Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Chương 5

📘 Sách: Thư về Tham thiền Huyền môn (new) – Tác giả: Alice Bailey

LETTER V—DANGERS TO BE AVOIDED IN MEDITATION

[Commentary 24]

LETTER V

THƯ V

DANGERS TO BE AVOIDED IN MEDITATION.

NHỮNG NGUY HIỂM CẦN TRÁNH TRONG THAM THIỀN.

l—Dangers inherent in the Personality.

l—Những nguy hiểm vốn có trong phàm ngã.

2—Dangers arising from Karma.

2—Những nguy hiểm phát sinh từ nghiệp quả.

3—Dangers arising from subtle forces. [88]

3—Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế. [88]

July 22, 1920.

Ngày 22 tháng 7, 1920.

July 22nd, 1920. 5 am.

Ngày 22 tháng 7, 1920. 5 giờ sáng.

The hour is quiet, brother of mine, there is no hurry, and as there seemeth but little to distract I thought I would continue the instructions on meditation. The time is brief before it is desired that you submit the book on meditation to those destined to publish. Much along the line of writing it is deemed desirable that you undertake in the immediate future. Let me briefly enumerate, prior to taking up the matter in hand.

Giờ này thật yên tĩnh, huynh đệ của tôi, không có gì vội vã, và vì dường như rất ít điều gây xao lãng nên tôi nghĩ tôi sẽ tiếp tục các chỉ dẫn về tham thiền. Thời gian còn ngắn trước khi người ta mong các bạn nộp cuốn sách về tham thiền cho những người được định sẽ xuất bản. Về việc viết lách theo hướng đó, người ta cho là điều đáng mong muốn rằng trong tương lai gần các bạn sẽ đảm nhận nhiều việc. Trước khi đi vào vấn đề đang bàn, tôi xin liệt kê vắn tắt.

1.  Finish certain articles for the first publication on evolution.

1. Hoàn tất một số bài viết cho ấn phẩm đầu tiên về tiến hoá.

2.  Finish and submit the letters on occult meditation.

2. Hoàn tất và nộp các bức thư về tham thiền huyền bí.

3.  Write some articles for independent publication on Psychism, the sex question and on symbolism.

3. Viết một số bài để xuất bản độc lập về thông linh, vấn đề tính dục và về biểu tượng học.

4.  Compile the Stanzas dictated and transcribe some others that I shall in ensuing days dictate.

4. Biên soạn các bài kệ đã được đọc cho chép lại và chép lại một số bài khác mà trong những ngày tới tôi sẽ đọc cho chép.

5.  Then enlarge and amplify your SD [The Secret Doctrine] outline, making it more generally useful, and securing the necessary able collaboration.

5. Rồi mở rộng và triển khai dàn ý SD [Giáo Lý Bí Nhiệm] của các bạn, làm cho nó hữu ích hơn một cách phổ quát, và bảo đảm sự cộng tác cần thiết của những người có năng lực.

6.  Finish your book on the Bible and submit for publication. Discuss with BPW the advisability of having this book printed over here.

6. Hoàn tất cuốn sách của các bạn về Kinh Thánh và nộp để xuất bản. Hãy bàn với BPW về việc có nên in cuốn sách này tại đây hay không.

In concluding these suggestions, brother of old, I would simply add,—in the pursuance of duty comes the conformity to the law, and where the law is followed comes the needed supply, and when obedience is the rule of life, comes revelation of the plan of the Great Ones for those whose karma permitteth liberation for work among the little ones.

Kết thúc các gợi ý này, huynh đệ của ngày xưa, tôi chỉ xin thêm rằng,—trong việc theo đuổi bổn phận có sự thuận theo định luật, và nơi nào định luật được tuân theo thì nơi đó có sự cung ứng cần thiết, và khi vâng phục trở thành quy luật của đời sống thì sẽ có sự mặc khải về Thiên Cơ của Các Đấng Cao Cả dành cho những ai mà nghiệp quả cho phép được giải thoát để làm việc giữa những kẻ bé nhỏ.

To take up our work on meditation: –

Giờ ta hãy tiếp tục công việc về tham thiền: –

The Withholding of Information.—Sự Giữ Lại Thông Tin.

We have reached a point now where the foundations of knowledge have been laid,—that knowledge which instills into the wise student the desire to submit to the necessary rules, to conform to the prescribed requirements, and to make the comprehended mental concepts practical experiences in daily life. This desire is wise and right, and the object of all that has been imparted, but at this juncture it may be wise to sound a warning note, to point out certain dangerous possibilities, and to put the student on his guard against an enthusiasm that may lead him along paths that will hinder development, and that may build up vibrations that will ultimately have to be offset. This entails delay and a recapitulation in work that (if realised in time) might be obviated.

Giờ đây chúng ta đã đến một điểm mà các nền tảng của tri thức đã được đặt xuống,—thứ tri thức gieo vào đạo sinh minh triết ước muốn phục tùng các quy luật cần thiết, thuận theo các yêu cầu đã được ấn định, và biến các khái niệm trí tuệ đã thấu hiểu thành những kinh nghiệm thực tiễn trong đời sống hằng ngày. Ước muốn này là minh triết và đúng đắn, và là mục tiêu của tất cả những gì đã được truyền đạt; nhưng ở bước ngoặt này, có lẽ khôn ngoan khi phát ra một âm điệu cảnh báo, chỉ ra một số khả năng nguy hiểm, và đặt đạo sinh vào thế cảnh giác trước một nhiệt tình có thể dẫn y đi theo những con đường sẽ cản trở sự phát triển, và có thể tạo dựng những rung động mà rốt cuộc sẽ phải được hóa giải. Điều này kéo theo sự trì hoãn và một sự ôn lại trong công việc mà (nếu được nhận ra kịp thời) có thể tránh được.

