LETTER V—DANGERS TO BE AVOIDED IN MEDITATION – THƯ V—NHỮNG NGUY HIỂM CẦN TRÁNH TRONG THAM THIỀN
|
LETTER V |
THƯ V |
|
DANGERS TO BE AVOIDED IN MEDITATION. |
NHỮNG NGUY HIỂM CẦN TRÁNH TRONG THAM THIỀN. |
|
l—Dangers inherent in the Personality. |
1—Những nguy hiểm vốn có trong phàm ngã. |
|
2—Dangers arising from Karma. |
2—Những nguy hiểm phát sinh từ nghiệp quả. |
|
3—Dangers arising from subtle forces. [88] |
3—Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế. [88] |
|
July 22, 1920. |
Ngày 22 tháng 7 năm 1920. |
|
July 22nd, 1920. 5 am. |
Ngày 22 tháng 7, năm 1920. 5 giờ sáng. |
|
The hour is quiet, brother of mine, there is no hurry, and as there seemeth but little to distract I thought I would continue the instructions on meditation. The time is brief before it is desired that you submit the book on meditation to those destined to publish. Much along the line of writing it is deemed desirable that you undertake in the immediate future. Let me briefly enumerate, prior to taking up the matter in hand. |
Huynh đệ của Tôi, giờ này thật yên tĩnh, không có gì phải vội vã, và vì dường như chẳng có mấy điều gây xao lãng, Tôi nghĩ mình sẽ tiếp tục những chỉ dẫn về tham thiền. Thời gian còn lại rất ngắn trước khi đến lúc bạn cần gửi cuốn sách về tham thiền cho những người sẽ xuất bản. Bạn cần đảm nhận nhiều việc liên quan đến việc viết lách trong tương lai trước mắt. Để Tôi liệt kê ngắn gọn, trước khi bàn đến vấn đề đang xét. |
|
1. Finish certain articles for the first publication on evolution. |
1. Hoàn thành một số bài viết cho ấn phẩm đầu tiên về tiến hoá. |
|
2. Finish and submit the letters on occult meditation. |
2. Hoàn thành và gửi các bức thư về tham thiền huyền môn. |
|
3. Write some articles for independent publication on Psychism, the sex question and on symbolism. |
3. Viết một số bài viết để xuất bản riêng về thông linh học, vấn đề giới tính và về biểu tượng học. |
|
4. Compile the Stanzas dictated and transcribe some others that I shall in ensuing days dictate. |
4. Biên soạn các bài kệ đã được đọc cho chép và ghi lại một số bài khác mà Tôi sẽ đọc cho chép trong những ngày tới. |
|
5. Then enlarge and amplify your SD [The Secret Doctrine] outline, making it more generally useful, and securing the necessary able collaboration. |
5. Sau đó mở rộng và triển khai thêm bản đề cương SD [Giáo Lý Bí Nhiệm] của bạn, làm cho bản đề cương ấy hữu ích rộng rãi hơn, và thu hút sự cộng tác có năng lực cần thiết. |
|
6. Finish your book on the Bible and submit for publication. Discuss with BPW the advisability of having this book printed over here. |
6. Hoàn tất cuốn sách của bạn về Kinh Thánh và gửi đi để xuất bản. Hãy thảo luận với BPW về việc có nên cho in cuốn sách này tại đây hay không. |
|
In concluding these suggestions, brother of old, I would simply add,—in the pursuance of duty comes the conformity to the law, and where the law is followed comes the needed supply, and when obedience is the rule of life, comes revelation of the plan of the Great Ones for those whose karma permitteth liberation for work among the little ones. |
Huynh đệ của Ngày Xưa, khi kết thúc những đề nghị này, Tôi chỉ muốn nói thêm rằng: — chính trong việc thực hiện bổn phận có sự tuân theo định luật, và nơi nào định luật được tuân theo thì nguồn cung ứng cần thiết sẽ đến; và khi sự vâng phục là quy luật của đời sống, Thiên Cơ của Các Đấng Cao Cả sẽ được mặc khải cho những người mà nghiệp quả cho phép được giải thoát để làm việc giữa những người bé nhỏ. |
|
To take up our work on meditation: – |
Để tiếp tục công việc của chúng ta về tham thiền: — |
The Withholding of Information. – Việc Không Tiết Lộ Thông Tin.
|
We have reached a point now where the foundations of knowledge have been laid,—that knowledge which instills into the wise student the desire to submit to the necessary rules, to conform to the prescribed requirements, and to make the comprehended mental concepts practical experiences in daily life. This desire is wise and right, and the object of all that has been imparted, but at this juncture it may be wise to sound a warning note, to point out certain dangerous possibilities, and to put the student on his guard against an enthusiasm that may lead him along paths that will hinder development, and that may build up vibrations that will ultimately have to be offset. This entails delay and a recapitulation in work that (if realised in time) might be obviated. |
Giờ đây chúng ta đã đến chỗ đặt xong nền tảng tri thức — thứ tri thức khơi dậy nơi đạo sinh sáng suốt niềm mong muốn tuân theo những quy luật cần thiết, đáp ứng những yêu cầu đã quy định, và biến những khái niệm trí tuệ đã thấu hiểu thành trải nghiệm thực tiễn trong đời sống hằng ngày. Mong muốn này là sáng suốt và đúng đắn, cũng là mục tiêu của tất cả những gì đã được truyền đạt; nhưng vào thời điểm này, có lẽ nên cất lên một lời cảnh báo, chỉ ra một số khả năng nguy hiểm, và nhắc đạo sinh đề phòng lòng nhiệt thành có thể đưa y vào những con đường cản trở sự phát triển, và có thể tạo nên những rung động mà cuối cùng sẽ phải hóa giải. Điều này kéo theo sự trì hoãn và việc phải làm lại công việc vốn có thể tránh được nếu nhận ra kịp thời. |
|
Certain statements and instructions cannot be made or given in writing to students for three reasons:— |
Không thể đưa ra một số lời trình bày và chỉ dẫn bằng văn bản cho các đạo sinh vì ba lý do:— |
|
l—Some instructions are always given orally, as they appeal to the intuition and are not for the pondering and logical reasoning of lower mind; they also contain elements of danger if submitted to the unready. |
1—Một số chỉ dẫn luôn được truyền bằng lời nói, vì chúng hướng đến trực giác chứ không dành cho sự suy ngẫm và suy luận lôgic của Hạ trí; chúng cũng chứa những yếu tố nguy hiểm nếu truyền cho người chưa sẵn sàng. |
|
2—Some instructions pertain to the secrets of the Path, and are mainly applicable to the groups to which the student is attached; they can only be given in joint instruction when out of the physical body. They pertain to the group causal body, to certain ray secrets, and to the invoking of the assistance of the higher devas to bring [89] about desired results. The dangers attached thereto are too great to permit of their being communicated in an exoteric publication. The occult effects of the spoken word and of the written word are diverse and interesting. Until such time as you have among you a wise Teacher in physical person, and until it is possible for Him to gather around Him His students, thus affording them the protection of His aura and its stimulating vibration, and until such time as world conditions permit of a certain period of relaxation from the present strain and suspense, it will not be possible to impart forms, invocations and mantrams of a specific character; it will not be possible to arouse the centres ahead of the necessary evolutionary rate, except in a few individual cases where certain pupils (perhaps unconsciously to themselves) are being subjected to definite processes, which result in a greatly increased rate of vibration. This is only being done to a few in each country, and is directly under the eye of a Master, focusing through H.P.B. |
2—Một số chỉ dẫn liên quan đến những bí mật của Đường Đạo, và chủ yếu áp dụng cho các nhóm mà đạo sinh thuộc về; chỉ có thể truyền chúng trong sự huấn luyện chung khi ở ngoài thể xác. Chúng liên quan đến thể nguyên nhân của nhóm, một số bí mật của các cung, và việc khẩn cầu sự trợ giúp của các thiên thần cao cấp để đem lại [89] những kết quả mong muốn. Những nguy hiểm gắn liền với chúng quá lớn, không cho phép truyền đạt chúng trong một ấn phẩm ngoại môn. Những tác động huyền bí của lời nói và chữ viết rất đa dạng và thú vị. Chừng nào giữa các bạn chưa có một huấn sư sáng suốt hiện diện trong thân xác, chừng nào Ngài chưa thể tập hợp các đạo sinh quanh mình để họ được hào quang của Ngài cùng rung động kích thích của hào quang ấy bảo vệ, và chừng nào tình hình thế giới chưa cho phép có một khoảng thời gian thư giãn khỏi sự căng thẳng và bất an hiện tại, thì chưa thể truyền đạt những hình thức, lời khẩn cầu và mantram có tính chất chuyên biệt; cũng chưa thể khơi dậy các trung tâm trước nhịp độ tiến hoá cần thiết, ngoại trừ một vài trường hợp cá nhân, khi một số môn sinh đang trải qua những tiến trình xác định — có lẽ chính họ không hay biết — khiến nhịp độ rung động tăng lên rất nhiều. Điều này chỉ đang được thực hiện cho một số ít người ở mỗi quốc gia, dưới sự giám sát trực tiếp của một Chân sư, với sự tập trung qua H.P.B. |
|
3—Information as to the invoking of devas in meditation cannot yet be safely given to individuals, though a beginning is being made with groups such as in the rituals of the Masons and of the Church. Formulas that put the lesser devas under the control of man will not yet he imparted. Human beings are not yet to be trusted with that power, for the majority are but animated by selfish desire and would misuse it for their own ends. It is deemed by the wise Teachers of the race,—as I think I have before said—that the dangers of too little knowledge are much less than the dangers of too much, and that the race can be more seriously hindered by the misapplication of powers gained by incipient occultists than it can by a lack of knowledge that engenders not karmic results. The powers gained in meditation, the [90] capacities achieved by the adjustment of the bodies through meditation, the faculties developed in each vehicle by definite formulas in meditation, the manipulation of matter that is one of the functions of the occultist (the result of well-adjusted vehicles that respond perfectly to plane conditions) and the attainment of causal consciousness—a consciousness that carries with it the ability to include within itself all the lesser—are of too serious a character to be lightly disposed of, and in the training of man along these lines only those are encouraged by the teacher who can be trusted. Trusted in what sense? Trusted to think in group terms and not in terms of self, trusted to use the knowledge gained anent the bodies and the karma of environing associates solely for their wise assistance and not for selfish purposes, and trusted to use occult powers for the furtherance of evolution and for the development on all planes of the schemes of evolution as planned by the three Great Lords. |
3—Chưa thể truyền đạt một cách an toàn cho các cá nhân thông tin về việc khẩn cầu các thiên thần trong tham thiền, dù đã bắt đầu thực hiện với các nhóm, như trong những nghi lễ của Hội Tam Điểm và Giáo hội. Những công thức đặt các thiên thần cấp thấp dưới sự kiểm soát của con người vẫn chưa được truyền đạt. Chưa thể tin cậy giao quyền năng ấy cho con người, vì đa số chỉ chịu sự thúc đẩy của dục vọng ích kỷ và sẽ lạm dụng nó cho mục đích riêng. Các huấn sư sáng suốt của nhân loại cho rằng — như Tôi nghĩ mình đã nói trước đây — những nguy hiểm do biết quá ít nhỏ hơn nhiều so với những nguy hiểm do biết quá nhiều, và việc các nhà huyền bí học mới bước đầu lạm dụng những quyền năng đã đạt được có thể cản trở nhân loại nghiêm trọng hơn sự thiếu tri thức vốn không phát sinh những hệ quả nghiệp quả. Những quyền năng đạt được trong tham thiền, những [90] khả năng đạt được nhờ điều chỉnh các thể của phàm ngã qua tham thiền, những năng lực phát triển trong mỗi hiện thể nhờ các công thức xác định trong tham thiền, việc vận dụng vật chất vốn là một trong những chức năng của nhà huyền bí học — kết quả của những hiện thể được điều chỉnh tốt, đáp ứng hoàn hảo với các điều kiện của cõi — và việc đạt đến tâm thức nguyên nhân, một tâm thức mang theo khả năng bao gồm trong chính nó mọi tâm thức thấp hơn, đều có tính chất quá hệ trọng để có thể xem nhẹ; và trong việc huấn luyện con người theo những hướng này, huấn sư chỉ khuyến khích những người đáng tin cậy. Đáng tin cậy theo nghĩa nào? Đáng tin cậy để suy nghĩ theo nhóm chứ không theo bản thân; đáng tin cậy để dùng tri thức đã đạt được về các thể của phàm ngã và nghiệp quả của những người liên hệ quanh mình chỉ nhằm trợ giúp họ một cách sáng suốt, chứ không vì mục đích ích kỷ; và đáng tin cậy để dùng các quyền năng huyền bí nhằm thúc đẩy tiến hoá và phát triển trên mọi cõi các hệ hành tinh tiến hoá theo Thiên Cơ của ba Chúa Tể Vĩ Đại. |
|
Let me illustrate:— |
Để Tôi minh họa:— |
|
One of the things accomplished in meditation when pursued with regularity and under correct instruction is the transference of the consciousness of the lower self into the higher. This carries with it the capacity to see on causal levels, intuitively to recognize facts in the lives of others, to foresee events and occurrences and to know the relative value of a personality. This can only be permitted when the student can be silent, selfless and stable. Who as yet answers to all these requirements? |
Một trong những điều thành tựu trong tham thiền, khi thực hành đều đặn dưới sự hướng dẫn đúng đắn, là chuyển dịch tâm thức của phàm ngã vào chân ngã. Điều này mang theo khả năng thấy trên các cấp độ nguyên nhân, nhận biết bằng trực giác những sự thật trong đời sống của người khác, thấy trước các sự kiện và biến cố, và biết giá trị tương đối của một phàm ngã. Chỉ có thể cho phép điều này khi đạo sinh có thể giữ im lặng, vị tha và vững vàng. Cho đến nay, ai đáp ứng được tất cả những yêu cầu này? |
|
I am endeavoring to give you a general idea of the dangers incident to the too early development of the powers achieved in meditation. I seek to sound a note—not of discouragement—but of insistence upon physical purity, on emotional stability and on mental equilibrium before the student passes on to greater knowledge. Only [91] as the channel opens to the intuition and closes to the animal nature can a man wisely proceed with his work. Only as the heart enlarges its capacity to suffer with all that breathes, to love all that is contacted, and to understand and sympathise with the least desirable of God’s creatures, can the work go forward as desired. Only when the development is equable, only when the intellect runs not too far ahead of the heart, and the mental vibration shuts not out the higher one of the Spirit can the student be trusted to acquire powers that, wrongly used, may result in disaster to his environment as well as to himself. Only as he formulates no thoughts save such as he purposes to make for the helping of the world can he be trusted wisely to manipulate thought matter. Only as he has no desire save to find out the plans of the Master, and then to assist definitely in making those plans facts in manifestation, can he be trusted with the formulas that will bring the devas of lesser degree under his control. The dangers are so great and the perils that beset the unwary student so many that before I proceed further I have sought to urge caution. |
Tôi đang cố gắng đem đến cho các bạn một ý niệm khái quát về những nguy hiểm đi kèm với việc phát triển quá sớm các quyền năng đạt được trong tham thiền. Tôi muốn cất lên một lời — không phải để làm nản lòng — mà để nhấn mạnh sự thanh khiết của thể xác, sự ổn định cảm xúc và sự quân bình trí tuệ trước khi đạo sinh tiến đến tri thức cao hơn. Chỉ [91] khi kênh dẫn mở ra với trực giác và khép lại với bản chất thú tính, con người mới có thể tiến hành công việc của mình một cách sáng suốt. Chỉ khi trái tim mở rộng khả năng cùng chịu khổ với mọi loài đang thở, yêu thương tất cả những gì mình tiếp xúc, và thấu hiểu, cảm thông với cả những tạo vật ít đáng mong muốn nhất của Thượng đế, công việc mới có thể tiến triển như mong muốn. Chỉ khi sự phát triển được quân bình, chỉ khi trí năng không tiến quá xa trước trái tim, và rung động trí không ngăn chặn rung động cao hơn của Tinh thần, mới có thể tin cậy để đạo sinh đạt được những quyền năng mà nếu dùng sai có thể gây tai họa cho môi trường quanh y cũng như cho chính y. Chỉ khi y không hình thành tư tưởng nào ngoài những tư tưởng có chủ đích trợ giúp thế giới, mới có thể tin cậy để y vận dụng chất liệu tư tưởng một cách sáng suốt. Chỉ khi y không có mong muốn nào ngoài việc tìm hiểu những kế hoạch của Chân sư, rồi trợ giúp một cách thiết thực để biến những kế hoạch ấy thành sự thật trong biểu hiện, mới có thể tin cậy giao cho y những công thức đặt các thiên thần cấp thấp dưới sự kiểm soát của y. Những nguy hiểm quá lớn và những hiểm họa vây quanh đạo sinh thiếu thận trọng quá nhiều, nên trước khi tiến xa hơn, Tôi đã cố gắng nhấn mạnh sự thận trọng. |
|
Let us now specify and enumerate certain dangers that must be guarded against by the man who progresses in meditation. Some of them are due to one cause and some to another, and we shall have to specify with accuracy. |
Giờ đây chúng ta hãy xác định và liệt kê một số nguy hiểm mà người tiến bộ trong tham thiền phải đề phòng. Một số bắt nguồn từ nguyên nhân này, một số từ nguyên nhân khác, và chúng ta sẽ phải xác định thật chính xác. |
|
l—Dangers inherent in the Personality of the pupil. They can, as you foresee, be grouped under the three heads:—physical dangers, emotional dangers, and mental dangers. |
1—Những nguy hiểm vốn có trong Phàm ngã của môn sinh. Như các bạn có thể thấy trước, có thể xếp chúng dưới ba đề mục:—những nguy hiểm về thể xác, những nguy hiểm về cảm xúc, và những nguy hiểm về trí tuệ. |
|
2—Dangers arising from the karma of the pupil, and from his environment. These also may be enumerated under three divisions: [92] |
2—Những nguy hiểm phát sinh từ nghiệp quả của môn sinh, và từ môi trường của y. Cũng có thể liệt kê chúng theo ba phần: [92] |
|
a—The karma of his present life, his own individual “ring-pass-not,” as represented by his present life. |
a—Nghiệp quả của đời hiện tại của y, “vòng-giới-hạn” cá nhân của chính y, thể hiện qua đời sống hiện tại. |
|
b—His national heredity and instincts as, for instance, whether he possesses an occidental or an oriental type of body. |
b—Di truyền và bản năng dân tộc của y, chẳng hạn như y có kiểu thân thể phương Tây hay phương Đông. |
|
c—His group affiliations, whether exoteric or esoteric. |
c—Những liên hệ nhóm của y, dù ngoại môn hay nội môn. |
|
3—Dangers arising from the subtle forces that you ignorantly call evil; such dangers consist in attack on the pupil by extraneous entities on some one plane. These entities may simply be discarnate human beings; they may be the denizens of the other planes who are nonhuman; later on, when the student is of sufficient importance to attract notice, the attack may come from those who deal purely with matter to the hindrance of spiritual growth,—the black magicians, the dark brothers, and other forces that appear destructive. This appearance is only such when viewed from the angle of time and in our three worlds, and is but incidental to the fact that our Logos Himself is also evolving, and (from the standpoint of the infinitely greater Ones Who assist Him in His development) it is dependent upon His transitory imperfections. The imperfections of nature—as we term them—are the imperfections of the Logos, and will eventually be transcended. |
3—Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực tinh tế mà do thiếu hiểu biết các bạn gọi là tà ác; những nguy hiểm ấy gồm sự tấn công môn sinh từ các thực thể bên ngoài trên một cõi nào đó. Những thực thể này có thể chỉ là những con người đã lìa xác; có thể là những cư dân phi nhân loại của các cõi khác; về sau, khi đạo sinh đủ quan trọng để thu hút sự chú ý, cuộc tấn công có thể đến từ những kẻ chỉ làm việc với vật chất nhằm cản trở sự tăng trưởng tinh thần — các nhà hắc thuật, các huynh đệ bóng tối, và những mãnh lực khác có vẻ mang tính hủy diệt. Chúng chỉ có vẻ như vậy khi nhìn từ góc độ thời gian và trong ba cõi giới của chúng ta; điều này chỉ đi kèm với sự thật rằng chính Thượng đế của chúng ta cũng đang tiến hoá, và từ quan điểm của những Đấng vĩ đại hơn vô cùng đang trợ giúp Ngài phát triển, nó tùy thuộc vào những bất toàn tạm thời của Ngài. Những bất toàn của tự nhiên — như chúng ta gọi — là những bất toàn của Thượng đế, và cuối cùng sẽ được vượt qua. |
|
I have therefore outlined for you this morning the material I shall seek to impart during the coming days. |
Vì vậy, sáng nay Tôi đã phác thảo cho các bạn nội dung mà Tôi sẽ cố gắng truyền đạt trong những ngày sắp tới. |
|
July 24, 1920. |
Ngày 24 tháng 7 năm 1920. |
|
The dangers that beset the student of meditation are dependent upon many factors, and it will not be possible to do more than briefly indicate certain menacing conditions, to warn against certain disastrous possibilities, and to caution the pupil against results that are to be [93] reached by undue strain, by over-excess of zeal, and by a one-pointedness that may lead to an unbalanced development. One-pointedness is a virtue, but it should be the one-pointedness of purpose and of aim, and not that which develops one sole line of method to the exclusion of all others. |
Những nguy hiểm vây quanh đạo sinh tham thiền tùy thuộc vào nhiều yếu tố, và sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra vắn tắt một số tình trạng đe dọa, cảnh báo về một số khả năng tai hại, và nhắc môn sinh đề phòng những kết quả có thể [93] phát sinh do gắng sức quá mức, do nhiệt tâm thái quá, và do sự nhất tâm có thể dẫn đến phát triển mất quân bình. Nhất tâm là một đức tính, nhưng đó phải là sự nhất tâm về mục đích và mục tiêu, chứ không phải sự nhất tâm chỉ phát triển một đường hướng phương pháp duy nhất mà loại trừ mọi đường hướng khác. |
|
The dangers of meditation are largely the dangers of our virtues, and therein lies much of the difficulty. They are largely the dangers of a fine mental concept that runs ahead of the capacity of the lower vehicles, especially of the dense physical. Aspiration, concentration and determination are necessary virtues, but if used without discrimination and without a sense of time in evolution they may lead to a shattering of the physical vehicle that will delay all progress for some one particular life. Have I made my point clear? I seek but to bring out the absolute necessity for the occult student to have a virile common sense for one of his basic qualities, coupled with a happy sense of proportion that leads to due caution and an approximation of the necessary method to the immediate need. To the man therefore who undertakes wholeheartedly the process of occult meditation I would say with all conciseness:— |
Những nguy hiểm của tham thiền phần lớn là những nguy hiểm từ chính các đức tính của chúng ta, và chính trong đó có phần lớn sự khó khăn. Phần lớn chúng là những nguy hiểm của một khái niệm trí tuệ tốt đẹp tiến trước khả năng của các hiện thể thấp, đặc biệt là thể xác đậm đặc. Khát vọng, tập trung và quyết tâm là những đức tính cần thiết, nhưng nếu sử dụng mà không có sự phân biện và không có ý thức về thời gian trong tiến hoá, chúng có thể dẫn đến sự phá vỡ hiện thể hồng trần, làm trì hoãn mọi tiến bộ trong một đời sống cụ thể nào đó. Tôi đã trình bày rõ ý mình chưa? Tôi chỉ muốn nêu bật sự cần thiết tuyệt đối rằng đạo sinh huyền bí học phải có óc thực tế mạnh mẽ như một trong những phẩm tính căn bản, đi đôi với Ý thức về tỉ lệ đúng đắn, dẫn đến sự thận trọng thích đáng và việc điều chỉnh phương pháp cần thiết cho phù hợp với nhu cầu trước mắt. Vì vậy, với người hết lòng thực hiện tiến trình tham thiền huyền bí, Tôi muốn nói thật ngắn gọn:— |
|
a—Know thyself. |
a—Hãy biết chính mình. |
|
b—Proceed slowly and with caution. |
b—Hãy tiến chậm rãi và thận trọng. |
|
c—Study effects. |
c—Hãy nghiên cứu các tác động. |
|
d—Cultivate the realisation that eternity is long and that that which is slowly built up endures forever. |
d—Hãy vun bồi sự nhận biết rằng vĩnh cửu là dài lâu và những gì được xây dựng chậm rãi sẽ tồn tại mãi mãi. |
|
e—Aim at regularity. |
e—Hãy hướng đến sự đều đặn. |
|
f—Realise always that the true spiritual effects are to be seen in the exoteric life of service. |
f—Hãy luôn nhận biết rằng những tác động tinh thần đích thực phải thể hiện trong đời sống phụng sự ngoại môn. |
|
g—Remember likewise that psychic phenomena are no indication of a successful following of meditation. The world will see the effects and be a better [94] judge than the student himself. Above all, the Master will know, for the results on causal levels will be apparent to Him long before the man himself is conscious of any progress. |
g—Cũng hãy nhớ rằng các hiện tượng thông linh không phải là dấu hiệu cho thấy việc thực hành tham thiền thành công. Thế giới sẽ thấy những tác động và là người đánh giá tốt hơn [94] chính đạo sinh. Trên hết, Chân sư sẽ biết, vì những kết quả trên các cấp độ nguyên nhân sẽ hiển nhiên đối với Ngài rất lâu trước khi chính con người có ý thức về bất kỳ sự tiến bộ nào. |
|
Let us now take up these points in detail. |
Giờ đây chúng ta hãy xem xét chi tiết những điểm này. |
Dangers inherent in the Personality. – Những nguy hiểm vốn có trong Phàm ngã.
