LETTER IV—THE USE OF THE SACRED WORD IN MEDITATION – THƯ IV—VIỆC SỬ DỤNG LINH TỪ THIÊNG LIÊNG TRONG THAM THIỀN
[Commentary 14] – [Bình giảng 14]
|
l—Fundamental postulates. |
1—Các định đề căn bản. |
|
2—The creative effect of the Sacred Word. |
2—Tác dụng sáng tạo của Linh từ Thiêng liêng. |
|
3—The destructive effect of the Sacred Word. |
3—Tác dụng hủy diệt của Linh từ Thiêng liêng. |
|
4—Pronunciation and use of the Sacred Word. |
4—Cách phát âm và sử dụng Linh từ Thiêng Liêng. |
|
5—Its effect on the centres and on each body. [51] |
5—Tác dụng của Linh từ đối với các trung tâm và từng thể của phàm ngã. [51] |
|
June 19, 1920 |
Ngày 19 tháng 6 năm 1920 |
|
The subject that we are to deal with today is of such profundity and of such vital moment that your shrinking from even considering it is exceedingly natural. No matter what we may say upon the matter, we can but touch the fringe of it, and the depths of what will be left unsaid may seem so great, that the data communicated may assume too small proportions. |
Chủ đề chúng ta sẽ bàn đến hôm nay sâu sắc và có tầm quan trọng thiết yếu đến mức việc các bạn e ngại ngay cả khi chỉ nghĩ đến nó cũng hết sức tự nhiên. Dù chúng ta có nói gì về vấn đề này, chúng ta cũng chỉ có thể chạm đến phần ngoài cùng của nó; và chiều sâu của những điều chưa nói có thể dường như lớn đến mức những thông tin truyền đạt trở nên quá nhỏ bé. |
Fundamental Postulates – Các Tiên Đề Cơ Bản
|
First, I seek to lay down certain basic postulates which, though realised as mental concepts, may yet be too deep for easy comprehension. |
Trước hết, Tôi muốn nêu ra một số tiên đề cơ bản mà, dù đã được nhận biết như những khái niệm trí tuệ, vẫn có thể quá sâu xa để dễ dàng thấu hiểu. |
|
These postulates are five in number—five out of a number too vast for your apprehension. These postulates themselves are based on certain fundamental facts, and these facts (seven in number) are not as yet all comprehended. H.P.B. touched on three in his statement of the fundamentals of the Secret Doctrine. Four yet remain hid, though the fourth is emerging somewhat through the study of psychology and mental science. The other three fundamentals will emerge during the next three rounds. This round will see the apprehension of the fourth fundamental. |
Có năm tiên đề như thế—năm tiên đề trong một số lượng quá lớn để các bạn có thể nắm bắt. Chính những tiên đề này dựa trên một số sự kiện nền tảng, và những sự kiện ấy (gồm bảy sự kiện) đến nay vẫn chưa được thấu hiểu hết. H.P.B. đã đề cập đến ba sự kiện trong phần trình bày các nền tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm. Bốn sự kiện vẫn còn ẩn kín, dù sự kiện thứ tư đang phần nào xuất hiện qua việc nghiên cứu tâm lý học và khoa học trí tuệ. Ba nền tảng còn lại sẽ xuất hiện trong ba cuộc tuần hoàn kế tiếp. Trong cuộc tuần hoàn này, con người sẽ nắm bắt nền tảng thứ tư. |
|
These postulates are as follows: |
Những tiên đề ấy như sau: |
|
l—That all that exists is based on sound or on the Word. |
1—Mọi sự hiện hữu đều dựa trên âm thanh hay Linh từ. |
|
2—That differentiation is the result of sound. |
2—Sự biến phân là kết quả của âm thanh. |
|
3—That on each plane the Word has a different effect. [52] |
3—Trên mỗi cõi, Linh từ có một tác dụng khác nhau. [52] |
|
4—That according to the note of the Word, or the vibration of the sound, will the work of building-in or casting-out be accomplished. |
4—Tùy theo âm điệu của Linh từ, hay rung động của âm thanh, mà công việc đưa vào để kiến tạo hoặc loại bỏ sẽ được thực hiện. |
|
5—That the one threefold Word has seven keys, and these seven keys have their own subtones. |
5—Linh từ tam phân duy nhất có bảy giọng, và bảy giọng này có những âm phụ riêng. |
|
In the apprehension of these basic facts lies hid much light on the use of the Word in meditation. |
Chính trong việc nắm bắt những sự kiện cơ bản này ẩn chứa nhiều ánh sáng về cách sử dụng Linh từ trong tham thiền. |
|
In the great original sounding forth of the Sacred Word (the three original Breaths, with their seven sounds,—one Breath for each of the three solar systems) the note was different, and the sounds pitched to a different key. |
Trong lần xướng lên vĩ đại ban đầu của Linh từ Thiêng Liêng (ba Hơi Thở nguyên thủy, với bảy âm thanh của chúng—mỗi Hơi Thở dành cho một trong ba hệ mặt trời), âm điệu khác nhau, và các âm thanh được định theo những giọng khác nhau. |
|
In system one, the completion of the First Breath, the culmination, was the sounding forth, in note majestic, of the note FA,—the note which forms the basic note of this system, the note of manifested nature. This note is, and to it must be supplemented the second note for this the second system. It is not fully sounded or rounded out, nor to the end of the greater cycle will it be completed. The Logos sounds it now, and should He cease to breathe it forth, the whole system would disappear into complete obscuration. It would mark the end of manifestation. |
Trong thái dương hệ thứ nhất, sự hoàn tất Hơi Thở Thứ Nhất, tức đỉnh cao của nó, là việc xướng lên một cách uy nghi âm FA—âm điệu tạo thành âm điệu cơ bản của thái dương hệ này, âm điệu của thiên nhiên đã biểu hiện. Âm điệu này hiện hữu, và phải bổ sung vào đó âm điệu thứ hai dành cho thái dương hệ thứ hai này. Nó chưa được xướng lên trọn vẹn hay hoàn chỉnh, và chỉ đến cuối chu kỳ lớn hơn mới hoàn tất. Hiện nay Thượng đế đang xướng âm điệu ấy; nếu Ngài ngừng thở nó ra, toàn bộ thái dương hệ sẽ biến mất vào trạng thái hoàn toàn qui nguyên. Điều đó sẽ đánh dấu sự kết thúc của biểu hiện. |
|
In system two, the present system, the keynote may not be disclosed. It is one of the secrets of the sixth Initiation, and must not he revealed. |
Trong thái dương hệ thứ hai, tức thái dương hệ hiện tại, chủ âm không thể được tiết lộ. Đó là một trong những bí mật của lần Điểm Đạo thứ sáu và không được phép tiết lộ. |
|
In system three the final third note will be added to the basic notes of the first and second systems, and then what will you have? You will have the major third of the Logoic Personality in its completeness, a correspondence to the major third of the microcosm,—one note for each plane. We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing [53] cosmic mind. So, on the planes of the solar system, is it as with the microcosm. In the realisation of this correspondence and its wise application lies illumination on the use of the Sacred Word in meditation. |
Trong thái dương hệ thứ ba, âm điệu thứ ba và cuối cùng sẽ được thêm vào những âm điệu cơ bản của thái dương hệ thứ nhất và thứ hai; khi ấy các bạn sẽ có gì? Các bạn sẽ có quãng ba trưởng của Phàm Ngã Thượng đế trong sự trọn vẹn của nó, tương ứng với quãng ba trưởng của tiểu thiên địa—mỗi cõi một âm điệu. Chúng ta đã được cho biết rằng, trên các cõi vũ trụ, Thái dương Thượng đế đang giải quyết vấn đề trí vũ trụ; rằng Ngài hoạt động trong hệ mặt trời hồng trần của Ngài, phân cực trong thể cảm dục hay thể cảm dục vũ trụ của Ngài, và đang phát triển [53] trí vũ trụ. Trên các cõi của hệ mặt trời cũng vậy, tương tự như ở tiểu thiên địa. Chính trong việc nhận biết sự tương ứng này và áp dụng nó một cách minh triết có sự soi sáng về cách sử dụng Linh từ Thiêng Liêng trong tham thiền. |
|
System I……..corresponds to the physical body. |
Thái dương hệ I……..tương ứng với thể xác. |
|
System II…….corresponds to the emotional body. |
Thái dương hệ II…….tương ứng với thể cảm dục. |
|
System III……corresponds to the mental body. |
Thái dương hệ III……tương ứng với thể trí. |
|
By the study of the Word or Sound in the formation of these three will help come on the use of that Word in the building of the intuitional vehicle, and the purification of the personality. |
Việc nghiên cứu Linh từ hay Âm Thanh trong sự hình thành ba thể này sẽ giúp ích cho cách sử dụng Linh từ ấy trong việc kiến tạo hiện thể trực giác và thanh lọc phàm ngã. |
|
Now we will divide what we have to say under four heads, and take up each one of them separately:— |
Bây giờ chúng ta sẽ chia những điều cần nói thành bốn mục và lần lượt bàn riêng từng mục:— |
|
l—The creative effect of the Sacred Word. |
1—Tác dụng sáng tạo của Linh từ Thiêng Liêng. |
|
2—The destructive effect of the Sacred Word. |
2—Tác dụng hủy diệt của Linh từ Thiêng Liêng. |
|
3—Its pronunciation and use:— |
3—Cách phát âm và sử dụng Linh từ:— |
|
a—In individual meditation. |
a—Trong tham thiền cá nhân. |
|
b—In group and congregational work. |
b—Trong công việc nhóm và tập thể. |
|
c—For certain specific ends. |
c—Nhằm những mục đích cụ thể nhất định. |
|
4—Its effect on the bodies and centres, and its efficacy in effecting egoic alignment. |
4—Tác dụng của Linh từ đối với các thể của phàm ngã và các trung tâm, cùng hiệu lực của nó trong việc thực hiện sự chỉnh hợp chân ngã. |
|
June 20, 1920 |
Ngày 20 tháng 6 năm 1920 |
The Dual Effect of the Sacred Word; constructive and destructive. – Tác Dụng Kép của Linh từ Thiêng Liêng; kiến tạo và hủy diệt.
|
We can today continue with the subject we were considering yesterday. We divided the theme into four divisions and we will take the first two, the effect,—creative and destructive—of the Word. Just a few broad hints will be possible, to form a basis for the intelligent application of the law. |
Hôm nay chúng ta có thể tiếp tục chủ đề đã xem xét hôm qua. Chúng ta đã chia chủ đề thành bốn phần, và sẽ bàn đến hai phần đầu: tác dụng sáng tạo và hủy diệt của Linh từ. Chỉ có thể đưa ra một vài gợi ý khái quát, làm cơ sở cho việc áp dụng định luật một cách sáng suốt. |
|
First, let us repeat the truism that the worlds are the effect of sound. First life, then matter; later the attraction [54] of the matter to the life for purposes of its manifestation and expression, and the orderly arrangement of that matter into the necessary forms. Sound formed the allying factor, the propelling impulse, and the attractive medium. Sound, in an occult and deeply metaphysical sense, stands for that which we term “the relation between”, and is the creating intermediary, the linking third factor in the process of manifestation. It is the akasha. On the higher planes it is the agent of the great Entity Who wields the cosmic law of gravitation in its relation to our solar system, whilst on the lower planes it demonstrates as the astral light, the great agent of reflection, that fixes and perpetuates on its vibratory bosom the past, the present and the future, or that which we call Time. In direct relation to the lower vehicle it manifests as electricity, prana and the magnetic fluid. A simplification of the idea may come to you perhaps in the recognition of sound as the agent of the law of attraction and repulsion. |
Trước hết, chúng ta hãy nhắc lại chân lý hiển nhiên rằng các thế giới là kết quả của âm thanh. Trước tiên là sự sống, rồi đến vật chất; sau đó là sự thu hút [54] vật chất đến với sự sống nhằm mục đích biểu hiện và biểu đạt sự sống ấy, cùng sự sắp xếp có trật tự vật chất đó thành những hình tướng cần thiết. Âm thanh tạo thành yếu tố liên kết, xung lực thúc đẩy và trung gian thu hút. Theo ý nghĩa huyền bí và siêu hình sâu xa, âm thanh đại diện cho điều chúng ta gọi là “mối quan hệ giữa”, và là trung gian sáng tạo, yếu tố thứ ba nối kết trong tiến trình biểu hiện. Đó là akasha. Trên các cõi cao, nó là tác nhân của Thực Thể vĩ đại vận dụng định luật hấp dẫn vũ trụ trong mối quan hệ với hệ mặt trời của chúng ta; còn trên các cõi thấp, nó biểu lộ thành ánh sáng cảm dục, tác nhân phản chiếu vĩ đại, ghi giữ và duy trì trên lòng rung động của nó quá khứ, hiện tại và tương lai, hay điều chúng ta gọi là Thời Gian. Trong mối quan hệ trực tiếp với hiện thể thấp, nó biểu hiện thành điện, prana và lưu chất từ tính. Có lẽ các bạn có thể hiểu ý tưởng này đơn giản hơn khi nhận biết âm thanh là tác nhân của định luật thu hút và đẩy lùi. |
The seven great Breaths. – Bảy Hơi Thở vĩ đại.
