Commentary LOM Webinar 15
Tóm Tắt
Hai phương thức tham thiền và tác dụng của Linh từ
Chân sư DK phân biệt hai loại tham thiền: tham thiền có hạt giống (meditation with seed), tức là đưa các ý tưởng trừu tượng và trực giác xuống các cõi trí cụ thể; và tham thiền không có hạt giống (meditation without seed), tức là tạo ra khoảng chân không giữa bộ não thể xác và chân ngã, dẫn đến sự tuôn đổ thiêng liêng làm tan vỡ các hình tướng. Ở một điểm tiến hoá nhất định, hai phương thức này hợp nhất, khi đó hạt giống được buông bỏ và khoảng chân không được tạo ra không phải giữa các hiện thể cao và thấp mà giữa chúng và cõi trực giác (cõi Bồ đề). Thầy MDR nhận xét rằng hầu hết chúng ta có kinh nghiệm với cả hai loại tham thiền, nhưng hiệu quả hơn với loại đầu tiên.
Tác dụng đồng thời thu hút và đẩy lùi của Linh từ
Khi xướng Linh từ thiêng liêng một cách đúng đắn, người tham thiền đồng thời thu hút chất liệu vi tế hơn vào các thể và loại bỏ chất liệu thô hơn, đồng thời xây dựng các hình tư tưởng hút vào chúng chất liệu rung động cao và đẩy lùi chất liệu rung động thấp. Chân sư DK nêu rõ rằng mỗi lần tham thiền đúng đắn sẽ giúp người hành thiền chỉnh hợp tốt hơn, làm tiêu tan một phần chất liệu rung động thấp trong các thể, mở rộng kênh dẫn và cung cấp hiện thể thích hợp hơn cho sự soi sáng từ các cõi cao. Thầy MDR phân biệt rõ ba quá trình: chuyển hoá (transmutation) liên quan đến việc cải thiện chất liệu của hình tướng, chuyển đổi (transformation) liên quan đến việc điều chỉnh các hình tướng hài hoà với nhau, và Biến hình (transfiguration) là sự tôn vinh các hình tướng đã được hoàn thiện theo nguyên mẫu.
Nguy cơ khi xướng Linh từ thiếu tập trung
Chân sư DK cảnh báo rằng cho đến khi đạt được sự xướng đúng đắn, tác dụng của Linh từ là rất nhỏ, điều này thực ra lại có lợi vì người hành thiền không mong muốn hiện thể hoá các hình tướng có thể gây cản trở. Thầy MDR dùng hình ảnh người học trò của Pháp sư (Sorcerer’s Apprentice) trong phim hoạt hình Walt Disney để minh hoạ: nếu buông bỏ sự kiểm soát trong huyền bí học, kết quả sẽ quay ngược lại gây hại cho bản thân. Thầy MDR cũng chia sẻ kinh nghiệm gặp một nhóm tham thiền, trong đó người dẫn đầu xướng Linh từ quá to và quá ép buộc vì lo sợ, và nhận xét rằng hiệu quả của Linh từ không nằm ở cường độ âm thanh bên ngoài mà ở sự nội tâm sâu sắc.
Ba cõi nghiên cứu Linh từ và ẩn ý về chú âm hệ mặt trời
Chân sư DK chỉ ra rằng trong việc nghiên cứu bảy Hơi Thở vĩ đại và tác dụng trên mỗi cõi, người học có thể tìm hiểu nhiều điều về việc sử dụng Linh từ trên các cõi phụ. Chủ âm của hệ mặt trời thứ nhất là nốt Fa (màu xanh lá, liên quan đến cung ba và cõi hồng trần đậm đặc); nghiên cứu nốt này giúp hiểu cách dùng Linh từ trên cõi hồng trần. Thầy MDR suy luận rằng hệ mặt trời hiện tại liên kết với chú âm của cung Bác Ái – Minh Triết (nốt mi, màu vàng, nguyên khí thứ sáu), và nghiên cứu nốt này tạo sự kết nối giữa cõi cảm dục và cõi trực giác (Bồ đề), từ đó khám phá bí mật của cõi cảm dục; còn việc nghiên cứu Linh từ trên cõi trí sẽ dẫn đến việc tìm ra chìa khoá xây dựng Đền thờ Solomon và phát triển các phẩm tính của thể nguyên nhân, cuối cùng đưa đến giải thoát khỏi ba cõi thấp.
Cung chân thần phản chiếu vào các hiện thể và cách nhận diện cung
Thầy MDR trình bày quan điểm rằng cung phàm ngã phản chiếu vào thể xác, cung linh hồn phản chiếu vào thể cảm dục, và cung chân thần phản chiếu vào thể trí — điều này được Chân sư DK xác nhận ở nơi khác trong giáo lý. Thầy MDR lấy ví dụ một người có cung một phàm ngã nhầm tưởng có thể xác cung một vì cung phàm ngã đang phản chiếu mạnh vào thể xác, trong khi thực ra cung thể xác là cung ba; tương tự, một người cung một linh hồn với thể cảm dục cung sáu vẫn biểu lộ nhiều tính chất cung một trong thể cảm dục do sự phản chiếu của linh hồn. Vì chân thần có phóng chiếu vào thượng trí nơi thể nguyên nhân tọa lạc, cung chân thần có ảnh hưởng đáng kể lên cả cung linh hồn lẫn thể trí.
Tìm ra chú âm cá nhân theo thứ tự phàm ngã – linh hồn – chân thần
Chân sư DK chỉ dẫn rằng người học cần trước tiên tìm ra chú âm phàm ngã, rồi đến chú âm chân ngã, trước khi có thể chạm đến hợp âm chân thần; khi làm được điều đó, người đó đã tự xướng Linh từ tam phân của mình và trở thành đấng sáng tạo trí tuệ được Bác ái thúc đẩy. Thầy MDR liên hệ điều này với Chiêm Tinh Học Nội Môn trang 222-223, nơi Chân sư Tây Tạng khuyến nghị xác định cung phàm ngã trước khi luận giải lá số chiêm tinh, vì các yếu tố chiêm tinh có thể được nhìn qua lăng kính cung đó. Thầy MDR gợi ý rằng người có cung hai linh hồn sẽ chú trọng Sao Mộc, và các dấu hiệu Song Tử, Xử Nữ, Song Ngư trong lá số; người có cung bốn phàm ngã sẽ chú trọng Mặt Trăng và Sao Thủy.
Tự nỗ lực là nền tảng duy nhất của sự phát triển thực sự
Chân sư DK nhấn mạnh rằng những nguy hiểm của việc sử dụng sai Linh từ là quá lớn nên chỉ có thể chỉ ra các nguyên tắc cơ bản, và người chí nguyện phải tự làm việc qua thử nghiệm; chỉ những gì là kết quả của tự nỗ lực, đấu tranh gian khổ và kinh nghiệm đắng cay mới có giá trị lâu bền và vĩnh cửu. Chân sư DK liệt kê thất bại trước tiên trong chuỗi thất bại – thành công – chiến thắng gian khổ, và nêu rõ rằng sự thiếu ý chí thực ra bảo vệ người học khỏi việc lạm dụng Linh từ, trong khi nỗ lực yêu thương dẫn họ đến cách xướng đúng đắn. Thầy MDR nhận xét rằng đây giống với thông điệp của Đức Phật về việc tự nương tựa vào bản thân, và rằng tinh thần là một sức thúc đẩy mạnh mẽ đến mức chúng ta sẽ không bao giờ thực sự được phép từ bỏ trong thời gian dài trước khi lại được kích thích vào hoạt động tiến hoá có hướng dẫn.
Các gợi ý thực hành và bối cảnh chiêm tinh của Alice Bailey
Chân sư DK lưu ý rằng ý thức nhân quả đầy đủ là điều kiện cần thiết để một vị thầy có thể cung cấp hướng dẫn chi tiết về Linh từ cho từng cá nhân, và vì điều đó hiếm gặp nên các gợi ý thực hành chỉ có thể là tổng quát. Thầy MDR cho biết các bài giảng này được viết vào khoảng cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1920, gần thời điểm ngay sau hạ chí, và liên hệ đến dấu hiệu Song Tử nổi bật của Alice Bailey (Sun trong Song Tử, Leo mọc) cũng như của Chân sư KH — cả hai đều gắn với cung hai và Sao Thủy. Thầy MDR cũng trích dẫn một câu trong “Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới”, tập II, trang 15 đáng ghi nhớ: “Khuôn mặt của những người trên con đường tối tăm nhận được ánh sáng đó. Đối với họ, con đường không còn tối tăm như vậy nữa” — nhắc nhở rằng mỗi người học phải trở thành một trạm ánh sáng cho những người khác.
