Program 19 – Rule 10.3 (Pages 282-284)
Abstract
|
Content for ATOWM Series II, Rules of Magic for the Astral Plane, Video Commentary, Program Nineteen, 10.3 continuing Rule X, 1:02 hr; pages 282-284. |
Nội dung cho Loạt bài ATOWM II, Các Quy luật Huyền thuật cho Cõi Cảm dục, Video Bình luận, Chương trình Mười chín, 10.3 tiếp tục Quy luật X, 1:02 giờ; trang 282-284. |
Text
|
[1] There are two connections in which this Rule Ten can be studied and thereby results of practical value can be achieved. [2] We can study it from the standpoint of the work which the soul does in relation to its instrument, the human being, and we can also study it from the standpoint of organisation work and of that form-building which the disciple does in relation to his service for the Hierarchy. |
[1] Có hai mối liên hệ trong đó Quy luật Mười này có thể được nghiên cứu, và nhờ vậy có thể đạt được những kết quả có giá trị thực tiễn. [2] Chúng ta có thể nghiên cứu nó từ lập trường của công việc mà linh hồn thực hiện trong liên hệ với khí cụ của nó, tức con người, và chúng ta cũng có thể nghiên cứu nó từ lập trường của công việc tổ chức và của việc xây dựng hình tướng mà đệ tử thực hiện trong liên hệ với sự phụng sự của y cho Thánh Đoàn. |
|
[3] Back of the outer form of a human being, responsible for its creation, its maintenance and its use, lies, we know, the soul. Back of all activity for the furthering of human evolution as well as of other evolutionary processes stands the Hierarchy. [4] Both represent centres of energy; both work under Law creatively; both proceed from subjective activity to objective manifestation and both are responsive (in the great sequence of graded lives) to vitalisation and stimulation from higher centres of energy. [5] Some of the factors that the disciple has to learn to recognize as his particular series of lives unfolds falls into two main groups, each of them bringing his form aspect under seven types of energy, or influences. |
[3] Đằng sau hình tướng bên ngoài của một con người, chịu trách nhiệm về sự tạo thành, duy trì và sử dụng nó, như chúng ta biết, là linh hồn. Đằng sau mọi hoạt động nhằm thúc đẩy tiến hoá nhân loại cũng như các tiến trình thăng thượng tiến hoá khác là Thánh Đoàn. [4] Cả hai đều đại diện cho các trung tâm năng lượng; cả hai đều làm việc một cách sáng tạo dưới Định luật; cả hai đều tiến từ hoạt động chủ quan đến biểu hiện khách quan; và cả hai đều đáp ứng, trong chuỗi lớn của các sự sống được phân cấp, với sự tiếp sinh lực và kích thích từ các trung tâm năng lượng cao hơn. [5] Một số yếu tố mà đệ tử phải học nhận ra khi chuỗi sự sống đặc thù của y khai mở thuộc về hai nhóm chính, mỗi nhóm đưa phương diện hình tướng của y vào dưới bảy loại năng lượng hay ảnh hưởng. |
|
[6] There is first the group of forces which concerns purely the form side, [7] that are the work of the outer Builders, and which are the predominant factors right up to the stage of the Probationary Path. [8] These are the forces inherent in matter itself; they deal with the body nature and might be listed as follows: |
[6] Trước hết có nhóm mãnh lực chỉ liên quan đến phương diện hình tướng, [7] là công việc của các Đấng Kiến Tạo bên ngoài, và là các yếu tố chi phối cho đến tận giai đoạn của Con Đường Dự Bị. [8] Đây là các mãnh lực vốn có trong chính vật chất; chúng liên hệ đến bản chất thể xác và có thể được liệt kê như sau: |
|
[9] 1. Physical forces. These are due to the life of the cells which constitute the body. This cell life is responsive to the cell life of the environment. Never let it be forgotten that the occultist always sees the correlation between the factors in himself and the corresponding factors in his surroundings. [10] We live in a world of forms. [11] These forms are made up of lives and these lives have their own emanatory and contributory influence. They fall in their turn into three main groups: |
[9] 1. Các mãnh lực hồng trần. Chúng phát sinh từ sự sống của các tế bào cấu thành thể xác. Sự sống tế bào này đáp ứng với sự sống tế bào của môi trường. Đừng bao giờ quên rằng nhà huyền bí học luôn thấy mối tương quan giữa các yếu tố trong chính mình và các yếu tố tương ứng trong hoàn cảnh chung quanh. [10] Chúng ta sống trong một thế giới của các hình tướng. [11] Các hình tướng này được tạo thành bởi những sự sống, và các sự sống này có ảnh hưởng phát xạ và đóng góp riêng của chúng. Đến lượt chúng, chúng rơi vào ba nhóm chính: |
|
[12] a. Those emanations, which issuing from the cells themselves and dependent upon their quality, produce a good or a bad effect, are coarsening or refining in their influence, and raise or lower the physical vibration of the united cell body. [13] Thus, as we well know, the physical effect of a coarse brutal animal natured man will be different to that of the refined beautifying results of contact with an older soul, functioning in a body, cultured, clean, disciplined and purified. |
[12] a. Những phát xạ xuất ra từ chính các tế bào và tùy thuộc vào phẩm tính của chúng, tạo ra một hiệu quả tốt hoặc xấu, có ảnh hưởng làm thô trược hoặc tinh luyện, và nâng cao hoặc hạ thấp rung động hồng trần của cơ thể tế bào hợp nhất. [13] Như chúng ta đều biết rõ, ảnh hưởng hồng trần của một người có bản chất thú tính thô bạo sẽ khác với những kết quả tinh luyện và làm đẹp phát sinh từ sự tiếp xúc với một linh hồn già dặn hơn, đang vận hành trong một thể xác có văn hóa, sạch sẽ, kỷ luật và thanh lọc. |
|
[14] b. Those emanations, of a purely physical kind which are responsible for that chemical affinity between one animal body and another which produces the coming together of the sexes. [15] It is an aspect of animal magnetism and is the response of the cells to the call of other cells, acting under the Law of Attraction and Repulsion. It is shared by man with the animals, and is instinctive and free from all mental reactions. |
[14] b. Những phát xạ thuộc loại thuần túy hồng trần, chịu trách nhiệm về ái lực hóa học giữa một thân thể động vật này với một thân thể động vật khác, tạo nên sự đến với nhau của hai giới. [15] Đó là một phương diện của từ điện động vật và là sự đáp ứng của các tế bào trước tiếng gọi của các tế bào khác, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Con người chia sẻ điều này với loài vật, và nó thuộc bản năng, không có mọi phản ứng trí tuệ. |
|
[16] c. Those forces or emanations, which are the response of the cells to harmonious rhythms and therefore dependent upon the cell having in itself something of that to which it responds. [17] These emanations are little understood as yet, but will increasingly come to the fore as the race progresses. This type of force is that mysterious something which enables the physical body to recognise as harmonious or congenial a physical surrounding or environment, for instance. [18] It is that undefinable reaction which results in two human beings (apart from all sex attraction, for people of the same sex experience it with each other) having a harmonious effect physically upon each other. [19] This is, on the outer plane, the esoteric basis for all group relation, and it is the understanding of these emanations that enables the isolation and segregation of races to be carried forward under the great evolutionary plan. |
[16] c. Những mãnh lực hay phát xạ là sự đáp ứng của các tế bào đối với các nhịp điệu hài hòa, và do đó tùy thuộc vào việc tế bào có trong chính nó điều gì đó thuộc về cái mà nó đáp ứng. [17] Những phát xạ này hiện vẫn còn ít được thấu hiểu, nhưng sẽ ngày càng nổi bật khi nhân loại tiến bộ. Loại mãnh lực này là điều gì đó huyền nhiệm cho phép thể xác nhận biết một môi trường hay hoàn cảnh hồng trần là hài hòa hoặc thích hợp, chẳng hạn. [18] Đó là phản ứng không thể định nghĩa, đưa đến việc hai con người, ngoài mọi hấp dẫn giới tính, vì những người cùng giới cũng trải nghiệm điều đó với nhau, có ảnh hưởng hài hòa về mặt hồng trần đối với nhau. [19] Trên cõi bên ngoài, đây là nền tảng huyền bí cho mọi quan hệ nhóm, và chính sự thấu hiểu các phát xạ này cho phép việc cô lập và phân tách các giống dân được tiến hành dưới Thiên Cơ thăng thượng tiến hoá vĩ đại. |
|
[20] These three might be described as the quality of the cell forces operating entirely on the physical plane which produce a peculiar type of physical body, the magnetic attraction between two physical bodies, and the racial types. [21] These three factors guide the Manu of the race as He builds a new race and impresses the outer Builders with His ideas. [22] They also guide a Master of the Wisdom as He builds His physical body at will for the carrying forward of His work in any time or place. [23] These emanations should, in measure, be understood somewhat by all those engaged in forming organisations and groups for active service in the world. [24] What, should the disciple ask himself, should be the vibratory quality of the cells of that body, of the individuals who compose it? [25] What should be the quality of its attractive force, and of the magnetic effect it is to have in the world? [26] What does the group possess through the medium of its corporate units which will put it en rapport with other groups and so make it harmonious in its relations with them? [27] These questions warrant careful attention and should be considered by all group builders. |
[20] Ba điều này có thể được mô tả như phẩm tính của các mãnh lực tế bào hoạt động hoàn toàn trên cõi hồng trần, tạo ra một kiểu thể xác đặc thù, sự hấp dẫn từ tính giữa hai thể xác, và các kiểu mẫu giống dân. [21] Ba yếu tố này hướng dẫn Đức Manu của giống dân khi Ngài xây dựng một giống dân mới và in khắc các ý tưởng của Ngài lên các Đấng Kiến Tạo bên ngoài. [22] Chúng cũng hướng dẫn một Chân sư Minh Triết khi Ngài xây dựng thể xác của Ngài theo ý chí để xúc tiến công việc của Ngài ở bất cứ thời gian hay nơi chốn nào. [23] Ở một mức độ nào đó, những phát xạ này nên được tất cả những ai tham gia vào việc hình thành các tổ chức và nhóm để phụng sự tích cực trong thế gian thấu hiểu phần nào. [24] Đệ tử nên tự hỏi: phẩm tính rung động của các tế bào trong cơ thể ấy, tức các cá nhân cấu thành nó, nên là gì? [25] Phẩm tính của mãnh lực hấp dẫn của nó, và của hiệu quả từ tính mà nó phải có trong thế gian, nên là gì? [26] Nhóm sở hữu điều gì qua trung gian các đơn vị tập thể của nó, điều sẽ đưa nó vào sự hòa điệu với các nhóm khác và nhờ vậy làm cho nó hài hòa trong các quan hệ với họ? [27] Những câu hỏi này đáng được chú ý cẩn thận và nên được mọi người xây dựng nhóm xem xét. |
