Chân sư và Thánh Đạo – Phần III

📘 Sách: Chân sư và Thánh đạo – Tác giả: C.W. Leadbeater

PART III

THE GREAT INITIATIONS

Chapter 7 — Chương 7

The First Initiation — Lần Điểm Đạo Thứ Nhất

The One Initiator

Đấng Điểm Đạo Duy Nhất

MOST PEOPLE when they think of Initiation have in mind a step to be gained for themselves. They think of the Initiate as a man who has developed himself very highly, and has become a great and glorious figure, as compared with the man of the outer world. That is true; but the whole question will be better understood if we try to look down on it from a higher point of view. The importance of Initiation does not lie in the exaltation of an individual, but in the fact that he has now become definitely one with a great Order, the Communion of Saints, as it is very beautifully put in the Christian Church, though few ever pay attention to the real meaning of those words.

PHẦN ĐÔNG NGƯỜI khi nghĩ về điểm đạo đều hình dung một bước cần đạt được cho chính mình. Họ nghĩ về điểm đạo đồ như một người đã phát triển bản thân đến mức rất cao, và đã trở thành một nhân vật vĩ đại và rực rỡ, khi so sánh với người của thế giới bên ngoài. Điều đó đúng; nhưng toàn bộ vấn đề sẽ được thấu hiểu rõ hơn nếu chúng ta cố nhìn xuống nó từ một quan điểm cao hơn. Tầm quan trọng của điểm đạo không nằm ở sự tôn cao của một cá nhân, mà ở sự kiện rằng y nay đã trở nên một cách xác định là một với một Dòng lớn, Cộng Đồng các Thánh, như cách nói rất đẹp trong Giáo hội Kitô giáo, mặc dù ít ai từng chú ý đến ý nghĩa thật sự của những lời ấy.

The stupendous reality that lies behind Initiation into the Brotherhood will be better understood after we have considered the organization of the Occult Hierarchy and the work of the Masters, to be dealt with in later chapters. The Candidate has now become more than an individual man, because he is a unit in a tremendous force. On every planet the Solar Logos has his Representative, acting as his Viceroy. On our globe the title given to this great Official is the Lord of the World. He is the Head of the Brotherhood; and the Brotherhood is not only a body of Men each of whom has his own duties to perform; it is also a stupendous unity—a fully flexible instrument in the Lord’s hand, a mighty weapon that he can wield. There is a marvellous and incomprehensible plan by which the One, having become many, is now becoming One again; not that any unit in the whole scheme will lose the least fraction of his individuality or power as a unit, but that he has added to it something a thousand times greater; he is part of the Lord, part of the body that he wears, the weapon that he uses, the organ upon which he plays, the implement with which he does his work.

Thực tại phi thường nằm đằng sau sự điểm đạo vào Huynh Đệ Đoàn sẽ được thấu hiểu rõ hơn sau khi chúng ta đã xem xét tổ chức của Huyền Giai Huyền Bí và công việc của các Chân sư, sẽ được đề cập đến trong các chương sau. Ứng viên nay đã trở thành hơn một con người cá nhân, bởi vì y là một đơn vị trong một mãnh lực to lớn. Trên mỗi hành tinh, Thái dương Thượng đế có Vị Đại Diện của Ngài, hành động như Phó Vương của Ngài. Trên bầu hành tinh của chúng ta, danh hiệu được trao cho Vị Quan Chức vĩ đại này là Đức Chúa Tể Thế Giới. Ngài là Đầu của Huynh Đệ Đoàn; và Huynh Đệ Đoàn không chỉ là một đoàn thể gồm những Con Người, mỗi vị có những nhiệm vụ riêng để thực hiện; đó cũng là một sự hợp nhất phi thường — một khí cụ hoàn toàn linh hoạt trong tay của Chúa Tể, một vũ khí hùng mạnh mà Ngài có thể sử dụng. Có một Thiên Cơ kỳ diệu và không thể thấu hiểu, nhờ đó Đấng Duy Nhất, sau khi đã trở thành nhiều, nay đang trở lại thành Một; không phải là bất kỳ đơn vị nào trong toàn bộ hệ thống sẽ mất đi dù chỉ một phần nhỏ nhất của cá tính hay quyền năng của y với tư cách một đơn vị, mà là y đã thêm vào đó một điều vĩ đại hơn gấp ngàn lần; y là một phần của Chúa Tể, một phần của thể mà Ngài khoác lấy, vũ khí mà Ngài sử dụng, cơ quan mà Ngài tấu lên, dụng cụ bằng đó Ngài thực hiện công việc của Ngài.

In all the world there is but One Initiator, but in the case of the first and second Initiations it is open to him to depute some other Adept to perform the ceremony for him, though even then that Officiant turns and calls upon the Lord at the critical moment of the conferring of the degree. This is a very wonderful moment in the candidate’s spiritual life, as was explained by the Master Kuthumi, when accepting a pupil not long ago. He said to him:

Trong toàn thế giới chỉ có một Đấng Điểm đạo, nhưng trong trường hợp lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, Ngài có thể ủy nhiệm cho một Chân sư khác thực hiện nghi lễ thay Ngài, mặc dù ngay cả khi đó vị Chủ Lễ ấy cũng quay lại và kêu gọi Chúa Tể vào khoảnh khắc quyết định của việc truyền cấp. Đây là một khoảnh khắc rất kỳ diệu trong đời sống tinh thần của ứng viên, như Chân sư Kuthumi đã giải thích khi tiếp nhận một đệ tử cách đây không lâu. Ngài nói với y:

Now that you have attained the immediate goal of your aspiration, I would exhort you at once to turn your attention to the far greater requirements of the next step. That for which you have now to prepare, the ‘entering upon the stream’ which the Christians call salvation, will be the salient point in the long line of your earthly existences, the culmination of seven hundred lives. Ages ago, by individualization, you entered the human kingdom; in a future which I trust is not remote, you will quit it by the door of Adeptship, and become a Superman; between these two extremes is no point of greater importance than that Initiation towards which you should now turn your thoughts. Not only will it make you safe for ever, but it will admit you to that Brotherhood which exists from eternity unto eternity—the Brotherhood which helps the world.

Giờ đây, khi bạn đã đạt được mục tiêu tức thời của khát vọng mình, tôi muốn khuyên bạn ngay lập tức hướng sự chú ý đến những yêu cầu lớn lao hơn rất nhiều của bước kế tiếp. Điều mà giờ đây bạn phải chuẩn bị — “bước vào dòng” mà người Kitô giáo gọi là sự cứu rỗi — sẽ là điểm nổi bật trong chuỗi dài những cuộc hiện hữu trần thế của bạn, đỉnh cao của bảy trăm kiếp sống. Từ nhiều thời đại trước, nhờ biệt ngã hóa, bạn đã bước vào giới nhân loại; trong một tương lai mà tôi tin là không xa, bạn sẽ rời khỏi nó qua cánh cửa của Chân sư đoàn, và trở thành một Siêu Nhân; giữa hai cực ấy không có điểm nào quan trọng hơn cuộc điểm đạo mà giờ đây bạn nên hướng tư tưởng đến. Nó không chỉ làm cho bạn an toàn mãi mãi, mà còn cho phép bạn gia nhập Huynh Đệ Đoàn tồn tại từ vĩnh cửu đến vĩnh cửu — Huynh Đệ Đoàn giúp đỡ thế gian.

Think then with how great care so wondrous an event should be approached. I would have you keep the glory and the beauty of it constantly before your mind, that you may live in the light of its ideals. Your body is young for so mighty an effort, but you have a rare and splendid opportunity; I want you to take it to the full.

Vậy hãy suy nghĩ xem một biến cố kỳ diệu như thế cần được tiếp cận với sự cẩn trọng lớn lao đến mức nào. Tôi muốn bạn luôn giữ vinh quang và vẻ đẹp của nó trước thể trí mình, để bạn có thể sống trong ánh sáng của các lý tưởng ấy. Thể của bạn còn trẻ đối với một nỗ lực hùng mạnh như vậy, nhưng bạn có một cơ hội hiếm có và rực rỡ; tôi muốn bạn nắm lấy nó một cách trọn vẹn.

The Brotherhood

Huynh Đệ Đoàn

When an ego is initiated he becomes part of the closest organization in the world; he is now one with the vast sea of consciousness of the Great White Brotherhood. For a long time the new Initiate will not be able to understand all that this union implies, and he must penetrate far into the sanctuaries before he can realize how close is the link, and how great is that consciousness of the King himself, which all Brothers to a certain extent share with him. It is incomprehensible and inexpressible down here; metaphysical and subtle it is beyond words, but nevertheless a glorious reality, real to such an extent that when we begin to grasp it everything else seems unreal.

Khi một chân ngã được điểm đạo, y trở thành một phần của tổ chức gắn bó nhất trên thế giới; y nay là một với biển tâm thức mênh mông của Thánh Đoàn. Trong một thời gian dài, điểm đạo đồ mới sẽ không thể thấu hiểu tất cả những gì sự hợp nhất này hàm ý, và y phải thâm nhập sâu vào các thánh điện trước khi có thể nhận ra mối liên kết ấy gần gũi đến đâu, và tâm thức của chính Đức Vua ấy vĩ đại đến mức nào, điều mà mọi Huynh Đệ ở một mức độ nào đó đều chia sẻ với Ngài. Điều ấy không thể thấu hiểu và không thể diễn đạt ở dưới này; nó siêu hình và tinh tế vượt ngoài lời nói, nhưng dù vậy vẫn là một thực tại vinh quang, thực đến mức khi chúng ta bắt đầu nắm bắt nó, mọi điều khác dường như không thật.

We have seen how the accepted pupil may lay his thought beside that of the Master; so now may the Initiate put his thought beside that of the Brotherhood and draw into himself just as much of that tremendous consciousness as he at his level is able to appreciate; and ever as he draws it into himself he will be able to receive more of it, and his own consciousness will widen out so that narrowness of thought will become impossible for him. And just as the accepted pupil must take care not to cause disturbance in the lower vehicles of the Master, lest he should interfere with the perfection of his work, so must a member of the Brotherhood never introduce anything discordant into that mighty consciousness, which is acting as a whole.

Chúng ta đã thấy người đệ tử được chấp nhận có thể đặt tư tưởng của mình bên cạnh tư tưởng của Chân sư như thế nào; vì vậy nay điểm đạo đồ có thể đặt tư tưởng của y bên cạnh tư tưởng của Huynh Đệ Đoàn và thu hút vào chính mình đúng bằng phần của tâm thức vĩ đại ấy mà y, ở cấp độ của mình, có thể cảm nhận; và càng thu hút nó vào mình, y càng có thể tiếp nhận nhiều hơn, và tâm thức riêng của y sẽ mở rộng đến nỗi sự chật hẹp của tư tưởng sẽ trở nên bất khả đối với y. Và cũng như người đệ tử được chấp nhận phải cẩn thận không gây xáo trộn trong các vận cụ thấp của Chân sư, kẻo y can thiệp vào sự hoàn hảo của công việc Ngài, thì một thành viên của Huynh Đệ Đoàn cũng không bao giờ được đưa bất cứ điều gì bất hòa vào tâm thức hùng mạnh ấy, vốn đang hoạt động như một toàn thể.

He must remember that not by any means the whole of the Brotherhood is doing the same work as our Masters. Many of them are engaged in other labours which require the utmost concentration and the most perfect calm, and if some of the younger members should sometimes forget their high calling, and cause ripples of annoyance to disturb the Brotherhood, it would affect the work of those Greater Ones. Our own Masters might perhaps overlook that, and be willing to endure a little occasional worry of that kind for the sake of the future when the new member will be making really great use of the powers of the Brotherhood; but we can quite understand that those who have nothing to do with the training of individuals might say: “Our work is being disturbed, and it is better that those who have such immature personalities should stay outside.” They would say that nothing was lost, that progress can be made just as well outside, and that pupils could go on making themselves better and stronger and wiser before gaining Initiation.

Y phải nhớ rằng không phải toàn thể Huynh Đệ Đoàn đều đang làm cùng một công việc như các Chân sư của chúng ta. Nhiều vị trong số họ đang tham gia vào những lao tác khác đòi hỏi sự tập trung tối đa và sự bình lặng hoàn hảo nhất, và nếu một số thành viên trẻ hơn đôi khi quên mất thiên chức cao cả của mình, và gây nên những gợn sóng bực bội làm xáo động Huynh Đệ Đoàn, điều đó sẽ ảnh hưởng đến công việc của những Đấng Cao Cả ấy. Các Chân sư của chúng ta có lẽ có thể bỏ qua điều đó, và sẵn lòng chịu đựng đôi chút phiền toái thỉnh thoảng thuộc loại ấy vì tương lai khi thành viên mới sẽ thật sự sử dụng rộng lớn các quyền năng của Huynh Đệ Đoàn; nhưng chúng ta hoàn toàn có thể hiểu rằng những vị không liên quan gì đến việc huấn luyện các cá nhân có thể nói: “Công việc của chúng tôi đang bị xáo trộn, và tốt hơn là những ai có các phàm ngã còn non nớt như thế nên ở bên ngoài.” Họ sẽ nói rằng không có gì bị mất, rằng sự tiến bộ cũng có thể được thực hiện tốt như vậy ở bên ngoài, và rằng các đệ tử có thể tiếp tục làm cho mình tốt hơn, mạnh hơn và minh triết hơn trước khi đạt điểm đạo.

So wonderful is the expansion of the Initiate’s consciousness that it is most apt to speak of the change as a new birth. He begins to lead a new life “as a little child,” the life of the Christ; and the Christ, the intuitional or buddhic consciousness, is born within his heart. He has also now the power to give the blessing of the Brotherhood—a tremendous and overwhelming force, which he is able to give or send to anyone, as he judges to be most appropriate and useful. The power of the Brotherhood will flow through him just as much as he will let it flow; it is for him to use the power and to remember that he has the entire responsibility of directing it for whatever purpose he may choose. The benediction given by the Officiant at Initiation means: “I bless you; I pour my force and benison into you; see that you in your turn constantly pour out this good-will upon others.”

Sự mở rộng tâm thức của điểm đạo đồ kỳ diệu đến nỗi gọi sự thay đổi ấy là một cuộc sinh mới là thích hợp nhất. Y bắt đầu sống một đời sống mới “như một trẻ nhỏ”, đời sống của Đức Christ; và Đức Christ, tâm thức trực giác hay Bồ đề, được sinh ra trong trái tim y. Nay y cũng có quyền năng ban phúc lành của Huynh Đệ Đoàn — một mãnh lực phi thường và áp đảo, mà y có thể trao hoặc gửi đến bất kỳ ai, tùy y xét là thích hợp và hữu ích nhất. Quyền năng của Huynh Đệ Đoàn sẽ tuôn chảy qua y đúng bằng mức y cho phép nó tuôn chảy; y có nhiệm vụ sử dụng quyền năng ấy và nhớ rằng y có toàn bộ trách nhiệm định hướng nó cho bất kỳ mục đích nào y có thể chọn. Lời chúc phúc do vị Chủ Lễ ban tại điểm đạo có nghĩa là: “Ta chúc phúc cho con; Ta đổ mãnh lực và ân phúc của Ta vào con; hãy thấy rằng đến lượt con, con không ngừng tuôn đổ thiện chí này lên người khác.”

The more confidence the new Initiate has the greater will be the flow of force through him. If he feels the least hesitation, or is weighed down by the responsibility of letting such a tremendous power flow through him, he will not be able to use this wonderful gift to the full; but if he has that qualification of Shraddha—perfect trust in his Master and in the Brotherhood, and the utter certainty that because he is one with them all things are possible to him—he may go through the world as a veritable angel of light, shedding joy and benediction around his path.

Điểm đạo đồ mới càng có sự tin tưởng lớn bao nhiêu, dòng mãnh lực tuôn qua y sẽ càng lớn bấy nhiêu. Nếu y cảm thấy dù chỉ một chút do dự, hoặc bị đè nặng bởi trách nhiệm để một quyền năng vĩ đại như vậy tuôn chảy qua mình, y sẽ không thể sử dụng trọn vẹn tặng phẩm kỳ diệu này; nhưng nếu y có phẩm chất Shraddha ấy — sự tin cậy hoàn hảo vào Chân sư của mình và vào Huynh Đệ Đoàn, và sự chắc chắn tuyệt đối rằng vì y là một với các Ngài nên mọi sự đều có thể đối với y — y có thể đi khắp thế gian như một thiên thần ánh sáng đích thực, rải sự hoan hỉ và ân phúc quanh đường đi của mình.

The consciousness of the Great White Brotherhood is an indescribably wonderful thing. It is like a great calm shining ocean, so strangely one that the least thrill of consciousness flashes from end to end of it instantaneously, and yet to each member it seems to be absolutely his own individual consciousness, though with a weight and a power and a wisdom behind it that no single human consciousness could ever have. This magnificent sea of “cosmic consciousness” of the Brotherhood is something so great, so wonderful, that there is nothing else in the world like it: even those who belong to it by virtue of having passed the First Great Initiation can catch only glimpses of it, can remember only a little of it here and there. It can be felt fully only on the nirvanic plane, on which the Brotherhood primarily exists, though it has its manifestation on the lower planes, even down to the physical world.

Tâm thức của Thánh Đoàn là một điều kỳ diệu không thể mô tả. Nó giống như một đại dương sáng ngời, lặng yên, hợp nhất kỳ lạ đến nỗi rung động nhỏ nhất của tâm thức lóe lên từ đầu này đến đầu kia tức thời, tuy vậy đối với mỗi thành viên, nó dường như hoàn toàn là tâm thức cá nhân của riêng y, mặc dù phía sau nó có một sức nặng, một quyền năng và một minh triết mà không tâm thức con người đơn lẻ nào có thể từng có. Biển tráng lệ của “tâm thức vũ trụ” thuộc Huynh Đệ Đoàn này là một điều vĩ đại đến thế, kỳ diệu đến thế, đến nỗi không có gì khác trong thế giới giống như nó: ngay cả những ai thuộc về nó nhờ đã trải qua lần điểm đạo vĩ đại thứ nhất cũng chỉ có thể bắt được những thoáng nhìn về nó, chỉ có thể nhớ được đôi chút về nó đây đó. Nó chỉ có thể được cảm nhận trọn vẹn trên cõi Niết Bàn, nơi Huynh Đệ Đoàn chủ yếu hiện hữu, mặc dù nó có sự biểu hiện của mình trên các cõi thấp hơn, thậm chí xuống đến thế giới hồng trần.

As the band of pupils is all one in the Master, so is the Brotherhood all one in its Lord. The members may freely discuss a point among themselves, yet it is as though different aspects of a case presented themselves in the same mind, and were by that mind weighed one against the other; but one is all the time in the presence of a tremendous, an almost awful serenity, a certainty which nothing can ever disturb. And yet somehow in all that every suggestion is welcomed; indeed, there is the sensation that the whole Brotherhood is alertly and eagerly waiting for each individual’s contributions to the subject before it. There is nothing down here to which this consciousness can be adequately compared; to touch it is to come into contact with something new and strange, yet inexpressibly wonderful and beautiful, something which needs no evidence and no comparison, but asserts itself to be of a higher and unknown world.

Như nhóm đệ tử đều là một trong Chân sư, Huynh Đệ Đoàn cũng đều là một trong Chúa Tể của mình. Các thành viên có thể tự do thảo luận một điểm nào đó với nhau, tuy nhiên điều đó giống như các phương diện khác nhau của một vấn đề tự trình hiện trong cùng một thể trí, và được thể trí ấy cân nhắc cái này với cái kia; nhưng người ta luôn ở trong sự hiện diện của một sự tĩnh lặng mênh mông, gần như đáng kính sợ, một sự chắc chắn mà không điều gì có thể từng làm xáo động. Và tuy vậy, bằng cách nào đó, trong tất cả điều ấy, mọi gợi ý đều được đón nhận; quả thật, có cảm giác rằng toàn thể Huynh Đệ Đoàn đang tỉnh thức và háo hức chờ đợi những đóng góp của từng cá nhân cho chủ đề trước mặt. Ở dưới này không có gì có thể được so sánh đầy đủ với tâm thức ấy; chạm đến nó là đi vào tiếp xúc với một điều gì mới mẻ và kỳ lạ, nhưng kỳ diệu và đẹp đẽ không thể diễn tả, một điều không cần bằng chứng và không cần so sánh, mà tự khẳng định là thuộc về một thế giới cao hơn và chưa biết.

Though individualities are so strangely merged in this, yet are they at the same time sharply separated, for the assent of each Brother is required to every decision of importance. The rule of the King is absolute, yet he carries his vast council with him, and is at every moment willing to consider any point that occurs to any member of it. But this great governing body differs utterly from any parliament of earth. Those who stand above the rest in positions of authority have not been elected, nor have they been appointed by some party organization; they hold their positions because they have won them—won them by superior development and greater wisdom. None doubts the decision of his superior, because he knows that he really is a superior—that he has greater insight and a fuller power to decide. There is, there can be, no shadow of compulsion that these Supermen shall think or act alike; yet is their confidence in their mighty organization so perfect that it is unthinkable that in the long run they should differ; it is only in the case of such a Brotherhood under such a King that we can fully realize the beautiful wording of one of the Collects of the Church of England: “In his service is perfect freedom.”

Dù các cá tính được hòa nhập một cách kỳ lạ trong điều này, chúng đồng thời vẫn được phân biệt rõ rệt, vì sự đồng thuận của mỗi Huynh Đệ là cần thiết cho mọi quyết định quan trọng. Quyền cai trị của Đức Vua là tuyệt đối, nhưng Ngài mang theo hội đồng rộng lớn của mình, và trong mọi khoảnh khắc sẵn lòng xem xét bất kỳ điểm nào nảy sinh trong bất kỳ thành viên nào của hội đồng ấy. Nhưng cơ quan cai quản vĩ đại này hoàn toàn khác với bất kỳ nghị viện nào trên Trái Đất. Những vị đứng trên phần còn lại ở các vị trí thẩm quyền đã không được bầu chọn, cũng không được bổ nhiệm bởi một tổ chức đảng phái nào; họ giữ các vị trí ấy vì họ đã giành được chúng — giành được bằng sự phát triển cao hơn và minh triết lớn hơn. Không ai nghi ngờ quyết định của bậc trên mình, bởi vì y biết rằng vị ấy thật sự là bậc trên — rằng vị ấy có cái nhìn sâu hơn và quyền năng quyết định đầy đủ hơn. Không có, và không thể có, bóng dáng nào của sự cưỡng ép để những Siêu Nhân này phải nghĩ hay hành động giống nhau; tuy nhiên sự tin tưởng của Các Ngài vào tổ chức hùng mạnh của mình hoàn hảo đến nỗi không thể tưởng tượng rằng về lâu dài Các Ngài lại khác biệt; chỉ trong trường hợp của một Huynh Đệ Đoàn như thế dưới một Đức Vua như thế, chúng ta mới có thể nhận ra trọn vẹn cách diễn đạt đẹp đẽ của một trong những lời nguyện của Giáo hội Anh: “Trong phụng sự Ngài là tự do hoàn hảo.”

Failures

Những Thất Bại

In such an organization there should surely be no possibility of failure or trouble of any sort; and yet, because humanity is frail, and because not all members of this great Brotherhood are yet Supermen, failures do sometimes occur, although they are very rare. “Great ones fall back even from the threshold, unable to sustain the weight of their responsibility, unable to pass on,” as is said in Light on the Path, and only the attainment of Adeptship ensures perfect safety. The Initiator tells the candidate that now he has entered upon the stream he is safe for ever; but although that is so, it is still possible for him to delay his progress to a most serious extent, if he yields to any of the temptations that still beset his path. To be safe for ever is usually taken to betoken the certainty of passing onward with the present life-wave—of not being left behind at the “day of judgment” which comes in the middle of the fifth Round, when the Christ who has descended into matter decides what souls can and what souls cannot be carried on to final attainment in this chain of worlds. There is no eternal condemnation; it is, as the Christ said, simply aeonian; there are some who cannot go in this age or dispensation, but they will follow along in the next, precisely as a child who is too dull to succeed in this year’s class will drift comfortably along in next year’s, and will probably even be at the head of it.

Trong một tổ chức như vậy, chắc hẳn không nên có khả năng thất bại hay rắc rối thuộc bất kỳ loại nào; tuy nhiên, vì nhân loại yếu đuối, và vì không phải mọi thành viên của Huynh Đệ Đoàn vĩ đại này đều đã là Siêu Nhân, nên thất bại đôi khi vẫn xảy ra, mặc dù rất hiếm. “Những bậc vĩ đại còn lùi lại ngay cả từ ngưỡng cửa, không thể chịu nổi sức nặng của trách nhiệm mình, không thể tiến qua,” như đã nói trong Ánh sáng trên Đường Đạo, và chỉ việc đạt đến Chân sư đoàn mới bảo đảm an toàn hoàn hảo. Đấng Điểm đạo nói với ứng viên rằng giờ đây y đã bước vào dòng, y an toàn mãi mãi; nhưng mặc dù điều đó đúng, y vẫn có thể trì hoãn sự tiến bộ của mình đến mức cực kỳ nghiêm trọng, nếu y khuất phục trước bất kỳ cám dỗ nào vẫn còn vây quanh đường đi của y. An toàn mãi mãi thường được hiểu là biểu thị sự chắc chắn sẽ tiến bước cùng làn sóng sự sống hiện tại — không bị bỏ lại phía sau vào “ngày phán xét” đến ở giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, khi Đức Christ đã giáng xuống vật chất quyết định linh hồn nào có thể và linh hồn nào không thể được mang tiếp đến sự thành tựu cuối cùng trong dãy thế giới này. Không có sự kết án vĩnh cửu; như Đức Christ đã nói, nó chỉ đơn giản là thuộc về một thời đại; có những người không thể đi trong thời đại hay kỳ phân phát này, nhưng họ sẽ theo sau trong thời đại kế tiếp, chính xác như một đứa trẻ quá chậm hiểu để thành công trong lớp năm nay sẽ trôi theo một cách thoải mái trong lớp năm sau, và có lẽ thậm chí sẽ đứng đầu lớp ấy.

When the sad and terrible thing does occur—when there is a failure of any sort among Initiates, a thrill of pain runs through the whole of that vast consciousness, for the separation of one from the rest is of the nature of a veritable surgical operation, tearing the heartstrings of all. Only with the uttermost regret does the Brotherhood ever thus sever a member from itself, and even when it does so the erring Brother is not finally cut off, however far he may stray. He will be brought back again some time, somehow, somewhere; there is a link that cannot be broken, although we know little of the weary road of trial and suffering that he must tread before he can again weld it together with the rest.

Khi điều buồn thảm và khủng khiếp ấy xảy ra — khi có bất kỳ sự thất bại nào giữa các điểm đạo đồ, một rung động đau đớn chạy xuyên qua toàn thể tâm thức rộng lớn ấy, vì sự tách rời của một người khỏi phần còn lại có bản chất của một cuộc phẫu thuật thật sự, xé rách những dây tim của tất cả. Chỉ với sự tiếc nuối tột cùng, Huynh Đệ Đoàn mới từng cắt rời một thành viên khỏi chính mình như thế, và ngay cả khi làm vậy, Huynh Đệ lầm lạc ấy cũng không bị cắt đứt cuối cùng, dù y có đi lạc xa đến đâu. Y sẽ được đưa trở lại vào một lúc nào đó, bằng cách nào đó, ở nơi nào đó; có một mối liên kết không thể bị phá vỡ, mặc dù chúng ta biết rất ít về con đường thử thách và đau khổ mỏi mệt mà y phải bước qua trước khi có thể lại hàn gắn nó cùng với phần còn lại.

The Voice of the Silence remains within him, and though he leave the path utterly, yet one day it will resound, and rend him asunder, and separate his passions from his divine possibilities. Then with pain and desperate cries from the deserted lower self, he will return.[1]

Tiếng Nói của Im Lặng vẫn ở trong y, và dù y rời bỏ đường đạo hoàn toàn, một ngày kia nó vẫn sẽ vang lên, xé y ra làm đôi, và tách các dục vọng của y khỏi những khả năng thiêng liêng của y. Khi ấy, với đau đớn và những tiếng kêu tuyệt vọng từ phàm ngã bị bỏ rơi, y sẽ trở lại.

Others there be who fall away only for a short time, through some outburst of such feeling as is quite impossible for the Brotherhood to endure. Then, just as a Master may drop a temporary veil between himself and an erring disciple, so the Brotherhood finds it necessary to make for a time a sort of cyst round one of its members who fails it. The whole force of the Brotherhood is turned upon one who is failing in that way, so that, if it be at all possible they may prevent him from overstepping the boundary. But sometimes, even in spite of all the strength which the Brotherhood is permitted by the law of karma to use, a member still declines to give up his petty personal attitude of supposed injury, or offence, or whatever it may be; then they must encyst him for a while until he learn better.

Có những người khác chỉ sa ngã trong một thời gian ngắn, do một bộc phát cảm xúc nào đó mà Huynh Đệ Đoàn hoàn toàn không thể chịu đựng. Khi ấy, cũng như một Chân sư có thể buông một bức màn tạm thời giữa Ngài và một đệ tử lầm lỗi, Huynh Đệ Đoàn thấy cần thiết trong một thời gian tạo ra một loại nang bao quanh một thành viên đã làm nó thất vọng. Toàn bộ mãnh lực của Huynh Đệ Đoàn được hướng vào người đang thất bại theo cách ấy, để nếu có thể, họ ngăn y vượt qua ranh giới. Nhưng đôi khi, ngay cả bất chấp tất cả sức mạnh mà định luật nghiệp quả cho phép Huynh Đệ Đoàn sử dụng, một thành viên vẫn khước từ từ bỏ thái độ cá nhân nhỏ nhen về sự tổn thương, hay xúc phạm tưởng tượng, hay bất cứ điều gì có thể là như vậy; khi ấy họ phải bao nang y trong một thời gian cho đến khi y học biết tốt hơn.

The formula of Initiation has been unchanged throughout the ages, yet there is a certain elasticity about it. The Initiator’s Charge to the candidate is always the same so far as the first part of it goes, but almost invariably there is a second and personal part which consists practically of advice to the particular candidate who is going through. This is usually called the private part of the Charge. I have also seen instances in which an image is made of the candidate’s worst enemy and he is asked how he would deal with him, whether he is fully prepared to forgive him absolutely, and whether he would help even one so low as this if it came in his way. In some cases also questions are asked as to the work already done by the candidate, and those who have been helped by him are sometimes invited to come forward and bear witness. An account of the ceremony is subjoined.

Công thức điểm đạo đã không thay đổi suốt các thời đại, tuy nhiên nó có một sự linh hoạt nhất định. Huấn thị của Đấng Điểm đạo dành cho ứng viên luôn giống nhau cho đến hết phần đầu, nhưng gần như luôn có một phần thứ hai và riêng tư, thực tế gồm những lời khuyên dành cho ứng viên đặc thù đang trải qua. Phần này thường được gọi là phần riêng tư của Huấn thị. Tôi cũng đã thấy những trường hợp trong đó một hình ảnh được tạo ra về kẻ thù tệ hại nhất của ứng viên, và y được hỏi y sẽ xử lý với người ấy như thế nào, liệu y có hoàn toàn sẵn sàng tha thứ tuyệt đối cho người ấy hay không, và liệu y có giúp đỡ ngay cả một người thấp kém như vậy nếu điều đó đến trong đường đi của mình hay không. Trong một số trường hợp, các câu hỏi cũng được đặt ra về công việc mà ứng viên đã làm, và những người đã được y giúp đôi khi được mời bước tới và làm chứng. Một tường thuật về nghi lễ được kèm theo dưới đây.

Account of a First Initiation

Tường Thuật về Một Lần Điểm Đạo Thứ Nhất

As the Wesak Festival was this year (1915) on the morning of May 29th, the night of May 27th was chosen for the Initiation of the Candidate, and we were all instructed to hold ourselves in readiness. In this case the Lord Maitreya was the Initiator, and consequently the ceremony took place in his garden. When the Master Morya or the Master Kuthumi performs the rite it is usually held in the ancient cave temple, the entrance to which is near the bridge across the river between their houses. There was a large gathering of the Adepts, all those whose names are familiar to us being present. The glorious garden was at its best; the rhododendron bushes were one blaze of crimson blossom, and the air was fragrant with the scent of the early roses. The Lord Maitreya sat in his usual place on the marble seat which runs round the great tree in front of his house; and the Masters grouped themselves in a semicircle on his right and left, on seats which were placed for them on the grass terrace from which the marble seat rises by a couple of steps. But the Lord Vaivasvata Manu and the Mahachohan sat also on the marble seat, one on each side of the arms of the specially raised carved throne which faces exactly south, which is called the Throne of Dakshinamurti.

Vì Lễ Wesak năm nay (1915) rơi vào sáng ngày 29 tháng Năm, đêm 27 tháng Năm được chọn cho cuộc điểm đạo của Ứng viên, và tất cả chúng tôi được chỉ thị phải giữ mình trong tư thế sẵn sàng. Trong trường hợp này, Đức Maitreya là Đấng Điểm đạo, và do đó nghi lễ diễn ra trong khu vườn của Ngài. Khi Chân sư Morya hoặc Chân sư Kuthumi thực hiện nghi thức, nó thường được tổ chức trong ngôi đền hang cổ, lối vào nằm gần cây cầu bắc qua sông giữa hai ngôi nhà của Các Ngài. Có một cuộc tụ hội lớn của các Chân sư, tất cả những vị có tên quen thuộc với chúng ta đều hiện diện. Khu vườn vinh quang đang ở thời điểm đẹp nhất; những bụi đỗ quyên rực lên một màu hoa đỏ thắm, và không khí thơm ngát hương những đóa hồng sớm. Đức Maitreya ngồi ở chỗ thường lệ của Ngài trên chiếc ghế đá cẩm thạch chạy quanh cây đại thụ trước nhà Ngài; và các Chân sư quần tụ thành hình bán nguyệt bên phải và bên trái Ngài, trên những ghế được đặt cho Các Ngài trên thềm cỏ, từ đó chiếc ghế đá cẩm thạch nhô lên vài bậc. Nhưng Đức Vaivasvata Manu và Đức Mahachohan cũng ngồi trên ghế đá cẩm thạch, mỗi vị ở một bên tay vịn của ngai chạm khắc được nâng cao đặc biệt, quay đúng về phương nam, được gọi là Ngai của Dakshinamurti.

The candidate, with the Master who introduced him, stood on the next stage of the terrace, at the feet of the Lord, and behind and below them were other pupils, initiated and uninitiated, and a few privileged spectators who were allowed to see a good deal of the ceremony, though at certain times a veil of golden light hid from them the proceedings of the central figures. The candidate was, as always, dressed in flowing robes of white linen, while the Masters were mostly clad in white silk, deeply edged with magnificent gold embroidery.

Ứng viên, cùng với Chân sư giới thiệu y, đứng trên bậc kế tiếp của thềm, dưới chân Chúa Tể, và phía sau cũng như thấp hơn họ là các đệ tử khác, đã được điểm đạo và chưa được điểm đạo, cùng một vài khán giả đặc biệt được phép nhìn thấy khá nhiều nghi lễ, mặc dù vào những thời điểm nhất định một bức màn ánh sáng vàng che khuất khỏi họ diễn tiến của các nhân vật trung tâm. Như mọi khi, ứng viên mặc những áo choàng dài bằng vải lanh trắng, trong khi các Chân sư phần lớn mặc lụa trắng, viền sâu bằng thêu vàng lộng lẫy.

A great host of Angels floated above the group, filling the air with a soft ripple of melody, which, in some strange and subtle way, seemed to draw out of the chord of the candidate an intricate interwoven web of sound, expressing his qualities and possibilities; throughout the ceremony this went singing on, delicately supporting all words that were spoken, and no more interrupting them than the soft laughter of a stream interrupts the thrilling music of the birds, but swelling to a triumphant climax at certain points of the ritual. The music made the air vocal—enriching, not drowning, the tones of the speakers. In every case the music is founded upon the special chord of each candidate, and weaves variations and fugues upon it, expressing, in a way that we down here cannot comprehend, all that he is and all that he will be.

Một đoàn Thiên Thần đông đảo lơ lửng phía trên nhóm, làm đầy không khí bằng một gợn sóng êm dịu của giai điệu, theo một cách kỳ lạ và tinh tế nào đó dường như rút ra từ hợp âm của ứng viên một mạng lưới âm thanh phức tạp đan quyện, diễn tả các phẩm tính và khả năng của y; suốt nghi lễ, điều này cứ hát vang, nâng đỡ tinh tế mọi lời được nói ra, và không làm gián đoạn chúng hơn tiếng cười nhẹ của một dòng suối làm gián đoạn âm nhạc rung động của chim chóc, nhưng dâng lên thành một cao trào khải hoàn tại những điểm nhất định của nghi thức. Âm nhạc làm cho không khí thành tiếng nói — làm phong phú, chứ không nhấn chìm, các âm điệu của những người nói. Trong mỗi trường hợp, âm nhạc được đặt nền trên hợp âm đặc biệt của từng ứng viên, và dệt nên các biến tấu và phức điệu trên đó, diễn tả, theo một cách mà chúng ta ở dưới này không thể thấu hiểu, tất cả những gì y là và tất cả những gì y sẽ là.

In the centre of the scene stood the candidate, between his Proposer and Seconder. He was led forward by his own Teacher, the Master Kuthumi, and the Master Jesus stood as his Seconder. The Lord Maitreya smiled as he asked the opening question of the ritual:

Ở trung tâm cảnh tượng, ứng viên đứng giữa vị Đề Cử và vị Bảo Trợ. Y được chính Huấn sư của mình, Chân sư Kuthumi, dẫn tiến lên, và Chân sư Jesus đứng làm vị Bảo Trợ cho y. Đức Maitreya mỉm cười khi Ngài hỏi câu mở đầu của nghi thức:

“Who is this that you thus bring before Me?”

“Ai là người mà các vị đưa đến trước Ta như vậy?”

Our Master gave the usual reply:

Chân sư của chúng ta đưa ra lời đáp thường lệ:

“This is a candidate who seeks admission to the great Brotherhood.”

“Đây là một ứng viên tìm kiếm sự gia nhập vào Huynh Đệ Đoàn vĩ đại.”

Then came the next question:

Rồi đến câu hỏi kế tiếp:

“Do you vouch for him as worthy of admission?”

“Các vị có bảo chứng y là xứng đáng được gia nhập không?”

And the usual answer:

Và câu trả lời thường lệ:

“I do.”

“Tôi có.”

“Will you undertake to guide his steps along the Path which he desires to enter?”

“Các vị có đảm nhận việc hướng dẫn bước chân của y trên Đường Đạo mà y mong muốn bước vào không?”

And the Proposer said: “I will.”

Và vị Đề Cử nói: “Tôi sẽ làm.”

“Our rule requires that two of the higher Brethren shall vouch for every candidate; is any other Brother prepared to support this application?”

“Quy luật của chúng ta đòi hỏi hai trong số các Huynh Đệ cao hơn bảo chứng cho mọi ứng viên; có Huynh Đệ nào khác sẵn sàng ủng hộ thỉnh cầu này không?”

Then for the first time the Seconder spoke, saying:

Bấy giờ lần đầu tiên vị Bảo Trợ lên tiếng, nói rằng:

“I am prepared to do so.”

“Tôi sẵn sàng làm như vậy.”

The Initiator asked:

Đấng Điểm đạo hỏi:

“You have evidence that if additional powers are conferred upon him, they will be used for the furtherance of the Great Work?”

“Các vị có bằng chứng rằng nếu các quyền năng bổ sung được trao cho y, chúng sẽ được sử dụng để thúc đẩy Công Trình Vĩ Đại không?”

And the Master Kuthumi replied:

Và Chân sư Kuthumi đáp:

“This candidate’s life this time has been short, but even already he has many good deeds to his credit, and he is beginning to do our work in the world. Also in his life in Greece he did much to spread my philosophy, and to improve the country in which he lived.”

“Đời sống lần này của ứng viên này còn ngắn, nhưng ngay cả bây giờ y đã có nhiều việc thiện đáng ghi nhận, và y đang bắt đầu làm công việc của chúng ta trong thế giới. Cũng vậy, trong đời sống của y ở Hy Lạp, y đã làm nhiều điều để truyền bá triết học của tôi, và để cải thiện xứ sở nơi y sống.”

And the Master Jesus added:

Và Chân sư Jesus thêm vào:

“Through two lives of vast influence he patiently did my work, righting wrong and introducing a noble ideal in his life as a ruler, and spreading abroad the teaching of love and purity and unworldliness in his incarnation as a monk. For these reasons I stand by his side now.”

