Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Chương 6

📘 Sách: Thư về Tham thiền Huyền môn (new) – Tác giả: Alice Bailey

LETTER VI—THE USE OF FORM IN MEDITATION

[Commentary 32]

a—The Use of Form in raising the consciousness.

a—Việc sử dụng hình tướng trong việc nâng cao tâm thức.

b—The Use of Form by the mystic and the occultist.

b—Việc sử dụng hình tướng bởi nhà thần bí và nhà huyền bí học.

c—Specific Forms.

c—Các hình tướng đặc thù.

d—The Use of Form collectively. [140]

d—Việc sử dụng hình tướng một cách tập thể. [140]

August 6, 1920.

Ngày 6 tháng 8, 1920.

Your very natural desire to have me give you in this sixth letter certain specific forms to achieve certain results cannot be fully acquiesced in. I do not propose to outline for you any forms for careful following. The risks, as before I have pointed out, are too great apart from the supervision of a teacher at hand to watch reactions. These forms may later be given. The work is duly planned out for the coming generation of students, this series of letters having its place within that outline. What I intend to do today is something different. I purpose to do four things which we will separately take up and elucidate. These things, if duly assimilated and acted upon, will lead to further enlightenment. In the occult method of teaching step by step is given, point by point slowly laid before the pupil, and only as each step is taken and each point is grasped, will the next in order become clear. The teacher gives an indication, drops a hint, and touches some high light. The pupil follows the point emphasised, and finds on thus acting that further light pours in, another stage appears and other hints are dropped. In joint action and reaction therefore the occult student is trained by the occultist.

Ước muốn rất tự nhiên của các bạn là muốn tôi, trong bức thư thứ sáu này, trao cho các bạn một số hình tướng đặc thù để đạt được những kết quả nhất định, thì tôi không thể hoàn toàn thuận theo. Tôi không chủ trương phác thảo cho các bạn bất kỳ hình tướng nào để các bạn cẩn trọng làm theo. Những rủi ro, như trước đây tôi đã chỉ ra, là quá lớn nếu không có sự giám sát của một huấn sư ở bên cạnh để theo dõi các phản ứng. Những hình tướng ấy về sau có thể sẽ được trao. Công việc đã được hoạch định đúng đắn cho thế hệ đạo sinh sắp tới, và loạt thư này có vị trí của nó trong bản phác thảo ấy. Điều tôi dự định làm hôm nay là một việc khác. Tôi dự định làm bốn điều, và chúng ta sẽ lần lượt nêu ra và làm sáng tỏ. Những điều này, nếu được đồng hoá đúng mức và đem ra thực hành, sẽ dẫn đến sự soi sáng thêm nữa. Trong phương pháp giảng dạy huyền bí, từng bước được trao, từng điểm được trình bày chậm rãi trước người học, và chỉ khi mỗi bước đã được thực hiện và mỗi điểm đã được nắm bắt, thì điều kế tiếp theo trật tự mới trở nên rõ ràng. Huấn sư đưa ra một chỉ dấu, thả xuống một gợi ý, và chạm đến một điểm nhấn. Người học đi theo điểm được nhấn mạnh, và khi hành động như vậy thì thấy ánh sáng thêm nữa tuôn vào, một giai đoạn khác hiện ra và những gợi ý khác lại được thả xuống. Vì vậy, chính trong hành động và phản ứng tương hỗ mà đạo sinh huyền bí được nhà huyền bí học huấn luyện.

In studying the topic, “The use of form in meditation,” the four divisions under which I seek to place the intended data are as follows:—

Khi nghiên cứu chủ đề “Việc sử dụng hình tướng trong tham thiền”, bốn phân mục mà tôi muốn đặt các dữ kiện dự định trình bày dưới đó là như sau:—

1—The use of Form in raising the consciousness.

1—Việc sử dụng Hình tướng trong việc nâng cao tâm thức.

2.—The use of Form by the mystic and the occultist. [141]

2.—Việc sử dụng Hình tướng bởi nhà thần bí và nhà huyền bí học. [141]

3—The use of specific forms for specific ends.

3—Việc sử dụng các hình tướng đặc thù cho những mục đích đặc thù.

4—The use of Form collectively.

4—Việc sử dụng Hình tướng một cách tập thể.

In the exposition of these subjects you will see that what I am endeavouring to produce is a just apprehension of the value of forms in meditation and not the imparting of any definite method. I seek to show the essential nature of proceeding under law in this the most important means of bringing about union with the divine, and of producing that at-one-ment between the higher and the lower that is the aim of all evolution. I desire to leave in the minds of those who read these words a just apprehension of the relationship between spirit and matter which is the basis of all work of this nature.

Trong phần trình bày các đề tài này, các bạn sẽ thấy rằng điều tôi đang cố gắng tạo ra là một sự lĩnh hội đúng đắn về giá trị của các hình tướng trong tham thiền, chứ không phải là truyền đạt bất kỳ phương pháp xác định nào. Tôi tìm cách cho thấy bản chất thiết yếu của việc tiến hành theo định luật trong phương tiện quan trọng nhất này nhằm đem lại sự hợp nhất với thiêng liêng, và tạo ra sự hiệp nhất giữa cái cao và cái thấp vốn là mục tiêu của mọi tiến hoá. Tôi mong để lại trong thể trí của những ai đọc những lời này một sự lĩnh hội đúng đắn về mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất, là nền tảng của mọi công việc thuộc loại này.

The method employed by the Logos in this the second solar system is definitely the use of form for purposes of manifestation, as a medium of expression and as the vehicle whereby the indwelling life may grow, expand, experience and find itself. This is the case whether the form is an entire solar system, whether it is a human being in his complexity, or whether it is a form built by that human being in his endeavour to realise and know,—a form built for the very purpose of providing a vehicle whereby the consciousness may, by set stages, raise itself step by step to some visualised point. This brings us to our first point:

Phương pháp được Logos sử dụng trong hệ mặt trời thứ hai này, một cách xác định, là dùng hình tướng cho các mục đích biểu hiện, như một môi trường biểu đạt và như vận cụ nhờ đó sự sống nội tại có thể lớn lên, mở rộng, trải nghiệm và tìm thấy chính nó. Điều này đúng dù hình tướng là toàn bộ một hệ mặt trời, dù đó là một con người trong tính phức tạp của y, hay dù đó là một hình tướng do chính con người ấy xây dựng trong nỗ lực chứng nghiệm và biết,—một hình tướng được xây dựng chính nhằm cung cấp một vận cụ nhờ đó tâm thức có thể, qua những giai đoạn ấn định, tự nâng mình lên từng bước đến một điểm đã được hình dung. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ nhất:

l—The use of Form in raising the consciousness.—l—Việc sử dụng Hình tướng trong việc nâng cao tâm thức.

We have under this heading to consider three things:

Dưới tiêu đề này, chúng ta cần xét ba điều:

a—The Consciousness itself.

a—Chính tâm thức.

b—The goal towards which it seeks to rise.

b—Mục tiêu mà nó tìm cách vươn lên.

c—The steps whereby it succeeds.

c—Những bước nhờ đó nó thành công.

Each unit of the human race is a part of the divine consciousness, and is that which is conscious of, or is [142] aware of something without itself,—something which knows itself to be differentiated from the vehicle which encloses it or the forms which environ it.

Mỗi đơn vị trong nhân loại là một phần của tâm thức thiêng liêng, và là cái có tâm thức về, hay [142] nhận biết một điều gì đó ở bên ngoài chính nó,—một điều gì đó biết rằng nó được phân biệt với vận cụ bao bọc nó hay với các hình tướng bao quanh nó.

At this particular stage in evolution the average man is simply conscious of differentiation, or of being separated off from all other members of the human family, thus forming in himself a unit among other units. He acknowledges this and acknowledges the right of all other separated units so to consider themselves. He adds to this a recognition that somewhere in the universe there exists a supreme Consciousness, Whom he theoretically calls God, or Nature. Between this purely selfish point of view (I use the term “selfish” in the scientific sense and not as a belittling adjective) and the nebulous theory of God immanent there are to be found numerous stages, at each of which occurs an expansion of consciousness, or an enlargement of the point of view, that leads that self-recognising unit, step by step, from self-recognition to the recognition of superior selves, to the fitting of himself to be likewise recognised as a superior self, and eventually to the occult recognition of his own superior Self. He comes to recognise his Higher Self or Ego as his true Self, and from that stage passes on into that of the group consciousness. Here he realises first his egoic group and then other egoic groups.

Ở giai đoạn tiến hoá đặc thù này, người trung bình đơn giản chỉ có tâm thức về sự phân biệt, hay về việc bị tách rời khỏi mọi thành viên khác của gia đình nhân loại, do đó tự tạo thành trong chính y một đơn vị giữa các đơn vị khác. Y thừa nhận điều này và thừa nhận quyền của mọi đơn vị tách rời khác cũng tự xem mình như vậy. Y còn thêm vào đó sự thừa nhận rằng ở đâu đó trong vũ trụ có tồn tại một Tâm thức tối cao, Đấng mà về mặt lý thuyết y gọi là Thượng đế, hay Bản chất. Giữa quan điểm thuần tuý vị kỷ này (tôi dùng thuật ngữ “vị kỷ” theo nghĩa khoa học chứ không như một tính từ hạ thấp) và lý thuyết mơ hồ về Thượng đế nội tại, có thể tìm thấy vô số giai đoạn, ở mỗi giai đoạn đều xảy ra một sự mở rộng tâm thức, hay một sự mở rộng quan điểm, dẫn đơn vị tự nhận biết ấy, từng bước một, từ sự tự nhận biết đến sự nhận biết các bản ngã cao hơn, đến việc tự chuẩn bị để cũng được nhận biết như một bản ngã cao hơn, và cuối cùng đến sự nhận biết huyền bí về Bản Ngã Cao Siêu của chính y. Y đi đến chỗ nhận ra chân ngã hay Chân ngã của y là bản ngã đích thực của y, và từ giai đoạn ấy tiến vào tâm thức nhóm. Ở đây y trước hết chứng nghiệm nhóm chân ngã của y và rồi các nhóm chân ngã khác.

This stage is succeeded by the recognition of the universal principle of Brotherhood; it involves not just a theoretical recognition, but a merging of the consciousness into that of the human consciousness, in its entirety; this is really that development of consciousness which enables a man to realise not only his egoic group affiliations but his place in the human Hierarchy on its own plane. He knows himself in fact as a part of one of the great Heavenly Men. This expands later into an almost [143] inconceivably vast point of view—that of his place in the Grand Heavenly Man, as represented by the Logos Himself.

Giai đoạn này tiếp theo là sự nhận biết nguyên khí phổ quát của Huynh Đệ; nó không chỉ bao hàm sự thừa nhận về mặt lý thuyết, mà là sự hoà nhập tâm thức vào tâm thức nhân loại, trong tính toàn thể của nó; đây thực sự là sự phát triển tâm thức giúp một người không chỉ chứng nghiệm các liên hệ nhóm chân ngã của y mà còn chứng nghiệm vị trí của y trong Thánh Đoàn nhân loại trên chính cõi của nó. Thực tế, y biết mình như một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân vĩ đại. Về sau điều này mở rộng thành một quan điểm gần như [143] không thể hình dung—đó là vị trí của y trong Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, như được Logos chính Ngài đại diện.

This is as far as we need go for our purpose, for this series of letters, aims not at the development of cosmic consciousness.

Đến đây là đủ cho mục đích của chúng ta, vì loạt thư này không nhằm phát triển tâm thức vũ trụ.

It will therefore be apparent to you that all these stages have to be taken systematically and that each one has to be mastered step by step. It is necessary first to grasp that the place where the expansion takes place, and the realisation has to be felt, has to be finally in the thinking, waking consciousness. The Ego on its own plane may be well aware of the unity of its consciousness with all other consciousnesses, and be realising his group as one with himself, but until the man (in physical plane consciousness) has raised himself to that same plane and is likewise aware of his group consciousness, and likewise regards himself as the higher Self within the egoic group and not as a separated unit, it is of no more use than a recognised theory is of use when not carried out in experience.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng tất cả các giai đoạn này phải được thực hiện một cách có hệ thống và mỗi giai đoạn phải được làm chủ từng bước một. Trước hết cần nắm bắt rằng nơi chốn nơi sự mở rộng diễn ra, và nơi sự chứng nghiệm phải được cảm nhận, rốt cuộc phải ở trong tâm thức tư duy, tỉnh thức. Chân ngã trên cõi của nó có thể rất nhận biết sự hợp nhất của tâm thức nó với mọi tâm thức khác, và đang chứng nghiệm nhóm của nó như một với chính nó, nhưng cho đến khi con người (trong tâm thức cõi hồng trần) đã tự nâng mình lên cùng cõi ấy và cũng nhận biết tâm thức nhóm của y, và cũng xem y như Bản Ngã Cao Siêu bên trong nhóm chân ngã chứ không phải như một đơn vị tách rời, thì điều đó chẳng hữu ích hơn một lý thuyết được thừa nhận mà không được đem ra trải nghiệm.

The man has to experience these stages in his physical consciousness and to know experimentally and not just theoretically that whereof I speak before he is deemed ready to pass on into the succeeding stages. The whole matter resolves itself into the expansion of the mind until it dominates the lower, and into the faculty of abstract conception which results eventually in physical plane manifestation. It means making your highest theories and ideals demonstrable facts and it is that blending of the higher and the lower and the equipping of that lower until it provides a fitting expression for the higher. It is here that the practice of meditation plays its part. The true scientific meditation provides [144] graded forms whereby the consciousness is raised and the mind expanded until it embraces:

Con người phải trải nghiệm các giai đoạn ấy trong tâm thức hồng trần của y và phải biết bằng thực nghiệm chứ không chỉ bằng lý thuyết điều mà tôi nói đến, trước khi y được xem là sẵn sàng bước vào các giai đoạn kế tiếp. Toàn bộ vấn đề quy về sự mở rộng của thể trí cho đến khi nó thống trị cái thấp, và quy về năng lực quan niệm trừu tượng mà rốt cuộc đưa đến sự biểu hiện trên cõi hồng trần. Điều đó có nghĩa là làm cho những lý thuyết và lý tưởng cao nhất của các bạn trở thành những sự kiện có thể chứng minh, và là sự hoà trộn giữa cái cao và cái thấp cùng với việc trang bị cho cái thấp cho đến khi nó cung cấp một sự biểu đạt thích đáng cho cái cao. Chính tại đây việc thực hành tham thiền đóng vai trò của nó. Tham thiền khoa học chân chính cung cấp [144] những hình tướng theo cấp bậc nhờ đó tâm thức được nâng lên và thể trí được mở rộng cho đến khi nó bao hàm:

l—Its family and friends.

l—Gia đình và bạn hữu của nó.

2—Its environing associates.

2—Những người liên hệ xung quanh nó.

3—Its affiliated groups.

3—Các nhóm liên kết của nó.

4—Its egoic group.

4—Nhóm chân ngã của nó.

5—Other egoic groups.

5—Các nhóm chân ngã khác.

6—That Man of the Heavens of which the egoic groups form a centre.

6—Đấng Thiên Nhân mà các nhóm chân ngã tạo thành một trung tâm.

7—The Grand Heavenly Man.

7—Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.

To effect this certain forms will be laid down later, that (working along the line of a man’s ray) will teach him in graded steps to do this. You will note that I have dealt with the consciousness itself and the goal it aspires to and have thus dealt with our first two points. This brings me to our last subsidiary heading, the steps whereby attainment eventuates.

Để thực hiện điều này, về sau sẽ có những hình tướng nhất định được đặt ra, để (làm việc theo con đường của cung của một người) dạy y theo những bước cấp bậc mà làm được điều ấy. Các bạn sẽ lưu ý rằng tôi đã bàn về chính tâm thức và mục tiêu mà nó khát vọng, và như vậy đã bàn đến hai điểm đầu của chúng ta. Điều này đưa tôi đến tiêu đề phụ cuối cùng của chúng ta: những bước nhờ đó sự đạt được trở thành hiện thực.

Each man who enters upon occult development and who aspires toward the higher, has passed the stage of the average man,—the man who regards himself from the purely isolated standpoint and who works for what is good for himself. The aspirant is aiming at something different; he seeks to merge himself with his higher Self and with all that is entailed when we use that term. The stages beyond that, in all their intricacies, are the secrets of Initiation and with them we have naught to do.

Mỗi người bước vào sự phát triển huyền bí và khát vọng hướng đến cái cao hơn, đều đã vượt qua giai đoạn của người trung bình,—người chỉ nhìn mình từ lập trường cô lập thuần tuý và làm việc vì điều tốt cho riêng mình. Người chí nguyện đang nhắm đến một điều khác; y tìm cách hoà nhập mình với Bản Ngã Cao Siêu của y và với tất cả những gì được hàm ý khi chúng ta dùng thuật ngữ ấy. Những giai đoạn vượt quá điều đó, trong mọi sự tinh vi của chúng, là các bí mật của Điểm đạo và với chúng ta không có gì phải bàn.

Aspiration towards the Ego and the bringing in of that higher consciousness with the subsequent development of group consciousness very directly concern all who will read these letters. It is the next step ahead for those upon the Probationary Path. It is not achieved by simply giving thirty minutes a day to certain set forms of meditation. It involves an hour by hour attempt, [145] all day long and every day, to keep the consciousness as near to the high pitch attained in the morning meditation as possible. It presumes a determination to consider oneself at all times as the Ego, and not as a differential Personality. Later, as the Ego comes more and more into control, it will involve also the ability to look upon oneself as part of a group, with no interests and desires, no aims or wishes apart from the good of that group. It necessitates a constant watchfulness every hour of the day to prevent the falling back into the lower vibration. It entails a constant battle with the lower self that drags down; it is a ceaseless fight to preserve the higher vibration. And—which is the point I am aiming to impress upon you—the aim should be the development of the habit of meditation all the day long, and the living in the higher consciousness till that consciousness is so stable that the lower mind, desire and the physical elementals, become so atrophied and starved through lack of nourishment that the threefold lower nature becomes simply the means whereby the Ego contacts the world for purposes of helping the race.

Khát vọng hướng đến Chân ngã và việc đem vào tâm thức cao hơn ấy, cùng với sự phát triển tiếp theo của tâm thức nhóm, liên quan trực tiếp đến tất cả những ai sẽ đọc những bức thư này. Đó là bước kế tiếp phía trước cho những ai đang trên Con Đường Dự Bị. Nó không đạt được chỉ bằng cách dành ba mươi phút mỗi ngày cho một số hình tướng tham thiền ấn định. Nó bao hàm một nỗ lực từng giờ, [145] suốt ngày dài và mỗi ngày, để giữ tâm thức càng gần càng tốt với cao độ đã đạt được trong buổi tham thiền buổi sáng. Nó giả định một quyết tâm luôn luôn xem mình là Chân ngã, chứ không phải là một phàm ngã phân biệt. Về sau, khi Chân ngã ngày càng kiểm soát nhiều hơn, nó cũng sẽ bao hàm khả năng nhìn mình như một phần của một nhóm, không có lợi ích và dục vọng, không có mục tiêu hay ước muốn nào tách khỏi điều tốt của nhóm ấy. Nó đòi hỏi một sự canh chừng thường trực từng giờ trong ngày để ngăn việc rơi trở lại vào rung động thấp. Nó kéo theo một cuộc chiến thường xuyên với phàm ngã vốn kéo xuống; đó là một cuộc đấu không ngừng để giữ gìn rung động cao hơn. Và—điểm mà tôi muốn khắc sâu vào các bạn—mục tiêu phải là phát triển thói quen tham thiền suốt ngày dài, và sống trong tâm thức cao hơn cho đến khi tâm thức ấy vững ổn đến mức hạ trí, dục vọng và các hành khí thể xác trở nên teo rút và đói lả vì thiếu dưỡng nuôi, khiến bản chất thấp tam phân đơn giản chỉ còn là phương tiện nhờ đó Chân ngã tiếp xúc với thế gian nhằm giúp đỡ nhân loại.

In so doing he is accomplishing something that is little realised by the average student. He is building a form, a definite thoughtform that eventually provides a vehicle whereby he steps out of the lower consciousness into the higher, a kind of mayavirupa that acts as his intermediate channel. These forms are usually, though not invariably, of two kinds:—

Khi làm như vậy, y đang hoàn thành một điều mà đạo sinh trung bình ít nhận ra. Y đang xây dựng một hình tướng, một hình tư tưởng xác định, rốt cuộc cung cấp một vận cụ nhờ đó y bước ra khỏi tâm thức thấp vào tâm thức cao, một loại mayavirupa hoạt động như kênh trung gian của y. Những hình tướng này thường, dù không phải luôn luôn, thuộc hai loại:—

– The student builds a form daily, with care and love and attention, of his Master, to him the embodiment of the ideal higher consciousness. He lays the outline of this form in meditation and builds in the fabric in his daily life and thought. The form is provided with all the virtues, scintillates with all the colours, and is vivified, [146] first of all, by the love of the man for his Master, and later (when adequate for the purpose) it is vitalised by the Master Himself. At a certain stage in development this form provides the ground for the occult experience of entering into the higher consciousness. The man recognises himself as a part of the Master’s consciousness and through that all embracing consciousness slips into the egoic group soul consciously. This form provides the medium for that experience until such a time as it can be dispensed with, and the man can at will transfer himself into his group, and later consciously dwell there permanently. This method is the one most largely used, and is the path of love and devotion.

Đạo sinh hằng ngày xây dựng một hình tướng, với sự cẩn trọng và tình thương và chú tâm, về Chân sư của y, đối với y là hiện thân của lý tưởng tâm thức cao hơn. Y đặt đường nét của hình tướng ấy trong tham thiền và xây dựng chất liệu của nó trong đời sống và tư tưởng hằng ngày. Hình tướng ấy được ban cho mọi đức hạnh, lấp lánh mọi sắc màu, và được tiếp sinh lực, [146] trước hết, bởi tình thương của người ấy đối với Chân sư của y, và về sau (khi đã thích đáng cho mục đích) được tiếp sinh lực bởi chính Chân sư Ngài. Ở một giai đoạn phát triển nhất định, hình tướng này cung cấp nền tảng cho kinh nghiệm huyền bí về việc đi vào tâm thức cao hơn. Người ấy nhận ra mình là một phần của tâm thức của Chân sư và qua tâm thức bao trùm ấy, y trượt vào hồn nhóm chân ngã một cách có tâm thức. Hình tướng này cung cấp môi trường cho kinh nghiệm ấy cho đến khi có thể không cần đến nó nữa, và người ấy có thể theo ý muốn chuyển mình vào nhóm của y, và về sau có tâm thức an trú ở đó thường trực. Phương pháp này là phương pháp được dùng nhiều nhất, và là con đường bác ái và sùng tín.

– In the second method the student pictures himself as the ideal man. He visualises himself as the exponent of all the virtues, and he attempts in his daily life to make himself what he visualises himself to be. This method is employed by the more mental types, the intellectuals, and those whose ray is not so coloured by love, by devotion or by harmony. It is not so common as the first. The mental thoughtform thus built up serves as the mayavirupa as did the other and the man passes from these forms into the higher consciousness. As you therefore see, in building these forms certain steps will have to be taken and each type will build the form somewhat differently.

Trong phương pháp thứ hai, đạo sinh hình dung mình như con người lý tưởng. Y hình dung chính mình là hiện thân của mọi đức hạnh, và trong đời sống hằng ngày, y cố gắng tự làm cho mình trở thành đúng như điều y đã hình dung. Phương pháp này được sử dụng bởi những kiểu người thiên về thể trí, những trí thức, và những người có cung không được nhuốm màu nhiều bởi tình thương, bởi lòng sùng tín hay bởi sự hài hoà. Nó không phổ biến bằng phương pháp thứ nhất. Hình tư tưởng thể trí được xây dựng như vậy sẽ đóng vai trò là mayavirupa, cũng như trong trường hợp kia, và con người từ những hình tướng này mà bước vào tâm thức cao hơn. Vì vậy, như các bạn thấy, trong việc xây dựng những hình tướng này, một số bước nhất định sẽ phải được thực hiện, và mỗi kiểu người sẽ xây dựng hình tướng theo một cách hơi khác nhau.

The first type will start with some beloved individual, and from that individual, will rise through the various other individuals to the Master. For instance, some new student might start by thinking of some adored and respected fellow TS member, who brought him in touch with the society, pass from him to AB [Annie Besant] and CWL, from them to the great teacher HPB, and from him to the Master chosen.

Loại thứ nhất sẽ bắt đầu với một cá nhân được yêu mến, và từ cá nhân ấy, sẽ vươn lên qua các cá nhân khác nhau đến Chân sư. Chẳng hạn, một đạo sinh mới có thể bắt đầu bằng cách nghĩ về một hội viên Thông Thiên Học được y yêu mến và kính trọng, người đã đưa y tiếp xúc với hội, rồi chuyển từ người ấy đến Bà AB [Annie Besant] và Ông CWL, từ họ đến vị huấn sư vĩ đại Bà HPB, và từ bà đến Chân sư được chọn.

The other type will start with meditation on the virtue most desired, add virtue to virtue in the building of the form of the ideal self until all the virtues have been attempted and the Ego is suddenly contacted. [147]

Loại kia sẽ bắt đầu bằng tham thiền về đức hạnh mà y khao khát nhất, thêm đức hạnh vào đức hạnh trong việc xây dựng hình tướng của bản ngã lý tưởng cho đến khi mọi đức hạnh đã được cố gắng thực hành và Chân ngã bỗng nhiên được tiếp xúc. [147]

Tomorrow we will take up this same subject from a different angle and study the difference between the occultist and the mystic.

Ngày mai chúng ta sẽ bàn tiếp cùng đề tài này từ một góc độ khác và nghiên cứu sự khác biệt giữa nhà huyền bí học và nhà thần bí.

[Commentary 33]

August 8, 1920.

Ngày 8 tháng 8, 1920.

August 8, 1920. 2:45 pm.

Ngày 8 tháng 8, 1920. 2:45 chiều.

If I might be allowed to suggest to you, brother of mine, you will draw the line of demarcation fairly tight, and endeavour to conform in detail to the hints given. Exceptions are left to your discrimination, as we give no hard or fast rules until such a time as definite preparation for initiation is entered upon. Facility in obedience will come if conformity to suggestions is given now. Make no exceptions except the need is very real.

Nếu tôi được phép gợi ý với các bạn, huynh đệ của tôi, các bạn sẽ vạch ranh giới phân định khá chặt, và cố gắng tuân theo chi tiết những gợi ý đã được trao. Các ngoại lệ được để cho sự phân biện của các bạn, vì chúng tôi không đưa ra những quy luật cứng nhắc cho đến khi bước vào một giai đoạn chuẩn bị xác định cho điểm đạo. Sự dễ dàng trong vâng phục sẽ đến nếu ngay bây giờ các bạn tuân theo các gợi ý. Đừng đưa ra ngoại lệ nào trừ khi nhu cầu thật sự rất rõ ràng.

I seek, before taking up our matter for instruction to give you another extract for the stanzas. Before beginning close your eyes and listen with care to what will be enunciated.

Trước khi đi vào đề tài để chỉ dạy, tôi muốn trao cho các bạn một trích đoạn khác cho các bài kệ. Trước khi bắt đầu, hãy nhắm mắt và lắng nghe cẩn trọng điều sẽ được tuyên đọc.

You have got it somewhat right, brother of mine, and in transcribing greated accuracy will come. Certain words need altering. You have not recorded all the technical terms that exist in the original stanzas. Link up with me in transcribing and we will endeavour to get the Sanskrit expressions that are to be found in the original books.

Các bạn đã ghi được phần nào đúng, huynh đệ của tôi, và khi chép lại sẽ đạt độ chính xác lớn hơn. Một số từ cần được sửa. Các bạn chưa ghi lại hết mọi thuật ngữ kỹ thuật có trong các bài kệ nguyên bản. Hãy chỉnh hợp với tôi trong việc chép lại và chúng ta sẽ cố gắng lấy được các cách diễn đạt Sanskrit có trong các sách nguyên bản.

2—Form as used by the occultist and the mystic.—2—Hình tướng như được nhà huyền bí học và nhà thần bí sử dụng.

The subject of this letter today will interest you for we are to take up form as used by the occultist and the mystic.

Đề tài của bức thư hôm nay sẽ làm các bạn quan tâm, vì chúng ta sẽ bàn về hình tướng như được nhà huyền bí học và nhà thần bí sử dụng.

It might be of value to us if we first differentiated with care between the two types. I would begin by a statement of fact. The mystic is not necessarily an occultist, but the occultist embraces the mystic. Mysticism is but one step on the path of occultism. In this solar system—the system of love in activity—the path of least resistance for the majority is that of the mystic, or the path of love and devotion. In the next solar system the path of least resistance will be that which we now understand as the occult path. The mystic path will have been trodden. Wherein lies the difference between these two types? The mystic deals with the evolving life; the occultist deals with the form.

Sẽ có giá trị cho chúng ta nếu trước hết phân biệt cẩn trọng giữa hai loại này. Tôi sẽ bắt đầu bằng một sự kiện. Nhà thần bí không nhất thiết là một nhà huyền bí học, nhưng nhà huyền bí học bao hàm nhà thần bí. Thần bí học chỉ là một bước trên con đường của huyền bí học. Trong hệ mặt trời này—hệ của bác ái trong hoạt động—con đường ít trở ngại nhất đối với đa số là con đường của nhà thần bí, hay con đường bác ái và sùng tín. Trong hệ mặt trời kế tiếp, con đường ít trở ngại nhất sẽ là điều mà hiện nay chúng ta hiểu là con đường huyền bí. Con đường thần bí khi ấy đã được bước qua. Vậy sự khác biệt giữa hai loại này ở đâu? Nhà thần bí đề cập đến sự sống đang tiến hoá; nhà huyền bí học đề cập đến hình tướng.

The mystic deals with the God within; the occultist with God in outer manifestation.

Nhà thần bí đề cập đến Thượng đế bên trong; nhà huyền bí học đề cập đến Thượng đế trong biểu hiện bên ngoài.

