Program 24 Rule 10.8 (Pages 293-295)
Abstract
|
Content for ATOWM Series II, Rules of Magic for the Astral Plane, Video Commentary, Program Twenty-Four, 10.8 continuing Rule X, 1:02 hr; pages 293-295. |
Nội dung cho Loạt II của ATOWM, Các Quy luật Huyền thuật cho Cõi Cảm dục, Video Bình luận, Chương trình Hai mươi bốn, 10.8 tiếp tục Quy luật X, 1:02 giờ; trang 293-295. |
Text 24
|
[1] Astral Energy and Fear |
[1] Năng Lượng Cảm dục và Sự Sợ Hãi |
|
[2] The subject now to be considered is of most practical application for it concerns the astral body—the body in which a man is pre-eminently polarised and of which he is more potently conscious than of any other body. [3] The etheric body is really below the threshold of consciousness. [4] Human beings remain unaware of the passage of forces through this vehicle and the nearest they get to the recognition of it is when they speak in terms of vitality or lack of vitality. [5] The physical body makes its presence felt when something goes wrong or through the gratification of one or other of the appetites. [6] The situation is however different in connection with the astral body for there is the vehicle of experience for the majority, and few there are who do not pass the greater part of their conscious life, recording the reactions of that body and vibrating between the two poles of happiness and misery, of satisfaction or non-satisfaction, of assurance or doubt, of courage or of fear. [7] This really means that the inherent force and life of the emotional sentient vehicle govern the life-expression and mould the experience of the incarnated soul. [8] Therefore, it is of value to us to understand something of what those forces are, where they come from, and how they act and react on the man. [9] There lies his battleground and there also lies his field of victory. |
[2] Đề tài nay cần được xem xét có ứng dụng thực tiễn cao nhất, vì nó liên quan đến thể cảm dục — thể mà trong đó con người phân cực nổi bật nhất và y có ý thức mạnh mẽ hơn bất cứ thể nào khác. [3] Thể dĩ thái thật ra nằm dưới ngưỡng tâm thức. [4] Con người vẫn không hay biết về sự lưu chuyển của các mãnh lực qua vận cụ này, và điều gần nhất mà họ đạt tới trong việc nhận ra nó là khi họ nói về sinh lực hoặc sự thiếu sinh lực. [5] Thể xác khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận khi có điều gì trục trặc, hoặc qua sự thỏa mãn một trong các dục vọng. [6] Tuy nhiên, tình trạng lại khác đối với thể cảm dục, vì đó là vận cụ kinh nghiệm của đa số, và hiếm có ai lại không trải qua phần lớn đời sống hữu thức của mình bằng cách ghi nhận các phản ứng của thể ấy và rung động giữa hai cực của hạnh phúc và khổ đau, của thỏa mãn hoặc không thỏa mãn, của xác tín hoặc hoài nghi, của can đảm hoặc sợ hãi. [7] Điều này thật sự có nghĩa là mãnh lực và sự sống vốn có của vận cụ cảm thụ xúc cảm chi phối sự biểu lộ đời sống và khuôn đúc kinh nghiệm của linh hồn nhập thể. [8] Vì vậy, điều hữu ích cho chúng ta là thấu hiểu phần nào các mãnh lực ấy là gì, chúng đến từ đâu, và chúng hành động cũng như phản ứng trên con người như thế nào. [9] Ở đó là chiến trường của y, và ở đó cũng là lĩnh vực chiến thắng của y. |
|
[10] To begin with, it is advisable to bear in mind that all astral energy is part of the astral energy of the solar system and that therefore: |
[10] Trước hết, nên ghi nhớ rằng mọi năng lượng cảm dục đều là một phần của năng lượng cảm dục của hệ mặt trời, và do đó: |
|
[11] 1. The sentient body of a human being is an atom of substance in the sentient body of the planetary Logos. |
[11] 1. Thể cảm thụ của một con người là một nguyên tử chất liệu trong thể cảm thụ của Hành Tinh Thượng đế. |
|
[12] 2. The sentient body (a term I much prefer to the term astral, and which I shall continue to use) of the planetary Logos is an aspect—not an atom—of the sentient body of the solar Logos. |
[12] 2. Thể cảm thụ — một thuật ngữ mà Tôi thích hơn nhiều so với thuật ngữ cảm dục, và Tôi sẽ tiếp tục dùng — của Hành Tinh Thượng đế là một phương diện, chứ không phải một nguyên tử, của thể cảm thụ của Thái dương Thượng đế. |
|
[13] 3. This in its turn is influenced by, and is a channel for sentient forces, emanating from vast centres of energy outside our solar system altogether. |
[13] 3. Đến lượt nó, thể này chịu ảnh hưởng của, và là một vận hà cho, các mãnh lực cảm thụ phát xuất từ những trung tâm năng lượng bao la hoàn toàn ở ngoài hệ mặt trời của chúng ta. |
|
[14] If this is borne in mind it becomes apparent that man, being but a tiny fragment of a vaster whole which in its turn is incorporated into a still vaster vehicle, is the meeting ground of forces greater and more diversified than his brain is capable of recognizing. [15] Hence the complexity of his problem and hence all the possibilities growing out of those expansions of consciousness which we call initiation. [16] Every stream of energy pouring through his body of desire and of sentient reaction, is but a pathway leading him to wider and every widening contacts and realisations. [17] Here also lies the safeguard for the majority of human beings, in the fact that they possess as yet an apparatus inadequate for the registering and recording of those infinite possibilities [18] which these avenues of realisation offer. [19] Until the mental apparatus is sufficiently awakened and controlled it would not be possible for man to interpret rightly and utilise correctly the information which his body of sensitive response could, but fortunately does not yet, convey to him. |
[14] Nếu ghi nhớ điều này, sẽ trở nên hiển nhiên rằng con người, chỉ là một mảnh nhỏ bé của một toàn thể rộng lớn hơn, mà đến lượt toàn thể ấy lại được bao hàm trong một vận cụ còn rộng lớn hơn nữa, là điểm gặp gỡ của những mãnh lực lớn lao và đa dạng hơn mức bộ não của y có thể nhận biết. [15] Do đó có sự phức tạp trong vấn đề của y, và do đó cũng có mọi khả năng phát sinh từ những mở rộng tâm thức mà chúng ta gọi là điểm đạo. [16] Mỗi luồng năng lượng tuôn qua thể dục vọng và phản ứng cảm thụ của y chỉ là một lối đi dẫn y đến những tiếp xúc và chứng nghiệm rộng lớn hơn, và ngày càng rộng lớn hơn. [17] Ở đây cũng có sự bảo vệ dành cho đa số con người, trong sự kiện rằng họ vẫn còn sở hữu một bộ máy chưa đủ khả năng ghi nhận và lưu lại những khả năng vô tận [18] mà các con đường chứng nghiệm này đem lại. [19] Cho đến khi bộ máy trí tuệ được đánh thức và kiểm soát đầy đủ, con người không thể diễn giải đúng và sử dụng đúng thông tin mà thể đáp ứng nhạy cảm của y có thể, nhưng may mắn thay vẫn chưa, truyền đạt cho y. |
|
[20] Apart from the constant circulation through his astral body of planetary and solar and cosmic energies, [21] every human being has appropriated, out of the greater Whole, enough of the astral energy wherewith to construct his own individual and separate astral body, [22] responsive to his peculiar note, coloured by his peculiar quality, and limiting him or not according to his point on the ladder of evolution. |
[20] Ngoài sự lưu chuyển thường xuyên qua thể cảm dục của y của các năng lượng hành tinh, thái dương và vũ trụ, [21] mỗi con người đã chiếm hữu từ Toàn Thể lớn lao một lượng năng lượng cảm dục đủ để xây dựng thể cảm dục riêng biệt và cá nhân của mình, [22] đáp ứng với âm điệu đặc thù của y, được tô màu bởi phẩm tính đặc thù của y, và giới hạn y hay không tùy theo điểm của y trên nấc thang tiến hoá. |
|
[23] This constitutes his astral ring-pass-not, [24] defining the limits of his emotional response to life experience, embodying in its quality the range of his desire life, but being at the same time capable of tremendous expansion, development, adjustment and control under the impulse of the mental body and of the soul. [25] It is subject also to vibratory activity as the result of the interplay between it and the physical plane life experience, [26] and thus the great wheel of experience is set in motion and will persist until the four Noble Truths of the Buddha are understood and realised. |
[23] Điều này cấu thành vòng-giới-hạn cảm dục của y, [24] xác định các giới hạn của sự đáp ứng cảm xúc của y đối với kinh nghiệm sống, hiện thân trong phẩm tính của nó phạm vi của đời sống dục vọng của y, nhưng đồng thời lại có khả năng mở rộng, phát triển, điều chỉnh và kiểm soát vô cùng to lớn dưới sự thúc đẩy của thể trí và của linh hồn. [25] Nó cũng chịu sự hoạt động rung động do kết quả của sự tương tác giữa nó với kinh nghiệm sống trên cõi hồng trần, [26] và như thế bánh xe vĩ đại của kinh nghiệm được khởi động và sẽ tiếp tục quay cho đến khi bốn Chân Lý Cao Quý của Đức Phật được thấu hiểu và chứng nghiệm. |
|
[27] This astral body has in it the counterparts of the etheric or laya centres, and through them stream the forces and energies, earlier dealt with, into the etheric body. [28] These centres carry energies from the seven planets and from the sun [29] to every part of the astral organism, [30] thus putting man en rapport with all parts of the solar system. [31] This results in the fixation of a man’s life destiny, until such a time as the man awakens to his immortal heritage and so becomes sensitive to forces that are as yet—for the many—unrecognised. [32] These emanate from the form. This is the reason why a horoscope is frequently quite accurate in its delineation for the unevolved and for the unawakened, but is quite in error and at fault in the case of the highly evolved man. [33] Man is, en masse, what his desire body makes him. Later, “as a man thinketh so is he”. [34] The astral body, with its longings, appetites, moods, feelings, and cravings moulds the physical body through the attractive forces which flow through it, and so guides the man on unerringly to the fulfilment of his desires. [35] If the cravings of the sentient nature are dominantly animal in their objective we shall have the man with strong appetites, living a life given over to the effort to satisfy them. [36] If the craving is for comfort and for happiness, we shall have the man with a sensuous, beauty-loving and pleasure-loving disposition, governed practically entirely by selfish effort. [37] So it is through all the many grades of desire, good, bad, and ordinary, until that re-orientation takes place [38] which so refocusses the astral energies that they are turned in a different direction. [39] Desire becomes aspiration. [40] Thus liberation from the wheel of birth is brought about [41] and a man is freed from the necessity to reincarnate. [42] Then the horoscope as now understood [43] proves futile, untrue and useless and the term sometimes used, but wrongly, ‘the horoscope of the ego or the soul’ means nothing. [44] The soul has no individual destiny, but is submerged into the One. [45] Its destiny is the destiny of the group, and of the Whole; its desire is the working out of the great Plan, and its will is the glorification of the incarnated Logos. |