“Qua hai đời có ảnh hưởng rộng lớn, y đã kiên nhẫn làm công việc của tôi, sửa chữa điều sai trái và đưa vào một lý tưởng cao quý trong đời sống làm người cai trị, và truyền bá giáo lý về tình thương, sự thanh khiết và tinh thần không vướng đời trong kiếp sống làm tu sĩ. Vì những lý do này, tôi đứng bên y lúc này.”

Then the Lord, smiling upon the boy, said:

Bấy giờ Chúa Tể, mỉm cười với cậu bé, nói:

“The body of this candidate is the youngest that has ever been presented to us for the honour of reception into the Brotherhood; is any member of our Brotherhood who still lives in the outer world ready to give him on our behalf such help and counsel as his young physical body may need?”

“Thể của ứng viên này là trẻ nhất từng được trình lên chúng ta để nhận vinh dự được tiếp nhận vào Huynh Đệ Đoàn; có thành viên nào của Huynh Đệ Đoàn chúng ta vẫn còn sống trong thế giới bên ngoài sẵn sàng thay mặt chúng ta ban cho y sự giúp đỡ và lời khuyên mà thể xác trẻ tuổi của y có thể cần không?”

Sirius came forward from a group of pupils who stood behind, and said:

Sirius bước tới từ một nhóm đệ tử đứng phía sau, và nói:

“Lord, in so far as I am able, and while I remain within reach of his body, I will most gladly do for him all that I possibly can.”

“Lạy Chúa Tể, trong chừng mực tôi có thể, và khi tôi còn ở trong tầm với của thể y, tôi sẽ hết sức vui lòng làm cho y tất cả những gì tôi có thể.”

Then said the Lord:

Bấy giờ Chúa Tể nói:

“Is your heart full of true brotherly love for this young candidate, so that you can give such guidance as should be given?”

“Trái tim của bạn có đầy tình thương huynh đệ chân thật đối với ứng viên trẻ này, để bạn có thể ban sự hướng dẫn cần phải được ban không?”

Sirius answered: “It is.”

Sirius đáp: “Có.”

The Lord spoke for the first time directly to the candidate:

Chúa Tể lần đầu tiên nói trực tiếp với ứng viên:

“Do you in turn love this brother, so that you will willingly be helped by him when necessary?”

“Về phần bạn, bạn có yêu thương huynh đệ này, để bạn sẵn lòng được y giúp đỡ khi cần thiết không?”

And the young man replied:

Và người thanh niên đáp:

“Indeed I do, with all my heart, for without him I could not have stood here.”

“Quả thật con có, bằng cả trái tim, vì nếu không có y con đã không thể đứng ở đây.”

The Lord bowed his head gravely, and the Masters put the candidate forward so that he stood before the Initiator. Fixing his eyes upon him, the Lord said:

Chúa Tể nghiêm trang cúi đầu, và các Chân sư đưa ứng viên tiến lên để y đứng trước Đấng Điểm đạo. Chăm chú nhìn y, Chúa Tể nói:

“Do you desire to join the Brotherhood which exists from eternity unto eternity?”

“Bạn có mong muốn gia nhập Huynh Đệ Đoàn tồn tại từ vĩnh cửu đến vĩnh cửu không?”

The youth replied:

Chàng trai đáp:

“I do, Lord, if you think that I am fit to do so while my body is still so young.”

“Con có, lạy Chúa Tể, nếu Ngài nghĩ rằng con thích hợp để làm như vậy khi thể của con vẫn còn trẻ đến thế.”

The Initiator asked:

Đấng Điểm đạo hỏi:

The usual questions as to astral knowledge and astral work were then put to the candidate. Many astral objects were shown to him and he had to tell the Initiator what they were. He had to distinguish between the astral bodies of a living man and a dead man, between a real person and a thought-image of a person, and between a Master and an exact imitation of him. Then the Initiator showed him many astral cases and asked how he would help in each, and he replied as well as he could. At the end he smiled and said that the answers were very satisfactory.

Các câu hỏi thường lệ về tri thức cảm dục và công việc cảm dục bấy giờ được đặt ra cho ứng viên. Nhiều vật thể cảm dục được cho y thấy, và y phải nói với Đấng Điểm đạo chúng là gì. Y phải phân biệt giữa các thể cảm dục của một người sống và một người chết, giữa một người thật và một hình-tư-tưởng của một người, và giữa một Chân sư với một bản sao chính xác của Ngài. Rồi Đấng Điểm đạo cho y thấy nhiều trường hợp cảm dục và hỏi y sẽ giúp đỡ trong từng trường hợp như thế nào, và y trả lời tốt nhất có thể. Cuối cùng Ngài mỉm cười và nói rằng các câu trả lời rất thỏa đáng.

The Initiator then delivered the Charge—a very solemn and beautiful address—part of which is always to the same effect, though something personal to each candidate is generally added. This Charge explains the work of the Brotherhood in the world, and the responsibility which rests on each member individually, for each has to share in the bearing of the great burden of the sorrows of the world. Each must be ready to help both by service and by counsel, for it is one Brotherhood, acting under one Law and one Head, and each Brother has the privilege of putting any local knowledge or special faculty that he may possess at the disposition of the Brotherhood for the furtherance of any department of their great work of aiding the progress of humanity. Although the rule of the King is absolute, no decision of importance is taken without the consent of even the youngest member of the Brotherhood. Each is a representative of the Brotherhood in whatever part of the world he may be, and each is pledged to be at the disposal of the Brotherhood, to go wherever he is sent, to work in any way that is required. While younger members will naturally implicitly obey the Heads, they may yet help by local knowledge, and may always suggest anything that seems to them of possible use.

Bấy giờ Đấng Điểm đạo ban Huấn thị — một bài diễn từ rất trang nghiêm và đẹp đẽ — một phần trong đó luôn có cùng ý nghĩa, mặc dù thường có thêm điều gì đó riêng cho từng ứng viên. Huấn thị này giải thích công việc của Huynh Đệ Đoàn trong thế giới, và trách nhiệm đặt trên từng thành viên một cách cá nhân, vì mỗi người phải chia sẻ việc mang gánh nặng lớn lao của các nỗi đau khổ của thế gian. Mỗi người phải sẵn sàng giúp đỡ cả bằng phụng sự lẫn bằng lời khuyên, vì đó là một Huynh Đệ Đoàn duy nhất, hoạt động dưới một Định luật và một Đầu, và mỗi Huynh Đệ có đặc quyền đặt bất kỳ tri thức địa phương hay năng lực đặc biệt nào mà y có thể có vào sự sử dụng của Huynh Đệ Đoàn để thúc đẩy bất kỳ ngành nào trong công việc vĩ đại của họ là trợ giúp sự tiến bộ của nhân loại. Mặc dù quyền cai trị của Đức Vua là tuyệt đối, không quyết định quan trọng nào được đưa ra mà không có sự đồng thuận ngay cả của thành viên trẻ nhất trong Huynh Đệ Đoàn. Mỗi người là một đại diện của Huynh Đệ Đoàn ở bất kỳ phần nào của thế giới mà y có mặt, và mỗi người cam kết đặt mình dưới sự sử dụng của Huynh Đệ Đoàn, đi đến bất cứ nơi nào y được gửi đến, làm việc theo bất kỳ cách nào được yêu cầu. Trong khi các thành viên trẻ hơn tự nhiên sẽ tuân phục tuyệt đối các Vị Đứng Đầu, họ vẫn có thể giúp bằng tri thức địa phương, và luôn có thể đề xuất bất cứ điều gì dường như có thể hữu ích.

Each Brother living in the world must remember that he is a centre through which the force of the King may be sent for the helping of those who are in need, and that any older Brother may at any time use him as a channel for his blessing. Therefore each younger Brother should always be ready to be so used at any moment, for he never can tell when his services may be required. The life of the Brother should be one of entire devotion to others; he should watch eagerly and incessantly for every opportunity of rendering service, and let such service be his keenest joy. He must remember that the honour of the Brotherhood is in his hands, and he must see to it that no word or act of his shall ever sully it in the eyes of men, or cause them to think of it one whit less highly.

Mỗi Huynh Đệ sống trong thế gian phải nhớ rằng y là một trung tâm qua đó mãnh lực của Đức Vua có thể được gửi đi để giúp đỡ những ai đang cần, và bất kỳ Huynh Đệ lớn tuổi hơn nào cũng có thể vào bất kỳ lúc nào dùng y như một kênh cho phúc lành của mình. Vì vậy, mỗi Huynh Đệ trẻ hơn nên luôn sẵn sàng được sử dụng như thế vào bất kỳ khoảnh khắc nào, vì y không bao giờ có thể biết khi nào sự phụng sự của mình có thể được cần đến. Đời sống của Huynh Đệ nên là một đời sống hoàn toàn tận hiến cho người khác; y nên háo hức và không ngừng canh chừng mọi cơ hội để thực hiện phụng sự, và hãy để phụng sự ấy là niềm hoan hỉ sâu sắc nhất của y. Y phải nhớ rằng danh dự của Huynh Đệ Đoàn nằm trong tay y, và y phải bảo đảm rằng không lời nói hay hành động nào của y từng làm hoen ố nó trong mắt con người, hoặc khiến họ nghĩ về nó kém cao trọng đi dù chỉ một chút.

He must not think that, because he has entered the stream, trial and struggle will cease for him; on the contrary, he will have to make still greater efforts, but he will have greater strength to make them. His power will be far greater than before: but in exactly the same proportion his responsibility is greater also. He must remember that it is not he, a separated self, who has gained a step which has lifted him above his fellows; rather he should rejoice that humanity through him has risen a little, has freed itself to this small extent from its chains, has come into this much more of its own. The blessing of the Brotherhood is ever with him; but it will descend upon him precisely in the measure in which he passes it on to others; for this is the eternal law.

Y không được nghĩ rằng vì y đã bước vào dòng, thử thách và đấu tranh sẽ chấm dứt đối với y; trái lại, y sẽ phải thực hiện những nỗ lực còn lớn hơn, nhưng y sẽ có sức mạnh lớn hơn để thực hiện chúng. Quyền năng của y sẽ lớn hơn trước rất nhiều; nhưng đúng theo cùng tỷ lệ ấy, trách nhiệm của y cũng lớn hơn. Y phải nhớ rằng không phải y, một bản ngã tách biệt, đã đạt được một bước đưa y lên trên đồng loại của mình; đúng hơn y nên hoan hỉ rằng nhân loại qua y đã vươn lên đôi chút, đã tự giải thoát đến mức nhỏ này khỏi xiềng xích của mình, đã đi vào phần này nhiều hơn của chính nó. Phúc lành của Huynh Đệ Đoàn luôn ở cùng y; nhưng nó sẽ giáng xuống y đúng theo mức độ mà y chuyển nó sang cho người khác; vì đây là định luật vĩnh cửu.

That is part of the Charge which is always given. As a private admonition to this candidate the Initiator added:

Đó là một phần của Huấn thị luôn được ban. Như một lời khuyên riêng dành cho ứng viên này, Đấng Điểm đạo thêm vào:

“Your body is very young to bear so heavy a responsibility as this great gift of Initiation; yet that very youth offers you an opportunity as wonderful as any that has ever fallen to the lot of man. It has been earned by the karma of your previous lives of self-sacrifice; see to it that in this body you prove yourself worthy of it. We trust you to show that in deciding to open the doors to you so soon we have chosen wisely: remember always the absolute unity that exists between us all who are members of the One Brotherhood, so that its dignity shall never suffer at your hands. Beginning thus early, you may go very far in this incarnation; the climb will be steep, but your strength and love will be sufficient for it. Cultivate wisdom; learn perfect control of all your vehicles; develop in yourself alertness, decision, farsightedness; remember that I expect you to be ready to act as a trusty lieutenant for Me when I come forth to teach the world. You have won your way so far by the wealth of your love; let that love ever increase and strengthen, and it shall carry you through to the end.”

“Thể của bạn còn rất trẻ để mang một trách nhiệm nặng nề như tặng phẩm vĩ đại này của điểm đạo; tuy nhiên chính tuổi trẻ ấy đem đến cho bạn một cơ hội kỳ diệu như bất kỳ cơ hội nào từng rơi vào phần con người. Nó đã được tạo nên bởi nghiệp quả của các đời sống trước kia đầy hi sinh bản thân của bạn; hãy bảo đảm rằng trong thể này bạn chứng tỏ mình xứng đáng với nó. Chúng tôi tin cậy bạn sẽ chứng minh rằng khi quyết định mở các cánh cửa cho bạn sớm như vậy, chúng tôi đã chọn lựa một cách minh triết: hãy luôn nhớ sự hợp nhất tuyệt đối đang tồn tại giữa tất cả chúng ta, những thành viên của Huynh Đệ Đoàn Duy Nhất, để phẩm giá của nó sẽ không bao giờ chịu tổn hại dưới tay bạn. Bắt đầu sớm như thế, bạn có thể đi rất xa trong kiếp lâm phàm này; cuộc leo lên sẽ dốc, nhưng sức mạnh và tình thương của bạn sẽ đủ cho nó. Hãy vun bồi minh triết; hãy học sự kiểm soát hoàn hảo đối với mọi vận cụ của bạn; hãy phát triển trong chính mình sự tỉnh thức, tính quyết đoán, tầm nhìn xa; hãy nhớ rằng Ta kỳ vọng bạn sẵn sàng hành động như một trung úy đáng tin cậy cho Ta khi Ta xuất hiện để dạy dỗ thế gian. Bạn đã giành được đường đi của mình đến đây bằng sự phong phú của tình thương nơi bạn; hãy để tình thương ấy luôn tăng trưởng và mạnh lên, và nó sẽ mang bạn đi đến tận cùng.”

Then the Lord turned to the other Masters and said:

Bấy giờ Chúa Tể quay sang các Chân sư khác và nói:

“I find this candidate satisfactory; do all present agree to his reception into our Company?”

“Ta thấy ứng viên này thỏa đáng; tất cả những vị hiện diện có đồng ý tiếp nhận y vào Đoàn của chúng ta không?”

And all answered: “We agree.”

Và tất cả đáp: “Chúng tôi đồng ý.”

Then the initiator rose from his seat and turned towards Shamballa, and called aloud:

Bấy giờ Đấng Điểm đạo đứng dậy khỏi chỗ ngồi và quay về phía Shamballa, rồi cất tiếng gọi lớn:

“Do I this, O Lord of Life and Light and Glory, in Thy Name and for Thee?”

“Con làm điều này chăng, ôi Chúa Tể của Sự Sống, Ánh Sáng và Vinh Quang, trong Danh Ngài và vì Ngài?”

Over his head in response flashed forth the Blazing Star which conveys the assent of the King, and all bowed low before it, while the Angel music rang out in a triumphant burst like some great royal march. And to these strains the candidate advanced, led by the two Masters, and knelt before him who represented the One who alone can grant admission to the Brotherhood. A line of dazzling light, like a flash of lightning standing still, extended from the star to the heart of the Initiator, and from him to the heart of the candidate. Under the influence of that tremendous magnetism, the tiny Silver Star of Consciousness which represents the Monad in the candidate swelled out in glowing brilliancy until it filled his causal body, and for a wonderful moment the Monad and the ego were one, even as they will be permanently when Adeptship is attained. The Lord placed his hands upon the head of the candidate, and, calling him by his true name, said:

Trên đầu y, để đáp ứng, Ngôi Sao Rực Lửa chợt lóe sáng, truyền đạt sự chấp thuận của Đức Vua, và tất cả đều cúi mình thật thấp trước ngôi sao ấy, trong khi âm nhạc của các Thiên Thần vang lên trong một tràng khải hoàn như một khúc quân hành hoàng gia vĩ đại. Và theo những âm điệu ấy, ứng viên tiến tới, được hai Chân sư dẫn đi, rồi quỳ trước Đấng đại diện cho Đấng Duy Nhất, Đấng duy nhất có thể ban quyền nhập vào Huynh đệ Đoàn. Một đường ánh sáng chói lòa, như một tia chớp đứng yên, kéo dài từ ngôi sao đến trái tim của Đấng Điểm đạo, và từ Ngài đến trái tim của ứng viên. Dưới ảnh hưởng của từ điện mãnh liệt ấy, Ngôi Sao Bạc nhỏ bé của Tâm Thức, tượng trưng cho Chân thần trong ứng viên, phồng lớn ra trong vẻ rực rỡ chói sáng cho đến khi nó lấp đầy thể nguyên nhân của y; và trong một khoảnh khắc kỳ diệu, Chân thần và chân ngã là một, đúng như chúng sẽ là một cách thường tồn khi đạt đến Địa vị Chân sư. Đức Chúa đặt hai tay lên đầu ứng viên, và gọi y bằng chân danh của y, phán rằng:

“In the Name of the One Initiator, whose Star shines above us, I receive you into the Brotherhood of Eternal Life. See to it that you are a worthy and useful member of it. You are now safe for ever; you have entered upon the Stream: may you soon reach the further shore!”

“Nhân danh Đấng Điểm đạo Duy Nhất, mà Ngôi Sao của Ngài chiếu sáng trên chúng ta, Ta tiếp nhận con vào Huynh đệ Đoàn của Sự Sống Vĩnh Cửu. Hãy lo sao cho con là một thành viên xứng đáng và hữu ích của Huynh đệ Đoàn ấy. Giờ đây con đã an toàn mãi mãi; con đã bước vào Dòng Suối: mong con sớm đạt đến bờ bên kia!”

The Angel music pealed forth in a great ocean of sweet, glad sound, and seemed to fill the very air with strength and joy. And the Initiator and the kneeling candidate and his sponsors were almost veiled in the loveliest of colours, which brought the blessings of the Manu and the Mahachohan on their waves, and the exquisite golden light of the Flower of earth’s Humanity, of Gautama, the Lord Buddha, hovered over them in benediction, for another child of Man had entered on the Path. And the Silver Star seemed for a moment to expand and enfold the Initiator and the new Brother in its blinding glory. And when they came forth from that glory the robe of the neophyte was no longer linen, but white silk, like those of the other Initiates.

Âm nhạc của các Thiên Thần ngân vang như một đại dương âm thanh ngọt ngào, hoan hỉ, và dường như lấp đầy chính bầu không khí bằng sức mạnh và sự hoan hỉ. Và Đấng Điểm đạo, ứng viên đang quỳ cùng những vị bảo trợ của y gần như được che phủ trong những sắc màu đẹp đẽ nhất, những sắc màu mang theo trên các làn sóng của chúng các phúc lành của Đức Manu và Đức Mahachohan; và ánh sáng vàng tuyệt mỹ của Đóa Hoa của Nhân Loại địa cầu, của Gautama, Đức Phật, lơ lửng trên họ trong sự ban phúc, vì một người con khác của Nhân Loại đã bước vào Đường Đạo. Và Ngôi Sao Bạc trong khoảnh khắc dường như mở rộng ra, bao bọc Đấng Điểm đạo và vị Huynh đệ mới trong vinh quang chói lòa của nó. Và khi họ bước ra khỏi vinh quang ấy, áo của người sơ cơ không còn là vải lanh nữa, mà là lụa trắng, giống như áo của các điểm đạo đồ khác.

The picture when the Initiator made his own causal body glow, and that of the new Initiate glowed out in response, was enthrallingly beautiful. Green and golden light shone out, and the Monad—normally appearing but as a speck of light within the permanent atom of the causal body—shone forth resplendently, so that the brilliant nucleus swelled out and occupied the whole oval. The Monad on this occasion identifies himself for the time with the fraction of himself that is the ego, and it is he who takes the vows. The effect on the astral body is also most interesting; a great rhythmical swing is given to it, without disturbing the stability of its equilibrium, so that it is able thenceforth to feel with far greater keenness than before, without being shaken from its own base, or escaping from its owner’s control. The Initiator sets the swing, reproducing his own vibration in the astral body of the neophyte, and at the same time steadying it, so that there is no shaking, no disturbance, but an immensely increased power of vibration.

Cảnh tượng khi Đấng Điểm đạo làm cho thể nguyên nhân của chính Ngài rực sáng, và thể của điểm đạo đồ mới rực lên để đáp ứng, đẹp đến mê hồn. Ánh sáng xanh lục và vàng kim tỏa ra, và Chân thần—thường chỉ hiện ra như một điểm sáng trong nguyên tử trường tồn của thể nguyên nhân—chiếu rực huy hoàng, đến nỗi hạt nhân sáng chói phồng lớn ra và chiếm trọn hình bầu dục. Trong dịp này, Chân thần tạm thời đồng hóa chính mình với phần nhỏ của chính mình là chân ngã, và chính y là người phát nguyện. Tác động trên thể cảm dục cũng hết sức thú vị; một dao động nhịp nhàng lớn lao được truyền cho nó, mà không làm xáo trộn sự ổn định quân bình của nó, để từ đó nó có thể cảm nhận với độ bén nhạy lớn hơn nhiều so với trước kia, mà không bị lay khỏi nền tảng của chính nó, hay thoát khỏi sự kiểm soát của chủ nhân nó. Đấng Điểm đạo thiết lập dao động ấy, tái tạo rung động của chính Ngài trong thể cảm dục của người sơ cơ, đồng thời làm nó vững ổn, để không có sự rung lắc, không có xáo trộn, mà chỉ có một quyền năng rung động gia tăng vô cùng lớn.

When all this had been done, the Initiator gave the Key of Knowledge to the new Brother, and instructed him how he might infallibly recognize astrally any member of the Brotherhood who was not personally known to him. He directed some of the older pupils of the Masters to attend as soon as might be to the necessary buddhic exercises, and the great ceremony ended with the blessing of the new Initiate by the assembled Brothers. The new Brother in turn then gave the blessing of the Brotherhood to the world, wielding thus for the first time the new and mighty power which had been conferred upon him. As the blessing plays round and through the world, adding new life to everything, giving to each a little more force, a little more beauty, a multitudinous murmur fills the air, myriad whispers that form themselves into a song of deep delight and gratitude. Another force for good has been made manifest, and Nature, that groans and travails with her children, rejoices when one of them enters the Brotherhood that shall at last deliver her from pain. For the life of the world is One Life, and when real progress is made by any unit, all Nature shares in the gain, even that part of it which we so wrongly call inanimate.

Khi tất cả những điều này đã hoàn tất, Đấng Điểm đạo trao Chìa Khóa Tri Thức cho vị Huynh đệ mới, và chỉ dẫn y cách có thể nhận ra một cách chắc chắn trên cõi cảm dục bất cứ thành viên nào của Huynh đệ Đoàn mà y chưa quen biết trực tiếp. Ngài chỉ thị cho một số môn đồ lớn tuổi hơn của các Chân sư tham dự sớm nhất có thể các bài luyện tập Bồ đề cần thiết, và nghi lễ vĩ đại kết thúc bằng phúc lành của các Huynh đệ tụ họp dành cho điểm đạo đồ mới. Sau đó đến lượt vị Huynh đệ mới ban phúc lành của Huynh đệ Đoàn cho thế gian, nhờ vậy lần đầu tiên vận dụng quyền năng mới mẻ và hùng mạnh đã được ban cho y. Khi phúc lành ấy lan quanh và xuyên qua thế gian, thêm sự sống mới cho mọi sự, ban cho mỗi sự vật thêm một chút mãnh lực, một chút vẻ đẹp, thì một tiếng rì rầm muôn vẻ lấp đầy không gian, vô số lời thì thầm tự kết thành một bài ca của niềm hoan lạc sâu xa và lòng biết ơn. Một mãnh lực khác cho điều thiện đã được biểu hiện, và Thiên nhiên, vốn rên siết và chuyển dạ cùng con cái của mình, hân hoan khi một trong số họ bước vào Huynh đệ Đoàn, là Đoàn thể cuối cùng sẽ giải thoát nàng khỏi đau khổ. Vì sự sống của thế gian là Một Sự Sống, và khi bất kỳ đơn vị nào đạt được tiến bộ thực sự, toàn thể Thiên nhiên đều chia sẻ lợi ích ấy, kể cả phần mà chúng ta gọi một cách sai lầm là vô tri.

So the wonderful ceremony ended, and the Masters gathered round the new Brother and gave him hearty congratulations as the Blazing Star disappeared.

Như vậy nghi lễ kỳ diệu kết thúc, và các Chân sư tụ họp quanh vị Huynh đệ mới, chúc mừng y nồng nhiệt khi Ngôi Sao Rực Lửa biến mất.

On the following night I had orders to present the neophyte to the Lord of the World. This is of course a very unusual honour, and not in any way part of the ceremony of the First Initiation. It generally accompanies the Third. We repaired to Shamballa at the appointed time, and were received in the great hall as usual. We found the King in conversation with the Lord Gautama Buddha and the Lord Maitreya. The latter presented the neophyte to the King as “our newest Brother, the ever-glowing Love-Star,” and Sanat Kumara smiled graciously upon the youth as he knelt before him. The neophyte raised his hands in the Eastern salutation, and the King put forth his right hand and grasped them as he said to him:

Đêm hôm sau, tôi nhận lệnh trình diện người sơ cơ ấy trước Đức Chúa Tể Thế Giới. Đây dĩ nhiên là một vinh dự rất khác thường, và hoàn toàn không phải là một phần của nghi lễ lần điểm đạo thứ nhất. Thường thì điều này đi kèm lần điểm đạo thứ ba. Chúng tôi đến Shamballa vào giờ đã định, và được tiếp đón trong đại sảnh như thường lệ. Chúng tôi thấy Đức Vua đang đàm đạo với Đức Phật Gautama và Đức Maitreya. Đức Maitreya trình diện người sơ cơ với Đức Vua như “Huynh đệ mới nhất của chúng ta, Ngôi Sao Tình Thương luôn rực sáng”, và Đức Sanat Kumara mỉm cười từ ái với người trẻ tuổi ấy khi y quỳ trước Ngài. Người sơ cơ giơ hai tay lên theo lối chào phương Đông, và Đức Vua đưa tay phải ra nắm lấy hai tay y, khi Ngài nói với y:

You have done well, my son, and I am pleased with you; I have called you thus before me to tell you so. Go on and do better still, for I expect you to play a great part in the future of my new Sub-race. My star shone over you visibly a few hours ago; remember that it hovers over you always, just as really, when you cannot see it; and where it shines there shall ever be power, purity and peace.”

Con đã làm tốt, con của Ta, và Ta hài lòng về con; Ta đã gọi con đến trước Ta như thế này để nói với con điều đó. Hãy tiếp tục và còn làm tốt hơn nữa, vì Ta trông đợi con sẽ đóng một vai trò lớn lao trong tương lai của giống dân phụ mới của Ta. Ngôi sao của Ta đã chiếu sáng hữu hình trên con vài giờ trước; hãy nhớ rằng nó luôn lơ lửng trên con, cũng thực như thế, ngay cả khi con không thể thấy nó; và nơi nào nó chiếu sáng, nơi đó sẽ luôn có quyền năng, sự tinh khiết và bình an.”

Then the Lord Buddha, laying his hand upon the neophyte’s head, spoke:

Rồi Đức Phật đặt tay Ngài lên đầu người sơ cơ và phán:

“I also wish to give you my blessing and my congratulations; for I think that your rapid progress now is an earnest of that which is to come, and that in the future I shall greet you as a Brother of the Glorious Mystery, a member of the Spiritual Dynasty through whom light comes to the worlds.”

“Ta cũng muốn ban cho con phúc lành và lời chúc mừng của Ta; vì Ta nghĩ rằng sự tiến bộ nhanh chóng hiện nay của con là dấu hiệu chắc chắn của điều sẽ đến, và rằng trong tương lai Ta sẽ chào đón con như một Huynh đệ của Huyền Nhiệm Vinh Quang, một thành viên của Triều Đại Tinh Thần, qua đó ánh sáng đến với các thế giới.”

The Three Kumaras who stood behind smiled also upon the youth as he knelt speechless, but glowing with love and adoration. The King raised his hand in blessing while we prostrated ourselves, and we came away.

Ba Đức Kumara đứng phía sau cũng mỉm cười với người trẻ tuổi ấy khi y quỳ lặng không lời, nhưng rực sáng với tình thương và lòng tôn kính. Đức Vua giơ tay ban phúc trong khi chúng tôi phủ phục, rồi chúng tôi rời đi.

The Length of the Ceremony

Thời Lượng của Nghi Lễ

The time occupied by the ceremony of Initiation varies according to several considerations, one of which is the amount of knowledge that the candidate brings with him. Some traditions put the period as three days and nights, but it is often finished in much less time. One at which I was present took two nights and a day of seclusion, but others have been condensed into one night, by leaving much that used to be included to be finished later by the higher pupils of the Masters. Some of the old Initiations lasted so long because the candidates had to be instructed in astral work. There are also buddhic experiences which must he realized, for a certain amount of development of the buddhic vehicle is required for Initiation, as some of the teachings which must be given at that level could not otherwise be understood. Most Theosophists have already done astral work, and thus have learnt the detail of the astral world, much of which must be taught at this time if it is not already known. But when the Initiator knows that the candidate has already some buddhic development it has several times been left to older pupils to carry the candidates through the buddhic experiences on the following night, or whenever it could he arranged.

Thời gian dành cho nghi lễ Điểm đạo thay đổi tùy theo nhiều yếu tố, một trong số đó là lượng tri thức mà ứng viên mang theo. Một số truyền thống ấn định thời hạn là ba ngày đêm, nhưng thường nó được hoàn tất trong thời gian ngắn hơn nhiều. Một nghi lễ mà tôi hiện diện kéo dài hai đêm và một ngày ẩn cư, nhưng những nghi lễ khác đã được cô đọng trong một đêm, bằng cách để lại nhiều điều trước kia từng được bao gồm trong nghi lễ cho các môn đồ cao cấp hơn của các Chân sư hoàn tất về sau. Một số cuộc điểm đạo xưa kéo dài như vậy vì các ứng viên phải được chỉ dạy về công việc cảm dục. Cũng có những kinh nghiệm Bồ đề cần phải được chứng nghiệm, vì một mức độ phát triển nhất định của vận cụ Bồ đề là cần thiết cho Điểm đạo, bởi nếu không thì một số giáo huấn phải được trao ở cấp độ ấy sẽ không thể được thấu hiểu. Phần lớn các nhà Thông Thiên Học đã từng làm công việc cảm dục, và do đó đã học được chi tiết của thế giới cảm dục, phần lớn trong đó phải được giảng dạy vào thời điểm này nếu chưa được biết. Nhưng khi Đấng Điểm đạo biết rằng ứng viên đã có một số phát triển Bồ đề, thì nhiều lần việc dẫn ứng viên đi qua các kinh nghiệm Bồ đề đã được để lại cho các môn đồ lớn tuổi hơn vào đêm hôm sau, hoặc bất cứ khi nào có thể sắp xếp.

The actual ceremony of Initiation takes less than six hours, but a certain amount of time is given to the candidates both before and afterwards. The Masters always congratulate the candidates after the Initiation, and each says a few kindly words. They take the opportunity of such a gathering to transmit certain orders to their pupils; and generally it is an occasion of great rejoicing, at any rate among all the younger members. It is a victory for all when another neophyte is admitted, when one more is safe for ever.

Nghi lễ Điểm đạo thực sự kéo dài dưới sáu giờ, nhưng một khoảng thời gian nhất định được dành cho các ứng viên cả trước lẫn sau đó. Các Chân sư luôn chúc mừng các ứng viên sau cuộc Điểm đạo, và mỗi vị nói vài lời từ ái. Các Ngài nhân cơ hội một cuộc tụ họp như vậy để truyền đạt một số mệnh lệnh nhất định cho các môn đồ của mình; và nói chung đó là một dịp vô cùng hân hoan, ít nhất là giữa tất cả các thành viên trẻ hơn. Đó là một chiến thắng cho tất cả khi một người sơ cơ khác được tiếp nhận, khi thêm một người nữa được an toàn mãi mãi.

Sonship

Tư Cách Làm Con

We have already spoken of the close relation between an accepted pupil and his Master; all the time this intimacy has been steadily growing, and it usually happens that when the pupil is approaching the portal of Initiation the Master considers that the time is ripe for him to draw the chela into a still deeper union. He is then called the Son of the Master, and the link is such that not only the lower mind but also the ego in the causal body of the pupil is enfolded within that of the Adept, and the latter can no longer draw a veil to cut off the neophyte.

Chúng ta đã nói về mối liên hệ mật thiết giữa một môn đồ được chấp nhận và Chân sư của y; trong suốt thời gian ấy, sự thân mật này đã không ngừng tăng trưởng, và thường xảy ra rằng khi môn đồ đến gần cổng Điểm đạo, Chân sư xét thấy thời điểm đã chín muồi để Ngài kéo đệ tử vào một sự hợp nhất còn sâu xa hơn nữa. Khi ấy y được gọi là Con của Chân sư, và mối liên kết ấy là như vậy: không chỉ hạ trí mà cả chân ngã trong thể nguyên nhân của môn đồ cũng được bao bọc trong thể của Chân sư, và từ đó Chân sư không còn có thể kéo một bức màn xuống để cắt đứt người sơ cơ ấy khỏi chính Ngài.

A wise Frenchman once said: “Dans tous les amours, il y a un qui aime et un qui se laisse être aimé.” [In all love, there is one who loves and one who lets himself be loved.] This is profoundly true in nine cases out of ten in human love. Often the reason for it is that one of the two souls concerned is greater and more developed than the other, and therefore capable of a far deeper love; the younger soul appreciates that wealth of affection, and returns it to the extent of his capacity, but his best effort falls far short of the wonderful gift poured out so easily and naturally by his elder. Always that must be the case with regard to the Master and his pupil.

Một người Pháp khôn ngoan từng nói: “Trong mọi tình yêu, có một người yêu và một người để cho mình được yêu.” [Trong mọi tình yêu, có một người yêu và một người để cho mình được yêu.] Điều này sâu sắc đúng trong chín trên mười trường hợp của tình yêu nhân loại. Thường lý do là một trong hai linh hồn liên quan lớn hơn và phát triển hơn linh hồn kia, và do đó có khả năng yêu thương sâu xa hơn nhiều; linh hồn trẻ hơn trân trọng sự phong phú của tình cảm ấy, và đáp lại trong phạm vi khả năng của y, nhưng nỗ lực tốt nhất của y vẫn còn kém xa món quà kỳ diệu được tuôn đổ dễ dàng và tự nhiên bởi người trưởng thượng của y. Điều đó luôn phải là như vậy đối với Chân sư và môn đồ của Ngài.

Another point. The affection with which we meet in ordinary life is not infrequently unstable, fluctuating, capable of ready discouragement; it may be alienated by coldness, unkindness, lack of response; it may even be changed into dislike if its object violates our canons of conduct, or acts in some way that horrifies or disgusts us. But there is a truer and a deeper affection that nothing can shake—a love which recks nothing of response, which is utterly unaffected by neglect, indifference or even unworthiness on the part of its object—which would indeed feel bitter anguish and regret if that object committed a crime or disgraced himself in any way, but would never for a moment decrease in strength, would lose not a single degree of its fervency whatever the loved one might do.

Một điểm khác. Tình cảm mà chúng ta gặp trong đời sống thông thường không hiếm khi bất ổn, dao động, dễ nản lòng; nó có thể bị xa lánh bởi sự lạnh nhạt, thiếu tử tế, thiếu đáp ứng; nó thậm chí có thể biến thành ác cảm nếu đối tượng của nó vi phạm những chuẩn mực ứng xử của chúng ta, hoặc hành động theo cách nào đó khiến chúng ta kinh hoàng hay ghê tởm. Nhưng có một tình cảm chân thật hơn và sâu sắc hơn mà không gì có thể lay chuyển—một tình thương không hề màng đến sự đáp lại, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi sự bỏ bê, điềm nhiên hay thậm chí sự bất xứng nơi đối tượng của nó—thật ra sẽ cảm thấy đau đớn cay đắng và tiếc nuối nếu đối tượng ấy phạm tội hay làm ô danh chính mình theo bất cứ cách nào, nhưng không một khoảnh khắc nào giảm bớt sức mạnh, không mất đi dù một mức độ nhiệt thành nào bất kể người được yêu có thể làm gì.

Of that nature is the love of God for his world; of that nature also must be the love of the Master for those to whom he gives the ineffable privilege of Sonship. He trusts them wholly; he voluntarily resigns the power to separate them from himself, because only by that utter and unbreakable union with them is he enabled to share with them his own nature to the very fullest extent of their power of response—only by this sacrifice of himself can he give them the utmost which a pupil can receive from a Master.

Tình thương của Thượng đế đối với thế gian của Ngài có bản chất như thế; tình thương của Chân sư đối với những người mà Ngài ban cho đặc ân khôn tả của Tư cách Làm Con cũng phải có bản chất như thế. Ngài hoàn toàn tin tưởng họ; Ngài tự nguyện từ bỏ quyền năng tách họ khỏi chính Ngài, bởi chỉ bằng sự hợp nhất trọn vẹn và không thể phá vỡ ấy với họ, Ngài mới có thể chia sẻ với họ bản chất của chính Ngài đến mức tối đa theo quyền năng đáp ứng của họ—chỉ bằng sự hi sinh chính mình này, Ngài mới có thể ban cho họ điều lớn lao nhất mà một môn đồ có thể nhận từ một Chân sư.

Thus it may truly be said that he puts himself at the mercy of his pupil. Just think of the awful responsibility which that throws upon us!

Vì vậy, có thể nói thật rằng Ngài đặt chính mình dưới quyền định đoạt của môn đồ của Ngài. Hãy nghĩ đến trách nhiệm ghê gớm mà điều đó đặt lên chúng ta!

Rare though it be, such love is found sometimes among men in this our physical world too; but when it exists, it has always that same quality and that same result; it places the higher in the hands of the lower, so that the supremest love is ever also the supremest sacrifice. Yet this utter sacrifice, this utmost resignation of the self brings with it a keener joy than aught else on earth can confer, for such love alone is god-like, such self-surrender bears the man into the very heart of Christ. Indeed is it true that such “love shall cover the multitude of sins,”[2] that “her sins, which are many, are forgiven, for she loved much.”[3]

Dù hiếm hoi, tình thương như thế đôi khi cũng được tìm thấy giữa con người trong thế giới hồng trần này của chúng ta; nhưng khi nó hiện hữu, nó luôn có cùng phẩm tính ấy và cùng kết quả ấy; nó đặt cái cao hơn vào tay cái thấp hơn, để tình thương tối thượng luôn cũng là sự hi sinh tối thượng. Tuy vậy, sự hi sinh trọn vẹn này, sự từ bỏ bản ngã đến mức tối đa này, mang theo nó một niềm hoan hỉ sắc bén hơn bất cứ điều gì khác trên trần gian có thể ban cho, vì chỉ tình thương như thế mới giống Thượng đế, chỉ sự tự hiến như thế mới đưa con người vào tận trái tim của Đức Christ. Quả thật đúng rằng “tình thương như thế sẽ che phủ vô số tội lỗi”, rằng “những tội lỗi của nàng, dù nhiều, đã được tha thứ, vì nàng đã yêu nhiều.”

There is a beautiful reference to this state of closest union in Light on the Path, where it is written: “‘My peace I give unto you’ can only be said by the Master to the beloved disciples who are as himself.” And so these are they who have the inestimable privilege of being able to pass on that peace to others in all its fullness. Any accepted pupil of the Master has the right and the duty to bless in his Name, and a splendid outpouring of the Master’s power will assuredly follow his effort to do so. Especially should he give that blessing mentally whenever he enters a house: “May the blessing of the Master rest on this house and on all who live therein.” But the Son of the Master can give the very touch of his intimate presence, a fuller and a greater peace. He who is a Son of the Master either is or soon will be a member of the Great White Brotherhood also; and that, as we have said, gives the power to wield an even greater blessing, though both are appropriate, each in its several place.

Có một đoạn tham chiếu đẹp đẽ về trạng thái hợp nhất gần gũi nhất này trong Ánh sáng trên Đường Đạo, nơi có viết: “‘Bình an của Ta, Ta ban cho các con’ chỉ có thể được Chân sư nói với các đệ tử yêu dấu, những người giống như chính Ngài.” Và như vậy, đây là những người có đặc ân vô giá là có thể truyền bình an ấy cho kẻ khác trong trọn vẹn sự viên mãn của nó. Bất kỳ môn đồ được chấp nhận nào của Chân sư đều có quyền và bổn phận ban phúc trong Danh Ngài, và một lần tuôn đổ huy hoàng của quyền năng Chân sư chắc chắn sẽ đi theo nỗ lực ấy của y. Đặc biệt y nên ban phúc lành ấy bằng trí tuệ mỗi khi y bước vào một ngôi nhà: “Mong phúc lành của Chân sư an trú trên ngôi nhà này và trên tất cả những ai sống trong đó.” Nhưng Con của Chân sư có thể ban chính sự chạm đến của hiện diện thân mật của Ngài, một bình an đầy đủ hơn và lớn lao hơn. Người nào là Con của Chân sư thì hoặc đã là, hoặc sẽ sớm là, một thành viên của Thánh Đoàn; và điều đó, như chúng ta đã nói, ban cho y quyền năng vận dụng một phúc lành còn lớn hơn nữa, dù cả hai đều thích hợp, mỗi thứ trong vị trí riêng của nó.

