Program 18 – Rule 10.2 (Pages 275-281)
Abstract 18
|
Content for ATOWM Series II, Rules for Magic for the Astral Plane, Video Commentary, Program Eighteen, 10.2 continuing Rule X, 2:08 hrs; pages 275-281. |
Nội dung cho Loạt bài ATOWM II, Các Quy luật Huyền thuật cho Cõi Cảm dục, Video Bình luận, Chương trình Mười tám, 10.2 tiếp tục Quy luật X, 2:08 giờ; trang 275-281. |
Text
|
[18_1] Bringing the analogy down closer still, the human kingdom itself is an analogous state of consciousness to the human unit through its subjective force existence, and from the standpoint of consciousness provides “the waters of space” in which a human being thrives and grows. [18_2] Again, we are met in the fourth kingdom with expressions of the same seven forces, and as man awakens to a recognition of the seven rays or types, and begins to work consciously with them, he is taking the first step towards transcending them and controlling them [276] within his field of operation. This is now taking place. [18_3] Knowledge of the seven ray types is beginning to permeate among the thinkers of the race and this knowledge was in past aeons the prerogative of the initiates of the time. Held latent in the astrological presentation is that information which will lead disciples to realization, and which will put them en rapport with the seven planetary schemes. Real developments in astrology may not be looked for, however, until the New Age is really with us and the new orientation achieved. |
Đưa sự tương đồng xuống gần hơn nữa, chính giới nhân loại là một trạng thái tâm thức tương tự đối với đơn vị con người qua sự hiện hữu mãnh lực chủ quan của nó, và theo quan điểm tâm thức, cung cấp “nước của không gian” trong đó một con người sinh trưởng và lớn lên. Một lần nữa, trong giới thứ tư, chúng ta gặp các biểu hiện của cùng bảy mãnh lực; và khi con người thức tỉnh để nhận biết bảy cung hay bảy loại, và bắt đầu làm việc một cách có ý thức với chúng, y đang thực hiện bước đầu tiên để vượt lên trên chúng và kiểm soát chúng [276] trong phạm vi hoạt động của mình. Điều này hiện đang diễn ra. Tri thức về bảy loại cung đang bắt đầu thấm vào những người tư tưởng của nhân loại, và tri thức này trong các thời đại đã qua là đặc quyền của các điểm đạo đồ thời ấy. Được giữ tiềm tàng trong sự trình bày chiêm tinh là thông tin sẽ dẫn các đệ tử đến sự chứng nghiệm và đặt họ vào mối liên hệ hòa hợp với bảy hệ hành tinh. Tuy nhiên, không thể mong đợi những phát triển thực sự trong chiêm tinh học cho đến khi Kỷ Nguyên Mới thật sự ở cùng chúng ta và sự định hướng mới đã đạt được. |
|
[18_4] The form of humanity is completed. Its right placement within the womb of matter is the objective of the Hierarchy, with all the consequent implications. Note these words. [18_5] The need at this time is terrific, and the soul is at the birthing in humanity as a whole. Cosmically speaking, if right direction of the forces of the human kingdom is now achieved, there will be manifested on the earth a humanity which will manifest a purpose, a beauty and a form which will be full expressions of an inner spiritual reality and in line with egoic purpose. [18_6] Other eventualities can be sensed as sadly possible but these we will not consider for it is the hope and the belief of the watching Brothers that men will transcend all undesirable eventualities and make the goal. [18_7] One word here, and one hint. The Hierarchy of the planet constitutes symbolically the head centre of humanity and their forces constitute the brain forces. [18_8] On the physical plane are a large band of aspirants, probationary disciples and accepted disciples who are seeking to be responsive to the “head centre”, some consciously, others unconsciously. They are gathered from all fields of expression but are all creative in some way or other. They in their turn constitute what might be symbolically called the “pineal gland” of humanity. [18_9] As in individual man this is usually dormant and asleep, so, in humanity, this group of cells within the brain of the body corporate is dormant, [277] but thrilling to the vibrations of the head centre—the occult Hierarchy. Some of the cells are awake. Let them intensify their endeavour and so awaken others. [18_10] The pioneers of the human family, the scientists, thinkers and artists constitute the pituitary body. They express the concrete mind but lack that intuitive perception and idealism which would place them (symbolically speaking) in the pineal gland; they are nevertheless brilliant, expressive and investigating. [18_11] The objective of the Hierarchy (again symbolically speaking) is to make the pineal gland so potent and, therefore, so attractive that the pituitary body of cell lives may be stimulated and thus a close interplay be brought about. [18_12] This will lead to such potent action that there will be a streaming forth of new cells to the pineal gland and at the same time such a strong reaction set up that the entire body will be affected, resulting in the streaming upward of many stimulated lives to take the places of those who are finding their way into the centre of hierarchical endeavour. |
Hình tướng của nhân loại đã hoàn tất. Việc đặt nó đúng vị trí trong lòng mẹ của vật chất là mục tiêu của Thánh Đoàn, cùng với mọi hàm ý theo sau. Hãy ghi nhận những lời này. Nhu cầu vào lúc này thật khủng khiếp, và linh hồn đang đi đến cuộc sinh nở trong toàn thể nhân loại. Nói theo vũ trụ, nếu hiện nay đạt được sự định hướng đúng đắn các mãnh lực của giới nhân loại, thì trên Trái Đất sẽ biểu hiện một nhân loại biểu lộ một mục đích, một vẻ đẹp và một hình tướng vốn là những biểu hiện trọn vẹn của một thực tại tinh thần bên trong và phù hợp với mục đích chân ngã. Có thể cảm nhận những khả năng khác như những điều đáng buồn có thể xảy ra, nhưng chúng ta sẽ không xét đến chúng, vì niềm hy vọng và niềm tin của các Huynh Đệ đang quan sát là con người sẽ vượt lên trên mọi khả năng bất hảo và đạt được mục tiêu. Ở đây có một lời, và một gợi ý. Thánh Đoàn của hành tinh, về mặt biểu tượng, cấu thành trung tâm đầu của nhân loại, và các mãnh lực của các Ngài cấu thành các mãnh lực của bộ não. Trên cõi hồng trần có một đoàn đông đảo gồm những người chí nguyện, các đệ tử dự bị và các đệ tử được chấp nhận, đang tìm cách đáp ứng với “trung tâm đầu”, một số có ý thức, số khác vô thức. Họ được quy tụ từ mọi lĩnh vực biểu hiện, nhưng tất cả đều sáng tạo theo cách này hay cách khác. Đến lượt họ, họ cấu thành điều có thể gọi một cách biểu tượng là “tuyến tùng” của nhân loại. Như nơi con người cá biệt, tuyến này thường bất động và ngủ yên, thì trong nhân loại, nhóm tế bào này bên trong bộ não của cơ thể tập thể cũng bất động, [277] nhưng đang rung cảm trước các rung động của trung tâm đầu — Thánh Đoàn huyền bí. Một số tế bào đã thức tỉnh. Hãy để họ tăng cường nỗ lực của mình và nhờ vậy đánh thức những người khác. Những người tiên phong của gia đình nhân loại, các nhà khoa học, nhà tư tưởng và nghệ sĩ, cấu thành tuyến yên. Họ biểu lộ trí cụ thể nhưng thiếu sự tri nhận trực giác và chủ nghĩa lý tưởng vốn sẽ đặt họ, nói theo biểu tượng, vào tuyến tùng; tuy nhiên họ vẫn rực sáng, giàu khả năng biểu hiện và đầy tinh thần khảo sát. Mục tiêu của Thánh Đoàn, lại nói theo biểu tượng, là làm cho tuyến tùng trở nên mạnh mẽ đến mức, do đó, có sức hấp dẫn đến mức, tuyến yên của các sự sống tế bào có thể được kích thích và nhờ vậy tạo nên một sự tương tác mật thiết. Điều này sẽ dẫn đến một hoạt động mạnh mẽ đến nỗi sẽ có một dòng các tế bào mới tuôn chảy đến tuyến tùng, đồng thời tạo nên một phản ứng mạnh đến mức toàn thể cơ thể sẽ chịu ảnh hưởng, đưa đến sự tuôn chảy hướng thượng của nhiều sự sống được kích thích để thay thế những sự sống đang tìm đường đi vào trung tâm của nỗ lực Thánh Đoàn. |
|
[18_13] The “waters of space”, in which this re-orientation and reversal of tendencies is progressing, are in a state of violent turmoil. The vortex of conflicting desire in which men find themselves is now chaotic and so potent that these waters are stirred to the very depths. [18_14] Students of modern history and of social order are faced with an unprecedented condition, corresponding in the corporate body of humanity to that upheaval in the life of an individual aspirant which always precedes the passing onto the Path of Discipleship. [18_15] Hence there is no cause for depression or undue anxiety, but only ardent desire that the transition may be made in due time and order and be neither too rapid—hence destructive to all right ties and affiliations—nor too prolonged and so strain beyond endurance the sorely tried fabric of humanity. [18_16] All new manifestations in all kingdoms in all ages must come slowly, and therefore safely, to the birthing. [278] All new forms, if they are ultimately to carry weight and gather adequate momentum to carry them through their life cycle, must be built in silent subjectivity, in order that the building may be strong and sure and the inner contact with the creator (human or divine) and true conformity to the pattern may be substantial and unbreakable. [18_17] This is true of a universe, a kingdom in nature, or a thought-form created by a human thinker. |
“Các dòng nước của không gian”, trong đó sự tái định hướng và đảo ngược các khuynh hướng này đang tiến triển, đang ở trong tình trạng xáo động dữ dội. Vòng xoáy của dục vọng xung đột, trong đó con người đang thấy mình bị cuốn vào, hiện nay hỗn loạn và mạnh đến mức các dòng nước này bị khuấy động tận đáy sâu. Các đạo sinh nghiên cứu lịch sử hiện đại và trật tự xã hội đang đối diện với một tình trạng chưa từng có, tương ứng trong cơ thể tập thể của nhân loại với cuộc chấn động trong đời sống của một người chí nguyện cá biệt, vốn luôn luôn đi trước việc bước sang Con Đường Đệ Tử. Vì thế, không có lý do gì để chán nản hay lo âu quá mức, mà chỉ cần có ước vọng nồng nhiệt rằng sự chuyển tiếp có thể được thực hiện đúng thời và đúng trật tự, không quá nhanh — vì như vậy sẽ phá hoại mọi mối liên kết và liên hệ đúng đắn — cũng không quá kéo dài, khiến kết cấu nhân loại vốn bị thử thách đau đớn phải căng ra quá sức chịu đựng. Mọi biểu hiện mới trong mọi giới và mọi thời đại đều phải đi đến cuộc sinh nở một cách chậm rãi, và do đó an toàn. [278] Mọi hình tướng mới, nếu cuối cùng phải có trọng lượng và tích lũy đủ đà để mang chúng đi qua chu kỳ sống của mình, đều phải được xây dựng trong tính chủ quan thầm lặng, để công trình xây dựng có thể vững mạnh và chắc chắn, và để sự tiếp xúc bên trong với đấng sáng tạo, dù là con người hay thiêng liêng, cùng sự phù hợp chân thực với mô hình, có thể trở nên bền vững và không thể phá vỡ. Điều này đúng với một vũ trụ, một giới trong thiên nhiên, hoặc một hình tư tưởng do một nhà tư tưởng sáng tạo tạo ra. |
|
[18_18] In all form-building the technique of construction remains basically the same, and the rules and realizations may be summed up in the following aphoristic phrases. |
Trong mọi sự xây dựng hình tướng, kỹ thuật kiến tạo về cơ bản vẫn như nhau, và các quy luật cùng những chứng nghiệm có thể được tóm lược trong các câu cách ngôn sau đây. |
|
[18_19] Let the creator know himself to be the builder, and not the building. |
Hãy để đấng sáng tạo biết mình là đấng kiến tạo, chứ không phải là công trình được kiến tạo. |
|
Let him desist from dealing with the raw material on the physical plane, and let him study the pattern and the blue prints, acting as the agent of the Divine Mind. |
Hãy để y ngừng xử lý nguyên liệu thô trên cõi hồng trần, và hãy để y nghiên cứu mô hình cùng các bản thiết kế, hành động như tác nhân của Trí Thiêng Liêng. |
|
[18_20] Let him use two energies and work with three laws. These are the dynamic energy of purpose, conforming to the Plan, and the magnetic energy of desire, drawing the builders to the centre of endeavour. |
Hãy để y sử dụng hai năng lượng và làm việc với ba định luật. Đó là năng lượng năng động của mục đích, phù hợp với Thiên Cơ, và năng lượng từ tính của dục vọng, thu hút các đấng kiến tạo về trung tâm nỗ lực. |
|
[18_21] Let these three laws hold sway, the law of synthetic limitation, of vibratory interplay, and of active precipitation. The one concerns the life, the second concerns the building, and the third produces manifested existence. |
Hãy để ba định luật này nắm quyền: định luật của sự giới hạn tổng hợp, của sự tương tác rung động, và của sự ngưng tụ tích cực. Định luật thứ nhất liên quan đến sự sống, định luật thứ hai liên quan đến việc xây dựng, và định luật thứ ba tạo ra sự tồn tại biểu hiện. |
|
[18_22] Let him deal first with the outer builders, sending his call to the periphery of his circle of influence. |
Hãy để y trước hết xử lý các đấng kiến tạo bên ngoài, gửi tiếng gọi của mình đến chu vi của vòng ảnh hưởng của y. |
|
[18_23] Let him set the waters of living substance in motion by his idea and impulse, bending the builders to his purpose and plan. |
Hãy để y đặt các dòng nước của chất liệu sống vào chuyển động bằng ý tưởng và xung lực của mình, uốn các đấng kiến tạo theo mục đích và Thiên Cơ của y. |
|
[18_24] Let him build with judgment and with skill, preserving always the “stool of the director” and coming not down into close contact with his thought-form. |
Hãy để y xây dựng với phán đoán và kỹ năng, luôn giữ “chiếc ghế của người điều khiển” và không đi xuống để tiếp xúc quá gần với hình tư tưởng của mình. |
|
[18_25] Let him project, in time and space, his form through [279] visualization, meditation and skill in action, and so produce that which his will commands, his love desires, and his need creates. |
Hãy để y phóng chiếu hình tướng của mình trong thời gian và không gian qua [279] sự hình dung, tham thiền và kỹ năng trong hành động, và nhờ vậy tạo ra điều mà ý chí của y truyền lệnh, tình thương của y mong muốn, và nhu cầu của y tạo thành. |
|
[18_26] Let him withdraw the builders of the outer form, and let the inner builders of dynamic force push it forth into manifestation. Through the eye of the creator are these inner builders brought to functioning, directed action. Through the word of the creator were the outer builders guided. Through the ear of the creator the volume of the greater Word vibrates through the waters of space. |
Hãy để y rút lui các đấng kiến tạo của hình tướng bên ngoài, và hãy để các đấng kiến tạo bên trong của mãnh lực năng động đẩy nó ra ngoài vào biểu hiện. Qua con mắt của đấng sáng tạo, các đấng kiến tạo bên trong này được đưa vào hoạt động có định hướng. Qua lời của đấng sáng tạo, các đấng kiến tạo bên ngoài đã được hướng dẫn. Qua tai của đấng sáng tạo, âm lượng của Linh từ lớn hơn rung động qua các dòng nước của không gian. |
|
[18_27] Let him remember the order of creative work. The waters of space respond to the word. The builders build. The cycle of creation ends and the form is adequate in manifestation. [18_28] The cycle of performance succeeds and depends for its duration on the potency of the inner builders, who constitute the subjective form and transmit the vitalising life. |
Hãy để y nhớ trật tự của công việc sáng tạo. Các dòng nước của không gian đáp ứng với lời. Các đấng kiến tạo xây dựng. Chu kỳ sáng tạo kết thúc và hình tướng trở nên đầy đủ trong biểu hiện. Chu kỳ hoạt động kế tiếp, và thời gian kéo dài của nó tùy thuộc vào quyền năng của các đấng kiến tạo bên trong, vốn cấu thành hình tướng chủ quan và truyền dẫn sự sống tiếp sinh lực. |
|
[18_29] Let him remember that the cessation of the form ensues when purpose is achieved, or when impotency of will produces failure of functioning in the cycle of performance. |
Hãy để y nhớ rằng sự chấm dứt của hình tướng xảy ra khi mục đích đã đạt được, hoặc khi sự bất lực của ý chí tạo ra thất bại trong chức năng hoạt động của chu kỳ thực hiện. |
|
[18_30] Students would do well to study these cycles of creative building, of performance and of subsequent disintegration. They are true of a solar system, of a human being, and of the thought-forms of a creative thinker. The secret of all beauty lies in the right functioning of these cycles. [18_31] The secret of all success on the physical plane lies in right understanding of law and of order. For the aspirant the goal of his endeavour is the correct building of forms in mental matter remembering that “as a man thinketh so is he”; that for him the control of mental substance and its use in clear thinking is an essential to progress. |
Các đạo sinh nên nghiên cứu kỹ các chu kỳ xây dựng sáng tạo, hoạt động và tan rã theo sau. Chúng đúng với một hệ mặt trời, một con người, và các hình tư tưởng của một nhà tư tưởng sáng tạo. Bí mật của mọi vẻ đẹp nằm trong sự vận hành đúng đắn của các chu kỳ này. Bí mật của mọi thành công trên cõi hồng trần nằm trong sự thấu hiểu đúng đắn về định luật và trật tự. Đối với người chí nguyện, mục tiêu nỗ lực của y là xây dựng đúng đắn các hình tướng trong vật chất trí tuệ, luôn nhớ rằng “con người nghĩ thế nào thì y là như thế”; rằng đối với y, việc kiểm soát chất liệu trí tuệ và sử dụng nó trong tư tưởng rõ ràng là điều thiết yếu cho sự tiến bộ. |
|
[18_32] This will demonstrate in organization of the outer life, [280] in creative work of some kind—a book written, a picture painted, a home functioning rhythmically, a business run along sound and true lines, a life salvaged, and the outer dharma carried out with precision, whilst the inner adjustments proceed in the silence of the heart. |
Điều này sẽ biểu lộ trong việc tổ chức đời sống bên ngoài, [280] trong công việc sáng tạo thuộc một loại nào đó — một quyển sách được viết ra, một bức tranh được vẽ, một mái nhà vận hành theo nhịp điệu, một doanh nghiệp được điều hành theo những đường lối lành mạnh và chân chính, một đời sống được cứu vãn, và bổn phận bên ngoài được thực hiện chính xác, trong khi các điều chỉnh bên trong tiến hành trong sự im lặng của trái tim. |
|
[18_33] For the disciple, the work extends. For him there has to be realization of the group plan and purpose and not simply of his own individual spiritual problem. [18_34] There has to be conformity to the purpose for his immediate cycle and life period; the subordinating of his personal dharma and ideas to the need and service of that cycle. [18_35] For him there has to be that attainment of knowledge, of strength, and of coordination between the personal self and the soul which will result in ability to build organized forms and groups on the physical plane and to hold them coherently together. [18_36] This he does, not through the force of his own character and equipment but because that character and equipment enable him to act as a transmitter of the greater life energies and to serve as an efficient cooperator with a plan of which he can only vision a fragment. [18_37] He works, however, faithfully at the building of his aspect of the great plan and finds one day when the building is completed and he sees the whole, that he has built true to design and in conformity with the blue prints as they have been carried in the minds of the architects (the Elder Brothers) who—in Their turn—are in touch with the Mind of the one Existence. |
Đối với đệ tử, công việc mở rộng hơn. Đối với y, cần có sự chứng nghiệm Thiên Cơ và mục đích của nhóm, chứ không chỉ đơn giản là vấn đề tinh thần cá biệt của riêng y. Cần có sự phù hợp với mục đích của chu kỳ và giai đoạn đời sống trước mắt của y; sự đặt bổn phận và ý tưởng cá nhân của y dưới nhu cầu và sự phụng sự của chu kỳ ấy. Đối với y, cần có sự đạt được tri thức, sức mạnh và sự phối hợp giữa bản ngã cá nhân và linh hồn, điều này sẽ đưa đến khả năng xây dựng các hình tướng và nhóm có tổ chức trên cõi hồng trần, và giữ chúng kết hợp với nhau một cách mạch lạc. Y làm điều này, không phải nhờ mãnh lực của tính cách và trang bị riêng của mình, mà vì tính cách và trang bị ấy cho phép y hành động như một người truyền dẫn các năng lượng sự sống lớn hơn, và phụng sự như một cộng tác viên hữu hiệu với một Thiên Cơ mà y chỉ có thể thấy được một mảnh nhỏ. Tuy nhiên, y làm việc trung thành trong việc xây dựng phương diện của mình trong Thiên Cơ lớn, và một ngày kia, khi công trình đã hoàn tất và y thấy được toàn thể, y nhận ra rằng mình đã xây dựng đúng theo thiết kế và phù hợp với các bản thiết kế như chúng đã được giữ trong trí của các kiến trúc sư, tức các Huynh Trưởng, những Đấng — đến lượt các Ngài — đang tiếp xúc với Trí của Đấng Hiện Tồn Duy Nhất. |
|
[18_38] The practical application of these truths is of utmost importance. There is no life so circumscribed and no person so situated who cannot begin to work intelligently and to build thought-forms under law and with understanding. [18_39] There is no day in any man’s life, particularly if he is an aspirant or a disciple, when a man cannot work in mental matter, control his use of thought, watch the effect of his mental processes on those he contacts, and [281] so handle his “chitta” or mind-stuff (as Patanjali calls it) that he becomes more and more useful. |
