LETTER VII—THE USE OF COLOUR AND SOUND – THƯ VII—VIỆC SỬ DỤNG MÀU SẮC VÀ ÂM THANH
|
1. Enumeration of the colours and some comments. |
1. Liệt kê các màu sắc và một vài nhận xét. |
|
2. Colours and the law of correspondences. |
2. Màu sắc và định luật tương ứng. |
|
3. Effects of colours. |
3. Tác dụng của màu sắc. |
|
4. Application of colours and their future use. [204] |
4. Ứng dụng màu sắc và việc sử dụng chúng trong tương lai. [204] |
|
August 27th, 1920. |
Ngày 27 tháng 8 năm 1920. |
|
There is no question that those who break the law perish by the law, whilst those who keep it live by it. The true study of occultism is the study of the why and how of phenomena. It is the finding out of the method whereby results are achieved, and it involves close analysis of events and circumstances in order to discover their governing laws. I have been led to make these preliminary remarks today because I saw with clarity the questions that are controlling your mind. These questions are of great value, if you continue to apply yourself to the search for the right answer. Certain definite laws govern the life of the disciple. They are the same laws that control all life. The difference consists in the partial realisation—on the part of the disciple—of the purpose of those laws, their raison d’etre, and their conscious judicious application to the circumstances met in daily living. By conformance to the law is the personal life transmuted… In your case, the effort to comprehend the law, which governs the practical well being of yourself and family will lead you—if you persist—to the understanding of what I might term the law of substance. Take for instance the Law of Substance. This law puts the disciple in the position of wisely utilising the universal storehouse. It is the manipulation of matter, and its adaptation to the interacting forces of supply and demand…Blind faith is right for the mystic. It is one of the means whereby the Divine storehouse is entered, but to understand the method whereby that storehouse is kept replenished, and to comprehend the means whereby the bounteous supply of the All Father is brought in contact with the children’s need is better still. One of those maxims I can here give anent supply and demand. It is only as a skilful [205] use is made of the supply for the needs of the worker and the work (I choose these words each one with deliberation) that that supply continues to pour in. The secret is: use, demand, take. Only as the door is unlocked by the law of demand is another and higher door unlocked permitting supply. The law of gravitation holds hid the secret. Think this out. |
Không còn nghi ngờ gì nữa: những người vi phạm định luật sẽ diệt vong theo định luật, còn những người tuân giữ định luật sẽ sống nhờ định luật ấy. Việc nghiên cứu huyền bí học chân chính là nghiên cứu nguyên do và cách thức của các hiện tượng. Đó là tìm hiểu phương pháp để đạt các kết quả, và đòi hỏi phân tích kỹ lưỡng những sự kiện và hoàn cảnh nhằm khám phá các định luật chi phối chúng. Hôm nay, Tôi đưa ra những nhận xét mở đầu này vì Tôi thấy rõ những câu hỏi đang chi phối suy nghĩ của các bạn. Những câu hỏi ấy rất có giá trị, nếu các bạn tiếp tục chuyên tâm tìm kiếm lời giải đáp đúng. Những định luật xác định chi phối cuộc sống của đệ tử. Chúng cũng chính là những định luật kiểm soát mọi sự sống. Sự khác biệt nằm ở chỗ đệ tử phần nào nhận biết mục đích của những định luật ấy, lý do tồn tại của chúng, và vận dụng chúng một cách có ý thức, sáng suốt vào những hoàn cảnh gặp trong đời sống hằng ngày. Nhờ tuân theo định luật, đời sống cá nhân được chuyển hoá… Trong trường hợp của các bạn, nỗ lực thấu hiểu định luật chi phối phúc lợi thực tế của bản thân và gia đình các bạn sẽ dẫn các bạn —nếu các bạn kiên trì —đến sự thấu hiểu điều mà Tôi có thể gọi là định luật của chất liệu. Chẳng hạn, hãy xét Định luật Chất Liệu. Định luật này đặt đệ tử vào vị thế sử dụng kho tàng vũ trụ một cách sáng suốt. Đó là việc vận dụng vật chất và điều chỉnh nó cho phù hợp với các mãnh lực tương tác của cung và cầu…Đức tin mù quáng thích hợp với nhà thần bí. Đó là một trong những phương tiện để bước vào kho tàng Thiêng Liêng; nhưng thấu hiểu phương pháp giữ cho kho tàng ấy luôn được bổ sung, và thấu hiểu phương tiện đưa nguồn cung dồi dào của Đấng Cha Chung tiếp xúc với nhu cầu của các con, còn tốt hơn nữa. Một trong những châm ngôn ấy về cung và cầu, Tôi có thể nêu ra ở đây. Chỉ khi nguồn cung được sử dụng khéo léo [205] cho nhu cầu của người hoạt động và của công việc (Tôi lựa chọn từng từ này một cách có chủ ý) thì nguồn cung ấy mới tiếp tục tuôn vào. Bí quyết là: sử dụng, yêu cầu, tiếp nhận. Chỉ khi cánh cửa được mở khoá bằng định luật về nhu cầu, một cánh cửa khác cao hơn mới được mở khoá để cho phép nguồn cung đi vào. Định luật hấp dẫn ẩn chứa bí mật ấy. Hãy suy ngẫm điều này. |
Some remarks on colour. – Một vài nhận xét về màu sắc.
|
Now we must go to work. The subject for our consideration this evening is of profound and complicated interest. This seventh letter of mine has to do with the use of colour and sound in meditation. |
Giờ chúng ta phải bắt tay vào việc. Chủ đề chúng ta xem xét tối nay hết sức sâu sắc, phức tạp và lý thú. Bức thư thứ bảy này của Tôi bàn về việc sử dụng màu sắc và âm thanh trong tham thiền. |
|
We have, as you know, dealt a good deal with the subject of sound in our earlier letters, both in studying the use of the Sacred Word, and in the study of forms and mantrams. It is a truism to say that sound is colour and colour is sound, yet so it is, and the topic I really seek to bring to your attention is not so much sound as sound, but the colour effects of sound. I seek to emphasise especially the colour aspect in this letter, begging you to remember always that all sounds express themselves in colour. |
Như các bạn biết, trong những bức thư trước, chúng ta đã bàn khá nhiều về chủ đề âm thanh, cả khi nghiên cứu việc sử dụng Linh từ Thiêng Liêng lẫn khi nghiên cứu các hình thức và mantram. Nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh là một điều hiển nhiên, nhưng quả thật là vậy; và chủ đề Tôi thực sự muốn các bạn chú ý không hẳn là chính âm thanh, mà là những tác dụng màu sắc của âm thanh. Trong bức thư này, Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh phương diện màu sắc, và mong các bạn luôn nhớ rằng mọi âm thanh đều biểu hiện qua màu sắc. |
|
When the Logos uttered the great cosmic Word for this solar system, three major streams of colour issued forth, breaking almost simultaneously into another four, so giving us the seven streams of colour by which manifestation becomes possible. These colours are:— |
Khi Thượng đế phát ra Linh từ vũ trụ vĩ đại cho hệ mặt trời này, ba dòng màu sắc chính tuôn ra, gần như đồng thời phân thành bốn dòng khác, nhờ đó tạo nên bảy dòng màu sắc khiến sự biểu hiện trở thành khả hữu. Những màu sắc ấy là:— |
|
a. Blue. |
a. Xanh lam. |
|
b. Indigo. |
b. Chàm. |
|
c. Green. |
c. Xanh lục. |
|
d. Yellow. |
d. Vàng. |
|
e. Orange. |
e. Cam. |
|
f. Red. |
f. Đỏ. |
|
g. Violet. [206] |
g. Tím. [206] |
|
Not unwittingly have I placed them in this order but the exact significance is left for you to discover. |
Tôi không vô tình xếp chúng theo thứ tự này, nhưng thâm nghĩa chính xác được để lại cho các bạn khám phá. |
|
I want to emphasise a second thought:—These seven streams of colour were the product of logoic meditation. The Logos meditated, brooded, conceived mentally, formed an ideal world, and built it up in thought matter. Then our objective universe flashed into being, radiant with the seven colours, with the deep blue or indigo for synthetic undertone. Therefore certain things can be posited about colour: |
Tôi muốn nhấn mạnh một tư tưởng thứ hai:—Bảy dòng màu sắc này là sản phẩm của sự tham thiền của Thượng đế. Thượng đế tham thiền, suy tưởng sâu xa, hình thành quan niệm trong trí tuệ, tạo nên một thế giới lý tưởng và xây dựng thế giới ấy trong vật chất tư tưởng. Rồi vũ trụ khách quan của chúng ta loé lên trong hiện tồn, rực rỡ với bảy màu sắc, lấy xanh lam đậm hay chàm làm sắc nền tổng hợp. Vì vậy, có thể nêu ra những điều nhất định về màu sắc: |
|
1. It has to do with objective meditation, therefore it has to do with form. |
1. Nó liên quan đến tham thiền khách quan, do đó liên quan đến hình tướng. |
|
2. It is the result of sound uttered as the culmination of meditation. |
2. Nó là kết quả của âm thanh phát ra như đỉnh điểm của tham thiền. |
|
3. In these seven colours, and their wise comprehension, lies the capacity of man to do as does the Logos and build. |
3. Chính trong bảy màu sắc này và sự thấu hiểu sáng suốt về chúng có khả năng của con người làm như Thượng đế và xây dựng. |
|
4. Colours have certain effects on the different vehicles, and on the planes on which those vehicles function. When it is known by the occultist which colour is applicable to which plane, and which colour therefore is the basic hue for that plane, he has grasped the fundamental secret of microcosmic development, and can build his body of manifestation by means of the same laws that that Logos employed in building His objective solar system. This is the secret that ray meditation will eventually yield up to the wise student. These four points lay the foundation for all that follows. |
4. Màu sắc có những tác dụng nhất định lên các vận cụ khác nhau và lên những cõi nơi các vận cụ ấy hoạt động. Khi nhà huyền bí học biết màu nào áp dụng cho cõi nào, và do đó màu nào là sắc cơ bản của cõi ấy, y đã nắm được bí mật nền tảng của sự phát triển tiểu thiên địa, và có thể xây dựng thân thể biểu hiện của mình bằng chính những định luật mà Thượng đế đã sử dụng để xây dựng hệ mặt trời khách quan của Ngài. Đây là bí mật mà tham thiền theo cung cuối cùng sẽ hé mở cho đạo sinh sáng suốt. Bốn điểm này đặt nền tảng cho tất cả những điều tiếp theo. |
|
I would here seek to put your mind at rest on the point as to whether the colours enumerated by me conflict with those enumerated by H. P. B. You will not find they [207] do, but both of us use blinds, and both of us use the same blinds as those who have eyes can see. A blind is not a blind when recognised, and I offer not the key. One or two hints however I may give:— |
Ở đây, Tôi muốn giúp các bạn yên tâm về câu hỏi liệu những màu sắc Tôi liệt kê có mâu thuẫn với những màu sắc H. P. B. liệt kê hay không. Các bạn sẽ thấy chúng [207] không mâu thuẫn, nhưng cả hai chúng tôi đều sử dụng những cách che giấu, và cả hai đều dùng cùng những cách che giấu, như những ai có mắt đều có thể thấy. Một cách che giấu không còn che giấu nữa khi đã được nhận ra, và Tôi không đưa ra chìa khoá. Tuy nhiên, Tôi có thể nêu một hay hai gợi ý:— |
Principles of using blinds for teaching Colours – Những nguyên tắc sử dụng cách che giấu để giảng dạy về Màu sắc
|
Complementary colours may be spoken of in occult books in terms of each other. Red may be called green and orange may be called blue. The key to the accurate interpretation of the term employed lies in the point of attainment of the unit under discussion. If speaking of the Ego one term may be used; if of the Personality, another; whilst the Monad or higher auric sphere may be described synthetically or in terms of the monadic ray. |
Trong các sách huyền bí, những màu bổ túc có thể được gọi bằng tên của nhau. Đỏ có thể được gọi là xanh lục, và cam có thể được gọi là xanh lam. Chìa khoá để diễn giải chính xác thuật ngữ được sử dụng nằm ở trình độ thành tựu của đơn vị đang được bàn đến. Nếu nói về Chân ngã, có thể sử dụng một thuật ngữ; nếu nói về Phàm ngã, thì dùng thuật ngữ khác; còn Chân thần hay khối cầu hào quang cao hơn có thể được mô tả một cách tổng hợp hoặc bằng những thuật ngữ của cung chân thần. |
|
The colours of higher or lower mind are at times spoken of in terms of the plane and not in terms of the ray involved. |
Đôi khi, các màu sắc của thượng trí hay hạ trí được nói đến bằng những thuật ngữ của cõi, chứ không phải của cung liên quan. |
|
Blue-indigo, being cosmically related, and not simply analogous, may be used interchangeably for purposes of blinding. Let me illustrate:— |
Xanh lam và chàm, do có liên hệ ở cấp độ vũ trụ chứ không chỉ tương đồng, có thể được dùng thay cho nhau nhằm mục đích che giấu. Hãy để Tôi minh hoạ:— |
|
The Lords of the Flame, in their work in connection with this planet, may be spoken of in terms of four colours:— |
Trong công việc liên quan đến hành tinh này, các Chúa Tể Ngọn Lửa có thể được nói đến bằng những thuật ngữ của bốn màu sắc:— |
|
a. Indigo, as They are in the line of the Bodhisattva in connection with the Love or Wisdom Ray. The Lord of the World is a direct reflection of the second Aspect. |
a. Chàm, vì Các Ngài thuộc đường của Đức Bồ Tát, liên quan đến Cung Bác ái hay Minh Triết. Đức Chúa Tể Thế Giới là sự phản chiếu trực tiếp của Phương diện thứ hai. |
|
b. Blue, because of its alliance with indigo and its relationship to the auric egg; just as the Solar Logos is spoken of as the “Blue Logos” (literally indigo), so the colour of the perfected man, and of the auric envelope through which he manifests, will be predominantly blue. |
b. Xanh lam, do sự liên kết với màu chàm và mối quan hệ với noãn hào quang; cũng như Thái dương Thượng đế được gọi là “Thượng đế Xanh Lam” (theo nghĩa đen là màu chàm), màu sắc của con người đã hoàn thiện và của lớp vỏ hào quang mà qua đó y biểu hiện sẽ chủ yếu là xanh lam. |
|
c. Orange, which is the complementary to blue and which has direct connection with man as an intelligence. He is the custodian of the fifth principle [208] of manas in its relation to the totality of the personality. |
c. Cam, là màu bổ túc của xanh lam và có mối liên hệ trực tiếp với con người xét như một trí tuệ. Y là người gìn giữ nguyên khí thứ năm [208] của manas trong mối quan hệ với toàn bộ phàm ngã. |
|
d. Yellow, being the complement of indigo, and also the colour of buddhi, and on the direct line of the second Aspect. |
d. Vàng, là màu bổ túc của màu chàm, cũng là màu của Bồ đề, và nằm trên tuyến trực tiếp của Phương diện thứ hai. |
|
I give the above illustration to demonstrate to you the great complexity involved by the use of blinds, yet also to show you that for those who have the seeing eye even the choice of these blinds is not arbitrary, but subject to rule and law. |
Tôi đưa ra minh họa trên để cho các bạn thấy tính phức tạp lớn lao khi sử dụng những cách che giấu, đồng thời cũng cho các bạn thấy rằng đối với những ai có con mắt thấy được, ngay cả việc lựa chọn những cách che giấu này cũng không tùy tiện, mà tuân theo quy luật và định luật. |
|
It is therefore obvious to you why it is so often emphasised that in dealing with esoteric matters lower manas helps not. Only he who has the higher vision in process of development can hope to attain any measure of accurate discrimination. Just as the green of the activity of Nature forms the basis of the love aspect, or the indigo vibration of this love system, so will it be found upon the mental plane. More may not be said, but food for thought lies here. Orange also holds the secret for the Sons of Mind, and in the study of flame (which even exoterically blends all the colours) comes illumination. |
Vì vậy, các bạn đã rõ tại sao người ta thường nhấn mạnh rằng khi đề cập đến các vấn đề nội môn, hạ trí không giúp ích. Chỉ người đang phát triển linh thị cao hơn mới có thể hy vọng đạt được một mức độ phân biện chính xác nào đó. Cũng như màu xanh lục của hoạt động trong Thiên nhiên tạo thành nền tảng của phương diện bác ái, hay rung động màu chàm của thái dương hệ bác ái này, trên cõi trí cũng sẽ thấy như vậy. Không thể nói thêm, nhưng ở đây có nhiều điều đáng suy ngẫm. Màu cam cũng nắm giữ bí mật dành cho các Con của Trí Tuệ, và việc nghiên cứu ngọn lửa (vốn hòa trộn mọi màu sắc ngay cả về mặt ngoại môn) đem lại sự soi sáng. |
|
In studying this question of colour and sound in meditation how best shall we divide our vast subject? Let us consider it under the following heads: |
Khi nghiên cứu vấn đề màu sắc và âm thanh trong tham thiền, chúng ta nên phân chia chủ đề rộng lớn này như thế nào cho thích hợp nhất? Chúng ta hãy xem xét theo các đề mục sau: |
|
1. Enumeration of the colours and certain comment thereon. |
1. Liệt kê các màu sắc và một số nhận xét về chúng. |
|
2. Colours and the Law of Correspondences. |
2. Màu sắc và Định luật Tương Ứng. |
|
3. The effects of colours:— |
3. Tác động của màu sắc:— |
|
a. On the bodies of the pupil. |
a. Lên các thể của môn sinh. |
|
b. On groups and on group work. |
b. Lên các nhóm và công việc nhóm. |
|
c. On the environment. |
c. Lên môi trường. |
|
4. The application of colour:— |
4. Ứng dụng màu sắc:— |
|
a. In meditation. [209] |
a. Trong tham thiền. [209] |
|
b. For healing in meditation. |
b. Để chữa lành trong tham thiền. |
|
c. In constructive work. |
c. Trong công việc kiến tạo. |
|
5. The future use of colour. |
5. Việc sử dụng màu sắc trong tương lai. |
|
Under these five heads we should be able to sum up all that has to be said at present. Perhaps little that I may say will be fundamentally new, for I give not aught which may not he found in that foundation book of H. P. B.’s. But in a newer presentation, and in the aggregation of material under one head may come enlightenment, and a further wise adjustment of knowledge. We will take up these five divisions later. Tonight I will only add a few further points to those already given. |
Theo năm đề mục này, chúng ta hẳn có thể tổng kết tất cả những gì cần nói vào lúc này. Có lẽ rất ít điều Tôi nói là mới về căn bản, vì Tôi không đưa ra điều gì mà các bạn không thể tìm thấy trong cuốn sách nền tảng ấy của Bà H. P. B. Nhưng một cách trình bày mới hơn và việc tập hợp tư liệu dưới một đề mục có thể đem lại sự giác ngộ, cùng sự điều chỉnh tri thức thêm phần sáng suốt. Chúng ta sẽ bàn đến năm phần này sau. Tối nay, Tôi chỉ bổ sung vài điểm vào những điều đã trình bày. |
|
Colours as manifested on the physical plane show at their crudest and harshest. Even the most exquisite of shades as seen by the physical eye is hard and harsh compared to those on the emotional plane, and as the finer matter of the other planes is contacted, the beauty, the softness and the exquisite quality of the different hues grow with each transition. When the ultimate and synthetic colour is reached the beauty transcends all conception. |
Màu sắc biểu hiện trên cõi hồng trần ở trạng thái thô sơ và gay gắt nhất. Ngay cả sắc thái tinh tế nhất mà mắt thường nhìn thấy cũng cứng và gay gắt so với những sắc thái trên cõi cảm dục; khi tiếp xúc với vật chất tinh tế hơn của các cõi khác, vẻ đẹp, sự dịu dàng và phẩm tính tinh tế của các sắc màu khác nhau đều tăng lên qua mỗi lần chuyển tiếp. Khi đạt đến màu sắc tối hậu và tổng hợp, vẻ đẹp vượt ngoài mọi quan niệm. |
|
Colours—such as we have now to do with in evolution—are the colours of light. Certain colours, which are the left-overs from the previous solar system, have been seized upon as modes of expression by that mysterious something which we call “cosmic evil” (in our ignorance so we term it). They are involutionary colours, and are media for the force of the Dark Brotherhood. With them the aspirant to the Path of Light has naught to do. They are such hues as brown, grey, the loathsome purple, and the lurid greens that are contacted in the dark places of the earth, on the emotional plane, and on the lower level of the mental plane. They are negations. Their tone is lower than the note of Nature. They are the offspring [210] of night, esoterically understood. They are the basis of glamour, of despair, and of corruption, and must be neutralised by the pupil of the Great Ones by the admission of the colours connected with light. |
Màu sắc—như những màu mà hiện nay chúng ta phải làm việc với trong tiến hoá—là màu sắc của ánh sáng. Một số màu sắc còn sót lại từ hệ mặt trời trước đã bị cái gì đó bí ẩn mà chúng ta gọi là “cái ác vũ trụ” sử dụng làm phương thức biểu đạt (do vô minh, chúng ta gọi nó như vậy). Đó là những màu sắc giáng hạ tiến hoá, và là phương tiện cho mãnh lực của Huynh đệ Đoàn Bóng tối. Người chí nguyện hướng đến Con Đường Ánh sáng không có gì liên quan đến chúng. Đó là những sắc như nâu, xám, tím ghê tởm và những màu xanh lục chói gắt mà người ta tiếp xúc trong những nơi tối tăm của Trái Đất, trên cõi cảm dục và ở cấp độ thấp của cõi trí. Chúng là những sự phủ định. Sắc điệu của chúng thấp hơn âm điệu của Thiên nhiên. Theo cách hiểu huyền bí, chúng là con cái [210] của đêm tối. Chúng là nền tảng của ảo cảm, tuyệt vọng và suy đồi; môn sinh của Các Đấng Cao Cả phải trung hòa chúng bằng cách tiếp nhận những màu sắc gắn với ánh sáng. |
|
1. The synthesis of all the colours, as aforesaid, is the synthetic ray of indigo. This underlies all and absorbs all. But in the three worlds of human evolution the orange of flame irradiates all. This orange emanates from the fifth plane, underlies the fifth principle, and is the effect produced by the esoteric sounding of the occult words “Our God is a consuming Fire.” These words apply to the manasic principle, that fire of intelligence or reason which the Lords of the Flame imparted, and which stimulates and guides the life of the active personality. It is that light of reason which guides a man through the Hall of Learning on into the Hall of Wisdom. In the latter hall its limitations are discovered, and that structure which knowledge has built (the causal body or the Temple of Solomon) is itself destroyed by the consuming fire. This fire consumes the gorgeous prison house which man has erected through many incarnations, and lets loose the inner light divine. Then the two fires merge, mount upwards and are lost in the Triadal Light. |
1. Như đã nói, sự tổng hợp của mọi màu sắc là cung tổng hợp màu chàm. Cung này làm nền tảng cho tất cả và hấp thu tất cả. Nhưng trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại, màu cam của ngọn lửa chiếu sáng tất cả. Màu cam này phát xạ từ cõi thứ năm, làm nền tảng cho nguyên khí thứ năm, và là hiệu quả do việc xướng theo nội môn những lời huyền bí “Thượng đế của chúng ta là một Ngọn Lửa thiêu rụi” tạo ra. Những lời này áp dụng cho nguyên khí manas, ngọn lửa của trí thông minh hay lý trí mà các Chúa Tể Ngọn Lửa đã truyền ban, và ngọn lửa ấy kích thích, dẫn dắt đời sống của phàm ngã hoạt động. Chính ánh sáng lý trí ấy dẫn dắt con người đi qua Phòng Học Tập để vào Phòng Minh triết. Trong phòng sau này, những giới hạn của nó được nhận ra, và chính cấu trúc mà tri thức đã xây dựng (thể nguyên nhân hay Đền Thờ Solomon) bị ngọn lửa thiêu rụi phá hủy. Ngọn lửa này thiêu rụi nhà tù tráng lệ mà con người đã dựng nên qua nhiều lần lâm phàm, và giải phóng ánh sáng thiêng liêng bên trong. Khi ấy, hai ngọn lửa hợp nhất, vươn lên cao và tan vào Ánh sáng Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
Certain colours belong more exclusively to the human Hierarchy, others to the deva. In their ultimate blending and intermingling comes eventual perfection…. |
Một số màu sắc thuộc riêng về Huyền Giai nhân loại hơn, những màu khác thuộc về Huyền Giai thiên thần. Trong sự hòa trộn và đan xen tối hậu của chúng, sự hoàn thiện cuối cùng sẽ đến…. |
