LETTER VI—THE USE OF FORM IN MEDITATION – THƯ VI—VIỆC SỬ DỤNG HÌNH TƯỚNG TRONG THAM THIỀN
|
a—The Use of Form in raising the consciousness. |
a—Việc sử dụng hình tướng để nâng cao tâm thức. |
|
b—The Use of Form by the mystic and the occultist. |
b—Việc sử dụng hình tướng của nhà thần bí và nhà huyền bí học. |
|
c—Specific Forms. |
c—Những hình tướng đặc thù. |
|
d—The Use of Form collectively. [140] |
d—Việc sử dụng hình tướng một cách tập thể. [140] |
|
August 6, 1920. |
Ngày 6 tháng 8 năm 1920. |
|
Your very natural desire to have me give you in this sixth letter certain specific forms to achieve certain results cannot be fully acquiesced in. I do not propose to outline for you any forms for careful following. The risks, as before I have pointed out, are too great apart from the supervision of a teacher at hand to watch reactions. These forms may later be given. The work is duly planned out for the coming generation of students, this series of letters having its place within that outline. What I intend to do today is something different. I purpose to do four things which we will separately take up and elucidate. These things, if duly assimilated and acted upon, will lead to further enlightenment. In the occult method of teaching step by step is given, point by point slowly laid before the pupil, and only as each step is taken and each point is grasped, will the next in order become clear. The teacher gives an indication, drops a hint, and touches some high light. The pupil follows the point emphasised, and finds on thus acting that further light pours in, another stage appears and other hints are dropped. In joint action and reaction therefore the occult student is trained by the occultist. |
Mong muốn rất tự nhiên của các bạn rằng Tôi sẽ cung cấp trong bức thư thứ sáu này những hình tướng đặc thù để đạt những kết quả nhất định không thể được đáp ứng hoàn toàn. Tôi không định phác thảo cho các bạn những hình tướng để cẩn thận noi theo. Như Tôi đã chỉ ra trước đây, những rủi ro quá lớn nếu không có sự giám sát của một huấn sư ở bên để theo dõi các phản ứng. Những hình tướng này có thể được cung cấp về sau. Công việc đã được hoạch định thích đáng cho thế hệ đạo sinh sắp tới, và loạt thư này có vị trí trong đề cương ấy. Hôm nay, điều Tôi định làm khác với điều đó. Tôi dự định làm bốn việc mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét và làm sáng tỏ. Nếu được tiếp thu đúng đắn và thực hành, những điều này sẽ dẫn đến sự giác ngộ sâu hơn. Trong phương pháp giảng dạy huyền bí, từng bước được trao, từng điểm được chậm rãi trình bày trước môn sinh, và chỉ khi mỗi bước đã thực hiện, mỗi điểm đã nắm bắt, thì điều kế tiếp mới trở nên rõ ràng. Huấn sư đưa ra một chỉ dẫn, hé một gợi ý, và chạm đến một điểm nổi bật. Môn sinh noi theo điểm được nhấn mạnh và nhận thấy khi hành động như thế, ánh sáng tiếp tục tuôn vào, một giai đoạn khác xuất hiện và những gợi ý khác được trao. Vì vậy, thông qua sự phối hợp hành động và đáp ứng, nhà huyền bí học huấn luyện đạo sinh huyền bí. |
|
In studying the topic, “The use of form in meditation,” the four divisions under which I seek to place the intended data are as follows:— |
Khi nghiên cứu chủ đề “Việc sử dụng hình tướng trong tham thiền”, bốn phần mà Tôi muốn dùng để sắp xếp những nội dung dự định trình bày là như sau:— |
|
1—The use of Form in raising the consciousness. |
1—Việc sử dụng hình tướng để nâng cao tâm thức. |
|
2.—The use of Form by the mystic and the occultist. [141] |
2.—Việc sử dụng hình tướng của nhà thần bí và nhà huyền bí học. [141] |
|
3—The use of specific forms for specific ends. |
3—Việc sử dụng những hình tướng đặc thù cho những mục đích đặc thù. |
|
4—The use of Form collectively. |
4—Việc sử dụng hình tướng một cách tập thể. |
|
In the exposition of these subjects you will see that what I am endeavouring to produce is a just apprehension of the value of forms in meditation and not the imparting of any definite method. I seek to show the essential nature of proceeding under law in this the most important means of bringing about union with the divine, and of producing that at-one-ment between the higher and the lower that is the aim of all evolution. I desire to leave in the minds of those who read these words a just apprehension of the relationship between spirit and matter which is the basis of all work of this nature. |
Trong phần trình bày các chủ đề này, các bạn sẽ thấy điều Tôi cố gắng tạo ra là một nhận thức đúng đắn về giá trị của các hình tướng trong tham thiền, chứ không phải truyền đạt một phương pháp xác định nào. Tôi muốn chỉ ra bản chất thiết yếu của việc tiến hành theo định luật trong phương tiện quan trọng nhất này để đạt sự hợp nhất với điều thiêng liêng, và tạo nên sự nhất thể giữa cái cao và cái thấp, vốn là mục tiêu của mọi tiến hoá. Tôi mong để lại trong trí tuệ của những người đọc các lời này một nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, vốn là nền tảng của mọi công việc thuộc loại này. |
|
The method employed by the Logos in this the second solar system is definitely the use of form for purposes of manifestation, as a medium of expression and as the vehicle whereby the indwelling life may grow, expand, experience and find itself. This is the case whether the form is an entire solar system, whether it is a human being in his complexity, or whether it is a form built by that human being in his endeavour to realise and know,—a form built for the very purpose of providing a vehicle whereby the consciousness may, by set stages, raise itself step by step to some visualised point. This brings us to our first point: |
Phương pháp Thượng đế sử dụng trong hệ mặt trời thứ hai này rõ ràng là sử dụng hình tướng cho mục đích biểu hiện, như một phương tiện biểu đạt và một hiện thể nhờ đó sự sống ngự bên trong có thể tăng trưởng, mở rộng, trải nghiệm và tìm thấy chính mình. Điều này đúng dù hình tướng ấy là cả một hệ mặt trời, một con người với toàn bộ sự phức tạp của y, hay một hình tướng do con người ấy xây dựng trong nỗ lực nhận biết và hiểu biết,—một hình tướng được xây dựng chính nhằm cung cấp một hiện thể để tâm thức, qua những giai đoạn quy định, có thể từng bước nâng mình lên một điểm đã hình dung. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ nhất: |
l—The use of Form in raising the consciousness. – l—Việc sử dụng hình tướng để nâng cao tâm thức.
|
We have under this heading to consider three things: |
Dưới đề mục này, chúng ta phải xem xét ba điều: |
|
a—The Consciousness itself. |
a—Chính tâm thức. |
|
b—The goal towards which it seeks to rise. |
b—Mục tiêu mà tâm thức tìm cách vươn tới. |
|
c—The steps whereby it succeeds. |
c—Những bước nhờ đó tâm thức thành công. |
|
Each unit of the human race is a part of the divine consciousness, and is that which is conscious of, or is [142] aware of something without itself,—something which knows itself to be differentiated from the vehicle which encloses it or the forms which environ it. |
Mỗi đơn vị của nhân loại là một phần của tâm thức thiêng liêng, và là cái có ý thức về, hay [142] nhận biết một điều gì đó bên ngoài mình,—cái biết mình khác biệt với hiện thể bao bọc nó hoặc với những hình tướng vây quanh nó. |
|
At this particular stage in evolution the average man is simply conscious of differentiation, or of being separated off from all other members of the human family, thus forming in himself a unit among other units. He acknowledges this and acknowledges the right of all other separated units so to consider themselves. He adds to this a recognition that somewhere in the universe there exists a supreme Consciousness, Whom he theoretically calls God, or Nature. Between this purely selfish point of view (I use the term “selfish” in the scientific sense and not as a belittling adjective) and the nebulous theory of God immanent there are to be found numerous stages, at each of which occurs an expansion of consciousness, or an enlargement of the point of view, that leads that self-recognising unit, step by step, from self-recognition to the recognition of superior selves, to the fitting of himself to be likewise recognised as a superior self, and eventually to the occult recognition of his own superior Self. He comes to recognise his Higher Self or Ego as his true Self, and from that stage passes on into that of the group consciousness. Here he realises first his egoic group and then other egoic groups. |
Ở giai đoạn đặc thù này trong tiến hoá, người bình thường chỉ có ý thức về sự biến phân, hay về việc mình tách biệt khỏi mọi thành viên khác của gia đình nhân loại, qua đó tự hình thành một đơn vị giữa các đơn vị khác. Y thừa nhận điều này và thừa nhận quyền của mọi đơn vị tách biệt khác được xem mình như thế. Y bổ sung vào đó sự nhận biết rằng ở đâu đó trong vũ trụ có một Tâm Thức tối cao, mà về mặt lý thuyết y gọi là Thượng đế, hoặc Tự Nhiên. Giữa quan điểm thuần tuý vị kỷ này (Tôi dùng từ “vị kỷ” theo nghĩa khoa học chứ không như một tính từ hạ thấp) và lý thuyết mơ hồ về Thượng đế nội tại, có nhiều giai đoạn; ở mỗi giai đoạn diễn ra một sự mở rộng tâm thức, hay mở rộng quan điểm, dẫn đơn vị tự nhận biết ấy từng bước từ nhận biết bản thân đến nhận biết những bản ngã cao hơn, đến tự rèn luyện để cũng được nhận biết là một bản ngã cao hơn, và cuối cùng đến sự nhận biết huyền bí về Bản Ngã cao hơn của chính mình. Y đi đến nhận biết Bản Ngã Cao Siêu hay Chân ngã là Bản Ngã chân thực của mình, và từ giai đoạn ấy tiến vào tâm thức nhóm. Ở đây, trước hết y nhận biết nhóm chân ngã của mình, rồi đến những nhóm chân ngã khác. |
|
This stage is succeeded by the recognition of the universal principle of Brotherhood; it involves not just a theoretical recognition, but a merging of the consciousness into that of the human consciousness, in its entirety; this is really that development of consciousness which enables a man to realise not only his egoic group affiliations but his place in the human Hierarchy on its own plane. He knows himself in fact as a part of one of the great Heavenly Men. This expands later into an almost [143] inconceivably vast point of view—that of his place in the Grand Heavenly Man, as represented by the Logos Himself. |
Tiếp sau giai đoạn này là sự nhận biết nguyên lý phổ quát của Tình Huynh Đệ; điều này không chỉ là sự nhận biết về lý thuyết, mà còn là sự hoà nhập tâm thức vào toàn bộ tâm thức nhân loại; đây thực sự là sự phát triển tâm thức giúp một người không chỉ nhận biết những liên hệ với nhóm chân ngã của mình mà còn nhận biết vị trí của mình trong Huyền Giai nhân loại trên chính cõi của Huyền Giai ấy. Y thực sự biết mình là một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân vĩ đại. Về sau, điều này mở rộng thành một quan điểm bao la gần như [143] không thể quan niệm nổi—quan điểm về vị trí của y trong Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, mà chính Thượng đế là hiện thân. |
|
This is as far as we need go for our purpose, for this series of letters, aims not at the development of cosmic consciousness. |
Vì mục đích của chúng ta, chỉ cần đi xa đến đây, vì loạt thư này không nhằm phát triển tâm thức vũ trụ. |
|
It will therefore be apparent to you that all these stages have to be taken systematically and that each one has to be mastered step by step. It is necessary first to grasp that the place where the expansion takes place, and the realisation has to be felt, has to be finally in the thinking, waking consciousness. The Ego on its own plane may be well aware of the unity of its consciousness with all other consciousnesses, and be realising his group as one with himself, but until the man (in physical plane consciousness) has raised himself to that same plane and is likewise aware of his group consciousness, and likewise regards himself as the higher Self within the egoic group and not as a separated unit, it is of no more use than a recognised theory is of use when not carried out in experience. |
Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng tất cả những giai đoạn này phải được tiến hành có hệ thống, và mỗi giai đoạn phải được làm chủ từng bước. Trước hết, cần nắm bắt rằng nơi diễn ra sự mở rộng và nơi phải cảm nhận sự nhận biết cuối cùng phải ở trong tâm thức tư duy, tỉnh thức. Chân ngã trên chính cõi của nó có thể nhận biết rõ sự hợp nhất giữa tâm thức của mình với mọi tâm thức khác, và nhận biết nhóm của mình là một với mình; nhưng cho đến khi con người (trong tâm thức cõi hồng trần) tự nâng mình lên cùng cõi ấy, cũng nhận biết tâm thức nhóm của mình, và cũng xem mình là Bản Ngã cao hơn trong nhóm chân ngã chứ không phải một đơn vị tách biệt, thì điều ấy chẳng hữu ích hơn một lý thuyết đã được thừa nhận nhưng chưa thực hiện trong trải nghiệm. |
|
The man has to experience these stages in his physical consciousness and to know experimentally and not just theoretically that whereof I speak before he is deemed ready to pass on into the succeeding stages. The whole matter resolves itself into the expansion of the mind until it dominates the lower, and into the faculty of abstract conception which results eventually in physical plane manifestation. It means making your highest theories and ideals demonstrable facts and it is that blending of the higher and the lower and the equipping of that lower until it provides a fitting expression for the higher. It is here that the practice of meditation plays its part. The true scientific meditation provides [144] graded forms whereby the consciousness is raised and the mind expanded until it embraces: |
Con người phải trải nghiệm những giai đoạn này trong tâm thức hồng trần của y và biết qua thực nghiệm, chứ không chỉ trên lý thuyết, những điều Tôi nói đến, trước khi y được xem là sẵn sàng bước sang các giai đoạn kế tiếp. Toàn bộ vấn đề quy về việc mở rộng thể trí cho đến khi nó chế ngự phần thấp, và phát triển năng lực quan niệm trừu tượng, cuối cùng dẫn đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần. Điều đó có nghĩa là biến những lý thuyết và lý tưởng cao nhất của các bạn thành những sự kiện có thể chứng minh; đó là sự hòa hợp phần cao với phần thấp và trang bị cho phần thấp ấy cho đến khi nó biểu đạt phần cao một cách thích đáng. Chính ở đây, việc thực hành tham thiền phát huy vai trò của mình. Tham thiền khoa học đích thực cung cấp [144] những hình thức theo từng cấp độ, nhờ đó tâm thức được nâng lên và thể trí mở rộng cho đến khi bao quát: |
|
l—Its family and friends. |
1—Gia đình và bạn bè của y. |
|
2—Its environing associates. |
2—Những người cộng sự quanh y. |
|
3—Its affiliated groups. |
3—Những nhóm mà y có liên hệ. |
|
4—Its egoic group. |
4—Nhóm chân ngã của y. |
|
5—Other egoic groups. |
5—Các nhóm chân ngã khác. |
|
6—That Man of the Heavens of which the egoic groups form a centre. |
6—Đấng Thiên Nhân mà các nhóm chân ngã hợp thành một trung tâm của Ngài. |
|
7—The Grand Heavenly Man. |
7—Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại. |
|
To effect this certain forms will be laid down later, that (working along the line of a man’s ray) will teach him in graded steps to do this. You will note that I have dealt with the consciousness itself and the goal it aspires to and have thus dealt with our first two points. This brings me to our last subsidiary heading, the steps whereby attainment eventuates. |
Để thực hiện điều này, về sau sẽ có những hình thức nhất định được đề ra, theo đường hướng cung của con người, nhằm dạy y thực hiện từng bước theo cấp độ. Các bạn sẽ nhận thấy rằng Tôi đã bàn đến chính tâm thức và mục tiêu mà nó khát vọng hướng tới, và như vậy đã bàn đến hai điểm đầu tiên của chúng ta. Điều này đưa Tôi đến đề mục phụ cuối cùng: những bước dẫn tới sự thành tựu. |
|
Each man who enters upon occult development and who aspires toward the higher, has passed the stage of the average man,—the man who regards himself from the purely isolated standpoint and who works for what is good for himself. The aspirant is aiming at something different; he seeks to merge himself with his higher Self and with all that is entailed when we use that term. The stages beyond that, in all their intricacies, are the secrets of Initiation and with them we have naught to do. |
Mỗi người bước vào sự phát triển huyền bí và khát vọng hướng tới phần cao đều đã vượt qua giai đoạn của người bình thường—người chỉ nhìn bản thân từ quan điểm hoàn toàn biệt lập và làm việc vì điều tốt cho riêng mình. Người chí nguyện nhắm tới một điều khác; y tìm cách hòa nhập với chân ngã của mình và với tất cả những gì bao hàm trong thuật ngữ ấy. Những giai đoạn vượt xa hơn nữa, với mọi sự phức tạp của chúng, là những bí mật của Điểm Đạo và không thuộc phạm vi chúng ta bàn đến. |
|
Aspiration towards the Ego and the bringing in of that higher consciousness with the subsequent development of group consciousness very directly concern all who will read these letters. It is the next step ahead for those upon the Probationary Path. It is not achieved by simply giving thirty minutes a day to certain set forms of meditation. It involves an hour by hour attempt, [145] all day long and every day, to keep the consciousness as near to the high pitch attained in the morning meditation as possible. It presumes a determination to consider oneself at all times as the Ego, and not as a differential Personality. Later, as the Ego comes more and more into control, it will involve also the ability to look upon oneself as part of a group, with no interests and desires, no aims or wishes apart from the good of that group. It necessitates a constant watchfulness every hour of the day to prevent the falling back into the lower vibration. It entails a constant battle with the lower self that drags down; it is a ceaseless fight to preserve the higher vibration. And—which is the point I am aiming to impress upon you—the aim should be the development of the habit of meditation all the day long, and the living in the higher consciousness till that consciousness is so stable that the lower mind, desire and the physical elementals, become so atrophied and starved through lack of nourishment that the threefold lower nature becomes simply the means whereby the Ego contacts the world for purposes of helping the race. |
Khát vọng hướng tới Chân ngã và việc đưa tâm thức cao ấy vào đời sống, cùng với sự phát triển tâm thức nhóm tiếp theo, liên quan hết sức trực tiếp đến tất cả những ai sẽ đọc các bức thư này. Đó là bước kế tiếp của những người trên Con Đường Dự Bị. Không thể đạt được điều đó chỉ bằng cách dành ba mươi phút mỗi ngày cho một số hình thức tham thiền cố định. Điều đó đòi hỏi một nỗ lực từng giờ, [145] suốt cả ngày và mỗi ngày, để giữ tâm thức gần với mức cao đã đạt được trong buổi tham thiền sáng nhất có thể. Điều đó giả định một quyết tâm luôn xem mình là Chân ngã, chứ không phải một Phàm ngã riêng biệt. Về sau, khi Chân ngã ngày càng nắm quyền kiểm soát, điều đó còn đòi hỏi khả năng xem mình là một phần của nhóm, không có lợi ích và dục vọng, mục tiêu hay mong muốn nào tách khỏi điều tốt của nhóm ấy. Điều đó đòi hỏi sự tỉnh thức thường xuyên trong từng giờ của ngày để ngăn việc rơi trở lại rung động thấp. Điều đó bao hàm một cuộc đấu tranh liên tục với phàm ngã luôn kéo xuống; đó là một cuộc chiến không ngừng để duy trì rung động cao. Và—đây là điểm Tôi muốn khắc sâu vào các bạn—mục tiêu phải là phát triển thói quen tham thiền suốt cả ngày, và sống trong tâm thức cao cho đến khi tâm thức ấy ổn định đến mức hạ trí, dục vọng và các hành khí hồng trần trở nên suy yếu, cạn kiệt vì thiếu nuôi dưỡng, khiến bản chất thấp tam phân chỉ còn là phương tiện để Chân ngã tiếp xúc với thế giới nhằm giúp đỡ nhân loại. |
|
In so doing he is accomplishing something that is little realised by the average student. He is building a form, a definite thoughtform that eventually provides a vehicle whereby he steps out of the lower consciousness into the higher, a kind of mayavirupa that acts as his intermediate channel. These forms are usually, though not invariably, of two kinds:— |
Khi làm như vậy, y đang thực hiện một điều mà đạo sinh bình thường ít nhận ra. Y đang xây dựng một hình tướng, một hình tư tưởng xác định, cuối cùng cung cấp một hiện thể để y bước ra khỏi tâm thức thấp và đi vào tâm thức cao, một dạng thân huyễn hóa vốn đóng vai trò là kênh trung gian của y. Những hình tướng này thường thuộc hai loại, dù không phải lúc nào cũng vậy:— |
|
– The student builds a form daily, with care and love and attention, of his Master, to him the embodiment of the ideal higher consciousness. He lays the outline of this form in meditation and builds in the fabric in his daily life and thought. The form is provided with all the virtues, scintillates with all the colours, and is vivified, [146] first of all, by the love of the man for his Master, and later (when adequate for the purpose) it is vitalised by the Master Himself. At a certain stage in development this form provides the ground for the occult experience of entering into the higher consciousness. The man recognises himself as a part of the Master’s consciousness and through that all embracing consciousness slips into the egoic group soul consciously. This form provides the medium for that experience until such a time as it can be dispensed with, and the man can at will transfer himself into his group, and later consciously dwell there permanently. This method is the one most largely used, and is the path of love and devotion. |
– Hằng ngày, đạo sinh xây dựng một hình tướng của Chân sư mình, với sự chăm chút, tình thương và chú tâm, vì đối với y, Ngài là hiện thân của tâm thức cao lý tưởng. Y phác họa hình tướng này trong tham thiền và bồi đắp chất liệu cho nó trong đời sống và tư tưởng hằng ngày. Hình tướng ấy mang đầy đủ mọi đức hạnh, lấp lánh mọi màu sắc, và được làm cho sống động, [146] trước hết nhờ tình thương của con người đối với Chân sư mình, rồi về sau, khi đã thích hợp cho mục đích ấy, chính Chân sư tiếp sinh lực cho nó. Ở một giai đoạn phát triển nhất định, hình tướng này cung cấp nền tảng cho trải nghiệm huyền bí đi vào tâm thức cao. Con người nhận biết mình là một phần trong tâm thức của Chân sư, và qua tâm thức bao trùm tất cả ấy, y đi vào hồn nhóm chân ngã một cách có ý thức. Hình tướng này cung cấp phương tiện cho trải nghiệm ấy cho đến khi không còn cần đến nó nữa, và con người có thể tùy ý chuyển dịch mình vào nhóm của y, rồi về sau thường xuyên an trú ở đó một cách có ý thức. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi nhất, và là con đường của tình thương và lòng sùng tín. |
|
– In the second method the student pictures himself as the ideal man. He visualises himself as the exponent of all the virtues, and he attempts in his daily life to make himself what he visualises himself to be. This method is employed by the more mental types, the intellectuals, and those whose ray is not so coloured by love, by devotion or by harmony. It is not so common as the first. The mental thoughtform thus built up serves as the mayavirupa as did the other and the man passes from these forms into the higher consciousness. As you therefore see, in building these forms certain steps will have to be taken and each type will build the form somewhat differently. |
– Trong phương pháp thứ hai, đạo sinh hình dung mình là con người lý tưởng. Y hình dung mình là người biểu hiện mọi đức hạnh, và trong đời sống hằng ngày, y cố gắng trở thành con người mà y hình dung. Phương pháp này dành cho những người thiên về trí tuệ hơn, những người trí thức, và những người có cung ít mang sắc thái tình thương, sùng tín hay hài hòa. Nó không phổ biến bằng phương pháp thứ nhất. Hình tư tưởng trí được xây dựng như vậy đóng vai trò là thân huyễn hóa giống như hình tướng kia, và từ những hình tướng này, con người đi vào tâm thức cao. Vì vậy, như các bạn thấy, trong việc xây dựng những hình tướng này, cần thực hiện những bước nhất định, và mỗi loại người sẽ xây dựng hình tướng theo cách hơi khác nhau. |
|
The first type will start with some beloved individual, and from that individual, will rise through the various other individuals to the Master. For instance, some new student might start by thinking of some adored and respected fellow TS member, who brought him in touch with the society, pass from him to AB [Annie Besant] and CWL, from them to the great teacher HPB, and from him to the Master chosen. |
Loại người thứ nhất sẽ bắt đầu với một người yêu quý nào đó, và từ người ấy, sẽ vươn lên qua nhiều người khác để đến với Chân sư. Ví dụ, một đạo sinh mới có thể bắt đầu bằng cách nghĩ đến một hội viên Thông Thiên Học đồng hội nào đó mà y yêu quý, kính trọng, người đã đưa y đến với hội này; từ đó, chuyển từ người ấy đến AB [Annie Besant] và CWL, từ Các Vị ấy đến với vị huấn sư vĩ đại HPB, rồi từ Bà đến với vị Chân sư đã chọn. |
|
The other type will start with meditation on the virtue most desired, add virtue to virtue in the building of the form of the ideal self until all the virtues have been attempted and the Ego is suddenly contacted. [147] |
Loại người kia sẽ bắt đầu bằng việc tham thiền về đức hạnh mà y mong muốn nhất, thêm đức hạnh này vào đức hạnh khác khi xây dựng hình tướng của bản ngã lý tưởng, cho đến khi y đã cố gắng thực hành mọi đức hạnh và đột nhiên tiếp xúc với Chân ngã. [147] |
|
Tomorrow we will take up this same subject from a different angle and study the difference between the occultist and the mystic. |
Ngày mai, chúng ta sẽ tiếp tục chủ đề này từ một góc độ khác và nghiên cứu sự khác biệt giữa nhà huyền bí học và nhà thần bí. |
|
August 8, 1920. |
Ngày 8 tháng 8 năm 1920. |
|
August 8, 1920. 2:45 pm. |
Ngày 8 tháng 8, 1920. 2:45 chiều. |
|
If I might be allowed to suggest to you, brother of mine, you will draw the line of demarcation fairly tight, and endeavour to conform in detail to the hints given. Exceptions are left to your discrimination, as we give no hard or fast rules until such a time as definite preparation for initiation is entered upon. Facility in obedience will come if conformity to suggestions is given now. Make no exceptions except the need is very real. |
Huynh đệ của Tôi, nếu được phép gợi ý, Tôi mong bạn vạch ranh giới khá rõ ràng, và cố gắng tuân thủ các gợi ý đã đưa ra trong từng chi tiết. Những ngoại lệ tùy sự phân biện của bạn quyết định, vì chúng tôi không đưa ra các quy luật cứng nhắc cho đến khi bắt đầu sự chuẩn bị xác định cho điểm đạo. Sự thuần thục trong việc tuân thủ sẽ đến nếu ngay bây giờ bạn tuân thủ các gợi ý ấy. Đừng tạo bất kỳ ngoại lệ nào, trừ khi nhu cầu thực sự rất xác thực. |
|
I seek, before taking up our matter for instruction to give you another extract for the stanzas. Before beginning close your eyes and listen with care to what will be enunciated. |
Tôi muốn, trước khi đi vào nội dung huấn thị của chúng ta, cung cấp cho các bạn một đoạn trích khác từ các bài kệ. Trước khi bắt đầu, hãy nhắm mắt và chăm chú lắng nghe những điều sắp được phát biểu. |
|
— |
— |
|
You have got it somewhat right, brother of mine, and in transcribing greated accuracy will come. Certain words need altering. You have not recorded all the technical terms that exist in the original stanzas. Link up with me in transcribing and we will endeavour to get the Sanskrit expressions that are to be found in the original books. |
Huynh đệ của Tôi, bạn đã nắm được phần nào đúng, và khi chép lại thì độ chính xác sẽ tăng lên. Một số từ cần được sửa đổi. Bạn chưa ghi lại tất cả các thuật ngữ chuyên môn có trong các bài kệ gốc. Hãy kết nối với Tôi khi chép lại, và chúng ta sẽ cố gắng tìm các cách diễn đạt tiếng Phạn có trong các cuốn sách nguyên bản gốc. |
2—Form as used by the occultist and the mystic. – 2—Hình tướng như nhà huyền bí học và nhà thần bí sử dụng.