Việc áp dụng thực tiễn những chân lý này có tầm quan trọng tối thượng. Không có đời sống nào bị giới hạn đến mức, và không có người nào ở trong hoàn cảnh đến mức, không thể bắt đầu làm việc một cách thông minh và xây dựng các hình tư tưởng theo định luật và với sự thấu hiểu. Không có ngày nào trong đời sống của bất cứ người nào, đặc biệt nếu y là người chí nguyện hay đệ tử, mà y không thể làm việc trong vật chất trí tuệ, kiểm soát cách dùng tư tưởng của mình, quan sát ảnh hưởng của các tiến trình trí tuệ của y trên những người y tiếp xúc, và [281] nhờ vậy xử lý “chitta” hay chất liệu trí tuệ của mình, như Patanjali gọi, để y ngày càng trở nên hữu ích hơn. |
Commentary webinar 18-Rule X-10.2
|
Hi everybody, and we are now continuing a little later. This is program number 18 in A Treatise on White Magic, video commentaries, and it’s number 18 in our series called Rules for Magic on the Astral Plane. As I say, we have 50 programs before this, and they can temporarily at least be found on Makara, www.makara.us, and later will be transferred also to YouTube as these programs are. Just go to Morya Federation Esoteric Education. |
Chào tất cả các bạn, và bây giờ chúng ta tiếp tục sau một khoảng thời gian ngắn. Đây là chương trình số 18 trong các bài bình giảng video về Luận về Chánh Thuật, và là số 18 trong loạt bài của chúng ta gọi là Các Quy Luật về Huyền Thuật trên Cõi Cảm Dục. Như tôi đã nói, trước chương trình này chúng ta có 50 chương trình, và ít nhất tạm thời có thể tìm thấy chúng trên Makara, www.makara.us, rồi về sau cũng sẽ được chuyển lên YouTube như các chương trình này. Chỉ cần vào Morya Federation Esoteric Education. |
|
We’ve been talking here about the waters of space, and have given some kind of esoteric semi-cosmological explanation of these things. And now we’re going ahead. This is Mammoth Rule 10, and it’s a big one, and we’re more or less on page 275 as far as the book is concerned. We ended a few days ago at page 275. Here’s where we’re beginning. |
Ở đây chúng ta đã nói về những dòng nước của không gian, và đã đưa ra một kiểu giải thích huyền bí, bán-vũ trụ luận nào đó về những điều này. Và bây giờ chúng ta tiếp tục. Đây là Quy luật 10 đồ sộ, và đó là một quy luật lớn; xét theo sách thì chúng ta ít nhiều đang ở trang 275. Vài ngày trước chúng ta đã kết thúc ở trang 275. Đây là nơi chúng ta bắt đầu. |
|
Here’s the AAB diagrams, and let’s see. We can open this Egoic Lotus, but really the one that Tuija made is better. I’m going to do that one. It’s more accurate, really. Here are the AAB diagrams from Tuija, and she will decide when some of these can be released, and I’m sure that you will appreciate having them. As I say, they really all belong to DK. There’s no way we can put some kind of copyright on them. No, they belong to DK, and all they are is an elaboration of some of the implications found in these charts, plus the advantages of working with multiple colors that the computer has now, that the books of that time, 90 something years ago, did not have. The original version of A Treatise on Cosmic Fire had these. |
Đây là các biểu đồ của AAB, và hãy xem. Chúng ta có thể mở Hoa Sen Chân Ngã này, nhưng thật ra bản mà Tuija làm thì tốt hơn. Tôi sẽ dùng bản đó. Thật sự nó chính xác hơn. Đây là các biểu đồ AAB từ Tuija, và bà ấy sẽ quyết định khi nào một số biểu đồ này có thể được công bố; tôi chắc rằng các bạn sẽ trân trọng khi có chúng. Như tôi đã nói, thật ra tất cả chúng đều thuộc về Chân sư DK. Không có cách nào để chúng ta đặt một kiểu bản quyền nào đó lên chúng. Không, chúng thuộc về Chân sư DK, và tất cả chỉ là sự triển khai một vài hàm ý được tìm thấy trong các biểu đồ này, cộng với lợi thế của việc làm việc bằng nhiều màu sắc mà máy tính hiện nay có, còn những quyển sách thời ấy, hơn 90 năm trước, thì không có. Ấn bản nguyên thủy của Luận về Lửa Vũ Trụ có những biểu đồ này. |

|
The sun keeps coming in and out, and it makes this picture look strange, but try to bear with that. After commenting on the Old Commentary, which all of us really have to attend to, because it is a type of symbolic language which takes us onto the plane where the intuition can be accessed. Remember that it’s the fourth subplane of the fourth cosmic plane—well, the fourth subplane of the fourth systemic plane, which is really the intuitive plane. Up to that point, intuition is involved, but it’s not intuition. The other subplanes of that plane have to do with response to the Four Sounds, with Healing, with Divine Vision, and finally with Intuition itself. |
Mặt trời cứ lúc hiện lúc khuất, và điều đó làm cho hình này trông lạ đi, nhưng hãy cố gắng thông cảm. Sau khi bình luận về Cổ Luận, điều mà thật sự tất cả chúng ta phải chú tâm, bởi đó là một loại ngôn ngữ biểu tượng đưa chúng ta lên cõi nơi trực giác có thể được tiếp cận. Hãy nhớ rằng đó là cõi phụ thứ tư của cõi vũ trụ thứ tư — à, cõi phụ thứ tư của cõi hệ thống thứ tư, vốn thật sự là cõi trực giác. Cho đến điểm đó, trực giác có liên hệ, nhưng đó chưa phải là trực giác. Các cõi phụ khác của cõi ấy liên quan đến sự đáp ứng với Bốn Âm Thanh, với Chữa Lành, với Tầm Nhìn Thiêng Liêng, và cuối cùng với chính Trực Giác. |

|
Bringing the analogy down closer still, [18_1] |
Đưa phép tương đồng xuống gần hơn nữa, |
|
Because that’s DK’s purpose—not simply to describe things in cosmological terms, but to make things extremely practical for us—because we are struggling students who need to have light thrown upon our path, not only by our own supervising Angel of the Presence, Solar Angel, but by the master, the teacher himself. |
Bởi đó là mục đích của Chân sư DK — không chỉ mô tả các sự việc theo những thuật ngữ vũ trụ luận, mà làm cho chúng trở nên hết sức thực tiễn đối với chúng ta — bởi chúng ta là những đạo sinh đang nỗ lực, cần ánh sáng được rọi lên đường đạo của mình, không chỉ bởi Thiên Thần của Hiện Diện, Thái dương Thiên Thần đang giám sát chúng ta, mà còn bởi Chân sư, chính vị huấn sư. |
|
Bringing the analogy down closer still, the human kingdom itself is an analogous state of consciousness to the human unit through its subjective force existence, and from the standpoint of consciousness provides “the waters of space” in which a human being thrives and grows. |
Đưa phép tương đồng xuống gần hơn nữa, chính giới nhân loại là một trạng thái tâm thức tương đồng với đơn vị nhân loại qua sự hiện hữu mãnh lực chủ quan của nó, và xét từ lập trường tâm thức, giới ấy cung cấp “những dòng nước của không gian” trong đó con người lớn mạnh và trưởng thành. |
|
Looking here at the human, the human kingdom as a great matrix in which the individual human being has its place and is bathed in subjective energies, and thus grows. |
Ở đây hãy nhìn vào con người, vào giới nhân loại như một khuôn mẫu lớn trong đó cá nhân con người có vị trí của mình và được tắm trong các năng lượng chủ quan, nhờ đó trưởng thành. |
|
Again, we are met in the fourth kingdom with expressions of the same seven forces, [18_2] |
Một lần nữa, trong giới thứ tư, chúng ta gặp những biểu hiện của cùng bảy mãnh lực ấy, |
|
We don’t know how high these seven forces go, but I suspect very, very high, up to the very origin of any universe, I suspect. There’s a universal one, two, three, seven, twelve, and so forth. |
Chúng ta không biết bảy mãnh lực này lên cao đến đâu, nhưng tôi nghi là rất, rất cao, lên đến tận nguồn gốc của bất kỳ vũ trụ nào, tôi nghĩ vậy. Có một bộ một, hai, ba, bảy, mười hai phổ quát, vân vân. |
|
and as man awakens to a recognition of the seven rays or types, and begins to work consciously with them, he is taking the first step towards transcending them and controlling them [276] within his field of operation. |
và khi con người thức tỉnh để nhận biết bảy cung hay bảy loại, và bắt đầu làm việc một cách có ý thức với chúng, y đang bước bước đầu tiên hướng tới việc vượt lên trên chúng và kiểm soát chúng [276] trong lĩnh vực hoạt động của mình. |
|
It might be said that always the seven rays must be transcended on a given level, but they are met again on still higher levels. D.K. tells us something about a very advanced stage in which all the rays are controlled simultaneously and even transcended. Of course, once we enter into the state of Pure Being, naturally there’s no room for any distinction whatsoever. There’s no room, ultimately, even for a One, let alone a Two, or a Three, or a Seven. All is homogeneous. But there are high human states in which the transcendence of the seven rays, as we normally encounter them, can be achieved. But then we simply move on and encounter them yet again, on the level of the Planetary Logoi, or Solar Logoi, or still beyond. That beyond exists, but we have only the sketchiest idea of what it might be. |
Có thể nói rằng bảy cung luôn phải được vượt lên trên ở một cấp độ nào đó, nhưng chúng lại được gặp lại ở những cấp độ còn cao hơn. Chân sư DK cho chúng ta biết đôi điều về một giai đoạn rất tiến bộ, trong đó tất cả các cung được kiểm soát đồng thời và thậm chí được vượt qua. Dĩ nhiên, một khi chúng ta bước vào trạng thái Bản Thể Thuần Khiết, tự nhiên không còn chỗ cho bất kỳ phân biệt nào. Rốt cuộc, thậm chí không còn chỗ cho Một, huống chi là Hai, hay Ba, hay Bảy. Tất cả là đồng nhất. Nhưng có những trạng thái nhân loại cao, trong đó sự vượt qua bảy cung, như chúng ta thường gặp chúng, có thể đạt được. Nhưng rồi chúng ta chỉ đơn giản tiến tiếp và lại gặp chúng một lần nữa, trên cấp độ của Các Hành Tinh Thượng đế, hay Các Thái dương Thượng đế, hay còn xa hơn nữa. Cái “xa hơn” ấy có tồn tại, nhưng chúng ta chỉ có ý niệm hết sức phác lược về điều đó có thể là gì. |
|
The seven solar systems, and we can assign rays to them, and then we can assign rays to seven constellations, which are the chakras, normal chakras, within the One About Whom Naught May Be Said, but the One About Whom Naught May Be Said is one of seven major, and that thing in which it is one of seven is also one of seven, and on we go. |
Bảy hệ mặt trời, và chúng ta có thể gán các cung cho chúng, rồi có thể gán các cung cho bảy chòm sao, vốn là các luân xa, các luân xa bình thường, bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị; nhưng Đấng Bất Khả Tư Nghị là một trong bảy Đấng chính, và cái mà trong đó Ngài là một trong bảy cũng lại là một trong bảy, và cứ thế tiếp diễn. |

|
That one chart, I think, gives us a little bit of an idea. It’s from DK’s Cosmic Fire Charts, and there it is. You see somehow this amazing consolidation of septenate as we rise. We don’t know how far we’re going here, and the word ParaBrahman, of course, usually means the One and Only Absolutely Homogeneous Being, than which there is no other, but he relativizes the term occasionally, and we see such a thing here as a cosmic Parabrahma. This is called a cosmic Parabrahma—Parabrahma, Parabrahman, the same. And because it’s a cosmic Parabrahman, it’s not the One And Only Parabrahman. |
Tôi nghĩ biểu đồ ấy cho chúng ta một chút ý niệm. Nó từ các Biểu Đồ Lửa Vũ Trụ của Chân sư DK, và nó ở đó. Các bạn thấy bằng cách nào đó sự hợp nhất kỳ diệu của bộ bảy khi chúng ta đi lên. Chúng ta không biết ở đây mình sẽ đi xa đến đâu, và dĩ nhiên, từ Parabrahman thường có nghĩa là Bản Thể Tuyệt Đối Đồng Nhất Duy Nhất, ngoài Ngài không có gì khác, nhưng đôi khi Ngài tương đối hóa thuật ngữ ấy, và ở đây chúng ta thấy một điều như một Parabrahma vũ trụ. Cái này được gọi là một Parabrahma vũ trụ — Parabrahma, Parabrahman, cũng là một. Và bởi vì đó là một Parabrahman vũ trụ, nên đó không phải là Parabrahman Duy Nhất và Độc Nhất. |

|
Anyway, we’re in this fourth kingdom, and this fourth kingdom is in the process, many of its beings being elevated into the fifth. The fourth will remain, of course. It has to receive the up-and-coming animal souls. It has to do that, definitely. |
Dù sao đi nữa, chúng ta đang ở trong giới thứ tư này, và giới thứ tư này đang trong tiến trình, với nhiều hữu thể của nó được nâng lên giới thứ năm. Dĩ nhiên giới thứ tư sẽ vẫn còn. Nó phải tiếp nhận những linh hồn động vật đang vươn lên. Nó nhất định phải làm như vậy. |
|
The same seven forces, and man awakens to a recognition of the seven ray types, and begins to work consciously with them. |
Cùng bảy mãnh lực ấy, và con người thức tỉnh để nhận biết bảy loại cung, và bắt đầu làm việc một cách có ý thức với chúng. |
|
This is what we’re trying to do: to recognize ourselves and others in terms of these foundational energies, and to deal with them accordingly, helpfully, in ways that will advance their evolution. And then by doing that, we’re taking our first step towards eventually transcending them, but not forever, because they’re always met on a higher turn of the spiral that may be called other things. Sometimes they’re called Seven Spirits before the Throne, and it all depends what kind of throne we’re talking about. The Logos of the seven solar systems has its own throne, our particular One About Whom Naught May Be Said has its own throne. |
Đây là điều chúng ta đang cố gắng làm: nhận biết chính mình và người khác theo các năng lượng nền tảng này, và đề cập đến chúng một cách tương ứng, hữu ích, theo những cách sẽ thúc đẩy tiến hoá của họ. Và rồi bằng cách làm như vậy, chúng ta đang bước bước đầu tiên hướng tới việc cuối cùng vượt lên trên chúng, nhưng không phải mãi mãi, bởi chúng luôn được gặp ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, có thể được gọi bằng những tên khác. Đôi khi chúng được gọi là Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai, và tất cả tùy thuộc chúng ta đang nói đến loại Thánh Ngai nào. Thượng đế của bảy hệ mặt trời có Thánh Ngai riêng của Ngài; Đấng Bất Khả Tư Nghị đặc thù của chúng ta có Thánh Ngai riêng của Ngài. |
|
This is now taking place. Knowledge of the seven ray types is beginning to permeate among the thinkers of the race and this knowledge was in past aeons the prerogative of the initiates of the time. [18_3] |
Điều này hiện đang diễn ra. Tri thức về bảy loại cung đang bắt đầu thấm nhuần trong giới tư tưởng của nhân loại, và trong những đại kiếp trước, tri thức này là đặc quyền của các điểm đạo đồ thời ấy. |
|
The secrets of the kingdom of heaven are being shouted from the rooftops, and we are among those who are out on the rooftop shouting them, and hoping that they will be picked up by others who can handle them, and that we are not, like John the Baptist considered himself, a voice crying in the wilderness. |
Những bí nhiệm của Thiên Giới đang được hô vang từ mái nhà, và chúng ta thuộc số những người đang ở trên mái nhà hô vang chúng, hy vọng rằng chúng sẽ được những người khác tiếp nhận, những người có thể xử lý chúng, và rằng chúng ta không phải, như Gioan Tẩy Giả từng tự xem mình, là một tiếng kêu trong hoang địa. |
|
Held latent in the astrological presentation is that information which will lead disciples to realization, and which will put them en rapport with the seven planetary schemes |
Ẩn tàng trong trình bày chiêm tinh học là thông tin sẽ dẫn các đệ tử đến sự chứng nghiệm, và sẽ đặt họ trong mối giao cảm với bảy hệ hành tinh |
|
One has to be quite an initiate to be truly on rapport with the seven planetary schemes. |
Người ta phải là một điểm đạo đồ khá cao mới thật sự ở trong mối giao cảm với bảy hệ hành tinh. |
|
Real developments in astrology may not be looked for, |
Những phát triển thực sự trong chiêm tinh học chưa thể được mong đợi, |
|
We have a few that we’re grateful for, some knowledge we’re grateful for, but real developments in astrology may not be looked for, |
Chúng ta có một vài điều mà mình biết ơn, một số tri thức mà mình biết ơn, nhưng những phát triển thực sự trong chiêm tinh học chưa thể được mong đợi, |
|
however, until the New Age is really with us and the new orientation achieved. |
tuy nhiên, cho đến khi Kỷ Nguyên Mới thật sự ở cùng chúng ta và định hướng mới đã đạt được. |
|
This will certainly be after 2117, when the vernal equinox aligns, mathematically He tells us, with the last degree of Aquarius. Everything seems to move backwards in this sort of regression that we call the precession of the equinoxes. |
Điều này chắc chắn sẽ sau năm 2117, khi điểm xuân phân, theo cách toán học như Ngài cho biết, chỉnh hợp với độ cuối cùng của Bảo Bình. Mọi sự dường như chuyển động lùi lại trong kiểu thoái hành mà chúng ta gọi là sự tiến động của các điểm phân. |
|
Now, the next paragraph is interesting. |
Bây giờ, đoạn tiếp theo thật thú vị. |
|
The form of humanity is completed. [18_4] |
Hình tướng của nhân loại đã hoàn tất. |
|
I guess you could say it’s not yet born into the fifth kingdom of nature, but its form, in accordance with this fourth round on our fourth chain, is completed. Its right placement—now he’s carrying on the analogy of the right placement of the infinite in order to achieve a proper birth without complication— |
Tôi đoán có thể nói rằng nó chưa được sinh vào giới thứ năm của thiên nhiên, nhưng hình tướng của nó, phù hợp với cuộc tuần hoàn thứ tư này trên Dãy Thứ Tư của chúng ta, đã hoàn tất. Sự đặt đúng vị trí của nó — giờ đây Ngài tiếp tục phép tương đồng về sự đặt đúng vị trí của thai nhi nhằm đạt được một sự sinh nở thích hợp, không biến chứng — |
|
Its right placement within the womb of matter is the objective of the Hierarchy, with all the consequent implications. Note these words. |
Sự đặt đúng vị trí của nó trong tử cung của vật chất là mục tiêu của Thánh Đoàn, cùng với mọi hàm ý hệ quả. Hãy lưu ý những lời này. |
|
You might almost say that this requires, in some cases, this requires medical intervention, and humanity is now so distressed and so warped and perverted from previous experiences, and from the attack of the Black Lodge in Atlantean times, and continuing that the right placement, guaranteeing or providing for the proper type of birth without complication is not yet accomplished. |
Các bạn gần như có thể nói rằng trong một số trường hợp điều này đòi hỏi sự can thiệp y khoa, và nhân loại hiện nay quá khốn khổ, quá méo mó và bị làm sai lệch bởi những kinh nghiệm trước kia, cũng như bởi cuộc tấn công của Hắc đoàn trong thời Atlantis và sự tiếp diễn của nó, đến nỗi sự đặt đúng vị trí, bảo đảm hay tạo điều kiện cho kiểu sinh nở thích hợp không biến chứng, vẫn chưa hoàn thành. |
|
The need at this time is terrific, [18_5] |
Nhu cầu vào lúc này thật khủng khiếp, |
|
and here’s DK who is not an exaggerating Teacher. When he uses a word like terrific, He means it. When He offers injunctions that seem extreme, He means it. We have to take Him seriously, and all of us, of course, could take Him far more seriously than we do. |
và đây là Chân sư DK, Đấng không phải là một Huấn sư phóng đại. Khi Ngài dùng một từ như khủng khiếp, Ngài thật sự muốn nói như vậy. Khi Ngài đưa ra những huấn lệnh có vẻ cực đoan, Ngài thật sự muốn nói như vậy. Chúng ta phải nghiêm túc với Ngài, và dĩ nhiên tất cả chúng ta có thể nghiêm túc với Ngài hơn rất nhiều so với hiện nay. |
|
and the soul is at the birthing in humanity as a whole. |
và linh hồn đang ở thời điểm sinh nở trong toàn thể nhân loại. |
|
Not all will at this time enter the fifth kingdom of nature, but many will. If you go to Cosmic Fire and it tells you about even some of those who came to the Moon Chain, even they, some of those, will not be on the Path until the next round. Sometimes it seems that things go very slowly, but at other times it seems that for those who can, a great speeding up is now occurring. Let us, as students of DK at this decisive time, be among those for whom a speed is being applied. What did he say? Something like the major sin or capital sin or foremost sin, something of that nature, of the average initiate is sloth. Let’s carry those ideas in our mind. |
Không phải tất cả vào lúc này sẽ bước vào giới thứ năm của thiên nhiên, nhưng nhiều người sẽ bước vào. Nếu các bạn đọc Luận về Lửa Vũ Trụ, sách ấy nói cho các bạn biết rằng ngay cả một số vị đã đến Dãy Mặt Trăng, ngay cả trong số họ, một số cũng sẽ chưa ở trên Đường Đạo cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp. Đôi khi có vẻ mọi việc diễn ra rất chậm, nhưng vào những lúc khác, dường như đối với những ai có thể, một sự tăng tốc lớn đang xảy ra. Chúng ta, với tư cách đạo sinh của Chân sư DK trong thời điểm quyết định này, hãy thuộc về những người mà sự tăng tốc đang được áp dụng. Ngài đã nói gì? Đại khái như tội lỗi chính yếu, hay trọng tội, hay tội hàng đầu của điểm đạo đồ trung bình là sự lười biếng. Hãy giữ những ý tưởng ấy trong trí mình. |
|
Cosmically speaking, if right direction of the forces of the human kingdom is now achieved, there will be manifested on the earth a humanity which will manifest a purpose, a beauty and a form |
Nói theo nghĩa vũ trụ, nếu hiện nay đạt được sự hướng dẫn đúng đắn các mãnh lực của giới nhân loại, thì trên Trái Đất sẽ biểu lộ một nhân loại biểu lộ một mục đích, một vẻ đẹp và một hình tướng |
|
There we have the first three Aspects of Divinity basically— |
Ở đó về căn bản chúng ta có ba Phương diện đầu tiên của Thiên Tính — |
|
which will be full expressions of an inner spiritual reality and in line with egoic purpose. |
vốn sẽ là những biểu hiện đầy đủ của một thực tại tinh thần bên trong và phù hợp với mục đích chân ngã. |
|