[27] Thể cảm dục này có trong nó các đối phần của những trung tâm dĩ thái hay laya, và qua chúng, các mãnh lực và năng lượng đã được bàn đến trước đây tuôn vào thể dĩ thái. [28] Những trung tâm này mang các năng lượng từ bảy hành tinh và từ mặt trời [29] đến mọi phần của cơ cấu cảm dục, [30] do đó đặt con người trong tương quan với mọi phần của hệ mặt trời. [31] Điều này đưa đến sự cố định định mệnh đời sống của con người, cho đến khi y thức tỉnh trước di sản bất tử của mình và nhờ vậy trở nên nhạy cảm với những mãnh lực mà, đối với đa số, vẫn chưa được nhận biết. [32] Những mãnh lực này phát xuất từ hình tướng. Đây là lý do vì sao một lá số chiêm tinh thường khá chính xác trong sự mô tả đối với người chưa tiến hoá và chưa thức tỉnh, nhưng lại hoàn toàn sai lạc và thiếu chính xác trong trường hợp người đã tiến hoá cao. [33] Nhìn chung, con người là những gì thể dục vọng của y tạo nên. Về sau, “con người suy nghĩ thế nào, y là thế ấy”. [34] Thể cảm dục, với những khát khao, dục vọng, tâm trạng, cảm xúc và thèm muốn của nó, khuôn đúc thể xác qua các mãnh lực hấp dẫn tuôn qua nó, và như thế dẫn dắt con người một cách không sai chạy đến sự hoàn thành các dục vọng của y. [35] Nếu các thèm muốn của bản chất cảm thụ có mục tiêu chủ yếu là thú tính, chúng ta sẽ có con người với những dục vọng mạnh mẽ, sống một đời dành trọn cho nỗ lực thỏa mãn chúng. [36] Nếu sự thèm muốn là hướng đến tiện nghi và hạnh phúc, chúng ta sẽ có con người với khuynh hướng ham khoái cảm, yêu cái đẹp và yêu lạc thú, hầu như hoàn toàn bị chi phối bởi nỗ lực ích kỷ. [37] Cứ như thế xuyên qua mọi cấp độ đa dạng của dục vọng, tốt, xấu và bình thường, cho đến khi xảy ra sự tái định hướng [38] khiến các năng lượng cảm dục được tái tập trung đến mức chúng quay sang một hướng khác. [39] Dục vọng trở thành khát vọng. [40] Như vậy sự giải thoát khỏi bánh xe sinh tử được đem lại, [41] và con người được giải phóng khỏi sự cần thiết phải luân hồi. [42] Khi ấy lá số chiêm tinh, như hiện nay được hiểu, [43] chứng tỏ là vô ích, không đúng và không dùng được; và thuật ngữ đôi khi được dùng, nhưng sai lầm, “lá số chiêm tinh của chân ngã hay linh hồn” không có nghĩa gì. [44] Linh hồn không có định mệnh cá nhân, mà hòa nhập vào Đấng Duy Nhất. [45] Định mệnh của nó là định mệnh của nhóm và của Toàn Thể; dục vọng của nó là việc thực hiện Thiên Cơ vĩ đại, và ý chí của nó là sự tôn vinh Thượng đế lâm phàm. |
|
[46] I would like to suggest to students that they procure if possible The Science of the Emotions by Bhagavan Das. [47] It is an able treatise on the astral and sentient body, [48] and deals with the factors that most nearly concern the aspirant as he faces the problem of understanding and of controlling his emotional nature, of mastering the technique of development, and of reorienting it to wider experience and of preparing it for the tests and expansions of the second major initiation [49] —the baptism and the final entering of the stream. [50] Metaphorically speaking, the experience that lies ahead upon the Path is covered in the following esoteric phrases: |
[46] Tôi muốn gợi ý với các đạo sinh rằng nếu có thể, họ nên tìm đọc Khoa Học về Cảm Xúc của Bhagavan Das. [47] Đó là một khảo luận có năng lực về thể cảm dục và thể cảm thụ, [48] và bàn đến những yếu tố liên quan gần gũi nhất đến người chí nguyện khi y đối diện với vấn đề thấu hiểu và kiểm soát bản chất xúc cảm của mình, làm chủ kỹ thuật phát triển, tái định hướng nó đến kinh nghiệm rộng lớn hơn và chuẩn bị nó cho các thử thách cùng những mở rộng của lần điểm đạo lớn thứ hai [49] — phép rửa và sự nhập lưu sau cùng. [50] Nói theo ẩn dụ, kinh nghiệm đang nằm phía trước trên Đường Đạo được bao hàm trong những cụm từ huyền bí sau: |
Commentary 24
|
Astral Rule 24 |
Quy luật Cảm dục 24 |
|
Hello friends, we are beginning with video commentary number 24 in this series where we’re working on the rules of magic for the astral plane and these are being posted on YouTube and probably will be on Makara as well. We’re beginning on page 293 and we’re beginning a very important section, a very practical section called Astral Energy and Fear. Remember that this particular book is useful in mastering the astral body and so I suppose it’s useful in preparing for the second initiation though its subject matter does actually go far beyond that. |
Xin chào các bạn, chúng ta bắt đầu phần bình giảng video số 24 trong loạt bài này, nơi chúng ta đang nghiên cứu các quy luật huyền thuật dành cho cõi cảm dục; các bài này đang được đăng trên YouTube và có lẽ cũng sẽ có trên Makara. Chúng ta bắt đầu ở trang 293 và bước vào một phần rất quan trọng, rất thực tiễn, có tên Năng Lượng Cảm Dục và Nỗi Sợ. Hãy nhớ rằng quyển sách đặc biệt này hữu ích trong việc làm chủ thể cảm dục, và vì thế có lẽ hữu ích trong việc chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai, dù nội dung của nó thật ra còn vượt xa điều đó. |
|
As we have noticed, The Tibetan writing some very abstruse things about the eight points, for instance, that we’ve been reviewing, the eight aspects of man and their correspondences within the physical body. |
Như chúng ta đã nhận thấy, Chân sư Tây Tạng viết những điều rất thâm áo về tám điểm, chẳng hạn như những điều chúng ta đã ôn lại: tám phương diện của con người và các tương ứng của chúng trong thể xác. |
|
[1] Astral Energy and Fear |
[1] Năng Lượng Cảm Dục và Nỗi Sợ |
|
[2] The subject now to be considered is of most practical application for it concerns the astral body—the body in which a man is pre-eminently polarised and of which he is more potently conscious than of any other body. |
[2] Chủ đề nay cần được xem xét có ứng dụng hết sức thực tiễn, vì nó liên quan đến thể cảm dục—thể mà trong đó con người được phân cực nổi bật nhất và y có ý thức mạnh mẽ về nó hơn bất kỳ thể nào khác. |
|
Does this mean all men or does this mean those who are not yet disciples? Perhaps, but maybe more than we realize, we are attentive to our feeling and desire states and to the reactions of this sentient vehicle. |
Điều này có nghĩa là tất cả mọi người, hay chỉ những người chưa phải là đệ tử? Có lẽ vậy, nhưng có thể hơn mức chúng ta nhận ra, chúng ta chú tâm đến các trạng thái cảm xúc và dục vọng của mình, cũng như đến các phản ứng của hiện thể có cảm giác này. |
|
[3] The etheric body is really below the threshold of consciousness. |
[3] Thể dĩ thái thật sự nằm dưới ngưỡng tâm thức. |
|
We might say so many automaticisms operate through the etheric body. We have the sympathetic nervous system, the autonomic nervous system and the sympathetic part and the parasympathetic part. We have all those things and we’re no longer aware of them functioning. They take care of things on their own and we do not have to give conscious attention to them as perhaps we had to do in some earlier initiations in Lemurian times. |
Có thể nói rằng rất nhiều cơ chế tự động vận hành qua thể dĩ thái. Chúng ta có hệ thần kinh giao cảm, hệ thần kinh tự chủ, phần giao cảm và phần đối giao cảm. Chúng ta có tất cả những điều đó và không còn nhận biết chúng đang hoạt động. Chúng tự lo liệu mọi việc, và chúng ta không phải chú tâm có ý thức đến chúng như có lẽ đã từng phải làm trong một số lần điểm đạo sớm hơn vào thời Lemuria. |
|
[4] Human beings remain unaware of the passage of forces through this vehicle and the nearest they get to the recognition of it is when they speak in terms of vitality or lack of vitality. |
[4] Nhân loại vẫn không ý thức về sự đi qua của các mãnh lực xuyên qua hiện thể này, và điều gần nhất họ đạt tới trong việc nhận ra nó là khi họ nói theo nghĩa sinh lực hay thiếu sinh lực. |
|
The sense of being filled with vitality or being tired is going on quite frequently. At least that is a common experience for all. |
Cảm giác tràn đầy sinh lực hay mệt mỏi diễn ra khá thường xuyên. Ít nhất đó là kinh nghiệm chung của tất cả mọi người. |
|
[5] The physical body makes its presence felt when something goes wrong or through the gratification of one or other of the appetites. |
[5] Thể xác làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận khi có điều gì đó trục trặc, hoặc qua sự thỏa mãn một trong các ham muốn. |
|
But otherwise, again, below the threshold of consciousness. If a person is very athletic and their body is well trained, it probably supports itself without calling much attention to itself in the consciousness. If one is sick or debilitated or disabled, then again, we have the physical consciousness. |
Nhưng ngoài ra, nó lại nằm dưới ngưỡng tâm thức. Nếu một người rất khỏe mạnh, ưa vận động và thể xác của họ được rèn luyện tốt, có lẽ nó tự nâng đỡ chính nó mà không kêu gọi nhiều sự chú ý trong tâm thức. Nếu một người bệnh tật, suy nhược hay tàn tật, khi đó chúng ta lại có tâm thức hồng trần. |
|
I remember, back before Mary Bailey retired somewhere in 1982 or 1983, and she had to go into the hospital for some kind of heart issue. She said her consciousness was drawn right down into the body. And the way she talked about it, it sounded to be a very unusual thing. What we hope is that all the aspects of the personality will operate in an automatic way, and that we will be somehow focused in the higher consciousness, maybe on the higher mental plane, or eventually as the masses are even higher than that. |
Tôi nhớ, trước khi Mary Bailey nghỉ hưu vào khoảng năm 1982 hay 1983, bà phải vào bệnh viện vì một vấn đề nào đó về tim. Bà nói rằng tâm thức của bà bị kéo thẳng xuống thể xác. Và theo cách bà nói về điều đó, dường như đó là một điều rất khác thường. Điều chúng ta hy vọng là mọi phương diện của phàm ngã sẽ vận hành một cách tự động, và bằng cách nào đó chúng ta sẽ tập trung trong tâm thức cao hơn, có lẽ trên cõi thượng trí, hoặc cuối cùng, khi đại chúng tiến cao hơn nữa. |
|