I well remember giving each of these on different occasions to a great Angel of the neighbourhood with whom I have the honour to be well acquainted. Passing close to his territories in a vessel I gave him once as a greeting the full blessing of my Master, and it was indeed beautiful to see the way in which he received it, bowing profoundly and showing his appreciation by a lovely soft glow of holiness and uttermost devotion. Another day under similar circumstances I gave him the blessing of the Brotherhood, and instantly every power of that great Angel flashed out in glad response, and the whole of his territory lit up. It was as though a soldier had leapt to attention, as though everything, not only within himself but in all the thousands of minor creatures working under him, had suddenly been vivified and raised to its highest power. All nature instantly responded. You see, my Master, however deeply reverenced by him, is not his Master, but my King is his King, for there is but One.

Tôi còn nhớ rõ đã ban mỗi phúc lành này vào những dịp khác nhau cho một Thiên Thần vĩ đại trong vùng lân cận, vị mà tôi có vinh dự được quen biết rõ. Một lần, khi đi ngang gần lãnh địa của Ngài trên một con tàu, tôi đã ban cho Ngài như một lời chào phúc lành trọn vẹn của Chân sư tôi, và quả thật thật đẹp khi thấy cách Ngài tiếp nhận nó, cúi mình sâu và biểu lộ sự trân trọng bằng một ánh sáng dịu dàng đáng yêu của sự thánh thiện và lòng sùng kính tột cùng. Một ngày khác, trong hoàn cảnh tương tự, tôi ban cho Ngài phúc lành của Huynh đệ Đoàn, và tức khắc mọi quyền năng của vị Thiên Thần vĩ đại ấy lóe sáng trong đáp ứng hoan hỉ, và toàn bộ lãnh địa của Ngài bừng sáng. Như thể một người lính đã bật đứng nghiêm, như thể mọi sự, không chỉ trong chính Ngài mà cả trong hàng ngàn sinh linh nhỏ hơn đang làm việc dưới quyền Ngài, đột nhiên được tiếp sinh lực và nâng lên đến quyền năng cao nhất của chúng. Toàn thể thiên nhiên tức khắc đáp ứng. Bạn thấy đó, Chân sư của tôi, dù được Ngài tôn kính sâu xa đến đâu, cũng không phải là Chân sư của Ngài, nhưng Đức Vua của tôi là Đức Vua của Ngài, vì chỉ có Một.

The Level of Initiation

Cấp Độ Điểm Đạo

The question as to whether a man is approaching fitness for Initiation involves three separate sets of considerations, all depending upon one another. The first is as to whether he is in possession of a sufficient amount of the necessary qualifications, as laid down in At The Feet of the Master, and that means that he must have a minimum of all, and very much more than a minimum of some of them. To illustrate this, think for a moment of the method adopted in marking papers at certain examinations. It is determined beforehand by the examiners that no candidate shall be allowed to pass who falls, below a certain minimum in each of the subjects; but the percentage required in each subject is very low—say twenty-five per cent. Anyone who fails to secure twenty-five per cent of the marks in any subject will fail; but nevertheless one who secures exactly that amount in each of the subjects will not succeed, for not only are separate minima set for the different subjects, but there is also a total minimum—let us say forty per cent. One therefore who falls as low as twenty-five or thirty per cent in one or two of his subjects must make very much more than that in several other subjects in order to attain the average required.

Câu hỏi liệu một người có đang tiến gần đến sự thích hợp cho Điểm đạo hay không bao hàm ba nhóm xem xét riêng biệt, tất cả đều tùy thuộc lẫn nhau. Thứ nhất là liệu y có sở hữu một lượng đủ các phẩm chất cần thiết, như đã nêu trong Dưới Chân Thầy, hay không; và điều đó có nghĩa là y phải có mức tối thiểu của tất cả, và nhiều hơn mức tối thiểu rất nhiều ở một số phẩm chất. Để minh họa điều này, hãy nghĩ trong chốc lát về phương pháp được dùng để chấm bài trong một số kỳ thi. Các giám khảo quyết định trước rằng không ứng viên nào được phép đậu nếu thấp hơn một mức tối thiểu nhất định trong mỗi môn; nhưng tỉ lệ phần trăm yêu cầu ở mỗi môn rất thấp—chẳng hạn hai mươi lăm phần trăm. Bất cứ ai không đạt được hai mươi lăm phần trăm điểm ở bất kỳ môn nào sẽ trượt; tuy nhiên, người đạt đúng mức ấy ở mỗi môn vẫn sẽ không đậu, vì không chỉ có các mức tối thiểu riêng cho các môn khác nhau, mà còn có một mức tối thiểu tổng cộng—giả sử bốn mươi phần trăm. Do đó, người nào tụt xuống mức thấp như hai mươi lăm hay ba mươi phần trăm ở một hoặc hai môn của mình phải đạt nhiều hơn thế rất nhiều ở vài môn khác để đạt mức trung bình yêu cầu.

This is precisely the method adopted in Occultism; there must be a certain amount of each of these qualifications present in the successful candidate, but he must have very thoroughly developed some of them. A candidate cannot succeed if he be entirely lacking in discrimination; yet if he shows much less of that than he should, an overflowing flood of love may perhaps be accepted as atoning for it. Secondly, the ego must have so trained his lower vehicles that he can function perfectly through them when he wishes to do so; he must have effected what in our earlier Theosophical literature was called the junction of the lower and higher self; and thirdly, he must be strong enough to stand the great strain involved, which extends even to the physical body.

Đây chính xác là phương pháp được áp dụng trong Huyền bí học; phải có một lượng nhất định của mỗi phẩm chất này hiện diện trong ứng viên thành công, nhưng y phải phát triển một số phẩm chất trong đó rất triệt để. Một ứng viên không thể thành công nếu y hoàn toàn thiếu phân biện; tuy nhiên nếu y biểu lộ phẩm chất đó ít hơn nhiều so với mức nên có, thì một dòng lũ tình thương tràn đầy có lẽ có thể được chấp nhận như sự bù đắp cho thiếu sót ấy. Thứ hai, chân ngã phải đã rèn luyện các hiện thể thấp của y đến mức y có thể hoạt động hoàn hảo qua chúng khi y muốn làm như vậy; y phải thực hiện được điều mà trong văn liệu Thông Thiên Học trước đây của chúng ta gọi là sự nối kết giữa phàm ngã và Bản Ngã Cao Siêu; và thứ ba, y phải đủ mạnh để chịu được sức căng lớn lao liên quan, sức căng ấy lan tới cả thể xác.

As to the level of progress at which he will be initiated, there is room for very great variety. It would be a mistake to suppose that all Initiates are equal in development, just as it would be unsafe to assume that all men who have taken the degree of Master of Arts are equal in knowledge. It is quite possible that a candidate might have done exceedingly well in many of the qualities required, and be far beyond the total minimum, and yet be seriously deficient and below the minimum standard in one subject; it would then, of course, be necessary for him to wait till he had the minimum in that neglected subject, and no doubt while he was acquiring that he would be developing the others still further.

Về cấp độ tiến bộ mà tại đó y sẽ được điểm đạo, có chỗ cho sự khác biệt rất lớn. Sẽ là một sai lầm nếu cho rằng tất cả các điểm đạo đồ đều ngang nhau về phát triển, cũng như sẽ không an toàn nếu giả định rằng tất cả những người đã nhận học vị Thạc sĩ Văn chương đều ngang nhau về tri thức. Rất có thể một ứng viên đã làm cực kỳ tốt ở nhiều phẩm tính được yêu cầu, và vượt xa mức tối thiểu tổng cộng, nhưng lại thiếu hụt nghiêm trọng và thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu ở một môn; khi ấy, dĩ nhiên, y cần phải chờ cho đến khi đạt mức tối thiểu ở môn bị bỏ bê đó, và không nghi ngờ gì trong khi đang đạt được điều ấy, y sẽ còn phát triển thêm các phẩm tính khác.

It is therefore obvious that while there is a certain attainment required for Initiation, some of those who are presented for it may have achieved far more than that in some directions. We see, too, that there is likely to be considerable variation in the interval between Initiations. One man who has just now been able to take the first may nevertheless possess a considerable share of the qualifications for the second; therefore for him the interval between the two might be unusually short. On the other hand, a candidate who had only just sufficient strength in all directions to enable him to pass through the first, would have slowly to develop within himself all the additional faculties and knowledge necessary for the second, so his interval would probably be long.

Do đó, rõ ràng là trong khi có một thành tựu nhất định được yêu cầu cho Điểm đạo, một số người được trình diện cho điều đó có thể đã đạt được nhiều hơn mức ấy rất nhiều theo một số hướng. Chúng ta cũng thấy rằng rất có khả năng có sự khác biệt đáng kể trong khoảng cách giữa các lần điểm đạo. Một người vừa mới có thể nhận lần thứ nhất, tuy vậy, có thể sở hữu một phần đáng kể các phẩm chất cho lần thứ hai; do đó đối với y, khoảng cách giữa hai lần có thể ngắn khác thường. Mặt khác, một ứng viên chỉ vừa đủ sức ở mọi phương diện để có thể vượt qua lần thứ nhất, sẽ phải chậm rãi phát triển trong chính mình tất cả các năng lực và tri thức bổ sung cần thiết cho lần thứ hai, nên khoảng cách của y có lẽ sẽ dài.

The Present Opportunity

Cơ Hội Hiện Nay

We have now entered upon a period in the world’s history in which progress at all levels of evolution can be very rapid, because the near Coming of the World-Teacher has set up so strong a tide of thought and feeling about spiritual things, all in the direction of progress, that anyone who now makes an effort along that line finds himself swimming with the current and advancing swiftly. This refers not merely to the current of human thought and feeling; in fact, human thought is but a very small part of that tide, for the human beings who know anything definite as to the nearness of the Coming are but a minority. What counts most is the tremendously powerful thought and feeling of the vast hosts of the great Angels who know of the plan, and are trying in every way to help it.

Giờ đây chúng ta đã bước vào một thời kỳ trong lịch sử thế giới, trong đó sự tiến bộ ở mọi cấp độ tiến hoá có thể diễn ra rất nhanh, bởi sự Đến gần của Đức Chưởng Giáo đã tạo nên một dòng triều tư tưởng và cảm xúc về những điều tinh thần mạnh mẽ đến thế, tất cả đều hướng về phía tiến bộ, đến nỗi bất cứ ai hiện nay nỗ lực theo đường hướng ấy đều thấy mình đang bơi cùng dòng và tiến nhanh. Điều này không chỉ nói đến dòng chảy tư tưởng và cảm xúc của nhân loại; thật ra, tư tưởng nhân loại chỉ là một phần rất nhỏ của dòng triều ấy, vì những con người biết điều gì đó xác định về sự gần kề của cuộc Đến ấy chỉ là thiểu số. Điều có trọng lượng nhất là tư tưởng và cảm xúc cực kỳ mạnh mẽ của những đạo quân rộng lớn gồm các Thiên Thần vĩ đại, những vị biết Thiên Cơ và đang cố gắng bằng mọi cách để trợ giúp Thiên Cơ ấy.

Such rapid progress is, however, a very decided strain—a thing which few aspirants sufficiently realize. The student of occultism who sets before himself the idea of hastening his development will do well to remember that one of the necessities is good physical health. He wishes to make in one life the progress which under ordinary circumstances would be distributed over twenty or more, and as the amount that has to be done is the same in either case (for no reduction whatever has been made in the standard of the requirements for Initiation) it is obvious that he must work all his vehicles very much harder if he is to succeed.

Tuy nhiên, sự tiến bộ nhanh chóng như vậy là một sức căng rất rõ rệt—một điều mà ít người chí nguyện nhận ra đầy đủ. Đạo sinh huyền bí học đặt trước mình ý tưởng thúc nhanh sự phát triển của y sẽ làm tốt nếu nhớ rằng một trong những điều cần thiết là sức khỏe hồng trần tốt. Y muốn trong một đời tạo được sự tiến bộ mà trong hoàn cảnh bình thường sẽ phân bố qua hai mươi đời hoặc hơn, và vì khối lượng cần phải thực hiện là như nhau trong cả hai trường hợp (vì không hề có sự giảm bớt nào trong tiêu chuẩn các yêu cầu cho Điểm đạo), nên hiển nhiên y phải bắt tất cả các hiện thể của mình làm việc vất vả hơn rất nhiều nếu y muốn thành công.

It is possible on the physical plane to shorten the period of study usually assigned to any given examination; but a man can do it only by putting a far greater tax upon his brain, his attention, his eyesight, his power of endurance; and we all know how fatally easy it is for him to strain himself in any one of these directions, and thereby seriously to injure his physical health. Similar conditions attend upon the efforts to hasten spiritual evolution; it can be done, and it has been done, and is a very fine thing for any man to do, always with this proviso, that he must watch very carefully against overstrain, lest in the ultimate he should delay his development instead of advancing it. It is not sufficient to have good physical health at the beginning of one’s endeavour; it is also necessary to preserve it until the end, for the progress itself is but a means to an end, and we try to develop ourselves not that we may become great and wise, but that we may have the power and the knowledge to work for humanity to the best effect. We must never forget that Occultism is above all the apotheosis of common sense.

Trên cõi hồng trần, có thể rút ngắn thời kỳ học tập thường được dành cho một kỳ thi nhất định; nhưng một người chỉ có thể làm điều đó bằng cách đặt gánh nặng lớn hơn nhiều lên bộ não, sự chú ý, thị lực và sức chịu đựng của mình; và tất cả chúng ta đều biết rằng y dễ dàng nguy hiểm đến mức nào khi làm mình quá căng thẳng theo bất kỳ hướng nào trong số đó, và do đó gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe hồng trần của mình. Những điều kiện tương tự đi kèm các nỗ lực thúc nhanh sự tiến hoá tinh thần; điều đó có thể làm được, đã từng được làm, và là một điều rất tốt đẹp để bất kỳ người nào thực hiện, luôn với điều kiện này: y phải rất cẩn thận đề phòng sự quá căng thẳng, kẻo cuối cùng y lại trì hoãn sự phát triển của mình thay vì thúc đẩy nó. Có sức khỏe hồng trần tốt vào lúc bắt đầu nỗ lực của mình là chưa đủ; cũng cần phải giữ gìn nó cho đến cuối cùng, vì chính sự tiến bộ chỉ là phương tiện hướng đến một mục đích, và chúng ta cố gắng phát triển chính mình không phải để trở nên vĩ đại và minh triết, mà để có quyền năng và tri thức làm việc cho nhân loại một cách hiệu quả nhất. Chúng ta không bao giờ được quên rằng Huyền bí học trên hết là sự tôn vinh lẽ thường.

Young Initiates

Các Điểm Đạo Đồ Trẻ Tuổi

Hitherto, except very rarely, persons have been initiated only after their physical bodies have come to mature age, and after they have proved by their activities in life that their hearts are pledged to the work of the Logos. During the last few years, however, certain egos whose bodies are still young have been given the privilege of Initiation, and we understand that this has been done in order that when the Lord comes he may find a band of young workers ready to serve him. On his arrival the World-Teacher will wield the wondrous consciousness of the Brotherhood, and the more helpers dwelling in physical bodies that he can draw round him at any given place, the more will his work be facilitated. He can use the services of any ordinary man of the world to the extent of that man’s capacity; but one who is already an accepted pupil of the Master would be of far more use to him in many directions than the man of the world could ever be; and of almost infinitely greater use still would be one who had passed the portal of Initiation and had awakened all the multiple links which bind together the members of the Brotherhood. It is always the ego who is initiated; the age of the physical body which it happens to be holding at a given time has little to do with the case.

Cho đến nay, ngoại trừ rất hiếm, con người chỉ được điểm đạo sau khi thể xác của họ đã đạt đến tuổi trưởng thành, và sau khi họ đã chứng minh bằng các hoạt động trong đời sống rằng trái tim họ đã hiến dâng cho công việc của Thượng đế. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, một số chân ngã có thể xác còn trẻ đã được ban đặc ân Điểm đạo, và chúng tôi hiểu rằng điều này được thực hiện để khi Đức Chúa đến, Ngài có thể thấy một nhóm người hoạt động trẻ tuổi sẵn sàng phụng sự Ngài. Khi Ngài đến, Đức Chưởng Giáo sẽ vận dụng tâm thức kỳ diệu của Huynh đệ Đoàn, và càng có nhiều trợ thủ cư ngụ trong thể xác mà Ngài có thể quy tụ quanh Ngài tại bất kỳ nơi nào, công việc của Ngài càng được thuận lợi. Ngài có thể dùng sự phục vụ của bất kỳ người đời bình thường nào trong phạm vi khả năng của người ấy; nhưng một người đã là môn đồ được chấp nhận của Chân sư sẽ hữu ích hơn nhiều cho Ngài theo nhiều hướng so với người đời có thể hữu ích; và hữu ích gần như vô cùng hơn nữa sẽ là người đã vượt qua cổng Điểm đạo và đã đánh thức tất cả những mối liên kết đa dạng nối kết các thành viên của Huynh đệ Đoàn với nhau. Luôn luôn chính chân ngã là người được điểm đạo; tuổi của thể xác mà nó tình cờ đang nắm giữ tại một thời điểm nhất định chẳng liên quan bao nhiêu đến trường hợp này.

In all cases when young people have been initiated, elder members of the Brotherhood living near to them or in touch with them in the physical body have undertaken to assist and guide them. This is necessary, because of the great responsibility that Initiation brings along with its expansion of consciousness and additional faculty and power. A wrong action or a false step on the part of an Initiate involves bigger karmic consequences than a similar action on the part of one who is not a member of the Brotherhood. Therefore perhaps it will be well to include here a few directions for these younger people.

Trong mọi trường hợp khi những người trẻ tuổi đã được điểm đạo, các thành viên lớn tuổi hơn của Huynh đệ Đoàn sống gần họ hoặc liên hệ với họ trong thể xác đều đảm nhận việc trợ giúp và hướng dẫn họ. Điều này là cần thiết, vì trách nhiệm lớn lao mà Điểm đạo mang lại cùng với sự mở rộng tâm thức và các năng lực, quyền năng bổ sung của nó. Một hành động sai lầm hay một bước đi sai lạc của một điểm đạo đồ kéo theo những hậu quả nghiệp quả lớn hơn so với một hành động tương tự của người không phải là thành viên Huynh đệ Đoàn. Do đó, có lẽ tốt hơn là đưa vào đây vài chỉ dẫn dành cho những người trẻ tuổi này.

Each one should ever remember that he was initiated because in past lives, and perhaps in the present one, he has helped the world to a certain requisite degree, and it is hoped that he will continue in that path and become an ever larger channel for the life of the Logos. It is because of the probability of his increased usefulness that he is admitted to Initiation, and at the ceremony he takes the pledge, not only as the ego but as the Monad, that he will make it his life-work to pour himself out in blessing, even as the Logos is continually streaming forth his love. He must therefore each day and hour keep this pledge in mind and subserve all things to it. His karma from the past gives him various personal characteristics and impulses; he must take heed lest these drive him to think of himself and his own well-being, rather than of the greater self and the welfare of the world.

Mỗi người phải luôn nhớ rằng y được điểm đạo vì trong các đời quá khứ, và có lẽ trong đời hiện tại, y đã giúp thế gian đến một mức độ cần thiết nhất định, và hy vọng rằng y sẽ tiếp tục trên con đường ấy và trở thành một kênh ngày càng lớn hơn cho sự sống của Thượng đế. Chính vì khả năng hữu dụng gia tăng của y mà y được tiếp nhận vào Điểm đạo, và tại nghi lễ ấy y phát nguyện, không chỉ với tư cách là chân ngã mà với tư cách là Chân thần, rằng y sẽ biến công việc của đời mình thành việc tuôn đổ chính mình trong phúc lành, cũng như Thượng đế liên tục tuôn chảy tình thương của Ngài. Do đó, mỗi ngày và mỗi giờ y phải giữ lời nguyện này trong trí và đặt mọi sự phụ thuộc vào nó. Nghiệp quả của y từ quá khứ trao cho y nhiều đặc tính và xung lực cá nhân khác nhau; y phải cẩn trọng kẻo những điều này thúc đẩy y nghĩ đến chính mình và sự an vui của riêng mình, hơn là đến bản ngã lớn hơn và phúc lợi của thế gian.

Before he can undertake the larger work awaiting him, the youthful Initiate has often to prepare himself by an ordinary training in College and University. In that case he will be plunged into circumstances of vigorous activity and many self-centred interests. Life surrounds him with many temptations, and with occasions tending to make him forget his pledge to the Brotherhood. Through them all he must have a clearly defined attitude, that he has thrown in his lot with the aims of the Brotherhood. In that life in the world on every occasion, whether of study, recreation or amusement, he must definitely hold the thought: “Is this that I am going to do likely to make me better equipped for the Master’s work, or a better channel to spread love and happiness?”

Trước khi có thể đảm nhận công việc lớn hơn đang chờ y, điểm đạo đồ trẻ tuổi thường phải chuẩn bị chính mình bằng một sự đào tạo thông thường ở Cao đẳng và Đại học. Trong trường hợp ấy, y sẽ bị đặt vào những hoàn cảnh hoạt động mạnh mẽ và nhiều mối quan tâm tập trung vào bản thân. Đời sống bao quanh y bằng nhiều cám dỗ, và bằng những dịp có xu hướng khiến y quên lời nguyện của mình với Huynh đệ Đoàn. Qua tất cả những điều ấy, y phải có một thái độ được xác định rõ ràng, rằng y đã gắn vận mệnh của mình với các mục tiêu của Huynh đệ Đoàn. Trong đời sống ấy giữa thế gian, trong mọi dịp, dù là học tập, giải trí hay vui chơi, y phải dứt khoát giữ tư tưởng: “Điều tôi sắp làm này có khả năng khiến tôi được trang bị tốt hơn cho công việc của Chân sư, hay trở thành một kênh tốt hơn để lan tỏa tình thương và hạnh phúc không?”

He must always remember that the Brotherhood has the first claim on his services, and must never put himself in any position which makes it impossible for him to fulfil his duty to it. It is not intended that he should live the life of a hermit; but while he lives that life in society which will give him the growth he requires, he must all the time watch to see whether it is making him more of a channel for the Logos. Henceforth for him any experience, however pleasant and harmless, which cannot make him a fuller channel of the Logos, or give an opportunity for service, is valueless to him, and is so much waste of time. He should try to take advantage of every opportunity to help that he sees, and to learn such things as will make him useful.

Y phải luôn nhớ rằng Huynh đệ Đoàn có quyền đòi hỏi trước tiên đối với sự phục vụ của y, và y không bao giờ được đặt mình vào bất kỳ vị trí nào khiến y không thể hoàn thành bổn phận của mình đối với Huynh đệ Đoàn. Không có ý định rằng y phải sống đời ẩn sĩ; nhưng trong khi y sống đời sống xã hội sẽ đem lại cho y sự tăng trưởng mà y cần, y phải luôn luôn quan sát xem liệu nó có làm cho y trở thành một kênh lớn hơn cho Thượng đế hay không. Từ nay trở đi, đối với y, bất kỳ kinh nghiệm nào, dù dễ chịu và vô tổn hại đến đâu, nếu không thể làm cho y trở thành một kênh đầy đủ hơn của Thượng đế, hoặc đem lại một cơ hội phụng sự, thì đều vô giá trị đối với y, và chỉ là lãng phí thời gian. Y nên cố gắng tận dụng mọi cơ hội trợ giúp mà y thấy, và học những điều sẽ làm cho y hữu ích.

The Initiate Brother to All

Điểm Đạo Đồ Là Huynh Đệ của Tất Cả

When the pupil takes the great step of Initiation and becomes a member of the Brotherhood, he also becomes, in a far greater and more special sense than before, the brother of every one of his fellowmen. This does not mean that he must direct their lives, and try to guide them with criticism. It is not his business in life to criticise but to encourage; but if he sees reason to make any suggestion, he must do it with the very greatest care and courtesy. The world does not see the higher members of the Brotherhood; therefore it is apt to judge that organization by the junior members who come within its purview. That is what is meant by the remark in the Charge at Initiation, that the neophyte holds the honour of the Brotherhood in his hands.

Khi môn đồ bước bước vĩ đại của Điểm đạo và trở thành một thành viên của Huynh đệ Đoàn, y cũng trở thành, theo một ý nghĩa lớn lao hơn và đặc biệt hơn nhiều so với trước kia, người huynh đệ của mọi đồng loại. Điều này không có nghĩa là y phải chỉ đạo đời sống của họ, và cố gắng hướng dẫn họ bằng sự phê bình. Công việc của y trong đời không phải là phê bình mà là khích lệ; nhưng nếu y thấy có lý do để đưa ra bất kỳ đề nghị nào, y phải làm điều đó với sự cẩn trọng và lịch sự lớn nhất. Thế gian không nhìn thấy các thành viên cao hơn của Huynh đệ Đoàn; do đó nó có khuynh hướng phán xét tổ chức ấy qua các thành viên cấp thấp hơn lọt vào tầm nhìn của nó. Đó là ý nghĩa của lời nhận xét trong Huấn Lệnh lúc Điểm đạo, rằng người sơ cơ nắm giữ danh dự của Huynh đệ Đoàn trong tay mình.

It is his duty to stream forth love and benediction, so that every place in which he happens to be is happier because of his presence. He must therefore steadily turn outwards. Henceforth it does not matter to him what judgment the world gives on his actions, but only what judgment the Brotherhood gives. Whether he is popular or unpopular with the world matters not at all, if through all his conduct he has been loyal to the ideals placed before him. Some senior members of the Brotherhood may desire to use him at any moment, wherever he happens to be, and sometimes without his knowing it in the brainconsciousness, but he cannot be used if, at the moment when he is needed, he is found brooding over his own affairs and turned inwards, not outwards to the world. The supreme need for him is the building of character, so that, when his Master looks at him he will find him thinking of the world’s welfare, and not whether that world is giving him happiness or misery.

Bổn phận của y là tuôn chảy tình thương và phúc lành, để mọi nơi mà y tình cờ hiện diện đều hạnh phúc hơn nhờ sự hiện diện của y. Do đó, y phải kiên định hướng ra bên ngoài. Từ nay trở đi, đối với y, điều thế gian phán xét về các hành động của y không quan trọng, mà chỉ điều Huynh đệ Đoàn phán xét mới quan trọng. Việc y được thế gian ưa chuộng hay không được ưa chuộng hoàn toàn không quan trọng, nếu trong toàn bộ hành vi của mình y đã trung thành với các lý tưởng được đặt trước y. Một số thành viên cao cấp của Huynh đệ Đoàn có thể muốn dùng y vào bất kỳ khoảnh khắc nào, bất cứ nơi nào y tình cờ có mặt, và đôi khi không để y biết trong tâm thức bộ não; nhưng y không thể được dùng nếu, vào khoảnh khắc y cần đến, y bị thấy đang ủ ê về các việc riêng của mình và quay vào trong, không hướng ra thế gian. Nhu cầu tối thượng đối với y là lập hạnh, để khi Chân sư của y nhìn vào y, Ngài sẽ thấy y đang nghĩ đến phúc lợi của thế gian, chứ không nghĩ liệu thế gian ấy đang đem đến cho y hạnh phúc hay đau khổ.

Chapter 8 — Chương 8

The Ego — Chân Ngã

The Birth of the Ego

Sự Ra Đời của Chân Ngã

IN ORDER that the further steps on the Path may be clearly understood, it is necessary at this point to consider the ego, and the way in which he has awakened and put forth his powers to bring the personality into harmony with himself, and to reach up to the buddhic plane and realize his unity with all that lives.

ĐỂ các bước xa hơn trên Đường Đạo có thể được thấu hiểu rõ ràng, vào điểm này cần xem xét chân ngã, và cách y đã thức tỉnh và phát huy các quyền năng của y để đưa phàm ngã vào sự hài hòa với chính mình, và vươn lên đến cõi Bồ đề để nhận ra sự hợp nhất của y với tất cả những gì đang sống.

In Man Visible and Invisible and The Christian Creed I published a diagram which I reproduce here, illustrating the Three Outpourings of the Divine Life in our evolutionary scheme. At the top of the diagram appear three circles symbolizing the Three Aspects of the Logos, the three Persons of the Blessed Trinity; and from each of them a line runs down, crossing at right angles the horizontal lines which signify the seven planes of nature. That from the lowest circle (the Third Aspect) is drawn straight down the middle of the diagram, growing heavier and darker as it descends, showing how the Holy spirit vivifies the matter of the various planes, first building their respective atoms, and then aggregating those atoms into elements.

Trong Con Người Hữu Hình và Vô HìnhTín Điều Kitô Giáo, tôi đã công bố một sơ đồ mà tôi tái hiện ở đây, minh họa Ba Lần Tuôn Đổ của Sự Sống Thiêng Liêng trong hệ tiến hoá của chúng ta. Ở phía trên sơ đồ xuất hiện ba vòng tròn tượng trưng cho Ba Phương diện của Thượng đế, ba Ngôi của Tam Vị Chân Phúc; và từ mỗi vòng tròn có một đường chạy xuống, cắt vuông góc các đường ngang biểu thị bảy cõi của thiên nhiên. Đường từ vòng tròn thấp nhất (Phương diện thứ Ba) được vẽ thẳng xuống giữa sơ đồ, trở nên nặng hơn và tối hơn khi nó đi xuống, cho thấy cách Chúa Thánh Thần tiếp sinh lực cho vật chất của các cõi khác nhau, trước hết xây dựng các nguyên tử tương ứng của chúng, rồi tập hợp các nguyên tử ấy thành các nguyên tố.

Into that matter so vivified the Second Outpouring comes down from the circle typifying God the Son, and the Divine Life of which that Outpouring consists draws that matter together into forms which it can inhabit, and thus incarnates and makes bodies or vehicles for itself. At its lowest level of materiality that Life ensouls the mineral kingdom, and as it evolves it gradually becomes definite enough to ensoul the vegetable kingdom, and still later the animal. When it has risen to the highest level of the animal kingdom a very remarkable change takes place, and an entirely new factor is introduced—that of the Third Outpouring, which comes from the highest circle, the First Aspect of the Logos, commonly called God the Father.

Vào vật chất đã được tiếp sinh lực như thế, Lần Tuôn Đổ Thứ Hai đi xuống từ vòng tròn tiêu biểu cho Thượng đế Ngôi Con, và Sự Sống Thiêng Liêng cấu thành Lần Tuôn Đổ ấy kéo vật chất đó lại thành các hình tướng mà nó có thể cư ngụ, và do đó nhập thể, tạo nên các thể hay vận cụ cho chính nó. Ở cấp độ vật chất thấp nhất của nó, Sự Sống ấy phú linh giới kim thạch, và khi tiến hoá, nó dần trở nên đủ xác định để phú linh giới thực vật, rồi về sau giới động vật. Khi nó đã vươn lên đến cấp độ cao nhất của giới động vật, một sự thay đổi rất đáng chú ý diễn ra, và một yếu tố hoàn toàn mới được đưa vào—đó là Lần Tuôn Đổ Thứ Ba, đến từ vòng tròn cao nhất, Phương diện Thứ Nhất của Thượng đế, thường được gọi là Thượng đế Ngôi Cha.

part-iii-01.png

Figure 3- Diagram 2

Hình 3- Sơ Đồ 2

That force which has hitherto been the ensouler now becomes in its turn the ensouled, and the new force from the First Person seizes upon what has heretofore been the soul of the animal, and actually makes it into a body for itself, though a body of matter so exceedingly fine as to be utterly inappreciable to our physical senses. Thus is born the ego in his causal body, and he at once draws into himself the result of all the experience that has been gained by that animal soul in all the aeons of its previous development, so that nothing of the qualities which have been acquired in the course of its evolution is lost.

Mãnh lực vốn cho đến nay là thực thể phú linh, giờ đến lượt nó trở thành cái được phú linh, và mãnh lực mới từ Ngôi Thứ Nhất nắm lấy điều trước đây là linh hồn của con vật, và thực sự biến nó thành một thể cho chính mình, dù là một thể bằng vật chất tinh tế đến mức vượt hẳn ngoài khả năng nhận biết của các giác quan hồng trần của chúng ta. Như vậy chân ngã được sinh ra trong thể nguyên nhân của y, và y lập tức thu hút vào chính mình kết quả của toàn bộ kinh nghiệm đã được linh hồn động vật ấy thu thập qua mọi đại kiếp trong sự phát triển trước đó của nó, để không một phẩm tính nào đã được đạt được trong tiến trình tiến hoá của nó bị mất đi.

The Monad and the Ego

Chân Thần và Chân Ngã

What then is this wonderful force that rushes from the Highest Aspect of the Solar Logos which is known to us? It is in very truth the actual Life of God himself. So, you may say, are the First and Second Outpourings. That is quite true, but they have come down slowly and gradually through all the sub-planes, drawing round themselves the matter of each of these, and enmeshing themselves in it so thoroughly that it is scarcely possible to discern them for what they are, to recognize them as Divine Life at all. But this Third Outpouring flashes straight down from its source without involving itself in any way in the intermediate matter. It is the pure white light, uncontaminated by anything through which it has passed.

Vậy mãnh lực kỳ diệu này, tuôn tràn từ Phương diện Cao Nhất của Thái dương Thượng đế mà chúng ta biết, là gì? Trong sự thật, đó chính là Sự Sống thực sự của chính Thượng đế. Vậy, các bạn có thể nói, Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất và Thứ Hai cũng vậy. Điều đó hoàn toàn đúng, nhưng chúng đã đi xuống chậm rãi và dần dần qua tất cả các cõi phụ, kéo quanh mình vật chất của mỗi cõi ấy, và tự vướng mình vào vật chất ấy một cách triệt để đến nỗi hầu như không thể nhận ra chúng đúng như chúng là, không thể nhận biết chúng là Sự Sống Thiêng Liêng chút nào. Nhưng Lần Tuôn Đổ Thứ Ba này lóe thẳng xuống từ nguồn của nó mà không hề tự dính líu theo bất kỳ cách nào vào vật chất trung gian. Đó là ánh sáng trắng tinh khiết, không bị ô nhiễm bởi bất cứ điều gì nó đã đi qua.

Although for clearness’ sake our diagram shows this Third Stream of the Divine Life as coming forth directly from the Logos, it has in fact issued forth from him long ago, and is hovering at an intermediate point in the second of our planes. When hovering at that level it is called the Monad, and perhaps the least misleading manner in which we can image it to ourselves is to think of it as a part of God—a part, but of That which cannot be divided—a paradox, truly, to our mortal intellect; yet enshrining an eternal truth which is far beyond our comprehension.

Dù vì mục đích rõ ràng, sơ đồ của chúng ta cho thấy Dòng Thứ Ba của Sự Sống Thiêng Liêng này xuất phát trực tiếp từ Thượng đế, thật ra nó đã xuất lộ từ Ngài từ lâu, và đang lơ lửng tại một điểm trung gian trong cõi thứ hai của chúng ta. Khi lơ lửng ở cấp độ ấy, nó được gọi là Chân thần, và có lẽ cách ít gây hiểu lầm nhất mà chúng ta có thể hình dung về nó là nghĩ về nó như một phần của Thượng đế—một phần, nhưng của Cái không thể bị phân chia—quả là một nghịch lý đối với trí năng phàm tục của chúng ta; tuy nhiên nó chứa đựng một chân lý vĩnh cửu vượt xa sự thấu hiểu của chúng ta.

The general method of this descent of Spirit into matter seems to be always the same, though the diverse conditions of the different planes naturally produce many variations in detail. The Logos himself puts down the Monad—a tiny fragment of himself—into a level far below his own; of course such a descent must mean a most serious limitation, though it is all too far above the utmost reach of our consciousness to be described or understood. In exactly the same way the Monad puts down a tiny fragment of himself which becomes the ego; and in that case also the limitation is enormously increased. The very same thing happens once more when the ego repeats the operation and projects a minute portion of himself into the mental, the astral and the physical bodies of the man—a fragment which we call the personality.

Phương pháp chung của sự giáng xuống này của Tinh thần vào vật chất dường như luôn giống nhau, dù các điều kiện khác nhau của các cõi khác nhau tự nhiên tạo ra nhiều biến thể trong chi tiết. Chính Thượng đế đặt Chân thần—một mảnh rất nhỏ của chính Ngài—xuống một cấp độ thấp hơn Ngài rất xa; dĩ nhiên một sự giáng xuống như vậy phải hàm ý một sự giới hạn rất nghiêm trọng, dù tất cả điều ấy còn quá cao vượt quá tầm với tối đa của tâm thức chúng ta đến mức không thể được mô tả hay thấu hiểu. Cũng chính theo cách ấy, Chân thần đặt xuống một mảnh rất nhỏ của chính mình, mảnh ấy trở thành chân ngã; và trong trường hợp đó, sự giới hạn cũng tăng lên vô cùng. Chính điều tương tự lại xảy ra một lần nữa khi chân ngã lặp lại hoạt động ấy và phóng chiếu một phần cực nhỏ của chính mình vào các thể trí, thể cảm dục và thể xác của con người—một mảnh mà chúng ta gọi là phàm ngã.

This last tiny fragment is the point of consciousness which those of us who are clairvoyant can see moving about within the man. According to one system of symbology this is seen as “the golden man the size of a thumb,” who dwells in the heart; but many of us see it rather in the form of a star. I think I have always seen it myself as a brilliant star of light. A man may keep this star of consciousness where he will—that is to say, in any one of the seven principal centres of the body. Which of these is most natural to a man depends largely upon his type or Ray, and I think also upon his race and sub-race. We of the fifth sub-race of the fifth root race nearly always keep that consciousness in the brain, in the centre dependent upon the pituitary body. There are, however, men of other races to whom it comes more natural to keep it habitually in the heart, the throat or the solar plexus.

Mảnh nhỏ cuối cùng này là điểm tâm thức mà những ai trong chúng ta có thông nhãn có thể thấy đang di chuyển trong con người. Theo một hệ biểu tượng, nó được thấy như “con người vàng có kích thước bằng ngón tay cái”, cư ngụ trong trái tim; nhưng nhiều người trong chúng ta lại thấy nó dưới hình dạng một ngôi sao. Tôi nghĩ chính tôi luôn thấy nó như một ngôi sao ánh sáng rực rỡ. Một người có thể giữ ngôi sao tâm thức này ở nơi y muốn—nghĩa là, trong bất cứ một trong bảy trung tâm chính của thể. Trung tâm nào trong số này là tự nhiên nhất đối với một người tùy thuộc phần lớn vào loại hình hay cung của y, và tôi nghĩ cũng tùy thuộc vào nhân loại và giống dân phụ của y. Chúng ta thuộc giống dân phụ thứ năm của giống dân gốc thứ năm gần như luôn giữ tâm thức ấy trong bộ não, tại trung tâm tùy thuộc vào tuyến yên. Tuy nhiên, có những người thuộc các nhân loại khác mà đối với họ, việc giữ nó theo thói quen trong tim, cổ họng hoặc tùng thái dương lại tự nhiên hơn.

This star of consciousness is the representative of the ego down here in these lower planes, and as it manifests through those vehicles we call it the personality; and that is the man as he is known to his friends down here.

Ngôi sao tâm thức này là đại diện của chân ngã dưới đây trong các cõi thấp này, và khi nó biểu hiện qua các hiện thể ấy, chúng ta gọi nó là phàm ngã; và đó là con người như y được các bạn của y dưới đây biết đến.

Communication with the Personality

Giao Tiếp với Phàm Ngã

But though that personality is absolutely part of the ego—though the only life and power in it are those of the ego—it nevertheless often forgets those facts, and comes to regard itself as an entirely separate entity, and works down here for its own ends. It has always a line of communication with the ego (often called in our books the antahkarana), but it generally makes no effort to use it. In the case of ordinary people who have never studied these matters, the personality is to all intents and purposes the man, and the ego manifests himself only very rarely and partially.