The ego of the fourth kingdom of nature, the human kingdom. We’re not only talking about the egoic purpose of an individual, we’re talking about the egoic purpose of a great kingdom. And kingdoms are pervasive not only on our planet, but on all the other planets as well. That’s what we want. And he says, cosmically speaking, so this depends on appropriating at least systemic energies and maybe zodiacal energies, which in one sense are cosmic. |
Chân ngã của giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại. Chúng ta không chỉ nói về mục đích chân ngã của một cá nhân; chúng ta đang nói về mục đích chân ngã của một giới lớn. Và các giới hiện diện khắp nơi, không chỉ trên hành tinh của chúng ta, mà trên tất cả các hành tinh khác nữa. Đó là điều chúng ta muốn. Và Ngài nói, theo nghĩa vũ trụ, nên điều này tùy thuộc vào việc chiếm hữu ít nhất các năng lượng hệ thống, và có lẽ cả các năng lượng hoàng đạo, vốn theo một nghĩa nào đó là vũ trụ. |
|
Other eventualities can be sensed as sadly possible [18_6] |
Các khả năng khác có thể được cảm nhận như những điều đáng buồn nhưng có thể xảy ra |
|
If you go to—I’m not sure it’s printed anymore—but if you go to the Introduction, which I think The Tibetan wrote, of The Problems of Humanity in its first edition, you will find some of these rather dire possibilities offered. Well, I think only later will we learn how the Hierarchy worked and sacrificed to have us as a kingdom avoid fulfilling those implications, even though they are checked in terms of impinging upon our free will. Other eventualities can be sensed as sadly possible, |
Nếu các bạn tìm đến — tôi không chắc hiện nay còn được in hay không — nhưng nếu các bạn tìm đến Lời giới thiệu, mà tôi nghĩ Chân sư Tây Tạng đã viết, của Các Vấn Đề của Nhân Loại trong ấn bản đầu tiên, các bạn sẽ thấy một số khả năng khá nghiêm trọng này được nêu ra. Vâng, tôi nghĩ chỉ về sau chúng ta mới biết Thánh Đoàn đã làm việc và hy sinh như thế nào để giúp chúng ta, với tư cách một giới, tránh việc làm trọn những hàm ý ấy, dù Các Ngài bị giới hạn trong việc tác động lên ý chí tự do của chúng ta. Các khả năng khác có thể được cảm nhận như những điều đáng buồn nhưng có thể xảy ra, |
|
but these we will not consider for it is the hope and the belief of the watching Brothers that men will transcend all undesirable eventualities and make the goal. |
nhưng chúng ta sẽ không xét đến những điều này, vì đó là niềm hy vọng và niềm tin của các Huynh đệ đang quan sát rằng con người sẽ vượt lên trên mọi khả năng không mong muốn và đạt mục tiêu. |
|
Written in the late 20s and early 30s of the last century, war came. The Hierarchy was, so to speak, packing its bags. That was forestalled by action on the part of the Lords of Liberation, answering to a dire Invocation from inchoate humanity or humanity expressing itself in an inchoate manner, but still begging for a better way in its invocation. But hierarchy was packing its bags in the winter of 42, and then the Sun moved northward. Even later, dire warnings were given, and we are still under that threat. |
Được viết vào cuối thập niên 20 và đầu thập niên 30 của thế kỷ trước, rồi chiến tranh đã đến. Có thể nói, Thánh Đoàn đã chuẩn bị rời đi. Điều đó đã được ngăn lại nhờ hành động của các Đấng Giải Thoát, đáp lại một Đại Khấn Nguyện khẩn thiết từ nhân loại còn sơ khai, hay nhân loại biểu hiện chính mình theo một cách còn sơ khai, nhưng vẫn khẩn cầu một con đường tốt đẹp hơn trong lời khẩn cầu của mình. Nhưng Thánh Đoàn đã chuẩn bị rời đi vào mùa đông năm 42, rồi Mặt Trời di chuyển về phương bắc. Thậm chí về sau, những cảnh báo nghiêm trọng vẫn được đưa ra, và chúng ta vẫn còn ở dưới mối đe dọa ấy. |
|
Foster Bailey can be presumed to have been the eventual leader of the Lucis Trust, and he had contact with the Tibetan. He wrote somewhere in the early 50s that the Tibetan had assured him at that time that there would be no nuclear war, no complete wipeout of humanity. When he wrote The Problems of Humanity, and that introduction, it was still in the 40s, and maybe certain developments occurred which no longer made the destruction of humanity a vision or a possibility which could be visioned, as the Tibetan said. We’re still working under the sword, and many things are possible because under the Syrian system of initiation and training, we are not allowed to — or it is not allowed that free Will will be violated. |
Có thể giả định Foster Bailey là người lãnh đạo sau cùng của Lucis Trust, và ông có liên hệ với Chân sư Tây Tạng. Ở đâu đó vào đầu thập niên 50, ông đã viết rằng Chân sư Tây Tạng đã bảo đảm với ông vào thời điểm ấy rằng sẽ không có chiến tranh hạt nhân, không có sự xóa sổ hoàn toàn nhân loại. Khi Ngài viết Các Vấn Đề của Nhân Loại, và lời giới thiệu ấy, vẫn còn trong thập niên 40, và có lẽ một số diễn biến đã xảy ra khiến sự hủy diệt nhân loại không còn là một linh ảnh hay một khả năng có thể được thấy trước nữa, như Chân sư Tây Tạng đã nói. Chúng ta vẫn đang làm việc dưới lưỡi gươm, và nhiều điều vẫn có thể xảy ra, bởi theo hệ thống điểm đạo và huấn luyện Sirius, chúng ta không được phép — hay không được cho phép — xâm phạm ý chí tự do. |
|
One word here, and one hint. The Hierarchy of the planet constitutes symbolically the head centre of humanity and their forces constitute the brain forces. [18_7] |
Ở đây có một lời, và một gợi ý. Thánh Đoàn của hành tinh, về mặt biểu tượng, cấu thành trung tâm đầu của nhân loại, và các mãnh lực của Các Ngài cấu thành các mãnh lực bộ não. |
|
This is interesting because the Hierarchy is the heart center of the planet, but the relationship to humanity here is as the head center. Within humanity, it’s the New Group of World Servers, perhaps, that is constituting the Ajna center. So there are different kinds of assignments of chakras: those that apply to the entire planet, and those that apply to humanity as a kingdom. These chakras go all the way down to the lower types of humanity who occupy a lower chakra position, and we can say that the members of the New Group of World Servers occupy a position within humanity which is the Ajna center. |
Điều này thú vị vì Thánh Đoàn là trung tâm tim của hành tinh, nhưng mối quan hệ với nhân loại ở đây là như trung tâm đầu. Bên trong nhân loại, có lẽ Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang cấu thành trung tâm ajna. Vì vậy có các kiểu gán luân xa khác nhau: những kiểu áp dụng cho toàn thể hành tinh, và những kiểu áp dụng cho nhân loại với tư cách một giới. Các luân xa này đi xuống tận những loại nhân loại thấp hơn, những người chiếm một vị trí luân xa thấp hơn; và chúng ta có thể nói rằng các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chiếm một vị trí bên trong nhân loại vốn là trung tâm ajna. |
|
In other contexts, it seems that they are the Ajna center for the entire planet, but then there are certain contexts in which humanity as a whole appears to be not only the throat center of the entire planet, but the Ajna center as well — at least that’s a coming development. |
Trong những ngữ cảnh khác, dường như họ là trung tâm ajna cho toàn thể hành tinh, nhưng rồi có những ngữ cảnh nhất định trong đó toàn thể nhân loại dường như không chỉ là trung tâm cổ họng của toàn thể hành tinh, mà còn là trung tâm ajna nữa — ít nhất đó là một phát triển đang đến. |
|
The Hierarchy of the planet in its directorial mode, because it does receive through its Chohans directly from Shambhala, constitutes symbolically the head center of humanity. The forces, distinguishing the head center here from the brain, which are more material, constitute the brain forces — the human brain or the brain of humanity. |
Thánh Đoàn của hành tinh trong phương thức chỉ đạo của mình, bởi Thánh Đoàn tiếp nhận trực tiếp từ Shamballa qua các Chohan của mình, về mặt biểu tượng cấu thành trung tâm đầu của nhân loại. Các mãnh lực — ở đây phân biệt trung tâm đầu với bộ não, vốn vật chất hơn — cấu thành các mãnh lực bộ não: bộ não con người hay bộ não của nhân loại. |
|
These correspondences are very variable, and we have to see the context in which we are working. In the new esoteric schools, as I can foresee it, a lot of the academic work will be directed towards understanding these correspondences in an accurate manner. Right now, we understand pieces of the puzzle. |
Những tương ứng này rất biến đổi, và chúng ta phải thấy ngữ cảnh mà mình đang làm việc. Trong các trường huyền bí mới, như tôi có thể dự liệu, rất nhiều công việc học thuật sẽ hướng đến việc thấu hiểu những tương ứng này một cách chính xác. Hiện nay, chúng ta chỉ hiểu những mảnh của câu đố. |
|
On the physical plane are a large band of aspirants, probationary disciples and accepted disciples who are seeking to be responsive to the “head centre”, some consciously, others unconsciously. [18_8] |
Trên cõi hồng trần có một đoàn lớn những người chí nguyện, các đệ tử dự bị và các đệ tử được chấp nhận, những người đang tìm cách đáp ứng với “trung tâm đầu”, một số có ý thức, số khác vô thức. |
|
So we have Hierarchy as head center, and also in a larger planetary context, Hierarchy as a heart center, in which humanity is the throat center or developing its position as an Ajna center. Especially the New Group of World Servers in that context are becoming more and more that way. |
Vì vậy, chúng ta có Thánh Đoàn như trung tâm đầu, và cũng trong một ngữ cảnh hành tinh rộng lớn hơn, Thánh Đoàn như trung tâm tim, trong đó nhân loại là trung tâm cổ họng hoặc đang phát triển vị trí của mình như một trung tâm ajna. Đặc biệt Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trong ngữ cảnh ấy đang ngày càng trở nên như vậy. |
|
On the physical plane are a large band of aspirants, probationary disciples and accepted disciples who are seeking to be responsive to the “head centre”, some consciously, others unconsciously. |
Trên cõi hồng trần có một đoàn lớn những người chí nguyện, các đệ tử dự bị và các đệ tử được chấp nhận, những người đang tìm cách đáp ứng với “trung tâm đầu”, một số có ý thức, số khác vô thức. |
|
We might say thus the throat center activity. This is the center of creativity and the urge to creative intelligence — a title that the Tibetan says He prefers for the third ray, the Ray of Creative Intelligence. |
Do đó, chúng ta có thể nói đó là hoạt động của trung tâm cổ họng. Đây là trung tâm của sự sáng tạo và thôi thúc hướng đến trí tuệ sáng tạo — một danh xưng mà Chân sư Tây Tạng nói Ngài ưa dùng cho cung ba, Cung của Trí Tuệ Sáng Tạo. |
|
They in their turn constitute what might be symbolically called the “pineal gland” of humanity. |
Đến lượt mình, họ cấu thành cái có thể được gọi một cách biểu tượng là “tuyến tùng” của nhân loại. |
|
These are interesting correspondences that can be intuitively activated. A large band of spiritual workers are the pineal gland of humanity. |
Đây là những tương ứng thú vị có thể được kích hoạt bằng trực giác. Một đoàn lớn những người hoạt động tinh thần là tuyến tùng của nhân loại. |
|
Now in the larger context, humanity as a whole is the throat center—considering Sanat Kumara—and even verging upon the Ajna center. I imagine that it’s the higher parts of humanity which are taking the position of Ajna center. Hierarchical forces are brain forces, and this large band of aspirants, probationary disciples, and accepted disciples are seeking to become responsive to the head center, responsive to Hierarchy. When we’re responding to Hierarchy, we are responding to a directorial impulse which relates to the head center, and we’re also responding to a Love-Wisdom impulse, an inclusive impulse which relates to the heart in the larger context, the heart of Sanat Kumara — just as Shambhala in that case is the head, not the Hierarchy — Shambhala is the head center in the larger context. |
Bây giờ trong ngữ cảnh rộng lớn hơn, toàn thể nhân loại là trung tâm cổ họng — xét theo Đức Sanat Kumara — và thậm chí đang tiến sát đến trung tâm ajna. Tôi hình dung rằng chính các phần cao hơn của nhân loại đang giữ vị trí của trung tâm ajna. Các mãnh lực Thánh Đoàn là các mãnh lực bộ não, và đoàn lớn những người chí nguyện, các đệ tử dự bị và các đệ tử được chấp nhận này đang tìm cách trở nên đáp ứng với trung tâm đầu, đáp ứng với Thánh Đoàn. Khi chúng ta đáp ứng với Thánh Đoàn, chúng ta đáp ứng với một xung lực chỉ đạo liên quan đến trung tâm đầu, và chúng ta cũng đáp ứng với một xung lực Bác Ái – Minh Triết, một xung lực bao gồm liên quan đến trái tim trong ngữ cảnh rộng lớn hơn, trái tim của Đức Sanat Kumara — cũng như trong trường hợp đó Shamballa là đầu, chứ không phải Thánh Đoàn — Shamballa là trung tâm đầu trong ngữ cảnh rộng lớn hơn. |
|
As in individual man this is usually dormant and asleep, so, in humanity, this group of cells within the brain of the body corporate is dormant, [18_9] |
Như trong cá nhân con người, tuyến này thường tiềm tàng và ngủ yên, thì trong nhân loại, nhóm tế bào này bên trong bộ não của cơ thể tập thể cũng đang ngủ yên, |
|
Aspirants, probationary disciples, and even accepted disciples are asleep in a spiritual sense, and we’re trying to wake up. I sometimes feel there’s a veil over my consciousness, and I seek for the removal of that veil because I know every once in a while it lifts, and I think, “Oh my god, look at that,” and then the veil descends again until it gets worn away through cosmic perception. That’s one of the reasons why the study of cosmology is very useful. The study of cosmology does seem to destroy the veil which prevents the realization of unity and later very deep identification with all perceptions. It is dormant, |
Những người chí nguyện, các đệ tử dự bị, và ngay cả các đệ tử được chấp nhận đều đang ngủ theo nghĩa tinh thần, và chúng ta đang cố gắng thức tỉnh. Đôi khi tôi cảm thấy có một tấm màn che phủ tâm thức mình, và tôi tìm cách loại bỏ tấm màn ấy, bởi tôi biết thỉnh thoảng nó được nhấc lên, và tôi nghĩ: “Ôi Thượng đế, hãy nhìn điều đó,” rồi tấm màn lại hạ xuống cho đến khi nó bị mài mòn qua tri giác vũ trụ. Đó là một trong những lý do vì sao việc nghiên cứu vũ trụ luận rất hữu ích. Việc nghiên cứu vũ trụ luận dường như thật sự phá hủy tấm màn ngăn cản sự chứng nghiệm tính hợp nhất, và về sau là sự đồng hoá rất sâu xa với mọi tri giác. Nó đang ngủ yên, |
|
but thrilling to the vibrations of the head centre—the occult Hierarchy. |
nhưng rung động trước các rung động của trung tâm đầu — Thánh Đoàn huyền bí. |
|
In the individual man, the head center stimulates the etheric pineal gland and the dense pineal gland. We read all the time about how we have to establish a relationship between the etheric head center. Remember, hierarchy is located, at least now and by and large, upon the cosmic etheric levels and therefore is etheric in a certain sense, and the analogy holds. We have to establish as individuals a relationship between the etheric higher head center and the pineal gland, and then of course in that area around the brain which is associated with the pineal gland. Only then can we become the actual white magician. |
Trong cá nhân con người, trung tâm đầu kích thích tuyến tùng dĩ thái và tuyến tùng đậm đặc. Chúng ta thường đọc về việc mình phải thiết lập một mối quan hệ giữa trung tâm đầu dĩ thái. Hãy nhớ rằng Thánh Đoàn tọa lạc, ít nhất hiện nay và nhìn chung, trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ, và vì thế theo một nghĩa nào đó là dĩ thái, nên phép tương đồng vẫn đúng. Với tư cách cá nhân, chúng ta phải thiết lập một mối quan hệ giữa trung tâm đầu cao hơn dĩ thái và tuyến tùng, rồi dĩ nhiên trong vùng quanh bộ não liên kết với tuyến tùng. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể trở thành nhà huyền thuật chánh đạo thực sự. |
|
We’re talking about aspirants, probationary disciples, and remember he’s distinguishing between them. Even though we’re all aspirants in a way and all on probation in a way for a long time — even our cosmically our planetary logos is on probation, and our solar logos, not yet a sacred solar logos, is a disciple who in a way is on probation, though truly a cosmic disciple — almost to the point where Sirius is, just as our Earth is almost to the point where Venus is. It’ll take a while, but we’re getting there. |
Chúng ta đang nói về những người chí nguyện, các đệ tử dự bị, và hãy nhớ rằng Ngài đang phân biệt giữa họ. Dù theo một cách nào đó tất cả chúng ta đều là người chí nguyện và đều ở trong giai đoạn dự bị trong một thời gian dài — ngay cả, theo nghĩa vũ trụ, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng đang ở trong giai đoạn dự bị, và Thái dương Thượng đế của chúng ta, chưa phải là một Thái dương Thượng đế thiêng liêng, là một đệ tử theo một cách nào đó đang ở trong giai đoạn dự bị, dù thật sự là một đệ tử vũ trụ — gần đến điểm mà Sirius đang ở, cũng như Trái Đất của chúng ta gần đến điểm mà Sao Kim đang ở. Sẽ còn mất một thời gian, nhưng chúng ta đang tiến đến đó. |
|
Some of the cells are awake. |
Một số tế bào đã thức tỉnh. |
|
Let’s hope that applies to us, or at least that they’re awakening. |
Chúng ta hãy hy vọng điều đó áp dụng cho mình, hoặc ít nhất chúng đang thức tỉnh. |
|
Let them intensify their endeavour and so awaken others. |
Hãy để họ tăng cường nỗ lực của mình và nhờ đó đánh thức những người khác. |
|
This tells us that if we work upon ourselves and awaken ourselves, we will contribute to the awakening of others. The more you can radiate the spiritual vibration, the more others will experience that as a kind of darshan — a lesser darshan — being in the presence of someone who has really awakened something in themselves. Just as we would look to a very high teacher and experience that darshan, this will be a valuable aid in helping humanity, and especially the aspirants, probationary disciples, and disciples wake up. That’s what we want: waking up of the disciples. |
Điều này cho chúng ta biết rằng nếu chúng ta làm việc trên chính mình và đánh thức chính mình, chúng ta sẽ góp phần vào sự thức tỉnh của những người khác. Các bạn càng có thể tỏa ra rung động tinh thần, thì người khác càng kinh nghiệm điều đó như một kiểu chiêm kiến — một chiêm kiến ở mức thấp hơn — tức là ở trong sự hiện diện của một người đã thật sự đánh thức điều gì đó trong chính mình. Cũng như chúng ta sẽ hướng đến một huấn sư rất cao và kinh nghiệm sự chiêm kiến ấy, điều này sẽ là một trợ giúp quý giá trong việc giúp nhân loại, và đặc biệt là những người chí nguyện, các đệ tử dự bị và các đệ tử, thức tỉnh. Đó là điều chúng ta muốn: sự thức tỉnh của các đệ tử. |
|
The pioneers of the human family, [18_10] |
Những người tiên phong của gia đình nhân loại, |
|
You just can’t forget what’s in this book, A Treatise on White Magic. You can think to move on to other books, but you can’t. You always have to double back and pick up what the Tibetan has said because he is scrupulous about not repeating himself unless he intends to. Sometimes a jewel of information is held forth which can be found nowhere else, and which is a necessitous piece of knowledge to make sense of the later material which is given. |
Các bạn đơn giản không thể quên những gì có trong quyển sách này, Luận về Chánh Thuật. Các bạn có thể nghĩ đến việc chuyển sang những quyển sách khác, nhưng không thể. Các bạn luôn phải quay lại và thu nhặt những gì Chân sư Tây Tạng đã nói, bởi Ngài rất cẩn trọng không lặp lại chính mình trừ khi Ngài có chủ ý. Đôi khi một viên ngọc tri thức được đưa ra mà không thể tìm thấy ở nơi nào khác, và đó là một mảnh tri thức cần thiết để làm sáng tỏ tài liệu về sau được ban cho. |
|
Read all the Tibetan as if it were a great sphere of knowledge which will lead to enlightenment and to wisdom when the items of information are sufficiently cross-referenced. That’s all I’m trying to do in this series of commentaries: bring in that mercurian cross-referencing which will allow the light to break forth in new and unexpected ways. The Tibetan has said what has to be said to us at this present time, but we can make more of his books than simply memorizing what he said. We can cross-reference. We can find and link up with other sections of the spherical presentation which presents something on the nature of the subject that we are now studying, and greater light can break forth. |
Hãy đọc toàn bộ Chân sư Tây Tạng như thể đó là một khối cầu tri thức lớn sẽ dẫn đến giác ngộ và minh triết khi các mục thông tin được đối chiếu đầy đủ. Đó là tất cả những gì tôi đang cố gắng làm trong loạt bình giảng này: đưa vào sự đối chiếu kiểu Sao Thủy, điều sẽ cho phép ánh sáng bùng phát theo những cách mới và bất ngờ. Chân sư Tây Tạng đã nói những gì cần phải nói với chúng ta vào thời điểm hiện tại này, nhưng chúng ta có thể làm được nhiều hơn với các sách của Ngài hơn là chỉ ghi nhớ những gì Ngài đã nói. Chúng ta có thể đối chiếu. Chúng ta có thể tìm thấy và liên kết với những phần khác của sự trình bày hình cầu, vốn trình bày điều gì đó về bản chất của đề tài mà chúng ta hiện đang nghiên cứu, và ánh sáng lớn hơn có thể bùng phát. |
|
We want that illumination of the soul and eventually of the higher mind and other aspects of ourselves so that we can really participate intelligently in the Divine Plan. |
Chúng ta muốn sự soi sáng ấy của linh hồn, và cuối cùng của thượng trí cùng những phương diện khác của chính mình, để chúng ta thật sự có thể tham dự một cách thông minh vào Thiên Cơ. |