[6] The situation is however different in connection with the astral body for there is the vehicle of experience for the majority, and few there are who do not pass the greater part of their conscious life, recording the reactions of that body and vibrating between the two poles of happiness and misery, of satisfaction or non-satisfaction, of assurance or doubt, of courage or of fear. |
[6] Tuy nhiên, tình trạng lại khác đối với thể cảm dục, vì đó là hiện thể của kinh nghiệm đối với đa số, và rất ít người không trải qua phần lớn đời sống có ý thức của mình trong việc ghi nhận các phản ứng của thể ấy và rung động giữa hai cực của hạnh phúc và khổ đau, của thỏa mãn hay không thỏa mãn, của chắc chắn hay hoài nghi, của can đảm hay sợ hãi. |
|
This type of astral awareness is very common. |
Loại nhận thức cảm dục này rất phổ biến. |
|
When we achieve true mental polarization, perhaps the awareness of the astral body slips below the threshold of consciousness. |
Khi chúng ta đạt được sự phân cực trí tuệ đích thực, có lẽ nhận thức về thể cảm dục trượt xuống dưới ngưỡng tâm thức. |
|
[7] This really means that the inherent force and life of the emotional sentient vehicle govern the life-expression and mould the experience of the incarnated soul. |
[7] Điều này thật sự có nghĩa là mãnh lực và sự sống cố hữu của hiện thể cảm xúc có cảm giác chi phối sự biểu hiện đời sống và nhào nặn kinh nghiệm của linh hồn đang nhập thể. |
|
In the majority of cases, and the aspirant cannot assume that this is not the case for him or her. If we’re truthful, it depends on our astrology and rays too. |
Trong đa số trường hợp là như vậy, và người chí nguyện không thể giả định rằng điều này không đúng với mình. Nếu trung thực, điều đó cũng tùy thuộc vào chiêm tinh và các cung của chúng ta. |
|
Some rays are less inclined towards emotionalism. We’re told the second initiation is easier to take for fifth and third ray souls, because they tend not to be focused in the astral body, or to be focused emotionally, or to react emotionally. But still, it looks like a general condition. |
Một số cung ít nghiêng về tính cảm xúc hơn. Chúng ta được cho biết rằng lần điểm đạo thứ hai dễ dàng hơn đối với các linh hồn cung năm và cung ba, vì họ có khuynh hướng không tập trung trong thể cảm dục, không tập trung về mặt cảm xúc, hoặc không phản ứng theo cảm xúc. Tuy vậy, đây vẫn có vẻ là một tình trạng chung. |
|
[8] Therefore, it is of value to us to understand something of what those forces are, where they come from, and how they act and react on the man. |
[8] Vì thế, điều có giá trị đối với chúng ta là thấu hiểu phần nào các mãnh lực ấy là gì, chúng đến từ đâu, và chúng tác động cũng như phản tác động lên con người như thế nào. |
|
We did study some of the forces released upon the astral plane. There were three of them, particularly. I remember that sex emotion was one, and probably the general turbulence caused by the Black Lodge and the reaction to the new incoming forces is of a superior kind, which does not mean that that reaction will be tranquil. |
Chúng ta đã nghiên cứu một số mãnh lực được phóng thích trên cõi cảm dục. Đặc biệt có ba loại. Tôi nhớ cảm xúc tính dục là một trong số đó, và có lẽ sự xáo động chung do Hắc đoàn gây ra, cùng phản ứng đối với những mãnh lực mới đang đi vào, thuộc một loại cao hơn; điều đó không có nghĩa là phản ứng ấy sẽ yên tĩnh. |
|
[9] There lies his battleground and there also lies his field of victory. |
[9] Ở đó có chiến trường của y, và ở đó cũng có lĩnh vực chiến thắng của y. |
|
And here we are speaking in the Scorpionic language. The sign most associated with the human monads is Scorpio, and it is conveying the majority of the war-like fourth ray at this time. So all human beings, in one way or another, in order to become true adjudicators between the pairs of opposites, have to go through the great struggle and achieve victory through humility and a willingness to kneel and to accept the impress of the higher energies rather than assert their personality, which is so often the case. |
Ở đây chúng ta đang nói bằng ngôn ngữ Hổ Cáp. Dấu hiệu liên hệ nhiều nhất với các chân thần nhân loại là Hổ Cáp, và vào thời điểm này nó đang truyền đạt phần lớn cung bốn hiếu chiến. Vì vậy, mọi người, bằng cách này hay cách khác, để trở thành những người phân xử đích thực giữa các cặp đối cực, đều phải trải qua cuộc đấu tranh lớn và đạt chiến thắng nhờ khiêm cung, cùng sự sẵn lòng quỳ xuống và tiếp nhận ấn tượng của các năng lượng cao hơn, thay vì khẳng định phàm ngã của mình, điều rất thường xảy ra. |
|
Remember, the entire personality is ruled by Mars, if you look at it. Every elemental vehicle, except maybe the etheric vehicle, is ruled by Mars. |
Hãy nhớ rằng toàn thể phàm ngã chịu sự cai quản của Sao Hỏa, nếu các bạn xét kỹ. Mọi hiện thể hành khí, ngoại trừ có lẽ hiện thể dĩ thái, đều chịu sự cai quản của Sao Hỏa. |
|
[10] To begin with, it is advisable to bear in mind that all astral energy is part of the astral energy of the solar system and that therefore: |
[10] Trước hết, nên ghi nhớ rằng mọi năng lượng cảm dục đều là một phần của năng lượng cảm dục của hệ mặt trời, và do đó: |
|
and Varuna is the ruler of the astral plane of Earth, and a greater being of the astral plane of the solar system. So all astral energy is part of the astral energy of the solar system. |
Varuna là vị cai quản cõi cảm dục của Trái Đất, và là một hữu thể lớn hơn thuộc cõi cảm dục của hệ mặt trời. Vì vậy, mọi năng lượng cảm dục đều là một phần của năng lượng cảm dục của hệ mặt trời. |
|
Obviously, we’re going to respond much more to the astral energy of the human kingdom and probably the animal kingdom than we are to some other kingdoms on other planets at this time, and many of them have mastered their astral vehicle. Our planetary Logos has not yet mastered his astral vehicle. He’s not yet, we’re told, a cosmic initiate of the second degree. Maybe the Judgment Day has something to do with that. That’s a long way off still. |
Hiển nhiên, vào thời điểm này, chúng ta sẽ đáp ứng nhiều hơn với năng lượng cảm dục của giới nhân loại, và có lẽ của giới động vật, hơn là với một số giới khác trên các hành tinh khác; nhiều giới trong số đó đã làm chủ hiện thể cảm dục của mình. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chưa làm chủ hiện thể cảm dục của Ngài. Chúng ta được cho biết rằng Ngài chưa phải là một điểm đạo đồ vũ trụ bậc hai. Có lẽ Ngày Phán Xét liên quan đến điều đó. Điều ấy vẫn còn rất xa. |
|
So a part of the astral energy of the solar system, and that therefore, |
Vì vậy, là một phần của năng lượng cảm dục của hệ mặt trời, và do đó, |
|
[11] 1. The sentient body of a human being is an atom of substance in the sentient body of the planetary Logos. |
[11] 1. Thể có cảm giác của một con người là một nguyên tử chất liệu trong thể có cảm giác của Hành Tinh Thượng đế. |
|
Note that the term atom is used. Do we understand something about scale when we use such a term? That is a question. |
Hãy lưu ý rằng thuật ngữ nguyên tử được dùng. Chúng ta có thấu hiểu điều gì đó về tỷ lệ khi dùng một thuật ngữ như vậy không? Đó là một câu hỏi. |
|
An atom of substance, |
Một nguyên tử chất liệu, |
|
[12] 2. The sentient body (a term I much prefer to the term astral, and which I shall continue to use) of the planetary Logos is an aspect—not an atom—of the sentient body of the solar Logos. |
[12] 2. Thể có cảm giác, một thuật ngữ Tôi ưa dùng hơn thuật ngữ cảm dục và sẽ tiếp tục sử dụng, của Hành Tinh Thượng đế là một phương diện—không phải một nguyên tử—của thể có cảm giác của Thái dương Thượng đế. |
|
A larger structure, really. An aspect is generally one of seven principles or seven factors. There is an astral body, sentient body of the solar Logos, and maybe there are seven major astral centers there, having to do with the esoteric or the higher planets, the synthesizing of sacred planets, but our planet counts and has its place. The numbers are much smaller when we consider there are so many human astral bodies. When we consider the planetary Logos’ astral body, it’s one of what? Maybe one of ten, or one of even 115, but the number is much smaller. |
Thật sự là một cấu trúc lớn hơn. Một phương diện thường là một trong bảy nguyên khí hay bảy yếu tố. Có một thể cảm dục, một thể có cảm giác của Thái dương Thượng đế, và có lẽ ở đó có bảy trung tâm cảm dục chính, liên quan đến các hành tinh nội môn hay cao hơn, đến sự tổng hợp của các hành tinh thiêng liêng, nhưng hành tinh của chúng ta vẫn được kể đến và có vị trí của nó. Các con số nhỏ hơn nhiều khi chúng ta xét đến vô số thể cảm dục của con người. Khi chúng ta xét thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế, nó là một trong số gì? Có lẽ một trong mười, hoặc thậm chí một trong 115, nhưng con số nhỏ hơn rất nhiều. |
|
So the term aspect is justified. |
Vì vậy, thuật ngữ phương diện là xác đáng. |
|
[13] 3. This in its turn is influenced by, and is a channel for sentient forces, emanating from vast centres of energy outside our solar system altogether. |
[13] 3. Chính điều này đến lượt nó chịu ảnh hưởng của, và là một kênh dẫn cho, các mãnh lực có cảm giác phát xuất từ những trung tâm năng lượng rộng lớn hoàn toàn nằm ngoài hệ mặt trời của chúng ta. |
|
Here we have influences upon the astral body of the solar Logos from great sources. Of course Sirius would be one and other stellar sources and probably our local cosmic Logos who’s the Logos of the seven solar systems of which ours is one and probably from the One About Whom Naught May Be Said, which I often call a super cosmic Logos. We’re trying to get a sense of scale but really all astral bodies are part of one great astral body ultimately. We’re most concerned with the astral body of humanity, the astral body of our planetary Logos in three kinds of divisions: scheme, chain, and here we have the globe—our globe. And eventually maybe the astral body of the solar Logos from whence, which we would call from one perspective the heart of the Sun and from whence great love tides come forth. Maybe when we are higher initiates we will be responding more to those. |