|
In sounding forth the Sacred Word in its sevenfold completeness for this solar system, the Logos gathered through inspiration the matter needed for manifestation, and started the evolution of that matter at the first great Breath. |
Khi xướng lên Linh từ Thiêng Liêng trong sự trọn vẹn thất phân của nó cho hệ mặt trời này, Thượng đế đã thu gom qua việc hít vào lượng vật chất cần thiết cho sự biểu hiện, và khởi động sự tiến hoá của vật chất ấy ở Hơi Thở vĩ đại thứ nhất. |
|
At the second great Breath came differentiation and the instilling of the second aspect logoic. |
Ở Hơi Thở vĩ đại thứ hai, sự biến phân xuất hiện cùng sự truyền thấm phương diện thứ hai của Thượng đế. |
|
At the third great Breath the activity aspect was demonstrated, matter was impregnated with that faculty, and fivefold evolution became a possibility. |
Ở Hơi Thở vĩ đại thứ ba, phương diện hoạt động biểu lộ, vật chất được thấm nhuần năng lực ấy, và sự tiến hoá ngũ phân trở nên khả thi. |
|
At the fourth great Breath certain of the Hierarchies responded, and the great Builders more clearly saw the plan. There is a definite connection between the fourth [55] Breath and the fourth Creative Hierarchy, that of the human Spirits. This fourth note of the Logos has a special significance for the human Spirit, and an unique effect in this earth and in this fourth cycle. The relativity of it is such that it is difficult for you in any way to realise that effect. It demonstrates as far as you can grasp it in the harmonic note of the fourth plane and ray. That note permeates the peoples of the world at this time and ever since the fourth root-race. It shows itself in the struggle of humanity to grasp the ideal of harmony and peace, and in the worldwide aspiration in that direction. |
Ở Hơi Thở vĩ đại thứ tư, một số Huyền Giai đáp ứng, và các Đấng Kiến Tạo vĩ đại thấy Thiên Cơ rõ hơn. Có một mối liên hệ xác định giữa Hơi Thở thứ tư [55] và Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức Huyền Giai của các Tinh Thần nhân loại. Âm điệu thứ tư này của Thượng đế có một thâm nghĩa đặc biệt đối với Tinh Thần con người, cùng một tác dụng độc nhất trên Trái Đất này và trong chu kỳ thứ tư này. Tính tương đối của nó khiến các bạn khó có thể nhận biết tác dụng ấy theo bất cứ cách nào. Trong phạm vi các bạn có thể nắm bắt, nó biểu lộ trong âm điệu hài hòa của cõi thứ tư và cung thứ tư. Âm điệu ấy thấm nhuần các dân tộc trên thế giới hiện nay và từ giống dân gốc thứ tư đến nay. Nó thể hiện trong cuộc đấu tranh của nhân loại nhằm nắm bắt lý tưởng hài hòa và hòa bình, cùng khát vọng hướng tới lý tưởng ấy trên toàn thế giới. |
|
This fourth Breath is especially applicable to human evolution. |
Hơi Thở thứ tư này đặc biệt thích hợp với sự tiến hoá của nhân loại. |
|
You have therefore: |
Vì vậy, các bạn có: |
|
Subtone one of the threefold Word gave the first vibratory note and started the movement of the spheres—solar or atomic. It embodies Will. |
Âm phụ thứ nhất của Linh từ tam phân phát ra âm điệu rung động đầu tiên và khởi động chuyển động của các khối cầu—thái dương hay nguyên tử. Nó thể hiện Ý Chí. |
|
Subtone two of the threefold Word instilled the second aspect and called the cosmic ruler of the synthetic ray into manifestation. It marked duality or reflex love. |
Âm phụ thứ hai của Linh từ tam phân truyền thấm phương diện thứ hai và triệu gọi đấng cai quản vũ trụ của cung tổng hợp đi vào biểu hiện. Nó đánh dấu nhị nguyên hay tình thương phản chiếu. |
|
Subtone three of the threefold Word made our fivefold evolution possible. It is the basic note of the five lower planes. It marked activity or adaptability. |
Âm phụ thứ ba của Linh từ tam phân làm cho sự tiến hoá ngũ phân của chúng ta trở nên khả thi. Đó là âm điệu cơ bản của năm cõi thấp. Nó đánh dấu hoạt động hay khả năng thích ứng. |
|
Subtone four of the threefold Word is the sound of the Human Hierarchy, and in its entirety might be called the “cry of Man.” |
Âm phụ thứ tư của Linh từ tam phân là âm thanh của Huyền Giai Nhân Loại, và xét trong toàn thể, có thể gọi là “tiếng kêu của Con Người”. |
|
Each of the sounds directly called into manifestation one ray, with all that enters in on a ray. Each sound demonstrates particularly on one plane, being the dominant note of that plane. |
Mỗi âm thanh trực tiếp triệu gọi một cung đi vào biểu hiện, cùng tất cả những gì thuộc về cung ấy. Mỗi âm thanh biểu lộ đặc biệt trên một cõi, là âm điệu chủ đạo của cõi đó. |
|
The fifth great Breath has an effect peculiar to itself, for in its reverberation it holds the key to all,—it is the Breath of fire. It created a similar vibration to that of the cosmic mental level, and is closely allied with the [56] first Breath. It is the dominant note (in technical musical terminology) of the solar system, just as the third Breath corresponds to the major third. It is the note of the Logos. Each breath attracts to the Logos for purposes of manifestation, some entity on cosmic levels. The reflection of the method can be seen in the microcosm when the Ego sounds the egoic note in the three worlds and prepares to manifest or to come into incarnation. The note attracts around the permanent atoms or nuclei adequate matter for the purpose of manifestation, and that matter is itself informed by some vital entity. Similarly, the cosmic Lords of Fire, the great informing Entities of our solar system, respond when this fifth subtone is sounded forth. Again, the Lords of the Flame within the solar system itself responded when the microcosm sounded the fifth subtone of the monadic note, and involved themselves in human evolution. |
Hơi Thở vĩ đại thứ năm có một tác dụng riêng biệt, vì trong sự vang dội của nó có chìa khóa cho tất cả—đó là Hơi Thở của lửa. Nó tạo ra một rung động tương tự rung động của cấp độ trí vũ trụ, và liên kết chặt chẽ với [56] Hơi Thở thứ nhất. Nó là âm át (theo thuật ngữ âm nhạc chuyên môn) của hệ mặt trời, cũng như Hơi Thở thứ ba tương ứng với quãng ba trưởng. Đó là âm điệu của Thượng đế. Mỗi hơi thở thu hút đến với Thượng đế một thực thể nào đó trên các cấp độ vũ trụ nhằm mục đích biểu hiện. Có thể thấy sự phản chiếu của phương pháp này trong tiểu thiên địa khi Chân ngã xướng âm điệu chân ngã trong ba cõi giới và chuẩn bị biểu hiện hay nhập thể. Âm điệu ấy thu hút quanh các nguyên tử trường tồn hay các hạt nhân lượng vật chất thích hợp cho mục đích biểu hiện, và chính vật chất ấy có một thực thể sống động nào đó thấm nhuần. Tương tự, các Chúa Tể Lửa vũ trụ, những Thực Thể thấm nhuần vĩ đại của hệ mặt trời chúng ta, đáp ứng khi âm phụ thứ năm này được xướng lên. Cũng vậy, các Chúa Tể Ngọn Lửa trong chính hệ mặt trời đã đáp ứng khi tiểu thiên địa xướng âm phụ thứ năm của âm điệu chân thần, và Các Ngài tham gia vào sự tiến hoá của nhân loại. |
|
The sixth great Breath drew to itself the Lords of the mysterious Pentacle, the volatile essences of the emotional plane, the desire faculty clothed in matter, the watery aspect of the logoic life. |
Hơi Thở vĩ đại thứ sáu thu hút đến với nó các Chúa Tể của Ngôi Sao Năm Cánh huyền nhiệm, những tinh chất dễ biến đổi của cõi cảm dục, năng lực dục vọng khoác áo vật chất, phương diện nước của sự sống Thượng đế. |
|
At the sounding of the seventh subtone crystallisation occurred and absolute conformity to the law of approach. It resulted in the dense aspect of manifestation, the point of deepest experience. You will note its connection, therefore, with the Ray of Ceremonial Law, one of the great building rays,—a ray which adjusts matter, under set forms, to the desired shapes. |
Khi âm phụ thứ bảy được xướng lên, sự kết tinh xảy ra cùng sự tuân thủ tuyệt đối định luật tiếp cận. Điều này dẫn đến phương diện đậm đặc của sự biểu hiện, điểm trải nghiệm sâu nhất. Vì vậy, các bạn sẽ nhận thấy mối liên hệ của nó với Cung Định Luật Nghi Lễ, một trong những cung kiến tạo vĩ đại—một cung điều chỉnh vật chất theo những khuôn mẫu xác định để tạo thành các hình dạng mong muốn. |
|
You may ask here: Why have I thus apparently digressed? It seems to you wide of the mark and beside the question? Let me elucidate. The microcosm has but to repeat the work of the macrocosm. The Spirit or monad on his own plane sounds forth the note (his hierarchical note) and descends into incarnation. It is both [57] the note of attraction and of out-breathing. The personality—the reflection of that monad at the densest point in evolution,—is linked to the monad by the attractive force of the Sacred Word sounded by its monad on its note and on its own subtone. |
Đến đây, các bạn có thể hỏi: Tại sao Tôi dường như đã đi lạc đề như thế? Các bạn thấy điều này xa rời mục tiêu và không liên quan đến vấn đề sao? Hãy để Tôi làm sáng tỏ. Tiểu thiên địa chỉ cần lặp lại công việc của đại thiên địa. Tinh Thần hay chân thần trên cõi riêng của mình xướng lên âm điệu (âm điệu huyền giai của mình) và giáng xuống nhập thể. Đó vừa là [57] âm điệu thu hút vừa là âm điệu thở ra. Phàm ngã—sự phản chiếu của chân thần ấy tại điểm đậm đặc nhất trong tiến hoá—liên kết với chân thần nhờ mãnh lực thu hút của Linh từ Thiêng Liêng mà chân thần xướng lên theo âm điệu và âm phụ riêng của mình. |
|
But the work of outbreathing is already accomplished. It is involution. The work of in-breathing or reabsorption into the source progresses. When the Personality finds for itself (after lives of stress and search) its spiritual note with the right key and subtone, what is the result? It accords with its monadic note, it vibrates to the same measure, it pulsates with the same colour, the line of least resistance is at last found, and the indwelling life is liberated and. returns to its own plane. But this work of discovery is very slow and the man has to pick out the chord with infinite care and pains. First, he finds out the third of the Personality and sounds that forth, the result being an ordered harmonious life in the three worlds. Then he finds the dominant fifth of the Ego, the keynote of the chord, and sounds that in unison with the Personality note. The result is that a vacuum is formed (if I may so express it) and the liberated man with his informing soul,—the threefold spirit, plus mind and experience—the Three completed by the Quaternary and the Fifth, escapes upward to the Monad. It is the law of attraction demonstrating through sound. Like to like and kind to kind, driven thereto by unity of sound, of colour and of rhythm. |
Nhưng công việc thở ra đã hoàn tất. Đó là giáng hạ tiến hoá. Công việc hít vào, hay tái hấp thu vào nguồn cội, đang tiến triển. Khi Phàm Ngã tìm được cho mình (sau nhiều kiếp căng thẳng và tìm kiếm) âm điệu tinh thần với đúng giọng và âm phụ, kết quả là gì? Nó hòa hợp với âm điệu chân thần, rung động theo cùng nhịp, dao động với cùng màu sắc; cuối cùng con đường ít trở ngại nhất được tìm thấy, và sự sống nội tại được giải phóng, trở về cõi riêng của mình. Nhưng công việc khám phá này rất chậm, và con người phải dò tìm hợp âm với sự cẩn trọng và công phu vô cùng. Trước hết, y tìm ra âm bậc ba của Phàm Ngã và xướng âm ấy lên; kết quả là một đời sống có trật tự, hài hòa trong ba cõi giới. Sau đó, y tìm ra âm át bậc năm của Chân ngã, chủ âm của hợp âm, và xướng nó đồng âm với âm điệu Phàm Ngã. Kết quả là một khoảng chân không hình thành (nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy), và con người được giải phóng cùng linh hồn thấm nhuần y—tinh thần tam phân, cộng với trí và kinh nghiệm—Bộ Ba được hoàn tất bởi Bộ Bốn và yếu tố Thứ Năm, thoát lên đến Chân Thần. Đó là định luật thu hút biểu lộ qua âm thanh. Những gì tương đồng tìm đến nhau, những gì cùng loại tìm đến nhau, do sự thống nhất về âm thanh, màu sắc và nhịp điệu thúc đẩy. |
|
This leads to the second factor we are considering, the destructive factor. In emancipation comes the breaking of the chains, in liberation comes the abolition of the old forms, in the domination of matter is seen the liberation of spirit. So, in the sounding of the Sacred Word in its sevenfold sense, comes the escaping from the shattered [58] forms; first in the out-breathing, the attraction of matter, then in the in-breathing, the gradual shattering of the material forms and the leaving of them behind. |
Điều này dẫn đến yếu tố thứ hai chúng ta đang xem xét, yếu tố hủy diệt. Trong sự giải thoát có sự phá vỡ xiềng xích, trong sự giải phóng có sự xóa bỏ những hình tướng cũ, trong việc làm chủ vật chất có thể thấy sự giải phóng tinh thần. Vì vậy, khi xướng Linh từ Thiêng Liêng theo ý nghĩa thất phân của nó, có sự thoát khỏi những [58] hình tướng đã tan vỡ; trước tiên, trong sự thở ra, có sự thu hút vật chất, rồi trong sự hít vào, có sự phá vỡ dần những hình tướng vật chất và bỏ chúng lại phía sau. |
Meditation and the Word. – Tham thiền và Linh từ.
|
I have pictured this for you on the systemic scale. Now let me apply it to meditation and see how it will work. Man, when meditating, aims at two things:— |
Tôi đã mô tả điều này cho các bạn trên quy mô hệ mặt trời. Bây giờ hãy để Tôi áp dụng nó vào tham thiền và xem nó vận hành ra sao. Khi tham thiền, con người hướng tới hai điều:— |
|
a—At the formation of thoughts, at the bringing down to the concrete levels of the mental plane, of abstract ideas and intuitions. This is what might be termed meditation with seed. |
a—Hình thành các tư tưởng, đưa những ý tưởng trừu tượng và trực giác xuống các cấp độ cụ thể của cõi trí. Đây là điều có thể gọi là tham thiền có hạt giống. |
|
b—At the aligning of the ego, and at the creation of that vacuum betwixt the physical brain and the Ego, which results in the divine outpouring, and the consequent shattering of the forms and subsequent liberation. This might be termed meditation without seed. |
b—Chỉnh hợp chân ngã và tạo ra khoảng chân không giữa bộ não hồng trần và Chân ngã, dẫn đến lần tuôn đổ thiêng liêng, từ đó phá vỡ các hình tướng và tiếp theo là sự giải phóng. Đây có thể gọi là tham thiền không hạt giống. |
|
At a certain period in evolution the two blend, the seed is dropped and the vacuum is then created, not so much between the higher and the lower vehicles as between them and the intuitional plane or the plane of harmony. |
Ở một giai đoạn nhất định trong tiến hoá, hai điều này hòa nhập, hạt giống được buông bỏ, và khi ấy khoảng chân không hình thành không hẳn giữa các hiện thể cao và thấp, mà giữa chúng với cõi trực giác hay cõi hài hòa. |
|
Therefore, in the sounding of the Sacred Word in meditation man should (if rightly sounding it forth) be able to do both the creative work and the destructive work as does the Logos. It will be the reflection in the microcosm of the cosmic process. He will attract to his bodies matter of the finer kind and cast out that which is coarser. He will formulate thoughtforms that attract to themselves finer matter and repudiate that which is of a lower vibration. He should so sound the Word that alignment will [59] be automatically made, and the necessary vacuum created, eventuating in a downflow from above. All these effects can transpire when the Word is correctly intoned, and each meditation should see the man more aligned, should disperse some of the matter of low vibration in one or other of his bodies, should open up the channel to a greater extent, and so provide a more adequate vehicle for the illumination from higher levels. |
Vì vậy, khi xướng Linh từ Thiêng Liêng trong tham thiền, con người (nếu xướng đúng cách) phải có khả năng thực hiện cả công việc sáng tạo lẫn công việc hủy diệt như Thượng đế. Đó sẽ là sự phản chiếu của tiến trình vũ trụ trong tiểu thiên địa. Y sẽ thu hút vào các thể của mình loại vật chất tinh tế hơn và loại bỏ vật chất thô trược hơn. Y sẽ tạo ra những hình tư tưởng thu hút vật chất tinh tế hơn đến với chúng và đẩy lùi vật chất có rung động thấp hơn. Y phải xướng Linh từ sao cho sự chỉnh hợp [59] tự động diễn ra, và khoảng chân không cần thiết hình thành, dẫn đến một dòng tuôn xuống từ bên trên. Tất cả những tác dụng này có thể xảy ra khi Linh từ được xướng đúng âm điệu; sau mỗi lần tham thiền, con người phải trở nên chỉnh hợp hơn, một phần vật chất có rung động thấp trong một thể nào đó của y phải được phân tán, đường thông phải mở rộng hơn, và nhờ vậy cung cấp một hiện thể thích hợp hơn cho sự soi sáng từ các cấp độ cao. |
|
But—until correctness is possible—the effect produced by the use of the Word is very little, which is fortunate for the man who uses it. In the studying of the seven great Breaths and their effect on each plane, a man can find out much that should transpire on the different subplanes of each plane, especially in relation to his own development. In the studying of the basic note of the solar system (which was stabilised in System I), much can be found out about the use of the Word on the physical plane. A hint lies here for consideration. In the endeavour to find the note for this solar system, the note of love and wisdom, the student will make the necessary communication between the emotional or desire plane and the intuitional plane, and find out the secret of the emotional plane. In the study of the Word on mental levels and its effect in form building, the key to the erection of Solomon’s Temple will be discovered, and the pupil will develop the faculties of the causal body, and eventually find liberation from the three worlds. |
Nhưng—cho đến khi có thể xướng chính xác—tác dụng do việc sử dụng Linh từ tạo ra rất nhỏ, và đó là điều may mắn cho người sử dụng nó. Qua việc nghiên cứu bảy Hơi Thở vĩ đại và tác dụng của chúng trên mỗi cõi, con người có thể khám phá nhiều điều phải diễn ra trên các cõi phụ khác nhau của từng cõi, đặc biệt trong mối quan hệ với sự phát triển của chính y. Qua việc nghiên cứu âm điệu cơ bản của hệ mặt trời (đã ổn định trong Thái dương hệ I), có thể khám phá nhiều điều về cách sử dụng Linh từ trên cõi hồng trần. Ở đây có một gợi ý đáng suy xét. Khi cố gắng tìm ra âm điệu của hệ mặt trời này, âm điệu của bác ái và minh triết, đạo sinh sẽ thiết lập sự giao thông cần thiết giữa cõi cảm dục hay dục vọng với cõi trực giác, và khám phá bí mật của cõi cảm dục. Khi nghiên cứu Linh từ trên các cấp độ trí và tác dụng của nó trong việc kiến tạo hình tướng, chìa khóa xây dựng Đền Thờ Solomon sẽ được khám phá; môn sinh sẽ phát triển các năng lực của thể nguyên nhân và cuối cùng tìm được sự giải phóng khỏi ba cõi giới. |
|
The student must remember, nevertheless, that he has first to find his personality note, and then the egoic, before he can touch the monadic chord. When he has done that he has, for himself, sounded his own threefold Word, and is now an intelligent creator animated by love. The goal is reached. |
Tuy nhiên, đạo sinh phải nhớ rằng trước hết y phải tìm ra âm điệu phàm ngã, rồi đến âm điệu chân ngã, trước khi có thể chạm đến hợp âm chân thần. Khi đã làm được điều đó, y đã tự xướng lên Linh từ tam phân của riêng mình, và giờ đây là một đấng sáng tạo sáng suốt, được tình thương tiếp sức. Mục tiêu đã đạt tới. |
|
June 21, 1920 |
Ngày 21 tháng 6 năm 1920 |
|
June 21st, 1920. 2 pm. |
Ngày 21 tháng 6, 1920. 2 giờ chiều. |
|
Yesterday’s teaching was very abstract, brother of mine, and hard for the mind to grasp. Today we shall be more specifically practical and mayhap if [it?] will not be so difficult of apprehension. |
Huynh đệ của Tôi, giáo huấn hôm qua rất trừu tượng và khó cho trí tuệ nắm bắt. Hôm nay chúng ta sẽ đi vào thực hành cụ thể hơn và có lẽ [điều này?] sẽ không quá khó để nắm bắt. |
|
Before we take up this topic I would [like] that you apply yourself to the transcribing of certain phrases of occult significance. So oft, if you leave them to the end of my dictation, cometh fatigue and your consequent inability to transcribe with facility. |
Trước khi chúng ta bàn đến chủ đề này, Tôi muốn [rằng] bạn chuyên tâm vào việc chép lại một số cụm từ mang thâm nghĩa huyền bí. Rất thường khi, nếu bạn để chúng đến cuối phần Tôi đọc cho bạn chép, thì sự mệt mỏi sẽ đến, và bạn do đó không thể chép lại một cách dễ dàng. |
|
[This is followed by occult fragments; one of them published in Rays and Initiations, p. 763] |
[Tiếp theo là các đoạn huyền bí; một trong số đó đã được xuất bản trong Các cung và các cuộc điểm đạo, tr. 763] |
|
These lines come not easily, brother of mine, but with frequent attempt cometh eventually greater easiness of expression. |
Huynh đệ của Tôi, những dòng này không đến một cách dễ dàng, nhưng qua những nỗ lực thường xuyên, cuối cùng việc diễn đạt sẽ trở nên dễ dàng hơn. |
Some Practical Hints. – Một Vài Gợi Ý Thực Hành.
