Program 22 – Rule 10.6 (Pages 289-291)
Abstract
|
Content for ATOWM Series II, Rules of Magic for the Astral Plane, Video Commentary, Program Twenty-Two, 10.6 continuing Rule X, THE CENTRES, ENERGIES AND RAYS, 1:27 hr; pages 289-291. |
Nội dung cho Loạt II của ATOWM, Các Quy luật Huyền thuật cho Cõi Cảm dục, Video Bình luận, Chương trình Hai mươi hai, 10.6 tiếp tục Quy luật X, CÁC TRUNG TÂM, NĂNG LƯỢNG VÀ CUNG, 1:27 giờ; trang 289-291. |
Text 22
|
[1] Fourth Ray: — “Let the outer glory pass away and the beauty of the inner Light reveal the One. [2] Let dissonance give place to harmony, and from the centre of the hidden Light, let the soul speak: Let the word roll forth: ‘Beauty and glory veil me not. I stand revealed. I am.’” |
[1] Cung Bốn: — “Hãy để vinh quang bên ngoài qua đi và vẻ đẹp của Ánh Sáng bên trong mặc khải Đấng Duy Nhất. [2] Hãy để bất hòa nhường chỗ cho hài hòa, và từ trung tâm của Ánh Sáng ẩn giấu, hãy để linh hồn nói: Hãy để lời cuộn vang: ‘Vẻ đẹp và vinh quang không che phủ Ta. Ta đứng trong sự mặc khải. Ta hiện tồn.’” |
|
[3a] Fifth Ray: — “Let the three forms of energy electric pass upward to the Place of Power. [3b] Let the forces of the head and heart and all the nether aspects blend. [4] Then let the soul look out upon an inner world of light divine. [5] Let the Word triumphant go forth: [6] ‘I mastered energy for I am energy Itself. The Master and the mastered are but One.’” |
[3a] Cung Năm: — “Hãy để ba hình tướng của năng lượng điện đi lên Chốn Quyền Năng. [3b] Hãy để các mãnh lực của đầu và tim cùng mọi phương diện thấp hòa nhập. [4] Rồi hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới bên trong của ánh sáng thiêng liêng. [5] Hãy để Linh từ chiến thắng phát ra: [6] ‘Ta đã làm chủ năng lượng, vì Ta chính là Năng Lượng. Người Làm Chủ và điều được làm chủ chỉ là Một.’” |
|
[7] Sixth Ray: — “Let all desire cease. [8a] Let aspiration end. [8b] The search is over. [9] Let the soul realise that it has reached the goal, and from that gateway to eternal Life and cosmic Peace, let the word sound: ‘I am the seeker and the sought. I rest!’” |
[7] Cung Sáu: — “Hãy để mọi dục vọng chấm dứt. [8a] Hãy để khát vọng kết thúc. [8b] Cuộc tìm kiếm đã qua. [9] Hãy để linh hồn nhận ra rằng nó đã đạt mục tiêu, và từ cánh cổng ấy dẫn đến Sự Sống vĩnh cửu và Hòa Bình vũ trụ, hãy để lời vang lên: ‘Ta là người tìm kiếm và là điều được tìm kiếm. Ta an nghỉ!’” |
|
[10] Seventh Ray: — “Let the builders cease their work. The Temple is completed. Let the soul enter into its heritage and from the Holy Place command all work to end. Then in the silence subsequent, let him chant forth the Word: ‘The creative work is over. I, the Creator, Am. Naught else remains but Me.’” |
[10] Cung Bảy: — “Hãy để các đấng kiến tạo chấm dứt công việc của họ. Đền Thờ đã hoàn tất. Hãy để linh hồn bước vào cơ nghiệp của mình và từ Nơi Thánh truyền lệnh cho mọi công việc kết thúc. Rồi trong sự im lặng tiếp theo, hãy để y xướng lên Linh từ: ‘Công việc sáng tạo đã xong. Ta, Đấng Sáng Tạo, Hiện Tồn. Không còn gì khác ngoài Ta.’” |
|
[11] The vital forces, which are simply the passing through the outer sheath of the constantly moving ether of space, are of many kinds. [12] One of the concepts, lying back of the astrological theories, [13] is that the etheric body of any form constitutes part of the etheric body of the solar system, and is therefore the medium for the transmission of solar energies, of planetary forces, and of extra-solar or cosmic impulses, esoterically called ‘breaths’. [14] These forces and energies of the cosmic rays are constantly circulating and following definite paths through the ether of space in all parts, and are therefore constantly passing through the etheric bodies of every exoteric form. [15] This is a basic truth and must be carefully borne in mind, for its implications are many and varied; but all lead back to the idea of unity, and of the Oneness of all manifestation, only to be known and realised on the subjective side. |
[11] Các mãnh lực sinh lực, vốn chỉ là sự đi xuyên qua lớp vỏ bên ngoài của dĩ thái không gian luôn chuyển động, có nhiều loại. [12] Một trong những quan niệm nằm đằng sau các lý thuyết chiêm tinh [13] là thể dĩ thái của bất cứ hình tướng nào cấu thành một phần của thể dĩ thái của hệ mặt trời, và do đó là phương tiện truyền dẫn các năng lượng thái dương, các mãnh lực hành tinh, và các xung lực ngoài hệ mặt trời hay vũ trụ, được gọi một cách huyền bí là “các hơi thở”. [14] Những mãnh lực và năng lượng này của các cung vũ trụ liên tục lưu chuyển và đi theo những đường đi xác định qua dĩ thái của không gian trong mọi phần, và do đó liên tục đi xuyên qua các thể dĩ thái của mọi hình tướng ngoại môn. [15] Đây là một chân lý căn bản và phải được ghi nhớ cẩn thận, vì các hàm ý của nó nhiều và đa dạng; nhưng tất cả đều dẫn trở lại ý tưởng về sự hợp nhất, và về Tính Duy Nhất của mọi biểu hiện, điều chỉ có thể được biết và chứng nghiệm ở phía chủ quan. |
|
[16] The second basic idea is that the response of the etheric vehicle of all forms and its capacity to appropriate, to utilise, and to transmit are dependent upon the condition of the centres, of the chakras, as they are called in the East. [17] These include not only the well known seven major centres but numbers of lesser vortices of force, [18] as yet unnamed and unknown in the occident. [19] It is dependent also upon the quality of the etheric vehicle, upon its aliveness, and also upon the interlacing network in which the centres have their place, and which in its entirety is called ‘the web’ or the ‘golden bowl’. [20] If this is clear of impediments and of sediment, and if its channels are not clogged then the circulating rays, energies and forces can find an easy medium and can circulate unimpeded throughout the entire body. They can then utilise those centres which are responsive to their vibrations, and can be passed on and through to forms in other or the same kingdoms in nature. [21] Here lies the secret of all scientific and occult healing. [22] Healers are experimenting with the etheric body and yet little real knowledge is theirs. [23] They know little or nothing of the centres in their own body through which the magnetic or other currents must flow; they are unaware of the condition of the etheric centres of those they seek to heal and of the nature of the forces they wish to employ. [24] All they can do is to discipline their lives, and so control their appetites that they build a clean body and provide clear channels for the passage of forces from and through themselves to others. |
[16] Ý tưởng căn bản thứ hai là sự đáp ứng của vận cụ dĩ thái của mọi hình tướng, cùng khả năng thu nhận, sử dụng và truyền dẫn của nó, tùy thuộc vào tình trạng của các trung tâm, của các chakra, như chúng được gọi ở phương Đông. [17] Chúng bao gồm không chỉ bảy trung tâm chính được biết rõ, mà còn nhiều vòng xoáy mãnh lực nhỏ hơn, [18] hiện chưa được đặt tên và chưa được biết đến ở phương Tây. [19] Điều này cũng tùy thuộc vào phẩm tính của vận cụ dĩ thái, vào tính sống động của nó, và vào mạng lưới đan xen trong đó các trung tâm có vị trí của chúng, và toàn thể mạng lưới ấy được gọi là “tấm lưới” hay “chiếc chén vàng”. [20] Nếu mạng lưới này sạch khỏi các chướng ngại và cặn lắng, và nếu các kênh của nó không bị tắc nghẽn, thì các cung, năng lượng và mãnh lực đang lưu chuyển có thể tìm được một phương tiện dễ dàng và có thể lưu thông không bị cản trở khắp toàn thể cơ thể. Khi ấy chúng có thể sử dụng những trung tâm đáp ứng với các rung động của chúng, và có thể được chuyển tiếp đến và xuyên qua các hình tướng trong các giới khác hoặc cùng giới trong thiên nhiên. [21] Ở đây có bí mật của mọi phương pháp trị liệu khoa học và huyền bí. [22] Các nhà trị liệu đang thử nghiệm với thể dĩ thái, nhưng họ có rất ít tri thức thực sự. [23] Họ biết rất ít hoặc hầu như không biết gì về các trung tâm trong chính cơ thể mình, qua đó các dòng từ tính hay các dòng khác phải chảy; họ không biết tình trạng của các trung tâm dĩ thái nơi những người họ tìm cách chữa lành, cũng như bản chất của các mãnh lực họ muốn sử dụng. [24] Tất cả những gì họ có thể làm là kỷ luật đời sống của mình, và nhờ vậy kiểm soát các ham muốn, để xây dựng một thể xác trong sạch và cung cấp các kênh thông suốt cho sự đi qua của các mãnh lực từ chính họ, xuyên qua chính họ, đến những người khác. |
|
[25] The third concept to be noted is that forms are, as yet primarily responsive to the forces which reach them from other forms on the planet, to the seven basic types of energies emanating from the seven planets, and also to the life-giving solar ray. [26] All forms in all the four kingdoms [27] respond to these many forces, to these seven energies and to the one ray. [28] The human family are responsive also to other energies and to solar rays, —all however coloured by the force generated within the solar ring-pass-not. |
[25] Quan niệm thứ ba cần ghi nhận là các hình tướng hiện nay chủ yếu đáp ứng với các mãnh lực đến với chúng từ những hình tướng khác trên hành tinh, với bảy loại năng lượng căn bản phát xạ từ bảy hành tinh, và cũng với cung thái dương ban sự sống. [26] Mọi hình tướng trong cả bốn giới [27] đều đáp ứng với nhiều mãnh lực này, với bảy năng lượng này và với một cung duy nhất. [28] Gia đình nhân loại cũng đáp ứng với những năng lượng khác và với các cung thái dương — tuy nhiên tất cả đều được nhuộm màu bởi mãnh lực phát sinh bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời. |