|
Let us, therefore, consider first those dangers most closely connected with the man’s own personal life, and which are dependent upon his three bodies, their separate condition and their interrelation. This subject is so vast that it will not be possible to do more than indicate certain results due to certain conditions; each man presents a different problem, and each body causes a different reaction, and each totality in his threefold nature is affected by its alignment or by its lack of alignment. Let us take each body separately at first and then in their threefold totality. In this way some specific facts may be imparted. |
Vì vậy, trước hết chúng ta hãy xét những nguy hiểm liên hệ mật thiết nhất với đời sống cá nhân của chính con người, và tùy thuộc vào ba thể của phàm ngã, tình trạng riêng của từng thể và mối tương quan giữa chúng. Chủ đề này quá rộng lớn nên chỉ có thể chỉ ra một số kết quả do một số tình trạng gây nên; mỗi người đặt ra một vấn đề khác nhau, mỗi thể của phàm ngã gây ra một phản ứng khác nhau, và mỗi tổng thể trong bản chất tam phân của y đều chịu ảnh hưởng của sự chỉnh hợp hoặc thiếu chỉnh hợp của nó. Trước tiên chúng ta hãy xét riêng từng thể của phàm ngã, rồi xét cả ba trong tổng thể tam phân. Theo cách này, có thể truyền đạt một số sự thật cụ thể. |
|
I begin with the mental body as it is for the student of meditation the one that is the centre of his effort and the one that controls the two lower bodies. The true student seeks to draw his consciousness away from his physical body, and away from the emotional body into the realms of thought, or into the lower mind body. Having achieved that much, he seeks then to transcend that lower mind and to become polarised in the causal body, using the antahkarana, as the channel of communication between the higher and the lower, the physical brain being then but the quiescent receiver of that which is transmitted from the Ego or Higher Self and later from the threefold Spirit, the Triad. The work to be done necessitates a working from the periphery inwards, and a consequent centralisation. Having achieved that [95] centralisation and focussed in that stable centre—with the solar plexus and the heart quiet—a point within the head, one of the three major head centres, becomes the centre of consciousness, the ray of a man’s ego deciding which that centre will be. This is the method of the majority. Then that point having been reached, a man will follow the meditation of his ray as indicated to you in general terms earlier in these letters. In each case, the mental body becomes the centre of consciousness and then later—through practice—it becomes the point of departure for the transference of the polarisation into a higher body, first the causal and later into the Triad. |
Tôi bắt đầu với thể trí vì đối với đạo sinh tham thiền, đây là thể nằm ở trung tâm nỗ lực của y và kiểm soát hai thể thấp hơn. Đạo sinh chân chính tìm cách rút tâm thức khỏi thể xác và thể cảm dục để đi vào các lĩnh vực tư tưởng, hay vào thể hạ trí. Khi đã đạt được như vậy, y tìm cách vượt lên trên Hạ trí ấy và trở nên phân cực trong thể nguyên nhân, sử dụng antahkarana làm kênh giao tiếp giữa phần cao và phần thấp; khi đó bộ não hồng trần chỉ là bộ phận tiếp nhận tĩnh lặng những gì truyền xuống từ Chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu, và về sau từ Tinh thần tam phân, tức Tam nguyên tinh thần. Công việc cần thực hiện đòi hỏi phải tiến từ chu vi vào bên trong, và do đó quy tụ vào trung tâm. Khi đã đạt được sự [95] quy tụ ấy và tập trung tại trung tâm ổn định đó — với tùng thái dương và trái tim yên tĩnh — thì một điểm bên trong đầu, một trong ba trung tâm chính ở đầu, trở thành trung tâm tâm thức; cung chân ngã của con người quyết định đó sẽ là trung tâm nào. Đây là phương pháp của đa số. Sau khi đạt đến điểm ấy, con người sẽ thực hành tham thiền theo cung của mình, như đã được chỉ dẫn khái quát cho các bạn trước đây trong những bức thư này. Trong mỗi trường hợp, thể trí trở thành trung tâm tâm thức, rồi về sau — qua thực hành — trở thành điểm khởi hành để chuyển dịch sự phân cực vào một thể cao hơn, trước hết là thể nguyên nhân và sau đó vào Tam nguyên tinh thần. |
|
The dangers to the mental body are very real and must be guarded against. They are paramountly two, and might be termed the dangers of inhibition and those due to the atrophying of the body. |
Những nguy hiểm đối với thể trí là rất thực và phải được đề phòng. Chủ yếu có hai loại, có thể gọi là những nguy hiểm của sự ức chế và những nguy hiểm do sự teo thoái của thể trí. |
|
a—Let us take first the dangers due to inhibition. Some people, by their sheer strength of will, reach a point in meditation where they directly inhibit the processes of the lower mind. If you picture the mental body as an ovoid, surrounding the physical body and extending much beyond it, and if you realise that through that ovoid are constantly circulating thoughtforms of various kinds (the content of the man’s mind and the thoughts of his environing associates) so that the mental egg is coloured by predominant attractions and diversified by many geometrical forms, all in a state of flux or circulation, you may get some idea of what I mean. When a man proceeds to quiet that mental body by inhibiting or suppressing all movement, he will arrest these thoughtforms within the mental ovoid, he will stop circulation and may bring about results of a serious nature. This inhibition has a direct effect upon the physical brain, and is the cause of much of the fatigue complained of after a period [96] of meditation. If persisted in, it may lead to disaster. All beginners do it more or less, and until they learn to guard against it they will stultify their progress and retard development. The results may indeed be more serious. |
a—Trước hết chúng ta hãy xét những nguy hiểm do sự ức chế. Một số người, chỉ bằng sức mạnh ý chí của mình, đạt đến một điểm trong tham thiền nơi họ trực tiếp ức chế các tiến trình của Hạ trí. Nếu các bạn hình dung thể trí như một hình trứng bao quanh thể xác và vươn xa ra ngoài thể xác, và nếu nhận biết rằng qua hình trứng ấy luôn lưu chuyển đủ loại Hình tư tưởng — nội dung thể trí của con người và tư tưởng của những người liên hệ quanh y — khiến noãn trí mang màu sắc của những sức thu hút chủ đạo và trở nên đa dạng nhờ nhiều hình dạng hình học, tất cả đều ở trạng thái biến động hoặc lưu chuyển, thì các bạn có thể có đôi chút ý niệm về điều Tôi muốn nói. Khi con người tìm cách làm yên thể trí ấy bằng cách ức chế hoặc đè nén mọi chuyển động, y sẽ giữ những Hình tư tưởng này lại bên trong hình trứng trí, ngăn dòng lưu chuyển và có thể gây ra những kết quả nghiêm trọng. Sự ức chế này tác động trực tiếp lên bộ não hồng trần và là nguyên nhân của phần lớn sự mệt mỏi mà người ta than phiền sau một thời gian [96] tham thiền. Nếu tiếp tục, nó có thể dẫn đến tai họa. Tất cả những người mới bắt đầu đều ít nhiều làm như vậy, và chừng nào chưa học được cách đề phòng, họ sẽ làm đình trệ bước tiến của mình và trì hoãn sự phát triển. Quả thực, những kết quả còn có thể nghiêm trọng hơn. |
|
What are the right methods of thought elimination? How can placidity of mind be achieved without the use of the will in inhibition? The following suggestions may be found useful and helpful:— |
Những phương pháp đúng đắn để loại bỏ tư tưởng là gì? Làm sao đạt được sự an tĩnh của thể trí mà không dùng ý chí để ức chế? Những đề nghị sau đây có thể hữu ích và mang lại trợ giúp:— |
|
The student having withdrawn his consciousness on to the mental plane at some point within the brain, let him sound forth the Sacred Word gently three times. Let him picture the breath sent forth as a clarifying, expurgating force that in its progress onward sweeps away the thoughtforms circulating within the mental ovoid. Let him then at the close realise that the mental body is free and clear of thoughtforms. |
Sau khi đạo sinh đã rút tâm thức lên cõi trí tại một điểm nào đó bên trong bộ não, hãy để y nhẹ nhàng xướng Linh từ Thiêng liêng ba lần. Hãy để y hình dung hơi thở phát ra như một mãnh lực làm trong sạch và thanh lọc, khi tiến về phía trước sẽ quét đi những Hình tư tưởng đang lưu chuyển bên trong hình trứng trí. Sau đó, khi kết thúc, hãy để y nhận biết rằng thể trí đã tự do và sạch hết các Hình tư tưởng. |
|
Let him then raise his vibration as high as may be, and aim next at lifting it clear of the mental body into the causal, and so bring in the direct action of the Ego upon the lower three vehicles. As long as he can keep his consciousness high and as long as he holds a vibration that is that of the Ego on its own plane, the mental body will be held in a state of equilibrium. It will hold no lower vibration analogous to the thoughtforms circulating in its environment. The force of the Ego will circulate throughout the mental ovoid, permitting no extraneous geometrical units to find entrance, and the dangers of inhibition will be offset. Even more will be done,—the mental matter will in process of time become so attuned to the higher vibration that in due course that vibration will become stable and will automatically throw off all that is lower and undesirable. |
Rồi hãy để y nâng rung động của mình lên cao nhất có thể, tiếp đó hướng đến việc nâng nó ra khỏi thể trí để đi vào thể nguyên nhân, qua đó đem tác động trực tiếp của Chân ngã xuống ba hiện thể thấp. Chừng nào y có thể giữ tâm thức ở mức cao và duy trì rung động của Chân ngã trên cõi riêng của nó, thể trí sẽ giữ được trạng thái quân bình. Nó sẽ không duy trì rung động thấp nào tương ứng với những Hình tư tưởng đang lưu chuyển trong môi trường quanh nó. Mãnh lực của Chân ngã sẽ lưu chuyển khắp hình trứng trí, không cho bất kỳ đơn vị hình học bên ngoài nào xâm nhập, và những nguy hiểm của sự ức chế sẽ được hóa giải. Còn hơn thế nữa — theo thời gian, vật chất trí sẽ hòa điệu với rung động cao hơn đến mức đúng lúc, rung động ấy sẽ trở nên ổn định và tự động loại bỏ tất cả những gì thấp hơn và không đáng mong muốn. |
|
b—What do I mean by the dangers of atrophy? [97] Simply this: Some natures become so polarised on the mental plane that they run the risk of breaking connection with the two lower vehicles. These lower bodies exist for purposes of contact, for the apprehension of knowledge on the lower planes and for reasons of experience in order that the content of the causal body may be increased. Therefore it will be apparent to you that if the indwelling consciousness comes no lower than the mental plane and neglects the body of emotions and the dense physical, two things will result. The lower vehicles will be neglected and useless and fail in their purposes, atrophying and dying from the point of view of the Ego, whilst the causal body itself will not be built as desired and so time will be lost. The mental body will be rendered useless likewise, and will become a thing of selfish content, of no use in the world and of littler value. A dreamer whose dreams never materialise, a builder who stores up material which he never employs, a visionary whose visions are of no use to gods or men, is a clog upon the system universal. He is in great danger of atrophying. |
b—Tôi muốn nói gì khi đề cập đến những nguy hiểm của sự teo thoái? [97] Chỉ đơn giản là thế này: Một số người trở nên phân cực trên cõi trí đến mức có nguy cơ cắt đứt liên hệ với hai hiện thể thấp. Những thể thấp này tồn tại nhằm mục đích tiếp xúc, nắm bắt tri thức trên các cõi thấp và thu nhận trải nghiệm, để nội dung của thể nguyên nhân có thể tăng thêm. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng nếu tâm thức nội tại không xuống thấp hơn cõi trí và bỏ bê thể cảm dục cùng thể xác đậm đặc, thì hai điều sẽ xảy ra. Các hiện thể thấp sẽ bị bỏ bê, trở nên vô dụng và không hoàn thành mục đích của chúng, teo thoái và chết đi từ quan điểm của Chân ngã; trong khi chính thể nguyên nhân sẽ không được xây dựng như mong muốn, và như vậy thời gian sẽ bị mất đi. Thể trí cũng sẽ trở nên vô dụng, chỉ chứa nội dung ích kỷ, không giúp ích gì cho thế giới và có rất ít giá trị. Một người mơ mộng mà những giấc mơ không bao giờ thành hiện thực, một đấng kiến tạo tích trữ vật liệu mà không bao giờ sử dụng, một người có tầm nhìn mà những linh ảnh không giúp ích gì cho các vị thần hay con người, đều là vật cản đối với hệ thống vũ trụ. Y có nguy cơ teo thoái rất lớn. |
|
Meditation should have the effect of bringing all three bodies more completely under the control of the Ego, and lead to a co-ordination and an alignment, to a rounding-out and a symmetrical development that will make a man of real use to the Great Ones. When a man realises that mayhap he is too much centralised on the mental plane he should definitely aim at making all his mental experiences, aspirations and endeavours matters of fact on the physical plane, bringing the two lower vehicles under control of the mental and making them the instruments of his mental creations and activities. |
Tham thiền phải có tác dụng đưa cả ba thể của phàm ngã vào dưới sự kiểm soát của Chân ngã một cách trọn vẹn hơn, dẫn đến sự phối hợp và chỉnh hợp, sự hoàn thiện và phát triển cân đối, khiến con người thực sự hữu ích cho Các Đấng Cao Cả. Khi nhận ra rằng có lẽ mình quá tập trung trên cõi trí, y phải dứt khoát hướng tới việc biến mọi trải nghiệm, khát vọng và nỗ lực trí tuệ của mình thành hiện thực trên cõi hồng trần, đưa hai hiện thể thấp vào dưới sự kiểm soát của thể trí và biến chúng thành công cụ cho những sáng tạo và hoạt động trí tuệ của y. |
|
I have here indicated two of the dangers most frequently met with, and I advise all students of occultism [98] to remember that all the three bodies are of equal importance in carrying out the work to be done, both from the egoic standpoint and from the standpoint of service to the race. Let them aim at a wise co-ordination in expression, that will enable the God within to manifest for the aiding of the world. |
Ở đây, Tôi đã chỉ ra hai nguy hiểm thường gặp nhất, và Tôi khuyên mọi đạo sinh huyền bí học [98] hãy nhớ rằng cả ba thể của phàm ngã đều có tầm quan trọng ngang nhau trong việc thực hiện công việc cần làm, cả từ quan điểm chân ngã lẫn quan điểm phụng sự nhân loại. Họ hãy hướng tới sự phối hợp sáng suốt trong biểu hiện, để Thượng đế bên trong có thể biểu hiện nhằm trợ giúp thế giới. |
|
July 25, 1920. |
Ngày 25 tháng 7 năm 1920. |
|
The emotional body is at this time the most important body in the Personality for several reasons. It is a complete unit, unlike the physical and mental bodies; it is the centre of polarisation for the majority of the human family; it is the most difficult body to control, and is practically the very last body to be completely subjugated. The reason for this is that the vibration of desire has dominated, not only the human kingdom but also the animal and vegetable kingdoms in a lesser sense, so that the evolving inner man has to work against inclinations set up in these kingdoms. Before the spirit can function through forms of the fifth or spiritual kingdom, this desire vibration has to he eliminated, and selfish inclination transmuted into spiritual aspiration. The emotional body forms practically a unit with the physical body, for the average man functions almost entirely at the instigation of the emotional,—his lowest vehicle automatically obeying the behests of a higher. It is also the body that connects most directly, as has been oft-times said, with the intuitional levels, and one path of attainment lies that way. In meditation the emotional body should be controlled from the mental plane, and when the polarisation has been transferred into the mental body through forms of meditation and intensity of purpose and of will, then the emotional becomes quiescent and receptive. [99] |
Vào lúc này, thể cảm dục là thể quan trọng nhất trong Phàm ngã vì nhiều lý do. Nó là một đơn vị hoàn chỉnh, không giống thể xác và thể trí; nó là trung tâm phân cực của phần lớn gia đình nhân loại; nó là thể khó kiểm soát nhất, và trên thực tế gần như là thể cuối cùng được chế ngự hoàn toàn. Lý do là rung động của dục vọng đã thống trị không chỉ giới nhân loại mà còn cả giới động vật và giới thực vật ở mức độ thấp hơn, nên con người nội tâm đang tiến hoá phải chống lại những khuynh hướng đã hình thành trong các giới ấy. Trước khi tinh thần có thể hoạt động qua những hình tướng của giới thứ năm, tức giới tinh thần, rung động dục vọng này phải được loại bỏ, và khuynh hướng ích kỷ phải được chuyển hoá thành khát vọng tinh thần. Trên thực tế, thể cảm dục hợp thành một đơn vị với thể xác, vì người bình thường hoạt động gần như hoàn toàn theo sự thúc đẩy của thể cảm dục,—hiện thể thấp nhất của y tự động tuân theo mệnh lệnh của một hiện thể cao hơn. Như đã nhiều lần nói, đây cũng là thể liên kết trực tiếp nhất với các cấp độ trực giác, và một con đường thành tựu nằm theo hướng ấy. Trong tham thiền, thể cảm dục phải chịu sự kiểm soát từ cõi trí; khi sự phân cực đã chuyển dịch vào thể trí nhờ các hình thức tham thiền cùng cường độ của mục đích và ý chí, thể cảm dục trở nên tĩnh lặng và có khả năng tiếp nhận. [99] |
|
This negative attitude in itself, if carried too far, opens the door to serious dangers, which I will later enlarge upon when we take up the subject of obsessions, divine sometimes, but more oft the reverse. A negative condition is not desired in either of the bodies, and it is just this very negativeness that beginners in meditation so oft achieve, and so run into danger. The aim should be to make the emotional ovoid positive to all that is lower and to its environment and only receptive to the Spirit via the causal. This can only be brought about by the development of the faculty of conscious control—that control which even in the moments of highest vibration and contact is alert to watch and guard the lower vehicles. “Watch and pray,” the Great Lord said when last on earth, and He spoke in occult terms, that have not as yet received due attention or interpretation. |
Nếu đi quá xa, chính thái độ thụ động này sẽ mở cửa cho những nguy hiểm nghiêm trọng; Tôi sẽ trình bày kỹ hơn về chúng khi chúng ta bàn đến sự ám nhập, đôi khi mang tính thiêng liêng, nhưng thường là ngược lại. Không một thể nào của phàm ngã nên ở trạng thái thụ động, và chính sự thụ động này là điều những người mới bắt đầu tham thiền rất thường đạt tới, khiến họ rơi vào nguy hiểm. Mục tiêu phải là làm cho noãn cảm dục chủ động đối với mọi điều thấp hơn và đối với môi trường của nó, đồng thời chỉ tiếp nhận Tinh thần qua thể nguyên nhân. Điều này chỉ có thể đạt được nhờ phát triển năng lực kiểm soát hữu thức—sự kiểm soát vẫn tỉnh táo để trông chừng và bảo vệ các hiện thể thấp ngay cả trong những khoảnh khắc rung động và tiếp xúc cao nhất. “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện,” Chúa Tể Vĩ Đại đã nói khi Ngài hiện diện trên Trái Đất lần cuối; Ngài nói bằng ngôn ngữ huyền bí mà đến nay vẫn chưa được chú ý hoặc giải thích đúng mức. |
|
What must therefore be watched? |
Vậy cần phải trông chừng điều gì? |
|
l—The attitude of the emotional ovoid and its positive-negative control. |
1—Thái độ của noãn cảm dục và sự kiểm soát tính chủ động–thụ động của nó. |
|
2—The stability of the emotional matter and its conscious receptivity. |
2—Sự ổn định của vật chất cảm dục và khả năng tiếp nhận hữu thức của nó. |
|
3—Its alignment with the mental and with the causal bodies. If this alignment is imperfect (as it so frequently is) it causes inaccuracy in reception from the higher planes, distortion of the truths sent down via the Ego, and a very dangerous transference of force to undesirable centres. This lack of alignment is the cause of the frequent straying from sexual purity of many apparently spiritually inclined persons. They can touch the intuitional levels somewhat, the Ego can partially transmit power from on high, but as the alignment is imperfect the force from those higher levels is deflected, the wrong centres are over-stimulated, and disaster results. |
3—Sự chỉnh hợp của nó với thể trí và thể nguyên nhân. Nếu sự chỉnh hợp này không hoàn hảo (như rất thường xảy ra), nó gây ra sự thiếu chính xác trong việc tiếp nhận từ các cõi cao, làm sai lệch những chân lý truyền xuống qua Chân ngã, và gây ra sự chuyển dịch mãnh lực rất nguy hiểm đến những trung tâm không mong muốn. Sự thiếu chỉnh hợp này là nguyên nhân khiến nhiều người có vẻ hướng về tinh thần thường xuyên rời xa sự thanh khiết trong đời sống tính dục. Họ có thể tiếp xúc phần nào với các cấp độ trực giác, Chân ngã có thể truyền một phần quyền năng từ trên cao xuống, nhưng vì sự chỉnh hợp không hoàn hảo, mãnh lực từ những cấp độ cao ấy bị chuyển hướng, những trung tâm không thích hợp bị kích thích quá mức, và tai hoạ xảy ra. |
|
4—Another danger to be guarded against is that of [100] obsession, but in pure thoughts, spiritual aims, and unselfish brotherly conduct, lie the fundamentals of protection. If to these essentials is added common sense in meditation and a wise application of occult rules, with due consideration of ray and karma, these dangers will disappear. |
4—Một nguy hiểm khác cần đề phòng là [100] sự ám nhập, nhưng chính trong tư tưởng thanh khiết, mục tiêu tinh thần và cách hành xử huynh đệ vô tư có những nền tảng của sự bảo vệ. Nếu bổ sung vào những yếu tố thiết yếu này sự sáng suốt thông thường trong tham thiền và việc áp dụng khôn ngoan các quy luật huyền bí, có cân nhắc đúng mức đến cung và nghiệp quả, thì những nguy hiểm ấy sẽ biến mất. |
|
July 28, 1920. |
Ngày 28 tháng 7 năm 1920. |
Some thoughts on FIRE. – Một vài suy nghĩ về LỬA.