|
The subject of this letter today will interest you for we are to take up form as used by the occultist and the mystic. |
Chủ đề của bức thư hôm nay sẽ khiến các bạn quan tâm, vì chúng ta sẽ bàn đến hình tướng như nhà huyền bí học và nhà thần bí sử dụng. |
|
It might be of value to us if we first differentiated with care between the two types. I would begin by a statement of fact. The mystic is not necessarily an occultist, but the occultist embraces the mystic. Mysticism is but one step on the path of occultism. In this solar system—the system of love in activity—the path of least resistance for the majority is that of the mystic, or the path of love and devotion. In the next solar system the path of least resistance will be that which we now understand as the occult path. The mystic path will have been trodden. Wherein lies the difference between these two types? The mystic deals with the evolving life; the occultist deals with the form. |
Có lẽ sẽ hữu ích nếu trước hết chúng ta cẩn thận phân biệt hai loại người này. Tôi muốn bắt đầu bằng một lời xác nhận thực tế. Nhà thần bí không nhất thiết là nhà huyền bí học, nhưng nhà huyền bí học bao hàm nhà thần bí. Thần bí học chỉ là một bước trên con đường huyền bí học. Trong hệ mặt trời này—thái dương hệ của tình thương trong hoạt động—con đường ít trở ngại nhất đối với đa số là con đường của nhà thần bí, hay con đường tình thương và sùng tín. Trong hệ mặt trời kế tiếp, con đường ít trở ngại nhất sẽ là con đường mà hiện nay chúng ta hiểu là con đường huyền bí. Con đường thần bí khi ấy đã được đi qua. Sự khác biệt giữa hai loại người này nằm ở đâu? Nhà thần bí đề cập đến sự sống đang tiến hoá; nhà huyền bí học đề cập đến hình tướng. |
|
The mystic deals with the God within; the occultist with God in outer manifestation. |
Nhà thần bí đề cập đến Thượng đế bên trong; nhà huyền bí học đề cập đến Thượng đế trong sự biểu hiện bên ngoài. |
|
The mystic works from the centre to the periphery; the occultist reverses the process. |
Nhà thần bí hoạt động từ trung tâm ra chu vi; nhà huyền bí học đảo ngược tiến trình này. |
|
The mystic mounts by aspiration and intensest devotion to the God within or to the Master Whom he recognises; the occultist attains by the recognition of the law in operation and by the wielding of the law which binds matter and conforms it to the needs of the indwelling life. In this manner the occultist arrives at those Intelligences Who work with the law, till he attains the fundamental Intelligence Himself. [148] |
Nhà thần bí vươn lên nhờ khát vọng và lòng sùng tín mãnh liệt nhất đối với Thượng đế bên trong hoặc đối với Chân sư mà y nhận biết; nhà huyền bí học đạt tới nhờ nhận biết định luật đang vận hành và vận dụng định luật vốn ràng buộc vật chất và điều chỉnh nó cho phù hợp với nhu cầu của sự sống nội tại. Bằng cách này, nhà huyền bí học đến với các Đấng Trí Tuệ hoạt động cùng định luật, cho đến khi y đạt tới chính Đấng Trí Tuệ nền tảng. [148] |
|
The mystic works through the Rays of Love, Harmony and Devotion, or by the path of the second, the fourth and the sixth rays. The occultist works through the Rays of Power, Activity, and Ceremonial Law, or the first, the third and the seventh. Both meet and blend through the development of mind, or through the fifth Ray of Concrete Knowledge (a fragment of cosmic intelligence), and on this fifth ray the mystic is resolved into the occultist and works then with all the rays. |
Nhà thần bí hoạt động qua các Cung Bác Ái, Hài Hoà và Sùng Tín, hay theo con đường của cung hai, cung bốn và cung sáu. Nhà huyền bí học hoạt động qua các Cung Quyền Năng, Hoạt Động và Định Luật Nghi Lễ, hay cung một, cung ba và cung bảy. Cả hai gặp gỡ và hoà nhập qua sự phát triển trí tuệ, hay qua Cung năm của Tri Thức Cụ Thể (một phần của trí tuệ vũ trụ), và trên cung năm này, nhà thần bí chuyển thành nhà huyền bí học, rồi hoạt động với tất cả các cung. |
|
By finding the kingdom of God within himself and by the study of the laws of his own being, the mystic becomes proficient in the laws which govern the universe of which he is a part. The occultist recognises the kingdom of God in nature or the system and regards himself as a small part of that greater whole, and therefore governed by the same laws. |
Nhờ tìm thấy Thiên Giới bên trong mình và nghiên cứu các định luật của chính sự hiện tồn của mình, nhà thần bí trở nên thông thạo các định luật chi phối vũ trụ mà y là một phần trong đó. Nhà huyền bí học nhận biết Thiên Giới trong thiên nhiên hoặc trong hệ thống, và xem mình là một phần nhỏ của toàn thể lớn hơn ấy, do đó cũng chịu sự chi phối của cùng những định luật đó. |
|
The mystic works as a general rule under the department of the World Teacher, or the Christ, and the occultist more frequently under that of the Manu, or Ruler, but when both types have passed through the four minor rays in the department of the Lord of Civilisation, then a completion of their development may be seen, and the mystic becomes the occultist and the occultist includes the characteristics of the mystic. To make it more simple for general comprehension:—after initiation the mystic is merged in the occultist for he has become a student of occult law; he has to work with matter, with its manipulation and uses, and he has to master and control all lower forms of manifestation, and learn the rules whereby the building devas work. Before initiation the mystic path might be expressed by the term, Probationary Path. Before the occultist can manipulate wisely the matter of the solar system he must have mastered the laws that govern the microcosm, and even though he is naturally [149] on the occult path yet he will still have to find the God within his own being before he can safely venture on the path of occult law. |
Theo lệ thường, nhà thần bí hoạt động dưới ban của Đức Chưởng Giáo, hay Đức Christ, còn nhà huyền bí học thường hoạt động dưới ban của Đức Manu, hay Đấng Cai Quản; nhưng khi cả hai loại người đã đi qua bốn cung phụ trong ban của Đức Chúa Tể Văn Minh, thì có thể thấy sự phát triển của họ đã hoàn tất, và nhà thần bí trở thành nhà huyền bí học, còn nhà huyền bí học bao gồm những đặc điểm của nhà thần bí. Để trình bày đơn giản hơn cho dễ hiểu:—sau điểm đạo, nhà thần bí hoà nhập vào nhà huyền bí học, vì y đã trở thành môn sinh của định luật huyền bí; y phải làm việc với vật chất, với việc vận dụng và sử dụng vật chất, và phải làm chủ, kiểm soát mọi hình tướng biểu hiện thấp, đồng thời học các quy luật mà các thiên thần kiến tạo tuân theo khi hoạt động. Trước điểm đạo, con đường thần bí có thể được diễn đạt bằng thuật ngữ Con Đường Dự Bị. Trước khi nhà huyền bí học có thể vận dụng một cách minh triết vật chất của hệ mặt trời, y phải làm chủ các định luật chi phối tiểu thiên địa, và dù về bản chất y vốn [149] ở trên con đường huyền bí, y vẫn phải tìm thấy Thượng đế bên trong chính mình trước khi có thể an toàn dấn bước trên con đường của định luật huyền bí. |
|
The mystic seeks to work from the emotional to the intuitional, and thence to the Monad, or Spirit. The occultist works from the physical to the mental, and thence to the atma or Spirit. One works along the line of love; the other along the line of will. The mystic fails in the purpose of his being—that of love demonstrated in activity—unless he co-ordinates the whole through the use of intelligent will. Therefore he has to become the occultist. |
Nhà thần bí tìm cách hoạt động từ cõi cảm dục đến cõi trực giác, rồi từ đó đến Chân thần, hay Tinh thần. Nhà huyền bí học hoạt động từ cõi hồng trần đến cõi trí, rồi từ đó đến atma hay Tinh thần. Một người hoạt động theo đường tình thương; người kia theo đường ý chí. Nhà thần bí không thực hiện được mục đích hiện tồn của mình—tình thương biểu lộ trong hoạt động—nếu y không phối hợp toàn thể bằng cách sử dụng ý chí thông tuệ. Vì vậy, y phải trở thành nhà huyền bí học. |
|
The occultist similarly fails and becomes only a selfish exponent of power working through intelligence, unless he finds a purpose for that will and knowledge by an animating love which will give to him sufficient motive for all that he attempts. |
Tương tự, nhà huyền bí học cũng thất bại và chỉ trở thành một kẻ ích kỷ biểu dương quyền năng hoạt động qua trí tuệ, nếu y không tìm được mục đích cho ý chí và tri thức ấy nhờ một tình thương tiếp sức sống, mang lại cho y động cơ đầy đủ cho mọi điều y cố gắng thực hiện. |
|
I have attempted to make clear to you the distinction between these two groups, as the importance of the matter is great when studying meditation. The form used by the two types is entirely different and when seen clairvoyantly is very interesting. |
Tôi đã cố gắng làm rõ cho các bạn sự khác biệt giữa hai nhóm này, vì vấn đề ấy có tầm quan trọng lớn khi nghiên cứu tham thiền. Hình tướng mà hai loại người sử dụng hoàn toàn khác nhau và rất thú vị khi quan sát bằng thông nhãn. |
The mystic form. – Hình tướng thần bí.
|
The expression, “the mystic form,” is almost a paradoxical remark, for the mystic—if left to himself—eliminates the form altogether. He concentrates upon the God within, brooding on that inner centre of consciousness; he seeks to link that centre with other centres—such as his Master, or some saint, or even with the supreme Logos Himself—and to mount by the line of life, paying no attention whatsoever to the environing sheaths. He works along the path of fire. “Our God is a consuming fire” [150] is to him a literal statement of fact, and of realised truth. He rises from fire to fire, and from graded realisations of the indwelling Fire till he touches the fire of the universe. The only form that the mystic may be said to use would be a ladder of fire or a cross of fire, by means of which he elevates his consciousness to the desired point. He concentrates on abstractions, on attributes more than on aspects, and on the life side more than the concrete. He aspires, he burns, he harmonises, he loves and he works through devotion. He meditates by attempting to eliminate the concrete mind altogether, and aspires to leap from the plane of the emotions to that of the intuition. |
Cụm từ “hình tướng thần bí” gần như là một lời nói nghịch lý, vì nhà thần bí—nếu tự làm theo cách của mình—sẽ loại bỏ hoàn toàn hình tướng. Y tập trung vào Thượng đế bên trong, suy ngẫm sâu xa về trung tâm tâm thức nội tại ấy; y tìm cách nối kết trung tâm đó với những trung tâm khác—như Chân sư của y, một vị thánh nào đó, hoặc ngay cả chính Thượng đế tối cao—và vươn lên theo đường sự sống, hoàn toàn không chú ý đến những lớp vỏ bao quanh. Y hoạt động theo con đường của lửa. “Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt” [150] đối với y là một lời xác nhận thực tế theo nghĩa đen, và là chân lý đã được chứng nghiệm. Y vươn từ lửa này đến lửa khác, qua những mức độ chứng nghiệm tăng dần về Lửa nội tại, cho đến khi chạm tới lửa của vũ trụ. Hình tướng duy nhất mà có thể nói nhà thần bí sử dụng là một chiếc thang lửa hoặc một thập giá lửa, nhờ đó y nâng tâm thức lên điểm mong muốn. Y tập trung vào những điều trừu tượng, vào các thuộc tính hơn là các phương diện, và vào mặt sự sống hơn là mặt cụ thể. Y khát vọng, y bừng cháy, y tạo hài hoà, y yêu thương và y hoạt động qua lòng sùng tín. Y tham thiền bằng cách cố gắng loại bỏ hoàn toàn trí cụ thể, và khát vọng nhảy từ cõi cảm dục lên cõi trực giác. |
|
He has the faults of his type,—dreamy, visionary, impractical, emotional, and lacking that quality of mind that we call discrimination. He is intuitive, prone to martyrdom and self-sacrifice. Before he can achieve and before he can take initiation he has three things to do:— |
Y có những khuyết điểm đặc trưng của loại người này,—mơ mộng, đắm trong linh ảnh, thiếu thực tế, thiên về cảm xúc, và thiếu phẩm tính trí tuệ mà chúng ta gọi là phân biện. Y có trực giác, thiên về chịu khổ vì đạo và tự hi sinh. Trước khi có thể thành tựu và trước khi có thể tiếp nhận điểm đạo, y có ba việc phải làm:— |
|
– First, by meditation, to bring his whole nature under rule, and to learn to build the forms, and hence to learn their value. |
– Thứ nhất, qua tham thiền, đưa toàn bộ bản chất của mình vào khuôn phép, học cách xây dựng các hình tướng, và nhờ đó học biết giá trị của chúng. |
|
– Secondly, to develop appreciation of the concrete, and to learn clearly the place within the scheme of things of the various sheaths through which the life he so much loves has to manifest. He has to work at his mental body and bring it to the store house of facts before he can proceed much further. |
– Thứ hai, phát triển khả năng trân trọng cái cụ thể, và học biết rõ vị trí trong trật tự vạn vật của các lớp vỏ khác nhau mà sự sống y hết sức yêu thương phải biểu hiện qua đó. Y phải rèn luyện thể trí và đưa nó đến kho dữ kiện trước khi có thể tiến xa hơn nhiều. |
|
– Thirdly, to learn through the intelligent study of the microcosm, his little spirit-matter system, the dual value of the macrocosm. |
– Thứ ba, qua việc nghiên cứu thông tuệ về tiểu thiên địa, hệ thống tinh thần-vật chất nhỏ bé của mình, học biết giá trị kép của đại thiên địa. |
|
Instead of only knowing the fire that burns he has to understand and work through the fire that builds, that fuses and develops form. He has, through meditation, to learn the threefold use of Fire. This last sentence is of very real importance and I seek to emphasise it. [151] |
Thay vì chỉ biết lửa thiêu đốt, y phải thấu hiểu và hoạt động qua lửa kiến tạo, ngọn lửa dung hợp và phát triển hình tướng. Qua tham thiền, y phải học cách sử dụng Lửa theo ba phương diện. Câu cuối này thực sự rất quan trọng và Tôi muốn nhấn mạnh điều đó. [151] |
|
August 10, 1920. |
Ngày 10 tháng 8 năm 1920. |
The occult form. – Hình tướng huyền bí.
|
We studied, two days ago, the method whereby the mystic attains union, and outlined very briefly the path whereby he attempts to reach his goal. Today we will outline as briefly the course taken by the occultist, and his type of meditation, contrasting it with that of the mystic, and pointing out later how the two have to merge and their individual elements be fused into one. |
Hai ngày trước, chúng ta đã nghiên cứu phương pháp mà nhà thần bí dùng để đạt sự hợp nhất, và đã phác thảo rất ngắn gọn con đường mà y cố gắng theo để đạt mục tiêu. Hôm nay, chúng ta sẽ phác thảo cũng ngắn gọn như vậy lộ trình của nhà huyền bí học và loại tham thiền của y, đối chiếu với loại tham thiền của nhà thần bí, rồi sau đó chỉ ra cách hai loại này phải hoà nhập và các yếu tố riêng của chúng phải dung hợp thành một. |
|
The line of form is, for the occultist, the line of least resistance, and incidentally I might here interpolate a thought. The fact being admitted, we may therefore look with some certainty at this time for a rapid development of occult knowledge, and for the appearance of some true occultists. By the coming in of the seventh ray, the Ray of Form or Ritual, the finding of the occult path, and the assimilation of occult knowledge is powerfully facilitated. The occultist is at first occupied more with the form through which the Deity manifests than with the Deity Himself, and it is here that the fundamental difference between the two types is at first apparent. The mystic eliminates or endeavours to transcend mind in his process of finding the Self. The occultist, through his intelligent interest in the forms which veil the Self and by the employment of the principle of mind on both its levels, arrives at the same point. He recognises the sheaths that veil. He applies himself to the study of the laws that govern the manifested solar system. He concentrates on the objective, and in his earlier years may at times overlook the value of the subjective. He arrives eventually at the central life by the elimination, through conscious knowledge and control, of sheath after sheath. He meditates upon form until the form is lost sight of, and the creator of the form becomes all in all. [152] |
Đối với nhà huyền bí học, đường hình tướng là con đường ít trở ngại nhất, và nhân đây Tôi có thể xen vào một ý tưởng. Một khi thừa nhận thực tế ấy, vào lúc này chúng ta có thể trông đợi với phần nào chắc chắn một sự phát triển nhanh chóng của tri thức huyền bí, cùng sự xuất hiện của một số nhà huyền bí học chân chính. Sự xuất hiện của cung bảy, Cung Hình Tướng hay Nghi Lễ, tạo thuận lợi mạnh mẽ cho việc tìm thấy con đường huyền bí và tiếp thu tri thức huyền bí. Ban đầu, nhà huyền bí học quan tâm nhiều đến hình tướng mà Thượng đế biểu hiện qua đó hơn là chính Thượng đế, và chính ở đây sự khác biệt căn bản giữa hai loại người bộc lộ trước tiên. Trong tiến trình tìm kiếm Bản Ngã, nhà thần bí loại bỏ hoặc cố gắng vượt lên trên trí. Nhà huyền bí học đạt tới cùng một điểm nhờ sự quan tâm thông tuệ đến các hình tướng che phủ Bản Ngã và nhờ sử dụng nguyên khí trí trên cả hai cấp độ của nó. Y nhận biết các lớp vỏ che phủ. Y chuyên tâm nghiên cứu các định luật chi phối hệ mặt trời đã biểu hiện. Y tập trung vào mặt khách quan, và trong những năm đầu có thể đôi lúc bỏ qua giá trị của mặt chủ quan. Cuối cùng, y đạt tới sự sống trung tâm bằng cách loại bỏ từng lớp vỏ một nhờ tri thức và sự kiểm soát có ý thức. Y tham thiền về hình tướng cho đến khi không còn thấy hình tướng nữa, và đấng sáng tạo hình tướng trở thành tất cả. [152] |
|
He, like the mystic, has three things to do:— |
Cũng như nhà thần bí, y có ba việc phải làm:— |
|
1—He has to learn the law and to apply that law to himself. Rigid self-discipline is his method, and necessarily so, for the dangers threatening the occultist are not those of the mystic. Pride, selfishness, and a wielding of the law from curiosity or desire for power have to be burnt out of him before the secrets of the Path can safely be entrusted to his care. |
1—Y phải học định luật và áp dụng định luật ấy cho chính mình. Kỷ luật tự thân nghiêm ngặt là phương pháp của y, và tất yếu phải như vậy, vì những nguy hiểm đe doạ nhà huyền bí học không giống những nguy hiểm của nhà thần bí. Lòng kiêu hãnh, tính ích kỷ và việc vận dụng định luật vì tò mò hoặc ham muốn quyền năng phải được thiêu sạch khỏi y trước khi có thể an toàn giao phó cho y gìn giữ những bí mật của Đường Đạo. |
|
2—In meditation he has, through the form built, to concentrate upon the indwelling life. He has to seek the inner burning fire that irradiates all forms that shelter the divine life. |
2—Trong tham thiền, qua hình tướng đã xây dựng, y phải tập trung vào sự sống nội tại. Y phải tìm ngọn lửa cháy bên trong, toả sáng mọi hình tướng chứa đựng sự sống thiêng liêng. |
|
3—Through the scientific study of the macrocosm, “the kingdom of God without,” he has to reach a point where he locates that kingdom likewise within. |
3—Qua việc nghiên cứu đại thiên địa một cách khoa học, “Thiên Giới bên ngoài”, y phải đạt tới điểm mà y cũng nhận ra Thiên Giới ấy ở bên trong. |
|
Here, therefore, is the merging point of the mystic and the occultist. Here their paths become one. I spoke earlier in this letter of the interest to the clairvoyant in noting the difference in the forms built by the mystic and the occultist in meditation. I might touch on some of the differences for your interest, though until such vision is yours my point may be but words to you. |
Vì vậy, đây là điểm hoà nhập của nhà thần bí và nhà huyền bí học. Tại đây, con đường của họ trở thành một. Ở phần trước của bức thư này, Tôi đã nói đến điều thú vị đối với nhà thông nhãn khi nhận thấy sự khác biệt giữa các hình tướng mà nhà thần bí và nhà huyền bí học xây dựng trong tham thiền. Tôi có thể đề cập đến một vài khác biệt để các bạn quan tâm, dù cho đến khi các bạn có được khả năng thấy như vậy, điều Tôi nói có lẽ chỉ là những lời nói đối với các bạn. |
Occult and mystic forms clairvoyantly seen. – Các hình tướng huyền bí và thần bí nhìn bằng thông nhãn.
|
The mystic who is meditating has built before him and around him an outline nebulous, inchoate, and cloudy, and in such a way that he himself forms the centre of the form. Frequently, according to the trend of his mind, the nucleus of the form may be some favourite symbol such as a cross, an altar, or even his pictured idea of one of the Great Ones. This form will be wreathed in the mists of devotion, and will pulsate with floods of colour bespeaking aspiration, love and ardent longing. The colours built in will be of singular purity and clarity [153] and will mount up until they reach a great height. According to the capacity of the man to aspire and to love will be the density and the beauty of the ascending clouds; according to his stability of temperament will be the accuracy of the inner symbol or picture around which the clouds of colour circulate. |
Nhà thần bí đang tham thiền đã xây dựng trước mặt và quanh mình một đường nét mờ ảo, chưa thành hình và như mây, theo cách mà chính y tạo thành trung tâm của hình tướng ấy. Tuỳ theo khuynh hướng trí tuệ của y, hạt nhân của hình tướng thường có thể là một biểu tượng yêu thích, như thập giá, bàn thờ, hoặc ngay cả ý tưởng được y hình dung về một trong Các Đấng Cao Cả. Hình tướng này sẽ được bao quanh bởi những làn sương sùng tín, và rung nhịp với những luồng màu sắc biểu lộ khát vọng, tình thương và niềm khao khát mãnh liệt. Những màu sắc được đưa vào sẽ có độ tinh khiết và trong sáng đặc biệt [153] và sẽ vươn lên cho đến khi đạt tới một độ cao lớn. Mật độ và vẻ đẹp của những đám mây vươn lên ấy tuỳ thuộc vào khả năng khát vọng và yêu thương của con người; độ chính xác của biểu tượng hoặc hình ảnh bên trong, mà những đám mây màu sắc xoay quanh, tuỳ thuộc vào sự ổn định trong khí chất của y. |
|
The forms built by the man of an occult trend of thought, and who is more dominated by mind, will be of a geometrical type. The outlines will be clear, and will be apt to be rigid. The form will be more painstakingly built and the man, during meditation, will proceed with greater care and accuracy. He will (if I may so express it) take a pride in the manipulation of the material that goes to the building of the form. Matter of the mental plane will be more apparent and—though certain clouds of emotional matter may he added to the whole—matter of the emotional plane will be of secondary importance. The colours employed may be of equal clarity, but they are apportioned with specific intent, and the form stands out clearly and is not lost in the upward surge of emotional colours as the mystic form is apt to be. |
Các hình tướng do người có khuynh hướng tư tưởng huyền bí và chịu sự chi phối của thể trí nhiều hơn xây dựng sẽ có dạng hình học. Đường nét sẽ rõ ràng và thường cứng nhắc. Hình tướng sẽ được xây dựng công phu hơn, và trong tham thiền, người ấy sẽ tiến hành cẩn trọng, chính xác hơn. Y sẽ tự hào (nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy) về việc vận dụng chất liệu dùng để xây dựng hình tướng. Vật chất của cõi trí sẽ hiện rõ hơn và—dù có thể thêm vào toàn thể một số đám mây vật chất cảm dục—vật chất của cõi cảm dục sẽ có tầm quan trọng thứ yếu. Các màu sắc được sử dụng có thể có độ trong sáng tương đương, nhưng chúng được phân bố với chủ đích cụ thể, và hình tướng nổi bật rõ ràng, không chìm mất trong làn sóng màu sắc cảm xúc dâng lên như hình tướng thần bí thường có. |
|
Later, when the man in either case has reached a point of more rounded out development, and is both an occultist and a mystic, the forms built will combine both qualifications, and be things of rare beauty. |
Về sau, khi con người trong cả hai trường hợp đã đạt tới một mức phát triển toàn diện hơn, và vừa là nhà huyền bí học vừa là nhà thần bí, các hình tướng được xây dựng sẽ kết hợp cả hai đặc tính và mang vẻ đẹp hiếm có. |
|
This will suffice for today, but I would like to outline for you the ideas that must be brought out later. We will deal with the use of forms in achieving specific results, and though it is not my intention to give or outline such forms, I wish to group them for you so that later when the Teacher moves among men He may find ready apprehension among students everywhere. |
Như vậy là đủ cho hôm nay, nhưng Tôi muốn phác thảo cho các bạn những ý tưởng cần được trình bày về sau. Chúng ta sẽ bàn đến việc sử dụng các hình tướng để đạt những kết quả cụ thể, và dù Tôi không có ý định đưa ra hoặc phác thảo những hình tướng ấy, Tôi muốn phân nhóm chúng cho các bạn, để về sau, khi Đức Chưởng Giáo hiện diện giữa nhân loại, Ngài có thể thấy các môn sinh khắp nơi đã sẵn sàng thấu hiểu. |
|
1—Forms used in work on the three bodies. |
1—Các hình tướng dùng trong công việc tác động lên ba thể của phàm ngã. |
|
2—Forms on certain rays. [154] |
2—Các hình tướng trên một số cung. [154] |
|
3—Forms used in healing. |
3—Các hình tướng dùng trong trị liệu. |
|
4—Mantrams. |
4—Các mantram. |
|
5—Forms used in one of the three Departments:— |
5—Các hình tướng dùng trong một trong ba Ban:— |
|
a—The Manu’s Department. |
a—Ban của Đức Manu. |
|
b—The Department of the World Teacher or the Christ. |
b—Ban của Đức Chưởng Giáo hay Đức Christ. |
|
c—The Department of the Lord of Civilisation. |
c—Ban của Đức Chúa Tể Văn Minh. |
|
6—Forms for calling elementals. |
6—Các hình tướng dùng để triệu gọi hành khí. |
|
7—Forms for contacting the devas. |
7—Các hình tướng dùng để tiếp xúc với các thiên thần. |
|
8—Special forms connected with Fire. |
8—Các hình tướng đặc biệt liên quan đến Lửa. |
|
August 11, 1920. |
Ngày 11 tháng 8 năm 1920. |
|
August 11th, 1920. 4:30 am. |
Ngày 11 tháng 8, 1920. 4:30 sáng. |
|
On occasion, brother of mine, I test out your capacity to respond unexpectedly to the sound of my voice, and I am glad this morning that your ear was not deaf, but that you heard and awoke to take my dictation. Your health this coming month will be better than since your return from Chicago, and it is hoped that the book on hand may make very real progress. |
Huynh đệ của Tôi, đôi khi Tôi thử khả năng đáp ứng bất ngờ của bạn với âm thanh giọng nói của Tôi, và sáng nay Tôi vui mừng vì tai bạn không điếc, mà đã nghe thấy và tỉnh dậy để ghi lại lời Tôi đọc. Trong tháng tới, sức khỏe của bạn sẽ tốt hơn so với từ khi bạn trở về từ Chicago, và Tôi hy vọng rằng cuốn sách đang soạn có thể tiến triển rõ rệt. |
|
…Periods of physical weakness are of value only for the reason that they demonstrate the absolute necessity there is for the worker to build a strong body before he can accomplish much, and the importance of good health before the disciple can go forward on the Path. We cannot permit those we teach to do certain things, nor inform them along certain lines unless their physical vehicles are in good shape, and unless the handicap of ill health and disease is practically negligible, and the karma of accidental trouble almost completely obviated in the personal life. National or group karma occasionally involves a pupil, and upsets somewhat the plans, but this is unavoidable and can seldom be offset. |
…Những thời kỳ suy nhược thể xác chỉ có giá trị vì chúng cho thấy người hoạt động tuyệt đối cần xây dựng một thân thể cường tráng trước khi có thể thành tựu nhiều điều, và tầm quan trọng của sức khỏe tốt trước khi đệ tử có thể tiến bước trên Đường Đạo. Chúng tôi không thể cho phép những người mình dạy làm một số việc, cũng không thể truyền đạt cho họ kiến thức theo một số phương hướng trừ khi các hiện thể hồng trần của họ ở trong tình trạng tốt, và trở ngại do sức khỏe kém cùng bệnh tật hầu như không đáng kể, và nghiệp quả của những rắc rối bất ngờ trong đời sống cá nhân gần như hoàn toàn được loại trừ. Nghiệp quả quốc gia hoặc nhóm đôi khi liên lụy đến một môn sinh và phần nào làm đảo lộn các kế hoạch, nhưng điều này không thể tránh khỏi và hiếm khi có thể hóa giải. |
The use of specific forms for specific ends. – Việc sử dụng những hình thức cụ thể cho những mục đích cụ thể.
|
Until now we have dealt more with the personal aspects of meditation, and have considered the two types that are practically universal and fundamental, having studied briefly, (a) Meditation as followed by the mystic, and (b) Meditation as pursued by the occultist. |
Cho đến nay, chúng ta đã bàn nhiều hơn về các phương diện cá nhân của tham thiền, và đã xem xét hai loại hình hầu như phổ quát và căn bản, qua việc nghiên cứu sơ lược: (a) Tham thiền theo cách của nhà thần bí, và (b) Tham thiền theo cách của nhà huyền bí học. |
|
We have largely generalised and have not in any way attempted to enter into particulars. It is neither desirable [155] at this stage nor proper. At a certain point in meditation, nevertheless, when the pupil has made the desired progress and covered certain specific stages and attained certain objectives (which attainment can be ascertained by a review of the pupil’s causal body) and when a foundation of right living has been laid which neither storms nor attack will be liable easily to upset or destroy, the Teacher may impart to the earnest pupil instructions whereby he can build in mental matter and under definite rules, forms that will lead to specific actions and reactions. These forms will be imparted gradually, and at times the pupil (this especially at first) may not be in the least conscious of the results achieved. He will obey the orders, say the imparted words, or work through the outlined formulas, and the results attained may do their work even though the pupil is unconscious of the fact. Later—especially after initiation, as the subtler faculties come into activity, and the centres are rotating in fourth dimensional order—he may be aware of the effects of his meditation on the emotional and mental planes. |
Phần lớn chúng ta đã trình bày khái quát và chưa hề cố gắng đi vào chi tiết. Ở giai đoạn này, điều đó không đáng mong muốn [155] cũng không thích hợp. Tuy nhiên, đến một thời điểm nhất định trong tham thiền, khi môn sinh đã đạt bước tiến mong muốn, đi qua một số giai đoạn cụ thể và đạt một số mục tiêu (mà có thể xác định sự thành tựu ấy bằng cách xem xét thể nguyên nhân của môn sinh), và khi đã đặt được nền tảng sống đúng đắn mà cả giông bão lẫn sự công kích đều không dễ làm lung lay hay phá hủy, huấn sư có thể truyền cho môn sinh thành tâm những chỉ dẫn nhờ đó y có thể dùng vật chất trí và theo những quy luật xác định để xây dựng các hình tướng dẫn đến những tác động và phản ứng cụ thể. Những hình tướng này sẽ được truyền dạy dần dần, và đôi khi môn sinh (đặc biệt lúc đầu) có thể hoàn toàn không có ý thức về những kết quả đã đạt được. Y sẽ tuân theo mệnh lệnh, đọc những lời được truyền dạy, hoặc thực hành theo các công thức đã phác thảo; những kết quả đạt được có thể phát huy tác dụng dù môn sinh không biết điều đó. Về sau—đặc biệt sau điểm đạo, khi những năng lực tinh tế hơn bắt đầu hoạt động và các trung tâm xoay theo trật tự bốn chiều—y có thể nhận biết những tác động của việc tham thiền của mình trên các cõi cảm dục và trí. |
|
Results never concern us. Strict obedience to the law, and steady adherence to the rules laid down, with skill in action aimed at are the part of the wise pupil. The effects then are sure, and carry no karma with them. |
Chúng ta không bao giờ bận tâm đến kết quả. Tuân thủ nghiêm ngặt định luật, kiên trì giữ đúng những quy luật đã đặt ra, đồng thời hướng đến sự khéo léo trong hành động, là bổn phận của môn sinh sáng suốt. Khi ấy, những hiệu quả là chắc chắn và không mang theo nghiệp quả. |
|
…Let us take up each of the forms in order, but first I would give a warning. I do not intend to outline forms, or to give specific instructions as to how the results indicated may be achieved. That will be done later, but when, it is not possible to say. So much depends upon the work done during the next seven years, or on the group karma, also on the progress made, not only by the human hierarchy, but by the deva or angel evolution as well. The secret of it all lies hid in the seventh Ceremonial Ray, and the hour for the next step onward will [156] be given by the seventh Planetary Logos, working in conjunction with three Great Lords, especially with the Lord of the third department. |
…Chúng ta hãy lần lượt xem xét từng hình thức, nhưng trước tiên Tôi muốn đưa ra một lời cảnh báo. Tôi không định phác thảo các hình thức hay đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về cách đạt được các kết quả đã nêu. Việc đó sẽ được thực hiện sau này, nhưng không thể nói vào lúc nào. Rất nhiều điều tùy thuộc vào công việc thực hiện trong bảy năm tới, vào nghiệp quả nhóm, cũng như vào bước tiến không chỉ của Huyền Giai nhân loại mà còn của sự tiến hoá thiên thần. Bí mật của tất cả điều này ẩn trong cung Nghi Lễ thứ bảy, và thời điểm cho bước tiến tiếp theo sẽ [156] do Đức Hành Tinh Thượng Đế thứ bảy ấn định, khi Ngài phối hợp hoạt động với ba Chúa Tể Vĩ Đại, đặc biệt là Chúa Tể của ban thứ ba. |
a. Forms used in work on the three bodies. – a. Những hình thức dùng trong công việc trên ba thể của phàm ngã.