Commentary 21-Rule-X-10.5
|
Hello, friends. We are dealing with A Treatise on White Magic, and we are on page 288, approximately. We’re only doing a few pages per program, the material is so deep. |
Các bạn thân mến, chúng ta đang đề cập đến Luận về Chánh Thuật, và chúng ta đang ở khoảng trang 288. Mỗi chương trình chúng ta chỉ đi qua vài trang, vì tài liệu này quá sâu. |
|
We are in rule 10, a mammoth rule. I looked at it, and it was about 170 pages in the book, so that’s just about a fourth of the book spent on Rule 10. I keep on puzzling over this eightfold chart that we’ve been looking at, and I just noticed another interesting kind of anomaly. |
Chúng ta đang ở quy luật 10, một quy luật đồ sộ. Tôi đã xem lại, và trong sách nó dài khoảng 170 trang, tức gần một phần tư quyển sách dành cho Quy luật 10. Tôi vẫn tiếp tục suy ngẫm về biểu đồ bát phân mà chúng ta đã xem xét, và tôi vừa nhận thấy một loại bất thường thú vị khác. |
|
1. Self-assertion (full development) |
the coordinated quaternary |
Centre at base of spine |
Adrenals |
|
2. Self-expression (creative work) |
Lower brain |
Throat centre |
Thyroid |
|
3. Self-conscious life (personality) |
Upper Brain |
Head centre |
Pineal gland |
|
4. Self-perpetuation |
Sex organs |
Sacral centre |
Sex glands |
|
5. Mental life |
Cerebro-spinal system |
Ajna centre |
Pituitary |
|
6. Sensory life |
Sympathetic nervous system |
Solar plexus |
Pancreas |
|
7. Cell life |
Blood stream |
Heart centre |
Heart |
|
The base of the spine is controlled by the adrenals, and the head center by the pineal, so we seem to skip one of the glands and one of the centers. But then when we look at the thyroid, here we have self-assertion, and then the self-conscious life. The pineal is more than that. Pineal is also related to the highest head center, which is discussed as the upper brain, I suppose, so it relates to the highest head center. The very bottom is the adrenals, followed by the pineal gland in elevation in the center of the head, controlling that area where Magic is performed. It’s a meeting of land and water and air. But then if we look at the next gland, or self-expression, we notice we skip one. We relate the thyroid gland of the throat center to the sex glands, gonads and ovaries of the sacral center. Again, we have this relationship if we skip one of the glands. |
Đáy cột sống chịu sự kiểm soát của tuyến thượng thận, và trung tâm đầu bởi tuyến tùng, vì vậy dường như chúng ta bỏ qua một tuyến và một trung tâm. Nhưng khi nhìn vào tuyến giáp, ở đây chúng ta có sự tự khẳng định, rồi đến đời sống ngã thức. Tuyến tùng còn hơn thế nữa. Tuyến tùng cũng liên hệ với trung tâm đầu cao nhất, được bàn đến như phần não trên, tôi cho là vậy, nên nó liên hệ với trung tâm đầu cao nhất. Điểm rất thấp là tuyến thượng thận, rồi theo độ cao là tuyến tùng ở trung tâm của đầu, kiểm soát vùng nơi huyền thuật được thực hiện. Đó là nơi gặp gỡ của đất, nước và khí. Nhưng nếu nhìn vào tuyến kế tiếp, hay sự tự biểu đạt, chúng ta nhận thấy mình bỏ qua một tuyến. Chúng ta liên hệ tuyến giáp của trung tâm cổ họng với các tuyến sinh dục, tinh hoàn và buồng trứng của trung tâm xương cùng. Một lần nữa, chúng ta có mối liên hệ này nếu bỏ qua một trong các tuyến. |
|
Now, we also find this very same skipping and listing if we look at the pineal gland and the pituitary, which are also a pair. The pineal relating to the soul and to the higher faculties, and the pituitary to the personality. We notice there is a linking here—not a skipping, but a linking between the pancreas and the heart. It’s not really a gland, but maybe we should call it the thymus gland. |
Chúng ta cũng thấy cùng kiểu bỏ qua và liệt kê này nếu nhìn vào tuyến tùng và tuyến yên, vốn cũng là một cặp. Tuyến tùng liên hệ với linh hồn và các năng lực cao, còn tuyến yên liên hệ với phàm ngã. Chúng ta nhận thấy có một sự liên kết ở đây, không phải sự bỏ qua, mà là sự liên kết giữa tuyến tụy và tim. Nó không hẳn là một tuyến, nhưng có lẽ chúng ta nên gọi đó là tuyến ức. |
|
Anyway, there are links between the different glands and centers, and they do not seem to be continuous. There are links between the different glands and centers. Remember that this is the chart of the man as he is supposed to be, with the full development of the will at perhaps the fifth initiation, and then it’s followed by creative work, but one would think of the creative work of the soul a bit more. |
Có những liên kết giữa các tuyến và các trung tâm khác nhau, và chúng dường như không liên tục. Có những liên kết giữa các tuyến và các trung tâm khác nhau. Hãy nhớ rằng đây là biểu đồ của con người như y được giả định phải là, với sự phát triển đầy đủ của ý chí, có lẽ ở lần điểm đạo thứ năm, rồi sau đó là công việc sáng tạo, nhưng người ta sẽ nghĩ nhiều hơn một chút đến công việc sáng tạo của linh hồn. |
|
Here’s another threesome: the monad, the triad, and the egoic lotus. In this case, the egoic lotus, or causal body, represents the third aspect, and is thus connected with the throat center. Here we have a very powerful first ray under Pluto. We have a creative aspect under the self-expression of the soul, under the throat center, involving the thyroid gland as well. The pineal gland seems to me to relate specifically to the soul energy, but I wouldn’t be surprised if it involves other and higher energies as well. |
Đây là một bộ ba khác: chân thần, Tam nguyên tinh thần, và Hoa Sen Chân Ngã. Trong trường hợp này, Hoa Sen Chân Ngã, hay thể nguyên nhân, đại diện cho phương diện thứ ba, và do đó được nối kết với trung tâm cổ họng. Ở đây chúng ta có một cung một rất mạnh mẽ dưới Sao Diêm Vương. Chúng ta có một phương diện sáng tạo dưới sự tự biểu đạt của linh hồn, dưới trung tâm cổ họng, cũng liên quan đến tuyến giáp. Đối với tôi, tuyến tùng dường như liên hệ riêng với năng lượng linh hồn, nhưng tôi sẽ không ngạc nhiên nếu nó cũng liên quan đến những năng lượng khác và cao hơn. |
|
Then we get more into the realm of personality. It’s a bit unusual to see self-perpetuation above the mental life, but remember, we’re talking about the self. He said somewhere here that the Self referred to is the self-realization of the spiritual man. And who is the spiritual man? It’s partially the soul consciousness, but it’s also the triadal component of the man, and still more, the Divine Self—the monad. |
Rồi chúng ta đi nhiều hơn vào lĩnh vực của phàm ngã. Hơi bất thường khi thấy sự tự duy trì nằm trên đời sống trí tuệ, nhưng hãy nhớ, chúng ta đang nói về bản ngã. Ở đâu đó tại đây, Ngài đã nói rằng Bản Ngã được nhắc đến là sự tự chứng ngộ của con người tinh thần. Và con người tinh thần là ai? Đó phần nào là tâm thức linh hồn, nhưng cũng là thành phần Tam nguyên tinh thần của con người, và hơn nữa, là Bản Ngã Thiêng liêng—chân thần. |
|
When we look at the self here, we’re looking at the soul-triad, but finally, if we really think about it, the real area of self-assertion in our energy system is the monad itself. None of this would exist—not our triad, not our soul, not our personality—unless the monad had asserted itself. |
Khi nhìn vào bản ngã ở đây, chúng ta đang nhìn vào linh hồn-Tam nguyên tinh thần, nhưng sau cùng, nếu thực sự suy nghĩ về điều đó, vùng thật sự của sự tự khẳng định trong hệ thống năng lượng của chúng ta chính là chân thần. Không điều gì trong tất cả những điều này sẽ hiện hữu—không Tam nguyên tinh thần của chúng ta, không linh hồn của chúng ta, không phàm ngã của chúng ta—nếu chân thần đã không tự khẳng định mình. |
|
The base of the spine is ruled by Pluto, but there is an interesting triangle: Aries-Pluto-Shamballic. It’s a very first-ray kind of triangle, connecting the base of the spine, in a way, with Shamballic. From another perspective, the head center should be connected with Shamballic. It’s certainly connected with Atma, and there are aspects of it which should be connected with Shamballic. It’s a very complex center, and when Roberto Assagioli asked Master DK to elaborate upon the head center, he said he really couldn’t do that, because it was one of the very esoteric and one of the guarded secrets. So he could not elaborate, at least in a book meant for the general public, upon the head center, at least not yet. |
Đáy cột sống do Sao Diêm Vương cai quản, nhưng có một tam giác thú vị: Bạch Dương-Sao Diêm Vương-Shamballa. Đó là một tam giác rất thuộc loại cung một, nối kết đáy cột sống, theo một cách nào đó, với Shamballa. Từ một góc nhìn khác, trung tâm đầu nên được nối kết với Shamballa. Chắc chắn nó được nối kết với atma, và có những phương diện của nó nên được nối kết với Shamballa. Đó là một trung tâm rất phức tạp, và khi Roberto Assagioli hỏi Chân sư DK giải thích thêm về trung tâm đầu, Ngài nói rằng thật sự Ngài không thể làm điều đó, vì đó là một trong những bí mật rất huyền bí và được canh giữ. Vì vậy Ngài không thể giải thích thêm, ít nhất trong một quyển sách dành cho công chúng nói chung, về trung tâm đầu, ít nhất là chưa thể. |
|