The mystic works from the centre to the periphery; the occultist reverses the process.

Nhà thần bí làm việc từ trung tâm ra chu vi; nhà huyền bí học đảo ngược tiến trình.

The mystic mounts by aspiration and intensest devotion to the God within or to the Master Whom he recognises; the occultist attains by the recognition of the law in operation and by the wielding of the law which binds matter and conforms it to the needs of the indwelling life. In this manner the occultist arrives at those Intelligences Who work with the law, till he attains the fundamental Intelligence Himself. [148]

Nhà thần bí vươn lên bằng khát vọng và sự sùng tín mãnh liệt nhất hướng đến Thượng đế bên trong hay hướng đến Chân sư mà y nhận biết; nhà huyền bí học đạt được bằng sự nhận biết định luật đang vận hành và bằng việc vận dụng định luật vốn ràng buộc vật chất và làm cho nó phù hợp với nhu cầu của sự sống nội tại. Bằng cách này, nhà huyền bí học đi đến những Đấng Thông Tuệ làm việc với định luật, cho đến khi y đạt đến chính Đấng Thông Tuệ nền tảng. [148]

The mystic works through the Rays of Love, Harmony and Devotion, or by the path of the second, the fourth and the sixth rays. The occultist works through the Rays of Power, Activity, and Ceremonial Law, or the first, the third and the seventh. Both meet and blend through the development of mind, or through the fifth Ray of Concrete Knowledge (a fragment of cosmic intelligence), and on this fifth ray the mystic is resolved into the occultist and works then with all the rays.

Nhà thần bí làm việc qua các Cung Bác ái, Hài hoà và Sùng tín, hay theo con đường của cung hai, cung bốn và cung sáu. Nhà huyền bí học làm việc qua các Cung Quyền lực, Hoạt động, và Định luật Nghi lễ, hay cung một, cung ba và cung bảy. Cả hai gặp nhau và hoà trộn qua sự phát triển của thể trí, hay qua Cung năm của Tri thức Cụ thể (một mảnh của trí tuệ vũ trụ), và trên cung năm này nhà thần bí được hoá giải vào nhà huyền bí học và rồi làm việc với mọi cung.

By finding the kingdom of God within himself and by the study of the laws of his own being, the mystic becomes proficient in the laws which govern the universe of which he is a part. The occultist recognises the kingdom of God in nature or the system and regards himself as a small part of that greater whole, and therefore governed by the same laws.

Bằng việc tìm thấy Thiên Giới bên trong chính mình và bằng việc nghiên cứu các định luật của chính bản thể mình, nhà thần bí trở nên tinh thông các định luật chi phối vũ trụ mà y là một phần. Nhà huyền bí học nhận biết Thiên Giới trong bản chất hay trong hệ thống và xem mình như một phần nhỏ của toàn thể lớn hơn ấy, và vì vậy bị chi phối bởi cùng các định luật.

The mystic works as a general rule under the department of the World Teacher, or the Christ, and the occultist more frequently under that of the Manu, or Ruler, but when both types have passed through the four minor rays in the department of the Lord of Civilisation, then a completion of their development may be seen, and the mystic becomes the occultist and the occultist includes the characteristics of the mystic. To make it more simple for general comprehension:—after initiation the mystic is merged in the occultist for he has become a student of occult law; he has to work with matter, with its manipulation and uses, and he has to master and control all lower forms of manifestation, and learn the rules whereby the building devas work. Before initiation the mystic path might be expressed by the term, Probationary Path. Before the occultist can manipulate wisely the matter of the solar system he must have mastered the laws that govern the microcosm, and even though he is naturally [149] on the occult path yet he will still have to find the God within his own being before he can safely venture on the path of occult law.

Nhà thần bí, như một quy luật chung, làm việc dưới bộ phận của Đức Chưởng Giáo, hay Đức Christ, còn nhà huyền bí học thường xuyên hơn dưới bộ phận của Đức Manu, hay Đấng Cai Quản, nhưng khi cả hai loại đã đi qua bốn cung phụ trong bộ phận của Chúa Tể của Văn Minh, thì có thể thấy sự hoàn tất phát triển của họ, và nhà thần bí trở thành nhà huyền bí học, còn nhà huyền bí học bao hàm các đặc tính của nhà thần bí. Để đơn giản hơn cho sự hiểu biết chung:—sau điểm đạo, nhà thần bí hoà nhập vào nhà huyền bí học vì y đã trở thành một đạo sinh của định luật huyền bí; y phải làm việc với vật chất, với sự thao tác và các công dụng của nó, và y phải làm chủ và kiểm soát mọi hình thức biểu hiện thấp, và học các quy luật nhờ đó các thiên thần kiến tạo làm việc. Trước điểm đạo, con đường thần bí có thể được diễn tả bằng thuật ngữ Con Đường Dự Bị. Trước khi nhà huyền bí học có thể thao tác một cách khôn ngoan vật chất của hệ mặt trời, y phải làm chủ các định luật chi phối tiểu thiên địa, và dù y vốn tự nhiên [149] ở trên con đường huyền bí, y vẫn phải tìm thấy Thượng đế bên trong chính bản thể mình trước khi có thể an toàn dấn bước trên con đường của định luật huyền bí.

The mystic seeks to work from the emotional to the intuitional, and thence to the Monad, or Spirit. The occultist works from the physical to the mental, and thence to the atma or Spirit. One works along the line of love; the other along the line of will. The mystic fails in the purpose of his being—that of love demonstrated in activity—unless he co-ordinates the whole through the use of intelligent will. Therefore he has to become the occultist.

Nhà thần bí tìm cách làm việc từ cảm xúc đến trực giác, và từ đó đến chân thần, hay tinh thần. Nhà huyền bí học làm việc từ hồng trần đến trí tuệ, và từ đó đến atma hay tinh thần. Một người làm việc theo con đường bác ái; người kia theo con đường ý chí. Nhà thần bí thất bại trong mục tiêu của bản thể y—đó là bác ái được chứng minh trong hoạt động—trừ khi y phối hợp toàn bộ bằng việc sử dụng ý chí thông tuệ. Vì vậy y phải trở thành nhà huyền bí học.

The occultist similarly fails and becomes only a selfish exponent of power working through intelligence, unless he finds a purpose for that will and knowledge by an animating love which will give to him sufficient motive for all that he attempts.

Tương tự, nhà huyền bí học cũng thất bại và chỉ trở thành một kẻ vị kỷ biểu hiện quyền lực qua trí tuệ, trừ khi y tìm thấy một mục đích cho ý chí và tri thức ấy bằng một bác ái sinh động sẽ trao cho y đủ động cơ cho mọi điều y cố gắng.

I have attempted to make clear to you the distinction between these two groups, as the importance of the matter is great when studying meditation. The form used by the two types is entirely different and when seen clairvoyantly is very interesting.

Tôi đã cố gắng làm rõ cho các bạn sự phân biệt giữa hai nhóm này, vì tầm quan trọng của vấn đề là rất lớn khi nghiên cứu tham thiền. Hình tướng được hai loại sử dụng hoàn toàn khác nhau và khi được thấy bằng thông nhãn thì rất thú vị.

The mystic form.—Hình tướng của nhà thần bí.

The expression, “the mystic form,” is almost a paradoxical remark, for the mystic—if left to himself—eliminates the form altogether. He concentrates upon the God within, brooding on that inner centre of consciousness; he seeks to link that centre with other centres—such as his Master, or some saint, or even with the supreme Logos Himself—and to mount by the line of life, paying no attention whatsoever to the environing sheaths. He works along the path of fire. “Our God is a consuming fire” [150] is to him a literal statement of fact, and of realised truth. He rises from fire to fire, and from graded realisations of the indwelling Fire till he touches the fire of the universe. The only form that the mystic may be said to use would be a ladder of fire or a cross of fire, by means of which he elevates his consciousness to the desired point. He concentrates on abstractions, on attributes more than on aspects, and on the life side more than the concrete. He aspires, he burns, he harmonises, he loves and he works through devotion. He meditates by attempting to eliminate the concrete mind altogether, and aspires to leap from the plane of the emotions to that of the intuition.

Cụm từ “hình tướng của nhà thần bí” gần như là một nhận xét nghịch lý, vì nhà thần bí—nếu để mặc y—sẽ loại bỏ hình tướng hoàn toàn. Y tập trung vào Thượng đế bên trong, trầm tư về trung tâm tâm thức nội tại ấy; y tìm cách nối kết trung tâm ấy với các trung tâm khác—như Chân sư của y, hay một vị thánh nào đó, hoặc thậm chí với chính Logos tối cao—và vươn lên theo sinh mệnh tuyến, hoàn toàn không chú ý gì đến các vỏ bọc bao quanh. Y làm việc theo con đường lửa. “Thượng đế của chúng ta là một ngọn lửa thiêu đốt” [150] đối với y là một tuyên bố sự kiện theo nghĩa đen, và là chân lý đã được chứng nghiệm. Y vươn lên từ lửa đến lửa, và từ những chứng nghiệm theo cấp bậc về Lửa nội tại cho đến khi chạm đến lửa của vũ trụ. Hình tướng duy nhất mà có thể nói nhà thần bí sử dụng là một chiếc thang lửa hay một thập giá lửa, nhờ đó y nâng tâm thức mình lên đến điểm mong muốn. Y tập trung vào các trừu tượng, vào các thuộc tính hơn là vào các phương diện, và vào phía sự sống hơn là cái cụ thể. Y khát vọng, y bừng cháy, y hài hoà, y yêu thương và y làm việc qua sùng tín. Y tham thiền bằng cách cố gắng loại bỏ hoàn toàn trí cụ thể, và khát vọng nhảy vọt từ cõi cảm xúc sang cõi trực giác.

He has the faults of his type,—dreamy, visionary, impractical, emotional, and lacking that quality of mind that we call discrimination. He is intuitive, prone to martyrdom and self-sacrifice. Before he can achieve and before he can take initiation he has three things to do:—

Y có những khuyết điểm của loại mình,—mơ mộng, linh ảnh, thiếu thực tiễn, cảm xúc, và thiếu phẩm chất của trí tuệ mà chúng ta gọi là phân biện. Y có trực giác, dễ nghiêng về tử đạo và hi sinh bản thân. Trước khi y có thể đạt được và trước khi y có thể nhận điểm đạo y có ba điều phải làm:—

– First, by meditation, to bring his whole nature under rule, and to learn to build the forms, and hence to learn their value.

Thứ nhất, bằng tham thiền, đem toàn bộ bản chất của y vào dưới sự cai quản, và học cách xây dựng các hình tướng, và do đó học giá trị của chúng.

– Secondly, to develop appreciation of the concrete, and to learn clearly the place within the scheme of things of the various sheaths through which the life he so much loves has to manifest. He has to work at his mental body and bring it to the store house of facts before he can proceed much further.

Thứ hai, phát triển sự trân trọng đối với cái cụ thể, và học một cách rõ ràng vị trí của các vỏ bọc khác nhau trong hệ thống sự vật, qua đó sự sống mà y yêu mến đến thế phải biểu hiện. Y phải làm việc với thể trí của y và đưa nó đến kho tàng các sự kiện trước khi y có thể tiến xa hơn nhiều.

– Thirdly, to learn through the intelligent study of the microcosm, his little spirit-matter system, the dual value of the macrocosm.

Thứ ba, học qua việc nghiên cứu thông tuệ về tiểu thiên địa, hệ tinh thần-vật chất nhỏ bé của y, giá trị kép của đại thiên địa.

Instead of only knowing the fire that burns he has to understand and work through the fire that builds, that fuses and develops form. He has, through meditation, to learn the threefold use of Fire. This last sentence is of very real importance and I seek to emphasise it. [151]

Thay vì chỉ biết ngọn lửa thiêu đốt, y phải thấu hiểu và làm việc qua ngọn lửa kiến tạo, ngọn lửa dung hợp và phát triển hình tướng. Y phải, qua tham thiền, học việc sử dụng Lửa tam phân. Câu cuối này có tầm quan trọng rất thực, và tôi tìm cách nhấn mạnh nó. [151]

[Commentary 34]

August 10, 1920.

Ngày 10 tháng 8, 1920.

The occult form.—Hình tướng của nhà huyền bí học.

We studied, two days ago, the method whereby the mystic attains union, and outlined very briefly the path whereby he attempts to reach his goal. Today we will outline as briefly the course taken by the occultist, and his type of meditation, contrasting it with that of the mystic, and pointing out later how the two have to merge and their individual elements be fused into one.

Chúng ta đã khảo cứu, hai ngày trước, phương pháp nhờ đó nhà thần bí đạt đến sự hợp nhất, và đã phác thảo thật vắn tắt con đường nhờ đó y cố gắng đạt mục tiêu của mình. Hôm nay chúng ta sẽ phác thảo, cũng vắn tắt như vậy, tiến trình mà nhà huyền bí học đi theo, và loại tham thiền của y, đối chiếu nó với loại của nhà thần bí, và về sau chỉ ra cách mà hai con đường ấy phải hòa nhập, và các yếu tố riêng rẽ của chúng phải được dung hợp thành một.

The line of form is, for the occultist, the line of least resistance, and incidentally I might here interpolate a thought. The fact being admitted, we may therefore look with some certainty at this time for a rapid development of occult knowledge, and for the appearance of some true occultists. By the coming in of the seventh ray, the Ray of Form or Ritual, the finding of the occult path, and the assimilation of occult knowledge is powerfully facilitated. The occultist is at first occupied more with the form through which the Deity manifests than with the Deity Himself, and it is here that the fundamental difference between the two types is at first apparent. The mystic eliminates or endeavours to transcend mind in his process of finding the Self. The occultist, through his intelligent interest in the forms which veil the Self and by the employment of the principle of mind on both its levels, arrives at the same point. He recognises the sheaths that veil. He applies himself to the study of the laws that govern the manifested solar system. He concentrates on the objective, and in his earlier years may at times overlook the value of the subjective. He arrives eventually at the central life by the elimination, through conscious knowledge and control, of sheath after sheath. He meditates upon form until the form is lost sight of, and the creator of the form becomes all in all. [152]

Đối với nhà huyền bí học, tuyến đường của hình tướng là con đường ít trở ngại nhất, và nhân đây tôi có thể xen vào một ý. Khi sự kiện ấy đã được thừa nhận, vì vậy vào lúc này chúng ta có thể khá chắc chắn trông đợi một sự phát triển nhanh chóng của tri thức huyền bí, và sự xuất hiện của một số nhà huyền bí học chân chính. Do sự đi vào của cung bảy, Cung của Hình Tướng hay Nghi Lễ, việc tìm ra con đường huyền bí và sự đồng hóa tri thức huyền bí được hỗ trợ mạnh mẽ. Lúc đầu, nhà huyền bí học bận tâm nhiều hơn với hình tướng qua đó Thượng đế biểu lộ hơn là với chính Thượng đế, và chính tại đây sự khác biệt căn bản giữa hai loại người trước hết trở nên hiển nhiên. Nhà thần bí loại bỏ, hoặc cố gắng vượt lên trên thể trí trong tiến trình tìm ra Chân Ngã. Nhà huyền bí học, nhờ mối quan tâm thông minh đối với các hình tướng che phủ Chân Ngã và nhờ vận dụng nguyên khí của thể trí trên cả hai cấp độ của nó, đạt đến cùng một điểm. Y nhận ra các vỏ bọc che phủ. Y chuyên tâm nghiên cứu các định luật chi phối hệ mặt trời đã biểu lộ. Y tập trung vào cái khách quan, và trong những năm đầu đôi khi có thể bỏ qua giá trị của cái chủ quan. Cuối cùng y đi đến sự sống trung tâm bằng cách loại bỏ, qua tri thức và sự kiểm soát có ý thức, hết vỏ bọc này đến vỏ bọc khác. Y tham thiền về hình tướng cho đến khi hình tướng không còn được thấy nữa, và đấng sáng tạo ra hình tướng trở thành tất cả trong tất cả. [152]

He, like the mystic, has three things to do:—

Y, cũng như nhà thần bí, có ba điều phải làm:—

1—He has to learn the law and to apply that law to himself. Rigid self-discipline is his method, and necessarily so, for the dangers threatening the occultist are not those of the mystic. Pride, selfishness, and a wielding of the law from curiosity or desire for power have to be burnt out of him before the secrets of the Path can safely be entrusted to his care.

1—Y phải học định luật và áp dụng định luật ấy vào chính mình. Kỷ luật bản thân nghiêm ngặt là phương pháp của y, và tất yếu phải như vậy, vì những nguy hiểm đe dọa nhà huyền bí học không phải là những nguy hiểm của nhà thần bí. Tính kiêu ngạo, lòng ích kỷ, và việc vận dụng định luật do tò mò hoặc do ham muốn quyền lực phải được thiêu đốt khỏi y trước khi các bí mật của Con Đường có thể được giao phó an toàn cho sự chăm nom của y.

2—In meditation he has, through the form built, to concentrate upon the indwelling life. He has to seek the inner burning fire that irradiates all forms that shelter the divine life.

2—Trong tham thiền, qua hình tướng đã được xây dựng, y phải tập trung vào sự sống nội tại. Y phải tìm ngọn lửa cháy bên trong, ngọn lửa chiếu rạng mọi hình tướng che chở sự sống thiêng liêng.

3—Through the scientific study of the macrocosm, “the kingdom of God without,” he has to reach a point where he locates that kingdom likewise within.

3—Qua sự nghiên cứu khoa học về đại thiên địa, “Thiên Giới ở bên ngoài,” y phải đạt đến một điểm mà tại đó y cũng định vị Thiên Giới ấy ở bên trong.

Here, therefore, is the merging point of the mystic and the occultist. Here their paths become one. I spoke earlier in this letter of the interest to the clairvoyant in noting the difference in the forms built by the mystic and the occultist in meditation. I might touch on some of the differences for your interest, though until such vision is yours my point may be but words to you.

Vì vậy, đây là điểm hòa nhập của nhà thần bí và nhà huyền bí học. Tại đây con đường của họ trở thành một. Trước đó trong bức thư này tôi đã nói về mối quan tâm của nhà thông nhãn khi ghi nhận sự khác biệt trong các hình tướng được xây dựng bởi nhà thần bí và nhà huyền bí học trong tham thiền. Tôi có thể đề cập đến một vài khác biệt để các bạn quan tâm, mặc dù cho đến khi linh thị ấy là của các bạn, điều tôi nói có lẽ chỉ là lời lẽ đối với các bạn.

Occult and mystic forms clairvoyantly seen.—Các hình tướng huyền bí và thần bí được thấy bằng thông nhãn.

The mystic who is meditating has built before him and around him an outline nebulous, inchoate, and cloudy, and in such a way that he himself forms the centre of the form. Frequently, according to the trend of his mind, the nucleus of the form may be some favourite symbol such as a cross, an altar, or even his pictured idea of one of the Great Ones. This form will be wreathed in the mists of devotion, and will pulsate with floods of colour bespeaking aspiration, love and ardent longing. The colours built in will be of singular purity and clarity [153] and will mount up until they reach a great height. According to the capacity of the man to aspire and to love will be the density and the beauty of the ascending clouds; according to his stability of temperament will be the accuracy of the inner symbol or picture around which the clouds of colour circulate.

Nhà thần bí đang tham thiền đã xây dựng trước mặt và chung quanh y một phác đồ mờ ảo, chưa định hình và mây mù, theo cách mà chính y tạo thành trung tâm của hình tướng đó. Thường xuyên, tùy theo khuynh hướng của thể trí y, hạt nhân của hình tướng có thể là một biểu tượng ưa thích nào đó như thập giá, bàn thờ, hoặc thậm chí là hình ảnh mà y hình dung về một trong các Đấng Cao Cả. Hình tướng này sẽ được bao bọc trong những làn sương của lòng sùng tín, và sẽ rung động với những dòng màu sắc tuôn trào, biểu thị khát vọng, tình thương và niềm khao khát mãnh liệt. Các màu sắc được xây dựng sẽ có độ tinh khiết và trong sáng đặc biệt [153] và sẽ vươn cao lên cho đến khi đạt tới một độ cao lớn. Tùy theo năng lực khát vọng và yêu thương của con người mà độ đậm đặc và vẻ đẹp của những đám mây đang dâng lên sẽ khác nhau; và tùy theo sự ổn định của tính khí mà độ chính xác của biểu tượng hay hình ảnh nội tại, quanh đó các đám mây màu sắc xoay chuyển, sẽ được quyết định.

The forms built by the man of an occult trend of thought, and who is more dominated by mind, will be of a geometrical type. The outlines will be clear, and will be apt to be rigid. The form will be more painstakingly built and the man, during meditation, will proceed with greater care and accuracy. He will (if I may so express it) take a pride in the manipulation of the material that goes to the building of the form. Matter of the mental plane will be more apparent and—though certain clouds of emotional matter may he added to the whole—matter of the emotional plane will be of secondary importance. The colours employed may be of equal clarity, but they are apportioned with specific intent, and the form stands out clearly and is not lost in the upward surge of emotional colours as the mystic form is apt to be.

Những hình tướng do con người có khuynh hướng tư tưởng huyền thuật xây dựng, và những người bị chi phối nhiều hơn bởi thể trí, sẽ mang tính hình học. Các đường nét sẽ rõ ràng và có xu hướng cứng cáp. Hình tướng sẽ được xây dựng một cách công phu hơn, và trong khi tham thiền, người ấy sẽ tiến hành với sự cẩn trọng và chính xác lớn hơn. Y sẽ (nếu tôi được phép diễn đạt như vậy) cảm thấy tự hào về việc thao tác chất liệu dùng để xây dựng hình tướng. Chất liệu của cõi trí sẽ hiện diện rõ rệt hơn, và—dẫu cho một số đám mây của chất liệu cảm dục có thể được thêm vào toàn thể—chất liệu của cõi cảm dục chỉ giữ vai trò thứ yếu. Các màu sắc được sử dụng có thể có độ trong sáng tương đương, nhưng chúng được phân bổ với ý định rõ ràng, và hình tướng nổi bật một cách minh bạch, không bị chìm lấp trong làn sóng dâng cao của các màu sắc cảm xúc, như hình tướng của nhà thần bí thường có khuynh hướng như vậy.

Later, when the man in either case has reached a point of more rounded out development, and is both an occultist and a mystic, the forms built will combine both qualifications, and be things of rare beauty.

Về sau, khi con người trong cả hai trường hợp đã đạt tới một điểm phát triển toàn diện hơn, và đồng thời vừa là một nhà huyền thuật vừa là một nhà thần bí, thì các hình tướng được xây dựng sẽ kết hợp cả hai phẩm tính này, và sẽ trở thành những tạo phẩm có vẻ đẹp hiếm có.

This will suffice for today, but I would like to outline for you the ideas that must be brought out later. We will deal with the use of forms in achieving specific results, and though it is not my intention to give or outline such forms, I wish to group them for you so that later when the Teacher moves among men He may find ready apprehension among students everywhere.

Như vậy đủ cho hôm nay, nhưng tôi muốn phác thảo cho các bạn những ý tưởng mà về sau phải được triển khai. Chúng ta sẽ bàn đến việc sử dụng các hình tướng để đạt những kết quả xác định, và mặc dù tôi không có ý định đưa ra hay phác thảo các hình tướng như thế, tôi muốn phân nhóm chúng cho các bạn để về sau khi Huấn sư đi giữa nhân loại, Ngài có thể gặp sự lĩnh hội sẵn sàng nơi các môn sinh ở khắp nơi.

1—Forms used in work on the three bodies.

1—Các hình tướng dùng trong công tác trên ba thể.

2—Forms on certain rays. [154]

2—Các hình tướng trên một số cung nhất định. [154]

3—Forms used in healing.

3—Các hình tướng dùng trong trị liệu.

4—Mantrams.

4—Các mantram.

5—Forms used in one of the three Departments:—

5—Các hình tướng dùng trong một trong ba Ban:—

a—The Manu’s Department.

a—Ban của Đức Manu.

b—The Department of the World Teacher or the Christ.

b—Ban của Đức Chưởng Giáo Thế Gian hay Đức Christ.

c—The Department of the Lord of Civilisation.

c—Ban của Đức Chúa Tể Văn Minh.

6—Forms for calling elementals.

6—Các hình tướng để gọi các hành khí.

7—Forms for contacting the devas.

7—Các hình tướng để tiếp xúc với các thiên thần.

8—Special forms connected with Fire.

8—Các hình tướng đặc biệt liên quan đến Lửa.

August 11, 1920.

Ngày 11 tháng 8, 1920.

August 11th, 1920. 4:30 am.

Ngày 11 tháng 8, 1920. 4:30 am.

On occasion, brother of mine, I test out your capacity to respond unexpectedly to the sound of my voice, and I am glad this morning that your ear was not deaf, but that you heard and awoke to take my dictation. Your health this coming month will be better than since your return from Chicago, and it is hoped that the book on hand may make very real progress.

Đôi khi, huynh đệ của tôi, Tôi thử nghiệm năng lực của các bạn trong việc đáp ứng bất ngờ trước âm thanh giọng nói của Tôi, và sáng nay Tôi vui vì tai các bạn không điếc, mà các bạn đã nghe và thức dậy để ghi chép lời đọc của Tôi. Sức khỏe của các bạn trong tháng sắp tới sẽ tốt hơn so với từ khi các bạn trở về từ Chicago, và hy vọng rằng quyển sách đang làm dở có thể tiến triển thật sự.

…Periods of physical weakness are of value only for the reason that they demonstrate the absolute necessity there is for the worker to build a strong body before he can accomplish much, and the importance of good health before the disciple can go forward on the Path. We cannot permit those we teach to do certain things, nor inform them along certain lines unless their physical vehicles are in good shape, and unless the handicap of ill health and disease is practically negligible, and the karma of accidental trouble almost completely obviated in the personal life. National or group karma occasionally involves a pupil, and upsets somewhat the plans, but this is unavoidable and can seldom be offset.

…Những giai đoạn suy yếu thể xác chỉ có giá trị vì lý do rằng chúng chứng tỏ sự cần thiết tuyệt đối đối với người hoạt động là phải xây dựng một thân thể mạnh mẽ trước khi y có thể hoàn thành được nhiều việc, và tầm quan trọng của sức khỏe tốt trước khi đệ tử có thể tiến bước trên Con Đường. Chúng Tôi không thể cho phép những người mà Chúng Tôi dạy làm một số việc nhất định, cũng không thể thấm nhuần cho họ theo một số đường hướng nhất định trừ khi các vận cụ thể xác của họ ở trong tình trạng tốt, và trừ khi trở ngại của bệnh tật và ốm đau hầu như không đáng kể, và nghiệp quả của những rắc rối bất ngờ gần như được loại trừ hoàn toàn trong đời sống cá nhân. Nghiệp quả quốc gia hay nghiệp quả nhóm đôi khi liên lụy một môn sinh, và làm xáo trộn phần nào các kế hoạch, nhưng điều này là không thể tránh và hiếm khi có thể hóa giải.

[Commentary 35]

The use of specific forms for specific ends.—Việc sử dụng các hình tướng xác định cho các mục đích xác định.

Until now we have dealt more with the personal aspects of meditation, and have considered the two types that are practically universal and fundamental, having studied briefly, (a) Meditation as followed by the mystic, and (b) Meditation as pursued by the occultist.

Cho đến nay chúng ta đã đề cập nhiều hơn đến các phương diện cá nhân của tham thiền, và đã xét đến hai loại hầu như phổ quát và căn bản, sau khi đã khảo cứu vắn tắt, (a) Tham thiền như nhà thần bí thực hành, và (b) Tham thiền như nhà huyền bí học theo đuổi.

We have largely generalised and have not in any way attempted to enter into particulars. It is neither desirable [155] at this stage nor proper. At a certain point in meditation, nevertheless, when the pupil has made the desired progress and covered certain specific stages and attained certain objectives (which attainment can be ascertained by a review of the pupil’s causal body) and when a foundation of right living has been laid which neither storms nor attack will be liable easily to upset or destroy, the Teacher may impart to the earnest pupil instructions whereby he can build in mental matter and under definite rules, forms that will lead to specific actions and reactions. These forms will be imparted gradually, and at times the pupil (this especially at first) may not be in the least conscious of the results achieved. He will obey the orders, say the imparted words, or work through the outlined formulas, and the results attained may do their work even though the pupil is unconscious of the fact. Later—especially after initiation, as the subtler faculties come into activity, and the centres are rotating in fourth dimensional order—he may be aware of the effects of his meditation on the emotional and mental planes.

Chúng ta phần lớn đã khái quát hóa và hoàn toàn không cố gắng đi vào chi tiết. Ở giai đoạn này điều đó không đáng mong muốn [155] cũng không thích hợp. Tuy nhiên, tại một điểm nhất định trong tham thiền, khi môn sinh đã đạt được sự tiến bộ mong muốn và đi qua một số giai đoạn xác định và đạt được một số mục tiêu nhất định (mà sự đạt được ấy có thể được xác định bằng một sự duyệt xét thể nguyên nhân của môn sinh) và khi một nền tảng của đời sống đúng đắn đã được đặt ra, nền tảng mà bão tố hay công kích cũng khó có thể dễ dàng làm đảo lộn hay phá hủy, Huấn sư có thể truyền cho môn sinh chân thành những chỉ dẫn nhờ đó y có thể xây dựng, trong vật chất trí và theo những quy luật xác định, các hình tướng sẽ dẫn đến những hành động và phản ứng xác định. Những hình tướng này sẽ được truyền dạy dần dần, và đôi khi môn sinh (đặc biệt là lúc đầu) có thể hoàn toàn không ý thức chút nào về các kết quả đạt được. Y sẽ tuân theo mệnh lệnh, đọc những lời đã được truyền, hoặc làm việc theo các công thức đã được phác ra, và các kết quả đạt được có thể thực hiện công việc của chúng dù môn sinh không hề biết điều đó. Về sau—đặc biệt là sau điểm đạo, khi các năng lực vi tế hơn đi vào hoạt động, và các trung tâm đang xoay theo trật tự chiều thứ tư—y có thể ý thức được các tác động của tham thiền của mình trên các cõi cảm dục và trí.