|
These forms will be some of the first revealed, and already in the various meditations advocated by the wise Guides of the race you have some of the lesser foundation outlines designed for working on the lower mind. These forms will be based on the special need of any one body, and will seek through the manipulation of matter to build that which is needed to fill the gap, and thus to supply the deficiency. This manipulation will be begun first on the etheric matter of the physical body, by forms of breathing (respiration and inspiration), and by certain rhythmic currents set up on the mental plane and driving from thence to the lower ethers. The etheric body will thus be strengthened, purified, cleansed, and rearranged. Many of the diseases of the dense physical body originate in the etheric, and it will be an object of attention at as early a date as possible. |
Những hình thức này sẽ nằm trong số những hình thức đầu tiên được mặc khải, và ngay trong những phương pháp tham thiền khác nhau mà các Đấng Hướng Đạo sáng suốt của nhân loại khuyến nghị, các bạn đã có một số phác thảo nền tảng đơn giản hơn, được thiết kế để tác động lên Hạ trí. Những hình thức này sẽ dựa trên nhu cầu riêng biệt của từng hiện thể, và thông qua việc vận dụng vật chất sẽ tìm cách xây dựng những gì cần thiết để lấp chỗ trống, qua đó bù đắp phần thiếu hụt. Việc vận dụng này trước tiên sẽ bắt đầu trên vật chất dĩ thái của thể xác, bằng những hình thức thở (thở ra và hít vào), và bằng một số dòng lưu chuyển nhịp nhàng được thiết lập trên cõi trí rồi từ đó hướng xuống các lớp dĩ thái thấp hơn. Như vậy, thể dĩ thái sẽ được củng cố, thanh lọc, tẩy sạch và sắp xếp lại. Nhiều bệnh của thể xác đậm đặc bắt nguồn từ thể dĩ thái, và thể này sẽ được chú trọng sớm nhất có thể. |
|
The emotional body likewise will be dealt with through special forms, and when the pupil has strenuously cultivated the quality of discrimination, and made it a working factor in his life, then these forms will be gradually imparted. But until he can distinguish somewhat between the real and the unreal, and until his sense of proportion is wisely adjusted, the emotional plane should be for him a battle ground, and not a field for experimentation. Let me illustrate the type of work that these forms which work on emotional matter will accomplish. The aim of the pupil who treads the Path is to build an emotional body that is composed of matter of the higher subplanes, is clear and sensitive, an accurate transmitter, and which [157] is characterised by a stable vibration, a steady rhythmic motion, and is not prone to violent storms and the agitating effects of uncontrolled emotion. When the idealism is high, when the percentage of matter of the two higher subplanes is approaching somewhat the desired figure, and when the pupil recognises practically all the time that he is not his vehicles, but is indeed the divine Dweller within them, then certain things will be imparted to him, which—when carefully followed out—will do two things: |
Thể cảm dục cũng sẽ được xử lý bằng những hình thức đặc biệt, và khi môn sinh đã nỗ lực trau dồi phẩm tính phân biện, biến nó thành một yếu tố thực sự vận hành trong đời sống của y, những hình thức này sẽ dần được truyền dạy. Nhưng cho đến khi y có thể phần nào phân biệt giữa cái thực và cái không thực, và cho đến khi ý thức về tỉ lệ của y được điều chỉnh một cách sáng suốt, cõi cảm dục đối với y phải là một chiến trường, chứ không phải một lĩnh vực để thử nghiệm. Để Tôi minh họa loại công việc mà những hình thức tác động lên vật chất cảm dục này sẽ thực hiện. Mục tiêu của môn sinh bước trên Đường Đạo là xây dựng một thể cảm dục gồm vật chất của các cõi phụ cao hơn, trong sáng và nhạy cảm, truyền dẫn chính xác, và [157] có đặc trưng là rung động ổn định, chuyển động nhịp nhàng đều đặn, không dễ chịu những cơn giông bão dữ dội cùng những tác động gây xáo động của cảm xúc không được kiểm soát. Khi lý tưởng đã cao, khi tỷ lệ vật chất của hai cõi phụ cao hơn đã phần nào gần đến mức mong muốn, và khi hầu như lúc nào môn sinh cũng nhận biết rằng y không phải là các hiện thể của mình, mà thực sự là Đấng thiêng liêng ngự bên trong chúng, thì một số điều sẽ được truyền dạy cho y; khi được thực hành cẩn thận, chúng sẽ làm hai việc: |
|
– They will act directly on his emotional body, driving out foreign or lower matter, and stabilising his vibration. |
– Chúng sẽ tác động trực tiếp lên thể cảm dục của y, đẩy ra vật chất ngoại lai hoặc thấp hơn, và ổn định rung động của y. |
|
– They will build in emotional matter a body or form that he can use for certain work, and can employ as his agent to attain results that will be part of the purificatory and constructive work of the emotional body. This is as much as can be said, but it will serve to show the type of form aimed at. |
– Chúng sẽ xây dựng bằng vật chất cảm dục một hiện thể hoặc hình tướng mà y có thể sử dụng cho một số công việc, và dùng làm tác nhân để đạt những kết quả thuộc công việc thanh lọc và kiến tạo thể cảm dục. Đây là tất cả những gì có thể nói, nhưng cũng đủ để cho thấy loại hình tướng được hướng tới. |
|
Again I would point out the wisdom of the heads of the inner school, for in their work these past years they have laid the foundation of much that is to be imparted later, and the rudiments of the forms that work on the lower 3 bodies have already been given; such, for instance, as the building in of the virtues, and the clear thinking along the lines of the abstract qualities that should be the result of meditation on the virtues. This can be later expanded into forms at need, the nucleus being already in the consciousness of the student. |
Một lần nữa, Tôi muốn chỉ ra minh triết của những người đứng đầu trường nội môn, vì trong công việc của Các Ngài suốt những năm qua, Các Ngài đã đặt nền tảng cho nhiều điều sẽ được truyền dạy về sau, và đã truyền dạy những điều căn bản về các hình tướng tác động lên 3 thể thấp; chẳng hạn như việc vun bồi các đức hạnh, và việc suy nghĩ rõ ràng theo hướng các phẩm tính trừu tượng vốn phải là kết quả của việc tham thiền về các đức hạnh. Về sau, khi cần thiết, điều này có thể mở rộng thành các hình tướng, vì hạt nhân đã có sẵn trong tâm thức của đạo sinh. |
b. Ray forms. – b. Các hình tướng cung.
|
This is a profoundly interesting and vast subject, and may only be indicated in general terms. Certain forms, built up on the numerical aspect of the various rays, are the special property of those rays and embody their geometrical significance, demonstrating their place in the system. Some of these forms being on the concrete rays or building rays are the line of least resistance for the occultist, while other forms on the abstract or attributive rays are more easily followed by the mystic. |
Đây là một chủ đề vô cùng thú vị và rộng lớn, chỉ có thể đề cập bằng những nét khái quát. Một số hình tướng, được xây dựng dựa trên phương diện số học của các cung khác nhau, là sở hữu đặc biệt của những cung ấy và thể hiện thâm nghĩa hình học của chúng, cho thấy vị trí của chúng trong hệ thống. Một số hình tướng này thuộc các cung cụ thể hay các cung kiến tạo, là con đường ít trở ngại nhất đối với nhà huyền bí học, trong khi những hình tướng khác thuộc các cung trừu tượng hay các cung thuộc tính lại dễ thực hành hơn đối với nhà thần bí. |
|
These forms are for three objects:— |
Các hình tướng này nhằm ba mục đích:— |
|
a. They put the pupil in direct contact with his own ray, either the egoic or personality ray. |
a. Chúng đưa môn sinh tiếp xúc trực tiếp với cung của chính y, dù là cung chân ngã hay cung phàm ngã. |
|
b. They link him up with his group on the inner planes, either the group of servers, the group of invisible helpers, or later with his egoic group. [158] |
b. Chúng nối kết y với nhóm của y trên các cõi bên trong, dù là nhóm những người phụng sự, nhóm những người trợ giúp vô hình, hay về sau là nhóm chân ngã của y. [158] |
|
c. They tend to merge the occult and the mystic paths in the life of the pupil. Should he be on the mystic path he will work at the forms upon the Rays of Aspect, and so develop knowledge of the concrete side of Nature—that side which works under law. You can reverse the case for the man of occult tendency, till the time comes when the paths merge and all forms are alike to the Initiate. You have to remember that at this point of merging a man works ever primarily on his own ray when he has transcended the personality and found the egoic note. Then he manipulates matter of his own ray, and works through his own ray-forms with their six representative sub-ray forms until he is adept, and knows the secret of synthesis. These forms are taught by the Teacher to the pupil. |
c. Chúng có xu hướng hợp nhất con đường huyền bí và con đường thần bí trong đời sống của môn sinh. Nếu y đi trên con đường thần bí, y sẽ thực hành các hình tướng thuộc Các Cung Trạng Thái, và nhờ đó phát triển tri thức về mặt cụ thể của Thiên Nhiên—mặt hoạt động theo định luật. Các bạn có thể đảo ngược trường hợp này đối với người có khuynh hướng huyền bí, cho đến khi hai con đường hợp nhất và mọi hình tướng đều như nhau đối với điểm đạo đồ. Các bạn phải nhớ rằng tại điểm hợp nhất này, một người luôn hoạt động chủ yếu trên cung của chính y, khi y đã vượt lên trên phàm ngã và tìm được âm điệu chân ngã. Bấy giờ, y vận dụng vật chất thuộc cung của chính y, và hoạt động thông qua các hình tướng cung của mình cùng sáu hình tướng cung phụ đại diện của chúng, cho đến khi y trở thành chân sư và biết bí mật của sự tổng hợp. Huấn sư dạy những hình tướng này cho môn sinh. |
|
You will find that though I have imparted but little on this subject, yet, if you brood over what I have given, it contains much. It may give those who wisely assimilate it the key they seek for their next step on. I may touch on this and somewhat enlarge when we take up the subject of access to the Masters through meditation. |
Các bạn sẽ thấy rằng tuy Tôi chỉ truyền đạt rất ít về chủ đề này, nhưng nếu các bạn suy ngẫm kỹ những gì Tôi đã đưa ra, thì trong đó chứa đựng rất nhiều điều. Nó có thể trao cho những ai biết tiếp thu một cách sáng suốt chiếc chìa khóa mà họ tìm kiếm cho bước tiến tiếp theo. Tôi có thể đề cập và mở rộng thêm đôi chút về điều này khi chúng ta bàn đến chủ đề tiếp cận các Chân sư thông qua tham thiền. |
c. Forms used in healing. – c. Các hình tướng dùng trong trị liệu.
|
We must touch now on these forms, remembering first of all that they will be necessarily arranged in three groups, each with many subsidiary heads. |
Giờ đây, chúng ta phải đề cập đến những hình tướng này, trước hết nhớ rằng chúng nhất thiết sẽ được sắp xếp thành ba nhóm, mỗi nhóm có nhiều mục nhỏ. |
|
a. Forms for use in physical healing. You would be surprised how seldom these forms will be required, and how few in number therefore they are. The reason for this is that very few of the troubles of the dense physical body arise within that body itself. A few arise directly in the etheric body, but at this stage of evolution most of the troubles arise in the emotional body, and the remainder in the mental. We might generalise and say that: [159] |
a. Các hình tướng dùng trong trị liệu thể xác. Các bạn sẽ ngạc nhiên khi biết những hình tướng này hiếm khi cần đến thế nào, và vì vậy số lượng của chúng ít đến mức nào. Lý do là rất ít những rối loạn của thể xác đậm đặc phát sinh ngay trong thể xác ấy. Một số ít phát sinh trực tiếp trong thể dĩ thái, nhưng ở giai đoạn tiến hoá này, phần lớn các rối loạn phát sinh trong thể cảm dục, và phần còn lại trong thể trí. Chúng ta có thể khái quát mà nói rằng: [159] |
|
– 25% of the ills flesh is heir to, arise in the etheric body. |
– 25% những bệnh tật mà thân xác phải chịu phát sinh trong thể dĩ thái. |
|
– 25% in the mental body. |
– 25% trong thể trí. |
|
– 50% find their origin in the emotional body. |
– 50% có nguồn gốc trong thể cảm dục. |
|
Therefore, though accidents may occur which lead to unexpected physical disaster and for which forms for healing may be given, yet the wise student will find that the forms that affect the etheric body may be the first point of departure. These forms, built up in meditation, will act directly on the pranic channels that go to the makeup of the etheric—that intricate web which has its counterpart in the circulatory system of the dense physical body. They are the seat of much of the present disease in that body, either directly or through causes set up on the emotional plane and reacting on the etheric. |
Vì vậy, tuy có thể xảy ra những tai nạn dẫn đến tổn hại bất ngờ cho thể xác, và có thể truyền dạy các hình tướng trị liệu cho những trường hợp ấy, nhưng đạo sinh sáng suốt sẽ thấy rằng các hình tướng tác động lên thể dĩ thái có thể là điểm khởi đầu trước tiên. Những hình tướng này, được xây dựng trong tham thiền, sẽ tác động trực tiếp lên các kênh prana cấu thành thể dĩ thái—mạng lưới phức tạp ấy có đối phần trong hệ tuần hoàn của thể xác đậm đặc. Những kênh này là nơi phát sinh nhiều bệnh tật hiện nay trong thể xác ấy, hoặc trực tiếp, hoặc qua những nguyên nhân hình thành trên cõi cảm dục rồi tác động trở lại thể dĩ thái. |
|
b. Forms for healing the emotional body. As said above, much of the present sickness is due to causes set up in the emotional body and these causes are mainly three. I would point out that I but outline broadly and give general indications. |
b. Các hình tướng dùng để trị liệu thể cảm dục. Như đã nói ở trên, nhiều bệnh tật hiện nay là do những nguyên nhân hình thành trong thể cảm dục, và những nguyên nhân này chủ yếu có ba loại. Tôi muốn chỉ rõ rằng Tôi chỉ phác thảo những nét lớn và đưa ra những chỉ dẫn tổng quát. |
|
Violent emotion and unstable vibration. This, if indulged in, has a shattering effect and reacts on the nervous system. If suppressed and inhibited it has an equally dangerous effect, and results in a diseased condition of the liver, in bilious attacks, in the poisons which are generated in the system and find their outlet in certain cases of septic poisoning, in skin diseases, and in some forms of anemia. |
Cảm xúc dữ dội và rung động bất ổn. Nếu buông mình theo trạng thái này, nó sẽ gây tác động tàn phá và ảnh hưởng đến hệ thần kinh. Nếu bị dồn nén và kìm hãm, nó cũng gây tác động nguy hiểm không kém, dẫn đến tình trạng bệnh lý ở gan, những cơn rối loạn mật, sự hình thành các độc tố trong cơ thể rồi biểu hiện thành một số trường hợp nhiễm độc do nhiễm trùng, các bệnh ngoài da và một số dạng thiếu máu. |
|
Fear and forebodings[1], worry and despair. These types of emotion—which are so common—have a general debilitating effect on the system, leading to loss of vitality, to sluggish action of the organs, and to many forms of obscure diseases of the nervous system, of the brain and of the spine. [160] |
Sợ hãi và những dự cảm bất lành[2], lo âu và tuyệt vọng. Những loại cảm xúc rất phổ biến này gây suy nhược toàn bộ cơ thể, dẫn đến mất sinh lực, hoạt động trì trệ của các cơ quan, và nhiều dạng bệnh khó xác định của hệ thần kinh, bộ não và cột sống. [160] |
|
Sex emotions, covering a very large range of feeling, ranging from the suppressed sex emotion which is now beginning to be studied by our psychologists to the unclean criminal emotion that finds its expression in violent orgies[3] and license[4]. |
Cảm xúc tình dục, bao gồm một phạm vi cảm giác rất rộng, từ cảm xúc tình dục bị dồn nén mà các nhà tâm lý học của chúng ta hiện đang bắt đầu nghiên cứu, đến cảm xúc tội lỗi ô uế biểu hiện trong những cuộc truy hoan cuồng loạn[5] và sự phóng túng[6]. |
|
Under all these heads many points may be gathered, but I write not letters on healing, but letters on meditation, so I must not further enlarge. Should you cover the ground desired and finish the work mapped out, in future years I may to you impart certain data on healing that may be of wide usefulness. |
Dưới tất cả các mục này có thể tập hợp nhiều điểm, nhưng Tôi không viết thư về trị liệu mà viết thư về tham thiền, nên Tôi không được mở rộng thêm. Nếu các bạn bao quát được phạm vi mong muốn và hoàn thành công việc đã vạch ra, thì trong những năm tới Tôi có thể truyền đạt cho các bạn một số dữ liệu về trị liệu có thể hữu ích rộng rãi. |
|
In the forms used in these three cases attention will be paid to the cause of the trouble, to the plane on which it originates, and to the effects on the lower bodies or body. In apportioning forms different aims will be in view. Where, for instance, the trouble is based on suppressed emotion, the effect of the form (when rightly followed) will be to transmute the emotion and turn it upward. When, by right use, the emotional body is cleared of the emotional congestion, the life-giving forces of the Ego, and of the pranic life everywhere available, will be set free. They can then circulate with facility, tuning up the entire system and cleansing all organs that were suffering from the inner congestion. |
Trong các hình tướng dùng cho ba trường hợp này, cần chú ý đến nguyên nhân của rối loạn, cõi mà nó phát sinh, và những tác động lên một hay nhiều thể thấp. Khi chỉ định các hình tướng, cần hướng đến những mục tiêu khác nhau. Chẳng hạn, khi rối loạn bắt nguồn từ cảm xúc bị dồn nén, tác dụng của hình tướng ấy, nếu thực hành đúng, sẽ là chuyển hoá cảm xúc và hướng nó lên trên. Khi việc sử dụng đúng đắn giải phóng thể cảm dục khỏi sự ứ đọng cảm xúc, các mãnh lực ban sự sống của Chân ngã và của sự sống prana vốn sẵn có khắp nơi sẽ được giải phóng. Bấy giờ, chúng có thể lưu thông dễ dàng, điều hoà toàn bộ cơ thể và thanh lọc mọi cơ quan đang chịu sự ứ đọng bên trong. |
|
c. Forms for mental healing. These will be, for the majority of you, much more obscure, and in fact mental trouble is far more difficult to cure than either of the other two. This is due to two causes, one being that our polarisation as a race is not yet in the mental body. It is always much more easy to contact a body and to manipulate it when it is the seat of the centre of consciousness. The emotional body likewise, being more fluidic, is more easily impressed. I cannot enlarge upon the troubles of the mental body today save to point out that these causes may arise within the mental body itself as a karmic inheritance, or may originate on the emotional plane and work their way back into the mental body. For instance, [161] a person may be prone to some emotional storm. This—if persisted in—may set up an analogous vibration in the mental body. This vibration in its turn may become practically permanent, and by the interaction of these two bodies serious trouble may be set up. This trouble may go all the way from simply causing a general souring of the Personality, so that the man is recognized as an unhappy, unpleasant individual, to definite brain disease, resulting in lunacy, brain tumours and cancer in the head. |
c. Các hình tướng dùng trong trị liệu thể trí. Đối với phần lớn các bạn, những hình tướng này sẽ khó hiểu hơn nhiều, và thực tế, rối loạn thể trí khó chữa hơn rất nhiều so với hai loại kia. Điều này do hai nguyên nhân, một là nhân loại chúng ta chưa phân cực trong thể trí. Việc tiếp xúc với một hiện thể nhất định và vận dụng thể ấy luôn dễ dàng hơn nhiều khi đó là nơi đặt trung tâm tâm thức. Tương tự, thể cảm dục linh động hơn nên dễ chịu tác động hơn. Hôm nay, Tôi không thể mở rộng về những rối loạn của thể trí, ngoài việc chỉ ra rằng các nguyên nhân này có thể phát sinh ngay trong thể trí như một di sản nghiệp quả, hoặc có thể bắt nguồn trên cõi cảm dục rồi tác động ngược vào thể trí. Chẳng hạn, [161] một người có thể dễ rơi vào những cơn bão cảm xúc. Nếu cứ tiếp diễn, điều này có thể tạo ra một rung động tương tự trong thể trí. Đến lượt nó, rung động này có thể trở nên gần như thường trực, và sự tương tác giữa hai thể này có thể gây ra rối loạn nghiêm trọng. Rối loạn ấy có thể trải từ việc chỉ khiến Phàm ngã trở nên cáu kỉnh nói chung, đến mức người ta xem y là một cá nhân bất hạnh, khó chịu, cho đến bệnh lý rõ rệt ở bộ não, dẫn đến loạn trí, u não và ung thư ở đầu. |
|
For all these troubles forms of meditation may be found which—if followed in time—will eventually dissipate them. The fundamental fact to be grasped here is that only when the pupil has an intelligent appreciation of the trouble or troubles affecting him, only when he has the ability to conscientiously follow the imparted formulas, and only when his object is unselfish, will he be trusted with these forms. When his object is to equip himself for service, when he aims only at the acquirement of healthy vehicles for the better carrying out of the plan of the Great Ones, and when he desires not to escape disease for his own personal benefit, only then will the formulas work in connection with the egoic consciousness. The downflow of life from the God within results in sound vehicles, so that it is only as the Personality becomes merged in the Ego, and the polarisation shifts from the lower to the higher that the work becomes possible. That time is nearing now for many, and progress in the new medical school—based on thought—can be looked for. Forms in meditation are but forms in thought matter, so that it will be apparent to you that a general beginning has been made. |
Đối với tất cả những rối loạn này, có thể tìm được các hình tướng tham thiền mà nếu thực hành kịp thời, cuối cùng sẽ làm tiêu tan chúng. Sự thật căn bản cần nắm bắt ở đây là chỉ khi môn sinh nhận định sáng suốt về một hay nhiều rối loạn đang ảnh hưởng đến y, chỉ khi y có khả năng thực hành tận tâm những công thức đã truyền dạy, và chỉ khi mục đích của y là vô vị kỷ, thì y mới được tin cậy trao cho những hình tướng này. Khi mục đích của y là trang bị cho mình để phụng sự, khi y chỉ nhằm đạt được những hiện thể khoẻ mạnh để thực hiện tốt hơn Thiên Cơ của Các Đấng Cao Cả, và khi y không mong thoát khỏi bệnh tật vì lợi ích cá nhân của chính mình, chỉ bấy giờ các công thức mới hoạt động trong sự nối kết với tâm thức chân ngã. Dòng sự sống tuôn xuống từ Thượng đế bên trong tạo nên những hiện thể khoẻ mạnh, vì vậy chỉ khi Phàm ngã hoà nhập vào Chân ngã, và sự phân cực chuyển từ thấp lên cao, thì công việc này mới có thể thực hiện. Hiện nay, thời điểm ấy đang đến gần đối với nhiều người, và có thể trông đợi sự tiến bộ trong trường phái y học mới dựa trên tư tưởng. Các hình tướng trong tham thiền chỉ là những hình tướng trong vật chất tư tưởng, nên các bạn sẽ thấy rõ rằng bước khởi đầu tổng quát đã được thực hiện. |
|
One more hint on this matter I give:—Through the various centres of the body—those seven centres with [162] which the pupil has to do—will come the power to heal the corresponding physical centre. As the centres are vitalised certain physical effects will be demonstrable, and in specific forms that work on and through the centres will come results that may throw light on this obscure matter of healing through the subtle bodies. |
Tôi đưa thêm một gợi ý nữa về vấn đề này:—Thông qua các trung tâm khác nhau của thân thể—bảy trung tâm [162] mà môn sinh phải làm việc với—sẽ xuất hiện quyền năng chữa lành trung tâm hồng trần tương ứng. Khi các trung tâm được tiếp sinh lực, một số tác động hồng trần sẽ biểu hiện rõ, và những hình tướng cụ thể hoạt động lên và thông qua các trung tâm sẽ đem lại những kết quả có thể làm sáng tỏ vấn đề khó hiểu này về việc trị liệu thông qua các thể vi tế. |
|
August 20, 1920. |
Ngày 20 tháng 8 năm 1920. |
d. Mantric forms. – d. Các hình thức mantram.
|
We must today continue the discussion on the forms that will some day be in common use among the students of occult meditation. We have touched upon three of the forms, and five more remain to be dealt with. |
Hôm nay, chúng ta phải tiếp tục bàn về các hình thức mà một ngày kia các đạo sinh tham thiền huyền môn sẽ sử dụng phổ biến. Chúng ta đã đề cập đến ba hình thức, và còn năm hình thức nữa cần bàn đến. |
What is mantric form? – Hình thức mantram là gì?