Certain statements and instructions cannot be made or given in writing to students for three reasons:—

Một số phát biểu và chỉ dẫn không thể được viết ra hoặc trao bằng văn bản cho đạo sinh vì ba lý do:—

l—Some instructions are always given orally, as they appeal to the intuition and are not for the pondering and logical reasoning of lower mind; they also contain elements of danger if submitted to the unready.

l—Một số chỉ dẫn luôn được truyền đạt bằng lời nói, vì chúng đánh động trực giác và không dành cho sự nghiền ngẫm và suy luận logic của hạ trí; chúng cũng chứa các yếu tố nguy hiểm nếu trao cho người chưa sẵn sàng.

2—Some instructions pertain to the secrets of the Path, and are mainly applicable to the groups to which the student is attached; they can only be given in joint instruction when out of the physical body. They pertain to the group causal body, to certain ray secrets, and to the invoking of the assistance of the higher devas to bring [89] about desired results. The dangers attached thereto are too great to permit of their being communicated in an exoteric publication. The occult effects of the spoken word and of the written word are diverse and interesting. Until such time as you have among you a wise Teacher in physical person, and until it is possible for Him to gather around Him His students, thus affording them the protection of His aura and its stimulating vibration, and until such time as world conditions permit of a certain period of relaxation from the present strain and suspense, it will not be possible to impart forms, invocations and mantrams of a specific character; it will not be possible to arouse the centres ahead of the necessary evolutionary rate, except in a few individual cases where certain pupils (perhaps unconsciously to themselves) are being subjected to definite processes, which result in a greatly increased rate of vibration. This is only being done to a few in each country, and is directly under the eye of a Master, focusing through H.P.B.

2—Một số chỉ dẫn liên quan đến các bí mật của Con Đường, và chủ yếu áp dụng cho các nhóm mà đạo sinh gắn bó; chúng chỉ có thể được trao trong sự huấn luyện chung khi ra khỏi thể xác. Chúng liên quan đến thể nguyên nhân nhóm, đến một số bí mật về cung, và đến việc khẩn cầu sự trợ giúp của các thiên thần cao hơn để [89] đem lại các kết quả mong muốn. Những nguy hiểm gắn liền với chúng quá lớn nên không thể cho phép truyền đạt trong một ấn phẩm ngoại môn. Các hiệu ứng huyền bí của lời nói và của chữ viết thì đa dạng và đáng suy ngẫm. Cho đến khi nào trong số các bạn có một huấn sư minh triết hiện diện bằng thân xác, và cho đến khi Ngài có thể quy tụ quanh Ngài các đạo sinh của Ngài, nhờ đó ban cho họ sự bảo vệ của hào quang Ngài và rung động kích thích của nó, và cho đến khi nào các điều kiện thế gian cho phép có một giai đoạn thư giãn nhất định khỏi sự căng thẳng và hồi hộp hiện nay, thì sẽ không thể truyền đạt các hình thức, các lời khẩn cầu và các mantram có tính chất đặc thù; sẽ không thể khơi dậy các trung tâm vượt trước tốc độ tiến hoá cần thiết, ngoại trừ trong một vài trường hợp cá nhân nơi một số môn sinh (có lẽ chính họ cũng không ý thức) đang chịu những tiến trình xác định, đưa đến một tốc độ rung động tăng lên rất lớn. Điều này chỉ đang được thực hiện đối với một số ít ở mỗi quốc gia, và trực tiếp dưới mắt của một Chân sư, tập trung qua Bà H.P.B.

3—Information as to the invoking of devas in meditation cannot yet be safely given to individuals, though a beginning is being made with groups such as in the rituals of the Masons and of the Church. Formulas that put the lesser devas under the control of man will not yet he imparted. Human beings are not yet to be trusted with that power, for the majority are but animated by selfish desire and would misuse it for their own ends. It is deemed by the wise Teachers of the race,—as I think I have before said—that the dangers of too little knowledge are much less than the dangers of too much, and that the race can be more seriously hindered by the misapplication of powers gained by incipient occultists than it can by a lack of knowledge that engenders not karmic results. The powers gained in meditation, the [90] capacities achieved by the adjustment of the bodies through meditation, the faculties developed in each vehicle by definite formulas in meditation, the manipulation of matter that is one of the functions of the occultist (the result of well-adjusted vehicles that respond perfectly to plane conditions) and the attainment of causal consciousness—a consciousness that carries with it the ability to include within itself all the lesser—are of too serious a character to be lightly disposed of, and in the training of man along these lines only those are encouraged by the teacher who can be trusted. Trusted in what sense? Trusted to think in group terms and not in terms of self, trusted to use the knowledge gained anent the bodies and the karma of environing associates solely for their wise assistance and not for selfish purposes, and trusted to use occult powers for the furtherance of evolution and for the development on all planes of the schemes of evolution as planned by the three Great Lords.

3—Thông tin về việc khẩn cầu các thiên thần trong tham thiền hiện vẫn chưa thể được trao một cách an toàn cho các cá nhân, dù một khởi đầu đang được thực hiện với các nhóm như trong các nghi lễ của Hội Tam Điểm và của Giáo hội. Những công thức đặt các thiên thần bậc thấp dưới sự kiểm soát của con người vẫn chưa được truyền dạy. Con người vẫn chưa thể được tin cậy với quyền năng đó, vì đa số chỉ được thúc đẩy bởi dục vọng ích kỷ và sẽ lạm dụng nó cho mục đích riêng. Theo nhận định của các huấn sư minh triết của nhân loại,—như tôi nghĩ tôi đã nói trước đây—rằng những nguy hiểm của quá ít tri thức nhỏ hơn nhiều so với những nguy hiểm của quá nhiều tri thức, và rằng nhân loại có thể bị cản trở nghiêm trọng hơn bởi sự lạm dụng các quyền năng mà các nhà huyền bí học mới chớm đạt được, hơn là bởi sự thiếu tri thức vốn không tạo ra các kết quả nghiệp quả. Các quyền năng đạt được trong tham thiền, các [90] năng lực đạt được nhờ sự điều chỉnh các thể qua tham thiền, các khả năng được phát triển trong mỗi vận cụ nhờ các công thức xác định trong tham thiền, sự thao tác vật chất vốn là một trong các chức năng của nhà huyền bí học (kết quả của các vận cụ được điều chỉnh tốt, đáp ứng hoàn hảo với các điều kiện của cõi), và sự đạt được tâm thức nguyên nhân—một tâm thức mang theo khả năng bao gồm trong chính nó tất cả những cái nhỏ hơn—đều có tính chất quá nghiêm trọng để có thể tùy tiện trao đi; và trong việc huấn luyện con người theo các đường lối này, chỉ những ai có thể được tin cậy mới được huấn sư khuyến khích. Tin cậy theo nghĩa nào? Tin cậy rằng họ suy nghĩ theo thuật ngữ nhóm chứ không theo thuật ngữ bản ngã, tin cậy rằng họ dùng tri thức đạt được liên quan đến các thể và nghiệp quả của những người cộng sự chung quanh chỉ để trợ giúp một cách minh triết chứ không vì mục đích ích kỷ, và tin cậy rằng họ dùng các quyền năng huyền bí để thúc đẩy tiến hoá và để phát triển trên mọi cõi các hệ tiến hoá như đã được hoạch định bởi ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại.