Results never concern us. Strict obedience to the law, and steady adherence to the rules laid down, with skill in action aimed at are the part of the wise pupil. The effects then are sure, and carry no karma with them.

Kết quả không bao giờ là điều khiến chúng ta bận tâm. Sự vâng phục nghiêm ngặt đối với định luật, và sự tuân thủ bền bỉ các quy luật đã được đặt ra, cùng với kỹ năng trong hành động được nhắm đến, là phần việc của môn sinh khôn ngoan. Khi ấy các hiệu quả là chắc chắn, và không mang theo nghiệp quả nào.

…Let us take up each of the forms in order, but first I would give a warning. I do not intend to outline forms, or to give specific instructions as to how the results indicated may be achieved. That will be done later, but when, it is not possible to say. So much depends upon the work done during the next seven years, or on the group karma, also on the progress made, not only by the human hierarchy, but by the deva or angel evolution as well. The secret of it all lies hid in the seventh Ceremonial Ray, and the hour for the next step onward will [156] be given by the seventh Planetary Logos, working in conjunction with three Great Lords, especially with the Lord of the third department.

…Chúng ta hãy lần lượt xét từng hình tướng, nhưng trước hết tôi muốn đưa ra một lời cảnh báo. Tôi không có ý định phác thảo các hình tướng, hay đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về cách đạt được các kết quả đã nêu. Điều đó sẽ được làm về sau, nhưng khi nào thì không thể nói. Rất nhiều điều tùy thuộc vào công việc được thực hiện trong bảy năm tới, hoặc vào nghiệp quả nhóm, cũng như vào sự tiến bộ đạt được, không chỉ bởi thánh đoàn nhân loại, mà cả bởi tiến hóa của thiên thần hay thiên thần học nữa. Bí mật của tất cả nằm ẩn trong Cung Nghi Lễ thứ bảy, và giờ khắc cho bước tiến kế tiếp [156] sẽ được đưa ra bởi Hành Tinh Thượng đế thứ bảy, làm việc phối hợp với ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại, đặc biệt là với Đấng Chúa Tể của ban thứ ba.

a. Forms used in work on the three bodies.—a. Các hình tướng dùng trong công tác trên ba thể.

These forms will be some of the first revealed, and already in the various meditations advocated by the wise Guides of the race you have some of the lesser foundation outlines designed for working on the lower mind. These forms will be based on the special need of any one body, and will seek through the manipulation of matter to build that which is needed to fill the gap, and thus to supply the deficiency. This manipulation will be begun first on the etheric matter of the physical body, by forms of breathing (respiration and inspiration), and by certain rhythmic currents set up on the mental plane and driving from thence to the lower ethers. The etheric body will thus be strengthened, purified, cleansed, and rearranged. Many of the diseases of the dense physical body originate in the etheric, and it will be an object of attention at as early a date as possible.

Những hình tướng này sẽ là một số điều đầu tiên được mặc khải, và ngay trong các bài tham thiền được các Đấng Hướng Dẫn minh triết của nhân loại khuyến nghị, các bạn đã có một số phác thảo nền tảng nhỏ hơn được thiết kế để làm việc trên hạ trí. Những hình tướng này sẽ dựa trên nhu cầu đặc thù của bất kỳ một thể nào, và sẽ tìm cách, qua sự thao tác vật chất, xây dựng điều cần thiết để lấp đầy khoảng trống, và như vậy bù đắp sự thiếu hụt. Sự thao tác này sẽ được bắt đầu trước hết trên chất liệu dĩ thái của thể xác, bằng các hình tướng hô hấp (hô hấp và hít vào), và bằng một số dòng nhịp điệu được thiết lập trên cõi trí và từ đó thúc đẩy xuống các dĩ thái thấp. Nhờ vậy thể dĩ thái sẽ được tăng cường, thanh lọc, tẩy sạch, và sắp xếp lại. Nhiều bệnh tật của thể xác đậm đặc phát sinh trong thể dĩ thái, và nó sẽ là đối tượng được chú ý sớm nhất có thể.

The emotional body likewise will be dealt with through special forms, and when the pupil has strenuously cultivated the quality of discrimination, and made it a working factor in his life, then these forms will be gradually imparted. But until he can distinguish somewhat between the real and the unreal, and until his sense of proportion is wisely adjusted, the emotional plane should be for him a battle ground, and not a field for experimentation. Let me illustrate the type of work that these forms which work on emotional matter will accomplish. The aim of the pupil who treads the Path is to build an emotional body that is composed of matter of the higher subplanes, is clear and sensitive, an accurate transmitter, and which [157] is characterised by a stable vibration, a steady rhythmic motion, and is not prone to violent storms and the agitating effects of uncontrolled emotion. When the idealism is high, when the percentage of matter of the two higher subplanes is approaching somewhat the desired figure, and when the pupil recognises practically all the time that he is not his vehicles, but is indeed the divine Dweller within them, then certain things will be imparted to him, which—when carefully followed out—will do two things:

Thể cảm dục cũng sẽ được xử lý qua các hình tướng đặc biệt, và khi môn sinh đã kiên trì trau dồi phẩm chất phân biện, và biến nó thành một yếu tố vận hành trong đời sống của mình, thì những hình tướng này sẽ dần dần được truyền dạy. Nhưng cho đến khi y có thể phân biệt phần nào giữa cái thực và cái không thực, và cho đến khi Ý thức về tỉ lệ của y được điều chỉnh một cách minh triết, cõi cảm dục đối với y nên là một chiến trường, chứ không phải một cánh đồng để thử nghiệm. Hãy để tôi minh họa loại công việc mà những hình tướng tác động lên vật chất cảm dục sẽ hoàn thành. Mục tiêu của môn sinh bước đi trên Con Đường là xây dựng một thể cảm dục được cấu tạo bởi vật chất của các cõi phụ cao hơn, trong sáng và nhạy bén, là một bộ truyền đạt chính xác, và [157] được đặc trưng bởi một rung động ổn định, một chuyển động nhịp điệu đều đặn, và không dễ bị những cơn bão dữ dội cùng các tác động khuấy động của cảm xúc không được kiểm soát. Khi lý tưởng tính cao, khi tỷ lệ vật chất của hai cõi phụ cao hơn đang tiến gần phần nào đến con số mong muốn, và khi môn sinh hầu như luôn luôn nhận ra rằng y không phải là các vận cụ của mình, mà quả thật là Kẻ Chận Ngõ thiêng liêng ở bên trong chúng, thì một số điều nhất định sẽ được truyền cho y, những điều—khi được tuân theo cẩn trọng—sẽ làm hai việc:

– They will act directly on his emotional body, driving out foreign or lower matter, and stabilising his vibration.

Chúng sẽ tác động trực tiếp lên thể cảm dục của y, đẩy ra vật chất ngoại lai hay thấp kém, và ổn định rung động của y.

– They will build in emotional matter a body or form that he can use for certain work, and can employ as his agent to attain results that will be part of the purificatory and constructive work of the emotional body. This is as much as can be said, but it will serve to show the type of form aimed at.

Chúng sẽ xây dựng trong vật chất cảm dục một thể hay một hình tướng mà y có thể dùng cho một số công tác nhất định, và có thể sử dụng như tác nhân của mình để đạt các kết quả sẽ là một phần của công tác thanh lọc và kiến tạo của thể cảm dục. Đó là tất cả những gì có thể nói, nhưng như vậy đủ để cho thấy loại hình tướng được nhắm đến.

Again I would point out the wisdom of the heads of the inner school, for in their work these past years they have laid the foundation of much that is to be imparted later, and the rudiments of the forms that work on the lower 3 bodies have already been given; such, for instance, as the building in of the virtues, and the clear thinking along the lines of the abstract qualities that should be the result of meditation on the virtues. This can be later expanded into forms at need, the nucleus being already in the consciousness of the student.

Một lần nữa tôi muốn chỉ ra sự minh triết của các vị đứng đầu trường nội môn, vì trong công tác của họ suốt những năm qua họ đã đặt nền tảng cho nhiều điều sẽ được truyền dạy về sau, và những yếu tố sơ khởi của các hình tướng tác động lên ba thể thấp đã được trao truyền; chẳng hạn như việc xây dựng các đức hạnh, và tư duy rõ ràng theo các đường hướng của những phẩm chất trừu tượng vốn phải là kết quả của tham thiền về các đức hạnh. Về sau điều này có thể được mở rộng thành các hình tướng khi cần, vì hạt nhân đã có sẵn trong tâm thức của môn sinh.

b. Ray forms.—b. Các hình tướng cung.

This is a profoundly interesting and vast subject, and may only be indicated in general terms. Certain forms, built up on the numerical aspect of the various rays, are the special property of those rays and embody their geometrical significance, demonstrating their place in the system. Some of these forms being on the concrete rays or building rays are the line of least resistance for the occultist, while other forms on the abstract or attributive rays are more easily followed by the mystic.

Đây là một đề tài sâu sắc, rộng lớn và đầy hấp dẫn, và chỉ có thể được gợi ra bằng những thuật ngữ tổng quát. Một số hình tướng nhất định, được xây dựng dựa trên phương diện số học của các cung khác nhau, là sở hữu đặc thù của các cung ấy và thể hiện thâm nghĩa hình học của chúng, chứng tỏ vị trí của chúng trong hệ thống. Một số hình tướng này thuộc các cung cụ thể hay các cung kiến tạo là con đường ít trở ngại nhất đối với nhà huyền bí học, trong khi các hình tướng khác thuộc các cung trừu tượng hay các cung thuộc tính lại dễ được nhà thần bí theo hơn.

These forms are for three objects:—

Những hình tướng này nhằm ba mục tiêu:—

a. They put the pupil in direct contact with his own ray, either the egoic or personality ray.

Chúng đặt môn sinh vào sự tiếp xúc trực tiếp với cung của chính y, hoặc cung chân ngã hoặc cung phàm ngã.

b. They link him up with his group on the inner planes, either the group of servers, the group of invisible helpers, or later with his egoic group. [158]

Chúng liên kết y với nhóm của y trên các cõi bên trong, hoặc nhóm phụng sự, nhóm trợ giúp vô hình, hoặc về sau với nhóm chân ngã của y. [158]

c. They tend to merge the occult and the mystic paths in the life of the pupil. Should he be on the mystic path he will work at the forms upon the Rays of Aspect, and so develop knowledge of the concrete side of Nature—that side which works under law. You can reverse the case for the man of occult tendency, till the time comes when the paths merge and all forms are alike to the Initiate. You have to remember that at this point of merging a man works ever primarily on his own ray when he has transcended the personality and found the egoic note. Then he manipulates matter of his own ray, and works through his own ray-forms with their six representative sub-ray forms until he is adept, and knows the secret of synthesis. These forms are taught by the Teacher to the pupil.

Chúng có khuynh hướng dung hợp con đường huyền bí và con đường thần bí trong đời sống của môn sinh. Nếu y ở trên con đường thần bí, y sẽ làm việc với các hình tướng trên Các Cung Trạng Thái, và như vậy phát triển tri thức về mặt cụ thể của bản chất—mặt vận hành dưới định luật. Các bạn có thể đảo ngược trường hợp ấy đối với người có khuynh hướng huyền bí học, cho đến khi thời điểm đến mà các con đường hòa nhập và mọi hình tướng đều như nhau đối với điểm đạo đồ. Các bạn phải nhớ rằng tại điểm hòa nhập này, một người luôn làm việc trước hết trên chính cung của mình khi y đã vượt lên trên phàm ngã và tìm ra âm điệu chân ngã. Khi ấy y thao tác vật chất của chính cung mình, và làm việc qua các hình tướng cung của mình với sáu hình tướng cung phụ đại diện của chúng cho đến khi y là một chân sư, và biết bí mật của sự tổng hợp. Những hình tướng này được Huấn sư dạy cho môn sinh.

You will find that though I have imparted but little on this subject, yet, if you brood over what I have given, it contains much. It may give those who wisely assimilate it the key they seek for their next step on. I may touch on this and somewhat enlarge when we take up the subject of access to the Masters through meditation.

Các bạn sẽ thấy rằng dù Tôi đã truyền dạy rất ít về đề tài này, tuy vậy, nếu các bạn trầm tư về điều Tôi đã trao, nó chứa đựng nhiều điều. Nó có thể trao cho những ai đồng hóa nó một cách minh triết chiếc chìa khóa mà họ tìm kiếm cho bước tiến kế tiếp. Tôi có thể chạm đến điều này và mở rộng phần nào khi chúng ta bàn đến đề tài tiếp cận các Chân sư qua tham thiền.

[Commentary 36]

c. Forms used in healing.—c. Các hình tướng dùng trong trị liệu.

We must touch now on these forms, remembering first of all that they will be necessarily arranged in three groups, each with many subsidiary heads.

Giờ đây chúng ta phải chạm đến các hình tướng này, trước hết nhớ rằng chúng tất yếu sẽ được sắp xếp thành ba nhóm, mỗi nhóm có nhiều đề mục phụ.

a. Forms for use in physical healing. You would be surprised how seldom these forms will be required, and how few in number therefore they are. The reason for this is that very few of the troubles of the dense physical body arise within that body itself. A few arise directly in the etheric body, but at this stage of evolution most of the troubles arise in the emotional body, and the remainder in the mental. We might generalise and say that: [159]

Các hình tướng dùng trong trị liệu thể xác. Các bạn sẽ ngạc nhiên vì những hình tướng này hiếm khi cần đến, và vì vậy số lượng của chúng rất ít. Lý do là rất ít rắc rối của thể xác đậm đặc phát sinh ngay trong chính thể ấy. Một số ít phát sinh trực tiếp trong thể dĩ thái, nhưng ở giai đoạn tiến hoá này, phần lớn rắc rối phát sinh trong thể cảm dục, và phần còn lại trong thể trí. Chúng ta có thể khái quát và nói rằng: [159]

– 25% of the ills flesh is heir to, arise in the etheric body.

25% các chứng bệnh mà xác thịt phải thừa hưởng, phát sinh trong thể dĩ thái.

– 25% in the mental body.

25% trong thể trí.

– 50% find their origin in the emotional body.

50% có nguồn gốc trong thể cảm dục.

Therefore, though accidents may occur which lead to unexpected physical disaster and for which forms for healing may be given, yet the wise student will find that the forms that affect the etheric body may be the first point of departure. These forms, built up in meditation, will act directly on the pranic channels that go to the makeup of the etheric—that intricate web which has its counterpart in the circulatory system of the dense physical body. They are the seat of much of the present disease in that body, either directly or through causes set up on the emotional plane and reacting on the etheric.

Vì vậy, mặc dù có thể xảy ra tai nạn dẫn đến thảm họa thể xác bất ngờ và vì thế có thể ban cho các hình tướng trị liệu, tuy nhiên môn sinh minh triết sẽ thấy rằng các hình tướng tác động đến thể dĩ thái có thể là điểm khởi hành đầu tiên. Những hình tướng này, được xây dựng trong tham thiền, sẽ tác động trực tiếp lên các kinh mạch prana tạo nên thể dĩ thái—mạng lưới tinh vi ấy có đối phần của nó trong hệ tuần hoàn của thể xác đậm đặc. Chúng là nơi trú ngụ của nhiều bệnh tật hiện nay trong thể ấy, hoặc trực tiếp, hoặc do các nguyên nhân được thiết lập trên cõi cảm dục và phản ứng lên thể dĩ thái.

b. Forms for healing the emotional body. As said above, much of the present sickness is due to causes set up in the emotional body and these causes are mainly three. I would point out that I but outline broadly and give general indications.

Các hình tướng để trị liệu thể cảm dục. Như đã nói ở trên, nhiều bệnh tật hiện nay là do các nguyên nhân được thiết lập trong thể cảm dục và các nguyên nhân ấy chủ yếu là ba. Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi chỉ phác thảo rộng và đưa ra những chỉ dẫn tổng quát.

Violent emotion and unstable vibration. This, if indulged in, has a shattering effect and reacts on the nervous system. If suppressed and inhibited it has an equally dangerous effect, and results in a diseased condition of the liver, in bilious attacks, in the poisons which are generated in the system and find their outlet in certain cases of septic poisoning, in skin diseases, and in some forms of anemia.

Cảm xúc dữ dội và rung động bất ổn. Nếu buông thả, điều này có tác động phá vỡ và phản ứng lên hệ thần kinh. Nếu bị đè nén và ức chế, nó cũng nguy hiểm không kém, và dẫn đến tình trạng bệnh lý của gan, các cơn phát mật, các độc tố được tạo ra trong hệ thống và trong một số trường hợp tìm lối thoát qua nhiễm độc huyết, bệnh ngoài da, và một số dạng thiếu máu.

Fear and forebodings[1], worry and despair. These types of emotion—which are so common—have a general debilitating effect on the system, leading to loss of vitality, to sluggish action of the organs, and to many forms of obscure diseases of the nervous system, of the brain and of the spine. [160]

Sợ hãi và điềm gở, lo lắng và tuyệt vọng. Những loại cảm xúc này—vốn rất phổ biến—có tác động làm suy nhược toàn hệ thống, dẫn đến mất sinh lực, hoạt động trì trệ của các cơ quan, và nhiều dạng bệnh mơ hồ của hệ thần kinh, của bộ não và của cột sống. [160]

Sex emotions, covering a very large range of feeling, ranging from the suppressed sex emotion which is now beginning to be studied by our psychologists to the unclean criminal emotion that finds its expression in violent orgies[2] and license[3].

Cảm xúc tính dục, bao trùm một phạm vi cảm giác rất rộng, từ cảm xúc tính dục bị đè nén mà hiện nay các nhà tâm lý học của chúng ta đang bắt đầu nghiên cứu cho đến cảm xúc tội phạm ô uế biểu lộ qua những cuộc hoan lạc cuồng bạo và phóng túng.

Under all these heads many points may be gathered, but I write not letters on healing, but letters on meditation, so I must not further enlarge. Should you cover the ground desired and finish the work mapped out, in future years I may to you impart certain data on healing that may be of wide usefulness.

Dưới tất cả các đề mục này có thể thu thập nhiều điểm, nhưng Tôi không viết thư về trị liệu, mà viết thư về tham thiền, vì vậy Tôi không được mở rộng thêm. Nếu các bạn bao quát được phạm vi mong muốn và hoàn tất công việc đã được vạch ra, trong những năm tới Tôi có thể truyền cho các bạn một số dữ liệu về trị liệu có thể hữu ích rộng rãi.

In the forms used in these three cases attention will be paid to the cause of the trouble, to the plane on which it originates, and to the effects on the lower bodies or body. In apportioning forms different aims will be in view. Where, for instance, the trouble is based on suppressed emotion, the effect of the form (when rightly followed) will be to transmute the emotion and turn it upward. When, by right use, the emotional body is cleared of the emotional congestion, the life-giving forces of the Ego, and of the pranic life everywhere available, will be set free. They can then circulate with facility, tuning up the entire system and cleansing all organs that were suffering from the inner congestion.

Trong các hình tướng được dùng trong ba trường hợp này, sự chú ý sẽ được đặt vào nguyên nhân của rắc rối, vào cõi nơi nó phát sinh, và vào các tác động lên thể hay các thể thấp. Khi phân bổ các hình tướng, những mục tiêu khác nhau sẽ được nhắm đến. Chẳng hạn, khi rắc rối dựa trên cảm xúc bị đè nén, tác dụng của hình tướng (khi được tuân theo đúng) sẽ là chuyển hoá cảm xúc và hướng nó lên trên. Khi, nhờ sử dụng đúng, thể cảm dục được giải tỏa khỏi sự ứ tắc cảm dục, các mãnh lực ban sự sống của Chân ngã, và của sinh lực prana sẵn có khắp nơi, sẽ được giải phóng. Khi ấy chúng có thể lưu thông dễ dàng, điều chỉnh toàn bộ hệ thống và tẩy sạch mọi cơ quan đang chịu khổ vì sự ứ tắc bên trong.

c. Forms for mental healing. These will be, for the majority of you, much more obscure, and in fact mental trouble is far more difficult to cure than either of the other two. This is due to two causes, one being that our polarisation as a race is not yet in the mental body. It is always much more easy to contact a body and to manipulate it when it is the seat of the centre of consciousness. The emotional body likewise, being more fluidic, is more easily impressed. I cannot enlarge upon the troubles of the mental body today save to point out that these causes may arise within the mental body itself as a karmic inheritance, or may originate on the emotional plane and work their way back into the mental body. For instance, [161] a person may be prone to some emotional storm. This—if persisted in—may set up an analogous vibration in the mental body. This vibration in its turn may become practically permanent, and by the interaction of these two bodies serious trouble may be set up. This trouble may go all the way from simply causing a general souring of the Personality, so that the man is recognized as an unhappy, unpleasant individual, to definite brain disease, resulting in lunacy, brain tumours and cancer in the head.

Các hình tướng để trị liệu thể trí. Đối với đa số các bạn, những hình tướng này sẽ mơ hồ hơn nhiều, và thực tế rắc rối thể trí khó chữa hơn rất nhiều so với hai loại kia. Điều này là do hai nguyên nhân, một nguyên nhân là sự phân cực của nhân loại chúng ta chưa ở trong thể trí. Luôn luôn dễ tiếp xúc một thể và thao tác nó hơn khi nó là nơi đặt trung tâm tâm thức. Thể cảm dục cũng vậy, vì linh động hơn, nên dễ được in dấu hơn. Hôm nay Tôi không thể mở rộng về các rắc rối của thể trí ngoài việc chỉ ra rằng các nguyên nhân này có thể phát sinh ngay trong thể trí như một di sản nghiệp quả, hoặc có thể phát sinh trên cõi cảm dục và lần ngược trở lại vào thể trí. Chẳng hạn, [161] một người có thể dễ rơi vào một cơn bão cảm xúc nào đó. Điều này—nếu kéo dài—có thể thiết lập một rung động tương tự trong thể trí. Rung động này đến lượt nó có thể trở nên gần như thường trực, và do sự tương tác của hai thể này, rắc rối nghiêm trọng có thể được thiết lập. Rắc rối này có thể đi từ việc chỉ gây ra một sự chua chát chung trong phàm ngã, khiến người ấy được nhận biết như một cá nhân bất hạnh, khó chịu, cho đến bệnh lý bộ não rõ rệt, dẫn đến điên loạn, u não và ung thư ở đầu.

For all these troubles forms of meditation may be found which—if followed in time—will eventually dissipate them. The fundamental fact to be grasped here is that only when the pupil has an intelligent appreciation of the trouble or troubles affecting him, only when he has the ability to conscientiously follow the imparted formulas, and only when his object is unselfish, will he be trusted with these forms. When his object is to equip himself for service, when he aims only at the acquirement of healthy vehicles for the better carrying out of the plan of the Great Ones, and when he desires not to escape disease for his own personal benefit, only then will the formulas work in connection with the egoic consciousness. The downflow of life from the God within results in sound vehicles, so that it is only as the Personality becomes merged in the Ego, and the polarisation shifts from the lower to the higher that the work becomes possible. That time is nearing now for many, and progress in the new medical school—based on thought—can be looked for. Forms in meditation are but forms in thought matter, so that it will be apparent to you that a general beginning has been made.

Đối với tất cả những rắc rối này có thể tìm ra các hình tướng tham thiền mà—nếu được theo kịp thời—cuối cùng sẽ làm tiêu tan chúng. Sự kiện căn bản cần nắm bắt ở đây là: chỉ khi môn sinh có sự thấu hiểu thông minh về rắc rối hay các rắc rối đang ảnh hưởng mình, chỉ khi y có khả năng tuân theo một cách tận tâm các công thức đã được truyền, và chỉ khi mục tiêu của y là vô tư, thì y mới được tin cậy để giao cho các hình tướng này. Khi mục tiêu của y là tự trang bị để phụng sự, khi y chỉ nhắm đến việc đạt được các vận cụ lành mạnh để thực hiện tốt hơn Thiên Cơ của Các Đấng Cao Cả, và khi y không mong thoát bệnh vì lợi ích cá nhân của mình, chỉ khi ấy các công thức mới vận hành trong liên hệ với tâm thức chân ngã. Dòng tuôn đổ của sự sống từ Thượng đế bên trong tạo ra các vận cụ lành mạnh, vì vậy chỉ khi phàm ngã được dung nhập vào Chân ngã, và sự phân cực chuyển từ thấp lên cao thì công việc mới trở nên khả thi. Thời điểm ấy hiện đang đến gần đối với nhiều người, và có thể trông đợi sự tiến bộ trong trường y học mới—dựa trên tư tưởng. Các hình tướng trong tham thiền chỉ là các hình tướng trong vật chất tư tưởng, vì vậy các bạn sẽ thấy rõ rằng một sự khởi đầu tổng quát đã được thực hiện.

One more hint on this matter I give:—Through the various centres of the body—those seven centres with [162] which the pupil has to do—will come the power to heal the corresponding physical centre. As the centres are vitalised certain physical effects will be demonstrable, and in specific forms that work on and through the centres will come results that may throw light on this obscure matter of healing through the subtle bodies.

Tôi đưa thêm một gợi ý về vấn đề này:—Qua các trung tâm khác nhau của cơ thể—bảy trung tâm mà [162] môn sinh phải xử lý—sẽ đến quyền năng để trị liệu trung tâm thể xác tương ứng. Khi các trung tâm được tiếp sinh lực, một số hiệu quả thể xác sẽ có thể được chứng minh, và trong các hình tướng xác định tác động lên và qua các trung tâm sẽ xuất hiện những kết quả có thể soi sáng vấn đề mơ hồ này về trị liệu qua các thể vi tế.

[Commentary 37]

August 20, 1920.

Ngày 20 tháng 8, 1920.

d. Mantric forms.—d. Các hình tướng mantram.

We must today continue the discussion on the forms that will some day be in common use among the students of occult meditation. We have touched upon three of the forms, and five more remain to be dealt with.

Ngày nay chúng ta phải tiếp tục cuộc thảo luận về các hình thức mà một ngày nào đó sẽ được dùng phổ biến trong giới đạo sinh tham thiền huyền bí. Chúng ta đã chạm đến ba hình thức, và còn năm hình thức nữa cần được bàn đến.

What is mantric form?—Hình thức mantram là gì?

Mantric forms are collections of phrases, words, and sounds which by virtue of rhythmic effect achieve results that would not be possible apart from them. These mantric forms are too numerous to study here; suffice it to indicate somewhat the types of mantrams there will be in use, or are now in use among those privileged to use them.

Các hình thức mantram là những tập hợp các cụm từ, từ ngữ và âm thanh mà nhờ tác dụng nhịp điệu, chúng đạt được những kết quả vốn không thể có nếu thiếu chúng. Các hình thức mantram này quá nhiều để có thể khảo cứu tại đây; chỉ cần nêu sơ lược các loại mantram sẽ được dùng, hoặc hiện đang được dùng bởi những người được đặc ân sử dụng chúng.

There are mantric forms based entirely on the Sacred Word. These, sounded rhythmically and on certain keys, accomplish certain results, such as the invoking of protective angels; they lead to certain effects, either objective or subjective. These forms or mantrams are much more in use among orientals and in the eastern faiths than at present among occidentals. As the power of sound is more completely understood and its effect studied, these mantrams will be adopted in the occident.

Có những hình thức mantram hoàn toàn dựa trên Linh từ Thiêng Liêng. Những hình thức này, khi được xướng theo nhịp điệutheo những chủ âm nhất định, sẽ thực hiện những kết quả nhất định, như khẩn cầu các thiên thần bảo hộ; chúng dẫn đến những hiệu quả, hoặc khách quan hoặc chủ quan. Những hình thức hay mantram này được dùng nhiều hơn nơi người phương Đông và trong các tín ngưỡng phương Đông, so với hiện nay nơi người phương Tây. Khi quyền năng của âm thanh được thấu hiểu đầy đủ hơn và tác dụng của nó được nghiên cứu, các mantram này sẽ được tiếp nhận ở phương Tây.

Some of them are very old and when enunciated in the original Sanskrit have unbelievably powerful effects. So powerful are they that they are not permitted to be [163] known by the ordinary student and are only orally imparted during preparation for initiation.

Một số trong đó rất cổ xưa và khi được phát âm bằng tiếng Phạn nguyên thủy thì tạo ra những tác dụng mạnh mẽ đến khó tin. Chúng mạnh đến mức không được phép để [163] đạo sinh bình thường biết, và chỉ được truyền khẩu trong thời kỳ chuẩn bị cho điểm đạo.

There are a few very esoteric mantrams that exist in the original Sensa, and that have remained in the knowledge of the Brotherhood from the early days of the founding of the Hierarchy. They were brought by the Lords of Flame when They came to earth and are only thirty-five in number. They form the key that unlocks the mysteries of each subplane on the five planes of human evolution. The adept receives instruction on their use, and can employ them in the right place and subject to certain conditions. They are the most powerful known on our planet and their effects are far-reaching. As you know, each plane vibration responds to a different key and note, and its matter is manipulated, and its current tapped, by the sounding of certain words in a specific manner, and in a specific tone. When so sounded, the adept enters into the consciousness of that plane and of all contained therein. Mantrams in any tongue are founded on them, even though so far removed and unlike as to be practically useless.

Có một vài mantram rất nội môn tồn tại trong ngôn ngữ Sensa nguyên thủy, và đã được Huynh đệ Đoàn lưu giữ trong tri thức từ những ngày đầu thành lập Thánh Đoàn. Chúng được các Đấng Chúa Tể Lửa mang đến khi Các Ngài đến Trái Đất và chỉ có ba mươi lăm câu. Chúng tạo thành chiếc chìa khóa mở ra các huyền nhiệm của mỗi cõi phụ trên năm cõi của tiến hoá nhân loại. Chân sư được chỉ dạy về cách sử dụng chúng, và có thể vận dụng chúng đúng nơi, tùy theo những điều kiện nhất định. Chúng là những mantram mạnh nhất được biết trên hành tinh chúng ta và tác dụng của chúng lan xa. Như các bạn biết, mỗi rung động của một cõi đáp ứng với một chủ âm và một âm điệu khác nhau, và vật chất của cõi ấy được thao tác, và dòng lực của nó được khai thác, bằng việc xướng một số từ ngữ theo một cách thức đặc thù, và trong một âm sắc đặc thù. Khi được xướng như vậy, chân sư đi vào tâm thức của cõi ấy và của mọi sự được chứa trong đó. Mantram trong bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều đặt nền trên chúng, dù đã xa rời và khác biệt đến mức hầu như vô dụng.