|
Just prior to beginning the consideration of the matter on hand, I would like to point out to you a certain rather interesting fact. Most of the psychological phenomena of the earth are—as you will realise, if you think clearly,—under the control of the Deva Lord Agni, the great primary Lord of Fire, the Ruler of the mental plane. Cosmic fire forms the background of our evolution; the fire of the mental plane, its inner control and dominance and its purifying asset coupled to its refining effects, is the aim of the evolution of our three-fold life. When the inner fire of the mental plane and the fire latent in the lower vehicles merge with the sacred fire of the Triad the work is completed, and the man stands adept. The at-one-ment has been made and the work of aeons is completed. All this is brought about through the co-operation of the Lord Agni, and the high devas of the mental plane working with the Ruler of that plane, and with the Raja-Lord of the second plane. |
Ngay trước khi bắt đầu xem xét vấn đề hiện tại, Tôi muốn chỉ ra cho các bạn một sự thật khá thú vị. Như các bạn sẽ nhận ra nếu suy nghĩ rõ ràng, phần lớn các hiện tượng tâm lý trên Trái Đất đều nằm dưới sự kiểm soát của Chúa Tể Thiên Thần Agni, Chúa Tể nguyên sơ vĩ đại của Lửa, Đấng Cai Quản cõi trí. Lửa vũ trụ tạo thành nền tảng cho sự tiến hoá của chúng ta; lửa của cõi trí, sự kiểm soát và thống trị từ bên trong của nó, cùng đặc tính thanh lọc gắn liền với tác dụng tinh luyện của nó, là mục tiêu tiến hoá của sự sống tam phân của chúng ta. Khi lửa bên trong của cõi trí và lửa tiềm ẩn trong các hiện thể thấp hoà nhập với lửa thiêng liêng của Tam nguyên tinh thần, công việc hoàn tất, và con người trở thành chân sư. Sự hợp nhất đã thành tựu và công việc của biết bao đại kiếp đã hoàn tất. Tất cả những điều này diễn ra nhờ sự hợp tác của Chúa Tể Agni và các thiên thần cao cấp của cõi trí, cùng làm việc với Đấng Cai Quản cõi ấy và với Chúa Tể Raja của cõi thứ hai. |
|
Macrocosmic evolution proceeds in like manner to the microcosmic. The internal fires of the terrestrial globe, deep in the heart of our earth sphere, will merge with the sacred fire of the sun at the end of the greater cycle, and the solar system will then have reached its apotheosis. Little by little as the aeons slip away and the lesser cycles run their course, fire will permeate the ethers and will be daily more recognisable and controlled till eventually [101] cosmic and terrestrial fire will be at-one (the bodies of all material forms adapting themselves to the changing conditions) and the correspondence will be demonstrated. When this is realised the phenomena of the earth—such as, for instance, seismic disturbance—can be studied with greater interest. Later, when more is comprehended, the effects of such disturbances will be understood and likewise their reactions on the sons of men. During the summer months—as that great cycle comes around in different quarters of the earth—the fire devas, the fire elementals and those obscure entities the “agnichaitans” of the internal furnaces, come into greater activity, relapsing as the sun moves further away, into a less active condition. You have here a correspondence between the fiery aspects of the earth economy in their relationship to the sun similar to the watery aspects and their connection with the moon. I give you quite an occult hint here. I would like also to give you here a very brief though occult fragment that…may now be made public. If pondered on, it carries the student to a high plane and stimulates vibration. Pause and become quiescent and hearken carefully to my words. Accuracy is essential. E’en the feeling you have of a shrinking from responsibility may act as a barrier to the clear apprehension of the desired statement. |
Sự tiến hoá của Đại thiên địa diễn ra tương tự như sự tiến hoá của Tiểu thiên địa. Những ngọn lửa bên trong bầu hành tinh địa cầu, sâu trong lòng khối cầu Trái Đất của chúng ta, sẽ hoà nhập với lửa thiêng liêng của mặt trời vào cuối chu kỳ lớn hơn, và khi ấy hệ mặt trời sẽ đạt tới sự tôn vinh tối thượng. Từng chút một, khi các đại kiếp trôi qua và những chu kỳ nhỏ hơn hoàn thành tiến trình của chúng, lửa sẽ thấm khắp các tầng dĩ thái, ngày càng dễ nhận biết và dễ kiểm soát hơn, cho đến khi cuối cùng [101] lửa vũ trụ và lửa địa cầu hợp nhất (các thân thể của mọi hình tướng vật chất tự thích nghi với những điều kiện đang biến đổi), và sự tương ứng sẽ được chứng minh. Khi nhận ra điều này, chúng ta có thể nghiên cứu các hiện tượng của Trái Đất—chẳng hạn như những chấn động địa chất—với sự quan tâm lớn hơn. Về sau, khi hiểu biết sâu hơn, chúng ta sẽ thấu hiểu tác động của những chấn động ấy, cũng như ảnh hưởng của chúng đối với những người con của nhân loại. Trong những tháng mùa hè—khi chu kỳ lớn ấy lần lượt trở lại ở các vùng khác nhau trên Trái Đất—các thiên thần lửa, các hành khí của lửa và những thực thể ít được biết đến gọi là “agnichaitans” trong những lò lửa bên trong trở nên hoạt động mạnh hơn; khi mặt trời dịch xa hơn, chúng lại trở về trạng thái ít hoạt động hơn. Ở đây, các bạn có một sự tương ứng giữa các phương diện lửa trong hệ thống vận hành của Trái Đất và mối quan hệ của chúng với mặt trời, tương tự như các phương diện nước và sự liên kết của chúng với mặt trăng. Tôi trao cho các bạn một gợi ý thực sự huyền bí ở đây. Tôi cũng muốn đưa ra ở đây một đoạn rất ngắn nhưng mang tính huyền bí mà…giờ đây có thể công bố. Nếu suy ngẫm về nó, đoạn này sẽ đưa đạo sinh lên một cõi cao và kích thích rung động. Hãy dừng lại và trở nên tĩnh lặng, và chăm chú lắng nghe những lời của Tôi. Sự chính xác là thiết yếu. Ngay cả cảm giác muốn né tránh trách nhiệm mà các bạn có cũng có thể trở thành một rào cản đối với việc nắm bắt rõ ràng điều muốn trình bày. |
|
“The secret of the Fire lieth hid in the second letter of the Sacred Word. The mystery of life is concealed within the heart. When the lower point vibrates, when the Sacred Triangle glows, when the point, the middle centre, and the apex connect and circulate the Fire, when the 3-fold apex likewise burns, then the two triangles, – the greater and the lesser, – merge into one flame which burneth up the whole.” |
“Bí mật của Lửa ẩn giấu trong chữ thứ hai của Linh từ Thiêng Liêng. Huyền nhiệm của sự sống ẩn giấu trong tim. Khi điểm thấp hơn rung động, khi Tam Giác Thiêng Liêng rực sáng, khi điểm, trung tâm ở giữa và đỉnh liên kết và luân chuyển Lửa, khi đỉnh tam phân cũng bừng cháy, thì hai tam giác, – tam giác lớn hơn và tam giác nhỏ hơn, – hoà nhập thành một ngọn lửa thiêu rụi toàn thể.” |
|
It is our task now to deal briefly with the dangers that attend the practice of meditation as they manifest in the physical body. These dangers—like so much else in the Logoic scheme—assume a three-fold nature, attacking [102] three departments of the physical body. They show themselves: |
Giờ đây, nhiệm vụ của chúng ta là bàn ngắn gọn về những nguy hiểm đi kèm việc thực hành tham thiền khi chúng biểu hiện trong thể xác. Những nguy hiểm này—cũng như rất nhiều điều khác trong hệ hành tinh của Thượng đế—mang bản chất tam phân, tấn công [102] ba bộ phận của thể xác. Chúng biểu hiện: |
|
a—In the brain. |
a—Trong bộ não. |
|
b—In the nervous system. |
b—Trong hệ thần kinh. |
|
c—In the sex organs. |
c—Trong các cơ quan sinh dục. |
|
It is needless to point out now the reason why I dealt first with the dangers of the mental and emotional bodies. It was necessary so to do, for many of the perils besetting the dense vehicle find their commencement on the subtler planes, and are only the outer manifestations of inner evils. |
Lúc này, không cần chỉ ra lý do vì sao Tôi đã bàn trước về những nguy hiểm đối với thể trí và thể cảm dục. Cần phải làm như vậy, vì nhiều hiểm nguy vây quanh hiện thể đậm đặc bắt nguồn từ các cõi tinh tế hơn, và chỉ là những biểu hiện bên ngoài của các tổn hại bên trong. |
|
Each human being enters into life equipped with a physical and etheric body of certain constituents, those constituents being the product of a previous incarnation; they are virtually the body, reproduced exactly, that the man finally left behind him when death severed him from physical plane existence. The task ahead of everybody is to take that body, realise its defects and requirements, and then deliberately set in and build a new body that may prove more adequate to the need of the inner spirit. This is a task of large dimensions and involves time, stern discipline, self-denial and judgment. |
Mỗi con người bước vào đời với một thể xác và một thể dĩ thái có những thành phần nhất định, vốn là sản phẩm của một kiếp nhập thể trước; trên thực tế, chúng chính là thân thể được tái tạo y hệt thân thể mà cuối cùng y đã bỏ lại khi cái chết tách y khỏi sự tồn tại trên cõi hồng trần. Nhiệm vụ trước mắt mỗi người là tiếp nhận thân thể ấy, nhận ra những khuyết điểm và nhu cầu của nó, rồi chủ tâm bắt tay xây dựng một thân thể mới có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của tinh thần bên trong. Đây là một nhiệm vụ lớn lao, đòi hỏi thời gian, kỷ luật nghiêm khắc, sự tự chế và khả năng phán đoán. |
|
The man who undertakes the practice of occult meditation literally “plays with fire.” I wish you to emphasise this statement for it embodies a truth little realised. “Playing with fire” is an old truth that has lost its significance through flippant repetition, yet it is absolutely and entirely correct, and is not a symbolic teaching but a plain statement of fact. Fire forms the basis of all—the Self is fire, the intellect is a phase of fire, and latent in the microcosmic physical vehicles lies hid a veritable fire that can either be a destructive force, burning the tissue of the body and stimulating centres of an undesirable character, or be a vivifying factor, acting as a [103] stimulating and awakening agent. When directed along certain prepared channels, this fire may act as a purifier and the great connector between the lower and the Higher Self. |
Người thực hành tham thiền huyền bí đang “chơi với lửa” theo nghĩa đen. Tôi muốn các bạn nhấn mạnh lời này, vì nó chứa đựng một chân lý mà ít người nhận ra. “Chơi với lửa” là một chân lý lâu đời đã mất đi thâm nghĩa do bị lặp lại một cách hời hợt; tuy nhiên, nó hoàn toàn chính xác, không phải một giáo huấn mang tính biểu tượng mà là lời trình bày thẳng thắn về sự thật. Lửa tạo thành nền tảng của tất cả—Bản Ngã là lửa, trí năng là một dạng của lửa, và trong các hiện thể hồng trần của Tiểu thiên địa có một ngọn lửa thực sự tiềm ẩn; nó có thể là một mãnh lực huỷ diệt, thiêu đốt mô của thân thể và kích thích những trung tâm có tính chất không mong muốn, hoặc là một yếu tố tiếp sinh lực, hoạt động như một [103] tác nhân kích thích và đánh thức. Khi được dẫn theo những đường dẫn nhất định đã chuẩn bị sẵn, lửa này có thể đóng vai trò thanh lọc và là yếu tố liên kết mạnh mẽ giữa phàm ngã và chân ngã. |
|
In meditation the student seeks to contact the divine flame that is his Higher Self, and to put himself likewise en rapport with the fire of the mental plane. When meditation is forced, or is pursued too violently, before the alignment between the higher and lower bodies via the emotional is completed, this fire may act on the fire latent at the base of the spine (that fire called kundalini) and may cause it to circulate too early. This will produce disruption and destruction instead of vivification and stimulation of the higher centres. There is a proper geometrical spiralling which this fire should follow, dependent upon the ray of the student and the key of the vibration of his higher centres. This fire should only be permitted to circulate under the direct instruction of the Master and consciously distributed by the student himself, following the specific oral instructions of the teacher. Sometimes the fire may be aroused and spiral with correctness without the student knowing what is occurring on the physical plane; but on the inner planes he knows and has but failed to bring the knowledge through to the physical plane consciousness. |
Trong tham thiền, đạo sinh tìm cách tiếp xúc với ngọn lửa thiêng liêng vốn là chân ngã của y, đồng thời thiết lập sự giao cảm với lửa của cõi trí. Khi tham thiền bị thúc ép hoặc tiến hành quá mãnh liệt trước khi hoàn tất sự chỉnh hợp giữa các thể cao và thấp qua thể cảm dục, lửa này có thể tác động lên lửa tiềm ẩn ở đáy cột sống (ngọn lửa gọi là hoả xà) và khiến nó luân chuyển quá sớm. Điều này sẽ gây rối loạn và huỷ hoại thay vì tiếp sinh lực và kích thích các trung tâm cao hơn. Lửa này phải đi theo một đường xoắn ốc hình học thích hợp, tuỳ thuộc vào cung của đạo sinh và giọng âm của rung động nơi các trung tâm cao hơn của y. Chỉ nên cho phép lửa này luân chuyển dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Chân sư, và chính đạo sinh phải phân phối nó một cách hữu thức, theo những chỉ dẫn truyền khẩu cụ thể của huấn sư. Đôi khi lửa có thể được khơi dậy và xoắn lên đúng cách mà đạo sinh không biết điều gì đang xảy ra trên cõi hồng trần; nhưng trên các cõi bên trong, y biết, chỉ là chưa đưa được tri thức ấy vào tâm thức hồng trần. |
|
Let us take up for a moment the three dangers that principally beset the physical vehicles. I would like to point out that I deal with the trouble in its extreme, and that there are many intermediate stages of risk and trouble that attack the unwary student. |
Chúng ta hãy dành một chút thời gian xem xét ba nguy hiểm chủ yếu vây quanh các hiện thể hồng trần. Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi đang bàn về những rối loạn ở mức cực đoan, và có nhiều mức độ nguy cơ cùng rối loạn trung gian tấn công đạo sinh thiếu thận trọng. |
Dangers to the physical brain. – Những nguy hiểm đối với bộ não hồng trần.
|
The brain suffers principally in two ways:— |
Bộ não chủ yếu chịu tổn hại theo hai cách:— |
|
From congestion, causing a suffusion of the blood [104] vessels and a consequent strain upon the delicate brain tissue. This may result in permanent injury, and may even cause imbecility. It shows in the initial stages as numbness and fatigue, and if the student persists in meditation when these conditions are sensed the result will be serious. At all times a student should guard against continuing his meditation when any fatigue is felt, and should stop at the first indications of trouble. All these dangers can be guarded against by the use of common-sense, and by remembering that the body must ever be trained gradually and be built slowly. In the scheme of the Great Ones, hurry has no place. |
Do sung huyết, khiến máu tràn đầy các [104] mạch máu và do đó gây áp lực lên mô não tinh tế. Điều này có thể dẫn đến tổn thương vĩnh viễn, thậm chí gây thiểu năng trí tuệ. Ở những giai đoạn đầu, nó biểu hiện thành sự tê dại và mệt mỏi; nếu đạo sinh vẫn tiếp tục tham thiền khi cảm thấy những trạng thái ấy, hậu quả sẽ nghiêm trọng. Đạo sinh luôn phải tránh tiếp tục tham thiền khi cảm thấy bất kỳ sự mệt mỏi nào, và phải dừng ngay khi có những dấu hiệu rối loạn đầu tiên. Có thể phòng tránh tất cả những nguy hiểm này bằng sự sáng suốt thông thường và bằng cách nhớ rằng thân thể luôn phải được rèn luyện dần dần và xây dựng chậm rãi. Trong kế hoạch của Các Đấng Cao Cả, không có chỗ cho sự vội vàng. |
|
From insanity. This evil has often been seen in earnest students who persist in unwise pressure or seek unguardedly to arouse the sacred fire through breathing exercises and similar practices; they pay the price of their rashness through the loss of their reason. The fire does not proceed in due geometrical form, the necessary triangles are not made, and the electrical fluid rushes with ever increasing speed and heat upwards, and literally burns away all or part of the brain tissue, thus bringing about insanity and sometimes death. |
Do điên loạn. Tổn hại này thường xuất hiện ở những đạo sinh nhiệt thành cứ tiếp tục thúc ép thiếu khôn ngoan, hoặc tìm cách khơi dậy lửa thiêng liêng qua các bài tập thở và những thực hành tương tự mà không có biện pháp bảo vệ; họ phải trả giá cho sự liều lĩnh bằng việc mất đi lý trí. Lửa không tiến theo dạng hình học thích hợp, những tam giác cần thiết không được tạo thành, và lưu chất điện lao lên với tốc độ cùng sức nóng ngày càng tăng, thực sự thiêu huỷ toàn bộ hoặc một phần mô não, từ đó gây điên loạn và đôi khi gây tử vong. |
|
When these things are more widely comprehended and openly acknowledged, doctors and brain specialists will study with greater care and accuracy the electrical condition of the spinal column, and correlate its condition with that of the brain. Good results will thus be achieved. |
Khi những điều này được hiểu biết rộng rãi hơn và công khai thừa nhận, các bác sĩ và chuyên gia về não sẽ nghiên cứu trạng thái điện của cột sống cẩn thận và chính xác hơn, đồng thời đối chiếu trạng thái ấy với trạng thái của bộ não. Nhờ đó sẽ đạt được những kết quả tốt. |
Dangers to the nervous system. – Những nguy hiểm đối với hệ thần kinh.
|
The troubles connected with the nervous system are more frequent than those attacking the brain, such as insanity and disruption of the brain tissue. Almost all who undertake meditation are conscious of an effect in [105] the nervous system; sometimes it takes the form of sleeplessness, of excitability, of a strained energy and restlessness that permit of no relaxation; of an irritability that has been foreign perhaps to the disposition until meditation was pursued; of a nervous reaction—such as a twitching of the limbs, the fingers or the eyes—of depression or a lowering of the vitality, and of many individual modes of showing tension and nervousness, differing according to nature and temperament. This display of nervousness may be either severe or slight, but I seek earnestly to point out it is quite needless, provided the student adheres to the rules of common-sense, that he studies wisely his own temperament, and that he does not blindly proceed with forms and methods but insists on knowing the raison d’etre of instituted action. If occult students disciplined the life more wisely, if they studied the food problem more carefully, if they took the needed hours of sleep with more determination, and if they worked with cautious slowness and not so much from impulse (no matter how high the aspiration) greater results would be seen and the Great Ones would have more efficient helpers in the work of serving the world. |
Những rối loạn liên quan đến hệ thần kinh thường gặp hơn những rối loạn tấn công bộ não, như điên loạn và sự phá huỷ mô não. Gần như tất cả những người thực hành tham thiền đều nhận biết một tác động trong [105] hệ thần kinh; đôi khi nó biểu hiện thành mất ngủ, dễ kích động, trạng thái năng lượng căng thẳng và bồn chồn không cho phép thư giãn; thành tính dễ cáu gắt vốn có lẽ xa lạ với tính tình của họ trước khi thực hành tham thiền; thành phản ứng thần kinh—như co giật ở tay chân, ngón tay hoặc mắt—thành trầm uất hoặc suy giảm sinh lực, cùng nhiều biểu hiện căng thẳng và bất an thần kinh riêng biệt, khác nhau tuỳ theo bản chất và khí chất. Biểu hiện bất an thần kinh này có thể nặng hoặc nhẹ, nhưng Tôi tha thiết muốn chỉ ra rằng nó hoàn toàn không cần xảy ra, miễn là đạo sinh tuân theo các quy luật của sự sáng suốt thông thường, nghiên cứu khí chất của chính mình một cách khôn ngoan, và không mù quáng làm theo các hình thức và phương pháp, mà nhất quyết tìm hiểu lý do của những hành động đã được đặt ra. Nếu các đạo sinh huyền bí rèn luyện đời sống sáng suốt hơn, nghiên cứu vấn đề ăn uống cẩn thận hơn, quyết tâm dành đủ số giờ ngủ cần thiết hơn, và làm việc với sự chậm rãi thận trọng thay vì quá dựa vào sự thôi thúc nhất thời (dù khát vọng có cao đến đâu), thì sẽ thấy những kết quả lớn hơn, và Các Đấng Cao Cả sẽ có những người trợ giúp hiệu quả hơn trong công việc phụng sự thế giới. |
|
It is not my purpose in these letters to take up specifically the diseases of the brain and of the nervous system. I only desire to give general indications and warnings and (for your encouragement) to point out that later when the wise Teachers move among men and openly teach in specific schools, many forms of brain trouble and of nervous complaints will be cured through meditation wisely adjusted to the individual need. Proper meditations will be set to stimulate quiescent centres, to turn the inner fire to proper channels, to distribute the divine heat in equable arrangement, to build in tissue [106] and to heal. The time for this is not yet, though it lies not so far ahead as you might imagine. |
Trong những bức thư này, Tôi không có ý định bàn riêng về các bệnh của bộ não và hệ thần kinh. Tôi chỉ muốn đưa ra những chỉ dẫn và cảnh báo tổng quát, đồng thời (để khích lệ các bạn) chỉ ra rằng về sau, khi các Huấn sư minh triết đi lại giữa nhân loại và công khai giảng dạy trong những trường chuyên biệt, nhiều dạng bệnh ở bộ não và rối loạn thần kinh sẽ được chữa lành nhờ tham thiền được điều chỉnh một cách sáng suốt cho phù hợp với nhu cầu cá nhân. Những bài thiền thích hợp sẽ được ấn định để kích thích các trung tâm đang bất hoạt, hướng lửa bên trong vào những đường dẫn đúng đắn, phân bố nhiệt thiêng liêng một cách đồng đều, bồi đắp mô [106] và chữa lành. Thời điểm ấy chưa đến, dù cũng không xa như các bạn có thể tưởng tượng. |
Dangers to the sex organs. – Những nguy hiểm đối với các cơ quan sinh dục.
|
The danger of the over-stimulation of these organs is well recognised theoretically, and I do not purpose to enlarge on it greatly today. I but seek to point out that this danger is very real. The reason is that in the overstimulation of these centres the inner fire is but following the line of least resistance, owing to the polarisation of the race as a whole. The work, therefore, that the student has to do is twofold:— |
Về mặt lý thuyết, nguy hiểm do kích thích quá mức các cơ quan này đã được nhận biết rõ, và hôm nay Tôi không có ý định bàn rộng về điều đó. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng nguy hiểm này rất thực. Lý do là khi các trung tâm này bị kích thích quá mức, lửa bên trong chỉ đi theo con đường ít trở ngại nhất, do sự phân cực của toàn thể nhân loại. Vì vậy, công việc mà đạo sinh phải làm có hai phần:— |
|
a—He has to withdraw his consciousness from those centres; this is no easy task for it means working against the results of age-long development. |
a—Y phải rút tâm thức khỏi những trung tâm ấy; đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng, vì điều đó có nghĩa là phải đi ngược lại những kết quả của sự phát triển qua bao thời đại. |
|
b—He has to direct the attention of the creative impulse to the mental plane. In so doing, if successful, he will turn the activity of the divine fire to the throat centre and its corresponding head centre, instead of to the lower organs of generation. Therefore, it will be apparent to you why—unless a man is very advanced—it is not wise to spend much time in meditation during the earlier years. There was wisdom in the old Brahmanical rule that a man must give his early years to household endeavour, and only when he had fulfilled his function as a man could he go on to the life of the devotee. This was the rule for the average. With advanced egos, pupils and disciples, it is not so, and each must then work out his own individual problem. |
b—Y phải hướng sự chú ý của xung lực sáng tạo lên cõi trí. Khi làm như vậy, nếu thành công, y sẽ chuyển hoạt động của lửa thiêng liêng đến trung tâm cổ họng và trung tâm tương ứng của nó trong đầu, thay vì đến các cơ quan sinh sản thấp hơn. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ tại sao—trừ khi một người đã tiến hóa rất cao—việc dành nhiều thời gian cho tham thiền trong những năm đầu đời là không sáng suốt. Quy luật Bà-la-môn xưa chứa đựng minh triết khi yêu cầu một người phải dành những năm đầu đời để lo việc gia đình, và chỉ khi đã hoàn thành chức phận làm người, y mới có thể bước vào đời sống của người sùng tín. Đó là quy luật dành cho người bình thường. Với những chân ngã tiến hóa cao, các môn sinh và đệ tử thì không như vậy, và mỗi người khi ấy phải tự giải quyết vấn đề riêng của mình. |
|
July 29, 1920. |
Ngày 29 tháng 7 năm 1920. |
Dangers arising from the Karma of the student. – Những nguy hiểm phát sinh từ nghiệp quả của đạo sinh.