|
I wish to make clear this afternoon that it is not possible for me, nor wise and appropriate to give to you different keys in which the sacred Word can be intoned; I can do no more than indicate general principles. Each human being, each unit of consciousness, is so unlike any other that the individual need can only be supplied when full causal consciousness exists on the part of the teacher, and when the pupil has himself reached a point where he is willing to know, to dare and to be silent. The dangers involved in the misuse of the Word are so great that we dare do no more than indicate basic ideas and fundamental principles, and then leave the aspirant to work out for himself the points necessary for his own development and to carry out the needed experiments until he finds for himself that which he needs. Only that which is the result of self-effort, of hard struggle and of bitter experience is of permanent and lasting value. Only as the disciple—through failure, through success, through hardly won victories, and the bitter hours that succeed defeat—adjusts himself to the inner condition, will he find the use of the Word scientifically and experimentally of value. His lack of will defends him largely from the misuse of the Word, whilst his endeavour to love guides him eventually to its correct intoning. Only that which we know for ourselves becomes inherent faculty. The statements of a teacher, no matter how profoundly wise he may be, are but mental concepts until experimentally part of a man’s life. Hence, I can but point the way. I may give but general hints; the rest must be threshed out by the student of meditation for himself. [61] |
Chiều nay, Tôi muốn nói rõ rằng Tôi không thể trao cho các bạn những giọng âm khác nhau để ngân xướng Linh từ thiêng liêng, và làm như vậy cũng không khôn ngoan hay thích hợp; Tôi chỉ có thể chỉ ra những nguyên tắc chung. Mỗi con người, mỗi đơn vị tâm thức, đều khác biệt với mọi người khác đến mức chỉ có thể đáp ứng nhu cầu cá nhân khi huấn sư có đầy đủ tâm thức nguyên nhân, và khi chính môn sinh đã đạt tới điểm mà y sẵn lòng biết, dám và giữ im lặng. Những nguy hiểm do sử dụng sai Linh từ lớn đến mức chúng ta chỉ dám chỉ ra những ý tưởng cơ bản và những nguyên tắc nền tảng, rồi để người chí nguyện tự tìm ra những điểm cần thiết cho sự phát triển của chính y và thực hiện những thử nghiệm cần thiết cho đến khi tự tìm thấy điều mình cần. Chỉ những gì là kết quả của nỗ lực bản thân, của đấu tranh gian khổ và trải nghiệm cay đắng mới có giá trị bền vững và lâu dài. Chỉ khi đệ tử—qua thất bại, qua thành công, qua những chiến thắng khó nhọc mới giành được và những giờ phút cay đắng tiếp sau thất bại—tự điều chỉnh cho phù hợp với trạng thái bên trong, y mới thấy việc sử dụng Linh từ một cách khoa học và qua thực nghiệm có giá trị. Sự thiếu ý chí của y phần lớn bảo vệ y khỏi việc sử dụng sai Linh từ, trong khi nỗ lực yêu thương cuối cùng dẫn y đến cách ngân xướng đúng. Chỉ những gì chúng ta tự mình biết mới trở thành năng lực vốn có. Những lời của một huấn sư, dù ông có minh triết sâu sắc đến đâu, vẫn chỉ là những khái niệm trí tuệ cho đến khi trở thành một phần trong đời sống con người qua thực nghiệm. Vì vậy, Tôi chỉ có thể chỉ đường. Tôi chỉ có thể đưa ra những gợi ý chung; phần còn lại, đạo sinh tham thiền phải tự mình suy xét thấu đáo. [61] |
Pronunciation and Use in Individual Meditation. – Phát Âm và Sử Dụng Trong Tham Thiền Cá Nhân.
|
I shall now be very practical. I speak for the man on the Probationary Path, who has therefore an intellectual grasp of what has to be accomplished. He realises approximately his place in evolution and the work to be done if he would some day pass through the portal of Initiation. In this way what I will say will teach the majority who study these letters…….. (yes, brother of mine, you can publish them in letter form should you deem wisest. Wadia will assist by wise direction). The man undertakes to meditate and seeks to conform to the necessary rules. Let me give a few preliminary hints:— |
Giờ đây, Tôi sẽ trình bày thật thiết thực. Tôi nói cho người trên Con Đường Dự Bị, người do đó đã nắm được bằng trí năng những gì cần hoàn thành. Y nhận biết tương đối vị trí của mình trong tiến hoá và công việc phải làm nếu muốn một ngày kia bước qua cánh cổng Điểm đạo. Theo cách này, những điều Tôi sắp nói sẽ chỉ dạy cho phần lớn những người nghiên cứu các bức thư này…….. (Huynh đệ của Tôi, đúng vậy, bạn có thể xuất bản chúng dưới dạng thư nếu bạn cho là khôn ngoan nhất. Wadia sẽ hỗ trợ bằng sự hướng dẫn khôn ngoan). Người ấy bắt đầu tham thiền và tìm cách tuân theo những quy luật cần thiết. Tôi xin đưa ra một vài gợi ý sơ bộ:— |
|
The aspirant seeks daily a quiet spot where he can be free from interference and interruption. If wise, he will always seek the same spot, for he will there build up a shell around it that will serve as a protection and make the desired higher contact more easy. The matter of that spot, the matter of what you might term the surrounding space, becomes then attuned to a certain vibration (the man’s own highest vibration, reached in consecutive meditations) which makes it easier for him each time to start at his highest and so eliminate a long preliminary keying up. |
Mỗi ngày, người chí nguyện tìm một nơi yên tĩnh, nơi y không bị quấy nhiễu hay gián đoạn. Nếu khôn ngoan, y sẽ luôn tìm đến cùng một nơi, vì tại đó y sẽ xây dựng một lớp vỏ bao quanh để bảo vệ và giúp việc tiếp xúc với cõi cao mà y mong muốn trở nên dễ dàng hơn. Khi ấy, vật chất của nơi đó, vật chất của cái mà các bạn có thể gọi là không gian chung quanh, trở nên hoà điệu với một rung động nhất định (rung động cao nhất của chính y, đạt được trong những lần tham thiền liên tiếp), giúp y mỗi lần đều dễ dàng khởi đầu ở mức cao nhất của mình và nhờ đó loại bỏ một giai đoạn chuẩn bị điều chỉnh rung động kéo dài. |
|
The aspirant composes himself to a position in which he can be unconscious of his physical body. No hard and fast rules can be laid down as the physical vehicle itself has here to be considered,—it may be handicapped in some way, stiff or crippled. Ease of posture is to be aimed at, coupled with alertness and attention. Slothfulness and laxness lead a man nowhere. The position most suitable for the average is cross-legged upon the ground, sitting against something that affords support to the spine. In intensest meditation or when the aspirant is very proficient and the centres rapidly awakening (perhaps even the inner fire pulsating at the base of the spine) [62] the back should be erect without support. The head should not be thrown back as tension is to be avoided, but it should be held level, or with the chin slightly dropped. When this is done, that tenseness that is the characteristic of so many will be gone and the lower vehicle will be relaxed. The eyes should be closed and the hands folded in the lap. |
Người chí nguyện ổn định mình trong một tư thế mà y có thể không còn cảm nhận thể xác. Không thể đặt ra những quy luật cứng nhắc, vì ở đây cần xét đến chính hiện thể hồng trần,—nó có thể bị hạn chế về mặt nào đó, cứng đờ hoặc tàn tật. Cần hướng tới tư thế thoải mái, đồng thời giữ sự tỉnh táo và chú tâm. Sự lười biếng và buông lỏng không đưa con người đến đâu cả. Tư thế thích hợp nhất cho người bình thường là ngồi xếp bằng trên mặt đất, tựa vào một vật có thể đỡ cột sống. Trong lúc tham thiền sâu nhất, hoặc khi người chí nguyện đã rất thành thạo và các trung tâm đang thức tỉnh nhanh chóng (có lẽ ngay cả lửa bên trong cũng đang đập nhịp ở đáy cột sống) [62] thì lưng nên thẳng mà không cần chỗ tựa. Không nên ngửa đầu ra sau vì cần tránh căng thẳng, mà nên giữ đầu ngang, hoặc hơi hạ cằm xuống. Khi làm được như vậy, sự căng cứng vốn là đặc điểm của rất nhiều người sẽ biến mất và hiện thể thấp sẽ thư giãn. Nên nhắm mắt và đặt hai bàn tay chồng lên nhau trong lòng. |
|
Then let the aspirant note if his breathing is regular, steady and uniform. Should this be so, let him then relax his entire person, holding the mind positive and the physical vehicle supple and responsive. |
Sau đó, người chí nguyện hãy lưu ý xem hơi thở của mình có đều đặn, ổn định và đồng nhất hay không. Nếu được như vậy, y hãy thư giãn toàn thân, giữ thể trí chủ động và hiện thể hồng trần mềm mại, có khả năng đáp ứng. |
|
Then let him visualize his three bodies, and having decided whether his meditation shall be in the head or within the heart (I will later take up this point) let him withdraw his consciousness there and focus himself in one or other of the centres. In so doing let him deliberately realise that he is a Son of God, returning to the Father; that he is God Himself, seeking to find the God-consciousness which is His; that he is a creator, seeking to create; that he is the lower aspect of Deity seeking alignment with the higher. Then let him three times intone the sacred Word, breathing it forth gently the first time and thereby affecting the mental vehicle; more loudly the second time, thereby stabilising the emotional vehicle; and in a still louder tone the final time, acting then upon the physical vehicle. The effect upon each body will be threefold. If correctly chanted with the centre of consciousness steadily held within whichever centre has been chosen, the effect will be as follows: |
Sau đó, y hãy hình dung ba thể của mình—thể xác, thể cảm dục và thể trí—và sau khi quyết định sẽ tham thiền ở đầu hay trong tim (Tôi sẽ bàn đến điểm này sau), y hãy thu tâm thức về đó và tập trung mình vào một trong hai trung tâm. Khi làm như vậy, y hãy chủ tâm nhận biết rằng mình là Con của Thượng đế, đang trở về với Cha; rằng y là chính Thượng đế, đang tìm lại tâm thức Thượng đế vốn thuộc về Ngài; rằng y là một đấng sáng tạo, đang tìm cách sáng tạo; rằng y là phương diện thấp của Thượng đế, đang tìm sự chỉnh hợp với phương diện cao. Sau đó, y hãy ngân xướng Linh từ thiêng liêng ba lần, lần đầu nhẹ nhàng phát ra theo hơi thở và nhờ đó tác động lên thể trí; lần thứ hai lớn hơn, nhờ đó ổn định thể cảm dục; và lần cuối với giọng còn lớn hơn nữa, khi ấy tác động lên hiện thể hồng trần. Tác động lên mỗi thể này sẽ mang tính tam phân. Nếu xướng đúng cách, với trung tâm tâm thức được giữ vững trong bất cứ trung tâm nào đã chọn, tác động sẽ như sau: |
On Mental Levels: – Trên Các Cấp Độ Trí:
|
a—The contacting of the head centre, causing it to vibrate. The stilling of the lower mind. [63] |
a—Tiếp xúc với trung tâm đầu, khiến trung tâm này rung động. Làm tĩnh lặng hạ trí. [63] |
|
b—Linking up with the Ego to a more or less degree, but always to some extent through the permanent atom. |
b—Liên kết với chân ngã ở mức độ nhiều hay ít, nhưng luôn có một mức độ nhất định thông qua Nguyên tử trường tồn. |
|
c—The driving out of coarse particles and the building in of finer. |
c—Loại bỏ những hạt thô và đưa những hạt tinh tế hơn vào cấu trúc. |
On Emotional Levels: – Trên Các Cấp Độ Cảm Dục:
|
a—The definite stabilisation of the emotional body through the permanent atom, and the contacting and setting in motion of the heart centre. |
a—Ổn định rõ rệt thể cảm dục thông qua Nguyên tử trường tồn, đồng thời tiếp xúc với trung tâm tim và đưa trung tâm này vào hoạt động. |
|
b—The driving out of coarse matter and the rendering of the emotional or desire body more colourless, so that it will be a true reflector of the higher. |
b—Loại bỏ vật chất thô và làm cho thể cảm dục hay thể dục vọng bớt màu sắc hơn, để nó phản chiếu trung thực phương diện cao. |
|
c—It causes a sudden rush of feeling from the atomic levels of the emotional plane to the intuitional plane, via the atomic channel that exists between the two. It sweeps upward and clarifies the channel. |
c—Nó khiến cảm xúc đột ngột tuôn trào từ các cấp độ nguyên tử của cõi cảm dục lên cõi trực giác, qua đường dẫn nguyên tử tồn tại giữa hai cõi. Nó cuốn lên trên và làm thông sạch đường dẫn. |
On the Physical Planes: – Trên Các Cõi Hồng Trần:
|
a—Here the effect is very similar, but the primary effect is on the etheric body; it stimulates the divine flow. |
a—Ở đây, tác động rất tương tự, nhưng tác động chủ yếu hướng vào thể dĩ thái; nó kích thích dòng tuôn chảy thiêng liêng. |
|
b—It passes beyond the periphery of the body and creates a shell that serves as a protection. It drives away discordant factors in the near environment. |
b—Nó vượt ra ngoài chu vi thể dĩ thái và tạo một lớp vỏ bảo vệ. Nó xua đi những yếu tố bất hoà trong môi trường lân cận. |
|
June 22, 1920 |
Ngày 22 tháng 6 năm 1920 |
|
Ngày 22 tháng 6, năm 1920, 8:45 sáng. |
|
|
You have been pondering, brother of mine, as to what constitutes the difference slight in the method whereby I am teaching you at this time. Let me explain and set these very natural wonderings at rest. In the past you have been enabled very clearly and definitely to hear my voice and to know my whereabouts. It has been as if I were visibly present. Now you realise more my consciousness but the material factors are not so apparent. |
Huynh đệ của Tôi, bạn đã suy ngẫm về điều gì tạo nên sự khác biệt nhỏ trong phương pháp mà Tôi đang dạy bạn vào lúc này. Hãy để Tôi giải thích và giải tỏa những thắc mắc rất tự nhiên này. Trước đây, bạn đã có thể nghe tiếng nói của Tôi rất rõ ràng và dứt khoát, cũng như biết Tôi đang ở đâu. Điều đó giống như Tôi đang hiện diện trước mắt bạn. Giờ đây, bạn nhận biết tâm thức của Tôi nhiều hơn, nhưng các yếu tố vật chất không còn hiển nhiên như trước. |
|
What transpireth is as follows:—owing to the progress made in inner alignment, and hence the greater facility of egoic recognition, it has been possible for me lately on causal levels to teach you and to trust your ego itself accurately to transmit. The egoic memory is perfect, and if the alignment can be adjusted sufficiently, even if only temporarily, the ego can transmit to your physical brain in ordered sequence all the imparted data. Therefore I am endeavouring to cultivate this faculty in you for it leadeth to economy of force on my part and a permanent improvement in the egoic body and its content. |
Điều đang diễn ra là như sau:—nhờ những tiến bộ đạt được trong sự chỉnh hợp bên trong, và do đó khả năng nhận biết của chân ngã trở nên dễ dàng hơn, gần đây Tôi đã có thể dạy bạn trên các cấp độ nguyên nhân và tin cậy chính chân ngã của bạn truyền đạt một cách chính xác. Trí nhớ chân ngã là hoàn hảo, và nếu sự chỉnh hợp có thể được điều chỉnh đủ mức, dù chỉ tạm thời, thì chân ngã có thể truyền đạt đến bộ não hồng trần của bạn theo một trình tự có trật tự tất cả những dữ liệu đã truyền dạy. Vì vậy, Tôi đang nỗ lực vun bồi năng lực này nơi bạn, vì nó giúp Tôi tiết kiệm mãnh lực và đem lại sự cải thiện bền vững cho thể chân ngã và những gì thể này chứa đựng. |
|
All that we, the teachers on the inner side, seek to do is to put our pupils in the way of gaining knowledge for themselves. Knowledge so gained becometh part of the equipment egoic, and can be imparted to others with greater discrimination, being judged from the standpoint of the man himself, and hence is applied very directly from the man’s apprehension of the need of the hour, and not so much from the standpoint of the adept. The man of the hour is always the one who hath a just appreciation of the requirement and the method whereby that need may be met. |
Tất cả những gì chúng tôi, các huấn sư ở phía bên trong, tìm cách làm là đưa các môn sinh của mình vào con đường tự đạt lấy tri thức. Tri thức đạt được như vậy trở thành một phần vốn liếng của chân ngã, và có thể truyền đạt cho người khác với sự phân biện cao hơn, vì tri thức ấy được đánh giá từ quan điểm của chính y; do đó, việc áp dụng tri thức xuất phát rất trực tiếp từ nhận thức của y về nhu cầu của thời điểm hiện tại, chứ không hẳn từ quan điểm của Chân sư. Người đáp ứng được thời cuộc luôn là người đánh giá đúng yêu cầu và phương pháp để đáp ứng nhu cầu ấy. |
|
You are consequently transmitting this material now more definitely from the causal body, the knowledge being communicated by me to you on that level, and not as heretofore on levels of lower mind. A little thought will enable you to appreciate the difference. I supervise and am cognisant of all that is communicated, and mistakes of import will not be permitted,—not for your sake but for the sake of the little ones. Errors may creep in as they have into all literature put out by our agents, but mistakes of vital inaccuracy and of dangerous significance are not allowed. Correction would be inevitable in the interests of those who are led. |
Do đó, hiện nay bạn đang truyền đạt tài liệu này một cách rõ ràng hơn từ thể nguyên nhân; Tôi truyền tri thức cho bạn trên cấp độ ấy, chứ không phải trên các cấp độ của hạ trí như trước đây. Chỉ cần suy ngẫm đôi chút, bạn sẽ nhận biết được sự khác biệt. Tôi giám sát và biết rõ tất cả những gì được truyền đạt, và sẽ không cho phép những sai lầm nghiêm trọng xảy ra — không phải vì bạn, mà vì những người còn non nớt. Sai sót có thể len vào, như chúng đã len vào mọi tài liệu do những người đại diện của chúng tôi công bố, nhưng những sai lầm thiếu chính xác nghiêm trọng và mang thâm nghĩa nguy hiểm thì không được phép xảy ra. Việc sửa chữa sẽ là điều tất yếu vì lợi ích của những người được dẫn dắt. |
|
As regards the prose poems—if you like so to term them, they are the attempt of your ego, permitted by the inner teachers, to bring through to the physical brain parts of the mss [manuscripts] studied at night within the Hall where your instruction proceedeth. Hence it is permissible for you to endeavour to improve and strenuously to bring through the rhythymic [rhythmic?] words of beauty. Very occult are they and form a succession to the teaching of The Voice of the Silence. When wisely arranged, carefully transcribed, each phrase garnered with care and polished to the perfection possible, they will provide food for meditation to the generation that cometh. You may term them “Stanzas Esoteric from Archive XIII.” They are selected from some mss studied by pupils aiming at Initiation and are intended not only to communicate occult truth, but to develop the faculty of abstract thought and its inevitable corollary, synthetic comprehension. |
Về những bài thơ văn xuôi —nếu bạn thích gọi chúng như vậy, chúng là nỗ lực của chân ngã bạn, với sự cho phép của các huấn sư bên trong, nhằm truyền đến bộ não hồng trần những phần của các bản thảo [bản viết tay] được nghiên cứu vào ban đêm trong Phòng nơi việc huấn luyện bạn đang diễn ra. Do đó, bạn được phép cố gắng trau chuốt và nỗ lực hết sức để truyền đạt những lời đẹp đẽ có nhịp điệu [nhịp điệu?]. Chúng mang tính huyền bí sâu sắc và tiếp nối giáo huấn của Tiếng Nói của Im Lặng. Khi được sắp xếp một cách minh triết, chép lại cẩn thận, từng cụm từ được thu thập kỹ lưỡng và trau chuốt đến mức hoàn hảo có thể đạt được, chúng sẽ cung cấp chất liệu tham thiền cho thế hệ mai sau. Bạn có thể gọi chúng là “Các Bài Kệ Nội Môn từ Văn Khố XIII.” Chúng được tuyển chọn từ một số bản thảo mà các môn sinh hướng tới điểm đạo nghiên cứu, và không chỉ nhằm truyền đạt chân lý huyền bí, mà còn phát triển năng lực tư duy trừu tượng cùng hệ quả tất yếu của năng lực ấy: sự thấu hiểu tổng hợp. |
The Logoic Chord and Analogy. – Hợp Âm của Thượng Đế và Sự Tương Đồng.