In some of the Hindu books, there is some elaboration, and factors are mentioned which are not yet mentioned in the blue books. I have a feeling that the next dispensation for which we are trying to prepare, through assimilation, will have a lot of the first ray in it, and maybe more detail on the head center will be released. We certainly have to go through this purging time when everything is coming to the surface, prior to the reappearance of the Christ. It’s a very Plutonic time and a Vulcanian time, and we’ll just have to see how much can be revealed, as Pluto brings to the surface all kinds of things which human beings did not suspect of themselves or of humanity as a whole. |
Trong một số sách Ấn giáo, có một vài sự giải thích thêm, và những yếu tố được nêu ra mà trong các sách xanh chưa được nhắc đến. Tôi có cảm giác rằng thiên khải kế tiếp mà chúng ta đang cố gắng chuẩn bị, thông qua sự đồng hóa, sẽ có nhiều cung một trong đó, và có lẽ nhiều chi tiết hơn về trung tâm đầu sẽ được công bố. Chắc chắn chúng ta phải đi qua thời kỳ thanh lọc này, khi mọi sự đang nổi lên bề mặt, trước khi Đức Christ tái lâm. Đó là một thời kỳ rất Sao Diêm Vương và rất Vulcan, và chúng ta sẽ phải xem có thể mặc khải được bao nhiêu, khi Sao Diêm Vương đưa lên bề mặt đủ mọi điều mà con người không ngờ nơi chính mình hay nơi toàn thể nhân loại. |
|
We have to live through that in order to have the way cleared for the presentation of the next teaching. The First World War came along, and eventually an armistice was enacted, and a way—a temporary way—was cleared for the presentation of the intermediate teaching through Alice Bailey, the second installment. Of course, the war really went underground and emerged again, and the teaching continued even during the war, but at least it got its start after the major conflict, after the major war to end all wars. |
Chúng ta phải sống qua điều đó để con đường được khai thông cho sự trình bày giáo huấn kế tiếp. Thế Chiến Thứ Nhất đã xảy ra, và cuối cùng một hiệp định đình chiến được ban hành, và một con đường—một con đường tạm thời—được khai thông cho sự trình bày giáo huấn trung gian qua Alice Bailey, đợt truyền dạy thứ hai. Dĩ nhiên, chiến tranh thật ra đã đi vào ngầm ẩn rồi lại trồi lên, và giáo huấn vẫn tiếp tục ngay cả trong chiến tranh, nhưng ít nhất nó đã khởi đầu sau cuộc xung đột lớn, sau cuộc đại chiến nhằm chấm dứt mọi cuộc chiến. |
|
I keep on coming back to this. He says it’s very intricate, complex, and abstruse, and it is. I keep on meditating upon it, as I think we all should, and then we will gain more light in the process. |
Tôi cứ quay lại với điều này. Ngài nói nó rất rắc rối, phức tạp và thâm áo, và đúng là như vậy. Tôi tiếp tục tham thiền về nó, như tôi nghĩ tất cả chúng ta nên làm, rồi chúng ta sẽ đạt được thêm ánh sáng trong tiến trình ấy. |
|
These various factors are arranged in ways in a sequence that we might not suspect, and each one of the centers has functions different from the ones that are here given. We’re looking very much at the physical organism of the man, and how these higher centers are connected with structures within the physical organism, such as the cerebrospinal nervous system or the sympathetic and parasympathetic nervous system. |
Những yếu tố khác nhau này được sắp xếp theo những cách, theo một chuỗi mà chúng ta có thể không ngờ tới, và mỗi trung tâm đều có những chức năng khác với các chức năng được nêu ở đây. Chúng ta đang nhìn rất nhiều vào cơ thể hồng trần của con người, và cách các trung tâm cao này nối kết với những cấu trúc bên trong cơ thể hồng trần, như hệ thần kinh não tủy hoặc hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm. |
|
I think the parasympathetic has more to do with the pineal gland and with the ability for soul consciousness to affect the system. Certainly the heart center is much more than the bloodstream and the nourishing of the cell light, but he’s giving us a particular point of view. A lot of understanding of Master DK is to figure out the point of view which he is presenting. He varies his point of view, and different points of interest, different sources, different centers, have a different function depending upon the point of view. |
Tôi nghĩ hệ đối giao cảm liên quan nhiều hơn đến tuyến tùng và đến khả năng để tâm thức linh hồn tác động lên hệ thống. Chắc chắn trung tâm tim còn nhiều hơn dòng máu và việc nuôi dưỡng ánh sáng tế bào, nhưng Ngài đang trao cho chúng ta một quan điểm đặc thù. Phần lớn việc thấu hiểu Chân sư DK là nhận ra quan điểm mà Ngài đang trình bày. Ngài thay đổi quan điểm của mình, và những điểm quan tâm khác nhau, những nguồn khác nhau, những trung tâm khác nhau, có chức năng khác nhau tùy theo quan điểm. |
|
From one perspective, the Earth is the base of the spine of the Solar Logos. From another perspective, it might be connected with the mental unit. Certainly its symbolism is the same, interestingly enough. There’s a kind of a splenic connection with the Earth. Therefore, in the structure and functioning and the physiology of the Solar Logos, the Earth has its place there. In terms of form creating, it has its place in relation to the sacral center. |
Từ một góc nhìn, Trái Đất là đáy cột sống của Thái dương Thượng đế. Từ một góc nhìn khác, nó có thể được nối kết với đơn vị hạ trí. Chắc chắn biểu tượng của nó cũng như vậy, thật thú vị. Có một loại liên hệ với lá lách nơi Trái Đất. Do đó, trong cấu trúc, hoạt động và sinh lý học của Thái dương Thượng đế, Trái Đất có vị trí của nó ở đó. Xét về việc tạo hình tướng, nó có vị trí của nó trong liên hệ với trung tâm xương cùng. |
|
Every center, or every principle expressing itself through the Solar Logos, may involve as much as three chakras for each principle. When you take a look at the base of the spine, you find out, interestingly, that not only is Earth involved, but Pluto is involved, Mercury is involved, and there are other ways in which we could look at Saturn and even Uranus. Certainly Mars is involved. We have Earth, Pluto, Mars, those three, and Mercury as the kundalini active, whereas Mars is considered kundalini latent. |
Mỗi trung tâm, hay mỗi nguyên khí biểu lộ qua Thái dương Thượng đế, có thể liên quan đến tới ba luân xa cho mỗi nguyên khí. Khi nhìn vào đáy cột sống, các bạn sẽ thấy, thật thú vị, rằng không chỉ Trái Đất có liên quan, mà Sao Diêm Vương có liên quan, Sao Thủy có liên quan, và có những cách khác để chúng ta có thể nhìn vào Sao Thổ và thậm chí Sao Thiên Vương. Chắc chắn Sao Hỏa có liên quan. Chúng ta có Trái Đất, Sao Diêm Vương, Sao Hỏa, ba hành tinh ấy, và Sao Thủy như mãnh lực hỏa xà hoạt động, trong khi Sao Hỏa được xem là mãnh lực hỏa xà tiềm ẩn. |
|
We’re presented with a picture of great relativity, and we have to keep our mind flexible not to lock in a particular center, chakra, source, area of the anatomy, not to lock it into one function only. This is shown even in the disciple. The Sun, or a non-sacred planet veiled by the Sun, rules the heart center for the average individual, but Jupiter carries on that function for the disciple, and probably for the initiate. |
Chúng ta được trình bày một bức tranh có tính tương đối lớn lao, và chúng ta phải giữ cho thể trí mình linh hoạt, không cố định một trung tâm, luân xa, nguồn, vùng giải phẫu nào vào chỉ một chức năng duy nhất. Điều này được thấy ngay cả nơi người đệ tử. Mặt Trời, hay một hành tinh không thiêng liêng được Mặt Trời che giấu, cai quản trung tâm tim đối với cá nhân trung bình, nhưng Sao Mộc đảm nhận chức năng đó đối với đệ tử, và có lẽ đối với điểm đạo đồ. |

|
On page 517 of Esoteric Astrology, we have the same factor with the throat center, where Earth is the usual ruler, but then along comes Saturn, and then at a certain stage, the seventh ray takes over, and we begin to speak in magical terms. Probably Uranus is somewhat involved. Certainly Mercury has a lot to do with speech and will be brought into relation to the throat center somehow. We have to remain flexible in our assignment of the positions of the various planets, chakras, centers, points of concentration, because they vary according to what the Tibetan calls something like the Law of Mutability or the Law of Mutation. You can imagine how He is able to flexibly look at all these different relationships and see how a particular point of force, point of energy, has a different function, depending upon the combination that He is witnessing. As hopefully you would do, pondering this most difficult chart, abstruse chart, and gaining more from it as we go. It all depends on the context. |
Ở trang 517 của Chiêm Tinh Học Nội Môn, chúng ta có cùng yếu tố này với trung tâm cổ họng, nơi Trái Đất là chủ tinh thông thường, nhưng rồi Sao Thổ xuất hiện, và đến một giai đoạn nào đó, cung bảy tiếp quản, và chúng ta bắt đầu nói theo các thuật ngữ huyền thuật. Có lẽ Sao Thiên Vương cũng phần nào liên quan. Chắc chắn Sao Thủy có liên hệ rất nhiều với lời nói và sẽ được đưa vào liên hệ với trung tâm cổ họng theo cách nào đó. Chúng ta phải duy trì sự linh hoạt trong việc gán vị trí của các hành tinh, luân xa, trung tâm, điểm tập trung khác nhau, vì chúng thay đổi theo điều mà Chân sư Tây Tạng gọi đại khái là Định luật Khả biến hay Định luật Biến dịch. Các bạn có thể hình dung Ngài có thể nhìn một cách linh hoạt vào tất cả những mối liên hệ khác nhau này và thấy một điểm mãnh lực, điểm năng lượng đặc thù có chức năng khác nhau như thế nào, tùy thuộc vào tổ hợp mà Ngài đang chứng kiến. Hy vọng các bạn cũng sẽ làm như vậy, khi suy ngẫm về biểu đồ khó nhất này, biểu đồ thâm áo này, và thu nhận nhiều hơn từ nó khi chúng ta tiếp tục. Tất cả tùy thuộc vào bối cảnh. |
|