|
These as you know may he grouped under three heads, as follows: [107] |
Như các bạn biết, có thể chia những nguy hiểm này thành ba nhóm như sau: [107] |
|
l—Those incidental to the karma of his present life. |
1—Những nguy hiểm gắn liền với nghiệp quả của kiếp sống hiện tại của y. |
|
2—Those based on his national heredity and his type of body. |
2—Những nguy hiểm bắt nguồn từ di truyền dân tộc và loại thân thể của y. |
|
3—Those attendant on his group affiliations, whether on the physical plane and so exoteric, or on the subtle planes and so esoteric. |
3—Những nguy hiểm đi kèm với các mối liên kết nhóm của y, dù trên cõi hồng trần và do đó thuộc ngoại môn, hay trên các cõi vi tế và do đó thuộc nội môn. |
|
Just what do you mean by the “karma of the student?” We use words lightly, and I presume that the thoughtless reply would be that the student’s karma is the inevitable happenings of the present or the future that he cannot evade. This is somewhat right, but is only one aspect of the whole. Let us look at the matter first in a large manner, for oft in the just apprehension of big outlines comes comprehension of the small. |
Các bạn thực sự muốn nói gì khi dùng cụm từ “nghiệp quả của đạo sinh”? Chúng ta dùng từ ngữ một cách hời hợt, và Tôi cho rằng câu trả lời thiếu suy nghĩ sẽ là: nghiệp quả của đạo sinh là những sự việc tất yếu xảy ra trong hiện tại hoặc tương lai mà y không thể tránh né. Điều này đúng phần nào, nhưng chỉ là một phương diện của toàn thể. Trước hết, chúng ta hãy xem xét vấn đề trên phạm vi rộng, vì thường chính khi nắm bắt đúng những đường nét lớn, ta mới thấu hiểu những điều nhỏ. |
|
When our Logos founded the solar system He drew within the circle of manifestation matter sufficient for His project, and material adequate for the object He had in view. He had not all possible objects in view for this one solar system: he had some specific aim that necessitated some specific vibration and required therefore certain differentiated material. This circle that we term the systemic or solar “ring-pass-not” bounds all that transpires within our system, and contains within its bounds our dual manifestation. All within that ring vibrates to a certain key-measure, and conforms to certain rules with the aim in view of the achievement of a particular goal, and the attainment of a certain end, known in its entirety only to the Logos Himself. All within that circle is subject to specific rules and governed by a certain key measure, and might be regarded as being subject to the karma of that sevenfold periodic existence, and actuated by causes dating back prior to the ringing of that circle, thus linking our system to its forerunner and affiliating it with that which will come [108] after. Not an isolated unit are we, but part of a greater whole, governed in our totality by cosmic law and working out (as a whole) certain definite aims. |
Khi Thượng đế của chúng ta thiết lập hệ mặt trời, Ngài thu vào trong vòng biểu hiện lượng vật chất đủ cho dự định của Ngài, và chất liệu thích hợp với mục tiêu mà Ngài nhắm đến. Với hệ mặt trời này, Ngài không nhắm đến mọi mục tiêu có thể có: Ngài có một mục đích cụ thể, đòi hỏi một rung động cụ thể và do đó cần một loại chất liệu đã biến phân nhất định. Vòng này, mà chúng ta gọi là “vòng-giới-hạn” của thái dương hệ hay của mặt trời, bao quanh mọi điều diễn ra trong thái dương hệ của chúng ta, và chứa trong phạm vi của nó sự biểu hiện kép của chúng ta. Mọi sự bên trong vòng ấy đều rung động theo một nhịp chủ đạo nhất định và tuân theo những quy luật nhất định, nhằm đạt một mục tiêu cụ thể và hoàn thành một cứu cánh nhất định mà chỉ chính Thượng đế mới biết trọn vẹn. Mọi sự bên trong vòng ấy đều chịu những quy luật cụ thể và sự chi phối của một nhịp chủ đạo nhất định; có thể xem chúng là chịu nghiệp quả của sự hiện tồn thất phân theo chu kỳ ấy, và chịu tác động của những nguyên nhân có từ trước khi vòng ấy được thiết lập, qua đó liên kết thái dương hệ của chúng ta với thái dương hệ tiền thân và nối thái dương hệ này với thái dương hệ sẽ xuất hiện [108] về sau. Chúng ta không phải là một đơn vị cô lập, mà là một phần của một toàn thể lớn hơn; toàn bộ chúng ta chịu sự chi phối của định luật vũ trụ và cùng nhau thực hiện những mục đích xác định. |
Microcosmic purpose. – Mục đích của Tiểu thiên địa.
|
So it is with the Microcosm. The Ego on his own plane and on a tiny scale, repeats the action of the Logos. For certain ends he builds a certain form; he gathers certain material, and aims at a definite consummation that shall be the result of that gathered material vibrating to a certain measure, governed in one specific life by certain rules and aiming at some one particular object,—not all possible objects. |
Tiểu thiên địa cũng vậy. Trên cõi riêng của mình và ở quy mô rất nhỏ, chân ngã lặp lại hành động của Thượng đế. Vì những cứu cánh nhất định, y xây dựng một hình tướng nhất định; y thu thập chất liệu nhất định và hướng đến một thành tựu xác định, vốn sẽ là kết quả của chất liệu đã thu thập ấy rung động theo một nhịp nhất định, chịu sự chi phối của những quy luật nhất định trong một kiếp sống cụ thể và hướng đến một mục tiêu riêng biệt nào đó,—chứ không phải mọi mục tiêu có thể có. |
|
Each Personality is to the Ego what the solar system is to the Logos. It is his field of manifestation and the method whereby he attains a demonstrable object. That aim may be the acquirement of virtue by paying the price of vice; it may be the attainment of business acumen by the struggle to provide the necessities of life; it may be the development of sensitiveness by the revealing cruelties of nature; it may be the building in of unselfish devotion by the appeal of needy dependents; or it may be the transmutation of desire by the method of meditation on the path. It is for each soul to find out. What I want to impress upon you is the fact that there is a certain danger incident to this very factor. If, for instance, in the acquirement of the mental capacity to meditate, the student misses the very thing he came into the physical body to acquire, the result is not so much a gain as an unequal development and a temporary loss of time. |
Mỗi phàm ngã đối với chân ngã cũng như hệ mặt trời đối với Thượng đế. Đó là lĩnh vực biểu hiện của y và là phương thức qua đó y đạt được một mục tiêu có thể biểu lộ rõ ràng. Mục đích ấy có thể là đạt được đức hạnh bằng cách trả giá cho thói xấu; có thể là đạt được sự nhạy bén trong kinh doanh qua cuộc đấu tranh để bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của đời sống; có thể là phát triển tính nhạy cảm qua những sự tàn nhẫn của tự nhiên vốn phơi bày nhiều điều; có thể là bồi đắp lòng sùng tín vô vị kỷ qua tiếng gọi của những người phụ thuộc đang thiếu thốn; hoặc có thể là chuyển hoá dục vọng bằng phương pháp tham thiền trên đường đạo. Mỗi linh hồn phải tự tìm ra điều đó. Điều Tôi muốn khắc sâu vào tâm trí các bạn là có một nguy hiểm nhất định gắn liền với chính yếu tố này. Chẳng hạn, nếu trong quá trình đạt được năng lực trí tuệ để tham thiền, đạo sinh bỏ lỡ chính điều mà y nhập vào thể xác để đạt được, thì kết quả không hẳn là một thành quả, mà là sự phát triển không đồng đều và sự mất thời gian tạm thời. |
|
Let us be specific and illustrate:—An Ego has formed his three-fold body of manifestation and set his ring-pass-not with the purpose in view of building into his [109] causal body the faculty of “mental apprehension of the basic facts of life.” The object of that one incarnation is to develop the mental capacity of the student; to teach him concrete facts and science and thus to enlarge the content of his mental body, with a view to future work. He may be over-developed on the heart side, too much of the devotee; he may have spent many lives in dreaming dreams and in seeing visions and in mystic meditation. To be practical, full of common sense, to know the curriculum of the Hall of Learning and to apply practically the knowledge learnt on the physical plane is his great need. Yet, even though his ring-pass-not seems to proscribe and limit his inherent tendencies, and even though the stage is set so that it would seem he must learn the lessons of practical living in the world, he learns not, but follows what is to him the line of least resistance. He dreams his dreams, and stays aloof from world affairs; he does not fulfil the desire of the Ego, but misses opportunity; he suffers much, and in the next life is necessitated a similar staging and a stronger urge, and a closer ring-pass-not until he complies with the will of his Ego. |
Chúng ta hãy nêu cụ thể và minh họa:—Một chân ngã đã tạo nên thân thể biểu hiện tam phân của mình và thiết lập vòng-giới-hạn, với mục đích bồi đắp vào [109] thể nguyên nhân của mình năng lực “nắm bắt bằng trí tuệ những sự thật căn bản của đời sống”. Mục tiêu của kiếp nhập thể ấy là phát triển năng lực trí tuệ của đạo sinh; dạy y những sự thật cụ thể và khoa học, qua đó mở rộng nội dung thể trí của y để chuẩn bị cho công việc tương lai. Y có thể đã phát triển quá mức về phương diện trái tim, thiên quá nhiều về sùng tín; y có thể đã trải qua nhiều kiếp sống trong mộng tưởng, thấy những linh ảnh và tham thiền thần bí. Nhu cầu lớn của y là trở nên thực tế, có đầy đủ óc phán đoán thông thường, biết chương trình học của Phòng Học Tập và áp dụng thiết thực trên cõi hồng trần những kiến thức đã học. Tuy nhiên, dù vòng-giới-hạn của y dường như ngăn cấm và hạn chế những khuynh hướng vốn có của y, và dù hoàn cảnh đã được sắp đặt khiến dường như y phải học những bài học về đời sống thực tế trong thế gian, y vẫn không học mà đi theo điều đối với y là con đường ít trở ngại nhất. Y chìm trong những giấc mơ của mình và xa rời công việc thế gian; y không hoàn thành mong muốn của chân ngã mà bỏ lỡ cơ hội; y chịu nhiều đau khổ, và trong kiếp sống tiếp theo, cần phải có một sự sắp đặt tương tự, một sự thúc đẩy mạnh hơn và một vòng-giới-hạn chặt hơn, cho đến khi y tuân theo ý chí của chân ngã mình. |
|
For such an one, meditation helps not, but mainly hinders. As before I have said, meditation (to be wisely undertaken) is for those who have reached a point in evolution where the rounding out of the causal body is somewhat matured and where the student is in one of the final grades in the Hall of Learning. You need to remember that I refer not here to the mystic meditation but to the scientifically occult meditation. The dangers are, therefore, practically those of wasted time, of an intensification of a vibration out of ill proportion to the key of the other vibrations, and of an unequal rounding out and a lop-sided building that will necessitate reconstructing in other lives. [110] |
Đối với một người như vậy, tham thiền không giúp ích mà chủ yếu gây cản trở. Như Tôi đã nói trước đây, tham thiền (nếu muốn thực hành một cách sáng suốt) dành cho những người đã đạt đến một điểm tiến hoá mà sự hoàn thiện thể nguyên nhân đã phần nào chín muồi, và đạo sinh đang ở một trong những cấp học cuối cùng của Phòng Học Tập. Các bạn cần nhớ rằng ở đây Tôi không nói đến tham thiền thần bí mà nói đến tham thiền huyền môn một cách khoa học. Vì vậy, trên thực tế, những nguy hiểm ấy là lãng phí thời gian, tăng cường một rung động đến mức mất cân đối với giọng âm của các rung động khác, và sự hoàn thiện không đồng đều cùng một cấu trúc lệch lạc sẽ đòi hỏi phải xây dựng lại trong những kiếp sống khác. [110] |
|
July 30, 1920. |
Ngày 30 tháng 7 năm 1920. |
Dangers based on national heredity and type of body. – Những nguy hiểm bắt nguồn từ di truyền dân tộc và loại thân thể.
|
July 30th, 1920. 9 pm. |
Ngày 30 tháng 7, năm 1920. 9 giờ tối. |
|
It is late, brother of mine, to be doing the work but the exigences of the hour demand a measured haste, so we will take advantage of the quiet and silence to continue the instructions on the dangers to be guarded against in meditation; our topic being the dangers incident to a man’s heredity and type of body. |
Huynh đệ của Tôi, đã muộn rồi, để làm công việc này, nhưng những đòi hỏi của thời điểm này đòi hỏi sự khẩn trương có chừng mực, vì vậy chúng ta sẽ tận dụng sự yên tĩnh và im lặng để tiếp tục những huấn thị về những nguy hiểm cần đề phòng trong tham thiền; chủ đề của chúng ta là những nguy hiểm gắn với di truyền của mỗi người và loại thân thể. |
|
…As you may well imagine it is not my purpose to enlarge upon the dangers incidental to a defective body, save in general terms to lay down the ruling that where there is definite disease, congenital trouble or mental weakness of any kind, meditation is not the part of discretion, but may serve but to intensify the trouble. I wish specifically to point out for the guidance of future students and as a prophetic statement, that in days to come when the science of meditation is more comprehended, two factors will be wisely weighed and considered before assigning a meditation. These factors are: |
…Như các bạn có thể hình dung, Tôi không có ý định bàn rộng về những nguy hiểm gắn liền với một thân thể khiếm khuyết, ngoài việc nêu một nguyên tắc tổng quát rằng khi có bệnh rõ rệt, vấn đề bẩm sinh hoặc bất kỳ dạng suy yếu trí tuệ nào, tham thiền không phải là lựa chọn thận trọng, mà có thể chỉ làm vấn đề trầm trọng thêm. Để hướng dẫn các đạo sinh tương lai và như một lời tiên báo, Tôi đặc biệt muốn chỉ ra rằng trong những ngày sắp tới, khi khoa học tham thiền được thấu hiểu hơn, hai yếu tố sẽ được cân nhắc và xem xét một cách sáng suốt trước khi ấn định một bài thiền. Những yếu tố ấy là: |
|
a—The man’s subrace characteristics. |
a—Những đặc điểm giống dân phụ của người ấy. |
|
b—His type of body, whether it is oriental or occidental. |
b—Loại thân thể của y, thuộc phương Đông hay phương Tây. |
|
In this way, certain disasters will be avoided and certain troubles obviated that are now found in a more or less degree in every occult group. |
Bằng cách này, người ta sẽ tránh được một số tai họa và ngăn ngừa một số vấn đề hiện đang xuất hiện, ở mức độ ít nhiều, trong mọi nhóm huyền môn. |
|
It is generally recognised that each race has for its predominant feature some one outstanding quality of the emotional body. This is the general rule. In contrasting the Italian and the Teutonic racial differences, those differences are summed up in our minds in terms of the emotional body. We think of the Italian as fiery, romantic, unstable and brilliant; we think of the Teuton as phlegmatic, matter-of-fact, sentimental and stolidly, logically clever. It will, therefore, be apparent to you that these different temperaments carry with them their own dangers, and that in the unwise pursuit of unsuitable meditations, virtues could be emphasised till they approximated vices, temperamental weaknesses could be intensified till they became menaces, and consequently [111] lack of balance would result instead of that attainment of equilibrium and that fine rounding out of the causal body which is one of the aims in view. When, therefore, the wise Teacher moves among men and Himself apportions meditation, these racial differences will be weighed and their inherent defects will be offset and not intensified. Over-development and disproportionate attainment will be obviated by the equalising effects of occult meditation. Hence, brother of old, it will be realised by you how wise have been the leaders in our inner school. The meditation laid out there for the graded students is not as yet the truly occult and scientific one, but it aims primarily at the stabilising of the mental body, at its even development, and above all at the building in of the higher virtues. The basis is being laid for future work, and that is all. The time for the next step approaches. |
Người ta thường thừa nhận rằng mỗi dân tộc có một phẩm tính nổi bật nào đó của thể cảm dục làm đặc điểm chủ đạo. Đây là quy luật chung. Khi đối chiếu những khác biệt dân tộc giữa người Ý và người Teuton, trong trí chúng ta, những khác biệt ấy được khái quát bằng các đặc điểm của thể cảm dục. Chúng ta nghĩ người Ý là nồng nhiệt, lãng mạn, thiếu ổn định và tài hoa; chúng ta nghĩ người Teuton là điềm đạm, thực tế, đa cảm và thông minh một cách trầm tĩnh, hợp logic. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những khí chất khác nhau này mang theo những nguy hiểm riêng, và khi thiếu khôn ngoan theo đuổi những bài tham thiền không thích hợp, các đức tính có thể được nhấn mạnh đến mức gần trở thành tật xấu, những nhược điểm về khí chất có thể tăng lên đến mức trở thành mối đe dọa, và do đó [111] sự mất cân bằng sẽ xảy ra thay vì đạt được trạng thái quân bình và sự phát triển tròn đầy tốt đẹp của thể nguyên nhân, vốn là một trong những mục tiêu hướng tới. Vì vậy, khi vị Huấn sư minh triết đến giữa nhân loại và chính Ngài phân định bài tham thiền cho từng người, Ngài sẽ cân nhắc những khác biệt dân tộc này, và những khiếm khuyết vốn có của họ sẽ được hóa giải chứ không tăng thêm. Những tác dụng quân bình của tham thiền huyền môn sẽ ngăn ngừa sự phát triển quá mức và sự thành tựu thiếu cân đối. Huynh đệ của Ngày Xưa, vì vậy, bạn sẽ nhận ra rằng những vị lãnh đạo trong trường nội môn của chúng ta đã minh triết biết bao. Bài tham thiền được đề ra ở đó cho các đạo sinh thuộc những cấp độ khác nhau chưa phải là bài tham thiền thực sự mang tính huyền môn và khoa học, mà chủ yếu nhằm ổn định thể trí, giúp thể này phát triển đồng đều, và trên hết là vun đắp những đức tính cao đẹp hơn. Nền tảng đang được đặt cho công việc tương lai, và chỉ có thế thôi. Thời điểm cho bước tiếp theo đang đến gần. |
|
Meditation as followed now and as followed in Atlantean days differs fundamentally. In the fourth root race an effort was made to facilitate attainment via the atomic subplane, from the emotional plane to the intuitional, to the practical exclusion of the mental. It followed the line of the emotions and had a definite effect on the emotional body. It worked upwards from the emotional instead of, as now, working on mental levels and from those levels making the effort to control the two lower. In the Aryan root-race, the attempt is being made to bridge the gap between the higher and the lower and, by centering the consciousness in the lower mind and later in the causal, to tap the higher until the downflow from that higher will be continuous. With most of the advanced students at present all that is felt is occasional rushes of illumination, but later will be felt a steady irradiation. Both methods carry their own dangers. In Atlantean days, meditation tended to overstimulation of the emotions and although men touched great heights, yet they also touched great depths. Sex magic was unbelievably rampant. The solar plexus was apt to be over vivified, the triangles were not correctly followed, and the lower centres were caught in the reaction of the fire with dire results. |
Tham thiền như được thực hành hiện nay và như được thực hành vào thời Atlantis khác nhau về căn bản. Trong Giống dân gốc thứ tư, người ta đã nỗ lực tạo thuận lợi cho sự thành tựu qua cõi phụ nguyên tử, từ cõi cảm dục đến cõi trực giác, hầu như loại trừ cõi trí. Phương pháp ấy đi theo con đường cảm xúc và có tác dụng rõ rệt lên thể cảm dục. Nó hoạt động hướng lên từ cõi cảm dục, thay vì, như hiện nay, hoạt động trên các cấp độ trí và từ những cấp độ ấy nỗ lực kiểm soát hai hiện thể thấp hơn. Trong Giống dân gốc Arya, người ta đang nỗ lực bắt cầu qua khoảng cách giữa cái cao và cái thấp, và bằng cách tập trung tâm thức trong Hạ trí rồi sau đó trong thể nguyên nhân, tiếp cận nguồn cao hơn cho đến khi dòng tuôn xuống từ nguồn ấy trở nên liên tục. Hiện nay, phần lớn các đạo sinh tiến bộ chỉ cảm nhận được những đợt soi sáng thỉnh thoảng tràn đến, nhưng về sau sẽ cảm nhận được một sự tỏa chiếu đều đặn. Cả hai phương pháp đều mang những nguy hiểm riêng. Vào thời Atlantis, tham thiền có khuynh hướng kích thích cảm xúc quá mức, và dù con người vươn tới những đỉnh cao lớn lao, họ cũng rơi xuống những vực sâu khủng khiếp. Huyền thuật tính dục lan tràn đến mức khó tin. Tùng thái dương dễ được tiếp sinh lực quá mức, các tam giác không được tuân theo đúng cách, và các trung tâm thấp bị cuốn vào phản ứng của lửa, dẫn đến những hậu quả thảm khốc. |
|
The dangers now are different. The development of [112] mind carries with it the dangers of selfishness, of pride, of blind forgetfulness of the higher that it is the aim of the present method to offset. If the adepts of the dark path attained great powers in Atlantean days they are still more dangerous now. Their control is much more widespread. Hence the emphasis laid on service, and on the steadying of the mind as an essential in the man who seeks to progress and to become a member of the Brotherhood of Light. |
Những nguy hiểm hiện nay thì khác. Sự phát triển của [112] trí tuệ mang theo những nguy hiểm của tính ích kỷ, lòng kiêu hãnh và sự mù quáng quên đi cái cao hơn, mà phương pháp hiện nay nhằm hóa giải. Nếu các chân sư của con đường bóng tối đã đạt được những quyền năng lớn lao vào thời Atlantis, thì hiện nay họ còn nguy hiểm hơn nữa. Phạm vi kiểm soát của họ rộng hơn rất nhiều. Vì vậy, phụng sự và việc giữ thể trí ổn định được nhấn mạnh như những điều thiết yếu đối với người tìm cách tiến bộ và trở thành một thành viên của Huynh đệ Đoàn Ánh sáng. |
|
The matter I now seek to give some instruction upon is one of very real importance to all earnest students at this time. The orient is to the evolving race of men what the heart is to the human body; it is the source of light, of life, of heat, and of vitality. The occident is to the race what the brain or mental activity is to the body,—the directing organising factor, the instrument of the lower mind, the accumulator of facts. The difference in the entire, “make-up” (as you term it) of the oriental and of the European or American is so great and so well recognised that it is mayhap needless for me to dwell upon it. |
Vấn đề mà giờ đây Tôi muốn đưa ra một số chỉ dẫn có tầm quan trọng rất thực sự đối với mọi đạo sinh chuyên tâm vào lúc này. Phương Đông đối với nhân loại đang tiến hoá cũng như trái tim đối với thân thể con người; đó là nguồn ánh sáng, sự sống, nhiệt và sinh lực. Phương Tây đối với nhân loại cũng như bộ não hay hoạt động trí tuệ đối với thân thể — là yếu tố chỉ đạo và tổ chức, công cụ của Hạ trí, nơi tích lũy các dữ kiện. Sự khác biệt trong toàn bộ “cấu tạo” (như các bạn gọi) của người phương Đông và người châu Âu hay châu Mỹ lớn đến mức và được thừa nhận rộng rãi đến mức có lẽ Tôi không cần nói dài về điều ấy. |
|
The oriental is philosophical, naturally dreamy, trained through centuries to think in abstract terms, fond of obstruse dialectics, temperamentally lethargic, and climatically slow. Ages of metaphysical thinking, of vegetarian living, of climatic inertia and of a rigid adherence to forms and to the strictest rules of living have produced a product the exact opposite of his occidental brother. |
Người phương Đông thiên về triết học, vốn hay mơ mộng, đã được rèn luyện qua nhiều thế kỷ để tư duy bằng những khái niệm trừu tượng, thích phép biện chứng khó hiểu, có khí chất uể oải và chậm chạp do khí hậu. Nhiều thời đại tư duy siêu hình, sống theo chế độ ăn chay, trì trệ do khí hậu và cứng nhắc tuân thủ các hình tướng cùng những quy luật sinh hoạt nghiêm ngặt nhất đã tạo nên một mẫu người hoàn toàn đối lập với huynh đệ phương Tây của y. |
|
The occidental is practical, businesslike, dynamic, quick in action, a slave to organization (which is after all but another form of ceremonial), actuated by a very concrete mind, acquisitive, critical, and at his best when affairs move quickly and rapid mental decision is required. He detests abstract thought yet appreciates it when apprehended, and when he can make those thoughts [113] facts on the physical plane. He uses his head more than his heart centre, and his throat centre is apt to be vitalised. The oriental uses his heart centre more than the head and necessarily the corresponding head centres. The centre at the top of the spine at the base of the skull functions more actively than the throat. |
Người phương Tây thực tế, thạo việc, năng động, hành động nhanh nhẹn, là nô lệ của tổ chức (xét cho cùng cũng chỉ là một hình tướng khác của nghi lễ), chịu sự thúc đẩy của một trí cụ thể rất mạnh, ham sở hữu, hay phê phán, và phát huy tốt nhất khi công việc diễn biến nhanh chóng và đòi hỏi những quyết định trí tuệ mau lẹ. Y ghét tư duy trừu tượng nhưng lại trân trọng nó khi đã nắm bắt được, và khi y có thể biến những tư tưởng ấy thành [113] sự kiện thực tế trên cõi hồng trần. Y dùng đầu nhiều hơn trung tâm tim, và trung tâm cổ họng của y dễ được tiếp sinh lực. Người phương Đông dùng trung tâm tim nhiều hơn đầu và, tất nhiên, cả những trung tâm đầu tương ứng. Trung tâm ở đỉnh cột sống, tại đáy hộp sọ, hoạt động tích cực hơn trung tâm cổ họng. |
|
The oriental progresses by the withdrawing of the centre of consciousness to the head through strenuous meditation. That is the centre that he needs to master, he learns by the wise use of mantrams, by retiring into seclusion, by isolation and by the careful following of specific forms for many hours each day for many days. |
Người phương Đông tiến bộ bằng cách rút trung tâm tâm thức lên đầu qua việc tham thiền hết sức chuyên cần. Đó là trung tâm y cần làm chủ; y học bằng cách sử dụng mantram một cách khôn ngoan, lui về nơi ẩn dật, sống biệt lập và cẩn thận tuân theo những hình tướng cụ thể trong nhiều giờ mỗi ngày, suốt nhiều ngày. |
|
The occidental has in view the withdrawal of his consciousness to the heart at first, for already he works so much with the head centres. He works more by the use of collective forms and not individual mantrams; he does not work so much in isolation as his oriental brother, but has to find his centre of consciousness even in the noise and whirl of business life and in the throngs of great cities. He employs collective forms for the attainment of his ends, and the awakening of the heart centre shows itself in service. Hence the emphasis laid in the Occident on the heart meditation and the subsequent life of service. |
Người phương Tây trước hết hướng đến việc rút tâm thức của y về tim, vì y vốn đã hoạt động rất nhiều với các trung tâm đầu. Y hoạt động nhiều hơn bằng cách sử dụng những hình tướng tập thể chứ không phải các mantram cá nhân; y không hoạt động biệt lập nhiều như huynh đệ phương Đông của mình, mà phải tìm được trung tâm tâm thức ngay giữa tiếng ồn và vòng xoáy của đời sống kinh doanh, cũng như giữa những đám đông tại các thành phố lớn. Y sử dụng những hình tướng tập thể để đạt mục đích, và sự thức tỉnh của trung tâm tim biểu hiện qua phụng sự. Vì vậy, ở phương Tây, người ta nhấn mạnh việc tham thiền về tim và đời sống phụng sự tiếp theo đó. |
|
You will see, therefore, that when the real occult work is begun, the method may differ—and will necessarily differ—in the east and in the west, but the goal will be the same. It must be borne in mind, for instance, that a meditation that would aid the development of an oriental, might bring danger and disaster to his western brother. The reverse would also be the case. But always the goal will be the same. Forms may be individual or collective, mantrams may be chanted by units or by groups, different centres may be the object of specialised attention, yet [114] the results will be identical. Danger arises when the occidental bases his endeavor on rules that suffice for the oriental, as AB has at times been so wisely pointed out. In the wisdom of the Great Ones this danger is being offset. Different methods for different races, diverse forms for those of various nationalities, but the same wise guides on the inner planes, the same great Hall of Wisdom, the same Gate of Initiation, admitting all into the inner sanctuary…. lie ahead of all. |
Do đó, các bạn sẽ thấy rằng khi công việc huyền bí thực sự bắt đầu, phương pháp có thể khác nhau—và tất yếu sẽ khác nhau—giữa phương Đông và phương Tây, nhưng mục tiêu vẫn như nhau. Chẳng hạn, cần nhớ rằng một bài tham thiền giúp người phương Đông phát triển có thể đem lại nguy hiểm và tai họa cho huynh đệ phương Tây của y. Điều ngược lại cũng đúng. Nhưng mục tiêu luôn luôn như nhau. Các hình tướng có thể mang tính cá nhân hoặc tập thể, các mantram có thể do từng người hoặc các nhóm xướng tụng, những trung tâm khác nhau có thể là đối tượng được chú tâm chuyên biệt, nhưng [114] kết quả sẽ giống hệt nhau. Nguy hiểm nảy sinh khi người phương Tây đặt nỗ lực của mình trên nền tảng những quy luật vốn đủ cho người phương Đông, như bà AB đôi khi đã chỉ ra một cách rất minh triết. Nhờ minh triết của Các Đấng Cao Cả, nguy hiểm này đang được hóa giải. Những phương pháp khác nhau cho những giống dân khác nhau, những hình tướng đa dạng cho những người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng vẫn cùng những vị hướng đạo minh triết trên các cõi bên trong, cùng một Phòng Minh triết, cùng một Cánh Cổng Điểm đạo đón nhận tất cả vào thánh điện bên trong…. đều ở phía trước tất cả mọi người. |
|
In concluding this subject, I seek to give a hint:—The seventh Ray of Ceremonial Law or Order (the ray now coming into power) provides for the occidental what has long been the privilege of the oriental. Great is the day of opportunity, and in the sweeping onward of this seventh force comes the needed impetus that may—if rightly grasped—drive to the Feet of the Lord of the World the dweller in the occident. |
Để kết thúc chủ đề này, Tôi muốn đưa ra một gợi ý:—Cung bảy của Định luật Nghi lễ hay Trật tự (cung hiện đang trở nên mạnh mẽ) đem lại cho người phương Tây điều từ lâu đã là đặc quyền của người phương Đông. Ngày cơ hội thật lớn lao, và cùng với đà tiến mạnh mẽ của mãnh lực thứ bảy này là động lực cần thiết, có thể—nếu được nắm bắt đúng đắn—đưa người sống ở phương Tây đến dưới Chân Đức Chúa Tể Thế Giới. |
|
August 2, 1920. |
Ngày 2 tháng 8 năm 1920. |
Dangers attendant on group affiliations. – Những nguy hiểm đi kèm với sự liên kết nhóm.