|
[28] 2. Vital forces. [29] These are often regarded by the materialists as intangible and therefore not material at all. [30] But the occultist regards the etheric medium as a form or aspect of matter and as relatively tangible as the outer objective form. [31] To him the ether of space, which term necessarily includes the etheric form of all bodies, the astral or emotional sentient body and the mental body, constituted of mind-stuff, are all of them material and are the substance of the form side of life. [32] As the basis of correct understanding, it should be noted that the cell life to which we have above referred is coordinated, influenced and vitalised by the blood stream, that intricate system which interpenetrates every part of the body, is responsible for its welfare and demonstrates in a manner not yet truly comprehended the fact that the “blood is the life”. [33] The blood is an aspect of energy, as is the sap in the vegetable kingdom. |
[28] 2. Các mãnh lực sinh lực. [29] Chúng thường bị các nhà duy vật xem là không thể sờ thấy và do đó hoàn toàn không thuộc vật chất. [30] Nhưng nhà huyền bí học xem môi trường dĩ thái như một hình tướng hay phương diện của vật chất, và tương đối có thể sờ thấy như hình tướng khách quan bên ngoài. [31] Đối với y, dĩ thái của không gian, thuật ngữ này tất nhiên bao gồm hình tướng dĩ thái của mọi thể, thể cảm dục hay thể cảm thụ xúc cảm, và thể trí được cấu thành bằng chất liệu trí tuệ, tất cả đều là vật chất và là chất liệu của phương diện hình tướng của sự sống. [32] Như nền tảng cho sự thấu hiểu đúng đắn, cần lưu ý rằng sự sống tế bào mà chúng ta đã nói đến ở trên được phối hợp, ảnh hưởng và tiếp sinh lực bởi dòng máu, hệ thống phức tạp thâm nhập mọi phần của cơ thể, chịu trách nhiệm cho sự an lành của nó, và biểu lộ theo một cách chưa được thật sự thấu hiểu sự kiện rằng “máu là sự sống”. [33] Máu là một phương diện của năng lượng, cũng như nhựa sống trong giới thực vật. |
|
[34] The sympathetic nervous system, that marvellous apparatus of sensation, is closely related to the emotional or astral body. The contact is made via the solar plexus, just as the vitality, governing the quality of the blood stream, makes its contact via the heart. In the heart is the centre of physical plane existence. [35] The cerebrospinal system works in close relation to the chitta or mind stuff. Therefore we have the following to consider: |
[34] Hệ thần kinh giao cảm, bộ máy cảm giác kỳ diệu ấy, liên hệ mật thiết với thể xúc cảm hay thể cảm dục. Sự tiếp xúc được tạo qua tùng thái dương, cũng như sinh lực, vốn chi phối phẩm tính của dòng máu, tạo sự tiếp xúc qua tim. Trong tim là trung tâm của sự tồn tại trên cõi hồng trần. [35] Hệ não-tủy hoạt động trong liên hệ mật thiết với chitta hay chất liệu trí tuệ. Vì thế, chúng ta có những điều sau đây để xem xét: |
|
1. Cell life |
Blood stream |
Heart centre |
Thymus gland |
|
1. Sự sống tế bào |
Dòng máu |
Trung tâm tim |
Tuyến ức |
|
2. Sensory life |
Sympathetic nervous system |
Solar plexus centre |
Pancreas |
|
2. Sự sống cảm giác |
Hệ thần kinh giao cảm |
Trung tâm tùng thái dương |
Tuyến tụy |
|
3. Mental life |
Cerebro-spinal system |
Ajna centre |
Pituitary body |
|
3. Sự sống trí tuệ |
Hệ thần kinh não-tủy |
Trung tâm ajna |
Tuyến yên |
|
4. Vital life |
Seven centres |
Spleen |
|
|
4. Sự sống sinh lực |
Bảy trung tâm |
Lá lách |
|
[36] This, as you see, governs the manifestations of the quaternary, but there are other aspects of humanity which manifest through the objective form and which complete the entire man and make the seven of his manifold objective existence. |
[36] Như các bạn thấy, điều này chi phối các biểu hiện của bộ tứ, nhưng có những phương diện khác của nhân loại biểu hiện qua hình tướng khách quan, hoàn tất toàn thể con người và tạo nên con số bảy của sự tồn tại khách quan đa dạng của y. |
|
5. Self-conscious |
upper brain |
Head centre |
Pineal gland |
|
5. Tự ý thức |
Não trên |
Trung tâm đầu |
Tuyến tùng |
|
6. Self-expression |
lower brain |
Throat centre |
Thyroid |
|
6. Tự biểu hiện |
Não dưới |
Trung tâm cổ họng |
Tuyến giáp |
|
7. Self-perpetuation |
sex organs |
Sacral centre |
Reproductive organs |
|
7. Tự duy trì nòi giống |
Cơ quan sinh dục |
Trung tâm xương cùng |
Cơ quan sinh sản |
|
8. Self-assertion |
entire man |
Centre at base of spine |
Adrenals |
|
8. Tự khẳng định |
Toàn bộ con người |
Trung tâm ở đáy cột sống |
Tuyến thượng thận |
|
[37] You will notice that eight factors are here enumerated, and it is here that many of the schools go astray. The heading ‘vital life’ is a comprehensive one, but it must be remembered that it relates entirely to the physical vitalisation of man through the lowest aspect of the centres. [38] This vital life of the universe of matter enters into the human organism through the spleen. |
[37] Các bạn sẽ nhận thấy rằng tám yếu tố được liệt kê ở đây, và chính ở đây nhiều trường phái đã đi lạc. Đề mục “sự sống sinh lực” là một đề mục bao quát, nhưng cần nhớ rằng nó hoàn toàn liên quan đến sự tiếp sinh lực hồng trần của con người qua phương diện thấp nhất của các trung tâm. [38] Sự sống sinh lực này của vũ trụ vật chất đi vào cơ quan con người qua lá lách. |
|
[39] The centres have three main functions: — |
[39] Các trung tâm có ba chức năng chính: — |
|
[40] First, to vitalise the physical body. |
[40] Thứ nhất, tiếp sinh lực cho thể xác. |
|
[41] Second, to bring about the development of self-consciousness in man. |
[41] Thứ hai, đem lại sự phát triển ngã thức trong con người. |
|
[42] Third, to transmit spiritual energy and sweep the entire man into a state of spiritual being. |
[42] Thứ ba, truyền dẫn năng lượng tinh thần và cuốn toàn thể con người vào một trạng thái hiện tồn tinh thần. |
|
[43] The vitality aspect is shared by man with the animals and with all created forms, [44] and his capacity to move freely in a three dimensional world is the outstanding achievement of that aspect. [45] The self-consciousness aspect is the prerogative of the human family. [46] When man has evolved, when all parts of his nervous system, his endocrine system, and his centres are coordinated and working in harmonious rhythm then the highest aspect (the spiritual) makes its presence felt. [47] The spiritual energy and not just the consciousness or sentient energy pours through Man, the instrument of divine Life, and the custodian of forces, to be held and used for the other and lower kingdoms in nature. |
[43] Phương diện sinh lực được con người chia sẻ với loài vật và với mọi hình tướng được tạo ra, [44] và khả năng di chuyển tự do trong một thế giới ba chiều là thành tựu nổi bật của phương diện đó. [45] Phương diện ngã thức là đặc quyền của gia đình nhân loại. [46] Khi con người đã tiến hoá, khi mọi phần của hệ thần kinh, hệ nội tiết và các trung tâm của y được phối hợp và hoạt động trong nhịp điệu hài hòa, thì phương diện cao nhất, tức phương diện tinh thần, làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. [47] Năng lượng tinh thần, chứ không chỉ là tâm thức hay năng lượng cảm thụ, tuôn đổ qua Con Người, khí cụ của Sự Sống thiêng liêng và người giữ gìn các mãnh lực, để được nắm giữ và sử dụng cho các giới khác thấp hơn trong thiên nhiên. |
Commentary 19-Rule-X-10.3
|
Good afternoon, everyone. I’m recording here from the Temple of Silence in Luoma, Finland, near Helsinki. It’s been a few days since I’ve been able to do these recordings, but I persist as best I can, and we are in that long and very voluminous rule, rule number 10 in A Treatise on White Magic. We’re on page 281, and we are beginning a new section, which relates to the centers, the energies, and the rays. |
Xin chào tất cả các bạn. Tôi đang ghi hình từ Đền Im Lặng ở Luoma, Phần Lan, gần Helsinki. Đã vài ngày tôi chưa thể thực hiện các bản ghi này, nhưng tôi vẫn kiên trì hết sức mình, và chúng ta đang ở trong quy luật dài và rất đồ sộ ấy, quy luật số 10 trong Luận về Chánh Thuật. Chúng ta đang ở trang 281, và bắt đầu một phần mới, liên quan đến các trung tâm, các năng lượng và các cung. |
|
All of this requires very careful and repeated study if we really want to know what we’re doing and what we’re supposed to absorb. The day will come when the magical formulas will be given to us, and as DK says, if we do our study properly, we’ll be in a good position at that time to benefit from the more practical occult knowledge which he will impart. Let us begin our work. |
Tất cả điều này đòi hỏi sự nghiên cứu rất cẩn thận và lặp đi lặp lại, nếu chúng ta thật sự muốn biết mình đang làm gì và cần hấp thụ điều gì. Sẽ đến ngày các công thức huyền thuật được trao cho chúng ta, và như Chân sư DK nói, nếu chúng ta học tập đúng cách, vào lúc ấy chúng ta sẽ ở trong một vị thế thuận lợi để hưởng lợi từ tri thức huyền bí thực tiễn hơn mà Ngài sẽ truyền đạt. Chúng ta hãy bắt đầu công việc. |
|
This is a study group. We are reading through the book, and all these books, as many as I can work with, line by line, word by word, with the hope of having the material which Master DK has given really sink in to our understanding. |
Đây là một nhóm học tập. Chúng ta đang đọc xuyên suốt quyển sách này, và tất cả các quyển sách này, trong phạm vi tôi có thể làm việc với chúng, từng dòng một, từng chữ một, với hy vọng rằng tài liệu mà Chân sư DK đã trao sẽ thật sự thấm sâu vào sự thấu hiểu của chúng ta. |
|