|
August 29th, 1920. |
Ngày 29 tháng 8 năm 1920. |
1. Enumeration of the Colours. – 1. Liệt kê các Màu sắc.
|
Tonight we must continue our study on colour and take up our first point. |
Tối nay, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu màu sắc và bàn đến điểm thứ nhất. |
|
In doing this I will make certain comments and give you certain data, impressing upon you nevertheless again the fact that I use the exoteric terms, and that the discussion [211] is but for suggestive purposes. The very use of the word “Colour” shews the intention, for, as you know, the definition of the word conveys the idea of concealment. Colour is therefore “that which does conceal.” It is simply the objective medium by means of which the inner force transmits itself; it is the reflection upon matter of the type of influence that is emanating from the Logos, and which has penetrated to the densest part of His solar system. We recognise it as colour. The adept knows it as differentiated force, and the initiate of the higher degrees knows it as ultimate light, undifferentiated and undivided. |
Khi làm như vậy, Tôi sẽ đưa ra một số nhận xét và cung cấp cho các bạn một số dữ kiện; tuy nhiên, Tôi lại nhấn mạnh với các bạn rằng Tôi dùng những thuật ngữ ngoại môn, và cuộc thảo luận [211] chỉ nhằm mục đích gợi ý. Chính việc sử dụng từ “Màu sắc” cho thấy ý định ấy, vì như các bạn biết, định nghĩa của từ này truyền đạt ý tưởng về sự che giấu. Vì vậy, màu sắc là “cái che giấu”. Nó chỉ là phương tiện khách quan mà qua đó mãnh lực bên trong tự truyền đi; nó là sự phản chiếu trên vật chất của loại ảnh hưởng đang phát xạ từ Thượng đế, và đã thâm nhập đến phần đậm đặc nhất trong hệ mặt trời của Ngài. Chúng ta nhận biết nó là màu sắc. Chân sư biết nó là mãnh lực đã biến phân, còn điểm đạo đồ ở các cấp độ cao hơn biết nó là ánh sáng tối hậu, không biến phân và không phân chia. |
|
We enumerated the colours yesterday and in a certain order. I seek again to enumerate them thus, only this time reminding you that the one Ray of which all the others are but sub-rays, might be regarded as a circle of sevenfold light. Too apt is the student to picture seven bands, striking down athwart[1] the five lower planes till they contact the earth plane and are absorbed into dense matter. Not so is it in fact. The seven colours may be regarded as a band of seven colours circling and continuously shifting and moving through the planes back to their originating source…… |
Hôm qua, chúng ta đã liệt kê các màu sắc theo một thứ tự nhất định. Tôi muốn liệt kê chúng một lần nữa như vậy, nhưng lần này nhắc các bạn rằng cung duy nhất, mà mọi cung khác chỉ là những cung phụ của nó, có thể được xem như một vòng ánh sáng thất phân. Đạo sinh rất dễ hình dung bảy dải chiếu xuống xuyên qua[2] năm cõi thấp cho đến khi chúng tiếp xúc với cõi hồng trần và được hấp thu vào vật chất đậm đặc. Thực tế không phải như vậy. Bảy màu sắc có thể được xem như một dải gồm bảy màu xoay vòng, liên tục chuyển dịch và di chuyển xuyên qua các cõi để trở về nguồn khởi nguyên của chúng…… |
|
Something like this, Brother of Mine: – |
Huynh đệ của Tôi, đại khái là như thế này: – |
|
(I endeavoured to draw a diagram and failed) |
(Tôi đã cố gắng vẽ một sơ đồ và đã không thành công) |
|
You cannot describe it, Brother of Mine, some day the needed artist will come who will draw for you the fourth dimensional designs. In the meantime description must suffice. |
Huynh đệ của Tôi, bạn không thể mô tả nó; một ngày nào đó, người họa sĩ cần thiết sẽ đến và vẽ cho bạn những hình vẽ bốn chiều. Trong thời gian chờ đợi, chúng ta phải tạm bằng lòng với sự mô tả. |

|
These seven bands of colour emanate from the synthetic Ray. The indigo sub-ray of the indigo Ray forms the path of least resistance from the heart of densest matter back again to the source. The bands of colour form a circulating ring which, moving at different rates of vibration, passes through all the planes, circling down and up again. What I seek to bring out specially here is that these seven bands do not all move at the same rate, and herein lies hid the key to the complexity of the matter. Some move at a swifter rate of vibration than do some of the others. Hence—as they carry their corresponding monads with them—you have here [212] the answer to the question as to why some egos seem to make more rapid progress than do some others. |
Bảy dải màu này phát xạ từ cung tổng hợp. Cung phụ màu chàm của cung màu chàm tạo thành con đường ít trở ngại nhất từ tâm của vật chất đậm đặc nhất trở về nguồn. Các dải màu tạo thành một vòng luân chuyển; chuyển động với những tốc độ rung động khác nhau, vòng này đi qua mọi cõi, xoay vòng xuống rồi lại lên. Điều Tôi đặc biệt muốn làm nổi bật ở đây là bảy dải này không chuyển động cùng một tốc độ, và chính trong đó ẩn giấu chìa khóa cho tính phức tạp của vấn đề. Một số chuyển động với tốc độ rung động nhanh hơn những dải khác. Vì vậy—do chúng mang theo những chân thần tương ứng—ở đây các bạn có [212] câu trả lời cho vấn đề tại sao một số chân ngã dường như tiến bộ nhanh hơn những chân ngã khác. |
|
These coloured rings do not follow a straight unimpeded course, but interweave in a most curious manner, blending with each other, absorbing each other in stated cycles, and grouping themselves in groups of threes or fives, yet ever moving onwards. This is the real foundation to the diamond pattern upon the back of the serpent of wisdom. Three major lines of colour should be portrayed as forming the lattice work on the serpent’s skin, with the four other colours interweaving. Some day some student of colour and of the Divine Wisdom should compile a large chart of the seven planes, and superimposed upon those planes should be placed a seven-coloured serpent of wisdom. If correctly drawn to scale some interesting geometrical patterns will be found as the circles cut across the planes, and some impression will be conveyed occularly of the complexity of the matter of the seven rays…… |
Những vòng màu này không đi theo một lộ trình thẳng, không bị cản trở, mà đan xen theo một cách hết sức kỳ lạ, hòa trộn với nhau, hấp thu lẫn nhau trong những chu kỳ xác định, và tập hợp thành những nhóm ba hoặc năm, nhưng vẫn luôn tiến tới. Đây là nền tảng thực sự của mô hình hình thoi trên lưng con rắn minh triết. Ba tuyến màu chính nên được thể hiện như tạo thành mạng lưới trên da rắn, với bốn màu khác đan xen vào. Một ngày nào đó, một đạo sinh nghiên cứu màu sắc và Minh Triết Thiêng Liêng nên lập một biểu đồ lớn về bảy cõi, và đặt chồng lên các cõi ấy một con rắn minh triết mang bảy màu. Nếu vẽ đúng tỷ lệ, người ta sẽ thấy một số mô hình hình học thú vị khi các vòng cắt ngang các cõi, và qua thị giác sẽ có được phần nào ấn tượng về tính phức tạp của vấn đề bảy cung…… |
|
{Let me now give you a table for study. If the intuition sufficeth to read beyond the exoteric rendering as to seek an esoteric meaning much light will illuminate the student of meditation. |
{Giờ đây, hãy để Tôi đưa cho các bạn một bảng để nghiên cứu. Nếu trực giác đủ sức đọc vượt qua cách trình bày ngoại môn để tìm ý nghĩa nội môn, nhiều ánh sáng sẽ soi sáng cho đạo sinh tham thiền. |
|
Color |
Ray |
Plane |
Principle |
Chain |
Root Race |
|
Màu sắc |
Cung |
Cõi |
Nguyên khí |
Dãy |
Giống dân gốc |
|
Blue |
Power |
First |
Atma |
Jupiter |
|
|
Xanh lam |
Quyền năng |
Thứ nhất |
Atma |
Sao Mộc |
|
|
Indigo |
Love or wisdom |
Second |
Buddhic |
Venus |
sixth |
|
Chàm |
Tình thương hay minh triết |
Thứ hai |
Bồ đề |
Sao Kim |
thứ sáu |
|
Green |
Activity |
Third |
Manas |
Saturn |
fifth |
|
Xanh lục |
Hoạt động |
Thứ ba |
Manas |
Sao Thổ |
thứ năm |
|
Yellow |
Harmony |
Fourth |
(Causal body) |
Earth |
fourth |
|
Vàng |
Hài hoà |
Thứ tư |
(Thể nguyên nhân) |
Trái Đất |
thứ tư |
|
Orange- |
Science |
Fifth |
Kama-manas |
||
|
Cam |
Khoa học |
Thứ năm |
Kama-manas |
||
|
Red |
Devotion |
Sixth |
Pure kama |
Neptune |
first |
|
Đỏ |
Hiến dâng |
Thứ sáu |
Kama thuần túy |
Sao Hải Vương |
thứ nhất |
|
Violet |
Ceremonial law |
Seventh |
Prana |
Uranus |
|
|
Tím |
Luật Nghi thức |
Thứ bảy |
Prana |
Sao Thiên Vương |
|
Here, Brother of Old, four points are withheld, for in their withholding is the secret guarded and the mystery protected}. |
Huynh đệ của Ngày Xưa, ở đây có bốn điểm được giữ lại, vì chính việc giữ lại chúng gìn giữ bí mật và bảo vệ điều huyền nhiệm}. |
|
Certain brief statements seem to be in place:— |
Một vài phát biểu ngắn gọn có vẻ thích hợp ở đây:— |
|
The true indigo is the blue of the vault of heaven on a moonless night. It is the culmination, and at the attainment by all of synthesis, the solar night will supervene. Hence the colour corresponds to what the sky nightly proclaims. Indigo absorbs. |
Màu chàm đích thực là màu xanh lam của vòm trời trong đêm không trăng. Đó là đỉnh điểm, và khi tất cả đạt đến sự tổng hợp, đêm tối của hệ mặt trời sẽ đến. Vì vậy, màu này tương ứng với điều bầu trời công bố mỗi đêm. Màu chàm hấp thu. |
|
Green is the basis of the activity of Nature. It was the synthetic colour for system 1, and is the foundation for the present manifested system. The note of Nature is green, and each time a man reviews the robe in which the earth is clad he is contacting some of the force that reached its consummation in system 1. Green stimulates and heals. |
Xanh lục là nền tảng của hoạt động trong Thiên nhiên. Đó là màu tổng hợp của thái dương hệ 1, và là nền tảng của thái dương hệ đang biểu hiện hiện nay. Âm điệu của Thiên nhiên là xanh lục, và mỗi khi con người ngắm lại chiếc áo mà Trái Đất khoác lên, y đang tiếp xúc với một phần mãnh lực đã đạt đến sự viên mãn trong thái dương hệ 1. Xanh lục kích thích và chữa lành. |
|
I seek to call your attention here to the fact that it is not yet permissible to give out the esoteric significance of [213] these colours, nor exact information as to their order and application. The dangers are too great, for in the right understanding of the laws of colour and in the knowledge (for instance) of which colour stands for a particular ray lies the power the adept wields. |
Ở đây, Tôi muốn các bạn chú ý đến sự thật rằng chưa được phép tiết lộ thâm nghĩa nội môn của [213] những màu sắc này, cũng như thông tin chính xác về thứ tự và ứng dụng của chúng. Những nguy hiểm quá lớn, vì chính trong sự thấu hiểu đúng đắn các định luật về màu sắc và trong tri thức (chẳng hạn) về màu nào biểu thị một cung cụ thể có quyền năng mà chân sư sử dụng. |
Comments on the colours. – Nhận xét về các màu sắc.