|
Mantric forms are collections of phrases, words, and sounds which by virtue of rhythmic effect achieve results that would not be possible apart from them. These mantric forms are too numerous to study here; suffice it to indicate somewhat the types of mantrams there will be in use, or are now in use among those privileged to use them. |
Các hình thức mantram là những tập hợp gồm các cụm từ, từ ngữ và âm thanh, nhờ tác động của nhịp điệu mà đạt được những kết quả không thể có nếu thiếu chúng. Các hình thức mantram này quá nhiều để có thể nghiên cứu ở đây; chỉ cần nêu sơ lược những loại mantram sẽ được sử dụng, hoặc hiện đang được những người có đặc quyền sử dụng chúng dùng đến. |
|
There are mantric forms based entirely on the Sacred Word. These, sounded rhythmically and on certain keys, accomplish certain results, such as the invoking of protective angels; they lead to certain effects, either objective or subjective. These forms or mantrams are much more in use among orientals and in the eastern faiths than at present among occidentals. As the power of sound is more completely understood and its effect studied, these mantrams will be adopted in the occident. |
Có những hình thức mantram hoàn toàn dựa trên Linh từ Thiêng Liêng. Khi được xướng theo nhịp điệu và ở những giọng nhất định, chúng đạt được những kết quả nhất định, chẳng hạn như khẩn cầu các thiên thần bảo hộ; chúng dẫn đến những tác động nhất định, hoặc khách quan hoặc chủ quan. Người phương Đông và các tín ngưỡng phương Đông sử dụng những hình thức hay mantram này nhiều hơn hẳn người phương Tây hiện nay. Khi quyền năng của âm thanh được thấu hiểu đầy đủ hơn và tác động của nó được nghiên cứu, phương Tây sẽ tiếp nhận những mantram này. |
|
Some of them are very old and when enunciated in the original Sanskrit have unbelievably powerful effects. So powerful are they that they are not permitted to be [163] known by the ordinary student and are only orally imparted during preparation for initiation. |
Một số mantram rất cổ xưa và khi được phát âm bằng tiếng Phạn nguyên thủy, chúng có những tác động mạnh mẽ đến mức khó tin. Chúng mạnh mẽ đến mức không được phép cho [163] đạo sinh thông thường biết đến, và chỉ được khẩu truyền trong thời gian chuẩn bị điểm đạo. |
|
There are a few very esoteric mantrams that exist in the original Sensa, and that have remained in the knowledge of the Brotherhood from the early days of the founding of the Hierarchy. They were brought by the Lords of Flame when They came to earth and are only thirty-five in number. They form the key that unlocks the mysteries of each subplane on the five planes of human evolution. The adept receives instruction on their use, and can employ them in the right place and subject to certain conditions. They are the most powerful known on our planet and their effects are far-reaching. As you know, each plane vibration responds to a different key and note, and its matter is manipulated, and its current tapped, by the sounding of certain words in a specific manner, and in a specific tone. When so sounded, the adept enters into the consciousness of that plane and of all contained therein. Mantrams in any tongue are founded on them, even though so far removed and unlike as to be practically useless. |
Có một vài mantram rất bí truyền tồn tại bằng tiếng Sensa nguyên thủy, và Huynh đệ Đoàn vẫn lưu giữ tri thức về chúng từ những ngày đầu thành lập Thánh đoàn. Các Chúa Tể của Ngọn Lửa đã mang chúng đến khi Các Ngài đến Trái Đất và chúng chỉ có ba mươi lăm mantram. Chúng tạo thành chìa khóa mở ra những bí nhiệm của mỗi cõi phụ trên năm cõi tiến hoá của nhân loại. Chân sư được chỉ dạy cách sử dụng chúng, và có thể dùng chúng ở đúng nơi, theo những điều kiện nhất định. Chúng là những mantram mạnh mẽ nhất được biết đến trên hành tinh chúng ta, và tác động của chúng rất sâu rộng. Như các bạn biết, rung động của mỗi cõi đáp ứng với một giọng và âm điệu khác nhau, và vật chất của cõi ấy được điều khiển, dòng năng lượng của nó được khai thông, bằng việc xướng những từ ngữ nhất định theo một cách thức cụ thể, và với một âm sắc cụ thể. Khi xướng như vậy, Chân sư đi vào tâm thức của cõi ấy và của tất cả những gì chứa trong đó. Các mantram trong bất kỳ ngôn ngữ nào đều dựa trên chúng, dù đã xa rời và khác biệt đến mức hầu như vô dụng. |
|
Certain of these original mantrams are chanted in unison by the Brotherhood on great occasions, or when the united power of the Lodge is required to effect desired ends. Great events are inaugurated by the sounding of their key note with appropriate words employed; each root-race has its mantric chord known to those who work with races. |
Một số mantram nguyên thủy này được Huynh đệ Đoàn đồng thanh xướng tụng vào những dịp trọng đại, hoặc khi cần đến quyền năng hợp nhất của Thánh đoàn để đạt những mục đích mong muốn. Những sự kiện trọng đại được khởi đầu bằng việc xướng chủ âm của chúng cùng những từ ngữ thích hợp; mỗi giống dân gốc có hợp âm mantram riêng mà những vị làm việc với các giống dân đều biết. |
|
Again there are, as you know, certain mantrams in Sanskrit that are employed by students in meditation to call the attention of some one Master. These mantrams are communicated to Their disciples, and by their means the Master’s attention is attracted, and His assistance called for. [164] |
Ngoài ra, như các bạn biết, có những mantram bằng tiếng Phạn mà các đạo sinh sử dụng trong tham thiền để thu hút sự chú ý của một Chân sư nào đó. Các Ngài truyền những mantram này cho các đệ tử của mình; nhờ chúng, đệ tử thu hút sự chú ý của Chân sư và cầu xin Ngài trợ giúp. [164] |
|
Other and greater formulas are sometimes imparted by which the three Great Lords may be contacted, and Their attention drawn in any specific direction. |
Đôi khi, những công thức khác cao cả hơn cũng được truyền dạy, nhờ đó có thể tiếp xúc với ba Chúa Tể Vĩ Đại và hướng sự chú ý của Các Ngài vào bất kỳ hướng cụ thể nào. |
|
A mantram, when rightly sounded forth, creates a vacuum in matter, resembling a funnel. This funnel is formed betwixt the one who sounds it forth and the one who is reached by the sound. There is then formed a direct channel of communication. You will see therefore why it is that these forms are so carefully guarded and the words and keys concealed. Their indiscriminate use would but result in disaster. A certain point in evolution has to be reached, and a similarity of vibration somewhat achieved, before the privilege is afforded the pupil of being custodian of a mantram whereby he may call his Master. |
Một mantram, khi được xướng đúng cách, tạo ra một khoảng chân không trong vật chất, có hình dạng giống cái phễu. Phễu này hình thành giữa người xướng và vị mà âm thanh ấy chạm đến. Khi đó, một kênh giao tiếp trực tiếp hình thành. Vì vậy, các bạn sẽ thấy vì sao những hình thức này được gìn giữ cẩn mật đến thế, còn các từ ngữ và giọng thì được giữ kín. Việc sử dụng chúng bừa bãi chỉ dẫn đến tai họa. Phải đạt đến một điểm tiến hoá nhất định, và đạt được phần nào sự tương đồng về rung động, trước khi môn sinh được trao đặc quyền gìn giữ một mantram để nhờ đó y có thể thỉnh gọi Chân sư của mình. |
|
There are also seven mantrams that are known to the three Great Lords and the Heads of the Hierarchy, whereby They can call the seven Planetary Logoi, or the seven “Spirits before the Throne” as They are called in the Christian Bible. One of these mantrams, which causes contact with the Logos of our planet, is known to the adepts as well. So the scale is mounted, and the Words are sounded forth, until we reach the mantram of our planet, which is based on the key of the Earth, and embodies a phrase which sums up our evolution. Each planet has some such note or phrase whereby its guides may contact their Planetary Logos. The seven Logoi in Their turn have Their available ritual or form whereby They can communicate with the threefold Lord of the Solar System. This is done always four times a year, or when urgent need arises. |
Cũng có bảy mantram mà ba Chúa Tể Vĩ Đại và các vị đứng đầu Thánh đoàn biết đến; nhờ chúng, Các Ngài có thể thỉnh gọi bảy Hành Tinh Thượng Đế, hay bảy “Thánh Linh trước Thánh Ngai”, như cách gọi Các Ngài trong Kinh Thánh của Kitô giáo. Các Chân sư cũng biết một trong những mantram này, mantram tạo sự tiếp xúc với Thượng đế của hành tinh chúng ta. Như vậy, thang âm được nâng dần lên, và các Linh từ được xướng lên, cho đến khi chúng ta đạt tới mantram của hành tinh mình, vốn dựa trên giọng của Trái Đất và chứa một cụm từ tóm lược sự tiến hoá của chúng ta. Mỗi hành tinh đều có một âm điệu hay cụm từ như thế, nhờ đó các vị hướng dẫn hành tinh có thể tiếp xúc với Hành Tinh Thượng Đế của mình. Đến lượt mình, bảy Thượng đế có nghi thức hay hình thức sẵn dùng để Các Ngài có thể giao tiếp với Chúa Tể tam phân của hệ mặt trời. Việc này luôn được thực hiện bốn lần mỗi năm, hoặc khi có nhu cầu cấp bách. |
|
Once a year the entire Hierarchy employs a composite mantram that creates a vacuum between the highest and the lowest members of that Hierarchy and on up—via the seven Planetary Logoi—to the Logos Himself. It marks [165] the moment of intensest spiritual effort and vitalisation during the year, and its effects last throughout the intervening months. Its effect is cosmic, and links us up with our cosmic centre. |
Mỗi năm một lần, toàn thể Thánh đoàn sử dụng một mantram tổng hợp tạo ra một khoảng chân không giữa những thành viên cao nhất và thấp nhất của Thánh đoàn ấy, rồi tiếp tục lên cao—qua bảy Hành Tinh Thượng Đế—đến chính Thượng đế. Điều này đánh dấu [165] thời điểm nỗ lực tinh thần và sự tiếp sinh lực mãnh liệt nhất trong năm, và tác động của nó kéo dài suốt những tháng giữa hai lần ấy. Tác động của nó mang tính vũ trụ và nối kết chúng ta với trung tâm vũ trụ của mình. |
Ray mantrams. – Các mantram của cung.
|
Each ray has its own formulas and sounds which have a vital effect upon the units gathered on those rays. The effect of sounding it by the student of meditation is threefold: |
Mỗi cung có những công thức và âm thanh riêng, tạo tác động tiếp sinh lực lên các đơn vị tập hợp trên những cung ấy. Việc đạo sinh tham thiền xướng chúng có tác động tam phân: |
|
1. It links him and aligns him with his Higher self or Ego. |
1. Nó nối kết và chỉnh hợp y với Bản Ngã Cao Siêu hay Chân ngã của y. |
|
2. It puts him in contact with his Master, and through that Master with one of the great Lords,—dependent upon the ray. |
2. Nó đưa y vào sự tiếp xúc với Chân sư của mình, và qua Chân sư ấy, với một trong các Chúa Tể vĩ đại,—tùy thuộc vào cung. |
|
3. It links him with his egoic group and binds all into one composite whole, vibrating to one note. |
3. Nó nối kết y với nhóm chân ngã của mình và gắn kết tất cả thành một toàn thể tổng hợp, rung động theo cùng một âm điệu. |
|
These mantrams are one of the secrets of the last three initiations and may not be sounded by the pupil before that time without permission, though he may participate at times in the chanting of the mantram under the Master’s direction. |
Những mantram này là một trong những bí mật của ba lần điểm đạo cuối cùng, và trước thời điểm ấy, môn sinh không được xướng chúng nếu chưa được phép, dù đôi khi y có thể tham gia xướng tụng mantram dưới sự chỉ dẫn của Chân sư. |
|
Mantrams, or formulas of words, sung by the pupil, which have direct effect on one of the three bodies. These mantrams are largely already in use—though in a much distorted degree – in the services of the religious bodies in all lands. Some light on them is being communicated and will be more so in the ritual of the Church……… in the LCC [Liberal Catholic Church], and CWL is already laying a foundation for fuller knowledge. The passwords as used in Masonry – though practically valueless now – are based on the use of mantrams and some day when there is an Initiate Head to all these organizations (such as Masonry, various esoteric societies, and religious bodies) the old mantrams will be given back in pure form to the peoples. |
Các mantram, hay các công thức bằng từ ngữ, do môn sinh xướng tụng, có tác động trực tiếp lên một trong ba thể của phàm ngã. Những mantram này phần lớn đã được sử dụng—dù đã bị sai lệch rất nhiều về mức độ – trong các nghi lễ của các đoàn thể tôn giáo ở mọi quốc gia. Một phần hiểu biết về chúng đang được truyền đạt và sẽ còn nhiều hơn nữa trong nghi thức của Giáo hội……… trong LCC [Giáo hội Công giáo Tự do], và CWL đã bắt đầu đặt nền móng cho sự hiểu biết đầy đủ hơn. Các mật khẩu được sử dụng trong Hội Tam Điểm – dù hiện nay hầu như vô giá trị – đều dựa trên việc sử dụng các mantram và một ngày nào đó, khi có một điểm đạo đồ đứng đầu tất cả các tổ chức này (chẳng hạn Hội Tam Điểm, các hội bí truyền khác nhau, và các đoàn thể tôn giáo) thì các mantram cổ xưa sẽ được trả lại cho các dân tộc dưới hình thức thuần khiết. |
|
[166] |
[166] |
|
There are also mantrams for use in healing, and for the development of certain psychic faculties. Some mantrams have a direct effect on the centres of the body, and will later be used under the guidance of the Master for increasing vibration, for causing fourth dimensional movement, and for the complete vivification of the centre. |
Cũng có những mantram dùng trong trị liệu và để phát triển một số năng lực thông linh. Một số mantram có tác động trực tiếp lên các trung tâm của thân thể, và về sau sẽ được sử dụng dưới sự hướng dẫn của Chân sư để gia tăng rung động, để tạo ra chuyển động trong chiều thứ tư, và để tiếp sinh lực hoàn toàn cho trung tâm ấy. |
|
Still other mantrams act upon the hidden fire, but I will deal with them a little later. There are numerous oriental books on the subject, which is so vast a one that I caution the student from investigating much. It would but prove for the worker in the world a waste of time. I have touched upon the matter because no book on meditation would be complete without a reference to what will some day supersede all preliminary meditation. When the race has reached a certain point of development, and when the higher mind holds greater sway, these occult mantrams—rightly imparted and rightly enunciated—will be part of the ordinary curriculum of the student. He will start his meditation by the use of his ray mantram, thereby adjusting his position in the scheme; he will follow this with the mantram that calls his Master, and which puts him en rapport with the Hierarchy. Then he will begin to meditate with his bodies adjusted, and with the vacuum formed that may then be used as a medium of communication. |
Còn có những mantram khác tác động lên lửa ẩn tàng, nhưng Tôi sẽ bàn đến chúng sau một chút. Có nhiều sách phương Đông viết về chủ đề này; chủ đề ấy rộng lớn đến mức Tôi khuyên đạo sinh không nên khảo cứu quá sâu. Đối với người hoạt động trong thế gian, việc ấy chỉ là lãng phí thời gian. Tôi đã đề cập đến vấn đề này vì không một cuốn sách nào về tham thiền có thể trọn vẹn nếu không đề cập đến điều một ngày kia sẽ thay thế mọi hình thức tham thiền sơ bộ. Khi nhân loại đã đạt đến một mức phát triển nhất định, và khi thượng trí có ảnh hưởng lớn hơn, những mantram huyền bí này—được truyền dạy đúng đắn và phát âm chính xác—sẽ là một phần trong chương trình học thông thường của đạo sinh. Y sẽ bắt đầu tham thiền bằng cách sử dụng mantram thuộc cung của mình, qua đó điều chỉnh vị trí của mình trong trật tự tổng thể; tiếp đó, y sẽ dùng mantram kêu gọi Chân sư của mình và đưa y vào sự giao cảm với Thánh đoàn. Rồi y sẽ bắt đầu tham thiền khi các thể của y đã được điều chỉnh và một khoảng trống đã hình thành, để khi ấy có thể dùng làm phương tiện giao tiếp. |
|
August 13th, 1920 |
Ngày 13 tháng 8 năm 1920 |
e. Forms used in one of the three departments. – e. Các hình thức được dùng trong một trong ba ban.
|
The interest of what I have to communicate today is very great, for we have to take up the matter of the forms used in the Departments of the Manu, the World Teacher and the Mahachohan, the Lord of Civilisation. |
Những điều Tôi sẽ truyền đạt hôm nay rất đáng quan tâm, vì chúng ta phải bàn đến các hình thức được dùng trong các Ban của Đức Manu, Đức Chưởng Giáo và Đức Mahachohan, Chúa Tể của Nền Văn Minh. |
|
These three Departments represent in the Hierarchy the three aspects of the Logos as manifested in the solar [167] system,—the Aspect of Will or Power, the Aspect of Love and Wisdom (which is the basic aspect for this system), and the Aspect of Activity or Intelligence. You know from your studies the work undertaken by these departments. |
Trong Thánh đoàn, ba Ban này đại diện cho ba phương diện của Thượng đế biểu hiện trong hệ [167] mặt trời,—Phương diện Ý Chí hay Quyền Năng, Phương diện Bác Ái và Minh Triết (vốn là phương diện nền tảng của thái dương hệ này), và Phương diện Hoạt Động hay Trí Thông Minh. Qua việc nghiên cứu, các bạn đã biết công việc mà các ban này đảm nhiệm. |
|
The Manu manipulates matter and is occupied with the evolution of form, whether it is the dense physical form of animal, mineral, flower, human being or planet, or the form of races, nations, devas or the other evolutions. |
Đức Manu vận dụng vật chất và phụ trách sự tiến hoá của hình tướng, dù đó là hình tướng hồng trần đậm đặc của động vật, khoáng vật, hoa, con người hay hành tinh, hoặc hình tướng của các giống dân, quốc gia, thiên thần hay các dòng tiến hoá khác. |
|
The Bodhisattva or World Teacher works with the evolving life within the form, with the implanting of religious ideas and with the development of philosophical concepts both in individuals and races. |
Đức Bồ Tát hay Đức Chưởng Giáo hoạt động với sự sống đang tiến hoá bên trong hình tướng, với việc gieo trồng các ý tưởng tôn giáo và phát triển các khái niệm triết học ở cả cá nhân lẫn các giống dân. |
|
The Mahachohan, who synthesises the four lower rays, deals with mind or intelligence, and, in collaboration with His Brothers, controls the evolution of mind whereby the Spirit or Self utilises the form or the Not-Self. |
Đức Mahachohan, Đấng tổng hợp bốn cung thấp, phụ trách trí tuệ hay trí thông minh, và cùng với các Huynh Đệ của Ngài, điều hành sự tiến hoá của trí tuệ, nhờ đó Tinh Thần hay Bản Ngã sử dụng hình tướng hay Phi Ngã. |
|
The synthetic work of the three Great Lords is inconceivably great. Form-Life-Intelligence, Matter-Spirit-Mind, Prakriti-Purusha-Manas, are the three lines of development, and in their synthesis comes completeness. |
Công việc tổng hợp của ba Chúa Tể Vĩ Đại lớn lao đến mức không thể quan niệm được. Hình Tướng–Sự Sống–Trí Thông Minh, Vật Chất–Tinh Thần–Trí Tuệ, Prakriti–Purusha–Manas, là ba đường phát triển, và sự trọn vẹn xuất hiện trong sự tổng hợp của chúng. |
|
Each of these three lines works through formulas, or through set forms, which by graded steps put the man who employs the form in touch with the particular line of evolution represented by the Head of that line. |
Mỗi đường trong ba đường này hoạt động thông qua các công thức, hay các hình thức cố định; qua từng bước phân cấp, những hình thức ấy đưa người sử dụng chúng tiếp xúc với dòng tiến hoá riêng biệt mà Đấng đứng đầu dòng ấy đại diện. |
|
(Yes, brother of mine, make another diagram here that will illustrate clearly the lines followed. The Master Who worketh with the Master R- on the 7th Ray is not yet to be indicated. He preferreth to keep His Name unknown. You must remember in publishing this diagram to point out that it is an outline of the Hierarchy at the moment of transcribing, and e’en then only giveth the outstanding Figures as regards human evolution. |
(Huynh đệ của Tôi, đúng vậy, hãy vẽ thêm một sơ đồ ở đây để minh hoạ rõ ràng các đường mà người ta đi theo. Chân sư làm việc với Chân sư R. trên cung bảy hiện chưa nên được nêu ra. Ngài muốn giữ kín danh tính của mình. Khi công bố sơ đồ này, bạn phải nhớ nêu rõ rằng đây là bản phác hoạ Thánh đoàn vào thời điểm ghi chép, và ngay cả khi ấy cũng chỉ nêu những Đấng nổi bật trong sự tiến hoá của nhân loại. |
|
A similar diagram from the standpoint of the deva evolution would carry different names and be somewhat differently arranged. All is subject to constant change and alteration, for Masters pass on to different work, or hand over parts of Their arduous tasks to qualified initiates or disciples.) |
Một sơ đồ tương tự từ góc nhìn của sự tiến hoá thiên thần sẽ mang những tên khác và có cách sắp xếp hơi khác. Tất cả đều không ngừng thay đổi và điều chỉnh, vì các Chân sư chuyển sang công việc khác, hoặc giao lại những phần trong các nhiệm vụ gian nan của Các Ngài cho những điểm đạo đồ hay đệ tử đủ năng lực.) |
|
…………….What I seek to bring out here are the three clear lines whereby a man may mount to the Logos and find union with the self of the Solar System. He can mount by the line of the Manu, he can attain through the line of the Bodhisattva, or he can reach his goal via the path of the Mahachohan. But specially note, that on this planet the Lord of Love and Power, the first Kumara, is the focal point for all three departments. He [168] is the One Initiator, and whether a man works on the line of power, or on the line of love, or on the line of intelligence, he must finally find his goal on the synthetic Ray of Love and Wisdom. He must be love, and manifest it forth, but it may be love working through power. It may be love in harmony, or love working through knowledge, through ceremonial or devotion, or it may be just pure love and wisdom, blending all the others. Love was the source, love is the goal, and love the method of attainment. |
…………….Điều Tôi muốn làm sáng tỏ ở đây là ba đường rõ rệt mà nhờ đó con người có thể vươn lên đến Thượng đế và hợp nhất với bản ngã của Hệ Mặt Trời. Y có thể vươn lên theo đường của Đức Manu, có thể đạt tới qua đường của Đức Bồ Tát, hoặc có thể đến đích theo con đường của Đức Mahachohan. Nhưng hãy đặc biệt lưu ý rằng trên hành tinh này, Chúa Tể của Bác Ái và Quyền Năng, vị Kumara thứ nhất, là tiêu điểm của cả ba ban. Ngài [168] là Đấng Điểm đạo Duy Nhất, và dù con người hoạt động theo đường quyền năng, đường bác ái hay đường trí thông minh, cuối cùng y phải tìm thấy mục tiêu của mình trên Cung tổng hợp của Bác Ái và Minh Triết. Y phải là bác ái và biểu hiện bác ái ra bên ngoài, nhưng đó có thể là bác ái hoạt động thông qua quyền năng. Đó có thể là bác ái trong sự hài hoà, hay bác ái hoạt động thông qua tri thức, nghi lễ hoặc lòng sùng tín, hoặc có thể chỉ là bác ái và minh triết thuần khiết, hoà nhập tất cả những phương thức kia. Bác ái là nguồn cội, bác ái là mục tiêu, và bác ái là phương pháp thành tựu. |
|
August 14th, 1920. |
Ngày 14 tháng 8 năm 1920. |
The three lines of approach. – Ba đường tiếp cận.
|
As you will note (in continuation of that which we studied yesterday) there are three direct lines of contact between the higher and the lower, all finding their focal point through the same Initiator, and all, at the same time, quite distinct in their method of approach. If this is borne in mind it will be apparent that each provides for the man (whose egoic note is one of the three, or a department of the third) the line of least resistance and the path whereby he may most easily approach the Ultimate. It is fundamentally a matter dealing with various states of consciousness, and here it is that the Great Ones so powerfully assist the student. Through meditation, adjusted to the desired line, the student can control step by step the various intermediate states that lie between him and his goal. He rises by means of various focal points of force. These focal points may be his Higher Self, they may be his Master, they may be an ideal……. (which ideal is but the form taken by the man’s own manasic permanent atom, whose life he senseth as an abstraction an reacheth upward to embrace via the causal vehicle) But they are only steps upon the ladder whereby expansions of consciousness are obtained, and the man is enabled to extend the periphery of his consciousness until he gradually embraces all, and merges at last with the Monad, and later [169] with the All-Self, the Logos Himself. |
Như các bạn sẽ nhận thấy (tiếp nối những gì chúng ta đã nghiên cứu hôm qua), có ba đường tiếp xúc trực tiếp giữa cái cao và cái thấp, tất cả đều quy tụ về tiêu điểm thông qua cùng một Đấng Điểm đạo, đồng thời tất cả đều hoàn toàn khác biệt về phương pháp tiếp cận. Nếu ghi nhớ điều này, các bạn sẽ thấy rõ rằng mỗi đường cung cấp cho con người (có âm điệu chân ngã thuộc một trong ba đường, hoặc một phân ban của đường thứ ba) con đường ít trở ngại nhất và lối đi mà nhờ đó y có thể dễ dàng nhất tiếp cận Đấng Tối Hậu. Về căn bản, đây là vấn đề liên quan đến những trạng thái tâm thức khác nhau, và chính ở đây Các Đấng Cao Cả trợ giúp đạo sinh một cách mạnh mẽ. Qua việc tham thiền được điều chỉnh phù hợp với đường mong muốn, đạo sinh có thể từng bước kiểm soát những trạng thái trung gian khác nhau nằm giữa y và mục tiêu của y. Y vươn lên nhờ những tiêu điểm mãnh lực khác nhau. Những tiêu điểm này có thể là chân ngã của y, có thể là Chân sư của y, có thể là một lý tưởng……. (lý tưởng ấy chỉ là hình tướng mà nguyên tử trường tồn manas của chính y khoác lấy; y cảm nhận sự sống của nguyên tử ấy như một điều trừu tượng và vươn lên để ôm trọn sự sống ấy thông qua hiện thể nguyên nhân) Nhưng chúng chỉ là những bậc trên chiếc thang giúp y đạt được những sự mở rộng tâm thức, và nhờ đó con người có thể mở rộng chu vi tâm thức của mình cho đến khi dần dần bao trùm tất cả, cuối cùng hợp nhất với Chân Thần, và về sau [169] với Bản Ngã Toàn Thể, chính Thượng đế. |
|
For the sake of clarity and in order to satisfy the craving of the concrete mind for differentiation these three departments are pictured as distinct and separated the one from the other, though having their points of contact. In reality—apart from the illusion that mind always sets up—the three are one, and the seven are but blended parts of one synthetic whole. They all interface and intermingle. All the three departments are but necessary parts of one organisation over which the Lord of the World rules. They are but the executives offices in which the business of our planet is handled, and each office is dependent upon the other offices, and all work in the closest collaboration. The man who finds himself on one line has to remember that in time and before perfection is achieved he must realise the synthesis of the whole. He must grasp it as a fact past all questioning and not just as a mental concept, and in his meditation there will eventually come a point when this realisation of the essential unity will be his and he will know himself as a fragment of a vaster whole. |
Để làm rõ và đáp ứng nhu cầu biến phân của trí cụ thể, ba ban này được mô tả như những ban riêng biệt, tách rời nhau, dù vẫn có những điểm tiếp xúc. Trên thực tế—ngoài ảo tưởng mà hạ trí luôn dựng lên—ba ban là một, và bảy ban chỉ là những phần hòa quyện của một tổng thể tổng hợp. Tất cả đều giao tiếp và hòa lẫn với nhau. Cả ba ban chỉ là những bộ phận cần thiết của một tổ chức do Đức Chúa Tể Thế Giới cai quản. Đó chỉ là những cơ quan điều hành xử lý công việc của hành tinh chúng ta; mỗi cơ quan đều phụ thuộc vào các cơ quan khác, và tất cả đều cộng tác hết sức chặt chẽ. Người nhận thấy mình thuộc một đường hướng phải nhớ rằng, theo thời gian và trước khi đạt đến sự hoàn thiện, y phải chứng nghiệm sự tổng hợp của toàn thể. Y phải nắm bắt điều ấy như một sự thật không còn gì phải nghi vấn, chứ không chỉ như một khái niệm trí tuệ; và trong việc tham thiền của y, cuối cùng sẽ đến một thời điểm khi y chứng nghiệm được tính hợp nhất cốt yếu này và biết mình là một mảnh của một toàn thể rộng lớn hơn. |
|
In these three departments the method of approach to the Head of the Department is meditation, and the means whereby the student puts himself en rapport with the essential Life of that department (it is all a matter of terms) differ. The life within the form manifests—as a result of meditation—in three different ways. The results of meditation as demonstrated in terms of character, if I may so express it, are really the same aspects of manifestation under different terms or conditions. Let me tabulate them for you:— |
Trong ba ban này, phương pháp tiếp cận vị đứng đầu ban là tham thiền, còn những phương tiện giúp đạo sinh thiết lập sự tương thông với Sự Sống cốt yếu của ban ấy thì khác nhau (tất cả chỉ là vấn đề thuật ngữ). Nhờ tham thiền, sự sống bên trong hình tướng biểu hiện theo ba cách khác nhau. Nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, những kết quả của tham thiền thể hiện qua tính cách thực ra là cùng những phương diện biểu hiện dưới các thuật ngữ hoặc điều kiện khác nhau. Tôi xin liệt kê cho các bạn như sau:— |
|
Line of the Manu |
Đường hướng của Đức Manu |
|
– Force, Strength, Power to rule. [170] |
– Mãnh lực, Sức mạnh, Quyền năng cai quản. [170] |
|
Line of the Bodhisattva |
Đường hướng của Đức Bồ Tát |
|
– Magnetism, Attraction, Healing. |
– Từ điện, Sự thu hút, Sự chữa lành. |
|
Line of the Mahachohan |
Đường hướng của Đức Mahachohan |
|
– Electricity, Synthesis, Organisation. |
– Điện, Sự tổng hợp, Sự tổ chức. |
|
I seek here to point out that the effect in the life of the student of meditation on one of these three lines will be as enumerated above, though all of course coloured and modified by his personality ray, and by the point attained in evolution. If you study the three words applied to the three lines you will find it very illuminating. (I seek not to enlarge the mental body but to train the intuition.) These words demonstrate the law as working through the three groups, and the working out into active expression in the three worlds of the due following of the desired line. Each line has its specific forms whereby those results are achieved, and the time is coming when the rudiments of these forms (the first fundamental formulas) will be given to students deemed ready and who have done the necessary preliminary work. |
Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng tác động trong đời sống của đạo sinh tham thiền theo một trong ba đường hướng này sẽ như đã liệt kê ở trên, dù dĩ nhiên tất cả đều mang sắc thái và được điều chỉnh theo cung phàm ngã của y cùng điểm y đã đạt đến trong tiến hoá. Nếu nghiên cứu ba từ áp dụng cho mỗi đường hướng, các bạn sẽ thấy chúng soi sáng rất nhiều điều. (Tôi không tìm cách mở rộng thể trí mà nhằm rèn luyện trực giác.) Những từ này cho thấy định luật hoạt động qua ba nhóm, và việc tuân theo đúng đường hướng mong muốn sẽ triển khai thành biểu hiện tích cực trong ba cõi giới như thế nào. Mỗi đường hướng có những hình thức riêng để đạt được các kết quả ấy; và thời điểm đang đến khi những yếu tố sơ đẳng của các hình thức này (những công thức căn bản đầu tiên) sẽ được truyền cho các đạo sinh mà người ta xét là đã sẵn sàng và đã thực hiện công việc chuẩn bị cần thiết. |
1. The line of the Manu. – 1. Đường hướng của Đức Manu.
|
We might here somewhat indicate the approximate method, and lay down certain rules which will serve to elucidate when the time comes. |
Ở đây, chúng ta có thể phần nào chỉ ra phương pháp gần đúng và nêu một số quy luật sẽ giúp làm sáng tỏ khi thời điểm đến. |
|
This first line is specially the line of government, of racial, development, of working in and with the matter of all forms on all the planes of human evolution. It is, as I have said before, the line of occultism. It emphasises the hierarchical method, it embodies the divine autocracy, and it is the line whereby our solar Logos imposes His Will on men. It is closely linked to the Lords of Karma, and it is through the Manu’s department that the Law of Cause and Effect is wielded. The four Lords of Karma work closely with the Manu, for They impose the Law, and [171] He manipulates the forms of men, of continents, of races, and of nations so that that law may be duly worked out. |
Đường hướng thứ nhất này đặc biệt là đường hướng của việc cai quản, của sự phát triển giống dân, của việc hoạt động trong và với vật chất của mọi hình tướng trên tất cả các cõi tiến hoá của con người. Như Tôi đã nói trước đây, đó là đường hướng của huyền bí học. Nó nhấn mạnh phương pháp thứ bậc, thể hiện quyền cai trị tối cao thiêng liêng, và là đường hướng qua đó Thái dương Thượng đế của chúng ta áp đặt Ý Chí của Ngài lên con người. Nó liên kết chặt chẽ với các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả, và chính qua ban của Đức Manu mà Định luật Nhân Quả được vận dụng. Bốn Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả làm việc chặt chẽ với Đức Manu, vì Các Ngài áp dụng Định luật, còn [171] Ngài điều chỉnh các hình tướng của con người, các lục địa, các giống dân và các quốc gia để định luật ấy có thể được thực thi đúng đắn. |
|
The man therefore who attempts through meditation to contact these powers, to rise to union by these means, and to attain the consciousness of the Will aspect, works under set rules, rises from point to point under due forms, and broods ever on the Law and its workings. He seeks to understand, he discriminates and studies; he is occupied with the concrete and its place in the divine plan. He admits the fact of the indwelling life but concentrates primarily on its method and form of manifestation. The basic rules of expression and of government occupy his attention, and by studying the rules and laws, and by seeking to comprehend, he necessarily contacts the Ruler. From stage to stage he rises—from the ruler of the microcosm in the three worlds, to the group egoic and its focal point, a Master; from the ruler of the group he rises to the Manu, the Ruler of the department wherein he has his place, thence to the Ruler of the World, later to the Planetary Logos, and thence to the Solar Logos. |
Vì vậy, người cố gắng qua tham thiền để tiếp xúc với các quyền năng này, vươn đến sự hợp nhất bằng những phương tiện ấy và đạt đến tâm thức của phương diện Ý Chí, sẽ làm việc theo những quy luật đã định, tiến từ điểm này đến điểm khác theo những hình thức thích hợp, và luôn suy ngẫm về Định luật cùng cách vận hành của nó. Y tìm cách thấu hiểu, phân biện và nghiên cứu; y quan tâm đến cái cụ thể và vị trí của nó trong Thiên Cơ. Y thừa nhận sự thật về sự sống nội tại, nhưng chủ yếu tập trung vào phương pháp và hình thức biểu hiện của sự sống ấy. Những quy luật căn bản của sự biểu hiện và cai quản thu hút sự chú ý của y; và qua việc nghiên cứu các quy luật, định luật, cùng nỗ lực lĩnh hội, tất yếu y tiếp xúc với Đấng Cai Quản. Y tiến lên qua từng giai đoạn—từ vị cai quản tiểu thiên địa trong ba cõi giới đến nhóm chân ngã và tiêu điểm của nhóm ấy, một Chân sư; từ vị cai quản nhóm, y tiến lên đến Đức Manu, Đấng Cai Quản ban mà y thuộc về, rồi đến Đấng Cai Quản Thế Giới, sau đó đến Đức Hành Tinh Thượng Đế, và từ đó đến Thái dương Thượng đế. |