It is not easy material. Many people prefer more personal material that seems to speak to them in a personal way. But the teaching of Master DK has been sanctioned by the Hierarchy, by his Master, Kuthumi, by the Christ, even by Sanat Kumara. It’s been, so to speak, released to be given, within reason, of course, guarding the secrets that must be guarded. We would be foolish if we did not take advantage of this tremendous bestowal upon the consciousness of humanity. |
Đây không phải là tài liệu dễ dàng. Nhiều người thích những tài liệu có tính cá nhân hơn, dường như nói với họ theo cách cá nhân. Nhưng giáo huấn của Chân sư DK đã được Thánh đoàn chuẩn nhận, bởi Chân sư của Ngài là Kuthumi, bởi Đức Christ, thậm chí bởi Đức Sanat Kumara. Có thể nói, giáo huấn ấy đã được cho phép ban ra, dĩ nhiên trong chừng mực hợp lý, vẫn bảo vệ những bí mật cần phải được bảo vệ. Chúng ta sẽ thật thiếu khôn ngoan nếu không tận dụng sự ban phát lớn lao này cho tâm thức nhân loại. |
|
[1] There are two connections in which this Rule Ten can be studied and thereby results of practical value can be achieved. |
[1] Có hai mối liên hệ trong đó Quy luật Mười này có thể được nghiên cứu, và nhờ đó có thể đạt được những kết quả có giá trị thực tiễn. |
|
Let us never forget that this, compared to A Treatise on Cosmic Fire, is, in a way, a very practical book. It has a lot of seventh-ray in it, and it’s all about, ultimately, the control of the astral body. Who among us does not need to control that vehicle and fill it with the energy of love? |
Chúng ta đừng bao giờ quên rằng, so với Luận về Lửa Vũ Trụ, quyển sách này, theo một cách nào đó, là một quyển sách rất thực tiễn. Nó có rất nhiều tính chất cung bảy, và rốt cuộc, toàn bộ nội dung đều liên quan đến việc kiểm soát thể cảm dục. Ai trong chúng ta lại không cần kiểm soát vận cụ ấy và làm cho nó tràn đầy năng lượng của tình thương? |
|
[2] We can study it from the standpoint of the work which the soul does in relation to its instrument, the human being, and we can also study it from the standpoint of organisation work and of that form-building which the disciple does in relation to his service for the Hierarchy. |
[2] Chúng ta có thể nghiên cứu nó từ lập trường của công việc mà linh hồn thực hiện trong tương quan với khí cụ của mình, tức con người, và chúng ta cũng có thể nghiên cứu nó từ lập trường của công việc tổ chức và của việc kiến tạo hình tướng mà người đệ tử thực hiện trong tương quan với sự phụng sự của y dành cho Thánh đoàn. |
|
Certainly, we have to deal with the issue of how these rules, this knowledge, will affect our instrument, the personality, considering us to be both the soul in incarnation and even the soul on its own plane, in a certain respect. And then, of course, there’s the work in the world by means of which we serve the creative hierarchy. |
Chắc chắn, chúng ta phải đề cập đến vấn đề các quy luật này, tri thức này, sẽ tác động thế nào đến khí cụ của chúng ta, tức phàm ngã, khi xét chúng ta vừa là linh hồn đang nhập thể, vừa, theo một phương diện nào đó, là linh hồn trên cõi riêng của nó. Và rồi, dĩ nhiên, có công việc trong thế gian, nhờ đó chúng ta phụng sự Huyền Giai Sáng Tạo. |
|
[3] Back of the outer form of a human being, responsible for its creation, its maintenance and its use, lies, we know, the soul. |
[3] Phía sau hình tướng bên ngoài của một con người, chịu trách nhiệm cho sự tạo ra, duy trì và sử dụng hình tướng ấy, chúng ta biết rằng có linh hồn. |
|
Let us consider this to be the Solar Angel, Angel of the Presence, a great being relative to us who was once a human being in a previous solar system. One day we will be of the status of such a Being as a Solar Angel. Back of all activity for the furthering of human evolution as well as of other evolutionary processes stands the Hierarchy. The hierarchy is like the soul of humanity. |
Chúng ta hãy xem đây là Thái dương Thiên Thần, Thiên Thần của Hiện Diện, một Đấng cao cả đối với chúng ta, Đấng từng là một con người trong một hệ mặt trời trước. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ đạt đến địa vị của một Đấng như Thái dương Thiên Thần. Phía sau mọi hoạt động nhằm thúc đẩy sự tiến hoá của nhân loại cũng như các tiến trình tiến hoá khác là Thánh đoàn. Thánh đoàn giống như linh hồn của nhân loại. |
|
[4] Both represent centres of energy; both work under Law creatively; both proceed from subjective activity to objective manifestation and both are responsive (in the great sequence of graded lives) to vitalisation and stimulation from higher centres of energy. |
[4] Cả hai đều biểu thị các trung tâm năng lượng; cả hai đều hoạt động một cách sáng tạo dưới Định luật; cả hai đều tiến từ hoạt động chủ quan đến sự biểu hiện khách quan, và cả hai đều đáp ứng, trong chuỗi dài vĩ đại của các sự sống được phân cấp, với sự tiếp sinh lực và kích thích từ các trung tâm năng lượng cao hơn. |
|
Even the hierarchy is stimulated from above, and so is that Being we call the soul, a very difficult protean word used in many different contexts. We just need to know the particular context in which it is being used, that term soul, whether it’s the soul-in-incarnation, whether it’s the soul on its own plane, whether it’s an aspect of the Solar Angel that we call the Angel of the Presence, whether it is the Solar Angel itself, or some still larger aspect of consciousness. There’s a lot of difficulty dealing with the soul, and people get confused. |
Ngay cả Thánh đoàn cũng được kích thích từ bên trên, và Đấng mà chúng ta gọi là linh hồn cũng vậy, một từ rất khó, biến hoá đa dạng, được dùng trong nhiều bối cảnh khác nhau. Chúng ta chỉ cần biết bối cảnh cụ thể trong đó thuật ngữ linh hồn ấy đang được dùng, liệu đó là linh hồn đang nhập thể, linh hồn trên cõi riêng của nó, một phương diện của Thái dương Thiên Thần mà chúng ta gọi là Thiên Thần của Hiện Diện, chính Thái dương Thiên Thần, hay một phương diện tâm thức còn rộng lớn hơn nữa. Có rất nhiều khó khăn khi đề cập đến linh hồn, và người ta trở nên bối rối. |
|
I remember when I was first reading this book long ago, I was always confused. Are we talking about the human being or are we talking about a Higher Being here? I hope I’ve straightened it out for myself to a certain extent anyway. |
Tôi nhớ khi lần đầu đọc quyển sách này cách đây đã lâu, tôi luôn luôn bối rối. Ở đây chúng ta đang nói về con người hay đang nói về một Đấng Cao Siêu? Dù sao, tôi hy vọng tôi đã tự làm sáng tỏ điều đó cho mình đến một mức độ nào đó. |
|
Yes, back of human evolution is the Hierarchy, and back of the evolution of the individual human being is the soul or Solar Angel or Angel of the Presence. The entirety of the Solar Angel, its full energy component cannot be incarnated on the higher plane. It is a Being much greater than that, which has already apparently journeyed via the cosmic astral plane to the star Sirius for education. It is not possible for the entirety to incarnate, but it is possible to include a fragment of itself, so to speak, within the human being and a projection of itself within that vehicle upon the higher mental plane, which we call the Egoic Lotus or causal body. |
Đúng vậy, phía sau sự tiến hoá của nhân loại là Thánh đoàn, và phía sau sự tiến hoá của từng con người cá biệt là linh hồn, hay Thái dương Thiên Thần, hay Thiên Thần của Hiện Diện. Toàn thể Thái dương Thiên Thần, thành phần năng lượng đầy đủ của Ngài, không thể nhập thể trên Cõi thượng trí. Ngài là một Đấng lớn lao hơn nhiều, dường như đã từng du hành qua cõi cảm dục vũ trụ đến ngôi sao Sirius để được giáo dục. Toàn thể không thể nhập thể, nhưng có thể, có thể nói như vậy, bao gồm một mảnh của chính mình trong con người, và một phóng chiếu của chính mình trong vận cụ ấy trên Cõi thượng trí, mà chúng ta gọi là Hoa Sen Chân Ngã hay thể nguyên nhân. |
|
[5] Some of the factors that the disciple has to learn to recognize as his particular series of lives unfolds falls into two main groups, each of them bringing his form aspect under seven types of energy, or influences. |
[5] Một số yếu tố mà người đệ tử phải học nhận biết khi chuỗi các kiếp sống đặc thù của mình khai mở, rơi vào hai nhóm chính, mỗi nhóm đưa phương diện hình tướng của y vào dưới bảy loại năng lượng, hay ảnh hưởng. |
|
Of course, we do recognize here the seven rays. There are a number of septonates, but they are all ultimately controlled by an ultimate universal septonate, which we might call seven universal rays. They are certainly greater beings and emanations than what we call the seven rays from our local constellation, the Great Bear. |
Dĩ nhiên, ở đây chúng ta nhận ra bảy cung. Có một số bộ bảy, nhưng rốt cuộc tất cả đều được kiểm soát bởi một bộ bảy vũ trụ tối hậu, mà chúng ta có thể gọi là bảy cung vũ trụ. Chắc chắn đó là những Đấng và những phát xạ lớn lao hơn điều chúng ta gọi là bảy cung đến từ chòm sao địa phương của chúng ta, chòm Đại Hùng Tinh. |
|
[6] There is first the group of forces which concerns purely the form side, |
[6] Trước hết có nhóm các mãnh lực hoàn toàn liên quan đến phía hình tướng, |
|
I’m remembering now these 49s—49 having to do with form, 49 having to do with soul or consciousness, and 49 having to do with spirit, the spirits of darkness, I think they’re called, because of course, in a way, spirit is so inaccessible, even though so obvious to those who can somehow register it. |
Tôi đang nhớ đến các bộ 49 này: 49 liên quan đến hình tướng, 49 liên quan đến linh hồn hay tâm thức, và 49 liên quan đến tinh thần; tôi nghĩ chúng được gọi là các tinh thần của bóng tối, bởi vì dĩ nhiên, theo một cách nào đó, tinh thần rất khó tiếp cận, dù lại rất hiển nhiên đối với những ai bằng cách nào đó có thể ghi nhận nó. |
|
[7] that are the work of the outer Builders, and which are the predominant factors right up to the stage of the Probationary Path. |
[7] vốn là công việc của các Đấng Kiến Tạo bên ngoài, và là những yếu tố chiếm ưu thế cho đến tận giai đoạn của Con Đường Dự Bị. |
|
On this Path of Probation, we begin to concern ourselves with the truly subjective factor. |
Trên Con Đường Dự Bị này, chúng ta bắt đầu quan tâm đến yếu tố thật sự chủ quan. |