Let me illustrate:—

Tôi xin minh hoạ:—

One of the things accomplished in meditation when pursued with regularity and under correct instruction is the transference of the consciousness of the lower self into the higher. This carries with it the capacity to see on causal levels, intuitively to recognize facts in the lives of others, to foresee events and occurrences and to know the relative value of a personality. This can only be permitted when the student can be silent, selfless and stable. Who as yet answers to all these requirements?

Một trong những điều được thành tựu trong tham thiền khi được theo đuổi đều đặn và dưới sự chỉ dẫn đúng đắn là sự chuyển dịch tâm thức của phàm ngã vào cái cao hơn. Điều này mang theo năng lực thấy ở các cấp độ nguyên nhân, trực giác nhận ra các sự kiện trong đời sống của người khác, thấy trước các biến cố và sự việc, và biết giá trị tương đối của một phàm ngã. Điều này chỉ có thể được cho phép khi đạo sinh có thể im lặng, vô ngã và ổn định. Ai cho đến nay đáp ứng được tất cả các yêu cầu ấy?

I am endeavoring to give you a general idea of the dangers incident to the too early development of the powers achieved in meditation. I seek to sound a note—not of discouragement—but of insistence upon physical purity, on emotional stability and on mental equilibrium before the student passes on to greater knowledge. Only [91] as the channel opens to the intuition and closes to the animal nature can a man wisely proceed with his work. Only as the heart enlarges its capacity to suffer with all that breathes, to love all that is contacted, and to understand and sympathise with the least desirable of God’s creatures, can the work go forward as desired. Only when the development is equable, only when the intellect runs not too far ahead of the heart, and the mental vibration shuts not out the higher one of the Spirit can the student be trusted to acquire powers that, wrongly used, may result in disaster to his environment as well as to himself. Only as he formulates no thoughts save such as he purposes to make for the helping of the world can he be trusted wisely to manipulate thought matter. Only as he has no desire save to find out the plans of the Master, and then to assist definitely in making those plans facts in manifestation, can he be trusted with the formulas that will bring the devas of lesser degree under his control. The dangers are so great and the perils that beset the unwary student so many that before I proceed further I have sought to urge caution.

Tôi đang cố gắng đem đến cho các bạn một ý niệm tổng quát về những nguy hiểm đi kèm với sự phát triển quá sớm các quyền năng đạt được trong tham thiền. Tôi muốn phát ra một âm điệu—không phải để làm nản lòng—mà để nhấn mạnh sự cần thiết của sự thanh khiết thể xác, sự ổn định cảm xúc và sự quân bình trí tuệ trước khi đạo sinh bước sang tri thức lớn hơn. Chỉ [91] khi kênh mở ra với trực giác và khép lại với bản chất thú tính thì con người mới có thể tiến hành công việc một cách minh triết. Chỉ khi trái tim mở rộng năng lực chịu khổ cùng mọi loài thở, yêu thương mọi điều tiếp xúc, và thấu hiểu cùng cảm thông với những tạo vật kém đáng ưa nhất của Thượng đế, thì công việc mới có thể tiến triển như mong muốn. Chỉ khi sự phát triển là điều hoà, chỉ khi trí tuệ không chạy quá xa trước trái tim, và rung động thể trí không loại trừ rung động cao hơn của tinh thần, thì đạo sinh mới có thể được tin cậy để đạt các quyền năng mà, nếu dùng sai, có thể dẫn đến tai hoạ cho môi trường của y cũng như cho chính y. Chỉ khi y không hình thành tư tưởng nào ngoài những tư tưởng y dự định tạo ra để giúp đỡ thế gian thì y mới có thể được tin cậy để thao tác chất liệu tư tưởng một cách minh triết. Chỉ khi y không có ước muốn nào ngoài việc tìm ra các kế hoạch của Chân sư, rồi trợ giúp một cách xác định để biến các kế hoạch ấy thành sự kiện trong biểu lộ, thì y mới có thể được tin cậy với các công thức sẽ đưa các thiên thần bậc thấp dưới sự kiểm soát của y. Những nguy hiểm quá lớn và những hiểm hoạ vây quanh đạo sinh bất cẩn quá nhiều, nên trước khi tôi đi xa hơn, tôi đã tìm cách thúc giục sự thận trọng.

Let us now specify and enumerate certain dangers that must be guarded against by the man who progresses in meditation. Some of them are due to one cause and some to another, and we shall have to specify with accuracy.

Giờ ta hãy xác định và liệt kê một số nguy hiểm mà người tiến bộ trong tham thiền phải canh phòng. Một số do nguyên nhân này, một số do nguyên nhân khác, và chúng ta sẽ phải nêu rõ một cách chính xác.

l—Dangers inherent in the Personality of the pupil. They can, as you foresee, be grouped under the three heads:—physical dangers, emotional dangers, and mental dangers.

l—Những nguy hiểm vốn có trong phàm ngã của môn sinh. Như các bạn thấy trước, chúng có thể được nhóm dưới ba đề mục:—nguy hiểm thể xác, nguy hiểm cảm xúc, và nguy hiểm thể trí.