2. The line of the Bodhisattva. – 2. Đường hướng của Đức Bồ Tát.
|
This is the line of religion and of philosophy, and of the development of the indwelling life. It deals with consciousness within the form more than with the form itself. It is the line of least resistance for the many. It embodies the wisdom aspect of the Logos, and is the line whereby His love is manifested in a predominant fashion. The solar system being in itself a direct expression of the Logos, and of His love aspect, all in manifestation is based upon it—love in rule, love abounding, love in activity,—but in this second line the above manifestation is supreme, and will eventually absorb all the others. |
Đây là đường hướng của tôn giáo và triết học, cùng sự phát triển của sự sống nội tại. Nó đề cập đến tâm thức bên trong hình tướng nhiều hơn là chính hình tướng. Đối với nhiều người, đây là con đường ít trở ngại nhất. Nó thể hiện phương diện minh triết của Thượng đế, và là đường hướng qua đó tình thương của Ngài biểu hiện một cách nổi trội. Vì chính hệ mặt trời là một biểu hiện trực tiếp của Thượng đế và phương diện tình thương của Ngài, nên tất cả những gì biểu hiện đều dựa trên tình thương—tình thương trong sự cai quản, tình thương dồi dào, tình thương trong hoạt động—nhưng trong đường hướng thứ hai này, sự biểu hiện nói trên đạt đến mức tối cao và cuối cùng sẽ thu hút tất cả những biểu hiện khác vào trong nó. |
|
The man who meditates on this line seeks ever to enter into the consciousness of all that breathes, and by [172] graded expansions of consciousness to arrive eventually at the All-Consciousness, and to enter into the life of the Supreme Being. Thus he enters into the life of all within the Logoic Consciousness. |
Người tham thiền theo đường hướng này luôn tìm cách đi vào tâm thức của mọi loài có hơi thở, và qua [172] những lần mở rộng tâm thức theo cấp độ, cuối cùng đạt đến Toàn Tâm Thức và đi vào sự sống của Đấng Tối Cao. Như vậy, y đi vào sự sống của tất cả những gì nằm trong Tâm Thức Thượng đế. |
|
He broods not so much upon the Law as upon the life that is governed by that Law. Through love he comprehends, and through love he blends himself first with his Ego, then with his Master, next with his group egoic and then with all groups, till finally he enters into the consciousness of the Deity Himself. |
Y không suy ngẫm nhiều về Định luật bằng về sự sống mà Định luật ấy chi phối. Qua tình thương, y lĩnh hội; và qua tình thương, trước hết y hòa nhập với Chân ngã của mình, rồi với Chân sư của mình, tiếp đến với nhóm chân ngã của mình, sau đó với tất cả các nhóm, cho đến khi cuối cùng y đi vào tâm thức của chính Thượng đế. |
3. The line of the Mahachohan. – 3. Đường hướng của Đức Mahachohan.
|
This is the line of mind or intelligence, of knowledge and of science. It is the line of abstract mind, and of archetypal ideas. The man broods not so much upon the Law, not so much upon the Life, as upon the effects of both in manifestation, and upon the reason why. The man on this fivefold line ever asks why, and how, and whence, and seeks to synthesise, to comprehend and to make the archetypes and ideals facts in manifestation. He broods on the ideals as he senses them; he aims at contacting the Universal Mind, at wresting its secrets from it, and giving them expression. It is the line of business organisation, the line also in which the artists, musicians, scientists and the workers of the world have their place. The Spirits of Love and Activity pass much time in each of its five departments before passing on to the lines of love and of power. |
Đây là đường hướng của trí tuệ hay trí thông minh, của tri thức và khoa học. Đó là đường hướng của trí trừu tượng và những ý tưởng nguyên mẫu. Con người không suy ngẫm nhiều về Định luật hay Sự Sống bằng về những tác động của cả hai trong sự biểu hiện, cùng nguyên nhân của chúng. Người trên đường hướng ngũ phân này luôn hỏi tại sao, như thế nào và từ đâu, đồng thời tìm cách tổng hợp, lĩnh hội và biến các nguyên mẫu cùng lý tưởng thành những sự thật trong biểu hiện. Y suy ngẫm về các lý tưởng mà y cảm nhận được; y hướng đến việc tiếp xúc với Vũ Trụ Trí, khám phá những bí mật của nó và đưa chúng vào biểu hiện. Đây là đường hướng của việc tổ chức kinh doanh, cũng là đường hướng dành cho các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà khoa học và những người hoạt động trên thế gian. Các Đấng Tinh Thần của Tình Thương và Hoạt Động dành nhiều thời gian trong mỗi ban thuộc năm ban của đường hướng này trước khi chuyển sang các đường hướng của tình thương và quyền năng. |
|
In meditation the man takes some ideal, some part of the divine plan, some phase of beauty and of art, some scientific or racial problem, and by brooding over it and by the employment of lower mind, finds out all that can be known and sensed. Then, having done all that, he seeks to raise the consciousness still higher till he taps the source of illumination, and gains the light and information [173] required. He mounts likewise by entering into the consciousness of those greater than himself, not so much from the point of view of love (as in the second line) as from admiration and joy in their achievement, and gratitude for what they have given to the world, and devotion to the same idea that impels them to action. |
Trong tham thiền, con người chọn một lý tưởng, một phần của Thiên Cơ, một phương diện của vẻ đẹp và nghệ thuật, một vấn đề khoa học hay giống dân; bằng cách suy ngẫm về điều ấy và vận dụng hạ trí, y khám phá tất cả những gì có thể biết và cảm nhận. Sau khi làm tất cả những điều ấy, y tìm cách nâng tâm thức lên cao hơn nữa cho đến khi tiếp cận được nguồn soi sáng và nhận được ánh sáng cùng thông tin [173] cần thiết. Y cũng tiến lên bằng cách đi vào tâm thức của những vị cao hơn mình, không hẳn từ góc độ tình thương (như trong đường hướng thứ hai), mà từ lòng ngưỡng mộ và sự hoan hỉ trước thành tựu của các vị ấy, lòng biết ơn đối với những gì các vị đã trao cho thế gian, cùng lòng tận hiến cho chính ý tưởng thúc đẩy các vị hành động. |
|
Therefore you will see from even the most superficial study of the above three lines how apparent it is that all the sons of men are rising. Even the ones—so apt to be despised—who are the active workers of the world may, in their place and through their devotion to the ideals of work or science or even of business organisation, be just as far advanced as the more highly considered ones who demonstrate more patently the love aspect of the Divine Self. Forget not that activity is just as divine and just as fundamentally an expression of the All-Father as love in sacrifice, and even more so than what we now know as power, for the power aspect is as yet not comprehended by any of you, nor will it be until a further manifestation. |
Vì vậy, ngay cả khi chỉ nghiên cứu sơ lược ba đường hướng trên, các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng tất cả những người con của nhân loại đều đang tiến lên. Ngay cả những người—rất dễ bị khinh thường—là những người hoạt động tích cực trên thế gian, ở vị trí của mình và qua lòng tận hiến cho các lý tưởng về công việc, khoa học, hay thậm chí việc tổ chức kinh doanh, cũng có thể tiến xa ngang với những người được đánh giá cao hơn, những người biểu lộ rõ rệt hơn phương diện tình thương của Bản Ngã Thiêng Liêng. Đừng quên rằng hoạt động cũng thiêng liêng và cũng là một biểu hiện căn bản của Đấng Cha của Tất Cả như tình thương trong sự hi sinh, và thậm chí còn hơn điều mà hiện nay chúng ta gọi là quyền năng; vì chưa một ai trong các bạn thấu hiểu phương diện quyền năng, và cũng sẽ chưa thấu hiểu cho đến một lần biểu hiện sau này. |
|
August 14th, 1920. |
Ngày 14 tháng 8 năm 1920. |
f. Forms used in calling devas and elementals – f. Những hình thức dùng để triệu gọi thiên thần và hành khí
|
In taking up the two points that you have enumerated six and seven, we shall be able to deal with them as one, for the mantrams and forms used in contacting the devas, angels or builders, and in calling the elementals or subhuman forms of existence, are practically the same, and should in these letters be counted as such. |
Khi xem xét hai điểm mà các bạn đã đánh số sáu và bảy, chúng ta có thể đề cập đến chúng như một, vì các mantram và hình thức dùng để tiếp xúc với các thiên thần, các sứ giả thiên giới hay các đấng kiến tạo, và để triệu gọi các hành khí hay những hình thức hiện tồn dưới nhân loại, trên thực tế đều giống nhau và trong những bức thư này nên được xem là như vậy. |
|
As a preliminary step let us be quite clear wherein lies the distinction between these two groups. |
Như một bước sơ khởi, chúng ta hãy làm thật rõ sự khác biệt giữa hai nhóm này nằm ở đâu. |
|
The elementals are, in their essential essence, subhuman. The fact that they can he contacted on the emotional plane is no guarantee that they are on the evolutionary [174] path. On the contrary, they are on the path of involution, on the downward arc. They are to be found on all planes, and the etheric elemental forms—such as the brownies, gnomes and pixies—are well known. They can be roughly divided into four groups:— |
Trong tinh chất cốt yếu của mình, các hành khí thuộc dưới nhân loại. Việc có thể tiếp xúc với chúng trên cõi cảm dục không bảo đảm rằng chúng đang ở trên con đường thăng thượng [174] tiến hoá. Trái lại, chúng đang ở trên con đường giáng hạ tiến hoá, trên vòng cung đi xuống. Chúng hiện diện trên mọi cõi, và những hình tướng hành khí dĩ thái—như các brownie, gnome và tinh linh nhỏ bé tinh nghịch—đều được biết đến rộng rãi. Có thể phân chia sơ bộ chúng thành bốn nhóm:— |
|
1. The elementals of earth. |
1. Các hành khí của đất. |
|
2. The elementals of water. |
2. Các hành khí của nước. |
|
3. The elementals of air. |
3. Các hành khí của khí. |
|
4. The elementals of fire. |
4. Các hành khí của lửa. |
|
They are the essence of things, if you could but realise it. They are the elemental things of the solar system in their four grades as we know them in this fourth cycle on the fourth or earth planet. |
Nếu các bạn có thể nhận ra, chúng chính là tinh chất của vạn vật. Chúng là những thành phần hành khí của hệ mặt trời trong bốn cấp độ mà chúng ta biết đến trong chu kỳ thứ tư này trên hành tinh thứ tư, tức Trái Đất. |
|
The devas are on the evolutionary path, on the upward way. They are, as you know, the Builders of the system, working in graded and serried ranks. Devas are to be found of the same rank as the Planetary Logoi, and the Rulers of the five planes of human evolution hold rank equal to that of a Master of the seventh Initiation. Others are equal in development (along their own line) to a Master of the fifth Initiation, and they work consciously and willingly with the Masters of the Occult Hierarchy. They can be found on all the lesser grades down to the little building devas who work practically unconsciously in their groups, building the many forms necessitated by the evolving life. |
Các thiên thần đang ở trên con đường thăng thượng tiến hoá, trên đường đi lên. Như các bạn biết, các vị là những Đấng Kiến Tạo của thái dương hệ, làm việc theo các hàng ngũ phân cấp và khít khao. Có những thiên thần cùng cấp bậc với các Đức Hành Tinh Thượng Đế, và các Đấng Cai Quản năm cõi tiến hoá của con người có cấp bậc ngang với một Chân sư ở lần Điểm Đạo thứ bảy. Những vị khác có trình độ phát triển (theo đường hướng riêng của mình) ngang với một Chân sư ở lần Điểm Đạo thứ năm, và các vị làm việc một cách hữu thức, tự nguyện với các Chân sư của Thánh đoàn Huyền Môn. Các vị hiện diện ở mọi cấp bậc thấp hơn, xuống đến những thiên thần kiến tạo nhỏ bé làm việc hầu như vô thức trong các nhóm của mình, xây dựng vô số hình tướng mà sự sống đang tiến hoá cần đến. |
|
Earlier—prior to my dictating these letters to you—you received one communication along the line of the mantric invocation of the elementals and the devas. The information given was correct, as far as it went, and you may if you wish incorporate it here. |
Trước đây—trước khi Tôi đọc cho các bạn ghi lại những bức thư này—các bạn đã nhận được một thông điệp về việc khẩn cầu các hành khí và thiên thần bằng mantram. Thông tin đã cung cấp là đúng trong phạm vi của nó, và nếu muốn, các bạn có thể đưa thông tin ấy vào đây. |
|
“Force in evolution and force in involution are two different things. That is a preliminary statement. [175] In the one you have destruction, violence, blind elementary powers at work. In involution it is the elementals who do most of the work, working blindly along as controlled by the Builders. The work is constructive, cohesive, a gradual growing together, harmony out of discord, beauty out of chaos. The lower kingdoms of the devas work, guided by the great Building Devas, and all move upward in ordered beauty from plane to plane, from system to system, universe to universe. Therefore in studying occult lore you need to remember two things:— |
“Mãnh lực trong thăng thượng tiến hoá và mãnh lực trong giáng hạ tiến hoá là hai điều khác nhau. Đó là một phát biểu sơ khởi. [175] Trong một trường hợp, có sự hủy diệt, bạo lực và những quyền năng hành khí mù quáng đang hoạt động. Trong giáng hạ tiến hoá, các hành khí thực hiện phần lớn công việc, hoạt động một cách mù quáng dưới sự điều khiển của các Đấng Kiến Tạo. Công việc mang tính xây dựng, cố kết, dần dần kết hợp lại với nhau, tạo hài hòa từ bất hòa, vẻ đẹp từ hỗn loạn. Các giới thiên thần thấp hơn làm việc dưới sự hướng dẫn của các Thiên Thần Kiến Tạo vĩ đại, và tất cả đều tiến lên trong vẻ đẹp có trật tự từ cõi này sang cõi khác, từ hệ này sang hệ khác, từ vũ trụ này sang vũ trụ khác. Vì vậy, khi nghiên cứu tri thức huyền môn, các bạn cần nhớ hai điều:— |
|
a. You control elemental forces. |
a. Các bạn kiểm soát các mãnh lực hành khí. |
|
b. You co-operate with the devas. |
b. Các bạn cộng tác với các thiên thần. |
|
In one you dominate, in the other case you endeavour to work with. You control through the activity aspect, by the definite doing of certain things, by the preparation of certain ceremonies, for instance, through which certain forces can play. It is a replica on a tiny miniature scale of what the third Logos did in world making. Certain activities had certain results. Later on, revelations can be made as to the rites and ceremonies through which you can get in touch with the various elementals, and control them. The Ceremonial Ray—by coming into incarnation at this time, is making things much easier along this particular line. |
Trong một trường hợp, các bạn chế ngự; trong trường hợp kia, các bạn cố gắng cùng làm việc. Các bạn kiểm soát qua phương diện hoạt động, bằng việc thực hiện rõ ràng một số điều, chẳng hạn chuẩn bị một số nghi lễ mà qua đó những mãnh lực nhất định có thể hoạt động. Đây là một bản sao ở quy mô hết sức nhỏ bé của điều Thượng đế thứ ba đã làm khi tạo dựng thế giới. Những hoạt động nhất định đem lại những kết quả nhất định. Về sau, có thể có những sự mặc khải về các nghi thức và nghi lễ giúp các bạn tiếp xúc với những hành khí khác nhau và kiểm soát chúng. Cung Nghi Lễ—qua việc nhập thể vào lúc này—đang khiến mọi việc trên đường hướng đặc biệt này trở nên dễ dàng hơn nhiều. |
|
Fire elementals, water sprites, and the lower elementals can all be harnessed by rites. The rites are of three kinds:— |
Các hành khí của lửa, các tinh linh của nước và các hành khí thấp hơn đều có thể được điều dụng bằng nghi thức. Có ba loại nghi thức:— |
|
1. Protective rites, which concern your own protection. |
1. Các nghi thức bảo vệ, liên quan đến việc bảo vệ chính các bạn. |
|
2. Rites of appeal, which call and reveal the elementals. [176] |
2. Các nghi thức thỉnh cầu, triệu gọi và làm hiển lộ các hành khí. [176] |
|
3. Rites that control and direct them when summoned. |
3. Các nghi thức kiểm soát và chỉ đạo chúng khi chúng được triệu gọi. |
|
In working with the devas you use the wisdom or love aspect, the second aspect of the Logos, the building aspect. Through love and longing you reach them and your first step (as you are on the path of evolution, as they are) is to get in touch with them, for together you must work in the future for the guidance of the elemental forces and the helping of humanity. It is not safe for human beings, poor foolish things, to tamper with the forces of involution until they themselves are linked with the devas through purity of character and nobility of soul. |
Khi làm việc với các thiên thần, các bạn sử dụng phương diện minh triết hay tình thương, phương diện thứ hai của Thượng đế, phương diện kiến tạo. Qua tình thương và lòng khao khát, các bạn đến được với các vị; và bước đầu tiên của các bạn (vì các bạn cũng ở trên con đường tiến hoá như các vị) là tiếp xúc với các vị, bởi trong tương lai các bạn phải cùng nhau làm việc để hướng dẫn các mãnh lực hành khí và trợ giúp nhân loại. Thật không an toàn cho con người, những sinh linh khờ dại đáng thương, khi can thiệp tùy tiện vào các mãnh lực giáng hạ tiến hoá cho đến khi chính họ liên kết với các thiên thần qua tính cách thanh khiết và linh hồn cao quý. |
|
Through rites and ceremonies you can sense the devas and reach them, but not in the same manner nor for the same reason that you can the elementals. The devas attend ceremonies freely and are not summoned; they come, as you do, to tap the power. When your vibrations are pure enough the ceremonies serve as a common meeting-ground. |
Qua các nghi thức và nghi lễ, các bạn có thể cảm nhận và đến được với các thiên thần, nhưng không theo cùng cách thức hay vì cùng lý do như khi các bạn đến với các hành khí. Các thiên thần tự nguyện tham dự nghi lễ chứ không bị triệu gọi; cũng như các bạn, các vị đến để tiếp nhận quyền năng. Khi những rung động của các bạn đủ thanh khiết, các nghi lễ trở thành nơi gặp gỡ chung. |
|
…………I want to say in closing that when you have learned to use the activity aspect in work with the involutionary powers, and the wisdom aspect in co-operating with the devas, you will then unitedly pass on to use the first aspect, that of will or power.” |
…………Để kết thúc, Tôi muốn nói rằng khi các bạn đã học cách sử dụng phương diện hoạt động trong công việc với các quyền năng giáng hạ tiến hoá, và phương diện minh triết khi cộng tác với các thiên thần, bấy giờ các bạn sẽ cùng nhau tiến đến việc sử dụng phương diện thứ nhất, phương diện ý chí hay quyền năng.” |
|
Before proceeding further I seek to sound a note of warning as to the danger that lies in the calling and the contacting of these groups of builders, and more especially in the contacting of the elemental forces. Why especially the latter? Because these forces at all times find a response in one of the three lower bodies of men, these bodies (regarded as separated sheaths) being composed of these involutionary lives. Therefore he who unwittingly lays [177] himself open to direct contact with any elemental, runs a risk, and may bitterly rue the day. But, as a man approaches adeptship and has achieved mastery over himself, and can consequently be trusted with the mastery of other forms of life, certain powers will be his. These powers—based as they are on law—will put into his hands the rule over lesser lives, and will teach him that co-operation with the deva hosts which will be so essential towards the latter end of evolution. |
Trước khi tiếp tục, Tôi muốn đưa ra một lời cảnh báo về nguy hiểm trong việc triệu gọi và tiếp xúc với những nhóm đấng kiến tạo này, đặc biệt hơn nữa là trong việc tiếp xúc với các mãnh lực hành khí. Tại sao đặc biệt là các mãnh lực ấy? Vì bất cứ lúc nào, các mãnh lực này cũng tìm được sự đáp ứng trong một trong ba thể thấp của con người, những thể này (được xem như những lớp vỏ riêng biệt) cấu thành từ những sự sống giáng hạ tiến hoá ấy. Vì vậy, người vô tình mở [177] mình ra cho sự tiếp xúc trực tiếp với bất kỳ hành khí nào đều gặp nguy hiểm, và có thể hối tiếc cay đắng về ngày ấy. Nhưng khi con người tiến gần đến quả vị chân sư, đã làm chủ được bản thân và do đó có thể được tin cậy giao cho quyền làm chủ các hình thức sự sống khác, y sẽ có được một số quyền năng. Những quyền năng này—vốn dựa trên định luật—sẽ trao vào tay y quyền cai quản các sự sống thấp hơn, và dạy y sự cộng tác với các đoàn thiên thần, điều sẽ hết sức thiết yếu vào giai đoạn cuối của tiến hoá. |
Mantrams of power. – Các mantram quyền năng.
|
The mantrams that hold the secret of power are, as you know and have been told above, of different kinds, and are primarily four: |
Như các bạn biết và đã được nói ở trên, các mantram nắm giữ bí mật của quyền năng có nhiều loại khác nhau, chủ yếu gồm bốn loại: |
|
a. Of prime importance are the protective mantrams. |
a. Quan trọng hàng đầu là các mantram bảo vệ. |
|
b. The mantrams that call the elementals and lesser devas, and bring them into the magnetic radius of the one who calls. |
b. Các mantram triệu gọi những hành khí và thiên thần thấp hơn, đưa họ vào trong bán kính từ tính của người triệu gọi. |
|
c. The mantrams that impose upon the elementals and lesser devas the will of the one who calls. |
c. Các mantram áp đặt ý chí của người triệu gọi lên những hành khí và thiên thần thấp hơn. |
|
d. Mantrams that break the charm, if I may put it so, and place the elementals and devas again outside the magnetic radius of the caller. |
d. Các mantram giải phép, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, và đưa các hành khí cùng thiên thần trở lại bên ngoài bán kính từ tính của người triệu gọi. |
|
These four groups of mantrams refer especially to the calling and contacting of the lesser grades and are not much used, except in rare cases by initiates and adepts, who, as a general rule, work through the instrumentality of the great guiding devas and builders. The Dark Brotherhood work with the forces of involution and bend to their will the unwitting lesser forms of life. The true procedure—as followed by the Brotherhood of Light—is to control these involutionary groups and low grade devas [178] through their own superior ranks, the cohorts of the building devas with their Deva Lords. |
Bốn nhóm mantram này đặc biệt liên quan đến việc triệu gọi và tiếp xúc với các cấp bậc thấp hơn; các điểm đạo đồ và chân sư ít sử dụng chúng, trừ những trường hợp hiếm hoi, vì theo lệ thường, Các Ngài làm việc qua các thiên thần hướng dẫn và các đấng kiến tạo vĩ đại. Huynh Đệ Đoàn Bóng Tối làm việc với những mãnh lực giáng hạ tiến hoá và uốn các hình thức sự sống thấp hơn, không hay biết, theo ý chí của họ. Phương thức chân chính—mà Huynh Đệ Đoàn Ánh Sáng tuân theo—là kiểm soát những nhóm giáng hạ tiến hoá và các thiên thần cấp thấp này [178] thông qua chính những cấp bậc cao hơn của họ, các đoàn thiên thần kiến tạo cùng các Đấng Chúa Tể Thiên Thần của họ. |
|
This brings me to another group of mantrams used in connection with the devas themselves. |
Điều này đưa Tôi đến một nhóm mantram khác được sử dụng trong mối liên hệ với chính các thiên thần. |
|
a. Rhythmic mantrams, that put the one who uses them in contact with the deva group he seeks. These mantrams are, of course, forms of Ray Mantrams, for they call the devas on some one ray. These mantrams again will vary if the man himself is on the same ray as the group he calls. You ask why protective mantrams are not used first as in the case of calling elementals. Principally for the following reason. The mantrams calling elementals are more easily found and used than those calling the devas. History is full of instances of where this has been done, and all over the world (even at this time) are people who hold the secret that will put them in touch with elementals of one kind or another. Everyone in Atlantean days knew how to do this, and among savage peoples and by some individuals in civilised countries the art is still known and practised. Secondly, the average man, even if he knows the mantram, will probably fail in calling a deva, for it involves something more than just chanting the words and sounds. This something is one of the secrets of initiation. When a man is an initiate or an adept he needs not the protective rites, for it is a law in the occult world that only those of pure life and unselfish motive can successfully reach the deva evolution, whereas in connection with the elementary lives it works the other way. |
a. Các mantram có nhịp điệu, đưa người sử dụng chúng vào sự tiếp xúc với nhóm thiên thần mà y tìm kiếm. Dĩ nhiên, những mantram này là các hình thức của Mantram Cung, vì chúng triệu gọi các thiên thần thuộc một cung nào đó. Những mantram này cũng sẽ thay đổi nếu chính người ấy thuộc cùng cung với nhóm mà y triệu gọi. Các bạn hỏi tại sao không sử dụng các mantram bảo vệ trước, như trong trường hợp triệu gọi hành khí. Chủ yếu là vì lý do sau đây. Các mantram triệu gọi hành khí dễ tìm và dễ sử dụng hơn những mantram triệu gọi thiên thần. Lịch sử có rất nhiều trường hợp người ta đã làm điều này; và khắp thế giới (ngay cả vào lúc này) vẫn có những người nắm giữ bí mật giúp họ tiếp xúc với hành khí thuộc loại này hay loại khác. Vào thời Atlantis, mọi người đều biết cách làm điều này; và trong các dân tộc còn ở trạng thái sơ khai, cũng như nơi một số cá nhân ở các nước văn minh, thuật ấy vẫn được biết đến và thực hành. Thứ hai, người bình thường, ngay cả khi biết mantram, có lẽ cũng sẽ thất bại khi triệu gọi một thiên thần, vì việc ấy đòi hỏi điều gì đó hơn là chỉ tụng những lời và âm thanh. Điều đó là một trong những bí mật của điểm đạo. Khi một người là điểm đạo đồ hay chân sư, y không cần các nghi thức bảo vệ, vì trong thế giới huyền môn có một định luật rằng chỉ những người có đời sống thanh khiết và động cơ vô vị kỷ mới có thể tiếp cận thành công sự tiến hoá thiên thần, còn trong mối liên hệ với những sự sống hành khí thì điều ấy vận hành theo chiều ngược lại. |
|
b. Mantrams that permit of intercourse with the devas once they have been called. Speech, as we know it, is not understood by the devas, but impulses, forces, vibrations can be set up by the use of specific forms that lead to the desired result and obviate the need of speech. [179] These forms open the avenues of mutual comprehension. |
b. Các mantram cho phép giao tiếp với các thiên thần sau khi đã triệu gọi các vị. Các thiên thần không hiểu lời nói như chúng ta biết, nhưng có thể tạo ra những xung động, mãnh lực và rung động bằng việc sử dụng các hình thức đặc thù dẫn đến kết quả mong muốn và loại bỏ nhu cầu dùng lời nói. [179] Những hình thức này mở ra các con đường thấu hiểu lẫn nhau. |
|
c. Mantrams that influence groups, and others that influence specific devas. I would like to point out here that as a rule devas are handled in groups and not as individuals until you contact devas of a very high order. |
c. Các mantram tác động đến những nhóm, và những mantram khác tác động đến các thiên thần cụ thể. Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng theo lệ thường, các thiên thần được tiếp cận theo nhóm chứ không theo từng cá nhân, cho đến khi các bạn tiếp xúc với những thiên thần thuộc cấp bậc rất cao. |
|
d. Mantrams that directly call the attention of one of the deva lords of a subplane, or the mighty Deva Lord of a plane. They are known to very few and are only used by those who have taken high initiation. |
d. Các mantram trực tiếp thu hút sự chú ý của một trong những đấng chúa tể thiên thần của một cõi phụ, hoặc của Đấng Chúa Tể Thiên Thần hùng mạnh của một cõi. Rất ít người biết những mantram này, và chỉ những người đã trải qua điểm đạo cao mới sử dụng chúng. |
|
August 17th, 1920. |
Ngày 17 tháng 8 năm 1920. |
The comprehension of force. – Sự lĩnh hội mãnh lực.