Nhưng dù phàm ngã ấy tuyệt đối là một phần của chân ngã—dù sự sống và quyền năng duy nhất trong nó là của chân ngã—tuy nhiên nó thường quên các sự kiện ấy, và đi đến chỗ xem chính mình là một thực thể hoàn toàn riêng biệt, rồi hoạt động dưới đây cho các mục đích riêng của nó. Nó luôn có một đường liên lạc với chân ngã (trong các sách của chúng ta thường được gọi là antahkarana), nhưng nói chung nó không nỗ lực sử dụng đường ấy. Trong trường hợp những người bình thường chưa bao giờ nghiên cứu các vấn đề này, phàm ngã trên thực tế là con người, và chân ngã chỉ biểu hiện chính mình rất hiếm khi và một phần.

Man’s evolution in its earlier stages consists in the opening up of this line of communication, so that the ego may be increasingly able to assert himself through it, and finally entirely to dominate the personality, so that it may have no separate thought or will, but may be merely (as it should be) an expression of the ego on these lower planes. It must, of course, be understood that the ego, belonging as he does to an altogether higher plane, can never fully express himself down here; the most for which we can hope is that the personality will contain nothing which is not intended by the ego—that it will express as much of him as can be expressed in this lower world.

Sự tiến hóa của con người trong những giai đoạn đầu gồm ở việc mở ra tuyến giao tiếp này, để chân ngã có thể ngày càng khẳng định chính mình qua đó, và cuối cùng hoàn toàn chế ngự phàm ngã, khiến phàm ngã không còn tư tưởng hay ý chí riêng biệt nào, mà chỉ đơn thuần là, như đúng lẽ phải vậy, một biểu hiện của chân ngã trên các cõi thấp này. Dĩ nhiên, cần thấu hiểu rằng chân ngã, vì thuộc về một cõi hoàn toàn cao hơn, không bao giờ có thể biểu hiện trọn vẹn chính mình ở dưới này; điều tối đa mà chúng ta có thể hy vọng là phàm ngã sẽ không chứa đựng điều gì không do chân ngã chủ định — rằng nó sẽ biểu hiện được nhiều nhất có thể về chân ngã trong thế giới thấp này.

The absolutely untrained man has practically no communication with the ego; the Initiate has full communication; consequently we find (as we should expect) that there are men among us at all stages between these two extremes. It must be remembered that the ego himself is only in process of development, and that we have therefore to deal with egos in very different stages of advancement. In any case an ego is in a great many ways something enormously bigger than a personality can ever be. Though, as has been said, he is but a fragment of the Monad, he is yet complete as an ego in his causal body, even when his powers are undeveloped; whereas there is but a touch of his life in the personality.

Con người hoàn toàn chưa được rèn luyện hầu như không có giao tiếp nào với chân ngã; điểm đạo đồ thì có giao tiếp đầy đủ; do đó, chúng ta thấy, như có thể trông đợi, rằng giữa chúng ta có những người ở mọi giai đoạn giữa hai cực điểm ấy. Cần nhớ rằng chính chân ngã cũng chỉ đang trong tiến trình phát triển, và vì vậy chúng ta phải đề cập đến các chân ngã ở những giai đoạn tiến bộ rất khác nhau. Dù trong trường hợp nào, một chân ngã, theo rất nhiều phương diện, cũng là một cái gì rộng lớn hơn vô cùng so với điều mà phàm ngã có thể từng là. Dù, như đã nói, y chỉ là một mảnh của chân thần, tuy vậy y vẫn trọn vẹn như một chân ngã trong thể nguyên nhân của mình, ngay cả khi các quyền năng của y chưa phát triển; trong khi nơi phàm ngã chỉ có một thoáng chạm của sự sống y.

It is also true that life at his level is an infinitely larger and more vivid thing than what we know as life down here. Just as it is evolution for the personality to learn to express the ego more fully, so is it evolution for the ego to learn to express the Monad more fully. An undeveloped personality forgets all about this connection with the ego and feels himself quite independent. It can hardly be possible for an ego at his much higher level to be unaware of his link with the Monad; certainly some egos are far more awake to the necessities of their evolution than others—which is only another way of saying that there are older and younger egos, and that the older are striving more earnestly than the younger to unfold their latent possibilities.

Cũng đúng rằng sự sống ở cấp độ của y là một điều lớn lao và sinh động vô hạn hơn những gì chúng ta biết như sự sống ở dưới này. Cũng như đối với phàm ngã, tiến hóa là học cách biểu hiện chân ngã đầy đủ hơn, thì đối với chân ngã, tiến hóa là học cách biểu hiện chân thần đầy đủ hơn. Một phàm ngã chưa phát triển quên hẳn mọi điều về mối liên hệ này với chân ngã và cảm thấy mình hoàn toàn độc lập. Hầu như không thể có chuyện một chân ngã ở cấp độ cao hơn rất nhiều của y lại không biết đến mối liên kết của y với chân thần; chắc chắn một số chân ngã tỉnh thức hơn nhiều so với những chân ngã khác trước các nhu cầu của sự tiến hóa của mình — điều này chỉ là một cách nói khác rằng có những chân ngã già dặn hơn và non trẻ hơn, và những chân ngã già dặn đang nỗ lực tha thiết hơn những chân ngã non trẻ để khai mở các khả năng tiềm tàng của mình.

In His Own World

Trong Thế Giới Riêng của Y

We are apt to think that the only development possible for an ego is through the personality; but that is not so—or rather it is so only in connection with one small set of qualities. As I have explained at length in Man Visible and Invisible, the causal body of a savage is almost colourless. As in the process of his evolution he develops good qualities which can find corresponding vibrations in the matter of the causal body, the colours expressive of these qualities begin to show themselves; and presently the causal body, instead of being empty, is full of active pulsating life. So much more of the ego can now manifest through it that it has to increase enormously in size; it extends further and further from its physical centre until the man is able to enfold hundreds and even thousands of persons within himself, and so to exercise a vast influence for good.

Chúng ta dễ nghĩ rằng sự phát triển duy nhất có thể có đối với một chân ngã là thông qua phàm ngã; nhưng không phải vậy — hay đúng hơn, điều ấy chỉ đúng liên quan đến một nhóm phẩm tính nhỏ. Như tôi đã giải thích dài trong Con Người Hữu Hình và Vô Hình, thể nguyên nhân của một người dã man hầu như không có màu sắc. Khi trong tiến trình tiến hóa của mình y phát triển các phẩm tính tốt đẹp có thể tìm thấy những rung động tương ứng trong chất liệu của thể nguyên nhân, các màu sắc biểu hiện những phẩm tính này bắt đầu tự hiển lộ; và rồi thể nguyên nhân, thay vì trống rỗng, lại đầy sự sống hoạt động và rung nhịp. Nay có nhiều hơn rất nhiều phần của chân ngã có thể biểu hiện qua đó, đến nỗi thể ấy phải gia tăng kích thước một cách vô cùng lớn; nó mở rộng ngày càng xa hơn khỏi trung tâm hồng trần của nó cho đến khi con người có thể bao bọc hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người trong chính mình, và nhờ vậy vận dụng một ảnh hưởng rộng lớn vì điều thiện.

But all this, wonderful though it be, is only one side of his development. He has quite other lines of progress of which we down here know nothing; he is living a life of his own among his peers, among the great Arupadevas, among all kinds of splendid Angels, in a world far beyond our ken. The young ego probably is but little awake as yet to all that glorious life, just as a baby in arms knows little of the interests of the world surrounding him; but as his consciousness gradually unfolds, he awakens to all this magnificence, he becomes fascinated by its vividness and beauty.

Nhưng tất cả điều này, dù kỳ diệu đến đâu, cũng chỉ là một mặt trong sự phát triển của y. Y có những tuyến tiến bộ hoàn toàn khác mà chúng ta ở dưới này không biết gì; y đang sống một đời sống riêng giữa những đồng đẳng của mình, giữa các Arupadeva vĩ đại, giữa đủ loại Thiên Thần huy hoàng, trong một thế giới vượt xa tầm hiểu biết của chúng ta. Chân ngã non trẻ có lẽ mới chỉ tỉnh thức rất ít trước toàn bộ sự sống vinh quang ấy, giống như một hài nhi trong vòng tay biết rất ít về những mối quan tâm của thế giới chung quanh nó; nhưng khi tâm thức y dần dần khai mở, y thức tỉnh trước toàn thể vẻ tráng lệ này, y bị cuốn hút bởi sự sinh động và vẻ đẹp của nó.

At the same time he himself becomes a glorious object, and gives us for the first time some idea of what God means man to be. Among such beings thoughts no longer take form and float about as they do at lower levels, but pass like lightning-flashes from one to another. Here we have no newly acquired vehicles, gradually coming under control and learning by degrees more or less feebly to express the soul within; but we are face to face with one body older than the hills, an actual expression of the Divine Glory which ever rests behind it, and shines through it more and more in the gradual unfolding of its powers.

Đồng thời chính y trở thành một đối tượng huy hoàng, và lần đầu tiên đem lại cho chúng ta một vài ý niệm về điều Thượng đế muốn con người trở thành. Giữa những hữu thể như thế, tư tưởng không còn mang hình tướng và trôi nổi như chúng làm ở các cấp độ thấp hơn, mà truyền đi như những tia chớp từ người này sang người khác. Ở đây chúng ta không có những hiện thể mới thâu nhận, dần dần được đặt dưới sự kiểm soát và từng bước học cách biểu hiện, ít nhiều yếu ớt, linh hồn bên trong; mà chúng ta đối diện với một thể cổ xưa hơn núi đồi, một biểu hiện thực sự của Vinh Quang Thiêng Liêng vốn luôn an trụ phía sau nó, và ngày càng chiếu rạng qua nó trong sự khai mở dần dần các quyền năng của nó.

Here we deal no longer with outward forms, but we see the things in themselves, the reality which lies behind the imperfect expression. Here cause and effect are one, clearly visible in their unity, like two sides of the same coin. Here we have left the concrete for the abstract; we have no longer the multiplicity of forms, but the idea which lies behind all those forms. Here the essence of everything is available; we no longer study details; we no longer talk round a subject or endeavour to explain; we take up the essence or the idea of the subject and move it as a whole, as one moves a piece when playing chess. What down here would be a system of philosophy, needing many volumes to explain it, is there a single definite object—a thought which can be thrown down as one throws a card upon the table. An opera or an oratorio, which here would occupy a full orchestra for many hours in the rendering, is there a single mighty chord; the methods of a whole school of painting are condensed into one magnificent idea; and ideas such as these are the intellectual counters which are used by egos in their converse one with another.

Ở đây chúng ta không còn đề cập đến các hình tướng bên ngoài, mà thấy các sự vật nơi chính chúng, thực tại nằm sau biểu hiện bất toàn. Ở đây nhân và quả là một, hiện rõ trong sự hợp nhất của chúng, như hai mặt của cùng một đồng tiền. Ở đây chúng ta đã rời cái cụ thể để đến cái trừu tượng; chúng ta không còn có sự đa tạp của các hình tướng, mà có ý tưởng nằm sau tất cả những hình tướng ấy. Ở đây tinh túy của mọi sự đều sẵn có; chúng ta không còn nghiên cứu chi tiết; chúng ta không còn nói quanh một chủ đề hay cố gắng giải thích; chúng ta nắm lấy tinh túy hay ý tưởng của chủ đề và di chuyển nó như một toàn thể, như người ta di chuyển một quân cờ khi chơi cờ. Điều mà ở dưới này sẽ là một hệ thống triết học, cần nhiều tập sách để giải thích, thì ở đó là một đối tượng xác định duy nhất — một tư tưởng có thể được ném xuống như người ta ném một lá bài lên bàn. Một vở opera hay một oratorio, mà ở đây sẽ cần cả một dàn nhạc đầy đủ trong nhiều giờ để trình diễn, thì ở đó là một hợp âm hùng vĩ duy nhất; các phương pháp của cả một trường phái hội họa được cô đọng thành một ý tưởng tráng lệ; và những ý tưởng như thế là các đơn vị trí tuệ được các chân ngã dùng trong sự trao đổi với nhau.

It is not easy to explain in physical words the differences which exist between egos, since all of them are in many ways much greater than anything to which we are accustomed down here. Analogies are notoriously misleading if pressed too far or taken too literally; but I may perhaps convey some faint reflection of the impression produced upon me by intercourse with them, if I say that an advanced ego reminds me of a dignified, stately and most courteous ambassador, full of wisdom and kindliness, while the less developed man has more of the type of the bluff, hearty country squire. An ego who is already on the Path, and is nearing Adeptship, has much in common with the great Angels, and radiates spiritual influences of prodigious power.

Không dễ giải thích bằng ngôn từ hồng trần những khác biệt hiện hữu giữa các chân ngã, bởi tất cả các chân ngã ấy, theo nhiều cách, đều lớn lao hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì chúng ta quen thuộc ở dưới này. Các phép tương đồng vốn nổi tiếng là dễ gây lầm lạc nếu bị đẩy đi quá xa hoặc hiểu quá sát nghĩa; nhưng có lẽ tôi có thể truyền đạt một phản chiếu mờ nhạt nào đó của ấn tượng mà sự giao tiếp với họ đã tạo ra nơi tôi, nếu tôi nói rằng một chân ngã tiến bộ gợi cho tôi nhớ đến một vị đại sứ trang nghiêm, đường bệ và vô cùng nhã nhặn, đầy minh triết và lòng nhân ái, trong khi con người kém phát triển hơn lại mang nhiều kiểu của một địa chủ miền quê thẳng thắn, nồng hậu. Một chân ngã đã ở trên Đường Đạo, và đang gần đến địa vị Chân sư, có nhiều điểm chung với các Thiên Thần vĩ đại, và tỏa ra những ảnh hưởng tinh thần có quyền năng phi thường.

His Interest in the Personality

Mối Quan Tâm của Y Đối với Phàm Ngã

Can we wonder, then, that the ego throws himself energetically into the whirl of intense activity of his own plane, and that it seems to him immensely more interesting and important than the faint far-distant struggles of a cramped and half-formed personality, veiled in the dense obscurity of a lower world?

Vậy chúng ta có thể ngạc nhiên chăng khi chân ngã dồn mình một cách mãnh liệt vào vòng xoáy hoạt động dữ dội của chính cõi y, và điều ấy đối với y dường như thú vị và quan trọng hơn vô cùng so với những cuộc vật lộn yếu ớt, xa xôi của một phàm ngã bị bó hẹp và mới thành hình một nửa, bị che phủ trong sự tối tăm đậm đặc của một thế giới thấp hơn?

In the physical life of the ordinary man of the world there is little of interest to the ego, and it is only now and then that something of real importance occurs, that may for a moment attract his attention, so that from it he draws whatever is worth taking. The ordinary man lives in patches; more than half the time he is not awake to the real and higher life at all. Some of us are apt to complain that our egos take very little notice of us; let us ask ourselves how much notice we have taken of them. How often for example, in any given day, have we even thought of the ego? If we wish to attract his attention we must make the personality useful to him. As soon as we begin to devote the greater part of our thought to higher things (and that is equivalent to saying as soon as we really begin to live), the ego will be likely to take somewhat more notice of us.

Trong đời sống hồng trần của con người bình thường nơi thế gian, có rất ít điều đáng quan tâm đối với chân ngã, và chỉ thỉnh thoảng mới có một điều thực sự quan trọng xảy ra, có thể trong chốc lát thu hút sự chú ý của y, để từ đó y rút ra bất cứ điều gì đáng lấy. Con người bình thường sống theo từng mảng; hơn một nửa thời gian y hoàn toàn không tỉnh thức trước sự sống chân thực và cao cả hơn. Một số chúng ta dễ than phiền rằng các chân ngã của mình rất ít chú ý đến chúng ta; vậy chúng ta hãy tự hỏi mình đã chú ý đến các chân ngã ấy bao nhiêu. Chẳng hạn, trong bất cứ một ngày nào, chúng ta đã từng nghĩ đến chân ngã bao nhiêu lần? Nếu muốn thu hút sự chú ý của y, chúng ta phải làm cho phàm ngã hữu dụng đối với y. Ngay khi chúng ta bắt đầu hiến phần lớn tư tưởng của mình cho những điều cao hơn, và điều đó tương đương với việc nói rằng ngay khi chúng ta thực sự bắt đầu sống, chân ngã có lẽ sẽ chú ý đến chúng ta nhiều hơn đôi chút.

The ego knows that certain necessary parts of his evolution can be achieved only through that personality, and in its mental, astral and physical bodies; he knows, therefore, that he must some time attend to it, must take it in hand and bring it under his control. But we can well understand that the task may often seem uninviting, that a given personality may appear anything but attractive or hopeful. If we look at many of the personalities around us—their physical bodies poisoned with meat, alcohol and tobacco, their astral bodies reeking with greed and sensuality, and their mental bodies having no interests beyond business, or perhaps horse-racing and prize-fighting—it is not difficult to see why an ego, surveying them from his lofty height, might decide to postpone his serious effort to another incarnation, in the hope that the next set of vehicles might be more amenable to influence than those upon which his horrified gaze then rested. We can imagine that he might say to himself: “I can do nothing with that; I will take my chance of getting something better next time; it can hardly be worse, and meantime I have much more important business to do up here.”

Chân ngã biết rằng một số phần cần thiết trong sự tiến hóa của y chỉ có thể được thành tựu thông qua phàm ngã ấy, và trong các thể trí, thể cảm dục và thể xác của nó; do đó, y biết rằng đến một lúc nào đó y phải chú ý đến nó, phải nắm lấy nó và đưa nó vào dưới sự kiểm soát của y. Nhưng chúng ta có thể hiểu rõ rằng nhiệm vụ ấy thường có vẻ không hấp dẫn, rằng một phàm ngã nào đó có thể tỏ ra chẳng hề đáng thu hút hay đầy hy vọng. Nếu chúng ta nhìn vào nhiều phàm ngã quanh mình — thể xác của họ bị đầu độc bởi thịt, rượu và thuốc lá, thể cảm dục của họ bốc mùi tham lam và dục vọng, và thể trí của họ không có mối quan tâm nào ngoài việc buôn bán, hoặc có lẽ là đua ngựa và đấu quyền — thì không khó thấy vì sao một chân ngã, khi quan sát họ từ tầm cao của y, có thể quyết định hoãn nỗ lực nghiêm túc của mình sang một lần lâm phàm khác, với hy vọng rằng bộ hiện thể kế tiếp có thể dễ chịu ảnh hưởng hơn những hiện thể mà khi ấy ánh nhìn kinh hãi của y đang đặt lên. Chúng ta có thể hình dung rằng y có thể tự nói với mình: “Ta không thể làm gì với cái đó; lần sau ta sẽ thử vận may để có được điều gì tốt hơn; khó có thể tệ hơn nữa, và trong lúc này ta có nhiều việc quan trọng hơn phải làm ở trên này.”

A similar thing not infrequently happens in the early stages of a new incarnation. From the birth of the child the ego is hovering over it, and in some cases he begins to try to influence its development while it is still very young. As a general rule he pays little attention to it until about the age of seven, by which time the work of the karmic elemental should be practically over. Children differ so widely that it is not surprising to find that the relation between the egos and the personalities involved differs widely also. Some child-personalities are quick and responsive, some are a dull or wayward; when the latter characteristics are prominent the ego often withdraws his active interest for the time, hoping that as the childish body grows, it may become cleverer or more responsive.

Một điều tương tự không hiếm khi xảy ra trong các giai đoạn đầu của một lần lâm phàm mới. Từ khi đứa trẻ ra đời, chân ngã lơ lửng bên trên nó, và trong một số trường hợp y bắt đầu cố gắng ảnh hưởng đến sự phát triển của nó khi nó còn rất nhỏ. Theo quy luật chung, y ít chú ý đến nó cho đến khoảng bảy tuổi, khi ấy công việc của hành khí nghiệp quả hầu như phải kết thúc. Trẻ em khác nhau đến mức rộng lớn đến nỗi không đáng ngạc nhiên khi thấy rằng mối quan hệ giữa các chân ngã và các phàm ngã liên hệ cũng khác nhau rất nhiều. Một số phàm ngã trẻ thơ nhanh nhạy và dễ đáp ứng, một số thì đần độn hoặc ngang bướng; khi các đặc tính sau nổi bật, chân ngã thường rút lại mối quan tâm tích cực của mình trong một thời gian, hy vọng rằng khi thể xác trẻ thơ lớn lên, nó có thể trở nên thông minh hơn hoặc dễ đáp ứng hơn.

Such a decision may seem to us unwise, because if the ego neglects his present personality it is unlikely that the next will be an improvement upon it; and if he allows the child-body to develop without his influence, the undesirable qualities which have been manifested may quite possibly grow stronger instead of dying out. But we are hardly in a position to judge, since our knowledge of the problem is so imperfect, and we can see nothing of the higher business to which he is devoting himself.

Một quyết định như thế có thể đối với chúng ta dường như thiếu khôn ngoan, bởi nếu chân ngã bỏ bê phàm ngã hiện tại của y thì không chắc phàm ngã kế tiếp sẽ là một sự cải thiện so với nó; và nếu y để thể trẻ thơ phát triển mà không có ảnh hưởng của y, những phẩm tính không đáng mong muốn đã biểu hiện rất có thể sẽ mạnh thêm thay vì tàn lụi. Nhưng chúng ta hầu như không ở vị trí để phán xét, vì tri thức của chúng ta về vấn đề này quá bất toàn, và chúng ta không thấy gì về công việc cao hơn mà y đang hiến mình vào đó.

From this it will be seen how impossible it is to judge with any precision the position in evolution of anyone whom we see only on the physical plane. In one case karmic causes may have produced a very fair personality, having an ego of only moderate advancement behind it; while in another case those causes may have given rise to an inferior or defective personality, belonging to a comparatively advanced ego. A good illustration of this appears among the stories of the life of the Lord Buddha. A man came to him one day, as people in trouble were wont to do, and told him that he had great difficulty with his meditation, which he could scarcely succeed in doing at all. Then the Buddha told him that there was a very simple reason for it—that in a previous life he had foolishly been in the habit of annoying certain holy men and disturbing their meditations. Yet that man may have been more advanced as an ego than some of his companions whose meditations were well done.

Từ điều này sẽ thấy rõ rằng không thể nào phán đoán với bất cứ độ chính xác nào về vị trí trong tiến hóa của bất cứ ai mà chúng ta chỉ thấy trên cõi hồng trần. Trong một trường hợp, các nguyên nhân nghiệp quả có thể đã tạo ra một phàm ngã rất khá, với một chân ngã chỉ ở mức tiến bộ vừa phải phía sau; trong khi trong trường hợp khác, các nguyên nhân ấy có thể đã làm phát sinh một phàm ngã thấp kém hoặc khiếm khuyết, thuộc về một chân ngã tương đối tiến bộ. Một minh họa tốt về điều này xuất hiện trong các câu chuyện về đời sống của Đức Phật. Một người đến với Ngài một ngày nọ, như những người gặp khốn khó vẫn thường làm, và thưa với Ngài rằng ông gặp khó khăn lớn với việc tham thiền của mình, đến mức hầu như không thể thực hiện được. Khi ấy Đức Phật bảo ông rằng có một lý do rất đơn giản cho điều đó — rằng trong một đời trước, ông đã ngu dại có thói quen quấy rầy một số bậc thánh và làm gián đoạn sự tham thiền của họ. Tuy vậy, người ấy có thể đã tiến bộ hơn như một chân ngã so với một số bạn đồng hành của ông, những người tham thiền rất tốt.

When the ego does decide to turn the full force of his energy upon the personality, the change which he can produce is marvellous. No one who has not personally investigated the matter can imagine how wonderful, how rapid, how radical, such a change may be when conditions are favourable—that is, when the ego is reasonably strong, and the personality not incurably vicious—more especially when a determined effort is made by the personality on its side to become a perfect expression of the ego, and make itself attractive to him.

Khi chân ngã quả thật quyết định hướng toàn bộ mãnh lực năng lượng của y vào phàm ngã, sự thay đổi mà y có thể tạo ra thật kỳ diệu. Không ai chưa đích thân khảo sát vấn đề này có thể hình dung được sự thay đổi như thế có thể kỳ diệu, nhanh chóng và căn bản đến mức nào khi các điều kiện thuận lợi — nghĩa là, khi chân ngã tương đối mạnh, và phàm ngã không xấu xa đến mức không thể chữa lành — đặc biệt hơn nữa khi chính phàm ngã về phía mình có một nỗ lực kiên quyết để trở thành một biểu hiện hoàn hảo của chân ngã, và làm cho mình trở nên hấp dẫn đối với y.

The Attitude of the Personality

Thái Độ của Phàm Ngã

The difficulty of this subject is greatly enhanced by the fact that it is necessary for us to regard it simultaneously from two points of view. Most of us down here are very emphatically personalities, and think and act almost exclusively as such; yet we know all the time that in reality we are egos, and those of us who by many years of meditation have rendered ourselves more sensitive to finer influences are often conscious of the intervention of this Higher Self. The more we can make a habit of identifying ourselves with the ego, the more clearly and sanely shall we view the problems of life; but in so far as we feel ourselves to be still personalities looking up to our Higher Selves, it is obviously our duty and our interest to open ourselves to them, to reach up towards them, and persistently to set up within ourselves such vibrations as will be of use to them. At least let us be sure that we do not stand in the way of the ego, that we always do our best for him according to our lights.

Khó khăn của chủ đề này được tăng thêm rất nhiều bởi sự kiện rằng chúng ta cần phải nhìn nó đồng thời từ hai quan điểm. Phần lớn chúng ta ở dưới này là những phàm ngã rất rõ rệt, và suy nghĩ cùng hành động hầu như chỉ như thế; tuy nhiên, lúc nào chúng ta cũng biết rằng trong thực tại chúng ta là những chân ngã, và những ai trong chúng ta, qua nhiều năm tham thiền, đã khiến mình nhạy cảm hơn với các ảnh hưởng tinh tế hơn, thường ý thức được sự can thiệp của Bản Ngã Cao Siêu này. Càng có thể tạo thành thói quen đồng hoá với chân ngã, chúng ta sẽ càng nhìn các vấn đề của đời sống một cách rõ ràng và lành mạnh hơn; nhưng trong chừng mực chúng ta còn cảm thấy mình vẫn là những phàm ngã đang ngước lên các Bản Ngã Cao Siêu của mình, thì hiển nhiên bổn phận và lợi ích của chúng ta là mở mình ra với các Ngài, vươn lên hướng về các Ngài, và bền bỉ thiết lập trong chính mình những rung động nào sẽ hữu dụng cho các Ngài. Ít nhất, chúng ta hãy chắc chắn rằng mình không cản đường chân ngã, rằng chúng ta luôn làm hết sức mình cho y theo ánh sáng hiểu biết của mình.

Since selfishness is the intensification of the personality, our first step should be to get rid of that. Then we must keep our minds filled with high thoughts; for if they are continually occupied with lower matters (even though those lower matters may be quite estimable in their way), the ego cannot readily use them as channels of expression. When he makes a tentative effort, when he puts down an exploratory finger, let us receive him with enthusiasm and hasten to obey his behests, that he may take possession of our minds more and more, and so come into his inheritance as far as these lower planes are concerned. Thus shall we bring ourselves ever nearer to the goal that we wish to reach; thus shall we set our feet upon the Path which leads directly to that first Initiation in which the lower and the Higher become one, or rather the greater has absorbed the lesser, so that there should now be nothing in the personality which is not a representation of the ego; the lower is now merely an expression of the higher.

Vì ích kỷ là sự tăng cường của phàm ngã, bước đầu tiên của chúng ta phải là loại bỏ điều đó. Rồi chúng ta phải giữ cho thể trí của mình đầy những tư tưởng cao đẹp; bởi nếu chúng liên tục bị chiếm giữ bởi những vấn đề thấp hơn, dù những vấn đề thấp hơn ấy theo cách của chúng có thể khá đáng quý, chân ngã không thể dễ dàng dùng chúng làm các kênh biểu hiện. Khi y thực hiện một nỗ lực thử nghiệm, khi y đưa xuống một ngón tay thăm dò, chúng ta hãy đón nhận y với nhiệt thành và vội vã tuân theo các mệnh lệnh của y, để y có thể chiếm hữu thể trí của chúng ta ngày càng nhiều hơn, và nhờ vậy đi vào phần thừa kế của y trong chừng mực liên quan đến các cõi thấp này. Như thế chúng ta sẽ đưa mình ngày càng gần hơn đến mục tiêu mà chúng ta muốn đạt tới; như thế chúng ta sẽ đặt chân mình lên Đường Đạo dẫn thẳng đến lần điểm đạo thứ nhất ấy, trong đó cái thấp và cái Cao trở thành một, hay đúng hơn, cái lớn hơn đã hấp thu cái nhỏ hơn, để nay không còn điều gì trong phàm ngã không phải là một sự thể hiện của chân ngã; cái thấp nay chỉ là một biểu hiện của cái cao.

The personality may have had a great many unpleasant qualities of his own, such as jealousy, anger and depression, but they have all been cast off, and now he merely reproduces that which comes from above. The ego having brought the lower self into harmony with himself is now reaching upwards into the buddhic plane, the plane of unity. It is only in this way that the man can begin to cast off the delusion of self which stands in the way of his further progress, and that is why the buddhic experience is necessary at the first Initiation, if it has not been had before. In many cases it has come earlier, because the higher emotions, showing themselves in the astral body, have reflected themselves in the buddhic vehicle and aroused it, and consequently there is some awakening before Initiation.

Phàm ngã có thể đã có rất nhiều phẩm tính khó chịu của riêng y, như ghen tuông, giận dữ và chán nản, nhưng tất cả chúng đã bị loại bỏ, và nay y chỉ tái tạo điều đến từ bên trên. Chân ngã, sau khi đã đưa phàm ngã vào hòa hợp với chính mình, nay đang vươn lên cõi Bồ đề, cõi của hợp nhất. Chỉ bằng cách này con người mới có thể bắt đầu loại bỏ ảo tưởng về cái tôi vốn cản trở sự tiến bộ xa hơn của y, và đó là lý do vì sao kinh nghiệm Bồ đề là cần thiết ở lần điểm đạo thứ nhất, nếu nó chưa từng có trước đó. Trong nhiều trường hợp, nó đã đến sớm hơn, bởi các cảm xúc cao thượng hơn, khi tự biểu hiện trong thể cảm dục, đã phản chiếu chính chúng vào hiện thể Bồ đề và đánh thức hiện thể ấy, và do đó có một sự thức tỉnh nào đó trước Điểm Đạo.

Realization of Unity

Sự Chứng Nghiệm Hợp Nhất

All that lives is really one, and it is the duty of those who enter the Brotherhood to know that as a fact. We are taught that the Self is one, and we try to understand what that means; but it is quite a different thing when we see it for ourselves, as the candidate does when he enters the buddhic plane. It is as if in physical life we were each living at the bottom of a well, from which we may look up at the sunlight in the world above; and just as the light shines down into the depth of many wells, and yet ever remains the one light, so does the Light of the One illumine the darkness of our hearts. The Initiate has climbed out of the well of the personality, and sees that the light which he thought to be himself is in very truth the Infinite Light of all.

Tất cả những gì sống động thực ra là một, và bổn phận của những ai bước vào Huynh Đệ Đoàn là biết điều đó như một sự kiện. Chúng ta được dạy rằng Bản Ngã là một, và chúng ta cố gắng thấu hiểu điều đó có nghĩa gì; nhưng khi chúng ta tự mình thấy được nó, như ứng viên làm khi y bước vào cõi Bồ đề, thì đó là một điều hoàn toàn khác. Điều ấy giống như trong đời sống hồng trần, mỗi chúng ta đều sống dưới đáy một cái giếng, từ đó chúng ta có thể nhìn lên ánh sáng mặt trời trong thế giới bên trên; và cũng như ánh sáng chiếu xuống chiều sâu của nhiều cái giếng, nhưng vẫn luôn là một ánh sáng duy nhất, thì Ánh Sáng của Đấng Duy Nhất soi sáng bóng tối trong các trái tim của chúng ta. Điểm đạo đồ đã leo ra khỏi cái giếng của phàm ngã, và thấy rằng ánh sáng mà y từng nghĩ là chính mình, trong chân lý thực sự, là Ánh Sáng Vô Hạn của tất cả.

While living in the causal body, the ego already acknowledged the Divine Consciousness in all; when he looked upon another ego his consciousness leapt up as it were to recognize the Divine in him. But on the buddhic plane it no longer leaps to greet him from without, for it is already enshrined within his heart. He is that consciousness and it is his. There is no longer the “you” and the “I,” for both are one—facets of something that transcends and yet includes them both.

Khi sống trong thể nguyên nhân, chân ngã đã thừa nhận Tâm Thức Thiêng Liêng trong tất cả; khi y nhìn một chân ngã khác, tâm thức của y như thể bật lên để nhận ra Điều Thiêng Liêng trong người ấy. Nhưng trên cõi Bồ đề, tâm thức ấy không còn bật lên để chào đón người ấy từ bên ngoài, vì nó đã được tôn trí trong chính trái tim y. Y là tâm thức ấy và tâm thức ấy là của y. Không còn “bạn” và “tôi” nữa, vì cả hai là một — những mặt của một cái gì vượt lên trên nhưng đồng thời bao gồm cả hai.

Yet in all this strange advance there is no loss of the sense of individuality, even though there is an utter loss of the sense of separateness. That seems a paradox, while yet it is obviously true. The man remembers all that lies behind him. He is himself, the same man who did this action or that in the far-off past. He is in no way changed, except that now he is much more than he was then, and feels that he includes within himself many other manifestations as well. If here and now a hundred of us could simultaneously raise our consciousness into the intuitional world, we should all be one consciousness, but to each man that would seem to be his own, absolutely unchanged, except that now it included all the others as well.

Tuy vậy trong toàn bộ bước tiến kỳ lạ này, không có sự mất đi ý thức về cá tính, dù có sự mất đi hoàn toàn ý thức về sự chia tách. Điều đó có vẻ là một nghịch lý, nhưng lại hiển nhiên đúng. Con người nhớ tất cả những gì nằm phía sau y. Y là chính mình, cùng một con người đã làm hành động này hay hành động kia trong quá khứ xa xôi. Y không thay đổi theo bất cứ cách nào, ngoại trừ việc nay y còn nhiều hơn rất nhiều so với trước kia, và cảm thấy rằng y cũng bao gồm trong chính mình nhiều biểu hiện khác. Nếu ở đây và bây giờ, một trăm người trong chúng ta có thể đồng thời nâng tâm thức của mình vào thế giới trực giác, tất cả chúng ta sẽ là một tâm thức, nhưng đối với mỗi người, điều đó sẽ dường như là tâm thức của riêng y, hoàn toàn không thay đổi, ngoại trừ việc nay nó cũng bao gồm tất cả những người khác.

To each it would seem that it was he who had absorbed or included all those others, so we are here manifestly in the presence of a kind of illusion, and a little further realization makes it clear to us that we are all facets of a greater consciousness, and that what we have hitherto thought to be our qualities, our intellect, our energies have all the time been his qualities, his intellect, his energy. We have arrived at the realization in actual fact of the time-honoured formula: “Thou art That.” It is one thing to talk about this down here and to grasp it, or to think that we grasp it, intellectually; but it is quite another to enter into that marvellous world and know it with a certainty that can never again be shaken.

Đối với mỗi người, dường như chính y đã hấp thu hay bao gồm tất cả những người khác ấy, vì vậy ở đây rõ ràng chúng ta đang đứng trước một loại ảo tưởng, và một chút chứng nghiệm xa hơn làm cho chúng ta thấy rõ rằng tất cả chúng ta là các mặt của một tâm thức lớn hơn, và rằng những gì cho đến nay chúng ta đã nghĩ là các phẩm tính của chúng ta, trí tuệ của chúng ta, các năng lượng của chúng ta, suốt thời gian qua đều là các phẩm tính của y, trí tuệ của y, năng lượng của y. Chúng ta đã đi đến sự chứng nghiệm trong thực tại cụ thể của công thức cổ kính: “Ngươi là Cái Đó.” Nói về điều này ở dưới này và nắm bắt nó, hay nghĩ rằng chúng ta nắm bắt nó, bằng trí tuệ, là một việc; nhưng bước vào thế giới kỳ diệu ấy và biết nó bằng một sự chắc chắn không bao giờ có thể lay chuyển nữa, lại là một việc hoàn toàn khác.

When this buddhic consciousness fully impresses the physical brain, it gives a new value to all the actions and relations of life. We no longer look upon a person or object, no matter with what degree of kindliness or sympathy; we simply are that person or object, and we know him or it as we know the thought of our own brain or the movement of our own hand. We appreciate his motives as our own motives, even though we may perfectly understand that another part of ourselves, possessing more knowledge or a different view-point, might act quite differently.

Khi tâm thức Bồ đề này in dấu đầy đủ lên bộ não hồng trần, nó đem lại một giá trị mới cho mọi hành động và quan hệ của đời sống. Chúng ta không còn nhìn vào một người hay một vật, bất kể với mức độ tử tế hay cảm thông nào; chúng ta đơn giản người hay vật ấy, và chúng ta biết y hay nó như chúng ta biết tư tưởng của chính bộ não mình hoặc chuyển động của chính bàn tay mình. Chúng ta thấu hiểu các động cơ của y như các động cơ của chính mình, dù chúng ta có thể hoàn toàn hiểu rằng một phần khác của chính mình, sở hữu nhiều tri thức hơn hoặc một quan điểm khác, có thể hành động hoàn toàn khác.

Yet it must not be supposed that when a man enters upon the lowest sub-division of the intuitional world he at once becomes fully conscious of his unity with all that lives. That perfection of sense comes only as the result of much toil and trouble, when he has reached the highest sub-division of this realm of unity. To enter that plane at all is to experience an enormous extension of consciousness, to realize himself as one with many others; but before him there opens a time of effort, of self-development, analogous at that level to what we do down here when by meditation we try to open our consciousness to the plane next above us. Step by step, sub-plane by sub-plane, the aspirant must win his way; for even at that level exertion is still necessary if progress is to be made.

Tuy vậy, không nên giả định rằng khi một người bước vào phân cảnh thấp nhất của thế giới trực giác, y lập tức trở nên hoàn toàn ý thức về sự hợp nhất của mình với tất cả những gì sống động. Sự hoàn hảo của cảm thức ấy chỉ đến như kết quả của nhiều lao nhọc và khó khăn, khi y đã đạt tới phân cảnh cao nhất của cõi hợp nhất này. Bước vào cõi ấy chút nào cũng là kinh nghiệm một sự mở rộng tâm thức vô cùng lớn, là nhận ra chính mình như một với nhiều người khác; nhưng trước mặt y mở ra một thời kỳ nỗ lực, tự phát triển, tương tự ở cấp độ ấy với điều chúng ta làm ở dưới này khi bằng tham thiền chúng ta cố gắng mở tâm thức của mình ra với cõi ngay phía trên chúng ta. Từng bước một, từng cõi phụ một, người chí nguyện phải giành lấy con đường của mình; vì ngay cả ở cấp độ ấy, nỗ lực vẫn còn cần thiết nếu muốn có tiến bộ.

Having passed the first Initiation and consciously entered the buddhic plane, this work of developing himself on sub-plane after subplane now lies before the candidate, in order that he may get rid of the three great fetters, as they are technically called, which embarrass his further progress. He is now definitely on the Path of Holiness, and is described in the Buddhist system as the Sotapatti or Sovan, “he who has entered the stream”; while among the Hindus he is called the Parivrajaka, which means “the wanderer,” one who no longer feels that any place in the three lower worlds is his abiding-place of refuge.

Sau khi đã vượt qua lần điểm đạo thứ nhất và có ý thức bước vào cõi Bồ đề, công việc phát triển chính mình trên từng cõi phụ nay nằm trước ứng viên, để y có thể loại bỏ ba xiềng xích lớn, như người ta gọi theo thuật ngữ, vốn gây trở ngại cho sự tiến bộ xa hơn của y. Nay y chắc chắn ở trên Con Đường Thánh Thiện, và trong hệ thống Phật giáo được mô tả là Sotapatti hay Sovan, “người đã vào dòng”; trong khi giữa người Ấn giáo, y được gọi là Parivrajaka, nghĩa là “kẻ du phương,” người không còn cảm thấy rằng bất cứ nơi nào trong ba cõi thấp là chốn trú ngụ nương náu của mình.

Chapter 9 — Chương 9

The Second And Third Initiations — Lần Điểm Đạo Thứ Hai và Thứ Ba

The First Three Fetters

Ba Xiềng Xích Đầu Tiên

THE CANDIDATE who has passed the first Initiation has entered definitely upon the Path Proper—the Path that leads to Adeptship, to the portal leading out of the human kingdom into that of the Superman. Looking at this Path from below, one might wonder that the aspirant is not exhausted after his labours leading to the first Initiation, that he does not shrink back discouraged by the dizzy heights that he sees rising before him on the relentless ever-ascending Path. But he has drunk at the fount of life, and his strength is as the strength of ten because his heart is pure, and the glory of the ideal humanity, which he sees with ever-increasing clearness, has for him an attraction and inspiration with which no material stimulus or interest can ever compare.