|
Now, let us proceed with the study of the use of the Sacred Word in its group application and in its employment for certain specific ends. We have very briefly studied the Word as used by the individual who begins to [64] meditate,—the effect of its use being very largely one of purification, stabilisation and centralisation. This is all that is possible until the student has reached a point where he may be allowed to sound the note in one of the subtones egoic. You will have in the egoic note just the same sequence as in the note Logoic. What had you there? You had a sevenfold chord of which the important points at our stage of development are: |
Giờ đây, chúng ta hãy tiếp tục nghiên cứu việc sử dụng Linh từ Thiêng Liêng trong ứng dụng nhóm và nhằm những mục đích cụ thể. Chúng ta đã nghiên cứu rất sơ lược Linh từ khi cá nhân bắt đầu [64] tham thiền sử dụng,—tác dụng của việc sử dụng ấy phần lớn là thanh lọc, ổn định và quy tâm. Đó là tất cả những gì có thể thực hiện cho đến khi đạo sinh đạt tới mức có thể được phép xướng âm điệu thuộc một trong các âm phụ chân ngã. Trong âm điệu chân ngã, các bạn sẽ thấy trình tự giống hệt như trong âm điệu của Thượng Đế. Ở đó, các bạn đã thấy gì? Các bạn đã thấy một hợp âm thất phân, trong đó những điểm quan trọng ở giai đoạn phát triển của chúng ta là: |
|
1—The basic note. |
1—Âm cơ bản. |
|
2—The major third. |
2—Âm bậc ba trưởng. |
|
3—The dominant or fifth. |
3—Âm át hay âm bậc năm. |
|
4—The ultimate seventh. |
4—Âm bậc bảy cuối cùng. |
|
A hint may here be given along the line of analogy. There is a close connection between the fifth or dominant and the fifth principle, Manas or Mind, and, for this solar system (though not for the first or third), there is an interesting response between the fifth plane of mind and the dominant, and between the sixth plane of the emotions and the major third. From some angles in this connection the emotional vehicle forms a third vehicle for consciousness—counting the dense physical and the vehicle for prana or electrical vitality as two units. More I cannot say for the whole shifts and interpenetrates, but I have indicated food for thought. |
Ở đây có thể đưa ra một gợi ý theo hướng tương đồng. Có một mối liên hệ mật thiết giữa âm bậc năm hay âm át với nguyên khí thứ năm, Manas hay Trí; và đối với hệ mặt trời này (dù không phải thái dương hệ thứ nhất hay thứ ba), có một sự đáp ứng thú vị giữa cõi thứ năm, cõi trí, với âm át, và giữa cõi thứ sáu, cõi cảm dục, với âm bậc ba trưởng. Trong mối liên hệ này, xét từ một số góc độ, hiện thể cảm dục tạo thành hiện thể thứ ba cho tâm thức—nếu tính thể xác đậm đặc và hiện thể dành cho prana hay sinh lực điện là hai đơn vị. Tôi không thể nói thêm, vì toàn bộ đều chuyển dịch và thâm nhập lẫn nhau, nhưng Tôi đã nêu ra nhiều điều đáng suy ngẫm. |
|
In the egoic note,—as before said—you have a similar sequence, for it is the reflection on its own plane of the Logoic. You will therefore have the basic note of the physical, the third of the emotional, and the fifth of the causal levels. When a man has mastered the key, and has found his own subtone then he will sound the sacred Word with exactitude and thus reach the desired end; his alignment will be perfect, the bodies will be pure, the channel [65] free from obstruction, and the higher inspiration will be possible. This is the aim of all true meditation and can be reached by the right use of the Word. In the meantime, owing to the absence of a teacher and the defects of the pupil, all that is now possible is to sound the Word as well as may be, knowing that danger does not lurk where there is sincerity of purpose, and that certain results, such as protection, quieting and correction may be achieved. |
Trong âm điệu chân ngã,—như đã nói trước đây—các bạn có một trình tự tương tự, vì trên chính cõi của nó, âm điệu ấy là sự phản chiếu âm điệu của Thượng Đế. Do đó, các bạn sẽ có âm cơ bản của các cấp độ hồng trần, âm bậc ba của các cấp độ cảm dục và âm bậc năm của các cấp độ nguyên nhân. Khi một người đã làm chủ giọng và tìm được âm phụ của chính mình, y sẽ xướng Linh từ thiêng liêng một cách chính xác và nhờ đó đạt được mục đích mong muốn; sự chỉnh hợp của y sẽ hoàn hảo, các thể của y sẽ tinh khiết, kênh truyền [65] không còn chướng ngại, và cảm hứng cao siêu sẽ có thể đến. Đây là mục tiêu của mọi sự tham thiền chân chính, và có thể đạt được nhờ sử dụng Linh từ đúng cách. Trong lúc đó, do thiếu huấn sư và do những khiếm khuyết của môn sinh, tất cả những gì hiện có thể làm là xướng Linh từ tốt nhất có thể, biết rằng nguy hiểm không ẩn nấp nơi có mục đích chân thành, và có thể đạt được một số kết quả như bảo vệ, làm lắng dịu và điều chỉnh. |
Group Use of the Word. – Sử Dụng Linh Từ trong Nhóm.
|
In group formation the effect of the Word is intensified, provided the groups are correctly constituted, or rendered null and void and neutralised should the groups contain undesirable elements. Certain things, therefore, have to be ascertained before the Word may be used with adequacy by a group:— |
Khi hình thành nhóm, tác dụng của Linh từ được tăng cường nếu các nhóm được cấu thành đúng cách, hoặc trở nên vô hiệu và bị trung hòa nếu các nhóm chứa những thành phần không thích hợp. Do đó, trước khi một nhóm có thể sử dụng Linh từ một cách thích đáng, cần xác định một số điều:— |
|
a—It is desirable that people on the same ray or on a complementary ray form a group. |
a—Tốt nhất là những người thuộc cùng một cung hoặc một cung bổ sung cho nhau hợp thành một nhóm. |
|
b—It is desirable that the Word be intoned on the same key, or in part harmonic. When this is done, the vibratory effect is far reaching and certain reactions will occur. |
b—Tốt nhất là Linh từ được ngân xướng trong cùng một giọng, hoặc theo bè hòa âm. Khi thực hiện như vậy, tác dụng rung động lan xa và một số phản ứng sẽ xảy ra. |
|
What results, therefore, when the Word is correctly sounded by a group of people rightly intermingled? |
Vậy những kết quả nào sẽ xảy ra khi một nhóm người được phối hợp đúng cách xướng Linh từ chính xác? |
|
a—A strong current is set up that reaches the disciple or the Master responsible for the group and which enables him to put the group en rapport with the Brotherhood, permitting the channel to be cleared for the transmission of teaching. |
a—Một dòng năng lượng mạnh được thiết lập, vươn tới đệ tử hoặc Chân sư chịu trách nhiệm về nhóm, giúp vị ấy đưa nhóm vào sự giao cảm với Huynh đệ Đoàn, nhờ đó kênh truyền được khai thông để truyền đạt giáo huấn. |
|
b—A vacuum is created that corresponds somewhat to the vacuum that should exist between the Ego and the Personality, but this time between a group and Those on the inner side. [66] |
b—Một khoảng chân không được tạo ra, phần nào tương ứng với khoảng chân không cần có giữa Chân ngã và Phàm ngã, nhưng lần này là giữa một nhóm và Các Đấng ở phía bên trong. [66] |
|
c—If all conditions are right, it likewise results in a linking with the egoic groups of the involved personalities, a stimulation of the causal bodies involved, and a linking of all three groups—the lower, the higher and the Brotherhood—in a triangle for the transmission of force. |
c—Nếu mọi điều kiện đều đúng, điều đó cũng dẫn đến sự liên kết với các nhóm chân ngã của những phàm ngã liên quan, kích thích các thể nguyên nhân liên quan và liên kết cả ba nhóm—nhóm thấp, nhóm cao và Huynh đệ Đoàn—thành một tam giác để truyền mãnh lực. |
|
d—It has a definite effect on the physical vehicles of the lower group; it intensifies the vibration of the emotional bodies, driving out countervibration and swinging all into line with the higher rhythm. This results in equilibrium; it stimulates the lower mind, yet at the same time opens the connection with the higher, which higher, entering in, stabilises the lower concrete mind. |
d—Nó có tác động rõ rệt lên các hiện thể hồng trần của nhóm thấp hơn; nó tăng cường rung động của các thể cảm dục, loại bỏ rung động đối nghịch và đưa tất cả vào sự hòa hợp với nhịp điệu cao hơn. Điều này tạo ra trạng thái quân bình; nó kích thích hạ trí, đồng thời mở đường kết nối với thượng trí; khi thượng trí đi vào, nó ổn định trí cụ thể thấp hơn. |
|
e—It attracts the attention of certain of the devas or angels whose work lies with the bodies of men, and enables them to do that work with greater exactitude and make contacts that later will be of use. |
e—Nó thu hút sự chú ý của một số thiên thần có công việc liên quan đến các thể của con người, giúp các vị thực hiện công việc ấy chính xác hơn và thiết lập những tiếp xúc sẽ hữu ích về sau. |
|
f—It creates a protective shell around the group, which (though only temporary) leads to freedom from disturbance, enables the units of the group to work with greater ease and according to the law, and helps the inner Teachers to find the line of least resistance betwixt Themselves and those who seek Their instruction. |
f—Nó tạo ra một lớp vỏ bảo vệ quanh nhóm; lớp vỏ này, tuy chỉ tạm thời, giúp nhóm thoát khỏi sự quấy nhiễu, cho phép các thành viên làm việc dễ dàng hơn và thuận theo định luật, đồng thời giúp các Huấn sư bên trong tìm được con đường ít trở ngại nhất giữa Các Ngài và những người tìm kiếm sự chỉ dạy của Các Ngài. |
|
g—It aids in the work of evolution. Infinitesimal that aid may be, yet every effort that leads to the free play of the law, that acts in any way on matter for its greater refining, that stimulates vibration and facilitates the contact between the higher and the lower is an instrument in the hand of the Logos for the hastening of His plan. [67] |
g—Nó hỗ trợ công cuộc tiến hoá. Dù sự hỗ trợ ấy có thể vô cùng nhỏ bé, mọi nỗ lực giúp định luật vận hành tự do, tác động theo bất kỳ cách nào lên vật chất để tinh luyện vật chất hơn nữa, kích thích rung động và tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc giữa cái cao và cái thấp, đều là một công cụ trong tay Thượng đế để đẩy nhanh việc thực hiện Thiên Cơ của Ngài. [67] |
|
I have touched here upon certain effects incident upon the chanting of the Word in unison. Later, as the rules of occult meditation are understood and experimentally applied, these effects will be studied. As the race becomes more clairvoyant, they will also be tabulated and checked. The geometrical forms created by the individual, and by the group, in sounding forth the Word will be recorded and noted. The elimination of individuals from different groups and their assignment to other groups more suitable will be effected by judicious consideration of the work done by them. Later, as individuals develop the higher consciousness, wardens of groups must be chosen—not only for their spiritual attainments and their intellectual capacity, but for their ability to see with the inner vision, and hence assist their members and group to rightful plans and to correct development. |
Ở đây, Tôi đã đề cập đến một số tác động đi kèm với việc đồng thanh xướng Linh từ. Về sau, khi các quy luật tham thiền huyền bí được thấu hiểu và áp dụng qua thực nghiệm, người ta sẽ nghiên cứu những tác động này. Khi nhân loại ngày càng có khả năng thông nhãn, người ta cũng sẽ lập bảng và kiểm chứng chúng. Những hình hình học do cá nhân và nhóm tạo ra khi xướng Linh từ sẽ được ghi chép và lưu ý. Việc loại các cá nhân khỏi những nhóm khác nhau và bố trí họ vào các nhóm phù hợp hơn sẽ dựa trên sự xem xét sáng suốt về công việc họ đã thực hiện. Về sau, khi các cá nhân phát triển tâm thức cao hơn, những người quản lý nhóm phải được lựa chọn không chỉ theo thành tựu tinh thần và năng lực trí tuệ, mà còn theo khả năng thấy bằng linh thị bên trong, nhờ đó giúp các thành viên và nhóm hướng tới những kế hoạch đúng đắn và sự phát triển đúng đắn. |
Groups for Specific Purposes. – Các Nhóm Có Mục Đích Cụ Thể.