Text 15 – Văn bản 15
|
[1] This leads to the second factor we are considering, the destructive factor. In emancipation comes the breaking of the chains, in liberation comes the abolition of the old forms, in the domination of matter is seen the liberation of spirit. [2] So, in the sounding of the Sacred Word in its sevenfold sense, [3] comes the escaping from the shattered [Page 58] forms; [4] first in the out-breathing, the attraction of matter, then in the in-breathing, the gradual shattering of the material forms and the leaving of them behind. |
[1] Điều này dẫn đến yếu tố thứ hai mà chúng ta đang xem xét, tức yếu tố hủy diệt. Trong sự giải thoát là việc phá tan xiềng xích; trong sự giải phóng là việc loại bỏ các hình tướng cũ; trong sự chế ngự vật chất, người ta thấy sự giải phóng tinh thần. [2] Vì vậy, khi xướng Linh từ Thiêng Liêng theo ý nghĩa thất phân của nó, [3] diễn ra sự thoát khỏi những hình tướng tan vỡ [Trang 58]; [4] trước hết, trong sự thở ra là sức hút của vật chất; kế đó, trong sự hít vào là sự phá vỡ dần dần các hình tướng vật chất và bỏ chúng lại phía sau. |
|
[5] Meditation and the Word. |
[5] Tham thiền và Linh từ. |
|
[5b] I have pictured this for you on the systemic scale. [6] Now let me apply it to meditation [7] and see how it will work. Man, when meditating, aims at two things:— |
[5b] Tôi đã mô tả điều này cho các bạn trên quy mô hệ thống. [6] Giờ đây, hãy để tôi áp dụng nó vào tham thiền [7] và xem nó sẽ vận hành như thế nào. Khi tham thiền, con người nhắm đến hai điều:— |
|
[8] a—At the formation of thoughts, at the bringing down to the concrete levels of the mental plane, of abstract ideas and intuitions. [9] This is what might be termed meditation with seed. |
[8] a—Tạo lập các tư tưởng, đưa những ý tưởng trừu tượng và trực giác xuống các cấp độ cụ thể của cõi trí. [9] Điều này có thể được gọi là tham thiền có tư tưởng hạt giống. |
|
[10] b—At the aligning of the ego, and at the creation of that vacuum betwixt the physical brain and the Ego, which results in the divine outpouring, [11] and the consequent shattering of the forms and subsequent liberation. This might be termed meditation without seed. |
[10] b—Chỉnh hợp chân ngã và tạo ra khoảng chân không giữa bộ não hồng trần với Chân ngã; điều này dẫn đến lần tuôn đổ thiêng liêng, [11] rồi tiếp đó là sự phá vỡ các hình tướng và sự giải phóng sau cùng. Điều này có thể được gọi là tham thiền không có tư tưởng hạt giống. |
|
[12] At a certain period in evolution the two blend, the seed is dropped and the vacuum is then created, not so much between the higher and the lower vehicles as between them and the intuitional plane or the plane of harmony. |
[12] Đến một giai đoạn nhất định trong tiến hoá, hai điều này hòa làm một; tư tưởng hạt giống được buông bỏ và khoảng chân không bấy giờ được tạo ra, không hẳn giữa các hiện thể cao và thấp, mà giữa chúng với cõi trực giác, hay cõi hài hòa. |
|
[13] Therefore, in the sounding of the Sacred Word in meditation man should (if rightly sounding it forth) be able to do both the creative work and the destructive work as does the Logos. It will be the reflection in the microcosm of the cosmic process. [14] He will attract to his bodies matter of the finer kind and cast out that which is coarser. [15] He will formulate thoughtforms that attract to themselves finer matter and repudiate that which is of a lower vibration. [16] He should so sound the Word that alignment will [Page 59] be automatically made, and the necessary vacuum created, eventuating in a downflow from above. [17] All these effects can transpire when the Word is correctly intoned, and each meditation should see the man more aligned, [18] should disperse some of the matter of low vibration in one or other of his bodies, should open up the channel to a greater extent, and so provide a more adequate vehicle for the illumination from higher levels. |
[13] Do đó, khi xướng Linh từ Thiêng Liêng trong tham thiền, nếu xướng đúng, con người phải có khả năng thực hiện cả công việc sáng tạo lẫn công việc hủy diệt như Thượng đế. Đó sẽ là sự phản ánh tiến trình vũ trụ trong Tiểu thiên địa. [14] Y sẽ thu hút vào các thể của mình loại vật chất tinh tế hơn và loại bỏ loại thô trược hơn. [15] Y sẽ tạo lập những hình tư tưởng thu hút vào chúng loại vật chất tinh tế hơn và khước từ loại có rung động thấp hơn. [16] Y phải xướng Linh từ sao cho sự chỉnh hợp tự động diễn ra và khoảng chân không cần thiết được tạo nên, dẫn đến một dòng tuôn xuống từ trên cao. [17] Tất cả những hiệu quả này có thể xảy ra khi Linh từ được xướng chính xác; mỗi lần tham thiền phải làm cho con người chỉnh hợp hơn, [18] làm tan đi một phần vật chất có rung động thấp trong thể này hay thể khác của y, mở rộng thêm vận hà, và nhờ đó tạo nên một hiện thể thích hợp hơn cho sự soi sáng từ các cấp độ cao hơn. [Trang 59] |
|
[19] But—until correctness is possible—the effect produced by the use of the Word is very little, which is fortunate for the man who uses it. [20] In the studying of the seven great Breaths and their effect on each plane, a man can find out much that should transpire on the different subplanes of each plane, especially in relation to his own development. [21] In the studying of the basic note of the solar system (which was stabilised in System I), much can be found out about the use of the Word on the physical plane. [22] A hint lies here for consideration. [23] In the endeavour to find the note for this solar system, the note of love and wisdom, [24] the student will make the necessary communication between the emotional or desire plane and the intuitional plane, [25] and find out the secret of the emotional plane. [26] In the study of the Word on mental levels and its effect in form building, the key to the erection of Solomon’s Temple will be discovered, and the pupil will develop the faculties of the causal body, and eventually find liberation from the three worlds. |
[19] Nhưng cho đến khi có thể đạt được sự chính xác, hiệu quả do việc sử dụng Linh từ tạo ra vẫn rất nhỏ; điều này thật may mắn cho người sử dụng nó. [20] Khi nghiên cứu bảy Đại Hơi Thở và ảnh hưởng của chúng trên mỗi cõi, con người có thể khám phá nhiều điều phải diễn ra trên các cõi phụ khác nhau của mỗi cõi, đặc biệt liên quan đến sự phát triển của chính mình. [21] Khi nghiên cứu âm điệu căn bản của hệ mặt trời, vốn đã được ổn định trong Hệ Thống Một, người ta có thể khám phá nhiều điều về cách sử dụng Linh từ trên cõi hồng trần. [22] Chính ở đây có một gợi ý đáng suy ngẫm. [23] Trong nỗ lực tìm ra âm điệu của hệ mặt trời này, tức âm điệu của Bác ái và Minh triết, [24] đạo sinh sẽ thiết lập mối giao tiếp cần thiết giữa cõi cảm xúc hay dục vọng với cõi trực giác, [25] và khám phá bí mật của cõi cảm xúc. [26] Khi nghiên cứu Linh từ trên các cấp độ trí tuệ và ảnh hưởng của nó trong việc kiến tạo hình tướng, người ta sẽ khám phá chìa khóa xây dựng Đền Thờ Solomon; môn sinh sẽ phát triển các năng lực của thể nguyên nhân và cuối cùng được giải phóng khỏi ba cõi giới. |
|
[27] The student must remember, nevertheless, that he has first to find his personality note, [28] and then the egoic, before he can touch the monadic chord. [29] When he has done that he has, for himself, sounded his own threefold Word, and is now an intelligent creator animated by love. [30] The goal is reached. |
[27] Tuy nhiên, đạo sinh phải nhớ rằng trước hết y phải tìm ra âm điệu phàm ngã của mình, [28] rồi đến âm điệu chân ngã, trước khi có thể chạm đến hợp âm chân thần. [29] Khi đã làm được điều đó, y đã xướng Linh từ tam phân của chính mình và bấy giờ là một đấng sáng tạo thông tuệ, được Bác ái làm sinh động. [30] Mục tiêu đã đạt được. |
|
[30b] June 21, 1920 |
[30b] Ngày 21 tháng 6 năm 1920 |
|
Yesterday’s teaching was very abstract, brother of mine, and hard for the mind to grasp. Today we shall be more specifically practical and mayhap if [it?] will not be so difficult of apprehension. |
Giáo huấn hôm qua rất trừu tượng, huynh đệ của tôi, và khó để thể trí nắm bắt. Hôm nay chúng ta sẽ đi vào thực tiễn cụ thể hơn, và có lẽ nó sẽ không quá khó hiểu. |
|
Before we take up this topic I would [like] that you apply yourself to the transcribing of certain phrases of occult significance. So oft, if you leave them to the end of my dictation, cometh fatigue and your consequent inability to transcribe with facility. |
Trước khi đề cập đến chủ đề này, tôi muốn các bạn chuyên tâm ghi lại một số cụm từ có thâm nghĩa huyền môn. Vì vậy, nếu thường xuyên để chúng đến cuối phần đọc của tôi, sự mệt mỏi và hệ quả là việc các bạn không thể ghi chép dễ dàng sẽ xuất hiện. |
|
[This is followed by occult fragments; one of them published in Rays and Initiations, p. 763] |
[Tiếp theo là các đoạn huyền môn; một đoạn trong số đó được xuất bản trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, tr. 763] |
|
These lines come not easily, brother of mine, but with frequent attempt cometh eventually greater easiness of expression. |
Huynh đệ của tôi, những dòng này không đến một cách dễ dàng, nhưng nhờ thường xuyên nỗ lực, cuối cùng việc diễn đạt sẽ ngày càng dễ dàng hơn. |
|
[31] Some Practical Hints. |
[31] Một Số Gợi Ý Thực Tiễn. |
|
[32] I wish to make clear this afternoon that it is not possible for me, nor wise and appropriate to give to you different keys in which the sacred Word can be intoned; I can do no more than indicate general principles. [33] Each human being, each unit of consciousness, is so unlike any other [34] that the individual need can only be supplied when full causal consciousness exists on the part of the teacher, [35] and when the pupil has himself reached a point where he is willing to know, to dare and to be silent. [36] The dangers involved in the misuse of the Word are so great that we dare do no more than indicate basic ideas and fundamental principles, and then leave the aspirant to work out for himself the points necessary for his own development and to carry out the needed experiments until he finds for himself that which he needs. [37] Only that which is the result of self-effort, of hard struggle and of bitter experience is of permanent and lasting value. Only as the disciple—through failure, [38] through success, through hardly won victories, [39] and the bitter hours that succeed defeat—adjusts himself to the inner condition, will he find the use of the Word scientifically and experimentally of value. His lack of will defends him largely from the misuse of the Word, whilst his endeavour to love guides him eventually to its correct intoning. Only that which we know for ourselves becomes inherent faculty. [40] The statements of a teacher, no matter how profoundly wise he may be, are but mental concepts until experimentally part of a man’s life. Hence, I can but point the way. [41] I may give but general hints; the rest must be threshed out by the student of meditation for himself. [Page 61] |