|
I ceased early yesterday, Brother of Mine, owing to a slight fatigue on your part, due not so much to taking my dictation as to the fact that inner conditions everywhere yesterday, and even today, are not desirable. |
Huynh đệ của Tôi, hôm qua Tôi đã dừng sớm vì bạn hơi mệt mỏi, không hẳn vì việc ghi lại lời Tôi đọc cho bạn, mà vì những điều kiện bên trong ở khắp mọi nơi hôm qua, và ngay cả hôm nay, đều không được như mong muốn. |
|
……The tension today is great, and the force pouring in on all the different centres is apt—unless duly regulated—to cause a feeling of fatigue, of tension, of excitement and of restlessness. The secret of regulation which lies in non-resistance is known to very few, and consequently the intensity of emotion, the violent reactions, and present widespread era of crime are the results, very largely, of force misused and misapplied. This can be seen demonstrating in all ranks of life, and only he who knows the secret of being naught but a channel, and who abides still within the secret place, can pass through the present crisis without undue shattering and pain. Stimulation—such as is at present abroad—leads to pain and consequent reaction and must be guarded against with as much care as its opposite, loss of vitality—guarded against, not in the sense of shutting oneself off from stimulating force but of receiving that force, passing it through one’s being, and only absorbing as much of it as one can carry. The residue will then pass out from one as a healing agency on its return to the general reservoir. The true and occult significant of force in nature, of the electrical [180] currents of the universe, and of the latent heat stored in all forms is little understood as yet by your exoteric scientists, or your would-be occult students. Subba Rao…….approached the study of occultism from this angle, and therefore, he attained a profound knowledge of law. |
……Hôm nay, sự căng thẳng rất lớn, và mãnh lực đang tuôn vào tất cả các trung tâm khác nhau có thể—nếu không được điều tiết đúng đắn—gây ra cảm giác mệt mỏi, căng thẳng, kích động và bồn chồn. Rất ít người biết bí mật của sự điều tiết nằm trong việc không chống lại; vì vậy, cường độ cảm xúc, những phản ứng dữ dội và tình trạng tội phạm lan rộng hiện nay phần lớn là kết quả của việc sử dụng và áp dụng mãnh lực sai cách. Có thể thấy điều này biểu hiện trong mọi tầng lớp của đời sống; và chỉ người biết bí mật của việc không là gì ngoài một kênh dẫn, đồng thời an trú tĩnh lặng trong nơi kín nhiệm, mới có thể đi qua cuộc khủng hoảng hiện tại mà không bị chấn động và đau đớn quá mức. Sự kích thích—như hiện đang lan rộng—dẫn đến đau đớn và phản ứng tiếp theo, nên cần được phòng ngừa cẩn thận như tình trạng đối lập của nó là mất sinh lực—phòng ngừa không có nghĩa là khép mình trước mãnh lực kích thích, mà là tiếp nhận mãnh lực ấy, để nó đi qua toàn bộ con người mình, và chỉ hấp thụ phần mà mình có thể chịu đựng. Phần còn lại khi ấy sẽ từ mình tuôn ra như một tác nhân chữa lành trên đường trở về kho chứa chung. Các nhà khoa học ngoại môn hay những người muốn trở thành đạo sinh huyền môn của các bạn hiện vẫn ít thấu hiểu ý nghĩa chân thực và huyền bí của mãnh lực trong tự nhiên, của những dòng điện [180] trong vũ trụ và của nhiệt tiềm ẩn tích trữ trong mọi hình tướng. Subba Rao…….đã tiếp cận việc nghiên cứu huyền bí học từ góc độ này, và vì vậy ông đạt được tri thức sâu sắc về định luật. |
|
I have touched on this matter as it lies back of all instruction along occult lines. If you can grasp somewhat its meaning, and understand how the law is but the adaptation of the form to some one or other of these great streams of force, you will illuminate your whole life and be carried on those streams of force, those magnetic currents, that vital fluid, those electrical rays (no matter what the terms used) right to the heart of the unknown. |
Tôi đã đề cập đến vấn đề này vì nó nằm sau mọi sự chỉ dẫn theo đường hướng huyền môn. Nếu các bạn có thể phần nào nắm bắt ý nghĩa của nó và thấu hiểu rằng định luật chỉ là sự thích ứng của hình tướng với dòng này hay dòng khác trong những dòng mãnh lực vĩ đại ấy, các bạn sẽ soi sáng toàn bộ đời sống mình và được những dòng mãnh lực ấy, những dòng từ tính ấy, lưu chất sống động ấy, những tia điện ấy (bất kể dùng thuật ngữ nào) đưa thẳng vào trung tâm của điều chưa biết. |
|
This same idea of force and of the magnetic currents of the solar system governs all I have imparted on meditation in all its branches—specific, individual and collective, based on form or formless; it is the medium through which the mantrams work, from those that touch the elemental lives up to the great Words chanted in rhythm that call the Lord of a Ray, the Deva of a Plane, or the Lord of a Solar System Himself. The sounding of these Words, the ascent through graded forms to some specific point, and the chanting of mantrams but put the one who is thus working into the line of some one stream of force. It is the finding of the line of least resistance whereby to reach some goal, to communicate with some individual Intelligence, to control some involutionary life, and to contact and co-operate with some group of devas. The above digression may serve somewhat to sum up what I have lately imparted anent forms, mantric or otherwise, as used by the student of occult meditation. |
Cũng chính ý tưởng này về mãnh lực và các dòng từ tính của hệ mặt trời chi phối tất cả những gì Tôi đã truyền đạt về tham thiền trong mọi nhánh của nó—chuyên biệt, cá nhân và tập thể, dựa trên hình tướng hoặc vô hình tướng; đó là trung gian qua đó các mantram tác động, từ những mantram chạm đến các sự sống hành khí cho đến những Linh từ vĩ đại được xướng theo nhịp điệu để triệu thỉnh Chúa Tể của một Cung, Thiên Thần của một Cõi, hoặc chính Chúa Tể của một Hệ Mặt Trời. Việc xướng những Linh từ này, việc đi lên qua các hình tướng được phân cấp đến một điểm cụ thể nào đó, và việc xướng các mantram chỉ đưa người thực hành như vậy vào đường của một dòng mãnh lực nào đó. Đó là việc tìm ra con đường ít trở ngại nhất để đạt đến một mục tiêu nào đó, giao tiếp với một Đấng Thông Tuệ riêng biệt nào đó, kiểm soát một sự sống giáng hạ tiến hoá nào đó, và tiếp xúc cũng như hợp tác với một nhóm thiên thần nào đó. Phần bàn rộng ở trên có thể phần nào tổng kết những gì gần đây Tôi đã truyền đạt về các hình thức, dù là mantram hay những hình thức khác, mà đạo sinh tham thiền huyền môn sử dụng. |
|
As may be imagined, the calling of either the devas or the elementals can only be safely undertaken by one who has the power to utilise them wisely when called, [181] hence the mantrams we have enumerated above are only put into the hands of those who are on the side of the constructive forces of the system, or who can constructively control the destructive elements, bending them into line with the disintegrating forces that are themselves part of the great constructive scheme. Should anyone—not thus capable—be able to contact the devas, and, through the use of mantrams gather them to him, he would find that the force they carry would descend on him as a destructive one, and serious consequences might result in one or other of his bodies. |
Như có thể hình dung, chỉ người có quyền năng sử dụng các thiên thần hoặc hành khí một cách khôn ngoan khi triệu gọi chúng mới có thể thực hiện việc triệu gọi ấy một cách an toàn, [181] vì vậy những mantram mà chúng ta đã liệt kê ở trên chỉ được trao vào tay những người đứng về phía các mãnh lực kiến tạo của hệ mặt trời, hoặc những người có thể kiểm soát các yếu tố huỷ diệt theo hướng kiến tạo, đưa chúng vào cùng đường với các mãnh lực phân rã vốn cũng là một phần của kế hoạch kiến tạo vĩ đại. Nếu một người—không có khả năng như vậy—có thể tiếp xúc với các thiên thần và dùng mantram tập hợp chúng quanh mình, y sẽ thấy rằng mãnh lực mà chúng mang theo sẽ giáng xuống y như một mãnh lực huỷ diệt, và những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra trong thể này hay thể khác của y. |
|
Think this out, therefore, remembering that those dangers would lie along the line of over-stimulation, of sudden shattering, and of disintegration through fire or heat. Should he gather involutionary lives around him the dangers would be different or rather would demonstrate in the opposite effect,—such as loss of vitality due to vampirism, a sucking out of the forces of one or another of his bodies, an abnormal building in of material into some one body (due to the action of such involutionary lives as the physical or desire elementals), and death through water, earth or fire, understood in an occult sense. |
Vì vậy, hãy suy xét kỹ điều này, và nhớ rằng những nguy hiểm ấy sẽ biểu hiện dưới dạng kích thích quá mức, tan vỡ đột ngột, và phân rã do lửa hoặc nhiệt. Nếu y tập hợp các sự sống giáng hạ tiến hoá quanh mình, những nguy hiểm sẽ khác đi, hay đúng hơn sẽ biểu hiện bằng tác động ngược lại,—chẳng hạn như mất sinh lực do sự hút sinh lực, các mãnh lực của thể này hay thể khác của y bị hút cạn, vật chất được bồi đắp bất thường vào một thể nào đó (do tác động của những sự sống giáng hạ tiến hoá như các hành khí hồng trần hoặc dục vọng), và cái chết do nước, đất hoặc lửa, hiểu theo nghĩa huyền bí. |
|
I have dealt here with the risks run by anyone who calls within his magnetic radius either of these two groups, without possessing the necessary knowledge to protect, to control and to use. Why have I dealt with this subject at all? Because these magic forms exist, and will be used and known when the student is ready, and the work requires it. Some day the lesser forms will be gradually given out to those who have prepared themselves, and who unselfishly work for the helping of the race. As I said earlier, these were known in Atlantean days. They led to dire results at that time, for they were used by those of unclean life, for selfish ends and evil purpose. They called [182] the elemental hosts to perpetuate their vengeance on their enemies; they called the lesser devas, and utilised their powers to further their ambitions; they sought not to co-operate with the law, but to wield that law for physical plane schemes which originated in their desires. The ruling Hierarchy deemed the danger too great, for the evolution of men and devas was threatened, so They withdrew gradually from the human consciousness the knowledge of the formulas and Words until such a time as the reason was developed somewhat, and the spiritual mind showed signs of awakening. In this way the two great evolutions, and the latent third evolution (composed of involutionary lives) were separated and shut off from each other. Temporarily the whole scale of vibration was slowed down for the original purpose had been a parallel development. The secret of this apparent setting back of the plans of the Logos lies hid in the remnants of active cosmic Evil that had found their way into manifestation,—a remnant of the first or activity solar system, and the basis of this, the love system. Evil is but the sediment of unfinished karma and has its root in ignorance. |
Ở đây Tôi đã bàn đến những nguy cơ mà bất cứ ai triệu gọi một trong hai nhóm này vào trong bán kính từ tính của mình đều phải đối mặt, nếu không có tri thức cần thiết để bảo vệ, kiểm soát và sử dụng. Tại sao Tôi lại bàn đến chủ đề này? Bởi vì những hình thức huyền thuật này tồn tại, và người đạo sinh sẽ biết đến và sử dụng chúng khi đã sẵn sàng, và khi công việc đòi hỏi. Một ngày nào đó, những hình thức thấp hơn sẽ dần được truyền cho những người đã tự chuẩn bị và hoạt động vô vị kỷ để giúp đỡ nhân loại. Như Tôi đã nói trước đây, người ta đã biết đến những hình thức này vào thời Atlantis. Khi ấy, chúng dẫn đến những hậu quả thảm khốc, vì những người có đời sống bất tịnh đã sử dụng chúng cho những mục đích ích kỷ và ý đồ xấu xa. Họ triệu gọi [182] các đạo quân hành khí để tiếp tục trả thù kẻ địch của mình; họ triệu gọi các thiên thần cấp thấp, và sử dụng quyền năng của chúng để thúc đẩy những tham vọng của mình; họ không tìm cách hợp tác với định luật, mà tìm cách vận dụng định luật ấy cho những mưu đồ trên cõi hồng trần bắt nguồn từ dục vọng của họ. Thánh đoàn cai quản nhận thấy nguy hiểm quá lớn, vì sự tiến hoá của con người và thiên thần bị đe doạ, nên Các Ngài dần rút tri thức về các công thức và Linh từ khỏi tâm thức nhân loại cho đến khi lý trí phần nào phát triển và trí tuệ tinh thần có dấu hiệu thức tỉnh. Bằng cách này, hai dòng tiến hoá lớn và dòng tiến hoá thứ ba còn tiềm ẩn (gồm các sự sống giáng hạ tiến hoá) đã bị tách rời và ngăn cách với nhau. Toàn bộ thang rung động tạm thời chậm lại, vì mục đích ban đầu là sự phát triển song song. Bí mật của sự thoái lui bề ngoài này trong các kế hoạch của Thượng đế ẩn trong những tàn dư của Cái Ác vũ trụ đang hoạt động đã tìm được đường vào biểu hiện,—một tàn dư của hệ mặt trời thứ nhất, hay hệ mặt trời hoạt động, và là nền tảng của hệ mặt trời này, hệ mặt trời tình thương. Cái ác chỉ là cặn lắng của nghiệp quả chưa hoàn tất và có gốc rễ trong vô minh. |
|
This separation on a threefold scale of the evolving and the involving lives has continued up to date. With the coming in of this seventh Ray of Ceremonial Magic, a tentative approximation of the two evolving groups is to be somewhat permitted, though not as yet with the involving group. Remember this statement. The deva and human evolution will, during the next five hundred years, become somewhat more conscious of each other, and be able therefore more freely to co-operate. With this growing consciousness will be found a seeking after methods of communication. When the need of communication for constructive ends is sincerely felt, then, under the judicious guidance of the Masters, will certain of the old mantrams [183] be permitted circulation. Their action, interaction and reaction will be closely studied and watched. It is hoped that the benefit to both groups will be mutual. The human evolution should give strength to the deva, and the deva, joy to the human. Man should communicate to the devas the objective point of view, while they in turn will pour in on him their healing magnetism. They are the custodians of prana, magnetism and vitality, just as man is the custodian of the fifth principle, or manas. I have given several hints here and more is not possible. |
Sự phân cách trên quy mô tam phân này giữa các sự sống thăng thượng tiến hoá và giáng hạ tiến hoá vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Với sự xuất hiện của cung bảy Huyền Thuật Nghi Lễ này, hai nhóm thăng thượng tiến hoá sẽ phần nào được phép tiến lại gần nhau theo cách thử nghiệm, tuy vẫn chưa được phép làm như vậy với nhóm giáng hạ tiến hoá. Hãy ghi nhớ lời này. Hai dòng tiến hoá thiên thần và nhân loại sẽ, trong năm trăm năm tới, phần nào nhận biết nhau rõ hơn, và nhờ đó có thể hợp tác tự do hơn. Cùng với tâm thức ngày càng tăng này sẽ xuất hiện sự tìm kiếm các phương pháp giao tiếp. Khi nhu cầu giao tiếp vì những mục đích kiến tạo được cảm nhận một cách chân thành, thì dưới sự hướng dẫn sáng suốt của các Chân sư, một số mantram cổ [183] sẽ được phép lưu truyền. Tác động, tương tác và phản ứng của chúng sẽ được nghiên cứu và theo dõi chặt chẽ. Hy vọng rằng cả hai nhóm sẽ cùng mang lại lợi ích cho nhau. Dòng tiến hoá nhân loại nên trao sức mạnh cho thiên thần, và thiên thần trao sự hoan hỉ cho nhân loại. Con người nên truyền đạt cho các thiên thần quan điểm khách quan, còn đến lượt mình, các thiên thần sẽ tuôn đổ vào y từ điện chữa lành của chúng. Chúng là những vị gìn giữ prana, từ điện và sinh lực, cũng như con người là người gìn giữ nguyên khí thứ năm, hay manas. Ở đây Tôi đã đưa ra một số gợi ý và không thể nói thêm. |
|
Tomorrow we will take up perhaps the most vitally interesting division on forms connected with fire. Today the matter imparted suffices. |
Ngày mai chúng ta sẽ bàn đến phần có lẽ hấp dẫn nhất và thiết yếu nhất về các hình thức liên quan đến lửa. Những điều truyền đạt hôm nay đã đủ. |
|
August 19th, 1920. |
Ngày 19 tháng 8 năm 1920. |
|
August 19, 1920, 3 pm. |
Ngày 19 tháng 8, năm 1920, 3 giờ chiều. |
|
Today we come, Brother of Mine, to the final and perhaps the most interesting of the mantric forms in use by certain Intelligences, whether human or otherwise. We are to take up the mantric forms used in connection with fire. |
Huynh đệ của Tôi, hôm nay, chúng ta đi đến phần cuối cùng, và có lẽ là phần hấp dẫn nhất trong các hình thức mantram mà một số Đấng Thông Tuệ sử dụng, dù là con người hay những đấng khác. Chúng ta sẽ bàn đến các hình thức mantram được sử dụng trong mối liên hệ với lửa. |
|
—— |
—— |
|
These are the four most important mantrams as regards individual evolution and development, and are well known to all those who train pupils for initiation. But by themselves, even if discovered by the unready, they could accomplish little, for their use must be accompanied by the power that comes from the application of the Rod of Initiation. This Rod, through its surmounting diamond, focuses the three fires in the same way that a burning glass reacts to the sun, and causes a conflagration. |
Đây là bốn mantram quan trọng nhất đối với sự tiến hoá và sự phát triển của cá nhân và tất cả những người huấn luyện môn sinh để chuẩn bị cho điểm đạo đều biết rõ chúng. Nhưng chỉ riêng chúng, ngay cả khi những người chưa sẵn sàng khám phá ra, chúng cũng chỉ có thể làm được rất ít, vì việc sử dụng chúng phải đi kèm với quyền năng đến từ việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo. Thần Trượng này, qua viên kim cương gắn trên đỉnh, tập trung ba ngọn lửa theo cùng cách mà một thấu kính hội tụ đáp ứng với mặt trời, và gây ra một đám cháy lớn. |
|
The great mantram of the Lords of the Flame is chanted in unison by the Lords at the time of the third initiation, when the initiate contacteth the Lord of the World Himself, and the Rod of Initiation, or the flaming Diamond is applied to the major centre then to be awakened fully. This mantram correspondeth to the one by which kundalini is awakened in the microcosm, and putteth a man in touch with that manifestation of choat which correspondeth to kundalini in the microcosm. |
Mantram vĩ đại của các Chúa Tể Ngọn Lửa được các Chúa Tể đồng thanh xướng lên vào lần điểm đạo thứ ba, khi điểm đạo đồ tiếp xúc với chính Đức Chúa Tể Thế Giới, và Thần Trượng Điểm đạo, hay Kim Cương rực lửa, tác động lên trung tâm chính cần được đánh thức hoàn toàn vào lúc ấy. Mantram này tương ứng với mantram dùng để đánh thức lửa hoả xà trong tiểu thiên địa, và đưa con người tiếp xúc với biểu hiện của lửa vũ trụ tương ứng với lửa hoả xà trong tiểu thiên địa. |
|
A lesser mantram is chanted at the first two initiations, presided over by the Bodhisattva when the lesser Rod of Power is used. This correspondeth to the lesser mantrams used to effect the reception of prana by the spleen in the microcosm and putteth him in touch by a most mysterious process with the pranic fluids in the macrocosm. |
Một mantram nhỏ hơn được xướng lên trong hai lần điểm đạo đầu tiên, do Đức Bồ Tát chủ trì, khi Thần Trượng Quyền Năng nhỏ hơn được sử dụng. Điều này tương ứng với các mantram nhỏ hơn dùng để giúp lá lách tiếp nhận sinh khí trong tiểu thiên địa, và qua một tiến trình hết sức huyền nhiệm, đưa y tiếp xúc với các lưu chất prana trong đại thiên địa. |
|
(The above two facts are not yet for exoteric publication) |
(Hai sự kiện trên chưa dành cho việc công bố ngoại môn) |
Mantric forms connected with fire. – Các hình thức mantram liên quan đến lửa.
|
Perhaps it would be of value if I touched somewhat upon the part fire plays in evolution and on the various departments connected with fire that may be found within our solar system. I especially emphasise it because in meditation the domain of fire is entered, and because of its prime importance. The departments in which fire plays its part are five. Let us therefore enumerate them. I will deal first with fire in the Macrocosm, and later show its microcosmic correspondence. |
Có lẽ sẽ hữu ích nếu Tôi đề cập đôi chút đến vai trò của lửa trong tiến hoá và các lĩnh vực khác nhau liên quan đến lửa trong hệ mặt trời của chúng ta. Tôi đặc biệt nhấn mạnh điều này vì khi tham thiền, người ta đi vào lĩnh vực của lửa, và vì tầm quan trọng hàng đầu của nó. Có năm lĩnh vực mà lửa giữ vai trò của mình. Vì vậy, chúng ta hãy liệt kê chúng. Trước tiên, Tôi sẽ bàn đến lửa trong Đại thiên địa, rồi sau đó chỉ ra sự tương ứng của nó trong tiểu thiên địa. |
|
1. The vital fire that animates the objective solar system. For instance, as evidenced in the internal economy of our planet, and the central ball of fire, the sun. |
1. Lửa sinh lực làm sinh động hệ mặt trời khách quan. Chẳng hạn, lửa này biểu lộ trong cơ chế vận hành nội tại của hành tinh chúng ta và trong khối cầu lửa trung tâm là mặt trời. |
|
2. That mysterious something called by H. P. B. Fohat, of which some of the manifestations are electricity, certain forms of light, and the magnetic fluid wherever encountered. |
2. Điều huyền nhiệm mà H. P. B. gọi là Fohat, với một số biểu hiện là điện, một số hình thức ánh sáng, và lưu chất từ tính ở bất cứ nơi nào có nó. |
|
3. The fire of the mental plane. [184] |
3. Lửa của cõi trí. [184] |
|
4. The fire elementals who, in their essence, are fire itself. |
4. Các hành khí của lửa mà, trong tinh chất của chúng, chính là lửa. |
|
5. The vital spark we call the “divine flame,” latent in each human being, which distinguishes our solar Logos from all other Logoi, and which is the sum of all His characteristics. “Our God is a consuming Fire.” |
5. Tia lửa sinh lực mà chúng ta gọi là “ngọn lửa thiêng liêng”, tiềm ẩn trong mỗi con người, phân biệt Thái dương Thượng đế của chúng ta với tất cả Các Thượng đế khác, và là tổng thể mọi đặc tính của Ngài. “Thượng đế của chúng ta là Lửa thiêu đốt.” |
|
All these differentiations of fire are practically differentiations of one and the same thing; they are basically the same though in manifestation they are diverse. They originated fundamentally from cosmic fire found on the cosmic mental levels. In the Microcosm you find this fivefold differentiation again, and it is in the recognition of this correspondence that illumination comes, and the purpose of meditation is achieved. |
Tất cả những biến phân này của lửa thực chất là những biến phân của cùng một điều; về căn bản chúng giống nhau, dù biểu hiện đa dạng. Về nguồn gốc căn bản, chúng phát sinh từ lửa vũ trụ trên các cấp độ trí vũ trụ. Trong Tiểu thiên địa, các bạn lại thấy sự biến phân ngũ phân này, và chính khi nhận biết sự tương ứng này, sự soi sáng xuất hiện và mục đích của tham thiền được thành tựu. |
|
1. The vital fires that keep the internal economy of the human being,—the microcosmic system—in full manifestation. At the cessation of that inner burning, death ensues, and the physical objective system passes into obscuration. So it is in the Macrocosm. Just as the sun is the centre for our system, so the heart is the focal point for the microcosmic heat; similarly, as the earth is vitalised by the same heat and is, for our chain, the point of densest matter, and of greatest physical heat, so the lower generative organs are the secondary centre in the majority of cases for the internal fire. The correspondence is accurate, mysterious and interesting. |
1. Các ngọn lửa sinh lực duy trì cơ chế vận hành nội tại của con người — hệ thống tiểu thiên địa — trong sự biểu hiện trọn vẹn. Khi sự cháy bên trong ấy ngừng lại, cái chết xảy đến, và hệ thống hồng trần khách quan đi vào trạng thái qui nguyên. Trong Đại thiên địa cũng vậy. Cũng như mặt trời là trung tâm của thái dương hệ chúng ta, trái tim là tiêu điểm nhiệt của tiểu thiên địa; tương tự, cũng như Trái Đất nhận sinh lực từ cùng nhiệt ấy và là nơi có vật chất đậm đặc nhất cùng nhiệt hồng trần lớn nhất trong dãy của chúng ta, các cơ quan sinh dục phía dưới là trung tâm thứ cấp của lửa bên trong trong đa số trường hợp. Sự tương ứng này chính xác, huyền nhiệm và thú vị. |
|
2. The correspondence in the Microcosm to Fohat is found in the pranic currents that, through the etheric body, keep the dense physical vitalised and magnetised. The resources of the pranic fluid are illimitable and little understood, and in their [185] proper comprehension lies the secret of perfect health. We will touch upon this later. |
2. Trong Tiểu thiên địa, sự tương ứng với Fohat nằm trong các dòng prana, vốn đi qua thể dĩ thái để duy trì sinh lực và từ tính cho thể xác đậm đặc. Nguồn lực của lưu chất prana là vô hạn và còn ít được thấu hiểu; chính trong sự [185] thấu hiểu đúng đắn về chúng có bí quyết của sức khoẻ hoàn hảo. Chúng ta sẽ đề cập đến điều này sau. |
|
3. The correspondence to the fire of the mental plane is easily demonstrable. For the work of the Lords of Flame in implanting the spark of mind has so developed and grown, that now the fire of intellect is to be seen burning in all civilised peoples. All energies are turned to the feeding of that spark and the turning of it to the greatest profit. |
3. Có thể dễ dàng chứng minh sự tương ứng với lửa của cõi trí. Vì công việc gieo tia lửa trí tuệ của các Chúa Tể Ngọn Lửa đã phát triển và tăng trưởng đến mức hiện nay có thể thấy lửa trí năng cháy sáng trong mọi dân tộc văn minh. Mọi năng lượng đều hướng vào việc nuôi dưỡng tia lửa ấy và sử dụng nó để đạt lợi ích lớn nhất. |
|
4. The fire elementals are known in some measure in the microcosm by the thoughtforms conjured up and vitalised by the man whose thought power suffices to do so. These thoughtforms, built by the man who can think strongly, are vitalised by his life or capacity to heat, and last as long as he has the power so to animate them. This is not for long at this time as the real power of thought is little comprehended. In the fifth great cycle, which for this chain will see the culmination of the fifth principle of mind, this correspondence will be more understood. At present the connection is necessarily obscure. |
4. Trong tiểu thiên địa, người ta biết đến các hành khí của lửa ở một mức độ nào đó qua các hình tư tưởng do con người có đủ quyền năng tư tưởng khơi dựng và tiếp sinh lực. Những hình tư tưởng này, do người có khả năng suy nghĩ mạnh mẽ xây dựng, nhận sinh lực từ sự sống hoặc khả năng tạo nhiệt của y, và tồn tại chừng nào y còn có quyền năng làm chúng sinh động như vậy. Hiện nay, thời gian ấy không dài vì quyền năng thực sự của tư tưởng còn ít được thấu hiểu. Trong chu kỳ lớn thứ năm, khi nguyên khí thứ năm là trí đạt đến đỉnh cao trong dãy này, sự tương ứng ấy sẽ được thấu hiểu nhiều hơn. Hiện tại, mối liên hệ này tất yếu vẫn còn mờ mịt. |
|
5. The vital spark latent in each human being which marks him out as of the same nature as the Solar Logos. |
5. Tia lửa sinh lực tiềm ẩn trong mỗi con người, cho thấy y có cùng bản chất với Thái dương Thượng đế. |
|
Here you have fire as it may be seen in the greater and the lesser systems. I would here sum up for you the purpose of fire in the microcosm, and what must be aimed at. You have the three fires: |
Ở đây, các bạn thấy lửa như nó biểu lộ trong các hệ thống lớn và nhỏ. Tại đây, Tôi muốn tóm lược cho các bạn mục đích của lửa trong tiểu thiên địa và điều cần hướng tới. Các bạn có ba ngọn lửa: |
|
1. The vital divine spark. |
1. Tia lửa sinh lực thiêng liêng. |
|
2. The spark of mind. |
2. Tia lửa trí tuệ. |
|
3. Kundalini, the twofold blending of the internal heat and of the pranic current. The home of this [186] force is the centre at the base of the spine and the spleen as a feeder of that heat. |
3. Lửa hoả xà, sự hoà hợp nhị phân của nhiệt bên trong và dòng prana. Nơi cư ngụ của [186] mãnh lực này là trung tâm ở đáy cột sống, còn lá lách cung cấp nguồn nuôi dưỡng nhiệt ấy. |
|
When these three fires—that of the quaternary, of the triad and of the fifth principle—meet and blend in proper geometrical manner, each centre is adequately vitalised, every power is sufficiently expressing itself, all impurity and dross is burnt away, and the goal is reached. The spark has become a flame, and the flame is part of the great egoic blaze which animates all of the objective universe. |
Khi ba ngọn lửa này — lửa của bộ tứ, của Tam nguyên tinh thần và của nguyên khí thứ năm — gặp nhau và hoà hợp theo cách thức hình học thích hợp, mỗi trung tâm nhận sinh lực đầy đủ, mọi quyền năng biểu hiện đầy đủ, mọi bất tịnh và cặn bã đều bị thiêu sạch, và mục tiêu đạt được. Tia lửa đã trở thành ngọn lửa, và ngọn lửa là một phần của biển lửa chân ngã vĩ đại làm sinh động toàn bộ vũ trụ khách quan. |
|
Therefore, we are brought logically to the position that there will be for these three types of mantrams another mantram which will bring about their union and merging. You have in fact:— |
Vì vậy, theo logic, chúng ta đi đến kết luận rằng đối với ba loại mantram này sẽ có một mantram khác, mang lại sự hợp nhất và hoà nhập của chúng. Thực tế, các bạn có:— |
|