Now, you see something similar happening. When you go to A Treatise on Cosmic Fire, around page 259 or 260, you say we know what are the principles of man, but do we? From what perspective do we know what are the principles? There are all these different perspectives, and sometimes what we thought was an invariable principle, always found in the manifestation of the man, is eliminated, and something higher or lower is inserted. |
Các bạn thấy điều gì đó tương tự đang xảy ra. Khi đến Luận về Lửa Vũ Trụ, khoảng trang 259 hoặc 260, các bạn nói chúng ta biết các nguyên khí của con người là gì, nhưng liệu chúng ta có biết không? Từ quan điểm nào chúng ta biết các nguyên khí là gì? Có tất cả những quan điểm khác nhau này, và đôi khi điều mà chúng ta tưởng là một nguyên khí bất biến, luôn được thấy trong sự biểu hiện của con người, lại bị loại bỏ, và một điều cao hơn hoặc thấp hơn được đưa vào. |
|
There are the principles of man from a higher perspective. That’s dealt with in the written commentaries, found on Makara, or maybe a lower perspective, a more average perspective, where the principles are viewed in a different way, and certain of the higher principles are not considered to be included. Read through that section. If you wish, see what I said about it in the commentaries on that particular chapter or section around page 260 of A Treatise on Cosmic Fire. Here, page 259, What is the mind aspect? What’s the manasic principle, and so forth? Here it is, it’s basically starting around page 261, I guess. The monad, the threefold triad, the egoic body, and then the threefold nature, and so forth. |
Có các nguyên khí của con người từ một quan điểm cao hơn. Điều đó được bàn đến trong các bình giảng viết, có trên Makara, hoặc có lẽ từ một quan điểm thấp hơn, một quan điểm trung bình hơn, nơi các nguyên khí được nhìn theo một cách khác, và một số nguyên khí cao hơn không được xem là bao gồm trong đó. Hãy đọc qua phần ấy. Nếu muốn, hãy xem những gì tôi đã nói về nó trong các bình giảng về chương hay phần đặc thù ấy quanh trang 260 của Luận về Lửa Vũ Trụ. Ở đây, trang 259, Phương diện trí tuệ là gì? Nguyên khí manas là gì, vân vân? Đây rồi, về căn bản nó bắt đầu quanh trang 261, tôi nghĩ vậy. Chân thần, Tam nguyên tinh thần tam phân, thể chân ngã, rồi bản chất tam phân, vân vân. |

|
Here’s one look at the principles of man: the monad, pure spirit, the one and only, then the monadic trinity, and then the Sun aspect, and then the lower quaternary. That’s one way to look at the principles. |
Đây là một cách nhìn về các nguyên khí của con người: chân thần, tinh thần thuần khiết, Đấng duy nhất và độc nhất, rồi Tam Vị chân thần, rồi phương diện Mặt Trời, rồi tứ phân hạ. Đó là một cách nhìn các nguyên khí. |

|
But there are other ways to look at the principles, and they’re given here, and there are five of them on pages 262 and 263. Here’s something even more abstruse, perhaps. Then we descend to monadic egg, Atma, Buddhi, and so forth. They’re all changing constantly. |
Nhưng có những cách khác để nhìn các nguyên khí, và chúng được nêu ở đây, có năm cách trên các trang 262 và 263. Đây là điều có lẽ còn thâm áo hơn. Rồi chúng ta đi xuống noãn chân thần, atma, Bồ đề, vân vân. Tất cả đều liên tục thay đổi. |
|
Here’s another one, which really begins with the spiritual will, or ascending from the etheric body, and doesn’t go any higher than Atma. That’s another one. |
Đây là một cách khác, thật sự bắt đầu với ý chí tinh thần, hoặc đi lên từ thể dĩ thái, và không lên cao hơn atma. Đó là một cách khác. |
|
Here’s a more objective type of development. This presentation ends with the astral vehicle and does not consider the etheric or physical at all. All of these are the principles of man seen from different contexts. |
Đây là một kiểu phát triển khách quan hơn. Trình bày này kết thúc với hiện thể cảm dục và hoàn toàn không xét đến dĩ thái hay hồng trần. Tất cả những điều này là các nguyên khí của con người được nhìn từ những bối cảnh khác nhau. |
|
Somewhere around ten pages this abstruse subject is dealt with—more than I could do right now off the top of my head. I have written about it, hopefully some years ago with clarity, some degree of clarity, as much clarity as I could muster at the time. |
Đâu đó khoảng mười trang đề cập đến đề tài thâm áo này—nhiều hơn mức tôi có thể làm ngay lúc này chỉ từ trí nhớ. Tôi đã viết về nó, hy vọng là cách đây vài năm với sự rõ ràng, một mức độ rõ ràng nào đó, rõ nhất mà tôi có thể huy động vào lúc ấy. |
|
This is all about the Law of Mutation and the relativity of meaning and function of any energy center or force center. The relativity of function depends on the context of any energy or force center. After about twenty minutes of this, it could be time to go into the subject of the day. |
Tất cả điều này liên quan đến Định luật Biến dịch và tính tương đối của ý nghĩa và chức năng của bất kỳ trung tâm năng lượng hay trung tâm mãnh lực nào. Tính tương đối của chức năng tùy thuộc vào bối cảnh của bất kỳ trung tâm năng lượng hay mãnh lực nào. Sau khoảng hai mươi phút về điều này, có lẽ đã đến lúc đi vào chủ đề của ngày hôm nay. |
|
Commentary |
Bình giảng |
|
We did have fun with to will, to know, to dare, and to be silent. We can look at that in different ways, and the different centers involved for the disciple are given here as the ajna, center at the base of the fine sacral center, and the solar plexus center, I suppose. Not all of the higher centers are even the main concern of the disciple, but rather the mastery and control of some of these lower centers. |
Chúng ta đã có một buổi thú vị với muốn, biết, dám, và im lặng. Chúng ta có thể nhìn điều đó theo nhiều cách khác nhau, và những trung tâm khác nhau liên quan đến đệ tử được nêu ở đây là ajna, trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm xương cùng, và trung tâm tùng thái dương, tôi cho là vậy. Không phải tất cả các trung tâm cao đều là mối bận tâm chính của đệ tử, mà đúng hơn là sự làm chủ và kiểm soát một số trung tâm thấp này. |
|
The complexity of the subject is also increased. |
Sự phức tạp của đề tài cũng gia tăng. |
|
This is our consolation, if I can put it this way. Remember, this is an introductory book here. This is not a book that is considered one of the later advanced books. Yet look at the subject matter. |
Đây là niềm an ủi của chúng ta, nếu tôi có thể nói như vậy. Hãy nhớ rằng đây là một quyển sách nhập môn. Đây không phải là một quyển sách được xem là một trong những sách cao cấp về sau. Tuy vậy, hãy nhìn vào nội dung của nó. |
|
I realized that the teaching given here is both deep and abstruse, but it is needed for the few and their numbers will increase as time elapses. |
Tôi nhận ra rằng giáo huấn được trao ở đây vừa sâu xa vừa thâm áo, nhưng nó cần thiết cho một số ít người, và số lượng của họ sẽ gia tăng theo thời gian. |
|
DK says that many, many initiates of the fifth degree will be shortly needed. There’s an intensified training at this time for people who can begin to approach such possibilities. It seems like a steep climb, doesn’t it? |
Chân sư DK nói rằng rất nhiều, rất nhiều điểm đạo đồ bậc năm sẽ sớm cần đến. Hiện nay có một sự huấn luyện tăng cường cho những người có thể bắt đầu tiến gần đến những khả thể như vậy. Có vẻ như một cuộc leo dốc rất cao, phải không? |
|
The complexity of the subject is also increased by the fact that each ray holds within its teaching a different approach and a different method for those souls who are found responsive to its peculiar impulse. |
Sự phức tạp của đề tài cũng gia tăng bởi sự kiện rằng mỗi cung chứa đựng trong giáo huấn của nó một cách tiếp cận khác và một phương pháp khác dành cho những linh hồn được thấy là đáp ứng với xung động riêng biệt của nó. |
|
Note: we are speaking of the responsiveness of souls and not the action and intelligence of personalities. It’s often necessary to consider this material in what ultimately is a cursory manner, not a truly in-depth, studential manner where we would take the time to really get into even a sentence or two and spend the whole hour doing that. My conscience afflicts me, and then I think, well, maybe there’s something more that can be said that will be illuminating. Maybe that is possible, and it’s only possible up to a point given the depth of the teaching. |
Hãy lưu ý: chúng ta đang nói về tính đáp ứng của các linh hồn, chứ không phải hành động và trí thông minh của các phàm ngã. Thường cần xem xét tài liệu này theo một cách rốt cuộc là lướt qua, chứ không phải theo một cách thực sự sâu sắc, có tính đạo sinh, nơi chúng ta sẽ dành thời gian để thật sự đi vào chỉ một hoặc hai câu và dùng cả giờ cho điều đó. Lương tâm tôi thúc bách tôi, rồi tôi nghĩ, có lẽ còn điều gì đó có thể được nói ra và sẽ soi sáng. Có lẽ điều đó khả hữu, và nó chỉ khả hữu đến một mức nào đó do chiều sâu của giáo huấn. |
|
Here we are at Commentary 21 and He talks about ray teaching. |
Ở đây chúng ta đang ở Bình giảng 21 và Ngài nói về giáo huấn theo cung. |
|
Each ray holds within its teaching a different approach and a different method for those souls who are found responsive. |
Mỗi cung chứa đựng trong giáo huấn của nó một cách tiếp cận khác và một phương pháp khác dành cho những linh hồn được thấy là đáp ứng. |
|