|
[8] These are the forces inherent in matter itself; they deal with the body nature and might be listed as follows: |
[8] Đây là những mãnh lực cố hữu trong chính vật chất; chúng đề cập đến bản chất thể xác và có thể được liệt kê như sau: |
|
The outer builders are responsible for these forces. |
Các đấng kiến tạo bên ngoài chịu trách nhiệm về những mãnh lực này. |
|
[9] 1. Physical forces. These are due to the life of the cells which constitute the body. This cell life is responsive to the cell life of the environment. Never let it be forgotten that the occultist always sees the correlation [Page 282] between the factors in himself and the corresponding factors in his surroundings. |
[9] 1. Các mãnh lực hồng trần. Những mãnh lực này phát sinh từ sự sống của các tế bào cấu thành thể xác. Sự sống tế bào này đáp ứng với sự sống tế bào của môi trường. Đừng bao giờ quên rằng nhà huyền bí học luôn luôn thấy mối tương quan [Trang 282] giữa các yếu tố trong chính mình và các yếu tố tương ứng trong môi trường xung quanh mình. |
|
The great Law of Analogy or the more related, but more definite Law of Correspondences is operating in the life of the occultist. |
Định luật Tương đồng vĩ đại, hay Định luật Tương Ứng gần gũi hơn nhưng xác định hơn, đang vận hành trong đời sống của nhà huyền bí học. |
|
[10] We live in a world of forms, |
[10] Chúng ta sống trong một thế giới của các hình tướng, |
|
at least on the cosmic physical plane we do. In a way, the whole universe is a form, and I’m talking about the subjective aspects of it as well. |
ít nhất là trên cõi hồng trần vũ trụ. Theo một cách nào đó, toàn bộ vũ trụ là một hình tướng, và tôi cũng đang nói đến các phương diện chủ quan của nó. |
|
[11] These forms are made up of lives and these lives have their own emanatory and contributory influence. They fall in their turn into three main groups: |
[11] Những hình tướng này được cấu thành bởi các sự sống, và những sự sống này có ảnh hưởng phát xạ và đóng góp riêng của chúng. Đến lượt chúng, chúng rơi vào ba nhóm chính: |
|
[12] a. Those emanations, which issuing from the cells themselves and dependent upon their quality, produce a good or a bad effect, are coarsening or refining in their influence, and raise or lower the physical vibration of the united cell body. |
[12] a. Những phát xạ nào, phát ra từ chính các tế bào và tùy thuộc vào phẩm tính của chúng, tạo ra một hiệu quả tốt hay xấu, có ảnh hưởng làm thô trược hoặc làm tinh luyện, và nâng cao hay hạ thấp rung động hồng trần của toàn thể thân tế bào hợp nhất. |
|
Let’s just call these cell emanations. |
Chúng ta hãy gọi những điều này là các phát xạ tế bào. |
|
[13] Thus, as we well know, the physical effect of a coarse brutal animal natured man will be different to that of the refined beautifying results of contact with an older soul, functioning in a body, cultured, clean, disciplined and purified. |
[13] Như chúng ta đều biết rõ, hiệu quả hồng trần của một người có bản chất thú tính thô lỗ, hung bạo sẽ khác với những kết quả tinh luyện và làm đẹp phát sinh từ sự tiếp xúc với một linh hồn già dặn hơn, đang hoạt động trong một thể xác có văn hoá, thanh sạch, có kỷ luật và đã được tinh luyện. |
|
We are reminded of the great range of development of the human being. |
Chúng ta được nhắc nhở về phạm vi phát triển rộng lớn của con người. |
|
[14] b. Those emanations, of a purely physical kind which are responsible for that chemical affinity between one animal body and another which produces the coming together of the sexes. |
[14] b. Những phát xạ có tính chất thuần tuý hồng trần, chịu trách nhiệm về ái lực hoá học giữa một thể động vật này và một thể động vật khác, tạo ra sự hội tụ của hai giới tính. |
|
Could we call this, in a way, animal magnetism? |
Theo một cách nào đó, chúng ta có thể gọi đây là từ điện động vật chăng? |
|
[15] It is an aspect of animal magnetism and is the response of the cells to the call of other cells, acting under the Law of Attraction and Repulsion. It is shared by man with the animals, and is instinctive and free from all mental reactions. |
[15] Đó là một phương diện của từ điện động vật và là sự đáp ứng của các tế bào trước tiếng gọi của những tế bào khác, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Con người chia sẻ điều này với loài vật, và nó có tính bản năng, không có mọi phản ứng trí tuệ. |
|
One might attribute his or her attraction to another to this type of emanation about which there is rarely any real knowledge. There are many forces with which we are dealing, and most of them beyond our range of understanding. We don’t take them into consideration usually. |
Người ta có thể gán sự thu hút của mình đối với một người khác cho loại phát xạ này, điều mà hiếm khi người ta có tri thức thật sự về nó. Có nhiều mãnh lực mà chúng ta đang xử lý, và phần lớn nằm ngoài phạm vi thấu hiểu của chúng ta. Thường thì chúng ta không xét đến chúng. |
|
[16] c. Those forces or emanations, which are the response of the cells to harmonious rhythms and therefore dependent upon the cell having in itself something of that to which it responds. |
[16] c. Những mãnh lực hay phát xạ là sự đáp ứng của các tế bào đối với các nhịp điệu hài hoà, và vì thế tùy thuộc vào việc tế bào tự thân có một điều gì đó tương ứng với điều mà nó đáp ứng. |
|
These emanations require the refinement of the cell. |
Những phát xạ này đòi hỏi sự tinh luyện của tế bào. |
|
[17] These emanations are little understood as yet, but will increasingly come to the fore as the race progresses. This type of force is that mysterious something which enables the physical body to recognise as harmonious or congenial a physical surrounding or environment, for instance. |
[17] Những phát xạ này cho đến nay vẫn ít được thấu hiểu, nhưng sẽ ngày càng nổi bật khi nhân loại tiến bộ. Loại mãnh lực này là điều huyền bí nào đó cho phép thể xác nhận biết một môi trường hay khung cảnh hồng trần là hài hoà hoặc tương hợp, chẳng hạn. |
|
It’s a response to harmony or dissonance in the environment. |
Đó là một đáp ứng đối với sự hài hoà hay bất hoà trong môi trường. |
|
[18] It is that undefinable reaction which results in two human beings (apart [Page 283] from all sex attraction, for people of the same sex experience it with each other) having a harmonious effect physically upon each other. |
[18] Đó là phản ứng không thể định nghĩa, dẫn đến việc hai con người, ngoài [Trang 283] mọi hấp dẫn giới tính, vì những người cùng giới cũng trải nghiệm điều này với nhau, có một ảnh hưởng hài hoà về mặt hồng trần đối với nhau. |
|
Having a harmonious effect physically upon each other—you know, good to be with you, so relaxing, so affirming, all that kind of thing. There are people in whose presence we desire to be, because of just how it feels, and others in the presence of whom perhaps we are on edge or uncomfortable somehow. |
Có một ảnh hưởng hài hoà về mặt hồng trần đối với nhau: thật dễ chịu khi ở bên bạn, thật thư giãn, thật nâng đỡ, và những điều tương tự. Có những người mà chúng ta mong muốn được ở trong sự hiện diện của họ, đơn giản vì cảm giác khi ở đó; và có những người khác mà trong sự hiện diện của họ, có lẽ chúng ta trở nên căng thẳng hoặc khó chịu theo một cách nào đó. |
|
[19] This is, on the outer plane, the esoteric basis for all group relation, and it is the understanding of these emanations that enables the isolation and segregation of races to be carried forward under the great evolutionary plan. |
[19] Trên cõi bên ngoài, đây là nền tảng nội môn cho mọi quan hệ nhóm, và chính sự thấu hiểu những phát xạ này cho phép tiến hành sự cô lập và phân tách các nhân loại dưới Thiên Cơ tiến hoá vĩ đại. |
|
And you’ve all heard the colloquial: birds of a feather flock together. This is a kind of apportionment of types, a kind of segregation of types. There have to be types. According to the way qualities are arranged and divided from each other, there must be formal types which reflect those qualities. Each of those qualities and combinations of qualities will have, in the mind of whatever greater creator there is, some particular function. |
Các bạn đều đã nghe câu nói dân gian: chim cùng lông thì tụ lại với nhau. Đây là một kiểu phân bổ các loại, một kiểu phân tách các loại. Phải có các loại. Theo cách các phẩm tính được sắp đặt và phân chia khỏi nhau, phải có những loại hình tướng phản ánh các phẩm tính ấy. Mỗi phẩm tính và mỗi tổ hợp phẩm tính ấy, trong thể trí của bất kỳ Đấng sáng tạo lớn lao nào, sẽ có một chức năng riêng nào đó. |
|
The idea of segregation for development is important. Otherwise you have just some sort of mixture of types and the true quality may not have a chance to be built or to emerge, and therefore will fail in expressing its particular function within a whole. Nations are segregated by types, array types. Races are segregated that way as well. |
Ý tưởng về sự phân tách để phát triển là quan trọng. Nếu không, các bạn chỉ có một kiểu pha trộn các loại, và phẩm tính chân thật có thể không có cơ hội được xây dựng hay xuất hiện, và do đó sẽ thất bại trong việc biểu lộ chức năng riêng của nó trong một tổng thể. Các quốc gia được phân tách theo loại, theo loại cung. Các nhân loại cũng được phân tách theo cách ấy. |
|
There’s a lot of typing, qualification, or qualitization going on in creation. We have to find the reason behind this apparent segregation, leading later to the appropriate unity of interaction. |
Có rất nhiều việc phân loại, định phẩm hay làm cho mang phẩm tính đang diễn ra trong tạo hoá. Chúng ta phải tìm ra lý do phía sau sự phân tách bề ngoài này, điều về sau dẫn đến sự hợp nhất thích đáng của tương tác. |
|
[20] These three might be described as the quality of the cell forces operating entirely on the physical plane which produce a peculiar type of physical body, the magnetic attraction between two physical bodies, and the racial types. |