[32] Chiều nay, tôi muốn làm rõ rằng tôi không thể, và việc trao cho các bạn những âm điệu khác nhau để xướng Linh từ Thiêng Liêng cũng không phải là điều minh triết và thích hợp; tôi chỉ có thể nêu ra những nguyên tắc tổng quát. [33] Mỗi con người, mỗi đơn vị tâm thức, đều khác biệt đến mức không giống bất kỳ đơn vị nào khác, [34] nên nhu cầu cá nhân chỉ có thể được đáp ứng khi huấn sư có đầy đủ tâm thức nguyên nhân, [35] và khi chính môn sinh đã đạt đến mức sẵn lòng hiểu biết, dám làm và giữ im lặng. [36] Những nguy hiểm liên quan đến việc lạm dụng Linh từ lớn đến mức chúng ta chỉ dám nêu ra những ý tưởng căn bản và các nguyên tắc nền tảng, rồi để người chí nguyện tự tìm ra những điểm cần thiết cho sự phát triển của chính mình, đồng thời thực hiện những thử nghiệm cần thiết cho đến khi tự tìm thấy điều mình cần. [37] Chỉ những gì là kết quả của nỗ lực bản thân, của cuộc đấu tranh gian khổ và kinh nghiệm cay đắng mới có giá trị trường tồn và bền vững. Chỉ khi đệ tử—qua thất bại, [38] qua thành công, qua những chiến thắng giành được vô cùng khó nhọc, [39] và qua những giờ phút cay đắng tiếp sau thất bại—tự điều chỉnh cho phù hợp với tình trạng bên trong, y mới nhận thấy giá trị của việc sử dụng Linh từ một cách khoa học và thực nghiệm. Sự thiếu ý chí phần lớn bảo vệ y khỏi việc lạm dụng Linh từ, trong khi nỗ lực yêu thương cuối cùng hướng dẫn y ngâm xướng nó chính xác. Chỉ điều chúng ta tự mình biết mới trở thành năng lực vốn có. [40] Những lời trình bày của một huấn sư, dù ông có minh triết sâu xa đến đâu, vẫn chỉ là các khái niệm trí tuệ cho đến khi qua thực nghiệm, chúng trở thành một phần trong đời sống của con người. Do đó, tôi chỉ có thể chỉ ra con đường. [41] Tôi chỉ có thể đưa ra những gợi ý tổng quát; phần còn lại, đạo sinh tham thiền phải tự mình tìm hiểu thấu đáo. [Trang 61] |
|
2020-07-28-LOM-Program-15 |
2020-07-28-LOM-Chương trình-15 |
|
Hi, everybody, and welcome to our—I hope it’s the 15th, I think, so I’ll be corrected by my associates if it is not. I believe we begin on the 15th program, and Letters on Occult Meditation video commentary. We’re on page 58, and today is the 28th of July, and we have been considering the creative and the constructive uses of the Breath and of certain tones and subtones and, of course, in the general assigning of the meditation. We have been considering the constructive, creative, and creative methods of using the sacred word. Now to the destructive methods, which have their usefulness. So |
Xin chào tất cả các bạn, và chào mừng đến với chương trình thứ 15 của chúng ta—tôi hy vọng là chương trình thứ 15; nếu không phải, các cộng sự của tôi sẽ sửa lại. Tôi tin rằng chúng ta đang bắt đầu chương trình thứ 15 và phần bình giảng bằng video về Thư Về Tham thiền Huyền môn. Chúng ta đang ở trang 58, hôm nay là ngày 28 tháng 7, và chúng ta đã xem xét những cách sử dụng sáng tạo và kiến tạo của Hơi Thở, của một số âm điệu và âm phụ, cũng như việc ấn định bài tham thiền nói chung. Chúng ta đã xem xét các phương pháp kiến tạo và sáng tạo trong việc sử dụng Linh từ thiêng liêng. Giờ đây, chúng ta chuyển sang các phương pháp phá hủy, vốn cũng có công dụng riêng. |
|
[1] This leads to the second factor we are considering, the destructive factor. In emancipation comes the breaking of the chains, in liberation comes the abolition of the old forms, in the domination of matter is seen the liberation of spirit. |
[1] Điều này dẫn đến yếu tố thứ hai mà chúng ta đang xem xét, tức yếu tố hủy diệt. Trong sự giải thoát là việc phá tan xiềng xích; trong sự giải phóng là việc loại bỏ các hình tướng cũ; trong sự chế ngự vật chất, người ta thấy sự giải phóng tinh thần. |
|
These are all well-accepted ideas. |
Đây đều là những ý tưởng đã được thừa nhận rộng rãi. |
|
[2] So, in the sounding of the Sacred Word in its sevenfold sense, |
[2] Vì vậy, khi xướng Linh từ Thiêng Liêng theo ý nghĩa thất phân của nó, |
|
whether applying to man, the microcosm, or the Solar Logos, the macrocosm, |
dù áp dụng cho con người, tức Tiểu thiên địa, hay cho Thái dương Thượng đế, tức Đại thiên địa, |
|
[3] comes the escaping from the shattered [Page 58] forms; |
[3] diễn ra sự thoát khỏi những hình tướng tan vỡ [Trang 58]; |
|
This dynamic must be very important after the fourth initiation, because there you have a shattered form. The form of the causal body, whether microcosmic or macrocosmic, and there must be an escaping of the essence which has been contained within the causal body into the next higher source, namely the Spiritual Triad for the microcosm and maybe some corresponding triad for the solologos. |
Động lực này hẳn phải rất quan trọng sau lần điểm đạo thứ tư, bởi ở đó có một hình tướng đã tan vỡ. Đó là hình tướng của thể nguyên nhân, dù thuộc Tiểu thiên địa hay Đại thiên địa, và tinh chất từng được chứa đựng bên trong thể nguyên nhân phải thoát lên nguồn cao hơn kế tiếp, tức Tam Nguyên Tinh Thần đối với Tiểu thiên địa, và có lẽ một tam nguyên tương ứng nào đó đối với Thái dương Thượng đế. |
|
So the escaping from the shattered forms. |
Vì vậy, đó là sự thoát ra khỏi những hình tướng đã tan vỡ. |
|
[4] first in the out-breathing, the attraction of matter, then in the in-breathing, the gradual shattering of the material forms and the leaving of them behind. |
[4] trước hết, trong sự thở ra là sự thu hút của vật chất; kế đó, trong sự hít vào là sự phá vỡ dần dần các hình tướng vật chất và bỏ chúng lại phía sau. |
|
So we have involution and evolution, and obviously we human beings here are on the upward arc and are gradually seeking to shatter the material forms which have our essence confined and even in a way imprisoned. |
Như vậy, chúng ta có giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá; và hiển nhiên, con người chúng ta hiện đang ở trên cung hướng thượng, dần dần tìm cách phá vỡ những hình tướng vật chất đang giam hãm, thậm chí theo một nghĩa nào đó đang cầm tù, tinh chất của chúng ta. |
|
Now, was this all regarding “the destruction of forms or destructive use of the sacred word”? Maybe that was all. Let’s see if further information is given regarding the destructive of the word. |
Giờ đây, đây có phải là tất cả những gì liên quan đến “sự phá hủy các hình tướng hay cách sử dụng Linh từ thiêng liêng để phá hủy” không? Có lẽ chỉ có vậy. Hãy xem liệu có thêm thông tin nào về phương diện phá hủy của Linh từ hay không. |
|
[5] Meditation and the Word. |
[5] Tham thiền và Linh từ. |
|
[5b] I pictured this for you on the systemic scale. |
[5b] Tôi đã mô tả điều này cho các bạn trên quy mô hệ thống. |
|
And by this we mean solar systemic. |
Và qua đó, chúng ta muốn nói đến quy mô hệ mặt trời. |
|
[6] Now let me apply it to meditation |
[6] Giờ đây, hãy để tôi áp dụng nó vào tham thiền |
|
Meditation within the microcosm |
Tham thiền bên trong Tiểu thiên địa |
|
[7] and see how it will work. Man, when meditating, aims at two things:— |
[7] và xem nó sẽ vận hành như thế nào. Khi tham thiền, con người nhắm đến hai điều:— |
|
[8] a—At the formation of thoughts, at the bringing down to the concrete levels of the mental plane, of abstract ideas and intuitions. |
[8] a—Tạo lập các tư tưởng, đưa những ý tưởng trừu tượng và trực giác xuống các cấp độ cụ thể của cõi trí. |
|
Maybe they are different. |
Có lẽ chúng là những điều khác nhau. |
|
[9] This is what might be termed meditation with seed. |
[9] Điều này có thể được gọi là tham thiền có tư tưởng hạt giống. |
|
So forms are still important here, and we retain these forms and transfer them to lower planes in the bringing down of them. We concretize them, actually, or make them more concrete than they were in the place where they were received. We give specific instances; we give examples using the mind. So this is meditation with seed. What else? |
Vì vậy, các hình tướng vẫn còn quan trọng ở đây, và chúng ta giữ lại những hình tướng này rồi chuyển chúng xuống các cõi thấp hơn. Thật ra, chúng ta cụ thể hóa chúng, hay làm cho chúng cụ thể hơn so với khi chúng được tiếp nhận tại cõi ban đầu. Chúng ta đưa ra những trường hợp cụ thể và những ví dụ bằng cách sử dụng thể trí. Vì vậy, đây là tham thiền có hạt giống. Còn gì nữa? |
|
[10] b—At the aligning of the ego, and at the creation of that vacuum betwixt the physical brain and the Ego, which results in the divine outpouring, |
[10] b—Chỉnh hợp chân ngã và tạo ra khoảng chân không giữa bộ não hồng trần với Chân ngã; điều này dẫn đến lần tuôn đổ thiêng liêng, |
|
or spiritual, if you will, |
hay tinh thần, nếu các bạn muốn gọi như vậy, |
|
[11] and the consequent shattering of the forms and subsequent liberation. This might be termed meditation without seed. |
[11] rồi tiếp đó là sự phá vỡ các hình tướng và sự giải phóng sau cùng. Điều này có thể được gọi là tham thiền không có tư tưởng hạt giống. |
|
What we have is a vacuum created—meditation without seed. We really are into abstraction here, and into subtle results, and we are not so much involved in the building of forms that we can take down into the lower concrete mind. Rather, we are in the divine outpouring, which produces the shattering of forms. |
Điều chúng ta có là một khoảng chân không được tạo ra—tham thiền không hạt giống. Ở đây, chúng ta thật sự đi vào sự trừu tượng và những kết quả tinh tế, chứ không còn quá chú trọng việc kiến tạo những hình tướng mà chúng ta có thể đưa xuống hạ trí cụ thể. Thay vào đó, chúng ta ở trong lần tuôn đổ thiêng liêng, vốn tạo nên sự phá vỡ các hình tướng. |
|
Probably we all have some experience with both of these kinds of meditation, more effectively with the first than with the second. |
Có lẽ tất cả chúng ta đều phần nào có kinh nghiệm với cả hai loại tham thiền này, nhưng hiệu quả hơn với loại thứ nhất so với loại thứ hai. |
|
[12] At a certain period in evolution the two blend, the seed is dropped and the vacuum is then created, not so much between the higher and the lower vehicles as between them and the intuitional plane or the plane of harmony. |
[12] Đến một giai đoạn nhất định trong tiến hoá, hai điều này hòa làm một; tư tưởng hạt giống được buông bỏ và khoảng chân không bấy giờ được tạo ra, không hẳn giữa các hiện thể cao và thấp, mà giữa chúng với cõi trực giác, hay cõi hài hòa. |
|
Which is the first plane of systemic real abstraction. This is a very interesting idea: a combination of the two methods exists. |
Đó là cõi đầu tiên của sự trừu tượng thực sự trong hệ thống. Đây là một ý tưởng rất thú vị: có sự kết hợp của hai phương pháp. |
|
[13] Therefore, in the sounding of the Sacred Word in meditation man should (if rightly sounding it forth) be able to do both the creative work and the destructive work as does the Logos. It will be the reflection in the microcosm of the cosmic process. |
[13] Do đó, khi xướng Linh từ Thiêng Liêng trong tham thiền, nếu xướng đúng, con người phải có khả năng thực hiện cả công việc sáng tạo lẫn công việc hủy diệt như Thượng đế. Đó sẽ là sự phản ánh tiến trình vũ trụ trong Tiểu thiên địa. |
|
This we have been discussing in the foregoing pages. |
Đây là điều chúng ta đã bàn luận trong những trang trước. |
|
[14] He will attract to his bodies matter of the finer kind and cast out that which is coarser. |
[14] Y sẽ thu hút vào các thể của mình loại vật chất tinh tế hơn và loại bỏ loại thô trược hơn. |
|
This will be occurring pretty simultaneously when we sound the Sacred Word correctly. He will attract to his bodies matter of a finer kind, constantly upgrading the matter of his personality vehicles. |
Điều này sẽ diễn ra gần như đồng thời khi chúng ta xướng Linh từ Thiêng liêng một cách chính xác. Y sẽ thu hút vào các thể của mình loại vật chất tinh tế hơn, không ngừng nâng cao phẩm chất vật chất trong các hiện thể phàm ngã. |
|
[15] He will formulate thoughtforms that attract to themselves finer matter and repudiate that which is of a lower vibration. |
[15] Y sẽ tạo lập những hình tư tưởng thu hút vào chúng loại vật chất tinh tế hơn và khước từ loại có rung động thấp hơn. |
|