• Mantrams that affect kundalini, and arouse it in the right manner. By the power of the vibration they send it circulating through the centres according to their natural, geometrical progression. A secondary branch of these mantrams deals with the spleen, and the control of the pranic fluids for the purpose of health, for vitalisation, and for affecting the fire at the base of the spine. |
• Những mantram tác động đến kundalini và khơi dậy nó đúng cách. Nhờ quyền năng của rung động, chúng khiến kundalini lưu chuyển qua các trung tâm theo trình tự phát triển hình học tự nhiên của các trung tâm ấy. Một nhánh phụ của những mantram này đề cập đến lá lách và việc kiểm soát các lưu chất prana nhằm phục vụ sức khỏe, tiếp sinh lực và tác động đến lửa ở đáy cột sống. |
|
• Mantrams that work on the matter of the mental plane, on one or other of its two main divisions,—abstract and concrete,—and which work there in a twofold manner, producing an increased capacity to think, wield or manipulate mental matter, and, acting as a stimulant to the causal body, fit it more rapidly as a vehicle of consciousness, and prepare it for the final disintegration which is effected by fire. |
• Những mantram tác động lên vật chất của cõi trí, lên một trong hai phân khu chính của cõi này—trừu tượng và cụ thể—và tác động ở đó theo cách nhị phân: gia tăng khả năng suy nghĩ, sử dụng hoặc vận dụng vật chất trí; đồng thời kích thích thể nguyên nhân, nhanh chóng làm cho thể này thích hợp hơn để trở thành hiện thể của tâm thức và chuẩn bị cho sự tan rã cuối cùng do lửa thực hiện. |
|
• Mantrams that evoke the God within, and work specifically on the Ego. From thence they set up a [187] strong vibration within the higher Triad, and so cause a downflow of the monadic force into the causal body. All these mantrams can be used separately, and achieve their own result. |
• Những mantram gợi lên Thượng đế bên trong và tác động chuyên biệt lên Chân ngã. Từ đó, chúng tạo nên một [187] rung động mạnh mẽ trong Tam Nguyên Tinh Thần cao siêu, nhờ vậy khiến mãnh lực chân thần tuôn xuống thể nguyên nhân. Tất cả những mantram này đều có thể sử dụng riêng biệt và đạt được kết quả riêng của chúng. |
|
There are seven great mantrams, one for each ray, that (when used by the Master or by a member of the Hierarchy) combine all the three effects. They arouse kundalini, they work on the causal vehicle on the mental plane, and they set up a vibration in the Triad and thus effect an at-one-ment of the lower, the higher and the fifth principle. This is a reflection of what occurred at the coming of the Lords of Flame. It leads to complete unification, and marks the man out henceforth as one in whom love demonstrates in action by the aid of illuminated mind. |
Có bảy mantram vĩ đại, mỗi cung có một mantram, kết hợp cả ba tác dụng ấy khi một Chân sư hoặc một thành viên của Thánh đoàn sử dụng chúng. Chúng khơi dậy kundalini, tác động lên hiện thể nguyên nhân trên cõi trí và tạo nên một rung động trong Tam Nguyên Tinh Thần, qua đó thực hiện sự hợp nhất giữa phần thấp, phần cao và nguyên khí thứ năm. Đây là sự phản ánh điều đã xảy ra khi các Chúa Tể của Ngọn Lửa giáng lâm. Nó dẫn đến sự hợp nhất hoàn toàn và từ đó đánh dấu con người như một người mà tình thương biểu hiện qua hành động nhờ sự trợ giúp của trí tuệ được soi sáng. |
|
These are the four most important mantrams as regards individual evolution and development, and are well-known to all those who train pupils for initiation. But by themselves, even if discovered by the unready, they could accomplish little, for their use must be accompanied by the power that comes from the application of the Rod of Initiation. This Rod, through its surmounting diamond, focuses the three fires in the same way that a burning glass reacts to the sun, and causes a conflagration. |
Đây là những mantram thuộc bốn loại quan trọng nhất đối với sự tiến hoá và phát triển cá nhân, và tất cả những người huấn luyện môn sinh để điểm đạo đều biết rõ chúng. Nhưng riêng chúng, dù những người chưa sẵn sàng có khám phá ra, cũng chẳng thể thực hiện được bao nhiêu, vì việc sử dụng chúng phải đi kèm với quyền năng phát sinh từ việc sử dụng Thần Trượng Điểm đạo. Nhờ viên kim cương trên đỉnh, Thần Trượng này hội tụ ba ngọn lửa theo cùng cách một thấu kính đốt hội tụ ánh nắng mặt trời và gây nên một đám cháy dữ dội. |
|
I have here given you a lot of information in very few words. The matter is much condensed. It has a special significance for the man who nears the Path of Initiation. Ponder carefully on this which is imparted, for, by brooding upon it in the silence of the heart, light may come, and the inner fire glow with greater heat. |
Ở đây, Tôi đã cung cấp cho các bạn rất nhiều thông tin chỉ trong vài lời. Nội dung đã được cô đọng rất nhiều. Nó có một thâm nghĩa đặc biệt đối với người đang tiến gần Con Đường Điểm Đạo. Hãy suy ngẫm kỹ về điều được truyền đạt này, vì khi trầm tư về nó trong sự im lặng của tâm, ánh sáng có thể đến và ngọn lửa bên trong có thể bừng lên nóng hơn. |
|
Other mantrams connected with fire can be further enumerated. There are two groups that are contacted by the use of certain rhythmic sounds. [188] |
Có thể kể thêm những mantram khác liên quan đến lửa. Có hai nhóm mà người ta có thể tiếp xúc bằng cách sử dụng một số âm thanh có nhịp điệu. [188] |
|
• The fire elementals and their various hosts in the bowels of the earth, on the surface of the earth, and in the air above the earth. |
• Các hành khí của lửa và những đoàn thể khác nhau của chúng trong lòng đất, trên mặt đất và trong không khí phía trên mặt đất. |
|
• The devas of the mental plane, who are essentially the devas of fire. |
• Các thiên thần của cõi trí, về bản chất là các thiên thần của lửa. |
|
With the mantrams affecting the elementals of fire there is nought to be said or imparted. They are, in many ways, the most dangerous and the most powerful of the elementals who attend to the earth economy. For one thing, they far outnumber all the other elementals, and are found on every plane from the highest to the lowest. The elementals of water or earth are found only in certain localities or spheres in the solar system, whilst the next most numerous elementals are those of air. |
Về những mantram tác động đến các hành khí của lửa, không có gì để nói hoặc truyền đạt. Theo nhiều phương diện, chúng là những hành khí nguy hiểm nhất và mạnh mẽ nhất đảm trách sự vận hành của Trái Đất. Trước hết, số lượng của chúng vượt xa tất cả các hành khí khác, và chúng hiện diện trên mọi cõi từ cao nhất đến thấp nhất. Các hành khí của nước hoặc đất chỉ hiện diện ở một số địa điểm hoặc khối cầu nhất định trong hệ mặt trời, trong khi những hành khí có số lượng đông thứ hai là các hành khí của khí. |
|
Mantrams calling them, controlling and dismissing them, were in common use among the Atlanteans. The dangers aroused, and the menace stalking the land through the indiscriminate use of elementals, so disturbed the accurate working of the logoic plans, and so displeased the Guides of the race that the knowledge was withdrawn. The Atlantean root race passed away through disasters by water, by floods, by submergings; when you remember that water is the natural enemy of fire, and that the two groups of elementals have no point of at-one-ment at this stage, you may be able to understand an interesting point about the Atlantean cataclysms. |
Những mantram triệu gọi, kiểm soát và giải tán chúng từng được người Atlantis sử dụng phổ biến. Những hiểm nguy phát sinh cùng mối đe dọa lan khắp đất đai do việc sử dụng hành khí bừa bãi đã làm xáo trộn nghiêm trọng sự thực thi chính xác các kế hoạch của Thượng đế và khiến các Đấng Hướng Đạo của nhân loại bất bình đến mức tri thức ấy đã bị thu hồi. Giống dân gốc Atlantis đã diệt vong qua những tai họa do nước, lũ lụt và đất đai chìm ngập; khi nhớ rằng nước là kẻ thù tự nhiên của lửa và hai nhóm hành khí ấy không có điểm hợp nhất nào ở giai đoạn này, các bạn có thể thấu hiểu một điểm thú vị về các đại biến động Atlantis. |
|
Mantrams calling the fire devas are equally well guarded, not only because of the dangers involved but because of the obstructions in time that are caused when these devas are heedlessly called and held by mantric charm from pursuing their necessary vocations. Under these two groups of mantric forms will be found many lesser groups which work specifically with different bands of elementals and devas. [189] |
Những mantram triệu gọi các thiên thần của lửa cũng được bảo vệ nghiêm ngặt như vậy, không chỉ vì những hiểm nguy liên quan, mà còn vì những trở ngại về thời gian phát sinh khi người ta triệu gọi các thiên thần này một cách thiếu suy xét và dùng sức mê hoặc của mantram giữ chân Các Ngài, ngăn Các Ngài thực hiện những nhiệm vụ cần thiết. Trong hai nhóm hình thức mantram này có nhiều nhóm nhỏ hơn, tác động chuyên biệt đến những đoàn hành khí và thiên thần khác nhau. [189] |
|
We have here enumerated six groups of mantrams connected with fire. There are still a few more which I might briefly enumerate. |
Ở đây, chúng ta đã liệt kê sáu nhóm mantram liên quan đến lửa. Vẫn còn một vài nhóm nữa mà Tôi có thể kể ra ngắn gọn. |
|
1. Purificatory mantrams that awaken a fire that purifies, and burns on one of the three lower planes. This is effected through the activity of elementals, controlled by fire devas, and under the direct guidance of an initiate or disciple for some specific purificatory end. The end may be to cleanse some one of the bodies or to purify a locality, a house or a temple. |
1. Những mantram thanh luyện khơi dậy một ngọn lửa có tác dụng thanh luyện và cháy trên một trong ba cõi thấp. Điều này được thực hiện qua hoạt động của các hành khí do các thiên thần của lửa kiểm soát, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của một điểm đạo đồ hoặc đệ tử, nhằm một mục đích thanh luyện cụ thể. Mục đích ấy có thể là làm sạch một trong các thể của con người hoặc thanh luyện một địa điểm, một ngôi nhà hay một ngôi đền. |
|
2. Mantrams that call down fire for the magnetisation of talismans, of stones and of sacred spots. |
2. Những mantram gọi lửa giáng xuống để từ hóa các bùa hộ mệnh, các viên đá và những nơi thiêng liêng. |
|
3. Mantrams that bring about healing through the occult use of flame. |
3. Những mantram mang lại sự chữa lành qua việc sử dụng ngọn lửa theo phương pháp huyền bí. |
|
4. The mantrams used:— |
4. Những mantram do các Đấng sau đây sử dụng:— |
|
a. By the Manu, in manipulating that which is necessary in the moving of continents, and the submerging of lands. |
a. Đức Manu, khi vận dụng những gì cần thiết cho việc di chuyển các lục địa và làm chìm ngập các vùng đất. |
|
b. By the Bodhisattva, in stimulating the inner flame in each human being. |
b. Đức Bồ Tát, khi kích thích ngọn lửa bên trong mỗi con người. |
|
c. By the Mahachohan, in His work with the intelligence, or the fifth principle. |
c. Đức Mahachohan, trong công việc của Ngài với trí thông minh, hay nguyên khí thứ năm. |
|
All these mantric forms and many others exist…… Brother of Mine, and it will some day be your prerogative—along with all who may achieve—to learn them and to use them. The first step towards the attainment of these mantrams is the acquirement of the faculty of occult meditation, for it is not the sounding of the words alone that bring about the desired end but the mental concentration that visualises the results to be attained. This must be accompanied by the will that causes those results to be dominated by the one who chants the sounds. These mantric forms are dangerous and useless apart from the concentrated mental equilibrium of the man, and his power to control and vitalise. [190] |
Tất cả những hình thức mantram này và nhiều hình thức khác đều tồn tại…… Huynh đệ của Tôi, và một ngày nào đó bạn sẽ có đặc quyền học—cùng với tất cả những người có thể thành tựu—chúng và sử dụng chúng. Bước đầu tiên để lĩnh hội những mantram này là đạt được năng lực tham thiền huyền bí, vì không phải chỉ riêng việc xướng các lời ấy mang lại kết quả mong muốn mà là sự tập trung trí tuệ hình dung những kết quả cần đạt được. Điều này phải đi kèm với ý chí khiến những kết quả ấy chịu sự chi phối của người xướng các âm thanh. Những hình thức mantram này nguy hiểm và vô ích nếu thiếu trạng thái quân bình trí tuệ tập trung của con người cùng quyền năng kiểm soát và tiếp sinh lực của y. [190] |
|
August 21, 1920. |
Ngày 21 tháng 8 năm 1920. |
|
We come now to the last division of our sixth letter. |
Giờ đây, chúng ta đến phần cuối của bức thư thứ sáu. |
The use of Form collectively. – Việc sử dụng Hình Tướng theo tập thể.
|
I propose to take this up under three heads which for purposes of clarity we will call:— |
Tôi đề nghị xem xét vấn đề này dưới ba đề mục mà, để làm rõ, chúng ta sẽ gọi là:— |
|
1. The use of sound collectively in a meditation form. |
1. Việc sử dụng âm thanh theo tập thể trong một hình thức tham thiền. |
|
2. The use of rhythm collectively in meditation. |
2. Việc sử dụng nhịp điệu theo tập thể trong tham thiền. |
|
3. Special occasions on which these forms are used. |
3. Những dịp đặc biệt mà các hình thức này được sử dụng. |
|
(You can, Brother of Mine, word these first two heads more euphoniously, you have got my thought but the wording is heavy and faulty) |
(Huynh đệ của Tôi, bạn có thể diễn đạt hai đề mục đầu này cho êm tai hơn; bạn đã nắm được ý của Tôi, nhưng cách diễn đạt còn nặng và chưa chuẩn) |
|
……We have rather exhaustively considered in this series of letters individual meditation and have taken up the subject from many and varied angles. In all our handling of the matter only enough has been communicated to arouse the interest of the student and to incite him to greater effort, closer study, and deeper investigation. Only that which is understood and grasped as a fact in experience by the inner consciousness avails aught in the hard path of occult development. Theories and mental concepts avail not. They but increase responsibility. Only when these theories are put to the test, and are consequently known to be facts in nature, and only when mental concepts are brought down and demonstrated on the physical plane in practical experience, can the student be in a position to point the way to other searchers, and to hold out a helping hand to those following behind. To say: “I hear” may prove helpful and encouraging; to add to that the words “I believe” may carry added assurance, but to sound forth a trumpet note and say “I know” is the thing needed in this one of the darkest hours of the Kali Yuga. The knowers are as yet few. Yet to know is fully possible and is subject only to the diligence, the sincerity, and the capacity of the pupil on the path to stand firm in suffering. [191] |
……Trong loạt thư này, chúng ta đã xem xét khá toàn diện việc tham thiền cá nhân và bàn đến chủ đề ấy từ nhiều góc độ khác nhau. Trong toàn bộ việc khảo sát vấn đề, chỉ có đủ thông tin được truyền đạt để khơi dậy sự quan tâm của đạo sinh và thúc đẩy y nỗ lực hơn, học hỏi kỹ hơn và khảo cứu sâu hơn. Chỉ những gì tâm thức bên trong thấu hiểu và nắm bắt như một sự thật qua trải nghiệm mới có giá trị trên con đường gian khó của sự phát triển huyền bí. Các lý thuyết và khái niệm trí tuệ không có giá trị gì. Chúng chỉ làm tăng trách nhiệm. Chỉ khi những lý thuyết ấy được đưa ra kiểm nghiệm, và do đó được biết là những sự thật trong tự nhiên, và chỉ khi những khái niệm trí tuệ được đưa xuống và chứng minh trên cõi hồng trần qua trải nghiệm thực tiễn, đạo sinh mới có thể chỉ đường cho những người tìm kiếm khác và đưa tay giúp đỡ những người theo sau. Nói: “Tôi nghe” có thể hữu ích và khích lệ; thêm vào đó những lời “Tôi tin” có thể đem lại sự vững tin hơn, nhưng điều cần thiết trong giờ phút thuộc hàng tăm tối nhất của thời đại Kali Yuga này là cất lên một âm vang như tiếng kèn và nói: “Tôi biết”. Những thức giả hiện vẫn còn ít. Tuy nhiên, việc biết là hoàn toàn khả thi và chỉ tùy thuộc vào sự chuyên cần, lòng chân thành và khả năng đứng vững trong đau khổ của môn sinh trên đường đạo. [191] |
|
Now having some dim idea of the results to be achieved, and the methods to be employed in individual meditation, and having enlarged a little on the use of forms by individuals, we can now take up the consideration of the matter from the collective standpoints. |
Giờ đây, khi đã có một ý niệm mờ nhạt về những kết quả cần đạt được và những phương pháp cần sử dụng trong tham thiền cá nhân, đồng thời đã bàn rộng hơn đôi chút về việc cá nhân sử dụng các hình thức, chúng ta có thể xem xét vấn đề từ những quan điểm tập thể. |
|
Some of the most important things to note about the collective use of forms are that it has a universal vogue, is very effective, and can also be very dangerous. The collective worshipping of the Deity and the performance of religious rites in unison is so much a part of the public life of all peoples that its raison d’etre, and the results achieved, are apt to be overlooked. Every religion—Christian, Buddhist, Hindu, Mohammedan, down to the distorted fetish worship of the most degraded race—has emphasised the value and efficiency of a united attempt to contact the Divine. Results are inevitably achieved, ranging all the way from the calm and peaceful feeling that rests upon the participant in the Christian mysteries, to the frenzy and gyrations of the wildest dervish or the most benighted Zulu. The difference lies in the ability of the worshipper to assimilate force, and in his capacity to hold and carry it. These points are decided by his place on the ladder of evolution, and by the emotional and mental control of which he may be possessed. |
Một số điều quan trọng nhất cần lưu ý về việc sử dụng các hình thức theo tập thể là: việc ấy phổ biến khắp nơi, rất hiệu quả và cũng có thể rất nguy hiểm. Việc thờ phụng Thượng đế theo tập thể và cùng nhau cử hành các nghi lễ tôn giáo đã trở thành một phần sâu đậm trong đời sống cộng đồng của mọi dân tộc đến mức người ta dễ bỏ qua lý do tồn tại của nó cùng những kết quả đạt được. Mọi tôn giáo—Kitô giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, cho đến việc thờ vật linh méo mó của những cộng đồng suy đồi nhất—đều nhấn mạnh giá trị và hiệu quả của một nỗ lực hợp nhất nhằm tiếp xúc với Đấng Thiêng Liêng. Những kết quả tất yếu sẽ xuất hiện, trải rộng từ cảm giác bình thản và an lành bao phủ người tham dự các nghi thức huyền nhiệm Kitô giáo đến trạng thái cuồng loạn và những vòng xoay của tu sĩ khổ hạnh cuồng nhiệt nhất hoặc người Zulu mê muội nhất. Sự khác biệt nằm ở khả năng hấp thụ mãnh lực của người thờ phụng và khả năng giữ gìn, chuyển tải mãnh lực ấy của y. Những điểm này tùy thuộc vào vị trí của y trên thang tiến hoá và mức độ kiểm soát cảm xúc, trí tuệ mà y có thể có. |
|
The first postulate to remember in considering the collective use of form in meditation is that those forms, in employing sound and rhythm, should open up a funnel of communication between those taking part in them and the Intelligences or Powers they are seeking to approach. By the means of this funnel which penetrates from the physical to the emotional, or still higher to one or other of the mental levels, the Intelligences or Powers are enabled to pour forth illuminating light or power of some kind or other into those who thus approach Them. The funnel [192] forms a channel whereby the contact can be made. The whole process is purely scientific and is based on vibration, and on a knowledge of dynamics. It is dependent upon the accurate formation, through occult knowledge, of a vacuum. The occult statement that “Nature abhors a vacuum” is entirely true. When through the correct intoning of certain sounds, this vacuum or empty funnel between the higher and the lower is formed, force or power of some manifestation of fohatic energy pours into the funnel under the inevitable working of the law, and, via that funnel, reaches its objective. |
Tiền đề đầu tiên cần nhớ khi xem xét việc sử dụng hình thức theo tập thể trong tham thiền là những hình thức ấy, khi sử dụng âm thanh và nhịp điệu, phải mở ra một phễu thông giao giữa những người tham gia và các Đấng Trí Tuệ hoặc Quyền Năng mà họ đang tìm cách tiếp cận. Nhờ phễu này xuyên từ cõi hồng trần đến cõi cảm dục, hoặc cao hơn nữa đến một cấp độ nào đó của cõi trí, các Đấng Trí Tuệ hoặc Quyền Năng có thể tuôn ánh sáng soi sáng hoặc một loại quyền năng nào đó vào những người tiếp cận Các Ngài theo cách ấy. Phễu này [192] tạo thành một kênh qua đó sự tiếp xúc có thể diễn ra. Toàn bộ tiến trình này hoàn toàn mang tính khoa học, dựa trên rung động và tri thức về động lực học. Nó tùy thuộc vào việc tạo ra một chân không chính xác nhờ tri thức huyền bí. Phát biểu huyền bí rằng “Tự nhiên không dung nạp chân không” là hoàn toàn đúng. Khi việc ngân xướng chính xác một số âm thanh tạo ra chân không hay phễu rỗng này giữa phần cao và phần thấp, mãnh lực hoặc quyền năng của một dạng biểu hiện nào đó của năng lượng fohat sẽ tuôn vào phễu theo sự vận hành tất yếu của định luật và, qua phễu ấy, đến được mục tiêu của nó. |
|
It is on the misuse of this knowledge that much of what we call black art or evil magic is based. By means of invocation and forms the Dark Brothers (or those who tamper with what you ignorantly term the powers of evil) tap forces connected with dark intelligences in high places. Thus they set in motion happenings on the physical plane that have their origination in the dark mysterious caves of cosmic evil as found within our solar system. Equally so, it is possible to tap the still greater forces of light and good and to make application of them on the side of evolution. |
Chính việc lạm dụng tri thức này là nền tảng của phần lớn những gì chúng ta gọi là tà thuật hoặc huyền thuật ác. Nhờ khẩn cầu và các hình thức, những huynh đệ bóng tối (hay những kẻ can thiệp vào điều mà các bạn do thiếu hiểu biết gọi là các quyền năng của điều ác) khai thác những mãnh lực liên quan đến các trí tuệ bóng tối ở những cấp cao. Như vậy, họ khởi động những sự kiện trên cõi hồng trần có nguồn gốc trong các hang động tối tăm, bí ẩn của điều ác vũ trụ hiện hữu trong hệ mặt trời của chúng ta. Tương tự, người ta cũng có thể khai thác những mãnh lực còn vĩ đại hơn của ánh sáng và điều thiện, rồi sử dụng chúng để hỗ trợ tiến hoá. |
|
(Sit up, Brother of Mine, for in the reception of my dictated word it is essential that there should be direct alignment betwixt the major head centre which you employ and the base of the spine via the spinal column.) |
(Huynh đệ của Tôi, hãy ngồi thẳng lên, vì khi tiếp nhận lời Tôi đọc cho bạn ghi, điều thiết yếu là phải có sự chỉnh hợp trực tiếp giữa trung tâm đầu chính mà bạn sử dụng và đáy cột sống qua chính cột sống của bạn.) |
The use of sound collectively in meditation forms. – Việc sử dụng âm thanh theo tập thể trong các hình thức tham thiền.
|
We will now take up the matter specifically from the standpoint of sound. In the study of the Sacred Word and its use we found that it had a triple effect, destructive, constructive and personal,—if I might so express it—or acting directly in a stimulating sense on the centres of the body. These three effects may be seen in the use of all sound collectively and by a large body of persons. We might enumerate still further for the sake of clarity a fourth effect, that of the creation of a funnel. This fourth effect is but a synthesis of the others in actuality, for adjustments [193] in the matter of the three lower planes have to be made in this creation of a funnel of communication. Those adjustments result first of all in the destruction of obstructing matter, and then in the construction of a funnel for use. This is very definitely effected through the instrumentality of the centres. This latter point is of fundamental interest, and holds hid the secret of the most potent use of sound. That use is its projection in mental matter by means of one or other of the major centres. The effects achieved by a group of persons who have the power to work on mental levels, and to employ simultaneously one of the major centres (either entirely the head centre or one of the other major centres in connection with its corresponding head centre) can be unbelievably powerful. It is well for the race that as yet that power is not theirs. Only when united purity of motive and an unselfish adherence to the good of all can be found, will this power be permitted to return to the common knowledge of men. As yet it is practically impossible to get a sufficient number of people at the same stage of evolution, at the same point on the ladder, employing the same centre and responding to the same ray vibration to meet in unison, and sound together the same note or mantram. They must also be animated by pure love, and work intelligently for the spiritual uplift of all. |
Giờ đây, chúng ta sẽ xem xét vấn đề một cách cụ thể từ quan điểm âm thanh. Khi nghiên cứu Linh từ Thiêng Liêng và việc sử dụng Linh từ ấy, chúng ta thấy rằng nó có tác dụng tam phân: phá hủy, kiến tạo và tác động đến cá nhân—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy—hay trực tiếp kích thích các trung tâm của thân thể. Có thể nhận thấy ba tác dụng này trong mọi việc sử dụng âm thanh theo tập thể, do một đoàn người đông đảo thực hiện. Để làm rõ, chúng ta có thể kể thêm một tác dụng thứ tư, đó là tạo ra một phễu. Tác dụng thứ tư này thực chất chỉ là sự tổng hợp của những tác dụng kia, vì những điều chỉnh [193] trong vật chất của ba cõi thấp phải được thực hiện khi tạo ra phễu thông giao này. Những điều chỉnh ấy trước hết dẫn đến việc phá hủy vật chất gây trở ngại, rồi kiến tạo một phễu để sử dụng. Điều này được thực hiện rất rõ ràng nhờ các trung tâm làm phương tiện. Điểm sau cùng này có tầm quan trọng căn bản và ẩn chứa bí mật của cách sử dụng âm thanh mạnh mẽ nhất. Cách sử dụng ấy là phóng chiếu âm thanh vào vật chất trí qua một trong các trung tâm chính. Những tác dụng mà một nhóm người có quyền năng hoạt động trên các cấp độ trí và đồng thời sử dụng một trong các trung tâm chính đạt được (hoặc hoàn toàn là trung tâm đầu, hoặc một trong các trung tâm chính khác kết hợp với trung tâm đầu tương ứng của nó) có thể mạnh mẽ đến mức khó tin. Việc họ chưa có quyền năng ấy là điều tốt cho nhân loại. Chỉ khi có sự thanh khiết thống nhất về động cơ và sự tận tâm vô vị kỷ đối với lợi ích của tất cả, quyền năng này mới được phép trở lại thành tri thức phổ biến của con người. Hiện nay, trên thực tế, gần như không thể tập hợp đủ số người ở cùng một giai đoạn tiến hoá, cùng một bậc trên thang tiến hoá, sử dụng cùng một trung tâm và đáp ứng với cùng một rung động cung, để cùng hòa hợp và xướng lên cùng một âm điệu hoặc mantram. Họ cũng phải được thúc đẩy bằng tình thương thuần khiết và hoạt động một cách sáng suốt nhằm nâng cao đời sống tinh thần của tất cả. |
|
Part of the power of the Hierarchy is based on Their ability to do just this very thing. As evolution progresses, and the matter is more fully comprehended, meditation groups will change from their present status, which is that of bands of earnest aspirants seeking illumination, to bands of workers constructively and intelligently working together for certain ends. You have in the Christian Bible the remnant of a tale which has descended to us from Atlantean days. In those days the use of sound on physical [194] and emotional levels was understood and practised, being utilised for selfish ends in most of the cases. You read that at the sound of trumpets, sounded a certain number of times after a rhythmical circuit of the walls of Jericho those walls collapsed. This was made possible by the occult knowledge of the leaders of the people who—being versed in the science of sound and having studied its destructive and creative effects,—knew just the moment to apply that science and effect the desired end. |
Một phần quyền năng của Thánh đoàn dựa trên khả năng của Các Ngài làm chính điều này. Khi tiến hoá tiến triển và vấn đề được thấu hiểu đầy đủ hơn, các nhóm tham thiền sẽ chuyển từ trạng thái hiện nay — những nhóm người chí nguyện thành tâm tìm kiếm sự soi sáng — thành những nhóm người hoạt động cùng nhau một cách kiến tạo và thông minh nhằm đạt những mục đích nhất định. Trong Kinh Thánh Kitô giáo, các bạn có phần còn sót lại của một câu chuyện lưu truyền đến chúng ta từ thời Atlantis. Vào thời ấy, người ta đã thấu hiểu và thực hành việc sử dụng âm thanh trên các cấp độ hồng trần [194] và cảm dục, phần lớn nhằm những mục đích ích kỷ. Các bạn đọc thấy rằng khi tiếng kèn vang lên một số lần nhất định sau khi đoàn người đi vòng quanh các bức tường Jericho theo nhịp điệu, những bức tường ấy đã sụp đổ. Điều này có thể xảy ra nhờ tri thức huyền bí của những người lãnh đạo dân chúng; vốn tinh thông khoa học âm thanh và đã nghiên cứu những tác dụng huỷ diệt cũng như sáng tạo của nó, họ biết đúng thời điểm để vận dụng khoa học ấy và đạt kết quả mong muốn. |
|
These sounds can be grouped under three heads:— |
Có thể chia những âm thanh này thành ba loại:— |
The united sounding of the Sacred Word. – Việc cùng nhau xướng Linh từ Thiêng Liêng.