[20] Ba điều này có thể được mô tả là phẩm tính của các mãnh lực tế bào hoạt động hoàn toàn trên cõi hồng trần, tạo ra một loại thể xác đặc thù, sự hấp dẫn từ tính giữa hai thể xác, và các loại nhân loại. |
|
There are different qualities which distinguish the cells of one individual from another. As we get more into the micro study of the cell, this may emerge. The reason for it may emerge, but it’s probably all directed from higher levels, which at present are not being studied. |
Có những phẩm tính khác nhau phân biệt các tế bào của một cá nhân với các tế bào của một cá nhân khác. Khi chúng ta đi sâu hơn vào nghiên cứu vi mô về tế bào, điều này có thể hiện ra. Lý do của nó có thể hiện ra, nhưng có lẽ tất cả đều được chỉ đạo từ các cấp độ cao hơn, mà hiện nay chưa được nghiên cứu. |
|
These three might be described as the quality of the cell forces operating entirely on the physical plane, which produce a peculiar type of physical body in terms of its range of refinement. The magnetic attraction between two physical bodies, mostly unconscious, and the racial types, which do have to be properly differentiated. The word segregation has such a bad connotation now, but we’re talking about the differentiation for development of the various racial types, which is somewhat dealt with in the Secret Doctrine. |
Ba điều này có thể được mô tả là phẩm tính của các mãnh lực tế bào hoạt động hoàn toàn trên cõi hồng trần, tạo ra một loại thể xác đặc thù xét theo phạm vi tinh luyện của nó. Sự hấp dẫn từ tính giữa hai thể xác, phần lớn là vô thức, và các loại nhân loại, vốn thật sự phải được biến phân đúng mức. Từ phân tách hiện nay mang một hàm ý rất xấu, nhưng chúng ta đang nói về sự biến phân nhằm phát triển các loại nhân loại khác nhau, điều được đề cập phần nào trong Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
[21] These three factors guide the Manu of the race as He builds a new race and impresses the outer Builders with His ideas. |
[21] Ba yếu tố này dẫn dắt Đức Manu của nhân loại khi Ngài xây dựng một nhân loại mới và in khắc các ý tưởng của Ngài lên các Đấng Kiến Tạo bên ngoài. |
|
It’s interesting that the First Ray Lord is really responsible for building the concrete vehicle in which all of the principles, including the spiritual principles, are contained. A master takes this into consideration as well, apparently. |
Thật thú vị khi Đấng Chúa Tể Cung một thật sự chịu trách nhiệm xây dựng vận cụ cụ thể trong đó tất cả các nguyên khí, bao gồm cả các nguyên khí tinh thần, được chứa đựng. Một Chân sư dường như cũng xét đến điều này. |
|
[22] They also guide a Master of the Wisdom as He builds His physical body at will for the carrying forward of His work in any time or place. |
[22] Chúng cũng dẫn dắt một Chân sư Minh Triết khi Ngài xây dựng thể xác của Ngài theo ý chí để tiến hành công việc của Ngài ở bất cứ thời điểm hay nơi chốn nào. |
|
These three types of emanations guide building of the maya rupa. That’s interesting. |
Ba loại phát xạ này dẫn dắt việc xây dựng thể ảo lực. Điều đó thật thú vị. |
|
[23] These emanations should, in measure, be understood somewhat by all those engaged in forming organisations and groups for active service in the world. |
[23] Ở một mức độ nào đó, tất cả những ai tham gia vào việc hình thành các tổ chức và các nhóm để phụng sự tích cực trong thế gian nên thấu hiểu phần nào những phát xạ này. |
|
Are we throwing together, as D.K. has once said, those who do not suit each other at all? The second and fourth ray type have a really good idea of how this work may proceed; the seventh ray type too. But sometimes he seems to accuse the third ray type of a type of selection which is inappropriate. Of course, it can also later be very appropriate, but throwing together those who really don’t belong. Does He tell us about what makes a good host or hostess, knowing whom to seat near whom at the table. |
Có phải chúng ta đang gom chung với nhau, như Chân sư DK từng nói, những người hoàn toàn không phù hợp với nhau không? Người cung hai và cung bốn có một ý niệm rất tốt về cách công việc này có thể tiến hành; người cung bảy cũng vậy. Nhưng đôi khi Ngài dường như quy cho người cung ba một kiểu chọn lựa không thích đáng. Dĩ nhiên, về sau điều đó cũng có thể rất thích đáng, nhưng việc gom chung những người thật sự không thuộc về nhau thì không ổn. Ngài có cho chúng ta biết điều gì tạo nên một chủ nhà nam hay nữ tốt, biết nên sắp ai ngồi gần ai tại bàn không? |
|
[24] What, should the disciple ask himself, should be the vibratory quality of the cells of that body, of the individuals who compose it? |
[24] Người đệ tử nên tự hỏi: phẩm tính rung động của các tế bào trong thể ấy, tức của những cá nhân cấu thành nó, phải là gì? |
|
You cannot throw together the crude with the refined unless for particular distinct purposes. |
Các bạn không thể gom chung điều thô trược với điều tinh luyện, trừ khi vì những mục đích riêng biệt và rõ ràng. |
|
[25] What should be the quality of its attractive force, and of the magnetic effect it is to have in the world? |
[25] Phẩm tính của mãnh lực hấp dẫn của nó phải là gì, và hiệu quả từ tính mà nó sẽ có trong thế gian phải ra sao? |
|
This is the more astral component, but as it affects the cells. |
Đây là thành phần cảm dục hơn, nhưng xét như nó tác động đến các tế bào. |
|
[26] What does the group possess through the medium of its corporate units which will put it en rapport with other groups and so make it harmonious in its relations with them? |
[26] Nhờ trung gian các đơn vị hợp thành của mình, nhóm sở hữu điều gì sẽ đặt nó vào mối tương giao với các nhóm khác, và nhờ vậy làm cho nó hài hoà trong các quan hệ với họ? |
|
So many groups are separative. What of a group’s potentials for harmony with other groups? |
Rất nhiều nhóm có tính chia rẽ. Còn những tiềm năng hài hoà của một nhóm với các nhóm khác thì sao? |
|
[27] These questions warrant careful attention and should be considered by all group builders. |
[27] Những câu hỏi này đáng được chú ý cẩn thận và nên được mọi người kiến tạo nhóm xem xét. |
|
These are largely physical forces. Even the astral component—that’s the sort of qualitative area in our body or in our personality that has the attractive and repulsive factor operating strongly. But even on the strictly physical level, that does operate attraction and repulsion. |
Đây phần lớn là các mãnh lực hồng trần. Ngay cả thành phần cảm dục, tức vùng phẩm tính nào đó trong thể của chúng ta hay trong phàm ngã của chúng ta, nơi yếu tố hấp dẫn và đẩy lùi vận hành mạnh mẽ. Nhưng ngay cả trên cấp độ hồng trần thuần tuý, sự hấp dẫn và đẩy lùi ấy vẫn vận hành. |
|
Probably behind it all, it’s mathematical. One day we will know the exact frequencies that control the way these emanations work. What frequencies make a crude or a refined cell? What frequencies in combination attract or repel? What frequencies tell us that there is harmony to be achieved in a particular environment rather than dissonance? It’s all very micro in a certain way. |
Có lẽ phía sau tất cả, đó là toán học. Một ngày nào đó chúng ta sẽ biết những tần số chính xác kiểm soát cách các phát xạ này hoạt động. Những tần số nào tạo nên một tế bào thô trược hay tinh luyện? Những tần số nào trong sự kết hợp thì hấp dẫn hay đẩy lùi? Những tần số nào cho chúng ta biết rằng trong một môi trường đặc thù có sự hài hoà cần đạt được thay vì sự bất hoà? Tất cả đều rất vi mô theo một cách nào đó. |
|
For us, we simply have to be aware that such effects are in operation. These things are happening. Whether we know it or not—and mostly we don’t know it—we just know the result. |
Đối với chúng ta, đơn giản là phải nhận biết rằng những hiệu quả như vậy đang vận hành. Những điều này đang diễn ra. Dù chúng ta biết hay không, và phần lớn là chúng ta không biết, chúng ta chỉ biết kết quả. |
|
We’re talking about physical forces and their qualities and their relations to other physical forces and to the environment in general. All of that discussed below is re-emanations. The whole study of emanations was undertaken by Buddhist scholars and, I think, by the Gnostics. Without a study of emanation, a real understanding of universal process is not possible—at least an accurate understanding. I find the study of emanation to be indispensable. |
Chúng ta đang nói về các mãnh lực hồng trần, phẩm tính của chúng và quan hệ của chúng với các mãnh lực hồng trần khác cũng như với môi trường nói chung. Tất cả những điều được bàn dưới đây là các phát xạ lại. Toàn bộ việc nghiên cứu các phát xạ đã được các học giả Phật giáo và, tôi nghĩ, các nhà Ngộ đạo tiến hành. Không có một nghiên cứu về phát xạ, sự thấu hiểu thật sự về tiến trình vũ trụ là không thể có, ít nhất là một sự thấu hiểu chính xác. Tôi thấy việc nghiên cứu phát xạ là điều không thể thiếu. |
|
How does a candle light other candles and still remain itself? We might say that this is a symbol of the process: a going forth while remaining. A prodigal son goes forth, but another aspect of the monad remains at home. How is that possible? We attempt to divine how that may be the case. |
Làm thế nào một ngọn nến thắp sáng những ngọn nến khác mà vẫn còn là chính nó? Chúng ta có thể nói rằng đây là một biểu tượng của tiến trình: đi ra mà vẫn ở lại. Một người con hoang đàng đi ra, nhưng một phương diện khác của chân thần vẫn ở nhà. Làm sao điều đó có thể xảy ra? Chúng ta cố gắng trực nhận xem điều ấy có thể là như thế nào. |
|
[28] 2. Vital forces |
[28] 2. Các mãnh lực sinh lực |
|
Now we’re into the vital body. |
Chúng ta bước vào thể sinh lực. |
|
[29] These are often regarded by the materialists as intangible and therefore not material at all. |
[29] Những mãnh lực này thường được những người duy vật xem là không thể sờ chạm, và vì thế hoàn toàn không phải là vật chất. |
|
But remember, it’s all part of the physical systemic plane. Vital forces are in fact physical, at least to the occultist. |
Nhưng hãy nhớ rằng tất cả đều là một phần của cõi hồng trần hệ thống. Trên thực tế, các mãnh lực sinh lực là hồng trần, ít nhất đối với nhà huyền bí học. |