|
Certain colours are known and it might be well if we here enumerated them. The synthetic ray is indigo, or a deep hue. It is the Ray of Love and Wisdom, the great fundamental ray of this present solar system, and is one of the cosmic rays. This cosmic ray divides itself, for purposes of manifestation, into seven sub-rays, as follows: |
Một số màu sắc đã được biết đến, và có lẽ chúng ta nên liệt kê chúng ở đây. Cung tổng hợp là màu chàm, hay một sắc đậm. Đó là Cung Bác Ái và Minh Triết, cung nền tảng vĩ đại của hệ mặt trời hiện nay, và là một trong các cung vũ trụ. Để biểu hiện, cung vũ trụ này tự phân chia thành bảy cung phụ như sau: |
|
1. Indigo……………and a colour not disclosed. |
1. Chàm……………và một màu chưa được tiết lộ. |
|
2. Indigo-indigo…The second sub-ray of Love and Wisdom. It finds its great expression on the second monadic plane, and its major manifestation in the monads of love. |
2. Chàm-chàm…Cung phụ thứ hai của Bác Ái và Minh Triết. Cung này biểu đạt mạnh mẽ trên cõi thứ hai, cõi chân thần, và có sự biểu hiện chủ yếu trong các chân thần bác ái. |
|
3. Indigo-green…….The third sub-ray, the third major Ray of Activity or Adaptability. It is the basic ray of the second system. It is the great ray for the deva evolution. |
3. Chàm-xanh lục…….Cung phụ thứ ba, Cung chính thứ ba của Hoạt Động hay Thích Ứng. Đó là cung cơ bản của thái dương hệ thứ hai. Đó là cung vĩ đại dành cho tiến hoá thiên thần. |
|
4. Indigo-yellow……………The Harmony Ray. |
4. Chàm-vàng……………Cung Hài Hòa. |
|
5. Indigo-orange..The Ray of Concrete Knowledge. |
5. Chàm-cam..Cung Tri Thức Cụ Thể. |
|
6. Indigo…and a colour not disclosed. The Ray of Devotion. |
6. Chàm…và một màu chưa được tiết lộ. Cung Sùng Tín. |
|
7. Indigo-violet…..The Ray of Ceremonial Order. |
7. Chàm-tím…..Cung Trật Tự Nghi Lễ. |
|
Now you will note that I do not name the two colours, indigo-red and indigo-blue, nor do I apportion them to [214] certain rays or planes. It is not that it is not possible to do so, but it is the withholding of this information that creates the puzzle. Certain things you must always remember in dealing with these colours: |
Giờ đây, các bạn sẽ lưu ý rằng Tôi không nêu tên hai màu chàm-đỏ và chàm-xanh lam, cũng không phân định chúng cho [214] những cung hay cõi nhất định. Không phải là không thể làm như vậy, mà chính việc giữ lại thông tin này tạo nên điều khó hiểu. Khi đề cập đến những màu sắc này, các bạn phải luôn ghi nhớ một số điều: |
|
That I have given their exoteric names and application, and that of all I have given only two correspond with their esoteric application,—indigo and green. The Synthetic Ray and the Activity Ray are at this stage the only two of which you can be absolutely assured. One is the goal of endeavour, and the other is the foundation colour of Nature. |
Rằng Tôi đã đưa ra tên gọi và ứng dụng ngoại môn của chúng, và trong tất cả những màu Tôi đã đưa ra, chỉ có hai màu tương ứng với ứng dụng nội môn của chúng,—chàm và xanh lục. Ở giai đoạn này, Cung Tổng Hợp và Cung Hoạt Động là hai cung duy nhất mà các bạn có thể hoàn toàn chắc chắn. Một cung là mục tiêu của nỗ lực, còn cung kia là màu nền tảng của Thiên nhiên. |
|
That the other five colours with which our fivefold evolution is concerned, change, intermingle, blend, and are not esoterically understood in the same sense as you might imagine from the use of the words, red, yellow, orange, blue and violet. Esoterically they scarcely resemble their names, and the names themselves are intended to blind and mislead. |
Rằng năm màu khác có liên quan đến tiến hoá ngũ phân của chúng ta thay đổi, đan xen, hòa trộn, và về mặt nội môn không được hiểu theo cùng nghĩa mà các bạn có thể hình dung từ việc sử dụng những từ đỏ, vàng, cam, xanh lam và tím. Về mặt nội môn, chúng hầu như không giống tên gọi của mình, và chính những tên gọi ấy nhằm che giấu và dẫn lạc hướng. |
|
That each of these three colours and the other two are only understood as yet through four of their lesser sub-rays. This is the fourth round and only four sub-rays of these colours have as yet been glimpsed. By remembering these three points undue emphasis will not be laid upon apparent information, and the student will wisely reserve his opinion. |
Rằng cho đến nay, mỗi màu trong ba màu này và hai màu kia chỉ được thấu hiểu thông qua bốn cung phụ nhỏ hơn của chúng. Đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, và cho đến nay người ta mới chỉ thoáng thấy bốn cung phụ của những màu này. Khi ghi nhớ ba điểm ấy, đạo sinh sẽ không nhấn mạnh quá mức những thông tin bề ngoài, và sẽ sáng suốt giữ lại nhận định của mình. |
|
Yellow is another of the colours that have come to us from system 1. The blending of blue and of yellow in that system had much to do with the production of activity. Yellow harmonises, it marks completion and fruition. Note how in autumn, when the processes of Nature have run their course and the cycle is complete, the yellow of the autumn is spread upon the landscape. Note also that when the sun pours unimpeded down the yellow of the harvest is also to be seen. So it is in the [215] life of the spirit. When the fourth plane of harmony or of buddhi is achieved, then is consummation. When the work of the personality is completed, and when the sun of the microcosm, the Ego, pours unimpeded down into the personal life, then comes fruition and harvest. The at-one-ment, or the harmonising has been made, and the goal has been reached. Blue and yellow blended result in green, and the synthetic blue or indigo (the love and wisdom aspect) dominates when the plane of harmony is reached. It leads then to the third plane of atma whereon the green of activity predominates…… |
Vàng là một màu khác đã đến với chúng ta từ thái dương hệ 1. Sự hòa trộn xanh lam và vàng trong thái dương hệ ấy có liên quan mật thiết đến việc tạo ra hoạt động. Màu vàng làm hài hòa, đánh dấu sự hoàn tất và kết quả viên mãn. Hãy lưu ý rằng vào mùa thu, khi các tiến trình của Thiên nhiên đã diễn ra trọn vẹn và chu kỳ đã hoàn tất, sắc vàng mùa thu trải khắp cảnh vật. Cũng hãy lưu ý rằng khi mặt trời tuôn ánh sáng xuống không bị cản trở, sắc vàng của mùa gặt cũng hiện ra. Trong [215] đời sống tinh thần cũng vậy. Khi đạt đến cõi thứ tư của hài hòa hay Bồ đề, sự viên mãn xuất hiện. Khi công việc của phàm ngã hoàn tất, và khi mặt trời của Tiểu thiên địa, tức Chân ngã, tuôn xuống đời sống cá nhân không bị cản trở, bấy giờ sự kết quả và mùa gặt đến. Sự hợp nhất, hay sự hài hòa, đã thành tựu, và mục tiêu đã đạt được. Xanh lam hòa trộn với vàng tạo thành xanh lục, và màu xanh lam tổng hợp hay màu chàm (phương diện bác ái và minh triết) chiếm ưu thế khi đạt đến cõi hài hòa. Khi ấy, nó dẫn đến cõi thứ ba, cõi atma, nơi màu xanh lục của hoạt động chiếm ưu thế…… |
|
Seek this out, Brother of Mine. Cease now from thought and continue on the morrow. This matter is not easy of comprehension, and your realisation of this and consequent nervousness, hindereth the easy flow of the dictation. |
Huynh đệ của Tôi, hãy tìm hiểu điều này. Giờ hãy ngừng suy nghĩ và ngày mai tiếp tục. Vấn đề này không dễ thấu hiểu, và việc bạn nhận ra điều đó cùng sự căng thẳng nảy sinh từ đó cản trở dòng truyền đọc thông suốt. |
|
August 3lst, 1920. |
Ngày 31 tháng 8 năm 1920. |
|
In continuing our study of colour and meditation, and our particular division in that study, I would—for your encouragement—point out that the part that falls to you is the reception and publication of these letters and of the imparted data, whereas the responsibility for that data rests with me. Even if you understand them not, and even if it seems to you that some of the data may be contradictory, I would suggest for your consideration that in the esoteric interpretation lies hid half the mystery, and the other half is concealed by the fact that all interpretation depends upon the standpoint of the interpreter, and the plane whereon his consciousness is working. The value of what I impart now consists in this:—that in the study of colour (which is one form of the study of vibration) comes the ability to understand personal vibration, to attune that vibration to the egoic one, and to synchronise it later with that of the Master. One of the main methods of effecting this synchronisation is meditation. When the intelligence grasps the scientific facts anent this subject, then comes the utilisation of these facts for the advancement of vibration, and the wise development of the colours necessitated. [216] |
Khi tiếp tục nghiên cứu màu sắc và tham thiền, cùng phần việc riêng của chúng ta trong nghiên cứu ấy, Tôi muốn—để khích lệ bạn—chỉ ra rằng phần việc của bạn là tiếp nhận và công bố những bức thư này cùng các dữ liệu được truyền đạt, còn trách nhiệm về các dữ liệu ấy thuộc về Tôi. Dù bạn không thấu hiểu chúng, và dù bạn thấy một số dữ liệu có vẻ mâu thuẫn, Tôi đề nghị bạn suy xét rằng chính trong cách diễn giải nội môn ẩn giấu một nửa điều huyền nhiệm, còn nửa kia bị che khuất vì mọi cách diễn giải đều tùy thuộc vào quan điểm của người diễn giải và cõi mà tâm thức của y đang hoạt động. Giá trị của những điều Tôi truyền đạt lúc này nằm ở chỗ:—việc nghiên cứu màu sắc (vốn là một hình thức nghiên cứu rung động) đem lại khả năng thấu hiểu rung động cá nhân, điều hòa rung động ấy với rung động chân ngã, rồi về sau đồng bộ hóa nó với rung động của Chân sư. Một trong những phương pháp chính để thực hiện sự đồng bộ hóa này là tham thiền. Khi trí năng nắm bắt các sự kiện khoa học liên quan đến chủ đề này, bấy giờ sẽ có việc vận dụng những sự kiện ấy để nâng cao rung động và phát triển một cách sáng suốt những màu sắc cần thiết. [216] |
|
We dealt in my last letter with the four colours—blue, indigo, green, and yellow,—and in this primary grouping lies much of interest. We now come to a different group of colours, and one that falls naturally together, orange, red, and violet. |
Trong bức thư trước, chúng ta đã bàn đến bốn màu—xanh lam, chàm, xanh lục và vàng,—và chính trong nhóm màu sơ khởi này có nhiều điều đáng quan tâm. Giờ chúng ta chuyển sang một nhóm màu khác, những màu tự nhiên hợp thành một nhóm: cam, đỏ và tím. |
|
Orange. This colour is for our purpose the colour of the mental plane, the colour that marks burning; it is the symbol of flame, and curiously enough the colour that epitomises[3] separation. But I would have you note that the occult orange is not exactly the colour that you understand by the term. Exoteric orange is a blend of yellow and red; esoteric orange is a purer yellow, and the red scarcely is seen at all. This orange comes in as a vibration set up by a cosmic ray, for you have to remember that this fifth ray (just as the fifth plane and the fifth principle) is closely allied to the cosmic ray of the intelligence, or to that activity aspect that found its great expression in the first solar system. The synthetic ray of that time was the green ray, and it found one of its closest alliances in the ray of orange, or mind or intelligence demonstrating through form. You get a correspondence in this solar system in the synthetic Ray of Love and Wisdom, and its close relationship to the fourth Ray of Harmony. It finds a demonstration in the triangle formed by their interaction, as follows: [217] |
Màu cam. Đối với mục đích của chúng ta, màu này là màu của cõi trí, màu biểu thị sự cháy; nó là biểu tượng của ngọn lửa và, khá kỳ lạ, là màu tiêu biểu cho[4] sự chia tách. Nhưng Tôi muốn bạn lưu ý rằng màu cam huyền bí không hoàn toàn là màu mà bạn hiểu qua thuật ngữ ấy. Màu cam ngoại môn là sự pha trộn giữa vàng và đỏ; màu cam nội môn là một màu vàng thuần khiết hơn, và gần như không thấy sắc đỏ. Màu cam này xuất hiện như một rung động do một cung vũ trụ tạo ra, vì bạn phải nhớ rằng cung năm này (cũng như cõi thứ năm và nguyên khí thứ năm) liên kết chặt chẽ với cung vũ trụ của trí năng, hay với phương diện hoạt động đã biểu hiện mạnh mẽ trong hệ mặt trời thứ nhất. Cung tổng hợp của thời ấy là cung xanh lục, và một trong những liên kết mật thiết nhất của nó là với cung màu cam, tức trí tuệ hay trí năng biểu hiện qua hình tướng. Trong hệ mặt trời này, bạn thấy sự tương ứng nơi Cung tổng hợp của Bác Ái và Minh Triết cùng mối quan hệ mật thiết của nó với Cung bốn của Hài Hòa. Điều đó biểu hiện trong tam giác do sự tương tác của chúng tạo thành, như sau: [217] |
|
FIRST SOLAR SYSTEM |
HỆ MẶT TRỜI THỨ NHẤT |
|
Green Ray |
Cung xanh lục |
|
Third Aspect |
Phương diện thứ ba |
|
Activity or Intelligence |
Hoạt động hay Trí năng |
|
Third sub-ray |
Cung phụ ba |
|
Cung phụ ba |
Cung phụ ba |
|
Activity |
Hoạt động |
|
Hoạt động |
Hoạt động |
|
Green-green |
Xanh lục-xanh lục |
|
Xanh lục-xanh lục |
Xanh lục-xanh lục |
|
SECOND SOLAR SYSTEM |
HỆ MẶT TRỜI THỨ HAI |
|
Indigo Ray |
Cung chàm |
|
Second Aspect |
Phương diện thứ hai |
|
Love and Wisdom |
Bác Ái và Minh Triết |
|
Second sub-ray |
Cung phụ hai |
|
Cung phụ hai |
Cung phụ hai |
|
Love and Wisdom |
Bác Ái và Minh Triết |
|
Bác Ái – Minh Triết |
Bác Ái – Minh Triết |
|
Indigo-indigo |
Chàm-chàm |
|
Chàm-chàm |
Chàm-chàm |
|
[218] |
[218] |
|
In the activity system you have the third aspect of universal mind or activity, demonstrating through the orange of the concrete sub-ray…… (In connection with this I would refer the reader to the previous article upon the solar system, and to the relationship traced between the abstract rays 2—4—6 and similarly in the concrete rays 3—5—7), adaptability through form—form which perfectly expresses that latent activity. Similarly in the second system of love, you have the love aspect demonstrating through the yellow of the ray of harmony or beauty—love expressing itself perfectly through unity, harmony or beauty. Note here the fact that I again use terms that are dependent for their correctness upon their exoteric or esoteric interpretation. |
Trong thái dương hệ hoạt động, bạn có phương diện thứ ba của Vũ Trụ Trí hay hoạt động, biểu hiện qua màu cam của cung phụ cụ thể…… (Liên quan đến điều này, Tôi muốn hướng người đọc đến bài trước về hệ mặt trời và mối quan hệ đã được chỉ ra giữa các cung trừu tượng 2—4—6, và tương tự giữa các cung cụ thể 3—5—7), khả năng thích ứng qua hình tướng—hình tướng biểu đạt hoàn hảo hoạt động tiềm tàng ấy. Tương tự, trong thái dương hệ bác ái thứ hai, bạn có phương diện bác ái biểu hiện qua màu vàng của cung hài hòa hay mỹ lệ—bác ái biểu đạt hoàn hảo qua sự hợp nhất, hài hòa hay mỹ lệ. Ở đây, hãy lưu ý rằng Tôi lại dùng những thuật ngữ mà tính chính xác tùy thuộc vào cách diễn giải ngoại môn hay nội môn. |
|
Therefore to return to what I earlier said, this orange comes in as a vibration set up by the earlier cosmic ray of activity in the earlier solar system; the force of orange (which is scientific apprehension by the intelligence) comes in to perfect the link between spirit and form, between life and the vehicles through which it is seeking expression. |
Vì vậy, trở lại điều Tôi đã nói trước đó, màu cam này xuất hiện như một rung động do cung vũ trụ hoạt động trước kia tạo ra trong hệ mặt trời trước; mãnh lực của màu cam (vốn là sự lĩnh hội khoa học bằng trí năng) xuất hiện để hoàn thiện mối liên kết giữa tinh thần và hình tướng, giữa sự sống và các hiện thể mà qua đó sự sống tìm cách biểu đạt. |
|
We might apportion the great basic colours between the various terms that we use to express the totality of the manifested universe: |
Chúng ta có thể phân bổ những màu sắc nền tảng chủ yếu cho các thuật ngữ khác nhau mà chúng ta dùng để diễn đạt toàn thể vũ trụ biểu hiện: |
|
1. Phương diện Sự sống |
2. Phương diện Hình tướng |
3. Phương diện Trí thông tuệ |
|
1. Life Aspect |
2. Form Aspect |
3. Intelligence Aspect |
|
tinh thần |
Vật chất |
Trí tuệ |
|
Spirit |
Matter |
Mind |
|
Tâm thức |
Hiện thể |
Sinh lực |
|
Consciousness |
Vehicle |
Vitality |
|
Bản Ngã |
Phi Ngã |
Mối quan hệ giữa |
|
Self |
Not-Self |
Relation between |
|
2. Cung Bác ái và Minh triết |
1. Cung Quyền năng và Ý chí |
3. Cung Hoạt động hay Khả năng thích ứng |
|
2. Ray of Love and Wisdom |
1. Ray of Power and Will |
3. Ray of Activity or Adaptability |
|
4. Cung Hài hòa |
7. Cung Định luật Nghi lễ |
5. Cung Tri thức cụ thể |
|
4. Ray of Harmony |
7. Ray of Ceremonial Law |
5. Ray of Concrete Knowledge |
|
6. Cung Sùng tín |
5. Cung Tri thức cụ thể [219] |
|
|
6. Ray of Devotion |
5. Ray of Concrete Knowledge [219] |
|
|
This is but one of the ways in which the rays may be apportioned and considered as influences having direct effect upon the evolving life, or upon the form in which it evolves by means of that third factor, the intelligence. These three divisions make the three points of a cosmic triangle:— |
Đây chỉ là một trong những cách có thể phân bổ các cung và xem chúng như những ảnh hưởng tác động trực tiếp lên sự sống đang tiến hoá, hoặc lên hình tướng mà trong đó sự sống tiến hoá nhờ yếu tố thứ ba, tức trí năng. Ba phần này tạo thành ba đỉnh của một tam giác vũ trụ:— |

|
and the current of the rays playing macrocosmically between the three has its microcosmic correspondence in the fire of kundalini (awakened through meditation) playing in accurate geometrical form between the three major centres:— |
và dòng các cung vận hành giữa ba đỉnh ở cấp độ đại thiên địa có sự tương ứng ở cấp độ tiểu thiên địa trong lửa kundalini (được đánh thức qua tham thiền), vận hành theo hình học chính xác giữa ba trung tâm chính:— |

|
All the seven rays interact between the life, the form and the inner mind, and are in their essence themselves those three. They are life, they are form, they are intelligence, and their totality is the manifested universe. All seven at different times play on the different aspects. [220] |
Cả bảy cung đều tương tác giữa sự sống, hình tướng và trí bên trong, và trong bản chất, chính chúng là ba yếu tố ấy. Chúng là sự sống, chúng là hình tướng, chúng là trí năng, và toàn thể chúng là vũ trụ biểu hiện. Cả bảy cung đều tác động lên các phương diện khác nhau vào những thời điểm khác nhau. [220] |
|
The most important interaction exists between:— |
Sự tương tác quan trọng nhất tồn tại giữa:— |
|
a. The Love-Wisdom Ray and the Harmony Ray, as it does between the monadic plane and the buddhic. |
a. Cung Bác Ái – Minh Triết và Cung Hài Hòa, cũng như giữa cõi chân thần và cõi Bồ đề. |
|
b. The Power Ray and that of Ceremonial Law, just as it does between the first and the seventh planes. |
b. Cung Quyền Năng và cung Định Luật Nghi Lễ, cũng như giữa cõi thứ nhất và cõi thứ bảy. |
|
c. The Activity or Adaptability Ray and that of Concrete Knowledge or Science, just as it does between the third plane of atma and the fifth plane of mind. Green and orange were allied in the first solar system, and continue their alliance here. I have opened up for all true students vast realms of thought. |
c. Cung Hoạt Động hay Thích Ứng và cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học, cũng như giữa cõi atma thứ ba và cõi trí thứ năm. Xanh lục và cam đã liên kết trong hệ mặt trời thứ nhất, và tiếp tục sự liên kết ấy ở đây. Tôi đã mở ra những lĩnh vực tư tưởng bao la cho mọi đạo sinh chân chính. |
|
In the relationship between indigo, blue and yellow lies hid a secret. |
Chính trong mối quan hệ giữa chàm, xanh lam và vàng ẩn giấu một bí mật. |
|
In the relationship between green, orange and red another is revealed. |
Trong mối quan hệ giữa xanh lục, cam và đỏ, một bí mật khác hiển lộ. |
|
In the relationship between blue, red, and violet lies still another mystery. |
Chính trong mối quan hệ giữa xanh lam, đỏ và tím còn ẩn giấu một điều huyền nhiệm khác. |
|
The student, who, by using his intuition, apprehends these three mysteries has found the key to the greater cycle and holds the key to evolutionary development. Remember, therefore, when studying the microcosm that the same relationship will be found, and will open the portal to the “Kingdom of God within.” |
Đạo sinh dùng trực giác để lĩnh hội ba điều huyền nhiệm này đã tìm được chìa khóa của chu kỳ lớn hơn và nắm giữ chìa khóa của sự phát triển tiến hoá. Vì vậy, hãy nhớ rằng khi nghiên cứu tiểu thiên địa, bạn sẽ tìm thấy cùng mối quan hệ ấy, và nó sẽ mở cánh cổng dẫn vào “Thiên Giới bên trong”. |
|
Red is for all apparent purposes one of the most difficult colours to consider. It ranks as undesirable. Why? Because it has been considered as the colour of kama, or evil desire, and the picture of the dark and lurid[5] reds in the emotional body of the undeveloped man rises ever to one’s vision. Yet—at some distant time—red will be the basis of a solar system, and in the perfect merging of red, green and blue will come eventually the completed [221] work of the Logos and the consummation of the pure white light. |
Màu đỏ, xét theo mọi mục đích hiển nhiên, là một trong những màu khó xem xét nhất. Nó được xếp vào loại không đáng mong muốn. Tại sao? Vì nó từng được xem là màu của dục vọng, hay dục vọng xấu xa, và hình ảnh những sắc đỏ tối tăm, gay gắt[6] trong thể cảm dục của người chưa phát triển luôn hiện lên trước mắt người ta. Tuy nhiên—vào một thời điểm xa xôi nào đó—màu đỏ sẽ là nền tảng của một hệ mặt trời, và trong sự hòa nhập hoàn hảo của đỏ, xanh lục và xanh lam, cuối cùng sẽ có sự hoàn tất [221] công trình của Thượng đế và sự viên mãn của ánh sáng trắng thuần khiết. |
|
The activity system was green. |
Thái dương hệ hoạt động đã mang màu xanh lục. |
|
The love system is blue. |
Thái dương hệ bác ái mang màu xanh lam. |
|
The power system will be red. |
Thái dương hệ quyền năng sẽ mang màu đỏ. |
|
The result of merging red, blue, and green is—as you know—white, and the Logos will then have esoterically “washed His robes and made them white in the blood,” just as the microcosm, in a lesser sense, does in process of evolution. |
Như bạn biết, kết quả của sự hòa nhập đỏ, xanh lam và xanh lục là màu trắng, và bấy giờ, theo nghĩa nội môn, Thượng đế sẽ “giặt áo của Ngài và làm cho áo trắng trong máu”, cũng như tiểu thiên địa thực hiện điều ấy theo một nghĩa hạn hẹp hơn trong tiến trình tiến hoá. |
|
Violet. In a curious way the violet Ray of Ceremonial Law or Order is a synthetic ray when manifested in the three worlds. Just as the synthetic Ray of Love and Wisdom is the synthesis of all the life forces, so in the three worlds the seventh ray synthesises all that has to do with form. On the first plane, life in its purest, highest, undifferentiated synthetic aspect; on the seventh plane, form in its densest, grossest, most differentiated aspect; one is summed up in the synthetic Ray of Love, whilst the other is worked upon by the seventh. |