|
This is one of the most usual methods, and the most direct way of forming a funnel for the transmission of power. If it is so effective in the case of the individual, as has been again and again demonstrated, surely its united use will be tremendously effective, and even dangerously potent. It is the loss of the use of this Word that has crippled and hindered the efficiency of all the present exoteric faiths, but this loss has been deliberately brought about owing to the dangers incident to the low point of evolution of the human hierarchy. When the use of this word is restored collectively, and when congregations of men can sound it correctly on the right note and in the right cadence or rhythm, then the downflow of force from above (the quality of that force depending on key and tone) will be such that the vivification of the microcosm will affect the surrounding country and environment. It will cause corresponding stimulation in all the kingdoms of nature, for the human kingdom forms a link between the higher and the lower, and, in conjunction with the deva kingdom, provides a meeting ground for the forces of life. |
Đây là một trong những phương pháp thông dụng nhất, và là cách trực tiếp nhất để tạo một phễu truyền dẫn quyền năng. Nếu phương pháp này hữu hiệu đến thế đối với cá nhân, như đã được chứng minh nhiều lần, thì chắc chắn việc cùng nhau sử dụng nó sẽ vô cùng hữu hiệu, thậm chí mạnh đến mức nguy hiểm. Chính việc đánh mất khả năng sử dụng Linh từ này đã làm suy yếu và cản trở hiệu quả của mọi tín ngưỡng ngoại môn hiện nay; nhưng sự mất mát ấy đã được chủ ý tạo ra vì những nguy hiểm gắn liền với trình độ tiến hoá còn thấp của Huyền Giai nhân loại. Khi việc sử dụng linh từ này được khôi phục trong tập thể, và khi các tập thể người có thể xướng linh từ ấy đúng cách đúng âm điệu và đúng tiết tấu hay nhịp điệu, thì dòng mãnh lực tuôn xuống từ trên cao (phẩm tính của mãnh lực ấy tuỳ thuộc vào giọng và âm sắc) sẽ mạnh đến mức sự tiếp sinh lực cho tiểu thiên địa sẽ tác động đến vùng đất và môi trường xung quanh. Nó sẽ gây ra sự kích thích tương ứng trong mọi giới của tự nhiên, vì giới nhân loại tạo thành một mắt xích giữa cái cao và cái thấp, và kết hợp với giới thiên thần để tạo nên nơi hội tụ cho các mãnh lực của sự sống. |
|
These effects upon the different centres will be definitely felt on one or other plane in the three worlds. Let [195] me illustrate, for clarity is desired. I must warn you however to bear in mind that no importance must be attached to the order specified here. The time is not ripe for the opening up of accurate information on this matter. |
Những tác dụng này lên các trung tâm khác nhau sẽ được cảm nhận rõ rệt trên cõi này hay cõi khác trong ba cõi giới. Hãy để [195] Tôi minh hoạ, vì cần làm rõ điều này. Tuy nhiên, Tôi phải cảnh báo các bạn hãy ghi nhớ rằng không được coi trọng thứ tự nêu ra ở đây. Thời điểm chưa chín muồi để công bố thông tin chính xác về vấn đề này. |
|
We will presume that a congregation of people is desirous of linking up with that channel of force that works through the emotions, and so stimulates to greater aspiration and love. In united silence they will stand until, at a given word from the leader, each unit in the group will deliberately withdraw his consciousness into the heart centre, and then from that heart centre (keeping the consciousness steadily there) he will drive forth the sound of the Sacred Word, pitched in the key to which the majority of the group respond. This key will be ascertained by the clairvoyant group leader reviewing rapidly the auras gathered before him. This sound will create the necessary funnel, and the result will be an immense temporary extension of the peripheries of the emotional bodies of the participants, and an intense vitalisation of their heart centres. By means of this the people will be enabled to reach heights and receive blessings otherwise not separately possible. You can for yourself think out other conditions. The use of the imagination in these matters is of real importance and develops a connection between that faculty and its higher counterpart, the intuition. Students of meditation must learn to imagine more. |
Chúng ta hãy giả định rằng một tập thể người mong muốn kết nối với kênh mãnh lực hoạt động qua cảm xúc, nhờ đó khơi dậy khát vọng và tình thương lớn hơn. Họ sẽ cùng đứng trong im lặng cho đến khi người lãnh đạo ra hiệu bằng một lời đã định; mỗi thành viên trong nhóm sẽ chủ ý thu tâm thức vào trung tâm tim, rồi từ trung tâm tim ấy (giữ tâm thức vững vàng tại đó), y sẽ phát ra âm thanh của Linh từ Thiêng Liêng, với giọng mà đa số thành viên trong nhóm đáp ứng. Người lãnh đạo nhóm có khả năng thông nhãn sẽ xác định giọng này bằng cách nhanh chóng quan sát các hào quang tụ họp trước mình. Âm thanh này sẽ tạo nên phễu cần thiết, và kết quả là chu vi các thể cảm dục của những người tham gia sẽ tạm thời mở rộng vô cùng, đồng thời các trung tâm tim của họ được tiếp sinh lực mãnh liệt. Nhờ đó, họ có thể vươn tới những đỉnh cao và đón nhận những ân phúc mà riêng từng người không thể đạt được. Các bạn có thể tự suy nghĩ ra những điều kiện khác. Việc sử dụng sự tưởng tượng trong những vấn đề này thực sự quan trọng và phát triển mối liên kết giữa năng lực ấy với đối phần cao hơn của nó là trực giác. Các đạo sinh tham thiền phải học cách tưởng tượng nhiều hơn. |
|
The united sounding of certain mantrams which will be employed for specific purposes. Instances of such purposes are:— |
Việc cùng nhau xướng những mantram nhất định sẽ được sử dụng cho những mục đích cụ thể. Ví dụ về những mục đích ấy là:— |
|
a. The purification of a city. |
a. Thanh lọc một thành phố. |
|
b. The magnetisation of grounds that are to be employed as healing centres. [196] |
b. Từ hoá những khu đất sẽ được sử dụng làm các trung tâm chữa lành. [196] |
|
c. The clarification of the minds of the congregation in order that they may be able to receive the higher illumination. |
c. Làm sáng tỏ thể trí của những người tụ họp để họ có thể tiếp nhận sự soi sáng cao hơn. |
|
d. The healing of people gathered together for that purpose. |
d. Chữa lành những người tụ họp vì mục đích ấy. |
|
e. The controlling of the forces of nature so that physical plane occurrences may be brought about. |
e. Kiểm soát các mãnh lực của tự nhiên để tạo ra những sự kiện trên cõi hồng trần. |
|
f. The initiating of people into the Lesser Mysteries. |
f. Điểm đạo cho con người vào các Tiểu Bí Pháp. |
|
In this paragraph, as you rightly think, lies material that enlarged would fill a volume. It is part of that white magic that again will be restored to the race and by means of which a glory and a civilisation will be attained that was hinted at in Atlantean days, and is one of the dreams of the visionaries of the race. |
Đúng như các bạn nghĩ, chính trong đoạn này có những nội dung mà nếu khai triển sẽ đầy cả một quyển sách. Đây là một phần của chánh thuật sẽ lại được khôi phục cho nhân loại, và nhờ đó sẽ đạt tới một nền văn minh cùng vẻ huy hoàng từng được hé lộ vào thời Atlantis — một trong những giấc mơ của những người có tầm nhìn trong nhân loại. |
|
Mantrams or words sounded forth collectively by which the deva, or angel kingdom, will be communicated with. These are a peculiar set of mantrams connected with the Mahachohan’s department and I will take them up more specifically later…… |
Những mantram hay linh từ được cùng nhau xướng lên để giao tiếp với giới thiên thần. Đây là một nhóm mantram đặc biệt liên quan đến ban của Đức Mahachohan, và Tôi sẽ bàn cụ thể hơn về chúng sau này…… |
|
August 22, 1920. |
Ngày 22 tháng 8 năm 1920. |
The use of Rhythm Collectively in Meditation. – Việc sử dụng Nhịp điệu trong Tham thiền Tập thể.
|
Rhythm might be expressed as that cadenced[7] movement which automatically sways those who employ it into line with certain of Nature’s forces. It is that directed action, followed in unison by a body of people, which results in certain alignments and effects upon one or other of the bodies or on all. It has for its objects therefore: |
Có thể diễn tả nhịp điệu là chuyển động có tiết tấu[8] tự động đưa những người sử dụng nó vào sự hoà hợp với một số mãnh lực của Tự nhiên. Đó là hành động có định hướng mà một tập thể người cùng thực hiện, tạo ra những sự chỉnh hợp và tác dụng nhất định lên một trong các thể của họ hoặc lên tất cả các thể ấy. Vì vậy, các mục tiêu của nó là: |
|
a. The swinging of a body, or a concourse of bodies, into the radius of action of a stream of force. |
a. Đưa một thân thể, hay một tập hợp các thân thể, vào phạm vi tác động của một dòng mãnh lực. |
|
b. It causes an adjustment of the matter of one of the various bodies or of all the bodies that go to the make-up of the personnel of a group. [197] |
b. Nó điều chỉnh vật chất của một trong các thể khác nhau, hoặc của tất cả các thể cấu thành những thành viên của một nhóm. [197] |
|
c. It blends—under certain geometrical balances and arrangements—the auras of the differentiated units in a group, and causes these auras to form one united group aura, thereby permitting of the rhythmic flow of force in certain specified directions, for certain specified ends. |
c. Theo những sự cân bằng và sắp xếp hình học nhất định, nó hoà quyện hào quang của những đơn vị đã biến phân trong một nhóm, khiến những hào quang này tạo thành một hào quang nhóm thống nhất, nhờ đó cho phép mãnh lực lưu chuyển nhịp nhàng theo những hướng xác định, nhằm những mục đích xác định. |
|
This has been well understood right down the ages, even though the methods, procedure and results have not been scientifically comprehended or tabulated, except by various occult and esoteric bodies. In the old, so-called pagan rites the value of rhythm was well understood and even David, the psalmist of Israel, danced before the Lord. The swaying of the body to a certain tempo, and the swinging of the framework of the physical vehicle in various directions, subject at times to the musical sound of instruments, has a peculiar and definite effect upon the matter of the two subtler vehicles. By this rhythmic movement: |
Qua các thời đại, người ta đã thấu hiểu rõ điều này, dù các phương pháp, trình tự và kết quả chưa được lĩnh hội hay lập bảng một cách khoa học, ngoại trừ trong một số tổ chức huyền bí và nội môn. Trong những nghi lễ cổ xưa được gọi là ngoại giáo, giá trị của nhịp điệu đã được thấu hiểu rõ; ngay cả David, người viết thánh vịnh của Israel, cũng nhảy múa trước Chúa. Việc đung đưa thân thể theo một nhịp độ nhất định, và chuyển động khung cấu trúc của vận cụ hồng trần theo nhiều hướng, đôi khi theo tiếng nhạc cụ, có tác dụng đặc biệt và rõ rệt lên vật chất của hai vận cụ tinh tế hơn. Qua chuyển động nhịp nhàng này: |
|
1. The force that is tapped in this manner is directed (according to the rhythm) to some one or other centre in the body. |
1. Mãnh lực được tiếp nhận theo cách này được dẫn hướng (tuỳ theo nhịp điệu) tới một trung tâm nào đó trong thân thể. |
|
2. The matter of the emotional and mental bodies is entirely re-adjusted and re-blended, resulting in certain effects having probably a physical manifestation. |
2. Vật chất của thể cảm dục và thể trí được điều chỉnh lại và hoà quyện lại hoàn toàn, tạo ra những tác dụng nhất định có thể biểu hiện trên cõi hồng trần. |
|
3. The alignment of the vehicles is affected, and may be distorted or misplaced, or they may be correctly aligned and put in touch with the causal. |
3. Sự chỉnh hợp của các vận cụ chịu tác động, và có thể bị lệch lạc hay sai vị trí; hoặc các vận cụ có thể được chỉnh hợp đúng đắn và kết nối với thể nguyên nhân. |
|
This is one of the main objects of the true rhythmic movement, distortions of which come down to us through the centuries, and have their apotheosis in the low type of modern dance. In the modern dance is found the corruptest manifestation of rhythmic movement, and the main effect of the rhythm is the direction of the force tapped by its means to the emotional vehicle, and to the lowest type of matter in that vehicle. This results on the physical [198] plane in a most undesirable stimulation of the sex organs. In the true use of rhythmic movement the effect is to align the three lower vehicles with the causal vehicle, and this lining up—when coupled with intensest aspiration and ardent desire—results in a downflow of force from above. This causes a vivification of the three major centres and a definite illumination. |
Đây là một trong những mục tiêu chính của chuyển động nhịp nhàng chân chính; những hình thức méo mó của nó đã lưu truyền đến chúng ta qua nhiều thế kỷ và đạt cực điểm trong loại khiêu vũ hiện đại thấp kém. Trong khiêu vũ hiện đại, ta thấy biểu hiện suy đồi nhất của chuyển động nhịp nhàng; tác dụng chính của nhịp điệu là dẫn mãnh lực được tiếp nhận nhờ nó vào vận cụ cảm dục và vào loại vật chất thấp nhất trong vận cụ ấy. Trên cõi hồng trần [198], điều này gây ra sự kích thích hết sức không mong muốn đối với các cơ quan sinh dục. Khi sử dụng chuyển động nhịp nhàng đúng đắn, tác dụng là chỉnh hợp ba vận cụ thấp với vận cụ nguyên nhân, và sự chỉnh hợp này — khi kết hợp với khát vọng mãnh liệt nhất và ước muốn thiết tha — sẽ tạo ra một dòng mãnh lực tuôn xuống từ trên cao. Điều này tiếp sinh lực cho ba trung tâm chính và đem lại sự soi sáng rõ rệt. |
|
When an entire concourse of people is thus animated by a single high desire, when their auras blend and form one united channel for the downflow, the effect is tremendously intensified and can be world-wide in its radius. You have an instance of this in the wonderful Wesak festival, kept so universally in India to this day, when the Hierarchy forms itself into a channel for the transmission of power and blessing from the levels on which the Buddha may be found. He acts as a focal point for that power, and—passing it through His Aura—pours it out over mankind by means of the channel provided by the assembled Lords, Masters, graded initiates and disciples. This channel is formed by the use of sound and rhythm simultaneously employed. By the chanting of a certain mantram by means of the slow, measured movements that accompany that chanting, the funnel is formed that reaches upwards to the desired locality. The geometrical figures formed in the matter of the plane higher than the physical (which are the result of the geometrical movement of the concourse gathered in that Himalayan centre) form themselves into wonderful avenues of approach to the centre of blessing for the inhabitants, deva or otherwise, from any particular plane. For those who can clairvoyantly view the scene, the beauty of the geometrical forms is unbelievable, and that beauty is enhanced by the radiant auras of the Great Ones Who are gathered there. [199] |
Khi cả một tập thể người được khơi động như thế bởi một ước muốn cao cả duy nhất, khi hào quang của họ hoà quyện và tạo thành một kênh thống nhất cho dòng tuôn xuống, tác dụng sẽ được tăng cường vô cùng và phạm vi có thể lan khắp thế giới. Các bạn có một ví dụ về điều này trong lễ hội Wesak kỳ diệu, đến nay vẫn được cử hành rộng khắp tại Ấn Độ, khi Thánh đoàn tự tạo thành một kênh truyền dẫn quyền năng và ân phúc từ những cấp độ nơi Đức Phật hiện diện. Ngài làm điểm hội tụ cho quyền năng ấy, và — truyền nó qua Hào quang của Ngài — tuôn đổ nó lên nhân loại qua kênh do các Chúa Tể, Chân sư, điểm đạo đồ thuộc các cấp bậc và đệ tử đang tụ họp tạo thành. Kênh này được hình thành bằng việc đồng thời sử dụng âm thanh và nhịp điệu. Việc xướng tụng một mantram nhất định, cùng những chuyển động chậm rãi, đều đặn đi kèm, tạo nên phễu vươn lên tới địa điểm mong muốn. Những hình hình học hình thành trong vật chất của cõi cao hơn cõi hồng trần (là kết quả của chuyển động hình học của tập thể tụ họp tại trung tâm ấy trong dãy Himalaya) tạo thành những đường tiếp cận kỳ diệu đến trung tâm ban phúc cho các cư dân, thiên thần hay các sinh linh khác, từ bất cứ cõi cụ thể nào. Đối với những ai có thể quan sát cảnh tượng bằng thông nhãn, vẻ đẹp của các hình hình học thật khó tin, và vẻ đẹp ấy còn được tăng thêm bởi những hào quang rực rỡ của Các Đấng Cao Cả đang tụ họp tại đó. [199] |
|
In time to come the value of the combination of music, chanting, and rhythmic movement will be comprehended, and it will be utilised for the achieving of certain results. Groups of people will gather together to study the creative effects, or the purificatory efficacy of ordered sound joined to movement and unity; the constructive effect on the three bodies will be clairvoyantly studied; the eliminative effect on the matter of those bodies will be schematically tabulated and all knowledge gained will be definitely applied to the improvement of those bodies. The quality of the force tapped, and its exhilarating, vivifying and stimulating effects will be closely watched. The centres will be studied in their relation to the streams of force contacted, and their culture and the intensification of the rotary movement will be definitely undertaken. |
Trong tương lai, giá trị của sự kết hợp âm nhạc, xướng tụng và chuyển động nhịp nhàng sẽ được thấu hiểu, và người ta sẽ sử dụng sự kết hợp ấy để đạt những kết quả nhất định. Các nhóm người sẽ tụ họp để nghiên cứu những tác dụng sáng tạo, hay hiệu quả thanh lọc của âm thanh có trật tự kết hợp với chuyển động và sự hợp nhất; tác dụng kiến tạo lên ba thể thấp sẽ được nghiên cứu bằng thông nhãn; tác dụng loại trừ đối với vật chất của những thể ấy sẽ được lập bảng có hệ thống, và mọi tri thức thu nhận được sẽ được vận dụng rõ ràng để cải thiện những thể ấy. Phẩm tính của mãnh lực được tiếp nhận, cùng những tác dụng gây hứng khởi, tiếp sinh lực và kích thích của nó, sẽ được theo dõi sát sao. Các trung tâm sẽ được nghiên cứu trong mối liên hệ với những dòng mãnh lực được tiếp xúc, và người ta sẽ chủ động phát triển các trung tâm ấy cũng như tăng cường chuyển động quay của chúng. |
|
Another angle of the whole matter resolves itself into work in the world, and though dependent on the status and personnel of the group, it is not primarily for group purposes. Groups will apply themselves to the work of contacting certain types of logoic force, of passing it through the group funnel, and of sending it out through the world for certain constructive ends. This work is closely allied to that undertaken by the Nirmanakayas or Distributors of Force, and will be largely under their direction, for—when the right time comes—They will be able to use these groups as focal points for Their activities. Their work now has its focal point primarily on the mental plane and somewhat on the emotional. When the secret of causal alignment is better grasped, and when groups of people in physical incarnation can work in real co-operation (an impossibility at present, for the personality looms as yet too large) then the Nirmanakayas will be able to directly contact the physical plane, and so act with great force upon the evolutions found thereon. [200] |
Một khía cạnh khác của toàn bộ vấn đề dẫn đến công việc trong thế gian; tuy phụ thuộc vào trình độ và thành phần của nhóm, công việc này không chủ yếu phục vụ những mục đích của nhóm. Các nhóm sẽ chuyên tâm vào việc tiếp xúc với một số loại mãnh lực của Thượng đế, truyền chúng qua phễu của nhóm và đưa chúng ra khắp thế giới vì những mục đích kiến tạo nhất định. Công việc này có liên hệ mật thiết với công việc của các Đấng Hoá Thân hay các Đấng Phân Phối Mãnh Lực, và phần lớn sẽ chịu sự chỉ đạo của Các Ngài, vì — khi đúng thời điểm — Các Ngài sẽ có thể sử dụng những nhóm này làm các điểm hội tụ cho hoạt động của mình. Hiện nay, công việc của Các Ngài có điểm hội tụ chủ yếu trên cõi trí và phần nào trên cõi cảm dục. Khi bí mật của sự chỉnh hợp với thể nguyên nhân được nắm bắt rõ hơn, và khi các nhóm người đang nhập thể trên cõi hồng trần có thể thực sự hợp tác (hiện nay điều này chưa thể xảy ra, vì phàm ngã vẫn còn quá lấn át), thì các Đấng Hoá Thân sẽ có thể trực tiếp tiếp xúc với cõi hồng trần, nhờ đó tác động bằng mãnh lực lớn lao lên các dòng tiến hoá ở đó. [200] |
|
Healing groups will work as follows. The circle of workers, with the unit to be healed placed in their midst, will definitely apply themselves to the healing of that unit by the use of set mantrams, and by the following of certain movements they will cause the focal point of the downpouring force to be the sick member in their midst. By the stimulating power of that force, by its re-building quality, or by its capacity to destroy and eliminate, what you call miracles will be matters of everyday occurrence. The subject is too vast to be more than hinted at here. But as the race progresses and the secret of making the at-one-ment is more comprehended, when many people tread the Probationary Path, when the percentage of initiates is greater than it is now, and when large numbers of the human race are more directly aligned with the egoic body, you will see the scientific application of the laws of sound and rhythm. |
Các nhóm chữa lành sẽ hoạt động như sau. Những người hoạt động đứng thành vòng tròn, đặt người cần chữa lành ở giữa, sẽ chuyên tâm chữa lành người ấy bằng những mantram đã định; bằng việc thực hiện những chuyển động nhất định, họ sẽ khiến thành viên đau ốm ở giữa trở thành điểm hội tụ của mãnh lực đang tuôn xuống. Nhờ quyền năng kích thích của mãnh lực ấy, nhờ phẩm tính tái tạo, hay khả năng huỷ diệt và loại trừ của nó, những gì các bạn gọi là phép lạ sẽ trở thành chuyện xảy ra hằng ngày. Chủ đề này quá rộng lớn nên ở đây chỉ có thể gợi ý đôi chút. Nhưng khi nhân loại tiến bộ và bí mật của việc đạt sự hợp nhất được thấu hiểu rõ hơn, khi nhiều người bước trên Con Đường Dự Bị, khi tỷ lệ điểm đạo đồ cao hơn hiện nay, và khi đông đảo nhân loại chỉnh hợp trực tiếp hơn với thể chân ngã, các bạn sẽ thấy sự vận dụng khoa học các định luật về âm thanh và nhịp điệu. |
|
At the same time you will see the misuse of those powers—a misuse that will herald in one of the final struggles between the Lords of Light and the Lords of Darkness. Great will be the cataclysm and terrific the disaster, but ever the Light shines in darkness, and He Who reigns above all, and Who holds all within the circumference of His Aura knows the hour of opportunity, and knows too how to utilise that which can protect. |
Đồng thời, các bạn sẽ thấy việc lạm dụng những quyền năng ấy — một sự lạm dụng sẽ báo trước một trong những cuộc đấu tranh cuối cùng giữa các Chúa Tể Ánh Sáng và các Chúa Tể Bóng Tối. Biến động sẽ lớn lao và tai hoạ sẽ khủng khiếp, nhưng Ánh Sáng luôn chiếu rọi trong bóng tối; và Đấng ngự trị trên tất cả, giữ mọi sự trong chu vi Hào quang của Ngài, biết thời khắc của cơ hội, và cũng biết cách sử dụng điều có thể bảo vệ. |
Special occasions on which these forms will be employed. – Những dịp đặc biệt sẽ sử dụng các hình thức này.
|
The great event on the planet in direct relation to the human race is the Wesak festival. There is one still greater moment in the calendar when a funnel is created directly between the earth and the supreme Ruler himself, the Logos of our system. This is accomplished through the power of certain mantrams and the united efforts of the Hierarchy and the Deva Lords of the planes. These Deva Lords are aided by the deva evolution, and the Hierarchy [201] by those of the human race who are steady. They focus through the Lords of the Rays then in manifestation as well as through the Planetary Logos of this planet. The date of this event is not yet for exoteric communication. |
Sự kiện lớn trên hành tinh có liên hệ trực tiếp với nhân loại là lễ hội Wesak. Trong lịch còn có một thời điểm vĩ đại hơn nữa, khi một phễu được tạo trực tiếp giữa Trái Đất và chính Đấng Cai Quản tối cao, Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta. Điều này được thực hiện nhờ quyền năng của những mantram nhất định và nỗ lực hợp nhất của Thánh đoàn cùng các Chúa Tể Thiên Thần của các cõi. Các Chúa Tể Thiên Thần này được dòng tiến hoá thiên thần trợ giúp, còn Thánh đoàn [201] được những người vững vàng trong nhân loại trợ giúp. Các Ngài hội tụ qua các Chúa Tể của các Cung đang biểu hiện lúc ấy, cũng như qua Đức Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh này. Ngày diễn ra sự kiện này chưa thể công bố ra ngoại môn. |
|
On all the three main lines of approach—that of the Manu, or Ruler, the Bodhisattva, or World Teacher, and the Mahachohan, or Lord of Civilisation—their own specific groups will be found, subject to certain mantrams and words, and moving under certain rhythmic laws. One hint only can I give here but I think you will find it interesting. The time is coming when those who work under the Manu, manipulating nations, directing their attention to government and politics, sitting in the assemblies of the people, giving out the laws and apportioning justice, will begin all their work with great rhythmic ceremonies. By means of their united rhythm and chanted words, they will seek to put themselves in touch with the consciousness of the Manu and with His great governing department, so bringing more clearly into practice the working out of His plans and the formulation of His intentions. Having aligned their bodies and made the necessary funnel, they will proceed with business after having placed in their midst as a focal point of illumination one or two men who will give their entire attention to finding out the intention of the Manu and His subordinates upon the matter in hand. |
Trên cả ba đường tiếp cận chính — đường của Đức Manu, hay Đấng Cai Quản; của Đức Bồ Tát, hay Đức Chưởng Giáo; và của Đức Mahachohan, hay Chúa Tể Văn Minh — đều có những nhóm riêng, chịu tác động của những mantram và linh từ nhất định, và chuyển động theo những định luật nhịp điệu nhất định. Ở đây Tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý, nhưng Tôi nghĩ các bạn sẽ thấy thú vị. Sắp đến thời những người hoạt động dưới quyền Đức Manu, điều hành các quốc gia, hướng sự chú ý vào chính quyền và chính trị, tham gia các hội nghị của dân chúng, ban hành luật lệ và phân xử công bằng, sẽ bắt đầu mọi công việc bằng những nghi lễ nhịp nhàng trọng thể. Bằng nhịp điệu thống nhất và những linh từ xướng tụng, họ sẽ tìm cách tiếp xúc với tâm thức của Đức Manu và với ban cai quản vĩ đại của Ngài, nhờ đó đưa việc thực hiện các kế hoạch và trình bày các ý định của Ngài vào thực tiễn rõ ràng hơn. Sau khi chỉnh hợp các thể của mình và tạo phễu cần thiết, họ sẽ tiến hành công việc, sau khi đặt giữa họ một hay hai người làm điểm hội tụ của sự soi sáng; những người này sẽ tập trung toàn bộ sự chú ý vào việc tìm hiểu ý định của Đức Manu và các vị phụ tá của Ngài về vấn đề đang xét. |
|
So in the department of the Bodhisattva will a similar procedure be followed, for which the construction is already organised. The priest will be the focal point, and, after due ceremony and rhythm on the part of the united congregation, they will be the transmitters of information from on high. But here is a momentous point of interest: The priesthood will not in those days be a separated body of men. All will then be priests and a [202] layman can hold that office when duly chosen at the beginning of the ceremony. The only qualification required will be the capacity to align with the higher, and to co-operate with all the other units in the concourse. |
Tương tự, trong ban của Đức Bồ Tát, người ta sẽ tuân theo một trình tự như thế, mà cơ cấu đã được tổ chức sẵn. Vị tư tế sẽ là điểm hội tụ, và sau khi tập thể tụ họp cùng thực hiện nghi lễ và nhịp điệu thích hợp, họ sẽ là những người truyền đạt thông tin từ trên cao. Nhưng đây là một điểm đáng chú ý hết sức quan trọng: vào thời ấy, giới tư tế sẽ không phải là một đoàn thể tách biệt. Khi đó, mọi người đều là tư tế, và một [202] người thế tục có thể đảm nhiệm chức vụ ấy khi được lựa chọn đúng cách vào lúc bắt đầu nghi lễ. Phẩm chất duy nhất cần có sẽ là khả năng chỉnh hợp với cái cao hơn và hợp tác với mọi thành viên khác trong tập thể. |
|
In the department of the Mahachohan, the Lord of Civilisation and Culture and the head of the third line of evolution, you will see again similar action. No university or school will start its sessions without the ceremony of alignment, the teacher this time being the focal line of information from the department controlling the activity of the mind. In this way the stimulation of the mental bodies of the students, and the strengthening of the channel between higher and lower mind will be greatly aided. The intuition will also be developed and contacted. In the above statements I have by no means covered the ground. I have but indicated the broad outlines of what will some day be facts in physical plane demonstration. The thought conveys much matter for consideration and for speculation and is full of helpfulness for the wise student. Aught that enlarges his horizon and increases the range of his vision is to be welcomed, even though his apprehension of these facts may be at fault and his capacity to assimilate leaves much to be desired. [203] |
Trong ban của Đức Mahachohan, Chúa Tể Văn Minh và Văn Hoá, đồng thời là vị đứng đầu đường tiến hoá thứ ba, các bạn lại sẽ thấy hành động tương tự. Không một trường đại học hay trường học nào sẽ bắt đầu các buổi học mà không có nghi lễ chỉnh hợp; lần này, huấn sư sẽ là tuyến hội tụ thông tin từ ban kiểm soát hoạt động của trí tuệ. Bằng cách này, việc kích thích thể trí của các đạo sinh và tăng cường kênh nối giữa thượng trí và hạ trí sẽ được trợ giúp rất nhiều. Trực giác cũng sẽ được phát triển và tiếp xúc. Trong những lời trên, Tôi hoàn toàn chưa trình bày hết vấn đề. Tôi chỉ nêu những nét khái quát của điều một ngày kia sẽ trở thành những sự kiện biểu hiện trên cõi hồng trần. Tư tưởng này chứa đựng nhiều điều để suy xét và suy đoán, đồng thời rất hữu ích cho đạo sinh sáng suốt. Bất cứ điều gì mở rộng chân trời và gia tăng phạm vi tầm nhìn của y đều đáng đón nhận, cho dù y có thể lĩnh hội sai những sự kiện này và khả năng tiếp thu của y còn nhiều điều cần cải thiện. [203] |
[1] sự có linh tính (về một điềm gở)
[2] sự có linh tính (về một điềm gở)
[3] cuộc chè chén say sưa, cuộc truy hoan, cuộc trác táng
[4] phóng túng, sự bừa bâi; sự dâm loạn
[5] cuộc chè chén say sưa, cuộc truy hoan, cuộc trác táng
[6] phóng túng, sự bừa bãi; sự dâm loạn
[7] giọng đọc lên xuống nhịp nhàng uyển chuyển; ngữ điệu
[8] giọng đọc lên xuống nhịp nhàng uyển chuyển; ngữ điệu
Liên kết bình giảng hiện có