That’s quite clear. We need to learn to do this constantly, to improve. It’s a kind of transmutation, isn’t it? Whenever we’re involved with improving matter, the material constituents of form, we’re involved with transmutation. When we’re involved with adjusting forms to each other, improving the general conformation of forms and adjusting them harmoniously to each other, we’re involved with transformation. And when we’re dealing with the glorification of forms which have been made more in conformity to the archetypes, these forms containing matter which has been improved in its quality, then we’re dealing with the glorification that we call transfiguration. |
Điều đó khá rõ ràng. Chúng ta cần học cách không ngừng thực hiện điều này để cải thiện. Đó là một loại chuyển hoá, phải không? Bất cứ khi nào chúng ta cải thiện vật chất, tức các thành phần vật chất của hình tướng, chúng ta đang tiến hành chuyển hoá. Khi điều chỉnh các hình tướng cho phù hợp với nhau, cải thiện cấu trúc tổng thể của chúng và điều chỉnh chúng sao cho hài hòa với nhau, chúng ta đang tiến hành chuyển đổi. Và khi đề cập đến việc làm vinh quang những hình tướng đã trở nên phù hợp hơn với các nguyên mẫu, đồng thời chứa đựng vật chất có phẩm tính được cải thiện, thì chúng ta đang đề cập đến sự vinh quang hóa mà chúng ta gọi là Biến hình. |
|
So this is all about the sounding of the Word. We should so sound the Word that alignment will be automatically made, because we can mindlessly sound the Word without depth of concentration, and the result will be rather an idle performance which is ineffective because we don’t really think about what we’re doing. It’s like Master Morya saying that if you take vitamins with concentration, it’s worth so much more than just taking them. |
Vì vậy, tất cả điều này đều liên quan đến việc xướng Linh từ. Chúng ta phải xướng Linh từ sao cho sự chỉnh hợp tự động hình thành, bởi chúng ta có thể xướng Linh từ một cách vô thức, không có sự tập trung sâu sắc; khi ấy, kết quả chỉ là một hành động nhàn tản, không hiệu quả, vì chúng ta không thật sự suy nghĩ về điều mình đang làm. Điều đó giống như lời Chân sư Morya nói rằng nếu các bạn uống sinh tố với sự tập trung, thì nó có giá trị hơn rất nhiều so với việc chỉ đơn thuần uống chúng. |
|
[16] He should so sound the Word that alignment will [Page 59] be automatically made, and the necessary vacuum created, eventuating in a downflow from above. |
[16] Y phải xướng Linh từ sao cho sự chỉnh hợp tự động diễn ra và khoảng chân không cần thiết được tạo nên, dẫn đến một dòng tuôn xuống từ trên cao. |
|
We can ask ourselves, when we sound the Word, does this happen? Are we automatically, in sounding the Word, really aligned with the soul in such a way that there is a downflow, let us say, through the mind and the brain? And then, in the magical process, the sentient vehicle also has to be subjected to the descent of the proper thoughtform. |
Khi xướng Linh từ, chúng ta có thể tự hỏi: điều này có xảy ra không? Khi xướng Linh từ, chúng ta có thật sự tự động chỉnh hợp với linh hồn theo cách tạo nên một dòng tuôn xuống, chẳng hạn xuyên qua thể trí và bộ não hay không? Và kế đó, trong tiến trình huyền thuật, hiện thể cảm giác cũng phải chịu tác động của sự giáng xuống từ hình tư tưởng thích hợp. |
|
[17] All these effects can transpire when the Word is correctly intoned, and each meditation should see the man more aligned, |
[17] Tất cả những hiệu quả này có thể xảy ra khi Linh từ được xướng chính xác; mỗi lần tham thiền phải làm cho con người chỉnh hợp hơn, |
|
So what we have, as usual, is alignment in the beginning and alignment at the end. The effort to create alignment in the beginning takes us through a process in which alignment is perfected at the end of the whole process. So every time, the man will be more and more aligned, |
Vì vậy, như thường lệ, điều chúng ta có là sự chỉnh hợp lúc khởi đầu và sự chỉnh hợp lúc kết thúc. Nỗ lực tạo ra sự chỉnh hợp lúc khởi đầu đưa chúng ta qua một tiến trình mà trong đó sự chỉnh hợp được hoàn thiện vào cuối toàn bộ tiến trình. Vì vậy, sau mỗi lần, con người sẽ ngày càng chỉnh hợp hơn, |
|
[18] should disperse some of the matter of low vibration in one or other of his bodies, should open up the channel to a greater extent, and so provide a more adequate vehicle for the illumination from higher levels. |
[18] làm tan đi một phần vật chất có rung động thấp trong thể này hay thể khác của y, mở rộng thêm vận hà, và nhờ đó tạo nên một hiện thể thích hợp hơn cho sự soi sáng từ các cấp độ cao hơn. [Trang 59] |
|
So a widened channel and a transmutation of the vehicles provide greater illumination, or light, in the personality, and certainly in our meditation that is what we seek. Eventually the Earth is to become a great station of light within the solar system, and we too, in our own little spheres, have to become stations of light so that, when meeting others and working with others, we can transmit that light. Then “the face of those upon the darkened way receives that light. For them, the way is not so dark.” |
Như vậy, một vận hà được mở rộng và sự chuyển hoá các hiện thể đem lại sự soi sáng hay ánh sáng lớn hơn trong phàm ngã; và chắc chắn đó là điều chúng ta tìm kiếm trong tham thiền. Cuối cùng, Trái Đất phải trở thành một trạm ánh sáng vĩ đại trong hệ mặt trời; và trong những phạm vi nhỏ bé của mình, chúng ta cũng phải trở thành các trạm ánh sáng để có thể truyền ánh sáng ấy khi gặp gỡ và làm việc với người khác. Khi đó, “gương mặt của những người trên con đường tối tăm tiếp nhận ánh sáng ấy. Đối với họ, con đường không còn quá tối tăm.” |
|
There is only one occurrence of this in the whole book, and here it is—a very beautiful saying which, again, I think should be memorized as much as may be possible. It is in Discipleship in the New Age, Volume II, page 15: |
Câu này chỉ xuất hiện một lần trong toàn bộ cuốn sách, và đây chính là câu ấy—một lời rất đẹp mà, một lần nữa, tôi nghĩ chúng ta nên cố gắng ghi nhớ hết mức có thể. Câu này nằm trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập II, trang 15: |
|
“The face of those upon the darkened way receives that light. For them, the way is not so dark.” |
“Gương mặt của những người trên con đường tối tăm tiếp nhận ánh sáng ấy. Đối với họ, con đường không còn quá tối tăm.” |
|
So each one of us has to become a station of light, so that for others the way is not so dark. |
Vì vậy, mỗi người chúng ta phải trở thành một trạm ánh sáng, để đối với người khác, con đường không còn quá tối tăm. |
|
And I always need my brackets. Without them, it’s impossible to meaningfully put in some comments which may help the viewer—the listener, and especially the viewer. |
Và tôi luôn cần đến những dấu ngoặc của mình. Nếu không có chúng, tôi không thể đưa vào một cách có ý nghĩa những nhận xét có thể giúp ích cho người xem—người nghe, và đặc biệt là người xem. |
|
[19] But—until correctness is possible—the effect produced by the use of the Word is very little, which is fortunate for the man who uses it. |
[19] Nhưng cho đến khi có thể đạt được sự chính xác, hiệu quả do việc sử dụng Linh từ tạo ra vẫn rất nhỏ; điều này thật may mắn cho người sử dụng nó. |
|
Because we don’t want to be materializing forms which can be obstructive. We already have a problem with the materializing of forms, and there are so many forms that simply are not Plan-aligned. |
Bởi chúng ta không muốn làm hiện hình những hình tướng có thể gây cản trở. Chúng ta vốn đã gặp vấn đề với việc làm hiện hình các hình tướng, và có rất nhiều hình tướng hoàn toàn không chỉnh hợp với Thiên Cơ. |
|
As the Sorcerer’s Apprentice discovered, he could certainly multiply the brooms to carry water for him, but they began to multiply by themselves and got completely out of control—the sort of magic in the Walt Disney cartoons, somehow bringing the seventh ray into the lives of children. There’s a lesson in that. Don’t think that, if you relinquish the factor of control, you can successfully practice occultism. It will turn back upon you, and you will be unfortunate. |
Như Người Học Việc của Phù Thủy đã khám phá, y chắc chắn có thể nhân lên những chiếc chổi để mang nước cho mình, nhưng chúng bắt đầu tự nhân lên và hoàn toàn vượt khỏi tầm kiểm soát—một loại huyền thuật trong phim hoạt hình của Walt Disney, bằng cách nào đó đưa cung bảy vào đời sống trẻ em. Trong đó có một bài học. Đừng nghĩ rằng nếu từ bỏ yếu tố kiểm soát, các bạn vẫn có thể thực hành huyền bí học thành công. Nó sẽ quay lại chống các bạn, và các bạn sẽ gặp bất hạnh. |
|
[20] In the studying of the seven great Breaths and their effect on each plane, a man can find out much that should transpire on the different subplanes of each plane, especially in relation to his own development. |
[20] Khi nghiên cứu bảy Đại Hơi Thở và ảnh hưởng của chúng trên mỗi cõi, con người có thể khám phá nhiều điều phải diễn ra trên các cõi phụ khác nhau của mỗi cõi, đặc biệt liên quan đến sự phát triển của chính mình. |
|
Why is this? Because there is a reflection on each systemic subplane of what is happening on each cosmic subplane, or normal systemic solar plane. |
Tại sao lại như vậy? Bởi trên mỗi cõi phụ của hệ thống đều có sự phản ánh điều đang xảy ra trên mỗi cõi phụ vũ trụ, hay trên mỗi cõi mặt trời thông thường của hệ thống. |
|
In other words, our mental plane is a systemic or solar plane, but it is also a cosmic subplane. That cosmic subplane—the normal systemic mental plane, the normal systemic solar plane; all those things are the same—has further subplanes, and then even sub-subplanes. So every time you’re dealing with one of these systemic or solar planes, or one of these cosmic subplanes, it actually has forty-nine divisions. |
Nói cách khác, cõi trí của chúng ta là một cõi thuộc hệ thống hay cõi mặt trời, nhưng nó cũng là một cõi phụ vũ trụ. Cõi phụ vũ trụ ấy—tức cõi trí thông thường của hệ thống, cõi mặt trời thông thường của hệ thống; tất cả đều là một—lại có thêm các cõi phụ, và thậm chí cả những cõi phụ nhỏ hơn nữa. Vì vậy, mỗi khi đề cập đến một trong các cõi thuộc hệ thống hay cõi mặt trời này, hoặc một trong các cõi phụ vũ trụ này, chúng ta thật sự đang đề cập đến một cõi có bốn mươi chín phân khu. |
|
[21] In the studying of the basic note of the solar system (which was stabilised in System I), much can be found out about the use of the Word on the physical plane. |
[21] Khi nghiên cứu âm điệu căn bản của hệ mặt trời, vốn đã được ổn định trong Hệ Thống Một, người ta có thể khám phá nhiều điều về cách sử dụng Linh từ trên cõi hồng trần. |
|
And that is the note Fa—green, F—the fourth in music, or the interval of the fourth. |
Và đó là nốt pha—màu lục, pha—nốt thứ tư trong âm nhạc, hay quãng bốn. |
|
Now remember, we do not have the keynote of the present solar system, which apparently is a dominant and not a tonic. A dominant is five notes above the tonic. The thing about usual tonal music is that it always returns to a tonic note, or to a related note such as the dominant, and it centers around certain chief notes and the chords built upon them. |
Giờ đây, hãy nhớ rằng chúng ta không có chủ âm của hệ mặt trời hiện tại, vốn dường như là một âm át chứ không phải âm chủ. Âm át cao hơn âm chủ năm nốt. Đặc điểm của âm nhạc điệu tính thông thường là nó luôn trở về âm chủ, hoặc một nốt có liên hệ như âm át, và xoay quanh một số nốt chính cùng những hợp âm được xây dựng trên đó. |
|
This is not the case in music which is not based on conventional tonality, such as twelve-tone music, which became prominent in the early twentieth century among thinking musicians—not necessarily, I wonder, feeling musicians—but certainly among musicians who were looking for a system to extricate them from the disintegration of the harmonic language which they were experiencing. |