|
Groups will later be formed for specific purposes, which brings me to my third point, the use of the Word for certain calculated ends. |
Về sau, các nhóm sẽ được thành lập cho những mục đích cụ thể; điều này đưa Tôi đến điểm thứ ba: sử dụng Linh từ cho những mục tiêu đã được tính toán nhất định. |
|
Let me enumerate for you some of the aims groups will have in view when they form themselves, and by the use of the sacred Word, coupled to the true occult meditation, achieve certain results. The time for this is not yet, and need arises not for detailed description, yet if things progress as desired, even you may see it somewhat worked out in your lifetime. |
Để Tôi liệt kê cho các bạn một số mục tiêu mà các nhóm sẽ hướng tới khi thành lập, và nhờ sử dụng Linh từ thiêng liêng kết hợp với tham thiền huyền bí chân chính mà đạt được những kết quả nhất định. Thời điểm cho việc này chưa đến, và chưa cần mô tả chi tiết; tuy nhiên, nếu mọi việc tiến triển như mong muốn, ngay cả các bạn cũng có thể thấy việc ấy được thực hiện phần nào trong đời mình. |
|
l—Groups for the purpose of working on the emotional body with the object of development, of subjugation, and clarification. |
1—Các nhóm nhằm tác động lên thể cảm dục với mục tiêu phát triển, chế ngự và thanh lọc. |
|
2—Groups for the purpose of mental development, of strengthening equilibrium, and the contacting of the higher mind. [68] |
2—Các nhóm nhằm phát triển trí tuệ, củng cố sự quân bình và tiếp xúc với Thượng trí. [68] |
|
3—Groups for the healing of the physical body. |
3—Các nhóm nhằm chữa lành thể xác. |
|
4—Groups whose purpose is to effect alignment, and to clear the channel betwixt the higher and the lower. |
4—Các nhóm nhằm thực hiện sự chỉnh hợp và khai thông kênh dẫn giữa cái cao và cái thấp. |
|
5—Groups for the treatment of obsessions and mental diseases. |
5—Các nhóm nhằm điều trị tình trạng bị ám nhập và các bệnh tâm thần. |
|
6—Groups whose work it will be to study reaction to the sounding of the Word, to record and tabulate the consequent geometrical forms, to note its effect on individuals in the groups, and to note the extraneous entities it draws by its attractive force. These must be rather advanced groups, capable of clairvoyant investigation. |
6—Các nhóm có nhiệm vụ nghiên cứu phản ứng đối với việc xướng Linh từ, ghi chép và lập bảng những hình hình học phát sinh, ghi nhận tác động của Linh từ lên các cá nhân trong nhóm, và ghi nhận những thực thể bên ngoài mà mãnh lực thu hút của Linh từ lôi cuốn đến. Đây phải là những nhóm khá tiến bộ, có khả năng khảo sát bằng thông nhãn. |
|
7—Groups that definitely work at making contact with the devas, and collaborating with them under the law. During the seventh ray activity, this will be much facilitated. |
7—Các nhóm chuyên thiết lập sự tiếp xúc với các thiên thần và cộng tác với các vị theo định luật. Trong thời kỳ hoạt động của cung bảy, việc này sẽ thuận lợi hơn nhiều. |
|
8—Groups that are definitely and scientifically working on the laws of the rays, and studying colour and sound, their individual and group effects, and their interrelation. This is necessarily a select group and only those of high spiritual attainment and those nearing Initiation will be permitted to take part. Forget not that these groups on the physical plane are but the inevitable working out into manifestation of the inner groups of aspirants, pupils, disciples and initiates. |
8—Các nhóm chuyên nghiên cứu một cách khoa học các định luật của các cung, nghiên cứu màu sắc và âm thanh, tác động của chúng lên cá nhân và nhóm, cùng mối tương quan giữa chúng. Đây nhất thiết phải là một nhóm tuyển chọn, và chỉ những người có thành tựu tinh thần cao cùng những người đang gần đến điểm đạo mới được phép tham gia. Đừng quên rằng các nhóm này trên cõi hồng trần chỉ là sự biểu hiện tất yếu của những nhóm người chí nguyện, môn sinh, đệ tử và điểm đạo đồ ở bên trong. |
|
9—Groups that are definitely working under some one Master, and conforming to certain procedure laid down by Him. The members of these groups will therefore be chosen by the Master. |
9—Các nhóm chuyên làm việc dưới sự hướng dẫn của một Chân sư nào đó và tuân theo một quy trình nhất định do Ngài đề ra. Vì vậy, Chân sư sẽ lựa chọn thành viên của những nhóm này. |
|
10—Groups working specifically under one of the three great departments and seeking—under expert guidance—to influence politically and religiously [69] the world of men, and to speed the processes of evolution as directed from the department of the Lord of Civilisation. Some of these groups will work under the Church, others under Masonry, and others will work in connection with the Initiate heads of the great organizations. In considering this you need to remember that the whole world becomes ever more mental as time proceeds,—hence the ever-increased scope of this type of work. |
10—Các nhóm làm việc chuyên biệt dưới một trong ba ban lớn và tìm cách—dưới sự hướng dẫn chuyên môn—tạo ảnh hưởng về chính trị và tôn giáo [69] lên thế giới loài người, đồng thời đẩy nhanh các tiến trình tiến hoá theo sự chỉ đạo từ ban của Đấng Chúa Tể Văn Minh. Một số nhóm sẽ làm việc dưới Giáo hội, những nhóm khác dưới Hội Tam Điểm, và những nhóm khác nữa sẽ làm việc trong sự liên kết với những vị đứng đầu đã được điểm đạo của các tổ chức lớn. Khi xem xét điều này, các bạn cần nhớ rằng theo thời gian, toàn thế giới ngày càng thiên về trí tuệ—do đó phạm vi của loại công việc này ngày càng mở rộng. |
|
ll—Other groups will work entirely in what might be termed preparatory work for the future colony. |
11—Các nhóm khác sẽ hoàn toàn làm công việc có thể gọi là chuẩn bị cho cộng đồng định cư tương lai. |
|
12—Problem groups, as they might be called, will be formed to deal with social, economic, political and religious problems as they arise, studying the effects of meditation, colour and sound. |
12—Những nhóm có thể gọi là nhóm giải quyết vấn đề sẽ được thành lập để xử lý các vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị và tôn giáo khi chúng phát sinh, nghiên cứu tác động của tham thiền, màu sắc và âm thanh. |
|
13—Still other groups will deal with child culture, with the individual training of people, with the guidance of persons on the probationary path, and with the development of the higher faculties. |
13—Những nhóm khác nữa sẽ bàn đến việc giáo dục trẻ em, huấn luyện từng cá nhân, hướng dẫn những người trên Con Đường Dự Bị và phát triển các năng lực cao hơn. |
|
14—Later, when the great Lord, the Christ, comes with His Masters, there will be a few very esoteric groups, gathered out of all the others, where the members (through graduation and karmic right) will be trained for discipleship and for the first Initiation. There will be seven such groups or centres formed for definite occult training… Their location is not for the present communication. Only those whose vibratory capacity is adequate will find their way there. |
14—Về sau, khi Chúa Tể vĩ đại, Đức Christ, đến cùng các Chân sư của Ngài, sẽ có một vài nhóm mang tính nội môn rất sâu, tập hợp từ tất cả những nhóm khác; tại đó, các thành viên, nhờ đã hoàn tất các cấp học và có quyền theo nghiệp quả, sẽ được huấn luyện cho địa vị đệ tử và lần điểm đạo thứ nhất. Sẽ có bảy nhóm hay trung tâm như thế được thành lập để huấn luyện huyền bí chuyên biệt… Vị trí của các nhóm này chưa phải là điều cần thông báo lúc này. Chỉ những người có khả năng rung động thích hợp mới tìm được đường đến đó. |
|
I have given you enough to consider for today, and we will leave the consideration of point the fourth till tomorrow. [70] |
Hôm nay, Tôi đã cho các bạn đủ điều để suy ngẫm, và chúng ta sẽ để việc xem xét điểm thứ tư đến ngày mai. [70] |
|
June 23, 1920 |
Ngày 23 tháng 6 năm 1920 |
|
You are right in thinking that conditions today are not desirable. The whole world speeds towards a crisis—a crisis reconstructive, even though it seems to the onlooker to be destructive. On all sides, the tearing down of the old forms is progressing, nor is the work as yet fully accomplished. Enough has, nevertheless, been done to permit of the erection of the scaffolding for the new building. In serenity and steady adherence to the next duty will come the simplification of that which must he done. |
Các bạn nghĩ đúng rằng tình hình ngày nay không như mong muốn. Toàn thế giới đang lao nhanh tới một cuộc khủng hoảng—một cuộc khủng hoảng mang tính tái thiết, dù đối với người quan sát, nó có vẻ mang tính phá hoại. Khắp nơi, việc phá bỏ các hình tướng cũ đang tiến triển, và công việc ấy vẫn chưa hoàn tất. Tuy nhiên, đã có đủ việc được thực hiện để có thể dựng giàn giáo cho công trình mới. Sự tĩnh lặng và việc kiên trì thực hiện bổn phận kế tiếp sẽ giúp đơn giản hóa những điều phải làm. |
|
Today we deal with the effect of the Word on the various centres, on each body, and its utility in aligning the bodies with the causal vehicle. This was our fourth point. The first two are closely allied, for the sacred Word (when properly enunciated) acts on the various bodies through the medium of the centres, and their astral and mental counterparts. Some of the effects, such as the elimination of undesirable matter, and the building in of new, the protective effect of the Word and its work of stabilisation and purification, we have somewhat touched upon. We will now focus our attention largely upon the centres and the result upon them of the sounding of the Word. |
Hôm nay, chúng ta bàn đến tác động của Linh từ lên các trung tâm khác nhau, lên từng thể của con người, và công dụng của nó trong việc chỉnh hợp các thể ấy với hiện thể nguyên nhân. Đây là điểm thứ tư của chúng ta. Hai nội dung đầu liên hệ chặt chẽ, vì Linh từ thiêng liêng, khi được phát âm đúng, tác động lên các thể khác nhau thông qua các trung tâm cùng các đối phần cảm dục và trí của chúng. Chúng ta đã phần nào đề cập đến một số tác động, như loại bỏ vật chất không mong muốn và đưa vật chất mới vào, tác dụng bảo vệ của Linh từ cùng công việc ổn định và thanh lọc của nó. Giờ đây, chúng ta sẽ tập trung chủ yếu vào các trung tâm và kết quả mà việc xướng Linh từ tạo ra nơi chúng. |
The Seven Centres and the Sacred Word. – Bảy Trung Tâm và Linh Từ Thiêng Liêng.
|
As is our custom, let us divide our thoughts under the following heads. Tabulation has its value; it systematises knowledge, thus tending to the orderly arrangement of the mental body; it facilitates recollection through the assistance of the eye. |
Theo thông lệ, chúng ta hãy phân chia những ý tưởng của mình thành các đề mục sau. Việc lập bảng có giá trị riêng; nó hệ thống hóa tri thức, nhờ đó giúp sắp xếp thể trí một cách có trật tự; nó tạo thuận lợi cho việc ghi nhớ nhờ sự hỗ trợ của mắt. |
|
l—Enumeration and discussion of the centres. |
1—Liệt kê và bàn luận về các trung tâm. |
|
2—Growth and development of the centres. |
2—Sự tăng trưởng và phát triển của các trung tâm. |
|
3—The effect of meditation on the centres. |
3—Tác động của tham thiền lên các trung tâm. |
|
4—Their interrelation in the work of alignment. [71] |
4—Mối tương quan giữa chúng trong công việc chỉnh hợp. [71] |
|
First let me say that certain information that may seem to be the natural sequence and corollary of that which I have to impart will have to be withheld. The dangers involved through the injudicious development of the centres are too great for us to venture yet to give full and detailed instructions. We seek to develop Masters of Compassion, dispensers of the love of the universe. We seek not to develop Masters of Black Arts and specialists in ruthless self-expression at the expense of the uninitiated. Certain facts have been, and can be, imparted. They will lead to the development of the intuition, and inspire the seeker after light to more earnest endeavour. Others must be withheld for they would be weapons of great danger in the hands of the unscrupulous. If then it seems to you that I have but imparted only sufficient to arouse interest, know then that that is my aim. When your interest and the interest of all aspirants is sufficiently aroused naught can then be withheld from you. |
Trước hết, để Tôi nói rằng một số thông tin có vẻ là sự tiếp nối và hệ luận tự nhiên của những điều Tôi phải truyền đạt sẽ cần được giữ lại. Những nguy hiểm do phát triển các trung tâm thiếu sáng suốt quá lớn để chúng tôi có thể mạo hiểm đưa ra những chỉ dẫn đầy đủ và chi tiết vào lúc này. Chúng ta tìm cách đào tạo các Chân sư Từ Bi, những Đấng ban phát tình thương của vũ trụ. Chúng ta không tìm cách đào tạo những bậc thầy Hắc Thuật và những kẻ chuyên biểu hiện bản thân một cách tàn nhẫn, gây tổn hại cho người chưa được điểm đạo. Một số sự kiện đã và có thể được truyền đạt. Chúng sẽ dẫn đến sự phát triển trực giác và thôi thúc người tìm kiếm ánh sáng nỗ lực tha thiết hơn. Những điều khác phải được giữ lại, vì chúng sẽ là những vũ khí hết sức nguy hiểm trong tay kẻ vô lương tâm. Vì vậy, nếu các bạn thấy rằng Tôi chỉ truyền đạt vừa đủ để khơi dậy sự quan tâm, hãy biết rằng đó chính là mục tiêu của Tôi. Khi sự quan tâm của các bạn và của mọi người chí nguyện được khơi dậy đủ mức, khi ấy sẽ không còn điều gì có thể giữ lại đối với các bạn. |
l—Enumeration of the centres. – l—Liệt kê các trung tâm.