|
The pioneers of the human family, |
Những người tiên phong của gia đình nhân loại, |
|
the scientists, thinkers and artists constitute the pituitary body. |
các nhà khoa học, nhà tư tưởng và nghệ sĩ cấu thành tuyến yên. |
|
It’s quite an analogy and a distinction. Note the distinction between the spiritual types and the pioneers who are not yet concerned with spirituality per se. Of course, many do evolve onto that. In my own case, as an artist, a singer, an actor, a stage director — all ray four stuff — I evolved onto the spiritual path, and I didn’t stay there. Maybe I recapitulated, whatever, but you cannot tell whether a person will stay in the pituitary area for the entire life or will move in the direction of pioneer work, because the work of being a pioneer, a scientist, a thinker, an artist was preliminary and a jumping off point into further possibilities. |
Đó là một phép tương đồng và một sự phân biệt đáng kể. Hãy lưu ý sự phân biệt giữa các kiểu người tinh thần và những người tiên phong chưa quan tâm đến chính tinh thần. Dĩ nhiên, nhiều người thật sự tiến hoá đến điều đó. Trong trường hợp riêng của tôi, với tư cách một nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên, đạo diễn sân khấu — tất cả đều là chất liệu cung bốn — tôi đã tiến hoá đến con đường tinh thần, và tôi đã không ở lại đó. Có lẽ tôi đã tái diễn, hay điều gì đó tương tự, nhưng các bạn không thể nói liệu một người sẽ ở lại vùng tuyến yên suốt cả đời, hay sẽ chuyển theo hướng công việc tiên phong, bởi công việc làm người tiên phong, nhà khoa học, nhà tư tưởng, nghệ sĩ vốn là bước sơ bộ và là điểm phóng vào những khả năng xa hơn. |
|
Examine your own life, and maybe some sort of life crisis would indicate to you that a change was imminent. Here you are studying Master DK intensively, as if it were, as Blavatsky might say, a great last hope, and maybe leaving behind some of the things that preoccupied you in the earlier part of your life. You’ve moved into the area of the pineal gland, which is essentially movement into the area of the soul and movement into the area of the spiritual hierarchy considered as the brain of humanity. |
Hãy xem xét đời sống của chính các bạn, và có lẽ một dạng khủng hoảng đời sống nào đó sẽ cho các bạn thấy rằng một sự thay đổi đang gần kề. Ở đây các bạn đang nghiên cứu Chân sư DK một cách sâu sắc, như thể đó là, theo cách bà Blavatsky có thể nói, một niềm hy vọng cuối cùng lớn lao, và có lẽ đang bỏ lại phía sau một số điều đã chiếm giữ các bạn trong phần đầu đời. Các bạn đã đi vào vùng của tuyến tùng, vốn về bản chất là sự chuyển động vào vùng của linh hồn và vào vùng của Thánh Đoàn Tinh Thần được xem như bộ não của nhân loại. |
|
These pioneers, because the pituitary is concrete, |
Những người tiên phong này, bởi tuyến yên là cụ thể, |
|
They express the concrete mind but lack that intuitive perception and idealism which would place them (symbolically speaking) in the pineal gland; they are nevertheless brilliant, expressive and investigating. |
Họ biểu hiện trí cụ thể nhưng thiếu tri giác trực giác và chủ nghĩa lý tưởng vốn sẽ đặt họ, nói theo biểu tượng, vào tuyến tùng; tuy vậy họ vẫn rực rỡ, biểu cảm và tìm tòi. |
|
Sometimes a lot more brilliant than the disciples, sometimes more brilliant than the spiritual types. You must never underestimate them. Their work can lead into intuitive perception. You see many artists that have this astral-Buddhic thing. They don’t necessarily know how they get there. They don’t necessarily think it through in terms of occult meditation, but they arrive at an intuitive impression. The art of the future, as DK tells us in Esoteric Psychology I, will involve the methods of inducing soul control under the intuition. |
Đôi khi họ rực rỡ hơn rất nhiều so với các đệ tử, đôi khi rực rỡ hơn các kiểu người tinh thần. Các bạn không bao giờ được đánh giá thấp họ. Công việc của họ có thể dẫn vào tri giác trực giác. Các bạn thấy nhiều nghệ sĩ có điều cảm dục-Bồ đề này. Họ không nhất thiết biết họ đến đó bằng cách nào. Họ không nhất thiết suy nghĩ thấu đáo điều đó theo tham thiền huyền bí, nhưng họ đạt đến một ấn tượng trực giác. Nghệ thuật của tương lai, như Chân sư DK nói với chúng ta trong Tâm Lý Học Nội Môn I, sẽ bao gồm các phương pháp tạo ra sự kiểm soát của linh hồn dưới trực giác. |
|
The objective of the Hierarchy (again symbolically speaking) [18_11] |
Mục tiêu của Thánh Đoàn, lại nói theo biểu tượng, |
|
He doesn’t want us to think too anatomically in this particular case— |
Ngài không muốn chúng ta suy nghĩ quá giải phẫu học trong trường hợp đặc biệt này — |
|
is to make the pineal gland so potent and, therefore, so attractive that the pituitary body of cell lives may be stimulated and thus a close interplay be brought about. |
là làm cho tuyến tùng trở nên mạnh mẽ đến mức, và do đó hấp dẫn đến mức, tuyến yên của các sự sống tế bào có thể được kích thích, và nhờ vậy một sự tương tác mật thiết được tạo ra. |
|
How strong is the soul in us? Can it really attract the personality in us so that there is a true interplay between soul and personality, individually and in terms of humanity? This interactivity is, in a way, the interplay between Vulcan and Venus. They eventually marry, though I don’t think it was such a happy marriage at first, with the personality wanting something much different than the more severe Vulcan wanted. |
Linh hồn trong chúng ta mạnh đến đâu? Nó có thể thật sự thu hút phàm ngã trong chúng ta để có một sự tương tác chân thật giữa linh hồn và phàm ngã, cả nơi cá nhân lẫn nơi nhân loại hay không? Theo một cách nào đó, tính tương tác này là sự tương tác giữa Vulcan và Sao Kim. Cuối cùng họ kết hôn, dù tôi không nghĩ đó là một cuộc hôn nhân hạnh phúc lúc đầu, với phàm ngã muốn điều gì đó rất khác với điều Vulcan nghiêm khắc hơn mong muốn. |
|
Vulcan rules the head center and the pineal gland in a way, and Venus rules the adjunct center. I saw a lady today from Nepal and the red dot was not where you expected—it was right at the hairline, which tells us something about yet another center, maybe sometimes called the brow center, which has to be activated. When it comes to the horn of the unicorn, it’s difficult to say whether it arises from the asana center or from this other more esoteric center. |
Vulcan cai quản trung tâm đầu và tuyến tùng theo một cách nào đó, còn Sao Kim cai quản trung tâm phụ trợ. Hôm nay tôi thấy một phụ nữ từ Nepal, và chấm đỏ không ở nơi các bạn mong đợi — nó ở ngay đường chân tóc, điều này cho chúng ta biết điều gì đó về một trung tâm khác nữa, có lẽ đôi khi được gọi là trung tâm trán, vốn phải được kích hoạt. Khi nói đến chiếc sừng của kỳ lân, thật khó nói nó phát sinh từ trung tâm ajna hay từ trung tâm khác huyền bí hơn này. |
|
If we want that horn to arise, we increase our perception and increase our defense of the divine plan. We are willing to fight the fighting and triumphant beast, the unicorn, the initiate for the higher good. We detect certain things and use this in our glamour work. Everyone’s unicorn horn, as developing, is an organ of dissipation of glamour. |
Nếu chúng ta muốn chiếc sừng ấy phát sinh, chúng ta gia tăng tri giác của mình và gia tăng sự bảo vệ Thiên Cơ. Chúng ta sẵn sàng chiến đấu như con thú chiến đấu và khải hoàn, kỳ lân, điểm đạo đồ vì điều thiện cao hơn. Chúng ta phát hiện những điều nhất định và dùng điều này trong công việc ảo cảm của mình. Chiếc sừng kỳ lân của mỗi người, khi đang phát triển, là một cơ quan làm tiêu tan ảo cảm. |
|
The objective of hierarchy, again, symbolically—which means not precisely anatomically—is to make the pineal gland in humanity, among human beings, and in all aspirants, probationers, and true disciples, and certainly within initiates, so potent and therefore so attractive. It’s that first ray attractiveness in a way that the pituitary body of cell lives may be stimulated and thus a close interplay be brought about. This tells us a lot about the kind of effect that people like ourselves should have upon these types that he mentions. |
Mục tiêu của Thánh Đoàn, một lần nữa, theo biểu tượng — nghĩa là không chính xác theo giải phẫu học — là làm cho tuyến tùng trong nhân loại, giữa con người, và trong tất cả những người chí nguyện, đệ tử dự bị, và đệ tử chân chính, và chắc chắn bên trong các điểm đạo đồ, mạnh mẽ đến mức và do đó hấp dẫn đến mức. Theo một cách nào đó, đó là sức hấp dẫn cung một đến nỗi tuyến yên của các sự sống tế bào có thể được kích thích và nhờ vậy một sự tương tác mật thiết được tạo ra. Điều này nói cho chúng ta rất nhiều về kiểu ảnh hưởng mà những người như chúng ta nên có đối với các kiểu người mà Ngài đề cập. |
|
Often they, as we, live in our own worlds, and the interplay is not necessarily easy. Being Cancer Rising, I have what you call friendship retention, and a lot of people from my early life experience remain connected with me. Looking backwards, having that sense of history, I often discover that they are still working at that pituitary level very brilliantly, some of them more brilliant than I am for sure, concretely brilliant. But to make the bridge to this intangible soul being and to make a greater bridge into the spiritual triad is just not within their range of interest or even possibilities at this time. |
Thường họ, cũng như chúng ta, sống trong thế giới riêng của mình, và sự tương tác không nhất thiết dễ dàng. Vì có dấu hiệu mọc Cự Giải, tôi có điều mà các bạn gọi là sự giữ gìn tình bạn, và nhiều người từ kinh nghiệm đời sống ban đầu của tôi vẫn còn liên hệ với tôi. Khi nhìn lại, với ý thức lịch sử ấy, tôi thường khám phá rằng họ vẫn đang làm việc ở cấp độ tuyến yên ấy một cách rất rực rỡ, một số người chắc chắn rực rỡ hơn tôi, rực rỡ một cách cụ thể. Nhưng việc bắt cầu đến hữu thể linh hồn vô hình này, và bắt một cây cầu lớn hơn vào Tam Nguyên Tinh Thần, chỉ không nằm trong phạm vi quan tâm của họ, hoặc thậm chí không nằm trong các khả năng của họ vào lúc này. |
|
Being the proselytizing type, it’s kind of my job, maybe they don’t consider so, to awaken my friends to greater possibilities, even as they remind me of all the concrete knowledge that I have not attained and have yet to attain. An interplay will be brought about between the pituitary and the pineal, thus between the soul and the personality—pituitary and ajna, and between the head center, pineal and soul. When you add the alta major in, you do have the possibility of creating the initiate through that activated triangle. The real magnetism of healing can occur through this interplay between Vulcan and Venus. |
Vì thuộc kiểu người truyền bá, có lẽ đó là công việc của tôi, dù có thể họ không xem là vậy, để đánh thức các bạn thân mến của tôi trước những khả năng lớn hơn, ngay cả khi họ nhắc tôi nhớ đến tất cả tri thức cụ thể mà tôi chưa đạt được và còn phải đạt được. Một sự tương tác sẽ được tạo ra giữa tuyến yên và tuyến tùng, như vậy giữa linh hồn và phàm ngã — tuyến yên và ajna, và giữa trung tâm đầu, tuyến tùng và linh hồn. Khi các bạn thêm alta major vào, các bạn thật sự có khả năng tạo ra điểm đạo đồ qua tam giác được kích hoạt ấy. Từ điện chữa lành thực sự có thể xảy ra qua sự tương tác này giữa Vulcan và Sao Kim. |
|
This will lead to such potent action that there will be a streaming forth of new cells to the pineal gland and at the same time such a strong reaction set up that the entire body will be affected, resulting in the streaming upward of many stimulated lives to take the places of those who are finding their way into the centre of hierarchical endeavour. [18_12] |
Điều này sẽ dẫn đến một hành động mạnh mẽ đến mức sẽ có sự tuôn chảy của các tế bào mới đến tuyến tùng, đồng thời tạo ra một phản ứng mạnh đến mức toàn bộ cơ thể sẽ bị tác động, đưa đến sự tuôn chảy hướng thượng của nhiều sự sống được kích thích để chiếm lấy vị trí của những sự sống đang tìm đường vào trung tâm nỗ lực của Thánh Đoàn. |
|
If we stimulate certain people, then other people will also be stimulated, and there will be a general rising. We can’t raise everybody, nor is it our job to do so, nor are we capable of doing so. However, if we stimulate the ones we can stimulate, then they in turn will stimulate those they can stimulate, and vice versa, onward and onward, and there will be the rising, the general rising of human cells to the next higher center. |
Nếu chúng ta kích thích một số người nào đó, thì những người khác cũng sẽ được kích thích, và sẽ có một sự vươn lên chung. Chúng ta không thể nâng tất cả mọi người lên, đó cũng không phải công việc của chúng ta, và chúng ta cũng không có khả năng làm như vậy. Tuy nhiên, nếu chúng ta kích thích những người mình có thể kích thích, thì đến lượt họ sẽ kích thích những người họ có thể kích thích, và ngược lại, tiếp diễn mãi, và sẽ có sự vươn lên, sự vươn lên chung của các tế bào nhân loại đến trung tâm cao hơn kế tiếp. |
|
We can’t say we can reach out and reach all of humanity. Even the Christ couldn’t do it—not everybody. Nor the Buddha—not everybody. They were widely famous, of course, and widely respected and revered, but not everybody. |
Chúng ta không thể nói rằng mình có thể vươn ra và chạm đến toàn thể nhân loại. Ngay cả Đức Christ cũng không thể làm điều đó — không phải với tất cả mọi người. Đức Phật cũng vậy — không phải với tất cả mọi người. Dĩ nhiên, Các Ngài nổi tiếng rộng rãi, được tôn trọng và tôn kính rộng rãi, nhưng không phải bởi tất cả mọi người. |
|
Our circle may be very small, but let us at least stimulate those we can stimulate, who inevitably will pass on the stimulation, and on it will go. Cells will move from center to center. We are cells. In terms of our life within the planetary logos, we can be considered cells and much smaller units in relation to larger encompassing beings and wholes. |
Vòng tròn của chúng ta có thể rất nhỏ, nhưng ít nhất chúng ta hãy kích thích những người mình có thể kích thích, những người chắc chắn sẽ truyền sự kích thích ấy đi, và nó sẽ tiếp diễn. Các tế bào sẽ di chuyển từ trung tâm này sang trung tâm khác. Chúng ta là các tế bào. Xét theo sự sống của chúng ta bên trong Hành Tinh Thượng đế, chúng ta có thể được xem là các tế bào và những đơn vị nhỏ hơn nhiều trong tương quan với các hữu thể và toàn thể lớn hơn đang bao hàm chúng ta. |
|
The “waters of space”, in which this re-orientation and reversal of tendencies is progressing, are in a state of violent turmoil. [18_13] |
“Những dòng nước của không gian”, trong đó sự tái định hướng và đảo ngược các khuynh hướng này đang tiến triển, đang ở trong một trạng thái xáo động dữ dội. |
|
What can we consider these waters to be? Consider them to be all the personality forces—etheric, astral, and even mental. There is ferment and chaotic movement until we get a hold of it and really understand what it is. |
Chúng ta có thể xem những dòng nước này là gì? Hãy xem chúng là tất cả các mãnh lực phàm ngã — dĩ thái, cảm dục, và ngay cả trí tuệ. Có sự lên men và chuyển động hỗn loạn cho đến khi chúng ta nắm được nó và thật sự thấu hiểu nó là gì. |
|
We’re in a very disturbed environment from which we have to attract and gain strength and grow. In the East, there was a settled environment and occultism could flourish, but now occultism is moving to the West with its second-ray soul, and in the East, a lot of third-ray, a lot of commercialism, not a lot of imitation of that which made possible the rising of the West at an earlier time. Things are not predictable now. Things are chaotic now. Maybe there are no or very few places where a truly settled occult environment exists in which true occult study and application can occur. Maybe there was more of that at the time the Tibetan wrote these books about possibilities of real occult study. |
Chúng ta đang ở trong một môi trường rất xáo trộn, từ đó chúng ta phải thu hút và giành lấy sức mạnh cũng như trưởng thành. Ở phương Đông từng có một môi trường ổn định và huyền bí học có thể hưng thịnh, nhưng nay huyền bí học đang chuyển sang phương Tây với linh hồn cung hai của nó, còn ở phương Đông thì có rất nhiều cung ba, rất nhiều thương mại hóa, và không ít sự bắt chước điều từng làm cho phương Tây vươn lên vào một thời kỳ trước đó. Hiện nay mọi sự không thể đoán trước. Hiện nay mọi sự hỗn loạn. Có lẽ không có, hoặc có rất ít nơi, tồn tại một môi trường huyền bí thật sự ổn định, trong đó việc nghiên cứu và ứng dụng huyền bí chân chính có thể xảy ra. Có lẽ vào thời Chân sư Tây Tạng viết các sách này, có nhiều điều như vậy hơn về những khả năng của việc nghiên cứu huyền bí thực sự. |
|
Remember, this little section is called Hindrances to Occult Study. The hindrances come in all manner of shapes and forms. You may find them in your home, in your environment, in your workplace. There is a settled pattern, which is a condition and not an archetypal condition, which is inimical to your progress upon the path and which has an entirely different set of values. Somehow through skill and action, we have to find a way to appreciate, absorb, and apply these new values. |
Hãy nhớ rằng phần nhỏ này được gọi là Những Chướng Ngại đối với Việc Nghiên Cứu Huyền Bí. Các chướng ngại đến dưới đủ mọi hình dạng và hình tướng. Các bạn có thể tìm thấy chúng trong nhà mình, trong môi trường của mình, nơi làm việc của mình. Có một mô hình đã ổn định, vốn là một điều kiện chứ không phải một điều kiện nguyên mẫu, thù nghịch với sự tiến bộ của các bạn trên Đường Đạo và có một hệ giá trị hoàn toàn khác. Bằng cách nào đó, qua kỹ năng và hành động, chúng ta phải tìm ra một cách để trân trọng, hấp thụ và áp dụng những giá trị mới này. |
|
Alice Bailey, packing sardines as we’re told in The Unfinished Autobiography, found a way. She found a way to read and iron and take care of the children all at the same time. I can almost imagine her rocking the cradle with her foot, doing the ironing, and reading on the side—total Gemini multitasking approach. |
Alice Bailey, khi đóng hộp cá mòi như chúng ta được kể trong Tự Truyện Chưa Hoàn Tất, đã tìm ra một cách. Bà tìm ra cách vừa đọc, vừa ủi đồ, vừa chăm sóc con cái cùng một lúc. Tôi gần như có thể hình dung bà dùng chân đưa nôi, ủi đồ, và đọc sách bên cạnh — một cách tiếp cận đa nhiệm hoàn toàn kiểu Song Tử. |
|
The vortex of conflicting desire |
Cơn xoáy của dục vọng xung đột |
|
The hierarchy is impacting, the Black Lodge is impacting, the spiritual ferment and the life of desire are all impacting. The astral plane, the energy of fear is impacting. We’re getting close to the point where we’re going to realize that we are not the dense physical body. People have their bucket list, everything they want to do before they die, as we say in English, kick the bucket. But the bucket is the vessel, it is the outer form, and all the waters of life are stored in the bucket. When we kick the bucket, we’re in a way rejecting the vessel and identifying with a higher type of form. |
Thánh Đoàn đang tác động, Hắc đoàn đang tác động, sự lên men tinh thần và đời sống dục vọng đều đang tác động. Cõi cảm dục, năng lượng sợ hãi đang tác động. Chúng ta đang tiến gần đến điểm sẽ nhận ra rằng chúng ta không phải là thể xác đậm đặc. Người ta có danh sách những điều muốn làm trước khi chết; như chúng ta nói trong tiếng Anh, “đá cái xô”. Nhưng cái xô là bình chứa, là hình tướng bên ngoài, và mọi dòng nước của sự sống được chứa trong cái xô ấy. Khi chúng ta “đá cái xô”, theo một cách nào đó chúng ta đang từ chối bình chứa và đồng hoá với một loại hình tướng cao hơn. |
|
I remember a film called “It’s a Mad, Mad World”, about 30 or 40 years ago, with old stars like Sid Caesar and Jimmy Durante. It all begins with Jimmy Durante lying there just about ready to die, maybe he’s been in a car accident or shot. Just at the end of his last words, his left foot straightens out and kicks a bucket, which rolls all the way down the mountain. He kicked the bucket. |
Tôi nhớ một bộ phim tên là “Đó là một thế giới điên rồ, điên rồ”, khoảng 30 hay 40 năm trước, với những ngôi sao cũ như Sid Caesar và Jimmy Durante. Tất cả bắt đầu với cảnh Jimmy Durante nằm đó, gần như sắp chết, có lẽ ông đã bị tai nạn xe hơi hoặc bị bắn. Ngay cuối những lời sau cùng của ông, bàn chân trái của ông duỗi thẳng ra và đá vào một cái xô, cái xô lăn tuốt xuống núi. Ông đã “đá cái xô” — ông đã qua đời. |
|
That doesn’t mean we have to spurn the globe of Earth, kicking it like a ball, as the different planetary ray lords advise one of the ray lords—they say to the sixth ray lord, don’t do that. But we can certainly remember the dispensability of the bucket. Study one’s bucket list—it tells us about our desires. |
Điều đó không có nghĩa là chúng ta phải khinh bỏ bầu hành tinh Trái Đất, đá nó như một quả bóng, như các Đấng Chúa Tể cung hành tinh khác nhau khuyên một trong các Đấng Chúa Tể cung — các Ngài nói với Đấng Chúa Tể Cung sáu rằng: đừng làm như thế. Nhưng chắc chắn chúng ta có thể nhớ đến tính có thể bỏ qua của cái xô. Hãy nghiên cứu danh sách những điều mình muốn làm trước khi chết — nó cho chúng ta biết về các dục vọng của mình. |
Đó là bộ phim hài kinh điển “It’s a Mad, Mad, Mad, Mad World” (1963) của đạo diễn Stanley Kramer.