Điều này không đúng với loại âm nhạc không dựa trên điệu tính thông thường, chẳng hạn âm nhạc mười hai âm, vốn trở nên nổi bật vào đầu thế kỷ hai mươi trong số những nhạc sĩ thiên về tư duy—tôi tự hỏi, không nhất thiết là những nhạc sĩ thiên về cảm xúc—nhưng chắc chắn là những nhạc sĩ đang tìm kiếm một hệ thống để thoát khỏi sự tan rã của ngôn ngữ hòa âm mà họ đang trải nghiệm. |
|
So, in studying the basic note of the solar system, which was stabilized in System I, much can be found out about the use of the Word. It is related to the third ray, and the hint lies here for our consideration. Why is that? You almost have to constantly ask yourself, “Why is that? Why is that?” Then we begin to find out the reasons behind the hints that he gives. |
Vì vậy, khi nghiên cứu âm điệu căn bản của hệ mặt trời, vốn đã được ổn định trong Hệ Thống I, người ta có thể khám phá nhiều điều về việc sử dụng Linh từ. Nó liên hệ với cung ba, và ở đây có một gợi ý để chúng ta suy xét. Tại sao lại như vậy? Các bạn gần như phải liên tục tự hỏi: “Tại sao lại như vậy? Tại sao lại như vậy?” Khi đó, chúng ta bắt đầu khám phá những lý do ẩn sau các gợi ý mà Ngài đưa ra. |
|
The first major solar system was materially focused through the note Fa—green—and was related to the dense physical plane. It was also very much a personality-oriented solar system because, in a way, the whole personality is cosmically dense. Our personality, functioning on the lower eighteen subplanes of the cosmic physical plane—or perhaps I should call them the lower eighteen sub-subplanes of the cosmic physical plane—is related to material density. |
Hệ mặt trời chính yếu thứ nhất tập trung vào vật chất thông qua nốt pha—màu lục—và liên hệ với cõi hồng trần đậm đặc. Đó cũng là một hệ mặt trời định hướng mạnh mẽ vào phàm ngã, bởi theo một nghĩa nào đó, toàn bộ phàm ngã đều đậm đặc về mặt vũ trụ. Phàm ngã của chúng ta, hoạt động trên mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ—hay có lẽ tôi nên gọi chúng là mười tám cõi phụ nhỏ thấp của cõi hồng trần vũ trụ—có liên hệ với tính đậm đặc vật chất. |
|
[22] A hint lies here for consideration. |
[22] Chính ở đây có một gợi ý đáng suy ngẫm. |
|
So maybe that’s the hint. |
Vì vậy, có lẽ đó chính là gợi ý. |
|
Much can be found out about the use of the Word on the physical plane. |
Người ta có thể khám phá nhiều điều về việc sử dụng Linh từ trên cõi hồng trần. |
|
Now maybe a hint is being given here. Perhaps, in studying the fundamental note of the present solar system, much can be found out about the use of the Word on the astral plane; and perhaps, in relation to the next solar system, much will be found out about its use on the lower mental plane. |
Giờ đây, có lẽ một gợi ý đang được đưa ra ở đây. Có lẽ khi nghiên cứu âm điệu căn bản của hệ mặt trời hiện tại, người ta có thể khám phá nhiều điều về việc sử dụng Linh từ trên cõi cảm dục; và có lẽ trong mối liên hệ với hệ mặt trời kế tiếp, người ta sẽ khám phá nhiều điều về cách sử dụng nó trên cõi hạ trí. |
|
The first major solar system was materially focused. We are astrally focused in relation to the note. There is a connection between the soul and the astral body, and between the monad—which may be the theme of the next solar system—and the mental body. So maybe in these thoughts there is some unveiling of the hint. |
Hệ mặt trời chính yếu thứ nhất tập trung vào vật chất. Xét theo âm điệu, chúng ta đang tập trung vào cõi cảm dục. Có một mối liên hệ giữa linh hồn và thể cảm dục, cũng như giữa chân thần—có thể là chủ đề của hệ mặt trời kế tiếp—với thể trí. Vì vậy, có lẽ trong những tư tưởng này có sự hé mở nào đó của gợi ý. |
|
This is a soul solar system, and the second ray soul of the Solar Logos is really brought into prominence in this solar system. Now I’m getting another thought here. |
Đây là một hệ mặt trời của linh hồn, và linh hồn cung hai của Thái dương Thượng đế thật sự được đưa lên hàng nổi bật trong hệ mặt trời này. Giờ đây, tôi lại có thêm một ý nghĩ khác. |
|
We also know that the personality ray reflects itself in the dense physical body, that the soul ray reflects itself in the astral body, and that the Monadic ray reflects itself in the lower mental body. He definitely says that elsewhere. |
Chúng ta cũng biết rằng cung phàm ngã phản ánh chính nó trong thể xác đậm đặc, cung linh hồn phản ánh chính nó trong thể cảm dục, và cung chân thần phản ánh chính nó trong thể hạ trí. Ngài chắc chắn đã nói điều đó ở nơi khác. |
|
So the ray of your personality may show up quite prominently in the ray expression of your physical body. I knew a man who had a first ray personality. He thought he had a first ray physical body because the first ray of the personality was reflecting itself in the physical body, when really the physical ray was the third. |
Vì vậy, cung phàm ngã của các bạn có thể biểu hiện khá nổi bật trong sự biểu lộ cung của thể xác. Tôi từng biết một người có phàm ngã cung một. Ông nghĩ mình có thể xác cung một vì cung một của phàm ngã đang phản ánh chính nó trong thể xác, trong khi cung thể xác thật sự là cung ba. |
|
So there is a ray impression coming from the three periodical vehicles. From the personality ray, there is a reflection into the dense physical body; from the soul ray, a reflection into the astral body; and from the Monadic ray—whichever one it may be, because according to my hypothesis there are two—a reflection into the mental body. |
Như vậy, có một ấn tượng cung đến từ ba hiện thể chu kỳ. Từ cung phàm ngã có một sự phản ánh vào thể xác đậm đặc; từ cung linh hồn có một sự phản ánh vào thể cảm dục; và từ cung chân thần—bất kể đó là cung nào, vì theo giả thuyết của tôi có hai cung—có một sự phản ánh vào thể trí. |
|
So if you have a third ray monad, your mental body is going to show persistent signs of the third ray, even if the actual ray of your mind is not the third ray. |
Vì vậy, nếu các bạn có chân thần cung ba, thể trí của các bạn sẽ biểu lộ dai dẳng những dấu hiệu của cung ba, ngay cả khi cung thực sự của thể trí không phải là cung ba. |
|
And thus it goes with the soul. Let’s say you have a second ray soul, but perhaps you do not yet have a second ray astral body. Maybe you have a sixth ray astral body, but still the ray of the soul will reflect itself in that astral body. So you’ll have a kind of two-six situation. |
Điều tương tự cũng xảy ra với linh hồn. Giả sử các bạn có linh hồn cung hai, nhưng có lẽ chưa có thể cảm dục cung hai. Có thể các bạn có thể cảm dục cung sáu, nhưng cung linh hồn vẫn sẽ phản ánh chính nó trong thể cảm dục ấy. Như vậy, các bạn sẽ có một dạng kết hợp hai-sáu. |
|
I know an individual with a first ray soul, and perhaps the astral body is really on the sixth ray. But because the soul ray is the first ray, there is a great deal of the first ray reflected in the astral body. So you get the pattern. |
Tôi biết một người có linh hồn cung một, và có lẽ thể cảm dục thật sự thuộc cung sáu. Nhưng vì cung linh hồn là cung một nên có rất nhiều phẩm tính cung một phản ánh trong thể cảm dục. Như vậy, các bạn đã thấy mô hình này. |
|
[23] In the endeavour to find the note for this solar system, the note of love and wisdom, |
[23] Trong nỗ lực tìm ra âm điệu của hệ mặt trời này, tức âm điệu của Bác ái và Minh triết, |
|
which can also be the note mi, or yellow, or the buddhic note, or the note of the sixth principle of Love-Wisdom, |
vốn cũng có thể là nốt mi, hay màu vàng, hay âm điệu Bồ đề, hay âm điệu của nguyên khí thứ sáu là Bác Ái – Minh Triết, |
|
[24] the student will make the necessary communication between the emotional or desire plane and the intuitional plane, |
[24] đạo sinh sẽ thiết lập mối giao tiếp cần thiết giữa cõi cảm xúc hay dục vọng với cõi trực giác, |
|
and this is part of antahkarana building, |
và đây là một phần của việc xây dựng antahkarana, |
|
[25] and find out the secret of the emotional plane. |
[25] và khám phá bí mật của cõi cảm xúc. |
|
Remember, the keynote of our solar system is a perfect fifth from some do, or fundamental note, which is not specified. We’ve been discussing that it could be the note C, it could be the note A, and there’s a chance that the note D may be somewhat involved when we’re dealing with the next solar system, which I believe has a first ray personality, just as we presently have a second ray personality and, previously, I believe, had a third ray personality. |
Hãy nhớ rằng chủ âm của hệ mặt trời chúng ta cách một quãng năm đúng so với một nốt đô hay âm điệu căn bản nào đó chưa được xác định. Chúng ta đã bàn rằng đó có thể là nốt đô, có thể là nốt la, và cũng có khả năng nốt rê phần nào liên quan khi chúng ta đề cập đến hệ mặt trời kế tiếp, vốn theo tôi tin có phàm ngã cung một, cũng như hiện nay chúng ta có phàm ngã cung hai và trước kia, theo tôi tin, đã có phàm ngã cung ba. |
|
So Buddhi sheds light on the secret of the emotional plane. We know that, in antahkarana building, one of the first things we have to visualize is a connection between the astral or emotional plane and the intuitional plane. |
Như vậy, Bồ đề soi sáng bí mật của cõi cảm xúc. Chúng ta biết rằng trong việc xây dựng antahkarana, một trong những điều đầu tiên phải hình dung là mối liên hệ giữa cõi cảm dục hay cảm xúc với cõi trực giác. |
|
[26] In the study of the Word on mental levels and its effect in form building, the key to the erection of Solomon’s Temple will be discovered, and the pupil will develop the faculties of the causal body, and eventually find liberation from the three worlds. |
[26] Khi nghiên cứu Linh từ trên các cấp độ trí tuệ và ảnh hưởng của nó trong việc kiến tạo hình tướng, người ta sẽ khám phá chìa khóa xây dựng Đền Thờ Solomon; môn sinh sẽ phát triển các năng lực của thể nguyên nhân và cuối cùng được giải phóng khỏi ba cõi giới. |
|
Again, amazing statements in this little book which we don’t want to pass over. It looks as though this study is undertaken before liberation through the destruction of the causal body can actually occur. |
Một lần nữa, đây là những phát biểu đáng kinh ngạc trong cuốn sách nhỏ này mà chúng ta không muốn bỏ qua. Dường như việc nghiên cứu này được tiến hành trước khi sự giải phóng thông qua việc phá hủy thể nguyên nhân có thể thật sự xảy ra. |
|
So now we have to ask: is the higher mind involved, or is the study to be confined to the lower mental levels? So far, we’ve had the study in relation to the physical plane and the study in relation to the astral plane, all part of the personality. Do we venture onto the higher mental plane here in our study? |
Vì vậy, giờ đây chúng ta phải hỏi: thượng trí có liên quan không, hay việc nghiên cứu chỉ giới hạn ở các cấp độ hạ trí? Cho đến nay, chúng ta đã nghiên cứu trong mối liên hệ với cõi hồng trần và cõi cảm dục, tất cả đều là bộ phận của phàm ngã. Trong nghiên cứu này, chúng ta có tiến vào Cõi thượng trí không? |
|
As I said, we know that the Monadic ray has a strong effect upon the mental ray. And of course, since there is a projection of the monad—an extension of it—into the higher mind, where the causal body is to be found, the monad is influential in both places. So the soul ray will carry something of the Monadic ray, but then so will the lower mind. There will be an impression. |
Như tôi đã nói, chúng ta biết cung chân thần có ảnh hưởng mạnh mẽ lên cung thể trí. Và dĩ nhiên, vì có sự phóng chiếu của chân thần—một sự mở rộng của nó—vào thượng trí, nơi có thể nguyên nhân, nên chân thần có ảnh hưởng ở cả hai nơi. Vì vậy, cung linh hồn sẽ mang theo phần nào cung chân thần, và hạ trí cũng vậy. Sẽ có một ấn tượng. |