Màu tím. Theo một cách kỳ lạ, Cung tím của Định Luật Nghi Lễ hay Trật Tự là một cung tổng hợp khi biểu hiện trong ba cõi giới. Cũng như Cung tổng hợp của Bác Ái và Minh Triết là sự tổng hợp của mọi mãnh lực sự sống, thì trong ba cõi giới cung bảy tổng hợp mọi điều liên quan đến hình tướng. Trên cõi thứ nhất, sự sống ở phương diện tổng hợp thuần khiết nhất, cao nhất, chưa biến phân; trên cõi thứ bảy, hình tướng ở phương diện đậm đặc nhất, thô trược nhất, biến phân nhiều nhất; một bên được bao hàm trong Cung tổng hợp của Bác Ái, còn bên kia chịu tác động của cung bảy. |
|
A synthesis too is found in the fact that through the medium of violet the deva and human kingdoms can find a place of contact. Esoterically violet is white. In the blending of these two kingdoms the seven Heavenly Men attain perfection and completeness, and are esoterically considered to be white, the synonym of perfection. |
Một sự tổng hợp nữa cũng nằm ở chỗ, qua trung gian màu tím, giới thiên thần và giới nhân loại có thể tìm được một điểm tiếp xúc. Theo nghĩa nội môn, tím là trắng. Trong sự hòa hợp của hai giới này, bảy Đấng Thiên Nhân đạt đến sự hoàn hảo và trọn vẹn, và theo nghĩa nội môn được xem là trắng, từ đồng nghĩa với sự hoàn hảo. |
|
Another point of synthesis is the fact that through the dominance of this seventh ray comes a point of merging between the dense physical and the etheric bodies. This is of paramount importance in the macrocosm, and to the student of meditation. It is necessary to effect this merging and alignment before the transmission of the teaching to the dense physical brain can in any way be [222] considered accurate. It has a close bearing upon the alignment of the centres. |
Một điểm tổng hợp khác là qua sự chi phối của cung bảy này, xuất hiện một điểm hòa nhập giữa thể xác đậm đặc và thể dĩ thái. Điều này có tầm quan trọng tối cao trong đại thiên địa và đối với đạo sinh tham thiền. Cần thực hiện sự hòa nhập và chỉnh hợp này trước khi việc truyền giáo huấn đến bộ não hồng trần đậm đặc có thể [222] được xem là chính xác theo bất kỳ cách nào. Điều này liên quan mật thiết đến sự chỉnh hợp các trung tâm. |
|
I have sought in the above remarks solely to indicate lines of thought which, if followed closely, may lead to surprising results. By the study of colours and the planes, by the study of colour and its effect and relationship to the life side, and by the study of the form side of the mind, will come much of value to the student of meditation, provided always he does three things: |
Trong những nhận xét trên, Tôi chỉ tìm cách chỉ ra các hướng tư tưởng mà nếu theo sát, có thể dẫn đến những kết quả đáng kinh ngạc. Việc nghiên cứu màu sắc và các cõi, nghiên cứu màu sắc cùng tác dụng và mối quan hệ của nó với mặt sự sống, và nghiên cứu mặt hình tướng của thể trí sẽ đem lại nhiều điều giá trị cho đạo sinh tham thiền, với điều kiện y luôn thực hiện ba điều: |
|
1. Y tìm cách khám phá các màu sắc nội môn và cách áp dụng đúng chúng vào các cõi và trung tâm, vào các thể mà qua đó y biểu hiện, và vào các thân thể mà qua đó Thượng đế biểu hiện (bảy hành tinh thiêng liêng); vào các cuộc tuần hoàn và các giống dân, cùng các chu kỳ trong đời sống cá nhân của chính y. Khi làm được điều này, y nắm trong tay chìa khóa của mọi tri thức. |
|
|
2. That he endeavours to make practical application of all indicated truth to his personal life of service in the three worlds, and that he tries to conform in his methods of work to the methods demonstrated by the Logos through the seven rays or influences. By this I mean that, through meditation, he brings his life systematically and in ordered occult cycles under those seven great influences, and so produces an ordered beauty in his manifestation of the Ego. |
2. Y nỗ lực áp dụng thực tiễn mọi chân lý đã được chỉ ra vào đời sống phụng sự cá nhân trong ba cõi giới, và cố gắng làm cho phương pháp hoạt động của mình phù hợp với các phương pháp mà Thượng đế biểu hiện qua bảy cung hay ảnh hưởng. Qua điều này, Tôi muốn nói rằng, nhờ tham thiền, y đưa đời sống của mình vào dưới bảy ảnh hưởng lớn ấy một cách có hệ thống và theo các chu kỳ huyền bí có trật tự, nhờ đó tạo nên vẻ đẹp có trật tự trong sự biểu hiện Chân ngã của y. |
|
3. That he remembers ever that perfection, as we know it, is only partial and not real, and that even perfection itself—as grasped by the mind of man, is but illusion, and that only the next logoic manifestation will reveal the ultimate glory in view. As long as there is differentiated colour there is imperfection. Remember, colour as we know it is the realisation by the man using a fifth root-race body in the fourth round on the fourth chain, of a vibration that contacts the human eye. What then will [223] colour be as visioned by a man of the seventh round in a seventh root-race body? Even then a whole range of colours of wondrous beauty will be outside and beyond his comprehension. The reason being that only two great aspects of logoic life are being thoroughly demonstrated and the third will be but partially revealed, waiting for the still greater “Day be with us” to flash forth in perfect radiance. This word “radiance” has an occult meaning worthy of your consideration. |
3. Y luôn nhớ rằng sự hoàn hảo, như chúng ta biết, chỉ là từng phần chứ không thực, và ngay cả chính sự hoàn hảo—như trí tuệ con người lĩnh hội—cũng chỉ là ảo tưởng, và chỉ lần biểu hiện kế tiếp của Thượng đế mới mặc khải vẻ huy hoàng tối hậu đang hướng tới. Chừng nào còn màu sắc biến phân, chừng ấy còn sự bất toàn. Hãy nhớ rằng màu sắc như chúng ta biết là sự nhận biết của con người sử dụng thân thể thuộc giống dân gốc thứ năm, trong cuộc tuần hoàn thứ tư trên dãy thứ tư, về một rung động tiếp xúc với mắt người. Vậy [223] màu sắc sẽ như thế nào khi một người thuộc cuộc tuần hoàn thứ bảy, trong thân thể của giống dân gốc thứ bảy, nhìn thấy? Ngay cả khi ấy, cả một dải màu sắc đẹp kỳ diệu vẫn sẽ nằm ngoài và vượt quá khả năng thấu hiểu của y. Lý do là chỉ hai phương diện lớn của sự sống Thượng đế đang biểu hiện trọn vẹn, còn phương diện thứ ba sẽ chỉ hiển lộ một phần, chờ đợi “Ngày ở cùng chúng ta” còn vĩ đại hơn bừng lên trong ánh rạng ngời hoàn hảo. Từ “rạng ngời” này có một ý nghĩa huyền bí đáng để bạn suy xét. |
|
September 3rd, 1920. |
Ngày 3 tháng 9 năm 1920. |
|
In the steady adherence to the next duty and the planting of the foot firmly on the next step ahead lies the open road to the Master, and the incidental clearing away of all difficulties. In the formulating of high mental concepts, and the expressing of them on the physical plane lies that development of the mental body that permits of an ever greater influx of the life from above. In the stabilising of the emotions, and in the transference of desire from that plane to the buddhic comes the ability to reflect truly the higher point of view. In the disciplined, purified physical body comes the capacity to work out that which the inner man knows. If these three things are attended to, the law can then work and emancipation be hastened. People ask themselves, how does the law work? What is our part in the carrying out of action that sets the law loose in the individual life? Simply adherence, as stated above, to the highest duty and an ordering of the personality life so that that duty may be perfectly achieved. |
Chính trong sự kiên định thực hiện bổn phận kế tiếp và đặt chân vững vàng lên bước tiếp theo có con đường rộng mở dẫn đến Chân sư, cùng sự giải trừ mọi khó khăn như một hệ quả. Chính trong việc hình thành những khái niệm trí tuệ cao cả và biểu đạt chúng trên cõi hồng trần có sự phát triển của thể trí, cho phép sự sống từ trên cao tuôn vào ngày càng nhiều. Việc ổn định cảm xúc và chuyển dịch dục vọng từ cõi ấy lên cõi Bồ đề đem lại khả năng phản ánh trung thực quan điểm cao hơn. Thể xác được rèn luyện và thanh lọc đem lại khả năng thực hiện điều mà con người bên trong biết. Nếu chú trọng ba điều này, định luật có thể vận hành và sự giải thoát có thể được thúc đẩy. Người ta tự hỏi, định luật vận hành như thế nào? Phần việc của chúng ta là gì trong việc thực hiện hành động để định luật tự do vận hành trong đời sống cá nhân? Đơn giản là, như đã nói trên, kiên định với bổn phận cao nhất và sắp xếp đời sống phàm ngã sao cho có thể hoàn thành bổn phận ấy một cách hoàn hảo. |
The Esoteric and Exoteric colours. – Các màu sắc nội môn và ngoại môn.
|
Today our subject is the second one in our letter on the use of colour and deals with the law of correspondences [224] and of colour…… I can only briefly deal with and some of the earlier matter imparted by me on the esoteric colors can be here interpolated. |
Hôm nay, chủ đề của chúng ta là chủ đề thứ hai trong bức thư về việc sử dụng màu sắc, và bàn đến định luật tương ứng [224] và màu sắc…… Tôi chỉ có thể bàn đến ngắn gọn, và có thể đưa vào đây một số nội dung trước kia Tôi đã truyền đạt về các màu sắc nội môn. |
|
The esoteric meaning of the exoteric colours is not yet wholly imparted, as I have already told you. Some of these meanings have been given out by H.P.B. but their significance has not been sufficiently apprehended. One hint I give for your wise consideration. Some of the information given in The Secret Doctrine anent colour and sound concerns the first solar system and some concerns a portion of the second solar system. The distinction has naturally not been apprehended, but as a key fact for studying in the newer school, the revelation will be great. In this statement as to the esoteric significance of the colours I would have you now tabulate (even though it can be found in The Secret Doctrine), in order to form the basis of such later communications as I may seek to impart. |
Như Tôi đã nói với bạn, ý nghĩa nội môn của các màu sắc ngoại môn vẫn chưa được truyền đạt đầy đủ. H.P.B. đã công bố một số ý nghĩa này, nhưng thâm nghĩa của chúng chưa được lĩnh hội đầy đủ. Tôi đưa ra một gợi ý để bạn suy xét sáng suốt. Một số thông tin trong Giáo Lý Bí Nhiệm về màu sắc và âm thanh liên quan đến hệ mặt trời thứ nhất, còn một số liên quan đến một phần của hệ mặt trời thứ hai. Đương nhiên, người ta chưa nhận ra sự khác biệt ấy, nhưng với tư cách một sự kiện then chốt để nghiên cứu trong trường phái mới hơn, sự mặc khải này sẽ rất lớn lao. Trong phần trình bày về thâm nghĩa nội môn của các màu sắc này, giờ Tôi muốn bạn lập bảng (dù có thể tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm), nhằm tạo nền tảng cho những thông tin về sau mà Tôi có thể tìm cách truyền đạt. |
|
Exoteric |
Ngoại môn |
|
Purple |
Tím tía |
|
Yellow |
Vàng |
|
Cream |
Kem |
|
White |
Trắng |
|
Only four as yet can be communicated, but if rightly understood they hold the key to the present fourth round, and to its history. This being the fourth chain and the fourth round you will note therefore how in the number four lies the history of the present. Especially would I urge you who are the teachers and students of the coming generation to ponder upon the significance of white being esoterically violet. It has special application now in the coming in of the violet ray, the seventh ray being one of the three major rays in this round; it wields power in ratio to the four, on the four and under the four. |
Cho đến nay, chỉ có thể truyền đạt bốn màu, nhưng nếu được thấu hiểu đúng đắn, chúng nắm giữ chìa khóa của cuộc tuần hoàn thứ tư hiện tại và lịch sử của nó. Vì đây là Dãy thứ tư và cuộc tuần hoàn thứ tư, các bạn sẽ nhận thấy rằng chính trong số bốn có lịch sử của hiện tại. Tôi đặc biệt muốn thúc giục các bạn, những huấn sư và đạo sinh của thế hệ sắp tới, suy ngẫm về thâm nghĩa của việc màu trắng, xét về mặt nội môn, là màu tím. Điều này có ứng dụng đặc biệt vào lúc này, khi cung tím đang đi vào biểu hiện, vì cung bảy là một trong ba cung chính trong cuộc tuần hoàn này; nó vận dụng quyền năng theo tỷ lệ với bốn, trên bốn và dưới bốn. |
|
The esoteric colours of the exoteric red, green and orange may not yet be imparted to the general public, [225] though students and accepted chelas, whose discrimination can be trusted, can attain the necessary knowledge with effort. |
Chưa thể truyền đạt cho công chúng các màu nội môn của những màu đỏ, xanh lá cây và cam ngoại môn, [225] tuy nhiên, những đạo sinh và đệ tử được chấp nhận, có khả năng phân biện đáng tin cậy, có thể đạt được tri thức cần thiết bằng nỗ lực. |
|
I would here like to point out certain other considerations which can be best dealt with by a brief consideration of the law of analogy and correspondence. We might therefore consider the following points:— |
Ở đây, Tôi muốn nêu ra một số điều khác cần xem xét, mà cách tốt nhất để bàn đến là khảo sát ngắn gọn định luật tương đồng và tương ứng. Vì vậy, chúng ta có thể xem xét những điểm sau:— |
|
a. Wherein the microcosm and the macrocosm correspond. |
a. Tiểu thiên địa và Đại thiên địa tương ứng với nhau ở những điểm nào. |
|
B.The basic correspondences. |
B. Những tương ứng cơ bản. |
|
C.Colour in the microcosm and in the macrocosm. |
C. Màu sắc trong Tiểu thiên địa và Đại thiên địa. |
|
Let us briefly take up each point, for in the right apprehension of the law lies the ability to think esoterically, and wrest the inner meaning out of the external happenings. |
Chúng ta hãy bàn ngắn gọn từng điểm, vì chính trong việc nắm bắt đúng đắn định luật có khả năng tư duy theo nội môn và rút ra ý nghĩa bên trong từ những sự kiện bên ngoài. |
Microcosmic and macrocosmic correspondence. – Sự tương ứng giữa Tiểu thiên địa và Đại thiên địa.
|
The relationship between the microcosm and the macrocosm is accurate, and exists not only broadly but likewise in detail. This is a fact to be grasped and worked out. As knowledge increases and progress is made, and as the ability to meditate results in the faculty of transmitting from the higher Triad to the Personality, via the causal, then these facts will be ever more clearly demonstrated in detail, and perfect comprehension will ensue. “As above, so below” is a truism glibly repeated but little realised. What is found above and what will consequently be developing below? |
Mối quan hệ giữa Tiểu thiên địa và Đại thiên địa là chính xác, và tồn tại không chỉ trên bình diện tổng quát mà cả trong từng chi tiết. Đây là một sự thật cần nắm bắt và làm sáng tỏ. Khi tri thức gia tăng và có sự tiến bộ, và khi khả năng tham thiền dẫn đến năng lực truyền dẫn từ Tam nguyên tinh thần cao hơn đến Phàm ngã, qua thể nguyên nhân, thì những sự thật này sẽ ngày càng thể hiện rõ ràng hơn trong từng chi tiết, và sự thấu hiểu trọn vẹn sẽ theo đó mà đến. “Trên sao, dưới vậy” là một chân lý hiển nhiên thường được nhắc lại dễ dàng nhưng ít được nhận biết. Ở trên có những gì, và do đó, ở dưới sẽ phát triển những gì? |
|
Above will be found Will, Love and Activity, or Power, Wisdom and Intelligence, the terms that we apply to the three aspects of divine manifestation. Below will be found these three in process of appearing:— |
Ở trên có Ý Chí, Bác Ái và Hoạt Động, hay Quyền Năng, Minh Triết và Trí Thông Tuệ, những thuật ngữ chúng ta dùng cho ba phương diện của sự biểu hiện thiêng liêng. Ở dưới, ba phương diện này đang trong tiến trình xuất hiện:— |
|
a. The Personality expresses active intelligence. [226] |
a. Phàm ngã biểu lộ trí thông tuệ hoạt động. [226] |
|
b. The Ego expresses love or wisdom. |
b. Chân ngã biểu lộ bác ái hay minh triết. |
|
c. The Monad expresses power or will. |
c. Chân thần biểu lộ quyền năng hay ý chí. |
|
You have in the three worlds of the Personality:— |
Trong ba cõi giới của Phàm ngã, các bạn có:— |
|
a. The physical, expressing a reflection of the activity aspect. |
a. Thể xác, biểu lộ sự phản chiếu của phương diện hoạt động. |
|
b. The astral, expressing a reflection of the love or wisdom aspect. |
b. Thể cảm dục, biểu lộ sự phản chiếu của phương diện bác ái hay minh triết. |
|
c. The mental, expressing a reflection of the will or power aspect. |
c. Thể trí, biểu lộ sự phản chiếu của phương diện ý chí hay quyền năng. |
|
What have you for the colours of those three bodies, exoterically described? |
Theo mô tả ngoại môn, màu sắc của ba thể ấy là gì? |
|
a. The violet of the physical as expressed by the etheric. |
a. Màu tím của thể xác, như thể dĩ thái biểu lộ. |
|
b. The rose or red of the astral. |
b. Màu hồng hay đỏ của thể cảm dục. |
|
c. The orange of the mental. |
c. Màu cam của thể trí. |
|
What have you in the Triad, or the world of the threefold Ego? |
Trong Tam nguyên tinh thần, hay thế giới của Chân ngã tam phân, các bạn có những gì? |
|
a. Higher manas, expressing the activity or intelligence aspect. |
a. Manas cao hơn, biểu lộ phương diện hoạt động hay trí thông tuệ. |
|
b. Buddhi, expressing the love or wisdom aspect. |
b. Bồ đề, biểu lộ phương diện bác ái hay minh triết. |
|
c. Atma, expressing the will or power aspect. |
c. Atma, biểu lộ phương diện ý chí hay quyền năng. |
|
What again are the colours of those bodies exoterically described? |
Vậy màu sắc của những thể ấy, theo mô tả ngoại môn, là gì? |
|
a. The blue of the higher manasic levels. |
a. Màu xanh lam của các cấp độ manas cao hơn. |
|
b. The yellow of the buddhic level. |
b. Màu vàng của cấp độ Bồ đề. |
|
c. The green of the atmic level. |
c. Màu xanh lá cây của cấp độ atma. |
|
They are in the process of transmutation. You have to effect the corresponding change of colour from the lower to the higher. Couple up this information that I have here imparted with that given in an earlier letter on the transference of polarisation. |
Chúng đang trong tiến trình chuyển hoá. Các bạn phải tạo ra sự thay đổi màu sắc tương ứng từ thấp lên cao. Hãy kết hợp thông tin Tôi vừa truyền đạt ở đây với thông tin đã nêu trong một bức thư trước về sự chuyển dịch phân cực. |
|
There is a direct correspondence between:— |
Có sự tương ứng trực tiếp giữa:— |
|
a. The violet of the etheric level and the blue of the higher mental. [227] |
a. Màu tím của cấp độ dĩ thái và màu xanh lam của thượng trí. [227] |
|
b. The rose of the astral and the yellow of the buddhic. |
b. Màu hồng của thể cảm dục và màu vàng của Bồ đề. |
|
c. The orange of the mental and the green of the atmic. |
c. Màu cam của thể trí và màu xanh lá cây của atma. |
|
The secret of it all is to be found in the application of the occult laws of meditation. |
Bí mật của tất cả những điều này nằm trong việc áp dụng các định luật huyền bí của tham thiền. |
|
Again you can shift the whole range of colour higher, and in the Monad work out the correspondence. |
Một lần nữa, các bạn có thể nâng toàn bộ dải màu lên cao hơn, và làm sáng tỏ sự tương ứng trong Chân thần. |
|
a. The green of the third aspect. |
a. Màu xanh lá cây của phương diện thứ ba. |
|
b. The synthetic blue or indigo of the second aspect. |
b. Màu xanh lam tổng hợp, hay màu chàm, của phương diện thứ hai. |
|
c. The red of the first aspect. |
c. Màu đỏ của phương diện thứ nhất. |
|
I would point out here that as you return to the centre of systemic evolution the nomenclature of these colours is most misleading. The red, for instance, has no resemblance to that termed red or rose on the lower plane. The red, the green and the indigo of these high levels are to all intents and purposes new colours of a beauty and translucence inconceivable. If justly interpreted, you have here a hint of the correspondence between the microcosm and the macrocosm. |
Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng khi các bạn trở về trung tâm tiến hoá của hệ mặt trời, cách gọi tên những màu này hết sức dễ gây hiểu lầm. Chẳng hạn, màu đỏ không hề giống với màu được gọi là đỏ hay hồng trên cõi thấp hơn. Màu đỏ, xanh lá cây và chàm của những cấp độ cao này, xét trên mọi phương diện, là những màu mới, có vẻ đẹp và độ trong sáng không thể hình dung. Nếu được diễn giải đúng đắn, ở đây các bạn có một gợi ý về sự tương ứng giữa Tiểu thiên địa và Đại thiên địa. |
|
The colours exoterically have to do with the form. The forces or qualities which those colours conceal and hide have to do with the life, evolving within those forms. By the use of meditation the bridge is formed which connects these two. Meditation is the expression of the intelligence that links life and form, the self and the not-self, and in time and in the three worlds the process of this connection eventuates on the plane of mind which links the higher and the lower. The correspondence will always be found perfect. Therefore through meditation will come that knowledge which will effect three things:— |
Xét về mặt ngoại môn, màu sắc liên quan đến hình tướng. Những mãnh lực hay phẩm tính mà các màu ấy che giấu và phủ kín liên quan đến sự sống đang tiến hoá bên trong những hình tướng đó. Nhờ tham thiền, cây cầu nối liền hai bên này hình thành. Tham thiền là sự biểu lộ của trí thông tuệ nối liền sự sống và hình tướng, bản ngã và phi ngã; trong thời gian và trong ba cõi giới, tiến trình liên kết này diễn ra trên cõi trí, nơi nối liền cái cao hơn và cái thấp hơn. Sự tương ứng luôn luôn hoàn hảo. Vì vậy, qua tham thiền sẽ có được tri thức thực hiện ba điều:— |
|
1. Give the inner significance of the exoteric colour. |
1. Cho biết thâm nghĩa bên trong của màu sắc ngoại môn. |
|
2. Build in the qualities that those colours veil. [228] |
2. Xây dựng trong mình những phẩm tính mà các màu ấy che phủ. [228] |
|
3. Effect the necessary transmutation of the colours from the Personality to the Triad, and later from the Triad to the Monad. |
3. Thực hiện sự chuyển hoá cần thiết của các màu sắc từ Phàm ngã đến Tam nguyên tinh thần, rồi sau đó từ Tam nguyên tinh thần đến Chân thần. |
|
The causal body acts as a synthesis of these colours in the life of the reincarnating Ego, just as the synthetic ray blends all the colours in logoic manifestation. Endeavour to keep clear in your own mind……that colours are the expressions of force or quality. They hide or veil the abstract qualities of the Logos, which qualities are reflected in the microcosm in the three worlds as virtues or faculties. Therefore, just as the seven colours hide qualities in the Logos, so these virtues demonstrate in the life of the personality and are brought forward objectively through the practice of meditation; thus each life will be seen as corresponding to a colour. Ponder on this. |
Thể nguyên nhân đóng vai trò tổng hợp những màu này trong đời sống của Chân ngã đang luân hồi, cũng như cung tổng hợp hòa trộn tất cả các màu trong sự biểu hiện của Thượng đế. Hãy cố gắng ghi nhớ rõ trong trí mình……rằng màu sắc là sự biểu lộ của mãnh lực hay phẩm tính. Chúng che giấu hay phủ kín những phẩm tính trừu tượng của Thượng đế; những phẩm tính ấy phản chiếu trong Tiểu thiên địa, trong ba cõi giới, dưới dạng đức tính hay năng lực. Vì vậy, cũng như bảy màu che giấu những phẩm tính trong Thượng đế, những đức tính này biểu lộ trong đời sống phàm ngã và xuất hiện một cách khách quan nhờ thực hành tham thiền; như thế, mỗi đời sống sẽ cho thấy sự tương ứng với một màu. Hãy suy ngẫm về điều này. |
The basic correspondences. – Những tương ứng cơ bản.