ỨNG VIÊN đã vượt qua lần điểm đạo thứ nhất đã bước hẳn vào Đường Đạo Đích Thực — Đường Đạo dẫn đến địa vị Chân sư, đến cánh cổng đưa ra khỏi giới nhân loại để vào giới của Siêu Nhân. Nhìn Đường Đạo này từ bên dưới, người ta có thể tự hỏi vì sao người chí nguyện không kiệt sức sau những lao nhọc dẫn đến lần điểm đạo thứ nhất, vì sao y không lùi lại trong nản lòng trước những đỉnh cao chóng mặt mà y thấy vươn lên trước mặt mình trên Đường Đạo khắc nghiệt, luôn luôn đi lên. Nhưng y đã uống tại nguồn sự sống, và sức mạnh của y như sức mạnh của mười người vì trái tim y trong sạch, và vinh quang của nhân loại lý tưởng, mà y thấy với sự rõ ràng ngày càng tăng, có đối với y một sức hút và một cảm hứng mà không kích thích hay mối quan tâm vật chất nào có thể sánh được.

The first stage of his journey ends in the second Initiation, to achieve which he must cast off three Samyojana or fetters, which are:

Giai đoạn đầu tiên trong hành trình của y kết thúc ở lần điểm đạo thứ hai, để đạt được điều này y phải loại bỏ ba Samyojana hay xiềng xích, đó là:

1. Sakkayaditthi—the delusion of self.

1. Sakkayaditthi — ảo tưởng về cái tôi.

2. Vichikichchha—doubt or uncertainty.

2. Vichikichchha — hoài nghi hay bất định.

3. Silabbataparamasa—superstition.

3. Silabbataparamasa — mê tín.

The first of these is the “I am I” consciousness which, as connected with the personality, is nothing but an illusion, and must be thrown aside at the very first step of the real upward path. But to cast off this fetter completely means even more than this, for it involves the realization of the fact that the individuality also is in very truth one with the all, that he can therefore never have any interests opposed to those of his brethren, and that he is most truly progressing when he most assists the progress of others.

Điều đầu tiên trong số này là tâm thức “tôi là tôi” vốn, khi liên hệ với phàm ngã, chẳng là gì ngoài một ảo tưởng, và phải được gạt bỏ ngay ở bước đầu tiên của con đường thăng thượng chân chính. Nhưng loại bỏ hoàn toàn xiềng xích này còn hàm ý nhiều hơn thế, vì nó bao gồm sự chứng nghiệm sự kiện rằng cá tính cũng thật sự là một với tất cả, rằng vì vậy y không bao giờ có thể có những lợi ích đối nghịch với lợi ích của các huynh đệ mình, và rằng y đang thật sự tiến bộ nhất khi y trợ giúp nhiều nhất cho sự tiến bộ của những người khác.

As to the second fetter, a word of caution is necessary. People who have been trained in European habits of thought are, unhappily, so familiar with the idea that a blind, unreasoning adhesion to certain dogmas may be claimed from a disciple of any religion, school or sect, that on hearing that in Occultism doubt is considered to be an obstacle to progress, they are likely to suppose that this Path also requires from its followers the same unquestioning faith as do many modern superstitions. No idea could be more entirely false.

Về xiềng xích thứ hai, cần có một lời cảnh báo. Những người đã được rèn luyện trong các thói quen tư tưởng châu Âu, thật không may, quá quen thuộc với ý tưởng rằng người ta có thể đòi hỏi nơi một đệ tử của bất cứ tôn giáo, trường phái hay giáo phái nào một sự bám chặt mù quáng, không lý trí vào một số tín điều nhất định, đến nỗi khi nghe rằng trong Huyền bí học hoài nghi được xem là một trở ngại cho tiến bộ, họ có thể cho rằng Đường Đạo này cũng đòi hỏi nơi các tín đồ của nó cùng một đức tin không thắc mắc như nhiều mê tín hiện đại. Không ý tưởng nào có thể sai lầm hoàn toàn hơn thế.

It is true that doubt (or rather uncertainty) on some questions is a bar to spiritual progress, but the antidote to that doubt is not blind faith (which is itself considered a fetter, as will presently be seen), but the certainty of conviction founded on individual experiment or mathematical reasoning. While a child doubts the accuracy of the multiplication table, he can hardly acquire proficiency in the higher mathematics; but his doubts can be satisfactorily cleared up only by his attaining a comprehension, founded on reasoning or experiment, that the statements contained in the table are true. He believes that twice two are four, not merely because he has been told so, but because it has become to him a self-evident fact. And this is exactly the method, and the only method, of resolving doubt known to Occultism.

Đúng là sự hoài nghi, hay đúng hơn là sự bất định, về một số vấn đề là một chướng ngại cho tiến bộ tinh thần, nhưng thuốc giải cho sự hoài nghi ấy không phải là đức tin mù quáng, vốn tự nó được xem là một xiềng xích, như sẽ thấy ngay sau đây, mà là sự chắc chắn của niềm xác tín đặt nền trên thực nghiệm cá nhân hoặc suy luận toán học. Khi một đứa trẻ còn nghi ngờ tính chính xác của bảng cửu chương, nó khó có thể đạt được sự thành thạo trong toán học cao hơn; nhưng những hoài nghi của nó chỉ có thể được giải tỏa thỏa đáng bằng việc nó đạt tới một sự thấu hiểu, đặt nền trên lý luận hoặc thực nghiệm, rằng các mệnh đề chứa trong bảng là đúng. Nó tin rằng hai lần hai là bốn, không chỉ vì nó được nói cho biết như vậy, mà vì điều ấy đã trở thành đối với nó một sự kiện tự hiển nhiên. Và đây chính xác là phương pháp, và là phương pháp duy nhất, để giải quyết hoài nghi mà Huyền bí học biết đến.

Vichikichchha has been defined as doubt of the doctrines of karma and reincarnation, and of the efficacy of the method of attaining the highest good by this Path of Holiness; but the knowledge of these things also brings with it a vivid realization that the world is God’s school for man, and that his plan is the evolution of the immortal life through the perishing forms, and is wonderful and beneficent in every part. As he casts off this second fetter, the Initiate arrives at absolute certainty, based either upon personal first-hand knowledge or upon reason, that the occult teaching upon these points is true.

Vichikichchha đã được định nghĩa là sự hoài nghi các giáo lý về nghiệp quả và tái sinh, và về hiệu quả của phương pháp đạt tới điều thiện tối cao bằng Con Đường Thánh Thiện này; nhưng tri thức về những điều này cũng đem theo nó một sự chứng nghiệm sinh động rằng thế giới là trường học của Thượng đế dành cho con người, và rằng Thiên Cơ của Ngài là sự tiến hóa của sự sống bất tử xuyên qua các hình tướng hoại diệt, và là kỳ diệu cùng lợi lạc trong mọi phần. Khi loại bỏ xiềng xích thứ hai này, điểm đạo đồ đạt tới sự chắc chắn tuyệt đối, đặt nền hoặc trên tri thức trực tiếp của cá nhân hoặc trên lý trí, rằng giáo huấn huyền bí về những điểm này là đúng.

The third fetter, superstition, has been described as including all kinds of unreasoning and mistaken belief, and all dependence upon outward rites and ceremonies to purify the heart. He sees that all the methods of help offered to us by the great religions—prayers, sacraments, pilgrimages, fastings, and the observation of manifold rites and ceremonies—are help and no more; that the wise man will adopt such of them as he finds useful to him, but will never trust to any of them alone as sufficient to attain salvation. He knows definitely that within himself deliverance must be sought, and that however valuable these aids may be in developing his will, his wisdom and his love, they can never take the place of that personal effort by which alone he can achieve. The man who has cast off this fetter realizes that there is no one form of religion which is a necessity for all men, but that through any and all alike, and even outside of them, the path to the highest may be found.

Xiềng xích thứ ba, mê tín, đã được mô tả là bao gồm mọi loại niềm tin thiếu lý trí và sai lầm, cùng mọi sự lệ thuộc vào các nghi thức và nghi lễ bên ngoài để thanh tẩy trái tim. Y thấy rằng tất cả các phương pháp trợ giúp được những tôn giáo lớn trao cho chúng ta — những lời cầu nguyện, các bí tích, các cuộc hành hương, những lần chay tịnh, và việc tuân giữ nhiều nghi thức và nghi lễ — đều là sự trợ giúp và không hơn thế; rằng người minh triết sẽ tiếp nhận những điều nào trong số ấy mà y thấy hữu dụng cho mình, nhưng sẽ không bao giờ chỉ tin cậy vào bất cứ điều nào trong số ấy như đủ để đạt cứu rỗi. Y biết chắc chắn rằng sự giải thoát phải được tìm kiếm trong chính mình, và rằng dù những trợ duyên này có thể quý giá đến đâu trong việc phát triển ý chí, minh triết và tình thương của y, chúng không bao giờ có thể thay thế nỗ lực cá nhân mà chỉ nhờ nó y mới có thể thành tựu. Người đã loại bỏ xiềng xích này nhận ra rằng không có một hình thức tôn giáo nào là cần thiết cho tất cả mọi người, mà qua bất cứ hình thức nào và qua tất cả các hình thức giống nhau, thậm chí ở bên ngoài chúng, con đường đến điều tối cao đều có thể được tìm thấy.

These three fetters are in a coherent series. The difference between individuality and personality being fully understood, it is then possible to some extent to appreciate the actual course of reincarnation, and so to dispel all doubt on that head. This done, the knowledge of the spiritual permanence of the true ego brings reliance on one’s own spiritual strength, and so dispels superstition.

Ba xiềng xích này nằm trong một chuỗi mạch lạc. Khi sự khác biệt giữa cá tính và phàm ngã đã được thấu hiểu đầy đủ, bấy giờ có thể phần nào cảm nhận tiến trình thực sự của tái sinh, và nhờ vậy xua tan mọi hoài nghi về điểm ấy. Khi điều này đã xong, tri thức về sự thường tồn tinh thần của chân ngã chân thật đem lại sự tin cậy vào sức mạnh tinh thần của chính mình, và do đó xua tan mê tín.

Subdivisions of the Steps

Các Phân Chia của Những Bước

Each stage of the Path Proper is divided into four steps. The first is its maggo or way, during which the student is striving to cast off the fetters. The second is its phala, literally fruit or result, when the man finds the result of his efforts showing themselves more and more. Thirdly comes its bhavagga or consummation, the period when, the result having culminated, he is able to fulfil satisfactorily the work belonging to the step on which he now firmly stands. The fourth is its gotrabhu, which means the time when he has arrived at a fit state to receive the next Initiation.

Mỗi giai đoạn của Đường Đạo Đích Thực được chia thành bốn bước. Bước thứ nhất là maggo hay con đường của nó, trong đó đạo sinh đang nỗ lực loại bỏ các xiềng xích. Bước thứ hai là phala, theo nghĩa đen là quả hay kết quả, khi con người thấy kết quả của những nỗ lực của mình tự biểu hiện ngày càng nhiều hơn. Thứ ba là bhavagga hay sự viên mãn của nó, thời kỳ khi, kết quả đã đạt đến đỉnh điểm, y có thể hoàn thành thỏa đáng công việc thuộc về bước mà nay y đang đứng vững trên đó. Bước thứ tư là gotrabhu, nghĩa là thời điểm khi y đã đạt tới một trạng thái thích hợp để nhận lần điểm đạo kế tiếp.

That the candidate may become gotrabhu, we see that complete and entire freedom from the fetters of his stage on the Path is absolutely essential. Before the man can proceed to the second Initiation, the Initiator chosen by the King demands evidence as to how the candidate has used the powers acquired by him at the first Initiation, and one of the most beautiful features of the ceremony is the part when those who have been helped by the candidate come forward to give their testimony. It is also requisite for this Initiation that the candidate shall have developed the power to function freely in his mental body, for although the ceremony of the first Initiation is held on the astral plane, that of the second takes place in the lower mental world.

Để ứng viên có thể trở thành gotrabhu, chúng ta thấy rằng sự tự do hoàn toàn và trọn vẹn khỏi những xiềng xích của giai đoạn y trên Đường Đạo là tuyệt đối thiết yếu. Trước khi con người có thể tiến đến lần điểm đạo thứ hai, Đấng Điểm đạo được Đức Vua chọn đòi hỏi bằng chứng về cách ứng viên đã sử dụng các quyền năng do y đạt được ở lần điểm đạo thứ nhất, và một trong những nét đẹp nhất của nghi lễ là phần khi những người đã được ứng viên giúp đỡ tiến lên để đưa ra lời chứng của họ. Điều cũng cần cho lần điểm đạo này là ứng viên phải đã phát triển quyền năng hoạt động tự do trong thể trí của mình, vì mặc dù nghi lễ của lần điểm đạo thứ nhất được tổ chức trên cõi cảm dục, nghi lễ của lần thứ hai diễn ra trong thế giới hạ trí.

It may seem difficult to reconcile that statement with the fact that the Initiations are described as occurring in a certain hall or garden; but really there is no discrepancy. If the Lord Maitreya acts as Initiator, the ceremony is usually performed either in his garden or in his great room. He himself is present in his physical body, and so in many cases is the Lord Vaivasvata Manu, who lives close by. All others present are usually in the astral vehicle in the case of the first Initiation, but in the mental body in the case of the second. The Great Ones present focus their consciousnesses with perfect ease at whatever level is required, but there is of course on the astral and the mental planes a perfect counterpart of everything on the physical, and so the accounts given are perfectly correct, and the positions taken up in relation to physical objects are just as there described.

Có thể dường như khó hòa hợp phát biểu ấy với sự kiện rằng các cuộc điểm đạo được mô tả là xảy ra trong một hội trường hay khu vườn nào đó; nhưng thực ra không có sự bất nhất. Nếu Đức Maitreya hành động như Đấng Điểm đạo, nghi lễ thường được thực hiện hoặc trong khu vườn của Ngài hoặc trong gian phòng lớn của Ngài. Chính Ngài hiện diện trong thể xác của Ngài, và trong nhiều trường hợp Đức Vaivasvata Manu, sống gần đó, cũng vậy. Tất cả những người khác hiện diện thường ở trong hiện thể cảm dục trong trường hợp lần điểm đạo thứ nhất, nhưng ở trong thể trí trong trường hợp lần thứ hai. Các Đấng Cao Cả hiện diện tập trung các tâm thức của Các Ngài với sự dễ dàng hoàn hảo ở bất cứ cấp độ nào được yêu cầu, nhưng dĩ nhiên trên các cõi cảm dục và trí tuệ có một đối phần hoàn hảo của mọi vật trên cõi hồng trần, và vì vậy các tường thuật được đưa ra là hoàn toàn đúng, và các vị trí được đảm nhận trong tương quan với các đối tượng hồng trần đúng như đã được mô tả ở đó.

Account of a Second Initiation

Tường Thuật về một Lần Điểm Đạo Thứ Hai

Following the plan of earlier chapters, I once more give an account of the ceremony:

Theo kế hoạch của các chương trước, tôi lại đưa ra một tường thuật về nghi lễ:

Notice was received that a great gathering of Adepts was to take place at the house of the Lord Maitreya on the night of the full moon of the month of Chaitra, and that advantage would be taken of the occurrence of this august assemblage to admit certain candidates to the Sakridagamin Initiation, as soon after as should be found convenient. The Master Morya desired the guardians of the young people to attend him not later than ten o’clock.

Người ta nhận được thông báo rằng một cuộc tụ hội lớn của các Chân sư sẽ diễn ra tại nhà của Đức Maitreya vào đêm trăng tròn tháng Chaitra, và rằng dịp tụ hội uy nghiêm này sẽ được dùng để tiếp nhận một số ứng viên vào lần điểm đạo Sakridagamin, ngay sau đó khi thấy thuận tiện. Chân sư Morya muốn những người giám hộ của các thanh thiếu niên đến gặp Ngài không muộn hơn mười giờ.

That evening many friends from India were hovering round, and when the candidates and their guardians went to the house of the Master Kuthumi, these followed discreetly and waited about respectfully in the near distance. Soon after they had reached the house, the Master Morya entered. The two Masters left almost immediately for the house of the Lord Maitreya, the disciples following and remaining in the garden while the masters entered the house.

Tối hôm ấy nhiều bạn hữu từ Ấn Độ đang lơ lửng quanh đó, và khi các ứng viên cùng những người giám hộ của họ đi đến nhà của Chân sư Kuthumi, những người này kín đáo đi theo và kính cẩn chờ ở khoảng cách gần. Ít lâu sau khi họ đến nhà, Chân sư Morya bước vào. Hai Chân sư gần như lập tức rời đi đến nhà của Đức Maitreya, các đệ tử đi theo và ở lại trong khu vườn trong khi các chân sư vào nhà.

This garden is on a southern slope of the Himalayas, overlooking a vast expanse of the plains of India, which stretch away to the far horizon. It is sheltered, lying in a hollow, and protected by a pinewood at the back which curves round on the right. Beyond this wood, and a little eastwards, is the very ancient stone house, with pillared and wide veranda, wherein dwells the Manu of our Race, the great Lord Vaivasvata. The garden of the Lord Maitreya was flooded with the silver light of tile full moon, which fell on the great clumps of rhododendrons and on the spring flowers in bloom, and shone dazzlingly on the white marble seat round the huge tree, the favourite resting-place of the Lord Maitreya, where he now took his place on issuing from the house. The Masters grouped themselves in a semicircle on the grass terrace just below his seat, taking their places on his right and left.

Khu vườn này nằm trên một sườn phía nam của dãy Himalaya, nhìn xuống một vùng rộng lớn của đồng bằng Ấn Độ trải dài đến tận chân trời xa. Nó được che chở, nằm trong một chỗ trũng, và được bảo vệ bởi một rừng thông phía sau uốn cong vòng sang bên phải. Bên kia khu rừng này, và hơi về phía đông, là ngôi nhà đá rất cổ, với hàng cột và hiên rộng, nơi Đức Manu của Nhân loại chúng ta, Đức Chúa Tể Vaivasvata vĩ đại, cư ngụ. Khu vườn của Đức Maitreya ngập trong ánh bạc của trăng tròn, chiếu lên những khóm đỗ quyên lớn và những bông hoa mùa xuân đang nở, và rực sáng trên chiếc ghế đá cẩm thạch trắng quanh cây đại thụ, nơi nghỉ ngơi yêu thích của Đức Maitreya, nơi Ngài nay an tọa khi bước ra khỏi nhà. Các Chân sư nhóm lại thành một hình bán nguyệt trên thềm cỏ ngay bên dưới chỗ ngồi của Ngài, đứng vào vị trí bên phải và bên trái Ngài.

On the terrace a step lower stood the two candidates, between the two Masters who presented them—the Master Kuthumi and the Master Djwal Kul. Behind them stood the appointed guardians of the younger candidate in the lower world. The Manu sat a little behind on the right hand of the Bodhisattva, and there shone out above them the glorious figure of the Lord Gautama Buddha, who in his last earthly life had accepted from these two candidates “the Vow which can never be broken,” and now gave his all-powerful benediction to them in the step which they were about to take. Near him was the Mahachohan, the Head of the five Rays, and between them and a little above them flashed out later in answer to the solemn invocation of the Bodhisattva the Blazing Star of the One Initiator, the mighty King of the Occult Hierarchy, the Lord of the World. Such was the exquisite setting of the ceremony of Initiation.

Trên thềm thấp hơn một bậc đứng hai ứng viên, giữa hai Chân sư đã giới thiệu họ — Chân sư Kuthumi và Chân sư Djwal Kul. Phía sau họ đứng những người giám hộ đã được chỉ định của ứng viên trẻ hơn trong thế giới thấp. Đức Manu ngồi hơi phía sau bên phải của Đức Bồ Tát, và phía trên các Ngài tỏa sáng hình ảnh vinh quang của Đức Gautama Buddha, Đấng trong đời trần thế cuối cùng của Ngài đã nhận từ hai ứng viên này “Lời Nguyện không bao giờ có thể bị phá vỡ,” và nay ban phúc lành toàn năng của Ngài cho họ trong bước mà họ sắp thực hiện. Gần Ngài là Đức Mahachohan, Đấng Đứng Đầu của năm Cung, và giữa các Ngài cùng hơi phía trên các Ngài, về sau, để đáp lại lời khẩn cầu trang nghiêm của Đức Bồ Tát, bừng sáng Ngôi Sao Rực Lửa của Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, Đức Vua hùng mạnh của Thánh Đoàn Huyền Bí, Đức Chúa Tể Thế Giới. Khung cảnh tinh tế của nghi lễ Điểm Đạo là như thế.

The Master Kuthumi and the Master Djwal Kul led the two candidates a step forward, and the Bodhisattva asked:

Chân sư Kuthumi và Chân sư Djwal Kul dẫn hai ứng viên tiến lên một bước, và Đức Bồ Tát hỏi:

“Who are these that you now bring before me?”

“Những người này là ai mà các huynh nay đưa đến trước tôi?”

The Master Kuthumi answered:

Chân sư Kuthumi đáp:

“These are two brothers who, having cast off the fetters of separateness, doubt and superstition, and having reaped the harvest and shown the result of their labour, now desire to enter on the Path of the Sakridagamin. I present them as Gotrabhu. “

“Đây là hai huynh đệ, những người sau khi đã loại bỏ các xiềng xích của sự chia tách, hoài nghi và mê tín, và đã gặt hái mùa màng cũng như cho thấy kết quả lao động của mình, nay mong muốn bước vào Con Đường của Sakridagamin. Tôi giới thiệu họ như những Gotrabhu.”

The Lord Maitreya asked:

Đức Maitreya hỏi:

“Will you continue to guide these Brothers along the Path they seek to enter?”

“Huynh có tiếp tục dẫn dắt các Huynh Đệ này dọc theo Đường Đạo mà họ tìm cách bước vào không?”

The Master replied:

Chân sư đáp:

“I will do so.”

“Tôi sẽ làm như vậy.”

The Lord said:

Đức Chúa nói:

“Our rule requires that two of the higher Brethren shall vouch for every candidate who presents himself for the second Path. Does any other Brother support their prayer?”

“Quy luật của chúng ta đòi hỏi rằng hai trong số các Huynh Đệ cao hơn phải bảo chứng cho mỗi ứng viên tự trình diện cho Con Đường thứ hai. Có Huynh Đệ nào khác ủng hộ lời thỉnh cầu của họ không?”

The Master Djwal Kul answered:

Chân sư Djwal Kul đáp:

“I do.”

“Tôi có.”

The Lord said, addressing the guardians:

Đức Chúa nói, khi ngỏ lời với những người giám hộ:

“You, as two Brothers living in the outer world, have taken charge of the younger of these candidates. You have had experience in your accepted duty of guardianship; are you willing, as the body is still of tender age, to persevere in that guardianship and to help him as he treads the second Path?”

“Các bạn, với tư cách là hai Huynh Đệ sống trong thế giới bên ngoài, đã nhận trách nhiệm về ứng viên trẻ hơn này. Các bạn đã có kinh nghiệm trong bổn phận giám hộ đã được chấp nhận của mình; vì thân thể y vẫn còn non trẻ, các bạn có sẵn lòng kiên trì trong việc giám hộ ấy và giúp y khi y bước trên Con Đường thứ hai không?”

They answered:

Họ đáp:

“We are willing and glad so to do.”

“Chúng tôi sẵn lòng và vui mừng làm như vậy.”

The Lord asked:

Đức Chúa hỏi:

“Is your love for him still so strong that the work will be pleasant and easy?”

“Tình thương của các bạn dành cho y vẫn còn mạnh đến mức công việc sẽ dễ chịu và nhẹ nhàng chăng?”

They answered:

Họ đáp:

“Our love for him is even deeper than it was when we began our happy task; he is easy to guide and eager to learn.”

“Tình thương của chúng tôi dành cho y còn sâu hơn cả khi chúng tôi bắt đầu nhiệm vụ hạnh phúc của mình; y dễ hướng dẫn và khao khát học hỏi.”

The Lord said to the younger candidate:

Đức Chúa nói với ứng viên trẻ hơn:

“And is your heart also full of love to these two Brothers, and will you continue gladly to submit yourself to their guidance, not permitting aught to come between your heart and theirs?”

“Và trái tim của con cũng đầy tình thương đối với hai Huynh Đệ này chăng, và con sẽ tiếp tục vui lòng đặt mình dưới sự hướng dẫn của họ, không cho phép bất cứ điều gì xen vào giữa trái tim con và trái tim họ chăng?”

He answered:

Y đáp:

“I will gladly do so, for I love them both dearly, and am grateful to them for their care.”

“Con sẽ vui lòng làm như vậy, vì con yêu quý cả hai người họ tha thiết, và biết ơn họ về sự chăm sóc của họ.”

The Lord said to the two candidates:

Đức Chúa nói với hai ứng viên:

“You desire then to enter on the Path of the Sakridagamin?” They answered:

“Vậy các con mong muốn bước vào Con Đường của Sakridagamin chăng?” Họ đáp:

“We do thus desire, if we are fit to enter on it.”

“Chúng con thật mong muốn như vậy, nếu chúng con xứng đáng bước vào đó.”

The Bodhisattva said:

Đức Bồ Tát nói:

“Forasmuch as it is the immemorial custom of this Brotherhood, when candidates are presented for each successive Initiation, to ask how they have used the powers previously conferred upon them; and forasmuch as a power is only a power when it is used for the helping of others; I ask therefore who will testify to services done by these candidates since last they stood before us, and were admitted into the Brotherhood; what definite work of teaching have they done? Whom have they helped?”

“Vì theo tập quán từ thời xa xưa của Huynh đệ Đoàn này, khi các ứng viên được trình diện cho mỗi lần Điểm đạo kế tiếp, chúng ta hỏi họ đã sử dụng những quyền năng trước kia được ban cho họ như thế nào; và vì một quyền năng chỉ thật là quyền năng khi nó được dùng để giúp đỡ kẻ khác; do đó tôi hỏi: ai sẽ chứng thực cho những phụng sự mà các ứng viên này đã thực hiện kể từ lần cuối họ đứng trước chúng ta và được nhận vào Huynh đệ Đoàn? Họ đã làm công việc giáo huấn cụ thể nào? Họ đã giúp đỡ những ai?”

As the solemn words clove the surrounding air, seeming as if they rang around the world as a summons, a great crowd of witnesses surged up from the four quarters, and hung silent, gazing with loving grateful eyes on the candidates standing in the centre. The Master Kuthumi spoke:

Khi những lời trang nghiêm ấy xé ngang bầu không khí chung quanh, dường như vang dội khắp thế gian như một lời triệu tập, một đám đông chứng nhân vĩ đại trào lên từ bốn phương, rồi lặng lẽ dừng lại, nhìn các ứng viên đang đứng ở trung tâm bằng đôi mắt đầy thương yêu và biết ơn. Chân sư Kuthumi phán:

“These are they from many nations and from many lands who from these, my two pupils, have received light, strength and comfort. From the lips of my elder son my message has gone forth to many thousands, and he has laboured unceasingly to bring the light to those who are in darkness; they are here to bear witness. He has also written a book and many articles which remain as evidence of his loving labour for others. My younger son”—the Master smiled tenderly—”is yet young in body for public work, but he has written a little book which gives to others the teaching I gave to him, and tens of thousands love him as their guide to us: they also are here, ready to bear witness”.

“Đây là những người đến từ nhiều quốc gia và nhiều xứ sở, những người đã nhận được ánh sáng, sức mạnh và niềm an ủi từ hai môn sinh này của tôi. Từ môi của người con trưởng của tôi, thông điệp của tôi đã truyền đến nhiều ngàn người, và y đã lao tác không ngừng để đem ánh sáng đến cho những ai đang ở trong bóng tối; họ có mặt nơi đây để làm chứng. Y cũng đã viết một quyển sách và nhiều bài viết còn lại như bằng chứng cho công lao đầy thương yêu của y vì người khác. Người con trẻ của tôi”—Chân sư mỉm cười dịu dàng—“thì thân xác còn trẻ đối với công việc công khai, nhưng y đã viết một quyển sách nhỏ trao cho người khác giáo huấn mà tôi đã trao cho y, và hàng chục ngàn người yêu mến y như người dẫn đường của họ đến với chúng tôi: họ cũng có mặt nơi đây, sẵn sàng làm chứng”.

And many voices cried: “We bear witness,” and the very air seemed vocal, so multitudinous were the testimonies. And the smile of the Bodhisattva grew sweet beyond expression as he, the Saviour of the world, listened to the answer he had evoked.

Và nhiều tiếng nói cất lên: “Chúng tôi làm chứng,” và chính bầu không khí dường như cũng thành tiếng nói, bởi những lời chứng thật vô số. Và nụ cười của Đức Bồ Tát trở nên dịu ngọt không sao diễn tả được khi Ngài, Đấng Cứu Thế của thế gian, lắng nghe câu trả lời mà Ngài đã gợi lên.

The first guardian then spoke: “I bear witness to the elder of these candidates, that in time of sore trouble and bitter strife he stood in perfect loyalty to both my Brother and myself, apparently opposed, in unshaken strength and sweetness, serene and true. I bear witness also to his unwearied and unselfish work for others, using all his powers in service. To the younger, my beloved ward, I bear witness that he is ever seeking to help those whom he meets, and shows rare skill in helping, while he sheds around him a radiant love and purity that make his mere presence a benediction. All know the value of his priceless little book.”

Vị hộ pháp thứ nhất khi ấy lên tiếng: “Tôi làm chứng cho người trưởng trong các ứng viên này rằng, trong thời kỳ gian nan khốc liệt và tranh chấp cay đắng, y đã đứng vững trong lòng trung thành trọn vẹn đối với cả Huynh đệ của tôi lẫn chính tôi, tuy bề ngoài dường như đối nghịch, với sức mạnh và sự dịu dàng bất lay chuyển, tĩnh lặng và chân thật. Tôi cũng làm chứng cho công việc không mệt mỏi và vô vị kỷ của y vì người khác, sử dụng mọi quyền năng của mình trong phụng sự. Đối với người trẻ hơn, người được tôi thương yêu bảo hộ, tôi làm chứng rằng y luôn tìm cách giúp đỡ những người y gặp, và bộc lộ kỹ năng hiếm có trong việc giúp đỡ, đồng thời tỏa quanh mình một tình thương và sự thanh khiết rạng ngời khiến chỉ riêng sự hiện diện của y đã là một phúc lành. Tất cả đều biết giá trị của quyển sách nhỏ vô giá của y.”

The second guardian also spoke in the candidates’ favour as follows:

Vị hộ pháp thứ hai cũng lên tiếng ủng hộ các ứng viên như sau:

“I also add my testimony in the case of both these dear candidates. I bear witness that the elder has rendered to me personally much loyal, affectionate and self-sacrificing help and support, and that I have heard from many others of the inspiration and light that he has brought into their lives. On behalf of the younger candidate I bear witness that I have myself seen the evidence of the wonderful love and devotion which he has inspired in the members of his Order both at Adyar and Benares, and of the change which has been produced in them. I have also received many letters in which the writers state that they owe a new conception of life to the book which he wrote.”

“Tôi cũng thêm lời chứng của mình trong trường hợp của cả hai ứng viên thân mến này. Tôi làm chứng rằng người trưởng đã đem đến cho cá nhân tôi nhiều sự giúp đỡ và nâng đỡ trung thành, trìu mến và đầy hi sinh, và tôi đã nghe từ nhiều người khác về cảm hứng và ánh sáng mà y đã mang vào đời sống họ. Nhân danh người ứng viên trẻ hơn, tôi làm chứng rằng chính tôi đã thấy bằng chứng về tình thương và lòng sùng kính tuyệt diệu mà y đã khơi dậy nơi các thành viên thuộc Hội của y, cả tại Adyar lẫn Benares, và về sự đổi thay đã được tạo ra trong họ. Tôi cũng đã nhận được nhiều bức thư, trong đó người viết nói rằng họ mang ơn quyển sách mà y đã viết vì một quan niệm mới về đời sống.”

The Master Kuthumi called from the multitudes some who had learned the truth from each candidate, who looked to him and followed him as guide. Many came forward to acknowledge the help given, each speaking what he felt in his heart; and many said that At the Feet of the Master had given them a new view of life. Some who had been much helped, but could not be brought on this occasion because they were awake and engaged in their ordinary avocations, were represented by living images made by the Master; and though these could say and do nothing, it is probable that some touch of the wonderful influences of the hour may have been conveyed through them to their originals. The crowd then withdrew, while the ceremony proceeded.

Chân sư Kuthumi gọi ra từ đám đông một số người đã học được chân lý từ mỗi ứng viên, những người nhìn về y và đi theo y như người dẫn đường. Nhiều người tiến ra để thừa nhận sự giúp đỡ đã được trao, mỗi người nói lên điều y cảm thấy trong lòng; và nhiều người nói rằng Dưới Chân Thầy đã trao cho họ một cách nhìn mới về đời sống. Một số người đã được giúp đỡ rất nhiều, nhưng không thể được đưa đến trong dịp này vì họ đang thức và bận rộn với những công việc thường ngày, được đại diện bằng những hình ảnh sống động do Chân sư tạo ra; và tuy các hình ảnh này không thể nói hay làm gì, rất có thể một chút ảnh hưởng kỳ diệu của giờ phút ấy đã được truyền qua chúng đến các nguyên bản của chúng. Đám đông khi ấy rút lui, trong khi nghi lễ tiếp tục.

The Bodhisattva then addressed the candidates, approving of the work they had done, and expressing the hope that the new powers now to be conferred upon them would be used as well as those had been which they already possessed. He continued:

Đức Bồ Tát khi ấy ngỏ lời với các ứng viên, tán thành công việc họ đã làm, và bày tỏ hy vọng rằng những quyền năng mới sắp được ban cho họ lúc này sẽ được sử dụng tốt đẹp như những quyền năng họ đã sở hữu. Ngài tiếp tục:

“You have cast off for ever the three fetters which bind your brethren on earth, and your own freedom must be used to lessen the weight of these fetters on them. You have learned with utter certainty that the idea of the separated self is a delusion; you must now impress that certainty on your lower vehicles, so that in them there shall never be any action or thought for the separated self, but that all shall be done for the One Self, working through all. Will you endeavour to do this, and not cease your efforts until you have succeeded?”

“Các con đã vĩnh viễn rũ bỏ ba xiềng xích trói buộc các huynh đệ của các con trên trần gian, và tự do của chính các con phải được dùng để làm nhẹ bớt sức nặng của những xiềng xích ấy trên họ. Các con đã học biết với sự chắc chắn tuyệt đối rằng ý tưởng về cái ngã tách biệt là một ảo tưởng; nay các con phải khắc sâu sự chắc chắn ấy vào các hiện thể thấp của mình, để trong chúng sẽ không bao giờ có bất kỳ hành động hay tư tưởng nào vì cái ngã tách biệt, mà tất cả sẽ được thực hiện vì Bản Ngã Duy Nhất, đang làm việc xuyên qua tất cả. Các con có cố gắng làm điều này, và không ngừng nỗ lực cho đến khi thành công không?”

The candidates answered: “I will.”

Các ứng viên đáp: “Con sẽ.”

The Lord Maitreya said:

Đức Maitreya phán:

“You have cast off the fetter of doubt, and you know surely that evolution is a fact, and that the method of evolution is the constant dipping down into matter under the law of readjustment. You must use the powers now to be conferred upon you for the dispelling of doubt in others regarding these vital facts, so that they may share in the knowledge you have gained—gained surely not for yourselves alone. Will you then use your powers for the enlightening of others?”

“Các con đã rũ bỏ xiềng xích của hoài nghi, và các con biết chắc rằng tiến hoá là một sự thật, và phương pháp của tiến hoá là sự chìm xuống liên tục vào vật chất dưới định luật tái điều chỉnh. Các con phải dùng những quyền năng nay được ban cho các con để xua tan hoài nghi nơi người khác về các sự thật thiết yếu này, hầu họ có thể chia sẻ tri thức mà các con đã đạt được—tri thức chắc chắn không phải chỉ đạt được cho riêng các con. Vậy các con có dùng quyền năng của mình để soi sáng người khác không?”

The candidates answered:

Các ứng viên đáp:

“I will so use them.”

“Con sẽ sử dụng chúng như vậy.”

The Lord Maitreya continued:

Đức Maitreya tiếp tục:

“You have transcended all superstition; you know that a man may find the light in any religion; you know that rites and ceremonies have no intrinsic value, and that all which is done by them can be done without them by knowledge and by will. Above all, you are free from the superstition of the wrath of the Power behind evolution, and you know that all that exists is within the Universal Love, and that it is the gospel of Universal Love which you must spread among men. Will you seek to lift the darkness by spreading this gospel?”

“Các con đã vượt qua mọi mê tín; các con biết rằng con người có thể tìm thấy ánh sáng trong bất cứ tôn giáo nào; các con biết rằng nghi lễ và lễ thức không có giá trị nội tại, và tất cả những gì được thực hiện nhờ chúng đều có thể được thực hiện không cần chúng, bằng tri thức và bằng ý chí. Trên hết, các con đã thoát khỏi mê tín về cơn thịnh nộ của Quyền Năng đứng sau tiến hoá, và các con biết rằng tất cả những gì hiện hữu đều ở trong Tình Thương Phổ Quát, và chính phúc âm của Tình Thương Phổ Quát là điều các con phải truyền bá giữa loài người. Các con có tìm cách nâng màn tối lên bằng cách truyền bá phúc âm này không?”

The candidates answered:

Các ứng viên đáp:

“I will.”

“Con sẽ.”

Then the Lord Maitreya added:

Rồi Đức Maitreya nói thêm:

“Never forget that there is no darkness save that which is made by ignorance and delusion. It was well said: ‘Every good gift and every perfect gift is from above, and cometh down from the Father of Lights, in whom is no variableness, neither shadow of turning.’ In him is no darkness at all, but men turn their backs on his Light, and then walk in their own shadows, crying out that it is dark.”

“Đừng bao giờ quên rằng không có bóng tối nào ngoài bóng tối do vô minh và ảo tưởng tạo ra. Lời này đã được nói rất hay: ‘Mọi ân tứ tốt lành và mọi ân tứ hoàn hảo đều từ trên cao, và xuống từ Cha của các Ánh Sáng, nơi Ngài không có sự biến đổi, cũng không có bóng rẽ chiều.’ Trong Ngài hoàn toàn không có bóng tối, nhưng con người quay lưng lại với Ánh Sáng của Ngài, rồi bước đi trong chính bóng của mình, kêu lên rằng trời tối.”

The candidates were then put through some tests as to work on the mental plane. They had to examine people in the heaven-world, such as would be placed under their care in the future, and the Lord asked them what they would do to help each case, having in view the limitations under which their charges would be labouring. One case was that of a mediaeval monk, very full of devotion, but with exceedingly limited ideas concerning God, the Saints and the Church, and the Lord questioned them as to what they would do to help his growth.

Các ứng viên khi ấy được đưa qua một số khảo nghiệm về công việc trên cõi trí. Họ phải khảo sát những người trong cõi thiên, những người về sau sẽ được đặt dưới sự chăm sóc của họ, và Đức Chúa hỏi họ sẽ làm gì để giúp từng trường hợp, xét đến những hạn chế mà những người được họ phụ trách sẽ phải lao tác trong đó. Một trường hợp là của một tu sĩ thời trung cổ, rất đầy lòng sùng tín, nhưng có những ý tưởng vô cùng hạn hẹp về Thượng đế, các Thánh và Giáo hội, và Đức Chúa hỏi họ sẽ làm gì để giúp sự tăng trưởng của ông.

All that passes during the second Initiation is done on the mental plane, and all are working in their mental bodies, not in the ordinary mayavi-rupa which they would use on the astral plane.

Tất cả những gì diễn ra trong lần điểm đạo thứ hai đều được thực hiện trên cõi trí, và tất cả đều làm việc trong thể trí của mình, chứ không trong mayavi-rupa thông thường mà họ sẽ dùng trên cõi cảm dục.

After this testing was over, and the candidates had successfully answered the questions addressed to them, they were led up to the Lord Maitreya and knelt before him. He rose; and, turning towards Shamballa, he cried aloud:

Sau khi cuộc khảo nghiệm này kết thúc, và các ứng viên đã trả lời thành công những câu hỏi được đặt ra cho họ, họ được dẫn đến trước Đức Maitreya và quỳ xuống trước Ngài. Ngài đứng dậy; và, quay về phía Shamballa, Ngài cất tiếng lớn:

“Do I this, O Lord of Light and Life and Glory, in Thy Name and for Thee?”