|
How are we really to study these things? We need some guidance, I think, in our study of the Word on these various levels. |
Chúng ta thật sự phải nghiên cứu những điều này như thế nào? Tôi nghĩ chúng ta cần một số chỉ dẫn trong việc nghiên cứu Linh từ trên những cấp độ khác nhau này. |
|
We will also “find out the secret of the emotional plane,” whatever that is. We do know there are soul secrets, and they are given in Esoteric Astrology: the secret of the soul, which Capricorn seems to rule, and the secrets of various initiations. Why are they called secrets? Because they’re not easily accessible. |
Chúng ta cũng sẽ “khám phá bí mật của cõi cảm xúc,” bất kể đó là gì. Chúng ta biết có những bí mật của linh hồn, và chúng được trình bày trong Chiêm Tinh Học Nội Môn: bí mật của linh hồn, dường như do Ma Kết cai quản, và những bí mật của các lần điểm đạo khác nhau. Tại sao chúng được gọi là bí mật? Bởi chúng không dễ tiếp cận. |
|
But this question of finding the note for this solar system is not as easy as it seems, because the note of Love-Wisdom has to do with the sixth principle, as stated here, and also with the color blue. So let’s say that the color blue is also involved in searching for the note of this solar system. |
Nhưng vấn đề tìm kiếm âm điệu của hệ mặt trời này không dễ như vẻ ngoài, bởi âm điệu Bác Ái – Minh Triết liên quan đến nguyên khí thứ sáu, như đã nói ở đây, và cũng liên quan đến màu xanh lam. Vì vậy, có thể nói rằng màu xanh lam cũng tham gia vào việc tìm kiếm âm điệu của hệ mặt trời này. |
|
What is the do? If you have a fixed do, it is usually the red note C. A movable do can be anything—the foundational note of any scale. |
Nốt đô là gì? Nếu có một nốt đô cố định, nó thường là nốt đô màu đỏ. Một nốt đô di động có thể là bất cứ nốt nào—âm điệu nền tảng của bất kỳ âm giai nào. |
|
I imagine you’re tired of me offering these musical analogies, especially because I repeat them quite a bit. Maybe it’s because, for me, music is one of the ways in—a key to The Secret Doctrine. Maybe it’s some kind of old Pythagorean training. On the other hand, different people have different ways in, and studying the psychology of the different students who seek entry into the understanding of The Secret Doctrine is most interesting. |
Tôi hình dung các bạn đã mệt mỏi vì tôi đưa ra những phép tương đồng âm nhạc này, đặc biệt vì tôi lặp lại chúng khá nhiều. Có lẽ bởi đối với tôi, âm nhạc là một trong những lối đi vào—một chìa khóa dẫn đến Giáo Lý Bí Nhiệm. Có lẽ đó là một dạng huấn luyện Pythagoras từ thời xa xưa. Mặt khác, những người khác nhau có những lối đi vào khác nhau, và việc nghiên cứu tâm lý của những đạo sinh khác nhau đang tìm cách tiến vào sự thấu hiểu Giáo Lý Bí Nhiệm là điều vô cùng thú vị. |
|
There are so many different ways in—the mathematical approach, the close study of matter, and others. They’re given in a footnote somewhere in A Treatise on Cosmic Fire, and there are a number of them. I think it’s important that, if we want, so to speak, to bark up the right tree, we’ve got to know what our method is for entering into a deeper understanding of The Secret Doctrine. |
Có rất nhiều lối đi vào khác nhau—cách tiếp cận toán học, việc nghiên cứu kỹ lưỡng vật chất, cùng những cách khác. Chúng được nêu trong một chú thích ở đâu đó trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và có một số cách như vậy. Tôi nghĩ điều quan trọng là nếu muốn, có thể nói như thế, đi đúng hướng, chúng ta phải biết phương pháp của mình để tiến vào sự thấu hiểu sâu sắc hơn về Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
So it looks as though we have been studying a constructive or creative method of using the Sacred Word, a destructive method, and then, more generally, the use of the Word. I’ve gone back a few pages, and perhaps we’re dealing with this fourfold list, whichever postulate it is related to: the creative effect of the Sacred Word—we’ve done that—and perhaps a very brief look at the destructive effect of the Sacred Word. We’ll see whether it comes up again. |
Như vậy, dường như chúng ta đã nghiên cứu một phương pháp kiến tạo hay sáng tạo trong việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng, một phương pháp phá hủy, rồi xét tổng quát hơn là việc sử dụng Linh từ. Tôi đã quay lại vài trang trước, và có lẽ chúng ta đang đề cập đến danh sách tứ phân này, bất kể nó liên quan đến định đề nào: hiệu quả sáng tạo của Linh từ Thiêng liêng—chúng ta đã nghiên cứu điều đó—và có lẽ một cái nhìn rất ngắn gọn về hiệu quả phá hủy của Linh từ Thiêng liêng. Chúng ta sẽ xem liệu điều đó có xuất hiện trở lại hay không. |
|
And now perhaps we’re considering its pronunciation and use in individual meditation. Maybe we’ll go on to group and congregational work, and also its use for specific ends. That list is found right before we get into page 53. So he has really combined the two—the constructive and the destructive—in one exposition. |
Và giờ đây, có lẽ chúng ta đang xem xét cách phát âm và sử dụng Linh từ trong tham thiền cá nhân. Có thể chúng ta sẽ tiếp tục với công việc nhóm và tập thể, cũng như việc sử dụng nó cho những mục đích cụ thể. Danh sách đó nằm ngay trước khi chúng ta bước vào trang 53. Vì vậy, Ngài thật sự đã kết hợp hai phương diện—kiến tạo và phá hủy—trong một phần trình bày. |
|
We might say, then, that we’re dealing with items one and two of the fourfold list. As he proceeds, he repeats certain points and says some fascinating things about sound in this really daunting subject. He gives us the seven great Breaths and perhaps seven great subtones. As I’ve been saying, I may be incorrect, but it looks as though the subtones are connected with the Breaths. |
Do đó, có thể nói rằng chúng ta đang đề cập đến mục một và mục hai trong danh sách tứ phân. Khi tiếp tục, Ngài lặp lại một số điểm và nói vài điều hấp dẫn về âm thanh trong chủ đề thật sự khó khăn này. Ngài trao cho chúng ta bảy Hơi Thở vĩ đại và có lẽ bảy âm phụ vĩ đại. Như tôi đã nói, có thể tôi không đúng, nhưng dường như các âm phụ liên hệ với các Hơi Thở. |
|
Maybe we can condense all this by reading the original. |
Có lẽ chúng ta có thể cô đọng tất cả điều này bằng cách đọc nguyên văn. |
|
I find this question of the keynote fascinating—the keynote of the chord. A keynote is somehow related to the fifth great Breath, the fifth subtone, and the fifth in music. It’s the dominant. It’s called a fifth from the do. So this keynote is located a fifth away from—or, let’s say, above—the do of the scale we are using. |
Tôi thấy vấn đề về chủ âm này thật hấp dẫn—chủ âm của hợp âm. Bằng cách nào đó, một chủ âm có liên hệ với Hơi Thở vĩ đại thứ năm, âm phụ thứ năm và quãng năm trong âm nhạc. Đó là âm át. Nó được gọi là quãng năm tính từ nốt đô. Vì vậy, chủ âm này nằm cách nốt đô của âm giai mà chúng ta đang sử dụng một quãng năm—hay có thể nói là cao hơn một quãng năm. |
|
Every scale is built upon that do, which automatically has the dominant: do, re, mi, fa, sol. Sol is the dominant. And of course there are many associations we can make with that. |
Mọi âm giai đều được xây dựng trên nốt đô ấy, và tự động có âm át: đô, rê, mi, pha, son. Son là âm át. Và dĩ nhiên, chúng ta có thể thiết lập nhiều mối liên hệ với điều đó. |
|
So we come back to where we are now. We’re dealing here with meditation and the Word: meditation with seed and meditation without seed. We’re looking at a simultaneous attraction and repulsion of suitable and unsuitable matter, respectively, where both operate at the same time. And we’re trying to see how we can make the Word really effective. |
Vì vậy, chúng ta quay lại chỗ hiện tại. Ở đây, chúng ta đang đề cập đến tham thiền và Linh từ: tham thiền có hạt giống và tham thiền không hạt giống. Chúng ta đang xem xét sự thu hút và đẩy lùi đồng thời đối với vật chất thích hợp và không thích hợp, trong đó cả hai cùng vận hành một lúc. Và chúng ta đang cố gắng xem mình có thể làm cho Linh từ thật sự hiệu quả như thế nào. |
|
He’ll tell us that, when we sound it inwardly and hear it inwardly, it’s even more effective than the normal outer sounding. |
Ngài sẽ cho chúng ta biết rằng khi xướng Linh từ bên trong và nghe nó bên trong, nó thậm chí còn hiệu quả hơn cách xướng bình thường ra bên ngoài. |
|
I met a group once, long ago. It was an illuminating experience. The young man who was sort of heading the group was dying of AIDS, and somehow this drove him to be extremely demonstrative and exterior in his use of the Sacred Word—almost forced, too loud, and, really, too fearful. He seemed to think that putting a great deal of force into the outer sounding would somehow cure him. I don’t think it did. I lost touch with him. |
Cách đây rất lâu, tôi từng gặp một nhóm. Đó là một trải nghiệm soi sáng. Người thanh niên dường như lãnh đạo nhóm đang hấp hối vì bệnh suy giảm miễn dịch, và bằng cách nào đó, điều này khiến ông trở nên cực kỳ phô trương và hướng ngoại khi sử dụng Linh từ Thiêng liêng—gần như cưỡng ép, quá lớn tiếng và thật sự quá sợ hãi. Dường như ông nghĩ rằng việc dồn thật nhiều mãnh lực vào tiếng xướng bên ngoài bằng cách nào đó sẽ chữa lành cho mình. Tôi không nghĩ điều đó đã xảy ra. Tôi đã mất liên lạc với ông. |
|
But it’s not simply a question of how loudly we sound the OM or how much force we put into it outwardly. It’s something very internal. |
Nhưng vấn đề không đơn thuần là chúng ta xướng linh từ OM lớn đến mức nào hay đưa bao nhiêu mãnh lực vào sự xướng ra bên ngoài. Đó là một điều hết sức nội tại. |
|
So we’ve now looked at the study of the Word on the physical, emotional, and mental levels—the concrete mind, and perhaps also the higher mind. These studies allow for the improvement of the vehicles and also for the building in of the faculties of the causal body. |
Như vậy, giờ đây chúng ta đã xem xét việc nghiên cứu Linh từ trên các cấp độ hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—hạ trí cụ thể, và có lẽ cả thượng trí. Những nghiên cứu này cho phép cải thiện các hiện thể và cũng kiến tạo các năng lực của thể nguyên nhân. |
|
In the study of the Word on the mental levels—and here we have to be careful, because maybe he does mean both the lower mind and the higher mind—and its effect in form building, the key to the erection of Solomon’s Temple will be discovered. |
Trong việc nghiên cứu Linh từ trên các cấp độ trí tuệ—và ở đây chúng ta phải cẩn thận, vì có lẽ Ngài muốn nói đến cả hạ trí lẫn thượng trí—cùng ảnh hưởng của nó trong việc kiến tạo hình tướng, người ta sẽ khám phá chiếc chìa khóa để dựng nên Đền Thờ Solomon. |
|
So much of this development happens unconsciously and for a long time. The faculties of the causal body are constantly developing, but unconsciously, in the evolving man during the earlier stages. Then we begin consciously to participate in that development. We sound the OM, purposefully bringing in matter of a more refined nature and expelling that which no longer vibrates to our higher intention. And eventually liberation comes. |
Phần lớn sự phát triển này diễn ra một cách vô thức và kéo dài rất lâu. Các năng lực của thể nguyên nhân không ngừng phát triển, nhưng diễn ra vô thức trong con người đang tiến hoá ở những giai đoạn đầu. Kế đó, chúng ta bắt đầu tham gia một cách hữu thức vào sự phát triển ấy. Chúng ta xướng linh từ OM, có chủ đích đưa vào loại vật chất tinh luyện hơn và loại bỏ những gì không còn rung động phù hợp với ý định cao hơn của mình. Và cuối cùng, sự giải phóng sẽ đến. |
|