|
It is in the study of these correspondences in the different departments of the manifested universe, and the application of these colours to their adjusted portion that the beauty of the synthetic whole and the illuminating of the microcosmic life ensues. Let us enumerate or tabulate in broad general fashion, leaving the detailed working out to the student of meditation. More at this juncture is not possible. |
Chính qua việc nghiên cứu những tương ứng này trong các bộ phận khác nhau của vũ trụ biểu hiện, và áp dụng những màu này vào phần tương ứng thích hợp của chúng, mà vẻ đẹp của toàn thể tổng hợp xuất hiện và đời sống Tiểu thiên địa được soi sáng. Chúng ta hãy liệt kê hay lập bảng theo cách khái quát, để đạo sinh tham thiền tự làm sáng tỏ các chi tiết. Vào lúc này, chưa thể làm nhiều hơn. |
|
1. The threefold solar system. |
1. Hệ mặt trời tam phân. |
|
The threefold evolving jiva. |
Sự sống cá thể tam phân đang tiến hoá. |
|
The three aspects of the Logos. |
Ba phương diện của Thượng đế. |
|
The threefold Monad. |
Chân thần tam phân. |
|
The spiritual Triad, the Ego. |
Tam Nguyên Tinh Thần, Chân ngã. |
|
The threefold Personality. |
Phàm ngã tam phân. |
|
The three worlds of human evolution. |
Ba cõi giới tiến hoá của nhân loại. |
|
The three persons of the Deity. [229] |
Ba ngôi của Thượng đế. [229] |
|
2. The four Lipika Lords. |
2. Bốn Chúa Tể Ghi Chép Nghiệp Quả. |
|
The four Maharajahs. |
Bốn Đại Thiên Vương. |
|
The fourfold lower man, the quaternary. |
Phàm nhân tứ phân, bộ tứ. |
|
3. The five planes of human evolution. |
3. Năm cõi tiến hoá của nhân loại. |
|
The five senses. |
Năm giác quan. |
|
The fivefold department of the Mahachohan. |
Ban ngũ phân của Đức Mahachohan. |
|
The five kingdoms of nature. |
Năm giới trong tự nhiên. |
|
a. The mineral kingdom. |
a. Giới kim thạch. |
|
b. The vegetable kingdom. |
b. Giới thực vật. |
|
c. The animal kingdom. |
c. Giới động vật. |
|
d. The human kingdom. |
d. Giới nhân loại. |
|
e. The spiritual or superhuman kingdom. |
e. Giới tinh thần hay siêu nhân loại. |
|
The fifth principle of manas. |
Nguyên khí thứ năm, manas. |
|
4. The seven rays or hierarchies. |
4. Bảy cung hay Huyền Giai. |
|
The seven colours. |
Bảy màu. |
|
The seven planes of manifestation. |
Bảy cõi biểu hiện. |
|
The seven Kumaras. |
Bảy Đấng Đồng Tử. |
|
The seven principles of man. |
Bảy nguyên khí của con người. |
|
The seven centres. |
Bảy trung tâm. |
|
The seven sacred planets. |
Bảy hành tinh thiêng liêng. |
|
The seven chains. |
Bảy Dãy. |
|
The seven globes. |
Bảy bầu hành tinh. |
|
The seven rounds. |
Bảy cuộc tuần hoàn. |
|
The seven root-races and subraces. |
Bảy giống dân gốc và giống dân phụ. |
|
The seven initiations. |
Bảy lần điểm đạo. |
|
What I seek to emphasise in the above table is that to the adept the correspondence of all these is perfectly known and exists in terms of consciousness, in terms of form, and in terms of intelligence. He knows it,—if I may so express it,—in terms of colour when dealing with form; in terms of sound when dealing with the life side, and in terms of vitality when dealing with intelligence, or the activity aspect. The above statement will repay much [230] earnest thought; it contains a statement of occult fact. According to the three lines of approach as dealt with in our preceding letter, will be the use of the terms as above described. |
Điều Tôi muốn nhấn mạnh trong bảng trên là Chân sư biết hoàn toàn sự tương ứng của tất cả những điều này, và sự tương ứng ấy tồn tại về mặt tâm thức, hình tướng và trí thông tuệ. Nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, Ngài biết sự tương ứng ấy qua màu sắc khi đề cập đến hình tướng; qua âm thanh khi đề cập đến phương diện sự sống; và qua sinh lực khi đề cập đến trí thông tuệ, hay phương diện hoạt động. Lời phát biểu trên rất đáng để [230] suy ngẫm nghiêm túc; nó chứa đựng một sự thật huyền bí. Việc sử dụng các thuật ngữ như đã mô tả trên sẽ tùy theo ba đường tiếp cận mà chúng ta đã bàn trong bức thư trước. |
Colour in the microcosm and in the macrocosm. – Màu sắc trong Tiểu thiên địa và Đại thiên địa.
|
Here lies much of difficulty owing to the process of constant mutation. Colour in the microcosm is subject to the following factors:— |
Ở đây có nhiều khó khăn do tiến trình biến đổi không ngừng. Màu sắc trong Tiểu thiên địa chịu ảnh hưởng của những yếu tố sau:— |
|
1. The factor of the ray of the Ego. |
1. Yếu tố cung chân ngã. |
|
2. The factor of the ray of the Personality. |
2. Yếu tố cung phàm ngã. |
|
3. The factor of the point in evolution. |
3. Yếu tố điểm tiến hoá. |
|
One hint may here be given. At a low point in evolution the colours are largely based on the activity aspect. Later comes the working in the love, or wisdom aspect, which has three effects:— |
Ở đây có thể đưa ra một gợi ý. Ở một điểm tiến hoá thấp, màu sắc phần lớn dựa trên phương diện hoạt động. Về sau, phương diện bác ái hay minh triết đi vào hoạt động, tạo ra ba tác động:— |
|
a. The dropping out of colours from the lower sheaths which are the left-overs from a previous system. It involves the elimination of such hues as brown and gray. |
a. Những màu sắc còn sót lại từ một hệ mặt trời trước dần biến mất khỏi các lớp vỏ thấp. Điều này bao gồm việc loại bỏ những sắc màu như nâu và xám. |
|
b. The transmutation of certain colours into those of higher tone. |
b. Một số màu chuyển hoá thành những màu có sắc độ cao hơn. |
|
c. An effect of translucence, or an underlying radiance or brilliance, which is the result of the greater purity of the bodies and the dimensions of the ever-growing inner flame. |
c. Một hiệu ứng trong sáng, hay vẻ rạng ngời hoặc chói sáng từ bên trong, là kết quả của độ tinh khiết cao hơn của các thể phàm ngã và tầm vóc của ngọn lửa bên trong không ngừng lớn mạnh. |
|
4. The factor of the ray, or rays, that are manifested passing out of manifestation or coming into manifestation. These rays necessarily affect the egos in incarnation; they cause a change of vibration somewhat or a consequent change of colouring or of quality. If a man, for instance, is on the Ray of Science, and comes under the influence of the incoming Ray of Harmony, the effect on his trend of thought, and consequently on the colour he [231] will be demonstrating, will be quite noticeable. All these factors cause the blending and merging and mixing that is practically inextricably confusing to the man from the standpoint of the three worlds. |
4. Yếu tố của cung, hay các cung, đang biểu hiện, đang rút khỏi biểu hiện hoặc đang đi vào biểu hiện. Những cung này tất nhiên tác động đến các chân ngã đang nhập thể; chúng gây ra một mức thay đổi rung động nào đó, hoặc sự thay đổi màu sắc hay phẩm tính theo sau. Chẳng hạn, nếu một người thuộc Cung Khoa Học và chịu ảnh hưởng của Cung Hài Hòa đang đi vào, thì tác động lên khuynh hướng tư tưởng của y, và do đó lên màu sắc mà y [231] sẽ biểu lộ, sẽ khá rõ rệt. Tất cả những yếu tố này gây ra sự hòa trộn, hòa nhập và pha lẫn mà đối với con người, xét từ quan điểm của ba cõi giới, hầu như rối rắm không thể tháo gỡ. |
|
……I appreciate your feeling that even these hints but lead apparently to greater confusion. But by constant application to the subject in hand, by frequent brooding and meditation on the colours, and by an endeavor to attain their esoteric significance, and their microcosmic application, will gradually appear the thread that will lead the student out of his confusion into the clear light of perfect knowledge. Have, therefore, courage, a broad elasticity of view, and an ability to reserve opinion until further facts are demonstrated, and also an avoidance of dogmatic assertion. These will be your best guides in the early days of your search. Many have, through meditation and a receptiveness to the higher teaching, found their way out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom. Only in the Hall of Wisdom can the esoteric interpretation of the colours be truly known. That Hall is entered through the meditation which prepares the student for that initiation which opens to him the door. Therefore, hold fast to meditation and falter not in purpose. |
……Tôi thấu hiểu cảm giác của các bạn rằng ngay cả những gợi ý này dường như cũng chỉ dẫn đến sự rối rắm lớn hơn. Nhưng nhờ kiên trì chú tâm vào chủ đề đang bàn, nhờ thường xuyên suy ngẫm và tham thiền về màu sắc, và nhờ nỗ lực đạt đến thâm nghĩa nội môn cùng ứng dụng của chúng trong Tiểu thiên địa, sợi dây dẫn đạo sinh ra khỏi sự rối rắm để bước vào ánh sáng trong trẻo của tri thức trọn vẹn sẽ dần xuất hiện. Vì vậy, hãy can đảm, giữ quan điểm rộng mở và linh hoạt, có khả năng chưa vội kết luận cho đến khi thêm nhiều sự thật được chứng minh, đồng thời tránh những khẳng định giáo điều. Đây sẽ là những người hướng dẫn tốt nhất cho các bạn trong những ngày đầu tìm kiếm. Qua tham thiền và thái độ tiếp nhận giáo huấn cao hơn, nhiều người đã tìm được đường từ Phòng Học Tập vào Phòng Minh triết. Chỉ trong Phòng Minh triết mới có thể thực sự biết cách diễn giải nội môn về màu sắc. Người ta bước vào Phòng ấy qua tham thiền, vốn chuẩn bị cho đạo sinh đến cuộc điểm đạo mở cánh cửa ấy cho y. Vì vậy, hãy kiên trì tham thiền và đừng dao động trong mục đích. |
|
September 4th, 1920. |
Ngày 4 tháng 9 năm 1920. |
|
We have for discussion today, something of real spiritual application in a practical sense. Much that I have imparted to you has provided food for thought and for speculation. It tends to the development of the higher mind and by stimulation of imagination it somewhat develops the intuition. Much of it has been in the nature of prophecy, and of the holding forth of an ideal some day to be attained. Only by pointing out the goal and by emphasising that point will man be induced to make the [232] necessary effort and thereby approximate in some measure the desired position. But today we come down to practical living and the imposing upon the personality of a certain rate of rhythm. We do this in our study of the third point upon the effect of colour:— |
Hôm nay, chúng ta sẽ thảo luận một điều có ứng dụng tinh thần thực sự theo nghĩa thực tiễn. Phần lớn những điều Tôi đã truyền đạt cho các bạn mang lại nhiều điều đáng suy ngẫm và suy đoán. Chúng hướng đến sự phát triển thượng trí và, bằng cách kích thích sự tưởng tượng, phần nào phát triển trực giác. Phần lớn mang tính tiên tri và nêu ra một lý tưởng sẽ đạt được vào một ngày nào đó. Chỉ bằng cách chỉ rõ mục tiêu và nhấn mạnh điểm ấy mới có thể thúc đẩy con người thực hiện [232] nỗ lực cần thiết, và nhờ đó tiến gần, ở một mức độ nào đó, đến vị trí mong muốn. Nhưng hôm nay, chúng ta đi vào đời sống thực tiễn và việc áp đặt một nhịp điệu nhất định lên phàm ngã. Chúng ta thực hiện điều này khi nghiên cứu điểm thứ ba về tác động của màu sắc:— |
|
a. On the bodies of the student. |
a. Lên các thể của đạo sinh. |
|
b. On the groups with which he is affiliated. |
b. Lên những nhóm mà y liên kết. |
|
c. On his environment. |
c. Lên môi trường của y. |
|
The point I seek specially to emphasise is the life side and not the form side of colour. As I wrote earlier, colour is but the form assumed by force, of some kind, when that force is moving at a certain measure, and when its action and movement is impeded or unimpeded by the material through which it plays. In this sentence lies the key to the solution of the problem as to the colour differences on the higher planes and on the lower. The resistance of matter to the downflow of force or life, and its relative density or rarity accounts for much of the colour distinction. One of the distinctions has, necessarily, a cosmic basis and is consequently difficult of apprehension by three-dimensional man in this, the fourth round. But the basic reason of the difference can be apprehended sufficiently to permit the pupil to realise the absolute necessity of steadily refining his vehicles so that the force may radiate through with greater facility. It is therefore on the three lower planes a question of practical living and a bringing of all the three bodies under edict rules of refinement. |
Điểm Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh là phương diện sự sống chứ không phải phương diện hình tướng của màu sắc. Như Tôi đã viết trước đây, màu sắc chỉ là hình tướng mà một loại mãnh lực nào đó mang lấy, khi mãnh lực ấy chuyển động ở một tốc độ nhất định, và khi hoạt động cùng chuyển động của nó bị cản trở hoặc không bị cản trở bởi vật chất mà nó tác động xuyên qua. Chính trong câu này có chìa khóa giải quyết vấn đề khác biệt màu sắc trên các cõi cao và các cõi thấp. Sức cản của vật chất đối với dòng mãnh lực hay sự sống tuôn xuống, cùng độ đậm đặc hay thưa loãng tương đối của nó, giải thích phần lớn sự khác biệt màu sắc. Một trong những khác biệt này tất nhiên có cơ sở vũ trụ, và do đó khó nắm bắt đối với con người ba chiều trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Nhưng có thể nắm bắt đủ lý do cơ bản của sự khác biệt để môn sinh nhận ra sự cần thiết tuyệt đối của việc không ngừng tinh luyện các hiện thể của mình, hầu mãnh lực có thể tỏa xuyên qua dễ dàng hơn. Vì vậy, trên ba cõi thấp, đây là vấn đề sống thực tiễn và đưa cả ba thể phàm ngã vào khuôn phép tinh luyện nghiêm ngặt. |
|
These forces in terms of spiritual development, and not so much in terms of form, demonstrate through the virtues, as you call them, through magnetism and through vitality and intelligence. To put it quite briefly, as the student builds a pure physical body and a refined etheric, as he develops the emotional virtues and as he co-ordinates [233] and enlarges his mental body, he is continuously altering its rate of vibration, and changing its rhythm, which change demonstrates to the eye of the clairvoyant as mutation in colour. As you have been taught, the colours as seen in the aura of a savage and in those of the average developed man are extraordinarily dissimilar. Why? Because one is moving or vibrating at a slow rate and the other with greatly increased rapidity. One has a rhythm slow, sluggish and heavy, the other is pulsating and moving with a tremendous velocity permitting consequently a more rapid play of the material of which those bodies are constructed. |
Xét về sự phát triển tinh thần, chứ không thiên về hình tướng, những mãnh lực này biểu lộ qua những gì các bạn gọi là đức tính, qua từ điện, sinh lực và trí thông tuệ. Nói thật ngắn gọn, khi đạo sinh xây dựng một thể xác tinh khiết và một thể dĩ thái tinh luyện, khi y phát triển những đức tính cảm xúc, và khi y phối hợp [233] và mở rộng thể trí, y liên tục thay đổi tốc độ rung động và nhịp điệu của nó; sự thay đổi ấy biểu lộ trước mắt người thông nhãn như một biến đổi màu sắc. Như các bạn đã được dạy, những màu thấy trong hào quang của một người còn hoang dã và trong hào quang của một người phát triển ở mức trung bình khác nhau vô cùng rõ rệt. Vì sao? Vì một người chuyển động hay rung động với tốc độ chậm, còn người kia có tốc độ nhanh hơn rất nhiều. Một người có nhịp điệu chậm chạp, trì trệ và nặng nề; người kia rung nhịp và chuyển động với vận tốc cực lớn, do đó cho phép vật chất cấu thành những thể ấy hoạt động nhanh hơn. |
|
Therefore, I would like to point out that as the race progresses as a collective unit, Those Who gaze upon it from a higher plane are aware of the steady improvement in the colours seen, and of a greater purity and clarity of hue in the aura of the race, which aura is composed of the composite auras of the units of the race. For instance, the aura of the Atlantean root-race and that of the Aryan are widely diverse, and radically different. We have, therefore, demonstrated our first point that, as the units evolve, the colours change and this is brought about by the transmutation of what you term vices, into virtues. A vice is dominance of an involutional quality of the same force which at a later period will show forth as a virtue. |
Vì vậy, Tôi muốn chỉ ra rằng khi nhân loại tiến bộ như một đơn vị tập thể, những Đấng quan sát từ một cõi cao hơn nhận biết sự cải thiện đều đặn của những màu sắc nhìn thấy, cùng độ tinh khiết và trong sáng cao hơn của các sắc màu trong hào quang nhân loại, vốn hợp thành từ hào quang của các đơn vị nhân loại. Chẳng hạn, hào quang của giống dân gốc Atlantis và của giống dân gốc Arya rất khác nhau, khác biệt tận căn bản. Như vậy, chúng ta đã chứng minh điểm thứ nhất rằng khi các đơn vị tiến hoá, màu sắc thay đổi, và điều này xảy ra nhờ chuyển hoá những gì các bạn gọi là thói xấu thành đức tính. Một thói xấu là sự chi phối của một phẩm tính giáng hạ tiến hoá thuộc cùng một mãnh lực mà về sau sẽ biểu lộ như một đức tính. |