This is advising how the soul is to respond to life circumstances. I’ve memorized these and considered it very important. I’ve used these mantras which verge upon unity in seven different ways to induce the sense of unity in my own consciousness. We can go through the day and there are moments when the unity of all things may present itself, but other moments are of a lower vibration and value where we stand within the illusion and the unity evades us. |
Điều này chỉ dẫn linh hồn phải đáp ứng với hoàn cảnh đời sống như thế nào. Tôi đã học thuộc những điều này và xem chúng rất quan trọng. Tôi đã dùng những mantram này, vốn gần chạm đến hợp nhất theo bảy cách khác nhau, để khơi dậy ý thức hợp nhất trong tâm thức của chính tôi. Chúng ta có thể đi qua ngày sống và có những khoảnh khắc khi tính hợp nhất của mọi sự có thể tự trình hiện, nhưng những khoảnh khắc khác lại có rung động và giá trị thấp hơn, nơi chúng ta đứng trong ảo tưởng và tính hợp nhất lẩn tránh chúng ta. |
|
[1] I give here the seven keys for each of the ray methods. |
[1] Tôi trao ở đây bảy chìa khóa cho mỗi phương pháp của các cung. |
|
He says that He has given here the seven keys of each of the ray methods. Methods for what? One way to look at the method is as methods to achieve the realization of UNITY, or even ONENESS, which is beyond UNITY. If I was being really accurate, I wouldn’t capitalize everything. I’d just say Unity and Oneness, and I reserve my total capital letters for that which lies beyond the universal demonstration, the periodical universal demonstration. |
Ngài nói rằng Ngài đã trao ở đây bảy chìa khóa của mỗi phương pháp cung. Phương pháp để làm gì? Một cách nhìn phương pháp là các phương pháp để đạt được sự chứng ngộ HỢP NHẤT, hoặc thậm chí NHẤT THỂ, vốn vượt trên HỢP NHẤT. Nếu thật sự chính xác, tôi sẽ không viết hoa tất cả. Tôi chỉ nói Hợp Nhất và Nhất Thể, và dành toàn bộ chữ viết hoa cho điều nằm bên kia cuộc biểu hiện vũ trụ phổ quát, cuộc biểu hiện vũ trụ phổ quát theo chu kỳ. |
|
[1b] These can be studied in relation to the above tabulations and in connection with the four words we have been considering. |
[1b] Những điều này có thể được nghiên cứu trong liên hệ với các bảng kê trên và trong liên hệ với bốn từ mà chúng ta đã xem xét. |
|
He gives us a real project: “Student X, in the New Esoteric Schools, this is your assignment: study the following seven stanzas in relation to the eightfold, sevenfold, eightfold tabulations given, and in relation to the will to know, to dare, and to be silent”. That would be quite a research paper, wouldn’t it? |
Ngài trao cho chúng ta một đề án thật sự: “Đạo sinh X, trong các Trường Nội Môn Mới, đây là bài tập của bạn: hãy nghiên cứu bảy bài kệ sau đây trong liên hệ với các bảng kê bát phân, thất phân, bát phân đã cho, và trong liên hệ với ý chí muốn biết, dám, và im lặng”. Đó sẽ là một bài nghiên cứu khá lớn, phải không? |
|
[2] We must remember that ‘To Will’ is the prerogative of Spirit, |
[2] Chúng ta phải nhớ rằng ‘Muốn’ là đặc quyền của Tinh thần, |
|
Yes, indeed, this is to be emphasized, the prerogative of the spirit monad. |
Đúng vậy, điều này cần được nhấn mạnh, đặc quyền của chân thần tinh thần. |
|
[3] ‘To Know’ is the function of the Soul, ‘To Dare’ is the duty of the personality, and ‘To Be Silent’ is the ultimate dharma or destiny of the matter aspect, of the animal nature in its interplay with the soul. |
[3] ‘Biết’ là chức năng của Linh hồn, ‘Dám’ là bổn phận của phàm ngã, và ‘Im lặng’ là dharma hay định mệnh tối hậu của phương diện vật chất, của bản chất thú tính trong sự tương tác của nó với linh hồn. |
|
That’s just perfect. |
Điều đó thật hoàn hảo. |
|
I knew how it is—something like cryptomnesia, where you sort of memorize something, you don’t know where you got it from, but there it is in your consciousness. |
Tôi biết điều đó diễn ra như thế nào—giống như ký ức ẩn, khi các bạn phần nào học thuộc điều gì đó, không biết mình lấy nó từ đâu, nhưng nó ở đó trong tâm thức các bạn. |
|
This particular paragraph or section made quite an impact upon me as I tried to associate the four activities—to will, to know, to dare, to be silent—with different aspects of the man. To will: the monad or spirit. To know: the soul or consciousness. To dare: the personality—the kind of daring we’re talking about, the personality wouldn’t undertake unless guided by higher principles. To be silent: the fate or dharma or duty of the matter aspect, the lunar vehicles of the animal nature of the man, and their interplay with the soul. |
Đoạn hay phần đặc thù này đã tác động khá mạnh đến tôi khi tôi cố gắng liên kết bốn hoạt động—muốn, biết, dám, im lặng—với những phương diện khác nhau của con người. Muốn: chân thần hay tinh thần. Biết: linh hồn hay tâm thức. Dám: phàm ngã—loại can đảm mà chúng ta đang nói đến, phàm ngã sẽ không đảm nhận nếu không được các nguyên khí cao hướng dẫn. Im lặng: số phận hay dharma hay bổn phận của phương diện vật chất, các hiện thể nguyệt cầu thuộc bản chất thú tính của con người, và sự tương tác của chúng với linh hồn. |
|
The idea here is to let the soul control and the matter aspects of the personality remain quiescent and obedient in silent obedience. It’s my impression that I’ve done some work on these seven, and since they appear in various places, there may have already been some commentary work done. Let’s go on in the context: |
Ý tưởng ở đây là để linh hồn kiểm soát và các phương diện vật chất của phàm ngã vẫn yên lặng, vâng phục trong sự vâng phục thầm lặng. Tôi có ấn tượng rằng tôi đã làm một số công việc về bảy điều này, và vì chúng xuất hiện ở nhiều nơi, có thể đã có một số công việc bình giảng được thực hiện. Chúng ta hãy tiếp tục trong bối cảnh: |
|
[4] First Ray: — “Let the Forces come together. |
[4] Cung Một: — “Hãy để các Mãnh lực hội tụ. |
|
There’s a great factor of centralization here for the first ray. |
Ở đây có một yếu tố tập trung hóa lớn lao đối với cung một. |
|
[4b] Let them mount to the High Place, |
[4b] Hãy để chúng vươn lên Nơi Cao, |
|
Which is perhaps the head center or soul consciousness. We’re not looking out through some lesser force center of the mechanism; we’re looking out from a center which is lofty and gives us a very high perspective on what’s happening. |
Đó có lẽ là trung tâm đầu hay tâm thức linh hồn. Chúng ta không nhìn ra qua một trung tâm mãnh lực thấp hơn nào đó của bộ máy; chúng ta nhìn ra từ một trung tâm cao cả, mang lại cho chúng ta một viễn cảnh rất cao về những gì đang xảy ra. |
|
Let them mount to the High Place, which may be the center of the head, or even eventually the jewel in the lotus. Let’s limit this at first to the soul consciousness, but we might find that we could carry it even further. |
Hãy để chúng vươn lên Nơi Cao, có thể là trung tâm của đầu, hoặc thậm chí cuối cùng là viên ngọc trong hoa sen. Trước hết chúng ta hãy giới hạn điều này vào tâm thức linh hồn, nhưng chúng ta có thể thấy rằng mình có thể đưa nó xa hơn nữa. |
|
[5] and from that lofty eminence, let the soul look out upon a world destroyed. |
[5] và từ đỉnh cao ấy, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới bị hủy diệt. |
|
This is about soul consciousness. |
Điều này nói về tâm thức linh hồn. |
|
Let the soul look out upon a world destroyed, and all attachments are gone—attachments to the personality and maybe even to the causal body. |
Hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới bị hủy diệt, và mọi ràng buộc đều tan biến—ràng buộc với phàm ngã và có lẽ thậm chí với thể nguyên nhân. |
|
[6] Then let the word go forth: |
[6] Rồi hãy để linh từ phát ra: |
|
This is the word of the true consciousness. I, the true I, the true consciousness, the true Being— |
Đây là linh từ của tâm thức chân thật. Tôi, cái tôi chân thật, tâm thức chân thật, Bản Thể chân thật— |
|
[7] ‘I still persist!’” |
[7] ‘Ta vẫn tồn tại!’” |
|
The true Being, Consciousness still persists, even though the attachments to the personality and its worlds, and the attachment to the causal body has vanished. We can interpret some of these mantrams, or great statements, at various levels. |
Bản Thể chân thật, Tâm thức vẫn tồn tại, dù những ràng buộc với phàm ngã và các thế giới của nó, cũng như ràng buộc với thể nguyên nhân, đã biến mất. Chúng ta có thể diễn giải một số mantram này, hay những phát biểu lớn lao này, ở nhiều cấp độ khác nhau. |
|
There’s the centralization factor. The forces are coming together and being elevated. They’re being carried up into a relative heaven. Heavens are relative—there are a number of them. Saint Paul talked about a seventh heaven, as it was reflected in the third. The third heaven really has a lot to do, I think, with the higher mental plane, not with Devachan so much. |
Có yếu tố tập trung hóa. Các mãnh lực đang hội tụ và được nâng cao. Chúng được đưa lên một cõi trời tương đối. Các cõi trời đều tương đối—có một số cõi như vậy. Thánh Paul đã nói về tầng trời thứ bảy, khi nó được phản chiếu trong tầng trời thứ ba. Tôi nghĩ tầng trời thứ ba thật sự liên quan nhiều đến Cõi thượng trí, không nhiều đến cõi phúc lạc sau khi chết. |
|
Let the forces come together. Let them mount to the high place. And from that lofty eminence, let the soul look out upon a world destroyed. Then let the word go forth: I still persist. |
Hãy để các mãnh lực hội tụ. Hãy để chúng vươn lên nơi cao. Và từ đỉnh cao ấy, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới bị hủy diệt. Rồi hãy để linh từ phát ra: Ta vẫn tồn tại. |
|