|
[30] But the occultist regards the etheric medium as a form or aspect of matter and as relatively tangible as the outer objective form. |
[30] Nhưng nhà huyền bí học xem môi trường dĩ thái là một hình tướng hay phương diện của vật chất, và tương đối hữu hình như hình tướng khách quan bên ngoài. |
|
Now we enter the subject of what we might call substantiality. Matter of a more refined kind can be substantial to matter of a more gross kind. Finally, there is only one substance in all of cosmos, and even when cosmos does not exist. |
Ở đây chúng ta bước vào chủ đề mà chúng ta có thể gọi là tính chất liệu. Vật chất thuộc loại tinh luyện hơn có thể có tính chất liệu đối với vật chất thuộc loại thô hơn. Sau cùng, chỉ có một chất liệu duy nhất trong toàn bộ vũ trụ, và ngay cả khi vũ trụ không hiện hữu. |
|
But the occultist regards the etheric medium as a form or aspect of matter and as relatively tangible as the outer objective form. |
Nhưng nhà huyền bí học xem môi trường dĩ thái là một hình tướng hay phương diện của vật chất, và tương đối hữu hình như hình tướng khách quan bên ngoài. |
|
[31] To him the ether of space, which term necessarily includes the etheric form of all bodies, the astral or emotional sentient body and the mental body, constituted of mind-stuff, are all of them material and are the substance of the form side of life. |
[31] Đối với y, dĩ thái của không gian, thuật ngữ này tất yếu bao gồm hình tướng dĩ thái của mọi thể, thể cảm dục hay thể cảm giác xúc cảm, và thể trí được cấu thành bằng chất liệu trí tuệ, tất cả đều là vật chất và là chất liệu của phía hình tướng của sự sống. |
|
This is so important. Let’s call this an enlargement of the meaning of the ethers of space. We’re talking about the waters of space, the ethers of space. We’ve been talking about that even before and we’ve recognized that this term ether is fairly inclusive and does not simply mean the refined part of the dense systemic plane. |
Điều này rất quan trọng. Chúng ta hãy gọi đây là sự mở rộng ý nghĩa của các dĩ thái của không gian. Chúng ta đang nói về các dòng nước của không gian, các dĩ thái của không gian. Chúng ta đã nói về điều đó từ trước và đã nhận ra rằng thuật ngữ dĩ thái này khá bao gồm, chứ không đơn giản có nghĩa là phần tinh luyện của cõi hệ thống đậm đặc. |
|
To him, the ether of space, which term necessarily includes the etheric form of all bodies, the astral or emotional sentient body, and the mental body constituted of mind stuff, are all of them material and are substance—the substance of the form side of life. |
Đối với y, dĩ thái của không gian, thuật ngữ này tất yếu bao gồm hình tướng dĩ thái của mọi thể, thể cảm dục hay thể cảm giác xúc cảm, và thể trí được cấu thành bằng chất liệu trí tuệ, tất cả đều là vật chất và là chất liệu, tức chất liệu của phía hình tướng của sự sống. |
|
All of these are substantial to the dense physical form. As we progress, astral matter is substantial to the physically etheric matter, the mental matter substantial to the astral, and the higher mental to the lower mental, and on it goes in this ladder of substantiality. That’s a term worth noting: a ladder of substantiality. |
Tất cả những điều này đều có tính chất liệu đối với hình tướng hồng trần đậm đặc. Khi chúng ta tiến bộ, vật chất cảm dục có tính chất liệu đối với vật chất dĩ thái hồng trần; vật chất trí tuệ có tính chất liệu đối với vật chất cảm dục; thượng trí đối với hạ trí, và cứ thế tiếp diễn trong chiếc thang tính chất liệu này. Đó là một thuật ngữ đáng ghi nhớ: chiếc thang tính chất liệu. |
|
[32] As the basis of correct understanding, it should be noted that the cell life to which we have above referred is coordinated, influenced and vitalised by the blood stream, that intricate system which interpenetrates every part of the body, is responsible for its welfare and demonstrates in a manner not yet truly comprehended the fact that the “blood is the life”. |
[32] Là nền tảng cho sự thấu hiểu đúng đắn, cần lưu ý rằng sự sống tế bào mà chúng ta đã nói đến ở trên được phối hợp, chịu ảnh hưởng và được tiếp sinh lực bởi dòng máu, hệ thống phức tạp thấm nhập mọi phần của thể xác, chịu trách nhiệm cho sự an lành của nó, và biểu lộ theo một cách chưa thật sự được thấu hiểu sự kiện rằng “máu là sự sống”. |
|
This is enlarged upon in Esoteric Healing. There are essences involved here. The heart is involved, a certain essence being carried. |
Điều này được mở rộng trong Trị Liệu Huyền Môn. Có những tinh chất liên quan ở đây. Trái tim có liên quan, một tinh chất nào đó được chuyên chở. |
|
[33] The blood is an aspect of energy, as is the sap in the vegetable kingdom. |
[33] Máu là một phương diện của năng lượng, cũng như nhựa cây trong giới thực vật. |
|
Here we have an important analogy. All of the cell life and emanations to which we have referred is coordinated, influenced, and vitalized by the bloodstream. I try to adapt a kind of Law of Fixation—to fix these statements in my mind so that they will be there when they need to be more deeply understood and correlated with others of his statements—until under the influence of pure reason we begin to see the whole picture. |
Ở đây chúng ta có một tương đồng quan trọng. Toàn bộ sự sống tế bào và các phát xạ mà chúng ta đã nói đến được phối hợp, chịu ảnh hưởng và được tiếp sinh lực bởi dòng máu. Tôi cố gắng áp dụng một loại Định luật Cố Định, để cố định những phát biểu này trong thể trí tôi, sao cho chúng sẽ ở đó khi cần được thấu hiểu sâu hơn và tương quan với những phát biểu khác của Ngài, cho đến khi, dưới ảnh hưởng của lý trí thuần tuý, chúng ta bắt đầu thấy toàn bộ bức tranh. |
|
Of course, in a way, the bloodstream is underlayed by the system of Nadis. There have to be very intricate systems in all of the substantive vehicles. Here we’re looking at a little gesture towards the future of medicine. In Esoteric Healing, we certainly have that strongly developed. But of course, it was written quite a few years after this. |
Dĩ nhiên, theo một cách nào đó, dòng máu được đặt nền bởi hệ thống các nadis. Phải có những hệ thống rất phức tạp trong tất cả các vận cụ chất liệu. Ở đây chúng ta đang thấy một cử chỉ nhỏ hướng về y học tương lai. Trong Trị Liệu Huyền Môn, chắc chắn chúng ta có điều đó được phát triển mạnh mẽ. Nhưng dĩ nhiên, quyển sách ấy được viết khá nhiều năm sau quyển này. |
|
[34] The sympathetic nervous system, that marvellous apparatus of sensation, is closely related to the emotional or astral body. The contact is made via the solar plexus, just as the vitality, governing the quality of the blood stream, makes its contact via the heart. In the heart is the centre of physical plane existence. |
[34] Hệ thần kinh giao cảm, bộ máy cảm giác kỳ diệu ấy, liên hệ mật thiết với thể xúc cảm hay thể cảm dục. Sự tiếp xúc được thực hiện qua tùng thái dương, cũng như sinh lực, vốn chi phối phẩm tính của dòng máu, tạo sự tiếp xúc của nó qua tim. Trong tim là trung tâm của sự hiện hữu trên cõi hồng trần. |
|
That’s an amazing statement, very simply put. Without it, there would be no physical plane existence. It’s the vitalizing center of physical plane existence. Without that heartbeat, the inner vehicles, the inner aspects, will ascend and remove themselves from the voluntary confinement that they have undertaken in the external form. |
Đó là một phát biểu đáng kinh ngạc, được nêu rất đơn giản. Không có nó, sẽ không có sự hiện hữu trên cõi hồng trần. Nó là trung tâm tiếp sinh lực của sự hiện hữu trên cõi hồng trần. Không có nhịp đập của tim ấy, các vận cụ bên trong, các phương diện bên trong, sẽ thăng lên và rút khỏi sự giam hãm tự nguyện mà chúng đã đảm nhận trong hình tướng bên ngoài. |
|
[35] The cerebrospinal system works in close relation to the chitta or mind stuff. |
[35] Hệ não tuỷ hoạt động trong liên hệ mật thiết với chitta hay chất liệu trí tuệ. |
|
1. Cell life |
Blood stream |
Heart centre |
Thymus gland |
|
1. Sự sống tế bào |
Dòng máu |
Trung tâm tim |
Tuyến ức |
|
2. Sensory life |
Sympathetic nervous system |
Solar plexus centre |
Pancreas |
|
2. Sự sống cảm giác |
Hệ thần kinh giao cảm |
Trung tâm tùng thái dương |
Tuyến tụy |
|
3. Mental life |
Cerebro-spinal system |
Ajna centre |
Pituitary body |
|
3. Sự sống trí tuệ |
Hệ thần kinh não-tủy |
Trung tâm ajna |
Tuyến yên |
|
4. Vital life |
Seven centres |
Spleen |
|
|
4. Sự sống sinh lực |
Bảy trung tâm |
Lá lách |
|
Here we have a good tabulation of the different systems and the glands or centers associated with them. Regarding the cell life, the bloodstream is the center of its existence. The heart center is the animator of the heart, of course. The gland associated is the thymus gland—interestingly, more highly developed in children than in adults unless the adult has undertaken spiritual training. |
Ở đây chúng ta có một bảng liệt kê tốt về các hệ thống khác nhau và các tuyến hay trung tâm liên hệ với chúng. Về sự sống tế bào, dòng máu là trung tâm hiện hữu của nó. Trung tâm tim dĩ nhiên là yếu tố làm sống động trái tim. Tuyến liên hệ là tuyến ức; điều thú vị là tuyến này phát triển cao hơn ở trẻ em so với người lớn, trừ khi người lớn đã trải qua sự huấn luyện tinh thần. |
|
Regarding sensory life, we have the sympathetic nervous system. He’s differentiating these, of course, the sympathetic from the cerebrospinal system. The sensory life is governed by the sympathetic nervous system. The chakra involved is the solar plexus and the gland is the pancreas. When there are diseases of the various glands, such as pancreatic cancer—quite a deadly and rapidly moving disease—one has to wonder what is malfunctioning here with regard to the sympathetic nervous system and the solar plexus center. |
Về đời sống cảm giác, chúng ta có hệ thần kinh giao cảm. Dĩ nhiên, Ngài đang phân biệt hệ giao cảm với hệ não tuỷ. Đời sống cảm giác được chi phối bởi hệ thần kinh giao cảm. Luân xa liên quan là tùng thái dương và tuyến là tuyến tụy. Khi có các bệnh của những tuyến khác nhau, chẳng hạn như ung thư tuyến tụy, một bệnh khá chết người và tiến triển nhanh, người ta phải tự hỏi điều gì đang trục trặc ở đây liên quan đến hệ thần kinh giao cảm và trung tâm tùng thái dương. |