Đoạn bạn nhắc đến là cảnh mở đầu nổi tiếng khi nhân vật Smiler Grogan do Jimmy Durante thủ vai bị tai nạn xe hơi. Trước khi chết, ông tiết lộ rằng mình đã chôn một số tiền khổng lồ dưới “chữ W lớn” ở công viên Santa Rosita. Sau đó ông duỗi chân đá vào cái xô — một trò đùa hình ảnh cho thành ngữ tiếng Anh “kick the bucket” (chết).
Nội dung phim:
· Một nhóm người xa lạ tình cờ nghe được lời trăng trối về kho tiền bị giấu.
· Ban đầu họ định chia đều, nhưng lòng tham nhanh chóng khiến tất cả lao vào một cuộc đua điên loạn xuyên California để giành tiền trước người khác.
· Phim là chuỗi hỗn loạn hài hước gồm tai nạn xe, máy bay rơi, đánh nhau, phá hoại, truy đuổi và đủ loại tình huống phi lý.
· Đây là kiểu “ensemble comedy” với dàn sao hài huyền thoại thời đó: Spencer Tracy, Sid Caesar, Milton Berle, Buddy Hackett, Mickey Rooney, Jonathan Winters, Terry-Thomas…
Điểm đặc biệt:
· Đây được xem là một trong những phim hài “điên loạn” lớn nhất Hollywood cổ điển.
· Phim nổi tiếng vì quy tụ cực nhiều danh hài nổi tiếng trong cùng một tác phẩm.
· Ảnh hưởng của nó rất lớn đến các phim sau này như Rat Race, Cannonball Run hay các phim kiểu “nhiều người tranh giành kho báu”.
Cảnh Jimmy Durante “đá cái xô” là một trong những gag nổi tiếng nhất lịch sử phim hài Mỹ.
|
The vortex of conflicting desire in which men find themselves is now chaotic and so potent that these waters are stirred to their very depths. |
Vòng xoáy của dục vọng xung đột trong đó con người đang thấy mình hiện diện nay hỗn loạn và mạnh mẽ đến mức những dòng nước này bị khuấy động đến tận chiều sâu của chúng. |
|
The waters do not mean only one thing, but are various and with various parts. In a way, all of matter is water from the symbolic perspective. We’re being nourished by the certain waters of life and the thought form from the soul and mental plane has to come down and be especially nourished by the waters of desire—right desire, hopefully that will help us set our form upon the proper path. But the waters are more than that. The waters of space are vast, and all the different logoi are being, in a way, bathed and nourished within and by the appropriate waters of space. |
Những dòng nước không chỉ hàm ý một điều duy nhất, mà rất đa dạng và có nhiều phần khác nhau. Theo một cách nào đó, toàn bộ vật chất là nước xét từ viễn cảnh biểu tượng. Chúng ta đang được nuôi dưỡng bởi những dòng nước nhất định của sự sống, và hình tư tưởng từ linh hồn và cõi trí phải đi xuống và đặc biệt được nuôi dưỡng bởi các dòng nước của dục vọng — hy vọng là dục vọng đúng đắn, điều sẽ giúp chúng ta đặt hình tướng của mình trên con đường thích hợp. Nhưng các dòng nước còn hơn thế nữa. Các dòng nước của không gian thì bao la, và tất cả các Thượng đế khác nhau, theo một cách nào đó, đang được tắm gội và nuôi dưỡng trong, và bởi, những dòng nước thích hợp của không gian. |
|
Students of modern history and of social order are faced with an unprecedented condition, corresponding in the corporate body of humanity to that upheaval in the life of an individual aspirant which always precedes the passing onto the Path of Discipleship. [18_14] |
Các đạo sinh về lịch sử hiện đại và trật tự xã hội đang đối diện với một tình trạng chưa từng có, tương ứng trong thân thể tập thể của nhân loại với sự biến động trong đời sống của một người chí nguyện cá nhân, vốn luôn luôn đi trước việc bước vào Con Đường Đệ Tử. |
|
Is this the first degree or earlier? If earlier, then we have fifth petal issues ruled by Scorpio, or by Leo, the fifth sign, and Scorpio, which is number five, when we start the zodiac in the clockwise manner, with Pisces, Aquarius, Capricorn, Sagittarius, and then Scorpio number five. Upheaval is occurring, and it’s getting more and more intensified. Matter of fact, the next few years, I think we face climatically upheaval, which I think will bring people to their senses or be responsible for a verdict that will mean possibly the end of humanity as we know it. |
Đây là cấp độ thứ nhất hay còn sớm hơn? Nếu sớm hơn, thì chúng ta có các vấn đề của cánh hoa thứ năm do Hổ Cáp cai quản, hoặc do Sư Tử, dấu hiệu thứ năm, và Hổ Cáp, vốn là số năm khi chúng ta bắt đầu hoàng đạo theo chiều kim đồng hồ, với Song Ngư, Bảo Bình, Ma Kết, Nhân Mã, rồi đến Hổ Cáp là số năm. Biến động đang xảy ra, và nó ngày càng tăng cường. Thật ra, trong vài năm tới, tôi nghĩ chúng ta sẽ đối diện với biến động khí hậu, điều mà tôi nghĩ sẽ khiến con người tỉnh ngộ, hoặc sẽ chịu trách nhiệm cho một phán quyết có thể có nghĩa là sự kết thúc của nhân loại như chúng ta biết. |
|
We’re faced with an unprecedented condition. Remember, late 20s, early 30s—that’s when this was written. But this upheaval is natural enough, because the aspirant experiences it. Remember that we become an aspirant as we are unfolding the fifth petal, and there’s some related unfolding of a lesser degree in petals ahead simultaneously. |
Chúng ta đang đối diện với một tình trạng chưa từng có. Hãy nhớ, cuối thập niên 20, đầu thập niên 30 — đó là lúc đoạn này được viết. Nhưng sự biến động này đủ tự nhiên, vì người chí nguyện kinh nghiệm nó. Hãy nhớ rằng chúng ta trở thành người chí nguyện khi đang khai mở cánh hoa thứ năm, và đồng thời cũng có sự khai mở liên hệ ở mức độ nhỏ hơn nơi những cánh hoa phía trước. |
|
Hence there is no cause for depression or undue anxiety, but only ardent desire that the transition may be made in due time and order and be neither too rapid—hence destructive to all right ties and affiliations—nor too prolonged and so strain beyond endurance the sorely tried fabric of humanity. [18_15] |
Do đó, không có lý do gì để trầm uất hay lo âu quá mức, mà chỉ cần dục vọng nồng nhiệt rằng sự chuyển tiếp có thể được thực hiện đúng thời và đúng trật tự, không quá nhanh — do đó phá hoại mọi liên hệ và kết giao đúng đắn — cũng không quá kéo dài để rồi làm căng quá sức chịu đựng tấm vải nhân loại vốn đã bị thử thách đau đớn. |
|
We’re just about at an hour, but I’m going to continue because time is short, and I don’t always have the opportunity to work in this way. I will continue the best I can. |
Chúng ta gần được một giờ rồi, nhưng tôi sẽ tiếp tục vì thời gian ngắn, và không phải lúc nào tôi cũng có cơ hội làm việc theo cách này. Tôi sẽ tiếp tục hết sức có thể. |
|
The Hierarchy is doing a balancing act. The Divine Plan cannot be revealed too soon, nor too late. The destruction of that which is of value would ensue should everything be too rapid and not enough time be given for proper adjustment. If this is too prolonged, then humanity might wear out, just the way an individual can wear out. This is where Libra enters—the way the Hierarchy does things, because hierarchy represents the soul of our planetary chain—Sanat Kumara, or the soul of our planetary chain—it has to wield this Libran energy in order to keep the balance, because the balance is related to the Divine Plan. |
Thánh Đoàn đang thực hiện một hành động cân bằng. Thiên Cơ không thể được mặc khải quá sớm, cũng không quá muộn. Sự phá hủy những gì có giá trị sẽ xảy ra nếu mọi sự quá nhanh và không có đủ thời gian cho sự điều chỉnh thích hợp. Nếu điều này quá kéo dài, thì nhân loại có thể kiệt quệ, giống như một cá nhân có thể kiệt quệ. Đây là nơi Thiên Bình bước vào — cách Thánh Đoàn làm việc, bởi vì Thánh Đoàn đại diện cho linh hồn của Dãy hành tinh chúng ta — Đức Sanat Kumara, hoặc linh hồn của Dãy hành tinh chúng ta — phải vận dụng năng lượng Thiên Bình này để giữ sự cân bằng, vì sự cân bằng liên hệ với Thiên Cơ. |
|
The Divine Plan is related to the atmic plane, which is ruled by the triangle, which is ruled by Libra. We must maintain in our own lives and maintain planetarily a constructive balance, which does not allow the destruction that can occur on either side—between Scylla and Charybdis. These are either two whirlpools or one rock and one whirlpool. Too far on either side, destruction lies, and you have to be able to navigate on the middle path between them. Things can look good. |
Thiên Cơ liên hệ với cõi atma, vốn được cai quản bởi tam giác, mà tam giác được cai quản bởi Thiên Bình. Trong đời sống riêng của mình và trên bình diện hành tinh, chúng ta phải duy trì một sự cân bằng xây dựng, không cho phép sự hủy diệt có thể xảy ra ở bất cứ phía nào — giữa Scylla và Charybdis. Đây hoặc là hai xoáy nước, hoặc là một tảng đá và một xoáy nước. Quá xa về bất cứ bên nào thì đều có sự hủy diệt, và bạn phải có khả năng điều hướng trên con đường ở giữa chúng. Mọi sự có thể trông tốt đẹp. |
|
We’re at that hour point, but I go on. Things can look good. |
Chúng ta đang ở điểm một giờ đó, nhưng tôi tiếp tục. Mọi sự có thể trông tốt đẹp. |
|
If we realize that this is no terrible situation, but full of promise, just the way the stresses and strains through which the aspirant passes predict a possible good outcome and are full of promise, |
Nếu chúng ta nhận ra rằng đây không phải là một tình huống khủng khiếp, mà đầy hứa hẹn, giống như các căng thẳng và áp lực mà người chí nguyện trải qua báo trước một kết quả tốt đẹp có thể có và đầy hứa hẹn, |
|
All new manifestations in all kingdoms in all ages must come slowly, and therefore safely, to the birthing. [18_16] |
Mọi biểu hiện mới trong mọi giới, ở mọi thời đại, phải đi đến sự khai sinh một cách chậm rãi, và do đó an toàn. |
|
Here we have the wise use of slow action on the second ray, “Make haste slowly”. This is what that very second ray individual, Roberto Assagioli, tended to emphasize—that ancient statement, valuable for all disciples: make haste slowly. |
Ở đây chúng ta có việc sử dụng minh triết của hành động chậm rãi trên cung hai: “Hãy vội vàng một cách chậm rãi”. Đây là điều mà cá nhân cung hai rất rõ rệt ấy, Roberto Assagioli, có khuynh hướng nhấn mạnh — phát biểu cổ xưa đó, có giá trị cho mọi đệ tử: hãy vội vàng một cách chậm rãi. |
|
All new forms, if they are ultimately to carry weight and gather adequate momentum to carry them through their life cycle, must be built in silent subjectivity, in order that the building may be strong and sure and the inner contact with the creator (human or divine) and true conformity to the pattern may be substantial and unbreakable. |
Mọi hình tướng mới, nếu cuối cùng chúng phải có trọng lượng và tích lũy đủ đà để đưa chúng đi suốt chu kỳ sống của mình, phải được xây dựng trong tính chủ quan thầm lặng, để công cuộc xây dựng có thể mạnh mẽ và chắc chắn, và để sự tiếp xúc bên trong với đấng sáng tạo, dù là con người hay thiêng liêng, cùng sự phù hợp chân thực với mô hình, có thể vững chắc và không thể phá vỡ. |
|
This is the real caution of the second ray type. |
Đây là lời cảnh giác thật sự của người cung hai. |
|
This is true of a universe. [18_17] |
Điều này đúng với một vũ trụ. |
|
What does he mean by universe? Even a solar system has been called a universe and galaxies have been called island universes. |
Ngài muốn nói gì bằng từ vũ trụ? Ngay cả một hệ mặt trời cũng đã được gọi là một vũ trụ, và các thiên hà đã được gọi là những vũ trụ hải đảo. |
|
“Slow but steady makes the race”, this is the old story of the tortoise and the hare, with the brilliant hare not succeeding, where the slow and steady tortoise succeeded. Maybe some of us would rather be the hare than the tortoise, but usually in our periods of personality expression and personality exaltation, which precede any true humbling required on the Path, we do go through that period of personality exaltation where we may be more like the hare. We seek for a more spectacular life, but as DK has told us, it’s frequently the unspectacular human being who makes the grade. No matter what we have been spectacular in the eyes of others or in the eyes of ourselves, may we settle down into a constructive non-spectacularity, ordinariness in a way, which will allow us really slowly and surely to avoid the pitfalls of the path and not living high on ourselves enter into destructive ways. |
“Chậm mà chắc sẽ thắng cuộc”, đây là câu chuyện xưa về rùa và thỏ, trong đó con thỏ lanh lợi không thành công, còn con rùa chậm rãi và vững vàng thì thành công. Có lẽ một số chúng ta thà là thỏ hơn là rùa, nhưng thường trong các thời kỳ biểu hiện phàm ngã và tôn vinh phàm ngã, vốn đi trước bất cứ sự khiêm hạ chân thật nào được đòi hỏi trên Đường Đạo, chúng ta thật sự đi qua thời kỳ tôn vinh phàm ngã đó, nơi chúng ta có thể giống con thỏ hơn. Chúng ta tìm kiếm một đời sống ngoạn mục hơn, nhưng như Chân sư DK đã nói với chúng ta, thường chính con người không ngoạn mục mới đạt chuẩn. Dù chúng ta đã từng ngoạn mục thế nào trong mắt người khác hay trong mắt chính mình, mong rằng chúng ta ổn định vào một tính không ngoạn mục có tính xây dựng, một sự bình thường theo cách nào đó, điều sẽ cho phép chúng ta thật sự chậm rãi và chắc chắn tránh được các cạm bẫy của con đường, và không sống quá cao về chính mình để rồi bước vào những đường lối phá hoại. |
|
You’ve sometimes seen how people who seem to have everything in the world—fame and riches and all the rest—they think this is all there is and they commit suicide. It’s a terrible thing to see because they haven’t been educated in the possibilities which slow and steady action could unfold for them. We need an ardent desire—DK, of course, He’s a very mental master in a way, but certainly He had this tremendous quality of ardent desirousness for the high things. That’s what we need. |
Đôi khi các bạn đã thấy những người dường như có mọi thứ trên đời — danh vọng, của cải và tất cả những điều còn lại — họ nghĩ đây là tất cả những gì hiện hữu, rồi họ tự sát. Đó là một điều khủng khiếp khi chứng kiến, vì họ chưa được giáo dục về những khả tính mà hành động chậm rãi và vững vàng có thể khai mở cho họ. Chúng ta cần một dục vọng nồng nhiệt — dĩ nhiên Chân sư DK, theo một cách nào đó, là một Chân sư rất trí tuệ, nhưng chắc chắn Ngài có phẩm tính mãnh liệt này của lòng khát khao nồng nhiệt đối với những điều cao cả. Đó là điều chúng ta cần. |
|
The desire is ardent, but the method is measured and balanced and within control. Imagine what would happen to the average magician if they got their spells mixed—what would you turn into and what destructive forces would you let in? Everything has to be under control. Even intuition has to be invoked under control and its indications have to be carried out under controlled and expansive thought. |
Dục vọng thì nồng nhiệt, nhưng phương pháp thì được đo lường, cân bằng và trong sự kiểm soát. Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra với nhà huyền thuật trung bình nếu họ làm lẫn lộn các câu chú của mình — các bạn sẽ biến thành gì, và các bạn sẽ để những mãnh lực phá hoại nào lọt vào? Mọi sự phải ở dưới sự kiểm soát. Ngay cả trực giác cũng phải được khẩn cầu dưới sự kiểm soát, và các chỉ dẫn của nó phải được thực hiện dưới tư tưởng có kiểm soát và mở rộng. |
|
This may be a little stultifying to the so-called inspirational type, but they’re often inspired by the astral body and not really by the intuition. Slow but steady makes the race and we’re all in that race. We’re in the path a long time, some of us many years relatively, but nothing compared to what Master DK has done over centuries and even millennia. |
Điều này có thể hơi làm cùn đi kiểu người được gọi là đầy cảm hứng, nhưng họ thường được cảm hứng bởi thể cảm dục chứ không thật sự bởi trực giác. Chậm mà chắc sẽ thắng cuộc, và tất cả chúng ta đều ở trong cuộc đua đó. Chúng ta ở trên con đường một thời gian dài, một số chúng ta tương đối nhiều năm, nhưng chẳng là gì so với những gì Chân sư DK đã làm qua nhiều thế kỷ, thậm chí nhiều thiên niên kỷ. |
|
If he was truly the second in command in the Pythagorean Academy, that’s 2,500 or 2,600 years ago. That’s a lot of work. That’s a lot of study. He never relented in this way on the studential path. He says he’s traveled a little longer. Well, maybe for a person who thinks in terms of centuries, that is just a little longer. Compared to what we’ve done, it seems like a very great accomplishment. |
Nếu Ngài thật sự là người thứ hai trong hàng lãnh đạo của Học viện Pythagoras, thì đó là 2.500 hay 2.600 năm trước. Đó là rất nhiều công việc. Đó là rất nhiều học hỏi. Ngài không bao giờ chùn bước theo cách này trên con đường đạo sinh. Ngài nói Ngài đã đi xa hơn một chút. À, có lẽ đối với một người nghĩ theo đơn vị thế kỷ, đó chỉ là xa hơn một chút. So với những gì chúng ta đã làm, điều đó dường như là một thành tựu rất lớn. |
|
In all form-building the technique of construction remains basically the same, and the rules and realizations may be summed up in the following aphoristic phrases. [18_18] |
Trong mọi công việc xây dựng hình tướng, kỹ thuật kiến tạo về căn bản vẫn như nhau, và các quy luật cùng những chứng nghiệm có thể được tóm lược trong các cụm từ cách ngôn sau đây. |
|
A fine teacher is always offering these aphorisms. |
Một huấn sư giỏi luôn luôn đưa ra những cách ngôn này. |
|
Let the creator know himself to be the builder, and not the building. [18_19] |
Hãy để đấng sáng tạo biết mình là đấng kiến tạo, chứ không phải công trình được kiến tạo. |
|
This is an issue about non-identification with that which is built. How many of us get absorbed in our creations in such a way that we think of ourselves as our creations? When something happens to our creation, we’re not happy and we forget who we are. This includes our body. In a way our body is a creation and we identify so deeply with our body that when something happens, we are in real trouble. Yes, we come to a very interesting section. What the Tibetan advises, what does He call it? |
Đây là một vấn đề về việc không đồng hoá với những gì được xây dựng. Bao nhiêu người trong chúng ta bị hút vào các sáng tạo của mình đến mức nghĩ mình chính là các sáng tạo ấy? Khi điều gì xảy ra với sáng tạo của mình, chúng ta không vui và quên mất mình là ai. Điều này bao gồm cả thể xác của chúng ta. Theo một cách nào đó, thể xác của chúng ta là một sáng tạo, và chúng ta đồng hoá quá sâu với thể xác đến nỗi khi có điều gì xảy ra, chúng ta thật sự gặp rắc rối. Vâng, chúng ta đi đến một phần rất thú vị. Điều Chân sư Tây Tạng khuyên, Ngài gọi đó là gì? |
|
In all form building, the technique of construction remains basically the same, and the rules and realizations may be summed up in the following aphoristic phrases. |
Trong mọi công việc xây dựng hình tướng, kỹ thuật kiến tạo về căn bản vẫn như nhau, và các quy luật và những chứng nghiệm có thể được tóm lược trong các cụm từ cách ngôn sau đây. |
|
It’s interesting that the Tibetan speaking about form building—well, how to know what are His rays, but obviously the second ray soul with a very strong third sub-ray in the soul, I believe, and a third ray monad. Who knows what it’s like on the logoic plane? But He has the seventh ray and the second ray is the ray of form building, and the seventh ray is the ray of manifestation, and the second and the seventh rays together have a tremendous healing possibility. They are the two major healing rays. |
Thật thú vị khi Chân sư Tây Tạng nói về việc xây dựng hình tướng — à, làm sao biết các cung của Ngài là gì, nhưng rõ ràng là linh hồn cung hai với một cung phụ thứ ba rất mạnh trong linh hồn, tôi tin vậy, và một chân thần cung ba. Ai biết được điều đó ra sao trên cõi Thượng đế? Nhưng Ngài có cung bảy, và cung hai là cung của việc xây dựng hình tướng, còn cung bảy là cung của biểu hiện; cung hai và cung bảy cùng nhau có khả năng trị liệu lớn lao. Chúng là hai cung trị liệu chính yếu. |
|
