dễ bị tổn thương, bởi vì, huynh đệ của Tôi, như Tôi đã thường nói với em trong những năm qua, sự nhạy cảm mãnh liệt của em đã làm phức tạp vấn đề đời sống của em. Nghiệp quả của em… giữ em lại khỏi sự tự do và giải thoát hoàn toàn mà em khát khao sâu xa. Chỉ những ai đã đạt được tự do mới có thể trở lại nhóm ấy với sự miễn nhiễm và sự hữu ích trong tay—nhóm mà họ đã được giải thoát khỏi.

I have for you a suggestion. I will not call it an order, for no Master ever gives commands, and in any case you belong to the Ashram of K.H. and will have received your instructions direct from Him. He feels as I do, that in the pressure and anxiety and in your psychic participation in the fate of your country and in your sensitive reaction to racial strain, the import of His conversation with you a year ago may not have registered adequately. It has been difficult for you and well-nigh impossible to concentrate on planning. I am therefore going to summarise for you what He then said. The group protection accorded you (greater than perhaps you realise) enables me to reach you more easily at this time than can any other member of the Hierarchy. I can find and reach you with a minimum expenditure of force.

Tôi có một gợi ý cho em. Tôi sẽ không gọi đó là một mệnh lệnh, vì không Chân sư nào từng ra lệnh, và trong bất cứ trường hợp nào em cũng thuộc Ashram của Chân sư K.H. và hẳn đã nhận các huấn thị trực tiếp từ Ngài. Ngài cảm thấy như Tôi rằng, trong áp lực và lo âu, trong sự tham dự thông linh của em vào số phận đất nước mình, và trong phản ứng nhạy cảm của em trước sự căng thẳng nhân loại, ý nghĩa cuộc trò chuyện của Ngài với em một năm trước có thể đã không được ghi nhận đầy đủ. Điều ấy đã khó đối với em và gần như không thể để tập trung vào việc hoạch định. Vì vậy, Tôi sẽ tóm lược cho em điều Ngài đã nói khi ấy. Sự bảo hộ của nhóm dành cho em, lớn hơn có lẽ em nhận ra, cho phép Tôi đến với em vào lúc này dễ dàng hơn bất cứ thành viên nào khác của Thánh Đoàn. Tôi có thể tìm thấy và đến với em với mức tiêu hao mãnh lực tối thiểu.

Your Master, K.H., asked you at that time if you were ready to begin work in preparation for a definite assignment upon the Path of World Saviours. Assignment after assignment in connection with groups, nations, races and increasingly large units is ever the mode of developing a world Saviour until the time comes when he can make a world impact and achieve a measure of world salvaging. Many times in the past, I have pointed out to you that you were on that most difficult path of service. K.H. desired to find out if you were prepared to accept your first major assignment upon that Way. When you assented and told Him that you would do what you could but that you had no inner confidence in yourself, owing to the pressures of the time which appeared to you to have a definitely disintegrating effect on your [465] vehicles, He reassured you and told you that the potent inner unfoldment of your love nature and your complete decentralisation were a vital protection. He also informed you that—at the stage of spiritual development which you had attained—the aura of His Ashram and the aura of mine would act as a shield, and that the resources of both Ashrams were behind you. This, my brother, you know well, and to this fused efficiency you can testify….

Chân sư của em, Chân sư K.H., lúc ấy đã hỏi em liệu em đã sẵn sàng bắt đầu công việc chuẩn bị cho một nhiệm vụ rõ rệt trên Con Đường của các Đấng Cứu Thế không. Hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ khác, liên hệ đến các nhóm, các quốc gia, các chủng tộc và các đơn vị ngày càng lớn hơn, luôn là phương thức phát triển một Đấng Cứu Thế, cho đến khi thời điểm đến để y có thể tạo một tác động thế giới và đạt được một mức độ cứu vớt thế giới. Nhiều lần trong quá khứ, Tôi đã chỉ ra cho em rằng em đang ở trên con đường phụng sự khó khăn nhất ấy. Chân sư K.H. mong muốn biết liệu em có sẵn sàng chấp nhận nhiệm vụ lớn đầu tiên của mình trên Con Đường ấy không. Khi em đồng ý và nói với Ngài rằng em sẽ làm những gì có thể, nhưng rằng em không có sự tin tưởng nội tâm nơi chính mình, do các áp lực của thời cuộc dường như đối với em có một tác động làm tan rã rõ rệt trên các [465] hiện thể của em, Ngài đã trấn an em và nói với em rằng sự khai mở nội tâm mạnh mẽ của bản chất tình thương nơi em và sự phi tập trung vào bản thân hoàn toàn của em là một sự bảo hộ thiết yếu. Ngài cũng cho em biết rằng—ở giai đoạn phát triển tinh thần mà em đã đạt đến—hào quang của Ashram Ngài và hào quang của Tôi sẽ hoạt động như một tấm khiên, và rằng các nguồn lực của cả hai Ashram đều đứng sau em. Điều này, huynh đệ của Tôi, em biết rõ, và em có thể làm chứng cho hiệu quả được dung hợp này….

I have said enough here to enable you again to resume your active position as a pledged initiate-disciple (a position which your co-disciples have ever recognised as yours), and I have shown you definitely how valuable has been to you the last immediate experience…. Though you are a trained disciple of K.H., you are still working in my Ashram, as I remain in close touch with world affairs in relation to their immediate working out, whilst K.H., being a Chohan, is more active in the handling of the deeper incentives and purposes, and of those matters which will not materialise until such time as the work done by me, and others associated with the Great White Lodge and of like rank and of lesser rank, is completed or at least well on the way to fruition.

Tôi đã nói đủ ở đây để giúp em một lần nữa đảm nhận vị trí chủ động của mình với tư cách một điểm đạo đồ-đệ tử đã thệ nguyện, vị trí mà các đệ tử đồng môn của em vẫn luôn nhận ra là của em; và Tôi đã chỉ rõ cho em kinh nghiệm gần đây nhất đã có giá trị đối với em như thế nào…. Dù em là một đệ tử lão luyện của Chân sư K.H., em vẫn đang làm việc trong Ashram của Tôi, vì Tôi còn giữ liên hệ mật thiết với các vấn đề thế giới trong mối liên quan đến sự triển khai tức thời của chúng, trong khi Chân sư K.H., là một Chohan, hoạt động nhiều hơn trong việc xử lý các động lực và mục đích sâu xa hơn, cùng những vấn đề sẽ không hiện hình cho đến khi công việc do Tôi, và những vị khác liên kết với Thánh đoàn cùng cấp bậc và cấp bậc thấp hơn, thực hiện được hoàn tất hoặc ít nhất đã tiến triển tốt trên đường đến kết quả.

The work assigned to you, my beloved brother, will be work of profoundest difficulty. You will meet with rebuff from those you seek to help and… find very little understanding; you will meet with encouragement and assistance from the enlightened among the New Group of World Servers, and this will make your work possible but it will also greatly handicap you…

Công việc được giao cho em, huynh đệ yêu dấu của Tôi, sẽ là công việc có độ khó sâu xa nhất. Em sẽ gặp sự khước từ từ những người em tìm cách giúp đỡ và… sẽ thấy rất ít sự thấu hiểu; em sẽ gặp sự khích lệ và trợ giúp từ những người đã giác ngộ trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và điều này sẽ làm cho công việc của em khả thi, nhưng nó cũng sẽ gây trở ngại lớn cho em…

Are you big enough for this inadequately outlined task, my brother? Is your stamina, your inner spiritual orientation and your fixed psychic determination adequate to the undertaking? Can you do it with your present psychic equipment, or must you build new bodies for integration, use and service? The decision rests with you, for those who tread the Way of a World Saviour are left peculiarly free (owing to certain difficulties in time and space within the planetary life) and must work as they will, with what they choose to offer and with a trained understanding of their task.

Huynh đệ của Tôi, em có đủ lớn lao cho nhiệm vụ được phác thảo chưa đầy đủ này không? Sức chịu đựng của em, định hướng tinh thần bên trong của em và quyết tâm thông linh cố định của em có tương xứng với công việc này không? Em có thể làm nó với trang bị thông linh hiện tại của mình không, hay em phải xây dựng các thể mới để tích hợp, sử dụng và phụng sự? Quyết định nằm nơi em, vì những ai bước trên Con Đường của một Đấng Cứu Thế được để cho một cách đặc biệt tự do, do một số khó khăn nào đó trong thời gian và không gian bên trong sự sống hành tinh, và phải làm việc như họ muốn, với những gì họ chọn dâng hiến và với sự thấu hiểu đã được rèn luyện về nhiệm vụ của mình.

Such was the gist of your interview with your Master. [466] You can now go forth from where you are with the endorsement of your Master, with the aid and backing of myself and of A.A.B. and, at all times, the protective aura of K.H.; and—with reverence I would call your attention to this—an aspect of the aura of the Christ is incorporated in that lesser aura.

Đó là ý chính cuộc gặp gỡ của em với Chân sư của em. [466] Giờ đây em có thể tiến bước từ nơi em đang ở, với sự chứng nhận của Chân sư em, với sự trợ giúp và hậu thuẫn của Tôi và của A.A.B., và, luôn luôn, với hào quang che chở của Chân sư K.H.; và—với lòng tôn kính, Tôi muốn gọi sự chú ý của em đến điều này—một phương diện của hào quang Đức Christ được hợp nhập vào hào quang nhỏ hơn ấy.

In my last communication to you I stated that “love is thy note and wisdom is thy guide. You need naught else but fire.” That fire, my brother, is the residue of the pure fire which is left when you have trodden upon and passed the burning ground, through the Portal into the Presence. That you have done. The fire is there, and on it you can count if you seek to destroy opposition, to burn down barriers (inherent in yourself or presented by others), and also to blaze a trail straight from your heart into the heart of others….

Trong lần trao đổi gần nhất với em, Tôi đã nói rằng “Tình thương là âm điệu của em và minh triết là người dẫn đường của em. Em không cần gì khác ngoài lửa.” Lửa ấy, huynh đệ của Tôi, là phần còn lại của lửa tinh khiết được để lại khi em đã bước lên và đi qua vùng đất cháy, qua Cổng vào trong Hiện Diện. Điều đó em đã làm. Lửa đang có đó, và em có thể trông cậy vào nó nếu em tìm cách phá hủy sự chống đối, thiêu rụi các rào chắn, vốn cố hữu trong chính em hoặc do người khác đưa ra, và cũng để mở một con đường rực sáng thẳng từ tim em vào tim người khác….

I stand by you, my brother, unalterably and at all times, and on this you can count. Such is also the wish of K.H., my Brother and also my Master, and on that you can also count. I am giving you no set form of meditation. Reflection and deep, considered concentration upon the work which I have outlined to you, and which your Master wants to see you do, is for you adequate spiritual focussing. The deep love of all your group brothers is yours, and many, many people are today sending love to you and many, many minds are thinking of you with thoughts of gratitude, of strength, of faith and hope. On this too you must count. The path of a world Saviour is, as you know, a hard one, but of compensations which far outweigh the difficulty. My blessing is yours and my hand is ever stretched out to you in helping.

Tôi đứng bên em, huynh đệ của Tôi, không đổi thay và mọi lúc, và em có thể trông cậy vào điều này. Đó cũng là ước muốn của Chân sư K.H., huynh đệ của Tôi và cũng là Chân sư của Tôi, và em cũng có thể trông cậy vào điều đó. Tôi không trao cho em một hình thức tham thiền cố định nào. Sự suy ngẫm và sự tập trung sâu xa, được cân nhắc kỹ, vào công việc mà Tôi đã phác thảo cho em, và mà Chân sư của em muốn thấy em thực hiện, là sự tập trung tinh thần đầy đủ cho em. Tình thương sâu xa của tất cả huynh đệ trong nhóm của em thuộc về em, và hôm nay rất, rất nhiều người đang gửi tình thương đến em, và rất, rất nhiều thể trí đang nghĩ về em với những tư tưởng tri ân, sức mạnh, niềm tin và hy vọng. Em cũng phải trông cậy vào điều này. Con đường của một Đấng Cứu Thế, như em biết, là con đường khó khăn, nhưng có những bù đắp vượt xa khó khăn. Phúc lành của Tôi thuộc về em và tay Tôi luôn đưa ra cho em trong sự trợ giúp.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

It is not my intention, my beloved brother, to give you any personal instructions at this time. Those given you during the past three years still need consideration, assimilation and factual demonstration. I simply take, at this time, those needed inner steps which are permitted to the Master of any Ashram in order to draw you into a very close relation to myself and to the group. Such a definite and close relation [467] produces healing and strengthening; it also permits of such a clear vision that the picture unfolds as a unity and the past is seen freed from karma. This sentence may mean much to you, if subjected to the inner insight, or it may mean little. It is, however, of major significance to you personally, and to no one else in this group.

Huynh đệ yêu dấu của Tôi, vào lúc này Tôi không có ý định trao cho em bất cứ huấn thị cá nhân nào. Những điều đã trao cho em trong ba năm qua vẫn còn cần được suy xét, đồng hoá và chứng minh trong thực tế. Vào lúc này, Tôi chỉ đơn giản thực hiện những bước nội tâm cần thiết, vốn được cho phép đối với Chân sư của bất cứ Ashram nào, để kéo em vào một mối liên hệ rất gần gũi với chính Tôi và với nhóm. Một mối liên hệ rõ rệt và gần gũi như thế [467] tạo ra sự chữa lành và tăng cường; nó cũng cho phép một tầm nhìn rõ ràng đến mức bức tranh khai mở như một sự hợp nhất và quá khứ được thấy là giải thoát khỏi nghiệp quả. Câu này có thể có nhiều ý nghĩa đối với em, nếu được đặt dưới cái nhìn nội tâm, hoặc có thể ít ý nghĩa. Tuy nhiên, nó có thâm nghĩa lớn lao đối với cá nhân em, và đối với không ai khác trong nhóm này.

In your question, my brother (about the nature and the function of the counterparts in the head of the various chakras, and how to bring about a better adjustment between the heart centre and its counterpart in the head), you have voiced an exceedingly esoteric inquiry, and one that will warrant the most careful consideration and phrasing on my part. The reason for this is that as yet little is known (even in the esoterically instructed East) in regard to the head centre. This profound ignorance has not been realised, even by advanced students. The thousand-petalled lotus remains a secret, or closed mystery. Though much has been given out in connection with the heart centre, little has been communicated in connection with the head centre. The reason that more is known about the heart centre is due to its being the centre awakened by the highest initiation in Atlantean times. In our Aryan race the head centre is the objective of all stimulation—even the stimulation of the other centres being noted in relation to the effect upon the head centre. The race as a whole, however, is only just beginning to be ready for this awakening. Hence the complete silence hitherto held upon this subject.

Trong câu hỏi của em, huynh đệ của Tôi, về bản chất và chức năng của các Đối phần trong đầu của các luân xa khác nhau, và cách tạo nên một sự điều chỉnh tốt hơn giữa trung tâm tim và Đối phần của nó trong đầu, em đã nêu lên một vấn đề tìm hiểu hết sức huyền bí, và là vấn đề đòi hỏi Tôi phải cân nhắc và diễn đạt hết sức cẩn trọng. Lý do là vì cho đến nay người ta biết rất ít, ngay cả ở phương Đông được huấn luyện huyền bí, về trung tâm đầu. Sự vô minh sâu xa này chưa được nhận ra, ngay cả bởi các đạo sinh tiến bộ. Hoa sen nghìn cánh vẫn còn là một bí mật, hay một huyền nhiệm đóng kín. Dù nhiều điều đã được trao ra liên quan đến trung tâm tim, rất ít điều đã được truyền đạt liên quan đến trung tâm đầu. Lý do người ta biết nhiều hơn về trung tâm tim là vì nó là trung tâm được đánh thức bởi cuộc điểm đạo cao nhất trong thời Atlantis. Trong nhân loại Arya của chúng ta, trung tâm đầu là mục tiêu của mọi kích thích—ngay cả sự kích thích các trung tâm khác cũng được ghi nhận trong liên hệ với hiệu quả của nó trên trung tâm đầu. Tuy nhiên, toàn thể nhân loại chỉ mới bắt đầu sẵn sàng cho sự thức tỉnh này. Do đó, sự im lặng hoàn toàn được giữ cho đến nay về đề tài này.

Adeptship was achieved in the Atlantean race when the heart centre was alive and its twelve petals unfolded. The fourth initiation, which confers the status of adeptship, produced the mystic realisation, the unfoldment of the lotus of the heart and the deep conviction of the pairs of opposites, yet at the same time the knowledge that the phenomenal reality and the spiritual reality were one and the same reality. Thus the Atlantean attainment established in the consciousness of its adepts, through initiation, the duality of all creation.

Địa vị chân sư đã đạt được trong nhân loại Atlantis khi trung tâm tim sống động và mười hai cánh của nó khai mở. Lần điểm đạo thứ tư, vốn ban cho địa vị chân sư, đã tạo nên sự chứng nghiệm thần bí, sự khai mở hoa sen của tim và niềm xác tín sâu xa về các cặp đối cực, nhưng đồng thời cũng là tri thức rằng thực tại hiện tượng và thực tại tinh thần là một và cùng một thực tại. Như vậy, thành tựu Atlantis đã thiết lập trong tâm thức các chân sư của nó, qua điểm đạo, tính nhị nguyên của toàn thể cuộc sáng tạo.

The Aryan unfoldment will produce occult identification, the development of the head centre, and the realisation of [468] unity. “I and the Father are One.” This constituted the real achievement of the Christ, Who was the first of our humanity to achieve the complete realisation. This point is of vital interest. Our present Masters of the Wisdom have also entered into this same recognition. The distinction between Them and the Christ is that He added to this realisation the capacity to be a channel, pure and undefiled by any form of self-identification, for a cosmic principle—that of Love. Only those Masters, however, Who reached adeptship in Atlantean times are dowered with this occult unfoldment. Disciples are apt to forget that the Masters Themselves are at various stages upon the path of Their peculiar evolution.

Sự khai mở Arya sẽ tạo nên sự đồng nhất huyền bí, sự phát triển trung tâm đầu, và sự chứng nghiệm về [468] hợp nhất. “Ta và Cha là Một.” Điều này cấu thành thành tựu thật sự của Đức Christ, Đấng đầu tiên trong nhân loại chúng ta đạt được sự chứng nghiệm trọn vẹn. Điểm này có tầm quan tâm thiết yếu. Các Chân sư Minh triết hiện nay của chúng ta cũng đã bước vào cùng sự nhận biết này. Sự khác biệt giữa Các Ngài và Đức Christ là Ngài đã thêm vào sự chứng nghiệm này năng lực làm một kênh dẫn, tinh khiết và không bị ô nhiễm bởi bất cứ hình thức tự đồng nhất nào, cho một nguyên khí vũ trụ—nguyên khí Bác ái. Tuy nhiên, chỉ những Chân sư đã đạt địa vị chân sư trong thời Atlantis mới được phú cho sự khai mở huyền bí này. Các đệ tử thường có khuynh hướng quên rằng chính Các Chân sư đang ở những giai đoạn khác nhau trên con đường tiến hoá đặc thù của Các Ngài.

You will see, therefore, that the establishing of the significance of the counterparts in the head to the heart centre, for instance, involves one of the great mysteries to be revealed at a certain high initiation. In the next great race, which succeeds upon this one, the goal will be—above everything else—a dual one. It will be:

Vì vậy, em sẽ thấy rằng việc thiết lập thâm nghĩa của các Đối phần trong đầu đối với trung tâm tim, chẳng hạn, bao hàm một trong các huyền nhiệm lớn sẽ được thiên khải ở một cuộc điểm đạo cao nhất định. Trong giống dân lớn kế tiếp, nối tiếp giống dân này, mục tiêu—trên hết mọi điều—sẽ là một mục tiêu kép. Nó sẽ là:

1. The conscious unity of the lower centres by means of a great awakening of the solar plexus centre. This next race will be buddhic or intuitional, and therefore will embody, as a higher expression upon the turning spiral, the higher mystery of the astral unfoldment in ancient Atlantis. It will vision forth the higher correspondence of that achievement. This consummating development will mark its fourth initiation, and will demonstrate the transmutation of the astral life into the buddhic consciousness.

1. Sự hợp nhất có ý thức của các trung tâm thấp nhờ một sự thức tỉnh lớn lao của trung tâm tùng thái dương. Giống dân kế tiếp này sẽ thuộc Bồ đề hay trực giác, và vì vậy sẽ thể hiện, như một biểu hiện cao hơn trên vòng xoắn đang chuyển, huyền nhiệm cao hơn của sự khai mở cảm dục trong Atlantis cổ xưa. Nó sẽ hình dung ra sự tương ứng cao hơn của thành tựu ấy. Sự phát triển viên mãn này sẽ đánh dấu lần điểm đạo thứ tư của nó, và sẽ chứng minh sự chuyển hoá đời sống cảm dục thành tâm thức Bồ đề.

2. The carrying of all this mobilised energy to the heart centre at the fifth initiation for group purposes, and the achieving of this in full waking consciousness.

2. Việc đưa toàn bộ năng lượng đã được huy động này đến trung tâm tim ở lần điểm đạo thứ năm vì các mục đích nhóm, và việc đạt được điều này trong tâm thức tỉnh thức trọn vẹn.

In the final race the process will be repeated on a still higher spiral, and all that concerns the higher centre will be unfolded and occultly consummated, again through the medium of two stages:

Trong giống dân cuối cùng, tiến trình sẽ được lặp lại trên một vòng xoắn còn cao hơn nữa, và mọi điều liên quan đến trung tâm cao hơn sẽ được khai mở và hoàn tất một cách huyền bí, một lần nữa qua trung gian của hai giai đoạn:

1. Wherein the massed energies of the solar plexus (the [469] great clearing house) and the heart and throat will be carried—at the third initiation—to the ajna centre, and the complete racial “transfiguration” will take place.

1. Trong đó các năng lượng tập hợp của tùng thái dương, tức [469] trạm thanh lọc lớn, cùng của tim và cổ họng, sẽ được đưa—ở lần điểm đạo thứ ba—đến trung tâm ajna, và cuộc “Biến hình” trọn vẹn của nhân loại sẽ diễn ra.

2. The process will then be carried forward and at the fourth initiation the energies will be centralised in the head centre.

2. Tiến trình khi ấy sẽ được đưa tiếp, và ở lần điểm đạo thứ tư, các năng lượng sẽ được tập trung vào trung tâm đầu.

This will lead to a happening of such esoteric significance that I cannot express even its dimmest meaning to you because I myself do not know. It lies too far ahead, even for all Who are the Masters of the Wisdom at this time. Only the Christ and the Buddha begin dimly to sense its meaning.

Điều này sẽ dẫn đến một biến cố có thâm nghĩa huyền bí đến mức Tôi không thể diễn đạt cho em ngay cả ý nghĩa mờ nhạt nhất của nó, bởi vì chính Tôi cũng không biết. Nó nằm quá xa phía trước, ngay cả đối với tất cả Những Vị hiện nay là các Chân sư Minh triết. Chỉ Đức Christ và Đức Phật mới bắt đầu cảm nhận lờ mờ ý nghĩa của nó.

Therefore I cannot answer your question because until the head centre is somewhat more awakened my explanation would be meaningless. All I dare say is that by the use of creative imagination, by a constant application to the way of the head, and constant group activity, with an increasing capacity to be detached, and therefore not so potently identified with the individual consciousness, you yourself can perhaps get a faint glimmer of light as to that vibrant reality of which the heart is the reflection.

Vì vậy Tôi không thể trả lời câu hỏi của em, bởi vì cho đến khi trung tâm đầu được đánh thức phần nào hơn nữa, lời giải thích của Tôi sẽ vô nghĩa. Tất cả những gì Tôi dám nói là: bằng việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, bằng sự áp dụng thường xuyên vào con đường của đầu, và bằng hoạt động nhóm liên tục, với một năng lực ngày càng tăng để tách rời, và do đó không đồng nhất quá mạnh mẽ với tâm thức cá nhân, chính em có lẽ có thể nhận được một tia sáng lờ mờ về thực tại rung động mà tim là sự phản chiếu của nó.

One thing I can add. As I told you before, the activity of the heart centre never demonstrates in connection with individuals. This is a basic fact. What devastates most disciples is the solar plexus ability (when purified and consecrated) to identify itself with individuals. The heart centre cannot react, except under group impetus, group happiness or unhappiness, and other group relations. This may give you a needed hint. It is a subject which you will do well deeply to consider, and to discuss with A.A.B. who—like yourself—is also on the difficult path of teaching and of world salvage.

Một điều Tôi có thể thêm vào. Như Tôi đã nói với em trước đây, hoạt động của trung tâm tim không bao giờ biểu lộ trong liên hệ với các cá nhân. Đây là một sự kiện căn bản. Điều tàn phá phần lớn các đệ tử là khả năng của tùng thái dương, khi đã được thanh lọc và thánh hiến, trong việc đồng nhất chính nó với các cá nhân. Trung tâm tim không thể phản ứng, ngoại trừ dưới xung lực nhóm, hạnh phúc hay bất hạnh của nhóm, và các quan hệ nhóm khác. Điều này có thể trao cho em một gợi ý cần thiết. Đây là một đề tài mà em nên suy xét sâu xa, và thảo luận với A.A.B., người—giống như em—cũng đang ở trên con đường khó khăn của việc giảng dạy và cứu vớt thế giới.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY BELOVED BROTHER:

HUYNH ĐỆ YÊU DẤU CỦA TÔI:

You will have, by now, read and absorbed the papers and communications which have been held for you until the close [470] of the war and the attainment of physical safety for you. There has been no great need for me to express myself on the situation which has existed, for the closeness of the link between the Master K.H., myself and you ensures understanding and precludes waste of time.

Đến nay, em hẳn đã đọc và hấp thụ các bài viết và truyền thông đã được giữ lại cho em cho đến khi chiến tranh kết thúc [470] và em đạt được sự an toàn hồng trần. Không có nhu cầu lớn lao nào để Tôi bày tỏ về tình thế đã tồn tại, vì sự gần gũi của mối liên kết giữa Chân sư K.H., Tôi và em bảo đảm sự thấu hiểu và loại trừ việc lãng phí thời gian.

You have come through a period of great difficulty and danger with no loss of your spiritual grip upon essential reality or of your spiritual vision; your strength has been such that you have lifted your family with you and safeguarded them also all the time. Having achieved one pinnacle of spiritual success, another can be glimpsed, and between the two pinnacles lies a field of service, a sphere of danger, a land of glamour and deep morasses through which you must struggle, until the point of attainment planned by your soul for this life is yours. You can achieve, and for your aiding, I and A.A.B. stand ready.

Em đã đi qua một thời kỳ đầy khó khăn và nguy hiểm mà không mất sự nắm giữ tinh thần của mình đối với thực tại thiết yếu hay tầm nhìn tinh thần của mình; sức mạnh của em đã lớn đến nỗi em đã nâng gia đình mình lên cùng với em và cũng bảo vệ họ suốt thời gian ấy. Khi đã đạt được một đỉnh cao của thành công tinh thần, một đỉnh khác có thể được thoáng thấy, và giữa hai đỉnh ấy là một cánh đồng phụng sự, một phạm vi nguy hiểm, một vùng đất ảo cảm và những đầm lầy sâu mà em phải vật lộn đi qua, cho đến khi điểm thành tựu mà linh hồn em hoạch định cho kiếp này thuộc về em. Em có thể đạt được, và để trợ giúp em, Tôi và A.A.B. sẵn sàng.

A debate arose between your Master (K.H.) and myself. You had been sent (or loaned if I might call it so) to aid in my Ashram. We discussed the subject as to whether the sufferings of the past few years did not warrant your return to the Ashram of K.H.; the work there would be hard but not of the same kind, and there would not be so much need for contact work on the physical plane. I claimed that you were strong enough for the dual test; K.H. felt that you probably were, but that there was no need to ask a disciple always to drink the cup of sacrifice to its very last drop—not at least until the crucifixion initiation is your right. The task today proffered you, and its incidental strain and suffering, will be of another kind and the pain endured will be largely mental, but “you can take it,” as the saying is. It was decided to let you attempt the task demanded for three years or for seven (according to your own choice) and then, if you decide to do no more along the indicated lines, you can relinquish the task… with no sense of failure. This work can be undertaken only by people who, like yourself, repudiate without any difficulty all separative attitudes and who ever act and think in terms of the one humanity and with inclusive love. You, my brother, meet all these requirements…. This work is most definitely part of my work… and I shall be in touch [471] with you at frequent intervals. On that statement you can emphatically rely.

Một cuộc thảo luận đã nảy sinh giữa Chân sư của em, Chân sư K.H., và Tôi. Em đã được gửi đến, hay cho mượn nếu Tôi có thể gọi như vậy, để trợ giúp trong Ashram của Tôi. Chúng tôi đã bàn về vấn đề liệu những đau khổ trong vài năm qua có biện minh cho việc em trở về Ashram của Chân sư K.H. hay không; công việc ở đó sẽ khó khăn nhưng không cùng loại, và sẽ không có nhiều nhu cầu về công việc tiếp xúc trên cõi hồng trần. Tôi khẳng định rằng em đủ mạnh cho thử thách kép; Chân sư K.H. cảm thấy rằng có lẽ em đủ mạnh, nhưng không cần phải luôn luôn yêu cầu một đệ tử uống chén hi sinh đến giọt cuối cùng—ít nhất là chưa cho đến khi cuộc điểm đạo chịu đóng đinh là quyền của em. Nhiệm vụ hôm nay được đưa ra cho em, cùng sự căng thẳng và đau khổ đi kèm với nó, sẽ thuộc một loại khác, và nỗi đau chịu đựng sẽ phần lớn thuộc trí tuệ, nhưng “em có thể chịu được”, như người ta nói. Đã quyết định để em thử thực hiện nhiệm vụ được đòi hỏi trong ba năm hoặc bảy năm, tùy lựa chọn của chính em; rồi sau đó, nếu em quyết định không làm thêm theo các đường hướng đã chỉ ra, em có thể từ bỏ nhiệm vụ… mà không có cảm giác thất bại. Công việc này chỉ có thể được đảm nhận bởi những người, giống như em, bác bỏ không chút khó khăn mọi thái độ chia rẽ, và luôn hành động cùng suy nghĩ theo nghĩa một nhân loại duy nhất và với tình thương bao gồm. Huynh đệ của Tôi, em đáp ứng tất cả các yêu cầu này…. Công việc này rõ ràng nhất định là một phần công việc của Tôi… và Tôi sẽ giữ liên lạc [471] với em vào những khoảng thời gian thường xuyên. Em có thể hoàn toàn tin cậy vào lời tuyên bố đó.

Your meditation work must keep pace with your vision. I suggest that you follow the simple outline which I call “The Pinnacles,” and give much time for quiet thought and for impression. Know that guidance will be given—given step by step as needed. My love enfolds you, and the way into my Ashram stands open wide for you.

Công việc tham thiền của em phải theo kịp tầm nhìn của em. Tôi gợi ý em hãy theo dàn ý đơn giản mà Tôi gọi là “Các Đỉnh Cao”, và dành nhiều thời gian cho tư tưởng tĩnh lặng và cho ấn tượng. Hãy biết rằng sự hướng dẫn sẽ được trao—được trao từng bước khi cần. Tình thương của Tôi bao bọc em, và con đường vào Ashram của Tôi rộng mở cho em.

November 1948

Tháng Mười Một năm 1948

MY BROTHER AND MY FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ BẠN CỦA TÔI:

It is two years since I last communicated with you, via A.A.B., and they have been years of great stress and strain for you. Every disciple in these troubled times carries three kinds of stress; no, my brother, I would say the major stresses are of four kinds:

Đã hai năm kể từ lần cuối Tôi truyền thông với em qua A.A.B., và đó là những năm đầy áp lực và căng thẳng lớn lao đối với em. Mỗi đệ tử trong những thời kỳ rối ren này mang ba loại áp lực; không, huynh đệ của Tôi, Tôi muốn nói rằng các áp lực chính có bốn loại:

1. There are the stresses and the strains incident to the disciple’s family life or his immediate daily relationships, and of these you have had your full share.

1. Có những áp lực và căng thẳng đi kèm đời sống gia đình của đệ tử hoặc các quan hệ hằng ngày gần gũi của y, và về những điều này em đã có phần đầy đủ của mình.

2. There are stresses and strains due to the deep interior life of soul relation; these bring with them their own unique difficulties which can be shared with no one (except the Master, when the disciple has reached the point of unfoldment which you have now reached), and yet which bring about a life of inner tension which can lead inevitably to the next point of revelation.

2. Có những áp lực và căng thẳng do đời sống nội tâm sâu xa của mối liên hệ linh hồn; những điều này mang theo những khó khăn độc đáo riêng của chúng, vốn không thể chia sẻ với ai, ngoại trừ Chân sư, khi đệ tử đã đạt đến điểm khai mở mà em nay đã đạt đến, nhưng lại tạo nên một đời sống căng thẳng nội tâm, điều chắc chắn có thể dẫn đến điểm thiên khải kế tiếp.

3. There are the problems and circumstances which arise out of the period in which our modern humanity lives; these today are unique and of disturbing importance; they involve the balancing of values which is going on in every department of human living and which evokes in the disciple an almost unendurable pain and anxiety.

3. Có những vấn đề và hoàn cảnh phát sinh từ thời kỳ mà nhân loại hiện đại của chúng ta đang sống; ngày nay những điều này là độc nhất và có tầm quan trọng gây xáo trộn; chúng bao hàm sự quân bình các giá trị đang diễn ra trong mọi ngành của đời sống nhân loại và gợi lên nơi đệ tử một nỗi đau và lo âu gần như không thể chịu đựng.

4. There are also peculiar complications and tests which have their origin in ashramic relationships which the disciple realises through his contact with the Ashram. [472] These are the result of his attempt to lift the burden of humanity and the measure of his understanding of the Plan, in unison with the entire Hierarchy. This produces an inevitable crisis and constitutes a load which—when added to the other three spheres of difficulty—often make the disciple feel that his cross (his vertical and his horizontal life) is more than he can bear. The Fixed Cross becomes a reality, and he begins to learn its true meaning.

4. Cũng có những phức tạp và thử thách đặc thù có nguồn gốc trong các quan hệ ashram mà đệ tử nhận ra qua sự tiếp xúc của y với Ashram. [472] Chúng là kết quả của nỗ lực của y nhằm gỡ bỏ gánh nặng của nhân loại và mức độ thấu hiểu của y về Thiên Cơ, trong sự hợp nhất với toàn thể Thánh Đoàn. Điều này tạo ra một cuộc khủng hoảng tất yếu và cấu thành một gánh nặng mà—khi cộng thêm vào ba phạm vi khó khăn kia—thường khiến đệ tử cảm thấy rằng thập giá của y, đời sống dọc và đời sống ngang của y, vượt quá sức y có thể mang. Thập Giá Cố Định trở thành một thực tại, và y bắt đầu học ý nghĩa thật sự của nó.

All these four types of difficulties are further enhanced when you consider the fact that they are felt in all three aspects of the disciple’s personality simultaneously. There is a reaction in his etheric body, in his emotional vehicle and in his mind. This makes what is sometimes called the “seven divine sorrows”; these are symbolically and most inaccurately depicted in the Christian discipline as the seven stations of the Cross. As I told you elsewhere [xix]* “from the standpoint of Christian symbolism (even though the interpretation is as yet inadequate) these seven crises correspond to the seven stations of the Cross which mark the way of an advancing world Saviour.” Here again you have the four and the three brought together in a synthesis of service, of discipline and of unfoldment.

Tất cả bốn loại khó khăn này còn gia tăng hơn nữa khi em xét đến sự kiện rằng chúng được cảm nhận đồng thời trong cả ba phương diện của phàm ngã đệ tử. Có một phản ứng trong thể dĩ thái của y, trong hiện thể cảm xúc của y và trong thể trí của y. Điều này tạo nên điều đôi khi được gọi là “bảy nỗi buồn thiêng liêng”; những điều này được mô tả một cách biểu tượng và hết sức không chính xác trong kỷ luật Kitô giáo như bảy chặng của Thập Giá. Như Tôi đã nói với em ở nơi khác [xix]* “từ lập trường biểu tượng Kitô giáo, dù sự diễn giải cho đến nay vẫn chưa đầy đủ, bảy cuộc khủng hoảng này tương ứng với bảy chặng của Thập Giá, vốn đánh dấu con đường của một Đấng Cứu Thế đang tiến tới.” Ở đây một lần nữa em có bốn và ba được đưa lại với nhau trong một tổng hợp của phụng sự, kỷ luật và khai mở.

All these factors have been active in your life, my brother and co-disciple. I would like to commend you on one point. You have proceeded with your Ashram work, your thinking and your service in spite of all that has been going on. This has been noted by us and it is for this quality of spiritual stability that we watch. The field of your work remains the same; it is part of your karmic obligation which may not be avoided, but the mode of work and the nature of the work which should be done will have to be altered for reasons which I am confident you will understand….

Tất cả những yếu tố này đã hoạt động trong đời sống em, huynh đệ và đồng môn của Tôi. Tôi muốn khen em về một điểm. Em đã tiếp tục công việc ashram, tư duy và phụng sự của mình bất chấp tất cả những gì đang diễn ra. Chúng tôi đã ghi nhận điều này, và chính phẩm tính ổn định tinh thần ấy là điều chúng tôi quan sát. Lĩnh vực công việc của em vẫn như cũ; đó là một phần nghĩa vụ nghiệp quả của em, điều không thể tránh né, nhưng phương thức làm việc và bản chất công việc cần được thực hiện sẽ phải được thay đổi vì những lý do mà Tôi tin chắc em sẽ thấu hiểu….

I have, as you will have noted, said little to you about yourself and your own spiritual development. The war taught many disciples that it is in serving and in thinking through that true wisdom comes; they came to realise that in [473] enlightening others the radiance of the glory of God can be revealed. This you have learned and from henceforth you enter in a new stage of discipleship and can be regarded as one who can teach himself.

Như em hẳn đã lưu ý, Tôi đã nói rất ít với em về chính em và sự phát triển tinh thần của riêng em. Chiến tranh đã dạy nhiều đệ tử rằng chính trong phụng sự và trong việc suy tư thấu đáo mà minh triết chân chính xuất hiện; họ đã đi đến nhận ra rằng trong khi soi sáng người khác, ánh rạng ngời của vinh quang Thượng đế có thể hiển lộ. [473] Điều này em đã học được, và từ nay trở đi em bước vào một giai đoạn mới của địa vị đệ tử và có thể được xem là một người có thể tự dạy mình.

The work outlined for you will require only one discipline for you and that is a hard one. It is the drastic organising of your time, irrespective of personality claims, or the hindrances of an etheric body which is too loosely knit, and a sensitivity which makes life very hard for you. The great need of the service which you can render and the desperate task involved in the reorganisation of your time and plans will do much to offset the above difficulties and—in time—to cure them. You do not, my brother, belong to your family any more. You belong to humanity—a lesson which A.A.B. had much difficulty in learning.

Công việc đã phác thảo cho em sẽ chỉ đòi hỏi nơi em một kỷ luật duy nhất, và đó là một kỷ luật khó. Đó là việc tổ chức thời gian của em một cách triệt để, bất kể những đòi hỏi của phàm ngã, hay những trở ngại của một thể dĩ thái được kết cấu quá lỏng lẻo, và một sự nhạy cảm khiến đời sống trở nên rất khó khăn đối với em. Nhu cầu lớn lao của công việc phụng sự mà em có thể thực hiện, và nhiệm vụ cấp bách hàm trong việc tái tổ chức thời gian cùng các kế hoạch của em, sẽ làm nhiều điều để hóa giải những khó khăn trên và—theo thời gian—chữa lành chúng. Huynh đệ của Tôi, em không còn thuộc về gia đình mình nữa. Em thuộc về nhân loại—một bài học mà Bà A.A.B. đã gặp nhiều khó khăn khi học.

I give you no meditation to follow. You may feel it necessary to make certain changes in the one you are now doing; feel free to change where you deem it desirable and seek constantly and daily a closer contact with your Master and with mine—the Master K.H.

Tôi không trao cho em bài tham thiền nào để theo. Em có thể cảm thấy cần thực hiện một vài thay đổi trong bài em đang làm hiện nay; hãy tự do thay đổi ở nơi nào em xét thấy nên làm, và hãy hằng ngày, không ngừng tìm kiếm một tiếp xúc gần gũi hơn với Chân sư của em và với Chân sư của Tôi—Chân sư K.H.

Daily I look towards you, brother of mine, and that is no idle statement on my part. Rest back on my understanding and call on me at need. Develop telepathic sensitivity to my voice—as I have developed it to yours.

Huynh đệ của Tôi, hằng ngày Tôi hướng nhìn về em, và về phần Tôi, đó không phải là một lời nói suông. Hãy tựa vào sự thấu hiểu của Tôi và kêu gọi Tôi khi cần. Hãy phát triển sự nhạy bén viễn cảm đối với tiếng nói của Tôi—như Tôi đã phát triển điều đó đối với tiếng nói của em.

To R. A. J. – Gửi R. A. J.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

MY BROTHER AND MY FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ BẠN CỦA TÔI:

For you, as for all disciples at this time of world crisis, life has been exceedingly difficult. This is not a platitudinous truism—in spite of A.A.B. remarking sub rosa that it was. She knows me so well that for years her comments have proved a source of amusement to me and sometimes have proved most helpful in aiding me to understand the occidental mind. I am an Oriental of the fourth root race and although I have had two European incarnations I still at times fail to grasp or understand the occidental reaction. But the [474] remark above is not simply fatuous, but contains in it the clue to your future. Your difficulties at this time stem largely from others more than from yourself; they are instructive more than karmic.

Đối với em, cũng như đối với tất cả các đệ tử vào thời kỳ khủng hoảng thế giới này, đời sống đã vô cùng khó khăn. Đây không phải là một chân lý sáo rỗng—bất chấp việc Bà A.A.B. đã nói kín rằng nó là như vậy. Bà biết Tôi quá rõ đến nỗi trong nhiều năm, những nhận xét của bà đã trở thành một nguồn vui đối với Tôi, và đôi khi tỏ ra rất hữu ích trong việc giúp Tôi thấu hiểu trí tuệ Tây phương. Tôi là một người Đông phương thuộc giống dân gốc thứ tư, và dù Tôi đã có hai lần lâm phàm ở châu Âu, đôi khi Tôi vẫn không nắm bắt hay thấu hiểu được phản ứng Tây phương. Nhưng nhận xét trên [474] không chỉ đơn giản là ngớ ngẩn, mà chứa trong nó manh mối cho tương lai của em. Những khó khăn của em vào lúc này phần lớn bắt nguồn từ người khác hơn là từ chính em; chúng mang tính giáo huấn nhiều hơn là nghiệp quả.

You have led a useful and fruitful life; there is still much for you to do which will enable you to lay the finger of love upon the hearts and lives of others; as you do so, you relate them to yourself and bring them under “the eye’s direction.” The larger, wider work of a disciple has not, however, been yours this life. Your task has been preparatory to this, and—if you will carry this realisation in mind for the remainder of this incarnation—you will pass on into a life cycle which will reveal to you the path which, as an initiate, you are choosing to tread.

Em đã sống một đời hữu ích và kết quả; vẫn còn nhiều điều để em làm, những điều sẽ cho phép em đặt ngón tay của tình thương lên trái tim và đời sống của người khác; khi làm như vậy, em liên kết họ với chính mình và đưa họ vào dưới “sự chỉ đạo của con mắt”. Tuy nhiên, công việc lớn hơn, rộng hơn của một đệ tử không phải là công việc của em trong đời này. Nhiệm vụ của em đã là sự chuẩn bị cho điều đó, và—nếu em giữ nhận thức này trong trí suốt phần còn lại của lần lâm phàm này—em sẽ bước sang một chu kỳ đời sống sẽ thiên khải cho em con đường mà, với tư cách là một điểm đạo đồ, em đang chọn để bước đi.

In this connection, forget not, brother of mine, that the teaching ray conditions you and that there is a major difference between teaching as a human being, no matter how good, and teaching as an initiate; it is as a pledged disciple that you will learn this basic distinction. It will also have a definite effect upon your life.

Huynh đệ của Tôi, trong liên hệ này, đừng quên rằng cung giảng dạy tác động lên em, và rằng có một khác biệt lớn giữa việc giảng dạy như một con người, dù tốt đẹp đến đâu, và việc giảng dạy như một điểm đạo đồ; chính với tư cách là một đệ tử đã phát nguyện mà em sẽ học sự phân biệt căn bản này. Điều đó cũng sẽ có một ảnh hưởng rõ rệt lên đời sống em.

This thought gives me the chance to point out to you (and incidentally to your group brothers) that many disciples today—who, like yourself, are not engaged in any spectacular world work—are engaged in establishing those contacts, here, there and everywhere, which will form the nucleus of that group of aspirants and of younger disciples which every senior disciple and initiate automatically gathers around him. He does not, in any particular incarnation, go out into the world and say: “I will gather a group which will form my future ashram.” If he does this, he will fail; if, however, he seeks to aid spiritually and to stimulate divinely those whom he meets in his daily round of duty, that tells a different tale. No one is then unimportant. Deliberately, he gathers people to him because he steadily loves and helps. Some of these may be just passing by to other goals, and with them he has no permanent link; others send out to him a responsive thread of understanding and request and—as his intuition develops—he recognises them as his own; he esoterically “intertwines [475] the thread of his life with theirs,” thereby assuming responsibility and forming a more permanent link, both in response and in karmic relationship. Both become indissolubly linked.

Tư tưởng này cho Tôi cơ hội chỉ ra cho em, và nhân tiện cho các huynh đệ trong nhóm của em, rằng ngày nay nhiều đệ tử—những người, giống như em, không tham gia vào bất kỳ công việc thế giới ngoạn mục nào—đang tham gia vào việc thiết lập những tiếp xúc, ở đây, ở đó và khắp nơi, vốn sẽ tạo thành hạt nhân của nhóm những người chí nguyện và các đệ tử trẻ hơn mà mỗi đệ tử cao niên và điểm đạo đồ tự động quy tụ quanh mình. Trong bất kỳ lần lâm phàm đặc thù nào, y không đi ra thế gian và nói: “Tôi sẽ quy tụ một nhóm sẽ tạo thành ashram tương lai của tôi.” Nếu y làm như vậy, y sẽ thất bại; tuy nhiên, nếu y tìm cách giúp đỡ về mặt tinh thần và kích thích một cách thiêng liêng những người y gặp trong vòng nhiệm vụ hằng ngày của mình, thì đó lại là một câu chuyện khác. Khi ấy, không ai là không quan trọng. Một cách có chủ ý, y quy tụ người ta đến với mình bởi vì y yêu thương và giúp đỡ một cách bền bỉ. Một số người trong họ có thể chỉ đang đi ngang qua để đến những mục tiêu khác, và với họ y không có mối liên kết lâu dài; những người khác phóng đến y một sợi dây đáp ứng của sự thấu hiểu và thỉnh cầu, và—khi trực giác của y phát triển—y nhận ra họ là người của mình; một cách huyền bí, y “đan xen [475] sợi dây đời sống của mình với sợi dây của họ,” nhờ đó đảm nhận trách nhiệm và hình thành một mối liên kết bền vững hơn, cả trong đáp ứng lẫn trong quan hệ nghiệp quả. Cả hai trở nên gắn kết không thể tháo rời.

You have touched many lives in your lifework as teacher, and you know and understand in some measure those who have responded to you—to you as an individual and as someone to whom they can look for some measure of understanding. For the remainder of your life, I would ask you to have these thoughts in mind and begin to lay a planned foundation for the future. This is my definite work instruction for you at this time. It will entail a task of watchful observation, of a determined going out to help wherever that help may be needed. You have, in many ways, what I have referred to in my own mind as I have watched you, as a very well-managed inferiority complex—so well managed that you do not permit it to be a real hindrance; it is one which nevertheless exists and at times presents to you a problem. I would also ask you to ignore it increasingly, and in the decisions which you will have to make during the next twelve months please act with a positive belief in yourself and, without questioning, choose the field of largest opportunity.

Trong công việc đời em với tư cách là huấn sư, em đã chạm đến nhiều đời sống, và em biết cũng như thấu hiểu ở một mức độ nào đó những người đã đáp ứng với em—với em như một cá nhân và như một người mà họ có thể hướng đến để tìm một mức độ thấu hiểu nào đó. Trong phần còn lại của đời em, Tôi xin em giữ những tư tưởng này trong trí và bắt đầu đặt một nền tảng có kế hoạch cho tương lai. Đây là chỉ thị công việc rõ ràng của Tôi dành cho em vào lúc này. Nó sẽ hàm chứa một nhiệm vụ quan sát tỉnh thức, một sự quyết tâm đi ra để giúp đỡ ở bất cứ nơi nào sự giúp đỡ ấy có thể cần đến. Theo nhiều cách, em có điều mà trong trí riêng của Tôi, khi quan sát em, Tôi đã gọi là một phức cảm tự ti được quản lý rất khéo—được quản lý khéo đến mức em không cho phép nó trở thành một trở ngại thật sự; tuy nhiên, nó vẫn tồn tại và đôi khi đặt ra cho em một vấn đề. Tôi cũng xin em ngày càng phớt lờ nó, và trong những quyết định mà em sẽ phải đưa ra trong mười hai tháng tới, xin hãy hành động với niềm tin tích cực vào chính mình và, không nghi vấn, hãy chọn lĩnh vực có cơ hội lớn nhất.

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. The note sounds clear for you today, my chela and my friend. It is the hidden note of sacrifice. But sacrifice is not the thing you think it is.

1. Âm điệu vang lên rõ ràng cho em hôm nay, đệ tử và bạn của Tôi. Đó là âm điệu ẩn tàng của hi sinh. Nhưng hi sinh không phải là điều em nghĩ nó là.

2. The wisdom of the eye is yours. Let the radiation of your heart follow the eye’s direction.

2. Minh triết của con mắt là của em. Hãy để bức xạ của trái tim em đi theo sự chỉ đạo của con mắt.

3. Live not upon the surface of events; you dwell deep at the centre and the springs of life.

3. Đừng sống trên bề mặt của các biến cố; em cư ngụ sâu nơi trung tâm và nơi các mạch nguồn của sự sống.

4. The next ten years will hold for you three crises. Make them opportunities for expansive work.

4. Mười năm sắp tới sẽ chứa đựng cho em ba cuộc khủng hoảng. Hãy biến chúng thành những cơ hội cho công việc mở rộng.

5. The diadem, the robe of rose, the sandals on your feet and staff in hand—these are your proud possession.

5. Vương miện, chiếc áo hồng, đôi dép trên chân em và cây gậy trong tay—đây là sở hữu đáng tự hào của em.

6. Draw near to me in closer personal touch, devoid of personality. This paradox is clear. [476]

6. Hãy đến gần Tôi hơn trong sự tiếp xúc cá nhân gần gũi, nhưng không mang tính phàm ngã. Nghịch lý này rõ ràng. [476]

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I wonder if you drew out of the six statements what they were intended to convey to you of direction and instruction? To the fifth statement I seek to draw your attention. Reference is there made to the “diadem, the robe of rose, the sandals on your feet.” What did these symbolic words convey to you? I mention them because I want to build your meditation for the next few months around the concepts hidden by these word forms. The first three statements were fairly simple for you to comprehend. The fourth conveyed a prophecy. The fifth contained some Words of Power and were intended to instruct you as to the nature of your life-orientation and the desired quality of your service during the coming ten years. They intimate that which you at this time possess but which needs increasing appreciation by you. Let me give you some idea as to their significances:

Tôi tự hỏi liệu em đã rút ra từ sáu câu nói những gì chúng được dự định truyền đạt cho em về phương hướng và chỉ thị hay chưa? Tôi muốn hướng sự chú ý của em đến câu nói thứ năm. Ở đó có nhắc đến “vương miện, chiếc áo hồng, đôi dép trên chân em.” Những lời biểu tượng này đã truyền đạt gì cho em? Tôi đề cập đến chúng vì Tôi muốn xây dựng bài tham thiền của em trong vài tháng tới quanh các ý niệm được ẩn giấu bởi những hình tướng từ ngữ này. Ba câu nói đầu khá đơn giản để em lĩnh hội. Câu thứ tư truyền đạt một lời tiên tri. Câu thứ năm chứa một vài Quyền năng từ và được dự định để chỉ dạy em về bản chất định hướng đời sống của em và phẩm tính mong muốn của công việc phụng sự của em trong mười năm sắp tới. Chúng ám chỉ điều em hiện đang sở hữu, nhưng điều ấy cần em ngày càng biết trân trọng hơn. Hãy để Tôi cho em một vài ý niệm về các thâm nghĩa của chúng:

1. The Diadem. This is a dual symbol. It signifies accomplishment or the crowning period of your life (and this you now face, if you so choose), and it also conveys the idea of a more definite and steady use of the head centre. You are, of course, a “heart” person. The task ahead of you in your meditation work is to lift the energy of the heart centre into its correspondence in the head and begin to live more in the head than in the heart; you should begin also to fuse and blend the energy of this higher heart centre with that of the ajna centre, thus bringing the “directing eye” into greater service, prominence and usefulness. It is toward this objective that the meditation here suggested by me is planned.

1. Vương miện. Đây là một biểu tượng kép. Nó biểu thị sự thành tựu hay thời kỳ đăng quang của đời em, và em hiện đang đối diện với điều này nếu em chọn như vậy; nó cũng truyền đạt ý tưởng về việc sử dụng trung tâm đầu một cách rõ ràng và vững vàng hơn. Dĩ nhiên, em là một người thuộc “trái tim”. Nhiệm vụ trước mắt em trong công việc tham thiền là nâng năng lượng của trung tâm tim lên phần tương ứng của nó trong đầu, và bắt đầu sống trong đầu nhiều hơn trong tim; em cũng nên bắt đầu dung hợp và hòa trộn năng lượng của trung tâm tim cao hơn này với năng lượng của trung tâm ajna, nhờ vậy đưa “con mắt chỉ đạo” vào sự phụng sự, sự nổi bật và sự hữu dụng lớn hơn. Chính hướng đến mục tiêu này mà bài tham thiền Tôi gợi ý ở đây được hoạch định.

2. The Robe of Rose. The symbolism here, my brother, is obvious. Rose is the colour of devotion, and of that quality you have a full supply. It is however to its magnetic attractive quality, as it affects others rather than yourself, that I seek to draw your attention. People of pledged devotion are those who have reached a point where that devotion is in no way a hindrance; it is seemingly a safeguard, [477] simplifying their lives. Because of that fixed devotion, they can walk undeviatingly upon the Way. But they are apt to forget that—equally because of that devotion—they ray forth a quality which stimulates its correspondence in others. That is why sixth ray people can easily form a group around themselves. But they seldom succeed in holding those thus attracted for very long, because they do not understand the reason for this facility and ascribe it ever to wrong causes. Only your astral body is upon the sixth ray of devotion, but that makes it potent indeed and, in your case, produces that sense of inferiority to which I referred above. I would ask you to change your point of view and to regard your sixth ray astral body as a powerful piece of equipment to be used in service.

2. Chiếc áo hồng. Huynh đệ của Tôi, biểu tượng ở đây là hiển nhiên. Hồng là màu của lòng sùng tín, và em có đầy đủ phẩm tính ấy. Tuy nhiên, chính phẩm tính hấp dẫn từ tính của nó, khi ảnh hưởng đến người khác hơn là đến chính em, là điều Tôi muốn hướng sự chú ý của em đến. Những người có lòng sùng tín đã phát nguyện là những người đã đạt đến một điểm mà lòng sùng tín ấy không còn là trở ngại theo bất cứ cách nào; dường như nó là một sự bảo vệ, [477] làm đơn giản hóa đời sống của họ. Nhờ lòng sùng tín cố định ấy, họ có thể bước đi không lệch hướng trên Đường Đạo. Nhưng họ có khuynh hướng quên rằng—cũng chính vì lòng sùng tín ấy—họ phóng chiếu ra một phẩm tính kích thích phần tương ứng của nó nơi người khác. Đó là lý do tại sao những người cung sáu có thể dễ dàng hình thành một nhóm quanh mình. Nhưng họ hiếm khi thành công trong việc giữ những người được thu hút như thế trong thời gian dài, bởi vì họ không thấu hiểu lý do của khả năng này và luôn quy nó cho những nguyên nhân sai lầm. Chỉ thể cảm dục của em ở trên cung sáu của lòng sùng tín, nhưng điều đó quả thật làm cho nó mạnh mẽ, và trong trường hợp của em, tạo ra cảm thức tự ti mà Tôi đã nói đến ở trên. Tôi xin em thay đổi quan điểm của mình và xem thể cảm dục cung sáu của em như một trang bị đầy quyền năng để sử dụng trong phụng sự.

In these two symbolic phrases we have related the heart centre to the head centre, and likewise the heart centre to the astral body.

Trong hai cụm từ biểu tượng này, chúng ta đã liên hệ trung tâm tim với trung tâm đầu, và cũng liên hệ trung tâm tim với thể cảm dục.

3. The Sandals on the Feet. Here, in other words, you have a simple reminder of the underlying and motivating power of your entire life. This can be summed up in the flat statement of three truths—unalterable and fixed because imposed upon your personality by your soul:

3. Đôi dép trên chân. Nói cách khác, ở đây em có một lời nhắc nhở đơn giản về quyền năng nền tảng và thúc đẩy của toàn bộ đời sống em. Điều này có thể được tóm lược trong lời khẳng định thẳng thắn về ba chân lý—không thể thay đổi và cố định, bởi vì linh hồn của em đã áp đặt chúng lên phàm ngã của em:

a. You are treading the Path of Discipleship.

a. Em đang bước đi trên Con Đường Đệ Tử.

b. You have arrived at a certain Ashram or centre of power upon that Path.

b. Em đã đến một ashram hay trung tâm quyền năng nhất định trên Con Đường ấy.

c. You are intelligently aware of these facts and they are the major conditioning factors in your life.

c. Em nhận biết những sự kiện này một cách thông minh, và chúng là những yếu tố tác động chính trong đời sống em.

You have consequently established a thought rhythm which naught can change and which will be a powerful incentive in deciding the time of your return when this incarnation comes to an end, the type of vehicle which you will, as a soul, construct, and the nature of the race, nation and type of service to which the overshadowing soul will commit the personality. Energy follows thought. A definition of the personality might be expressed as follows: The personality of a disciple is a focal point of energy, established by the soul.

Do đó, em đã thiết lập một nhịp điệu tư tưởng mà không điều gì có thể thay đổi, và nhịp điệu ấy sẽ là một động lực mạnh mẽ trong việc quyết định thời điểm trở lại của em khi lần lâm phàm này kết thúc, loại vận cụ mà em, với tư cách là linh hồn, sẽ kiến tạo, và bản chất của giống dân, quốc gia và loại phụng sự mà linh hồn phủ bóng sẽ giao phó cho phàm ngã. Năng lượng đi theo tư tưởng. Một định nghĩa về phàm ngã có thể được diễn đạt như sau: Phàm ngã của một đệ tử là một điểm tập trung năng lượng, do linh hồn thiết lập.

The “eye of direction,” therefore, referred to in Statement 2, relates primarily to the long-distance view the soul [478] is taking of you and your preparation for fuller service in the next life. A study of these three phrases will carry you into the realm of quality, and not simply of symbolism; the concept of heart radiation, attractive power, and the responsibility of preparation emerge clearly in the three ideas underlying the meditation suggested below. My proposal to you is that you do this meditation only twice a week—on Sundays and on one day in the middle of the week. On the other days you will simply carry forward the group reflective assignment with your group brothers. In this way the days of your personal orientation in meditation will be gladly anticipated events. Will you try out this plan, my brother?

Do đó, “con mắt chỉ đạo” được nhắc đến trong Câu nói 2 chủ yếu liên quan đến cái nhìn xa mà linh hồn [478] đang hướng về em và sự chuẩn bị của em cho phụng sự đầy đủ hơn trong đời sau. Việc nghiên cứu ba cụm từ này sẽ đưa em vào cõi giới của phẩm tính, chứ không chỉ đơn giản là biểu tượng; ý niệm về bức xạ của trái tim, quyền năng hấp dẫn, và trách nhiệm chuẩn bị hiện ra rõ ràng trong ba ý tưởng nằm dưới bài tham thiền được gợi ý dưới đây. Đề nghị của Tôi với em là em chỉ thực hiện bài tham thiền này hai lần một tuần—vào các ngày Chủ nhật và vào một ngày giữa tuần. Vào những ngày khác, em sẽ chỉ tiếp tục phần công việc suy tư nhóm cùng các huynh đệ trong nhóm của em. Bằng cách này, những ngày định hướng cá nhân của em trong tham thiền sẽ là những sự kiện được vui mừng trông đợi. Huynh đệ của Tôi, em có thử kế hoạch này không?

Stage I. The Diadem.

Giai đoạn I. Vương miện.

1. The establishing of relation between:

1. Thiết lập quan hệ giữa:

a. The heart centre and the head centre.

a. Trung tâm tim và trung tâm đầu.

b. The heart centre in the head and the ajna centre.

b. Trung tâm tim trong đầu và trung tâm ajna.

Thus a lesser triangle of energy or of “lighted, living relation” is established: heart, head and ajna centres.

Như vậy, một tam giác năng lượng nhỏ hơn, hay “quan hệ sống động, được soi sáng”, được thiết lập: các trung tâm tim, đầu và ajna.

c. The waiting, dedicated, devoted personality and the soul.

c. Phàm ngã đang chờ đợi, thánh hiến và sùng tín, với linh hồn.

Thus a greater triangle is established: soul, head and heart.

Như vậy, một tam giác lớn hơn được thiết lập: linh hồn, đầu và tim.

Visualise these triangles as relating and focussing your consciousness as far as may be in the head, midway between the soul and the heart centre up the spine—and therefore using as that midway point the heart centre in the head. Avoid concentrating upon location. Just imagine the point of attainment as that of the Diadem.

Hãy hình dung các tam giác này đang liên hệ và tập trung tâm thức của em, trong chừng mực có thể, vào trong đầu, ở điểm giữa linh hồn và trung tâm tim dọc lên cột sống—và do đó sử dụng trung tâm tim trong đầu như điểm ở giữa ấy. Tránh tập trung vào vị trí. Chỉ cần tưởng tượng điểm thành tựu như điểm của Vương miện.

2. Then reflect quietly upon the directive power of the soul:

2. Rồi hãy suy ngẫm lặng lẽ về quyền năng chỉ đạo của linh hồn:

a. Working within the symbolic “diadem of attainment.”

a. Hoạt động bên trong “vương miện thành tựu” biểu tượng.

b. Using the impelling “eye of the soul” as a directing agent; i.e., the ajna centre, or the centre between the eyebrows. [479]

b. Sử dụng “con mắt của linh hồn” thúc đẩy như tác nhân chỉ đạo; tức là trung tâm ajna, hay trung tâm giữa hai chân mày. [479]

c. Then say the following words with full intent:

c. Rồi hãy nói những lời sau đây với trọn ý định:

“May that soul of mine whose nature is love and wisdom direct events, impel to action, and guide my every word and deed.”

“Cầu mong linh hồn ấy của tôi, có bản chất là tình thương và minh triết, chỉ đạo các biến cố, thúc đẩy hành động, và hướng dẫn mọi lời nói cùng việc làm của tôi.”

Stage II. The Robe of Rose.

Giai đoạn II. Chiếc áo hồng.

1. The next undertaking is a conscious establishing of relation with others through:

1. Công việc kế tiếp là thiết lập quan hệ một cách có ý thức với người khác qua:

a. The focussing of the power or energy of devotion within yourself so that it becomes:

a. Việc tập trung quyền năng hay năng lượng của lòng sùng tín bên trong chính em, để nó trở thành:

1. A radiation affecting others.

1. Một bức xạ ảnh hưởng đến người khác.

2. An attractive force relating them to you as their temporary source of spiritual light.

2. Một mãnh lực hấp dẫn liên hệ họ với em như nguồn ánh sáng tinh thần tạm thời của họ.

3. A magnetic influence, stimulating a new activity of their soul in connection with their personalities.

3. Một ảnh hưởng từ tính, kích thích một hoạt động mới của linh hồn họ trong liên hệ với các phàm ngã của họ.

b. An act of service, wherein you flood the personalities of those you are seeking to help, with the pure rose colour (most carefully visualised by you) of spiritual devotion. This stream of warm rose and radiating light will esoterically drive them in devotion to their own souls and will not attract them to you—a thing which is never desirable.

b. Một hành động phụng sự, trong đó em tràn ngập các phàm ngã của những người em đang tìm cách giúp đỡ bằng màu hồng thuần khiết của lòng sùng tín tinh thần, được em hình dung hết sức cẩn thận. Dòng ánh sáng hồng ấm áp và tỏa rạng này, một cách huyền bí, sẽ thúc đẩy họ trong lòng sùng tín hướng về chính linh hồn của họ, và sẽ không thu hút họ đến với em—một điều không bao giờ đáng mong muốn.

2. Then say with all the outpouring love of which you will increasingly find yourself capable:

2. Rồi hãy nói với tất cả tình thương tuôn đổ mà em sẽ ngày càng nhận thấy mình có khả năng biểu lộ:

“Let the love of the soul attract and the light of the soul direct all whom I seek to help. Thus will humanity be saved by me and all affiliated with the Hierarchy.”

“Cầu mong tình thương của linh hồn thu hút, và ánh sáng của linh hồn chỉ đạo tất cả những người tôi tìm cách giúp đỡ. Nhờ vậy, nhân loại sẽ được cứu rỗi bởi tôi và bởi tất cả những ai liên kết với Thánh Đoàn.”

Stage III. The Sandals on the Feet.

Giai đoạn III. Đôi dép trên chân.

1. Reflect more now in relation to yourself, and ponder upon the Path in three ways:

1. Giờ đây hãy suy ngẫm nhiều hơn trong liên hệ với chính em, và suy tư về Đường Đạo theo ba cách:

a. The Path which you have travelled to my Ashram. This will involve the Past.

a. Con Đường mà em đã đi để đến ashram của Tôi. Điều này liên quan đến Quá khứ.

b. The Path of Service which you seek to travel now, moving freely in and out of my Ashram. This involves the Present.

b. Con Đường Phụng Sự mà em đang tìm cách bước đi hiện nay, ra vào tự do trong ashram của Tôi. Điều này liên quan đến Hiện tại.

c. The Path of Initiation for which you are being [480] prepared. This involves the Future—your future and its goal. You begin to realise yourself as a pledged, devoted servant.

c. Con Đường Điểm Đạo mà em đang được [480] chuẩn bị. Điều này liên quan đến Tương lai—tương lai của em và mục tiêu của nó. Em bắt đầu nhận ra chính mình như một người phụng sự đã phát nguyện và sùng tín.

2. Then in your own words, and aloud, you will dedicate yourself in a threefold manner to an increased conscious activity as an accepted disciple.

2. Rồi bằng lời của chính em, và nói thành tiếng, em sẽ thánh hiến chính mình theo cách tam phân cho một hoạt động hữu thức gia tăng với tư cách là một đệ tử được chấp nhận.

3. Seek now—definitely and quietly and with a spirit of waiting anticipation—to contact me, your Master and your friend. Expect results, though not at the time you anticipate.

3. Giờ đây hãy tìm cách—một cách rõ ràng, lặng lẽ và với tinh thần chờ đợi đầy trông mong—tiếp xúc với Tôi, Chân sư của em và bạn của em. Hãy mong đợi kết quả, dù không vào thời điểm em dự đoán.

4. Sound the OM softly seven times.

4. Xướng linh từ OM nhẹ nhàng bảy lần.

May peace and courage abide with you, my brother:

Cầu mong bình an và can đảm ở lại với em, huynh đệ của Tôi:

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

As I give you this personal instruction (one which can suffice you for this life) I ask myself: What is the thing of greatest moment that I can say which will indicate the point of future emphasis, which will convey strength and positive assurance, and which will enable you to prepare for the next great step which immediately confronts you? Disciples seldom realise the responsibility that a Master shoulders as He seeks to prepare a group of people for world service; seldom do they understand the problem with which He is faced, even when dealing with the least advanced or dynamic among His neophytes. What are the factors which He has to consider and which are potent enough to negate much of His effort (as has been the case in this group), and which frequently condition a disciple to such an extent that he takes no definite steps to meet ashramic requirements, even when, technically and theoretically, he admits responsibility? Let me tell you one or two of these for your guidance and the guidance of the group:

Khi Tôi trao cho em chỉ thị cá nhân này, một chỉ thị có thể đủ cho em trong đời này, Tôi tự hỏi: Điều quan trọng nhất Tôi có thể nói là gì, điều sẽ chỉ ra điểm cần nhấn mạnh trong tương lai, sẽ truyền đạt sức mạnh và sự xác tín tích cực, và sẽ giúp em chuẩn bị cho bước lớn kế tiếp đang lập tức đối diện với em? Các đệ tử hiếm khi nhận ra trách nhiệm mà một Chân sư gánh vác khi Ngài tìm cách chuẩn bị một nhóm người cho phụng sự thế giới; họ hiếm khi thấu hiểu vấn đề mà Ngài đối diện, ngay cả khi xử lý người kém tiến bộ hay kém năng động nhất trong số các người sơ cơ của Ngài. Những yếu tố nào Ngài phải xem xét, và đủ mạnh để phủ định phần lớn nỗ lực của Ngài, như đã từng xảy ra trong nhóm này, và thường tác động lên một đệ tử đến mức y không thực hiện những bước rõ ràng nào để đáp ứng các yêu cầu ashram, ngay cả khi, về mặt kỹ thuật và lý thuyết, y thừa nhận trách nhiệm? Hãy để Tôi nói cho em một hoặc hai yếu tố trong số đó để hướng dẫn em và hướng dẫn nhóm:

1. The karma of the disciple. Of this, the disciple knows little and the Master much; with that karma He may not interfere, because growth and development eventuate as the disciple meets the inevitability of events,[481] accepts his karma and works to offset it, actuated by right motive. Let me illustrate. The Master knows that it is the destiny of, and within the capacity of, a disciple to carry out a certain piece of work and thus to serve humanity in a particular manner. He knows also that it is His duty to bring the disciple to the point of comprehension and to aid him in the accurate performance of this duty. But as He considers the disciple’s karma, He finds that mortal disease will, in a few years’ time, lay the mechanism of accomplishment low and prevent both effort and accomplishment. He therefore refrains from an educational process which would otherwise be obligatory upon Him.

1. Nghiệp quả của đệ tử. Về điều này, đệ tử biết ít còn Chân sư biết nhiều; Ngài không được can thiệp vào nghiệp quả ấy, bởi vì sự tăng trưởng và phát triển xảy ra khi đệ tử đối diện với tính tất yếu của các biến cố,[481] chấp nhận nghiệp quả của mình và làm việc để hóa giải nó, được thúc đẩy bởi động cơ đúng đắn. Hãy để Tôi minh họa. Chân sư biết rằng vận mệnh và khả năng của một đệ tử là thực hiện một công việc nhất định và nhờ đó phụng sự nhân loại theo một cách đặc thù. Ngài cũng biết rằng bổn phận của Ngài là đưa đệ tử đến điểm thấu hiểu và giúp y thực hiện chính xác bổn phận này. Nhưng khi xem xét nghiệp quả của đệ tử, Ngài thấy rằng trong vài năm nữa, bệnh hiểm nghèo sẽ làm suy sụp bộ máy thành tựu và ngăn cản cả nỗ lực lẫn thành tựu. Do đó, Ngài tránh một tiến trình giáo dục mà nếu không thì sẽ là điều bắt buộc đối với Ngài.

2. Faulty equipment. Oft a disciple, in a particular incarnation, lacks some needed characteristic, or some desirable quality, either in his emotional nature or in one or other of the bodies. He may, for instance, have a fine physical vehicle, great devotion and a brilliant intellect, but along with these, the quality of persistence is not present; the Master knows, therefore, that a steady cooperation and continuous effort is not yet possible. He dare not, consequently, incorporate the disciple (along with other members of His Ashram) in some designated piece of work and of service, because He knows that he will imperil the success of the joint endeavour. The group has therefore to proceed without the help which the disciple is otherwise competent to give.

2. Trang bị khiếm khuyết. Thường khi, trong một lần lâm phàm đặc thù, một đệ tử thiếu một đặc tính cần thiết nào đó, hay một phẩm tính đáng mong muốn nào đó, hoặc trong bản chất cảm xúc của y, hoặc trong một trong các thể. Chẳng hạn, y có thể có một vận cụ hồng trần tốt đẹp, lòng sùng tín lớn lao và một trí năng xuất sắc, nhưng cùng với những điều này, phẩm tính kiên trì lại không có; do đó, Chân sư biết rằng sự hợp tác bền bỉ và nỗ lực liên tục chưa thể có được. Vì vậy, Ngài không dám đưa đệ tử ấy, cùng với các thành viên khác của ashram Ngài, vào một công việc và phụng sự đã định, bởi vì Ngài biết rằng y sẽ gây nguy hiểm cho sự thành công của nỗ lực chung. Do đó, nhóm phải tiến hành mà không có sự giúp đỡ mà nếu không thì đệ tử ấy có đủ năng lực để trao.

3. A blind spot. This is one of the most frequent deterrents which confront a Master as He seeks to lead His disciples along the Way of Service. The disciple has some one great outstanding weakness of which he is entirely oblivious and completely unaware. If told of its existence, he flatly, conscientiously and sincerely denies its presence. He violently affirms the opposite virtue or strength. Yet all the time, this affirmation simply indicates the effort of his soul to build in a quality which, when adequately strong, will result in the expulsion of the deterring fault. As long as this [482] condition exists, it is not possible for the disciple to be fully integrated into the Ashram, nor is it possible to convince him that—in this specific connection—he is totally blind. Vision will eventually and inevitably come, but it will come as a result of the disciple’s own effort and his self-initiated awakening; once awakened, never again will blindness be possible.

3. Một điểm mù. Đây là một trong những yếu tố ngăn trở thường gặp nhất mà một Chân sư đối diện khi Ngài tìm cách dẫn dắt các đệ tử của Ngài đi theo Con Đường Phụng Sự. Đệ tử có một điểm yếu nổi bật lớn lao nào đó mà y hoàn toàn không hay biết và hoàn toàn không nhận thức. Nếu được cho biết về sự tồn tại của nó, y thẳng thừng, tận tâm và chân thành phủ nhận sự hiện diện của nó. Y mạnh mẽ khẳng định đức hạnh hay sức mạnh đối lập. Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó, sự khẳng định này chỉ cho thấy nỗ lực của linh hồn y nhằm xây dựng một phẩm tính mà, khi đủ mạnh, sẽ dẫn đến việc trục xuất lỗi lầm ngăn trở ấy. Chừng nào [482] tình trạng này còn tồn tại, đệ tử không thể được tích hợp trọn vẹn vào ashram, cũng không thể thuyết phục y rằng—trong mối liên hệ đặc thù này—y hoàn toàn mù lòa. Tầm nhìn cuối cùng và tất yếu sẽ đến, nhưng nó sẽ đến như kết quả của nỗ lực riêng của đệ tử và sự thức tỉnh do y tự khởi phát; một khi đã thức tỉnh, sự mù lòa sẽ không bao giờ còn có thể xảy ra nữa.

4. An over-enthusiastic nature. This induces the disciple to rush wildly forward in an effort to accomplish the indicated task, to prove to the Master his staunch determination, and to his fellow members in the Ashram his great usefulness. This enthusiasm can wreck designated projects, shorten the life of the disciple, and thus interfere with his karma and make him a source of amusement and concern to his group.

4. Một bản chất quá nhiệt thành. Điều này khiến đệ tử lao tới một cách cuồng nhiệt trong nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ đã được chỉ ra, để chứng minh với Chân sư quyết tâm kiên định của mình, và với các bạn đồng môn trong ashram sự hữu dụng lớn lao của mình. Sự nhiệt thành này có thể phá hỏng các dự án đã định, rút ngắn đời sống của đệ tử, và do đó can thiệp vào nghiệp quả của y, đồng thời khiến y trở thành nguồn vui cười và lo ngại cho nhóm của mình.

All these factors, and several others still more subtle, have to be taken into account by a Master, as well as the age, the background and the time cycles of the disciple.

Tất cả những yếu tố này, và một vài yếu tố khác còn tinh tế hơn, đều phải được một Chân sư cân nhắc, cũng như tuổi tác, bối cảnh và các chu kỳ thời gian của đệ tử.

I would point out to you, therefore, that it lies entirely in your own hands to increase your usefulness in the Ashram. If I were asked by you today what phase of your development should receive your attention, I would reply: Seek consciously and strenuously to overcome negativity. For you, a cultivated and conscious negativity has been an escape mechanism from the executive and administrative nature of your life. Your soul has forced you for decades into the position of an executive, superintending and administering agent. Basically, this ran counter to your natural inclination. Yet it was supremely necessary and educational. Once however you had fulfilled the duties and obligations entailed, and had successfully and adequately carried out your task (which you always did), your personality—shrinking and sensitive—took refuge in a negative attitude to people as a whole; you developed an insulation which made it difficult for you to set up any major relation with other people.

Do đó, Tôi muốn chỉ ra cho em rằng việc gia tăng sự hữu dụng của em trong ashram hoàn toàn nằm trong tay em. Nếu hôm nay em hỏi Tôi giai đoạn nào trong sự phát triển của em nên nhận sự chú ý của em, Tôi sẽ trả lời: Hãy tìm cách một cách có ý thức và mạnh mẽ để vượt qua tính thụ động. Đối với em, một tính thụ động được vun bồi và có ý thức đã là một cơ chế né tránh khỏi bản chất điều hành và quản trị của đời sống em. Linh hồn em đã buộc em trong nhiều thập niên vào vị trí của một tác nhân điều hành, giám sát và quản trị. Về căn bản, điều này đi ngược lại khuynh hướng tự nhiên của em. Tuy nhiên, nó là điều hết sức cần thiết và mang tính giáo dục. Tuy nhiên, một khi em đã hoàn thành các bổn phận và nghĩa vụ hàm chứa, và đã thực hiện thành công, đầy đủ nhiệm vụ của mình, như em luôn luôn đã làm, phàm ngã của em—co rút và nhạy cảm—đã nương náu trong một thái độ thụ động đối với con người nói chung; em đã phát triển một sự cách ly khiến em khó thiết lập bất kỳ quan hệ lớn lao nào với người khác.

Yet, my brother, little as you may realise it, those relationships with others, and a positive interplay with those you contacted, were ever desired by the people you met; people [483] have always wanted to get closer to you; they have longed to know you better and to be of service and of moment to you. As an executive, you were ever available; as a soul, within a personality, you have lived your own life apart from others; you have not been easy to contact or to know; you were never responsive to approach, and your reactions to those who desired contact have been negative, and this at times when you yourself wanted closer rapport. Herein lies your task and your problem for the remaining years of your life. Learn, please, my brother, to be individually outgoing towards the people you meet and with whom life and circumstance bring you into association. Break loose—hard though it may be—from the thoughtforms which so powerfully condition you, based frequently upon an inferiority complex; refuse to permit the factors which so powerfully condition the trained, cultured person and the man who is the product of tradition, of good heritage and generations of civilised forbears to control you.

Tuy nhiên, huynh đệ của Tôi, dù em có thể ít nhận ra điều đó, những mối quan hệ ấy với người khác, và một sự tương tác tích cực với những người em tiếp xúc, luôn luôn là điều những người em gặp gỡ mong muốn; người ta [483] luôn muốn đến gần em hơn; họ đã khao khát biết em rõ hơn và được phụng sự cũng như có ý nghĩa đối với em. Với tư cách là một người điều hành, em luôn sẵn sàng; với tư cách là một linh hồn trong một phàm ngã, em đã sống đời riêng của mình tách khỏi người khác; em không dễ được tiếp xúc hay được biết đến; em chưa bao giờ đáp ứng trước sự tiếp cận, và những phản ứng của em đối với những người mong muốn tiếp xúc đã mang tính thụ động, ngay cả vào những lúc chính em muốn có một tương quan gần gũi hơn. Chính trong điều này có nhiệm vụ và vấn đề của em cho những năm còn lại của đời em. Huynh đệ của Tôi, xin hãy học cách hướng ra ngoài một cách cá nhân đối với những người em gặp và những người mà đời sống cùng hoàn cảnh đưa em vào sự liên kết. Hãy thoát ra—dù điều đó có khó khăn—khỏi những hình tư tưởng đang tác động lên em mạnh mẽ đến thế, thường dựa trên một phức cảm tự ti; hãy từ chối để những yếu tố tác động rất mạnh lên con người được đào luyện, có văn hóa, và con người là sản phẩm của truyền thống, của di sản tốt đẹp và của nhiều thế hệ tổ tiên văn minh, kiểm soát em.

Your work with children has also tended to set you apart and make you the victim of an enforced loneliness. You could ever be free and magnetic with them but they intruded not upon the entrenched and enforced fortress of your being. You must now fit yourself to teach adults in your next incarnation, and this will necessitate a different approach and one which will invoke and involve every aspect of your being. The disciple teaches principally by what he is and by giving all of himself to all whom he meets. He moves outward spontaneously when someone comes within range of his possibility of contact. This is almost unknown to you. The lesson, therefore, which the trained disciple has to master is one of discernment. He needs to learn discrimination in contact if he is to avoid a useless, if well intentioned, promiscuity.

Công việc của em với trẻ em cũng có khuynh hướng đặt em tách biệt và khiến em trở thành nạn nhân của một sự cô độc bị áp đặt. Em luôn có thể tự do và có từ tính với chúng, nhưng chúng không xâm nhập vào pháo đài cố thủ và bị áp đặt của bản thể em. Giờ đây em phải chuẩn bị chính mình để giảng dạy người trưởng thành trong lần lâm phàm kế tiếp, và điều này sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận khác, một cách sẽ khẩn cầu và bao gồm mọi phương diện của bản thể em. Đệ tử giảng dạy chủ yếu bằng điều y là và bằng cách trao toàn bộ bản thân mình cho tất cả những người y gặp. Y tự phát hướng ra ngoài khi một người nào đó đi vào phạm vi khả năng tiếp xúc của y. Điều này hầu như xa lạ với em. Vì vậy, bài học mà đệ tử được huấn luyện phải làm chủ là bài học về phân biện tinh thần. Y cần học sự phân biện trong tiếp xúc nếu muốn tránh một sự bừa bãi vô ích, dù có thiện ý.

The stage of the world is so set at this time that there is full opportunity for you to find a wide sphere of contact, to work in full cooperation with other people and with co-disciples, and thus to force yourself to release the magnetic power of your soul-infused personality. Your inner development is greater by far than your outer expression; you need not, consequently, work with perseverance at interior unfoldment; [484] you need to strain after outer ability to contact, to influence and to evoke response from all and sundry with whom your lot may be cast. Rebuffs, misunderstandings and lack of response will be natural at first until your “technique of contact” is discovered by you and established in action. Each disciple develops his own technique. You have yet to discover yours.

Sân khấu thế giới vào lúc này được sắp đặt đến mức có đầy đủ cơ hội cho em tìm được một phạm vi tiếp xúc rộng, làm việc trong sự hợp tác trọn vẹn với người khác và với các đệ tử đồng môn, và nhờ đó buộc chính mình giải phóng quyền năng từ tính của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của em. Sự phát triển bên trong của em lớn hơn nhiều so với biểu hiện bên ngoài của em; do đó, em không cần phải làm việc một cách kiên trì vào sự khai mở nội tâm; [484] em cần phải nỗ lực vươn tới khả năng bên ngoài để tiếp xúc, gây ảnh hưởng và gợi lên đáp ứng từ mọi người và bất cứ ai mà số phận đưa đến với em. Sự khước từ, hiểu lầm và thiếu đáp ứng sẽ là điều tự nhiên lúc ban đầu, cho đến khi “kỹ thuật tiếp xúc” của em được chính em khám phá và thiết lập trong hành động. Mỗi đệ tử phát triển kỹ thuật riêng của mình. Em vẫn còn phải khám phá kỹ thuật của em.

As with some others, I give you three words upon which I would ask you to reflect as time elapses, and from which you can expect definite results if there is any truth in the aphorism that “as a man thinketh in his heart, so is he.”

Cũng như với một số người khác, Tôi trao cho em ba từ mà Tôi xin em suy ngẫm theo thời gian, và từ đó em có thể mong đợi những kết quả rõ ràng nếu có chút chân lý nào trong châm ngôn rằng “như một người suy nghĩ trong tim mình, y là như vậy.”

The first word which I would suggest is Contact. Much soul contact and contact also with your group brothers on interior levels is easy for you and presents no difficulties, even if you believe it not. You have a well established contact along these lines, but your physical brain does not yet register it adequately. That is due entirely to conditions of insensitivity, inherent in your brain cells, and is of no great moment. From the standpoint of your daily meditation, I would ask you to go forth to each day’s work with the intention of magnetically attracting (in order to help and serve) at least three people—either known to you or unknown. You might find it useful (at least for a time) to keep a diary of contacts; you should enter into it a conversation by means of which you got close to someone, a contact with some stranger which seemed fruitful and interesting, or a joint piece of work which you carried out in full comprehension with someone else. This will develop in you an outgoing spirit and an interest in the whole process of contact. It is through contacts and the development of a resultant mechanism, plus a habit of magnetic rapport, which is the secret of all expansions of relationships, and this is preliminary to initiation. Think on this, for it has its major importance to you.

Từ đầu tiên Tôi muốn gợi ý là Tiếp xúc. Nhiều tiếp xúc linh hồn và cả tiếp xúc với các huynh đệ trong nhóm của em trên các cấp độ nội tâm đều dễ dàng đối với em và không gây khó khăn nào, dù em có tin điều đó hay không. Em có một tiếp xúc được thiết lập vững chắc theo những đường hướng này, nhưng bộ não hồng trần của em vẫn chưa ghi nhận nó đầy đủ. Điều đó hoàn toàn do những tình trạng thiếu nhạy bén, vốn cố hữu trong các tế bào não của em, và không có tầm quan trọng lớn. Từ lập trường của việc tham thiền hằng ngày của em, Tôi xin em đi vào công việc mỗi ngày với ý định thu hút bằng từ tính, nhằm giúp đỡ và phụng sự, ít nhất ba người—hoặc em quen biết, hoặc em không quen biết. Em có thể thấy hữu ích, ít nhất trong một thời gian, khi giữ một nhật ký về các tiếp xúc; em nên ghi vào đó một cuộc trò chuyện nhờ đó em đã đến gần một người nào đó, một tiếp xúc với một người lạ có vẻ kết quả và thú vị, hoặc một phần công việc chung mà em đã thực hiện trong sự thấu hiểu trọn vẹn với một người khác. Điều này sẽ phát triển nơi em một tinh thần hướng ra ngoài và một sự quan tâm đến toàn bộ tiến trình tiếp xúc. Chính qua các tiếp xúc và sự phát triển của một bộ máy phát sinh từ đó, cộng với thói quen tương quan từ tính, mà có bí quyết của mọi sự mở rộng các mối quan hệ, và điều này là bước chuẩn bị cho điểm đạo. Hãy suy nghĩ về điều này, vì nó có tầm quan trọng lớn đối với em.

The second word which I want to give you is Impression. This word gives you much scope for reflection, invoking as it does the entire problem of sensitive response to inner contacts and outer relations. It is the key to the development of a trained psychologist and is a branch of that aspect of the universal mind which we call truth. The power of correctly [485] registered impression, the ability rightly to interpret it and then to draw from it correct deduction, is the secret of all diagnosis where psychology is concerned. When this is taken into consideration by a disciple in relation to people contacted, it is of enormous usefulness; impression—when analysed and the results of analysis are employed—presents a most useful study, particularly to people like you.

Từ thứ hai Tôi muốn trao cho em là Ấn tượng. Từ này mở ra cho em nhiều phạm vi để suy ngẫm, vì nó gợi mở toàn bộ vấn đề đáp ứng nhạy bén đối với các tiếp xúc bên trong và các quan hệ bên ngoài. Nó là chìa khóa cho sự phát triển của một nhà tâm lý học được huấn luyện, và là một nhánh của phương diện ấy của Trí Tuệ Vũ Trụ mà chúng ta gọi là chân lý. Quyền năng ghi nhận đúng [485] ấn tượng, khả năng diễn giải nó đúng đắn rồi rút ra từ đó suy luận chính xác, là bí quyết của mọi chẩn đoán trong lĩnh vực tâm lý học. Khi một đệ tử xem xét điều này trong liên hệ với những người được tiếp xúc, nó có sự hữu dụng vô cùng lớn; ấn tượng—khi được phân tích và các kết quả phân tích được sử dụng—đem lại một môn học rất hữu ích, đặc biệt đối với những người như em.

Finally, I would ask you to reflect upon the word Relationship. I would have you do this with the specialised objective of understanding how you, as a disciple in training, can set up those relationships which will bring aid and strength to others and thus sustain the work of the Ashram. I do not intend to enlarge upon this as I want you to arrive at your own conclusions and knowledges.

Cuối cùng, Tôi xin em suy ngẫm về từ Quan hệ. Tôi muốn em làm điều này với mục tiêu chuyên biệt là thấu hiểu cách em, với tư cách là một đệ tử đang được huấn luyện, có thể thiết lập những quan hệ sẽ đem lại sự trợ giúp và sức mạnh cho người khác, và nhờ đó nâng đỡ công việc của ashram. Tôi không định nói rộng thêm về điều này, vì Tôi muốn em tự đi đến các kết luận và hiểu biết của riêng mình.

What I am really doing, my brother, is indicating to you the field of your future training—a training which will engross the remainder of your life. This training must be self-initiated and it must ever be undertaken in order to fit you to work in the Ashram, as a branch of the great Ashram of the Hierarchy. You are peculiarly fitted for this work; you need only to release the magnetic quality of your already developed nature and thus break down the barriers which may exist; thus you will find your field of service tremendously extended and your potency brought into the field of a realised inclusiveness.

Điều Tôi thật sự đang làm, huynh đệ của Tôi, là chỉ ra cho em lĩnh vực huấn luyện tương lai của em—một sự huấn luyện sẽ chiếm trọn phần còn lại của đời em. Sự huấn luyện này phải do chính em khởi xướng, và nó phải luôn được thực hiện nhằm làm cho em đủ thích hợp để làm việc trong ashram, như một nhánh của ashram vĩ đại của Thánh Đoàn. Em đặc biệt thích hợp cho công việc này; em chỉ cần giải phóng phẩm tính từ tính của bản chất đã phát triển nơi em, và nhờ đó phá vỡ những rào cản có thể tồn tại; như vậy em sẽ thấy lĩnh vực phụng sự của mình được mở rộng vô cùng, và sức mạnh của em được đưa vào lĩnh vực của một tính bao gồm đã được chứng nghiệm.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

It is in no way your fault that this group on the physical plane is being disbanded until the next life cycle of the majority of the members has arrived. It is distressing that the work on the physical plane has to end, but a close and honest analysis on the part of the group itself would probably show that the major reaction is a blend of two reactions: first of all, that they could not integrate and, secondly, a sense of loss because my communications with all of you have exoterically ended. Both of these are personality reactions. From the standpoint of a Master Who knows the unimportance of [486] years, both of these reactions are of small importance. Few of you are really young; some of you are quite old, though none of you are as old as I am; in a relatively short time all of you will drop the outer handicap of the physical body and be ready for a fresh spiritual enterprise. Esoterically (if any of you so wish it), the situation remains unaltered, provided you keep it so yourselves. The inner contact is still there, exactly as it was before; the goal ahead for each of you is just the same and the door into my Ashram stands wide open to those who fulfil the requirements.

Việc nhóm này trên cõi hồng trần bị giải tán cho đến khi chu kỳ đời sống kế tiếp của đa số thành viên đến hoàn toàn không phải lỗi của em. Thật đáng buồn khi công việc trên cõi hồng trần phải kết thúc, nhưng một phân tích kỹ lưỡng và trung thực từ chính nhóm có lẽ sẽ cho thấy phản ứng chính là sự pha trộn của hai phản ứng: trước hết, rằng họ đã không thể tích hợp, và thứ hai, một cảm thức mất mát bởi vì các thông điệp của Tôi với tất cả các em đã kết thúc về mặt ngoại môn. Cả hai điều này đều là những phản ứng của phàm ngã. Từ lập trường của một Chân sư, Đấng biết sự không quan trọng của [486] năm tháng, cả hai phản ứng này đều ít quan trọng. Ít người trong các em thật sự trẻ; một số em đã khá già, dù không ai trong các em già như Tôi; trong một thời gian tương đối ngắn, tất cả các em sẽ bỏ lại chướng ngại bên ngoài của thể xác và sẵn sàng cho một cuộc phiêu lưu tinh thần mới. Một cách huyền bí, nếu bất kỳ ai trong các em muốn như vậy, tình thế vẫn không thay đổi, miễn là chính các em giữ nó như thế. Sự tiếp xúc bên trong vẫn còn đó, y như trước; mục tiêu phía trước đối với mỗi em vẫn y như vậy, và cánh cửa vào ashram của Tôi rộng mở cho những ai đáp ứng các yêu cầu.

What, my brother, is basically your goal? Taking into consideration your ray and type, it is to infuse your personality with soul energy. This is in the nature of a platitude and you may well respond that this is true of all aspirants. This is assuredly so, but your particular soul-objective in this life was to bring this soul energy down from the subtler bodies into the three worlds so that they can charge the brain. This charging will result in a hastened development of soul quality as it can be demonstrated upon the physical plane.

Huynh đệ của Tôi, về căn bản, mục tiêu của em là gì? Khi xét đến cung và loại của em, đó là thấm nhuần phàm ngã của em bằng năng lượng linh hồn. Điều này có tính chất của một lời sáo rỗng, và em có thể đáp rằng điều này đúng với tất cả những người chí nguyện. Điều này chắc chắn là đúng, nhưng mục tiêu linh hồn đặc thù của em trong đời này là đưa năng lượng linh hồn này xuống từ các thể vi tế hơn vào ba cõi giới, để chúng có thể nạp điện cho bộ não. Việc nạp điện này sẽ dẫn đến sự phát triển nhanh hơn của phẩm tính linh hồn khi nó có thể được biểu lộ trên cõi hồng trần.

As I have told you before, you are well developed on the inner planes, but your exoteric expression of this inner unfoldment is not adequately dynamic; it does not make adequate impress on the outer conditions of living. This you know. You have, I feel sure, pondered and studied the three words—Contact, Impression and Relationship—I gave you in my last instruction. I am equally confident that your approach was along the line of strengthening your contact with me, the Ashram and the group; to render yourself sensitive to spiritual impression, and also to see that your relationship was right in two directions: towards the Ashram and towards your fellowmen. That is all to the good but—for the sake of your own development and increased usefulness—I would have you take those same three words and (for the remainder of your life) direct your thinking towards contact with your fellowmen, towards the type of impression which you can establish—an impression which will enable them to impress others with the desire to discover truth and to persevere until the end. It will also involve your establishing with them an [487] educational relationship evoked by the quality of your approach to them and the “satisfying tincture” of your life, as one of the Masters has expressed it.

Như Tôi đã nói với em trước đây, em phát triển tốt trên các cõi bên trong, nhưng biểu hiện ngoại môn của sự khai mở nội tâm này chưa đủ năng động; nó không tạo được ấn tượng đầy đủ lên các điều kiện bên ngoài của đời sống. Điều này em biết. Tôi tin chắc rằng em đã suy ngẫm và nghiên cứu ba từ—Tiếp xúc, Ấn tượng và Quan hệ—mà Tôi đã trao cho em trong chỉ thị trước. Tôi cũng tin chắc rằng cách tiếp cận của em là theo đường hướng củng cố tiếp xúc của em với Tôi, với ashram và với nhóm; làm cho chính em nhạy bén với ấn tượng tinh thần, và cũng thấy rằng quan hệ của em là đúng theo hai hướng: hướng về ashram và hướng về đồng loại của em. Tất cả điều đó đều tốt, nhưng—vì sự phát triển riêng và sự hữu dụng gia tăng của em—Tôi muốn em lấy chính ba từ ấy và, trong phần còn lại của đời em, hướng tư tưởng của em đến tiếp xúc với đồng loại của em, đến loại ấn tượng mà em có thể thiết lập—một ấn tượng sẽ giúp họ in dấu nơi người khác ước muốn khám phá chân lý và kiên trì cho đến cùng. Điều đó cũng sẽ bao gồm việc em thiết lập với họ một [487] quan hệ giáo dục được gợi lên bởi phẩm tính trong cách em tiếp cận họ và “sắc thái làm thỏa mãn” của đời sống em, như một trong các Chân sư đã diễn đạt.

Therefore for you, until I see you on the other side of the separating veil, there must be the expression of the three types of work—expressed in two directions: the stabilising of that expression towards the Ashram (and that, with you, is well-nigh a habit and need not, therefore, form a drive), and also an intensified effort to work out the meaning of these words with your fellowmen. That will be very much harder. There is so much dammed up spiritual power in you; if you released it whenever possible and in all directions, you would be surprised at the result. You could then make the last years of your life fruitful and rewarding, far more than they have ever been in the past. Your life has been a life of loveliness, though somewhat dimmed by negativity.

Do đó, đối với em, cho đến khi Tôi gặp em ở phía bên kia của bức màn chia cách, cần có sự biểu hiện của ba loại công việc—được biểu hiện theo hai hướng: sự ổn định hóa biểu hiện ấy hướng về ashram, và điều đó, nơi em, gần như là một thói quen nên không cần trở thành một động lực thúc đẩy, đồng thời cũng là một nỗ lực được tăng cường để triển khai ý nghĩa của những từ này với đồng loại của em. Điều đó sẽ khó hơn rất nhiều. Có quá nhiều quyền năng tinh thần bị ngăn lại trong em; nếu em giải phóng nó bất cứ khi nào có thể và theo mọi hướng, em sẽ ngạc nhiên trước kết quả. Khi ấy, em có thể làm cho những năm cuối đời mình trở nên kết quả và mãn nguyện, hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì đã từng có trong quá khứ. Đời sống của em đã là một đời sống đẹp đẽ, dù phần nào bị làm lu mờ bởi tính thụ động.

You are in process of stepping over the periphery of the Ashram towards its centre. It needs only a little dynamic effort on your part to give you the unquestioning assurance that you are within the ring-pass-not of the Ashram and are functioning as a conscious disciple. Most of the group are not yet at that stage. The Ashram enfolds you all, but the next move is for each and all of you—without aid or help—to step over the mental barrier which keeps you from conscious knowledge and which (when accomplished) will enable the Ashram to give you “the freedom of the city.”

Em đang trong tiến trình bước qua chu vi của ashram để tiến về trung tâm của nó. Chỉ cần một nỗ lực năng động nhỏ nơi em cũng đủ đem lại cho em sự xác tín không chút nghi ngờ rằng em đang ở bên trong vòng-giới-hạn của ashram và đang hoạt động như một đệ tử hữu thức. Phần lớn nhóm chưa đạt đến giai đoạn đó. Ashram bao bọc tất cả các em, nhưng bước kế tiếp là mỗi người và tất cả các em — không có sự trợ giúp hay nâng đỡ — phải bước qua hàng rào trí tuệ vốn ngăn em khỏi tri thức hữu thức, và điều này, khi đã hoàn thành, sẽ khiến ashram có thể ban cho em “quyền tự do của thành phố.”

One of the ideas which disciples would find it helpful to grasp is that the process of passing over to the other side involves no discontinuance of the three processes of Contact, Impression and Relationship. These being the three words with which I earlier impressed you and which seem to me today to be of major importance in your life, I would have you grasp, if possible, somewhat the permanence of their importance. With the mass of ordinary humanity, focussed in all their activities and their thinking upon the physical plane, the period after death is one of semi-consciousness, of a failure to recognise location, and of emotional and mental bewilderment. With disciples there is still contact with people (usually those with whom they have been associated) in [488] the hours of sleep; there is still the reception of impression from environment and associates, and there is still the recognition of relation with (as on earth) the assumption of responsibility.

Một trong những ý tưởng mà các đệ tử sẽ thấy hữu ích khi nắm bắt là tiến trình vượt sang phía bên kia không hề bao hàm sự gián đoạn của ba tiến trình Tiếp xúc, Ấn tượng và Liên hệ. Đây là ba từ mà trước kia Tôi đã ghi khắc nơi em, và hôm nay đối với Tôi dường như có tầm quan trọng chủ yếu trong đời sống em; Tôi muốn em, nếu có thể, phần nào nắm bắt được tính bền vững trong tầm quan trọng của chúng. Đối với đại đa số nhân loại bình thường, những người tập trung mọi hoạt động và tư tưởng của mình trên cõi hồng trần, giai đoạn sau khi chết là một giai đoạn bán hữu thức, không nhận ra vị trí, và bối rối về cảm xúc lẫn trí tuệ. Đối với các đệ tử, vẫn còn sự tiếp xúc với con người, thường là những người mà họ đã từng liên hệ, trong [488] những giờ ngủ; vẫn còn sự tiếp nhận ấn tượng từ môi trường và các cộng sự; và vẫn còn sự nhận biết mối liên hệ, với việc đảm nhận trách nhiệm như khi còn ở trần gian.

One of the students in this group asked me a question some time ago which I have been long in answering. As it has a bearing on the subject we are considering, I shall answer it here. After a few subsidiary comments the student said: “I can still the outer shells or bodies, but have not dared to let go the connecting cord. Is it safe? Can you see my condition and can you tell me?” My reply is quite simple and I know he will understand:

Cách đây ít lâu, một đạo sinh trong nhóm này đã hỏi Tôi một câu hỏi mà Tôi đã chậm trả lời. Vì câu hỏi ấy có liên quan đến đề tài chúng ta đang xem xét, Tôi sẽ trả lời tại đây. Sau một vài nhận xét phụ, đạo sinh ấy nói: “Tôi có thể làm yên lặng các lớp vỏ hay các thể bên ngoài, nhưng chưa dám buông bỏ sợi dây nối kết. Điều đó có an toàn không? Ngài có thể thấy tình trạng của tôi và cho tôi biết không?” Câu trả lời của Tôi rất đơn giản, và Tôi biết y sẽ hiểu:

Were you twenty years younger, my brother, with perfect safety you could break the connecting link, but owing to your age it is not, at this time, right so to do. There are some you have yet to help and one or two threads as yet to gather up. Undue strain upon the physical vehicle—no matter whether one is young or old—is never necessary and often of a harmful nature. Many aspirants in this group, in the Arcane School and elsewhere, are in training for work in the New Age and in the next life cycle, and their realisation is often bigger than the present equipment of brain cells warrants. Therefore, knowledge and registered expansion of consciousness is temporarily withheld until a better physical vehicle is available. I mention this because some suffer from discouragement when, after years of work and the achievement of old age, they find themselves registering a static condition, or what they deem to be static. There is no need for such a feeling, but there is need for care and the progression of the interior work, e’en when the external recording is apparently lacking.

Huynh đệ của Tôi, nếu em trẻ hơn hai mươi tuổi, em có thể cắt đứt mối liên kết ấy một cách hoàn toàn an toàn; nhưng do tuổi tác của em, vào lúc này làm như thế là không đúng. Vẫn còn một số người em phải giúp đỡ, và một hai sợi dây em còn phải thu gom lại. Sự căng thẳng quá mức đặt lên vận cụ hồng trần — bất kể người ta trẻ hay già — không bao giờ cần thiết và thường có tính chất tai hại. Nhiều người chí nguyện trong nhóm này, trong Trường Arcane và ở nơi khác, đang được huấn luyện cho công việc trong Kỷ Nguyên Mới và trong chu kỳ đời sống kế tiếp, và sự chứng nghiệm của họ thường lớn hơn mức trang bị hiện tại của các tế bào não cho phép. Vì vậy, tri thức và sự mở rộng tâm thức đã được ghi nhận tạm thời được giữ lại cho đến khi có một vận cụ hồng trần tốt hơn. Tôi nêu điều này vì một số người bị nản lòng khi, sau nhiều năm làm việc và đã đạt đến tuổi già, họ thấy mình ghi nhận một tình trạng tĩnh tại, hoặc điều mà họ cho là tĩnh tại. Không cần có cảm giác như thế, nhưng cần có sự thận trọng và sự tiến triển của công việc nội tâm, ngay cả khi sự ghi nhận bên ngoài dường như thiếu vắng.

To resume with your own instruction, if you would care to increase the capacity of the three activities—contact, impression, relationship—you might follow a simple exercise when going to sleep at night.

Trở lại với huấn thị riêng của em, nếu em muốn gia tăng năng lực của ba hoạt động — tiếp xúc, ấn tượng, liên hệ — em có thể thực hành một bài tập đơn giản khi đi ngủ vào ban đêm.

After achieving complete comfort, as far as may be possible, attempt to assume an inner attitude of planned, quiet discarding of the physical body, keeping the whole concept upon the mental plane, yet realising it to be a simple brain [489] activity. The heart is in no way to be involved. Your objective is to preserve consciousness as you withdraw it from the brain and pass out on the subtler levels of awareness. You are not discarding the physical body permanently, therefore the life thread anchored in the heart is not involved. The aim is, for a few hours and whilst clothed in the astral and mental vehicles, to be consciously aware elsewhere. With determination you become a focussed, interested point of consciousness, intent on emerging from the casing of the physical body. That point you hold, refusing to look backward at the physical vehicle, or at the worries, interests and circumstances of daily life, fixedly waiting for the moment when your negative attitude to the physical plane and your positive attitude to the inner planes will bring a moment of release, perhaps a flash of light, the perception of an aperture of escape, or the recognition of your surroundings, plus the elimination of all surprise or the expectation of any phenomena.

Sau khi đạt được sự thoải mái trọn vẹn, trong chừng mực có thể, hãy cố gắng đảm nhận một thái độ nội tâm của việc có kế hoạch, lặng lẽ gạt bỏ thể xác, giữ toàn bộ quan niệm trên cõi trí, nhưng vẫn nhận ra đó là một hoạt động đơn giản của bộ não [489]. Trái tim tuyệt đối không được liên can. Mục tiêu của em là duy trì tâm thức khi em rút nó khỏi bộ não và bước ra trên các cấp độ nhận thức tinh vi hơn. Em không vĩnh viễn gạt bỏ thể xác, vì thế sinh mệnh tuyến được neo trong tim không liên can. Mục tiêu là, trong vài giờ và khi khoác lấy các vận cụ cảm dục và trí tuệ, trở nên hữu thức nhận biết ở nơi khác. Với quyết tâm, em trở thành một điểm tâm thức tập trung và chú tâm, có ý định thoát ra khỏi lớp vỏ của thể xác. Em giữ điểm ấy, từ chối nhìn lui về vận cụ hồng trần, hoặc về những lo âu, mối quan tâm và hoàn cảnh của đời sống hằng ngày, kiên định chờ đợi khoảnh khắc khi thái độ âm tính của em đối với cõi hồng trần và thái độ dương tính của em đối với các cõi bên trong sẽ đem lại một khoảnh khắc giải thoát, có lẽ là một tia sáng lóe lên, sự nhận biết một khe thoát ra, hoặc sự nhận ra môi trường chung quanh em, cộng với việc loại bỏ mọi ngạc nhiên hay mong đợi bất cứ hiện tượng nào.

You are (as you practice this exercise of withdrawal) only going through an ordinary everyday process. If facility in doing this exercise is achieved, the hour of death will find you automatically and easily—because the physical body is making no resistance but remains quiescent and negative—able to make the Great Transition without concern or fear of the unknown. This is an exercise I would like to see all the group undertake. It involves only the steady preservation of an attitude, a fixed determination to hold on to the point of consciousness which is your persistent Self, plus a live expectancy. I have chosen these words with care and would ask you to study them with equal care.

Khi thực hành bài tập rút lui này, em chỉ đang trải qua một tiến trình bình thường hằng ngày. Nếu đạt được sự dễ dàng trong việc thực hiện bài tập này, giờ chết sẽ thấy em tự động và dễ dàng — vì thể xác không kháng cự mà vẫn yên lặng và âm tính — có thể thực hiện Cuộc Chuyển Tiếp Lớn mà không lo lắng hay sợ hãi điều chưa biết. Đây là một bài tập mà Tôi muốn thấy toàn nhóm thực hiện. Nó chỉ bao hàm việc đều đặn duy trì một thái độ, một quyết tâm cố định để bám giữ điểm tâm thức vốn là Bản Ngã bền bỉ của em, cộng với một sự mong đợi sống động. Tôi đã chọn những từ này một cách cẩn trọng và xin em nghiên cứu chúng với sự cẩn trọng tương tự.

I would like also to formulate your meditation along these three concepts of Contact, Impression and Relationship. The length of the meditation is entirely dependent upon your own choice or temporary need; it is susceptible of application to all or any circumstances and you could use it for the remainder of your life (many years or few) without exhausting its possibilities or usefulness. The outline is not a rigid form, as are so many which I have given to the group. It is intended simply to be suggestive. You can make your life a rich experience by the use of these suggestions: [490]

Tôi cũng muốn xây dựng bài tham thiền của em quanh ba quan niệm này: Tiếp xúc, Ấn tượng và Liên hệ. Độ dài của bài tham thiền hoàn toàn tùy thuộc vào sự chọn lựa hay nhu cầu tạm thời của riêng em; nó có thể áp dụng cho mọi hoàn cảnh hoặc bất cứ hoàn cảnh nào, và em có thể sử dụng nó trong suốt phần đời còn lại của mình, dù nhiều năm hay ít năm, mà không làm cạn kiệt các khả năng hay sự hữu ích của nó. Dàn ý này không phải là một hình thức cứng nhắc như nhiều bài Tôi đã trao cho nhóm. Nó chỉ nhằm gợi ý. Em có thể làm cho đời sống mình trở thành một kinh nghiệm phong phú bằng cách sử dụng những gợi ý này: [490]

1. Poise yourself at the “door of exit” in the head. Realise that that point is one from which you can look outward upon the world of physical living, inward upon the world of the emotions or of mental perception, or upward towards the soul. These three directions form a triangle of projected sensitivity.

1. Hãy giữ quân bình tại “cửa thoát” trong đầu. Hãy nhận ra rằng điểm ấy là điểm từ đó em có thể nhìn ra ngoài vào thế giới của đời sống hồng trần, vào trong vào thế giới của các cảm xúc hoặc của tri giác trí tuệ, hoặc lên trên hướng về linh hồn. Ba hướng này tạo thành một tam giác của sự nhạy cảm được phóng chiếu.

Then sound the OM three times, bearing these directions in mind.

Rồi xướng linh từ OM ba lần, ghi nhớ các hướng này trong tâm trí.

2. Take then the word Contact into your consciousness and ponder upon these three fields of contact in which it is possible for you to move—the physical plane, the kama-manasic plane, and the kingdom of the soul. Study these planes of possible and unavoidable contact (for the aspiring disciple) and study them from the angle of things as they are. When you have somewhat exhausted this work of familiarising yourself with the possible contacts, remembering that this particular work will make your life fruitful in all three directions:

2. Kế đó, hãy đưa từ Tiếp xúc vào tâm thức em và suy ngẫm về ba trường tiếp xúc này, nơi em có thể vận hành — cõi hồng trần, cõi trí-cảm, và giới của linh hồn. Hãy nghiên cứu các cõi tiếp xúc khả hữu và không thể tránh khỏi này đối với người đệ tử chí nguyện, và nghiên cứu chúng từ góc độ của sự vật như chúng là. Khi em đã phần nào hoàn tất công việc làm quen với các tiếp xúc khả hữu này, hãy nhớ rằng công việc đặc biệt này sẽ làm cho đời sống em sinh hoa kết quả theo cả ba hướng:

Then again sound the OM and attempt to withdraw to a point of silent contemplation upon the mental plane. Again sound the OM.

Rồi lại xướng linh từ OM và cố gắng rút về một điểm chiêm ngưỡng thầm lặng trên cõi trí. Lại xướng linh từ OM.

3. The fact of the possibility of Impression now must engross your attention. You begin to study the general tenor and the outstanding lessons which physical, astral or mental contact makes on you, what they have done for you during this life cycle or during the past week or day; then definitely and with full concentrated interest and attention—you orient yourself to the soul; you stand consciously ready for impression. What that impression will convey, what thought will come to you or what call to service will sound forth, you know not. Your attitude is one of a radiant, silent, poised expectancy, and nothing else is permitted. This you must work to attain. Note (if it comes) the emergence of some clear thought, the clarification of some bewilderment, the expansion of some mental perception into an intuition, with its consequent expansion of [491] consciousness. You can give as long or as short a time to this as you choose, but never less than ten minutes.

3. Giờ đây, sự kiện về khả năng tiếp nhận Ấn tượng phải chiếm trọn sự chú ý của em. Em bắt đầu nghiên cứu sắc thái tổng quát và những bài học nổi bật mà tiếp xúc hồng trần, cảm dục hoặc trí tuệ tạo ra nơi em, những gì chúng đã làm cho em trong chu kỳ đời sống này hoặc trong tuần hay ngày vừa qua; rồi một cách dứt khoát, với sự quan tâm và chú ý tập trung trọn vẹn — em định hướng chính mình về linh hồn; em đứng hữu thức sẵn sàng cho ấn tượng. Ấn tượng ấy sẽ truyền đạt điều gì, tư tưởng nào sẽ đến với em, hay lời kêu gọi phụng sự nào sẽ vang lên, em không biết. Thái độ của em là một sự mong đợi rạng rỡ, thầm lặng, quân bình, và không điều gì khác được phép xen vào. Em phải nỗ lực để đạt được điều này. Hãy ghi nhận, nếu nó đến, sự xuất hiện của một tư tưởng rõ ràng nào đó, sự sáng tỏ của một điều bối rối nào đó, sự mở rộng của một tri giác trí tuệ nào đó thành một trực giác, với sự mở rộng tâm thức theo sau của nó. [491] Em có thể dành cho việc này thời gian dài hay ngắn tùy ý, nhưng không bao giờ ít hơn mười phút.

Then orient yourself to me, your Master and friend for many years, and again wait. Perchance there may be something I may have to say to you. You will note that I have used the word “orient” in both cases; I have not said “achieve contact.” The task of receiving impression is not an easy one, and you may have to work some time on these different levels before you register any definite response from an achieved contact, for that is what it then will be.

Rồi hãy định hướng chính mình về Tôi, Chân sư và người bạn của em trong nhiều năm, và lại chờ đợi. Có thể có điều gì đó Tôi cần nói với em. Em sẽ lưu ý rằng Tôi đã dùng từ “định hướng” trong cả hai trường hợp; Tôi không nói “đạt được tiếp xúc.” Nhiệm vụ tiếp nhận ấn tượng không phải là việc dễ dàng, và em có thể phải làm việc một thời gian trên các cấp độ khác nhau này trước khi ghi nhận bất cứ đáp ứng rõ rệt nào từ một tiếp xúc đã đạt được, vì khi ấy nó chính là như vậy.

Then sound the OM twice.

Rồi xướng linh từ OM hai lần.

4. Having reached as high a point of contact as you can, at any given time, you then begin to reorient yourself to the physical plane and the life of daily experience through a systematised process of Relationships. You assume—as a disciple on the physical plane—responsibility for those relationships (to the Ashram and to me) through service planned and rendered; to the soul through fusion, rendered expressive on the mental plane; to the group emotional expression, and to your fellowmen. Grasp these recognitions of relationships, both as they affect your daily life expression and in relation to others with whom you live and work, down on the physical plane. Again, you bring this concept of essential relationships to the effect you have, as a human being on the Path, to all you meet and seek to aid. Couple ever with this thought the idea of responsibility.

4. Khi đã đạt đến điểm tiếp xúc cao nhất mà em có thể đạt được vào bất cứ thời điểm nào, em bắt đầu tái định hướng chính mình về cõi hồng trần và đời sống kinh nghiệm hằng ngày qua một tiến trình Liên hệ có hệ thống. Với tư cách là một đệ tử trên cõi hồng trần, em đảm nhận trách nhiệm đối với các liên hệ ấy: đối với ashram và đối với Tôi, qua sự phụng sự được hoạch định và thực hiện; đối với linh hồn, qua sự dung hợp được biểu lộ trên cõi trí; đối với biểu lộ cảm xúc của nhóm, và đối với đồng loại của em. Hãy nắm bắt những nhận biết về các mối liên hệ này, cả khi chúng ảnh hưởng đến biểu lộ đời sống hằng ngày của em lẫn trong tương quan với những người khác mà em sống và làm việc cùng, dưới cõi hồng trần. Một lần nữa, em đem quan niệm về các liên hệ thiết yếu này vào tác động mà em có, với tư cách một con người trên Đường Đạo, đối với tất cả những ai em gặp và tìm cách trợ giúp. Hãy luôn kết hợp với tư tưởng này ý tưởng về trách nhiệm.

Then sound the OM.

Rồi xướng linh từ OM.

5. Next say the Invocation beginning with the stanza

5. Kế đó hãy đọc Lời Khấn Nguyện bắt đầu bằng bài kệ

“From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let Light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth,”

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

and sound the OM three times. Please note that the OM in this meditation is to be sounded inaudibly.

và xướng linh từ OM ba lần. Xin lưu ý rằng OM trong bài tham thiền này phải được xướng thầm, không phát ra tiếng.

If you will follow these suggestions, my brother, you will make rapid progress into spiritual objectivity, and your light [492] will shine forth more radiantly. I, your Master, know your inner radiance. Permit the world of outer things to know it too. The wishes, coming from my heart for you, surround you.

Huynh đệ của Tôi, nếu em theo những gợi ý này, em sẽ tiến bộ nhanh chóng trong sự biểu hiện tinh thần ra ngoại giới, và ánh sáng của em [492] sẽ tỏa chiếu rạng rỡ hơn. Tôi, Chân sư của em, biết sự rạng rỡ bên trong của em. Hãy để thế giới của những sự vật bên ngoài cũng biết điều đó. Những lời chúc lành từ trái tim Tôi dành cho em đang bao quanh em.

To I. A. P. – Gửi I. A. P.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ CỦA NGÀY XƯA:

In the present world upheaval and with its steady approach to the western hemisphere, it is not easy for world disciples—with their unusual sensitivity—to detach themselves from the general psychic condition. Yet the aim of each pledged and obligated disciple (such as you are, my brother, by your own proving—which is the only sure testimony) must be to hold a subjective attitude of detached contact—an occult paradox!—and at the same time to carry forward the life of active service upon the physical plane. This is your problem and one which you will have increasingly to face in the future. The present situation must and will touch all nations and every disciple will be tested and will have to express the utmost that is in him in service. I point this out so that you can comprehend the present and be prepared for the future.

Trong cơn biến động hiện nay của thế giới, và khi nó đều đặn tiến gần đến bán cầu tây, thật không dễ cho các đệ tử thế giới — với sự nhạy cảm khác thường của họ — tách rời khỏi tình trạng thông linh chung. Tuy nhiên, mục tiêu của mỗi đệ tử đã phát nguyện và có bổn phận, như em là vậy, huynh đệ của Tôi, do chính sự chứng minh của em, vốn là chứng tích chắc chắn duy nhất, phải là giữ một thái độ nội tại của sự tiếp xúc tách rời — một nghịch lý huyền bí! — và đồng thời tiếp tục đời sống phụng sự tích cực trên cõi hồng trần. Đây là vấn đề của em, và là điều em sẽ ngày càng phải đối diện trong tương lai. Tình thế hiện tại phải và sẽ chạm đến mọi quốc gia, và mỗi đệ tử sẽ được thử thách, sẽ phải biểu lộ tối đa những gì có trong y qua phụng sự. Tôi nêu điều này để em có thể thấu hiểu hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.

I write to you as a soul and not as a personality and would ask you to study the implications of that attitude which I hold towards you. For the remainder of your life there should be a close application to the establishing of the gained soul contact and the training of the inner attentive man to catch the communications of the soul, plus the dedicated will to forget all personality applications in the meeting of surrounding need—as far as you can in your own country and allied nations. This may come to you as a surprising statement but at the close of the war, the period of rebuilding and the establishing of right human relations may (I do not say it will, for the constant element of freewill must enter in) force each disciple to work in those places where earlier effort, the ties of karma and national heritage, and inclination [493] determine his personal allegiance. This will be true for you too but only time will indicate whether you work with close relationship or from a distance—the first being preferable, if possible. I ask you simply to hold these possibilities in mind, to avoid fanatical conclusions, and to be prepared to work where the opportunity confronts you.

Tôi viết cho em như viết cho một linh hồn chứ không phải cho một phàm ngã, và xin em nghiên cứu những hàm ý của thái độ mà Tôi giữ đối với em. Trong phần đời còn lại, cần có sự chuyên cần mật thiết trong việc thiết lập tiếp xúc linh hồn đã đạt được, và trong việc huấn luyện con người nội tâm chăm chú để nắm bắt các truyền thông của linh hồn, cộng với ý chí thánh hiến nhằm quên đi mọi ứng dụng của phàm ngã khi đáp ứng nhu cầu chung quanh, trong chừng mực em có thể tại đất nước của mình và các quốc gia đồng minh. Điều này có thể đến với em như một phát biểu gây ngạc nhiên, nhưng vào cuối cuộc chiến, thời kỳ tái thiết và thiết lập các mối quan hệ nhân loại đúng đắn có thể, Tôi không nói là sẽ, vì yếu tố thường hằng của ý chí tự do phải tham dự vào, buộc mỗi đệ tử phải làm việc tại những nơi mà nỗ lực trước kia, các ràng buộc của nghiệp quả và di sản quốc gia, cùng khuynh hướng [493] quy định lòng trung thành cá nhân của y. Điều này cũng sẽ đúng với em, nhưng chỉ thời gian mới cho thấy em làm việc trong mối liên hệ gần gũi hay từ xa — điều thứ nhất là đáng ưa chuộng hơn, nếu có thể. Tôi chỉ xin em giữ những khả năng này trong tâm trí, tránh các kết luận cuồng tín, và sẵn sàng làm việc nơi nào cơ hội đối diện với em.

The glamour to which I referred in my first communication to you this year (Vol. I, Page 188) is being handled by you with right attitude and common sense. For this I commend you, reminding you always that soul contact is universal and inclusive in its effects but that the separative mind (even at soul levels) can still differentiate and place imparted truths under categories and sources. It is the imparted truths, the teaching and the inspiration which is of moment and this fact I believe that you are learning. I, the Master D.K., am a member of the Hierarchy and am teaching you through your own soul on mental levels, in the world of glamour at times also, and exoterically upon the physical plane through a much older disciple, A.A.B., who transmits to you my ideas. Through me, however, and through your contact with me (which is based on the recognition and unfoldment of your soul) you are en rapport with a world of spiritual inspiration and awareness which you can appreciate. Appropriate it, my brother, and transmit the teaching to those you serve but be not occupied or interested in the sources or origins of this teaching. They matter not. Nevertheless, the responsibility of the teacher rests upon you. The teacher should be so occupied with the need of the taught and with the clarification of the truth, as it is given to him, in terms that they can comprehend that he cannot be side-tracked through undue interest in the origin of the revelation.

Ảo cảm mà Tôi đã đề cập trong thông điệp đầu tiên gửi em năm nay, Quyển I, Trang 188, đang được em xử lý với thái độ đúng đắn và lẽ thường. Vì điều này Tôi khen ngợi em, đồng thời luôn nhắc em rằng tiếp xúc linh hồn có tính phổ quát và bao gồm trong các hiệu quả của nó, nhưng thể trí chia rẽ, ngay cả ở các cấp độ linh hồn, vẫn có thể phân biệt và đặt những chân lý được truyền đạt vào các phạm trù và nguồn gốc. Điều quan trọng là những chân lý được truyền đạt, giáo huấn và cảm hứng; Tôi tin rằng em đang học được sự kiện này. Tôi, Chân sư D.K., là một thành viên của Thánh Đoàn và đang dạy em qua chính linh hồn của em trên các cấp độ trí tuệ, đôi khi cũng trong thế giới của ảo cảm, và một cách ngoại môn trên cõi hồng trần qua một đệ tử lớn tuổi hơn nhiều, Bà A.A.B., người truyền đạt các ý tưởng của Tôi cho em. Tuy nhiên, qua Tôi và qua sự tiếp xúc của em với Tôi, vốn đặt nền trên sự nhận biết và khai mở của linh hồn em, em đang hòa hợp với một thế giới của cảm hứng và nhận thức tinh thần mà em có thể trân trọng. Hãy tiếp nhận nó, huynh đệ của Tôi, và truyền đạt giáo huấn cho những người em phụng sự, nhưng đừng bận tâm hay quan tâm đến các nguồn hay xuất xứ của giáo huấn này. Chúng không quan trọng. Tuy nhiên, trách nhiệm của người dạy đặt trên em. Người dạy phải bận tâm đến nhu cầu của người được dạy và đến việc làm sáng tỏ chân lý, như nó được trao cho y, bằng những thuật ngữ mà họ có thể thấu hiểu, đến mức y không thể bị lạc hướng bởi sự quan tâm quá mức đến nguồn gốc của sự thiên khải.

A.A.B. here reminds me that I have not given you the rays which control your personality. Your major rays—I and II—are identical with those of J.W.K-P. and C.A.C., and should lead to a satisfactory understanding between you. This combination of the first and the second rays—governing either the soul or the personality—is the dominating influence in this work which I am attempting at this time to do. They are to be found quite often in this group and this [494] is to be expected owing to the fact that the Masters M. and K.H. are the overshadowing influences behind my efforts. Seven of the group members are conditioned by these energies and most of the others have the second ray present either in their personality or egoic expressions. This should be noted as definitely colouring the group and creating (if I might so express it) the group note. Of these potencies the whole group can, therefore, avail itself for it means that the inflow of understanding, light and love is thereby greatly facilitated.

Ở đây Bà A.A.B. nhắc Tôi rằng Tôi chưa trao cho em các cung kiểm soát phàm ngã của em. Các cung chính của em — I và II — giống hệt với các cung của J.W.K-P. và C.A.C., và nên dẫn đến sự thấu hiểu thỏa đáng giữa các em. Sự kết hợp của cung một và cung hai này — cai quản hoặc linh hồn hoặc phàm ngã — là ảnh hưởng chủ đạo trong công việc mà lúc này Tôi đang cố gắng thực hiện. Chúng xuất hiện khá thường xuyên trong nhóm này, và điều này [494] có thể được mong đợi do sự kiện rằng các Chân sư M. và K.H. là những ảnh hưởng phủ bóng phía sau các nỗ lực của Tôi. Bảy thành viên của nhóm chịu tác động của các năng lượng này, và phần lớn những người khác có cung hai hiện diện hoặc trong biểu lộ phàm ngã hoặc chân ngã của họ. Cần lưu ý điều này vì nó rõ rệt tô màu nhóm và tạo ra, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, âm điệu của nhóm. Vì thế, toàn nhóm có thể sử dụng các quyền năng này, bởi điều đó có nghĩa là dòng tuôn vào của sự thấu hiểu, ánh sáng và bác ái nhờ vậy được tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều.

The rays of your personality are as follows:

Các cung của phàm ngã em như sau:

Mental body—The fourth Ray of Harmony through Conflict.

Thể trí — Cung bốn của Hòa Hợp qua Xung Đột.

Astral body—The first Ray of Power.

Thể cảm dục — Cung một của Quyền Năng.

Physical body—The third Ray of Active Intelligence.

Thể xác — Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động.

This constitutes an interesting combination and produces a close relation and a line of least resistance in connection with the soul ray, through the medium of the brain (embodying the third ray force) and the astral body. I would point out to you that the brain is ever composed of atoms and cell units which vibrate to the energy of the ray which controls the physical body. This is a basic occult fact given out in a definite statement for the first time but ever deducible and implied when the student studies intelligently and has a real grasp of basic esoteric implications. Through the powerful aspiration of your first ray astral body (which is in fact transmuted desire) and its intelligent expression, and through the third ray power of your directing, awakening brain, soul contact is fairly easy of achievement for you at this particular point in your evolution. Your real problem is to free the results of this contact from distortion and glamour by the power of the illumined mind—an illumination achieved through conflict and discrimination and resulting (when the victory is gained) in the harmonising of soul and its form on earth.

Điều này tạo thành một sự kết hợp thú vị và sinh ra một mối liên hệ gần gũi cùng một con đường ít trở ngại nhất liên quan đến cung linh hồn, qua trung gian của bộ não, vốn thể hiện mãnh lực cung ba, và thể cảm dục. Tôi muốn chỉ cho em thấy rằng bộ não luôn được cấu thành bởi các nguyên tử và đơn vị tế bào rung động theo năng lượng của cung kiểm soát thể xác. Đây là một sự kiện huyền bí căn bản, lần đầu tiên được đưa ra trong một phát biểu rõ ràng, nhưng luôn có thể suy ra và được hàm ý khi đạo sinh nghiên cứu một cách thông minh và thật sự nắm bắt các hàm ý huyền bí căn bản. Nhờ khát vọng mạnh mẽ của thể cảm dục cung một của em, vốn thực ra là dục vọng đã được chuyển hoá, và sự biểu lộ thông minh của nó, cùng nhờ quyền năng cung ba của bộ não đang điều khiển và thức tỉnh của em, tiếp xúc linh hồn khá dễ đạt được đối với em tại điểm đặc biệt này trong tiến hoá của em. Vấn đề thật sự của em là giải phóng các kết quả của tiếp xúc này khỏi sự méo mó và ảo cảm bằng quyền năng của thể trí được soi sáng — một sự soi sáng đạt được qua xung đột và phân biện, và đưa đến, khi chiến thắng đạt được, sự hài hòa giữa linh hồn và hình tướng của nó trên trần gian.

I would like, therefore, to give some meditation exercises [495] which will facilitate the achievement of this clear vision and a correct interpretation of emerging facts and relations.

Vì vậy, Tôi muốn trao một vài bài tập tham thiền [495] sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được tầm nhìn rõ ràng này và một sự diễn giải đúng đắn về các sự kiện và các mối liên hệ đang xuất hiện.

I. Exercise prior to Meditation:

I. Bài tập trước khi tham thiền:

1. Stand erect, facing your soul. Then say audibly, if possible:

1. Hãy đứng thẳng, đối diện với linh hồn của em. Rồi nói thành tiếng, nếu có thể:

“I accept the responsibility of discipleship which my soul has placed upon me.”

“Tôi chấp nhận trách nhiệm của địa vị đệ tử mà linh hồn tôi đã đặt lên tôi.”

2. Then pause a minute, endeavouring to realise the full significance of this undertaking. Then dismiss it.

2. Rồi dừng lại một phút, cố gắng nhận ra trọn vẹn thâm nghĩa của cam kết này. Rồi buông nó đi.

3. Again face your soul and say:

3. Lại đối diện với linh hồn của em và nói:

“I accept with joy and with confidence and with a sense of comradeship, my share in the responsibility of making the spiritual work in the world successful.”

“Tôi chấp nhận với sự hoan hỉ, với lòng tin cậy và với ý thức về tình đồng chí, phần trách nhiệm của tôi trong việc làm cho công việc tinh thần trên thế giới thành công.”

4. Pause again, trying to grasp the true implications of this pledge.

4. Lại dừng lại, cố gắng nắm bắt các hàm ý chân thật của lời nguyện này.

II. Meditation Work:

II. Công việc tham thiền:

1. Sit erect but relaxed. Withdraw the consciousness inward in successive stages, using the imagination in so doing. The imagination is a creative activity, producing definite inner change. Upon this you can depend because it is one of the forces influencing substance itself. Therefore,

1. Ngồi thẳng nhưng thư giãn. Rút tâm thức vào trong theo các giai đoạn liên tiếp, sử dụng sự tưởng tượng khi làm như vậy. Sự tưởng tượng là một hoạt động sáng tạo, tạo ra sự thay đổi nội tâm rõ rệt. Em có thể trông cậy vào điều này vì nó là một trong các mãnh lực ảnh hưởng đến chính chất liệu. Vì vậy,

a. Withdraw from the physical brain, after definitely focussing your consciousness there. Withdraw to the astral plane.

a. Rút khỏi bộ não hồng trần, sau khi đã dứt khoát tập trung tâm thức em ở đó. Rút về cõi cảm dục.

b. Withdraw from the astral body to the mental body. From that point recognise yourself as an integrated personality.

b. Rút khỏi thể cảm dục về thể trí. Từ điểm đó, hãy nhận biết chính mình như một Phàm ngã tích hợp.

c. Withdraw from the personality into the soul.

c. Rút khỏi phàm ngã vào linh hồn.

2. As you do this work, try to see the thread of golden light which connects these three aspects of yourself. At the same time keep your consciousness steadily focussed in the head at the centre between the eyebrows, the ajna centre. This thread—dual in nature, like two golden cables intertwined—passes [496] from the heart and connects you, the personality, with the soul.

2. Khi em làm công việc này, hãy cố gắng thấy sợi dây ánh sáng vàng nối kết ba phương diện này của chính em. Đồng thời hãy giữ tâm thức em tập trung vững vàng trong đầu, tại trung tâm giữa hai chân mày, trung tâm ajna. Sợi dây này — có bản chất kép, như hai sợi cáp vàng đan vào nhau — đi [496] từ trái tim và nối kết em, phàm ngã, với linh hồn.

3. Having achieved this alignment and withdrawing, and having thus related the three aspects of the personality, quietly realise three facts:

3. Khi đã đạt được sự chỉnh hợp và sự rút lui này, và nhờ đó đã liên hệ ba phương diện của phàm ngã, hãy lặng lẽ nhận ra ba sự kiện:

a. That you are now face to face with your own soul, standing before the Angel of the Presence.

a. Rằng giờ đây em đang mặt đối mặt với linh hồn của chính mình, đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện.

b. That you, this angelic Being, are essentially Reality, manifesting through three aspects.

b. Rằng em, Sinh Mệnh thiên thần này, về bản chất là Thực Tại, biểu hiện qua ba phương diện.

c. That therefore separation does not exist.

c. Rằng vì thế sự chia cách không tồn tại.

4. Then say with emphasis and understanding:

4. Rồi nói với sự nhấn mạnh và thấu hiểu:

“Having pervaded this world of the little manifested self with one fraction of my greater Self, I remain, greater, wider, inclusive and therefore overshadowing all my daily living.”

“Sau khi thấm nhuần thế giới này của tiểu ngã biểu hiện bằng một phần nhỏ của Bản Ngã lớn hơn của tôi, tôi vẫn tồn tại, lớn hơn, rộng hơn, bao gồm hơn và vì thế phủ bóng lên toàn bộ đời sống hằng ngày của tôi.”

Ponder on this for five minutes.

Hãy suy ngẫm về điều này trong năm phút.

5. Then add to the above the following statement:

5. Rồi thêm vào điều trên phát biểu sau:

“I, the manifesting Self, through the magical power of my nature, redeem, reabsorb and revitalise this fraction, dwelling in my form.”

“Tôi, Bản Ngã đang biểu hiện, qua quyền năng huyền thuật của bản chất mình, cứu chuộc, tái hấp thu và tiếp sinh lực cho phần nhỏ này đang cư ngụ trong hình tướng của tôi.”

6. Then sound the OM three times:

6. Rồi xướng linh từ OM ba lần:

a. Sound it mentally, breathing forth radiance on to the mental plane.

a. Xướng nó bằng trí, thở ra sự rạng rỡ trên cõi trí.

b. Sound it next in a whisper, breathing forth the dispelling power of Light on to the astral plane.

b. Kế đó xướng nó bằng tiếng thì thầm, thở ra quyền năng xua tan của Ánh sáng trên cõi cảm dục.

c. Then sound it audibly, breathing illumination on to the physical plane.

c. Rồi xướng nó thành tiếng, thở ra sự soi sáng trên cõi hồng trần.

7. This is followed by a period of listening or what is called esoterically “egoic conversation.”

7. Tiếp theo là một giai đoạn lắng nghe, hay điều được gọi một cách huyền bí là “cuộc trò chuyện chân ngã.”

I have, my brother, in this instruction given you much food for thought, also the basis for real encouragement and an indication of your needed line of approach to reality. [497]

Huynh đệ của Tôi, trong huấn thị này Tôi đã trao cho em nhiều điều đáng suy ngẫm, cũng như nền tảng cho sự khích lệ chân thật và một chỉ dẫn về đường lối tiếp cận thực tại mà em cần. [497]

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. The disciple has to learn a discrimination for which the discriminative personality has prepared him.

1. Đệ tử phải học một sự phân biện mà phàm ngã có khả năng phân biện đã chuẩn bị cho y.

2. Gigantic thoughtforms dominate the sons of men, speak through a nation, focus through a group. Lean on your Soul.

2. Những hình tư tưởng khổng lồ chi phối những người con của nhân loại, nói qua một quốc gia, tập trung qua một nhóm. Hãy nương tựa vào Linh hồn của em.

3. Your field of service has been real, but older threads of service must later be re-grasped. Prepare.

3. Trường phụng sự của em đã có thật, nhưng về sau những sợi dây phụng sự cũ hơn phải được nắm lại. Hãy chuẩn bị.

4. Sensitivity to Those Who guide and know may indicate a mental interplay. You reach Their “forms of thought.” Discriminate.

4. Sự nhạy cảm đối với Những Đấng hướng dẫn và hiểu biết có thể biểu thị một sự tương tác trí tuệ. Em chạm đến “các hình thức tư tưởng” của Các Ngài. Hãy phân biện.

5. There is a triangle of force with which you should remain in closest touch—Myself, F.B., and A.A.B. Stay close.

5. Có một tam giác mãnh lực mà em nên giữ sự tiếp xúc gần gũi nhất — Tôi, F.B., và A.A.B. Hãy ở gần.

6. Learn to use others in your work and train them so that they too may serve their fellowmen. This you can do. It is your Soul’s behest, your personality’s denial.

6. Hãy học cách sử dụng người khác trong công việc của em và huấn luyện họ để họ cũng có thể phụng sự đồng loại của mình. Điều này em có thể làm. Đó là mệnh lệnh của Linh hồn em, là điều phàm ngã em phủ nhận.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I have seemed to you perhaps to have been silent and to have left you somewhat to yourself. Such is not, however, the case in reality. You have walked ever under my watchful eye, but there was little that I could do until you had somewhat broken the “intent to loneliness” with which your personality has so constantly met the advances of your soul. This personality reaction you are learning rapidly, as a conscious soul, to repudiate. Loneliness, isolation, a sense of being deserted and a separativeness (based on sensitivity in most cases) distinguish the first ray disciple, until he learns to preserve his divine sense of “unified identity” whilst merging, at the same time, with others. This again you are learning to do.

Có lẽ đối với em, Tôi dường như đã im lặng và phần nào để em tự lo cho mình. Tuy nhiên, trong thực tế không phải như vậy. Em luôn bước đi dưới con mắt chăm chú của Tôi, nhưng có rất ít điều Tôi có thể làm cho đến khi em phần nào phá vỡ “ý định hướng đến cô đơn” mà phàm ngã của em đã quá thường xuyên dùng để đáp lại những bước tiến của linh hồn em. Với tư cách là một linh hồn hữu thức, em đang nhanh chóng học cách bác bỏ phản ứng phàm ngã này. Sự cô đơn, cô lập, cảm giác bị bỏ rơi và sự chia rẽ, trong phần lớn trường hợp đặt nền trên sự nhạy cảm, là những nét phân biệt của đệ tử cung một cho đến khi y học cách duy trì ý thức thiêng liêng về “bản sắc hợp nhất” của mình trong khi đồng thời hòa nhập với những người khác. Điều này em cũng đang học làm.

You have had by no means an easy time, my brother. You have tuned in on world distress and are discovering yourself doing so with increasing and oft distressing frequency. Thus are the sons of God trained and brought to the point of detached and spiritually oriented servers.

Huynh đệ của Tôi, em đã không hề có một thời gian dễ dàng. Em đã bắt sóng nỗi thống khổ của thế giới và đang khám phá rằng mình làm như vậy với tần suất ngày càng tăng và thường gây đau khổ. Chính như thế những Con của Thượng đế được huấn luyện và được đưa đến điểm trở thành những người phụng sự tách rời và được định hướng tinh thần.

I would like to take this opportunity to express to you my appreciation (if such an inadequate word is aught but [498] meaningless!) of the constant and untiring service to the Plan which you have so ceaselessly rendered. You have for years—ever since you first returned to Spain, and later in the place of your present abode—undeviatingly followed the path of ceaseless, constant service. You have reached and have helped many. I would have you know that we are not unmindful; I would have you realise that the work which you do is planned by us and that your task is to render yourself sensitive to our “impression.” This developed sensitivity is ever a difficult task for the first ray person. They prefer to stand alone and to generate within themselves the plans which they consider fitted for the type of service which they seek to render. But today disciples are learning that a fused and organised and blended plan or scheme of world-wide service is required, and that a master Plan of the Hierarchy must be carried out, and that into this Plan all disciples, including you, must endeavour to fit.

Tôi muốn nhân cơ hội này bày tỏ với em sự trân trọng của Tôi, nếu một từ ngữ bất xứng như thế có gì khác hơn [498] là vô nghĩa, đối với sự phụng sự không ngừng và không mệt mỏi cho Thiên Cơ mà em đã liên tục thực hiện. Trong nhiều năm — kể từ khi em lần đầu trở lại Tây Ban Nha, và về sau tại nơi cư trú hiện nay của em — em đã kiên định theo con đường phụng sự không dứt, bền bỉ. Em đã chạm đến và giúp đỡ nhiều người. Tôi muốn em biết rằng chúng tôi không hề không lưu tâm; Tôi muốn em nhận ra rằng công việc em làm do chúng tôi hoạch định, và nhiệm vụ của em là khiến mình nhạy cảm với “ấn tượng” của chúng tôi. Sự nhạy cảm được phát triển này luôn là một nhiệm vụ khó khăn đối với người cung một. Họ thích đứng một mình và tự mình phát sinh những kế hoạch mà họ cho là phù hợp với loại phụng sự họ tìm cách thực hiện. Nhưng ngày nay các đệ tử đang học rằng cần có một Thiên Cơ hay hệ thống phụng sự toàn thế giới được dung hợp, tổ chức và hòa trộn, rằng một Thiên Cơ chủ đạo của Thánh Đoàn phải được thực hiện, và rằng mọi đệ tử, kể cả em, phải cố gắng đặt mình vào Thiên Cơ này.

Have you studied with care the six statements I gave you a year ago? I want today to call your attention to the third statement; this set of words should condition your planning for the future, particularly the sentence: “Older threads of planning must later be re-grasped.” You started work for us in another country. Your major karmic destiny lies there, even if you return not there physically or for any length of time. The Plan must be served. I would ask you to prepare to re-establish the work you started, once the war in Europe is over. I would ask you to prepare to locate there again, if necessary, and to begin by communicating with as many as you can who earlier worked with you, seeking again to get in touch with all of them and along the original spiritual lines. I did not say along the original organised lines. I would ask you to do so at first in a definitely personal manner, writing friendly and personal letters and ascertaining the news and the condition of those who earlier worked with you as members of the Arcane School. They will form the nucleus of the spiritual work we seek to do and which you can aid greatly in re-establishing.

Em đã nghiên cứu cẩn thận sáu phát biểu Tôi trao cho em một năm trước chưa? Hôm nay Tôi muốn kêu gọi sự chú ý của em đến phát biểu thứ ba; tập hợp lời này nên tác động lên việc hoạch định tương lai của em, đặc biệt là câu: “Những sợi dây hoạch định cũ hơn về sau phải được nắm lại.” Em đã bắt đầu công việc cho chúng tôi ở một quốc gia khác. Định mệnh nghiệp quả chính của em nằm ở đó, dù em không trở lại đó về mặt thể xác hay trong một thời gian dài. Thiên Cơ phải được phụng sự. Tôi xin em chuẩn bị tái thiết lập công việc em đã khởi sự, một khi chiến tranh tại châu Âu kết thúc. Tôi xin em chuẩn bị đặt mình lại ở đó, nếu cần, và bắt đầu bằng cách liên lạc với càng nhiều người càng tốt trong số những người trước kia đã làm việc với em, lại tìm cách tiếp xúc với tất cả họ theo những đường hướng tinh thần ban đầu. Tôi không nói theo những đường hướng tổ chức ban đầu. Tôi xin em lúc đầu làm điều này theo một cách thức rõ rệt mang tính cá nhân, viết những lá thư thân tình và riêng tư, tìm hiểu tin tức và tình trạng của những người trước kia đã làm việc với em với tư cách là thành viên của Trường Arcane. Họ sẽ tạo thành hạt nhân của công việc tinh thần mà chúng tôi tìm cách thực hiện, và em có thể trợ giúp rất nhiều trong việc tái thiết lập nó.

The work of salvaging Europe, spiritually and psychologically, which is our main preoccupation, must go on. It [499] must be entirely divorced from politics and partisanships, and I am asking all of you who are my pledged workers to move forward in this spiritual undertaking. Your link with the Master R. should help you much in taking adequate action in cooperation with A.A.B. and F.B. The triangle of force thus formed is strengthened by its link with my Brother, R. Where Spain is concerned, the picture is as follows:

Công việc cứu vãn châu Âu, về mặt tinh thần và tâm lý, vốn là mối bận tâm chính của chúng tôi, phải tiếp tục. Nó [499] phải hoàn toàn tách khỏi chính trị và đảng phái, và Tôi đang yêu cầu tất cả các em, những người hoạt động đã phát nguyện của Tôi, tiến bước trong công cuộc tinh thần này. Mối liên kết của em với Chân sư R. sẽ giúp em rất nhiều trong việc có hành động thích đáng khi hợp tác với Bà A.A.B. và F.B. Tam giác mãnh lực được hình thành như vậy được tăng cường bởi mối liên kết của nó với Huynh Đệ của Tôi, Chân sư R. Liên quan đến Tây Ban Nha, bức tranh như sau:

*…. Master R.

*…. Chân sư R.

*…. Master D.K.

*…. Chân sư D.K.

* *…. A.A.B., F.B.

* *…. A.A.B., F.B.

*…. I.A.P.

*…. I.A.P.

You will note here the direct line of spiritual force descending from the Master R., via D.K. to yourself, with F.B. and A.A.B. standing by as protecting agents on either side. They aid and sponsor all your efforts.

Em sẽ lưu ý ở đây đường thẳng của mãnh lực tinh thần giáng xuống từ Chân sư R., qua Chân sư D.K. đến chính em, với F.B. và Bà A.A.B. đứng hai bên như những tác nhân bảo hộ. Họ trợ giúp và bảo trợ mọi nỗ lực của em.

Much will be opening up rapidly now in the field of European assistance, and for this, in your place and sphere, you must begin to prepare. The spiritual demand of humanity is great and the need to be met is gigantic, but you have the equipment and enough surviving links in that ancient peninsula (where your work began) to salvage some remnants of the School and thus reconstitute a spiritual focal point in that land. Begin, therefore, to lay your plans. Write letters. Locate your students. Establish contact, and step by step, the way will open up before you and the work to be done will clarify. Count on your inner strength and rely on your inner spiritual contacts. Feel not futile or inadequate to the task, for in these days of urgent distress the aid given to—and consequently by—one disciple is greatly intensified and increased.

Giờ đây nhiều điều sẽ nhanh chóng mở ra trong lĩnh vực trợ giúp châu Âu, và đối với điều này, tại vị trí và phạm vi hoạt động của em, em phải bắt đầu chuẩn bị. Nhu cầu tinh thần của nhân loại rất lớn và nhu cầu cần được đáp ứng là khổng lồ, nhưng em có trang bị và đủ các mối liên kết còn tồn tại trên bán đảo cổ xưa ấy, nơi công việc của em đã bắt đầu, để cứu vãn một số tàn dư của Trường và nhờ đó tái cấu thành một điểm tập trung tinh thần tại vùng đất ấy. Vì vậy, hãy bắt đầu đặt ra các kế hoạch của em. Hãy viết thư. Hãy tìm các môn sinh của em. Hãy thiết lập tiếp xúc, và từng bước một, con đường sẽ mở ra trước em và công việc cần làm sẽ sáng tỏ. Hãy trông cậy vào sức mạnh bên trong của em và nương tựa vào các tiếp xúc tinh thần nội tâm của em. Đừng cảm thấy mình vô ích hay không đủ sức với nhiệm vụ, vì trong những ngày khốn khó cấp bách này, sự trợ giúp được trao cho — và do đó được trao qua — một đệ tử được tăng cường và gia tăng rất nhiều.

One suggestion I would here make to you personally. On receipt of this instruction, will you take a full month for the establishing of such a close contact with your own soul that love, enthusiasm, wisdom and certain fundamental spiritual [500] recognitions (which must ever condition the life of an accepted disciple) will flood your whole being? Day by day link up with your soul; day by day pledge yourself to the work to be undertaken; day by day seek a deepened relation with me, with my Ashram, and with your group brothers; day by day investigate your service as rendered up to date in the searchlight of the soul, and then, my brother, with my aid and blessing go forward, recognised by us as one of our spiritual assets. Work to bring the light of love and of spiritual orientation to those whom you are called to serve—in the place where you now are, and increasingly in the future in the place of your earlier service. Again, I recall to you the closing words of the second statement: Lean on your soul.

Ở đây Tôi muốn đưa ra cho riêng em một gợi ý. Khi nhận huấn thị này, em có sẵn lòng dành trọn một tháng để thiết lập một tiếp xúc gần gũi đến mức với linh hồn của chính mình, đến nỗi tình thương, nhiệt thành, minh triết và những nhận biết tinh thần [500] nền tảng nào đó, vốn phải luôn tác động lên đời sống của một đệ tử được chấp nhận, sẽ tràn ngập toàn thể con người em không? Ngày qua ngày hãy liên kết với linh hồn em; ngày qua ngày hãy tự nguyện dấn thân vào công việc sẽ đảm nhận; ngày qua ngày hãy tìm một mối liên hệ sâu sắc hơn với Tôi, với ashram của Tôi, và với các huynh đệ trong nhóm của em; ngày qua ngày hãy khảo sát sự phụng sự em đã thực hiện cho đến nay dưới ánh sáng soi chiếu của linh hồn, rồi, huynh đệ của Tôi, với sự trợ giúp và lời chúc lành của Tôi, hãy tiến tới, được chúng tôi nhìn nhận như một trong những tài sản tinh thần của chúng tôi. Hãy làm việc để đem ánh sáng của tình thương và của sự định hướng tinh thần đến cho những người mà em được kêu gọi phụng sự — tại nơi em hiện đang ở, và ngày càng nhiều hơn trong tương lai tại nơi phụng sự trước kia của em. Một lần nữa, Tôi nhắc em nhớ những lời kết của phát biểu thứ hai: Hãy nương tựa vào linh hồn em.

I assign to you no particular meditation. I believe that the group meditation will give you all you need along this line, and the reflection upon emerging opportunity and the planning for the reopening work will suffice to provide due expression for thought, for holding the mind steady in the light, and for the required meditative concentration.

Tôi không chỉ định cho em bài tham thiền đặc biệt nào. Tôi tin rằng bài tham thiền nhóm sẽ đem lại cho em tất cả những gì em cần theo đường hướng này, và sự suy ngẫm về cơ hội đang xuất hiện cùng việc hoạch định cho công việc tái mở sẽ đủ để cung cấp sự biểu lộ thích đáng cho tư tưởng, cho việc giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng, và cho sự tập trung tham thiền cần thiết.

My instructions to you are occupied with the theme of work, are they not, my brother? But that, to you, is life. It is needless for me to tell you that the success of the coming reorganisation and the success of your spiritual effort will be largely dependent upon the depth of your individual spiritual focus, the closeness of your link with your own soul, and the recognition of your “attachment” (technically speaking) to my Ashram. These are the A B C of your relationship to me as an accepted disciple.

Các huấn thị của Tôi dành cho em bận tâm đến chủ đề công việc, có phải không, huynh đệ của Tôi? Nhưng đối với em, đó là đời sống. Không cần Tôi phải nói với em rằng thành công của sự tái tổ chức sắp tới và thành công của nỗ lực tinh thần của em sẽ phần lớn tùy thuộc vào chiều sâu của sự tập trung tinh thần cá nhân của em, sự gần gũi trong mối liên kết của em với linh hồn của chính mình, và sự nhận biết về “sự gắn kết” của em, nói theo nghĩa kỹ thuật, với ashram của Tôi. Đây là những điều căn bản trong mối quan hệ của em với Tôi với tư cách là một đệ tử được chấp nhận.

Until such time as your outer course of action appears clearer to you, and until the way opens up for a resumption of work, earlier started, you have two things therefore to do. I am but summarising.

Cho đến khi đường lối hành động bên ngoài của em hiện ra rõ ràng hơn đối với em, và cho đến khi con đường mở ra cho việc nối lại công việc đã bắt đầu trước kia, vì vậy em có hai điều phải làm. Tôi chỉ tóm lược thôi.

1. Deepen the content of your own inner spiritual life by mature, profound daily reflection, carried forward on all levels of thought and in every interlude in your daily life of service and of work. Endeavour to sense the note or the vibration of the Ashram and to establish [501] a much closer link with your group brothers. They value you and must also do their part.

1. Hãy làm sâu sắc nội dung của đời sống tinh thần bên trong của chính em bằng sự suy ngẫm hằng ngày chín chắn và sâu xa, được tiến hành trên mọi cấp độ tư tưởng và trong mỗi quãng ngưng trong đời sống phụng sự và làm việc hằng ngày của em. Hãy cố gắng cảm nhận âm điệu hay rung động của ashram và thiết lập [501] một mối liên kết gần gũi hơn nhiều với các huynh đệ trong nhóm của em. Họ quý trọng em và cũng phải làm phần việc của họ.

2. Lay your plans for increased School activity, and concentrate also upon the work of the Triangles. Prepare definitely for the future, and seek also for those who can aid in your planned work.

2. Hãy đặt ra các kế hoạch của em cho hoạt động gia tăng của Trường, và cũng tập trung vào công việc của các Tam Giác. Hãy chuẩn bị dứt khoát cho tương lai, và cũng tìm kiếm những người có thể trợ giúp trong công việc đã hoạch định của em.

The future ahead of my workers and the work to be done which will emanate from my Ashram is one of great activity. The plans are outlined and the work assigned is clearly proposed. I receive my instructions from a “joint committee” of the spiritual leaders behind the world scene; They are the senior members of the Hierarchy, working under the Christ. They arrive at Their decisions after due consultation with senior workers, such as myself—Masters and initiates above the third initiation. Thus the work becomes fused and blended, and the entire Hierarchy, at a time of crisis such as the present, is swung into one unified activity. From that point of focussed intention each then proceeds to carry out the Plan, via Their Ashram, and thus the work makes its impact upon the outer world.

Tương lai phía trước những người hoạt động của Tôi và công việc cần làm, vốn sẽ xuất lộ từ ashram của Tôi, là một tương lai của hoạt động lớn lao. Các kế hoạch đã được phác thảo và công việc được giao đã được đề xuất rõ ràng. Tôi nhận các huấn thị của mình từ một “ủy ban chung” gồm các vị lãnh đạo tinh thần phía sau bối cảnh thế giới; Các Ngài là những thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, làm việc dưới quyền Đức Christ. Các Ngài đi đến các quyết định của mình sau khi tham khảo thích đáng với những người hoạt động cao cấp, như chính Tôi — các Chân sư và các điểm đạo đồ trên lần điểm đạo thứ ba. Nhờ vậy công việc trở nên dung hợp và hòa trộn, và toàn thể Thánh Đoàn, vào một thời kỳ khủng hoảng như hiện nay, được đưa vào một hoạt động thống nhất. Từ điểm chủ ý tập trung ấy, mỗi vị rồi tiến hành thực hiện Thiên Cơ, qua ashram của Các Ngài, và nhờ vậy công việc tạo tác động lên thế giới bên ngoài.

I explain this to you as you are preparing to become an ever more intimate member in the “circle of the Ashram” which guards the heart of the hierarchical life.

Tôi giải thích điều này cho em vì em đang chuẩn bị trở thành một thành viên ngày càng mật thiết hơn trong “vòng tròn của ashram”, vốn bảo vệ trái tim của đời sống thánh đoàn.

With courage and with determination, my brother and my friend, move forward upon the Lighted Way.

Huynh đệ và bạn của Tôi, với lòng can đảm và quyết tâm, hãy tiến bước trên Con Đường được Soi Sáng.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

MY COMRADE AND MY BROTHER:

ĐỒNG CHÍ VÀ HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

These are two appellations which are sincere and intended. You are at this time facing changes. The choice with which you are confronted is not so much where you will work, but whether you have arrived at a high water mark in your developed life of service and can therefore go no further, or whether there are still to be found in you those springs of interest and those inner urges which will enable you to reach outward and further into the life of the spirit. [502] Such is oft the choice with which the disciple is faced who reaches close to the three score years and ten of ordinary human enterprise, as you do today. The difficulty lies in the fact that, fundamentally, either decision is right. Few, however, face the choice consciously or intelligently or, having made it, abide by the decision made. From the standpoint of the ordinary aspirant, the choice is relatively unimportant because the time equation is of no great moment at this stage; a few years more or less are of no import in the eternity of soul reaction. Therefore, a decision to relax, to hold the point gained, but to refrain from further struggle, has in it no room for criticism. Remember this.

Đây là hai danh xưng chân thành và có chủ ý. Vào lúc này em đang đối diện với những thay đổi. Sự chọn lựa đặt trước em không hẳn là em sẽ làm việc ở đâu, mà là liệu em đã đạt đến một mực nước cao trong đời sống phụng sự đã phát triển của mình và vì thế không thể tiến xa hơn nữa, hay vẫn còn tìm thấy trong em những nguồn mạch quan tâm và những thôi thúc bên trong sẽ khiến em vươn ra ngoài và tiến xa hơn vào đời sống của tinh thần. [502] Đây thường là sự chọn lựa mà đệ tử phải đối diện khi y tiến gần đến tuổi bảy mươi của nỗ lực nhân sinh bình thường, như em hôm nay. Khó khăn nằm ở chỗ, về căn bản, quyết định nào cũng đúng. Tuy nhiên, ít người đối diện sự chọn lựa ấy một cách hữu thức hay thông minh, hoặc sau khi đã quyết định thì tuân thủ quyết định đã đưa ra. Từ lập trường của người chí nguyện bình thường, sự chọn lựa tương đối không quan trọng, vì yếu tố thời gian không có ý nghĩa lớn ở giai đoạn này; thêm hay bớt vài năm không có tầm quan trọng trong cõi vĩnh cửu của đáp ứng linh hồn. Vì vậy, một quyết định nghỉ ngơi, giữ điểm đã đạt được, nhưng kiềm chế không tiếp tục tranh đấu, không có chỗ cho sự phê phán. Hãy nhớ điều này.

From the standpoint of the accepted disciple—such as you are—there may be more to the choice than at first appears. It might be of service to you, and to all who may later read these instructions, if I dwelt for a moment upon the inevitable problem of the working disciple, upon the problem of the man who reaches the age which you have reached. Shall he rest back upon his laurels (and you have laurels, my brother, as I pointed out in my last instruction to you) or shall he—to use a Biblical phrase—“gird his loins” anew and go forward with a fresh impetus and to a still higher summit of attainment? Shall he demonstrate the power of the seventh wave which will carry him forward much further upon the beach of life expression or will the strong undertow of ordinary human frailty pull him back from renewed effort?

Từ lập trường của đệ tử được chấp nhận, như em là vậy, có thể có nhiều điều trong sự chọn lựa hơn là thoạt nhìn thấy. Có lẽ sẽ hữu ích cho em, và cho tất cả những ai về sau có thể đọc các huấn thị này, nếu Tôi dừng lại một lúc trên vấn đề tất yếu của người đệ tử đang làm việc, trên vấn đề của con người đạt đến tuổi mà em đã đạt đến. Liệu y sẽ nghỉ ngơi trên vòng nguyệt quế của mình, và em có những vòng nguyệt quế, huynh đệ của Tôi, như Tôi đã chỉ ra trong huấn thị trước dành cho em, hay y sẽ, dùng một cụm từ trong Kinh Thánh, lại “thắt lưng” và tiến tới với một xung lực mới, đến một đỉnh thành tựu còn cao hơn? Liệu y sẽ chứng tỏ quyền năng của làn sóng thứ bảy, vốn sẽ đưa y tiến xa hơn nhiều trên bãi bờ của biểu lộ đời sống, hay dòng nước ngầm mạnh mẽ của sự yếu đuối nhân loại bình thường sẽ kéo y lùi khỏi nỗ lực được đổi mới?