Certain of these original mantrams are chanted in unison by the Brotherhood on great occasions, or when the united power of the Lodge is required to effect desired ends. Great events are inaugurated by the sounding of their key note with appropriate words employed; each root-race has its mantric chord known to those who work with races.

Một số mantram nguyên thủy này được Huynh đệ Đoàn xướng đồng thanh trong những dịp trọng đại, hoặc khi cần quyền năng hợp nhất của Thánh đoàn để đạt những mục đích mong muốn. Những biến cố lớn được khai mở bằng việc xướng chủ âm then chốt của chúng cùng với những lời thích hợp; mỗi giống dân gốc có một hợp âm mantram của riêng mình, được những người làm việc với các giống dân biết đến.

Again there are, as you know, certain mantrams in Sanskrit that are employed by students in meditation to call the attention of some one Master. These mantrams are communicated to Their disciples, and by their means the Master’s attention is attracted, and His assistance called for. [164]

Lại nữa, như các bạn biết, có một số mantram tiếng Phạn được các đạo sinh dùng trong tham thiền để kêu gọi sự chú ý của một Chân sư nào đó. Những mantram này được truyền cho các đệ tử của Các Ngài, và nhờ chúng mà sự chú ý của Chân sư được thu hút, và sự trợ giúp của Ngài được khẩn cầu. [164]

Other and greater formulas are sometimes imparted by which the three Great Lords may be contacted, and Their attention drawn in any specific direction.

Những công thức khác và cao hơn đôi khi được truyền, nhờ đó ba Đức Chúa Tể Vĩ Đại có thể được tiếp xúc, và sự chú ý của Các Ngài được hướng về bất kỳ phương diện đặc thù nào.

A mantram, when rightly sounded forth, creates a vacuum in matter, resembling a funnel. This funnel is formed betwixt the one who sounds it forth and the one who is reached by the sound. There is then formed a direct channel of communication. You will see therefore why it is that these forms are so carefully guarded and the words and keys concealed. Their indiscriminate use would but result in disaster. A certain point in evolution has to be reached, and a similarity of vibration somewhat achieved, before the privilege is afforded the pupil of being custodian of a mantram whereby he may call his Master.

Một mantram, khi được xướng đúng cách, tạo ra một khoảng chân không trong vật chất, giống như một cái phễu. Cái phễu này được hình thành giữa người xướng và người được âm thanh chạm đến. Khi ấy, một kênh giao tiếp trực tiếp được tạo lập. Vì vậy các bạn sẽ thấy tại sao những hình thức này được canh giữ cẩn mật đến thế, và các từ ngữ cùng chủ âm bị che giấu. Việc sử dụng bừa bãi chỉ đưa đến tai họa. Một điểm tiến hoá nhất định phải được đạt đến, và một sự tương đồng rung động nào đó phải được thành tựu, trước khi người học được ban đặc ân làm người gìn giữ một mantram nhờ đó y có thể gọi Chân sư của mình.

There are also seven mantrams that are known to the three Great Lords and the Heads of the Hierarchy, whereby They can call the seven Planetary Logoi, or the seven “Spirits before the Throne” as They are called in the Christian Bible. One of these mantrams, which causes contact with the Logos of our planet, is known to the adepts as well. So the scale is mounted, and the Words are sounded forth, until we reach the mantram of our planet, which is based on the key of the Earth, and embodies a phrase which sums up our evolution. Each planet has some such note or phrase whereby its guides may contact their Planetary Logos. The seven Logoi in Their turn have Their available ritual or form whereby They can communicate with the threefold Lord of the Solar System. This is done always four times a year, or when urgent need arises.

Cũng có bảy mantram được ba Đức Chúa Tể Vĩ Đại và các vị Thủ Lãnh của Thánh Đoàn biết đến, nhờ đó Các Ngài có thể gọi bảy Hành Tinh Thượng đế, hay bảy “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai” như được gọi trong Kinh Thánh Cơ Đốc. Một trong các mantram này, vốn tạo ra sự tiếp xúc với Thượng đế của hành tinh chúng ta, cũng được các chân sư biết. Vì vậy thang bậc được leo lên, và các Linh từ được xướng ra, cho đến khi chúng ta đạt đến mantram của hành tinh chúng ta, vốn dựa trên chủ âm của Trái Đất, và hàm chứa một cụm từ tóm lược tiến hoá của chúng ta. Mỗi hành tinh đều có một âm điệu hay cụm từ như thế, nhờ đó các vị hướng đạo của nó có thể tiếp xúc với Hành Tinh Thượng đế của mình. Bảy Hành Tinh Thượng đế, đến lượt Các Ngài, có nghi lễ hay hình thức khả dụng để giao tiếp với Đức Chúa Tể tam phân của hệ mặt trời. Điều này luôn được thực hiện bốn lần mỗi năm, hoặc khi có nhu cầu khẩn cấp.

Once a year the entire Hierarchy employs a composite mantram that creates a vacuum between the highest and the lowest members of that Hierarchy and on up—via the seven Planetary Logoi—to the Logos Himself. It marks [165] the moment of intensest spiritual effort and vitalisation during the year, and its effects last throughout the intervening months. Its effect is cosmic, and links us up with our cosmic centre.

Mỗi năm một lần, toàn thể Thánh Đoàn sử dụng một mantram tổng hợp tạo ra một khoảng chân không giữa các thành viên cao nhất và thấp nhất của Thánh Đoàn ấy và vươn lên—qua bảy Hành Tinh Thượng đế—đến chính Thượng đế. Nó đánh dấu [165] thời khắc nỗ lực tinh thần và sự tiếp sinh lực mãnh liệt nhất trong năm, và tác dụng của nó kéo dài suốt các tháng xen giữa. Tác dụng của nó mang tính vũ trụ, và nối kết chúng ta với trung tâm vũ trụ của mình.

Ray mantrams. —Mantram theo cung.

Each ray has its own formulas and sounds which have a vital effect upon the units gathered on those rays. The effect of sounding it by the student of meditation is threefold:

Mỗi cung có những công thức và âm thanh riêng, có tác dụng thiết yếu đối với các đơn vị tụ hội trên những cung ấy. Tác dụng của việc đạo sinh tham thiền xướng chúng là tam phân:

1. It links him and aligns him with his Higher self or Ego.

Nó nối kết và chỉnh hợp y với chân ngã hay Chân ngã của y.

2. It puts him in contact with his Master, and through that Master with one of the great Lords,—dependent upon the ray.

Nó đặt y vào sự tiếp xúc với Chân sư của y, và qua Chân sư ấy với một trong các Đức Chúa Tể vĩ đại,—tùy theo cung.

3. It links him with his egoic group and binds all into one composite whole, vibrating to one note.

Nó nối kết y với nhóm chân ngã của y và kết buộc tất cả thành một toàn thể tổng hợp, rung động theo một âm điệu.

These mantrams are one of the secrets of the last three initiations and may not be sounded by the pupil before that time without permission, though he may participate at times in the chanting of the mantram under the Master’s direction.

Những mantram này là một trong các bí mật của ba lần điểm đạo cuối và người học không được xướng trước thời điểm ấy nếu không có phép, dù đôi khi y có thể tham dự việc xướng mantram dưới sự chỉ đạo của Chân sư.

Mantrams, or formulas of words, sung by the pupil, which have direct effect on one of the three bodies. These mantrams are largely already in use—though in a much distorted degree – in the services of the religious bodies in all lands. Some light on them is being communicated and will be more so in the ritual of the Church……… in the LCC [Liberal Catholic Church], and CWL is already laying a foundation for fuller knowledge. The passwords as used in Masonry – though practically valueless now – are based on the use of mantrams and some day when there is an Initiate Head to all these organizations (such as Masonry, various esoteric societies, and religious bodies) the old mantrams will be given back in pure form to the peoples.

Các mantram, hay công thức từ ngữ, do người học xướng lên, có tác dụng trực tiếp trên một trong ba thể. Những mantram này phần lớn đã được dùng—dù ở mức độ bị bóp méo rất nhiều – trong các nghi lễ phụng vụ của các tổ chức tôn giáo ở mọi quốc gia. Một ít ánh sáng về chúng đang được truyền đạt và sẽ còn nhiều hơn trong nghi lễ của Giáo hội……… trong LCC [Giáo Hội Công Giáo Tự Do], và CWL hiện đang đặt nền tảng cho tri thức đầy đủ hơn. Các mật khẩu như được dùng trong Hội Tam Điểm – dù nay hầu như vô giá trị – dựa trên việc sử dụng mantram, và một ngày nào đó khi có một vị Thủ Lãnh điểm đạo cho tất cả các tổ chức ấy (như Hội Tam Điểm, các hội nội môn khác nhau, và các tổ chức tôn giáo) thì các mantram cổ xưa sẽ được trao trả lại cho các dân tộc trong hình thức thuần khiết.

[166]

[166]

There are also mantrams for use in healing, and for the development of certain psychic faculties. Some mantrams have a direct effect on the centres of the body, and will later be used under the guidance of the Master for increasing vibration, for causing fourth dimensional movement, and for the complete vivification of the centre.

Cũng những mantram dùng trong trị liệu, và để phát triển một số năng lực thông linh. Một số mantram có tác dụng trực tiếp lên các trung tâm của thể xác, và về sau sẽ được dùng dưới sự hướng dẫn của Chân sư để gia tăng rung động, để gây ra chuyển động chiều thứ tư, và để tiếp sinh lực hoàn toàn cho trung tâm.

Still other mantrams act upon the hidden fire, but I will deal with them a little later. There are numerous oriental books on the subject, which is so vast a one that I caution the student from investigating much. It would but prove for the worker in the world a waste of time. I have touched upon the matter because no book on meditation would be complete without a reference to what will some day supersede all preliminary meditation. When the race has reached a certain point of development, and when the higher mind holds greater sway, these occult mantrams—rightly imparted and rightly enunciated—will be part of the ordinary curriculum of the student. He will start his meditation by the use of his ray mantram, thereby adjusting his position in the scheme; he will follow this with the mantram that calls his Master, and which puts him en rapport with the Hierarchy. Then he will begin to meditate with his bodies adjusted, and with the vacuum formed that may then be used as a medium of communication.

Còn những mantram khác tác động lên ngọn lửa ẩn tàng, nhưng Tôi sẽ bàn về chúng một chút sau. Có nhiều sách phương Đông về đề tài này, vốn quá rộng lớn đến mức Tôi cảnh báo đạo sinh đừng khảo cứu nhiều. Điều đó chỉ chứng tỏ là lãng phí thời gian đối với người hoạt động trong thế gian. Tôi đã chạm đến vấn đề này vì không một cuốn sách nào về tham thiền có thể trọn vẹn nếu không nhắc đến điều mà một ngày nào đó sẽ thay thế mọi tham thiền sơ khởi. Khi nhân loại đã đạt đến một điểm phát triển nhất định, và khi thượng trí nắm quyền chi phối lớn hơn, thì những mantram huyền bí này—được truyền đúng cách và được phát âm đúng cách—sẽ là một phần của chương trình học thông thường của đạo sinh. Y sẽ bắt đầu bài tham thiền của mình bằng việc dùng mantram theo cung của y, nhờ đó điều chỉnh vị trí của y trong hệ thống; y sẽ tiếp theo bằng mantram gọi Chân sư của y, và đặt y vào sự tương thông với Thánh Đoàn. Rồi y sẽ bắt đầu tham thiền với các thể đã được điều chỉnh, và với khoảng chân không đã được tạo lập để có thể dùng như một môi trường giao tiếp.

August 13th, 1920

Ngày 13 tháng 8, 1920

[Commentary 38]

e. Forms used in one of the three departments.—e. Các hình thức được dùng trong một trong ba ban.

The interest of what I have to communicate today is very great, for we have to take up the matter of the forms used in the Departments of the Manu, the World Teacher and the Mahachohan, the Lord of Civilisation.

Mối quan tâm của điều Tôi phải truyền đạt hôm nay là rất lớn, vì chúng ta phải đề cập đến vấn đề các hình thức được dùng trong các Ban của Đức Manu, Đức Chưởng Giáo và Đức Mahachohan, Chúa Tể của Nền Văn Minh.

These three Departments represent in the Hierarchy the three aspects of the Logos as manifested in the solar [167] system,—the Aspect of Will or Power, the Aspect of Love and Wisdom (which is the basic aspect for this system), and the Aspect of Activity or Intelligence. You know from your studies the work undertaken by these departments.

Ba Ban này đại diện trong Thánh Đoàn cho ba phương diện của Thượng đế được biểu hiện trong [167] hệ mặt trời,—Phương diện Ý Chí hay Quyền Năng, Phương diện Bác Ái và Minh Triết (là phương diện nền tảng của hệ thống này), và Phương diện Hoạt Động hay Trí Tuệ. Các bạn biết từ những nghiên cứu của mình công việc do các ban này đảm trách.

The Manu manipulates matter and is occupied with the evolution of form, whether it is the dense physical form of animal, mineral, flower, human being or planet, or the form of races, nations, devas or the other evolutions.

Đức Manu thao tác vật chất và bận rộn với tiến hoá của hình tướng, dù đó là hình tướng hồng trần đậm đặc của thú vật, kim thạch, hoa cỏ, con người hay hành tinh, hoặc là hình tướng của các giống dân, quốc gia, thiên thần hay các tiến hoá khác.

The Bodhisattva or World Teacher works with the evolving life within the form, with the implanting of religious ideas and with the development of philosophical concepts both in individuals and races.

Đức Bồ Tát hay Đức Chưởng Giáo làm việc với sự sống đang tiến hoá bên trong hình tướng, với việc gieo cấy các ý niệm tôn giáo và với sự phát triển các khái niệm triết học trong cả cá nhân lẫn các giống dân.

The Mahachohan, who synthesises the four lower rays, deals with mind or intelligence, and, in collaboration with His Brothers, controls the evolution of mind whereby the Spirit or Self utilises the form or the Not-Self.

Đức Mahachohan, Đấng tổng hợp bốn cung thấp, đề cập đến thể trí hay trí tuệ, và, trong sự cộng tác với các huynh đệ của Ngài, kiểm soát tiến hoá của thể trí nhờ đó tinh thần hay Bản Ngã sử dụng hình tướng hay Phi-Ngã.

The synthetic work of the three Great Lords is inconceivably great. Form-Life-Intelligence, Matter-Spirit-Mind, Prakriti-Purusha-Manas, are the three lines of development, and in their synthesis comes completeness.

Công việc tổng hợp của ba Đức Chúa Tể Vĩ Đại là lớn lao đến không thể tưởng. Hình tướng–Sự sống–Trí tuệ, Vật chất–Tinh thần–Thể trí, Prakriti–Purusha–Manas, là ba tuyến phát triển, và trong sự tổng hợp của chúng xuất hiện sự viên mãn.

Each of these three lines works through formulas, or through set forms, which by graded steps put the man who employs the form in touch with the particular line of evolution represented by the Head of that line.

Mỗi tuyến trong ba tuyến này hoạt động qua các công thức, hay qua những hình thức định sẵn, mà bằng các bước phân cấp sẽ đặt người sử dụng hình thức ấy vào sự tiếp xúc với tuyến tiến hoá đặc thù do vị Thủ Lãnh của tuyến ấy đại diện.

(Yes, brother of mine, make another diagram here that will illustrate clearly the lines followed. The Master Who worketh with the Master R- on the 7th Ray is not yet to be indicated. He preferreth to keep His Name unknown. You must remember in publishing this diagram to point out that it is an outline of the Hierarchy at the moment of transcribing, and e’en then only giveth the outstanding Figures as regards human evolution.

(Vâng, huynh đệ của tôi, hãy vẽ thêm một sơ đồ ở đây để minh hoạ rõ ràng các tuyến được theo. Chân sư làm việc với Chân sư R- trên cung bảy hiện chưa được nêu ra. Ngài thích giữ Danh của Ngài ẩn danh. Các bạn phải nhớ khi xuất bản sơ đồ này cần chỉ rõ rằng đó là phác thảo Thánh Đoàn vào thời điểm chép lại, và ngay cả như vậy cũng chỉ nêu các Nhân Vật nổi bật liên quan đến tiến hoá nhân loại.

A similar diagram from the standpoint of the deva evolution would carry different names and be somewhat differently arranged. All is subject to constant change and alteration, for Masters pass on to different work, or hand over parts of Their arduous tasks to qualified initiates or disciples.)

Một sơ đồ tương tự từ quan điểm tiến hoá của thiên thần sẽ mang những danh xưng khác và được sắp xếp hơi khác. Tất cả đều tùy thuộc vào sự thay đổi và điều chỉnh liên tục, vì các Chân sư chuyển sang công việc khác, hoặc trao lại một phần các nhiệm vụ nặng nề của Các Ngài cho các điểm đạo đồ hay đệ tử đủ tư cách.)

…………….What I seek to bring out here are the three clear lines whereby a man may mount to the Logos and find union with the self of the Solar System. He can mount by the line of the Manu, he can attain through the line of the Bodhisattva, or he can reach his goal via the path of the Mahachohan. But specially note, that on this planet the Lord of Love and Power, the first Kumara, is the focal point for all three departments. He [168] is the One Initiator, and whether a man works on the line of power, or on the line of love, or on the line of intelligence, he must finally find his goal on the synthetic Ray of Love and Wisdom. He must be love, and manifest it forth, but it may be love working through power. It may be love in harmony, or love working through knowledge, through ceremonial or devotion, or it may be just pure love and wisdom, blending all the others. Love was the source, love is the goal, and love the method of attainment.

…………….Điều Tôi tìm cách làm nổi bật ở đây là ba tuyến rõ ràng nhờ đó một người có thể leo lên đến Thượng đế và tìm sự hợp nhất với bản ngã của hệ mặt trời. Y có thể leo lên theo tuyến của Đức Manu, y có thể đạt được qua tuyến của Đức Bồ Tát, hoặc y có thể đạt mục tiêu qua con đường của Đức Mahachohan. Nhưng đặc biệt hãy lưu ý rằng, trên hành tinh này Chúa Tể của Bác Ái và Quyền Năng, Kumara thứ nhất, là điểm hội tụ của cả ba ban. Ngài [168] là Đấng Điểm đạo Duy Nhất, và dù một người làm việc trên tuyến quyền năng, hay trên tuyến bác ái, hay trên tuyến trí tuệ, y cuối cùng phải tìm mục tiêu của mình trên cung tổng hợp của Bác Ái – Minh Triết. Y phải là bác ái, và biểu lộ nó ra, nhưng đó có thể là bác ái hoạt động qua quyền năng. Đó có thể là bác ái trong hài hòa, hoặc bác ái hoạt động qua tri thức, qua nghi lễ hay sùng tín, hoặc đó có thể chỉ là bác ái và minh triết thuần khiết, hòa trộn tất cả những điều khác. Bác ái là nguồn cội, bác ái là mục tiêu, và bác ái là phương pháp đạt đến.

August 14th, 1920.

Ngày 14 tháng 8, 1920.

The three lines of approach.—Ba tuyến tiếp cận.

As you will note (in continuation of that which we studied yesterday) there are three direct lines of contact between the higher and the lower, all finding their focal point through the same Initiator, and all, at the same time, quite distinct in their method of approach. If this is borne in mind it will be apparent that each provides for the man (whose egoic note is one of the three, or a department of the third) the line of least resistance and the path whereby he may most easily approach the Ultimate. It is fundamentally a matter dealing with various states of consciousness, and here it is that the Great Ones so powerfully assist the student. Through meditation, adjusted to the desired line, the student can control step by step the various intermediate states that lie between him and his goal. He rises by means of various focal points of force. These focal points may be his Higher Self, they may be his Master, they may be an ideal……. (which ideal is but the form taken by the man’s own manasic permanent atom, whose life he senseth as an abstraction an reacheth upward to embrace via the causal vehicle) But they are only steps upon the ladder whereby expansions of consciousness are obtained, and the man is enabled to extend the periphery of his consciousness until he gradually embraces all, and merges at last with the Monad, and later [169] with the All-Self, the Logos Himself.

Như các bạn sẽ lưu ý (tiếp nối điều chúng ta đã nghiên cứu hôm qua) có ba tuyến tiếp xúc trực tiếp giữa cao và thấp, tất cả đều tìm điểm hội tụ của mình qua cùng một Đấng Điểm đạo, và đồng thời, hoàn toàn khác nhau trong phương pháp tiếp cận. Nếu ghi nhớ điều này, sẽ thấy rõ rằng mỗi tuyến cung cấp cho người (có chủ âm chân ngã thuộc một trong ba tuyến ấy, hoặc thuộc một ban của tuyến thứ ba) con đường ít trở ngại nhất và lộ trình nhờ đó y có thể dễ dàng tiếp cận Đấng Tối Hậu. Về căn bản, đây là vấn đề bàn đến các trạng thái tâm thức khác nhau, và chính tại đây mà Các Đấng Cao Cả trợ giúp đạo sinh một cách mạnh mẽ. Qua tham thiền, được điều chỉnh theo tuyến mong muốn, đạo sinh có thể kiểm soát từng bước các trạng thái trung gian khác nhau nằm giữa y và mục tiêu. Y vươn lên nhờ các điểm hội tụ mãnh lực khác nhau. Những điểm hội tụ này có thể là chân ngã của y, có thể là Chân sư của y, có thể là một lý tưởng……. (lý tưởng ấy chỉ là hình tướng do nguyên tử trường tồn manas của chính người ấy đảm nhận, mà sự sống của nó y cảm nhận như một điều trừu tượng và vươn lên để ôm lấy qua vận cụ nguyên nhân) Nhưng chúng chỉ là những bậc thang trên chiếc thang nhờ đó các sự mở rộng tâm thức được đạt được, và người ấy được giúp mở rộng chu vi tâm thức của mình cho đến khi dần dần ôm trọn tất cả, và cuối cùng hòa nhập với chân thần, và về sau [169] với Đại Ngã, chính Thượng đế.

For the sake of clarity and in order to satisfy the craving of the concrete mind for differentiation these three departments are pictured as distinct and separated the one from the other, though having their points of contact. In reality—apart from the illusion that mind always sets up—the three are one, and the seven are but blended parts of one synthetic whole. They all interface and intermingle. All the three departments are but necessary parts of one organisation over which the Lord of the World rules. They are but the executives offices in which the business of our planet is handled, and each office is dependent upon the other offices, and all work in the closest collaboration. The man who finds himself on one line has to remember that in time and before perfection is achieved he must realise the synthesis of the whole. He must grasp it as a fact past all questioning and not just as a mental concept, and in his meditation there will eventually come a point when this realisation of the essential unity will be his and he will know himself as a fragment of a vaster whole.

Vì mục đích làm sáng tỏ và để thỏa mãn khát vọng phân biệt của trí cụ thể, ba bộ phận này được mô tả như là riêng biệt và tách rời nhau, tuy vẫn có những điểm tiếp xúc. Thực ra — ngoài ảo tưởng mà thể trí luôn tạo ra — ba bộ phận ấy là một, và bảy bộ phận chỉ là những phần hòa trộn của một tổng thể tổng hợp duy nhất. Tất cả đều giao thoa và đan xen lẫn nhau. Cả ba bộ phận ấy chỉ là những phần tất yếu của một tổ chức duy nhất mà Đức Chúa Tể Thế Giới cai quản. Chúng chỉ là những văn phòng điều hành, nơi các công việc của hành tinh chúng ta được giải quyết, và mỗi văn phòng đều phụ thuộc vào các văn phòng khác, trong khi tất cả cùng hoạt động trong sự cộng tác chặt chẽ nhất. Con người nào thấy mình đang ở trên một tuyến đường nhất định cần phải ghi nhớ rằng, theo thời gian, và trước khi đạt tới sự hoàn hảo, y phải chứng nghiệm được sự tổng hợp của toàn thể. Y phải nắm bắt điều đó như một sự thật vượt khỏi mọi nghi vấn, chứ không chỉ như một khái niệm của thể trí; và trong sự tham thiền của mình, rốt cuộc sẽ có một thời điểm khi sự chứng nghiệm về tính hợp nhất thiết yếu này trở thành của y, và y sẽ biết chính mình như là một mảnh vụn của một toàn thể vĩ đại hơn.

In these three departments the method of approach to the Head of the Department is meditation, and the means whereby the student puts himself en rapport with the essential Life of that department (it is all a matter of terms) differ. The life within the form manifests—as a result of meditation—in three different ways. The results of meditation as demonstrated in terms of character, if I may so express it, are really the same aspects of manifestation under different terms or conditions. Let me tabulate them for you:—

Trong ba ban này, phương pháp tiếp cận vị Thủ Lãnh của Ban là tham thiền, và phương tiện nhờ đó đạo sinh đặt mình vào sự tương thông với Sự Sống thiết yếu của ban ấy (tất cả chỉ là vấn đề thuật ngữ) thì khác nhau. Sự sống bên trong hình tướng biểu lộ—như một kết quả của tham thiền—theo ba cách khác nhau. Kết quả của tham thiền được biểu hiện theo thuật ngữ tính cách, nếu Tôi có thể nói như vậy, thực ra là cùng những phương diện biểu lộ dưới những thuật ngữ hay điều kiện khác nhau. Hãy để Tôi lập bảng cho các bạn:—

Line of the Manu

Tuyến của Đức Manu

– Force, Strength, Power to rule. [170]

Mãnh lực, Sức mạnh, Quyền năng cai quản. [170]

Line of the Bodhisattva

Tuyến của Đức Bồ Tát

– Magnetism, Attraction, Healing.

Từ tính, Hấp dẫn, Trị liệu.

Line of the Mahachohan

Tuyến của Đức Mahachohan

– Electricity, Synthesis, Organisation.

Điện lực, Tổng hợp, Tổ chức.

I seek here to point out that the effect in the life of the student of meditation on one of these three lines will be as enumerated above, though all of course coloured and modified by his personality ray, and by the point attained in evolution. If you study the three words applied to the three lines you will find it very illuminating. (I seek not to enlarge the mental body but to train the intuition.) These words demonstrate the law as working through the three groups, and the working out into active expression in the three worlds of the due following of the desired line. Each line has its specific forms whereby those results are achieved, and the time is coming when the rudiments of these forms (the first fundamental formulas) will be given to students deemed ready and who have done the necessary preliminary work.

Tôi muốn chỉ ra rằng tác dụng trong đời sống của đạo sinh tham thiền trên một trong ba tuyến này sẽ như đã liệt kê ở trên, dù dĩ nhiên tất cả đều được nhuốm màu và biến đổi bởi cung phàm ngã của y, và bởi điểm tiến hoá y đã đạt. Nếu các bạn nghiên cứu ba từ được áp dụng cho ba tuyến, các bạn sẽ thấy điều đó rất soi sáng. (Tôi không tìm cách làm nở rộng thể trí mà là huấn luyện trực giác.) Những từ này minh chứng định luật đang vận hành qua ba nhóm, và sự triển khai thành biểu hiện tích cực trong ba cõi giới của việc theo đúng tuyến mong muốn. Mỗi tuyến có những hình thức đặc thù nhờ đó các kết quả ấy được đạt, và thời điểm đang đến khi những yếu tố sơ khởi của các hình thức này (những công thức nền tảng đầu tiên) sẽ được trao cho những đạo sinh được xem là sẵn sàng và đã làm công việc sơ bộ cần thiết.

1. The line of the Manu.—1. Tuyến của Đức Manu.

We might here somewhat indicate the approximate method, and lay down certain rules which will serve to elucidate when the time comes.

Ở đây chúng ta có thể phần nào nêu ra phương pháp gần đúng, và đặt ra một số quy luật sẽ giúp làm sáng tỏ khi thời điểm đến.

This first line is specially the line of government, of racial, development, of working in and with the matter of all forms on all the planes of human evolution. It is, as I have said before, the line of occultism. It emphasises the hierarchical method, it embodies the divine autocracy, and it is the line whereby our solar Logos imposes His Will on men. It is closely linked to the Lords of Karma, and it is through the Manu’s department that the Law of Cause and Effect is wielded. The four Lords of Karma work closely with the Manu, for They impose the Law, and [171] He manipulates the forms of men, of continents, of races, and of nations so that that law may be duly worked out.

Tuyến thứ nhất này đặc biệt là tuyến của chính quyền, của phát triển giống dân, của việc làm việc trong và với vật chất của mọi hình tướng trên mọi cõi của tiến hoá nhân loại. Như Tôi đã nói trước đây, đó là tuyến của huyền bí học. Nó nhấn mạnh phương pháp của Thánh đoàn, nó hàm chứa nền chuyên chế thiêng liêng, và đó là tuyến nhờ đó Thái dương Thượng đế của chúng ta áp đặt Ý Chí của Ngài lên con người. Nó liên hệ chặt chẽ với các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả, và chính qua ban của Đức Manu mà Định luật Nhân Quả được vận dụng. Bốn Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả làm việc mật thiết với Đức Manu, vì Các Ngài áp đặt Định luật, và [171] Ngài thao tác các hình tướng của con người, của các lục địa, của các giống dân, và của các quốc gia để định luật ấy được triển khai đúng mức.

The man therefore who attempts through meditation to contact these powers, to rise to union by these means, and to attain the consciousness of the Will aspect, works under set rules, rises from point to point under due forms, and broods ever on the Law and its workings. He seeks to understand, he discriminates and studies; he is occupied with the concrete and its place in the divine plan. He admits the fact of the indwelling life but concentrates primarily on its method and form of manifestation. The basic rules of expression and of government occupy his attention, and by studying the rules and laws, and by seeking to comprehend, he necessarily contacts the Ruler. From stage to stage he rises—from the ruler of the microcosm in the three worlds, to the group egoic and its focal point, a Master; from the ruler of the group he rises to the Manu, the Ruler of the department wherein he has his place, thence to the Ruler of the World, later to the Planetary Logos, and thence to the Solar Logos.