He is to be one of the externalizing masters, and I suppose it will be through a Mayavi rupa of some kind, and He will be teaching the methods of esoteric healing. The seventh ray is involved in all of this form building, and those disciples who have a strong material bias are involved in the healing work, he tells us. They have to have a good sense of what is matter, what is ether. He, encompassing five masters in His ashram, something of that nature, and five masters supervises and is capable along all these lines. |
Ngài sẽ là một trong các Chân sư ngoại hiện, và tôi cho rằng điều đó sẽ thông qua một loại Mayavi rupa nào đó, và Ngài sẽ giảng dạy các phương pháp Trị Liệu Huyền Môn. Cung bảy có liên quan trong toàn bộ việc xây dựng hình tướng này, và những đệ tử có khuynh hướng vật chất mạnh thì liên quan đến công việc trị liệu, Ngài nói với chúng ta như vậy. Họ phải có ý thức tốt về vật chất là gì, dĩ thái là gì. Ngài, bao gồm năm Chân sư trong ashram của Ngài, một điều gì đó thuộc bản chất ấy, và năm Chân sư giám sát và có năng lực theo tất cả những đường hướng này. |
|
Let the creator know himself to be the builder and not the building. Non-identification with that which is built. When we identify ourselves with the form, all kinds of imprisonment occurs, and of course, mistaken identity is the great factor which makes us identify with the form. We have to dis-identify. This comes in Patanjali’s work and throughout Raja Yoga: “I have, but I am not.” |
Hãy để đấng sáng tạo biết mình là đấng kiến tạo chứ không phải công trình được kiến tạo. Không đồng hoá với những gì được xây dựng. Khi chúng ta đồng hoá chính mình với hình tướng, đủ loại giam hãm xảy ra, và dĩ nhiên, sự nhận lầm bản sắc là yếu tố lớn khiến chúng ta đồng hoá với hình tướng. Chúng ta phải thôi đồng hoá. Điều này xuất hiện trong công trình của Patanjali và xuyên suốt Raja Yoga: “Tôi có, nhưng tôi không phải là cái đó.” |
|
Let him desist from dealing with the raw material on the physical plane, and let him study the pattern and the blue prints, acting as the agent of the Divine Mind. |
Hãy để y thôi xử lý nguyên liệu thô trên cõi hồng trần, và hãy để y nghiên cứu mô hình cùng các bản thiết kế, hành động như tác nhân của Trí thiêng liêng. |
|
The elementals are the raw materials, and the devas that he can manipulate can direct these raw materials into patterns which reflect or correspond to his—the magician’s—intention. We have to have the hands-on approach, of course, to a degree, but when we find that we can stand at a point of leverage which is more powerful than the strictly human point, the point working from the very lowest plane, then we should stand at that point. We should stand at a point of power which is available to us and from which we can simply get more done. |
Các hành khí là nguyên liệu thô, và các thiên thần mà y có thể điều khiển có thể hướng dẫn các nguyên liệu thô này vào những mô hình phản ánh hoặc tương ứng với ý định của y — của nhà huyền thuật. Dĩ nhiên, chúng ta phải có phương thức trực tiếp tham dự ở một mức độ nào đó, nhưng khi chúng ta thấy rằng mình có thể đứng tại một điểm đòn bẩy mạnh hơn điểm hoàn toàn nhân loại, điểm làm việc từ cõi thấp nhất, thì chúng ta nên đứng tại điểm ấy. Chúng ta nên đứng tại một điểm quyền năng có sẵn cho mình và từ đó chúng ta đơn giản có thể làm được nhiều hơn. |
|
Let him use two energies and work with three laws. [18_20] |
Hãy để y dùng hai năng lượng và làm việc với ba định luật. |
|
Let’s see what he has in mind here. Let him work with two energies and work with three laws. |
Hãy xem Ngài có điều gì trong trí ở đây. Hãy để y làm việc với hai năng lượng và làm việc với ba định luật. |
|
These are the dynamic energy of purpose, conforming to the Plan, |
Đó là năng lượng năng động của mục đích, phù hợp với Thiên Cơ, |
|
Sometimes I’ve thought that Plan conforms to the Purpose, but anyway, they are so related—Plan being more specific in time and space— |
Đôi khi tôi từng nghĩ rằng Thiên Cơ phù hợp với Thiên Ý, nhưng dù sao, chúng liên hệ mật thiết với nhau — Thiên Cơ thì đặc thù hơn trong thời gian và không gian — |
|
and the magnetic energy of desire. |
và năng lượng từ tính của dục vọng. |
|
These are related to the mental and astral planes, |
Những điều này liên hệ với cõi trí và cõi cảm dục, |
|
drawing the builders to the centre of endeavour. |
lôi cuốn các đấng kiến tạo đến trung tâm của nỗ lực. |
|
What are these Laws? We do have the Law of Synthesis, cosmic law, Law of Attraction, and the Law of Economy. They could be considered involved on some level. |
Những Định luật này là gì? Chúng ta có Định luật Tổng hợp, định luật vũ trụ, Định luật Hấp dẫn, và Định luật Tiết Kiệm. Có thể xem chúng liên quan ở một cấp độ nào đó. |
|
What do we have here, really? We have energy of purpose and the energy of desire, and at least the reflection of the three cosmic laws of synthesis, attraction, and economy. Let’s see how he elaborates this as we move on. We’re chastened if we think of this as simply an early book of interest only to beginning students. I can’t imagine anything DK says that is of interest only to beginning students. |
Thật sự chúng ta có gì ở đây? Chúng ta có năng lượng của mục đích và năng lượng của dục vọng, và ít nhất là sự phản chiếu của ba định luật vũ trụ về tổng hợp, hấp dẫn và tiết kiệm. Hãy xem Ngài khai triển điều này ra sao khi chúng ta tiếp tục. Chúng ta được làm cho khiêm tốn nếu nghĩ đây chỉ đơn giản là một quyển sách sơ kỳ chỉ đáng quan tâm đối với các đạo sinh mới bắt đầu. Tôi không thể tưởng tượng bất cứ điều gì Chân sư DK nói lại chỉ đáng quan tâm đối với các đạo sinh mới bắt đầu. |
|
Let these three laws hold sway, the law of synthetic limitation, [18_21] |
Hãy để ba định luật này nắm quyền chi phối, định luật về giới hạn tổng hợp, |
|
These Laws, as here given, are correlated to the three Cosmic Laws, but are more specific. Synthetic limitation is certainly on the first ray, and it defines the ring-pass-not while guaranteeing the integrity of the whole. The ring-pass-not is defined, and also the integrity and unity of the Whole. |
Các Định luật này, như được đưa ra ở đây, tương quan với ba Định luật Vũ trụ, nhưng đặc thù hơn. Giới hạn tổng hợp chắc chắn thuộc cung một, và nó xác định vòng-giới-hạn trong khi bảo đảm tính toàn vẹn của toàn thể. Vòng-giới-hạn được xác định, và cả tính toàn vẹn cùng sự hợp nhất của Toàn Thể cũng vậy. |
|
of vibratory interplay |
về tương tác rung động |
|
This is a second ray factor. This second ray factor operates between the poles with active precipitation, which is obviously connected with the third ray. |
Đây là một yếu tố cung hai. Yếu tố cung hai này hoạt động giữa các cực với sự ngưng tụ tích cực, điều rõ ràng liên hệ với cung ba. |
|
Three first principles are Isolated Unity, Inclusive Reason, and Presented Attributes, which involve the precipitation of such attributes. |
Ba nguyên khí đầu tiên là Hợp Nhất Cô Lập, lý trí bao gồm, và các Thuộc Tính được Trình Bày, vốn liên quan đến sự ngưng tụ của những thuộc tính ấy. |
|
and of active precipitation. The one concerns the life, the second concerns the building, and the third produces manifested existence. |
và về sự ngưng tụ tích cực. Định luật thứ nhất liên quan đến sự sống, định luật thứ hai liên quan đến việc xây dựng, và định luật thứ ba tạo ra hiện hữu biểu hiện. |
|
Always look for the one, two, three of things, or the particular level at which the one, two, three may be reflected. The one concerns the life—synthetic limitation. The second concerns the building—vibratory interplay. What is to be gained by vibratory interplay? An exchange of substances, the way that the greater affects the lesser and the lesser responds to the greater, the high setting the pattern for the low and the low responding to the high. The third produces manifested existence, which is active precipitation. |
Hãy luôn tìm cái một, hai, ba của mọi sự, hoặc cấp độ đặc thù tại đó cái một, hai, ba có thể được phản chiếu. Định luật thứ nhất liên quan đến sự sống — giới hạn tổng hợp. Định luật thứ hai liên quan đến việc xây dựng — tương tác rung động. Điều gì đạt được nhờ tương tác rung động? Một sự trao đổi các chất liệu, theo cách cái lớn ảnh hưởng cái nhỏ và cái nhỏ đáp ứng cái lớn, cái cao đặt mô hình cho cái thấp và cái thấp đáp ứng cái cao. Định luật thứ ba tạo ra hiện hữu biểu hiện, tức là sự ngưng tụ tích cực. |
|
The three Laws must hold sway, and the two energies must correlate with the Divine Plan. There must be Divine Purpose behind it, representing the plan. Also the energy of desire—high desire, the desire of the soul to see something positive manifested. The three cosmic laws, when brought down to a certain level where they concern the individual human being as a magician, are called something else. These things would be applicable to a number of Entities: an Entity ruling a kingdom, a Globe Lord, a Chain Lord, a Scheme Lord, a Planetary Logo, all of these stages are applicable to the process through which it must go when attempting to complete a magical process. |
Ba Định luật phải nắm quyền chi phối, và hai năng lượng phải tương quan với Thiên Cơ. Phải có Thiên Ý đứng sau điều đó, đại diện cho Thiên Cơ. Cũng có năng lượng của dục vọng — dục vọng cao, dục vọng của linh hồn muốn thấy một điều gì tích cực được biểu hiện. Ba định luật vũ trụ, khi được đưa xuống một cấp độ nhất định nơi chúng liên quan đến cá nhân con người với tư cách nhà huyền thuật, được gọi bằng tên khác. Những điều này sẽ áp dụng cho một số Thực Thể: một Thực Thể cai quản một giới, một Chúa Tể Bầu hành tinh, một Chúa Tể Dãy, một Chúa Tể hệ hành tinh, một Hành Tinh Thượng đế; tất cả các giai đoạn này đều áp dụng cho tiến trình mà Thực Thể ấy phải đi qua khi cố gắng hoàn tất một tiến trình huyền thuật. |
|
Let him deal first with the outer builders, sending his call to the periphery of his circle of influence. [18_22] |
Hãy để y trước hết đề cập đến các đấng kiến tạo bên ngoài, gửi lời kêu gọi của y đến chu vi của vòng ảnh hưởng của y. |
|
This is the usual environment, and much physical and etheric activity occurs there. Whatever is outer is the physical plane, but the inner subjective sources are not much considered here. We have to see what he considers to be inner, because from certain perspectives, anything that has to do with the personality, the astral vehicle, the normal mental vehicle—it’s all considered objective compared to the soul on the higher mental plane. The soul on the higher mental plane is considered objective compared to what is forming as a vehicle on the Buddhic plane, for many of us. |
Đây là môi trường thông thường, và nhiều hoạt động hồng trần cùng dĩ thái xảy ra ở đó. Bất cứ điều gì bên ngoài đều là cõi hồng trần, nhưng các nguồn chủ quan bên trong không được xét đến nhiều ở đây. Chúng ta phải xem Ngài xem điều gì là bên trong, bởi vì từ một số viễn cảnh, bất cứ điều gì liên quan đến phàm ngã, hiện thể cảm dục, hiện thể trí tuệ bình thường — tất cả đều được xem là khách quan so với linh hồn trên Cõi thượng trí. Linh hồn trên Cõi thượng trí được xem là khách quan so với điều đang hình thành như một hiện thể trên cõi Bồ đề, đối với nhiều người trong chúng ta. |
|
Let him set the waters of living substance in motion by his idea and impulse, bending the builders to his purpose and plan. [18_23] |
Hãy để y đặt các dòng nước của chất liệu sống động vào chuyển động bằng ý tưởng và xung lực của y, uốn các đấng kiến tạo theo mục đích và Thiên Cơ của y. |
|
The waters of living substance—water is matter, and this type of water is not astral alone, though the astral waters are very important in this set of rules, but waters are wider than that. The waters of space are more than that. We have to watch out for these interchangeable terms; sometimes water is water, sometimes water is matter. Matter can be very extensive, and we have to deal with matter and substance, and all of this can come under the title of water. |
Các dòng nước của chất liệu sống động — nước là vật chất, và loại nước này không chỉ là cảm dục, dù các dòng nước cảm dục rất quan trọng trong bộ quy luật này, nhưng các dòng nước rộng hơn thế. Các dòng nước của không gian còn hơn thế nữa. Chúng ta phải cẩn thận với những thuật ngữ có thể thay thế cho nhau này; đôi khi nước là nước, đôi khi nước là vật chất. Vật chất có thể rất rộng lớn, và chúng ta phải đề cập đến vật chất và chất liệu, và tất cả điều này có thể nằm dưới danh xưng nước. |
|
An idea comes from the soul and is formulated with greater clarity upon the mental plane. Then it has to gather more living water around it; it has to be fed and nourished by that which is found on the astral plane—the Agnisuryans are involved here. It has to be further strengthened through the Agnichaitans, the lower Agnichaitans of the etheric level, and eventually Agnichaitans will be involved on the dense physical level. These are really excellent instructions. |
Một ý tưởng đến từ linh hồn và được hình thành với sự rõ ràng lớn hơn trên cõi trí. Rồi nó phải tập hợp thêm nước sống động quanh mình; nó phải được nuôi dưỡng và bồi bổ bởi những gì được tìm thấy trên cõi cảm dục — các Agnisuryan có liên quan ở đây. Nó phải được củng cố thêm qua các Agnichaitan, các Agnichaitan thấp hơn của cấp độ dĩ thái, và cuối cùng các Agnichaitan sẽ tham dự trên cấp độ hồng trần đậm đặc. Đây thật sự là những huấn thị tuyệt vời. |
|
Let him build with judgment and skill— [18_24] |
Hãy để y xây dựng bằng phán đoán và kỹ năng — |
|
Immediately, we think of Libra and balance. |
Ngay lập tức, chúng ta nghĩ đến Thiên Bình và sự cân bằng. |
|
preserving always the “stool of the director” |
luôn giữ “chiếc ghế của người đạo diễn” |
|
In the old days, the director of a motion picture sat on a stool with a megaphone, in the silent movie days, making his voice heard. Preserving always the Observer who is directing the proper arrangement of all of the elements involved in the creation, |
Ngày xưa, đạo diễn phim ngồi trên một chiếc ghế với loa phóng thanh, trong thời phim câm, để tiếng nói của mình được nghe thấy. Luôn giữ Nhà Quan Sát đang điều khiển sự sắp xếp thích hợp của tất cả các yếu tố liên quan trong sáng tạo, |
|
and coming not down into close contact with his thought-form. |
và không đi xuống tiếp xúc gần gũi với hình tư tưởng của y. |
|
This involves soul identification—can we be the soul-in-incarnation and even later the soul on its own plane? But not getting in the way at all, and arranging and rearranging. In the motion picture industry and in theater, there are those directors who mix into the whole thing and demand imitation on the part of their actors. And there are those who, with the power of the voice and the mind, can evoke from the actor that which is necessary. |
Điều này liên quan đến sự đồng hoá với linh hồn — chúng ta có thể là linh hồn đang nhập thể, và thậm chí về sau là linh hồn trên cõi riêng của nó không? Nhưng hoàn toàn không cản trở, và sắp xếp rồi tái sắp xếp. Trong ngành điện ảnh và sân khấu, có những đạo diễn can dự vào toàn bộ sự việc và đòi hỏi diễn viên của mình bắt chước. Và cũng có những người, bằng quyền năng của tiếng nói và thể trí, có thể gợi lên từ diễn viên điều cần thiết. |
|
Let him project, in time and space, his form through [279] visualization, meditation and skill in action, and so produce that which his will commands, his love desires, and his need creates. [18_25] |
Hãy để y phóng chiếu, trong thời gian và không gian, hình tướng của y qua [279] sự hình dung, tham thiền và kỹ năng trong hành động, và như thế tạo ra điều mà ý chí y truyền lệnh, tình thương của y khao khát, và nhu cầu của y sáng tạo. |
|
The power of projecting the creation involves an etheric creation, apparently. It’s necessary to visualize and meditate, and act, three factors. Three factors involving the first three rays. His will commands—first ray; Desire—second ray, the higher correspondence of the sixth ray; Need—think of Saturn immediately, and the throat center, and the creativity needed. |
Quyền năng phóng chiếu sáng tạo dường như liên quan đến một sáng tạo dĩ thái. Cần phải hình dung, tham thiền và hành động, ba yếu tố. Ba yếu tố liên quan đến ba cung đầu tiên. Ý chí của y truyền lệnh — cung một; Dục vọng — cung hai, tương ứng cao hơn của cung sáu; Nhu cầu — hãy nghĩ ngay đến Sao Thổ, và trung tâm cổ họng, cùng tính sáng tạo cần thiết. |
|
The magician creates using the three factors in personality, plus their synthesis in the soul. Visualization, meditation, and skill in action. The visualization represents the second ray, meditation the first, and skill in action the third ray. We have to keep the correspondence as clear as we can. |
Nhà huyền thuật sáng tạo bằng cách sử dụng ba yếu tố trong phàm ngã, cộng với sự tổng hợp của chúng trong linh hồn. Sự hình dung, tham thiền và kỹ năng trong hành động. Sự hình dung đại diện cho cung hai, tham thiền cho cung một, và kỹ năng trong hành động cho cung ba. Chúng ta phải giữ các tương ứng rõ ràng nhất có thể. |
|
Let him withdraw the builders of the outer form, and let the inner builders of dynamic force push it forth into manifestation. [18_26] |
Hãy để y rút các đấng kiến tạo của hình tướng bên ngoài lại, và hãy để các đấng kiến tạo bên trong của mãnh lực năng động đẩy nó ra vào biểu hiện. |
|
This is very Vulcanian. The push of birth is Vulcanian. This is the push of birth, the birth process, and is related to Vulcan. |
Điều này rất thuộc về Vulcan. Sức đẩy của việc sinh ra là thuộc Vulcan. Đây là sức đẩy của việc sinh ra, tiến trình sinh nở, và liên hệ với Vulcan. |
|
Through the eye of the creator are these inner builders brought to functioning, directed action. Through the word of the creator were the outer builders guided. Through the ear of the creator the volume of the greater Word vibrates through the waters of space. |
Qua con mắt của đấng sáng tạo, các đấng kiến tạo bên trong này được đưa vào hoạt động có chức năng và được định hướng. Qua linh từ của đấng sáng tạo, các đấng kiến tạo bên ngoài đã được dẫn dắt. Qua tai của đấng sáng tạo, âm lượng của Linh từ vĩ đại hơn rung động xuyên qua các dòng nước của không gian. |
|
The eye is involved with directing the inner builders. The eye is a more advanced instrument of sensation and reception than the ear. The ear comes first, the eye comes later, and the touch comes in between them. |
Con mắt liên quan đến việc hướng dẫn các đấng kiến tạo bên trong. Con mắt là một công cụ cảm nhận và tiếp nhận tiến bộ hơn tai. Tai đến trước, mắt đến sau, và xúc giác ở giữa chúng. |
|
Through the word of the creator the outer builders are guided, but the inner eye, the third eye particularly, the eye of Shiva, directs the inner builders. Perhaps it is correct to put visualization first, and one can meditate upon that which is visualized. |
Qua linh từ của đấng sáng tạo, các đấng kiến tạo bên ngoài được dẫn dắt, nhưng con mắt bên trong, đặc biệt là con mắt thứ ba, con mắt của Shiva, hướng dẫn các đấng kiến tạo bên trong. Có lẽ đặt sự hình dung trước là đúng, và người ta có thể tham thiền về điều được hình dung. |
|
Through the ear of the creator, the volume of the greater word vibrates through the waters of space. We retain soul contact through this whole process, the contact with the Solar Angel, or the creative force within the causal body—not the entire Solar Angel, but its representative, the Angel of the Presence. |
Qua tai của đấng sáng tạo, âm lượng của Linh từ vĩ đại hơn rung động xuyên qua các dòng nước của không gian. Chúng ta duy trì sự tiếp xúc linh hồn xuyên suốt toàn bộ tiến trình này, sự tiếp xúc với Thái dương Thiên Thần, hoặc mãnh lực sáng tạo bên trong thể nguyên nhân — không phải toàn bộ Thái dương Thiên Thần, mà là đại diện của nó, Thiên Thần của Hiện Diện. |