Ở đây chúng ta có các ảnh hưởng tác động lên thể cảm dục của Thái dương Thượng đế từ những nguồn vĩ đại. Dĩ nhiên Sirius sẽ là một nguồn, cùng các nguồn sao khác, và có lẽ Thượng đế Vũ trụ địa phương của chúng ta, Đấng là Thượng đế của bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó; và có lẽ từ Đấng Bất Khả Tư Nghị, Đấng mà tôi thường gọi là một Thượng đế siêu vũ trụ. Chúng ta đang cố gắng có một cảm thức về tỷ lệ, nhưng rốt cuộc thật sự mọi thể cảm dục đều là một phần của một thể cảm dục vĩ đại duy nhất. Chúng ta quan tâm nhất đến thể cảm dục của nhân loại, thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế chúng ta trong ba loại phân chia: hệ hành tinh, Dãy, và ở đây là bầu hành tinh—bầu hành tinh của chúng ta. Và cuối cùng có lẽ là thể cảm dục của Thái dương Thượng đế, từ đó, theo một góc nhìn, chúng ta gọi là trái tim của Mặt Trời, và từ đó những thủy triều bác ái lớn lao tuôn ra. Có lẽ khi chúng ta là các điểm đạo đồ cao hơn, chúng ta sẽ đáp ứng nhiều hơn với những điều ấy. |
|
[14] If this is borne in mind it becomes apparent that man, being but a tiny fragment of a vaster whole which in its turn is incorporated into a still vaster vehicle, is the meeting ground of forces greater and more diversified than his brain is capable of recognizing. |
[14] Nếu điều này được ghi nhớ, sẽ trở nên rõ ràng rằng con người, chỉ là một mảnh nhỏ bé của một tổng thể rộng lớn hơn, mà tổng thể ấy đến lượt nó lại được bao hàm trong một hiện thể còn rộng lớn hơn nữa, là nơi hội tụ của các mãnh lực lớn hơn và đa dạng hơn mức bộ não của y có thể nhận biết. |
|
We may react, but in a way we don’t respond. Response is something greater than reaction; it involves perhaps a knowledge of where the energy comes from and what its purpose and nature may be. |
Chúng ta có thể phản ứng, nhưng theo một nghĩa nào đó chúng ta không đáp ứng. Đáp ứng là điều lớn hơn phản ứng; có lẽ nó bao hàm tri thức về nguồn gốc của năng lượng, cũng như mục đích và bản chất của nó. |
|
[15] Hence the complexity of his problem and hence all the possibilities growing out of those expansions of consciousness which we call initiation. |
[15] Do đó có sự phức tạp trong vấn đề của y, và do đó có mọi khả năng phát sinh từ những mở rộng tâm thức mà chúng ta gọi là điểm đạo. |
|
We become aware of energy and force currents and their sources so we can begin to recognize and utilize them. |
Chúng ta trở nên ý thức về các dòng năng lượng và mãnh lực cùng nguồn gốc của chúng, để có thể bắt đầu nhận ra và sử dụng chúng. |
|
[16] Every stream of energy pouring through his body of desire and of sentient reaction, is but a pathway leading him to wider and every widening contacts and realisations. |
[16] Mỗi dòng năng lượng tuôn qua thể dục vọng và phản ứng có cảm giác của y chỉ là một con đường dẫn y đến những tiếp xúc và nhận thức rộng lớn hơn, ngày càng rộng lớn hơn. |
|
We feel our way towards ever higher sources. |
Chúng ta dò đường bằng cảm nhận hướng về những nguồn ngày càng cao hơn. |
|
[17] Here also lies the safeguard for the majority of human beings, in the fact that they possess as yet an apparatus inadequate for the registering and recording of those infinite possibilities |
[17] Ở đây cũng có sự bảo vệ dành cho đa số nhân loại, trong sự kiện rằng họ hiện vẫn sở hữu một bộ máy chưa đủ khả năng ghi nhận và lưu giữ những khả năng vô hạn |
|
Certainly amazingly multiple— |
Chắc chắn là đa dạng đến kinh ngạc— |
|
[18] which these avenues of realisation offer. |
[18] mà các lối đi của nhận thức này hiến dâng. |
|
Otherwise, we would have a situation of overwhelm. |
Nếu không, chúng ta sẽ rơi vào một tình trạng bị choáng ngợp. |
|
[19] Until the mental apparatus is sufficiently awakened and controlled it would not be possible for man to interpret rightly and utilise correctly the information which his body of sensitive response could, but fortunately does not yet, convey to him. |
[19] Cho đến khi bộ máy trí tuệ được đánh thức và kiểm soát đầy đủ, con người sẽ không thể diễn giải đúng và sử dụng chính xác thông tin mà thể đáp ứng nhạy cảm của y có thể, nhưng may mắn là chưa, truyền đạt cho y. |
|
This would be the unveiled Neptune. Fortunately, the Moon does veil as does the Sun blocking out fullest sensitivity which we could not handle. Those veils seem to be something we want to overcome. The veils upon the Moon are the veils which relate to or signify the veils which relate to the personality vehicles which certainly do repel or at least remain opaque to the finer energies. |
Đây sẽ là Sao Hải Vương không còn bị che phủ. May mắn thay, Mặt Trăng có che phủ, cũng như Mặt Trời ngăn chặn sự nhạy cảm trọn vẹn nhất mà chúng ta chưa thể xử lý. Những tấm màn ấy dường như là điều chúng ta muốn vượt qua. Các tấm màn trên Mặt Trăng là những tấm màn liên hệ đến, hay biểu thị, các tấm màn liên quan đến các hiện thể phàm ngã; chúng chắc chắn đẩy lùi, hoặc ít nhất vẫn còn mờ đục đối với những năng lượng tinh vi hơn. |
|
The Sun as a veil is the Ahamkara principle—that principle of I-ness. This is such a repelling factor that egotism or egoism is a repelling factor when it comes to the registration of certain more universal energies. |
Mặt Trời như một tấm màn là nguyên khí Ahamkara—nguyên khí về cái tôi. Đây là một yếu tố đẩy lùi mạnh đến mức tính vị kỷ hay chủ nghĩa vị ngã là một yếu tố đẩy lùi khi nói đến việc ghi nhận một số năng lượng phổ quát hơn. |
|
[20] Apart from the constant circulation through his astral body of planetary and solar and cosmic energies, |
[20] Ngoài sự lưu chuyển thường xuyên xuyên qua thể cảm dục của y của các năng lượng hành tinh, thái dương và vũ trụ, |
|
This is going on all the time. Sometimes ignorance is bliss or ignorance is a protection. I’m remembering Djwhal Khul telling of that healthy skepticism, which is part of the modern root race and subrace, as a protection against too much knowledge of an occult or esoteric kind, which humanity really couldn’t understand wisely or handle correctly. Sometimes ignorance or a certain attitude of mind protects the unready, the unwary. When we begin to wake up to occultism, we realize there are many hidden dangers involved in treading this path. |
Điều này diễn ra mọi lúc. Đôi khi vô minh là chí phúc, hoặc vô minh là một sự bảo vệ. Tôi nhớ Djwhal Khul nói về thái độ hoài nghi lành mạnh ấy, vốn là một phần của giống dân gốc và giống dân phụ hiện đại, như một sự bảo vệ chống lại quá nhiều tri thức thuộc loại huyền bí hay nội môn mà nhân loại thật sự chưa thể thấu hiểu một cách minh triết hoặc xử lý đúng đắn. Đôi khi vô minh, hay một thái độ nào đó của thể trí, bảo vệ những người chưa sẵn sàng, những người thiếu thận trọng. Khi bắt đầu thức tỉnh với huyền bí học, chúng ta nhận ra có nhiều nguy hiểm ẩn tàng trong việc bước đi trên con đường này. |
|
One has to, as Alice Bailey is always saying and as the Tibetan is always saying, count the cost. Apart from the constant circulation through his astral body of planetary and solar and cosmic energies, |
Như Alice Bailey luôn nói và Chân sư Tây Tạng luôn nói, người ta phải tính cái giá phải trả. Ngoài sự lưu chuyển thường xuyên xuyên qua thể cảm dục của y của các năng lượng hành tinh, thái dương và vũ trụ, |
|
[21] every human being has appropriated, out of the greater Whole, enough of the astral energy wherewith to construct his own individual and separate astral body, |
[21] mỗi con người đã chiếm hữu, từ Tổng Thể lớn hơn, đủ năng lượng cảm dục để xây dựng thể cảm dục riêng biệt và cá nhân của mình, |
|
This is done in the stages of appropriation in which the soul is building, becoming a personality mechanism. |
Điều này được thực hiện trong các giai đoạn chiếm hữu, khi linh hồn đang xây dựng và trở thành một bộ máy phàm ngã. |
|
[22] responsive to his peculiar note, coloured by his peculiar quality, and limiting him or not according to his point on the ladder of evolution. |
[22] đáp ứng với âm điệu đặc thù của y, được tô màu bởi phẩm tính đặc thù của y, và giới hạn y hay không tùy theo điểm của y trên chiếc thang tiến hoá. |
|
The astral body is attuned to the soul and even to the monad if we look at the numerology. |
Thể cảm dục được điều hợp với linh hồn và thậm chí với chân thần nếu chúng ta xét theo số học. |
|
The monadic ray has the effect upon the mental ray, the soul ray has the effect upon the astral ray and the astral body, and the personality ray has the effect upon the dense physical body. It can be a ray effect, and in some of the students from Master DK that ray effect was showing up. This man LUT thought he had a ray one physical body. It was really an impress, an overlay from his ray one personality. |
Cung chân thần có tác động lên cung thể trí, cung linh hồn có tác động lên cung thể cảm dục và thể cảm dục, còn cung phàm ngã có tác động lên thể xác đậm đặc. Đó có thể là một tác động của cung, và nơi một số đạo sinh của Chân sư DK, tác động cung ấy đã biểu lộ. Người này, LUT, nghĩ rằng ông có thể xác cung một. Thật ra đó là một ấn tượng, một lớp phủ từ phàm ngã cung một của ông. |
|
The monadic plane is two from the top and the astral plane is two from the bottom. The astral body or plane is six from the top and the monadic plane is six from the bottom. On the monadic plane there is found heart centers, and the monad in a way is as much a heart as it is the factor of will. There is an affiliation there, as we know that heart and astral body are closely connected just the way the two and the six are closely connected. |
Cõi chân thần là cõi thứ hai tính từ trên xuống, và cõi cảm dục là cõi thứ hai tính từ dưới lên. Thể cảm dục hay cõi cảm dục là cõi thứ sáu tính từ trên xuống, và cõi chân thần là cõi thứ sáu tính từ dưới lên. Trên cõi chân thần có các trung tâm tim, và theo một nghĩa nào đó, chân thần vừa là trái tim vừa là yếu tố ý chí. Có một mối liên hệ ở đó, như chúng ta biết rằng tim và thể cảm dục liên kết chặt chẽ, giống như số hai và số sáu liên kết chặt chẽ. |
|
[23] This constitutes his astral ring-pass-not, |
[23] Điều này cấu thành vòng-giới-hạn cảm dục của y, |
|
That which he has appropriated and the condition in which the astral condition in which he finds himself, or the sentient condition. |
Điều y đã chiếm hữu và tình trạng mà y thấy mình đang ở trong đó, tình trạng cảm dục hay tình trạng có cảm giác. |
|
[24] defining the limits of his emotional response to life experience, embodying in its quality the range of his desire life, but being at the same time capable of tremendous expansion, development, adjustment and control under the impulse of the mental body and of the soul. |