|
Very briefly would I seek this morning to take up the question of the dangers involved in meditation that are incidental to a man’s group affiliations, whether exoteric or esoteric. There is not much that can be said on this particular matter, save broad indications. Each of these various subjects that I have touched upon might warrant the writing of a weighty treatise, and I shall not, therefore, attempt to cover what might be said but only point out certain aspects of the matter that will (if pondered on with care) open up to the earnest seeker after truth many avenues of knowledge. All occult training has this in view,—to give to the pupil some seed thought which (when brooded over in the silence of his own heart) [115] will produce much fruit of real value, and which the pupil can then conscientiously consider his own. What we produce through wrestling and strenuous endeavour remains forever our own, and vanishes not into forgetfulness as do the thoughts that enter through the eye from the printed page, or through the ear from the lips of any teacher no matter how revered. |
Sáng nay, Tôi muốn trình bày thật ngắn gọn vấn đề những nguy hiểm trong tham thiền phát sinh từ sự liên kết nhóm của một người, dù ngoại môn hay nội môn. Về vấn đề riêng biệt này, ngoài những chỉ dẫn khái quát, không có nhiều điều có thể nói. Mỗi chủ đề khác nhau mà Tôi đã đề cập đều có thể đáng để viết thành một khảo luận sâu rộng; do đó, Tôi sẽ không cố trình bày hết những điều có thể nói, mà chỉ nêu ra một số phương diện của vấn đề, những phương diện sẽ (nếu được suy ngẫm cẩn thận) mở ra nhiều con đường dẫn đến tri thức cho người tha thiết tìm kiếm chân lý. Mọi sự huấn luyện huyền bí đều hướng tới điều này,—trao cho môn sinh một tư tưởng hạt giống, mà (khi được suy ngẫm trong sự im lặng của chính tâm y) [115] sẽ sinh nhiều quả có giá trị thực sự, và khi ấy môn sinh có thể thành thực xem đó là của chính mình. Những gì chúng ta tạo ra qua sự vật lộn và nỗ lực bền bỉ sẽ mãi thuộc về chúng ta, không tan vào quên lãng như những tư tưởng đi vào qua mắt từ trang sách in, hay qua tai từ lời của bất kỳ huấn sư nào, dù được kính trọng đến đâu. |
|
One thing that is oft overlooked by the pupil when he enters upon the path of probation and starts meditation is that the goal ahead for him is not primarily the completing of his own development, but his equipping for service to humanity. His own growth and development are necessarily incidental but are not the goal. His immediate environment and his close associates on the physical plane are his objectives in service, and if in the endeavour to attain certain qualifications and capacities he overlooks the groups to which he is affiliated and neglects to serve wisely and to spend himself loyally on their behalf he runs the danger of crystallisation, falls under the spell of sinful pride, and mayhap even takes the first step toward the left-hand path. Unless inner growth finds expression in group service the man treads a dangerous road. |
Một điều môn sinh thường bỏ qua khi bước vào Con Đường Dự Bị và bắt đầu tham thiền là mục tiêu phía trước của y không chủ yếu nhằm hoàn tất sự phát triển của chính mình, mà nhằm trang bị cho y khả năng phụng sự nhân loại. Sự tăng trưởng và phát triển của chính y tất yếu đi kèm, nhưng không phải là mục tiêu. Môi trường ngay quanh y và những người thân cận trên cõi hồng trần là các đối tượng phụng sự của y; và nếu trong nỗ lực đạt những phẩm chất và năng lực nhất định, y bỏ qua các nhóm mà mình liên kết, không phụng sự một cách minh triết và không tận tâm dốc sức vì họ, thì y có nguy cơ kết tinh, rơi vào mê hoặc của lòng kiêu hãnh tội lỗi, và có lẽ còn bước bước đầu tiên hướng tới tả đạo. Nếu sự tăng trưởng bên trong không biểu hiện qua việc phụng sự nhóm, con người đang đi trên một con đường nguy hiểm. |
Three types of affiliated groups. – Ba loại nhóm liên kết.
|
Perhaps I could here give some indications of the groups on the various planes to which a man is assigned. These groups are many and diverse and at different periods of a man’s life may change and differ, as he works out from under the obligating karma that governs the affiliations. Let us remember too that as a man enlarges his capacity to serve he at the same time increases the size and number of the groups he contacts till he reaches a point in some later incarnation when the world [116] itself is his sphere of service and the multitude those whom he assists. He has to serve in a threefold manner before he is permitted to change his line of action and pass on to other work,—planetary. systemic or cosmic. |
Có lẽ ở đây Tôi có thể đưa ra một số chỉ dẫn về những nhóm trên các cõi khác nhau mà một người được phân vào. Các nhóm này rất nhiều và đa dạng, có thể thay đổi và khác nhau vào những thời kỳ khác nhau trong đời y, khi y giải quyết để thoát khỏi nghiệp quả ràng buộc vốn chi phối các mối liên kết ấy. Chúng ta cũng hãy nhớ rằng khi một người mở rộng khả năng phụng sự, đồng thời y cũng gia tăng quy mô và số lượng những nhóm mình tiếp xúc, cho đến khi đạt tới một điểm trong một kiếp nhập thể về sau, lúc chính thế giới [116] là phạm vi phụng sự của y, và quảng đại quần chúng là những người y trợ giúp. Y phải phụng sự theo cách tam phân trước khi được phép thay đổi đường hướng hoạt động và chuyển sang công việc khác,—thuộc hành tinh, hệ mặt trời hoặc vũ trụ. |
|
a—He serves first through activity, through the use of his intelligence, using the high faculties of mind and the product of his genius to aid the sons of men. He builds slowly great powers of intellect and in the building overcomes the snare of pride. He takes, then, that active intelligence of his and lays it at the feet of collective humanity, giving of his best for the helping of the race. |
a—Trước hết, y phụng sự qua hoạt động, qua việc sử dụng trí thông minh, dùng những năng lực cao của trí tuệ và thành quả tài năng của mình để trợ giúp những người con của nhân loại. Y từ từ xây dựng những năng lực trí năng lớn lao, và trong quá trình xây dựng ấy vượt qua cạm bẫy của lòng kiêu hãnh. Khi ấy, y đem trí thông minh hoạt động của mình đặt dưới chân toàn thể nhân loại, cống hiến những gì tốt nhất để trợ giúp nhân loại. |
|
b—He serves through love, becoming, as time elapses, one of the saviours of men, spending his life and giving of his all through perfect love of his brothers. A life then comes when the utmost sacrifice is made and in love he dies that others may live. |
b—Y phụng sự qua tình thương, theo thời gian trở thành một trong những người cứu giúp nhân loại, hiến dâng cuộc đời và tất cả những gì mình có qua tình thương hoàn hảo dành cho các huynh đệ. Rồi đến một kiếp sống, khi sự hi sinh tột cùng được thực hiện, và trong tình thương, y chết để những người khác được sống. |
|
c—He serves then through power. Proved in the furnace to have no thought save the good of all around, he is trusted with the power that follows from active love intelligently applied. He works with the law, and bends all his will to make the power of the law felt in the three-fold realms of death. |
c—Sau đó, y phụng sự qua quyền năng. Sau khi lò thử luyện chứng tỏ rằng y không nghĩ đến điều gì ngoài lợi ích của tất cả những người quanh mình, y được giao phó quyền năng phát sinh từ tình thương tích cực được vận dụng bằng trí tuệ. Y hoạt động cùng định luật, dồn toàn bộ ý chí để quyền năng của định luật được cảm nhận trong các miền tam phân của sự chết. |
|
In all these three branches of service you will notice that the faculty of working with groups is one of paramount importance. These groups are diverse, as before I have said, and vary on different planes. Let us briefly enumerate them:— |
Trong cả ba nhánh phụng sự này, các bạn sẽ nhận thấy khả năng làm việc với các nhóm có tầm quan trọng hàng đầu. Như Tôi đã nói trước đây, các nhóm này đa dạng và thay đổi trên những cõi khác nhau. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn:— |
1—On the physical plane. The following groups will be found: – 1—Trên cõi hồng trần. Có những nhóm sau đây:
|
a—His family group to which he is usually affiliated for two reasons, one to work out karma and repay his debts; the second, to receive a certain type of physical vehicle that the Ego needs for adequate expression. [117] |
a—Nhóm gia đình của y, mà y thường liên kết vì hai lý do: thứ nhất, để giải quyết nghiệp quả và trả các món nợ; thứ hai, để nhận một loại hiện thể hồng trần nhất định mà chân ngã cần để biểu hiện thích đáng. [117] |
|
b—His associates and friends; the people his environment throws him with, his business associates, his church affiliations, his acquaintances and casual friends, and the people he touches for a brief period and then sees no more. His work with them is twofold again; first to repay an obligation should such a debt have been incurred; and secondly to test out his powers to influence for good those around him, to recognise responsibility and to direct or help. In doing thus, the Guides of the race find out the actions and reactions of a man, his capacity for service, and his response to any surrounding need. |
b—Những người cộng sự và bạn bè của y; những người mà môi trường đưa đến với y, các cộng sự kinh doanh, những người y liên kết trong giáo hội, những người quen và bạn bè giao tiếp thông thường, cùng những người y tiếp xúc trong một thời gian ngắn rồi không còn gặp lại. Công việc của y với họ cũng có hai mặt: trước hết là hoàn trả một nghĩa vụ nếu đã mắc món nợ ấy; thứ hai là thử nghiệm năng lực tạo ảnh hưởng tốt lên những người quanh mình, nhận biết trách nhiệm và hướng dẫn hoặc trợ giúp. Qua đó, các Đấng Hướng Đạo của nhân loại nhận biết hành động và phản ứng của một người, khả năng phụng sự của y và sự đáp ứng của y đối với bất kỳ nhu cầu nào quanh mình. |
|
c—His associated band of servers, the group under some Great One that is definitely united for work of an occult and spiritual nature. It may be either a band of church workers among the orthodox (beginners are tried out here); it may be in social work such as in the labor movements or in the political arena; or it may be in the more definitely pioneer movements of the world, such as the Theosophical Society, the Christian Science movement, the New Thought workers and the Spiritualists. I would add to this, one branch of endeavour that may surprise you,—I mean the movement of the Soviet in Russia and all the aggressive radical bodies that sincerely serve under their leaders (even when misguided and unbalanced) for the betterment of the condition of the masses. |
c—Đoàn người phụng sự mà y liên kết, nhóm dưới sự hướng dẫn của một Đấng Cao Cả, hợp nhất rõ rệt để thực hiện công việc mang bản chất huyền bí và tinh thần. Đó có thể là một đoàn người hoạt động trong giáo hội thuộc các phái chính thống (những người mới bắt đầu được thử nghiệm ở đây); có thể là trong công tác xã hội, như các phong trào lao động hoặc trên chính trường; hoặc trong những phong trào tiên phong rõ rệt hơn của thế giới, như Hội Thông Thiên Học, phong trào Khoa học Cơ Đốc, những người hoạt động theo Tư Tưởng Mới và các nhà thần linh học. Tôi muốn bổ sung một nhánh hoạt động có thể khiến các bạn ngạc nhiên,—Tôi muốn nói đến phong trào Xô viết ở Nga và tất cả các tổ chức cấp tiến quyết liệt chân thành phụng sự dưới sự lãnh đạo của họ (ngay cả khi bị dẫn dắt sai lầm và mất quân bình) nhằm cải thiện điều kiện của quần chúng. |
|
Thus on the physical plane you have three groups to which a man belongs. He owes a duty to them and he must play his part. Now wherein could danger enter through meditation? Simply in this: that as long as a man’s karma holds him to some particular group the thing that he must aim at is to play his part perfectly, so that he may work out from under karmic obligation [118] and advance toward ultimate liberation; besides this he must carry on his group with him to greater heights and usefulness. Therefore, if through meditation of an unsuitable nature he neglects his proper obligation he delays the purpose of his life, and in another incarnation he will have to play it out. If he builds into that group’s causal body (the composite product of the several lines) aught that has not its place properly there, he aids not but hinders, and again that involves danger. Let me illustrate, for clarity is desired:—A student is affiliated with a group that has an over-preponderance of devotees, and he has come in for the express purpose of balancing that quality with another factor, that of wise discrimination and mental balance. If he permits himself to be overcome by the group thoughtform and becomes himself a devotee, following a devotional meditation and unwisely omitting to balance that group’s causal body, he runs into a danger that hurts not only himself but the group to which he belongs. |
Như vậy, trên cõi hồng trần có ba nhóm mà một người thuộc về. Y có bổn phận với họ và phải làm tròn phần việc của mình. Vậy nguy hiểm có thể nảy sinh qua tham thiền ở đâu? Đơn giản là ở điều này: chừng nào nghiệp quả còn giữ một người trong một nhóm nhất định, điều y phải hướng tới là hoàn thành phần việc của mình một cách hoàn hảo, để có thể giải quyết và thoát khỏi nghĩa vụ nghiệp quả [118] và tiến tới sự giải thoát cuối cùng; bên cạnh đó, y phải đưa nhóm của mình cùng tiến lên những tầm cao hơn và trở nên hữu ích hơn. Do đó, nếu vì tham thiền theo cách không phù hợp mà y sao nhãng nghĩa vụ chính đáng, y trì hoãn mục đích đời mình, và trong một kiếp nhập thể khác sẽ phải thực hiện cho trọn. Nếu y đưa vào thể nguyên nhân của nhóm ấy (sản phẩm tổng hợp của nhiều đường khác nhau) bất cứ điều gì không có vị trí thích đáng ở đó, thì y không trợ giúp mà gây trở ngại, và điều ấy cũng kéo theo nguy hiểm. Tôi xin minh họa, vì cần làm rõ:—Một môn sinh liên kết với một nhóm có quá nhiều người sùng tín, và y gia nhập với mục đích rõ rệt là cân bằng phẩm tính ấy bằng một yếu tố khác, tức khả năng phân biện minh triết và sự quân bình trí tuệ. Nếu y để hình tư tưởng của nhóm lấn át mình và chính y trở thành một người sùng tín, theo một bài tham thiền sùng tín và thiếu minh triết khi bỏ qua việc cân bằng thể nguyên nhân của nhóm, thì y gặp một nguy hiểm gây tổn hại không chỉ cho chính mình mà còn cho nhóm y thuộc về. |
2—On the emotional plane: Here he belongs to several groups such as: – 2—Trên cõi cảm dục: Ở đây, y thuộc về một số nhóm như:
|
a—His emotional plane family group, which is more thoroughly his own group than the family into which he happens to be born on the physical plane. You will see this demonstrated many times in life when members of an emotional plane family contact each other on the physical plane. Instant recognition ensues. |
a—Nhóm gia đình của y trên cõi cảm dục, vốn thực sự là nhóm của y hơn gia đình mà y tình cờ sinh vào trên cõi hồng trần. Các bạn sẽ thấy điều này được chứng minh nhiều lần trong cuộc sống, khi những thành viên của một gia đình trên cõi cảm dục tiếp xúc với nhau trên cõi hồng trần. Họ lập tức nhận ra nhau. |
|
b—The class within the Hall of Learning to which he is assigned and in which he receives much instruction. |
b—Lớp học trong Phòng Học Tập mà y được phân vào và nơi y nhận nhiều sự chỉ dạy. |
|
c—The band of Invisible Helpers with whom he may be working and the band of Servers. |
c—Đoàn Người Trợ Giúp Vô Hình mà y có thể đang cùng làm việc, và đoàn Người Phụng Sự. |
|
All these groups involve obligation and work and all must be allowed for in studying the wise use of meditation. [119] Meditation should increase a man’s capacity to discharge his karmic debts, giving clear vision, wise judgment and a comprehension of the work of the immediate moment. Anything that militates against this is dangerous. |
Tất cả những nhóm này đều bao hàm nghĩa vụ và công việc, và đều phải được tính đến khi nghiên cứu việc sử dụng tham thiền một cách minh triết. [119] Tham thiền phải gia tăng khả năng thanh toán các món nợ nghiệp quả của một người, đem lại tầm nhìn rõ ràng, sự phán đoán minh triết và sự thấu hiểu công việc ngay trong hiện tại. Bất cứ điều gì đi ngược lại điều này đều nguy hiểm. |
3—On the mental plane: The groups to be found there may be enumerated as follows: – 3—Trên cõi trí: Những nhóm ở đó có thể được liệt kê như sau:
|
a—The groups of pupils of some one Master to Whom he may be attached, and with Whom he may be working. This is usually only the case when the man is rapidly working out his karma and is nearing the entrance to the Path. His meditation, therefore, should be directly under the guidance of his Master, and any formula followed that is not adjusted to a man’s need carries with it elements of danger, for the vibrations set up on the mental plane and the forces engendered there are so much more potent than on the lower levels. |
a—Các nhóm môn sinh của một Chân sư mà y có thể gắn bó và cùng làm việc. Điều này thường chỉ xảy ra khi y đang nhanh chóng giải quyết nghiệp quả và tiến gần tới cửa vào Đường Đạo. Do đó, việc tham thiền của y phải trực tiếp chịu sự hướng dẫn của Chân sư của mình; và bất kỳ công thức nào được tuân theo mà không điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của y đều chứa những yếu tố nguy hiểm, vì các rung động được thiết lập trên cõi trí và những mãnh lực phát sinh ở đó mạnh hơn rất nhiều so với trên các cấp độ thấp. |
|
b—The egoic group to which he belongs. This is most important for it involves the consideration of the man’s ray in the apportioning of meditation. This matter has already been somewhat touched upon. |
b—Nhóm chân ngã mà y thuộc về. Điều này rất quan trọng, vì nó đòi hỏi phải xét đến cung của y khi phân định bài tham thiền. Vấn đề này đã được đề cập phần nào. |
|
As you will see, I have not specified certain dangers attacking any particular body. It is not possible to cover the subject thus. In later days, when occult meditation is more comprehended and the matter scientifically studied, students will prepare the necessary data and treatises covering the entire subject as far as then may be. I sound, however, a note of warning, I indicate the way,—the teachers on the inner side seldom do more. We aim at developing thinkers and men of clear vision, capable of logical reasoning. To do this we teach men to develop themselves, to do their own thinking, reason out their own problems, and build their own characters. Such is the Path…. we trod,—such is the path we aim to see you tread. |
Như các bạn sẽ thấy, Tôi chưa nêu cụ thể những nguy hiểm tấn công bất kỳ hiện thể riêng biệt nào. Không thể bao quát chủ đề theo cách ấy. Trong tương lai, khi tham thiền huyền bí được thấu hiểu hơn và vấn đề được nghiên cứu một cách khoa học, các môn sinh sẽ chuẩn bị những dữ liệu và khảo luận cần thiết bao quát toàn bộ chủ đề, trong phạm vi có thể vào lúc ấy. Tuy nhiên, Tôi đưa ra lời cảnh báo, Tôi chỉ đường,—các huấn sư ở phía bên trong hiếm khi làm nhiều hơn thế. Chúng tôi hướng tới việc phát triển những người biết tư duy và có tầm nhìn rõ ràng, có khả năng suy luận hợp lý. Để làm được điều này, chúng tôi dạy con người tự phát triển, tự suy nghĩ, tự suy luận để giải quyết các vấn đề của mình, và xây dựng tính cách của chính mình. Đó là Đường Đạo…. chúng tôi đã đi qua,—đó là con đường chúng tôi mong thấy các bạn bước đi. |
|
[120] |
[120] |
|
August 3, 1920. |
Ngày 3 tháng 8 năm 1920. |
Dangers arising from subtle forces. – Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế.