[27] The student must remember, nevertheless, that he has first to find his personality note, |
[27] Tuy nhiên, đạo sinh phải nhớ rằng trước hết y phải tìm ra âm điệu phàm ngã của mình, |
|
and we struggle with that so much when we do our Ray work. What is my personality ray, and is it stable? Are you in the later part of life? Is it shifting? Because often the personality ray does shift to another ray, so that by the end of a particular incarnation you have the personality ray that you will carry into the subsequent incarnation. Of course, sometimes the ray stays the same, as in the case of various artists who get a great deal of practice expressing through a particular ray. |
và chúng ta phải vật lộn rất nhiều với điều đó khi thực hiện công việc về cung. Cung phàm ngã của tôi là gì, và nó có ổn định không? Các bạn đang ở giai đoạn sau của cuộc đời chăng? Nó có đang chuyển đổi không? Bởi cung phàm ngã thường chuyển sang một cung khác, để đến cuối một kiếp sống cụ thể, các bạn có được cung phàm ngã mà mình sẽ mang sang kiếp sống kế tiếp. Dĩ nhiên, đôi khi cung ấy vẫn giữ nguyên, như trong trường hợp nhiều nghệ sĩ đã có rất nhiều kinh nghiệm biểu lộ qua một cung cụ thể. |
|
[28] and then the egoic, before he can touch the monadic chord. |
[28] rồi đến âm điệu chân ngã, trước khi có thể chạm đến hợp âm chân thần. |
|
Such a simple and straightforward statement. I would say: go to Esoteric Astrology, around pages 222 and 223, and you’ll see that The Tibetan basically says that, before you interpret the chart, find the personality ray; and, in the case of more advanced people for whom the soul ray has emerged, find that as well. |
Thật là một phát biểu đơn giản và thẳng thắn. Tôi xin nói rằng: hãy xem Chiêm Tinh Học Nội Môn, khoảng trang 222 và 223, và các bạn sẽ thấy Chân sư Tây Tạng về cơ bản nói rằng trước khi diễn giải lá số, hãy tìm cung phàm ngã; và trong trường hợp những người tiến bộ hơn mà cung linh hồn đã xuất hiện, cũng hãy tìm cung ấy. |
|
Then you can set up a much more useful chart, because you can see the astrological factors through which that personality ray is working. And even though you do not yet really have the chart of the soul, you do at least have factors in the normal horoscope through which the soul, of a certain ray, can work. |
Khi đó, các bạn có thể thiết lập một lá số hữu ích hơn nhiều, bởi có thể thấy những yếu tố chiêm tinh mà qua đó cung phàm ngã đang hoạt động. Và mặc dù chưa thật sự có lá số của linh hồn, ít nhất các bạn cũng có những yếu tố trong lá số chiêm tinh thông thường mà qua đó linh hồn thuộc một cung nhất định có thể hoạt động. |
|
In my own case, if I think I have a second ray soul, I would look at what is going on with Jupiter, and perhaps certain signs of the zodiac such as Gemini, Virgo, and Pisces. And if I think I have a fourth ray personality, I would really look to the Moon and Mercury and see what they are doing. That’s the way you can do it for yourself. |
Trong trường hợp của tôi, nếu tôi cho rằng mình có linh hồn cung hai, tôi sẽ xem điều gì đang diễn ra với Sao Mộc và có lẽ với một số dấu hiệu hoàng đạo như Song Tử, Xử Nữ và Song Ngư. Và nếu tôi cho rằng mình có phàm ngã cung bốn, tôi sẽ thật sự xem xét Mặt Trăng cùng Sao Thủy và quan sát chúng đang làm gì. Đó là cách các bạn có thể tự thực hiện. |
|
I would say that not everybody has to become an esoteric astrologer. I don’t think Alice Bailey ever became one in the sense of actually doing charts, but she certainly knew enough of the fundamentals to make it possible to understand people and, I would say, to give them the right kind of advice. And you will be called upon to do that, so even a little bit goes a long way. |
Tôi cho rằng không phải ai cũng cần trở thành nhà chiêm tinh nội môn. Tôi không nghĩ Bà Alice Bailey từng trở thành một nhà chiêm tinh nội môn theo nghĩa thật sự lập các lá số, nhưng chắc chắn Bà biết đủ những điều căn bản để có thể thấu hiểu con người và, theo tôi, đưa ra cho họ lời khuyên thích hợp. Các bạn cũng sẽ được kêu gọi làm điều đó, nên chỉ một ít kiến thức cũng có thể đem lại lợi ích lớn lao. |
|
Ascendant, Sun sign, Moon sign; Moon sign, Sun sign, Ascendant—it goes a long way toward determining the direction, the correct direction, of the person through the incarnation. |
Điểm mọc, dấu hiệu Mặt Trời, dấu hiệu Mặt Trăng; dấu hiệu Mặt Trăng, dấu hiệu Mặt Trời, Điểm mọc—những yếu tố ấy góp phần rất lớn vào việc xác định phương hướng, tức phương hướng đúng đắn của một người trong suốt kiếp sống. |
|
So discover your personality note. What is it? |
Vì vậy, hãy khám phá âm điệu phàm ngã của các bạn. Nó là gì? |
|
Sometimes this is very difficult, and years—even speaking from experience—can be spent trying to locate that personality ray. It may be relatively new to your present-life demonstration, or it may have been your ray for a while, in which case it might be stronger and have more momentum and more presence. |
Đôi khi điều này rất khó khăn, và thậm chí phải mất nhiều năm—tôi nói từ kinh nghiệm—để xác định cung phàm ngã ấy. Nó có thể tương đối mới đối với sự biểu lộ trong đời sống hiện tại của các bạn, hoặc nó có thể đã là cung của các bạn trong một thời gian; trong trường hợp đó, nó có thể mạnh hơn, có nhiều động lượng và sự hiện diện hơn. |
|
So at least discover your personality ray and soul ray. Perhaps we’re not going to have that Monadic chord sounding fully until we have the perfect third of the personality and the fifth—the dominant—of the soul. |
Vì vậy, ít nhất hãy khám phá cung phàm ngã và cung linh hồn của các bạn. Có lẽ hợp âm chân thần sẽ chưa vang lên trọn vẹn cho đến khi chúng ta có quãng ba đúng của phàm ngã và quãng năm—âm át—của linh hồn. |
|
[29] When he has done that he has, for himself, sounded his own threefold Word, and is now an intelligent creator animated by love. |
[29] Khi đã làm được điều đó, y đã xướng Linh từ tam phân của chính mình và bấy giờ là một đấng sáng tạo thông tuệ, được Bác ái làm sinh động. |
|
So let’s say that the personality and the soul are known, active, and effective together. And then, if we can add to that the qualities of the Spiritual Triad—which in one respect carry the same ray as the soul ray, and in another respect reflect the Monadic ray, at least one of them—then a kind of goal is reached. |
Vì vậy, có thể nói rằng phàm ngã và linh hồn đã được nhận biết, cùng hoạt động và cùng tạo hiệu quả. Và kế đó, nếu có thể thêm vào những phẩm tính của Tam Nguyên Tinh Thần—vốn theo một phương diện mang cùng cung với cung linh hồn, và theo một phương diện khác phản ánh cung chân thần, ít nhất là một trong số chúng—thì một loại mục tiêu đã đạt được. |
|
But when we can really touch the Monadic chord, then indeed— |
Nhưng khi thật sự có thể chạm đến hợp âm chân thần, thì quả thật— |
|
[30] The goal is reached. |
[30] Mục tiêu đã đạt được. |
|
When we can touch the Monadic chord, then indeed the goal is reached. |
Khi có thể chạm đến hợp âm chân thần, thì quả thật mục tiêu đã đạt được. |
|
I’ll go on here, admitting that I sometimes get lost in the outline form. I’m sure The Tibetan has presented it very clearly, and then I try to trace these things and the outlines don’t look so clear to me. But at least the substance of them should be coming through. |
Tôi sẽ tiếp tục ở đây, đồng thời thừa nhận rằng đôi khi mình bị lạc trong hình thức dàn ý. Tôi tin chắc Chân sư Tây Tạng đã trình bày điều đó rất rõ ràng, rồi tôi cố gắng lần theo những điều này nhưng các dàn ý lại không có vẻ quá rõ đối với tôi. Tuy nhiên, ít nhất nội dung cốt lõi của chúng hẳn đang được truyền đạt. |
|
So now we come to some practical hints. We’re still either in very late Gemini or early Cancer of the year 1920. Alice Bailey said not to pay too much attention to the dates affixed to the various lessons, because they may have been given quite a bit before the date assigned to them. But that may not be so important right now. |
Giờ đây, chúng ta đến với một số gợi ý thực tiễn. Chúng ta vẫn đang ở cuối thời kỳ Song Tử hoặc đầu thời kỳ Cự Giải của năm 1920. Bà Alice Bailey nói rằng đừng quá chú ý đến những ngày tháng được ghi kèm các bài học khác nhau, bởi chúng có thể đã được ban ra khá lâu trước ngày được gán cho chúng. Nhưng có lẽ điều đó hiện không quá quan trọng. |
|
We know she was a Gemini, and we know that Gemini is one of the major signs of the second ray. We know that Master Kuthumi has Gemini as one of his important signs, and we infer that The Tibetan has Gemini prominent, since he is a major messenger of the Hierarchy. Mercury and Gemini must be prominent for him. |
Chúng ta biết Bà thuộc dấu hiệu Song Tử, và biết rằng Song Tử là một trong những dấu hiệu chính yếu của cung hai. Chúng ta biết Chân sư Kuthumi có Song Tử là một trong những dấu hiệu quan trọng của Ngài, và chúng ta suy ra rằng Chân sư Tây Tạng có Song Tử nổi bật, vì Ngài là một sứ giả chính yếu của Thánh Đoàn. Sao Thủy và Song Tử hẳn phải nổi bật đối với Ngài. |
|
It’s enough to know that. And then you look at Foster Bailey—Gemini rising—and Mary Bailey, Sun in Gemini, Leo rising, just like Alice Bailey, though on a different ray. |
Biết chừng ấy là đủ. Kế đó, các bạn nhìn vào Ông Foster Bailey—Điểm mọc Song Tử—và Bà Mary Bailey, Mặt Trời ở Song Tử, Điểm mọc Sư Tử, giống như Bà Alice Bailey, mặc dù thuộc một cung khác. |
|
So, some practical hints. Naturally, in the midst of all this complexity, we are grateful for the practical hints. |
Vì vậy, đây là một số gợi ý thực tiễn. Đương nhiên, giữa tất cả sự phức tạp này, chúng ta biết ơn những gợi ý thực tiễn. |
|
[30b] June 21, 1920 |
[30b] Ngày 21 tháng 6 năm 1920 |
|
Yesterday’s teaching was very abstract, brother of mine, and hard for the mind to grasp. Today we shall be more specifically practical and mayhap if [it?] will not be so difficult of apprehension. |
Huynh đệ của tôi, giáo huấn hôm qua rất trừu tượng và khó để thể trí lĩnh hội. Hôm nay, chúng ta sẽ thực tiễn một cách cụ thể hơn, và có lẽ [điều đó?] sẽ không quá khó lĩnh hội. |
|
Before we take up this topic I would [like] that you apply yourself to the transcribing of certain phrases of occult significance. So oft, if you leave them to the end of my dictation, cometh fatigue and your consequent inability to transcribe with facility. |
Trước khi đề cập đến chủ đề này, Tôi muốn bạn chuyên tâm ghi chép một số cụm từ có thâm nghĩa huyền bí. Thường xuyên biết bao, nếu bạn để chúng đến cuối phần truyền đạt của Tôi, sự mệt mỏi xuất hiện và hậu quả là bạn không còn khả năng ghi chép dễ dàng. |
|
[This is followed by occult fragments; one of them published in Rays and Initiations, p. 763] |
[Tiếp theo là những đoạn huyền bí rời rạc; một đoạn trong số đó đã được xuất bản trong Các Cung và Điểm Đạo, trang 763] |
|
These lines come not easily, brother of mine, but with frequent attempt cometh eventually greater easiness of expression. |
Huynh đệ của tôi, những dòng này không đến một cách dễ dàng, nhưng với nỗ lực thường xuyên, cuối cùng khả năng diễn đạt sẽ trở nên dễ dàng hơn. |
|
[31] Some Practical Hints. |
[31] Một Số Gợi Ý Thực Tiễn. |
|
[32] I wish to make clear this afternoon that it is not possible for me, nor wise and appropriate to give to you different keys in which the sacred Word can be intoned; I can do no more than indicate general principles. |
[32] Chiều nay, tôi muốn làm rõ rằng tôi không thể, và việc trao cho các bạn những âm điệu khác nhau để ngâm xướng Linh từ Thiêng Liêng cũng không phải là điều minh triết và thích hợp; tôi chỉ có thể nêu ra những nguyên tắc tổng quát. |
|