|
As for the mental life, [I wish I could do something here which will make them a little smaller]. The cerebrospinal system includes the will and volition. It’s interesting that the ajna center should be the controlling factor, not just the creative throat center, but the directing ajna center. The pituitary body is involved. |
Đối với đời sống trí tuệ, [tôi ước tôi có thể làm điều gì đó ở đây để khiến chúng nhỏ hơn một chút]. Hệ não tuỷ bao gồm ý chí và ý muốn. Thật thú vị khi trung tâm ajna lại là yếu tố kiểm soát, không chỉ là trung tâm cổ họng sáng tạo, mà là trung tâm ajna chỉ đạo. Tuyến yên có liên quan. |
|
As regards the vital life as a whole, it’s all seven centers and the spleen. The splenic center and the spleen are related, though I’m not entirely sure about the way the text is copied. |
Về đời sống sinh lực như một tổng thể, đó là toàn bộ bảy trung tâm và lá lách. Trung tâm lá lách và lá lách có liên hệ với nhau, dù tôi không hoàn toàn chắc về cách bản văn được chép lại. |
|
The important systems in the personality of man are the cell life (the physical body), the astral sensitive body, and the mental vehicle. Within the physical body, there are different factors which are related to these, and different centers which are related to these factors. |
Các hệ thống quan trọng trong phàm ngã của con người là sự sống tế bào, tức thể xác; thể cảm dục nhạy cảm; và vận cụ trí tuệ. Trong thể xác, có những yếu tố khác nhau liên hệ với các điều này, và những trung tâm khác nhau liên hệ với các yếu tố ấy. |
|
[36] This, as you see, governs the manifestations of the quaternary, but there are other aspects of humanity which manifest through the objective form and which complete the entire man and make the seven of his manifold objective existence. |
[36] Như các bạn thấy, điều này chi phối các biểu hiện của bộ tứ, nhưng còn có những phương diện khác của nhân loại biểu hiện qua hình tướng khách quan, hoàn tất toàn thể con người và tạo nên số bảy trong sự hiện hữu khách quan đa diện của y. |
|
We have to remember that because we are in the fourth round, forms tend to appear in groups of four. But now we’re going to deal with higher aspects of the man. Let’s look here and try to become aware of these different systems, how they work, what they rule, and what are their associations. |
Chúng ta phải nhớ rằng vì chúng ta đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ tư, các hình tướng có khuynh hướng xuất hiện theo các nhóm bốn. Nhưng bây giờ chúng ta sẽ đề cập đến các phương diện cao hơn của con người. Chúng ta hãy nhìn vào đây và cố gắng nhận biết các hệ thống khác nhau này, cách chúng hoạt động, chúng cai quản điều gì và các liên hệ của chúng là gì. |
|
We deal with self-consciousness, involving the upper brain and the head center, with the pineal gland involved. This is soul consciousness, and the beginning of soul consciousness has to do simply with being self-aware. |
Chúng ta đề cập đến ngã thức, liên quan đến não trên và trung tâm đầu, với tuyến tùng có liên quan. Đây là tâm thức linh hồn, và sự khởi đầu của tâm thức linh hồn chỉ đơn giản liên quan đến việc có ý thức về chính mình. |
|
Then there’s self-expression, having to do with the lower brain. The throat center is involved and the gland is the thyroid gland. We are familiar with this. |
Rồi có sự tự biểu hiện, liên quan đến não dưới. Trung tâm cổ họng có liên quan và tuyến là tuyến giáp. Chúng ta quen thuộc với điều này. |
|
Number seven is self-perpetuation, involving the sex organs. Every form somehow seeks to perpetuate itself; it seems to be built in. The sacral center is involved in the reproductive organs. |
Số bảy là sự tự duy trì nòi giống, liên quan đến các cơ quan sinh dục. Mọi hình tướng bằng cách nào đó tìm cách duy trì chính mình; điều đó dường như được cài sẵn. Trung tâm xương cùng có liên quan đến các cơ quan sinh sản. |
|
Then there’s the will factor, called self-assertion here, involving the entire man. The semi-latent center at the base of the spine is involved. It does keep us in incarnation, of course, but its true development does not come later. The assertion of the will can go through many stages, including the assertion of a higher type of will. The adrenal glands atop the kidneys are involved as representatives in the glandular world of the center at the base of the spine, which is interesting—a little higher in a way than the sacral center. There’s a reversal: the organs representing the sacral center are below that center, while the organs representing the center at the base of the spine are above that center. This crossing must be significant. |
Rồi có yếu tố ý chí, ở đây được gọi là sự tự khẳng định, liên quan đến toàn thể con người. Trung tâm bán tiềm tàng ở đáy cột sống có liên quan. Dĩ nhiên, nó giữ chúng ta trong lâm phàm, nhưng sự phát triển thật sự của nó không đến ngay lúc này. Sự khẳng định của ý chí có thể trải qua nhiều giai đoạn, bao gồm cả sự khẳng định của một loại ý chí cao hơn. Các tuyến thượng thận nằm trên thận có liên quan như những đại diện trong thế giới tuyến của trung tâm ở đáy cột sống, điều này thật thú vị, theo một cách nào đó hơi cao hơn trung tâm xương cùng. Có một sự đảo ngược: các cơ quan đại diện cho trung tâm xương cùng nằm bên dưới trung tâm ấy, trong khi các cơ quan đại diện cho trung tâm ở đáy cột sống lại nằm bên trên trung tâm ấy. Sự giao chéo này hẳn phải có ý nghĩa. |
|
5. Self-conscious |
upper brain |
Head centre |
Pineal gland |
|
5. Tự ý thức |
Não trên |
Trung tâm đầu |
Tuyến tùng |
|
6. Self-expression |
lower brain |
Throat centre |
Thyroid |
|
6. Tự biểu hiện |
Não dưới |
Trung tâm cổ họng |
Tuyến giáp |
|
7. Self-perpetuation |
sex organs |
Sacral centre |
Reproductive organs |
|
7. Tự duy trì nòi giống |
Cơ quan sinh dục |
Trung tâm xương cùng |
Cơ quan sinh sản |
|
8. Self-assertion |
entire man |
Centre at base of spine |
Adrenals |
|
8. Tự khẳng định |
Toàn bộ con người |
Trung tâm ở đáy cột sống |
Tuyến thượng thận |
|
[37] You will notice that eight factors are here enumerated, and it is here that many of the schools go astray. The heading ‘vital life’ is a comprehensive one, but it must be remembered that it relates entirely to the physical vitalisation of man through the lowest aspect of the centres. |
[37] Các bạn sẽ nhận thấy rằng ở đây có tám yếu tố được liệt kê, và chính tại đây nhiều trường phái đi lạc hướng. Đề mục ‘đời sống sinh lực’ là một đề mục bao quát, nhưng cần nhớ rằng nó hoàn toàn liên quan đến việc tiếp sinh lực hồng trần cho con người qua phương diện thấp nhất của các trung tâm. |
|
The chakras, like all worlds, have lower and higher aspects. It’s the lowest aspect of the centers that are responsible here for the physical vitalization. All centers are at least threefold, and one moves toward the jewel. The plant structures in nature show a similar threefoldness—the stalk, the support, the petals, and the seeds. |
Các luân xa, giống như mọi thế giới, có các phương diện thấp hơn và cao hơn. Chính phương diện thấp nhất của các trung tâm chịu trách nhiệm ở đây về sự tiếp sinh lực hồng trần. Tất cả các trung tâm ít nhất đều tam phân, và người ta tiến về viên ngọc. Các cấu trúc thực vật trong tự nhiên cho thấy một tính tam phân tương tự: thân cây, phần nâng đỡ, các cánh hoa và các hạt giống. |
|
[38] This vital life of the universe of matter enters into the human organism through the spleen. |
[38] Đời sống sinh lực này của vũ trụ vật chất đi vào cơ thể con người qua lá lách. |
|
This is more solar prana than planetary prana, which is involved with the pores. There’s a difference in how they are processed. |
Đây là prana thái dương hơn là prana hành tinh, vốn liên quan đến các lỗ chân lông. Có sự khác biệt trong cách chúng được xử lý. |
|
We’ve had some very technical information here—the assignment of the different factors within the body to different functions and psychological states, in correlation with different chakras: the cell life, the sensory life, the mental life, the vital life as a whole. It’s interesting that it should be considered the fourth, in a way. It keeps everything going. |
Chúng ta đã có một số thông tin rất kỹ thuật ở đây: việc quy định các yếu tố khác nhau trong thể xác cho những chức năng và trạng thái tâm lý khác nhau, trong tương quan với các luân xa khác nhau: sự sống tế bào, đời sống cảm giác, đời sống trí tuệ, đời sống sinh lực như một tổng thể. Thật thú vị khi nó được xem là yếu tố thứ tư, theo một cách nào đó. Nó giữ cho mọi sự tiếp diễn. |
|
Then we seem to go into more psychological factors related to consciousness and its expression—self-consciousness or consciousness self-expression. Then self-perpetuation, which seems a lesser function, not so much a conscious function but a very instinctual function. And self-assertion, which becomes more and more willful and less and less instinctual. We can see here the different glands that are involved. |
Rồi dường như chúng ta đi vào những yếu tố tâm lý hơn, liên quan đến tâm thức và sự biểu hiện của nó: ngã thức hay sự tự biểu hiện của tâm thức. Rồi sự tự duy trì nòi giống, dường như là một chức năng thấp hơn, không hẳn là một chức năng có ý thức mà là một chức năng rất bản năng. Và sự tự khẳng định, trở nên ngày càng có ý chí hơn và ngày càng ít bản năng hơn. Chúng ta có thể thấy ở đây các tuyến khác nhau có liên quan. |
|
This requires a lot of study, clearly. But at least the tabulation is here, and to it we can refer. |
Điều này rõ ràng đòi hỏi rất nhiều nghiên cứu. Nhưng ít nhất bảng liệt kê đã có ở đây, và chúng ta có thể tham chiếu đến nó. |
|
The vital life of the universe of matter enters into the human organism through the spleen, and the splenic center is involved with its six petals. |
Sự sống sinh lực của vũ trụ vật chất đi vào cơ thể con người qua lá lách, và luân xa lá lách có liên hệ với sáu cánh hoa của nó. |