“Con có làm điều này, ôi Chúa Tể của Ánh Sáng, Sự Sống và Vinh Quang, trong Danh Ngài và vì Ngài không?”

Then over him flashed out the Blazing Star, giving the consent of the One Initiator, and the august figure of the Lord Gautama Buddha shone out with more blinding brilliance, while he raised his right hand in blessing. The Mahachohan also rose to add his benediction, as the Bodhisattva laid his hands in turn on each bowed head, and all bent low in reverent homage before the Mighty Ones; and there was silence.

Khi ấy, trên Ngài bừng lóe Ngôi Sao Rực Cháy, ban sự chấp thuận của Đấng Điểm đạo Duy Nhất, và hình dáng uy nghi của Đức Gautama Buddha tỏa sáng với vẻ rực rỡ chói lòa hơn, trong khi Ngài nâng tay phải lên ban phúc lành. Đức Mahachohan cũng đứng dậy để thêm lời chúc phúc của Ngài, khi Đức Bồ Tát lần lượt đặt tay lên từng đầu cúi xuống, và tất cả đều cúi sâu trong sự tôn kính trước Các Đấng Hùng Mạnh; và có sự im lặng.

In that stillness the Key of Knowledge was given, the Bodhisattva pouring out from his own mental and causal bodies rays of power which, falling on the mental and causal bodies of the newly initiated, stimulated into sudden and splendid growth the germs of similar powers therein existing. As though a bud, stimulated by the sun-rays, should suddenly burst into all the glory of the opened flower, so did their mental and causal bodies suddenly unfold the powers latent within them, expanding into radiant beauty. Through them, thus expanded, intuition could freely play, the great new power thus set free to work. And the Lord Maitreya said:

Trong sự tĩnh lặng ấy, Chìa Khóa Tri Thức được trao, Đức Bồ Tát tuôn đổ từ chính thể trí và thể nguyên nhân của Ngài những tia quyền năng, rơi xuống thể trí và thể nguyên nhân của những người mới được điểm đạo, kích thích các mầm của những quyền năng tương tự vốn đang hiện hữu trong đó phát triển đột ngột và huy hoàng. Như một nụ hoa, được các tia nắng mặt trời kích thích, bỗng bung nở trong tất cả vinh quang của đóa hoa đã mở, thì thể trí và thể nguyên nhân của họ cũng đột nhiên khai mở những quyền năng tiềm tàng bên trong, mở rộng thành vẻ đẹp rạng ngời. Qua chúng, khi đã được mở rộng như vậy, trực giác có thể vận hành tự do, quyền năng mới vĩ đại ấy nhờ đó được giải phóng để làm việc. Và Đức Maitreya phán:

“Take now this new power which I give you, and trust yourselves to it fearlessly. Bring your lower vehicles into such order and responsiveness that it may pass freely through them to your physical brain, and guide your conduct unerringly. So shall it shine upon the way which lies before you, and prepare you to enter upon the third Path.”

“Nay hãy nhận lấy quyền năng mới này mà Ta trao cho các con, và hãy phó mình cho nó không chút sợ hãi. Hãy đưa các hiện thể thấp của các con vào trật tự và sự đáp ứng đến mức nó có thể đi qua chúng một cách tự do đến bộ não hồng trần của các con, và hướng dẫn hành vi của các con không sai lạc. Như thế nó sẽ chiếu sáng trên con đường nằm trước các con, và chuẩn bị cho các con bước vào Con Đường thứ ba.”

He ended with the great benediction, and the Star and the august Figures near it vanished, all again bending low in reverence, and the great ceremony was over.

Ngài kết thúc bằng lời chúc phúc vĩ đại, và Ngôi Sao cùng các Hình Dáng uy nghi gần đó biến mất, tất cả lại cúi sâu trong tôn kính, và đại lễ đã hoàn tất.

The assembled Masters then left their places, and each spoke a few kind words to the newly initiated, and blessed them. The Master Kuthumi also addressed a kindly word to the crowd who had borne witness—who had withdrawn to some distance, as said above, but were now permitted again to approach to bid farewell to their leaders, who, in the light of the new knowledge just attained, gave some advice to these followers, and dismissed them with a blessing.

Các Chân sư tụ hội khi ấy rời khỏi chỗ của mình, và mỗi Ngài nói vài lời ân cần với những người mới được điểm đạo, rồi ban phúc lành cho họ. Chân sư Kuthumi cũng nói một lời ân cần với đám đông đã làm chứng—những người đã rút ra một khoảng cách, như đã nói ở trên, nhưng nay lại được phép tiến đến để từ biệt các vị dẫn đạo của họ; những vị này, trong ánh sáng của tri thức mới vừa đạt được, đã trao một vài lời khuyên cho những người theo mình, rồi tiễn họ đi với một phúc lành.

Mental Development

Phát Triển Trí Tuệ

The second Initiation rapidly continues the development of the mental body, and at or near this point the pupil learns to use the mayavi-rupa, which is sometimes translated as the body of illusion. This is a temporary astral body made by one who is able to function in his mental body. When a man travels in the astral plane, he usually does so in the astral body; and if it were necessary for him to show himself on the physical plane while he was functioning in his astral body, he would have to materialize a physical body round it. This is sometimes done, though not frequently, because it involves a great expenditure of force. Similarly, if he were working in his mental body and desired to manifest himself on the astral plane, he would need to materialize a temporary astral body, which is the mayavi-rupa. When he had finished his work, he would withdraw to the mental plane once more, and the temporary body would vanish, its materials returning to the general circulation of astral matter whence they had been drawn by the pupil’s will.

Lần điểm đạo thứ hai nhanh chóng tiếp tục sự phát triển của thể trí, và tại điểm này hoặc gần đó, môn sinh học cách sử dụng mayavi-rupa, đôi khi được dịch là thể ảo tưởng. Đây là một thể cảm dục tạm thời do người có khả năng hoạt động trong thể trí của mình tạo ra. Khi một người du hành trên cõi cảm dục, y thường làm như vậy trong thể cảm dục; và nếu cần cho y tự biểu hiện trên cõi hồng trần trong khi y đang hoạt động trong thể cảm dục, y sẽ phải hiện hình một thể xác quanh nó. Điều này đôi khi được thực hiện, dù không thường xuyên, vì nó đòi hỏi một sự tiêu hao mãnh lực lớn. Tương tự, nếu y đang làm việc trong thể trí và muốn biểu hiện trên cõi cảm dục, y sẽ cần hiện hình một thể cảm dục tạm thời, tức là mayavi-rupa. Khi y đã hoàn tất công việc, y sẽ rút về cõi trí một lần nữa, và thể tạm thời ấy sẽ biến mất, các chất liệu của nó trở lại dòng lưu thông chung của vật chất cảm dục, nơi chúng đã được ý chí của môn sinh rút ra.

Up to the time of the first Initiation the man works at night in his astral body; but as soon as it is perfectly under control and he is able to use it fully, work in the mental body is begun. When that body in turn is completely organized, it is a far more flexible vehicle than the astral body, and much that is impossible on the astral plane can be accomplished therein. With the power to form the mayavi-rupa, the man is able to pass instantly from the mental plane to the astral and back, and to use at all times the greater power and keener sense of the mental plane, and it is only necessary to form the astral materialization when he wants to become visible to people in the astral world. It is necessary that the Master shall first show his pupil how to make the mayavi-rupa, after which, although it is not at first an easy matter, he can do it for himself.

Cho đến thời điểm lần điểm đạo thứ nhất, con người làm việc ban đêm trong thể cảm dục của mình; nhưng ngay khi thể ấy hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát và y có thể sử dụng nó trọn vẹn, công việc trong thể trí bắt đầu. Khi thể ấy đến lượt nó được tổ chức hoàn toàn, nó là một vận cụ linh hoạt hơn xa thể cảm dục, và nhiều điều không thể thực hiện trên cõi cảm dục có thể được hoàn thành trong đó. Với quyền năng tạo thành mayavi-rupa, con người có thể đi tức khắc từ cõi trí xuống cõi cảm dục rồi trở lại, và luôn sử dụng quyền năng lớn hơn cùng giác quan sắc bén hơn của cõi trí; chỉ cần tạo sự hiện hình cảm dục khi y muốn trở nên hữu hình đối với những người trong thế giới cảm dục. Cần thiết là Chân sư trước hết phải chỉ cho môn sinh của Ngài cách tạo mayavi-rupa, sau đó, tuy lúc đầu việc ấy không dễ dàng, y có thể tự làm cho mình.

A very great expansion and development of the mental body takes place in connection with this second Initiation, but it is usually some years before the effects of this can show themselves in the physical brain. As they begin to do so they unquestionably put a great strain upon that brain, as it cannot be instantaneously tuned to the necessary pitch.

Một sự mở rộng và phát triển rất lớn của thể trí diễn ra liên quan đến lần điểm đạo thứ hai này, nhưng thường phải vài năm trước khi các hiệu quả của điều này có thể biểu hiện trong bộ não hồng trần. Khi chúng bắt đầu biểu hiện như vậy, chắc chắn chúng đặt một sức căng lớn lên bộ não ấy, vì nó không thể được điều chỉnh tức khắc đến cao độ cần thiết.

The Danger-Point

Điểm Nguy Hiểm

The period after the taking of the second Initiation is in many ways the most dangerous on the Path, although at any point until the fifth Initiation is passed there is the possibility of falling back, or of spending many incarnations wandering about. But it is at this stage especially that, if there is any weakness in a candidate’s character, it will show itself. It should be impossible for a man who has raised himself to this height to fall back; but unfortunately experience has shown us that even this does sometimes happen. In nearly all cases the danger comes through pride; if there is the least tinge of pride in the man’s nature, he is in serious risk of a fall. What we talk about down here as intellect is the merest reflection of the real thing; yet some of us are proud of that, proud of our intellect and insight. So when a man gets even a remote glimpse of what his intellect is going to be in the future there is serious danger, and if he once starts on that line he will have a terribly hard time getting back again. Nothing but unceasing and increasing vigilance can enable him to pass through this stage successfully, and it must be his constant endeavour to kill out every trace of pride, selfishness and prejudice.

Thời kỳ sau khi thọ lần điểm đạo thứ hai, theo nhiều phương diện, là nguy hiểm nhất trên Đường Đạo, mặc dù tại bất kỳ điểm nào cho đến khi vượt qua lần điểm đạo thứ năm vẫn có khả năng thụt lùi, hoặc trải qua nhiều kiếp sống lang thang. Nhưng đặc biệt chính ở giai đoạn này, nếu có bất kỳ điểm yếu nào trong tính cách của một ứng viên, nó sẽ tự bộc lộ. Đáng lẽ không thể có chuyện một người đã nâng mình lên đến độ cao này lại thụt lùi; nhưng tiếc thay kinh nghiệm đã cho chúng ta thấy rằng ngay cả điều này đôi khi cũng xảy ra. Trong hầu hết mọi trường hợp, nguy hiểm đến qua lòng kiêu hãnh; nếu có dù chỉ một vệt nhỏ kiêu hãnh trong bản chất của con người, y ở trong nguy cơ nghiêm trọng của sự sa ngã. Điều chúng ta nói đến dưới này như trí năng chỉ là phản chiếu nhỏ nhoi nhất của thực tại; vậy mà một số chúng ta lại kiêu hãnh về điều ấy, kiêu hãnh về trí năng và sự thấu thị của mình. Vì vậy, khi một người có được dù chỉ một thoáng nhìn xa xôi về trí năng của mình sẽ trở nên như thế nào trong tương lai, thì có nguy hiểm nghiêm trọng; và nếu y một khi bắt đầu đi theo đường ấy, y sẽ có một thời gian khủng khiếp khó khăn để quay trở lại. Không gì ngoài sự cảnh giác không ngừng và ngày càng tăng mới có thể giúp y vượt qua giai đoạn này một cách thành công, và nỗ lực thường xuyên của y phải là diệt trừ mọi dấu vết của kiêu hãnh, ích kỷ và thành kiến.

When we know these things from behind, we find sudden and curious illumination thrown upon various texts of the Bible. This danger-point in the life of the Initiate is indicated in the Gospel story by the temptation in the wilderness which followed the Baptism of Christ by John. The forty days in the wilderness symbolize the period during which the expansion of the mental body given in the second Initiation is being worked down into the physical brain, though for the ordinary candidate not forty days but forty years might well be required for its accomplishment. In the life of Jesus it was the period when his brain was being adapted to the incoming Christ. Then the devil, who in the symbolism represents the lower nature, comes to tempt the Initiate, first to use his powers for the satisfaction of his own needs: “If thou be the Son of God, command that these stones be made bread.” Then he is tempted to cast himself down from a pinnacle of the temple, thus performing a miracle which would astound the populace. And lastly he is shown all the kingdoms of the world and the glory of them, and the devil says: “All these things will I give thee, if thou wilt fall down and worship me”—he is tempted to use his powers to gratify his own ambition. Each of these temptations represents a different form of pride.

Khi chúng ta biết những điều này từ phía sau, chúng ta thấy ánh sáng soi rọi đột ngột và lạ lùng lên nhiều đoạn khác nhau trong Thánh Kinh. Điểm nguy hiểm này trong đời sống của điểm đạo đồ được chỉ ra trong câu chuyện Phúc Âm qua sự cám dỗ trong hoang địa, tiếp sau Lễ Rửa của Đức Christ bởi John. Bốn mươi ngày trong hoang địa tượng trưng cho thời kỳ trong đó sự mở rộng của thể trí được trao trong lần điểm đạo thứ hai đang được đưa xuống vào bộ não hồng trần, mặc dù đối với ứng viên thông thường, không phải bốn mươi ngày mà hẳn bốn mươi năm mới có thể cần thiết để hoàn tất việc đó. Trong đời sống của Đức Jesus, đó là thời kỳ bộ não của Ngài đang được thích nghi với Đức Christ đang đi vào. Rồi ma quỷ, trong biểu tượng đại diện cho bản chất thấp, đến cám dỗ điểm đạo đồ, trước hết là sử dụng quyền năng của mình để thỏa mãn các nhu cầu riêng: “Nếu ngươi là Con của Thượng đế, hãy truyền cho những hòn đá này hóa thành bánh.” Rồi y bị cám dỗ gieo mình xuống từ đỉnh đền thờ, qua đó thực hiện một phép lạ làm dân chúng kinh ngạc. Và cuối cùng y được cho thấy tất cả các vương quốc của thế gian cùng vinh quang của chúng, và ma quỷ nói: “Tất cả những điều này ta sẽ cho ngươi, nếu ngươi sấp mình xuống thờ lạy ta”—y bị cám dỗ sử dụng quyền năng của mình để thỏa mãn tham vọng riêng. Mỗi cám dỗ này đại diện cho một hình thức khác nhau của lòng kiêu hãnh.

Just as the first great Initiation corresponds to a new birth, so may the second Initiation be justly compared to the baptism of the Holy Ghost and of Fire; for it is the power of the Third Person of the Blessed Trinity that is outpoured at that moment, descending in what may but inadequately be described as a flood of fire, a flaming tide of living light. The man at this stage is spoken of among the Buddhists as a Sakadagamin, the man who returns but once, which means that he who has reached that level should need but one more incarnation before attaining Arhatship, the fourth Initiation, after which there is no compulsory physical rebirth. The Hindu name for this second step is the Kutichaka, the man who builds a hut, he who has reached a place of peace.

Cũng như lần điểm đạo lớn thứ nhất tương ứng với một sự sinh ra mới, thì lần điểm đạo thứ hai có thể được so sánh chính đáng với phép rửa của Chúa Thánh Thần và của Lửa; vì chính quyền năng của Ngôi Thứ Ba trong Tam Vị Chân Phúc được tuôn đổ vào lúc ấy, giáng xuống trong điều chỉ có thể được mô tả một cách bất toàn như một trận lũ lửa, một thủy triều rực cháy của ánh sáng sống động. Ở giai đoạn này, trong giới Phật tử, con người được gọi là một Sakadagamin, người chỉ trở lại một lần, nghĩa là người đã đạt đến cấp độ ấy chỉ cần thêm một lần nhập thể nữa trước khi đạt Quả vị A-la-hán, lần điểm đạo thứ tư, sau đó không còn sự tái sinh hồng trần bắt buộc. Danh xưng Ấn giáo cho bước thứ hai này là Kutichaka, người xây một túp lều, người đã đạt đến một nơi bình an.

At this stage no additional fetters are cast off, but it is usually a period of considerable psychic and intellectual advancement. If what are commonly called psychic faculties have not been previously acquired, it is the tradition that they should be developed at this stage, as without them it would seem practically impossible to assimilate the knowledge which must now be given, or to do the higher work for humanity in which the Initiate is now privileged to assist. He must have the astral consciousness at his command during his physical waking life, and during sleep the heaven-world will be open before him—for the consciousness of a man when away from his physical body is always one stage higher than it is while he is still burdened with the house of flesh. Dr. Besant, however, in her Initiation, the Perfecting of Man, supplies us with an alternative interpretation of this; she says that before a man can come to the third Initiation he must learn to bring the spirit of intuition (buddhi) down to his physical consciousness, so that it may abide in him and guide him. Then she adds:

Ở giai đoạn này không có xiềng xích bổ sung nào được rũ bỏ, nhưng thường đó là một thời kỳ tiến bộ thông linh và trí tuệ đáng kể. Nếu những gì thường được gọi là các năng lực thông linh chưa được đạt được trước đó, thì truyền thống nói rằng chúng phải được phát triển ở giai đoạn này, vì nếu không có chúng thì dường như thực tế không thể đồng hóa tri thức nay phải được trao, hoặc thực hiện công việc cao hơn cho nhân loại mà điểm đạo đồ nay được đặc ân trợ giúp. Y phải có tâm thức cảm dục dưới quyền điều khiển của mình trong đời sống thức tỉnh hồng trần, và trong giấc ngủ, cõi thiên sẽ mở ra trước y—vì tâm thức của một người khi rời khỏi thể xác luôn cao hơn một giai đoạn so với khi y vẫn còn bị gánh nặng bởi căn nhà bằng xác thịt. Tuy nhiên, Tiến sĩ Besant, trong Điểm đạo, Sự Hoàn Thiện Con Người, cung cấp cho chúng ta một cách diễn giải khác về điều này; bà nói rằng trước khi một người có thể đến lần điểm đạo thứ ba, y phải học cách đưa tinh thần của trực giác (Bồ đề) xuống tâm thức hồng trần của mình, để nó có thể cư ngụ trong y và hướng dẫn y. Rồi bà nói thêm:

This process is usually called “the development of psychic faculties,” and it is so, in the true meaning of the word “psychic”. But it does not mean the development of clairvoyance and clairaudience, which depend on a different process.[4]

Tiến trình này thường được gọi là “sự phát triển các năng lực thông linh,” và đúng là như vậy, theo ý nghĩa chân thật của từ “thông linh”. Nhưng nó không có nghĩa là sự phát triển thông nhãn và thông nhĩ, vốn tùy thuộc vào một tiến trình khác.

The Third Initiation

Lần Điểm Đạo Thứ Ba

When the candidate has passed through the four sub-stages of the second Initiation, and has once more become Gotrabhu, he is ready for the third Initiation, to become the Anagamin, which means literally “he who does not return,” for it is expected of him that he will attain the next Initiation in the same incarnation. The Hindu name for this stage is the Hamsa, which means a swan, but the word is also considered to be a form of the sentence So-ham, “That am I”. There is a tradition, too, that the swan is able to separate milk from water, and the sage is similarly able to realize the true value for living beings of the phenomena of life.

Khi ứng viên đã đi qua bốn tiểu giai đoạn của lần điểm đạo thứ hai, và một lần nữa trở thành Gotrabhu, y sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba, để trở thành Anagamin, có nghĩa đen là “người không trở lại,” vì người ta kỳ vọng nơi y rằng y sẽ đạt lần điểm đạo kế tiếp trong cùng một kiếp lâm phàm. Danh xưng Ấn giáo cho giai đoạn này là Hamsa, nghĩa là thiên nga, nhưng từ này cũng được xem là một hình thức của câu So-ham, “Ta là Cái Đó”. Cũng có một truyền thống rằng thiên nga có thể tách sữa khỏi nước, và bậc hiền triết cũng có khả năng tương tự là nhận ra giá trị chân thật của các hiện tượng đời sống đối với chúng sinh.

This Initiation is typified in the Christian symbolism by the Transfiguration of the Christ. He went up into an high mountain apart, and was transfigured before his disciples: “ His face did shine as the sun, and his raiment was white as the light,” “exceeding white as snow, so as no fuller on earth can white them”. This description suggests the Augoeides, the glorified man, and it is no inaccurate picture of what happens at this Initiation, for just as the second Initiation is principally concerned with the quickening of the lower mental body, so at this stage the causal body is especially developed. The ego is brought more closely into touch with the Monad, and is thus transfigured in very truth. Even the personality is affected by that wondrous outpouring. The higher and the lower self became one at the first Initiation, and that unity is never lost, but the development of the higher self that now takes place can never be mirrored in the lower worlds of form, although the two are one to the greatest possible extent.

Lần điểm đạo này được tiêu biểu trong biểu tượng Kitô giáo bằng cuộc Biến hình của Đức Christ. Ngài lên một ngọn núi cao riêng biệt, và được biến hình trước các đệ tử của Ngài: “Mặt Ngài sáng như mặt trời, và y phục Ngài trắng như ánh sáng,” “trắng vượt mức như tuyết, đến nỗi không thợ giặt nào trên đất có thể làm trắng được như vậy”. Mô tả này gợi đến Augoeides, con người được vinh quang hóa, và đó không phải là một bức tranh sai lạc về điều xảy ra trong lần điểm đạo này; vì cũng như lần điểm đạo thứ hai chủ yếu liên quan đến việc làm linh hoạt thể hạ trí, thì ở giai đoạn này thể nguyên nhân được phát triển đặc biệt. Chân ngã được đưa vào sự tiếp xúc gần gũi hơn với chân thần, và vì vậy được biến hình trong chân lý. Ngay cả phàm ngã cũng chịu ảnh hưởng của lần tuôn đổ kỳ diệu ấy. Chân ngã cao và phàm ngã đã trở thành một ở lần điểm đạo thứ nhất, và sự hợp nhất ấy không bao giờ mất đi; nhưng sự phát triển của chân ngã cao nay diễn ra không bao giờ có thể được phản chiếu trong các cõi thấp của hình tướng, mặc dù hai bên là một đến mức tối đa có thể.

The Gospel story tells also that at the Transfiguration there appeared Moses and Elijah, the chief figures of the old dispensation; one the greatest of the Jewish prophets, the other representing the Jewish law. Thus the two dispensations or methods of approach to truth, that of the following of the law and that of the inspiration of prophecy, are represented as with him who was about to establish a new dispensation, that of the Gospel; and all these symbols have meanings referring to the actual facts of the third Initiation.

Câu chuyện Phúc Âm cũng kể rằng trong cuộc Biến hình đã xuất hiện Moses và Elijah, những nhân vật chính của thời kỳ cũ; một người là vị tiên tri lớn nhất của Do Thái, người kia đại diện cho luật Do Thái. Như vậy, hai thời kỳ hay hai phương pháp tiếp cận chân lý, phương pháp tuân theo luật và phương pháp của cảm hứng tiên tri, được trình bày như ở cùng với Ngài, Đấng sắp thiết lập một thời kỳ mới, tức Phúc Âm; và tất cả các biểu tượng này đều có những ý nghĩa liên quan đến các sự kiện thực tế của lần điểm đạo thứ ba.

Another symbol relating to the same step appears in the Gospel story of the presentation of the Christ to his Father in the Temple. In the traditional account this is somewhat out of place, for the Christ is then presented as a little child. At this stage of the man’s progress he has to be brought before the Spiritual King of the World, the mighty Head of the Occult Hierarchy, who, at this third step, either confers the Initiation himself, or deputes one of his pupils, the three Lords of the Flame who came with him from Venus, to do so; and in the latter event the man is presented to the King soon after the Initiation has taken place. Thus the Christ is brought into the presence of his Father; the buddhi in the Initiate is raised until it becomes one with its origin on the nirvanic plane, and a very wonderful union between the first and the second principles in man is then effected.

Một biểu tượng khác liên quan đến cùng bước này xuất hiện trong câu chuyện Phúc Âm về việc dâng Đức Christ lên Cha của Ngài trong Đền Thờ. Trong trình thuật truyền thống, điều này có phần không đúng chỗ, vì Đức Christ khi ấy được trình diện như một hài nhi. Ở giai đoạn tiến bộ này của con người, y phải được đưa đến trước Vua Tinh Thần của Thế Giới, Đấng Thủ Lĩnh Hùng Mạnh của Thánh Đoàn Huyền Bí, Đấng, ở bước thứ ba này, hoặc chính Ngài ban điểm đạo, hoặc ủy nhiệm một trong các môn sinh của Ngài, ba Chúa Tể của Lửa đã đến cùng Ngài từ Sao Kim, thực hiện việc ấy; và trong trường hợp sau, con người được trình diện trước Đức Vua không lâu sau khi lần điểm đạo đã diễn ra. Như vậy Đức Christ được đưa vào sự hiện diện của Cha Ngài; Bồ đề trong điểm đạo đồ được nâng lên cho đến khi nó trở thành một với nguồn gốc của nó trên cõi Niết Bàn, và một sự hợp nhất rất kỳ diệu giữa nguyên khí thứ nhất và thứ hai trong con người khi ấy được thực hiện.

The Fourth and Fifth Fetters

Xiềng Xích Thứ Tư và Thứ Năm

The Anagamin enjoys, while moving through the round of his daily work, all the splendid possibilities given by the full possession of the faculties of the higher mental plane, and when he leaves his physical vehicle at night he enters once more into the wonderfully widened consciousness that belongs to the buddhic plane. While in this stage he has to throw off any lingering remains of what are called the fourth and fifth fetters, kamaraga and patigha, attachment to the enjoyment of sensation, typified by earthly love, and all possibility of anger or hatred. The aspirant must free himself from the possibility of being enslaved in any way by external things. It is not by any means that he will not feel the attraction of what is pleasant or beautiful or clean, nor the repulsion for the opposites of these things. He will still take them into account in the course of his work; but he will not let them be a deciding element in duty, and will override them entirely on those emergent occasions when it is necessary for his work.

Anagamin thụ hưởng, trong khi di chuyển qua vòng công việc hằng ngày của mình, tất cả những khả năng huy hoàng được trao bởi sự sở hữu trọn vẹn các năng lực của Cõi thượng trí; và khi y rời hiện thể hồng trần của mình vào ban đêm, y lại bước vào tâm thức được mở rộng kỳ diệu thuộc về cõi Bồ đề. Khi ở giai đoạn này, y phải gạt bỏ mọi tàn dư còn sót lại của những gì được gọi là xiềng xích thứ tư và thứ năm, kamaragapatigha, sự bám luyến vào khoái lạc của cảm giác, được tiêu biểu bằng tình yêu trần thế, và mọi khả năng giận dữ hay thù hận. Người chí nguyện phải tự giải thoát khỏi khả năng bị nô lệ dưới bất kỳ hình thức nào bởi những sự vật bên ngoài. Điều này hoàn toàn không có nghĩa là y sẽ không cảm thấy sức hút của những gì dễ chịu, đẹp đẽ hay thanh sạch, cũng không phải là y sẽ không cảm thấy sự ghê sợ đối với những điều đối nghịch với chúng. Y vẫn sẽ lưu tâm đến chúng trong tiến trình công việc của mình; nhưng y sẽ không để chúng trở thành yếu tố quyết định trong bổn phận, và sẽ hoàn toàn vượt qua chúng trong những dịp khẩn cấp khi điều đó cần thiết cho công việc của y.

Here we must guard against a possible misconception—one with which we frequently meet. The purest and noblest human love never dies away—is never in any way diminished by occult training; on the contrary, it is increased and widened until it embraces all with the same degree of fervour which at first was lavished on one or two only. But the student does in time rise above all considerations connected with the mere personality of those around him, and so is free from all the injustice and partiality which ordinary love so often brings in its train.

Ở đây chúng ta phải đề phòng một ngộ nhận có thể xảy ra—một ngộ nhận mà chúng ta thường xuyên gặp. Tình yêu nhân loại tinh khiết nhất và cao quý nhất không bao giờ tàn lụi—không bao giờ bị giảm bớt theo bất kỳ cách nào bởi sự rèn luyện huyền bí; trái lại, nó được gia tăng và mở rộng cho đến khi ôm trọn tất cả với cùng mức độ nhiệt thành mà lúc đầu chỉ được dồn cho một hoặc hai người. Nhưng theo thời gian, đạo sinh thật sự vươn lên trên mọi cân nhắc liên quan đến phàm ngã đơn thuần của những người quanh y, và vì vậy thoát khỏi mọi bất công và thiên vị mà tình yêu thông thường rất thường kéo theo.

Nor should it for a moment be supposed that in gaining this wide affection for all, he loses the especial love for his closer friends. The unusually perfect link between Ananda and the Lord Buddha, as between St. John and the Christ, is on record to prove that, on the contrary, this is enormously intensified; and the tie between a Master and his pupils is stronger far than any earthly bond. For the affection which flourishes upon the Path of Holiness is an affection between egos, not merely between personalities; therefore it is strong and permanent, without fear of diminution or fluctuation, for it is that “perfect love which casteth out fear”.

Cũng không nên dù trong một khoảnh khắc cho rằng khi đạt được tình thương rộng lớn này đối với tất cả, y đánh mất tình yêu đặc biệt dành cho những người bạn thân thiết hơn. Mối liên kết hoàn hảo khác thường giữa Ananda và Đức Phật, cũng như giữa Thánh John và Đức Christ, đã được ghi lại để chứng minh rằng, trái lại, điều này được tăng cường vô cùng; và mối dây giữa một Chân sư và các môn sinh của Ngài mạnh hơn xa bất kỳ ràng buộc trần thế nào. Vì tình thương nở hoa trên Con Đường Thánh Thiện là tình thương giữa các chân ngã, không chỉ giữa các phàm ngã; do đó nó mạnh mẽ và bền vững, không sợ suy giảm hay dao động, vì đó là “tình yêu hoàn hảo xua tan sợ hãi”.

Chapter 10 —

The Higher Initiations — Các Lần Điểm Đạo Cao Hơn

The Arhat

Vị A-la-hán

DURING THE stages following the first, second and third Initiations the candidate is gradually developing the buddhic consciousness; but at the fourth Initiation he enters the nirvanic plane, and from then onward he is engaged in climbing steadily through that, or rather through that division of it, consisting of its five lower sub-planes, on which the human ego has being. This initiation is in one way a midway point, as it is usually said that seven lives are occupied on the average at normal times between the first and the fourth Initiations, and seven lives also between the fourth and fifth; but these figures are capable of very great reduction or increase, as I have said before, and the actual period of time employed is in most cases not very great, since usually the lives are taken in immediate succession, without interludes in the heaven-world.

TRONG CÁC giai đoạn tiếp sau lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba, ứng viên dần dần phát triển tâm thức Bồ đề; nhưng ở lần điểm đạo thứ tư, y bước vào cõi Niết Bàn, và từ đó trở đi y chuyên chú leo lên đều đặn qua cõi ấy, hay đúng hơn qua phần của cõi ấy gồm năm cõi phụ thấp của nó, nơi chân ngã con người hiện hữu. Lần điểm đạo này, theo một cách nào đó, là Điểm ở giữa, vì người ta thường nói rằng trung bình trong những thời kỳ bình thường có bảy kiếp sống giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ tư, và cũng bảy kiếp sống giữa lần điểm đạo thứ tư và lần thứ năm; nhưng các con số này có thể giảm xuống hoặc tăng lên rất nhiều, như tôi đã nói trước đây, và khoảng thời gian thực tế được sử dụng trong hầu hết các trường hợp không lớn lắm, vì thường các kiếp sống được thực hiện liên tiếp ngay, không có quãng nghỉ trong cõi thiên.

The candidate who has passed the fourth Initiation is spoken of in Buddhist terminology as the Arhat, which means the worthy, the capable, the venerable or perfect, and in the Eastern books very many beautiful things are said about him, for they know at what a high level of evolution he stands. The Hindus call him the Paramahamsa, the one above or beyond the Hamsa.

Ứng viên đã vượt qua lần điểm đạo thứ tư được gọi theo thuật ngữ Phật giáo là Arhat, nghĩa là người xứng đáng, có năng lực, đáng tôn kính hay hoàn hảo; và trong các sách Đông phương có nói rất nhiều điều đẹp đẽ về y, vì họ biết y đứng ở cấp độ tiến hoá cao biết bao. Người Ấn giáo gọi y là Paramahamsa, người ở trên hay vượt ngoài Hamsa.

Christian Symbology

Biểu Tượng Học Kitô Giáo

In Christian symbology the fourth Initiation is indicated by the suffering in the garden of Gethsemane, the Crucifixion and the Resurrection of the Christ; though since there are certain preliminary stages it may be more completely symbolized by the various events that are said to have taken place during Holy Week. The first event in the series was that the Christ raised Lazarus from the dead; and this is always commemorated on the Saturday before Palm Sunday, though according to the Gospel narrative it took place a week or two earlier. On the Sunday there was the triumphal entry into Jerusalem; on Monday and Tuesday the delivery of a number of addresses in the Temple; on Wednesday the betrayal by Judas Iscariot; on Thursday the Founding of the Holy Eucharist; on the night between Thursday and Friday the trials before Pilate and Herod; and on Good Friday the Crucifixion. Holy Saturday was spent in preaching to the spirits in prison, and at midnight on Saturday, or rather at the first moment on Sunday morning, Christ rose from the dead, triumphant for evermore.

Trong biểu tượng học Kitô giáo, lần điểm đạo thứ tư được chỉ ra bằng nỗi thống khổ trong vườn Gethsemane, cuộc Đóng Đinh và sự Phục Sinh của Đức Christ; tuy nhiên vì có một số giai đoạn sơ khởi, nó có thể được biểu tượng hóa đầy đủ hơn bằng các biến cố khác nhau được nói là đã diễn ra trong Tuần Thánh. Biến cố đầu tiên trong chuỗi này là Đức Christ khiến Lazarus sống lại từ cõi chết; và điều này luôn được tưởng niệm vào ngày thứ Bảy trước Chúa Nhật Lễ Lá, dù theo trình thuật Phúc Âm thì nó đã xảy ra sớm hơn một hoặc hai tuần. Vào Chúa Nhật có cuộc vào thành Jerusalem trong khải hoàn; vào thứ Hai và thứ Ba là việc ban một số bài giảng trong Đền Thờ; vào thứ Tư là sự phản bội của Judas Iscariot; vào thứ Năm là việc thiết lập Thánh Thể; vào đêm giữa thứ Năm và thứ Sáu là các phiên xử trước Pilate và Herod; và vào Thứ Sáu Tuần Thánh là cuộc Đóng Đinh. Thứ Bảy Tuần Thánh được dành cho việc thuyết giảng cho các tinh thần trong ngục tù, và vào nửa đêm thứ Bảy, hay đúng hơn vào khoảnh khắc đầu tiên của sáng Chúa Nhật, Đức Christ đã sống lại từ cõi chết, khải hoàn mãi mãi.

All these details of the Christ-drama have a relation to what really happens in connection with the fourth Initiation. The Christ did something unusual and wonderful in the raising of Lazarus on the Saturday, and it was very largely as a result of that that he enjoyed his one earthly triumph soon after, for all the people came together when they heard of the raising of the dead man. They waited for him, and when he came out from the house to go on the way to Jerusalem they received him with an ovation and a great display of feeling, and treated him as in the East they still treat anyone whom they think to be holy; so he was escorted by the people with great enthusiasm into Jerusalem, and having won that little earthly recognition, he naturally took the opportunity of teaching them, and gave the addresses in the Temple, to which great crowds came to see and hear him. This is symbolical of what really takes place. The Initiate attracts some attention, and gains a certain amount of popularity and recognition. Then there is always the traitor to turn upon him and distort what he has said and done, so that it appears to be evil; as Ruysbroek puts it:

Tất cả những chi tiết này của vở kịch Đức Christ đều có liên hệ với những gì thật sự xảy ra liên quan đến lần điểm đạo thứ tư. Đức Christ đã làm một điều khác thường và kỳ diệu khi khiến Lazarus sống lại vào ngày thứ Bảy, và phần lớn chính do kết quả của việc đó mà Ngài hưởng được khải hoàn trần thế duy nhất của mình ngay sau đó, vì toàn dân tụ họp khi nghe tin người chết được làm cho sống lại. Họ chờ Ngài, và khi Ngài ra khỏi nhà để đi đường đến Jerusalem, họ tiếp đón Ngài bằng sự hoan hô và một biểu lộ tình cảm lớn lao, và đối xử với Ngài như ở Đông phương họ vẫn đối xử với bất cứ ai mà họ nghĩ là thánh thiện; vì vậy Ngài được dân chúng hộ tống vào Jerusalem với lòng nhiệt thành lớn lao, và khi đã giành được sự công nhận trần thế nhỏ bé ấy, tự nhiên Ngài nhân cơ hội dạy dỗ họ, và ban các bài giảng trong Đền Thờ, nơi những đám đông lớn kéo đến để thấy và nghe Ngài. Điều này là biểu tượng của những gì thật sự diễn ra. Điểm đạo đồ thu hút một sự chú ý nào đó, và đạt được một mức độ nổi tiếng cùng công nhận nhất định. Rồi luôn luôn có kẻ phản bội quay lại chống y và bóp méo những gì y đã nói và làm, khiến chúng có vẻ là tà ác; như Ruysbroek diễn đạt:

Sometimes these unhappy ones are deprived of the good things of earth, of their friends and relations, and are deserted by all creatures; their holiness is mistrusted and despised, men put a bad construction on all the works of their life, and they are rejected and disdained by all those who surround them; and sometimes they are afflicted with divers diseases.

Đôi khi những người bất hạnh này bị tước mất những điều tốt đẹp của trần gian, bạn bè và thân quyến của họ, và bị mọi tạo vật bỏ rơi; sự thánh thiện của họ bị nghi ngờ và khinh miệt, người ta gán một cách hiểu xấu cho mọi công việc trong đời họ, và họ bị tất cả những người chung quanh chối bỏ và khinh rẻ; đôi khi họ còn bị hành hạ bởi nhiều bệnh tật khác nhau.

Then follows a shower of obloquy and abuse, and his rejection by the world. After that comes the scene in the garden of Gethsemane when the Christ feels himself utterly forsaken; and then he is held up to derision and crucified. Finally there is the cry from the cross: “My God, my God, why hast Thou forsaken me?”

Rồi tiếp theo là một trận mưa phỉ báng và lăng nhục, và sự chối bỏ y bởi thế gian. Sau đó đến cảnh trong vườn Gethsemane khi Đức Christ cảm thấy mình hoàn toàn bị bỏ rơi; rồi Ngài bị đưa ra cho người ta nhạo báng và bị đóng đinh. Cuối cùng là tiếng kêu từ thập giá: “Thượng đế của con, Thượng đế của con, sao Ngài đã bỏ rơi con?”

Madame Blavatsky held a theory, which she expounded in The Secret Doctrine, which I am not able personally to verify, that the real meaning of those words was: “My God, how Thou dost glorify me!” I do not know which of the two renderings is the more accurate, but there is great truth in both of them. It is one of the features of the fourth Initiation that the man shall be left entirely alone. First he has to stand alone on the physical plane; all his friends turn against him through some misunderstanding; it all comes right afterwards but for the time the man is left with the feeling that all the world is against him.

Bà Blavatsky giữ một lý thuyết, mà bà đã trình bày trong Giáo Lý Bí Nhiệm, mà cá nhân tôi không thể xác minh, rằng ý nghĩa thật của những lời ấy là: “Thượng đế của con, Ngài làm vinh quang con biết bao!” Tôi không biết trong hai cách dịch ấy, cách nào chính xác hơn, nhưng có chân lý lớn lao trong cả hai. Một trong những đặc điểm của lần điểm đạo thứ tư là con người sẽ bị bỏ lại hoàn toàn một mình. Trước hết y phải đứng một mình trên cõi hồng trần; tất cả bạn bè của y quay lại chống y do một sự hiểu lầm nào đó; mọi việc sau đó sẽ trở nên đúng đắn, nhưng vào lúc ấy con người bị bỏ lại với cảm giác rằng cả thế gian chống lại y.