|
The second point I seek to make is that these influences (which show forth as colours when they contact matter) move in their own ordered cycles. These cycles we describe as the coming in or the going out of a ray. In this fourth round usually four rays are in flux at any one given time; by this I seek to impress upon you that though all rays manifest in the solar system, at certain stages of manifestation more or less of them will be dominating simultaneously. These rays, forces, influences, or [234] co-ordinations of qualities, when expressed in terms of light, colour the matters they impinge upon with certain recognisable hues, and these give the tone to the life of the personality or to the Ego. They are recognized by you as the composite character and are seen by the clairvoyant as colour. |
Điểm thứ hai Tôi muốn nêu ra là những ảnh hưởng này, vốn biểu lộ như màu sắc khi tiếp xúc với vật chất, chuyển động theo những chu kỳ có trật tự riêng của chúng. Chúng ta mô tả các chu kỳ này là sự đi vào hay rút ra của một cung. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, thường có bốn cung đang luân chuyển vào bất kỳ thời điểm nào; qua điều này, Tôi muốn nhấn mạnh với các bạn rằng tuy mọi cung đều biểu hiện trong hệ mặt trời, ở những giai đoạn biểu hiện nhất định, số cung đồng thời chi phối có thể nhiều hơn hoặc ít hơn. Những cung, mãnh lực, ảnh hưởng hay [234] sự phối hợp phẩm tính này, khi biểu lộ dưới dạng ánh sáng, nhuộm vật chất mà chúng tác động đến bằng những sắc màu có thể nhận biết, và những sắc màu ấy tạo sắc thái cho đời sống phàm ngã hay Chân ngã. Các bạn nhận biết chúng như tính cách tổng hợp, còn người thông nhãn nhìn thấy chúng như màu sắc. |
|
Groups, therefore, of units who converge through similarity of vibration will be seen as having approximately the same basic hue, though with many lesser differentiations in colour and tone. As stated before, the colour of large masses of people can be gauged and judged. It is in this way that the members of the Hierarchy in Whose Hands is placed evolutionary development in the three worlds, judge of the stage attained and the progress made. |
Vì vậy, những nhóm gồm các đơn vị hội tụ nhờ rung động tương đồng sẽ cho thấy sắc màu cơ bản gần giống nhau, dù có nhiều khác biệt nhỏ hơn về màu sắc và sắc độ. Như đã nói trước đây, có thể xác định và đánh giá màu sắc của những tập hợp người đông đảo. Chính theo cách này, các thành viên của Thánh đoàn, những Đấng đảm trách sự phát triển tiến hoá trong ba cõi giới, đánh giá giai đoạn đã đạt tới và mức tiến bộ đã thực hiện. |
|
Different rays come in bearing units coloured by that ray. Other rags[7] pass out carrying with them units of a different basic hue. In the period of transition the blending of colour is of deep complexity, but of mutual helpfulness and benefit. Each ray imparts somewhat to the other rays in incarnation at the same time, and the rate of rhythm will be slightly affected. This from the standpoint of the present and of time in the three worlds, may be almost inappreciably small, but through the frequent meeting and interplay of the forces and colours, and their constant action and interaction upon each other, will come a steady, general levelling up, and an approximation in vibration. You will see, therefore, how synthesis is achieved at the end of a greater maha-manvantara. The three rays absorb the seven and lead eventually to a merging in the synthetic ray. |
Những cung khác nhau đi vào, mang theo những đơn vị nhuốm màu của cung ấy. Những cung khác[8] rút ra, mang theo những đơn vị có sắc màu cơ bản khác. Trong giai đoạn chuyển tiếp, sự hòa trộn màu sắc vô cùng phức tạp, nhưng đem lại sự hỗ trợ và lợi ích cho nhau. Mỗi cung truyền một phần nào đó cho những cung khác đang nhập thể cùng lúc, và tốc độ nhịp điệu sẽ chịu ảnh hưởng đôi chút. Xét từ hiện tại và thời gian trong ba cõi giới, mức ảnh hưởng này có thể nhỏ đến gần như không nhận thấy, nhưng qua sự gặp gỡ và tương tác thường xuyên của các mãnh lực và màu sắc, cùng hoạt động và tác động qua lại không ngừng của chúng, sẽ có sự nâng cao chung đều đặn và sự xích lại gần nhau về rung động. Vì vậy, các bạn sẽ thấy sự tổng hợp đạt được như thế nào vào cuối một Đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn. Ba cung hấp thụ bảy cung và cuối cùng dẫn đến sự hòa nhập trong cung tổng hợp. |
|
In the microcosm the three rays of the Monad, the Ego, and the Personality will likewise dominate and absorb the seven, and in time also lead to a merging in the [235] synthetic ray of the Monad. The correspondence will be found perfect. |
Trong Tiểu thiên địa, ba cung của Chân thần, Chân ngã và Phàm ngã cũng sẽ chi phối và hấp thụ bảy cung, và theo thời gian cũng dẫn đến sự hòa nhập trong [235] cung tổng hợp của Chân thần. Sự tương ứng sẽ hoàn hảo. |
|
These forces, or virtues, or influences (I reiterate synonymous terms because of the need of clear thinking on your part) are gradually received into the bodies of the personality with ever greater facility and fuller expression. As the bodies are refined they provide better mediums for incoming forces, and the quality of any particular force,—or, to reverse it, the force of any particular quality—becomes more perfectly expressed. Here comes in the work of the student in meditation. Early in evolution these forces played through and on the bodies of a man with little understanding on his part, and small ability to profit thereby. But as time proceeds, he comprehends more and more the value of all that eventuates, and seeks to profit by the sum of the qualities of his life. Herein comes opportunity. In the intelligent apprehension of quality, in the striving after virtue, and in the building-in of God-like attribute, comes response to those forces and a facilitating of their action. The student of meditation ponders on those forces or qualities, he seeks to extract their essence, and to comprehend their spiritual significance; he broods on his own lack of response, he realises the deficiencies in his vehicle as a medium for those forces; he studies the rate of his rhythmic vibration, and he strenuously endeavors to bend every opportunity to meet the need. He concentrates on the virtue, and (if he is so situated that he is aware of the incoming ray or of the ray in dominance at that time), he avails himself of the hour of opportunity and co-operates with the force extant. All this he does through the ordered forms of the true and occult meditation. |
Những mãnh lực, đức tính hay ảnh hưởng này—Tôi nhắc lại những thuật ngữ đồng nghĩa vì các bạn cần tư duy rõ ràng—dần đi vào các thể của phàm ngã ngày càng dễ dàng hơn và biểu lộ đầy đủ hơn. Khi các thể phàm ngã được tinh luyện, chúng trở thành những phương tiện tốt hơn cho các mãnh lực đang đi vào, và phẩm tính của bất kỳ mãnh lực cụ thể nào—hay nói ngược lại, mãnh lực của bất kỳ phẩm tính cụ thể nào—biểu lộ hoàn hảo hơn. Đây là nơi công việc tham thiền của đạo sinh phát huy vai trò. Trong giai đoạn đầu của tiến hoá, những mãnh lực này tác động xuyên qua và lên các thể của con người, trong khi y ít thấu hiểu và ít có khả năng hưởng lợi từ chúng. Nhưng theo thời gian, y ngày càng thấu hiểu giá trị của mọi điều xảy ra, và tìm cách hưởng lợi từ tổng thể những phẩm tính trong đời sống mình. Chính ở đây có cơ hội. Trong việc nắm bắt phẩm tính một cách sáng suốt, trong nỗ lực hướng đến đức tính, và trong việc xây dựng trong mình thuộc tính giống Thượng đế, có sự đáp ứng với những mãnh lực ấy và sự tạo thuận lợi cho hoạt động của chúng. Đạo sinh tham thiền suy ngẫm về những mãnh lực hay phẩm tính ấy, tìm cách rút ra tinh túy của chúng và thấu hiểu thâm nghĩa tinh thần của chúng; y suy ngẫm về sự thiếu đáp ứng của chính mình, nhận ra những khiếm khuyết của hiện thể mình khi làm phương tiện cho các mãnh lực ấy; y nghiên cứu tốc độ rung động có nhịp điệu của mình, và hết sức nỗ lực tận dụng mọi cơ hội để đáp ứng nhu cầu. Y tập trung vào đức tính, và nếu ở vào hoàn cảnh có thể nhận biết cung đang đi vào hay cung đang chi phối lúc ấy, y tận dụng thời điểm cơ hội và hợp tác với mãnh lực đang hiện diện. Tất cả những điều này, y thực hiện qua những hình thức có trật tự của tham thiền chân chính và huyền bí. |
|
As time progresses—yes, again I prophesy—occult students will be given certain facts anent the dominating [236] rays which will enable them to avail themselves of the opportunity any particular ray affords. |
Theo thời gian—đúng vậy, Tôi lại tiên tri—các đạo sinh huyền bí sẽ nhận được một số sự thật về các cung đang chi phối [236], giúp họ tận dụng cơ hội mà bất kỳ cung cụ thể nào mang lại. |
Effect on the Environment. – Tác động lên Môi trường.
|
As regards our third point, the effect of all the above on the environment, it will be obvious at once to the careful student that the effect upon the environment will be noticeable, especially as more and more of the human race come under the conscious control of their higher self and in line with the law. Certain things will then be possible:— |
Về điểm thứ ba của chúng ta, tác động của tất cả những điều trên lên môi trường, đạo sinh cẩn trọng sẽ thấy ngay rằng tác động ấy sẽ rõ rệt, đặc biệt khi ngày càng nhiều người trong nhân loại chịu sự kiểm soát hữu thức của chân ngã và sống phù hợp với định luật. Khi ấy, một số điều sẽ trở nên khả thi:— |
|
a. Direct contact with the deva or angel evolution will come about, though it is impossible now through instability of vibration. |
a. Sự tiếp xúc trực tiếp với dòng tiến hoá thiên thần sẽ diễn ra, dù hiện nay điều này chưa thể thực hiện do rung động thiếu ổn định. |
|
b. Many very highly developed souls will come in who are at present hindered by the low rate of vibration and consequent heaviness of colour of the majority of the human race. There are, in the heaven world and on the causal level, some great, and, to you, incomprehensible units of the fourth Creative Hierarchy, awaiting opportunity of expression, just as some of you awaited a period in the Atlantean race before taking incarnation on this planet. When the rate of the vibration of a larger percentage of the race has reached a certain measure, and when the colour aspect of the co-ordinated auras of the groups is of a certain tone, they will return, and bring to the earth much of value past your realisation. |
b. Nhiều linh hồn phát triển rất cao sẽ đi vào nhập thể; hiện nay, họ còn bị cản trở do tốc độ rung động thấp và màu sắc nặng nề theo đó của phần lớn nhân loại. Trong cõi thiên giới và trên cấp độ nguyên nhân, có một số đơn vị vĩ đại của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư mà các bạn không thể thấu hiểu, đang chờ cơ hội biểu lộ, cũng như một số các bạn đã chờ một giai đoạn trong giống dân Atlantis trước khi nhập thể trên hành tinh này. Khi tốc độ rung động của một tỷ lệ lớn hơn trong nhân loại đạt đến một mức nhất định, và khi phương diện màu sắc của những hào quang phối hợp trong các nhóm đạt đến một sắc độ nhất định, họ sẽ trở lại và mang đến Trái Đất nhiều điều có giá trị vượt ngoài sự nhận biết của các bạn. |
|
c. Another interesting point upon which we have not time to dwell is that the rhythmic effect on even the two kingdoms beneath the human will be objectively demonstrable. It was no idle boast of the prophet of Israel when he said “The leopard shall lie down with the lamb” or that “the desert shall blossom like a rose”. It will be [237] brought about by the domination of certain vibrations and the bringing in of certain colours veiling certain virtues or influences. |
c. Một điểm thú vị khác mà chúng ta không có thời gian bàn sâu là tác động của nhịp điệu ngay cả lên hai giới dưới giới nhân loại cũng sẽ có thể được chứng minh một cách khách quan. Nhà tiên tri của Israel không hề nói suông khi ông nói “Báo sẽ nằm xuống cùng chiên con”, hay “sa mạc sẽ nở hoa như hoa hồng”. Điều này sẽ [237] xảy ra nhờ sự chi phối của một số rung động và sự đi vào của một số màu sắc che phủ những đức tính hay ảnh hưởng nhất định. |
|
September 7th, 1920. |
Ngày 7 tháng 9 năm 1920. |
|
Today we will take up the subject of the application of colour. If colours are but the veil cast over an influence, and if you can, by use of the intuition, find out which colours thus shroud a virtue you have the key to the matter in hand. You will have noted two facts that stand out in these letters:— |
Hôm nay, chúng ta sẽ bàn về việc ứng dụng màu sắc. Nếu màu sắc chỉ là tấm màn phủ lên một ảnh hưởng, và nếu nhờ trực giác, các bạn có thể tìm ra những màu nào che phủ một đức tính như vậy, thì các bạn có chìa khóa của vấn đề đang bàn. Các bạn hẳn đã nhận thấy hai sự thật nổi bật trong những bức thư này:— |
|
That the subject touched upon is so vast that only its outline has in any way been attempted. |
Chủ đề được đề cập quá rộng lớn, nên chỉ mới có thể cố gắng phác ra đường nét của nó. |
|
That each sentence written in these letters aims at an exact impartation of a complete thought and is full of matter for consideration. Why have I not dealt with the matter in greater detail, and why have I not entered into lengthy explanations and sought to expand the sentences into paragraphs? For the sole reason that if the preliminary work has been done in the meditation of the past years by the student he will find the material of these letters conducive to the development of abstract thought, and to the widening of the channel that communicates with the intuition. I but seek to be suggestive. My aim is but to indicate. The usefulness of the teaching I give depends upon the intuition of the pupil. Therefore, when I say that colour has certain effects when applied I would warn you that it will be necessary to interpret the above in terms of life, in terms of form, and in terms of mind. |
Mỗi câu viết trong những bức thư này đều nhằm truyền đạt chính xác một tư tưởng trọn vẹn và chứa đầy nội dung để suy xét. Vì sao Tôi không bàn vấn đề chi tiết hơn, không đi vào những giải thích dài dòng và tìm cách mở rộng các câu thành các đoạn? Chỉ vì nếu đạo sinh đã thực hiện công việc chuẩn bị qua tham thiền trong những năm qua, y sẽ thấy nội dung những bức thư này giúp phát triển tư duy trừu tượng và mở rộng đường dẫn giao tiếp với trực giác. Tôi chỉ tìm cách gợi mở. Mục đích của Tôi chỉ là chỉ dẫn. Tính hữu ích của giáo huấn Tôi đưa ra tùy thuộc vào trực giác của môn sinh. Vì vậy, khi Tôi nói rằng màu sắc có những tác động nhất định khi được ứng dụng, Tôi muốn lưu ý các bạn rằng cần diễn giải điều trên về mặt sự sống, hình tướng và trí tuệ. |
The application of colour. – Ứng dụng màu sắc.
|
a. In meditation. |
a. Trong tham thiền. |
|
b. In healing. |
b. Trong trị liệu. |
|
c. In constructive work. [238] |
c. Trong công việc kiến tạo. [238] |
|
Colour may be used in many ways, and the above three ways do not cover the subject. They but indicate three ways that are of immediate and practical use to the student. Colour may be employed in contacting other evolutions, subhuman or superhuman; in definite work of destruction or of shattering; it may be used in connection with other methods such as music or movement, or in connection with stated mantrams, thereby bringing about certain results, but with all these we need not, in this series of letters, concern ourselves. The growth of the individual and his increased capacity to be of service are all brought about by the wise use of occult meditation. Let us therefore consider our first point. |
Có thể sử dụng màu sắc theo nhiều cách, và ba cách trên không bao quát toàn bộ chủ đề. Chúng chỉ nêu ra ba cách có giá trị ứng dụng trực tiếp và thực tiễn đối với đạo sinh. Có thể sử dụng màu sắc để tiếp xúc với những dòng tiến hoá khác, dưới nhân loại hoặc siêu nhân loại; trong công việc hủy diệt hay phá vỡ cụ thể; có thể sử dụng chúng kết hợp với những phương pháp khác như âm nhạc hay chuyển động, hoặc kết hợp với các mantram đã xác định, nhờ đó tạo ra những kết quả nhất định; nhưng trong loạt thư này, chúng ta không cần quan tâm đến tất cả những điều ấy. Sự phát triển của cá nhân và khả năng phụng sự ngày càng tăng của y đều có được nhờ sử dụng tham thiền huyền bí một cách minh triết. Vì vậy, chúng ta hãy xem xét điểm thứ nhất. |
Use of Colour in Meditation. – Sử dụng Màu sắc trong Tham thiền.