[24] xác định các giới hạn của phản ứng cảm xúc của y đối với kinh nghiệm đời sống, thể hiện trong phẩm tính của nó phạm vi đời sống dục vọng của y, nhưng đồng thời có khả năng mở rộng, phát triển, điều chỉnh và kiểm soát vô cùng lớn lao dưới xung lực của thể trí và của linh hồn. |
|
There are many sentient potentials for higher contact. |
Có nhiều tiềm năng có cảm giác cho sự tiếp xúc cao hơn. |
|
Master Morya is always using the word “feel” as if it’s an important word and not to be discounted, because it’s associated with the astral body. It has something to do with heart, and the heart has something to do with the astral body. We feel into things that are far beyond us, and this astral vehicle can grow capable of tremendous expansion, development, adjustment, and control under the impulse of the mental body and the soul. |
Chân sư Morya luôn dùng từ “cảm nhận” như thể đó là một từ quan trọng và không nên xem nhẹ, vì nó liên hệ với thể cảm dục. Nó có liên quan đến trái tim, và trái tim có liên quan đến thể cảm dục. Chúng ta cảm nhận vào những điều vượt xa mình, và hiện thể cảm dục này có thể trở nên có khả năng mở rộng, phát triển, điều chỉnh và kiểm soát vô cùng lớn lao dưới xung lực của thể trí và linh hồn. |
|
Djwhal Khul is talking about sometimes the astral body or sentient body of the artist and how it has to be enlarged and very rich in order to make the true artist. Of course the past lives will come into that, and the memories stored in the soul will come into that and add to the richness of the expression of the astral body. |
Djwhal Khul đôi khi nói về thể cảm dục hay thể có cảm giác của nghệ sĩ, và cách nó phải được mở rộng, trở nên rất phong phú để tạo nên người nghệ sĩ đích thực. Dĩ nhiên, các kiếp trước sẽ góp phần vào đó, và những ký ức được lưu giữ trong linh hồn cũng sẽ góp phần vào đó, làm tăng thêm sự phong phú của biểu hiện nơi thể cảm dục. |
|
[25] It is subject also to vibratory activity as the result of the interplay between it and the physical plane life experience, |
[25] Nó cũng chịu hoạt động rung động do kết quả của sự tương tác giữa nó và kinh nghiệm đời sống trên cõi hồng trần, |
|
The astral body is subject to physical currents, |
Thể cảm dục chịu ảnh hưởng của các dòng hồng trần, |
|
[26] and thus the great wheel of experience is set in motion and will persist until the four Noble Truths of the Buddha are understood and realised. |
[26] và như thế bánh xe kinh nghiệm vĩ đại được đặt vào chuyển động và sẽ tiếp tục cho đến khi bốn Chân Lý Cao Quý của Đức Phật được thấu hiểu và nhận thức. |
|
The assimilation of the Four Noble Truths with the Eightfold Path gives liberation at last. |
Sự đồng hóa Bốn Chân Lý Cao Quý cùng Con Đường Tám Nhánh cuối cùng đem lại giải thoát. |
|
The Buddha prepared the way, and we have to, as we’re on the way to initiatory possibilities, use this as a great foundation and realize that the lower 18 subplanes really are the dense physical body of the planetary Logos. They are an effect; they are a world of phenomena which is related to the past, and nothing within this world of transiency and phenomena is to be so keenly desired that one becomes attached to it. |
Đức Phật đã chuẩn bị con đường, và khi chúng ta đang trên đường hướng tới các khả năng điểm đạo, chúng ta phải sử dụng điều này như một nền tảng lớn lao, và nhận ra rằng 18 cõi phụ thấp thật sự là thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế. Chúng là một hiệu quả; chúng là một thế giới hiện tượng liên quan đến quá khứ, và không có gì trong thế giới vô thường và hiện tượng này đáng được ham muốn mãnh liệt đến mức người ta trở nên dính mắc vào nó. |
|
The detaching process is hard, and there’s a lot of understanding that has to go into it, a lot of bitter experience. The whole idea is that what we relinquish we never really lose, but regain on a higher turn of the spiral. Djwhal Khul talks about the law of sacrifice in his Esoteric Psychology 2, showing how when we release something we regain it in a better form on a higher turn of the spiral. |
Tiến trình tách rời là khó khăn, và cần nhiều thấu hiểu đi vào đó, cùng nhiều kinh nghiệm cay đắng. Toàn bộ ý tưởng là điều chúng ta từ bỏ thì thật ra không bao giờ mất, mà được giành lại trên một vòng cao hơn của vòng xoắn ốc. Djwhal Khul nói về định luật hy sinh trong Tâm Lý Học Nội Môn 2, cho thấy khi chúng ta buông bỏ điều gì đó, chúng ta giành lại nó trong một hình tướng tốt đẹp hơn trên một vòng cao hơn của vòng xoắn ốc. |
|
Every one of us has an astral body which we have made and which we have cultivated over many, many years—no better nor worse than what we have created over many lifetimes. Of course there are ray and astrological impulsions which may be assigned to us and will condition the way the astral body reacts, whatever its present vibratory condition. If you’re born with a lot of water signs, there’s going to be real emphasis on the sensitivity of this sentient body. If you’re assigned one of the rays that is resonant with the astral body—2, 4, 6—then there’s going to be a lot of focus there, whereas if a different ray is your soul ray, there may be less emphasis. Certain signs perhaps give a greater detachment from the astral body. Everything has to be taken on an individual basis. |
Mỗi người chúng ta có một thể cảm dục mà chúng ta đã tạo nên và đã vun trồng qua rất nhiều năm—không tốt hơn cũng không xấu hơn những gì chúng ta đã tạo ra qua nhiều kiếp sống. Dĩ nhiên có các xung lực cung và chiêm tinh có thể được giao cho chúng ta, và chúng sẽ tác động lên cách thể cảm dục phản ứng, bất kể tình trạng rung động hiện tại của nó. Nếu các bạn sinh ra với nhiều dấu hiệu hành thủy, sẽ có một nhấn mạnh thật sự lên sự nhạy cảm của thể có cảm giác này. Nếu các bạn được giao một trong các cung cộng hưởng với thể cảm dục—2, 4, 6—thì sẽ có nhiều sự tập trung ở đó; trong khi nếu cung khác là cung linh hồn của các bạn, có thể có ít nhấn mạnh hơn. Một số dấu hiệu có lẽ đem lại sự tách rời lớn hơn khỏi thể cảm dục. Mọi sự phải được xét trên căn bản cá nhân. |
|
[27] This astral body has in it the counterparts of the etheric or laya centres, and through them stream the forces and energies, earlier dealt with, into the etheric body. |
[27] Thể cảm dục này có trong nó các đối phần của các trung tâm dĩ thái hay laya, và qua chúng, các mãnh lực và năng lượng đã được đề cập trước đó tuôn vào thể dĩ thái. |
|
This really has to be remembered, and the chart helps us. This is one of Tuija’s new charts. The astral chakras are shown here. |
Điều này thật sự phải được ghi nhớ, và biểu đồ giúp chúng ta. Đây là một trong các biểu đồ mới của Tuija. Các luân xa cảm dục được trình bày ở đây. |

|
There is a kind of etheric section to the astral plane, just the way the first four subplanes with the eagle of Lotus can be considered an etheric or directive portion of the mental plane, and on it goes. We don’t really know what’s lying on the highest levels of the buddhic plane, subplane one and two, atmic plane subplane one and two. But we do know that the etheric factors are involved in the first four subplanes, and this probably goes through the monadic plane and maybe even into the sea of fire. |
Có một loại phần dĩ thái của cõi cảm dục, giống như bốn cõi phụ đầu tiên với Đại Bàng của Hoa sen có thể được xem là phần dĩ thái hay chỉ đạo của cõi trí, và cứ thế tiếp diễn. Chúng ta không thật sự biết điều gì nằm trên các cấp độ cao nhất của cõi Bồ đề, cõi phụ một và hai, cõi atma cõi phụ một và hai. Nhưng chúng ta biết rằng các yếu tố dĩ thái có liên quan trong bốn cõi phụ đầu tiên, và điều này có lẽ đi xuyên qua cõi chân thần, và thậm chí có thể vào biển lửa. |
|
The astral body has counterparts of the etheric or laya centers, and through them stream the forces and energies. Forty-nine, thirty-five vortices of force—thirty-five vortices of force make the master. That probably takes us to the atmic plane with seven on each of the five planes. Forty-two vortices of force, I would guess, make the Chohan of the sixth degree, and forty-nine vortices of force, I would guess, make the Chohan of the seventh degree. Every one of those higher centers descends through its correspondence on a lower plane. |
Thể cảm dục có các đối phần của các trung tâm dĩ thái hay laya, và qua chúng các mãnh lực và năng lượng tuôn chảy. Bốn mươi chín, ba mươi lăm xoáy lực—ba mươi lăm xoáy lực tạo nên chân sư. Điều đó có lẽ đưa chúng ta đến cõi atma với bảy xoáy trên mỗi trong năm cõi. Tôi đoán bốn mươi hai xoáy lực tạo nên Chohan bậc sáu, và bốn mươi chín xoáy lực tạo nên Chohan bậc bảy. Mỗi trung tâm cao hơn ấy hạ xuống qua tương ứng của nó trên một cõi thấp hơn. |
|
You’re really getting energies all the way from the sea of fire, ultimately, even down onto the etheric level, even though we don’t recognize that to be the case. If there are seven centers, forty-nine vortices of force make the Chohan of the seventh degree, and suppose we’re dealing with a head center there, well, then there’s going to be a head center on the monadic plane, atmic plane, buddhic plane, something on the mental plane eventually—maybe the synthesis petals or the sacrifice petals, or eventually our own vehicle once we get rid of the causal vehicle—and on the astral plane and finally on the physical etheric plane. Things just descend from the highest all down through the correspondences on lower planes. |
Cuối cùng, các bạn thật sự nhận năng lượng từ tận biển lửa, thậm chí xuống đến cấp độ dĩ thái, dù chúng ta không nhận ra điều đó là như vậy. Nếu có bảy trung tâm, bốn mươi chín xoáy lực tạo nên Chohan bậc bảy; và giả sử chúng ta đang đề cập đến một trung tâm đầu ở đó, khi ấy sẽ có một trung tâm đầu trên cõi chân thần, cõi atma, cõi Bồ đề, rồi một điều gì đó trên cõi trí cuối cùng—có lẽ là các cánh hoa tổng hợp hay các cánh hoa hi sinh, hoặc cuối cùng là chính hiện thể của chúng ta khi chúng ta loại bỏ hiện thể nguyên nhân—rồi trên cõi cảm dục và sau cùng trên cõi dĩ thái hồng trần. Mọi sự chỉ hạ xuống từ nơi cao nhất xuyên qua các tương ứng trên các cõi thấp hơn. |
|
This would be my guess because what we’d have to know is something about vorticular relationships and how one vortex may induce another or relate to another. The work of Dwayne Carpenter is very good in all of this. He has more understanding of these types of occult motions than anyone I’ve met. Go to his website—Lightweaver, something like that—and study what he’s put there. If you have a chance to listen to his webinars or lectures, do that. |