A suprapersonal consciousness and being persists. It’s not that the personality persists at all—it’s that the real man persists. You, first-ray souls, can read this to yourself and memorize it and practice drawing all the energies of your etheric system to a high place and even all the energies of the personality to a high place. Your consciousness is drawn to a high place and it looks out upon the personality and maybe from a certain perspective even looks out upon what we normally call the limitation of soul consciousness, the consciousness within the causal body and egoic lotus. That is a limitation upon soul consciousness because the true ego is the spiritual triad. If we look at maybe a totally capitalized Ego, we’re going to find the monad there because it is a being within an egg—the world egg in the microcosmic sense. |
Một tâm thức và bản thể siêu cá nhân vẫn tồn tại. Không phải phàm ngã tồn tại chút nào—mà là con người thật tồn tại. Các bạn, những linh hồn cung một, có thể đọc điều này cho chính mình, học thuộc nó và thực hành việc thu hút mọi năng lượng của hệ thống dĩ thái của mình lên một nơi cao, và thậm chí mọi năng lượng của phàm ngã lên một nơi cao. Tâm thức của các bạn được kéo lên một nơi cao và nó nhìn ra phàm ngã, và có lẽ từ một quan điểm nào đó, thậm chí nhìn ra điều mà chúng ta thường gọi là giới hạn của tâm thức linh hồn, tâm thức bên trong thể nguyên nhân và Hoa Sen Chân Ngã. Đó là một giới hạn đối với tâm thức linh hồn vì chân ngã thật là Tam nguyên tinh thần. Nếu chúng ta nhìn vào một Chân Ngã có lẽ được viết hoa toàn bộ, chúng ta sẽ thấy chân thần ở đó vì đó là một bản thể bên trong một noãn—noãn thế giới theo nghĩa tiểu thiên địa. |
|
Let the forces come together. Let them mount to the high place. And from that lofty eminence, let the soul look out upon a world destroyed. Then let the word go forth: I still persist. |
Hãy để các mãnh lực hội tụ. Hãy để chúng vươn lên nơi cao. Và từ đỉnh cao ấy, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới bị hủy diệt. Rồi hãy để linh từ phát ra: Ta vẫn tồn tại. |
|
The true higher Man or higher Being is enunciating the word. We have to learn the difference between thinking and speaking as a personality, thinking and speaking as a soul in incarnation, and thinking and speaking as a consciousness which has been abstracted from its personal prison. |
Con Người cao thật sự hay Bản Thể cao thật sự đang xướng linh từ. Chúng ta phải học sự khác biệt giữa suy nghĩ và nói như một phàm ngã, suy nghĩ và nói như một linh hồn đang nhập thể, và suy nghĩ và nói như một tâm thức đã được rút ra khỏi nhà tù cá nhân của nó. |
|
How would we link this to the will to know, to dare, and to be silent? I won’t undertake that now. We could do it. Maybe I’ll reserve it for the future when, as I intend to be a student of one of these Esoteric Schools, I’ll have to undertake that linking. But meanwhile, just to say that it can be interpreted in this way, we can lay out before us the eight: cell life, sensory life, mental life, vital life, and then everything related to the self—self-consciousness, self-expression, self-perpetuation, self-assertion. |
Chúng ta sẽ liên kết điều này với ý chí muốn biết, dám, và im lặng như thế nào? Tôi sẽ không đảm nhận điều đó lúc này. Chúng ta có thể làm. Có lẽ tôi sẽ dành nó cho tương lai, khi như tôi dự định trở thành một đạo sinh của một trong các Trường Nội Môn này, tôi sẽ phải đảm nhận sự liên kết ấy. Nhưng trong lúc này, chỉ cần nói rằng nó có thể được diễn giải theo cách này, chúng ta có thể bày ra trước mắt tám điều: đời sống tế bào, đời sống giác quan, đời sống trí tuệ, đời sống sinh lực, rồi mọi điều liên quan đến bản ngã—ngã thức, sự tự biểu đạt, sự tự duy trì, sự tự khẳng định. |
|
We can lay out these seven: self-assertion, self-expression, self-conscious life, self-perpetuation, mental life, sensory life, cell life. And we can lay out to will, to dare, to know, and to be silent, and then start comparing these wonderful evocative Stanzas, which induce in us those higher states of realization if we can understand what we’re saying. We can make the correlations. I would have to diverge and digress to do that, though it’s not really a digression. If a random thought comes to me about how to relate things, I will. But remember, we’re controlling everything from the point of the self-assertion of the spirit. |
Chúng ta có thể bày ra bảy điều này: sự tự khẳng định, sự tự biểu đạt, đời sống ngã thức, sự tự duy trì, đời sống trí tuệ, đời sống giác quan, đời sống tế bào. Và chúng ta có thể bày ra muốn, dám, biết, và im lặng, rồi bắt đầu so sánh những Bài kệ gợi lên tuyệt vời này, vốn khơi dậy trong chúng ta những trạng thái chứng ngộ cao hơn nếu chúng ta có thể hiểu điều mình đang nói. Chúng ta có thể lập các tương ứng. Tôi sẽ phải rẽ hướng và đi lệch để làm điều đó, dù thật ra đó không phải là đi lệch. Nếu một tư tưởng ngẫu nhiên đến với tôi về cách liên hệ các điều này, tôi sẽ nói. Nhưng hãy nhớ, chúng ta đang kiểm soát mọi sự từ điểm tự khẳng định của tinh thần. |
|
These mantrams, the final mantram in each one of the statements, is like a Word of Power. It is spoken from the perspective—a very high perspective—which is abstracted from imprisonment within the personality. |
Những mantram này, mantram cuối trong mỗi phát biểu, giống như một Quyền năng từ. Nó được thốt ra từ quan điểm—một quan điểm rất cao—đã được rút ra khỏi sự giam hãm bên trong phàm ngã. |
|
[8] Second Ray: — “Let all the life be drawn to the Centre, |
[8] Cung Hai: — “Hãy để mọi sự sống được thu hút về Trung Tâm, |
|
For myself, being a second ray soul, I like this next one very much, and I’ve practiced with it very much, especially the final mantram in it, the final statement: Let all the life be drawn to the Center. |
Đối với tôi, là một linh hồn cung hai, tôi rất thích điều kế tiếp này, và tôi đã thực hành với nó rất nhiều, đặc biệt là mantram cuối trong đó, phát biểu cuối: Hãy để mọi sự sống được thu hút về Trung Tâm. |
|
There is an in-gathering of many diverse and even scattered forces to a center of power along a particular ray line. Let all the life be drawn to the Center, capital C, and it’s a heart center really, but the soul is a heart, and strangely, the monad on the second plane has a kind of heart center function as well. |
Có một sự quy tụ vào trong của nhiều mãnh lực đa dạng và thậm chí phân tán về một trung tâm quyền năng dọc theo một tuyến cung đặc thù. Hãy để mọi sự sống được thu hút về Trung Tâm, viết hoa chữ Trung Tâm, và thật ra đó là trung tâm tim, nhưng linh hồn là một trái tim, và lạ thay, chân thần trên cõi thứ hai cũng có một loại chức năng trung tâm tim. |
|
If you think about the way AAB diagrams work, there’s something there. I also want to open Tuija’s work here, which is even more elaborate and in some ways more accurate. Here are the diagrams from Tuija, and what you notice is that the heart center, etherically, is found on the second sub-plane. |
Nếu các bạn nghĩ về cách các sơ đồ của AAB vận hành, có điều gì đó ở đó. Tôi cũng muốn mở công trình của Tuija ở đây, còn tỉ mỉ hơn và theo vài cách chính xác hơn. Đây là các sơ đồ từ Tuija, và điều các bạn nhận thấy là trung tâm tim, về mặt dĩ thái, được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai. |

|
You would expect to find a head, heart, throat triangle on the first three sub-planes. These are systemic sub-planes, but now let’s look at the cosmic sub-planes: number one, number two, number three. |
Các bạn sẽ mong thấy một tam giác đầu, tim, cổ họng trên ba cõi phụ đầu tiên. Đây là các cõi phụ hệ thống, nhưng bây giờ hãy nhìn vào các cõi phụ vũ trụ: số một, số hai, số ba. |

|
This whole monadic plane is associated with the heart. The monad carries a kind of second-ray function as well as a first-ray function. When the true monad is released into the logoic plane, the Sun is shining, and there’s a fourth-ray imager. The true and released monad is the Volatile Essence, the Flying Essence, released without a vehicle, or at least without its usual Temple, into the Sea of Fire. One of three circles takes over, or three triangles, and that becomes the new vehicle for the monad—ultimately a first, second, or third-ray monad. There is a definitely liberation that occurs, and it’s on this logoic plane that the first-ray function of the monad would manifest most powerfully. There’s a heart function, like a second sub-ray, for the monad, all seven types, in seven types of vehicles, or seven types of temples—the temples of Ezekiel. |
Toàn bộ cõi chân thần này được liên kết với tim. Chân thần mang một loại chức năng cung hai cũng như chức năng cung một. Khi chân thần thật được giải phóng vào cõi logoic, Mặt Trời đang chiếu sáng, và có một hình ảnh cung bốn. Chân thần thật và được giải phóng là Tinh chất Bay hơi, Tinh chất Bay lượn, được giải phóng không có hiện thể, hoặc ít nhất không có Đền thờ thường lệ của nó, vào Biển Lửa. Một trong ba vòng tròn tiếp quản, hoặc ba tam giác, và điều đó trở thành hiện thể mới cho chân thần—rốt cuộc là một chân thần cung một, cung hai, hoặc cung ba. Có một sự giải thoát chắc chắn xảy ra, và chính trên cõi logoic này mà chức năng cung một của chân thần sẽ biểu hiện mạnh mẽ nhất. Có một chức năng tim, giống như một cung phụ thứ hai, dành cho chân thần, cả bảy loại, trong bảy loại hiện thể, hay bảy loại đền thờ—các đền thờ của Ezekiel. |
|
Let all the light be drawn to the Center—is that the soul, is that the monad, |
Hãy để mọi ánh sáng được thu hút về Trung Tâm—đó là linh hồn, hay đó là chân thần, |