|
All colours emanate from one source or one primary colour—in this solar system the cosmic ray of indigo veiling cosmic love or wisdom,—and then split into three major colours and thence into the four minor, making the seven colours of the spectrum. You will expect to see the same effect in the life of the individual, for always the macrocosm affects the microcosm. His primary colour will be his monadic ray, manifesting next in the three colours of the Triad and in the four colors of the Quaternary. These colours on the path of return are resolved into the three and thence again into the one. |
Tất cả màu sắc phát ra từ một nguồn hay một màu nguyên sơ—trong hệ mặt trời này, đó là cung chàm vũ trụ che phủ bác ái hay minh triết vũ trụ,—rồi phân chia thành ba màu chính, và từ đó thành bốn màu phụ, tạo nên bảy màu của quang phổ. Các bạn có thể chờ đợi thấy cùng tác động ấy trong đời sống cá nhân, vì Đại thiên địa luôn tác động đến Tiểu thiên địa. Màu nguyên sơ của y sẽ là cung chân thần, sau đó biểu hiện trong ba màu của Tam nguyên tinh thần và bốn màu của Bộ Tứ. Trên Con Đường Trở Về, những màu này quy về ba màu, rồi từ đó lại quy về một màu. |
|
The path of manifestation, of differentiation, is the path of acquisition. It is the homogeneous becoming the many or the heterogeneous. It is the breaking up of the one basic colour into its many component parts. This is the form side, the expression of that which veils the life. On the life side it is the development from the one basic quality of the many inherent virtues; it is the latent possibility of divinity demonstrating as the many attributes of [239] the divine; it is the one life manifesting its many qualities through diversity of form. It is the self, with the inherent capabilities of the All Self, utilising forms for the demonstration of its all-including perfections. On the intelligence side it is the method whereby the life utilises the form and develops its thorough comprehension, analysis and intellect. It is the relation between life and form, the self and the not-self, between spirit and matter, manifesting as modes of expression whereby the indwelling divinity imposes his characteristics upon the material provided for his using. The God within expresses all his latent virtues through forms by the use of activity or intelligence. The life shows colour and the form perfects those colours, as the intelligence aspect (which forms the energising link) becomes more evolved and comprehension is developed. |
Con đường biểu hiện, con đường biến phân, là con đường thu nhận. Đó là cái đồng nhất trở thành cái đa dạng hay dị biệt. Đó là sự phân chia một màu cơ bản thành nhiều thành phần cấu tạo của nó. Đây là phương diện hình tướng, sự biểu lộ của cái che phủ sự sống. Về phương diện sự sống, đó là sự phát triển từ một phẩm tính cơ bản thành nhiều đức tính vốn có; đó là tiềm năng thiên tính biểu lộ thành nhiều thuộc tính của [239] cái thiêng liêng; đó là sự sống duy nhất biểu hiện nhiều phẩm tính của mình qua hình tướng đa dạng. Đó là bản ngã, với những khả năng vốn có của Đại Ngã, sử dụng các hình tướng để biểu lộ những sự hoàn thiện bao gồm tất cả của mình. Về phương diện trí thông tuệ, đó là phương pháp qua đó sự sống sử dụng hình tướng và phát triển sự thấu hiểu thấu đáo, khả năng phân tích và trí năng của mình. Đó là mối quan hệ giữa sự sống và hình tướng, bản ngã và phi ngã, tinh thần và vật chất, biểu hiện thành những phương thức biểu đạt mà qua đó thiên tính nội tại áp đặt các đặc điểm của mình lên vật chất được cung cấp để sử dụng. Thượng đế bên trong biểu lộ mọi đức tính tiềm tàng của Ngài qua các hình tướng bằng cách sử dụng hoạt động hay trí thông tuệ. Sự sống biểu lộ màu sắc và hình tướng hoàn thiện những màu ấy, khi phương diện trí thông tuệ, vốn tạo nên mối liên kết tiếp năng lượng, tiến hoá hơn và sự thấu hiểu phát triển. |
|
On the path of return, renunciation is the rule, in contradistinction to the earlier method. The indwelling life renounces the forms, hitherto regarded (and necessarily so) as essential. By the use now of the intelligence which has linked these two pairs of opposites, spirit and matter, consciousness and form, the forms built of matter by the aid of the intelligence are one after another repudiated by the aid of that same intelligence, or reasoning faculty transmuted into wisdom. The forms go, but the life remains. The colours are gradually reabsorbed, but the divine virtues persist, stable now and enduringly of use by reason of experience. Not potential are these attributes divine, but developed into powers for use. Inherent faculty has become active characteristics carried to the nth power. The veils are discarded one by one; the sheaths are dropped and superseded; the vehicles are dispensed with and the forms are no longer required, but the life ever remains and returns to its parent ray. It is [240] resolved back into its primary, plus activity and expression plus experience and the ability to manifest; plus all that constitutes the difference between the ignorant savage and the solar Logos. This has been consummated by the utilisation of many forms by the life, the intelligence constituting the means whereby that life employed those forms as a mode for learning. Having manifested as an aspect of this primary ray, having through many incarnations differentiated that ray into its many component parts, having veiled himself under all the seven colours that compose that ray, the reincarnating jiva takes the path of return and from the seven becomes the three and from the three again becomes the one. |
Trên Con Đường Trở Về, sự từ bỏ là quy luật, trái với phương pháp trước kia. Sự sống nội tại từ bỏ các hình tướng mà cho đến nay vẫn xem là thiết yếu (và tất nhiên phải như vậy). Giờ đây, nhờ vận dụng trí thông minh đã nối kết hai cặp đối cực này—tinh thần và vật chất, tâm thức và hình tướng—các hình tướng do trí thông minh trợ giúp xây dựng từ vật chất lần lượt bị từ bỏ nhờ chính trí thông minh ấy, hay năng lực suy luận đã chuyển hoá thành minh triết. Các hình tướng mất đi, nhưng sự sống vẫn còn. Các màu sắc dần dần được tái hấp thu, nhưng những đức tính thiêng liêng vẫn tồn tại, giờ đây vững bền và mãi hữu dụng nhờ kinh nghiệm. Những thuộc tính thiêng liêng này không còn tiềm tàng, mà đã phát triển thành các quyền năng để sử dụng. Năng lực vốn có đã trở thành những đặc tính hoạt động được nâng lên luỹ thừa thứ n. Các bức màn lần lượt được gỡ bỏ; các lớp vỏ được trút bỏ và thay thế; các hiện thể không còn cần dùng và các hình tướng không còn cần thiết, nhưng sự sống vẫn luôn tồn tại và trở về cung mẹ của nó. Sự sống [240] được quy về nguồn sơ khởi của mình, cộng thêm hoạt động và biểu hiện, cộng thêm kinh nghiệm và khả năng biểu hiện; cộng thêm tất cả những gì tạo nên sự khác biệt giữa người hoang dã vô minh và Thái dương Thượng đế. Điều này hoàn tất nhờ sự sống sử dụng nhiều hình tướng, với trí thông minh làm phương tiện để sự sống ấy dùng các hình tướng ấy như một cách học hỏi. Sau khi đã biểu hiện như một phương diện của cung sơ khởi này, sau khi qua nhiều kiếp nhập thể đã biến phân cung ấy thành nhiều thành phần cấu tạo của nó, sau khi đã che phủ mình dưới cả bảy màu hợp thành cung ấy, sinh linh luân hồi bước lên Con Đường Trở Về, từ bảy trở thành ba, rồi từ ba lại trở thành một. |
|
When the man does this consciously, when he willingly and with full comprehension of what he has to do endeavours to set the indwelling life free from the veils that hide, and from the sheaths that imprison, he discovers that the method whereby this is accomplished is by the subjective life of occult meditation, and the objective life of service. In service is renunciation, and, under the occult law, therefore, in service the subjective finds liberation, and is set free from objective manifestation. Think this out, for it has much hidden under the veil of words. |
Khi con người làm điều này một cách có ý thức, khi y tự nguyện và thấu hiểu đầy đủ điều mình phải làm, nỗ lực giải phóng sự sống nội tại khỏi những bức màn che giấu và những lớp vỏ giam hãm, y khám phá rằng phương pháp hoàn thành điều này là đời sống nội tâm của tham thiền huyền môn và đời sống bên ngoài của phụng sự. Trong phụng sự có sự từ bỏ, và vì vậy, theo định luật huyền bí, trong phụng sự, sự sống nội tâm tìm thấy sự giải thoát và thoát khỏi sự biểu hiện khách quan. Hãy suy ngẫm kỹ điều này, vì có nhiều điều ẩn dưới bức màn ngôn từ. |
|
The occult student, therefore, from the standpoint of colour has two things to do in meditation. |
Vì vậy, xét từ quan điểm màu sắc, đạo sinh huyền môn có hai việc phải làm trong tham thiền. |
|
1. To discover his three major colours as manifested in the Personality, the Ego, and the Monad. |
1. Khám phá ba màu chủ yếu của mình như chúng biểu hiện trong phàm ngã, Chân ngã và chân thần. |
|
2. To resolve then the lower quaternary into the three, the first stage of which is consciously to withdraw into the Ego and so atrophy the lower self. The student begins by eliminating the colours that are not desirable, killing out all low or coarse vibration and eventually so [241] refining his vehicles that the three major colours—of which he is the expression—shine out with perfect clarity. This leads him up to the third initiation. After that, he seeks to resolve the three into the one until he has withdrawn all his consciousness from the lower vehicles into the monadic sheath. |
2. Sau đó quy bộ tứ thấp thành bộ ba, mà giai đoạn đầu tiên là rút vào Chân ngã một cách có ý thức và nhờ đó làm phàm ngã suy giảm. Đạo sinh bắt đầu bằng việc loại bỏ những màu không mong muốn, diệt trừ mọi rung động thấp hoặc thô và cuối cùng [241] tinh luyện các hiện thể của mình đến mức ba màu chủ yếu—mà y là biểu hiện của chúng—toả sáng với độ trong trẻo hoàn hảo. Điều này đưa y đến lần điểm đạo thứ ba. Sau đó, y tìm cách quy ba thành một cho đến khi đã rút toàn bộ tâm thức khỏi các hiện thể thấp vào lớp vỏ chân thần. |
|
It was not my intention, as you erroneously supposed, to give you information as to the effect of colours playing on the bodies in meditation. I have sought only to give you some idea of colour as a veil that must eventually be set aside. Under the heading of the “Future use of colour,” I may touch upon that which interests you, but to understand fundamentals is far better than to have formulas for experimenting given to you. |
Tôi không có ý định cung cấp cho các bạn thông tin về tác động của những màu sắc chiếu lên các thể của con người trong tham thiền, như các bạn đã lầm tưởng. Tôi chỉ tìm cách cung cấp cho các bạn một ý tưởng nào đó về màu sắc như một bức màn cuối cùng phải gạt bỏ. Dưới đề mục “Việc sử dụng màu sắc trong tương lai”, Tôi có thể đề cập đến điều các bạn quan tâm, nhưng thấu hiểu những nền tảng thì tốt hơn nhiều so với việc nhận các công thức để thử nghiệm. |
|
September 10th, 1920. |
Ngày 10 tháng 9 năm 1920. |
|
We will, today, scarcely do more than touch upon our second point, which is the application of colour for healing purposes, the reason for this brevity being that the subject, in order to be handled correctly and therefore safely, should be dealt with at length, and the old adage will consequently prove true in this connection that “a little knowledge is a dangerous thing”. Unless the matter of healing with colour is dealt with in correct fashion and with technical knowledge and at length, the results achieved might prove more disastrous than beneficent. The subject will later be fully elucidated if the future brings that which is intended, and in the meantime I can, for your information, outline certain features of this work, point out certain conditions incident to success, and foretell for you somewhat the trend the matter will probably take [242] |
Hôm nay, chúng ta hầu như chỉ có thể đề cập sơ qua điểm thứ hai, tức là việc ứng dụng màu sắc vào mục đích trị liệu. Lý do cho sự ngắn gọn này là để xử lý chủ đề một cách đúng đắn và do đó an toàn, cần trình bày dài hơn; vì vậy, trong trường hợp này, câu ngạn ngữ xưa “biết ít là điều nguy hiểm” sẽ tỏ ra đúng. Trừ khi vấn đề trị liệu bằng màu sắc được xử lý đúng cách, với kiến thức chuyên môn và sự trình bày đầy đủ, những kết quả đạt được có thể gây tai hại hơn là mang lại lợi ích. Sau này, chủ đề sẽ được làm sáng tỏ đầy đủ nếu tương lai mang đến điều dự định; trong lúc này, để cung cấp thông tin cho các bạn, Tôi có thể phác thảo một số đặc điểm của công việc này, chỉ ra một số điều kiện gắn liền với thành công và báo trước phần nào hướng phát triển có thể có của vấn đề [242] |
Application of colour in healing. – Ứng dụng màu sắc trong trị liệu.
|
We are dealing with the subject now from the standpoint of meditation. It is essential therefore that we consider the subject from that angle. In meditation the work of healing is handled entirely from the mental standpoint. The direction of any force supplied will be from the mental body of the patient and will work from thence to the physical via the emotional. |
Hiện nay, chúng ta đang bàn về chủ đề này từ quan điểm tham thiền. Vì vậy, điều thiết yếu là phải xem xét chủ đề từ góc độ ấy. Trong tham thiền, công việc trị liệu được thực hiện hoàn toàn từ quan điểm cõi trí. Bất kỳ mãnh lực nào được cung cấp đều sẽ được định hướng từ thể trí của bệnh nhân, và từ đó tác động đến thể xác qua thể cảm dục. |
|
This involves on the part of the person or group that undertakes this work the ascertaining of certain facts. Let us briefly enumerate them in order to clarify the mind of the reader:— |
Điều này đòi hỏi người hoặc nhóm đảm nhận công việc phải xác định một số sự kiện. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn để làm sáng tỏ trí tuệ của người đọc:— |
|
1. The work will be largely subjective and will deal with causes and not with effects. The primary aim of the healing group will be to discover the originating cause of the trouble and having located that cause in either the emotional or the mental body the members of the group will then proceed to deal with the effect as demonstrated in the physical or the etheric. Should the trouble be entirely physical, such as is the case in an accident of any kind, or in some affliction which is purely the result of heredity or of congenital trouble, the ordinary high class physical plane scientific methods will be applied at first, and the work of the healers will be to aid those methods through concentration on the subtler bodies. This applies during the transition period into which the race is now entering. Later, when the knowledge of occult healing is more familiar, and the laws which govern the subtle bodies are more known, physical plane science will be superseded by the preventive science of the subtler planes, that science which aims at the provision of right conditions and the building of bodies that are both self-protecting and neutral to all attack. It will he found that the comprehension [243] of the law of vibration, and the effect of one vibration upon another vibration holds the key to the establishing of better conditions of living, and of sound bodies on all planes. |
1. Công việc sẽ chủ yếu thuộc nội tâm và đề cập đến nguyên nhân chứ không phải hậu quả. Mục tiêu đầu tiên của nhóm trị liệu là khám phá nguyên nhân khởi nguồn của bệnh trạng; sau khi xác định nguyên nhân ấy trong thể cảm dục hoặc thể trí, các thành viên của nhóm sẽ tiến hành xử lý hậu quả biểu hiện trong thể xác hoặc thể dĩ thái. Nếu bệnh trạng hoàn toàn thuộc thể xác, như trong bất kỳ tai nạn nào, hoặc trong một chứng bệnh chỉ là kết quả của di truyền hay rối loạn bẩm sinh, trước tiên sẽ áp dụng những phương pháp khoa học thông thường có chất lượng cao trên cõi hồng trần; công việc của những người trị liệu là hỗ trợ các phương pháp ấy bằng cách tập trung vào các thể tinh tế hơn. Điều này áp dụng trong thời kỳ chuyển tiếp mà nhân loại hiện đang bước vào. Về sau, khi kiến thức về trị liệu huyền môn trở nên quen thuộc hơn và các định luật chi phối những thể tinh tế được biết đến nhiều hơn, khoa học cõi hồng trần sẽ nhường chỗ cho khoa học phòng ngừa của các cõi tinh tế hơn—khoa học nhằm tạo ra những điều kiện đúng đắn và xây dựng các thể vừa có khả năng tự bảo vệ vừa không chịu tác động của mọi sự tấn công. Người ta sẽ thấy rằng việc thấu hiểu [243] định luật rung động và tác động của một rung động lên một rung động khác nắm giữ chìa khoá để thiết lập những điều kiện sống tốt hơn và các thể khoẻ mạnh trên mọi cõi. |
|
But as things are now, disease, corruption of different kinds and trouble in all the bodies is everywhere contacted, and when conditions are thus recognised, means of aiding must be earnestly sought. This leads us on to our next point: |
Nhưng trong tình hình hiện nay, khắp nơi đều gặp bệnh tật, nhiều dạng suy hoại và rối loạn trong mọi thể của con người; khi nhận biết những tình trạng như vậy, cần tha thiết tìm kiếm các phương tiện trợ giúp. Điều này đưa chúng ta đến điểm tiếp theo: |
|
2. The ascertaining by the group that practises healing of full information as to the patient, based on the following questions:— |
2. Nhóm thực hành trị liệu xác định đầy đủ thông tin về bệnh nhân, dựa trên những câu hỏi sau:— |
|
a. What are his basic lines of thought? |
a. Những đường hướng tư tưởng căn bản của y là gì? |
|
By what thoughtforms is he principally surrounded? |
Những hình tư tưởng nào chủ yếu bao quanh y? |
|
b. What is the predominant hue of his emotional body? What is its rate of vibration? |
b. Sắc màu nổi trội trong thể cảm dục của y là gì? Tốc độ rung động của thể ấy là bao nhiêu? |
|
Is the patient subject to sudden turmoils that throw the entire emotional body into disorder? |
Bệnh nhân có chịu những xáo động đột ngột khiến toàn bộ thể cảm dục rơi vào hỗn loạn không? |
|
c. What are his most ordinary topics of conversation? What are his principal interests? |
c. Những chủ đề trò chuyện thông thường nhất của y là gì? Những mối quan tâm chính của y là gì? |
|
What literature does he study? |
Y nghiên cứu những sách vở nào? |
|
What are his favourite pursuits? |
Những hoạt động yêu thích của y là gì? |
|
d. What is the condition of the centres in his body? |
d. Tình trạng các trung tâm trong cơ thể y ra sao? |
|
Which centres are awakened? |
Những trung tâm nào đã thức tỉnh? |
|
Are any centres rotating in fourth dimensional order? Which centre is the major one in any particular case? |
Có trung tâm nào đang quay theo trật tự chiều thứ tư không? Trong từng trường hợp cụ thể, trung tâm nào là trung tâm chủ yếu? |
|
e. What is the state of the etheric body? |
e. Tình trạng thể dĩ thái ra sao? |
|
Does it show symptoms of devitalisation or of congestion? |
Thể ấy có biểu hiện những triệu chứng suy giảm sinh lực hoặc tắc nghẽn không? |
|
Is the patient lacking in vitality? |
Bệnh nhân có thiếu sinh lực không? |
|
What is the value of his magnetic action on other people? [244] |
Tác động từ tính của y lên người khác mạnh đến mức nào? [244] |
|
Having studied the patient from all these angles, and not at any earlier time, will the group who purpose healing study the physical vehicle itself in detail. Then—with some idea of the inner conditions that underlie the trouble—they will study as follows:— |
Chỉ sau khi đã nghiên cứu bệnh nhân từ tất cả những góc độ này, chứ không trước đó, nhóm dự định trị liệu mới nghiên cứu chi tiết chính hiện thể hồng trần. Khi ấy—với một ý niệm nào đó về những tình trạng bên trong làm nền cho bệnh trạng—họ sẽ nghiên cứu như sau:— |
|
f. The condition of the nervous system, giving particular attention to the spine, and to the state of the inner fire. |
f. Tình trạng hệ thần kinh, đặc biệt chú ý đến cột sống và trạng thái của lửa bên trong. |
|
g. The state of the various organs of the body, and especially the organ, or organs, that are causing distress. |
g. Tình trạng các cơ quan khác nhau trong cơ thể, đặc biệt là cơ quan hoặc các cơ quan đang gây đau đớn. |
|
h. The structure itself, studying the bones and the flesh, and the condition of the vital fluid, the blood. |
h. Chính cấu trúc cơ thể, nghiên cứu xương và thịt, cùng tình trạng của lưu chất thiết yếu là máu. |
Higher vision and healh. – Linh thị cao hơn và sức khoẻ.
|
This, as you can see, necessarily involves either direct scientific knowledge, or else it involves the faculty of inner vision, that sees the trouble wherever it may be, and can clairvoyantly view the entire frame and organs, so locating instantaneously any trouble. This capacity presupposes the development of those inner powers which give knowledge in the three worlds, and so obviates the disastrous mistakes that so oft eventuate in the modern practice of medicine, as you call the art of healing. There will not be so much danger of error in the future day of healing, but what I seek to point out is that although those errors will be obviated in the case of the physical body, yet much time must elapse before full comprehension of the emotional body has reached the point where modern science has placed the physical. The healing of the physical body and its due comprehension and study can be carried on by the man who has the inner vision. With his ability to see on emotional levels he can co-operate with the modern enlightened medical man, and thus safeguard [245] him from error, enabling him to judge truly of the extent of the trouble, the seat of distress, its assistance, and the progress of the cure. |
Như các bạn có thể thấy, điều này nhất thiết đòi hỏi kiến thức khoa học trực tiếp, hoặc năng lực linh thị nội tâm, nhìn thấy bệnh trạng ở bất cứ nơi nào, và có thể dùng thông nhãn quan sát toàn bộ khung cơ thể cùng các cơ quan, nhờ đó tức khắc xác định bất kỳ bệnh trạng nào. Năng lực này đòi hỏi sự phát triển của những quyền năng bên trong mang lại tri thức trong ba cõi giới, và nhờ đó tránh được những sai lầm tai hại rất thường xảy ra trong thực hành y học hiện đại, như các bạn gọi nghệ thuật trị liệu. Trong thời đại trị liệu tương lai, nguy cơ sai lầm sẽ không còn nhiều như vậy; nhưng điều Tôi muốn chỉ ra là mặc dù có thể tránh những sai lầm ấy đối với thể xác, vẫn phải trải qua một thời gian dài trước khi sự thấu hiểu đầy đủ về thể cảm dục đạt đến mức mà khoa học hiện đại đã đạt được đối với thể xác. Người có linh thị nội tâm có thể thực hiện việc trị liệu thể xác, cùng việc thấu hiểu và nghiên cứu thể xác một cách đúng đắn. Với khả năng nhìn thấy trên các cấp độ cảm dục, y có thể hợp tác với người thầy thuốc hiện đại có hiểu biết sáng suốt, nhờ đó bảo vệ [245] người thầy thuốc khỏi sai lầm, giúp người ấy phán đoán đúng mức độ bệnh trạng, vị trí đau đớn, sự trợ giúp cần thiết và tiến triển của việc chữa trị. |
|
Emotional trouble that is working out in the physical body, as is the case in the majority of physical ills today, can usually be located and eliminated by judicious treatment. But emotional trouble that is deepseated in the subtle body has to be dealt with from mental levels, so that it requires a mental psychic to deal with and eliminate it. All these methods of course entail the active conscious co-operation of the patient himself. |
Những rối loạn cảm xúc đang biểu hiện trong thể xác, như trường hợp của phần lớn các bệnh thể xác ngày nay, thường có thể được xác định và loại bỏ bằng cách điều trị sáng suốt. Nhưng rối loạn cảm xúc đã ăn sâu trong thể tinh tế phải được xử lý từ các cấp độ trí, nên cần một người thông linh trên cõi trí để xử lý và loại bỏ nó. Dĩ nhiên, tất cả những phương pháp này đều đòi hỏi sự hợp tác tích cực, có ý thức của chính bệnh nhân. |
|