|
Let him remember the order of creative work. The waters of space respond to the word. The builders build. The cycle of creation ends and the form is adequate in manifestation. [18_27] The cycle of performance succeeds and depends for its duration on the potency of the inner builders, who constitute the subjective form and transmit the vitalising life. [18_28] |
Hãy để y nhớ trật tự của công việc sáng tạo. Các dòng nước của không gian đáp ứng với linh từ. Các đấng kiến tạo xây dựng. Chu kỳ sáng tạo kết thúc và hình tướng đã đầy đủ trong biểu hiện. Chu kỳ hoạt động tiếp nối và tùy thuộc về thời hạn vào quyền năng của các đấng kiến tạo bên trong, những vị cấu thành hình tướng chủ quan và truyền sự sống tiếp sinh lực. |
|
The elemental forces of the outer worlds respond, as it says here, to the Word—the word of the Creator, who is responding to the Word of the soul. He’s really giving us the ABCs, everything that has to be done by the magician, and if we were attentive enough, we would understand this. |
Các mãnh lực hành khí của các thế giới bên ngoài đáp ứng, như ở đây nói, với Linh từ — linh từ của Đấng Sáng Tạo, Đấng đang đáp ứng với Linh từ của linh hồn. Ngài thật sự đang cho chúng ta những điều căn bản, mọi điều nhà huyền thuật phải làm, và nếu chúng ta đủ chú tâm, chúng ta sẽ thấu hiểu điều này. |
|
Let him remember that the cessation of the form ensues when purpose is achieved, or when impotency of will produces failure of functioning in the cycle of performance. [18_29] |
Hãy để y nhớ rằng sự chấm dứt của hình tướng xảy ra khi mục đích đã đạt được, hoặc khi sự bất lực của ý chí tạo ra thất bại trong chức năng ở chu kỳ hoạt động. |
|
Completion or impotency of Will mark the cessation of the form and its work in the world. This is something good to remember, even about the continuation of that thought form that we call the physical form. The will can keep it in manifestation until the purpose is achieved. Purpose of the form continues, or when impotency of the will produces failure, as sometimes happens, and as we can record in our own daily life, moments of failure through impotency of the will. I want to separate these things, if possible. Here are the techniques, and I know this is just a little tedious, but it has its purpose, so we can study them with greater clarity. He’s projecting here, and here, and here, and here. They should all actually be the push of the brick, which is related to good old Vulcan. The order of creative work — builders respond, and so forth. |
Sự hoàn tất hoặc sự bất lực của Ý Chí đánh dấu sự chấm dứt của hình tướng và công việc của nó trong thế giới. Đây là điều đáng nhớ, ngay cả về sự tiếp tục của hình tư tưởng mà chúng ta gọi là hình tướng hồng trần. Ý chí có thể giữ nó trong biểu hiện cho đến khi mục đích được đạt thành. Mục đích của hình tướng tiếp tục, hoặc khi sự bất lực của ý chí tạo ra thất bại, như đôi khi xảy ra, và như chúng ta có thể ghi nhận trong đời sống hằng ngày của chính mình, những khoảnh khắc thất bại do sự bất lực của ý chí. Tôi muốn tách những điều này ra, nếu có thể. Đây là các kỹ thuật, và tôi biết điều này hơi nhàm, nhưng nó có mục đích của nó, để chúng ta có thể nghiên cứu chúng với sự rõ ràng lớn hơn. Ngài đang phóng chiếu ở đây, và ở đây, và ở đây, và ở đây. Thật ra tất cả chúng đều nên là sức đẩy của viên gạch, liên hệ với Vulcan thân quen. Trật tự của công việc sáng tạo — các đấng kiến tạo đáp ứng, và vân vân. |
|
If you don’t mind, even though it’s not in the book here, I would like to number these, if possible. It just helps because it’s such a cogent method of working, and it’s so important. If we could follow these suggestions, we could all become white magicians, and let us remember that we’ll never be members of the Hierarchy unless we are white magicians. |
Nếu các bạn không phiền, dù điều này không có trong sách ở đây, tôi muốn đánh số những điều này, nếu có thể. Nó chỉ giúp ích, vì đây là một phương pháp làm việc rất mạch lạc, và rất quan trọng. Nếu chúng ta có thể theo các gợi ý này, tất cả chúng ta có thể trở thành các nhà huyền thuật chánh đạo, và chúng ta hãy nhớ rằng chúng ta sẽ không bao giờ là thành viên của Thánh Đoàn nếu chúng ta không phải là các nhà huyền thuật chánh đạo. |
|
That was five, and this should disappear. It’s a good time to go get a drink of water or something. Let me see how many He has given us. One can even lose count. This is a nine, and this is a ten here. That’s it, ten points. I think it’s ten. That has to be studied long and hard. That has to be studied with care, each one of those. |
Đó là số năm, và điều này nên biến mất. Đây là lúc thích hợp để đi lấy một ly nước hay gì đó. Để tôi xem Ngài đã cho chúng ta bao nhiêu điều. Người ta thậm chí có thể mất dấu. Đây là số chín, và đây là số mười. Vậy đó, mười điểm. Tôi nghĩ là mười. Điều đó phải được nghiên cứu lâu dài và kỹ lưỡng. Mỗi điểm trong số đó phải được nghiên cứu cẩn thận. |
|
Let me take a look and review what he considers to be these methods of form building. Be the builder, not the building. Don’t get involved with all the raw material, but act instead as the agent of a higher power. Don’t get too much involved in the hands-on because you’re learning how to work with the mind. Let him use two energies and three Laws. I want to emphasize that. The Laws are two energies: purpose and magnetism, and then something corresponding to the three cosmic laws. |
Để tôi xem lại điều Ngài xem là các phương pháp xây dựng hình tướng này. Hãy là đấng kiến tạo, không phải công trình được kiến tạo. Đừng dính líu vào tất cả nguyên liệu thô, mà thay vào đó hãy hành động như tác nhân của một quyền năng cao hơn. Đừng quá dính líu vào sự trực tiếp tham dự, vì các bạn đang học cách làm việc với thể trí. Hãy để y dùng hai năng lượng và ba Định luật. Tôi muốn nhấn mạnh điều đó. Các Định luật là hai năng lượng: mục đích và từ điện, rồi một điều gì đó tương ứng với ba định luật vũ trụ. |
|
Send the call out to the periphery, and set the waters in motion, bending all the builders. Learn how to manipulate the elementals and work with the devas. Learn how to build with those factors of judgment and skill, and stay detached. Not in the midst of one’s creation, but with a kind of hands-off attitude and a mind-on. Mind-on, hands-off, using the eye of the mind. |
Hãy gửi lời kêu gọi ra chu vi, và đặt các dòng nước vào chuyển động, uốn nắn tất cả các đấng kiến tạo. Học cách điều khiển các hành khí và làm việc với các thiên thần. Học cách xây dựng bằng các yếu tố phán đoán và kỹ năng ấy, và giữ sự tách rời. Không ở giữa sáng tạo của mình, mà với một thái độ gần như không can thiệp bằng tay và tập trung bằng thể trí. Tập trung bằng thể trí, không can thiệp bằng tay, sử dụng con mắt của thể trí. |
|
Then comes projection, and he uses visualization, meditation, and skill in action to project into the field of time and space, which is essentially more the etheric physical plane than anything else. He’s going to produce what will, love, and creativity can produce. He no longer concentrates on the builders of the outer form, but the dynamic inner builders are controlled with his eye, and he uses them. The inner builders of the dynamic force push his form into manifestation. |
Rồi đến sự phóng chiếu, và Ngài dùng sự hình dung, tham thiền, và kỹ năng trong hành động để phóng chiếu vào trường thời gian và không gian, vốn về căn bản là cõi hồng trần dĩ thái hơn bất cứ điều gì khác. Ngài sẽ tạo ra điều mà ý chí, tình thương và tính sáng tạo có thể tạo ra. Ngài không còn tập trung vào các đấng kiến tạo của hình tướng bên ngoài, mà các đấng kiến tạo bên trong năng động được kiểm soát bằng con mắt của Ngài, và Ngài sử dụng họ. Các đấng kiến tạo bên trong của mãnh lực năng động đẩy hình tướng của Ngài vào biểu hiện. |
|
That’s really important. They are the final actors in this process of moving his form into manifestation. DK is specific about what guides what, and it’s the forces of the eye, and then keeping everything in order. That’s what is the next thing — keeping it all in order. We have the idea, we have the form, we’ve built accordingly, and then we’re trying to help the waters of space nurture the form. |
Điều đó thật sự quan trọng. Họ là những tác nhân cuối cùng trong tiến trình này nhằm đưa hình tướng của Ngài vào biểu hiện. Chân sư DK nói rõ điều gì hướng dẫn điều gì, và đó là các mãnh lực của con mắt, rồi giữ mọi sự trong trật tự. Đó là điều kế tiếp — giữ tất cả trong trật tự. Chúng ta có ý tưởng, chúng ta có hình tướng, chúng ta đã xây dựng tương ứng, và rồi chúng ta cố gắng giúp các dòng nước của không gian nuôi dưỡng hình tướng. |
|
We do that with the word, and certain builders build. Then a point of adequacy in the creation is reached, and the form has to get out there and do its work. The building stage is over. If the inner builders have been very strong in creating the proper form, which is in line with the soul, vital vitality will keep that form in manifestation long enough to accomplish its ends, until the purpose is achieved. |
Chúng ta làm điều đó bằng linh từ, và những đấng kiến tạo nhất định xây dựng. Rồi một điểm đầy đủ trong sáng tạo được đạt đến, và hình tướng phải đi ra ngoài đó để làm công việc của nó. Giai đoạn xây dựng đã kết thúc. Nếu các đấng kiến tạo bên trong đã rất mạnh trong việc tạo ra hình tướng thích hợp, phù hợp với linh hồn, thì sinh lực thiết yếu sẽ giữ hình tướng đó trong biểu hiện đủ lâu để hoàn thành các mục đích của nó, cho đến khi mục đích được đạt thành. |
|
The will directs all this, and if we fail in terms of will, then we have an abortive situation, and we fail to bring our form into manifestation. I wonder which one of us is not involved in creating some form or other which will help with the hierarchical process. Whether that form is a work of art, a book, an organization, a process of some kind — we’re trying to make a difference on the physical plane, but not in the way the average person works. |
Ý chí hướng dẫn tất cả điều này, và nếu chúng ta thất bại về mặt ý chí, thì chúng ta có một tình huống hỏng thai, và chúng ta không đưa được hình tướng của mình vào biểu hiện. Tôi tự hỏi ai trong chúng ta không liên quan đến việc tạo ra một hình tướng nào đó sẽ giúp ích cho tiến trình của Thánh Đoàn. Dù hình tướng đó là một tác phẩm nghệ thuật, một quyển sách, một tổ chức, một tiến trình nào đó — chúng ta đang cố gắng tạo ra một khác biệt trên cõi hồng trần, nhưng không theo cách người bình thường làm việc. |
|
We’re trying to work in a much subtler manner, in which we take advantage of certain types of lives who are willing to cooperate with us, and who respond to our inner knowledge. All of that inner knowledge is not yet in our hands. Most of us can work better with our mind and hands right now — hands-on — than we can through meditation to make something happen without the application of the usual hands-on in the midst of the physical process. |
Chúng ta đang cố gắng làm việc theo một cách tinh tế hơn nhiều, trong đó chúng ta tận dụng một số loại sự sống sẵn sàng hợp tác với chúng ta, và đáp ứng với tri thức bên trong của chúng ta. Toàn bộ tri thức bên trong ấy chưa nằm trong tay chúng ta. Hiện nay hầu hết chúng ta có thể làm việc tốt hơn bằng thể trí và đôi tay — trực tiếp tham dự — hơn là có thể qua tham thiền để khiến một điều gì xảy ra mà không áp dụng sự trực tiếp tham dự thông thường ở giữa tiến trình hồng trần. |
|
But eventually we’ll be able to make things appear without the hands having to be involved in the handiwork. The mind itself can create the handiwork. You might ask, where are the hands of the planetary logos? It’s all done with his mind, and of course Mercury rules the hands and the five fingers of every hand. Mercury also rules the thought process. All of this is very Mercurian in its conception. |
Nhưng cuối cùng chúng ta sẽ có thể làm cho mọi sự xuất hiện mà không cần đôi tay phải tham gia vào việc thủ công. Chính thể trí có thể tạo ra việc thủ công. Các bạn có thể hỏi, đôi tay của Đức Hành Tinh Thượng đế ở đâu? Tất cả đều được thực hiện bằng thể trí của Ngài, và dĩ nhiên Sao Thủy cai quản đôi tay và năm ngón của mỗi bàn tay. Sao Thủy cũng cai quản tiến trình tư tưởng. Tất cả điều này rất thuộc Sao Thủy trong quan niệm của nó. |
|
Setting the relationship with the Devas and the Elementals into the proper pattern, and then watching their work materialize the form — we have to learn about all these things. Right now, sometimes hard Saturnian labour is required before we can really make things appear. But we’ve all seen the films and the examples of a person who thinks something into existence and just makes it appear without going out and touching and doing all the rest of it. |
Đặt mối liên hệ với các thiên thần và các hành khí vào mô hình thích hợp, rồi quan sát công việc của họ hiện hình hình tướng — chúng ta phải học về tất cả những điều này. Hiện nay, đôi khi cần có lao động nặng nhọc thuộc Sao Thổ trước khi chúng ta thật sự có thể làm cho sự vật xuất hiện. Nhưng tất cả chúng ta đều đã thấy các bộ phim và các ví dụ về một người nghĩ một điều gì đó thành hiện hữu và làm cho nó xuất hiện mà không cần đi ra, chạm vào và làm mọi thứ còn lại. |
|
I’m recalling a movie where a very wise man was looking at the struggles of a young person in the window across the courtyard. The girl was very hungry and not fed well, and suddenly in her room, without him going there, a wonderful feast appeared. He did it all with his mind, and he made that appearance occur. One day, like the planetary logos, we’ll be able to make the appearance happen with the proper words of power and the proper methods of visualization. |
Tôi nhớ đến một bộ phim trong đó một người rất minh triết đang nhìn những vật lộn của một người trẻ qua cửa sổ bên kia sân trong. Cô gái rất đói và không được nuôi ăn đầy đủ, và đột nhiên trong phòng cô, không cần ông đến đó, một bữa tiệc tuyệt vời xuất hiện. Ông làm tất cả bằng thể trí của mình, và ông khiến sự xuất hiện ấy xảy ra. Một ngày nào đó, giống như Đức Hành Tinh Thượng đế, chúng ta sẽ có thể làm cho sự xuất hiện xảy ra bằng các Quyền năng từ thích hợp và các phương pháp hình dung thích hợp. |
|
We’ll be able to make the appearance occur. We’re on our way to becoming that type of magician, which is a lot less crude than the method of using the hands and feet physically. But in the beginning, we do have to use the hands and feet, and the Christ says so: “by human hands and human feet.” Christ in the desert, with that dark figure that looks a whole lot like Master M. |
Chúng ta sẽ có thể làm cho sự xuất hiện xảy ra. Chúng ta đang trên đường trở thành loại nhà huyền thuật ấy, vốn ít thô sơ hơn nhiều so với phương pháp dùng tay chân một cách hồng trần. Nhưng lúc ban đầu, chúng ta thật sự phải dùng tay chân, và Đức Christ nói như vậy: “bằng đôi tay con người và đôi chân con người.” Đức Christ trong sa mạc, với nhân vật bóng tối ấy trông rất giống Chân sư M. |
|
Students would do well to study these cycles of creative building, of performance and of subsequent disintegration. [18_30] |
Các đạo sinh nên nghiên cứu kỹ các chu kỳ xây dựng sáng tạo, hoạt động và tan rã về sau này. |
|
It’s all basically the Shiva, Vishnu, Brahma aspect, or maybe we should reverse it — Brahma, Vishnu, Shiva. It goes both ways, really. Shiva starts the whole thing, but Brahma is the creator, and Vishnu holds the form in existence. It’s the preserver. It’s very Jupiterian, and then there is Shiva bringing about the disintegration. In a way, Shiva is the beginning and the end. |
Về căn bản, tất cả đều là phương diện Shiva, Vishnu, Brahma, hoặc có lẽ chúng ta nên đảo lại — Brahma, Vishnu, Shiva. Thật ra nó đi theo cả hai chiều. Shiva khởi đầu toàn bộ sự việc, nhưng Brahma là đấng sáng tạo, và Vishnu giữ hình tướng trong hiện hữu. Đó là đấng bảo tồn. Nó rất thuộc Sao Mộc, rồi có Shiva đem lại sự tan rã. Theo một cách nào đó, Shiva là khởi đầu và kết thúc. |
|
They are true of a solar system, of a human being, and of the thought-forms of a creative thinker. |
Chúng đúng với một hệ mặt trời, với một con người, và với các hình tư tưởng của một nhà tư tưởng sáng tạo. |
|
Let us not get too attached to our thought forms. As DK says, He’s imprisoned a lot of lesser lives with all the books He’s written, and one day He’s going to have to free them. No matter how good a presentation of knowledge is, it wears out eventually and is no longer applicable. |
Chúng ta đừng quá bám chấp vào các hình tư tưởng của mình. Như Chân sư DK nói, Ngài đã giam giữ rất nhiều sự sống nhỏ bé bằng tất cả các quyển sách Ngài đã viết, và một ngày nào đó Ngài sẽ phải giải phóng chúng. Dù một sự trình bày tri thức tốt đẹp đến đâu, cuối cùng nó cũng hao mòn và không còn áp dụng được nữa. |
|
Some of the great classics, though, may last a long time. There’s something that was apparently written in Atlantean days by a great astrologer who was one of the giants, literally a giant, who was called Asura Maya. It’s called the Surya Siddhanta, and it’s managed to survive. But so often, everything has its term — a much shorter term. Where is the wisdom of the previous solar system? Well, there’s been some survival in the form of the Old Testament, but what about the solar system before that and before that? |
Tuy nhiên, một số tác phẩm kinh điển vĩ đại có thể tồn tại lâu dài. Có một điều dường như được viết vào thời Atlantis bởi một nhà chiêm tinh vĩ đại, một trong những người khổng lồ, theo nghĩa đen là một người khổng lồ, được gọi là Asura Maya. Nó được gọi là Surya Siddhanta, và đã xoay xở để tồn tại. Nhưng rất thường, mọi sự đều có kỳ hạn của nó — một kỳ hạn ngắn hơn nhiều. Minh triết của hệ mặt trời trước ở đâu? À, đã có một phần sống sót dưới hình thức Cựu Ước, nhưng còn hệ mặt trời trước đó và trước đó nữa thì sao? |
|
Everything has its term, just as the universe has its term. The cycles are true of a solar system, of a human being, and of the thought forms of a creative thinker. |
Mọi sự đều có kỳ hạn của nó, cũng như vũ trụ có kỳ hạn của nó. Các chu kỳ đúng với một hệ mặt trời, với một con người, và với các hình tư tưởng của một nhà tư tưởng sáng tạo. |
|
The secret of all beauty lies in the right functioning of these cycles. |
Bí mật của mọi vẻ đẹp nằm trong sự vận hành đúng đắn của các chu kỳ này. |
|
That’s something to ponder on. If we act in line with the cycles, it would lead to harmony and not dissonance. If we act out of timing with cycles, then we’re going to produce a dissonant situation, which is awkward and painful to perceive. Dissonance and pain are just about equivalent. |
Đó là điều đáng suy ngẫm. Nếu chúng ta hành động phù hợp với các chu kỳ, điều đó sẽ dẫn đến hài hòa chứ không phải bất hòa. Nếu chúng ta hành động sai thời điểm với các chu kỳ, thì chúng ta sẽ tạo ra một tình huống bất hòa, vụng về và đau đớn khi nhận thấy. Bất hòa và đau đớn gần như tương đương. |
|
The secret of all success on the physical plane lies in right understanding of law and of order. [18_31] |
Bí mật của mọi thành công trên cõi hồng trần nằm trong sự thấu hiểu đúng đắn về định luật và trật tự. |
|
These are words which have come into the public mind of late and usually indicate some kind of repressive process, but there is a divine order and there are Divine Laws. The seventh ray brings about the success of the manifestation process. Basically, there is no success in terms of manifestation without the seventh ray. |