2—Dangers arising from the karma of the pupil, and from his environment. These also may be enumerated under three divisions: [92]

2—Những nguy hiểm phát sinh từ nghiệp quả của môn sinh, và từ môi trường của y. Những điều này cũng có thể được liệt kê dưới ba phân mục: [92]

a—The karma of his present life, his own individual “ring-pass-not,” as represented by his present life.

a—Nghiệp quả của đời sống hiện tại của y, “vòng-giới-hạn” cá nhân của chính y, như được biểu thị bởi đời sống hiện tại của y.

b—His national heredity and instincts as, for instance, whether he possesses an occidental or an oriental type of body.

b—Di truyền và bản năng dân tộc của y, như chẳng hạn, liệu y có một loại thể xác kiểu Tây phương hay Đông phương.

c—His group affiliations, whether exoteric or esoteric.

c—Những liên hệ nhóm của y, dù ngoại môn hay nội môn.

3—Dangers arising from the subtle forces that you ignorantly call evil; such dangers consist in attack on the pupil by extraneous entities on some one plane. These entities may simply be discarnate human beings; they may be the denizens of the other planes who are nonhuman; later on, when the student is of sufficient importance to attract notice, the attack may come from those who deal purely with matter to the hindrance of spiritual growth,—the black magicians, the dark brothers, and other forces that appear destructive. This appearance is only such when viewed from the angle of time and in our three worlds, and is but incidental to the fact that our Logos Himself is also evolving, and (from the standpoint of the infinitely greater Ones Who assist Him in His development) it is dependent upon His transitory imperfections. The imperfections of nature—as we term them—are the imperfections of the Logos, and will eventually be transcended.

3—Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế mà các bạn vô minh gọi là ác; những nguy hiểm như vậy gồm sự tấn công vào môn sinh bởi các thực thể ngoại lai trên một cõi nào đó. Các thực thể này có thể chỉ là những con người đã lìa xác; chúng có thể là cư dân của các cõi khác không phải loài người; về sau, khi đạo sinh đủ quan trọng để thu hút sự chú ý, sự tấn công có thể đến từ những kẻ chỉ xử lý thuần vật chất nhằm cản trở sự tăng trưởng tinh thần,—các nhà hắc thuật, các huynh đệ bóng tối, và những mãnh lực khác có vẻ mang tính huỷ diệt. Sự “có vẻ” này chỉ là như vậy khi được nhìn từ góc độ thời gian và trong ba cõi giới của chúng ta, và chỉ là điều phụ thuộc vào sự kiện rằng chính Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng đang tiến hoá, và (từ quan điểm của Các Đấng vô cùng vĩ đại hơn, những Đấng trợ giúp Ngài trong sự phát triển của Ngài) nó tuỳ thuộc vào những bất toàn tạm thời của Ngài. Những bất toàn của bản chất—như chúng ta gọi—là những bất toàn của Hành Tinh Thượng đế, và rốt cuộc sẽ được siêu vượt.

I have therefore outlined for you this morning the material I shall seek to impart during the coming days.

Vì vậy, sáng nay tôi đã phác thảo cho các bạn chất liệu mà tôi sẽ tìm cách truyền đạt trong những ngày sắp tới.

[Commentary 25]

July 24, 1920.

Ngày 24 tháng 7, 1920.

The dangers that beset the student of meditation are dependent upon many factors, and it will not be possible to do more than briefly indicate certain menacing conditions, to warn against certain disastrous possibilities, and to caution the pupil against results that are to be [93] reached by undue strain, by over-excess of zeal, and by a one-pointedness that may lead to an unbalanced development. One-pointedness is a virtue, but it should be the one-pointedness of purpose and of aim, and not that which develops one sole line of method to the exclusion of all others.

Những nguy hiểm vây quanh đạo sinh tham thiền tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, và sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra vắn tắt một số điều kiện đe doạ, cảnh báo một số khả năng tai hại, và khuyến cáo môn sinh về những kết quả sẽ [93] đạt được do căng thẳng quá mức, do nhiệt tâm thái quá, và do tính nhất tâm có thể dẫn đến một sự phát triển mất quân bình. Nhất tâm là một đức hạnh, nhưng đó phải là nhất tâm về mục đích và về hướng nhắm, chứ không phải thứ nhất tâm phát triển một đường lối phương pháp duy nhất để loại trừ tất cả những đường lối khác.

The dangers of meditation are largely the dangers of our virtues, and therein lies much of the difficulty. They are largely the dangers of a fine mental concept that runs ahead of the capacity of the lower vehicles, especially of the dense physical. Aspiration, concentration and determination are necessary virtues, but if used without discrimination and without a sense of time in evolution they may lead to a shattering of the physical vehicle that will delay all progress for some one particular life. Have I made my point clear? I seek but to bring out the absolute necessity for the occult student to have a virile common sense for one of his basic qualities, coupled with a happy sense of proportion that leads to due caution and an approximation of the necessary method to the immediate need. To the man therefore who undertakes wholeheartedly the process of occult meditation I would say with all conciseness:—

Những nguy hiểm của tham thiền phần lớn là những nguy hiểm của chính các đức hạnh của chúng ta, và ở đây có nhiều điều đáng suy ngẫm. Chúng phần lớn là những nguy hiểm của một khái niệm trí tuệ tinh tế chạy trước năng lực của các vận cụ thấp, đặc biệt là thể xác đậm đặc. Khát vọng, tập trung và quyết tâm là những đức hạnh cần thiết, nhưng nếu được dùng không có phân biện và không có ý thức về thời gian trong tiến hoá, chúng có thể dẫn đến sự phá vỡ vận cụ thể xác, điều sẽ làm trì hoãn mọi tiến bộ trong một đời sống nào đó. Tôi đã làm rõ ý của tôi chưa? Tôi chỉ muốn nêu bật sự cần thiết tuyệt đối rằng đạo sinh huyền bí phải có một lẽ thường mạnh mẽ như một trong những phẩm tính nền tảng, đi kèm với một Ý thức về tỉ lệ vui tươi dẫn đến sự thận trọng thích đáng và một sự xấp xỉ phương pháp cần thiết với nhu cầu trước mắt. Vì vậy, đối với người dốc lòng thực hiện tiến trình tham thiền huyền bí, tôi sẽ nói thật ngắn gọn:—

a—Know thyself.