The reasons why a disciple must at least endeavour not to relax unduly and should push on in spite of fatigue (the fatigue of years of living), in spite of the increasing “creaking” of the human apparatus and the inevitable tendency which comes from constant service and constant contact with others, might be enumerated as follows:

Những lý do vì sao một đệ tử ít nhất phải cố gắng không buông lơi quá mức và nên thúc đẩy tiến lên bất chấp mệt mỏi, sự mệt mỏi của nhiều năm sống, bất chấp sự “kêu cót két” ngày càng tăng của bộ máy nhân loại và khuynh hướng tất yếu đến từ sự phụng sự liên tục và sự tiếp xúc liên tục với người khác, có thể được liệt kê như sau:

1. He must endeavour to carry the rhythm of service and of fruitful living with him when—free of the physical body—he stands upon the other side of the veil. There must be no gap in that service.

1. Y phải nỗ lực mang theo nhịp điệu phụng sự và đời sống phong phú khi—thoát khỏi thể xác—y đứng ở phía bên kia bức màn. Không được có gián đoạn nào trong sự phụng sự ấy.

2. He must endeavour as far as in him lies to preserve the [503] continuity of his consciousness as a working disciple and should allow no gap to emerge between his present point of tension and that point of tension which supervenes after the death experience.

2. Y phải nỗ lực hết mức có thể để duy trì [503] tính liên tục của tâm thức mình với tư cách là một đệ tử đang hoạt động, và không nên để bất cứ khoảng gián đoạn nào xuất hiện giữa điểm tập trung nhất tâm hiện tại của y và điểm tập trung nhất tâm xảy đến sau kinh nghiệm tử vong.

3. He must endeavour to close the episode of this life experience so that it is apparent that he is a member of an Ashram; he must permit no break in the established relationship, or any cessation to the flow of ashramic life through him to the world of men. This activity, on account of the natural and normal deterioration of the physical vehicle as it grows older, is not so easy a task; it requires a definite concentration of effort, thus increasing the tension in which a disciple ever lives.

3. Y phải nỗ lực khép lại hồi kinh nghiệm đời sống này sao cho hiển nhiên rằng y là một thành viên của một ashram; y không được để có sự đứt đoạn nào trong mối liên hệ đã được thiết lập, cũng không để dòng chảy của đời sống ashram qua y đến thế giới loài người bị ngưng lại. Hoạt động này, do sự suy thoái tự nhiên và bình thường của vận cụ hồng trần khi nó già đi, không phải là một nhiệm vụ dễ dàng; nó đòi hỏi một sự tập trung nỗ lực rõ rệt, nhờ đó làm gia tăng sức căng mà trong đó một đệ tử luôn sống.

4. For any disciple in my Ashram, the problem in this time of world crisis is peculiarly urgent, and this for the following reasons:

4. Đối với bất cứ đệ tử nào trong ashram của Tôi, vấn đề trong thời kỳ khủng hoảng thế giới này đặc biệt cấp bách, và vì những lý do sau đây:

a. My Ashram is the main affiliated Ashram with that of the Master K.H. To Him, my Master (as I am yours), is given the task, on a large scale, of world education along new lines. Through my Ashram, working under the inspiration of His, the newer, esoteric presentation of truth is to be given out. The work that I have already done—through my books and through all the teaching which you have attempted to embody—is to render the teaching of the other and older esoteric schools and groups entirely exoteric. There is little left to them that is new; they must now link up with the sources which I represent if their leaders are to present fresh and vital information to their students, or they must take what I have conveyed to the world, via A.A.B., and thus again reintegrate into the esoteric whole.

a. Ashram của Tôi là ashram liên kết chính với ashram của Chân sư K.H. Ngài, Chân sư của Tôi như Tôi là Chân sư của em, được giao nhiệm vụ giáo dục thế giới trên quy mô lớn theo những đường lối mới. Qua ashram của Tôi, hoạt động dưới cảm hứng từ ashram của Ngài, sự trình bày chân lý mới hơn, mang tính nội môn, sẽ được trao truyền. Công việc mà Tôi đã thực hiện—qua các sách của Tôi và qua mọi giáo huấn mà em đã cố gắng thể hiện—là làm cho giáo huấn của các trường phái và nhóm nội môn khác, lâu đời hơn, trở nên hoàn toàn ngoại môn. Đối với họ, còn lại rất ít điều mới mẻ; giờ đây họ phải liên kết với những nguồn mà Tôi đại diện nếu các nhà lãnh đạo của họ muốn trình bày thông tin mới mẻ và sống động cho môn sinh của họ, hoặc họ phải tiếp nhận những gì Tôi đã truyền đạt cho thế giới, qua A.A.B., và như thế lại tái tích hợp vào toàn thể nội môn.

b. Disciples in my Ashram have a dual responsibility to stand steady in a preservation of realisation—if I may use such a phrase. This steadiness must not be relaxed in any way as old age draws near, and it must not be permitted to disappear through the transition of death itself. It is through the unbroken [504] conscious thinking of a welded group of disciples that the Master of an Ashram works. It is not so much the active outer service of a group of disciples which is of major importance (though it has necessarily a vital purpose) as the coherent, integrated group thought which is so potent in effecting changes in the human consciousness.

b. Các đệ tử trong ashram của Tôi có một trách nhiệm kép là đứng vững trong việc bảo tồn sự chứng nghiệm—nếu Tôi có thể dùng một cụm từ như thế. Sự vững vàng này không được nới lỏng theo bất cứ cách nào khi tuổi già đến gần, và không được để nó biến mất qua chính sự chuyển tiếp của cái chết. Chính qua tư tưởng hữu thức, không gián đoạn [504] của một nhóm đệ tử được gắn kết chặt chẽ mà Chân sư của một ashram làm việc. Không phải sự phụng sự bên ngoài tích cực của một nhóm đệ tử là điều có tầm quan trọng chính yếu, dù nó tất yếu có một mục đích thiết yếu, cho bằng tư tưởng nhóm mạch lạc, tích hợp, vốn rất mạnh mẽ trong việc tạo nên những thay đổi trong tâm thức nhân loại.

c. The peculiar problem of the present world crisis and the terrific readjustments in the human consciousness, incident to the inauguration of a new culture, civilisation and world religion, warrant my presenting the members of my Ashram (even affiliated groups, such as yours) with the opportunity to preserve intact and free from all deterioration their “state of mind” throughout the remaining years of this life, through the process of dissolution, and on into the freedom of the other side of the veil. This preservation of conscious integrity is no easy task; it requires understanding and most deliberate effort.

c. Vấn đề đặc thù của cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay và những sự điều chỉnh lại khủng khiếp trong tâm thức nhân loại, đi kèm với việc khai mở một nền văn hóa, văn minh và tôn giáo thế giới mới, khiến Tôi có lý do để trao cho các thành viên trong ashram của Tôi, ngay cả các nhóm liên kết như nhóm của em, cơ hội giữ nguyên vẹn và không bị bất cứ sự suy thoái nào “trạng thái trí tuệ” của họ trong suốt những năm còn lại của đời sống này, qua tiến trình tan rã, và đi vào sự tự do ở phía bên kia bức màn. Việc bảo tồn sự toàn vẹn hữu thức này không phải là nhiệm vụ dễ dàng; nó đòi hỏi sự thấu hiểu và nỗ lực hết sức chủ tâm.

I call you, therefore, my brother, to exactly this effort. The consequences to you will be a much harder life of service from now on; the results will be the carrying out of your plans for work with greatly intensified effort.

Huynh đệ của tôi, vì vậy, Tôi kêu gọi em đúng vào nỗ lực này. Hệ quả đối với em sẽ là một đời sống phụng sự khó khăn hơn nhiều từ nay trở đi; kết quả sẽ là việc thực hiện các kế hoạch công việc của em với nỗ lực được tăng cường rất lớn.

You should now work in closer cooperation with A.A.B. and F.B. The task of carrying esoteric truth into Latin and Catholic America and southern Europe is no easy undertaking. It will be slow. Your foundation must be well and truly laid. The quality of those reached by you in the future is of more importance than the quantity. Bear this ever in mind. Relinquish not the various phases of the work you have so successfully launched, but proceed with them as heretofore—no matter where may be the place of your physical plane enterprise.

Giờ đây em nên làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ hơn với A.A.B. và F.B. Nhiệm vụ mang chân lý nội môn vào châu Mỹ La-tinh và Công giáo, cũng như miền nam châu Âu, không phải là một công việc dễ dàng. Nó sẽ chậm. Nền móng của em phải được đặt cho thật vững và thật đúng. Phẩm tính của những người mà em tiếp cận trong tương lai quan trọng hơn số lượng. Hãy luôn ghi nhớ điều này. Đừng từ bỏ các giai đoạn khác nhau của công việc mà em đã khởi sự rất thành công, nhưng hãy tiếp tục chúng như trước đây—bất kể nơi chốn của công cuộc trên cõi hồng trần của em có thể ở đâu.

One of the many things which you need at this time to learn, and which you must initiate during the next few years, is how to gather people together and work through them. This, as you have been taught, is very difficult for a first ray disciple to master, particularly when the soul ray [505] and the ray of the astral or emotional nature are both first ray. It is easy for the first ray disciple to withdraw into his soul consciousness, far easier than for any other ray types, and your problem (as it is also the problem of J.W.K-P.) is to give the second ray personality fuller sway, and thus balance the first ray ability to demonstrate detachment by the functioning of the opposite quality of attachment—so distinctive of the second ray nature. Ponder on this.

Một trong nhiều điều mà vào lúc này em cần học, và em phải khởi xướng trong vài năm tới, là cách quy tụ mọi người lại và làm việc thông qua họ. Như em đã được dạy, điều này rất khó để một đệ tử cung một làm chủ, đặc biệt khi cung linh hồn [505] và cung của bản chất cảm dục hay cảm xúc đều là cung một. Đệ tử cung một dễ rút vào tâm thức linh hồn của mình, dễ hơn nhiều so với bất cứ loại cung nào khác, và vấn đề của em, cũng như là vấn đề của J.W.K-P., là để cho phàm ngã cung hai có phạm vi hoạt động đầy đủ hơn, và như thế cân bằng khả năng cung một trong việc biểu lộ sự tách rời bằng sự vận hành của phẩm tính đối nghịch là sự gắn bó—vốn rất đặc trưng cho bản chất cung hai. Hãy suy ngẫm về điều này.

As I told J.W.K-P. some years ago, a “detached attachment” (paradoxical as it sounds) is the goal of the first ray working disciple. This is equally true of you. You and he have the same egoic, personality and mental rays. Hence the close link with him which you have ever realised. He is a disciple of the Master M., temporarily working in my Ashram. You have been admitted into the ranks of accepted disciples in my Ashram and by me, but you will eventually be transferred into the Ashram of the Master M. The free interplay thus established between my Ashram and that of the Master M. is due to the fact that He is the inner Head of all esoteric groups, and in the interest of the coming new world order, the teaching Ashrams are being strengthened by the inflow of first ray disciples. This should be a point of real interest to you.

Như Tôi đã nói với J.W.K-P. vài năm trước, một “sự gắn bó tách rời”, dù nghe có vẻ nghịch lý, là mục tiêu của đệ tử cung một đang hoạt động. Điều này cũng đúng với em. Em và bạn ấy có cùng các cung chân ngã, phàm ngã và thể trí. Do đó có mối liên hệ mật thiết với bạn ấy mà em luôn nhận biết. Bạn ấy là đệ tử của Chân sư M., tạm thời làm việc trong ashram của Tôi. Em đã được Tôi nhận vào hàng ngũ các đệ tử được chấp nhận trong ashram của Tôi, nhưng cuối cùng em sẽ được chuyển sang ashram của Chân sư M. Sự tương tác tự do được thiết lập như thế giữa ashram của Tôi và ashram của Chân sư M. là do sự kiện Ngài là Vị Đứng Đầu bên trong của tất cả các nhóm nội môn, và vì lợi ích của trật tự thế giới mới đang đến, các ashram giảng dạy đang được củng cố bằng dòng chảy vào của các đệ tử cung một. Điều này nên là một điểm thực sự khiến em quan tâm.

What, my brother, shall be the type of meditation and interior work which you should be doing during the coming years? I would like to have you meditate upon the “three activities”: Outward moving, persistent orientation, and interior withdrawing or abstraction. The relation of these three activities or three attitudes should form one aspect of your reflection upon these phrases; the relative activity involved in each attained position should constitute another; the effect produced by each of them in the three worlds, and also upon soul levels, demands careful and concentrated thought. What, for instance, is the nature of “outward moving” upon the astral plane? How would “persistent orientation” appear or express itself upon the mental plane? Or “abstraction and withdrawal” upon the physical level of consciousness? How can you, as a disciple, display these attitudes simultaneously? I think you will admit, my brother, that in these three concepts [506] and in their working out in the daily life within the ring-pass-not of the three worlds and in the life of the soul upon its own plane, I have given you the theme for much thinking during the coming years. Take each of these phrases, therefore, and think each of them out in relation to each of the three planes in the three worlds, and to each other; carry the same directed thinking on to soul levels and shift the theme then into the three worlds of the Spiritual Triad, regarding the lower three worlds then as reflections of the higher, triadal three. Keep notes of all the thoughts of reality which come to you; watch the reactions produced in your vehicles of expression, and become increasingly aware of the changes which conscious, deliberate thinking will bring about in you. Think—if I may so express it—in your heart, and also in your mind, and endeavour to comprehend the distinction between these two modes of thought.

Huynh đệ của tôi, loại tham thiền và công việc nội tâm nào em nên thực hiện trong những năm sắp tới? Tôi muốn em tham thiền về “ba hoạt động”: hướng ra ngoài, định hướng bền bỉ, và rút vào bên trong hay trừu xuất. Mối liên hệ của ba hoạt động hay ba thái độ này nên tạo thành một phương diện trong sự suy tư của em về các cụm từ này; hoạt động tương đối liên quan đến mỗi vị trí đạt được nên cấu thành một phương diện khác; hiệu quả do mỗi hoạt động tạo ra trong ba cõi thấp, và cũng trên các cấp độ linh hồn, đòi hỏi tư tưởng cẩn trọng và tập trung. Chẳng hạn, bản chất của “hướng ra ngoài” trên cõi cảm dục là gì? “Định hướng bền bỉ” sẽ xuất hiện hay biểu lộ chính nó trên cõi trí như thế nào? Hoặc “trừu xuất và rút lui” trên cấp độ tâm thức hồng trần thì sao? Làm thế nào em, với tư cách một đệ tử, có thể biểu lộ đồng thời các thái độ này? Huynh đệ của tôi, Tôi nghĩ em sẽ thừa nhận rằng trong ba khái niệm này [506] và trong việc triển khai chúng trong đời sống hằng ngày bên trong vòng-giới-hạn của ba cõi thấp và trong đời sống của linh hồn trên cõi riêng của nó, Tôi đã trao cho em đề tài để suy nghĩ nhiều trong những năm sắp tới. Vì vậy, hãy lấy từng cụm từ này và suy nghĩ thấu đáo từng cụm trong liên hệ với từng cõi trong ba cõi thấp, và trong liên hệ với nhau; hãy đưa cùng tư tưởng có định hướng ấy lên các cấp độ linh hồn rồi chuyển đề tài vào ba cõi của Tam Nguyên Tinh Thần, khi ấy xem ba cõi thấp như những phản chiếu của ba cõi cao hơn thuộc Tam nguyên. Hãy ghi lại mọi tư tưởng về thực tại đến với em; hãy quan sát các phản ứng được tạo ra trong các vận cụ biểu lộ của em, và ngày càng ý thức hơn về những thay đổi mà tư tưởng hữu thức, chủ tâm sẽ đem lại trong em. Hãy suy nghĩ—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy—trong tâm của em, và cũng trong thể trí của em, và hãy nỗ lực lĩnh hội sự khác biệt giữa hai phương thức tư tưởng này.

This reflective work should constitute your meditation work in the future; it will condition your interior development and will also inevitably make your outer work more dynamic.

Công việc suy tư này nên cấu thành công việc tham thiền của em trong tương lai; nó sẽ tác động lên sự phát triển nội tâm của em và cũng sẽ tất yếu làm cho công việc bên ngoài của em trở nên năng động hơn.

One reason why I have emphasised the need for attachment in this instruction is that right attachment releases the love of the soul, and only love, consciously, intelligently and deliberately applied, can make for successful work, both in Europe and South America—your two recognised fields of service. Only your second ray personality will have the capacity to reawaken contact with your students in Spain or hold steady those already working in South America; it is through individually re-found, re-awakened and re-inspired realisation that the work, planned and intended by me, can be successfully carried forward. Such is your immediate task. Only your second ray personality can have the patience to cover the mass of detail needed and to persist in the face of apparent nonsuccess. Much skill in action will also be required. The Catholic Church is governed by the first ray as its soul ray, and by the third ray as its personality ray. Hence its love of politics and of temporal power; hence also its intensely commercial and financial preoccupations. The mental ray of this Church is sixth ray. Hence its narrow one-pointedness; [507] its emotional body is also sixth ray in quality, whilst the physical ray of the outer organisation is seventh. These are points which should interest you and which you need to bear in mind as you work. A realisation of this peculiar combination of rays will demand of you, and of all workers along esoteric lines, great skill in action.

Một lý do khiến Tôi nhấn mạnh nhu cầu về sự gắn bó trong huấn thị này là sự gắn bó đúng đắn giải phóng tình thương của linh hồn, và chỉ tình thương, được áp dụng một cách hữu thức, thông minh và chủ tâm, mới có thể tạo nên công việc thành công, cả ở châu Âu lẫn Nam Mỹ—hai lĩnh vực phụng sự đã được công nhận của em. Chỉ phàm ngã cung hai của em mới có khả năng khơi dậy lại sự tiếp xúc với các môn sinh của em ở Tây Ban Nha hoặc giữ vững những người đã làm việc ở Nam Mỹ; chính qua sự chứng nghiệm được từng cá nhân tìm lại, đánh thức lại và truyền cảm hứng lại mà công việc do Tôi hoạch định và dự định mới có thể được tiến hành thành công. Đó là nhiệm vụ trước mắt của em. Chỉ phàm ngã cung hai của em mới có đủ kiên nhẫn để bao quát khối chi tiết cần thiết và bền bỉ trước sự có vẻ không thành công. Cũng sẽ cần nhiều khéo léo trong hành động. Giáo hội Công giáo được cai quản bởi cung một như cung linh hồn của nó, và bởi cung ba như cung phàm ngã của nó. Do đó có sự yêu thích chính trị và quyền lực thế tục của nó; do đó cũng có những bận tâm thương mại và tài chính mãnh liệt của nó. Cung thể trí của Giáo hội này là cung sáu. Do đó có tính nhất tâm hẹp hòi của nó; [507] thể cảm xúc của nó cũng có phẩm tính cung sáu, trong khi cung thể xác của tổ chức bên ngoài là cung bảy. Đây là những điểm nên khiến em quan tâm và em cần ghi nhớ khi làm việc. Việc nhận biết tổ hợp cung đặc thù này sẽ đòi hỏi nơi em, và nơi tất cả những người hoạt động theo các đường lối nội môn, sự khéo léo lớn lao trong hành động.

With renewed endeavour, enlightened understanding and courage, go forth again, my brother, in the service of the light. I stand ever behind you. On that point, have no doubts. I shield and protect, but I leave you free to work.

Với nỗ lực mới, sự thấu hiểu được soi sáng và lòng can đảm, huynh đệ của tôi, hãy lại tiến bước trong sự phụng sự ánh sáng. Tôi luôn đứng sau em. Về điểm đó, đừng nghi ngờ. Tôi che chở và bảo vệ, nhưng Tôi để em tự do làm việc.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY DEAR BROTHER:

HUYNH ĐỆ THÂN YÊU CỦA TÔI:

This is a new way for me to address you, but you have endeared yourself to me by your patient persistence and your undeviating adherence to the service of the Hierarchy. For many years you have done our work in a most difficult sphere. I say this to you because I would not have you spend time (or should I say, waste time, my brother?) in wishing you had done the work better or differently, or in the unrewarding task of self-depreciation. I would tell you quite simply that we are not ungrateful and we are not dissatisfied. The Latin field—by that I mean the sphere in which the Latin race predominates, Italian, Spanish and Portuguese—is one of the most difficult in which to work. The narrowness of thought induced by Roman Catholic Church control, the crystallisation which comes from a very ancient development, and (in South America) the wide mixture of races, make the task of bringing spiritual liberation one of peculiar difficulty.

Đây là một cách mới để Tôi xưng hô với em, nhưng em đã khiến Tôi quý mến em bằng sự bền bỉ kiên nhẫn và sự gắn bó không lệch hướng của em với sự phụng sự Thánh Đoàn. Trong nhiều năm, em đã làm công việc của chúng ta trong một lĩnh vực hết sức khó khăn. Tôi nói điều này với em vì Tôi không muốn em dành thời gian, hay Tôi nên nói là lãng phí thời gian chăng, huynh đệ của tôi, trong việc ước gì em đã làm công việc tốt hơn hay theo cách khác, hoặc trong nhiệm vụ không đem lại ích lợi là tự hạ thấp mình. Tôi muốn nói với em thật đơn giản rằng chúng ta không vô ơn và chúng ta không bất mãn. Lĩnh vực La-tinh—ý Tôi là phạm vi trong đó giống dân La-tinh chiếm ưu thế, Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha—là một trong những lĩnh vực khó khăn nhất để làm việc. Sự hạn hẹp của tư tưởng do sự kiểm soát của Giáo hội Công giáo La Mã gây ra, sự kết tinh phát sinh từ một sự phát triển rất cổ xưa, và ở Nam Mỹ là sự pha trộn rộng rãi của các chủng tộc, làm cho nhiệm vụ mang lại sự giải phóng tinh thần trở thành một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn.

Do you realise, my brother, that you have been drawing the plough over the ground in preparation for the New Age teaching for the first time, and that that ground is very hard, very stony, and at present relatively unproductive?

Huynh đệ của tôi, em có nhận ra rằng em đã kéo lưỡi cày trên mảnh đất để chuẩn bị cho giáo huấn Kỷ Nguyên Mới lần đầu tiên, và rằng mảnh đất ấy rất cứng, rất nhiều đá, và hiện nay tương đối chưa sinh hoa lợi không?

So be of good cheer. Your work is more fruitful than you realise and in some life you will see the results of the apparently unrewarding toil of the years of your spiritual enterprise. [508]

Vì vậy hãy vui lên. Công việc của em sinh hoa lợi nhiều hơn em nhận ra, và trong một đời nào đó em sẽ thấy kết quả của công lao có vẻ không được đền đáp qua những năm tháng công cuộc tinh thần của em. [508]

I have few instructions to give you. Proceed as heretofore, but deepen persistently your own inner life; give more time to quiet reflection and study than to the technicalities of the task; let others deal with the mechanics of the work whilst you seek to act as a spiritual reservoir from which they can draw strength and wisdom and understanding. The recognition of this phase of your work is perhaps the most important lesson you can learn at this time. You will experience a new power, the upwelling of new spiritual fervour, the joy of seeing others competently handling the mechanics of the work whilst you teach and aid them in their spiritual undertakings. Above all else, endeavour to reach and interest the young people. They are the hope of the future and are coming into incarnation subjectively aware of their predestined task of world reconstruction; you will find them acutely responsive to spiritual contacts, particularly if presented in non-religious terms. Count, therefore, on this and try to reach them.

Tôi có ít huấn thị để trao cho em. Hãy tiếp tục như trước đây, nhưng hãy kiên trì đào sâu đời sống bên trong của chính em; hãy dành nhiều thời gian hơn cho sự suy tư tĩnh lặng và học hỏi hơn là cho các chi tiết kỹ thuật của nhiệm vụ; hãy để người khác xử lý cơ chế của công việc trong khi em tìm cách hành động như một hồ chứa tinh thần mà từ đó họ có thể rút ra sức mạnh, minh triết và sự thấu hiểu. Sự nhận biết giai đoạn này trong công việc của em có lẽ là bài học quan trọng nhất mà em có thể học vào lúc này. Em sẽ kinh nghiệm một quyền năng mới, sự trào dâng của nhiệt tâm tinh thần mới, niềm vui khi thấy người khác xử lý thành thạo cơ chế của công việc trong khi em dạy dỗ và trợ giúp họ trong các công cuộc tinh thần của họ. Trên hết mọi điều, hãy nỗ lực tiếp cận và khơi dậy sự quan tâm nơi giới trẻ. Họ là niềm hy vọng của tương lai và đang đi vào lâm phàm với sự nhận biết nội giới về nhiệm vụ tái thiết thế giới đã được định sẵn của họ; em sẽ thấy họ đáp ứng sâu sắc với các tiếp xúc tinh thần, đặc biệt nếu được trình bày bằng những thuật ngữ phi tôn giáo. Vì vậy, hãy tin vào điều này và cố gắng tiếp cận họ.

I am going to give you a somewhat brief meditation exercise to be done by you twice a day—on arising in the morning and the last thing at night, prior to going to sleep. It should not take you long to do, but—if done correctly and with as much of your first ray soul integrated into it as you can invoke—it will greatly aid you.

Tôi sẽ trao cho em một bài thiền hơi ngắn để em thực hiện hai lần mỗi ngày—khi thức dậy buổi sáng và việc cuối cùng vào ban đêm, trước khi đi ngủ. Nó không nên mất nhiều thời gian của em, nhưng—nếu được thực hiện đúng và với càng nhiều phần linh hồn cung một của em được tích hợp vào đó như em có thể khẩn cầu—nó sẽ trợ giúp em rất nhiều.

1. Sound the OM inaudibly three times.

1. Xướng linh từ OM thầm lặng ba lần.

2. Then, having achieved inner quiet and relaxed mental focussing, seek, with an alert consciousness, to contact:

2. Rồi, sau khi đã đạt được sự yên tĩnh nội tâm và sự tập trung trí tuệ thư giãn, hãy tìm cách, với một tâm thức tỉnh thức, tiếp xúc với:

a. Your soul.

a. Linh hồn của em.

b. My Ashram.

b. Ashram của Tôi.

c. Me, your Master.

c. Tôi, Chân sư của em.

You thus, through the imagination, create a triangle of energy:

Như thế, qua Sự tưởng tượng, em tạo nên một tam giác năng lượng:

Ashram. * * D.K.

Ashram. * * D.K.

* Yourself. [509]

* Chính em. [509]

As familiarity with this meditation is developed, you should eventually arrive at a contact, at a registered sense of spiritual power (expressed through your second ray personality) and at such an increase of love and light that your sphere of service will recognise it, even if—at first—you do not.

Khi sự quen thuộc với bài thiền này được phát triển, cuối cùng em nên đạt đến một sự tiếp xúc, đến một cảm nhận ghi nhận được về quyền năng tinh thần, được biểu lộ qua phàm ngã cung hai của em, và đến một sự gia tăng tình thương và ánh sáng đến mức phạm vi phụng sự của em sẽ nhận biết điều đó, ngay cả nếu—lúc đầu—em chưa nhận ra.

3. Then, after quiet acceptance and a period of silent reflection, you will deliberately pour out the inflowing spiritual power into:

3. Rồi, sau sự chấp nhận tĩnh lặng và một giai đoạn suy tư im lặng, em sẽ chủ tâm tuôn đổ quyền năng tinh thần đang đi vào ra:

a. Your immediate environment,

a. Môi trường trực tiếp của em,

b. The Arcane School, of which your work in South America is an integral part,

b. Trường Arcane, mà công việc của em ở Nam Mỹ là một phần không thể tách rời,

c. The Goodwill Movement you have aided in starting in South America.

c. Phong Trào Thiện Chí mà em đã trợ giúp khởi sự ở Nam Mỹ.

This type of meditation constitutes a definite act of service and should—when done in the morning—prove pronouncedly strenuous. It involves some practice in visualisation and (where I and the Ashram are concerned) the use of your confident, creative imagination.

Loại tham thiền này cấu thành một hành động phụng sự rõ rệt và—khi được thực hiện vào buổi sáng—nên tỏ ra hết sức đòi hỏi nỗ lực. Nó bao hàm một mức thực hành về sự hình dung và, trong phần liên quan đến Tôi và ashram, việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo đầy tin tưởng của em.

4. Then say the Great Invocation, slowly and with much mental intention, pausing after each of the four stanzas for quiet thought and reflection.

4. Rồi hãy đọc Đại Khấn Nguyện, chậm rãi và với nhiều ý định trí tuệ, dừng lại sau mỗi trong bốn bài kệ để suy nghĩ và suy tư tĩnh lặng.

5. Then again link up in thought with me, your Master. Sound the OM inaudibly again three times, and then proceed about your daily work.

5. Rồi lại liên kết trong tư tưởng với Tôi, Chân sư của em. Lại Xướng linh từ OM thầm lặng ba lần, rồi tiếp tục công việc hằng ngày của em.

My blessing continues to rest upon you.

Phúc lành của Tôi tiếp tục ở trên em.

November 1948

Tháng Mười Một năm 1948

MY BROTHER OF LONG STANDING:

HUYNH ĐỆ LÂU NĂM CỦA TÔI:

It had not been my intention to send you a communication, since the personal communications have been largely discontinued. I am, however, prompted to do so today because as I contacted you in my thought life this morning, I decided that a word from me and the touch of my hand [510] (symbolically speaking) would give you strength and comfort.

Tôi đã không có ý định gửi cho em một thông điệp, vì các thông điệp cá nhân phần lớn đã được ngưng lại. Tuy nhiên, hôm nay Tôi được thúc đẩy làm như vậy vì khi Tôi tiếp xúc với em trong đời sống tư tưởng của Tôi sáng nay, Tôi quyết định rằng một lời từ Tôi và sự chạm nhẹ của bàn tay Tôi [510] nói theo biểu tượng, sẽ đem lại cho em sức mạnh và sự an ủi.

There comes a time in the training of any disciple when he must stand alone and feel sometimes that he has been deserted by his Master and by the other members of the Ashram. It is the higher and occult correspondence of the mystical experience of the true mystic and to which he has given the name of “the dark night of the soul.” All this is nevertheless only a part of the great illusion and has to be overcome and dissipated. When this victory has been achieved and there has been evidenced the willingness to work alone and apparently with no ashramic direction—except a general knowledge of the Plan—then the disciple has demonstrated that he can be trusted; he becomes available for a higher rating and more responsibility can be placed upon him—if not in this life then in the next.

Có một thời điểm trong sự huấn luyện của bất cứ đệ tử nào khi y phải đứng một mình và đôi khi cảm thấy rằng y đã bị Chân sư của mình và các thành viên khác của ashram bỏ rơi. Đó là đối ứng cao hơn và huyền bí của kinh nghiệm thần bí nơi nhà thần bí chân chính, điều mà y đã gọi là “đêm tối của linh hồn.” Tuy nhiên, tất cả điều này chỉ là một phần của đại ảo tưởng và phải được vượt qua, làm tiêu tan. Khi chiến thắng này đã đạt được và đã có bằng chứng về sự sẵn lòng làm việc một mình, và bề ngoài không có sự chỉ đạo ashram—ngoại trừ một tri thức tổng quát về Thiên Cơ—thì đệ tử đã chứng minh rằng y có thể được tin cậy; y trở nên sẵn sàng cho một cấp bậc cao hơn và có thể đặt lên y nhiều trách nhiệm hơn—nếu không phải trong đời này thì trong đời kế tiếp.

You are not young, my brother, but you can have the rare joy of looking back (when the time comes to pass through the Portal into clearer light and life and know) to know that you have served and helped thousands, through the radio and through the translated material of the teaching I have tried to give; what you have sown has not fallen on sterile ground. This remains true, even if you do not register the fact. Since first you responded to my vibration, you have not turned back; this has been recorded and recognised by us.

Huynh đệ của tôi, em không còn trẻ, nhưng em có thể có niềm hoan hỉ hiếm có khi nhìn lại, khi đến lúc đi qua Cổng vào ánh sáng và sự sống rõ ràng hơn và biết, để biết rằng em đã phụng sự và trợ giúp hàng ngàn người, qua đài phát thanh và qua tài liệu giáo huấn được dịch mà Tôi đã cố gắng trao truyền; những gì em đã gieo không rơi trên mảnh đất cằn cỗi. Điều này vẫn đúng, ngay cả nếu em không ghi nhận được sự kiện ấy. Kể từ khi em lần đầu đáp ứng với rung động của Tôi, em đã không thoái lui; điều này đã được chúng ta ghi nhận và công nhận.

Praise and commendation is an unusual line for me to take but a disciple has to learn to respond correctly to that as well as to correction. You have earned commendation and we withhold from no one their just due.

Khen ngợi và tán dương là một đường lối khác thường đối với Tôi, nhưng một đệ tử phải học cách đáp ứng đúng đắn với điều đó cũng như với sự sửa chữa. Em đã xứng đáng được tán dương, và chúng ta không giữ lại nơi bất cứ ai điều công bằng thuộc về họ.

Go forward, my brother. These are troubled times, and steady centres of light in every land are sorely needed.

Huynh đệ của tôi, hãy tiến lên. Đây là những thời kỳ đầy rối ren, và những trung tâm ánh sáng vững vàng trong mọi xứ sở đang rất cần thiết.

May the strength of your own soul and the knowledge that your place in the Ashram is secure enable you to complete the work which you have begun.

Cầu mong sức mạnh của chính linh hồn em và sự hiểu biết rằng vị trí của em trong ashram là vững chắc giúp em hoàn tất công việc mà em đã khởi đầu.

NOTE: This disciple has persisted faithfully to serve as a steady centre of light, and in September, 1951, he passed into clearer light and life in the inner Ashram. [511]

GHI CHÚ: Đệ tử này đã kiên trì trung thành phụng sự như một trung tâm ánh sáng vững vàng, và vào tháng Chín năm 1951, bạn ấy đã đi vào ánh sáng và sự sống rõ ràng hơn trong ashram bên trong. [511]

To I. S. G-L. – Gửi I. S. G-L.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

MY FRIEND AND BROTHER:

BẠN VÀ HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

For several lives we have been associated, though this is only the second incarnation wherein you have been definitely regarded by me and by my Associates as a pledged disciple. I am pointing this out to you as it infers a consecration and a dedication which you have preserved inviolate and evokes a response which only increases as time goes on.

Trong nhiều đời, chúng ta đã liên hệ với nhau, dù đây chỉ là lần lâm phàm thứ hai trong đó em đã được Tôi và các Cộng sự của Tôi xác định xem là một đệ tử đã phát nguyện. Tôi chỉ ra điều này cho em vì nó hàm ý một sự thánh hiến và một sự hiến dâng mà em đã giữ gìn không bị xâm phạm, và gợi lên một đáp ứng chỉ ngày càng tăng theo thời gian.

You are pledged as a disciple to further our plans and to occupy yourself with definite group work. Our disciples learn the processes of initiation in the fire and heat of the daily life battle in the world of the present. They grasp eventually the processes also of group work and the rules which govern group endeavour. These rules govern the Hierarchy. They recede increasingly into the background as the group grows in function, purpose and usefulness but this withdrawal into the silence of the Hierarchy is not based and never will be based upon any outwardly imposed silence by the initiate or disciple upon either himself or his group. The silence concerns himself, and is based upon a humble appreciation of the whole of which he is simply a part and is not based upon a silence and a technique which simply emphasises mystery. The only true mysteries are those points of revelation for which the mechanism is inadequate and which, therefore, find no response in the one whom the initiate or disciple contacts. Of these mysteries you, the teacher and leader, may be aware but the pupil remains unmoved when presented with them. He simply does not recognise them. The outer imposition of silence and mystery is focussed consequently around the teacher in the mind of the taught and only serves to distract his attention from the reality to an imposed glamour surrounding the teacher. I would have you ponder on this, my brother, for your service is needed, but is today—if you will permit me to say so—handicapped by the intensity of your devotion and the psychic pulsation of your solar plexus. [512] You will recognise the condition to which I here refer. It affects also at times the quality of your impact upon people and occasionally the fruitfulness of your service. The careful and considered following of the group meditation should do much to relieve the situation and so release you for fuller service.

Em đã phát nguyện với tư cách một đệ tử để xúc tiến các kế hoạch của chúng ta và dấn thân vào công việc nhóm xác định. Các đệ tử của chúng ta học các tiến trình điểm đạo trong lửa và sức nóng của trận chiến đời sống hằng ngày trong thế giới hiện tại. Cuối cùng họ cũng nắm bắt các tiến trình của công việc nhóm và những quy luật cai quản nỗ lực nhóm. Những quy luật này cai quản Thánh Đoàn. Các đệ tử ngày càng lùi vào hậu cảnh khi nhóm lớn lên về chức năng, mục đích và sự hữu dụng, nhưng sự rút lui này vào sự im lặng của Thánh Đoàn không dựa trên, và sẽ không bao giờ dựa trên, bất cứ sự im lặng nào được áp đặt từ bên ngoài bởi điểm đạo đồ hay đệ tử lên chính mình hoặc lên nhóm của mình. Sự im lặng liên quan đến chính y, và dựa trên sự trân trọng khiêm nhường đối với cái toàn thể mà y chỉ đơn giản là một phần, chứ không dựa trên một sự im lặng và một kỹ thuật chỉ đơn thuần nhấn mạnh điều huyền bí. Những huyền nhiệm chân thật duy nhất là những điểm thiên khải mà bộ máy không đủ sức đáp ứng và do đó không tìm được sự đáp ứng nơi người mà điểm đạo đồ hay đệ tử tiếp xúc. Về những huyền nhiệm này, em, người huấn sư và lãnh đạo, có thể ý thức, nhưng học viên vẫn không lay động khi chúng được trình bày cho y. Y đơn giản không nhận ra chúng. Do đó, sự áp đặt bên ngoài của im lặng và huyền nhiệm được tập trung quanh người huấn sư trong thể trí của người được dạy, và chỉ khiến sự chú ý của y bị phân tán khỏi thực tại sang một ảo cảm được áp đặt bao quanh người huấn sư. Huynh đệ của tôi, Tôi muốn em suy ngẫm về điều này, vì sự phụng sự của em đang cần thiết, nhưng ngày nay—nếu em cho phép Tôi nói như vậy—nó bị cản trở bởi cường độ sùng tín của em và nhịp đập thông linh của tùng thái dương nơi em. [512] Em sẽ nhận ra tình trạng mà Tôi đề cập ở đây. Đôi khi nó cũng ảnh hưởng đến phẩm tính tác động của em lên mọi người và thỉnh thoảng ảnh hưởng đến sự sinh hoa lợi của sự phụng sự của em. Việc theo sát bài tham thiền nhóm một cách cẩn trọng và có cân nhắc nên góp phần nhiều trong việc làm dịu tình hình và nhờ đó giải phóng em cho sự phụng sự đầy đủ hơn.

You would find it useful also, once and for all, to face up to the complexities of your own nature and to do so joyfully. You could also try to simplify your own approach to truth, to me and to humanity. There lies your immediate problem—simplification. This involves the elimination of imaginative reactions, all hinted implications and a withdrawal from the centre of your group life (I refer here not to the group which I am here teaching) just in so far as you feel yourself a centre. It involves also the effort to become a potent living influence radiating from above and not from the centre and yet without any sense of being above.

Em cũng sẽ thấy hữu ích nếu một lần dứt khoát đối diện với những phức tạp trong bản chất của chính mình, và làm như vậy một cách hoan hỉ. Em cũng có thể cố gắng đơn giản hóa cách tiếp cận của chính em đối với chân lý, đối với Tôi và đối với nhân loại. Chính ở đó có vấn đề trước mắt của em—sự đơn giản hóa. Điều này bao hàm việc loại bỏ các phản ứng tưởng tượng, mọi hàm ý được gợi ra và sự rút lui khỏi trung tâm của đời sống nhóm của em, ở đây Tôi không nói đến nhóm mà Tôi đang dạy, chỉ trong chừng mực em cảm thấy mình là một trung tâm. Nó cũng bao hàm nỗ lực trở thành một ảnh hưởng sống động mạnh mẽ tỏa chiếu từ bên trên chứ không từ trung tâm, nhưng lại không có bất cứ cảm thức nào rằng mình ở bên trên.

I wonder, my brother, if I am making my meaning clear. It is not clear to A.A.B. who is taking down my words but it should be clear to you, for it concerns your established technique of service and your group activity. You have accomplished a good and fruitful life service. You have aided many towards the light and have demonstrated a physical plane selflessness which has been powerful in releasing others. You need now to demonstrate an equal selflessness upon the plane of aspiration and of devotion. There lies for you the battle ground, and victory must be yours prior to taking the initiation for which you are being prepared. Your capacity for suffering is abnormal; this must be ended through the cultivation of that divine indifference which changes or shifts the present almost too violent emotional reactions into that calm, understanding, compassionate wisdom which—through identification with the soul of those you seek to help—inevitably aids suffering personalities. I think you realise the significance of my remarks. Your intense desire to serve Us and your deep love for humanity must be preserved but not forgotten in the strenuous activity of your life.

Huynh đệ của tôi, Tôi tự hỏi liệu Tôi có làm cho ý nghĩa của mình rõ ràng không. Nó không rõ đối với A.A.B., người đang ghi lại lời của Tôi, nhưng nó nên rõ đối với em, vì nó liên quan đến kỹ thuật phụng sự đã được thiết lập của em và hoạt động nhóm của em. Em đã hoàn thành một sự phụng sự đời sống tốt đẹp và sinh hoa lợi. Em đã trợ giúp nhiều người tiến về phía ánh sáng và đã biểu lộ một sự vô kỷ trên cõi hồng trần có sức mạnh giải phóng người khác. Giờ đây em cần biểu lộ một sự vô kỷ tương đương trên cõi khát vọng và sùng tín. Chính ở đó là chiến trường của em, và chiến thắng phải thuộc về em trước khi em nhận cuộc điểm đạo mà em đang được chuẩn bị. Khả năng chịu đau khổ của em là bất thường; điều này phải chấm dứt nhờ việc vun trồng Điềm nhiên thiêng liêng, vốn chuyển đổi hay dời chuyển các phản ứng cảm xúc hiện tại gần như quá mãnh liệt thành minh triết điềm tĩnh, thấu hiểu, từ bi, vốn—qua sự đồng nhất với linh hồn của những người em tìm cách trợ giúp—tất yếu trợ giúp các phàm ngã đang đau khổ. Tôi nghĩ em nhận ra thâm nghĩa của những nhận xét của Tôi. Ước muốn mãnh liệt của em nhằm phụng sự Chúng Tôi và tình thương sâu xa của em đối với nhân loại phải được giữ gìn, nhưng không được quên trong hoạt động căng thẳng của đời sống em.

You are as yet a comparatively young man. The crux of your whole problem is to be found in the shift which you [513] are supposed to make this incarnation from the minor ray, the sixth Ray of Devotion, to a major ray, the second Ray of Love-Wisdom. When you have accomplished this, you will take initiation. The task is however a stupendous one because as an accepted disciple in the technical sense of the word, the characteristics of the sixth ray—owing to your having a sixth ray astral body—are very pronounced and dominant. This condition is aggravated (if I might so express it) by your having a first ray personality. When, as in your case, the polarisation is in the astral body and so the energy of power pours in, the situation becomes acute, which is to be expected. Fortunately, disciples are driven by intensity and devotion to take the needed steps which will bring release and a consequent moving forward, and the incarnation wherein they do this is always peculiarly circumstanced, subjectively at least, even if the exoteric life is of no major interest. This is not so with you. In your case the following conditions embody your problem and hence your opportunity:

Em vẫn còn là một người tương đối trẻ. Điểm then chốt của toàn bộ vấn đề của em nằm trong sự chuyển dịch mà em [513] được giả định phải thực hiện trong lần lâm phàm này, từ cung phụ, cung sáu của Sùng tín, sang một cung chính, cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Khi em hoàn thành điều này, em sẽ nhận điểm đạo. Tuy nhiên nhiệm vụ này thật phi thường, vì với tư cách một đệ tử được chấp nhận theo nghĩa kỹ thuật của từ này, các đặc tính của cung sáu—do em có thể cảm dục cung sáu—rất rõ rệt và chi phối. Tình trạng này trở nên trầm trọng hơn, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, do em có phàm ngã cung một. Khi, như trong trường hợp của em, sự phân cực nằm trong thể cảm dục và do đó năng lượng quyền năng tuôn vào, tình hình trở nên gay gắt, như có thể dự liệu. May mắn thay, các đệ tử được thúc đẩy bởi cường độ và sự sùng tín để thực hiện những bước cần thiết sẽ đem lại giải thoát và một sự tiến tới tiếp theo, và lần lâm phàm trong đó họ làm điều này luôn có những hoàn cảnh đặc biệt, ít nhất về mặt nội giới, ngay cả nếu đời sống ngoại môn không có tầm quan trọng lớn. Với em thì không phải như vậy. Trong trường hợp của em, các điều kiện sau đây bao hàm vấn đề của em và do đó cũng là cơ hội của em:

1. The intense difficulty of shifting from one ray to another ray. The aspiration of your sixth ray astral body must be lifted on to the plane of knowledge. The power of sense realisation must become divine wisdom through surety. Vision must give place to intuitive focussed perception—a very different thing, my friend.

1. Khó khăn mãnh liệt của việc chuyển từ một cung sang một cung khác. Khát vọng của thể cảm dục cung sáu của em phải được nâng lên cõi tri thức. Quyền năng của sự chứng nghiệm bằng giác quan phải trở thành minh triết thiêng liêng qua sự chắc chắn. Tầm nhìn phải nhường chỗ cho tri giác tập trung bằng trực giác—một điều rất khác, bạn của tôi.

2. You were born in the sign Gemini which again presents its own peculiar problems. You vibrate between the pairs of opposites in a very pronounced and definite manner—as does A.A.B. The point of balance and of equilibrium is ever a difficult one for the disciple to achieve in this sign.

2. Em sinh ra trong dấu hiệu Song Tử, điều này lại đưa ra những vấn đề đặc thù riêng. Em rung động giữa các cặp đối lập một cách rất rõ rệt và xác định—cũng như A.A.B. Điểm cân bằng và quân bình luôn là điều khó đạt được đối với đệ tử trong dấu hiệu này.

3. Your first ray personality works through a physical body which is on the same ray so that a triple first ray energy again complicates your life theme because all these forces are concentrated in the lower nature. This could lead (in the case of a pledged disciple) to a powerful and distracting spiritual ambition which in a group leader—such as you are—would be a detriment to the group. Where the astral body is on the sixth ray [514] and devotion is dominant, the glamour of devotion can veil the reality of any existent ambition.

3. Phàm ngã cung một của em hoạt động qua một thể xác cũng thuộc cùng cung ấy, cho nên một năng lượng cung một tam phân lại làm phức tạp chủ đề đời sống của em, vì tất cả các mãnh lực này đều tập trung trong bản chất thấp. Điều này có thể dẫn, trong trường hợp một đệ tử đã phát nguyện, đến một tham vọng tinh thần mạnh mẽ và gây xao lãng, điều mà nơi một người lãnh đạo nhóm như em sẽ gây bất lợi cho nhóm. Khi thể cảm dục thuộc cung sáu [514] và sự sùng tín chi phối, Ảo cảm Sùng tín có thể che phủ thực tại của bất cứ tham vọng nào đang hiện hữu.

4. The present world conflict enhances your problem and makes the whole life cycle one of the utmost pain yet one of prime importance.

4. Cuộc xung đột thế giới hiện nay làm gia tăng vấn đề của em và khiến toàn bộ chu kỳ đời sống trở thành một chu kỳ đau đớn tột độ nhưng cũng có tầm quan trọng hàng đầu.

There are, my brother, many lives of such a negligible nature that they warrant no comment. Then may come a life when the attention of the soul, of the Master and of the group upon the physical plane are focussed upon the struggling disciple, thus bringing intensification of his situation and forcing him to “struggle into the light of day,” watched by those who understand and by those who do not understand. This causes much suffering to the sensitive worker. All this applies to you. You hate publicity and yet much that you do courts it. You are sensitively humble and yet can be trapped and misled sometimes by personality pride; you love deeply and sincerely but are apt to express this through devotion instead of through wise identification.

Huynh đệ của tôi, có nhiều đời sống có bản chất không đáng kể đến mức không cần bình luận. Rồi có thể đến một đời sống khi sự chú ý của linh hồn, của Chân sư và của nhóm trên cõi hồng trần được tập trung vào đệ tử đang phấn đấu, nhờ đó làm tình huống của y trở nên mãnh liệt hơn và buộc y phải “vật lộn để đi vào ánh sáng ban ngày”, dưới sự quan sát của những người thấu hiểu và của những người không thấu hiểu. Điều này gây nhiều đau khổ cho người hoạt động nhạy cảm. Tất cả điều này áp dụng cho em. Em ghét sự công khai, vậy mà nhiều điều em làm lại thu hút nó. Em khiêm nhường một cách nhạy cảm, nhưng đôi khi có thể bị mắc bẫy và bị dẫn lạc bởi lòng kiêu hãnh của phàm ngã; em yêu thương sâu sắc và chân thành nhưng có khuynh hướng biểu lộ điều này qua sự sùng tín thay vì qua sự đồng nhất minh triết.

I have for you, however, no real concern. I tell you that you need haste in discarding impediments upon the Way but am assured, through study of your soul contact, that you will not be hindered.

Tuy nhiên, Tôi không thật sự lo ngại cho em. Tôi nói với em rằng em cần nhanh chóng loại bỏ những chướng ngại trên Đường Đạo, nhưng qua việc nghiên cứu tiếp xúc linh hồn của em, Tôi chắc chắn rằng em sẽ không bị cản trở.

I ask myself what I can do for you and so aid the process of transmutation and release through right meditation. I would suggest the following experiment in subjective attitudes. That, in the last analysis, is a definition of meditation. The end of all meditation is concerned with:

Tôi tự hỏi Tôi có thể làm gì cho em và như thế trợ giúp tiến trình chuyển hoá và giải phóng qua sự tham thiền đúng đắn. Tôi muốn đề nghị thí nghiệm sau đây trong các thái độ nội giới. Nói cho cùng, đó là một định nghĩa về tham thiền. Mục đích của mọi tham thiền liên quan đến:

1. The attitude of the personality to the soul.

1. Thái độ của phàm ngã đối với linh hồn.

This is self-control.

Đây là sự tự chủ.

2. The attitude of integrated man to humanity.

2. Thái độ của con người tích hợp đối với nhân loại.

This is service.

Đây là sự phụng sự.

3. The attitude of the disciple to the Hierarchy.

3. Thái độ của đệ tử đối với Thánh Đoàn.

This is intuitional sensitivity.

Đây là sự nhạy bén trực giác.

4. The attitude of the hierarchical worker to the Plan.

4. Thái độ của người hoạt động trong Thánh Đoàn đối với Thiên Cơ.

This is selection of activity.

Đây là sự chọn lựa hoạt động.

Ponder on these points, particularly the third which concerns [515] aptly your sensitive reactions to Us. This reaction will be felt in your soul as a complete surrender in time and space; in the personality it will register either as a glamour or a purificatory process, and in the group as a force, having either a good or a bad effect, according to its colouring by the higher or the lower nature and the activity it will succeed in evoking when it impinges upon the personnel of the group.

Hãy suy ngẫm về các điểm này, đặc biệt điểm thứ ba vốn liên quan [515] một cách thích đáng đến các phản ứng nhạy cảm của em đối với Chúng Tôi. Phản ứng này sẽ được cảm nhận trong linh hồn của em như một sự quy thuận hoàn toàn trong thời gian và không gian; trong phàm ngã nó sẽ được ghi nhận hoặc như một ảo cảm, hoặc như một tiến trình thanh luyện, và trong nhóm như một mãnh lực, có hiệu quả tốt hoặc xấu tùy theo nó được nhuộm màu bởi bản chất cao hay thấp và bởi hoạt động mà nó sẽ thành công trong việc gợi lên khi nó tác động lên nhân sự của nhóm.

The following exercise can be done four times and repeated three times each day:

Bài tập sau đây có thể được thực hiện bốn lần và lặp lại ba lần mỗi ngày:

1. Stand with your arms outspread in the symbol of the Cross.

1. Đứng với hai tay dang rộng trong biểu tượng của Thập Giá.

2. Take six long slow breaths, thus establishing a rhythm.

2. Hít thở sáu hơi dài và chậm, nhờ đó thiết lập một nhịp điệu.

3. Then take one long breath and gather up by the power of imagination the energy of the solar plexus. Then carry it along the spine and upward to the head, not to the heart as is usually the case.

3. Rồi hít một hơi dài và bằng quyền năng của Sự tưởng tượng, gom năng lượng của tùng thái dương lại. Rồi đưa nó dọc theo cột sống và lên đầu, không đưa đến tim như thường lệ.

4. Focus the dedicated aspiration and emotional energy in “the secret place” and then sound the OM. Breathe it down into the throat centre.

4. Tập trung khát vọng đã được hiến dâng và năng lượng cảm xúc trong “nơi bí mật”, rồi xướng linh từ OM. Hãy thở nó xuống trung tâm cổ họng.

This can be regarded as an act of breathing in and breathing out and constitutes an activity carried forward on one breath with an interlude of conscious focussing. You will notice that, in combination with the group meditation, you will be working actively upon the solar plexus, the head, the heart and the throat. It will require careful watching of process, results in the centres and consequent activity.

Điều này có thể được xem như một hành động hít vào và thở ra, và cấu thành một hoạt động được tiến hành trong một hơi thở với một khoảng lặng của sự tập trung hữu thức. Em sẽ nhận thấy rằng, kết hợp với bài tham thiền nhóm, em sẽ làm việc tích cực trên tùng thái dương, đầu, tim và cổ họng. Nó sẽ đòi hỏi sự quan sát cẩn trọng về tiến trình, các kết quả trong các trung tâm và hoạt động tiếp theo.

Let me be ambitious for you, my brother of long standing. That I am. I have watched you with loving understanding for a very long cycle. My love ends not and my care of you is all-surrounding.

Huynh đệ lâu năm của tôi, hãy để Tôi có tham vọng cho em. Điều đó Tôi có. Tôi đã quan sát em với sự thấu hiểu đầy tình thương trong một chu kỳ rất dài. Tình thương của Tôi không chấm dứt và sự chăm sóc của Tôi đối với em bao trùm tất cả.

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. One there has been. The second lies ahead—not far ahead. Prepare.

1. Một điều đã có. Điều thứ hai đang ở phía trước—không xa. Hãy chuẩn bị.

2. The simplicity of the soul opens the Way to Shamballa. [516]

2. Sự đơn giản của linh hồn mở Đường Đạo đến Shamballa. [516]

3. Be simple, clear as day and full of love.

3. Hãy đơn giản, trong sáng như ban ngày và đầy tình thương.

4. A glamour settles down because a separating wall was built on false foundations. Destroy this wall and let the glory in.

4. Một ảo cảm phủ xuống vì một bức tường chia cách đã được xây trên những nền móng sai lạc. Hãy phá hủy bức tường này và để vinh quang đi vào.

5. Be not so troubled, brother. Close to my heart you stand and close to that of Morya. Talk to F.B., for you and he and I are close, and close to Morya.

5. Đừng quá phiền muộn, huynh đệ. Em đứng gần trái tim Tôi và gần trái tim của Chân sư Morya. Hãy nói chuyện với F.B., vì em, bạn ấy và Tôi đều gần nhau, và gần Chân sư Morya.

6. Your field of service needs a certain note of quality. Learn to reject and thus discriminate the best.

6. Lĩnh vực phụng sự của em cần một âm điệu phẩm tính nhất định. Hãy học cách loại bỏ và nhờ đó phân biện điều tốt nhất.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY CO-DISCIPLE:

ĐỒNG MÔN CỦA TÔI:

My relation to you is slightly different to that which I face when approaching the bulk of the members of my Ashram; you belong, as does F.B., to the Ashram of the Master Morya. You have been assigned to my Ashram on account of the nature of the vibratory activity of your astral body, and because—owing to your own definite soul choice—you are shifting on to the second ray of love-wisdom. You might well ask, therefore, how it happens that your orientation has been towards the Master M. and that you have been affiliated with His Ashram. The reason is to be found in the fact that your personality, your mental nature and your physical body are all upon the first ray, and that consequently the power of your intelligent and focussed mind has driven you into the aura of the leading first ray Ashram, and has held you there. Closer participation was not possible, owing to your sixth ray soul, whose natural and predetermined destiny was to fuse its secondary energy with the energy of the second ray, thus opening the door for you into a second ray Ashram. It was felt, therefore, that I (through the medium of my Ashram) could provide those conditions which would facilitate this transition and at the same time prepare you for the next great spiritual expansion of consciousness—the initiation of which you know. This will mark the consummation of this major life cycle.

Mối liên hệ của Tôi với em hơi khác với mối liên hệ mà Tôi đối diện khi tiếp cận phần lớn các thành viên trong ashram của Tôi; em thuộc về, cũng như F.B., ashram của Chân sư Morya. Em đã được phân nhiệm đến ashram của Tôi vì bản chất hoạt động rung động của thể cảm dục của em, và vì—do sự chọn lựa xác định của chính linh hồn em—em đang chuyển sang cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Vì vậy, em rất có thể hỏi vì sao định hướng của em lại hướng về Chân sư M. và vì sao em đã liên kết với ashram của Ngài. Lý do được tìm thấy trong sự kiện rằng phàm ngã, bản chất trí tuệ và thể xác của em đều thuộc cung một, và do đó quyền năng của thể trí thông minh và tập trung của em đã đưa em vào hào quang của ashram cung một dẫn đầu, và đã giữ em ở đó. Sự tham dự gần gũi hơn là điều không thể, do linh hồn cung sáu của em, mà định mệnh tự nhiên và đã được định trước của nó là dung hợp năng lượng thứ yếu của mình với năng lượng của cung hai, nhờ đó mở cửa cho em vào một ashram cung hai. Vì vậy, người ta cảm thấy rằng Tôi, qua trung gian ashram của Tôi, có thể cung cấp những điều kiện sẽ tạo thuận lợi cho sự chuyển tiếp này, đồng thời chuẩn bị em cho sự mở rộng tâm thức tinh thần lớn lao kế tiếp—cuộc điểm đạo mà em biết. Điều này sẽ đánh dấu sự viên mãn của chu kỳ đời sống chính yếu này.

As you know, and as I have before pointed out, you have a profound task of balancing to carry out, owing to the ray [517] energies which at this time condition your life. Three aspects of the first ray and two aspects of the sixth intensify each other. Were you not the advanced disciple which you are, they would be liable to produce a life and karmic expression of a fanatical self-will. To this difficult situation of balancing must be added the difficulties always entailed in a transitional life wherein a major transfer must be effected. To all this again must be added the present world condition, wherein the Shamballa force is abroad and potently affecting those natures which have a preponderance of first ray aptitudes. You have thus no easy time, my brother. This you realise, and I too know it, and stand by.

Như em biết, và như Tôi đã chỉ ra trước đây, em có một nhiệm vụ cân bằng sâu xa phải thực hiện, do các năng lượng cung [517] đang tác động lên đời sống của em vào lúc này. Ba phương diện của cung một và hai phương diện của cung sáu làm tăng cường lẫn nhau. Nếu em không phải là đệ tử tiến bộ như hiện nay, chúng có thể tạo ra một đời sống và một biểu lộ nghiệp quả của ý chí cá nhân cuồng tín. Vào tình huống cân bằng khó khăn này phải cộng thêm những khó khăn luôn đi kèm trong một đời sống chuyển tiếp, trong đó phải thực hiện một sự chuyển dịch lớn. Vào tất cả điều này lại phải cộng thêm tình trạng thế giới hiện nay, trong đó mãnh lực Shamballa đang lan rộng và tác động mạnh mẽ lên những bản chất có sự trội vượt về các khuynh hướng cung một. Như thế, huynh đệ của tôi, em không có một thời kỳ dễ dàng. Điều này em nhận ra, và Tôi cũng biết, và Tôi đứng bên em.

It was for this reason that I have urged you for some years to concentrate upon the book “The Way into Shamballa,” knowing that an intelligent and loving consideration of the problem would do much to bring your first ray personality nature into line with the purposes of your second ray soul, and thus facilitate the transfer of your egoic consciousness off the sixth ray of devotion on to the second ray of love-wisdom. The first and the second rays work closely together; love and will are closely identified on the higher levels of consciousness and service; the two basic energies in reality constitute one great expression of divine planning and purpose.

Chính vì lý do này mà trong vài năm qua Tôi đã thúc giục em tập trung vào cuốn sách “Con Đường vào Shamballa”, vì biết rằng một sự suy xét thông minh và đầy tình thương về vấn đề này sẽ góp phần nhiều trong việc đưa bản chất phàm ngã cung một của em thẳng hàng với các mục đích của linh hồn cung hai của em, và như thế tạo thuận lợi cho việc chuyển dịch tâm thức chân ngã của em khỏi cung sáu của sùng tín sang cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Cung một và cung hai hoạt động mật thiết với nhau; tình thương và ý chí được đồng nhất chặt chẽ trên các cấp độ cao hơn của tâm thức và phụng sự; hai năng lượng căn bản trong thực tại cấu thành một biểu lộ vĩ đại duy nhất của sự hoạch định và Thiên Ý thiêng liêng.

It is in this connection too that your relation to F.B. and A.A.B. is no idle or temporary matter, but one of real import to all of you. This A.A.B. has recognised. Several forces— inherent in your own nature or engineered and manipulated by the ignorant or the less advanced upon the Path—have endeavoured to interfere and prevent the desired relationship. The matter is, however, entirely in your own hands and the amount of contact between the three of you is your personal matter, for there is no impediment upon the side of the other two. The three of you together could do potent work, and the need of the Ashram at this time for workers is great—workers who are, as H.P.B. has put it, “as the fingers of one hand.”

Cũng trong mối liên hệ này mà quan hệ của em với F.B. và A.A.B. không phải là vấn đề vô nghĩa hay tạm thời, mà là vấn đề có tầm quan trọng thật sự đối với tất cả các em. A.A.B. đã nhận ra điều này. Nhiều mãnh lực—vốn có trong bản chất của chính em, hoặc do những người vô minh hay kém tiến bộ hơn trên Đường Đạo sắp đặt và thao túng—đã cố gắng can thiệp và ngăn cản mối quan hệ mong muốn. Tuy nhiên, vấn đề hoàn toàn nằm trong tay em, và mức độ tiếp xúc giữa ba em là vấn đề cá nhân của em, vì không có chướng ngại nào từ phía hai người kia. Ba em cùng nhau có thể làm công việc mạnh mẽ, và nhu cầu của ashram vào lúc này đối với những người hoạt động là rất lớn—những người hoạt động mà, như H.P.B. đã nói, “như các ngón tay của một bàn tay.”

I would remind you that the potency of disciples and initiates is out of all proportion greater than that of a similar [518] number of aspirants. The interplay of loving understanding and of fused wills produces an exceedingly potent reservoir of energy. This is a point which all disciples should study and upon which they can count as they work together in united effort in any Ashram.

Tôi muốn nhắc em rằng sức mạnh của các đệ tử và điểm đạo đồ lớn hơn hoàn toàn không tương xứng với sức mạnh của một số lượng tương tự [518] người chí nguyện. Sự tương tác của sự thấu hiểu đầy tình thương và của những ý chí đã dung hợp tạo ra một hồ chứa năng lượng cực kỳ mạnh mẽ. Đây là một điểm mà tất cả các đệ tử nên nghiên cứu và họ có thể trông cậy vào đó khi cùng nhau làm việc trong nỗ lực hợp nhất trong bất cứ ashram nào.

As I study you, my brother and my friend, and as I look ahead at your life of service and of right intention, one word stands out in my consciousness for you. To it, I referred in the six statements which I earlier gave you. That word is: simplicity. I stated in that earlier writing that the simplicity of the soul opens the way into Shamballa. That was and is an essential key statement for you. Those upon the second ray fall (as you know) into two groups, generally speaking; there are, naturally, numerous exceptions. Souls on the wisdom aspect of the second ray go to Shamballa and join the great Council in some capacity or another. Such a one was the Buddha. Those on the love aspect of the second ray tread one or other of the various paths, primarily that of the World Saviours; They become the divine Psychologists and World Teachers. The Christ combined in Himself all these three great traits.

Khi Tôi nghiên cứu em, huynh đệ và bạn của Tôi, và khi Tôi nhìn về phía trước vào đời sống phụng sự và ý định đúng đắn của em, có một từ nổi bật trong tâm thức Tôi dành cho em. Tôi đã đề cập đến từ ấy trong sáu phát biểu mà trước đây Tôi đã trao cho em. Từ ấy là: sự giản dị. Trong văn bản trước đó, Tôi đã nói rằng sự giản dị của linh hồn mở đường vào Shamballa. Đó đã và vẫn là một phát biểu then chốt thiết yếu đối với em. Những người thuộc cung hai, nói chung, rơi vào hai nhóm, như em biết; dĩ nhiên có nhiều ngoại lệ. Các linh hồn trên phương diện minh triết của cung hai đi đến Shamballa và tham gia Hội Đồng Vĩ Đại trong một vai trò nào đó. Đức Phật là một Đấng như thế. Những người trên phương diện bác ái của cung hai bước đi trên một trong các con đường khác nhau, chủ yếu là con đường của các Đấng Cứu Thế; Các Ngài trở thành những Nhà Tâm Lý Học thiêng liêng và các Đức Chưởng Giáo. Đức Christ kết hợp trong chính Ngài cả ba đặc tính vĩ đại này.

Those in this second group of souls upon the second ray likewise fall into two groups: They follow the way of specialised detail and of a comprehensive inclusiveness, and are the outstanding occultists; the other group is distinguished by pure love. Of the group which finds its way into Shamballa a developed simplicity will be found to govern all relations.

Những người trong nhóm thứ hai này của các linh hồn thuộc cung hai cũng rơi vào hai nhóm: Họ theo con đường của chi tiết chuyên biệt và của một tính bao gồm toàn diện, và là những nhà huyền bí học nổi bật; nhóm kia được phân biệt bởi tình thương thuần khiết. Trong nhóm tìm được đường vào Shamballa, người ta sẽ thấy một sự giản dị đã phát triển chi phối mọi mối liên hệ.

Simplicity and unity are related; simplicity is one-pointedness of outlook, free from glamour and the intricacies of the thoughtform-making mind; simplicity is clarity of purpose and steadfastness in intention and in effort, untrammelled by questioning and devious introspection; simplicity leads to simple loving, asking nothing in return; simplicity leads to silence—not silence as an escape mechanism, but as an “occult retention of speech.”

Sự giản dị và sự hợp nhất có liên quan với nhau; sự giản dị là tính nhất tâm trong nhãn quan, thoát khỏi ảo cảm và những phức tạp của thể trí tạo hình tư tưởng; sự giản dị là sự sáng tỏ của mục đích và sự kiên định trong ý định cũng như trong nỗ lực, không bị trói buộc bởi sự chất vấn và sự nội quan quanh co; sự giản dị dẫn đến tình thương đơn sơ, không đòi hỏi điều gì đáp lại; sự giản dị dẫn đến im lặng—không phải im lặng như một cơ chế né tránh, mà như một “sự giữ lại lời nói theo huyền môn.”

For you, simplicity is a major essential practice in this next cycle of your life, but you will have to decide for yourself [519] what it means for you, and I shall be interested to note your reaction to this word and practice and the changes it may make in your life and thinking. Simplicity connotes the blueprint which “substands” the outer structure of creation, of living, of loving and of service, and this is true of a solar system, a planet, humanity or the individual. It consequently has its immediate application to your own requirements and your mode of approach to life and to people. This loving simplicity—free from complicated thinking, from mystery and from selfish introspection—should provide the theme for your meditation work until I next communicate with you. To this I would add an increased concentration upon the preparation of the book which I seek to have you write and to complete.

Đối với em, sự giản dị là một thực hành thiết yếu lớn lao trong chu kỳ kế tiếp của đời em, nhưng em sẽ phải tự quyết định [519] nó có nghĩa gì đối với em, và Tôi sẽ quan tâm ghi nhận phản ứng của em đối với từ này và thực hành này, cũng như những thay đổi mà nó có thể tạo ra trong đời sống và tư tưởng của em. Sự giản dị hàm ý bản thiết kế vốn “nâng đỡ từ bên dưới” cấu trúc bên ngoài của sáng tạo, của sống, của yêu thương và của phụng sự, và điều này đúng đối với một hệ mặt trời, một hành tinh, nhân loại hay cá nhân. Do đó, nó có ứng dụng trực tiếp vào các nhu cầu riêng của em và vào cách em tiếp cận đời sống cũng như con người. Sự giản dị đầy yêu thương này—thoát khỏi tư tưởng phức tạp, khỏi sự huyền bí hóa và khỏi nội quan ích kỷ—nên cung cấp chủ đề cho công việc tham thiền của em cho đến khi Tôi liên lạc lại với em. Tôi muốn thêm vào đó một sự tập trung gia tăng vào việc chuẩn bị cuốn sách mà Tôi muốn em viết và hoàn tất.

You see, my brother, it is a book which will take much intuition and spiritual perception to write, and it can only be written by someone who has been trained in an Ashram. The theme of Shamballa is new, and little is yet known about it, its way of life and its governing laws. Only initiate-disciples can get a glimpse of some of the more exoteric significances, whilst the inner meaning must be drawn forth by you in deep and concentrated meditation and by the determined use of the will. There is no one who can aid you in preparing this book except some group brother or someone working consciously in an Ashram. You will look in vain for cooperation and help among those you seek to aid and among the orthodox and theological esotericist. Some key thoughts I can here give to you, and if you use them as the theme of your meditation, light upon the subject may break forth:

Huynh đệ của Tôi, em thấy đó, đây là một cuốn sách đòi hỏi nhiều trực giác và nhận thức tinh thần để viết, và chỉ có thể được viết bởi một người đã được huấn luyện trong một Ashram. Chủ đề về Shamballa còn mới, và hiện nay người ta còn biết rất ít về nó, về lối sống của nó và các định luật cai quản nó. Chỉ các đệ tử-điểm đạo đồ mới có thể thoáng thấy một vài thâm nghĩa ngoại môn hơn, trong khi ý nghĩa bên trong phải được em rút ra trong sự tham thiền sâu xa và tập trung, cùng bằng việc sử dụng ý chí một cách kiên quyết. Không ai có thể trợ giúp em trong việc chuẩn bị cuốn sách này ngoại trừ một huynh đệ trong nhóm hoặc một người đang làm việc một cách có ý thức trong một Ashram. Em sẽ tìm kiếm sự hợp tác và trợ giúp một cách vô ích nơi những người em tìm cách giúp đỡ và nơi các nhà bí truyền học chính thống và thần học. Ở đây Tôi có thể trao cho em một vài tư tưởng then chốt, và nếu em dùng chúng làm chủ đề cho sự tham thiền của mình, ánh sáng về đề tài này có thể bừng lên:

1. Shamballa is the place of purpose. It is a purpose which cannot be understood until the Plan is followed. Herein lies a clue.

1. Shamballa là nơi của Thiên Ý. Đó là một Thiên Ý không thể được thấu hiểu cho đến khi Thiên Cơ được noi theo. Chính trong đây có một manh mối.

2. Shamballa is not a Way, but a major centre of related states and a relatively static energy—energy held ready for creative purposes by the focussed intention of the Great Council, acting under the directing eye of the Lord of the World. [520]

2. Shamballa không phải là một Con Đường, mà là một trung tâm lớn của các trạng thái liên hệ và của một năng lượng tương đối tĩnh—năng lượng được giữ sẵn cho các mục đích sáng tạo bởi ý định tập trung nhất tâm của Hội Đồng Vĩ Đại, hành động dưới con mắt chỉ đạo của Đức Chúa Tể Thế Giới. [520]

3. Shamballa is the major point of tension upon the planet. It is a tension that expresses loving intelligent will, free from all self-will or mental bias.

3. Shamballa là điểm tập trung nhất tâm lớn trên hành tinh. Đó là một sự căng thẳng biểu lộ ý chí bác ái và thông tuệ, thoát khỏi mọi ý chí cá nhân hay thiên kiến trí tuệ.

4. Shamballa is the major receptive agent upon the planet, from the angle of solar inflow, but at the same time it is the main distributing point of energy, from the angle of the kingdoms in nature, including the fifth kingdom. From the point of tension the life pattern of the planetary Logos and His will become embodied and finally matured through the processes of evolution.

4. Shamballa là tác nhân tiếp nhận chính trên hành tinh, xét từ góc độ dòng tuôn đổ từ mặt trời, nhưng đồng thời nó là điểm phân phối năng lượng chủ yếu, xét từ góc độ các giới trong thiên nhiên, kể cả giới thứ năm. Từ điểm tập trung nhất tâm, mô hình sự sống của Hành Tinh Thượng Đế và ý chí của Ngài trở nên được hiện thân và cuối cùng chín muồi thông qua các tiến trình tiến hoá.

5. Shamballa receives energy from various solar and extra-solar Entities or centres of emphatic and energetic life; i.e., from Venus, from the Central Spiritual Sun, from the current conditioning constellation through which our sun may be passing, from the Great Bear and other cosmic centres. Sirius, so important a factor in the spiritual life of the planet, brings its energies to bear direct upon the Hierarchy, and energy from Sirius does not normally enter our planetary life via Shamballa.

5. Shamballa tiếp nhận năng lượng từ nhiều Thực Thể hoặc trung tâm thái dương và ngoài thái dương khác nhau của sự sống mãnh liệt và đầy năng lực; nghĩa là, từ Sao Kim, từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương, từ chòm sao đang tác động hiện nay mà mặt trời của chúng ta có thể đang đi qua, từ Đại Hùng Tinh và các trung tâm vũ trụ khác. Sirius, một yếu tố rất quan trọng trong đời sống tinh thần của hành tinh, đưa các năng lượng của nó tác động trực tiếp lên Thánh Đoàn, và năng lượng từ Sirius thông thường không đi vào đời sống hành tinh của chúng ta qua Shamballa.

6. Shamballa is the head centre, speaking symbolically, of our planetary Life, focussing will, love and intelligence in one great and fundamental Intention and holding that focussed point throughout the entire life cycle of a planet. This great Intention embodies current purpose and expresses itself through the medium of the Plan.

6. Shamballa là trung tâm đầu, nói theo biểu tượng, của Sự Sống hành tinh chúng ta, tập trung ý chí, bác ái và thông tuệ trong một Ý Định vĩ đại và căn bản, đồng thời giữ điểm tập trung ấy suốt toàn bộ chu kỳ sống của một hành tinh. Ý Định vĩ đại này hiện thân Thiên Ý hiện hành và tự biểu lộ qua trung gian của Thiên Cơ.

These statements may be somewhat familiar to you, but they could provide the six seed thoughts for your meditative work during the coming year. Will you thus consider them? Out of the work which you will accomplish thus in meditation (using the heart centre as a balance for the head) you will greatly enrich the proposed book.

Những phát biểu này có thể phần nào quen thuộc với em, nhưng chúng có thể cung cấp sáu tư tưởng hạt giống cho công việc tham thiền của em trong năm tới. Em sẽ xem xét chúng như vậy chứ? Từ công việc mà em sẽ hoàn thành như thế trong tham thiền, dùng trung tâm tim làm yếu tố quân bình cho đầu, em sẽ làm phong phú rất nhiều cho cuốn sách được đề nghị.

This coming period of deep reflection upon Shamballa, entailing as it will the entire problem of the Will (in its various aspects), of purpose as it works out in the planet, and of will as it conditions the human being, will bring to the fore in your consciousness the various relations existing between the differing aspects of the will: the relation of your individual self-will to the loving plan of the soul, of that will to [521] the divine Will, of your spiritual will to the group will, of the group will to the Hierarchy, and of the hierarchical will to that of Shamballa. Such are some of the ideas which can govern your spiritual thinking, reflection and meditation until you again hear from me. You will find all these to be intensely practical considerations. The question of motive will immediately enter in, for motive underlies will in a most curious manner, and motive “substands” purpose. Therefore, your personality motives in life and service will have to come under review, and their relation to soul motive. The result of this entire process of thinking will be the subjugation of your motives to soul motive, and again, therefore, we shall have the simplification of your life and the opening up of a wider vision into Shamballa. Shamballa and simplicity, will and motive, will become the directing currents of thought which will sweep you on your way, closer to my Ashram, nearer to my heart (and here I am speaking both lovingly and technically), and nearer and closer to humanity.

Giai đoạn sắp tới của sự suy tư sâu xa về Shamballa, vốn sẽ kéo theo toàn bộ vấn đề về Ý Chí trong các phương diện khác nhau của nó, về Thiên Ý khi nó thể hiện trên hành tinh, và về ý chí khi nó tác động lên con người, sẽ đưa ra tiền cảnh trong tâm thức em các mối liên hệ khác nhau đang tồn tại giữa các phương diện khác biệt của ý chí: mối liên hệ giữa ý chí cá nhân của em với thiên cơ đầy yêu thương của linh hồn, giữa ý chí ấy với [521] Ý Chí thiêng liêng, giữa ý chí tinh thần của em với ý chí nhóm, giữa ý chí nhóm với Thánh Đoàn, và giữa ý chí của Thánh Đoàn với ý chí của Shamballa. Đó là một vài ý tưởng có thể chi phối tư tưởng tinh thần, sự suy tư và tham thiền của em cho đến khi em lại nghe từ Tôi. Em sẽ thấy tất cả những điều này là các cân nhắc hết sức thực tiễn. Vấn đề về động cơ sẽ lập tức bước vào, vì động cơ nằm bên dưới ý chí theo một cách hết sức kỳ lạ, và động cơ “nâng đỡ từ bên dưới” mục đích. Vì vậy, các động cơ phàm ngã của em trong đời sống và phụng sự sẽ phải được xem xét lại, cùng mối liên hệ của chúng với động cơ của linh hồn. Kết quả của toàn bộ tiến trình tư duy này sẽ là sự khuất phục các động cơ của em trước động cơ của linh hồn, và vì vậy, một lần nữa, chúng ta sẽ có sự giản dị hóa đời sống của em và sự mở ra một tầm nhìn rộng lớn hơn vào Shamballa. Shamballa và sự giản dị, ý chí và động cơ, sẽ trở thành các dòng tư tưởng chỉ đạo cuốn em đi trên đường của mình, gần hơn với Ashram của Tôi, gần hơn với trái tim Tôi, và ở đây Tôi đang nói vừa bằng tình thương vừa theo nghĩa kỹ thuật, và gần hơn, sát hơn với nhân loại.

November 1944

Tháng Mười Một, 1944

MY BROTHER AND MY FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ BẠN CỦA TÔI:

What I have to say to you today hinges upon one single question: Are you ready to pay the price which the taking of the next initiation entails? All accepted disciples are preparing for initiation. All are therefore under test. You know that you are preparing for initiation; you know which initiation it is. It is because of this preparatory period that the past three years have seen you seriously tested, and tested in every aspect of your nature. There is, nevertheless, little that I have been able to do for you because loneliness is one of the assets and also aspects of this work of preparation. Disciples ever take initiations alone, even when preparing for and taking group initiation. This is one of the paradoxes of the occult teaching which is not at all easily understood. It sounds entirely contradictory but is not so at all. It has not been easy to reach you either, because you have taken refuge from the tests in the work of your own group, rather than in the Ashram. In your own group you have sought forgetfulness [522] and have not sought the protection and the love of your ashramic group. That is your privilege and your inalienable right. I would like, however, to point out to you that it is safer and wiser to take refuge in both the higher and the lower places of service, and to do this simultaneously. One place safeguards you as a soul and the other as a personality.

Điều Tôi phải nói với em hôm nay xoay quanh một câu hỏi duy nhất: Em đã sẵn sàng trả giá mà việc nhận lần điểm đạo kế tiếp đòi hỏi chưa? Tất cả các đệ tử được chấp nhận đều đang chuẩn bị cho điểm đạo. Vì vậy, tất cả đều đang chịu thử thách. Em biết rằng em đang chuẩn bị cho điểm đạo; em biết đó là lần điểm đạo nào. Chính vì giai đoạn chuẩn bị này mà ba năm qua đã chứng kiến em bị thử thách nghiêm trọng, và bị thử thách trong mọi phương diện của bản chất em. Tuy nhiên, có rất ít điều Tôi có thể làm cho em, vì sự cô độc là một trong những lợi thế và cũng là các phương diện của công việc chuẩn bị này. Các đệ tử luôn luôn nhận điểm đạo một mình, ngay cả khi chuẩn bị và nhận điểm đạo theo nhóm. Đây là một trong những nghịch lý của giáo huấn huyền môn, hoàn toàn không dễ thấu hiểu. Nó nghe có vẻ hoàn toàn mâu thuẫn, nhưng thật ra không hề như vậy. Cũng không dễ tiếp cận em, vì em đã nương náu khỏi các thử thách trong công việc của nhóm riêng em, hơn là trong Ashram. Trong nhóm riêng của mình, em đã tìm kiếm sự quên lãng [522] và đã không tìm kiếm sự che chở cũng như tình thương của nhóm ashram của em. Đó là đặc quyền của em và là quyền bất khả nhượng của em. Tuy nhiên, Tôi muốn chỉ ra cho em rằng sẽ an toàn và minh triết hơn nếu nương náu nơi cả hai chỗ phụng sự cao và thấp, và làm điều này đồng thời. Một chỗ bảo vệ em với tư cách là linh hồn, còn chỗ kia với tư cách là phàm ngã.

The call of Shamballa, the call of my Ashram, and the call of your own exoteric group (mark those words, my brother) have sounded forth in your ears and you have been bewildered; you have forgotten perhaps that if you stand at the midway point (which is my Ashram) you have immediate access to both “points of call.” I have here given you an important hint and want you to endeavour to grasp its significance.

Tiếng gọi của Shamballa, tiếng gọi của Ashram của Tôi, và tiếng gọi của nhóm ngoại môn riêng em, hãy ghi nhớ những lời này, huynh đệ của Tôi, đã vang lên trong tai em và em đã bối rối; có lẽ em đã quên rằng nếu em đứng ở Điểm ở giữa, tức là Ashram của Tôi, thì em có quyền tiếp cận tức thời với cả hai “điểm kêu gọi.” Ở đây Tôi đã trao cho em một gợi ý quan trọng và muốn em cố gắng nắm bắt thâm nghĩa của nó.

You have been drastically tested in your physical vehicle, and that is hard, my brother, because it is difficult to preserve one’s equanimity and one’s balance under those circumstances. You need, however, to understand better than you do the “distortions” for which physical sickness is responsible, and thus learn more wisely to discount yourself and to pay less attention to the glamours of the lower self. This would simplify your life, and I told you earlier that simplification was a needed attribute for you. You have also been sorely tested in the emotional nature; surely, my beloved brother, you know by this time that when a definite transition is being made by the soul—as is the case where you are concerned—from one ray to another, that abnormal testing is automatically inevitable? This will be particularly the case when a disciple is moving on to the second ray, owing to its close relationship with the emotional-intuitive nature, and when also you have—as you know—three first ray controls in your personality equipment.

Em đã bị thử thách gay gắt trong vận cụ hồng trần của mình, và điều đó khó khăn, huynh đệ của Tôi, vì thật khó giữ sự điềm tĩnh và quân bình của mình trong những hoàn cảnh như thế. Tuy nhiên, em cần thấu hiểu rõ hơn hiện nay về những “biến dạng” mà bệnh tật thể xác gây ra, và nhờ đó học cách minh triết hơn để tự giảm nhẹ tầm quan trọng của mình và ít chú ý hơn đến các ảo cảm của phàm ngã. Điều này sẽ làm giản dị hóa đời sống em, và Tôi đã nói với em trước đây rằng sự giản dị hóa là một thuộc tính cần thiết cho em. Em cũng đã bị thử thách nghiệt ngã trong bản chất cảm xúc; chắc chắn, huynh đệ yêu dấu của Tôi, đến lúc này em biết rằng khi linh hồn đang thực hiện một sự chuyển tiếp rõ rệt, như trường hợp của em, từ cung này sang cung khác, thì sự thử thách bất thường tự động là điều không thể tránh khỏi. Điều này đặc biệt đúng khi một đệ tử đang chuyển sang cung hai, do mối liên hệ gần gũi của nó với bản chất cảm xúc-trực giác, và khi em cũng có, như em biết, ba sự kiểm soát cung một trong trang bị phàm ngã của mình.

This necessarily engenders a serious problem. You have also been cruelly tested in your mental nature by the war and through your intense grasp of human pain, as well as by your understanding of psychological reactions. These have served to enhance your problem, and your entire emotional and mental reaction to war and its happenings has well-nigh crippled your essential (not your apparent) usefulness. You [523] have, within yourself, questioned the foundations of all things, and life has been most complicated for you—physically, emotionally and mentally. Owing to the dominance of the first ray in your equipment, you have successfully withdrawn yourself from your group brothers; you have considered that they had naught to give you, and you realised that—feeling this way—you had naught for them. Detachment is the path of least resistance for a first ray nature, and (if you will permit me to say so and will accept this statement) indicates definitely the dominance at this time of personality reactions. Your second ray soul does not sanction detachment, and hence the conflict being waged within your consciousness.

Điều này tất yếu sinh ra một vấn đề nghiêm trọng. Em cũng đã bị thử thách tàn nhẫn trong bản chất trí tuệ của mình bởi chiến tranh và qua sự nắm bắt mãnh liệt nỗi đau của nhân loại, cũng như bởi sự thấu hiểu của em về các phản ứng tâm lý. Những điều này đã làm gia tăng vấn đề của em, và toàn bộ phản ứng cảm xúc và trí tuệ của em đối với chiến tranh và các biến cố của nó gần như đã làm tê liệt tính hữu dụng thiết yếu của em, chứ không phải tính hữu dụng bề ngoài. Trong [523] chính mình, em đã chất vấn nền tảng của mọi sự, và đời sống đã trở nên hết sức phức tạp đối với em—về thể xác, cảm xúc và trí tuệ. Do sự thống trị của cung một trong trang bị của em, em đã thành công trong việc rút mình khỏi các huynh đệ trong nhóm; em đã cho rằng họ không có gì để trao cho em, và em nhận ra rằng, khi cảm thấy như vậy, em cũng không có gì cho họ. Tách rời là con đường ít trở ngại nhất đối với một bản chất cung một, và nếu em cho phép Tôi nói như vậy và chấp nhận phát biểu này, điều đó chắc chắn cho thấy vào lúc này các phản ứng phàm ngã đang chiếm ưu thế. Linh hồn cung hai của em không chấp thuận sự tách rời, và do đó có cuộc xung đột đang diễn ra trong tâm thức em.

Yet, my brother and my comrade, the deep and lasting love of two of your group brothers has steadily protected you during this time of trial and of difficulty, as has the love of A.A.B. She asks me not to tell you this, indeed she begs me not to do so, for she is sensitive interiorly to all that affects you. It is, however, right that you should know.

Tuy nhiên, huynh đệ và đồng chí của Tôi, tình thương sâu xa và bền bỉ của hai huynh đệ trong nhóm em đã kiên trì bảo vệ em trong thời gian thử thách và khó khăn này, cũng như tình thương của A.A.B. Bà yêu cầu Tôi đừng nói với em điều này, thật vậy, bà khẩn khoản xin Tôi đừng làm như thế, vì bên trong bà nhạy cảm với tất cả những gì ảnh hưởng đến em. Tuy nhiên, điều đúng đắn là em nên biết.

So, brother of mine, we come back to the question of the reason for all this harshness in life and to the initiation for which you are preparing. In connection with this I would say: Get back to the “midway point” and to the protecting love of the Ashram. Then the strength of Shamballa to which you so easily respond can safely pour in; then, too, will come the wisdom which will enable you to render better service to the world. See therefore how simple is the message which I have for you at this time, and remember that I told you last year that simplicity held for you the key to all success. You are not truly successful just at present. Simplicity does not rule.

Vậy, huynh đệ của Tôi, chúng ta trở lại với câu hỏi về lý do của tất cả sự khắc nghiệt này trong đời sống và với lần điểm đạo mà em đang chuẩn bị. Liên quan đến điều này, Tôi muốn nói: Hãy trở lại “điểm ở giữa” và với tình thương che chở của Ashram. Khi đó sức mạnh của Shamballa, mà em đáp ứng rất dễ dàng, có thể tuôn vào một cách an toàn; khi đó, cũng sẽ đến minh triết giúp em phụng sự thế giới tốt hơn. Vì vậy, hãy thấy thông điệp mà Tôi dành cho em vào lúc này giản dị biết bao, và hãy nhớ rằng năm ngoái Tôi đã nói với em rằng sự giản dị nắm giữ chìa khóa cho mọi thành công của em. Hiện giờ em chưa thật sự thành công. Sự giản dị chưa cai quản.

Relinquish the thoughtforms which seem at this time to stand between you and the Ashram. You will know what these are if you will take three days of quiet retirement and during that time refuse to think about your work, about your groups, their personnel or about yourself and your past activities, as well as about your group brothers. Aim simply to achieve a point of orientation towards me and the Ashram; endeavour to respond consciously to hierarchical impression, [524] shutting out (at least for those three days) every kind of reaction to human happenings. Aim at a point of tension from which new endeavour and new enterprise can become possible. Then rededicate yourself to the service of humanity; reconsecrate yourself to cooperation with the Hierarchy, and regain your early enthusiasm in relation to Us and Our work. Then again resume your world contacts. There will be three letters which you will find it necessary to write if these days are productive of renewed contact with hierarchical force. You will know to whom these letters should go and what they will state.

Hãy từ bỏ các hình tư tưởng dường như vào lúc này đang đứng giữa em và Ashram. Em sẽ biết chúng là gì nếu em dành ba ngày tĩnh dưỡng yên lặng và trong thời gian ấy từ chối nghĩ về công việc của mình, về các nhóm của mình, về nhân sự của họ, hoặc về bản thân em và các hoạt động quá khứ của em, cũng như về các huynh đệ trong nhóm em. Hãy đơn giản nhắm đến việc đạt một điểm định hướng về phía Tôi và Ashram; hãy cố gắng đáp ứng một cách có ý thức với ấn tượng của Thánh Đoàn, [524] loại trừ, ít nhất trong ba ngày ấy, mọi loại phản ứng đối với các biến cố của nhân loại. Hãy nhắm đến một điểm tập trung nhất tâm, từ đó nỗ lực mới và công cuộc mới có thể trở nên khả hữu. Rồi hãy tái hiến mình cho việc phụng sự nhân loại; hãy tái thánh hiến mình cho sự hợp tác với Thánh Đoàn, và khôi phục nhiệt huyết ban đầu của em đối với Chúng Tôi và công việc của Chúng Tôi. Rồi sau đó hãy nối lại các tiếp xúc thế gian của em. Sẽ có ba lá thư mà em sẽ thấy cần phải viết nếu những ngày này tạo ra sự tiếp xúc được đổi mới với mãnh lực của Thánh Đoàn. Em sẽ biết những lá thư ấy nên gửi cho ai và chúng sẽ nói gì.

Take proper medical help, brother of mine. Take time to get the physical vehicle in better condition. The reflex action of the body upon the emotional nature and upon the mind is great. As a psychologist you know this, but fail to apply to yourself what you so helpfully apply to others. Have confidence in my belief and trust in you, and let the remaining years of your life be triumphant in love; let them be negative to criticism; all your group brothers are handling problems equal in difficulty to yours; proffer rich cooperation to them and to the Hierarchy. My love and blessing is ever yours, and this you know.

Huynh đệ của Tôi, hãy nhận sự trợ giúp y khoa thích hợp. Hãy dành thời gian để đưa vận cụ hồng trần vào tình trạng tốt hơn. Tác động phản xạ của thể xác lên bản chất cảm xúc và lên thể trí là rất lớn. Là một nhà tâm lý học, em biết điều này, nhưng lại không áp dụng cho bản thân điều mà em áp dụng rất hữu ích cho người khác. Hãy tin tưởng vào niềm tin và sự tín nhiệm của Tôi nơi em, và hãy để những năm còn lại của đời em chiến thắng trong tình thương; hãy để chúng không đáp ứng với phê phán; tất cả các huynh đệ trong nhóm em đang xử lý những vấn đề khó khăn ngang với của em; hãy trao cho họ và cho Thánh Đoàn sự hợp tác phong phú. Tình thương và phúc lành của Tôi luôn thuộc về em, và điều này em biết.

August 1946

Tháng Tám, 1946

MY BELOVED BROTHER:

HUYNH ĐỆ YÊU DẤU CỦA TÔI:

I would like to start my communication to you with a clear and definite statement: You are in process of taking some of the final tests which precede the taking of the second initiation. For that reason, I feel the need of writing to you with clarity, of bringing you some measure of comfort and of strength, and of indicating certain steps which—if you will take them—may hasten the process.

Tôi muốn bắt đầu sự truyền đạt của Tôi cho em bằng một phát biểu rõ ràng và dứt khoát: Em đang trong tiến trình trải qua một số thử thách cuối cùng đi trước việc nhận lần điểm đạo thứ hai. Vì lý do đó, Tôi cảm thấy cần viết cho em với sự rõ ràng, mang đến cho em một mức độ an ủi và sức mạnh nào đó, và chỉ ra một vài bước mà nếu em thực hiện, có thể thúc nhanh tiến trình.

Yet I feel very great difficulty in approaching you, though not for the usual reasons. Oft a Master cannot at some particular time reach a disciple because he is surrounded with too much activity, or with activities of the wrong kind; in some cases, the thought-life of the disciple has created so many thoughtforms that temporarily he cannot be reached; [525] or again, he is absorbed in some form of service which he deems essential and which looms larger in his consciousness than the work of the Ashram with which he is affiliated. These, however, are not the things which hinder an easy contact with you. What do hinder are the results in your consciousness, at this particular stage, of the tests of the initiation themselves. It is the emotional glamour which has engulfed you, and freedom from glamour has to be demonstrated at the second initiation; it is the intense awareness you experience, at this time, of yourself—the central factor. This again is a necessary but distressing prelude to this initiation. This glamour comes between you and me. The self-awareness comes also between you and the Ashram, as well as between you and the group which you have gathered around you upon the physical plane.

Tuy nhiên, Tôi cảm thấy rất khó khăn khi tiếp cận em, dù không phải vì những lý do thông thường. Thường thì vào một thời điểm đặc biệt nào đó, một Chân sư không thể tiếp cận một đệ tử vì y bị bao quanh bởi quá nhiều hoạt động, hoặc bởi các hoạt động sai loại; trong vài trường hợp, đời sống tư tưởng của đệ tử đã tạo ra quá nhiều hình tư tưởng đến nỗi tạm thời không thể tiếp cận y; [525] hoặc lại nữa, y bị cuốn hút vào một hình thức phụng sự nào đó mà y cho là thiết yếu và nó hiện ra lớn hơn trong tâm thức y so với công việc của Ashram mà y liên kết. Tuy nhiên, đó không phải là những điều cản trở sự tiếp xúc dễ dàng với em. Điều thật sự cản trở là các kết quả trong tâm thức em, ở giai đoạn đặc biệt này, của chính các thử thách điểm đạo. Đó là ảo cảm cảm xúc đã nhận chìm em, và sự tự do khỏi ảo cảm phải được chứng minh ở lần điểm đạo thứ hai; đó là sự nhận biết mãnh liệt mà em đang trải nghiệm vào lúc này về bản thân em—yếu tố trung tâm. Điều này cũng là một khúc dạo đầu cần thiết nhưng gây đau khổ cho lần điểm đạo này. Ảo cảm này chen vào giữa em và Tôi. Sự tự nhận biết cũng chen vào giữa em và Ashram, cũng như giữa em và nhóm mà em đã quy tụ quanh mình trên cõi hồng trần.

Having read this far, will you, brother of mine, continue? There is some probability that you will not. You may take the position (I say not you will) that you repudiate as false all relations to glamour. You may declare that it touches you not, which assertion itself would indicate that it does. Your deeply seated sense of spiritual superiority to your group (an attitude which is sadly affecting them) may prevent your listening to me, your friend and brother for many years—nay, lives. I would, however, ask you to read what I have to say; perchance I may throw light upon your problems and aid you to take the initiation which was your destined goal this life, but which you may yourself postpone until the next. For this postponement there is no need, if you grasp the significance of what is happening in your life at present.

Sau khi đọc đến đây, huynh đệ của Tôi, em có tiếp tục không? Có một khả năng nào đó là em sẽ không. Em có thể giữ lập trường, Tôi không nói là em sẽ, rằng em bác bỏ như sai lầm mọi liên hệ với ảo cảm. Em có thể tuyên bố rằng nó không chạm đến em, mà chính sự khẳng định ấy sẽ chỉ ra rằng nó có chạm đến. Cảm thức sâu kín của em về sự ưu việt tinh thần so với nhóm của mình, một thái độ đang ảnh hưởng đáng buồn đến họ, có thể ngăn em lắng nghe Tôi, người bạn và huynh đệ của em trong nhiều năm—không, trong nhiều kiếp. Tuy nhiên, Tôi xin em đọc những gì Tôi phải nói; có thể Tôi sẽ soi sáng các vấn đề của em và giúp em nhận lần điểm đạo vốn là mục tiêu định sẵn của em trong đời này, nhưng chính em có thể trì hoãn nó đến đời sau. Không cần có sự trì hoãn này nếu em nắm bắt được thâm nghĩa của những gì đang xảy ra trong đời em hiện nay.

The second initiation is a profoundly difficult one to take. For those upon the first or second rays of aspect it is probably the most difficult of them all. The astral nature is deeply self-centred, and this the inflow of soul energy in the initiatory period intensifies; it is endowed with acute emotionalism and swift response to glamour. Where there is so much first ray energy to be found (as in your case) there will be a strong conviction of destiny, a pronounced sense of power, and the feeling that you can see through people—from a superior position—so that their faults and failures [526] and their little human failings loom large in your consciousness.

Lần điểm đạo thứ hai là một lần điểm đạo vô cùng khó nhận. Đối với những người thuộc cung một hoặc cung hai của phương diện, có lẽ đây là lần khó khăn nhất trong tất cả. Bản chất cảm dục tập trung sâu sắc vào bản thân, và dòng tuôn đổ năng lượng linh hồn trong giai đoạn điểm đạo làm điều này tăng cường; nó được phú cho xúc cảm mãnh liệt và sự đáp ứng nhanh chóng với ảo cảm. Nơi nào có nhiều năng lượng cung một như thế được tìm thấy, như trong trường hợp của em, nơi đó sẽ có một niềm xác tín mạnh mẽ về định mệnh, một cảm thức quyền năng rõ rệt, và cảm giác rằng em có thể nhìn thấu người khác từ một vị trí cao hơn, đến nỗi các lỗi lầm, thất bại [526] và những yếu đuối nhân tính nhỏ bé của họ hiện ra lớn trong tâm thức em.

You are at this time in a state of intensely irritable sensitivity to all and sundry; you are overwhelmed by acute glamour. All that is in you of a first ray quality is drawn to the surface and conditioning all your contacts. Your soul ray of outgoing love is not much seen, and there is little love shown by you to your brothers in the Ashram or to the members of your own group.

Vào lúc này, em đang ở trong một trạng thái nhạy cảm cáu kỉnh mãnh liệt đối với hết thảy mọi người; em bị choáng ngợp bởi ảo cảm gay gắt. Tất cả những gì trong em thuộc phẩm tính cung một đều bị kéo lên bề mặt và đang tác động lên mọi tiếp xúc của em. Cung linh hồn của em, vốn là tình thương hướng ra ngoài, không được thấy nhiều, và em biểu lộ rất ít tình thương với các huynh đệ của mình trong Ashram hoặc với các thành viên của nhóm riêng em.

You may here ask me at this point how I know this to be so and why I emphasise to you this knowledge. You have been taught by me that the Masters concern not Themselves with the personality details of a disciple’s life expression; therefore, why do I concern myself with what is happening to you? Those are just questions and I will answer them.

Ở đây, vào điểm này, em có thể hỏi Tôi làm sao Tôi biết điều này là như vậy và tại sao Tôi nhấn mạnh tri thức này với em. Em đã được Tôi dạy rằng các Chân sư không bận tâm đến các chi tiết phàm ngã trong biểu lộ đời sống của một đệ tử; vậy tại sao Tôi lại bận tâm đến những gì đang xảy ra với em? Đó là những câu hỏi chính đáng và Tôi sẽ trả lời.

I concern myself with your problems because you are taking the second initiation and—because of its intense difficulty—I have watched over you for the past four years with more than usual care. I know the inner turmoil, the self-recriminations and the self-rationalisings, the deep subjective discontent, the longing to be free, and the atmosphere of acute suffering in which you live. Your spiritual morale is not high because your solar plexus is wide open—responsive to every astral suggestion, disturbed by world pain as well as by your own, in a state of irritation and constant inner explosion over your brothers in the Ashram and over the members of your own group. Many of the latter are also of an emotional type, for forget not, my brother, we draw to ourselves those who respond to our major quality at any given time and—at this time—yours is emotional.

Tôi bận tâm đến các vấn đề của em vì em đang nhận lần điểm đạo thứ hai và, vì sự khó khăn mãnh liệt của nó, trong bốn năm qua Tôi đã trông nom em với sự chăm sóc hơn thường lệ. Tôi biết sự rối loạn bên trong, những lời tự trách và những sự tự biện hộ, sự bất mãn nội giới sâu xa, niềm khao khát được tự do, và bầu không khí đau khổ gay gắt trong đó em đang sống. Nhuệ khí tinh thần của em không cao vì tùng thái dương của em mở rộng—đáp ứng với mọi gợi ý cảm dục, bị xáo trộn bởi nỗi đau thế giới cũng như bởi nỗi đau của riêng em, ở trong trạng thái cáu kỉnh và bùng nổ nội tâm liên tục đối với các huynh đệ của em trong Ashram và đối với các thành viên của nhóm riêng em. Nhiều người trong số sau cũng thuộc loại cảm xúc, vì đừng quên, huynh đệ của Tôi, chúng ta thu hút về mình những người đáp ứng với phẩm tính chủ yếu của chúng ta vào bất kỳ thời điểm nào, và vào lúc này, phẩm tính của em là cảm xúc.

I would remind you that the emotion to which I refer in connection with you is not that of the ordinary person. You are confronted with the emotion which the second initiation stirs up. This is a very different matter. You should realise, therefore, that my rating of you is high. It is a spiritual rating and has nothing to do with the rating of yourself behind which you hide your hurt and suffering soul and which you seem to impose upon your students everywhere. My rating is true, and you will weather these stormy waters and arrive in [527] the quiet land of realities, free from all emotion, yet at the same time, full of unimpeded love. This is the reward of perseverance throughout the tests and trials of the second initiation.

Tôi muốn nhắc em rằng cảm xúc mà Tôi đề cập liên quan đến em không phải là cảm xúc của người bình thường. Em đang đối diện với cảm xúc mà lần điểm đạo thứ hai khuấy động lên. Đây là một vấn đề rất khác. Vì vậy, em nên nhận ra rằng sự đánh giá của Tôi về em là cao. Đó là một sự đánh giá tinh thần và không liên quan gì đến sự đánh giá về bản thân mà đằng sau đó em che giấu linh hồn bị tổn thương và đau khổ của mình, và dường như em áp đặt lên các môn sinh của em ở khắp nơi. Sự đánh giá của Tôi là đúng, và em sẽ vượt qua những vùng nước bão tố này và đến [527] miền đất yên tĩnh của các thực tại, thoát khỏi mọi cảm xúc, nhưng đồng thời đầy tình thương không bị cản trở. Đây là phần thưởng của sự kiên trì qua các thử thách và khảo nghiệm của lần điểm đạo thứ hai.

What I am seeking to do is to help, to indicate the nature of the tests and point out to you the reason why these tests and trials have overtaken you. Everything may seem to fail you—your knowledge of psychology, your groups of students, your friends and your brothers in the Ashram. Think not that this indicates the fourth initiation, the Crucifixion. That initiation has to be faced clear-eyed, free from glamour, with a heart full of love and a mind released from all criticism. For this, the second initiation prepares the disciple. Today, you know you are full of emotion and that it almost sweeps you off your feet at times; you know you are more prone to criticism than not; and you know that under the influence of glamour you oft wield the weapon of speech in a destructive manner and not constructively; you know that—deep within yourself—you are not satisfied with the work you do or the words you write.

Điều Tôi đang tìm cách làm là giúp đỡ, chỉ ra bản chất của các thử thách và cho em thấy lý do vì sao các thử thách và khảo nghiệm này đã ập đến với em. Mọi sự có thể dường như phụ em—tri thức tâm lý học của em, các nhóm môn sinh của em, bạn bè của em và các huynh đệ của em trong Ashram. Đừng nghĩ rằng điều này chỉ ra lần điểm đạo thứ tư, Cuộc Đóng Đinh. Lần điểm đạo ấy phải được đối diện với đôi mắt sáng rõ, thoát khỏi ảo cảm, với một trái tim đầy tình thương và một thể trí được giải thoát khỏi mọi phê phán. Chính cho điều này mà lần điểm đạo thứ hai chuẩn bị đệ tử. Hôm nay, em biết em đầy cảm xúc và đôi lúc nó gần như cuốn em khỏi chỗ đứng; em biết mình nghiêng về phê phán hơn là không; và em biết rằng dưới ảnh hưởng của ảo cảm, em thường sử dụng vũ khí của lời nói theo cách phá hoại chứ không xây dựng; em biết rằng sâu trong chính mình, em không hài lòng với công việc mình làm hoặc những lời mình viết.

The book you have lately published I have psychometrised and find it to be sixth ray in nature; it will prove most helpful to probationary disciples, and they need such help; it will not help disciples, for it deals with that which they know well. The call went out to you from the Ashram to write upon the theme of Shamballa, the centre where the will of God is known and from whence the love of God flows forth. This you rejected, owing to the emotional turmoil in which you found yourself. Yet I had a purpose and a reason in suggesting this theme. It was not just to have a book which would be of service to disciples, but because it was essential—as part of the pre-initiation tests for you—to bring in some of the Shamballa force to your consciousness. It was the impact of this Shamballa force (which you can touch and to which you can intelligently respond) which was the main factor in bringing to the surface all the latent emotion and all the glamour which are today enveloping you. As you considered the theme of Shamballa (and later rejected my suggestion to write upon it) you brought yourself [528] in contact with the energy emanating from Shamballa. Yet, my brother, had you occupied yourself with my suggestion and dealt with the theme The Way into Shamballa much of that Shamballa force would have been transmuted along constructive lines and creative endeavour, and your condition would not be what it is today.

Cuốn sách mà gần đây em đã xuất bản, Tôi đã trắc tâm và thấy nó thuộc bản chất cung sáu; nó sẽ chứng tỏ rất hữu ích cho các đệ tử dự bị, và họ cần sự trợ giúp như thế; nó sẽ không giúp các đệ tử, vì nó đề cập đến điều mà họ đã biết rõ. Tiếng gọi đã phát ra từ Ashram đến em để viết về chủ đề Shamballa, trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết và từ đó tình thương của Thượng Đế tuôn ra. Em đã bác bỏ điều này, do sự rối loạn cảm xúc trong đó em thấy mình. Tuy nhiên, Tôi đã có một mục đích và một lý do khi đề nghị chủ đề này. Không chỉ là để có một cuốn sách phụng sự các đệ tử, mà vì điều thiết yếu, như một phần của các thử thách tiền điểm đạo đối với em, là đưa một phần mãnh lực Shamballa vào tâm thức em. Chính tác động của mãnh lực Shamballa này, mà em có thể chạm đến và em có thể đáp ứng một cách thông tuệ, là yếu tố chính đưa lên bề mặt mọi cảm xúc tiềm ẩn và mọi ảo cảm hiện đang bao phủ em. Khi em xem xét chủ đề Shamballa, và sau đó bác bỏ đề nghị của Tôi về việc viết về nó, em đã đưa mình [528] tiếp xúc với năng lượng xuất lộ từ Shamballa. Tuy nhiên, huynh đệ của Tôi, nếu em đã bận tâm với đề nghị của Tôi và bàn đến chủ đề Con Đường vào Shamballa thì phần lớn mãnh lực Shamballa ấy đã được chuyển hoá theo các đường lối xây dựng và nỗ lực sáng tạo, và tình trạng của em hôm nay đã không như hiện nay.

You may well ask here: If all this is so, what then shall I do? Have I failed in the tests for initiation? What do you suggest?

Ở đây em có thể rất muốn hỏi: Nếu tất cả điều này là như vậy, vậy tôi phải làm gì? Tôi đã thất bại trong các thử thách cho điểm đạo chăng? Ngài đề nghị điều gì?

Most certainly you have not failed. You are at the climax or peak of the testing period. The only point to be determined is: Can you overcome in this life and free yourself from astral control, or will the tests be prolonged until next life?

Chắc chắn nhất là em chưa thất bại. Em đang ở cao điểm hay đỉnh của giai đoạn thử thách. Điểm duy nhất cần được xác định là: Em có thể vượt thắng trong đời này và giải thoát mình khỏi sự kiểm soát cảm dục, hay các thử thách sẽ kéo dài đến đời sau?

These are questions which only you can answer. In order to answer them you should enter into a cycle of intense quiet and—if possible—of peaceful normality. Can you free yourself for two years, my brother, and at the end stand free? You would be well advised to do this; you should relinquish your groups and stand alone. At present you are not working along new age lines, for your work is along the old lines—of superior teachers, gathering their groups around them, of mystery where there is no mystery, because there is no mystery in esoteric teaching, and this is a lesson which you sorely need to learn, and of criticism (openly critical) of the student, which is sadly lacking in love. No new age teacher gathers a group around himself, exacting their loyalty and obedience, nor does he shut the door to other aspects of truth, as you have done. He offers the teaching, and regards himself as only a student.

Đây là những câu hỏi mà chỉ em mới có thể trả lời. Để trả lời chúng, em nên bước vào một chu kỳ yên lặng mãnh liệt và, nếu có thể, của sự bình thường an hòa. Huynh đệ của Tôi, em có thể tự giải phóng mình trong hai năm và cuối cùng đứng tự do không? Em nên làm điều này; em nên từ bỏ các nhóm của mình và đứng một mình. Hiện nay em không làm việc theo các đường lối kỷ nguyên mới, vì công việc của em đi theo các đường lối cũ—của những huấn sư tự cho là cao hơn, quy tụ các nhóm quanh họ, của sự huyền bí hóa nơi không có huyền bí, vì trong giáo huấn nội môn không có huyền bí, và đây là một bài học mà em rất cần học, và của sự phê phán, công khai phê phán, đối với môn sinh, điều đáng buồn là thiếu tình thương. Không một huấn sư kỷ nguyên mới nào quy tụ một nhóm quanh chính mình, đòi hỏi lòng trung thành và sự vâng phục của họ, cũng không đóng cửa với các phương diện khác của chân lý như em đã làm. Y trao giáo huấn, và xem mình chỉ là một môn sinh.

So I would urge you to give up your group for two or three years (you can later resume it and with power) and study the handling of energy for yourself—free from emotion, desire for recognition, and in response to human need. I would also urge upon you a meditation, built around the words:

Vì vậy, Tôi thúc giục em từ bỏ nhóm của mình trong hai hoặc ba năm, sau này em có thể tiếp tục lại và với quyền năng, và nghiên cứu việc xử lý năng lượng cho chính mình—thoát khỏi cảm xúc, khỏi ham muốn được công nhận, và trong sự đáp ứng với nhu cầu của nhân loại. Tôi cũng thúc giục em thực hành một tham thiền, được xây dựng quanh các từ:

1. Occult Obedience.

1. Vâng Phục Huyền Môn.

2. Occult Meditation. [529]

2. Tham Thiền Huyền Môn. [529]

You would profit greatly. Seek to find me and walk with me in my Ashram, where your soul ray will be fostered into greater expression and your personality rays will retire into the background. If you have the strength to do this you will—at the close of the period of self-imposed discipline—enter into a cycle of very great usefulness. I foresaw this cycle of useful work when I first contacted you. There is still time for this emergence into wider world service. It need not be postponed until next life.

Em sẽ được lợi ích rất nhiều. Hãy tìm cách tìm thấy Tôi và bước đi với Tôi trong Ashram của Tôi, nơi cung linh hồn của em sẽ được nuôi dưỡng để biểu lộ lớn hơn và các cung phàm ngã của em sẽ lui vào hậu cảnh. Nếu em có sức mạnh để làm điều này, thì vào cuối giai đoạn kỷ luật tự áp đặt, em sẽ bước vào một chu kỳ hữu dụng rất lớn. Tôi đã thấy trước chu kỳ công việc hữu dụng này khi lần đầu tiếp xúc với em. Vẫn còn thời gian cho sự hiển lộ này vào phụng sự thế giới rộng lớn hơn. Nó không cần bị trì hoãn đến đời sau.

You have suffered much, my brother, and have few to whom you can go. My love and my blessing are around you always and I have held you specially close lately during these difficult post-war days. Disciples such as you react not only to their own tests and problems, but also to those of suffering humanity. You will find me near when you need me.

Huynh đệ của Tôi, em đã đau khổ nhiều và có ít người để em có thể tìm đến. Tình thương và phúc lành của Tôi luôn bao quanh em, và gần đây Tôi đã giữ em đặc biệt gần trong những ngày hậu chiến khó khăn này. Các đệ tử như em phản ứng không chỉ với các thử thách và vấn đề của riêng họ, mà còn với những thử thách và vấn đề của nhân loại đau khổ. Em sẽ thấy Tôi ở gần khi em cần Tôi.

NOTE: This disciple chose to withdraw from the Tibetan’s group and, until the close of his life in 1953, carried on his own established line of service.

GHI CHÚ: Đệ tử này đã chọn rút khỏi nhóm của Chân sư Tây Tạng và, cho đến cuối đời ông vào năm 1953, tiếp tục đường lối phụng sự đã được ông thiết lập riêng.

To L. F. U. – Gửi L. F. U.

August 1940

Tháng Tám, 1940

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I scarce know what to say to you for the body is tired, the mind is bewildered, the emotional nature is striving to assert itself whilst the soul is pouring in a stimulating energy which is responsible for a very definite crisis in your life. It is of interest to me to know how many members of the group are now being tested—a thing which was foreseen by me but refused consideration by several of you. Several members of the group are undergoing the painful test of war, with its inevitable nervous effects upon the constitution, its strain upon the astral body as well as the physical, and the reactions to noise, suspense on behalf of others and the general psychic atmosphere in which they are forced to dwell. P.D.W., D.E.I., and L.D.O. are thus situated and the test is great.

Tôi hầu như không biết phải nói gì với em, vì thể xác mệt mỏi, thể trí bối rối, bản chất cảm xúc đang cố gắng tự khẳng định trong khi linh hồn đang tuôn vào một năng lượng kích thích, vốn chịu trách nhiệm cho một cuộc khủng hoảng rất rõ rệt trong đời em. Tôi quan tâm khi biết hiện nay có bao nhiêu thành viên của nhóm đang bị thử thách—một điều đã được Tôi thấy trước nhưng bị vài người trong các em từ chối xem xét. Một vài thành viên của nhóm đang trải qua thử thách đau đớn của chiến tranh, với những tác động thần kinh không thể tránh khỏi của nó lên cấu tạo, sự căng thẳng của nó lên thể cảm dục cũng như thể xác, và các phản ứng đối với tiếng ồn, sự thấp thỏm lo âu thay cho người khác, cùng bầu không khí thông linh chung trong đó họ bị buộc phải sống. P.D.W., D.E.I., và L.D.O. đang ở trong tình trạng như vậy, và thử thách là lớn lao.

You, my brother, and W.O.I. are likewise being tested in [530] the world of ideas, and you particularly are faced with an acute problem in discrimination.

Huynh đệ của Tôi, em và W.O.I. cũng đang bị thử thách trong [530] thế giới của các ý tưởng, và riêng em đang đối diện với một vấn đề gay gắt về phân biện.

Earlier—years ago—I gave you three words which were to be the keynotes of your life—Love, Fearlessness and Understanding. The first two have preoccupied you much. You have worked hard to express love and have materially sweetened and broadened your nature. As a result you are aware today, as never before, how lack of love betrayed you and brought untold suffering to three people in your life. This is known only to you. Fearlessness is now a glamour in your mind for your sixth ray brain and astral body have suddenly betrayed you. Your earlier freedom from glamour led to carelessness—and as you well know we are oft betrayed at the point where we judged ourselves the strongest. Nevertheless, the past few years have seen real progress, pronounced liberation and true development.

Trước đây, nhiều năm trước, Tôi đã trao cho em ba từ vốn phải là các chủ âm của đời em—Tình thương, Vô úy và Thấu hiểu. Hai từ đầu đã chiếm nhiều tâm trí em. Em đã làm việc chăm chỉ để biểu lộ tình thương và đã làm dịu ngọt cũng như mở rộng đáng kể bản chất của mình. Kết quả là hôm nay, hơn bao giờ hết, em nhận biết việc thiếu tình thương đã phản bội em và đem lại đau khổ khôn kể cho ba người trong đời em như thế nào. Điều này chỉ mình em biết. Vô úy hiện nay là một ảo cảm trong thể trí em, vì bộ não và thể cảm dục cung sáu của em đã đột ngột phản bội em. Sự tự do trước đây của em khỏi ảo cảm đã dẫn đến sự bất cẩn—và như em biết rõ, chúng ta thường bị phản bội tại chính điểm mà chúng ta tự xét mình là mạnh nhất. Tuy nhiên, vài năm qua đã chứng kiến sự tiến bộ thật sự, sự giải phóng rõ rệt và sự phát triển chân thực.

Have you, my brother, reached your high water mark for this life? Can you go further still along the Way? That is your problem. It will be solved and wisely determined and you will enter upon a new cycle of spiritual life if understanding and a search for meaning begins to parallel your reaction to love and fearlessness.

Huynh đệ của Tôi, em đã đạt đến mức phát triển cao nhất của mình trong đời này chưa? Em còn có thể tiến xa hơn nữa trên Đường Đạo không? Đó là vấn đề của em. Nó sẽ được giải quyết và xác định một cách minh triết, và em sẽ bước vào một chu kỳ mới của đời sống tinh thần nếu sự thấu hiểu và cuộc tìm kiếm ý nghĩa bắt đầu song hành với phản ứng của em đối với tình thương và vô úy.

Your understanding is not deep enough. That which is academic and the result of reading, listening, and of your response to the work of the Arcane School is apt to take the place of true understanding. True understanding involves identification with humanity.

Sự thấu hiểu của em chưa đủ sâu. Điều thuộc về học thuật và là kết quả của việc đọc, lắng nghe, và sự đáp ứng của em đối với công việc của Trường Arcane dễ có khuynh hướng thay thế cho sự thấu hiểu chân thực. Sự thấu hiểu chân thực bao hàm sự đồng nhất với nhân loại.

Your theories, your ideals, your fixed beliefs come between you and humanity as a whole, and the good of the form side of life looms unduly large in your attitude to service. You are, under the glamour of idealism, apt to sacrifice the spirit of love in order to preserve the form of your ideal. Ponder on this for it is basic in its teaching value for you if you grasp rightly the implications. May I ask you to reflect upon the esoteric significance of a truth which as yet seems to you most questionable: Ideals must go as they are now formulated because we are entering into a new age wherein all things will become new. They can safely be relinquished when their place is taken by a real soul love for humanity— [531] inclusive, sane and practical. Ideals are formulations by the human mind. The Hierarchy has no ideals. The Hierarchy is simply the channel for pure love and where love exists there is no danger of harshness, of cruelty, of misunderstanding, of evasion of facts or of harmfulness. Much also that many regard as harmless is definitely harmful in its general effects. Ideals, as usually held, feed pride, lead to stubbornness, and engender a separative superiority; they produce impractical attitudes and negative activities. The one who thus holds them frequently serves only in the limited field, conditioned by his chosen work and coloured by his idealism. He excludes the Whole and thinks in terms of the past and as he wants to think. There is no real understanding of an opposing idealism and often no real attempt to comprehend its basis. His emphasis upon his own ideals (in his own consciousness even when not imposed on others) prevents understanding, and he is so busy upholding them and defending them (oft again to himself) and being conditioned by them that the larger human issues escape his attention. He settles down within the limits of his own beliefs. This makes him immediately a theologian and his usefulness then rapidly evaporates, except in the intimate circle of his fellow idealists. As time goes on, crystallisation takes place. A “crystal barrier” is set up between the personality and the soul. The soul is seen but its influence is insulated. But—because there is a vision of the soul still persisting—the disciple is deeply dissatisfied. The crystallisation eventually affects all aspects of the nature. Emotions settle into “grooves of crystal”; the mind becomes set and brittle. The physical body crystallises also and gets old rapidly because there is no free flow of life.

Các lý thuyết, các lý tưởng, các niềm tin cố định của em đứng giữa em và toàn thể nhân loại, và điều tốt đẹp của phương diện hình tướng của đời sống hiện ra quá lớn trong thái độ phụng sự của em. Dưới ảo cảm của chủ nghĩa lý tưởng, em có khuynh hướng hy sinh tinh thần của tình thương để gìn giữ hình tướng của lý tưởng mình. Hãy suy ngẫm về điều này, vì nó căn bản trong giá trị giáo huấn dành cho em nếu em nắm bắt đúng các hàm ý. Tôi có thể xin em suy tư về thâm nghĩa nội môn của một chân lý mà hiện nay đối với em dường như còn rất đáng nghi ngờ: Các lý tưởng phải ra đi như chúng đang được hình thành hiện nay, vì chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới, trong đó mọi sự sẽ trở nên mới. Chúng có thể được từ bỏ một cách an toàn khi vị trí của chúng được thay thế bởi một tình thương linh hồn thật sự dành cho nhân loại— [531] bao dung, lành mạnh và thực tiễn. Các lý tưởng là những công thức do thể trí con người tạo ra. Thánh Đoàn không có lý tưởng. Thánh Đoàn chỉ đơn giản là kênh dẫn cho tình thương thuần khiết, và nơi nào có tình thương, nơi đó không có nguy cơ của sự khắc nghiệt, tàn nhẫn, hiểu lầm, né tránh sự kiện hay tính gây hại. Nhiều điều mà nhiều người xem là vô tổn hại cũng chắc chắn là gây hại trong các hiệu quả chung của nó. Các lý tưởng, như thường được nắm giữ, nuôi dưỡng kiêu hãnh, dẫn đến bướng bỉnh, và sinh ra một sự ưu việt chia rẽ; chúng tạo ra các thái độ không thực tiễn và các hoạt động tiêu cực. Người nắm giữ chúng như vậy thường chỉ phụng sự trong một lĩnh vực giới hạn, bị tác động bởi công việc y đã chọn và nhuộm màu bởi chủ nghĩa lý tưởng của y. Y loại trừ Toàn Thể và suy nghĩ theo những thuật ngữ của quá khứ và theo cách y muốn suy nghĩ. Không có sự thấu hiểu thật sự về một chủ nghĩa lý tưởng đối lập, và thường không có nỗ lực thật sự nào để lĩnh hội nền tảng của nó. Sự nhấn mạnh của y vào các lý tưởng riêng mình, trong tâm thức riêng của y ngay cả khi không áp đặt lên người khác, ngăn cản sự thấu hiểu, và y quá bận rộn trong việc nâng đỡ chúng và bảo vệ chúng, thường lại là với chính mình, và bị chúng tác động đến nỗi các vấn đề nhân loại lớn hơn thoát khỏi sự chú ý của y. Y an vị trong các giới hạn của những niềm tin riêng mình. Điều này lập tức biến y thành một nhà thần học, và khi ấy tính hữu dụng của y nhanh chóng bay hơi, ngoại trừ trong vòng thân mật của các đồng lý tưởng của y. Theo thời gian, sự kết tinh diễn ra. Một “hàng rào pha lê” được dựng lên giữa phàm ngã và linh hồn. Linh hồn được thấy, nhưng ảnh hưởng của nó bị cách ly. Nhưng vì vẫn còn một tầm nhìn về linh hồn tiếp tục tồn tại, đệ tử hết sức bất mãn. Sự kết tinh cuối cùng ảnh hưởng đến mọi phương diện của bản chất. Các cảm xúc lắng lại thành “những rãnh pha lê”; thể trí trở nên cố định và giòn cứng. Thể xác cũng kết tinh và già đi nhanh chóng vì không có dòng chảy tự do của sự sống.

One thing only will prevent this happening: Loving understanding and a consequent sacrifice of the life to humanity as a whole. The greatest good of the greatest number becomes his life theme and to this the whole man is subordinated.

Chỉ một điều duy nhất sẽ ngăn điều này xảy ra: sự thấu hiểu đầy yêu thương và sự hi sinh đời sống cho toàn thể nhân loại phát sinh từ sự thấu hiểu ấy. Điều thiện lớn nhất cho số đông lớn nhất trở thành chủ đề đời sống của y, và toàn thể con người được đặt dưới điều này.

Can you grasp this vision and let everything go? Only two types of ray energy are expressing themselves through your lower nature: intellect and idealism. Ponder a little on the effects of this unbalanced condition and consider what it [532] will engender. Be not satisfied with your mental activity and your dedicated idealism. Reach beyond them to the soul whose nature is love and whose identification is with humanity and not with a school of thought or a group of ideals.

Em có thể nắm bắt tầm nhìn này và buông bỏ mọi sự không? Chỉ có hai loại năng lượng cung đang biểu lộ qua bản chất thấp của em: trí năng và chủ nghĩa lý tưởng. Hãy suy ngẫm đôi chút về các hiệu quả của tình trạng mất quân bình này và xem xét nó [532] sẽ sinh ra điều gì. Đừng hài lòng với hoạt động trí tuệ và chủ nghĩa lý tưởng đã hiến dâng của em. Hãy vươn vượt qua chúng đến linh hồn, bản chất của nó là tình thương và sự đồng nhất của nó là với nhân loại, chứ không phải với một trường phái tư tưởng hay một nhóm lý tưởng.

You stand at the parting of the ways, my brother. Will you come on to renewed service, to new ideals, and to a fresh cycle of creative living? Or will you settle down into a crystallised condition and to an ardent struggle to become creative and to express ideals which are perhaps already superseded in order to make room for higher and better ones. Thus you might stand still within the aura of that which is old and make no further progress, waking up later to the realisation that creative living is a spontaneous happening and that your ideals have been superseded by greater and more spiritual ones.

Huynh đệ của Tôi, em đang đứng trước ngã rẽ của các con đường. Em sẽ tiến vào sự phụng sự được đổi mới, các lý tưởng mới, và một chu kỳ mới của đời sống sáng tạo chứ? Hay em sẽ an vị trong một tình trạng kết tinh và trong một cuộc đấu tranh nhiệt thành để trở nên sáng tạo và biểu lộ những lý tưởng có lẽ đã bị thay thế nhằm nhường chỗ cho những lý tưởng cao hơn và tốt đẹp hơn. Như thế em có thể đứng yên trong hào quang của điều đã cũ và không tiến thêm nữa, để rồi sau này thức tỉnh trước sự nhận biết rằng đời sống sáng tạo là một sự xảy ra tự phát và các lý tưởng của em đã bị thay thế bởi những lý tưởng lớn hơn và tinh thần hơn.

I give you no personal meditation. The one assigned to the group in the group instruction is peculiarly adapted to bring about in you the needed changes, provided you follow the meditation with regularity.

Tôi không trao cho em bài tham thiền cá nhân nào. Bài được chỉ định cho nhóm trong huấn thị nhóm đặc biệt thích hợp để tạo ra trong em những thay đổi cần thiết, miễn là em theo bài tham thiền đều đặn.

I would, however, ask you to take two points of reflection every day when it suits you best and for your reflective theme I would suggest “Understanding of the New Age Ideals,” remembering that the new ideals concern the life and not the form.

Tuy nhiên, Tôi xin em mỗi ngày hãy lấy hai điểm suy tư vào lúc thích hợp nhất với em, và cho chủ đề suy tư của em, Tôi đề nghị “Sự thấu hiểu các Lý tưởng Kỷ nguyên Mới,” ghi nhớ rằng các lý tưởng mới liên quan đến sự sống chứ không phải hình tướng.

My blessing rests ever on you for I have much for you to do. I would remind you that in your last instruction I asked you if you were strong enough to participate in the world distress with no barriers up. I asked this because I saw in you a glamour and a weakness (based on your true ideals) and a negativity which hid itself behind a fearless idealism. I pointed then—if you will recall—to the need for “active understanding.” I reiterate again this call.

Phúc lành của Tôi luôn ngự trên em, vì Tôi có nhiều việc cho em làm. Tôi muốn nhắc em rằng trong huấn thị gần nhất dành cho em, Tôi đã hỏi em liệu em có đủ mạnh để tham dự vào nỗi thống khổ thế giới mà không dựng lên hàng rào nào không. Tôi hỏi điều này vì Tôi thấy trong em một ảo cảm và một yếu điểm, dựa trên các lý tưởng chân thật của em, và một sự thụ động che giấu mình đằng sau một chủ nghĩa lý tưởng vô úy. Khi ấy Tôi đã chỉ ra, nếu em nhớ lại, nhu cầu về “sự thấu hiểu tích cực.” Tôi lại nhắc lại lời kêu gọi này.

August 1942

Tháng Tám, 1942

1. From where you stand I see a point of light, a shimmering thread of gold. It passes from your heart to mine and strengthens day by day, each year. Pass onward on this bridge of light. [533]

1. Từ nơi em đứng, Tôi thấy một điểm sáng, một sợi chỉ vàng lung linh. Nó đi từ trái tim em đến trái tim Tôi và mạnh lên từng ngày, từng năm. Hãy tiến tới trên cây cầu ánh sáng này. [533]

2. Ever to you my message has gone forth: Love and more love. Again I send it forth and with my love.

2. Thông điệp của Tôi luôn luôn phát ra đến em: Tình thương và thêm tình thương. Một lần nữa Tôi phát ra thông điệp ấy, và cùng với tình thương của Tôi.

3. You restrict your field of service, brother of old. Expand again.

3. Huynh đệ lâu năm, em hạn chế lĩnh vực phụng sự của mình. Hãy mở rộng lại.

4. My brother, the need of your heart is the need of my heart and the need of your brothers. This fusing of need will call forth the sun and shadows will disappear.

4. Huynh đệ của Tôi, nhu cầu của trái tim em là nhu cầu của trái tim Tôi và nhu cầu của các huynh đệ em. Sự dung hợp nhu cầu này sẽ gọi mặt trời hiện ra và bóng tối sẽ biến mất.

5. Men climb a wall, the sage remarked, and sit athwart the top. Then they climb down. Ponder on this.

5. Người ta trèo lên một bức tường, nhà hiền triết nhận xét, và ngồi vắt ngang trên đỉnh. Rồi họ trèo xuống. Hãy suy ngẫm về điều này.

6. At the foot of the wall lies a well, added the sage. Love lies at the bottom of the well. It cannot be drowned, but men love not deep water.

6. Dưới chân bức tường có một cái giếng, nhà hiền triết nói thêm. Tình thương nằm dưới đáy giếng. Nó không thể bị chết đuối, nhưng người ta không yêu vùng nước sâu.

September 1943

Tháng Chín, 1943

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ LÂU NĂM:

There are certain key points in all lives which are deciding and frequently releasing factors. A major one for all disciples occurs around the age of thirty-five, and still another at the age of forty-two. It was when you reached that age that I intensified my observation of you. You had, if I may so express it, wandered (unconsciously to yourself) to the very edge of the aura of my Ashram. Later, when you entered the Arcane School and became one of its workers, you penetrated deeper into the Ashram in response to a certain drawing power which I deliberately exerted. I had long registered your “seeking vibration.”

Có những điểm then chốt trong mọi đời sống, vốn là các yếu tố quyết định và thường đem lại sự giải thoát. Một điểm chính yếu đối với mọi đệ tử xảy ra vào khoảng tuổi ba mươi lăm, và một điểm khác nữa vào tuổi bốn mươi hai. Chính khi em đạt đến tuổi ấy, Tôi đã tăng cường sự quan sát của Tôi đối với em. Nếu Tôi có thể diễn đạt như thế, em đã lang thang đến tận mép ngoài hào quang của Ashram Tôi mà chính em không ý thức được. Về sau, khi em vào Trường Arcane và trở thành một trong những người hoạt động của trường, em đã thâm nhập sâu hơn vào Ashram để đáp ứng với một quyền năng thu hút nào đó mà Tôi đã cố ý vận dụng. Từ lâu Tôi đã ghi nhận “rung động tìm kiếm” của em.

Another key point comes ever at the age of fifty-six, and as you neared that age, the pressure exerted on you by the conflicting pull of the Ashram, of your own soul and your personality mental processes created a dominant test in your life. In consequence of the reaction of the personality, of the soul test thus drastically imposed, and of your response to circumstances, your life is today conditioned as it is. You will understand whereof I speak and there is no need for me to be more explicit. The age of sixty-three will see another and lesser crisis, and upon the decision then made by you (and it can be physical, emotional, mental or of soul origin) [534] will depend the future of your life in this particular incarnation.

Một điểm then chốt khác luôn đến vào tuổi năm mươi sáu, và khi em gần đến tuổi ấy, áp lực tác động lên em do sức kéo xung đột của Ashram, của chính linh hồn em và các tiến trình trí tuệ của phàm ngã em đã tạo nên một cuộc thử thách nổi bật trong đời em. Do phản ứng của phàm ngã, do cuộc thử thách của linh hồn được áp đặt một cách quyết liệt như thế, và do sự đáp ứng của em trước hoàn cảnh, đời sống em ngày nay được định hình như hiện trạng. Em sẽ thấu hiểu điều Tôi nói, và Tôi không cần phải nói rõ hơn. Tuổi sáu mươi ba sẽ chứng kiến một cuộc khủng hoảng khác và nhỏ hơn, và tương lai đời em trong lần lâm phàm đặc biệt này sẽ tùy thuộc vào quyết định khi đó do em đưa ra, dù quyết định ấy có nguồn gốc hồng trần, cảm xúc, trí tuệ hay từ linh hồn. [534]

If your decisions—then and now—are made esoterically within my Ashram and where the focus of your life does persist, all will be well; if they are made through the use of the lower mind and under the influence of its rationalising influence, you are liable to make mistakes. Always in your life crises, you have been confronted by the way of love and by the way of mind, and usually your decisions have been the rational decisions of a somewhat aloof and self-focussed personality. Your last decision and chosen line of activity (which was of a definitely determining nature) was, for you, quite the most difficult, because you did not see as clearly as usual; your concrete lower mind did not apparently display its usual keen vision, and the “alternatives which love presents”—as one of the Masters has oft expressed it—blurred the usually clear lower vision but made decision on a higher level than heretofore possible. You underwent a period of much training and inner adjustment. Is this not so, my brother?

Nếu những quyết định của em — khi ấy và bây giờ — được đưa ra về mặt nội môn trong Ashram của Tôi và tại nơi tiêu điểm đời em vẫn bền vững, mọi sự sẽ tốt đẹp; nếu chúng được đưa ra qua việc sử dụng hạ trí và dưới ảnh hưởng của khuynh hướng hợp lý hóa của nó, em có thể phạm sai lầm. Trong mọi khủng hoảng đời em, em luôn đối diện với con đường của tình thương và con đường của trí tuệ, và thường thì các quyết định của em là những quyết định hợp lý của một phàm ngã hơi tách biệt và tập trung vào bản thân. Quyết định gần nhất của em và đường lối hoạt động em đã chọn, vốn có bản chất quyết định rõ rệt, đối với em là điều khó khăn nhất, vì em không thấy rõ như thường lệ; hạ trí cụ thể của em dường như không biểu lộ tầm nhìn sắc bén quen thuộc, và “những lựa chọn thay thế mà tình thương đưa ra” — như một trong các Chân sư thường diễn đạt — đã làm mờ tầm nhìn thấp vốn thường rõ ràng, nhưng đã khiến quyết định có thể được đưa ra trên một cấp độ cao hơn trước kia. Em đã trải qua một giai đoạn nhiều huấn luyện và điều chỉnh bên trong. Huynh đệ của Tôi, chẳng phải vậy sao?

I watched with love and understanding, for that emotional disruption (well concealed from the outer world) was not concealed from me. I rejoiced, for it let in so much light that you have made more progress in the past three years than at any previous time in your life. You might ask me: Along what line? My reply would be: Along the line of an inclusive vision which sees the future of humanity more clearly in the light of the present than has ever before been possible to you. That is a great step onward.

Tôi đã quan sát với tình thương và sự thấu hiểu, vì sự xáo trộn cảm xúc ấy, dù được che giấu kỹ khỏi thế giới bên ngoài, không hề bị che giấu khỏi Tôi. Tôi hoan hỉ, vì nó đã để lọt vào nhiều ánh sáng đến nỗi trong ba năm qua em đã tiến bộ hơn bất cứ thời điểm nào trước đây trong đời em. Em có thể hỏi Tôi: Theo đường hướng nào? Câu trả lời của Tôi là: Theo đường hướng của một tầm nhìn bao quát, thấy tương lai nhân loại rõ ràng hơn trong ánh sáng của hiện tại, hơn mức trước đây từng có thể đối với em. Đó là một bước tiến lớn.

For years I have emphasised to you the need for heart-love, and consistently and steadily you have tried to develop it through meditation, by theorising and by a conscious effort to love. Love, my brother, when present and of the right kind engenders a sense of personal responsibility. These are phases of responsibility which are based on love and not on work to be done, positions to be filled, people to be laboriously understood and the performance of your duties as a citizen, as an executive, or as an employee. Such phases have been curiously lacking in your life. You have evaded them, and this evasion has had its roots in an unrecognised fear of [535] failure should responsibility (through love for others) be shouldered by you; you have reacted to a profound distrust of yourself and to a fear of the intrusion of others unduly (not altogether, but unduly) in your ordered, planned life.

Trong nhiều năm, Tôi đã nhấn mạnh với em nhu cầu về tình thương nơi tim, và em đã cố gắng phát triển nó một cách kiên trì và đều đặn qua tham thiền, bằng lý thuyết hóa và bằng nỗ lực có ý thức để yêu thương. Huynh đệ của Tôi, khi hiện diện và thuộc loại đúng đắn, tình thương sinh ra ý thức trách nhiệm cá nhân. Đây là những phương diện trách nhiệm đặt nền trên tình thương, chứ không đặt nền trên công việc phải làm, vị trí phải đảm nhận, những người phải được thấu hiểu một cách nhọc nhằn, hay việc chu toàn bổn phận của em với tư cách một công dân, một người điều hành, hoặc một nhân viên. Những phương diện như thế đã thiếu vắng một cách lạ lùng trong đời em. Em đã né tránh chúng, và sự né tránh này bắt rễ trong một nỗi sợ thất bại không được nhận ra, nếu trách nhiệm, qua tình thương đối với người khác, được em gánh vác; em đã phản ứng trước một sự thiếu tin cậy sâu xa nơi chính mình và trước nỗi sợ rằng người khác sẽ xâm nhập quá mức, không phải hoàn toàn nhưng quá mức, vào đời sống có trật tự và được hoạch định của em. [535]

Most things can be viewed as too late for changing if approached in terms of one incarnation, but the soul thinks in terms of life cycles. A full and rich life cycle will open up for you as a consequence of this present incarnation, if you will handle your remaining years in a spirit of selfless responsive love—asking nothing for the separated self.

Nếu được tiếp cận theo nghĩa một lần lâm phàm, phần lớn mọi sự có thể bị xem là đã quá muộn để thay đổi, nhưng linh hồn suy nghĩ theo các chu kỳ đời sống. Một chu kỳ đời sống đầy đủ và phong phú sẽ mở ra cho em như hệ quả của lần lâm phàm hiện tại này, nếu em xử lý những năm còn lại trong tinh thần tình thương đáp ứng vô ngã — không đòi hỏi điều gì cho cái ngã tách biệt.

I have no fears for you, my brother. I would recall to you that the disrupting of life processes and the upheaval of an ordered point of view and of a planned and reasoned approach to daily living is in a measure a great releasing—a releasing of hidden beauties, unsuspected and seeking the light of day. Have you not read that the bombing of London by high explosives produced great upheavals and that ancient layers of soil—hidden for centuries from the light of day—were brought to the surface? As a result, strange, rare, unknown and beautiful flowers have this summer appeared to excite interest and investigation and to hide the ruins with beauty and colour. Ponder on this, for so it can be with a human life. Beauty is beginning to flower in your life, bringing its own responsibilities, engendering its own magnetic field, bringing to you those who otherwise might not have ventured to come, and who will give you a love which may at first arouse questioning in your mind but which will greatly enrich your life. It will also evoke responsibility. This responsibility will definitely extend your field of service. Be willing, therefore, to descend into the deep water to which I made reference in the last of the six statements given to you last year. The higher the wall, brother of mine, from which you fall, the deeper into the water you will go, and that, paradoxically, will be your salvation—my beloved brother. Look for this development and welcome it.

Huynh đệ của Tôi, Tôi không lo sợ gì cho em. Tôi muốn nhắc em rằng sự phá vỡ các tiến trình đời sống và sự đảo lộn một quan điểm có trật tự cùng một cách tiếp cận đời sống hằng ngày đã được hoạch định và suy xét, ở một mức độ nào đó, là một sự giải thoát lớn lao — giải thoát những vẻ đẹp ẩn kín, không ngờ tới và đang tìm ánh sáng ban ngày. Em chẳng đã đọc rằng việc ném bom Luân Đôn bằng chất nổ mạnh đã gây nên những chấn động lớn, và những lớp đất cổ xưa — bị che khuất khỏi ánh sáng ban ngày suốt nhiều thế kỷ — đã được đưa lên bề mặt đó sao? Kết quả là, mùa hè này những loài hoa lạ, hiếm, chưa từng biết và đẹp đẽ đã xuất hiện để khơi dậy sự quan tâm và nghiên cứu, đồng thời che phủ những đổ nát bằng vẻ đẹp và màu sắc. Hãy suy ngẫm về điều này, vì đời sống con người cũng có thể như thế. Vẻ đẹp đang bắt đầu nở hoa trong đời em, mang theo các trách nhiệm riêng của nó, sinh ra trường từ tính riêng của nó, đưa đến với em những người mà nếu không thì có lẽ đã không dám đến, và họ sẽ trao cho em một tình thương có thể lúc đầu khơi dậy sự chất vấn trong trí em, nhưng sẽ làm đời em phong phú rất nhiều. Nó cũng sẽ gợi lên trách nhiệm. Trách nhiệm này chắc chắn sẽ mở rộng lĩnh vực phụng sự của em. Vì vậy, hãy sẵn lòng đi xuống vùng nước sâu mà Tôi đã nhắc đến trong câu cuối của sáu phát biểu được trao cho em năm ngoái. Huynh đệ của Tôi, bức tường mà từ đó em rơi xuống càng cao, em sẽ chìm xuống nước càng sâu, và điều đó, một cách nghịch lý, sẽ là sự cứu rỗi của em — huynh đệ yêu dấu của Tôi. Hãy trông đợi sự phát triển này và hoan nghênh nó.

In view of all the above remarks, I am going to ask you to write—during the coming year—three short papers. In the first will you give seven concise definitions of love—not of emotion or sentiment or feeling, but of soul or heart love. [536] Make three of these definitions practical and four of them abstract and esoteric. This will not be easy, and this distinction itself will increase your difficulty. Then write a short paper on love as it expresses itself through emotion. I mean the love of the soul as it defines itself astrally and uses the astral body as a medium of expression. Finally, write another paper on the mental expression of love. For this assignment of work much occult and psychological knowledge will be needed; you are however adequate to the task, and these distinctions and interpretations are badly needed by aspirants today and by disciples everywhere, struggling with the practical application of occult truths; you can help much by clear thinking upon this theme and consequent clear exposition. Ideas become individual possessions as you think them and write them down, and this is the way, par excellence, for you to learn, to absorb and to demonstrate.

Xét theo tất cả những nhận xét trên, Tôi sẽ yêu cầu em viết — trong năm tới — ba bài ngắn. Trong bài thứ nhất, em hãy đưa ra bảy định nghĩa súc tích về tình thương — không phải về xúc động, cảm tính hay cảm giác, mà về tình thương của linh hồn hay của tim. [536] Hãy làm cho ba định nghĩa trong số đó mang tính thực tiễn và bốn định nghĩa mang tính trừu tượng và nội môn. Điều này sẽ không dễ, và chính sự phân biệt này sẽ làm tăng khó khăn của em. Rồi hãy viết một bài ngắn về tình thương khi nó biểu lộ qua cảm xúc. Ý Tôi là tình thương của linh hồn khi nó tự xác định trên phương diện cảm dục và sử dụng thể cảm dục như một trung gian biểu lộ. Sau cùng, hãy viết một bài khác về sự biểu lộ trí tuệ của tình thương. Đối với nhiệm vụ này, cần có nhiều tri thức huyền bí và tâm lý; tuy nhiên em đủ sức đảm nhận nhiệm vụ, và những phân biệt cùng diễn giải này đang rất cần thiết cho người chí nguyện ngày nay và cho các đệ tử khắp nơi, những người đang vật lộn với việc áp dụng thực tiễn các chân lý huyền bí; em có thể giúp ích rất nhiều bằng tư duy sáng rõ về chủ đề này và nhờ đó trình bày sáng rõ. Các ý tưởng trở thành sở hữu cá nhân khi em suy nghĩ về chúng và viết chúng ra, và đây là con đường ưu việt để em học hỏi, hấp thụ và minh chứng.

Guard your physical health, my brother. Be not unduly concerned and cautious, but be reasonable whilst unafraid. There is work for you to do and your next unfoldment of work will come to you through the means of a breaking down of a wall of pride, and a conversation—and in that order.

Huynh đệ của Tôi, hãy giữ gìn sức khỏe thể xác của em. Đừng quá bận tâm và thận trọng quá mức, nhưng hãy hợp lý trong khi không sợ hãi. Có công việc để em làm, và sự khai mở kế tiếp trong công việc của em sẽ đến với em qua phương tiện là sự sụp đổ của một bức tường kiêu hãnh, và một cuộc trò chuyện — theo đúng thứ tự ấy.

The thread of gold which “passes from your heart to mine” is now an unshatterable chain of golden links, and there is work for you in my Ashram.

Sợi dây vàng “đi từ tim em đến tim Tôi” nay là một chuỗi không thể phá vỡ gồm những mắt xích vàng, và có công việc dành cho em trong Ashram của Tôi.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

In my last instruction to you there occurs one sentence which could convey to you the key whereby you can unlock the door of the future. It is a sentence which has probably escaped your notice; I doubt if it ever registered itself adequately in your mind. I now recall it to you. I said: “If your decisions are made esoterically within my Ashram, all will be well.”

Trong huấn thị lần trước của Tôi gửi em, có một câu có thể trao cho em chiếc chìa khóa để mở cánh cửa tương lai. Đó là một câu có lẽ đã thoát khỏi sự chú ý của em; Tôi nghi ngờ rằng nó đã từng ghi dấu đầy đủ trong trí em. Nay Tôi nhắc lại cho em. Tôi đã nói: “Nếu những quyết định của em được đưa ra về mặt nội môn trong Ashram của Tôi, mọi sự sẽ tốt đẹp.”

Life, as you know theoretically, is one long series of presented opportunities—opportunities to make decisions. As a disciple is drawn closer into the focal point of his Master’s [537] sphere of influence, the Ashram, and as experience proceeds, these decisions become increasingly drastic, constantly more frequent and more crucial in their general trend; they lead, when made, to more eventful results. With a disciple at your stage of development, the lines of choice become clearer and better defined. The questions with which you are faced are simpler and yet more important: Is this presented activity the way my soul would have me go? Will such or such a decision lead to the fulfilment of my personality trends and bias? Herein lies much clarification plus increasing difficulty, because the decisions made are apt to affect many others besides yourself. Watch for the proof of the correctness of this last statement of mine. In all times of decision enumerate to yourself the number of lives apt to be affected by what you do, and remember that (as you travel the Way of the Disciple) your sphere of influence and the number of those affected by you steadily increases. With the average person who is kind, well-meaning and endowed with a normal sense of responsibility, decisions are made upon the basis of the effects which are liable to work out in the family, in the business or office or within the radius of a relatively small circle of friends. In the case of a probationary disciple, decisions have oft a somewhat larger result. Where an accepted disciple is concerned, such choices affect many, for those related by united service are included with the other groups, and these can oft be unknown or include people who react to the aura of a disciple, plus his group of co-workers.

Như em biết về mặt lý thuyết, đời sống là một chuỗi dài những cơ hội được đưa ra — những cơ hội để đưa ra quyết định. Khi một đệ tử được kéo gần hơn vào tiêu điểm của [537] phạm vi ảnh hưởng của Chân sư mình, tức Ashram, và khi kinh nghiệm tiếp diễn, các quyết định này trở nên ngày càng quyết liệt, không ngừng thường xuyên hơn và hệ trọng hơn trong khuynh hướng chung của chúng; khi được đưa ra, chúng dẫn đến những kết quả nhiều biến cố hơn. Với một đệ tử ở giai đoạn phát triển của em, các đường lối lựa chọn trở nên rõ ràng hơn và được xác định tốt hơn. Những câu hỏi mà em đối diện thì đơn giản hơn nhưng lại quan trọng hơn: Hoạt động được đưa ra này có phải là con đường mà linh hồn tôi muốn tôi đi không? Quyết định này hay quyết định kia có dẫn đến sự hoàn thành các khuynh hướng và thiên lệch của phàm ngã tôi không? Chính trong điều này có nhiều sự sáng tỏ cộng thêm khó khăn ngày càng tăng, vì các quyết định được đưa ra có khuynh hướng ảnh hưởng đến nhiều người khác ngoài chính em. Hãy quan sát bằng chứng về tính đúng đắn của phát biểu vừa rồi này của Tôi. Trong mọi thời điểm quyết định, hãy tự liệt kê số đời sống có thể bị ảnh hưởng bởi điều em làm, và hãy nhớ rằng khi em đi trên Con Đường Đệ Tử, phạm vi ảnh hưởng của em và số người chịu ảnh hưởng bởi em tăng đều. Với người trung bình tử tế, thiện chí và được ban cho một ý thức trách nhiệm bình thường, các quyết định được đưa ra trên nền tảng những tác động có thể diễn ra trong gia đình, trong công việc hay văn phòng, hoặc trong phạm vi một vòng bạn bè tương đối nhỏ. Trong trường hợp một đệ tử dự bị, các quyết định thường có kết quả rộng hơn phần nào. Đối với một đệ tử được chấp nhận, những lựa chọn như thế ảnh hưởng đến nhiều người, vì những người liên hệ qua sự phụng sự hợp nhất được bao gồm cùng với các nhóm khác, và những người này thường có thể không được biết đến, hoặc bao gồm những người phản ứng với hào quang của một đệ tử, cộng thêm nhóm cộng sự của y.

This whole question of spheres of influence is one upon which you need to ponder. It is closely related to the problem of the aura and its esoteric circumference; it concerns the “sound” of a disciple’s life and the nature and quality of the radiations which emanate from the “place where he stands.” It is tied to the whole theme of orientation and of spiritual location and to the magnetic effects of the at-one-ing of soul and personality. The problem of radiation and of magnetic influence is apt to be viewed from the one-sided point of view of the disciple who considers the results of his radiation and of his magnetism upon those he contacts. There is however another point of view; these qualities—inevitable [538] and inescapable—lie behind the entire theme of karma. They draw to the disciple that which can hinder him as well as aid him; his aura—which is a combination of radiations, energies and arranged forces—can repel the good or attract the bad, and vice versa; it can determine—through the contacts made and the relationships set up—the trend of the disciple’s life. It is one of the main factors in the presentation of choices, and I would have you think on this.

Toàn bộ vấn đề về các phạm vi ảnh hưởng này là điều em cần suy ngẫm. Nó liên hệ mật thiết với vấn đề hào quang và chu vi nội môn của nó; nó liên quan đến “âm thanh” của đời sống người đệ tử và bản chất cùng phẩm tính của các bức xạ phát ra từ “nơi y đứng”. Nó gắn liền với toàn bộ chủ đề về định hướng và vị trí tinh thần, cùng những tác động từ tính của sự hợp nhất linh hồn và phàm ngã. Vấn đề bức xạ và ảnh hưởng từ tính dễ bị nhìn từ quan điểm một chiều của đệ tử, người xem xét các kết quả của bức xạ và từ điện của mình trên những người y tiếp xúc. Tuy nhiên, có một quan điểm khác; các phẩm tính này — tất yếu [538] và không thể tránh — nằm phía sau toàn bộ chủ đề nghiệp quả. Chúng kéo đến với đệ tử điều có thể cản trở y cũng như giúp đỡ y; hào quang của y — vốn là một tổ hợp các bức xạ, năng lượng và mãnh lực được sắp xếp — có thể đẩy lùi điều tốt hoặc thu hút điều xấu, và ngược lại; qua những tiếp xúc được tạo lập và các mối quan hệ được thiết lập, nó có thể quyết định khuynh hướng đời sống của đệ tử. Nó là một trong những yếu tố chính trong việc đưa ra các lựa chọn, và Tôi muốn em suy nghĩ về điều này.

As I write this instruction I would call your attention to the subject of karma. There comes ever in the life of a disciple and in the soul’s experience some one particular life wherein the Law of Cause and Effect assumes importance in the consciousness. From that life and that moment, the disciple begins to deal with karma, consciously and definitely. He learns to recognise it when events and happenings come which require understanding and which evoke questioning; he begins to study the quality of his radiation as a karmic agent, and therefore he becomes the maker and constructor, in a new and important sense, of his own destiny and future. His reactions to life and circumstances cease to be simply emotional in nature and become deliberately dictated by conscious observation; they then have in them a significant quality of preparation which is absent from the life of the average man. For the remainder of this life, therefore, I would ask you to carry the theme of karmic decision and of preparation for the future ever in your consciousness; I would ask you always to take action with as full an understanding of the probable following effects as you can manage to achieve, and to make a real effort to study the Law of Consequence and Compensation.

Khi viết huấn thị này, Tôi muốn gọi sự chú ý của em đến chủ đề nghiệp quả. Trong đời sống của một đệ tử và trong kinh nghiệm của linh hồn, luôn có một đời sống đặc biệt nào đó trong đó Định luật Nhân Quả trở nên quan trọng trong tâm thức. Từ đời sống và khoảnh khắc ấy, đệ tử bắt đầu xử lý nghiệp quả một cách có ý thức và xác định. Y học nhận ra nó khi các sự kiện và biến cố xuất hiện đòi hỏi sự thấu hiểu và gợi lên sự chất vấn; y bắt đầu nghiên cứu phẩm tính bức xạ của mình như một tác nhân nghiệp quả, và do đó, trong một ý nghĩa mới và quan trọng, y trở thành người tạo lập và kiến tạo vận mệnh cùng tương lai của chính mình. Những phản ứng của y trước đời sống và hoàn cảnh không còn chỉ mang bản chất cảm xúc, mà trở nên được định hướng có chủ ý bởi sự quan sát có ý thức; khi ấy chúng mang trong mình một phẩm tính chuẩn bị đầy thâm nghĩa, vốn vắng mặt trong đời sống của người trung bình. Vì vậy, trong phần còn lại của đời này, Tôi yêu cầu em luôn giữ chủ đề về quyết định nghiệp quả và sự chuẩn bị cho tương lai trong tâm thức; Tôi yêu cầu em luôn hành động với mức thấu hiểu đầy đủ nhất mà em có thể đạt được về những tác động có thể theo sau, và thực sự nỗ lực nghiên cứu Định luật Hệ Quả và Bù Trừ.

You are perhaps wondering at this time why I am thus emphasising a somewhat cold and difficult consideration. My reason is as follows: During your past life you have five times made certain definite decisions. By means of these decisions you have directed your energies in some one specific direction. You have thereby short-circuited these energies in another direction and you have brought by your action other lives than your own within your range of influence. I am going to suggest that you take each of these five points of crisis, if I [539] may call them so, and (for your own aiding and help) analyse them, define accurately to yourself the conditioning motives which impelled you to action, measure the nature of the consequent results as they worked out in your life, and gauge these results in such a manner that you come to a realisation as to whether they were good enough to warrant the choice you made. I would ask you to see where causes for encouragement or regret may lie and thus, my brother, arrive at a clear comprehension of yourself as a directing agent.

Có lẽ vào lúc này em đang tự hỏi vì sao Tôi lại nhấn mạnh như thế vào một điều xét suy có phần lạnh lùng và khó khăn. Lý do của Tôi như sau: Trong quãng đời đã qua của em, em đã năm lần đưa ra những quyết định rõ rệt. Bằng những quyết định này, em đã hướng các năng lượng của mình theo một chiều hướng đặc thù nào đó. Nhờ vậy, em đã làm đoản mạch các năng lượng này theo một hướng khác, và bằng hành động của em, em đã đưa những đời sống khác ngoài đời sống của chính em vào trong phạm vi ảnh hưởng của mình. Tôi sẽ đề nghị em lấy từng điểm trong năm điểm khủng hoảng này, nếu Tôi [539] có thể gọi chúng như thế, và vì sự trợ giúp cho chính em, hãy phân tích chúng, tự xác định chính xác những động cơ tác động đã thúc đẩy em hành động, đo lường bản chất của các kết quả theo sau khi chúng diễn ra trong đời em, và đánh giá các kết quả ấy sao cho em đi đến một sự nhận biết về việc liệu chúng có đủ tốt để biện minh cho lựa chọn em đã đưa ra hay không. Tôi yêu cầu em thấy nơi nào có thể có nguyên nhân để khích lệ hay hối tiếc, và như thế, huynh đệ của Tôi, đạt đến sự thấu hiểu rõ ràng về chính em như một tác nhân định hướng.

I believe that it is essentially necessary that you discover—alone and by yourself—whether these five choices were made as a conscious result of soul or personality decision, and that you should understand the reasons why you think so. You have reached a point in your present incarnation where it is also essential that you undertake the summing up of the various conditioning factors in your life. If you can do this, you will be enabled to bring this particular incarnation to a finish on a high note of intelligent and useful living. When the time comes, therefore, for you to pass over to the other side, you will find that you can do so with a full realisation of what should be the theme of your next earthly experience. I would have you realise that this is no morbid or unwholesome line of thought. I would like to indicate to you the fact that in your next incarnation you will find that the theme of “conditioning motives and assumed responsibility” will be incessantly present with you from the moment of your birth.

Tôi tin rằng điều thiết yếu cần thiết là em tự mình và một mình khám phá xem năm lựa chọn này đã được đưa ra như một kết quả có ý thức của quyết định từ linh hồn hay từ phàm ngã, và em nên thấu hiểu những lý do khiến em nghĩ như vậy. Em đã đạt đến một điểm trong lần lâm phàm hiện tại, nơi cũng thiết yếu để em thực hiện việc tổng kết các yếu tố tác động khác nhau trong đời em. Nếu em có thể làm điều này, em sẽ có thể đưa lần lâm phàm đặc biệt này đến chỗ hoàn tất trên một âm điệu cao của đời sống thông minh và hữu ích. Vì vậy, khi đến lúc em đi qua phía bên kia, em sẽ thấy rằng em có thể làm như thế với sự nhận biết đầy đủ về chủ đề nên có của kinh nghiệm trần thế kế tiếp. Tôi muốn em nhận ra rằng đây không phải là một dòng tư tưởng bệnh hoạn hay không lành mạnh. Tôi muốn chỉ cho em sự kiện rằng trong lần lâm phàm kế tiếp, em sẽ thấy chủ đề “những động cơ tác động và trách nhiệm đã gánh nhận” sẽ không ngừng hiện diện với em từ khoảnh khắc em chào đời.

In this life, your theme has been largely that of expediency and of expression to meet the expediency; these motives are in no sense basically wrong; they have enabled you to be soundly motivated; carefully implemented, these themes should carry you far. You have, however, definitely over-emphasised creativity; you have made it a motive for your life, but you have forgotten that the expression of the creative faculty is radiation and magnetism. These bring to its possessor the material for creation and a magnetic capacity which arranges in due form and beauty that which radiation has evoked. Creativity is a consequence of a particular state of mind and a specific state of being; it signifies a point in [540] evolution wherein the disciple is definitely radioactive. He can no more help creating in some form or another than he can help living. After all, my brother—returning to the original comments in this instruction—karma is ever the source of physical plane creation, happenings and events; it is the instrument of the soul in producing a personality.