|
The physical centres as enumerated by CWL [C. W. Leadbeater] are, as you know:— |
Các trung tâm hồng trần theo sự liệt kê của CWL [C. W. Leadbeater] như các bạn đã biết, là:— |
|
l—The base of the spine. |
1—Đáy cột sống. |
|
2—The solar plexus. |
2—Tùng thái dương. |
|
3—The spleen. |
3—Lá lách. |
|
4—The heart. |
4—Tim. |
|
5—The throat. |
5—Cổ họng. |
|
6—The pineal gland. |
6—Tuyến tùng. |
|
7—The pituitary body. |
7—Tuyến yên. |
|
This enumeration is correct, but I seek to give you another division, based on earlier imparted facts, those anent the solar system. These seven centres may be enumerated as five if we eliminate the spleen and count the two head centres as one. The five centres thus specified [72] are applicable to our fivefold evolution in this the second solar system. |
Cách liệt kê này đúng, nhưng Tôi muốn đưa ra cho các bạn một cách phân chia khác, dựa trên những sự kiện đã truyền đạt trước đây về hệ mặt trời. Bảy trung tâm này có thể được liệt kê thành năm nếu chúng ta bỏ lá lách và tính hai trung tâm ở đầu là một. Năm trung tâm được xác định như vậy [72] tương ứng với sự tiến hoá ngũ phân của chúng ta trong hệ mặt trời thứ hai này. |
|
In the first solar system the three lower centres were developed and with them the occultist has naught to do. They form the basis of the development of the lower quaternary before individualisation, but are now transcended and the divine fire must be focalised in other and higher centres. |
Trong hệ mặt trời thứ nhất, ba trung tâm thấp đã phát triển, và nhà huyền bí học không phải làm gì với chúng. Chúng tạo nền tảng cho sự phát triển của bộ tứ thấp trước biệt ngã hóa, nhưng nay đã được vượt qua, và lửa thiêng liêng phải tập trung vào những trung tâm khác, cao hơn. |
|
Lá Lách. |
|
|
The spleen, the third centre, has a specific purpose. It has its correspondence in the third or activity aspect, and in the third or Activity (Adaptability) Ray, and is the basis of all the fundamental activities of the microcosm, and of the recurring adaptations of the microcosm to its environment, to its need and to the macrocosm. It controls the selective processes of the microcosm; it takes the vibratory force and energy of the macrocosm and transmutes it for the use of the microcosm. We might call it the organ of transmutation, and—as its functions are more completely understood—it will be found that it provides a magnetic link between the conscious, thinking, three-fold man and his lower vehicles, regarding those lower vehicles as the Not-Self, and as themselves animated by informing entities. It is the life force contacting those entities that is the issue and aim. |
Lá lách, trung tâm thứ ba, có một mục đích cụ thể. Nó tương ứng với phương diện thứ ba, hay phương diện hoạt động, và với cung ba, hay Cung Hoạt Động (Thích Ứng), và là nền tảng của mọi hoạt động căn bản của tiểu thiên địa, cùng những sự thích ứng lặp đi lặp lại của tiểu thiên địa với môi trường, nhu cầu của nó và đại thiên địa. Nó kiểm soát các tiến trình chọn lọc của tiểu thiên địa; nó tiếp nhận mãnh lực rung động và năng lượng của đại thiên địa rồi chuyển hoá chúng để tiểu thiên địa sử dụng. Chúng ta có thể gọi nó là cơ quan chuyển hoá; khi các chức năng của nó được thấu hiểu đầy đủ hơn, người ta sẽ thấy rằng nó tạo ra một mối liên kết từ tính giữa con người tam phân có ý thức, biết suy nghĩ, với các hiện thể thấp của y, xem những hiện thể thấp ấy là Phi Ngã và là những hiện thể có sự sống nhờ các thực thể thấm nhuần chúng. Vấn đề và mục tiêu chính là mãnh lực sự sống tiếp xúc với những thực thể ấy. |
|
In its emotional counterpart, it is the organ of emotional vitality, again in the same sense as providing a link; on the mental plane it serves somewhat the same purpose, only this time through this centre are the thoughtforms vitalised by means of the energising will. I will not, therefore, deal more fully with this centre beyond these general indications. Few people have the faculty of stimulating [73] it through the use of the Word, nor is it desirable that they should. It develops normally if the aspirant himself—as a totality—progresses as desired:—if his physical body receives adequate application of the life forces of the sun, if his emotional body is moved by high desire, and open to the downflow of force from the causal and intuitional levels, and if his mental life is intense, vibrant, and animated by a powerful will. Then the spleen, with its inner counterparts, will progress and be in a healthy condition. |
Trong đối phần cảm dục, nó là cơ quan sinh lực cảm xúc, cũng theo ý nghĩa tạo ra một mối liên kết; trên cõi trí, nó phục vụ một mục đích phần nào tương tự, chỉ khác là lần này, qua trung tâm ấy, các hình tư tưởng được tiếp sinh lực nhờ ý chí truyền năng lượng. Vì vậy, ngoài những chỉ dẫn tổng quát này, Tôi sẽ không bàn đầy đủ hơn về trung tâm ấy. Ít người có khả năng kích thích [73] nó bằng cách sử dụng Linh từ, và cũng không nên để họ làm như vậy. Nó phát triển bình thường nếu chính người chí nguyện, xét như một tổng thể, tiến bộ như mong muốn:—nếu thể xác của y tiếp nhận đầy đủ các mãnh lực sự sống của mặt trời, nếu thể cảm dục của y được thúc đẩy bởi dục vọng cao thượng và mở ra đón dòng mãnh lực tuôn xuống từ các cấp độ nguyên nhân và trực giác, và nếu đời sống trí tuệ của y mãnh liệt, rung động mạnh mẽ, được một ý chí mạnh mẽ làm cho sống động. Khi ấy, lá lách cùng các đối phần bên trong của nó sẽ phát triển và ở trong trạng thái khỏe mạnh. |
|
We will therefore thus dispose of it and give no further space to it in these letters. |
Vì vậy, chúng ta sẽ kết thúc việc bàn về nó ở đây và không dành thêm chỗ cho nó trong những bức thư này. |
|
Các trung tâm căn bản. |
|
|
The three fundamental centres of vital importance from the standpoint of the average man, polarised in his emotional body and living the normal life of the man of the world, are: |
Ba trung tâm căn bản có tầm quan trọng thiết yếu, xét từ quan điểm của người bình thường, phân cực trong thể cảm dục và sống cuộc sống thông thường của người thế gian, là: |
|
l—The base of the spine. |
1—Đáy cột sống. |
|
2—The solar plexus. |
2—Tùng thái dương. |
|
3—The heart centre. |
3—Trung tâm tim. |
|
The three major centres for the man nearing the Probationary Path and for the man who is aiming at a life of altruism, having examined the attractions of the three worlds, are: |
Ba trung tâm chính đối với người đang gần đến Con Đường Dự Bị và người hướng tới đời sống vị tha, sau khi đã xem xét những sức hấp dẫn của ba cõi giới, là: |
|
l—The base of the spine. |
1—Đáy cột sống. |
|
2—The heart. |
2—Tim. |
|
3—The throat. |
3—Cổ họng. |
|
His solar plexus is left then to normal functioning, having served its purpose as a centre for the emotional focussing. The activity of the fire becomes more centered in the throat. [74] |
Khi ấy, tùng thái dương của y được để vận hành bình thường, sau khi đã hoàn thành mục đích làm trung tâm tập trung cảm xúc. Hoạt động của lửa tập trung nhiều hơn vào cổ họng. [74] |
|
The three major centres for the man on the Path itself in its twofold divisions [typescript has: on the Probationary Path and on the Path of Initiation] are:–– |
Ba trung tâm chính đối với con người trên chính Đường Đạo này trong hai phân nhánh của Đường Đạo [bản đánh máy ghi: trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Điểm Đạo] là:–– |
|
l—The heart. |
1—Tim. |
|
2—The throat. |
2—Cổ họng. |
|
3—The head. |
3—Đầu. |
|
The divine activity has developed the solar plexus centre, is controlling all the centres below the solar plexus, and is passing upward in ordered progression until it is focussed and vivifying the head centres. |
Hoạt động thiêng liêng đã phát triển trung tâm tùng thái dương, đang kiểm soát mọi trung tâm phía dưới tùng thái dương, và đang đi lên theo trình tự có trật tự cho đến khi tập trung vào và làm sống động các trung tâm ở đầu. |
|
Earlier we divided the life of the man into five main periods, tracing his development in each. We might (if we are careful to generalise widely) apply the same to the five centres. |
Trước đây, chúng ta đã chia đời sống con người thành năm thời kỳ chính, theo dõi sự phát triển của y trong từng thời kỳ. Chúng ta có thể áp dụng cách ấy cho năm trung tâm, nếu thận trọng chỉ khái quát trên phạm vi rộng. |
|
Period I—wherein the base of the spine is the most active in the purely rotary sense and not in a fourth-dimensional. The inner fire is focussed on the vivification of the organs of generation and on the functional physical life of the personality. |
Thời kỳ I—trong đó đáy cột sống hoạt động mạnh nhất theo nghĩa thuần túy xoay tròn, chứ không theo nghĩa chiều thứ tư. Lửa bên trong tập trung vào việc làm sống động các cơ quan sinh sản và đời sống chức năng hồng trần của phàm ngã. |
|
Period II—wherein the solar plexus is the goal of the attention of the fire and when the emotional counterpart vibrates synchronously. Two centres are thus vibrating, even though the measure be slow; the others are alive; pulsation can be seen, but there is no circular movement. |
Thời kỳ II—trong đó tùng thái dương là mục tiêu chú ý của lửa, và đối phần cảm dục rung động đồng bộ. Như vậy, hai trung tâm đang rung động, dù nhịp độ còn chậm; các trung tâm khác vẫn sống động; có thể thấy sự dao động nhịp nhàng, nhưng chưa có chuyển động xoay tròn. |
|
Period III—The divine fire now mounts to the heart centre and the three rotate in ordered measured unison. I would point out that the vivification of any one centre. causes an accession of force in all, and I would further point out that in the head are seven centres (three major and four minor) and that these centres directly correspond to one or other centre in the body. They are the synthesis, and, on the stimulation of their corresponding centre, receive themselves a corresponding acquisition of rotary power. [75] |
Thời kỳ III—Lửa thiêng liêng lúc này vươn lên trung tâm tim, và ba trung tâm xoay đồng bộ theo nhịp độ có trật tự. Tôi muốn chỉ ra rằng việc làm sống động bất kỳ trung tâm nào cũng làm gia tăng mãnh lực trong tất cả các trung tâm; Tôi cũng muốn chỉ ra thêm rằng ở đầu có bảy trung tâm, ba chính và bốn phụ, và các trung tâm này tương ứng trực tiếp với một trung tâm nào đó trong cơ thể. Chúng là sự tổng hợp, và khi trung tâm tương ứng của chúng được kích thích, chính chúng cũng nhận được một sự gia tăng tương ứng về quyền năng xoay tròn. [75] |
|
Period IV—marks the definite stimulation of the throat centre. All the creative activity of the three-fold man—physical, emotional and mental—is turned upward in service, and his life begins occultly to sound. He is occultly productive. He manifests forth and his sound goes out before him. This is an occult statement of fact definitely apparent to those who have the inner vision. Coordination between the centres becomes apparent; rotation is intensified, and the centres themselves change in appearance, becoming unfolded, and the rotary movement becomes fourth-dimensional, turning inward upon itself. The centres are then radiating nuclei of light, and the corresponding four lower head centres are equally alive. |
Thời kỳ IV—đánh dấu sự kích thích rõ rệt trung tâm cổ họng. Mọi hoạt động sáng tạo của con người tam phân—hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—đều hướng lên trong phụng sự, và đời sống của y bắt đầu xướng theo nghĩa huyền bí. Y có năng lực sáng tạo theo nghĩa huyền bí. Y biểu hiện ra bên ngoài, và âm thanh của y lan đi trước y. Đây là một sự kiện huyền bí hiển nhiên rõ rệt đối với những người có linh thị bên trong. Sự phối hợp giữa các trung tâm trở nên rõ ràng; sự xoay tròn tăng cường, và chính các trung tâm thay đổi vẻ ngoài, khai mở ra; chuyển động xoay tròn trở thành chuyển động theo chiều thứ tư, quay vào bên trong chính nó. Khi ấy, các trung tâm là những hạt nhân ánh sáng tỏa chiếu, và bốn trung tâm thấp tương ứng ở đầu cũng sống động như vậy. |
|
Period V—marks the application of the fire to the head centres and their complete awakening. |
Thời kỳ V—đánh dấu việc lửa tác động lên các trung tâm ở đầu và sự thức tỉnh hoàn toàn của chúng. |
|
Before initiation, all the centres will be rotating in fourth dimensional order, but after initiation they become flaming wheels, and—seen clairvoyantly—are of rare beauty, The fire of Kundalini is then awakened and is progressing in the necessary spirals. At the second initiation the emotional centres are similarly awakened, and at the third initiation those on the mental plane are touched. The initiate can then stand in the Presence of the Great King, the One Initiator. |
Trước điểm đạo, mọi trung tâm sẽ xoay theo trật tự chiều thứ tư; nhưng sau điểm đạo, chúng trở thành những bánh xe rực lửa và, khi nhìn bằng thông nhãn, có vẻ đẹp hiếm có. Khi ấy, lửa Kundalini thức tỉnh và tiến theo những đường xoắn ốc cần thiết. Ở lần điểm đạo thứ hai, các trung tâm cảm dục cũng thức tỉnh tương tự, và ở lần điểm đạo thứ ba, các trung tâm trên cõi trí được tác động đến. Khi ấy, điểm đạo đồ có thể đứng trong Sự Hiện Diện của Đức Đại Vương, Đấng Điểm đạo Duy Nhất. |
|
I seek to point out that the student must ever remember that here generalisations only are given. The complexity in the development of the microcosm is as great as in the macrocosm. The awakening of the centres and their particular order is dependent on several factors, such as: |
Tôi muốn chỉ ra rằng đạo sinh phải luôn nhớ: ở đây chỉ đưa ra những khái quát. Sự phát triển của tiểu thiên địa cũng phức tạp như của đại thiên địa. Sự thức tỉnh các trung tâm và trình tự riêng của chúng tùy thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn: |
|
a—The Ray of the Spirit or Monad. |
a—Cung của Tinh thần hay Chân thần. |
|
b—The Ray of the Ego, Higher Self, or Son, or the sub-ray. [76] |
b—Cung của Chân ngã, Bản Ngã Cao Siêu, hay Con, hoặc cung phụ. [76] |
|
c—Race and nationality. |
c—Giống dân và quốc tịch. |
|
d—The special type of work to be done. |
d—Loại công việc đặc thù cần thực hiện. |
|
e—The application of the student. |
e—Sự chuyên tâm của đạo sinh. |

|
Hence you can see for yourself that it is useless to lay down rules for the development of the centres and to formulate methods whereby the fire can be circulated until such time as trained teachers with expert knowledge and clairvoyant faculty are in charge of the work on the physical plane. It is not desirable for aspirants to focus their thought on any one centre. They run the risk of overstimulation, [77] or of attrition. It is not wished that effort be made to turn the fire towards any particular point; in ignorant manipulation lies insanity and fell disease. If the aspirant but seeks spiritual development, if he but aims at sincerity of purpose and at compassionate altruism, if he, with serene application, concentrates on the subjugation of the emotional body and the enlargement of the mental, and cultivates the habit of abstract thinking, the desired results upon the centres will be produced from necessity and danger will be eliminated. |
Vì vậy, các bạn có thể tự thấy rằng việc đặt ra các quy luật phát triển trung tâm và xây dựng những phương pháp để lưu chuyển lửa là vô ích, cho đến khi những huấn sư đã qua đào tạo, có kiến thức chuyên sâu và năng lực thông nhãn, đảm trách công việc trên cõi hồng trần. Người chí nguyện không nên tập trung tư tưởng vào bất kỳ trung tâm nào. Họ có nguy cơ kích thích quá mức [77] hoặc gây hao tổn. Không nên cố gắng hướng lửa về một điểm cụ thể nào; việc thao tác thiếu hiểu biết dẫn đến điên loạn và bệnh tật hiểm nghèo. Nếu người chí nguyện chỉ tìm kiếm sự phát triển tinh thần, chỉ hướng tới mục đích chân thành và lòng vị tha từ bi, nếu y chuyên tâm một cách tĩnh lặng vào việc chế ngự thể cảm dục và mở rộng thể trí, đồng thời vun bồi thói quen tư duy trừu tượng, thì những kết quả mong muốn nơi các trung tâm tất yếu sẽ xuất hiện, và nguy hiểm sẽ được loại trừ. |
|
When these triangles are paths of threefold fire, emanating from the base of the spine, when the interlacing is complete and the fire progresses along the path from centre to centre in the correct manner, and when this is accomplished in the order required by the man’s primary ray, then the work is completed. The fivefold man has attained perfection for this present greater cycle and the goal is reached. |
Khi những tam giác này là các đường dẫn của lửa tam phân, phát ra từ đáy cột sống, khi sự đan kết hoàn tất và lửa tiến theo đường dẫn từ trung tâm này đến trung tâm khác đúng cách, và khi điều này diễn ra theo trình tự mà cung chính của con người đòi hỏi, thì công việc hoàn thành. Con người ngũ phân đã đạt sự hoàn thiện trong chu kỳ lớn hiện tại này, và mục tiêu đã đạt được. |
|
(Note that this order has to be attained in the head centres likewise.) |
(Lưu ý rằng các trung tâm ở đầu cũng phải đạt trình tự này.) |
|
Tomorrow we will continue the study of the centres more specifically and somewhat describe them, pointing to the effect upon the life through the awakening of these wheels. |
Ngày mai, chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu các trung tâm cụ thể hơn và mô tả chúng phần nào, chỉ ra tác động lên đời sống qua sự thức tỉnh của những bánh xe này. |
|
June 25, 1920. |
Ngày 25 tháng 6 năm 1920. |
|
Ngày 25 tháng 6, 1920. 10:15 sáng. |
|
|
Brother of mine, I would to you and through you to the others, give certain suggestions anent the coming Convention. This convention marketh a climax, and a point of disruption. I would to you therefore say: Form no opinion on the early days of convention as to the ultimate results. All is planned and if adherence to sane level-headed methods is followed, if refusal to deal in personalities is the rule, if principles are emphasised and constructive plans put before the people, if no word is spoken on your side that could engender bitter feeling (the truth may hurt but it poisoneth not), and if the thought of the Great Ones permeateth all your minds then you will work in conformity with the law and results for good will be inevitable. Trust not too widely; communicate with all, attend to all requirements, give each worker scope but keep the inner circle intact,—a nucleus for power. Dissipate not force, but form plans, speek [speak] freely, stand for straight clean speech and no underground methods of attack, and believe that the watching inner guides will steer the convention along desired lines. See that the morning Group is kept regularly, and admit no fresh units in Chicago. Enlargement of the chalice is not desirable at the very moment of filling. |
Huynh đệ của Tôi, Tôi muốn đưa ra cho bạn và thông qua bạn cho những người khác, một số đề nghị về hội nghị sắp tới. Hội nghị này đánh dấu một đỉnh điểm, và một thời điểm đứt gãy. Vì vậy, Tôi muốn nói với bạn: Đừng vội đưa ra nhận định trong những ngày đầu của hội nghị về những kết quả cuối cùng. Mọi việc đều đã được hoạch định, và nếu việc tuân thủ những phương pháp hợp lý, tỉnh táo được duy trì, nếu việc từ chối bàn đến những vấn đề cá nhân là quy luật, nếu các nguyên tắc được nhấn mạnh và những kế hoạch mang tính xây dựng được trình bày trước mọi người, nếu không lời nào được thốt ra từ phía bạn có thể khơi dậy cảm giác cay đắng (chân lý có thể gây đau lòng nhưng không đầu độc), và nếu ý nghĩ về Các Đấng Cao Cả thấm nhuần trí tuệ của tất cả các bạn, thì các bạn sẽ làm việc phù hợp với Định luật và những kết quả tốt đẹp ắt sẽ đến. Đừng đặt lòng tin quá rộng rãi; hãy giao tiếp với mọi người, quan tâm đến mọi yêu cầu, cho mỗi người hoạt động không gian để phát huy nhưng giữ nhóm nòng cốt nguyên vẹn, —một hạt nhân của quyền năng. Đừng làm tiêu tan mãnh lực, mà hãy lập kế hoạch, nói [nói] một cách cởi mở, ủng hộ lời nói thẳng thắn, trong sạch và không dùng những phương pháp công kích ngầm, và hãy tin rằng các vị hướng dẫn bên trong đang dõi theo sẽ dẫn dắt hội nghị theo những hướng mong muốn. Hãy bảo đảm Nhóm buổi sáng được duy trì đều đặn, và không tiếp nhận thành viên mới tại Chicago. Việc mở rộng chén thánh không nên thực hiện vào chính lúc đang rót đầy. |
|
Tell WS from me that the force of gentleness is irresistible, and that he can achieve great things for us by radiation. See that he shatter not his opponents. In shattering, karma is incurred that later has to be worked out. |
Hãy nói với WS thay Tôi rằng mãnh lực của sự dịu dàng là không thể cưỡng lại, và rằng y có thể thành tựu những điều lớn lao cho chúng tôi bằng sự tỏa chiếu. Hãy bảo đảm rằng y không đập tan những người chống đối mình. Khi đập tan người khác, y tạo nghiệp quả mà về sau phải giải quyết. |
|
To FB I would say: Be prepared for all that cometh. The unexpected may occur, but in steadiness and inner concentration will come illumination. He must be ready through calmness and the strength that cometh from an inner contact to turn the tide at a moment of seeming disaster. |
Với FB, Tôi muốn nói: Hãy sẵn sàng đón nhận tất cả những gì sẽ đến. Điều bất ngờ có thể xảy ra, nhưng sự soi sáng sẽ đến trong sự vững vàng và tập trung nội tâm. Y phải sẵn sàng, nhờ sự bình tĩnh và sức mạnh đến từ sự tiếp xúc nội tâm, để xoay chuyển tình thế vào lúc tưởng chừng như tai họa đang xảy ra. |
|
I have too a message for MM. Tell her to hold the vision steady and to work on the inner planes as much as may be during the hours of strife. She goes to convention to act as a focal point from which the healing force may radiate on many. Inner concentration on the love force of the Master is her work for us in trying times. |
Tôi cũng có một thông điệp dành cho MM. Hãy nói với bà hãy giữ vững tầm nhìn và hoạt động trên các cõi bên trong nhiều nhất có thể trong những giờ phút xung đột. Bà đến đại hội để đóng vai trò một tiêu điểm, từ đó mãnh lực chữa lành có thể tỏa chiếu đến nhiều người. Tập trung nội tâm vào mãnh lực bác ái của Chân sư là công việc bà làm cho chúng tôi trong những thời kỳ thử thách. |
|
As for you, my brother, in utter self-forgetfulness lieth the path of service. Go as a healer and constructive builder and fear nought. Fear and self are terms synonymous, hence for you the need of self forgetfulness. The Master’s work calls for attention; it mattereth not if you experience joy or pain. Concentration on the [or: that] work bringeth in due time the reward. Forgetfulness of the reward resulteth in sudden illumination. |
Huynh đệ của Tôi, đối với bạn, chính trong sự hoàn toàn quên mình có con đường phụng sự. Hãy tiến bước như một người chữa lành và một đấng kiến tạo mang tính xây dựng, và đừng sợ điều gì. Sợ hãi và bản ngã là những từ đồng nghĩa; vì thế bạn cần quên mình. Công việc của Chân sư đòi hỏi sự chú tâm; bạn trải nghiệm sự hoan hỉ hay đau đớn đều không quan trọng. Tập trung vào công việc này [hoặc: công việc ấy] sẽ đem lại phần thưởng vào đúng lúc. Quên đi phần thưởng sẽ dẫn đến sự soi sáng đột ngột. |
|
Now, brother of mine, let us take up the matter of the chakras and continue with what hath already been communicated: – |
Huynh đệ của Tôi, giờ đây chúng ta hãy bàn đến vấn đề các luân xa và tiếp tục những điều đã truyền đạt:— |
2—The growth and development of the centres. – 2—Sự tăng trưởng và phát triển của các trung tâm.