a—Hãy biết chính mình.

b—Proceed slowly and with caution.

b—Hãy tiến chậm và thận trọng.

c—Study effects.

c—Hãy nghiên cứu các hiệu quả.

d—Cultivate the realisation that eternity is long and that that which is slowly built up endures forever.

d—Hãy nuôi dưỡng sự chứng nghiệm rằng vĩnh cửu là dài lâu và rằng điều được xây dựng chậm rãi thì trường tồn mãi mãi.

e—Aim at regularity.

e—Hãy nhắm đến tính đều đặn.

f—Realise always that the true spiritual effects are to be seen in the exoteric life of service.

f—Hãy luôn chứng nghiệm rằng các hiệu quả tinh thần chân thật được thấy trong đời sống ngoại môn phụng sự.

g—Remember likewise that psychic phenomena are no indication of a successful following of meditation. The world will see the effects and be a better [94] judge than the student himself. Above all, the Master will know, for the results on causal levels will be apparent to Him long before the man himself is conscious of any progress.

g—Cũng hãy nhớ rằng các hiện tượng thông linh không phải là dấu hiệu của việc theo đuổi tham thiền thành công. Thế gian sẽ thấy các hiệu quả và sẽ là [94] người phán đoán tốt hơn chính đạo sinh. Trên hết, Chân sư sẽ biết, vì các kết quả ở các cấp độ nguyên nhân sẽ hiển nhiên đối với Ngài từ rất lâu trước khi chính người ấy ý thức được bất kỳ tiến bộ nào.

Let us now take up these points in detail.

Giờ ta hãy đi vào các điểm này một cách chi tiết.

Dangers inherent in the Personality.—Những nguy hiểm vốn có trong phàm ngã.

Let us, therefore, consider first those dangers most closely connected with the man’s own personal life, and which are dependent upon his three bodies, their separate condition and their interrelation. This subject is so vast that it will not be possible to do more than indicate certain results due to certain conditions; each man presents a different problem, and each body causes a different reaction, and each totality in his threefold nature is affected by its alignment or by its lack of alignment. Let us take each body separately at first and then in their threefold totality. In this way some specific facts may be imparted.

Vì vậy, trước hết ta hãy xét những nguy hiểm gắn chặt nhất với đời sống cá nhân của chính con người, và tuỳ thuộc vào ba thể của y, tình trạng riêng rẽ của chúng và mối tương quan giữa chúng. Chủ đề này quá rộng nên sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một số kết quả do một số điều kiện; mỗi người nêu ra một vấn đề khác nhau, mỗi thể gây ra một phản ứng khác nhau, và toàn bộ tam phân của y bị ảnh hưởng bởi sự chỉnh hợp hoặc bởi sự thiếu chỉnh hợp. Trước hết, ta hãy xét từng thể riêng rẽ rồi xét trong toàn bộ tam phân. Bằng cách này, một số sự kiện cụ thể có thể được truyền đạt.

I begin with the mental body as it is for the student of meditation the one that is the centre of his effort and the one that controls the two lower bodies. The true student seeks to draw his consciousness away from his physical body, and away from the emotional body into the realms of thought, or into the lower mind body. Having achieved that much, he seeks then to transcend that lower mind and to become polarised in the causal body, using the antahkarana, as the channel of communication between the higher and the lower, the physical brain being then but the quiescent receiver of that which is transmitted from the Ego or Higher Self and later from the threefold Spirit, the Triad. The work to be done necessitates a working from the periphery inwards, and a consequent centralisation. Having achieved that [95] centralisation and focussed in that stable centre—with the solar plexus and the heart quiet—a point within the head, one of the three major head centres, becomes the centre of consciousness, the ray of a man’s ego deciding which that centre will be. This is the method of the majority. Then that point having been reached, a man will follow the meditation of his ray as indicated to you in general terms earlier in these letters. In each case, the mental body becomes the centre of consciousness and then later—through practice—it becomes the point of departure for the transference of the polarisation into a higher body, first the causal and later into the Triad.

Tôi bắt đầu với thể trí vì đối với đạo sinh tham thiền, đây là thể là trung tâm nỗ lực của y và là thể kiểm soát hai thể thấp hơn. Đạo sinh chân chính tìm cách rút tâm thức khỏi thể xác, và khỏi thể cảm dục để đi vào các cõi của tư tưởng, hay vào thể hạ trí. Đạt được chừng ấy, y rồi tìm cách siêu vượt hạ trí đó và trở nên phân cực trong thể nguyên nhân, dùng antahkarana như kênh giao tiếp giữa cái cao và cái thấp, khi ấy bộ não thể xác chỉ là kẻ tiếp nhận yên lặng của điều được truyền xuống từ Chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu và về sau từ tinh thần tam phân, Tam nguyên tinh thần. Công việc cần làm đòi hỏi một sự vận hành từ chu vi vào bên trong, và do đó là một sự tập trung hoá. Khi đã đạt được sự tập trung hoá đó và hội tụ trong trung tâm ổn định ấy—với tùng thái dương và tim yên lặng—một điểm trong đầu, một trong ba trung tâm chính của đầu, trở thành trung tâm của tâm thức, và cung chân ngã của một người quyết định trung tâm đó sẽ là gì. Đây là phương pháp của đa số. Rồi khi đã đạt đến điểm ấy, một người sẽ theo bài thiền của cung mình như đã được chỉ ra cho các bạn theo các thuật ngữ tổng quát trước đó trong các bức thư này. Trong mỗi trường hợp, thể trí trở thành trung tâm của tâm thức và rồi về sau—qua thực hành—nó trở thành điểm xuất phát cho sự chuyển dịch phân cực vào một thể cao hơn, trước hết là thể nguyên nhân và về sau vào Tam nguyên tinh thần.