Similarly, mental trouble has to be dealt with directly from the causal level, and necessitates therefore the assistance of the Ego, and the help of someone who has causal vision and consciousness. This latter method, and the major part of these types of trouble, lie far ahead for the race, and therefore little concern us at this time. Nevertheless the curing of physical ailments that have their seat in the emotional body is already beginning to be known and slightly studied. In the study of psychology and in the comprehension of nervous diseases and troubles and their linking together will come the next step ahead in medical science. The link between the body of the emotions and physical body is the etheric body. The next immediate step is to consider the etheric body in two ways, either as a transmitter of prana, the life force, vitality or magnetism, or as the vehicle which links the emotional nature to the dense physical. The physical invariably follows the behests of that nature as transmitted via the etheric. |
Tương tự, rối loạn trí tuệ phải được xử lý trực tiếp từ cấp độ nguyên nhân, và vì vậy cần sự hỗ trợ của Chân ngã cùng sự giúp đỡ của một người có linh thị và tâm thức nguyên nhân. Phương pháp sau này và phần lớn các loại rối loạn này còn thuộc tương lai xa của nhân loại, nên hiện nay ít liên quan đến chúng ta. Tuy nhiên, việc chữa các bệnh thể xác bắt nguồn từ thể cảm dục đã bắt đầu được biết đến và nghiên cứu phần nào. Bước tiến tiếp theo của khoa học y học sẽ xuất hiện trong việc nghiên cứu tâm lý học, thấu hiểu các bệnh và rối loạn thần kinh, cùng mối liên hệ giữa chúng. Thể dĩ thái là mắt xích giữa thể cảm dục và thể xác. Bước tiếp theo ngay trước mắt là xem xét thể dĩ thái theo hai cách: hoặc như bộ phận truyền dẫn prana, mãnh lực sự sống, sinh lực hay từ điện; hoặc như hiện thể nối kết bản chất cảm xúc với thể xác đậm đặc. Thể xác luôn tuân theo những mệnh lệnh của bản chất ấy được truyền qua thể dĩ thái. |
|
In forming groups for healing under ideal conditions you would have at the head of the group a person with causal consciousness, who can deal with any trouble in the mental body, and who can study the alignment of all [246] the bodies with the Ego. The group will also include:— |
Khi thành lập các nhóm trị liệu trong những điều kiện lý tưởng, người đứng đầu nhóm sẽ là một người có tâm thức nguyên nhân, có thể xử lý bất kỳ rối loạn nào trong thể trí và có thể nghiên cứu sự chỉnh hợp của tất cả [246] các thể của con người với Chân ngã. Nhóm cũng sẽ bao gồm:— |
|
a. A person, or persons who can clairvoyantly view the subtle body of the emotions. |
a. Một hoặc nhiều người có thể dùng thông nhãn quan sát thể cảm dục tinh tế. |
|
b. A number of people who know somewhat the rudiments of the law of vibration, and can definitely, by the power of thought, apply certain waves of colour to effect certain cures, and bring about, through scientific comprehension, the desired results. |
b. Một số người biết phần nào những nguyên lý sơ đẳng của định luật rung động, và bằng quyền năng tư tưởng, có thể áp dụng một cách xác định những làn sóng màu sắc để thực hiện một số việc chữa trị, đồng thời mang lại những kết quả mong muốn nhờ sự thấu hiểu khoa học. |
|
c. Some member of the group will also be a member of the medical profession, who will work with the physical body, under the direction of conscious clairvoyants. He will study the resistance of the body, he will apply certain currents, and colours, and vibrations, which will have a direct physical effect, and by the co-operation of all those units in the group, results will be achieved that will merit the name of miracles. |
c. Một thành viên trong nhóm cũng sẽ là người thuộc ngành y, làm việc với thể xác dưới sự chỉ đạo của những người thông nhãn có ý thức. Y sẽ nghiên cứu sức đề kháng của thể xác, áp dụng một số dòng năng lượng, màu sắc và rung động có tác động trực tiếp lên thể xác; nhờ sự hợp tác của tất cả các thành viên trong nhóm, những kết quả đạt được sẽ xứng đáng mang tên phép lạ. |
|
d. In the group, also, will be a number of people who can meditate occultly, and can, by the power of their meditation, create the necessary funnel for the transmission of the healing forces of the higher self and of the Master. |
d. Trong nhóm cũng sẽ có một số người có thể tham thiền theo phương pháp huyền môn và, bằng quyền năng tham thiền của mình, tạo ra phễu cần thiết để truyền dẫn các mãnh lực trị liệu của chân ngã và của Chân sư. |
|
e. Besides this, in each group will be found some person who can accurately transcribe all that takes place, and so keep records that will prove to be the literature of the new school of medicine. |
e. Ngoài ra, mỗi nhóm sẽ có một người có thể ghi chép chính xác mọi điều diễn ra, qua đó lưu giữ những hồ sơ sẽ trở thành tài liệu của trường phái y học mới. |
|
I have here touched on the ideal group. It is not as yet in any way possible, but a beginning can be made by the utilisation of any knowledge and powers that may be found amongst those who seek to serve their race and the Master. |
Ở đây, Tôi đã đề cập đến nhóm lý tưởng. Hiện nay, điều này chưa thể thực hiện bằng bất kỳ cách nào, nhưng có thể khởi đầu bằng việc vận dụng bất kỳ kiến thức và quyền năng nào hiện có nơi những người tìm cách phụng sự nhân loại và Chân sư. |
|
As you will note from the above, colours will be applied in two ways:— [247] |
Như các bạn sẽ nhận thấy từ những điều trên, màu sắc sẽ được áp dụng theo hai cách:— [247] |
|
1. On the subtler planes by the power of thought, and |
1. Trên các cõi tinh tế hơn, bằng quyền năng tư tưởng, và |
|
2. By means of coloured lights applied to the physical body. |
2. Bằng những ánh sáng có màu chiếu lên thể xác. |
|
On the physical plane the exoteric colour will be applied, whilst on the subtler the esoteric. The work therefore will be (until the esoteric becomes the exoteric) largely in the hands of the occult students of the world, working in organised groups under expert supervision. |
Trên cõi hồng trần, màu sắc ngoại môn sẽ được áp dụng, còn trên các cõi tinh tế hơn là màu sắc nội môn. Vì vậy, cho đến khi nội môn trở thành ngoại môn, công việc sẽ chủ yếu nằm trong tay các đạo sinh huyền môn trên thế giới, làm việc trong những nhóm có tổ chức dưới sự giám sát của chuyên gia. |
|
You ask, just what is the point at which these groups may now begin to work with colour? The thing that now lies ahead to be mastered and done is to develop the knowledge necessary anent the etheric, to inculcate the building of pure bodies, and to study the effect of different colours on the dense physical. It has been but little studied as yet. It will be found that certain colours will definitely affect certain diseases, cure certain nervous troubles, eradicate certain nervous tendencies, tend to the building of new tissues, or to the burning out of corruption. All this must be studied. Experiments can be made along the line of vitalisation and magnetisation, which involve direct action on the etheric, and this again will be found hid in the law of vibration and of colour. Later…….we can take up with greater detail the work of these healing groups when gathered for meditation. Here I would but add that certain colours have a definite effect, though I can only as yet enumerate three, and them but briefly:— |
Các bạn hỏi: chính xác thì hiện nay các nhóm này có thể bắt đầu làm việc với màu sắc từ điểm nào? Điều trước mắt cần nắm vững và thực hiện là phát triển kiến thức cần thiết về dĩ thái, giáo dục việc xây dựng các thể thanh khiết và nghiên cứu tác động của những màu khác nhau lên thể xác đậm đặc. Cho đến nay, điều này mới chỉ được nghiên cứu rất ít. Người ta sẽ thấy rằng một số màu sắc sẽ tác động rõ rệt đến một số bệnh, chữa một số rối loạn thần kinh, loại bỏ một số khuynh hướng thần kinh, giúp xây dựng mô mới hoặc thiêu huỷ sự suy hoại. Tất cả những điều này phải được nghiên cứu. Có thể tiến hành thử nghiệm theo hướng tiếp sinh lực và từ hoá, bao gồm tác động trực tiếp lên thể dĩ thái; và một lần nữa, người ta sẽ thấy điều này ẩn trong định luật rung động và màu sắc. Về sau…….chúng ta có thể xem xét chi tiết hơn công việc của những nhóm trị liệu này khi họ tập hợp để tham thiền. Ở đây, Tôi chỉ muốn thêm rằng một số màu có tác động xác định, dù hiện nay Tôi chỉ có thể liệt kê ba màu, và cũng chỉ ngắn gọn:— |
|
1. Orange stimulates the action of the etheric body; it removes congestion and increases the flow of prana. |
1. Màu cam kích thích hoạt động của thể dĩ thái; loại bỏ tắc nghẽn và tăng dòng prana. |
|
2. Rose acts upon the nervous system and tends to vitalisation, and to the removal of depression, and [248] symptoms of debilitation; it increases the will to live. |
2. Màu hồng tác động lên hệ thần kinh, giúp tiếp sinh lực, loại bỏ sự trầm uất và [248] các triệu chứng suy nhược; làm tăng ý chí sống. |
|
3. Green has a general healing effect, and can be safely used in cases of inflammation and of fever, but it is almost impossible as yet to provide the right conditions for the application of this colour, or to arrive at the adequate shade. It is one of the basic colours to be used eventually in the healing of the dense physical body, being the colour of the note of Nature. |
3. Màu xanh lá có tác dụng trị liệu tổng quát và có thể sử dụng an toàn trong các trường hợp viêm và sốt; nhưng hiện nay hầu như chưa thể tạo ra những điều kiện đúng đắn để áp dụng màu này hoặc đạt được sắc độ thích hợp. Đây là một trong những màu căn bản cuối cùng sẽ được dùng để trị liệu thể xác đậm đặc, vì nó là màu của âm điệu Thiên Nhiên. |
|
This seems to you sketchy and inadequate? So it is, even more so than you can grasp. But forget not that which I have often told you, that in the following up of brief hints lies the path that leads to the source of all knowledge. |
Các bạn thấy điều này sơ lược và chưa đầy đủ sao? Đúng vậy, thậm chí còn hơn mức các bạn có thể nắm bắt. Nhưng đừng quên điều Tôi thường nói với các bạn: chính trong việc theo sát những gợi ý ngắn gọn có con đường dẫn đến nguồn của mọi tri thức. |
|
September 11, 1920. |
Ngày 11 tháng 9 năm 1920. |
|
We come now to the final part of our thoughts on the use of colour in meditation. We have dealt with the matter in such a way that if the hints that are scattered throughout the communication are adequately followed up they will form the basis of certain inevitable conclusions. These conclusions will eventually prove to be the postulates upon which the newer schools of medicine or science will base the continuance of their work. We might sum up the imparted data under definite statements:— |
Giờ đây, chúng ta đến phần cuối của những suy xét về việc sử dụng màu sắc trong tham thiền. Chúng ta đã bàn về vấn đề này theo cách mà, nếu những gợi ý rải rác trong toàn bộ thông điệp được theo sát một cách đầy đủ, chúng sẽ tạo nền tảng cho một số kết luận tất yếu. Cuối cùng, những kết luận này sẽ trở thành các tiền đề để những trường phái y học hoặc khoa học mới hơn tiếp tục công việc của mình. Chúng ta có thể tổng kết những dữ liệu đã truyền đạt thành các phát biểu rõ ràng:— |
|
1. That the basic colours of the Personality must be transmuted into the colours of the Triad, or the threefold Spirit. This is effected by the truly occult meditation. |
1. Những màu căn bản của phàm ngã phải được chuyển hoá thành các màu của Tam nguyên tinh thần, hay Tinh thần tam phân. Điều này được thực hiện bằng tham thiền huyền môn đích thực. |
|
2. That the colours with which the beginner will be primarily concerned are orange, rose and green. |
2. Những màu mà người mới bắt đầu chủ yếu quan tâm là cam, hồng và xanh lá. |
|
3. That the violet ray holds the secret for this immediate cycle. [249] |
3. Cung tím nắm giữ bí mật của chu kỳ ngay trước mắt này. [249] |
|
4. That the next point of apprehended knowledge will be the laws governing the etheric body. |
4. Điểm tiếp theo của kiến thức được lĩnh hội sẽ là những định luật chi phối thể dĩ thái. |
|
5. That in the development of the intuition comes cognisance of the esoteric colours which the exoteric veil. |
5. Trong sự phát triển trực giác xuất hiện nhận thức về những màu sắc nội môn mà các màu sắc ngoại môn che phủ. |
|
6. That colour is the form and force of virtue (in the occult sense) in the inner life. |
6. Màu sắc là hình tướng và mãnh lực của đức tính (theo nghĩa huyền bí) trong đời sống bên trong. |
|
I have summed up the practical points requiring immediate attention for the purposes of clarification. With this as the basis of study the student may expect eventually to see the complete transformation of the type of work done both by the schools of medicine and by chairs of psychology. Certain prophecies I may here make which you can note down for the benefit of those who may come after. |
Để làm sáng tỏ, Tôi đã tổng kết những điểm thực tiễn cần được chú ý ngay. Với điều này làm nền tảng nghiên cứu, đạo sinh có thể mong đợi cuối cùng sẽ thấy sự chuyển đổi hoàn toàn trong loại công việc mà cả các trường y lẫn các bộ môn tâm lý học thực hiện. Ở đây, Tôi có thể đưa ra một số lời tiên đoán mà các bạn có thể ghi lại vì lợi ích của những người đến sau. |
Forecasts anent the future. – Những dự báo về tương lai.
|
1. The phraseology of the medical schools will more and more become based on vibration and be expressed in terms of sound and colour. |
1. Thuật ngữ của các trường y sẽ ngày càng dựa trên rung động và được diễn đạt bằng âm thanh cùng màu sắc. |
|
2. The religious teaching of the world and the inculcation of virtue will be likewise imparted in terms of colour. People will eventually be grouped under their ray-colour, and this will be possible as the human race develops the faculty of seeing auras. The number of clairvoyants is already greater than is realised, owing to the reticence of the true psychic. |
2. Giáo huấn tôn giáo trên thế giới và việc giáo dục đức tính cũng sẽ được truyền đạt bằng màu sắc. Cuối cùng, con người sẽ được phân nhóm theo màu cung của mình; điều này sẽ khả thi khi nhân loại phát triển năng lực nhìn thấy hào quang. Số người thông nhãn hiện đã nhiều hơn người ta nhận biết, do sự kín tiếng của những người thông linh chân chính. |
|
3. The science of numbers, being in reality the science of colour and sound, will also somewhat change its phraseology and colours will eventually supersede figures. |
3. Khoa học về các con số, thực chất là khoa học về màu sắc và âm thanh, cũng sẽ thay đổi phần nào thuật ngữ của mình, và cuối cùng màu sắc sẽ thay thế các chữ số. |
|
4. The laws that govern the erection of large buildings and the handling of great weights will some [250] day be understood in terms of sound. The cycle returns, and in the days to come will be seen the re-appearance of the faculty of the Lemurians and early Atlanteans to raise great masses,—this time on a higher turn of the spiral. Mental comprehension of the method will be developed. They were raised through the ability of the early builders to create a vacuum through sound, and to utilise it for their own purposes. |
4. Một ngày [250] nào đó, những định luật chi phối việc dựng các công trình lớn và di chuyển những trọng lượng lớn sẽ được thấu hiểu theo âm thanh. Chu kỳ trở lại, và trong những ngày sắp tới, năng lực nâng những khối lượng lớn của người Lemuria và người Atlantis thời kỳ đầu sẽ tái xuất hiện—lần này ở một vòng xoắn cao hơn. Sự thấu hiểu phương pháp bằng trí tuệ sẽ phát triển. Những khối lượng ấy đã được nâng lên nhờ khả năng của các đấng kiến tạo thời kỳ đầu tạo ra chân không bằng âm thanh và sử dụng nó cho các mục đích của mình. |
|
5. Destruction, it will be shewn, can be brought about by the manipulation of certain colours, and by the employment of united sound. In this way terrific effects will be achieved. Colour can destroy just as it can heal; sound can disrupt just as it can bring about cohesion; in these two thoughts lie hid the next step ahead for the science of the immediate future. The laws of vibration are going to be widely studied and comprehended and the use of this knowledge of vibration on the physical planes will bring about many interesting developments. They will be partially an outgrowth of the study of the war and its effect, psychological and otherwise. More was effected by the sound of the great guns, for instance, than by the impact of the projectile on the physical plane. These effects are as yet practically unrecognised, and are largely etheric and astral. |
5. Người ta sẽ chứng minh rằng có thể gây ra sự huỷ diệt bằng cách vận dụng một số màu sắc và sử dụng âm thanh hợp nhất. Bằng cách này, những tác động khủng khiếp sẽ xuất hiện. Màu sắc có thể huỷ diệt cũng như có thể chữa lành; âm thanh có thể phá vỡ cũng như có thể tạo ra sự cố kết; trong hai ý tưởng này ẩn chứa bước tiến tiếp theo của khoa học trong tương lai gần. Các định luật rung động sẽ được nghiên cứu và thấu hiểu rộng rãi, và việc sử dụng kiến thức về rung động này trên các cõi hồng trần sẽ mang lại nhiều phát triển lý thú. Chúng sẽ phần nào phát sinh từ việc nghiên cứu chiến tranh và tác động của nó, về tâm lý cũng như các mặt khác. Chẳng hạn, âm thanh của những khẩu đại bác đã gây tác động nhiều hơn sự va chạm của đạn trên cõi hồng trần. Những tác động này hiện vẫn hầu như chưa được nhận biết, và chủ yếu thuộc dĩ thái cùng cảm dục. |
|
6. Music will be largely employed in construction, and in one hundred years from now it will be a feature in certain work of a constructive nature. This sounds to you utterly impossible, but it will simply be the utilisation of ordered sound to achieve certain ends. [251] |
6. Âm nhạc sẽ được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, và một trăm năm kể từ nay, nó sẽ là một đặc điểm của một số công việc mang tính kiến tạo. Điều này nghe có vẻ hoàn toàn bất khả thi đối với các bạn, nhưng nó chỉ đơn giản là việc sử dụng âm thanh có trật tự để đạt những mục đích nhất định. [251] |
|
You will ask, what place has all this in a series of letters on meditation? Simply this:—that the method employed in the utilisation of colour and sound in healing, in promoting spiritual growth, and in exoteric construction on the physical plane, will be based on the laws that govern the mental body, and will be forms of meditation. Only as the race develops the dynamic powers and attributes of thought—which powers are the product of meditation, rightly pursued—will the capacity to make use of the laws of vibration be objectively possible. Think not that only the religious devotee or mystic, or the man imbued with what we call higher teaching, is the exponent of the powers attained by meditation. All great capitalists, and the supreme heads of finance, or organised business, are the exponents of similar powers. They are personifications of one-pointed adherence to one line of thought, and their evolution parallels that of the mystic and the occultist. I seek most strongly to emphasise this fact. They are the ones who meditate along the line of the Mahachohan, or the Lord of Civilisation or Culture. Supreme concentrated attention to the matter in hand makes them what they are, and in many respects they attain greater results than many a student of meditation. All they need to do is to transmute the motive underlying their work, and their achievement will then outrun that of other students. They will approach a point of synthesis, and the Probationary Path will then be trodden. |
Các bạn sẽ hỏi: tất cả những điều này có vị trí gì trong một loạt thư về tham thiền? Chỉ đơn giản là: phương pháp sử dụng màu sắc và âm thanh trong trị liệu, thúc đẩy sự phát triển tinh thần và xây dựng ngoại môn trên cõi hồng trần sẽ dựa trên những định luật chi phối thể trí, và sẽ là những hình thức tham thiền. Chỉ khi nhân loại phát triển các quyền năng năng động và những thuộc tính của tư tưởng—những quyền năng là sản phẩm của tham thiền được thực hành đúng đắn—thì khả năng sử dụng các định luật rung động mới có thể thực hiện một cách khách quan. Đừng nghĩ rằng chỉ người sùng đạo, nhà thần bí, hoặc người thấm nhuần điều chúng ta gọi là giáo huấn cao siêu mới là người thể hiện các quyền năng đạt được nhờ tham thiền. Tất cả những nhà tư bản lớn và những người đứng đầu tối cao trong tài chính hay kinh doanh có tổ chức đều thể hiện các quyền năng tương tự. Họ là hiện thân của sự nhất tâm bám sát một đường hướng tư tưởng, và sự tiến hoá của họ song hành với sự tiến hoá của nhà thần bí và nhà huyền bí học. Tôi muốn nhấn mạnh sự kiện này một cách mạnh mẽ nhất. Họ là những người tham thiền theo đường hướng của Đức Mahachohan, hay Chúa Tể của Văn Minh hoặc Văn Hoá. Sự tập trung chú ý cao độ vào công việc đang làm khiến họ trở thành như hiện nay, và về nhiều phương diện, họ đạt kết quả lớn hơn nhiều đạo sinh tham thiền. Tất cả những gì họ cần làm là chuyển hoá động cơ nằm sau công việc của mình; khi ấy, thành tựu của họ sẽ vượt xa thành tựu của các đạo sinh khác. Họ sẽ tiến đến một điểm tổng hợp và khi ấy bước trên Con Đường Dự Bị. |
|
The Law of Vibration will gradually, therefore, be more and more understood, and be seen to govern action in all of the three departments of the Manu, the World Teacher and the Mahachohan. It will find its basic expression and its familiar terminology in those of colour and sound. Emotional disorder will be regarded as discordant sound; mental lethargy will be expressed in terms of low [252] vibration, and physical disease will be numerically considered. All constructive work will eventually be expressed in terms of numbers, by colours, and through sound. |
Vì vậy, Định luật Rung động sẽ dần dần được thấu hiểu ngày càng sâu hơn, và người ta sẽ thấy nó chi phối hoạt động trong cả ba ban của Đức Manu, Đức Chưởng Giáo và Đức Mahachohan. Định luật này sẽ tìm thấy sự biểu đạt căn bản và thuật ngữ quen thuộc của mình trong màu sắc và âm thanh. Rối loạn cảm xúc sẽ được xem là âm thanh bất hoà; sự uể oải trí tuệ sẽ được diễn đạt bằng rung động [252] thấp, và bệnh thể xác sẽ được xem xét bằng con số. Cuối cùng, mọi công việc kiến tạo sẽ được diễn đạt bằng các con số, bằng màu sắc và qua âm thanh. |
|
This suffices on this matter and at this juncture I have naught further to communicate. The subject is abstruse and difficult, and only by patient brooding will the darkness lighten. Only when the ray of the intuition strikes athwart the pall of darkness (which pall is the ignorance that hides all knowledge) will the forms that veil the subjective life be irradiated and known. Only when the light of reason is dimmed by the radiant sun of wisdom will all things be seen in their just proportions, and will the forms assume their exact colours, and their numerical vibration be known. [253] |
Như vậy là đủ về vấn đề này, và vào lúc này, Tôi không còn điều gì để truyền đạt thêm. Chủ đề sâu kín và khó khăn, và chỉ bằng sự suy ngẫm kiên nhẫn, bóng tối mới vơi đi. Chỉ khi tia trực giác xuyên qua màn tối (màn ấy là sự vô minh che giấu mọi tri thức), những hình tướng che phủ sự sống nội tâm mới được soi sáng và nhận biết. Chỉ khi ánh sáng lý trí lu mờ trước mặt trời rực rỡ của minh triết, mọi sự mới được nhìn thấy đúng tỷ lệ, các hình tướng mới hiện ra với màu sắc chính xác của chúng, và rung động biểu thị bằng con số của chúng mới được biết đến. [253] |
[1] ngang qua, xiên xéo từ bên này sang bên kia
[2] ngang qua, xiên xéo từ bên này sang bên kia
[3] 1. tóm tắt, cô lại
[4] 1. tóm tắt, cô lại
[5] 1. xanh nhợt, tái mét, bệch bạc; 2. ghê gớm, khủng khiếp
[6] 1. xanh nhợt, tái mét, bệch bạc; 2. ghê gớm, khủng khiếp
[7] 1. giẻ, giẻ rách
2. (số nhiều) quần áo rách tả tơi; to be in rags: ăn mặc rách tả tơi; 3. (số nhiều) giẻ cũ để làm giấy
[8] 1. giẻ, giẻ rách 2. (số nhiều) quần áo rách tả tơi; trong bộ đồ rách: ăn mặc rách tả tơi; 3. (số nhiều) giẻ cũ để làm giấy