|
We will now enumerate the centres again, this time considering their psychic correspondences and will note the colours and the number of the petals. |
Giờ đây chúng ta sẽ liệt kê lại các trung tâm, lần này xem xét những tương ứng thông linh của chúng, đồng thời ghi nhận màu sắc và số cánh hoa. |
|
1—The base of the spine. Four petals. These petals are in the shape of a cross, and radiate with orange fire. [78] |
1—Đáy cột sống. Bốn cánh hoa. Các cánh hoa này có hình thập giá và tỏa ra lửa màu cam. [78] |
|
2—The solar plexus. Ten petals. The colour rosy, with an admixture of green. |
2—Tùng thái dương. Mười cánh hoa. Màu hồng, pha lẫn màu xanh lá cây. |
|
3— The heart centre. Twelve petals. Colour glowing golden. |
3— Trung tâm tim. Mười hai cánh hoa. Màu vàng kim rực sáng. |
|
4—The throat centre. Sixteen petals. Colour silvery blue, the blue predominating. |
4—Trung tâm cổ họng. Mười sáu cánh hoa. Màu xanh lam ánh bạc, với màu xanh lam chiếm ưu thế. |
|
5—The head centres. These are in a twofold division;— |
5—Các trung tâm đầu. Các trung tâm này chia thành hai phần;— |
|
a—Between the eyebrows. Ninety-six petals. Colour, one-half of the lotus is rose and yellow, and the other half is blue and purple. |
a—Giữa hai lông mày. Chín mươi sáu cánh hoa. Về màu sắc, một nửa hoa sen có màu hồng và vàng, còn nửa kia có màu xanh lam và tím. |
|
b—The top of the head. There are twelve major petals of white and gold, and 960 secondary petals are arranged around the central twelve. This makes a total of 1068 petals in the two head centres, or 356 triplicities. All these figures have an occult significance. |
b—Đỉnh đầu. Có mười hai cánh hoa chính màu trắng và vàng kim, cùng 960 cánh hoa phụ sắp xếp quanh mười hai cánh ở trung tâm. Như vậy, hai trung tâm đầu có tổng cộng 1068 cánh hoa, hay 356 bộ ba. Tất cả những con số này đều có thâm nghĩa huyền bí. |
|
This description is taken from “The Inner Life.” This description applies to the etheric centres, which are themselves the working out into physical plane manifestation of corresponding vortices on the emotional plane, with emotional vitality playing through. They have their mental counterparts, and in their awakening as aforesaid, and in their growth and development, comes the final vivification, and the resultant liberation. |
Mô tả này trích từ “Đời Sống Bên Trong”. Mô tả này áp dụng cho các trung tâm dĩ thái, vốn là sự biểu hiện trên cõi hồng trần của những xoáy lực tương ứng trên cõi cảm dục, với sinh lực cảm dục lưu chuyển qua đó. Chúng có những đối phần trí; và trong sự thức tỉnh của chúng như đã nói trên, cũng như trong sự tăng trưởng và phát triển của chúng, sự tiếp sinh lực cuối cùng xuất hiện, cùng với sự giải thoát do đó mà thành. |
|
The connection between the centres, the causal body and meditation lies hid in the following hint: it is through the rapid whirling and interaction of these centres and their increased force through meditation (the ordered occult meditation) that the shattering of the causal body is effected. When the inner fire is circulating through each centre and when kundalini is spiralling [79] accurately and geometrically from vortex to vortex, the intensification interacts in three directions. |
Mối liên hệ giữa các trung tâm, thể nguyên nhân và tham thiền ẩn trong gợi ý sau đây: chính sự xoay chuyển nhanh chóng và tương tác của các trung tâm này, cùng sự gia tăng mãnh lực của chúng nhờ tham thiền (tham thiền huyền bí có trình tự), làm tan vỡ thể nguyên nhân. Khi lửa bên trong lưu chuyển qua từng trung tâm và khi luồng hỏa xà xoắn ốc [79] một cách chính xác theo hình học từ xoáy lực này sang xoáy lực khác, sự tăng cường ấy tạo ra tương tác theo ba hướng. |
|
a—It focuses the light or the consciousness of the Higher Self into the three lower vehicles, drawing it downward into fuller expression and widening its contact on all the three planes in the three worlds. |
a—Nó tập trung ánh sáng hay tâm thức của chân ngã vào ba hiện thể thấp, kéo ánh sáng hay tâm thức ấy xuống để biểu lộ đầy đủ hơn, đồng thời mở rộng sự tiếp xúc của nó trên cả ba cõi trong ba cõi giới. |
|
b—It draws down from the threefold Spirit more and more of the fire of the Spirit, doing for the causal body what the Ego is doing for the three lower vehicles. |
b—Nó thu hút ngày càng nhiều lửa của Tinh thần từ Tinh thần tam phân xuống, thực hiện cho thể nguyên nhân điều mà chân ngã đang thực hiện cho ba hiện thể thấp. |
|
c—It forces the unification of the higher and lower, and it attracts the spiritual life itself. When this is done, when each successive life sees an increase of vitality in the centres, and when kundalini in its seven-fold capacity touches each centre, then even the causal body proves inadequate for the influx of life from above. If I might so express it, the two fires meet, and eventually the egoic body disappears; the fire burns up entirely the Temple of Solomon; the permanent atoms are destroyed, and all is reabsorbed into the Triad. The essence of the Personality, the faculties developed, the knowledge gained, and the remembrance of all that has transpired becomes part of the equipment of the Spirit and eventually finds its way to the Spirit or Monad on its own plane. |
c—Nó thúc đẩy sự hợp nhất giữa cái cao và cái thấp, đồng thời thu hút chính sự sống tinh thần. Khi điều này hoàn tất, khi mỗi kiếp sống kế tiếp đều chứng kiến sự gia tăng sinh lực trong các trung tâm, và khi luồng hỏa xà với năng lực thất phân chạm đến từng trung tâm, thì ngay cả thể nguyên nhân cũng tỏ ra không đủ sức tiếp nhận dòng sự sống từ trên tuôn xuống. Nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, hai ngọn lửa gặp nhau, và cuối cùng thể chân ngã biến mất; lửa thiêu rụi hoàn toàn Đền Thờ Solomon; các Nguyên tử trường tồn bị hủy diệt, và tất cả được tái hấp thu vào Tam nguyên tinh thần. Tinh hoa của phàm ngã, những năng lực đã phát triển, tri thức đã thu nhận và ký ức về mọi điều đã diễn ra trở thành một phần vốn liếng của Tinh thần, và cuối cùng tìm đường đến Tinh thần hay chân thần trên cõi riêng của Ngài. |
|
Now let me enumerate for you the things as to which it will not be possible as yet to furnish more information; the risks involved would be too great. |
Giờ đây, Tôi xin liệt kê cho các bạn những điều hiện chưa thể cung cấp thêm thông tin; những nguy cơ liên quan sẽ quá lớn. |
|
l—The method of arousing the Sacred Fire. |
1—Phương pháp khơi dậy Lửa Thiêng Liêng. |
|
2—The order of its progression. |
2—Trình tự tiến triển của nó. |
|
3—The geometrical forms it makes as it mounts. |
3—Những hình dạng hình học mà nó tạo nên khi đi lên. |
|
4—The order of the development of the centres according to the ray of the Spirit. The complexity is too great. [80] |
4—Trình tự phát triển của các trung tâm theo cung của Tinh thần. Sự phức tạp quá lớn. [80] |
|
You will therefore observe that the subject really becomes more abstruse, the longer it is studied. It is complicated by ray development, by the man’s own place upon the ladder of evolution, by the uneven awakening of the different centres due to the type of a man’s lives; it is rendered more complex by the threefold nature of the centres themselves,—etheric, emotional and mental—by the fact, that some people have one or other emotional centre completely awakened and demonstrating etherically whilst the mental counterparts may be quiescent; others may have the mental centres awake and the emotional not so vivified and be etherically quiet. Therefore, it will be obvious how great is the need for conscious clairvoyant teachers, who can judiciously work with the pupils, stimulating through scientific knowledge and methods the dormant or sluggish centres, and aligning them so that the current can freely flow back and forth between the external vortices and the inner centre. Later the teacher can train the pupil in the safe awakening of the inner fire, in its scientific culture and transmission, and instruct him in the order required for its convolutions along the path of the triangles until it reaches the head centres. When kundalini has traversed these geometrical lines the man is perfected, the personality has served its purpose, and the goal is reached. Hence the fact that all the centres have petals whose numbers are multiples of four, for four is the number of the lower self, of the quaternary. The total number of petals in the centres, if we eliminate the spleen which has a purpose all its own, and the three lower organs of creation, is one thousand, one hundred and ten, the total number signifying the perfection of the microcosm,—ten the number of perfected personality, one hundred the number of causal perfection, and one thousand the number of spiritual [81] achievement. When every petal vibrates in all the dimensions, then the goal for this manvantara is reached. The lower lotus is full blown, and reflects the greater with precision. |
Vì vậy, các bạn sẽ nhận thấy rằng càng nghiên cứu lâu, chủ đề này thực sự càng trở nên khó hiểu. Nó trở nên phức tạp do sự phát triển theo cung, do vị trí riêng của con người trên thang tiến hoá, do sự thức tỉnh không đồng đều của các trung tâm khác nhau tùy theo tính chất những kiếp sống của y; nó càng phức tạp hơn do bản chất tam phân của chính các trung tâm,—dĩ thái, cảm dục và trí—do thực tế rằng một số người có trung tâm cảm dục này hay trung tâm cảm dục khác hoàn toàn thức tỉnh và biểu lộ trên bình diện dĩ thái, trong khi những đối phần trí có thể vẫn bất động; những người khác có thể có các trung tâm trí thức tỉnh, còn các trung tâm cảm dục chưa được tiếp sinh lực đến mức ấy và các trung tâm dĩ thái vẫn tĩnh lặng. Vì vậy, rõ ràng cần biết bao những huấn sư thông nhãn có ý thức, có thể làm việc sáng suốt với môn sinh, dùng tri thức và phương pháp khoa học để kích thích những trung tâm còn ngủ yên hay hoạt động trì trệ, và chỉnh hợp chúng để dòng mãnh lực có thể tự do lưu chuyển qua lại giữa những xoáy lực bên ngoài và trung tâm bên trong. Về sau, huấn sư có thể huấn luyện môn sinh khơi dậy lửa bên trong một cách an toàn, nuôi dưỡng và truyền dẫn nó theo phương pháp khoa học, đồng thời chỉ dạy y trình tự cần thiết cho các vòng xoắn của nó dọc theo đường đi của những tam giác cho đến khi nó đạt tới các trung tâm đầu. Khi luồng hỏa xà đã đi qua những đường hình học này, con người đạt đến sự hoàn thiện, phàm ngã đã hoàn thành mục đích của nó, và mục tiêu đã đạt được. Vì thế, tất cả các trung tâm đều có số cánh hoa là bội số của bốn, bởi bốn là con số của phàm ngã, của bộ bốn. Tổng số cánh hoa trong các trung tâm, nếu bỏ qua lá lách vốn có mục đích hoàn toàn riêng, và ba cơ quan sáng tạo thấp, là một nghìn một trăm mười; tổng số này biểu thị sự hoàn thiện của Tiểu thiên địa,—mười là con số của phàm ngã hoàn thiện, một trăm là con số của sự hoàn thiện nguyên nhân, và một nghìn là con số của sự thành tựu tinh thần [81]. Khi mọi cánh hoa đều rung động trong tất cả các chiều, thì mục tiêu của Giai kỳ sinh hóa này đã đạt được. Hoa sen thấp nở trọn vẹn và phản chiếu chính xác hoa sen lớn hơn. |
|
June 26, 1920. |
Ngày 26 tháng 6 năm 1920. |
|
Tác động của tham thiền huyền bí lên các trung tâm. |
|
|
We shall study today the effect of occult meditation upon the centres and their consequent vivification, positing a meditation prefaced always by the use of the Sacred Word, uttered according to rule. |
Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu tác động của tham thiền huyền bí lên các trung tâm và sự tiếp sinh lực cho chúng do đó mà có, với giả định rằng việc tham thiền luôn bắt đầu bằng việc sử dụng Linh từ Thiêng Liêng, phát âm theo quy luật. |
|
We speak also of a meditation followed under the guidance of a teacher. The man therefore will meditate correctly or approximately so; thus what we are to consider today is the factor of time, in its relationship to the centres, for the work is slow and necessarily gradual. Here I would pause to emphasize to you the need of ever remembering that in all work that is truly occult expected effects are very slowly achieved. Should a man seem in any one incarnation to make spectacular progress it is due to the fact that he is but demonstrating what has already been earlier acquired (the manifesting forth of innate faculty, acquired in previous incarnations) and is preparing for a fresh period of slow, careful and painstaking endeavor. He recapitulates in the present life the processes surmounted in the past, and thus lays the foundation for renewed effort. This slow and laborious effort, which is the consistent method of all that evolves, is after all but an illusion of time and is due to the fact that consciousness is at present for the majority polarised in the lower vehicles and not in the causal. The states of consciousness succeed each other apparently slowly, and in their slow progression lies the chance for the Ego to assimilate the fruit of these stages. [82] It takes a long time to establish a stable vibration, and it takes as long to shatter it, and to impose another and still higher rhythm. Growth is one long period of building in order to destroy, of constructing in order to disorganise later, of developing certain rhythmic processes in order to later disrupt them, and to force the old rhythm to give place to the new. What the Personality spends many thousands of lives in establishing is not going to be lightly altered when the Ego—working in the lower consciousness—seeks to effect a change. The shifting of polarisation from emotional to mental, and thence to the causal and later to the three-fold Spirit inevitably entails a period of great difficulty, of violent conflict both internally and with the environment, intense suffering and apparent darkness and disruption—all these things characterise the life of the aspirant or the disciple. What causes this and why is this so? The following reasons may make it apparent why the path is so hard to tread and the process of mounting the ladder (as one nears the higher rungs) becomes ever more complicated and difficult. |
Chúng ta cũng nói đến việc tham thiền dưới sự hướng dẫn của một huấn sư. Vì vậy, con người sẽ tham thiền đúng cách hoặc gần đúng; do đó, điều chúng ta xem xét hôm nay là yếu tố thời gian trong mối liên hệ với các trung tâm, vì công việc này diễn ra chậm và tất yếu phải tiến hành dần dần. Ở đây, Tôi muốn dừng lại để nhấn mạnh với các bạn rằng cần luôn nhớ: trong mọi công việc thực sự huyền bí, những hiệu quả mong đợi chỉ đạt được rất chậm. Nếu trong một kiếp nhập thể nào đó, một người dường như tiến bộ ngoạn mục, thì đó là vì y chỉ đang biểu lộ những gì đã thu nhận trước kia (sự biểu hiện của năng lực bẩm sinh, đã đạt được trong những kiếp nhập thể trước), và đang chuẩn bị cho một thời kỳ mới của nỗ lực chậm rãi, cẩn trọng và bền bỉ. Trong kiếp sống hiện tại, y ôn lại những tiến trình đã vượt qua trong quá khứ, và nhờ đó đặt nền móng cho nỗ lực mới. Xét cho cùng, nỗ lực chậm rãi và gian nan này, vốn là phương pháp nhất quán của mọi sự tiến hoá, chỉ là một ảo tưởng về thời gian, do hiện nay tâm thức của đa số phân cực trong các hiện thể thấp chứ không phải trong thể nguyên nhân. Các trạng thái tâm thức dường như nối tiếp nhau chậm chạp, và chính trong sự tiến triển chậm chạp ấy có cơ hội để chân ngã đồng hóa thành quả của các giai đoạn này. [82] Cần một thời gian dài để thiết lập một rung động ổn định, và cũng cần chừng ấy thời gian để phá vỡ nó và áp đặt một nhịp điệu khác, cao hơn nữa. Sự tăng trưởng là một thời kỳ dài xây dựng để hủy bỏ, kiến tạo để rồi tháo rời về sau, phát triển những tiến trình nhịp nhàng nhất định để sau đó phá vỡ chúng, và buộc nhịp điệu cũ nhường chỗ cho nhịp điệu mới. Những gì phàm ngã phải trải qua hàng nghìn kiếp sống để thiết lập sẽ không dễ dàng thay đổi khi chân ngã—hoạt động trong tâm thức thấp—tìm cách tạo ra sự biến đổi. Sự chuyển dịch phân cực từ cảm dục sang trí, rồi sang cấp độ nguyên nhân và sau đó đến Tinh thần tam phân, tất yếu kéo theo một thời kỳ vô cùng khó khăn, xung đột dữ dội cả bên trong lẫn với môi trường, đau khổ mãnh liệt cùng bóng tối và sự tan vỡ có vẻ như đang xảy ra—tất cả những điều này đều đặc trưng cho đời sống của người chí nguyện hay đệ tử. Điều gì gây ra tình trạng này, và vì sao lại như vậy? Những lý do sau đây có thể làm rõ vì sao con đường lại khó bước đến thế, và tiến trình leo thang (khi đến gần những bậc cao hơn) càng trở nên phức tạp và khó khăn. |