Vì vậy, người nào cố gắng qua tham thiền để tiếp xúc các quyền năng này, để vươn lên đến sự hợp nhất bằng những phương tiện ấy, và để đạt tâm thức của phương diện Ý Chí, thì làm việc dưới những quy luật định sẵn, vươn lên từ điểm này sang điểm khác dưới những hình thức thích đáng, và luôn trầm tư về Định luật và các vận hành của nó. Y tìm cách thấu hiểu, y phân biện và nghiên cứu; y bận tâm với cái cụ thể và vị trí của nó trong Thiên Cơ. Y thừa nhận sự kiện về sự sống nội tại nhưng chủ yếu tập trung vào phương pháp và hình thức biểu lộ của nó. Các quy luật nền tảng của biểu hiện và của cai quản chiếm trọn sự chú ý của y, và bằng việc nghiên cứu các quy luật và định luật, và bằng việc tìm cách thấu hiểu, y tất yếu tiếp xúc với Đấng Cai Quản. Từ giai đoạn này sang giai đoạn khác y vươn lên—từ người cai quản tiểu thiên địa trong ba cõi giới, đến chân ngã nhóm và điểm hội tụ của nó là một Chân sư; từ người cai quản nhóm y vươn lên đến Đức Manu, Đấng Cai Quản của ban nơi y có vị trí, rồi đến Đức Chúa Tể Thế Giới, về sau đến Hành Tinh Thượng đế, và từ đó đến Thái dương Thượng đế.

2. The line of the Bodhisattva.—2. Tuyến của Đức Bồ Tát.

This is the line of religion and of philosophy, and of the development of the indwelling life. It deals with consciousness within the form more than with the form itself. It is the line of least resistance for the many. It embodies the wisdom aspect of the Logos, and is the line whereby His love is manifested in a predominant fashion. The solar system being in itself a direct expression of the Logos, and of His love aspect, all in manifestation is based upon it—love in rule, love abounding, love in activity,—but in this second line the above manifestation is supreme, and will eventually absorb all the others.

Đây là tuyến của tôn giáo và triết học, và của sự phát triển sự sống nội tại. Nó đề cập đến tâm thức bên trong hình tướng nhiều hơn là chính hình tướng. Đây là con đường ít trở ngại nhất đối với số đông. Nó hàm chứa phương diện minh triết của Thượng đế, và là tuyến nhờ đó bác ái của Ngài được biểu lộ một cách nổi trội. Bản thân hệ mặt trời là một biểu hiện trực tiếp của Thượng đế, và của phương diện bác ái của Ngài, nên mọi sự trong biểu hiện đều đặt nền trên nó—bác ái trong cai quản, bác ái dồi dào, bác ái trong hoạt động,—nhưng trong tuyến thứ hai này, sự biểu lộ nói trên là tối thượng, và cuối cùng sẽ hấp thụ tất cả các tuyến khác.

The man who meditates on this line seeks ever to enter into the consciousness of all that breathes, and by [172] graded expansions of consciousness to arrive eventually at the All-Consciousness, and to enter into the life of the Supreme Being. Thus he enters into the life of all within the Logoic Consciousness.

Người tham thiền trên tuyến này luôn tìm cách đi vào tâm thức của mọi sự đang thở, và bằng các sự mở rộng tâm thức theo cấp bậc để cuối cùng đạt đến Toàn-Tâm-Thức, và đi vào sự sống của Đấng Tối Thượng. Như vậy y đi vào sự sống của mọi sự trong Tâm Thức của Thượng đế.

He broods not so much upon the Law as upon the life that is governed by that Law. Through love he comprehends, and through love he blends himself first with his Ego, then with his Master, next with his group egoic and then with all groups, till finally he enters into the consciousness of the Deity Himself.

Y không trầm tư nhiều về Định luật bằng về sự sống được cai quản bởi Định luật ấy. Qua bác ái y thấu hiểu, và qua bác ái y hòa nhập trước hết với Chân ngã của mình, rồi với Chân sư của mình, kế đến với nhóm chân ngã của mình và rồi với mọi nhóm, cho đến cuối cùng y đi vào tâm thức của chính Thượng đế.

3. The line of the Mahachohan.—3. Tuyến của Đức Mahachohan.

This is the line of mind or intelligence, of knowledge and of science. It is the line of abstract mind, and of archetypal ideas. The man broods not so much upon the Law, not so much upon the Life, as upon the effects of both in manifestation, and upon the reason why. The man on this fivefold line ever asks why, and how, and whence, and seeks to synthesise, to comprehend and to make the archetypes and ideals facts in manifestation. He broods on the ideals as he senses them; he aims at contacting the Universal Mind, at wresting its secrets from it, and giving them expression. It is the line of business organisation, the line also in which the artists, musicians, scientists and the workers of the world have their place. The Spirits of Love and Activity pass much time in each of its five departments before passing on to the lines of love and of power.

Đây là tuyến của thể trí hay trí tuệ, của tri thức và khoa học. Đây là tuyến của trí trừu tượng, và của các ý niệm nguyên mẫu. Người ấy không trầm tư nhiều về Định luật, không trầm tư nhiều về Sự sống, mà về các tác dụng của cả hai trong biểu hiện, và về lý do tại sao. Người trên tuyến ngũ phân này luôn hỏi tại sao, và như thế nào, và từ đâu, và tìm cách tổng hợp, thấu hiểu và biến các nguyên mẫu cùng lý tưởng thành các sự kiện trong biểu hiện. Y trầm tư về các lý tưởng như y cảm nhận chúng; y nhắm đến việc tiếp xúc Vũ Trụ Trí, giành lấy các bí mật của nó, và trao cho chúng sự biểu hiện. Đây là tuyến của tổ chức kinh doanh, cũng là tuyến nơi các nghệ sĩ, nhạc sĩ, khoa học gia và những người hoạt động của thế gian có vị trí. Các Thánh Linh của Bác Ái và Hoạt Động trải qua nhiều thời gian trong mỗi ban trong năm ban của tuyến này trước khi chuyển sang các tuyến bác ái và quyền năng.

In meditation the man takes some ideal, some part of the divine plan, some phase of beauty and of art, some scientific or racial problem, and by brooding over it and by the employment of lower mind, finds out all that can be known and sensed. Then, having done all that, he seeks to raise the consciousness still higher till he taps the source of illumination, and gains the light and information [173] required. He mounts likewise by entering into the consciousness of those greater than himself, not so much from the point of view of love (as in the second line) as from admiration and joy in their achievement, and gratitude for what they have given to the world, and devotion to the same idea that impels them to action.

Trong tham thiền, người ấy lấy một lý tưởng nào đó, một phần nào đó của Thiên Cơ, một phương diện nào đó của cái đẹp và nghệ thuật, một vấn đề khoa học hay giống dân, và bằng việc trầm tư về nó cùng với việc vận dụng hạ trí, y khám phá tất cả những gì có thể biết và cảm nhận. Rồi, sau khi đã làm tất cả điều đó, y tìm cách nâng tâm thức lên cao hơn nữa cho đến khi y khai thác được nguồn soi sáng, và đạt được ánh sáng cùng thông tin [173] cần thiết. Y cũng vươn lên bằng cách đi vào tâm thức của những Đấng lớn hơn mình, không nhiều từ quan điểm bác ái (như trong tuyến thứ hai) mà từ sự ngưỡng mộ và niềm vui trước thành tựu của các Ngài, và lòng tri ân đối với những gì các Ngài đã trao cho thế gian, và sự sùng tín đối với cùng một ý niệm thúc đẩy các Ngài hành động.

Therefore you will see from even the most superficial study of the above three lines how apparent it is that all the sons of men are rising. Even the ones—so apt to be despised—who are the active workers of the world may, in their place and through their devotion to the ideals of work or science or even of business organisation, be just as far advanced as the more highly considered ones who demonstrate more patently the love aspect of the Divine Self. Forget not that activity is just as divine and just as fundamentally an expression of the All-Father as love in sacrifice, and even more so than what we now know as power, for the power aspect is as yet not comprehended by any of you, nor will it be until a further manifestation.

Vì vậy, ngay cả từ một khảo sát hời hợt nhất về ba tuyến trên, các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng tất cả những người con của nhân loại đều đang vươn lên. Ngay cả những người—thường bị khinh miệt—là những người hoạt động tích cực của thế gian cũng có thể, ở vị trí của họ và qua sự sùng tín đối với các lý tưởng của công việc hay khoa học hay thậm chí của tổ chức kinh doanh, tiến bộ xa không kém những người được đánh giá cao hơn, là những người biểu lộ rõ rệt hơn phương diện bác ái của Bản Ngã Thiêng Liêng. Đừng quên rằng hoạt động cũng thiêng liêng như vậy và cũng là một biểu hiện căn bản của Đấng Cha Toàn Thể như bác ái trong hi sinh, và thậm chí còn hơn điều mà chúng ta hiện gọi là quyền năng, vì phương diện quyền năng vẫn chưa được bất kỳ ai trong các bạn thấu hiểu, và sẽ không được thấu hiểu cho đến một sự biểu hiện xa hơn.

August 14th, 1920.

Ngày 14 tháng 8, 1920.

f. Forms used in calling devas and elementals— Các hình thức dùng trong việc triệu thỉnh các thiên thần và các hành khí.

In taking up the two points that you have enumerated six and seven, we shall be able to deal with them as one, for the mantrams and forms used in contacting the devas, angels or builders, and in calling the elementals or subhuman forms of existence, are practically the same, and should in these letters be counted as such.

Khi đề cập đến hai điểm mà các bạn đã liệt kê là sáu và bảy, chúng ta sẽ có thể xử lý chúng như một, vì các mantram và các hình thức dùng để tiếp xúc với các thiên thần, các thiên thần hay các đấng kiến tạo, và để triệu thỉnh các hành khí hay các hình thức hiện hữu phi nhân loại, hầu như là giống nhau, và trong các thư này nên được tính như vậy.

As a preliminary step let us be quite clear wherein lies the distinction between these two groups.

Như một bước sơ khởi, chúng ta hãy thật rõ ràng chính trong đó có sự phân biệt giữa hai nhóm này.

The elementals are, in their essential essence, subhuman. The fact that they can he contacted on the emotional plane is no guarantee that they are on the evolutionary [174] path. On the contrary, they are on the path of involution, on the downward arc. They are to be found on all planes, and the etheric elemental formssuch as the brownies, gnomes and pixies—are well known. They can be roughly divided into four groups:—

Các hành khí, trong tinh chất cốt yếu của chúng, là dưới nhân loại. Việc chúng có thể được tiếp xúc trên cõi cảm dục không bảo đảm rằng chúng đang ở trên con đường tiến hoá [174]. Trái lại, chúng đang ở trên con đường giáng hạ tiến hoá, trên cung đi xuống. Chúng có mặt trên mọi cõi, và các hình thức hành khí dĩ tháinhư các brownie, gnome và pixie—được biết đến khá rộng rãi. Có thể chia đại khái chúng thành bốn nhóm:—

1. The elementals of earth.

Các hành khí của đất.

2. The elementals of water.

Các hành khí của nước.

3. The elementals of air.

Các hành khí của khí.

4. The elementals of fire.

Các hành khí của lửa.

They are the essence of things, if you could but realise it. They are the elemental things of the solar system in their four grades as we know them in this fourth cycle on the fourth or earth planet.

Chúng là tinh chất của vạn vật, nếu các bạn có thể chứng nghiệm điều đó. Chúng là những sự vật hành khí của hệ mặt trời trong bốn cấp bậc của chúng như chúng ta biết trong chu kỳ thứ tư này trên hành tinh thứ tư hay hành tinh đất.

The devas are on the evolutionary path, on the upward way. They are, as you know, the Builders of the system, working in graded and serried ranks. Devas are to be found of the same rank as the Planetary Logoi, and the Rulers of the five planes of human evolution hold rank equal to that of a Master of the seventh Initiation. Others are equal in development (along their own line) to a Master of the fifth Initiation, and they work consciously and willingly with the Masters of the Occult Hierarchy. They can be found on all the lesser grades down to the little building devas who work practically unconsciously in their groups, building the many forms necessitated by the evolving life.

Các thiên thần ở trên con đường tiến hoá, trên lối đi lên. Như các bạn biết, các Ngài là các Đấng Kiến Tạo của hệ thống, làm việc trong những hàng ngũ phân cấp và dày đặc. Có những thiên thần được tìm thấy cùng đẳng cấp với các Hành Tinh Thượng đế, và các Đấng Cai Quản năm cõi của tiến hoá nhân loại giữ đẳng cấp ngang với một Chân sư của lần điểm đạo thứ bảy. Những vị khác ngang bằng về mức phát triển (theo tuyến riêng của họ) với một Chân sư của lần điểm đạo thứ năm, và họ làm việc một cách hữu thức và tự nguyện với các Chân sư của Thánh Đoàn Huyền bí. Có thể tìm thấy họ trên mọi cấp bậc thấp hơn cho đến các thiên thần kiến tạo nhỏ bé, những vị làm việc gần như vô thức trong các nhóm của họ, kiến tạo vô số hình tướng cần thiết cho sự sống đang tiến hoá.

Earlier—prior to my dictating these letters to you—you received one communication along the line of the mantric invocation of the elementals and the devas. The information given was correct, as far as it went, and you may if you wish incorporate it here.

Trước đây—trước khi tôi đọc cho các bạn chép các thư này—các bạn đã nhận được một thông điệp theo tuyến khẩn cầu bằng mantram đối với các hành khí và các thiên thần. Thông tin được đưa ra là đúng, trong phạm vi của nó, và nếu các bạn muốn, các bạn có thể đưa nó vào đây.

Force in evolution and force in involution are two different things. That is a preliminary statement. [175] In the one you have destruction, violence, blind elementary powers at work. In involution it is the elementals who do most of the work, working blindly along as controlled by the Builders. The work is constructive, cohesive, a gradual growing together, harmony out of discord, beauty out of chaos. The lower kingdoms of the devas work, guided by the great Building Devas, and all move upward in ordered beauty from plane to plane, from system to system, universe to universe. Therefore in studying occult lore you need to remember two things:—

Mãnh lực trong tiến hoá và mãnh lực trong giáng hạ tiến hoá là hai điều khác nhau. Đó là một phát biểu sơ khởi. [175] Trong điều thứ nhất, các bạn có sự hủy diệt, bạo lực, các quyền năng hành khí mù quáng đang hoạt động. Trong giáng hạ tiến hoá, chính các hành khí làm phần lớn công việc, làm việc một cách mù quáng theo sự kiểm soát của các Đấng Kiến Tạo. Công việc ấy mang tính kiến tạo, kết dính, là một sự lớn lên dần dần trong việc kết hợp lại với nhau, hài hoà từ bất hoà, vẻ đẹp từ hỗn mang. Các giới thấp của các thiên thần làm việc, được các thiên thần kiến tạo vĩ đại hướng dẫn, và tất cả cùng đi lên trong vẻ đẹp có trật tự từ cõi này sang cõi khác, từ hệ thống này sang hệ thống khác, từ vũ trụ này sang vũ trụ khác. Vì vậy, khi nghiên cứu minh triết huyền bí, các bạn cần nhớ hai điều:—

a. You control elemental forces.

Các bạn kiểm soát các mãnh lực hành khí.

b. You co-operate with the devas.

Các bạn hợp tác với các thiên thần.

In one you dominate, in the other case you endeavour to work with. You control through the activity aspect, by the definite doing of certain things, by the preparation of certain ceremonies, for instance, through which certain forces can play. It is a replica on a tiny miniature scale of what the third Logos did in world making. Certain activities had certain results. Later on, revelations can be made as to the rites and ceremonies through which you can get in touch with the various elementals, and control them. The Ceremonial Ray—by coming into incarnation at this time, is making things much easier along this particular line.

Trong trường hợp thứ nhất, các bạn thống trị; trong trường hợp thứ hai, các bạn cố gắng làm việc cùng. Các bạn kiểm soát qua phương diện hoạt động, bằng việc thực hiện rõ ràng một số điều nhất định, bằng việc chuẩn bị một số nghi lễ nhất định, chẳng hạn, nhờ đó một số mãnh lực có thể vận hành. Đó là một bản sao ở quy mô cực nhỏ của điều mà Thượng đế thứ ba đã làm trong việc tạo dựng thế giới. Những hoạt động nhất định có những kết quả nhất định. Về sau, có thể có những mặc khải về các nghi thức và nghi lễ nhờ đó các bạn có thể tiếp xúc với các hành khí khác nhau và kiểm soát chúng. Cung Nghi Lễ—đang đi vào lâm phàm vào thời điểm này—đang làm cho mọi việc dễ dàng hơn nhiều theo tuyến đặc thù này.

Fire elementals, water sprites, and the lower elementals can all be harnessed by rites. The rites are of three kinds:—

Các hành khí lửa, các tinh linh nước, và các hành khí thấp hơn đều có thể được điều phục bằng nghi lễ. Các nghi lễ có ba loại:—

1. Protective rites, which concern your own protection.

Các nghi lễ bảo vệ, liên quan đến sự bảo vệ của chính các bạn.

2. Rites of appeal, which call and reveal the elementals. [176]

Các nghi lễ khẩn cầu, vốn triệu thỉnh và làm lộ ra các hành khí. [176]

3. Rites that control and direct them when summoned.

Các nghi lễ kiểm soát và chỉ đạo chúng khi đã được triệu thỉnh.

In working with the devas you use the wisdom or love aspect, the second aspect of the Logos, the building aspect. Through love and longing you reach them and your first step (as you are on the path of evolution, as they are) is to get in touch with them, for together you must work in the future for the guidance of the elemental forces and the helping of humanity. It is not safe for human beings, poor foolish things, to tamper with the forces of involution until they themselves are linked with the devas through purity of character and nobility of soul.

Khi làm việc với các thiên thần, các bạn dùng phương diện minh triết hay bác ái, phương diện thứ hai của Thượng đế, phương diện kiến tạo. Qua bác ái và khát vọng, các bạn vươn tới họ, và bước đầu tiên của các bạn (vì các bạn ở trên con đường tiến hoá, như họ cũng vậy) là tiếp xúc với họ, vì trong tương lai các bạn phải cùng nhau làm việc để hướng dẫn các mãnh lực hành khí và trợ giúp nhân loại. Không an toàn cho con người, những kẻ tội nghiệp dại dột, khi đụng chạm đến các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá cho đến khi chính họ được liên kết với các thiên thần qua sự trong sạch của tính cách và sự cao quý của linh hồn.

Through rites and ceremonies you can sense the devas and reach them, but not in the same manner nor for the same reason that you can the elementals. The devas attend ceremonies freely and are not summoned; they come, as you do, to tap the power. When your vibrations are pure enough the ceremonies serve as a common meeting-ground.

Qua các nghi thức và nghi lễ, các bạn có thể cảm nhận các thiên thần và vươn tới họ, nhưng không theo cùng cách thức cũng không vì cùng lý do như đối với các hành khí. Các thiên thần tự do tham dự các nghi lễ và không bị triệu thỉnh; họ đến, như các bạn đến, để khai thác quyền năng. Khi các rung động của các bạn đủ trong sạch, các nghi lễ trở thành một nền tảng gặp gỡ chung.

…………I want to say in closing that when you have learned to use the activity aspect in work with the involutionary powers, and the wisdom aspect in co-operating with the devas, you will then unitedly pass on to use the first aspect, that of will or power.

…………Tôi muốn nói để kết lại rằng khi các bạn đã học cách dùng phương diện hoạt động trong công việc với các quyền năng giáng hạ tiến hoá, phương diện minh triết trong việc hợp tác với các thiên thần, thì khi ấy các bạn sẽ cùng nhau tiến lên để dùng phương diện thứ nhất, tức phương diện ý chí hay quyền năng.

Before proceeding further I seek to sound a note of warning as to the danger that lies in the calling and the contacting of these groups of builders, and more especially in the contacting of the elemental forces. Why especially the latter? Because these forces at all times find a response in one of the three lower bodies of men, these bodies (regarded as separated sheaths) being composed of these involutionary lives. Therefore he who unwittingly lays [177] himself open to direct contact with any elemental, runs a risk, and may bitterly rue the day. But, as a man approaches adeptship and has achieved mastery over himself, and can consequently be trusted with the mastery of other forms of life, certain powers will be his. These powers—based as they are on law—will put into his hands the rule over lesser lives, and will teach him that co-operation with the deva hosts which will be so essential towards the latter end of evolution.

Trước khi đi xa hơn, tôi muốn xướng lên một lời cảnh báo về mối nguy ẩn trong việc triệu thỉnh và tiếp xúc với các nhóm đấng kiến tạo này, và đặc biệt là trong việc tiếp xúc với các mãnh lực hành khí. Vì sao đặc biệt là điều sau? Bởi vì các mãnh lực này, vào mọi lúc, đều tìm thấy một sự đáp ứng trong một trong ba thể thấp của con người, các thể này (được xem như các vỏ bọc tách rời) được cấu tạo bởi chính các sự sống giáng hạ tiến hoá này. Vì vậy, kẻ nào vô tình [177] mở mình ra cho sự tiếp xúc trực tiếp với bất kỳ hành khí nào, đều gặp rủi ro, và có thể cay đắng hối hận. Nhưng khi một người tiến gần đến địa vị chân sư và đã đạt được sự làm chủ đối với chính mình, và do đó có thể được tin cậy để làm chủ các hình thức sự sống khác, thì một số quyền năng sẽ thuộc về y. Những quyền năng này—vì được đặt nền trên định luật—sẽ đặt vào tay y quyền cai quản các sự sống thấp hơn, và sẽ dạy y sự hợp tác với các đoàn thiên thần, điều sẽ thiết yếu vào giai đoạn sau của tiến hoá.

[Commentary 39]

Mantrams of power.—Các mantram quyền năng.

The mantrams that hold the secret of power are, as you know and have been told above, of different kinds, and are primarily four:

Các mantram nắm giữ bí mật của quyền năng, như các bạn biết và đã được nói ở trên, có nhiều loại khác nhau, và chủ yếu có bốn:

a. Of prime importance are the protective mantrams.

Quan trọng hàng đầu là các mantram bảo vệ.

b. The mantrams that call the elementals and lesser devas, and bring them into the magnetic radius of the one who calls.

Các mantram triệu thỉnh các hành khí và các thiên thần thấp, và đưa họ vào bán kính từ tính của người triệu thỉnh.

c. The mantrams that impose upon the elementals and lesser devas the will of the one who calls.

Các mantram áp đặt lên các hành khí và các thiên thần thấp ý chí của người triệu thỉnh.

d. Mantrams that break the charm, if I may put it so, and place the elementals and devas again outside the magnetic radius of the caller.

Các mantram phá giải bùa chú, nếu tôi có thể nói như vậy, và đặt các hành khí và các thiên thần trở lại bên ngoài bán kính từ tính của người triệu thỉnh.

These four groups of mantrams refer especially to the calling and contacting of the lesser grades and are not much used, except in rare cases by initiates and adepts, who, as a general rule, work through the instrumentality of the great guiding devas and builders. The Dark Brotherhood work with the forces of involution and bend to their will the unwitting lesser forms of life. The true procedure—as followed by the Brotherhood of Light—is to control these involutionary groups and low grade devas [178] through their own superior ranks, the cohorts of the building devas with their Deva Lords.

Bốn nhóm mantram này đặc biệt liên quan đến việc triệu thỉnh và tiếp xúc các cấp bậc thấp hơn và không được dùng nhiều, trừ trong những trường hợp hiếm hoi bởi các điểm đạo đồ và các chân sư, những vị mà như một quy luật chung, làm việc qua công cụ là các thiên thần hướng dẫn vĩ đại và các đấng kiến tạo. Huynh đệ Đoàn Hắc đạo làm việc với các mãnh lực giáng hạ tiến hoá và uốn các hình thức sự sống thấp hơn không hay biết theo ý chí của họ. Thủ tục chân chính—as được Huynh đệ Đoàn Chánh đạo thực hành—là kiểm soát các nhóm giáng hạ tiến hoá này và các thiên thần cấp thấp [178] qua chính các cấp bậc cao hơn của họ, các đạo quân của các thiên thần kiến tạo cùng với các Chúa Tể Thiên thần của họ.

This brings me to another group of mantrams used in connection with the devas themselves.

Điều này đưa tôi đến một nhóm mantram khác được dùng liên quan đến chính các thiên thần.

a. Rhythmic mantrams, that put the one who uses them in contact with the deva group he seeks. These mantrams are, of course, forms of Ray Mantrams, for they call the devas on some one ray. These mantrams again will vary if the man himself is on the same ray as the group he calls. You ask why protective mantrams are not used first as in the case of calling elementals. Principally for the following reason. The mantrams calling elementals are more easily found and used than those calling the devas. History is full of instances of where this has been done, and all over the world (even at this time) are people who hold the secret that will put them in touch with elementals of one kind or another. Everyone in Atlantean days knew how to do this, and among savage peoples and by some individuals in civilised countries the art is still known and practised. Secondly, the average man, even if he knows the mantram, will probably fail in calling a deva, for it involves something more than just chanting the words and sounds. This something is one of the secrets of initiation. When a man is an initiate or an adept he needs not the protective rites, for it is a law in the occult world that only those of pure life and unselfish motive can successfully reach the deva evolution, whereas in connection with the elementary lives it works the other way.

Các mantram nhịp điệu, đặt người sử dụng chúng vào sự tiếp xúc với nhóm thiên thần mà y tìm kiếm. Dĩ nhiên, các mantram này là các hình thức của Mantram Cung, vì chúng triệu thỉnh các thiên thần trên một cung nào đó. Các mantram này lại sẽ thay đổi nếu chính người đó ở trên cùng cung với nhóm mà y triệu thỉnh. Các bạn hỏi vì sao các mantram bảo vệ không được dùng trước như trong trường hợp triệu thỉnh các hành khí. Chủ yếu vì lý do sau. Các mantram triệu thỉnh hành khí dễ được tìm thấy và sử dụng hơn các mantram triệu thỉnh các thiên thần. Lịch sử đầy những trường hợp điều này đã được thực hiện, và khắp thế giới (ngay cả vào thời điểm này) có những người nắm giữ bí mật sẽ đặt họ vào sự tiếp xúc với hành khí loại này hay loại khác. Ai cũng biết cách làm điều này vào thời Atlantis, và trong các dân tộc man dã và bởi một số cá nhân ở các quốc gia văn minh, nghệ thuật ấy vẫn còn được biết và thực hành. Thứ hai, người bình thường, dù có biết mantram, có lẽ cũng sẽ thất bại trong việc triệu thỉnh một thiên thần, vì điều đó đòi hỏi điều gì đó hơn là chỉ tụng xướng các từ và âm thanh. Điều “gì đó” này là một trong các bí mật của điểm đạo. Khi một người là một điểm đạo đồ hay một chân sư, y không cần các nghi lễ bảo vệ, vì trong thế giới huyền bí có một định luật rằng chỉ những ai có đời sống trong sạch và động cơ vô tư mới có thể thành công vươn tới tiến hoá thiên thần, trong khi đối với các sự sống hành khí thì lại vận hành theo chiều ngược lại.

b. Mantrams that permit of intercourse with the devas once they have been called. Speech, as we know it, is not understood by the devas, but impulses, forces, vibrations can be set up by the use of specific forms that lead to the desired result and obviate the need of speech. [179] These forms open the avenues of mutual comprehension.

Các mantram cho phép giao tiếp với các thiên thần một khi họ đã được triệu thỉnh. Lời nói, như chúng ta biết, không được các thiên thần hiểu, nhưng các xung lực, các mãnh lực, các rung động có thể được thiết lập bằng việc dùng những hình thức đặc thù dẫn đến kết quả mong muốn và loại bỏ nhu cầu lời nói. [179] Những hình thức này mở ra các con đường của sự thấu hiểu lẫn nhau.

c. Mantrams that influence groups, and others that influence specific devas. I would like to point out here that as a rule devas are handled in groups and not as individuals until you contact devas of a very high order.

Các mantram ảnh hưởng đến các nhóm, và các mantram khác ảnh hưởng đến các thiên thần cụ thể. Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng như một quy luật các thiên thần được xử lý theo nhóm chứ không như các cá thể cho đến khi các bạn tiếp xúc các thiên thần thuộc một trật tự rất cao.

d. Mantrams that directly call the attention of one of the deva lords of a subplane, or the mighty Deva Lord of a plane. They are known to very few and are only used by those who have taken high initiation.

Các mantram trực tiếp kêu gọi sự chú ý của một trong các Chúa Tể Thiên thần của một cõi phụ, hay Chúa Tể Thiên thần hùng mạnh của một cõi. Chúng chỉ được rất ít người biết và chỉ được dùng bởi những ai đã thọ nhận các lần điểm đạo cao.

[Commentary 40]

August 17th, 1920.

Ngày 17 tháng 8, 1920.

The comprehension of force.—Sự thấu hiểu về mãnh lực.

I ceased early yesterday, Brother of Mine, owing to a slight fatigue on your part, due not so much to taking my dictation as to the fact that inner conditions everywhere yesterday, and even today, are not desirable.

Tôi đã dừng sớm ngày hôm qua, huynh đệ của tôi, do nơi các bạn có một chút mệt mỏi, không phải do việc tiếp nhận lời tôi đọc cho chép, mà do sự kiện rằng các điều kiện bên trong ở khắp nơi ngày hôm qua, và cả hôm nay nữa, đều không thuận lợi.