The dangers to the mental body are very real and must be guarded against. They are paramountly two, and might be termed the dangers of inhibition and those due to the atrophying of the body.

Những nguy hiểm đối với thể trí là rất thực và phải được canh phòng. Chúng chủ yếu có hai, và có thể gọi là những nguy hiểm của sự ức chế và những nguy hiểm do sự teo mòn của thể.

a—Let us take first the dangers due to inhibition. Some people, by their sheer strength of will, reach a point in meditation where they directly inhibit the processes of the lower mind. If you picture the mental body as an ovoid, surrounding the physical body and extending much beyond it, and if you realise that through that ovoid are constantly circulating thoughtforms of various kinds (the content of the man’s mind and the thoughts of his environing associates) so that the mental egg is coloured by predominant attractions and diversified by many geometrical forms, all in a state of flux or circulation, you may get some idea of what I mean. When a man proceeds to quiet that mental body by inhibiting or suppressing all movement, he will arrest these thoughtforms within the mental ovoid, he will stop circulation and may bring about results of a serious nature. This inhibition has a direct effect upon the physical brain, and is the cause of much of the fatigue complained of after a period [96] of meditation. If persisted in, it may lead to disaster. All beginners do it more or less, and until they learn to guard against it they will stultify their progress and retard development. The results may indeed be more serious.

a—Trước hết, ta hãy xét những nguy hiểm do ức chế. Một số người, nhờ sức mạnh ý chí thuần tuý, đạt đến một điểm trong tham thiền nơi họ trực tiếp ức chế các tiến trình của hạ trí. Nếu các bạn hình dung thể trí như một hình bầu dục bao quanh thể xác và vươn ra vượt xa nó, và nếu các bạn nhận ra rằng xuyên qua hình bầu dục ấy luôn luôn lưu chuyển các hình tư tưởng thuộc nhiều loại (nội dung của thể trí người ấy và các tư tưởng của những người cộng sự chung quanh) khiến cho noãn thể trí được nhuộm màu bởi các hấp lực trội bật và được đa dạng hoá bởi nhiều hình học, tất cả trong một trạng thái biến dịch hay lưu chuyển, các bạn có thể có một ý niệm về điều tôi muốn nói. Khi một người tiến hành làm yên thể trí ấy bằng cách ức chế hay đè nén mọi chuyển động, y sẽ giữ các hình tư tưởng lại trong hình bầu dục thể trí, y sẽ ngăn dòng lưu chuyển và có thể gây ra những kết quả nghiêm trọng. Sự ức chế này tác động trực tiếp lên bộ não thể xác, và là nguyên nhân của phần lớn sự mệt mỏi được than phiền sau một thời kỳ [96] tham thiền. Nếu kéo dài, nó có thể dẫn đến tai hoạ. Tất cả người mới bắt đầu đều làm như vậy ít nhiều, và cho đến khi họ học cách canh phòng điều đó, họ sẽ làm cho tiến bộ của mình bị trì trệ và làm chậm sự phát triển. Các kết quả quả thật có thể nghiêm trọng hơn.

What are the right methods of thought elimination? How can placidity of mind be achieved without the use of the will in inhibition? The following suggestions may be found useful and helpful:—

Những phương pháp đúng để loại bỏ tư tưởng là gì? Làm sao có thể đạt được sự an tĩnh của thể trí mà không dùng ý chí để ức chế? Những gợi ý sau có thể hữu ích và trợ giúp:—

The student having withdrawn his consciousness on to the mental plane at some point within the brain, let him sound forth the Sacred Word gently three times. Let him picture the breath sent forth as a clarifying, expurgating force that in its progress onward sweeps away the thoughtforms circulating within the mental ovoid. Let him then at the close realise that the mental body is free and clear of thoughtforms.

Đạo sinh, sau khi đã rút tâm thức lên cõi trí tại một điểm nào đó trong bộ não, hãy nhẹ nhàng xướng Linh từ Thiêng Liêng ba lần. Hãy hình dung hơi thở được phóng ra như một mãnh lực làm trong sạch, tẩy trừ, và trong tiến trình đi tới của nó quét sạch các hình tư tưởng đang lưu chuyển trong hình bầu dục thể trí. Rồi, khi kết thúc, hãy chứng nghiệm rằng thể trí đã tự do và trong sạch khỏi các hình tư tưởng.

Let him then raise his vibration as high as may be, and aim next at lifting it clear of the mental body into the causal, and so bring in the direct action of the Ego upon the lower three vehicles. As long as he can keep his consciousness high and as long as he holds a vibration that is that of the Ego on its own plane, the mental body will be held in a state of equilibrium. It will hold no lower vibration analogous to the thoughtforms circulating in its environment. The force of the Ego will circulate throughout the mental ovoid, permitting no extraneous geometrical units to find entrance, and the dangers of inhibition will be offset. Even more will be done,—the mental matter will in process of time become so attuned to the higher vibration that in due course that vibration will become stable and will automatically throw off all that is lower and undesirable.

Rồi hãy nâng rung động của mình lên cao nhất có thể, và kế đó nhắm đến việc nâng nó vượt khỏi thể trí vào thể nguyên nhân, và do đó đem vào tác động trực tiếp của Chân ngã lên ba vận cụ thấp. Chừng nào y có thể giữ tâm thức ở cao và chừng nào y giữ một rung động là rung động của Chân ngã trên chính cõi của nó, thì thể trí sẽ được giữ trong trạng thái quân bình. Nó sẽ không giữ rung động thấp nào tương tự các hình tư tưởng đang lưu chuyển trong môi trường của nó. Mãnh lực của Chân ngã sẽ lưu chuyển khắp hình bầu dục thể trí, không cho phép bất kỳ đơn vị hình học ngoại lai nào tìm được lối vào, và những nguy hiểm của ức chế sẽ được hóa giải. Thậm chí còn hơn thế sẽ được thực hiện,—chất liệu thể trí theo thời gian sẽ trở nên được điều chỉnh với rung động cao hơn đến mức, đúng kỳ, rung động ấy sẽ trở nên ổn định và sẽ tự động loại bỏ tất cả những gì thấp và không mong muốn.