|
1—Each body has to be dealt with and disciplined separately and thus purified. |
1—Phải xử lý và rèn luyện từng thể của phàm ngã một cách riêng biệt, nhờ đó thanh lọc từng thể ấy. |
|
2—Each body has to be readjusted and aligned. |
2—Phải điều chỉnh lại và chỉnh hợp từng thể của phàm ngã. |
|
3—Each body has to be subjected to repolarisation. |
3—Phải tái phân cực từng thể của phàm ngã. |
|
4—Each body is practically reconstructed. |
4—Trên thực tế, phải tái kiến tạo từng thể của phàm ngã. |
|
5—Each subplane above the fourth (for on the fourth the life of the aspirant starts) has to be dominated. |
5—Phải làm chủ từng cõi phụ cao hơn cõi phụ thứ tư (vì đời sống của người chí nguyện bắt đầu trên cõi phụ thứ tư). |
|
6—Each centre has to be gradually, carefully and scientifically awakened, its revolutions have to be intensified, its radiations electrified (if I may borrow that term and apply it to the centres) and its force must demonstrate through the higher dimension. [83] |
6—Phải thức tỉnh từng trung tâm một cách dần dần, cẩn trọng và khoa học, tăng cường những vòng xoay của nó, điện hóa các bức xạ của nó (nếu Tôi có thể mượn thuật ngữ ấy để áp dụng cho các trung tâm), và mãnh lực của nó phải biểu lộ qua chiều cao hơn. [83] |
|
7—Each etheric centre has to be magnetically linked, in full alignment, with the corresponding centres in the emotional and mental bodies, so that the flow of force is unimpeded. |
7—Phải liên kết bằng từ tính từng trung tâm dĩ thái, trong sự chỉnh hợp hoàn toàn, với những trung tâm tương ứng trong thể cảm dục và thể trí, để dòng mãnh lực lưu chuyển không bị cản trở. |
|
8—Each centre has then to be awakened afresh by the Sacred Fire till the radiations, the velocity and the colours are keyed to the egoic note. This is part of the work of Initiation. |
8—Sau đó, Lửa Thiêng Liêng phải thức tỉnh lại từng trung tâm cho đến khi các bức xạ, tốc độ và màu sắc hòa theo âm điệu chân ngã. Đây là một phần công việc Điểm đạo. |
|
As each change is gradually made, it responds to the same law that governs all cyclic growth in the macrocosm: |
Khi từng thay đổi dần dần diễn ra, nó đáp ứng cùng một định luật chi phối mọi sự tăng trưởng theo chu kỳ trong Đại thiên địa: |
|
l—First comes the clashing of the old with the new rhythm. |
1—Trước hết là sự xung đột giữa nhịp điệu cũ và nhịp điệu mới. |
|
2—This is followed by a period of gradual dominance of the new, elimination of the old, and the stabilisation of the new vibration. |
2—Tiếp theo là một thời kỳ trong đó nhịp điệu mới dần chiếm ưu thế, nhịp điệu cũ bị loại bỏ và rung động mới được ổn định. |
|
3—Then finally comes the passing on and out, and again a repetition of the process. |
3—Cuối cùng là sự chuyển tiếp và vượt ra ngoài, rồi tiến trình lại lặp lại. |
|
It is this work that is done on the bodies and on the centres by the work of meditation and the use of the Sacred Word. This Word aids in the adjustment of the matter, its vitalisation by fire, and enables the aspirant to work in line with the law. This unfoldment of the centres is a gradual process, paralleling the work done on the bodies, the refining of the vehicles and the slow development of causal consciousness. |
Chính công việc tham thiền và việc sử dụng Linh từ Thiêng Liêng thực hiện công việc này trên các thể của phàm ngã và các trung tâm. Linh từ này hỗ trợ việc điều chỉnh vật chất, tiếp sinh lực cho vật chất bằng lửa, và giúp người chí nguyện làm việc phù hợp với định luật. Sự khai mở các trung tâm này là một tiến trình dần dần, song hành với công việc thực hiện trên các thể của phàm ngã, sự tinh luyện các hiện thể và sự phát triển chậm rãi của tâm thức nguyên nhân. |
|
Những nhận xét kết luận. |
|
|
In concluding this division upon the use of the Sacred Word in meditation, I would like to indicate certain things, though more than a hint is not possible. This matter has been difficult for you to comprehend, and I fully realise it. The difficulty lies in the fact that so little [84] can be safely said, that the real use of the Word is one of the secrets of initiation and may not therefore be divulged, and that what little can be indicated is of small value to the student apart from the wise attempt to experiment, which experiment must be carried on under the guidance of one who knows. Still, I will indicate certain things which, wisely pondered upon, may lead to illumination. |
Khi kết thúc phần này về việc sử dụng Linh từ Thiêng Liêng trong tham thiền, Tôi muốn chỉ ra một số điều, dù không thể nói gì hơn một gợi ý. Vấn đề này khó lĩnh hội đối với các bạn, và Tôi hoàn toàn nhận biết điều đó. Khó khăn nằm ở chỗ chỉ có thể nói rất ít [84] mà vẫn bảo đảm an toàn, rằng việc sử dụng Linh từ thực sự là một trong những bí mật của điểm đạo nên không thể tiết lộ, và rằng chút ít có thể chỉ ra ấy không mấy giá trị đối với đạo sinh nếu không đi cùng nỗ lực thử nghiệm sáng suốt; việc thử nghiệm này phải tiến hành dưới sự hướng dẫn của một người hiểu biết. Tuy vậy, Tôi sẽ chỉ ra một số điều mà, nếu được suy ngẫm sáng suốt, có thể dẫn đến sự soi sáng. |
|
When meditating in the heart centre, picture it as a golden lotus closed. When the Sacred Word is enunciated, picture it as a lotus slowly expanding until the inner centre or vortex is seen as a radiating whirlpool of electric light, more blue than golden. Build there the picture of the Master, in etheric, emotional and mental matter. This entails the withdrawing of the consciousness ever more and more inwards. When the picture is fully built then gently sound the Word again, and with an effort of the will withdraw still further inwards and link up with the twelve petalled head centre, the centre of causal consciousness. Do all this very slowly and gradually, maintaining an attitude of perfect peace and calm. There is a direct relationship between the two twelve petalled centres and occult meditation, and the action of the kundalini fire will later reveal its significance. This visualization leads to synthesis, to causal development and expansion, and eventually conducts a man into the presence of the Master. |
Khi tham thiền trong trung tâm tim, hãy hình dung nó như một hoa sen vàng kim khép kín. Khi phát âm Linh từ Thiêng Liêng, hãy hình dung hoa sen ấy từ từ nở ra cho đến khi trung tâm hay xoáy lực bên trong hiện ra như một vòng xoáy ánh sáng điện tỏa chiếu, thiên về màu xanh lam hơn màu vàng kim. Hãy xây dựng tại đó hình ảnh của Chân sư bằng vật chất dĩ thái, cảm dục và trí. Điều này đòi hỏi phải thu tâm thức ngày càng sâu vào bên trong. Khi hình ảnh đã được xây dựng hoàn chỉnh, hãy nhẹ nhàng xướng Linh từ một lần nữa, và bằng một nỗ lực ý chí, thu vào bên trong sâu hơn nữa rồi liên kết với trung tâm đầu mười hai cánh, trung tâm của tâm thức nguyên nhân. Hãy thực hiện tất cả điều này thật chậm rãi và dần dần, giữ một thái độ hoàn toàn bình an và tĩnh lặng. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa hai trung tâm mười hai cánh và tham thiền huyền bí; về sau, tác động của lửa hỏa xà sẽ mặc khải thâm nghĩa của mối liên hệ ấy. Sự hình dung này dẫn đến tổng hợp, đến sự phát triển và mở rộng của thể nguyên nhân, và cuối cùng đưa con người đến trước sự hiện diện của Chân sư. |
|
The solar plexus is the seat of the emotions and should not be centred upon in meditation. It is a basis for physical healing and will later be more completely understood. It is the centre of activity—an activity which must later be intuitional. The throat centre works radiantly when the polarisation is shifting from the physical atom to the mental permanent atom as dealt with earlier. [85] The mental permanent atom becomes the centre of pure reason or of abstract thought. Then comes a time in the development of consciousness when the emotional force which governs so many is transcended and superseded by the force of the higher intellect. It often marks a period when a man is swayed purely by reason and his emotions do not control him. This may demonstrate in the personal life on the physical plane as intellectual hardness. Later, the emotional permanent atom gives place to the intuitional, and pure intuition and perfect comprehension through love is the motive power, with the faculty of reason added. Then the solar plexus is distinguished by the preponderance of the green of activity, for the emotional body is actively the agent of the higher, and engenders but little of the rose of human desire. |
Tùng thái dương là nơi trú của cảm xúc, và không nên tập trung vào đó khi tham thiền. Nó là cơ sở cho việc chữa lành thể xác, và về sau sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn. Nó là trung tâm hoạt động—một hoạt động mà về sau phải mang tính trực giác. Trung tâm cổ họng hoạt động rực sáng khi sự phân cực đang chuyển dịch từ nguyên tử hồng trần sang Nguyên tử trường tồn trí, như đã bàn trước đây. [85] Nguyên tử trường tồn trí trở thành trung tâm của lý trí thuần túy hay tư duy trừu tượng. Rồi đến một thời điểm trong sự phát triển tâm thức, khi mãnh lực cảm xúc vốn chi phối rất nhiều người được vượt qua và thay thế bằng mãnh lực của trí năng cao hơn. Điều này thường đánh dấu một thời kỳ trong đó con người hoàn toàn chịu sự chi phối của lý trí, còn cảm xúc không kiểm soát y. Trong đời sống cá nhân trên cõi hồng trần, điều này có thể biểu lộ thành sự cứng rắn của trí năng. Về sau, Nguyên tử trường tồn cảm dục nhường chỗ cho nguyên tử trực giác, và trực giác thuần túy cùng sự thấu hiểu hoàn hảo thông qua tình thương trở thành động lực, có thêm năng lực lý trí. Khi ấy, tùng thái dương nổi bật bởi màu xanh lá cây của hoạt động chiếm ưu thế, vì thể cảm dục tích cực làm tác nhân cho cái cao hơn và chỉ tạo ra rất ít sắc hồng của dục vọng con người. |
|
In the whirling of the force through the vortex (which whirling forms the petals of the lotus) it will be observed that certain petals predominantly stand out, and each centre demonstrates one particular type of cross, with the exception of the two head centres which are the synthesis of the lower crosses. The four-armed cross of the third Logos is found at the base of the spine and the cross of the fourth human Hierarchy in the heart. |
Trong sự xoay chuyển của mãnh lực qua xoáy lực (sự xoay chuyển ấy tạo thành các cánh của hoa sen), có thể nhận thấy một số cánh hoa nổi bật hơn hẳn; và mỗi trung tâm biểu lộ một dạng thập giá riêng, ngoại trừ hai trung tâm đầu vốn là sự tổng hợp của các thập giá thấp. Thập giá bốn nhánh của Thượng đế thứ ba nằm ở đáy cột sống, còn thập giá của Huyền Giai nhân loại thứ tư nằm trong tim. |
|
When the Sacred Word is intoned by the average aspirant, it carries force through all the inner centres to the etheric, and causes a definite stimulation of the petals in each centre. If the lotus is only partially unfolded, then only some of the petals receive the stimulation. This stimulation creates a vibration (especially in the centre in which a man meditates—the head or the heart) which causes reflex action in the spine and down to the base. This is not in itself sufficient to arouse the fire; that can only be done in due form, in the right key and subject to certain rules. [86] |
Khi người chí nguyện bình thường ngân xướng Linh từ Thiêng Liêng, linh từ này truyền mãnh lực qua tất cả các trung tâm bên trong đến thể dĩ thái, và tạo ra sự kích thích rõ rệt nơi các cánh hoa của mỗi trung tâm. Nếu hoa sen mới khai mở một phần, thì chỉ một số cánh hoa nhận được sự kích thích ấy. Sự kích thích này tạo ra một rung động (đặc biệt tại trung tâm mà con người tập trung khi tham thiền—đầu hoặc tim), gây nên tác động phản xạ trong cột sống và xuống tận đáy cột sống. Chỉ riêng điều này chưa đủ để khơi dậy lửa; việc ấy chỉ có thể thực hiện đúng cách, đúng giọng âm và tuân theo một số quy luật nhất định. [86] |
|
When meditation is done in the heart and under occult laws, with the correct intoning of the Word, the force comes through the emotional centres from the intuitional levels. When it is done in the head, the force comes through the mental centres from the abstract manasic levels, and later from the atmic. The one gives spiritual intuition, and the other causal consciousness. |
Khi tham thiền tại tim theo các định luật huyền bí, cùng với việc ngân xướng Linh từ đúng cách, mãnh lực từ các cấp độ trực giác truyền qua các trung tâm cảm dục. Khi tham thiền tại đầu, mãnh lực từ các cấp độ manas trừu tượng truyền qua các trung tâm trí, và về sau từ các cấp độ atma. Cách thứ nhất mang lại trực giác tinh thần, còn cách thứ hai mang lại tâm thức nguyên nhân. |
|
The advanced man is the man who is linking up the two major centres,—the head and the heart,—into one, synthetic instrument, and whose throat centre vibrates to the same measure. Then you have will and love blended in harmonious service, and the lower physical activity is transmuted into idealism and altruism. When this stage is reached, the man is ready for the awakening of the inner fire. His bodies are refined enough to withstand the pressure and the onrush; they contain nothing dangerous to its progress; the centres are keyed high enough to receive the acquisition of fresh stimulation. When this has been done, the hour of initiation comes when the would-be server of humanity will stand before his Lord, with purified desire, consecrated intellect, and a physical body that is his servant and not his master. |
Người tiến hóa cao là người đang liên kết hai trung tâm chính—đầu và tim—thành một công cụ tổng hợp duy nhất, và trung tâm cổ họng của y rung động cùng nhịp với chúng. Khi ấy, ý chí và tình thương hòa quyện trong sự phụng sự hài hòa, còn hoạt động hồng trần thấp được chuyển hoá thành chủ nghĩa lý tưởng và lòng vị tha. Khi đạt đến giai đoạn này, con người sẵn sàng cho sự thức tỉnh của lửa bên trong. Các thể của y đã đủ tinh luyện để chịu được áp lực và dòng lửa tràn tới; chúng không chứa điều gì gây nguy hiểm cho sự tiến triển của lửa; các trung tâm đã được điều chỉnh đến cao độ đủ cao để tiếp nhận sự kích thích mới. Khi điều này hoàn tất, giờ điểm đạo đến, khi người mong muốn phụng sự nhân loại sẽ đứng trước Chúa Tể của mình, với dục vọng đã thanh lọc, trí năng đã thánh hiến, và một thể xác là tôi tớ chứ không phải chủ nhân của y. |
|
Today we will bring this letter to a close. Tomorrow, we will take up the dangers that confront the man who meditates. I shall seek to point out what he must guard against and wherein he must move with caution. [87] |
Hôm nay, chúng ta sẽ kết thúc bức thư này. Ngày mai, chúng ta sẽ bàn đến những nguy hiểm mà người tham thiền phải đối diện. Tôi sẽ cố gắng chỉ ra những điều y phải đề phòng và những lĩnh vực y phải tiến bước thận trọng. [87] |
Liên kết bình giảng hiện có