……The tension today is great, and the force pouring in on all the different centres is apt—unless duly regulated—to cause a feeling of fatigue, of tension, of excitement and of restlessness. The secret of regulation which lies in non-resistance is known to very few, and consequently the intensity of emotion, the violent reactions, and present widespread era of crime are the results, very largely, of force misused and misapplied. This can be seen demonstrating in all ranks of life, and only he who knows the secret of being naught but a channel, and who abides still within the secret place, can pass through the present crisis without undue shattering and pain. Stimulation—such as is at present abroad—leads to pain and consequent reaction and must be guarded against with as much care as its opposite, loss of vitality—guarded against, not in the sense of shutting oneself off from stimulating force but of receiving that force, passing it through one’s being, and only absorbing as much of it as one can carry. The residue will then pass out from one as a healing agency on its return to the general reservoir. The true and occult significant of force in nature, of the electrical [180] currents of the universe, and of the latent heat stored in all forms is little understood as yet by your exoteric scientists, or your would-be occult students. Subba Rao…….approached the study of occultism from this angle, and therefore, he attained a profound knowledge of law.

……Sự căng thẳng hôm nay rất lớn, và mãnh lực đang tuôn vào mọi trung tâm khác nhau có khuynh hướng—trừ khi được điều tiết đúng mức—gây ra cảm giác mệt mỏi, căng thẳng, kích động và bồn chồn. Bí mật của sự điều tiết, chính trong đó có sự không kháng cự, được rất ít người biết, và do đó cường độ cảm xúc, các phản ứng dữ dội, và thời kỳ tội phạm lan rộng hiện nay là những kết quả, phần lớn, của mãnh lực bị lạm dụng và dùng sai. Điều này có thể thấy đang biểu hiện trong mọi tầng lớp đời sống, và chỉ người nào biết bí mật của việc không là gì khác ngoài một kênh dẫn, và vẫn an trú trong nơi chốn bí mật, mới có thể đi qua cuộc khủng hoảng hiện tại mà không bị chấn động quá mức và đau đớn. Sự kích thích—như hiện đang lan tràn—dẫn đến đau đớn và phản ứng hệ quả, và phải được đề phòng cẩn trọng không kém gì điều đối nghịch của nó, sự suy giảm sinh lực—được đề phòng, không theo nghĩa tự tách mình khỏi mãnh lực kích thích, mà theo nghĩa tiếp nhận mãnh lực ấy, cho nó đi xuyên qua hữu thể của mình, và chỉ hấp thụ chừng nào mình có thể mang. Phần dư sẽ đi ra khỏi người ấy như một tác nhân chữa lành khi nó trở về kho dự trữ chung. Thâm nghĩa chân thật và huyền bí của mãnh lực trong bản chất, của các dòng điện [180] của vũ trụ, và của nhiệt ẩn tàng được tích trữ trong mọi hình tướng, cho đến nay vẫn ít được các nhà khoa học ngoại môn của các bạn, hay các đạo sinh huyền bí học tự xưng của các bạn, thấu hiểu. Subba Rao…….đã tiếp cận việc nghiên cứu huyền bí học từ góc độ này, và vì vậy, ông đã đạt được một tri thức sâu sắc về định luật.

I have touched on this matter as it lies back of all instruction along occult lines. If you can grasp somewhat its meaning, and understand how the law is but the adaptation of the form to some one or other of these great streams of force, you will illuminate your whole life and be carried on those streams of force, those magnetic currents, that vital fluid, those electrical rays (no matter what the terms used) right to the heart of the unknown.

Tôi đã chạm đến vấn đề này vì nó nằm phía sau mọi chỉ dẫn theo các tuyến huyền bí. Nếu các bạn có thể nắm bắt phần nào ý nghĩa của nó, và thấu hiểu rằng định luật chỉ là sự thích nghi của hình tướng với một hay một dòng nào đó trong các dòng mãnh lực vĩ đại này, các bạn sẽ soi sáng toàn bộ đời sống của mình và được mang đi trên các dòng mãnh lực ấy, các dòng chảy từ tính ấy, lưu chất sinh lực ấy, các tia điện ấy (bất kể dùng thuật ngữ nào) thẳng đến trái tim của điều chưa biết.

This same idea of force and of the magnetic currents of the solar system governs all I have imparted on meditation in all its branches—specific, individual and collective, based on form or formless; it is the medium through which the mantrams work, from those that touch the elemental lives up to the great Words chanted in rhythm that call the Lord of a Ray, the Deva of a Plane, or the Lord of a Solar System Himself. The sounding of these Words, the ascent through graded forms to some specific point, and the chanting of mantrams but put the one who is thus working into the line of some one stream of force. It is the finding of the line of least resistance whereby to reach some goal, to communicate with some individual Intelligence, to control some involutionary life, and to contact and co-operate with some group of devas. The above digression may serve somewhat to sum up what I have lately imparted anent forms, mantric or otherwise, as used by the student of occult meditation.

Chính ý niệm này về mãnh lực và về các dòng chảy từ tính của hệ mặt trời chi phối tất cả những gì tôi đã truyền đạt về tham thiền trong mọi ngành của nó—cụ thể, cá nhân và tập thể, dựa trên hình tướng hay vô tướng; nó là môi trường qua đó các mantram vận hành, từ những mantram chạm đến các sự sống hành khí cho đến các Linh từ vĩ đại được tụng xướng theo nhịp điệu để triệu thỉnh Chúa Tể của một cung, Thiên Thần của một cõi, hay chính Đức Chúa Tể của một hệ mặt trời. Việc xướng lên các Linh từ này, sự thăng tiến qua các hình thức phân cấp đến một điểm đặc thù nào đó, và việc tụng xướng mantram chỉ đặt người đang làm việc như vậy vào tuyến của một dòng mãnh lực nào đó. Đó là việc tìm ra con đường ít trở ngại nhất để đạt đến một mục tiêu nào đó, để giao tiếp với một Thông Tuệ cá biệt nào đó, để kiểm soát một sự sống giáng hạ tiến hoá nào đó, và để tiếp xúc và hợp tác với một nhóm thiên thần nào đó. Sự lạc đề trên đây có thể phần nào tóm lược điều mà gần đây tôi đã truyền đạt về các hình thức, mantram hay hình thức khác, như được người môn sinh tham thiền huyền bí sử dụng.

As may be imagined, the calling of either the devas or the elementals can only be safely undertaken by one who has the power to utilise them wisely when called, [181] hence the mantrams we have enumerated above are only put into the hands of those who are on the side of the constructive forces of the system, or who can constructively control the destructive elements, bending them into line with the disintegrating forces that are themselves part of the great constructive scheme. Should anyone—not thus capable—be able to contact the devas, and, through the use of mantrams gather them to him, he would find that the force they carry would descend on him as a destructive one, and serious consequences might result in one or other of his bodies.

Như có thể hình dung, việc triệu thỉnh είτε các thiên thần hoặc các hành khí chỉ có thể được đảm trách an toàn bởi người có quyền năng sử dụng chúng một cách minh triết khi chúng đã được triệu thỉnh, [181] do đó các mantram mà chúng ta đã liệt kê ở trên chỉ được đặt vào tay những ai đứng về phía các mãnh lực kiến tạo của hệ thống, hoặc những ai có thể kiểm soát một cách kiến tạo các yếu tố hủy diệt, uốn chúng vào tuyến của các mãnh lực phân rã vốn tự chúng cũng là một phần của kế hoạch kiến tạo vĩ đại. Nếu bất kỳ ai—không có năng lực như vậy—có thể tiếp xúc các thiên thần, và, qua việc dùng mantram, tập hợp họ quanh mình, y sẽ thấy rằng mãnh lực mà họ mang sẽ giáng xuống trên y như một mãnh lực hủy diệt, và những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra trong một hay một thể nào đó của y.

Think this out, therefore, remembering that those dangers would lie along the line of over-stimulation, of sudden shattering, and of disintegration through fire or heat. Should he gather involutionary lives around him the dangers would be different or rather would demonstrate in the opposite effect,—such as loss of vitality due to vampirism, a sucking out of the forces of one or another of his bodies, an abnormal building in of material into some one body (due to the action of such involutionary lives as the physical or desire elementals), and death through water, earth or fire, understood in an occult sense.

Vì vậy, hãy suy nghĩ điều này, nhớ rằng những nguy hiểm ấy sẽ nằm theo tuyến của sự kích thích quá mức, của sự chấn động đột ngột, và của sự phân rã bởi lửa hay nhiệt. Nếu y tập hợp các sự sống giáng hạ tiến hoá quanh mình thì các nguy hiểm sẽ khác, hay đúng hơn sẽ biểu hiện theo hiệu ứng đối nghịch,—chẳng hạn như sự suy giảm sinh lực do hút sinh lực, sự rút cạn các mãnh lực của một hay một thể nào đó của y, sự tích tụ bất thường vật chất vào một thể nào đó (do tác động của các sự sống giáng hạ tiến hoá như các hành khí thể xác hay hành khí dục vọng), và cái chết do nước, đất hay lửa, được hiểu theo nghĩa huyền bí.

I have dealt here with the risks run by anyone who calls within his magnetic radius either of these two groups, without possessing the necessary knowledge to protect, to control and to use. Why have I dealt with this subject at all? Because these magic forms exist, and will be used and known when the student is ready, and the work requires it. Some day the lesser forms will be gradually given out to those who have prepared themselves, and who unselfishly work for the helping of the race. As I said earlier, these were known in Atlantean days. They led to dire results at that time, for they were used by those of unclean life, for selfish ends and evil purpose. They called [182] the elemental hosts to perpetuate their vengeance on their enemies; they called the lesser devas, and utilised their powers to further their ambitions; they sought not to co-operate with the law, but to wield that law for physical plane schemes which originated in their desires. The ruling Hierarchy deemed the danger too great, for the evolution of men and devas was threatened, so They withdrew gradually from the human consciousness the knowledge of the formulas and Words until such a time as the reason was developed somewhat, and the spiritual mind showed signs of awakening. In this way the two great evolutions, and the latent third evolution (composed of involutionary lives) were separated and shut off from each other. Temporarily the whole scale of vibration was slowed down for the original purpose had been a parallel development. The secret of this apparent setting back of the plans of the Logos lies hid in the remnants of active cosmic Evil that had found their way into manifestation,—a remnant of the first or activity solar system, and the basis of this, the love system. Evil is but the sediment of unfinished karma and has its root in ignorance.

Ở đây tôi đã bàn đến các rủi ro mà bất kỳ ai gặp phải khi gọi vào trong bán kính từ tính của mình một trong hai nhóm này, mà không sở hữu tri thức cần thiết để bảo vệ, để kiểm soát và để sử dụng. Vì sao tôi lại bàn đến chủ đề này? Bởi vì các hình thức huyền thuật này tồn tại, và sẽ được sử dụng và được biết khi môn sinh đã sẵn sàng, và khi công việc đòi hỏi. Một ngày nào đó các hình thức thấp hơn sẽ dần dần được ban ra cho những ai đã chuẩn bị, và những ai vô tư làm việc để giúp đỡ nhân loại. Như tôi đã nói trước đây, chúng đã được biết trong thời Atlantis. Chúng đã dẫn đến những kết quả khủng khiếp vào thời đó, vì chúng được dùng bởi những kẻ có đời sống ô uế, cho những mục đích ích kỷ và ý đồ xấu. Họ triệu thỉnh [182] các đạo quân hành khí để kéo dài sự báo thù của họ lên kẻ thù; họ triệu thỉnh các thiên thần thấp, và tận dụng các quyền năng của họ để thúc đẩy tham vọng; họ không tìm cách hợp tác với định luật, mà tìm cách vận dụng định luật ấy cho các mưu đồ cõi hồng trần vốn khởi nguồn từ các dục vọng của họ. Thánh Đoàn cai quản xét thấy mối nguy quá lớn, vì tiến hoá của con người và của các thiên thần bị đe doạ, nên Các Ngài đã dần dần rút khỏi tâm thức nhân loại tri thức về các công thức và các Linh từ cho đến một thời điểm khi lý trí đã được phát triển phần nào, và trí tuệ tinh thần cho thấy dấu hiệu thức tỉnh. Bằng cách này, hai tiến hoá lớn, và tiến hoá thứ ba tiềm ẩn (được cấu tạo bởi các sự sống giáng hạ tiến hoá) đã bị tách rời và ngăn cách khỏi nhau. Tạm thời, toàn bộ thang rung động đã bị làm chậm lại vì mục đích ban đầu vốn là một sự phát triển song song. Bí mật của sự “thụt lùi” bề ngoài này của các kế hoạch của Thượng đế nằm ẩn trong những tàn dư của Ác vũ trụ đang hoạt động đã tìm đường đi vào biểu hiện,—một tàn dư của hệ mặt trời thứ nhất hay hệ mặt trời hoạt động, và là nền tảng của hệ mặt trời này, hệ mặt trời bác ái. Cái ác chỉ là cặn lắng của nghiệp quả chưa hoàn tất và có gốc rễ trong vô minh.

This separation on a threefold scale of the evolving and the involving lives has continued up to date. With the coming in of this seventh Ray of Ceremonial Magic, a tentative approximation of the two evolving groups is to be somewhat permitted, though not as yet with the involving group. Remember this statement. The deva and human evolution will, during the next five hundred years, become somewhat more conscious of each other, and be able therefore more freely to co-operate. With this growing consciousness will be found a seeking after methods of communication. When the need of communication for constructive ends is sincerely felt, then, under the judicious guidance of the Masters, will certain of the old mantrams [183] be permitted circulation. Their action, interaction and reaction will be closely studied and watched. It is hoped that the benefit to both groups will be mutual. The human evolution should give strength to the deva, and the deva, joy to the human. Man should communicate to the devas the objective point of view, while they in turn will pour in on him their healing magnetism. They are the custodians of prana, magnetism and vitality, just as man is the custodian of the fifth principle, or manas. I have given several hints here and more is not possible.

Sự phân cách này trên một quy mô tam phân giữa các sự sống đang tiến hoá và các sự sống đang giáng hạ tiến hoá đã tiếp diễn cho đến nay. Với sự đi vào của cung bảy về Huyền thuật Nghi Lễ này, một sự xích lại gần mang tính thăm dò giữa hai nhóm đang tiến hoá sẽ được phần nào cho phép, tuy chưa phải với nhóm đang giáng hạ tiến hoá. Hãy nhớ phát biểu này. Tiến hoá thiên thần và tiến hoá nhân loại sẽ, trong năm trăm năm tới, trở nên phần nào hữu thức hơn về nhau, và do đó có thể hợp tác tự do hơn. Cùng với sự hữu thức đang tăng trưởng này sẽ xuất hiện một sự tìm kiếm các phương pháp giao tiếp. Khi nhu cầu giao tiếp vì các mục đích kiến tạo được cảm nhận một cách chân thành, thì khi ấy, dưới sự hướng dẫn thận trọng của các Chân sư, một số mantram cổ xưa [183] sẽ được cho phép lưu hành. Tác động, tương tác và phản ứng của chúng sẽ được nghiên cứu và theo dõi chặt chẽ. Người ta hy vọng lợi ích cho cả hai nhóm sẽ là tương hỗ. Tiến hoá nhân loại nên trao sức mạnh cho thiên thần, và thiên thần trao niềm vui cho con người. Con người nên truyền đạt cho các thiên thần quan điểm khách quan, trong khi họ, đến lượt mình, sẽ tuôn đổ vào con người từ điện chữa lành của họ. Họ là những người gìn giữ prana, từ điện và sinh lực, cũng như con người là người gìn giữ nguyên khí thứ năm, hay manas. Tôi đã đưa ra vài gợi ý ở đây và không thể nói thêm.

Tomorrow we will take up perhaps the most vitally interesting division on forms connected with fire. Today the matter imparted suffices.

Ngày mai chúng ta sẽ đề cập có lẽ đến phân bộ thiết yếu và thú vị nhất về các hình thức liên quan đến lửa. Hôm nay, những điều đã truyền đạt là đủ.

[Commentary 41]

August 19th, 1920.

Ngày 19 tháng 8, 1920.

August 19, 1920, 3 pm.

Ngày 19 tháng 8, 1920, 3 giờ chiều.

Today we come, Brother of Mine, to the final and perhaps the most interesting of the mantric forms in use by certain Intelligences, whether human or otherwise. We are to take up the mantric forms used in connection with fire.

Hôm nay chúng ta đi đến, huynh đệ của tôi, phần cuối cùng và có lẽ thú vị nhất trong các hình thức mantram được một số Thông Tuệ sử dụng, dù là nhân loại hay khác. Chúng ta sẽ đề cập đến các hình thức mantram được dùng liên quan đến lửa.

——

——

These are the four most important mantrams as regards individual evolution and development, and are well known to all those who train pupils for initiation. But by themselves, even if discovered by the unready, they could accomplish little, for their use must be accompanied by the power that comes from the application of the Rod of Initiation. This Rod, through its surmounting diamond, focuses the three fires in the same way that a burning glass reacts to the sun, and causes a conflagration.

Đây là bốn mantram quan trọng nhất xét về sự tiến hoá và phát triển cá nhân, và được tất cả những ai huấn luyện môn sinh để điểm đạo biết rõ. Nhưng tự chúng, dù có được khám phá bởi người chưa sẵn sàng, chúng cũng có thể làm được rất ít, vì việc sử dụng chúng phải đi kèm quyền năng đến từ việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo. Thần Trượng này, qua viên kim cương ở đỉnh của nó, hội tụ ba ngọn lửa theo cùng cách mà một kính hội tụ phản ứng với mặt trời và gây nên một trận hoả hoạn.

The great mantram of the Lords of the Flame is chanted in unison by the Lords at the time of the third initiation, when the initiate contacteth the Lord of the World Himself, and the Rod of Initiation, or the flaming Diamond is applied to the major centre then to be awakened fully. This mantram correspondeth to the one by which kundalini is awakened in the microcosm, and putteth a man in touch with that manifestation of choat which correspondeth to kundalini in the microcosm.

Mantram vĩ đại của các Chúa Tể của Ngọn Lửa được các Chúa Tể tụng xướng đồng thanh vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba, khi điểm đạo đồ tiếp xúc chính Đức Chúa Tể Thế Giới, và Thần Trượng Điểm đạo, hay Kim Cương rực lửa, được áp lên trung tâm chính yếu khi ấy cần được đánh thức trọn vẹn. Mantram này tương ứng với mantram nhờ đó kundalini được đánh thức trong tiểu thiên địa, và đặt một người vào sự tiếp xúc với biểu hiện của choat tương ứng với kundalini trong tiểu thiên địa.

A lesser mantram is chanted at the first two initiations, presided over by the Bodhisattva when the lesser Rod of Power is used. This correspondeth to the lesser mantrams used to effect the reception of prana by the spleen in the microcosm and putteth him in touch by a most mysterious process with the pranic fluids in the macrocosm.

Một mantram thấp hơn được tụng xướng trong hai lần điểm đạo đầu, do Đức Bồ Tát chủ trì khi Thần Trượng Quyền Năng nhỏ hơn được sử dụng. Điều này tương ứng với các mantram thấp hơn được dùng để tạo nên sự tiếp nhận prana bởi luân xa lá lách trong tiểu thiên địa và đặt y vào sự tiếp xúc, qua một tiến trình hết sức huyền nhiệm, với các lưu chất prana trong đại thiên địa.

(The above two facts are not yet for exoteric publication)

(Người ta chưa thể công bố hai sự kiện trên theo đường lối ngoại môn)

Mantric forms connected with fire.—Các hình thức mantram liên quan đến lửa.

Perhaps it would be of value if I touched somewhat upon the part fire plays in evolution and on the various departments connected with fire that may be found within our solar system. I especially emphasise it because in meditation the domain of fire is entered, and because of its prime importance. The departments in which fire plays its part are five. Let us therefore enumerate them. I will deal first with fire in the Macrocosm, and later show its microcosmic correspondence.

Có lẽ sẽ hữu ích nếu Tôi đề cập đôi chút đến vai trò mà lửa đảm nhiệm trong tiến hoá, và đến các bộ phận khác nhau có liên quan đến lửa, vốn có thể được tìm thấy trong hệ mặt trời của chúng ta. Tôi đặc biệt nhấn mạnh điều này vì trong tham thiền, người ta đi vào lãnh vực của lửa, và vì tầm quan trọng hàng đầu của nó. Các bộ phận mà trong đó lửa đóng vai trò của mình có năm. Vì vậy, chúng ta hãy liệt kê chúng. Trước hết Tôi sẽ bàn về lửa trong Đại thiên địa, và sau đó chỉ ra sự tương ứng vi mô của nó.

1. The vital fire that animates the objective solar system. For instance, as evidenced in the internal economy of our planet, and the central ball of fire, the sun.

1. Ngọn lửa thiết yếu làm sinh động hệ mặt trời khách quan. Chẳng hạn, như được chứng tỏ trong cơ cấu vận hành nội tại của hành tinh chúng ta, và trong khối cầu lửa trung tâm, là mặt trời.

2. That mysterious something called by H. P. B. Fohat, of which some of the manifestations are electricity, certain forms of light, and the magnetic fluid wherever encountered.

2. Một điều bí ẩn nào đó được H. P. B. gọi là Fohat, mà một số biểu hiện của nó là điện, một vài dạng ánh sáng, và lưu chất từ tính ở bất cứ nơi nào gặp thấy.

3. The fire of the mental plane. [184]

3. Lửa của cõi trí. [184]

4. The fire elementals who, in their essence, are fire itself.

4. Các hành khí lửa mà, trong tinh chất của chúng, chính là lửa.

5. The vital spark we call the “divine flame,” latent in each human being, which distinguishes our solar Logos from all other Logoi, and which is the sum of all His characteristics. “Our God is a consuming Fire.”

5. Tia lửa thiết yếu mà chúng ta gọi là “ngọn lửa thiêng liêng,” tiềm ẩn trong mỗi con người, điều phân biệt Thái dương Thượng đế của chúng ta với mọi Thượng đế khác, và là tổng hoà mọi đặc tính của Ngài. “Thượng đế của chúng ta là một Ngọn Lửa thiêu đốt.”

All these differentiations of fire are practically differentiations of one and the same thing; they are basically the same though in manifestation they are diverse. They originated fundamentally from cosmic fire found on the cosmic mental levels. In the Microcosm you find this fivefold differentiation again, and it is in the recognition of this correspondence that illumination comes, and the purpose of meditation is achieved.

Tất cả những sự phân biệt của lửa này, trên thực tế, là những sự phân biệt của một và cùng một điều; về căn bản chúng là một, dù trong biểu hiện thì đa dạng. Chúng khởi nguyên, một cách nền tảng, từ lửa vũ trụ được tìm thấy trên các cấp độ trí vũ trụ. Trong Tiểu thiên địa các bạn lại thấy sự biến phân ngũ phân này, và chính trong sự nhận biết sự tương ứng này mà sự soi sáng đến, và mục đích của tham thiền được thành tựu.

1. The vital fires that keep the internal economy of the human being,—the microcosmic system—in full manifestation. At the cessation of that inner burning, death ensues, and the physical objective system passes into obscuration. So it is in the Macrocosm. Just as the sun is the centre for our system, so the heart is the focal point for the microcosmic heat; similarly, as the earth is vitalised by the same heat and is, for our chain, the point of densest matter, and of greatest physical heat, so the lower generative organs are the secondary centre in the majority of cases for the internal fire. The correspondence is accurate, mysterious and interesting.

1. Các ngọn lửa thiết yếu duy trì cơ cấu vận hành nội tại của con người,—hệ thống vi mô—trong sự biểu lộ đầy đủ. Khi sự cháy bỏng bên trong ấy chấm dứt, cái chết xảy đến, và hệ thống khách quan hồng trần đi vào tình trạng che khuất. Trong Đại thiên địa cũng vậy. Cũng như mặt trời là trung tâm của hệ thống chúng ta, thì tim là điểm hội tụ của nhiệt vi mô; tương tự, cũng như trái đất được tiếp sinh lực bởi cùng một nhiệt ấy và là, đối với dãy của chúng ta, điểm vật chất đậm đặc nhất và nhiệt hồng trần lớn nhất, thì các cơ quan sinh dục thấp là trung tâm thứ yếu, trong đa số trường hợp, của ngọn lửa nội tại. Sự tương ứng này là chính xác, bí ẩn và thú vị.

2. The correspondence in the Microcosm to Fohat is found in the pranic currents that, through the etheric body, keep the dense physical vitalised and magnetised. The resources of the pranic fluid are illimitable and little understood, and in their [185] proper comprehension lies the secret of perfect health. We will touch upon this later.

2. Sự tương ứng trong Tiểu thiên địa với Fohat được tìm thấy trong các dòng prana mà, qua thể dĩ thái, giữ cho thể xác đậm đặc được tiếp sinh lực và được từ hoá. Các nguồn lực của lưu chất prana là vô hạn và ít được thấu hiểu, và chính trong sự thấu hiểu đúng đắn [185] của chúng mà có bí mật của sức khoẻ hoàn hảo. Chúng ta sẽ đề cập đến điều này sau.

3. The correspondence to the fire of the mental plane is easily demonstrable. For the work of the Lords of Flame in implanting the spark of mind has so developed and grown, that now the fire of intellect is to be seen burning in all civilised peoples. All energies are turned to the feeding of that spark and the turning of it to the greatest profit.

3. Sự tương ứng với lửa của cõi trí dễ dàng được chứng minh. Vì công việc của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa trong việc cấy vào tia lửa của thể trí đã phát triển và tăng trưởng đến mức nay lửa của trí tuệ có thể thấy đang cháy trong mọi dân tộc văn minh. Mọi năng lượng đều được hướng vào việc nuôi dưỡng tia lửa ấy và biến nó thành lợi ích lớn nhất.

4. The fire elementals are known in some measure in the microcosm by the thoughtforms conjured up and vitalised by the man whose thought power suffices to do so. These thoughtforms, built by the man who can think strongly, are vitalised by his life or capacity to heat, and last as long as he has the power so to animate them. This is not for long at this time as the real power of thought is little comprehended. In the fifth great cycle, which for this chain will see the culmination of the fifth principle of mind, this correspondence will be more understood. At present the connection is necessarily obscure.

4. Các hành khí lửa được biết đến phần nào trong tiểu thiên địa qua các hình tư tưởng được conjure lên và được tiếp sinh lực bởi con người mà quyền năng tư tưởng của y đủ để làm như vậy. Những hình tư tưởng này, được xây dựng bởi người có thể tư duy mạnh mẽ, được tiếp sinh lực bởi sinh lực của y hay năng lực phát nhiệt của y, và tồn tại chừng nào y còn có quyền năng làm cho chúng sống động như thế. Hiện nay điều này không kéo dài lâu, vì quyền năng thực sự của tư tưởng ít được thấu hiểu. Trong đại chu kỳ thứ năm, mà đối với dãy này sẽ chứng kiến sự viên mãn của nguyên khí thứ năm là thể trí, sự tương ứng này sẽ được hiểu rõ hơn. Hiện tại, mối liên hệ ấy tất yếu là mơ hồ.

5. The vital spark latent in each human being which marks him out as of the same nature as the Solar Logos.

5. Tia lửa thiết yếu tiềm ẩn trong mỗi con người, điều đánh dấu y là cùng bản chất với Thái dương Thượng đế.

Here you have fire as it may be seen in the greater and the lesser systems. I would here sum up for you the purpose of fire in the microcosm, and what must be aimed at. You have the three fires:

Ở đây các bạn có lửa như có thể thấy trong các hệ thống lớn và nhỏ. Ở đây Tôi muốn tóm lược cho các bạn mục đích của lửa trong tiểu thiên địa, và điều phải nhắm đến. Các bạn có ba ngọn lửa:

1. The vital divine spark.

1. Tia lửa thiêng liêng thiết yếu.

2. The spark of mind.

2. Tia lửa của thể trí.

3. Kundalini, the twofold blending of the internal heat and of the pranic current. The home of this [186] force is the centre at the base of the spine and the spleen as a feeder of that heat.

3. Kundalini, sự hoà trộn nhị phân của nhiệt nội tại và của dòng prana. Nơi cư ngụ của mãnh lực này [186] là trung tâm ở đáy cột sống và luân xa lá lách như một nguồn nuôi của nhiệt ấy.

When these three fires—that of the quaternary, of the triad and of the fifth principle—meet and blend in proper geometrical manner, each centre is adequately vitalised, every power is sufficiently expressing itself, all impurity and dross is burnt away, and the goal is reached. The spark has become a flame, and the flame is part of the great egoic blaze which animates all of the objective universe.

Khi ba ngọn lửa này—của bộ bốn, của tam nguyên tinh thần và của nguyên khí thứ năm—gặp nhau và hoà trộn theo cách hình học đúng đắn, mỗi trung tâm đều được tiếp sinh lực đầy đủ, mọi quyền năng đều đang biểu lộ đầy đủ, mọi ô uế và cặn bã đều bị thiêu đốt, và mục tiêu được đạt tới. Tia lửa đã trở thành ngọn lửa, và ngọn lửa là một phần của ngọn lửa chân ngã vĩ đại làm sinh động toàn bộ vũ trụ khách quan.

Therefore, we are brought logically to the position that there will be for these three types of mantrams another mantram which will bring about their union and merging. You have in fact:—

Vì vậy, chúng ta được dẫn một cách hợp lý đến lập trường rằng đối với ba loại mantram này sẽ có một mantram khác đem lại sự hợp nhất và hoà nhập của chúng. Thực ra các bạn có:—

• Mantrams that affect kundalini, and arouse it in the right manner. By the power of the vibration they send it circulating through the centres according to their natural, geometrical progression. A secondary branch of these mantrams deals with the spleen, and the control of the pranic fluids for the purpose of health, for vitalisation, and for affecting the fire at the base of the spine.

• Các mantram tác động đến kundalini, và khơi dậy nó theo cách đúng đắn. Bằng quyền năng của rung động, chúng khiến nó lưu chuyển qua các trung tâm theo tiến trình hình học tự nhiên của chúng. Một nhánh thứ yếu của các mantram này bàn đến luân xa lá lách, và sự kiểm soát các lưu chất prana nhằm mục đích sức khoẻ, nhằm tiếp sinh lực, và nhằm tác động đến ngọn lửa ở đáy cột sống.