Trong đời này, chủ đề của em phần lớn là sự tiện lợi trước mắt và sự biểu lộ để đáp ứng sự tiện lợi ấy; các động cơ này về căn bản không hề sai; chúng đã giúp em có động cơ vững chắc; nếu được thực hiện cẩn trọng, các chủ đề này hẳn sẽ đưa em đi xa. Tuy nhiên, em đã nhấn mạnh quá mức vào tính sáng tạo; em đã biến nó thành động cơ của đời mình, nhưng em đã quên rằng sự biểu lộ của năng lực sáng tạo là bức xạ và từ điện. Những điều này đem đến cho người sở hữu nó chất liệu để sáng tạo và một năng lực từ tính sắp xếp theo hình thức và vẻ đẹp thích đáng những gì bức xạ đã gợi lên. Tính sáng tạo là hệ quả của một trạng thái trí tuệ đặc biệt và một trạng thái hiện tồn đặc thù; nó biểu thị một điểm trong [540] tiến hoá nơi đệ tử trở nên phóng xạ rõ rệt. Y không thể không sáng tạo dưới hình thức này hay hình thức khác, cũng như y không thể không sống. Rốt cuộc, huynh đệ của Tôi — trở lại các nhận xét ban đầu trong huấn thị này — nghiệp quả luôn là nguồn của sự sáng tạo, các biến cố và sự kiện trên cõi hồng trần; nó là khí cụ của linh hồn trong việc tạo ra một phàm ngã.

We come now to the recognition that (where you are concerned) three words are of major importance, if you are to take what is for you your next spiritual step forward, karmically considered. These three words are: Karma, Radiation, Creation. For the remainder of this life you must earnestly aim at a closer relation to me and to my Ashram, for that is your karma. Fundamentally, nothing can interfere with this karma except the time equation, and you can therefore make this closer contact either with rapidity or slowness. It is the time factor which lies within the scope of your decision and it is in relation to time that you must do some careful thinking. That which will impel you to make a closer contact with your ashramic group will be an intensification of your radiation. A disciple is not drawn into a close rapport with the Ashram by the magnetic, radiatory power of the Ashram alone. Disciples need to grasp the fact that they, themselves, have to draw the Ashram to them, symbolically speaking, by the potency of their own magnetic radiation. It is necessary, therefore, that you intensify your radiation and that you carefully bear in mind that, as your karma carries you towards hierarchical contact, and as your radiation produces its individual effect upon the ashramic group, the consequent display of creativity must and will lie along the line of personality fulfilment and the meeting of deep-seated desire. Therefore, search your motives and the nature of your desires.

Bây giờ chúng ta đi đến sự nhận biết rằng, đối với em, ba từ có tầm quan trọng chính yếu nếu em muốn thực hiện bước tiến tinh thần kế tiếp của mình, xét theo nghiệp quả. Ba từ ấy là: Nghiệp quả, Bức xạ, Sáng tạo. Trong phần còn lại của đời này, em phải nghiêm túc nhắm đến mối liên hệ gần gũi hơn với Tôi và với Ashram của Tôi, vì đó là nghiệp quả của em. Về căn bản, không gì có thể can thiệp vào nghiệp quả này ngoại trừ yếu tố thời gian, và vì vậy em có thể tạo nên sự tiếp xúc gần gũi hơn này một cách nhanh chóng hoặc chậm rãi. Chính yếu tố thời gian nằm trong phạm vi quyết định của em, và chính trong liên hệ với thời gian mà em phải suy nghĩ cẩn trọng. Điều sẽ thúc đẩy em tạo sự tiếp xúc gần gũi hơn với nhóm ashram của em sẽ là sự tăng cường bức xạ của em. Một đệ tử không được kéo vào mối liên giao gần gũi với Ashram chỉ nhờ quyền năng từ tính và bức xạ của Ashram. Các đệ tử cần nắm bắt sự kiện rằng chính họ, nói theo biểu tượng, phải kéo Ashram đến với mình bằng quyền năng của bức xạ từ tính riêng họ. Vì vậy, cần thiết là em tăng cường bức xạ của mình và cẩn trọng ghi nhớ rằng khi nghiệp quả đưa em hướng đến sự tiếp xúc với Thánh Đoàn, và khi bức xạ của em tạo ra tác động cá nhân của nó trên nhóm ashram, thì sự biểu lộ sáng tạo theo sau phải và sẽ nằm theo đường hướng hoàn thành phàm ngã và đáp ứng dục vọng sâu kín. Vì vậy, hãy khảo sát động cơ của em và bản chất các dục vọng của em.

For years, my brother, I have sought to help you. You are in my Ashram, though you are not as yet in the inner circle; you belong to a group of brothers who—along with you—are struggling earnestly for spiritual fulfilment and who have been clearly told that their karma has brought them into the ranks of accepted discipleship and who are preparing for the next step ahead of them—the taking of an initiation. Each [541] of you, in his own place, is facing this initiatory process. I might add that every member of the Hierarchy, from Christ down to the disciple who is preparing for the second initiation, is standing in the knowledge that initiation in some degree must be taken and may not be ignored or denied. Will you understand me, my brother, if I say to you: Take this consciousness into your thinking and let this idea or knowledge condition all your activities. Say to yourself each morning before you go forth to the duties of the day: “I am preparing to move forward upon the Path of Initiation.” Let this affirmed realisation show itself forth in the quality of your daily activities.

Huynh đệ của Tôi, trong nhiều năm Tôi đã tìm cách giúp em. Em ở trong Ashram của Tôi, dù em chưa ở trong vòng trong; em thuộc về một nhóm các huynh đệ, những người cùng với em đang nghiêm túc phấn đấu cho sự thành tựu tinh thần và đã được nói rõ rằng nghiệp quả của họ đã đưa họ vào hàng ngũ địa vị đệ tử được chấp nhận, và họ đang chuẩn bị cho bước kế tiếp trước mặt họ — nhận một lần điểm đạo. Mỗi [541] người trong các em, tại vị trí riêng của mình, đang đối diện với tiến trình điểm đạo này. Tôi có thể nói thêm rằng mọi thành viên của Thánh Đoàn, từ Đức Christ xuống đến đệ tử đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai, đều đứng trong tri thức rằng một lần điểm đạo ở mức độ nào đó phải được nhận và không thể bị phớt lờ hay phủ nhận. Huynh đệ của Tôi, liệu em có thấu hiểu Tôi nếu Tôi nói với em: Hãy đưa tâm thức này vào tư duy của em và để ý tưởng hay tri thức này tác động lên mọi hoạt động của em. Mỗi sáng, trước khi em bước ra với các bổn phận trong ngày, hãy tự nói với mình: “Tôi đang chuẩn bị tiến bước trên Con Đường Điểm Đạo.” Hãy để sự nhận biết được khẳng định này biểu lộ trong phẩm tính các hoạt động hằng ngày của em.

Love more, my brother. You only deeply love two or three people; let that limited love be the seed which will produce the flowering forth of a loving spirit. Disciples need to remember that love brings all earthly karma to an end. Love induces that radiation which invokes and evokes not only the heart of God but the heart of humanity also. Love is the cause of all creation and the sustaining factor in all living.

Huynh đệ của Tôi, hãy yêu thương nhiều hơn. Em chỉ yêu sâu sắc hai hoặc ba người; hãy để tình thương giới hạn ấy trở thành hạt giống sẽ tạo ra sự nở hoa của một tinh thần yêu thương. Các đệ tử cần nhớ rằng tình thương đưa mọi nghiệp quả trần thế đến chỗ kết thúc. Tình thương gây nên bức xạ khẩn cầu và gợi lên không chỉ trái tim của Thượng đế mà cả trái tim của nhân loại nữa. Tình thương là nguyên nhân của mọi sáng tạo và là yếu tố duy trì trong mọi sự sống.

Make your remaining years expressive of radiating love, which is not at all easy for you. Remember ever that my Ashram enfolds you, without cessation, in its radiation. Work steadily in cooperation with your group brothers. Even though the personality instructions come to an end, the group instructions will give you all the help you will need. But you must act upon these instructions and hold with steadfastness your relation to the life of the group. This is all I have to say to you, but if you measure up to these instructions, you will go far. My constant blessing rests upon you.

Hãy làm cho những năm còn lại của em biểu lộ tình thương tỏa chiếu, điều này hoàn toàn không dễ đối với em. Hãy luôn nhớ rằng Ashram của Tôi không ngừng bao bọc em trong bức xạ của nó. Hãy đều đặn làm việc trong sự hợp tác với các huynh đệ trong nhóm của em. Dù các huấn thị dành cho phàm ngã chấm dứt, các huấn thị nhóm sẽ đem lại cho em mọi sự trợ giúp em cần. Nhưng em phải hành động theo các huấn thị này và giữ vững mối liên hệ của em với sự sống của nhóm. Đó là tất cả những gì Tôi phải nói với em, nhưng nếu em đáp ứng được các huấn thị này, em sẽ đi xa. Phúc lành thường hằng của Tôi ngự trên em.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY BROTHER OF THE STEADFAST HEART:

HUYNH ĐỆ CỦA TRÁI TIM KIÊN ĐỊNH:

I do not find as I approach you today that there is a great deal that I have to say to you. You are now accurately self-directing (like you not that phrase?) and your direction is right. The various suggestions which I have made to you, and which were of major importance, you have carefully followed, [542] and I believe would testify to the good results attained. That occult obedience which signifies freedom, spiritual freedom, within a world of natural law, has garnered for you sound results. You have moved forward from the periphery of the Ashram to a position nearer the centre. See that you hold that position; it will give you a wider field of service, a greater spiritual influence and an understanding which grasps essentials and sees life in a truer perspective.

Khi đến gần em hôm nay, Tôi không thấy có nhiều điều Tôi phải nói với em. Hiện nay em đang tự định hướng một cách chính xác, em có thích cụm từ ấy không, và hướng đi của em là đúng. Các gợi ý khác nhau mà Tôi đã đưa ra cho em, và vốn có tầm quan trọng chính yếu, em đã cẩn trọng làm theo, [542] và Tôi tin rằng em sẽ làm chứng cho những kết quả tốt đẹp đã đạt được. Sự vâng phục huyền môn ấy, vốn biểu thị tự do, tự do tinh thần, trong một thế giới của định luật tự nhiên, đã thu hoạch cho em những kết quả vững chắc. Em đã tiến từ ngoại vi của Ashram đến một vị trí gần trung tâm hơn. Hãy giữ vững vị trí ấy; nó sẽ cho em một lĩnh vực phụng sự rộng hơn, một ảnh hưởng tinh thần lớn hơn và một sự thấu hiểu nắm bắt những điều cốt yếu và thấy đời sống trong một viễn cảnh chân thực hơn.

The disbanding of the outer Ashram need in no way disturb the rhythm you are achieving and many of your group brothers and fellow students will look to you for aid and comprehension. Say not always the nice or loving thing, but learn to say the hard things with unalterable love. This is not easy for you.

Việc giải tán Ashram bên ngoài không cần làm xáo trộn chút nào nhịp điệu mà em đang đạt được, và nhiều huynh đệ trong nhóm cùng các bạn đồng môn của em sẽ tìm đến em để được trợ giúp và thấu hiểu. Đừng luôn luôn nói điều dễ nghe hay đầy thương mến, mà hãy học nói những điều khó khăn với tình thương bất biến. Điều này không dễ đối với em.

Being now the sannyasin and free, I would ask of you something practical and needed. The Arcane School stands at a point of real expansion; it is adequately staffed at its key points. I would ask you undeviatingly to stand by A.A.B. (as you do), and also by F.B., when need arises. The work in the world will grow in every land, and behind all the various activities stands the Arcane School. The Triangles and the Goodwill work will spread. But the Arcane School must continue as the heart of all the other activities. The staff is sound and can do much, but all of us need the cooperation, the co-inspiration and the use of a sustaining mind other than our own. Will you act in that capacity with them?

Vì nay em là sannyasin và đã tự do, Tôi muốn yêu cầu em một điều thực tiễn và cần thiết. Trường Arcane đang đứng tại một điểm mở rộng thực sự; trường có đủ nhân sự tại các điểm then chốt. Tôi yêu cầu em kiên định đứng bên Bà A.A.B., như em đang làm, và cũng bên F.B. khi nhu cầu nảy sinh. Công việc trên thế giới sẽ tăng trưởng trong mọi quốc gia, và đằng sau tất cả các hoạt động khác nhau là Trường Arcane. Công việc Tam Giác và Thiện Chí sẽ lan rộng. Nhưng Trường Arcane phải tiếp tục là trái tim của tất cả các hoạt động khác. Ban nhân sự vững vàng và có thể làm nhiều, nhưng tất cả chúng ta cần sự hợp tác, sự đồng cảm hứng và việc sử dụng một thể trí nâng đỡ khác ngoài thể trí của chính mình. Em có sẵn lòng đảm nhận vai trò đó với họ không?

This will require on your part extended vision, for that has been somewhat lacking in your general attitude, as I think you would be the first to admit; you have prided yourself (and rightly) on being realistic and factual, but your realism must extend also to the inner realities and to the subjective, which are more important than the objective. You need to live more subjectively. It is this blended realism which I would ask you to cultivate, for it creates—when achieved—the understanding work with vision, a capacity for long-range planning, and yet withal the feet are truly planted on the earth.

Điều này sẽ đòi hỏi nơi em tầm nhìn mở rộng, vì điều đó đã phần nào thiếu trong thái độ chung của em, như Tôi nghĩ em sẽ là người đầu tiên thừa nhận; em đã tự hào, và đúng như vậy, về việc mình thực tế và dựa trên sự kiện, nhưng chủ nghĩa thực tế của em cũng phải mở rộng đến các thực tại bên trong và đến thực tại nội giới, vốn quan trọng hơn thực tại ngoại giới. Em cần sống trong nội giới nhiều hơn. Chính chủ nghĩa thực tế hòa quyện này là điều Tôi muốn em vun trồng, vì khi đạt được, nó tạo nên công việc thấu hiểu đi kèm tầm nhìn, một năng lực hoạch định dài hạn, nhưng đồng thời đôi chân vẫn thật sự đặt trên mặt đất.

I would suggest to you, my brother, a less intense consideration [543] of the way you go and of the “demonstration” you make. That way is now established; you will not be deflected and you have wrought into the garment of your nature many new qualities and have rid yourself of many handicaps. Let that suffice, and for your remaining years be the worker, the guide, the serene watcher, and a strength to your co-workers—without fear, with confidence in the law, but—above all—with a much more inclusive vision than heretofore. Learn to think in wide terms and world planning, aiding F.B., when due time comes, in formulating the policies and the blueprints for the expansion of the work.

Huynh đệ của Tôi, Tôi muốn gợi ý với em hãy bớt xét suy căng thẳng [543] về con đường em đi và về “sự minh chứng” mà em thực hiện. Con đường ấy nay đã được thiết lập; em sẽ không bị lệch hướng, và em đã dệt vào y phục của bản chất mình nhiều phẩm tính mới, cũng như đã loại bỏ nhiều chướng ngại. Hãy để điều đó là đủ, và trong những năm còn lại, hãy là người hoạt động, người hướng dẫn, người quan sát tĩnh lặng, và là sức mạnh cho các cộng sự của em — không sợ hãi, với niềm tin vào định luật, nhưng trên hết, với một tầm nhìn bao quát hơn trước rất nhiều. Hãy học suy nghĩ theo những phạm vi rộng lớn và kế hoạch thế giới, trợ giúp F.B. khi đúng thời điểm đến, trong việc hình thành các chính sách và bản thiết kế cho sự mở rộng công việc.

Make yourself accessible, my brother, and more and more people will seek you out. Your work in the future, as you well realise, lies with the Arcane School, and your field of service is unlimited.

Huynh đệ của Tôi, hãy làm cho mình dễ tiếp cận, và ngày càng nhiều người sẽ tìm đến em. Như em nhận ra rõ, công việc của em trong tương lai nằm với Trường Arcane, và lĩnh vực phụng sự của em là không giới hạn.

As regards your meditation work, I would like it to centre more definitely on the Ashram and be less occupied with yourself and the formation of your own character or with your own development. As I said above, that is now stabilised.

Về công việc tham thiền của em, Tôi muốn nó tập trung rõ rệt hơn vào Ashram và bớt bận tâm với chính em, với việc hình thành tính cách của riêng em hay với sự phát triển của chính em. Như Tôi đã nói ở trên, điều đó nay đã ổn định.

Meditation on the Ashram—having dealt with the suggested theme as the soul, functioning through the mind—will deal practically with the effects of ashramic contact on the emotional nature and on the daily life on the physical plane. I give you the following themes, covering a year’s work which, if diligently considered for several years, will produce a factual life of real value.

Tham thiền về Ashram — sau khi đã đề cập đến chủ đề được gợi ý với tư cách linh hồn, hoạt động qua thể trí — sẽ bàn đến một cách thực tiễn các tác động của sự tiếp xúc ashram trên bản chất cảm xúc và trên đời sống hằng ngày nơi cõi hồng trần. Tôi trao cho em các chủ đề sau đây, bao trùm công việc của một năm, nếu được suy xét chuyên cần trong nhiều năm, sẽ tạo ra một đời sống thực tế có giá trị chân thật.

Themes for Meditation.

Các Chủ Đề Tham Thiền.

1. The fact of the Ashram. You like facts, brother of mine, so apply this factual consciousness of yours to this subject.

1. Sự hiện hữu thực sự của Ashram. Huynh đệ của Tôi, em thích các sự kiện, vậy hãy áp dụng tâm thức hướng vào sự kiện này của em vào chủ đề này.

2. The Ashram as a centre of life. This will involve the use of the antahkarana.

2. Ashram như một trung tâm của sự sống. Điều này sẽ bao hàm việc sử dụng antahkarana.

3. The Ashram as a centre of love, wisely expressed.

3. Ashram như một trung tâm của tình thương, được biểu lộ một cách minh triết.

4. The Ashram as a centre of perfected intelligence.

4. Ashram như một trung tâm của trí tuệ hoàn thiện.

5. The Master of the Ashram.

5. Chân sư của Ashram.

6. The Ashram as a centre of living energy. [544]

6. Ashram như một trung tâm của năng lượng sống động. [544]

7. The relationship of the Ashram to world affairs.

7. Mối liên hệ của Ashram với các vấn đề thế giới.

8. The responsibilities shouldered by members of the Ashram.

8. Các trách nhiệm do những thành viên của Ashram gánh vác.

9. The eventual externalisation of the Ashram and how it is achieved.

9. Sự ngoại hiện sau cùng của Ashram và cách nó được thành tựu.

10. The qualities fostered by ashramic life.

10. Các phẩm tính được đời sống ashram nuôi dưỡng.

11. The service rendered by the Ashram.

11. Sự phụng sự do Ashram thực hiện.

12. The Ashram and the Arcane School.

12. Ashram và Trường Arcane.

I am pleased with the progress you have made during the past few years. Failure has not deterred you and appreciation will not hurt you. My strength and understanding are ever at your service on just demand.

Tôi hài lòng với sự tiến bộ em đã đạt được trong vài năm qua. Thất bại đã không làm em nản chí, và sự trân trọng sẽ không làm hại em. Sức mạnh và sự thấu hiểu của Tôi luôn sẵn sàng phụng sự em khi có yêu cầu chính đáng.

To I. B. S. – Gửi I. B. S.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

There is a question concerning the future and your responsibility which is at this time much disturbing your mind. It intrudes powerfully at times into your consciousness. Up till now—after a period of inner wrestling and consequent decision—you have evaded the full facing of the implications and the effect which action may have upon the future. The service of a disciple is frequently affected by his inner worries and defensive suppressions. The free flow of inspiration is halted in the astral body and there stagnates (if I may use so inappropriate a word). He is conscious of the inspiration but is puzzled at the small effect it appears to have upon other people. He wonders constantly where the difficulty lies. Often it lies in an unsolved problem which serves to bewilder the subconscious nature, as the psychologists call it; it may lie in a half-realised inability to work out right relations with people, fretting and gnawing at the lower layers of unformulated thought; it may be found in a state of inner rebellion against life, against people, against the disciple’s own decisions, leading thus to a most definite orientation or focus of the entire personality. [545]

Vào lúc này có một câu hỏi liên quan đến tương lai và trách nhiệm của em đang làm trí em xáo trộn nhiều. Đôi khi nó xâm nhập mạnh mẽ vào tâm thức em. Cho đến nay — sau một giai đoạn vật lộn bên trong và quyết định theo sau — em đã né tránh việc đối diện trọn vẹn với các hàm ý và tác động mà hành động có thể gây ra cho tương lai. Sự phụng sự của một đệ tử thường bị ảnh hưởng bởi những lo âu bên trong và các sự kìm nén phòng vệ của y. Dòng chảy tự do của cảm hứng bị ngăn lại trong thể cảm dục và ứ đọng ở đó, nếu Tôi có thể dùng một từ không thích hợp như thế. Y ý thức được cảm hứng nhưng bối rối trước tác động nhỏ bé mà nó dường như có trên người khác. Y không ngừng tự hỏi khó khăn nằm ở đâu. Thường thì nó nằm trong một vấn đề chưa được giải quyết, vốn làm rối loạn bản chất tiềm thức, như các nhà tâm lý học gọi; nó có thể nằm trong một sự bất lực chỉ được nhận ra một nửa trong việc thực hiện các mối quan hệ đúng đắn với con người, đang bứt rứt và gặm nhấm các tầng thấp của tư tưởng chưa được hình thành; nó có thể được tìm thấy trong một trạng thái phản kháng bên trong đối với đời sống, đối với con người, đối với chính các quyết định của đệ tử, do đó dẫn đến một định hướng hay tiêu điểm rất rõ rệt của toàn bộ phàm ngã. [545]

When the personality ray is the same as the ray of the astral body (as in your case) a most difficult situation is apt to arise, handicapping the service until such time as right inner adjustments are made. In a curious way, you are isolated from many people by the power and focus of your third ray physical body—a thing which you are the last to desire but which is due to the dominance of the first ray element in your nature, for it conditions your soul quality and that expresses itself through the third ray physical nature. Intense focus is, therefore, the continuous theme of your life expression for—as you know—you have the first ray and the sixth ray continuously interrelated in your nature.

Khi cung phàm ngã giống với cung của thể cảm dục, như trong trường hợp của em, một tình huống hết sức khó khăn có thể nảy sinh, gây trở ngại cho sự phụng sự cho đến khi các điều chỉnh đúng đắn bên trong được thực hiện. Theo một cách lạ lùng, em bị cô lập khỏi nhiều người bởi quyền năng và tiêu điểm của thể xác cung ba của em — một điều em chẳng hề mong muốn, nhưng lại do sự thống trị của yếu tố cung một trong bản chất em, vì nó tác động lên phẩm tính linh hồn của em và phẩm tính ấy biểu lộ qua bản chất thể xác cung ba. Vì vậy, sự tập trung mãnh liệt là chủ đề liên tục trong sự biểu lộ đời sống của em, vì như em biết, em có cung một và cung sáu liên tục tương liên trong bản chất mình.

The offsetting factor is your mind which is governed by the fourth ray. This influence too is frequently found in this seed group, for ten of the group members have the mind as the battle ground of conflict—a conflict which is thus planned in order to produce an eventual harmony. Disciples such as yourselves, therefore, will not find release from conflict through the control of desire, or through evasion or through inhibition. They will find it through the right use of the thought processes and through the mind itself, for it can throw upon the problem the light which shines through it. This will bring right solution and correct understanding. You do wrestle with your problem, my brother, for your sincere desire is to follow the path of spiritual development but you make the astral body your battle ground whereas the whole problem should be elevated to mental levels. Think this out and then carry forward right action in two directions: on the mental plane for guidance and down to the physical plane for demonstration.

Yếu tố hóa giải là thể trí của em, do cung bốn chi phối. Ảnh hưởng này cũng thường được tìm thấy trong Nhóm hạt giống này, vì mười thành viên của nhóm có thể trí làm bãi chiến trường của xung đột — một xung đột được hoạch định như thế nhằm tạo ra một sự hài hòa sau cùng. Vì vậy, những đệ tử như các em sẽ không tìm thấy sự giải thoát khỏi xung đột qua việc kiểm soát dục vọng, hay qua sự né tránh, hay qua sự ức chế. Họ sẽ tìm thấy nó qua việc sử dụng đúng các tiến trình tư tưởng và qua chính thể trí, vì thể trí có thể chiếu lên vấn đề ánh sáng vốn xuyên qua nó. Điều này sẽ đem lại giải pháp đúng đắn và sự thấu hiểu chính xác. Huynh đệ của Tôi, em quả thật đang vật lộn với vấn đề của mình, vì ước muốn chân thành của em là đi theo con đường phát triển tinh thần, nhưng em biến thể cảm dục thành bãi chiến trường của mình, trong khi toàn bộ vấn đề nên được nâng lên các cấp độ trí tuệ. Hãy suy nghĩ điều này cho kỹ, rồi tiến hành hành động đúng đắn theo hai hướng: trên cõi trí để được hướng dẫn, và xuống cõi hồng trần để minh chứng.

You will know to what problem or problems I refer. None of your group brothers will understand to what particular condition I now make allusion. It is a problem which you must handle in isolation and when handled, it will open for you a perfect floodgate of relationships and opportunities. Your aim should therefore be the intensification of the illumination of the mind so that the searchlight of the mind can be turned upon the fogs and difficulties of the astral body.

Em sẽ biết Tôi đang nói đến vấn đề hay những vấn đề nào. Không huynh đệ nào trong nhóm của em sẽ hiểu Tôi hiện ám chỉ điều kiện đặc biệt nào. Đó là một vấn đề em phải xử lý trong cô lập, và khi được xử lý, nó sẽ mở ra cho em cánh cửa cho các mối quan hệ và cơ hội tuôn trào. Vì vậy, mục tiêu của em nên là tăng cường sự soi sáng của thể trí để đèn pha của thể trí có thể được hướng vào các màn sương và khó khăn của thể cảm dục.

Of one thing we who are watching the disciples of the [546] world today are convinced, and that is that you are a sincere and intelligent devotee; intelligence and devotion go hand in hand in the accepted disciple, balancing each other and then producing a definite focus of power. For all of you this is an incarnation wherein the life focus becomes either irrevocably oriented toward the soul, as must be the case with newly accepted disciples, or powerfully expanded and inclusive as in the case of older disciples. In your case, the achievement of a definite focus is now essential. In the manifestation of souls in time and space, there come lives wherein—at times—a soul problem (as the personality embraces it) becomes a dominant theme and the whole incarnation (with definite points of intensive crisis) is given to the understanding of the problem and its solution. In the orientation of your life towards the soul, the keynote of renunciation is wisely clear but you need to see to it that even renunciation is not over-emphasised and that its conditioning power is not applied to that for which there is no call, because such renunciation would constitute an error.

Về một điều, chúng tôi, những người đang quan sát các đệ tử của [546] thế giới ngày nay, đều xác tín, đó là em là một người sùng tín chân thành và thông minh; trí tuệ và lòng sùng tín đi đôi trong đệ tử được chấp nhận, quân bình lẫn nhau rồi tạo nên một tiêu điểm quyền năng rõ rệt. Đối với tất cả các em, đây là một lần lâm phàm trong đó tiêu điểm đời sống hoặc trở nên được định hướng không thể đảo ngược về phía linh hồn, như phải là trường hợp với các đệ tử mới được chấp nhận, hoặc được mở rộng mạnh mẽ và mang tính bao quát như trong trường hợp các đệ tử lâu năm hơn. Trong trường hợp của em, việc đạt được một tiêu điểm rõ rệt hiện nay là thiết yếu. Trong sự biểu hiện của các linh hồn trong thời gian và không gian, có những đời sống trong đó — đôi khi — một vấn đề của linh hồn, khi phàm ngã ôm lấy nó, trở thành chủ đề nổi bật, và toàn bộ lần lâm phàm, với những điểm khủng hoảng mãnh liệt rõ rệt, được dành cho việc thấu hiểu vấn đề và giải quyết nó. Trong sự định hướng đời em về phía linh hồn, chủ âm của sự từ bỏ rõ ràng một cách minh triết, nhưng em cần lưu ý để ngay cả sự từ bỏ cũng không bị nhấn mạnh quá mức, và quyền năng tác động của nó không được áp dụng cho điều không đòi hỏi phải từ bỏ, vì sự từ bỏ như thế sẽ cấu thành một sai lầm.

I am giving you, therefore, a personal meditation. I too must have this in mind, reminding you that renunciation itself can be a glamour and a sixth ray idealist is prone to over-express. I shall not give you what you would call a real meditation. That which will aid you the most at this time is a visualisation exercise on Light.

Vì vậy, Tôi trao cho em một bài tham thiền cá nhân. Tôi cũng phải ghi nhớ điều này, nhắc em rằng chính sự từ bỏ cũng có thể là một ảo cảm, và một nhà lý tưởng cung sáu dễ có khuynh hướng biểu lộ quá mức. Tôi sẽ không trao cho em điều em gọi là một bài tham thiền thật sự. Điều sẽ giúp em nhiều nhất vào lúc này là một bài thực hành hình dung về Ánh sáng.

1. Sit quietly and relax. Deal not with problems but during the period of this exercise endeavour simply to be a point of focussed vision, with the eye of the mind directed towards the soul.

1. Hãy ngồi yên và thư giãn. Đừng xử lý các vấn đề, mà trong thời gian của bài thực hành này, chỉ cố gắng là một điểm của tầm nhìn tập trung, với con mắt của thể trí hướng về linh hồn.

2. When your focus seems adequate then see (by the power of the creative imagination) a distant peak or pyramid and on its summit there shines a clear pure light of great intensity.

2. Khi tiêu điểm của em có vẻ đầy đủ, hãy thấy, bằng quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo, một đỉnh núi hay kim tự tháp ở xa, và trên đỉnh của nó có một ánh sáng trong trẻo, tinh khiết, với cường độ lớn đang chiếu rạng.

3. With that light you seek to identify yourself, to merge within and thus to avail yourself of its illumination in order that in it the lesser light may shine. You say, after some minutes of careful identification: [547]

3. Với ánh sáng ấy, em tìm cách đồng nhất mình với, hòa nhập vào, và nhờ đó tận dụng sự soi sáng của nó, để trong đó ánh sáng nhỏ hơn có thể chiếu rạng. Sau vài phút đồng nhất cẩn trọng, em nói: [547]

“Dim light am I and yet the pure light shines. Not distant is that light but daily, hourly drawing nearer.

“Tôi là ánh sáng mờ, nhưng ánh sáng tinh khiết vẫn chiếu rạng. Ánh sáng ấy không xa, mà từng ngày, từng giờ đang đến gần hơn.

The light that is my little self must disappear within the greater Light.

Ánh sáng vốn là cái ngã nhỏ bé của tôi phải biến mất trong Ánh Sáng lớn hơn.

So with that Light, that all-pervading, all-consuming Light, I blend and merge.

Vì vậy, với Ánh Sáng ấy, Ánh Sáng thấm nhuần tất cả, thiêu tiêu tất cả ấy, tôi hòa quyện và hòa nhập.

I can no longer see the two—the greater Self, the little self, the pilgrim and the way, for only one is seen—the greater lighted Whole.”

Tôi không còn có thể thấy hai — Bản Ngã lớn hơn, cái ngã nhỏ bé, người hành hương và con đường, vì chỉ một điều được thấy — Tổng Thể được soi sáng lớn hơn.”

4. Picture the fusion of the light of the personality and the light of the Soul and see that light focussed in the personality upon the astral plane.

4. Hãy hình dung sự dung hợp của ánh sáng phàm ngã và ánh sáng của Linh hồn, và thấy ánh sáng ấy được tập trung trong phàm ngã trên cõi cảm dục.

5. Then produce stabilisation of the light appropriated by the sounding of the OM.

5. Rồi tạo sự ổn định cho ánh sáng đã được chiếm hữu bằng việc xướng linh từ OM.

Seek not to use the light directly for the clarification of problems, teaching or ideas. That will take place automatically once the light is focussed; it must inevitably bring release and knowledge. Seek simply to visualise the process, knowing that “as a man thinketh so is he.” Then forget about the acquiring of the light and endeavour to manifest that which exists as the result of your own effort. Light is within you. Seek not for immediate instantaneous solution of your problems. Look not, my brother, for results. Remember ever that as you continue faithfully with the indicated exercise, the results are sure or I would not waste your time or mine in giving you this work to do. Regularly and without anxiety do as you are told. The results will in due time manifest.

Đừng tìm cách sử dụng ánh sáng trực tiếp để làm sáng tỏ các vấn đề, giáo huấn hay ý tưởng. Điều đó sẽ tự động diễn ra một khi ánh sáng được tập trung; nó tất yếu phải đem lại giải thoát và tri thức. Hãy chỉ tìm cách hình dung tiến trình, biết rằng “con người nghĩ như thế nào thì y là như thế ấy”. Rồi hãy quên việc thủ đắc ánh sáng và cố gắng biểu hiện điều đang hiện hữu như kết quả nỗ lực của chính em. Ánh sáng ở trong em. Đừng tìm kiếm giải pháp tức khắc, lập tức cho các vấn đề của em. Huynh đệ của Tôi, đừng tìm kiếm kết quả. Hãy luôn nhớ rằng khi em tiếp tục trung thành với bài thực hành được chỉ định, các kết quả là chắc chắn, nếu không Tôi đã không phí thời gian của em hay của Tôi khi trao cho em công việc này để làm. Hãy đều đặn và không lo âu làm như em được bảo. Các kết quả sẽ biểu hiện đúng thời.

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. As the hours of service pass around the clock of time look for the sounding of the hour. What hour is that?

1. Khi các giờ phụng sự trôi quanh mặt đồng hồ của thời gian, hãy chú ý tiếng chuông điểm giờ. Giờ ấy là giờ nào?

2. As the minutes tick away the passing hour, watch for the minute when My voice is heard. When will that be?

2. Khi các phút điểm nhịp cho giờ đang trôi qua, hãy canh chừng phút khi Tiếng nói của Tôi được nghe thấy. Khi nào điều đó sẽ xảy ra?

3. As the seconds note the passing of the minute hand upon the clock of time, expect the second when My face appears. Why has it not appeared? [548]

3. Khi các giây ghi nhận sự chuyển động của kim phút trên mặt đồng hồ thời gian, hãy trông đợi giây khi gương mặt Tôi xuất hiện. Vì sao nó chưa xuất hiện? [548]

4. When you think freedom lies within your grasp and when you think that you have done the utmost that you can, Beware! Obedience lies ahead, with freedom in its hand.

4. Khi em nghĩ tự do nằm trong tầm tay mình và khi em nghĩ rằng em đã làm hết mức có thể, Hãy coi chừng! Sự vâng phục nằm phía trước, với tự do trong tay nó.

5. Within the Ashram you must work. Cycles of speech transmute themselves into periods of silence. Yet both must play their part.

5. Trong Ashram, em phải làm việc. Các chu kỳ ngôn từ tự chuyển hoá thành các thời kỳ im lặng. Tuy nhiên, cả hai đều phải đóng phần của mình.

6. You are passing on the Lighted Way, my brother. You have placed your hand in mine. I hold it firm.

6. Huynh đệ của Tôi, em đang đi trên Con Đường được Soi Sáng. Em đã đặt tay mình trong tay Tôi. Tôi giữ nó vững chắc.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You may have noted that there is a slight difference in the type of instructions which I am now giving to this group of disciples in my Ashram, of whom you are one. It is not that each of them is not definitely personal in their application or that they do not carry a meaning of very real import to the disciple for whom they are intended; this they do and should. It is now, however, my intention to convey certain principles and certain aspects of truth which have more of a group implication than a personal one. The previous two cycles of teaching to which you have all submitted yourselves were primarily concerned with the training of the threefold personality and with an effort to bring it into a closer relation with the soul, and therefore with the Ashram. This was peculiarly so in the work of the Groups of Nine, and in the first cycle of the New Seed Group work this was continued, though in a lessened degree and with a specific emphasis laid upon the required training for initiation. It was not so much the training of the personality which was under consideration. All this is a part of a definite plan, and the teaching which I intend now to give will have a clear group import, even though adapted to the disciple’s personality and to the particular individual to whom the instruction is given. In spite of the individual usefulness, it will profit each member of the group also to read and study and apply the teaching from the group angle.

Em có thể đã lưu ý rằng có một khác biệt nhẹ trong loại huấn thị mà hiện nay Tôi đang trao cho nhóm đệ tử này trong ashram của Tôi, mà em là một thành viên. Không phải mỗi huấn thị ấy không mang tính cá nhân rõ rệt trong sự ứng dụng của nó, hay không chuyên chở một ý nghĩa có tầm quan trọng rất thực đối với đệ tử mà nó được dành cho; chúng có và phải có như vậy. Tuy nhiên, hiện nay ý định của Tôi là truyền đạt một vài nguyên lý và một vài phương diện của chân lý có hàm ý nhóm nhiều hơn là hàm ý cá nhân. Hai chu kỳ giáo huấn trước đây mà tất cả các em đã tự đặt mình vào, chủ yếu liên quan đến việc huấn luyện phàm ngã tam phân và nỗ lực đưa nó vào một mối liên hệ gần gũi hơn với linh hồn, và do đó với ashram. Điều này đặc biệt đúng trong công việc của các Nhóm Chín Người, và trong chu kỳ đầu tiên của công việc Nhóm Hạt Giống Mới, điều này vẫn được tiếp tục, tuy ở mức độ giảm bớt và với một nhấn mạnh chuyên biệt đặt vào việc huấn luyện cần thiết cho điểm đạo. Không phải việc huấn luyện phàm ngã là điều được xem xét nhiều nhất. Tất cả điều này là một phần của một Thiên Cơ rõ rệt, và giáo huấn mà giờ đây Tôi dự định trao ra sẽ có ý nghĩa nhóm rõ ràng, dù vẫn được thích nghi với phàm ngã của đệ tử và với cá nhân đặc thù mà huấn thị được trao cho. Ngoài sự hữu ích đối với cá nhân, mỗi thành viên của nhóm cũng sẽ được lợi khi đọc, nghiên cứu và áp dụng giáo huấn từ góc độ nhóm.

There are, of course, three basic principles governing all work in an Ashram. I refer not here to occult principles of [549] life, but to governing principles in training. These three are: Occult Obedience. Group Integration. Right of Access. Let us consider each of them for a minute with a view to group instruction, but with an individual application which will be purely your own.

Dĩ nhiên, có ba nguyên lý căn bản chi phối mọi công việc trong một ashram. Ở đây Tôi không nói đến các nguyên lý huyền môn của [549] sự sống, mà nói đến các nguyên lý chi phối việc huấn luyện. Ba nguyên lý ấy là: Sự Vâng Phục Huyền Môn. Sự Tích Hợp Nhóm. Quyền Tiếp Cận. Chúng ta hãy xem xét từng nguyên lý trong chốc lát, nhằm mục đích huấn thị nhóm, nhưng với một ứng dụng cá nhân hoàn toàn thuộc riêng em.

Occult Obedience. In the six statements given to you in the preceding instruction I used the words, “Obedience lies ahead with freedom in its hand.” Upon these words I presume that you have pondered. The disciple so often gives obedience within limits. His personal sense of liberty (due largely to a rapidly developing mental grasp of life and living) prompts him to concede certain forms of obedience to the Master Who has him in training, but to refrain from a complete surrender through fear of losing his sense of free action, free thought and free choice of relationships. The older the disciple, the less is this the case, for the life of the Ashram and an increasing steady contact with the Master demonstrate to him the complete and utter freedom which governs the entire circle of ashramic life—both within the Ashram and within the field of its interior and exterior service. But the development of this discreet appreciation takes time, and the neophyte is always on guard against any intrusion into his organised field of determined self-government. Let me illustrate in a manner which I believe will convey to you a much needed suggestion.

Sự Vâng Phục Huyền Môn. Trong sáu phát biểu đã trao cho em trong huấn thị trước, Tôi đã dùng những lời: “Sự vâng phục nằm ở phía trước, với tự do trong tay.” Tôi cho rằng em đã suy ngẫm về những lời này. Đệ tử thường vâng phục trong giới hạn. Ý thức cá nhân của y về tự do, phần lớn do sự nắm bắt trí tuệ đang phát triển nhanh chóng đối với sự sống và đời sống, thúc đẩy y chấp nhận một vài hình thức vâng phục đối với Chân sư đang huấn luyện y, nhưng lại tránh sự phó thác trọn vẹn vì sợ mất ý thức về hành động tự do, tư tưởng tự do và quyền tự do chọn lựa các mối quan hệ. Đệ tử càng lâu năm thì điều này càng ít xảy ra, vì sự sống của ashram và sự tiếp xúc ngày càng đều đặn với Chân sư chứng minh cho y thấy sự tự do trọn vẹn và tuyệt đối chi phối toàn bộ vòng sống ashram—cả bên trong ashram lẫn trong lĩnh vực phụng sự nội tại và ngoại tại của nó. Nhưng sự phát triển của nhận thức thận trọng này cần thời gian, và người sơ cơ luôn canh chừng mọi sự xâm nhập vào lĩnh vực tự quản có tổ chức và đã được y quyết định. Hãy để Tôi minh họa theo một cách mà Tôi tin sẽ truyền đạt cho em một gợi ý rất cần thiết.

The beginner and newcomer in the Ashram, new in his service (from the angle of his present life experience if not from the angle of the soul), new in his registering of a sense of power which relation to the Ashram always conveys, and new in his joyous reaction to the recognition given him by those to whom he seeks to give help, speaks increasingly of “my work, my group, my teaching, my people, my plans,” and in so doing stabilises himself in his chosen field of service. This is a temporary phase, oft unrecognised by the disciple, though annoying to those who hear. As he proceeds in the spiritual life and intensifies his understanding of the Master, as he enters more deeply into the life of the Ashram and into the aura of his Master, and as his vision grows—revealing possibilities of service and the limitations of his equipment, plus a [550] divine indifference—he drops the possessiveness of his approach to service and regards all that he does as his response to the life of the Ashram, as his contribution to the work of the Ashram, and thus eventually comes to the point where he himself fades out of his own picture and from the centre of his work, and only the need to be met and the power of the Ashram to meet that need remain.

Người mới bắt đầu và mới đến trong ashram, mới trong sự phụng sự của y, xét từ góc độ kinh nghiệm đời sống hiện tại nếu không phải từ góc độ linh hồn, mới trong việc ghi nhận một ý thức về quyền năng mà mối liên hệ với ashram luôn truyền đạt, và mới trong phản ứng hoan hỉ của y trước sự công nhận mà những người y tìm cách giúp đỡ dành cho y, ngày càng nói nhiều về “công việc của tôi, nhóm của tôi, giáo huấn của tôi, người của tôi, các kế hoạch của tôi,” và khi làm như vậy, y ổn định chính mình trong lĩnh vực phụng sự đã chọn. Đây là một giai đoạn tạm thời, thường không được đệ tử nhận ra, dù gây khó chịu cho những người nghe. Khi y tiến bước trong đời sống tinh thần và làm sâu sắc thêm sự thấu hiểu của mình về Chân sư, khi y đi sâu hơn vào sự sống của ashram và vào hào quang của Chân sư mình, và khi tầm nhìn của y tăng trưởng—mặc khải các khả năng phụng sự và những giới hạn của trang bị nơi y, cộng với một [550] Điềm nhiên thiêng liêng—y buông bỏ tính chiếm hữu trong cách tiếp cận phụng sự và xem mọi điều y làm như sự đáp ứng của y đối với sự sống của ashram, như sự đóng góp của y vào công việc của ashram, và như thế cuối cùng đi đến điểm mà chính y mờ dần khỏi bức tranh của mình và khỏi trung tâm công việc của mình, và chỉ còn lại nhu cầu cần được đáp ứng cùng quyền năng của ashram để đáp ứng nhu cầu ấy.

This marks a definite step forward, and it is this attitude of selflessness and this capacity to be a channel for the power, the love, the knowledge and the life of the Ashram which constitute in the last analysis what is meant by occult obedience.

Điều này đánh dấu một bước tiến rõ rệt, và chính thái độ vô ngã này cùng năng lực làm một vận hà cho quyền năng, tình thương, tri thức và sự sống của ashram, xét đến cùng, cấu thành điều được gọi là sự vâng phục huyền môn.

You, my brother, are now at a point where you need to fade more definitely out of your own picture of yourself as a worker. The first indication of this deepened approach to service will appear in your speech when in company of your group brothers and of other workers in the field of general human service. I stated in the last instruction to you that “cycles of speech transmute themselves into periods of silence.” What does this mean? Something very simple, my beloved chela. Your service in the world and in your chosen and useful field could at present be characterised by the term “cycles of speech,” could it not? Yet within the Ashram, if those cycles of speech are to be eloquent of truth, the quality which will distinguish you will be the balancing “periods of silence”; in order to acquire this quality of silence (ashramic silence) you will have to learn to practice silence within the ranks of your brothers and co-workers.

Huynh đệ của Tôi, hiện nay em đang ở một điểm mà em cần mờ dần một cách rõ rệt hơn khỏi bức tranh của chính em về mình như một người hoạt động. Dấu hiệu đầu tiên của cách tiếp cận phụng sự sâu sắc hơn này sẽ xuất hiện trong lời nói của em khi ở cùng các huynh đệ trong nhóm và các người hoạt động khác trong lĩnh vực phụng sự nhân loại nói chung. Trong huấn thị gần nhất gửi em, Tôi đã nói rằng “các chu kỳ lời nói tự chuyển hóa thành những thời kỳ im lặng.” Điều này nghĩa là gì? Một điều rất đơn giản, đệ tử yêu dấu của Tôi. Sự phụng sự của em trong thế gian và trong lĩnh vực đã chọn, hữu ích của em hiện nay có thể được đặc trưng bằng thuật ngữ “các chu kỳ lời nói,” có phải vậy không? Tuy nhiên, trong ashram, nếu những chu kỳ lời nói ấy phải hùng hồn nói lên chân lý, thì phẩm tính phân biệt em sẽ là những “thời kỳ im lặng” quân bình; để đạt được phẩm tính im lặng này, tức sự im lặng ashram, em sẽ phải học thực hành im lặng trong hàng ngũ các huynh đệ và cộng sự của mình.

Speaking symbolically, and without enlarging upon the significances, it might be stated that an Ashram has three circles (I refer not here to grades or ranks):

Nói theo biểu tượng, và không mở rộng về các thâm nghĩa, có thể nói rằng một ashram có ba vòng, ở đây Tôi không nói đến cấp bậc hay thứ hạng:

a. The circle of those who talk and who stand close to the outer door. Their voices may not penetrate too far and thus disturb the Ashram.

a. Vòng của những người nói và đứng gần cánh cửa ngoài. Tiếng nói của họ không được thâm nhập quá xa để khỏi làm xáo động ashram.

b. The circle of those who know the law of silence, but find it hard. They stand within the central part and utter not a word. They know not yet the silence of the Ashram. [551]

b. Vòng của những người biết định luật im lặng, nhưng thấy nó khó thực hiện. Họ đứng trong phần trung tâm và không thốt một lời. Họ chưa biết sự im lặng của ashram. [551]

c. The circle of those who live within the secret quiet place. They use not words and yet their sound goes forth and when they speak—and speak they do—men listen.

c. Vòng của những người sống trong nơi yên tĩnh bí mật. Họ không dùng lời, nhưng âm thanh của họ vẫn phát ra, và khi họ nói—mà họ có nói—con người lắng nghe.

This triple presentation of the balancing potencies of speech and of silence are the comprehended effects of occult obedience—in itself a voluntary response to the power of the life of the Ashram, and to the mind and the love of the Master of the Ashram. It is upon these potencies I would have you reflect during the coming interlude between this instruction and the next. Make the results of your reflection practical, and thus learn to know when to speak and when to be silent, remembering that the elimination of possessiveness and of self-reference will reduce speech to its spiritual essentials.

Sự trình bày tam phân này về các quyền năng quân bình của lời nói và của im lặng là những hiệu quả đã được thấu hiểu của sự vâng phục huyền môn—tự nó là một đáp ứng tự nguyện đối với quyền năng của sự sống ashram, và đối với thể trí cùng tình thương của Chân sư của ashram. Chính về các quyền năng này mà Tôi muốn em suy ngẫm trong khoảng nghỉ sắp tới giữa huấn thị này và huấn thị kế tiếp. Hãy làm cho kết quả suy ngẫm của em trở nên thực tiễn, và như thế học biết khi nào nên nói và khi nào nên im lặng, nhớ rằng việc loại bỏ tính chiếm hữu và sự quy chiếu về bản thân sẽ giảm lời nói xuống còn các yếu tính tinh thần của nó.

Your next incarnation holds for you a peculiar form of service, for which this life has been preparatory. It is related to speech, to words, to the voice, and to the creative power of sound; for the remainder of this life, the theme of much of your thinking should be concerned with the occult meaning of silence, of voiceless interludes and of the “spiritual retention of sound.” This may, and probably will, manifest itself in an increase of voiced teaching of those you seek to help, but its quality will be different.

Lần lâm phàm kế tiếp của em giữ cho em một hình thức phụng sự đặc biệt, mà đời sống này đã là sự chuẩn bị. Nó liên quan đến lời nói, đến ngôn từ, đến giọng nói, và đến quyền năng sáng tạo của âm thanh; trong phần còn lại của đời sống này, chủ đề của phần lớn tư tưởng em nên liên quan đến ý nghĩa huyền môn của im lặng, của những khoảng nghỉ không lời, và của “sự lưu giữ tinh thần của âm thanh.” Điều này có thể, và có lẽ sẽ, biểu hiện trong sự gia tăng việc giáo huấn bằng lời đối với những người em tìm cách giúp đỡ, nhưng phẩm tính của nó sẽ khác.

The teaching of the ones you seek to help will blot out the picture of yourself, the teacher, and obliterate it from your mind. This will happen automatically and not by planned intent. Some years ago I could not have told you this; you would not have accepted it. Today you will and will profit thereby. Some years ago you would have wasted time and strength in inner worry, in self-condemnation or in refutation. Today you know better the meaning of occult obedience and the acceptance of the statement and expressed wish of your Master—and this because you know me better and trust me more.

Việc giáo huấn những người em tìm cách giúp đỡ sẽ xóa mờ bức tranh về chính em, người huấn sư, và xóa nó khỏi thể trí em. Điều này sẽ xảy ra một cách tự động, chứ không do ý định đã hoạch định. Vài năm trước Tôi không thể nói với em điều này; em hẳn đã không chấp nhận nó. Ngày nay em sẽ chấp nhận và sẽ được lợi nhờ đó. Vài năm trước em hẳn đã phí thời gian và sức lực trong sự lo lắng nội tâm, trong sự tự kết án hoặc trong sự bác bỏ. Ngày nay em hiểu rõ hơn ý nghĩa của sự vâng phục huyền môn và sự chấp nhận phát biểu cùng ước nguyện được bày tỏ của Chân sư em—và điều này là vì em hiểu Tôi hơn và tin cậy Tôi hơn.

Let me give you a visualisation exercise to be followed by you each Sunday morning, every Friday morning, and for the five days which come at the time of the Full Moon each month. In company of your group brothers, you have for [552] years visualised me standing by an open window, and you have thus sought contact with me. This trained facility forms the basis of the following suggested exercise, the procedure of which is as follows:

Hãy để Tôi trao cho em một bài tập hình dung để em thực hiện mỗi sáng Chủ nhật, mỗi sáng thứ Sáu, và trong năm ngày đến vào thời điểm Trăng Tròn mỗi tháng. Cùng với các huynh đệ trong nhóm, trong [552] nhiều năm em đã hình dung Tôi đứng bên một cửa sổ mở, và như thế em đã tìm cách tiếp xúc với Tôi. Khả năng đã được rèn luyện này tạo thành nền tảng của bài tập gợi ý sau đây, với tiến trình như sau:

1. Picture to yourself a wood of pine trees, a purling brook, a winding, mounting path, and at the end a low built bungalow of undressed wood, in which I live. With you are walking your group brothers, and all of you are talking on the way.

1. Hãy hình dung cho mình một khu rừng thông, một dòng suối róc rách, một con đường uốn lượn đi lên, và ở cuối đường là một căn nhà gỗ thấp bằng gỗ chưa bào, nơi Tôi sống. Cùng đi với em là các huynh đệ trong nhóm, và tất cả các em đang trò chuyện trên đường.

2. You stand before the door, the outer door, and pass inside and hear a voice which says, “You stand within the circle of those who talk and, talking, cannot hear the Master’s voice.” Stand there. Listen. Reflect and cease from speech.

2. Em đứng trước cửa, cánh cửa ngoài, bước vào trong và nghe một tiếng nói rằng: “Em đứng trong vòng của những người nói, và khi nói thì không thể nghe tiếng nói của Chân sư.” Hãy đứng đó. Lắng nghe. Suy ngẫm và ngừng lời nói.

3. Picture a curtain, hanging across the space near to the place where you stand. Imagine yourself achieving, with effort, that complete silence which will enable you to hear a voice which says, “Move forward into the circle of those who know the Law of Silence. You now can hear my voice.” Then imagine yourself obeying the summons and passing beyond the partitioning curtain into the central room within my place of retreat. There sit in quietude and contemplative reflection, and listen.

3. Hãy hình dung một bức màn treo ngang khoảng không gần nơi em đứng. Hãy tưởng tượng em đạt được, bằng nỗ lực, sự im lặng trọn vẹn sẽ giúp em nghe một tiếng nói rằng: “Hãy tiến vào vòng của những người biết Định luật Im Lặng. Giờ đây em có thể nghe tiếng nói của Tôi.” Rồi hãy tưởng tượng em vâng theo lời triệu gọi và bước qua bức màn ngăn vào căn phòng trung tâm trong nơi ẩn cư của Tôi. Ở đó, hãy ngồi trong sự tĩnh lặng và suy ngẫm chiêm ngưỡng, và lắng nghe.

4. Then across the silence and breaking into the current of your quiet thought will come a voice, inviting you to enter the circle of those who live within the secret quiet place.

4. Rồi xuyên qua sự im lặng và chen vào dòng tư tưởng tĩnh lặng của em sẽ đến một tiếng nói, mời em bước vào vòng của những người sống trong nơi yên tĩnh bí mật.

You will note, my brother, how I emphasise for you the need to listen. That must be the keynote of your inner life for the remainder of this incarnation. When you can thus listen, the two other principles to which I earlier referred as governing the life of the Ashram—Group Integration and Right of Access—will take on new and vital meanings to you. Within the circle of those who talk there is no group integration. Right of access comes to those who know the Law of Silence. [553]

Huynh đệ của Tôi, em sẽ lưu ý cách Tôi nhấn mạnh cho em nhu cầu lắng nghe. Đó phải là chủ âm của đời sống nội tâm em trong phần còn lại của lần lâm phàm này. Khi em có thể lắng nghe như thế, hai nguyên lý khác mà Tôi đã nói trước đây là chi phối sự sống của ashram—Sự Tích Hợp Nhóm và Quyền Tiếp Cận—sẽ mang những ý nghĩa mới mẻ và thiết yếu đối với em. Trong vòng của những người nói, không có sự tích hợp nhóm. Quyền tiếp cận đến với những người biết Định luật Im Lặng. [553]

This exercise will deepen your life, increase your capacity to serve, make pregnant every word you speak to those you teach, and bring you to a point of group usefulness next life. Then you will carry out certain work that you and I together have already planned.

Bài tập này sẽ làm sâu sắc đời sống của em, gia tăng năng lực phụng sự của em, làm cho mỗi lời em nói với những người em giảng dạy trở nên đầy ý nghĩa, và đưa em đến một điểm hữu dụng cho nhóm trong đời sống kế tiếp. Khi ấy em sẽ thực hiện một công việc nào đó mà em và Tôi đã cùng nhau hoạch định.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

If you will reread the instructions which I gave you last year, I think you will realise that there is little that I need add to them. I gave you an instruction which through its directive injunction covered the remainder of your life events—as I foresaw them.

Nếu em đọc lại các huấn thị mà Tôi đã trao cho em năm ngoái, Tôi nghĩ em sẽ nhận ra rằng có rất ít điều Tôi cần thêm vào. Tôi đã trao cho em một huấn thị mà, qua mệnh lệnh chỉ đạo của nó, bao trùm phần còn lại của các biến cố trong đời em—như Tôi đã thấy trước.

You have lived for years at the high point of tension. Fire has been the quality of your life. This fire was at first destructive, but in later years it has been warming and nurturing. I think you know that sound and fire are closely allied. I think you know also that disciples are gathered by the Masters into Their Ashrams when their sound has gone forth and when the fire that is in them has successfully burned away the intervening barriers between the soul and the personality. Then their sound can safely be added to the sound of the Ashram, enriching its volume, adding quality to its tone, and conveying the needed creative qualities.

Em đã sống trong nhiều năm ở điểm tập trung nhất tâm cao độ. Lửa đã là phẩm tính của đời em. Lửa này lúc đầu có tính phá hủy, nhưng trong những năm sau nó đã trở nên sưởi ấm và nuôi dưỡng. Tôi nghĩ em biết rằng âm thanh và lửa liên hệ mật thiết với nhau. Tôi cũng nghĩ em biết rằng các Chân sư quy tụ đệ tử vào các ashram của Các Ngài khi âm thanh của họ đã phát ra và khi ngọn lửa ở trong họ đã đốt cháy thành công các hàng rào xen giữa linh hồn và phàm ngã. Khi ấy âm thanh của họ có thể được thêm vào âm thanh của ashram một cách an toàn, làm phong phú âm lượng của nó, thêm phẩm tính cho âm điệu của nó, và truyền đạt các phẩm tính sáng tạo cần thiết.

The next few years will not be easy ones for you, my brother. Be not over-anxious over anything that may eventuate. Speaking symbolically, I might express your future thus: The nature of fire will be brought more clearly and essentially to your attention; fire will be the subject of your thinking. Do not infer from this that I am indicating to you the way of fire, of pain or of sorrow. Such is not my intention. I do not mean that the future holds for you any passing through the fires of purification. You have moved across the burning-ground—as have all your group brothers. The whole of mankind is passing en masse through the fires which precede the first initiation. Every disciple creates his own burning-ground; he then takes his stand within it, and eventually [554] passes out of it to stand before the Angel of the Presence, at the very door of initiation. These are to you the platitudes of the Path and require from me no explanation.

Huynh đệ của Tôi, vài năm sắp tới sẽ không dễ dàng đối với em. Đừng quá lo âu về bất cứ điều gì có thể xảy ra. Nói theo biểu tượng, Tôi có thể diễn tả tương lai của em như sau: Bản chất của lửa sẽ được đưa đến sự chú ý của em một cách rõ ràng và cốt yếu hơn; lửa sẽ là đề tài tư tưởng của em. Đừng suy ra từ điều này rằng Tôi đang chỉ cho em con đường của lửa, của đau đớn hay của sầu khổ. Đó không phải là ý định của Tôi. Tôi không muốn nói rằng tương lai dành cho em bất cứ sự đi qua nào trong các ngọn lửa thanh luyện. Em đã vượt qua vùng đất cháy—cũng như tất cả các huynh đệ trong nhóm của em. Toàn thể nhân loại đang đồng loạt đi qua các ngọn lửa đi trước lần điểm đạo thứ nhất. Mỗi đệ tử tạo ra vùng đất cháy của riêng mình; rồi y đứng vững trong đó, và cuối cùng [554] đi ra khỏi đó để đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện, ngay tại cửa điểm đạo. Đối với em, đây là những điều quen thuộc của Đường Đạo và không cần Tôi giải thích.

There is one fire, however, with which you should now concern yourself. I would call it “the fire of comprehension.” It is closely related to the blinding light of realisation, but ever precedes it because it destroys all the glamours which may hide or veil the immediate point of illumination for the disciple. You have approached this fire from the standpoint of the emotional nature and it has been associated in your mind with the waters of the astral plane, thus producing the symbols of mist and fog which are ever caused by the bringing together of fire and water. This concept has conditioned your thinking. I would have you now consider glamour in the light of the fires of comprehension. There comes a time in the disciple’s life when he must assume that he knows; he must take the position that he comprehends, and must proceed to act upon the comprehended knowledge. That is definitely the point that you have now reached.

Tuy nhiên, có một ngọn lửa mà giờ đây em nên quan tâm. Tôi sẽ gọi nó là “ngọn lửa của sự thấu hiểu.” Nó liên hệ mật thiết với ánh sáng chói lòa của sự chứng nghiệm, nhưng luôn đi trước ánh sáng ấy vì nó phá hủy mọi ảo cảm có thể che giấu hoặc phủ màn lên điểm soi sáng trước mắt của đệ tử. Em đã tiếp cận ngọn lửa này từ lập trường của bản chất cảm xúc, và trong thể trí em, nó đã được liên kết với các dòng nước của cõi cảm dục, do đó tạo ra các biểu tượng sương mù và màn mù vốn luôn do sự kết hợp giữa lửa và nước gây nên. Quan niệm này đã định hình tư tưởng của em. Giờ đây Tôi muốn em xem xét ảo cảm trong ánh sáng của các ngọn lửa thấu hiểu. Có một thời điểm trong đời sống đệ tử khi y phải giả định rằng y biết; y phải giữ lập trường rằng y thấu hiểu, và phải tiến hành hành động dựa trên tri thức đã thấu hiểu. Đó chính là điểm mà hiện nay em đã đạt tới.

The results of this definite assumption, and of the activities which it initiates, are oft surprising and apt to be painful; that is why the symbol of fire is again appropriate at this point.

Kết quả của sự giả định rõ rệt này, và của các hoạt động mà nó khởi phát, thường gây ngạc nhiên và dễ đau đớn; đó là lý do vì sao biểu tượng lửa lại thích hợp ở điểm này.

Act in the future “as if” there are for you no more glamours, and see, my brother, what will eventuate. Endeavour always to live within the Ashram, which is insulated from glamour, and act “as if” the consciousness of the Ashram was intrinsically your consciousness. Go forth to the service which you are rendering “as if” you remained immovable in the Ashram; live always “as if” the eyes of the entire Ashram were upon you. For the remainder of your life let the esoteric philosophical concept “as if” actuate all you do. It is this constant awareness which the two words “as if” embody that will produce in you a fresh use of the creative imagination.

Trong tương lai, hãy hành động “như thể” đối với em không còn ảo cảm nào nữa, và hãy xem, huynh đệ của Tôi, điều gì sẽ xảy ra. Hãy luôn nỗ lực sống trong ashram, vốn được cách ly khỏi ảo cảm, và hành động “như thể” tâm thức của ashram tự bản chất là tâm thức của em. Hãy đi vào sự phụng sự mà em đang thực hiện “như thể” em vẫn bất lay chuyển trong ashram; hãy luôn sống “như thể” đôi mắt của toàn thể ashram đang hướng về em. Trong phần còn lại của đời em, hãy để quan niệm triết học nội môn “như thể” thúc đẩy mọi điều em làm. Chính sự nhận biết thường xuyên mà hai chữ “như thể” hàm chứa sẽ tạo ra trong em một cách sử dụng mới mẻ Sự tưởng tượng sáng tạo.

Some time ago I told the group that initiation was simplification. Therefore, simplify your remaining years by ever acting “as if.” Through this living process you will let loose the fires of comprehension. I wonder if I am making some idea of value clear to you? Govern yourself always “as if” [555] your divine comprehension was perfected and the result in your daily life will be “as if” all concealed glamours and all hiding deceptive veils were non-existent. The disciple acts “as if” he were initiate and then discovers that “as a man thinketh in his heart so is he,” because the heart is the custodian of the power of the imagination. The imagination is released into creative activity when the disciple acts “as if” he were the soul in full expression, “as if” the Master were ever aware of the doings of His disciple, “as if” he walked in full liberation consciously. For you, these two words will bring release and happiness.

Cách đây một thời gian, Tôi đã nói với nhóm rằng điểm đạo là sự giản dị hóa. Vì vậy, hãy giản dị hóa những năm còn lại của em bằng cách luôn hành động “như thể.” Qua tiến trình sống này, em sẽ giải phóng các ngọn lửa của sự thấu hiểu. Tôi tự hỏi liệu Tôi có đang làm sáng tỏ cho em một ý tưởng có giá trị nào đó không? Hãy luôn tự cai quản mình “như thể” [555] sự thấu hiểu thiêng liêng của em đã hoàn thiện, và kết quả trong đời sống hằng ngày của em sẽ là “như thể” mọi ảo cảm ẩn giấu và mọi màn che lừa dối đều không tồn tại. Đệ tử hành động “như thể” y là điểm đạo đồ, và rồi khám phá rằng “như một người suy nghĩ trong tim mình, y là như thế,” bởi vì trái tim là người giữ gìn quyền năng của sự tưởng tượng. Sự tưởng tượng được giải phóng vào hoạt động sáng tạo khi đệ tử hành động “như thể” y là linh hồn trong sự biểu lộ trọn vẹn, “như thể” Chân sư luôn nhận biết các hành động của đệ tử Ngài, “như thể” y bước đi trong sự giải thoát trọn vẹn một cách có ý thức. Đối với em, hai chữ này sẽ đem lại sự giải thoát và hạnh phúc.

The trends of your life and service are established. Seek not to change them. The fund of knowledge which you have accumulated in this life is very real. Draw, however, what you need for your teaching work from the ancient reservoir of wisdom, and not so much from the pool of knowledge. Deepen your meditation and intensify the inner silence within which it is desirable that you should live. Think humbly, speak wisely and work ceaselessly. The opportunity today is great for all disciples everywhere, and the potencies at their disposal are more vital than ever before. Link up with me each day and count on my sustaining love.

Các khuynh hướng của đời sống và sự phụng sự của em đã được thiết lập. Đừng tìm cách thay đổi chúng. Kho tri thức mà em đã tích lũy trong đời này rất thực. Tuy nhiên, hãy rút điều em cần cho công việc giảng dạy của mình từ hồ chứa minh triết cổ xưa, chứ không quá nhiều từ ao tri thức. Hãy làm sâu sắc sự tham thiền của em và tăng cường sự im lặng nội tâm mà trong đó em nên sống. Hãy suy nghĩ khiêm nhường, nói năng minh triết và làm việc không ngừng. Cơ hội ngày nay rất lớn đối với mọi đệ tử ở khắp nơi, và các quyền năng đặt trong tầm sử dụng của họ sống động hơn bao giờ hết. Hãy liên kết với Tôi mỗi ngày và trông cậy vào tình thương nâng đỡ của Tôi.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY FRIEND OF MANY YEARS:

BẠN NHIỀU NĂM CỦA TÔI:

I know how greatly distressed you will be at the termination of our outer (not the inner) fellowship; forget not that the outer fellowship was only the sign of a strong, vital and unshatterable inner fellowship. The inner relation of the group to me and to the Ashram and towards each other is as strong as it has ever been; it is in no wise altered. Because of the very real progress you have made in freeing yourself from glamour, that fellowship can now become even more intimate. I can reach you more easily than in the past. I am telling you this because I know it will reassure you and because I know you will not take advantage of it. The further a disciple penetrates into the Ashram, the less need he finds for contact with the Master; he comes to realise the extent of [556] the Master’s responsibilities and arrives at a juster value of his own relative unimportance. He then submits himself to “the sustaining aura of the Ashram.”

Tôi biết em sẽ đau buồn sâu sắc biết bao trước sự chấm dứt tình bằng hữu bên ngoài, chứ không phải bên trong, của chúng ta; đừng quên rằng tình bằng hữu bên ngoài chỉ là dấu hiệu của một tình bằng hữu bên trong mạnh mẽ, sống động và không thể phá vỡ. Mối liên hệ bên trong của nhóm với Tôi, với ashram và với nhau vẫn mạnh mẽ như từ trước đến nay; nó không hề thay đổi theo bất cứ cách nào. Nhờ bước tiến rất thực mà em đã đạt được trong việc giải phóng mình khỏi ảo cảm, tình bằng hữu ấy giờ đây có thể trở nên còn thân mật hơn. Tôi có thể đến với em dễ dàng hơn trước. Tôi nói với em điều này vì Tôi biết nó sẽ làm em yên tâm, và vì Tôi biết em sẽ không lợi dụng nó. Đệ tử càng thâm nhập sâu vào ashram, y càng thấy ít cần tiếp xúc với Chân sư; y bắt đầu nhận ra tầm rộng lớn của [556] các trách nhiệm của Chân sư và đạt đến một đánh giá công bằng hơn về sự không quan trọng tương đối của chính mình. Khi ấy y tự đặt mình vào “hào quang nâng đỡ của ashram.”

In my last two communications to you I left you with the impression that I had already given you as much teaching as would serve to carry you through this life. I urged on you a steadfast adherence to established spiritual habits. Enough emphasis is seldom put on the necessity for such a stabilisation of spiritual rhythm, and too much emphasis is frequently laid upon that which is new and on progress. Yet disciples have to learn to turn their spiritual habits into instinctual spiritual responsiveness; this is the higher correspondence to the instinctual animal reactions with which we are all familiar. When this has been achieved, the disciple can then depend upon himself automatically to do or say the right thing; more important still, the Master can count upon him, knowing that he can be depended upon. He is then “permitted to move throughout the Ashram without impediment, and all the Plan is safe with him.” This is what I want you to aim at in your remaining years, so that you will (in your next life) from childhood, express the way of the disciple.

Trong hai thông điệp gần nhất gửi em, Tôi đã để lại nơi em ấn tượng rằng Tôi đã trao cho em đủ giáo huấn để giúp em đi qua đời sống này. Tôi đã thúc giục em kiên trì giữ vững các thói quen tinh thần đã được thiết lập. Người ta hiếm khi nhấn mạnh đủ về sự cần thiết của việc ổn định nhịp điệu tinh thần như thế, và thường lại nhấn mạnh quá nhiều vào điều mới mẻ và vào sự tiến bộ. Tuy nhiên, các đệ tử phải học biến các thói quen tinh thần của mình thành sự đáp ứng tinh thần theo bản năng; đây là tương ứng cao hơn của các phản ứng bản năng động vật mà tất cả chúng ta đều quen thuộc. Khi điều này đã đạt được, đệ tử có thể tự động trông cậy vào chính mình để làm hoặc nói điều đúng; quan trọng hơn nữa, Chân sư có thể trông cậy vào y, biết rằng y là người có thể nương cậy. Khi ấy y “được phép di chuyển khắp ashram không trở ngại, và toàn thể Thiên Cơ an toàn nơi y.” Đây là điều Tôi muốn em nhắm đến trong những năm còn lại, để em sẽ, trong đời sống kế tiếp, từ thời thơ ấu, biểu lộ con đường của đệ tử.

In my last instruction to you I gave you the injunction to act as if the ideal which you have set before yourself was an accomplished fact. This as if behaviour is one of the most occult of practices. It in reality presupposes the imposition of the highest grasped aspiration upon the normal personality in the form of changed behaviour. This injunction is not the same in meaning as the injunction “as a man thinketh in his heart, so is he.” That injunction, if rightly followed, brings about the imposition of mental control upon the personality; it affects the brain, and therefore the two lower vehicles. The as if type of behaviour (for the disciple) brings in a still higher factor than that of thought; it involves the constant attempt to live as if the soul (not the mind but through the mind) is in constant control and the dominating aspect of expression.

Trong huấn thị gần nhất gửi em, Tôi đã trao cho em mệnh lệnh hành động như thể lý tưởng mà em đã đặt trước mình là một sự kiện đã hoàn thành. Cách hành xử như thể này là một trong những thực hành huyền bí nhất. Thực ra nó giả định việc áp đặt khát vọng cao nhất đã nắm bắt được lên phàm ngã bình thường dưới hình thức hành vi đã thay đổi. Mệnh lệnh này không cùng ý nghĩa với mệnh lệnh “như một người suy nghĩ trong tim mình, y là như thế.” Mệnh lệnh ấy, nếu được theo đúng, đem lại việc áp đặt sự kiểm soát trí tuệ lên phàm ngã; nó tác động đến bộ não, và do đó đến hai vận cụ thấp. Kiểu hành xử như thể, đối với đệ tử, đưa vào một yếu tố còn cao hơn yếu tố tư tưởng; nó bao hàm nỗ lực thường xuyên để sống như thể linh hồn, không phải thể trí nhưng qua thể trí, luôn nắm quyền kiểm soát và là phương diện chi phối của sự biểu lộ.

This may involve close thinking about the soul and its relation to the personality, but it is a great deal more than [557] just that. It necessitates, when correctly applied, the growing automatic control of the entire lower threefold man by the soul. I am going to give you six themes for meditation built around the as if idea. These will cover one year’s work. I would like to see you take these themes and give them full consideration for three years. At the end of that time you will probably wish to go over all the work again, on a higher level and with a deeper intent.

Điều này có thể bao hàm sự suy nghĩ kỹ lưỡng về linh hồn và mối liên hệ của nó với phàm ngã, nhưng nó còn hơn thế rất nhiều. [557] Khi được áp dụng đúng, nó đòi hỏi sự kiểm soát tự động ngày càng tăng của linh hồn đối với toàn thể phàm nhân tam phân thấp. Tôi sẽ trao cho em sáu chủ đề tham thiền được xây dựng quanh ý tưởng như thể. Chúng sẽ bao quát công việc của một năm. Tôi muốn thấy em nhận lấy các chủ đề này và suy xét đầy đủ trong ba năm. Cuối thời gian ấy, có lẽ em sẽ muốn ôn lại toàn bộ công việc một lần nữa, trên một cấp độ cao hơn và với một ý định sâu sắc hơn.

1. Sound the OM inaudibly three times, as a physical person, as an emotional person, and as a mind.

1. Hãy Xướng linh từ OM một cách không thành tiếng ba lần, như một con người hồng trần, như một con người cảm xúc, và như một thể trí.

Then sound the OM as the soul.

Rồi hãy xướng OM như linh hồn.

2. Themes for meditative reflection:

2. Các chủ đề để suy ngẫm tham thiền:

a. What, in your life, would happen if you really acted as if the soul were sounding the OM?

a. Trong đời sống của em, điều gì sẽ xảy ra nếu em thật sự hành động như thể linh hồn đang xướng OM?

b. If you are truly thinking as if the mind were the instrument of the soul, what lines of thought will you have to eliminate, cultivate or express?

b. Nếu em đang thật sự suy nghĩ như thể thể trí là khí cụ của linh hồn, thì em sẽ phải loại bỏ, vun bồi hoặc biểu lộ những dòng tư tưởng nào?

c. If you are realistically living as if the soul were visible in your daily life, what will happen to the astral body?

c. Nếu em đang sống một cách thực tế như thể linh hồn có thể được thấy trong đời sống hằng ngày của em, thì điều gì sẽ xảy ra với thể cảm dục?

d. Provided the as if theory were controlling your physical brain and consequently your daily activities, in what way would it alter your mode of living? (This is not the same as question a.)

d. Nếu lý thuyết như thể đang kiểm soát bộ não hồng trần của em và do đó các hoạt động hằng ngày của em, thì nó sẽ thay đổi lối sống của em theo cách nào? Điều này không giống câu hỏi a.

e. Do you understand clearly the difference between the “as a man thinketh…,” and the as if modes of procedure? How do they differ in application?

e. Em có thấu hiểu rõ sự khác biệt giữa các phương thức tiến hành “như một người suy nghĩ…” và như thể không? Chúng khác nhau thế nào trong sự ứng dụng?

f. What qualities would your particular mechanism or personality demonstrate if you acted as if you were anchored in the Ashram and not just on the periphery? Do not be vague in this reply, but be extremely personal in your analysis of the situation.

f. Bộ máy hay phàm ngã đặc thù của em sẽ biểu lộ những phẩm tính nào nếu em hành động như thể em được neo giữ trong ashram chứ không chỉ ở vùng ngoại vi? Đừng mơ hồ trong câu trả lời này, mà hãy cực kỳ cá nhân trong sự phân tích tình huống của em.

3. Then, as if you were consciously standing before your Master and definitely aware of my presence, dedicate yourself to the service of the Ashram for this life and the next.

3. Rồi, như thể em đang đứng một cách có ý thức trước Chân sư của mình và nhận biết rõ rệt sự hiện diện của Tôi, hãy thánh hiến mình cho sự phụng sự ashram trong đời này và đời kế tiếp.

4. Say the new Invocation, sounding the OM after each stanza. [558]

4. Hãy đọc Đại Khấn Nguyện mới, xướng OM sau mỗi bài kệ. [558]

5. Sound the OM at as high a point in consciousness as possible.

5. Hãy xướng OM ở một điểm tâm thức cao nhất có thể.

Then, my brother, go your way in peace, knowing the ferment of living energies within you will enable you to act as if you were the soul. This will be a growing, conscious experience. Know too that I, your Master and your friend, will also be aware of it. My love surrounds you and the link remains unbroken.

Rồi, huynh đệ của Tôi, hãy đi con đường của em trong bình an, biết rằng sự lên men của các năng lượng sống trong em sẽ giúp em hành động như thể em là linh hồn. Đây sẽ là một kinh nghiệm hữu thức và ngày càng tăng trưởng. Cũng hãy biết rằng Tôi, Chân sư và bạn của em, cũng sẽ nhận biết điều đó. Tình thương của Tôi bao quanh em và mối liên kết vẫn không đứt đoạn.

To R. V. B. – Gửi R. V. B.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

It is, my brother, a source of satisfaction to me to have you functioning again as a recognised member of my group of chelas. You and I knew always that the link was indissoluble and that the interlude of interior work and the period wherein you worked out karma (engendered many years ago) was both needed and fruitful. It is of great value to the soul when the personality consciously recognises the activity of karma and adheres to the complete working out of the effects of earlier relationships so that to that relation the word “finis” can be written. Disciples should remember that when a karmic relation has been recognised upon the physical plane and the needed action has been taken, two possibilities are presented, according to whether the karma entailed was temporary or the relation enduring. One possibility is that spiritual identification takes place and the relation can then never be broken, or the transaction ends in an entirely correct manner by the cessation for all time of the relationship. These periods of decision and adjustment are most difficult, but curiously enough, when the disciple interiorly holds the right attitude (even if bewildered) the decision is seldom his. Life, circumstance, events or people take care of the situation and—holding on to his soul—the disciple stands steady until the problem or relationship disappears.

Huynh đệ của Tôi, việc em lại hoạt động như một thành viên được công nhận trong nhóm đệ tử của Tôi là một nguồn thỏa lòng đối với Tôi. Em và Tôi luôn biết rằng mối liên kết ấy không thể tan rã, và khoảng thời gian làm việc nội tâm cùng giai đoạn trong đó em giải quyết nghiệp quả, được tạo ra nhiều năm trước, vừa cần thiết vừa hữu ích. Điều rất có giá trị đối với linh hồn là khi phàm ngã nhận biết một cách có ý thức hoạt động của nghiệp quả và kiên trì hoàn tất trọn vẹn các hiệu quả của những mối quan hệ trước kia, để đối với mối quan hệ ấy có thể viết chữ “kết thúc.” Các đệ tử nên nhớ rằng khi một mối quan hệ nghiệp quả đã được nhận biết trên cõi hồng trần và hành động cần thiết đã được thực hiện, thì hai khả năng sẽ hiện ra, tùy theo nghiệp quả liên quan là tạm thời hay mối quan hệ là bền lâu. Một khả năng là sự đồng nhất tinh thần diễn ra và khi ấy mối quan hệ không bao giờ có thể bị phá vỡ; hoặc giao dịch kết thúc theo một cách hoàn toàn đúng đắn bằng sự chấm dứt vĩnh viễn của mối quan hệ. Những thời kỳ quyết định và điều chỉnh này hết sức khó khăn, nhưng lạ lùng thay, khi đệ tử giữ thái độ đúng đắn bên trong, dù còn bối rối, quyết định hiếm khi thuộc về y. Sự sống, hoàn cảnh, biến cố hoặc con người chăm lo tình huống ấy, và—bám giữ linh hồn mình—đệ tử đứng vững cho đến khi vấn đề hay mối quan hệ biến mất.

You stand now within my Ashram with clearer knowledge [559] and a more assured faith. Fuller service opens up before you—service which you can render in the place where you are and in spite of a physical vehicle which at times gives you much trouble and difficulty. Let not the physical limitation unduly control you, but pass courageously along the Lighted Way in spite of, as well as because of, the problems and difficulties. Forgive my twisting the old phraseology in this manner.

Giờ đây em đứng trong ashram của Tôi với tri thức sáng rõ hơn [559] và một đức tin chắc chắn hơn. Sự phụng sự đầy đủ hơn mở ra trước em—sự phụng sự mà em có thể thực hiện tại nơi em đang ở và bất chấp một vận cụ hồng trần đôi khi gây cho em nhiều rắc rối và khó khăn. Đừng để giới hạn hồng trần kiểm soát em quá mức, mà hãy can đảm bước trên Con Đường được Soi Sáng, bất chấp, cũng như nhờ, các vấn đề và khó khăn. Hãy tha thứ cho Tôi vì đã vặn đổi lối nói cũ theo cách này.

The link between you and A.A.B. grows closer each year and this you have yourself inwardly recognised. There is much that you can do to help her, for her confidence in you is great and she needs the kind of help which you can give. Her work grows heavier, her health is seriously impaired, and the needs of the world press heavier upon her than any of you—no matter how close—can ever guess. She values your cooperation and you can do much to interpret the work that emanates from my Ashram and thus aid seeking souls. To this work I call you afresh.

Mối liên kết giữa em và Bà A.A.B. mỗi năm càng gần gũi hơn, và chính em đã nhận biết điều này trong nội tâm. Có nhiều điều em có thể làm để giúp Bà, vì niềm tin của Bà nơi em rất lớn và Bà cần loại trợ giúp mà em có thể trao. Công việc của Bà ngày càng nặng nề, sức khỏe của Bà bị suy yếu nghiêm trọng, và các nhu cầu của thế giới đè nặng lên Bà hơn bất cứ ai trong các em—dù gần gũi đến đâu—có thể đoán được. Bà quý trọng sự hợp tác của em, và em có thể làm nhiều điều để diễn giải công việc xuất phát từ ashram của Tôi, nhờ đó trợ giúp các linh hồn đang tìm kiếm. Tôi kêu gọi em trở lại công việc này.

The meditation which I am going to ask you to do is in the nature of an act of service. It has little reference to yourself, but much to something that is close, very close, to my heart. I would ask you to take the new book, Discipleship in the New Age, and each day meditate upon its significance, its usefulness and its teaching value in this coming post-war period. Read it carefully, e’en when you know much of what is said; build a thoughtform of the book and see it going forth to the very ends of the Earth. This book, if rightly distributed, can act as a great magnet, drawing people from all over the planet into the Ashrams of the Masters, and thereby increasing the potency of the workers for humanity as well as increasing them numerically. This book should go forth upon the wings of meditation, and you can be a potent focal point upon the inner planes of such a meditation process, if you so desire. Will you join with me, my brother, in this launching of this book upon its career of service? I know that you will render this service to those who seek for the Light, and to me, for I am one of the distributors of the Light.

Bài tham thiền mà Tôi sắp yêu cầu em thực hiện mang bản chất của một hành động phụng sự. Nó ít liên quan đến bản thân em, nhưng liên quan nhiều đến một điều gần gũi, rất gần gũi, với trái tim Tôi. Tôi muốn em lấy quyển sách mới, Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, và mỗi ngày tham thiền về thâm nghĩa của nó, sự hữu ích của nó và giá trị giáo huấn của nó trong thời kỳ hậu chiến sắp đến này. Hãy đọc nó cẩn thận, ngay cả khi em biết nhiều điều được nói trong đó; hãy xây dựng một Hình tư tưởng về quyển sách và thấy nó đi ra đến tận cùng Trái Đất. Quyển sách này, nếu được phân phối đúng, có thể hoạt động như một nam châm lớn, lôi cuốn con người từ khắp hành tinh vào các ashram của các Chân sư, và nhờ đó gia tăng quyền năng của những người hoạt động cho nhân loại cũng như gia tăng số lượng của họ. Quyển sách này nên đi ra trên đôi cánh của tham thiền, và em có thể là một điểm tập trung mạnh mẽ trên các cõi bên trong của một tiến trình tham thiền như thế, nếu em muốn. Huynh đệ của Tôi, em có muốn cùng Tôi đưa quyển sách này vào sự nghiệp phụng sự của nó không? Tôi biết em sẽ thực hiện sự phụng sự này cho những người tìm kiếm Ánh sáng, và cho Tôi, vì Tôi là một trong những người phân phối Ánh sáng.

Increasingly must your life be filled with this kind of [560] service; it will lead to the establishing of lines of relationship; these, in later lives, will be less tenuous and will demonstrate to you as the nucleus of that group which every disciple begins to gather around him, preparatory to forming his own Ashram in a still later life. Thus the whole question of radiation and magnetism lies at the foundation of the hierarchical method of work. A disciple becomes spiritually magnetic; his radiation begins to make itself felt; this must inevitably be the case when head and heart are consciously related. Gradually that magnetism and that radiation make their presence felt in the disciple’s environment and evoke response from others. Not only so, but the magnetic-radiatory vibration attracts the attention of the Master, and the disciple finds his way into the Ashram along the line or the beam of his own radiatory activity, which has been akin to that of the Ashram. There, the intensified training he receives makes him still more spiritually efficient and “esoterically attractive” in the world of men. He continues with his task of gathering to him those whom he can help and who recognise him as their chosen helper and guide. Thus is an Ashram formed—each on its ray vibration, and each taking much time and lives of choice and of radiation. Today sees many disciples—such as you—being trained to handle this phase of the hierarchical work among men. This might be stated to be the underlying motive and hierarchical purpose for the Arcane School. Each disciple in my Ashram should be aware of the intent that this life and the next should see him beginning to gather to himself his own. This new book is intended to aid in this process, and it is upon this aspect that I would ask your aid in meditation.

Đời sống của em ngày càng phải được lấp đầy bằng loại [560] phụng sự này; nó sẽ dẫn đến việc thiết lập các đường liên hệ; trong những đời sau, các đường này sẽ bớt mong manh hơn và sẽ biểu lộ với em như hạt nhân của nhóm mà mỗi đệ tử bắt đầu quy tụ quanh mình, để chuẩn bị hình thành ashram riêng của y trong một đời sống còn về sau nữa. Như thế, toàn bộ vấn đề bức xạ và từ điện nằm ở nền tảng của phương pháp làm việc của Thánh Đoàn. Một đệ tử trở nên có từ tính tinh thần; bức xạ của y bắt đầu tạo ảnh hưởng; điều này tất yếu phải xảy ra khi đầu và tim liên hệ với nhau một cách có ý thức. Dần dần, từ điện và bức xạ ấy làm cho sự hiện diện của chúng được cảm thấy trong môi trường của đệ tử và gợi lên đáp ứng từ những người khác. Không chỉ vậy, mà rung động từ tính-bức xạ thu hút sự chú ý của Chân sư, và đệ tử tìm được đường vào ashram theo đường hay tia của hoạt động bức xạ riêng y, vốn tương đồng với hoạt động của ashram. Ở đó, sự huấn luyện tăng cường mà y nhận được khiến y trở nên hiệu quả tinh thần hơn nữa và “hấp dẫn về mặt nội môn” trong thế giới con người. Y tiếp tục nhiệm vụ quy tụ về mình những người y có thể giúp đỡ và những người nhận ra y là người trợ giúp và hướng đạo đã chọn của họ. Như thế một ashram được hình thành—mỗi ashram trên rung động cung của mình, và mỗi ashram cần nhiều thời gian cùng nhiều đời sống của sự chọn lựa và bức xạ. Ngày nay có nhiều đệ tử—như em—đang được huấn luyện để xử lý giai đoạn này của công việc Thánh Đoàn giữa nhân loại. Có thể nói đây là động lực nền tảng và mục đích của Thánh Đoàn đối với Trường Arcane. Mỗi đệ tử trong ashram của Tôi nên nhận biết ý định rằng đời sống này và đời kế tiếp phải thấy y bắt đầu quy tụ về mình những người thuộc về y. Quyển sách mới này nhằm trợ giúp tiến trình ấy, và chính về phương diện này mà Tôi muốn xin sự trợ giúp của em trong tham thiền.

Let me now give you six statements which can form, if you so desire, six seed thoughts upon this particular theme during the coming year.

Bây giờ hãy để Tôi trao cho em sáu phát biểu có thể tạo thành, nếu em muốn, sáu Tư tưởng hạt giống về chủ đề đặc thù này trong năm sắp tới.

1. The Ashram pulsates with life. Its radiation penetrates the outer gloom and dark; waiting aspirants, one by one, and all alone, appear within the beam of light.

1. Ashram rung nhịp với sự sống. Bức xạ của nó xuyên thấu bóng tối và u ám bên ngoài; những người chí nguyện đang chờ đợi, từng người một, và hoàn toàn đơn độc, xuất hiện trong tia sáng.

2. Along that beam the chela travels towards the central [561] point of light, the Master in His Ashram. The Master waits. He moves not forth but quietly radiates.

2. Dọc theo tia sáng ấy, đệ tử đi về điểm [561] ánh sáng trung tâm, là Chân sư trong ashram của Ngài. Chân sư chờ đợi. Ngài không bước ra mà lặng lẽ bức xạ.

3. The chela enters through the door into the Ashram and stands before the Master of his life. He knows himself to be a soul. He knows that now his mind and all the lower natural forces must radiate the light he has attained.

3. Đệ tử bước qua cửa vào ashram và đứng trước Chân sư của đời mình. Y biết mình là một linh hồn. Y biết rằng giờ đây thể trí của y và mọi mãnh lực tự nhiên thấp đều phải bức xạ ánh sáng mà y đã đạt được.

4. As one by one the chelas find their way into the Ashram and to the central Light, the light therein intensifies. The radiation of the Ashram waxes to a great intensity. The tiny beam of light focussed within the chela’s heart, directed by his eye, penetrates in turn the outer gloom and is seen by those who wait.

4. Khi từng đệ tử một tìm được đường vào ashram và đến Ánh sáng trung tâm, ánh sáng trong đó tăng cường. Bức xạ của ashram lớn dần đến một cường độ mạnh mẽ. Tia sáng nhỏ bé được tập trung trong tim đệ tử, do mắt của y hướng dẫn, đến lượt nó xuyên thấu bóng tối bên ngoài và được những người đang chờ đợi nhìn thấy.

5. Within the Ashram I have taken my place. My little light is merged and blended with the greater light, for thus I best can serve. I face the Master and know His light and mine to be the same. I turn and send my light into the dark, to guide some wanderer home.

5. Trong ashram, tôi đã nhận chỗ của mình. Ánh sáng nhỏ bé của tôi được hòa nhập và pha trộn với ánh sáng lớn hơn, vì như thế tôi có thể phụng sự tốt nhất. Tôi đối diện Chân sư và biết ánh sáng của Ngài và của tôi là một. Tôi quay lại và gửi ánh sáng của mình vào bóng tối, để dẫn một kẻ lữ hành nào đó về nhà.

6. Grant me the light that I may shine. Let me throughout the world of time and space radiate light, create a light, transmit the light, and treading thus the Lighted Way (which is my Lighted Self), enter the light and so return the light to those who need, to Those likewise from whence it came.

6. Xin ban cho tôi ánh sáng để tôi có thể chiếu sáng. Xin cho tôi, khắp thế giới của thời gian và không gian, bức xạ ánh sáng, tạo ra một ánh sáng, truyền dẫn ánh sáng, và khi bước như thế trên Con Đường được Soi Sáng, vốn là Bản Ngã được Soi Sáng của tôi, đi vào ánh sáng và như vậy hoàn trả ánh sáng cho những người cần nó, cũng như cho Những Đấng mà từ đó ánh sáng đã đến.

Thus, my brother and my friend, travel life’s way; work in my Ashram; aid your fellowmen, and know the joy of constant service and sacrifice.

Như thế, huynh đệ và bạn của Tôi, hãy đi trên con đường của đời sống; hãy làm việc trong ashram của Tôi; hãy trợ giúp đồng loại của em, và biết sự hoan hỉ của phụng sự và hi sinh liên tục.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

MY BROTHER AND FELLOW-WORKER:

HUYNH ĐỆ VÀ CỘNG SỰ CỦA TÔI:

Your spiritual life has deepened during this past year and your light within the Ashram shines brighter. I think that it is only fair to tell you this for your encouragement. The loneliness of your life warrants at times my endorsing any spiritual confidence of which you may be possessed. Disciples need to learn sometimes that their spiritual status is not always [562] evocative of a life of violent outward activity. For such as you, with the handicap of a frail body and the limitations of karma, the place of triumph has to be exactly where you stand and within the circumference of a somewhat limited physical sphere. There—with no outer stimulation—the disciple himself, alone, becomes a focal point of power. His influence can then reach out to points unexpected and oft unknown to him. Frequently, prior to a definite step forward of a pronounced kind which is not due simply to a normal progress of a persistent aspirant, the soul of the disciple forces him into a quiet place where he has both the inclination and the time to deepen, to integrate more consciously into the Ashram, and to focus with definite intention upon work in mental matter, under clear, inner impression. Such is now your opportunity.

Đời sống tinh thần của em đã sâu sắc hơn trong năm vừa qua và ánh sáng của em trong ashram chiếu sáng rực rỡ hơn. Tôi nghĩ chỉ công bằng khi nói với em điều này để khích lệ em. Sự cô đơn trong đời sống của em đôi khi là lý do để Tôi củng cố bất cứ niềm tin tinh thần nào mà em có thể đang sở hữu. Đôi khi các đệ tử cần học rằng địa vị tinh thần của họ không phải lúc nào cũng [562] gợi lên một đời sống hoạt động bên ngoài mãnh liệt. Đối với những người như em, với trở ngại của một thân thể mong manh và các giới hạn của nghiệp quả, nơi chiến thắng phải chính là nơi em đang đứng và trong chu vi của một phạm vi hồng trần có phần giới hạn. Ở đó—không có kích thích bên ngoài—chính đệ tử, đơn độc, trở thành một điểm tập trung quyền năng. Ảnh hưởng của y khi ấy có thể vươn đến những điểm bất ngờ và thường không được y biết đến. Thường khi, trước một bước tiến rõ rệt thuộc loại nổi bật, vốn không chỉ do sự tiến bộ bình thường của một người chí nguyện kiên trì, linh hồn của đệ tử buộc y vào một nơi yên tĩnh, nơi y vừa có khuynh hướng vừa có thời gian để đào sâu, để tích hợp một cách có ý thức hơn vào ashram, và để tập trung với ý định rõ rệt vào công việc trong chất liệu trí tuệ, dưới ấn tượng nội tâm sáng rõ. Đây chính là cơ hội hiện nay của em.

But, my brother, to make this duly effective and to get true and real benefit out of the opportunity, the disciple must accustom himself to a complete negation of concentration upon the physical vehicle and upon his physical surroundings. Note, I did not say neglect of concentration. It is his path and destiny in life to enter upon what has been called “the higher way”; he has to learn on those levels and to live constructively there, without reducing the effectiveness of normal, practical living upon the physical plane.

Nhưng, huynh đệ của Tôi, để làm cho điều này hiệu quả đúng mức và nhận được lợi ích chân thật và thực sự từ cơ hội ấy, đệ tử phải tự làm quen với sự phủ định hoàn toàn đối với việc tập trung vào vận cụ hồng trần và vào môi trường hồng trần của y. Hãy lưu ý, Tôi không nói là bỏ bê sự tập trung. Con đường và số phận của y trong đời sống là bước vào điều đã được gọi là “con đường cao hơn”; y phải học trên các cấp độ ấy và sống một cách xây dựng ở đó, mà không làm giảm hiệu quả của đời sống bình thường, thực tiễn trên cõi hồng trần.

You might ask: To what specific end? You know that such a mode of daily life should not and must not last for several lives, because the goal thus expressed becomes increasingly active in its outer service and form. You will remember however, my brother, that there are times when the Master, speaking technically, goes into a state of consciousness which we call samadhi. This means that for a stated and qualified time, He quits His created threefold lower vehicle and “travels in consciousness” to those levels whereon the spirit aspect can commune with Him, wherein the force of the Spiritual Triad can re-stimulate and revitalise Him. On these levels, His vision is renewed and He draws from the force of Shamballa—according to His degree—the inspiration (again speaking technically) for a new cycle of service. This requires on His part absence or a state of withdrawal, [563] for the space of several hours as we count them on Earth, from His body of manifestation. In the case of a disciple in training, true samadhi is not possible. The cycles of enforced quiet and of conscious withdrawal from the pressure of daily life out in the world of business and of men have to be of great length, though—as progress is made—these periods get shorter and shorter. On the lower turn of the spiral, the Ashram is to the disciple what the courts of Shamballa are to the Master. That is why, my brother, I gave you that special meditation last year upon the theme of the Ashram. I trust you have followed it with care.

Em có thể hỏi: Nhằm mục đích cụ thể nào? Em biết rằng một lối sống hằng ngày như thế không nên và không được kéo dài trong nhiều kiếp, bởi mục tiêu được diễn đạt như vậy ngày càng trở nên hoạt động trong sự phụng sự và hình tướng bên ngoài của nó. Tuy nhiên, huynh đệ của Tôi, em sẽ nhớ rằng có những lúc Chân sư, nói theo nghĩa chuyên môn, đi vào một trạng thái tâm thức mà chúng ta gọi là samadhi. Điều này có nghĩa là, trong một thời gian được ấn định và có điều kiện, Ngài rời bỏ vận cụ thấp tam phân do Ngài tạo ra và “du hành trong tâm thức” đến những cấp độ nơi phương diện tinh thần có thể giao cảm với Ngài, nơi mãnh lực của Tam Nguyên Tinh Thần có thể tái kích thích và tiếp sinh lực cho Ngài. Trên các cấp độ này, tầm nhìn của Ngài được đổi mới và Ngài rút từ mãnh lực của Shamballa—tùy theo cấp độ của Ngài—cảm hứng, lại nói theo nghĩa chuyên môn, cho một chu kỳ phụng sự mới. Về phía Ngài, điều này đòi hỏi sự vắng mặt hay một trạng thái thu rút, [563] trong khoảng vài giờ như chúng ta tính trên Trái Đất, khỏi thể biểu hiện của Ngài. Trong trường hợp một đệ tử đang được huấn luyện, samadhi đích thực là điều không thể. Các chu kỳ tĩnh lặng bắt buộc và thu rút có ý thức khỏi áp lực của đời sống hằng ngày ngoài thế giới kinh doanh và giữa con người phải rất dài, mặc dù—khi tiến bộ được thực hiện—những giai đoạn này ngày càng ngắn lại. Ở vòng thấp của đường xoắn ốc, ashram đối với đệ tử cũng như các sân triều của Shamballa đối với Chân sư. Đó là lý do, huynh đệ của Tôi, năm ngoái Tôi đã trao cho em bài tham thiền đặc biệt về chủ đề ashram. Tôi tin rằng em đã thực hành bài ấy một cách cẩn trọng.

The objective of this life of interlude and of a somewhat drastic, hampering experience, plus repeated frustration, is to fit you in a later life (next life, if you profit by the presented opportunity) for transfer into the Ashram of the Master K.H. As you know, one of the tasks I undertook in this time of world crisis was to relieve several of the Masters from the task of instructing and watching over Their junior disciples. The senior disciples and those that are called world disciples have retained their position in the older and more potent Ashrams. One of these senior disciples, A.A.B., as you well know, has aided me in this task. I also undertook to prepare certain disciples who had never been in the Ashram of either the Master K.H. or the Master M. so that they could transfer out of my Ashram into Theirs; among these you will find yourself. In your case you have here the chief reason for your present circumstances.

Mục tiêu của đời sống trong giai đoạn tạm lắng này, của một kinh nghiệm phần nào nghiêm khắc và gây trở ngại, cộng với những thất vọng lặp đi lặp lại, là chuẩn bị cho em trong một kiếp sau, nếu em tận dụng cơ hội được đưa ra thì là kiếp tới, để chuyển vào ashram của Chân sư K.H. Như em biết, một trong những nhiệm vụ Tôi đảm nhận trong thời kỳ khủng hoảng thế giới này là giảm nhẹ cho một số Chân sư khỏi công việc giáo huấn và trông nom các đệ tử sơ cấp của Các Ngài. Các đệ tử cao cấp và những người được gọi là đệ tử thế giới vẫn giữ vị trí của họ trong các ashram lâu đời hơn và uy lực hơn. Một trong các đệ tử cao cấp này, Bà A.A.B., như em biết rõ, đã trợ giúp Tôi trong nhiệm vụ ấy. Tôi cũng đảm nhận việc chuẩn bị một số đệ tử chưa từng ở trong ashram của Chân sư K.H. hay Chân sư M., để họ có thể chuyển từ ashram của Tôi sang ashram của Các Ngài; trong số này có chính em. Trong trường hợp của em, đây là lý do chính cho các hoàn cảnh hiện tại của em.

Another reason has been that you also brought about a great transfer of energy from the sacral centre to the throat centre, and here you have one of the causes of your present physical condition, but only one of them, my brother. A transfer and centralisation of the lower fires into a higher centre is oft the cause of trouble in the physical body; you can be thankful that it has worked out this way with you, for a centralisation in one of the subtler bodies is far more difficult to handle.

Một lý do khác là em cũng đã tạo nên một sự chuyển dịch năng lượng lớn từ trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng, và ở đây em có một trong những nguyên nhân của tình trạng hồng trần hiện tại của em, nhưng chỉ là một trong các nguyên nhân, huynh đệ của Tôi. Một sự chuyển dịch và tập trung các lửa thấp vào một trung tâm cao hơn thường là nguyên nhân gây rắc rối trong thể xác; em có thể biết ơn rằng điều ấy đã diễn ra theo cách này nơi em, vì một sự tập trung trong một trong các thể vi tế hơn thì khó xử lý hơn rất nhiều.

Thus you have presented to you a clear statement as to the goal ahead of you, and also the corroboration of many thoughts which have passed through your mind. You can [564] now cease from all questioning as to the future, can you not? And in exactly the same place where you now are, you can use in a new and a fresh way the creative power of the mind and begin to use your pen in a more potent and dynamic fashion.

Như vậy, em đã được trình bày một lời xác định rõ ràng về mục tiêu trước mắt, đồng thời cũng là sự xác nhận nhiều tư tưởng đã đi qua thể trí của em. Bây giờ em có thể [564] chấm dứt mọi thắc mắc về tương lai, có phải không? Và ngay chính nơi em hiện đang ở, em có thể sử dụng theo một cách mới mẻ và tươi mới quyền năng sáng tạo của thể trí, và bắt đầu dùng ngòi bút của mình theo một phương cách mạnh mẽ và năng động hơn.

The above statement gives you, also, the incentive which you need for the remainder of your life; further detailed instruction from me will not be necessary—unless you make such important progress that I shall have to watch more closely over you. That also lies in your own hands. I would have you remember that I am not urging upon you a too intensive pushing forward, for I have due regard for your physical condition.

Lời xác định trên cũng đem lại cho em động lực mà em cần cho phần đời còn lại; Tôi sẽ không cần ban thêm giáo huấn chi tiết—trừ phi em đạt được tiến bộ quan trọng đến mức Tôi phải trông nom em kỹ hơn. Điều đó cũng nằm trong tay em. Tôi muốn em nhớ rằng Tôi không thúc ép em tiến tới một cách quá mãnh liệt, vì Tôi có sự quan tâm đúng mức đến tình trạng thể xác của em.

One thing, however, you will have to watch with care. As you know, and as I pointed out to you some years ago, you have an undue number of rays along one particular line; your equipment of energies is therefore somewhat unbalanced, and this will require the process of obtaining equilibrium before you can move on to the more potent Ashram of K.H. The potency of an Ashram is necessarily dependent upon the status, the degree and the experience of the Master at its centre or heart. The more advanced the Master, the more of the energy of Shamballa which will pour into the Ashram. The Master K.H., being a Chohan and one of the senior Masters (ranking next to the Christ Himself), can “walk into the courts of Shamballa” at will. Masters of my degree can only make contact with Shamballa at certain stated periods, and one of the goals of our training is to move steadily forward into a closer relationship with the Christ, and through Him with the Lord of the World. The Ashrams for which Masters of my degree are responsible are not, therefore, so potent.

Tuy nhiên, có một điều em sẽ phải cẩn thận quan sát. Như em biết, và như Tôi đã chỉ ra cho em vài năm trước, em có một số cung quá nhiều theo một đường đặc thù; vì vậy, trang bị năng lượng của em phần nào mất cân bằng, và điều này sẽ đòi hỏi tiến trình đạt đến quân bình trước khi em có thể chuyển sang ashram uy lực hơn của Chân sư K.H.. Uy lực của một ashram tất yếu tùy thuộc vào địa vị, cấp độ và kinh nghiệm của Chân sư ở trung tâm hay trái tim của ashram ấy. Chân sư càng tiến hóa cao, năng lượng của Shamballa tuôn vào ashram càng nhiều. Chân sư K.H., vì là một Chohan và là một trong các Chân sư cao cấp, đứng ngay sau chính Đức Christ, có thể “bước vào các sân triều của Shamballa” tùy ý. Các Chân sư thuộc cấp độ của Tôi chỉ có thể tiếp xúc với Shamballa vào những kỳ hạn nhất định, và một trong những mục tiêu trong sự huấn luyện của chúng tôi là tiến đều đặn tới một mối liên hệ gần gũi hơn với Đức Christ, và qua Ngài với Đức Chúa Tể Thế Giới. Vì vậy, các ashram mà những Chân sư thuộc cấp độ của Tôi chịu trách nhiệm không uy lực đến thế.

It will be necessary for you to bring into your outer experience more force, and that of the first ray; it is necessary, also, that you should develop those conditions which will enable you to assume and work through a first ray personality when you next come into incarnation. To do this I would suggest that you study the instructions of I.S.G-L., given by me to him last year. There I gave him six statements anent [565] this mysterious and holy centre which we call Shamballa. For this year’s meditation, I would ask you to take the third statement and ponder it deeply, relating it to the sixth statement and endeavouring to arrive at an understanding of both of them. This you can do through the key which you will find in the first sentence of the meditation which I gave you in that same series. In these three statements and in their true comprehension you have the mode whereby you can put yourself en rapport with the Shamballa force. No disciple can do this without establishing a tenuous thread along which he can some day travel towards those sublime levels where the planetary Logos and His Council function. The first step is to respond to first ray energy; later you will come to use it consciously and constructively—not employing its destructive aspect—and thus learn to use first ray energy as a channel of approach; that, however, constitutes a much later stage.

Em sẽ cần đưa vào kinh nghiệm bên ngoài của mình nhiều mãnh lực hơn, và là mãnh lực của cung một; cũng cần thiết để em phát triển những điều kiện sẽ giúp em đảm nhận và hoạt động qua một phàm ngã cung một khi em lâm phàm lần tới. Để làm điều này, Tôi đề nghị em nghiên cứu các huấn thị của I.S.G-L., do Tôi trao cho bạn ấy năm ngoái. Ở đó Tôi đã trao cho bạn ấy sáu lời xác định liên quan đến [565] trung tâm huyền bí và thánh thiện này mà chúng ta gọi là Shamballa. Đối với bài tham thiền năm nay, Tôi muốn em lấy lời xác định thứ ba và suy ngẫm sâu xa về nó, liên hệ nó với lời xác định thứ sáu và cố gắng đạt đến sự thấu hiểu cả hai. Em có thể làm điều này qua chìa khóa mà em sẽ tìm thấy trong câu đầu tiên của bài tham thiền Tôi đã trao cho y trong cùng loạt ấy. Trong ba lời xác định này và trong sự lĩnh hội chân chính về chúng, em có phương thức nhờ đó em có thể đặt mình vào mối tương giao với mãnh lực Shamballa. Không một đệ tử nào có thể làm điều này nếu không thiết lập một sợi dây mong manh mà một ngày kia y có thể đi theo hướng đến những cấp độ cao siêu nơi Hành Tinh Thượng Đế và Hội đồng của Ngài hoạt động. Bước đầu tiên là đáp ứng với năng lượng cung một; về sau em sẽ đi đến chỗ sử dụng nó một cách có ý thức và kiến tạo—không vận dụng phương diện phá hủy của nó—và nhờ vậy học cách dùng năng lượng cung một như một kênh tiếp cận; tuy nhiên, điều đó thuộc về một giai đoạn muộn hơn nhiều.

The above three points for reflection will suffice for your meditation work for the coming year, and you should profit greatly by it. Every Sunday, however, I would have you take the meditation which I gave you last year and give thirty minutes to it, thus each week establishing a closer link with my Ashram and with me. My Ashram might be called the doorway to the Ashram of the Master K.H., and some day you will pass through to the higher and more potent centre.

Ba điểm suy ngẫm trên sẽ đủ cho công việc tham thiền của em trong năm tới, và em nên được lợi ích lớn từ đó. Tuy nhiên, mỗi Chủ nhật, Tôi muốn em thực hiện bài tham thiền mà Tôi đã trao cho em năm ngoái và dành ba mươi phút cho bài ấy, nhờ vậy mỗi tuần thiết lập một liên kết gần gũi hơn với ashram của Tôi và với Tôi. Ashram của Tôi có thể được gọi là cửa ngõ dẫn vào ashram của Chân sư K.H., và một ngày kia em sẽ đi qua để vào trung tâm cao hơn và uy lực hơn.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You have profited much from the attention you paid to the last instruction I gave you; you have also done a good and creative task, aiding A.A.B. Even though it did not involve your own rays, I suggested your working temporarily along first ray lines because it would strengthen you greatly and bring the Will aspect more definitely into expression. You will have realised that it has been necessary for you to develop more will and fiery determination and powerful understanding, prior to transfer into the Ashram of K.H. This transfer will eventually take place, but you are not yet ready [566] to stand the strong Shamballa pressure which is ever to be experienced in the Ashram of a Chohan. Mine, as you know, is an Ashram subsidiary to His.

Em đã được lợi ích nhiều từ sự chú tâm mà em dành cho huấn thị gần nhất Tôi trao cho em; em cũng đã thực hiện một nhiệm vụ tốt đẹp và sáng tạo, trợ giúp Bà A.A.B. Dù việc ấy không liên quan đến các cung của chính em, Tôi đã đề nghị em tạm thời hoạt động theo các đường lối cung một vì điều ấy sẽ tăng cường em rất nhiều và đưa phương diện Ý Chí vào biểu hiện rõ rệt hơn. Em hẳn đã nhận ra rằng em cần phát triển thêm ý chí, quyết tâm rực lửa và sự thấu hiểu mạnh mẽ, trước khi chuyển vào ashram của Chân sư K.H. Sự chuyển dịch này cuối cùng sẽ diễn ra, nhưng em chưa sẵn sàng [566] để chịu được áp lực Shamballa mạnh mẽ vốn luôn được kinh nghiệm trong ashram của một Chohan. Như em biết, ashram của Tôi là một ashram phụ thuộc vào ashram của Ngài.

Why, therefore, did I direct you towards the will aspect when both Ashrams are on the second ray and you are predominantly a second ray disciple? Because the subsidiary Ashrams deal with the ray qualities in action and in service, whilst the major or senior Ashrams concern in all cases the will in action through the ray qualities. This is possible because the major Ashrams are presided over by those who have achieved the sixth initiation; Ashrams such as mine are under the guidance of a Master or Initiate of the fifth degree.

Vì vậy, tại sao Tôi đã hướng em đến phương diện ý chí khi cả hai ashram đều thuộc cung hai và em chủ yếu là một đệ tử cung hai? Bởi vì các ashram phụ thuộc đề cập đến các phẩm tính của cung trong hành động và trong phụng sự, trong khi các ashram chính hay cao cấp trong mọi trường hợp đều liên quan đến ý chí trong hành động qua các phẩm tính của cung. Điều này có thể có được vì các ashram chính do những Đấng đã đạt lần điểm đạo thứ sáu chủ trì; những ashram như của Tôi thì ở dưới sự hướng dẫn của một Chân sư hay điểm đạo đồ cấp năm.

You have needed much to study the nature of the will. A disciple’s ideas on this subject are apt to be far removed from the reality; the understanding of the will is a progressive matter and disciples on all rays have to arrive at comprehension of Will activity as they move forward.

Em rất cần nghiên cứu bản chất của ý chí. Các ý niệm của một đệ tử về chủ đề này thường dễ xa rời thực tại; sự thấu hiểu ý chí là một vấn đề tiến triển dần, và các đệ tử trên mọi cung phải đi đến sự lĩnh hội hoạt động của Ý Chí khi họ tiến tới.

Perhaps some idea of what I am trying to convey anent the work done in the Ashram of a Master or that done in the Ashram of a Chohan would come to you if you meditated upon the two words: Goodwill and the Will-to-Good. The first is worked out as qualifying the life in all Ashrams under the care of a Master of the Wisdom; the Will-to-Good is developed and understood in the Ashrams of Those of still greater attainment. The first concerns the Plan whilst the second deals with Purpose. Again, in this same connection, you have: Vision and Illumination. I have here given all of you a vital hint as to the distinction between the work of the two types of Ashrams.

Có lẽ một ý niệm nào đó về điều Tôi đang cố truyền đạt liên quan đến công việc được thực hiện trong ashram của một Chân sư hay công việc được thực hiện trong ashram của một Chohan sẽ đến với em nếu em tham thiền về hai từ: thiện chí và Ý Chí-hướng Thiện. Điều thứ nhất được thể hiện như yếu tố làm phẩm định đời sống trong mọi ashram dưới sự chăm nom của một Chân sư Minh Triết; Ý Chí-hướng Thiện được phát triển và thấu hiểu trong các ashram của Những Đấng có thành tựu còn lớn hơn. Điều thứ nhất liên quan đến Thiên Cơ, trong khi điều thứ hai đề cập đến Thiên Ý. Lại nữa, trong cùng mối liên hệ này, em có: Tầm nhìn và Sự soi sáng. Ở đây Tôi đã trao cho tất cả các em một gợi ý thiết yếu về sự phân biệt giữa công việc của hai loại ashram.

You can also, if you so choose, work out the same idea in the linking of the three periodical vehicles, finding a third word, allied and descriptive, to form a sequential educational picture:

Em cũng có thể, nếu em chọn, triển khai cùng ý tưởng ấy trong sự liên kết ba vận cụ chu kỳ, tìm một từ thứ ba, tương ứng và mô tả, để tạo thành một bức tranh giáo dục tuần tự:

1. Sight………… Vision………….. Illumination.

1. Thị giác………… Tầm nhìn………….. Sự soi sáng.

2. Action…….. Plan…………….. Purpose.

2. Hành động…….. Thiên Cơ…………….. Thiên Ý.

3. Self-will……. Goodwill……… Will-to-Good. [567]

3. Ý chí cá nhân……. Thiện chí……… Ý Chí-hướng Thiện. [567]

You would find the creation of similar combinations of spiritually explanatory words a valuable exercise.

Em sẽ thấy việc tạo ra những tổ hợp tương tự gồm các từ giải thích về tinh thần là một bài tập có giá trị.

I infer not here, my brother, that your will is weak. It is constantly oriented towards that which is good and towards the Hierarchy. But the use of the spiritual will as it can affect and direct the affairs of the personality is another thing altogether; it is here that you must seek to learn the direct action of the will of the soul as you face the opportunities and crises of life. I would therefore suggest to you the following type of meditation. You know enough of the meditation process to work it out through the years into your own reflective pattern of living, as it gradually takes effect and you see deeper into the subject of the will.

Ở đây, huynh đệ của Tôi, Tôi không hàm ý rằng ý chí của em yếu. Nó luôn luôn hướng về điều thiện và về Thánh Đoàn. Nhưng việc sử dụng ý chí tinh thần theo cách nó có thể ảnh hưởng và chỉ đạo các sự việc của phàm ngã lại là một điều hoàn toàn khác; chính ở đây em phải tìm cách học hành động trực tiếp của ý chí linh hồn khi em đối diện với các cơ hội và khủng hoảng của đời sống. Vì vậy, Tôi đề nghị với em loại tham thiền sau đây. Em biết đủ về tiến trình tham thiền để triển khai nó qua nhiều năm thành mô hình sống suy tư của riêng em, khi nó dần dần phát huy tác dụng và em nhìn sâu hơn vào chủ đề ý chí.

1. Sound the OM consciously as:

1. Xướng linh từ OM một cách có ý thức như:

The physical body, using the brain as the centre of dedication,

Thể xác, dùng bộ não làm trung tâm thánh hiến,

The astral body, “lifting up the heart unto the Lord” thereby, in reality, ignoring the existence of the astral body,

Thể cảm dục, nhờ đó “nâng trái tim lên với Chúa”, trong thực tế là bỏ qua sự hiện hữu của thể cảm dục,

As the mind, orienting it with directness towards the soul.

Như thể trí, định hướng nó một cách trực tiếp về linh hồn.

2. Then sound the OM three times as the soul, flooding the triple instrument with light and love.

2. Rồi xướng linh từ OM ba lần như linh hồn, tuôn tràn ánh sáng và bác ái vào khí cụ tam phân.

3. Then give some time to the expression of goodwill by the personality.

3. Rồi dành ít thời gian cho sự biểu lộ thiện chí của phàm ngã.

4. Centre the consciousness anew in the soul, orienting your soul-infused personality towards the Spiritual Triad. This will require the use of the imagination, until such time as it is factual.

4. Tập trung tâm thức một lần nữa trong linh hồn, định hướng phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của em về Tam Nguyên Tinh Thần. Điều này sẽ đòi hỏi việc sử dụng Sự tưởng tượng, cho đến khi nó trở thành sự kiện.

5. Then take the following themes sequentially into meditative reflection, taking one each month and— when completed—resuming the sequence.

5. Rồi lần lượt đưa các chủ đề sau vào sự suy tư tham thiền, mỗi tháng lấy một chủ đề và—khi hoàn tất—tiếp tục lại chuỗi ấy.

a. From the centre where the Will of God is known.

a. Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế.

b. Let purpose rule the little wills of men.

b. Hãy để thiên ý cai quản các ý chí nhỏ bé của con người.

c. The purpose which the Masters know.

c. Thiên Ý mà các Chân sư đều biết.

d. The purpose which the Masters serve.

d. Thiên Ý mà các Chân sư phụng sự.

e. Let Light restore the Plan on Earth. [568]

e. Cầu xin Ánh sáng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian. [568]

f. Let Love restore the Plan.

f. Cầu xin Tình thương phục hồi Thiên cơ.

g. Let Power restore the Plan on Earth.

g. Hãy để Quyền năng phục hồi Thiên Cơ trên Trái Đất.

h. Let His Will be done on Earth as it is in Heaven.

h. Hãy để Ý Chí của Ngài được thực hiện trên Trái Đất cũng như trên Thiên Đàng.

i. To the accomplishment of His Will, I dedicate myself from now until eternity.

i. Để hoàn thành Ý Chí của Ngài, tôi hiến dâng chính mình từ nay cho đến vĩnh cửu.

6. Sound the OM three times inaudibly.

6. Xướng linh từ OM ba lần trong thinh lặng.

Call on me when you will, but only at need. The words “when you will” have an occult significance. It is the use of the will which is needed when the attention of the Master is needed, in the case of a chela at your point of ashramic contact. Your link with me remains unbroken.

Hãy kêu gọi Tôi khi em muốn, nhưng chỉ khi cần. Những lời “khi em muốn” có thâm nghĩa huyền môn. Chính việc sử dụng ý chí là điều cần thiết khi sự chú tâm của Chân sư là cần thiết, trong trường hợp một đệ tử ở điểm tiếp xúc ashram như em. Mối liên kết của em với Tôi vẫn không đứt đoạn.

November 1948

Tháng Mười Một năm 1948

MY FRIEND AND BROTHER:

BẠN VÀ HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

There is relatively little that I have to say to you in this year’s “touch of recognition” which I am giving to all who are actively affiliated with my Ashram. The circumstances of your life are such that you are eminently capable of handling its issues and dealing with its crises yourself; that ordains for you, therefore, a somewhat unusual state of affairs in the life of discipleship. You have been vouchsafed an interlude wherein you can perfect your work for individual souls; you have been provided full preparation. I would have you ponder deeply upon these conceptions.

Có tương đối ít điều Tôi phải nói với em trong “sự chạm đến để nhận biết” năm nay mà Tôi đang trao cho tất cả những ai đang liên kết hoạt động với ashram của Tôi. Các hoàn cảnh đời sống của em như thế khiến em hết sức có khả năng tự mình xử lý các vấn đề và đối phó với các khủng hoảng của nó; vì vậy, điều ấy an bài cho em một tình trạng phần nào khác thường trong đời sống địa vị đệ tử. Em đã được ban cho một giai đoạn tạm lắng trong đó em có thể hoàn thiện công việc của mình cho từng linh hồn riêng lẻ; em đã được cung cấp sự chuẩn bị đầy đủ. Tôi muốn em suy ngẫm sâu xa về các quan niệm này.

You have not in this life functioned in any way as a member of your race, once you had reached due years of understanding; you have been held possessively by no binding family ties, though you have always been in touch with your relatives; you have had no difficulty in assimilating the Ageless Wisdom and you have served the Hierarchy consciously for many decades; you are giving real help to A.A.B. and she is, I know, going to ask for a deepening of the nature of that help though not necessarily for an increase in its quantity…. You have had the handicap of poor health which is not, in your case, a real handicap but a pronounced and definitely [569] planned role whereby the disciple learns certain lessons of detachment and above all registers—as he learns—the relative unimportance of form. These things have happened to you and these lessons have been presented to you for assimilation; you are now faced with a greatly deepened esoteric service which you still perform in the place where you are.

Trong kiếp này, em đã không hoạt động theo bất cứ cách nào như một thành viên của chủng tộc mình, một khi em đã đạt đến những năm tháng thấu hiểu thích đáng; em không bị nắm giữ sở hữu bởi những ràng buộc gia đình trói buộc nào, dù em luôn luôn liên lạc với thân quyến; em không gặp khó khăn trong việc hấp thụ Minh Triết Ngàn Đời và em đã phụng sự Thánh Đoàn một cách có ý thức trong nhiều thập niên; em đang đem lại sự trợ giúp thực sự cho Bà A.A.B., và Tôi biết bà sẽ yêu cầu một sự làm sâu sắc hơn về bản chất của sự trợ giúp ấy, dù không nhất thiết là gia tăng về số lượng…. Em đã có trở ngại về sức khỏe kém, điều mà trong trường hợp của em không phải là một trở ngại thực sự mà là một vai trò rõ rệt và được [569] hoạch định minh xác, nhờ đó đệ tử học một số bài học về sự tách rời và trên hết ghi nhận—khi y học—tầm quan trọng tương đối nhỏ của hình tướng. Những điều này đã xảy đến với em và các bài học này đã được đưa ra cho em để hấp thụ; giờ đây em đang đối diện với một sự phụng sự nội môn được đào sâu rất nhiều mà em vẫn thực hiện ngay tại nơi em đang ở.

So you see, my brother, your life is rich and full and free and promises to be even more so. Your need is to acquiesce in the limitations of the physical body, which need not necessarily increase until old age is upon you, and at the same time to refuse recognition of that body so that it in no way impinges upon your consciousness in such a manner that it curtails or hinders your pledged service.

Vậy em thấy đó, huynh đệ của Tôi, đời sống của em phong phú, đầy đủ và tự do, và hứa hẹn sẽ còn hơn thế nữa. Nhu cầu của em là thuận nhận các giới hạn của thể xác, vốn không nhất thiết phải gia tăng cho đến khi tuổi già đến với em, đồng thời từ chối thừa nhận thể ấy để nó không bằng cách nào tác động lên tâm thức của em theo một cách khiến nó cắt giảm hay cản trở sự phụng sự đã cam kết của em.

You have progressed beyond the stages of set meditations and definite forms; your requirement at this time is to start each day of your life with a steadily deepening period of spiritual recognition. In that period, you do four things:

Em đã tiến vượt qua các giai đoạn của những bài tham thiền cố định và các hình thức xác định; điều em cần vào lúc này là bắt đầu mỗi ngày trong đời mình bằng một giai đoạn nhận biết tinh thần ngày càng sâu sắc. Trong giai đoạn ấy, em làm bốn điều:

1. You render recognition to your own soul

1. Em dâng sự nhận biết lên linh hồn của chính mình

As one with the souls of men.

Như là một với các linh hồn của con người.

As steadily fulfilling its life purpose.

Như đang kiên định hoàn thành thiên ý đời sống của nó.

2. You render recognition to the Ashram with which you are connected and to the group of co-workers with whom you are determined to cooperate.

2. Em dâng sự nhận biết lên ashram mà em được kết nối và lên nhóm những người đồng công mà em quyết tâm hợp tác.

3. You render recognition to me, your Master, D.K., by a flash of thought and of love.

3. Em dâng sự nhận biết lên Tôi, Chân sư của em, Chân sư D.K., bằng một tia chớp của tư tưởng và tình thương.

4. You recognise your personality as a divine server.

4. Em nhận biết phàm ngã của mình như một người phụng sự thiêng liêng.

If you follow this apparently very simple procedure in the morning and at night prior to sleeping, you will discover for yourself a renewed dedication and a very deep insight into another layer (if I may so call it) of esoteric truth and of the divine consciousness.

Nếu em theo tiến trình có vẻ rất đơn giản này vào buổi sáng và ban đêm trước khi ngủ, em sẽ tự mình khám phá một sự thánh hiến được đổi mới và một sự thấu suốt rất sâu vào một tầng khác, nếu Tôi có thể gọi như vậy, của chân lý nội môn và của tâm thức thiêng liêng.

We are forever linked as workers in the one Hierarchy and under the leadership of the Christ and His Successor in a distant century. Count heavily on this, my brother, and go forward with my love and blessing. [570]

Chúng ta mãi mãi được liên kết như những người hoạt động trong một Thánh Đoàn duy nhất và dưới sự lãnh đạo của Đức Christ cùng Đấng Kế Vị của Ngài trong một thế kỷ xa xôi. Huynh đệ của Tôi, hãy đặt niềm tin vững chắc vào điều này, và tiến tới với tình thương và phúc lành của Tôi. [570]

To S. C. P. – Gửi S. C. P.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

It is often difficult to know just how to approach you on account of your exceeding sensitivity both to lack of love or understanding and also to criticism. Your first reaction is one of intense pain of being misunderstood—as you think—by me. This is caused by your complete identification of yourself on mental planes with your spiritual objective—an identification which is true, sincere and lasting. You are apt to think that you now are what you want to be. This is a thing impossible if the law of achieved progress is of any importance. Your resentment of criticism (which is sharp and glamour-producing) is not based on pride in fancied achievement but is more a fierce resentment over failure. You add your own criticism of yourself to my proffered suggestions and this creates a glamour. Forget not that contact with disciples older and more experienced than yourself will ever produce a stimulation. That stimulation will apply to any innate glamour as well as to your spiritual life.

Thường khó biết phải tiếp cận em thế nào, vì em hết sức nhạy cảm đối với sự thiếu tình thương hay thiếu thấu hiểu, cũng như đối với sự phê bình. Phản ứng đầu tiên của em là một nỗi đau mãnh liệt vì bị Tôi hiểu lầm—như em nghĩ. Điều này do sự đồng nhất hoàn toàn của em trên các cõi trí với mục tiêu tinh thần của em—một sự đồng nhất chân thật, thành thực và bền vững. Em dễ nghĩ rằng em hiện là điều em muốn trở thành. Đây là điều không thể nếu định luật về tiến bộ đã đạt được có bất cứ tầm quan trọng nào. Sự phẫn uất của em trước phê bình, vốn sắc bén và tạo ảo cảm, không dựa trên lòng kiêu hãnh về thành tựu tưởng tượng, mà đúng hơn là một sự phẫn uất dữ dội trước thất bại. Em cộng thêm sự tự phê bình của chính mình vào những đề nghị Tôi đưa ra, và điều này tạo nên một ảo cảm. Đừng quên rằng sự tiếp xúc với các đệ tử lâu năm hơn và nhiều kinh nghiệm hơn em sẽ luôn tạo ra sự kích thích. Sự kích thích ấy sẽ tác động lên bất cứ ảo cảm bẩm sinh nào cũng như lên đời sống tinh thần của em.

Your second reaction is a silent acceptance of the criticism or suggestion, and a silent effort (once the emotional crisis is over) to change what is undesirable and to make the desired progress.

Phản ứng thứ hai của em là một sự chấp nhận thầm lặng đối với lời phê bình hay đề nghị, và một nỗ lực thầm lặng, một khi cơn khủng hoảng cảm xúc đã qua, để thay đổi điều không đáng mong muốn và tạo nên tiến bộ mong muốn.

Can you, my brother, think of a single instance which did not (in the early stages after reading my instructions) produce a turmoil in your consciousness? I cannot, nor can I remember any time when you did not see the matter more clearly and profit by my words.

Huynh đệ của Tôi, em có thể nghĩ đến một trường hợp nào, trong các giai đoạn đầu sau khi đọc huấn thị của Tôi, mà đã không tạo ra một sự xáo động trong tâm thức của em không? Tôi thì không thể, và Tôi cũng không nhớ có lần nào em đã không thấy vấn đề rõ ràng hơn và được lợi ích từ lời Tôi.

I make this preamble in the hope that this time you will waste no time in any futile reaction or self-defence and for the good of your group brothers, that you will see directly that which I—in love—seek to make clear to you.

Tôi đưa ra lời mở đầu này với hy vọng rằng lần này em sẽ không lãng phí thời gian trong bất cứ phản ứng vô ích hay sự tự vệ nào, và vì lợi ích của các huynh đệ trong nhóm của em, em sẽ thấy trực tiếp điều mà Tôi—trong tình thương—tìm cách làm rõ cho em.

Nothing matters these days (when the bulk of humanity is in such dire distress) except to aid in its liberation at any personal sacrifice. The temptation of many people these times is oft to evade the issue and find in the daily task and [571] karmic responsibilities as well as in a type of satisfaction with their emotional reactions a way of escape from direct and practical action on behalf of humanity. They employ a forced preoccupation with their own concerns—in order not to think, not to realise and subconsciously to evade doing anything which adds to their present load. When I speak of emotional reactions, I refer to the distress and sorrow and anxiety engendered by having those for whom one cares in the besieged or occupied countries. From that you, with thousands of others, naturally suffer and this is quite unavoidable though it can be controlled. I refer to definitely constructive interest and help upon the physical plane and I would ask you:

Trong những ngày này, khi phần lớn nhân loại đang ở trong nỗi khốn khổ thảm thiết như thế, không điều gì quan trọng ngoại trừ việc trợ giúp sự giải thoát của họ bằng bất cứ hy sinh cá nhân nào. Cám dỗ của nhiều người trong thời kỳ này thường là tránh né vấn đề và tìm trong công việc hằng ngày, trong các trách nhiệm [571] nghiệp quả, cũng như trong một kiểu thỏa mãn với các phản ứng cảm xúc của họ, một lối thoát khỏi hành động trực tiếp và thực tiễn nhân danh nhân loại. Họ dùng một sự bận tâm gượng ép với các mối quan tâm riêng của mình—để không suy nghĩ, không nhận ra và một cách tiềm thức tránh né làm bất cứ điều gì làm tăng thêm gánh nặng hiện tại của họ. Khi Tôi nói về các phản ứng cảm xúc, Tôi ám chỉ nỗi thống khổ, buồn đau và lo âu phát sinh do có những người mình quan tâm ở các quốc gia bị vây hãm hay bị chiếm đóng. Về điều đó, em cùng hàng ngàn người khác tự nhiên phải chịu, và điều này hoàn toàn không tránh khỏi dù có thể kiểm soát. Tôi ám chỉ sự quan tâm và trợ giúp mang tính kiến tạo rõ rệt trên cõi hồng trần, và Tôi muốn hỏi em:

What do you do of a practical nature to add your burden-bearing capacity to the group of world workers everywhere who are attempting to absorb the world’s sorrow, who are giving time and thought and effort to bring the war to an end or to alleviate in some practical way what you can of world distress and the physical plane needs of the unhappy? Maybe you are doing something of a practical nature. I take not the time to search into your daily activities. There is a symbol which flashes out from the heart of all who serve their fellowmen for which we look at times; when found, it indicates a world server. This symbol should flash with greater frequency into my vision. You serve with fealty those you love. I thank you myself and on behalf of K.H. for what you have done for A.A.B. and ask you again to continue to stand by her. But I would ask you again: What do you do of a practical nature to bring your quota of effort to the present world need? Because your creative enterprise deals with the luxuries of life, you need to offset it with an equally potent expression—again on the physical plane—of your service to your fellowmen. That is the first question which I put to you.

Em làm gì có tính thực tiễn để thêm khả năng gánh vác của mình vào nhóm những người hoạt động thế giới ở khắp nơi, những người đang cố gắng hấp thụ nỗi đau buồn của thế giới, đang dành thời gian, tư tưởng và nỗ lực để đưa chiến tranh đến chỗ kết thúc hoặc để giảm nhẹ theo một cách thực tiễn nào đó những gì em có thể làm đối với nỗi khốn khổ của thế giới và các nhu cầu trên cõi hồng trần của những người bất hạnh? Có thể em đang làm điều gì đó có tính thực tiễn. Tôi không dành thời gian để dò xét các hoạt động hằng ngày của em. Có một biểu tượng lóe ra từ trái tim của tất cả những ai phụng sự đồng loại, mà đôi khi chúng tôi tìm kiếm; khi tìm thấy, nó cho thấy một Người Phụng Sự Thế Gian. Biểu tượng này nên lóe vào tầm nhìn của Tôi thường xuyên hơn. Em phụng sự với lòng trung thành những người em yêu thương. Chính Tôi và nhân danh Chân sư K.H. cảm ơn em vì những gì em đã làm cho Bà A.A.B., và một lần nữa yêu cầu em tiếp tục đứng bên bà. Nhưng Tôi lại hỏi em: Em làm gì có tính thực tiễn để đem phần nỗ lực của em đến với nhu cầu hiện nay của thế giới? Bởi vì công việc sáng tạo của em đề cập đến những xa xỉ phẩm của đời sống, em cần hóa giải nó bằng một biểu hiện mạnh mẽ tương đương—cũng trên cõi hồng trần—của sự phụng sự đồng loại. Đó là câu hỏi đầu tiên Tôi đặt ra cho em.

The second question is to ask you if you feel that you are freer from the ties of those who are regarded by Us as a basically selfish and self-centred group—those who belong to the so-called social set? I told you in my last instruction that you were making definite progress in this respect and I believe that you yourself are becoming conscious of your own [572] reactions in this connection. Humanity, and not the group of so-called cultured people, should take your time and attention as well as your work along your chosen creative lines—those on which you are now engaged. Are you freer from the fear of what they would say and what they might think, or are you still guided by the massed self-interest of that group of men and women whose lives are preoccupied with possessions, with the social amenities and who regard doing Red Cross work as demonstrating adequately their usefulness? You, along with others, have refused to identify yourself and interests with any set except the one in which your destiny or your ambition placed you, and this proves an obstruction often to true spiritual growth. It is a problem and takes years to learn the lesson of general human interest. It is not easy to be a “fool for Christ’s sake,” and, my brother, the social set is one of the cruellest in the world. They need defying for their own sake and their own awakening.

Câu hỏi thứ hai là hỏi em liệu em có cảm thấy mình tự do hơn khỏi những ràng buộc với những người mà Chúng Tôi xem là một nhóm căn bản ích kỷ và tập trung vào bản thân—những người thuộc cái gọi là giới giao tế xã hội hay không? Trong huấn thị gần nhất, Tôi đã nói với em rằng em đang đạt được tiến bộ rõ rệt về phương diện này, và Tôi tin rằng chính em đang trở nên có ý thức về các phản ứng của chính mình [572] trong mối liên hệ này. Nhân loại, chứ không phải nhóm những người được gọi là có văn hóa, nên chiếm thời gian và sự chú tâm của em, cũng như công việc của em theo các đường lối sáng tạo đã chọn—những đường lối mà hiện nay em đang theo đuổi. Em có tự do hơn khỏi nỗi sợ họ sẽ nói gì và họ có thể nghĩ gì không, hay em vẫn còn bị hướng dẫn bởi lợi ích bản thân kết tụ của nhóm những người nam và nữ mà đời sống bận tâm với tài sản, với các lễ nghi xã hội, và xem việc làm công tác Chữ Thập Đỏ là chứng tỏ đầy đủ sự hữu ích của họ? Em, cùng với những người khác, đã từ chối đồng nhất bản thân và các mối quan tâm của mình với bất cứ giới nào ngoại trừ giới mà số phận hay tham vọng của em đã đặt em vào, và điều này thường chứng tỏ là một chướng ngại đối với sự tăng trưởng tinh thần chân chính. Đó là một vấn đề và phải mất nhiều năm để học bài học về mối quan tâm nhân loại rộng chung. Không dễ để trở thành “kẻ khờ vì Đức Christ”, và, huynh đệ của Tôi, giới giao tế xã hội là một trong những giới tàn nhẫn nhất trên thế giới. Họ cần được thách thức vì lợi ích của chính họ và vì sự thức tỉnh của chính họ.

Learn to stand free and unafraid, and as a soul include all with whom you are brought in contact within the dynamic vibration of your soul-directed personality. Seek to tune in on world need mentally and not emotionally; add to your service in meditation that which can practically help in this appalling world emergency. The problem of all disciples today is to achieve successful activity in their chosen task of competent citizenship and life occupation and yet, at the same time, to add to that at any cost a practical life of service. Such is not the duty or dharma of average man. It is sufficient for him to make good (as it is called) upon the physical plane, leaving to a later life cycle the development of a more dynamic and inclusive inner life. All disciples have both objectives, one outward and one inward, with also an ordained integrated expression. In your case, this situation is peculiarly ordained by the soul in order to bring about a needed bridging between your powerful astral nature and your definitely illumined intuition. This I pointed out to you some years ago.

Hãy học cách đứng tự do và không sợ hãi, và như một linh hồn, bao gồm tất cả những người em được đưa vào tiếp xúc trong rung động năng động của phàm ngã do linh hồn hướng dẫn của em. Hãy tìm cách bắt nhịp với nhu cầu thế giới bằng trí tuệ chứ không bằng cảm xúc; hãy thêm vào sự phụng sự trong tham thiền của em điều có thể giúp ích một cách thực tiễn trong tình trạng khẩn cấp thế giới đáng kinh hoàng này. Vấn đề của mọi đệ tử ngày nay là đạt được hoạt động thành công trong nhiệm vụ đã chọn của họ với tư cách công dân có năng lực và trong nghề nghiệp đời sống, đồng thời, cùng lúc, thêm vào đó bằng bất cứ giá nào một đời sống phụng sự thực tiễn. Điều như thế không phải là bổn phận hay dharma của người trung bình. Đối với y, việc thành công, như người ta gọi, trên cõi hồng trần là đủ, để dành cho một chu kỳ đời sống sau sự phát triển của một đời sống bên trong năng động và bao quát hơn. Mọi đệ tử đều có cả hai mục tiêu, một bên ngoài và một bên trong, đồng thời cũng có một biểu hiện tích hợp đã được an bài. Trong trường hợp của em, tình trạng này được linh hồn an bài một cách đặc biệt nhằm tạo ra một sự bắt cầu cần thiết giữa bản chất cảm dục mạnh mẽ của em và trực giác đã được soi sáng rõ rệt của em. Tôi đã chỉ ra điều này cho em vài năm trước.

The world of competitive business and the struggle with the financial situation calls for all the resources of your lower mind and this strengthens and brings your mind into practical [573] effectiveness. The process is therefore one of a pronounced technique for the integration of soul and personality. The same process in the case of the average citizen produces an integration of the personality—what we might call an integration downwards. In the case of a disciple, such as yourself, it produces an integration upwards, leading to a definite reorientation of the life forces and the calling into creative activity the centre at the throat.

Thế giới kinh doanh cạnh tranh và cuộc đấu tranh với tình hình tài chính đòi hỏi tất cả các nguồn lực của hạ trí nơi em, và điều này tăng cường cũng như đưa thể trí của em vào hiệu quả thực tiễn [573]. Vì vậy, tiến trình này là một kỹ thuật rõ rệt cho sự tích hợp linh hồn và phàm ngã. Cùng tiến trình ấy trong trường hợp người công dân trung bình tạo ra một sự tích hợp của phàm ngã—điều chúng ta có thể gọi là một sự tích hợp hướng xuống. Trong trường hợp một đệ tử như em, nó tạo ra một sự tích hợp hướng lên, dẫn đến một sự tái định hướng rõ rệt của các mãnh lực sự sống và kêu gọi trung tâm cổ họng vào hoạt động sáng tạo.

I will give you a short personal meditation which will aid in this development and increase your vision, effective service and usefulness. Do this meditation prior to the group meditation and do it with dynamic brevity.

Tôi sẽ trao cho em một bài tham thiền cá nhân ngắn, giúp ích cho sự phát triển này và gia tăng tầm nhìn, sự phụng sự hữu hiệu và tính hữu dụng của em. Hãy thực hiện bài tham thiền này trước bài tham thiền nhóm, và thực hiện nó với sự ngắn gọn năng động.

1. A quick rising act of alignment.

1. Một hành động chỉnh hợp nâng lên nhanh chóng.

2. A moment of poised attention.

2. Một khoảnh khắc chú tâm quân bình.

3. Then sound the OM as the soul.

3. Rồi xướng linh từ OM như linh hồn.

4. Arrest the downward flowing soul energy and effect its fusion with the uprising aspiration of the personality on mental levels. Hold the consciousness steady at that point.

4. Chặn lại năng lượng linh hồn đang tuôn xuống và tạo sự dung hợp của nó với khát vọng đang dâng lên của phàm ngã trên các cấp độ trí tuệ. Giữ tâm thức vững tại điểm ấy.

5. Visualise then a golden band of light, extending from the soul—via the mind—to the physical brain. Attempt simultaneously to see a thin thread of light ascending upwards from the soul towards the Hierarchy, passing through the members of the group.

5. Rồi hình dung một dải ánh sáng vàng, trải dài từ linh hồn—qua thể trí—đến bộ não hồng trần. Đồng thời cố gắng thấy một sợi dây ánh sáng mảnh mai đi lên từ linh hồn hướng về Thánh Đoàn, đi qua các thành viên của nhóm.

6. Then breathe out the OM again and see it going to the throat centre at the back of the neck.

6. Rồi lại thở ra linh từ OM và thấy nó đi đến trung tâm cổ họng ở phía sau cổ.

7. Focus your consciousness there and at the same time hold it in the head. This activity corresponds to the dual life of the disciple to which I referred above.

7. Tập trung tâm thức của em ở đó và đồng thời giữ nó trong đầu. Hoạt động này tương ứng với đời sống kép của đệ tử mà Tôi đã nói ở trên.

8. Sound the OM six times as the soul, sending the energy

8. Xướng linh từ OM sáu lần như linh hồn, gửi năng lượng

a. To the mind, and there focus.

a. Đến thể trí, và tập trung ở đó.

b. To the brain or the highest head centre.

b. Đến bộ não hay trung tâm đầu cao nhất.

c. To the throat centre and there focus.

c. Đến trung tâm cổ họng và tập trung ở đó.

d. From that centre, imaginatively breathe out the OM throughout the personality.

d. Từ trung tâm ấy, bằng Sự tưởng tượng, thở ra linh từ OM khắp phàm ngã.

e. Then breathe it out over the group of your brothers. [574]

e. Rồi thở nó ra trên nhóm các huynh đệ của em. [574]

f. From thence to humanity.

f. Từ đó đến nhân loại.

If you will do this simply as an exercise in the direction and right flow of energy, via the throat centre, you will find much instructive value emerging and increased usefulness and effectiveness in every aspect of your life, in the world and on spiritual levels as a disciple. You have learnt much, my brother, and I do not regret adding you to my group of accepted disciples.

Nếu em thực hiện điều này một cách đơn giản như một bài tập về sự định hướng và dòng chảy đúng đắn của năng lượng, qua trung tâm cổ họng, em sẽ thấy nhiều giá trị giáo huấn xuất hiện, cùng với sự hữu dụng và hiệu quả gia tăng trong mọi phương diện của đời sống em, trong thế gian và trên các cấp độ tinh thần với tư cách một đệ tử. Em đã học được nhiều, huynh đệ của Tôi, và Tôi không hối tiếc khi thêm em vào nhóm các đệ tử được chấp nhận của Tôi.

NOTE: This was the final instruction given to the disciple whose personal instructions are included in Vol. I. The footnote therein on page 341 still applies.

GHI CHÚ: Đây là huấn thị cuối cùng được trao cho đệ tử mà các huấn thị cá nhân của bạn ấy được đưa vào Tập I. Chú thích ở đó nơi trang 341 vẫn còn áp dụng.

To P. G. C. – Gửi P. G. C.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ LÂU NĂM:

I wonder whether you have sufficiently realised that for you to bring through the love of your soul is the line of least resistance, owing to the fact that your personality ray is the seventh ray—the ray of consummation, the ray of expressing adequately on the physical plane the form through which the soul—whose nature is love—can express itself. This is particularly easy also in your case because the ray of your physical body is also the seventh. The line of descent, therefore, for the form building energy is direct. To this again you can add the fact that your personality vehicles are on the fifth, the sixth and the seventh rays; these follow each other in sequential order, producing again a direct channel. You should consequently (if you are truly to understand the mechanism through which your soul has to function) make a much closer study of the seventh ray. It is also the incoming ray for the next immediate cycle. A knowledge of the ray influences, techniques, mechanics and objectives will be ascertained by disciples in whom these rays are pronouncedly manifesting.

Tôi tự hỏi liệu em đã nhận ra đủ chưa rằng đối với em, việc đưa tình thương của linh hồn em xuyên qua chính là con đường ít trở ngại nhất, do cung phàm ngã của em là cung bảy—cung của sự hoàn tất, cung của việc biểu lộ một cách thích đáng trên cõi hồng trần hình tướng mà qua đó linh hồn—vốn có bản chất là tình thương—có thể tự biểu lộ. Điều này cũng đặc biệt dễ dàng trong trường hợp của em vì cung thể xác của em cũng là cung bảy. Vì vậy, đường đi xuống của năng lượng kiến tạo hình tướng là trực tiếp. Vào điều này, em lại có thể thêm sự kiện rằng các vận cụ phàm ngã của em thuộc các cung năm, sáu và bảy; những cung này nối tiếp nhau theo thứ tự tuần tự, lại tạo ra một kênh trực tiếp. Do đó, nếu em thật sự muốn thấu hiểu bộ máy mà qua đó linh hồn em phải hoạt động, em nên nghiên cứu cung bảy kỹ hơn nhiều. Nó cũng là cung đang đi vào cho chu kỳ kế tiếp gần nhất. Tri thức về các ảnh hưởng, kỹ thuật, cơ chế và mục tiêu của cung sẽ được các đệ tử mà nơi họ các cung này đang biểu hiện rõ rệt xác định.

It is not possible for anyone under the degree of accepted [575] disciple to find out much. The type must be definitely pronounced and the investigator advanced enough to have reached the stage of a detached observer. This detachment you can frequently attain. Temperament and training have developed it in you. The second ray disciple has to learn detachment while at the same time he remains “attached and inclusive” esoterically, and this must be consciously achieved and the attitude preserved. The first ray disciple has to remain detached and at the same time to learn attachment and to admit entry into his aura of the entire world in a series of progressive attachments. This makes for difficulty for it involves that training in paradoxes which is the secret of occultism.

Không ai dưới cấp độ đệ tử được chấp nhận [575] có thể tìm ra được nhiều. Loại phải được biểu lộ rõ rệt, và người khảo sát phải đủ tiến bộ để đã đạt đến giai đoạn của một nhà quan sát tách rời. Sự tách rời này em có thể thường xuyên đạt được. Khí chất và sự huấn luyện đã phát triển nó nơi em. Đệ tử cung hai phải học sự tách rời trong khi đồng thời vẫn “gắn bó và bao dung” về mặt nội môn, và điều này phải được đạt đến một cách có ý thức, còn thái độ ấy phải được giữ gìn. Đệ tử cung một phải vẫn tách rời, đồng thời học sự gắn bó và cho phép toàn thể thế giới đi vào hào quang của mình trong một chuỗi các gắn bó tiến triển. Điều này tạo nên khó khăn, vì nó liên quan đến sự huấn luyện trong các nghịch lý, vốn là bí mật của huyền môn học.

Your ray combination and the points of focus in your case explain your great interest in the centres, in their significance, vitalisation and conscious use. It is the unfoldment of an awakened consciousness which is the goal of all training for initiation and of this the training of children to develop an awakened conscience is a symbol. This awakening is brought about by:

Sự phối hợp cung và các điểm tập trung trong trường hợp của em giải thích mối quan tâm lớn của em đối với các trung tâm, đối với thâm nghĩa, sự tiếp sinh lực và việc sử dụng có ý thức của chúng. Sự khai mở của một tâm thức đã thức tỉnh là mục tiêu của mọi huấn luyện cho điểm đạo, và việc huấn luyện trẻ em phát triển một lương tâm đã thức tỉnh là biểu tượng của điều này. Sự thức tỉnh này được tạo ra bởi:

1. Integration…………… the coordination of the mechanism.

1. Sự tích hợp…………… sự phối hợp của bộ máy.

2. Synthesis…………….. the fusion of personality and soul.

2. Sự tổng hợp…………….. sự dung hợp của phàm ngã và linh hồn.

3. Appropriation………. the inflow of energy from the soul into the centres.

3. Sự chiếm hữu………. dòng năng lượng từ linh hồn tuôn vào các trung tâm.

4. Awakening………….. the response of the centres to this inflow.

4. Sự thức tỉnh………….. sự đáp ứng của các trung tâm đối với dòng tuôn vào này.

You will note the sequence, therefore, of this staged development in the way of white magic. Usually among the ignorant, the centres are first studied objectively, psychic exercises are undertaken in order really to produce feeling in the centres and so make the man conscious of their locality and quality. Later an effort is made through meditation to contact the soul. This order is wrong. Man should become aware of the centres as a final stage and this because his emphasis and identification is with the soul and not with the form aspect, of which the centres are a part. Be careful in all instruction that you may later give on these matters to make this point [576] adequately clear. I would call to your attention another point. You may perhaps have noted that I have given some of you meditations which are concerned with certain of the centres and their relation. This I will increasingly do. Most of the meditations which I gave to the group members in the earlier stages of the forming of the groups, are in reality ray meditations and can be so adapted and reference to the centres later inserted; but—at this stage—only A.A.B. knows enough to make the adaptation and necessary insertions. I have instructed her to ask R.S.U. gradually to copy the entire file of meditations and you can then, during the coming months, cooperate with A.A.B. in their changing and assembling under the correct rays.

Vì vậy, em sẽ lưu ý chuỗi phát triển theo từng giai đoạn này trong đường lối Chánh Thuật. Thông thường, trong số những người vô minh, các trung tâm trước hết được nghiên cứu một cách khách quan, các bài tập thông linh được thực hiện nhằm thật sự tạo ra cảm giác trong các trung tâm và nhờ vậy làm cho con người có ý thức về vị trí và phẩm tính của chúng. Về sau, một nỗ lực được thực hiện qua tham thiền để tiếp xúc với linh hồn. Trật tự này là sai. Con người nên trở nên nhận biết các trung tâm như một giai đoạn cuối cùng, và điều này bởi vì sự nhấn mạnh và sự đồng nhất của y là với linh hồn chứ không phải với phương diện hình tướng, mà các trung tâm là một phần của nó. Hãy cẩn thận trong mọi giáo huấn mà về sau em có thể ban về các vấn đề này, để làm cho điểm này [576] đủ rõ ràng. Tôi muốn lưu ý em một điểm khác. Có lẽ em đã nhận thấy rằng Tôi đã trao cho một số em các bài tham thiền liên quan đến một số trung tâm và mối liên hệ của chúng. Tôi sẽ ngày càng làm như vậy. Phần lớn các bài tham thiền mà Tôi đã trao cho các thành viên nhóm trong những giai đoạn đầu của việc hình thành các nhóm, thực ra là các bài tham thiền về cung và có thể được thích nghi như thế, rồi về sau đưa thêm sự tham chiếu đến các trung tâm; nhưng—ở giai đoạn này—chỉ Bà A.A.B. biết đủ để thực hiện sự thích nghi và các phần thêm cần thiết. Tôi đã huấn thị bà yêu cầu R.S.U. dần dần sao chép toàn bộ hồ sơ các bài tham thiền, và rồi trong những tháng tới, em có thể hợp tác với Bà A.A.B. trong việc thay đổi và sắp xếp chúng dưới các cung đúng.

This service and this expansion of the teaching is of importance and should constitute the service of you and R.S.U. in collaboration with A.A.B. The assembled meditations and the knowledge gained will serve to provide some of the practical side of the teaching to be given by the Arcane School in the more advanced courses to be given in the future. After the war is over—provided that it terminates as desired by the Great White Lodge—many will provide evidence that they are ready for this advanced training and for this you, as a group, must be prepared.

Công việc phụng sự này và sự mở rộng giáo huấn này có tầm quan trọng, và nên cấu thành sự phụng sự của em và R.S.U. trong sự cộng tác với A.A.B. Các bài tham thiền được tập hợp và tri thức thu đạt được sẽ giúp cung cấp một phần thực tiễn của giáo huấn mà Trường Arcane sẽ truyền dạy trong các khóa học cao cấp hơn được đưa ra trong tương lai. Sau khi chiến tranh kết thúc—miễn là nó chấm dứt như Thánh đoàn mong muốn—nhiều người sẽ đưa ra bằng chứng rằng họ đã sẵn sàng cho sự huấn luyện cao cấp này, và đối với điều này, các em, với tư cách một nhóm, phải được chuẩn bị.

You may wonder why I am dealing with this matter in my instruction to you personally. Simply, my brother, in order that you may aid in the preparation for the coming development of the race of men and because—owing to your training and the field of your daily work—you are equipped to provide that measure of technical knowledge which will guarantee the sanity and freedom from fanciful extravagances which is so needed in connection with teaching to be given on the centres and their development. It must always be borne in mind that evidence of the centres is to be found in the nervous and glandular systems and these three must ever be related if modern science is to appreciate and appropriate the new knowledge.

Em có thể tự hỏi vì sao Tôi lại đề cập đến vấn đề này trong huấn thị riêng dành cho em. Huynh đệ của Tôi, đơn giản là để em có thể trợ giúp trong việc chuẩn bị cho sự phát triển sắp tới của nhân loại, và bởi vì—do sự huấn luyện của em cùng lĩnh vực công việc hằng ngày của em—em được trang bị để cung cấp mức độ tri thức kỹ thuật vốn sẽ bảo đảm sự lành mạnh và sự thoát khỏi những phóng túng tưởng tượng, điều rất cần thiết liên quan đến giáo huấn sẽ được truyền dạy về các trung tâm và sự phát triển của chúng. Cần luôn ghi nhớ rằng bằng chứng về các trung tâm được tìm thấy trong hệ thần kinh và hệ tuyến, và ba yếu tố này phải luôn được liên hệ với nhau nếu khoa học hiện đại muốn đánh giá đúng và tiếp nhận tri thức mới.

For yourself, my brother, I have but a word. Deepen your understanding and remember that owing to the fact that you have two rays upon the first line of outgoing energy, [577] aloofness must be carefully avoided by you. It is the first step towards isolation. Disciples must ever remember that any over-emphasis of the energies which govern the personality lays the foundation of the form nature in the next incarnation. In your case, for instance, an undue emphasis of your fifth and seventh lines of force in this life might produce a powerfully dangerous form nature in your next incarnation—one which would probably bring about a personality upon the first ray with a third ray mentality, the same sixth ray astral body and a fifth ray physical body. You can see the danger of this combination where a disciple is concerned and the problem with which he would be confronted. I have here given a hint as to the mode of unfoldment in connection with karmic responsibility for the future. Such a hint has not hitherto been made available to the public. In this paragraph I have given you much food for thought.

Đối với chính em, huynh đệ của Tôi, Tôi chỉ có một lời. Hãy đào sâu sự thấu hiểu của em và hãy nhớ rằng, do sự kiện em có hai cung thuộc tuyến thứ nhất của năng lượng xuất lộ, [577] em phải cẩn thận tránh thái độ xa cách. Đó là bước đầu tiên dẫn đến sự cô lập. Các đệ tử phải luôn nhớ rằng bất cứ sự nhấn mạnh quá mức nào vào những năng lượng chi phối phàm ngã đều đặt nền móng cho bản chất hình tướng trong lần lâm phàm kế tiếp. Chẳng hạn, trong trường hợp của em, sự nhấn mạnh thái quá vào các tuyến mãnh lực thứ năm và thứ bảy trong đời này có thể tạo ra một bản chất hình tướng đầy uy lực và nguy hiểm trong lần lâm phàm kế tiếp của em—một bản chất có lẽ sẽ tạo nên một phàm ngã thuộc cung một với một trí tuệ thuộc cung ba, cùng một thể cảm dục cung sáu và một thể xác cung năm. Em có thể thấy sự nguy hiểm của tổ hợp này khi liên quan đến một đệ tử, và vấn đề mà y sẽ phải đối diện. Ở đây, Tôi đã đưa ra một gợi ý về phương thức khai mở liên quan đến trách nhiệm nghiệp quả đối với tương lai. Một gợi ý như thế cho đến nay chưa từng được công khai cho quần chúng. Trong đoạn này, Tôi đã trao cho em nhiều điều đáng suy ngẫm.

The objective of the personal meditation which I suggest that you should follow, is to bring into increasing activity the two head centres. It is a simple exercise but should only be done every other day because you are at the stage wherein you could unfold too rapidly, and so bring about needless difficulty…. It is a general preliminary exercise in facility and in the manipulation of the energies within the body.

Mục tiêu của bài tham thiền riêng mà Tôi đề nghị em nên theo là đưa hai trung tâm đầu vào hoạt động ngày càng gia tăng. Đây là một bài tập đơn giản nhưng chỉ nên thực hiện cách ngày, bởi em đang ở giai đoạn có thể khai mở quá nhanh, và do đó gây ra khó khăn không cần thiết…. Đây là một bài tập sơ khởi tổng quát về sự thuần thục và về việc điều khiển các năng lượng bên trong thân thể.

August 1942

Tháng Tám 1942

1. The stabilisation of your life along the line established is the next step. But, my brother, permit not crystallisation.

1. Sự ổn định đời sống của em theo tuyến đã thiết lập là bước kế tiếp. Nhưng, huynh đệ của Tôi, đừng để sự kết tinh xảy ra.

2. The secret of triplicity is yours. Work on it so the mind is clear.

2. Bí mật của bộ ba là của em. Hãy làm việc với nó để thể trí được sáng rõ.

3. Love more. Wisdom is yours, yet speed it out to others upon the wings of love.

3. Hãy thương yêu nhiều hơn. Minh triết là của em, nhưng hãy đưa nó nhanh đến những người khác trên đôi cánh của tình thương.

4. Learn to transmute. Suppression is more easy but transmutation is more safe. Transmute.

4. Hãy học chuyển hoá. Sự đè nén thì dễ hơn, nhưng sự chuyển hoá thì an toàn hơn. Hãy chuyển hoá.

5. The active double life of the disciple is your next goal. Your duty and your goal go hand in hand. You must walk with both at once. Thus can the rainbow bridge be built.

5. Đời sống kép tích cực của đệ tử là mục tiêu kế tiếp của em. Bổn phận và mục tiêu của em đi đôi với nhau. Em phải bước đi với cả hai cùng lúc. Nhờ vậy, Cây cầu vồng có thể được xây dựng.