Notice that he’s using the word keys. Here, the word is being used in a musical sense. |
Hãy lưu ý rằng Ngài đang sử dụng từ giọng điệu. Ở đây, từ này được dùng theo nghĩa âm nhạc. |
|
[33] Each human being, each unit of consciousness, is so unlike any other |
[33] Mỗi con người, mỗi đơn vị tâm thức, đều khác biệt đến mức không giống bất kỳ đơn vị nào khác, |
|
—that is, in terms of manifestation, not in terms of essence, of course— |
—tức là xét về phương diện biểu lộ, chứ dĩ nhiên không phải xét về tinh chất— |
|
[34] that the individual need can only be supplied when full causal consciousness exists on the part of the teacher, |
[34] nên nhu cầu cá nhân chỉ có thể được đáp ứng khi huấn sư có đầy đủ tâm thức nguyên nhân, |
|
which certainly it does for Master DK, because he has long since dispensed with the causal body, |
và Chân sư DK chắc chắn có tâm thức ấy, bởi Ngài từ lâu đã không còn cần đến thể nguyên nhân, |
|
[35] and when the pupil has himself reached a point where he is willing to know, to dare and to be silent. |
[35] và khi chính môn sinh đã đạt đến mức sẵn lòng hiểu biết, dám làm và giữ im lặng. |
|
And actually, that is the sequence: will, know, dare, be silent. |
Và thật ra, trình tự là: ý chí, hiểu biết, dám làm, giữ im lặng. |
|
Perhaps it is the monad and the Spiritual Triad that will, because spiritual will comes from that level; the soul that knows; the personality that dares; and then the personality vehicles are rendered into silence. |
Có lẽ chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần thể hiện ý chí, bởi ý chí tinh thần đến từ cấp độ ấy; linh hồn hiểu biết; phàm ngã dám làm; và kế đó các hiện thể phàm ngã được đưa vào im lặng. |
|
[36] The dangers involved in the misuse of the Word are so great that we dare do no more than indicate basic ideas and fundamental principles, and then leave the aspirant to work out for himself the points necessary for his own development and to carry out the needed experiments until he finds for himself that which he needs. |
[36] Những nguy hiểm liên quan đến việc lạm dụng Linh từ lớn đến mức chúng ta chỉ dám nêu ra những ý tưởng căn bản và các nguyên tắc nền tảng, rồi để người chí nguyện tự tìm ra những điểm cần thiết cho sự phát triển của chính mình, đồng thời thực hiện những thử nghiệm cần thiết cho đến khi tự tìm thấy điều mình cần. |
|
DK has given us here the reason for his reticence, and also, I would say, the reason for the reticence of any other Master offering instruction. |
Ở đây, Chân sư DK đã cho chúng ta biết lý do khiến Ngài dè dặt, và tôi cho rằng đó cũng là lý do cho sự dè dặt của bất kỳ Chân sư nào khác khi ban giáo huấn. |
|
Unless we are confident that a teacher somehow possesses full causal consciousness—not partial, but full—we cannot really accept detailed meditations from that teacher with complete confidence that they will be effective in building and utilizing the causal body, and in using the Sacred Word in such a way that it will not be destructive. |
Trừ khi tin chắc rằng một huấn sư bằng cách nào đó có tâm thức nguyên nhân đầy đủ—không phải một phần mà là đầy đủ—chúng ta không thể thật sự hoàn toàn tin tưởng tiếp nhận những bài tham thiền chi tiết từ huấn sư ấy và tin rằng chúng sẽ hữu hiệu trong việc kiến tạo, vận dụng thể nguyên nhân, cũng như sử dụng Linh từ Thiêng liêng theo cách không gây phá hủy. |
|
[37] Only that which is the result of self-effort, of hard struggle and of bitter experience is of permanent and lasting value. Only as the disciple—through failure, |
[37] Chỉ những gì là kết quả của nỗ lực bản thân, của cuộc đấu tranh gian khổ và kinh nghiệm cay đắng mới có giá trị trường tồn và bền vững. Chỉ khi đệ tử—qua thất bại, |
|
Notice that failure is listed first— |
Hãy lưu ý rằng thất bại được liệt kê trước tiên— |
|
[38] through success, through hardly won victories, |
[38] qua thành công, qua những chiến thắng giành được vô cùng khó nhọc, |
|
victories in which hard labor has been involved, |
những chiến thắng đòi hỏi lao động gian khổ, |
|
[39] and the bitter hours that succeed defeat—adjusts himself to the inner condition, will he find the use of the Word scientifically and experimentally of value. His lack of will defends him largely from the misuse of the Word, whilst his endeavour to love guides him eventually to its correct intoning. Only that which we know for ourselves becomes inherent faculty. |
[39] và qua những giờ phút cay đắng tiếp sau thất bại—tự điều chỉnh cho phù hợp với tình trạng bên trong, y mới nhận thấy giá trị của việc sử dụng Linh từ một cách khoa học và thực nghiệm. Sự thiếu ý chí phần lớn bảo vệ y khỏi việc lạm dụng Linh từ, trong khi nỗ lực yêu thương cuối cùng hướng dẫn y ngâm xướng nó chính xác. Chỉ điều chúng ta tự mình biết mới trở thành năng lực vốn có. |
|
Basically, he’s saying that it doesn’t matter so much what even a fine teacher tells you. It has to become something that you work out for yourself. |
Về cơ bản, Ngài đang nói rằng ngay cả điều một huấn sư xuất sắc bảo các bạn cũng không quá quan trọng. Nó phải trở thành điều mà các bạn tự mình tìm ra. |
|
So once again we have something like the Buddha’s message: rely upon yourself. And that self is not merely the personality self, though the personality is included in the self upon which you have to rely. |
Vì vậy, một lần nữa chúng ta có điều tương tự thông điệp của Đức Phật: hãy nương tựa vào chính mình. Và bản ngã ấy không chỉ là bản ngã phàm ngã, mặc dù phàm ngã cũng được bao gồm trong bản ngã mà các bạn phải nương tựa. |
|
Love takes us where we need to be with respect to the Sacred Word. Self-effort, hard struggle, bitter experience—only that is of permanent and lasting value. |
Tình thương đưa chúng ta đến nơi mình cần đến trong mối liên hệ với Linh từ Thiêng liêng. Nỗ lực bản thân, sự đấu tranh gian khổ, kinh nghiệm cay đắng—chỉ những điều ấy mới có giá trị trường tồn và lâu dài. |
|
And we will fail. We have failed. We have to learn the lessons of failure. Maybe this happens a great deal between the first and second initiations. And I’m sure that the rich young man who went sadly away, temporarily turning his back upon the Christ, also knew the meaning of failure, even though he was an initiate of the third degree. |
Và chúng ta sẽ thất bại. Chúng ta đã từng thất bại. Chúng ta phải học những bài học từ thất bại. Có lẽ điều này xảy ra rất nhiều trong khoảng giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. Và tôi tin chắc rằng người thanh niên giàu có đã buồn bã bỏ đi, tạm thời quay lưng lại với Đức Christ, cũng hiểu ý nghĩa của thất bại, mặc dù y là một điểm đạo đồ cấp ba. |
|
The idea is not to give up. Even when the conviction of failure seizes us, and many recriminations flood into our consciousness, we must not give up. |
Điều quan trọng là không từ bỏ. Ngay cả khi niềm tin rằng mình đã thất bại chiếm lấy chúng ta và nhiều lời tự trách tràn vào tâm thức, chúng ta cũng không được từ bỏ. |
|
The spirit is such a powerful prod—electrified, you might almost say—that we will never really be allowed to give up for very long before we are again stimulated into directed evolutionary activity. |
Tinh thần là một động lực thúc đẩy mạnh mẽ—gần như được điện hóa—đến mức chúng ta sẽ không bao giờ thật sự được phép từ bỏ quá lâu trước khi lại được kích thích bước vào hoạt động tiến hoá có định hướng. |
|
[40] The statements of a teacher, no matter how profoundly wise he may be, are but mental concepts until experimentally part of a man’s life. Hence, I can but point the way. |
[40] Những lời trình bày của một huấn sư, dù ông có minh triết sâu xa đến đâu, vẫn chỉ là các khái niệm trí tuệ cho đến khi qua thực nghiệm, chúng trở thành một phần trong đời sống của con người. Do đó, tôi chỉ có thể chỉ ra con đường. |
|
It reminds one of China’s motto: I indicate the way. Certainly the fourth root race has a great deal of wisdom, and the work of the Chinese schools connected with Shamballa must be very useful. |
Điều đó khiến người ta nhớ đến phương châm của Trung Hoa: Tôi chỉ ra con đường. Chắc chắn Giống dân gốc thứ tư có rất nhiều minh triết, và công việc của các trường phái Trung Hoa liên hệ với Shamballa hẳn phải rất hữu ích. |
|
China and Japan have two of the schools, one preparatory and one more advanced. And then, of course, there is western China’s Tibet. |
Trung Hoa và Nhật Bản có hai trường như vậy, một trường dự bị và một trường cao cấp hơn. Và dĩ nhiên, ở miền tây Trung Hoa có Tây Tạng. |
|
Hence, I can but point the way. |
Vì thế, Tôi chỉ có thể chỉ ra con đường. |
|
[41] I may give but general hints; the rest must be threshed out by the student of meditation for himself. |
[41] Tôi chỉ có thể đưa ra những gợi ý tổng quát; phần còn lại, đạo sinh tham thiền phải tự mình tìm hiểu thấu đáo. [Trang 61] |
|
So we cannot think that merely by getting hold of a book, and even reading it with some degree of comprehension, we will arrive at the goal without a great expenditure of our own experimental effort. |
Vì vậy, chúng ta không thể nghĩ rằng chỉ cần có được một cuốn sách, thậm chí đọc nó với một mức độ lĩnh hội nào đó, chúng ta sẽ đạt đến mục tiêu mà không phải bỏ ra rất nhiều nỗ lực thực nghiệm của chính mình. |
|
Now we enter the question of the use of the Sacred Word in individual meditation. |
Giờ đây, chúng ta bước vào vấn đề sử dụng Linh từ Thiêng liêng trong tham thiền cá nhân. |
|
For a while we have been dealing with the constructive and destructive uses of the Sacred Word. In the earlier outline we had the fundamental postulates, the creative effect of the Sacred Word, and the destructive effect. He has, in a way, considered the creative and destructive effects together because, at a certain point, they must operate together. |
Trong một thời gian, chúng ta đã đề cập đến những cách sử dụng kiến tạo và phá hủy của Linh từ Thiêng liêng. Trong dàn ý trước, chúng ta có các định đề nền tảng, hiệu quả sáng tạo của Linh từ Thiêng liêng và hiệu quả phá hủy. Theo một cách nào đó, Ngài đã xem xét đồng thời các hiệu quả sáng tạo và phá hủy, bởi đến một điểm nhất định, chúng phải cùng vận hành. |
|
Now we come to the pronunciation and use of the Sacred Word in meditation. |
Giờ đây, chúng ta đến với cách phát âm và sử dụng Linh từ Thiêng liêng trong tham thiền. |
|
We’ve had the postulates, and we’ve had the creative and destructive use of the Word. Now comes its pronunciation and use. |
Chúng ta đã nghiên cứu các định đề và cách sử dụng sáng tạo cùng phá hủy của Linh từ. Giờ đây là cách phát âm và sử dụng nó. |
|
You have to admit that this work on the Sacred Word points us in directions which are barely fathomable to people of our type. We’re just beginners here, really. Even though, compared with many human beings, we may have come a long way because we’ve had experience over a long period of time—sometimes using time wisely, and often not—there is still so much farther to go. |
Các bạn phải thừa nhận rằng công trình này về Linh từ Thiêng liêng chỉ cho chúng ta những phương hướng mà những người thuộc loại chúng ta hầu như không thể dò thấu. Thật ra, ở đây chúng ta chỉ là những người sơ cơ. Mặc dù so với nhiều người khác, chúng ta có thể đã tiến được một chặng đường dài vì đã có kinh nghiệm trong một thời gian lâu dài—đôi khi sử dụng thời gian một cách khôn ngoan, nhưng thường thì không—vẫn còn một chặng đường rất xa phải đi. |
|
So very soon we’ll take up the pronunciation of the Sacred Word in individual meditation. |
Vì vậy, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ đề cập đến cách phát âm Linh từ Thiêng liêng trong tham thiền cá nhân. |