• Mantrams that work on the matter of the mental plane, on one or other of its two main divisions,—abstract and concrete,—and which work there in a twofold manner, producing an increased capacity to think, wield or manipulate mental matter, and, acting as a stimulant to the causal body, fit it more rapidly as a vehicle of consciousness, and prepare it for the final disintegration which is effected by fire.

• Các mantram hoạt động trên vật chất của cõi trí, trên một trong hai phân khu chính của nó,—trí trừu tượng và trí cụ thể,—và hoạt động ở đó theo cách nhị phân, tạo ra năng lực gia tăng để tư duy, sử dụng hay thao tác vật chất trí, và, như một chất kích thích đối với thể nguyên nhân, khiến nó nhanh chóng thích hợp hơn như một vận cụ của tâm thức, và chuẩn bị nó cho sự tan rã sau cùng vốn được thực hiện bởi lửa.

• Mantrams that evoke the God within, and work specifically on the Ego. From thence they set up a [187] strong vibration within the higher Triad, and so cause a downflow of the monadic force into the causal body. All these mantrams can be used separately, and achieve their own result.

• Các mantram gợi lên Thượng đế bên trong, và hoạt động một cách đặc thù trên Chân ngã. Từ đó chúng thiết lập một [187] rung động mạnh mẽ trong Tam Nguyên Tinh Thần cao, và vì vậy gây ra một dòng chảy xuống của mãnh lực chân thần vào thể nguyên nhân. Tất cả các mantram này có thể được dùng riêng rẽ, và đạt được kết quả riêng của chúng.

There are seven great mantrams, one for each ray, that (when used by the Master or by a member of the Hierarchy) combine all the three effects. They arouse kundalini, they work on the causal vehicle on the mental plane, and they set up a vibration in the Triad and thus effect an at-one-ment of the lower, the higher and the fifth principle. This is a reflection of what occurred at the coming of the Lords of Flame. It leads to complete unification, and marks the man out henceforth as one in whom love demonstrates in action by the aid of illuminated mind.

bảy mantram lớn, một cho mỗi cung, mà (khi được Chân sư hoặc một thành viên của Thánh Đoàn sử dụng) kết hợp cả ba hiệu quả. Chúng khơi dậy kundalini, chúng tác động lên vận cụ nguyên nhân trên cõi trí, và chúng thiết lập một rung động trong Tam Nguyên Tinh Thần và do đó thực hiện sự hoà nhất của phần thấp, phần cao và nguyên khí thứ năm. Đây là một phản ánh của điều đã xảy ra khi các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa đến. Nó dẫn đến sự hợp nhất hoàn toàn, và từ đó về sau đánh dấu con người như một người mà trong đó bác ái được chứng tỏ trong hành động nhờ sự trợ giúp của trí tuệ được soi sáng.

These are the four most important mantrams as regards individual evolution and development, and are well-known to all those who train pupils for initiation. But by themselves, even if discovered by the unready, they could accomplish little, for their use must be accompanied by the power that comes from the application of the Rod of Initiation. This Rod, through its surmounting diamond, focuses the three fires in the same way that a burning glass reacts to the sun, and causes a conflagration.

Đây là bốn mantram quan trọng nhất liên quan đến tiến hoá và phát triển cá nhân, và được tất cả những ai huấn luyện môn sinh cho điểm đạo biết rõ. Nhưng tự chúng, ngay cả nếu được người chưa sẵn sàng khám phá, chúng cũng có thể làm được rất ít, vì việc sử dụng chúng phải đi kèm quyền năng đến từ sự áp dụng Thần Trượng Điểm đạo. Thần Trượng này, qua viên kim cương ở đỉnh của nó, hội tụ ba ngọn lửa theo cùng cách mà một kính hội tụ phản ứng với mặt trời, và gây ra một trận hoả hoạn.

I have here given you a lot of information in very few words. The matter is much condensed. It has a special significance for the man who nears the Path of Initiation. Ponder carefully on this which is imparted, for, by brooding upon it in the silence of the heart, light may come, and the inner fire glow with greater heat.

Tôi đã trao cho các bạn rất nhiều thông tin trong rất ít lời. Vấn đề được cô đọng rất nhiều. Nó có một thâm nghĩa đặc biệt đối với người đang tiến gần Con Đường Điểm Đạo. Hãy suy ngẫm cẩn trọng về điều được truyền đạt này, vì, bằng cách ấp ủ nó trong sự im lặng của trái tim, ánh sáng có thể đến, và ngọn lửa bên trong rực lên với nhiệt lớn hơn.

Other mantrams connected with fire can be further enumerated. There are two groups that are contacted by the use of certain rhythmic sounds. [188]

Các mantram khác liên quan đến lửa có thể được liệt kê thêm. Có hai nhóm được tiếp xúc nhờ việc sử dụng một số âm thanh nhịp điệu nhất định. [188]

• The fire elementals and their various hosts in the bowels of the earth, on the surface of the earth, and in the air above the earth.

• Các hành khí lửa và các đạo binh khác nhau của chúng trong lòng đất, trên bề mặt trái đất, và trong không khí phía trên trái đất.

• The devas of the mental plane, who are essentially the devas of fire.

• Các thiên thần của cõi trí, vốn về bản chất là các thiên thần của lửa.

With the mantrams affecting the elementals of fire there is nought to be said or imparted. They are, in many ways, the most dangerous and the most powerful of the elementals who attend to the earth economy. For one thing, they far outnumber all the other elementals, and are found on every plane from the highest to the lowest. The elementals of water or earth are found only in certain localities or spheres in the solar system, whilst the next most numerous elementals are those of air.

Với các mantram tác động đến các hành khí của lửa thì không có gì để nói hay truyền đạt. Chúng, theo nhiều cách, là những hành khí nguy hiểm nhất và quyền năng nhất trong số các hành khí chăm lo cơ cấu vận hành của trái đất. Trước hết, chúng đông hơn rất nhiều so với mọi hành khí khác, và được tìm thấy trên mọi cõi từ cao nhất đến thấp nhất. Các hành khí nước hay đất chỉ được tìm thấy trong một số địa phương hay khối cầu nhất định trong hệ mặt trời, trong khi những hành khí đông thứ nhì là hành khí khí.

Mantrams calling them, controlling and dismissing them, were in common use among the Atlanteans. The dangers aroused, and the menace stalking the land through the indiscriminate use of elementals, so disturbed the accurate working of the logoic plans, and so displeased the Guides of the race that the knowledge was withdrawn. The Atlantean root race passed away through disasters by water, by floods, by submergings; when you remember that water is the natural enemy of fire, and that the two groups of elementals have no point of at-one-ment at this stage, you may be able to understand an interesting point about the Atlantean cataclysms.

Các mantram gọi chúng, kiểm soát và giải tán chúng, đã từng được sử dụng phổ biến trong giống dân Atlantis. Những nguy hiểm bị khơi dậy, và mối đe doạ rình rập trên đất liền do việc sử dụng hành khí một cách bừa bãi, đã làm xáo trộn sự vận hành chính xác của các Thiên Cơ của Thượng đế, và làm các Đấng Hướng Dẫn của nhân loại không hài lòng đến mức tri thức ấy bị rút lại. Giống dân gốc Atlantis đã qua đi bởi các tai hoạ do nước, do lũ lụt, do sự chìm ngập; khi các bạn nhớ rằng nước là kẻ thù tự nhiên của lửa, và rằng hai nhóm hành khí này ở giai đoạn này không có điểm hoà nhất nào, các bạn có thể hiểu được một điểm thú vị về các đại biến động của Atlantis.

Mantrams calling the fire devas are equally well guarded, not only because of the dangers involved but because of the obstructions in time that are caused when these devas are heedlessly called and held by mantric charm from pursuing their necessary vocations. Under these two groups of mantric forms will be found many lesser groups which work specifically with different bands of elementals and devas. [189]

Các mantram gọi các thiên thần lửa cũng được canh giữ nghiêm ngặt như vậy, không chỉ vì những nguy hiểm liên quan mà còn vì những cản trở về thời gian được gây ra khi các thiên thần này bị con người gọi một cách bất cẩn và bị giữ lại bằng bùa chú mantram, khiến chúng không theo đuổi các thiên chức cần thiết của mình. Dưới hai nhóm hình thức mantram này sẽ có nhiều nhóm nhỏ hơn hoạt động đặc thù với các đoàn hành khí và thiên thần khác nhau. [189]

We have here enumerated six groups of mantrams connected with fire. There are still a few more which I might briefly enumerate.

Ở đây chúng ta đã liệt kê sáu nhóm mantram liên quan đến lửa. Vẫn còn một vài nhóm nữa mà Tôi có thể liệt kê ngắn gọn.

1. Purificatory mantrams that awaken a fire that purifies, and burns on one of the three lower planes. This is effected through the activity of elementals, controlled by fire devas, and under the direct guidance of an initiate or disciple for some specific purificatory end. The end may be to cleanse some one of the bodies or to purify a locality, a house or a temple.

1. Các mantram thanh tẩy đánh thức một ngọn lửa thanh lọc, và thiêu đốt trên một trong ba cõi thấp. Điều này được thực hiện qua hoạt động của các hành khí, được các thiên thần lửa kiểm soát, và dưới sự hướng dẫn trực tiếp của một điểm đạo đồ hay đệ tử vì một mục đích thanh tẩy cụ thể nào đó. Mục đích có thể là làm sạch một trong các thể hoặc thanh tẩy một địa điểm, một ngôi nhà hay một ngôi đền.

2. Mantrams that call down fire for the magnetisation of talismans, of stones and of sacred spots.

2. Các mantram gọi lửa xuống để từ hoá các bùa hộ mệnh, các hòn đá và các nơi chốn thiêng liêng.

3. Mantrams that bring about healing through the occult use of flame.

3. Các mantram đem lại sự chữa lành qua việc sử dụng huyền bí của ngọn lửa.

4. The mantrams used:—

4. Các mantram được dùng:—

a. By the Manu, in manipulating that which is necessary in the moving of continents, and the submerging of lands.

a. Bởi Đức Manu, trong việc thao tác điều cần thiết cho sự dịch chuyển các lục địa, và sự chìm ngập các vùng đất.

b. By the Bodhisattva, in stimulating the inner flame in each human being.

b. Bởi Đức Bồ Tát, trong việc kích thích ngọn lửa nội tại trong mỗi con người.

c. By the Mahachohan, in His work with the intelligence, or the fifth principle.

c. Bởi Đức Mahachohan, trong công việc của Ngài với trí tuệ, hay nguyên khí thứ năm.

All these mantric forms and many others exist…… Brother of Mine, and it will some day be your prerogative—along with all who may achieve—to learn them and to use them. The first step towards the attainment of these mantrams is the acquirement of the faculty of occult meditation, for it is not the sounding of the words alone that bring about the desired end but the mental concentration that visualises the results to be attained. This must be accompanied by the will that causes those results to be dominated by the one who chants the sounds. These mantric forms are dangerous and useless apart from the concentrated mental equilibrium of the man, and his power to control and vitalise. [190]

Tất cả các hình thức mantram này và nhiều hình thức khác nữa đều tồn tại…… huynh đệ của tôi, và một ngày nào đó sẽ là đặc quyền của các bạn—cùng với tất cả những ai có thể đạt được—để học chúng và sử dụng chúng. Bước đầu tiên hướng tới việc đạt được các mantram này là đạt được năng lực tham thiền huyền bí, vì không phải chỉ riêng việc xướng các lời mới đem lại mục đích mong muốn mà là sự tập trung trí tuệ hình dung các kết quả cần đạt. Điều này phải đi kèm với ý chí khiến các kết quả ấy bị người xướng các âm thanh chi phối. Các hình thức mantram này nguy hiểm và vô dụng nếu tách rời khỏi sự quân bình trí tuệ tập trung của con người, và quyền năng kiểm soát và tiếp sinh lực của y. [190]

[Commentary 42]

August 21, 1920.

Ngày 21 tháng 8, 1920.

We come now to the last division of our sixth letter.

Giờ đây chúng ta đến với phần phân chia cuối cùng của bức thư thứ sáu của chúng ta.

The use of Form collectively.—Việc sử dụng Hình tướng một cách tập thể.

I propose to take this up under three heads which for purposes of clarity we will call:—

Tôi dự định trình bày điều này dưới ba đề mục mà vì mục đích rõ ràng chúng ta sẽ gọi là:—

1. The use of sound collectively in a meditation form.

1. Việc sử dụng âm thanh một cách tập thể trong một hình thức tham thiền.

2. The use of rhythm collectively in meditation.

2. Việc sử dụng nhịp điệu một cách tập thể trong tham thiền.

3. Special occasions on which these forms are used.

3. Những dịp đặc biệt mà trong đó các hình thức này được sử dụng.

(You can, Brother of Mine, word these first two heads more euphoniously, you have got my thought but the wording is heavy and faulty)

(Huynh đệ của tôi, bạn có thể diễn đạt hai đề mục đầu này êm tai hơn; các bạn đã nắm được ý của Tôi nhưng cách diễn đạt thì nặng nề và vụng về)

……We have rather exhaustively considered in this series of letters individual meditation and have taken up the subject from many and varied angles. In all our handling of the matter only enough has been communicated to arouse the interest of the student and to incite him to greater effort, closer study, and deeper investigation. Only that which is understood and grasped as a fact in experience by the inner consciousness avails aught in the hard path of occult development. Theories and mental concepts avail not. They but increase responsibility. Only when these theories are put to the test, and are consequently known to be facts in nature, and only when mental concepts are brought down and demonstrated on the physical plane in practical experience, can the student be in a position to point the way to other searchers, and to hold out a helping hand to those following behind. To say: “I hear” may prove helpful and encouraging; to add to that the words “I believe” may carry added assurance, but to sound forth a trumpet note and say “I know” is the thing needed in this one of the darkest hours of the Kali Yuga. The knowers are as yet few. Yet to know is fully possible and is subject only to the diligence, the sincerity, and the capacity of the pupil on the path to stand firm in suffering. [191]

……Chúng ta đã xem xét khá đầy đủ trong loạt thư này về tham thiền cá nhân và đã tiếp cận chủ đề từ nhiều góc độ khác nhau. Trong toàn bộ sự xử lý vấn đề của chúng ta, chỉ đủ điều đã được truyền đạt để khơi dậy mối quan tâm của môn sinh và thúc đẩy y nỗ lực hơn, học tập sát sao hơn, và khảo cứu sâu hơn. Chỉ điều gì được tâm thức bên trong thấu hiểu và nắm bắt như một sự kiện trong kinh nghiệm mới có giá trị nào đó trên con đường gian khó của sự phát triển huyền bí. Các lý thuyết và khái niệm trí tuệ không có giá trị. Chúng chỉ làm tăng trách nhiệm. Chỉ khi các lý thuyết này được đem ra thử nghiệm, và vì vậy được biết là các sự kiện trong bản chất, và chỉ khi các khái niệm trí tuệ được đem xuống và được chứng tỏ trên cõi hồng trần trong kinh nghiệm thực tiễn, môn sinh mới có thể ở vào vị thế chỉ đường cho những người tìm kiếm khác, và đưa tay trợ giúp cho những người theo sau. Nói: “Tôi nghe” có thể hữu ích và khích lệ; thêm vào đó lời “Tôi tin” có thể đem lại sự bảo đảm gia tăng, nhưng thổi lên một tiếng kèn và nói “Tôi biết” mới là điều cần thiết trong một trong những giờ khắc đen tối nhất của thời Kali Yuga. Những người biết vẫn còn ít. Tuy vậy, việc biết là hoàn toàn có thể và chỉ tuỳ thuộc vào sự chuyên cần, sự chân thành, và năng lực của môn sinh trên đường đạo để đứng vững trong đau khổ. [191]

Now having some dim idea of the results to be achieved, and the methods to be employed in individual meditation, and having enlarged a little on the use of forms by individuals, we can now take up the consideration of the matter from the collective standpoints.

Giờ đây, khi đã có một ý niệm mơ hồ về các kết quả cần đạt, và các phương pháp cần dùng trong tham thiền cá nhân, và khi đã mở rộng đôi chút về việc sử dụng các hình thức bởi cá nhân, chúng ta có thể bắt đầu xem xét vấn đề từ các quan điểm tập thể.

Some of the most important things to note about the collective use of forms are that it has a universal vogue, is very effective, and can also be very dangerous. The collective worshipping of the Deity and the performance of religious rites in unison is so much a part of the public life of all peoples that its raison d’etre, and the results achieved, are apt to be overlooked. Every religion—Christian, Buddhist, Hindu, Mohammedan, down to the distorted fetish worship of the most degraded race—has emphasised the value and efficiency of a united attempt to contact the Divine. Results are inevitably achieved, ranging all the way from the calm and peaceful feeling that rests upon the participant in the Christian mysteries, to the frenzy and gyrations of the wildest dervish or the most benighted Zulu. The difference lies in the ability of the worshipper to assimilate force, and in his capacity to hold and carry it. These points are decided by his place on the ladder of evolution, and by the emotional and mental control of which he may be possessed.

Một số điều quan trọng nhất cần lưu ý về việc sử dụng các hình thức một cách tập thể là: nó có tính phổ quát, rất hiệu quả, và cũng có thể rất nguy hiểm. Việc thờ phượng Thượng đế một cách tập thể và việc cử hành các nghi lễ tôn giáo đồng thanh là một phần của đời sống công cộng của mọi dân tộc đến mức lý do tồn tại của nó, và các kết quả đạt được, dễ bị bỏ qua. Mọi tôn giáo—Cơ Đốc, Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, cho đến sự thờ vật tổ bị bóp méo của giống dân suy đồi nhất—đều đã nhấn mạnh giá trị và hiệu lực của một nỗ lực hợp nhất nhằm tiếp xúc với Đấng Thiêng Liêng. Kết quả tất yếu đạt được, trải rộng từ cảm giác bình an và thanh thản bao phủ người tham dự các huyền nhiệm Cơ Đốc, cho đến sự cuồng loạn và những vòng xoay của kẻ dervish hoang dại nhất hay người Zulu u tối nhất. Sự khác biệt nằm ở khả năng của người thờ phượng trong việc đồng hoá mãnh lực, và ở năng lực của y trong việc giữ và mang nó. Những điểm này được quyết định bởi vị trí của y trên chiếc thang tiến hoá, và bởi sự kiểm soát cảm xúc và trí tuệ mà y có thể sở hữu.

The first postulate to remember in considering the collective use of form in meditation is that those forms, in employing sound and rhythm, should open up a funnel of communication between those taking part in them and the Intelligences or Powers they are seeking to approach. By the means of this funnel which penetrates from the physical to the emotional, or still higher to one or other of the mental levels, the Intelligences or Powers are enabled to pour forth illuminating light or power of some kind or other into those who thus approach Them. The funnel [192] forms a channel whereby the contact can be made. The whole process is purely scientific and is based on vibration, and on a knowledge of dynamics. It is dependent upon the accurate formation, through occult knowledge, of a vacuum. The occult statement that “Nature abhors a vacuum” is entirely true. When through the correct intoning of certain sounds, this vacuum or empty funnel between the higher and the lower is formed, force or power of some manifestation of fohatic energy pours into the funnel under the inevitable working of the law, and, via that funnel, reaches its objective.

Tiền đề đầu tiên cần nhớ khi xem xét việc sử dụng hình tướng một cách tập thể trong tham thiền là: các hình thức ấy, khi sử dụng âm thanh và nhịp điệu, phải mở ra một cái phễu giao thông giữa những người tham dự và các Thông Tuệ hay Quyền Năng mà họ đang tìm cách tiếp cận. Nhờ cái phễu này, xuyên thấu từ cõi hồng trần lên cõi cảm dục, hoặc cao hơn nữa lên một trong các cấp độ trí, các Thông Tuệ hay Quyền Năng có thể tuôn đổ ánh sáng soi sáng hay một loại quyền năng nào đó vào những người đang tiếp cận Các Ngài như vậy. Cái phễu [192] tạo thành một kênh nhờ đó sự tiếp xúc có thể được thực hiện. Toàn bộ tiến trình hoàn toàn mang tính khoa học và dựa trên rung động, và trên tri thức về động lực học. Nó tuỳ thuộc vào việc tạo lập chính xác, qua tri thức huyền bí, một khoảng chân không. Mệnh đề huyền bí rằng “Thiên nhiên ghét khoảng chân không” là hoàn toàn đúng. Khi, qua việc xướng đúng đắn một số âm thanh nhất định, khoảng chân không hay cái phễu trống rỗng giữa phần cao và phần thấp này được hình thành, mãnh lực hay quyền năng của một biểu hiện nào đó của năng lượng fohat tuôn vào cái phễu theo sự vận hành tất yếu của định luật, và, qua cái phễu ấy, đi đến mục tiêu của nó.

It is on the misuse of this knowledge that much of what we call black art or evil magic is based. By means of invocation and forms the Dark Brothers (or those who tamper with what you ignorantly term the powers of evil) tap forces connected with dark intelligences in high places. Thus they set in motion happenings on the physical plane that have their origination in the dark mysterious caves of cosmic evil as found within our solar system. Equally so, it is possible to tap the still greater forces of light and good and to make application of them on the side of evolution.

Chính trên sự lạm dụng tri thức này mà phần lớn điều chúng ta gọi là hắc thuật hay huyền thuật xấu xa được đặt nền. Bằng phương tiện khẩn cầu và các hình thức, các Huynh Đệ Bóng Tối (hay những kẻ can thiệp vào điều mà các bạn, trong vô minh, gọi là các quyền năng của điều ác) khai thác các mãnh lực liên hệ với các thông tuệ đen tối ở những nơi cao. Như vậy, họ khởi động những biến cố trên cõi hồng trần mà nguồn gốc của chúng nằm trong các hang động đen tối bí ẩn của cái ác vũ trụ như được tìm thấy trong hệ mặt trời của chúng ta. Cũng tương tự như vậy, người ta có thể khai thác các mãnh lực còn lớn hơn của ánh sáng và điều thiện và áp dụng chúng về phía tiến hoá.

(Sit up, Brother of Mine, for in the reception of my dictated word it is essential that there should be direct alignment betwixt the major head centre which you employ and the base of the spine via the spinal column.)

(Hãy ngồi thẳng, huynh đệ của tôi, vì trong việc tiếp nhận lời đọc của Tôi, điều thiết yếu là phải có sự chỉnh hợp trực tiếp giữa trung tâm đầu lớn mà các bạn sử dụng và đáy cột sống qua cột sống.)

The use of sound collectively in meditation forms.—Việc sử dụng âm thanh một cách tập thể trong các hình thức tham thiền.

We will now take up the matter specifically from the standpoint of sound. In the study of the Sacred Word and its use we found that it had a triple effect, destructive, constructive and personal,—if I might so express it—or acting directly in a stimulating sense on the centres of the body. These three effects may be seen in the use of all sound collectively and by a large body of persons. We might enumerate still further for the sake of clarity a fourth effect, that of the creation of a funnel. This fourth effect is but a synthesis of the others in actuality, for adjustments [193] in the matter of the three lower planes have to be made in this creation of a funnel of communication. Those adjustments result first of all in the destruction of obstructing matter, and then in the construction of a funnel for use. This is very definitely effected through the instrumentality of the centres. This latter point is of fundamental interest, and holds hid the secret of the most potent use of sound. That use is its projection in mental matter by means of one or other of the major centres. The effects achieved by a group of persons who have the power to work on mental levels, and to employ simultaneously one of the major centres (either entirely the head centre or one of the other major centres in connection with its corresponding head centre) can be unbelievably powerful. It is well for the race that as yet that power is not theirs. Only when united purity of motive and an unselfish adherence to the good of all can be found, will this power be permitted to return to the common knowledge of men. As yet it is practically impossible to get a sufficient number of people at the same stage of evolution, at the same point on the ladder, employing the same centre and responding to the same ray vibration to meet in unison, and sound together the same note or mantram. They must also be animated by pure love, and work intelligently for the spiritual uplift of all.

Giờ đây chúng ta sẽ bàn vấn đề một cách đặc thù từ quan điểm của âm thanh. Trong việc nghiên cứu Linh Từ Thiêng Liêng và việc sử dụng nó, chúng ta đã thấy rằng nó có một hiệu quả tam phân, huỷ diệt, kiến tạo và cá nhân,—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy—hay tác động trực tiếp theo nghĩa kích thích lên các trung tâm của thể. Ba hiệu quả này có thể được thấy trong việc sử dụng mọi âm thanh một cách tập thể và bởi một đoàn thể đông người. Vì mục đích rõ ràng, chúng ta có thể liệt kê thêm một hiệu quả thứ tư, đó là sự tạo lập một cái phễu. Hiệu quả thứ tư này, trên thực tế, chỉ là một sự tổng hợp của các hiệu quả khác, vì các điều chỉnh [193] trong vật chất của ba cõi thấp phải được thực hiện trong việc tạo lập cái phễu giao thông này. Những điều chỉnh ấy trước hết dẫn đến sự huỷ diệt vật chất gây cản trở, rồi đến sự kiến tạo một cái phễu để sử dụng. Điều này được thực hiện một cách rất xác định qua công cụ là các trung tâm. Điểm sau cùng này có mối quan tâm nền tảng, và ẩn giấu bí mật của việc sử dụng âm thanh mạnh mẽ nhất. Việc sử dụng đó là sự phóng chiếu nó trong vật chất trí bằng phương tiện một trong các trung tâm lớn. Các hiệu quả đạt được bởi một nhóm người có quyền năng hoạt động trên các cấp độ trí, và đồng thời sử dụng một trong các trung tâm lớn (hoặc hoàn toàn là trung tâm đầu hoặc một trong các trung tâm lớn khác liên hệ với trung tâm đầu tương ứng của nó) có thể mạnh mẽ đến mức khó tin. Thật tốt cho nhân loại là cho đến nay quyền năng ấy chưa thuộc về họ. Chỉ khi có thể tìm thấy sự trong sạch hợp nhất của động cơ và sự gắn bó vô tư với thiện ích của tất cả, quyền năng này mới được phép trở lại như tri thức phổ biến của con người. Hiện nay, hầu như không thể có đủ số người ở cùng một giai đoạn tiến hoá, ở cùng một điểm trên chiếc thang, sử dụng cùng một trung tâm và đáp ứng cùng một rung động cung để gặp nhau đồng thanh, và cùng xướng một âm điệu hay mantram. Họ cũng phải được thúc đẩy bởi bác ái thuần khiết, và làm việc một cách thông minh cho sự nâng cao tinh thần của tất cả.

Part of the power of the Hierarchy is based on Their ability to do just this very thing. As evolution progresses, and the matter is more fully comprehended, meditation groups will change from their present status, which is that of bands of earnest aspirants seeking illumination, to bands of workers constructively and intelligently working together for certain ends. You have in the Christian Bible the remnant of a tale which has descended to us from Atlantean days. In those days the use of sound on physical [194] and emotional levels was understood and practised, being utilised for selfish ends in most of the cases. You read that at the sound of trumpets, sounded a certain number of times after a rhythmical circuit of the walls of Jericho those walls collapsed. This was made possible by the occult knowledge of the leaders of the people who—being versed in the science of sound and having studied its destructive and creative effects,—knew just the moment to apply that science and effect the desired end.

Một phần quyền năng của Thánh Đoàn dựa trên khả năng của Các Ngài làm chính điều này. Khi tiến hoá tiến triển, và vấn đề được thấu hiểu đầy đủ hơn, các nhóm tham thiền sẽ thay đổi khỏi tình trạng hiện nay, vốn là những nhóm người chí nguyện nghiêm túc tìm kiếm sự soi sáng, để trở thành những nhóm người hoạt động kiến tạo và thông minh làm việc cùng nhau vì những mục đích nhất định. Trong Kinh Thánh Cơ Đốc, các bạn có tàn tích của một câu chuyện đã truyền xuống cho chúng ta từ thời Atlantis. Trong những ngày ấy, việc sử dụng âm thanh trên các cấp độ hồng trần [194] và cảm dục đã được thấu hiểu và thực hành, và trong đa số trường hợp được dùng cho các mục đích ích kỷ. Các bạn đọc rằng, theo tiếng kèn vang lên, được thổi một số lần nhất định sau một vòng đi nhịp nhàng quanh các bức tường Jericho, những bức tường ấy sụp đổ. Điều này trở nên khả dĩ nhờ tri thức huyền bí của các vị lãnh đạo dân chúng, những người—vì tinh thông khoa học âm thanh và đã nghiên cứu các hiệu quả huỷ diệt và sáng tạo của nó,—biết chính xác thời điểm để áp dụng khoa học ấy và đạt được mục đích mong muốn.

These sounds can be grouped under three heads:—

Những âm thanh này có thể được nhóm lại dưới ba đề mục:—

The united sounding of the Sacred Word.—Việc hợp nhất xướng Linh Từ Thiêng Liêng.

This is one of the most usual methods, and the most direct way of forming a funnel for the transmission of power. If it is so effective in the case of the individual, as has been again and again demonstrated, surely its united use will be tremendously effective, and even dangerously potent. It is the loss of the use of this Word that has crippled and hindered the efficiency of all the present exoteric faiths, but this loss has been deliberately brought about owing to the dangers incident to the low point of evolution of the human hierarchy. When the use of this word is restored collectively, and when congregations of men can sound it correctly on the right note and in the right cadence or rhythm, then the downflow of force from above (the quality of that force depending on key and tone) will be such that the vivification of the microcosm will affect the surrounding country and environment. It will cause corresponding stimulation in all the kingdoms of nature, for the human kingdom forms a link between the higher and the lower, and, in conjunction with the deva kingdom, provides a meeting ground for the forces of life.