|
August 3rd, 1920. |
Ngày 3 tháng 8 năm 1920. |
|
During these coming days, brother of mine, application to the immediate duty is the part of wisdom. It is desired that much should be accomplished both in your individual work and in the work that you and FB have undertaken for the section. The future holdeth changes and in the finished scheme lieth hope for that which is hidden in the lap of destiny. |
Huynh đệ của Tôi, trong những ngày sắp tới, việc chuyên tâm vào bổn phận trước mắt là điều phù hợp với minh triết. Mong rằng bạn sẽ hoàn thành nhiều việc, cả trong công việc cá nhân của bạn lẫn trong công việc mà bạn và FB đã đảm nhận cho bộ phận. Tương lai chứa đựng những thay đổi, và chính trong kế hoạch hoàn chỉnh có niềm hy vọng cho điều đang ẩn giấu trong lòng định mệnh. |
|
…We have for our topic this morning the final section of our letter on the dangers incidental to meditation. We have dealt somewhat with individual dangers inherent in the three bodies; we have touched upon the risks that may be run when the karma of the student and his group affiliations are overlooked. Today the subject involves real difficulty. We have to deal with the dangers that may arise from forces and persons, from entities and groups working on the subtler planes. The difficulty arises in three ways:— |
…Sáng nay, chủ đề của chúng ta là phần cuối của bức thư bàn về những nguy hiểm đi kèm với tham thiền. Chúng ta đã bàn phần nào về những nguy hiểm cá nhân vốn có trong ba thể của phàm ngã; chúng ta đã đề cập đến những rủi ro có thể gặp khi bỏ qua nghiệp quả của đạo sinh và những mối liên hệ nhóm của y. Hôm nay, chủ đề này thực sự khó khăn. Chúng ta phải bàn đến những nguy hiểm có thể phát sinh từ các mãnh lực và các cá nhân, từ các thực thể và các nhóm hoạt động trên những cõi vi tế hơn. Khó khăn nảy sinh theo ba phương diện:— |
|
l—The ignorance of the average student as to the nature of those forces and as to the personnel of the groups on the subtler planes. |
1—Sự thiếu hiểu biết của đạo sinh bình thường về bản chất của những mãnh lực ấy và về thành phần của các nhóm trên những cõi vi tế hơn. |
|
2—The risk of revealing more than would be wise in an exoteric publication. |
2—Nguy cơ tiết lộ nhiều hơn mức khôn ngoan cho phép trong một ấn phẩm ngoại môn. |
|
3—An occult risk that is little comprehended by the uninitiated. It lies in the fact that in the concentration of thought that necessarily arises in discussing these problems, thought-waves are set in motion, currents are contacted and thoughtforms circulated that attract the attention of those under discussion. This may lead at times to undesirable results. Therefore, I shall with brevity touch upon the subject. Upon the inner planes the needed light and protection are afforded. |
3—Một nguy cơ huyền bí mà người chưa được điểm đạo ít thấu hiểu. Nguy cơ này nằm ở chỗ: sự tập trung tư tưởng tất yếu nảy sinh khi thảo luận những vấn đề này khiến các làn sóng tư tưởng chuyển động, tiếp xúc với các dòng năng lượng và lưu chuyển những hình tư tưởng thu hút sự chú ý của các đối tượng đang được bàn đến. Đôi khi, điều này có thể dẫn đến những kết quả không mong muốn. Vì vậy, Tôi sẽ đề cập vắn tắt đến chủ đề này. Trên các cõi bên trong, ánh sáng và sự bảo vệ cần thiết luôn được cung cấp. |
|
Three groups of entities:— |
Ba nhóm thực thể:— |
|
These groups of entities can be differentiated in a threefold manner:— |
Có thể phân biệt những nhóm thực thể này theo ba loại:— |
|
l—Groups of discarnate beings on either the emotional or the mental planes. |
1—Các nhóm sinh linh không còn thân xác trên cõi cảm dục hoặc cõi trí. |
|
2—Devas, either singly or in groups. |
2—Các thiên thần, riêng lẻ hoặc theo nhóm. |
|
3—The dark Brotherhood. [121] |
3—Huynh đệ đoàn bóng tối. [121] |
|
Let us take each division and deal with it carefully, first laying the foundation of knowledge by pointing out that the dangers arise from a threefold condition of the bodies of the student which may be the result sometimes of meditation. These conditions are: |
Chúng ta hãy xem xét từng loại và bàn đến một cách cẩn thận, trước hết đặt nền tảng tri thức bằng cách chỉ ra rằng những nguy hiểm này phát sinh từ ba trạng thái của các thể thuộc đạo sinh, đôi khi có thể là kết quả của tham thiền. Những trạng thái ấy là: |
|
A negative condition that makes the entire three bodies of the personality receptive and quiescent, and open therefore to the attack of the watching denizens of other planes. |
Một trạng thái thụ động khiến cả ba thể của phàm ngã trở nên tiếp nhận và bất động, do đó mở đường cho sự tấn công của những cư dân đang rình chờ trên các cõi khác. |
|
A condition of ignorance or foolhardiness that, in attempting to use certain forms and mantrams without the permission of the Teacher, involves the student with certain groups of devas, bringing him into contact with the devas of the emotional or mental planes and making him therefore (through his ignorance) the butt of their attack and the plaything of their destructive instincts. |
Một trạng thái thiếu hiểu biết hoặc liều lĩnh khiến đạo sinh, khi cố sử dụng một số hình thức và mantram mà không được huấn sư cho phép, vướng vào một số nhóm thiên thần, đưa y tiếp xúc với các thiên thần trên cõi cảm dục hoặc cõi trí, và do đó khiến y — vì thiếu hiểu biết — trở thành mục tiêu tấn công và món đồ chơi cho những bản năng phá hoại của họ. |
|
A condition which is the reverse of the above, which makes a man positive and a channel, therefore, for force or power. When this is the case, the man proceeds, under occult rule or law and with the aid of his Teacher, to wield the electrical fluid of the inner planes. He becomes then a centre of the attention of those who strive against the Brothers of Light. |
Một trạng thái ngược với trạng thái trên, khiến con người trở nên chủ động và do đó thành một kênh dẫn mãnh lực hoặc quyền năng. Trong trường hợp này, dưới quy luật hoặc định luật huyền bí và với sự trợ giúp của huấn sư, y tiến tới việc vận dụng lưu chất điện của các cõi bên trong. Bấy giờ, y trở thành tâm điểm chú ý của những kẻ chống lại các Huynh đệ Ánh sáng. |
|
The first two conditions are all the result of meditation unwisely and ignorantly practised, the last state of affairs is frequently the reward of success. In the first two, the remedy lies within the student himself and in the wise correction of the type of meditation and its more careful following; in the third case the remedy must be sought in various ways which I will later indicate. |
Hai trạng thái đầu đều là kết quả của việc thực hành tham thiền thiếu khôn ngoan và thiếu hiểu biết; trạng thái cuối thường là phần thưởng của sự thành công. Trong hai trạng thái đầu, phương cách khắc phục nằm ở chính đạo sinh, ở việc điều chỉnh một cách khôn ngoan loại hình tham thiền và thực hành cẩn thận hơn; trong trường hợp thứ ba, phải tìm phương cách khắc phục theo nhiều cách khác nhau mà Tôi sẽ chỉ ra sau. |
Dangers of obsession. – Những nguy hiểm của sự ám nhập.
|
Dangers from discarnate entities are frankly those of obsession, either of a temporary nature and lasting for a few moments or more enduring and lasting for a longer [122] period. It may even be permanent and lasting through a lifetime. I have earlier written to you a letter upon this subject which you might here incorporate. We never duplicate effort if it can be avoided. I seek primarily to emphasise the point that this entrance which we call obsession is effected largely through the negative attitude assumed through the unwise following of an unsuitable meditation. In his anxiety to be the recipient of light from above, in his determination to force himself to a place where he can contact the teachers or even the Master, and in his endeavour to eliminate all thought and lower vibrations, the student makes the mistake of rendering his entire lower personality receptive. Instead of making it firmly positive to environing factors and to all lower contacts, and instead of only allowing the “apex of the mind” (if I may use so unusual a term) to be receptive and open to transmission from the causal or the abstract levels and even from the intuitional, the student permits reception from all sides. Only a point within the brain should be receptive, all the rest of the consciousness should be so polarised that outer interference will not be possible. This refers to the emotional and to the mental bodies, though with the majority these days it refers solely to the emotional. At this particular period of the world’s history the emotional plane is so densely populated and the response of the physical to the emotional is now becoming so exquisitely attuned, that the danger of obsession is greater than ever heretofore. But for your cheering—the reverse holds good also, and response to the divine and rapid reaction to the higher inspiration has never been so great. Divine inspiration or that “divine obsession” which is the privilege of all advanced souls, will be understood in the coming years as never before, and will be definitely one of the [123] methods used by the coming Lord and His Great Ones for the helping of the world. |
Nói thẳng ra, những nguy hiểm từ các thực thể không còn thân xác chính là những nguy hiểm của sự ám nhập, có thể mang tính tạm thời và kéo dài trong vài khoảnh khắc, hoặc dai dẳng hơn và kéo dài trong một [122] thời gian lâu hơn. Thậm chí, sự ám nhập có thể thường trực và kéo dài suốt một đời người. Trước đây, Tôi đã viết cho các bạn một bức thư về chủ đề này mà các bạn có thể đưa vào đây. Chúng ta không bao giờ lặp lại công sức nếu có thể tránh được. Trước hết, Tôi muốn nhấn mạnh rằng sự xâm nhập mà chúng ta gọi là ám nhập này phần lớn diễn ra qua thái độ thụ động do thiếu khôn ngoan khi thực hành một phương pháp tham thiền không phù hợp. Vì nóng lòng tiếp nhận ánh sáng từ trên cao, vì quyết tâm ép mình đạt tới một vị trí có thể tiếp xúc với các huấn sư hoặc ngay cả Chân sư, và vì cố gắng loại bỏ mọi tư tưởng cùng những rung động thấp, đạo sinh mắc sai lầm khi khiến toàn bộ phàm ngã thấp của mình trở nên tiếp nhận. Thay vì giữ cho phàm ngã ấy vững vàng chủ động trước các yếu tố xung quanh và mọi tiếp xúc thấp, và thay vì chỉ cho phép “đỉnh của thể trí” (nếu Tôi có thể dùng một thuật ngữ khác thường như vậy) tiếp nhận và mở ra với sự truyền đạt từ các cấp độ nguyên nhân hoặc trừu tượng, thậm chí từ cấp độ trực giác, đạo sinh lại cho phép tiếp nhận từ mọi phía. Chỉ một điểm trong bộ não nên ở trạng thái tiếp nhận; toàn bộ phần còn lại của tâm thức phải phân cực sao cho sự can thiệp từ bên ngoài không thể xảy ra. Điều này liên quan đến thể cảm dục và thể trí, mặc dù đối với đa số người hiện nay, nó chỉ liên quan đến thể cảm dục. Vào giai đoạn đặc biệt này trong lịch sử thế giới, cõi cảm dục có cư dân đông đúc đến mức, và sự đáp ứng của thể xác đối với thể cảm dục hiện đang trở nên hòa nhịp tinh tế đến mức, nguy cơ ám nhập lớn hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây. Nhưng để các bạn thêm phấn chấn — điều ngược lại cũng đúng, và sự đáp ứng với điều thiêng liêng cùng phản ứng nhanh chóng trước cảm hứng cao siêu chưa bao giờ mạnh mẽ đến thế. Trong những năm sắp tới, cảm hứng thiêng liêng, hay “sự ám nhập thiêng liêng” vốn là đặc ân của mọi linh hồn tiến bộ, sẽ được thấu hiểu như chưa từng có trước đây, và chắc chắn sẽ là một trong những [123] phương pháp mà Chúa Tể sắp đến cùng Các Đấng Cao Cả của Ngài sử dụng để trợ giúp thế giới. |
|
The thing to be remembered is that in the case of wrong obsession the man is at the mercy of the obsessing entity, and is unconsciously or unwillingly a partner in the transaction. In divine obsession the man consciously and willingly co-operates with the One Who seeks to inspire, or to occupy or employ his lower vehicles. The motive is ever the greater helping of the race. The obsession is then not the result of a negative condition but of a positive collaboration and proceeds under law and for a specific period…. HPB is a concrete instance of a case in point; the initiate Jesus was another. As more and more of the race develop continuity of consciousness between the physical and the emotional and later the mental, this act of transference of the vehicles will be more frequent and more understood. |
Điều cần nhớ là trong trường hợp ám nhập sai trái, con người hoàn toàn chịu sự chi phối của thực thể ám nhập, và tham gia vào sự việc một cách vô thức hoặc trái ý muốn. Trong sự ám nhập thiêng liêng, con người hợp tác một cách có ý thức và tự nguyện với Đấng tìm cách truyền cảm hứng, hoặc chiếm ngự hay sử dụng các hiện thể thấp của y. Động cơ luôn là trợ giúp nhân loại nhiều hơn. Bấy giờ, sự ám nhập không phải là kết quả của một trạng thái thụ động, mà của sự hợp tác chủ động, và diễn ra theo định luật trong một thời kỳ xác định… Bà HPB là một ví dụ cụ thể về trường hợp này; điểm đạo đồ Đức Jesus là một ví dụ khác. Khi ngày càng nhiều người trong nhân loại phát triển tính liên tục của tâm thức giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục, rồi sau đó là cõi trí, hành động chuyển dịch các hiện thể này sẽ thường xuyên hơn và được thấu hiểu rõ hơn. |
|
October 9, 1919. |
Ngày 9 tháng 10 năm 1919. |
Causes of Obsession. – Nguyên nhân của sự ám nhập.
|
One of the activities ahead of the occult student is the study and the scientific observation of this matter. We have been told in various occult books that obsession and insanity are very closely allied. Insanity may exist in all three bodies, the least harmful being that of the physical body, whilst the most enduring and the hardest to cure is that of the mental body. Insanity in the mental body is the heavy fate that descends upon those who for many incarnations have followed the path of selfish cruelty, using the intelligence as a means to serve selfish ends and using it willfully, knowing it to be wrong. But insanity of this type is a means whereby the Ego sometimes arrests the progress of a man towards the left-hand path. In this sense it is a disguised blessing. Let us deal first with the causes of obsession, leaving the subject of insanity [124] for another day. These causes are four in number and each responds to a different treatment:— |
Một trong những hoạt động đang chờ đợi đạo sinh huyền bí là nghiên cứu và quan sát vấn đề này một cách khoa học. Nhiều sách huyền bí đã cho chúng ta biết rằng sự ám nhập và chứng điên loạn có liên hệ rất mật thiết. Chứng điên loạn có thể tồn tại trong cả ba thể của phàm ngã; ít gây hại nhất là chứng điên loạn của thể xác, trong khi dai dẳng nhất và khó chữa nhất là chứng điên loạn của thể trí. Chứng điên loạn trong thể trí là số phận nặng nề giáng xuống những người đã đi theo con đường tàn ác ích kỷ trong nhiều kiếp nhập thể, sử dụng trí thông minh làm phương tiện phục vụ những mục đích ích kỷ và cố ý sử dụng nó dù biết điều ấy là sai trái. Nhưng chứng điên loạn loại này đôi khi là phương tiện để chân ngã ngăn bước một người đang tiến về tả đạo. Theo nghĩa này, đó là một phúc lành dưới hình thức khác. Trước hết, chúng ta hãy bàn đến các nguyên nhân của sự ám nhập, để chủ đề điên loạn [124] sang một ngày khác. Có bốn nguyên nhân, và mỗi nguyên nhân đáp ứng với một phương pháp điều trị khác nhau:— |
|
One cause is a definite weakness of the etheric double, in the separating web, which like a piece of relaxed elastic permits entry of an extraneous entity from the emotional plane. The door of entrance which is formed by this web is not closed tight, and entrance can be effected from without. This is a physical plane cause, and is the result of the maladjustment of physical plane matter. It is the result of karma, and is prenatal, existing from the earliest moment. Usually the sufferer is physically weak, intellectually feeble, but possessed of a powerful emotional body which suffers and fights and struggles to prevent entrance. The attacks are intermittent, and more frequently attack women than men. |
Một nguyên nhân là sự suy yếu rõ rệt của bản sao dĩ thái, tại tấm lưới ngăn cách; giống như một mảnh dây đàn hồi bị chùng, tấm lưới này cho phép một thực thể ngoại lai từ cõi cảm dục xâm nhập. Cửa vào do tấm lưới này tạo thành không đóng kín, nên sự xâm nhập từ bên ngoài có thể xảy ra. Đây là một nguyên nhân thuộc cõi hồng trần, và là kết quả của sự điều chỉnh không thích hợp của vật chất cõi hồng trần. Nó là kết quả của nghiệp quả, có trước khi sinh và tồn tại ngay từ khoảnh khắc đầu tiên. Người chịu tình trạng này thường yếu về thể chất, kém về trí năng, nhưng có một thể cảm dục mạnh mẽ chịu đau khổ, chiến đấu và vùng vẫy để ngăn sự xâm nhập. Những cuộc tấn công xảy ra từng đợt, và tấn công phụ nữ thường xuyên hơn nam giới. |
|
Another cause is due to emotional reasons. A lack of co-ordination exists between the emotional and the physical and when the man functions in the emotional body (as at night) the moment of re-entry is attended with difficulty, and opportunity exists for other beings to enter the physical vehicle, and prevent its occupation by the real Ego. This is the most common form of obsession, and affects those with powerful physical bodies and strong astral vibrations, but with weak mental bodies. It leads, in the ensuing struggle, to the violent scenes of screaming lunatics and to the paroxysms of the epileptic. Men are more subject to this than women, as women are usually more definitely polarised in the emotional body. |
Một nguyên nhân khác xuất phát từ những lý do thuộc cõi cảm dục. Giữa thể cảm dục và thể xác thiếu sự phối hợp, và khi con người hoạt động trong thể cảm dục (như vào ban đêm), thời điểm trở lại thể xác đi kèm với khó khăn, tạo cơ hội cho những sinh linh khác xâm nhập vào hiện thể hồng trần và ngăn chân ngã đích thực chiếm ngự nó. Đây là hình thức ám nhập phổ biến nhất, ảnh hưởng đến những người có thể xác mạnh mẽ và những rung động cảm dục mạnh, nhưng thể trí yếu. Trong cuộc đấu tranh tiếp theo, nó dẫn đến những cảnh dữ dội của người điên la hét và những cơn co giật của người động kinh. Nam giới dễ mắc tình trạng này hơn phụ nữ, vì phụ nữ thường phân cực rõ rệt hơn trong thể cảm dục. |
|
A rarer kind of obsession is the mental. In coming days as the mental body develops, one may expect perhaps to see more of it. Mental obsession involves the displacement taking place on the mental levels—hence its rarity. The physical body and the emotional body remain as a unit, but the Thinker is left in his mental body, [125] whilst the obsessing entity (clothed in mental matter) enters the two lower vehicles. In the case of emotional obsession the Thinker is left with his emotional body and his mental body but with no physical. In this latter case he is left with neither emotional nor physical. The cause lies in the fact of the over-development of the mental, and of the relative weakness of the emotional and physical bodies. The Thinker is too powerful for his other bodies and disdains their use; he is too interested in work on mental levels, and thus gives opportunity to obsessing entities to assume control. This, as I said before, is rare and is the result of lop-sided development. It attacks women and men equally; it principally shows itself in childhood and is difficult to cure. |
Một loại ám nhập hiếm hơn là ám nhập trí. Trong những ngày sắp tới, khi thể trí phát triển, có lẽ có thể dự kiến sẽ thấy loại này nhiều hơn. Ám nhập trí tuệ bao hàm sự thay thế diễn ra trên các cấp độ trí — do đó nó hiếm gặp. Thể xác và thể cảm dục vẫn hợp thành một đơn vị, nhưng Chủ Thể Tư Duy chỉ còn ở trong thể trí của mình, [125] trong khi thực thể ám nhập (khoác lớp vật chất trí) xâm nhập vào hai hiện thể thấp. Trong trường hợp ám nhập cảm dục, Chủ Thể Tư Duy vẫn còn thể cảm dục và thể trí của mình, nhưng không còn thể xác. Trong trường hợp ám nhập trí này, y không còn cả thể cảm dục lẫn thể xác. Nguyên nhân nằm ở sự phát triển quá mức của thể trí và sự yếu kém tương đối của thể cảm dục cùng thể xác. Chủ Thể Tư Duy quá mạnh so với các thể khác của y và coi thường việc sử dụng chúng; y quá chú tâm vào công việc trên các cấp độ trí, do đó tạo cơ hội cho các thực thể ám nhập nắm quyền kiểm soát. Như Tôi đã nói trước đây, tình trạng này hiếm gặp và là kết quả của sự phát triển lệch lạc. Nó tấn công phụ nữ và nam giới như nhau; chủ yếu biểu lộ trong thời thơ ấu và khó chữa. |
|
A still rarer cause of obsession is definitely the work of the dark Brothers. It takes the form of snapping the magnetic link that attaches the Ego to the lower physical body, leaving him in his emotional and mental bodies. This would normally result in the death of the physical body, but in cases such as these the dark Brother, who is to use the physical body, enters it and makes connection with his own cord. These cases are not common. They involve only two classes of people:— |
Một nguyên nhân ám nhập còn hiếm hơn nữa rõ ràng là công việc của các huynh đệ bóng tối. Nó mang hình thức cắt đứt mối liên kết từ tính gắn chân ngã với thể xác thấp, khiến y chỉ còn ở trong thể cảm dục và thể trí. Thông thường, điều này sẽ khiến thể xác chết, nhưng trong những trường hợp như vậy, huynh đệ bóng tối muốn sử dụng thể xác ấy sẽ xâm nhập và nối nó với sợi dây của chính mình. Những trường hợp này không phổ biến. Chúng chỉ liên quan đến hai loại người:— |
|
Those who are highly evolved and on the Path, but who through some wilful shortcoming fail for some one incarnation and so lay themselves open to the evil force. Sin (as you call it) in the Personality of a disciple leads to a weakness in some one spot, and this is taken advantage of. This type of obsession shows itself in the transformation that is sometimes seen when a great soul suddenly plunges on an apparent downward path, when he changes the whole trend of his existence and besmirches a fair character with mud. It carries with it its own punishment, for on the inner planes the disciple looks [126] on, and in agony of mind sees his lower vehicle dishonouring the fair name of its real owner and causing evil to be said of a loved cause. |
Những người đã tiến hoá cao và đang trên Đường Đạo, nhưng do một khuyết điểm cố ý nào đó mà thất bại trong một kiếp sống, và vì thế tự mở đường cho mãnh lực tà ác xâm nhập. Tội lỗi (như các bạn gọi) trong phàm ngã của một đệ tử dẫn đến một điểm yếu nào đó, và điểm yếu này bị lợi dụng. Kiểu ám nhập này biểu lộ qua sự chuyển đổi đôi khi thấy được khi một linh hồn cao cả đột nhiên lao vào một con đường có vẻ đi xuống, khi y thay đổi toàn bộ chiều hướng hiện tồn của mình và làm vấy bẩn một tính cách tốt đẹp. Nó mang theo sự trừng phạt của chính nó, vì trên các cõi bên trong, đệ tử quan sát [126] và trong nỗi đau đớn của thể trí, thấy hiện thể thấp của mình làm ô danh người chủ thực sự của nó và khiến một lý tưởng yêu quý bị gièm pha. |
|
The little evolved, weakly organised, and so unable to resist. |
Những người ít tiến hoá, có cấu tạo yếu kém, và vì thế không đủ sức chống cự. |
The Kinds of Obsessing Entities. – Các loại thực thể ám nhập.