6. Go out among the sons of men and heal and lift, but balance keep and breadth of view. All ways are good. [578]

6. Hãy đi ra giữa những người con của nhân loại, chữa lành và nâng đỡ, nhưng hãy giữ quân bình và tầm nhìn rộng. Mọi con đường đều tốt. [578]

September 1943

Tháng Chín 1943

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

It seems to me that so oft I have to say this year to hard-pressed chelas: The way has been difficult. But so it is, and your way in life has been no exception. Great waves of karmic impact have beaten upon our Earth—that little ship adrift in time and space and sailing the great ocean of the cosmos. The Lords of Karma have looked towards our planet. Energy follows thought and that, my brother, is all that karma is—the impact of directed energy upon the Earth, upon the kingdoms in nature, upon man and upon the individual disciple. Much of this karma, especially now, is not individual in purpose, nor is it generated in any way by the individuals affected by it, be it an individual disciple, or an ordinary human being. It is largely incident at this time to the karma of the One in Whom we live and move and have our being. It is primarily also in the sphere of Shamballa, and has small relation in the first instance to humanity at all. This means but little to you, I realise. This karma working out in Shamballa has, however, led to the vitalising of the activities of certain “will-full” men; they have loosed great evil upon the Earth. But this karma will also produce the stimulation of goodwill, and thus lasting good will offset temporary evil. This must not be forgotten.

Dường như trong năm nay Tôi thường phải nói với các đệ tử đang bị áp lực nặng nề rằng: Con đường đã khó khăn. Nhưng sự thật là như thế, và con đường đời của em cũng không phải là ngoại lệ. Những làn sóng lớn của tác động nghiệp quả đã đập vào Trái Đất của chúng ta—con thuyền nhỏ ấy trôi dạt trong thời gian và không gian, đang vượt qua đại dương bao la của vũ trụ. Các Chúa Tể Nghiệp Quả đã hướng nhìn về hành tinh của chúng ta. Năng lượng theo sau tư tưởng, và điều đó, huynh đệ của Tôi, chính là toàn bộ nghiệp quả—tác động của năng lượng được định hướng lên Trái Đất, lên các giới trong thiên nhiên, lên con người và lên từng đệ tử cá biệt. Phần lớn nghiệp quả này, đặc biệt hiện nay, không mang mục đích cá nhân, cũng không do bất kỳ cách nào bởi các cá nhân chịu ảnh hưởng của nó tạo ra, dù đó là một đệ tử cá biệt hay một con người bình thường. Vào lúc này, phần lớn nó phát sinh từ nghiệp quả của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Về căn bản, nó cũng thuộc phạm vi Shamballa, và ngay từ đầu chỉ có liên hệ rất ít với nhân loại. Tôi nhận ra rằng điều này không có nhiều ý nghĩa đối với em. Tuy nhiên, nghiệp quả này đang vận hành trong Shamballa đã dẫn đến việc tiếp sinh lực cho các hoạt động của một số người “đầy ý chí”; họ đã phóng thích đại ác lên Trái Đất. Nhưng nghiệp quả này cũng sẽ tạo ra sự kích thích thiện chí, và nhờ vậy điều thiện lâu dài sẽ hóa giải điều ác tạm thời. Điều này không được quên.

The problems which have confronted you as an individual, as a disciple and as a member of the New Group of World Servers have been difficult, but you are weathering the storm and your little ship will live through the gale. All is preparatory to an increased output in service—service which will develop normally without undue planning, and which will be accessory to your life task of meeting your home and your healing responsibilities.

Những vấn đề đã đối diện với em trong tư cách một cá nhân, một đệ tử và một thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đều khó khăn, nhưng em đang vượt qua cơn bão và con thuyền nhỏ của em sẽ sống sót qua trận cuồng phong. Tất cả đều là sự chuẩn bị cho thành quả phụng sự lớn hơn—một sự phụng sự sẽ phát triển bình thường, không do hoạch định thái quá, và sẽ phụ trợ cho nhiệm vụ đời em là đáp ứng các trách nhiệm gia đình và chữa lành của em.

This, as I hinted in your six seed thoughts last year, is summed up in the words there found: “Your duty and your goal go hand in hand.” This condition is apt to present more difficulties than a definitely clear-cut distinction. Relationships have to be more carefully adjusted and the time equation most carefully organised and planned. Your second ray [579] nature makes the first possible, your first ray attributes aid in the second. Your major emphasis this year should be the establishing of the most loving “right relations” with all in your immediate environment.

Điều này, như Tôi đã gợi ý trong sáu tư tưởng hạt giống của em năm ngoái, được tóm lược trong những lời được thấy ở đó: “Bổn phận và mục tiêu của em đi đôi với nhau.” Tình trạng này dễ đưa đến nhiều khó khăn hơn một sự phân biệt rõ ràng và dứt khoát. Các mối quan hệ phải được điều chỉnh cẩn thận hơn, và phương trình thời gian phải được tổ chức và hoạch định hết sức kỹ lưỡng. Bản chất cung hai [579] của em khiến điều thứ nhất có thể thực hiện, các thuộc tính cung một của em trợ giúp trong điều thứ hai. Sự nhấn mạnh chính yếu của em trong năm nay nên là thiết lập những “mối quan hệ đúng đắn” đầy tình thương nhất với tất cả những ai ở trong môi trường trực tiếp của em.

What I am referring to, my brother, is deepening, and this deepening must be consciously carried forward. One of the things which I desire to see in all the members of this group in my Ashram is a process of deepening, carried forward through realisation, silence, loving understanding and inner synthesis. That is why it is essential that all of you read and study each other’s papers and instructions, so as to arrive at this depth of insight, vision and source of activity. All the outer relations will then—both of the individual disciple and of the group—be implemented from this inner centre, and will therefore be lasting, sound and constructive.

Điều Tôi đang nói đến, huynh đệ của Tôi, là sự đào sâu, và sự đào sâu này phải được tiến hành một cách hữu thức. Một trong những điều Tôi muốn thấy nơi tất cả các thành viên của nhóm này trong Ashram của Tôi là một tiến trình đào sâu, được thực hiện qua sự chứng nghiệm, sự im lặng, sự thấu hiểu đầy tình thương và sự tổng hợp bên trong. Đó là lý do vì sao tất cả các em cần đọc và nghiên cứu các bài viết cùng huấn thị của nhau, để đạt đến chiều sâu này của minh sát, tầm nhìn và nguồn hoạt động. Khi ấy, mọi quan hệ bên ngoài—của cả đệ tử cá biệt lẫn của nhóm—sẽ được thực hiện từ trung tâm bên trong này, và vì thế sẽ bền vững, lành mạnh và có tính xây dựng.

Your particular work in my Ashram is (as well you know) connected with the Network of Light which must be created in the world, and with the furthering of the Triangles of Light…. I would ask three of you… to form the inner central triangle, and together and in constant consultation establish some uniformity and continuity of work. Continue with the work you are now doing and in the way you are doing it, but deepen (again that thought) the content of what you give to the people who read the notes you send out.

Công việc đặc thù của em trong Ashram của Tôi, như em biết rõ, liên quan đến Mạng Lưới Ánh Sáng phải được tạo dựng trong thế giới, và đến việc xúc tiến các Tam Giác Ánh Sáng…. Tôi muốn xin ba em… hãy tạo thành tam giác trung tâm bên trong, và cùng nhau, trong sự tham khảo thường xuyên, thiết lập một mức độ đồng nhất và liên tục nào đó của công việc. Hãy tiếp tục công việc em đang làm và theo cách em đang làm, nhưng hãy đào sâu—lại chính tư tưởng ấy—nội dung của điều em trao cho những người đọc các ghi chú em gửi đi.

I feel no need to give you any set meditation. The group meditation, your own reflective work upon your task as a disciple (and this should be intensified), and your subjective meditation upon the Network of Light with your two Triangle members will provide you with adequate focal points for soul emphasis. Here I have given you a definition of meditation given by a Master to a group of disciples. He is not one of the Masters known to you or the outer world, for He only takes into His Ashram those who are in preparation for the third initiation, and then only those who are pledged to undertake certain definite activities for which He trains them. These “focal points of emphasis” are of many differing kinds and should distinguish your type of meditation throughout the coming year. Such focal points are brief, dynamic, potent and emphatic and are only possible when [580] the antahkarana is in process of definite construction, as is the case with your work along this line.

Tôi thấy không cần trao cho em bất cứ bài tham thiền cố định nào. Bài tham thiền nhóm, công việc suy tư riêng của em về nhiệm vụ của mình với tư cách một đệ tử, và điều này nên được tăng cường, cùng sự tham thiền nội tâm của em về Mạng Lưới Ánh Sáng với hai thành viên Tam Giác của em, sẽ cung cấp cho em những điểm tập trung đầy đủ cho sự nhấn mạnh của linh hồn. Ở đây, Tôi đã trao cho em một định nghĩa về tham thiền do một Chân sư đưa ra cho một nhóm đệ tử. Ngài không phải là một trong các Chân sư mà em hay thế giới bên ngoài biết đến, vì Ngài chỉ nhận vào Ashram của Ngài những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba, và khi đó cũng chỉ nhận những ai đã cam kết đảm nhận một số hoạt động xác định mà Ngài huấn luyện họ cho những hoạt động ấy. Những “điểm tập trung nhấn mạnh” này thuộc nhiều loại khác nhau và nên phân biệt kiểu tham thiền của em trong suốt năm tới. Những điểm tập trung như thế ngắn gọn, năng động, mạnh mẽ và dứt khoát, và chỉ có thể có khi [580] antahkarana đang trong tiến trình xây dựng xác định, như trường hợp công việc của em theo tuyến này.

I find little more to say to you, my brother. The reason for this is that we work in a peculiarly close manner at all times and you are very active in the work of my Ashram. You do not require, therefore, to hold lengthy discussions and to receive long instructions from me at various annual points. We talk at times throughout the year, and this again you know. Hence the brevity of this communication.

Huynh đệ của Tôi, Tôi thấy không còn nhiều điều để nói với em. Lý do là vì chúng ta luôn làm việc với nhau theo một cách đặc biệt gần gũi, và em rất tích cực trong công việc của Ashram của Tôi. Vì vậy, em không cần có những cuộc thảo luận dài dòng và nhận những huấn thị dài từ Tôi vào các thời điểm hằng năm khác nhau. Chúng ta thỉnh thoảng trò chuyện suốt năm, và điều này em cũng biết. Do đó, thông điệp này ngắn gọn.

November 1944

Tháng Mười Một 1944

MY FRIEND AND CO-WORKER:

BẠN CỦA TÔI VÀ NGƯỜI CÙNG HOẠT ĐỘNG:

Ever since my last communication to you, you have worked assiduously and earnestly at the task assigned and have laid a good foundation for future work. You have, I know, realised within yourself the value and the nature of what you have accomplished. I would ask you to read with care the instructions given as regards the work in connection with the Triangles; I need not, therefore, duplicate. The creative work of bringing these Networks of Light and of Goodwill into being is well upon its way. It might be said that the form (esoterically understood to be the vital body) is now strong enough to warrant an organised body upon the physical plane. I have consequently suggested that the emphasis of all your effort should now shift to the networks per se and away from a constant consideration of the quality aspect. You should now find it easier to promote the growth of the networks than to educate people in the nature of light and its uses, or even to bring them to an understanding of goodwill—though the latter is far easier than the former. The growth of a network (through organised enterprise) is something that the average man can understand.

Kể từ lần trao đổi gần nhất của Tôi với em, em đã làm việc chuyên cần và chân thành trong nhiệm vụ được giao, và đã đặt một nền móng tốt cho công việc tương lai. Tôi biết, trong chính mình, em đã nhận ra giá trị và bản chất của những gì em đã hoàn thành. Tôi muốn em đọc cẩn thận các huấn thị đã được đưa ra về công việc liên quan đến các Tam Giác; do đó, Tôi không cần lặp lại. Công việc sáng tạo nhằm đưa các Mạng Lưới Ánh Sáng và Thiện Chí này vào hiện hữu đang tiến triển tốt đẹp. Có thể nói rằng hình tướng, hiểu về mặt nội môn là thể sinh lực, hiện nay đã đủ mạnh để biện minh cho một tổ chức có hình thể trên cõi hồng trần. Do đó, Tôi đã gợi ý rằng sự nhấn mạnh của mọi nỗ lực của em giờ đây nên chuyển sang chính các mạng lưới, và rời khỏi việc thường xuyên xem xét phương diện phẩm tính. Giờ đây, em nên thấy việc thúc đẩy sự tăng trưởng của các mạng lưới dễ hơn việc giáo dục con người về bản chất của ánh sáng và các công dụng của nó, hoặc ngay cả việc đưa họ đến một sự thấu hiểu về thiện chí—dù điều sau dễ hơn điều trước rất nhiều. Sự tăng trưởng của một mạng lưới, thông qua một công trình có tổ chức, là điều người bình thường có thể thấu hiểu.

The work has hitherto been complicated by the attitude of those who have sought to help but who have regarded it as a seriously difficult matter to form Triangles. What a man feels subconsciously conditions the success or the non-success of his endeavour; this effort of mine started handicapped by the complexities which the concrete minds of my disciples [581] wrought around it, by their failure to grasp its basic importance, and by much initial criticism. It is a very simple plan and can be “put over” (to use a familiar phrase) with simplicity. I hope to make this clear in a statement shortly to be written by me anent this work.

Cho đến nay, công việc đã trở nên phức tạp do thái độ của những người đã tìm cách giúp đỡ nhưng lại xem việc hình thành các Tam Giác là một vấn đề hết sức khó khăn. Điều một người cảm thấy trong tiềm thức tác động lên sự thành công hay không thành công của nỗ lực y; nỗ lực này của Tôi đã khởi đầu trong tình trạng bị bất lợi bởi những phức tạp mà trí cụ thể của các đệ tử của Tôi [581] đã tạo ra quanh nó, bởi sự thất bại của họ trong việc nắm bắt tầm quan trọng căn bản của nó, và bởi nhiều phê bình ban đầu. Đây là một kế hoạch rất đơn giản và có thể “truyền đạt được”, dùng một cụm từ quen thuộc, một cách giản dị. Tôi hy vọng sẽ làm rõ điều này trong một bản tuyên bố mà Tôi sẽ sớm viết liên quan đến công việc này.

I would call your attention to the fact that statements emanating from any member of the Hierarchy, such as myself, have in them a potency which may not be arrested. This has oft been noted. Let me give you an illustration. The very first communication I gave to A.A.B., asking her to send it out to the public, was entitled The New Group of World Servers. This was followed by one called The Next Three Years. These were sent out exactly as dictated by me, without any deletions, with their occult implications intact, and with little or no editing. They immediately reached thousands of minds and were received with simplicity everywhere; their influence culminated in the highly successful campaign of 1936. The tendency to adapt such writings to what you and others conceive to be the capacity of the public mind detracts from the magnetism inherent in—if I may so express it—the unadulterated article. That, however, is the responsibility of all who seek to spread this phase of the Ageless Wisdom which I have been instrumental in revealing, and this A.A.B. has always understood. She has therefore been unresponsive to all suggestions to cut down or to simplify the writings. She will, I know, insist that the article or paper I propose writing goes out to the general public exactly as I dictate it, without Christianising it or rendering it innocuous by the deletion of all occult reference. I know that you also will cooperate. In the last analysis, the responsibility for the article is mine and that of A.A.B., and past history justifies the belief that the sensitive response of the public mind to esoteric truth is dependable.

Tôi muốn lưu ý em đến sự kiện rằng những tuyên bố phát xuất từ bất cứ thành viên nào của Thánh Đoàn, chẳng hạn như Tôi, đều có trong chúng một quyền năng không thể bị ngăn lại. Điều này thường được ghi nhận. Hãy để Tôi cho em một minh họa. Thông điệp đầu tiên mà Tôi trao cho A.A.B., yêu cầu Bà gửi ra cho công chúng, mang tựa đề Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tiếp theo đó là một thông điệp gọi là Ba Năm Kế Tiếp. Những thông điệp này được gửi ra đúng như Tôi đọc cho ghi lại, không lược bỏ điều gì, với các hàm ý huyền môn của chúng còn nguyên vẹn, và hầu như không hoặc rất ít biên tập. Chúng lập tức chạm đến hàng ngàn trí tuệ và được tiếp nhận một cách giản dị ở khắp nơi; ảnh hưởng của chúng đạt đến đỉnh điểm trong chiến dịch rất thành công năm 1936. Khuynh hướng điều chỉnh những bài viết như thế theo điều mà em và những người khác cho là khả năng của tâm trí công chúng làm suy giảm từ điện vốn sẵn có trong—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy—bài viết nguyên chất. Tuy nhiên, đó là trách nhiệm của tất cả những ai tìm cách truyền bá giai đoạn này của Minh Triết Ngàn Đời mà Tôi đã là công cụ trong việc mặc khải, và điều này A.A.B. luôn thấu hiểu. Vì vậy, Bà đã không đáp ứng với mọi đề nghị cắt giảm hoặc đơn giản hóa các bài viết. Tôi biết Bà sẽ kiên quyết rằng bài báo hay bài viết mà Tôi dự định viết phải được gửi đến công chúng nói chung đúng như Tôi đọc cho ghi lại, không Kitô giáo hóa nó, cũng không làm cho nó trở nên vô hại bằng cách xóa bỏ mọi tham chiếu huyền môn. Tôi biết rằng em cũng sẽ hợp tác. Xét đến cùng, trách nhiệm đối với bài viết là của Tôi và của A.A.B., và lịch sử quá khứ biện minh cho niềm tin rằng sự đáp ứng nhạy bén của tâm trí công chúng đối với chân lý nội môn là đáng tin cậy.

Coming back from a consideration of the work to you yourself, my brother and my disciple, what can I bring to your attention that will give you strength and understanding? For those are two qualities which disciples need at this time above all else. You have an interesting combination of ray energies with the ray of order, permitting of the physical [582] establishment of relationship between soul and form strongly controlling you. This dominant energy should render your outer work effective upon the physical plane, if you will remember that esoterically the form nature is the vital etheric body, and this automatically and easily conditions the physical organised vehicle. When your work is not effective, brother of mine, what is the reason? Note that this seventh ray potency is concentrated in your personality, and when your second ray soul energy sweeps into prominence, the initial effect is oft to negate the activity of the personality. This is oft forgotten and is most confusing to the neophyte in its earlier manifestations. Later, the disciple learns from experiment and experience that all the rays are subrays of the great second ray. This you know theoretically, but that is different from the wisdom which comes from understanding as the result of action. Once this fact is grasped, you can begin to use all the forces in your equipment as the implements of loving service. Here lies your major technical lesson. Your line of least resistance is that of establishing relationship with the end in view of building a form. This is also the line of pure magic and—as you know—it can be either black or white. There are two modes of creative work: One mode is that which is implemented by seventh ray potency. This builds and creates within matter and within the periphery of the three worlds; it is exceedingly forceful when it is wielded through the medium of a seventh ray personality and a seventh ray physical body, as is the case with you. The other mode is that of the second ray, which is applied from without the three worlds and from soul levels; it works through radiation, magnetic appeal and coherent energy. Ponder on these two modes.

Trở lại từ việc xem xét công việc đến chính em, huynh đệ của Tôi và đệ tử của Tôi, Tôi có thể đưa điều gì đến sự chú ý của em để mang lại cho em sức mạnh và sự thấu hiểu? Vì đó là hai phẩm tính mà các đệ tử cần vào lúc này hơn hết thảy. Em có một tổ hợp thú vị của các năng lượng cung, với cung trật tự cho phép việc thiết lập [582] trên cõi hồng trần mối quan hệ giữa linh hồn và hình tướng đang chi phối em một cách mạnh mẽ. Năng lượng nổi trội này nên khiến công việc bên ngoài của em hữu hiệu trên cõi hồng trần, nếu em nhớ rằng về mặt nội môn, bản chất hình tướng là thể dĩ thái sinh lực, và thể này tự động cũng như dễ dàng tác động lên hiện thể có tổ chức hồng trần. Khi công việc của em không hữu hiệu, huynh đệ của Tôi, lý do là gì? Hãy lưu ý rằng quyền năng cung bảy này tập trung trong phàm ngã của em, và khi năng lượng linh hồn cung hai của em tràn vào vị trí nổi bật, hiệu quả ban đầu thường là phủ định hoạt động của phàm ngã. Điều này thường bị quên và gây bối rối nhiều nhất cho người sơ cơ trong các biểu hiện ban đầu của nó. Về sau, đệ tử học được qua thử nghiệm và kinh nghiệm rằng tất cả các cung đều là các cung phụ của cung hai vĩ đại. Về mặt lý thuyết, em biết điều này, nhưng điều đó khác với minh triết đến từ sự thấu hiểu như kết quả của hành động. Một khi sự kiện này được nắm bắt, em có thể bắt đầu sử dụng tất cả các mãnh lực trong trang bị của mình như những khí cụ của sự phụng sự đầy tình thương. Chính trong đó có bài học kỹ thuật chính yếu của em. Con đường ít trở ngại nhất của em là con đường thiết lập mối quan hệ với mục đích xây dựng một hình tướng. Đây cũng là con đường của huyền thuật thuần túy và—như em biết—nó có thể là hắc thuật hoặc Chánh Thuật. Có hai phương thức của công việc sáng tạo: Một phương thức là phương thức được thực hiện bởi quyền năng cung bảy. Phương thức này xây dựng và sáng tạo trong vật chất và trong chu vi của ba cõi thấp; nó cực kỳ mạnh mẽ khi được vận dụng qua trung gian của một phàm ngã cung bảy và một thể xác cung bảy, như trường hợp của em. Phương thức kia là phương thức của cung hai, được áp dụng từ bên ngoài ba cõi thấp và từ các cấp độ linh hồn; nó hoạt động qua sự bức xạ, sức hấp dẫn từ tính và năng lượng cố kết. Hãy suy ngẫm về hai phương thức này.

Through your ray energies, you are in a position to use both methods under the inspiration of the Ashram. The result should be most effective service and the steady growth of any work you may undertake for me and for the Ashram. You would find it useful to make a study of the relation of the second ray to the seventh, for there is a close creative reaction or impulsive interplay between the two, and one which you need to employ consciously. [583]

Thông qua các năng lượng cung của mình, em ở vào vị thế có thể sử dụng cả hai phương pháp dưới cảm hứng của Ashram. Kết quả nên là sự phụng sự hữu hiệu nhất và sự tăng trưởng đều đặn của bất cứ công việc nào em có thể đảm nhận cho Tôi và cho Ashram. Em sẽ thấy hữu ích khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cung hai và cung bảy, vì có một phản ứng sáng tạo gần gũi hay sự tương tác xung động giữa hai cung này, và đó là điều em cần vận dụng một cách hữu thức. [583]

It is not for nothing that eleven of the particular group of disciples with which you are associated in my Ashram have the seventh ray as the controlling agent of the physical vehicle, whilst thirteen are upon the second ray or have the second ray powerfully present in their equipment. The entire group has, therefore, within its ring-pass-not all that is required to make it effectively creative; this divine creativity will express itself when all of you in the group begin to study your rays from the angle of group service, and not so much from the angle of your own individual conditioning. Which of you investigates his ray equipment of energy from this standpoint? Do not the majority of you regard the subject much along the following lines: This ray in my equipment enables me to be and do thus, and so this ray complicates my life; this ray needs stronger emphasis in my life; such and such a ray gives me this or that quality or capacity. Disciples must learn to study the group equipment as a whole, and discover where a potency of which they may be the custodian can enrich the group life, enhance its effort and round out its presentation as a serving unit in the world of men. The responsibility of wielding force is a fact to be emphasised in the consciousness of all disciples; it will lead to a more deeply conscious and intelligent use of ray energy.

Không phải vô cớ mà mười một người trong nhóm đệ tử đặc biệt mà em liên hệ trong Ashram của Tôi có cung bảy làm tác nhân chi phối hiện thể xác, trong khi mười ba người thuộc cung hai hoặc có cung hai hiện diện mạnh mẽ trong trang bị của họ. Vì vậy, toàn thể nhóm có trong vòng-giới-hạn của mình tất cả những gì cần thiết để khiến nó sáng tạo một cách hữu hiệu; sự sáng tạo thiêng liêng này sẽ biểu lộ khi tất cả các em trong nhóm bắt đầu nghiên cứu các cung của mình từ góc độ phụng sự nhóm, chứ không quá nhiều từ góc độ sự tác động lên cá nhân riêng của mình. Ai trong các em khảo sát trang bị năng lượng cung của mình từ quan điểm này? Chẳng phải đa số các em xem xét đề tài ấy ít nhiều theo những đường hướng sau đây sao: Cung này trong trang bị của tôi cho phép tôi hiện hữu và hành động như thế này, và vì vậy cung này làm phức tạp đời sống của tôi; cung này cần được nhấn mạnh mạnh mẽ hơn trong đời sống của tôi; cung này hay cung kia đem lại cho tôi phẩm tính hoặc năng lực này hay năng lực nọ. Các đệ tử phải học nghiên cứu trang bị của nhóm như một toàn thể, và khám phá nơi nào một quyền năng mà họ có thể là người gìn giữ có thể làm phong phú đời sống nhóm, tăng cường nỗ lực của nhóm và làm trọn vẹn sự trình hiện của nhóm như một đơn vị phụng sự trong thế giới của con người. Trách nhiệm vận dụng mãnh lực là một sự kiện cần được nhấn mạnh trong tâm thức của mọi đệ tử; nó sẽ dẫn đến việc sử dụng năng lượng cung một cách hữu thức và thông minh sâu sắc hơn.

It is needless for me to outline for you any set meditation work. All in this group (unless expressly forbidden by me) are in a position, as a result of years of teaching and of practice, to control and regulate their meditative thought and reflection. For you, certain phrases should condition such thinking, and I will give you four which can be revolutionary in their effect upon you and of major importance in the moulding processes of your life:

Tôi không cần phác thảo cho em bất kỳ công việc tham thiền cố định nào. Tất cả trong nhóm này, trừ khi Tôi minh thị cấm, đều ở vào vị thế, nhờ nhiều năm giáo huấn và thực hành, để kiểm soát và điều chỉnh tư tưởng tham thiền và sự suy tư của mình. Đối với em, một số cụm từ nên tác động lên lối suy nghĩ ấy, và Tôi sẽ trao cho em bốn cụm từ có thể mang hiệu quả cách mạng đối với em và có tầm quan trọng lớn trong các tiến trình uốn nắn đời em:

1. Loving relationship.

1. Mối quan hệ đầy tình thương.

2. Conformity to the idea (not the ideal, my brother, for that is incidental).

2. Sự phù hợp với ý tưởng, không phải lý tưởng, huynh đệ của Tôi, vì lý tưởng chỉ là thứ yếu.

3. Perception of reality.

3. Sự tri nhận thực tại.

4. Creative manipulation.

4. Sự điều khiển sáng tạo.

These four phrases have in them the seed of all right service [584] and can be applied to your individual life theme in the home, in your business, in your work with the service of the Triangles, and in all your group undertakings. They govern, if you study them with care, the life of the Ashram—of all Ashrams. That life is one of inner and outer relationship, of sensitivity to the impression of the Hierarchy and the hierarchical idea at any given time, of correct perception of truth as it underlies relationship and impression, and of a true creative activity in the world of forces.

Bốn cụm từ này có trong chúng hạt giống của mọi sự phụng sự đúng đắn [584] và có thể được áp dụng vào chủ đề đời sống cá nhân của em trong gia đình, trong công việc kinh doanh, trong công việc của em với sự phụng sự các Tam Giác, và trong mọi công trình nhóm của em. Nếu em nghiên cứu chúng cẩn thận, chúng chi phối đời sống của Ashram—của mọi Ashram. Đời sống ấy là đời sống của mối quan hệ bên trong và bên ngoài, của sự nhạy bén đối với ấn tượng của Thánh Đoàn và ý tưởng thánh đoàn vào bất cứ thời điểm nào, của sự tri nhận đúng đắn chân lý khi nó nằm bên dưới mối quan hệ và ấn tượng, và của một hoạt động sáng tạo chân thực trong thế giới của các mãnh lực.

You are definitely penetrating closer to the heart of the Ashram and are now known there and recognised by the senior workers. This you have accomplished through the dynamic one-pointed energy of your emotional nature, which—fortunately for you—is balanced by your concrete mind. This is good and necessary, except when your mind wanders into the realm of criticism; this, however, happens far less than in years gone by. You have every cause for encouragement, my brother, and my blessing rests upon you. This thought of blessing has in it the idea of the transfer of spiritual energy.

Em đang rõ ràng thâm nhập gần hơn vào trái tim của Ashram và hiện nay được biết đến ở đó cũng như được các người hoạt động cao cấp công nhận. Em đã hoàn thành điều này thông qua năng lượng năng động nhất tâm của bản chất cảm xúc của em, điều—may mắn cho em—được cân bằng bởi trí cụ thể của em. Điều này tốt và cần thiết, ngoại trừ khi thể trí của em lang thang vào lãnh vực phê bình; tuy nhiên, điều này xảy ra ít hơn nhiều so với những năm đã qua. Huynh đệ của Tôi, em có mọi lý do để được khích lệ, và phúc lành của Tôi ở trên em. Tư tưởng phúc lành này có trong nó ý tưởng về sự chuyển dịch năng lượng tinh thần.

August 1946

Tháng Tám 1946

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

The past twelve months have been difficult for you in every aspect of your life but—what else can a disciple expect? The instructions I gave you last should have done much to carry you steadily forward, for an inner surety ever enables a disciple to surmount difficulties. The monotony of life itself, the cares of home and practice, the anxieties incident to the times and the constant sense of frustration have all contributed to what I might call your almost grim determination to stand steady in the light. Now comes the disbanding of the group, and a sense of failure which it naturally engenders.

Mười hai tháng vừa qua đã khó khăn đối với em trong mọi phương diện của đời sống, nhưng—một đệ tử còn có thể mong đợi điều gì khác? Những huấn thị Tôi trao cho em lần trước lẽ ra đã giúp em nhiều trong việc đều đặn tiến bước, vì một sự chắc chắn bên trong luôn giúp đệ tử vượt qua khó khăn. Sự đơn điệu của chính đời sống, những bận tâm của gia đình và công việc hành nghề, những lo âu gắn liền với thời cuộc và cảm giác thất vọng thường trực, tất cả đã góp phần tạo nên điều Tôi có thể gọi là quyết tâm gần như nghiệt ngã của em nhằm đứng vững trong ánh sáng. Giờ đây đến việc giải tán nhóm, và cảm giác thất bại mà điều đó tự nhiên gây ra.

I cannot too strongly urge upon you and upon all your group brothers the relative brevity of life. I say this not from the standpoint of the Christian ministry, which so frequently urges upon its members the remembrance of death, nor am I [585] referring to the imminent passing away of any of you in the group. I refer simply to physical plane living from the angle of the soul, who sees in it but a fleeting experience, leaving a residue of learning. Some particular life in some particular cycle may indeed be momentous and of outstanding importance, dignified by a reorientation, a decisive moving forward, the initiation of some service, the taking of some major initiation; but such lives are rare until somewhat late in the soul’s experience.

Tôi nhấn mạnh với em và với tất cả các huynh đệ trong nhóm của em về sự ngắn ngủi tương đối của đời sống bao nhiêu cũng không thừa. Tôi nói điều này không phải từ quan điểm của chức vụ mục sư Kitô giáo, vốn thường xuyên thúc giục các tín hữu nhớ đến cái chết, cũng không phải Tôi [585] đang nói đến sự ra đi sắp xảy ra của bất cứ ai trong nhóm các em. Tôi chỉ đơn giản nói đến đời sống trên cõi hồng trần từ góc độ của linh hồn, vốn thấy trong đó chỉ là một kinh nghiệm thoáng qua, để lại một phần lắng đọng của sự học hỏi. Một đời sống đặc biệt nào đó trong một chu kỳ đặc biệt nào đó quả thật có thể có tính hệ trọng và có tầm quan trọng nổi bật, được nâng cao bởi một sự tái định hướng, một bước tiến quyết định, sự khởi xướng một phụng sự nào đó, hoặc việc nhận một cuộc điểm đạo lớn nào đó; nhưng những đời sống như thế hiếm có cho đến khá muộn trong kinh nghiệm của linh hồn.

For you, this present life has two factors of prime importance: the working off and termination of karma in relation to some people, and secondly, the attainment of the control of your sixth ray astral body. You entered life as a disciple upon the verge of acceptance and upon the periphery of the Ashram, even though your consciousness registered it not; you will enter your next incarnation having advanced in discipleship, and will rapidly achieve consciousness of the fact. For the remainder of this life there is for you a beautifying of all experience, the conscious rendering of that service to others which obliterates karma, the widening of your point of view, particularly in the realm of healing, where you are as yet still somewhat controlled by your sixth ray idealism, and the increasing admission of your second ray energy so as to control your organising personality. Does this seem what you call a “tall order,” my brother? Forgive my use of slang, but it is oft curiously descriptive. If you study carefully what I say you will see that you are already doing all these things and that all that I am asking is an intensification of present action.

Đối với em, đời sống hiện tại này có hai yếu tố quan trọng bậc nhất: sự thanh toán và chấm dứt nghiệp quả liên quan đến một số người, và thứ hai, việc đạt được sự kiểm soát thể cảm dục cung sáu của em. Em bước vào đời sống như một đệ tử ở ngưỡng cửa được chấp nhận và ở chu vi của Ashram, dù tâm thức của em khi ấy không ghi nhận điều đó; em sẽ bước vào lần lâm phàm kế tiếp với sự tiến bộ trong địa vị đệ tử, và sẽ nhanh chóng đạt được tâm thức về sự kiện ấy. Đối với phần còn lại của đời này, dành cho em có việc làm đẹp mọi kinh nghiệm, việc hữu thức thực hiện sự phụng sự đối với người khác vốn xóa bỏ nghiệp quả, việc mở rộng quan điểm của em, đặc biệt trong lãnh vực chữa lành, nơi em cho đến nay vẫn còn phần nào chịu chi phối bởi chủ nghĩa lý tưởng cung sáu của mình, và việc ngày càng tiếp nhận năng lượng cung hai của em để kiểm soát phàm ngã tổ chức của em. Điều này có vẻ như điều em gọi là một “đòi hỏi quá cao” chăng, huynh đệ của Tôi? Hãy tha thứ cho việc Tôi dùng tiếng lóng, nhưng nó thường mô tả một cách lạ lùng chính xác. Nếu em nghiên cứu cẩn thận điều Tôi nói, em sẽ thấy rằng em đã đang làm tất cả những điều này rồi, và tất cả những gì Tôi yêu cầu chỉ là sự tăng cường hành động hiện tại.

I have therefore nothing spectacular or unusual to say to you today, and that in itself indicates much. You can be trusted to proceed as heretofore, but I would ask somewhat more.

Vì vậy, hôm nay Tôi không có điều gì ngoạn mục hay bất thường để nói với em, và chính điều đó tự nó đã chỉ ra nhiều điều. Em có thể được tin cậy để tiếp tục như trước, nhưng Tôi muốn yêu cầu thêm đôi chút.

I would ask you to undertake a special piece of work (of integrating work for me), and to do it in such a way that it does not become a formal service but a living process animated with purpose. I would ask you every Sunday to endeavour to contact the Ashram and myself (expecting no outer indication of success), and then—in my presence—name each [586] of the people in the groups of nine and in the new seed group, as well as the three other people who have been in receipt of “the Ashram papers,” the Fourteen Rules for Disciples and Initiates.

Tôi muốn em đảm nhận một công việc đặc biệt, một công việc tích hợp cho Tôi, và làm nó theo cách sao cho nó không trở thành một sự phụng sự hình thức mà là một tiến trình sống động được mục đích tiếp sinh lực. Tôi muốn em mỗi Chủ nhật cố gắng tiếp xúc với Ashram và với Tôi, không mong đợi bất cứ dấu hiệu bên ngoài nào của thành công, rồi—trong sự hiện diện của Tôi—hãy nêu tên từng [586] người trong các nhóm chín người và trong nhóm hạt giống mới, cũng như ba người khác đã nhận được “các bài viết của Ashram”, Mười Bốn Quy Luật cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ.

This will take some time, as there have been many. It will be like picking up a linking thread and tracing it to the Ashram, thereby definitely strengthening the inner link. Even those who have passed on should be mentioned, for they are still active in the service of the Ashram. I give you this task because of your trained persistence and because of your seventh ray ability to link the world of form with the world of spiritual reality.

Việc này sẽ mất một ít thời gian, vì đã có nhiều người. Nó sẽ giống như nhặt lấy một sợi dây liên kết và lần theo nó về Ashram, nhờ đó củng cố rõ rệt mối liên kết bên trong. Ngay cả những người đã qua đời cũng nên được nhắc đến, vì họ vẫn hoạt động trong sự phụng sự Ashram. Tôi giao cho em nhiệm vụ này vì sự kiên trì đã được rèn luyện của em và vì khả năng cung bảy của em trong việc liên kết thế giới hình tướng với thế giới thực tại tinh thần.

I have no fears for you, my brother. You are a sound and self-directing disciple. My care and attention, when you need me, are always available. When need arises you can seek my aid—your Master, friend and teacher—remembering that it will take you at least seven days to reach me. Ask A.A.B. to tell you why. But reach me you can.

Huynh đệ của Tôi, Tôi không lo ngại cho em. Em là một đệ tử lành mạnh và tự định hướng. Sự chăm sóc và chú ý của Tôi, khi em cần đến Tôi, luôn sẵn có. Khi nhu cầu phát sinh, em có thể tìm sự trợ giúp của Tôi—Chân sư, bạn hữu và huấn sư của em—hãy nhớ rằng em sẽ cần ít nhất bảy ngày để đến được với Tôi. Hãy hỏi A.A.B. cho em biết vì sao. Nhưng em có thể đến được với Tôi.

November 1948

Tháng Mười Một 1948

MY FRIEND AND BROTHER:

BẠN CỦA TÔI VÀ HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I have registered and then recorded on your ashramic chart your strong and constant effort to fulfil requirements as I have presented them to you in my last two communications. Particularly have you—in this incarnation—mastered the lesson of occult obedience. Have you ever realised that occult obedience—correctly understood and applied—is the royal route through the astral plane, particularly in connection with glamour and with sixth ray tendencies, to the very heart of the Hierarchy? People are apt to regard obedience as the carrying out of rules and orders, imposed upon them by some authoritative source. This, as you well, know is not the case in any true hierarchical training. Obedience, for the disciple, is a quick spiritual reaction to the Plan as it emanates from the Hierarchy, rapid and correct sensitive registration of the quality of the Ashram with which he may be affiliated and a consequent and in time almost automatic undertaking (with speed) the required task. It is a task which [587] the disciple assigns to himself and is not one ordered by the Master. The acceptance of the task is simply evidence that the disciple is an ashramic worker, pledged to the welfare of humanity.

Tôi đã ghi nhận và rồi ghi lại trên biểu đồ ashram của em nỗ lực mạnh mẽ và liên tục của em nhằm hoàn thành những yêu cầu như Tôi đã trình bày với em trong hai thông điệp gần nhất của Tôi. Đặc biệt, em—trong lần lâm phàm này—đã làm chủ bài học về sự vâng phục huyền môn. Em đã bao giờ nhận ra rằng sự vâng phục huyền môn—khi được hiểu và áp dụng đúng đắn—là con đường vương giả xuyên qua cõi cảm dục, đặc biệt liên quan đến ảo cảm và các khuynh hướng cung sáu, đến tận trái tim của Thánh Đoàn chưa? Người ta thường xem sự vâng phục là việc thi hành các quy luật và mệnh lệnh do một nguồn có thẩm quyền nào đó áp đặt lên họ. Như em biết rõ, điều này không đúng trong bất kỳ sự huấn luyện thánh đoàn chân thực nào. Đối với đệ tử, sự vâng phục là một phản ứng tinh thần nhanh chóng đối với Thiên Cơ khi nó xuất lộ từ Thánh Đoàn, là sự ghi nhận nhạy bén, mau lẹ và đúng đắn phẩm tính của Ashram mà y có thể liên kết, và do đó, theo thời gian, gần như tự động đảm nhận, với tốc độ, nhiệm vụ được yêu cầu. Đó là một nhiệm vụ [587] mà đệ tử tự giao cho mình và không phải là một nhiệm vụ do Chân sư ra lệnh. Sự chấp nhận nhiệm vụ đơn giản là bằng chứng rằng đệ tử là một người hoạt động trong ashram, đã cam kết với phúc lợi của nhân loại.

You are, as I feel sure you know, in process of shifting your entire polarisation in preparation for your next incarnation. When that comes, you will renew your service with a first ray astral body, provided, of course, you have in this life reduced the usually obdurate sixth ray tendencies and are controlling them. This you are doing with real success and I have no question in my mind as to your ultimate success.

Như Tôi chắc em biết, em đang trong tiến trình chuyển dịch toàn bộ sự phân cực của mình để chuẩn bị cho lần lâm phàm kế tiếp. Khi lần ấy đến, em sẽ đổi mới sự phụng sự của mình với một thể cảm dục cung một, dĩ nhiên với điều kiện trong đời này em đã giảm thiểu và đang kiểm soát các khuynh hướng cung sáu thường rất ngoan cố. Em đang làm điều này với thành công thật sự, và trong trí Tôi không có chút nghi vấn nào về thành công cuối cùng của em.

I seek to change your rhythm of work. I asked you—as you know—each Sunday to have in mind all the members of the personal group with whom I have worked with the aid of A.A.B. Did you realise, as you carried out my request, that I was seeking the aid of your one-pointed attitude to reality? Or that I needed the assistance of some of the disciples in my Ashram in producing a consolidation and integration within the Ashram itself? It is a new Ashram; there are only three as new as is this one. I realised that it needed a more closely knit relationship within the ashramic aura of some of its members; such a relation is brought about by the construction of the needed thoughtform. I would recall to you and to your group brothers that an Ashram is in reality a dynamic spiritual thoughtform, vitalised by the Master of the Ashram and by the initiates and disciples associated with it. The initial structure and consolidation is now concluded and I can assign other work to you.

Tôi tìm cách thay đổi nhịp điệu công việc của em. Như em biết, Tôi đã yêu cầu em mỗi Chủ nhật giữ trong trí tất cả các thành viên của nhóm cá nhân mà Tôi đã làm việc với sự trợ giúp của A.A.B. Khi thực hiện yêu cầu của Tôi, em có nhận ra rằng Tôi đang tìm kiếm sự trợ giúp từ thái độ nhất tâm của em đối với thực tại không? Hay rằng Tôi cần sự hỗ trợ của một số đệ tử trong Ashram của Tôi để tạo ra một sự củng cố và tích hợp bên trong chính Ashram? Đây là một Ashram mới; chỉ có ba Ashram khác mới như Ashram này. Tôi nhận ra rằng nó cần một mối quan hệ được đan kết chặt chẽ hơn trong hào quang ashram của một số thành viên; một mối quan hệ như thế được tạo ra bằng việc xây dựng hình tư tưởng cần thiết. Tôi muốn nhắc em và các huynh đệ trong nhóm của em rằng một Ashram trên thực tế là một hình tư tưởng tinh thần năng động, được Chân sư của Ashram cùng các điểm đạo đồ và đệ tử liên hệ với nó tiếp sinh lực. Cấu trúc và sự củng cố ban đầu hiện đã hoàn tất, và Tôi có thể giao công việc khác cho em.

Your work must now be more closely related to the Christ. I refer not here solely to the preparation work in which you must all be engaged; I refer specifically to the Christ Himself, as a living Individual, attentive to the reactions of disciples who possess sufficient strength of purpose, clarity of intention and dedication to enable them to touch the periphery of His aura (referred to in The New Testament as “the hem of His garment”). By this statement I do not mean the aura of the Hierarchy. You are all of you already sensitive to that to a greater or less degree, for His quality impregnated the entire aura of the Hierarchy. I [588] mean His individual aura. A disciple has “the freedom of the Hierarchy” (as it is called) and can now make this attempt to reach within the individual aura of the Christ; success is entirely dependent upon the disciple’s persistent but non-fanatic (or do I mean frantic, brother of mine?) and selfless effort. Make this attempt each morning for just five minutes, but not for a longer period. I can in this case give you no instructions; you will eventually find your way alone, as must all disciples. Those who are seeking to attain the degree of Master have—at some definite stage of their training—to make this attempt. A line of contact must eventually be built, and those of you who are now disciples in my Ashram can begin to make the needed effort. It will bring its own difficulties, such as over-stimulation and the arousing of glamour but—if you are watchful and alert—you can soon become aware of it.

Công việc của em giờ đây phải được liên hệ mật thiết hơn với Đức Christ. Ở đây, Tôi không chỉ nói đến công việc chuẩn bị mà tất cả các em phải tham gia; Tôi nói cụ thể đến chính Đức Christ, với tư cách một Cá Nhân sống động, lưu tâm đến các phản ứng của những đệ tử có đủ sức mạnh mục đích, sự rõ ràng của ý định và sự hiến dâng để giúp họ chạm đến chu vi hào quang của Ngài, điều được gọi trong Tân Ước là “gấu áo của Ngài”. Bằng tuyên bố này, Tôi không có ý nói đến hào quang của Thánh Đoàn. Tất cả các em đều đã nhạy bén với điều đó ở mức độ nhiều hay ít, vì phẩm tính của Ngài đã thấm nhuần toàn bộ hào quang của Thánh Đoàn. Tôi [588] muốn nói đến hào quang cá nhân của Ngài. Một đệ tử có “sự tự do của Thánh Đoàn”, như người ta gọi, và giờ đây có thể thực hiện nỗ lực này để vươn vào trong hào quang cá nhân của Đức Christ; thành công hoàn toàn tùy thuộc vào nỗ lực bền bỉ nhưng không cuồng tín, hay Tôi nên nói là không cuống cuồng chăng, huynh đệ của Tôi, và vô ngã của đệ tử. Hãy thực hiện nỗ lực này mỗi sáng chỉ trong năm phút, nhưng không lâu hơn. Trong trường hợp này, Tôi không thể trao cho em huấn thị nào; cuối cùng em sẽ tự tìm thấy con đường của mình, như mọi đệ tử đều phải làm. Những ai đang tìm cách đạt đến cấp bậc Chân sư, ở một giai đoạn xác định nào đó trong sự huấn luyện của họ, phải thực hiện nỗ lực này. Cuối cùng phải xây dựng một tuyến tiếp xúc, và những em hiện là đệ tử trong Ashram của Tôi có thể bắt đầu thực hiện nỗ lực cần thiết. Nó sẽ đem lại những khó khăn riêng, chẳng hạn như sự kích thích quá mức và sự khơi dậy ảo cảm, nhưng—nếu em tỉnh thức và bén nhạy—em có thể sớm nhận biết điều đó.

This must suffice for today, my loyal friend and brother. There is much to do. Proceed with the work to be done, following the light which is in you and which will increasingly generate more light.

Điều này phải đủ cho hôm nay, người bạn và huynh đệ trung thành của Tôi. Có nhiều việc phải làm. Hãy tiếp tục công việc cần làm, theo ánh sáng đang ở trong em và ánh sáng ấy sẽ ngày càng tạo sinh thêm ánh sáng.

To J. W. K-P. – Gửi J. W. K-P.

August 1940

Tháng Tám 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I have not much to say to you at this time and the reason thereof you know. Let not the pressure of work at this time and world strain overcome you in any way.

Vào lúc này, Tôi không có nhiều điều để nói với em, và lý do của điều đó em biết. Đừng để áp lực công việc vào lúc này và sự căng thẳng của thế giới khuất phục em theo bất cứ cách nào.

The task of world reconstruction still lies ahead but the disciples in the world and the dedicated groups can begin to take the needed steps of preparation. The reconstruction must begin in the place where the disciple at this time finds himself, and this will involve on a small and relatively unimportant scale the same processes, the same eliminations and changes, the same discriminative idealism and the same conformity to the new emerging pattern as will be required in world reconstruction. I would ask you to ponder on this, for [589] all disciples throughout the world can begin to prepare themselves for increased future activity.

Nhiệm vụ tái thiết thế giới vẫn còn ở phía trước, nhưng các đệ tử trong thế giới và các nhóm đã hiến dâng có thể bắt đầu thực hiện những bước chuẩn bị cần thiết. Công cuộc tái thiết phải bắt đầu tại nơi mà đệ tử hiện đang ở, và điều này sẽ bao hàm, trên một quy mô nhỏ và tương đối không quan trọng, cùng những tiến trình, cùng những sự loại bỏ và thay đổi, cùng chủ nghĩa lý tưởng có phân biện và cùng sự phù hợp với mô hình mới đang xuất hiện như sẽ được đòi hỏi trong công cuộc tái thiết thế giới. Tôi muốn em suy ngẫm về điều này, vì [589] mọi đệ tử trên khắp thế giới đều có thể bắt đầu chuẩn bị bản thân cho hoạt động tương lai gia tăng.

There are three outstanding aspects of the new age pattern which must be borne in mind:

Có ba phương diện nổi bật của mô hình kỷ nguyên mới cần được ghi nhớ:

1. The aspect of healing. I would express it thus, for humanity will take much patient care before the shock and the pain of the present has been transmuted into gained experience and understanding. Compassionate lovers of humanity can do this healing work.

1. Phương diện chữa lành. Tôi muốn diễn đạt như thế, vì nhân loại sẽ cần nhiều sự chăm sóc kiên nhẫn trước khi cú sốc và nỗi đau của hiện tại được chuyển hoá thành kinh nghiệm và sự thấu hiểu thu đạt. Những người yêu thương nhân loại một cách từ bi có thể làm công việc chữa lành này.

2. The aspect of clarification. The bewilderment of humanity as a whole requires recognition by the forces of reconstruction. Time and effort must be given to clear explanation and to the pointing out of the law of cause and effect. Trained interpreters are required.

2. Phương diện làm sáng tỏ. Sự hoang mang của toàn thể nhân loại đòi hỏi các mãnh lực tái thiết phải nhận biết. Phải dành thời gian và nỗ lực cho sự giải thích rõ ràng và cho việc chỉ ra định luật nhân quả. Cần có những người diễn giải đã được huấn luyện.

3. The aspect of reorganisation. Rebuilding is needed and this will require a dedicated, spiritual insight. The New Age will not be ushered in and find true expression of its latent energies through the medium of old and patched up forms, or through the preservation of ancient techniques and attitudes. It will come into being through entirely new forms and by means of the intelligent discarding of old modes of religion, government and economic and social idealisms. The need for sensitive intermediaries who can sense the new emerging realities and can take the needed constructive steps is great. They must create the forms which these subjective ideas must utilise. I make these few suggestions to aid you and other workers in the task of reorganisation by indicating the type of worker needed today in the world, and much needed in the task you are seeking to do for humanity and incidentally for Us.

3. Phương diện tái tổ chức. Cần có sự tái xây dựng, và điều này sẽ đòi hỏi một minh sát tinh thần đã hiến dâng. Kỷ Nguyên Mới sẽ không được khai mở và không tìm thấy sự biểu lộ chân thực của các năng lượng tiềm tàng của nó thông qua các hình tướng cũ kỹ và được vá víu, hay thông qua việc bảo tồn các kỹ thuật và thái độ cổ xưa. Nó sẽ đi vào hiện hữu thông qua những hình tướng hoàn toàn mới và bằng việc thông minh loại bỏ các phương thức cũ của tôn giáo, chính quyền và các chủ nghĩa lý tưởng kinh tế, xã hội. Nhu cầu về những trung gian nhạy bén, có thể cảm nhận các thực tại mới đang xuất hiện và có thể thực hiện các bước xây dựng cần thiết, là rất lớn. Họ phải tạo ra những hình tướng mà các ý tưởng nội giới này phải sử dụng. Tôi đưa ra vài gợi ý này để trợ giúp em và những người hoạt động khác trong nhiệm vụ tái tổ chức bằng cách chỉ ra kiểu người hoạt động cần thiết ngày nay trong thế giới, và rất cần thiết trong nhiệm vụ mà em đang tìm cách thực hiện cho nhân loại và, qua đó cũng cho Chúng Tôi.

Sound business methods must distinguish the physical plane aspects of the revitalised organisations for which you are responsible; a potent note of love and understanding must express the desire and sensitive subjective aspects of the active working group. Intelligent adaptability should be the mental note. These things I think you already know and I reiterate them not merely to emphasise them in your consciousness but also to weld the efforts of your group brothers [590] in the same united determination which will render them active cooperators in the plans laid down by Us for the helping of the world.

Những phương pháp kinh doanh lành mạnh phải là đặc trưng của các phương diện trên cõi hồng trần của những tổ chức được hồi sinh mà em chịu trách nhiệm; một âm điệu mạnh mẽ của tình thương và sự thấu hiểu phải biểu lộ các phương diện khát vọng và nội giới nhạy bén của nhóm hoạt động tích cực. Sự thích ứng thông minh nên là âm điệu trí tuệ. Tôi nghĩ em đã biết những điều này, và Tôi nhắc lại chúng không chỉ để nhấn mạnh chúng trong tâm thức của em mà còn để gắn kết những nỗ lực của các huynh đệ trong nhóm của em [590] trong cùng một quyết tâm hợp nhất, điều sẽ khiến họ trở thành những người cộng tác tích cực trong các kế hoạch do Chúng Tôi đặt ra nhằm trợ giúp thế giới.

It is always difficult for the disciple who is working in the world of human affairs to strike the happy medium between sound physical plane techniques in expression and the measure of the vision which he sees; it is never easy to adapt and to relate the old to the new, thus producing that which the present requires. The task of the disciple, as you can see from the three words—old, new and present—is therefore primarily concerned with Time. This right comprehension of the time element requires the eye of vision, plus right interpretation of that which it sees. For this purpose I would give you a meditation based on sight and its suitability for your particular need will, I think, be immediately apparent. I make it very brief, for long meditations (reduced to form) are not adapted to your nature.

Đối với đệ tử đang làm việc trong thế giới các sự việc của con người, luôn khó đạt được trung đạo hài hòa giữa các kỹ thuật lành mạnh trên cõi hồng trần trong sự biểu lộ và mức độ tầm nhìn mà y thấy; không bao giờ dễ thích ứng và liên hệ cái cũ với cái mới, nhờ đó tạo ra điều mà hiện tại đòi hỏi. Vì vậy, nhiệm vụ của đệ tử, như em có thể thấy từ ba từ—cũ, mới và hiện tại—trước hết liên quan đến Thời Gian. Sự lĩnh hội đúng đắn về yếu tố thời gian này đòi hỏi con mắt của tầm nhìn, cộng với sự diễn giải đúng đắn về điều nó thấy. Vì mục đích này, Tôi muốn trao cho em một bài tham thiền dựa trên thị giác, và Tôi nghĩ sự thích hợp của nó đối với nhu cầu đặc biệt của em sẽ lập tức rõ ràng. Tôi làm cho nó rất ngắn, vì các bài tham thiền dài, được rút thành hình thức, không thích hợp với bản chất của em.

1. Sound the OM three times, withdrawing your consciousness as you do so to the ajna centre between the eyebrows. Hold it steadily there.

1. Xướng linh từ OM ba lần, trong khi làm như vậy hãy rút tâm thức của em về trung tâm ajna giữa hai lông mày. Giữ nó vững vàng ở đó.

2. Then look forth imaginatively in three directions:

2. Rồi hãy nhìn ra bằng sự tưởng tượng theo ba hướng:

a. Upward to the world of the soul, to the kingdom of God and to the Hierarchy. Seek as you do this to link up definitely with your own Master, of Whom I am, with His permission, at this time the chosen representative.

a. Hướng lên đến thế giới của linh hồn, đến Thiên Giới và đến Thánh Đoàn. Khi làm điều này, hãy tìm cách liên kết một cách xác định với chính Chân sư của em, mà với sự cho phép của Ngài, Tôi hiện là đại diện được chọn.

b. Inward to the world of men, seeking to contact the subjective world of human thought and aspiration—the world of ideals and of human aspirational vision.

b. Hướng vào trong đến thế giới của con người, tìm cách tiếp xúc với thế giới nội giới của tư tưởng và khát vọng nhân loại—thế giới của các lý tưởng và của tầm nhìn khát vọng nhân loại.

c. Outward over the world of events, over the exoteric objective world of tangible happenings.

c. Hướng ra ngoài trên thế giới các biến cố, trên thế giới ngoại giới ngoại môn của những sự kiện hữu hình.

3. Still holding the consciousness in the ajna centre express to yourself in definitely formulated thought, the duty of the day in the light of this triple interrelation.

3. Vẫn giữ tâm thức trong trung tâm ajna, hãy diễn đạt với chính mình, bằng tư tưởng được hình thành rõ rệt, bổn phận của ngày trong ánh sáng của mối tương quan tam phân này.

4. Then focussing the light that is in you, send out the dedicated energy of your personality into the sphere of your chosen work through the medium of your left [591] eye and the potent energy of your soul through the right eye. This will prove potent in effect.

4. Rồi, tập trung ánh sáng ở trong em, hãy phóng ra năng lượng đã hiến dâng của phàm ngã em vào phạm vi công việc em đã chọn qua trung gian của mắt trái của em [591] và năng lượng mạnh mẽ của linh hồn em qua mắt phải. Điều này sẽ chứng tỏ có hiệu quả mạnh mẽ.

5. Then—as a soul—draw from the realm of soul life a fresh supply of soul energy and concentrate it in the head and heart, holding it steadily there for use during the day’s work.

5. Rồi—với tư cách là một linh hồn—hãy rút từ cõi sự sống linh hồn một nguồn cung cấp mới mẻ của năng lượng linh hồn và tập trung nó trong đầu và tim, giữ nó vững vàng ở đó để dùng trong công việc của ngày.

6. Sound the OM three times inaudibly.

6. Xướng linh từ OM ba lần, không thành tiếng.

This should only take a few minutes but it must be done dynamically and with full control over thought and activity.

Việc này chỉ nên mất vài phút, nhưng phải được thực hiện một cách năng động và với sự kiểm soát hoàn toàn đối với tư tưởng và hoạt động.

My blessing rests upon you.

Phúc lành của Tôi ở trên em.

August 1942

Tháng Tám 1942

1. Hold in your hand the thread of all my outer work and hold it there for me.

1. Hãy nắm trong tay em sợi dây của mọi công việc bên ngoài của Tôi và giữ nó ở đó cho Tôi.

2. The symbols of the hands and feet hold a secret that you need.

2. Các biểu tượng của bàn tay và bàn chân chứa một bí mật mà em cần.

3. Your Master says this word to you and through my lips: You know the point achieved. Move on.

3. Chân sư của em nói lời này với em và qua môi Tôi: Em biết điểm đã đạt được. Hãy tiến tới.

4. Three groups there are which you must aid and fuse them into one. And this upon the inner side.

4. Có ba nhóm mà em phải trợ giúp và dung hợp chúng thành một. Và điều này ở phía bên trong.

5. Joy comes through pain and not alone through strength achieved or in the service wrought. It takes all three. These three you have.

5. Sự hoan hỉ đến qua đau khổ chứ không chỉ qua sức mạnh đã đạt được hay trong sự phụng sự đã thực hiện. Cần cả ba. Ba điều này em đều có.

6. The gift of play must come to you, my brother. Play upon the earth and play in the hidden place and sport yourself within the playground of the Gods.

6. Huynh đệ của Tôi, năng khiếu vui chơi phải đến với em. Hãy vui chơi trên Trái Đất và vui chơi nơi chốn ẩn mật, và hãy nô đùa trong sân chơi của các Thượng đế.

September 1943

Tháng Chín 1943

MY BROTHER, FRIEND AND CO-WORKER:

HUYNH ĐỆ, BẠN HỮU VÀ ĐỒNG SỰ CỦA TÔI:

Have you lately read the statement which I gave you in my previous instruction? It carries for you your instructions for the future and gives you—as you now read it—far more of teaching value than it did a year ago. These instructions still hold good. You have had a most difficult year, my brother, and those of us who are working with all of you on the inner side are not unmindful of it…. [592]

Gần đây em đã đọc lại lời tuyên bố mà Tôi đã trao cho em trong huấn thị trước chưa? Nó chứa đựng cho em những huấn thị cho tương lai và—khi em đọc nó lúc này—nó đem lại cho em giá trị giáo huấn nhiều hơn so với một năm trước. Những huấn thị này vẫn còn hiệu lực. Huynh đệ của Tôi, em đã trải qua một năm hết sức khó khăn, và những ai trong chúng tôi đang làm việc với tất cả các em ở phía bên trong đều không quên điều đó…. [592]

The work, planned and outlined by me during past years, has been largely at a standstill. But what did you expect, my brother? There is one point which you have perhaps failed to grasp, but which is to me a source of continual joy and satisfaction. The work of the Goodwill movement has been so eminently and essentially successful that today it demonstrates in the form of a myriad plans for post-war helpfulness, in the form of thousands of groups and of millions of well-intentioned people, forward-looking and kind, of all races and nationalities, who are preparing to do their share in salvaging humanity and in re-establishing (on sounder and better lines) the needed security and happiness. I refer not here to the work done by all of you since I published my first pamphlet, The New Group of World Servers, in 1932. That was only a part of the larger effort. I refer to the outpouring of the Christ consciousness and the spirit of love upon the world. This was initiated in 1825, and brought about the major welfare movements, led to the organisation of the groups which wrought for human betterment, aided in the founding of the labour movements which were founded on right motive, inspired educational processes, philanthropic enterprises and the great medical expansions, and which today is seeping into world government and beginning to condition all the plans for world peace and international relations. Success is assured, though movements may progress slowly….

Công việc do Tôi hoạch định và phác thảo trong những năm qua phần lớn đã ở trong tình trạng đình trệ. Nhưng em đã trông đợi điều gì, huynh đệ của Tôi? Có một điểm mà có lẽ em đã không nắm bắt được, nhưng đối với Tôi đó là nguồn hoan hỉ và thỏa mãn liên tục. Công việc của phong trào Thiện chí đã thành công nổi bật và về căn bản đến mức ngày nay nó biểu hiện dưới hình thức vô số kế hoạch nhằm trợ giúp sau chiến tranh, dưới hình thức hàng ngàn nhóm và hàng triệu người thiện chí, hướng về tương lai và nhân ái, thuộc mọi chủng tộc và quốc tịch, đang chuẩn bị góp phần của họ vào việc cứu vớt nhân loại và tái lập—trên những đường hướng lành mạnh hơn và tốt đẹp hơn—sự an toàn và hạnh phúc cần thiết. Ở đây Tôi không nói đến công việc mà tất cả các em đã làm kể từ khi Tôi xuất bản tập sách nhỏ đầu tiên của Tôi, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, vào năm 1932. Đó chỉ là một phần của nỗ lực lớn hơn. Tôi nói đến lần tuôn đổ của tâm thức Đức Christ và tinh thần bác ái xuống thế giới. Điều này đã được khởi xướng vào năm 1825, và đã đem lại các phong trào phúc lợi chủ yếu, dẫn đến việc tổ chức các nhóm hoạt động cho sự cải thiện nhân loại, trợ giúp việc thành lập các phong trào lao động vốn được đặt nền trên động cơ đúng đắn, truyền cảm hứng cho các tiến trình giáo dục, các công cuộc bác ái và những mở rộng lớn lao trong y học, và ngày nay đang thấm vào chính quyền thế giới, bắt đầu tác động lên mọi kế hoạch cho hòa bình thế giới và các quan hệ quốc tế. Thành công đã được bảo đảm, dù các phong trào có thể tiến triển chậm chạp….

It is the massed endeavour which will release humanity in the coming cycle. You have worked better than you know or care; you are and can increasingly be a channel, for the simplicity of the first ray type of person is a terrific potency. Use it, my brother, free from isolation. It is ever easier for a first ray worker to proceed alone upon the way of his decision, but I would suggest that you work in closer cooperation with your fellow disciples. It is essential now that the projected work receive an intensification of vitality, that it should expand through the potency of its innate life, and that there should be a strengthening of the integral parts already built. It is of immediate importance that each cooperating server should be fired with a new and fresh enthusiasm, [593] and should get the picture of the world-wide scope of the desired plan.

Chính nỗ lực tập thể sẽ giải phóng nhân loại trong chu kỳ sắp tới. Em đã làm việc tốt hơn em biết hoặc quan tâm; em là và ngày càng có thể là một vận hà, bởi sự đơn giản của người thuộc cung một là một quyền năng ghê gớm. Hãy sử dụng nó, huynh đệ của Tôi, thoát khỏi sự cô lập. Đối với một người hoạt động cung một, bao giờ cũng dễ dàng hơn khi một mình tiến bước trên con đường do quyết định của y, nhưng Tôi muốn đề nghị em làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ hơn với các đệ tử đồng môn của em. Nay điều thiết yếu là công việc đã được phóng chiếu phải nhận được sự tăng cường sinh lực, phải mở rộng qua quyền năng của sự sống nội tại của nó, và phải có sự củng cố các phần hợp thành đã được xây dựng. Điều quan trọng tức thời là mỗi người phụng sự hợp tác phải được thắp lên bằng một nhiệt tâm mới mẻ và tươi mới, [593] và phải nắm được bức tranh về phạm vi toàn cầu của Thiên Cơ được mong muốn.

I suggest that the emphasis during the coming year be laid upon the objective aspect. The subjective quality has been presented, and this has been right because the subjective aspect of any form of expression must be living and expanding if the objective form is to take its place in world phenomena with power and usefulness. The potentialities of organised services for the spiritual strengthening of the world of men, the technique of their growth and the processes of their development—individual, group, and eventually a veritable network of interrelated groups—should now be elaborated. The more subjective work, emphasising the spiritual growth of humanity along the lines of the new approach to divinity has, as you can see, a definite relation to the new world religion and can eventually be focussed around the various full moons.

Tôi đề nghị rằng trong năm sắp tới, trọng tâm nên được đặt vào phương diện ngoại giới. Phẩm tính nội giới đã được trình bày, và điều này là đúng, bởi phương diện nội giới của bất cứ hình thức biểu đạt nào cũng phải sống động và mở rộng nếu hình tướng ngoại giới phải đảm nhận vị trí của nó trong các hiện tượng thế giới với quyền năng và sự hữu dụng. Nay cần khai triển các tiềm năng của những hình thức phụng sự có tổ chức nhằm củng cố tinh thần cho thế giới con người, kỹ thuật tăng trưởng của chúng và các tiến trình phát triển của chúng—cá nhân, nhóm, và cuối cùng là một mạng lưới thật sự của các nhóm tương liên. Công việc nội giới hơn, nhấn mạnh sự tăng trưởng tinh thần của nhân loại theo các đường hướng của cách tiếp cận mới đối với thiên tính, như em có thể thấy, có một mối liên hệ rõ rệt với tôn giáo thế giới mới và cuối cùng có thể được tập trung quanh các kỳ trăng tròn khác nhau.

In the coming year let “joy be your strength.” This is only possible when power, will and strength are blended with love, wisdom and skill in action and speech. My strength is yours, and the overshadowing care of your own Master rests ever on you.

Trong năm sắp tới, hãy để “sự hoan hỉ là sức mạnh của em.” Điều này chỉ có thể có khi quyền năng, ý chí và sức mạnh được hòa trộn với tình thương, minh triết và kỹ năng trong hành động và lời nói. Sức mạnh của Tôi là của em, và sự chăm sóc phủ bóng của chính Chân sư em luôn ở trên em.

August 1946

Tháng Tám 1946

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

(And I mean this in its fullest sense.) I start this instruction for you with two statements: First of all, in the discussion of the work which I undertook in 1919 and upon which I reported to the Hierarchy—the twenty years of work and the six years of that work during the war—your name necessarily came up as did that of your fellow disciples. The discussion was between the Master Morya (your Master), the Master K.H., and Master R. in whose hands lies the rehabilitation of Europe, and myself. The comment made by your Master was, “I am genuinely satisfied with him. A life of selflessness has fitted him for world-wide humanitarian work for the remainder of this life and the next.”

(Và Tôi muốn nói điều này theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó.) Tôi bắt đầu huấn thị này dành cho em bằng hai lời tuyên bố: Trước hết, trong cuộc thảo luận về công việc mà Tôi đảm nhận vào năm 1919 và về đó Tôi đã báo cáo với Thánh Đoàn—hai mươi năm làm việc và sáu năm của công việc ấy trong thời chiến—tên của em tất yếu đã được nêu lên, cũng như tên của các đệ tử đồng môn của em. Cuộc thảo luận diễn ra giữa Chân sư Morya—Chân sư của em—Chân sư K.H., Chân sư R., trong tay Ngài là việc phục hồi châu Âu, và chính Tôi. Lời nhận xét của Chân sư em là: “Tôi thật sự hài lòng về y. Một đời sống vị tha đã chuẩn bị y cho công việc nhân đạo trên toàn thế giới trong phần còn lại của kiếp sống này và kiếp kế tiếp.”

The second statement I wish to make is that—given life [594] and health—you face a period of service unprecedented in your experience. I have watched your development during fifteen years since you passed into my Ashram to get the training which will enable you later to take a position in the Ashram of your own Master—a position similar to that of A.A.B. in the Ashram of K.H. You have learnt rapidly and moved fast, and it is only right and just that you should know it. You have certain difficulties to overcome in the use of first ray energy, and any mistakes you may have made in harsh judgements and in its physical expression in speech are simply incidental to the learning of the right use of soul energy. This is your immediate problem.

Lời tuyên bố thứ hai Tôi muốn đưa ra là—nếu còn sự sống [594] và sức khỏe—em đang đối diện với một thời kỳ phụng sự chưa từng có trong kinh nghiệm của em. Tôi đã theo dõi sự phát triển của em trong mười lăm năm kể từ khi em bước vào Ashram của Tôi để nhận sự huấn luyện, điều sẽ cho phép em về sau đảm nhận một vị trí trong Ashram của chính Chân sư em—một vị trí tương tự vị trí của A.A.B. trong Ashram của Chân sư K.H. Em đã học nhanh và tiến nhanh, và việc em nên biết điều đó là đúng đắn và công bằng. Em có những khó khăn nhất định cần vượt qua trong việc sử dụng năng lượng cung một, và bất cứ lỗi lầm nào em có thể đã phạm trong các phán đoán khắc nghiệt và trong sự biểu hiện hồng trần của nó qua lời nói chỉ là những điều đi kèm với việc học sử dụng đúng đắn năng lượng linh hồn. Đây là vấn đề trước mắt của em.

Every time that first ray energy pours through you it leads to a trifling or a true crisis in your relationships with others. You need to acquire a more general and genuine liking (as a means to understanding) of your fellowmen, particularly of those who are your co-workers in my work. When the time arrives this development will pay you good dividends if your fellow students welcome your leadership. They are prepared to do this but will miss the love and nonsense (frequently teaching nonsense) by means of which A.A.B. is apt to handle situations. Be not ruthless or dissatisfied with their efforts to make good. Many of them are in the preliminary stages of being trained so as to fit themselves to be on the periphery of some Ashram and there trained for discipleship.

Mỗi khi năng lượng cung một tuôn đổ qua em, nó dẫn đến một cuộc khủng hoảng nhỏ nhặt hoặc thật sự trong các mối quan hệ của em với người khác. Em cần có được một sự ưa thích rộng rãi và chân thật hơn—như một phương tiện để thấu hiểu—đối với đồng loại của em, đặc biệt đối với những người là đồng sự của em trong công việc của Tôi. Khi thời điểm đến, sự phát triển này sẽ đem lại cho em lợi ích tốt đẹp nếu các bạn đồng môn của em hoan nghênh sự lãnh đạo của em. Họ đã sẵn sàng làm điều này nhưng sẽ thiếu vắng tình thương và sự hóm hỉnh—thường là sự hóm hỉnh mang tính giáo huấn—mà A.A.B. thường dùng để xử lý các tình huống. Đừng tàn nhẫn hay bất mãn với những nỗ lực của họ nhằm làm tốt. Nhiều người trong số họ đang ở những giai đoạn sơ khởi của việc được huấn luyện để chuẩn bị cho chính họ có thể ở trên chu vi của một Ashram nào đó và tại đó được huấn luyện cho địa vị đệ tử.

You need, my brother, to be more appreciative of effort and less critical of accomplishment. With true failures you are ever kind and understanding and have demonstrated this often, but you are apt to despise (behind a kind manner) those who appear satisfied with what they have done. You need also to learn with wisdom to choose your workers when it is your task to do so. It is not easy for you or for any first ray disciple to get close enough, or want to get close enough, to a person to really know him. You may remember the episode when the Master M. was at one time asked to handle the pupils of the Master K.H. so as to release Him for some brief job, and found himself unable to understand them or to do anything with them. It lies in the natural isolation of the first ray type. Have this in mind. [595]

Huynh đệ của Tôi, em cần biết trân trọng nỗ lực nhiều hơn và ít phê phán thành quả hơn. Với những người thực sự thất bại, em luôn nhân từ và thấu hiểu, và đã nhiều lần chứng tỏ điều đó, nhưng em dễ khinh thường—đằng sau một cung cách tử tế—những người có vẻ hài lòng với những gì họ đã làm. Em cũng cần học cách chọn người hoạt động của mình một cách minh triết khi đó là nhiệm vụ của em. Đối với em, cũng như đối với bất cứ đệ tử cung một nào, không dễ để đến đủ gần, hay muốn đến đủ gần, một người để thật sự biết y. Em có thể nhớ câu chuyện khi Chân sư M. có lần được yêu cầu xử lý các môn sinh của Chân sư K.H. để giải phóng Ngài cho một công việc ngắn hạn, và Ngài thấy mình không thể hiểu họ hay làm gì với họ. Điều đó nằm trong sự cô lập tự nhiên của người thuộc cung một. Hãy ghi nhớ điều này. [595]

Be sure to choose the workers (when the decision lies with you) who are on the second ray, or first ray people in whom the love element is highly developed, but not over-developed. You are apt to be suspicious of people’s motives. Give them due credit for sincerity and for having something as yet to learn, and help them learn their lessons—by loving them and trusting them; confine your chief attempt to establishing a measure of intimacy with your workers—friendship and a working partnership; this will guarantee the success of your work.

Hãy chắc chắn chọn những người hoạt động—khi quyết định nằm nơi em—thuộc cung hai, hoặc những người cung một trong đó yếu tố bác ái đã phát triển cao, nhưng không phát triển quá mức. Em dễ nghi ngờ động cơ của người khác. Hãy dành cho họ sự tín nhiệm xứng đáng về lòng chân thành và về việc họ vẫn còn điều gì đó cần học, và hãy giúp họ học các bài học của họ—bằng cách thương yêu và tin tưởng họ; hãy giới hạn nỗ lực chính của em vào việc thiết lập một mức độ thân mật với những người hoạt động của em—tình bạn và sự cộng tác trong công việc; điều này sẽ bảo đảm thành công cho công việc của em.

Your mind and brain are full of the work to be done. You work as do all first ray workers and as the Master Morya. First ray workers provide the substance with which the second ray workers build and the other ray workers qualify and modify. You inspire substance with the energy and purpose and with the life necessary to render it responsive to the plan—the Plan of goodwill which the Masters are at present implementing and for which They seek workers. Write more, my brother; you have the vision and your meditation is sound. It has always been along first ray lines as taught in the Ashram of the Master Morya. This few people understand. Any other form of meditation would be false to you. Though you oft chide yourself for not acceding with exactitude to my demands, I judge your meditation nevertheless to be perhaps the most satisfactory of any in the group. I am, therefore, giving you a passage from the Old Commentary which has a direct reference to the work you are attempting to do.

Thể trí và bộ não của em đầy ắp công việc phải làm. Em làm việc như mọi người hoạt động cung một và như Chân sư Morya. Những người hoạt động cung một cung cấp chất liệu để những người hoạt động cung hai xây dựng, còn những người hoạt động thuộc các cung khác thì định phẩm và điều chỉnh. Em truyền cảm hứng cho chất liệu bằng năng lượng, Thiên Ý và sự sống cần thiết để khiến nó đáp ứng với Thiên Cơ—Thiên Cơ của thiện chí mà các Chân sư hiện đang thực hiện và vì đó Các Ngài tìm kiếm những người hoạt động. Hãy viết nhiều hơn, huynh đệ của Tôi; em có tầm nhìn và sự tham thiền của em là lành mạnh. Nó luôn theo các đường lối cung một như được dạy trong Ashram của Chân sư Morya. Điều này ít người thấu hiểu. Bất cứ hình thức tham thiền nào khác cũng sẽ không đúng với em. Dù em thường tự trách mình vì không đáp ứng chính xác các yêu cầu của Tôi, tuy nhiên Tôi xét thấy sự tham thiền của em có lẽ là thỏa đáng nhất trong cả nhóm. Vì vậy, Tôi trao cho em một đoạn trích từ Cổ Luận có liên hệ trực tiếp đến công việc mà em đang cố gắng thực hiện.

“He stands in strength who sees the Will of God behind the Plan. The will-to-good substands all true goodwill. That will is he.

“Y đứng trong sức mạnh, kẻ thấy Ý Chí của Thượng Đế đằng sau Thiên Cơ. Ý Chí-hướng Thiện làm nền cho mọi thiện chí chân chính. Ý chí ấy chính là y.

The Plan for this cycle of the sixth objective crisis is goodwill for all men, and through all men, goodwill. That Plan starts now.

Thiên Cơ cho chu kỳ này của cuộc khủng hoảng ngoại giới thứ sáu là thiện chí cho mọi người, và qua mọi người, thiện chí. Thiên Cơ ấy bắt đầu lúc này.

The Plan, within our planet as a whole, is the changing of the energy discharging unit (the etheric subplanes—A.A.B.). The fourfold form must assume triangular relation. Ponder on this. [596]

Thiên Cơ, bên trong hành tinh chúng ta như một tổng thể, là sự thay đổi của đơn vị phóng xả năng lượng—các cõi phụ dĩ thái—A.A.B. Hình tướng tứ phân phải đảm nhận mối liên hệ tam giác. Hãy suy ngẫm về điều này. [596]

The objective of the Plan is to reproduce upon the plane of earth the inner kingdom of the soul. This has the Master of the Masters long foretold. Prepare the way.”

Mục tiêu của Thiên Cơ là tái tạo trên cõi Trái Đất Thiên Giới nội tại của linh hồn. Điều này Chân sư của các Chân sư đã tiên báo từ lâu. Hãy chuẩn bị con đường.”

My blessing rests upon you for all the work which you have done. I—your friend, brother and teacher—ask and need your still continued help.

Phúc lành của Tôi ở trên em vì mọi công việc mà em đã làm. Tôi—bạn hữu, huynh đệ và huấn sư của em—xin và cần sự trợ giúp vẫn tiếp tục của em.

November 1948

Tháng Mười Một 1948

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Today in the ordinary course of events and as part of my final planning in relation to the work preparatory to the coming of the Christ, I have certain items of information to impart. The keynote of the next few years of your work is—as well you know—the making known and the steady and intelligent preparation of the human consciousness for His reappearance. With the subject of that reappearance I deal not here, but there is somewhat which I seek to say anent that which may be done by all of you upon whom I have kept a supervisory eye during the past few years.

Hôm nay, trong tiến trình thông thường của các sự kiện và như một phần của việc hoạch định cuối cùng của Tôi liên quan đến công việc chuẩn bị cho sự đến của Đức Christ, Tôi có một số thông tin cần truyền đạt. Chủ âm của vài năm sắp tới trong công việc của em là—như em biết rõ—làm cho tâm thức nhân loại biết đến và chuẩn bị vững vàng, thông minh cho sự tái lâm của Ngài. Tôi không bàn ở đây về đề tài của sự tái lâm ấy, nhưng có điều Tôi muốn nói liên quan đến những gì tất cả các em—những người mà Tôi đã giữ sự giám sát trong vài năm qua—có thể làm.

There are five Masters and five Ashrams involved in this preparatory work. First of all, there is the Ashram of the Master K.H.; this is the presiding Ashram in this work owing to the fact that it is a second ray Ashram and, therefore, upon the same line of energy as that of the Christ Himself; another reason is that the Master K.H. will assume the role of World Teacher in the distant future when the Christ moves on to higher and more important work. Next comes the Ashram of the Master Morya; the reason for this is that the whole procedure is projected from Shamballa and the Ashram of the Master Morya is ever in close touch with that dynamic centre. The Master R.—as the Lord of Civilisation—is also closely involved; He is also—and this is of major importance—Regent of Europe.

Có năm Chân sư và năm Ashram liên quan đến công việc chuẩn bị này. Trước hết, có Ashram của Chân sư K.H.; đây là Ashram chủ trì trong công việc này do sự kiện nó là một Ashram cung hai và, vì thế, ở trên cùng đường năng lượng với chính Đức Christ; một lý do khác là Chân sư K.H. sẽ đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo trong tương lai xa khi Đức Christ chuyển sang công việc cao hơn và quan trọng hơn. Kế đến là Ashram của Chân sư Morya; lý do là toàn bộ tiến trình được phóng chiếu từ Shamballa và Ashram của Chân sư Morya luôn liên hệ chặt chẽ với trung tâm năng động ấy. Chân sư R.—với tư cách là Chúa Tể của Văn Minh—cũng liên quan mật thiết; Ngài cũng—và điều này có tầm quan trọng lớn—là Nhiếp chính của châu Âu.

I have also at times referred to the Master Who is responsible for the reorganisation of Labour; this work He began to do in the latter part of the nineteenth century but left it to [597] carry forward on its own momentum when Russia entered the field and laid its emphasis upon the proletariat or the workers, to the exclusion of all other members of national groups. This produced what we might call the workers’ revolution in the latter years of the first quarter of the twentieth century. I myself am the fifth Master concerned in this work and am—as it were—the liaison officer between those disciples who are working in the field of the world and Those Masters Who are directly responsible to the Christ for the needed work of preparation.

Thỉnh thoảng Tôi cũng đã đề cập đến Chân sư chịu trách nhiệm về việc tái tổ chức Lao động; công việc này Ngài đã bắt đầu thực hiện vào phần cuối của thế kỷ mười chín nhưng để nó [597] tiếp tục tiến triển theo đà riêng của nó khi Nga bước vào lĩnh vực này và đặt trọng tâm vào giai cấp vô sản hay những người lao động, loại trừ mọi thành viên khác của các nhóm quốc gia. Điều này tạo ra điều chúng ta có thể gọi là cuộc cách mạng của người lao động trong những năm cuối của phần tư đầu tiên của thế kỷ hai mươi. Chính Tôi là Chân sư thứ năm liên quan đến công việc này và—có thể nói—là viên chức liên lạc giữa những đệ tử đang làm việc trong lĩnh vực thế gian và Các Chân sư trực tiếp chịu trách nhiệm trước Đức Christ về công việc chuẩn bị cần thiết.

Certain picked disciples from all these five Ashrams have been or will be trained for the work of contacting the public. Many of them (perhaps the majority) are totally unknown to you. Some of them you know. I refer not here to A.A.B. whose exoteric work is known to you whilst her esoteric work is well known to Us. Her exoteric work is drawing to a close and this also is an idea to which you are well accustomed.

Một số đệ tử được chọn từ tất cả năm Ashram này đã được hoặc sẽ được huấn luyện cho công việc tiếp xúc với công chúng. Nhiều người trong số họ—có lẽ là đa số—hoàn toàn không được em biết đến. Một số người em biết. Ở đây Tôi không nói đến A.A.B., người mà công việc ngoại môn của Bà thì em biết, trong khi công việc nội môn của Bà thì Chúng Tôi biết rõ. Công việc ngoại môn của Bà đang đi đến hồi kết, và đây cũng là một ý tưởng mà em đã rất quen thuộc.

You, my brother, have ahead of you the consolidating of all the work which A.A.B. has started for Us. I refer specifically to the new teaching, embodied in the books which she has published, to the work of the Triangles and the work of Goodwill. I refer also to the counsel and help which you will give to the younger key people, as they endeavour to adapt the Arcane School to the pattern of the new teaching which I have given and which will eventually sweep the world (if the work is properly handled) and thus prepare the people for the new world religion. R.S.U. has also been designated for this work of preparation and—in my instruction to her—I shall indicate certain basic attitudes which she must develop and hold as she stands steadily with you and with the younger key people. I particularly want her to work with them because she is a true esotericist and the Arcane School is fundamentally an esoteric school. Another disciple, D.H.B., is also entrusted with a share in this special field of preparatory work; he is not, however, to be concerned with the Goodwill work, but in another field which I will indicate to him in his own instruction. I am not doing much more than mentioning W.W. because this is his first [598] cycle as an accepted disciple; the service which he has to do is already recognised by him and will provide a serious and important life work. It is my intention to give him a word of encouragement and of advice. I am mentioning all these disciples to you as they should all work in the closest cooperation with you and that lays upon you much responsibility. R.S.U. has for years worked side by side with you; she has come through her test triumphantly, and in the task of serving as a channel for esoteric light and information she is competent and likewise humble in her attitude.

Huynh đệ của Tôi, trước mắt em là việc củng cố toàn bộ công việc mà A.A.B. đã khởi sự cho Chúng Tôi. Tôi đặc biệt nói đến giáo huấn mới, được thể hiện trong các sách mà Bà đã xuất bản, đến công việc của các Tam Giác và công việc của Thiện chí. Tôi cũng nói đến lời khuyên và sự trợ giúp mà em sẽ dành cho những người then chốt trẻ hơn, khi họ nỗ lực điều chỉnh Trường Arcane theo mô hình của giáo huấn mới mà Tôi đã trao và cuối cùng sẽ quét khắp thế giới—nếu công việc được xử lý đúng đắn—và nhờ vậy chuẩn bị con người cho tôn giáo thế giới mới. R.S.U. cũng đã được chỉ định cho công việc chuẩn bị này và—trong huấn thị của Tôi dành cho bạn ấy—Tôi sẽ chỉ ra một số thái độ căn bản mà bạn ấy phải phát triển và giữ vững khi bạn ấy đứng kiên định với em và với những người then chốt trẻ hơn. Tôi đặc biệt muốn bạn ấy làm việc với họ vì bạn ấy là một nhà bí truyền học chân chính và Trường Arcane về căn bản là một trường nội môn. Một đệ tử khác, D.H.B., cũng được giao phó một phần trong lĩnh vực đặc biệt này của công việc chuẩn bị; tuy nhiên, bạn ấy không phải bận tâm đến công việc Thiện chí, mà trong một lĩnh vực khác Tôi sẽ chỉ cho bạn ấy trong huấn thị riêng của bạn ấy. Tôi không làm gì nhiều hơn ngoài việc nhắc đến W.W. vì đây là chu kỳ đầu tiên của bạn ấy [598] với tư cách là một đệ tử được chấp nhận; sự phụng sự mà bạn ấy phải làm đã được chính bạn ấy nhận ra và sẽ cung cấp một công việc đời sống nghiêm túc và quan trọng. Ý định của Tôi là trao cho bạn ấy một lời khích lệ và khuyên bảo. Tôi nhắc đến tất cả các đệ tử này với em vì tất cả họ nên làm việc trong sự hợp tác gần gũi nhất với em, và điều đó đặt lên em nhiều trách nhiệm. R.S.U. đã nhiều năm làm việc sát cánh với em; bạn ấy đã vượt qua thử thách của mình một cách vẻ vang, và trong nhiệm vụ phụng sự như một vận hà cho ánh sáng và thông tin nội môn, bạn ấy có năng lực và cũng khiêm nhường trong thái độ.

There is little else that I can say to you, brother of mine, save to tell you that you are trusted and that you will increasingly demonstrate the strength which comes to you from Shamballa, via your own Master. On that strength you may now draw. A.A.B. is quite correct when she says that your major hour of opportunity is now upon you as slowly she withdraws into that service which will (within the Ashram) enable K.H. to do more deeply spiritual work in collaboration with the Christ. It was to train her and thus enable her to do this that she undertook—alone and without my help—to found and organise the Arcane School; it gave her much needed training and experience and enabled her to demonstrate the quality of the teaching and that esoteric psychology which is the major task in each Ashram and particularly in the second ray Ashram.

Huynh đệ của Tôi, Tôi không thể nói thêm gì nhiều với em, ngoài việc nói rằng em được tin cậy và rằng em sẽ ngày càng chứng tỏ sức mạnh đến với em từ Shamballa, qua chính Chân sư của em. Nay em có thể rút dùng sức mạnh ấy. A.A.B. hoàn toàn đúng khi Bà nói rằng giờ cơ hội trọng đại của em hiện đang đến với em khi Bà chậm rãi rút vào sự phụng sự sẽ—bên trong Ashram—cho phép Chân sư K.H. làm công việc tinh thần sâu xa hơn trong sự cộng tác với Đức Christ. Chính để huấn luyện Bà và nhờ đó khiến Bà có thể làm điều này mà Bà đã đảm nhận—một mình và không có sự trợ giúp của Tôi—việc thành lập và tổ chức Trường Arcane; điều đó đã đem lại cho Bà sự huấn luyện và kinh nghiệm rất cần thiết, và giúp Bà chứng tỏ phẩm tính của giáo huấn cùng Tâm Lý Học Nội Môn vốn là nhiệm vụ chủ yếu trong mỗi Ashram và đặc biệt trong Ashram cung hai.

You ask if there is aught that you can do. There is above everything else, the handling of the energy which is now streaming forth—the energy of Love in its dynamic or electric form. It is the Will aspect of Love which the Christ will of necessity use this time when He comes; when He earlier came He employed the teaching aspect of the second ray and not the Will aspect. First ray disciples are peculiarly susceptible to the Will aspect of Love, and for these reactions you must watch and endeavour always to lay your emphasis not upon the Will—of this latter quality you have (for this incarnation) an adequate and full supply. Let your fellow workers catch from you the radiance of Love. That, my brother, will release the financial supply so sorely needed; it will be the harmlessness which you and your fellow servers [599] can demonstrate which will prove the needed agent. Proceed as usual, my tried and trusted brother.

Em hỏi liệu có điều gì em có thể làm không. Trên hết mọi sự, có việc xử lý năng lượng hiện đang tuôn trào—năng lượng của Tình thương trong hình thức năng động hay điện lực của nó. Đó là Phương diện Ý Chí của Tình thương mà Đức Christ tất yếu sẽ sử dụng lần này khi Ngài đến; khi Ngài đến trước kia, Ngài đã vận dụng phương diện giáo huấn của cung hai chứ không phải Phương diện Ý Chí. Các đệ tử cung một đặc biệt nhạy cảm với phương diện Ý Chí của Tình thương, và em phải canh chừng các phản ứng này và luôn cố gắng đặt trọng tâm của em không vào Ý Chí—đối với phẩm tính vừa nói này em có, cho kiếp lâm phàm này, một nguồn cung cấp đầy đủ và trọn vẹn. Hãy để các đồng sự của em bắt nhận từ em ánh rạng ngời của Tình thương. Huynh đệ của Tôi, điều đó sẽ giải phóng nguồn tài chính đang vô cùng cần thiết; chính tính vô tổn hại mà em và các bạn đồng phụng sự của em [599] có thể biểu lộ sẽ chứng tỏ là tác nhân cần thiết. Hãy tiếp tục như thường lệ, huynh đệ đã được thử thách và tin cậy của Tôi.

This instruction may perhaps disappoint you. I asked A.A.B. what she believed conditioned my response to your question. She replied: “You trust in his understanding, self-discipline and consecration.” She was right. I have no distrust in you at all. So, my brother, I can advise naught, for you need not my advice; I—your friend and companion—can only suggest that you proceed as usual upon your way, remembering always to keep a recognised and conscious link with your Master.

Huấn thị này có lẽ làm em thất vọng. Tôi đã hỏi A.A.B. điều gì Bà tin là đã tác động đến câu trả lời của Tôi cho câu hỏi của em. Bà đáp: “Ngài tin vào sự thấu hiểu, kỷ luật tự thân và sự thánh hiến của y.” Bà đã đúng. Tôi hoàn toàn không hề ngờ vực em. Vì vậy, huynh đệ của Tôi, Tôi không thể khuyên điều gì, vì em không cần lời khuyên của Tôi; Tôi—bạn hữu và bạn đồng hành của em—chỉ có thể đề nghị rằng em tiếp tục như thường lệ trên con đường của mình, luôn nhớ giữ một mối liên kết được nhận biết và có ý thức với Chân sư của em.

To R. S. U. – Gửi R. S. U.

January 1940

Tháng Giêng 1940

You and I, my brother, have worked together for long years—longer perhaps than you know. There is little that I can say to you along the line of revealing to you the glamours which hold your personality in thrall. These you well know. Often I have told you what they are. In your case, it is not so much a particular glamour but the presence of several smaller ones. The more sensitive a person is the more responsive he is to others.

Huynh đệ của Tôi, em và Tôi đã làm việc cùng nhau trong nhiều năm dài—có lẽ lâu hơn em biết. Tôi không có nhiều điều để nói với em theo đường lối mặc khải cho em những ảo cảm đang giam giữ phàm ngã của em trong xiềng xích. Những điều này em biết rõ. Tôi đã thường nói với em chúng là gì. Trong trường hợp của em, đó không hẳn là một ảo cảm riêng biệt mà là sự hiện diện của vài ảo cảm nhỏ hơn. Một người càng nhạy cảm thì y càng đáp ứng với người khác.

You have wisdom, beauty of purpose, devotion and sincerity—all characteristics of the advanced disciple. The glamour which holds you is inherited from other lives. You have immersed yourself in no new glamour in this life, and this is rare indeed and for this I commend you.

Em có minh triết, vẻ đẹp của mục đích, lòng sùng tín và sự chân thành—tất cả đều là những đặc tính của đệ tử tiến bộ. Ảo cảm đang nắm giữ em là điều thừa hưởng từ các kiếp sống khác. Em đã không đắm mình trong một ảo cảm mới nào trong kiếp sống này, và điều này thật hiếm, và vì điều này Tôi khen ngợi em.

But certain ancient glamours—racial and personal—still hold you, and it is the overcoming of these that constitutes your life problem and your present failure to do so that keeps you where you are. If perhaps I define or indicate to you two glamours which intrude into your soul expression and prevent the entrance of the full light of the soul, and if I give to them names which are not usual you may, perhaps—by due pondering—arrive at the point where you will be able to dissipate them.

Nhưng một số ảo cảm cổ xưa—thuộc chủng tộc và cá nhân—vẫn nắm giữ em, và chính việc vượt thắng chúng tạo thành vấn đề đời sống của em, còn sự thất bại hiện nay của em trong việc làm điều đó giữ em ở nơi em đang ở. Nếu có lẽ Tôi định nghĩa hoặc chỉ ra cho em hai ảo cảm xâm nhập vào sự biểu đạt linh hồn của em và ngăn cản sự đi vào của ánh sáng trọn vẹn của linh hồn, và nếu Tôi đặt cho chúng những tên gọi không thông thường, thì có lẽ—bằng sự suy ngẫm đúng mức—em sẽ đạt đến điểm mà em có thể làm tiêu tan chúng.

The glamour of “the flight into safety of the racial consciousness” [600] is one of your dominant glamours, even if—in your own consciousness—you repudiate it. Every individual, without exception, is subject to this racial glamour and its potency is unbelievable. The subjective life of any nation, producing as it does racial psychology, national inclinations and traits and characteristics, lies behind every single individual and into it he can at any time throw himself, and into it he can retreat thus taking refuge in the past and emphasising certain racial attitudes. The overcoming of inherited traits and attitudes is, in your case, essential. You are really cosmopolitan. But in your life demonstration no one would know it. Disciples need to remember that it may only be in this life that they have been born into any particular race or nation and this only from the personality angle. Being, however, thus temporarily affiliated they may—if sensitive—become so identified with racial problems and relationships, with racial history and qualities that this ancient inheritance (which is racial and not personal and therefore not theirs) overwhelms them and constitutes a major conflict. So it is with you. In every race and nation there are those who—down the ages—have again and again incarnated in certain races and groups. There are also those who have incarnated in a particular race in order to acquire either certain valuable qualities with which a race or nation can endow a man, or to use that racial and national experience as a means whereby there can be the breaking of such bonds, a consequent release and a subsequent entering into the freedom of humanity itself. Ponder on this, my brother, and be not separative in your sensitivity and set as to your personality origins, to your so-called racial loyalties and characteristics, acquired through environing circumstance.

Ảo cảm của “sự trốn chạy vào nơi an toàn của tâm thức chủng tộc” [600] là một trong những ảo cảm chi phối của em, ngay cả khi—trong tâm thức riêng của em—em phủ nhận nó. Mọi cá nhân, không ngoại lệ, đều chịu sự chi phối của ảo cảm chủng tộc này và quyền năng của nó thật khó tin. Đời sống nội giới của bất cứ quốc gia nào, khi tạo ra tâm lý chủng tộc, những khuynh hướng, nét riêng và đặc tính quốc gia, đều nằm đằng sau từng cá nhân, và y có thể bất cứ lúc nào ném mình vào đó, và rút lui vào đó, nhờ vậy nương náu trong quá khứ và nhấn mạnh một số thái độ chủng tộc. Trong trường hợp của em, việc vượt thắng các nét riêng và thái độ được thừa hưởng là thiết yếu. Em thật sự là người có tính thế giới. Nhưng trong sự biểu lộ đời sống của em, không ai biết điều đó. Các đệ tử cần nhớ rằng có thể chỉ trong kiếp sống này họ mới sinh vào một chủng tộc hay quốc gia riêng biệt nào đó, và điều này chỉ xét từ góc độ phàm ngã. Tuy nhiên, khi tạm thời được liên kết như vậy, họ có thể—nếu nhạy cảm—trở nên đồng nhất mạnh mẽ với các vấn đề và mối quan hệ chủng tộc, với lịch sử và phẩm tính chủng tộc, đến nỗi di sản cổ xưa này—vốn thuộc chủng tộc và không thuộc cá nhân, do đó không phải của họ—lấn át họ và tạo thành một cuộc xung đột lớn. Với em cũng vậy. Trong mọi chủng tộc và quốc gia đều có những người—qua các thời đại—đã hết lần này đến lần khác lâm phàm trong những chủng tộc và nhóm nhất định. Cũng có những người đã lâm phàm trong một chủng tộc riêng biệt để thu nhận hoặc một số phẩm tính quý giá mà một chủng tộc hay quốc gia có thể ban cho con người, hoặc để sử dụng kinh nghiệm chủng tộc và quốc gia ấy như một phương tiện nhờ đó có thể phá vỡ những ràng buộc như thế, kéo theo sự giải thoát và sau đó là bước vào tự do của chính nhân loại. Hãy suy ngẫm về điều này, huynh đệ của Tôi, và đừng trở nên chia rẽ trong sự nhạy cảm của em, cũng đừng cố chấp về nguồn gốc phàm ngã của em, về những điều gọi là lòng trung thành và đặc tính chủng tộc của em, được thu nhận qua hoàn cảnh bao quanh.

Is this too hard a lesson and a task, my brother? If so, determine within yourself if it is so or if it is not. Another life, the issue may be clear to you. It could be clear in this life if you accepted my suggestion.

Bài học và nhiệm vụ này có quá khó không, huynh đệ của Tôi? Nếu vậy, hãy tự xác định trong chính em liệu có phải như thế hay không. Trong một kiếp sống khác, vấn đề có thể trở nên rõ ràng đối với em. Nó có thể rõ ràng trong kiếp sống này nếu em chấp nhận đề nghị của Tôi.

Upon the second glamour I need not enlarge. We might call it the “glamour of continuous frustration.” In your case and in the constant failure to achieve the fullest expression of your spiritual aims and goals, because of small and unimportant [601] personality qualities (most of them tied up with your racial inheritance and your environing circumstances), you are constantly aware of lack of achievement and of failure to do what your soul has made quite adequately clear to you is possible. Here I cannot help you. The issue lies in your own hands. Do you realise, my brother, that a week’s perfected discipline would carry you further than a year’s aspiration, accompanied as it is (in your case) by a constant sense of failure? Go forward therefore, my beloved brother, and rest not content until liberation is yours.

Về ảo cảm thứ hai, Tôi không cần nói rộng. Chúng ta có thể gọi nó là “ảo cảm của sự thất vọng liên tục.” Trong trường hợp của em, và trong sự thất bại thường xuyên không đạt được sự biểu đạt đầy đủ nhất các mục đích và mục tiêu tinh thần của em, vì những phẩm tính phàm ngã nhỏ bé và không quan trọng [601] —phần lớn gắn liền với di sản chủng tộc và hoàn cảnh bao quanh của em—em thường xuyên ý thức về sự thiếu thành tựu và về thất bại trong việc làm điều mà linh hồn em đã làm cho em thấy khá rõ là có thể. Ở đây Tôi không thể giúp em. Vấn đề nằm trong tay chính em. Huynh đệ của Tôi, em có nhận ra rằng một tuần kỷ luật hoàn hảo sẽ đưa em đi xa hơn một năm khát vọng, vốn trong trường hợp của em đi kèm với một cảm thức thất bại liên tục không? Vì vậy, hãy tiến tới, huynh đệ yêu dấu của Tôi, và đừng an phận cho đến khi sự giải thoát là của em.

August 1940

Tháng Tám 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Since my last instruction to you, you have attained to a certain measure of release and that means much and for that achievement I would indicate my pleasure and commend you. You are freeing yourself for service. All that I earlier said as to your problems still holds good and I would ask you to reread prayerfully and aspirationally what I said then. To the injunctions there given I would add some further suggestions. I seek further to clarify the issue in your mind. Once a disciple sees clearly, he can then take intelligent action.

Kể từ huấn thị gần nhất của Tôi dành cho em, em đã đạt được một mức độ giải thoát nhất định, và điều đó có ý nghĩa nhiều; vì thành tựu ấy Tôi muốn bày tỏ niềm vui của Tôi và khen ngợi em. Em đang giải phóng chính mình để phụng sự. Tất cả những gì Tôi đã nói trước đây về các vấn đề của em vẫn còn đúng, và Tôi xin em đọc lại, với tinh thần cầu nguyện và khát vọng, những gì Tôi đã nói lúc ấy. Vào các huấn lệnh đã được đưa ra ở đó, Tôi muốn thêm một số đề nghị nữa. Tôi tìm cách làm sáng tỏ thêm vấn đề trong thể trí của em. Một khi đệ tử thấy rõ, y có thể hành động một cách thông minh.

You have not really liked my reference to racial limitations and yet, my brother and I can say my friend, why resent them? All national heritages lay their impress upon their peoples. A.A.B. is typically British in her personality attitudes and with her pride of race, heritage, ancient lineage and caste, with her stubborn persistence and dogged determination, with her sense of truth and her attitude of inner solitude. These qualities she has had to learn gradually to transmute into the dignity of soul consciousness, intelligent direction, clear expression of her sense of truth and a wide and general inclusiveness. This has not been easy though you, not possessing her particular problems and tendencies, may fail to realise that they are (or rather have been) as grave as yours. Some day I will give the group members a diagnosis of their racial colouring and consequent tendencies. Today I deal only with your peculiar difficulties because your battle [602] ground lies right there and it is mainly your racial faults which hinder you.

Em đã không thật sự thích lời nhắc của Tôi đến các giới hạn chủng tộc; tuy nhiên, huynh đệ của Tôi—và Tôi có thể nói, bạn của Tôi—tại sao lại bực bội vì chúng? Mọi di sản quốc gia đều in dấu lên dân tộc của mình. A.A.B. mang tính Anh điển hình trong các thái độ phàm ngã của Bà và với niềm tự hào về chủng tộc, di sản, dòng dõi cổ xưa và đẳng cấp, với sự kiên trì bền bỉ và quyết tâm gan lì, với ý thức về chân lý và thái độ cô tịch nội tâm của Bà. Những phẩm tính này Bà đã phải học dần dần chuyển hoá thành phẩm giá của tâm thức linh hồn, sự hướng dẫn thông minh, sự biểu đạt rõ ràng ý thức về chân lý của Bà và một tính bao dung rộng rãi, phổ quát. Điều này không dễ dàng, dù em, vì không có những vấn đề và khuynh hướng đặc thù của Bà, có thể không nhận ra rằng chúng đang—hay đúng hơn đã từng—nghiêm trọng như của em. Một ngày nào đó Tôi sẽ trao cho các thành viên nhóm một chẩn đoán về sắc thái chủng tộc của họ và những khuynh hướng kéo theo. Hôm nay Tôi chỉ đề cập đến những khó khăn riêng biệt của em, vì chiến [602] trường của em nằm ngay tại đó và chính các lỗi lầm chủng tộc của em là những điều chủ yếu cản trở em.

I would add also to the above—which I rarely do—that you are likewise freer from the imposition of physical control than at any previous time in your life story, except once when you were much younger. Your second major limitation has been, as you know, a physical one and is incidentally also a part of the racial trouble, and of racial polarisation. Every disciple has to achieve complete freedom from racial limitations and to break down certain separative barriers; otherwise they remain and hinder, as I hinted elsewhere to S.C.P. This is however an attainable attitude for you. You have, secondly, also to release your personality from the control of that which is the most potent personality vehicle, owing to the focus of the thought and life being largely there. The visualisation of yourself as one who is unlimited in soul expression physically would aid you. It is usually only in the brain (not in the mind) that racial reactions and racial vibrations make their presence felt. The brain cells, the atomic lives of the brain organism, respond to the racial brain and thus condition physical plane activity. A conflict is then apt to take place between the mind and the brain as in your case, but brain-responsive habits are apt to remain powerful for a long time and hence the problem. I am explaining, my brother, as you can shift the emphasis if you so desire and become entirely unconscious of racial control and racial karma. At present you seldom forget it and it conditions you unduly. Will you please not misunderstand me here if I say that once you relinquish that emphasis, the integration of the personality will be complete and you will be ready for a major step onwards.

Tôi cũng muốn thêm vào điều trên—điều Tôi hiếm khi làm—rằng em cũng tự do hơn khỏi sự áp đặt của sự kiểm soát hồng trần so với bất cứ thời điểm nào trước đây trong lịch sử đời em, ngoại trừ một lần khi em còn trẻ hơn nhiều. Giới hạn lớn thứ hai của em, như em biết, là một giới hạn hồng trần và đồng thời cũng là một phần của vấn đề chủng tộc, và của sự phân cực chủng tộc. Mỗi đệ tử đều phải đạt được sự tự do hoàn toàn khỏi các giới hạn chủng tộc và phá vỡ một số rào cản chia rẽ; nếu không, chúng vẫn còn và cản trở, như Tôi đã gợi ý nơi khác với S.C.P. Tuy nhiên, đây là một thái độ có thể đạt được đối với em. Thứ hai, em cũng phải giải phóng phàm ngã của mình khỏi sự kiểm soát của hiện thể phàm ngã mạnh mẽ nhất, do trọng tâm của tư tưởng và đời sống phần lớn ở đó. Việc hình dung chính em như một người không bị giới hạn trong sự biểu đạt linh hồn về mặt hồng trần sẽ giúp em. Thường chỉ trong bộ não—không phải trong thể trí—mà các phản ứng chủng tộc và các rung động chủng tộc làm cho sự hiện diện của chúng được cảm thấy. Các tế bào não, các sự sống nguyên tử của cơ quan bộ não, đáp ứng với bộ não chủng tộc và do đó tác động lên hoạt động cõi hồng trần. Khi ấy một cuộc xung đột dễ xảy ra giữa thể trí và bộ não, như trong trường hợp của em, nhưng các thói quen đáp ứng qua bộ não có thể vẫn mạnh mẽ trong một thời gian dài, và vì thế nảy sinh vấn đề. Tôi đang giải thích, huynh đệ của Tôi, vì em có thể chuyển đổi trọng tâm nếu em mong muốn như vậy và trở nên hoàn toàn không còn ý thức về sự kiểm soát chủng tộc và nghiệp quả chủng tộc. Hiện nay em hiếm khi quên điều đó và nó tác động lên em quá mức. Xin em đừng hiểu lầm Tôi ở đây nếu Tôi nói rằng một khi em từ bỏ trọng tâm ấy, sự tích hợp của phàm ngã sẽ hoàn tất và em sẽ sẵn sàng cho một bước tiến lớn về phía trước.

A Master watches His disciples long before they are aware of the inspection, for they themselves take the needed steps into His presence long before the brain registers the contact or the response of the Master. All in this group have been watched by me for many years and in three cases for several lives (so slow were they to register inner spiritual impression) before I communicated to them my intention to train them. This inner direction definitely precipitates situations [603] and difficulties and engenders problems and none of you are unaware of this. The lot of disciples in these days is particularly hard owing to the fact that sensitivity and a conscious reaction to the impress of all the vehicles in the personality simultaneously is so rapid and direct. This is the result of a measure of alignment and of conscious aspiration. But the compensation is adequate if disciples would be more occupied with the inner realities and less engrossed with the outer difficulties. But this, as you know, is most difficult of achievement.

Một Chân sư theo dõi các đệ tử của Ngài từ lâu trước khi họ ý thức được sự quan sát ấy, vì chính họ đã thực hiện những bước cần thiết vào trong hiện diện của Ngài từ lâu trước khi bộ não ghi nhận sự tiếp xúc hay sự đáp ứng của Chân sư. Tất cả trong nhóm này đã được Tôi theo dõi trong nhiều năm, và trong ba trường hợp là trong nhiều kiếp sống—vì họ quá chậm ghi nhận ấn tượng tinh thần bên trong—trước khi Tôi truyền đạt cho họ ý định của Tôi là huấn luyện họ. Sự hướng dẫn bên trong này chắc chắn làm ngưng tụ các tình huống [603] và khó khăn, đồng thời làm phát sinh các vấn đề, và không ai trong các em là không biết điều này. Số phận của các đệ tử trong những ngày này đặc biệt khó khăn do sự nhạy cảm và phản ứng có ý thức với ấn tượng của tất cả các hiện thể trong phàm ngã đồng thời diễn ra quá nhanh và trực tiếp. Đây là kết quả của một mức độ chỉnh hợp và khát vọng có ý thức. Nhưng sự bù đắp là đầy đủ nếu các đệ tử biết bận tâm nhiều hơn đến các thực tại bên trong và ít bị cuốn hút hơn bởi những khó khăn bên ngoài. Nhưng điều này, như em biết, là hết sức khó đạt được.

You ask me: What would I have you do in regard to your own attitudes to the group and to the work with which you are all engaged? It is not hard to answer your enquiry because for you the task is uncomplicated though not simple of achievement. Be, my brother, on the outer plane, what you are interiorly. You have much knowledge and wisdom. Use it as much as possible because you have a sphere of usefulness in this connection right in front of you,… Your destiny is that of teacher. Begin, therefore, to fulfil it. You have been much occupied with organisational work—a choice of vocation made by your soul which was intended to offset the limitations with which I have sought to make you familiar. Such a task was intended to provide scope for expression upon the outer plane and this it has done. Now pour your energies into the work of the groups with which you are affiliated. Give to A.A.B. the aid which you are well fitted to give, making yourself increasingly responsible for certain aspects of the work which will make their appeal to you, and which call for your conditioning. I am choosing my words with care. Above all else give love with impersonality and true understanding. It must not be the impersonality of a planned and forced achievement but the impersonality of complete self-forgetfulness. The task is so vital that you and all your group brothers must lose sight of the little self in the need and the opportunity of the moment. Oft have I told you this. May I now see the result of this oft recommended truth?

Em hỏi Tôi: Tôi muốn em làm gì liên quan đến các thái độ của chính em đối với nhóm và đối với công việc mà tất cả các em đang tham gia? Không khó để trả lời câu hỏi của em, bởi đối với em nhiệm vụ không phức tạp, dù không đơn giản để đạt được. Huynh đệ của Tôi, trên cõi bên ngoài, hãy là điều em vốn là ở bên trong. Em có nhiều tri thức và minh triết. Hãy sử dụng nó hết mức có thể, vì em có một phạm vi hữu dụng trong mối liên hệ này ngay trước mặt em,… Định mệnh của em là định mệnh của một huấn sư. Vì vậy, hãy bắt đầu hoàn thành nó. Em đã rất bận rộn với công việc tổ chức—một sự lựa chọn thiên chức do linh hồn em thực hiện, nhằm hóa giải những giới hạn mà Tôi đã tìm cách làm cho em quen thuộc. Một nhiệm vụ như thế đã được dự định để cung cấp phạm vi biểu đạt trên cõi bên ngoài, và nó đã làm được điều đó. Nay hãy tuôn đổ các năng lượng của em vào công việc của những nhóm mà em liên kết. Hãy trao cho A.A.B. sự trợ giúp mà em rất thích hợp để trao, làm cho chính em ngày càng chịu trách nhiệm hơn về một số phương diện của công việc sẽ hấp dẫn em, và đòi hỏi sự tác động của em. Tôi đang chọn lời một cách cẩn trọng. Trên hết mọi sự, hãy trao tình thương với sự vô ngã và sự thấu hiểu chân thật. Đó không được là sự vô ngã của một thành tựu được hoạch định và cưỡng ép, mà là sự vô ngã của sự quên mình hoàn toàn. Nhiệm vụ thiết yếu đến mức em và tất cả các huynh đệ trong nhóm của em phải quên đi cái ngã nhỏ bé trong nhu cầu và cơ hội của thời điểm. Tôi đã thường nói với em điều này. Nay Tôi có thể thấy kết quả của chân lý thường được khuyên nhủ này không?

As regards your personal meditation, I seek to give you one which will intensify the activity of the ajna centre and which will produce new vision and, above all, integration. [604] The ajna centre becomes active increasingly as alignment, leading to integration, is achieved. I would have you use this meditation twice a day, laying the emphasis upon the exercise angle or aspect of the work and paying no attention at all to the possible spiritual value. I would remind you here (and when I say this I am speaking to all the group members and not only to you) that work in connection with the centres is incidental to true spiritual development and is or should be purely mechanical and automatic. The centres are physical, being aspects of the etheric body and constructed of etheric matter, and their function is simply to express the energy which flows in from the astral body, or from the mind or from the soul (in three aspects). After the third initiation, they will register energy flowing in from the Monad—again through three types of force. If this can be grasped, disciples in training will not over-emphasise the system of centres through which the expressive energy must come.

Về sự tham thiền cá nhân của em, Tôi tìm cách trao cho em một bài sẽ tăng cường hoạt động của luân xa ajna và sẽ tạo ra tầm nhìn mới, và trên hết là sự tích hợp. [604] Luân xa ajna ngày càng trở nên hoạt động khi sự chỉnh hợp, dẫn đến sự tích hợp, được đạt tới. Tôi muốn em sử dụng bài tham thiền này hai lần mỗi ngày, đặt trọng tâm vào góc độ bài tập hay phương diện của công việc và hoàn toàn không chú ý đến giá trị tinh thần có thể có. Ở đây Tôi muốn nhắc em—và khi Tôi nói điều này, Tôi đang nói với tất cả các thành viên nhóm chứ không chỉ với em—rằng công việc liên quan đến các luân xa chỉ là phần phụ của sự phát triển tinh thần chân chính và là, hoặc nên là, thuần túy cơ học và tự động. Các luân xa thuộc hồng trần, vì là các phương diện của thể dĩ thái và được cấu tạo bằng vật chất dĩ thái, và chức năng của chúng chỉ đơn giản là biểu đạt năng lượng tuôn vào từ thể cảm dục, hoặc từ thể trí hay từ linh hồn—trong ba phương diện. Sau lần điểm đạo thứ ba, chúng sẽ ghi nhận năng lượng tuôn vào từ Chân thần—lại qua ba loại mãnh lực. Nếu điều này có thể được nắm bắt, các đệ tử đang được huấn luyện sẽ không quá nhấn mạnh hệ thống các luân xa mà qua đó năng lượng biểu đạt phải đi đến.

The object of this particular exercise is to centralise the consciousness (plus the energies of which it is aware within the physical body) in the centre between the eyebrows, the ajna centre. When this is done, you have a secondary form of integration made possible, i.e., the integration of forces coming from the outer world of impression, via the five senses and the synthesising sense, the mind. You have, therefore, energies seeking outlet and expression, via the etheric body as it conditions and renders active the dense physical body, and at the same time energies making known to the man the world of spiritual being. Of these two worlds of sense perception, the two eyes are the symbol, as you know.

Mục tiêu của bài tập đặc biệt này là tập trung tâm thức—cộng với các năng lượng mà nó ý thức được bên trong thể xác—vào trung tâm giữa hai chân mày, luân xa ajna. Khi điều này được thực hiện, em có một hình thức tích hợp thứ hai trở nên khả dĩ, tức là sự tích hợp của các mãnh lực đến từ thế giới ấn tượng bên ngoài, qua năm giác quan và giác quan tổng hợp, tức thể trí. Vì vậy, em có các năng lượng tìm lối thoát và sự biểu đạt, qua thể dĩ thái khi nó tác động lên và làm cho thể xác đậm đặc hoạt động, đồng thời có các năng lượng làm cho con người biết đến thế giới của hiện tồn tinh thần. Về hai thế giới tri giác này, hai con mắt là biểu tượng, như em biết.

1. Achieve quiet. Relax with as much rapidity as possible and with little mental activity. Then raise the consciousness to the ajna centre.

1. Hãy đạt sự yên tĩnh. Thư giãn nhanh hết mức có thể và với ít hoạt động trí tuệ. Rồi nâng tâm thức lên luân xa ajna.

2. Sound the OM, visualising the integration of the personality with the soul. In doing this, link the pituitary centre with the head centre, above the pineal gland.

2. Xướng linh từ OM, hình dung sự tích hợp của phàm ngã với linh hồn. Khi làm điều này, hãy liên kết trung tâm tuyến yên với trung tâm đầu, ở phía trên tuyến tùng.

3. Then pause and after a mental grasp of what is to be done proceed as follows: [605]

3. Rồi tạm dừng và sau khi nắm bắt bằng trí tuệ điều cần làm, hãy tiến hành như sau: [605]

a. Take a long breath and draw the energy from the throat centre in so doing.

a. Hít một hơi dài và trong khi làm như vậy, rút năng lượng từ trung tâm cổ họng.

b. Repeat the breathing and draw the energy from the heart centre, holding these two withdrawn energies imaginatively in the ajna centre.

b. Lặp lại hơi thở và rút năng lượng từ trung tâm tim, giữ hai năng lượng đã được rút về này bằng sự tưởng tượng trong luân xa ajna.

c. Repeat the process in connection with the solar plexus.

c. Lặp lại tiến trình liên quan đến tùng thái dương.

d. Repeat also in connection with the sacral centre.

d. Cũng lặp lại liên quan đến trung tâm xương cùng.

e. Recognising then that four types of energy have been centred in the ajna centre, take another long breath and draw the energy of the muladhara centre to the ajna focus.

e. Khi ấy, nhận biết rằng bốn loại năng lượng đã được tập trung trong luân xa ajna, hãy hít thêm một hơi dài và rút năng lượng của trung tâm muladhara về điểm tập trung ajna.

f. Then consciously endeavour to hold all the energies there.

f. Rồi hãy có ý thức cố gắng giữ tất cả các năng lượng ở đó.

4. At this point, dedicate the energies of the personality (which express themselves through these five centres and the ajna centre, making six centres in all) and breathe them back again—by an act of the will—into the centres to which they belong. Do not do this sequentially and piecemeal but as one dynamic outbreathing; see these energies travelling down the spine to their respective resting places, carrying new life, pure stimulation and dynamic will to each and every centre.

4. Tại điểm này, hãy thánh hiến các năng lượng của phàm ngã—vốn biểu đạt qua năm trung tâm này và luân xa ajna, tổng cộng thành sáu trung tâm—và thở chúng trở lại, bằng một hành động của ý chí, vào các trung tâm mà chúng thuộc về. Đừng làm điều này theo tuần tự và từng phần, mà như một sự thở ra năng động duy nhất; hãy thấy các năng lượng này đi xuống dọc cột sống đến những nơi an trú tương ứng của chúng, mang sự sống mới, sự kích thích tinh khiết và ý chí năng động đến từng trung tâm một.

5. Then, as the soul informing the body, sound the OM and proceed with the group meditation.

5. Rồi, với tư cách là linh hồn thấm nhuần thân thể, hãy xướng linh từ OM và tiếp tục với sự tham thiền nhóm.

This meditation should definitely aid in increasing the activity of the physical body along the lines you have for so long desired, and make the discipline for which you have striven, no longer a discipline but a life of unconscious, automatic spiritual expression.

Bài tham thiền này chắc chắn sẽ trợ giúp trong việc gia tăng hoạt động của thể xác theo các đường lối mà em đã mong muốn từ lâu, và khiến kỷ luật mà em đã nỗ lực đạt được không còn là kỷ luật nữa, mà là một đời sống biểu đạt tinh thần vô thức, tự động.

August 1942

Tháng Tám 1942

1. Your feet have onward marched. The Path stands clear revealed. You know the step ahead.

1. Đôi chân em đã tiến bước về phía trước. Đường Đạo hiện rõ ràng được mặc khải. Em biết bước kế tiếp.

2. I would ask you not to backward look, my brother, but [606] tread with confidence the Lighted Way. It leads to Me. Your soul and I are One.

2. Tôi xin em đừng nhìn lại phía sau, huynh đệ của Tôi, mà hãy [606] bước đi với lòng tin tưởng trên Con Đường được Soi Sáng. Nó dẫn đến Tôi. Linh hồn em và Tôi là Một.

3. Yet I am always near thee—nearer than breeze, or breath or air. Your soul, your Master and yourself are truly one. Reflect.

3. Tuy vậy, Tôi luôn ở gần em—gần hơn làn gió, hơi thở hay không khí. Linh hồn em, Chân sư của em và chính em thật sự là một. Hãy suy ngẫm.

4. Stand free. Let naught disturb your calm. Yet seek not peace. Keep poised upon a pinnacle of love.

4. Hãy đứng tự do. Đừng để điều gì khuấy động sự bình tĩnh của em. Tuy vậy, đừng tìm kiếm bình an. Hãy giữ thế quân bình trên một đỉnh cao của tình thương.

5. I seek to have you come closer into the work. Seize upon opportunity when it may come.

5. Tôi tìm cách đưa em đến gần hơn với công việc. Hãy nắm lấy cơ hội khi nó đến.

6. Move forward in my Ashram; the middle Place within that Ashram is the outer Place within the centre of K.H. You know your place.

6. Hãy tiến tới trong Ashram của Tôi; Nơi ở giữa trong Ashram ấy là Nơi bên ngoài trong trung tâm của Chân sư K.H. Em biết chỗ của mình.

September 1943

Tháng Chín 1943

MY FRIEND AND HELPER:

BẠN CỦA TÔI VÀ NGƯỜI TRỢ GIÚP:

It has been under discussion between K.H. and myself as to whether you should at this time move into His Ashram or whether you should still stay within my Ashram which—in the last analysis—is a part of His. I hinted at this fact to you in one of the six statements which I gave you in my last instruction. It has been decided between us (subject to the approval of your own soul) that the work in my Ashram calls for your cooperation and help, particularly as A.A.B. is now working at her own post within the Ashram of K.H. This decision was reached for certain definite reasons which it is only fair should be communicated to you:

Chân sư K.H. và Tôi đã bàn luận xem vào lúc này em nên chuyển vào Ashram của Ngài hay vẫn nên ở lại trong Ashram của Tôi, vốn—xét đến cùng—là một phần của Ashram Ngài. Tôi đã gợi ý sự kiện này cho em trong một trong sáu câu phát biểu mà Tôi đã trao cho em trong huấn thị gần nhất của Tôi. Chúng tôi đã quyết định với nhau, tùy thuộc vào sự chấp thuận của chính linh hồn em, rằng công việc trong Ashram của Tôi cần đến sự hợp tác và trợ giúp của em, đặc biệt vì A.A.B. hiện đang làm việc tại vị trí riêng của bà trong Ashram của Chân sư K.H. Quyết định này được đưa ra vì một số lý do xác định mà công bằng ra cần được truyền đạt cho em:

First: It was felt that your present type of physical vehicle could not adequately take the heightened vibration which distinguishes the Ashram of a Chohan from that of a Master. It would require too much adjustment and consequent delay in the work to be done, especially in this time of world crisis wherein every disciple has to contribute all that is in him. You yourself know that consistently you have been told by me that your major hindrance was the physical body—a body equipped to render the service and complete certain karmic adjustments during this life. People seldom appreciate adequately the fact that the physical body is a definite channel of contact (and sometimes the only one as it expresses [607] physical plane relationships of a karmic nature) between themselves and the people with whom they have to work out certain relationships. This has been pronouncedly so in your case; this is a fact which you will grasp with greater facility when no longer limited by that physical body, as are all who are in incarnation, particularly disciples at your stage of expression. Have you not realised that one of the lessons which every disciple has to learn is the lesson of limitations? Usually this lesson climaxes in some one incarnation wherein—again as in your case—there is full and free inner expression and at the same time definite physical limitations. If you were now transferred into the Ashram of K.H., it would necessitate too much expenditure of protective force on the part of K.H. in order to prevent the disruption of some of the atoms of your body, to offset a too rapid purification of the cells of the physical body, to stem a too direct stimulation of the centres in the etheric body, and a consequent arresting of the work you are doing—and doing so well. Your personal karma still demands that you stay where you are—and I still need your aid, my brother.

Thứ nhất: Chúng tôi cảm thấy rằng loại vận cụ hồng trần hiện tại của em không thể tiếp nhận một cách thích đáng rung động được nâng cao vốn phân biệt Ashram của một Chohan với Ashram của một Chân sư. Điều đó sẽ đòi hỏi quá nhiều sự điều chỉnh và hệ quả là làm chậm trễ công việc phải thực hiện, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng thế giới này, khi mọi đệ tử đều phải đóng góp tất cả những gì có trong mình. Chính em biết rằng Tôi đã nhất quán nói với em rằng trở ngại chính của em là thể xác—một thể xác được trang bị để thực hiện việc phụng sự và hoàn tất một số điều chỉnh nghiệp quả nhất định trong đời này. Người ta hiếm khi đánh giá đúng mức sự kiện rằng thể xác là một kênh tiếp xúc xác định, và đôi khi là kênh duy nhất vì nó biểu lộ [607] những mối quan hệ trên cõi hồng trần có bản chất nghiệp quả, giữa chính họ và những người mà họ phải giải quyết một số quan hệ nhất định. Điều này đã rất rõ rệt trong trường hợp của em; đây là một sự kiện mà em sẽ nắm bắt dễ dàng hơn khi không còn bị giới hạn bởi thể xác ấy, như tất cả những ai đang lâm phàm đều bị giới hạn, đặc biệt là các đệ tử ở giai đoạn biểu lộ của em. Em há chẳng nhận ra rằng một trong những bài học mà mọi đệ tử phải học là bài học về các giới hạn sao? Thông thường bài học này đạt đến cao điểm trong một lần lâm phàm nào đó, trong đó—lại như trường hợp của em—có sự biểu lộ bên trong đầy đủ và tự do, đồng thời có những giới hạn hồng trần xác định. Nếu giờ đây em được chuyển vào Ashram của Chân sư K.H., điều đó sẽ đòi hỏi Chân sư K.H. phải tiêu hao quá nhiều mãnh lực bảo vệ để ngăn sự tan rã của một số nguyên tử trong thể xác của em, để hóa giải một sự thanh luyện quá nhanh các tế bào của thể xác, để chặn lại một sự kích thích quá trực tiếp các trung tâm trong thể dĩ thái, và hệ quả là làm ngưng trệ công việc em đang làm—và đang làm rất tốt. Nghiệp quả cá nhân của em vẫn đòi hỏi em ở lại nơi em đang ở—và Tôi vẫn cần sự trợ giúp của em, huynh đệ của Tôi.

Second: This particular group of disciples in my Ashram, with which you are and will be affiliated, needs your help and service. That is another phase of karma (this time the karma of a pledged disciple) which you have assumed. The years have proved your staying power, your unswerving devotion and your stable love for your co-workers. All that is still needed and will be increasingly required. An understanding heart and a steady application to the work to be done are great attributes, and speaking esoterically, both I and your group brothers “know where to find you.” The part that you have to play will slowly emerge and become clear to your mind and you, I know, will meet requirements as they arise.

Thứ hai: Nhóm đệ tử đặc biệt này trong Ashram của Tôi, nhóm mà em đang và sẽ liên kết, cần sự trợ giúp và phụng sự của em. Đó là một giai đoạn khác của nghiệp quả, lần này là nghiệp quả của một đệ tử đã cam kết, mà em đã đảm nhận. Năm tháng đã chứng tỏ sức bền bỉ của em, lòng sùng tín không lay chuyển và tình thương vững bền của em đối với các cộng sự. Tất cả những điều ấy vẫn còn cần thiết và sẽ ngày càng được đòi hỏi. Một trái tim thấu hiểu và sự chuyên tâm vững vàng vào công việc phải làm là những thuộc tính lớn lao, và nói về mặt nội môn, cả Tôi lẫn các huynh đệ trong nhóm của em đều “biết tìm em ở đâu.” Phần việc mà em phải đóng sẽ từ từ hiện ra và trở nên rõ ràng đối với thể trí em, và Tôi biết em sẽ đáp ứng các đòi hỏi khi chúng xuất hiện.

Third: Your work must increasingly be that of the teacher, and you must learn more and more to bring through, for the use of the many, the knowledges stored up by your soul through many lives of training; this knowledge, rapidly being transmuted by you into wisdom, must be made available for your personality to use as it seeks to help and train other personalities to become soul conscious. If you were to [608] move into the more advanced Ashram you might find that you could not do this, for you would not only be occupied in making certain needed adjustments, but would also have to apply yourself to fresh learning. It has been felt by Us, therefore, that for the remainder of this incarnation you should develop the facility to make full use of what you have acquired, so that the stream of outgoing teaching can become so direct that you will establish a teaching facility and technique for your next incarnation which will stand you in good stead when the work your soul has planned for you opens up in front of you.

Thứ ba: Công việc của em phải ngày càng là công việc của người huấn sư, và em phải học ngày càng nhiều hơn cách chuyển đạt, để nhiều người sử dụng, những tri thức mà linh hồn em đã tích trữ qua nhiều kiếp huấn luyện; tri thức này, đang được em nhanh chóng chuyển hoá thành minh triết, phải được làm cho sẵn có để phàm ngã em sử dụng khi nó tìm cách giúp đỡ và huấn luyện các phàm ngã khác trở nên có ý thức về linh hồn. Nếu em [608] chuyển vào Ashram tiến xa hơn, em có thể thấy rằng mình không thể làm điều này, vì em không những bận rộn trong việc thực hiện một số điều chỉnh cần thiết, mà còn phải chuyên tâm vào việc học hỏi mới. Vì vậy, Chúng tôi đã cảm thấy rằng trong phần còn lại của lần lâm phàm này, em nên phát triển khả năng sử dụng trọn vẹn những gì em đã đạt được, để dòng giáo huấn tuôn ra có thể trở nên trực tiếp đến mức em sẽ thiết lập được một khả năng và kỹ thuật giảng dạy cho lần lâm phàm kế tiếp, điều sẽ giúp ích lớn lao cho em khi công việc mà linh hồn em đã hoạch định cho em mở ra trước mặt em.

You have, therefore, three things to do as the future unrolls:

Vì vậy, em có ba điều phải làm khi tương lai mở ra:

1. Continue with the discipline and right control of the physical body so that it can increasingly become a better and more usable instrument.

1. Tiếp tục kỷ luật và kiểm soát đúng đắn thể xác, để nó ngày càng có thể trở thành một khí cụ tốt hơn và hữu dụng hơn.

2. Form a steady and stable focal point of loving attention to which your group brothers can turn in years to come.

2. Tạo thành một tiêu điểm vững vàng và ổn định của sự chú tâm đầy tình thương, để các huynh đệ trong nhóm của em có thể hướng về trong những năm sắp tới.

3. Give out to others more and more of what you know. You have a good field of expression in the work for which A.A.B. tells me you are responsible. Use this increasingly—with firmness and judgment. Let not your heart always determine the issues at stake, but call in the balancing head increasingly. The so-called kind immediate thing or the thing which the student wants is not always the wise thing or that which will help him the most.

3. Trao cho người khác ngày càng nhiều hơn những gì em biết. Em có một lĩnh vực biểu lộ tốt trong công việc mà A.A.B. nói với Tôi rằng em chịu trách nhiệm. Hãy sử dụng điều này ngày càng nhiều hơn—với sự vững chắc và phán đoán. Đừng để trái tim em luôn luôn quyết định các vấn đề đang đặt ra, mà hãy ngày càng kêu gọi cái đầu quân bình. Điều gọi là việc tử tế tức thời, hay điều mà đạo sinh muốn, không phải lúc nào cũng là điều minh triết hoặc điều sẽ giúp y nhiều nhất.

The remarks which I have made anent the two Ashrams will have awakened interest in your mind and you will be pondering upon the relation existing between the various Ashrams. Scattered throughout these personal instructions, as well as in the group teachings, will be found much that has hitherto not been given out or which is relatively new, and hence the value of reading with care the instructions of the individual group members. There was much of esoteric value in the various statements given last year to the group members, [609] and the sixth sentence in yours embodies a new and interesting truth.

Những nhận xét mà Tôi đã đưa ra liên quan đến hai Ashram hẳn đã khơi dậy sự quan tâm trong thể trí em, và em sẽ suy ngẫm về mối quan hệ hiện hữu giữa các Ashram khác nhau. Rải rác trong các huấn thị cá nhân này, cũng như trong các giáo huấn dành cho nhóm, sẽ tìm thấy nhiều điều cho đến nay chưa được truyền ra hoặc tương đối mới mẻ, và vì thế việc đọc kỹ các huấn thị của từng thành viên trong nhóm có giá trị. Có nhiều điều có giá trị nội môn trong các câu phát biểu khác nhau đã được trao năm ngoái cho các thành viên trong nhóm, [609] và câu thứ sáu trong phần của em chứa đựng một chân lý mới mẻ và thú vị.

There are many Ashrams upon the various rays. My Ashram, being a second ray Ashram, is naturally closely related to that of K.H., which is the central or the most important Ashram upon the second ray line of energy as it penetrates the hierarchical centre. K.H. is at this time, under the Christ, the working Representative of the second ray in the Hierarchy. The Christ is the link between the second ray as it expresses itself in the Hierarchy and Shamballa. Initiates of high degree and Masters on all the rays have Their Own Ashrams, but not all are teaching centres; this is a point to be remembered, as well as the fact that all of them are not concerned primarily with the unfoldment of the human consciousness and with the needs of the human kingdom. There are other types of consciousness of deep and real importance in the great chain of Hierarchy stretching from below to far above the human kingdom. This is a point apt to be forgotten.

Có nhiều Ashram trên các cung khác nhau. Ashram của Tôi, là một Ashram cung hai, tự nhiên có liên hệ mật thiết với Ashram của Chân sư K.H., vốn là Ashram trung tâm hay quan trọng nhất trên tuyến năng lượng cung hai khi nó thâm nhập trung tâm Thánh Đoàn. Vào lúc này, dưới quyền Đức Christ, Chân sư K.H. là Đại Diện đang hoạt động của cung hai trong Thánh Đoàn. Đức Christ là mối liên kết giữa cung hai khi nó biểu lộ trong Thánh Đoàn và Shamballa. Các điểm đạo đồ cấp cao và các Chân sư trên mọi cung đều có Ashram Riêng của Các Ngài, nhưng không phải tất cả đều là các trung tâm giảng dạy; đây là một điểm cần ghi nhớ, cũng như sự kiện rằng không phải tất cả các Ashram ấy đều chủ yếu liên quan đến sự khai mở tâm thức con người và nhu cầu của giới nhân loại. Có những loại tâm thức khác có tầm quan trọng sâu xa và thực sự trong chuỗi thứ bậc lớn trải dài từ bên dưới đến rất cao bên trên giới nhân loại. Đây là một điểm dễ bị quên lãng.

I, as a Master upon the second ray, have an Ashram which is a branch, an affiliate, an outgrowth or a specialised part of the Ashram of K.H. It is because of this that the services of A.A.B. have been made available to me for two decades and more than two decades. Words here are limiting and confusing. In the statement of six sentences which was given to you last year, you were told to move forward in my Ashram. The meaning is that in the great interlocking directorate of the Hierarchy and in the basic relation between the Ashrams (as, for instance, all Ashrams upon the second ray) there arises a point where the circle of an Ashram overlaps or interpenetrates the circle of another Ashram, and at their point of contact and of overlapping an increased intercourse and interplay becomes possible. It is here that you have to find your place. It might be pictured somewhat like the diagram (page 610), as regards my Ashram and that of K.H.

Tôi, với tư cách là một Chân sư trên cung hai, có một Ashram là một nhánh, một chi nhánh liên kết, một sự tăng trưởng phát sinh hay một phần chuyên biệt của Ashram của Chân sư K.H. Chính vì điều này mà các phụng sự của A.A.B. đã được dành sẵn cho Tôi trong hai thập niên và hơn hai thập niên. Từ ngữ ở đây gây giới hạn và rối trí. Trong câu phát biểu gồm sáu câu đã được trao cho em năm ngoái, em được bảo hãy tiến tới trong Ashram của Tôi. Ý nghĩa là trong ban điều hành đan xen rộng lớn của Thánh Đoàn và trong mối quan hệ căn bản giữa các Ashram, chẳng hạn như tất cả các Ashram trên cung hai, phát sinh một điểm nơi vòng tròn của một Ashram chồng lấn hoặc thâm nhập vào vòng tròn của một Ashram khác, và tại điểm tiếp xúc cùng chồng lấn của chúng, một sự giao tiếp và tác động qua lại gia tăng trở nên khả hữu. Chính ở đây em phải tìm vị trí của mình. Điều đó có thể được hình dung phần nào như sơ đồ ở trang 610, xét về Ashram của Tôi và Ashram của Chân sư K.H.

At this Middle Point there is a coming and a going; there is relation and contact; there is increased opportunity and inspiration; there are focal points of transmutation, of transition and of transformation. It is towards this area of merging [610] and of fusion that you are now asked to move. Reflect upon this and get the deep spiritual implications which this picture of relationship between the Ashrams can convey to you. By your effort, your determination and your understanding you can form part of the group which stands in this “Middle Chamber” (to use Masonic terminology) and can work from this point in the ashramic life. This important little diagram can be applied also to the relation between the Hierarchy and Humanity—the New Group of World Servers occupying this lower midway point.

Tại Điểm Giữa này có sự đến và đi; có mối quan hệ và tiếp xúc; có cơ hội và cảm hứng gia tăng; có những tiêu điểm của chuyển hoá, của Chuyển tiếp và của chuyển đổi. Chính về phía vùng hòa nhập [610] và dung hợp này mà giờ đây em được yêu cầu tiến đến. Hãy suy ngẫm về điều này và nắm lấy những hàm ý tinh thần sâu xa mà bức tranh về mối quan hệ giữa các Ashram này có thể truyền đạt cho em. Bằng nỗ lực, quyết tâm và sự thấu hiểu của em, em có thể trở thành một phần của nhóm đứng trong “Phòng Giữa” này, dùng thuật ngữ Tam Điểm, và có thể làm việc từ điểm này trong đời sống ashram. Sơ đồ nhỏ quan trọng này cũng có thể được áp dụng cho mối quan hệ giữa Thánh Đoàn và Nhân loại—Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chiếm giữ điểm giữa thấp hơn này.

It will be obvious to you also how the symbolism of an eclipse will come into your mind, for when the merging is complete, humanity and the Hierarchy will be one; there will be no outer or inner and no middle chamber, but only complete unity. Later in our planetary history, this design will also depict the relation of Shamballa to the Hierarchy. It can also be applied most usefully to the relationship between soul and personality, wherein the “encroaching light of the soul obliterates the dim light of the personality, and within that lighted area the disciple learns to stand.”

Em cũng sẽ thấy rõ biểu tượng của một nhật thực sẽ xuất hiện trong thể trí em như thế nào, vì khi sự hòa nhập hoàn tất, nhân loại và Thánh Đoàn sẽ là một; sẽ không còn bên ngoài hay bên trong, không còn phòng giữa, mà chỉ còn sự hợp nhất hoàn toàn. Về sau trong lịch sử hành tinh của chúng ta, mô hình này cũng sẽ mô tả mối quan hệ của Shamballa với Thánh Đoàn. Nó cũng có thể được áp dụng một cách rất hữu ích cho mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, trong đó “ánh sáng lấn vào của linh hồn xóa mờ ánh sáng lờ mờ của phàm ngã, và trong vùng được soi sáng ấy, đệ tử học cách đứng vững.”

There is much more that could be said, my brother, but reflection and prolonged thought upon what has been said will enable you to add that much more.

Còn nhiều điều nữa có thể được nói ra, huynh đệ của Tôi, nhưng sự suy ngẫm và tư duy kéo dài về những gì đã được nói sẽ giúp em tự thêm vào nhiều điều hơn nữa.

I would suggest that you take these thoughts into your meditation, and that you also use this little diagram as the theme for reflection during the coming year. Draw up your [611] own meditation form, embodying these concepts and preserving steadfastly in your consciousness the imperative command of your soul to “move forward.” Look for indications of this moving forward in the growth of increased understanding, in a sense at times of a greatly heightened vibration, and also in a greatly increased facility in imparting knowledge. Learn to know yourself as the disciple, and be not so intensely preoccupied with yourself as the struggling aspiring personality. Personalities enter not into Ashrams— only souls.

Tôi đề nghị em đưa những tư tưởng này vào tham thiền của mình, và cũng dùng sơ đồ nhỏ này làm chủ đề suy ngẫm trong năm tới. Hãy lập nên hình thức tham thiền [611] riêng của em, bao hàm các khái niệm này và giữ vững chắc trong tâm thức em mệnh lệnh cấp bách của linh hồn em là “tiến tới.” Hãy tìm các dấu hiệu của sự tiến tới này trong sự tăng trưởng của hiểu biết gia tăng, trong cảm thức đôi lúc về một rung động được nâng cao rất nhiều, và cũng trong một khả năng tăng lên rất nhiều trong việc truyền đạt tri thức. Hãy học biết chính mình như người đệ tử, và đừng quá mãnh liệt bận tâm với chính mình như một phàm ngã chí nguyện đang tranh đấu. Các phàm ngã không bước vào Ashram—chỉ các linh hồn mới bước vào.

There is no need for me to ask you to stand by A.A.B. The rhythm of years cannot be disturbed and you have always stood by her and you always will.

Tôi không cần phải yêu cầu em đứng bên A.A.B. Nhịp điệu của nhiều năm không thể bị xáo trộn, và em đã luôn đứng bên bà và sẽ luôn như vậy.

November 1944

Tháng Mười Một 1944

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

The past year has seen much change in your life, and for this I earlier sought to prepare you; it is change which is largely in the nature of release and of a freeing for more effective service. In reviewing what I said to you last year (and this I have carefully done in order to help you more effectively in the process of adjustment which faces you) I am impressed with the nature and scope of the information which I saw fit to impart to you. I wonder if the implications of what I said made due impression upon your mind? The following information was given you:

Năm vừa qua đã chứng kiến nhiều thay đổi trong đời sống em, và Tôi đã sớm tìm cách chuẩn bị em cho điều này; đó là sự thay đổi phần lớn mang bản chất giải thoát và giải phóng để phụng sự hữu hiệu hơn. Khi xem lại những gì Tôi đã nói với em năm ngoái, và Tôi đã làm điều này một cách cẩn thận để giúp em hữu hiệu hơn trong tiến trình điều chỉnh đang đối diện với em, Tôi ấn tượng trước bản chất và phạm vi của thông tin mà Tôi thấy thích hợp để truyền đạt cho em. Tôi tự hỏi liệu những hàm ý của điều Tôi đã nói có tạo được ấn tượng đúng mức trên thể trí em không? Thông tin sau đây đã được trao cho em:

1. That the Master K.H. was aware of you and of your relation to Him.

1. Rằng Chân sư K.H. biết đến em và mối quan hệ của em với Ngài.

2. That it had been decided, in view of A.A.B.’s recall for more definite work in His Ashram, that you would continue to work in my Ashram for the remainder of this life. A.A.B. had temporarily given up some of her work in the Ashram of K.H. in order to be of assistance to me in the specialised work I was attempting to do and which she was equipped to aid.

2. Rằng do việc A.A.B. được gọi trở lại để làm công việc xác định hơn trong Ashram của Ngài, đã có quyết định rằng em sẽ tiếp tục làm việc trong Ashram của Tôi cho phần còn lại của đời này. A.A.B. đã tạm thời từ bỏ một phần công việc của bà trong Ashram của Chân sư K.H. để trợ giúp Tôi trong công việc chuyên biệt mà Tôi đang cố gắng thực hiện và bà được trang bị để hỗ trợ.

3. That the “middle point” between the auras or spheres of influence of the related Ashrams should form your [612] immediate objective and the goal of your endeavour. This would mean, in your case, that when you have achieved the “freedom of the middle point” you would be sensitive to impression from me and from my Ashram with which you are now affiliated, but you would also be sensitive to impressions from the Ashram of K.H., via A.A.B.

3. Rằng “điểm giữa” giữa các hào quang hay các phạm vi ảnh hưởng của các Ashram có liên hệ nên tạo thành mục tiêu [612] trước mắt và đích đến của nỗ lực em. Trong trường hợp của em, điều này có nghĩa là khi em đạt được “sự tự do của điểm giữa,” em sẽ nhạy bén với ấn tượng từ Tôi và từ Ashram của Tôi, nơi em hiện đang liên kết, nhưng em cũng sẽ nhạy bén với các ấn tượng từ Ashram của Chân sư K.H., thông qua A.A.B.

4. It was also indicated to you that the vehicle which you should seek to discipline and subject to refinement was the physical body. The density of your physical vehicle is both an asset and a liability; it is for you to discover the nature of both and offset the liabilities through discipline and employ the assets in active service.

4. Em cũng đã được chỉ ra rằng vận cụ mà em nên tìm cách kỷ luật và đặt dưới sự tinh luyện là thể xác. Mật độ của vận cụ hồng trần của em vừa là một tài sản vừa là một gánh nặng; em phải khám phá bản chất của cả hai, hóa giải các gánh nặng bằng kỷ luật và sử dụng các tài sản trong phụng sự tích cực.

These are four of the more important facts which I earlier gave you and I recall them to your attention, owing to their major significances in providing vision of possibility and of necessity.

Đây là bốn trong số những sự kiện quan trọng hơn mà trước đây Tôi đã trao cho em, và Tôi nhắc chúng lại để em chú ý, vì các thâm nghĩa lớn lao của chúng trong việc cung cấp tầm nhìn về khả năng và sự cần thiết.

The future holds much of true service and opportunity for you, and in the place where your heart lies. When you have successfully and rightly freed yourself from other claims, I would urge you to look forward with joyful anticipation to a fuller and a richer life. A great Law of Compensation comes into play in a peculiar manner and along special lines where accepted disciples are concerned. The emphasis laid upon discipline, upon purification, upon hard demanding work and upon relinquishing that which the personality holds dear, is a needed phase of occult development. This is generally and often sadly recognised. But—paralleling the period of pain and difficulty—is a compensatory activity of the soul which brings all life and circumstance into true perspective and changes attitudes so completely that the recognition of adequate reward supersedes the realisation of pain. The Law of Sacrifice and the Law of Compensation are closely allied, but the first to become active in the life and to become a recognised factor in daily living is sacrifice. Compensation comes later into recognition.

Tương lai giữ cho em nhiều phụng sự chân thực và cơ hội, tại nơi trái tim em hướng về. Khi em đã thành công và đúng đắn giải phóng mình khỏi những đòi hỏi khác, Tôi thúc giục em hãy nhìn về phía trước với niềm mong đợi hoan hỉ một đời sống đầy đủ hơn và phong phú hơn. Một Định luật Bù Trừ lớn lao đi vào hoạt động theo một cách đặc biệt và theo những đường lối riêng nơi các đệ tử được chấp nhận. Sự nhấn mạnh đặt lên kỷ luật, thanh luyện, công việc khó khăn đòi hỏi cao, và việc từ bỏ những gì phàm ngã yêu quý, là một giai đoạn cần thiết của sự phát triển huyền môn. Điều này thường được nhận ra và nhiều khi một cách buồn bã. Nhưng—song hành với thời kỳ đau đớn và khó khăn—là một hoạt động bù trừ của linh hồn, đưa toàn bộ đời sống và hoàn cảnh vào đúng viễn cảnh và thay đổi thái độ hoàn toàn đến mức sự nhận biết về phần thưởng thích đáng thay thế sự nhận ra nỗi đau. Định luật Hi Sinh và Định luật Bù Trừ liên hệ mật thiết với nhau, nhưng điều đầu tiên trở nên hoạt động trong đời sống và trở thành một yếu tố được nhận biết trong sinh hoạt hằng ngày là sự hi sinh. Sự bù trừ được nhận biết về sau.

You have, my beloved brother, lived a full and rich life; you have been brought into contact with thousands of people [613] of all degrees, religions and points of view; you have known a family life, oft of great pressures but also of frequent happiness; you have fulfilled your duties and adhered to your obligations. Along with all the many impacts upon your life and the many demands upon you, you have successfully endeavoured to live the dual life of the disciple, to serve me and participate, as far as you could see it, in the work of my Ashram. There have been failures, and of these I have not hesitated to tell you oft.

Huynh đệ yêu dấu của Tôi, em đã sống một đời sống đầy đủ và phong phú; em đã được đưa vào tiếp xúc với hàng ngàn người [613] thuộc mọi cấp độ, tôn giáo và quan điểm; em đã biết đời sống gia đình, thường có nhiều áp lực nhưng cũng thường có hạnh phúc; em đã hoàn thành bổn phận và giữ vững các nghĩa vụ của mình. Cùng với tất cả nhiều tác động lên đời sống em và nhiều đòi hỏi đặt lên em, em đã thành công trong nỗ lực sống đời sống kép của người đệ tử, phụng sự Tôi và tham dự, trong chừng mực em có thể thấy, vào công việc của Ashram Tôi. Đã có những thất bại, và Tôi đã không ngần ngại thường nói với em về chúng.

There still remains the conscious refining of the physical vehicle in order to enable you, in your next incarnation, to step into the ring-pass-not of the Ashram of the Chohan K.H. No one can do this for you. In your present circumstances it should be easy for you to apply that desired and recognised discipline—a discipline of such a practical nature that you need not that I should outline it for you. It is one that can and should be gradually applied; this method is more likely to be successful than a rigidly outlined and forcefully demanded procedure and life of physical sacrifice, which might succeed but which might, however, land you in another “field of failure.”

Vẫn còn lại việc tinh luyện có ý thức vận cụ hồng trần, để giúp em, trong lần lâm phàm kế tiếp, bước vào vòng-giới-hạn của Ashram của Chohan K.H. Không ai có thể làm điều này thay em. Trong hoàn cảnh hiện tại của em, em hẳn dễ dàng áp dụng kỷ luật mong muốn và đã nhận biết ấy—một kỷ luật có bản chất thực tiễn đến mức em không cần Tôi phác thảo cho em. Đó là một kỷ luật có thể và nên được áp dụng dần dần; phương pháp này có nhiều khả năng thành công hơn một thủ tục và đời sống hi sinh hồng trần được vạch ra cứng nhắc và đòi hỏi mạnh mẽ, điều có thể thành công nhưng cũng có thể đưa em vào một “lĩnh vực thất bại” khác.

Your place in relation to my work in the world is well recognised by you and I would have you remember that your major spiritual responsibility is essentially work that is close to my heart. Each soul you touch in the carrying out of these duties is placed in a particular and peculiar relation to you. Why, my brother? Because, as a member of my Ashram and as one who is approaching the more important Ashram of K.H., you can and do, by the fact of your relation to these aspirants and students, bring them en rapport with hierarchical force. This you should remember, and also bear in mind that the effects of implementing this relationship will be both good and bad. Contact with any disciple acts as a precipitating agency, evoking that which is good and bringing to the surface that which is undesirable and which needs revealing, in order to bring about its rejection. This force and responsibility you need to handle with more conscious understanding. Shrink not from the results, but see to it that reaction to contact with you and with your band of associates, [614] does have definite results. To handle these reactions was something which A.A.B. had to learn both to understand and use; you must learn also, brother of mine.

Vị trí của em trong liên hệ với công việc của Tôi trong thế giới được em nhận biết rõ, và Tôi muốn em nhớ rằng trách nhiệm tinh thần chính yếu của em, về bản chất, là công việc rất gần với trái tim Tôi. Mỗi linh hồn mà em chạm đến trong khi thực hiện những bổn phận này đều được đặt vào một mối quan hệ đặc biệt và riêng biệt với em. Tại sao, huynh đệ của Tôi? Bởi vì, với tư cách là một thành viên của Ashram Tôi và là người đang tiến gần đến Ashram quan trọng hơn của Chân sư K.H., em có thể và thực sự, do sự kiện mối quan hệ của em với những người chí nguyện và đạo sinh này, đưa họ vào tương giao với mãnh lực Thánh Đoàn. Em nên nhớ điều này, và cũng ghi nhớ rằng các hiệu quả của việc thực hiện mối quan hệ này sẽ vừa tốt vừa xấu. Tiếp xúc với bất kỳ đệ tử nào đều hành động như một tác nhân ngưng tụ, gợi lên điều tốt lành và đưa lên bề mặt điều không mong muốn và cần được mặc khải, để đưa đến sự loại bỏ nó. Mãnh lực và trách nhiệm này em cần xử lý với sự thấu hiểu có ý thức hơn. Đừng co rút trước các kết quả, nhưng hãy bảo đảm rằng phản ứng đối với sự tiếp xúc với em và với nhóm cộng sự của em [614] thực sự có những kết quả xác định. Xử lý những phản ứng này là điều A.A.B. đã phải học cả để thấu hiểu lẫn sử dụng; em cũng phải học như vậy, huynh đệ của Tôi.

I will be in touch with you increasingly as you bring the physical vehicle into a greater degree of purity and refinement. You are, in any case, sensitive to my impression. Move onward into light and find me ever there.

Tôi sẽ ngày càng tiếp xúc với em khi em đưa vận cụ hồng trần vào một mức độ thanh khiết và tinh luyện lớn hơn. Trong mọi trường hợp, em nhạy bén với ấn tượng của Tôi. Hãy tiến tới trong ánh sáng và luôn tìm thấy Tôi ở đó.

August 1946

Tháng Tám 1946

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I would ask you at this time to reread the instructions which I gave you last, and to read them in the light of the present circumstances. This is a painful and rather dreadful testing time for you and—to date—the immediate issue is uncertain, though the final issue is not.

Vào lúc này, Tôi yêu cầu em đọc lại những huấn thị mà Tôi đã trao cho em lần trước, và đọc chúng dưới ánh sáng của hoàn cảnh hiện tại. Đây là một thời kỳ thử thách đau đớn và khá khủng khiếp đối với em, và—cho đến nay—kết quả trước mắt vẫn chưa chắc chắn, dù kết quả cuối cùng thì đã chắc chắn.

The problem with which you are faced falls, in your mind (if you would only think clearly), into two parts: the problem of your reaction to the minorities question, and the problem of your relation to D.R.S. The first problem you say does not exist; the second problem you consider entirely the fault of D.R.S., and therefore, my brother, you stand clear of all blame and responsibility on both scores. As you are still dwelling in a personality and have not yet taken the third initiation, such complete innocence is far from likely.

Vấn đề mà em đang đối diện, trong thể trí em, nếu em chỉ chịu suy nghĩ rõ ràng, rơi vào hai phần: vấn đề phản ứng của em đối với vấn đề các nhóm thiểu số, và vấn đề quan hệ của em với D.R.S. Vấn đề thứ nhất, em nói là không tồn tại; vấn đề thứ hai, em cho là hoàn toàn lỗi của D.R.S., và do đó, huynh đệ của Tôi, em đứng ngoài mọi khiển trách và trách nhiệm trên cả hai phương diện. Vì em vẫn đang cư ngụ trong một phàm ngã và chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, sự vô tội hoàn toàn như thế là điều rất khó có thể xảy ra.

What really lies at the root of your reaction? Let me tell you. It is a latent, unsuspected and quite unconscious jealousy. This you will naturally deny, and this matters not if you will attempt to establish immediate contact with your second ray soul. Look back over your instructions. I have often told you, have I not, that you need to love more?

Điều gì thật sự nằm ở gốc rễ phản ứng của em? Hãy để Tôi nói cho em biết. Đó là một sự ghen tị tiềm ẩn, không ngờ tới và hoàn toàn vô thức. Tự nhiên em sẽ phủ nhận điều này, và điều đó không quan trọng nếu em cố gắng thiết lập tiếp xúc tức thời với linh hồn cung hai của em. Hãy nhìn lại các huấn thị của em. Tôi đã thường nói với em, phải không, rằng em cần thương yêu nhiều hơn?

I have stated the above in order to help you to see and think clearly. Right down the years, my beloved brother, I have taught you that your major limitation is your physical body; that necessarily means that your physical brain is a centre of limitation. I have begged you for nearly fifteen years to discipline your body, to attempt to refine it and to endeavour to make it more sensitive to spiritual impression. [615] It is on the seventh ray and therefore its task is to relate the inner to the outer. This it cannot yet do properly as you have taken few steps to refine it and change its quality. Your brain, therefore, responds easily to your first ray mind, and very little as yet to your second ray soul. Had it done so, truth and love would have distinguished you during this testing time, and little of these were seen. Your handling of this dual problem should make clear to you your limitations.

Tôi đã nói những điều trên để giúp em thấy và suy nghĩ rõ ràng. Suốt nhiều năm, huynh đệ yêu dấu của Tôi, Tôi đã dạy em rằng giới hạn chính của em là thể xác; điều đó tất yếu có nghĩa là bộ não hồng trần của em là một trung tâm giới hạn. Gần mười lăm năm qua, Tôi đã khẩn cầu em kỷ luật thể xác của mình, cố gắng tinh luyện nó và nỗ lực làm cho nó nhạy bén hơn với ấn tượng tinh thần. [615] Nó ở trên cung bảy, và vì vậy nhiệm vụ của nó là liên hệ bên trong với bên ngoài. Nó chưa thể làm điều này đúng đắn, vì em đã ít thực hiện những bước để tinh luyện nó và thay đổi phẩm tính của nó. Vì vậy, bộ não em dễ dàng đáp ứng với thể trí cung một của em, và cho đến nay rất ít đáp ứng với linh hồn cung hai của em. Nếu nó đã làm được như vậy, chân lý và tình thương hẳn đã là đặc trưng của em trong thời kỳ thử thách này, và người ta thấy rất ít những điều ấy. Cách em xử lý vấn đề kép này nên làm cho các giới hạn của em trở nên rõ ràng đối với em.

It is not my habit to touch upon the relations on the physical plane of personalities; however, this attitude of yours has created an ashramic situation, because of your relation in the past to the Ashram of K.H. and to the work which it had been planned that you should do as liaison officer standing at the midway point. A.A.B. has a definite position in K.H.’s Ashram and would normally be the one to act in collaboration with you. The situation is, therefore, changed, and becomes something to be adjusted. It has to be adjusted from your side, and herein lies the difficulty.

Tôi không có thói quen đề cập đến các quan hệ trên cõi hồng trần của các phàm ngã; tuy nhiên, thái độ này của em đã tạo ra một tình huống ashram, vì mối quan hệ của em trong quá khứ với Ashram của Chân sư K.H. và với công việc đã được hoạch định để em làm với tư cách là viên chức liên lạc đứng tại điểm giữa. A.A.B. có một vị trí xác định trong Ashram của Chân sư K.H. và bình thường sẽ là người hành động trong sự cộng tác với em. Vì vậy, tình huống đã thay đổi và trở thành điều cần điều chỉnh. Nó phải được điều chỉnh từ phía em, và chính trong đó có khó khăn.

This is enough on this distressing subject. It relates at present only to this life, but it has its roots in the past, and—unless you clear it up—will have to be dealt with again by you in a coming incarnation. Again I reiterate, this is largely due to your failure to refine the physical body.

Như thế là đủ về chủ đề đau buồn này. Hiện nay nó chỉ liên quan đến đời này, nhưng nó có gốc rễ trong quá khứ, và—trừ khi em giải quyết nó—em sẽ phải xử lý nó một lần nữa trong một lần lâm phàm sắp tới. Một lần nữa Tôi nhắc lại, điều này phần lớn do việc em không tinh luyện thể xác.

You are an earnest disciple, my brother; you are oriented to and serve the Hierarchy; you are dedicated and have much, very much, to give. Fit yourself, therefore, for a richer giving. Drop self-pity and the sense of magnanimous superiority you have lately been cultivating, and just (how can I put it to you in such a way that I can help?)—just be sorry, truly sorry, for the trouble you have caused.

Em là một đệ tử chân thành, huynh đệ của Tôi; em hướng về và phụng sự Thánh Đoàn; em đã hiến dâng và có nhiều, rất nhiều, để trao tặng. Vì vậy, hãy chuẩn bị chính mình cho một sự trao tặng phong phú hơn. Hãy bỏ lòng tự thương hại và cảm thức ưu việt rộng lượng mà gần đây em đã vun trồng, và chỉ, Tôi có thể nói với em thế nào để có thể giúp em đây—chỉ hãy hối tiếc, thật sự hối tiếc, về phiền toái mà em đã gây ra.