Đây là phỏng đoán của tôi, vì điều chúng ta cần biết là đôi điều về các liên hệ xoáy và cách một xoáy có thể cảm ứng một xoáy khác hay liên hệ với một xoáy khác. Công trình của Dwayne Carpenter rất hay trong toàn bộ vấn đề này. Ông có nhiều hiểu biết về các loại chuyển động huyền bí này hơn bất kỳ ai tôi từng gặp. Hãy vào trang mạng của ông—Lightweaver, hay điều gì đó tương tự—và nghiên cứu những gì ông đã đặt ở đó. Nếu các bạn có cơ hội nghe các webinar hay bài giảng của ông, hãy làm vậy. |
|
The counterparts of the chakras on the astral plane carry energies from the seven planets and from the Sun to every part of the astral organism, thus putting humanity on rapport with all parts of the solar system. Things are a little different. We know on page 517 of Esoteric Astrology that it shows us maybe the rays and the planets that are involved with the etheric chakras for the undeveloped man, the average man, and the disciple initiate. But when we get to the astral chakras maybe something different appears. |
Các đối phần của các luân xa trên cõi cảm dục mang năng lượng từ bảy hành tinh và từ Mặt Trời đến mọi phần của cơ cấu cảm dục, nhờ đó đặt nhân loại vào sự hòa hợp với mọi phần của hệ mặt trời. Mọi sự hơi khác một chút. Chúng ta biết ở trang 517 của Chiêm Tinh Học Nội Môn, nó cho chúng ta thấy có lẽ các cung và các hành tinh liên hệ với các luân xa dĩ thái đối với người chưa phát triển, người trung bình, và đệ tử điểm đạo đồ. Nhưng khi đến các luân xa cảm dục, có lẽ điều gì đó khác xuất hiện. |
|
The first ray is assigned to the head center. We have different rays than the ones that are assigned etherically, and probably accordingly different planets. The fifth ray is assigned to the throat instead of the third ray, the fourth ray is assigned to the eyes instead of the fifth ray, the third ray to the sacral center instead of the seventh ray, the solar plexus remains sixth ray, and the seventh ray to the base of the spine. So there is a difference. |
Cung một được gán cho trung tâm đầu. Chúng ta có các cung khác với những cung được gán về mặt dĩ thái, và có lẽ theo đó là các hành tinh khác. Cung năm được gán cho trung tâm cổ họng thay vì cung ba; cung bốn được gán cho mắt thay vì cung năm; cung ba cho trung tâm xương cùng thay vì cung bảy; tùng thái dương vẫn là cung sáu; và cung bảy cho đáy cột sống. Vì vậy có một sự khác biệt. |
|
Page 51 in Esoteric Healing is the important chart to show the differences between ray and planetary assignments for chakras found on the astral plane compared to chakras found on the etheric plane. Still they carry some of the same meaning. |
Trang 51 trong Trị Liệu Huyền Môn là biểu đồ quan trọng cho thấy các khác biệt giữa việc gán cung và hành tinh cho các luân xa trên cõi cảm dục so với các luân xa trên cõi dĩ thái. Tuy vậy, chúng vẫn mang một số ý nghĩa giống nhau. |
|
[28] These centres carry energies from the seven planets and from the Sun |
[28] Các trung tâm này mang năng lượng từ bảy hành tinh và từ Mặt Trời |
|
Note that the Sun energy, etheric energy, pranic energy, or maybe other energies or essences are involved— |
Hãy lưu ý rằng năng lượng Mặt Trời, năng lượng dĩ thái, năng lượng prana, hay có lẽ các năng lượng hoặc tinh chất khác đều có liên quan— |
|
[29] to every part of the astral organism, |
[29] đến mọi phần của cơ cấu cảm dục, |
|
Just the way it will be done etherically. |
Cũng như điều đó sẽ được thực hiện về mặt dĩ thái. |
|
[30] thus putting man en rapport with all parts of the solar system. |
[30] nhờ đó đặt con người vào sự hòa hợp với mọi phần của hệ mặt trời. |
|
We would say through the astral body and its chakras. Rapport with the entire solar system via its planets and the Sun is established. There are always going to be representations on our planet of the different factors in our solar system. |
Chúng ta sẽ nói là qua thể cảm dục và các luân xa của nó. Sự hòa hợp với toàn bộ hệ mặt trời qua các hành tinh và Mặt Trời của nó được thiết lập. Trên hành tinh của chúng ta luôn sẽ có các đại diện của những yếu tố khác nhau trong hệ mặt trời. |
|
In Shambhala every planet is represented, every planetary chain is representing one of the greater ray lords we call Planetary Logoi and so forth, so we have the reflection at least within our own planetary system of what’s going on in the solar system and the reflection as well of the Sun. These centers carry energy from the seven planets. |
Trong Shamballa, mọi hành tinh đều được đại diện; mỗi Dãy hành tinh đại diện cho một trong các Đấng Chúa Tể Cung lớn mà chúng ta gọi là Các Hành Tinh Thượng đế, vân vân. Vì vậy, ít nhất trong hệ hành tinh của chính chúng ta có sự phản chiếu của những gì đang diễn ra trong hệ mặt trời, và cũng có sự phản chiếu của Mặt Trời. Các trung tâm này mang năng lượng từ bảy hành tinh. |
|
[31] This results in the fixation of a man’s life destiny, until such a time as the man awakens to his immortal heritage and so becomes sensitive to forces that are as yet—for the many—unrecognised. |
[31] Điều này dẫn đến sự cố định vận mệnh đời sống của một con người, cho đến khi y thức tỉnh với di sản bất tử của mình và nhờ đó trở nên nhạy cảm với các mãnh lực mà cho đến nay—đối với số đông—vẫn chưa được nhận biết. |
|
Then he can begin to direct his destiny. Djwhal Khul tells us we are no longer a prisoner of the tendencies of our horoscope. But up to that time, as the horoscope is, it may pretty well determine what happens to man. However, we can correct that; we can use things on higher turns of the spiral than seem to be indicated, if we find the immortality of our soul. |
Khi ấy y có thể bắt đầu định hướng vận mệnh của mình. Djwhal Khul nói với chúng ta rằng chúng ta không còn là tù nhân của các khuynh hướng trong lá số chiêm tinh của mình. Nhưng cho đến lúc đó, như lá số chiêm tinh hiện có, nó có thể gần như quyết định những gì xảy đến với con người. Tuy nhiên, chúng ta có thể điều chỉnh điều đó; chúng ta có thể sử dụng mọi sự trên những vòng cao hơn của vòng xoắn ốc so với điều dường như được chỉ ra, nếu chúng ta tìm thấy tính bất tử của linh hồn mình. |
|
Becoming aware of ourselves as soul and spirit, we can begin to guide and utilize our stars according to the purpose which we discover within ourselves. |
Khi trở nên ý thức về chính mình như linh hồn và tinh thần, chúng ta có thể bắt đầu hướng dẫn và sử dụng các vì sao của mình theo mục đích mà chúng ta khám phá bên trong mình. |
|
[32] These emanate from the form. This is the reason why a horoscope is frequently quite accurate in its delineation for the unevolved and for the unawakened, but is quite in error and at fault in the case of the highly evolved man. |
[32] Các mãnh lực này phát xuất từ hình tướng. Đây là lý do tại sao một lá số chiêm tinh thường khá chính xác trong sự mô tả đối với người chưa tiến hoá và người chưa thức tỉnh, nhưng lại khá sai lệch và không đúng trong trường hợp người tiến hoá cao. |
|
We have to be able to control and direct our stars, or at least determine the level of response to these energies. People respond in all different ways, and the orthodox, esoteric, and hierarchical rulers indicate different modes of response to certain zodiacal energies. It all depends on the quality of the form. |
Chúng ta phải có khả năng kiểm soát và định hướng các vì sao của mình, hoặc ít nhất xác định cấp độ đáp ứng với các năng lượng này. Con người đáp ứng theo mọi cách khác nhau, và các chủ tinh chính thống, nội môn và thánh đoàn biểu thị các phương thức đáp ứng khác nhau đối với một số năng lượng hoàng đạo. Tất cả tùy thuộc vào phẩm tính của hình tướng. |
|
The higher the quality of the form, the higher its frequency, the more it has been transmuted, transformed, and even transfigured, the higher will be the response to the energies which are making their impact. |
Phẩm tính của hình tướng càng cao, tần số của nó càng cao; nó càng được chuyển hoá, chuyển đổi, và thậm chí biến hình, thì đáp ứng đối với các năng lượng đang tác động càng cao. |
|
[33] Man is, en masse, what his desire body makes him. Later, “as a man thinketh so is he”. |
[33] Con người, xét theo khối đông, là điều mà thể dục vọng của y tạo nên y. Về sau, “con người nghĩ thế nào thì y là thế ấy”. |
|
Maybe that’s more for the disciples, because right now it’s more like: as a man desireth, as a man feeleth, so is he. This comes later, when there is more mental focus. Now, one day we’ll get to review all of our lives. It’ll be an astonishing movie. I’m reminded of that Kirk Douglas movie—I think it was called Illusion or something. He’s a dying film director, and he gets to sit in the big movie house as the only attendee and watch the movies of his life. There’s the projection booth and the big film canisters and all that. The whole film is about wanting to redo certain things, because he has the objectivity to realize where he’s made terrible mistakes. Part of the entertainment of the film is he really gets to redo it, and he really does get to alter his fate, because he kind of comes back to life, and he knows what he has to do, and things work out much, much better. |
Có lẽ điều đó dành nhiều hơn cho các đệ tử, vì hiện nay điều đúng hơn là: con người ham muốn thế nào, con người cảm nhận thế nào, thì y là thế ấy. Điều này đến về sau, khi có sự tập trung trí tuệ nhiều hơn. Một ngày kia chúng ta sẽ được ôn lại toàn bộ đời sống của mình. Đó sẽ là một cuốn phim đáng kinh ngạc. Tôi nhớ đến bộ phim của Kirk Douglas—tôi nghĩ tên là Ảo Ảnh hay điều gì đó. Ông là một đạo diễn điện ảnh sắp chết, và ông được ngồi trong một rạp chiếu phim lớn như khán giả duy nhất để xem các bộ phim về đời mình. Có phòng chiếu, các cuộn phim lớn và tất cả những thứ ấy. Toàn bộ bộ phim nói về mong muốn làm lại một số điều, vì ông có tính khách quan để nhận ra nơi mình đã phạm những sai lầm khủng khiếp. Một phần thú vị của bộ phim là ông thật sự được làm lại, và thật sự thay đổi được số phận của mình, vì ông như thể trở lại với sự sống, biết mình phải làm gì, và mọi sự diễn ra tốt đẹp hơn rất nhiều. |
|
The creative arts in film, if we have good ones, that Neptunian kind of conveyance really does open our imagination to possibilities we might not experience in our normal encounters, and therefore can be extremely valuable. They help us share the experiences of other human beings, which gives us the sense of commonality and identification and harmony and sameness and unity. Great works of art sometimes really leave you with that wonderful, unitive feeling. |