Perhaps that is not so great a trial, but there is another and inner side to it; for he has also to experience for a moment the condition called Avichi, which means “the waveless,” that which is without vibration. The state of Avichi is not, as has been popularly supposed, some kind of hell, but it is a condition in which the man stands absolutely alone in space, and feels cut off from all life, even from that of the Logos; and it is without doubt the most ghastly experience that it is possible for any human being to have. It is said to last only for a moment, but to those who have felt its supreme horror it seemed an eternity, for at that level time and space do not exist. That appalling trial has, I think, two object—first, that the candidate may be able fully to sympathize with those to whom Avichi comes as a result of their actions; and secondly, that he may learn to stand absolutely apart from everything external, triumphant in his utter certainty that he is one with the Logos and that this overwhelming consternation, caused by the sensation of isolation from him, is nothing but an illusion and a temptation. Some have collapsed before this terrible test, and have had to go back and begin over again their climb towards the higher Initiation; but for the man who can stand firm through its awful nightmare it is indeed a wonderful experience, however formidable, so that while to the trial itself the interpretation “Why hast Thou forsaken me?” might be applicable, “How Thou dost glorify me” would well express the feeling of the man who comes forth from it victorious.

Có lẽ đó chưa phải là một thử thách quá lớn, nhưng còn có một phương diện khác và bên trong của nó; vì y cũng phải kinh nghiệm trong một khoảnh khắc trạng thái gọi là Avichi, nghĩa là “không sóng,” tức cái không có rung động. Trạng thái Avichi không phải, như người ta thường nghĩ, là một loại địa ngục nào đó, mà là một tình trạng trong đó con người đứng hoàn toàn một mình trong không gian, và cảm thấy bị cắt lìa khỏi mọi sự sống, ngay cả khỏi sự sống của Thượng đế; và không nghi ngờ gì, đó là kinh nghiệm khủng khiếp nhất mà bất kỳ con người nào có thể trải qua. Người ta nói nó chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc, nhưng đối với những ai đã cảm thấy nỗi kinh hoàng tột cùng của nó, nó dường như là vĩnh cửu, vì ở cấp độ ấy thời gian và không gian không tồn tại. Tôi nghĩ thử thách kinh hoàng ấy có hai mục đích—thứ nhất, để ứng viên có thể hoàn toàn cảm thông với những người mà Avichi đến với họ như kết quả của hành động của họ; và thứ hai, để y có thể học đứng hoàn toàn tách biệt khỏi mọi sự bên ngoài, khải hoàn trong sự chắc chắn tuyệt đối rằng y là một với Thượng đế và rằng sự kinh hoảng choáng ngợp này, do cảm giác bị cô lập khỏi Ngài gây ra, chẳng là gì ngoài một ảo tưởng và một cám dỗ. Một số người đã sụp đổ trước thử thách khủng khiếp này, và đã phải quay trở lại rồi bắt đầu lại cuộc leo lên của mình hướng tới lần điểm đạo cao hơn; nhưng đối với người có thể đứng vững qua cơn ác mộng ghê gớm ấy, đó thật sự là một kinh nghiệm kỳ diệu, dù đáng sợ; vì vậy, trong khi cách diễn giải “Sao Ngài đã bỏ rơi con?” có thể áp dụng cho chính thử thách ấy, thì “Ngài làm vinh quang con biết bao” hẳn diễn tả đúng cảm nhận của người bước ra khỏi nó trong chiến thắng.

This Initiation differs from all the others in that it has this strange double aspect of suffering and victory. Each of the earlier Initiations was symbolized in the Christian system by one definite fact, the Birth, the Baptism, the Transfiguration; but in order to represent this fourth Initiation a series of events has been found necessary. The Crucifixion and all the varied sufferings of which it was the culmination were employed to typify one side of this Initiation, while the Resurrection with its triumph over death represents the other side. Always at this stage there is suffering, physical, astral and mental; always there is the condemnation by the world, and the apparent failure; always there is the splendid triumph upon higher planes—which, however, remains unknown to the outer world. The peculiar type of suffering which invariably accompanies this Initiation clears off any arrears of karma which may still stand in the Initiate’s way; and the patience and joyousness with which he endures them have great value in the strengthening of his character, and help to determine the extent of his usefulness in the work which lies before him.

Lần điểm đạo này khác với tất cả các lần khác ở chỗ nó có phương diện kép kỳ lạ này của đau khổ và chiến thắng. Mỗi lần điểm đạo trước đó được biểu tượng hóa trong hệ thống Kitô giáo bằng một sự kiện xác định, Sự Sinh Ra, Lễ Rửa, Cuộc Biến Hình; nhưng để trình bày lần điểm đạo thứ tư này, người ta thấy cần có một chuỗi biến cố. Cuộc Đóng Đinh và mọi đau khổ đa dạng mà nó là đỉnh điểm đã được dùng để tiêu biểu một phương diện của lần điểm đạo này, trong khi Sự Phục Sinh với chiến thắng của nó đối với cái chết biểu thị phương diện kia. Luôn luôn ở giai đoạn này có đau khổ, hồng trần, cảm dục và trí tuệ; luôn luôn có sự kết án của thế gian và thất bại bề ngoài; luôn luôn có chiến thắng huy hoàng trên các cõi cao hơn—tuy nhiên điều này vẫn không được thế giới bên ngoài biết đến. Loại đau khổ đặc biệt luôn đi kèm lần điểm đạo này thanh toán mọi phần nghiệp quả còn tồn đọng có thể còn đứng trên đường của điểm đạo đồ; và sự nhẫn nại cùng niềm vui mà y dùng để chịu đựng chúng có giá trị lớn trong việc tăng cường tính cách của y, và giúp xác định mức độ hữu dụng của y trong công việc nằm trước mặt.

The Crucifixion and Resurrection which symbolize the actual Initiation are thus described in an ancient Egyptian formula:

Cuộc Đóng Đinh và Phục Sinh tượng trưng cho lần điểm đạo thật sự được mô tả như sau trong một công thức Ai Cập cổ:

Then shall the candidate be bound upon the wooden cross, he shall die, he shall be buried, and shall descend into the underworld; after the third day he shall be brought back from the dead..

Khi ấy ứng viên sẽ bị buộc trên thập giá bằng gỗ, y sẽ chết, y sẽ được chôn cất, và sẽ đi xuống cõi âm; sau ngày thứ ba y sẽ được đưa trở lại từ cõi chết.

Only after three clear days and nights and part of a fourth had passed was the still entranced candidate of those ancient days raised from the sarcophagus in which he had lain, and borne into the outer air at the eastern side of the pyramid or temple, so that the first rays of the rising sun might fall upon his face and awaken him from his long sleep.

Chỉ sau khi ba ngày ba đêm trọn vẹn và một phần ngày thứ tư đã trôi qua, ứng viên của những ngày xưa ấy, vẫn còn trong trạng thái xuất thần, mới được nâng lên khỏi quan tài đá nơi y đã nằm, và được đem ra ngoài trời ở phía đông của kim tự tháp hay đền thờ, để những tia đầu tiên của mặt trời mọc có thể rơi trên mặt y và đánh thức y khỏi giấc ngủ dài.

There is an old proverb, “No cross, no crown,” which may be taken to mean that without man’s descent into matter, his binding on the cross of matter, it would have been impossible for him to gain the resurrection and receive the crown of glory; but by the limitation and through the sorrow and trouble he has gained the victory. It is impossible for us to describe that resurrection; all words that we can employ seem to sully its splendour, and any attempt at description seems almost blasphemy, but this much may be said, that a complete triumph has been obtained over all sorrows, troubles and difficulties, temptations and trials, and it is his for ever because he has conquered by knowledge and inner strength. We may recall how the Lord Buddha proclaimed his freedom:

Có một tục ngữ cổ: “Không thập giá, không vương miện,” có thể được hiểu là nếu không có sự giáng xuống của con người vào vật chất, sự bị buộc của y trên thập giá vật chất, thì y không thể đạt được sự phục sinh và nhận vương miện vinh quang; nhưng nhờ sự giới hạn, và qua nỗi sầu khổ cùng gian truân, y đã đạt được chiến thắng. Chúng ta không thể mô tả sự phục sinh ấy; mọi lời chúng ta có thể dùng dường như làm hoen ố vẻ huy hoàng của nó, và bất kỳ nỗ lực mô tả nào cũng gần như phạm thượng; nhưng có thể nói được chừng này: một chiến thắng trọn vẹn đã đạt được trên mọi nỗi sầu khổ, gian truân và khó khăn, cám dỗ và thử thách, và nó thuộc về y mãi mãi vì y đã chiến thắng bằng tri thức và sức mạnh bên trong. Chúng ta có thể nhớ lại cách Đức Phật tuyên bố sự tự do của Ngài:

Many a house of life

Biết bao ngôi nhà của sự sống

Hath held me—seeking ever him who wrought

Đã giữ ta—mãi tìm kiếm kẻ đã dựng nên

These prisons of the senses, sorrow-fraught;

Những nhà tù của các giác quan này, đầy sầu khổ;

Sore was my ceaseless strife!

Cuộc tranh đấu không ngừng của ta thật đau đớn!

But now,

Nhưng nay,

Thou builder of this tabernacle—thou!

Ngươi, kẻ kiến tạo của lều tạm này—chính ngươi!

I know thee! Never shalt thou build again

Ta biết ngươi! Ngươi sẽ không bao giờ xây lại

These walls of pain,

Những bức tường đau khổ này,

Nor raise the roof-tree of deceits, nor lay

Cũng không dựng kèo mái của dối lừa, cũng không đặt

Fresh rafters on the clay;

Rui mới trên đất sét;

Broken thy house is, and the ridge-pole split!

Nhà ngươi đã vỡ, và đòn nóc đã nứt!

Delusion fashioned it!

Ảo tưởng đã dựng nên nó!

Safe pass I thence—deliverance to obtain.

Ta an toàn rời khỏi đó — để đạt sự giải thoát.

Nirvana

Niết Bàn

For the Arhat henceforth the consciousness of the buddhic plane is his while still in the physical body, and when he leaves that body in sleep or trance, he passes at once into the unutterable glory of the nirvanic plane. At his Initiation he must have at least one glimpse of that nirvanic consciousness, just as at the first Initiation there must be a momentary experience of the buddhic, and now his daily effort will be to reach further and further up into the nirvanic plane. It is a task of prodigious difficulty, but gradually he will find himself able to work upwards into that ineffable splendour.

Đối với vị A-la-hán, từ nay tâm thức của cõi Bồ đề là của y ngay khi y vẫn còn ở trong thể xác, và khi y rời thể ấy trong giấc ngủ hay trong trạng thái xuất thần, y lập tức đi vào vinh quang khôn tả của cõi Niết Bàn. Vào lúc điểm đạo, y phải có ít nhất một thoáng nhìn vào tâm thức Niết Bàn ấy, cũng như trong lần điểm đạo thứ nhất phải có một kinh nghiệm thoáng qua về cõi Bồ đề; và giờ đây nỗ lực hằng ngày của y sẽ là vươn lên ngày càng xa hơn vào cõi Niết Bàn. Đó là một nhiệm vụ khó khăn phi thường, nhưng dần dần y sẽ thấy mình có thể hoạt động hướng thượng vào trong vẻ huy hoàng không thể diễn tả ấy.

The entry into it is utterly bewildering, and it brings as its first sensation an intense vividness of life, surprising even to him who is familiar with the buddhic plane. The surprise has been his before, though in a lesser measure, whenever he mounted for the first time from one plane to another. Even when we rise first in full and clear consciousness from the physical plane to the astral, we find the new life to be so much wider than any that we have hitherto known that we exclaim: “I thought I knew what life was, but I have never known before!” When we pass into the mental plane, we find the same feeling redoubled; the astral was wonderful, but it was nothing to the mental world. When we pass into the higher mental plane, again we have the same experience. At every step the same surprise comes over again, and no thought beforehand can prepare one for it, because it is always far more stupendous than anything that we can imagine, and life on all those higher planes is an intensity of bliss for which no words exist.

Việc bước vào đó hoàn toàn làm choáng ngợp, và cảm giác đầu tiên nó mang lại là một sự sống động mãnh liệt của Sự sống, gây kinh ngạc ngay cả cho người đã quen thuộc với cõi Bồ đề. Sự kinh ngạc ấy trước đây đã từng thuộc về y, tuy ở mức độ nhỏ hơn, mỗi khi y lần đầu tiên từ một cõi này vươn lên một cõi khác. Ngay cả khi lần đầu chúng ta vươn lên trong tâm thức đầy đủ và rõ ràng từ cõi hồng trần đến cõi cảm dục, chúng ta thấy sự sống mới rộng lớn hơn bất cứ điều gì mình từng biết đến nỗi phải thốt lên: “Tôi tưởng mình đã biết sự sống là gì, nhưng trước đây tôi chưa bao giờ biết!” Khi chúng ta đi vào cõi trí, chúng ta thấy cùng cảm giác ấy được nhân đôi; cõi cảm dục thật kỳ diệu, nhưng chẳng là gì so với thế giới trí tuệ. Khi chúng ta đi vào cõi thượng trí, một lần nữa chúng ta lại có cùng kinh nghiệm ấy. Ở mỗi bước, cùng một sự kinh ngạc lại tràn đến, và không một tư tưởng nào trước đó có thể chuẩn bị cho người ta đón nhận nó, vì nó luôn vĩ đại hơn vô cùng so với bất cứ điều gì chúng ta có thể tưởng tượng, và sự sống trên tất cả các cõi cao ấy là một cường độ chí phúc mà không lời nào có thể diễn tả.

European Orientalists have translated Nirvana as annihilation, because the word means “blown out,” as the light of a candle is extinguished by a breath. Nothing could be a more complete antithesis to the truth, except in the sense that it is certainly the annihilation of all that down here we know as man, because there he is no longer man, but God in man, a God among other Gods, though less than they.

Các nhà Đông phương học châu Âu đã dịch Niết Bàn là sự hủy diệt, bởi vì từ ấy có nghĩa là “bị thổi tắt”, như ánh sáng của một ngọn nến bị hơi thở dập tắt. Không điều gì có thể đối nghịch với chân lý trọn vẹn hơn thế, ngoại trừ theo nghĩa rằng đó chắc chắn là sự hủy diệt tất cả những gì dưới đây chúng ta biết là con người, bởi vì ở đó y không còn là con người nữa, mà là Thượng đế trong con người, một Thượng đế giữa các Thượng đế khác, dù thấp hơn Các Ngài.

Try to imagine the whole universe filled with and consisting of an immense torrent of living light, the whole moving onward, without relativity, a resistless onward sweep of a vast sea of light, light with a purpose (if that is comprehensible) tremendously concentrated, but absolutely without strain or effort—words fail. At first we feel nothing but the bliss of it, and see nothing but the intensity of the light; but gradually we begin to realize that even in this dazzling brightness there are brighter spots (nuclei, as it were) through which the light obtains a new quality that enables it to become perceptible on lower planes, whose inhabitants without this aid would be altogether beneath the possibility of sensing its effulgence. Then by degrees we begin to comprehend that these subsidiary suns are the Great Ones, the Planetary Spirits, great Angels, karmic Deities, Dhyan Chohans, Buddhas, Christs and Masters, and many others who are to us not even names, and to see that through them the light and the life are flowing down to the lower planes.

Hãy cố tưởng tượng toàn thể vũ trụ được lấp đầy và cấu thành bởi một dòng thác bao la của ánh sáng sống động, toàn thể ấy chuyển động tiến tới, không có tính tương đối, một cuộc cuốn trôi không thể cưỡng của một biển ánh sáng mênh mông, ánh sáng với một thiên ý — nếu điều ấy có thể hiểu được — tập trung mãnh liệt, nhưng tuyệt đối không căng thẳng hay cố gắng; lời nói đành bất lực. Lúc đầu chúng ta không cảm thấy gì ngoài chí phúc của nó, và không thấy gì ngoài cường độ của ánh sáng; nhưng dần dần chúng ta bắt đầu nhận ra rằng ngay cả trong độ chói lòa ấy cũng có những điểm sáng hơn — có thể gọi là các hạt nhân — qua đó ánh sáng đạt được một phẩm tính mới, khiến nó có thể trở nên khả giác trên các cõi thấp hơn, nơi cư dân nếu không có sự trợ giúp này thì hoàn toàn không thể cảm nhận được ánh huy hoàng của nó. Rồi dần dần chúng ta bắt đầu hiểu rằng những mặt trời phụ trợ này là các Đấng Cao Cả, các Chân Linh Hành Tinh, các Thiên Thần vĩ đại, các Thượng đế nghiệp quả, các Chohan Dhyani, các Đức Phật, các Đức Christ và các Chân sư, cùng nhiều vị khác mà đối với chúng ta thậm chí còn chưa có tên gọi; và thấy rằng qua Các Ngài, ánh sáng và sự sống tuôn xuống các cõi thấp hơn.

Little by little, as we become more accustomed to this marvelous reality, we begin to perceive that we are one with them, though far below the summit of their splendour, that we are part of the One that dwells somehow in them all, and also in every point of space between, and that we ourselves are also a focus, and through us at our much lower level the light and life are flowing to those who are still further away (not from it, for all are part of it and there is nothing else anywhere) but from the realization of it, the comprehension and experience of it.

Từng chút một, khi chúng ta trở nên quen thuộc hơn với thực tại kỳ diệu này, chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mình là một với Các Ngài, dù còn xa dưới đỉnh cao huy hoàng của Các Ngài; rằng chúng ta là một phần của Đấng Duy Nhất đang cư ngụ cách nào đó trong tất cả Các Ngài, và cũng trong mọi điểm của không gian ở giữa; và rằng chính chúng ta cũng là một tiêu điểm, và qua chúng ta, ở cấp độ thấp hơn rất nhiều của mình, ánh sáng và sự sống đang tuôn chảy đến những ai còn xa hơn nữa — không phải xa nó, vì tất cả đều là một phần của nó và không có gì khác ở bất cứ đâu — mà là xa sự nhận biết nó, sự thấu hiểu và kinh nghiệm nó.

Madame Blavatsky often spoke of that consciousness as having its centre everywhere and its circumference nowhere, a profoundly suggestive sentence, attributed variously to Pascal, Cardinal de Cusa and the Zohar, but belonging by right to the Books of Hermes. Far indeed from annihilation is such consciousness; the Initiate reaching it has not in the least lost the sense that he is himself; his memory is perfectly continuous; he is the same man, yet all this as well, and now indeed he can say “I am I” knowing what “I” really means.

Bà Blavatsky thường nói về tâm thức ấy như có trung tâm ở khắp nơi và chu vi không ở đâu cả, một câu nói gợi ý sâu xa, từng được gán nhiều cách cho Pascal, Hồng y de Cusa và Zohar, nhưng đúng ra thuộc về các Sách của Hermes. Tâm thức như thế thật xa với sự hủy diệt; vị điểm đạo đồ đạt đến nó không hề mất đi chút nào cảm thức rằng y là chính mình; ký ức của y hoàn toàn liên tục; y vẫn là cùng một con người, nhưng đồng thời cũng là tất cả những điều ấy, và giờ đây quả thật y có thể nói “Tôi là Tôi”, khi biết “Tôi” thật sự có nghĩa là gì.

Wonderfully well was this expressed by Sir Edwin Arnold in The Light of Asia:

Điều này đã được Sir Edwin Arnold diễn tả tuyệt vời trong Ánh Sáng Á Châu:

… Seeking nothing, he gains all;

… Không tìm kiếm gì, y đạt được tất cả;

Foregoing self, the Universe grows “I”;

Từ bỏ tự ngã, Vũ trụ trở thành “Tôi”;

If any teach Nirvana is to cease,

Nếu có ai dạy Niết Bàn là chấm dứt,

Say unto such they lie.

Hãy nói với họ rằng họ nói dối.

If any teach Nirvana is to live,

Nếu có ai dạy Niết Bàn là sống,

Say unto such they err; not knowing this,

Hãy nói với họ rằng họ lầm; vì không biết điều này,

Nor what light shines beyond their broken lamps,

Cũng không biết ánh sáng nào chiếu rạng ngoài những ngọn đèn vỡ của họ,

Nor lifeless, timeless bliss.

Cũng không biết chí phúc vô sinh, vô thời gian.

Not lifeless in the sense of being dead, for he is the very exemplification and expression of the most vivid life imaginable; lifeless because he is far beyond both death and life alike, quit of the samsara for ever. Hell had been defined as time without God, and heaven as God without time; surely this latter description is still more applicable to Nirvana.

Không phải vô sinh theo nghĩa đã chết, vì y chính là sự minh họa và biểu hiện sống động nhất có thể tưởng tượng của Sự sống mãnh liệt nhất; vô sinh vì y đã vượt xa cả cái chết lẫn sự sống như nhau, thoát khỏi samsara mãi mãi. Địa ngục đã được định nghĩa là thời gian không có Thượng đế, và thiên đàng là Thượng đế không có thời gian; chắc chắn mô tả sau còn thích hợp hơn nữa với Niết Bàn.

Any description of Nirvana which we may attempt must sound strange. No words that we can use can give even the least idea of such an experience as that, for all with which our minds are acquainted has long ago disappeared before that level is attained. There is, of course, even at that level, a sheath of some sort for the Spirit, impossible to describe, for in one sense it seems as though it were an atom, and yet in another it seems to be the whole plane. The man feels as if he were everywhere, but could focus anywhere within himself, and wherever for a moment the outpouring of force diminishes, that is for him a body.

Bất cứ mô tả nào về Niết Bàn mà chúng ta có thể cố gắng đưa ra đều phải nghe có vẻ lạ lùng. Không lời nào chúng ta có thể dùng có thể đem lại dù là ý niệm nhỏ nhất về một kinh nghiệm như thế, vì tất cả những gì thể trí chúng ta quen biết đã từ lâu biến mất trước khi cấp độ ấy được đạt tới. Dĩ nhiên, ngay cả ở cấp độ ấy vẫn có một loại vỏ bọc nào đó cho Tinh thần, không thể mô tả được, vì theo một nghĩa nó dường như là một nguyên tử, nhưng theo nghĩa khác nó dường như là toàn bộ cõi. Con người cảm thấy như thể y ở khắp nơi, nhưng có thể tập trung ở bất cứ đâu trong chính mình; và ở bất cứ nơi nào trong một khoảnh khắc lần tuôn đổ của mãnh lực giảm bớt, nơi đó đối với y là một thể.

The ineffable splendour of Nirvana necessarily surpasses all physical comprehension, and consequently even the most poetical attempts to depict it are foredoomed to failure. Nevertheless each man who writes of it approaches it from a different angle, and each may contribute some point which the others have missed. I have already tried to give my own impressions; let me now quote for you those of my lifelong friend and brother Bishop, George Sydney Arundale, who in his book Nirvana has made a very remarkable and most valiant effort to convey that which cannot be conveyed. We all fail, of course; yet I cannot but feel that he comes nearer to the achievement of success than I have done. He writes:

Vẻ huy hoàng khôn tả của Niết Bàn tất yếu vượt quá mọi sự thấu hiểu hồng trần, và do đó ngay cả những nỗ lực thi vị nhất nhằm mô tả nó cũng đã định trước sẽ thất bại. Tuy nhiên, mỗi người viết về nó đều tiếp cận nó từ một góc độ khác nhau, và mỗi người có thể đóng góp một điểm mà những người khác đã bỏ lỡ. Tôi đã cố gắng nêu những ấn tượng của chính mình; giờ đây hãy để tôi trích dẫn cho các bạn những ấn tượng của người bạn và người huynh đệ Giám mục suốt đời của tôi, George Sydney Arundale, người trong sách Niết Bàn của ông đã thực hiện một nỗ lực rất đáng chú ý và hết sức dũng cảm để truyền đạt điều không thể truyền đạt. Dĩ nhiên tất cả chúng ta đều thất bại; tuy vậy tôi không thể không cảm thấy rằng ông đến gần thành công hơn tôi. Ông viết:

My first remembrance is of seeing the Master K.H. looking as I had never seen him before. Radiant he is always, supremely radiant, but now he was more than radiant, and I cannot find a word down here to describe him in the glory in which I perceived him with the first flash of Nirvanic consciousness. Majestic and radiant are poor words—”blinding” perhaps expresses it better, for just for a moment I was overwhelmed. I almost wanted to veil my face from sight of him, and yet I could not keep my eyes from him, so unfathomably splendid did he appear—only less glorious than the King, as I afterwards realized, though at the time no greater glory could I conceive.

Ký ức đầu tiên của tôi là thấy Chân sư K.H. trong một dáng vẻ mà trước đây tôi chưa từng thấy Ngài. Ngài luôn luôn rạng rỡ, rạng rỡ tột bậc, nhưng giờ đây Ngài còn hơn cả rạng rỡ, và tôi không tìm được một từ nào dưới đây để mô tả Ngài trong vinh quang mà tôi đã nhận biết Ngài bằng tia chớp đầu tiên của tâm thức Niết Bàn. Oai nghi và rạng rỡ là những từ nghèo nàn — có lẽ “chói lòa” diễn tả tốt hơn, vì chỉ trong một khoảnh khắc tôi đã bị choáng ngợp. Tôi gần như muốn che mặt mình trước cảnh tượng của Ngài, nhưng lại không thể rời mắt khỏi Ngài, vì Ngài hiện ra huy hoàng không thể dò thấu — chỉ kém vinh quang hơn Đức Vua, như về sau tôi nhận ra, dù vào lúc ấy tôi không thể hình dung vinh quang nào lớn hơn.

I summon up my courage. I feel as if he were saying to me: “Welcome to a new kingdom which you must learn to conquer.” In his power my consciousness unfolds, and I step as it were across a threshold into Nirvana. Words and phrases, however beautiful, however majestic, almost desecrate as they strive to describe conditions there. Even the faint touch of first experience of this lofty level dwarfs into insignificance all other experiences of all other planes, save only the entry into the Presence of the One Initiator. I remember my first glimpse of the Buddhic plane on the occasion of admission to the ranks of the Great White Brotherhood; I recall to this day my marvelling at the vision of the Master in his Buddhic vehicle, and well do I remember, in the days that followed, the wondrous sense of unity with all things, with the trees and flowers, feeling with them all, growing with them and in them, suffering and rejoicing in and with them. I remember, too, the casting off of the friend of ages—the causal body; and I remember a vivid rending contrast between the moment before and the moment after the glimpse into the new kingdom.

Tôi tập hợp lòng can đảm của mình. Tôi cảm thấy như thể Ngài đang nói với tôi: “Chào mừng con đến một giới mới mà con phải học cách chinh phục.” Trong quyền năng của Ngài, tâm thức tôi khai mở, và tôi như bước qua một ngưỡng cửa vào Niết Bàn. Lời và cụm từ, dù đẹp đẽ đến đâu, dù oai nghi đến đâu, gần như xúc phạm khi cố mô tả các trạng thái ở đó. Ngay cả sự chạm nhẹ mờ nhạt của kinh nghiệm đầu tiên về cấp độ cao siêu này cũng làm cho mọi kinh nghiệm khác của mọi cõi khác trở nên nhỏ bé vô nghĩa, ngoại trừ việc bước vào Sự Hiện Diện của Đấng Điểm Đạo Duy Nhất. Tôi nhớ thoáng nhìn đầu tiên của mình về cõi Bồ đề nhân dịp được thu nhận vào hàng ngũ Thánh Đoàn; đến nay tôi vẫn nhớ sự kinh ngạc của mình trước linh ảnh về Chân sư trong vận cụ Bồ đề của Ngài, và tôi nhớ rất rõ, trong những ngày sau đó, cảm thức kỳ diệu về sự hợp nhất với muôn vật, với cây cối và hoa lá, cảm nhận cùng tất cả chúng, lớn lên cùng chúng và trong chúng, đau khổ và hoan hỉ trong chúng và cùng chúng. Tôi cũng nhớ việc cởi bỏ người bạn của nhiều thời đại — thể nguyên nhân; và tôi nhớ một sự tương phản xé toạc sống động giữa khoảnh khắc trước và khoảnh khắc sau thoáng nhìn vào giới mới.

But today the Master seems to me as One whom I have never known before, robed in the glories of a Kingdom I am entering as a little child. The new consciousness enfolds me, and in a moment my world is full of new, strange, glorious values. All is different, supremely different, though the same. A new Divinity is open to my eyes, and unfolds to my gaze a new meaning, a new purpose. It is the Buddhic unity transcended, glorified—a more marvellous unity; in some wonderful way it is merged in a state vaster and more tremendous. There is something even more true than unity, something more real. It seems impossible, and yet it is so.

Nhưng hôm nay Chân sư hiện ra với tôi như Đấng mà trước đây tôi chưa từng biết, khoác trong những vinh quang của một Giới mà tôi đang bước vào như một đứa trẻ nhỏ. Tâm thức mới bao bọc tôi, và trong một khoảnh khắc thế giới của tôi đầy những giá trị mới mẻ, lạ lùng, vinh quang. Tất cả đều khác, khác một cách tột bậc, dù vẫn là như cũ. Một Thiên tính mới mở ra trước mắt tôi, và khai mở trước cái nhìn của tôi một ý nghĩa mới, một thiên ý mới. Đó là sự hợp nhất Bồ đề được vượt qua, được vinh quang hóa — một sự hợp nhất kỳ diệu hơn; theo một cách tuyệt vời nào đó, nó hòa nhập vào một trạng thái rộng lớn hơn và mãnh liệt hơn. Có một điều còn chân thật hơn sự hợp nhất, một điều còn thực tại hơn. Dường như không thể như vậy, nhưng quả là như vậy.

What is the nature of that of which even Buddhic glory is but a limitation? I must use words, and words seem a terrible anti-climax. I can only say it is the Glory of a Light Transcendent, a world of Light which is the image of God’s own Eternity. I am face to face with an unspotted mirror of his Power and with an image of his Goodness. And the mirror, the image, is an endless ocean of Light, of which I become (though in one sense I already have been) a part, by an apotheosis of at-one-ments on plane after plane below. Brotherhood in the outer world; unity in the Buddhic world; light transcendent in Nirvana.

Bản chất của điều mà ngay cả vinh quang Bồ đề cũng chỉ là một giới hạn là gì? Tôi phải dùng lời, và lời dường như là một sự hụt hẫng khủng khiếp. Tôi chỉ có thể nói rằng đó là Vinh Quang của một Ánh Sáng Siêu Việt, một thế giới Ánh Sáng là hình ảnh của Chính Vĩnh Cửu của Thượng đế. Tôi đối diện với một tấm gương không tì vết của Quyền năng Ngài và với một hình ảnh của Thiện tính Ngài. Và tấm gương ấy, hình ảnh ấy, là một đại dương Ánh Sáng vô tận, mà tôi trở thành — dù theo một nghĩa nào đó tôi đã là — một phần, nhờ một sự thần hóa của những hợp nhất trên hết cõi này đến cõi khác bên dưới. Tình huynh đệ trong thế giới bên ngoài; sự hợp nhất trong thế giới Bồ đề; ánh sáng siêu việt trong Niết Bàn.

This Light Transcendent is nearer to the Real even than the Buddhic Unity which hitherto had seemed the most stupendous fact in all the world. Light the beginning; Light the path; Light the future; God said: “Let there be Light,” and there was and is Light indescribable. Beautiful as is the light in the world, it is but the faint and feeble image of the Light Triumphant—the adjective somehow seems appropriate—of these regions of the Real. It is the Sun-Light of the Sun ere it descends into the forms in which we know it. It is Light purified of form. It is Light which is the Life of form. It is an ever-present “intimation of immortality,” a future within the Now, and yet Eternal. It is an—I do not say “the”—apotheosis and essence of the light we know. All the glory of the most wonderful dawn (and one feels nothing can be more wonderful than a perfect Eastern dawn) is brought to glorious fruition and splendid perfection in the noonday which is Nirvana.

Ánh Sáng Siêu Việt này gần với Thực Tại hơn cả Sự Hợp Nhất Bồ đề, điều cho đến nay vẫn dường như là sự kiện vĩ đại nhất trong toàn thế giới. Ánh Sáng là khởi nguyên; Ánh Sáng là con đường; Ánh Sáng là tương lai; Thượng đế phán: “Hãy có Ánh Sáng”, và đã có, đang có Ánh Sáng không thể mô tả. Đẹp như ánh sáng trong thế giới này, nó chỉ là hình ảnh mờ nhạt và yếu ớt của Ánh Sáng Khải Hoàn — tính từ ấy bằng cách nào đó có vẻ thích hợp — của những miền Thực Tại này. Đó là Ánh Sáng-Mặt Trời của Mặt Trời trước khi nó giáng xuống vào những hình tướng trong đó chúng ta biết nó. Đó là Ánh Sáng đã được thanh lọc khỏi hình tướng. Đó là Ánh Sáng vốn là Sự Sống của hình tướng. Đó là một “dấu hiệu về sự bất tử” luôn hiện diện, một tương lai trong Hiện Tại, nhưng vẫn Vĩnh Cửu. Đó là một — tôi không nói “là” — sự thần hóa và tinh túy của ánh sáng mà chúng ta biết. Tất cả vinh quang của bình minh kỳ diệu nhất — và người ta cảm thấy không gì có thể kỳ diệu hơn một bình minh phương Đông hoàn hảo — được đưa đến sự kết trái vinh quang và sự toàn hảo rực rỡ trong buổi chính ngọ là Niết Bàn.

God is Light; Light is God; Man is Light; all is Light—a new meaning to the ancient Egyptian exhortations: “Look for the Light! Follow the Light! Perceive and learn to be at one with the Light of God in all things.” I look upon the world. I see the world in terms of Light. God-Light in manifestation in man-light, in rock-light, in tree-light, in creature-light. All is light—a blinding glory at the centre, translated into colour as it radiates towards its circumference. The blinding glory everywhere—the God-Light—the blazing seed of futurity in each individual thing in every kingdom. And the light-seed breaks up its whiteness (the word seems wrong, but “lightningness” is awkward) into colours of the spectrum.

Thượng đế là Ánh Sáng; Ánh Sáng là Thượng đế; Con người là Ánh Sáng; tất cả là Ánh Sáng — một ý nghĩa mới cho những lời khuyến dụ Ai Cập cổ đại: “Hãy tìm Ánh Sáng! Hãy theo Ánh Sáng! Hãy nhận biết và học cách trở nên một với Ánh Sáng của Thượng đế trong muôn vật.” Tôi nhìn vào thế giới. Tôi thấy thế giới theo nghĩa Ánh Sáng. Ánh Sáng-Thượng đế biểu hiện trong ánh sáng-con người, trong ánh sáng-đá, trong ánh sáng-cây, trong ánh sáng-sinh vật. Tất cả là ánh sáng — một vinh quang chói lòa ở trung tâm, được chuyển dịch thành màu sắc khi nó tỏa ra về phía chu vi của mình. Vinh quang chói lòa ở khắp nơi — Ánh Sáng-Thượng đế — hạt giống rực cháy của tương lai trong mỗi sự vật cá biệt ở mọi giới. Và hạt giống-ánh sáng phân tách sự trắng sáng của nó — từ này có vẻ không đúng, nhưng “tính chớp sáng” thì vụng về — thành các màu của quang phổ.

In each kingdom of Nature, seven great pathways of colour, potential in each pathway in the beginning, unfolding into glorious fruition at the close. I see the diamond, the ruby, the emerald, the sapphire—kings of the mineral kingdom—superb in the perfection of their colours. Yet at the bottom these glories exist, imprisoned, slowly being released through the evolutionary process, until they stand free and splendid as the kingdom’s jewels. In every kingdom it is the same. The free once more imprisoned that a mightier and more splendid freedom still may be achieved.

Trong mỗi giới của Thiên nhiên, có bảy con đường lớn của màu sắc, tiềm tàng trong mỗi con đường lúc khởi đầu, khai mở thành sự kết trái vinh quang vào lúc cuối. Tôi thấy kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo, lam ngọc — những vị vua của giới kim thạch — tuyệt mỹ trong sự toàn hảo của màu sắc chúng. Nhưng ở tầng sâu, những vinh quang này hiện hữu, bị giam giữ, chậm rãi được giải phóng qua tiến trình tiến hoá, cho đến khi chúng đứng tự do và rực rỡ như những châu báu của giới ấy. Trong mọi giới cũng như vậy. Cái từng tự do lại bị giam giữ một lần nữa để một tự do hùng mạnh hơn và rực rỡ hơn nữa có thể được thành tựu.

Bathed in the lightning-standing-still which is Nirvana, I perceive the imprisoned lightnings in all things. I perceive the Light which is dull—the savage; the Light which is bright—the man evolved; the Light which is glory—the Superman, the Master. I see colour everywhere in process of transmutation, of glorification, of transcendence. There is no blackness anywhere in the sense of a negation of Light. God said: “Let there be Light.” And there was and is light everywhere. “His Light shineth even in our darkness.”

Được tắm trong tia chớp-đứng-yên là Niết Bàn, tôi nhận biết những tia chớp bị giam giữ trong muôn vật. Tôi nhận biết Ánh Sáng còn mờ tối — người man dã; Ánh Sáng rực rỡ — con người đã tiến hoá; Ánh Sáng là vinh quang — Siêu nhân, Chân sư. Tôi thấy màu sắc ở khắp nơi trong tiến trình chuyển hoá, vinh quang hóa, siêu việt hóa. Không có bóng đen ở bất cứ đâu theo nghĩa là sự phủ định Ánh Sáng. Thượng đế phán: “Hãy có Ánh Sáng.” Và đã có, đang có ánh sáng ở khắp nơi. “Ánh Sáng của Ngài chiếu rạng ngay cả trong bóng tối của chúng ta.”

What is Nirvana? The Light Divine. I am touching, perhaps only for a moment, its lowest reaches, its densest layers. I cannot conceive down here even this Glory, but it leaves in me as I return to earth a new perception of Reality. I have taken a step nearer to the Real. There is a greater comradeship in the world than I had thought—a deeper identity, a more glorious origin, a more glorious way, and a more glorious goal. Round everywhere and at all times are God’s Sunshine Messengers. Every colour speaks his Word and his Voice. Every form breathes his purpose. I, dust in the Sunshine, yet am part of it, and looking upward to the Sun I see the sign of my own Divinity, and the embodied promise of my ultimate achievement. As is our Lord the Sun so shall we all be, for he has willed it so.

Niết Bàn là gì? Ánh Sáng Thiêng Liêng. Tôi đang chạm đến, có lẽ chỉ trong một khoảnh khắc, những vùng thấp nhất, những lớp đậm đặc nhất của nó. Dưới đây tôi không thể hình dung ngay cả Vinh Quang này, nhưng khi tôi trở lại trái đất, nó để lại trong tôi một nhận thức mới về Thực Tại. Tôi đã bước một bước gần hơn đến Thực Tại. Trong thế giới có một tình đồng hành lớn lao hơn tôi từng nghĩ — một bản sắc sâu hơn, một cội nguồn vinh quang hơn, một con đường vinh quang hơn, và một mục tiêu vinh quang hơn. Khắp nơi và mọi lúc đều có các Sứ Giả Ánh Dương của Thượng đế. Mỗi màu sắc nói Linh từ và Tiếng Nói của Ngài. Mỗi hình tướng thở ra Thiên Ý của Ngài. Tôi, hạt bụi trong Ánh Dương, vẫn là một phần của nó; và khi nhìn lên Mặt Trời, tôi thấy dấu hiệu của Thiên tính chính mình, và lời hứa nhập thể về thành tựu tối hậu của tôi. Như Chúa Tể chúng ta là Mặt Trời, tất cả chúng ta cũng sẽ như vậy, vì Ngài đã định ý như thế.

Light is language, thought, vesture and vehicle. A flash of light conveys for us down here a whole philosophy.

Ánh sáng là ngôn ngữ, tư tưởng, y phục và vận cụ. Một tia chớp ánh sáng truyền đạt cho chúng ta dưới đây cả một triết lý.

Light is the Will of the Sun, the Wisdom of the Sun, the Love of the Sun. It is written in books that Nirvana is bliss. Even from the outermost region, at the frontiers, I know Nirvana to be infinitely more. Just one glimpse and all things seem to be made new, within me and without me. I remain, yet am wholly changed, and everything round me seems to be undergoing a process of re-valuation. Even now, everything means far more than before. Every object, in every kingdom, seems in one way far more a shadow of Reality than a reality, for I perceive how feeble and inadequate must be all reflections of the Light. I did not know before that they were so feeble. And yet, equally true is it that every object is far more real, far less of a shadow of Reality, than I had thought. I see the prisonopportunity of form, and I perceive the shadows. I see the unfolding splendour of the Light-Eternal, and I perceive the Real. All other worlds are shadow-worlds compared with this Nirvanic world. And yet they are more real worlds because of this Nirvanic world, for I now perceive the seal of God’s purpose set upon all things, and I must reverence all things in far deeper measure than before.