I am giving you no meditation outline. What you need at this time is a period of quiet reflection. I asked K.H. if He had any word for you, as He had sensed the situation, though He has no time for the details. He replied: “Tell R.S.U. to move to the periphery of your Ashram, away from the midway point, and there learn truly to love—and love the little ones.” [616]

Tôi không trao cho em một dàn bài tham thiền nào. Điều em cần vào lúc này là một giai đoạn suy ngẫm yên tĩnh. Tôi đã hỏi Chân sư K.H. xem Ngài có lời nào cho em không, vì Ngài đã cảm nhận tình huống, dù Ngài không có thời gian cho các chi tiết. Ngài đáp: “Hãy nói với R.S.U. chuyển ra ngoại vi Ashram của bạn, rời xa điểm giữa, và ở đó học cách thật sự thương yêu—và thương yêu những người bé nhỏ.” [616]

I can leave you with no better thought at this time, my beloved brother. I am steadily standing by—as is A.A.B.

Vào lúc này, huynh đệ yêu dấu của Tôi, Tôi không thể để lại cho em tư tưởng nào tốt hơn. Tôi vẫn vững vàng đứng bên em—A.A.B. cũng vậy.

November 1948

Tháng Mười Một 1948

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

You are no longer in my Ashram. I wonder if you have realised this fact? Like A.A.B. you are back in the Ashram of K. H., understudying—to some extent—A.A.B. so as to free her for work definitely connected with the coming of the Christ. You know that it is the rule in all Ashrams that all senior disciples have those associated with them who can take up the work that they are doing if need arises. When A.A.B. expressed the wish that you train for her work (to be taken up by you in certain aspects though not her work in direct relation with K.H.) the transfer was made. Your present work in… provides a fine training ground for this future work, provided that you lay the constant emphasis upon the esoteric aspect of all the teaching which you must increasingly give, and learn yourself always to live in the world of meaning.

Em không còn ở trong Ashram của Tôi nữa. Tôi tự hỏi em đã nhận ra sự kiện này chưa? Giống như A.A.B., em đã trở lại Ashram của Chân sư K.H., học việc—ở một mức độ nào đó—với A.A.B. để giải phóng bà cho công việc liên hệ xác định với sự đến của Đức Christ. Em biết rằng trong mọi Ashram, quy luật là tất cả các đệ tử lâu năm đều có những người liên kết với họ, có thể tiếp nhận công việc họ đang làm nếu nhu cầu phát sinh. Khi A.A.B. bày tỏ mong muốn rằng em được huấn luyện cho công việc của bà, để em đảm nhận trong một số phương diện nhất định dù không phải công việc của bà trong quan hệ trực tiếp với Chân sư K.H., thì sự chuyển dịch đã được thực hiện. Công việc hiện tại của em tại… cung cấp một vùng huấn luyện tốt đẹp cho công việc tương lai này, miễn là em đặt sự nhấn mạnh thường xuyên lên phương diện nội môn của mọi giáo huấn mà em phải ngày càng trao ra, và chính em học luôn sống trong Thế giới của ý nghĩa.

Last year you passed through a terrific test and it looked for a while as if the true significance of it all would escape you; the national thoughtform of any nation is necessarily a powerful entity. You can observe an instance of this in the thoughtform of the Jews which is the most powerful of all because they are not a nation in any true sense but an ancient religion; they have resurrected something which has been dead for many, many centuries and are now attempting to call it a nation. It is as if the ancient Incas and Aztecs suddenly announced themselves as nations in South America and sought to gain recognition; they were great nations and as civilised as were the Jews, possessing a great and beautiful religion. There is always trouble when that which should be past and gone seeks recognition along ancient lines, and this is a lesson which the Zionists must perforce learn.

Năm ngoái em đã trải qua một cuộc thử thách khủng khiếp, và trong một thời gian có vẻ như thâm nghĩa chân thực của toàn bộ sự việc sẽ thoát khỏi em; hình tư tưởng quốc gia của bất kỳ quốc gia nào tất yếu là một thực thể mạnh mẽ. Em có thể quan sát một ví dụ về điều này trong hình tư tưởng của người Do Thái, vốn là mạnh mẽ nhất trong tất cả, bởi vì họ không phải là một quốc gia theo bất kỳ ý nghĩa chân thực nào, mà là một tôn giáo cổ xưa; họ đã phục sinh một điều đã chết trong rất nhiều thế kỷ và hiện đang cố gọi nó là một quốc gia. Điều đó giống như thể người Inca và Aztec cổ xưa bỗng nhiên tự tuyên bố là các quốc gia ở Nam Mỹ và tìm cách được công nhận; họ từng là những quốc gia vĩ đại và văn minh như người Do Thái, sở hữu một tôn giáo lớn lao và đẹp đẽ. Luôn có rắc rối khi điều lẽ ra đã thuộc về quá khứ và đã qua đi lại tìm kiếm sự công nhận theo những đường lối cổ xưa, và đây là một bài học mà các nhà Zion tất yếu phải học.

But you, my beloved brother, belong to no nation; disciples of your standing have no national allegiances but stand [617] for the One Humanity; this was the basic lesson which confronted you last year. You learnt the lesson and earned the right to undertake advanced work. It is hard for disciples to realise what of beauty and opportunity lies ahead when confronted with a situation in which—at the time—they see no light and which involves the testing of their mental perception, their emotional reactions and their physical relationships. All these three were involved in last year’s testing and it took some months for you to see with clarity the trend of events.

Nhưng em, huynh đệ yêu dấu của Tôi, không thuộc về quốc gia nào; các đệ tử ở tầm vóc của em không có lòng trung thành quốc gia mà đại diện [617] cho Nhân Loại Duy Nhất; đây là bài học căn bản đã đối diện với em năm ngoái. Em đã học được bài học và giành được quyền đảm nhận công việc tiến cao hơn. Thật khó cho các đệ tử nhận ra vẻ đẹp và cơ hội nằm phía trước khi đối diện với một tình huống mà—vào lúc ấy—họ không thấy ánh sáng nào, và tình huống ấy bao hàm việc thử thách tri giác trí tuệ, các phản ứng cảm xúc và các quan hệ hồng trần của họ. Cả ba điều này đều dính líu trong cuộc thử thách năm ngoái, và phải mất vài tháng em mới thấy rõ khuynh hướng của các biến cố.

All that is past and over. Today you stand clear—a disciple who can pass back and forth into all second ray Ashrams, carrying benediction as you go. The parting of the ways has come for you this life as regards the family with which you have been associated through physical birth—with the exception of those few who are—perhaps as yet unconsciously to themselves—associated with my Ashram. The members of one’s family upon the physical plane may or may not (in any particular incarnation) be also one’s spiritual family…. This incarnation has for you one major lesson: the lesson of standing free from all environing limitations, whilst steadily giving love where association exists but doing so with complete detachment. That is the concept or idea behind the apparently peculiar episode in the life of the Christ where he repudiated His mother; it is a symbolic story and probably has no basis in fact but it nevertheless carries a lesson for all disciples.

Tất cả điều đó đã qua và kết thúc. Hôm nay em đứng trong sáng—một đệ tử có thể đi qua lại vào mọi Ashram cung hai, mang theo sự chúc phúc khi em đi. Sự chia đường đã đến với em trong đời này xét về gia đình mà em đã liên kết qua sự sinh ra hồng trần—ngoại trừ một ít người đang liên kết với Ashram của Tôi, có lẽ đến nay chính họ vẫn chưa ý thức điều đó. Các thành viên của gia đình một người trên cõi hồng trần có thể hoặc không thể, trong bất kỳ lần lâm phàm đặc thù nào, cũng là gia đình tinh thần của người ấy…. Lần lâm phàm này có cho em một bài học chính: bài học đứng tự do khỏi mọi giới hạn vây quanh, trong khi vẫn đều đặn trao tình thương nơi có sự liên kết, nhưng làm như vậy với sự tách rời hoàn toàn. Đó là khái niệm hay ý tưởng đằng sau đoạn có vẻ đặc biệt trong đời sống của Đức Christ khi Ngài phủ nhận mẹ của Ngài; đó là một câu chuyện biểu tượng và có lẽ không có căn cứ thực tế, nhưng dầu vậy nó vẫn mang một bài học cho mọi đệ tử.

The lines of your life have fallen for you now into those which your soul desires, for your brother travels with you and you are doing the needed work. Those who bear or have borne the same family name as yourself invoke your loving sense of responsibility and obligation but only temporarily and only for this life. Is this a hard saying for you? Think not about it unduly, brother of mine; your next incarnation is necessarily duly arranged, the needed relations retained and the unneeded discarded.

Các đường hướng của đời sống em giờ đây đã rơi vào những gì linh hồn em mong muốn, vì huynh đệ của em đồng hành với em và em đang làm công việc cần thiết. Những người mang hoặc đã mang cùng họ gia đình như em gợi lên nơi em cảm thức yêu thương về trách nhiệm và nghĩa vụ, nhưng chỉ tạm thời và chỉ cho đời này. Đây có phải là một lời nói khó khăn đối với em không? Huynh đệ của Tôi, đừng suy nghĩ quá mức về điều đó; lần lâm phàm kế tiếp của em tất yếu đã được sắp xếp đúng đắn, các quan hệ cần thiết được giữ lại và những quan hệ không cần thiết bị loại bỏ.

One of the great lessons to be mastered by all disciples and perhaps one of the hardest is that trained recognition [618] which recognises the spiritual family to which one belongs and this is seldom the same as the earthly family. A.A.B. had to learn that none of her earthly family were related to her and it was not an easy lesson for her, particularly as she had to learn it while quite young. It is a lesson which I am now with deliberation bringing to your notice.

Một trong những bài học lớn lao mà mọi đệ tử phải làm chủ, và có lẽ là một trong những bài học khó nhất, là sự nhận biết được huấn luyện [618] vốn nhận ra gia đình tinh thần mà một người thuộc về, và điều này hiếm khi giống với gia đình trần thế. A.A.B. đã phải học rằng không ai trong gia đình trần thế của bà liên hệ với bà, và đó không phải là một bài học dễ dàng cho bà, đặc biệt vì bà phải học điều đó khi còn khá trẻ. Đó là một bài học mà giờ đây Tôi chủ ý đưa đến sự chú ý của em.

Your work lies in training the senior students and for this you are well equipped and need not to handicap yourself with self-depreciation as A.A.B. has done for years. It is, as she has learnt, a form of false humility and a desire to have people realise that you are not proud and so that they will then like you. Put it from you, brother of old, and move forward with confidence into fuller service both in this world and in the Ashram of K.H.

Công việc của em nằm trong việc huấn luyện các đạo sinh lâu năm, và em được trang bị tốt cho điều này, không cần tự làm trở ngại mình bằng sự tự hạ thấp như A.A.B. đã làm trong nhiều năm. Như bà đã học được, đó là một hình thức khiêm nhường giả tạo và một mong muốn khiến người ta nhận ra rằng em không kiêu hãnh, để rồi họ sẽ thích em. Hãy gạt nó khỏi em, Huynh đệ lâu năm, và tiến tới với sự tin tưởng vào phụng sự đầy đủ hơn, cả trong thế giới này lẫn trong Ashram của Chân sư K.H.

I indicate to you no meditation work. In the doing of the meditation work of the advanced group and your presentation of the problems, you bring to them both life and substance. That is the service which you can render and one that A.A.B. has quietly rendered for many years. Each group—through its meditation work—must have its focal point and its energising area and these you must attempt to provide. This is one of the most deeply esoteric arts. In the Groups of Nine and in the New Seed Group, it was the cause of much difficulty. I myself was the central focal point and the energising centre, and my vibratory quality was too potent for the majority; more than half of those chosen reacted in such a manner that they threw themselves out of the group. I may deal with this in greater detail when communicating with P.G.C. who has always been deeply interested and concerned with the causes of the various defections. A handful remain profoundly attached to the work and to the purpose. Another handful is still in receipt of the group instructions but lack dynamic. The rest have moved temporarily to the outer periphery of the Ashram awaiting another life.

Tôi không chỉ định cho em công việc tham thiền nào. Trong việc thực hiện công việc tham thiền của nhóm tiến cao và trong sự trình bày của em về các vấn đề, em đem đến cho chúng cả sự sống lẫn chất liệu. Đó là phụng sự mà em có thể thực hiện, và là điều A.A.B. đã âm thầm thực hiện trong nhiều năm. Mỗi nhóm—thông qua công việc tham thiền của mình—phải có tiêu điểm và vùng tiếp sinh lực của nó, và em phải cố gắng cung cấp những điều này. Đây là một trong những nghệ thuật nội môn sâu xa nhất. Trong Các Nhóm Chín và trong Nhóm Hạt Giống Mới, nó là nguyên nhân của nhiều khó khăn. Chính Tôi là tiêu điểm trung tâm và trung tâm tiếp sinh lực, và phẩm tính rung động của Tôi quá mạnh đối với đa số; hơn một nửa những người được chọn đã phản ứng theo cách khiến họ tự loại mình ra khỏi nhóm. Tôi có thể đề cập điều này chi tiết hơn khi giao tiếp với P.G.C., người luôn quan tâm sâu sắc và bận lòng về các nguyên nhân của những sự rời bỏ khác nhau. Một nhóm nhỏ vẫn gắn bó sâu xa với công việc và Thiên Ý. Một nhóm nhỏ khác vẫn nhận các huấn thị nhóm nhưng thiếu năng lực năng động. Phần còn lại đã tạm thời chuyển ra chu vi bên ngoài của Ashram để chờ một đời khác.

This, my brother, is all that I have to say to you at this time. My love goes with you and you may call on me for strength when the pressures of life seem too heavy. [619]

Huynh đệ của Tôi, đây là tất cả những gì Tôi phải nói với em vào lúc này. Tình thương của Tôi đi cùng em, và em có thể kêu gọi Tôi để có sức mạnh khi các áp lực của đời sống dường như quá nặng nề. [619]

discipleship-in-the-new-age-ii-part-4-20261013-01.webp

TO W. D. S. – GỬI W. D. S.

August 1940

Tháng Tám 1940

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

A strenuous winter’s work lies ahead of all disciples who are engaged in our service which is, as you have ever been told, pre-eminently the service of humanity. This service is intensively preoccupying us at this time and only in group formation can it be adequately handled. In spite of this, for some reason, my brother, you stand peculiarly alone. As I realise this, I find myself wondering in what manner I can bring you to a knowledge of this situation in your life, for you need to change conditions so that you can become an integral part of the group life. When I say group, I mean neither your immediate circle of co-workers nor the group of my disciples who are recipients of these instructions. I mean the entire group of serving disciples who are at work in the world and are the hope of the world at this time.

Một mùa đông làm việc căng thẳng đang nằm trước mặt tất cả các đệ tử đang dấn thân vào phụng sự của chúng ta, vốn như em đã luôn được nói, trước hết là phụng sự nhân loại. Việc phụng sự này đang chiếm trọn sự chú tâm của chúng ta vào lúc này, và chỉ trong đội hình nhóm nó mới có thể được xử lý thích đáng. Dù vậy, vì một lý do nào đó, huynh đệ của Tôi, em đứng một mình theo một cách đặc biệt. Khi nhận ra điều này, Tôi tự hỏi bằng cách nào Tôi có thể đưa em đến sự hiểu biết về tình huống này trong đời sống em, vì em cần thay đổi các điều kiện để có thể trở thành một phần tích hợp của đời sống nhóm. Khi Tôi nói nhóm, Tôi không muốn nói đến vòng tròn cộng sự gần gũi của em, cũng không phải nhóm các đệ tử của Tôi đang nhận các huấn thị này. Tôi muốn nói đến toàn thể nhóm các đệ tử phụng sự đang hoạt động trong thế giới và là niềm hy vọng của thế giới vào lúc này.

Of your desire to serve, of your inherent determination to serve and of the honesty of your dedication there is no possible doubt. Two factors which almost defy definition contribute to the fact that esoterically you stand alone, spiritually repulsing contact from the inner side of daily living (and consequently on the outer side also). It is not your willingness to cooperate, for that is proven; it is not your effort to understand, for that is evident; it is not intrinsically anything which you do which surrounds you as a wall, for that is really not the trouble. It is the fact that you yourself—as a personality—have for too long placed yourself in the very centre of your picture and also because your first ray personality militates against your identifying yourself with the world of relativity in which you find yourself. Your personality is always in your way. It is never forgotten and conditions everything you do and say. The realisation of this is not evident in your mind because all the time you yourself are the most real factor in the situation and yet—as you would yourself teach people—that personality attitude is the [620] great deceiver and essentially illusion. This condition of personality emphasis gives to other people whom you contact a sense of insincerity and thus evokes from them a reaction that leaves you alone. This in its turn evokes a response from your personality which is in the nature of self-defence, plus an effort to force cooperation, a willingness to go the way that the majority go, to do the expedient thing and also to attempt to prove to yourself and to others that you are what you know yourself to be and that they are not right in their reaction to you. Having pointed this out to you, is anything really clearer in your consciousness? I doubt it, for words—requiring as they do right interpretation—can mislead as much as they can help. I might however put it this way. Your second ray soul and your second ray mind are stepped down in expression to such an extent that they are expressions of personality love and a loving manifestation (apparently, though not in fact) of a mental attitude. With these you delude yourself and make a wrong impression on others for there is no real expression of truth in any of this. There is also no soul strength in your expression of life but only the determination of the personality and this you misinterpret as strength. This shows itself in various ways, according to the type of person with you at any given time and does not demonstrate the steady force of the soul, centred in spiritual being and illumined by soul light, being dedicated to group work and not to personality aspiration and personality ambition.

Về mong muốn phụng sự của em, quyết tâm phụng sự vốn có của em và sự chân thành trong hiến dâng của em, không thể có chút nghi ngờ nào. Hai yếu tố gần như bất khả định nghĩa góp phần vào sự kiện rằng về mặt nội môn em đứng một mình, đẩy lùi tiếp xúc về mặt tinh thần từ phía bên trong của đời sống hằng ngày, và do đó cả ở phía bên ngoài nữa. Không phải do sự sẵn lòng hợp tác của em, vì điều đó đã được chứng minh; không phải do nỗ lực thấu hiểu của em, vì điều đó hiển nhiên; xét tự thân, cũng không phải điều gì em làm đã bao quanh em như một bức tường, vì thật ra đó không phải là vấn đề. Đó là sự kiện rằng chính em—như một phàm ngã—đã quá lâu đặt mình vào ngay trung tâm bức tranh của mình, và cũng bởi vì phàm ngã cung một của em chống lại việc em đồng nhất với thế giới tương đối mà trong đó em thấy mình. Phàm ngã của em luôn cản đường em. Nó không bao giờ bị quên lãng và tác động lên mọi điều em làm và nói. Sự nhận ra điều này không hiển nhiên trong thể trí em, bởi vì suốt thời gian đó chính em là yếu tố thực nhất trong tình huống, thế nhưng—như chính em sẽ dạy người khác—thái độ phàm ngã ấy là [620] kẻ lừa dối lớn lao và về bản chất là ảo tưởng. Tình trạng nhấn mạnh phàm ngã này đem lại cho những người khác mà em tiếp xúc một cảm giác thiếu chân thành, và do đó gợi lên nơi họ một phản ứng khiến em bị để một mình. Điều này đến lượt nó gợi lên một đáp ứng từ phàm ngã của em, có bản chất tự vệ, cộng với một nỗ lực cưỡng ép sự hợp tác, một sự sẵn lòng đi theo con đường mà đa số đi, làm điều thuận tiện, và cũng cố gắng chứng minh với chính em và với người khác rằng em là điều em biết mình là, và rằng họ không đúng trong phản ứng của họ đối với em. Sau khi chỉ ra điều này cho em, có điều gì thật sự rõ hơn trong tâm thức em không? Tôi nghi ngờ điều đó, vì từ ngữ—do đòi hỏi sự diễn giải đúng—có thể dẫn lầm cũng nhiều như chúng có thể giúp đỡ. Tuy nhiên, Tôi có thể nói theo cách này. Linh hồn cung hai và thể trí cung hai của em bị hạ giảm trong biểu lộ đến mức chúng trở thành những biểu lộ của tình thương phàm ngã và một biểu hiện yêu thương, có vẻ như vậy dù không thực sự, của một thái độ trí tuệ. Với những điều này em tự lừa dối mình và tạo ấn tượng sai lầm nơi người khác, vì không có sự biểu lộ chân lý thực sự trong bất kỳ điều nào trong đó. Cũng không có sức mạnh linh hồn trong sự biểu lộ đời sống của em, mà chỉ có quyết tâm của phàm ngã, và điều này em diễn giải sai là sức mạnh. Điều này tự biểu hiện theo nhiều cách khác nhau, tùy theo loại người ở cùng em vào bất kỳ thời điểm nào, và không chứng tỏ mãnh lực vững bền của linh hồn, được đặt tâm trong bản thể tinh thần và được soi sáng bởi ánh sáng linh hồn, hiến dâng cho công việc nhóm chứ không cho khát vọng phàm ngã và tham vọng phàm ngã.

What then can you do? I would remind you that one of the things which it is the task of the Master to demonstrate to His disciple is the particular “blind spot” in his life which it is the purpose of the soul to illumine and bring into the light of his consciousness, thus dispelling the darkness and the blindness. This is done by stimulation and suggestion. The stimulation you have been subjected to for years and it has had its dual effect in stimulating the personality to a measured (but inadequate) response to the soul and also by stimulating the personality tendencies to fuller expression. These tendencies, when evoked, registered and recognised for what they are and so handled rightly can then be eliminated. [621] The task however becomes more difficult as progress on the Path is made, for the subtler qualities and weaknesses emerge and are not so easily detected as are the cruder forms of personality reaction. I would suggest, therefore, that you study the weaknesses of your position in connection with your fellow-workers and your group brothers and so discover the cause of your “aloneness” by registering daily your effect upon people. That means that you study them and not yourself. Do you evoke in your friends and associates a good and happy response or the reverse? Do they show a disposition to seek you out and spend much time in your company? Do they tell you their difficulties in happy discussion and seek your sympathy? How will you discover and be able to answer these questions? That is for you to find out. I can but indicate, for truths accepted on the statement of others are of no real service save as signposts on the way and are not often convincing. It is that which you know for yourself, which is self-ascertained and which is found out through pain, failure, suffering and hurt pride which will bring you to liberation and the end of your (as yet) largely unrealised loneliness.

Vậy em có thể làm gì? Tôi muốn nhắc em rằng một trong những điều mà nhiệm vụ của Chân sư là chứng tỏ cho đệ tử của Ngài chính là “điểm mù” đặc thù trong đời sống y, điều mà mục đích của linh hồn là soi sáng và đưa vào ánh sáng của tâm thức y, nhờ đó xua tan bóng tối và sự mù lòa. Điều này được thực hiện bằng kích thích và gợi ý. Sự kích thích em đã chịu trong nhiều năm, và nó đã có hiệu quả kép: kích thích phàm ngã đến một đáp ứng có mức độ, nhưng chưa thích đáng, đối với linh hồn, và cũng kích thích các khuynh hướng phàm ngã đi đến biểu lộ đầy đủ hơn. Khi các khuynh hướng này được gợi lên, được ghi nhận và được nhận biết đúng như bản chất của chúng, rồi được xử lý đúng đắn, chúng có thể bị loại bỏ. [621] Tuy nhiên, nhiệm vụ trở nên khó khăn hơn khi có sự tiến bộ trên Đường Đạo, vì những phẩm tính và yếu điểm tinh vi hơn xuất hiện và không dễ bị phát hiện như các hình thức thô thiển hơn của phản ứng phàm ngã. Vì vậy, Tôi đề nghị em nghiên cứu những điểm yếu trong vị trí của mình liên quan đến các cộng sự và các huynh đệ trong nhóm của em, và nhờ đó khám phá nguyên nhân của “sự cô độc” của em bằng cách ghi nhận hằng ngày ảnh hưởng của em lên người khác. Điều đó có nghĩa là em nghiên cứu họ chứ không phải chính mình. Em có gợi lên nơi bạn bè và đồng sự của mình một đáp ứng tốt đẹp, hạnh phúc, hay điều ngược lại? Họ có biểu lộ khuynh hướng tìm đến em và dành nhiều thời gian trong sự hiện diện của em không? Họ có kể với em những khó khăn của họ trong cuộc trao đổi vui vẻ và tìm kiếm sự cảm thông của em không? Em sẽ khám phá và có thể trả lời những câu hỏi này như thế nào? Điều đó tùy em tìm ra. Tôi chỉ có thể chỉ dẫn, vì các chân lý được chấp nhận do lời nói của người khác không có ích thực sự, ngoại trừ như những biển chỉ đường trên đường đi, và thường không thuyết phục. Chính điều em tự mình biết, tự mình xác định và khám phá qua đau đớn, thất bại, khổ đau và lòng kiêu hãnh bị tổn thương, sẽ đưa em đến giải thoát và đến sự chấm dứt nỗi cô đơn mà đến nay em phần lớn vẫn chưa nhận ra.

Let the strength of your personality and of your emotional nature (which is today building around you an isolating barrier) be transmuted into that loving understanding which comes because its possessor is identified with others and not so much with himself. He does not take the attitude: “I am identified with others” and so watch to see if he is, being at the same time focussed on himself and his reactions and so seeking to achieve identification because he wants to end isolation because it is wrong, and he seeks to be happier in his work and so in his consciousness. He says to himself instead: “What is my brother feeling and thinking?” and he does this because he is more interested in the happiness of his brother than in his own feelings or thought and so forgets himself in ascertaining the situation in order to aid, stimulate and love with wisdom. These, my brother, are the platitudes of the spiritual experience and these are the platitudinous truths of which you need to make experimental use, thus turning them into the ascertained facets of your daily experience and expression. More I cannot say to you at this [622] critical time. There is much that you can do in the work if you will face yourself by forgetting yourself; if you will be strong by rendering the personality weak; if you learn to love by not caring whether you evoke love or not. Such are the occult paradoxes which you must resolve and which—when resolved—will greatly increase your effectiveness in service.

Hãy để sức mạnh của phàm ngã em và của bản chất cảm xúc nơi em — vốn hôm nay đang xây quanh em một hàng rào cô lập — được chuyển hoá thành sự thấu hiểu đầy tình thương, phát sinh vì người sở hữu nó đồng nhất với người khác chứ không quá nhiều với chính mình. Y không mang thái độ: “Tôi đồng nhất với người khác” rồi quan sát xem mình có thật như thế không, trong khi đồng thời vẫn tập trung vào bản thân và các phản ứng của mình, và vì thế tìm cách đạt tới sự đồng nhất bởi y muốn chấm dứt sự cô lập vì điều đó là sai, và y muốn hạnh phúc hơn trong công việc cũng như trong tâm thức của mình. Thay vào đó, y tự nhủ: “Huynh đệ của tôi đang cảm thấy và suy nghĩ gì?” và y làm điều này vì y quan tâm đến hạnh phúc của huynh đệ mình hơn là đến cảm xúc hay tư tưởng của chính mình, và vì thế quên mình trong khi xác định tình huống để trợ giúp, kích thích và yêu thương bằng minh triết. Huynh đệ của Tôi, đây là những điều hiển nhiên của kinh nghiệm tinh thần, và đây là những chân lý hiển nhiên mà em cần đem ra sử dụng bằng thực nghiệm, nhờ đó biến chúng thành những phương diện đã được xác nghiệm của kinh nghiệm và biểu lộ hằng ngày của em. Tôi không thể nói thêm với em vào lúc [622] then chốt này. Có nhiều điều em có thể làm trong công việc nếu em chịu đối diện với chính mình bằng cách quên mình; nếu em chịu mạnh mẽ bằng cách làm cho phàm ngã yếu đi; nếu em học yêu thương bằng cách không bận tâm liệu mình có khơi gợi được tình thương hay không. Đó là những nghịch lý huyền môn mà em phải giải quyết, và khi đã được giải quyết, chúng sẽ làm tăng rất nhiều hiệu quả phụng sự của em.

If you care to talk to A.A.B. who is an older disciple than you are, you might find it suggestive and useful. But A.A.B. begs me not to suggest this and adds that she knows that a hint from me is worth more than a multitude of words from her or from anyone else. She will not speak of this matter to you or even make an opening for this discussion; but if you speak to her and seek light upon my words, she will do what she can.

Nếu em muốn nói chuyện với A.A.B., người là một đệ tử lâu năm hơn em, em có thể thấy điều đó gợi ý và hữu ích. Nhưng A.A.B. xin Tôi đừng đề nghị điều này, và nói thêm rằng Bà biết một gợi ý từ Tôi đáng giá hơn muôn lời từ Bà hay từ bất cứ ai khác. Bà sẽ không nói với em về vấn đề này, thậm chí cũng không mở đầu cho cuộc thảo luận này; nhưng nếu em nói với Bà và tìm ánh sáng về những lời của Tôi, Bà sẽ làm những gì có thể.

One of your group brothers asked a rather lengthy question which I should like to answer here, for it has psychological implications which may be useful to you. His question was as follows:

Một trong các huynh đệ trong nhóm của em đã nêu một câu hỏi khá dài mà Tôi muốn trả lời ở đây, vì nó có những hàm ý tâm lý có thể hữu ích cho em. Câu hỏi của bạn ấy như sau:

“What precisely is the relation between thought and emotion? Can thought be best described as sublimated emotion? Do not our thoughts, however remotely, arise out of our feelings, past as well as present? As reflecting past emotional reactions, may not thoughts be described as `fossil feelings’? In the connotation of the present, are not our thoughts but our finer feelings? Does not the mental grow out of the refinement of the emotional body?

“Chính xác thì quan hệ giữa tư tưởng và cảm xúc là gì? Có thể mô tả tư tưởng hay nhất như cảm xúc được thăng hoa không? Dù xa xôi đến đâu, chẳng phải các tư tưởng của chúng ta phát sinh từ những cảm xúc của chúng ta, cả quá khứ lẫn hiện tại, hay sao? Khi phản ánh các phản ứng cảm xúc trong quá khứ, chẳng phải các tư tưởng có thể được mô tả như ‘những cảm xúc hoá thạch’ hay sao? Trong ý nghĩa của hiện tại, chẳng phải các tư tưởng của chúng ta chỉ là những cảm xúc tinh tế hơn của chúng ta hay sao? Chẳng phải trí tuệ phát triển từ sự tinh luyện của thể cảm dục hay sao?

“In this sense, the evolutionary, is not the emotional body itself but a sublimation of the etheric, as that in turn is but the sublimation of the inorganic chemical? As we progress on the Path of Return, do we not but successively `gather up our bodies within us,’ raising each into the Light of the next one above, and is not this the meaning of culture, education, refinement, purification? Is not that the personal work we should constantly be at, and is it not what is symbolised, in Roman Catholic Doctrine, by the Assumption by the Christ of the body of the Virgin Mary, His Mother, into Heaven?” [623]

“Theo nghĩa này, nghĩa tiến hoá, chẳng phải chính thể cảm dục chỉ là một sự thăng hoa của thể dĩ thái, cũng như thể ấy đến lượt nó chỉ là sự thăng hoa của cái hoá học vô cơ hay sao? Khi chúng ta tiến bước trên Con Đường Trở Về, chẳng phải chúng ta chỉ lần lượt ‘quy tụ các thể của mình vào trong chính mình’, nâng mỗi thể vào Ánh sáng của thể kế tiếp ở trên nó, và chẳng phải đây là ý nghĩa của văn hoá, giáo dục, tinh luyện, thanh luyện hay sao? Chẳng phải đó là công việc cá nhân mà chúng ta nên thường xuyên thực hiện, và chẳng phải đó là điều được tượng trưng, trong Giáo lý Công giáo La Mã, bằng việc Đức Christ đưa thân thể của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, Mẹ của Ngài, lên Thiên Đàng hay sao?” [623]

My reply to him is:

Câu trả lời của Tôi cho bạn ấy là:

In the above enquiry, my brother, you have asked nine questions, all bearing on the same subject. Some of them would not have needed a reply had you had the time to study A Treatise on Cosmic Fire, for in that book much of your question is answered.

Huynh đệ của Tôi, trong câu hỏi trên, em đã nêu chín câu hỏi, tất cả đều liên quan đến cùng một chủ đề. Một vài câu trong số đó hẳn đã không cần trả lời nếu em có thời gian nghiên cứu Luận về Lửa Vũ Trụ, vì trong quyển sách ấy, phần lớn câu hỏi của em đã được trả lời.

The difficulty in distinguishing between thought and emotion is due entirely to two things:

Khó khăn trong việc phân biệt giữa tư tưởng và cảm xúc hoàn toàn do hai điều:

1. The point in evolution of the Observer, which determines very largely the field of his observation and the focus of his directed attention.

1. Điểm tiến hoá của Người Quan Sát, vốn quyết định rất nhiều lĩnh vực quan sát của y và tiêu điểm chú ý có định hướng của y.

2. The present status of the human race. Most of humanity is not, at present, thinking but is actively feeling.

2. Tình trạng hiện nay của nhân loại. Phần lớn nhân loại hiện nay không đang suy nghĩ mà đang cảm nhận một cách tích cực.

The quality of mind, which is primarily discrimination, is largely lacking in the bulk of mankind. The quality of emotion is however becoming understood as the mind develops. It is the result of a measure of discrimination which enables the Observer to realise that he is undergoing an emotion, or passing through an emotional crisis. This emotion is, in its turn, the result of sensory perception. There can be much feeling reaction without emotion. There can be no emotion, as a result of feeling, without some measure of mental unfoldment and of thought being present. Therefore, the relation between thought and feeling is called by us emotion. Your question is therefore answered by saying, in a large and general way, that feeling can be (and frequently is) present where there is no thought at all. But when thought enters in, then the result of the interplay between thought and feeling is the production of emotion.

Phẩm tính của thể trí, vốn trước hết là sự phân biện, phần lớn còn thiếu nơi đại đa số nhân loại. Tuy nhiên, phẩm tính của cảm xúc đang được thấu hiểu khi thể trí phát triển. Đó là kết quả của một mức độ phân biện nào đó, khiến Người Quan Sát nhận ra rằng y đang trải qua một cảm xúc, hay đang đi qua một cuộc khủng hoảng cảm xúc. Đến lượt nó, cảm xúc này là kết quả của tri giác giác quan. Có thể có nhiều phản ứng cảm nhận mà không có cảm xúc. Không thể có cảm xúc, như kết quả của cảm nhận, nếu không có một mức độ khai mở trí tuệ và sự hiện diện của tư tưởng. Vì vậy, mối quan hệ giữa tư tưởng và cảm nhận được chúng tôi gọi là cảm xúc. Do đó, câu hỏi của em được trả lời bằng cách nói, một cách rộng và tổng quát, rằng cảm nhận có thể hiện diện, và thường xuyên hiện diện, nơi hoàn toàn không có tư tưởng. Nhưng khi tư tưởng đi vào, thì kết quả của sự tương tác giữa tư tưởng và cảm nhận là sự tạo ra cảm xúc.

We pass on then to your second question where you seek to describe thought as “sublimated emotion.” Here you are putting the cart before the horse, as the saying is. Thought is the medium whereby emotion can be sublimated. It is feeling without thought which has produced the world of illusion, of glamour, and of delusion. It is thought, with its [624] discriminating and analysing faculty which makes us aware of this maya in which we are ceaselessly walking. Thought throws a clear light into the fog and mists of the astral plane. Astral energy—the energy of sensitive feeling reaction—has for millions of ages been thrown into activity by all the forms of life in all the kingdoms of nature. This has produced the world illusion. Only in the human family, however, is it seen for what it is, and the power of thought and the white light of the mind begin to play upon the matter of that plane, producing emotion, but the emotion is an astral condition recognised by the mind and later seen to be one of the effects of the steadily growing mind power of the race.

Bây giờ chúng ta chuyển sang câu hỏi thứ hai của em, trong đó em tìm cách mô tả tư tưởng như “cảm xúc được thăng hoa.” Ở đây, như người ta nói, em đã đặt cái xe trước con ngựa. Tư tưởng là môi trường nhờ đó cảm xúc có thể được thăng hoa. Chính cảm nhận không có tư tưởng đã tạo ra thế giới của ảo tưởng, của ảo cảm và của mê lầm. Chính tư tưởng, với [624] năng lực phân biện và phân tích của nó, làm cho chúng ta ý thức được ảo lực này, trong đó chúng ta không ngừng bước đi. Tư tưởng phóng một ánh sáng trong trẻo vào trong sương mù và màn hơi của cõi cảm dục. Năng lượng cảm dục — năng lượng của phản ứng cảm nhận nhạy bén — đã được ném vào hoạt động trong hàng triệu thời đại bởi mọi hình tướng sự sống trong mọi giới của thiên nhiên. Điều này đã tạo ra ảo tưởng thế giới. Tuy nhiên, chỉ trong gia đình nhân loại, nó mới được nhìn thấy đúng như nó là, và quyền năng của tư tưởng cùng ánh sáng trắng của thể trí bắt đầu tác động lên vật chất của cõi ấy, tạo ra cảm xúc; nhưng cảm xúc là một trạng thái cảm dục được thể trí nhận biết và về sau được thấy là một trong những hiệu quả của quyền năng thể trí đang tăng trưởng đều đặn nơi nhân loại.

This is the thought underlying the phrase found so often in the theosophical books, kama-manas—desire-mind—for all feeling-emotion inevitably evokes desire. If the emotion evoked by the mind’s recognition of the feeling (registered in the astral body) is pleasurable, then desire is evoked for the continuance or the repetition of the experience. If it is not pleasurable, but painful, then the reaction is desire for the cessation of the experience and therefore liberation from it. This is the basic human desire, leading to desire for liberation (in the first and earliest instance) from the womb into life on the physical plane, on and up to that great and final desire which is for liberation into life itself. This thought leads us into the world of the most technical esoteric psychology.

Đây là tư tưởng nằm dưới cụm từ thường gặp trong các sách Thông Thiên Học: kama-manas — dục vọng-trí tuệ — vì mọi cảm nhận-cảm xúc tất yếu khơi gợi dục vọng. Nếu cảm xúc được khơi gợi bởi sự nhận biết của thể trí về cảm nhận được ghi nhận trong thể cảm dục là dễ chịu, thì dục vọng được khơi gợi nhằm duy trì hoặc lặp lại kinh nghiệm ấy. Nếu nó không dễ chịu mà đau đớn, thì phản ứng là dục vọng chấm dứt kinh nghiệm ấy, và do đó là giải thoát khỏi nó. Đây là dục vọng căn bản của con người, dẫn đến dục vọng giải thoát, trong trường hợp đầu tiên và sớm nhất, khỏi lòng mẹ để vào đời sống trên cõi hồng trần, rồi cứ thế tiến lên đến dục vọng lớn lao và cuối cùng là giải thoát vào chính sự sống. Tư tưởng này đưa chúng ta vào thế giới của Tâm Lý Học Nội Môn kỹ thuật nhất.

It is very difficult for the beginner to grasp the basic differentiations which he has welded into unities through his innate capacity to identify himself sequentially with that which is revealed. Feeling and mind are, for the individual, the two basic differentiations in time and space. That which is registered in the interplay between the two is emotion and, later, thought. But thought is a later realisation and reveals emotion; it is not however emotion. It discovers feeling with which the soul has consistently identified itself for aeons, and—if I may so express it—it is the turning of the searchlight of the slowly developing mind into the world of feeling, of glamour and of illusion which reveals man’s reaction [625] to it all, and this we call emotion. In a deeply and truly esoteric sense, it is the intuition which is sublimated emotion, and not the mind.

Đối với người mới bắt đầu, thật rất khó nắm bắt những biến phân căn bản mà y đã gắn kết thành những nhất thể nhờ khả năng bẩm sinh của mình trong việc lần lượt đồng nhất với điều được mặc khải. Đối với cá nhân, cảm nhận và thể trí là hai biến phân căn bản trong thời gian và không gian. Điều được ghi nhận trong sự tương tác giữa hai điều ấy là cảm xúc, và về sau là tư tưởng. Nhưng tư tưởng là một nhận thức đến sau và mặc khải cảm xúc; tuy nhiên, nó không phải là cảm xúc. Nó phát hiện cảm nhận mà linh hồn đã nhất quán đồng nhất với trong nhiều đại kiếp, và — nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy — chính việc hướng chiếc đèn pha của thể trí đang phát triển chậm rãi vào thế giới của cảm nhận, của ảo cảm và của ảo tưởng, đã mặc khải phản ứng của con người [625] đối với tất cả những điều đó, và điều này chúng ta gọi là cảm xúc. Theo một nghĩa nội môn sâu xa và chân thật, chính trực giác là cảm xúc được thăng hoa, chứ không phải thể trí.

Therefore, in answering your third question, I would say that thoughts do not arise out of our feelings, but that when the mind begins to be active, our feelings stand revealed and the result of that revelation we call emotion.

Vì vậy, khi trả lời câu hỏi thứ ba của em, Tôi sẽ nói rằng các tư tưởng không phát sinh từ những cảm nhận của chúng ta, nhưng khi thể trí bắt đầu hoạt động, những cảm nhận của chúng ta được phơi bày, và kết quả của sự mặc khải ấy, chúng ta gọi là cảm xúc.

Thoughts, again, are not “fossilised feelings,” but emotions which can be registered by the image-making faculty of the mind, and the thoughtforms thus created (embodying the mind’s reaction to the world of feeling) can be so powerful that they can persist in the treasure-house of the memory and can be constantly revitalised by a recurring emotion. It is the mind’s activity in relation to feeling or to the range of feelings which reveals emotion. In the present time when the average human being and the average aspirant cannot distinguish accurately between mind, emotion, feeling and the thoughtforms which memory guards, it is impossible for a clear line of demarcation to be drawn. But this is owing simply to the point of evolution of the race. Such lines and differentiations can be drawn clearly by the developed disciple and the initiate. He then discovers that thoughts are the product of the principle of intelligence, dealing with life and enabling a man to say: I am not my body. I am not my feeling apparatus. I am not that which is developed through the interplay between myself and my environment. I am something other than all this. I am.

Một lần nữa, tư tưởng không phải là “những cảm nhận hoá thạch,” mà là những cảm xúc có thể được ghi nhận bởi năng lực tạo hình ảnh của thể trí; và các hình tư tưởng được tạo ra như thế, vốn hiện thân phản ứng của thể trí đối với thế giới cảm nhận, có thể mạnh đến mức chúng có thể tồn tại trong kho tàng ký ức và có thể liên tục được tiếp sinh lực bởi một cảm xúc tái diễn. Chính hoạt động của thể trí trong liên hệ với cảm nhận hay với phạm vi các cảm nhận đã mặc khải cảm xúc. Trong thời hiện nay, khi con người trung bình và người chí nguyện trung bình không thể phân biệt chính xác giữa thể trí, cảm xúc, cảm nhận và các hình tư tưởng mà ký ức gìn giữ, thì không thể vạch ra một đường phân ranh rõ ràng. Nhưng điều này chỉ đơn giản là do điểm tiến hoá của nhân loại. Những đường ranh và biến phân như thế có thể được vạch rõ bởi đệ tử đã phát triển và điểm đạo đồ. Khi ấy y khám phá rằng tư tưởng là sản phẩm của nguyên khí thông tuệ, xử lý sự sống và khiến con người có thể nói: Tôi không phải là thân thể của tôi. Tôi không phải là bộ máy cảm nhận của tôi. Tôi không phải là cái được phát triển qua sự tương tác giữa tôi và môi trường của tôi. Tôi là một điều gì khác hơn tất cả những điều này. Tôi hiện tồn.

In connection with the sixth part of your question, my brother, you have forgotten your technical occultism and the ancient teaching anent the involutionary arc, wherein the various bodies and forms are created by the descending, involving Spirit, and the consciousness appropriated in a great moment of crisis, when each kingdom in nature came into being. The mind exists and needs to be consciously used. Few are yet aware of that quality in matter which is called the mind. But, as on the involutionary arc Spirit created as it descended, and appropriates as it reascends, so each appropriation marks a new point upon the Path of Return and so the Eternal Pilgrim, the soul, does the same in a lesser [626] way. On the path into physical manifestation, the bodies or forms are built. On the Path of Return, they are appropriated and used, and the consciousness of their use steadily grows. For the evolved human being, the goal is a clear and conscious appropriation of that which has been built and its use in the service of the Plan.

Huynh đệ của Tôi, liên quan đến phần thứ sáu trong câu hỏi của em, em đã quên huyền môn học chuyên môn của mình và giáo huấn cổ xưa về vòng cung giáng hạ tiến hoá, trong đó các thể và hình tướng khác nhau được tạo ra bởi Tinh thần đang đi xuống, đang giáng hạ tiến hoá, và tâm thức được chiếm hữu trong một khoảnh khắc khủng hoảng lớn lao, khi mỗi giới trong thiên nhiên đi vào hiện tồn. Thể trí hiện hữu và cần được sử dụng một cách có ý thức. Hiện vẫn còn ít người ý thức được phẩm tính ấy trong vật chất, vốn được gọi là thể trí. Nhưng cũng như trên vòng cung giáng hạ tiến hoá, Tinh thần đã tạo dựng khi đi xuống, và chiếm hữu khi tái thăng lên, thì mỗi sự chiếm hữu đánh dấu một điểm mới trên Con Đường Trở Về; và Người Hành Hương Vĩnh Cửu, linh hồn, cũng làm như vậy theo một cách nhỏ hơn [626]. Trên con đường đi vào biểu hiện hồng trần, các thể hay hình tướng được kiến tạo. Trên Con Đường Trở Về, chúng được chiếm hữu và sử dụng, và tâm thức về việc sử dụng chúng tăng trưởng đều đặn. Đối với con người đã tiến hoá, mục tiêu là sự chiếm hữu rõ ràng và có ý thức đối với điều đã được kiến tạo, và việc sử dụng nó trong phụng sự Thiên Cơ.

Forget not that all aspects or externalisations which the soul uses and through which it expresses itself are constituent parts of the vehicle of expression of the One in Whom we live and move and have our being. Therefore we appropriate that which we earlier “earmarked” (if I may use that ancient phrase in its deepest and truest occult significance) on the Path of Descent. We learn to use it consciously. We hear its note as we descend; we see it as we ascend. We identify ourselves with the form as its sound reaches us during the process of involution. We distinguish it on the evolutionary arc, and when the stage wherein we identify ourselves with form begins to die out, we then “see” it and enter the stage of duality.

Đừng quên rằng mọi phương diện hay ngoại hiện mà linh hồn sử dụng và qua đó nó biểu lộ chính mình đều là những thành phần cấu tạo của vận cụ biểu lộ của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện tồn. Vì vậy, chúng ta chiếm hữu điều mà trước kia chúng ta đã “đánh dấu dành riêng,” nếu Tôi có thể dùng cụm từ cổ xưa ấy theo thâm nghĩa huyền môn sâu xa nhất và chân thật nhất của nó, trên Con Đường Đi Xuống. Chúng ta học sử dụng nó một cách có ý thức. Chúng ta nghe âm điệu của nó khi đi xuống; chúng ta thấy nó khi đi lên. Chúng ta đồng nhất mình với hình tướng khi âm thanh của nó đến với chúng ta trong tiến trình giáng hạ tiến hoá. Chúng ta phân biệt nó trên vòng cung thăng thượng tiến hoá, và khi giai đoạn trong đó chúng ta đồng nhất mình với hình tướng bắt đầu tàn lụi, bấy giờ chúng ta “thấy” nó và bước vào giai đoạn Nhị nguyên.

Yes, my brother, we do indeed raise our bodies into heaven, but the raising takes place within the realm of conscious effort, for when the distinctions of the lower mind fade out, and the work—the necessary work—of discovery and of differentiation has played its part in teaching us the lesson of desirelessness, we find that the form and consciousness are one, the light is one, and the energy is one. But we find also that “one star differeth from another star in glory” because there is One Flame but many sparks of differing brightness within that Flame. Such is the glory of the great Eternal One. This realisation is the soul’s aspiration and the goal of its great enlightenment. It is, as you rightly point out when viewing the subject from the angle of mother-matter, the assumption of the Virgin into Heaven, there to be glorified. Much of the mystery connected with “the three vestures of the Buddha” is related to this glorification of the three bodies. Much can be learnt by a careful study of the connection between the three bodies of a human being and the vestures or vehicles of the Lord Buddha. The whole story of Sublimation, of Purification, and of Transfiguration is hidden [627] in this relationship. The correspondences remain, however, to be pointed out. It is a task that has not yet been done.

Đúng vậy, huynh đệ của Tôi, quả thật chúng ta nâng các thể của mình lên thiên đàng, nhưng sự nâng lên ấy diễn ra trong lãnh vực của nỗ lực có ý thức; vì khi những phân biệt của hạ trí phai nhạt, và công việc — công việc cần thiết — của khám phá và biến phân đã hoàn tất vai trò của nó trong việc dạy chúng ta bài học về vô dục, chúng ta thấy rằng hình tướng và tâm thức là một, ánh sáng là một, và năng lượng là một. Nhưng chúng ta cũng thấy rằng “ngôi sao này khác ngôi sao kia về vinh quang,” vì có Một Ngọn Lửa nhưng nhiều tia lửa với độ sáng khác nhau trong Ngọn Lửa ấy. Đó là vinh quang của Đấng Vĩnh Cửu vĩ đại. Sự nhận biết này là khát vọng của linh hồn và mục tiêu của sự giác ngộ lớn lao của nó. Như em đã chỉ ra đúng đắn khi nhìn vấn đề từ góc độ mẹ-vật chất, đó là sự đưa Đức Mẹ Đồng Trinh lên Thiên Đàng, để được tôn vinh nơi đó. Nhiều điều trong huyền nhiệm liên quan đến “ba áo của Đức Phật” có liên hệ với sự tôn vinh ba thể này. Có thể học được nhiều điều qua việc nghiên cứu cẩn thận mối liên hệ giữa ba thể của một con người và các áo hay vận cụ của Đức Phật. Toàn bộ câu chuyện về Thăng Hoa, Thanh Luyện và Biến Hình được ẩn giấu [627] trong mối quan hệ này. Tuy nhiên, các tương ứng vẫn còn cần được chỉ ra. Đó là một nhiệm vụ vẫn chưa được thực hiện.

Let me now return to your own specific instructions. I am going to give you no set meditation form to follow. I am however going to give you something to do which, if successfully done, may bring you release.

Bây giờ, hãy để Tôi trở lại với những huấn thị riêng của em. Tôi sẽ không trao cho em một hình thức tham thiền cố định nào để theo. Tuy nhiên, Tôi sẽ trao cho em một việc để làm, và nếu làm thành công, nó có thể đem lại cho em sự giải thoát.

Seek each day for ten minutes to get into touch spiritually, mentally and emotionally with one or other of your group brothers. Take each of them on successive days. Seek to establish a definite rapport and pour out love and help. Forget yourself in so doing and drive out of your consciousness the realisation that you are an emanating centre of force. Ponder upon the circumstances of their lives as you may know them; try to comprehend their problems of time, character and of aspiration. Write to them, if you care to do so, and try to get them to help you. Let them draw from you the very essence of spiritual service, which means that they will draw from your soul that which they need; in giving thus, you will be enriched yourself.

Mỗi ngày, hãy tìm cách trong mười phút để tiếp xúc về mặt tinh thần, trí tuệ và cảm xúc với một trong các huynh đệ trong nhóm của em. Hãy lần lượt chọn từng người trong các ngày kế tiếp. Hãy tìm cách thiết lập một sự giao cảm rõ ràng, và tuôn đổ tình thương cùng sự trợ giúp. Khi làm như vậy, hãy quên mình và xua khỏi tâm thức em sự nhận biết rằng em là một trung tâm phát xạ mãnh lực. Hãy suy ngẫm về hoàn cảnh đời sống của họ trong chừng mực em biết; hãy cố gắng thấu hiểu các vấn đề của họ về thời gian, tính cách và khát vọng. Hãy viết cho họ, nếu em muốn làm như vậy, và hãy cố gắng khiến họ giúp em. Hãy để họ rút ra từ em chính tinh hoa của sự phụng sự tinh thần, nghĩa là họ sẽ rút ra từ linh hồn em điều họ cần; khi cho đi như thế, chính em sẽ được làm phong phú.

My blessing rests upon you, my brother.

Phúc lành của Tôi ở trên em, huynh đệ của Tôi.

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. At the centre of a great tornado is a point of peace. Thus does the story go. It can be found. And thus it is with all the storms of life. They lead to peace if you are not a leaf.

1. Ở trung tâm của một cơn lốc xoáy lớn có một điểm bình an. Câu chuyện kể như vậy. Có thể tìm thấy nó. Và mọi cơn bão của đời sống cũng như thế. Chúng dẫn đến bình an nếu em không phải là một chiếc lá.

2. Hold to your old established links and with your brothers walk. Walk as a group upon the Lighted Way. The chain of Hierarchy firmly stands.

2. Hãy giữ vững những liên kết cũ đã được thiết lập của em và bước đi cùng các huynh đệ của em. Hãy bước đi như một nhóm trên Con Đường được Soi Sáng. Sợi xích của Thánh Đoàn đứng vững chắc.

3. The light that streams from out my Ashram is a part of the Lighted Way and on that thread of light you move and with you move your brothers.

3. Ánh sáng tuôn ra từ Ashram của Tôi là một phần của Con Đường được Soi Sáng, và trên sợi dây ánh sáng ấy em di chuyển, và cùng em, các huynh đệ của em di chuyển.

4. Loneliness—such as you think you know—is but a glamour, brother of mine. You are not alone. But loneliness such as you can know is a light that lights the darkness. Seek that out.

4. Huynh đệ của Tôi, nỗi cô đơn — như em tưởng mình biết — chỉ là một ảo cảm. Em không đơn độc. Nhưng nỗi cô đơn như em có thể biết là một ánh sáng soi sáng bóng tối. Hãy tìm kiếm điều đó.

5. Upon the pinnacle of loneliness is the sole peace where truth is known. Stand on that pinnacle. [628]

5. Trên đỉnh cao của nỗi cô đơn là sự bình an duy nhất nơi chân lý được biết. Hãy đứng trên đỉnh cao ấy. [628]

6. And when the truth is clearly seen (blowing away the cobwebs and the dust of lower life) then can your service carry fresh truth to men.

6. Và khi chân lý được thấy rõ ràng, thổi bay mạng nhện và bụi bặm của đời sống thấp, bấy giờ sự phụng sự của em có thể mang chân lý mới mẻ đến cho con người.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I have watched with interest as you have made many drastic adjustments in your life during the past two years. I have noted the increased strength of your spiritual links with your own soul, with the Ashram and with me, your Master and your constant friend. Of this you may not be constantly or inspiringly aware, but you have done one surprising thing—surprising because it is not usual. You have made these drastic adjustments without losing temporarily any ground. This is a thing rare indeed. Usually during these basic life changes, and during periods wherein the pattern of a daily life is altered, there is a temporary loss of time and of ground. It is seldom permanent but it usually exists for a short time until the new arrangements and adjustments have been regimented into rhythm, and then the threads are picked up, the old spiritual habits are reinstated, and the disciple again proceeds upon his way. This has not, however, happened to you. You seem to have gone steadily on, with no great or vitally important spiritual experience but with a pronounced stability. This should indicate to you something of importance. It means that you have reached that point upon the Path of Discipleship where you need no longer ask yourself if you are going to fail as far as a steady and undeviating moving forward is concerned. You may and will fail on details, techniques and methods; you may err in understanding or in prompt reaction to spiritual opportunity. That is inevitable, and the method whereby a disciple learns. But you will not fail in going on; for you there will be no turning back nor any real tendency to do so—only moments of unutterable fatigue when temptation may appear, but to it you will pay no attention.

Tôi đã quan sát với sự quan tâm khi em thực hiện nhiều điều chỉnh quyết liệt trong đời sống mình trong hai năm qua. Tôi đã ghi nhận sức mạnh gia tăng của các liên kết tinh thần của em với linh hồn của chính em, với Ashram và với Tôi, Chân sư của em và người bạn thường hằng của em. Em có thể không thường xuyên hay đầy cảm hứng ý thức về điều này, nhưng em đã làm một điều đáng ngạc nhiên — đáng ngạc nhiên vì điều đó không thường xảy ra. Em đã thực hiện những điều chỉnh quyết liệt này mà không tạm thời bị thụt lùi chút nào. Đây quả thật là một điều hiếm có. Thông thường, trong những thay đổi căn bản của đời sống này, và trong những giai đoạn khi mô hình của đời sống hằng ngày bị thay đổi, có sự mất thời gian và thụt lùi tạm thời. Điều đó hiếm khi là vĩnh viễn, nhưng thường tồn tại trong một thời gian ngắn cho đến khi những sắp xếp và điều chỉnh mới được đưa vào nhịp điệu có kỷ luật; rồi các sợi dây được nhặt lại, những thói quen tinh thần cũ được phục hồi, và đệ tử lại tiếp tục bước đi trên đường của mình. Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra với em. Em dường như đã tiến bước đều đặn, không có kinh nghiệm tinh thần lớn lao hay trọng yếu nào, nhưng với một sự ổn định rõ rệt. Điều này nên cho em thấy một điều quan trọng. Nó có nghĩa là em đã đạt đến điểm trên Con Đường Đệ Tử nơi em không còn cần tự hỏi liệu mình có thất bại hay không, xét về việc tiến tới một cách vững vàng và không lệch hướng. Em có thể và sẽ thất bại trong các chi tiết, kỹ thuật và phương pháp; em có thể sai lầm trong sự thấu hiểu hoặc trong phản ứng nhanh nhạy trước cơ hội tinh thần. Điều đó là tất yếu, và là phương pháp nhờ đó đệ tử học hỏi. Nhưng em sẽ không thất bại trong việc tiếp tục tiến bước; đối với em sẽ không có sự quay lui, cũng không có bất cứ khuynh hướng thật sự nào làm như vậy — chỉ có những khoảnh khắc mệt mỏi không thể diễn tả, khi cám dỗ có thể xuất hiện, nhưng em sẽ không chú ý đến nó.

I wonder if you can realise, my brother, what this means to the Master who has a disciple under training and guidance. [629] It means that one possible danger can be definitely discounted and that along one line at least He can feel sure of His disciple. He need no longer question his staying power; He knows that it is good and that the disciple will take what is coming to him with steadfastness.

Huynh đệ của Tôi, Tôi tự hỏi liệu em có thể nhận ra điều này có ý nghĩa gì đối với Chân sư, Đấng có một đệ tử đang được huấn luyện và hướng dẫn hay không. [629] Nó có nghĩa là một nguy cơ có thể có chắc chắn được gạt khỏi sự tính đến, và ít nhất trên một đường hướng, Ngài có thể cảm thấy chắc chắn về đệ tử của Ngài. Ngài không còn cần đặt vấn đề về sức bền của y; Ngài biết rằng điều đó là tốt và đệ tử sẽ đón nhận điều đến với mình bằng sự kiên định.

As you move forward you must, for the next twelve months, come to a clear understanding of my injunction to you, given earlier, to “seek the pinnacle of loneliness which is the sole place whereon truth can be known.” This is an injunction to increase your capacity to withdraw into the focussed point in the illumined mind where no one else can accompany you, and there await the arrival of the truth—that particular truth which your personality demands from your soul and which you feel—at any given time—it is essential that you grasp if your service and your progress are to be properly furthered. This demand, based on a sensed need, will vary from year to year, but there will always be some truth, some aspect of understanding and some immediate revelation which you know (past all controversy and discussion) that you must grasp and know if you are to move forward as desired—by your soul and by your Master.

Khi em tiến tới, trong mười hai tháng tới, em phải đi đến một sự thấu hiểu rõ ràng về huấn lệnh Tôi đã trao cho em trước đây: “hãy tìm kiếm đỉnh cao của nỗi cô đơn, là nơi duy nhất chân lý có thể được biết.” Đây là một huấn lệnh nhằm gia tăng khả năng rút vào điểm tập trung trong thể trí được soi sáng, nơi không ai khác có thể đi cùng em, và ở đó chờ đợi sự xuất hiện của chân lý — chân lý đặc thù mà phàm ngã của em đòi hỏi từ linh hồn em, và mà em cảm thấy, vào bất cứ thời điểm nào, là thiết yếu để em nắm bắt nếu sự phụng sự và tiến bộ của em muốn được thúc đẩy đúng đắn. Đòi hỏi này, dựa trên một nhu cầu được cảm nhận, sẽ thay đổi từ năm này sang năm khác, nhưng sẽ luôn có một chân lý nào đó, một phương diện nào đó của sự thấu hiểu và một mặc khải tức thời nào đó mà em biết, vượt ngoài mọi tranh cãi và thảo luận, rằng em phải nắm bắt và biết nếu em muốn tiến tới như linh hồn em và Chân sư của em mong muốn.

At this particular time what is that immediately needed truth, information and revelation which you must have? It is not for me to tell you, even though I know. It is in the formulating of that need and that requirement that your progress will be made. I would ask you, on receipt of this instruction, to determine in your mind, upon quiet reflection, what is your one immediate spiritual need. Then seek the pinnacle of truth within yourself and there await the revelation. It will inevitably come if you care enough and have adequate patience.

Vào thời điểm đặc biệt này, chân lý, thông tin và mặc khải cần thiết tức thời ấy mà em phải có là gì? Việc nói cho em biết không thuộc về Tôi, dù Tôi biết. Chính trong việc hình thành nhu cầu và yêu cầu ấy mà tiến bộ của em sẽ được thực hiện. Khi nhận được huấn thị này, Tôi yêu cầu em, sau khi suy ngẫm tĩnh lặng, hãy xác định trong thể trí mình nhu cầu tinh thần tức thời duy nhất của em là gì. Rồi hãy tìm kiếm đỉnh cao của chân lý trong chính em, và ở đó chờ đợi sự mặc khải. Nó chắc chắn sẽ đến nếu em đủ quan tâm và có đủ kiên nhẫn.

The past two years have been preparatory years for you, even if you do not yet know for what ends they are the preparation. They have taught you much. But here I would remind you that all the teaching, training and experience which you have undergone has now to be brought to a point of synthesis within the illumined mind; it then becomes a potent seed thought, capable of bringing much intuitive perception and later revelation. [630]

Hai năm qua là những năm chuẩn bị cho em, ngay cả nếu em chưa biết chúng chuẩn bị cho những mục đích nào. Chúng đã dạy em nhiều điều. Nhưng ở đây, Tôi muốn nhắc em rằng mọi sự dạy dỗ, huấn luyện và kinh nghiệm mà em đã trải qua nay phải được đưa đến một điểm tổng hợp trong thể trí được soi sáng; khi ấy nó trở thành một tư tưởng hạt giống mạnh mẽ, có khả năng đem lại nhiều tri giác trực giác và về sau là mặc khải. [630]

Will you therefore do the following things and follow the procedure outlined below:

Vì vậy, em có chịu làm những điều sau đây và theo quy trình được phác thảo dưới đây không:

1. Summarise in your own consciousness, and in the light of your soul, the nature and purpose of the experiences and changes to which you have been subjected. Endeavour to see the big sweep of the intention and be not preoccupied with the detail. Formulate to yourself in clear concise sentences your conclusions, so that the lessons of the past can stand revealed to you.

1. Hãy tổng kết trong tâm thức của chính em, và trong ánh sáng của linh hồn em, bản chất và mục đích của những kinh nghiệm và thay đổi mà em đã trải qua. Hãy cố gắng thấy đường nét lớn của ý định, và đừng bận tâm với chi tiết. Hãy tự hình thành cho mình, bằng những câu rõ ràng và súc tích, các kết luận của em, để những bài học của quá khứ có thể hiển lộ cho em.

2. Determine then within yourself what is the next needed truth, type of revelation or requirement which will enable you to move forward with increased potency, clearer vision and truer insight. This will not be as easy as it sounds, because this next truth must relate the past to the future of service, as you see that service.

2. Rồi hãy xác định trong chính em chân lý kế tiếp cần thiết, loại mặc khải hay yêu cầu nào sẽ giúp em tiến tới với quyền năng lớn hơn, tầm nhìn rõ hơn và tuệ giác chân thật hơn. Điều này sẽ không dễ như nghe qua, vì chân lý kế tiếp này phải liên hệ quá khứ với tương lai của phụng sự, như em thấy sự phụng sự ấy.

3. Then with these two lines of thought held quietly and clearly in your mind, seek that “pinnacle of loneliness” which is to be found if due search is made. There the desired truth and revelation can be expected and awaited. Then wait.

3. Rồi, với hai dòng tư tưởng này được giữ yên lặng và rõ ràng trong thể trí em, hãy tìm kiếm “đỉnh cao của nỗi cô đơn” vốn có thể được tìm thấy nếu có sự tìm kiếm đúng mức. Ở đó, chân lý và mặc khải mong muốn có thể được trông đợi và chờ đón. Rồi hãy chờ đợi.

4. When your intuition begins to move and your patient waiting, quiet reflection and steady mental poise bring their reward of clarified perception, then endeavour to apply the recognised truth and the germ of the revelation to the practical affairs of living. You will then find taking place a steady enrichment of your entire life.

4. Khi trực giác của em bắt đầu chuyển động, và sự chờ đợi kiên nhẫn, suy ngẫm tĩnh lặng cùng thế quân bình trí tuệ vững vàng đem lại phần thưởng là tri giác được làm sáng tỏ, bấy giờ hãy cố gắng áp dụng chân lý đã nhận biết và mầm mống của sự mặc khải vào các sự việc thực tiễn của đời sống. Khi ấy em sẽ thấy toàn bộ đời sống của mình được làm phong phú đều đặn.

This will constitute a richly rewarding exercise and—could you but grasp it—constitutes a definitely advanced form of meditation. You will find this meditation project a most interesting experiment.

Điều này sẽ tạo thành một bài thực hành đem lại phần thưởng dồi dào và — nếu em có thể nắm bắt điều đó — tạo thành một hình thức tham thiền rõ ràng là tiến bộ. Em sẽ thấy dự án tham thiền này là một thí nghiệm rất thú vị.

Another thing, my brother. This war period will not last indefinitely. Already the end is in sight, and for its termination you must be prepared. This is not only worldly practical wisdom but also spiritual prevision. Your work in my Ashram must some day be more definitely an aspect of my work [631] in the outer world than it now necessarily is; I would have you ponder upon what you can do. Disciples in all Ashrams (and mine is no exception) are pledged to the work of their Ashram, and this you have always known. E’en though it is true that all work is spiritual, given right motive and intention, yet disciples are definitely pledged to certain hierarchical forms of service which must take precedence in all life activities even whilst—at the same time—the disciple fulfils his other tasks in the outer world, based on his right obligations and responsibilities and upon his citizenship. Have this definitely in mind, and remember that I need the assistance of this entire group within my Ashram. I also need their individual cooperation and understanding of the problems to be met. It is permitted to me to give a general call and to state specific principles and lines of activity which should govern the work of my disciples. It is not permitted for me to say when or where that service must be rendered.

Một điều khác nữa, huynh đệ của Tôi. Thời kỳ chiến tranh này sẽ không kéo dài vô hạn. Kết thúc đã hiện ra trước mắt, và em phải chuẩn bị cho sự chấm dứt của nó. Đây không chỉ là minh triết thực tiễn thế gian mà còn là sự tiên liệu tinh thần. Công việc của em trong Ashram của Tôi một ngày nào đó phải rõ ràng hơn là một phương diện của công việc Tôi [631] trong thế giới bên ngoài so với hiện nay; Tôi muốn em suy ngẫm về điều em có thể làm. Các đệ tử trong mọi Ashram, và Ashram của Tôi cũng không ngoại lệ, đều đã cam kết với công việc của Ashram mình, và điều này em luôn biết. Dù đúng là mọi công việc đều là tinh thần, nếu có động cơ và ý định đúng, song các đệ tử rõ ràng đã cam kết với một số hình thức phụng sự thuộc Thánh Đoàn, vốn phải được đặt ưu tiên trong mọi hoạt động đời sống, ngay cả khi — đồng thời — đệ tử hoàn thành các nhiệm vụ khác của mình trong thế giới bên ngoài, dựa trên các bổn phận, trách nhiệm đúng đắn và tư cách công dân của y. Hãy ghi nhớ điều này một cách rõ ràng, và nhớ rằng Tôi cần sự trợ giúp của toàn bộ nhóm này trong Ashram của Tôi. Tôi cũng cần sự hợp tác cá nhân của họ và sự thấu hiểu của họ về các vấn đề cần đối diện. Tôi được phép đưa ra một lời kêu gọi chung và nêu rõ các nguyên tắc cụ thể cùng các đường hướng hoạt động nên chi phối công việc của các đệ tử của Tôi. Tôi không được phép nói khi nào hay ở đâu sự phụng sự ấy phải được thực hiện.

The group work and the four stages of reflection which I have outlined for you will suffice for your spiritual enterprise at this time. These and the work you are doing in your present field of labour present adequate opportunity for living and progress. My love and blessing are yours and upon that you can count.

Công việc nhóm và bốn giai đoạn suy ngẫm mà Tôi đã phác thảo cho em sẽ đủ cho nỗ lực tinh thần của em vào lúc này. Những điều này và công việc em đang làm trong lĩnh vực lao động hiện tại của em đem lại cơ hội đầy đủ cho đời sống và tiến bộ. Tình thương và phúc lành của Tôi thuộc về em, và em có thể tin chắc vào điều đó.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

There is within your consciousness at this time, a major question. You have been taught by your soul to question; you have absorbed the injunction that a Master arrives at His goal through a process of questioning and of finding, alone and without any outer aid, the answer. With you, this is a fixed belief and understanding, and that is good. The question in your mind which still lacks an answer is evoked by my statement in the last instruction I gave you that the work of the Ashram is ever the prime obligation of the disciple.

Vào lúc này, trong tâm thức em có một câu hỏi lớn. Em đã được linh hồn mình dạy phải chất vấn; em đã hấp thụ huấn lệnh rằng một Chân sư đạt tới mục tiêu của Ngài qua một tiến trình chất vấn và tìm ra câu trả lời, một mình và không có bất cứ sự trợ giúp bên ngoài nào. Với em, đây là một niềm tin và sự thấu hiểu cố định, và điều đó là tốt. Câu hỏi trong thể trí em vẫn còn thiếu một câu trả lời được khơi gợi bởi phát biểu của Tôi trong huấn thị gần nhất Tôi đã trao cho em, rằng công việc của Ashram luôn là bổn phận hàng đầu của đệ tử.

Necessarily, this work varies according to the status of the disciple and his place within the Ashram. I have given you (in various group instructions) the stages of discipleship. [632] These were stages within the consciousness of the disciple and concerned his relation to the Master. They detailed his progress from a rare contact to a position close to the Master. It is of value now to add to these individual steps those which concern a disciple’s position within the Ashram, and this from the angle of his ashramic duty and service. This is a different matter, and though related to the interplay between him and his Master, these stages are concerned with action and with the results of his expanding consciousness within the hierarchical awareness; they are related to his perception of truth as response to the Master’s radiation evokes in him certain developments, stimulates certain qualities and new characteristics, and brings to his mind enlightenment.

Tất yếu, công việc này thay đổi tuỳ theo địa vị của đệ tử và vị trí của y trong Ashram. Tôi đã trao cho em, trong nhiều huấn thị nhóm khác nhau, các giai đoạn của địa vị đệ tử. [632] Đó là các giai đoạn trong tâm thức của đệ tử và liên quan đến quan hệ của y với Chân sư. Chúng trình bày chi tiết sự tiến bộ của y từ một tiếp xúc hiếm hoi đến một vị trí gần Chân sư. Bây giờ, thật có giá trị khi thêm vào các bước cá nhân ấy những bước liên quan đến vị trí của một đệ tử trong Ashram, và điều này xét từ góc độ bổn phận và phụng sự ashram của y. Đây là một vấn đề khác, và dù có liên hệ với sự tương tác giữa y và Chân sư của y, các giai đoạn này liên quan đến hành động và đến các kết quả của tâm thức đang mở rộng của y trong nhận thức thuộc Thánh Đoàn; chúng liên hệ với tri giác của y về chân lý khi sự đáp ứng với bức xạ của Chân sư khơi gợi nơi y một số phát triển, kích thích một số phẩm tính và đặc tính mới, và đem sự giác ngộ đến thể trí của y.

These stages in service and in recognition of duty and obligation are related to status more than to soul growth and control, though this growth is one of the determining factors as regards his position in the Ashram. Let me enumerate them, leaving you to place yourself in the category of servers to which you belong, and leaving you also to demonstrate to the world the nature of your ashramic position. I will give you the esoteric names and symbols of this differentiation:

Những giai đoạn này trong phụng sự và trong sự nhận biết bổn phận cùng nghĩa vụ liên quan đến địa vị nhiều hơn là đến sự tăng trưởng và kiểm soát của linh hồn, dù sự tăng trưởng này là một trong những yếu tố quyết định vị trí của y trong Ashram. Hãy để Tôi liệt kê chúng, để em tự đặt mình vào hạng người phụng sự mà em thuộc về, và cũng để em biểu lộ cho thế giới thấy bản chất vị trí ashram của em. Tôi sẽ trao cho em các tên gọi và biểu tượng nội môn của sự biến phân này:

1. The stage of the “awakening urge.” Of this stage, the half-opened eye is the symbol. The neophyte, just admitted into the Ashram, becomes (as the Book of Instructions for Neophytes expresses it) “the victim of a dual sight. With the right eye he sees a shaded way into the central Ashram; from point to point, from light to dark and dark to light as the pillars point the way, he sees a narrow corridor and at the end a room; within that room the passing figure of the Master appears and disappears. With the left eye, a world of mist and fog, of gloom and shadowy forms is seen—a land of woe and dire distress, with light and shadow moving back and forth. From within that gloomy land a cry comes forth: We need your aid. We cannot see. Come hither with the light.” In these phrases is embodied the first reaction of the new disciple to the dual life to [633] which his admission to the Ashram has committed him—the life of ashramic instruction and of steady approach to the Master, plus the life of outer service which must come as a response to need and not as a fulfilment of an enjoined duty. He sees in neither direction with clarity. Remember ever that approach and service must be self-initiated and self-implemented. The only help which the disciple gets at this stage comes from the stimulating effect of the aura of the Ashram.

1. Giai đoạn của “xung lực thức tỉnh.” Biểu tượng của giai đoạn này là con mắt hé mở. Người sơ cơ vừa mới được nhận vào Ashram trở thành, như Sách Huấn Thị Dành Cho Người Sơ Cơ diễn tả, “nạn nhân của một thị giác kép. Bằng mắt phải, y thấy một con đường có bóng che vào Ashram trung tâm; từ điểm này đến điểm khác, từ sáng đến tối và từ tối đến sáng, khi các trụ chỉ đường, y thấy một hành lang hẹp và ở cuối là một căn phòng; trong căn phòng ấy, hình bóng thoáng qua của Chân sư hiện ra rồi biến mất. Bằng mắt trái, người ta thấy một thế giới sương mù và màn hơi, u ám và những hình tướng lờ mờ — một vùng đất của thống khổ và khốn cùng dữ dội, với ánh sáng và bóng tối chuyển động qua lại. Từ trong vùng đất u ám ấy, một tiếng kêu vang lên: Chúng tôi cần sự trợ giúp của bạn. Chúng tôi không thể thấy. Hãy đến đây với ánh sáng.” Trong những câu này được hiện thân phản ứng đầu tiên của đệ tử mới đối với đời sống kép mà [633] việc được nhận vào Ashram đã buộc y dấn thân — đời sống của huấn thị ashram và của sự tiếp cận đều đặn với Chân sư, cộng với đời sống phụng sự bên ngoài, vốn phải đến như một đáp ứng trước nhu cầu chứ không phải như sự hoàn thành một bổn phận được truyền lệnh. Y không thấy rõ theo cả hai hướng. Hãy luôn nhớ rằng sự tiếp cận và phụng sự phải do chính mình khởi xướng và chính mình thực hiện. Sự trợ giúp duy nhất mà đệ tử nhận được ở giai đoạn này đến từ hiệu quả kích thích của hào quang Ashram.

2. The stage of “advance.” By this I do not refer to progress in understanding. That is inevitable in time and incidental in space when the disciple is immovable in his determination. I refer to the process of his moving forward (technically understood) along the pillared corridor, simultaneously with his appearance in the outer world as an ashramic worker. You have a phrase which is usually employed in a derogatory sense of “social climber”; it refers to a person who—dissatisfied with his social position, his social contacts and his social relationships—uses every and any method to penetrate into those social milieus which have seemed unattainable. It is a platitude to say that all unworthy goals (because incorrectly motivated) are the lower correspondence or symbolic expressions (e’en though distorted) of higher aims and aspirations. This thought should clarify your thinking. A disciple at this stage is a man whose character and capacities have permitted him to enter the Ashram with the full consent of its membership. He hovers, however, on the periphery of its activities; he knows that here are action, contacts and relationships—within the ashramic ring-pass-not—which can be his some day. Yet he also knows that he has to master the meaning of the paradoxical statement with which his voiced aspiration was met: “Go out the door and leave the Ashram as it was and as you are; seek for another entrance; find what you seek by leaving it behind; move forward through the art of moving back.”

2. Giai đoạn của “tiến tới.” Bằng điều này, Tôi không ám chỉ sự tiến bộ trong thấu hiểu. Điều đó là tất yếu trong thời gian và thứ yếu trong không gian khi đệ tử bất lay chuyển trong quyết tâm của mình. Tôi ám chỉ tiến trình y tiến tới, hiểu theo nghĩa kỹ thuật, dọc theo hành lang có trụ, đồng thời với sự xuất hiện của y trong thế giới bên ngoài như một người hoạt động ashram. Em có một cụm từ thường được dùng theo nghĩa chê bai là “kẻ leo thang xã hội”; nó chỉ một người — không hài lòng với vị trí xã hội, các tiếp xúc xã hội và các quan hệ xã hội của mình — sử dụng mọi phương pháp để thâm nhập vào những môi trường xã hội từng có vẻ không thể đạt tới. Nói rằng mọi mục tiêu bất xứng, vì có động cơ sai lầm, là tương ứng thấp hơn hay những biểu lộ biểu tượng, dù bị biến dạng, của các mục tiêu và khát vọng cao hơn, là một điều hiển nhiên. Tư tưởng này nên làm sáng tỏ tư duy của em. Một đệ tử ở giai đoạn này là một người mà tính cách và năng lực đã cho phép y bước vào Ashram với sự đồng thuận trọn vẹn của các thành viên nơi đó. Tuy nhiên, y lơ lửng ở chu vi các hoạt động của nó; y biết rằng nơi đây có hành động, tiếp xúc và quan hệ — trong vòng-giới-hạn ashram — một ngày nào đó có thể thuộc về y. Tuy vậy, y cũng biết rằng y phải làm chủ ý nghĩa của lời phát biểu nghịch lý đã đáp lại khát vọng được thốt lên của y: “Hãy đi ra khỏi cửa và rời Ashram như nó đã là và như em đang là; hãy tìm một lối vào khác; hãy tìm điều em tìm kiếm bằng cách bỏ nó lại phía sau; hãy tiến tới qua nghệ thuật đi lùi.”

In the blazing light of the Ashram the disciple realises that he has not yet earned the right to pass along the corridor to the Master’s sanctum, but must needs go forth [634] into the world of men, of darkness and of pain; then he can return to the Ashram for strength to continue his work outside. What lies outside the door of the Ashram, symbolically speaking, becomes to him of greater moment than his own success in passing along the corridor. What has happened to him, as both his eyes “function in the dual light,” is that his sense of values is adjusted and his own progressive satisfaction becomes of less importance to him than what he can do to ameliorate the pain and distress outside the door.

Trong ánh sáng rực cháy của Ashram, đệ tử nhận ra rằng y chưa giành được quyền đi dọc hành lang đến tịnh thất của Chân sư, mà cần phải đi ra [634] vào thế giới của con người, của bóng tối và của đau khổ; rồi y có thể trở lại Ashram để nhận sức mạnh hầu tiếp tục công việc bên ngoài. Điều nằm ngoài cánh cửa Ashram, nói theo biểu tượng, trở nên quan trọng đối với y hơn thành công riêng của y trong việc đi dọc hành lang. Điều đã xảy ra với y, khi cả hai mắt của y “hoạt động trong ánh sáng kép,” là ý thức về giá trị của y được điều chỉnh, và sự thoả mãn tiến bộ của chính y trở nên kém quan trọng đối với y hơn điều y có thể làm để làm dịu bớt đau khổ và thống khổ bên ngoài cánh cửa.

3. The stage of “leaving each pillar behind its own shadow.” Is it only a truism to point out that as service proceeds, and the effectiveness of that service increases, the disciple when he enters the door of the Ashram, discovers he is no longer standing upon the inner side of the door but has already penetrated a definite distance along the corridor? Certain pillars are left behind. One of the Masters—using the word in its correct sense—has called these symbolic pillars the “pillars of propriety,” meaning that each pillar passed indicates the attainment of certain aspects of appropriate conduct. When these aspects of behaviour are developed, the disciple can pass up and down the corridor at will, which symbolises to him the, as yet, undeveloped phase of ashramic conduct. These pillars embody the final phase of illusion—those illusions which bewilder the disciple but have no effect on anyone outside the Ashram. These you must discover for yourself. There are five more pillars which you must develop the ability to pass before you have the complete freedom of the Ashram. You have already learnt to pass seven of them and they, for you, are now non-existent.

3. Giai đoạn “để mỗi trụ lại sau bóng của chính nó.” Có phải chỉ là một điều hiển nhiên khi chỉ ra rằng khi phụng sự tiếp diễn, và hiệu quả của sự phụng sự ấy gia tăng, đệ tử, khi bước vào cửa Ashram, phát hiện rằng y không còn đứng ở phía trong của cánh cửa nữa mà đã thâm nhập một khoảng cách rõ rệt dọc theo hành lang? Một số trụ đã bị bỏ lại phía sau. Một trong các Chân sư — dùng từ này theo nghĩa chính xác của nó — đã gọi các trụ biểu tượng này là “những trụ của sự đúng mực,” nghĩa là mỗi trụ đã vượt qua chỉ ra sự đạt được một số phương diện của cách hành xử thích hợp. Khi các phương diện hành vi này được phát triển, đệ tử có thể đi lên đi xuống hành lang theo ý muốn, điều tượng trưng cho y giai đoạn hành xử ashram vẫn chưa phát triển. Các trụ này hiện thân giai đoạn cuối cùng của ảo tưởng — những ảo tưởng làm đệ tử bối rối nhưng không tác động đến bất cứ ai bên ngoài Ashram. Những điều này em phải tự mình khám phá. Còn năm trụ nữa mà em phải phát triển khả năng vượt qua trước khi em có được sự tự do trọn vẹn của Ashram. Em đã học cách vượt qua bảy trụ trong số đó, và đối với em, chúng nay không còn hiện hữu.

4. The stage of the “withdrawing alcove.” I have to put these aspects of consciousness into material symbolic forms so as to bring pictorially to your attention the phases of approach which you and all disciples must follow. The pillars (again symbolically) no longer stand on either side of your way of approach. Though there for others, for you they constitute no longer any concern. The way stretches clear before you. The hope of free admittance into the [635] room where the Master works is a present possibility. But within the Ashram, protecting the seclusion of the Master, is the antechamber to the place where He works and in that antechamber His senior disciple presides. This disciple protects the Master from undue disturbance, is responsible for the care of His physical vehicle when He goes into “samadhi,” has the right to interrupt Him in moments of emergency, and can be trusted to pass in and out of His study, whenever he deems it desirable. This arrangement requires the advancing disciple to recognise the senior disciple; it is this process of recognition which oft constitutes the final test, prior to being allowed through the inner door.

4. Giai đoạn của “hốc rút lui.” Tôi phải đặt các phương diện tâm thức này vào những hình thức biểu tượng vật chất để đem các giai đoạn tiếp cận mà em và mọi đệ tử phải theo thành hình ảnh trước sự chú ý của em. Các trụ, lại nói theo biểu tượng, không còn đứng hai bên con đường tiếp cận của em nữa. Dù chúng vẫn ở đó đối với người khác, đối với em chúng không còn là mối bận tâm nào nữa. Con đường trải ra rõ ràng trước em. Hy vọng được tự do vào [635] căn phòng nơi Chân sư làm việc nay là một khả thể hiện tiền. Nhưng trong Ashram, bảo vệ sự tĩnh cư của Chân sư, là tiền phòng dẫn đến nơi Ngài làm việc, và trong tiền phòng ấy, đệ tử cao cấp của Ngài chủ trì. Đệ tử này bảo vệ Chân sư khỏi sự quấy nhiễu quá mức, chịu trách nhiệm chăm sóc vận cụ hồng trần của Ngài khi Ngài nhập “samadhi,” có quyền ngắt lời Ngài trong những thời khắc khẩn cấp, và được tin cậy để ra vào phòng làm việc của Ngài bất cứ khi nào y cho là cần thiết. Sự sắp đặt này đòi hỏi đệ tử đang tiến tới phải nhận biết đệ tử cao cấp; chính tiến trình nhận biết này thường tạo thành thử thách cuối cùng, trước khi được phép đi qua cánh cửa bên trong.

5. The stage to which is given the name “the right of entry.” When this stage is reached, the disciple can come and go as his soul and the need of his service in the outer world may dictate. He has developed the sensitivity to know when, or when not, he may intrude into the presence of the Master. He finds, when he has arrived at this point, that all desire to contact the Master for his own satisfaction or help has left him. One thing only sends him on the wings of light along the corridor and strengthens his hand to open wide the door, and that is world need.

5. Giai đoạn được gọi là “quyền đi vào.” Khi đạt tới giai đoạn này, đệ tử có thể đến và đi như linh hồn của y và nhu cầu phụng sự của y trong thế giới bên ngoài có thể chỉ định. Y đã phát triển sự nhạy bén để biết khi nào y có thể, hay không thể, bước vào hiện diện của Chân sư. Khi đã đến điểm này, y thấy rằng mọi dục vọng tiếp xúc với Chân sư để thoả mãn hay trợ giúp cho chính mình đã rời khỏi y. Chỉ một điều đưa y trên đôi cánh ánh sáng dọc theo hành lang và củng cố bàn tay y để mở rộng cánh cửa, và điều đó là nhu cầu thế giới.

You will discover, my brother, under these symbols the lesson which I am seeking to convey to you. I enjoined you in my last instruction to realise the need of achieving a pinnacle of loneliness, for on that pinnacle lies for you that which you need. What that is, you must find out for yourself. Have you learnt something anent this lonely spot? If so, the next development for you may involve (I did not say “would”) the lonely moments spent as you, from pillar to pillar, advance along the corridor, spurred by the needs of those you seek to serve. Then will come the moment when the senior disciple will symbolise for you the end of loneliness and greet you as a brother. What takes place later between you and the Master is your own individual secret, shared with Him.

Huynh đệ của Tôi, em sẽ khám phá dưới những biểu tượng này bài học mà Tôi đang tìm cách truyền đạt cho em. Trong huấn thị gần nhất, Tôi đã truyền cho em nhận ra nhu cầu đạt tới một đỉnh cao của nỗi cô đơn, vì trên đỉnh cao ấy có điều em cần. Điều đó là gì, em phải tự mình tìm ra. Em đã học được điều gì về nơi cô độc này chưa? Nếu có, sự phát triển kế tiếp dành cho em có thể bao hàm, Tôi không nói “sẽ” bao hàm, những khoảnh khắc cô độc trải qua khi em, từ trụ này đến trụ khác, tiến dọc hành lang, được thúc đẩy bởi nhu cầu của những người em tìm cách phụng sự. Rồi sẽ đến khoảnh khắc khi đệ tử cao cấp sẽ tượng trưng cho em sự chấm dứt của nỗi cô đơn và chào đón em như một huynh đệ. Điều diễn ra về sau giữa em và Chân sư là bí mật cá nhân của riêng em, được chia sẻ với Ngài.

One point I seek to emphasise to you at this time is the [636] need for you to recognise more definitely that the way into the inner sanctum is the way of outer service. This service must not be motivated by the exigencies of the period, or by financial considerations or the behests of the personality. It may or may not include the place where your outer work is being done; it may necessitate a change in your setting and circumstances, but the disciple—if true to his soul and the Ashram—serves his fellowmen as an esotericist as well as a humanitarian and a psychologist. This is a point which you must grasp. You must then fit the tasks assumed and undertaken into the symbolic picture which I have given you. I count upon your understanding because I am not speaking idle words; I count also upon your giving consideration and quiet reflection to my next statement.

Một điểm Tôi tìm cách nhấn mạnh với em vào lúc này là [636] nhu cầu để em nhận biết rõ ràng hơn rằng con đường vào tịnh thất bên trong là con đường của phụng sự bên ngoài. Sự phụng sự này không được thúc đẩy bởi những đòi hỏi cấp bách của thời kỳ, hay bởi các cân nhắc tài chính, hay bởi mệnh lệnh của phàm ngã. Nó có thể bao gồm hoặc không bao gồm nơi công việc bên ngoài của em đang được thực hiện; nó có thể đòi hỏi một sự thay đổi trong môi trường và hoàn cảnh của em, nhưng đệ tử — nếu trung thành với linh hồn và Ashram của mình — phụng sự đồng loại như một nhà bí truyền học cũng như một nhà nhân đạo và một nhà tâm lý học. Đây là một điểm em phải nắm bắt. Khi ấy em phải đặt các nhiệm vụ đã nhận và đã đảm trách vào trong bức tranh biểu tượng mà Tôi đã trao cho em. Tôi trông cậy vào sự thấu hiểu của em vì Tôi không nói những lời vô ích; Tôi cũng trông cậy vào việc em xem xét và suy ngẫm tĩnh lặng về phát biểu kế tiếp của Tôi.

There is some definite work planned by me which must be implemented by the members of my Ashram; it is work which you can undertake. It is related to the major task of goodwill which is so close to my heart; it will necessitate sacrifice upon your part and maybe a relinquishing of lesser goals. If recognised by you, it will mean that the “pillars which guard the approach to the sanctum” of your Master can be left behind; you will have reached the point where you can enter the “room of withdrawal.” Again I speak to you in symbols. You are nearly sixty years old, my brother. The sixty-third year of your life, as in the life of all disciples, will be one of crisis and of supreme opportunity, and towards that point you should look and for it you should make preparation. The interim should be a time wherein you pass the pillars, wherein you go from point to point with your consciousness held steady within the Ashram and your personality activity adhering to the task imposed by your soul.

Có một công việc rõ ràng do Tôi hoạch định, phải được các thành viên trong Ashram của Tôi thực hiện; đó là công việc em có thể đảm nhận. Nó liên quan đến nhiệm vụ lớn lao về thiện chí, vốn rất gần gũi với tâm Tôi; nó sẽ đòi hỏi sự hi sinh nơi em và có thể là sự từ bỏ những mục tiêu nhỏ hơn. Nếu được em nhận biết, điều đó sẽ có nghĩa là “những trụ canh giữ lối vào tịnh thất” của Chân sư em có thể được bỏ lại phía sau; em sẽ đạt đến điểm nơi em có thể bước vào “phòng rút lui.” Một lần nữa, Tôi nói với em bằng biểu tượng. Em gần sáu mươi tuổi rồi, huynh đệ của Tôi. Năm thứ sáu mươi ba của đời em, cũng như trong đời sống của mọi đệ tử, sẽ là một năm của khủng hoảng và của cơ hội tối thượng, và em nên hướng nhìn về điểm ấy, cũng như chuẩn bị cho nó. Khoảng thời gian giữa nay và lúc đó nên là thời kỳ trong đó em vượt qua các trụ, trong đó em đi từ điểm này đến điểm khác với tâm thức được giữ vững trong Ashram và hoạt động phàm ngã của em bám sát nhiệm vụ do linh hồn em áp đặt.

A basic decision will shortly confront you, and upon that decision will depend your right of entry, technically understood. I may not even indicate to you the nature of the coming crisis, nor may I give you any hint as to what your decision should be. I have, however, confidence in you, for you have learnt much in the past five years; you have gone from strength to strength and have passed from pillar to pillar, even if you did not realise it. You will discover the [637] quality of your strength when the need for decision confronts you. I await you in the inner room.

Một quyết định căn bản sẽ sớm đối diện với em, và quyền đi vào của em, hiểu theo nghĩa kỹ thuật, sẽ tùy thuộc vào quyết định ấy. Tôi thậm chí không được phép chỉ cho em bản chất của cuộc khủng hoảng sắp đến, cũng không được phép cho em bất cứ gợi ý nào về quyết định của em nên là gì. Tuy nhiên, Tôi tin tưởng nơi em, vì em đã học được nhiều trong năm năm qua; em đã đi từ sức mạnh đến sức mạnh và đã vượt từ trụ này sang trụ khác, ngay cả nếu em không nhận ra điều đó. Em sẽ khám phá [637] phẩm tính của sức mạnh mình khi nhu cầu quyết định đối diện với em. Tôi chờ em trong căn phòng bên trong.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

I have nothing to say to you today, my brother, of major moment. My last instruction to you was long and of vital importance; you have not yet absorbed its full significance. In that instruction there were two sentences which I seek again to emphasise in your consciousness. They are:

Huynh đệ của Tôi, hôm nay Tôi không có điều gì thật quan trọng để nói với em. Huấn thị gần nhất của Tôi dành cho em đã dài và có tầm quan trọng thiết yếu; em vẫn chưa hấp thụ trọn vẹn thâm nghĩa của nó. Trong huấn thị đó có hai câu mà Tôi lại muốn nhấn mạnh trong tâm thức em. Đó là:

1. The way into the inner sanctum is the way of outer service.

1. Con đường vào nội điện là con đường phụng sự bên ngoài.

2. The sixty-third year of your life—as in the life of all disciples—will be one of crisis and of supreme opportunity.

2. Năm thứ sáu mươi ba của đời em—cũng như trong đời của mọi đệ tử—sẽ là một năm khủng hoảng và cơ hội tối thượng.

These two statements are closely related. Crises, my brother, can be objective or subjective; they can take place on the physical plane, and are then not of such great significance from the spiritual angle, even though they cause much suffering and pain to the personality: they can emerge into consciousness on the emotional or the mental planes, and they then present opportunity for action, but mostly for action connected with the personality; or they can be the result of soul intent, registered by the personality and recorded in the brain. They are then of supreme importance, but very frequently remain unrecognised unless the disciple is very alert and constantly aware of the cyclic flow of spiritual energy.

Hai phát biểu này liên hệ mật thiết với nhau. Huynh đệ của Tôi, các cuộc khủng hoảng có thể là ngoại giới hoặc nội giới; chúng có thể diễn ra trên cõi hồng trần, và khi ấy không có thâm nghĩa lớn lao như thế xét từ góc độ tinh thần, dù chúng gây nhiều đau khổ và đau đớn cho phàm ngã; chúng có thể nổi lên trong tâm thức trên các cõi cảm xúc hoặc trí tuệ, và khi ấy chúng đem lại cơ hội để hành động, nhưng phần lớn là hành động liên quan đến phàm ngã; hoặc chúng có thể là kết quả của ý định linh hồn, được phàm ngã ghi nhận và được bộ não lưu giữ. Khi ấy chúng có tầm quan trọng tối thượng, nhưng rất thường vẫn không được nhận ra, trừ phi đệ tử hết sức tỉnh thức và luôn nhận biết dòng chảy theo chu kỳ của năng lượng tinh thần.

Such a crisis confronts you. Has your spiritual sensitivity increased during the past few years so that you can be sure that you can recognise the crisis for the opportunity it is, when confronted by it? Here are the points I would have you consider, for upon your recognitions and your decisions rests much of the usefulness of the rest of your life—that is, from the angle of the Ashram.

Một cuộc khủng hoảng như thế đang đối diện em. Trong vài năm qua, sự nhạy bén tinh thần của em đã gia tăng đến mức em có thể chắc chắn rằng em sẽ nhận ra cuộc khủng hoảng đúng là cơ hội của nó, khi em đối diện với nó chăng? Đây là những điểm Tôi muốn em suy xét, vì trên những nhận biết và quyết định của em, phần lớn sự hữu dụng của quãng đời còn lại của em sẽ tùy thuộc—nghĩa là, xét từ góc độ của ashram.

There is a peculiar difficulty connected with the realisation that there are relatively only a few years ahead for the [638] majority of the group. Here are four of the difficulties which prevent the sensible and happy realisation of the future transition:

Có một khó khăn đặc biệt gắn liền với việc nhận ra rằng tương đối chỉ còn ít năm phía trước đối với [638] đa số trong nhóm. Đây là bốn trong số những khó khăn ngăn cản sự nhận biết sáng suốt và hoan hỉ về cuộc chuyển tiếp tương lai:

1. The tendency to settle down and take the position that one has done the best one can and that that is all one can be expected to do. This renders the few remaining years simply an expression of habit and of established character, and prevents the undertaking of any new spiritual adventure.

1. Khuynh hướng an phận và giữ lập trường rằng mình đã làm hết sức có thể, và đó là tất cả những gì người ta có thể mong đợi nơi mình. Điều này khiến vài năm còn lại chỉ đơn giản là một biểu hiện của thói quen và của tính cách đã định hình, đồng thời ngăn cản việc đảm nhận bất kỳ cuộc phiêu lưu tinh thần mới nào.

2. A recognition that one has reached one’s high water mark for this life and nothing more can be expected. This may be true from the personality angle, but the soul remains eternally young and unsatisfied, knowing no static point.

2. Một sự nhận biết rằng người ta đã đạt đến mức cao nhất của mình trong đời này và không thể mong đợi thêm điều gì nữa. Điều này có thể đúng từ góc độ phàm ngã, nhưng linh hồn vẫn vĩnh viễn trẻ trung và không thỏa mãn, không biết đến điểm tĩnh tại nào.

3. A preoccupation, growing year by year, with the processes of growing old, with its liabilities, its physical symptoms and ugliness, and its required (?) withdrawals. This is a usual and ordinary way of approaching one’s declining years and the regular procedure with the great majority. See that it is not yours as the next decade elapses.

3. Một sự bận tâm, tăng dần từng năm, với các tiến trình của tuổi già, với những gánh nặng của nó, những triệu chứng và vẻ xấu xí nơi thể xác, cùng những sự rút lui cần thiết chăng. Đây là cách thông thường và phổ biến để bước vào những năm suy tàn của đời mình, và là thủ tục thường lệ của đại đa số. Hãy thấy rằng đó không phải là cách của em khi thập niên tới trôi qua.

4. The recognition that the soul, enjoying the full richness of life’s garnered experience, is now free to serve. No new problems are tackled; no new disciplines are applied; but the disciple uses all that he has in the service of the Ashram, and that for the remainder of his life.

4. Sự nhận biết rằng linh hồn, đang hưởng trọn sự phong phú của kinh nghiệm đời sống đã tích lũy, nay được tự do để phụng sự. Không bắt tay xử lý vấn đề mới nào; không có kỷ luật mới nào được áp dụng; nhưng đệ tử sử dụng tất cả những gì y có để phụng sự ashram, và làm như thế trong phần đời còn lại.

I am seeking to bring all these points to your consideration, for they embody choices which await you, and it is your right to know what they are. I will make no further comment beyond emphasising that there is a definite and conscious choice to be made, and leaving you free to think the matter through.

Tôi đang tìm cách đưa tất cả những điểm này đến sự suy xét của em, vì chúng thể hiện những lựa chọn đang chờ em, và em có quyền biết chúng là gì. Tôi sẽ không bình luận thêm, ngoài việc nhấn mạnh rằng có một lựa chọn rõ ràng và có ý thức cần được thực hiện, rồi để em tự do suy nghĩ thấu đáo vấn đề ấy.

You have in the past done much to help the work I planned. You are today among those interested in discovering their spiritual enterprise. Discover it, my brother, and have an enterprise which will count in the realisation (I use [639] not the word manifestation) of the Kingdom of God on Earth. Be interested anew and alertly in the hierarchical plans, and fit yourself into the time schedule of my ashramic purposes. Adjust your sense of values, which have shifted considerably lately (I say not whether for good or not, for that is your affair), and make your life count in the hour of humanity’s need.

Trong quá khứ, em đã làm nhiều điều để giúp công việc mà Tôi đã hoạch định. Hôm nay, em thuộc trong số những người quan tâm đến việc khám phá công cuộc tinh thần của mình. Huynh đệ của Tôi, hãy khám phá nó, và hãy có một công cuộc sẽ có giá trị trong sự chứng nghiệm, Tôi không dùng [639] từ biểu hiện, của Thiên Giới trên Trái Đất. Hãy quan tâm trở lại, một cách mới mẻ và tỉnh thức, đến các kế hoạch của Thánh Đoàn, và hãy tự đặt mình vào lịch trình thời gian của các mục đích ashram của Tôi. Hãy điều chỉnh ý thức giá trị của em, vốn gần đây đã thay đổi đáng kể, Tôi không nói là tốt hay không, vì đó là việc của em, và hãy làm cho đời em có giá trị trong giờ phút nhu cầu của nhân loại.

I have the following suggestions to make as regards your meditation work:

Tôi có những gợi ý sau đây về công việc tham thiền của em:

1. Orient yourself dynamically towards the Ashram and towards me, your Master, and ponder for a while upon your relationship with me and its various implications.

1. Hãy định hướng bản thân một cách năng động về phía ashram và về phía Tôi, Chân sư của em, rồi suy ngẫm một lúc về mối liên hệ của em với Tôi và những hàm ý khác nhau của nó.

2. Orient yourself towards the spiritual enterprises (for there are several) which emanate from the Ashram, under my direction, and reflect upon your responsibility to them.

2. Hãy định hướng bản thân về phía các công cuộc tinh thần, vì có nhiều công cuộc, vốn xuất lộ từ ashram dưới sự chỉ đạo của Tôi, và suy ngẫm về trách nhiệm của em đối với chúng.

3. Orient yourself to your chosen daily work and consider where opportunity there arises which can be fitted into the spiritual vision which all disciples carry with them.

3. Hãy định hướng bản thân vào công việc hằng ngày mà em đã chọn, và xem xét nơi nào ở đó cơ hội phát sinh, có thể được đặt vào trong tầm nhìn tinh thần mà mọi đệ tử đều mang theo mình.

4. Orient yourself to your own soul and consider what are the duties and responsibilities and relations of that soul in all the three worlds of experience.

4. Hãy định hướng bản thân về phía linh hồn của chính em, và xem xét các bổn phận, trách nhiệm và các mối liên hệ của linh hồn ấy trong cả ba cõi kinh nghiệm là gì.

5. Then sound the OM three times in order to clarify the mind; quiet all emotional reaction and endeavour to make your brain receptive to the higher spiritual impression.

5. Rồi xướng linh từ OM ba lần để làm sáng tỏ thể trí; làm yên mọi phản ứng cảm xúc và cố gắng khiến bộ não của em tiếp nhận được ấn tượng tinh thần cao hơn.

6. Then in your own words, and as the soul, speak to me and discuss with me your life and spiritual intention. I shall not respond, but (bear this in mind) record will be made of that which has the power to penetrate into the Ashram.

6. Rồi bằng lời của chính em, và với tư cách là linh hồn, hãy nói với Tôi và bàn với Tôi về đời sống và ý định tinh thần của em. Tôi sẽ không đáp ứng, nhưng, hãy ghi nhớ điều này, điều nào có quyền năng xuyên nhập vào ashram sẽ được ghi nhận.

7. Say the New Invocation, sounding the OM after each stanza.

7. Hãy đọc Đại Khấn Nguyện Mới, xướng linh từ OM sau mỗi bài kệ.

8. Close your meditation by saying—as the personality and with emphasis—“May I do my whole duty as I journey towards Thy sacred feet.” [640]

8. Hãy kết thúc phần tham thiền của em bằng cách nói—với tư cách là phàm ngã và với sự nhấn mạnh—“Nguyện cho con làm trọn toàn bộ bổn phận của mình khi con hành trình về phía đôi chân thiêng liêng của Ngài.” [640]

You have known me for many, many years now, my brother. I remain the same and unaltered; therefore my love, strength and understanding are factors upon which you can at all times assuredly count.

Huynh đệ của Tôi, nay em đã biết Tôi trong rất, rất nhiều năm. Tôi vẫn như xưa và không đổi thay; vì vậy tình thương, sức mạnh và sự thấu hiểu của Tôi là những yếu tố mà em có thể luôn luôn vững tin nương cậy.

To E. E. S. – Gửi E. E. S.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

BROTHER OF OLD AND CO-WORKER:

HUYNH ĐỆ LÂU NĂM VÀ NGƯỜI ĐỒNG CÔNG:

This year and in fact during the past three years, many problems have arisen in your life and these have been complicated by the fact that the physical vehicle is not functioning as it should. With that condition you must learn to live, treating it with due wisdom and at the same time ignoring it in the service of humanity and in ours. One attitude infers right physical care; the other attitude sets the note for the mental reaction. This I think you know and are working successfully towards this way of living. I mention it because one of the things all disciples have to achieve (prior to initiation) is a right mental attitude toward that aspect of the physical body which is not regarded as a principle and which is only the automaton of the inflowing forces and of the inner man. The energy which governs the physical body emanates from that aspect or integrated aspects where lies the focus of consciousness. Perfect health will come, therefore, when the focus of consciousness is permanently in the soul. This is not possible for any of you at present because of the point in evolution and because of the mass relation and the mass karma, superimposed upon the individual karma.

Năm nay, và thật ra trong ba năm qua, nhiều vấn đề đã nảy sinh trong đời em, và chúng trở nên phức tạp bởi sự kiện rằng vận cụ hồng trần không vận hành như nó phải vận hành. Em phải học cách sống với tình trạng ấy, đối xử với nó bằng minh triết thích đáng, đồng thời quên nó đi trong việc phụng sự nhân loại và trong việc phụng sự chúng tôi. Một thái độ hàm ý sự chăm sóc thể xác đúng đắn; thái độ kia thiết lập âm điệu cho phản ứng trí tuệ. Tôi nghĩ em biết điều này và đang thành công tiến tới lối sống ấy. Tôi nhắc đến nó vì một trong những điều mà mọi đệ tử phải đạt được, trước điểm đạo, là thái độ trí tuệ đúng đắn đối với phương diện của thể xác vốn không được xem là một nguyên khí và chỉ là bộ máy tự động của các mãnh lực tuôn vào và của con người bên trong. Năng lượng chi phối thể xác xuất lộ từ phương diện ấy hoặc các phương diện tích hợp ấy, nơi có tiêu điểm của tâm thức. Vì vậy, sức khỏe hoàn hảo sẽ đến khi tiêu điểm của tâm thức thường trụ trong linh hồn. Điều này hiện nay không thể có đối với bất kỳ ai trong các em, do điểm tiến hoá và do mối liên hệ tập thể cùng nghiệp quả tập thể chồng lên nghiệp quả cá nhân.

You are handling the situation adequately, my brother, and where there could be an imposed expression of soul life, you need not for me to tell you, for you are aware of your own limitations and of your own weaknesses. Your first ray physical body is of service to you in many ways. See to it that the tendency of the first ray to withdraw from contact to the isolated aloofness of the first ray does not unduly condition you upon the physical plane. You will know to what tendency [641] I refer. Your whole life goal at this time is to give loving strength to others through tapping the source of all love yourself. There are those you can aid. You will do so at this time through giving them increased loving understanding.

Huynh đệ của Tôi, em đang xử lý tình huống một cách thích đáng, và nơi nào có thể có một biểu hiện được áp đặt của đời sống linh hồn, em không cần Tôi phải nói cho em biết, vì em ý thức được những giới hạn và những yếu kém của chính mình. Thể xác cung một của em phụng sự em theo nhiều cách. Hãy bảo đảm rằng khuynh hướng của cung một rút lui khỏi tiếp xúc vào sự cách biệt cô lập của cung một không tác động quá mức lên em trên cõi hồng trần. Em sẽ biết Tôi ám chỉ khuynh hướng [641] nào. Toàn bộ mục tiêu đời sống của em vào lúc này là trao sức mạnh yêu thương cho người khác bằng cách tự mình chạm đến nguồn mạch của mọi tình thương. Có những người em có thể giúp. Vào lúc này, em sẽ làm điều đó bằng cách trao cho họ sự thấu hiểu yêu thương được gia tăng.

As regards certain problems of activity known to you, I would encourage you to persevere with much caution and wariness. The early stages of the work you are seeking to do are fraught with some danger, as again you know. These difficulties, if successfully surmounted, will lead to greatly minimising other risks later in your planned work. A.A.B. will talk with you about this matter if you so wish, and will convey to you my suggestions whenever you want them. I have spoken to her and made them known, hence the brevity of my communication to you at this time. You will comprehend.

Về một số vấn đề hoạt động mà em biết, Tôi khuyến khích em kiên trì với nhiều thận trọng và cảnh giác. Những giai đoạn đầu của công việc em đang tìm cách thực hiện chứa đựng một ít nguy hiểm, như em cũng biết. Những khó khăn này, nếu được vượt qua thành công, sẽ đưa đến việc giảm thiểu rất nhiều những rủi ro khác về sau trong công việc em đã hoạch định. Bà A. A. B. sẽ nói chuyện với em về vấn đề này nếu em muốn, và sẽ truyền đạt cho em những gợi ý của Tôi bất cứ khi nào em cần. Tôi đã nói với Bà và cho Bà biết các gợi ý ấy, do đó lời truyền đạt của Tôi cho em vào lúc này ngắn gọn. Em sẽ thấu hiểu.

I have however a meditation which I would ask you to follow and to do so dynamically. By that I mean: Become simply a point of concentration when doing it, with all personal problems and conditions temporarily obliterated from your consciousness. To produce this concentration, I will give you a breathing exercise with the meditation.

Tuy nhiên, Tôi có một bài tham thiền mà Tôi muốn em theo và thực hiện một cách năng động. Bằng điều đó Tôi muốn nói: Hãy đơn giản trở thành một điểm tập trung khi thực hiện nó, với mọi vấn đề và tình trạng cá nhân tạm thời bị xóa khỏi tâm thức em. Để tạo ra sự tập trung này, Tôi sẽ cho em một bài tập thở kèm với bài tham thiền.

1. Relax and turn the eyeballs upward. The Hindu system of rolling up the eyeballs does aid in this matter, and the point where the quivering of the eyelids ceases or is forgotten indicates the point of relative physical poise.

1. Hãy thư giãn và đưa nhãn cầu hướng lên trên. Hệ thống Ấn giáo về việc đảo nhãn cầu lên trên quả có giúp ích trong vấn đề này, và điểm nơi sự rung của mí mắt chấm dứt hoặc bị quên đi cho thấy điểm quân bình tương đối của thể xác.

2. Take seven long breaths, slowly and without strain and as you do so visualise yourself as mounting higher and higher with each breath. To do this the more easily, picture yourself as mounting seven steep steps.

2. Hãy hít thở bảy hơi dài, chậm rãi và không căng thẳng; khi làm như vậy, hãy hình dung em đang vươn lên cao hơn và cao hơn nữa theo mỗi hơi thở. Để làm điều này dễ dàng hơn, hãy hình dung em đang bước lên bảy bậc thang dốc.

3. Then, at your highest point, sound the OM, retaining its force in the head by an act of the will but without any strain or pressure. The retention of energy is not a physical matter but a mental process. This is a subject of importance.

3. Rồi, tại điểm cao nhất của em, hãy xướng linh từ OM, giữ mãnh lực của nó trong đầu bằng một hành động của ý chí nhưng không hề căng thẳng hay áp lực. Việc giữ lại năng lượng không phải là một vấn đề hồng trần mà là một tiến trình trí tuệ. Đây là một đề tài quan trọng.

4. Then, holding the consciousness as high in the head as possible, see how long you can achieve the position of listening without becoming negative or losing the [642] recollection of who you are or what you are doing. Never relinquish in this work the sense of personal identity. Until I give you permission, do not hold this listening attitude for more than three minutes.

4. Rồi, giữ tâm thức ở vị trí cao nhất có thể trong đầu, hãy xem em có thể đạt được vị thế lắng nghe trong bao lâu mà không trở nên thụ động hoặc đánh mất [642] sự nhớ biết mình là ai hoặc mình đang làm gì. Trong công việc này, đừng bao giờ từ bỏ ý thức về bản sắc cá nhân. Cho đến khi Tôi cho phép, đừng giữ thái độ lắng nghe này quá ba phút.

5. Then breathe out the OM through the ajna centre, the centre between the eyebrows, and say:

5. Rồi hãy thở ra linh từ OM qua trung tâm ajna, trung tâm giữa hai chân mày, và nói:

I choose the way of the interpreter, and therefore ask for light.

Tôi chọn con đường của người diễn giải, và vì vậy xin ánh sáng.

I choose the way of loving guidance, and therefore ask for lifting power.

Tôi chọn con đường của sự hướng dẫn yêu thương, và vì vậy xin quyền năng nâng lên.

I choose the way of inspiration, and therefore ask for flowing life.

Tôi chọn con đường của cảm hứng, và vì vậy xin sự sống tuôn chảy.

I choose the way of integrating, and therefore ask for the seal of silence.

Tôi chọn con đường tích hợp, và vì vậy xin ấn dấu của im lặng.

6. Then sound the OM seven times and proceed with the group meditation.

6. Rồi xướng linh từ OM bảy lần và tiếp tục phần tham thiền nhóm.

These phrases have each three esoteric meanings. Take one of the above sentences each for one month and then repeat the process of reflection twice, thus covering a year’s work. See if you can arrive at deeper significances than those which appear on the surface.

Mỗi cụm từ này có ba ý nghĩa nội môn. Hãy lấy một trong các câu trên cho mỗi tháng, rồi lặp lại tiến trình suy ngẫm hai lần, như vậy bao trùm công việc của một năm. Hãy xem em có thể đạt đến những thâm nghĩa sâu hơn những gì hiện ra trên bề mặt hay không.

NOTE: This final instruction to this disciple follows immediately upon the one which is concluded in Vol. I, page 649, and the footnote there still applies.

GHI CHÚ: Huấn thị cuối cùng này dành cho đệ tử này tiếp ngay sau huấn thị kết thúc trong Quyển I, trang 649, và chú thích ở đó vẫn còn áp dụng.

To D. P. R. – Gửi D. P. R.

January 1940

Tháng Giêng năm 1940

Life has been so difficult for you, brother of mine, that I hesitate (because I have an understanding of much that you are enduring) to lay upon you any further burden of self-discipline or more of the life of introspection. You have stood in the midst of your world and watched it come down, crashing around you; you have stood as a tower of strength to those who are tied to you in the closest links and have not [643] failed them; you have preserved your values clear whilst seeing the material values dissolve into thin air. That you still have a few personal glamours and are still taken in by your own high grade reactions to circumstance and people is of course true but I question whether anything is to be gained through your focussing your attention upon them at this time.

Huynh đệ của Tôi, đời sống đã quá khó khăn đối với em đến nỗi Tôi ngần ngại, vì Tôi thấu hiểu nhiều điều em đang chịu đựng, khi đặt thêm lên em bất kỳ gánh nặng nào nữa của kỷ luật tự thân hoặc nhiều hơn nữa đời sống nội quan. Em đã đứng giữa thế giới của mình và chứng kiến nó sụp đổ, đổ vỡ quanh em; em đã đứng như một ngọn tháp sức mạnh cho những người gắn bó với em bằng những mối dây gần gũi nhất, và đã không [643] làm họ thất vọng; em đã giữ các giá trị của mình sáng rõ trong khi thấy các giá trị vật chất tan biến vào hư không. Dĩ nhiên, sự thật là em vẫn còn một vài ảo cảm cá nhân và vẫn còn bị cuốn vào những phản ứng cao cấp của chính mình trước hoàn cảnh và con người, nhưng Tôi nghi ngờ liệu có ích lợi gì khi em tập trung sự chú ý vào chúng vào lúc này.

Stand steady, therefore, and be not unduly distressed. Avoid at least one glamour and that is the glamour that it is your task to shoulder all responsibilities and make all final decisions. Leave people, brother of old, the opportunity which you yourself so much welcome, of learning the needed lessons. Seek not unduly to lift and shield, for the shielding mother-complex is in itself a glamour.

Vì vậy, hãy đứng vững và đừng quá phiền muộn. Ít nhất hãy tránh một ảo cảm, đó là ảo cảm rằng nhiệm vụ của em là gánh vác mọi trách nhiệm và đưa ra mọi quyết định cuối cùng. Huynh đệ lâu năm, hãy để cho người khác có cơ hội mà chính em rất hoan nghênh, tức là học những bài học cần thiết. Đừng quá tìm cách nâng đỡ và che chở, vì phức cảm người mẹ che chở tự nó là một ảo cảm.

My love and strength is at your service.

Tình thương và sức mạnh của Tôi sẵn sàng phụng sự em.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

One of the outstanding characteristics of the pledged disciple is that he learns to stand steady and unmoving no matter what may be happening to him or around him. Much is happening to disciples these days for they bear the brunt of the world’s cataclysm. You may perhaps find this an astonishing statement but I would ask you to remember that they meet the prevalent conditions on all three planes simultaneously and are at the same time endeavouring to live as souls. The accuracy of my statement is, therefore, apparent if you will ponder for a few minutes on the implications. There is appalling suffering everywhere. Physically and emotionally, people throughout the world are handling the maximum of pain. The accepted disciple, however, is suffering also mentally and to this must be added his capacity to identify himself with the whole; his trained imagination also presents special difficulty for he can include possibilities which others may not envisage, and his sweep or grasp of the plan is presumably greater; he is also endeavouring to apply his knowledge of this plan to the immediate environing [644] situation and is strenuously attempting to understand and at the same time to interpret to others, no matter what he may be undergoing in his own personal life.

Một trong những đặc tính nổi bật của đệ tử đã nguyện ước là y học đứng vững và bất động, bất kể điều gì có thể đang xảy ra với y hoặc quanh y. Nhiều điều đang xảy ra cho các đệ tử ngày nay, vì họ gánh chịu phần nặng nề nhất của cơn đại biến thế giới. Có lẽ em thấy phát biểu này đáng kinh ngạc, nhưng Tôi muốn em nhớ rằng họ đối diện các tình trạng phổ biến đồng thời trên cả ba cõi, và cùng lúc đó cố gắng sống như những linh hồn. Do đó, nếu em suy ngẫm trong vài phút về các hàm ý, tính chính xác trong phát biểu của Tôi sẽ hiển nhiên. Khắp nơi đều có đau khổ khủng khiếp. Về mặt thể xác và cảm xúc, con người khắp thế giới đang xử lý mức đau đớn tối đa. Tuy nhiên, đệ tử được chấp nhận cũng đang đau khổ về mặt trí tuệ, và vào điều này phải thêm khả năng đồng nhất mình với toàn thể; sự tưởng tượng đã được rèn luyện của y cũng đem lại khó khăn đặc biệt, vì y có thể bao gồm những khả thể mà người khác có thể không hình dung, và tầm bao quát hoặc sự nắm bắt của y về Thiên Cơ giả định là lớn hơn; y cũng đang cố gắng áp dụng tri thức của mình về Thiên Cơ này vào tình huống bao quanh tức thời [644] và đang nỗ lực mãnh liệt để thấu hiểu, đồng thời diễn giải cho người khác, bất kể y có thể đang trải qua điều gì trong đời sống cá nhân của chính mình.

In many cases, such as yours, environing conditions and chosen associates tend to complicate matters and you are, therefore, today facing your major life crisis and, I would add, you are facing it satisfactorily.

Trong nhiều trường hợp, như trường hợp của em, các tình trạng bao quanh và những người đồng hành đã chọn có xu hướng làm vấn đề thêm phức tạp; vì vậy hôm nay em đang đối diện với cuộc khủng hoảng lớn của đời mình, và Tôi xin nói thêm, em đang đối diện với nó một cách thỏa đáng.

There are many types of crisis in the lives of all aspirants, but in the case of those who are pledged disciples there are always two major crises in their lives: There is first of all the crisis of opportunity and its wise recognition. At some time, every disciple is faced with some determining choice which leads eventually to the distinctive nature of his life service. This usually takes place between the ages of twenty-five and forty, usually around the age of thirty-five. I refer not here to the choice which every able bodied and sane man has to take when he determines his life work, his place of living and his life associates. I refer to a free choice made when these other lesser choices have been made. Such a choice came to you in your earlier years. This crisis of opportunity relates ever to life service. This is true in spite of karma or environing conditions. It is not a choice of the personality, based upon expedient or earthly motives, necessity or anything else. It is a choice based upon the relation of the soul to the personality and only confronts disciples.

Có nhiều loại khủng hoảng trong đời sống của mọi người chí nguyện, nhưng trong trường hợp những người là đệ tử đã nguyện ước, luôn luôn có hai cuộc khủng hoảng lớn trong đời họ: Trước hết là cuộc khủng hoảng cơ hội và sự nhận biết khôn ngoan về nó. Vào một lúc nào đó, mỗi đệ tử đều đối diện với một lựa chọn mang tính quyết định, cuối cùng dẫn đến bản chất đặc thù của việc phụng sự đời sống của y. Điều này thường xảy ra trong khoảng từ hai mươi lăm đến bốn mươi tuổi, thường vào khoảng ba mươi lăm tuổi. Ở đây Tôi không nói đến sự lựa chọn mà mọi người khỏe mạnh và lành trí phải thực hiện khi y quyết định công việc đời mình, nơi sống và những người đồng hành trong đời. Tôi nói đến một lựa chọn tự do được thực hiện sau khi những lựa chọn nhỏ hơn kia đã được thực hiện. Một lựa chọn như thế đã đến với em trong những năm đầu đời. Cuộc khủng hoảng cơ hội này luôn liên quan đến việc phụng sự đời sống. Điều này đúng bất kể nghiệp quả hay các tình trạng bao quanh. Đó không phải là lựa chọn của phàm ngã, dựa trên sự tiện lợi hay những động cơ thế tục, nhu cầu hay bất cứ điều gì khác. Đó là một lựa chọn dựa trên mối liên hệ của linh hồn với phàm ngã, và chỉ đối diện các đệ tử.

The second crisis is the crisis of expression. This usually comes towards the later years of a disciple’s life. It concerns his stabilised life tendency and puts to the test all that he believes and for which he has stood and fought throughout his life experience. It is ever a hard and bitter test, going to the very roots of his life, and for those in preparation for initiation it is peculiarly acute. The conditions of the test may apparently seem no worse than the tests and difficulties which assault other people but, as I have pointed out above, they have to be met on all planes at once. Soul energy is ever involved thereby and this intensifies the response of each individual body in the lower man and also the personality as a whole, the integrated man. The stage of responsiveness which every disciple has achieved in relation to his environment, [645] his associates and his service greatly aggravates his difficulties. I am explaining this somewhat in detail as I am anxious to have you comprehend the nature of your problem and so be able to handle it with increased poise, understanding and triumph. Behind you lies a crisis of opportunity; you met it well. Today you face your crisis of expression and you will come through; true triumph is dependent upon specific achievement upon the inner planes and upon wresting the true values out of any situation, and of these, values based upon the physical plane are by far the least important.

Cuộc khủng hoảng thứ hai là cuộc khủng hoảng biểu hiện. Điều này thường đến vào những năm về sau trong đời một đệ tử. Nó liên quan đến khuynh hướng đời sống đã ổn định của y và đem ra thử thách tất cả những gì y tin tưởng, cũng như những gì y đã đứng vững và chiến đấu trong suốt kinh nghiệm đời mình. Đó luôn là một thử thách khó khăn và cay đắng, đi đến tận gốc rễ đời sống của y, và đối với những người đang chuẩn bị cho điểm đạo thì nó đặc biệt gay gắt. Các tình trạng của thử thách bề ngoài có thể dường như không tệ hơn những thử thách và khó khăn tấn công người khác, nhưng, như Tôi đã chỉ ra ở trên, chúng phải được đối diện trên mọi cõi cùng một lúc. Năng lượng linh hồn luôn can dự vào đó, và điều này làm tăng cường đáp ứng của mỗi thể riêng biệt trong phàm nhân cũng như của toàn thể phàm ngã, con người tích hợp. Mức độ đáp ứng mà mỗi đệ tử đã đạt được trong liên hệ với môi trường, [645] những người đồng hành và việc phụng sự của y làm khó khăn của y trầm trọng hơn rất nhiều. Tôi giải thích điều này khá chi tiết vì Tôi tha thiết muốn em thấu hiểu bản chất vấn đề của mình, nhờ đó có thể xử lý nó với sự quân bình, thấu hiểu và chiến thắng gia tăng. Phía sau em là một cuộc khủng hoảng cơ hội; em đã đối diện với nó tốt đẹp. Hôm nay em đối diện với cuộc khủng hoảng biểu hiện của mình và em sẽ vượt qua; chiến thắng đích thực tùy thuộc vào thành tựu cụ thể trên các cõi bên trong và vào việc giành lấy những giá trị chân thật từ bất kỳ tình huống nào, và trong các giá trị ấy, những giá trị dựa trên cõi hồng trần là kém quan trọng nhất rất nhiều.

If you will, all of you, study the instructions given by me to the individual members of the group and to the group itself, you will find that I am giving you definite instructions in the Way of Initiation. Your response and your search lies, however, in the field of esoteric recognition more than in the field of the reception of new facts. So much has been given out in the past few years and decades anent initiation; it has largely been made exoterically, and received exoterically and the true import of the teaching has been veiled. My task with you is not so much the impartation of new facts, truths, points of view and interest, but the awakening into reality of that which your mind already has received as theory and hypothesis.

Nếu tất cả các em chịu nghiên cứu những huấn thị Tôi đã ban cho từng thành viên trong nhóm và cho chính nhóm, các em sẽ thấy rằng Tôi đang ban cho các em những huấn thị rõ ràng trong Con Đường Điểm Đạo. Tuy nhiên, sự đáp ứng và sự tìm kiếm của các em nằm trong lĩnh vực nhận biết nội môn nhiều hơn là trong lĩnh vực tiếp nhận các sự kiện mới. Trong vài năm và vài thập niên qua, rất nhiều điều đã được đưa ra liên quan đến điểm đạo; phần lớn nó đã được đưa ra một cách ngoại môn, và được tiếp nhận một cách ngoại môn, còn ý nghĩa chân thật của giáo huấn đã bị che phủ. Nhiệm vụ của Tôi với các em không hẳn là truyền đạt những sự kiện, chân lý, quan điểm và mối quan tâm mới, mà là đánh thức vào thực tại điều mà thể trí các em đã tiếp nhận như lý thuyết và giả thuyết.

You stand today, my brother, at a major point of crisis and you stand alone. Those in your immediate environment are of no special service to you for they are not yet upon the path of discipleship. They are in the earliest stages of the path of probation and are unaware of it also. You have, therefore, only three sources of strength:

Huynh đệ của Tôi, hôm nay em đứng tại một điểm khủng hoảng lớn và em đứng một mình. Những người trong môi trường gần gũi của em không đặc biệt giúp ích cho em, vì họ chưa ở trên Con Đường Đệ Tử. Họ đang ở những giai đoạn đầu tiên của Con Đường Dự Bị và cũng không ý thức về điều đó. Vì vậy, em chỉ có ba nguồn sức mạnh:

1. First and foremost, your contact with your own soul through meditation, reflection and joy.

1. Trước hết và trên hết, sự tiếp xúc của em với linh hồn của chính mình qua tham thiền, suy ngẫm và sự hoan hỉ.

2. Your contact with me, your Master, because through me some of the strength of the world of souls and of the Hierarchy can reach you.

2. Sự tiếp xúc của em với Tôi, Chân sư của em, bởi vì qua Tôi, một phần sức mạnh của thế giới các linh hồn và của Thánh Đoàn có thể đến với em.

3. Your group brothers in this new seed group.

3. Các huynh đệ trong nhóm của em thuộc nhóm hạt giống mới này.

I would like to point out that in these three contacts you have the three aspects of divine expression appearing—from [646] the angle of stimulation and of vitalising power—and so three types of power are made available. Beginning with the lowest contact, your group brothers, you have the intelligent activity and consequent stimulation upon the physical plane of your contact with them; through your soul contact, the love aspect of divinity can be made manifest in you; and through your hierarchical contact, the will of God can pour into you. Thus all the three aspects of the divine nature can pour into you and meet with response from the three aspects of your lower manifested expression; thus you can become subservient to the divine. Ponder on this and seek to establish these contacts firmly and upon sound non-emotional lines.

Tôi muốn chỉ ra rằng trong ba sự tiếp xúc này, em có ba phương diện của biểu hiện thiêng liêng đang xuất hiện—xét từ [646] góc độ kích thích và quyền năng tiếp sinh lực—và như thế ba loại quyền năng trở nên sẵn có. Bắt đầu với sự tiếp xúc thấp nhất, các huynh đệ trong nhóm của em, em có hoạt động thông tuệ và sự kích thích hệ quả trên cõi hồng trần do sự tiếp xúc của em với họ; qua sự tiếp xúc với linh hồn của em, phương diện bác ái của thiên tính có thể được biểu hiện trong em; và qua sự tiếp xúc với Thánh Đoàn của em, ý chí của Thượng đế có thể tuôn vào em. Như vậy cả ba phương diện của bản chất thiêng liêng có thể tuôn vào em và gặp sự đáp ứng từ ba phương diện của biểu hiện thấp đã biểu hiện của em; như vậy em có thể trở nên phục tùng thiên tính. Hãy suy ngẫm về điều này và tìm cách thiết lập các tiếp xúc ấy một cách vững chắc và trên những đường lối lành mạnh, không cảm xúc.

You have a particularly interesting group of life forces or energies conditioning you, interesting because of the specific combination. The saving grace of your life expression has been your second ray astral body because the combination of a first ray soul, a fifth ray personality and a third ray physical expression might have resulted in a hard, concrete materialistic person. These rays are the ones which have produced what is called the Prussian type of mind. Incidentally, this ray combination produced your karmic relationships in this life. Fortunately for you, your past immediate incarnation as a personality was overwhelmingly second ray and of this you brought over a second ray astral nature and a fourth ray mental equipment. Hence the balancing in two directions and hence also the general trend of your life conditioning.

Em có một nhóm mãnh lực hay năng lượng đời sống đặc biệt thú vị đang tác động lên em, thú vị vì sự kết hợp đặc thù. Ân huệ cứu rỗi trong biểu hiện đời sống của em là thể cảm dục cung hai của em, bởi vì sự kết hợp giữa linh hồn cung một, phàm ngã cung năm và biểu hiện thể xác cung ba có thể đã tạo nên một con người cứng rắn, cụ thể và duy vật. Những cung này chính là các cung đã tạo ra điều được gọi là loại thể trí Phổ. Nhân tiện, sự kết hợp cung này đã tạo ra các mối liên hệ nghiệp quả của em trong đời này. May mắn cho em, kiếp nhập thể gần trước đây của em với tư cách là một phàm ngã đã tràn ngập cung hai, và từ đó em mang sang một bản chất cảm dục cung hai cùng một trang bị trí tuệ cung bốn. Do đó có sự quân bình theo hai hướng, và do đó cũng có khuynh hướng chung trong sự tác động lên đời sống của em.

It was your first ray lines of force which placed you in the particular locality in which you live and brought your life partner to you. It was your second ray background and its effects in your present life expression which hastened your affiliation with myself and brought to you your particular group of brothers in the new seed group. This information may prove of use to you even if it only serves to strengthen your faith and to indicate to you the reasonableness of the situation which your circumstances are forcing you to meet.

Chính các tuyến mãnh lực cung một của em đã đặt em vào địa phương đặc biệt nơi em đang sống và đã đưa người bạn đời đến với em. Chính nền tảng cung hai của em và các hiệu quả của nó trong biểu hiện đời sống hiện tại của em đã thúc nhanh sự liên kết của em với Tôi và đưa đến cho em nhóm huynh đệ đặc biệt của em trong nhóm hạt giống mới. Thông tin này có thể hữu ích cho em, dù nó chỉ giúp củng cố đức tin của em và chỉ ra cho em tính hợp lý của tình huống mà hoàn cảnh đang buộc em phải đối diện.

Therefore, your major need is to strengthen and preserve the three contacts which form the background of your spiritual [647] life: your soul, your relation with me and your connection with your group brothers. By so doing, the sense of universality and of an expanded consciousness will grow and deepen and enable you to achieve that sense of proportion which will reveal the little self as an integral part of the great Self or Whole. By this statement I refer not only to your relation between the soul and the personality but to your relation—as a living entity—to the greater whole of which Humanity and the Hierarchy are integral parts. I would suggest, therefore, a line of thought or of meditation which will deepen and strengthen these attitudes. To this end I am going to suggest five points of recollection for you each day:

Vì vậy, nhu cầu chính của em là củng cố và gìn giữ ba sự tiếp xúc tạo thành nền tảng của đời sống [647] tinh thần của em: linh hồn của em, mối liên hệ của em với Tôi và sự kết nối của em với các huynh đệ trong nhóm. Nhờ làm như vậy, ý thức về tính phổ quát và về một tâm thức mở rộng sẽ tăng trưởng và sâu sắc hơn, giúp em đạt được Ý thức về tỉ lệ, điều sẽ mặc khải cái ngã nhỏ bé như một phần không thể tách rời của Bản Ngã hay Toàn Thể vĩ đại. Bằng phát biểu này, Tôi không chỉ nói đến mối liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã của em, mà còn đến mối liên hệ của em—như một thực thể sống—với toàn thể lớn hơn mà Nhân loại và Thánh Đoàn là những phần không thể tách rời. Vì vậy, Tôi muốn gợi ý một đường lối tư tưởng hoặc tham thiền sẽ làm sâu sắc và củng cố các thái độ này. Vì mục đích ấy, Tôi sẽ gợi ý cho em năm điểm hồi tưởng mỗi ngày:

1. On awakening in the morning, before rising.

1. Khi thức dậy vào buổi sáng, trước khi rời giường.

2. At noon.

2. Vào giữa trưa.

3. At sunset, whatever hour that may be.

3. Lúc hoàng hôn, bất kể đó là giờ nào.

4. On retiring at night.

4. Khi đi nghỉ vào ban đêm.

5. At the time of the group meditation, whenever you may decide to do it.

5. Vào thời điểm tham thiền nhóm, bất cứ khi nào em quyết định thực hiện.

Thus a living continuity of sensed relationship will be established in your consciousness.

Như vậy, một sự liên tục sống động của mối liên hệ được cảm nhận sẽ được thiết lập trong tâm thức em.

1. On awakening, sound the OM inaudibly and say: “I am one with the light which shines through my soul, my brothers and my Master.”

1. Khi thức dậy, hãy xướng linh từ OM trong im lặng và nói: “Tôi là một với ánh sáng chiếu rọi qua linh hồn tôi, các huynh đệ của tôi và Chân sư của tôi.”

2. At noon, again sound the OM inaudibly and say with deep and slow reflection: “Naught separates me from my soul, my brothers and my Master. My life is theirs and theirs is mine.”

2. Vào giữa trưa, lại xướng linh từ OM trong im lặng và nói với sự suy ngẫm sâu xa, chậm rãi: “Không điều gì ngăn cách tôi với linh hồn tôi, các huynh đệ của tôi và Chân sư của tôi. Đời sống của tôi là của các vị ấy và đời sống của các vị ấy là của tôi.”

3. At sunset again sound the OM and say: “Naught can dim the love which flows between my soul and me, the little self. Naught can come between my brothers and my self. Naught can stop the flow of strength between me and my soul, between my brothers and my soul, between the Master of my life and me, His pledged disciple.” [648]

3. Lúc hoàng hôn, lại xướng linh từ OM và nói: “Không điều gì có thể làm mờ tình thương tuôn chảy giữa linh hồn tôi và tôi, cái ngã nhỏ bé. Không điều gì có thể chen vào giữa các huynh đệ của tôi và bản thân tôi. Không điều gì có thể ngăn dòng sức mạnh giữa tôi và linh hồn tôi, giữa các huynh đệ của tôi và linh hồn tôi, giữa Chân sư của đời tôi và tôi, đệ tử đã nguyện ước của Ngài.” [648]

4. On retiring, before you fall asleep, you again sound the OM and say: “From darkness lead us to light. I tread the way of life and light because I am a soul. With me there walk my brothers and my Master. Therefore within, without, and every side, there is light and love and strength.”

4. Khi đi nghỉ, trước khi em thiếp ngủ, em lại xướng linh từ OM và nói: “Từ bóng tối xin dẫn chúng con đến ánh sáng. Tôi bước trên con đường của sự sống và ánh sáng bởi vì tôi là một linh hồn. Cùng đi với tôi có các huynh đệ của tôi và Chân sư của tôi. Vì vậy, bên trong, bên ngoài và mọi phía đều có ánh sáng, tình thương và sức mạnh.”

5. When doing the group meditation, begin to capitalise on this growing consciousness and before doing the work, link up with as much conscious realisation as possible with your soul, your brothers and myself, realising the indestructibility of the tie.

5. Khi thực hiện tham thiền nhóm, hãy bắt đầu tận dụng tâm thức đang tăng trưởng này, và trước khi làm công việc, hãy liên kết bằng sự chứng nghiệm có ý thức nhiều nhất có thể với linh hồn của em, các huynh đệ của em và chính Tôi, nhận ra tính bất hoại của mối dây.

This work carried forward as a definite exercise will produce in you a deepened available strength and poise. It will only take a few seconds at each point or stated time, but those seconds will serve as points of crisis and of inpouring strength.

Công việc này, nếu được tiến hành như một bài tập rõ ràng, sẽ tạo ra nơi em một sức mạnh và sự quân bình sẵn có sâu sắc hơn. Nó chỉ mất vài giây ở mỗi điểm hay thời điểm đã định, nhưng những giây ấy sẽ đóng vai trò như các điểm khủng hoảng và điểm tuôn vào của sức mạnh.

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. I come to Thee, Lord of my Life, and from that point achieved, close at Thy feet I work.

1. Con đến với Ngài, Chúa Tể của Đời con, và từ điểm đã đạt được ấy, con làm việc gần bên chân Ngài.

2. Between me and the outer world there appears a haze of blue. That blue protects and hence I have no fear. Through it, I may not pass.

2. Giữa con và thế giới bên ngoài hiện ra một màn sương xanh lam. Màu xanh lam ấy bảo vệ, và vì vậy con không sợ hãi. Xuyên qua nó, con không được đi qua.

3. And from this hour and henceforth upon the Way, I seek to Be. I seek no more to know, because this life has taught me how to know and with this knowledge gained, I now can serve by Being.

3. Và từ giờ này trở đi trên Đường Đạo, con tìm cách Hiện Tồn. Con không còn tìm cách biết nữa, bởi vì đời này đã dạy con cách biết, và với tri thức đã đạt được ấy, nay con có thể phụng sự bằng cách Hiện Tồn.

4. Before me streams the Path of Light. I see the Way. Behind me lies the mountain path, with stones and cobbles on the way. Around me are the thorns. My feet are tired. But straight ahead stretches the Lighted Way and on that Way I walk.

4. Trước mặt con tuôn chảy Con Đường Ánh sáng. Con thấy Đường Đạo. Phía sau con là con đường núi, với đá và sỏi trên đường. Quanh con là gai nhọn. Bàn chân con mỏi mệt. Nhưng thẳng phía trước trải dài Con Đường được Soi Sáng, và trên Con Đường ấy con bước đi.

5. Pain comes from form-attachment. It takes two forms: Attachment to the forms of earth, of men and place; attachment to the truth. They both bring pain and pain must cease. Ask your soul how? [649]

5. Đau khổ đến từ sự bám chấp vào hình tướng. Nó có hai dạng: bám chấp vào các hình tướng của đất, của con người và nơi chốn; bám chấp vào chân lý. Cả hai đều đem lại đau khổ, và đau khổ phải chấm dứt. Hãy hỏi linh hồn em bằng cách nào? [649]

6. The threefold load, the blazing star, the path of light, the greater Star and through them all the throbbing of the heart of love, streaming from out the Ashram of D.K. enfolding all and thee.

6. Gánh nặng tam phân, ngôi sao rực cháy, con đường ánh sáng, Ngôi Sao lớn hơn, và xuyên qua tất cả là nhịp đập của trái tim tình thương, tuôn ra từ ashram của Chân sư D. K., bao bọc tất cả và cả em.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY BELOVED BROTHER:

HUYNH ĐỆ YÊU DẤU CỦA TÔI:

A.A.B. has just called my attention to the six statements which I gave you to reflect upon more than a year ago. Knowing all that you had been through in the interim and are now passing through, she realised how extremely apposite and suitable they had proved to be. Pain has engulfed you and yours; anxiety along many lines, and all of them severely testing, has been your lot. Had you not been “close to the feet of the Lord of your Life,” you would have reached what might have been regarded as the valley of desperation.

Bà A. A. B. vừa gọi sự chú ý của Tôi đến sáu phát biểu mà Tôi đã trao cho em để suy ngẫm hơn một năm trước. Biết tất cả những gì em đã trải qua trong thời gian ấy và hiện đang trải qua, Bà nhận ra chúng đã tỏ ra cực kỳ thích hợp và đúng lúc. Đau khổ đã bao trùm em và những người của em; lo âu theo nhiều hướng, và tất cả đều thử thách nghiêm khắc, đã là phần số của em. Nếu em đã không “gần bên chân Chúa Tể của Đời em,” em hẳn đã đi đến điều có thể được xem là thung lũng tuyệt vọng.

Yet you have not been truly desperate because the “haze of blue” has protected you, your group brothers have stood as a shield around you, and the strength of my Ashram has been at your disposal. People often fail to realise the nature and the potency of that strength—a strength that comes from a deep impersonal love and from the realisation that, in the light of the eternal verities, all pain is but temporary, all trouble and struggle ephemeral, and that we have passed oft this way before upon the unhappy little planet of suffering which we call the Earth. We come to know that we shall not pass this way so oft again. Did you grasp the significance of that sentence, my brother?

Tuy vậy, em đã không thật sự tuyệt vọng, bởi vì “màn sương xanh lam” đã bảo vệ em, các huynh đệ trong nhóm của em đã đứng như một tấm khiên quanh em, và sức mạnh của ashram Tôi đã sẵn sàng cho em sử dụng. Con người thường không nhận ra bản chất và quyền năng của sức mạnh ấy—một sức mạnh đến từ tình thương sâu xa, vô ngã, và từ sự chứng nghiệm rằng, trong ánh sáng của các chân lý vĩnh cửu, mọi đau khổ chỉ là tạm thời, mọi phiền não và đấu tranh chỉ thoáng qua, và rằng chúng ta đã nhiều lần đi qua con đường này trên hành tinh nhỏ bé bất hạnh của đau khổ mà chúng ta gọi là Trái Đất. Chúng ta đi đến chỗ biết rằng chúng ta sẽ không còn đi qua con đường này thường xuyên như thế nữa. Huynh đệ của Tôi, em có nắm được thâm nghĩa của câu ấy không?

Just as there are days in a year which seem to stand out because of their darkness and to be overcharged with blackness and agony, so there are lives which equally so stand out in a cycle of lives because of the varied experiences which they convey, the bitter piling up of pain and distress, and the handling of an accumulation of unhappy and oft agonising karma. But, my brother, all lives are not like this, and the fact that your present life has been for years so hard is the guarantee that you have worked off much karma, that you [650] stand infinitely freer and are less handicapped. The fruits of all this suffering you will reap as you enter your next incarnation.

Cũng như có những ngày trong một năm dường như nổi bật vì bóng tối của chúng và như bị chất đầy sự đen tối và đau đớn, cũng có những đời sống tương tự nổi bật trong một chu kỳ các đời sống vì những kinh nghiệm đa dạng mà chúng chuyển tải, sự chất chồng cay đắng của đau khổ và khốn quẫn, cùng việc xử lý một khối tích lũy nghiệp quả bất hạnh và thường đau đớn. Nhưng, huynh đệ của Tôi, không phải mọi đời sống đều như thế, và sự kiện đời hiện tại của em trong nhiều năm đã quá khó khăn là bảo chứng rằng em đã giải trừ nhiều nghiệp quả, rằng em [650] đứng tự do hơn vô hạn và ít bị cản trở hơn. Em sẽ gặt hái hoa trái của tất cả đau khổ này khi em bước vào kiếp nhập thể kế tiếp.

So be of good cheer, and look forward and out towards a future of service and of joy, and this because you have endeavoured to live selflessly and to carry your load bravely, and because your life and deeds and your entire career have helped so many.

Vì vậy, hãy phấn chấn, hãy nhìn về phía trước và hướng ra ngoài, về một tương lai phụng sự và hoan hỉ; và điều này bởi vì em đã cố gắng sống vô ngã và can đảm mang gánh nặng của mình, và bởi vì đời sống, hành động cùng toàn bộ sự nghiệp của em đã giúp ích cho rất nhiều người.

I would remind you that pain, when it is lived out mentally for others, is the worst kind of pain. This you know. But I would remind you that the capacity so to do and so to identify yourself with pain that is not specifically your own is something that all disciples have to master, because it is one of the first steps towards shouldering world pain and the agony of the human family, thus becoming a participant in the “fellowship of Christ’s sufferings” and a lifter of world burdens. We work and live on a planet of pain. Until a man is an initiate of high degree he cannot even begin to sense the reasons why this is so; he must perforce then take refuge in the trite platitudes that suffering humanity has evolved to account for things as they are. None of these in any way approximate the true reasons or give any real insight into the problem. Men must wait for understanding until they can no longer be hurt or limited by the pain of others. This follows when we have learnt to handle our own pain. Then and only then can they begin to lift the burden of humanity as a whole and do their responsible share in lightening it.

Tôi muốn nhắc em rằng đau khổ, khi nó được sống qua về mặt trí tuệ cho người khác, là loại đau khổ tệ hại nhất. Điều này em biết. Nhưng Tôi muốn nhắc em rằng khả năng làm như thế và đồng nhất mình với nỗi đau không đặc biệt là của chính em là điều mà mọi đệ tử phải làm chủ, bởi vì đó là một trong những bước đầu tiên hướng tới việc gánh vác nỗi đau thế giới và nỗi thống khổ của gia đình nhân loại, nhờ đó trở thành một người tham dự vào “tình huynh đệ trong những khổ nạn của Đức Christ” và là người nâng đỡ các gánh nặng thế giới. Chúng ta làm việc và sống trên một hành tinh đau khổ. Cho đến khi một người là điểm đạo đồ cấp cao, y thậm chí không thể bắt đầu cảm nhận các lý do tại sao điều này lại như vậy; khi ấy y tất yếu phải ẩn náu trong những lời sáo rỗng tầm thường mà nhân loại đau khổ đã phát triển để giải thích sự vật như chúng đang là. Không điều nào trong số ấy bằng bất kỳ cách nào đến gần các lý do chân thật hoặc đem lại bất kỳ cái nhìn sâu sắc thật sự nào về vấn đề. Con người phải chờ sự thấu hiểu cho đến khi họ không còn có thể bị tổn thương hay bị giới hạn bởi nỗi đau của người khác. Điều này xảy ra khi chúng ta đã học xử lý nỗi đau của chính mình. Khi ấy, và chỉ khi ấy, họ mới có thể bắt đầu nâng gánh nặng của toàn thể nhân loại và làm phần trách nhiệm của mình trong việc làm nhẹ nó.

We come again here to those contradictory and beautiful words: Isolated Unity. When one is isolated from form attachments and when one is freed for identification with the life aspect, then one can know the true meaning of unity, then one is released from pain and one is free to release others also.

Ở đây chúng ta lại đi đến những lời nghịch lý và đẹp đẽ ấy: Hợp Nhất Cô Lập. Khi một người được cô lập khỏi các bám chấp hình tướng và khi người ấy được tự do để đồng nhất với phương diện sự sống, khi ấy người ấy có thể biết ý nghĩa chân thật của sự hợp nhất, khi ấy người ấy được giải thoát khỏi đau khổ và được tự do để cũng giải thoát người khác.

This you are learning, and it is the last great lesson for you this life. It takes some time to learn it, because it is one of the very few basic lessons, implicating principles which are inherent in the planetary life and requiring the implementing of the soul to arrive at true understanding. You have made much progress along this line during this life and [651] have no cause for self-depreciation or regrets. I tell you this for your assurance, and would ask you to rest back upon my words.

Điều này em đang học, và đó là bài học lớn cuối cùng dành cho em trong đời này. Cần một thời gian để học nó, vì đó là một trong số rất ít bài học căn bản, liên quan đến các nguyên khí vốn nội tại trong sự sống hành tinh và đòi hỏi sự vận dụng của linh hồn để đạt đến sự thấu hiểu chân thật. Em đã tiến bộ nhiều theo đường lối này trong đời này và [651] không có lý do gì để tự hạ thấp mình hay hối tiếc. Tôi nói với em điều này để em được vững tâm, và Tôi muốn em an nghỉ trên những lời của Tôi.

Keep busy with my work, my brother, for there is naught left for the true disciple but the work of the Ashram, which is the work of the Hierarchy, which is work for humanity. Such is the outgoing sequence. For you now, it is not so much the eager, active, outer service, of which you have done so much in the past years, but it is the standing steady, and so becoming a channel and a link. Remember with care the words I gave you last year: “I now can serve by Being.”

Huynh đệ của Tôi, hãy bận rộn với công việc của Tôi, vì đối với đệ tử chân chính, không còn gì ngoài công việc của ashram, vốn là công việc của Thánh Đoàn, vốn là công việc cho nhân loại. Đó là trình tự hướng ngoại. Đối với em hiện nay, vấn đề không hẳn là sự phụng sự bên ngoài hăng hái và tích cực, điều mà em đã làm rất nhiều trong những năm qua, mà là đứng vững, và nhờ vậy trở thành một kênh và một mắt xích. Hãy cẩn trọng ghi nhớ những lời Tôi đã trao cho em năm ngoái: “Nay con có thể phụng sự bằng cách Hiện Tồn.”

Do not strive so much, my brother. Accept life conditions as they are; acquiesce in the situation as it is; relax for the remainder of this incarnation, and exoterically rest from your labours and esoterically enter into light. Work not under such a sense of inner strain and effort. I refer not to the outer strains and stresses to which you are subjected for they exist and are hard and difficult. I refer to your own inner attitude of recognition and acquiescence, of Being and attainment.

Huynh đệ của Tôi, đừng gắng sức quá nhiều. Hãy chấp nhận các tình trạng đời sống như chúng đang là; hãy thuận theo tình huống như nó đang là; hãy thư giãn trong phần còn lại của kiếp nhập thể này, và về mặt ngoại môn hãy nghỉ ngơi khỏi các lao tác của em, còn về mặt nội môn hãy bước vào ánh sáng. Đừng làm việc dưới một cảm giác căng thẳng và nỗ lực nội tâm như thế. Tôi không nói đến những căng thẳng và áp lực bên ngoài mà em phải chịu, vì chúng có thật, khắc nghiệt và khó khăn. Tôi nói đến thái độ bên trong của chính em về sự nhận biết và thuận theo, về Hiện Tồn và thành tựu.

Those are the four key thoughts for your personal reflection during the coming year. The year that is on its way will hold great changes for you but you are strong enough and experienced enough to carry through triumphantly. The coming months will hold for you revelation, and that revelation will enhance the light upon the Lighted Way which stretches out before you; they will hold opportunity for you also, if you learn the hard lesson of relinquishment, and when next year closes you may find yourself surprised at the distance you will find you have travelled, the enlightenment you may find you have gained, and the increased sphere of your subjective usefulness.

Đó là bốn tư tưởng chủ chốt cho sự suy ngẫm cá nhân của em trong năm tới. Năm đang đến sẽ chứa đựng những thay đổi lớn đối với em, nhưng em đủ mạnh mẽ và đủ kinh nghiệm để vượt qua trong chiến thắng. Những tháng sắp đến sẽ chứa đựng sự mặc khải cho em, và sự mặc khải ấy sẽ tăng cường ánh sáng trên Con Đường được Soi Sáng đang trải dài trước em; chúng cũng sẽ chứa đựng cơ hội cho em, nếu em học bài học khó khăn của sự buông bỏ, và khi năm tới khép lại, em có thể thấy mình ngạc nhiên trước khoảng cách em nhận ra mình đã đi qua, sự giác ngộ em có thể thấy mình đã đạt được, và phạm vi gia tăng của sự hữu dụng trong nội giới của em.

Remember—you are not alone. I stand by and carry you consciously within my aura.

Hãy nhớ—em không đơn độc. Tôi đứng bên cạnh và có ý thức mang em trong hào quang của Tôi.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

MY BELOVED FRIEND AND TRUSTED DISCIPLE:

BẠN YÊU DẤU VÀ ĐỆ TỬ ĐÁNG TIN CẬY CỦA TÔI:

My heart has gone out to you during the past year as you have struggled with fatigue, with loneliness, with foreboding [652] and with anxieties of many kinds. You have stood with constant steadiness and you must know by now how highly steadiness is regarded by the Hierarchy. These culminating years of your life have been years of great difficulty and much pain—not only for yourself but for others. They have been years wherein everything has been wrested from you, leaving you upon that “pinnacle of loneliness” about which I spoke to your brother, W.D.S., in my instruction to him last year. I would have you regard that pinnacle as an exalted place from which the new vision can be seen. That pinnacle can be turned into a mount of initiation.

Tâm Tôi đã hướng về em trong suốt năm qua, khi em vật lộn với mệt mỏi, với cô đơn, với linh cảm bất an [652] và với nhiều loại lo âu. Em đã đứng vững với sự kiên định không đổi, và giờ đây em hẳn phải biết Thánh Đoàn đánh giá sự kiên định cao đến mức nào. Những năm tháng cao điểm này của đời em là những năm đầy khó khăn lớn lao và nhiều đau đớn—không chỉ cho chính em mà còn cho những người khác. Đó là những năm trong đó mọi sự đều bị giằng khỏi em, để lại em trên “đỉnh cao cô đơn” mà Tôi đã nói với huynh đệ của em, W.D.S., trong lời huấn thị của Tôi dành cho y năm ngoái. Tôi muốn em xem đỉnh cao ấy như một nơi cao quý, từ đó tầm nhìn mới có thể được thấy. Đỉnh cao ấy có thể được chuyển thành một ngọn núi điểm đạo.

You have passed the three score years and ten of ordinary living and you are privileged to look back upon a life of great usefulness and of much inner spiritual progress. You have disposed of much karma and are far freer than when you entered into incarnation.

Em đã vượt qua bảy mươi năm sống đời thường, và em có đặc ân nhìn lại một đời sống rất hữu ích và có nhiều tiến bộ tinh thần nội tâm. Em đã giải quyết nhiều nghiệp quả và tự do hơn rất nhiều so với khi em bước vào lâm phàm.

The crux of the lesson which you are now in process of learning is to refrain from expectation—from life, from people and from circumstances—except that expectation which concerns spiritual opportunity and your relation to my Ashram. Disciples need to regard the Ashram more definitely as a place of spiritual enveloping, if I may use so peculiar a phrase. They need to regard it as a circle of protection, remembering that if their consciousness can escape into the Ashram, they are in a place of complete security where naught can reach or hurt them. Neither pain nor anxiety can overwhelm the man who dwells in the consciousness of eternity; this sense of the eternal, coupled with the realisation of essential unity, marks all dwellers in an Ashram.

Điểm then chốt của bài học mà em hiện đang trong tiến trình học là kiềm chế khỏi sự mong đợi—từ cuộc đời, từ con người và từ hoàn cảnh—ngoại trừ sự mong đợi liên quan đến cơ hội tinh thần và mối liên hệ của em với Ashram của Tôi. Các đệ tử cần xem Ashram một cách xác định hơn như một nơi của sự bao bọc tinh thần, nếu Tôi có thể dùng một cụm từ đặc biệt như thế. Họ cần xem đó như một vòng tròn bảo hộ, nhớ rằng nếu tâm thức của họ có thể thoát vào Ashram, thì họ đang ở một nơi hoàn toàn an toàn, nơi không gì có thể chạm đến hay làm tổn thương họ. Không đau đớn hay lo âu nào có thể áp đảo con người sống trong tâm thức của vĩnh cửu; ý thức về cái vĩnh cửu này, đi đôi với sự chứng nghiệm về nhất thể cốt yếu, đánh dấu mọi cư dân trong một Ashram.

Herein lies your safety in the vicissitudes of your life. I am not speaking idly or symbolically, nor am I referring to the usual platitudes expressed in the injunction “dwell in the eternal.” I refer definitely to the place of a disciple within an Ashram of one of the Masters, and in particular to your place within my Ashram. This place is a reality and not a dream or a figment of wishful thinking; it is a sphere of focussed awareness where the minds, the love, the aspiration and the spiritual consciousness of many meet, and meet in truth. Of this meeting you can—as many have and do—[653] become conscious. Avoid vagueness as you think of the Ashram with which you are affiliated. Oft I warn and urge disciples to concentrate upon their service and upon their outer contacts, and thus avoid concentration upon the Ashram and upon me, the Master of the Ashram. Knowing your circumstances and seeing into your future, I reverse the injunction in your case and urge you to make the Ashram a reality in your life and to count with greater definiteness and surety upon my presence there and my understanding welcome. Your natural diffidence and humility will permit this and protect me and the Ashram from any undue pressure on your part, even if—in the stress of circumstances—you were prompted to make it.

Chính trong đó có sự an toàn của em giữa những thăng trầm của đời em. Tôi không nói một cách vu vơ hay biểu tượng, cũng không đề cập đến những lời sáo rỗng thường được diễn đạt trong huấn thị “hãy sống trong cái vĩnh cửu.” Tôi nói một cách xác định đến vị trí của một đệ tử trong Ashram của một trong các Chân sư, và đặc biệt đến vị trí của em trong Ashram của Tôi. Vị trí này là một thực tại, chứ không phải một giấc mơ hay sản phẩm của tư duy ước vọng; đó là một phạm vi nhận biết tập trung, nơi thể trí, tình thương, khát vọng và tâm thức tinh thần của nhiều người gặp nhau, và gặp nhau trong chân lý. Về cuộc gặp gỡ này, em có thể—như nhiều người đã và đang—[653] trở nên có ý thức. Hãy tránh sự mơ hồ khi em nghĩ về Ashram mà em được liên kết. Tôi thường cảnh báo và thúc giục các đệ tử tập trung vào sự phụng sự của họ và vào các tiếp xúc bên ngoài của họ, và nhờ thế tránh tập trung vào Ashram và vào Tôi, Chân sư của Ashram. Biết hoàn cảnh của em và nhìn vào tương lai của em, Tôi đảo ngược huấn thị ấy trong trường hợp của em và thúc giục em làm cho Ashram trở thành một thực tại trong đời em, và trông cậy với sự xác định cùng chắc chắn lớn hơn vào hiện diện của Tôi nơi đó và sự đón nhận đầy thấu hiểu của Tôi. Tính dè dặt và khiêm nhường tự nhiên của em sẽ cho phép điều này, đồng thời bảo vệ Tôi và Ashram khỏi bất kỳ áp lực quá mức nào từ phía em, ngay cả nếu—trong áp lực của hoàn cảnh—em bị thúc đẩy tạo ra áp lực ấy.

I would outline for you a meditation which will suffice for your needs for a long time to come. I am not putting it in the ordinary form, for all of you in this group should now have reached the point at which you can formulate your own meditation and reflective approach. I only indicate to you the setting for certain seed thoughts.

Tôi muốn phác thảo cho em một bài tham thiền sẽ đủ cho nhu cầu của em trong một thời gian dài sắp tới. Tôi không đặt nó vào hình thức thông thường, vì tất cả các em trong nhóm này giờ đây hẳn đã đạt đến điểm mà các em có thể tự hình thành bài tham thiền và cách tiếp cận suy tư của riêng mình. Tôi chỉ chỉ ra cho em bối cảnh cho một số tư tưởng hạt giống.

I suggest that you think, first of all, of the Ashram, my Ashram, as a great centre of energy with which you (in your place and in your own way) are privileged to establish contact. See the Ashram as a sphere of radiant, magnetic light; then see me, as you know me, at the centre of that sphere, both emitting and receiving light, via the Christ and via the Ashram of which I was at one time a part—the Ashram of the Master K.H. See yourself also as a soul in contact with first ray energy, and thus contributing some of this energy, reaching you via the Ashram of the Master M., to the light and power of my Ashram. Having thus served and been served, and having taken your group brothers into your consciousness and recognised them as within the ashramic light, you can proceed to take three ideas or symbolic sentences as your theme for reflection, during the next few years. They will suffice to meet your need and to evoke in you the necessary spiritual attitudes.