|
[39] The centres have three main functions: — |
[39] Các trung tâm có ba chức năng chính: — |
|
[40] First, to vitalise the physical body. |
[40] Thứ nhất, tiếp sinh lực cho thể xác. |
|
The lowest aspect of the centers. |
Phương diện thấp nhất của các trung tâm. |
|
[41] Second, to bring about the development of self-consciousness in man. |
[41] Thứ hai, đem lại sự phát triển ngã thức nơi con người. |
|
which correlates to the petals of the centers. And |
điều này tương ứng với các cánh hoa của các trung tâm. |
|
[42] Third, to transmit spiritual energy and sweep the entire man into a state of spiritual being. |
[42] Thứ ba, truyền dẫn năng lượng tinh thần và cuốn toàn thể con người vào một trạng thái hiện tồn tinh thần. |
|
All the centers coordinate with each other, and all the jewels—what we call them, jewels—align and coordinate. Every center has its jewel, its will-related aspect at the very center of the center. This tells us also about the three phases of development through which all of us pass. |
Tất cả các trung tâm phối hợp với nhau, và tất cả các bảo châu—chúng ta gọi chúng là bảo châu—chỉnh hợp và phối hợp. Mỗi trung tâm đều có bảo châu của nó, phương diện liên quan đến ý chí nằm ngay tại chính giữa trung tâm. Điều này cũng cho chúng ta biết về ba giai đoạn phát triển mà tất cả chúng ta đều trải qua. |
|
We will pass through a strictly physical personal stage. We will pass through a stage in which the enhancement of consciousness is the major factor. And then finally a stage in which we understand the nature of will and how it relates to being. Being is distinct from either will, love, consciousness, or the outer type of expression in intelligence. If one were loaded with the fifth ray, it would be very helpful, wouldn’t it? |
Chúng ta sẽ trải qua một giai đoạn phàm ngã thuần túy hồng trần. Chúng ta sẽ trải qua một giai đoạn trong đó sự tăng trưởng tâm thức là yếu tố chính. Và cuối cùng là một giai đoạn trong đó chúng ta thấu hiểu bản chất của ý chí và cách nó liên hệ với bản thể. Bản thể khác với ý chí, tình thương, tâm thức, hay kiểu biểu hiện bên ngoài trong trí tuệ. Nếu một người mang nặng cung năm, điều đó sẽ rất hữu ích, phải không? |
|
[43] The vitality aspect is shared by man with the animals and with all created forms, |
[43] Phương diện sinh lực được con người chia sẻ với giới động vật và với mọi hình tướng được tạo ra, |
|
And even forms of the mineral kingdom, it seems. |
Và dường như cả với các hình tướng của giới kim thạch nữa. |
|
[44] and his capacity to move freely in a three dimensional world is the outstanding achievement of that aspect. |
[44] và khả năng của con người trong việc di chuyển tự do trong một thế giới ba chiều là thành tựu nổi bật của phương diện ấy. |
|
This movement is related to the third ray, which as we learn—I think it’s page 507 or 506 of Rays and Initiations—moves from here to there. |
Sự chuyển động này liên hệ với cung ba, vốn, như chúng ta học biết—tôi nghĩ ở trang 507 hoặc 506 của Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo—di chuyển từ nơi này sang nơi kia. |
|
[45] The self-consciousness aspect is the prerogative of the human family. |
[45] Phương diện ngã thức là đặc quyền của gia đình nhân loại. |
|
Not of the lower kingdoms. |
Không phải của các giới thấp. |
|
[46] When man has evolved, when all parts of his nervous system, his endocrine system, and his centres are coordinated and working in harmonious rhythm then the highest aspect (the spiritual) makes its presence felt. |
[46] Khi con người đã tiến hoá, khi mọi phần trong hệ thần kinh, hệ nội tiết và các trung tâm của y được phối hợp và hoạt động trong nhịp điệu hài hòa, thì phương diện cao nhất, tức phương diện tinh thần, làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. |
|
This is what we’re working on now, isn’t it? This is the focus for students of spirituality. |
Đây là điều chúng ta đang nỗ lực thực hiện hiện nay, phải không? Đây là trọng tâm đối với các đạo sinh của đời sống tinh thần. |
|
[47] The spiritual energy and not just the consciousness or sentient energy pours through Man, the instrument of divine Life, and the custodian of forces, to be held and used for the other and lower kingdoms in nature. |
[47] Năng lượng tinh thần, chứ không chỉ tâm thức hay năng lượng cảm tri, tuôn đổ qua Con Người, công cụ của Sự Sống thiêng liêng và người gìn giữ các mãnh lực, để được nắm giữ và sử dụng cho các giới khác và thấp hơn trong tự nhiên. |
|
This is the true function of the human kingdom. We must become master of all these apparatus with which we are endowed. Not yet are we the knowing masters of all of these systems within us, which when correlated make us a true arhat or, eventually, Master of the Wisdom. |
Đây là chức năng đích thực của giới nhân loại. Chúng ta phải trở thành chủ nhân của tất cả những bộ máy này mà chúng ta được ban cho. Hiện nay chúng ta vẫn chưa là những bậc chủ nhân hiểu biết đối với tất cả các hệ thống ấy trong chính mình; khi chúng được tương liên, chúng làm cho chúng ta trở thành một vị A-la-hán đích thực, hoặc cuối cùng là một Chân sư Minh triết. |
|
Some very factual fifth ray kind of material is needed as we attempt to really understand our place and our function. The above enumeration might therefore be arranged in the following order. The table gives man as he is intended to be and not as he is now, in the course of evolutionary progress. |
Một loại tài liệu rất xác thực theo cung năm là cần thiết khi chúng ta cố gắng thật sự thấu hiểu vị trí và chức năng của mình. Vì vậy, bản liệt kê trên có thể được sắp xếp theo thứ tự sau đây. Bảng này trình bày con người như y được dự định sẽ trở thành, chứ không phải như y hiện nay, trong tiến trình thăng thượng tiến hoá. |
|
As we were going through it, we realised that there was a kind of arrangement of factors which was not exactly sequential. Sometimes the high seemed lower than the low and so forth. But now he’s going to correct that in our minds and we will be able to understand the sequence, which will certainly help. Even if we’re not surgeons or physicians who deal as specialists with these factors, we have to understand their particular, or at least their general function within our system and get our system properly trained, properly refined, properly correlated, properly made into a wholeness. Most of us are quite disintegrated when it comes to that at the present time. |
Khi đi qua phần ấy, chúng ta nhận ra rằng có một cách sắp xếp các yếu tố không hoàn toàn theo trình tự. Đôi khi cái cao dường như thấp hơn cái thấp, vân vân. Nhưng giờ đây Chân sư sẽ chỉnh lại điều đó trong trí chúng ta, và chúng ta sẽ có thể thấu hiểu trình tự, điều chắc chắn sẽ giúp ích. Dù chúng ta không phải là bác sĩ phẫu thuật hay thầy thuốc chuyên xử lý các yếu tố này, chúng ta vẫn phải thấu hiểu chức năng riêng biệt, hoặc ít nhất là chức năng tổng quát của chúng trong hệ thống của mình, và khiến hệ thống ấy được rèn luyện đúng đắn, được tinh luyện đúng đắn, được tương liên đúng đắn, được đưa vào một chỉnh thể đúng đắn. Hiện nay, phần lớn chúng ta còn khá rời rạc xét theo phương diện đó. |
|
I see that I’m closing in on the one hour mark. I wish I could make it exact, but things come up and my equipment sometimes plays tricks on me. I think I’m also working during a Mercury retrograde period here. |
Tôi thấy mình đang tiến gần đến mốc một giờ. Tôi ước gì có thể làm cho thật chính xác, nhưng nhiều việc phát sinh và đôi khi thiết bị của tôi lại gây trục trặc. Tôi nghĩ mình cũng đang làm việc trong một giai đoạn Sao Thủy nghịch hành ở đây. |
|
This is the end of a treatise on white magic, commentary number 19, rules for white magic. This is 10.3, the third program. We’ve gotten as far as page 285—just four pages done, really 281 to 285. This is the 11th of August. I’ve been a little under the weather here, but hopefully it’s all clearing up now. |
Đây là phần kết của Luận về Chánh Thuật, bình giảng số 19, các quy luật cho chánh thuật. Đây là 10.3, chương trình thứ ba. Chúng ta đã đi đến trang 285—thật ra chỉ hoàn tất bốn trang, từ 281 đến 285. Hôm nay là ngày 11 tháng Tám. Tôi hơi không khỏe, nhưng hy vọng giờ đây mọi việc đang sáng sủa hơn. |
|
My hope is that I can move to rule 20, rules for magic. This will be 10.4 and this will be page 285. We’ll get together on these matters shortly and try to use our fifth ray, whatever we have of it, to pinpoint the particular factors with which we are dealing, their structure, their function, their relations with other such factors and their general place within the whole. |
Tôi hy vọng có thể chuyển sang quy luật 20, các quy luật cho huyền thuật. Đây sẽ là 10.4 và sẽ bắt đầu ở trang 285. Chúng ta sẽ sớm cùng nhau bàn về những vấn đề này và cố gắng sử dụng cung năm của mình, bất cứ phần nào chúng ta có, để xác định chính xác các yếu tố cụ thể mà chúng ta đang đề cập đến, cấu trúc, chức năng, các mối quan hệ của chúng với những yếu tố tương tự khác, và vị trí tổng quát của chúng trong toàn thể. |
|
Onward we move, friends. I feel such a compulsion to continue with this, no matter what our friend Saturn throws in my direction. I’d like, if I could, to be able to make commentaries on many of the books of the Tibetan. Of course, he’s said it a hundred times better, but there may be ways in which I can help us correlate what he said with other things he has said. And thereby, through that correlation, new light may flash forth. See you later now. |
Chúng ta tiếp tục tiến bước, các bạn. Tôi cảm thấy một sự thôi thúc mạnh mẽ phải tiếp tục công việc này, bất kể người bạn Thổ Tinh của chúng ta ném điều gì về phía tôi. Nếu có thể, tôi muốn thực hiện các bình giảng về nhiều sách của Chân sư Tây Tạng. Dĩ nhiên, Ngài đã nói điều đó hay hơn gấp trăm lần, nhưng có thể có những cách để tôi giúp chúng ta tương liên điều Ngài đã nói với những điều khác Ngài đã nói. Và nhờ sự tương liên ấy, ánh sáng mới có thể bừng lóe. Hẹn gặp lại các bạn. |