Ánh sáng là Ý Chí của Mặt Trời, Minh Triết của Mặt Trời, Tình Thương của Mặt Trời. Trong sách viết rằng Niết Bàn là chí phúc. Ngay cả từ miền ngoài cùng, nơi biên giới, tôi biết Niết Bàn còn vô hạn hơn thế. Chỉ một thoáng nhìn thôi, và mọi sự dường như được làm cho mới lại, trong tôi và ngoài tôi. Tôi vẫn còn đó, nhưng đã hoàn toàn đổi khác, và mọi thứ quanh tôi dường như đang trải qua một tiến trình tái định giá. Ngay cả bây giờ, mọi sự đều có nghĩa nhiều hơn trước rất nhiều. Mỗi vật, trong mọi giới, theo một cách nào đó dường như là cái bóng của Thực Tại nhiều hơn là một thực tại, vì tôi nhận thấy mọi phản chiếu của Ánh Sáng hẳn phải yếu ớt và bất toàn đến mức nào. Trước đây tôi không biết chúng yếu ớt như vậy. Và tuy vậy, điều cũng đúng như thế là mỗi vật thật hơn rất nhiều, ít là cái bóng của Thực Tại hơn rất nhiều so với điều tôi từng nghĩ. Tôi thấy cơ hội-nhà tù của hình tướng, và tôi nhận biết các bóng. Tôi thấy vẻ huy hoàng khai mở của Ánh Sáng-Vĩnh Cửu, và tôi nhận biết Thực Tại. Tất cả các thế giới khác đều là các thế giới-bóng so với thế giới Niết Bàn này. Nhưng chúng lại là những thế giới thực hơn nhờ thế giới Niết Bàn này, vì giờ đây tôi nhận biết ấn tín Thiên Ý của Thượng đế được đặt trên muôn vật, và tôi phải tôn kính muôn vật sâu xa hơn trước rất nhiều.

Philosophers talk of pure Being. I seem to be able to sense what pure Being must be, not because I have contacted it, but because I have contacted that which is less short of pure Being than all other consciousness-states I have so far experienced.

Các triết gia nói về Hiện Tồn thuần túy. Tôi dường như có thể cảm nhận Hiện Tồn thuần túy hẳn là gì, không phải vì tôi đã tiếp xúc với nó, mà vì tôi đã tiếp xúc với điều ít xa cách Hiện Tồn thuần túy hơn tất cả những trạng thái tâm thức khác mà cho đến nay tôi đã trải nghiệm.

How true it is that language in this case conceals thought and meaning! I need Nirvanic language to convey the sense of Nirvanic things. As Myers has said so beautifully:

Thật đúng biết bao khi nói rằng trong trường hợp này ngôn ngữ che giấu tư tưởng và ý nghĩa! Tôi cần ngôn ngữ Niết Bàn để truyền đạt cảm thức về những sự vật Niết Bàn. Như Myers đã nói thật đẹp:

O, could I tell, ye surely would believe it!

Ôi, nếu tôi có thể kể, chắc các bạn sẽ tin!

O, could I only say what I have seen!

Ôi, nếu tôi chỉ có thể nói điều tôi đã thấy!

How should I tell or how can ye receive it,

Tôi phải kể thế nào, hay các bạn có thể nhận thế nào,

How, till he bringeth you where I have been?

Làm sao, cho đến khi Ngài đưa các bạn đến nơi tôi đã từng ở?

It is only fair to the distinguished author to say that the quotation given above is but a series of disconnected extracts.

Công bằng mà nói với vị tác giả lỗi lạc, đoạn trích dẫn trên chỉ là một loạt trích đoạn rời rạc.

The Buddhist monk Ananda M. in his book The Wisdom of the Aryas writes of Nirvana as follows:

Nhà sư Phật giáo Ananda M. trong sách Minh Triết của người Arya viết về Niết Bàn như sau:

The literal meaning of the word is simply “ blown out “—extinguished as is the flame of a lamp when it has been blown out; but you who have so far followed what has been said concerning it will understand how great has been the error of those who have expounded it as simply tantamount to sheer annihilation. Annihilation it is indeed in one sense—the annihilation of Desire, of Passion, of Self-delusion. But when we come to try to expound its meaning in terms other than negative, we are met with an insurmountable difficulty; that, namely, all our positive definitions must necessarily be in terms of the life we know, in terms of human thought; and here we speak of That which is beyond all Life, the very Goal towards which all Life is tending….

Nghĩa đen của từ này đơn giản là “bị thổi tắt” — tắt như ngọn lửa của một ngọn đèn khi bị thổi tắt; nhưng các bạn, những người cho đến nay đã theo dõi những gì được nói về nó, sẽ hiểu sai lầm của những người đã giải thích nó như chỉ tương đương với sự hủy diệt thuần túy lớn lao đến mức nào. Quả thật nó là sự hủy diệt theo một nghĩa — sự hủy diệt của Dục vọng, của Đam mê, của Ảo tưởng về tự ngã. Nhưng khi chúng ta cố giải thích ý nghĩa của nó bằng những thuật ngữ khác hơn là phủ định, chúng ta gặp một khó khăn không thể vượt qua; đó là mọi định nghĩa khẳng định của chúng ta tất yếu phải bằng những thuật ngữ của sự sống mà chúng ta biết, bằng những thuật ngữ của tư tưởng con người; và ở đây chúng ta nói về Cái vượt ngoài mọi Sự Sống, chính Mục Tiêu mà mọi Sự Sống đang hướng tới….

To the instructed Buddhist, Nirvana stands for the Ultimate, the Beyond, the Goal of Life—a state so utterly different from this conditioned ever-changing being of the Self-dream that we know as to lie not only quite beyond all naming and describing, but far past even Thought itself. And yet—and herein lies the wonder and the greatness of this Wisdom of the Aryas, won by the Greatest of the Aryans for the enfranchisement of man from all his self-wrought bondages—this Glory utterly beyond all grasp of thought, this Peace that is the very purpose of all strife-involving being lies nearer to us than our nearest consciousness; even as, to him who rightly understands, it is dearer than the dearest hope that we can frame. Past all the glory of the moon and sun, still infinitely far above the starry heights of conscious being sublimated to its ultimate; beyond the infinite abysses of that all-embracing æther wherein these universes have their bourneless home;—illimitably far remote above the utmost altitudes where Thought, with vainly-beating wings, falls like some lost bird that had aspired till the thin air no longer could support it;—still it dwells higher than the very thought we now are thinking, higher than the consciousness that, for the transitory moment, is all that truly can be termed ourselves.

Đối với người Phật tử đã được giáo huấn, Niết Bàn biểu thị Tối Hậu, Bên Kia, Mục Tiêu của Sự Sống — một trạng thái khác biệt đến tận cùng với hữu thể bị điều kiện hóa và luôn biến đổi của Giấc mơ-Tự ngã mà chúng ta biết, đến nỗi nó không chỉ hoàn toàn vượt ngoài mọi việc gọi tên và mô tả, mà còn vượt xa cả chính Tư tưởng. Và tuy vậy — và chính trong đó có điều kỳ diệu và sự vĩ đại của Minh Triết người Arya này, được Đấng Vĩ Đại Nhất trong những người Arya giành lấy để giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích do chính y tạo ra — Vinh Quang này hoàn toàn vượt ngoài mọi nắm bắt của tư tưởng, Bình An này vốn là chính mục đích của mọi hiện tồn bao hàm xung đột, lại nằm gần chúng ta hơn tâm thức gần nhất của chúng ta; cũng như, đối với người thấu hiểu đúng, nó còn quý hơn niềm hy vọng quý nhất mà chúng ta có thể hình thành. Vượt qua mọi vinh quang của mặt trăng và mặt trời, vẫn cao hơn vô hạn những tầng sao của hiện hữu hữu thức được thăng hoa đến mức tối hậu; vượt ngoài những vực thẳm vô tận của dĩ thái bao trùm tất cả, nơi các vũ trụ này có mái nhà vô biên của chúng; xa xôi vô hạn trên những độ cao cùng cực nơi Tư tưởng, với đôi cánh đập vô vọng, rơi xuống như một con chim lạc đã khao khát bay lên cho đến khi không khí loãng không còn có thể nâng đỡ nó; thế nhưng nó vẫn cư ngụ cao hơn chính tư tưởng mà giờ đây chúng ta đang suy nghĩ, cao hơn tâm thức vốn, trong khoảnh khắc thoáng qua, là tất cả những gì thật sự có thể được gọi là chính chúng ta.

Selfless to live and selfless die—seeking for no reward, but only service of the greater life; hoping for no high heaven, for no aeonian bliss, but only to grow selfless every day—such is the lesson that pervades alike the Master’s life, the Master’s Teaching; thereby may Peace come to all life at last!

Sống vô ngã và chết vô ngã — không tìm kiếm phần thưởng nào, mà chỉ phụng sự sự sống lớn lao hơn; không hy vọng cõi thượng thiên nào, không chí phúc thiên thu nào, mà chỉ để trở nên vô ngã hơn mỗi ngày — đó là bài học thấm nhuần như nhau trong đời sống của Đức Thầy, trong Giáo huấn của Đức Thầy; nhờ đó Bình An cuối cùng có thể đến với mọi sự sống!

Dr. Besant, referring to this subject in a recent lecture, said:

Tiến sĩ Besant, khi đề cập đến đề tài này trong một bài giảng gần đây, đã nói:

There is, in the Buddhist philosophy, a wonderful sentence of the Lord Gautama Buddha, where he is striving to indicate in human language something that would be intelligible about the condition of Nirvana. You find it in the Chinese translation of the Dhammapada, and the Chinese edition has been translation into English in Trübner’s Oriental Series. He puts it there that, unless there were Nirvana, there could be nothing; and he uses various phrases in order to indicate what he means, taking the uncreated and then connecting with it the created; taking the Real and then connecting with it the unreal. He sums it up by saying that Nirvana is; and that if it were not, naught else could be. That is an attempt (if one may call it so with all reverence) to say what cannot be said. It implies that unless there existed the Uncreate, the invisible and the Real, we could not have a universe at all. You have there, then, the indication that Nirvana is a plenum, not a void. That idea should be fundamentally fixed in your mind, in your study of every great system of Philosophy. So often the expressions used may seem to indicate a void. Hence the western idea of annihilation. If you think of it as fullness, you will realize that the consciousness expands more and more, without losing utterly the sense of identity; if you could think of a centre of a circle without a circumference, you would glimpse the truth.

Trong triết học Phật giáo có một câu tuyệt vời của Đức Phật Gautama, nơi Ngài cố gắng chỉ ra bằng ngôn ngữ con người một điều gì đó có thể hiểu được về trạng thái Niết Bàn. Các bạn tìm thấy nó trong bản dịch tiếng Trung của Dhammapada, và ấn bản tiếng Trung đã được dịch sang tiếng Anh trong Oriental Series của Trübner. Ở đó Ngài trình bày rằng nếu không có Niết Bàn thì không thể có gì cả; và Ngài dùng nhiều cụm từ khác nhau để chỉ ra điều Ngài muốn nói, lấy cái không được tạo sinh rồi nối nó với cái được tạo sinh; lấy Thực Tại rồi nối nó với cái không thực. Ngài tóm kết bằng cách nói rằng Niết Bàn là; và nếu nó không là, thì không gì khác có thể là. Đó là một nỗ lực — nếu người ta có thể gọi như vậy với tất cả lòng tôn kính — để nói điều không thể nói. Nó hàm ý rằng nếu không có Cái Không Được Tạo Sinh, cái vô hình và Thực Tại, chúng ta đã không thể có một vũ trụ nào cả. Vậy ở đó các bạn có dấu hiệu cho thấy Niết Bàn là một sự viên mãn, không phải một khoảng trống. Ý tưởng ấy nên được khắc sâu căn bản trong thể trí các bạn, trong khi nghiên cứu mọi hệ thống Triết học vĩ đại. Rất thường khi các cách diễn đạt được dùng có thể dường như chỉ một khoảng trống. Từ đó phát sinh ý niệm phương Tây về sự hủy diệt. Nếu các bạn nghĩ về nó như sự viên mãn, các bạn sẽ nhận ra rằng tâm thức mở rộng ngày càng nhiều, mà không hoàn toàn mất cảm thức về bản sắc; nếu các bạn có thể nghĩ về tâm của một vòng tròn không có chu vi, các bạn sẽ thoáng thấy chân lý.

The man who has once realized that marvellous unity can never forget it, can never be quite as he was before; for however deeply he may veil himself in lower vehicles in order to help and save others, however closely he may be bound to the cross of matter, cribbed, cabined and confined, he can never forget that his eyes have seen the King in his Beauty, that he has beheld the land which is very far off—very far off, yet very near, within us all the time if we could only see it, because to reach Nirvana we need not go away to some far-distant heaven, but only open our consciousness to its glory. As the Lord Buddha said long ago: “Do not complain and cry and pray, but open your eyes and see, for the light is all about you, and it is so wonderful, so beautiful, so far beyond anything of which men have ever dreamt, for which they have ever prayed, and it is for ever and for ever.”

Người nào một lần đã chứng nghiệm sự hợp nhất kỳ diệu ấy thì không bao giờ có thể quên nó, không bao giờ còn hoàn toàn như trước; vì dù y có che phủ mình sâu đến đâu trong các vận cụ thấp để giúp đỡ và cứu rỗi người khác, dù y có bị buộc chặt đến đâu vào thập giá vật chất, bị giam hãm, bị bó buộc và bị giới hạn, y không bao giờ có thể quên rằng mắt y đã thấy Đức Vua trong vẻ Đẹp của Ngài, rằng y đã chiêm ngưỡng vùng đất rất xa — rất xa, nhưng rất gần, ở trong tất cả chúng ta mọi lúc nếu chúng ta chỉ có thể thấy nó, bởi vì để đạt đến Niết Bàn, chúng ta không cần đi xa đến một thiên đường thật xa xôi nào, mà chỉ cần mở tâm thức mình ra trước vinh quang của nó. Như Đức Phật đã nói từ lâu: “Đừng than phiền, khóc lóc và cầu nguyện, mà hãy mở mắt và thấy, vì ánh sáng ở khắp quanh các bạn, và nó kỳ diệu biết bao, đẹp đẽ biết bao, vượt xa mọi điều con người từng mơ tưởng, từng cầu nguyện, và nó tồn tại mãi mãi đời đời.”

“The land that is very far off” is a quotation from the Prophet Isaiah, but strangely enough it is a mistranslation. Isaiah did not speak of the land which is very far off, but of the land of far distances, which is a very different idea and one of great beauty. It suggests that the Prophet had had some experience of these higher planes, and was comparing in his thought the splendour of the star-strewn fields of heaven with the cramped catacombs through which we crawl on earth; for that is what this life is as compared with that higher one, a blind crawling through dark and devious ways as compared with a splendid purposeful life, an utter realization of the Divine Will ensouling and working through the wills of those who dwell therein.

“Vùng đất rất xa” là một trích dẫn từ Ngôn sứ Isaiah, nhưng kỳ lạ thay đó lại là một bản dịch sai. Isaiah không nói về vùng đất rất xa, mà nói về vùng đất của những khoảng cách xa, một ý tưởng rất khác và vô cùng đẹp đẽ. Nó gợi ý rằng vị Ngôn sứ đã có một kinh nghiệm nào đó về các cõi cao này, và trong tư tưởng của mình đang so sánh vẻ huy hoàng của những cánh đồng thiên giới rải đầy sao với các hầm mộ chật hẹp mà chúng ta bò qua trên trái đất; vì đời sống này là như thế khi so với đời sống cao hơn kia, một sự bò trườn mù lòa qua những lối tối tăm và quanh co, so với một đời sống rực rỡ có chủ đích, một sự chứng nghiệm trọn vẹn Ý Chí thiêng liêng đang phú linh và hoạt động qua ý chí của những ai cư ngụ ở đó.

The Work of the Arhat

Công Việc của Vị A-la-hán

A mighty work the Arhat has before him to climb to the topmost heights of that utmost of human planes of existence, and while he is doing it he must cast off the remaining five of the ten great fetters, which are:

Một công việc hùng mạnh đang ở trước vị A-la-hán: leo lên những đỉnh cao nhất của cõi tồn tại tối hậu thuộc nhân loại ấy; và trong khi làm điều đó, y phải vứt bỏ năm trong mười xiềng xích lớn còn lại, đó là:

6. Ruparaga—desire for beauty of form or for physical existence in a form, even including that in the heaven-world.

6. Ruparaga — dục vọng đối với vẻ đẹp của hình tướng hoặc đối với sự tồn tại hồng trần trong một hình tướng, kể cả điều ấy trong thế giới thiên đường.

7. Aruparaga—desire for formless life.

7. Aruparaga — dục vọng đối với đời sống vô tướng.

8. Mano—pride.

8. Mano — kiêu mạn.

9. Uddhachchha—agitation or irritability, the possibility of being disturbed by anything.

9. Uddhachchha — sự kích động hay dễ cáu giận, khả năng bị bất cứ điều gì làm xao động.

10. Avijja—ignorance.

10. Avijja — vô minh.

The sixth and seventh fetters include not only the idea of raga, or attraction, but also that of dwesha or repulsion, and the casting off of these fetters implies a quality of character such that nothing in the lower planes of form, or the higher and formless planes, can hold him by its attraction even for a moment, or can repel him by its disagreeableness if he have work therein. As the eighth fetter, Mana, is filed away he forgets the greatness of his own achievements, and pride becomes impossible for him, since now he stands always in the light, and measures himself against no lower thing. Then comes the perfect serenity which naught can disturb, leaving him free to acquire all knowledge, to become practically omniscient as regards our planetary chain.

Xiềng xích thứ sáu và thứ bảy không chỉ bao gồm ý niệm về raga, hay sự hấp dẫn, mà còn cả ý niệm về dwesha hay sự đẩy lùi; và việc vứt bỏ những xiềng xích này hàm ý một phẩm tính của tính cách như thế này: không điều gì trong các cõi thấp của hình tướng, hay trong các cõi cao hơn và vô tướng, có thể giữ y lại bằng sự hấp dẫn của nó dù chỉ trong một khoảnh khắc, hoặc đẩy lùi y bằng tính khó chịu của nó nếu y có công việc ở đó. Khi xiềng xích thứ tám, Mana, được mài mòn đi, y quên đi sự vĩ đại của những thành tựu của chính mình, và kiêu mạn trở thành điều không thể đối với y, vì giờ đây y luôn đứng trong ánh sáng, và không đo lường mình với bất cứ điều gì thấp hơn. Rồi đến sự tĩnh lặng hoàn hảo mà không gì có thể quấy động, để y tự do đạt được mọi tri thức, trở nên thực tế toàn tri đối với dãy hành tinh của chúng ta.

The Fifth Initiation

Lần Điểm Đạo Thứ Năm

Now does the candidate approach the fifth Initiation, that of the Adept; “he hath wrought the purpose through of that which made him man,” so now he takes the final step that makes him Superman—Asekha, as the Buddhists call him, because he has no more to learn, and has exhausted the possibilities of the human kingdom of nature; Jivanmukta, as the Hindus speak of him, a liberated life, a free being, free not because of any separate independence, but because his will is one with the universal Will, that of the One without a second. He stands ever in the light of Nirvana, even in his waking consciousness, should he choose to remain on earth in a physical body, and when out of that body he rises still higher into the Monadic plane, beyond not merely our words but our thought. Hear again the Lord Buddha:

Giờ đây ứng viên tiến đến lần điểm đạo thứ năm, lần điểm đạo của Chân sư; “y đã hoàn thành trọn vẹn mục đích của điều đã làm y thành người”, nên giờ đây y bước bước cuối cùng khiến y thành Siêu nhân — Asekha, như các Phật tử gọi y, bởi vì y không còn gì để học nữa, và đã khai thác hết các khả năng của giới nhân loại trong thiên nhiên; Jivanmukta, như người Ấn giáo gọi y, một sự sống được giải thoát, một hữu thể tự do, tự do không phải do bất cứ sự độc lập tách biệt nào, mà bởi vì ý chí của y là một với Ý Chí Vũ Trụ, Ý Chí của Đấng Duy Nhất không có thứ hai. Y luôn đứng trong ánh sáng của Niết Bàn, ngay cả trong tâm thức thức tỉnh của mình, nếu y chọn ở lại trái đất trong một thể xác; và khi ra khỏi thể ấy, y vươn lên cao hơn nữa vào cõi chân thần, vượt ngoài không chỉ lời nói mà cả tư tưởng của chúng ta. Hãy nghe lại Đức Phật:

… Measure not with words

… Đừng đo lường bằng lời

The Immeasurable; nor sink the string of thought

Cái Không Thể Đo; cũng đừng thả dây tư tưởng

Into the Fathomless. Who asks doth err;

Vào Cái Không Dò Được. Ai hỏi là lầm;

Who answers, errs. Say naught!

Ai đáp, cũng lầm. Đừng nói gì!

In Christian symbolism the Ascension and the Descent of the Holy Ghost stand for the attainment of Adeptship, for the Adept does ascend clear above humanity, beyond this earth, although if he so chooses, as did the Christ, he may return to teach and help. As he ascends he becomes one with the Holy Spirit, and invariably the first thing he does with his new power is to pour it down upon his disciples, even as the Christ poured down tongues of fire upon the heads of his followers at the Feast of Pentecost. A glance at any of the diagrams showing the principles in man, which have been published in earlier books, will show the relation between the manifestations of the Logos in the Prakritic Cosmic plane and in the soul of man; we shall see that the triple atma, the threefold Spirit of man, lies in the lower part of the nirvanic or spiritual plane, and that the lowest manifestation of the Third Person, God the Holy Spirit, is in the higher part of the same plane. The Adept becomes one with him at that level, and that is the real explanation of that Christian feast of Whitsunday, the festival of the Holy Spirit. It is on account of unity with him that the Asekha can take pupils; the Arhat, though he has very much to teach, still works under an Adept, acts for him and carries out his orders on the physical plane, but does not take pupils for himself, because he has not yet that special link with the Holy Spirit.

Trong biểu tượng học Cơ Đốc, sự Thăng Thiên và sự Giáng Lâm của Chúa Thánh Thần biểu thị việc đạt đến Chân sư quả, vì Chân sư thật sự thăng lên hoàn toàn vượt trên nhân loại, vượt ngoài trái đất này, mặc dù nếu Ngài chọn, như Đức Christ đã làm, Ngài có thể trở lại để giảng dạy và giúp đỡ. Khi Ngài thăng lên, Ngài trở nên một với Chúa Thánh Thần, và điều đầu tiên Ngài luôn luôn làm với quyền năng mới của mình là tuôn đổ nó xuống các đệ tử của Ngài, cũng như Đức Christ đã tuôn đổ các lưỡi lửa xuống trên đầu các tín đồ của Ngài vào Lễ Ngũ Tuần. Nhìn lướt qua bất cứ biểu đồ nào trình bày các nguyên khí trong con người, đã được xuất bản trong những sách trước, sẽ cho thấy mối liên hệ giữa các biểu hiện của Thượng đế trong cõi Vũ Trụ Prakritic và trong linh hồn con người; chúng ta sẽ thấy rằng atma tam phân, Tinh thần tam phân của con người, nằm ở phần thấp của cõi Niết Bàn hay cõi tinh thần, và biểu hiện thấp nhất của Ngôi Ba, Thượng đế Chúa Thánh Thần, nằm ở phần cao hơn của cùng cõi ấy. Chân sư trở nên một với Ngài ở cấp độ đó, và đó là lời giải thích thật sự cho lễ Whitsunday của Cơ Đốc giáo, lễ hội của Chúa Thánh Thần. Chính nhờ sự hợp nhất với Ngài mà Asekha có thể nhận học trò; vị A-la-hán, dù có rất nhiều điều để dạy, vẫn làm việc dưới quyền một Chân sư, hành động cho Ngài và thi hành mệnh lệnh của Ngài trên cõi hồng trần, nhưng không tự mình nhận học trò, bởi vì y chưa có mối liên kết đặc biệt ấy với Chúa Thánh Thần.

Beyond Adeptship

Bên Kia Chân Sư Quả

Above the Initiation of the Adept lies that of the Chohan, and further on still others, of which I will speak in the Chapter on the Occult Hierarchy. The ladder of being extends up into clouds of light, into which few of us as yet can penetrate, and when we ask those who stand higher than we and know infinitely more than we do, all they can say is that it extends beyond their sight also. They know very many more steps of it than we do, but it goes still further, onward and upward to unimaginable heights of glory, and no one knows its end.

Trên lần điểm đạo của Chân sư là lần điểm đạo của Chohan, và xa hơn nữa còn có những lần khác, về chúng tôi sẽ nói trong Chương về Huyền Giai Huyền Bí. Chiếc thang của hiện tồn vươn lên vào những đám mây ánh sáng, nơi ít người trong chúng ta cho đến nay có thể xuyên vào; và khi chúng ta hỏi những vị đứng cao hơn chúng ta và biết nhiều hơn chúng ta vô hạn, tất cả những gì Các Ngài có thể nói là nó cũng vươn xa ngoài tầm nhìn của Các Ngài. Các Ngài biết nhiều bậc thang của nó hơn chúng ta rất nhiều, nhưng nó vẫn còn đi xa hơn nữa, tiến tới và hướng thượng đến những đỉnh cao vinh quang không thể tưởng tượng, và không ai biết tận cùng của nó.

Although what I have just said is absolutely accurate—that none of us can see the end of that ladder, and that the work of those in the higher ranks of the Hierarchy is almost incomprehensible, still I wish to make it perfectly clear that their existence and work is as real and definite as anything in the world—nay, more so, and that there is not the slightest vagueness about our vision of those Great Ones. Though I know but little about the higher part of his work, for many years past I have seen the Bodhisattva constantly, almost daily, engaged in that work, and I have very many times seen the Lord of the World in his wonderful and incomprehensible existence; so that they are to me people just as real as any whom I know, and I am as certain as I can possibly be of their existence and of something of the part that they play in the world.

Mặc dù điều tôi vừa nói là hoàn toàn chính xác — rằng không ai trong chúng ta có thể thấy tận cùng của chiếc thang ấy, và công việc của những vị ở các cấp cao hơn trong Thánh Đoàn gần như không thể thấu hiểu — tôi vẫn muốn làm rõ một cách hoàn toàn rằng sự hiện hữu và công việc của Các Ngài cũng thực và xác định như bất cứ điều gì trong thế giới, thậm chí còn hơn thế, và rằng không hề có chút mơ hồ nào trong tầm nhìn của chúng ta về các Đấng Cao Cả ấy. Dù tôi biết rất ít về phần cao hơn trong công việc của Ngài, trong nhiều năm qua tôi đã liên tục thấy Đức Bồ Tát, hầu như hằng ngày, tham gia vào công việc ấy, và tôi đã nhiều lần thấy Đức Chúa Tể Thế Giới trong sự hiện hữu kỳ diệu và không thể thấu hiểu của Ngài; vì vậy đối với tôi Các Ngài là những người thật như bất cứ ai tôi biết, và tôi chắc chắn hết mức có thể về sự hiện hữu của Các Ngài và một phần nào đó vai trò Các Ngài đảm nhiệm trong thế giới.

Of the tremendous truth of what I can say about them I am utterly certain, and yet I cannot explain them, nor understand more than a fragment of what they are doing. I have seen Dhyan Chohans and Planetary Spirits and Ambassadors from other solar systems, and I know absolutely of the existence and transcendent glory of those people, but what their tremendous life-work may be I do not know at all. I have myself seen the Manifestation of the Logos of the Solar System, seen him as he is among his Peers, and yet millions of times more than the unspeakable grandeur that I have seen in him must be that which they see when they look at him. As Arjuna in the Bhagavad Gita is said to have seen the Divine Form, so have I seen, without the shadow of a doubt. And I want to put my testimony on record that these things are so. I dare say that I lay myself open to a certain amount of scorn for writing this; people will ask: “Who are you, to say these things?” But I have seen, and it would be cowardly to refuse to bear witness.

Về chân lý phi thường của những điều tôi có thể nói về Các Ngài, tôi hoàn toàn chắc chắn, nhưng tôi không thể giải thích Các Ngài, cũng không thấu hiểu hơn một phần nhỏ những gì Các Ngài đang làm. Tôi đã thấy các Chohan Dhyani và các Chân Linh Hành Tinh cùng các Sứ giả từ những hệ mặt trời khác, và tôi biết tuyệt đối về sự hiện hữu cùng vinh quang siêu việt của các Vị ấy, nhưng sự nghiệp đời sống phi thường của Các Ngài có thể là gì thì tôi hoàn toàn không biết. Chính tôi đã thấy Sự Biểu Hiện của Thượng đế của Hệ Mặt Trời, thấy Ngài như Ngài là giữa các Đấng Đồng Hàng của Ngài, và tuy vậy điều Các Ngài thấy khi nhìn vào Ngài hẳn phải lớn hơn hàng triệu lần so với vẻ uy nghi không thể nói mà tôi đã thấy nơi Ngài. Như Arjuna trong Bhagavad Gita được nói là đã thấy Hình Tướng Thiêng Liêng, tôi cũng đã thấy như vậy, không chút bóng dáng nghi ngờ. Và tôi muốn ghi lại lời chứng của mình rằng những điều này là như thế. Tôi dám nói rằng khi viết điều này tôi tự đặt mình trước một mức độ khinh miệt nào đó; người ta sẽ hỏi: “Ông là ai mà nói những điều này?” Nhưng tôi đã thấy, và sẽ là hèn nhát nếu từ chối làm chứng.

I have repeatedly declared, both in speech and in writing, that I wish no one to base his belief in Theosophy upon any assertion of mine. I think that each man should study the system for himself and come to his own conclusions, the fundamental reason for his acceptance of any doctrine being either that he knows it from his own experience or that he finds it the most reasonable hypothesis at present before him. But that in no way alters the fact that I have evidence to give to those who care to listen to it—evidence which I have placed before them in this and other books. We who write upon Theosophy in this twentieth century can fully reaffirm St. John’s plain statement of nearly two thousand years ago:

Tôi đã nhiều lần tuyên bố, cả trong lời nói lẫn văn bản, rằng tôi không muốn bất cứ ai đặt niềm tin của mình vào Thông Thiên Học dựa trên bất kỳ khẳng định nào của tôi. Tôi nghĩ rằng mỗi người nên tự mình nghiên cứu hệ thống ấy và đi đến kết luận của riêng mình; lý do căn bản để y chấp nhận bất kỳ giáo lý nào phải là hoặc y biết điều đó từ kinh nghiệm của chính mình, hoặc y thấy đó là giả thuyết hợp lý nhất hiện có trước y. Nhưng điều đó không hề thay đổi sự thật rằng tôi có chứng cứ để trao cho những ai muốn lắng nghe — chứng cứ mà tôi đã đặt trước họ trong sách này và những sách khác. Chúng tôi, những người viết về Thông Thiên Học trong thế kỷ hai mươi này, có thể hoàn toàn tái khẳng định lời tuyên bố giản dị của Thánh John gần hai nghìn năm trước:

That which was from the beginning, which we have heard, which we have seen with our eyes, which we have looked upon, and our hands have handled… that which we have seen and heard declare we unto you. [5]

Điều đã có từ ban đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy bằng mắt mình, điều chúng tôi đã nhìn ngắm và tay chúng tôi đã chạm đến… điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi tuyên bố cùng các bạn.

We who have been bear witness; whether the world accepts our testimony makes little difference to us.

Chúng tôi, những người đã từng hiện diện, làm chứng; thế gian có chấp nhận chứng ngôn của chúng tôi hay không, điều ấy chẳng khác biệt bao nhiêu đối với chúng tôi.

Whoso has felt the Spirit of the Highest,

Ai đã cảm nhận Tinh thần của Đấng Tối Cao,

Cannot confound nor doubt him nor deny:

Không thể lẫn lộn, nghi ngờ hay phủ nhận Ngài:

Yea, with one voice, O world, though thou deniest, Stand thou on that side, for on this am I.[6]

Vâng, với một tiếng nói, ôi thế gian, dù ngươi phủ nhận, Hãy đứng về phía ấy, vì ta ở bên này.

The Seven Paths

Bảy Con Đường

Immediately beyond the Asekha Initiation this higher path opens up in seven great ways among which the Adept must take his choice, and on this subject I cannot do better than quote what was said in Man: Whence, How and Whither:

Ngay sau lần Điểm Đạo Asekha, con đường cao hơn này mở ra theo bảy đại lộ, trong số đó Chân sư phải lựa chọn; và về đề tài này, tôi không thể làm gì tốt hơn là trích dẫn những gì đã được nói trong Con Người: Từ Đâu, Như Thế Nào và Đi Về Đâu:

When the human kingdom is traversed, and man stands on the threshold of his superhuman life, a liberated Spirit, seven paths open before him for his choosing: he may enter into the blissful omniscience and omnipotence of Nirvana, with activities far beyond our knowledge, to become, perchance, in some future world an Avatara, or divine Incarnation; this is sometimes called “taking the Dharmakaya vesture”. He may enter on “the Spiritual Period”—a phrase covering unknown meanings, among them probably that of “taking the Sambhogakaya vesture”. He may become part of that treasure-house of spiritual forces on which the Agents of the Logos draw for their work, “taking the Nirmanakaya vesture”. He may remain a member of the Occult Hierarchy which rules and guards the world in which he has reached perfection. He may pass on to the next Chain, to aid in building up its forms. He may enter the splendid Angel or Deva Evolution. He may give himself to the immediate service of the Logos, to be used by him in any part of the Solar System, his Servant and Messenger, who lives but to carry out his will and do his work over the whole of the system which he rules. As a General has his staff, the members of which carry his messages to any part of the field, so are these the Staff of him who commands all, “Ministers of his that do his pleasure”. This seems to be considered a very hard Path, perhaps the greatest sacrifice open to the Adept, and is therefore regarded as carrying with it great distinction. A member of the General Staff has no physical body, but makes one for himself by kriyashakti—the “power to make”—of the matter of the globe to which he is sent. The Staff contains Beings at very different levels, from that of Adeptship upwards.

Khi giới nhân loại đã được vượt qua, và con người đứng trên ngưỡng cửa của đời sống siêu nhân của mình, như một Tinh thần giải thoát, bảy con đường mở ra trước y để y chọn lựa: y có thể bước vào sự toàn tri và toàn năng chí phúc của Niết Bàn, với những hoạt động vượt xa tri thức của chúng ta, để rồi có lẽ trong một thế giới tương lai nào đó trở thành một Đấng Hoá Thân, hay một Hiện Thân thiêng liêng; điều này đôi khi được gọi là “khoác lấy pháp phục Dharmakaya”. Y có thể bước vào “Chu Kỳ Tinh Thần”—một cụm từ bao hàm những ý nghĩa chưa biết, trong đó có lẽ có nghĩa là “khoác lấy pháp phục Sambhogakaya”. Y có thể trở thành một phần của kho tàng các mãnh lực tinh thần mà những Tác Nhân của Thượng đế rút lấy cho công việc của các Ngài, tức là “khoác lấy pháp phục Nirmanakaya”. Y có thể vẫn là một thành viên của Thánh Đoàn Huyền Môn, vốn cai quản và bảo vệ thế giới nơi y đã đạt đến sự toàn thiện. Y có thể chuyển sang Dãy kế tiếp, để trợ giúp việc xây dựng các hình tướng của nó. Y có thể bước vào sự tiến hoá Thiên Thần hay Deva huy hoàng. Y có thể hiến mình cho việc phụng sự trực tiếp Thượng đế, để được Ngài sử dụng ở bất cứ phần nào của hệ mặt trời, như Người Phụng Sự và Sứ Giả của Ngài, sống chỉ để thi hành ý chí của Ngài và làm công việc của Ngài trên toàn bộ hệ thống mà Ngài cai quản. Như một vị Tướng có bộ tham mưu của mình, các thành viên trong đó mang mệnh lệnh của ông đến bất cứ phần nào của chiến trường, thì những vị này cũng là Bộ Tham Mưu của Đấng chỉ huy tất cả, “những Thừa Tác Viên của Ngài làm điều đẹp ý Ngài”. Đây dường như được xem là một Con Đường rất khó khăn, có lẽ là sự hi sinh lớn lao nhất mở ra cho Chân sư, và vì thế được coi là mang theo một sự vinh dự lớn lao. Một thành viên của Bộ Tổng Tham Mưu không có thể xác, nhưng tự tạo lấy một thể cho mình bằng kriyashakti—“quyền năng tạo tác”—từ vật chất của bầu hành tinh mà y được phái đến. Bộ Tham Mưu gồm những Hữu Thể ở những cấp độ rất khác nhau, từ cấp Chân sư trở lên.

The man who takes the Dharmakaya robe retires into the Monad, and drops even his nirvanic atom; the Sambhogakaya retains his nirvanic atom and shows himself as the Triple Spirit, and the Nirmanakaya retains his causal body and also the permanent atoms which he has carried all through his evolution, so that at any moment he can materialize round them mental, astral and physical bodies, if he so desires. He definitely keeps his link with the world from which he has come, in order that he may supply the reservoir from which spiritual power is poured down upon that world. The Nirmanakaya are spoken of in The Voice of the Silence as forming a Guardian Wall which preserves the world from further and far greater misery and sorrow. For those who do not understand the inner meaning, that seems to imply that the misery and sorrow come to the world from outside, and that these Great Ones ward it off, but that is not so at all, for all the trouble in the world comes from those who suffer it. each man is his own lawgiver, each decrees his own doom or reward; but the duty of the Nirmanakaya is to supply a great store of spiritual force for the helping of men. All the time they generate this force, taking no part for themselves, but putting it all at the service of the Brotherhood for their use in lifting the heavy burden of the world.

Người khoác lấy pháp y Dharmakaya rút lui vào chân thần, và buông bỏ ngay cả nguyên tử Niết Bàn của mình; Sambhogakaya giữ lại nguyên tử Niết Bàn của mình và tự biểu lộ như Tinh thần Tam phân, còn Nirmanakaya giữ lại thể nguyên nhân của mình cũng như các nguyên tử trường tồn mà y đã mang theo suốt toàn bộ cuộc tiến hoá của mình, để bất cứ lúc nào, nếu muốn, y có thể hiện hình quanh chúng các thể trí, thể cảm dục và thể xác. Y nhất định giữ mối liên hệ của mình với thế giới mà y đã từ đó đi ra, để có thể cung cấp cho hồ chứa mà từ đó quyền năng tinh thần được tuôn đổ xuống thế giới ấy. Các Nirmanakaya được nói đến trong Tiếng Nói của Im Lặng như tạo thành một Bức Tường Bảo Hộ, gìn giữ thế giới khỏi những đau khổ và sầu muộn sâu xa hơn và lớn lao hơn nữa. Đối với những ai không thấu hiểu ý nghĩa bên trong, điều đó dường như hàm ý rằng đau khổ và sầu muộn đến với thế giới từ bên ngoài, và rằng các Đấng Cao Cả này ngăn chặn chúng; nhưng hoàn toàn không phải như vậy, vì mọi rắc rối trong thế giới đều đến từ chính những người đang chịu đựng nó. Mỗi người là nhà lập pháp của chính mình, mỗi người tự định đoạt số phận hay phần thưởng của mình; nhưng bổn phận của Nirmanakaya là cung cấp một kho dự trữ lớn mãnh lực tinh thần để trợ giúp con người. Suốt mọi lúc, các Ngài tạo ra mãnh lực này, không giữ lại phần nào cho mình, mà đặt tất cả vào việc phụng sự Huynh Đệ Đoàn để Các Ngài dùng trong việc nâng đỡ gánh nặng nề của thế giới.

It will thus be seen that of those who attain Adeptship comparatively few remain on our earth as members of the Occult Hierarchy, but these and their work are of vital importance, so we will devote to that subject the remaining chapters of this book.

Do đó, sẽ thấy rằng trong số những người đạt đến cấp Chân sư, tương đối ít vị ở lại trên Trái Đất của chúng ta như những thành viên của Thánh Đoàn Huyền Môn; nhưng các Ngài và công việc của các Ngài có tầm quan trọng thiết yếu, vì vậy chúng ta sẽ dành những chương còn lại của quyển sách này cho chủ đề ấy.



[1] Light on the Path, part I, Rule 21.

[2] I Peter, iv, 8.

[3] Luke, vii, 47

[4] Op. cit., p. 82.

[5] I John, I, 3.

[6] St. Paul, by Professor Myers.

Leave a Comment

Scroll to Top