Trước hết, Tôi gợi ý em hãy nghĩ về Ashram, Ashram của Tôi, như một trung tâm năng lượng vĩ đại mà em—ở vị trí của em và theo cách riêng của em—có đặc ân thiết lập tiếp xúc. Hãy thấy Ashram như một khối cầu ánh sáng rạng rỡ, từ tính; rồi hãy thấy Tôi, như em biết Tôi, ở trung tâm của khối cầu ấy, vừa phát ra vừa tiếp nhận ánh sáng, qua Đức Christ và qua Ashram mà một thời Tôi từng là một phần—Ashram của Chân sư K.H. Cũng hãy thấy chính em như một linh hồn đang tiếp xúc với năng lượng cung một, và do đó đóng góp một phần năng lượng này, đến với em qua Ashram của Chân sư M., vào ánh sáng và quyền năng của Ashram Tôi. Sau khi đã phụng sự như thế và được phụng sự, và sau khi đã đưa các huynh đệ trong nhóm vào tâm thức của em và nhận ra họ ở trong ánh sáng ashram, em có thể tiếp tục lấy ba ý tưởng hay câu biểu tượng làm chủ đề suy tư trong vài năm tới. Chúng sẽ đủ để đáp ứng nhu cầu của em và gợi lên trong em những thái độ tinh thần cần thiết.

I. The Cross, erected high, reaches from the pinnacle [654] upon which I stand into the place of light, where dwells my Master. Against that Cross there rests a ladder. The golden Cross and the ladder of pure light are one, and by their means I rise. Upward I look and see an outstretched hand. Downward I look and see the many hands demanding aid. With gladness and with hope, I recognise the purpose of the two hands I possess. I climb the ladder, hard as it may seem, with both my hands outstretched—the one above my head to find it clasped with strength, the other down below to find it full of power to lift.

I. Thập giá, dựng cao, vươn từ đỉnh cao [654] nơi tôi đứng vào nơi ánh sáng, nơi Chân sư của tôi cư ngụ. Tựa vào Thập giá ấy có một chiếc thang. Thập giá vàng và chiếc thang bằng ánh sáng tinh khiết là một, và nhờ chúng, tôi đi lên. Tôi nhìn lên và thấy một bàn tay dang rộng. Tôi nhìn xuống và thấy nhiều bàn tay đang đòi hỏi sự trợ giúp. Với niềm vui và hy vọng, tôi nhận ra mục đích của hai bàn tay mà tôi có. Tôi leo lên chiếc thang, dù có vẻ khó khăn đến đâu, với cả hai tay dang ra—một tay ở trên đầu tôi để được nắm chặt bằng sức mạnh, tay kia ở bên dưới để thấy nó đầy quyền năng nâng đỡ.

II. A burning sea of flame. Beyond, a radiant sun. Behind, a world of darkness, gloom and heavy rain—a rain of tears. There, in the centre of a fire I stand, my eyes upon the sun. The vortex of the fire, the flaming rays of heat cast outward by the sun, blend with my fire and lo! it disappears. The greater fire blends with and consumes the little one. I turn and pass back—out of the light and warmth—into the world of gloom and mist and, as I turn, I hear a voice crying aloud: “Well done. Pass through the gloom; enter the mist; dry up the rain and tears and find yourself upon the other side, and near my heart.”

II. Một biển lửa bừng cháy. Phía bên kia, một mặt trời rạng rỡ. Phía sau, một thế giới tối tăm, u ám và mưa nặng hạt—một cơn mưa nước mắt. Ở đó, trong trung tâm của ngọn lửa, tôi đứng, mắt hướng về mặt trời. Xoáy lửa, những tia nhiệt bốc cháy do mặt trời phóng ra, hòa với lửa của tôi và kìa! nó biến mất. Ngọn lửa lớn hơn hòa vào và thiêu rụi ngọn lửa nhỏ. Tôi quay lại và đi trở về—ra khỏi ánh sáng và hơi ấm—vào thế giới u ám và sương mù, và khi tôi quay lại, tôi nghe một tiếng nói vang lên: “Làm tốt lắm. Hãy đi qua u ám; hãy bước vào sương mù; hãy làm khô mưa và nước mắt, rồi tìm thấy mình ở phía bên kia, và gần trái tim ta.”

III. A garden full of flowers, of bees and glowing light and sun. I see a wall which separates the garden from the world of men. Beyond its gates I see the forms of those who long to enter. Into my heart there come the words, spoken I know not when: “The key is in your hands; open the gates and let the crowd in. This you can do, for the garden now is yours and yet is theirs, though you have entered first. Open the gate and welcome with a smile and words of love and cheer the sad, unwelcome, miserable crowd. The garden stands between the outer world and the inner sacred place you call my Ashram. Within the garden take your stand. There rest. Move forward to the gate at need, returning ever to the place of rest. Open the door when called upon, [655] but retain the key. The surging crowd will touch you not nor hurt the garden in its loveliness.”

III. Một khu vườn đầy hoa, ong, ánh sáng rực rỡ và mặt trời. Tôi thấy một bức tường ngăn khu vườn với thế giới của con người. Bên kia cổng, tôi thấy hình tướng của những người khao khát được vào. Trong tim tôi vang đến những lời, được nói ra từ lúc nào tôi không biết: “Chìa khóa ở trong tay con; hãy mở cổng và để đám đông vào. Điều này con có thể làm, vì khu vườn giờ đây là của con, mà cũng là của họ, dù con đã bước vào trước. Hãy mở cổng và đón chào bằng nụ cười cùng những lời yêu thương và khích lệ đám đông buồn khổ, bị khước từ, đáng thương. Khu vườn đứng giữa thế giới bên ngoài và nơi thiêng liêng bên trong mà con gọi là Ashram của ta. Trong khu vườn, hãy giữ chỗ đứng của con. Ở đó hãy nghỉ ngơi. Khi cần, hãy tiến ra cổng, rồi luôn trở về nơi nghỉ ngơi. Hãy mở cửa khi được kêu gọi, [655] nhưng hãy giữ chìa khóa. Đám đông cuồn cuộn sẽ không chạm đến con, cũng không làm tổn hại khu vườn trong vẻ đẹp đáng yêu của nó.”

Behind these three symbolic stanzas, if I may so call them, are veiled three needed lessons which you must learn and master. I am not telling you what these lessons are, for the joy of discovery must be yours.

Đằng sau ba bài kệ biểu tượng này, nếu Tôi có thể gọi như vậy, có che giấu ba bài học cần thiết mà em phải học và làm chủ. Tôi không nói cho em biết những bài học ấy là gì, vì niềm vui khám phá phải thuộc về em.

I do not need to tell you either that I send you with constancy thoughts of strength and sustaining understanding. Long years have taught you that my strength goes out to you when your own inner strength is called into play and is used by you consciously and rightly. I give not what you yourself can provide, but I can and do supplement your strength when need demands. Rest, therefore, brother of mine; be not unduly concerned at the plight of those you love. Trust their own souls and know that they, alone, must learn the needed lessons. Rest in peace.

Tôi cũng không cần nói với em rằng Tôi luôn gửi đến em những tư tưởng về sức mạnh và sự thấu hiểu nâng đỡ. Nhiều năm dài đã dạy em rằng sức mạnh của Tôi hướng đến em khi sức mạnh nội tâm của chính em được kêu gọi vận dụng và được em sử dụng một cách có ý thức và đúng đắn. Tôi không ban điều mà chính em có thể cung cấp, nhưng Tôi có thể và thật sự bổ sung sức mạnh của em khi nhu cầu đòi hỏi. Huynh đệ của Tôi, vì vậy, hãy nghỉ ngơi; đừng quá bận tâm về cảnh ngộ của những người em yêu thương. Hãy tin cậy linh hồn của chính họ và biết rằng chỉ một mình họ phải học những bài học cần thiết. Hãy nghỉ ngơi trong bình an.

August 1946

Tháng Tám 1946

MY TRIED AND LOVED DISCIPLE:

ĐỆ TỬ ĐÃ ĐƯỢC THỬ THÁCH VÀ ĐƯỢC YÊU THƯƠNG CỦA TÔI:

The last few years have been years of agony and distress for you, both physically and mentally. You have endured almost to the limit—in pain of body, in agony of anxiety, through financial stringency and its wearing uncertainty, and in the distress which comes from watching others suffer. You have stood steady, and in your steadiness, serenity and staunchness you have brought joy to my heart and strength to the Ashram. I would have you know this.

Vài năm qua là những năm đau đớn và khốn khổ đối với em, cả về thể xác lẫn trí tuệ. Em đã chịu đựng gần đến giới hạn—trong đau đớn của thân thể, trong thống khổ của lo âu, qua sự eo hẹp tài chính và nỗi bất định làm hao mòn của nó, cũng như trong nỗi khổ đến từ việc chứng kiến người khác đau khổ. Em đã đứng vững, và trong sự kiên định, sự tĩnh lặng và lòng bền gan của em, em đã đem lại niềm vui cho trái tim Tôi và sức mạnh cho Ashram. Tôi muốn em biết điều này.

You have worked off much karma, and whilst so working you have served. In you I now have a disciple upon whom—in your next life cycle—I can depend and lay responsibility, and whose service therefore can be great. Disciples are apt to forget that when they reach a point of complete dependability (because the lower self has been obliterated and no longer obstructs the vision) they lift a load off the Master’s shoulders.

Em đã hóa giải nhiều nghiệp quả, và trong khi làm như thế, em đã phụng sự. Giờ đây nơi em, Tôi có một đệ tử mà—trong chu kỳ đời sống kế tiếp của em—Tôi có thể nương cậy và đặt trách nhiệm, và vì vậy sự phụng sự của em có thể lớn lao. Các đệ tử thường quên rằng khi họ đạt đến một điểm hoàn toàn đáng tin cậy, vì phàm ngã đã bị xóa sạch và không còn che khuất tầm nhìn, họ cất bớt một gánh nặng khỏi vai Chân sư.

It is your due to tell you this, for your sufferings, unselfishly endured, have earned you the right of recognition. The [656] Lighted Way stretches ahead in still greater brightness, and you can enter into the brightness with confidence and surety.

Nói với em điều này là điều em xứng đáng được nhận, vì những đau khổ mà em đã chịu đựng một cách vô kỷ đã đem lại cho em quyền được công nhận. [656] Con Đường được Soi Sáng trải dài phía trước trong ánh sáng còn rực rỡ hơn, và em có thể bước vào ánh sáng rực rỡ ấy với lòng tin tưởng và chắc chắn.

This is the sum total of my brief word to you today; it will, I know, suffice. Take what I have said exactly as I say it and for what the words exactly mean, and know that I, your Master and your friend of many lives, am satisfied.

Đây là tổng kết trọn vẹn lời ngắn ngủi của Tôi gửi đến em hôm nay; Tôi biết, nó sẽ đủ. Hãy nhận những gì Tôi đã nói đúng như Tôi nói và đúng theo ý nghĩa chính xác của các lời ấy, và hãy biết rằng Tôi, Chân sư của em và người bạn của em qua nhiều đời, hài lòng.

NOTE: Seventeen months later, this disciple entered “into the brightness” of the inner Ashram.

GHI CHÚ: Mười bảy tháng sau, đệ tử này đã bước “vào ánh sáng rực rỡ” của Ashram nội tâm.

To D. H. B. – Gửi D. H. B.

January 1940

Tháng Giêng 1940

This has been for you a hard year, my brother, and (as with your brother, D.P.R.) I seek not to add any fresh complications or considerations to the load which you already carry. You are, likewise, a clear-sighted disciple and there is small need for me to indicate the glamour which at this time disturbs your service. One thought, however, I would give you for careful pondering. The personality with its aims and ambitions, its intelligence and experience, in itself constitutes a glamour and one with a most potent effect upon you. When—as in your case—the personality is of a relatively high order and well integrated, the problem is then very real. This you realise, but in moments of service you are apt to fall into personality glamour without being aware of it, and those around you, serving with you, help you not.

Huynh đệ của Tôi, đây là một năm khó khăn đối với em, và cũng như với huynh đệ của em, D.P.R., Tôi không tìm cách thêm bất kỳ phức tạp hay suy xét mới nào vào gánh nặng mà em đã mang. Em cũng là một đệ tử có cái nhìn sáng rõ, và Tôi không cần nhiều lời để chỉ ra ảo cảm đang quấy nhiễu sự phụng sự của em vào lúc này. Tuy nhiên, Tôi muốn trao cho em một tư tưởng để suy ngẫm cẩn thận. Phàm ngã với các mục tiêu và tham vọng của nó, trí thông minh và kinh nghiệm của nó, tự nó cấu thành một ảo cảm và là một ảo cảm có tác động hết sức mạnh mẽ đối với em. Khi—như trong trường hợp của em—phàm ngã thuộc một cấp độ tương đối cao và được tích hợp tốt, thì vấn đề khi ấy rất thật. Điều này em nhận ra, nhưng trong những khoảnh khắc phụng sự, em thường rơi vào ảo cảm phàm ngã mà không ý thức được, và những người chung quanh em, đang phụng sự cùng em, lại không giúp em.

Walk in the light, my brother. Let the light and radiance of the soul illumine your service and let your intellect not prove to be the dominating factor. Let spontaneous love and not a cultivated kindness condition your relations with your fellowmen. Be not glamoured by your own grasp of spiritual realities and by your spiritual knowledge. You have much to do in this life, and particularly in the next when this life’s lessons have been learnt and assimilated. For this you must consciously prepare by the development of clear-sighted vision. I should perhaps point out to you that illusion more than glamour is your major difficulty for you are mentally polarised. [657]

Huynh đệ của Tôi, hãy bước đi trong ánh sáng. Hãy để ánh sáng và ánh rạng ngời của linh hồn soi sáng sự phụng sự của em, và đừng để trí năng của em trở thành yếu tố chi phối. Hãy để tình thương tự phát, chứ không phải lòng tử tế được vun trồng, tác động lên các mối liên hệ của em với đồng loại. Đừng bị ảo cảm bởi chính sự nắm bắt của em về các thực tại tinh thần và bởi tri thức tinh thần của em. Em có nhiều việc phải làm trong đời này, và đặc biệt trong đời kế tiếp, khi các bài học của đời này đã được học và đồng hóa. Vì điều này, em phải chuẩn bị một cách có ý thức bằng sự phát triển tầm nhìn sáng rõ. Có lẽ Tôi nên chỉ ra cho em rằng ảo tưởng, hơn là ảo cảm, là khó khăn chính của em, vì em phân cực trí tuệ. [657]

August 1940

Tháng Tám 1940

MY BROTHER AND MY FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ BẠN CỦA TÔI:

So much have I said to you anent glamour that in this instruction I shall not deal with it. If you have not developed an instinctual reaction to it at this time, then there is little that I can say. This instinctual recognition of a fault, a quality, a tendency and, eventually, of a revelation is one of the first steps that the disciple takes towards the transcendence of the astral plane. I would point out to all of you (for glamour is general as well as particular) that the dissipation of glamour brings revelation.

Tôi đã nói với em rất nhiều về ảo cảm đến nỗi trong huấn thị này Tôi sẽ không bàn đến nó. Nếu vào lúc này em chưa phát triển được một phản ứng theo bản năng đối với nó, thì Tôi có thể nói rất ít. Sự nhận biết theo bản năng về một lỗi lầm, một phẩm tính, một khuynh hướng và, sau cùng, về một sự mặc khải, là một trong những bước đầu tiên mà đệ tử thực hiện hướng tới sự vượt qua cõi cảm dục. Tôi muốn chỉ ra cho tất cả các em, vì ảo cảm vừa có tính chung vừa có tính riêng, rằng sự làm tiêu tan ảo cảm đem lại mặc khải.

For you, this is a time of interlude in service on a large scale and it is not easy for you to accept it. The conflict of the nations has brought about an exoteric interlude in spiritual action on earth. It is also causing (and this must not be forgotten) a deepening inner growth and a subjective spiritual reorganisation which—when the war is over—will bear much fruit. It is a period of preparation for disciples and is an opportunity for greatly increased inner, spiritual relation which later will produce that outer synthesis for which all men wait.

Đối với em, đây là một thời kỳ tạm nghỉ trong sự phụng sự trên quy mô lớn, và không dễ để em chấp nhận điều đó. Cuộc xung đột của các quốc gia đã tạo ra một thời kỳ tạm ngưng ngoại môn trong hoạt động tinh thần trên trái đất. Nó cũng đang gây nên, và điều này không được quên, một sự tăng trưởng nội tâm sâu hơn và một sự tái tổ chức tinh thần trong nội giới, điều mà—khi chiến tranh chấm dứt—sẽ kết nhiều quả. Đây là một giai đoạn chuẩn bị cho các đệ tử và là một cơ hội để mối liên hệ nội tâm, tinh thần được gia tăng rất nhiều, điều về sau sẽ tạo ra sự tổng hợp bên ngoài mà mọi người đang chờ đợi.

My message to you at this time is to retreat inward and achieve a deepening which will, in its turn, produce wisdom and truth. I do not urge you to cease any of your exoteric activities, but I urge you to carry them forward in a spiritual silence. Pursue your physical plane activities and your spiritual dharma but live within yourself an intense life of aspiration, of questioning and (if I might so express it) of questing. Become, brother of mine, spiritually dissatisfied for this will produce in you an intensification of the major qualities which I suggested you cultivate many years ago. There comes a time in the life of the disciple when he goes through a process of detaching himself esoterically (though not necessarily exoterically) from his chosen and designated task and from all past achievements and thereby learns his next step upon the Path of Liberation. This detachment, based on a phase of spiritual dissatisfaction engenders also humility of heart—a quality you much need to cultivate. Humility of head is [658] largely theoretical and imposed; humility of heart is practical and inherently spontaneous. I would have you ponder on these distinctions for you will learn much thereby.

Thông điệp của Tôi gửi đến em vào lúc này là hãy lui vào bên trong và đạt được một sự đào sâu, điều sẽ đến lượt nó tạo ra minh triết và chân lý. Tôi không thúc giục em chấm dứt bất kỳ hoạt động ngoại môn nào của em, nhưng Tôi thúc giục em tiến hành chúng trong một sự im lặng tinh thần. Hãy theo đuổi các hoạt động của em trên cõi hồng trần và dharma tinh thần của em, nhưng bên trong chính mình, hãy sống một đời sống mãnh liệt của khát vọng, của chất vấn và, nếu Tôi có thể diễn đạt như thế, của tìm cầu. Huynh đệ của Tôi, hãy trở nên bất mãn về mặt tinh thần, vì điều này sẽ tạo nơi em một sự tăng cường những phẩm tính chính mà Tôi đã gợi ý em vun trồng nhiều năm trước. Có một lúc trong đời sống của đệ tử khi y trải qua một tiến trình tách rời chính mình về mặt nội môn, dù không nhất thiết một cách ngoại môn, khỏi nhiệm vụ đã chọn và được chỉ định của y, cũng như khỏi mọi thành tựu trong quá khứ, và nhờ đó học bước kế tiếp của mình trên Con Đường Giải Thoát. Sự tách rời này, dựa trên một giai đoạn bất mãn tinh thần, cũng sinh ra sự khiêm nhường của trái tim—một phẩm tính mà em rất cần vun trồng. Sự khiêm nhường của đầu óc [658] phần lớn có tính lý thuyết và áp đặt; sự khiêm nhường của trái tim thì thực tiễn và tự phát một cách nội tại. Tôi muốn em suy ngẫm về những phân biệt này, vì nhờ đó em sẽ học được nhiều điều.

Consecrate therefore the period until the war ends to the cultivation of depth, of detachment, of humility. This process you will never regret, and in the coming period of reconstruction you will then bring to the task much that you cannot now give. As you know, it is the heart quality in you which needs intensifying and purifying. Your first ray astral body and mind produce too much of the will nature in all your activities. You need to bear this in mind particularly in connection with the astral body, for it is through that body that the love energy of the soul must pour on its way to the heart centre. It is, therefore, the second ray quality which must—in connection with your first ray astral body—be imposed and that means two things in relation to you:

Vì vậy, hãy thánh hiến giai đoạn cho đến khi chiến tranh kết thúc cho việc vun trồng chiều sâu, sự tách rời và sự khiêm nhường. Tiến trình này em sẽ không bao giờ hối tiếc, và trong giai đoạn tái thiết sắp tới, em khi ấy sẽ đem đến cho nhiệm vụ nhiều điều mà giờ đây em chưa thể trao. Như em biết, chính phẩm tính của trái tim nơi em cần được tăng cường và thanh luyện. Thể cảm dục và thể trí cung một của em tạo ra quá nhiều bản chất ý chí trong mọi hoạt động của em. Em cần đặc biệt ghi nhớ điều này liên quan đến thể cảm dục, vì chính qua thể đó mà năng lượng bác ái của linh hồn phải tuôn chảy trên đường đến trung tâm tim. Vì vậy, chính phẩm tính cung hai phải—liên quan đến thể cảm dục cung một của em—được áp đặt, và điều đó có nghĩa là hai điều đối với em:

1. That your soul contact must be intensified.

1. Rằng tiếp xúc linh hồn của em phải được tăng cường.

2. That your life problem today involves primarily three factors:

2. Rằng vấn đề đời sống của em hôm nay chủ yếu bao gồm ba yếu tố:

a. The soul…………….. second ray.

a. Linh hồn…………….. cung hai.

b. The personality…….. sixth ray.

b. Phàm ngã…….. cung sáu.

c. The astral body…….. first ray.

c. Thể cảm dục…….. cung một.

This constitutes an interesting and somewhat unbalanced triangle of energy, for the sixth ray personality is quick to respond to soul energy but the effects work out in a fanatically oriented and powerful astral body. The consequent interplay produces much of the glamour which besets you and which it is the task of your first ray mind to dissipate.

Điều này tạo thành một tam giác năng lượng thú vị và có phần mất cân bằng, vì phàm ngã cung sáu đáp ứng nhanh với năng lượng linh hồn, nhưng các tác động lại biểu lộ trong một thể cảm dục được định hướng cuồng tín và mạnh mẽ. Sự tương tác kéo theo đó tạo ra phần lớn ảo cảm đang vây bủa em, và nhiệm vụ của thể trí cung một của em là làm tiêu tan nó.

You are perhaps surprised at my use of the word “fanatical” in connection with you for you in no way regard yourself as a “fanatical devotee.” Nor do I so regard you. The fanaticism which you display is in respect to your own judgment where other people are concerned and it involves also an almost proud dependence upon the wisdom which you have undoubtedly developed during many lives. This tends to give you a surety of opinion, in relation to others, which conditions and your decision do not always warrant; it produces [659] also a willingness to impose your own ideas and your judgment upon others when, my brother, it may be neither your duty nor your right so to do. This quality (oft found in disciples who are learning the nature of true spiritual humility) is esoterically called “the fanatic opposition of the wise person to the facts.” This statement is most paradoxical but it is one which it would profit you much to consider and study.

Có lẽ em ngạc nhiên về việc Tôi dùng từ “cuồng tín” liên quan đến em, vì em không hề xem mình là một “người sùng tín cuồng tín.” Tôi cũng không xem em như vậy. Sự cuồng tín mà em biểu lộ là đối với phán đoán của chính em khi liên quan đến người khác, và nó cũng bao hàm một sự lệ thuộc gần như kiêu hãnh vào minh triết mà chắc chắn em đã phát triển qua nhiều đời. Điều này có khuynh hướng đem lại cho em một sự chắc chắn trong ý kiến, liên quan đến người khác, mà hoàn cảnh và quyết định của em không phải lúc nào cũng biện minh được; nó cũng tạo ra [659] một sự sẵn lòng áp đặt các ý tưởng và phán đoán của chính em lên người khác, trong khi, huynh đệ của Tôi, có thể đó không phải là bổn phận cũng không phải quyền của em để làm như vậy. Phẩm tính này, thường thấy nơi các đệ tử đang học bản chất của sự khiêm nhường tinh thần đích thực, được gọi về mặt nội môn là “sự chống đối cuồng tín của người minh triết đối với các sự kiện.” Phát biểu này rất nghịch lý, nhưng là một điều sẽ rất có ích cho em nếu em suy xét và nghiên cứu.

Disciples like yourself (and they are fairly numerous and constitute some of the most promising material for training that we possess) are apt to be hard and unyielding—both to themselves and others. They have learnt much and surmounted much in the crucible of suffering and nothing has prevented them from a steadfast pursuit of reality. This capacity leads them to judge with harshness those who do not, apparently, achieve results or possess their own staying power. When such a disciple is naturally upon the teaching line as you are, he then handles opportunity on the basis of his truly enlightened personality but his methods are nevertheless personality ones and when—as in your case—the personality is on the sixth ray, one is apt to have a disciple fanatically identified with his own way of approach and one who expects others to go his way; he will be wedded to his own methods and anxious to impose them upon others. He is convinced that the techniques he employs are the best for all. All disciples have to learn to recognise the many ways, the many methods and the widely differently developed techniques. Their attitude (when they have learnt this lesson) is ever the fostering, the interpreting and the strengthening of the ways and the methods which suit those with whom they are associated and working, or those whom they are endeavouring to help. Remember this, my brother, and aim at decentralisation without diffusion. Think about this statement and seek to understand it and make it practical. If you can learn this lesson, there will open for you a wider field of opportunity. Decentralisation in mind from yourself and identification with the self in all should be your steady and practical objective.

Những đệ tử như em, và họ khá đông đảo, cấu thành một phần trong số chất liệu hứa hẹn nhất cho việc huấn luyện mà chúng tôi có, thường có khuynh hướng cứng rắn và không khoan nhượng—cả với chính họ lẫn với người khác. Họ đã học được nhiều và vượt qua nhiều trong lò thử thách của đau khổ, và không gì ngăn cản họ theo đuổi thực tại một cách kiên định. Năng lực này dẫn họ đến việc phán xét khắc nghiệt những ai, bề ngoài, không đạt được kết quả hoặc không có sức bền bỉ như họ. Khi một đệ tử như thế tự nhiên ở trên tuyến giảng dạy như em, y khi ấy xử lý cơ hội trên nền tảng của phàm ngã thật sự đã được soi sáng của mình, nhưng các phương pháp của y tuy vậy vẫn là các phương pháp phàm ngã; và khi—như trong trường hợp của em—phàm ngã ở cung sáu, người ta thường có một đệ tử đồng nhất một cách cuồng tín với đường lối tiếp cận của chính y và mong đợi người khác đi theo đường lối của y; y sẽ gắn bó với các phương pháp của chính mình và nóng lòng áp đặt chúng lên người khác. Y tin chắc rằng các kỹ thuật mà y sử dụng là tốt nhất cho tất cả. Tất cả các đệ tử phải học nhận ra nhiều con đường, nhiều phương pháp và các kỹ thuật được phát triển rất khác nhau. Thái độ của họ, khi họ đã học được bài học này, luôn là nuôi dưỡng, diễn giải và củng cố những con đường và phương pháp phù hợp với những người mà họ liên kết và cùng làm việc, hoặc những người mà họ đang cố gắng giúp đỡ. Huynh đệ của Tôi, hãy nhớ điều này, và hãy nhắm đến sự phi tập trung vào bản thân mà không phân tán. Hãy suy nghĩ về phát biểu này và tìm cách thấu hiểu nó cũng như làm cho nó thực tiễn. Nếu em có thể học bài học này, một lĩnh vực cơ hội rộng lớn hơn sẽ mở ra cho em. Sự phi tập trung trong thể trí khỏi chính mình và sự đồng nhất với bản ngã trong tất cả phải là mục tiêu vững bền và thực tiễn của em.

To aid you in this, I suggest the following short meditation exercise which should be done each day at the close [660] of your group practice. Its objective is the increase of the flow of energy to the heart centre, remembering always that the heart centre is a twelve-petalled lotus.

Để giúp em trong việc này, Tôi gợi ý bài tham thiền ngắn sau đây, nên thực hiện mỗi ngày vào cuối [660] phần thực hành nhóm của em. Mục tiêu của nó là gia tăng dòng chảy năng lượng đến trung tâm tim, luôn nhớ rằng trung tâm tim là một Hoa sen mười hai cánh.

1. Visualisation exercise.

1. Bài tập hình dung.

a. Achieve alignment as rapidly as possible.

a. Đạt sự chỉnh hợp càng nhanh càng tốt.

b. Hold in the mind, imaginatively, the straight line of the spinal column, the head centre, the sutratma and the antahkarana—thus linking the centres in the body with the soul.

b. Giữ trong thể trí, bằng sự tưởng tượng, đường thẳng của cột sống, trung tâm đầu, sutratma và antahkarana—như thế liên kết các trung tâm trong thân thể với linh hồn.

c. Then carry the line which your imagination has constructed, from the centre at the base of the spine to the closed lotus bud in the centre of the twelve-petalled egoic lotus.

c. Rồi đưa đường mà sự tưởng tượng của em đã kiến tạo, từ trung tâm ở đáy cột sống đến nụ Hoa sen khép kín ở trung tâm của Hoa Sen Chân Ngã mười hai cánh.

2. Having done this, recognise your identity with all souls who constitute—in their entirety—the One Soul.

2. Sau khi làm điều này, hãy nhận ra sự đồng nhất của em với tất cả các linh hồn, những linh hồn cấu thành—trong toàn thể của họ—Linh Hồn Duy Nhất.

3. Then sound the OM as a soul, as far as in you lies, breathing it out from soul levels with no fixed objective in your mind. Do this six times.

3. Rồi hãy xướng OM như một linh hồn, trong mức em có thể, thở nó ra từ các cấp độ linh hồn mà không có mục tiêu cố định nào trong thể trí em. Hãy làm điều này sáu lần.

4. Then sound the OM again after a pause (thus making seven in all) sending it out into the ajna centre and from there carry it down to the heart centre and hold it there for later use. Do this as a soul whose nature is love.

4. Rồi, sau một khoảng dừng, hãy xướng OM một lần nữa, như thế làm thành bảy lần tất cả, phóng nó vào trung tâm ajna, và từ đó đưa nó xuống trung tâm tim và giữ nó ở đó để dùng về sau. Hãy làm điều này như một linh hồn mà bản chất là tình thương.

5. Then, bearing in mind that the heart centre is the repository of twelve forces or energies, seek to develop them by pondering upon the twelve virtues through which these energies express themselves, taking one each month for a year.

5. Rồi, ghi nhớ rằng trung tâm tim là kho chứa mười hai mãnh lực hay năng lượng, hãy tìm cách phát triển chúng bằng cách suy ngẫm về mười hai đức hạnh qua đó các năng lượng này biểu lộ, mỗi tháng lấy một đức hạnh trong một năm.

a. Group love, embracing individuals.

a. Tình thương nhóm, bao hàm các cá nhân.

b. Humility, signifying your personality attitude.

b. Khiêm nhường, biểu thị thái độ phàm ngã của em.

c. Service, indicating your soul’s preoccupation.

c. Phụng sự, chỉ sự bận tâm của linh hồn em.

d. Patience, signifying the embryonic immortality and persistence which is a soul characteristic.

d. Kiên nhẫn, biểu thị tính bất tử phôi thai và sự bền bỉ vốn là một đặc tính của linh hồn.

e. Life, or expressed activity which is the manifestation of love because it is essential dualism.

e. Sự sống, hay hoạt động được biểu lộ, vốn là sự biểu hiện của tình thương vì nó là nhị nguyên cốt yếu.

f. Tolerance, which is the first expression of buddhic understanding.

f. Khoan dung, vốn là biểu hiện đầu tiên của sự thấu hiểu Bồ đề.

g. Identification with others, which is embryonic [661] fusion, carried eventually to synthesis when the head centre is developed.

g. Đồng nhất với người khác, vốn là sự dung hợp [661] phôi thai, cuối cùng được đưa đến tổng hợp khi trung tâm đầu được phát triển.

h. Compassion, which is essentially the right use of the pairs of opposites.

h. Lòng bi mẫn, cốt yếu là việc sử dụng đúng đắn các cặp đối cực.

i. Sympathy, which is the consequence of knowledge and of the unfoldment of the knowledge petals. Such energy then is in touch with the heart centre.

i. Cảm thông, vốn là hệ quả của tri thức và của sự khai mở các cánh hoa tri thức. Khi ấy năng lượng như thế tiếp xúc với trung tâm tim.

j. Wisdom, which is the fruit of love and indicates the awakening of the love petals of the egoic lotus.

j. Minh triết, vốn là quả của tình thương và chỉ sự thức tỉnh của các cánh hoa bác ái trong Hoa Sen Chân Ngã.

k. Sacrifice, which is the giving of the heart’s blood or life for others.

k. Hy sinh, vốn là việc hiến dâng máu hay sự sống của trái tim cho người khác.

6. After a quiet meditation on one of these qualities of soul expression as they manifest upon the physical plane, sound the OM three times.

6. Sau một tham thiền yên lặng về một trong các phẩm tính biểu hiện linh hồn này khi chúng biểu lộ trên cõi hồng trần, hãy xướng OM ba lần.

I would remind you that these soul qualities, which express themselves through the heart centre, must be interpreted esoterically and in terms of relation. Bear this in mind and as you meditate, seek ever the inner significance and not just the assembling of thought upon these qualities. Most of the thoughts and ideas which will come to you in this connection will be well known and so purely exoteric. There are, however, secondary meanings which are of real significance to the disciple though almost unknown to the average man. Endeavour to find these.

Tôi muốn nhắc em rằng các phẩm tính linh hồn này, vốn biểu lộ qua trung tâm tim, phải được diễn giải về mặt nội môn và theo các mối liên hệ. Hãy ghi nhớ điều này, và khi em tham thiền, hãy luôn tìm thâm nghĩa bên trong chứ không chỉ là sự tập hợp tư tưởng về các phẩm tính này. Phần lớn các tư tưởng và ý tưởng sẽ đến với em liên quan đến điều này sẽ rất quen thuộc và do đó thuần túy ngoại môn. Tuy nhiên, có những ý nghĩa thứ yếu có thâm nghĩa thật sự đối với đệ tử, dù hầu như không được người bình thường biết đến. Hãy cố gắng tìm ra chúng.

I would ask you, my brother, as a service to the group, each month to write a short paper on these twelve qualities as expressions of soul energies, thus giving your brothers the fruit of your month’s meditation. Be of good courage and let not physical liability hinder your inner life and joy. Seek closer contact with me, your Master, and look for response.

Huynh đệ của Tôi, Tôi muốn yêu cầu em, như một sự phụng sự đối với nhóm, mỗi tháng viết một bài ngắn về mười hai phẩm tính này như những biểu hiện của năng lượng linh hồn, nhờ đó trao cho các huynh đệ của em thành quả tham thiền trong tháng của em. Hãy can đảm và đừng để sự khiếm khuyết thể xác cản trở đời sống nội tâm và sự hoan hỉ của em. Hãy tìm sự tiếp xúc gần gũi hơn với Tôi, Chân sư của em, và hãy trông chờ sự đáp ứng.

August 1942

Tháng Tám 1942

1. The call to some disciples is to live the triple life: to serve without surcease, to suffer on the plane of outer things and always dream. This is the call for you. [662]

1. Lời kêu gọi dành cho một số đệ tử là sống đời sống tam phân: phụng sự không ngừng nghỉ, chịu đau khổ trên cõi của những sự vật bên ngoài, và luôn mơ ước. Đây là lời kêu gọi dành cho em. [662]

2. Ponder the distinction between the dream, the vision and the plan. They form the world of meaning.

2. Hãy suy ngẫm sự phân biệt giữa giấc mơ, tầm nhìn và Thiên Cơ. Chúng tạo thành Thế giới của ý nghĩa.

3. To understand impels the heart detached. And with that understanding there awakes the will to dissipate the pain of those who tread the darker ways of earth. On these you do not walk, yet know and see.

3. Thấu hiểu thúc đẩy trái tim tách rời. Và với sự thấu hiểu ấy, ý chí làm tiêu tan nỗi đau của những người bước trên các nẻo đường tối tăm hơn của trái đất thức tỉnh. Trên những nẻo đường này em không bước đi, nhưng em biết và thấy.

4. The pen, when dipped in love and understanding, must be used by you for several years as your major mode of service. I tell you therefore, Write.

4. Cây bút, khi được nhúng trong tình thương và sự thấu hiểu, phải được em sử dụng trong nhiều năm như phương thức phụng sự chính của em. Vì vậy, Tôi nói với em, Hãy viết.

5. Search for the younger members of my group whom yet you do not know. Recognise them when you meet them on the way of life, and from your point of garnered wisdom and your trained experience give them a helping hand. Three await your service.

5. Hãy tìm kiếm các thành viên trẻ hơn trong nhóm của Tôi mà em chưa biết. Hãy nhận ra họ khi em gặp họ trên đường đời, và từ điểm minh triết đã tích lũy cùng kinh nghiệm đã được rèn luyện của em, hãy đưa cho họ một bàn tay trợ giúp. Ba người đang chờ sự phụng sự của em.

6. Stand by A.A.B. and aid her in the service of the Plan. The link is close between the Ashram of K.H. and mine. The lines of interplay must closer be.

6. Hãy đứng bên A.A.B. và giúp Bà trong sự phụng sự Thiên Cơ. Mối liên kết giữa Ashram của Chân sư K.H. và của Tôi thật gần gũi. Các tuyến tương tác phải trở nên gần gũi hơn.

September 1943

Tháng Chín 1943

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

The call has now gone forth from your soul and from my Ashram to develop and evolve your own definitely planned service, and therefore to begin the task of finding those whom you can help—not only in this life but primarily in the next. I start with this statement because I seek to say something which will arrest your attention and give incentive to the next few years of your life.

Lời kêu gọi giờ đây đã phát ra từ linh hồn của em và từ Ashram của Tôi để phát triển và tiến hóa sự phụng sự đã được hoạch định rõ ràng của riêng em, và do đó bắt đầu nhiệm vụ tìm những người mà em có thể giúp đỡ—không chỉ trong đời này mà chủ yếu trong đời kế tiếp. Tôi bắt đầu bằng phát biểu này vì Tôi tìm cách nói một điều sẽ thu hút sự chú ý của em và đem lại động lực cho vài năm sắp tới của đời em.

The sixfold statement which I gave you last year was, if you have not ascertained this for yourself, full of information, indicative of your soul’s desire or plan for you, and full also of esoteric symbolism. It is a symbolism which holds for you the key to the future. I would like to take these six sentences in this instruction and give you a deeper insight into them. They hold for you the blueprint of your future, and particularly are they the blueprint for your next incarnation. Study them afresh from that angle.

Phát biểu lục phân mà Tôi đã trao cho em năm ngoái, nếu em chưa tự xác định điều này, chứa đầy thông tin, chỉ ra ước muốn hay kế hoạch của linh hồn em dành cho em, và cũng đầy biểu tượng nội môn. Đó là một biểu tượng nắm giữ cho em chìa khóa của tương lai. Tôi muốn trong huấn thị này lấy sáu câu ấy và trao cho em một cái nhìn sâu hơn về chúng. Chúng nắm giữ cho em bản thiết kế của tương lai em, và đặc biệt chúng là bản thiết kế cho lần lâm phàm kế tiếp của em. Hãy nghiên cứu lại chúng từ góc độ đó.

What, my brother, has been the keynote of your present life? I refer here to the obvious personality keynote. Is it not [663] perhaps and above aught else frustration? Plans which have not materialised; dreams which have not come true; friends who have consistently failed to understand; lack of appreciation from those who should justly have given it to you; apparently no situation in which your deep knowledge and understanding could be made available. Learning and esoteric knowledge have both apparently (I said apparently, my brother) failed you. A home life which has not measured up to your earlier dreams and a physical body which limits all you have sought to do. You likewise see the years slipping away, and from the angle of the personality there seems little to show for it all. Such is one side of the picture, is it not?

Huynh đệ của Tôi, chủ âm của đời hiện tại của em là gì? Ở đây Tôi nói đến chủ âm phàm ngã hiển nhiên. Có lẽ nào, và trên hết mọi sự, đó không phải là [663] sự thất vọng? Những kế hoạch đã không hiện hình; những giấc mơ đã không thành sự thật; những bạn bè đã liên tục không thấu hiểu; sự thiếu trân trọng từ những người lẽ ra công bằng mà nói phải trao điều đó cho em; dường như không có hoàn cảnh nào trong đó tri thức sâu xa và sự thấu hiểu của em có thể được sử dụng. Sự học hỏi và tri thức nội môn cả hai dường như, Tôi nói là dường như, huynh đệ của Tôi, đã phụ em. Một đời sống gia đình đã không đạt đến những giấc mơ thuở trước của em, và một thể xác giới hạn mọi điều em đã tìm cách làm. Em cũng thấy năm tháng trôi qua, và từ góc độ của phàm ngã, dường như có rất ít điều để chứng tỏ cho tất cả. Đó là một mặt của bức tranh, phải vậy không?

But what about the other side, my friend and co-worker? This, it is easy to overlook, because from the angle of personality appraisement it appears so nebulous and evasive and dependent for verification upon those rare moments when you contact consciously your soul, and then suddenly know. But this happens none too often. Let me tell you in words what that other side appears to us, knowing that you will believe me and that what I say may give you a fresh and living grip on life and enough confidence to enable you to make the coming years increasingly fruitful.

Nhưng còn mặt kia thì sao, bạn của Tôi và người cộng tác của Tôi? Điều này dễ bị bỏ qua, vì từ góc độ đánh giá của phàm ngã, nó có vẻ quá mơ hồ, khó nắm bắt, và để được xác minh thì lệ thuộc vào những khoảnh khắc hiếm hoi khi em tiếp xúc một cách có ý thức với linh hồn mình, rồi đột nhiên biết. Nhưng điều này không xảy ra thường xuyên. Hãy để Tôi nói với em bằng lời rằng mặt kia ấy hiện ra với chúng tôi như thế nào, biết rằng em sẽ tin Tôi và rằng điều Tôi nói có thể đem lại cho em một sự nắm bắt mới mẻ và sống động đối với cuộc đời, cùng đủ lòng tin để giúp em làm cho những năm sắp tới ngày càng kết quả hơn.

This has been for you an incarnation wherein certain major happenings have taken place. Your soul has, for one thing, taken possession of your personality and gripped your mind (a major determining factor in all processes connected with reincarnation), and has done this in such a way that you will return to incarnation when the time comes with a sense of convinced awareness. Secondly, you have stepped upon the Path of Accepted Discipleship and are definitely in preparation for initiation—which initiation it is for you to discover. A hint lies for you in the fact that frustration has been the keynote of your personality life, and that divine indifference is your quality objective. Do you realise the importance of those two major happenings? Again, you have learnt the meaning of pain, and again divine indifference is your goal. You have made many contacts and helped many more than you know, and you have thus established links—for what purpose, my brother? May it not be that each life that you [664] have touched with helping and with strength indicates to you those who may form the nucleus of your own group in a later life experience?

Đây là một lần lâm phàm đối với em trong đó một số sự kiện lớn đã diễn ra. Trước hết, linh hồn của em đã chiếm hữu phàm ngã của em và nắm giữ thể trí của em, một yếu tố quyết định lớn trong mọi tiến trình liên quan đến tái sinh, và đã làm điều này theo cách khiến em sẽ trở lại lâm phàm khi thời điểm đến với một ý thức nhận biết đầy xác tín. Thứ hai, em đã bước lên Con Đường Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận và chắc chắn đang chuẩn bị cho điểm đạo—điểm đạo nào là điều em phải tự khám phá. Một gợi ý dành cho em nằm trong sự kiện rằng thất vọng đã là chủ âm của đời sống phàm ngã của em, và rằng Điềm nhiên thiêng liêng là mục tiêu phẩm tính của em. Em có nhận ra tầm quan trọng của hai sự kiện lớn ấy không? Lại nữa, em đã học ý nghĩa của đau khổ, và một lần nữa, Điềm nhiên thiêng liêng là mục tiêu của em. Em đã tạo nhiều tiếp xúc và giúp đỡ nhiều người hơn em biết, và như thế em đã thiết lập các liên kết—vì mục đích gì, huynh đệ của Tôi? Có thể nào mỗi đời sống mà em [664] đã chạm đến bằng sự giúp đỡ và sức mạnh chỉ cho em thấy những người có thể tạo thành hạt nhân của nhóm riêng của em trong một kinh nghiệm đời sống về sau?

One of the things which I shall have to indicate to the senior members of this particular group of chelas in my Ashram (as their teaching is carried forward after the preparatory personal processes have been duly taught) is the Technique of Magnetism, which is the clue to the manifestation of all Ashrams. It is through spiritual magnetism and through pure love, impersonally applied, that an Ashram is assembled. It is a technique which you must learn and are beginning to learn, but the motive for so learning is now presented to you. You have made many friends and evoked much love, and that is a lasting process entailing responsibility which may not be ignored. You are learning to know me and you have ever the staunch love and confidence of A.A.B., who has a peculiarly deep appreciation of you based on ancient work together in past lives. You have also gained a little knowledge as to the intent of my Ashram, as far as you are concerned. You have worked off much karma (far more than you think) and stand much freer than was deemed possible when you entered into incarnation this life. From the angle of your soul your life has been triumphant. From the angle of your personality it has been frustrated. Which matters, my brother? Perhaps neither matters from the angle of the initiate vision and the attitude of the trained disciple.

Một trong những điều mà Tôi sẽ phải chỉ ra cho các thành viên thâm niên của nhóm đệ tử đặc biệt này trong Ashram của Tôi, khi việc giảng dạy họ được tiếp tục sau khi các tiến trình cá nhân chuẩn bị đã được dạy đúng mức, là Kỹ Thuật Từ Điện, vốn là chìa khóa cho sự biểu hiện của mọi Ashram. Chính nhờ từ điện tinh thần và nhờ tình thương tinh khiết, được áp dụng một cách vô ngã, mà một Ashram được quy tụ. Đó là một kỹ thuật mà em phải học và đang bắt đầu học, nhưng động cơ cho việc học ấy giờ đây được trình bày cho em. Em đã tạo nhiều bạn bè và gợi lên nhiều tình thương, và đó là một tiến trình bền lâu kéo theo trách nhiệm không thể bị bỏ qua. Em đang học biết Tôi và em luôn có tình thương kiên định cùng lòng tin cậy của A.A.B., Bà có một sự trân trọng đặc biệt sâu sắc đối với em, dựa trên công việc cổ xưa cùng nhau trong các đời trước. Em cũng đã đạt được một ít tri thức về chủ ý của Ashram Tôi, xét theo phần liên quan đến em. Em đã hóa giải nhiều nghiệp quả, nhiều hơn em nghĩ rất nhiều, và đứng tự do hơn nhiều so với điều được xem là có thể khi em bước vào lâm phàm trong đời này. Từ góc độ linh hồn của em, đời em đã khải hoàn. Từ góc độ phàm ngã của em, nó đã thất vọng. Điều nào quan trọng, huynh đệ của Tôi? Có lẽ không điều nào quan trọng từ góc độ tầm nhìn của điểm đạo đồ và thái độ của đệ tử đã được rèn luyện.

“In neither pain nor joy is liberation found.

“Không trong đau khổ cũng không trong hoan lạc mà giải thoát được tìm thấy.

In neither dark nor light will the spiritual sun appear.

Không trong bóng tối cũng không trong ánh sáng mà mặt trời tinh thần sẽ xuất hiện.

The pairs of opposites distract the eyes of men.

Các cặp đối cực làm phân tán đôi mắt của con người.

Only the single eye directs the steps

Chỉ con mắt đơn nhất mới hướng dẫn các bước chân

Of the initiate upon the Way.”

Của điểm đạo đồ trên Đường Đạo.”

Will you ponder my presentation of these two contrasting aspects of your life, and then pass on to fuller light and service?

Em có chịu suy ngẫm phần trình bày của Tôi về hai phương diện tương phản này của đời em, rồi tiến vào ánh sáng và sự phụng sự đầy đủ hơn không?

I told you in my last instruction that you were called to live the triple life of ceaseless serving, of constant pain, and [665] of endless dreaming. I started off in that statement with the enunciation of that which is factual in your life. Let us see which are the other statements of fact pointed out by me, for in their sum total your future integration, development and service lie hidden. Let me, therefore, enumerate:

Trong huấn thị trước của Tôi, Tôi đã nói với em rằng em được kêu gọi sống đời sống tam phân của sự phụng sự không ngừng, của đau khổ thường hằng, và [665] của mơ ước vô tận. Trong phát biểu ấy, Tôi đã khởi đầu bằng việc nêu lên điều vốn là sự kiện trong đời em. Hãy xem những phát biểu sự kiện khác mà Tôi đã chỉ ra là gì, vì trong tổng thể của chúng, sự tích hợp, phát triển và phụng sự tương lai của em được ẩn giấu. Vì vậy, hãy để Tôi liệt kê:

1. Service and pain and dreaming are your present lot.

1. Phụng sự, đau khổ và mơ ước là phần hiện tại của em.

2. You do not walk as yet the darker ways of earth. For that hard task you are in preparation, for some must serve this way and only the strong and tried can thus he trusted. Regard all that has happened to you as special training, what might be called “basic training,” in order that your future initiate service may be carried out according to plan. That service is the choice of your soul. It is not imposed upon you by me or by the will of the Ashram or by any other factor save your soul.

2. Em chưa bước trên những nẻo đường tối tăm hơn của trái đất. Em đang được chuẩn bị cho nhiệm vụ khó khăn đó, vì một số người phải phụng sự theo cách này, và chỉ những người mạnh mẽ và đã được thử thách mới có thể được tin cậy như thế. Hãy xem mọi điều đã xảy ra với em như một sự huấn luyện đặc biệt, điều có thể được gọi là “huấn luyện căn bản,” để sự phụng sự điểm đạo tương lai của em có thể được thực hiện theo kế hoạch. Sự phụng sự ấy là lựa chọn của linh hồn em. Nó không do Tôi áp đặt lên em, cũng không do ý chí của Ashram hay bất kỳ yếu tố nào khác, ngoại trừ linh hồn của em.

3. The use of the pen in writing is at present your major mode of service. Find your own people, and write that which will inspire and help. Let love speed your fingers and light travel between you and those you seek to serve. Therefore, my brother, write. You have the gift and the time and a wide open door for impersonal service.

3. Việc dùng bút trong viết lách hiện nay là phương thức phụng sự chính của em. Hãy tìm những người của riêng em, và hãy viết những điều sẽ truyền cảm hứng và giúp đỡ. Hãy để tình thương thúc đẩy các ngón tay em và ánh sáng di chuyển giữa em và những người em tìm cách phụng sự. Vì vậy, huynh đệ của Tôi, hãy viết. Em có thiên tư, có thời gian và có một cánh cửa rộng mở cho sự phụng sự vô ngã.

4. Search for those who are not yet in my Ashram, who are still probationers, and lead them on. Prepare them for the transition which they face when they step off the Probationary Path onto the Path of Discipleship. Have you found and recognised the three who await your guidance and your help?

4. Hãy tìm những người chưa ở trong Ashram của Tôi, những người vẫn còn là các đệ tử dự bị, và dẫn họ tiến lên. Hãy chuẩn bị họ cho sự chuyển tiếp mà họ đối diện khi họ bước khỏi Con Đường Dự Bị lên Con Đường Đệ Tử. Em đã tìm thấy và nhận ra ba người đang chờ sự hướng dẫn và trợ giúp của em chưa?

5. Continue, as ever, to stand by A.A.B. The reason for this is that my Ashram is an affiliate of the Ashram of K.H. I would ask you to study what I say to R.S.U., for it applies also to you.

5. Hãy tiếp tục, như mọi khi, đứng bên A.A.B. Lý do của điều này là Ashram của Tôi là một chi nhánh của Ashram Chân sư K.H. Tôi muốn yêu cầu em nghiên cứu những gì Tôi nói với R.S.U., vì nó cũng áp dụng cho em.

I have here clearly given you certain instructions which will only prove their effectiveness in your development and their ability to open doors for you when accepted and obeyed. I [666] can but indicate and suggest from my standpoint of greater knowledge, but it is for you to recognise the usefulness of the suggestions and to move forward in line with them.

Ở đây Tôi đã trao cho em rõ ràng một số huấn thị nhất định, những huấn thị sẽ chỉ chứng tỏ hiệu quả của chúng trong sự phát triển của em và khả năng mở cửa cho em khi được chấp nhận và tuân theo. Tôi [666] chỉ có thể chỉ dẫn và gợi ý từ lập trường tri thức rộng lớn hơn của Tôi, nhưng chính em phải nhận ra tính hữu ích của các gợi ý và tiến tới phù hợp với chúng.

I have a most interesting theme for your thought on the distinction between “the dream, the vision and the Plan.” There are many ways in which these distinctions can be approached, and the interpretations will be dependent upon the status of the thinker. For you, a disciple in preparation for initiation, as are all in my group—accepted disciples in training—I will suggest the following lines of approach.

Tôi có một chủ đề rất thú vị cho tư tưởng của em về sự phân biệt giữa “giấc mơ, tầm nhìn và Thiên Cơ.” Có nhiều cách để tiếp cận các phân biệt này, và các cách diễn giải sẽ tùy thuộc vào địa vị của người suy tư. Đối với em, một đệ tử đang chuẩn bị cho điểm đạo, cũng như tất cả những người trong nhóm của Tôi—các đệ tử được chấp nhận đang được huấn luyện—Tôi sẽ gợi ý các tuyến tiếp cận sau đây.

To you, the dream is the reaction of a high grade imparted knowledge and world need for service. The personality dreams of using that knowledge and meeting that need, and as he thinks of serving he thus becomes a server and a teacher. The vision is the realisation of the goal (embodied by the particular initiation for which you are being prepared); according to the status of the initiate, so will be the vision. It is the sensing of the united purpose and the spiritual intention of those who have already taken the initiation for which the disciple is being prepared. I cannot express this more clearly, as it is not permitted, but once you are clear in your own mind for which initiation you are being prepared, you can then ascertain for yourself (and will, perforce, have to ascertain) the objective, secret scope and field of service, plus the esoteric quality of those who have passed through a certain door and undergone a certain expansion of consciousness. Remember that initiation does not simply enhance and deepen the soul quality; it does not simply enable the personality to express soul powers, and thus emphasise and draw out the best that is in the disciple and his service, but it makes available to him, progressively, forces and energies of which he has had no previous knowledge and which he must learn to use as an initiate of a certain degree upon the Lighted Way. It reveals to him worlds of being hitherto unsuspected and unrecognised, with which he must learn to cooperate, and it integrates him more definitely into the “lighted area” of our planetary life, bringing fresh revelation and vision but making the unlighted area dark indeed. [667]

Đối với em, giấc mơ là phản ứng của tri thức được truyền đạt ở cấp độ cao và của nhu cầu thế giới cần được phụng sự. Phàm ngã mơ ước sử dụng tri thức ấy và đáp ứng nhu cầu ấy, và khi y nghĩ đến việc phụng sự, y nhờ đó trở thành một người phụng sự và một huấn sư. Linh ảnh là sự chứng nghiệm mục tiêu (được thể hiện bởi cuộc điểm đạo đặc thù mà em đang được chuẩn bị để trải qua); tùy theo địa vị của điểm đạo đồ mà linh ảnh sẽ là như thế. Đó là sự cảm nhận Thiên Ý hợp nhất và ý định tinh thần của những vị đã trải qua cuộc điểm đạo mà người đệ tử đang được chuẩn bị để bước vào. Tôi không thể diễn đạt điều này rõ hơn, vì điều đó không được phép, nhưng một khi em tự mình rõ ràng trong thể trí về cuộc điểm đạo nào mà em đang được chuẩn bị, khi ấy em có thể tự xác định cho mình (và tất yếu sẽ phải xác định) mục tiêu, phạm vi bí mật và lĩnh vực phụng sự, cộng với phẩm tính nội môn của những vị đã đi qua một cánh cửa nào đó và trải qua một sự mở rộng tâm thức nào đó. Hãy nhớ rằng điểm đạo không chỉ đơn giản làm gia tăng và đào sâu phẩm tính linh hồn; nó không chỉ đơn giản giúp phàm ngã biểu lộ các quyền năng của linh hồn, và nhờ đó nhấn mạnh cũng như khơi mở điều tốt đẹp nhất vốn có trong người đệ tử và trong sự phụng sự của y, mà còn tuần tự làm cho y có thể sử dụng những mãnh lực và năng lượng mà trước kia y chưa từng biết đến, và y phải học cách sử dụng chúng với tư cách là một điểm đạo đồ ở một cấp độ nào đó trên Con Đường được Soi Sáng. Nó mặc khải cho y những thế giới hiện tồn mà trước kia y chưa từng ngờ tới và chưa từng nhận biết, những thế giới mà y phải học cách cộng tác; và nó tích hợp y một cách xác định hơn vào “vùng được soi sáng” của sự sống hành tinh chúng ta, đem lại sự mặc khải và linh ảnh mới mẻ, nhưng đồng thời khiến vùng chưa được soi sáng trở nên thật sự tối tăm. [667]

The Plan is as much of the hierarchical intent (as an entire and whole picture) as the initiate can grasp, plus an understanding of the part which he, as an individual server, must play. There is more to it than that, but I fear to complicate certain simple truths which I seek to have you grasp. The clarity of the vision and the grasp of the Plan, it might be added, are dependent upon the conscious and intelligent construction of the antahkarana. You will see, therefore, why I have asked this group within my Ashram to study the antahkarana instructions as given in the papers of the advanced section of the Arcane School. All of you have already begun to build this bridge; I seek to have you comprehend how and why.

Thiên Cơ là phần ý định của Thánh Đoàn (như một bức tranh toàn thể và trọn vẹn) mà điểm đạo đồ có thể nắm bắt, cộng với sự thấu hiểu về vai trò mà y, với tư cách một người phụng sự cá nhân, phải đảm nhiệm. Còn nhiều điều hơn thế nữa, nhưng Tôi e rằng sẽ làm phức tạp hóa một số chân lý đơn giản mà Tôi tìm cách giúp em nắm bắt. Có thể nói thêm rằng sự rõ ràng của linh ảnh và việc nắm bắt Thiên Cơ tùy thuộc vào việc xây dựng antahkarana một cách có ý thức và thông minh. Vì vậy, em sẽ thấy lý do tại sao Tôi đã yêu cầu nhóm này trong Ashram của Tôi nghiên cứu các huấn thị về antahkarana như đã được trao trong các tài liệu của phân bộ cao cấp thuộc Trường Arcane. Tất cả các em đều đã bắt đầu xây dựng cây cầu này; Tôi tìm cách giúp các em thấu hiểu bằng cách nào và vì sao.

So, my brother, see your life pattern more clearly. See the underlying purpose of all happenings in the past, and endeavour then to grasp the picture of the future, and thus make your dreams come true, because you see the vision and are cooperating with the Plan; thus materialise the vision and work at intelligent understanding of the Plan. Let naught—fatigue, frustration, people or circumstance—deflect you from your purpose. Carry all forward in silence and with love.

Huynh đệ của Tôi, vậy hãy nhìn mô hình đời sống của em rõ ràng hơn. Hãy thấy mục đích nằm bên dưới mọi biến cố trong quá khứ, rồi nỗ lực nắm bắt bức tranh của tương lai, và nhờ đó biến các giấc mơ của em thành hiện thực, bởi vì em thấy linh ảnh và đang cộng tác với Thiên Cơ; như vậy hãy hiện hình linh ảnh và làm việc để có sự thấu hiểu thông minh về Thiên Cơ. Đừng để điều gì — mệt mỏi, thất vọng, con người hay hoàn cảnh — làm em lệch khỏi mục đích của mình. Hãy đưa tất cả tiến tới trong im lặng và với tình thương.

Take the four words: Dream, Vision, Plan, Realisation, and make them the theme for your meditation work during the four quarters of the coming year. If you will, write during this year four papers on these four words, but only write after three months’ quiet reflection upon each word, and from the angle of the personality—illumined by the Spiritual Triad. I would have you note the wording of this request with especial care. This will tend to bring in more than just soul wisdom, for the angle of the spiritual will and of spiritual love (of which both soul will and soul love are only the reflection) will begin to enter in.

Hãy lấy bốn từ: Giấc mơ, Linh ảnh, Thiên Cơ, Chứng nghiệm, và biến chúng thành chủ đề cho công việc tham thiền của em trong bốn quý của năm sắp đến. Nếu em muốn, trong năm này hãy viết bốn bài về bốn từ ấy, nhưng chỉ viết sau ba tháng suy ngẫm tĩnh lặng về mỗi từ, và từ góc độ của phàm ngã — được Tam Nguyên Tinh Thần soi sáng. Tôi muốn em lưu ý cách diễn đạt của lời yêu cầu này với sự cẩn trọng đặc biệt. Điều này sẽ có khuynh hướng đưa vào nhiều hơn chỉ minh triết của linh hồn, vì góc độ của ý chí tinh thần và của tình thương tinh thần (mà cả ý chí linh hồn lẫn tình thương linh hồn chỉ là sự phản chiếu) sẽ bắt đầu đi vào.

Go forward with joyful expectation. Get ready for your future service in this life and in the next; seek to fulfil instructions and learn to come and go between my Ashram and that of K.H., for in the one your service will appear, and in the other your love will be deepened and your heart become more understanding. [668]

Hãy tiến tới với niềm mong đợi hoan hỉ. Hãy chuẩn bị cho sự phụng sự tương lai của em trong kiếp sống này và kiếp kế tiếp; hãy tìm cách hoàn thành các huấn thị và học cách đi về giữa Ashram của Tôi và Ashram của Chân sư K.H., vì trong một nơi, sự phụng sự của em sẽ xuất hiện, và trong nơi kia, tình thương của em sẽ được đào sâu và trái tim em trở nên thấu hiểu hơn. [668]

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

MY FRIEND AND CO-DISCIPLE:

BẠN CỦA TÔI VÀ ĐỒNG MÔN CỦA TÔI:

I would have you note this mode of address. That we are friends you have known for many years. That we are co-disciples may be, as yet, a somewhat new idea. As a wide generalisation, the theory is accepted that all in or affiliated with the Hierarchy are disciples, and therefore in a close relation to each other. I am here, however, using these words in a new sense—new, I mean, to you.

Tôi muốn em lưu ý cách xưng hô này. Rằng chúng ta là bạn hữu, em đã biết trong nhiều năm. Rằng chúng ta là đồng môn, có lẽ cho đến nay vẫn là một ý tưởng hơi mới mẻ. Như một khái quát rộng, lý thuyết được chấp nhận là tất cả những ai ở trong hoặc liên kết với Thánh Đoàn đều là đệ tử, và do đó có quan hệ gần gũi với nhau. Tuy nhiên, ở đây Tôi đang dùng những từ này theo một nghĩa mới — ý Tôi là mới đối với em.

There are within the ranks of disciples certain of them who have been singled out for a peculiar and particular relation to the Christ. Such a one is the Master K.H., Who is slated (is that not the word I should use?) to fill higher office when the Christ moves on to other work than that of the World Teacher. I myself hold a similar position to the Master K.H. Through K.H. and through myself and through two other Masters, a number of disciples of high standing, and some neophytes or disciples of lesser rating, are upon the line of this contact or designated service. By the training given, these disciples of high or low degree (yet all accepted in the technical sense) are rendered singularly sensitive to the Christ force. Curiously enough, these particular disciples are selected to take this training because of their interest in esoteric values, and not because they possess a particularly loving nature, as might have been expected. They are usually on the wisdom aspect of the second ray and not on the love aspect.

Trong hàng ngũ các đệ tử có một số vị đã được chọn riêng cho một mối liên hệ đặc thù và riêng biệt với Đức Christ. Một vị như thế là Chân sư K.H., Đấng được dự định (đó chẳng phải là từ Tôi nên dùng sao?) sẽ đảm nhiệm chức vụ cao hơn khi Đức Christ chuyển sang công việc khác hơn công việc của Đức Chưởng Giáo. Chính Tôi giữ một vị trí tương tự đối với Chân sư K.H. Qua Chân sư K.H., qua chính Tôi và qua hai Chân sư khác, một số đệ tử có địa vị cao, cùng một vài người sơ cơ hoặc đệ tử ở cấp thấp hơn, đang ở trên đường dây của sự tiếp xúc này hay sự phụng sự được chỉ định này. Nhờ sự huấn luyện được trao, các đệ tử thuộc cấp cao hay thấp này (nhưng tất cả đều được chấp nhận theo nghĩa chuyên môn) trở nên đặc biệt nhạy bén với mãnh lực Đức Christ. Kỳ lạ thay, các đệ tử đặc thù này được chọn để nhận sự huấn luyện này vì mối quan tâm của họ đối với các giá trị nội môn, chứ không phải vì họ sở hữu một bản chất đặc biệt giàu tình thương như người ta có thể đã mong đợi. Họ thường ở trên phương diện minh triết của cung hai chứ không ở trên phương diện bác ái.

The work which it is planned for them later to undertake will eventually prove so difficult that it is essential that they start with a strong bias towards wisdom. Contact with the “Ashrams of loving intent” (as certain Ashrams close to the aura or periphery of Shamballa are called) suffices later to evoke the love aspect in greater fullness, enabling the disciples, therefore, to present a balanced instrument to the Divine Organiser of their future work. Just what this work will be is not for me to say. It is connected with the training to be given neophytes and aspirants in the next race, where the [669] average aspirant to discipleship will be expected to be as intuitive and motivated by pure reason as the aspirant today has to be mental. Technically speaking, that means that the buddhic plane will be the focus or place of growth, and those who train disciples will work from the plane of atma or pure spiritual will, just as today they work from the plane of buddhi or of rational unity. Ponder on that last phrase.

Công việc mà sau này họ được dự định đảm nhận cuối cùng sẽ chứng tỏ khó khăn đến mức điều thiết yếu là họ phải khởi đầu với một khuynh hướng mạnh mẽ hướng về minh triết. Sự tiếp xúc với “các Ashram của ý định thương yêu” (như một số Ashram gần hào quang hay chu vi của Shamballa được gọi) về sau đủ để gợi lên phương diện bác ái trong mức độ đầy đủ hơn, nhờ đó giúp các đệ tử trình ra một khí cụ quân bình trước Đấng Tổ Chức Thiêng Liêng của công việc tương lai của họ. Chính xác công việc ấy sẽ là gì thì không phải việc của Tôi để nói. Nó liên quan đến sự huấn luyện sẽ được trao cho những người sơ cơ và người chí nguyện trong chủng tộc kế tiếp, nơi mà [669] người chí nguyện trung bình bước vào địa vị đệ tử sẽ được kỳ vọng là có trực giác và được thúc đẩy bởi lý trí thuần túy, cũng như người chí nguyện ngày nay phải có trí tuệ. Nói theo thuật ngữ chuyên môn, điều đó có nghĩa là cõi Bồ đề sẽ là tiêu điểm hay nơi tăng trưởng, và những vị huấn luyện đệ tử sẽ làm việc từ cõi atma hay ý chí tinh thần thuần túy, cũng như ngày nay họ làm việc từ cõi Bồ đề hay từ sự hợp nhất hữu lý. Hãy suy ngẫm về cụm từ cuối cùng ấy.

The relation of the Christ to the entire Hierarchy is that of Supreme Master. His group of disciples includes all initiates over the third initiation. But through these initiates and certain of the Masters, and at their suggestion, He is slowly selecting a band of lesser disciples who can be trained for special work during the next two or three lives. Of these, you can be one. The first phase of the training given is to impose at least one life of most drastic discipline and difficult circumstances, not karmically ordained but of an educational and disciplinary nature. You have had two such lives and have consequently built up and established a persistent endurance and a trained response to events which is a guarantee to the watching Master that your stability is assured and immovable.

Mối liên hệ của Đức Christ với toàn thể Thánh Đoàn là mối liên hệ của Chân Sư Tối Cao. Nhóm đệ tử của Ngài bao gồm tất cả các điểm đạo đồ trên lần điểm đạo thứ ba. Nhưng qua các điểm đạo đồ này và một số Chân sư, và theo đề nghị của Các Ngài, Ngài đang chậm rãi chọn một nhóm các đệ tử cấp thấp hơn có thể được huấn luyện cho công việc đặc biệt trong hai hoặc ba kiếp sống tới. Trong số đó, em có thể là một người. Giai đoạn đầu của sự huấn luyện được trao là áp đặt ít nhất một kiếp sống với kỷ luật cực kỳ nghiêm khắc và hoàn cảnh khó khăn, không phải do nghiệp quả định đoạt mà có bản chất giáo dục và rèn luyện. Em đã có hai kiếp sống như thế và do đó đã xây dựng và thiết lập một sức chịu đựng bền bỉ cùng một sự đáp ứng được rèn luyện trước các biến cố, vốn là bảo chứng cho Chân sư đang quan sát rằng sự vững vàng của em được bảo đảm và bất lay chuyển.

Much further training necessarily is demanded, but there is little that you can add to that already given during this life. The next life will see a continuance of the teaching. You can, however, develop within yourself a more conscious comprehension of the nature of “wise love.” This is love free from emotion or devotion; it is love aware of the objects of love as they essentially are and a love which is able to see in character and temperament the working out of karma. It is difficult for even an advanced disciple at this time to comprehend the nature of man when he has dropped all physical conflict out of his conscious life experience and when the urge to combat (upon the physical plane) has faded completely out of the human consciousness. The field of battle then shifts to other realms of awareness, and the effect of this—within humanity as a whole—is the cause of the choosing of this special group through whom the problems emerging out of the changed conditions can be solved and handled. [670] Men will have to be trained for a state of discipleship even newer and different to the type which I have presented at this time and which intrinsically differs from that previously given.

Tất nhiên cần có sự huấn luyện xa hơn nhiều, nhưng trong kiếp sống này, em có thể thêm rất ít vào những gì đã được trao. Kiếp sống kế tiếp sẽ chứng kiến sự tiếp tục của việc giảng dạy. Tuy nhiên, em có thể phát triển trong chính mình một sự lĩnh hội có ý thức hơn về bản chất của “tình thương minh triết.” Đây là tình thương không vướng cảm xúc hay sùng tín; đó là tình thương nhận biết các đối tượng của tình thương như tự bản chất chúng là, và là tình thương có thể thấy trong tính cách và khí chất sự vận hành của nghiệp quả. Ngay cả đối với một đệ tử tiến bộ vào lúc này cũng khó lĩnh hội bản chất của con người khi y đã loại bỏ mọi xung đột hồng trần ra khỏi kinh nghiệm sống có ý thức của mình, và khi thôi thúc chiến đấu (trên cõi hồng trần) đã hoàn toàn phai nhạt khỏi tâm thức nhân loại. Khi ấy, chiến trường chuyển sang những cảnh giới nhận thức khác, và hiệu quả của điều này — trong toàn thể nhân loại — là nguyên nhân của việc chọn nhóm đặc biệt này, qua đó các vấn đề phát sinh từ những điều kiện đã thay đổi có thể được giải quyết và xử lý. [670] Con người sẽ phải được huấn luyện cho một trạng thái địa vị đệ tử còn mới mẻ hơn và khác với kiểu mẫu mà Tôi đã trình bày vào lúc này, và vốn tự nội khác với điều đã được trao trước đây.

One of the major needs in your nature is the evocation of a new and fiery incentive. For this reason, I have (as I seldom do) indicated the future ahead of you. You and F.C.D. are both numbered among the “friends of Christ,” as this special group is called, and are upon a peculiar path of training. Step by step, the nature of this Path will be revealed to you, and, little by little, you will perceive the quality of the unfoldments which presented opportunity can give you.

Một trong những nhu cầu chính trong bản chất của em là gợi lên một động lực mới và rực lửa. Vì lý do này, Tôi đã (như Tôi hiếm khi làm) chỉ ra tương lai trước mặt em. Em và F.C.D. đều được kể vào hàng “những người bạn của Đức Christ,” như nhóm đặc biệt này được gọi, và đang ở trên một con đường huấn luyện đặc thù. Từng bước một, bản chất của Đường Đạo này sẽ được mặc khải cho em, và dần dần, em sẽ nhận ra phẩm tính của những khai mở mà cơ hội được trao có thể đem lại cho em.

Be not mistaken, my brother. This does not mean that in this present vehicle and with your present equipment you can contact the Master of all the Masters; nor does it mean that your advancement is ahead of that of your group brothers. There are those in this group and in my Ashram who are ahead of you, if such inexact terms can be used. The Christ, through your own Master and in no other way, knows you. Not yet can you know Him. You can, however, ponder upon the significance of what I have said; you can learn to distinguish within yourself the dual aspects of your soul ray energy, love and wisdom; you can record when either of these two forces is functioning, and which one it is. A closer study of your five rays (literally only four) will aid you to do this, particularly as your seventh ray physical vehicle will greatly facilitate the process. This seventh ray is a ray of a dual activity, because through its means the energy of the soul and of the personality can be brought consciously into relation, and this more easily than on the other rays, once the disciple is freed from glamour. Thus there can be built a true expression of the life content—from the angle of a long soul experience. This may sound to you somewhat ambiguous, but the statement is by no means as vague as it appears. It should provide you with ideas for reflection.

Huynh đệ của Tôi, đừng hiểu lầm. Điều này không có nghĩa là trong hiện thể hiện tại này và với trang bị hiện tại của em, em có thể tiếp xúc với Chân sư của mọi Chân sư; cũng không có nghĩa là sự tiến bộ của em vượt trước các huynh đệ trong nhóm của em. Có những người trong nhóm này và trong Ashram của Tôi đi trước em, nếu có thể dùng những thuật ngữ không chính xác như thế. Đức Christ, qua chính Chân sư của em và không bằng cách nào khác, biết em. Em chưa thể biết Ngài. Tuy nhiên, em có thể suy ngẫm về thâm nghĩa của điều Tôi đã nói; em có thể học cách phân biệt trong chính mình hai phương diện của năng lượng cung linh hồn của em, bác ái và minh triết; em có thể ghi nhận khi một trong hai mãnh lực này đang hoạt động, và đó là mãnh lực nào. Việc nghiên cứu kỹ hơn năm cung của em (theo nghĩa đen chỉ là bốn) sẽ giúp em làm điều này, đặc biệt vì hiện thể hồng trần cung bảy của em sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho tiến trình. Cung bảy này là cung của một hoạt động kép, bởi vì nhờ phương tiện của nó, năng lượng của linh hồn và của phàm ngã có thể được đưa vào quan hệ một cách có ý thức, và điều này dễ dàng hơn so với các cung khác, một khi đệ tử được giải thoát khỏi ảo cảm. Như vậy có thể xây dựng một sự biểu lộ chân thực của nội dung sự sống — từ góc độ của một kinh nghiệm linh hồn lâu dài. Điều này có thể nghe hơi mơ hồ đối với em, nhưng lời tuyên bố ấy hoàn toàn không mơ hồ như vẻ ngoài của nó. Nó nên cung cấp cho em những ý tưởng để suy ngẫm.

For the remainder of your life twelve seed phrases can provide the theme of your recurrent meditation—either for a year of twelve months or for twelve years. The longer and [671] the more earnestly you reflect upon them, the richer will be your life expression, and that I know is what you yourself desire.

Trong phần đời còn lại của em, mười hai cụm từ hạt giống có thể cung cấp chủ đề cho sự tham thiền lặp lại của em — hoặc trong một năm gồm mười hai tháng, hoặc trong mười hai năm. Em càng suy ngẫm về chúng lâu dài và [671] nghiêm túc bao nhiêu, sự biểu lộ đời sống của em sẽ càng phong phú bấy nhiêu, và Tôi biết đó là điều chính em mong muốn.

1. Relation to the inner Ashram.

1. Mối liên hệ với Ashram bên trong.

2. The friendship of the Christ.

2. Tình bạn của Đức Christ.

3. The way of the intuition.

3. Con đường của trực giác.

4. The source of your life expression.

4. Nguồn gốc của sự biểu lộ đời sống của em.

5. Wisdom, blended with love.

5. Minh triết, hòa quyện với bác ái.

6. Reaction to the consciousness of the Hierarchy.

6. Sự đáp ứng với tâm thức của Thánh Đoàn.

7. The “Ashram of Loving Intent.”

7. “Ashram của Ý Định Thương Yêu.”

8. An out-going consciousness, esoterically understood.

8. Một tâm thức hướng ra ngoài, được hiểu theo nghĩa nội môn.

9. The “Lighted Way of the Buddha and the Christ.”

9. “Con Đường được Soi Sáng của Đức Phật và Đức Christ.”

10. The pinnacle whereon the thorny crown is won.

10. Đỉnh cao nơi vương miện gai được giành lấy.

11. The moment of perceptive understanding.

11. Khoảnh khắc của sự thấu hiểu tri giác.

12. The quality of the perceptive race of men. (This refers to the future race.)

12. Phẩm tính của chủng tộc loài người có tri giác. (Điều này ám chỉ chủng tộc tương lai.)

These phrases have a significance which is not immediately apparent; they are what I might be permitted to call “sparking” concepts, and they can be revolutionary in their effect, if you reflect upon them correctly and persistently. They are intended to make you responsive to the different currents of energy to which those who are to undergo a special training to fit them to form the special group of the “friends of Christ” must submit themselves. This right you have earned. It is my present task to aid you on this way of peculiar training.

Những cụm từ này có một thâm nghĩa không hiển nhiên ngay lập tức; chúng là những gì Tôi có thể được phép gọi là các khái niệm “phát tia lửa,” và chúng có thể tạo nên tác động cách mạng nếu em suy ngẫm về chúng đúng đắn và bền bỉ. Chúng nhằm làm cho em đáp ứng với các dòng năng lượng khác nhau mà những ai sẽ trải qua một sự huấn luyện đặc biệt để khiến họ thích hợp hình thành nhóm đặc biệt “những người bạn của Đức Christ” phải tự đặt mình dưới ảnh hưởng của chúng. Em đã giành được quyền này. Nhiệm vụ hiện tại của Tôi là trợ giúp em trên con đường huấn luyện đặc thù này.

Have you ever thought, my brother, that just as there is a discipline of pain and of sorrow, there may also be a discipline of joy and of achievement? This is a thought worthy of attention. Men need these days to learn this new truth, and its perception will greatly change human consciousness. That which is bliss is today here or on its way, and the disciples and aspirants of this present time must be taught how to recognise and implement it. Again—this is a right which you have definitely earned.

Huynh đệ của Tôi, em đã bao giờ nghĩ rằng, cũng như có một kỷ luật của đau đớn và sầu khổ, cũng có thể có một kỷ luật của hoan hỉ và thành tựu chăng? Đây là một tư tưởng đáng được chú ý. Ngày nay con người cần học chân lý mới này, và sự nhận biết nó sẽ làm thay đổi sâu xa tâm thức nhân loại. Điều là chí phúc đang hiện diện ở đây hôm nay hoặc đang trên đường đến, và các đệ tử cùng người chí nguyện của thời hiện tại phải được dạy cách nhận ra và thực thi nó. Một lần nữa — đây là một quyền mà em rõ ràng đã giành được.

I shall be in touch with you, my brother. This instruction [672] is not long, but—coupled with that last given to you—it gives you a prospect of a possibility which should cheer you on your way. You can regard what I have told you as the reward of a life of patient endurance, of overcoming and of acceptance. It should also enable you to bring a fuller tide of loving understanding. You will thus enhance your usefulness.

Huynh đệ của Tôi, Tôi sẽ giữ liên lạc với em. Huấn thị này [672] không dài, nhưng — kết hợp với huấn thị gần nhất đã được trao cho em — nó đem lại cho em viễn cảnh về một khả năng, điều nên khích lệ em trên con đường của mình. Em có thể xem những gì Tôi đã nói với em như phần thưởng của một đời sống chịu đựng kiên nhẫn, vượt thắng và chấp nhận. Nó cũng nên giúp em mang đến một dòng triều đầy đủ hơn của sự thấu hiểu thương yêu. Như vậy em sẽ gia tăng sự hữu dụng của mình.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I approach you today with such complete understanding that I believe you will immediately recognise its reality. My last instruction to you is distant and remote in its implications, and you are today wondering if I meant all that I said there and if your spiritual status is as I stated. It most certainly is, and on that statement I would have you take your stand. Will you understand me if I say that one of the guarantees to you of the truth of the past instruction is that this instruction will be relatively short? The last instruction was the important one. In that instruction I emphasised two things:

Hôm nay Tôi đến với em với một sự thấu hiểu trọn vẹn đến mức Tôi tin rằng em sẽ lập tức nhận ra tính chân thực của nó. Huấn thị gần nhất của Tôi dành cho em có những hàm ý xa xôi và thâm sâu, và hôm nay em đang tự hỏi liệu Tôi có thật sự muốn nói tất cả những gì Tôi đã nói ở đó, và liệu địa vị tinh thần của em có đúng như Tôi đã nêu hay không. Điều đó chắc chắn là như vậy, và Tôi muốn em đứng vững trên lời tuyên bố ấy. Em có thấu hiểu Tôi không nếu Tôi nói rằng một trong những bảo chứng cho em về chân lý của huấn thị trước là huấn thị này sẽ tương đối ngắn? Huấn thị gần nhất là huấn thị quan trọng. Trong huấn thị ấy, Tôi đã nhấn mạnh hai điều:

1. That you were at the point in evolution where a definite rapport with the Christ was possible.

1. Rằng em đang ở điểm tiến hoá nơi một sự hòa hợp xác định với Đức Christ là điều có thể.

2. That you were in process of preparation for taking a certain important initiation (as, my brother, are several of this group).

2. Rằng em đang trong tiến trình chuẩn bị để trải qua một cuộc điểm đạo quan trọng nào đó (cũng như, huynh đệ của Tôi, một số người trong nhóm này).

Your reaction to this was normal—as far as your human nature was concerned—but distinctly undesirable. It evoked in you a realisation that was false in many ways, but you have often been susceptible to glamour; you felt that your status was ahead of the majority of your brothers and that (because of this) you had specialised work to do for me. You took the position that, in the eventuality of A.A.B.’s passing over, you were slated to take her place as far as this group is concerned. You gave that impression to some of the group members you met last year and you gave that impression to A.A.B. She was deeply concerned over this, for she has for [673] you a very deep love and understanding as well as a clear perception of your status as a disciple.

Phản ứng của em trước điều này là bình thường — xét theo bản chất con người của em — nhưng rõ ràng là không đáng mong muốn. Nó gợi lên trong em một nhận thức sai lạc theo nhiều cách, nhưng em thường dễ bị ảo cảm chi phối; em cảm thấy rằng địa vị của mình vượt trước đa số các huynh đệ của em và rằng (vì điều này) em có công việc chuyên biệt phải làm cho Tôi. Em đã giữ lập trường rằng, trong trường hợp A.A.B. qua đời, em được dự định thay thế Bà trong phạm vi nhóm này. Em đã tạo ấn tượng ấy cho một số thành viên nhóm mà em gặp năm ngoái, và em đã tạo ấn tượng ấy cho A.A.B. Bà rất lo lắng về điều này, vì Bà dành cho [673] em một tình thương và sự thấu hiểu rất sâu sắc, cũng như một nhận thức rõ ràng về địa vị của em với tư cách một đệ tử.

Since that time you have yourself been inwardly disturbed, because you are fundamentally sound and correct in your reactions; for this reason I would ask you to forget all this past history and any past reactions to glamour, and to regard the present as the only factor of importance.

Từ lúc đó, chính em đã bị xáo trộn bên trong, bởi vì về căn bản em lành mạnh và đúng đắn trong các phản ứng của mình; vì lý do này, Tôi xin em hãy quên toàn bộ câu chuyện quá khứ này và mọi phản ứng trước đây đối với ảo cảm, và hãy xem hiện tại là yếu tố duy nhất quan trọng.

The new seed group is discontinued. My contact with you and with some other members of the group is exoterically not disturbed, and therefore (as long as A.A.B. is alive in the physical sense) you may, at intervals, hear from me. Subjectively, you are ever in touch, as is F.B. and three or four others in the group. The rest of the group members are linked with the Ashram, and therefore with myself, and because time is of no account esoterically, their relation remains unimpaired and is preserved intact over whatever years are necessary to re-establish their occult obedience or their true interest.

Nhóm hạt giống mới đã ngưng hoạt động. Sự tiếp xúc của Tôi với em và với một số thành viên khác của nhóm, xét về mặt ngoại môn, không bị xáo trộn, và do đó (chừng nào A.A.B. còn sống theo nghĩa hồng trần) em có thể, từng lúc, nghe tin từ Tôi. Về mặt nội tại, em luôn luôn tiếp xúc, cũng như F.B. và ba hoặc bốn người khác trong nhóm. Những thành viên còn lại của nhóm được liên kết với Ashram, và do đó với chính Tôi; và vì thời gian không có ý nghĩa về mặt nội môn, mối quan hệ của họ vẫn không suy suyển và được giữ nguyên vẹn qua bất cứ năm tháng nào cần thiết để tái lập sự vâng phục huyền môn của họ hoặc mối quan tâm chân thực của họ.

You need to bear in mind, my brother, that your second ray emphasis is that of wisdom and not of love. Therefore the love quality is not so potent, and this presents difficulties to you of which you are curiously unaware. It is your task—at any cost—to develop the love quality. The wisdom attitude makes you hard, and you have not yet balanced it—in intensity—by the love quality. This hardness you must transmute on a large and general scale. You can transmute for individuals you love or for whom you feel a sense of responsibility. It is this quality of love which you must develop before you see the Christ—not simply as an initiate taking an initiation, but as a disciple warranting His attention. You see now the purpose of my remarks in an earlier instruction? Today, few disciples realise that the Christ has two relationships to them: that of initiation, and another—far rarer—that of One Whom they may consult in connection with their work. This permission to approach is only accorded when love and wisdom are balanced and equal. This is not so in your case as yet, and I would have you bear this point in mind. Your personality ray is a serious handicap to you, not [674] because of its developed aspect but because of its crystallised assurance aspect. A sixth ray personality is ever sure of his recognition of truth, and is consequently very easily glamoured, and when this is coupled (as in your case) with a first ray astral body, the difficulty which confronts you as a disciple is very great.

Huynh đệ của Tôi, em cần ghi nhớ rằng sự nhấn mạnh cung hai của em là nhấn mạnh về minh triết chứ không phải bác ái. Vì vậy phẩm tính bác ái không mạnh mẽ như thế, và điều này gây ra cho em những khó khăn mà lạ thay em lại không ý thức. Nhiệm vụ của em — bằng bất cứ giá nào — là phát triển phẩm tính bác ái. Thái độ minh triết khiến em cứng rắn, và em vẫn chưa quân bình nó — về cường độ — bằng phẩm tính bác ái. Sự cứng rắn này em phải chuyển hoá trên quy mô rộng lớn và tổng quát. Em có thể chuyển hoá đối với những cá nhân em yêu thương hoặc những người mà em cảm thấy có trách nhiệm. Chính phẩm tính bác ái này em phải phát triển trước khi em thấy Đức Christ — không chỉ như một điểm đạo đồ đang trải qua điểm đạo, mà như một đệ tử xứng đáng với sự chú ý của Ngài. Bây giờ em thấy mục đích của những nhận xét của Tôi trong một huấn thị trước chăng? Ngày nay, ít đệ tử nhận ra rằng Đức Christ có hai mối quan hệ với họ: mối quan hệ của điểm đạo, và một mối quan hệ khác — hiếm hơn nhiều — của Đấng mà họ có thể tham vấn liên quan đến công việc của mình. Sự cho phép đến gần này chỉ được ban khi bác ái và minh triết được quân bình và ngang nhau. Trường hợp của em thì chưa như vậy, và Tôi muốn em ghi nhớ điểm này. Cung phàm ngã của em là một chướng ngại nghiêm trọng đối với em, không [674] phải vì phương diện đã phát triển của nó mà vì phương diện xác tín đã kết tinh của nó. Một phàm ngã cung sáu luôn chắc chắn về sự nhận ra chân lý của y, và do đó rất dễ bị ảo cảm; và khi điều này kết hợp (như trong trường hợp của em) với một thể cảm dục cung một, khó khăn đối diện với em với tư cách một đệ tử là rất lớn.

Therefore, brother of mine, your immediate problem is one of glamour, plus a feeling of distress because you know that A.A.B. and I have recognised this glamour. We have, but may I assure you that it makes no difference in our understanding, love and appreciation of you. It may be a long time since I, personally, was overcome by glamour, and it may be a short time since A.A.B. succumbed, but neither of us has forgotten the difficulties encountered or lost our horror of glamour; we are therefore not critical, and upon that fact rest back.

Huynh đệ của Tôi, do đó, vấn đề trước mắt của em là vấn đề ảo cảm, cộng thêm cảm giác đau buồn vì em biết rằng A.A.B. và Tôi đã nhận ra ảo cảm này. Chúng tôi đã nhận ra, nhưng Tôi có thể bảo đảm với em rằng điều đó không tạo nên khác biệt nào trong sự thấu hiểu, tình thương và sự trân trọng của chúng tôi đối với em. Có thể đã lâu rồi kể từ khi cá nhân Tôi bị ảo cảm khuất phục, và có thể chỉ mới đây A.A.B. đã khuất phục, nhưng không ai trong chúng tôi quên những khó khăn đã gặp phải hay mất đi nỗi kinh sợ đối với ảo cảm; vì vậy chúng tôi không phê phán, và em hãy nương tựa vào sự kiện đó.

May I recall to you an instruction I gave you in 1938 upon indifference? Ponder upon it again.

Tôi có thể nhắc lại cho em một huấn thị Tôi đã trao cho em vào năm 1938 về Điềm nhiên chăng? Hãy suy ngẫm lại về điều ấy.

Go ahead, brother of mine, in our service. Every contact has its unrealised importance; give of yourself, therefore, and not only through others. You can induce others to work, but give of yourself and see (as far as is possible and commonsense dictates) everyone who seeks to contact you, and this with love and willing understanding. This is hard for you, but it is essential for the development of that loving understanding which is the complement of wisdom. F.C.D. needs to develop wisdom as the complement of love.

Huynh đệ của Tôi, hãy tiến bước trong sự phụng sự của chúng ta. Mỗi sự tiếp xúc đều có tầm quan trọng chưa được nhận ra của nó; vì vậy hãy hiến dâng chính mình, chứ không chỉ qua những người khác. Em có thể thúc đẩy người khác làm việc, nhưng hãy hiến dâng chính mình và gặp gỡ (trong chừng mực có thể và theo lẽ thường) mọi người tìm cách tiếp xúc với em, và hãy làm điều này với tình thương cùng sự thấu hiểu sẵn lòng. Điều này khó đối với em, nhưng nó thiết yếu cho sự phát triển của sự thấu hiểu thương yêu, vốn là phần bổ túc của minh triết. F.C.D. cần phát triển minh triết như phần bổ túc của bác ái.

As regards your meditation during future years, build up its structure yourself, laying emphasis upon three points: the Christ, the need for the balancing factor of love, and outgoing service. I give you no outline. You have outgrown that technique and are capable—as a soul—of formulating your own.

Về việc tham thiền của em trong những năm tới, hãy tự xây dựng cấu trúc của nó, nhấn mạnh ba điểm: Đức Christ, nhu cầu về yếu tố quân bình là bác ái, và sự phụng sự hướng ra ngoài. Tôi không trao cho em một dàn ý nào. Em đã vượt khỏi kỹ thuật ấy và có khả năng — với tư cách một linh hồn — tự hình thành kỹ thuật của mình.

Above all else, curb your critical mind and cease all harsh judgements. When in difficulty, go or write to A.A.B. She knows from wide experience, and she understands.

Trên hết mọi điều, hãy kiềm chế thể trí phê phán của em và chấm dứt mọi phán xét khắc nghiệt. Khi gặp khó khăn, hãy đến hoặc viết thư cho A.A.B. Bà biết nhờ kinh nghiệm rộng lớn, và Bà thấu hiểu.

You will again hear from me, either through A.A.B. or through the medium of your own soul. [675]

Em sẽ lại nghe tin từ Tôi, hoặc qua A.A.B. hoặc qua trung gian của chính linh hồn em. [675]

November 1948

Tháng Mười Một năm 1948

MY BROTHER AND MY FELLOW WORKER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI VÀ ĐỒNG SỰ CỦA TÔI:

I am deeply concerned in this communication to say something which will be of real service to you at this crisis in your life of discipleship. Disciples of all degrees are now being tested and tried out in preparation for the work they should do, prior to the reappearance of the Christ. Your whole life has been in reality a preparation for the work which it is hoped that you will do. This life has been for you what we call in the Hierarchy “a life of dual possibilities.” When that is the case, a most difficult setting upon the physical plane is presented to the disciple and he faces two possible lines of activity:

Trong thông điệp này, Tôi hết sức quan tâm nói một điều sẽ thật sự phụng sự em trong cuộc khủng hoảng này của đời sống địa vị đệ tử của em. Các đệ tử thuộc mọi cấp độ hiện nay đang được thử thách và khảo nghiệm để chuẩn bị cho công việc họ nên làm trước khi Đức Christ tái lâm. Toàn bộ đời sống của em thực ra đã là một sự chuẩn bị cho công việc mà người ta hy vọng em sẽ thực hiện. Kiếp sống này đối với em là điều mà trong Thánh Đoàn chúng tôi gọi là “một đời sống của những khả năng kép.” Khi điều đó xảy ra, một bối cảnh khó khăn nhất trên cõi hồng trần được đặt ra cho người đệ tử, và y đối diện với hai đường lối hoạt động khả hữu:

1. He can decide to adjust himself to the circumstances and give his whole attention to their surmounting (which in this case means changing them) and he, therefore, submits to the wear and tear of life, and to the constant consideration of karmic unfoldments within his personality scope. He has no time for outstanding service but regards the period of incarnation as an interlude wherein karma is worked off.

1. Y có thể quyết định tự điều chỉnh mình theo hoàn cảnh và dành toàn bộ sự chú ý cho việc vượt qua chúng (trong trường hợp này có nghĩa là thay đổi chúng), và do đó y chịu đựng sự hao mòn của đời sống, cùng sự xem xét liên tục các khai mở nghiệp quả trong phạm vi phàm ngã của y. Y không có thời gian cho sự phụng sự nổi bật, mà xem thời kỳ nhập thể như một đoạn xen kẽ trong đó nghiệp quả được thanh toán.

2. Or—he accepts the seemingly impossible situation and determines that nothing in his personality or his circumstances shall deter him from the active service of humanity. He, therefore, handles both the situations and opportunity from an inner point of enlightenment and from a sustained peaceful position within the Ashram.

2. Hoặc — y chấp nhận tình huống có vẻ bất khả và quyết định rằng không điều gì trong phàm ngã hay hoàn cảnh của y sẽ ngăn cản y khỏi sự phụng sự tích cực nhân loại. Do đó, y xử lý cả các tình huống lẫn cơ hội từ một điểm soi sáng bên trong và từ một vị thế an bình bền vững trong Ashram.

In what I am here saying, I am considering only an accepted disciple such as yourself.

Trong những gì Tôi đang nói ở đây, Tôi chỉ xét đến một đệ tử được chấp nhận như chính em.

You chose and have faithfully followed the second method of handling this present incarnation. With a frail and seriously injured physical body and a partner who is ever the cause of constant concern (though withal you owe her much), you have gone ahead with the task of a working disciple; you [676] have done much good and have helped our work greatly and—as the Master said—the Hierarchy is never ungrateful, for gratitude is the hallmark of an enlightened soul and a basic releasing agent from an occult and scientific angle. I am not ungrateful to you, my brother; I hope to move you on into a closer relation to myself provided you succeed in handling a somewhat difficult situation with which you are now confronted and dominate an aspect of your nature which must be controlled before the move I contemplate in connection with you can be consummated.

Em đã chọn và đã trung thành đi theo phương pháp thứ hai để xử lý kiếp lâm phàm hiện tại này. Với một thể xác yếu ớt và bị tổn thương nghiêm trọng, cùng một người bạn đời luôn là nguyên nhân của mối quan tâm liên tục (dù đồng thời em nợ bà ấy rất nhiều), em đã tiến tới với nhiệm vụ của một đệ tử làm việc; em [676] đã làm nhiều điều tốt đẹp và đã trợ giúp công việc của chúng tôi rất nhiều; và — như Chân sư đã nói — Thánh Đoàn không bao giờ vô ơn, vì lòng biết ơn là dấu hiệu của một linh hồn được soi sáng và là một tác nhân giải phóng căn bản xét từ góc độ huyền môn và khoa học. Tôi không vô ơn đối với em, huynh đệ của Tôi; Tôi hy vọng đưa em tiến vào một mối liên hệ gần gũi hơn với chính Tôi, miễn là em thành công trong việc xử lý một tình huống khá khó khăn mà hiện nay em đang đối diện, và chế ngự một phương diện trong bản chất của em vốn phải được kiểm soát trước khi sự chuyển dịch mà Tôi đang dự tính liên quan đến em có thể được hoàn tất.

At this time I have the responsibility of deciding whether you will accept what I say and then set in to change certain attitudes or whether you will refuse to recognise their existence and go your own way. That would make it impossible for me to offer you an esoteric possibility which will next life orient you in such a manner that, when you face the Initiation of Decision, the Path which you must follow will clearly appear to you.

Vào lúc này, Tôi có trách nhiệm quyết định liệu em sẽ chấp nhận những gì Tôi nói rồi bắt tay vào thay đổi một số thái độ, hay em sẽ từ chối nhận ra sự tồn tại của chúng và đi theo con đường riêng của mình. Điều đó sẽ khiến Tôi không thể trao cho em một khả năng nội môn, điều trong kiếp tới sẽ định hướng em theo cách để khi em đối diện với Cuộc Điểm Đạo Quyết Định, Con Đường mà em phải theo sẽ hiện rõ trước mắt em.

I wonder whether you have ever studied the reasons why the various members of the groups of nine stopped their work with me and are not (for this short period) participants in the work of my Ashram. Please note that I do not use the phrase “participants in spiritual work.” Many of them are still just as spiritually motivated. An Ashram exists for work and not primarily for training disciples. That training is necessarily given, but the prime object of an Ashram is to accomplish a particular phase of work. This is a sentence which I would beg you here to pause and reflect upon. It is of prime importance to you at this time.

Tôi tự hỏi liệu em đã từng nghiên cứu các lý do vì sao những thành viên khác nhau của các nhóm chín người đã ngừng công việc của họ với Tôi và (trong khoảng thời gian ngắn này) không còn tham dự vào công việc của Ashram Tôi hay chưa. Xin lưu ý rằng Tôi không dùng cụm từ “tham dự vào công việc tinh thần.” Nhiều người trong số họ vẫn được thúc đẩy tinh thần như trước. Một Ashram tồn tại vì công việc chứ không chủ yếu vì việc huấn luyện đệ tử. Sự huấn luyện ấy tất nhiên được trao, nhưng mục tiêu chính của một Ashram là hoàn thành một giai đoạn công việc đặc thù. Đây là một câu mà Tôi tha thiết xin em dừng lại và suy ngẫm. Nó có tầm quan trọng hàng đầu đối với em vào lúc này.

The work of the Hierarchy is an integrated whole; each Ashram within the Hierarchy is dedicated to that whole and to that particular aspect of it which can be best carried out through its members of all degrees—the disciples in training for some initiation or another. To insure that the work goes forward as desired, necessarily (as I said) the individual disciple or initiate receives training, injunctions as to character development and personality attitudes. A close study of Discipleship in the New Age (Vol. I) will disclose to you that it was on this point of personality correction—if I may use so [677] harsh a word for the hints and suggestions I gave—that defection occurred. In spite of sincerity, dedication and wide knowledge, and even a subjective recognition of the accuracy of what I said, they would not accept it; rebellion set in; self-justification through rationalisation took place and temporarily—very temporarily—they became inactive, though still disciples on the periphery of my Ashram.

Công việc của Thánh Đoàn là một toàn thể tích hợp; mỗi Ashram trong Thánh Đoàn được hiến dâng cho toàn thể ấy và cho phương diện đặc thù của nó có thể được thực hiện tốt nhất qua các thành viên thuộc mọi cấp độ — các đệ tử đang được huấn luyện cho một cuộc điểm đạo nào đó. Để bảo đảm rằng công việc tiến tới như mong muốn, tất yếu (như Tôi đã nói) người đệ tử hay điểm đạo đồ cá nhân nhận sự huấn luyện, các huấn thị về sự phát triển tính cách và thái độ của phàm ngã. Một nghiên cứu kỹ Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới (Quyển I) sẽ cho em thấy rằng chính ở điểm điều chỉnh phàm ngã này — nếu Tôi có thể dùng một từ [677] khắc nghiệt như thế cho những gợi ý và đề nghị Tôi đã đưa ra — mà sự rời bỏ đã xảy ra. Bất chấp sự chân thành, hiến dâng và tri thức rộng, và ngay cả sự nhận biết nội tại về tính chính xác của những gì Tôi nói, họ đã không chịu chấp nhận; sự phản kháng xuất hiện; sự tự biện minh qua hợp lý hóa diễn ra, và tạm thời — rất tạm thời — họ trở nên bất hoạt, dù vẫn là các đệ tử ở ngoại vi Ashram của Tôi.

If I now address to you certain comments upon your attitude the past three years, towards the work which has its spiritual focal point in New York, do I risk losing you after all these years? Will you, for the remainder of your life, go your own way? I am going to believe that such will not be the case.

Nếu bây giờ Tôi gửi đến em một số nhận xét về thái độ của em trong ba năm qua đối với công việc có tiêu điểm tinh thần tại New York, liệu Tôi có nguy cơ mất em sau tất cả những năm này chăng? Liệu em, trong phần đời còn lại của mình, sẽ đi theo con đường riêng chăng? Tôi sẽ tin rằng điều đó sẽ không xảy ra.

As you well know, my work in the outer world has taken the form of three major activities…. You have done much to help with this work and the door of opportunity stands wide open to you, provided the work is held true to the original picture, given prior to World War II. There are, however, one or two things you are apt to forget.

Như em biết rõ, công việc của Tôi trong thế giới bên ngoài đã mang hình thức của ba hoạt động chính…. Em đã làm nhiều điều để trợ giúp công việc này, và cánh cửa cơ hội đang rộng mở trước em, miễn là công việc được giữ đúng với bức tranh nguyên thủy đã được trao trước Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, có một hoặc hai điều em dễ quên.

1. The centre from whence the Goodwill work goes out and the source of its spiritual potency is located in New York at this time, though later—if deemed wise—it may be moved to London. This I mentioned several years ago and I would remind you also that both these cities are among the five focal points of spiritual energy through which hierarchical activities can be set in motion. Your city is not.

1. Trung tâm từ đó công việc Thiện chí tỏa ra và nguồn quyền năng tinh thần của nó vào lúc này được đặt tại New York, dù về sau — nếu thấy là minh triết — nó có thể được chuyển đến London. Tôi đã đề cập điều này vài năm trước, và Tôi cũng muốn nhắc em rằng cả hai thành phố này đều nằm trong năm tiêu điểm của năng lượng tinh thần, qua đó các hoạt động của Thánh Đoàn có thể được khởi động. Thành phố của em thì không.

2. The major task of the Goodwill work is threefold:

2. Nhiệm vụ chính của công việc Thiện chí là tam phân:

a. It must mobilise world goodwill.

a. Nó phải huy động thiện chí thế giới.

b. It is responsible for the distribution of the message The Reappearance of the Christ and for a great deal of the work preparatory to His coming.

b. Nó chịu trách nhiệm phân phối thông điệp Sự Tái Lâm của Đức Christ và phần lớn công việc chuẩn bị cho sự đến của Ngài.

c. It must aid in drawing the attention of the masses as far as may be—to the problems of humanity, and thus help create the thoughtform of solution.

c. Nó phải trợ giúp trong việc thu hút sự chú ý của quần chúng, trong chừng mực có thể, đến các vấn đề của nhân loại, và nhờ đó giúp tạo ra hình tư tưởng về giải pháp.

This F.B. and A.A.B. have already realised and are laying plans in line with the above. All over the world before long [678] (and already in different countries) much is being accomplished by students and others, always under instruction from New York, so that their work fits in with the general picture and the plans of the New York workers.

F.B. và A.A.B. đã nhận ra điều này và đang lập kế hoạch phù hợp với những điều trên. Chẳng bao lâu nữa trên khắp thế giới [678] (và hiện đã ở nhiều quốc gia khác nhau) nhiều điều đang được các đạo sinh và những người khác hoàn thành, luôn luôn dưới sự chỉ dẫn từ New York, để công việc của họ hòa hợp với bức tranh tổng quát và các kế hoạch của những người hoạt động tại New York.

3. There are, my beloved brother, three things in connection with your relation to the work which I would like to call to your attention:

3. Huynh đệ yêu dấu của Tôi, có ba điều liên quan đến mối quan hệ của em với công việc mà Tôi muốn kêu gọi em chú ý:

a. You have a strong feeling that all the Goodwill work should be completely divorced from what you choose to call occultism. Do you mean from the spiritual centre, the Hierarchy? If this is done, in what way will the goodwill work you propose to do differ from the thousands of goodwill movements so ardently and actively working in the world today?

a. Em có một cảm giác mạnh mẽ rằng toàn bộ công việc Thiện chí nên hoàn toàn tách khỏi điều em chọn gọi là huyền bí học. Ý em là tách khỏi trung tâm tinh thần, tức Thánh Đoàn chăng? Nếu làm như vậy, công việc thiện chí mà em đề nghị thực hiện sẽ khác thế nào với hàng ngàn phong trào thiện chí đang làm việc hết sức nhiệt thành và tích cực trên thế giới ngày nay?

This A.A.B. told you, since which time you have never spoken to her, bade her farewell even by phone or written her a letter. These personality details matter not to her and are of no importance except as they indicate a strong reaction on your part of almost violent disagreement. F.B. and A.A.B. have done what they could to “absorb” you into the work of the new cycle, but hitherto quite unsuccessfully.

Điều này A.A.B. đã nói với em, từ lúc đó em chưa bao giờ nói chuyện với Bà, chào từ biệt Bà dù chỉ qua điện thoại, hay viết cho Bà một lá thư. Những chi tiết phàm ngã này không quan trọng đối với Bà và không có ý nghĩa gì ngoại trừ việc chúng cho thấy một phản ứng mạnh mẽ từ phía em, gần như là sự bất đồng dữ dội. F.B. và A.A.B. đã làm những gì có thể để “hấp thu” em vào công việc của chu kỳ mới, nhưng cho đến nay hoàn toàn không thành công.

b. You tend to emasculate the work and rob it of all potency by a drastic elimination of any word or phrase or paragraph which could be considered to have an occult meaning or implication. Yet, my brother, in the years 1932-1936 the goodwill literature went out practically as dictated by me and it met with enormous and overwhelming success. It had the spirit and the rhythm of the Hierarchy behind it. Today the demand for things esoteric and occult and of the new era is greater still, and the unique thing which the Goodwill work has to offer is the Plan for humanity which the Hierarchy is seeking to implement.

b. Em có khuynh hướng làm suy yếu công việc và tước mất mọi quyền năng của nó bằng cách loại bỏ triệt để bất kỳ từ, cụm từ hay đoạn văn nào có thể được xem là mang ý nghĩa hoặc hàm ý huyền bí. Tuy nhiên, huynh đệ của Tôi, trong những năm 1932-1936, văn liệu thiện chí đã được phát hành hầu như đúng như Tôi đọc cho ghi lại, và nó đã gặp được thành công to lớn và áp đảo. Nó có tinh thần và nhịp điệu của Thánh Đoàn đằng sau. Ngày nay, nhu cầu về những điều bí truyền và huyền môn, cũng như của kỷ nguyên mới, còn lớn hơn nữa, và điều độc đáo mà công việc Thiện chí phải trao tặng là Thiên Cơ dành cho nhân loại mà Thánh Đoàn đang tìm cách thực thi.

c. Then, my co-disciple, you have lately succumbed to [679] two personality faults or weaknesses which seriously hinder your work for me, and in the Ashram, and for humanity.

c. Rồi, đồng môn của Tôi, gần đây em đã khuất phục trước [679] hai lỗi lầm hay yếu điểm của phàm ngã, vốn cản trở nghiêm trọng công việc của em cho Tôi, trong Ashram và cho nhân loại.

You are again intensely critical of all who do not see things your way and—when their ideas do not coincide with your conception as to how the work should be done—you refuse to cooperate. I would remind you that the Members of the Hierarchy are highly individual even though relatively free from personality reactions. Each Ashram has its part to play in materialising the Plan and some project to carry through connected with that Plan. Sometimes this will require the joint cooperation of two or three Ashrams. All the senior workers called in to help may not see eye to eye with the Master responsible for a certain aspect of the Plan, but (when united in a cooperative task) they work under the direction of the Master Who is responsible. Here lies a great deal of your difficulty.

Em lại một lần nữa phê phán dữ dội tất cả những ai không nhìn sự việc theo cách của em và — khi ý tưởng của họ không trùng khớp với quan niệm của em về cách công việc nên được thực hiện — em từ chối hợp tác. Tôi xin nhắc em rằng các Thành viên của Thánh Đoàn có tính cá thể rất cao, dù tương đối thoát khỏi các phản ứng phàm ngã. Mỗi Ashram có phần việc của mình trong việc hiện hình Thiên Cơ và có một dự án nào đó liên quan đến Thiên Cơ ấy phải thực hiện. Đôi khi điều này sẽ đòi hỏi sự hợp tác chung của hai hoặc ba Ashram. Không phải tất cả những người hoạt động cao cấp được mời đến trợ giúp đều hoàn toàn đồng quan điểm với Chân sư chịu trách nhiệm về một phương diện nào đó của Thiên Cơ, nhưng (khi hợp nhất trong một nhiệm vụ hợp tác) họ làm việc dưới sự chỉ đạo của Chân sư chịu trách nhiệm. Chính ở đây có phần lớn khó khăn của em.

You want to work your own way many thousand miles away from Headquarters where I have established my work, instead of working out the plans as proposed to you.

Em muốn làm việc theo cách riêng của mình, cách xa Tổng hành dinh nhiều ngàn dặm, nơi Tôi đã thiết lập công việc của Tôi, thay vì thực hiện các kế hoạch như đã được đề nghị với em.

We come, therefore, not only to the field of criticism in which you find yourself stranded but we come to that latent ambition which, you have oft admitted over the years, is perhaps your deepest rooted failing…. You are anxious to see the new seed group members take control of the organisational situation should anything happen to A.A.B., forgetting that the work of that group is mainly to create a subjective channel of spiritual love, light and power—a point to which few of the members pay any attention at all. You would like to run the work with your own chosen group of workers. You are not working with love and in cooperation with the workers at Headquarters; you are forgetting, are you not, that unless such a plan as the Goodwill work is founded and engineered by a group of disciples [680] who are working in the closest rapport with each other and (in the case of world goodwill) with the Hierarchy (via my Ashram and the Ashrams of the Masters M., K.H., and R.), the work cannot go forward as desired.

Vì vậy, chúng ta không chỉ đi đến lĩnh vực phê phán nơi em thấy mình mắc kẹt, mà còn đi đến tham vọng tiềm ẩn ấy, điều mà qua nhiều năm em thường thừa nhận có lẽ là lỗi lầm bám rễ sâu nhất của em…. Em nóng lòng muốn thấy các thành viên nhóm hạt giống mới nắm quyền kiểm soát tình hình tổ chức nếu có điều gì xảy ra với A.A.B., mà quên rằng công việc của nhóm ấy chủ yếu là tạo ra một vận hà nội tại của tình thương, ánh sáng và quyền năng tinh thần — một điểm mà rất ít thành viên chú ý đến. Em muốn điều hành công việc với nhóm người hoạt động do chính em chọn. Em không làm việc với tình thương và trong sự hợp tác với những người hoạt động tại Tổng hành dinh; em đang quên, phải chăng, rằng nếu một kế hoạch như công việc Thiện chí không được đặt nền tảng và điều hành bởi một nhóm đệ tử [680] đang làm việc trong sự hòa hợp gần gũi nhất với nhau và (trong trường hợp của thiện chí thế giới) với Thánh Đoàn (thông qua Ashram của Tôi và các Ashram của các Chân sư M., K.H. và R.), thì công việc không thể tiến tới như mong muốn.

My brother, your choice is clear and one of two paths is open to you. You can work with loving cooperation with F.B. and the other goodwill workers so that there is unity of approach and uniformity of technique, or else—you can create, engineer and run your own goodwill movement, which may turn out to be a big thing numerically but a poor little thing specifically because you are not in your place and doing your work in my Ashram as had been your soul’s decision. This latter choice is not what I seek to see happen but at present you stand isolated and relatively useless between these two alternatives.

Huynh đệ của Tôi, sự lựa chọn của em rõ ràng và một trong hai con đường đang mở ra trước em. Em có thể làm việc trong sự hợp tác thương yêu với F.B. và các người hoạt động thiện chí khác để có sự thống nhất trong cách tiếp cận và sự đồng nhất trong kỹ thuật, hoặc — em có thể tạo lập, điều hành và vận hành phong trào thiện chí riêng của mình, phong trào ấy có thể trở thành một điều lớn lao về số lượng nhưng là một điều nhỏ bé nghèo nàn về tính đặc thù, bởi vì em không ở đúng vị trí của mình và không làm công việc của mình trong Ashram của Tôi như linh hồn em đã quyết định. Lựa chọn thứ hai này không phải là điều Tôi mong thấy xảy ra, nhưng hiện nay em đang đứng cô lập và tương đối vô dụng giữa hai lựa chọn này.

The new cycle is upon us, brother of mine; there is no time now for personality plans, for criticisms and for disagreements. I have asked you to cooperate with those who have been asked by me to undertake the task of bringing the Goodwill movement to the world.

Huynh đệ của Tôi, chu kỳ mới đã đến với chúng ta; bây giờ không còn thời gian cho các kế hoạch phàm ngã, cho sự phê phán và cho những bất đồng. Tôi đã yêu cầu em hợp tác với những người đã được Tôi yêu cầu đảm nhận nhiệm vụ đưa phong trào Thiện chí đến với thế giới.

An era of frustration has swept the world, due to certain planetary influences; the work that I have sought to do has consequently suffered. This period will not last. I need you in the new cycle and in the new expanding work. There is no place today for personal ambition, personal criticisms, hard feelings or self-pity.

Một kỷ nguyên thất vọng đã quét qua thế giới, do một số ảnh hưởng hành tinh; công việc mà Tôi đã tìm cách thực hiện vì thế đã chịu tổn hại. Giai đoạn này sẽ không kéo dài. Tôi cần em trong chu kỳ mới và trong công việc mới đang mở rộng. Ngày nay không có chỗ cho tham vọng cá nhân, phê phán cá nhân, sự oán giận hay tự thương hại.

Deepen your spiritual life, my brother. Much that interests you is not constructive. Also the cleaning up of your country by ardent search for undesirable citizens can well be carried on by others than yourself. Your work is and must be for the Hierarchy and the furthering of its plans. Take again your place as an outpost of my consciousness in the activities of my organisations. Be humble. F.B. needs you but he knows that the Goodwill work is not an American movement but an international one; he has travelled much and seen the need. This you cannot really know as your life circumstances and your karma have confined you largely to [681] one single and distant locality. Broaden your horizon and bring in Europe, Australia and distant Asia and—as your vision quickens—you will arrive at understanding. Contribute your ideas and suggestions to the reservoir of plans at Headquarters and learn to consider and take part in other people’s plans besides your own.

Huynh đệ của Tôi, hãy đào sâu đời sống tinh thần của em. Nhiều điều khiến em quan tâm không có tính xây dựng. Việc thanh lọc đất nước em bằng sự truy tìm nhiệt thành những công dân không đáng mong muốn cũng hoàn toàn có thể do những người khác hơn là chính em thực hiện. Công việc của em là, và phải là, dành cho Thánh Đoàn và cho việc xúc tiến các kế hoạch của Thánh Đoàn. Hãy một lần nữa đảm nhận vị trí của em như một tiền đồn của tâm thức Tôi trong các hoạt động của những tổ chức của Tôi. Hãy khiêm nhường. F.B. cần em, nhưng ông biết rằng công việc Thiện Chí không phải là một phong trào của Mỹ mà là một phong trào quốc tế; ông đã đi nhiều và đã thấy nhu cầu. Điều này, em không thể thật sự biết, vì hoàn cảnh đời sống và nghiệp quả của em đã giới hạn em phần lớn trong [681] một địa phương duy nhất và xa xôi. Hãy mở rộng chân trời của em và đưa vào đó châu Âu, châu Úc và châu Á xa xôi; và — khi tầm nhìn của em trở nên linh hoạt — em sẽ đạt tới sự thấu hiểu. Hãy đóng góp các ý tưởng và đề nghị của em vào kho dự trữ các kế hoạch tại Trụ sở, và học cách xem xét cũng như tham gia vào các kế hoạch của người khác, ngoài kế hoạch của riêng em.

What more can I say to you, my brother? We are ancient co-workers and those with whom you are associated with in New York are your true co-workers, far more than those well- intentioned aspirants you seek to dominate in your environment. Work closely with your co-disciples and with the Ashram members. They all love you and want your cooperation. A.A.B. wants to see certain things accomplished in the relatively brief interlude which is left to her. Will you help? F.B. is going to need you and many like you as the work expands in the new cycle. Will you stand by him, by my work, and by me?

Huynh đệ của Tôi, Tôi còn có thể nói gì thêm với em? Chúng ta là những người cộng tác từ xa xưa, và những người mà em liên kết ở New York là những người cộng tác thật sự của em, hơn rất nhiều so với những người chí nguyện có thiện ý mà em tìm cách chi phối trong môi trường của mình. Hãy làm việc mật thiết với các đệ tử đồng môn của em và với các thành viên ashram. Tất cả họ đều yêu thương em và muốn có sự cộng tác của em. A.A.B. muốn thấy một số điều được hoàn thành trong khoảng thời gian tương đối ngắn còn lại cho bà. Em sẽ giúp chứ? F.B. sẽ cần em và nhiều người giống như em khi công việc mở rộng trong chu kỳ mới. Em sẽ đứng bên ông, bên công việc của Tôi, và bên Tôi chứ?

My love goes out to you. Much in your present situation and spiritual dilemma reminds me of myself when I was in preparation for the third initiation; therefore, I understand and with this thought I leave you and will not fail you.

Tình thương của Tôi hướng đến em. Nhiều điều trong tình cảnh hiện tại và thế lưỡng nan tinh thần của em nhắc Tôi nhớ đến chính mình khi Tôi đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ ba; vì vậy, Tôi thấu hiểu, và với tư tưởng này, Tôi rời em, và sẽ không phụ lòng em.

To D. I. J. – Gửi D. I. J.

January 1940

Tháng Một năm 1940

For you, my brother, I have somewhat the same message as I gave to S.C.P. Free yourself from the glamour of inherited ideas and national concepts and prejudices. The world picture is clearer and more beautiful than you know, seeing it as you do today through the windows of prejudice, pain and limitation. If I sound harsh in so speaking, it is simply because I, the Master D.K., value what you will be able to do and be when you have released yourself from the glamour of prejudice. You have made real progress in this condition but there is much still to be done and this your heart of love can accomplish once you see clearly and with understanding the true nature of your glamour. There are many points of view, coming from the many types of men, the many races [682] and the many nations and grades of human beings. Who, my brother, are you to determine what is right and which point of view is correct? The Hierarchy sees the beauty in them all. Ponder on this and seek to see it too.

Huynh đệ của Tôi, đối với em, Tôi có phần nào cùng một thông điệp như Tôi đã trao cho S.C.P. Hãy giải thoát chính mình khỏi ảo cảm của những ý tưởng kế thừa, những quan niệm và thành kiến quốc gia. Bức tranh thế giới rõ ràng và đẹp đẽ hơn em biết, khi hôm nay em nhìn nó qua những cửa sổ của thành kiến, đau khổ và giới hạn. Nếu lời Tôi nói nghe có vẻ nghiêm khắc, thì đơn giản là vì Tôi, Chân sư D.K., quý trọng điều em sẽ có thể làm và trở thành khi em đã giải thoát chính mình khỏi ảo cảm của thành kiến. Em đã có tiến bộ thật sự trong tình trạng này, nhưng vẫn còn nhiều điều phải làm, và trái tim yêu thương của em có thể hoàn thành điều này một khi em thấy rõ, và với sự thấu hiểu, bản chất thật sự của ảo cảm nơi em. Có nhiều quan điểm, đến từ nhiều loại người, nhiều chủng tộc [682] và nhiều quốc gia cùng nhiều cấp bậc con người. Huynh đệ của Tôi, em là ai mà xác định điều gì là đúng và quan điểm nào là chính xác? Thánh Đoàn thấy vẻ đẹp trong tất cả những điều ấy. Hãy suy ngẫm về điều này và cũng hãy tìm cách thấy được vẻ đẹp ấy.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

A.A.B. has told me of your comment on the quality of my communications with the group, that you felt the need of a greater expression of love. There was no need for her to tell me as I had “listened in” on the group (as you call it in radio language) and I saw your thought, but she wanted to ask me to deal with this matter as it will be of service to the group; she also sensed your sincere desire.

A.A.B. đã nói với Tôi về nhận xét của em đối với phẩm tính trong các truyền thông của Tôi với nhóm, rằng em cảm thấy cần có một biểu lộ tình thương lớn hơn. Bà không cần phải nói với Tôi, vì Tôi đã “nghe vào” nhóm — như các em gọi theo ngôn ngữ vô tuyến — và Tôi đã thấy tư tưởng của em; nhưng bà muốn yêu cầu Tôi đề cập đến vấn đề này, vì nó sẽ phụng sự nhóm; bà cũng cảm nhận được ước muốn chân thành của em.

I wonder, my brother, if you realise that the basis of your feeling lies in your reaction to the short instruction I gave you earlier in the year? This you did not like, nor did you truly agree with what I said, nor have you really freed yourself from the prejudices to which I referred and for two reasons:

Huynh đệ của Tôi, Tôi tự hỏi em có nhận ra rằng nền tảng cảm xúc của em nằm trong phản ứng của em đối với huấn thị ngắn mà Tôi đã trao cho em hồi đầu năm chăng? Điều này em đã không thích, em cũng không thật sự đồng ý với những gì Tôi nói, và em cũng chưa thật sự giải thoát chính mình khỏi các thành kiến mà Tôi đã nhắc đến, vì hai lý do:

1. Your judgment is clouded by your resentment to what you, perhaps naturally, regarded as a criticism.

1. Sự phán đoán của em bị che mờ bởi lòng bất mãn đối với điều mà em, có lẽ một cách tự nhiên, xem như một lời phê bình.

2. Your sensitivity and your reaction to glamour tunes you in very frequently on a certain section of public opinion and when this happens (as it is happening today) you are no longer a free agent.

2. Sự nhạy cảm của em và phản ứng của em đối với ảo cảm rất thường xuyên điều chỉnh em hòa vào một bộ phận nhất định của công luận; và khi điều này xảy ra — như đang xảy ra hôm nay — em không còn là một tác nhân tự do nữa.

My underlying thought when giving you that instruction was to awaken you to the fact that your feelings and loyalties are based on a class idea and on class resentment and not on clear thinking through to the facts which should condition all loyalties and partisanships. It is not the objectives or the decisions of those loyalties with which I am dealing. Those are entirely your own affair and are of no real importance in the light of eternity, but I am endeavouring to awaken you to the condition of your emotional reactions and to the quality [683] which motivated you—not clear thinking and then decision, but prejudice, resentment and fear.

Tư tưởng nền tảng của Tôi khi trao cho em huấn thị ấy là đánh thức em trước sự kiện rằng cảm xúc và lòng trung thành của em được đặt trên một ý tưởng giai cấp và trên sự bất mãn giai cấp, chứ không đặt trên tư duy sáng suốt đi đến những sự kiện vốn phải tác động lên mọi lòng trung thành và mọi sự đứng về phe phái. Tôi không đề cập đến các mục tiêu hay các quyết định của những lòng trung thành ấy. Những điều đó hoàn toàn là việc riêng của em và không có tầm quan trọng thật sự nào dưới ánh sáng của vĩnh cửu; nhưng Tôi đang cố gắng đánh thức em trước tình trạng của các phản ứng cảm xúc nơi em và trước phẩm tính [683] đã thúc đẩy em — không phải tư duy sáng suốt rồi mới quyết định, mà là thành kiến, bất mãn và sợ hãi.

But today I shall not deal with this. You know enough to deal with it yourself or at least to realise the truth of my criticism of your attitude but not of your decision. That which works out into expression upon the physical plane is not the concern of the members of the Hierarchy. They concern themselves with motives and predispositions and it was with these that I was dealing.

Nhưng hôm nay Tôi sẽ không đề cập đến điều này. Em biết đủ để tự mình xử lý nó, hoặc ít nhất để nhận ra chân lý trong lời phê bình của Tôi đối với thái độ của em, chứ không phải đối với quyết định của em. Điều được biểu lộ ra trên cõi hồng trần không phải là mối quan tâm của các thành viên Thánh Đoàn. Các Ngài quan tâm đến động cơ và khuynh hướng sẵn có, và chính những điều này là điều Tôi đã đề cập.

Brother of old, we have worked together for some time—for some years. I have chosen you for instruction and to be part of my group of disciples and this choice, being accepted and responded to by you, indicates relationship, activity, and an allegiance which will confront you for many lives. Have I ever, since the time that our relationship started in this life, failed to meet your need when that need was of a spiritual nature, determining character and conditioning the future? Is not such a response on my part an expression of true love? Love is not making the object of the love feel comfortable superficially. If I induced that reaction in you, I would not merit your confidence and trust and in the long run I would not thus hold your respect. Love is far-seeing wisdom which seeks to keep alive in the object of that love those sensitivities which will guarantee safe progress. Love is, therefore, guarding, stimulating and protective. But it is not a personal matter. It is a positive protection, but does not lead to a negative attitude of being cared for on the part of the one who is the recipient of the love and protection. It is the stimulating power of divine love which I seek to pour out upon you and upon all whom I serve as Master and Teacher. This will lead you wisely to protect yourself from glamour, illusion and personality reactions, also from error and prejudice in order the better to serve both Humanity and the Hierarchy. Ponder on this.

Huynh đệ lâu năm, chúng ta đã làm việc cùng nhau trong một thời gian — trong một số năm. Tôi đã chọn em để được huấn luyện và để trở thành một phần trong nhóm đệ tử của Tôi; và sự chọn lựa này, khi được em chấp nhận và đáp ứng, chỉ ra mối liên hệ, hoạt động và một sự trung thành sẽ đối diện với em trong nhiều kiếp sống. Từ khi mối liên hệ của chúng ta bắt đầu trong kiếp sống này, có bao giờ Tôi đã không đáp ứng nhu cầu của em khi nhu cầu ấy thuộc bản chất tinh thần, định đoạt tính cách và tác động lên tương lai chăng? Một đáp ứng như thế từ phía Tôi chẳng phải là một biểu lộ của tình thương chân thật sao? Tình thương không phải là làm cho đối tượng của tình thương cảm thấy dễ chịu một cách hời hợt. Nếu Tôi gây nên phản ứng ấy nơi em, Tôi sẽ không xứng đáng với lòng tin cậy và tín nhiệm của em, và về lâu dài Tôi cũng sẽ không giữ được sự kính trọng của em theo cách ấy. Tình thương là minh triết nhìn xa, tìm cách giữ cho sống động nơi đối tượng của tình thương những nhạy cảm sẽ bảo đảm sự tiến bộ an toàn. Vì vậy, tình thương là sự gìn giữ, kích thích và bảo vệ. Nhưng đó không phải là một vấn đề cá nhân. Đó là sự bảo vệ tích cực, nhưng không dẫn đến một thái độ thụ động chờ được chăm sóc nơi người nhận tình thương và sự bảo vệ ấy. Chính quyền năng kích thích của tình thương thiêng liêng là điều Tôi tìm cách tuôn đổ trên em và trên tất cả những người Tôi phụng sự với tư cách là Chân sư và huấn sư. Điều này sẽ dẫn em một cách minh triết đến việc tự bảo vệ mình khỏi ảo cảm, ảo tưởng và các phản ứng của phàm ngã, cũng như khỏi sai lầm và thành kiến, để phụng sự tốt hơn cả Nhân loại lẫn Thánh Đoàn. Hãy suy ngẫm về điều này.

These are days of terrific stress and strain, far greater and more far reaching than you can guess or grasp. We who work on the inner side of life and who deal with the mass movements and reactions of humanity, and who have kept [684] the light shining with radiance no matter how dark the night of human affairs may be, have ourselves to rest back on the understanding selflessness of our disciples. We have not the time or the inclination (in the light of greater need) to waste in useless gestures or loving phrases, of teaching so tactfully worded that much of its import might be lost, and in making our disciples aware of their personal relation to us. There is a personal relation or you would not be in my group, but it is of secondary importance to your group interrelation and activity. There is no need for me thus to explain but it seemed advisable once and for all to make clear that my failure (should I call it that, my brother?) to express love in words to any of you and also my expressed intention to waste no time in indicating weaknesses in character and areas of failure in performance must not be and should not be interpreted by you as harshness, failure to understand or a detachment so cold that my very impersonality would defeat its own ends. What all of you need to grasp with greater clarity, both as individuals and as a group, is the present need of humanity and the law of cycles. The urgency of the time and the uniqueness of the opportunity seem little understood by most of you.

Đây là những ngày của áp lực và căng thẳng khủng khiếp, lớn hơn và vươn xa hơn nhiều so với điều em có thể đoán hay nắm bắt. Chúng tôi, những người làm việc ở phía bên trong của đời sống, những người xử lý các phong trào và phản ứng quần chúng của nhân loại, và những người đã giữ [684] cho ánh sáng chiếu rạng rỡ, bất kể đêm tối của các sự việc nhân loại có thể tối tăm đến đâu, chính chúng tôi phải nương tựa vào sự vô ngã đầy thấu hiểu của các đệ tử chúng tôi. Chúng tôi không có thời gian hay khuynh hướng — dưới ánh sáng của nhu cầu lớn hơn — để phí phạm vào những cử chỉ vô ích hay những lời lẽ yêu thương, vào việc giảng dạy được diễn đạt tế nhị đến mức phần lớn hàm ý của nó có thể bị mất, và vào việc khiến các đệ tử chúng tôi nhận biết mối liên hệ cá nhân của họ với chúng tôi. Quả có một mối liên hệ cá nhân, nếu không em đã không ở trong nhóm của Tôi; nhưng nó có tầm quan trọng thứ yếu so với mối tương liên và hoạt động nhóm của em. Tôi không cần phải giải thích như vậy, nhưng dường như nên một lần cho dứt khoát làm rõ rằng việc Tôi không — nếu nên gọi như vậy chăng, huynh đệ của Tôi? — biểu lộ tình thương bằng lời với bất kỳ ai trong các em, cũng như ý định đã nói rõ của Tôi là không phí thời gian trong việc chỉ ra những yếu kém về tính cách và những lĩnh vực thất bại trong sự thực hiện, không được và không nên bị em diễn giải là sự nghiêm khắc, thiếu thấu hiểu, hay một sự tách rời lạnh lùng đến nỗi chính tính vô ngã của Tôi sẽ làm hỏng mục đích của nó. Điều tất cả các em cần nắm bắt với sự rõ ràng lớn hơn, cả với tư cách cá nhân lẫn nhóm, là nhu cầu hiện nay của nhân loại và định luật chu kỳ. Tính cấp bách của thời điểm và tính độc nhất của cơ hội dường như được đa số các em thấu hiểu rất ít.

Again, my brother, have you realised that if I evoked from you a personality devotion I should be hindering you and in no way demonstrating to you that soul love which actuates all my reactions to each and all of you. Your sixth ray personality would respond to such an attitude on my part and then—what would that feed and develop in you? Just self-satisfaction and a settling back upon the fact of relationship and not upon the fact of the soul. It would produce an increase of the glamour to which you are prone. In past lives, your progress has been from one devotion to another, from one position of pledged fealty to another. In this life, you are faced with the opportunity to free yourself from such personality reactions and relations and become stabilised in soul behaviour. It is to this end that I help you. Disciples would do well to appreciate somewhat the problem of the Master. He has to watch the effect of all the energy which flows from Him to His disciples and to guard against its stimulating [685] unduly their personalities, and thus tend to the evocation of personality reactions.

Huynh đệ của Tôi, một lần nữa, em có nhận ra rằng nếu Tôi gợi lên nơi em một sự sùng tín của phàm ngã, Tôi sẽ cản trở em và không hề chứng minh cho em thấy tình thương của linh hồn vốn thúc đẩy mọi phản ứng của Tôi đối với từng người và tất cả các em? Phàm ngã cung sáu của em sẽ đáp ứng với một thái độ như thế từ phía Tôi, và khi ấy — điều đó sẽ nuôi dưỡng và phát triển gì nơi em? Chỉ là sự tự mãn và sự tựa vào sự kiện của mối liên hệ, chứ không phải vào sự kiện của linh hồn. Nó sẽ tạo ra sự gia tăng của ảo cảm mà em dễ mắc phải. Trong các kiếp trước, sự tiến bộ của em đã đi từ một sự sùng tín này sang một sự sùng tín khác, từ một vị trí trung thành đã thệ nguyện này sang vị trí khác. Trong kiếp sống này, em đứng trước cơ hội giải thoát chính mình khỏi những phản ứng và quan hệ phàm ngã như thế, và trở nên ổn định trong hành vi của linh hồn. Chính vì mục đích này mà Tôi giúp em. Các đệ tử nên phần nào trân trọng vấn đề của Chân sư. Ngài phải theo dõi tác động của toàn bộ năng lượng tuôn chảy từ Ngài đến các đệ tử của Ngài, và phải đề phòng việc nó kích thích [685] quá mức các phàm ngã của họ, và do đó có khuynh hướng gợi lên các phản ứng phàm ngã.

Will you therefore rest back on facts and lived experience and waste not time in wishing and in emotional reactions? You have made much progress in this life, my brother. You are not young but that, in your case, need not deter you from further search for liberation, based on a planned relinquishing. Sixth ray aspirants have a particularly hard task at the close of this Piscean age, due to the sixth ray expression of the Christian era. Today the energies are concretising and working through that which is old and honoured, that which is “conditioned by gold” (as the saying is) and that which belongs to a passing age—an age which should pass. This affects also your sixth ray personality and, consequently, from many angles your allegiances and your loyalties are motivated by the sixth ray and based on personality decisions and not on the illumined vision of the soul. The fact, however, that you have broken with orthodoxy where theology is concerned indicates (to us who watch) a great measure of emancipation and of emerging soul control. You will find, if your intuition gets more dynamic and your first ray astral body (the ray of government and politics) does not unduly affect you, that an increasing measure of thought release will be yours.

Vậy em có chịu nương tựa vào các sự kiện và kinh nghiệm đã sống, và không phí thời gian vào mong ước cùng các phản ứng cảm xúc chăng? Huynh đệ của Tôi, em đã tiến bộ nhiều trong kiếp sống này. Em không còn trẻ, nhưng trong trường hợp của em, điều đó không cần ngăn cản em tiếp tục tìm kiếm sự giải thoát, đặt nền trên một sự từ bỏ có kế hoạch. Những người chí nguyện cung sáu có một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn vào cuối thời đại Song Ngư này, do sự biểu lộ cung sáu của kỷ nguyên Ki-tô giáo. Ngày nay, các năng lượng đang cụ thể hóa và hoạt động xuyên qua điều gì xưa cũ và được tôn vinh, điều gì “bị tác động bởi vàng” — như câu nói — và điều gì thuộc về một thời đại đang qua — một thời đại phải qua đi. Điều này cũng ảnh hưởng đến phàm ngã cung sáu của em, và do đó, xét từ nhiều góc độ, các sự trung thành và lòng trung nghĩa của em được cung sáu thúc đẩy, và đặt nền trên các quyết định phàm ngã chứ không trên tầm nhìn được soi sáng của linh hồn. Tuy nhiên, sự kiện em đã đoạn tuyệt với chính thống trong vấn đề thần học cho thấy — đối với chúng tôi là những người quan sát — một mức độ giải phóng lớn lao và sự kiểm soát của linh hồn đang xuất hiện. Nếu trực giác của em trở nên năng động hơn và thể cảm dục cung một của em — cung của chính quyền và chính trị — không ảnh hưởng quá mức đến em, em sẽ thấy rằng một mức độ giải phóng tư tưởng ngày càng tăng sẽ thuộc về em.

In this connection and in order to enlarge your perspective, I would add that Christian Science is a fifth ray expression of thought and was one of the effects of the incoming fifth ray life. A very large number of Christian Scientists are either fifth or sixth ray egos, for this particular school of thought was one of the means whereby the fanatical emotional idealism (engendered by the potency of the sixth ray influence dominant for so many centuries) could be offset, and the mental grasp of truth and of life carefully fostered. Under its influence, the stage was set on which many mystics could begin to organise their mental bodies and discover that they had minds which could be used, and thus be prepared for the occult way. It is therefore a masculine or positive influence in its general effect, but its positivity is in relation to the personality—the mind as the factor dominating [686] the human expression. It can, and eventually will, be negative to the soul, revealing the higher mind. It is interesting whilst considering the pairs of opposites (the negative and positive factors) to study the following groupings:

Trong mối liên hệ này và nhằm mở rộng viễn cảnh của em, Tôi muốn nói thêm rằng Christian Science là một biểu lộ tư tưởng cung năm và là một trong các hệ quả của sự sống cung năm đang đi vào. Một số rất lớn các tín đồ Christian Science hoặc là các chân ngã cung năm hoặc cung sáu, vì trường phái tư tưởng đặc thù này là một trong những phương tiện nhờ đó chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc cuồng tín — được sinh ra bởi quyền năng của ảnh hưởng cung sáu đã thống trị trong rất nhiều thế kỷ — có thể được hóa giải, và sự nắm bắt bằng trí tuệ đối với chân lý và đời sống được nuôi dưỡng cẩn trọng. Dưới ảnh hưởng của nó, sân khấu được dựng nên để nhiều nhà thần bí có thể bắt đầu tổ chức các thể trí của mình và khám phá rằng họ có những thể trí có thể được sử dụng, và nhờ đó được chuẩn bị cho con đường huyền bí học. Vì vậy, trong hiệu quả tổng quát của nó, đó là một ảnh hưởng nam tính hay dương tính; nhưng tính dương của nó là trong tương quan với phàm ngã — thể trí như yếu tố chi phối [686] biểu lộ của con người. Nó có thể, và rốt cuộc sẽ, trở nên âm tính đối với linh hồn, mặc khải thượng trí. Trong khi xét đến các cặp đối cực — các yếu tố âm và dương — thật thú vị khi nghiên cứu các nhóm sau đây:

Spirit Positive

Tinh thần Dương tính

I. Soul Balancing

I. Linh hồn Cân bằng

Personality Negative

Phàm ngã Âm tính

Higher mind Positive

Thượng trí Dương tính

II. Soul The point of balance

II. Linh hồn Điểm cân bằng

Lower mind Negative

Hạ trí Âm tính

Lower Mind Positive

Hạ trí Dương tính

III. Emotional nature Field for balancing

III. Bản chất cảm xúc Lĩnh vực để cân bằng

Brain Negative

Bộ não Âm tính

You have, in the above groupings, three great fields of reflection. These groupings can also be worked out in many ways. It must be borne in mind that (as H.P.B. points out) any such groupings, such as the seven principles, will vary according to the point in evolution of the investigator.

Trong các nhóm trên, em có ba lĩnh vực suy tưởng lớn. Những nhóm này cũng có thể được triển khai theo nhiều cách. Cần ghi nhớ rằng — như H.P.B. đã chỉ ra — bất kỳ cách nhóm nào như thế, chẳng hạn như bảy nguyên khí, sẽ thay đổi tùy theo điểm tiến hoá của người khảo sát.

I will give you now a personal meditation which will serve, I hope, to lift the life of the astral body out of the solar plexus into the heart centre, thus breaking down some of the limitations which will disappear when the astral body and the sixth ray astral force are transmuted and love of the whole takes the place of love of the part.

Bây giờ Tôi sẽ trao cho em một bài tham thiền cá nhân, hy vọng sẽ giúp nâng đời sống của thể cảm dục ra khỏi tùng thái dương lên trung tâm tim, nhờ đó phá vỡ một số giới hạn sẽ biến mất khi thể cảm dục và mãnh lực cảm dục cung sáu được chuyển hoá, và tình thương đối với toàn thể thay thế cho tình thương đối với một phần.

1. Take up the position mentally of the Observer. Your fourth ray mind should enable you to observe with detachment the conflict between the personality and the soul.

1. Hãy đảm nhận, về mặt trí tuệ, vị thế của Nhà Quan Sát. Thể trí cung bốn của em hẳn sẽ giúp em quan sát với sự tách rời cuộc xung đột giữa phàm ngã và linh hồn.

2. Then, noting the dim light of the personality and the bright radiance of the soul, observe then another duality, i.e., the bright and powerful light or influence of the solar plexus and the wavering, fluctuating light of the heart centre. [687]

2. Rồi, khi ghi nhận ánh sáng mờ của phàm ngã và vẻ rạng rỡ sáng chói của linh hồn, hãy quan sát thêm một Nhị nguyên khác, tức là ánh sáng hay ảnh hưởng sáng chói và mạnh mẽ của tùng thái dương, cùng ánh sáng dao động, biến đổi của trung tâm tim. [687]

3. Then, through the power of the imagination, focus your consciousness in the radiant soul and hold it there steadily, linking the soul and the head centre, again by the power of thought.

3. Rồi, nhờ quyền năng của Sự tưởng tượng, hãy tập trung tâm thức của em trong linh hồn rạng rỡ và giữ nó vững vàng ở đó, liên kết linh hồn với trung tâm đầu, một lần nữa bằng quyền năng của tư tưởng.

4. Then sound the OM three times, breathing out the energy of the soul into the threefold personality and bringing that energy to rest (as in a reservoir of force) in the ajna centre. There hold it, enhancing the light of the personality with the radiance of the soul.

4. Rồi xướng linh từ OM ba lần, thở ra năng lượng của linh hồn vào phàm ngã tam phân và đưa năng lượng ấy đến chỗ an trú — như trong một hồ chứa mãnh lực — nơi trung tâm ajna. Hãy giữ nó ở đó, tăng cường ánh sáng của phàm ngã bằng vẻ rạng rỡ của linh hồn.

5. Next say:

5. Kế đó hãy nói:

“The light of the soul puts out the dim light of the personality as the sun puts out the flame of a small fire. Soul radiance takes the place of personality light. The sun is substituted for the moon.”

“Ánh sáng của linh hồn làm tắt ánh sáng mờ của phàm ngã, như mặt trời làm tắt ngọn lửa của một đốm lửa nhỏ. Vẻ rạng rỡ của linh hồn thay thế ánh sáng của phàm ngã. Mặt trời được thay cho mặt trăng.”

6. Then, definitely throw the light and energy of the soul into the heart centre and believe—through the power of the creative imagination—that it evokes such a powerful, vibratory activity that it acts like a magnet in relation to the solar plexus. The energy of the solar plexus is lifted up or drawn up into the heart centre and is there transmuted into soul love.

6. Rồi, một cách dứt khoát, hãy phóng ánh sáng và năng lượng của linh hồn vào trung tâm tim, và tin — nhờ quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo — rằng nó gợi lên một hoạt động rung động mạnh mẽ đến mức nó tác động như một nam châm đối với tùng thái dương. Năng lượng của tùng thái dương được nâng lên hay được hút lên vào trung tâm tim, và ở đó được chuyển hoá thành tình thương của linh hồn.

7. Then still as the Observer, see the reversal of the earlier process. The solar plexus is dimmed. The radiance of the heart is substituted. The light of the soul remains unchanged but the light of the personality is greatly brightened.

7. Rồi, vẫn với tư cách là Nhà Quan Sát, hãy thấy sự đảo ngược của tiến trình trước đó. Tùng thái dương mờ đi. Vẻ rạng rỡ của tim được thay vào. Ánh sáng của linh hồn vẫn không đổi, nhưng ánh sáng của phàm ngã được làm sáng lên rất nhiều.

8. Then again as the soul, united with the personality, sound the OM seven times, breathing it out into your environment.

8. Rồi một lần nữa, với tư cách là linh hồn hợp nhất với phàm ngã, hãy xướng linh từ OM bảy lần, thở nó ra vào môi trường của em.

This, my brother, is more of a visualisation exercise than a meditation, but its efficacy is dependent upon your ability as a spiritual observer to preserve mental continuity as you do it. Energy follows thought and this is the basis of all occult practice and is of prime significance in this exercise. You will discover that if you do this exercise with regularity and with no biassed idea as to results, that changes will be [688] wrought in your consciousness of a lasting nature and the light of the group will also be stronger.

Huynh đệ của Tôi, đây là một bài tập hình dung hơn là một bài tham thiền, nhưng hiệu quả của nó tùy thuộc vào khả năng của em, với tư cách là một nhà quan sát tinh thần, giữ được tính liên tục trí tuệ trong khi thực hiện. Năng lượng đi theo tư tưởng, và đây là nền tảng của mọi thực hành huyền bí học, đồng thời có thâm nghĩa hàng đầu trong bài tập này. Em sẽ khám phá rằng nếu em thực hiện bài tập này đều đặn và không có ý tưởng thiên lệch nào về kết quả, thì những thay đổi có bản chất bền lâu sẽ [688] diễn ra trong tâm thức em, và ánh sáng của nhóm cũng sẽ mạnh hơn.

August 1942

Tháng Tám năm 1942

1. Much you have learnt, my brother on the Way, and closer to the centre of all life you stand. Let knowledge now be shown as lighted wisdom and gentle loving poise.

1. Huynh đệ của Tôi trên Con Đường, em đã học được nhiều, và em đứng gần hơn với trung tâm của mọi sự sống. Giờ đây hãy để tri thức được biểu lộ như minh triết được soi sáng và sự quân bình yêu thương dịu dàng.

2. Let tenderness emerge like a stream of healing strength. Ponder the relationship of tenderness and strength when devoid of selfish interest and unrestrained devotion.

2. Hãy để sự dịu dàng hiện ra như một dòng suối sức mạnh chữa lành. Hãy suy ngẫm về mối liên hệ giữa sự dịu dàng và sức mạnh khi không có lợi ích ích kỷ và sự sùng tín không kiềm chế.

3. Guard well the servant of the soul, the bodily frame, and shorten not the term of service. There is much for you to do.

3. Hãy gìn giữ cẩn thận người phụng sự của linh hồn, khung thân xác, và đừng rút ngắn kỳ hạn phụng sự. Có nhiều việc để em làm.

4. Prepare for changes and welcome each departure from the normal way. Cultivate a fluidness of living when demand arises.

4. Hãy chuẩn bị cho những thay đổi và hoan nghênh mỗi sự rời khỏi lối bình thường. Hãy vun trồng một sự linh động trong đời sống khi nhu cầu phát sinh.

5. Two there are upon the inward way whom you must carry in your heart and seek to reach. C.D.P. is one; the other is more easily attained.

5. Có hai người trên con đường hướng nội mà em phải mang trong tim mình và tìm cách vươn tới. C.D.P. là một; người kia dễ đạt tới hơn.

6. Each Thursday night, when sleep descends upon your eyes, seek Me and know that I am there.

6. Mỗi tối thứ Năm, khi giấc ngủ phủ xuống đôi mắt em, hãy tìm Tôi và biết rằng Tôi ở đó.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

The years slip away, do they not? And each year sees and should see changes. In my last set of injunctions, if I may call them so, which I gave you a year ago, I asked you to prepare for changes. I have an idea, my brother, that you interpreted that to mean physical changes in your life—the changes which environment and circumstance impose upon a person, which cannot be avoided. But it was not to this kind of change that I referred. Let me see if I can make what I intended to convey to you somewhat clearer.

Những năm tháng trôi qua, phải vậy chăng? Và mỗi năm đều chứng kiến, và nên chứng kiến, những thay đổi. Trong bộ huấn thị gần nhất của Tôi — nếu Tôi có thể gọi chúng như vậy — mà Tôi đã trao cho em một năm trước, Tôi đã yêu cầu em chuẩn bị cho những thay đổi. Huynh đệ của Tôi, Tôi có ý nghĩ rằng em đã diễn giải điều đó như có nghĩa là những thay đổi hồng trần trong đời sống em — những thay đổi mà môi trường và hoàn cảnh áp đặt lên một người, vốn không thể tránh khỏi. Nhưng Tôi không nhắc đến loại thay đổi ấy. Hãy để Tôi xem liệu Tôi có thể làm cho điều Tôi định truyền đạt cho em trở nên rõ hơn đôi chút chăng.

There are certain changes which disciples must themselves initiate; these may not touch environing outer conditions, but concern inner developments, attitudes and mental processes. These self-initiated decisions can and do lead to [689] basic inner unsettlements (is there such a word?), and these inner disturbances are necessary to and preparatory to great inner crises. These inner crises lead to points of tension, as well you know, and from a point of tension the merging soul-personality can then move onward into greater light and a more surely realised Love.

Có những thay đổi nhất định mà chính các đệ tử phải khởi xướng; những thay đổi này có thể không chạm đến các điều kiện bên ngoài bao quanh, nhưng liên quan đến những phát triển nội tâm, thái độ và tiến trình trí tuệ. Những quyết định tự khởi xướng này có thể và thật sự dẫn đến [689] những xáo trộn nội tâm căn bản — có một từ như thế chăng? — và những xáo động nội tâm này là cần thiết cho, và chuẩn bị cho, những khủng hoảng nội tâm lớn. Những khủng hoảng nội tâm này dẫn đến các điểm tập trung nhất tâm, như em biết rõ; và từ một điểm tập trung nhất tâm, linh hồn-phàm ngã đang hòa nhập có thể tiến tới ánh sáng lớn hơn và một Tình thương được chứng nghiệm chắc chắn hơn.

With devotion and steadfastness you have stood, down the years. Of this I am aware, and for all that you have accomplished I am happy. The question I now ask you, my brother, and am wording in a current phrase in order to arrest your attention is this: Where do you go from here? What is your next step? Can you take another step this life? Can you put your finger on something in your consciousness—subtle perhaps and unseen by others except by those with a truly perceptive attention—which, if altered or developed, discarded or intensified, would bring about a great and surprising unfoldment—an unfoldment much to be desired, prior to entering upon another incarnation.

Với sự sùng tín và kiên định, em đã đứng vững qua nhiều năm. Tôi biết điều này, và Tôi vui mừng vì tất cả những gì em đã hoàn thành. Câu hỏi Tôi nay đặt ra cho em, huynh đệ của Tôi, và Tôi diễn đạt bằng một cụm từ hiện hành để thu hút sự chú ý của em, là: Từ đây em đi đâu? Bước kế tiếp của em là gì? Em có thể tiến thêm một bước nữa trong kiếp sống này chăng? Em có thể xác định một điều gì đó trong tâm thức mình — có lẽ tinh tế và không ai khác thấy được, ngoại trừ những người có sự chú ý thật sự nhận biết — mà nếu được thay đổi hay phát triển, loại bỏ hay tăng cường, sẽ đem lại một sự khai mở lớn lao và đáng ngạc nhiên — một sự khai mở rất đáng mong muốn trước khi bước vào một lần lâm phàm khác.

You are probably now assuming that I am referring to faults, handicaps or limitations. Perhaps I am. I might, however, be indicating the need to foster some divine quality, to move some latent spiritual attribute into a more prominent position in your life, or suggesting that you intensify some spiritual contribution that you are or could be making. That is for you to discover in the secret place of your own heart. At any rate, my brother and my tried friend, you know that until the final initiation is taken, all progress is a series of releases, and that from stage to stage of liberation we pass onward into light.

Có lẽ giờ đây em đang giả định rằng Tôi đang nhắc đến các lỗi lầm, trở ngại hay giới hạn. Có lẽ đúng vậy. Tuy nhiên, Tôi cũng có thể đang chỉ ra nhu cầu vun bồi một phẩm tính thiêng liêng nào đó, đưa một thuộc tính tinh thần còn tiềm ẩn vào một vị trí nổi bật hơn trong đời sống em, hoặc gợi ý rằng em tăng cường một đóng góp tinh thần nào đó mà em đang, hoặc có thể đang, thực hiện. Điều đó là để em khám phá trong nơi bí mật của chính trái tim mình. Dù sao đi nữa, huynh đệ của Tôi và người bạn đã được thử thách của Tôi, em biết rằng cho đến khi lần điểm đạo cuối cùng được thực hiện, mọi tiến bộ là một chuỗi những giải thoát, và từ giai đoạn này đến giai đoạn khác của sự giải thoát, chúng ta tiến vào ánh sáng.

You are not young. You have a somewhat frail body. You take with pain and distaste the impacts of life, and you seek ever to measure up in truth and sincerity to the presented opportunity. You are prone to think that life must be for you now largely a process of waiting; that there is little that you can further do; in this you are wrong. You can most definitely love more—with less devotion to the few and with a greatly increased inclusiveness and depth for the many; you can free yourself from certain thoughtforms which condition much of your thinking; you can learn more easily the [690] lesson that to be a true disciple means desiring what is best for all humanity, and not what you think is best in terms of some group, some school of thought, or some historical, or political sequence. You must learn to think in larger terms than those of some national group or group of nations. That means an intensified study upon the Plan and this means quiet reflection within yourself, not reading books or subjecting yourself to deep meditation; it means the breaking down of ancient prejudices and preconceived ideas, so that that which is new and totally different to what you have surmised or thought can enter into your thinking and condition your future.

Em không còn trẻ. Em có một thể xác phần nào mong manh. Em tiếp nhận các va chạm của đời sống với đau đớn và chán ghét, và em luôn tìm cách đáp ứng, trong chân thật và thành tâm, với cơ hội được đưa ra. Em có khuynh hướng nghĩ rằng đời sống đối với em giờ đây phần lớn phải là một tiến trình chờ đợi; rằng em còn có thể làm thêm rất ít; trong điều này em sai. Em chắc chắn có thể yêu thương nhiều hơn — với ít sự sùng tín hơn đối với số ít, và với tính bao gồm cùng chiều sâu gia tăng rất nhiều đối với số đông; em có thể giải thoát chính mình khỏi một số hình tư tưởng đang tác động lên phần lớn tư duy của em; em có thể học dễ dàng hơn [690] bài học rằng làm một đệ tử chân thật có nghĩa là mong muốn điều tốt nhất cho toàn thể nhân loại, chứ không phải điều em nghĩ là tốt nhất theo một nhóm nào đó, một trường phái tư tưởng nào đó, hay một chuỗi diễn biến lịch sử hoặc chính trị nào đó. Em phải học suy nghĩ trong những phạm vi rộng lớn hơn phạm vi của một nhóm quốc gia hay một nhóm các quốc gia. Điều đó có nghĩa là một sự nghiên cứu tăng cường về Thiên Cơ, và điều này có nghĩa là sự suy tư lặng lẽ trong chính em, không phải đọc sách hay đặt mình dưới tham thiền sâu; nó có nghĩa là phá vỡ các thành kiến cổ xưa và các ý tưởng định kiến, để điều mới mẻ và hoàn toàn khác với những gì em đã phỏng đoán hay suy nghĩ có thể đi vào tư duy của em và tác động lên tương lai của em.

Unless you can do this (and it is not easy for you to break loose from tradition and background) crystallisation is apt to set in, and that is something which I know you fear and which need not happen. The great preventive to any growing hardness or rigidity of perception is Love, and the great lesson for all disciples is to love more and more until the Day be with us.

Trừ phi em có thể làm điều này — và đối với em, không dễ gì thoát khỏi truyền thống và bối cảnh — sự kết tinh dễ bắt đầu, và đó là điều Tôi biết em sợ, nhưng nó không cần phải xảy ra. Điều ngăn ngừa lớn lao đối với mọi sự cứng lại hay tính cứng nhắc đang tăng trưởng của nhận thức là Tình thương, và bài học lớn lao cho tất cả các đệ tử là yêu thương ngày càng nhiều hơn cho đến khi Ngày ấy ở cùng chúng ta.

I am not being very definite and specific with you, my brother. You need it not, for you are an experienced and tried soldier and you are singularly free from glamour, though susceptible to established and powerful thoughtforms. These latter can always be dissipated by love—developed and consciously expressed—but it is not so with glamour. That is a much harder task, as you know well, having watched the struggles of L.T.S-K. for so many years with sympathy and comprehension. You have given him more of that than almost anyone else in the group and in his immediate circle of co-disciples. It is because glamour has no lure for you.

Huynh đệ của Tôi, Tôi không nói với em một cách thật xác định và cụ thể. Em không cần điều đó, vì em là một chiến sĩ từng trải và đã được thử thách, và em đặc biệt tự do khỏi ảo cảm, dù dễ chịu ảnh hưởng của những hình tư tưởng đã được thiết lập và đầy quyền lực. Những hình tư tưởng vừa nói luôn có thể được làm tiêu tan bằng tình thương — được phát triển và biểu lộ một cách có ý thức — nhưng với ảo cảm thì không như vậy. Đó là một nhiệm vụ khó hơn nhiều, như em biết rõ, vì em đã theo dõi trong rất nhiều năm, với thiện cảm và sự thấu hiểu, các cuộc đấu tranh của L.T.S-K. Em đã trao cho bạn ấy nhiều điều đó hơn hầu như bất kỳ ai khác trong nhóm và trong vòng đệ tử đồng môn gần gũi của bạn ấy. Đó là vì ảo cảm không có sức quyến rũ đối với em.

As to your meditation, I am only going to give you certain words which you can incorporate into the general meditation at any point which you may deem appropriate. I would ask you to give five minutes at least to a dynamic concentration upon these words. Study them—as far as you can—from the angle of the world of meaning and in relation to your attitude to humanity as a whole. Do not consider them from the angle of your personal relationships or your personal environing circumstances. All that I have said indicates your need to [691] relate these ideas to universal concepts; that is for you the next practical step. I give you six words or phrases, and during the coming year you can therefore deal with them twice:

Về tham thiền của em, Tôi chỉ sẽ trao cho em một số từ mà em có thể đưa vào bài tham thiền chung tại bất kỳ điểm nào em cho là thích hợp. Tôi yêu cầu em dành ít nhất năm phút cho sự tập trung năng động vào các từ này. Hãy nghiên cứu chúng — trong chừng mức em có thể — từ góc độ của Thế giới của ý nghĩa và trong liên hệ với thái độ của em đối với nhân loại như một toàn thể. Đừng xét chúng từ góc độ các quan hệ cá nhân của em hay các hoàn cảnh cá nhân bao quanh em. Tất cả những gì Tôi đã nói chỉ ra nhu cầu của em trong việc [691] liên hệ các ý tưởng này với những khái niệm phổ quát; đối với em, đó là bước thực tiễn kế tiếp. Tôi trao cho em sáu từ hoặc cụm từ, và trong năm tới, em vì thế có thể đề cập đến chúng hai lần:

1st month………….. Humanity. The framework of Experience.

Tháng thứ 1………….. Nhân loại. Khung của Kinh nghiệm.

2nd month…………. Fluidity. Reaction to new Impression.

Tháng thứ 2…………. Tính linh động. Phản ứng với Ấn tượng mới.

3rd month………….. The Ashram. The centre of radiating Love.

Tháng thứ 3………….. Ashram. Trung tâm của Tình thương tỏa chiếu.

4th month………….. Money. The medium of loving Distribution.

Tháng thứ 4………….. Tiền bạc. Trung gian của Sự phân phối yêu thương.

5th month………….. Recognition. The mode of divine Relationship.

Tháng thứ 5………….. Sự nhận biết. Phương thức của Mối liên hệ thiêng liêng.

6th month………….. Identification. The key to Understanding.

Tháng thứ 6………….. Sự đồng nhất. Chìa khóa của Sự thấu hiểu.

These words are probably not what you might anticipate, but they will open up to you a group and mental approach to realisation, and that is the way for you to proceed. Your keen analytical mind will know what to do with these matters. I would suggest, for the process to be employed, that you approach each phrase each month with three questions. Let me illustrate for you what I mean by taking two words out of the six:

Những từ này có lẽ không phải là điều em có thể dự liệu, nhưng chúng sẽ mở ra cho em một cách tiếp cận nhóm và trí tuệ đối với sự chứng nghiệm, và đó là con đường để em tiến hành. Thể trí phân tích sắc bén của em sẽ biết phải làm gì với những vấn đề này. Đối với tiến trình cần dùng, Tôi đề nghị em mỗi tháng tiếp cận từng cụm từ bằng ba câu hỏi. Hãy để Tôi minh họa cho em điều Tôi muốn nói bằng cách lấy hai từ trong sáu từ:

Humanity What does humanity mean to me in reality?