b—What do I mean by the dangers of atrophy? [97] Simply this: Some natures become so polarised on the mental plane that they run the risk of breaking connection with the two lower vehicles. These lower bodies exist for purposes of contact, for the apprehension of knowledge on the lower planes and for reasons of experience in order that the content of the causal body may be increased. Therefore it will be apparent to you that if the indwelling consciousness comes no lower than the mental plane and neglects the body of emotions and the dense physical, two things will result. The lower vehicles will be neglected and useless and fail in their purposes, atrophying and dying from the point of view of the Ego, whilst the causal body itself will not be built as desired and so time will be lost. The mental body will be rendered useless likewise, and will become a thing of selfish content, of no use in the world and of littler value. A dreamer whose dreams never materialise, a builder who stores up material which he never employs, a visionary whose visions are of no use to gods or men, is a clog upon the system universal. He is in great danger of atrophying.

b—Tôi muốn nói gì về những nguy hiểm của sự teo mòn? [97] Đơn giản là thế này: Một số bản chất trở nên phân cực quá mạnh trên cõi trí đến mức họ có nguy cơ cắt đứt liên hệ với hai vận cụ thấp. Hai thể thấp này tồn tại vì mục đích tiếp xúc, để tiếp nhận tri thức trên các cõi thấp và vì những lý do kinh nghiệm nhằm làm tăng nội dung của thể nguyên nhân. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng nếu tâm thức nội tại không đi xuống thấp hơn cõi trí và bỏ bê thể cảm dục cùng thể xác đậm đặc, thì hai điều sẽ xảy ra. Các vận cụ thấp sẽ bị bỏ mặc và vô dụng, thất bại trong mục đích của chúng, teo mòn và chết đi từ quan điểm của Chân ngã, trong khi chính thể nguyên nhân cũng sẽ không được xây dựng như mong muốn và do đó thời gian sẽ bị mất. Thể trí cũng sẽ trở nên vô dụng, và sẽ trở thành một thứ nội dung ích kỷ, vô ích cho thế gian và có giá trị rất nhỏ. Một kẻ mộng mơ mà những giấc mơ không bao giờ hiện thực hoá, một người kiến tạo tích trữ vật liệu mà không bao giờ dùng, một nhà linh thị có những linh ảnh vô ích đối với thần thánh hay con người, là một vật cản trong hệ thống vũ trụ. Y đang ở trong nguy cơ lớn của sự teo mòn.

Meditation should have the effect of bringing all three bodies more completely under the control of the Ego, and lead to a co-ordination and an alignment, to a rounding-out and a symmetrical development that will make a man of real use to the Great Ones. When a man realises that mayhap he is too much centralised on the mental plane he should definitely aim at making all his mental experiences, aspirations and endeavours matters of fact on the physical plane, bringing the two lower vehicles under control of the mental and making them the instruments of his mental creations and activities.

Tham thiền nên có hiệu quả đưa cả ba thể dưới sự kiểm soát của Chân ngã một cách trọn vẹn hơn, và dẫn đến sự phối hợp và chỉnh hợp, đến sự tròn đầy và một sự phát triển cân xứng khiến một người trở nên thật sự hữu ích cho Các Đấng Cao Cả. Khi một người nhận ra rằng có lẽ y quá tập trung trên cõi trí, y nên xác định nhắm đến việc biến mọi kinh nghiệm thể trí, khát vọng và nỗ lực của mình thành sự kiện trên cõi hồng trần, đưa hai vận cụ thấp dưới sự kiểm soát của thể trí và khiến chúng trở thành các công cụ cho những sáng tạo và hoạt động trí tuệ của y.

I have here indicated two of the dangers most frequently met with, and I advise all students of occultism [98] to remember that all the three bodies are of equal importance in carrying out the work to be done, both from the egoic standpoint and from the standpoint of service to the race. Let them aim at a wise co-ordination in expression, that will enable the God within to manifest for the aiding of the world.

Ở đây tôi đã chỉ ra hai nguy hiểm thường gặp nhất, và tôi khuyên mọi đạo sinh huyền bí học [98] hãy nhớ rằng cả ba thể đều quan trọng ngang nhau trong việc thực hiện công việc cần làm, cả từ quan điểm chân ngã lẫn từ quan điểm phụng sự nhân loại. Hãy nhắm đến một sự phối hợp minh triết trong biểu đạt, điều sẽ cho phép Thượng đế bên trong biểu lộ để trợ giúp thế gian.

[Commentary 26]

July 25, 1920.

Ngày 25 tháng 7, 1920.

The emotional body is at this time the most important body in the Personality for several reasons. It is a complete unit, unlike the physical and mental bodies; it is the centre of polarisation for the majority of the human family; it is the most difficult body to control, and is practically the very last body to be completely subjugated. The reason for this is that the vibration of desire has dominated, not only the human kingdom but also the animal and vegetable kingdoms in a lesser sense, so that the evolving inner man has to work against inclinations set up in these kingdoms. Before the spirit can function through forms of the fifth or spiritual kingdom, this desire vibration has to he eliminated, and selfish inclination transmuted into spiritual aspiration. The emotional body forms practically a unit with the physical body, for the average man functions almost entirely at the instigation of the emotional,—his lowest vehicle automatically obeying the behests of a higher. It is also the body that connects most directly, as has been oft-times said, with the intuitional levels, and one path of attainment lies that way. In meditation the emotional body should be controlled from the mental plane, and when the polarisation has been transferred into the mental body through forms of meditation and intensity of purpose and of will, then the emotional becomes quiescent and receptive. [99]