|
These are too numerous to mention in detail but I might enumerate a few. |
Các loại này quá nhiều để đề cập chi tiết, nhưng Tôi có thể liệt kê một vài loại. |
|
l—Discarnate entities of a low order awaiting incarnation, and who see, in cases one and two, their wanted opportunity. |
1—Các thực thể không còn thân xác thuộc cấp thấp đang chờ nhập thể, và nhìn thấy trong trường hợp thứ nhất và thứ hai cơ hội mà chúng mong muốn. |
|
2—Suicides, anxious to undo the deed and to again get into contact with earth. |
2—Những người tự sát, nóng lòng muốn sửa lại hành động ấy và tiếp xúc trở lại với trần gian. |
|
3—Earth-bound spirits, good and bad, who from anxiety over loved ones, over their business affairs, or eager to do some wrong or to undo some evil act, rush in and take possession of cases one and two. |
3—Những tinh thần còn vướng mắc với trần gian, cả tốt lẫn xấu, do lo lắng cho người thân, cho công việc kinh doanh, hoặc nóng lòng muốn làm điều sai trái hay sửa lại một hành vi xấu, mà xông vào và chiếm hữu những người thuộc trường hợp thứ nhất và thứ hai. |
|
4—Dark Brothers as aforesaid, who avail themselves principally of the third and fourth cases already cited. They require highly developed bodies, having no use for weak or unrefined bodies. In case three the weakness is entirely relative, due to over-accentuation of the mental vehicle. |
4—Các huynh đệ bóng tối như đã nói, chủ yếu lợi dụng trường hợp thứ ba và thứ tư đã nêu. Chúng cần những thân thể phát triển cao, không dùng đến những thân thể yếu đuối hoặc chưa tinh luyện. Trong trường hợp thứ ba, sự yếu kém hoàn toàn mang tính tương đối, do quá chú trọng hiện thể trí. |
|
5—Elementals and subhuman entities of a malicious nature who rush in on the slightest opportunity and where kindred vibration may be felt. |
5—Các hành khí và thực thể dưới nhân loại có bản chất độc ác, xông vào ngay khi có cơ hội nhỏ nhất và ở nơi có thể cảm nhận rung động tương đồng. |
|
6—Some of the lower devas, harmless but mischievous[1] who, from sheer freakishness[2] and fun, enter another body in much the same way that a child loves to dress up. |
6—Một số thiên thần cấp thấp, vô tổn hại nhưng tinh nghịch[3], chỉ vì tính thất thường[4] và vui đùa mà nhập vào một thân thể khác, gần giống như một đứa trẻ thích hoá trang. |
|
7—Occasional visitors from other planets who enter certain highly evolved bodies for purposes of their own. This is very, very rare…. [127] |
7—Những vị khách thỉnh thoảng đến từ các hành tinh khác, nhập vào một số thân thể tiến hoá cao vì mục đích riêng. Điều này rất, rất hiếm…. [127] |
|
Let me now give you some of the methods that eventually will be the first attempts at cure. |
Giờ đây, hãy để Tôi trình bày với các bạn một số phương pháp mà về sau sẽ là những nỗ lực chữa trị đầu tiên. |
|
In the first type of cases, those due to physical plane weakness, the stress of the cure will be laid first on building up a strong physical body in both its departments, though especially the etheric body. This will be done in future years with the direct aid of the devas of the shadows (the violet devas or devas of the ethers). The strengthening of the etheric web will be aided by means of the violet light, with its corresponding sound, administered in quiet sanitariums. Coincident with this treatment will be the attempt to strengthen the mental body. With the strengthening of the physical body will come longer and longer periods of freedom from attack. Eventually the attacks will cease altogether. |
Trong loại trường hợp thứ nhất, những trường hợp do sự yếu kém trên cõi hồng trần, việc chữa trị trước hết sẽ chú trọng xây dựng một thể xác mạnh mẽ ở cả hai phần của nó, đặc biệt là thể dĩ thái. Trong những năm tới, điều này sẽ được thực hiện với sự trợ giúp trực tiếp của các thiên thần của bóng tối (các thiên thần màu tím hoặc thiên thần của các dĩ thái). Ánh sáng tím cùng âm thanh tương ứng, được sử dụng trong những dưỡng đường yên tĩnh, sẽ hỗ trợ việc củng cố mạng lưới dĩ thái. Đồng thời với cách điều trị này sẽ là nỗ lực củng cố thể trí. Khi thể xác mạnh lên, những khoảng thời gian không bị tấn công sẽ ngày càng dài hơn. Cuối cùng, các cuộc tấn công sẽ hoàn toàn chấm dứt. |
|
When the cause is lack of co-ordination between the physical and the emotional vehicles the first methods of cure will be definite exorcism[5] by the aid of mantrams and ceremonial (such as religious ritual). Qualified persons will use these mantrams at night when the obsessing entity may be supposed to be absent during the hours of sleep. Those mantrams will call the real owner back, will build a protective wall after his re-entry and will seek to force the obsessing one to stay absent. When the real owner has returned, the work then will be to keep him there. Educative work during the day and protective measures at night for longer or shorter periods will gradually eliminate the evil occupant, or unwanted tenant, and in the course of time the sufferer will continue to procure immunity. More anent this can later be given. |
Khi nguyên nhân là thiếu sự phối hợp giữa hiện thể hồng trần và hiện thể cảm dục, những phương pháp chữa trị đầu tiên sẽ là việc trục xuất dứt khoát thực thể ám nhập[6] với sự trợ giúp của các mantram và nghi lễ (chẳng hạn nghi lễ tôn giáo). Những người đủ năng lực sẽ sử dụng các mantram này vào ban đêm, khi có thể cho rằng thực thể ám nhập vắng mặt trong những giờ ngủ. Các mantram ấy sẽ gọi người chủ thực sự trở về, dựng một bức tường bảo vệ sau khi y tái nhập, và tìm cách buộc kẻ ám nhập tiếp tục vắng mặt. Khi người chủ thực sự đã trở về, công việc khi ấy là giữ y ở lại đó. Công việc giáo dục ban ngày và các biện pháp bảo vệ ban đêm, trong những khoảng thời gian dài hoặc ngắn, sẽ dần loại bỏ kẻ chiếm chỗ tà ác, hay người ở trọ không mong muốn; theo thời gian, người chịu ám nhập sẽ tiếp tục đạt được sự miễn nhiễm. Về sau có thể trình bày thêm về điều này. |
|
Where mental obsession is involved the matter is more difficult. Most of the first cures achieved in the future will centre around the first two groups. Mental obsession must await greater knowledge, though experimentation [128] from the very first should be undertaken. The work will have to be done mostly from the mental plane by those who can function there freely and so contact the Thinker in his mental body. The co-operation of the Thinker must then be procured and a definite attack conjointly made on the obsessed physical and emotional bodies. During the night much of the work in the first two cases of cures will be done, but in the latter case the Thinker has to win back his physical and his emotional bodies as well, hence the exceeding difficulty. Death often eventuates in these cases. |
Khi có sự ám nhập thể trí, vấn đề khó khăn hơn. Phần lớn những ca chữa trị đầu tiên thành công trong tương lai sẽ tập trung vào hai nhóm đầu. Việc chữa trị ám nhập thể trí phải chờ có tri thức sâu rộng hơn, dù việc thử nghiệm [128] cần tiến hành ngay từ đầu. Công việc phần lớn phải thực hiện từ cõi trí, do những người có thể hoạt động tự do ở đó và nhờ vậy tiếp xúc với Chủ Thể Tư Tưởng trong thể trí của y. Khi ấy phải có được sự hợp tác của Chủ Thể Tư Tưởng, rồi cùng phối hợp tiến hành một cuộc tấn công dứt khoát vào thể xác và thể cảm dục đang bị ám nhập. Trong hai trường hợp chữa trị đầu tiên, phần lớn công việc sẽ thực hiện vào ban đêm, nhưng trong trường hợp sau cùng, Chủ Thể Tư Tưởng còn phải giành lại cả thể xác lẫn thể cảm dục của mình, vì thế việc này vô cùng khó khăn. Những trường hợp này thường dẫn đến cái chết. |
|
In the severing of the magnetic cord naught can be done as yet. |
Trong trường hợp sợi dây từ tính bị cắt đứt, hiện chưa thể làm gì. |
Dangers from the deva evolution. – Những nguy hiểm từ sự tiến hoá thiên thần.
|
This second point is more complex. You will remember how it has been said earlier in these letters that contact with the devas can be brought about through specific forms and mantrams and that in this contact lies peril for the unwary. This danger is curiously real now, owing to the following reasons: |
Điểm thứ hai này phức tạp hơn. Các bạn sẽ nhớ rằng trước đây trong những bức thư này đã nói đến việc có thể tiếp xúc với các thiên thần thông qua những hình tướng và mantram đặc thù, và rằng chính trong sự tiếp xúc này có hiểm nguy đối với người thiếu thận trọng. Hiện nay, nguy hiểm này thực sự hiện hữu một cách khác thường, vì những lý do sau: |
|
a—The coming in of the violet ray, the seventh or Ceremonial Ray, has rendered this contact more easy of attainment than heretofore. It is therefore the ray on which approximation is possible, and in the use of ceremonial and of set forms, coupled to regulated rhythmic movement, will be found a meeting place for the two allied evolutions. In the use of ritual this will be apparent, and psychics are already bearing witness to the fact that both in the ritual of the Church and in that of Masonry this has been evidenced. More and more will this be the case, and it carries with it certain risks that will inevitably work themselves into common knowledge and thus affect in various ways the unwary sons of men. [129] As you know, a definite effort is being made at this time by the Planetary Hierarchy to communicate to the devas their part in the scheme of things, and the part the human family must likewise play. The work is slow, and certain results are inevitable. It is not my purpose to take up with you in these letters the part that ritual and set mantric forms play in the evolution of devas and of men. I only desire to point out that danger for human beings lies in the unwise use of forms for the calling of the devas, in experimenting with the Sacred Word with the object in view of contacting the Builders who are so largely affected by it, and in endeavouring to pry into the secrets of ritual with its adjuncts of colour and of sound. Later on, when the pupil has passed the portal of initiation, such knowledge will be his, coupled with the necessary information that teaches him to work with the law. In the following of the law, no danger lurks. |
a—Sự xuất hiện của cung tím, cung bảy hay Cung Nghi Lễ, đã khiến việc đạt được sự tiếp xúc này dễ dàng hơn trước. Vì vậy, đây là cung trên đó có thể tiến đến gần nhau; trong việc sử dụng nghi lễ và những hình tướng quy định, kết hợp với chuyển động nhịp nhàng có điều tiết, sẽ tìm thấy một nơi gặp gỡ cho hai dòng tiến hoá liên hệ này. Điều này sẽ rõ ràng trong việc sử dụng nghi thức, và những người thông linh đã chứng thực rằng cả trong nghi thức của Giáo hội lẫn của Hội Tam Điểm, điều này đều đã biểu lộ. Điều này sẽ ngày càng phổ biến hơn, và mang theo những rủi ro nhất định mà tất yếu mọi người sẽ dần biết đến, qua đó tác động theo nhiều cách đến những người con thiếu thận trọng của nhân loại. [129] Như các bạn biết, vào lúc này, Thánh đoàn hành tinh đang thực hiện một nỗ lực rõ rệt nhằm truyền đạt cho các thiên thần vai trò của họ trong trật tự vạn vật, và vai trò mà gia đình nhân loại cũng phải đảm nhận. Công việc tiến triển chậm, và một số kết quả là không thể tránh khỏi. Trong những bức thư này, Tôi không có ý bàn với các bạn về vai trò của nghi thức và các hình tướng mantram quy định trong sự tiến hoá của thiên thần và con người. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng nguy hiểm đối với con người nằm ở việc thiếu sáng suốt khi sử dụng các hình tướng để triệu gọi thiên thần, khi thử nghiệm Linh từ Thiêng Liêng nhằm tiếp xúc với các đấng kiến tạo vốn chịu ảnh hưởng rất lớn của Linh từ ấy, và khi cố dò xét những bí mật của nghi thức cùng các yếu tố phụ trợ là màu sắc và âm thanh. Về sau, khi môn sinh đã đi qua cánh cổng điểm đạo, tri thức ấy sẽ thuộc về y, cùng với những thông tin cần thiết dạy y làm việc theo định luật. Khi tuân theo định luật, không có nguy hiểm nào tiềm ẩn. |
|
b—The race is possessed of a strong determination to penetrate within the veil, and to find out what lies on the other side of the unknown. Men and women everywhere are conscious within themselves of budding powers which meditation enhances. They find that by the careful following of certain rules they become more sensitive to the sights and sounds of the inner planes. They catch fleeting glimpses of the unknown; occasionally and at rare intervals, the organ of inner vision temporarily opens and they hear and see on the astral or the mental plane. They see devas at a meeting in which ritual has been employed; they catch a sound or a voice that tells them truths that they recognise as true. The temptation to force the issue, to prolong meditation, to try out certain methods that promise intensification of psychic faculty is too strong. They unwarily force matters and dire disaster results. One hint here I give:- In meditation [130] it is literally possible to play with fire. The devas of the mental levels manipulate the latent fires of the system and thus incidentally the latent fires of the inner man. It is woefully possible to be the plaything of their endeavour and to perish at their hands. A truth I speak here; I give not voice to the interesting chimeras[7] of a fanciful brain. Beware of playing with fire. |
b—Nhân loại có một quyết tâm mạnh mẽ muốn xuyên qua bức màn và khám phá điều nằm bên kia miền chưa biết. Khắp nơi, những người nam và nữ đều nhận biết trong mình những quyền năng đang nảy nở mà tham thiền làm tăng trưởng. Họ nhận thấy rằng nhờ cẩn thận tuân theo một số quy luật, họ trở nên nhạy cảm hơn với cảnh tượng và âm thanh trên các cõi bên trong. Họ thoáng thấy miền chưa biết; đôi khi, vào những thời điểm hiếm hoi, cơ quan linh thị bên trong tạm thời khai mở và họ nghe và thấy trên cõi cảm dục hoặc cõi trí. Họ thấy thiên thần trong một buổi hội họp có sử dụng nghi thức; họ nghe được một âm thanh hoặc tiếng nói truyền cho họ những chân lý mà họ nhận biết là đúng. Sự cám dỗ muốn thúc ép tiến trình, kéo dài tham thiền, thử những phương pháp hứa hẹn tăng cường năng lực thông linh trở nên quá mạnh. Họ thiếu thận trọng thúc ép mọi việc, và tai hoạ khủng khiếp xảy ra. Ở đây Tôi đưa ra một lời gợi ý:— Trong tham thiền [130], người ta thực sự có thể đùa với lửa theo nghĩa đen. Các thiên thần trên những cấp độ trí điều khiển các ngọn lửa tiềm tàng của hệ mặt trời, và qua đó cũng điều khiển các ngọn lửa tiềm tàng của con người bên trong. Đáng buồn thay, người ta có thể trở thành món đồ chơi trong hoạt động của họ và bỏ mạng dưới tay họ. Ở đây Tôi nói một sự thật; Tôi không nói lên những điều hoang tưởng thú vị[8] của một bộ não giàu tưởng tượng. Hãy coi chừng việc đùa với lửa. |
|
c—This transition period is largely responsible for much of the danger. The right type of body for the holding and the handling of the occult force has not yet been built, and in the interim the bodies now in use but spell disaster to the ambitious student. When a man starts out to follow the path of occult meditation, it takes well-nigh fourteen years to rebuild the subtle bodies, and incidentally the physical. All through that period it is not safe to tamper with the unknown for only the very strong refined physical body, the controlled stable and equalised emotional body and the properly striated mental body can enter into the subtler planes and literally work with Fohat, for that is what the occult does. Therefore is the emphasis laid by all wise Teachers everywhere on the Path of Purification, which must precede the Path of Illumination. They lay the emphasis on the building in of spiritual faculty before psychic faculty can be safely permitted; they demand service to the race every day throughout the scope of life before a man may be permitted to manipulate the forces of nature, to dominate the elementals, to co-operate with the devas, and to learn the forms and ceremonies, the mantrams and the key-words, that will bring those forces within the circle of manifestation. |
c—Giai đoạn chuyển tiếp này chịu trách nhiệm phần lớn cho nhiều nguy hiểm. Loại thân thể thích hợp để chứa đựng và sử dụng mãnh lực huyền bí chưa hình thành, và trong thời gian ấy, các thể hiện đang sử dụng chỉ báo trước tai hoạ cho đạo sinh đầy tham vọng. Khi một người bắt đầu đi theo con đường tham thiền huyền môn, phải mất gần mười bốn năm để tái xây dựng các thể tinh tế, và đồng thời cả thể xác. Trong suốt thời kỳ ấy, can thiệp vào miền chưa biết là điều không an toàn, vì chỉ thể xác rất mạnh mẽ và tinh luyện, thể cảm dục được kiểm soát, ổn định và quân bình, cùng thể trí có cấu trúc phân tầng đúng đắn mới có thể đi vào các cõi tinh tế hơn và thực sự làm việc với Fohat, vì đó chính là điều huyền bí học thực hiện. Vì vậy, mọi huấn sư minh triết ở khắp nơi đều nhấn mạnh Con Đường Thanh Luyện, vốn phải đi trước Con Đường Soi Sáng. Các Ngài nhấn mạnh việc xây dựng năng lực tinh thần trước khi có thể an toàn cho phép năng lực thông linh phát triển; Các Ngài đòi hỏi việc phụng sự nhân loại hằng ngày trong toàn bộ đời sống trước khi một người có thể được phép điều khiển các mãnh lực tự nhiên, chế ngự các hành khí, hợp tác với các thiên thần, và học những hình tướng cùng nghi lễ, các mantram và những từ khoá sẽ đưa các mãnh lực ấy vào vòng biểu hiện. |
|
August 4, 1920. |
Ngày 4 tháng 8 năm 1920. |
Danger from the Dark Brothers. – Nguy hiểm từ các huynh đệ bóng tối.