Đây là những từ gần đây đã đi vào tâm trí công chúng và thường chỉ ra một loại tiến trình đàn áp nào đó, nhưng có một trật tự thiêng liêng và có những Định luật thiêng liêng. Cung bảy đem lại thành công của tiến trình biểu hiện. Về căn bản, không có thành công trong biểu hiện nếu không có cung bảy. |
|
For the aspirant the goal of his endeavour is the correct building of forms in mental matter remembering that “as a man thinketh so is he”; that for him the control of mental substance and its use in clear thinking is an essential to progress. |
Đối với người chí nguyện, mục tiêu nỗ lực của y là việc xây dựng đúng đắn các hình tướng trong vật chất trí tuệ, nhớ rằng “con người nghĩ thế nào thì y là như thế ấy”; rằng đối với y, việc kiểm soát chất liệu trí tuệ và sử dụng nó trong tư duy rõ ràng là điều thiết yếu cho sự tiến bộ. |
|
As the aspirant bridges into mental focus and usefulness: usually when we say the word aspirant, we do mean someone who is quite emotionally polarized and spends a lot of time wishing and aspiring rather than thinking, so that the thinking process can contribute to the manifestation of that towards which the aspirant aspires, what he desires, what he wishes. That’s for the aspirant — correct building of forms in mental matter. |
Khi người chí nguyện bắt cầu vào tập trung trí tuệ và tính hữu dụng: thông thường khi chúng ta nói từ người chí nguyện, chúng ta thật sự muốn nói đến một người khá phân cực cảm xúc và dành nhiều thời gian để ước muốn và khát vọng hơn là suy nghĩ, để tiến trình tư duy có thể góp phần vào sự biểu hiện của điều mà người chí nguyện khát vọng, điều y khao khát, điều y ước muốn. Đó là dành cho người chí nguyện — xây dựng đúng đắn các hình tướng trong vật chất trí tuệ. |
|
We’re all aspirants in that respect. |
Tất cả chúng ta đều là người chí nguyện theo phương diện đó. |
|
This will demonstrate in organization of the outer life, [18_32] |
Công việc này sẽ biểu lộ một sự tổ chức của đời sống bên ngoài. |
|
The sixth ray that is characteristic of aspirants tends to incline that aspirant towards the rejection of the seventh ray. We remember in The Destiny of the Nations that the sixth ray monads are the only type that will not really get along well with the seventh ray monads. He’s giving us quite a hint about monads — that they’re not only on the first three rays, but on the monadic plane can be found on any of the seven, which has interesting implications. This will demonstrate an organization of the outer life |
Cung sáu, vốn là đặc trưng của những người chí nguyện, có khuynh hướng khiến người chí nguyện ấy nghiêng về việc bác bỏ cung bảy. Chúng ta nhớ trong Vận Mệnh của các Quốc Gia rằng các chân thần cung sáu là loại duy nhất thật sự không hòa hợp tốt với các chân thần cung bảy. Ngài đang cho chúng ta một gợi ý khá rõ về các chân thần — rằng chúng không chỉ thuộc ba cung đầu, mà trên cõi chân thần có thể được tìm thấy trên bất kỳ cung nào trong bảy cung, điều này có những hàm ý thú vị. Điều này sẽ biểu lộ một sự tổ chức của đời sống bên ngoài |
|
in creative work of some kind—a book written, a picture painted, a home functioning rhythmically, a business run along sound and true lines, a life salvaged, |
trong một loại công việc sáng tạo nào đó — một cuốn sách được viết ra, một bức tranh được vẽ nên, một mái nhà vận hành nhịp nhàng, một công việc kinh doanh được điều hành theo những đường lối lành mạnh và chân chính, một cuộc đời được cứu vãn, |
|
Either one’s own or those close to one. I’m thinking about the twelve-step programs, Al-Anon and Narcanon, all these things where you use a system of steps fulfilled in an orderly manner in order to salvage the life. |
Hoặc là đời sống của chính mình, hoặc của những người gần gũi với mình. Tôi đang nghĩ đến các chương trình mười hai bước, các nhóm hỗ trợ thân nhân người nghiện rượu và người nghiện ma túy, tất cả những điều trong đó bạn dùng một hệ thống các bước được thực hiện một cách trật tự nhằm cứu vãn cuộc đời. |
|
and the outer dharma carried out with precision, whilst the inner adjustments proceed in the silence of the heart. |
và bổn phận bên ngoài được thực hiện với sự chính xác, trong khi những điều chỉnh bên trong tiến hành trong sự im lặng của trái tim. |
|
This is the well-regulated life. |
Đây là đời sống được điều hòa tốt đẹp. |
|
For the disciple, the work extends. [18_33] |
Đối với đệ tử, công việc mở rộng. |
|
I’m going to finish this. I don’t know what will be the exact timing, but it won’t be three hours, and it won’t be two hours. It’ll be a little more. I just have to get this out, regardless of those outer strictures. |
Tôi sẽ hoàn tất phần này. Tôi không biết thời lượng chính xác sẽ là bao lâu, nhưng sẽ không phải ba giờ, và cũng không phải hai giờ. Sẽ dài hơn một chút. Tôi chỉ phải đưa điều này ra, bất kể những giới hạn bên ngoài ấy. |
|
For the disciple, the work extends. |
Đối với đệ tử, công việc mở rộng. |
|
Let us consider ourselves as disciples in training. |
Chúng ta hãy xem mình như những đệ tử đang được huấn luyện. |
|
For him there has to be realization of the group plan and purpose and not simply of his own individual spiritual problem. |
Đối với y, phải có sự nhận biết về Thiên Cơ và mục đích của nhóm, chứ không chỉ đơn giản là vấn đề tinh thần cá nhân của riêng y. |
|
That’s how Master DK trained his students. He discussed their individual problem, but he also discussed what the group was trying to accomplish and what might be the role of the disciple in that particular group, and how responsible the disciple was to carry forth his place in the proper manner. |
Đó là cách Chân sư DK huấn luyện các đạo sinh của Ngài. Ngài bàn về vấn đề cá nhân của họ, nhưng Ngài cũng bàn về điều mà nhóm đang cố gắng hoàn thành, vai trò của đệ tử trong nhóm đặc thù đó có thể là gì, và đệ tử có trách nhiệm ra sao trong việc đảm nhiệm vị trí của mình một cách đúng đắn. |
|
There has to be conformity to the purpose for his immediate cycle and life period; [18_34] |
Phải có sự tuân hợp với mục đích dành cho chu kỳ trực tiếp và thời kỳ sống của y; |
|
Otherwise, we fall into illusion when we’re trying to do the right thing at the wrong time, A type of illusion. We’ll deal with this. We have been working on glamour, and that book will emerge, or at least our commentary on it, through our webinars. We’ll be discussing that. |
Nếu không, chúng ta rơi vào ảo tưởng khi cố làm điều đúng vào sai thời điểm, một loại ảo tưởng. Chúng ta sẽ đề cập đến điều này. Chúng ta đã và đang làm việc về ảo cảm, và cuốn sách ấy sẽ xuất hiện, hoặc ít nhất phần bình giảng của chúng ta về nó, qua các webinar của chúng ta. Chúng ta sẽ bàn về điều đó. |
|
the subordinating of his personal dharma and ideas to the need and service of that cycle. |
sự đặt bổn phận và các ý tưởng cá nhân của y dưới nhu cầu và sự phụng sự của chu kỳ ấy. |
|
Which is very demanding, because, as I’ve often said, DK said, look, you’re not going to participate in the reappearance of the Christ if you’re simply interested in expressing your own soul. |
Điều này rất đòi hỏi, bởi vì, như tôi thường nói, Chân sư DK đã nói rằng, hãy nhìn xem, bạn sẽ không tham dự vào sự tái lâm của Đức Christ nếu bạn chỉ đơn giản quan tâm đến việc biểu lộ linh hồn riêng của mình. |
|
For him there has to be that attainment of knowledge, of strength, and of coordination between the personal self and the soul which will result in ability to build organized forms and groups on the physical plane and to hold them coherently together. [18_35] |
Đối với y, phải có sự đạt được tri thức, sức mạnh, và sự phối hợp giữa bản ngã cá nhân với linh hồn, điều sẽ đưa đến khả năng xây dựng những hình tướng và nhóm có tổ chức trên cõi hồng trần, và giữ chúng gắn kết với nhau một cách mạch lạc. |
|
A lot of us are safe. Knowledge, strength, and building organized, holding them together. I think a lot of us are involved in that kind of thing. We have our groups and our methods of service, and we try to offer them in such a way that they are of value, they’re fairly organized, fairly clear, and they hang together long enough to do something of value. |
Nhiều người trong chúng ta đang ở trong phạm vi an toàn. Tri thức, sức mạnh, và việc xây dựng có tổ chức, giữ chúng lại với nhau. Tôi nghĩ nhiều người trong chúng ta đang tham gia vào loại việc như thế. Chúng ta có các nhóm và các phương pháp phụng sự của mình, và chúng ta cố gắng dâng hiến chúng theo cách sao cho chúng có giá trị, khá có tổ chức, khá rõ ràng, và gắn kết đủ lâu để làm được một điều gì đó có giá trị. |
|
This he does, not through the force of his own character and equipment but because that character and equipment enable him to act as a transmitter of the greater life energies and to serve as an efficient cooperator with a plan of which he can only vision a fragment. [18_36] |
Y làm điều này, tuy nhiên, không phải bằng mãnh lực của tính cách và trang bị riêng của mình, mà vì tính cách và trang bị ấy giúp y hành động như một bộ truyền dẫn các năng lượng sự sống lớn lao hơn, và phụng sự như một cộng sự viên hữu hiệu với một Thiên Cơ mà y chỉ có thể thấy được một mảnh nhỏ. |
|
Not forcing this to happen, but radiating the divine plan, and then it happens more automatically. Not through force—there are such things as dominating personalities that get things together, make things happen, and so forth, but what do they represent? Some people are very humble about the whole thing, and yet things occur because they are in the position that they are in. The character equipment is so aligned with the divine plan that what should happen is happening. |
Không cưỡng ép cho điều này xảy ra, mà là tỏa chiếu Thiên Cơ, và rồi điều ấy diễn ra một cách tự động hơn. Không phải bằng mãnh lực — có những phàm ngã thống trị, gom mọi sự lại, khiến sự việc xảy ra, vân vân, nhưng họ đại diện cho điều gì? Một số người rất khiêm nhường về toàn bộ sự việc, vậy mà mọi việc vẫn xảy ra bởi vì họ ở đúng vị trí của mình. Trang bị tính cách được chỉnh hợp đến mức ấy với Thiên Cơ, đến nỗi điều nên xảy ra đang xảy ra. |
|
He works, however, faithfully at the building of his aspect of the great plan and finds one day when the building is completed and he sees the whole, that he has built true to design and in conformity with the blue prints as they have been carried in the minds of the architects (the Elder Brothers) who—in Their turn—are in touch with the Mind of the one Existence. [18_37] |
Tuy nhiên, y làm việc một cách trung tín trong việc xây dựng phương diện của mình thuộc Thiên Cơ vĩ đại, và một ngày kia, khi công trình xây dựng đã hoàn tất và y thấy được toàn thể, y nhận ra rằng mình đã xây dựng đúng theo thiết kế và phù hợp với các bản đồ án như chúng đã được mang giữ trong trí của các kiến trúc sư, tức các Huynh Trưởng, những Đấng — đến lượt Các Ngài — tiếp xúc với Trí của Đấng Hiện Hữu duy nhất. |
|
In this case, it is the Planetary Logos, could be, or later the Solar Logos or Greater Beings still. We just don’t force things to happen. We are so aligned with what must happen, and our character is so cooperative with that which must happen that others sense the pattern of the greater coming through the lesser pattern, which we are, and will cooperate. Building in conformity with greater patterns, which are held out and presented to the builders in such a way that they know what is the next step. |
Trong trường hợp này, có thể đó là Hành Tinh Thượng đế, hoặc về sau là Thái dương Thượng đế hay những Đấng Cao Cả hơn nữa. Chúng ta chỉ không cưỡng ép cho mọi việc xảy ra. Chúng ta được chỉnh hợp sâu xa với điều phải xảy ra, và tính cách của chúng ta hợp tác sâu xa với điều phải xảy ra, đến nỗi những người khác cảm nhận mô hình của cái lớn hơn đang đi xuyên qua mô hình nhỏ hơn, tức chính chúng ta, và họ sẽ hợp tác. Xây dựng phù hợp với các mô hình lớn hơn, vốn được đưa ra và trình bày cho các đấng kiến tạo theo cách để họ biết bước kế tiếp là gì. |
|
The practical application of these truths is of utmost importance. [18_38] |
Sự áp dụng thực tiễn các chân lý này có tầm quan trọng tối thượng. |
|
This is going to be an exhortation, and the Tibetan is wonderful at those. You just have to appreciate the way he inspires others—intelligently and beautifully, and in a way that does not order them about or compromise their integrity, but just makes them want to do what must be done. |
Đây sẽ là một lời khuyến huấn, và Chân sư Tây Tạng thật tuyệt vời trong những điều như thế. Bạn chỉ cần trân trọng cách Ngài truyền cảm hứng cho người khác — một cách thông minh và đẹp đẽ, và theo cách không sai khiến họ hay làm tổn hại sự toàn vẹn của họ, mà chỉ khiến họ muốn làm điều phải được làm. |
|
There is no life so circumscribed and no person so situated who cannot begin to work intelligently and to build thought-forms under law and with understanding. |
Không có đời sống nào bị giới hạn đến mức ấy, và không có người nào ở trong hoàn cảnh đến mức ấy, mà không thể bắt đầu làm việc một cách thông minh và xây dựng các hình tư tưởng theo định luật và với sự thấu hiểu. |
|
There are many people, I know them some, who say, “What I do doesn’t make any difference. I’m just a little person of no account. And so, therefore, I don’t have to work. Therefore, I don’t have to discipline myself. Therefore, I can have things a little easier.” |
Có nhiều người, tôi biết một số người như vậy, nói rằng: “Điều tôi làm chẳng tạo ra khác biệt nào. Tôi chỉ là một người nhỏ bé chẳng có giá trị gì. Và vì vậy, do đó, tôi không phải làm việc. Do đó, tôi không phải tự rèn luyện. Do đó, tôi có thể để mọi việc dễ dàng hơn một chút.” |
|
There is no day in any man’s life— [18_39] |
Không có ngày nào trong đời sống của bất kỳ con người nào — |
|
Master Morya says, lose not an hour. Master DK’s kind of saying, lose not a day. |
Chân sư Morya nói, đừng để mất một giờ nào. Chân sư DK gần như đang nói, đừng để mất một ngày nào. |
|
particularly if he is an aspirant or a disciple, when a man cannot work in mental matter, control his use of thought, watch the effect of his mental processes on those he contacts, and [281] so handle his “chitta” or mind-stuff (as Patanjali calls it) that he becomes more and more useful. |
đặc biệt nếu y là một người chí nguyện hoặc một đệ tử, mà trong đó con người không thể làm việc trong chất liệu trí tuệ, kiểm soát cách y sử dụng tư tưởng, quan sát hiệu quả của các tiến trình trí tuệ của y đối với những người y tiếp xúc, và [281] xử lý “chất trí” hay chất liệu của thể trí, như Patanjali gọi, sao cho y ngày càng trở nên hữu dụng hơn. |
|
How practical and how inspiring. I find myself re-inspired when I read these things. We’re on the track here, all of us, if we wish, and if we will. But we have to will, rather than just wish. We’re on the track to entering the fifth kingdom of nature, taking the initiations pertinent to that kingdom, and making a difference in our own little way. We have to be willing to make a difference in our own little way, like the little bird that carried just a drop of water repeatedly to help quench the forest fire. Get enough little birds, and enough little drops, and we’ll put out that raging, destructive fire. |
Thật thực tiễn và thật truyền cảm hứng. Tôi thấy mình lại được truyền cảm hứng khi đọc những điều này. Tất cả chúng ta đang ở trên đường, nếu chúng ta muốn, và nếu chúng ta có ý chí. Nhưng chúng ta phải có ý chí, chứ không chỉ mong muốn. Chúng ta đang ở trên đường đi vào giới thứ năm của thiên nhiên, nhận các cuộc điểm đạo liên quan đến giới ấy, và tạo nên một khác biệt theo cách nhỏ bé của riêng mình. Chúng ta phải sẵn lòng tạo nên một khác biệt theo cách nhỏ bé của riêng mình, như con chim nhỏ lặp đi lặp lại mang chỉ một giọt nước để giúp dập tắt đám cháy rừng. Có đủ nhiều con chim nhỏ, và đủ nhiều giọt nước nhỏ, chúng ta sẽ dập tắt được ngọn lửa dữ dội, hủy diệt ấy. |
|
We’re certainly presented with those fires even now, here in 2018, maybe the hottest year ever, and the burningest year. Somehow, we have to quench the fires by friction with solar fire. |
Chắc chắn chúng ta đang đối diện với những ngọn lửa ấy ngay cả bây giờ, tại đây trong năm 2018, có lẽ là năm nóng nhất từ trước đến nay, và là năm bốc cháy dữ dội nhất. Bằng cách nào đó, chúng ta phải dập tắt các ngọn lửa ma sát bằng Lửa Thái dương. |
|
So much good material that I just hate to leave it. I have that terrible tenacity of wanting to extract everything possible. |
Có quá nhiều chất liệu hay đến nỗi tôi thật sự không muốn rời khỏi nó. Tôi có sự bền bỉ khủng khiếp muốn rút ra mọi điều có thể. |
|
It’s not June, July, 6 August. I’ll pull this thing down, hoping for the best. Always getting lost at the end. |
Không phải tháng Sáu, tháng Bảy, mà là ngày 6 tháng Tám. Tôi sẽ kéo phần này xuống, hy vọng điều tốt nhất. Lúc nào cũng lạc mất ở đoạn cuối. |
|
This is a longer program, and I kind of intended to cut it at two hours, but I saw that we were just about there at the next section. This is the end of the treatise on white magic, and it’s number 18, rules for magic. It’s number 10, it’s 10.2. It’s page 281. The next one will be number 19. It’s a little more efficient way, isn’t it? 10.3. By the way, this is 6 August 18. |
Đây là một chương trình dài hơn, và tôi phần nào đã định cắt ở mức hai giờ, nhưng tôi thấy chúng ta gần như đã đến phần kế tiếp. Đây là đoạn kết của Luận về Chánh Thuật, và đây là số 18, các quy luật về huyền thuật. Đây là số 10, là 10.2. Đây là trang 281. Phần kế tiếp sẽ là số 19. Đó là một cách hiệu quả hơn một chút, phải không? 10.3. Nhân tiện, hôm nay là ngày 6 tháng Tám năm 2018. |
|
I don’t know when I will do the next one. I always hope to, but then something may arise, or some unavoidable fatigue may come. It’s not what I would wish, but there it is. |
Tôi không biết khi nào tôi sẽ làm phần kế tiếp. Tôi luôn hy vọng sẽ làm, nhưng rồi có điều gì đó có thể phát sinh, hoặc một sự mệt mỏi không tránh khỏi có thể đến. Đó không phải điều tôi mong muốn, nhưng sự việc là như vậy. |
|
We will go on with these rules for work on the astral plane. It is especially rule number 10, which I counted before—was some 170 pages, almost, with amazing material. Our job is to see this amazing material, think it into rationality. It’s got to make sense to us. Help think it into the consciousness of humanity and spread the word, so people will begin thinking along these lines rather than just believing along childish and foolish lines, which are, as Blavatsky would say, unphilosophical, and which ultimately make no sense and contradict the reality which the ageless wisdom reveals. |
Chúng ta sẽ tiếp tục với các quy luật này cho công việc trên cõi cảm dục. Đặc biệt là quy luật số 10, mà trước đây tôi đã đếm — gần như khoảng 170 trang, với chất liệu đáng kinh ngạc. Công việc của chúng ta là thấy chất liệu đáng kinh ngạc này, suy ngẫm để nó trở nên hợp lý. Nó phải có ý nghĩa đối với chúng ta. Hãy giúp đưa nó bằng tư duy vào tâm thức của nhân loại và truyền bá thông điệp, để con người bắt đầu suy nghĩ theo những đường lối này thay vì chỉ tin theo những đường lối trẻ con và ngu dại, vốn như Blavatsky sẽ nói, là phi triết học, và rốt cuộc chẳng có ý nghĩa gì, đồng thời mâu thuẫn với thực tại mà Minh Triết Ngàn Đời mặc khải. |
|
Friends, that’s going to be it for the moment. However long this is, we’ll just have to live with it. See you soon. Study hard. |
Các bạn thân mến, tạm thời là như vậy. Dù phần này dài bao lâu, chúng ta cũng sẽ phải chấp nhận nó. Hẹn gặp lại sớm. Hãy học tập chuyên cần. |