Các nghệ thuật sáng tạo trong điện ảnh, nếu là những tác phẩm hay, thì loại truyền đạt Sao Hải Vương ấy thật sự mở sự tưởng tượng của chúng ta ra với những khả năng mà có thể chúng ta không trải nghiệm trong các tiếp xúc bình thường, và do đó có thể vô cùng giá trị. Chúng giúp chúng ta chia sẻ kinh nghiệm của những con người khác, đem lại cho chúng ta cảm thức về sự chung cùng, sự đồng hoá, hòa hợp, tương đồng và hợp nhất. Những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại đôi khi thật sự để lại nơi các bạn cảm giác hợp nhất tuyệt diệu ấy. |
|
I remember when I was in school at the University of Michigan, Stratford, Ontario wasn’t too far away, and there they had wonderful Shakespeare festivals, and something magical was going on. It was Stratford-on-Avon, the Canadian version, not the English version. When the play was over, even though it might have been one of those blood-curdling Shakespearean tragedies, you’d come out with that sense of timelessness and a great sense of the panorama of the human experience. You were beyond your ordinary personality, with the appreciation of the pageant of human evolution. |
Tôi nhớ khi tôi còn học ở Đại học Michigan, Stratford, Ontario không quá xa, và ở đó có những lễ hội Shakespeare tuyệt vời; một điều kỳ diệu nào đó đang diễn ra. Đó là Stratford-on-Avon phiên bản Canada, không phải phiên bản Anh. Khi vở kịch kết thúc, dù đó có thể là một trong những bi kịch Shakespeare rợn người, các bạn vẫn bước ra với cảm thức về tính phi thời gian và một cảm thức lớn lao về toàn cảnh kinh nghiệm nhân loại. Các bạn vượt ra ngoài phàm ngã thông thường của mình, với sự trân trọng đối với bức tranh lớn của sự tiến hoá nhân loại. |
|
[34] The astral body, with its longings, appetites, moods, feelings, and cravings moulds the physical body through the attractive forces which flow through it, and so guides the man on unerringly to the fulfilment of his desires. |
[34] Thể cảm dục, với các khát vọng mãnh liệt, ham muốn, tâm trạng, cảm xúc và khao khát của nó, nhào nặn thể xác qua các mãnh lực hấp dẫn tuôn chảy xuyên qua nó, và như thế dẫn dắt con người một cách không sai lạc đến sự hoàn thành các dục vọng của y. |
|
We really have to co-measure our desires. We can’t really get rid of them; at least Morya seems to think so. |
Chúng ta thật sự phải đo lường tương xứng các dục vọng của mình. Chúng ta không thật sự có thể loại bỏ chúng; ít nhất Chân sư Morya dường như nghĩ như vậy. |
|
We have to co-measure our desires in line with the divine plan. These are quite some words, aren’t they? Let’s consider these important words in relation to the dynamics of the astral body. Longings—we’re not there yet. Appetites—we’re reaching, seeking to fulfill. Moods—harmony, disharmony. Feelings—sensitivity. Cravings—focused, intense desire. |
Chúng ta phải đo lường tương xứng các dục vọng của mình phù hợp với Thiên Cơ. Đây là những từ rất đáng chú ý, phải không? Hãy xét các từ quan trọng này trong liên hệ với động lực của thể cảm dục. Khát vọng mãnh liệt—chúng ta chưa đạt tới đó. Ham muốn—chúng ta vươn ra, tìm cách thỏa mãn. Tâm trạng—hòa hợp, bất hòa. Cảm xúc—sự nhạy cảm. Khao khát—dục vọng tập trung, mãnh liệt. |
|
The astral body molds the physical body. If we are a person of low appetite, low desire, our physical body will reflect it. There will be something more beautiful about the physical body of one who has the higher desire. |
Thể cảm dục nhào nặn thể xác. Nếu chúng ta là người có ham muốn thấp, dục vọng thấp, thể xác của chúng ta sẽ phản ánh điều đó. Sẽ có điều gì đó đẹp hơn nơi thể xác của người có dục vọng cao hơn. |
|
Always, when trying to understand where upon the path the person may stand, really do consult regarding their desire nature. What do they really, truly in their heart of hearts desire? That’s going to tell you a lot about the level of emotional focus. Remember, the soul will use, when considering the emotional, mental, or physical body, the soul will particularly express through one of those bodies which is vibrating the highest, with the greatest frequency, and the personality will express through a body which is vibrating to a lesser frequency. |
Khi cố gắng thấu hiểu một người có thể đứng ở đâu trên Con Đường, hãy thật sự tham khảo bản chất dục vọng của họ. Trong tận đáy lòng, họ thật sự, chân thành ham muốn điều gì? Điều đó sẽ nói cho các bạn rất nhiều về cấp độ tập trung cảm xúc. Hãy nhớ rằng linh hồn, khi xét thể cảm xúc, thể trí hay thể xác, sẽ đặc biệt biểu hiện qua một trong các thể ấy, thể nào đang rung động cao nhất, với tần số lớn nhất; còn phàm ngã sẽ biểu hiện qua một thể đang rung động ở tần số thấp hơn. |
|
When you study Discipleship in the New Age, you will see that happening. He takes a little paragraph or two and says: your soul expresses itself primarily through this vehicle, your personality primarily through this vehicle. You begin to understand why it seems easier to do certain soul-related activities through a particular body than through another. Maybe a person has a good mind, but their astral body is kind of a mess. |
Khi các bạn nghiên cứu Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, các bạn sẽ thấy điều đó diễn ra. Ngài lấy một đoạn ngắn hay hai đoạn và nói: linh hồn của bạn biểu hiện chủ yếu qua hiện thể này, phàm ngã của bạn chủ yếu qua hiện thể này. Các bạn bắt đầu hiểu vì sao dường như dễ thực hiện một số hoạt động liên hệ đến linh hồn qua một thể nào đó hơn là qua một thể khác. Có lẽ một người có thể trí tốt, nhưng thể cảm dục của họ lại khá hỗn độn. |
|
In this particular case, the soul is expressing through that higher frequency of the mind, and the astral body will be the recipient of the energies of the personality, leaving always one body unattended. This has a lot to do with the history of the soul and what can be in any one incarnation left unattended. |
Trong trường hợp đặc biệt này, linh hồn đang biểu hiện qua tần số cao hơn của thể trí, và thể cảm dục sẽ là nơi tiếp nhận các năng lượng của phàm ngã, luôn để lại một thể không được chăm sóc. Điều này liên quan nhiều đến lịch sử của linh hồn và điều gì có thể bị bỏ mặc trong bất kỳ một kiếp lâm phàm nào. |
|
[35] If the cravings of the sentient nature are dominantly animal in their objective we shall have the man with strong appetites, living a life given over to the effort to satisfy them. |
[35] Nếu các khao khát của bản chất có cảm giác lấy mục tiêu chủ yếu là thú tính, chúng ta sẽ có người với các ham muốn mạnh mẽ, sống một đời hiến cho nỗ lực thỏa mãn chúng. |
|
Many people are exactly there, and even people with a good mind use that mind to fulfill the unredeemed appetites, which are still running rampant. They’re not really initiates of the first degree. When you’re having physical appetites running rampant, you’re just not there yet. |
Nhiều người đúng là ở đó, và ngay cả những người có thể trí tốt cũng dùng thể trí ấy để thỏa mãn các ham muốn chưa được cứu chuộc, vốn vẫn đang hoành hành. Họ thật sự chưa phải là các điểm đạo đồ bậc một. Khi các ham muốn hồng trần đang hoành hành, các bạn đơn giản là chưa đến đó. |
|
[36] If the craving is for comfort and for happiness, we shall have the man with a sensuous, beauty-loving and pleasure-loving disposition, governed practically entirely by selfish effort. |
[36] Nếu khao khát là dành cho tiện nghi và hạnh phúc, chúng ta sẽ có người với khuynh hướng cảm quan, yêu cái đẹp và yêu khoái lạc, hầu như hoàn toàn bị chi phối bởi nỗ lực ích kỷ. |
|
This is low physicality and low astrality. It reminds me of lower Taurus, when Venus is not really functioning according to its higher nature and is looking for all things pleasant. |
Đây là tính hồng trần thấp và tính cảm dục thấp. Nó khiến tôi nhớ đến Kim Ngưu thấp, khi Sao Kim thật sự không vận hành theo bản chất cao hơn của nó và đang tìm kiếm mọi điều dễ chịu. |
|
[37] So it is through all the many grades of desire, good, bad, and ordinary, until that re-orientation takes place |
[37] Điều đó diễn ra xuyên qua mọi cấp độ dục vọng, tốt, xấu và bình thường, cho đến khi sự tái định hướng ấy xảy ra |
|
What do we call it? The reversal of the wheel in the fifth petal. That is the place where a lot of reversing takes place, |
Chúng ta gọi nó là gì? Sự đảo chiều của bánh xe trong cánh hoa thứ năm. Đó là nơi rất nhiều sự đảo chiều diễn ra, |
|
[38] which so refocusses the astral energies that they are turned in a different direction. |
[38] khiến các năng lượng cảm dục được tái tập trung đến mức chúng được chuyển sang một hướng khác. |
|
This is all preparatory to taking the first initiation. If you look astrologically at what’s going on in that fifth petal in the middle of the love tier, the sign Leo and Scorpio are very prominent. We’re going away from egotism and through struggle we’re trying to birth a new type of Leonian identity—the struggle of Scorpio, obviously. Those two signs don’t get along so well, but they are very necessary for each other. |
Tất cả điều này chuẩn bị cho việc nhận lần điểm đạo thứ nhất. Nếu các bạn xét về mặt chiêm tinh những gì đang diễn ra trong cánh hoa thứ năm ấy ở giữa tầng bác ái, dấu hiệu Sư Tử và Hổ Cáp rất nổi bật. Chúng ta đang rời xa chủ nghĩa vị ngã, và qua đấu tranh, chúng ta đang cố sinh ra một loại bản sắc Sư Tử mới—rõ ràng là cuộc đấu tranh của Hổ Cáp. Hai dấu hiệu ấy không hòa hợp với nhau cho lắm, nhưng chúng rất cần thiết cho nhau. |
|
[39] Desire becomes aspiration. |
[39] Dục vọng trở thành khát vọng. |
|
a scientific method of elevation. Aspiration isn’t just elevated desire; it’s a scientific method of transmutation. With transmutation we’re always elevating the frequency of the particular matter that constitutes a vehicle. |
Một phương pháp khoa học của sự nâng cao. Khát vọng không chỉ là dục vọng được nâng cao; nó là một phương pháp khoa học của sự chuyển hoá. Với sự chuyển hoá, chúng ta luôn nâng tần số của loại vật chất đặc thù cấu thành một hiện thể. |
|
[40] Thus liberation from the wheel of birth is brought about |
[40] Như thế, sự giải thoát khỏi bánh xe sinh tử được đem lại |
|
at the fourth degree, pretty much, unless you decide otherwise. |
ở bậc thứ tư, gần như vậy, trừ khi các bạn quyết định khác đi. |
|
[41] and a man is freed from the necessity to reincarnate. |