|
I think I gave you earlier practically all that I can as [131] yet impart anent the Brothers of Darkness, as they are sometimes termed. I only want at this point to lay emphasis upon the fact that no danger need be feared by the average student from this source. It is only as discipleship is approached and a man stands out ahead of his fellows as an instrument of the White Brotherhood that he attracts the attention of those who seek to withstand. When through application to meditation, and power and activity in service, a man has developed his vehicles to a point of real achievement, then his vibrations set in motion matters of a specific kind, and he learns to work with that matter, to manipulate the fluids, and to control the builders. In so doing he encroaches on the domain of those who work with the forces of involution and thus he may bring attack upon himself. This attack may be directed against any of his three vehicles and may be of different kinds. Let me briefly point out some of the methods employed against a disciple which are the ones which alone concern the student of these letters: |
Tôi nghĩ trước đây Tôi đã trình bày với các bạn gần như tất cả những gì hiện [131] có thể truyền đạt về các Huynh Đệ của Bóng Tối, như đôi khi người ta gọi. Ở đây, Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng đạo sinh bình thường không cần sợ nguy hiểm từ nguồn này. Chỉ khi tiến gần đến địa vị đệ tử và vượt lên trên những người đồng loại như một công cụ của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, y mới thu hút sự chú ý của những kẻ tìm cách chống đối. Khi nhờ chuyên tâm tham thiền, cùng quyền năng và hoạt động phụng sự, một người đã phát triển các hiện thể đến mức thành tựu thực sự, thì rung động của y làm chuyển động những loại vật chất đặc thù, và y học cách làm việc với vật chất ấy, điều khiển các lưu chất và kiểm soát các đấng kiến tạo. Khi làm như vậy, y xâm nhập vào lãnh địa của những kẻ làm việc với các mãnh lực giáng hạ tiến hoá, và vì thế có thể chuốc lấy sự tấn công. Cuộc tấn công này có thể nhắm vào bất kỳ hiện thể nào trong ba hiện thể của y và có thể thuộc nhiều loại khác nhau. Hãy để Tôi chỉ ra vắn tắt một số phương pháp dùng để chống lại đệ tử, là những phương pháp duy nhất có liên quan đến người nghiên cứu những bức thư này: |
|
a—Definite attack on the physical body. All kinds of means are employed to hinder the usefulness of the disciple through disease or the crippling of his physical body. Not all accidents are the result of karma, for the disciple has usually surmounted a good deal of that type of karma and is thus comparatively free from that source of hindrance in active work. |
a—Tấn công trực tiếp vào thể xác. Chúng dùng mọi phương tiện để cản trở khả năng hữu ích của đệ tử thông qua bệnh tật hoặc làm thể xác y tàn phế. Không phải mọi tai nạn đều là kết quả của nghiệp quả, vì đệ tử thường đã vượt qua phần lớn loại nghiệp quả ấy, và vì thế tương đối thoát khỏi nguồn trở ngại này trong công việc tích cực. |
|
b—Glamour is another method used, or the casting over the disciple of a cloud of emotional or mental matter which suffices to hide the real, and to temporarily obscure that which is true. The study of the cases wherein glamour has been employed is exceedingly revealing and demonstrates how hard it is for even an advanced disciple always to discriminate between the real and the false, the true and the untrue. Glamour may be either on the [132] emotional or mental levels but is usually on the former. One form employed is to cast over the disciple the shadows of the thought of weakness or discouragement or criticism to which he may at intervals give way. Thus cast, they loom in undue proportion and the unwary disciple, not realising that he is but seeing the gigantic outlines of his own momentary and passing thoughts, gives way to discouragement, aye even to despair, and becomes of little use to the Great Ones. Another form is to throw into his mental aura suggestions and ideas purporting to come from his own Master but which are but subtle suggestions that hinder and help not. It takes a wise disciple always to discriminate between the voice of his real Teacher and the false whispers of the masquerading one, and even high initiates have been temporarily misled. |
b—Ảo cảm là một phương pháp khác được sử dụng, tức phủ lên đệ tử một đám mây vật chất cảm dục hoặc trí đủ để che khuất cái thực và tạm thời làm lu mờ điều chân thật. Nghiên cứu những trường hợp có sử dụng ảo cảm đem lại rất nhiều điều sáng tỏ và cho thấy ngay cả một đệ tử tiến bộ cũng khó luôn luôn phân biện giữa cái thực và cái giả, điều chân thật và điều không chân thật. Ảo cảm có thể ở [132] những cấp độ cảm dục hoặc trí, nhưng thường ở những cấp độ trước. Một hình thức được sử dụng là phủ lên đệ tử những bóng tối của tư tưởng yếu đuối, nản lòng hoặc chỉ trích mà đôi lúc y có thể sa vào. Khi được phóng ra như thế, chúng hiện lên với tầm vóc lớn quá mức, và đệ tử thiếu thận trọng, không nhận ra rằng mình chỉ đang thấy những đường nét khổng lồ của chính các tư tưởng nhất thời và thoáng qua, liền sa vào nản lòng, thậm chí tuyệt vọng, và trở nên ít hữu ích cho Các Đấng Cao Cả. Một hình thức khác là đưa vào hào quang trí của y những gợi ý và ý tưởng có vẻ đến từ chính Chân sư của y, nhưng thực ra chỉ là những gợi ý tinh vi gây trở ngại chứ không giúp ích. Chỉ một đệ tử sáng suốt mới luôn phân biện được giữa tiếng nói của huấn sư chân chính của mình và những lời thì thầm giả dối của kẻ đội lốt; ngay cả những điểm đạo đồ cấp cao cũng từng tạm thời bị dẫn lầm. |
|
Many and subtle are the means used to deceive and thereby curtail the effective output of the worker in the field of the world. Wisely therefore have all aspirants been enjoined to study and work at the development of viveka or that discrimination which safeguards from deception. If this quality is laboriously built in and cultivated in all events, big and little, in the daily life, the risks of being led astray will be nullified. |
Những phương tiện dùng để lừa dối, qua đó hạn chế hiệu quả của người hoạt động trong lĩnh vực thế gian, vừa nhiều vừa tinh vi. Vì vậy, thật sáng suốt khi mọi người chí nguyện đều được huấn thị nghiên cứu và nỗ lực phát triển viveka hay khả năng phân biện, tức khả năng bảo vệ khỏi sự lừa dối. Nếu phẩm tính này được kiên trì xây dựng và vun bồi trong mọi sự việc lớn nhỏ của đời sống hằng ngày, nguy cơ bị dẫn lạc đường sẽ bị vô hiệu hoá. |
|
c—A third method frequently employed is to envelop the disciple in a thick cloud of darkness, to surround him with an impenetrable night and fog through which he stumbles and often falls. It may take the form of a black cloud of emotional matter, of some dark emotion that seems to imperil all stable vibration and plunges the bewildered student into a blackness of despair; he feels that all is departing from him; he is a prey to varied and dismal emotions; he deems himself forsaken of all; he considers that all past effort has been futile and that naught remains but to die. At such times he needs much the gift [133] of viveka, and to earnestly weigh up and calmly reason out the matter. He should at these times remind himself that the darkness hides naught from the God within, and that the stable centre of consciousness remains there, untouched by aught that may betide. He should persevere until the end,—the end of what? The end of the enveloping cloud, the point where it merges itself into sunlight; he should pass through its length and out into the daylight, realising that nothing can at any time reach to and hurt the inner consciousness. God is within, no matter what transpires without. We are so apt to look out at environing circumstances, whether physical, astral or mental, and to forget that the inmost centre of the heart hides our points of contact with the Universal Logos. |
c—Một phương pháp thứ ba thường được sử dụng là bao phủ đệ tử trong một đám mây bóng tối dày đặc, vây quanh y bằng màn đêm và sương mù không thể xuyên thấu, khiến y bước loạng choạng và thường vấp ngã. Nó có thể mang hình thức một đám mây đen bằng vật chất cảm dục, một cảm xúc u ám nào đó dường như đe doạ mọi rung động ổn định và đẩy đạo sinh hoang mang vào bóng đen tuyệt vọng; y cảm thấy mọi thứ đang rời bỏ mình; y trở thành con mồi của nhiều cảm xúc ảm đạm khác nhau; y cho rằng tất cả đều bỏ rơi mình; y nghĩ mọi nỗ lực trước đây đều vô ích và chẳng còn gì ngoài cái chết. Những lúc ấy, y rất cần năng lực [133] phân biện, và cần nghiêm túc cân nhắc, bình tĩnh suy xét vấn đề. Vào những lúc này, y nên tự nhắc rằng bóng tối không che giấu được điều gì khỏi Thượng đế bên trong, và trung tâm tâm thức ổn định vẫn ở đó, không chịu tác động của bất cứ điều gì có thể xảy đến. Y nên kiên trì đến cùng,—đến cùng của điều gì? Đến cuối đám mây đang bao phủ, nơi nó tan vào ánh mặt trời; y nên đi xuyên qua toàn bộ đám mây và bước ra ánh sáng ban ngày, nhận ra rằng không có gì, vào bất cứ lúc nào, có thể chạm đến và làm tổn thương tâm thức bên trong. Thượng đế ở bên trong, bất kể điều gì xảy ra bên ngoài. Chúng ta quá dễ nhìn ra những hoàn cảnh quanh mình, dù thuộc hồng trần, cảm dục hay trí, và quên rằng trung tâm sâu thẳm nhất của trái tim ẩn chứa những điểm tiếp xúc của chúng ta với Thượng đế Vũ Trụ. |
|
d—Finally (for I cannot touch on all the methods used), the means employed may be to cast a mental darkness over the disciple. The darkness may be intellectual, and is consequently still more difficult to penetrate, for in this case the power of the Ego must be called in, whereas in the former frequently the calm reasoning of the lower mind may suffice to dispel the trouble. Here, in this specific case, the disciple will be wise if he not only attempts to call his Ego or Higher Self for the dispelling of the cloud, but calls likewise upon his Teacher, or even upon his Master, for the assistance that they can give. |
d—Cuối cùng (vì Tôi không thể đề cập mọi phương pháp được sử dụng), phương tiện có thể là phủ một màn tối trí tuệ lên đệ tử. Bóng tối ấy có thể thuộc trí năng, và do đó càng khó xuyên thấu hơn, vì trong trường hợp này phải cầu đến quyền năng của Chân ngã, trong khi ở trường hợp trước, sự suy xét bình tĩnh của hạ trí thường có thể đủ để xua tan khó khăn. Ở đây, trong trường hợp đặc thù này, đệ tử sẽ sáng suốt nếu không chỉ cố cầu gọi Chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu của mình để xua tan đám mây, mà còn cầu đến huấn sư, hoặc thậm chí Chân sư của mình, để nhận sự trợ giúp mà Các Ngài có thể ban. |
|
These are but a few of the dangers encircling the aspirant, and I hint at them solely for the purpose of warning and guidance, and not to cause alarm. You can here interpolate the earlier letter with the rules that I there give for the assistance of the disciple. |
Đây chỉ là một vài nguy hiểm vây quanh người chí nguyện, và Tôi chỉ gợi ra nhằm cảnh báo và hướng dẫn, chứ không để gây hoảng sợ. Ở đây, các bạn có thể đưa vào bức thư trước cùng những quy luật Tôi đã trình bày trong đó để trợ giúp đệ tử. |
|
September 25, 1919. |
Ngày 25 tháng 9 năm 1919. |
The Dark Brotherhood. – Huynh Đệ Đoàn Bóng Tối.
|
Today I seek to speak to you on the powers of the Dark Brotherhood. Certain laws that govern their actions, [134] certain methods employed by them in work need to be realised and certain methods of protection apprehended and utilised. As before I have told you the danger is as yet inappreciable to the majority, but more and more as time elapses shall we find it necessary to teach you, the physical plane workers, how to shield and guard yourselves from attack. |
Hôm nay, Tôi muốn nói với các bạn về những quyền năng của Huynh Đệ Đoàn Bóng Tối. Cần nhận biết một số định luật chi phối hành động của chúng, [134] một số phương pháp chúng sử dụng trong công việc, và cần nắm bắt, vận dụng một số phương pháp bảo vệ. Như trước đây Tôi đã nói, đối với đa số, nguy hiểm hiện vẫn không đáng kể; nhưng theo thời gian, chúng tôi sẽ ngày càng thấy cần dạy các bạn, những người hoạt động trên cõi hồng trần, cách che chở và bảo vệ mình khỏi sự tấn công. |
|
The Dark Brothers are—remember this always—brothers, erring and misguided yet still sons of the one Father though straying far, very far, into the land of distances. The way back for them will be long, but the mercy of evolution inevitably forces them back along the path of return in cycles far ahead. Anyone who over-exalts the concrete mind and permits it continuously to shut out the higher, is in danger of straying on the left-hand path. Many so stray…but come back, and then in the future avoid like errors in the same way as a child once burnt avoids the fire. It is the man who persists in spite of warning and of pain who eventually becomes a brother of darkness. Mightily fights the Ego at first to prevent the Personality so developing, but the deficiencies of the causal body (for forget not that our vices are but our virtues misused) result in a lop-sided causal body, over-developed in some direction and full of great gulfs and gaps where virtues should be. |
Các huynh đệ bóng tối—hãy luôn nhớ điều này—là huynh đệ, sai lầm và lạc lối nhưng vẫn là những người con của một Đấng Cha duy nhất, dù đã lang thang rất xa, rất xa vào miền cách biệt. Con đường trở về của chúng sẽ dài, nhưng lòng từ bi của tiến hoá tất yếu buộc chúng quay lại trên con đường trở về trong những chu kỳ còn xa ở phía trước. Bất cứ ai đề cao trí cụ thể quá mức và để nó liên tục ngăn chặn cái cao hơn đều có nguy cơ lạc vào tả đạo. Nhiều người đi lạc như vậy… nhưng quay lại, rồi trong tương lai tránh những lỗi tương tự, giống như một đứa trẻ từng bị bỏng sẽ tránh lửa. Chính người cứ khăng khăng bất chấp cảnh báo và đau đớn cuối cùng sẽ trở thành một huynh đệ bóng tối. Ban đầu, chân ngã đấu tranh mạnh mẽ để ngăn phàm ngã phát triển như thế, nhưng những khiếm khuyết của thể nguyên nhân (vì đừng quên rằng các thói xấu của chúng ta chỉ là những đức tính bị sử dụng sai) dẫn đến một thể nguyên nhân lệch lạc, phát triển quá mức theo một hướng nào đó, và đầy những vực sâu cùng khoảng trống lớn ở nơi đáng lẽ phải có các đức tính. |
|
The dark brother recognises no unity with his species, only seeing in them people to be exploited for the furtherance of his own ends. This then, on a small scale, is the mark of those who are being used by them wittingly or unwittingly. They respect no person, they regard all men as fair prey, they use everyone to get their own way enforced, and by fair means or foul they seek to break down all opposition and for the personal self acquire that which they desire. [135] |
Huynh đệ bóng tối không thừa nhận sự hợp nhất nào với đồng loại, chỉ xem họ là những người có thể khai thác để thúc đẩy mục đích riêng của mình. Vì vậy, ở quy mô nhỏ, đây là dấu hiệu của những người đang bị chúng sử dụng, dù biết hay không biết. Chúng không tôn trọng ai, xem mọi người là con mồi chính đáng, sử dụng mọi người để áp đặt ý muốn của mình, và bằng phương tiện ngay thẳng hay gian tà, tìm cách phá vỡ mọi sự chống đối và giành cho bản ngã cá nhân điều chúng ham muốn. [135] |
|
The dark brother considers not what suffering he may cause; he cares not what agony of mind he brings upon an opponent; he persists in his intention and desists not from the hurt of any man, woman or child, provided that in the process his own ends are furthered. Expect absolutely no mercy from those opposing the Brotherhood of Light. |
Huynh đệ bóng tối không nghĩ đến những đau khổ mình có thể gây ra; không quan tâm đến nỗi đau đớn trí tuệ mà mình đem đến cho đối thủ; cứ kiên trì với ý định và không ngừng làm tổn thương bất cứ người nam, người nữ hay trẻ em nào, miễn là qua đó mục đích riêng được thúc đẩy. Tuyệt đối đừng mong sự thương xót nào từ những kẻ chống đối Huynh Đệ Đoàn Ánh Sáng. |
|
On the physical plane and on the emotional plane, the dark brother has more power than the Brother of the Light,—not more power per se but more apparent power, because the White Brothers choose not to exert Their power on those two planes, as do the Dark Brothers. They could exert Their authority but They choose to refrain, working with the powers of evolution and not of involution. The elemental forces to be found on these two planes are manipulated by two factors. |
Trên cõi hồng trần và cõi cảm dục, huynh đệ bóng tối có nhiều quyền năng hơn Huynh Đệ Ánh Sáng,—không phải nhiều quyền năng hơn xét chính quyền năng ấy mà nhiều quyền năng biểu kiến hơn, vì các Huynh Đệ Chánh Đạo chọn không sử dụng quyền năng của Các Ngài trên hai cõi ấy như các huynh đệ bóng tối. Các Ngài có thể thực thi quyền uy nhưng chọn kiềm chế, làm việc với những quyền năng thăng thượng tiến hoá chứ không phải giáng hạ tiến hoá. Các mãnh lực hành khí trên hai cõi này chịu sự điều khiển của hai yếu tố. |
|
a—The inherent forces of evolution that direct all on to eventual perfection. The White Adepts co-operate in this. |
a—Các mãnh lực tiến hoá vốn có, hướng mọi sự đến sự hoàn thiện cuối cùng. Các Chân sư Chánh Đạo hợp tác trong việc này. |
|
b—The Dark Brothers who occasionally employ these elemental forces to wreak their will and vengeance on all opponents. Under their control work sometimes the elementals of the earth plane, the gnomes and the elemental essence as found in evil form, some of the brownies, and the fairy folk of colours brown, grey and sombre-hued. They cannot control the devas of high development, nor the fairies of colours blue, green and yellow, though a few of the red fairies can be made to work under their direction. The water elementals (though not the sprites or sylphs) move on occasion to their assistance, and in the control of these forces of involution they at times damage the furtherance of our work. [136] |
b—Các huynh đệ bóng tối, đôi khi sử dụng những mãnh lực hành khí này để thực hiện ý muốn và trả thù mọi đối thủ. Đôi khi hoạt động dưới sự kiểm soát của chúng là các hành khí trên cõi trần, các gnome và Tinh chất hành khí trong hình tướng tà ác, một số brownie, cùng các tiên có màu nâu, xám và sắc tối. Chúng không thể kiểm soát các thiên thần phát triển cao, cũng không thể kiểm soát các tiên màu xanh lam, xanh lục và vàng, dù có thể khiến một số tiên đỏ làm việc dưới sự chỉ đạo của chúng. Các hành khí của nước (nhưng không phải những tinh linh nhỏ hay các sylph) đôi khi đến trợ giúp chúng, và khi kiểm soát những mãnh lực giáng hạ tiến hoá này, chúng có lúc gây tổn hại cho sự tiến triển công việc của chúng ta. [136] |
|
Oft too the Dark Brother masquerades as an agent of the light, oft he poses as a messenger of the gods, but for your assurance I would say that he who acts under the guidance of the Ego will have clear vision, and will escape deception. |
Huynh đệ bóng tối cũng thường đội lốt một tác nhân của ánh sáng, thường tự nhận là sứ giả của các vị thần; nhưng để các bạn yên tâm, Tôi muốn nói rằng người hành động dưới sự hướng dẫn của chân ngã sẽ có tầm nhìn rõ ràng và thoát khỏi sự lừa dối. |
|
At this time their power is ofttimes mighty. Why? Because so much exists as yet in the Personalities of all men that respond to their vibration, and so it is easy for them to affect the bodies of men. So few of the races, comparatively speaking, have as yet built in the higher vibration that responds to the key-note of the Brotherhood of Light, who move practically entirely on the two highest levels (or the atomic and sub-atomic subplane) of the mental, emotional and physical planes. When moving on these subplanes the attacks of elementals on lower planes may be felt but effect no harm, hence the necessity of pure living and controlled pure emotions and elevated thought. |
Vào lúc này, quyền năng của chúng thường rất mạnh. Tại sao? Vì trong phàm ngã của mọi người vẫn còn rất nhiều điều đáp ứng với rung động của chúng, nên chúng dễ tác động lên các thể của con người. Nói một cách tương đối, rất ít người trong nhân loại đã xây dựng được rung động cao hơn đáp ứng với chủ âm của Huynh Đệ Đoàn Ánh Sáng, Các Ngài gần như hoàn toàn hoạt động trên hai cấp độ cao nhất (hay cõi phụ nguyên tử và dưới nguyên tử) của cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. Khi hoạt động trên những cõi phụ này, người ta có thể cảm nhận các cuộc tấn công của hành khí trên những cõi thấp hơn nhưng chúng không gây tổn hại; vì thế cần có đời sống thanh khiết, cảm xúc trong sạch được kiểm soát và tư tưởng cao thượng. |
|
You will notice that I said that the power of the Dark Brotherhood is dominant apparently on the physical and emotional planes. Not so is it on the mental, which is the plane on which the Brothers of the Light work. Mighty dark magicians may be located on the lower mental levels, but on the higher, the White Lodge dominates, the three higher subplanes being the levels that They beg the evolving sons of men to seek; it is Their region, to which all must strive and aspire. The Dark Brother impresses his will on human beings (if analogous vibration exists) and on the elemental kingdoms of involution. The Brothers of Light plead as pleaded the Man of Sorrows for an erring humanity to rise upward to the light. The Dark Brother retards progress and shapes all to his own ends; the Brother of Light bends every effort to the hastening [137] of evolution and—foregoing all that might be His as the price of achievement—stays amid the fogs, the strife, the evil and the hatred of the period if, in so doing, He may by all means aid some, and (lifting them up out of the darkness of earth) set their feet upon the Mount, and enable them to surmount the Cross. |
Các bạn sẽ nhận thấy Tôi đã nói quyền năng của Huynh Đệ Đoàn Bóng Tối dường như chiếm ưu thế trên cõi hồng trần và cõi cảm dục. Trên cõi trí thì không như vậy, vì đó là cõi các Huynh Đệ Ánh Sáng làm việc. Những nhà hắc thuật hùng mạnh có thể ở các cấp độ hạ trí, nhưng trên các cấp độ cao hơn, Thánh đoàn chiếm ưu thế; ba cõi phụ cao hơn là những cấp độ mà Các Ngài khẩn thiết kêu gọi những người con đang tiến hoá của nhân loại tìm đến; đó là miền của Các Ngài, nơi tất cả phải nỗ lực và khao khát hướng tới. Huynh đệ bóng tối áp đặt ý chí của mình lên con người (nếu có rung động tương đồng) và lên các giới hành khí giáng hạ tiến hoá. Các Huynh Đệ Ánh Sáng khẩn cầu nhân loại lầm lạc vươn lên ánh sáng, như Đấng Chịu Khổ từng khẩn cầu. Huynh đệ bóng tối làm chậm sự tiến bộ và uốn nắn mọi sự theo mục đích riêng; Huynh Đệ Ánh Sáng dốc mọi nỗ lực để thúc đẩy [137] tiến hoá và—từ bỏ tất cả những gì có thể thuộc về Ngài như phần thưởng của thành tựu—vẫn ở giữa sương mù, xung đột, điều ác và hận thù của thời đại nếu qua đó Ngài có thể bằng mọi cách giúp đỡ một số người, và (nâng họ khỏi bóng tối trần gian) đặt chân họ lên Núi, giúp họ vượt qua Thập Giá. |
|
And now what methods may be employed to safeguard the worker in the field of the world? What can be done to ensure his safety in the present strife and in the greater strife of the coming centuries? |
Vậy giờ đây, có thể sử dụng những phương pháp nào để bảo vệ người hoạt động trong lĩnh vực thế gian? Có thể làm gì để bảo đảm an toàn cho y trong cuộc xung đột hiện tại và cuộc xung đột lớn hơn của những thế kỷ sắp tới? |
|
1—A realisation that purity of all the vehicles is the prime essential. If a Dark Brother gains control over any man it but shows that that man has in his life some weak spot. The door whereby entrance is effected must be opened by the man himself; the opening whereby malignant force can be poured in must be caused by the occupant of the vehicles. Therefore the need of scrupulous cleanliness of the physical body, of clean steady emotions permitted in the emotional body, and of purity of thought in the mental body. When this is so, co-ordination will be present in the lower vehicles and the indwelling Thinker himself permits no entrance. |
1—Nhận biết rằng sự thanh khiết của mọi hiện thể là điều thiết yếu hàng đầu. Nếu một huynh đệ bóng tối kiểm soát được một người, điều đó chỉ cho thấy người ấy có một điểm yếu nào đó trong đời sống. Chính người ấy phải mở cánh cửa cho sự xâm nhập; chính người cư ngụ trong các hiện thể phải tạo ra lỗ hổng để mãnh lực độc ác có thể tràn vào. Vì vậy, cần giữ thể xác sạch sẽ nghiêm ngặt, chỉ cho phép những cảm xúc trong sạch và ổn định tồn tại trong thể cảm dục, và giữ tư tưởng thanh khiết trong thể trí. Khi được như thế, các hiện thể thấp sẽ phối hợp với nhau, và chính Chủ Thể Tư Tưởng ngự bên trong sẽ không cho phép sự xâm nhập nào. |
|
2—The elimination of all fear. The forces of evolution vibrate more rapidly than those of involution and in this fact lies a recognisable security. Fear causes weakness; weakness causes a disintegration; the weak spot breaks and a gap appears, and through that gap evil force may enter. The factor of entrance is the fear of the man himself, who opens thus the door. |
2—Loại bỏ mọi sợ hãi. Các mãnh lực thăng thượng tiến hoá rung động nhanh hơn các mãnh lực giáng hạ tiến hoá, và chính trong sự thật này có một sự bảo đảm an toàn có thể nhận biết. Sợ hãi gây yếu đuối; yếu đuối gây tan rã; điểm yếu bị phá vỡ và một lỗ hổng xuất hiện, qua đó mãnh lực tà ác có thể xâm nhập. Yếu tố mở đường cho sự xâm nhập là nỗi sợ của chính người ấy, qua đó y mở cửa. |
|
3—A standing firm and unmoved, no matter what occurs. Your feet may be bathed in the mud of earth, but your head may be bathed in the sunshine of the higher regions. Recognition of the filth of earth involves not contamination. [138] |
3—Đứng vững và bất lay chuyển, bất kể điều gì xảy ra. Chân các bạn có thể ngập trong bùn đất, nhưng đầu các bạn có thể tắm trong ánh mặt trời của những miền cao hơn. Nhận biết sự nhơ bẩn của trần gian không có nghĩa là bị ô nhiễm. [138] |
|
4—A Recognition of the use of common-sense and the application of this common-sense to the matter in hand. Sleep much and, in sleeping, learn to render the body positive; keep busy on the emotional plane and achieve the inner calm. Do naught to overtire the body physical, and play whenever possible. In hours of relaxation comes the adjustment that obviates later tension. [139] |
4—Nhận biết giá trị của lẽ thường và vận dụng lẽ thường ấy vào vấn đề đang xét. Hãy ngủ nhiều và trong khi ngủ, học cách làm cho thân thể có tính dương; hãy duy trì hoạt động trên cõi cảm dục và đạt sự bình tĩnh bên trong. Đừng làm gì khiến thể xác quá mệt, và hãy vui chơi bất cứ khi nào có thể. Trong những giờ thư giãn, sự điều chỉnh diễn ra giúp tránh căng thẳng về sau. [139] |
[1] tinh nghịch, tinh quái, ranh mãnh, láu lỉnh
[2] tính quái đản, tính kỳ cục
[3] tinh nghịch, tinh quái, ranh mãnh, láu lỉnh
[4] tính quái đản, tính kỳ cục
[5] lời phù phép, câu thần chú (để đuổi tà ma)
[6] lời phù phép, câu thần chú (để đuổi tà ma)
[7] Điều hão huyền; ảo tưởng
[8] Điều hão huyền; ảo tưởng
Liên kết bình giảng hiện có