|
and enter thus into the Heart of Love Divine. |
và nhờ đó đi vào Trái Tim của Bác Ái Thiêng Liêng. |
|
The soul in the egoic lotus is considered the heart center of the monad. |
Linh hồn trong Hoa Sen Chân Ngã được xem là trung tâm tim của chân thần. |
|
[9] The from that point of sentient life, |
[9] Rồi từ điểm đời sống cảm tri ấy, |
|
we’re relating to feeling. We remember how the solar plexus was ruling the sympathetic nervous system, and the solar plexus is the second center out of the lower three: base of the spine, solar plexus, and then sacral. From the base, first ray, to the solar plexus, second ray, and then down to the sacral center, third ray. They’re associated with the three major principles in that way, although they have other rays we can consider in relation to those centers. |
chúng ta đang liên hệ với cảm giác. Chúng ta nhớ tùng thái dương đã cai quản hệ thần kinh giao cảm như thế nào, và tùng thái dương là trung tâm thứ hai trong ba trung tâm thấp: đáy cột sống, tùng thái dương, rồi xương cùng. Từ đáy, cung một, đến tùng thái dương, cung hai, rồi xuống trung tâm xương cùng, cung ba. Chúng được liên kết với ba nguyên khí chính theo cách đó, dù chúng có những cung khác mà chúng ta có thể xem xét trong liên hệ với các trung tâm ấy. |
|
We’re dealing with sentiency, sensitivity, responsiveness, consciousness, and feeling. Then from that point of sentient Life, |
Chúng ta đang xử lý cảm tri, sự nhạy cảm, tính đáp ứng, tâm thức, và cảm giác. Rồi từ điểm Đời sống cảm tri ấy, |
|
[10] let the soul realise the consciousness of God. |
[10] hãy để linh hồn nhận ra tâm thức của Thượng đế. |
|
That’s the key. It’s not just the power of God, not just the livingness of God, the persistence of the immortal factor, but the consciousness of the immortal factor. |
Đó là chìa khóa. Không chỉ là quyền năng của Thượng đế, không chỉ là sự sống động của Thượng đế, sự bền tồn của yếu tố bất tử, mà là tâm thức của yếu tố bất tử. |
|
[11] Let the word go forth, reverberating through the silence: |
[11] Hãy để linh từ phát ra, vang vọng qua sự im lặng: |
|
And that’s a hint, because the silence will reveal. In the silence the forces gather. |
Và đó là một gợi ý, vì sự im lặng sẽ mặc khải. Trong sự im lặng, các mãnh lực quy tụ. |
|
Let the word go forth, reverberating through the silence. |
Hãy để linh từ phát ra, vang vọng qua sự im lặng. |
|
This is the one I’ve based so much of my writing, my thinking, and my practice on: |
Đây là điều mà tôi đã đặt nền cho rất nhiều bài viết, tư tưởng và thực hành của mình: |
|
[12] ‘Naught is but Me!’” |
[12] ‘Không gì ngoài Ta!’” |
|
And it’s a capital me, of course. This is the “Me”, which includes all things, and naught remains, which is not included. Whether you’re looking at a high form of life, or a low form of life, or something that you hardly consider to be life at all, Naught is but me. |
Và dĩ nhiên đó là “Ta” viết hoa. Đây là “Ta” bao gồm mọi sự, và không còn điều gì không được bao gồm. Dù các bạn đang nhìn vào một hình thái sự sống cao, hay một hình thái sự sống thấp, hay một điều mà các bạn hầu như không xem là sự sống chút nào, Không gì ngoài ta. |
|
This can be practiced. Use that mantra: look around you, focus on anything. If it’s there, if you’re perceiving it, it’s in a state of isness. It is, because you cannot perceive a negation, you cannot perceive that which is not. Because it is, it is included in everything. |
Điều này có thể được thực hành. Hãy dùng mantra đó: nhìn quanh các bạn, tập trung vào bất kỳ điều gì. Nếu nó ở đó, nếu các bạn đang tri nhận nó, nó đang ở trong trạng thái hiện hữu. Nó hiện hữu, vì các bạn không thể tri nhận một phủ định, các bạn không thể tri nhận điều không hiện hữu. Vì nó hiện hữu, nó được bao gồm trong tất cả. |
|
It is not ejected, it is not cast out, it is part of the everything. If it can be registered in your perception, it is you. If it can be registered in your perception, and many things that are not registered in our perception are we as well—it is you. Not is but me. |
Nó không bị đẩy ra, không bị loại bỏ, nó là một phần của tất cả. Nếu nó có thể được ghi nhận trong tri nhận của các bạn, nó là các bạn. Nếu nó có thể được ghi nhận trong tri nhận của các bạn, và nhiều điều không được ghi nhận trong tri nhận của chúng ta cũng là chúng ta—nó là các bạn. Không gì hiện hữu ngoài ta. |
|
Let me read this again, with the hope that more may come in the reading. |
Hãy để tôi đọc lại điều này, với hy vọng rằng nhiều điều hơn có thể đến trong khi đọc. |
|
Second Ray:—”Let all the life be drawn to the Centre, and enter thus into the Heart of Love Divine. Then from that point of sentient Life, let the soul realise the consciousness of God. Let the word go forth, reverberating through the silence: ‘Naught is but Me!'” |
Cung Hai:—”Hãy để mọi sự sống được thu hút về Trung Tâm, và nhờ đó đi vào Trái Tim của Bác Ái Thiêng Liêng. Rồi từ điểm Đời sống cảm tri ấy, hãy để linh hồn nhận ra tâm thức của Thượng đế. Hãy để linh từ phát ra, vang vọng qua sự im lặng: ‘Không gì ngoài Ta!'” |
|
You can really ponder that word for word, phrase by phrase, line by line, and it will give more and more as we bring it into ourselves. This is especially for second-ray souls, but if you’re a second-ray monad, this type of contemplation could also be effective. |
Các bạn thật sự có thể suy ngẫm điều đó từng từ, từng cụm, từng dòng, và nó sẽ trao ra ngày càng nhiều hơn khi chúng ta đưa nó vào trong mình. Điều này đặc biệt dành cho các linh hồn cung hai, nhưng nếu các bạn là chân thần cung hai, loại chiêm ngưỡng này cũng có thể hiệu quả. |
|
Work on this one particularly because Master DK, as a second-ray Master, will gather His serious students from among those who have the soul ray on the second ray, or the monadic ray on the second ray. If the soul ray is on the second ray, then there’s a part of the spiritual triad which is very strongly on the second ray as well, because the spiritual triad is the truer soul. Monad has soul, and also even the Great One Life has its universal consciousness, which can be considered the soul. |
Hãy làm việc đặc biệt với điều này vì Chân sư DK, là một Chân sư cung hai, sẽ quy tụ các đạo sinh nghiêm túc của Ngài từ trong số những người có cung linh hồn thuộc cung hai, hoặc cung chân thần thuộc cung hai. Nếu cung linh hồn thuộc cung hai, thì có một phần của Tam nguyên tinh thần cũng rất mạnh mẽ trên cung hai, vì Tam nguyên tinh thần là linh hồn chân thật hơn. Chân thần có linh hồn, và thậm chí Sự Sống Duy Nhất Vĩ Đại cũng có tâm thức phổ quát của nó, vốn có thể được xem là linh hồn. |
|
I persist for the first ray. It’s such a powerful mantra to keep the life aspect, life and consciousness aspect going. Naught is but me for the second ray, which is all about identification with every single perception that you can possibly have. |
Ta vẫn tồn tại dành cho cung một. Đó là một mantra mạnh mẽ đến mức giữ cho phương diện sự sống, phương diện sự sống và tâm thức tiếp tục vận hành. Không gì ngoài ta dành cho cung hai, hoàn toàn nói về sự đồng hóa với từng tri nhận riêng lẻ mà các bạn có thể có. |
|
Perhaps in this program there’s room for one more. |
Có lẽ trong chương trình này còn chỗ cho một điều nữa. |
|
[13] Third Ray: |
[13] Cung Ba: |
|
This is the third ray, relating to the third ray soul, or the third ray above. |
Đây là cung ba, liên hệ với linh hồn cung ba, hoặc cung ba ở trên. |
|
[14] “Let the Army of the Lord, responsive to the word, cease their activities. |
[14] “Hãy để Đạo quân của Chúa Tể, đáp ứng với linh từ, chấm dứt các hoạt động của họ. |
|
Again, the silence, because much is accomplished in the silence. |
Một lần nữa, sự im lặng, vì nhiều điều được hoàn thành trong sự im lặng. |
|
[15] Let knowledge end in wisdom. |
[15] Hãy để tri thức kết thúc trong minh triết. |
|
There is a difference, of course. Venus is that planet which is particularly good at transforming knowledge into wisdom. Here again, we have the quiescence, the lack of activity, which the third ray type much needs, because it abuses activity, and lets activity veil reality. |
Dĩ nhiên có một sự khác biệt. Sao Kim là hành tinh đặc biệt giỏi trong việc chuyển đổi tri thức thành minh triết. Ở đây một lần nữa, chúng ta có sự tĩnh lặng, sự thiếu hoạt động, điều mà người cung ba rất cần, vì y lạm dụng hoạt động, và để hoạt động che phủ thực tại. |
|
Let the point vibrating become the point quiescent. Remember that one of those words for the third ray, an integrative word for the third ray, is stillness. All lines gather into one. We’re dealing with the many and the one, the one and the many. People who are on the third ray are so aware of the many, but they have to learn how to solve this problem of the many and convert the many into one. |
Hãy để điểm rung động trở thành điểm tĩnh lặng. Hãy nhớ rằng một trong những từ dành cho cung ba, một từ tích hợp dành cho cung ba, là sự yên tĩnh. Mọi tuyến quy tụ thành một. Chúng ta đang xử lý cái nhiều và cái một, cái một và cái nhiều. Những người thuộc cung ba rất ý thức về cái nhiều, nhưng họ phải học cách giải quyết vấn đề về cái nhiều này và chuyển cái nhiều thành cái một. |
|
[16] Let the point vibrating become the point quiescent, and all lines gather into One. |
[16] Hãy để điểm rung động trở thành điểm tĩnh lặng, và mọi tuyến quy tụ thành Một. |
|