Nhân loại Trong thực tại, nhân loại có nghĩa gì đối với tôi?

What new development faces the human family?

Sự phát triển mới nào đang đối diện gia đình nhân loại?

Can I contribute by my thinking to this new unfoldment?

Tôi có thể đóng góp bằng tư duy của mình vào sự khai mở mới này chăng?

Recognition What does recognition mean to me?

Sự nhận biết Sự nhận biết có nghĩa gì đối với tôi?

What new recognitions confront all disciples?

Những sự nhận biết mới nào đang đối diện tất cả các đệ tử?

How can I develop the power to recognise the new, the divine, and the reality which is already here?

Làm thế nào tôi có thể phát triển quyền năng nhận biết điều mới, điều thiêng liêng, và thực tại vốn đã ở đây?

From these suggestions you can adapt three questions to each of the remaining words.

Từ những gợi ý này, em có thể điều chỉnh ba câu hỏi cho từng từ còn lại.

It will be apparent to you, my beloved brother, that what I am really doing is training you for a special piece of service—the service of thoughtform building in the New Age. This you can do if you will free yourself from prejudices and [692] from criticism of certain individuals. This service you can do in the quiet of your home and without undue effort, and you will learn to do this because you love and will love increasingly.

Huynh đệ yêu dấu của Tôi, đối với em sẽ hiển nhiên rằng điều Tôi thật sự đang làm là huấn luyện em cho một phần phụng sự đặc biệt — sự phụng sự xây dựng hình tư tưởng trong Kỷ Nguyên Mới. Em có thể làm điều này nếu em chịu giải thoát chính mình khỏi các thành kiến và [692] khỏi sự phê phán một số cá nhân nhất định. Sự phụng sự này em có thể thực hiện trong sự yên tĩnh của nhà mình và không cần nỗ lực quá mức; và em sẽ học làm điều này vì em yêu thương và sẽ yêu thương ngày càng nhiều hơn.

I enfold you within my aura and with security, and from that point of safety I ask you to go forth upon the work of the Ashram.

Tôi bao bọc em trong hào quang của Tôi và trong sự an toàn; và từ điểm an toàn đó, Tôi yêu cầu em tiến ra trong công việc của Ashram.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

MY BROTHER AND MY FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ BẠN CỦA TÔI:

I would like to start this instruction with a word of commendation. The entering stream of love is much more potent now than it was. Years ago and even months ago this was not so. Today, the second ray strains (if I may call them so) in your equipment are far more dominant than heretofore. Had you realised how over-potent was your first ray astral body? It conditioned you unduly and it hindered you from seeing all around the picture of your relation to humanity. It forced you almost fanatically to adhere to certain ideas and concepts which were emotionally aroused and which were related principally to the people and the relatives with whom you associated. You frequently failed to see life from the angle of the ordinary man and from the effect which karma produced in the life of the average citizen. You thought in terms of one group. This you are learning to negate and the loneliness of your present life has greatly aided your withdrawal from this astral concentration upon a group thoughtform.

Tôi muốn bắt đầu huấn thị này bằng một lời khen ngợi. Dòng tình thương đang đi vào hiện nay mạnh mẽ hơn nhiều so với trước kia. Nhiều năm trước và ngay cả nhiều tháng trước, điều này chưa phải như vậy. Hôm nay, các dòng cung hai — nếu Tôi có thể gọi chúng như vậy — trong trang bị của em chiếm ưu thế hơn trước kia rất nhiều. Em đã nhận ra thể cảm dục cung một của em đã quá mạnh mẽ đến mức nào chưa? Nó đã tác động quá mức lên em và cản trở em thấy được toàn cảnh mối liên hệ của em với nhân loại. Nó gần như buộc em một cách cuồng tín phải bám chặt vào một số ý tưởng và quan niệm vốn được khơi dậy về mặt cảm xúc và chủ yếu liên quan đến những người và thân quyến mà em giao tiếp. Em thường không thấy được đời sống từ góc độ của con người bình thường và từ hiệu quả mà nghiệp quả tạo ra trong đời sống của người công dân trung bình. Em đã suy nghĩ theo phạm vi của một nhóm. Điều này em đang học cách phủ định, và sự cô đơn trong đời sống hiện tại của em đã hỗ trợ rất nhiều cho việc em rút lui khỏi sự tập trung cảm dục này vào một hình tư tưởng nhóm.

I have earlier told you that you are being trained to work with thoughtform creating processes. Hence, another reason for the long hours by yourself which characterise your life at this time and which will be expressive of your days for the remainder of your life. To this desire of your soul you must happily reconcile yourself. Because of this planned training—planned with the consent of your soul and of me, your Master—you are already peculiarly susceptible to group thoughtforms; you must learn increasingly to work under the influence of the Law of Abstraction. [693]

Trước đây Tôi đã nói với em rằng em đang được huấn luyện để làm việc với các tiến trình tạo lập hình tư tưởng. Do đó, có một lý do khác cho những giờ dài em ở một mình, vốn đặc trưng cho đời sống em vào lúc này và sẽ còn biểu hiện trong những ngày còn lại của đời em. Em phải vui vẻ chấp nhận ước muốn này của linh hồn em. Vì sự huấn luyện có kế hoạch này — được hoạch định với sự đồng thuận của linh hồn em và của Tôi, Chân sư của em — em đã đặc biệt nhạy cảm với các hình tư tưởng nhóm; em phải ngày càng học cách làm việc dưới ảnh hưởng của Định luật Trừu xuất. [693]

This is a law which is ever present in the world in relation to the processes of death. The aspect of its importance in connection with physical death is deemed of slight importance in comparison to its emphasis in connection with the world of thought. The training given to a disciple when he enters the periphery of an Ashram lays an emphatic emphasis upon the need of abstracting one’s consciousness from phase after phase of thought. The lesson of detachment in relation to one’s possible emotional attachments is hard to learn, but a disciple must have mastered much of it, prior to entering the Ashram. When he does this, the inference is that detachment is now one of his established processes. However, the process of abstracting one’s mind from all imposed thoughtforms—imposed by one’s background, one’s tradition and one’s social group—is a very difficult and subtle undertaking. It must definitely be learned, prior to mastering the science of thoughtform building. The disciple has to stand free from mental impression and mental concepts before he can successfully create under direction of the Ashram.

Đây là một định luật luôn hiện diện trong thế giới trong liên hệ với các tiến trình của sự chết. Phương diện quan trọng của nó liên quan đến cái chết hồng trần được xem là ít quan trọng khi so với trọng tâm của nó liên quan đến thế giới tư tưởng. Sự huấn luyện được trao cho một đệ tử khi y bước vào chu vi của một Ashram nhấn mạnh mạnh mẽ nhu cầu rút tâm thức của mình ra khỏi hết giai đoạn tư tưởng này đến giai đoạn tư tưởng khác. Bài học về sự tách rời trong liên hệ với những gắn bó cảm xúc có thể có của mình là khó học, nhưng một đệ tử phải đã làm chủ phần lớn điều đó trước khi bước vào Ashram. Khi y làm được điều này, hàm ý là sự tách rời giờ đây là một trong các tiến trình đã được thiết lập nơi y. Tuy nhiên, tiến trình rút thể trí của mình ra khỏi mọi hình tư tưởng bị áp đặt — do bối cảnh, truyền thống và nhóm xã hội của mình áp đặt — là một công việc rất khó khăn và tinh tế. Điều đó nhất định phải được học trước khi làm chủ khoa học xây dựng hình tư tưởng. Đệ tử phải đứng tự do khỏi ấn tượng trí tuệ và các quan niệm trí tuệ trước khi y có thể sáng tạo thành công dưới sự chỉ đạo của Ashram.

When the Law of Abstraction is wielded consciously by you from within the Ashram, you will discover that it has (as it might have been expected) various meanings and policies which will function on the different planes of consciousness, such as:

Khi em vận dụng Định luật Trừu xuất một cách có ý thức từ bên trong Ashram, em sẽ khám phá rằng nó có — như có thể đã được mong đợi — nhiều ý nghĩa và đường lối khác nhau, sẽ hoạt động trên các cõi tâm thức khác nhau, chẳng hạn như:

1. Death or the effect of the Law of Abstraction upon the physical plane. This can refer to the abstraction of the life principle from the physical body in response to soul command; it can refer to the death of an old physical plane relationship; it can also refer to a cycle of physical plane conditioning or circumstance, to the termination of a relation to a physical plane group, or to the abstraction of an interest regarded hitherto as basic.

1. Sự chết, hay hiệu quả của Định luật Trừu xuất trên cõi hồng trần. Điều này có thể chỉ việc rút nguyên khí sự sống khỏi thể xác để đáp ứng mệnh lệnh của linh hồn; nó có thể chỉ cái chết của một mối liên hệ cũ trên cõi hồng trần; nó cũng có thể chỉ một chu kỳ tác động hay hoàn cảnh trên cõi hồng trần, sự chấm dứt một mối liên hệ với một nhóm trên cõi hồng trần, hoặc việc rút đi một mối quan tâm cho đến nay vẫn được xem là căn bản.

2. The termination of an outgoing affection towards a person or a group of persons upon the astral plane. This can precipitate a definite emotional crisis which brings about the withdrawal of devotion to people or causes. This statement covers the intensity of the emotion, [694] expressed in many and varied directions. Emotional abstraction is the hardest lesson which a disciple has to master.

2. Sự chấm dứt một tình cảm hướng ra ngoài đối với một người hay một nhóm người trên cõi cảm dục. Điều này có thể làm ngưng tụ một khủng hoảng cảm xúc xác định, đưa đến sự rút lui lòng sùng tín đối với người hay chính nghĩa. Phát biểu này bao hàm cường độ của cảm xúc, [694] được biểu lộ theo nhiều hướng khác nhau. Sự trừu xuất cảm xúc là bài học khó nhất mà một đệ tử phải làm chủ.

3. The severing of connection with specific lines of thought. This may refer to the preconceived need which may dawn increasingly upon the disciple as he draws closer to the Ashram to which he is assigned; it may and will lead him to sever connection with schools of thought and with social, political, religious and circumstantial thoughtforms (using the word “circumstantial” to mean the mental conditioning brought about by circumstance), prior to being immersed in any ashramic thoughtform.

3. Sự cắt đứt liên hệ với các dòng tư tưởng đặc thù. Điều này có thể liên quan đến nhu cầu được quan niệm từ trước có thể ngày càng ló rạng nơi đệ tử khi y tiến gần hơn đến Ashram mà y được chỉ định; nó có thể và sẽ dẫn y đến việc cắt đứt liên hệ với các trường phái tư tưởng và với các hình tư tưởng xã hội, chính trị, tôn giáo và hoàn cảnh — dùng từ “hoàn cảnh” để chỉ sự tác động trí tuệ do hoàn cảnh đem lại — trước khi y được dìm vào bất kỳ hình tư tưởng ashram nào.

These specific abstractions are being rapidly learned by you; you should therefore enter your next life infinitely more liberated than you now are, and should function freer for service. Your present life condition is very favourable to your progress along these lines, and this I think you know, even if it displeases you to recognise the truth.

Những sự trừu xuất đặc thù này đang được em học nhanh chóng; vì vậy, em nên bước vào kiếp sống kế tiếp với sự giải thoát vô cùng lớn hơn so với hiện nay, và nên hoạt động tự do hơn để phụng sự. Tình trạng đời sống hiện tại của em rất thuận lợi cho sự tiến bộ của em theo các đường hướng này, và Tôi nghĩ em biết điều này, dù em không hài lòng khi nhận ra chân lý ấy.

The entire process is one of abstraction, involving pain. There is a close relation between pain and the law with which I am dealing. It is the Law of Abstraction which lifts a disciple out of the three worlds of human endeavour; it is this same law which brings about the upward drive which all units of life express and the search of all of them for identification with the ONE; it is with this law that you—along with all disciples—must learn to work.

Toàn bộ tiến trình là một tiến trình trừu xuất, bao hàm đau khổ. Có một mối liên hệ mật thiết giữa đau khổ và định luật mà Tôi đang đề cập. Chính Định luật Trừu xuất nâng đệ tử ra khỏi ba cõi giới của nỗ lực nhân loại; chính định luật này đem lại sức đẩy đi lên mà mọi đơn vị sự sống biểu lộ, và sự tìm kiếm của tất cả họ để đồng nhất với ĐẤNG DUY NHẤT; chính với định luật này mà em — cùng với tất cả các đệ tử — phải học cách làm việc.

I would give you the following words for meditative reflection:

Tôi muốn trao cho em những từ sau đây để suy tư tham thiền:

1. Abstraction 5. Renunciation

1. Trừu xuất 5. Sự từ bỏ

2. Detachment 6. Withdrawal

2. Tách rời 6. Rút lui

3. Liberation 7. Negation

3. Giải thoát 7. Phủ định

4. Relinquishment 8. Rejection

4. Buông bỏ 8. Bác bỏ

9. The OM

9. Linh từ OM

All these words embody certain major preparatory lessons. You will note how increasingly, as this particular group [695] develops, I have ceased to give stanzas and symbolic phrases and have endeavoured to centre your attention upon words. I would have you deal with these words from the purely physical angle, from the quality angle, and from the purpose angle, as well as that of divine identification. Please use the process outlined for disciples in The Yoga Sutras of Patanjali. [xx]* In these words you have adequate work for the remainder of your life. Approach them with consideration from the angle of personality detachment, from the angle of soul detachment, particularly when the antahkarana can be consciously used. In this way, great divine potencies can be used, and as one abstraction after another is mastered an increasing liberation will be sensed by you. Keep full notes and in a year’s time (if you care to do so) bring these monthly notes all together and write a paper upon the Law of Abstraction as it makes its presence felt in the mind of a typical disciple. This will be of service to you and also to your group brothers.

Tất cả những từ này hàm chứa một số bài học chuẩn bị chủ yếu. Em sẽ lưu ý rằng ngày càng nhiều hơn, khi nhóm đặc thù này [695] phát triển, Tôi đã ngừng trao các bài kệ và các cụm từ biểu tượng, và đã cố gắng tập trung sự chú ý của các em vào các từ. Tôi muốn em xử lý những từ này từ góc độ thuần túy hồng trần, từ góc độ phẩm tính, và từ góc độ mục đích, cũng như từ góc độ của sự đồng nhất với thiêng liêng. Xin hãy dùng tiến trình đã được vạch ra cho các đệ tử trong Yoga Sutras của Patanjali. [xx]* Trong những từ này, em có công việc đầy đủ cho phần đời còn lại của mình. Hãy tiếp cận chúng với sự cân nhắc từ góc độ tách rời của phàm ngã, từ góc độ tách rời của linh hồn, đặc biệt khi antahkarana có thể được sử dụng một cách có ý thức. Theo cách này, các quyền năng thiêng liêng lớn lao có thể được sử dụng, và khi lần lượt làm chủ sự trừu xuất này đến sự trừu xuất khác, em sẽ cảm nhận một sự giải thoát ngày càng tăng. Hãy ghi chép đầy đủ, và trong thời gian một năm — nếu em muốn làm như vậy — hãy tập hợp tất cả các ghi chú hằng tháng này lại và viết một bài về Định luật Trừu xuất khi nó làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận trong thể trí của một đệ tử điển hình. Điều này sẽ phụng sự em và cũng phụng sự các huynh đệ trong nhóm của em.

Strive to cultivate a happy spirit. Let not life, loneliness or any circumstances unduly depress you. Dwell not too much upon world horror, but aim—in meditation—at conveying strength and wisdom to the world leaders as they seek (as they do) to bring order out of chaos. I would like to see you resume your work in the teaching group. You have the time, my brother, and a definite service which you needs must render would be good for you. Your help is needed.

Hãy cố gắng vun trồng một tinh thần vui tươi. Đừng để đời sống, sự cô đơn hay bất kỳ hoàn cảnh nào làm em suy sụp quá mức. Đừng trú tâm quá nhiều vào nỗi kinh hoàng của thế giới, mà hãy nhắm — trong tham thiền — đến việc truyền đạt sức mạnh và minh triết cho các nhà lãnh đạo thế giới khi họ tìm cách — như họ đang làm — đem trật tự ra khỏi hỗn loạn. Tôi muốn thấy em tiếp tục công việc của mình trong nhóm giảng dạy. Em có thời gian, huynh đệ của Tôi, và một sự phụng sự xác định mà em nhất thiết phải thực hiện sẽ tốt cho em. Sự trợ giúp của em là cần thiết.

You can, if you so desire, move forward into a clearer and closer relation to me and to my Ashram. You must, however, bear in mind that every step forward into the light and into a closer relation to the Hierarchy is made under the influence of the Law of Abstraction. Be strong, therefore, and know that the powerful qualities of your second ray soul relate you to D.H.B. and J.S.P. Take them into your daily meditation upon the plane of the soul, and remember that you three form an inner triangle which has certain spiritual activities for an esoteric objective for which this present incarnation is only preparatory.

Nếu em muốn, em có thể tiến tới một mối liên hệ sáng tỏ hơn và gần gũi hơn với Tôi và với Ashram của Tôi. Tuy nhiên, em phải ghi nhớ rằng mỗi bước tiến vào ánh sáng và vào mối liên hệ gần gũi hơn với Thánh Đoàn đều được thực hiện dưới ảnh hưởng của Định luật Trừu Xuất. Vì vậy, hãy mạnh mẽ, và biết rằng những phẩm tính đầy quyền năng của linh hồn cung hai nơi em liên kết em với D.H.B. và J.S.P. Hãy đưa họ vào tham thiền hằng ngày của em trên cõi linh hồn, và hãy nhớ rằng ba em tạo thành một tam giác nội tại, có những hoạt động tinh thần nhất định hướng tới một mục tiêu nội môn mà kiếp lâm phàm hiện tại này chỉ là sự chuẩn bị.

My thought is yours, my brother, and I am not abstracting [696] or withdrawing my love or my attentive care of your interests.

Huynh đệ của Tôi, tư tưởng của Tôi là của em, và Tôi không trừu xuất [696] hay rút lại tình thương của Tôi, hoặc sự chăm sóc lưu tâm của Tôi đối với những điều liên quan đến em.

August 1946

Tháng Tám, 1946

MY BROTHER AND LOVED FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ NGƯỜI BẠN ĐƯỢC YÊU THƯƠNG CỦA TÔI:

In publishing the book Discipleship in the New Age, your friend and teacher, A.A.B. made the remark at the end of your instructions that you “still persist in your endeavour to work in the Tibetan’s Ashram and remain steadfast and sure.” A.A.B. knew what she was saying, but I wonder if you yourself realise the esoteric values of steadfastness and surety? The rarest compliment was knowingly made to you by A.A.B., but you probably did not understand its significance. A stable vibration is the keynote of the universe; surety is the sign of the Knower. These are two qualities of which you are in possession to the point of expression; I would have you realise it and count upon their registration in the Ashram you so much love.

Khi xuất bản quyển sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, bạn và huấn sư của em, Bà A.A.B., đã nhận xét ở cuối phần huấn thị dành cho em rằng em “vẫn kiên trì trong nỗ lực làm việc trong Ashram của Chân sư Tây Tạng và vẫn vững vàng, chắc chắn.” Bà A.A.B. biết điều bà đang nói, nhưng Tôi tự hỏi liệu chính em có nhận ra các giá trị nội môn của sự vững vàng và chắc chắn chăng? Bà A.A.B. đã hữu thức dành cho em lời khen hiếm có nhất, nhưng có lẽ em đã không thấu hiểu thâm nghĩa của nó. Một rung động ổn định là chủ âm của vũ trụ; sự chắc chắn là dấu hiệu của thức giả. Đây là hai phẩm tính mà em sở hữu đến mức có thể biểu lộ; Tôi muốn em nhận ra điều đó và tin tưởng vào sự ghi nhận của chúng trong Ashram mà em yêu quý đến thế.

In your hours of loneliness, and when you realise that life for you is mainly a waiting process, you are apt to forget these two facts which I have brought to your attention. Fight not against disability or against what the world calls “old age.” This is a thing you are very apt to do, and it is a normal reaction. Why not welcome Transition? Learn to glory in experience, which is the gift of wise old age, and look forward to the Great Adventure which confronts you. You know well—in your highest moments—that that Transition means realisation without any physical plane limitations.

Trong những giờ phút cô đơn của em, và khi em nhận ra rằng đời sống đối với em chủ yếu là một tiến trình chờ đợi, em dễ quên hai sự kiện mà Tôi đã nêu ra cho em chú ý. Đừng chống lại sự bất lực hay điều mà thế gian gọi là “tuổi già.” Đây là điều em rất dễ làm, và đó là một phản ứng bình thường. Tại sao không hoan nghênh Chuyển tiếp? Hãy học cách hân hoan trong kinh nghiệm, vốn là món quà của tuổi già minh triết, và hãy hướng tới Cuộc Phiêu Lưu Vĩ Đại đang đối diện em. Trong những khoảnh khắc cao nhất của mình, em biết rõ rằng Chuyển tiếp ấy hàm ý sự chứng nghiệm không còn bất kỳ giới hạn nào của cõi hồng trần.

My brother, the ray of your astral body is the first; the failure, weakness or sin of the astral body is delusion. In your case, it is the delusion of pride—social pride—and of this you must rid yourself. It is not a mental quality, for if it were, sound thinking would soon show the futility of social pride. In the eyes of the Masters of the Wisdom, there are only human beings at various stages of unfoldment, of developing selfishness or of unfolding service. There are no classes such as the world recognises, neither is there any age, except the age of the soul; that need cause you no concern; your soul [697] is old in its expression on the physical plane, and you know this to be so.

Huynh đệ của Tôi, cung của thể cảm dục em là cung một; sự thất bại, yếu đuối hay tội lỗi của thể cảm dục là sự mê lầm. Trong trường hợp của em, đó là sự mê lầm của lòng kiêu hãnh—kiêu hãnh xã hội—và em phải giải thoát mình khỏi điều này. Nó không phải là một phẩm tính trí tuệ, vì nếu là vậy, tư duy đúng đắn sẽ sớm cho thấy sự phù phiếm của kiêu hãnh xã hội. Trong mắt các Chân sư Minh triết, chỉ có những con người ở các giai đoạn khai mở khác nhau, đang phát triển tính ích kỷ hoặc đang khai mở sự phụng sự. Không có các giai cấp như thế gian công nhận, cũng không có tuổi tác nào, ngoại trừ tuổi của linh hồn; điều đó không cần làm em bận tâm; linh hồn em [697] đã già trong sự biểu lộ của nó trên cõi hồng trần, và em biết điều này là như thế.

Pay not undue attention to the physical vehicle. Its preservation is of no moment and can—as in your case—become of too prominent importance. The time of your liberation is set by karmic law; this ever determines the demise of the real man within the body, but if the physical body is unduly nurtured, and if it becomes the recipient of undue care, it can hold that real man in prison in defiance of karmic law. That is a sorry spectacle to watch, for it means that the physical elemental is assuming power. Be careful in this connection, for the ray of your physical body would easily produce this situation.

Đừng dành sự chú ý quá mức cho hiện thể hồng trần. Việc bảo tồn nó chẳng quan trọng gì và có thể—như trong trường hợp của em—trở nên quá nổi bật. Thời điểm giải thoát của em do định luật nghiệp quả ấn định; định luật này luôn quyết định sự lìa đời của con người thật bên trong thể xác, nhưng nếu thể xác được nuôi dưỡng quá mức, và nếu nó trở thành đối tượng nhận quá nhiều chăm sóc, nó có thể giam giữ con người thật ấy trong ngục tù, bất chấp định luật nghiệp quả. Đó là một cảnh tượng đáng buồn để chứng kiến, vì nó có nghĩa là tinh linh thể xác đang nắm lấy quyền lực. Hãy cẩn thận trong mối liên hệ này, vì cung của thể xác em rất dễ tạo ra tình huống ấy.

Not so long ago—two years ago, I believe—I gave you nine words for your mature consideration. Today, I will give you twelve seed thoughts which (for the remainder of your life) should govern your morning reflection, following a definite process of linking with me and with my Ashram. Here are the seed thoughts:

Cách đây không lâu—Tôi tin là hai năm trước—Tôi đã trao cho em chín từ để em suy xét chín chắn. Hôm nay, Tôi sẽ trao cho em mười hai Tư tưởng hạt giống mà trong phần đời còn lại của em, nên chi phối sự suy ngẫm buổi sáng của em, sau một tiến trình xác định nhằm liên kết với Tôi và với Ashram của Tôi. Đây là các Tư tưởng hạt giống:

1. Looking forward. 7. Life purpose, persistent ever.

1. Hướng về phía trước. 7. Mục đích đời sống, luôn bền bỉ.

2. Hope. 8. Friendship.

2. Hy vọng. 8. Tình bạn.

3. Immortality. 9. The triangle: yourself, D.H.B., J.S.P.

3. Bất tử. 9. Tam giác: chính em, D.H.B., J.S.P.

4. Radiation. 10. Eternal persistence.

4. Phóng xạ. 10. Sự bền bỉ vĩnh cửu.

5. Freedom from partisanship. 11. Quality.

5. Tự do khỏi tinh thần phe phái. 11. Phẩm tính.

6. Anticipation. 12. Future Mastership.

6. Sự trông đợi. 12. Chân sư tính tương lai.

These ideas are suggestive and would prove fruitful and lead to much expansive thinking.

Những ý tưởng này có tính gợi mở và sẽ chứng tỏ là hữu ích, dẫn đến nhiều suy tư mở rộng.

You are in my Ashram and for ever have naught to fear.

Em ở trong Ashram của Tôi và mãi mãi không có gì phải sợ.

To L. U. T. – Gửi L. U. T.

August 1942

Tháng Tám, 1942

1. The path of the pledged disciple is one of constant rending. The disciple does the rending. You have not yet [698] achieved the beauty of acceptance—the acceptance that releases.

1. Con đường của đệ tử đã thệ nguyện là con đường của sự xé rách không ngừng. Chính đệ tử thực hiện sự xé rách ấy. Em vẫn chưa [698] đạt được vẻ đẹp của sự chấp nhận—sự chấp nhận đem lại giải thoát.

2. Project your values to a higher sphere and know that nothing matters connected with the earthly role of life, save learning understanding. To that attain.

2. Hãy phóng chiếu các giá trị của em lên một lĩnh vực cao hơn và biết rằng không có điều gì liên quan đến vai trò trần thế của đời sống là quan trọng, ngoại trừ việc học thấu hiểu. Hãy đạt tới điều đó.

3. There are three souls who can in differing ways lead to achievement of your liberation: one, close to you, because she needs a guiding, loving understanding heart; one you will meet and needs must save; the other is Myself. For three lives now I have sought to serve your need. Respond in love to all these three.

3. Có ba linh hồn có thể, theo những cách khác nhau, dẫn đến việc thành tựu sự giải thoát của em: một người, gần gũi với em, vì bà cần một trái tim thấu hiểu, yêu thương và hướng dẫn; một người em sẽ gặp và cần phải cứu; người còn lại là chính Tôi. Từ ba kiếp nay, Tôi đã tìm cách phụng sự nhu cầu của em. Hãy đáp ứng bằng tình thương đối với cả ba.

4. Break through the double cloud which has so long erased the vision from your heart. You have the vision but it is ever on ahead. When will it pierce the cloud and settle in your heart?

4. Hãy xuyên phá đám mây kép đã che khuất tầm nhìn khỏi trái tim em quá lâu. Em có tầm nhìn nhưng nó luôn ở phía trước. Khi nào nó sẽ xuyên qua đám mây và an trụ trong trái tim em?

5. Health, strength and opportunity confront your steps. A new departure can today open the door to greater, fuller life. Move on.

5. Sức khỏe, sức mạnh và cơ hội đang đối diện những bước chân của em. Một khởi đầu mới hôm nay có thể mở cánh cửa vào đời sống lớn lao hơn, đầy đủ hơn. Hãy tiến lên.

6. Let the ray of your soul dominate the man of everyday and become a radiant centre of saving force.

6. Hãy để cung của linh hồn em chế ngự con người thường nhật và trở thành một trung tâm rạng chiếu của Mãnh Lực Cứu Rỗi.

November 1944

Tháng Mười Một, 1944

MY WARRIOR (OR SHOULD I SAY “WARRING”?) BROTHER:

HUYNH ĐỆ CHIẾN SĨ CỦA TÔI (HAY TÔI NÊN NÓI LÀ “ĐANG GÂY CHIẾN”?):

I call you this, for never do you cease fighting and struggling, sometimes under the urge of your soul and oft under the influence of a restless and unhappy personality emphasis. Can you not begin to cease from strife and struggle, and thus give opportunity for the evolution of that loving spirit which your first ray isolated personality seeks to hide, and often quite successfully? There is an aspect of the relationship between the first and second rays which is very apt to be overlooked. The second ray is outgoing, inclusive, friendly and prone to attachment; the first ray is isolated, exclusive, antagonistic and prone to detachment. It is the conflict between these two energies—brought together in one incarnation—which has brought about the distorted and unhappy life conditions which have characterised you, which you [699] recognise, and which cause you so much real distress. It is time that this clashing of the two forces should end, and the conflict can only be determined by the subjugation of your first ray personality by your second ray soul. That is a clear statement of fact and indicates your immediate and essential endeavour. Your focus of identification has been the personality, but so strong is your soul quality that it leaves your personality constantly disturbed. Your aim, therefore, should be to cultivate all the characteristics which are the most distasteful to your lower nature—contact with other people, particularly with your group brothers, friendliness to and interest in all you meet, inclusiveness and the development of an outgoing spirit of goodwill to strangers and to friends. I have instructed D.I.J. to learn to work with the Law of Abstraction; I tell you to practise a reverse attitude to all life circumstances and contacts and to lose yourself in the interests of your associates and of humanity. Can you do this, my brother? At least you can try.

Tôi gọi em như thế, vì em không bao giờ ngừng chiến đấu và vật lộn, đôi khi dưới sự thúc đẩy của linh hồn em, và thường là dưới ảnh hưởng của một sự nhấn mạnh phàm ngã bất an và không hạnh phúc. Em không thể bắt đầu ngừng tranh chấp và vật lộn, nhờ đó tạo cơ hội cho sự tiến hoá của tinh thần yêu thương mà phàm ngã cô lập cung một của em tìm cách che giấu, và thường che giấu khá thành công sao? Có một phương diện trong mối quan hệ giữa cung một và cung hai rất dễ bị bỏ qua. Cung hai hướng ra ngoài, bao gồm, thân thiện và dễ quyến luyến; cung một thì cô lập, loại trừ, đối kháng và dễ tách rời. Chính xung đột giữa hai năng lượng này—được đưa lại với nhau trong một kiếp lâm phàm—đã tạo nên những điều kiện đời sống méo mó và bất hạnh vốn đã đặc trưng cho em, những điều em [699] nhận ra, và gây cho em quá nhiều đau khổ thật sự. Đã đến lúc sự va chạm của hai mãnh lực này phải chấm dứt, và xung đột chỉ có thể được giải quyết bằng sự khuất phục phàm ngã cung một của em trước linh hồn cung hai của em. Đó là một phát biểu sự kiện rõ ràng và chỉ ra nỗ lực tức thời, thiết yếu của em. Trọng tâm đồng nhất của em đã là phàm ngã, nhưng phẩm tính linh hồn của em mạnh đến nỗi nó khiến phàm ngã em thường xuyên bị xáo động. Vì vậy, mục tiêu của em nên là vun trồng tất cả những đặc tính khó chịu nhất đối với bản chất thấp của em—tiếp xúc với người khác, đặc biệt với các huynh đệ trong nhóm của em, sự thân thiện và quan tâm đến mọi người em gặp, tính bao gồm và sự phát triển một tinh thần thiện chí hướng ra ngoài đối với người xa lạ cũng như bạn bè. Tôi đã huấn thị D.I.J. học cách làm việc với Định luật Trừu Xuất; Tôi bảo em thực hành một thái độ ngược lại đối với mọi hoàn cảnh và tiếp xúc trong đời sống, và hãy quên mình trong những mối quan tâm của các cộng sự và của nhân loại. Huynh đệ của Tôi, em có thể làm điều này chăng? Ít ra em có thể thử.

How can I help you to bring in the power of your loving, intelligent soul so that it can release your personality from its fever and bring about an ordered quiet in your life? There is so little that I can tell you that you do not already know; you have been under my instruction for many years, and you still are. One of the major linking and blending processes is the creative work of music. I would suggest to you that you bring music into your life far more than you have hitherto done, particularly orchestral music. In these days of radio programmes this is easily accomplished, and the effect of blended instruments and broad sound productions upon your personality will be to break down the opposition which it presents to soul contact and impose a different note and key upon your life.

Làm sao Tôi có thể giúp em đưa vào quyền năng của linh hồn yêu thương, thông tuệ của em, để nó có thể giải thoát phàm ngã em khỏi cơn sốt của nó và đem lại một sự yên tĩnh có trật tự trong đời sống em? Có rất ít điều Tôi có thể nói với em mà em chưa biết; em đã ở dưới sự huấn thị của Tôi trong nhiều năm, và em vẫn đang như vậy. Một trong những tiến trình liên kết và hòa trộn chủ yếu là công việc sáng tạo của âm nhạc. Tôi muốn đề nghị với em rằng em hãy đưa âm nhạc vào đời sống mình nhiều hơn rất nhiều so với từ trước đến nay, đặc biệt là nhạc giao hưởng. Trong thời đại các chương trình phát thanh này, điều đó dễ thực hiện, và tác động của các nhạc cụ hòa quyện cùng những sản phẩm âm thanh rộng lớn lên phàm ngã của em sẽ là phá vỡ sự đối kháng mà nó dựng lên trước tiếp xúc linh hồn, và áp đặt một âm điệu cùng chủ âm khác lên đời sống em.

Does this injunction surprise you, brother of old? You are on the verge of release from the struggle of the past and can enter upon a more constructive and happier phase of living if you permit music to play a major part in your life rhythm; choose only the best music, such as that played by the great symphony orchestras. God created by the power of [700] sound, and the “music of the spheres” holds all life in being (note that phrase). The soul on its tiny scale can create “the new man” by the power also of sound, and a musical rhythm can usefully be imposed upon the personality life by the disciple.

Huynh đệ lâu năm, huấn lệnh này có làm em ngạc nhiên chăng? Em đang ở ngưỡng cửa giải thoát khỏi cuộc vật lộn của quá khứ và có thể bước vào một giai đoạn sống xây dựng hơn và hạnh phúc hơn nếu em cho phép âm nhạc đóng một vai trò chủ yếu trong nhịp điệu đời sống của em; hãy chỉ chọn loại âm nhạc tốt nhất, chẳng hạn như âm nhạc do các dàn nhạc giao hưởng vĩ đại trình diễn. Thượng đế đã sáng tạo bằng quyền năng của [700] âm thanh, và “âm nhạc của các khối cầu” giữ toàn bộ sự sống trong hiện tồn (hãy lưu ý cụm từ đó). Linh hồn, trên quy mô bé nhỏ của nó, cũng có thể sáng tạo “con người mới” bằng quyền năng của âm thanh, và đệ tử có thể hữu ích áp đặt một nhịp điệu âm nhạc lên đời sống phàm ngã.

This is what you need—music in your life, literally and figuratively. I have here given you a most important hint. Let the great music of the masters of sound enter (in a new and powerful way) into your consciousness. If you take this advice, in three years, if you insist on subjecting yourself to the musical impact, I suggest great and significant changes will be brought about in your life. Once you get away from self-pity and irritation, there is little that is wrong with your thinking. That, my brother, can be said of few.

Đây là điều em cần—âm nhạc trong đời sống em, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ở đây Tôi đã trao cho em một gợi ý hết sức quan trọng. Hãy để âm nhạc vĩ đại của các bậc thầy âm thanh đi vào tâm thức em theo một cách mới mẻ và đầy quyền năng. Nếu em làm theo lời khuyên này, trong ba năm nữa, nếu em kiên trì đặt mình dưới tác động của âm nhạc, Tôi gợi ý rằng những thay đổi lớn lao và đầy thâm nghĩa sẽ xảy ra trong đời sống em. Một khi em thoát khỏi sự tự thương hại và bực bội, có rất ít điều sai lạc trong tư duy của em. Huynh đệ của Tôi, điều đó có thể nói về rất ít người.

I would like to see you enter within the inner place of the Ashram, yet you persist in remaining on the periphery of its sphere of influence. Let love and light and music enter more definitely into your daily life. Spurn not this practical suggestion, but give your mind the opportunity, through the massed sound of music, to break down the personality-imposed barriers between the free flow of soul life and you.

Tôi muốn thấy em bước vào nơi nội tại của Ashram, thế nhưng em vẫn cứ ở lại ngoại vi phạm vi ảnh hưởng của nó. Hãy để tình thương, ánh sáng và âm nhạc đi vào đời sống hằng ngày của em một cách xác định hơn. Đừng khinh thường gợi ý thực tiễn này, mà hãy cho thể trí em cơ hội, thông qua âm thanh hợp khối của âm nhạc, phá vỡ những rào cản do phàm ngã áp đặt giữa dòng chảy tự do của sự sống linh hồn và em.

There is little else that I can say. This is a short instruction. I stand unchangingly ready to welcome you to a greater ashramic intimacy, but the moving forward into this closer relation must be accomplished by you—alone and unaided, except by my suggestions. There is naught more that I can do but to stand behind you with love and understanding.

Tôi không còn nhiều điều khác để nói. Đây là một huấn thị ngắn. Tôi vẫn bất biến sẵn sàng chào đón em vào một sự thân mật ashram lớn hơn, nhưng việc tiến tới mối liên hệ gần gũi hơn này phải do chính em hoàn thành—một mình và không được trợ giúp, ngoại trừ những gợi ý của Tôi. Tôi không thể làm gì hơn ngoài việc đứng sau em với tình thương và sự thấu hiểu.

August 1946

Tháng Tám, 1946

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

There is little I can say to you. For the remainder of your life you have only one thing to do: to prepare yourself for successful spiritual enterprise when again you return to incarnation. Surely you would like to re-enter physical plane existence with a different and more adequate desire nature—a desire nature which has ever conditioned your physical body and militated against higher conditionings? Desire has ever driven you; at the same time, high aspiration has goaded [701] you, and between the two your life has been one of misery and frustration, and frequently of despair.

Tôi có rất ít điều có thể nói với em. Trong phần đời còn lại, em chỉ có một việc phải làm: chuẩn bị bản thân cho một sự nghiệp tinh thần thành công khi em lại trở về lâm phàm. Chắc chắn em muốn tái nhập đời sống cõi hồng trần với một bản chất dục vọng khác hơn và thích đáng hơn—một bản chất dục vọng vốn luôn tác động lên thể xác em và chống lại những tác động cao hơn? Dục vọng luôn thúc đẩy em; đồng thời, khát vọng cao cả đã thôi thúc [701] em, và giữa hai điều ấy, đời sống em đã là một đời sống khốn khổ và thất vọng, và thường là tuyệt vọng.

In spite of the profoundly unsatisfactory demonstration which you register in your consciousness and of which I am also aware, you are still hovering on the periphery of my Ashram; you are still linked to your group brothers and to me, even if you ignore them and me and go your own way, following your inclinations at any cost. It is always hard when two major rays govern both the personality and the soul. It indicates past achievement of a high order, for the transfer from a minor ray is involved, and this is ever indicative of preparation—at some future date—for initiation. It indicates also great struggle, particularly when the first ray personality is strongly linked to the desire nature.

Bất chấp sự biểu lộ hết sức không thỏa đáng mà em ghi nhận trong tâm thức mình và Tôi cũng biết rõ, em vẫn còn lơ lửng ở chu vi Ashram của Tôi; em vẫn còn liên kết với các huynh đệ trong nhóm của em và với Tôi, dù em phớt lờ họ và phớt lờ Tôi để đi theo con đường riêng của mình, theo những khuynh hướng của em bằng bất cứ giá nào. Luôn luôn khó khăn khi hai cung chính chi phối cả phàm ngã lẫn linh hồn. Điều đó chỉ ra thành tựu quá khứ thuộc bậc cao, vì có liên quan đến sự chuyển dịch từ một cung phụ, và điều này luôn biểu thị sự chuẩn bị—vào một ngày tương lai nào đó—cho điểm đạo. Nó cũng chỉ ra cuộc đấu tranh lớn lao, đặc biệt khi phàm ngã cung một liên kết mạnh mẽ với bản chất dục vọng.

All this you know, for there is nothing wrong with your intelligence, my brother. What is wrong is that—in the face of knowledge—you will not use the will to force the spiritual issue and to emerge once and for all into the clear light of the soul. Nevertheless, it should not be hard for you to use the will, once contact can be more firmly established with the soul, for you are a first ray personality, and therefore the will aspect can be more easily contacted and comprehended by you than by those on the other rays.

Tất cả điều này em đều biết, vì trí thông minh của em không có gì sai, huynh đệ của Tôi. Điều sai là—dù đã biết—em không chịu dùng ý chí để thúc ép vấn đề tinh thần và một lần cho mãi mãi bước ra vào ánh sáng trong trẻo của linh hồn. Tuy nhiên, đối với em, việc dùng ý chí không nên là điều khó, một khi tiếp xúc với linh hồn có thể được thiết lập vững chắc hơn, vì em là một phàm ngã cung một, và do đó phương diện ý chí có thể được em tiếp xúc và thấu hiểu dễ dàng hơn so với những người thuộc các cung khác.

R.S.W. helps you not, much as she has attempted to do so. She does not accept or recognise you for what you are—a man whose lower nature dominates most of the time, but whose basic intent is identification with the higher nature; she sees you differently and her surety along this line is no help to you.

R.S.W. không giúp được em, dù bà đã cố gắng nhiều để làm như vậy. Bà không chấp nhận hay nhận ra em như chính em là—một người mà bản chất thấp phần lớn thời gian chi phối, nhưng ý định căn bản của y là đồng nhất với bản chất cao; bà nhìn em khác đi, và sự chắc chắn của bà theo đường hướng này không giúp ích gì cho em.

I, your friend and teacher, know you as you are, and I understand; that understanding forces me to stand by you (with steadfastness) behind the scenes ready, at any moment, to make my presence felt when the higher triumphs and the lower is negated. You might ask me why this is so? I would answer that in the distant past—a past which lies behind all of us—you made, at a terrific cost, a sacrifice which permitted entry of the soul as a thread of radiant light. By that sacrifice much good came to me, and we, the Masters of the Wisdom, lay much emphasis upon gratitude. It—with service—is [702] deeply scientific in nature and closely related to the Law of Karma. Gratitude is something about which you need to learn, or the steady friendship of F.B. and A.A.B., as well as that of your group brothers, would evoke from you some recognition. Their friendship is soundly founded on the mental plane, and there is little that they can do to help in current conditions.

Tôi, bạn và huấn sư của em, biết em như em là, và Tôi thấu hiểu; sự thấu hiểu ấy buộc Tôi phải đứng bên em, một cách vững vàng, ở hậu trường, sẵn sàng bất cứ lúc nào làm cho hiện diện của Tôi được cảm nhận khi cái cao thắng thế và cái thấp bị phủ định. Em có thể hỏi Tôi tại sao lại như vậy? Tôi sẽ trả lời rằng trong quá khứ xa xôi—một quá khứ nằm sau tất cả chúng ta—em đã thực hiện, với cái giá khủng khiếp, một sự hy sinh cho phép linh hồn đi vào như một sợi dây ánh sáng rạng ngời. Nhờ sự hy sinh ấy, nhiều điều tốt đẹp đã đến với Tôi, và chúng tôi, các Chân sư Minh triết, đặt rất nhiều nhấn mạnh vào lòng biết ơn. Cùng với sự phụng sự, nó [702] mang bản chất sâu xa khoa học và liên hệ mật thiết với Định luật Nghiệp quả. Lòng biết ơn là điều em cần học, nếu không thì tình bạn vững bền của F.B. và A.A.B., cũng như của các huynh đệ trong nhóm em, đã gợi lên nơi em một sự công nhận nào đó. Tình bạn của họ được đặt nền tảng vững chắc trên cõi trí, và trong các điều kiện hiện tại, họ có thể làm rất ít để giúp đỡ.

What, then, my brother, shall we do? What shall I say to you in this my last instruction? First, let me say that I am hoping to see, in the next few years of your life, a complete reversal of the past. I look to see you apply, with will and spiritual insight, those physical disciplines which will feed your aspiration and negate and render futile all desire. I look to see you strengthen the tie between yourself and me, your Master.

Vậy thì, huynh đệ của Tôi, chúng ta sẽ làm gì? Tôi sẽ nói gì với em trong huấn thị cuối cùng này của Tôi? Trước hết, hãy để Tôi nói rằng Tôi hy vọng sẽ thấy, trong vài năm tới của đời em, một sự đảo ngược hoàn toàn quá khứ. Tôi mong thấy em áp dụng, với ý chí và tuệ giác tinh thần, những kỷ luật hồng trần sẽ nuôi dưỡng khát vọng của em, đồng thời phủ định và làm cho mọi dục vọng trở nên vô hiệu. Tôi mong thấy em củng cố mối dây giữa chính em và Tôi, Chân sư của em.

Do you realise what is the task that confronts me where you are concerned? It is the task of aiding you to transmute your personality nature into such an instrument that your soul can remove you out of my Ashram into that of the Master K.H. Such is my task with several of you in this group; you and they do not essentially belong in my Ashram but stay and work there until the spiritual laws control, the vision is firmly established, and the soul is in control. Will you, with constancy, bear this in mind, and for the remaining years of your life wrestle with the lower nature until it is purified, disciplined, enlightened and integrated?

Em có nhận ra nhiệm vụ đang đối diện Tôi liên quan đến em là gì không? Đó là nhiệm vụ trợ giúp em chuyển hoá bản chất phàm ngã của em thành một khí cụ đến mức linh hồn em có thể đưa em ra khỏi Ashram của Tôi để vào Ashram của Chân sư K.H. Đây là nhiệm vụ của Tôi với một số em trong nhóm này; về bản chất, em và họ không thuộc Ashram của Tôi, nhưng ở lại và làm việc tại đó cho đến khi các định luật tinh thần kiểm soát, tầm nhìn được thiết lập vững chắc, và linh hồn nắm quyền kiểm soát. Em có chịu, với sự bền bỉ, ghi nhớ điều này, và trong những năm còn lại của đời em, vật lộn với bản chất thấp cho đến khi nó được thanh luyện, kỷ luật, soi sáng và tích hợp không?

I give you no set meditation. I enjoin upon you the prime necessity of linking up with your soul, with the Ashram and with me three times a day. I would ask you to do this with a definite act of the will. This triple exercise, carried forward in the morning, at noon, and when you retire at night, will be more potent in transmutative effect than anything else that you can do. Forget not that by means of this exercise you train the will, and you likewise bring spiritual energy into your personality in order to help you with the task, the spiritual task, ahead of you.

Tôi không trao cho em một bài tham thiền cố định nào. Tôi đặt lên em nhu cầu tối yếu là liên kết với linh hồn em, với Ashram và với Tôi ba lần mỗi ngày. Tôi yêu cầu em làm điều này bằng một hành động xác định của ý chí. Bài thực hành tam phân này, được tiến hành vào buổi sáng, buổi trưa và khi em đi nghỉ vào ban đêm, sẽ có tác dụng chuyển hoá mạnh mẽ hơn bất cứ điều gì khác mà em có thể làm. Đừng quên rằng bằng phương tiện của bài thực hành này, em rèn luyện ý chí, và đồng thời em cũng đưa năng lượng tinh thần vào phàm ngã của mình để giúp em trong nhiệm vụ, nhiệm vụ tinh thần, đang ở phía trước.

On my cooperation you can ever count, but this is dependent upon your ability to “get through” to me. [703]

Em luôn có thể trông cậy vào sự hợp tác của Tôi, nhưng điều này tùy thuộc vào khả năng của em “thông tới” Tôi. [703]

To D. E. I. – Gửi D. E. I.

August 1942

Tháng Tám, 1942

1. As a chela in my Ashram you move through life with all the power which flows out from that centre. Forget it not.

1. Là một đệ tử trong Ashram của Tôi, em đi qua đời sống với tất cả quyền năng tuôn ra từ trung tâm ấy. Đừng quên điều đó.

2. The future opens up with much that must be done. Let not the doing intervene between the loving.

2. Tương lai mở ra với nhiều điều phải làm. Đừng để việc làm cản trở sự yêu thương.

3. Love all, as love all chelas, and let pity rule your acts.

3. Hãy yêu thương tất cả, như mọi đệ tử đều yêu thương, và hãy để lòng thương xót cai quản các hành động của em.

4. The noise and turmoil of the way of life is great and you respond with undue pain. Others escape in many ways and build a wall. For you, compassion is the way. Face facts and have compassion.

4. Tiếng ồn và sự náo loạn của lối sống là lớn lao, và em đáp ứng bằng nỗi đau quá mức. Những người khác trốn thoát bằng nhiều cách và dựng lên một bức tường. Đối với em, lòng từ bi là con đường. Hãy đối diện sự kiện và có lòng từ bi.

5. Lift up the weak for you are strong, and strength from many comes to you. Attract that strength, then forward move with power to love and lift.

5. Hãy nâng đỡ người yếu, vì em mạnh mẽ, và sức mạnh từ nhiều người đến với em. Hãy thu hút sức mạnh ấy, rồi tiến về phía trước với quyền năng để yêu thương và nâng đỡ.

6. Question not the staunchness of the strength and love which comes to you from three: Myself, your brother A.A.B., and one other, little guessed by you as yet.

6. Đừng nghi ngờ sự kiên vững của sức mạnh và tình thương đến với em từ ba nguồn: chính Tôi, huynh đệ A.A.B. của em, và một người khác mà em hiện vẫn ít ngờ tới.

September 1943

Tháng Chín, 1943

MY BROTHER AND MY FRIEND:

HUYNH ĐỆ VÀ BẠN CỦA TÔI:

Since you entered the cycle beginning with your forty-second year, life has held for you constant change, many and drastic adjustments and much responsibility. To this must be added the turmoil and the chaos of the war. This has made great demands upon your strength and your judgment. You have responded well. You have helped many and have grown in wisdom. You have shouldered responsibility for some phase of the work initiated in my Ashram or by my co-disciple, A.A.B. She is not a member of my Ashram. You have my understanding and her unfailing support.

Từ khi em bước vào chu kỳ bắt đầu với năm thứ bốn mươi hai của mình, đời sống đã đem lại cho em sự thay đổi liên tục, nhiều điều chỉnh mạnh mẽ và nhiều trách nhiệm. Vào đó phải thêm sự náo loạn và hỗn độn của chiến tranh. Điều này đã đặt những đòi hỏi lớn lao lên sức mạnh và sự phán đoán của em. Em đã đáp ứng tốt. Em đã giúp đỡ nhiều người và đã tăng trưởng trong minh triết. Em đã gánh vác trách nhiệm đối với một giai đoạn nào đó của công việc được khởi xướng trong Ashram của Tôi hoặc bởi bạn đồng đệ tử của Tôi, Bà A.A.B. Bà không phải là một thành viên của Ashram của Tôi. Em có sự thấu hiểu của Tôi và sự hỗ trợ không hề suy suyển của bà.

Inevitably, my brother, this situation which you have had to handle in relation to the work for which you are responsible, in relation to your personal and family life and to the future which lies open before you, has entailed much strain. To these factors must be added another one which is that you are essentially alone. This basic loneliness is due to several [704] things: First, that you are in training for leadership, and leaders have to learn to stand alone, and can ever do so if they love enough. Secondly, the force of circumstance and the need to work off certain karmic relations has increased your daily contacts, and at the same time has left you far more alone than you were six years ago. Thirdly, because the greater can always include the less is a lesson which all leaders in training have to grasp; the reverse, my brother, is not true, and the result is loneliness. Ponder on all this and accept it; stand free and move forward on your chosen path, refusing to be limited by those who cannot go your pace. This again means loneliness. And finally, a need for a more loving understanding at times isolates you from your fellowmen, particularly from your co-workers, and you need to beware of a growing critical spirit.

Huynh đệ của Tôi, một cách tất yếu, tình huống mà em đã phải xử lý liên quan đến công việc em chịu trách nhiệm, liên quan đến đời sống cá nhân và gia đình của em, và đến tương lai đang mở ra trước em, đã kéo theo nhiều căng thẳng. Vào các yếu tố này phải thêm một yếu tố khác, đó là về bản chất em đơn độc. Sự cô đơn căn bản này do một vài [704] điều: Thứ nhất, em đang được huấn luyện để lãnh đạo, và các nhà lãnh đạo phải học đứng một mình, và luôn có thể làm như vậy nếu họ yêu thương đủ. Thứ hai, sức ép của hoàn cảnh và nhu cầu giải quyết một số quan hệ nghiệp quả đã gia tăng các tiếp xúc hằng ngày của em, đồng thời khiến em cô đơn hơn rất nhiều so với sáu năm trước. Thứ ba, vì cái lớn hơn luôn có thể bao gồm cái nhỏ hơn là một bài học mà mọi nhà lãnh đạo đang được huấn luyện phải nắm bắt; điều ngược lại, huynh đệ của Tôi, không đúng, và kết quả là cô đơn. Hãy suy ngẫm về tất cả điều này và chấp nhận nó; hãy đứng tự do và tiến về phía trước trên con đường em đã chọn, từ chối bị giới hạn bởi những người không thể đi theo nhịp của em. Điều này lại có nghĩa là cô đơn. Và sau cùng, nhu cầu về một sự thấu hiểu yêu thương hơn đôi khi cô lập em khỏi đồng loại, đặc biệt khỏi các cộng sự của em, và em cần đề phòng một tinh thần phê phán đang tăng trưởng.

The lessons of leadership are hard to learn, and with these lessons you will be confronted as the years slip away—if you so wish and can face the music. The music is there and will emerge in full tonal quality once you have resolved the discords and established the theme and the rhythm.

Các bài học của sự lãnh đạo thật khó học, và em sẽ đối diện với những bài học này khi năm tháng trôi qua—nếu em muốn như vậy và có thể đối diện với âm nhạc. Âm nhạc đang có đó và sẽ xuất hiện với đầy đủ phẩm tính âm sắc một khi em đã giải quyết những nghịch âm và thiết lập chủ đề cùng nhịp điệu.

What are the lessons which all true leaders have to learn? It might be of service to you if I put one or two before you—very briefly, so that you can (if truly in earnest to serve your fellowmen, as I believe you are) begin to master them, to understand their need and to apply them to yourself with a view to fuller and more useful service.

Những bài học mà mọi nhà lãnh đạo chân chính phải học là gì? Có thể sẽ hữu ích cho em nếu Tôi đặt trước em một hai điều—thật vắn tắt, để em có thể, nếu thật sự nghiêm túc phụng sự đồng loại như Tôi tin là em như vậy, bắt đầu làm chủ chúng, thấu hiểu nhu cầu của chúng và áp dụng chúng cho chính mình nhằm hướng tới sự phụng sự đầy đủ hơn và hữu ích hơn.

The first lesson is the lesson of vision. What are your goals? What is the spiritual incentive which will be and is strong enough to hold you steady to the purpose and true to the objective? No one can formulate the vision for you; it is your own personality problem, and upon the strength of the vision and the beauty of the picture which you paint with your imagination will depend much that you do and become.

Bài học thứ nhất là bài học về tầm nhìn. Các mục tiêu của em là gì? Động lực tinh thần nào sẽ và đang đủ mạnh để giữ em vững vàng với mục đích và trung thành với mục tiêu? Không ai có thể hình thành tầm nhìn thay cho em; đó là vấn đề phàm ngã của riêng em, và nhiều điều em làm và trở thành sẽ tùy thuộc vào sức mạnh của tầm nhìn và vẻ đẹp của bức tranh mà em vẽ bằng Sự tưởng tượng của mình.

The second lesson is the development of a right sense of proportion. This, when truly developed and correctly applied, will enable you to walk humbly on the Way. No true leader can be anything but humble, for he realises the magnitude of his task; he appreciates the limitations of his contribution (in the light of the vision) and the need for constant [705] self-development and the cultivation of the spirit of steady inner spiritual learning, if he is ever to make his proper contribution. Therefore, keep learning; keep dissatisfied with yourself and your attainment, not in any morbid sense, but so that the principle of growth and of pushing forward and onward may be fostered in you. We help others through our own effort to attain; this means clear thinking, humility and constant adjustment.

Bài học thứ hai là sự phát triển một Ý thức về tỉ lệ đúng đắn. Khi thật sự phát triển và được áp dụng đúng, điều này sẽ giúp em bước đi khiêm nhường trên Đường Đạo. Không nhà lãnh đạo chân chính nào có thể là gì khác ngoài khiêm nhường, vì y nhận ra tầm vóc lớn lao của nhiệm vụ mình; y đánh giá đúng những giới hạn của đóng góp mình, trong ánh sáng của tầm nhìn, và nhu cầu về sự [705] tự phát triển không ngừng cùng việc vun trồng tinh thần học hỏi nội tâm tinh thần bền bỉ, nếu y muốn thực hiện đóng góp đúng đắn của mình. Vì vậy, hãy tiếp tục học; hãy tiếp tục không thỏa mãn với chính mình và thành tựu của mình, không theo nghĩa bệnh hoạn nào, mà để nguyên tắc tăng trưởng và thúc đẩy tiến lên, tiến về phía trước, có thể được nuôi dưỡng trong em. Chúng ta giúp người khác qua chính nỗ lực đạt tới của mình; điều này có nghĩa là tư duy rõ ràng, khiêm nhường và điều chỉnh không ngừng.

The third lesson is the development of the spirit of synthesis. This enables you to include all within the range of your influence and also to be included within the range of influence of those greater than yourself. Thus is the chain of Hierarchy established. You still hold a somewhat isolated position, and this with the best intent in the world; but you need to love more deeply and more understandingly. The hindrance here lies in your personality, which is more wise than loving. Let your soul control your first ray personality more, and many of your present difficulties would disappear.

Bài học thứ ba là sự phát triển tinh thần tổng hợp. Điều này giúp em bao gồm tất cả trong phạm vi ảnh hưởng của mình và cũng được bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng của những người lớn hơn em. Như thế chuỗi Thánh Đoàn được thiết lập. Em vẫn giữ một vị thế hơi cô lập, và điều này với ý định tốt nhất trên đời; nhưng em cần yêu thương sâu sắc hơn và thấu hiểu hơn. Trở ngại ở đây nằm trong phàm ngã của em, vốn minh triết hơn là yêu thương. Hãy để linh hồn em kiểm soát phàm ngã cung một của em nhiều hơn, và nhiều khó khăn hiện tại của em sẽ biến mất.

Another lesson which in reality grows out of the above is the avoidance of the spirit of criticism, for criticism leads to barriers and loss of time. Learn to distinguish the spirit of criticism from the ability to analyse and make practical application of the analysis. Learn to analyse life, circumstances and people from the angle of the work, and not from the angle of your personality point of view; analyse also from the angle of the Ashram, and not from the angle of the executive or the schoolmaster upon the physical plane.

Một bài học khác, trong thực tế phát sinh từ những điều trên, là tránh tinh thần phê phán, vì phê phán dẫn đến các rào cản và mất thời gian. Hãy học phân biệt tinh thần phê phán với khả năng phân tích và áp dụng thực tiễn sự phân tích. Hãy học phân tích đời sống, hoàn cảnh và con người từ góc độ của công việc, chứ không từ góc độ quan điểm phàm ngã của em; cũng hãy phân tích từ góc độ của Ashram, chứ không từ góc độ của người điều hành hay người thầy học trên cõi hồng trần.

In the six statements which I gave you a year ago were three sentences to which I would call your further and close attention. They are:

Trong sáu phát biểu mà Tôi đã trao cho em một năm trước có ba câu mà Tôi muốn kêu gọi sự chú ý thêm và sát sao của em. Đó là:

1. “Let not the doing intervene between the loving.”

1. “Đừng để việc làm cản trở sự yêu thương.”

This has much to do with the distribution of time.

Điều này liên quan nhiều đến sự phân phối thời gian.

Study the value of the heart at leisure from itself and its problems.

Hãy nghiên cứu giá trị của trái tim khi nó được rảnh rang khỏi chính nó và các vấn đề của nó.

2. “Lift up the weak, for you are strong, and strength from many comes to you.”

2. “Hãy nâng đỡ người yếu, vì em mạnh mẽ, và sức mạnh từ nhiều người đến với em.”

This has to do with recognition. Be not entirely occupied with helping, but be willing to be helped. [706]

Điều này liên quan đến sự công nhận. Đừng hoàn toàn bận rộn với việc giúp đỡ, mà hãy sẵn lòng được giúp đỡ. [706]

Study the value of the imagination in this connection.

Hãy nghiên cứu giá trị của Sự tưởng tượng trong mối liên hệ này.

3. “You move through life with all the power which comes from out my Ashram.”

3. “Em đi qua đời sống với tất cả quyền năng đến từ Ashram của Tôi.”

This has to do with the handling of energy—and with energy of great potency which will not only invoke the best that is in you but will also evoke the latent seeds of difficulty, which must perforce be removed.

Điều này liên quan đến việc xử lý năng lượng—và với năng lượng có tiềm lực lớn lao, không chỉ khẩn cầu điều tốt đẹp nhất trong em mà còn gợi lên các hạt giống khó khăn tiềm ẩn, vốn nhất thiết phải được loại bỏ.

Study the task of living ever consciously in the Ashram and working from that point of power and peace—going without, yet ever staying within.

Hãy nghiên cứu nhiệm vụ luôn sống một cách có ý thức trong Ashram và làm việc từ điểm quyền năng và bình an ấy—đi ra bên ngoài, nhưng vẫn luôn ở bên trong.

I am speaking thus directly to you, my co-worker, because the future holds much of useful service for you, if you continue to be a learner. It takes time, humility and certain recognitions, within yourself, of place and position in the chain of Hierarchy. I cannot too strongly emphasise that to you. Let not the pressures of family life (and no family life is devoid of pressures) and the exigencies of the work, plus the activities of an active mind, interfere with the inner learning process which is so essential to all teaching-leaders. That, my brother, is what you can be.

Tôi nói trực tiếp với em như vậy, bạn đồng sự của Tôi, vì tương lai nắm giữ nhiều sự phụng sự hữu ích cho em, nếu em tiếp tục là một người học hỏi. Điều đó cần thời gian, sự khiêm nhường và một số nhận thức nhất định trong chính em về chỗ đứng và vị trí trong chuỗi Thánh Đoàn. Tôi nhấn mạnh điều đó với em bao nhiêu cũng không thừa. Đừng để các áp lực của đời sống gia đình, và không đời sống gia đình nào không có áp lực, cùng các đòi hỏi cấp bách của công việc, thêm vào đó là các hoạt động của một thể trí năng động, cản trở tiến trình học hỏi nội tâm vốn hết sức thiết yếu đối với mọi nhà lãnh đạo-giảng huấn. Huynh đệ của Tôi, đó là điều em có thể trở thành.

A.A.B. has spoken to me of you from the standpoint of your place in the work of the School. She has not touched upon the personality angles or the need for special developments and growth, for no trained disciple, such as she is, ever interferes with the relation between a Master and His chela. She knows that your relation to me is that. But she has spoken to me about you from the angle of the future. I asked her what she felt was your major need and one that you must meet as you prepare for a larger field of service when she passes over. She made an unexpected reply. She said: “The need for a more fertile imagination.” She is entirely right.

Bà A.A.B. đã nói với Tôi về em từ quan điểm chỗ đứng của em trong công việc của Trường. Bà không đề cập đến các góc độ phàm ngã hay nhu cầu về những phát triển và tăng trưởng đặc biệt, vì không một đệ tử lão luyện nào, như bà, lại can thiệp vào mối quan hệ giữa một Chân sư và đệ tử của Ngài. Bà biết rằng mối quan hệ của em với Tôi là như thế. Nhưng bà đã nói với Tôi về em từ góc độ tương lai. Tôi hỏi bà cảm thấy nhu cầu chính của em là gì, và là nhu cầu em phải đáp ứng khi chuẩn bị cho một lĩnh vực phụng sự rộng lớn hơn sau khi bà qua đời. Bà đã đưa ra một câu trả lời bất ngờ. Bà nói: “Nhu cầu về một Sự tưởng tượng phong phú hơn.” Bà hoàn toàn đúng.

The imagination is a creative faculty. Wherein are you thus creative? Can you picture to yourself by any flight of imagination the task ahead of the Arcane School, for instance, in the post-war world, and your approach to the problem from the angle of what you would like to change or see altered? Changes mean nothing unless they are the result of new vision, for if they emerge out of a criticism of the past [707] and of what has been done, they will prove useless from the angle of the spiritual life, no matter how useful they may be from the angle of the organisation.

Sự tưởng tượng là một năng lực sáng tạo. Vậy em sáng tạo theo cách ấy ở đâu? Em có thể tự hình dung, bằng bất kỳ sự bay bổng nào của Sự tưởng tượng, nhiệm vụ phía trước của Trường Arcane, chẳng hạn, trong thế giới hậu chiến, và cách tiếp cận của em đối với vấn đề từ góc độ những gì em muốn thay đổi hoặc muốn thấy được sửa đổi không? Những thay đổi không có ý nghĩa gì trừ khi chúng là kết quả của tầm nhìn mới, vì nếu chúng phát sinh từ sự phê phán quá khứ [707] và những gì đã được thực hiện, chúng sẽ chứng tỏ là vô ích từ góc độ đời sống tinh thần, bất kể chúng có thể hữu ích đến đâu từ góc độ tổ chức.

Have you the perception to realise what an esoteric school essentially has to be? It is not an organised method of meeting world problems, of organising new orders and ways of living, or of underwriting the efforts of the men and women of goodwill. It goes far deeper than that. All the above are only effects of the esoteric life. Can you imagine your position when—from the teaching angle, the esoteric angle—you may have to be a source of inspiration, and not A.A.B.? From whence will you draw inspiration, and how will you make the world of meaning and the spiritual realities real and provocative to the neophyte?

Em có tri giác để nhận ra một trường nội môn về bản chất phải là gì không? Nó không phải là một phương pháp có tổ chức để đáp ứng các vấn đề thế giới, để tổ chức những trật tự và lối sống mới, hoặc để bảo trợ các nỗ lực của những người nam và nữ thiện chí. Nó đi sâu hơn nhiều. Tất cả những điều trên chỉ là các hiệu quả của đời sống nội môn. Em có thể tưởng tượng vị trí của mình khi—từ góc độ giảng huấn, góc độ nội môn—em có thể phải là một nguồn cảm hứng, chứ không phải Bà A.A.B., không? Em sẽ rút cảm hứng từ đâu, và em sẽ làm cho thế giới của ý nghĩa cùng các thực tại tinh thần trở nên có thật và có sức khơi gợi đối với người sơ cơ như thế nào?

Can your imagination picture to you your reaction when—because you are the leader—you have to shoulder all the blame for any failure, even when not personally responsible; you have to accept without retaliation the attacks of those you are trying to help, who expect too much from you and who force you to live in the blaze of public opinion; what will you do when your chosen workers fail to understand or prove disloyal or criticise without warrant or pit their ambitions against you, and wilfully refuse to see your point of view, and talk about you among other people and whip up resentments against you—resentments which are probably without foundation? These are not the kind of things that your personality easily accepts, and your creative imagination had better begin dealing with these problems so that the emerging principles of conduct may stand clear before you. Have you the inner grace of heart to admit error and weakness or to say that you made a mistake in technique or method or approach, in judgment or in speech, should need arise to heal a breach and in the interests of the work? That has never come easily to you either, my brother. It is a thing you seldom do.

Sự tưởng tượng của em có thể vẽ ra cho em phản ứng của mình khi—vì em là nhà lãnh đạo—em phải gánh lấy mọi lời trách cứ cho bất kỳ thất bại nào, ngay cả khi em không chịu trách nhiệm cá nhân; em phải chấp nhận mà không trả đũa các cuộc tấn công của những người em đang cố gắng giúp đỡ, những người kỳ vọng quá nhiều nơi em và buộc em phải sống trong ánh sáng gay gắt của dư luận; em sẽ làm gì khi những người hoạt động mà em chọn không thấu hiểu hoặc tỏ ra bất trung, hoặc phê phán vô căn cứ, hoặc đặt tham vọng của họ chống lại em, và cố ý từ chối nhìn thấy quan điểm của em, rồi nói về em giữa những người khác và kích động những oán giận chống lại em—những oán giận có lẽ không có nền tảng? Đây không phải là loại sự việc mà phàm ngã của em dễ dàng chấp nhận, và Sự tưởng tượng sáng tạo của em tốt hơn nên bắt đầu đề cập đến những vấn đề này để các nguyên tắc ứng xử đang xuất hiện có thể đứng rõ ràng trước em. Em có ân sủng nội tâm của trái tim để thừa nhận sai lầm và yếu đuối, hoặc để nói rằng em đã mắc lỗi trong kỹ thuật hay phương pháp hay cách tiếp cận, trong phán đoán hay lời nói, nếu nhu cầu phát sinh để hàn gắn một rạn nứt và vì lợi ích của công việc không? Điều đó cũng chưa bao giờ dễ dàng đối với em, huynh đệ của Tôi. Đó là điều em hiếm khi làm.

And having said all this, let me point out your assets and the valuable gifts which you can bring to the work and have for years contributed; they are the qualities which make A.A.B. your loyal friend and ambitious for your progress. [708] You have a recognition of principles which is vital and somewhat rare, and on principles all true work is securely founded. You have a gift of impersonality, as a general rule, which is a great safeguard; and in those times when your personality impulses have controlled, the phase has not been lasting. You have a gift of teaching, clear insight and executive ability and a loving heart when it is sparked into compassion. You have a steadfastness of purpose and an unswerving adherence to duty and dharma and a capacity to shoulder responsibility which has, in the past, and will in the future, prove invaluable to the work required. You have the gift of the written word and an increasing ability to speak, and these are valuable assets indeed when wielded by the soul on behalf of others. You are impulsive, and this at times creates temporary difficulties, but the general trend and tendency of your impulses is right and truly oriented. This is a major asset in your life. You are a pledged and accepted disciple, with the power of your Master’s Ashram behind you and the love of your co-disciples with you.

Và sau khi đã nói tất cả điều này, hãy để Tôi chỉ ra những vốn quý của em và các ân huệ giá trị mà em có thể đem vào công việc và đã đóng góp trong nhiều năm; chúng là những phẩm tính khiến Bà A.A.B. là người bạn trung thành của em và mong mỏi em tiến bộ. [708] Em có sự nhận thức về các nguyên tắc vốn sống động và khá hiếm, và trên các nguyên tắc, mọi công việc chân chính đều được đặt nền tảng vững chắc. Em có ân huệ về tính vô ngã, như một quy luật chung, và đó là một sự bảo vệ lớn lao; còn trong những lúc các xung động phàm ngã của em kiểm soát, giai đoạn ấy đã không kéo dài. Em có ân huệ giảng dạy, tuệ giác rõ ràng và khả năng điều hành, cùng một trái tim yêu thương khi nó được khơi dậy thành lòng từ bi. Em có sự vững vàng trong mục đích, sự trung thành không lay chuyển với bổn phận và pháp, và năng lực gánh vác trách nhiệm, điều đã từng trong quá khứ và sẽ trong tương lai chứng tỏ là vô giá đối với công việc được đòi hỏi. Em có ân huệ của lời viết và khả năng nói ngày càng tăng, và đây thật sự là những vốn quý giá trị khi được linh hồn vận dụng nhân danh người khác. Em bốc đồng, và điều này đôi khi tạo ra những khó khăn tạm thời, nhưng xu hướng và khuynh hướng chung của các xung động nơi em là đúng và thật sự được định hướng. Đây là một vốn quý chủ yếu trong đời sống em. Em là một đệ tử đã thệ nguyện và được chấp nhận, với quyền năng của Ashram Chân sư em ở phía sau và tình thương của các bạn đồng đệ tử ở cùng em.

You have the understanding and loyal affection of A.A.B., and will—from life to life. Against her wishes, I ask you to give her in some small measure what she has so largely given you. At times you fail to grasp the strength of her belief in you. Her health is precarious and she counts much on you. Fail her not, and seek to understand the problems with which she is faced.

Em có sự thấu hiểu và tình cảm trung thành của Bà A.A.B., và sẽ có như thế từ kiếp này sang kiếp khác. Trái với ý muốn của bà, Tôi yêu cầu em trao cho bà một phần nhỏ nào đó điều bà đã trao cho em thật lớn lao. Đôi khi em không nắm bắt được sức mạnh trong niềm tin của bà nơi em. Sức khỏe của bà mong manh và bà trông cậy nhiều vào em. Đừng làm bà thất vọng, và hãy tìm cách thấu hiểu những vấn đề mà bà đang đối diện.

You have also my belief and trust, my confidence that you will carry on—learning and living and loving—and again I repeat, on the strength coming from my Ashram you can count, but it reaches you through your soul, and therefore a closer soul contact is increasingly needed by you as the work grows and develops.

Em cũng có niềm tin và sự tin cậy của Tôi, sự tín nhiệm của Tôi rằng em sẽ tiếp tục—học hỏi, sống và yêu thương—và Tôi lại nhắc lại, em có thể trông cậy vào sức mạnh đến từ Ashram của Tôi, nhưng nó đến với em qua linh hồn em, và do đó em ngày càng cần một tiếp xúc linh hồn gần gũi hơn khi công việc tăng trưởng và phát triển.

November 1944

Tháng Mười Một, 1944

MY FRIEND AND CO-WORKER:

BẠN VÀ ĐỒNG SỰ CỦA TÔI:

I intend to be in touch with you with constancy, and you must train yourself to an increased sensitivity to my presence and to the contact of my mind. Contact with me will affect [709] your heart centre; contact with my mind will bring about changes in your head centre—probably (at this stage of your development) in the ajna centre. Sensitivity is one of your major needs. That involves a freer use of the imaginative faculty, as I told you in my last instruction. You need badly to develop sensitivity not only to me, your Master (for that you yourself desire), but a greatly increased sensitivity to your co-disciples. Above everything else, you must develop a much more sensitive response to all you contact in your life of service. That is primarily what you lack; it is based upon a definite lack of true love in your nature. You earnestly, and usually successfully, do your duty to all you meet, with certain exceptions where your personality is almost violently antagonistic; but more than this is needed in a leader upon the second ray line of teaching.

Tôi dự định giữ liên lạc với em một cách bền bỉ, và em phải tự huấn luyện mình để có sự nhạy bén gia tăng đối với hiện diện của Tôi và đối với sự tiếp xúc với thể trí của Tôi. Tiếp xúc với Tôi sẽ tác động đến [709] trung tâm tim của em; tiếp xúc với thể trí của Tôi sẽ đem lại những thay đổi trong trung tâm đầu của em—có lẽ, ở giai đoạn phát triển này của em, trong trung tâm ajna. Sự nhạy bén là một trong những nhu cầu chính của em. Điều đó bao hàm việc sử dụng tự do hơn năng lực Sự tưởng tượng, như Tôi đã nói với em trong huấn thị trước. Em rất cần phát triển sự nhạy bén, không chỉ đối với Tôi, Chân sư của em, vì chính em mong muốn điều đó, mà còn sự nhạy bén được gia tăng rất nhiều đối với các bạn đồng đệ tử của em. Trên hết mọi điều, em phải phát triển một đáp ứng nhạy bén hơn nhiều đối với tất cả những gì em tiếp xúc trong đời sống phụng sự của mình. Đó là điều chủ yếu em thiếu; nó dựa trên một sự thiếu vắng rõ rệt tình thương chân thật trong bản chất em. Em nghiêm túc, và thường thành công, làm bổn phận của mình đối với mọi người em gặp, với một số ngoại lệ khi phàm ngã của em gần như đối kháng dữ dội; nhưng cần nhiều hơn thế nơi một nhà lãnh đạo trên đường lối giảng huấn của cung hai.

You are one of the people (relatively few) who have a sound and beautiful group effect, but your individual contacts are not so constructive, and it is along this line that you must work. You must learn to set up a helpful and an understanding relation with all who come your way—high and low, rich and poor, the socially important and the under classes, the likable and unlikable. The need to develop this was one of the reasons, plus incorporation in national karma, which has temporarily removed you from an active participation in the work you have done so well for years. You are being given an interlude wherein you can enrich your life, add something needed to your equipment, and then return to your previous work and service with far more to give than heretofore. This I know would be your own desire; I have here given you the clue to its fulfilment.

Em là một trong những người, tương đối ít, có một hiệu quả nhóm lành mạnh và đẹp đẽ, nhưng các tiếp xúc cá nhân của em không xây dựng như vậy, và chính theo đường hướng này mà em phải làm việc. Em phải học thiết lập một mối liên hệ hữu ích và thấu hiểu với tất cả những người đến trên đường em—cao và thấp, giàu và nghèo, những người quan trọng về xã hội và các tầng lớp thấp, người dễ mến và khó mến. Nhu cầu phát triển điều này là một trong những lý do, cộng với sự nhập vào nghiệp quả quốc gia, đã tạm thời đưa em ra khỏi sự tham gia tích cực vào công việc mà em đã làm rất tốt trong nhiều năm. Em đang được trao cho một khoảng lặng trong đó em có thể làm phong phú đời sống mình, thêm vào trang bị của mình một điều cần thiết, rồi trở lại công việc và sự phụng sự trước đây với nhiều điều để trao hơn trước. Tôi biết đây sẽ là mong muốn của chính em; ở đây Tôi đã trao cho em chìa khóa để hoàn thành nó.

One of the ways in which you can arrive at this deeper comprehension of humanity lies in the unfoldment of the creative imagination; this will enable you to tune in upon the background and the consciousness of people contacted. You are a man of strong likes and dislikes; you have also prided yourself upon the fact that no matter how much you might dislike a person, you would endeavour to do right by him and you usually succeed in so doing, with the exception of three people—dislike of whom renders you unreasonable [710] and often unkind. Who they are you well know, and it is not my intention to mention their names, as this relationship is entirely your own affair.

Một trong những cách em có thể đạt tới sự thấu hiểu sâu sắc hơn này về nhân loại nằm trong sự khai mở Sự tưởng tượng sáng tạo; điều này sẽ giúp em hòa nhịp với bối cảnh và tâm thức của những người em tiếp xúc. Em là người có những ưa thích và không ưa thích mạnh mẽ; em cũng đã tự hào về sự kiện rằng dù em có thể không ưa một người đến đâu, em vẫn sẽ cố gắng đối xử đúng đắn với y, và em thường thành công trong việc đó, ngoại trừ ba người—sự không ưa đối với họ khiến em trở nên phi lý [710] và thường thiếu tử tế. Họ là ai thì em biết rõ, và Tôi không có ý định nêu tên họ, vì mối quan hệ này hoàn toàn là việc riêng của em.

But, my brother, a working disciple entrusted with a definite task by his Master, and working from within the Ashram (as you do), must work not only from a sense of duty and deep intense devotion, not only from a sense of karmic responsibility and a knowledge that the task undertaken is, by reason of soul injunction, obediently followed, but he must work also under the inspiration of true Love. You have a second ray soul, and when it is in control, your attitude is all that could possibly be desired; you have (which is unusual) a second ray mental nature. This enables you to realise theoretically what should be your attitude and to know exactly when and where love does not control. Your first ray personality and astral vehicle provide barriers to the free flow of love and impede a constant contact with the soul, imposing themselves between the soul and the three lower vehicles. They also come between the soul and the physical body, stopping or hindering the downflow of the energy of love into the vital or etheric body, from whence it would automatically control and actuate the physical life expression.

Nhưng, huynh đệ của Tôi, một đệ tử đang hoạt động, được Chân sư của mình giao phó một nhiệm vụ xác định, và đang làm việc từ bên trong Ashram như em đang làm, phải làm việc không chỉ từ ý thức bổn phận và lòng sùng tín sâu xa mãnh liệt, không chỉ từ ý thức trách nhiệm nghiệp quả và sự hiểu biết rằng nhiệm vụ đã nhận, do huấn thị của linh hồn, phải được tuân hành một cách vâng phục, mà y còn phải làm việc dưới cảm hứng của Tình thương chân chính. Em có một linh hồn cung hai, và khi linh hồn ấy kiểm soát, thái độ của em là tất cả những gì có thể mong muốn; em có, điều này hiếm có, một bản chất trí tuệ cung hai. Điều này giúp em nhận ra về mặt lý thuyết thái độ của em phải như thế nào, và biết chính xác khi nào và ở đâu tình thương không kiểm soát. Phàm ngã cung một và hiện thể cảm dục của em tạo nên những rào cản đối với dòng chảy tự do của tình thương, và cản trở sự tiếp xúc thường xuyên với linh hồn, tự đặt mình vào giữa linh hồn và ba hiện thể thấp. Chúng cũng chen vào giữa linh hồn và thể xác, ngăn chặn hoặc cản trở dòng năng lượng tình thương tuôn xuống thể sinh lực hay thể dĩ thái, từ đó năng lượng ấy sẽ tự động kiểm soát và thúc đẩy sự biểu lộ đời sống hồng trần.

The existence and the possibilities inherent in the concentration of these two first ray energies in your personality should have the effect of adding strength and potency to the inflow of the love factor, and they should enable you to isolate the energy of love with facility and apply it one-pointedly. I tell you this for your encouragement.

Sự hiện hữu và những khả năng vốn có trong sự tập trung của hai năng lượng cung một này nơi phàm ngã của em phải có tác dụng thêm sức mạnh và quyền năng cho dòng tuôn nhập của yếu tố tình thương, và chúng phải giúp em dễ dàng cô lập năng lượng tình thương và áp dụng nó một cách nhất tâm. Tôi nói điều này với em để khích lệ em.

One other thing I would point out. It should be recognised by you that your entire ray equipment is so well balanced that your capacity to serve the Ashram and humanity is very great, provided that you unify all these forces into one intelligent, serving and constructive unity. You are singularly well equipped; you have a dual capacity to use second ray energy to enhance and implement the use of the teaching ability; you have also a third ray contact with the physical plane which should enable you to focus and utilise all this inherent capacity upon the physical plane in outer effective human service. You have made great strides in so doing, [711] and it is only when your first ray isolationism, implemented by your personality and emotional natures, obliterates for a moment (in relation to other human beings) your second ray qualities that your physical plane output is affected, and it is sometimes affected quite seriously. Unless you consider this matter and remove the impediments to the free play of your love nature, you will always be a trusted server, but your field of service will be needlessly circumscribed and you will not be able to serve as generously and successfully as you otherwise might. Always you will serve; always you will have the freedom of the Ashram, and always you will have access to me, earning my confidence, and always you will persist. But I seek greater things for you, and so does A.A.B.

Tôi muốn chỉ ra thêm một điều nữa. Em cần nhận biết rằng toàn bộ trang bị cung của em được quân bình rất tốt, đến nỗi năng lực phụng sự Ashram và nhân loại của em rất lớn, miễn là em hợp nhất tất cả các mãnh lực này thành một nhất thể thông minh, phụng sự và kiến tạo. Em được trang bị một cách đặc biệt tốt; em có một năng lực kép để sử dụng năng lượng cung hai nhằm tăng cường và thực thi việc dùng khả năng giảng dạy; em cũng có một tiếp xúc cung ba với cõi hồng trần, điều này phải giúp em tập trung và vận dụng toàn bộ năng lực vốn có ấy trên cõi hồng trần trong sự phụng sự nhân loại bên ngoài một cách hữu hiệu. Em đã có những bước tiến lớn trong việc này, [711] và chỉ khi chủ nghĩa cô lập cung một của em, được phàm ngã và bản chất cảm xúc của em thực thi, trong chốc lát xóa mờ những phẩm tính cung hai của em trong tương quan với những con người khác, thì sự biểu lộ của em trên cõi hồng trần mới bị ảnh hưởng, và đôi khi bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng. Nếu em không xem xét vấn đề này và loại bỏ những chướng ngại đối với sự vận hành tự do của bản chất tình thương nơi em, em sẽ luôn là một người phụng sự đáng tin cậy, nhưng lĩnh vực phụng sự của em sẽ bị giới hạn một cách không cần thiết, và em sẽ không thể phụng sự rộng rãi và thành công như lẽ ra em có thể. Em sẽ luôn phụng sự; em sẽ luôn có quyền tự do trong Ashram, và em sẽ luôn có lối đến với Tôi, giành được sự tin cậy của Tôi, và em sẽ luôn kiên trì. Nhưng Tôi tìm kiếm những điều lớn lao hơn cho em, và A.A.B. cũng vậy.

The work of the Arcane School holds in it much of promise—far more than at present appears. Workers will emerge who will be entrusted with wide responsibility, and A.A.B. will give them a free hand as she has ever given you within the limits of the School’s principles and objectives. The leadership of the Arcane School must be that of a group, when A.A.B. is not with you and has passed on to other and more important inner work; this group will necessarily be under the general direction of F.B., but certain of you will have much responsibility and power, provided there is potent and correct motivation, and that you work with self-effacement; love ever produces the retirement into the background of the personality and its attitudes.

Công việc của Trường Arcane chứa đựng nhiều hứa hẹn, nhiều hơn rất xa so với điều hiện nay đang thấy. Những người hoạt động sẽ xuất hiện, được giao phó trách nhiệm rộng lớn, và A.A.B. sẽ cho họ toàn quyền hành động như Bà đã luôn cho em trong giới hạn các nguyên tắc và mục tiêu của Trường. Sự lãnh đạo Trường Arcane phải là sự lãnh đạo của một nhóm, khi A.A.B. không còn ở với các em và đã chuyển sang công việc bên trong khác, quan trọng hơn; nhóm này tất nhiên sẽ ở dưới sự chỉ đạo chung của F.B., nhưng một số trong các em sẽ có nhiều trách nhiệm và quyền năng, miễn là có động cơ mạnh mẽ và đúng đắn, và các em làm việc với sự tự xóa mình; tình thương luôn tạo nên sự lui vào hậu cảnh của phàm ngã và các thái độ của nó.

I would thank you, my brother, for all that you have done, your influence has been good and useful to many, and I am well aware of it; A.A.B. has also expressed her appreciation to you on several occasions.

Huynh đệ của Tôi, Tôi muốn cảm ơn em về tất cả những gì em đã làm; ảnh hưởng của em đã tốt đẹp và hữu ích đối với nhiều người, và Tôi biết rõ điều đó; A.A.B. cũng đã bày tỏ sự trân trọng của Bà đối với em trong nhiều dịp.

The interlude of work upon which you are now engaged should give you the time for much inner reflection; it should deepen your power to live the dual life of a disciple. Get ready, therefore, for a resumption of my work when the right time comes, returning to it with a wider understanding, a more expressive love, and a more enthusiastic dedication to the principle of service. A.A.B. (if I may again point this out) has a deep appreciation of you and love for you, both personality and egoic in origin, and you can do much to lift [712] burdens off her shoulders, if you so desire. She never troubles about the inevitable and unimportant mistakes that her workers make. She has made them herself and knows their relative unimportance. She troubles greatly when there is a misinterpretation of principles, a side-tracking of major issues, or a general inertia. Stand by her. With the unfailing love of F.B. and the developed understanding of yourself, of R.S.U. and F.C.D., she can round out this life cycle with satisfaction to her Master—which is all that she cares about. She has earned this from all of you. She has, I may add, refused to take down this last sentence (as she thinks not in terms of reward or recompense), but has done so when I enjoined upon her the need for impersonality.

Khoảng xen kẽ công việc mà hiện nay em đang tham gia phải cho em thời gian để suy tư nội tâm nhiều hơn; nó phải làm sâu sắc quyền năng của em trong việc sống đời sống kép của một đệ tử. Vì vậy, hãy chuẩn bị cho việc tiếp tục công việc của Tôi khi thời điểm đúng đến, trở lại với nó bằng một sự thấu hiểu rộng hơn, một tình thương biểu lộ hơn, và một sự hiến dâng nhiệt thành hơn cho nguyên tắc phụng sự. A.A.B., nếu Tôi có thể lại chỉ ra điều này, có sự trân trọng sâu xa đối với em và tình thương dành cho em, bắt nguồn cả từ phàm ngã lẫn chân ngã, và em có thể làm nhiều điều để cất [712] gánh nặng khỏi vai Bà, nếu em muốn như vậy. Bà không bao giờ bận tâm về những sai lầm tất yếu và không quan trọng mà những người hoạt động của Bà mắc phải. Chính Bà cũng đã phạm những sai lầm ấy và biết tầm không quan trọng tương đối của chúng. Bà rất bận tâm khi có sự diễn giải sai các nguyên tắc, sự đi lệch khỏi những vấn đề chính yếu, hoặc một tính trì trệ chung. Hãy đứng bên Bà. Với tình thương không suy giảm của F.B. và sự thấu hiểu đã phát triển của chính em, của R.S.U. và F.C.D., Bà có thể hoàn tất chu kỳ đời sống này khiến Chân sư của Bà hài lòng, đó là tất cả những gì Bà quan tâm. Bà đã xứng đáng nhận được điều này từ tất cả các em. Tôi có thể nói thêm rằng Bà đã từ chối ghi lại câu cuối cùng này, vì Bà không suy nghĩ theo nghĩa phần thưởng hay sự đáp đền, nhưng đã làm như vậy khi Tôi truyền lệnh cho Bà về nhu cầu vô ngã.

The three Arcane School centres, New York (the major centre), London and in Switzerland, must become more potent and should constitute three major points of light in the world. At the centre of each should work a disciple. Later, I shall suggest that the work in Australia be extended, and that in Sydney another centre or power station should be opened.

Ba trung tâm Trường Arcane, New York, trung tâm chính, London và tại Thụy Sĩ, phải trở nên mạnh mẽ hơn và phải tạo thành ba điểm sáng chính yếu trong thế giới. Ở trung tâm của mỗi nơi phải có một đệ tử làm việc. Về sau, Tôi sẽ đề nghị rằng công việc tại Úc được mở rộng, và tại Sydney một trung tâm khác hay trạm quyền năng khác phải được mở ra.

Your meditation during the coming year should be focussed around the effort to bring through second ray energy—the energy of your soul and of your mind—into the physical brain, via the etheric body. You must do this through the power of the creative imagination; you must act “as if”; you must see this energy pouring in, literally, to the head centre and from thence to the brain. You must work out your own way of doing this, for that will be for you the best way. Two suggestions only will I make: See this energy of love as a great descending stream of light substance, pouring down from the soul into your threefold lower equipment, and from thence out into the Arcane School, enveloping its membership. Secondly—and here you must endeavour to understand my meaning without any elaboration from me—you must take the people you do not like, particularly the three who so painfully disturb you, into your heart, thinking of them (as far as in you lies) in their own terms and from their own point of view and not from yours.

Sự tham thiền của em trong năm tới phải tập trung quanh nỗ lực đưa năng lượng cung hai, năng lượng của linh hồn em và của thể trí em, xuyên qua vào bộ não hồng trần, qua thể dĩ thái. Em phải làm điều này bằng quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo; em phải hành động “như thể”; em phải thấy năng lượng này thật sự tuôn vào trung tâm đầu, và từ đó vào bộ não. Em phải tự tìm ra cách riêng của mình để làm điều này, vì đó sẽ là cách tốt nhất cho em. Tôi chỉ đưa ra hai gợi ý: Hãy thấy năng lượng tình thương này như một dòng chất liệu ánh sáng vĩ đại đang giáng xuống, tuôn từ linh hồn vào trang bị thấp tam phân của em, và từ đó tuôn ra Trường Arcane, bao phủ các thành viên của Trường. Thứ hai, và ở đây em phải cố gắng thấu hiểu ý nghĩa của Tôi mà không có bất kỳ diễn giải nào từ Tôi, em phải đưa những người em không ưa, đặc biệt là ba người làm em đau đớn xáo trộn, vào trong tim em, nghĩ về họ, trong chừng mực em có thể, theo những điều kiện riêng của họ và từ quan điểm riêng của họ, chứ không từ quan điểm của em.

The way into the Ashram stands ever open to you and I [713] am ever accessible to those who, like you, have worked and served in difficulty and distress and under the drastic circumstances imposed by this world war. You have served without any deviation from the path of duty. Forget this not, and avail yourself of “the privilege of entrance.” You will ever find me at the inner point.

Con đường vào Ashram luôn rộng mở với em, và Tôi [713] luôn có thể được tiếp cận bởi những ai, giống như em, đã làm việc và phụng sự trong khó khăn và khổ đau, dưới những hoàn cảnh khắc nghiệt do cuộc chiến tranh thế giới này áp đặt. Em đã phụng sự mà không hề lệch khỏi con đường bổn phận. Đừng quên điều này, và hãy tận dụng “đặc quyền được bước vào.” Em sẽ luôn tìm thấy Tôi tại điểm bên trong.

To H. S. D. – Gửi H. S. D.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

This year has seen certain liberating processes taking place in your life. You stand much freer from entanglements than heretofore; you face fresh opportunity for service and for growth. My problem is how to help you to capitalise on the past, thus enabling you to make the future a more fruitful period than ever before. You have been connected with my Ashram for some time now and have been readmitted into the new seed group. The reason that I mention this is because I want to emphasise to you the word “seed.” It is the germ, and only the germ, of the spiritual life with which you have to deal, and I want you to withdraw your thinking and your emphasis from the concept of the flowering of your life in the coming years to the concept of nurturing and fostering the seed or germ of the new life which is just beginning to emerge. The Old Commentary says:

Năm nay đã chứng kiến một số tiến trình giải thoát đang diễn ra trong đời sống của em. Em đứng tự do hơn nhiều khỏi những vướng mắc so với trước đây; em đối diện với cơ hội mới để phụng sự và tăng trưởng. Vấn đề của Tôi là làm sao giúp em tận dụng quá khứ, nhờ đó giúp em làm cho tương lai thành một giai đoạn kết quả hơn bao giờ hết. Em đã được liên kết với Ashram của Tôi một thời gian rồi và đã được tiếp nhận lại vào nhóm hạt giống mới. Lý do Tôi nhắc đến điều này là vì Tôi muốn nhấn mạnh với em từ “hạt giống.” Chính mầm, và chỉ mầm, của đời sống tinh thần là điều em phải xử lý, và Tôi muốn em rút tư tưởng cũng như sự nhấn mạnh của mình khỏi quan niệm về sự nở hoa của đời em trong những năm sắp tới, để chuyển sang quan niệm nuôi dưỡng và chăm sóc hạt giống hay mầm của đời sống mới vừa bắt đầu xuất hiện. Cổ Luận nói:

“The seed develops five flowers and five only. One flower long precedes the others. The second flower is hard to grow, the third is harder still. The fourth flower dies and, dying, gives forth light and in that light the fifth flower blooms.”

“Hạt giống phát triển năm đóa hoa và chỉ năm đóa. Một đóa hoa xuất hiện rất lâu trước những đóa khác. Đóa hoa thứ hai khó lớn lên, đóa thứ ba còn khó hơn nữa. Đóa hoa thứ tư chết đi, và khi chết, phát ra ánh sáng, và trong ánh sáng ấy đóa hoa thứ năm nở.”

I leave you to interpret this for yourself.

Tôi để em tự diễn giải điều này cho chính mình.

The future which lies ahead of you—be it long or short—must be approached by you now in a different manner to the past. You stand alone. You stand, however, with your brothers in the Ashram, and are therefore not alone. What [714] lies ahead for you? How can the coming years be constructive, organised and creative? These three words—Constructive, Organised, Creative—have been chosen by me with care and I would ask you to reflect upon them. What is the constructive contribution which you can now make to the work that your chosen co-workers are doing? How can you organise your life so that there is a definite result and something to show for any activity instituted? How can the intense activity of your mind be slowed down and channelled so that something creative and worthwhile may emerge? These are the problems which must be faced, and these are the points where I can be of service to you, my brother, if you will accept my suggestions and carry them through.

Tương lai nằm trước mặt em, dù dài hay ngắn, giờ đây phải được em tiếp cận theo một cách khác với quá khứ. Em đứng một mình. Tuy nhiên, em đứng cùng với các huynh đệ của em trong Ashram, và do đó không đơn độc. Điều gì [714] đang nằm trước mặt em? Làm thế nào những năm sắp tới có thể mang tính kiến tạo, có tổ chức và sáng tạo? Ba từ này, Kiến Tạo, Có Tổ Chức, Sáng Tạo, đã được Tôi chọn cẩn thận và Tôi xin em suy ngẫm về chúng. Đóng góp kiến tạo mà giờ đây em có thể đem lại cho công việc mà các đồng sự do em chọn đang làm là gì? Làm thế nào em có thể tổ chức đời sống của mình để có một kết quả xác định và có điều gì đó hiển lộ từ bất kỳ hoạt động nào được khởi xướng? Làm thế nào hoạt động mãnh liệt của thể trí em có thể được làm chậm lại và được dẫn vào một kênh, để một điều gì sáng tạo và đáng giá có thể xuất hiện? Đây là những vấn đề phải được đối diện, và đây là những điểm mà Tôi có thể phụng sự em, huynh đệ của Tôi, nếu em chấp nhận các gợi ý của Tôi và thực hiện chúng đến cùng.

It is the carrying through of any one settled project which has always been the major weakness with your group service. You work a little bit in some department of the group activity, and then you turn to something else; your basic purpose is steadfast and true and your steadiness in adhering to my work in some phase or another is unbreakable and real, but the surface effort is unstable, and from the angle of time, never persists long enough to show results. Why is this?

Việc thực hiện đến cùng bất kỳ một dự án đã được quyết định nào luôn là điểm yếu chính yếu trong sự phụng sự nhóm của em. Em làm việc một chút trong một bộ phận nào đó của hoạt động nhóm, rồi lại chuyển sang điều khác; mục đích căn bản của em kiên định và chân thật, và sự bền bỉ của em trong việc gắn bó với công việc của Tôi ở một giai đoạn này hay giai đoạn khác là không thể lay chuyển và có thật, nhưng nỗ lực bề mặt thì không ổn định, và xét theo góc độ thời gian, không bao giờ kéo dài đủ lâu để cho thấy kết quả. Tại sao lại như vậy?

The answer lies in two directions: Your overactive mind flits from this to that and back again, and over-organises everything it touches. Secondly, the physical body under this intense mental tension and constant movement is necessarily very nervous and constantly depleted, for seldom is anything carried through, and the carrying through of a project and adherence to a plan bring through energy on to the physical plane and consequently into the physical body. Your vital body feels the constant pull upwards of mental force, but that mental force is not expressed through activities which are carried through to concluded expression upon the physical plane. Your mind is like a whirling humming-top which is constantly toppling over and has to be set in motion again, accomplishing nothing of value.

Câu trả lời nằm theo hai hướng: Thể trí quá hoạt động của em lướt từ điều này sang điều kia rồi lại quay về, và tổ chức quá mức mọi điều nó chạm đến. Thứ hai, thể xác dưới sự căng thẳng trí tuệ mãnh liệt này và sự chuyển động liên tục tất nhiên trở nên rất căng thẳng thần kinh và thường xuyên cạn kiệt, vì hiếm khi điều gì được thực hiện đến cùng, mà việc thực hiện đến cùng một dự án và gắn bó với một kế hoạch sẽ đưa năng lượng xuyên qua xuống cõi hồng trần và do đó vào thể xác. Thể sinh lực của em cảm thấy sức kéo thường xuyên hướng thượng của mãnh lực trí tuệ, nhưng mãnh lực trí tuệ ấy không được biểu lộ qua các hoạt động được đưa đến sự biểu lộ hoàn tất trên cõi hồng trần. Thể trí của em giống như một con quay vo ve xoay tít, liên tục nghiêng đổ và phải được làm cho chuyển động lại, mà không hoàn thành điều gì có giá trị.

This, brother of mine, is not your intent or desire. What then is wrong? Let me tell you simply what the fault is. [715] There is a constant overstimulation of the mind, of such a potent nature that there is no time or energy left for physical plane expression. What is the cure and what shall we do to prevent this overstimulation and slow things down so that there will be time for accomplishments? My answer is: Complete cessation from all meditation work for a year at least, or until I again give you permission to resume. You are constantly withdrawing and escaping into the meditation process, and you do it so successfully that the result is that all the energies you contact become focussed in the mind. You do not need to do this. You need now to garner the results of past meditation work through active service, chosen with deliberation and carried through steadily without any meditation at all but on the strength of the stored-up knowledge you have, and which you have never used.

Huynh đệ của Tôi, điều này không phải là ý định hay ước muốn của em. Vậy điều gì sai? Hãy để Tôi nói đơn giản với em lỗi nằm ở đâu. [715] Có một sự kích thích quá mức liên tục của thể trí, có tính chất mạnh đến nỗi không còn thời gian hay năng lượng cho sự biểu lộ trên cõi hồng trần. Phương thuốc là gì và chúng ta phải làm gì để ngăn sự kích thích quá mức này và làm mọi việc chậm lại, để có thời gian cho các thành tựu? Câu trả lời của Tôi là: Hoàn toàn chấm dứt mọi công việc tham thiền ít nhất trong một năm, hoặc cho đến khi Tôi lại cho phép em tiếp tục. Em đang liên tục rút lui và trốn vào tiến trình tham thiền, và em làm điều đó thành công đến mức kết quả là mọi năng lượng em tiếp xúc đều trở nên tập trung trong thể trí. Em không cần làm điều này. Giờ đây em cần thu hoạch kết quả của công việc tham thiền trong quá khứ qua sự phụng sự năng động, được chọn lựa có cân nhắc và được thực hiện đều đặn đến cùng, hoàn toàn không tham thiền, mà dựa trên sức mạnh của tri thức đã tích lũy mà em có, và em chưa bao giờ sử dụng.

I am asking you, therefore, to stop all meditation, even the group meditation. You can give fifteen minutes to dedication, consecration and contact with your soul and with me every Sunday morning and at the full moon period. You can participate in the group meditation at the School, but see to it that the group meditations are regarded by you as acts of service and not as means whereby your own nature is stimulated and refreshed. You can take part in the group held by A.A.B. on Friday evenings, for there is much that you can there learn. But I do not want you otherwise giving any time whatsoever to meditation—particularly in connection with any work you may be doing. I want your active cooperation on the physical plane along some particular line connected with my activities, and I want that work adhered to at any cost so that a finished something emerges. What that work shall be, what phase of the undertaking you can do, and what responsibility you can shoulder should be, I feel, talked over with A.A.B., but only if you so desire.

Vì vậy, Tôi yêu cầu em ngưng mọi tham thiền, kể cả tham thiền nhóm. Em có thể dành mười lăm phút cho sự hiến dâng, sự thánh hiến và tiếp xúc với linh hồn em và với Tôi vào mỗi sáng Chủ nhật và vào kỳ trăng tròn. Em có thể tham dự tham thiền nhóm tại Trường, nhưng hãy chắc chắn rằng em xem các cuộc tham thiền nhóm như những hành động phụng sự chứ không phải như những phương tiện nhờ đó bản chất của riêng em được kích thích và làm tươi mới. Em có thể tham gia nhóm do A.A.B. tổ chức vào các tối thứ Sáu, vì ở đó có nhiều điều em có thể học. Nhưng ngoài ra, Tôi không muốn em dành bất kỳ thời gian nào cho tham thiền, đặc biệt liên quan đến bất kỳ công việc nào em có thể đang làm. Tôi muốn sự hợp tác tích cực của em trên cõi hồng trần theo một đường lối đặc biệt nào đó liên hệ với các hoạt động của Tôi, và Tôi muốn công việc ấy được bám sát bằng mọi giá để một điều gì đó hoàn tất xuất hiện. Công việc đó sẽ là gì, em có thể làm giai đoạn nào của công cuộc ấy, và em có thể gánh vác trách nhiệm nào, theo Tôi, nên được bàn bạc với A.A.B., nhưng chỉ nếu em muốn như vậy.

If you will follow out these instructions, you will be surprised to discover how much easier life will be for you. Your mind will gradually become your instrument and not your master, as it is at present; your etheric body will stabilise and your general health will improve; your interests will grow [716] and your usefulness increase, and that I know, my brother, is what you yourself desire. I am only attempting to help you to measure up to your own idea.

Nếu em làm theo những chỉ dẫn này, em sẽ ngạc nhiên khám phá đời sống sẽ trở nên dễ dàng hơn biết bao đối với em. Thể trí của em sẽ dần dần trở thành công cụ của em chứ không phải chủ nhân của em như hiện nay; thể dĩ thái của em sẽ ổn định và sức khỏe chung của em sẽ cải thiện; các mối quan tâm của em sẽ tăng trưởng [716] và sự hữu dụng của em sẽ gia tăng, và Tôi biết, huynh đệ của Tôi, đó chính là điều bản thân em mong muốn. Tôi chỉ đang cố gắng giúp em đạt tới ý tưởng của chính em.

One other exercise I will permit. I give you below certain sentences or statements, one for each month of the coming year. Every morning before you rise out of a recumbent position say the one for that particular month aloud—just once—thus striking your keynote for the day. But do not proceed to meditate, ponder or reflect upon the sentences.

Tôi sẽ cho phép thêm một bài tập khác. Dưới đây Tôi trao cho em một số câu hay mệnh đề, mỗi câu cho một tháng trong năm tới. Mỗi sáng trước khi em rời khỏi tư thế nằm, hãy nói lớn câu dành cho tháng ấy, chỉ một lần, nhờ đó xướng lên chủ âm của em cho ngày đó. Nhưng đừng tiếp tục tham thiền, suy tư hay phản tỉnh về các câu ấy.

1st month… In quietness and in confidence shall be my strength as I walk today the ways of earth.

Tháng thứ nhất… Trong sự tĩnh lặng và trong niềm tin cậy sẽ là sức mạnh của tôi khi hôm nay tôi bước đi trên những nẻo đường của đất.

2nd month… I descend in thought unto the plains whereon men walk, and there I work.

Tháng thứ hai… Trong tư tưởng, tôi hạ xuống những đồng bằng nơi con người bước đi, và tại đó tôi làm việc.

3rd month… In spiritual being I stand upon the Way. It is the way of men. I am. I neither think nor dream, but work.

Tháng thứ ba… Trong hiện tồn tinh thần, tôi đứng trên Đường Đạo. Đó là con đường của con người. Tôi hiện hữu. Tôi không suy nghĩ cũng không mơ mộng, mà làm việc.

4th month… With my brothers I dwell within the Ashram. I issue forth and carry out the Plan as best I can.

Tháng thứ tư… Cùng các huynh đệ của tôi, tôi cư ngụ trong Ashram. Tôi đi ra và thực hiện Thiên Cơ hết sức mình.

5th month… Let love stream out today—from out my eyes, my hands, my feet, because my heart beats with the love of God.

Tháng thứ năm… Hôm nay, hãy để tình thương tuôn chảy ra, từ đôi mắt tôi, đôi tay tôi, đôi chân tôi, vì tim tôi đập bằng tình thương của Thượng đế.

6th month… Within my hand I hold the keys of life. I unlock the door for others and they pass through—yet see me not.

Tháng thứ sáu… Trong tay tôi, tôi nắm giữ những chìa khóa của sự sống. Tôi mở cửa cho những người khác và họ đi qua, nhưng không thấy tôi.

7th month… As I am strength and power and love and understanding, I bring these gifts into the haven of my work. Thus strength goes forth to others and love to all I meet, and to these gifts I add an understanding heart.

Tháng thứ bảy… Vì tôi là sức mạnh, quyền năng, tình thương và sự thấu hiểu, tôi đem các món quà này vào nơi trú ẩn của công việc tôi. Nhờ vậy, sức mạnh đi đến những người khác và tình thương đến tất cả những ai tôi gặp, và vào các món quà này tôi thêm một trái tim thấu hiểu.

8th month… The cry goes out for workers. I answer, Master of my Life, and stand within the ranks of those who serve. What shall I do? The answer comes: The thing before thine eyes.

Tháng thứ tám… Tiếng kêu vang lên đòi hỏi những người hoạt động. Tôi đáp lời, Chân sư của Đời tôi, và đứng trong hàng ngũ những người phụng sự. Tôi phải làm gì? Câu trả lời đến: Điều ở trước mắt con.

9th month… I climb the mountain top with others and watch the sun. I descend into the valley [717] with my fellowmen and therein walk. The dark is great, but I am with my fellowmen.

Tháng thứ chín… Tôi leo lên đỉnh núi cùng những người khác và ngắm mặt trời. Tôi xuống thung lũng [717] cùng đồng loại của tôi và bước đi trong đó. Bóng tối rất lớn, nhưng tôi ở cùng đồng loại của tôi.

10th month… I think no thought, I speak no word, I do no deed that hurts another. This means I use a guarded brain against myself—the little personal self.

Tháng thứ mười… Tôi không nghĩ tư tưởng nào, không nói lời nào, không làm hành động nào gây tổn thương người khác. Điều này có nghĩa là tôi dùng một bộ não được canh giữ để chống lại chính mình, cái ngã cá nhân nhỏ bé.

11th month… The chain of Hierarchy reaches from heaven to earth and in that chain I am a part. Above me stand the Ones I seek to serve; below me stand brothers demanding help.

Tháng thứ mười một… Chuỗi Thánh Đoàn vươn từ trời xuống đất và trong chuỗi ấy tôi là một phần. Trên tôi là Các Đấng mà tôi tìm cách phụng sự; dưới tôi là các huynh đệ đang đòi hỏi sự giúp đỡ.

12th month… The cross is mine. The sword of love is mine. The word of Power is mine because I love—my Master and my brothers on the upward Way and on the lesser way, my fellowmen.

Tháng thứ mười hai… Thập giá là của tôi. Thanh gươm tình thương là của tôi. Quyền năng từ là của tôi vì tôi yêu thương, Chân sư của tôi và các huynh đệ của tôi trên Con Đường đi lên và trên con đường thấp hơn, đồng loại của tôi.

This change is not going to be easy for you, brother of mine. It will appear to disrupt and to disturb the rhythm of your life, but it will net you good results and you will never regret acceding to my request. The best lies ahead for you. You are needed, and there is service you can render along with your group brothers and with me.

Huynh đệ của Tôi, sự thay đổi này sẽ không dễ dàng đối với em. Nó sẽ có vẻ làm gián đoạn và xáo trộn nhịp điệu đời sống của em, nhưng nó sẽ đem lại cho em những kết quả tốt đẹp và em sẽ không bao giờ hối tiếc vì đã chấp thuận lời yêu cầu của Tôi. Điều tốt đẹp nhất đang nằm phía trước em. Em được cần đến, và có sự phụng sự mà em có thể thực hiện cùng với các huynh đệ trong nhóm của em và với Tôi.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ LÂU NĂM:

This is the last specific and individual instruction I shall give you. It is not my intention to continue repeating what I seek you—and all of you—to be, to become or to do. You have had much given to you over the years which still needs to be worked out in practical effectiveness. I wonder if you have noticed how frequently, in this series of group and individual instructions, I have used the word “effective”? This has been deliberate upon my part, for the word conveys something which I would see each of you express. True effectiveness is the result of a merging of soul energy with personality force, and through this etheric merging, the physical [718] demonstration becomes adequate to the demand and commensurate with the forces blended. Each of you who have been admitted in the Ashram has already established a measure of definite contact. The way into the inner circle of the Ashram is through a still closer rapport with the soul, and upon this rapport you must definitely concentrate.

Đây là huấn thị riêng biệt và cá nhân cuối cùng Tôi sẽ trao cho em. Tôi không có ý định tiếp tục lặp lại điều Tôi mong em, và tất cả các em, hiện là, trở thành hoặc làm. Qua nhiều năm, em đã được trao nhiều điều vẫn còn cần được thực hiện thành hiệu quả thực tiễn. Tôi tự hỏi liệu em có nhận thấy trong loạt huấn thị nhóm và cá nhân này, Tôi đã thường xuyên sử dụng từ “hữu hiệu” đến mức nào không? Điều này đã được Tôi chủ ý, vì từ ấy truyền đạt một điều mà Tôi muốn thấy mỗi người trong các em biểu lộ. Hiệu quả chân chính là kết quả của sự hòa nhập năng lượng linh hồn với mãnh lực phàm ngã, và qua sự hòa nhập dĩ thái này, sự biểu hiện hồng trần [718] trở nên tương xứng với nhu cầu và cân xứng với các mãnh lực đã được pha trộn. Mỗi người trong các em đã được tiếp nhận vào Ashram đều đã thiết lập một mức độ tiếp xúc xác định. Con đường vào vòng trong của Ashram là qua một mối giao cảm còn gần gũi hơn với linh hồn, và em phải nhất định tập trung vào mối giao cảm này.

You are making a real effort to cooperate and to carry out my instructions; this has not been easy for you. It has taken you a long time to get down to work since receiving the last instruction I gave you; it has taken you long to arrive at a point of focus upon some definite activity, as I enjoined you some time ago. This again is the result of your over-rationalising mind which in dealing with all life circumstances is—in your case—prone to make complicated and intricate the simplest of physical plane matters. You are apt to make important, things which are not of the slightest importance whatsoever.

Em đang nỗ lực thật sự để hợp tác và thực hiện các huấn thị của Tôi; điều này không dễ dàng đối với em. Em đã mất một thời gian dài mới bắt tay vào việc kể từ khi nhận huấn thị gần nhất Tôi trao cho em; em đã mất nhiều thời gian để đạt đến một điểm tập trung vào một hoạt động xác định nào đó, như Tôi đã truyền lệnh cho em cách đây một thời gian. Điều này lại là kết quả của thể trí quá lý luận hóa của em, vốn khi xử lý mọi hoàn cảnh đời sống, trong trường hợp của em, có khuynh hướng làm cho những vấn đề đơn giản nhất trên cõi hồng trần trở nên phức tạp và rối rắm. Em có khuynh hướng làm cho những điều hoàn toàn không quan trọng chút nào trở nên quan trọng.

Your goal for the remainder of your life should be simplicity in all affairs and in all relationships. To this simplicity I would have you add a greater sense of personal dignity—a dignity which will work out as a physical reticence; of this, you as yet know little, but it will reveal itself to you as you reflect upon the word. To these two necessities of your physical plane expression I would have you add understanding—an understanding based upon love and not upon any mental process. This will be hard for you, for it involves being guided by your heart, unprompted by your versatile and fluid mind. If you will develop these qualities—simplicity from the mental angle, understanding from the emotional and astral angle, and dignity from the physical angle—and will work at these qualities during the rest of this incarnation, you will start your next life equipped for fuller service and with a more reliable physical instrument.

Mục tiêu của em cho phần đời còn lại phải là sự giản dị trong mọi công việc và mọi mối quan hệ. Vào sự giản dị này, Tôi muốn em thêm một ý thức lớn hơn về phẩm cách cá nhân, một phẩm cách sẽ biểu hiện thành sự kín đáo hồng trần; về điều này, em vẫn còn biết rất ít, nhưng nó sẽ tự mặc khải cho em khi em suy ngẫm về từ ấy. Vào hai điều cần thiết này cho sự biểu lộ trên cõi hồng trần của em, Tôi muốn em thêm sự thấu hiểu, một sự thấu hiểu dựa trên tình thương chứ không dựa trên bất kỳ tiến trình trí tuệ nào. Điều này sẽ khó đối với em, vì nó đòi hỏi được trái tim dẫn dắt, không do thể trí linh hoạt và linh động của em thúc đẩy. Nếu em phát triển các phẩm tính này, sự giản dị xét từ góc độ trí tuệ, sự thấu hiểu xét từ góc độ cảm xúc và cảm dục, và phẩm cách xét từ góc độ hồng trần, và làm việc với các phẩm tính này trong phần còn lại của lần lâm phàm này, em sẽ bắt đầu kiếp sống kế tiếp được trang bị để phụng sự đầy đủ hơn và với một công cụ hồng trần đáng tin cậy hơn.

A.A.B. tells me that it distresses you that you are what you call “behind” the others in the new seed group, as far as the reception of the series of group instructions is concerned. She asks me what she should do, as she would not withhold them from you if it is my wish for you to (using your own [719] words)”catch up.” Catch up with what and whom, my brother? A reception of the written instructions is no indication of capacity or status, for in the spiritual life and in all life free from physical brain awareness (as you understand it) such a “catching up” is non-existent. From the angle of esotericism, which is concerned with the soul aspect of life, time is simply a sequence of states of consciousness as registered by the physical brain. It does not in reality affect the inner spiritual man. Could you but know it—and this is a point which all disciples need to grasp—you, the true Being, needs no instructions. The task of any Master is only to bring to the attention of the man, working through the medium of a physical brain, that phase of the Ageless Wisdom which his own soul is seeking to have him register. In reality, you have had the instructions at closer and more rapid intervals than have your group brothers, because of your importunity and the grasping demand of your agile, unsatisfied mind. But you have by no means mastered what has been imparted, nor have you done the needed meditation; you will therefore only receive the current group instructions after the sun has moved northward, and I will intimate to A.A.B. the right time.

A.A.B. nói với Tôi rằng em đau khổ vì em là điều em gọi là “đi sau” những người khác trong nhóm hạt giống mới, xét về việc tiếp nhận loạt huấn thị nhóm. Bà hỏi Tôi Bà nên làm gì, vì Bà sẽ không giữ chúng lại khỏi em nếu đó là ý muốn của Tôi để em, dùng chính [719] lời của em, “bắt kịp.” Bắt kịp điều gì và ai, huynh đệ của Tôi? Việc tiếp nhận các huấn thị bằng văn bản không phải là dấu hiệu của năng lực hay địa vị, vì trong đời sống tinh thần và trong mọi đời sống thoát khỏi nhận thức của bộ não hồng trần, như em hiểu nó, một sự “bắt kịp” như thế không tồn tại. Xét từ góc độ nội môn học, vốn liên quan đến phương diện linh hồn của sự sống, thời gian chỉ đơn giản là một chuỗi các trạng thái tâm thức như được bộ não hồng trần ghi nhận. Trong thực tại, nó không ảnh hưởng đến con người tinh thần bên trong. Giá mà em có thể biết điều đó, và đây là một điểm mà mọi đệ tử cần nắm bắt, thì em, Sinh Mệnh chân thật, không cần các huấn thị. Nhiệm vụ của bất kỳ Chân sư nào chỉ là đưa đến sự chú ý của con người, đang làm việc qua trung gian của một bộ não hồng trần, phương diện Minh Triết Ngàn Đời mà linh hồn của chính y đang tìm cách khiến y ghi nhận. Trong thực tại, em đã nhận các huấn thị ở những khoảng cách gần hơn và nhanh hơn các huynh đệ trong nhóm của em, vì sự nài nỉ và đòi hỏi nắm bắt của thể trí nhanh nhạy, chưa thỏa mãn của em. Nhưng em tuyệt nhiên chưa làm chủ điều đã được truyền đạt, cũng chưa thực hiện sự tham thiền cần thiết; vì vậy, em sẽ chỉ nhận các huấn thị nhóm hiện hành sau khi mặt trời đã chuyển về phương bắc, và Tôi sẽ báo cho A.A.B. thời điểm đúng.

As regards your meditation work, you may now begin to follow the meditation outline given in the last series, but you must do it with no undue pressure; you must do it without any eager expectancy, but simply as a demanded duty. I would have you watch yourself with extreme care and I would ask you to refrain from using the Sacred Word, except when in group meditation, when the aura of the group will absorb the incoming energies and you will not then be unduly stimulated. The mind, when awake and active, is the great transmitter of the energies loosed by the Sacred Word. When sounded by the emotional type, it fortunately proves ineffectual in the majority of cases, and no energy is drawn into the mechanism of the personality. But when the mind is active and en rapport with the soul at certain points of evolution, it can and does draw out soul energy, and relates it [720] rapidly and immediately to the brain. Hence much of the difficulties connected with overstimulation of which you are the victim. Adhere strictly to this injunction.

Về công việc tham thiền của em, giờ đây em có thể bắt đầu theo dàn ý tham thiền đã được trao trong loạt trước, nhưng em phải làm điều đó không với bất kỳ áp lực quá mức nào; em phải làm không với bất kỳ sự mong đợi háo hức nào, mà chỉ đơn giản như một bổn phận được đòi hỏi. Tôi muốn em quan sát chính mình với sự cẩn trọng cực độ, và Tôi yêu cầu em tránh dùng Linh Từ Thiêng Liêng, ngoại trừ khi tham thiền nhóm, khi hào quang của nhóm sẽ hấp thụ các năng lượng đang đi vào và khi đó em sẽ không bị kích thích quá mức. Thể trí, khi thức tỉnh và hoạt động, là bộ truyền dẫn lớn lao của các năng lượng được Linh Từ Thiêng Liêng phóng thích. Khi được xướng bởi loại người cảm xúc, may thay, nó tỏ ra vô hiệu trong đa số trường hợp, và không năng lượng nào được hút vào bộ máy của phàm ngã. Nhưng khi thể trí hoạt động và giao cảm với linh hồn ở một số điểm tiến hoá nhất định, nó có thể và thực sự rút ra năng lượng linh hồn, và liên hệ năng lượng ấy [720] một cách nhanh chóng và tức thời với bộ não. Vì thế có nhiều khó khăn liên quan đến sự kích thích quá mức mà em là nạn nhân. Hãy tuân thủ nghiêm ngặt huấn lệnh này.

One of the factors in ashramic relations which you need to find and express is the assured peace and inner confidence which characterise its vibration. There is too much fever in your life. You ascribe it to a delicate body, my brother, but this is not so. It is due to a feverish mind; until calm and peace and tranquility distinguish your mental processes, it will not be wise for you to penetrate any further into the Ashram than the point where now you find yourself. So endeavour to keep the mind quiet. The physical vehicle is far stronger than you think, and a much larger measure of real health will be yours if your mind can be better regulated.

Một trong những yếu tố trong các quan hệ ashram mà em cần tìm thấy và biểu lộ là sự bình an chắc chắn và niềm tin cậy bên trong vốn đặc trưng cho rung động của nó. Có quá nhiều sự bồn chồn trong đời sống của em. Em quy điều đó cho một thể xác mỏng manh, huynh đệ của Tôi, nhưng không phải vậy. Nó do một thể trí bồn chồn; cho đến khi sự điềm tĩnh, bình an và tĩnh lặng là đặc trưng của các tiến trình trí tuệ của em, thì sẽ không khôn ngoan để em thâm nhập xa hơn vào Ashram so với điểm nơi em hiện đang ở. Vì vậy, hãy cố gắng giữ thể trí yên lặng. Hiện thể hồng trần mạnh hơn rất nhiều so với em nghĩ, và một mức độ sức khỏe thật sự lớn hơn nhiều sẽ thuộc về em nếu thể trí của em có thể được điều chỉnh tốt hơn.

An Ashram is a place of quietly confident, regulated effort. The plan and the immediate service-activity are known, and disciples and initiates—each aware of his task and equipment—proceed to carry out the phase of the One Work which is theirs. Each senses its relationship to the phases of the work undertaken by his group brothers; it is in learning to see the picture whole (as the Master ever sees it) that confidence and security are developed.

Một Ashram là nơi của nỗ lực được điều hòa, lặng lẽ và đầy tin cậy. Thiên Cơ và hoạt động phụng sự trước mắt được biết rõ, và các đệ tử cùng các điểm đạo đồ, mỗi người ý thức về nhiệm vụ và trang bị của mình, tiến hành thực hiện giai đoạn của Công Việc Duy Nhất thuộc về mình. Mỗi người cảm nhận mối quan hệ của nó với các giai đoạn công việc do các huynh đệ trong nhóm của mình đảm nhận; chính trong việc học nhìn thấy toàn bộ bức tranh, như Chân sư luôn thấy, mà niềm tin cậy và sự an toàn được phát triển.

In the place of your Sunday morning dedication, I want to give you four pictures upon which to reflect, seeking to read behind their symbolism the message of your soul to you, the personality.

Thay cho sự hiến dâng sáng Chủ nhật của em, Tôi muốn trao cho em bốn hình ảnh để suy ngẫm, tìm cách đọc đằng sau biểu tượng của chúng thông điệp của linh hồn em gửi cho em, phàm ngã.

I. A quiet sea of midnight blue. Above, the shining, round-faced moon. Across the sea, a path of light, and moving slowly down that path a little boat and—smiling, with the oars in hand—H.S.D. is seen.

I. Một biển lặng màu xanh nửa đêm. Phía trên, mặt trăng tròn sáng rực. Băng qua biển, một con đường ánh sáng, và đang di chuyển chậm rãi xuống con đường ấy là một chiếc thuyền nhỏ, và H.S.D. được thấy đang mỉm cười, tay cầm mái chèo.

II. A pillared cloister, dappled with the sun and broken by the shade cast by the pillars. A garden spreads on either side, redolent with the smell of many flowers and noisy with the hum of many bees and gay with butterflies. Ten times a bell rings out. Its tone is deep and clear and musical. But the one who sits and writes and thinks beneath the cloister’s shade [721] moves not. He writes, and measures to the task assigned.

II. Một hành lang có cột, loang lổ ánh mặt trời và bị cắt đoạn bởi bóng do các cột tạo nên. Một khu vườn trải rộng hai bên, thơm ngát mùi nhiều loài hoa, rộn ràng tiếng vo ve của nhiều ong, và tươi vui với những cánh bướm. Mười lần một chiếc chuông ngân vang. Âm điệu của nó sâu, trong và du dương. Nhưng người ngồi viết và suy nghĩ dưới bóng hành lang [721] không động đậy. Y viết, và tự điều chỉnh theo nhiệm vụ được giao.

III. A room in shadow, full of peace and calm, of books and enterprise. And at the desk, the Master sits and works and thinks, projecting thought, working within, above and all around, whilst through the room pass many. It is their right to pass.

III. Một căn phòng trong bóng râm, đầy bình an và tĩnh lặng, đầy sách và công cuộc. Và tại bàn viết, Chân sư ngồi, làm việc và suy nghĩ, phóng chiếu tư tưởng, làm việc bên trong, bên trên và khắp chung quanh, trong khi nhiều người đi qua căn phòng. Đó là quyền của họ được đi qua.

IV. A golden door, wide open to the sun. Before the door lie rocks and bits of stone. A path winds towards that door, and o’er its lintel are the words: Enter with calm; speak low and only if a need is there. Enter the stream behind the door and wash away the stains of travel. Then face the Master, but only when the quiet of evening light shines forth and all is still within.

IV. Một cánh cửa vàng, rộng mở ra với mặt trời. Trước cửa là đá tảng và những mảnh đá. Một con đường uốn lượn hướng về cánh cửa ấy, và trên thanh ngang của nó có những lời: Hãy bước vào với sự điềm tĩnh; hãy nói nhỏ và chỉ khi có nhu cầu ở đó. Hãy bước vào dòng nước sau cánh cửa và rửa sạch những vết nhơ của cuộc hành trình. Rồi hãy đối diện Chân sư, nhưng chỉ khi sự tĩnh lặng của ánh chiều tỏa sáng và tất cả đều yên lặng bên trong.

Take these pictures—one each Sunday in the month—and work creatively with them. At the close of a year, send in to A.A.B. (for the helping of the group) your interpretation of these symbols. Speak truth through them and fear not criticism.

Hãy lấy các hình ảnh này, mỗi Chủ nhật trong tháng một hình ảnh, và làm việc một cách sáng tạo với chúng. Vào cuối một năm, hãy gửi cho A.A.B., để giúp ích cho nhóm, phần diễn giải của em về các biểu tượng này. Hãy nói sự thật qua chúng và đừng sợ phê bình.

You are making progress, my brother, and can—if you so will—be of service to your fellowmen. Forget not that at the centre of the Ashram I can be found at all times, but only when you can penetrate there with simplicity, understanding and dignity.

Em đang tiến bộ, huynh đệ của Tôi, và có thể, nếu em muốn như vậy, phụng sự đồng loại của mình. Đừng quên rằng ở trung tâm của Ashram, Tôi có thể được tìm thấy mọi lúc, nhưng chỉ khi em có thể thâm nhập vào đó với sự giản dị, thấu hiểu và phẩm cách.

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

In my last instruction to you I stated that it was the last which I would give you. At that time, I had no intention of closing the outer ashramic affiliation. Today it is closed, and I give you, therefore, a parting word of practical import upon the physical plane, along with those of your brothers.

Trong huấn thị gần nhất gửi cho em, Tôi đã nói rằng đó là huấn thị cuối cùng Tôi sẽ trao cho em. Vào lúc ấy, Tôi không có ý định khép lại sự liên kết ashram bên ngoài. Hôm nay nó đã khép lại, và vì vậy, Tôi trao cho em một lời từ biệt có ý nghĩa thực tiễn trên cõi hồng trần, cùng với những lời gửi cho các huynh đệ của em.

I approach you with much concern because your physical plane life is now as fluidic as your mind has been, and you know, brother of old, that that restless, grasping, unsatisfied mind has given both you and me much trouble over our years [722] of association. Let us look at your situation clearly, and I would like to indicate to you the wise procedure for the future.

Tôi đến với em với nhiều quan ngại, vì đời sống trên cõi hồng trần của em hiện nay cũng linh động như thể trí của em đã từng như vậy, và em biết, huynh đệ lâu năm, rằng thể trí bất an, nắm bắt, không thỏa mãn ấy đã gây nhiều rắc rối cho cả em lẫn Tôi qua những năm [722] liên kết của chúng ta. Chúng ta hãy nhìn rõ tình thế của em, và Tôi muốn chỉ cho em phương thức khôn ngoan cho tương lai.

You are a dedicated disciple and have proven yourself so to be; you are a member of my Ashram, but your mental fluidity has militated against your passing into any closer relation within the Ashram. You still remain upon the periphery, whereas you should have advanced to within the first circle of working disciples, at least. This, however, has been impossible and will remain so until you have brought quietness and rhythm into your physical plane life. It was the realisation of this which prompted A.A.B. to beg you, not long ago, to settle down. She could not give ashramic reasons, for she intrudes not into that which I perforce must do, but she earnestly sought to help.

Em là một đệ tử hiến dâng và đã chứng tỏ mình là như vậy; em là một thành viên của Ashram của Tôi, nhưng tính linh động trí tuệ của em đã chống lại việc em bước vào bất kỳ mối quan hệ gần gũi hơn nào trong Ashram. Em vẫn còn ở trên chu vi, trong khi lẽ ra em ít nhất phải đã tiến vào vòng đầu tiên của các đệ tử đang hoạt động. Tuy nhiên, điều này đã là bất khả và sẽ vẫn như vậy cho đến khi em đem sự yên tĩnh và nhịp điệu vào đời sống hồng trần của mình. Chính sự nhận ra điều này đã thúc đẩy A.A.B. cách đây không lâu tha thiết xin em ổn định lại. Bà không thể đưa ra các lý do ashram, vì Bà không xen vào điều mà Tôi tất yếu phải làm, nhưng Bà đã chân thành tìm cách giúp đỡ.

My brother, no matter where you are, a settled place of abode is needed for all disciples, and this for several reasons. Over the months or years, where a true disciple is concerned, this settled abode becomes a shrine, something is built which becomes magnetic and responsive to the Ashram, and occultly speaking, “the sensitive receiver of the disciple’s physical brain can be located and found to be at peace.” I trust you understand, and I would have you ponder on these words and reflect upon my suggestion. I would have you seek (and you will find) a place of suitable residence which will be of prolonged usefulness to you and from which you will not move, except in response to the normal procedures of life. Because of the instability with which you have come into incarnation and which constitutes your major life problem, you know that you need the steady rhythm and the heartbeat of the Headquarters in New York, through which I work; this should condition your choice of a place in which to settle and, my brother, I emphasise and re-emphasise to you the word “settle.”

Huynh đệ của Tôi, dù em ở đâu, một nơi cư trú ổn định là điều cần thiết cho mọi đệ tử, và điều này vì nhiều lý do. Qua nhiều tháng hay nhiều năm, đối với một đệ tử chân chính, nơi cư trú ổn định này trở thành một đền thờ, một điều gì đó được xây dựng nên, trở nên từ tính và đáp ứng với Ashram, và nói theo huyền bí học, “bộ thu nhạy cảm của bộ não hồng trần của đệ tử có thể được định vị và thấy là ở trong bình an.” Tôi tin em thấu hiểu, và Tôi muốn em suy ngẫm về những lời này và phản tỉnh về gợi ý của Tôi. Tôi muốn em tìm kiếm, và em sẽ tìm thấy, một nơi cư trú thích hợp, có ích cho em một cách lâu dài và từ đó em sẽ không dời đi, ngoại trừ để đáp ứng các tiến trình bình thường của đời sống. Vì sự bất ổn định mà em đã mang vào lần lâm phàm này và vốn tạo thành vấn đề đời sống chính yếu của em, em biết rằng em cần nhịp điệu đều đặn và nhịp tim của Trụ sở ở New York, qua đó Tôi làm việc; điều này phải tác động lên sự chọn lựa của em về một nơi để ổn định, và huynh đệ của Tôi, Tôi nhấn mạnh và nhấn mạnh lại với em từ “ổn định.”

This is for you a spiritual necessity, and will eventually mean for you health and peace and a stable settled personal rhythm. This again will signify a step towards liberation. Your restlessness and instability have been accepted by you as conditioning factors in your life, and herein lies a major mistake [723] which you have always made. Both are a serious detriment to your spiritual progress and usefulness and one reason why you are not as useful as you should be to those around you.

Đối với em, đây là một nhu cầu tinh thần, và cuối cùng sẽ có nghĩa là sức khỏe, bình an và một nhịp điệu cá nhân ổn định, vững chắc. Điều này lại sẽ biểu thị một bước tiến tới giải thoát. Sự bất an và bất ổn định của em đã được em chấp nhận như những yếu tố tác động lên đời sống của mình, và chính trong điều này có một sai lầm lớn [723] mà em đã luôn mắc phải. Cả hai đều là một trở ngại nghiêm trọng đối với sự tiến bộ tinh thần và sự hữu dụng của em, và là một lý do tại sao em không hữu dụng như lẽ ra em phải là đối với những người chung quanh em.

For whatever time lies ahead of you, my brother, let this constant movement end. Endeavour to be where you can be found; gather around you what you need for peaceful, quiet and useful living, and there abide. I cannot too strongly urge this on you. Fill your life with interests related to my work (a work which has evoked your sincere dedication), but give not time to meditation. It is this constant urge to meditation which is responsible for much of your difficulty, because meditation overstimulates your fluidic and active mind; this, in due course, results in a restless, constantly changing physical plane life. Talk this over with A.A.B., who has watched you with loving concern for many years and is peculiarly disturbed over you at this time.

Trong bất kỳ khoảng thời gian nào còn ở phía trước em, huynh đệ của Tôi, hãy để sự di chuyển liên tục này chấm dứt. Hãy cố gắng hiện tồn ở nơi em có thể được tìm thấy; hãy quy tụ quanh em những gì em cần cho một đời sống bình an, yên tĩnh và hữu ích, và hãy cư ngụ tại đó. Tôi thúc giục em điều này mạnh mẽ bao nhiêu cũng không thừa. Hãy lấp đầy đời sống của em bằng những mối quan tâm liên hệ với công việc của Tôi, một công việc đã gợi lên sự hiến dâng chân thành của em, nhưng đừng dành thời gian cho tham thiền. Chính sự thôi thúc liên tục muốn tham thiền này chịu trách nhiệm cho nhiều khó khăn của em, vì tham thiền kích thích quá mức thể trí linh động và hoạt động của em; điều này, theo thời gian, dẫn đến một đời sống trên cõi hồng trần bất an, luôn thay đổi. Hãy bàn điều này với A.A.B., người đã theo dõi em với sự quan tâm đầy thương yêu trong nhiều năm và hiện nay đặc biệt lo lắng về em.

There is much that you can do, if you are willing to do the little things. You have given generously of your means and have made much of my work possible; for this I am grateful, and for this I tender to you the thanks of those of us in the Hierarchy who stand behind the work for which A.A.B. and F.B. are responsible. We shall always be grateful for that help, as are the two who work with us; we shall be grateful for your continued help along this line if your soul so prompts you, provided you ever retain that which is needed for your quiet, gracious, restful living in a suitable abiding place, close to the centre of our work.

Có nhiều điều em có thể làm, nếu em sẵn lòng làm những việc nhỏ. Em đã hào phóng trao tặng phương tiện của mình và đã làm cho nhiều công việc của Tôi trở nên khả thi; vì điều này Tôi biết ơn, và vì điều này Tôi chuyển đến em lời cảm tạ của những người trong chúng tôi thuộc Thánh Đoàn, những Đấng đứng sau công việc mà A.A.B. và F.B. chịu trách nhiệm. Chúng tôi sẽ luôn biết ơn sự giúp đỡ ấy, cũng như hai người đang làm việc với chúng tôi; chúng tôi sẽ biết ơn sự giúp đỡ tiếp tục của em theo đường lối này nếu linh hồn em thúc đẩy em như vậy, miễn là em luôn giữ lại những gì cần thiết cho đời sống yên tĩnh, thanh nhã, nghỉ ngơi của em trong một nơi cư ngụ thích hợp, gần trung tâm công việc của chúng tôi.

We are endeavouring to prolong the life of A.A.B., which should have ended this year; we are doing so, much against her wishes, in order that the work in Europe can be stabilised and the books completed. I put these two things in the order of their importance. Help her all you can. She asks me not to write this, but has my instructions so to do. Her life is harder than you know, and but for F.B. she would not be here at all.

Chúng tôi đang cố gắng kéo dài đời sống của A.A.B., vốn lẽ ra đã kết thúc trong năm nay; chúng tôi làm như vậy, rất trái với ý muốn của Bà, để công việc ở châu Âu có thể được ổn định và các sách được hoàn tất. Tôi đặt hai điều này theo thứ tự quan trọng của chúng. Hãy giúp Bà hết sức em có thể. Bà yêu cầu Tôi không viết điều này, nhưng có huấn thị của Tôi để làm như vậy. Đời sống của Bà khó khăn hơn em biết, và nếu không có F.B. thì Bà đã không còn ở đây chút nào.

Every morning, at noon, and each night before retiring to sleep, align yourself with your soul, with the Ashram and with me, and say very quietly and with no tension:

Mỗi sáng, vào buổi trưa, và mỗi tối trước khi lui vào giấc ngủ, hãy chỉnh hợp chính mình với linh hồn em, với Ashram và với Tôi, rồi nói thật nhẹ nhàng và không căng thẳng:

“I stand a point of peace, and through the point [724] which I can thus provide, love and true light can flow.

“Tôi đứng như một điểm bình an, và qua điểm [724] mà tôi có thể cung ứng như vậy, tình thương và ánh sáng chân thật có thể tuôn chảy.

I stand in restful poise, and through that poise I can attract the gifts which I must give—an understanding heart, a quiet mind, myself.

Tôi đứng trong sự quân bình an nghỉ, và qua sự quân bình ấy, tôi có thể thu hút những món quà mà tôi phải trao, một trái tim thấu hiểu, một thể trí yên tĩnh, chính tôi.

I never am alone, for round me gather those I seek to serve, my brothers in the Ashram, souls that demand my help, e’en though I see them not, and those in distant places who seek the Master of my life, my brother, the Tibetan.”

Tôi không bao giờ đơn độc, vì quanh tôi quy tụ những người tôi tìm cách phụng sự, các huynh đệ của tôi trong Ashram, những linh hồn đòi hỏi sự giúp đỡ của tôi, dù tôi không thấy họ, và những người ở các nơi xa xôi đang tìm kiếm Chân sư của đời tôi, huynh đệ của tôi, Chân sư Tây Tạng.”

That is all the meditation I would have you do for the remainder of your life, except the meditations in group formation at the Headquarters of our work. You will find that these affirmations, affirmed by you three times a day, will suffice to calm your mind and turn the place where you abide into a shrine.

Đó là tất cả sự tham thiền mà Tôi muốn em thực hiện trong phần đời còn lại của em, ngoại trừ các cuộc tham thiền trong đội hình nhóm tại Trụ sở công việc của chúng tôi. Em sẽ thấy rằng những lời xác quyết này, được em xác quyết ba lần mỗi ngày, sẽ đủ để làm dịu thể trí của em và biến nơi em cư ngụ thành một đền thờ.

This communication may be somewhat surprising to you. Seldom do I deal with physical plane matters, and I deal with this matter of a “centre of peaceful abode” for you only because its lack and your refusal (an interior refusal) to seek a suitable place to live are indications of a mental condition which should be brought to an end by you. This restlessness affects the quality of your vibration, and this in turn, to a slight (a very slight) degree, affects your ashramic group of brothers.

Thông điệp này có thể hơi gây ngạc nhiên cho em. Hiếm khi Tôi đề cập đến các vấn đề trên cõi hồng trần, và Tôi đề cập đến vấn đề “một trung tâm cư ngụ bình an” này cho em chỉ vì sự thiếu vắng nó và sự từ chối của em, một sự từ chối bên trong, trong việc tìm kiếm một nơi thích hợp để sống, là những dấu hiệu của một tình trạng trí tuệ mà em cần chấm dứt. Sự bất an này ảnh hưởng đến phẩm tính rung động của em, và đến lượt nó, ở một mức độ nhỏ, rất nhỏ, ảnh hưởng đến nhóm huynh đệ ashram của em.

A future of service opens wide for you if, I repeat, you are willing to do the little things and finish what you begin.

Một tương lai phụng sự rộng mở trước em nếu, Tôi nhắc lại, em sẵn lòng làm những việc nhỏ và hoàn tất điều em bắt đầu.

My blessing and my love for you—the love of a Master for his disciple, distant and close, remote yet near—is ever yours.

Phước lành của Tôi và tình thương của Tôi dành cho em, tình thương của một Chân sư dành cho đệ tử của Ngài, xa mà gần, cách biệt nhưng kề bên, luôn thuộc về em.

To L-T. S. K.

Gửi L-T. S. K.

September 1943

Tháng Chín năm 1943

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Our association together has existed for many years. It also began many lives ago. You should have advanced to a more intimate stage of discipleship had it not been for your always ready and still persistent response to the unreal, the [725] unnecessary, and to that which comes in between you and the clear, steady enlightened progress upon the Path which should be yours. You will note that I use not the word glamour here. The reason is that it is apparently an entirely meaningless word to you, and I felt that I should emphasise the fact that glamour (as far as you are concerned) means that which sidesteps you from the desired service, that which engrosses your attention and prevents you from concentrating on the realities of life and circumstance, that which places you always at the centre of some big scheme as the master-mind making some discovery, as the architect of some building which is intended to house humanity, and that which comes between you and the simple duty of a pledged disciple—for that you unchangeably are.

Sự liên kết giữa chúng ta đã tồn tại trong nhiều năm. Nó cũng đã bắt đầu từ nhiều kiếp trước. Lẽ ra em đã phải tiến đến một giai đoạn thân mật hơn của địa vị đệ tử, nếu không vì sự đáp ứng luôn sẵn sàng và vẫn còn dai dẳng của em đối với điều không thật, điều [725] không cần thiết, và đối với những gì xen vào giữa em với sự tiến bộ sáng rõ, vững vàng và được soi sáng trên Đường Đạo vốn phải thuộc về em. Em sẽ lưu ý rằng ở đây Tôi không dùng từ ảo cảm. Lý do là vì dường như đó là một từ hoàn toàn vô nghĩa đối với em, và Tôi cảm thấy rằng Tôi nên nhấn mạnh sự kiện rằng ảo cảm, xét trong trường hợp của em, có nghĩa là điều làm em đi lệch khỏi sự phụng sự mong muốn, điều thu hút trọn sự chú ý của em và ngăn em tập trung vào các thực tại của đời sống và hoàn cảnh, điều luôn đặt em ở trung tâm của một kế hoạch lớn nào đó như bộ óc chỉ đạo đang thực hiện một khám phá, như kiến trúc sư của một công trình nào đó nhằm làm nơi trú ngụ cho nhân loại, và điều xen vào giữa em với bổn phận giản dị của một đệ tử đã phát nguyện—vì điều đó em vẫn luôn luôn là.

You have, my brother, a good illustration of what I mean in the two plans which you have evolved during the past six months for world salvage and unity. One of them was supposed to be in response to my request for a paper, but another paper which I asked you to write is still unwritten and that paper was more important than the other. These plans were drawn; time was taken in submitting them to various people, and to what end? There was in them nothing new. The minds and some of the best minds in every country in the world are formulating them. Your plans were simply compilations of familiar suggestions which have already been presented in better form to the public. What end, therefore, did they serve? Only to sidetrack you from the simple duty of today; only to feed that inclination on your part to do something great; only to prevent you from a true and practical cooperation in my plans which you know well and which the disciples in my Ashram are pledged to materialise. It is their group duty, not from the angle of authoritative demand, or in a spirit of blind obedience but because from free choice and identity of purpose (as far as they can realise it) they are in my Ashram; they have willingly responded to my planned intentions and in a spirit of dedication to the good of humanity.

Huynh đệ của Tôi, em có một minh họa rõ về điều Tôi muốn nói trong hai kế hoạch mà em đã hình thành trong sáu tháng qua nhằm cứu vãn và thống nhất thế giới. Một trong hai kế hoạch đó được cho là nhằm đáp ứng yêu cầu của Tôi về một bài viết, nhưng một bài viết khác mà Tôi đã yêu cầu em viết thì vẫn chưa được viết, và bài viết đó quan trọng hơn bài kia. Các kế hoạch này đã được phác thảo; thời gian đã được dùng để trình chúng cho nhiều người khác nhau, và để đạt mục đích gì? Trong đó chẳng có gì mới. Các trí tuệ, và một số trí tuệ ưu tú nhất ở mọi quốc gia trên thế giới, đang hình thành chúng. Các kế hoạch của em chỉ đơn giản là những bản tổng hợp các đề nghị quen thuộc vốn đã được trình bày trước công chúng dưới hình thức tốt hơn. Vậy chúng đã phục vụ mục đích gì? Chỉ để làm em đi lệch khỏi bổn phận giản dị của ngày hôm nay; chỉ để nuôi dưỡng khuynh hướng nơi em muốn làm một điều gì vĩ đại; chỉ để ngăn em hợp tác một cách chân thật và thực tiễn với các kế hoạch của Tôi, những kế hoạch mà em biết rõ và mà các đệ tử trong Ashram của Tôi đã phát nguyện hiện hình. Đó là bổn phận nhóm của họ, không phải xét theo góc độ đòi hỏi có tính quyền uy, hay trong tinh thần vâng lời mù quáng, mà vì do lựa chọn tự do và sự đồng nhất về mục đích, trong mức họ có thể chứng nghiệm, họ ở trong Ashram của Tôi; họ đã tự nguyện đáp ứng các ý định đã được Tôi hoạch định, và trong tinh thần hiến dâng cho điều thiện của nhân loại.

All this indicates to me that you are still prone to slip into the thraldom of the vague vision, the grandiose formulations [726] of something and are negatively responsive to the collective ideas of forward-thinking men, for you do no positive or original thinking of your own. Glamour still holds you.

Tất cả điều này cho Tôi thấy rằng em vẫn còn dễ trượt vào sự nô lệ của linh ảnh mơ hồ, những công thức hóa phóng đại [726] về một điều gì đó, và em đáp ứng một cách thụ động với các ý tưởng tập thể của những người có tư tưởng tiến bộ, bởi vì chính em không có tư duy chủ động hay độc sáng nào. Ảo cảm vẫn còn nắm giữ em.

You might well ask, my brother: Why then keep me in your group? Why not wait until I have learnt better and have dropped this tendency? Because you need the protection of the Ashram and you need—from the centre of protection—to learn then to accept the duty of obedience to the ashramic intent and to work under the direction of the loving intentions of Those Whom you do recognise as more experienced disciples than yourself. You are in my Ashram also from old association and because you earned the reward of this recognition and opportunity by being the first to appreciate the significance of my books and the teaching that they convey, and to aid the effort of A.A.B. For that reason you earned the right to my appreciation and hers, and have had them both. That was the one clear bit of spiritual thinking you have done in this incarnation. Therefore, the Ashram protects you, and your brothers stand around you, and for this brief incarnation you are a liability—but a liability which can, with your cooperation, be changed in your next incarnation into a group asset.

Huynh đệ của Tôi, em rất có thể hỏi: Vậy tại sao vẫn giữ tôi trong nhóm của Ngài? Tại sao không chờ cho đến khi tôi đã học được tốt hơn và đã từ bỏ khuynh hướng này? Bởi vì em cần sự che chở của Ashram, và từ trung tâm che chở ấy, em cần học cách chấp nhận bổn phận vâng theo ý định của ashram và làm việc dưới sự hướng dẫn của những ý định đầy tình thương của Những Vị mà em quả thật công nhận là các đệ tử có kinh nghiệm hơn em. Em ở trong Ashram của Tôi cũng vì mối liên kết xưa cũ, và vì em đã xứng đáng nhận phần thưởng là sự công nhận và cơ hội này, do là người đầu tiên đánh giá đúng thâm nghĩa của các sách của Tôi và giáo huấn mà chúng truyền đạt, cũng như hỗ trợ nỗ lực của A.A.B. Vì lý do đó, em đã giành được quyền đối với sự trân trọng của Tôi và của bà, và em đã có cả hai. Đó là mẩu tư duy tinh thần sáng rõ duy nhất mà em đã thực hiện trong kiếp này. Do đó, Ashram che chở em, các huynh đệ của em đứng quanh em, và trong kiếp sống ngắn ngủi này, em là một gánh nặng—nhưng là một gánh nặng mà, với sự hợp tác của em, có thể được chuyển thành một tài sản của nhóm trong kiếp tới của em.

There is consequently no need for the slightest discouragement and I say that with definite purpose and truth. There is only room for the acceptance of facts. What facts, brother of mine? Let me (with my usual frankness) tell you. Let me point out to you what I feel and those who know you best feel should be your attitude for the remainder of this life. If you accept these ideas and cooperate willingly, you will do much to free yourself; if you refuse to see the light, you will but delay the process and continue to exact the protecting care of the Ashram for a longer period. Let me first highlight your career of glamour so as to prove to you, intelligently, the points I seek to make.

Do đó, không cần có chút nản lòng nào, và Tôi nói điều đó với mục đích rõ ràng và đúng sự thật. Chỉ có chỗ cho sự chấp nhận các sự kiện. Những sự kiện nào, huynh đệ của Tôi? Hãy để Tôi, với sự thẳng thắn thường lệ, nói với em. Hãy để Tôi chỉ cho em điều Tôi cảm thấy, và những người biết em rõ nhất cảm thấy, nên là thái độ của em trong phần còn lại của đời này. Nếu em chấp nhận các ý tưởng này và tự nguyện hợp tác, em sẽ làm được nhiều để giải thoát chính mình; nếu em từ chối nhìn thấy ánh sáng, em sẽ chỉ trì hoãn tiến trình và tiếp tục đòi hỏi sự chăm sóc bảo hộ của Ashram trong một thời gian dài hơn. Trước hết, hãy để Tôi nêu bật sự nghiệp ảo cảm của em, nhằm chứng minh cho em một cách sáng suốt những điểm mà Tôi tìm cách trình bày.

I shall not deal with your life, prior to the recognition period which enabled you to render me and the world outstanding service. Your recognition and aid of the work I was doing has released certain energies which will have much to [727] do with the changing of the consciousness of humanity. Remember that the Hierarchy has this service of yours in mind.

Tôi sẽ không đề cập đến đời sống của em trước thời kỳ nhận biết, thời kỳ đã giúp em phụng sự Tôi và thế giới một cách nổi bật. Sự nhận biết và hỗ trợ của em đối với công việc Tôi đang làm đã giải phóng một số năng lượng vốn sẽ có nhiều liên quan [727] đến việc thay đổi tâm thức của nhân loại. Hãy nhớ rằng Thánh Đoàn ghi nhớ sự phụng sự này của em.

There was the glamour of the wonderful discovery you were going to make, covering several years of experimentation and leading nowhere. Why? Because you had neither the training nor the capacity to do the work. It will be better done and in other ways and by better minds than yours. Your equipment was not adequate.

Đã có ảo cảm về khám phá kỳ diệu mà em sắp thực hiện, bao trùm nhiều năm thử nghiệm và chẳng dẫn đến đâu. Tại sao? Vì em không có sự huấn luyện cũng như năng lực để làm công việc ấy. Nó sẽ được thực hiện tốt hơn, theo những cách khác và bởi những trí tuệ tốt hơn trí tuệ của em. Trang bị của em không đầy đủ.

There was the glamour of spiritual power which led some of your group brothers astray for months. There has always been a glamorous response to personalities who have misled and glamoured you in the business world and led you into devious and difficult situations, and which forced you, eventually, to recognise that they were not the least what you had thought. What is this but the glamour of personalities? Until you have learnt to see people as they truly are, you cannot do the exoteric work of a disciple.

Đã có ảo cảm về quyền năng tinh thần, điều đã dẫn một số huynh đệ trong nhóm của em đi lạc trong nhiều tháng. Luôn luôn đã có một đáp ứng đầy ảo cảm đối với những phàm ngã đã dẫn lầm và làm em rơi vào ảo cảm trong thế giới kinh doanh, đưa em vào những hoàn cảnh quanh co và khó khăn, và cuối cùng buộc em phải nhận ra rằng họ không hề là điều em đã nghĩ. Điều này là gì nếu không phải là ảo cảm về các phàm ngã? Cho đến khi em học được cách nhìn thấy con người đúng như họ thật sự là, em không thể làm công việc ngoại môn của một đệ tử.

Then came an interlude. I asked for your resignation from the group, and the door of the inner Ashram closed upon you. That was very good for you and you endeavoured in that period to attend to the business of life, watching yourself with care. Then the door of the Ashram reopened and you were readmitted to the group life. For a year all seemed well, but the dual stimulation of the Ashram and the active work in my group proved too much, and glamour again enveloped you.

Rồi đến một giai đoạn gián đoạn. Tôi đã yêu cầu em từ nhiệm khỏi nhóm, và cánh cửa của Ashram nội tại đã đóng lại trước em. Điều đó rất tốt cho em, và trong giai đoạn ấy em đã cố gắng chăm lo các công việc của đời sống, quan sát chính mình một cách cẩn thận. Rồi cánh cửa của Ashram mở lại và em được tiếp nhận trở lại vào đời sống nhóm. Trong một năm, mọi sự dường như tốt đẹp, nhưng sự kích thích kép của Ashram và công việc tích cực trong nhóm của Tôi đã tỏ ra quá sức, và ảo cảm lại bao phủ em.

You started by formulating large schemes for world regeneration and for a super-organisation, and yet all that time the work that I wanted done and the outlines of the work as indicated by me, and to which your group brothers and my Ashram are pledged, played no part in your planning. You have been unhappy and bewildered because of the lack of sympathy, yet what would you have your brothers do? Would you have them aid me in helping you to free yourself from wild schemes and planning, or would you have them back you up and strengthen the hold that glamour has upon you?

Em bắt đầu bằng cách hình thành những kế hoạch lớn lao cho việc tái tạo thế giới và cho một siêu tổ chức, thế nhưng trong suốt thời gian đó, công việc mà Tôi muốn được thực hiện, và các đường nét của công việc như Tôi đã chỉ ra, mà các huynh đệ trong nhóm của em và Ashram của Tôi đã phát nguyện thực hiện, lại không đóng vai trò nào trong sự hoạch định của em. Em đã không vui và bối rối vì thiếu sự đồng cảm, nhưng em muốn các huynh đệ của em làm gì? Em muốn họ hỗ trợ Tôi trong việc giúp em giải thoát chính mình khỏi những kế hoạch và dự tính hoang dại, hay em muốn họ ủng hộ em và củng cố sự nắm giữ mà ảo cảm đang có đối với em?

Here are my suggestions, brother of mine, given in all [728] love and understanding, and with a real appreciation of your sincerity of devotion, your great and beautiful staying-power, your essential humility and your very real need for protection.

Huynh đệ của Tôi, đây là những gợi ý của Tôi, được đưa ra trong tất cả [728] tình thương và sự thấu hiểu, cùng với sự trân trọng chân thật đối với lòng sùng tín chân thành của em, sức bền bỉ lớn lao và đẹp đẽ của em, sự khiêm nhường căn bản của em và nhu cầu rất thật của em về sự che chở.

1. Accept the fact that you need protection, and be grateful.

1. Hãy chấp nhận sự kiện rằng em cần sự che chở, và hãy biết ơn.

2. Accept the fact that in this life you have neither the mental equipment nor the clear vision to enable you to be a leader, an organiser or a drawer of blueprints for the Hierarchy.

2. Hãy chấp nhận sự kiện rằng trong đời này, em không có trang bị trí tuệ cũng như tầm nhìn sáng rõ để có thể là một nhà lãnh đạo, một người tổ chức hay một người vẽ các bản thiết kế cho Thánh Đoàn.

3. Accept the fact that you are not young enough to make many basic personality changes, for the sixth ray crystallises too rapidly.

3. Hãy chấp nhận sự kiện rằng em không còn đủ trẻ để thực hiện nhiều thay đổi căn bản trong phàm ngã, vì cung sáu kết tinh quá nhanh.

4. Accept the fact that in the performance of your home and business duties and in the effort to bring happiness to those in your environment lies for you the immediate solution of your problem. A simple, humble life of service and of self-forgetfulness will do more to free you than any violent endeavour to understand and combat glamour. You do not yet even comprehend what it is; it can only be overcome by the illumined mind, and there is therefore, for you, nothing else to be done but to strengthen your soul contact by practical spiritual living upon the physical plane, and by a complete refraining from all thought anent the future world, future scientific discoveries, future world orders, and the manner whereby they can be instituted.

4. Hãy chấp nhận sự kiện rằng trong việc thực hiện các bổn phận gia đình và kinh doanh của em, và trong nỗ lực đem hạnh phúc đến cho những người trong môi trường của em, chính trong đó có giải pháp trước mắt cho vấn đề của em. Một đời sống giản dị, khiêm nhường, phụng sự và quên mình sẽ làm nhiều hơn để giải thoát em so với bất kỳ nỗ lực dữ dội nào nhằm thấu hiểu và chống lại ảo cảm. Em thậm chí vẫn chưa hiểu nó là gì; nó chỉ có thể được vượt qua bởi thể trí được soi sáng, và do đó, đối với em, không còn việc gì khác phải làm ngoài việc củng cố sự tiếp xúc linh hồn của em bằng đời sống tinh thần thực tiễn trên cõi hồng trần, và bằng cách hoàn toàn kiềm chế mọi tư tưởng liên quan đến thế giới tương lai, các khám phá khoa học tương lai, những trật tự thế giới tương lai, và phương cách nhờ đó chúng có thể được thiết lập.

The moment your mind becomes preoccupied with the universal aspects of life it is thrown into confusion; its thoughtform-making proclivities become violent, and the illumination of the soul is then unable to penetrate. You need to learn to bring that illumination into your personality daily life upon the physical plane. What measure of it you have received has been retained upon the mental plane and dedicated to matters far too big for you in this incarnation and with your present equipment. This has led to a chronic state [729] of glamour. Live practically, sweetly, humbly and lovingly for the remainder of this life, and demonstrate beauty in personality relations. You will thus release your mind from pressures too great for it, and so begin to tread the way of liberation.

Ngay khoảnh khắc thể trí của em trở nên bận tâm với các phương diện phổ quát của đời sống, nó bị ném vào sự rối loạn; các khuynh hướng tạo hình tư tưởng của nó trở nên mãnh liệt, và sự soi sáng của linh hồn khi ấy không thể xuyên thấu. Em cần học cách đưa sự soi sáng ấy vào đời sống hằng ngày của phàm ngã em trên cõi hồng trần. Mức độ soi sáng nào em đã tiếp nhận thì đã được giữ lại trên cõi trí và hiến dâng cho những vấn đề quá lớn lao đối với em trong kiếp này và với trang bị hiện tại của em. Điều này đã dẫn đến một trạng thái kinh niên [729] của ảo cảm. Hãy sống thực tiễn, dịu dàng, khiêm nhường và đầy tình thương trong phần còn lại của đời này, và biểu lộ vẻ đẹp trong các mối quan hệ phàm ngã. Nhờ vậy em sẽ giải phóng thể trí của mình khỏi những áp lực quá lớn đối với nó, và như thế bắt đầu bước trên con đường giải thoát.