[41] và con người được giải phóng khỏi sự cần thiết phải tái lâm phàm. |
|
Saturn in one of its aspects is overcome, and much lower karma is fulfilled. |
Sao Thổ, trong một phương diện của nó, được vượt qua, và nhiều nghiệp quả thấp hơn được hoàn tất. |
|
Well, we’re not there yet, and we would just be pretense if the students, even the advanced student of Master Djwhal Khul at this point on the outer plane, claim to be there. Not there really. If one is honest, maybe occasionally here or there someone can be found, but that would be the rare, rare exception. |
Chúng ta chưa đến đó, và sẽ chỉ là giả vờ nếu các đạo sinh, ngay cả đạo sinh cao cấp của Chân sư Djwhal Khul ở giai đoạn hiện nay trên cõi bên ngoài, tuyên bố mình đã đến đó. Thật sự chưa. Nếu trung thực, có lẽ thỉnh thoảng ở đây hay ở đó có thể tìm thấy ai đó như vậy, nhưng đó sẽ là ngoại lệ cực kỳ hiếm hoi. |
|
Thus liberation from the wheel of birth, the wheel of rebirth, is brought about and the man is freed from the necessity to reincarnate, though a choice may indicate otherwise. Master Jesus—the one who is now Master Jesus, the Chohan Jesus—was born as the third degree initiate, but he was born in the ordinary manner. Djwhal Khul seems to cast some kind of doubt on this idea of the immaculate conception, which I think was thought up to give the priests more power. There may be some deep kind of symbolic meaning there, but he says Jesus is pictured as having been born in an unnatural way. Obviously there was something natural about it. |
Như thế, sự giải thoát khỏi bánh xe sinh tử, bánh xe tái sinh, được đem lại và con người được giải phóng khỏi sự cần thiết phải tái lâm phàm, dù một lựa chọn có thể cho thấy điều ngược lại. Chân sư Jesus—Đấng hiện nay là Chân sư Jesus, Chohan Jesus—đã sinh ra như một điểm đạo đồ bậc ba, nhưng Ngài được sinh ra theo cách thông thường. Djwhal Khul dường như đặt một số nghi vấn về ý tưởng thụ thai vô nhiễm này, điều mà tôi nghĩ đã được nghĩ ra để trao thêm quyền lực cho giới tu sĩ. Có thể có một loại ý nghĩa biểu tượng sâu xa nào đó ở đó, nhưng Ngài nói Jesus được mô tả như đã sinh ra theo một cách không tự nhiên. Hiển nhiên có điều gì đó tự nhiên trong việc ấy. |
|
[42] Then the horoscope as now understood |
[42] Khi ấy lá số chiêm tinh như hiện nay được hiểu |
|
It’s now understood, not forever— |
Nó được hiểu như hiện nay, không phải mãi mãi— |
|
[43] proves futile, untrue and useless and the term sometimes used, but wrongly, ‘the horoscope of the ego or the soul’ means nothing. |
[43] trở nên vô ích, sai lệch và không dùng được, và thuật ngữ đôi khi được dùng, nhưng sai lầm, “lá số chiêm tinh của chân ngã hay linh hồn” chẳng có ý nghĩa gì. |
|
There are horoscopes which are very useful, and there are inner charts which some of us have been looking at—the ABC chart. Charles Jane was much on that. Birth chart is the outer chart; the C part is the conception chart; and the A part is the animation chart when the heart starts beating. They are under the three synthesizing planets. The conception chart is very important and discussed a little bit in esoteric astrology regarding the reorganized potentials. |
Có những lá số chiêm tinh rất hữu ích, và có những biểu đồ bên trong mà một số chúng ta đã xem xét—biểu đồ ABC. Charles Jane đã chú ý nhiều đến điều đó. Biểu đồ sinh là biểu đồ bên ngoài; phần C là biểu đồ thụ thai; và phần A là biểu đồ hoạt hóa khi tim bắt đầu đập. Chúng nằm dưới ba hành tinh tổng hợp. Biểu đồ thụ thai rất quan trọng và được bàn đến một chút trong Chiêm Tinh Học Nội Môn liên quan đến các tiềm năng được tái tổ chức. |
|
Then the horoscope as now understood—we’re almost to the end of this program anyway—proves futile, untrue, and useless. But there are other ways to look at the horoscope. It’s a little complex, but there are said to be like 49 inner charts or something like that. It’s too complex for me to get into right now. In the old days, one person was lucky if they could do all their 49 charts and just concentrate upon that alone, which I think is excessive. |
Khi ấy lá số chiêm tinh như hiện nay được hiểu—dù sao chúng ta cũng gần đến cuối chương trình này—trở nên vô ích, sai lệch và không dùng được. Nhưng có những cách khác để nhìn lá số chiêm tinh. Điều đó hơi phức tạp, nhưng người ta nói có khoảng 49 biểu đồ bên trong hay điều gì đó tương tự. Quá phức tạp để tôi đi vào lúc này. Ngày xưa, một người đã may mắn nếu có thể lập đủ 49 biểu đồ của mình và chỉ tập trung vào đó, điều mà tôi nghĩ là quá mức. |
|
[44] The soul has no individual destiny, but is submerged into the One. |
[44] Linh hồn không có vận mệnh cá nhân, mà chìm vào Đấng Duy Nhất. |
|
That’s interesting. In other words, always, always there will have to be consideration of the divine plan when considering the destiny of the soul, and even more so, the monadic destiny. |
Điều đó thú vị. Nói cách khác, luôn luôn sẽ phải xét đến Thiên Cơ khi xét vận mệnh của linh hồn, và càng hơn nữa, vận mệnh chân thần. |
|
[45] Its destiny is the destiny of the group, and of the Whole; its desire is the working out of the great Plan, and its will is the glorification of the incarnated Logos. |
[45] Vận mệnh của nó là vận mệnh của nhóm và của Tổng Thể; dục vọng của nó là sự thực hiện Thiên Cơ vĩ đại, và ý chí của nó là sự tôn vinh Thượng đế đang lâm phàm. |
|
And this means even the consciousness of the monad, which is also generically soul. In other words, monad has soul, monad has consciousness, and in all this, no individualistic destiny, but only that which is related to divine plan and divine purpose. |
Và điều này có nghĩa là ngay cả tâm thức của chân thần, vốn cũng là linh hồn theo nghĩa tổng quát. Nói cách khác, chân thần có linh hồn, chân thần có tâm thức, và trong tất cả điều này, không có vận mệnh cá nhân chủ nghĩa, mà chỉ có điều liên hệ đến Thiên Cơ và Thiên Ý. |
|
We’re getting near the end, really. |
Chúng ta thật sự đang gần đến cuối. |
|
[46] I would like to suggest to students that they procure if possible The Science of the Emotions by Bhagavan Das. |
[46] Tôi muốn đề nghị các đạo sinh, nếu có thể, hãy tìm đọc Khoa Học về Cảm Xúc của Bhagavan Das. |
|
He’s got a lot of Fifth Ray of this, Bhagavan Das, as he describes the different types of emotions. |
Bhagavan Das có rất nhiều cung năm trong điều này, khi ông mô tả các loại cảm xúc khác nhau. |
|
[47] It is an able treatise on the astral and sentient body, |
[47] Đó là một luận thuyết có năng lực về thể cảm dục và thể có cảm giác, |
|
from a very mentally polarized person, |
từ một người rất phân cực trí tuệ, |
|
[48] and deals with the factors that most nearly concern the aspirant as he faces the problem of understanding and of controlling his emotional nature, of mastering the technique of development, and of reorienting it to wider experience and of preparing it for the tests and expansions of the second major initiation |
[48] và đề cập đến các yếu tố liên quan gần gũi nhất đến người chí nguyện khi y đối diện với vấn đề thấu hiểu và kiểm soát bản chất cảm xúc của mình, làm chủ kỹ thuật phát triển, tái định hướng nó đến kinh nghiệm rộng lớn hơn, và chuẩn bị nó cho các thử thách cùng những mở rộng của lần điểm đạo chính yếu thứ hai |
|
By that, he does mean the baptism, |
Qua điều đó, Ngài thật sự muốn nói đến phép rửa, |
|
[49] —the baptism and the final entering of the stream. |
[49] —phép rửa và sự bước vào dòng nước lần cuối. |
|
Note that the second initiation is called major, but then there are some pre-monastic initiations, which are the minor ones, and they bring on some group, increasing group consciousness. |
Hãy lưu ý rằng lần điểm đạo thứ hai được gọi là chính yếu, nhưng có một số điểm đạo tiền tu viện là các điểm đạo nhỏ, và chúng đem lại một mức độ nhóm, một tâm thức nhóm ngày càng gia tăng. |
|
[50] Metaphorically speaking, the experience that lies ahead upon the Path is covered in the following esoteric phrases: |
[50] Nói theo ẩn dụ, kinh nghiệm nằm phía trước trên Con Đường được bao hàm trong các cụm từ nội môn sau đây: |
|
This is ending number 24. So this is the end of this particular program, but we have to figure out where we are, because when you come back to it, you never know. We are at pages 293 to 296, and we go on to number 25, program number 25, rules for magic, and they ask for page 10.9, and it’s going to be 296. |
Đây là phần kết thúc số 24. Đây là phần kết của chương trình đặc biệt này, nhưng chúng ta phải xác định mình đang ở đâu, vì khi quay lại, không phải lúc nào các bạn cũng biết. Chúng ta ở các trang 293 đến 296, và sẽ tiếp tục sang số 25, chương trình số 25, các quy luật huyền thuật, và họ yêu cầu trang 10.9, sẽ là trang 296. |
|
We’ll get back together on this as soon as we can, and that’s really interesting material. I’ve been involved in some other books for quite a while, but in the beginning, I used to read a lot in this book, as we did in the Arcane School. Very necessary, that second lesson set for white magic, first Light on the Soul, and then the white magical work, but it’s all scratching the surface. Still, we have to make a beginning. The journey of a thousand, ten thousand miles begins with but a single step. |
Chúng ta sẽ trở lại với đề tài này sớm nhất có thể, và đây thật sự là chất liệu thú vị. Tôi đã dấn vào một số sách khác khá lâu, nhưng ban đầu, tôi từng đọc nhiều trong quyển sách này, như chúng ta đã làm trong Trường Arcane. Rất cần thiết, bộ bài học thứ hai ấy về Chánh Thuật, trước hết là Ánh Sáng trên Linh Hồn, rồi đến công việc chánh thuật, nhưng tất cả vẫn chỉ là chạm vào bề mặt. Tuy vậy, chúng ta phải khởi đầu. Hành trình một ngàn, mười ngàn dặm bắt đầu chỉ bằng một bước chân. |
|
So we make our beginning, and we forge ahead, assimilating during these next seven years, especially towards the coming forth of the new dispensation. Let us be ready for it, and let us not only assimilate here, but let us apply, let us apply. This is 296, and off we go. |
Vì vậy, chúng ta khởi đầu và tiến tới, đồng hóa trong bảy năm tới, đặc biệt hướng đến sự xuất hiện của thiên hướng mới. Chúng ta hãy sẵn sàng cho nó, và không chỉ đồng hóa ở đây, mà hãy áp dụng, hãy áp dụng. Đây là trang 296, và chúng ta lên đường. |
|
Thank you friends, lots of love, many blessings, and we’ll see you soon. |
Cảm ơn các bạn, gửi nhiều tình thương, nhiều phước lành, và chúng ta sẽ sớm gặp lại. |