It’s a bit like what was going on for the second ray: Let all the life be drawn to the center. There’s this constant ingathering. For all of these, note the factor of ingathering in all of these powerful statements. |
Điều này hơi giống những gì đã diễn ra đối với cung hai: Hãy để mọi sự sống được thu hút về trung tâm. Có sự quy tụ liên tục này. Đối với tất cả những điều này, hãy lưu ý yếu tố quy tụ trong tất cả những phát biểu mạnh mẽ này. |
|
We’re in ray three. |
Chúng ta đang ở cung ba. |
|
[17] Let the soul realise the One in Many and let the word go forth |
[17] Hãy để linh hồn nhận ra Đấng Duy Nhất trong cái Nhiều và hãy để linh từ phát ra |
|
This is a higher word, not any kind of personal word. Let the word go forth |
Đây là một linh từ cao hơn, không phải bất kỳ loại lời nói cá nhân nào. Hãy để linh từ phát ra |
|
[18] in perfect understanding: |
[18] trong sự thấu hiểu hoàn hảo: |
|
We have a sequence here: knowledge leading to wisdom and perfect understanding. In the beginning of Glamour: A World Problem, DK does deal with the contrast between wisdom and understanding. Somehow, understanding is a linking factor between wisdom and knowledge. |
Chúng ta có một chuỗi ở đây: tri thức dẫn đến minh triết và sự thấu hiểu hoàn hảo. Ở phần đầu của Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, Chân sư DK có đề cập đến sự tương phản giữa minh triết và sự thấu hiểu. Theo một cách nào đó, sự thấu hiểu là một yếu tố liên kết giữa minh triết và tri thức. |
|
Here is this final mantra, which we look for in each case, and which souls on these rays should particularly meditate upon: |
Đây là mantra cuối cùng này, điều chúng ta tìm kiếm trong mỗi trường hợp, và là điều các linh hồn trên các cung này nên đặc biệt tham thiền: |
|
[19] ‘I am the Worker and the Work, |
[19] ‘Ta là Người Hoạt Động và là Công Việc, |
|
I am both. I am the one and the many, |
Ta là cả hai. Ta là cái một và cái nhiều, |
|
[20] the One that Is.’” |
[20] Đấng Duy Nhất đang Hiện Hữu.’” |
|
All of these words of power lead to Oneness, to the realization of the One. Maybe it’s particularly difficult for the third ray type to realize the One because they are so overcome with diversity and the outer form. We’re supposed to, on the third ray, not rush from point to point or be deluded by the outer forms. That’s difficult for the materialistic third ray type, because materialism is a state of consciousness. |
Tất cả những quyền năng từ này dẫn đến Nhất Thể, đến sự chứng ngộ Đấng Duy Nhất. Có lẽ đặc biệt khó cho người cung ba chứng ngộ Đấng Duy Nhất vì họ quá bị choáng ngợp bởi tính đa dạng và hình tướng bên ngoài. Trên cung ba, chúng ta được giả định không vội vã từ điểm này sang điểm khác hoặc bị các hình tướng bên ngoài làm mê lầm. Điều đó khó đối với người cung ba duy vật, vì chủ nghĩa duy vật là một trạng thái tâm thức. |
|
Always we return to the One. In this case, the solution of the One and the many is the key striving for this type of soul. Maybe even this can be applied to the monad. |
Chúng ta luôn trở về với Đấng Duy Nhất. Trong trường hợp này, việc giải quyết giữa cái Một và cái nhiều là chìa khóa mà loại linh hồn này phấn đấu. Có lẽ điều này thậm chí có thể được áp dụng cho chân thần. |
|
Let the army of the voice responsive to the word cease their activities. It’s going to be always a higher directing word. These are the builders—the Deva builders on many different levels with many different functions. Actually, interestingly, it really says the Army of the Lord. I’m so used to thinking in terms of the Army of the Voice that I looked at that word Lord and just said voice. But anyway, it’s the same thing. |
Hãy để đạo quân của âm thanh đáp ứng với linh từ chấm dứt các hoạt động của họ. Đó sẽ luôn là một linh từ chỉ đạo cao hơn. Đây là các đấng kiến tạo—các đấng kiến tạo thiên thần ở nhiều cấp độ khác nhau với nhiều chức năng khác nhau. Thật ra, thật thú vị, nó thật sự nói là Đạo quân của Chúa Tể. Tôi quá quen nghĩ theo Đạo Quân của Âm Thanh đến nỗi khi nhìn vào từ Chúa Tể đó, tôi lại nói thành âm thanh. Nhưng dù sao, đó cũng là cùng một điều. |
|
Let the Army of the Lord, responsive to the word, cease their activities. Silence will reign. Let knowledge end in wisdom. Let the point vibrating become the point quiescent and all lines gather into one. This is a common theme—the gathering of the forces and streams of energy into one. |
Hãy để Đạo quân của Chúa Tể, đáp ứng với linh từ, chấm dứt các hoạt động của họ. Sự im lặng sẽ ngự trị. Hãy để tri thức kết thúc trong minh triết. Hãy để điểm rung động trở thành điểm tĩnh lặng và mọi tuyến quy tụ thành một. Đây là một chủ đề chung—sự quy tụ của các mãnh lực và các dòng năng lượng vào một. |
|
Let the soul realize the one in many and let the word go forth in perfect understanding. The word that explains and reveals the higher consciousness. I am the Worker and the Work, the One that is. This word reveals a higher realization. |
Hãy để linh hồn nhận ra Đấng Duy Nhất trong cái nhiều và hãy để linh từ phát ra trong sự thấu hiểu hoàn hảo. Linh từ giải thích và mặc khải tâm thức cao hơn. Ta là Người Hoạt Động và là Công Việc, Đấng Duy Nhất đang hiện hữu. Linh từ này mặc khải một chứng ngộ cao hơn. |
|
Third Ray: — “Let the Army of the Lord, responsive to the word, cease their activities. Let knowledge end in wisdom. Let the point vibrating become the point quiescent, and all lines gather into One. Let the soul realise the One in Many and let the word go forth in perfect understanding: ‘I am the Worker and the Work, the One that Is.’” |
Cung Ba: — “Hãy để Đạo quân của Chúa Tể, đáp ứng với linh từ, chấm dứt các hoạt động của họ. Hãy để tri thức kết thúc trong minh triết. Hãy để điểm rung động trở thành điểm tĩnh lặng, và mọi tuyến quy tụ thành Một. Hãy để linh hồn nhận ra Đấng Duy Nhất trong cái Nhiều và hãy để linh từ phát ra trong sự thấu hiểu hoàn hảo: ‘Ta là Người Hoạt Động và là Công Việc, Đấng Duy Nhất đang Hiện Hữu.’” |
|
Always behind the outer, we have to find the reality. We’re often so misled by the outer. Every ray has a way of misleading those who are found upon it. Eventually we learn how really to find the reality behind the outer phenomenon. We’ve only really done one page, but that’s because we have this sequence of words of power. |
Luôn luôn phía sau cái bên ngoài, chúng ta phải tìm thực tại. Chúng ta thường bị cái bên ngoài dẫn lạc rất nhiều. Mỗi cung đều có một cách dẫn lạc những người được thấy ở trên cung ấy. Cuối cùng chúng ta học cách thật sự tìm ra thực tại đằng sau hiện tượng bên ngoài. Chúng ta thật ra mới chỉ làm được một trang, nhưng đó là vì chúng ta có chuỗi các quyền năng từ này. |
|
This is the end of A Treatise on White Magic, number 21, and it’s program 10.5. Pages 288 to 289 is where we are. We’re not any further than that. That’s as far as we’ve gotten because of this tabulation of words of power. Pages 288 and 289. Then we’re going to go on when we can to number 22 and it will be 10.6, from page 289 to whatever, probably only to page 290, because we have other parts of this tabulation with which to deal. |
Đây là phần kết của Luận về Chánh Thuật, số 21, và đây là chương trình 10.5. Chúng ta đang ở các trang 288 đến 289. Chúng ta chưa đi xa hơn thế. Đó là mức chúng ta đã đạt được vì bảng kê các quyền năng từ này. Các trang 288 và 289. Rồi khi có thể, chúng ta sẽ tiếp tục với số 22 và đó sẽ là 10.6, từ trang 289 đến đâu đó, có lẽ chỉ đến trang 290, vì chúng ta còn những phần khác của bảng kê này cần đề cập. |
|
Contemplate these paragraphs, these techniques, these Ray techniques. Don’t worry yet about correlating them with the eightfold and sevenfold tabulations or necessarily with the fourfold sequence of to will, to know, to dare, and to be silent. That type of correlation can come along. |
Hãy chiêm ngưỡng những đoạn này, những kỹ thuật này, những Kỹ thuật Cung này. Đừng vội lo về việc tương ứng chúng với các bảng kê bát phân và thất phân, hoặc nhất thiết với chuỗi tứ phân gồm muốn, biết, dám, và im lặng. Loại tương ứng đó có thể đến sau. |
|
Just to know that there is a correlation of that nature is enough maybe at this point. If we want to get together as a group sometime and really discuss the possible correlations, we can do that. |
Chỉ cần biết rằng có một tương ứng thuộc bản chất ấy có lẽ là đủ vào lúc này. Nếu một lúc nào đó chúng ta muốn cùng nhau như một nhóm và thật sự thảo luận các tương ứng khả hữu, chúng ta có thể làm điều đó. |
|
We’re at the end and we’ll see you when we can. All the best — study hard. It’s a great book, a lot deeper than people might imagine. We might say this is a beginning book, but no, it’s hardly a beginning book. Much of it has been broken out into still other, more elaborative books. Many books are contained within this white magic book, just the same way as it is in A Treatise on Cosmic Fire. |
Chúng ta đã đến cuối và sẽ gặp lại các bạn khi có thể. Chúc mọi điều tốt lành — hãy học tập chăm chỉ. Đây là một quyển sách lớn, sâu hơn nhiều so với điều người ta có thể tưởng. Chúng ta có thể nói đây là một quyển sách nhập môn, nhưng không, nó hầu như không phải là một quyển sách nhập môn. Nhiều phần của nó đã được tách ra thành những quyển sách khác, còn giải thích tỉ mỉ hơn. Nhiều quyển sách được chứa đựng trong quyển sách về Chánh Thuật này, cũng giống như trong Luận về Lửa Vũ Trụ. |
|
We’ll see you. All the best. Bye-bye. |
Hẹn gặp lại các bạn. Chúc mọi điều tốt lành. Tạm biệt. |