Can you do this, my brother? Can you bring spirituality into business and live in the business world as a disciple? If you cannot do this, you will have to learn to do it, because discipleship leaves no aspect of life unlived, and business is an aspect of human living. Can you bring naught but peace, happiness and confidence into your home and into your association at the Headquarters of my work in the world? Can you begin to be one to whom the enquirer can turn for help, knowing that he will get enough practical assistance to enable him to see the next step ahead? You can do and be all these things, my brother. Your task is to demonstrate discipleship in the daily life, and not to duplicate the discipleship of those more advanced than yourself.

Huynh đệ của Tôi, em có thể làm điều này không? Em có thể đem tinh thần vào công việc kinh doanh và sống trong thế giới kinh doanh như một đệ tử không? Nếu em không thể làm điều này, em sẽ phải học làm điều đó, bởi vì địa vị đệ tử không để bất kỳ phương diện nào của đời sống không được sống trọn, và kinh doanh là một phương diện của đời sống nhân loại. Em có thể đem không gì ngoài bình an, hạnh phúc và sự tin cậy vào gia đình em và vào sự liên kết của em tại Trụ sở công việc của Tôi trong thế giới không? Em có thể bắt đầu trở thành một người mà kẻ tìm hỏi có thể quay đến để được giúp đỡ, biết rằng y sẽ nhận đủ sự trợ giúp thực tiễn để có thể thấy bước kế tiếp phía trước không? Huynh đệ của Tôi, em có thể làm và là tất cả những điều này. Nhiệm vụ của em là biểu lộ địa vị đệ tử trong đời sống hằng ngày, chứ không phải sao chép địa vị đệ tử của những người tiến xa hơn em.

Do the group work and meditation as indicated. I assign you no special work. I seek to see you more closely integrated into the group in my Ashram of which you are a part. Have no doubts and questionings. You are a part of my Ashram, and that brings the needed protection, as well as certain risks of overstimulation. The love and understanding and gratitude of your group brothers stands with warmth around you. I have no need to assure you of my protecting care and constant interest. The years must have proved it to you.

Hãy làm công việc nhóm và tham thiền như đã chỉ dẫn. Tôi không giao cho em công việc đặc biệt nào. Tôi tìm cách thấy em được tích hợp chặt chẽ hơn vào nhóm trong Ashram của Tôi mà em quả thật là một phần. Đừng nghi ngờ hay thắc mắc. Em là một phần của Ashram của Tôi, và điều đó đem lại sự che chở cần thiết, cũng như một số nguy cơ bị kích thích quá mức. Tình thương, sự thấu hiểu và lòng biết ơn của các huynh đệ trong nhóm của em đứng quanh em với sự ấm áp. Tôi không cần phải bảo đảm với em về sự chăm sóc bảo hộ và mối quan tâm thường xuyên của Tôi. Những năm tháng hẳn đã chứng minh điều đó cho em.

November 1944

Tháng Mười Một 1944

MY BROTHER AND FRIEND OF OLDEN TIME:

HUYNH ĐỆ VÀ BẠN CỦA TÔI TỪ THUỞ XƯA:

There is absolutely no need for the profound depression and for the process of self-accusation in which you so constantly live. Years ago, your dream was to serve the Master, to be known by Him and to be a part of His group or Ashram. You longed for the status, technically understood, of an accepted disciple. You have served the Master and rendered us, as I told you, notable service; you are known by me, and [730] it is perhaps the fact of this knowledge and its implications which disturbs you so deeply; you are an integral part of a group, affiliated with my Ashram; you are an accepted disciple. You have, therefore, every reason to feel encouraged.

Hoàn toàn không cần có sự trầm cảm sâu xa và tiến trình tự buộc tội mà em thường xuyên sống trong đó. Nhiều năm trước, giấc mơ của em là phụng sự Chân sư, được Ngài biết đến và trở thành một phần trong nhóm hay Ashram của Ngài. Em đã khao khát địa vị, hiểu theo nghĩa kỹ thuật, của một đệ tử được chấp nhận. Em đã phụng sự Chân sư và, như Tôi đã nói với em, đã phụng sự chúng tôi một cách đáng kể; em được Tôi biết đến, và [730] có lẽ chính sự kiện về sự biết này cùng những hàm ý của nó khiến em xao động sâu xa đến thế; em là một phần không thể tách rời của một nhóm, liên kết với Ashram của Tôi; em là một đệ tử được chấp nhận. Vì vậy, em có mọi lý do để cảm thấy được khích lệ.

You are, however, aware of weaknesses and of failure. So be it. But the fact remains that the major trend and purpose of your life has brought you into the Ashram. So be it again, my brother. All within the Ashram, except those of higher initiate status, fall short at times.

Tuy nhiên, em ý thức về những yếu kém và thất bại. Cứ để là như vậy. Nhưng sự kiện vẫn còn đó: khuynh hướng và mục đích chính yếu của đời em đã đưa em vào Ashram. Huynh đệ của Tôi, một lần nữa, cứ để là như vậy. Tất cả trong Ashram, ngoại trừ những vị có địa vị điểm đạo đồ cao hơn, đôi lúc đều không đạt mức.

One of the things which I said at my last word with you was that your age was such that it was well-nigh impossible for you to change. Yet you have changed quite definitely during the past year, and by your refusal to cultivate the glamorous thinking which characterised you in past years and so oft proved your undoing, you have made real progress—more real progress than at any previous time. This has almost surprised me. When I raised the point with a member of my Ashram (known to none of you in this group which I am instructing), he remarked: “The soul is after all a Master, and when the force of masterhood is released, bringing quiescence and acquiescence, it is difficult to predict the happenings possible.” Your quiescence, demonstrated upon the physical plane, largely as depression and fatigue, produced a negativity which made it difficult for any positive glamour to show itself; this greatly helped, weakening through attrition the hold which it has had upon your astral body. See that it gains no strength again. But be not depressed; simply be negative to all the suggestions of glamour and be encouraged at my words, for I speak not lightly or untruly. No spectacular progress will be made by you in this life. Accept that as factual and be happy at the quiet of the coming period before you pass over to the other side. Make full use of the time and read, study and think.

Một trong những điều Tôi đã nói trong lần trao đổi gần nhất với em là tuổi của em đã như thế khiến việc em thay đổi gần như là điều bất khả. Thế nhưng em đã thay đổi khá rõ rệt trong năm qua, và bằng sự từ chối vun bồi lối tư duy đầy ảo cảm vốn đã đặc trưng cho em trong những năm trước và thường xuyên chứng tỏ là nguyên nhân làm em thất bại, em đã có tiến bộ thật sự—tiến bộ thật sự hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây. Điều này gần như làm Tôi ngạc nhiên. Khi Tôi nêu điểm này với một thành viên trong Ashram của Tôi, người mà không ai trong nhóm này Tôi đang huấn luyện biết đến, vị ấy nhận xét: “Rốt cuộc linh hồn là một Chân sư, và khi mãnh lực của quyền năng Chân sư được giải phóng, đem lại sự tĩnh lặng và sự thuận nhận, thì khó mà tiên đoán những gì có thể xảy ra.” Sự tĩnh lặng của em, được biểu lộ trên cõi hồng trần phần lớn như trầm cảm và mệt mỏi, đã tạo ra một trạng thái thụ động khiến bất kỳ ảo cảm chủ động nào cũng khó biểu hiện; điều này đã giúp ích rất nhiều, làm suy yếu dần qua sự mài mòn sự nắm giữ mà nó đã có đối với thể cảm dục của em. Hãy thấy rằng nó không lấy lại sức mạnh. Nhưng đừng trầm cảm; đơn giản hãy không đáp ứng với mọi gợi ý của ảo cảm và hãy được khích lệ bởi lời Tôi, vì Tôi không nói nhẹ dạ hay sai sự thật. Em sẽ không đạt được tiến bộ ngoạn mục nào trong đời này. Hãy chấp nhận điều đó như một sự kiện và hãy hạnh phúc trong sự yên tĩnh của giai đoạn sắp tới trước khi em chuyển sang phía bên kia. Hãy sử dụng trọn vẹn thời gian, đọc, học và suy nghĩ.

You have for long asked me to tell you the rays upon which your three personality bodies are to be found. I do so now, for you can profit from the information.

Từ lâu em đã yêu cầu Tôi nói cho em biết các cung mà ba thể phàm ngã của em thuộc về. Bây giờ Tôi làm điều đó, vì em có thể hưởng lợi từ thông tin này.

You have, as you know, a third ray soul and a sixth ray personality. Your task as regards the latter is to transit on to [731] the first ray, so that next life you will come into incarnation with the difficult combination of three and one. For this the training, discipline and discoveries of the present incarnation should have prepared you, and you can therefore face the future with caution but with surety.

Như em biết, em có linh hồn cung ba và phàm ngã cung sáu. Nhiệm vụ của em liên quan đến phàm ngã là chuyển sang [731] cung một, để trong đời tới em sẽ đi vào lâm phàm với sự kết hợp khó khăn của ba và một. Cho điều này, sự huấn luyện, kỷ luật và những khám phá của kiếp hiện tại lẽ ra đã phải chuẩn bị cho em, và do đó em có thể đối diện tương lai với sự thận trọng nhưng cũng với sự chắc chắn.

Your mental body is on the fifth ray and hence your interest in things scientific; but the calibre of your mind is not yet of such a nature that you can profit from this, and this is a fact which you must accept.

Thể trí của em thuộc cung năm, và vì thế em quan tâm đến những điều khoa học; nhưng tầm vóc của thể trí em chưa có bản chất đến mức em có thể hưởng lợi từ điều này, và đây là một sự kiện mà em phải chấp nhận.

Your astral body is first ray in nature and hence the potent hold which glamour has had on you—a glamour inherited from three previous lives and rendered one-pointed and powerful in this life through your first ray astral nature. You willed to deal with glamour; you ran, last life, a great risk of wandering on to the path of black magic. Your recognition of me and my work and your instantaneous cooperation, completely negated that possibility, but the tendency to glamour remained and still does.

Thể cảm dục của em có bản chất cung một, và vì thế ảo cảm đã nắm giữ em một cách mạnh mẽ—một ảo cảm được thừa hưởng từ ba kiếp trước và trở nên nhất tâm cùng đầy uy lực trong kiếp này nhờ bản chất cảm dục cung một của em. Em đã muốn xử lý ảo cảm; trong kiếp trước, em đã đối diện một nguy cơ lớn là lang thang sang con đường hắc thuật. Sự nhận biết của em về Tôi và công việc của Tôi, cùng sự hợp tác tức khắc của em, đã hoàn toàn hóa giải khả năng đó, nhưng khuynh hướng hướng về ảo cảm vẫn còn, và vẫn còn đến nay.

Your physical body is third ray in type, and this has intensified the worst aspects of that ray, because soul energy (undirected by an illumined mind) at times stimulates it and the glamour can take effect in physical plane activity.

Thể xác của em thuộc loại cung ba, và điều này đã tăng cường những phương diện tệ nhất của cung ấy, bởi vì năng lượng linh hồn, khi không được một thể trí được soi sáng hướng dẫn, đôi lúc kích thích nó, và ảo cảm có thể phát tác trong hoạt động trên cõi hồng trần.

If you can develop mental perception to a fuller degree, and if you can achieve in this life and the next a measure of real illumination, all the difficulties now troubling you will be resolved. In your next incarnation, you should endeavour to work through a second ray astral body, for there is a real lack of second ray force in your most difficult equipment. There are too many energies in your present equipment along the line of the first ray, and your ultimate goal must be a second ray personality, following upon the coming first ray personality of your next life. Love and light are greatly needed by you, and their reception by you in your lower fourfold nature would produce great transforming results. These must be brought about by you through keen interest in and love of others, and by stern mental control and unfoldment. [732]

Nếu em có thể phát triển nhận thức trí tuệ đến một mức đầy đủ hơn, và nếu trong đời này cũng như đời kế tiếp em có thể đạt được một mức soi sáng thật sự, mọi khó khăn hiện đang quấy rối em sẽ được giải quyết. Trong kiếp tới, em nên cố gắng hoạt động qua một thể cảm dục cung hai, vì có sự thiếu hụt thật sự về mãnh lực cung hai trong trang bị khó khăn nhất của em. Có quá nhiều năng lượng trong trang bị hiện tại của em dọc theo tuyến cung một, và mục tiêu tối hậu của em phải là một phàm ngã cung hai, tiếp sau phàm ngã cung một sắp đến của đời kế tiếp. Em rất cần tình thương và ánh sáng, và việc em tiếp nhận chúng trong bản chất tứ phân thấp của mình sẽ tạo ra những kết quả chuyển đổi lớn lao. Những điều này phải do em mang lại thông qua sự quan tâm sắc bén và tình thương đối với người khác, cùng sự kiểm soát và khai mở trí tuệ nghiêm khắc. [732]

August 1946

Tháng Tám 1946

BROTHER OF OLD:

HUYNH ĐỆ LÂU NĂM:

This is but a parting word to you as regards your physical plane affiliation with my Ashram. I will start by assuring you that the inner link remains unbroken and will persist, though even I have no idea when freedom will distinguish you or when you can advance with surety into the Ashram itself. Any progress that you could have made this life, as a result of my corrective teaching and aid, has been largely negated by your supine acceptance of failure, by your profound and lasting “conviction of sin” (if I may use so old-fashioned a phrase), and by your constant inner dwelling on your group relations. You did fail, my brother. But why stay overwhelmed by failure for year after year and remain with your eyes concentrated on the lower self that failed? All have failed and will again along some line. E’en the Masters fail at times to pass through one or other of the highest initiations at their first attempt and—from the hierarchical angle—that connotes failure. But the failure is scarce recognised; the effort is made to register what caused the failure and the inability to stand before the One Initiator, for all effects emanate from some ascertainable cause. So should it be on all levels of advancement, even such a relatively unimportant effort (from the point of view of hierarchical work) as your attempt to gain the right of entry into my Ashram or what is called “ashramic penetration,” and then on and up through many graded failures, until you meet the well-known failure of the Buddha to attain His goal.

Đây chỉ là lời chia tay gửi đến em liên quan đến sự liên kết trên cõi hồng trần của em với Ashram của Tôi. Tôi sẽ bắt đầu bằng cách bảo đảm với em rằng mối liên hệ nội tại vẫn không bị đứt đoạn và sẽ còn tiếp tục, dù ngay cả Tôi cũng không biết khi nào tự do sẽ đánh dấu em, hay khi nào em có thể tiến vào chính Ashram với sự chắc chắn. Bất kỳ tiến bộ nào em có thể đạt được trong đời này, nhờ giáo huấn sửa chữa và sự trợ giúp của Tôi, phần lớn đã bị phủ định bởi sự chấp nhận thất bại một cách thụ động của em, bởi “niềm xác tín về tội lỗi” sâu xa và kéo dài của em, nếu Tôi có thể dùng một cụm từ cổ lỗ như vậy, và bởi sự thường xuyên cư trú nội tâm của em trong các quan hệ nhóm. Em đã thất bại, huynh đệ của Tôi. Nhưng tại sao năm này qua năm khác cứ ở lại trong trạng thái bị thất bại đè nặng, và cứ giữ mắt tập trung vào phàm ngã đã thất bại? Tất cả đều đã thất bại và sẽ lại thất bại theo một đường lối nào đó. Ngay cả các Chân sư đôi lúc cũng thất bại trong việc vượt qua một trong những cuộc điểm đạo cao nhất ở lần thử đầu tiên, và xét theo góc độ Thánh Đoàn, điều đó hàm ý thất bại. Nhưng thất bại hầu như không được nhận biết; nỗ lực được thực hiện là ghi nhận điều gì đã gây ra thất bại và sự bất lực trong việc đứng trước Đấng Điểm đạo Duy Nhất, vì mọi kết quả đều xuất lộ từ một nguyên nhân nào đó có thể xác định được. Điều đó cũng nên như vậy trên mọi cấp độ tiến bộ, ngay cả một nỗ lực tương đối không quan trọng, xét từ quan điểm công việc của Thánh Đoàn, như nỗ lực của em nhằm giành quyền vào Ashram của Tôi, hay điều được gọi là “sự thâm nhập ashram”, rồi tiếp tục đi lên qua nhiều thất bại được phân cấp, cho đến khi em gặp thất bại nổi tiếng của Đức Phật trong việc đạt mục tiêu của Ngài.

I have therefore for you a message based on the words of the initiate, Paul: “Forgetting the things which are behind, press forward.” Dwell no longer on the past but make the relatively few years which are left you of this life, years of usefulness and of purpose in my work. This will require the acquisition and the recognition of a spirit which is unembarrassed by ambition but which is pledged to the perfecting of each day’s relationships. Preoccupation with the beautifying and the spiritualising of the day’s affairs will give you no time for any reaction to glamour; your mind and desire [733] (your kama-manasic nature) will be—with definite purpose—physically oriented; your demonstration of right living upon the physical plane will be to you the factor of major importance.

Do đó, Tôi có cho em một thông điệp dựa trên lời của điểm đạo đồ Paul: “Quên những điều ở phía sau, hãy tiến tới trước.” Đừng cư trú thêm trong quá khứ, mà hãy làm cho tương đối ít năm còn lại của đời này trở thành những năm hữu dụng và có mục đích trong công việc của Tôi. Điều này sẽ đòi hỏi sự đạt được và nhận biết một tinh thần không bị tham vọng cản trở, nhưng đã phát nguyện với việc hoàn thiện các mối quan hệ của từng ngày. Sự bận tâm với việc làm đẹp và tinh thần hóa các công việc trong ngày sẽ không cho em thời gian cho bất kỳ phản ứng nào đối với ảo cảm; thể trí và dục vọng của em [733], tức bản chất trí-cảm của em, sẽ, với mục đích rõ ràng, được định hướng về hồng trần; sự biểu lộ đời sống đúng đắn của em trên cõi hồng trần sẽ là yếu tố có tầm quan trọng chủ yếu đối với em.

Your spiritual focus will remain unaltered, and it is this tenacity (which you have ever demonstrated) which has preserved untouched your relationship with me and with your brothers; you need therefore have no concern in relation to your spiritual expression on its own plane. It is your physical expression which has been at fault. Reflect with assiduity on these words of mine. A focussing of your spiritual attitude and nature upon the physical plane will result in a more dynamic life, instead of the basically negative life you at present demonstrate; you will be surprised at the results which may eventuate.

Tiêu điểm tinh thần của em sẽ vẫn không đổi, và chính sự bền bỉ này, điều em luôn luôn biểu lộ, đã giữ gìn nguyên vẹn mối quan hệ của em với Tôi và với các huynh đệ của em; vì vậy em không cần lo lắng liên quan đến sự biểu lộ tinh thần của em trên cõi riêng của nó. Chính sự biểu lộ hồng trần của em đã có lỗi. Hãy suy ngẫm chuyên cần về những lời này của Tôi. Việc tập trung thái độ và bản chất tinh thần của em trên cõi hồng trần sẽ đưa đến một đời sống năng động hơn, thay vì đời sống về căn bản thụ động mà hiện nay em đang biểu lộ; em sẽ ngạc nhiên trước những kết quả có thể xảy ra.

I am giving you no meditation. I seek to see the flow of your spiritual life downward into daily life, and I seek not to see you raising your human soul towards a soul contact you seldom achieve, consciously at least, this life. Your problem has been due to the fact that in the past you at one time achieved a most definite soul contact, but knew not how to handle the force engendered. In this incarnation, this force flowed into the astral body to a very great extent and evoked the glamour and the deception which have coloured your life. But—you have a vast stored reservoir of spiritual potency on higher levels than the astral, and can perhaps draw upon its source of love and light if your major concentration and preoccupation is the perfecting of your daily living in the place where you are and in the environment and the circumstances for which you are responsible.

Tôi không trao cho em bài tham thiền nào. Tôi tìm cách thấy dòng chảy của đời sống tinh thần của em đi xuống vào đời sống hằng ngày, và Tôi không tìm cách thấy em nâng linh hồn nhân loại của mình lên hướng về một sự tiếp xúc linh hồn mà em hiếm khi đạt được, ít nhất là một cách có ý thức, trong đời này. Vấn đề của em phát sinh từ sự kiện rằng trong quá khứ, có một lúc em đã đạt được một sự tiếp xúc linh hồn rất rõ rệt, nhưng không biết cách xử lý mãnh lực được sinh ra. Trong kiếp này, mãnh lực ấy đã tuôn vào thể cảm dục ở một mức rất lớn và gợi lên ảo cảm cùng sự lừa dối vốn đã nhuộm màu đời em. Nhưng em có một kho dự trữ rộng lớn về tiềm lực tinh thần trên các cấp độ cao hơn cảm dục, và có lẽ em có thể rút lấy từ nguồn tình thương và ánh sáng của nó nếu sự tập trung và mối bận tâm chính yếu của em là hoàn thiện đời sống hằng ngày của mình tại nơi em đang ở, và trong môi trường cùng hoàn cảnh mà em chịu trách nhiệm.

You need have no fear that I shall withdraw from you the attention and the careful thought which I have given you all these years. I earnestly desire to see you achieve success; I have been sorry when you failed. I seek to have you within the Ashram, which is not as yet the case. A move forward can, however, be made this life if—in your closing years—you obey instructions. Go forward in confidence, my brother; the group has never left you or deserted you, and you need no assurance from me that I hold you in my thought. [734]

Em không cần sợ rằng Tôi sẽ rút khỏi em sự chú ý và tư tưởng cẩn trọng mà Tôi đã dành cho em suốt những năm qua. Tôi chân thành mong thấy em đạt thành công; Tôi đã buồn khi em thất bại. Tôi tìm cách có em bên trong Ashram, điều hiện chưa xảy ra. Tuy nhiên, một bước tiến có thể được thực hiện trong đời này nếu, trong những năm cuối đời, em vâng theo chỉ dẫn. Hãy tiến tới trong sự tin cậy, huynh đệ của Tôi; nhóm chưa bao giờ rời bỏ hay bỏ mặc em, và em không cần Tôi bảo đảm rằng Tôi giữ em trong tư tưởng của Tôi. [734]

To R. S. W. – Gửi R. S. W.

January 1940

Tháng Một 1940

Your glamour is, as you know, that of psychic sensitivity. Like S.C.P. you function on the astral-buddhic line; but, having a trained mind from the educational angle (for you passed through college, did you not, my brother?) you have a somewhat different problem. Your task is to use your mind for the unfoldment of the intuition and for the control of the lower psychic nature. This psychic glamour does not unduly distort your point of view but its very presence constitutes a disturbing element to you. You neither like nor desire this psychic sensitivity or the knowledge which it brings, but it constitutes an environment in which you have to learn to walk with freedom and with grace. It is not some situation from which you must aim at escaping for it is part of manifestation and you must learn to work with it and function in it but with complete detachment from it—just as you do not identify yourself with physical phenomena such as rain or storm. Glamour exists. It is. The higher glamours are goals towards which the lower psychics must work and your work may lie along the line of helping them in the midst of the glamour and by this remark I may aid in reorienting your thought and dissipating some of your concern.

Như em biết, ảo cảm của em là ảo cảm về sự nhạy cảm thông linh. Giống như S.C.P., em hoạt động trên tuyến cảm dục-Bồ đề; nhưng vì em có một thể trí được huấn luyện xét theo góc độ giáo dục, vì em đã qua đại học, phải không, huynh đệ của Tôi, nên em có một vấn đề hơi khác. Nhiệm vụ của em là sử dụng thể trí của mình cho sự khai mở trực giác và cho việc kiểm soát bản chất thông linh thấp. Ảo cảm thông linh này không làm méo mó quá mức quan điểm của em, nhưng chính sự hiện diện của nó cấu thành một yếu tố gây rối cho em. Em không thích cũng không ham muốn sự nhạy cảm thông linh này hay tri thức mà nó đem lại, nhưng nó cấu thành một môi trường trong đó em phải học bước đi với tự do và với sự duyên dáng. Nó không phải là một tình huống nào đó mà em phải nhắm đến việc thoát khỏi, vì nó là một phần của sự biểu hiện, và em phải học làm việc với nó và hoạt động trong nó, nhưng với sự tách rời hoàn toàn khỏi nó—cũng như em không đồng nhất mình với các hiện tượng hồng trần như mưa hay bão. Ảo cảm tồn tại. Nó là. Những ảo cảm cao hơn là các mục tiêu mà những người thông linh thấp phải hướng tới, và công việc của em có thể nằm trên tuyến giúp họ ngay giữa ảo cảm; bằng nhận xét này, Tôi có thể giúp tái định hướng tư tưởng của em và làm tiêu tan một phần mối quan ngại của em.

A person, for instance, who has been astrally and psychically controlled by the glamour of selfish desire and material aims will have made a real step forward when he escapes into the glamour of devotion to a teacher—a glamour which, for you, would be a thing lying behind in your experience and no longer of controlling importance.

Chẳng hạn, một người đã bị kiểm soát về cảm dục và thông linh bởi ảo cảm của dục vọng ích kỷ và các mục tiêu vật chất sẽ có một bước tiến thật sự khi y thoát vào ảo cảm Sùng tín đối với một huấn sư—một ảo cảm mà đối với em, sẽ là một điều đã nằm lại phía sau trong kinh nghiệm của em và không còn có tầm quan trọng chi phối nữa.

Ponder on this and, if you care to do so, list the higher and lower glamours and indicate how the lower can be transmuted into the higher powers, leading to a later liberation. In this problem of the glamour of psychic sensitivity, you can do much to solve it by the right handling of the time equation (for time in reception of contacts, as it is called at times, has a real relationship to the growth of glamours) and [735] in the elimination of nonessentials. Go forward, therefore, in service with joy and with confidence. The glamours hold you not in truth but you need more understanding of their nature.

Hãy suy ngẫm về điều này, và nếu em muốn, hãy liệt kê các ảo cảm cao và thấp, đồng thời chỉ ra cách những ảo cảm thấp có thể được chuyển hoá thành các quyền năng cao hơn, dẫn đến sự giải thoát về sau. Trong vấn đề ảo cảm về sự nhạy cảm thông linh này, em có thể làm nhiều để giải quyết nó bằng cách xử lý đúng phương trình thời gian, vì thời gian trong việc tiếp nhận các tiếp xúc, như đôi khi được gọi, có mối liên hệ thật sự với sự tăng trưởng của các ảo cảm, và [735] bằng việc loại bỏ những điều không thiết yếu. Vì vậy, hãy tiến tới trong phụng sự với sự hoan hỉ và với sự tin cậy. Các ảo cảm thật ra không nắm giữ em, nhưng em cần thấu hiểu nhiều hơn về bản chất của chúng.

August 1940

Tháng Tám 1940

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I would ask you whether the implications as to the relationship between your soul and personality rays to the rays of your astral and physical vehicles interests you in any way? The two lower rays are the same as the two higher and in between stands the ray which is, par excellence, that which provides the battleground for the disciple in training. Twelve of the group members have the fourth Ray of Harmony through Conflict controlling the mental body, hence consequent conflict and proffered opportunity, plus an expressed ambition for the achievement of psychic harmony between the soul of form and the soul itself. It is through the conflict between these two that harmony becomes possible. This is the ray of testing, the energy which brings about trial. People struggle with ideas, with attaining the goal of their current idealism and are driven by longing to find peace, joy and divine assurance. After the cycle of lives in which the mental ray varies from life to life, there arrives an incarnation wherein the ray of harmony through conflict dominates; then the disciple is specifically put to the proof and is tested and tried in order to demonstrate to him the gain or the non-gain of the past cycle of living experience. Such a proposition faces many in this group today as it, in its turn, faces humanity, one of whose controlling rays is the fourth.

Tôi muốn hỏi em liệu những hàm ý về mối quan hệ giữa các cung linh hồn và phàm ngã của em với các cung của các hiện thể cảm dục và hồng trần của em có làm em quan tâm theo cách nào không? Hai cung thấp giống với hai cung cao, và ở giữa là cung vốn, hơn hết, cung cấp chiến trường cho đệ tử đang được huấn luyện. Mười hai thành viên của nhóm có Cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột kiểm soát thể trí, do đó có xung đột hệ quả và cơ hội được đưa ra, cộng với một tham vọng được biểu lộ nhằm đạt được sự hài hòa thông linh giữa linh hồn của hình tướng và chính linh hồn. Chính qua xung đột giữa hai điều này mà hài hòa trở nên khả hữu. Đây là cung của thử thách, năng lượng đem lại khảo nghiệm. Con người vật lộn với các ý tưởng, với việc đạt được mục tiêu của chủ nghĩa lý tưởng hiện thời của họ, và bị thúc đẩy bởi niềm khao khát tìm thấy bình an, hoan hỉ và sự bảo đảm thiêng liêng. Sau chu kỳ các kiếp sống trong đó cung trí tuệ thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác, sẽ đến một kiếp lâm phàm trong đó cung hài hòa qua xung đột chiếm ưu thế; khi ấy đệ tử được đặc biệt đặt vào thử thách và được khảo nghiệm, thử thách nhằm chứng minh cho y thấy sự đạt được hay không đạt được của chu kỳ kinh nghiệm sống trước đó. Một tình thế như thế đang đối diện nhiều người trong nhóm này hôm nay, cũng như đến lượt nó đang đối diện nhân loại, một trong các cung chi phối của nhân loại là cung bốn.

You can, therefore, expect to have to face up to a life of testing and of change. This is not to posit that the testing and change and battle will be of a physical nature or on the physical plane or will involve physical plane decisions. This ray produces the “harmonising” strain and stress on any of the planes (using these words technically) and for the majority of you it is pre-eminently active upon the astral plane. [736] There the tests will come, with repercussions—if I may use such a phrase—upon the buddhic or intuitional plane.

Do đó, em có thể trông đợi phải đối diện một đời sống thử thách và thay đổi. Điều này không khẳng định rằng thử thách, thay đổi và chiến đấu sẽ có bản chất hồng trần, hay ở trên cõi hồng trần, hay sẽ liên quan đến các quyết định trên cõi hồng trần. Cung này tạo ra sự căng thẳng và áp lực “hài hòa hóa” trên bất kỳ cõi nào, dùng các từ này theo nghĩa kỹ thuật, và đối với đa số các em, nó hoạt động nổi bật trên cõi cảm dục. [736] Ở đó các thử thách sẽ đến, với những phản ứng dội lại, nếu Tôi có thể dùng một cụm từ như thế, trên cõi Bồ đề hay cõi trực giác.

You are facing changes in your life. I would here point out to you that changes in the life of a pledged disciple can be due to two main causes: the working out of karma which is unavoidable but which presents opportunity, or it can be due to the free choice and free decision, involving direct initiating activity on the part of the disciple; these decisions can be carried out or avoided according to his own planning. This line of activity has, therefore, little to do with precipitating karma but is concerned with intelligent initiating of new karma which will, in its turn, produce its inevitable effects later. I call this to your attention, my brother, because you are reaching the point in your career as a soul where you can consciously engineer situations and conditions which are not effects or results but are the commencement of new cycles. It is a momentous time in the soul’s progress when conscious decisions can be made with due appreciation of consequences.

Em đang đối diện những thay đổi trong đời mình. Ở đây Tôi muốn chỉ ra cho em rằng những thay đổi trong đời sống của một đệ tử đã phát nguyện có thể do hai nguyên nhân chính: sự vận hành của nghiệp quả, điều không thể tránh khỏi nhưng đem lại cơ hội, hoặc chúng có thể do sự lựa chọn tự do và quyết định tự do, bao hàm hoạt động khởi phát trực tiếp từ phía đệ tử; các quyết định này có thể được thực hiện hay tránh né tùy theo sự hoạch định của chính y. Do đó, đường lối hoạt động này ít liên quan đến nghiệp quả ngưng tụ, mà liên quan đến việc khởi phát một cách sáng suốt nghiệp quả mới, rồi đến lượt nó sẽ tạo ra những hệ quả tất yếu về sau. Tôi lưu ý em điều này, huynh đệ của Tôi, vì em đang đạt đến điểm trong sự nghiệp của mình với tư cách linh hồn, nơi em có thể có ý thức sắp đặt các tình huống và điều kiện vốn không phải là các hệ quả hay kết quả, mà là sự khởi đầu của các chu kỳ mới. Đó là một thời điểm trọng đại trong bước tiến của linh hồn khi các quyết định có ý thức có thể được đưa ra với sự đánh giá đúng mức về hậu quả.

I am also referring to this because you are meditating steps (are you not, my brother?) which will produce effective change. I seek to have you ponder upon the responsibility involved and know with clarity your motive. Lives of indecision come wherein the man balances back and forth between decision and indecision, arriving apparently at no action. They are lives of apparent futility but nevertheless of great value. Needless to point out that such incarnations are frequently lived under the sun-sign of Libra or have Libra as the rising sign. Prior to that particular life, the man has had little difficulty. He is conditioned by precipitating karma and at the same time experiences little difficulty in arriving at decisions, because his choices and aims will be motivated by the personality and determined by the lower self. Later, after a life or lives of balancing, the die is cast and the period of inactivity and of indecision ends and the soul begins to determine action; karma then comes under the processes of conscious transmutation. Motives become purified [737] and objectives shift from those of personality ambition to the spiritual goals of humanity.

Tôi cũng đề cập đến điều này vì em đang suy xét các bước đi, phải không, huynh đệ của Tôi, vốn sẽ tạo ra thay đổi hữu hiệu. Tôi tìm cách khiến em suy ngẫm về trách nhiệm liên quan và biết rõ động cơ của mình. Có những kiếp sống do dự, trong đó con người dao động qua lại giữa quyết định và không quyết định, dường như không đi đến hành động nào. Đó là những kiếp sống có vẻ vô ích nhưng tuy vậy có giá trị lớn. Không cần chỉ ra rằng những kiếp lâm phàm như thế thường được sống dưới dấu hiệu mặt trời Thiên Bình hoặc có Thiên Bình là dấu hiệu mọc. Trước kiếp sống đặc biệt ấy, con người ít gặp khó khăn. Y chịu tác động bởi nghiệp quả ngưng tụ, đồng thời ít gặp khó khăn trong việc đi đến các quyết định, bởi vì những lựa chọn và mục tiêu của y sẽ được thúc đẩy bởi phàm ngã và được quyết định bởi phàm ngã. Về sau, sau một hay nhiều kiếp sống quân bình, con xúc xắc đã được gieo và giai đoạn bất hoạt cùng do dự chấm dứt, linh hồn bắt đầu quyết định hành động; khi ấy nghiệp quả đi vào các tiến trình chuyển hoá có ý thức. Các động cơ trở nên thanh khiết [737] và các mục tiêu chuyển từ những mục tiêu của tham vọng phàm ngã sang các mục tiêu tinh thần của nhân loại.

Such a life is upon you now, my brother, and I am therefore seeking to make the issues clear to you. Personality decisions are not for you; and for you, likewise, the period of indecision must end and it will end when you see soul purpose more clearly. You might here ask: In what way can I know? How can I arrive at right decision? First of all by eliminating selfishness and arriving at that unconcern as to the happiness or the experience of the personality; secondly, by refusing to move hurriedly. The disciple has to learn that when he has arrived at right—and therefore for him irrevocable decision—that this very motive and decision starts energy working along the indicated lines and that, having decided, he now moves slowly in the wake of that energy. There are deep significances in what I am here telling you and I beg you to strive to understand my meaning.

Một đời sống như thế hiện đang ở trước em, huynh đệ của Tôi, và vì vậy Tôi đang tìm cách làm cho các vấn đề trở nên rõ ràng với em. Các quyết định phàm ngã không dành cho em; và đối với em cũng vậy, giai đoạn do dự phải chấm dứt, và nó sẽ chấm dứt khi em thấy Thiên Ý của linh hồn rõ ràng hơn. Ở đây em có thể hỏi: Bằng cách nào tôi có thể biết? Làm sao tôi có thể đi đến quyết định đúng? Trước hết bằng cách loại bỏ tính ích kỷ và đạt đến sự không bận tâm về hạnh phúc hay kinh nghiệm của phàm ngã; thứ hai, bằng cách từ chối hành động vội vàng. Đệ tử phải học rằng khi y đã đi đến quyết định đúng, và do đó đối với y là không thể đảo ngược, thì chính động cơ và quyết định ấy bắt đầu khiến năng lượng vận hành theo các đường lối đã được chỉ ra, và rằng sau khi đã quyết định, giờ đây y tiến chậm theo sau năng lượng ấy. Có những thâm nghĩa sâu xa trong điều Tôi đang nói với em ở đây, và Tôi khẩn khoản xin em cố gắng thấu hiểu ý nghĩa của Tôi.

I would ask you (in order to help you to see clearly and so be of greater service to others) to make a study this winter of the Law of Karma. Read the books upon the subject but take not too seriously their deductions. Gather out of that which I have written all the information you can find concerning this theme. And, my brother, having done so, you will then arrange that material in its right and spiritual order and significance, and at the same time reduce your ideas to written form for your own clarification and the helping of your brothers. This teaching has a group significance.

Tôi muốn yêu cầu em, nhằm giúp em thấy rõ và nhờ vậy phụng sự người khác tốt hơn, hãy thực hiện một nghiên cứu trong mùa đông này về Định luật Nghiệp Quả. Hãy đọc các sách về chủ đề này nhưng đừng quá xem trọng các kết luận của chúng. Hãy thu thập từ những gì Tôi đã viết mọi thông tin em có thể tìm thấy liên quan đến đề tài này. Và, huynh đệ của Tôi, sau khi đã làm vậy, em sẽ sắp xếp tài liệu ấy theo trật tự và thâm nghĩa đúng đắn, tinh thần của nó, đồng thời diễn đạt các ý tưởng của mình thành văn bản để làm sáng tỏ cho chính em và giúp đỡ các huynh đệ của em. Giáo huấn này có thâm nghĩa nhóm.

I am not referring more clearly to your life decisions and plans. They are your own concern. I have sought to widen the “spread” of your consciousness so that you can bring to any planned life of service a reasoned judgment and a seasoned experience. These two phrases should express the personality quality of the trained disciple. For your personal meditation I suggest the following:

Tôi không đề cập rõ hơn đến các quyết định và kế hoạch đời sống của em. Chúng là mối quan tâm của riêng em. Tôi đã tìm cách mở rộng “tầm trải” của tâm thức em, để em có thể đem đến bất kỳ đời sống phụng sự đã hoạch định nào một phán đoán có lý trí và một kinh nghiệm chín chắn. Hai cụm từ này nên biểu lộ phẩm tính phàm ngã của đệ tử được huấn luyện. Cho tham thiền cá nhân của em, Tôi đề nghị như sau:

Take ten minutes twice a day for deep reflection on one of the themes listed below, viewing them in two ways: the individual interpretation and, secondly, that interpretation which concerns humanity as a whole. If you will do this [738] regularly, you will build the bridge between the part and the whole.

Hãy dành mười phút hai lần mỗi ngày để suy tư sâu về một trong các chủ đề được liệt kê dưới đây, xem xét chúng theo hai cách: sự diễn giải cá nhân và, thứ hai, sự diễn giải liên quan đến toàn thể nhân loại. Nếu em làm điều này [738] đều đặn, em sẽ xây cây cầu giữa phần và toàn thể.

a. The dharma of the individual in the home.

a. Pháp của cá nhân trong gia đình.

b. The duty of the individual in the group.

b. Bổn phận của cá nhân trong nhóm.

c. The obligation of the individual to humanity.

c. Nghĩa vụ của cá nhân đối với nhân loại.

d. The responsibility of the individual to life.

d. Trách nhiệm của cá nhân đối với sự sống.

e. The reaction of the individual to karma, personal and human.

e. Phản ứng của cá nhân đối với nghiệp quả, cá nhân và nhân loại.

f. The relation of the individual to the Hierarchy.

f. Mối liên hệ của cá nhân với Thánh Đoàn.

You have there six months’ work in meditation. It will involve the practical relation of man to karma, individual life to the mass life as it flows through him, and life also as it actuates the group to life and as it expresses itself through nations and through humanity as a whole.

Ở đó em có sáu tháng làm việc trong tham thiền. Nó sẽ bao hàm mối liên hệ thực tiễn của con người với nghiệp quả, của đời sống cá nhân với đời sống quần chúng khi nó chảy qua y, và cũng của sự sống khi nó thúc đẩy nhóm bước vào sự sống và khi nó biểu lộ chính nó qua các quốc gia và qua toàn thể nhân loại.

The blessing of the soul rests upon you, my brother—your soul, my soul and the soul of all.

Phúc lành của linh hồn ngự trên em, huynh đệ của Tôi—linh hồn của em, linh hồn của Tôi và linh hồn của tất cả.

August 1942

Tháng Tám 1942

1. Shift your consciousness into the lighted mind, for lit it is, and look not down but up; be not so conscious of the outer form.

1. Hãy chuyển tâm thức của em vào thể trí được soi sáng, vì nó đã được thắp sáng, và đừng nhìn xuống mà hãy nhìn lên; đừng quá ý thức về hình tướng bên ngoài.

2. For two years study, read and serve within the circle wherein your soul has placed your feet. Then look for greater scope, perhaps within that selfsame circle or perhaps within another. But relinquish not the first.

2. Trong hai năm, hãy học, đọc và phụng sự trong vòng tròn nơi linh hồn em đã đặt chân em. Rồi hãy tìm một phạm vi rộng hơn, có lẽ trong chính vòng tròn ấy hoặc có lẽ trong một vòng tròn khác. Nhưng đừng từ bỏ vòng tròn thứ nhất.

3. Develop joy in self-forgetfulness and serve your brothers in my Ashram. Two of them need you much.

3. Hãy phát triển sự hoan hỉ trong quên mình và phụng sự các huynh đệ của em trong Ashram của Tôi. Hai người trong số họ rất cần em.

4. Ponder the usefulness of shock, applied by you in love and yet with full detachment and clarity of speech.

4. Hãy suy ngẫm về sự hữu dụng của cú sốc, do em áp dụng trong tình thương nhưng với sự tách rời trọn vẹn và lời nói sáng rõ.

5. You need to learn the art of reverence, my chela. The chain of Hierarchy is a fit subject for reflection.

5. Đệ tử của Tôi, em cần học nghệ thuật tôn kính. Chuỗi của Thánh Đoàn là một đề tài thích hợp để suy tư.

6. Upon that chain you have your place. Some move ahead of you. Some move along with you. Others again move on with hands out-stretched to you. True occult reverence holds the key. This means recognition, not obedience, not stooping down or looking up. [739]

6. Trên chuỗi ấy, em có vị trí của mình. Một số người đi trước em. Một số đi cùng em. Những người khác nữa tiến bước với hai tay dang ra hướng về em. Sự tôn kính huyền môn chân thật nắm giữ chìa khóa. Điều này có nghĩa là sự nhận biết, không phải vâng lời, không phải cúi xuống hay ngước lên. [739]

September 1943

Tháng Chín 1943

MY BELOVED BROTHER:

HUYNH ĐỆ YÊU DẤU CỦA TÔI:

I have been concerned about you. The strain under which you work and live is not good, and has a definite physical effect which is not desirable. I foresaw this risk, and it was for that reason that the first of the six statements I gave you enjoined you to:

Tôi đã lo lắng về em. Sự căng thẳng dưới đó em làm việc và sống không tốt, và có một ảnh hưởng hồng trần rõ rệt không đáng mong muốn. Tôi đã thấy trước nguy cơ này, và chính vì lý do đó mà câu đầu tiên trong sáu câu Tôi trao cho em đã huấn thị em:

1. Shift your consciousness into the lighted mind.

1. Hãy chuyển tâm thức của em vào thể trí được soi sáng.

2. Look up, not down.

2. Hãy nhìn lên, không nhìn xuống.

3. Be not so conscious of the outer form.

3. Đừng quá ý thức về hình tướng bên ngoài.

In these words I sought to have you turn your eyes away from the form aspect of the present world catastrophe, because your sensitivity led you to assume too close an identification with it. Such identification is a handicap and not a help. It feeds the life of the solar plexus, because the solar plexus centre of humanity as a whole is in a condition of appalling riot—if I may use so peculiar a phrase.

Trong những lời này, Tôi đã tìm cách khiến em quay mắt khỏi phương diện hình tướng của thảm họa thế giới hiện tại, bởi vì sự nhạy cảm của em đã dẫn em đến chỗ đồng nhất mình quá chặt chẽ với nó. Sự đồng nhất như thế là một chướng ngại chứ không phải một sự trợ giúp. Nó nuôi dưỡng sự sống của tùng thái dương, bởi vì trung tâm tùng thái dương của toàn thể nhân loại đang ở trong một tình trạng bạo loạn kinh hoàng, nếu Tôi có thể dùng một cụm từ đặc biệt như thế.

The next statement sought to swing you into the circle of your service in relation to your group brothers and the senior group within the Arcane School. Circumstances, however, moved you from my Headquarters, and this became difficult of fulfilment.

Câu kế tiếp tìm cách đưa em vào vòng tròn phụng sự của em trong mối liên hệ với các huynh đệ trong nhóm của em và nhóm cao cấp trong Trường Arcane. Tuy nhiên, hoàn cảnh đã đưa em rời khỏi Trụ sở của Tôi, và điều này trở nên khó thực hiện.

The need for you at this time is to study deeply and to do work which is practically entirely along occult lines. The study of psychology which interests you so much and for which you are in so many other ways so eminently fitted, tunes you in at this time too rapidly on world distress and you should avoid it. The duties of the home, the bringing of joy to those you daily meet, and the keeping of the mind upon things occult will do much to offset the astral sensitivity which is one of your major assets in helpful service, but which under the pressure of the world events has become almost too strong for you to handle. The “chain of Hierarchy” is a good subject for your constant reflection, and I want you to pay close attention to my recommendation that this concept form the background of your daily thinking. As [740] you keep that chain in mind, it tunes in on the Ashram, and therefore on the Hierarchy, for you are a disciple of some standing. This will offset the astral sensitivity, for the energy of the Ashram stimulates the head and heart centres and draws up the astral forces from the solar plexus.

Điều em cần vào lúc này là nghiên cứu sâu sắc và làm công việc hầu như hoàn toàn theo các đường lối huyền bí. Việc nghiên cứu tâm lý học, vốn khiến em rất quan tâm và em cũng hết sức thích hợp với nó theo nhiều cách khác, vào lúc này lại chỉnh em quá nhanh vào nỗi khổ đau của thế giới, và em nên tránh điều đó. Các bổn phận trong gia đình, việc đem sự hoan hỉ đến cho những người em gặp hằng ngày, và việc giữ thể trí hướng về những điều huyền bí sẽ giúp nhiều trong việc hóa giải sự nhạy cảm cảm dục, vốn là một trong những tài sản chính yếu của em trong việc phụng sự hữu ích, nhưng dưới áp lực của các biến cố thế giới, nó đã trở nên gần như quá mạnh để em xử lý. “Chuỗi của Thánh Đoàn” là một chủ đề tốt cho sự suy ngẫm thường xuyên của em, và Tôi muốn em chú ý sát sao đến lời khuyến nghị của Tôi rằng quan niệm này hãy làm nền cho tư tưởng hằng ngày của em. Khi [740] em giữ chuỗi ấy trong trí, nó chỉnh em vào Ashram, và do đó vào Thánh Đoàn, vì em là một đệ tử đã có vị trí nhất định. Điều này sẽ hóa giải sự nhạy cảm cảm dục, vì năng lượng của Ashram kích thích các trung tâm đầu và tim, đồng thời kéo các mãnh lực cảm dục lên khỏi tùng thái dương.

I set no meditation of a special kind for you. The group meditation will suffice. I ask you to do much occult study and much teaching and helping of occult students. Your work for another year should be primarily with the senior students, and you should endeavour to have a larger and more organised output of work in that connection; it will serve to focus the consciousness more firmly in the head. If it were possible at some time in the near future, I would suggest that you go and talk to A.A.B. She had your problem in a worse degree, but had more experience to offset it and less time in which to succumb. I have told her certain things anent you which I do not wish to write, and she will give you all the time you need, if you will come to where she is.

Tôi không đặt cho em một bài tham thiền đặc biệt nào. Tham thiền nhóm sẽ đủ. Tôi yêu cầu em nghiên cứu huyền bí nhiều, giảng dạy nhiều, và trợ giúp các môn sinh huyền bí nhiều. Công việc của em trong một năm nữa nên chủ yếu hướng đến các môn sinh cao cấp, và em nên cố gắng có một sản lượng công việc lớn hơn và có tổ chức hơn trong mối liên hệ ấy; điều đó sẽ giúp tập trung tâm thức vững chắc hơn trong đầu. Nếu trong tương lai gần điều đó có thể thực hiện, Tôi đề nghị em đến nói chuyện với Bà A.A.B. Bà đã từng gặp vấn đề của em ở mức độ nặng hơn, nhưng có nhiều kinh nghiệm hơn để hóa giải nó và ít thời gian hơn để chịu khuất phục. Tôi đã nói với Bà một số điều liên quan đến em mà Tôi không muốn viết ra, và Bà sẽ dành cho em mọi thời gian em cần, nếu em đến nơi Bà đang ở.

It is for this reason I write no more today. Also, my brother, I give you at this time much attention in the Ashram, and my strength surrounds you. There is no cause for anxiety, for the future is assured, but seek during the coming year to take advantage of my suggestions.

Vì lý do này, hôm nay Tôi không viết thêm nữa. Huynh đệ của Tôi, vào lúc này, Tôi cũng dành cho em nhiều sự chú ý trong Ashram, và sức mạnh của Tôi bao quanh em. Không có lý do gì để lo âu, vì tương lai đã được bảo đảm, nhưng trong năm tới, hãy tìm cách tận dụng các gợi ý của Tôi.

November 1944

Tháng Mười Một năm 1944

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

Last year my instructions to you were very brief, but they were full of suggestion and potent to bring you release, had you followed them with exactitude. There are certain forms of pride from which every one suffers more or less, though the degree and quality may differ according to ray or type. Yours is a determination, or I might call it predilection, to use your mind at times when the simple acquiescence of a loving heart is what you need. L.F.U. has a form of pride also and makes a fetish of his personal liberty, consequently putting himself in bondage to the concept of freedom; he needs to learn that no one is really free, a disciple least of all. [741] You, my brother and disciple, love the activity of the mind, and you enter—with your eyes open—into situations in order to learn and experience the delight which comes from analysis, reflection and mental activity, followed by some decision.

Năm ngoái, các huấn thị của Tôi dành cho em rất ngắn gọn, nhưng đầy gợi ý và có quyền năng đem lại cho em sự giải thoát, nếu em đã theo chúng một cách chính xác. Có một số hình thức kiêu hãnh mà mọi người đều ít nhiều mắc phải, dù mức độ và phẩm tính có thể khác nhau tùy theo cung hay loại. Của em là một quyết tâm, hay Tôi có thể gọi là một khuynh hướng ưa thích, sử dụng thể trí vào những lúc điều em cần là sự thuận nhận đơn giản của một trái tim yêu thương. L.F.U. cũng có một hình thức kiêu hãnh và biến tự do cá nhân của bạn ấy thành một vật sùng bái, do đó tự trói buộc mình vào quan niệm tự do; bạn ấy cần học rằng không ai thật sự tự do, và đệ tử lại càng ít tự do hơn hết. [741] Huynh đệ và đệ tử của Tôi, em yêu thích hoạt động của thể trí, và em bước vào—với đôi mắt mở—những tình huống để học hỏi và trải nghiệm niềm vui đến từ phân tích, suy ngẫm và hoạt động trí tuệ, rồi sau đó là một quyết định nào đó.

I am speaking thus frankly to you, my tried and loved disciple, because I see more effective service to be rendered by you if you can master a difficult lesson at this time. You are exceedingly well equipped to serve. Your second ray energy, coupled with your seventh ray force, makes for almost unique and unusual service; however—and here lies a hindrance—your fourth ray mind, constantly presenting fields of conflict which you must conquer, deflects the energy which, pouring through your soul, could lead to a planned and organised activity upon the physical plane. But it does not. The descending soul energy and the ascending personality aspiration meet upon the mental plane, and there both of them are arrested by your over-analytical mind. You need not infer from this that you are not of service to people; but it is an individual here and there that you assist, and there is no rhythm or organisation in your service, owing to the constant mental conflict.

Đệ tử đã được thử thách và được yêu thương của Tôi, Tôi nói với em thẳng thắn như vậy vì Tôi thấy em có thể phụng sự hiệu quả hơn nếu vào lúc này em làm chủ được một bài học khó. Em được trang bị hết sức đầy đủ để phụng sự. Năng lượng cung hai của em, kết hợp với mãnh lực cung bảy của em, tạo nên một sự phụng sự gần như độc đáo và khác thường; tuy nhiên—và chính ở đây có một trở ngại—thể trí cung bốn của em, vốn liên tục trình hiện những lĩnh vực xung đột mà em phải chinh phục, làm lệch hướng năng lượng vốn, khi tuôn qua linh hồn em, có thể dẫn đến một hoạt động có kế hoạch và có tổ chức trên cõi hồng trần. Nhưng nó không làm được điều đó. Năng lượng linh hồn giáng xuống và khát vọng phàm ngã đi lên gặp nhau trên cõi trí, và tại đó cả hai đều bị chặn lại bởi thể trí phân tích quá mức của em. Em không cần suy ra từ điều này rằng em không phụng sự con người; nhưng em chỉ trợ giúp từng cá nhân rải rác nơi này nơi kia, và không có nhịp điệu hay tổ chức trong sự phụng sự của em, do xung đột trí tuệ liên tục.

From the very first time you were admitted into my Ashram, I have tried to aid you to centralise all your forces upon the physical plane. When a disciple does this, and when he is one-pointed in his activity, there is much that he can do. When to these tendencies of inflow and of concentration there is added a trained and illumined mind, then the disciple becomes a focal point of spiritual attraction. He can reach many, yet ever remain polarised at his own centre; his life then has an ordered rhythm, and there is a steadfast adherence to a plan which is carried through at all costs. He takes also his rightful position as a representative of an Ashram.

Ngay từ lần đầu tiên em được nhận vào Ashram của Tôi, Tôi đã cố gắng giúp em tập trung tất cả các mãnh lực của mình trên cõi hồng trần. Khi một đệ tử làm điều này, và khi y nhất tâm trong hoạt động của mình, y có thể làm được rất nhiều. Khi, thêm vào những khuynh hướng tuôn nhập và tập trung này, có một thể trí được rèn luyện và soi sáng, bấy giờ đệ tử trở thành một điểm tập trung của sức hút tinh thần. Y có thể vươn tới nhiều người, nhưng vẫn luôn phân cực tại trung tâm của chính mình; khi ấy đời sống của y có một nhịp điệu có trật tự, và có sự kiên trì vững chắc với một kế hoạch được thực hiện đến cùng bằng mọi giá. Y cũng đảm nhận vị trí chính đáng của mình như một đại diện của một Ashram.

Forget not that the Masters choose Their disciples, not only from karmic relation (if such a relation exists), not only because the disciple demands light and has a powerful aspiration towards spiritual things, but because the disciple is equipped to render some definite service which fits into the ashramic intention of the moment. You are thus well [742] equipped; your health is good, even if you think it not, and will be better still when rhythm enters into your life. You have a free mind and much, very much, intuition. You have (could you but realise it) what many people dream of possessing—time and leisure. You do not believe this, but that is because your daily life is full of the nonessentials—nonessential in view of world emergency. You are magnetic and attractive and can reach people through the expression of your potent love nature. Yet at the close of each year you realise that you have not accomplished very much. You may have helped a person here or there and your general influence is good. But I look for more than that from those in training and in preparation for initiation. You are in your forty-seventh year. By the time a disciple reaches the age of forty-nine his pathway of life service should be clearly defined. Yours is not. You have, however, two years left in which to bring through on to the physical plane all the energies with which you are endowed and to produce that ordered rhythm and arranged living which are required to make a definite impact upon the minds of those around you.

Đừng quên rằng các Chân sư chọn đệ tử của Các Ngài, không chỉ vì quan hệ nghiệp quả, nếu có một quan hệ như thế, không chỉ vì đệ tử đòi hỏi ánh sáng và có khát vọng mạnh mẽ hướng về những điều tinh thần, mà vì đệ tử được trang bị để thực hiện một sự phụng sự rõ rệt nào đó phù hợp với ý định ashram trong thời điểm ấy. Như vậy em được [742] trang bị đầy đủ; sức khỏe của em tốt, dù em không nghĩ vậy, và sẽ còn tốt hơn nữa khi nhịp điệu đi vào đời sống của em. Em có một thể trí tự do và nhiều, rất nhiều, trực giác. Em có, nếu em có thể nhận ra, điều mà nhiều người mơ ước được sở hữu—thời gian và sự nhàn rỗi. Em không tin điều này, nhưng đó là vì đời sống hằng ngày của em đầy những điều không thiết yếu—không thiết yếu xét trong tình trạng khẩn cấp của thế giới. Em có từ điện và sức hấp dẫn, và có thể vươn tới con người qua sự biểu lộ bản chất tình thương mạnh mẽ của em. Tuy nhiên, vào cuối mỗi năm, em nhận ra rằng mình chưa hoàn thành được bao nhiêu. Em có thể đã giúp một người ở đây hay ở kia, và ảnh hưởng chung của em là tốt. Nhưng Tôi mong chờ nhiều hơn thế từ những người đang được rèn luyện và chuẩn bị cho điểm đạo. Em đang ở năm thứ bốn mươi bảy của đời mình. Đến khi một đệ tử đạt tuổi bốn mươi chín, con đường phụng sự trong đời y phải được xác định rõ ràng. Con đường của em thì chưa. Tuy nhiên, em còn hai năm để đưa xuống cõi hồng trần tất cả những năng lượng mà em được ban cho, và tạo ra nhịp điệu có trật tự cùng nếp sống được sắp đặt vốn cần thiết để tạo một tác động rõ rệt lên thể trí của những người quanh em.

You play around with ideas all the time; you experiment all the time, but that should now be past history. I ask you now, for the sake of a needy world, and because I seek to see you fill your rightful place in my Ashram, to readjust your living conditions in order to serve more adequately. I would call your attention to the words, “your rightful place in my Ashram.” Do you know what that place is? I would have you find out.

Em luôn chơi đùa với các ý tưởng; em luôn thử nghiệm, nhưng điều đó nay phải thuộc về quá khứ. Giờ đây, vì một thế giới đang cần, và vì Tôi muốn thấy em lấp đầy vị trí chính đáng của mình trong Ashram của Tôi, Tôi yêu cầu em điều chỉnh lại các điều kiện sống của mình để phụng sự thích đáng hơn. Tôi muốn lưu ý em đến những lời: “vị trí chính đáng của em trong Ashram của Tôi.” Em có biết vị trí ấy là gì không? Tôi muốn em tìm ra.

An Ashram is ever in a state of constant flux and movement. Disciples are passing out of it to form their own Ashrams or to take up a specific place in another Ashram as they meet the requirements of more advanced stages. They are shifting from one degree to another; they are moving forward steadily from the periphery to the centre, from the outer ring-pass-not to the lighted dynamic centre. As they move forward, preserving ever the close inner unity, place is made for new disciples—to be admitted and trained for service.

Một Ashram luôn ở trong trạng thái lưu chuyển và chuyển động không ngừng. Các đệ tử rời khỏi đó để lập các Ashram riêng của mình, hoặc để đảm nhận một vị trí đặc thù trong một Ashram khác khi họ đáp ứng các đòi hỏi của những giai đoạn tiến bộ hơn. Họ chuyển từ cấp độ này sang cấp độ khác; họ tiến đều đặn từ chu vi vào trung tâm, từ vòng-giới-hạn bên ngoài đến trung tâm năng động được soi sáng. Khi họ tiến tới, trong khi luôn giữ gìn sự hợp nhất nội tại mật thiết, chỗ được tạo ra cho các đệ tử mới—để được nhận vào và được huấn luyện cho phụng sự.

Part of the service rendered by members of an Ashram is [743] to make way for new aspirants. This they do by hastening their own progress and moving forward. When disciples take one of the final initiations, or when they are admitted to a higher and more potent Ashram, vacancies occur which are always promptly filled. The occult law which governs all progress in an Ashram is sometimes called the Law of Fulfilment. By this is meant the full compliance of a disciple with the service demands upon the outer plane. When his service is as full and as effective as he can render it, then—under a condition which is in the nature of a group occult paradox—his outer effectiveness produces an inner effectiveness. You have all been taught (though theoretically for the most part) that inner effectiveness produces illumined and potent service. Now learn the reverse side of this truth. I will elucidate no further, for your own thinking should suffice.

Một phần sự phụng sự do các thành viên của một Ashram thực hiện là [743] mở đường cho những người chí nguyện mới. Họ làm điều này bằng cách thúc nhanh sự tiến bộ của chính mình và tiến tới. Khi các đệ tử nhận một trong những lần điểm đạo cuối, hoặc khi họ được nhận vào một Ashram cao hơn và mạnh mẽ hơn, các chỗ trống xuất hiện và luôn được nhanh chóng lấp đầy. Định luật huyền bí chi phối mọi tiến bộ trong một Ashram đôi khi được gọi là Định luật Thành Toàn. Điều này có nghĩa là sự tuân đáp trọn vẹn của một đệ tử đối với các đòi hỏi phụng sự trên cõi bên ngoài. Khi sự phụng sự của y đầy đủ và hiệu quả hết mức y có thể thực hiện, thì—dưới một điều kiện mang bản chất của một nghịch lý huyền bí nhóm—hiệu quả bên ngoài của y tạo ra một hiệu quả bên trong. Tất cả các em đều đã được dạy, dù phần lớn chỉ trên lý thuyết, rằng hiệu quả bên trong tạo ra sự phụng sự được soi sáng và mạnh mẽ. Giờ đây hãy học mặt ngược lại của chân lý này. Tôi sẽ không giảng giải thêm, vì tư duy của chính em phải đủ.

You have, my brother, three things to do:

Huynh đệ của Tôi, em có ba việc phải làm:

First of all, you must so think, reflect and meditate that your brain will be the recipient of your planned thinking, and not simply a sensitive registering instrument. Through right meditation, the energy from your soul and mind must be focussed, via the head centre. Speaking in symbols which you easily understand, “the lighted triangle of soul and mind and head will awaken the centre between the eyes and bring into activity the eye of direction”; this is at present closed, and only occasionally opened. You have been greatly concerned for years over the direction of your thoughts and the trend of your thinking; shift now your attention to directed service. Undertake a task for me and bring it to accomplishment.

Trước hết, em phải suy nghĩ, suy ngẫm và tham thiền sao cho bộ não của em sẽ là nơi tiếp nhận tư duy đã được hoạch định của em, chứ không chỉ là một khí cụ ghi nhận nhạy cảm. Qua tham thiền đúng đắn, năng lượng từ linh hồn và thể trí của em phải được tập trung, thông qua trung tâm đầu. Nói bằng các biểu tượng mà em dễ dàng thấu hiểu, “tam giác được soi sáng của linh hồn, thể trí và đầu sẽ đánh thức trung tâm giữa hai mắt và đưa con mắt định hướng vào hoạt động”; hiện nay nó đang đóng, và chỉ thỉnh thoảng mới mở. Trong nhiều năm, em đã quan tâm rất nhiều đến hướng đi của các tư tưởng và khuynh hướng tư duy của mình; giờ đây hãy chuyển sự chú ý của em sang sự phụng sự có định hướng. Hãy đảm nhận một nhiệm vụ cho Tôi và đưa nó đến hoàn tất.

The second thing you have to do is to assess your equipment and ascertain—from within yourself—where lies your field of service—one field, my brother, not many. A disciple of your standing serves a group and not just a person here and there, and frequently persons of no spiritual importance whose destiny can be well left to their own souls or some teacher not of discipleship grade. I do not choose to be more explicit. Your field of service is clear, could you but see it, but of no use to you unless you enter it voluntarily, freely and with understanding. [744]

Điều thứ hai em phải làm là đánh giá trang bị của mình và xác định—từ bên trong chính em—lĩnh vực phụng sự của em nằm ở đâu—một lĩnh vực thôi, huynh đệ của Tôi, không phải nhiều. Một đệ tử ở vị trí của em phụng sự một nhóm, chứ không chỉ một người ở đây hay ở kia, và thường là những người không có tầm quan trọng tinh thần, những người mà định mệnh có thể để lại cho chính linh hồn của họ hoặc cho một huấn sư nào đó không thuộc cấp độ đệ tử. Tôi không chọn nói rõ hơn. Lĩnh vực phụng sự của em rất rõ, nếu em có thể thấy nó, nhưng nó không ích gì cho em trừ phi em bước vào đó một cách tự nguyện, tự do và với thấu hiểu. [744]

The final thing which calls for your attention is to grasp in a new and dynamic manner the dual life of discipleship. Your field of service and your field of karmic obligation must never rule each other out, but you must learn to function efficiently in both careers. Your time for learning, technically understood, must now give place to the use of what you have acquired of understanding and wisdom.

Điều cuối cùng đòi hỏi sự chú ý của em là nắm bắt theo một cách mới mẻ và năng động đời sống kép của địa vị đệ tử. Lĩnh vực phụng sự của em và lĩnh vực nghĩa vụ nghiệp quả của em không bao giờ được loại trừ lẫn nhau, nhưng em phải học cách hoạt động hiệu quả trong cả hai sự nghiệp. Thời gian học tập của em, hiểu theo nghĩa kỹ thuật, nay phải nhường chỗ cho việc sử dụng những gì em đã đạt được về thấu hiểu và minh triết.

I suggest for your helping, the following meditation. You must bear in mind that it is only of service to you if followed steadily and with continuity. It is largely in the nature of a visualisation exercise.

Tôi đề nghị bài tham thiền sau đây để trợ giúp em. Em phải ghi nhớ rằng nó chỉ hữu ích cho em nếu được theo đuổi đều đặn và liên tục. Nó phần lớn mang bản chất của một bài tập hình dung.

1. Rapid alignment and the sounding of the OM three times.

1. Chỉnh hợp nhanh và xướng OM ba lần.

2. Focussing the consciousness in the soul with a corresponding concentration in the head at as high a point as possible.

2. Tập trung tâm thức trong linh hồn, với sự tập trung tương ứng trong đầu tại một điểm cao nhất có thể.

3. Then sound the OM four times. This is followed by a pause.

3. Rồi xướng OM bốn lần. Tiếp theo là một khoảng dừng.

4. The following visualisation exercise is carried forward from the point of concentration attained. If your attention wanders, sound the OM again. This is sometimes called the “recalling OM.”

4. Bài tập hình dung sau đây được tiến hành từ điểm tập trung đã đạt được. Nếu sự chú ý của em lang thang, hãy xướng OM lại. Điều này đôi khi được gọi là “OM thu hồi sự chú ý.”

a. See in the mind’s eye a sea of light.

a. Hãy thấy trong con mắt của thể trí một biển ánh sáng.

b. Then see yourself standing and awaiting direction upon the physical plane. Hold these two thoughts quietly for a little time or picture them simultaneously.

b. Rồi thấy chính em đang đứng và chờ đợi sự chỉ hướng trên cõi hồng trần. Giữ hai tư tưởng này một cách yên tĩnh trong một thời gian ngắn, hoặc hình dung chúng đồng thời.

c. Then you—the disciple upon the physical plane—sound the OM inaudibly, dynamically and clearly, and as you do so, see a movement or current in the sea of lighted energy, converging towards you.

c. Rồi em—người đệ tử trên cõi hồng trần—xướng OM không thành tiếng, một cách năng động và rõ ràng, và khi làm như vậy, hãy thấy một chuyển động hay dòng chảy trong biển năng lượng được soi sáng, đang hội tụ về phía em.

d. See it take form as a stream of down-flowing energy—the energy of love, of strength and of understanding.

d. Hãy thấy nó thành hình như một dòng năng lượng tuôn xuống—năng lượng của tình thương, của sức mạnh và của thấu hiểu.

e. Imagine next that divine flow sweeping through your mind and your astral body and settling into your etheric vehicle, awaiting a Word of Power.

e. Tiếp theo, hãy tưởng tượng dòng chảy thiêng liêng ấy quét qua thể trí và thể cảm dục của em, rồi lắng vào vận cụ dĩ thái của em, chờ đợi một Quyền năng từ.

f. Then again sound the OM and feel the impact of [745] the tidal wave (if I may so call it) of spiritual energy, entering into your head centre, passing from thence to the ajna centre, and involving in its flow the centre in the medulla oblongata—the alta major centre.

f. Rồi lại xướng OM và cảm nhận tác động của [745] làn sóng thủy triều, nếu Tôi có thể gọi như vậy, của năng lượng tinh thần, đi vào trung tâm đầu của em, từ đó chuyển sang trung tâm ajna, và cuốn vào dòng chảy của nó trung tâm ở hành tủy—trung tâm alta major.

g. Then, at the exact moment of this realised dispersion, say, “This source of power is all I am and have; I send it forth to serve my fellowmen; I thus prepare the way into the Ashram, thus drawing men toward the source of power and strength.”

g. Rồi, đúng vào khoảnh khắc của sự phân tán đã được chứng nghiệm này, hãy nói: “Nguồn quyền năng này là tất cả những gì tôi là và có; tôi phóng nó ra để phụng sự đồng loại của tôi; như vậy tôi chuẩn bị con đường vào Ashram, như vậy kéo con người hướng về nguồn quyền năng và sức mạnh.”

5. Having completed this exercise, then meditate for ten minutes upon the service you are asked to render; see it motivated and implemented by the energy just received, and let your creative imagination build for you a structure for your service.

5. Sau khi hoàn tất bài tập này, hãy tham thiền trong mười phút về sự phụng sự mà em được yêu cầu thực hiện; hãy thấy nó được thúc đẩy và được thực thi bởi năng lượng vừa nhận được, và hãy để Sự tưởng tượng sáng tạo của em xây dựng cho em một cấu trúc cho sự phụng sự của em.

I have spoken to you with directness, my brother. I am, as I have told several of your group brothers, ambitious that all of you in my Ashram may become creative and constructive workers within and for the Hierarchy. I am exceedingly anxious also to see you expressing in fuller measure all that you are, and thus end this time of “flighty service” (forgive me for this word, but I speak to arrest your consciousness) and enter into that full demonstration of the will-to-good which brings always joy and effectiveness.

Huynh đệ của Tôi, Tôi đã nói với em một cách trực tiếp. Như Tôi đã nói với vài huynh đệ trong nhóm của em, Tôi có hoài bão rằng tất cả các em trong Ashram của Tôi có thể trở thành những người hoạt động sáng tạo và xây dựng trong Thánh Đoàn và vì Thánh Đoàn. Tôi cũng hết sức mong thấy em biểu lộ đầy đủ hơn tất cả những gì em là, và như vậy chấm dứt thời kỳ “phụng sự bốc đồng” này, xin tha thứ cho Tôi về từ này, nhưng Tôi nói để giữ tâm thức em lại, và bước vào sự biểu hiện đầy đủ của Ý Chí-hướng Thiện, điều luôn đem lại sự hoan hỉ và hiệu quả.

We have walked the path of life in relation to each other for years now. I have held you safe from harm whilst you got your bearings and tested out your strength, but that time should now be past. I stand by you at all times, but you must now come forth into steadfast ordered work, shouldering responsibility and “growing up” spiritually. The time of spiritual adolescence is past for you. Will you realise that and now work?

Chúng ta đã cùng bước trên con đường sự sống trong mối liên hệ với nhau nhiều năm nay. Tôi đã giữ em an toàn khỏi tổn hại trong khi em định vị phương hướng và thử nghiệm sức mạnh của mình, nhưng thời gian đó nay phải qua rồi. Tôi luôn đứng bên em, nhưng giờ đây em phải bước ra vào công việc có trật tự và kiên định, gánh vác trách nhiệm và “trưởng thành” về mặt tinh thần. Thời kỳ niên thiếu tinh thần đối với em đã qua. Em có nhận ra điều đó và giờ đây làm việc không?

August 1946

Tháng Tám năm 1946

MY DISCIPLE:

ĐỆ TỬ CỦA TÔI:

You are of those in this group who are within the Ashram, and that fact carries with it a definite obligation and [746] responsibility. In my last instruction to you (given two years ago) I dwelt much on this, and I would like to tell you that you have made progress, that you have eliminated much nonessential living, and are finding more time for real service. You are becoming—as an occult phrase puts it—“grounded in your place”; that was for you an essential step. Now must come the mastering of the technique or method whereby (from that place) you move forward in any needed direction—along the line of service.

Em thuộc về những người trong nhóm này đang ở bên trong Ashram, và sự kiện ấy mang theo nó một nghĩa vụ và [746] trách nhiệm rõ rệt. Trong huấn thị gần nhất của Tôi dành cho em, được ban hai năm trước, Tôi đã nói nhiều về điều này, và Tôi muốn nói với em rằng em đã tiến bộ, rằng em đã loại bỏ nhiều lối sống không thiết yếu, và đang tìm được nhiều thời gian hơn cho sự phụng sự thật sự. Em đang trở nên—như một cụm từ huyền bí diễn đạt—“được cắm rễ trong vị trí của mình”; đó là một bước thiết yếu đối với em. Giờ đây phải đến việc làm chủ kỹ thuật hay phương pháp nhờ đó, từ vị trí ấy, em tiến tới theo bất cứ hướng cần thiết nào—dọc theo đường lối phụng sự.

In this connection, no one can help you; you have to find the ways and means, alone and unaided. This effort on your part, this groping here and there for a rightful field of service, is largely responsible for your exceeding sensitivity; you move in one direction and react to a needed opposition; this proves upsetting and may lead to a psychic crisis. You move in another direction and are immediately assailed by that which is to you a phantom of fear; you move elsewhere but the opportunity for service proffered measures not up to your capacity, and this you register and again withdraw, conscious always of psychic atmospheres and conditions. What then to do?

Trong mối liên hệ này, không ai có thể giúp em; em phải tự mình, đơn độc và không được trợ giúp, tìm ra các đường lối và phương tiện. Nỗ lực này của em, sự dò dẫm đây đó để tìm một lĩnh vực phụng sự đúng đắn, phần lớn chịu trách nhiệm cho sự nhạy cảm quá mức của em; em đi theo một hướng và phản ứng với một sự đối kháng cần thiết; điều này gây xáo trộn và có thể dẫn đến một khủng hoảng thông linh. Em đi theo một hướng khác và lập tức bị tấn công bởi điều đối với em là một bóng ma sợ hãi; em đi nơi khác nhưng cơ hội phụng sự được đưa ra không tương xứng với năng lực của em, và em ghi nhận điều này rồi lại rút lui, luôn ý thức về các bầu khí và điều kiện thông linh. Vậy phải làm gì?

A great experiment is being attempted in the Arcane School. It is an endeavour to lift off the shoulders of the Masters the training of aspirants for discipleship and thus to prepare them to take their stand upon the periphery of an Ashram—in this case mine. I am thus lifting much along this line off the shoulders of other Masters. Masters such as K.H. and M. deal only at this time with trained disciples—such are the exigencies of world work. In the advanced section of the Arcane School this experiment is going on, though as yet only in an embryonic manner; more difficult and specific training should be given to the few who are reacting correctly to the “call of the Hierarchy.” I have spoken to A.A.B. upon this matter, and along the line pointed out to her I ask your help and your time; I would ask you also to permit A.A.B. to train you more specifically for this work, and to do so with confidence, as the link between you two is strong and you have ever permitted her to speak to you with frankness. [747]

Một cuộc thử nghiệm lớn đang được thực hiện trong Trường Arcane. Đó là một nỗ lực nhằm cất khỏi vai các Chân sư việc huấn luyện những người chí nguyện cho địa vị đệ tử, và nhờ vậy chuẩn bị họ đứng trên chu vi của một Ashram—trong trường hợp này là Ashram của Tôi. Như vậy Tôi đang cất nhiều việc theo đường lối này khỏi vai các Chân sư khác. Các Chân sư như Chân sư K.H. và Chân sư M. hiện nay chỉ làm việc với các đệ tử đã được rèn luyện—những đòi hỏi cấp bách của công việc thế giới là như vậy. Trong phân bộ cao cấp của Trường Arcane, cuộc thử nghiệm này đang diễn ra, dù cho đến nay mới chỉ ở dạng phôi thai; một sự huấn luyện khó hơn và đặc thù hơn nên được trao cho số ít người đang phản ứng đúng đắn với “tiếng gọi của Thánh Đoàn.” Tôi đã nói với Bà A.A.B. về vấn đề này, và theo đường lối đã được chỉ ra cho Bà, Tôi yêu cầu sự trợ giúp và thời gian của em; Tôi cũng yêu cầu em cho phép Bà A.A.B. huấn luyện em một cách đặc thù hơn cho công việc này, và làm như vậy với lòng tin cậy, vì mối liên kết giữa hai người rất mạnh, và em luôn cho phép Bà nói với em một cách thẳng thắn. [747]

You need to learn to protect yourself from people, in a psychic sense. This protection can be applied in several ways. I could myself put around you a protecting shield; I choose not to do so, for you would learn naught thereby. The work must be done by you yourself, and basically involves the transmutation of the sacral centre (not the solar plexus, as you might naturally think) to the throat. In the sacral centre lie the ancient racial fears and deep-seated personal desires. Ponder not upon the sacral centre, for that would bring these ancient inheritances to the surface, but let your work be related to the creative throat centre. Then perform the following exercise:

Em cần học cách bảo vệ mình khỏi con người, theo nghĩa thông linh. Sự bảo vệ này có thể được áp dụng theo nhiều cách. Chính Tôi có thể đặt quanh em một lá chắn bảo vệ; Tôi chọn không làm vậy, vì em sẽ chẳng học được gì nhờ đó. Công việc phải do chính em thực hiện, và về căn bản bao hàm sự chuyển hoá trung tâm xương cùng, không phải tùng thái dương như em có thể tự nhiên nghĩ, lên trung tâm cổ họng. Trong trung tâm xương cùng nằm những nỗi sợ cổ xưa của nhân loại và những ham muốn cá nhân ăn sâu. Đừng suy ngẫm về trung tâm xương cùng, vì điều đó sẽ đưa các di sản cổ xưa này lên bề mặt, nhưng hãy để công việc của em liên hệ với trung tâm cổ họng sáng tạo. Rồi thực hiện bài tập sau đây:

1. Sound the OM within the throat centre, as the soul focussed in the ajna centre.

1. Xướng OM trong trung tâm cổ họng, với tư cách linh hồn được tập trung trong trung tâm ajna.

2. See (with the creative imagination) the throat centre as a radiant, vibrant, brilliant reservoir and know it to be so.

2. Hãy thấy, bằng Sự tưởng tượng sáng tạo, trung tâm cổ họng như một hồ chứa rạng rỡ, rung động, sáng chói và biết rằng nó là như vậy.

3. Then send forth from that centre a broad and vital stream of energy, down the spine to the sacral centre in the spine, preserving the stream intact in your consciousness so that no part of it is deflected to the physical counterparts of the sacral centre, the gonads.

3. Rồi từ trung tâm ấy phóng ra một dòng năng lượng rộng lớn và đầy sinh lực, đi xuống cột sống đến trung tâm xương cùng trong cột sống, giữ cho dòng ấy nguyên vẹn trong tâm thức em để không phần nào của nó bị lệch sang các đối phần hồng trần của trung tâm xương cùng, tức các tuyến sinh dục.

4. Then see the sacral centre (in the spine) as a radiant reservoir of energy, but as energy deflected from physical creative activity to the destruction of ancient racial fears in the world. Then project that energy out into the world of men, to aid in the destruction of fear.

4. Rồi hãy thấy trung tâm xương cùng, trong cột sống, như một hồ chứa năng lượng rạng rỡ, nhưng như năng lượng được chuyển hướng khỏi hoạt động sáng tạo hồng trần để hủy diệt những nỗi sợ cổ xưa của nhân loại trong thế giới. Rồi hãy phóng chiếu năng lượng ấy ra vào thế giới loài người, để trợ giúp việc hủy diệt nỗi sợ.

5. Next, reaffirming your consciousness positively in the ajna centre, withdraw your attention from the sacral centre and the throat centre and sound the OM—as the directing disciple—seven times, slowly and inaudibly.

5. Tiếp theo, khi tái khẳng định tâm thức của em một cách tích cực trong trung tâm ajna, hãy rút sự chú ý của em khỏi trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng, rồi xướng OM—với tư cách đệ tử điều hướng—bảy lần, chậm rãi và không thành tiếng.

Use this exercise as often as needed, but just now and for six months use it every day. You will be surprised what it will do for you.

Hãy dùng bài tập này thường xuyên khi cần, nhưng ngay lúc này và trong sáu tháng, hãy dùng nó mỗi ngày. Em sẽ ngạc nhiên về điều nó sẽ làm cho em.

The meditation I last gave you will serve you for the rest of your life, so I give you no meditation now.

Bài tham thiền Tôi trao cho em lần trước sẽ phục vụ em trong phần còn lại của đời em, vì vậy giờ đây Tôi không trao cho em bài tham thiền nào.

To you, as to others in the group, I say: Go forward with [748] confidence and with joy; establish a closer contact with me, your friend and teacher.

Với em, cũng như với những người khác trong nhóm, Tôi nói: Hãy tiến tới với [748] lòng tin tưởng và với sự hoan hỉ; hãy thiết lập một tiếp xúc gần gũi hơn với Tôi, người bạn và huấn sư của em.

November 1948

Tháng Mười Một năm 1948

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I start today with a word of real commendation to you. Since my last communication to you, you have succeeded in doing two things: stabilised the “grounding in your place” in my Ashram (to which I referred in my last communication to you) and you have also paralleled that by a very definite shifting of your astral polarisation on to higher astral levels—a task that is occupying the attention of a very large number of disciples at this time. The reason for this is that a very great part of the work of the returning Christ will affect greatly the astral plane. Disciples are therefore needed who can absorb, transmute and transfer light. For this task you are peculiarly equipped and hence the psychic difficulties which have for some years confronted you and caused you difficulty. This trouble will greatly lessen from now on, particularly if you proceed to labour at your task… preparatory to the reappearance of the Christ.

Hôm nay Tôi bắt đầu bằng một lời khen ngợi chân thật dành cho em. Từ lần thông đạt gần nhất của Tôi với em, em đã thành công trong việc làm hai điều: ổn định việc “cắm rễ trong vị trí của em” trong Ashram của Tôi, điều Tôi đã nói đến trong lần thông đạt gần nhất, và em cũng đã song hành điều đó bằng một sự chuyển dịch rất rõ rệt sự phân cực cảm dục của mình lên các cấp độ cảm dục cao hơn—một nhiệm vụ đang chiếm sự chú ý của một số rất lớn đệ tử vào lúc này. Lý do là vì một phần rất lớn công việc của Đức Christ đang trở lại sẽ tác động mạnh mẽ đến cõi cảm dục. Do đó cần có các đệ tử có thể hấp thụ, chuyển hoá và chuyển dịch ánh sáng. Đối với nhiệm vụ này, em được trang bị một cách đặc biệt, và do đó có những khó khăn thông linh đã đối diện với em và gây khó khăn cho em trong vài năm qua. Từ nay trở đi, rắc rối này sẽ giảm bớt rất nhiều, đặc biệt nếu em tiếp tục lao tác trong nhiệm vụ của mình… để chuẩn bị cho sự tái lâm của Đức Christ.

Those disciples who work today in the world and do so consciously in order to aid the Christ and His mission, come within the protecting aura with which the Head of the Hierarchy at all times surrounds certain work undertaken by the Hierarchy in connection with our planet. This work of preparation for His coming is curiously fraught with danger because of the immense and constant antagonism it arouses (and is arousing increasingly) in the opposing forces of evil. The main attack of these forces is upon disciples and particularly those in a position and at the point in evolution where they can act with potency and greatly help in the task of reaching others. This you can do, and along with all disciples are, therefore, marked “for protection,” as it is esoterically called. This does not mean that you will be free from attack and—because you are a disciple—attack on all three bodies simultaneously, but it means that such attack will arouse in you no fear. Remember always, brother of [749] mine, that it is fear that permits the entry of wrong potencies, and that such an attack may not be aimed at your weakest point but preferably at your strongest; it is there where disciples are often caught unawares and thus suffer a temporary setback.

Những đệ tử ngày nay làm việc trong thế giới và làm như vậy một cách có ý thức để trợ giúp Đức Christ và sứ mệnh của Ngài, đi vào trong hào quang bảo vệ mà Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn luôn dùng để bao quanh một số công việc nhất định do Thánh Đoàn đảm nhận liên quan đến hành tinh của chúng ta. Công việc chuẩn bị cho sự đến của Ngài này, một cách kỳ lạ, đầy nguy hiểm vì sự đối kháng lớn lao và liên tục mà nó khơi dậy, và đang ngày càng khơi dậy, trong các mãnh lực tà ác đối lập. Đòn tấn công chính của các mãnh lực này nhằm vào các đệ tử, đặc biệt là những người ở vị trí và tại điểm tiến hoá nơi họ có thể hành động với quyền năng và trợ giúp rất nhiều trong nhiệm vụ vươn tới người khác. Em có thể làm điều này, và cùng với tất cả các đệ tử, do đó được đánh dấu “để bảo vệ,” như cách nói nội môn. Điều này không có nghĩa là em sẽ thoát khỏi tấn công, và—vì em là một đệ tử—tấn công vào cả ba thể cùng lúc, nhưng nó có nghĩa là sự tấn công như thế sẽ không khơi dậy nơi em nỗi sợ. Huynh đệ [749] của Tôi, hãy luôn nhớ rằng chính nỗi sợ cho phép các quyền năng sai lạc đi vào, và một cuộc tấn công như thế có thể không nhằm vào điểm yếu nhất của em, mà ưu tiên nhằm vào điểm mạnh nhất của em; chính ở đó các đệ tử thường bị bắt gặp bất ngờ và do đó chịu một bước lùi tạm thời.

The astral plane is in a great state of turmoil today—but that is a theme upon which I will dwell in my next communication to this group of disciples. It is nevertheless something to bear in mind. This turmoil is caused by an increasing descent of the Christ energy from the buddhic plane into the astral plane—a necessary aggregation of spiritual forces of a strength sufficient to create a reservoir of this energy of which the Hierarchy can avail itself as it proceeds towards externalisation. Of that force (which is astral-buddhic in nature) disciples such as yourself can take advantage. It carries the qualities of “embodied light,” sensitivity to the new incoming vibration, and protective pliancy—I know not what other word to use. It can only be used by working disciples; therefore work, my brother, and let that penetrating energy find a channel through you.

Ngày nay cõi cảm dục đang ở trong một trạng thái hỗn loạn lớn—nhưng đó là một chủ đề mà Tôi sẽ bàn kỹ trong lần thông đạt tới với nhóm đệ tử này. Tuy nhiên, đó là điều cần ghi nhớ. Sự hỗn loạn này do sự giáng xuống ngày càng tăng của năng lượng Đức Christ từ cõi Bồ đề vào cõi cảm dục—một sự tập hợp cần thiết các mãnh lực tinh thần có sức mạnh đủ để tạo ra một hồ chứa năng lượng này mà Thánh Đoàn có thể sử dụng khi tiến tới sự ngoại hiện. Đối với mãnh lực ấy, vốn có bản chất cảm dục-Bồ đề, các đệ tử như em có thể tận dụng. Nó mang các phẩm tính của “ánh sáng nhập thể,” sự nhạy cảm với rung động mới đang đi vào, và tính uyển chuyển bảo vệ—Tôi không biết dùng từ nào khác. Nó chỉ có thể được sử dụng bởi các đệ tử đang làm việc; do đó hãy làm việc, huynh đệ của Tôi, và hãy để năng lượng thâm nhập ấy tìm được một kênh qua em.

I have told you these things in order to reassure you, for you have been in the past somewhat prone to psychic fear, though a very great improvement in this respect can be noticed. Those who work in this coming cycle must cast off fear and refuse to register in their consciousness—by an act of the spiritual will—the very existence of that which causes the reaction of fear. It is not the “little wills of men” which must here be used, but the bringing in of the higher spiritual will, via the antahkarana. It was with this in view that I gave out the teaching upon the antahkarana before proclaiming the reappearance of the Christ.

Tôi đã nói với em những điều này để trấn an em, vì trong quá khứ em có phần dễ nghiêng về nỗi sợ thông linh, dù một sự cải thiện rất lớn trong phương diện này có thể được nhận thấy. Những người làm việc trong chu kỳ sắp đến này phải gạt bỏ nỗi sợ và từ chối ghi nhận trong tâm thức mình—bằng một hành động của ý chí tinh thần—ngay cả sự tồn tại của điều gây ra phản ứng sợ hãi. Ở đây, không phải “những ý chí nhỏ bé của con người” phải được sử dụng, mà là việc đưa ý chí tinh thần cao hơn vào, thông qua antahkarana. Chính với điều này trong trí mà Tôi đã ban giáo huấn về antahkarana trước khi công bố sự tái lâm của Đức Christ.

In the reorganisation of the Arcane School, I would ask you to take your full share and to concentrate your major effort upon the work of the senior students. Have in mind always that it is spiritual esotericism that is required; teaching the students to create a line of light between themselves and all circumstances and problems. This is possible because every problem is in reality a vital thoughtform, effective for good or evil. The line of established light can dispel the evil [750] or act as a transmitter of the energy of the will-to-good. In the above few sentences I have given you a potent hint and one which should be taught to all true aspirants.

Trong việc tái tổ chức Trường Arcane, Tôi yêu cầu em đảm nhận phần trọn vẹn của mình và tập trung nỗ lực chính vào công việc của các môn sinh cao cấp. Hãy luôn ghi nhớ rằng điều cần thiết là nội môn học tinh thần; dạy các môn sinh tạo ra một đường ánh sáng giữa chính họ và mọi hoàn cảnh cùng vấn đề. Điều này có thể thực hiện vì mọi vấn đề thực ra là một hình tư tưởng sống động, hữu hiệu cho thiện hoặc ác. Đường ánh sáng đã được thiết lập có thể xua tan điều ác [750] hoặc hoạt động như một bộ truyền năng lượng của Ý Chí-hướng Thiện. Trong vài câu trên, Tôi đã trao cho em một gợi ý mạnh mẽ, và một gợi ý nên được dạy cho tất cả những người chí nguyện chân chính.

There is little more that I have to say to you. You might find it of true helpfulness if you gathered together and read at one sitting, slowly and carefully, all which I have given to you in your personal instructions since this group was organised. This will give you (as nothing else can) a synthetic view of the general pattern of your spiritual growth and advancement.

Tôi còn ít điều để nói với em. Em có thể thấy thật sự hữu ích nếu em tập hợp lại và đọc trong một lần, chậm rãi và cẩn thận, tất cả những gì Tôi đã trao cho em trong các huấn thị cá nhân kể từ khi nhóm này được tổ chức. Điều này sẽ cho em, hơn bất cứ điều gì khác, một cái nhìn tổng hợp về mô hình chung của sự tăng trưởng và tiến bộ tinh thần của em.

Go forward with a sense of strength, knowing that the power of your soul, the solidarity of the Ashram, and the protective aura which surrounds the work of the Christ can ever be relied upon.

Hãy tiến tới với ý thức về sức mạnh, biết rằng quyền năng của linh hồn em, sự đoàn kết của Ashram, và hào quang bảo vệ bao quanh công việc của Đức Christ luôn có thể được nương tựa.

To D. L. R. – Gửi D. L. R.

January 1940

Tháng Giêng năm 1940

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I find it most difficult to give a name to the glamour which holds back the full expression of your soul. I might perhaps call it the “glamour of continued circumstance.” This leads to an almost unavoidable construction of a wall of small and unimportant events, of negligible contacts, of monotonously regulated and determined duties, carried forward year after year because they constitute your duty and life function and also provide the wherewithal whereby the needs of life can be met. These provide a slow moving glamour, behind which you conscientiously and laboriously stand and daily work. Such a state of affairs leads to a static situation and to a constant conditioning of your life expression. To this, your soul at times takes exception and will do so increasingly. For this you must be prepared. You must be ready for a certain feeling of nausea and of frustration as your life goes on and on along its predetermined lines. And for this nausea, you will find no real understanding in your environment. For this also you must be prepared and to accept [751] it without criticism of those who fail to render you right comprehension.

Tôi thấy hết sức khó đặt tên cho ảo cảm đang kìm giữ sự biểu lộ trọn vẹn của linh hồn em. Có lẽ Tôi có thể gọi nó là “ảo cảm của hoàn cảnh tiếp diễn.” Điều này dẫn đến việc xây dựng gần như không thể tránh khỏi một bức tường gồm các biến cố nhỏ bé và không quan trọng, những tiếp xúc không đáng kể, những bổn phận đơn điệu được quy định và xác định, được tiến hành năm này qua năm khác vì chúng cấu thành bổn phận và chức năng sống của em, đồng thời cũng cung cấp phương tiện nhờ đó các nhu cầu của đời sống có thể được đáp ứng. Những điều này tạo ra một ảo cảm chuyển động chậm, đằng sau nó em đứng một cách tận tâm và nhọc nhằn, làm việc hằng ngày. Một tình trạng như vậy dẫn đến một hoàn cảnh tĩnh tại và một sự tác động thường xuyên lên biểu lộ đời sống của em. Linh hồn em đôi khi phản đối điều này, và sẽ ngày càng phản đối hơn. Em phải chuẩn bị cho điều đó. Em phải sẵn sàng cho một cảm giác chán ngán và thất vọng nào đó khi đời sống của em cứ tiếp diễn theo các đường lối đã định trước. Và đối với cảm giác chán ngán này, em sẽ không tìm thấy sự thấu hiểu thật sự trong môi trường của mình. Em cũng phải chuẩn bị cho điều này và chấp nhận [751] nó mà không phê phán những người không đem lại cho em sự thông cảm đúng đắn.

Hitherto, you have regarded such moments of nausea as rebellion to be immediately suppressed; you have thrust from you all aspiration towards change, regarding it as a hindering glamour and seeking always to believe that your choice of the stable, the safe and the familiar is entirely right. Such choice has indeed been right at times, but it has not always been so in spite of the determination evidenced in your environment to hold you to the tried and the familiar.

Cho đến nay, em đã xem những khoảnh khắc chán ngán như thế là sự phản loạn cần bị đàn áp ngay lập tức; em đã đẩy ra khỏi mình mọi khát vọng hướng đến thay đổi, xem nó như một ảo cảm cản trở và luôn tìm cách tin rằng lựa chọn của em về điều ổn định, an toàn và quen thuộc là hoàn toàn đúng. Thật vậy, lựa chọn như thế đôi khi đã đúng, nhưng không phải lúc nào cũng vậy, bất chấp quyết tâm thể hiện trong môi trường của em nhằm giữ em với điều đã được thử nghiệm và quen thuộc.

Seek, my brother, at any cost, to be alive and eager for the future. Hide never behind the thought of past achievement or of achievement in some future life; learn to recognise opportunity when it stands before your thought and be ready to change the stable rhythms of a high grade and adequate personality for the eager forward looking attitude of a world disciple. Changes will then come because your inner attitude has prepared the way.

Huynh đệ của Tôi, bằng bất cứ giá nào, hãy tìm cách sống động và háo hức hướng về tương lai. Đừng bao giờ ẩn mình sau tư tưởng về thành tựu quá khứ hay về thành tựu trong một đời sống tương lai nào đó; hãy học nhận ra cơ hội khi nó đứng trước tư tưởng của em, và sẵn sàng thay đổi những nhịp điệu ổn định của một phàm ngã cao cấp và thích đáng để lấy thái độ háo hức hướng về phía trước của một đệ tử thế giới. Khi ấy các thay đổi sẽ đến vì thái độ bên trong của em đã chuẩn bị con đường.

Sometimes, my brother, I wonder if you will recognise them, knowing them for what they are? Will you see the open door, leading to a fuller and a richer life? I call you to preparedness, and for freedom from the glamours of the familiar, of the family and of your surroundings.

Đôi khi, huynh đệ của Tôi, Tôi tự hỏi liệu em có nhận ra chúng, biết chúng đúng như bản chất của chúng chăng? Em có thấy cánh cửa mở, dẫn đến một đời sống đầy đủ hơn và phong phú hơn không? Tôi kêu gọi em chuẩn bị sẵn sàng, và thoát khỏi các ảo cảm của điều quen thuộc, của gia đình và của môi trường xung quanh em.

August 1940

Tháng Tám năm 1940

There are within you at this time, my brother, stirrings of revolution and rebellion which have in them the seeds of liberation. Does this astonish you? Of their depth and purpose you have as yet but little understanding. You must remember that rebellion may be based on purely selfish desire for a way of life which your personality may demand. But it can also be soul-produced, and such is the case with you. One of the first things which a disciple has to learn is the real nature of that which is directing him and conditioning him. With many it is some aspect of the personality or of the personality as a whole; in a few, it is the soul. With [752] still others, the promptings may come from a sense of inferiority and its consequent reaction of a carefully considered defence mechanism; with still others, it may be circumstance, or the race mind or popular opinion or the people with whom they are associated through ancient ties, karmic liabilities or self-chosen responsibility. I will tell you here certain things which may aid you towards a fuller life and a deepened soul expression.

Huynh đệ của Tôi, vào lúc này trong em có những khuấy động của cách mạng và phản loạn, vốn chứa trong chúng các hạt giống của giải thoát. Điều này có làm em kinh ngạc không? Em vẫn còn thấu hiểu rất ít về chiều sâu và mục đích của chúng. Em phải nhớ rằng phản loạn có thể dựa trên ham muốn hoàn toàn ích kỷ về một lối sống mà phàm ngã của em có thể đòi hỏi. Nhưng nó cũng có thể do linh hồn tạo ra, và trường hợp của em là như vậy. Một trong những điều đầu tiên mà một đệ tử phải học là bản chất thật của điều đang chỉ đạo y và tác động lên y. Với nhiều người, đó là một phương diện nào đó của phàm ngã, hoặc phàm ngã như một toàn thể; với một số ít, đó là linh hồn. Với [752] những người khác nữa, các thôi thúc có thể đến từ cảm thức tự ti và phản ứng hệ quả của nó là một cơ chế phòng vệ được cân nhắc kỹ; với những người khác nữa, đó có thể là hoàn cảnh, hoặc trí tuệ của nhân loại, hoặc dư luận phổ biến, hoặc những người mà họ liên kết qua các ràng buộc cổ xưa, các trách nhiệm nghiệp quả hay trách nhiệm tự chọn. Ở đây Tôi sẽ nói với em một số điều có thể giúp em hướng đến một đời sống đầy đủ hơn và một biểu lộ linh hồn sâu sắc hơn.

Your link with your soul is real and it was not achieved in this life. It is therefore one of the stable factors in your life. Your mind is of a high quality and is easily responsive to the intuition and illumination; you have your emotional or astral body well under control. On the inner planes of the personality, your life demonstration is good and you lead a faithful and progressive spiritual life—so much so that your vibration reaches upward so intensively at times as to sound within the periphery of the hierarchical sphere of influence. This is somewhat rare. But outward and downward (these inadequate expressions make the teaching hard to communicate) this is not the case. Your outgoing energy seems short circuited and your radiation is inadequate to your inner spiritual life. You will recall that I gave you the word “radiation” some years ago as your desired keynote. For years I have watched the intensification of your spiritual life upon the inner planes only to see it arrested on the eve of expression upon the plane of daily life. I refer not here to character expression or to being what people ordinarily call good. I refer to effective radiation.

Mối liên kết của em với linh hồn là thật, và nó không được đạt đến trong đời sống này. Do đó, nó là một trong những yếu tố ổn định trong đời sống của em. Thể trí của em có phẩm chất cao và dễ dàng đáp ứng với trực giác và sự soi sáng; em đã kiểm soát tốt thể cảm xúc hay thể cảm dục của mình. Trên các cõi bên trong của phàm ngã, sự biểu hiện đời sống của em là tốt, và em dẫn dắt một đời sống tinh thần trung thành và tiến bộ—đến mức rung động của em đôi khi vươn lên trên mãnh liệt đến nỗi vang lên trong ngoại vi của phạm vi ảnh hưởng của Thánh Đoàn. Điều này khá hiếm. Nhưng hướng ra ngoài và xuống dưới, những cách diễn đạt bất toàn này khiến giáo huấn khó truyền đạt, thì không phải như vậy. Năng lượng hướng ra của em dường như bị đoản mạch, và sự tỏa chiếu của em không tương xứng với đời sống tinh thần bên trong của em. Em sẽ nhớ rằng vài năm trước Tôi đã trao cho em từ “tỏa chiếu” như chủ âm mong muốn của em. Trong nhiều năm, Tôi đã quan sát sự tăng cường đời sống tinh thần của em trên các cõi bên trong, chỉ để thấy nó bị chặn lại ngay trước khi biểu lộ trên cõi đời sống hằng ngày. Ở đây Tôi không nói đến sự biểu lộ tính cách hay việc là điều mà người ta thường gọi là tốt. Tôi nói đến sự tỏa chiếu hữu hiệu.

What causes this, my brother? I would say: Outer circumstances, and two people in particular, plus an acutely sensitive receptivity to the mental and emotional life of others. Ponder on this. This sensitivity causes an arresting of physical expression, plus a mistaken interpretation of duty at times. Know you not, my brother, that those who are at the stage of accepted discipleship (as you are) should be radiating centres of light on a relatively large scale. With you this potency of radiation is present but is rendered ineffective by your reaction to the outer details of physical plane living and to the reactions of those less developed than you are. Is [753] this a hard saying? Study it with the detachment you have so ably developed and you will find in due time that I am correct in my diagnosis.

Điều gì gây ra điều này, huynh đệ của Tôi? Tôi muốn nói: các hoàn cảnh bên ngoài, và đặc biệt là hai người, cộng với một sự tiếp nhận nhạy bén mãnh liệt đối với đời sống trí tuệ và cảm xúc của người khác. Hãy suy ngẫm về điều này. Sự nhạy cảm này gây ra việc chặn lại biểu lộ hồng trần, cộng với đôi lúc một sự diễn giải sai lầm về bổn phận. Huynh đệ của Tôi, em không biết rằng những người ở giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, như em đang ở, phải là các trung tâm ánh sáng tỏa chiếu trên một quy mô tương đối lớn sao? Nơi em, quyền năng tỏa chiếu này hiện diện nhưng bị làm cho mất hiệu quả bởi phản ứng của em đối với các chi tiết bên ngoài của đời sống cõi hồng trần và đối với các phản ứng của những người kém phát triển hơn em. [753] Đây có phải là lời khó nghe chăng? Hãy nghiên cứu nó với sự tách rời mà em đã phát triển rất tài tình, và đúng thời em sẽ thấy rằng Tôi chẩn đoán đúng.

Re-apply and re-interpret this virtue of detachment and much will be revealed to you. I shall not be more explicit. My function is to indicate direction, but it is for you to understand rightly and then react. Your initial interpretation given to my words may not be the right one in all cases. Usually the integration of the spiritual life and of the personality proceeds as follows:

Hãy áp dụng lại và diễn giải lại đức tính tách rời này, và nhiều điều sẽ được mặc khải cho em. Tôi sẽ không nói rõ hơn. Chức năng của Tôi là chỉ ra phương hướng, nhưng việc thấu hiểu đúng và rồi phản ứng là của em. Cách diễn giải ban đầu của em về lời Tôi có thể không đúng trong mọi trường hợp. Thông thường, sự tích hợp của đời sống tinh thần và của phàm ngã diễn tiến như sau:

1. The astral body integrates with the physical brain, via the etheric body and the solar plexus.

1. Thể cảm dục tích hợp với bộ não hồng trần, qua thể dĩ thái và tùng thái dương.

2. These two then integrate with the mental body and thus complete the personality expression.

2. Hai thành phần này rồi tích hợp với thể trí và như vậy hoàn tất sự biểu lộ của phàm ngã.

3. This is followed after much struggle and time by the definite integration of personality and soul.

3. Sau nhiều đấu tranh và thời gian, điều này được tiếp nối bằng sự tích hợp rõ rệt của phàm ngã và linh hồn.

You have, however, carried the integration from the astral body to the mental body and from thence to the soul but have not yet succeeded in integrating these three with the physical man, dominating the brain and producing a vibrant expression of the inner man outwardly. This is somewhat rare a condition. Could you see yourself as you essentially are, you would make the acquaintance of a vibrant, radiant, wise disciple. But you hide all that behind a wall which has been built through your conditioning supersensitive nature and circumstances, and also by the influence of several people. Come out from behind that obstructing wall, my brother, and—for the sake of those whom you can serve—be what you are.

Tuy nhiên, em đã đưa sự tích hợp từ thể cảm dục lên thể trí, và từ đó đến linh hồn, nhưng vẫn chưa thành công trong việc tích hợp ba điều này với con người hồng trần, chế ngự bộ não và tạo ra một sự biểu lộ rung động của con người bên trong ra bên ngoài. Đây là một tình trạng khá hiếm. Nếu em có thể thấy chính mình như em vốn là về bản chất, em sẽ làm quen với một đệ tử rung động, tỏa sáng và minh triết. Nhưng em che giấu tất cả điều đó đằng sau một bức tường được xây dựng bởi bản chất siêu nhạy cảm vốn chi phối em và bởi các hoàn cảnh, cũng như bởi ảnh hưởng của một vài người. Huynh đệ của Tôi, hãy bước ra khỏi phía sau bức tường cản trở ấy, và—vì những người mà em có thể phụng sự—hãy là điều em là.

That this emergence on your part may bring its own problems is probably true, but with the results of right action (carried wisely and not fanatically forward) you have naught to do.

Việc em xuất hiện như vậy có thể đem theo những vấn đề riêng của nó, điều đó có lẽ đúng, nhưng em không có gì phải bận tâm đến các kết quả của hành động đúng, được tiến hành một cách minh triết chứ không cuồng tín.

A brief visualisation exercise and meditation may aid in this process of emergence. It is well to bear in mind that the dramatisation of the spiritual life leads to creative appearance, strengthening the will-to-do, directing the desire nature [754] in the right direction and producing effectiveness in physical plane expression. You will see, therefore, that when humanity can begin en masse to work in this manner, they will enter upon a cycle wherein evil karma will no longer be engendered and past karma will work out in experienced, spiritual living.

Một bài tập hình dung và tham thiền ngắn có thể trợ giúp trong tiến trình xuất hiện này. Tốt là nên ghi nhớ rằng việc kịch tính hóa đời sống tinh thần dẫn đến sự xuất hiện sáng tạo, củng cố ý chí hành động, hướng dẫn bản chất ham muốn [754] theo đúng hướng và tạo ra hiệu quả trong biểu lộ trên cõi hồng trần. Do đó, em sẽ thấy rằng khi nhân loại có thể bắt đầu làm việc theo cách này trên quy mô đại chúng, họ sẽ bước vào một chu kỳ trong đó nghiệp quả xấu sẽ không còn được tạo sinh, và nghiệp quả quá khứ sẽ được xử lý trong đời sống tinh thần có kinh nghiệm.

This meditation exercise should be carefully thought out before practising so that you can know just what you are attempting to do and can then do it with adequate results. I would ask you to do it twice daily, when convenient. I set no regular time. A year’s steady practice (with belief, plus skill in action) may cause almost dramatic changes in your life.

Bài tập tham thiền này nên được suy xét cẩn thận trước khi thực hành, để em có thể biết rõ mình đang cố gắng làm gì và rồi có thể làm điều đó với kết quả thích đáng. Tôi yêu cầu em thực hiện nó hai lần mỗi ngày, khi thuận tiện. Tôi không đặt thời gian cố định. Một năm thực hành đều đặn, với niềm tin cộng với kỹ năng trong hành động, có thể tạo ra những thay đổi gần như đầy kịch tính trong đời sống của em.

1. Bring about focus in the soul of the potencies of the lower man by the power of the imagination and careful visualisation. This can be done by rapid, right alignment.

1. Hãy đưa các quyền năng của phàm nhân vào tiêu điểm trong linh hồn bằng quyền năng của Sự tưởng tượng và sự hình dung cẩn thận. Điều này có thể được thực hiện bằng sự chỉnh hợp nhanh chóng và đúng đắn.

2. See the soul as a radiant sun within you (the personality hiding behind its rays). You, the real spiritual man, produce the veiling of the lower man.

2. Hãy thấy linh hồn như một mặt trời rạng rỡ bên trong em, phàm ngã ẩn sau các tia sáng của nó. Em, con người tinh thần thật sự, tạo ra sự che phủ phàm nhân.

3. See the rays of the sun extending first to the mind bringing illumination.

3. Hãy thấy các tia của mặt trời trước hết vươn đến thể trí, đem lại sự soi sáng.

Pause here and focus your consciousness in the mind. The work is done by projecting yourself along the ray of your personality and along your mental ray which is the fifth ray of concrete knowledge or science. This should be relatively easy for you.

Hãy dừng lại ở đây và tập trung tâm thức của em trong thể trí. Công việc được thực hiện bằng cách phóng chiếu chính em theo cung phàm ngã của em và theo cung thể trí của em, vốn là cung năm của tri thức cụ thể hay khoa học. Điều này nên tương đối dễ dàng đối với em.

4. Then see the rays of the soul (the sun of your life) extending and embracing your astral nature and irradiating the astral plane with which you are in contact, thus bringing an outpouring of love. This again should be relatively easy of accomplishment as your astral ray is the sixth ray of devotion and idealism.

4. Rồi hãy thấy các tia sáng của linh hồn (mặt trời của đời sống em) vươn ra và ôm trùm bản chất cảm dục của em, đồng thời chiếu rạng cõi cảm dục mà em đang tiếp xúc, nhờ đó đem lại một lần tuôn đổ tình thương. Điều này một lần nữa hẳn tương đối dễ thực hiện, vì cung thể cảm dục của em là cung sáu của sự sùng tín và lý tưởng tính.

5. Carry the radiation of the sun to the vital body and see it bringing (on the beam of the seventh ray of your physical nature) such a dynamic energising that you will have the power, figuratively speaking, to break through the wall which prevents the inner radiation extending into the outer physical world. [755]

5. Hãy đưa sự phát xạ của mặt trời đến thể sinh lực, và thấy nó mang lại (trên tia sáng của cung bảy thuộc bản chất hồng trần của em) một sự tiếp sinh lực năng động đến mức, nói theo nghĩa biểu tượng, em sẽ có quyền năng phá xuyên bức tường ngăn cản sự phát xạ bên trong vươn ra thế giới hồng trần bên ngoài. [755]

6. Then sound the OM softly seven times, concentrating upon the picture of this sun (which is you and your solar quality), thus irradiating the outer life.

6. Rồi hãy xướng linh từ OM nhẹ nhàng bảy lần, tập trung vào hình ảnh mặt trời này (vốn là em và phẩm tính thái dương của em), nhờ đó chiếu rạng đời sống bên ngoài.

This process should be fairly easy as all your rays tend to facilitate it. The process is also highly scientific for it is in reality the manipulation of radiant solar energy straight from “the heart of the sun,” technically speaking. Work patiently along these lines and take with patience and courage the effects produced. For these you will be eternally grateful.

Tiến trình này hẳn khá dễ dàng, vì tất cả các cung của em đều có khuynh hướng hỗ trợ nó. Tiến trình này cũng có tính khoa học rất cao, vì thực ra đó là sự vận dụng năng lượng thái dương phát xạ trực tiếp từ “tâm của mặt trời”, nói theo thuật ngữ chuyên môn. Hãy kiên nhẫn làm việc theo các đường hướng này, và hãy đón nhận với lòng kiên nhẫn và can đảm những hiệu quả được tạo ra. Vì những hiệu quả ấy, em sẽ mãi mãi biết ơn.

August 1942

Tháng Tám 1942

1. Be not afraid of loneliness. The soul that cannot stand alone has naught to give.

1. Đừng sợ cô đơn. Linh hồn nào không thể đứng một mình thì chẳng có gì để cho đi.

2. Cut deep into the roots of all thy life. Seek freedom from the past. Yet move not from the plane where life has placed you in a part to play.

2. Hãy cắt sâu vào tận rễ của toàn bộ đời sống em. Hãy tìm sự tự do khỏi quá khứ. Tuy nhiên, đừng rời khỏi cõi nơi đời sống đã đặt em vào một vai trò phải đảm nhận.

3. The rhythm of all life pulsates in time and space and in that rhythm you must find a note that liberates.

3. Nhịp điệu của toàn thể sự sống rung nhịp trong thời gian và không gian, và trong nhịp điệu ấy, em phải tìm ra một âm điệu giải thoát.

4. Ponder on the work of the Destroyer, why comes destruction and why the loss of beauty that has been. Your task in life should make that knowledge possible. Then build.

4. Hãy suy ngẫm về công việc của Đấng Hủy Diệt, vì sao sự hủy diệt đến, và vì sao cái đẹp từng hiện hữu lại mất đi. Nhiệm vụ đời em phải làm cho tri thức ấy trở nên khả hữu. Rồi hãy xây dựng.

5. Be a sannyasin—free, alone with God, your soul and Me. Then work and love.

5. Hãy là một sannyasin—tự do, một mình với Thượng đế, linh hồn của em và Tôi. Rồi hãy làm việc và yêu thương.

6. Your major life theme in this coming year is: Search freedom. Ponder on this. It is the goal for all.

6. Chủ đề chính của đời em trong năm sắp tới là: Hãy tìm kiếm tự do. Hãy suy ngẫm về điều này. Đó là mục tiêu cho tất cả.

September 1943

Tháng Chín 1943

MY BROTHER:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

As a Master studies His chelas year by year, He arrives at certain definite knowledges anent them which are very different to those arrived at by even the dearest or closest earthly friends. The latter are apt to fail in grasping life essentials, because the detail and the minute aspects of the daily expression attract attention and the surface is confounded with the depth. It is the depth which the Master sees; the essential quality which He grasps, and the major need which emerges. [756]

Khi một Chân sư nghiên cứu các đệ tử của Ngài năm này qua năm khác, Ngài đạt đến những hiểu biết xác định nào đó về họ, rất khác với những hiểu biết mà ngay cả các bạn hữu trần thế thân thiết nhất hay gần gũi nhất có thể đạt được. Những người sau thường không nắm bắt được các yếu tố cốt yếu của đời sống, vì chi tiết và những phương diện nhỏ nhặt của biểu hiện hằng ngày thu hút sự chú ý, và bề mặt bị lầm lẫn với chiều sâu. Chính chiều sâu mà Chân sư thấy; chính phẩm tính cốt yếu mà Ngài nắm bắt, và chính nhu cầu chính hiện ra. [756]

What, my brother, lies at the very depth of your personality in this life? I refer not here to the deeps of the soul, but to the particular hidden thing which is and has been struggling for expression throughout this entire incarnation. What is your essential quality? Here I refer to the outstanding quality which, given due process of experience, will radiate from your life and thus constitute your major working asset. What is your predominant need this life? Reduce all this to the requirements for initiation (for which you are being prepared) and you come to three fundamental things which must be manifested, prior to that tremendous step forward upon the Path. You will note that I am not preoccupied with your mistakes or failures. These are inevitable and are relatively unimportant, because a disciple at your point of development is ever aware of them and can be trusted to take the needed steps toward adjustment.

Huynh đệ của Tôi, điều gì nằm ở tận chiều sâu của phàm ngã em trong đời này? Ở đây Tôi không nói đến những chiều sâu của linh hồn, mà nói đến điều đặc thù ẩn kín vốn đang và đã tranh đấu để được biểu hiện trong suốt toàn bộ lần lâm phàm này. Phẩm tính cốt yếu của em là gì? Ở đây Tôi nói đến phẩm tính nổi bật, mà nếu được trao cho tiến trình kinh nghiệm thích hợp, sẽ phát xạ từ đời sống em và do đó cấu thành tài sản hoạt động chính của em. Nhu cầu nổi trội của em trong đời này là gì? Hãy quy tất cả những điều này về các đòi hỏi của điểm đạo (điều mà em đang được chuẩn bị), và em sẽ đi đến ba điều căn bản phải được biểu lộ trước bước tiến phi thường ấy trên Đường Đạo. Em sẽ lưu ý rằng Tôi không bận tâm đến những lỗi lầm hay thất bại của em. Chúng là điều không tránh khỏi và tương đối không quan trọng, vì một đệ tử ở điểm phát triển của em luôn ý thức về chúng và có thể được tin cậy là sẽ thực hiện những bước cần thiết hướng đến sự điều chỉnh.

For years I have watched you. You have made steady progress in all directions but have reached a point which it is necessary that all disciples reach, where a supreme effort, based on clear perception and insight, is essential. To aid you in making this supreme life effort, I would like to touch upon these three points. I must touch upon them in such a way that only you will comprehend the implications. There is no need for your group brothers, or any one else who may come across and read your papers, to grasp my meaning. Two factors of interest emerge here. In veiling (from the point of definite personal application) the truths I seek to have you grasp, I present to you a compromise between the Eastern method of hinting and the Western method of plain speaking! I am, at the same time, endeavouring to convey to you the attitude of all disciples in training for initiation. This attitude is one of extreme personal reticence and of withdrawing from those verbal contacts which reveal too much of individual soul growth. This is one of the first lessons in the silence which initiation entails. It is also one of the first steps towards comprehension of that “isolated unity” which is distinctive of the Master. In the Hierarchy there is complete unity, based upon a recognised isolation of spirit from matter. [757] This thought should provide you with a theme for much profound thinking.

Trong nhiều năm, Tôi đã quan sát em. Em đã tiến bộ đều đặn theo mọi hướng, nhưng đã đạt đến một điểm mà mọi đệ tử cần phải đạt tới, nơi một nỗ lực tối thượng, dựa trên nhận thức rõ ràng và tuệ giác, là thiết yếu. Để trợ giúp em thực hiện nỗ lực tối thượng trong đời sống này, Tôi muốn đề cập đến ba điểm ấy. Tôi phải đề cập đến chúng theo cách chỉ riêng em mới hiểu các hàm ý. Các huynh đệ trong nhóm của em, hay bất kỳ ai khác có thể tình cờ đọc các giấy tờ của em, không cần nắm bắt ý nghĩa của Tôi. Ở đây xuất hiện hai yếu tố đáng quan tâm. Khi che phủ (xét theo phương diện ứng dụng cá nhân xác định) những chân lý mà Tôi muốn em nắm bắt, Tôi trình bày cho em một sự dung hòa giữa phương pháp Đông phương bằng ám chỉ và phương pháp Tây phương bằng lời nói thẳng! Đồng thời, Tôi đang cố gắng truyền đạt cho em thái độ của mọi đệ tử đang được huấn luyện để điểm đạo. Thái độ này là sự kín đáo cá nhân cực độ và sự rút lui khỏi những tiếp xúc bằng lời vốn tiết lộ quá nhiều về sự tăng trưởng linh hồn cá nhân. Đây là một trong những bài học đầu tiên trong sự im lặng mà điểm đạo đòi hỏi. Đây cũng là một trong những bước đầu tiên hướng đến việc thấu hiểu “Hợp Nhất Cô Lập” vốn là đặc điểm của Chân sư. Trong Thánh Đoàn có sự hợp nhất trọn vẹn, dựa trên sự cô lập được nhận biết của tinh thần khỏi vật chất. [757] Tư tưởng này hẳn sẽ cung cấp cho em một chủ đề để suy tư sâu xa nhiều.

What, therefore, brother of mine, should be the unique realisation which this particular incarnation should help you to express? What lies at the depths of your being, seeking revelation? What is the essential quality which you should radiate? What is your outstanding need? I will tell you the truth as I see it, reminding you however that it is the truth as you see it which changes and conditions your life. You must therefore regard my suggestions as valuable, but regard them primarily as the subject of a defined spiritual investigation—to be carried forward with an open mind and a willingness to recognise them as correct and just when your own conclusions and your intuitive response justify your agreeing. Here are my conclusions:

Vậy, huynh đệ của Tôi, sự chứng nghiệm độc đáo nào mà lần lâm phàm đặc biệt này phải giúp em biểu hiện? Điều gì nằm trong những chiều sâu của bản thể em, đang tìm kiếm sự mặc khải? Phẩm tính cốt yếu nào em phải phát xạ? Nhu cầu nổi bật của em là gì? Tôi sẽ nói cho em chân lý như Tôi thấy, tuy nhiên nhắc em rằng chính chân lý như em thấy nó mới thay đổi và tác động lên đời sống em. Vì vậy, em phải xem các gợi ý của Tôi là có giá trị, nhưng chủ yếu hãy xem chúng như đối tượng của một cuộc khảo sát tinh thần xác định—được tiến hành với thể trí rộng mở và sự sẵn lòng nhận biết chúng là đúng đắn và công bình khi những kết luận riêng của em cùng đáp ứng trực giác của em biện minh cho sự đồng ý của em. Đây là các kết luận của Tôi:

1. The hidden beauty seeking expression in your life is the power to use words to arrest others and to put them, as a consequence, upon the Path of Return. This will undoubtedly surprise you, but your apparent inability to write, for instance, a fluent letter or an eloquent appeal, or to evoke the words of arresting power which you feel seething within you, are only indicative of a pronounced personality inhibition which you can overcome, if you so wish. Words are the expression of the soul, when rightly employed. You do not use those words. You can, if you determine to do so. The art of spiritual letter writing will release this inner beauty and enhance your service.

1. Vẻ đẹp ẩn kín đang tìm cách biểu hiện trong đời sống em là quyền năng dùng lời nói để thu hút sự chú ý của người khác và, như một hệ quả, đặt họ lên Con Đường Trở Về. Điều này chắc chắn sẽ làm em ngạc nhiên, nhưng sự bất lực bề ngoài của em trong việc viết, chẳng hạn, một bức thư trôi chảy hay một lời kêu gọi hùng biện, hoặc trong việc gợi lên những lời có quyền năng thu hút sự chú ý mà em cảm thấy đang sôi sục bên trong, chỉ là dấu hiệu của một sự ức chế phàm ngã rõ rệt mà em có thể vượt qua, nếu em muốn như vậy. Lời nói là biểu hiện của linh hồn, khi được sử dụng đúng đắn. Em không dùng những lời ấy. Em có thể, nếu em quyết định làm thế. Nghệ thuật viết thư tinh thần sẽ giải phóng vẻ đẹp nội tâm này và tăng cường sự phụng sự của em.

2. The essential quality which you should radiate is an understanding holding of those for whom you are responsible. I said “holding,” brother of mine. A.A.B. has called my attention to the interesting fact that it is the rarest thing for you to lose a student out of your secretarial group, yet at the same time you write less and (apparently) upon the outer plane, do less, than the other secretaries. Why is this so? It is indicative of the quality which you radiate. This quality is in the [758] nature of a potency. It is the power to hold others steady by the nature of your understanding; this they feel, even if you do not consciously express it. It remains still basically subjective. A quality such as this—binding, forceful and enduring—carries its limitations as well as its benedictions. People can be held too closely to you for their own good, and it is ever the weaker who are thus held and the less advanced. People in this way can become dependent upon the one who holds, and thus fail to express themselves, and thus again their weaknesses are developed and a tendency to negativity. You can develop this theme yourself. But the beneficent aspect of this radiation is predominant in you and must be increased and this deliberately.

2. Phẩm tính cốt yếu mà em phải phát xạ là sự nắm giữ trong thấu hiểu đối với những người mà em chịu trách nhiệm. Tôi đã nói “nắm giữ”, huynh đệ của Tôi. A.A.B. đã lưu ý Tôi về một sự kiện thú vị: hiếm khi em mất một đạo sinh nào khỏi nhóm thư ký của em, thế nhưng đồng thời em viết ít hơn và (bề ngoài) trên cõi bên ngoài, làm ít hơn các thư ký khác. Tại sao lại như vậy? Điều đó cho thấy phẩm tính mà em phát xạ. Phẩm tính này thuộc [758] bản chất của một quyền năng. Đó là quyền năng giữ người khác vững vàng bằng bản chất thấu hiểu của em; họ cảm nhận điều này, dù em không hữu thức biểu hiện nó. Về căn bản, nó vẫn còn ở trong nội giới. Một phẩm tính như thế—ràng buộc, mạnh mẽ và bền bỉ—mang theo những giới hạn cũng như những ân phúc của nó. Người ta có thể bị giữ quá sát với em, không có lợi cho chính họ, và bao giờ cũng là những người yếu hơn và kém tiến bộ hơn bị giữ như vậy. Theo cách này, người ta có thể trở nên lệ thuộc vào người nắm giữ, và do đó không biểu hiện được chính mình; rồi một lần nữa, các yếu điểm của họ phát triển, cùng một khuynh hướng thụ động. Em có thể tự phát triển chủ đề này. Nhưng phương diện phúc lành của sự phát xạ này là nổi trội nơi em và phải được gia tăng, một cách có chủ ý.

3. Your major need (and this you know) is freedom, is liberation. I do not mean freedom from incarnation or liberation from the pressures of life, but the freedom which the sannyasin knows as he roams free in the three worlds—unsupervised or unintruded upon by aught but his own soul. It is the freedom which gives mental help, emotional response and physical time as and when the disciple chooses. These are not evoked by habit or by the demand of others, but are the free contribution of the soul to a current need. Your response is not always to need, is it, my brother? Ponder on this.

3. Nhu cầu chính của em (và điều này em biết) là tự do, là giải thoát. Tôi không nói đến tự do khỏi lâm phàm hay giải thoát khỏi các áp lực của đời sống, mà là sự tự do mà sannyasin biết khi y đi lại tự do trong ba cõi thấp—không bị giám sát hay bị xâm phạm bởi bất cứ điều gì ngoài linh hồn của chính y. Đó là sự tự do ban sự trợ giúp trí tuệ, đáp ứng cảm xúc và thời gian hồng trần khi nào và như thế nào đệ tử chọn. Những điều này không được gợi lên bởi thói quen hay bởi đòi hỏi của người khác, mà là sự đóng góp tự do của linh hồn cho một nhu cầu hiện tại. Đáp ứng của em không phải lúc nào cũng dành cho nhu cầu, phải không, huynh đệ của Tôi? Hãy suy ngẫm về điều này.

In the six seed thoughts which I gave you a year ago, this theme of liberation, of a desirable divine loneliness, and of a search for a note that could bring freedom was a dominant one. They still should be the major subject of all your meditation work. I would suggest that for the coming year you take them as the seed thoughts for your definitely planned morning meditation. I am leaving you to do the planning, but would make one suggestion. These six thoughts will need to be taken one each month for six months, and then repeated for another six. For the first six months reflect upon them from the angle of your subjective realisation as a soul; [759] for the second six months study them from the angle of practical expression in your daily life.

Trong sáu tư tưởng hạt giống mà Tôi đã trao cho em một năm trước, chủ đề giải thoát, về một sự cô đơn thiêng liêng đáng mong muốn, và về việc tìm kiếm một âm điệu có thể đem lại tự do, là chủ đề nổi trội. Chúng vẫn phải là đề tài chính của toàn bộ công việc tham thiền của em. Tôi đề nghị rằng trong năm tới, em hãy lấy chúng làm các tư tưởng hạt giống cho việc tham thiền buổi sáng đã được hoạch định rõ ràng của em. Tôi để em tự lập kế hoạch, nhưng muốn đưa ra một gợi ý. Sáu tư tưởng này cần được lấy mỗi tháng một tư tưởng trong sáu tháng, rồi lặp lại trong sáu tháng nữa. Trong sáu tháng đầu, hãy suy ngẫm về chúng từ góc độ sự chứng nghiệm trong nội giới của em với tư cách linh hồn; [759] trong sáu tháng sau, hãy nghiên cứu chúng từ góc độ biểu hiện thực tiễn trong đời sống hằng ngày của em.

I am anxious for you to make the grade this life, my brother, and here I am speaking technically. I am anxious for you to take the initiation planned by your own soul, and to take it this life, so that you can enter into your next incarnation with the initiate consciousness (of the grade desired), and thus start with greatly increased assets for service. I would remind you that initiation is taken alone; hence my emphasis to you during the past few years upon the need for you to travel alone—spiritually and mentally speaking. From other angles you travel not alone. The spiritual life is full of paradoxes. We set out to develop a sense of unity and of oneness with all beings, yet at times we must learn the lessons of loneliness and of isolation. A great “aloneness” is the supreme test of the fourth initiation. Remember this. Yet never, my brother, will you be alone, and this too you must have in mind. It is, in the last analysis, a question of recognitions. Let me assure you: I recognise you and, my brother and close friend on the inner side, I know you and love you.

Huynh đệ của tôi, Tôi tha thiết muốn em đạt cấp bậc trong đời này, và ở đây Tôi nói theo thuật ngữ chuyên môn. Tôi tha thiết muốn em nhận cuộc điểm đạo do chính linh hồn em hoạch định, và nhận nó trong đời này, để em có thể bước vào lần lâm phàm kế tiếp với tâm thức điểm đạo đồ (thuộc cấp bậc mong muốn), và nhờ vậy khởi đầu với những tài sản phụng sự được gia tăng rất nhiều. Tôi muốn nhắc em rằng điểm đạo được nhận một mình; do đó, trong vài năm qua, Tôi đã nhấn mạnh với em về nhu cầu phải đi một mình—nói theo nghĩa tinh thần và trí tuệ. Xét từ các góc độ khác, em không đi một mình. Đời sống tinh thần đầy những nghịch lý. Chúng ta bắt đầu phát triển ý thức về sự hợp nhất và sự nhất thể với mọi sinh linh, tuy nhiên đôi khi chúng ta phải học các bài học về sự cô đơn và sự cô lập. Một “sự đơn độc” lớn lao là thử thách tối thượng của lần điểm đạo thứ tư. Hãy nhớ điều này. Tuy nhiên, huynh đệ của Tôi, em sẽ không bao giờ cô độc, và điều này em cũng phải ghi nhớ. Rốt cuộc, đó là vấn đề của những nhận biết. Hãy để Tôi bảo đảm với em: Tôi nhận biết em, và, huynh đệ cùng bạn thân của Tôi ở phía bên trong, Tôi biết em và thương yêu em.

November 1944

Tháng Mười Một 1944

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

In what sense do I call you this? For this appellation conveys no idle statement but is of deep significance. It is particularly so in your case and in reference to your individual relation to me. My last instruction should have indicated to you how deep is my comprehension of you and your nature, and how well I understand your problems, your limitations and your assets. Every Master needs to have such an understanding and to know infallibly what is in a disciple’s heart and mind; He must understand what motivates his action. When also there is a karmic tie as well as a spiritual one, when there is a recognition of unity of purpose, plus a past history of close relationship when the Master was also only a disciple and the disciple was only an aspirant, then the words “Brother of mine” take on a deeper meaning. They [760] might indicate a steady moving forward, side by side, of a younger and an older brother, resulting in a consequent close relationship, easy contact and a deep comprehension. In this sense, therefore, my mode of addressing some of you is not simply significant of an occult truth but of an existent fact in the three worlds. There are four of you in this group who have such a relationship to me. It is—between us—an old story. Others in this group, as you know, are temporarily under my instruction until such time as they have fitted themselves to fill vacancies in other Ashrams; still others are, for the first time, making contact with me in my Ashram, having had no previous contact with any Ashram. I bring these points to your attention because I would have you utilise a possibility which remains as yet a hoped-for event in your case—the possibility of a realised, easy contact with me. It has always been possible for you to contact me with facility but you have seldom realised it. I want you now to realise it and to develop into outer expression what has always interiorly existed.

Tôi gọi em như vậy theo nghĩa nào? Vì danh xưng này không truyền đạt một lời nói suông, mà có thâm nghĩa sâu xa. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp của em và liên quan đến mối quan hệ cá nhân của em với Tôi. Huấn thị trước của Tôi hẳn đã cho em thấy sự thấu hiểu của Tôi về em và bản chất của em sâu đến mức nào, và Tôi hiểu rõ các vấn đề, các giới hạn và các tài sản của em đến đâu. Mỗi Chân sư cần có một sự thấu hiểu như thế và biết một cách không sai lầm điều gì ở trong tâm và trí của một đệ tử; Ngài phải hiểu điều gì thúc đẩy hành động của y. Khi cũng có một mối liên hệ nghiệp quả cũng như một mối liên hệ tinh thần, khi có sự nhận biết về sự hợp nhất mục đích, cộng thêm một lịch sử quá khứ của mối quan hệ gần gũi khi Chân sư cũng chỉ là một đệ tử và đệ tử chỉ là một người chí nguyện, thì những lời “Huynh đệ của Tôi” mang một ý nghĩa sâu hơn. Chúng [760] có thể chỉ ra sự tiến bước vững vàng, vai kề vai, của một người em và một người anh, đưa đến một mối quan hệ gần gũi, sự tiếp xúc dễ dàng và một sự thấu hiểu sâu xa. Theo nghĩa này, vì vậy, cách Tôi xưng hô với một số em không chỉ biểu thị một chân lý huyền bí mà còn là một sự kiện hiện hữu trong ba cõi thấp. Có bốn người trong nhóm này có mối quan hệ như thế với Tôi. Giữa chúng ta—đó là một câu chuyện xưa. Những người khác trong nhóm này, như em biết, tạm thời ở dưới sự huấn luyện của Tôi cho đến khi họ đã chuẩn bị mình để lấp vào những chỗ trống trong các Ashram khác; lại có những người khác, lần đầu tiên, tiếp xúc với Tôi trong Ashram của Tôi, trước đó chưa từng có tiếp xúc với bất kỳ Ashram nào. Tôi đưa những điểm này ra trước sự chú ý của em vì Tôi muốn em vận dụng một khả năng mà trong trường hợp của em vẫn còn là một biến cố được hy vọng—khả năng có một tiếp xúc dễ dàng, được nhận biết, với Tôi. Em luôn luôn có thể tiếp xúc với Tôi một cách dễ dàng, nhưng hiếm khi em nhận ra điều đó. Giờ đây Tôi muốn em nhận ra điều đó và phát triển ra biểu hiện bên ngoài điều vốn luôn hiện hữu bên trong.

How, brother of mine, can you do this? One definite means of intensifying this inner recognition would be to avail yourself more fully of the period of the Full Moon approach. For years you have all been utilising this monthly opportunity but with relatively little results; this has somewhat surprised me for, on the side of the Ashram, there has been a great readiness for such an approach and an eagerness to stimulate “the process of absorption,” as it is called. This is a process which serves to integrate the disciple regularly and cyclically into the consciousness of the Ashram, with subsequent and consequent results to the disciple.

Huynh đệ của Tôi, em có thể làm điều này bằng cách nào? Một phương tiện xác định để tăng cường sự nhận biết nội tâm này là em hãy tận dụng đầy đủ hơn thời kỳ tiếp cận Trăng Tròn. Trong nhiều năm, tất cả các em đã vận dụng cơ hội hằng tháng này, nhưng với kết quả tương đối ít; điều này phần nào khiến Tôi ngạc nhiên, vì về phía Ashram, đã có một sự sẵn sàng lớn lao cho một sự tiếp cận như thế và một sự háo hức muốn kích thích “tiến trình hấp thu”, như người ta gọi. Đây là một tiến trình phục vụ việc tích hợp đệ tử một cách đều đặn và theo chu kỳ vào tâm thức của Ashram, với những kết quả tiếp sau và tất yếu đối với đệ tử.

I would ask you, therefore, each month and for the rest of your life to follow for three days a definite procedure…. I ask this because I believe you have that persistent staying power which is characteristic of all those whose personalities are on the ray which is yours. The procedure will involve putting yourself en rapport with my Ashram and to register it in your physical brain consciousness. You may not and probably will not succeed in this endeavour immediately, but in due course of time and with persistent effort you [761] inevitably will. Think of me as you know me to be; let not your sixth ray devotional nature play any part in this process or contact. Bear in mind that first ray disciples are in my Ashram, and that there are aspects of my nature which are of first ray origin, but when you remember this, bear also in mind that the aspect to which I refer is Triadal.

Vì vậy, Tôi yêu cầu em, mỗi tháng và trong suốt phần đời còn lại, hãy theo một thủ tục xác định trong ba ngày…. Tôi yêu cầu điều này vì Tôi tin rằng em có sức bền bỉ kiên trì vốn là đặc tính của tất cả những ai có phàm ngã ở trên cung như cung của em. Thủ tục này sẽ bao gồm việc đặt chính em trong tương giao với Ashram của Tôi và ghi nhận điều đó trong tâm thức bộ não hồng trần của em. Em có thể không, và có lẽ sẽ không, thành công ngay lập tức trong nỗ lực này, nhưng theo dòng thời gian và với nỗ lực bền bỉ, em [761] chắc chắn sẽ thành công. Hãy nghĩ về Tôi như em biết Tôi là vậy; đừng để bản chất sùng tín cung sáu của em đóng bất kỳ vai trò nào trong tiến trình hay sự tiếp xúc này. Hãy ghi nhớ rằng các đệ tử cung một đang ở trong Ashram của Tôi, và có những phương diện trong bản chất của Tôi có nguồn gốc cung một, nhưng khi em nhớ điều này, cũng hãy ghi nhớ rằng phương diện mà Tôi nói đến là thuộc Tam Nguyên Tinh Thần.

The Masters have no personalities as you understand personality. Their conditioning factors are the three aspects of the Spiritual Triad, and these aspects, being creative, build the phenomenal apparatus or mechanism by means of which a Master makes contact with the three worlds. This means, consequently, that disciples will need to study with greater attention the teaching on the antahkarana, for it is via the antahkarana that they make contact with the Ashram and with the Master. Forget not that I have assured you that such a contact is relatively easy for you; the implications of this statement are clear. Let your reflection be upon the purpose of such a contact. Realise also that the intention of this work is to facilitate a great possibility which confronts you, that the urgency of the time demands “accomplished servers” and wise disciples, and that this urgency warrants an intensified training given disciples such as you. The contact with the Ashram will serve to emphasise in your mind the concept of yourself as the serving disciple. You are strong and able to take what the process requires; you can rest back on your own strength when it is implemented by an increasing clarity of vision. You see people and life more truly than you did when you were first affiliated with my group, and the last two years have brought about much change in this connection. Count on yourself and on your soul with greater confidence; move forward with surety towards the consummation of this life’s effort.

Các Chân sư không có phàm ngã như em hiểu về phàm ngã. Các yếu tố tác động lên Các Ngài là ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần, và các phương diện này, vì có tính sáng tạo, xây dựng bộ máy hay cơ chế hiện tượng nhờ đó một Chân sư tiếp xúc với ba cõi thấp. Do đó, điều này có nghĩa là các đệ tử sẽ cần nghiên cứu với sự chú ý lớn hơn giáo huấn về antahkarana, vì chính qua antahkarana mà họ tiếp xúc với Ashram và với Chân sư. Đừng quên rằng Tôi đã bảo đảm với em rằng một sự tiếp xúc như thế tương đối dễ dàng đối với em; các hàm ý của lời tuyên bố này rất rõ. Hãy để sự suy ngẫm của em hướng về mục đích của một sự tiếp xúc như thế. Cũng hãy nhận ra rằng ý định của công việc này là tạo thuận lợi cho một khả năng lớn lao đang đối diện em, rằng tính khẩn cấp của thời đại đòi hỏi “những người phụng sự đã thành tựu” và các đệ tử minh triết, và rằng tính khẩn cấp này biện minh cho một sự huấn luyện tăng cường dành cho các đệ tử như em. Sự tiếp xúc với Ashram sẽ phục vụ việc nhấn mạnh trong thể trí em quan niệm về chính em như một đệ tử phụng sự. Em mạnh mẽ và có khả năng nhận lấy những gì tiến trình đòi hỏi; em có thể tựa vào sức mạnh của chính mình khi sức mạnh ấy được tăng cường bởi một sự sáng rõ ngày càng lớn của tầm nhìn. Em thấy con người và đời sống đúng thật hơn so với khi em mới được liên kết với nhóm của Tôi, và hai năm vừa qua đã đem lại nhiều thay đổi về mặt này. Hãy tin cậy vào chính mình và vào linh hồn của em với niềm tin lớn hơn; hãy tiến tới với sự chắc chắn hướng về sự hoàn tất nỗ lực của đời này.

I would call to your attention that in the instructions I gave you last year and in this one, you have a complete unit of teaching which can suffice you for the remainder of this life. Read both these instructions over once every month regularly, thus renewing your interest and your enthusiasm. It is interesting to observe that initiation is often taken (I might say it is usually taken) after passing the milestone of [762] half a century. The reason is that if the disciple can produce the needed staying power and the required enthusiasm—by which I mean dynamic purpose—he can then be trusted to handle the powers conferred with wisdom, to display the needed poise, and to proceed upon his outward way with humility and caution.

Tôi muốn lưu ý em rằng trong các huấn thị Tôi đã trao cho em năm ngoái và trong huấn thị này, em có một đơn vị giáo huấn trọn vẹn có thể đủ cho em trong phần còn lại của đời này. Hãy đọc lại cả hai huấn thị này đều đặn mỗi tháng một lần, nhờ đó làm mới lại sự quan tâm và nhiệt tình của em. Thật thú vị khi quan sát rằng điểm đạo thường được nhận (Tôi có thể nói là thường thường được nhận) sau khi đã vượt qua cột mốc [762] nửa thế kỷ. Lý do là nếu đệ tử có thể tạo ra sức bền bỉ cần thiết và nhiệt tình được đòi hỏi—ý Tôi là mục đích năng động—thì y có thể được tin cậy là sẽ xử lý các quyền năng được ban với minh triết, biểu lộ sự quân bình cần thiết, và tiến bước trên con đường bên ngoài của mình với sự khiêm nhường và thận trọng.

I have told you much in these last two instructions; they consummate the teaching which I have given you since 1933. Ponder on them. Act upon them and then strengthen the Ashram and present to the Masters a wise server and a trained companion on the Way.

Tôi đã nói với em nhiều trong hai huấn thị cuối này; chúng hoàn tất giáo huấn mà Tôi đã trao cho em từ năm 1933. Hãy suy ngẫm về chúng. Hãy hành động theo chúng, rồi hãy củng cố Ashram và trình lên các Chân sư một người phụng sự minh triết và một bạn đồng hành được huấn luyện trên Đường Đạo.

August 1946

Tháng Tám 1946

MY DISCIPLE:

ĐỆ TỬ CỦA TÔI:

I would have you note the change in the manner in which I am addressing you. It has significance and my word to you in this instruction is simply this: Give to the years ahead a deep study in order to ascertain the implications and the opportunities that this word—given you at this particular time—implies; study the consequent effectiveness in contact (upward, inward, and outward, if one may use such inadequate terms!) that will result.

Tôi muốn em lưu ý sự thay đổi trong cách Tôi xưng hô với em. Điều đó có thâm nghĩa, và lời của Tôi với em trong huấn thị này chỉ đơn giản là: Hãy trao cho những năm phía trước một sự nghiên cứu sâu xa để xác định các hàm ý và các cơ hội mà từ này—được trao cho em vào thời điểm đặc biệt này—hàm chứa; hãy nghiên cứu hiệu quả tiếp xúc tiếp theo (hướng lên, hướng vào trong và hướng ra ngoài, nếu người ta có thể dùng những thuật ngữ bất toàn như thế!) sẽ phát sinh.

Occultly speaking, you stand alone; you lead a lonely life, for there is no single person in your environment who shares with you the same quality or grade of spiritual perception. This you may deny, for your life is very full. Life has its constant points of revelation, some of which we recognise, and others pass by unnoted. The revelation of a certain type of spiritual loneliness is one through which all disciples have to pass; it is a test of that occult detachment which every disciple has to master.

Nói một cách huyền bí, em đứng một mình; em sống một đời sống cô độc, vì trong môi trường của em không có một người nào chia sẻ với em cùng một phẩm tính hay cấp độ nhận thức tinh thần. Em có thể phủ nhận điều này, vì đời sống em rất đầy đủ. Đời sống có những điểm mặc khải liên tục, một số được chúng ta nhận biết, còn một số khác trôi qua không được chú ý. Sự mặc khải về một loại cô đơn tinh thần nào đó là điều mà mọi đệ tử đều phải trải qua; đó là một thử thách của sự tách rời huyền bí mà mọi đệ tử phải làm chủ.

This solitariness has to be faced and understood, and it results in two realisations: first of all, a realisation of your exact point on the ladder of evolution, or on the Path; and secondly, an intuitive perception of the point in evolution of those we contact along the way of life. For quite a long time every disciple refuses to do either of these two things. A false humility, which in reality borders on a lack of truthfulness, [763] keeps him from clear-eyed recognition of status—a recognition which necessarily involves more intelligence and sounds out no call to pride. Few too dare trust themselves to see their fellowmen as they really are, for fear of a critical spirit—so hard it is to develop the true practice of loving understanding which leads to the seeing of all people in truth, with their faults and their virtues, their pettiness and their grandeurs, and still to love them as before and even more.

Sự đơn độc này phải được đối diện và thấu hiểu, và nó đưa đến hai nhận biết: trước hết, sự nhận biết về đúng điểm của em trên chiếc thang tiến hoá, hay trên Đường Đạo; và thứ hai, một nhận thức trực giác về điểm tiến hoá của những người mà chúng ta tiếp xúc dọc theo con đường đời. Trong một thời gian khá dài, mọi đệ tử đều không chịu làm bất kỳ điều nào trong hai điều này. Một sự khiêm nhường giả tạo, thực ra gần như thiếu chân thật, [763] ngăn y nhận biết sáng suốt về địa vị—một sự nhận biết tất yếu đòi hỏi nhiều trí tuệ hơn và không hề phát ra lời kêu gọi kiêu hãnh. Cũng ít người dám tin cậy chính mình để thấy đồng loại như họ thật sự là, vì sợ tinh thần phê phán—khó biết bao để phát triển thực hành chân chính của sự thấu hiểu đầy thương yêu, vốn dẫn đến việc thấy mọi người trong chân lý, với các lỗi lầm và đức hạnh của họ, sự nhỏ nhen và sự cao cả của họ, mà vẫn thương yêu họ như trước và còn hơn thế nữa.

This occult solitariness must be consciously developed by you, and not left to circumstances. It is a solitariness which rests on soul attainment and upon no spirit of separateness; it is a solitariness which boasts of many friends and many interruptions, but of these many, few—if any—are admitted to the point of sacred peace; it is a solitariness that shuts none out, but which withholds the secrets of the Ashram from those who seek to penetrate. It is, finally, a solitariness which opens wide the door into the Ashram.

Sự đơn độc huyền bí này phải được em phát triển một cách hữu thức, chứ không để mặc cho hoàn cảnh. Đó là một sự đơn độc đặt nền trên thành tựu của linh hồn và không dựa trên tinh thần chia rẽ; đó là một sự đơn độc tự hào có nhiều bạn hữu và nhiều gián đoạn, nhưng trong số nhiều người ấy, rất ít người—nếu có—được phép vào đến điểm bình an thiêng liêng; đó là một sự đơn độc không loại trừ ai, nhưng giữ lại những bí mật của Ashram khỏi những người tìm cách thâm nhập. Cuối cùng, đó là một sự đơn độc mở rộng cánh cửa vào Ashram.

This is the factor you need the most to cultivate at this time. It will necessitate a conscious and definite withdrawal of yourself, and at the same time will lead to a still warmer expression of love upon the outer plane of life.

Đây là yếu tố mà em cần vun trồng nhiều nhất vào lúc này. Nó sẽ đòi hỏi một sự rút lui hữu thức và xác định của chính em, đồng thời sẽ dẫn đến một biểu hiện tình thương còn ấm áp hơn trên cõi bên ngoài của đời sống.

The closing of this outer group may enable you the more easily to do this, and may deepen your inner life immeasurably. Welcome, therefore, this opportunity. As regards the outer group, I would ask you to keep in close touch, however, through correspondence, with J.S.P.; she is a group brother who sorely needs your strength and knowledge. She has suffered far more than any of you and sorely needs lifting into a sense of security and peace. I commend her to you, and she will be good for you as you for her.

Việc nhóm bên ngoài này kết thúc có thể giúp em làm điều này dễ dàng hơn, và có thể làm sâu sắc đời sống nội tâm của em một cách không thể đo lường. Vì vậy, hãy hoan nghênh cơ hội này. Về nhóm bên ngoài, tuy nhiên, Tôi yêu cầu em giữ liên lạc chặt chẽ qua thư từ với J.S.P.; bạn ấy là một huynh đệ trong nhóm rất cần sức mạnh và tri thức của em. Bạn ấy đã chịu khổ nhiều hơn bất kỳ ai trong các em và rất cần được nâng lên trong ý thức an toàn và bình an. Tôi giao phó bạn ấy cho em, và bạn ấy sẽ tốt cho em cũng như em tốt cho bạn ấy.

As for your meditation work, my brother, I would have you adhere to the Full Moon procedure outlined earlier by me, and I would ask you to keep this practice up for the remainder of your life. I would have you add to this monthly work a daily practice, founded upon the theme of a chosen solitariness. Note the word “chosen.” It is wiser to cultivate the quality of spiritual solitude than to have it forced upon you—as so often happens to so many. I will suggest only the themes for your meditation, leaving you to work out the form [764] or procedure to suit yourself, or to do without any form if it seems better to you.

Về công việc tham thiền của em, huynh đệ của Tôi, Tôi muốn em tuân theo thủ tục Trăng Tròn mà Tôi đã phác thảo trước đây, và Tôi yêu cầu em duy trì thực hành này trong suốt phần đời còn lại. Tôi muốn em thêm vào công việc hằng tháng này một thực hành hằng ngày, đặt nền trên chủ đề về một sự đơn độc được chọn lựa. Hãy lưu ý từ “được chọn lựa.” Vun trồng phẩm tính của sự cô tịch tinh thần thì minh triết hơn là để nó bị áp đặt lên em—như thường xảy ra với rất nhiều người. Tôi sẽ chỉ gợi ý các chủ đề cho việc tham thiền của em, để em tự soạn ra hình thức [764] hay thủ tục cho phù hợp với chính mình, hoặc không dùng bất kỳ hình thức nào nếu điều đó có vẻ tốt hơn với em.

Themes For Meditation. One for each month, to be reviewed year by year.

Các Chủ Đề Tham Thiền. Mỗi tháng một chủ đề, được ôn lại năm này qua năm khác.

1. The nature of solitude.

1. Bản chất của sự cô tịch.

2. The difference between solitude, loneliness, separateness and isolation. I would refer you to Patanjali [xxi]* who speaks of “isolated unity.”

2. Sự khác biệt giữa cô tịch, cô đơn, chia rẽ và cô lập. Tôi muốn em tham khảo Patanjali [xxi]* người nói về “Hợp Nhất Cô Lập.”

3. Solitude and the daily life.

3. Sự cô tịch và đời sống hằng ngày.

4. Solitude and the soul.

4. Sự cô tịch và linh hồn.

5. Solitude as a quality of the interior life of an Ashram.

5. Sự cô tịch như một phẩm tính của đời sống nội tâm của một Ashram.

6. The solitude of spiritual perception.

6. Sự cô tịch của nhận thức tinh thần.

7. The solitude necessitated by the service of the Plan.

7. Sự cô tịch do việc phụng sự Thiên Cơ đòi hỏi.

8. Solitude as the background of a radiant life.

8. Sự cô tịch như hậu cảnh của một đời sống rạng ngời.

9. Solitude and contact with the Master.

9. Sự cô tịch và sự tiếp xúc với Chân sư.

10. The rewards of solitude.

10. Những phần thưởng của sự cô tịch.

11. The voices heard in the silence of solitude.

11. Những tiếng nói được nghe trong sự im lặng của cô tịch.

12. The silence of the Spheres.

12. Sự im lặng của các Khối Cầu.

In this solitude there is no morbidness, there is no harsh withdrawing, and there is no aspect of separateness. There is only the “place where the disciple stands, detached and unafraid, and in that place of utter quiet the Master comes and solitude is not.” [767]

Trong sự cô tịch này không có bệnh hoạn, không có sự rút lui khắc nghiệt, và không có phương diện chia rẽ nào. Chỉ có “nơi đệ tử đứng, tách rời và không sợ hãi, và trong nơi hoàn toàn tĩnh lặng ấy Chân sư đến, và sự cô tịch không còn.” [767]

THE MYSTERIES—CÁC HUYỀN NHIỆM

Great is the mystery of godliness!

Vĩ đại thay là huyền nhiệm về sự đạo hạnh!

The word went forth to all the sons of men, the Sons of God: Show forth the signature of God. Leave this High Place and, in the outer realm of darkness, toil and serve; bring forth the Real; unveil the hidden depths of light. Reveal divinity.

Linh từ truyền đến cho tất cả những người con của nhân loại, những Người Con của Thượng Đế: Hãy thể hiện dấu ấn của Thượng Đế. Hãy rời khỏi Nơi Cao Cả này và trong cõi ngoại vi của bóng tối, hãy lao động và phụng sự; hãy mang ra ánh sáng cái Chân Thật; hãy tiết lộ những chiều sâu ẩn giấu của ánh sáng. Hãy tỏ lộ thiên tính.

Great is the mystery of thought!

Vĩ đại thay là huyền nhiệm của tư tưởng!

The word went forth to all the sons of men, the Sons of God: Think on the past, the future, and on that which is today. Learn that through thought the Way into the innermost can stand revealed. God thought, and all the worlds emerged and ran their courses. Man, in his distant radiant past, before his life on earth, the past that was before all time and space, evolved a thought. Forth into the light of day he came and ran his course. He runs until today.

Linh từ truyền đến cho tất cả những người con của nhân loại, những Người Con của Thượng Đế: Hãy suy ngẫm về quá khứ, tương lai và về điều đang hiện hữu. Hãy học rằng thông qua tư tưởng, Con Đường vào cõi thâm sâu nhất có thể được tiết lộ. Thượng Đế đã suy nghĩ, và tất cả các thế giới đã hiện ra và chạy qua các chu kỳ của chúng. Con người, trong quá khứ rực rỡ xa xôi của y, trước cuộc sống trên trái đất, quá khứ trước cả thời gian và không gian, đã phát sinh một tư tưởng. y đi vào ánh sáng của ban ngày và bắt đầu hành trình của mình. y vẫn tiếp tục hành trình đó cho đến ngày nay.

Great is the mystery of pain!

Vĩ đại thay là huyền nhiệm của đau khổ!

The word went forth to all the sons of men, the Sons of God: Learn through the struggle of earth life to choose the way that is the better—then the best. Evade not pain. Seek not the easiest way, which is not to be found. Tread then the Way which leads through sorrow, pain and dire distress to that High Place from which you came—the Place where God walks with the sons of men, who are the Sons of God. Before the august Presence, all pain shall disappear; sorrow shall fade away, and death shall triumph not. Beauty and goodness and the strength of God irradiate the face of men.

Linh từ truyền đến cho tất cả những người con của nhân loại, những Người Con của Thượng Đế: Hãy học qua cuộc đấu tranh của cuộc sống trần gian để chọn con đường tốt hơn—rồi con đường tối ưu. Đừng trốn tránh đau khổ. Đừng tìm kiếm con đường dễ nhất, vì con đường đó không tồn tại. Hãy bước đi trên Con Đường dẫn qua nỗi đau khổ, sự đau đớn và những khốn khó nghiêm trọng để trở về Nơi Cao Cả từ đó ngươi đã đến—Nơi mà Thượng Đế cùng đi với những người con của nhân loại, là những Người Con của Thượng Đế. Trước sự Hiện Diện uy nghiêm, tất cả nỗi đau sẽ biến mất; sầu khổ sẽ phai nhạt, và cái chết sẽ không chiến thắng. Vẻ đẹp và lòng tốt cùng sức mạnh của Thượng Đế sẽ chiếu sáng trên gương mặt của con người.

[Page 768]

[Trang 768]

Great is the mystery of those who blaze the trail back to the Father’s Home!

Vĩ đại thay là huyền nhiệm về những người mở đường trở về Nhà của Cha!

The word goes forth to all the sons of men, the Sons of God: Those who have reached the Portal of the Final Way must prove themselves and in their proving teach and lift those who would follow in their steps.

Linh từ truyền đến cho tất cả những người con của nhân loại, những Người Con của Thượng Đế: Những ai đã đạt đến Cổng của Con Đường Cuối Cùng phải chứng tỏ bản thân và trong sự chứng tỏ đó, hãy dạy dỗ và nâng đỡ những ai muốn theo bước chân của họ.

Thus down the ages have the sons of men, who are the Sons of God, embodied in themselves the Light which shines, the Strength which lifts and serves, the Love that evermore endures. They walked the Way of purity, the Way into the innermost. We follow after. They served their time. We seek to do the same.

Vậy nên, xuyên suốt các thời đại, những người con của nhân loại, là những Người Con của Thượng Đế, đã tự mình hiện thân Ánh Sáng chiếu rọi, Sức Mạnh nâng đỡ và phụng sự, Tình Thương mãi mãi trường tồn. Họ đã bước đi trên Con Đường của sự trong sạch, Con Đường vào cõi thâm sâu nhất. Chúng ta theo sau. Họ đã phụng sự vào thời điểm của mình. Chúng ta tìm cách làm điều tương tự.

[i] Discipleship in the New Age, Vol. I, Pages 80-81.

[i] Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, trang 80-81.

[ii] Education in the New Age, A Treatise on the Seven Rays, Vol.V.

[ii] Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới, Luận về Bảy Cung, Tập V.

[iii] A Treatise on the Seven Rays (Esoteric Psychology), Vol. II, page 701.

[iii] Luận về Bảy Cung (Tâm Lý Học Nội Môn), Tập II, trang 701.

[iv] A Treatise on the Seven Rays, Vol. V.

[iv] Luận về Bảy Cung, Tập V.

[v] A Treatise on the Seven Rays (Esoteric Healing), Vol. IV.

[v] Luận về Bảy Cung (Trị Liệu Huyền Môn), Tập IV.

[vi] The Externalisation of the Hierarchy.

[vi] Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.

[vii] Telepathy and the Etheric Vehicle, Pages 41-57.

[vii] Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái, trang 41-57.

[viii] The “six statements” appear in the Personal Instructions dated August 1942.

[viii] “Sáu phát biểu” xuất hiện trong các Huấn Thị Cá Nhân đề tháng Tám 1942.

[ix] The Externalisation of the Hierarchy.

[ix] Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.

[x] The Reappearance of the Christ.

[x] Sự Tái Lâm của Đức Christ.

[xi] The Light of the Soul, Pages 38, 424-426.

[xi] Ánh Sáng của Linh Hồn, trang 38, 424-426.

[xii] Telepathy and the Etheric Vehicle

[xii] Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái

[xiii] Here the Tibetan refers to this Invocation in its entirety as one stanza, the third and final of three “stanzas” or Invocations. He gave out the first one, beginning with the line, “Let the Forces of Light bring illumination to mankind,” in 1935, and the second in 1940, beginning, “Let the Lords of Liberation issue forth.”

[xiii] Ở đây Chân sư Tây Tạng nói đến toàn bộ Khấn Nguyện này như một bài kệ, bài thứ ba và cuối cùng trong ba “bài kệ” hay Khấn Nguyện. Ngài đã trao bài thứ nhất, bắt đầu bằng dòng: “Hãy để các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại,” vào năm 1935, và bài thứ hai vào năm 1940, bắt đầu: “Hãy để các Đấng Giải Thoát xuất hiện.”

[xiv] The full moon of Aries or Easter, of Taurus or Wesak, and of Gemini or of the Spirit of Goodwill

[xiv] Trăng tròn của Bạch Dương hay Phục Sinh, của Kim Ngưu hay Wesak, và của Song Tử hay của Tinh Thần Thiện Chí

[xv] Discipleship in the New Age, Vol. I, page 583-584.

[xv] Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, trang 583-584.

[xvi] Telepathy and the Etheric Vehicle, Pages 41-57.

[xvi] Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái, trang 41-57.

[xvii] Cagliostro, W.R.H. Trowbridge.

[xvii] Cagliostro, W.R.H. Trowbridge.

[xviii] The Externalisation of the Hierarchy.

[xviii] Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.

[xix] A Treatise on the Seven Rays (Esoteric Astrology), Vol. III, Page 476.

[xix] Luận về Bảy Cung (Chiêm Tinh Học Nội Môn), Tập III, trang 476.

[xx] See: The Light of the Soul, Book I:17.

[xx] Xem: Ánh Sáng của Linh Hồn, Quyển I:17.

[xxi] The Light of the Soul, Book III:50.

[xxi] Ánh Sáng của Linh Hồn, Quyển III:50.

Leave a Comment

Scroll to Top