Đây là một trong những phương pháp thường dùng nhất, và là cách trực tiếp nhất để tạo thành một cái phễu cho sự truyền dẫn quyền năng. Nếu nó hữu hiệu đến thế trong trường hợp cá nhân, như đã được chứng minh hết lần này đến lần khác, thì chắc chắn việc sử dụng hợp nhất sẽ vô cùng hữu hiệu, và thậm chí mạnh đến mức nguy hiểm. Chính sự mất đi việc sử dụng Linh từ này đã làm tê liệt và cản trở hiệu năng của mọi đức tin ngoại môn hiện nay; nhưng sự mất mát ấy đã được cố ý tạo ra vì những hiểm nguy đi kèm với điểm tiến hoá thấp của thang tiến hoá nhân loại. Khi việc sử dụng Linh từ này được phục hồi một cách tập thể, và khi các hội chúng của nhân loại có thể xướng nó đúng đúng chủ âm và đúng nhịp điệu hay tiết tấu, thì dòng mãnh lực tuôn xuống từ bên trên (phẩm tính của mãnh lực ấy tuỳ thuộc vào chủ âm và âm điệu) sẽ đến mức sự tiếp sinh lực cho tiểu thiên địa sẽ tác động đến vùng đất và môi trường xung quanh. Nó sẽ gây ra sự kích thích tương ứng trong mọi giới của bản chất, vì giới nhân loại tạo thành một mối liên kết giữa cao và thấp, và, phối hợp với giới thiên thần, cung cấp một địa bàn hội tụ cho các mãnh lực của sự sống.

These effects upon the different centres will be definitely felt on one or other plane in the three worlds. Let [195] me illustrate, for clarity is desired. I must warn you however to bear in mind that no importance must be attached to the order specified here. The time is not ripe for the opening up of accurate information on this matter.

Những tác dụng này trên các trung tâm khác nhau sẽ được cảm nhận rõ rệt trên một hay một cõi nào đó trong ba cõi thấp. Xin [195] cho phép tôi minh hoạ, vì cần sự rõ ràng. Tuy nhiên, tôi phải cảnh báo các bạn hãy ghi nhớ rằng không được gán tầm quan trọng nào cho thứ tự được nêu ra ở đây. Thời điểm chưa chín muồi để mở ra thông tin chính xác về vấn đề này.

We will presume that a congregation of people is desirous of linking up with that channel of force that works through the emotions, and so stimulates to greater aspiration and love. In united silence they will stand until, at a given word from the leader, each unit in the group will deliberately withdraw his consciousness into the heart centre, and then from that heart centre (keeping the consciousness steadily there) he will drive forth the sound of the Sacred Word, pitched in the key to which the majority of the group respond. This key will be ascertained by the clairvoyant group leader reviewing rapidly the auras gathered before him. This sound will create the necessary funnel, and the result will be an immense temporary extension of the peripheries of the emotional bodies of the participants, and an intense vitalisation of their heart centres. By means of this the people will be enabled to reach heights and receive blessings otherwise not separately possible. You can for yourself think out other conditions. The use of the imagination in these matters is of real importance and develops a connection between that faculty and its higher counterpart, the intuition. Students of meditation must learn to imagine more.

Chúng ta giả định rằng một hội chúng mong muốn nối kết với kênh mãnh lực hoạt động qua cảm xúc, và do đó kích thích khát vọng cùng bác ái lớn hơn. Trong sự im lặng hợp nhất, họ sẽ đứng yên cho đến khi, theo một lời hiệu lệnh nhất định từ người hướng dẫn, mỗi đơn vị trong nhóm sẽ cố ý rút tâm thức của y vào trung tâm tim, và rồi từ trung tâm tim ấy (giữ tâm thức vững vàng ở đó) y sẽ phóng ra âm xướng của Linh từ Thiêng Liêng, được đặt theo chủ âm mà đa số trong nhóm đáp ứng. Chủ âm này sẽ được xác định bởi người hướng dẫn nhóm có thông nhãn, khi y nhanh chóng quan sát các hào quang tụ hội trước mặt. Âm xướng này sẽ tạo ra cái phễu cần thiết, và kết quả sẽ là sự mở rộng tạm thời rất lớn của các chu vi của các thể cảm dục của những người tham dự, cùng sự tiếp sinh lực mãnh liệt cho các trung tâm tim của họ. Nhờ đó, người ta sẽ có thể đạt đến những đỉnh cao và tiếp nhận các phúc lành mà nếu riêng lẻ thì không thể có. Các bạn có thể tự mình nghĩ ra những điều kiện khác. Việc sử dụng sự tưởng tượng trong những vấn đề này thật sự quan trọng và phát triển một mối liên hệ giữa năng lực ấy với đối phần cao hơn của nó là trực giác. Các môn sinh tham thiền phải học cách tưởng tượng nhiều hơn.

The united sounding of certain mantrams which will be employed for specific purposes. Instances of such purposes are:—

Việc xướng hợp nhất một số mantram nhất định sẽ được dùng cho những mục đích chuyên biệt. Những ví dụ về các mục đích ấy là:—

a. The purification of a city.

a. Sự thanh tẩy một thành phố.

b. The magnetisation of grounds that are to be employed as healing centres. [196]

b. Sự từ hoá những khu đất sẽ được dùng làm các trung tâm trị liệu. [196]

c. The clarification of the minds of the congregation in order that they may be able to receive the higher illumination.

c. Sự làm trong sáng thể trí của hội chúng để họ có thể tiếp nhận sự soi sáng cao hơn.

d. The healing of people gathered together for that purpose.

d. Sự trị liệu những người tụ họp lại vì mục đích ấy.

e. The controlling of the forces of nature so that physical plane occurrences may be brought about.

e. Sự kiểm soát các mãnh lực của bản chất để có thể tạo ra các biến cố trên cõi hồng trần.

f. The initiating of people into the Lesser Mysteries.

f. Sự đưa người ta vào các Bí Nhiệm Nhỏ.

In this paragraph, as you rightly think, lies material that enlarged would fill a volume. It is part of that white magic that again will be restored to the race and by means of which a glory and a civilisation will be attained that was hinted at in Atlantean days, and is one of the dreams of the visionaries of the race.

Trong đoạn này, như các bạn nghĩ đúng, có chất liệu mà nếu khai triển sẽ lấp đầy một quyển sách. Nó là một phần của Chánh Thuật, thứ rồi đây sẽ lại được phục hồi cho nhân loại, và nhờ đó một vinh quang và một nền văn minh sẽ đạt được—điều đã được gợi ý trong thời Atlantis, và là một trong những giấc mơ của các nhà mộng tưởng của nhân loại.

Mantrams or words sounded forth collectively by which the deva, or angel kingdom, will be communicated with. These are a peculiar set of mantrams connected with the Mahachohan’s department and I will take them up more specifically later……

Các mantram hay các Linh từ được xướng tập thể, nhờ đó người ta sẽ giao tiếp với giới thiên thần. Đây là một nhóm mantram đặc thù, liên hệ với bộ phận của Đức Mahachohan, và tôi sẽ bàn đến chúng cụ thể hơn về sau……

August 22, 1920.

Ngày 22 tháng 8, 1920.

The use of Rhythm Collectively in Meditation.—Việc sử dụng Nhịp điệu một cách tập thể trong Tham thiền.

Rhythm might be expressed as that cadenced[4] movement which automatically sways those who employ it into line with certain of Nature’s forces. It is that directed action, followed in unison by a body of people, which results in certain alignments and effects upon one or other of the bodies or on all. It has for its objects therefore:

Nhịp điệu có thể được diễn đạt như sự vận động có tiết tấu, tự động đưa những người sử dụng nó hoà nhịp với một số mãnh lực của bản chất. Đó là hành động được định hướng, được một đoàn thể người thực hiện đồng thanh, dẫn đến những sự chỉnh hợp nhất định và những tác dụng trên một hay một số thể, hoặc trên tất cả. Vì vậy, các mục tiêu của nó là:

a. The swinging of a body, or a concourse of bodies, into the radius of action of a stream of force.

a. Đưa một thể, hay một đoàn thể các thể, vào trong bán kính tác động của một dòng mãnh lực.

b. It causes an adjustment of the matter of one of the various bodies or of all the bodies that go to the make-up of the personnel of a group. [197]

b. Nó gây ra sự điều chỉnh chất liệu của một trong các thể khác nhau, hoặc của tất cả các thể cấu thành nhân sự của một nhóm. [197]

c. It blends—under certain geometrical balances and arrangements—the auras of the differentiated units in a group, and causes these auras to form one united group aura, thereby permitting of the rhythmic flow of force in certain specified directions, for certain specified ends.

c. Nó hoà trộn—dưới những cân bằng và sắp đặt hình học nhất định—các hào quang của các đơn vị đã biến phân trong một nhóm, và khiến các hào quang ấy tạo thành một hào quang nhóm hợp nhất, nhờ đó cho phép dòng mãnh lực chảy theo nhịp điệu theo những hướng được chỉ định, cho những mục đích được chỉ định.

This has been well understood right down the ages, even though the methods, procedure and results have not been scientifically comprehended or tabulated, except by various occult and esoteric bodies. In the old, so-called pagan rites the value of rhythm was well understood and even David, the psalmist of Israel, danced before the Lord. The swaying of the body to a certain tempo, and the swinging of the framework of the physical vehicle in various directions, subject at times to the musical sound of instruments, has a peculiar and definite effect upon the matter of the two subtler vehicles. By this rhythmic movement:

Điều này đã được thấu hiểu xuyên suốt các thời đại, dù rằng các phương pháp, tiến trình và kết quả chưa được hiểu hay lập bảng một cách khoa học, ngoại trừ bởi các đoàn thể huyền bí học và huyền bí học nội môn khác nhau. Trong các nghi lễ xưa, thường được gọi là ngoại giáo, giá trị của nhịp điệu đã được hiểu rõ; và ngay cả David, người viết thánh vịnh của Israel, cũng đã nhảy múa trước Chúa. Sự đung đưa thân thể theo một tiết tấu nhất định, và sự lắc chuyển khung sườn của vận cụ thể xác theo nhiều hướng khác nhau—đôi khi chịu sự chi phối của âm thanh nhạc cụ—có một tác dụng đặc thù và xác định trên chất liệu của hai vận cụ vi tế hơn. Nhờ sự vận động theo nhịp điệu này:

1. The force that is tapped in this manner is directed (according to the rhythm) to some one or other centre in the body.

1. Mãnh lực được khai thác theo cách này được hướng dẫn (tuỳ theo nhịp điệu) đến một trung tâm nào đó trong thể.

2. The matter of the emotional and mental bodies is entirely re-adjusted and re-blended, resulting in certain effects having probably a physical manifestation.

2. Chất liệu của các thể cảm dục và thể trí được điều chỉnh và hoà trộn lại hoàn toàn, dẫn đến những tác dụng có lẽ sẽ biểu hiện trên cõi hồng trần.

3. The alignment of the vehicles is affected, and may be distorted or misplaced, or they may be correctly aligned and put in touch with the causal.

3. Sự chỉnh hợp của các vận cụ bị ảnh hưởng, và có thể bị méo lệch hay đặt sai chỗ; hoặc chúng có thể được chỉnh hợp đúng và được nối kết với thể nguyên nhân.

This is one of the main objects of the true rhythmic movement, distortions of which come down to us through the centuries, and have their apotheosis in the low type of modern dance. In the modern dance is found the corruptest manifestation of rhythmic movement, and the main effect of the rhythm is the direction of the force tapped by its means to the emotional vehicle, and to the lowest type of matter in that vehicle. This results on the physical [198] plane in a most undesirable stimulation of the sex organs. In the true use of rhythmic movement the effect is to align the three lower vehicles with the causal vehicle, and this lining up—when coupled with intensest aspiration and ardent desire—results in a downflow of force from above. This causes a vivification of the three major centres and a definite illumination.

Đây là một trong những mục tiêu chính của sự vận động nhịp điệu chân chính; những biến dạng của nó đã truyền đến chúng ta qua các thế kỷ, và đạt đến cực điểm trong loại vũ điệu thấp kém của thời hiện đại. Trong vũ điệu hiện đại, người ta thấy biểu hiện bại hoại nhất của sự vận động nhịp điệu, và tác dụng chủ yếu của nhịp điệu là hướng mãnh lực được khai thác nhờ nó vào vận cụ cảm dục, và vào loại chất liệu thấp nhất trong vận cụ ấy. Điều này dẫn đến trên cõi hồng trần [198] một sự kích thích hết sức không mong muốn đối với các cơ quan sinh dục. Trong việc sử dụng chân chính sự vận động nhịp điệu, tác dụng là chỉnh hợp ba vận cụ thấp với vận cụ nguyên nhân, và sự xếp thẳng hàng này—khi kết hợp với khát vọng mãnh liệt nhất và dục vọng nồng cháy—dẫn đến một dòng mãnh lực tuôn xuống từ bên trên. Điều này gây ra sự tiếp sinh lực cho ba trung tâm chính và một sự soi sáng rõ rệt.

When an entire concourse of people is thus animated by a single high desire, when their auras blend and form one united channel for the downflow, the effect is tremendously intensified and can be world-wide in its radius. You have an instance of this in the wonderful Wesak festival, kept so universally in India to this day, when the Hierarchy forms itself into a channel for the transmission of power and blessing from the levels on which the Buddha may be found. He acts as a focal point for that power, and—passing it through His Aura—pours it out over mankind by means of the channel provided by the assembled Lords, Masters, graded initiates and disciples. This channel is formed by the use of sound and rhythm simultaneously employed. By the chanting of a certain mantram by means of the slow, measured movements that accompany that chanting, the funnel is formed that reaches upwards to the desired locality. The geometrical figures formed in the matter of the plane higher than the physical (which are the result of the geometrical movement of the concourse gathered in that Himalayan centre) form themselves into wonderful avenues of approach to the centre of blessing for the inhabitants, deva or otherwise, from any particular plane. For those who can clairvoyantly view the scene, the beauty of the geometrical forms is unbelievable, and that beauty is enhanced by the radiant auras of the Great Ones Who are gathered there. [199]

Khi cả một đoàn thể người như vậy được thôi thúc bởi một khát vọng cao cả duy nhất, khi các hào quang của họ hoà trộn và tạo thành một kênh hợp nhất cho dòng tuôn xuống, tác dụng được tăng cường ghê gớm và có thể lan rộng khắp thế giới trong bán kính của nó. Các bạn có một ví dụ về điều này trong lễ hội Wesak kỳ diệu, vẫn được cử hành rộng khắp ở Ấn Độ cho đến ngày nay, khi Thánh Đoàn tự tạo thành một kênh cho sự truyền dẫn quyền năng và phúc lành từ các cấp độ nơi Đức Phật có thể hiện diện. Ngài hành động như một điểm hội tụ cho quyền năng ấy, và—đưa nó đi qua Hào Quang của Ngài—tuôn đổ nó lên nhân loại nhờ kênh do các Đấng Chúa Tể, các Chân sư, các điểm đạo đồ theo cấp bậc và các đệ tử tụ hội cung cấp. Kênh này được hình thành bởi việc đồng thời sử dụng âm xướng và nhịp điệu. Nhờ việc tụng xướng một mantram nhất định, cùng những động tác chậm rãi, đo lường đi kèm với sự tụng xướng ấy, cái phễu được tạo ra vươn lên đến địa điểm mong muốn. Những hình thể hình học được tạo thành trong chất liệu của cõi cao hơn cõi hồng trần (là kết quả của sự vận động hình học của đoàn thể tụ hội tại trung tâm Himalaya ấy) tự sắp thành những đại lộ tiếp cận kỳ diệu đến trung tâm phúc lành cho các cư dân—dù là thiên thần hay khác—từ bất kỳ cõi nào. Đối với những ai có thể quan sát cảnh tượng bằng thông nhãn, vẻ đẹp của các hình thể hình học là điều không thể tin nổi, và vẻ đẹp ấy càng được tăng cường bởi các hào quang rực sáng của Các Đấng Cao Cả đang tụ hội tại đó. [199]

In time to come the value of the combination of music, chanting, and rhythmic movement will be comprehended, and it will be utilised for the achieving of certain results. Groups of people will gather together to study the creative effects, or the purificatory efficacy of ordered sound joined to movement and unity; the constructive effect on the three bodies will be clairvoyantly studied; the eliminative effect on the matter of those bodies will be schematically tabulated and all knowledge gained will be definitely applied to the improvement of those bodies. The quality of the force tapped, and its exhilarating, vivifying and stimulating effects will be closely watched. The centres will be studied in their relation to the streams of force contacted, and their culture and the intensification of the rotary movement will be definitely undertaken.

Trong tương lai, giá trị của sự kết hợp giữa âm nhạc, tụng xướng và vận động nhịp điệu sẽ được thấu hiểu, và nó sẽ được sử dụng để đạt được những kết quả nhất định. Các nhóm người sẽ tụ hội để nghiên cứu các tác dụng sáng tạo, hay hiệu năng thanh tẩy của âm xướng có trật tự kết hợp với vận động và sự hợp nhất; tác dụng kiến tạo trên ba thể sẽ được khảo sát bằng thông nhãn; tác dụng loại trừ trên chất liệu của các thể ấy sẽ được lập bảng theo sơ đồ; và mọi tri thức thu được sẽ được áp dụng một cách xác định nhằm cải thiện các thể ấy. Phẩm tính của mãnh lực được khai thác, cùng các tác dụng làm phấn chấn, tiếp sinh lực và kích thích của nó sẽ được theo dõi chặt chẽ. Các trung tâm sẽ được nghiên cứu trong mối liên hệ với các dòng mãnh lực được tiếp xúc, và việc nuôi dưỡng chúng cùng sự tăng cường chuyển động xoay vòng sẽ được tiến hành một cách xác định.

Another angle of the whole matter resolves itself into work in the world, and though dependent on the status and personnel of the group, it is not primarily for group purposes. Groups will apply themselves to the work of contacting certain types of logoic force, of passing it through the group funnel, and of sending it out through the world for certain constructive ends. This work is closely allied to that undertaken by the Nirmanakayas or Distributors of Force, and will be largely under their direction, for—when the right time comes—They will be able to use these groups as focal points for Their activities. Their work now has its focal point primarily on the mental plane and somewhat on the emotional. When the secret of causal alignment is better grasped, and when groups of people in physical incarnation can work in real co-operation (an impossibility at present, for the personality looms as yet too large) then the Nirmanakayas will be able to directly contact the physical plane, and so act with great force upon the evolutions found thereon. [200]

Một góc nhìn khác của toàn bộ vấn đề quy về công tác trong thế gian; và tuy tuỳ thuộc vào địa vị và nhân sự của nhóm, nó không chủ yếu nhằm các mục đích của nhóm. Các nhóm sẽ dấn thân vào công tác tiếp xúc với một số loại mãnh lực của các Thượng đế, đưa nó đi qua cái phễu nhóm, và phóng nó ra khắp thế gian cho những mục đích kiến tạo nhất định. Công tác này gắn bó chặt chẽ với công tác do các nirmanakaya hay Các Đấng Phân Phối Mãnh Lực đảm trách, và phần lớn sẽ dưới sự chỉ đạo của Các Ngài, vì—khi thời điểm thích hợp đến—Các Ngài sẽ có thể dùng các nhóm này như những điểm hội tụ cho các hoạt động của Các Ngài. Công tác của Các Ngài hiện nay có điểm hội tụ chủ yếu trên cõi trí và phần nào trên cõi cảm dục. Khi bí mật của sự chỉnh hợp nguyên nhân được nắm bắt tốt hơn, và khi các nhóm người đang lâm phàm có thể làm việc trong sự hợp tác thực sự (hiện nay là điều bất khả, vì phàm ngã vẫn còn quá lớn), thì các nirmanakaya sẽ có thể trực tiếp tiếp xúc cõi hồng trần, và do đó tác động với mãnh lực lớn lên các tiến hoá hiện hữu trên đó. [200]

Healing groups will work as follows. The circle of workers, with the unit to be healed placed in their midst, will definitely apply themselves to the healing of that unit by the use of set mantrams, and by the following of certain movements they will cause the focal point of the downpouring force to be the sick member in their midst. By the stimulating power of that force, by its re-building quality, or by its capacity to destroy and eliminate, what you call miracles will be matters of everyday occurrence. The subject is too vast to be more than hinted at here. But as the race progresses and the secret of making the at-one-ment is more comprehended, when many people tread the Probationary Path, when the percentage of initiates is greater than it is now, and when large numbers of the human race are more directly aligned with the egoic body, you will see the scientific application of the laws of sound and rhythm.

Các nhóm trị liệu sẽ làm việc như sau. Vòng tròn những người hoạt động, với đơn vị cần được trị liệu đặt ở giữa, sẽ dứt khoát dấn thân vào việc trị liệu đơn vị ấy bằng cách sử dụng các mantram đã định, và bằng việc thực hiện những động tác nhất định, họ sẽ khiến điểm hội tụ của dòng mãnh lực tuôn đổ trở thành người bệnh ở giữa họ. Nhờ quyền năng kích thích của mãnh lực ấy, nhờ phẩm tính tái kiến tạo của nó, hoặc nhờ năng lực phá huỷ và loại trừ của nó, những điều các bạn gọi là phép lạ sẽ trở thành chuyện xảy ra hằng ngày. Chủ đề này quá bao la nên ở đây chỉ có thể gợi ý. Nhưng khi nhân loại tiến bộ và bí mật của việc tạo nên sự hoà hợp nhất được thấu hiểu hơn, khi nhiều người bước trên Con Đường Dự Bị, khi tỷ lệ các điểm đạo đồ lớn hơn hiện nay, và khi những số lượng lớn trong nhân loại được chỉnh hợp trực tiếp hơn với thể chân ngã, các bạn sẽ thấy sự áp dụng khoa học các định luật về âm xướng và nhịp điệu.

At the same time you will see the misuse of those powers—a misuse that will herald in one of the final struggles between the Lords of Light and the Lords of Darkness. Great will be the cataclysm and terrific the disaster, but ever the Light shines in darkness, and He Who reigns above all, and Who holds all within the circumference of His Aura knows the hour of opportunity, and knows too how to utilise that which can protect.

Đồng thời, các bạn cũng sẽ thấy sự lạm dụng những quyền năng ấy—một sự lạm dụng sẽ báo hiệu một trong những cuộc đấu tranh cuối cùng giữa các Đấng Chúa Tể của Ánh Sáng và các Đấng Chúa Tể của Bóng Tối. Tai biến sẽ lớn lao và thảm hoạ sẽ khủng khiếp, nhưng Ánh Sáng vẫn luôn chiếu trong bóng tối; và Đấng cai trị trên hết thảy, Đấng giữ mọi sự trong chu vi Hào Quang của Ngài, biết giờ cơ hội, và cũng biết cách sử dụng điều có thể bảo hộ.

Special occasions on which these forms will be employed.—Những dịp đặc biệt mà các hình thức này sẽ được sử dụng.

The great event on the planet in direct relation to the human race is the Wesak festival. There is one still greater moment in the calendar when a funnel is created directly between the earth and the supreme Ruler himself, the Logos of our system. This is accomplished through the power of certain mantrams and the united efforts of the Hierarchy and the Deva Lords of the planes. These Deva Lords are aided by the deva evolution, and the Hierarchy [201] by those of the human race who are steady. They focus through the Lords of the Rays then in manifestation as well as through the Planetary Logos of this planet. The date of this event is not yet for exoteric communication.

Biến cố lớn trên hành tinh có liên hệ trực tiếp với nhân loại là lễ hội Wesak. Còn có một thời khắc lớn hơn nữa trong lịch thiên, khi một cái phễu được tạo ra trực tiếp giữa Trái Đất và chính Đấng Cai Trị tối cao, Thượng đế của hệ thống chúng ta. Điều này được thực hiện nhờ quyền năng của một số mantram nhất định và nỗ lực hợp nhất của Thánh Đoàn cùng các Đấng Chúa Tể thiên thần của các cõi. Các Đấng Chúa Tể thiên thần này được trợ giúp bởi tiến hoá thiên thần, và Thánh Đoàn [201] được trợ giúp bởi những người trong nhân loại có sự vững vàng. Họ hội tụ qua các Đấng Chúa Tể của các cung đang biểu hiện, cũng như qua Hành Tinh Thượng đế của hành tinh này. Ngày tháng của biến cố này hiện chưa thể truyền đạt theo lối ngoại môn.

On all the three main lines of approach—that of the Manu, or Ruler, the Bodhisattva, or World Teacher, and the Mahachohan, or Lord of Civilisation—their own specific groups will be found, subject to certain mantrams and words, and moving under certain rhythmic laws. One hint only can I give here but I think you will find it interesting. The time is coming when those who work under the Manu, manipulating nations, directing their attention to government and politics, sitting in the assemblies of the people, giving out the laws and apportioning justice, will begin all their work with great rhythmic ceremonies. By means of their united rhythm and chanted words, they will seek to put themselves in touch with the consciousness of the Manu and with His great governing department, so bringing more clearly into practice the working out of His plans and the formulation of His intentions. Having aligned their bodies and made the necessary funnel, they will proceed with business after having placed in their midst as a focal point of illumination one or two men who will give their entire attention to finding out the intention of the Manu and His subordinates upon the matter in hand.

Trên cả ba tuyến tiếp cận chính—tuyến của Đức Manu, hay Đấng Cai Quản; của Đức Bồ Tát, hay Đức Chưởng Giáo; và của Đức Mahachohan, hay Chúa Tể của Nền Văn Minh—sẽ có những nhóm chuyên biệt của chính Các Ngài, tuân theo những mantram và Linh từ nhất định, và vận hành dưới những quy luật nhịp điệu nhất định. Ở đây tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý, nhưng tôi nghĩ các bạn sẽ thấy thú vị. Thời điểm đang đến khi những người làm việc dưới Đức Manu—điều động các quốc gia, hướng sự chú ý của họ vào chính quyền và chính trị, ngồi trong các hội đồng của nhân dân, ban hành luật pháp và phân định công lý—sẽ bắt đầu mọi công việc của họ bằng những nghi lễ nhịp điệu trọng đại. Nhờ nhịp điệu hợp nhất và những Linh từ được tụng xướng, họ sẽ tìm cách đặt mình vào sự tiếp xúc với tâm thức của Đức Manu và với bộ phận cai quản vĩ đại của Ngài, nhờ đó đưa việc thực thi các kế hoạch của Ngài và việc định hình các chủ ý của Ngài vào thực tiễn một cách rõ ràng hơn. Sau khi đã chỉnh hợp các thể của họ và tạo ra cái phễu cần thiết, họ sẽ tiến hành công việc sau khi đã đặt ở giữa họ, như một điểm hội tụ của sự soi sáng, một hay hai người sẽ dành toàn bộ sự chú ý để tìm ra chủ ý của Đức Manu và các vị phụ tá của Ngài đối với vấn đề đang xét.

So in the department of the Bodhisattva will a similar procedure be followed, for which the construction is already organised. The priest will be the focal point, and, after due ceremony and rhythm on the part of the united congregation, they will be the transmitters of information from on high. But here is a momentous point of interest: The priesthood will not in those days be a separated body of men. All will then be priests and a [202] layman can hold that office when duly chosen at the beginning of the ceremony. The only qualification required will be the capacity to align with the higher, and to co-operate with all the other units in the concourse.

Tương tự, trong bộ phận của Đức Bồ Tát, một tiến trình tương tự sẽ được thực hiện, và sự kiến tạo cho việc ấy đã được tổ chức sẵn. Vị linh mục sẽ là điểm hội tụ, và sau nghi lễ cùng nhịp điệu thích đáng từ phía hội chúng hợp nhất, họ sẽ là những người truyền đạt thông tin từ bên trên. Nhưng đây là một điểm trọng đại đáng quan tâm: Hàng giáo sĩ khi ấy sẽ không còn là một đoàn thể người tách biệt. Khi đó mọi người đều sẽ là linh mục, và một [202] người cư sĩ có thể đảm nhiệm chức vụ ấy khi được chọn đúng cách vào lúc bắt đầu nghi lễ. Điều kiện duy nhất cần có sẽ là năng lực chỉnh hợp với cái cao hơn, và hợp tác với tất cả các đơn vị khác trong đoàn thể.

In the department of the Mahachohan, the Lord of Civilisation and Culture and the head of the third line of evolution, you will see again similar action. No university or school will start its sessions without the ceremony of alignment, the teacher this time being the focal line of information from the department controlling the activity of the mind. In this way the stimulation of the mental bodies of the students, and the strengthening of the channel between higher and lower mind will be greatly aided. The intuition will also be developed and contacted. In the above statements I have by no means covered the ground. I have but indicated the broad outlines of what will some day be facts in physical plane demonstration. The thought conveys much matter for consideration and for speculation and is full of helpfulness for the wise student. Aught that enlarges his horizon and increases the range of his vision is to be welcomed, even though his apprehension of these facts may be at fault and his capacity to assimilate leaves much to be desired. [203]

Trong bộ phận của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Nền Văn Minh và Văn Hoá, và là vị đứng đầu tuyến tiến hoá thứ ba, các bạn sẽ lại thấy hành động tương tự. Không một đại học hay trường học nào sẽ bắt đầu các buổi học mà không có nghi lễ chỉnh hợp; lần này người thầy sẽ là tuyến hội tụ thông tin từ bộ phận kiểm soát hoạt động của thể trí. Bằng cách này, sự kích thích các thể trí của học sinh, và sự củng cố kênh giữa thượng trí và hạ trí sẽ được trợ giúp rất nhiều. Trực giác cũng sẽ được phát triển và tiếp xúc. Trong những phát biểu trên, tôi tuyệt nhiên chưa bao quát hết vấn đề. Tôi chỉ mới phác ra những nét lớn của điều mà một ngày nào đó sẽ là các sự kiện được chứng minh trên cõi hồng trần. Tư tưởng này chuyển tải nhiều chất liệu để suy xét và suy đoán, và đầy tính hữu ích cho môn sinh khôn ngoan. Bất cứ điều gì mở rộng chân trời của y và gia tăng tầm mức tầm nhìn của y đều đáng được chào đón, dù rằng sự lĩnh hội các sự kiện này của y có thể sai lệch và năng lực đồng hoá của y còn rất đáng mong muốn. [203]




[1] sự có linh tính (về một điềm gở)

[2] cuộc chè chén say sưa, cuộc truy hoan, cuộc trác táng

[3] phóng túng, sự bừa bâi; sự dâm loạn

[4] giọng đọc lên xuống nhịp nhàng uyển chuyển; ngữ điệu

Leave a Comment

Scroll to Top