Thể cảm dục vào lúc này là thể quan trọng nhất trong phàm ngã vì nhiều lý do. Nó là một đơn vị hoàn chỉnh, không như thể xác và thể trí; nó là trung tâm phân cực đối với đa số gia đình nhân loại; nó là thể khó kiểm soát nhất, và thực tế là thể cuối cùng được khuất phục hoàn toàn. Lý do là rung động của dục vọng đã thống trị không chỉ giới nhân loại mà còn cả giới thú vật và giới thực vật ở mức độ thấp hơn, khiến con người nội tại đang tiến hoá phải làm việc chống lại các khuynh hướng đã được thiết lập trong các giới ấy. Trước khi tinh thần có thể vận hành qua các hình tướng của giới thứ năm hay giới tinh thần, rung động dục vọng này phải được loại bỏ, và khuynh hướng ích kỷ phải được chuyển hoá thành khát vọng tinh thần. Thể cảm dục thực tế tạo thành một đơn vị với thể xác, vì người bình thường vận hành gần như hoàn toàn theo sự thúc đẩy của cảm dục,—vận cụ thấp nhất của y tự động vâng theo mệnh lệnh của một cái cao hơn. Nó cũng là thể kết nối trực tiếp nhất, như đã nhiều lần nói, với các cấp độ trực giác, và một con đường đạt được nằm theo hướng đó. Trong tham thiền, thể cảm dục nên được kiểm soát từ cõi trí, và khi sự phân cực đã được chuyển dịch vào thể trí qua các hình thức tham thiền và cường độ của mục đích và của ý chí, thì thể cảm dục trở nên yên lặng và tiếp nhận. [99]

This negative attitude in itself, if carried too far, opens the door to serious dangers, which I will later enlarge upon when we take up the subject of obsessions, divine sometimes, but more oft the reverse. A negative condition is not desired in either of the bodies, and it is just this very negativeness that beginners in meditation so oft achieve, and so run into danger. The aim should be to make the emotional ovoid positive to all that is lower and to its environment and only receptive to the Spirit via the causal. This can only be brought about by the development of the faculty of conscious control—that control which even in the moments of highest vibration and contact is alert to watch and guard the lower vehicles. “Watch and pray,” the Great Lord said when last on earth, and He spoke in occult terms, that have not as yet received due attention or interpretation.

Thái độ tiêu cực này tự nó, nếu bị đẩy quá xa, sẽ mở cửa cho những nguy hiểm nghiêm trọng, mà về sau tôi sẽ triển khai khi chúng ta bàn đến chủ đề bị ám nhập, đôi khi là thiêng liêng, nhưng thường hơn là ngược lại. Một tình trạng tiêu cực không được mong muốn trong bất kỳ thể nào, và chính sự tiêu cực này là điều mà người mới bắt đầu tham thiền thường đạt được, và vì thế rơi vào nguy hiểm. Mục tiêu phải là làm cho hình bầu dục cảm dục trở nên tích cực đối với mọi điều thấp hơn và đối với môi trường của nó, và chỉ tiếp nhận tinh thần qua thể nguyên nhân. Điều này chỉ có thể được đem lại bởi sự phát triển năng lực kiểm soát có ý thức—sự kiểm soát mà ngay trong những khoảnh khắc rung động và tiếp xúc cao nhất vẫn tỉnh táo để quan sát và canh phòng các vận cụ thấp. “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện,” Đức Chúa Tể Vĩ Đại đã nói khi lần cuối Ngài ở trên đất, và Ngài đã nói theo các thuật ngữ huyền bí, mà cho đến nay vẫn chưa nhận được sự chú ý hay diễn giải thích đáng.

What must therefore be watched?

Vậy điều gì phải được canh chừng?

l—The attitude of the emotional ovoid and its positive-negative control.

l—Thái độ của hình bầu dục cảm dục và sự kiểm soát tích cực-tiêu cực của nó.

2—The stability of the emotional matter and its conscious receptivity.

2—Sự ổn định của chất liệu cảm dục và tính tiếp nhận có ý thức của nó.

3—Its alignment with the mental and with the causal bodies. If this alignment is imperfect (as it so frequently is) it causes inaccuracy in reception from the higher planes, distortion of the truths sent down via the Ego, and a very dangerous transference of force to undesirable centres. This lack of alignment is the cause of the frequent straying from sexual purity of many apparently spiritually inclined persons. They can touch the intuitional levels somewhat, the Ego can partially transmit power from on high, but as the alignment is imperfect the force from those higher levels is deflected, the wrong centres are over-stimulated, and disaster results.

3—Sự chỉnh hợp của nó với thể trí và với thể nguyên nhân. Nếu sự chỉnh hợp này bất toàn (như thường xuyên xảy ra) nó gây ra sự không chính xác trong việc tiếp nhận từ các cõi cao, sự bóp méo các chân lý được gửi xuống qua Chân ngã, và một sự chuyển dịch mãnh lực rất nguy hiểm đến các trung tâm không mong muốn. Sự thiếu chỉnh hợp này là nguyên nhân của sự lạc khỏi thanh khiết tính dục thường thấy ở nhiều người bề ngoài có vẻ thiên về tinh thần. Họ có thể chạm đến các cấp độ trực giác đôi chút, Chân ngã có thể phần nào truyền quyền năng từ trên cao, nhưng vì sự chỉnh hợp bất toàn nên mãnh lực từ các cấp độ cao ấy bị lệch hướng, các trung tâm sai bị kích thích quá mức, và tai hoạ xảy ra.

4—Another danger to be guarded against is that of [100] obsession, but in pure thoughts, spiritual aims, and unselfish brotherly conduct, lie the fundamentals of protection. If to these essentials is added common sense in meditation and a wise application of occult rules, with due consideration of ray and karma, these dangers will disappear.

4—Một nguy hiểm khác cần canh phòng là [100] bị ám nhập, nhưng trong tư tưởng thanh khiết, mục tiêu tinh thần, và hạnh kiểm huynh đệ vô ngã, có các nền tảng của sự bảo vệ. Nếu thêm vào các điều cốt yếu ấy là lẽ thường trong tham thiền và một sự áp dụng minh triết các quy luật huyền bí, với sự xét đến thích đáng về cung và nghiệp quả, thì những nguy hiểm này sẽ biến mất.

July 28, 1920.

Ngày 28 tháng 7, 1920.

Some thoughts on FIRE.—Một vài suy nghĩ về LỬA.

Just prior to beginning the consideration of the matter on hand, I would like to point out to you a certain rather interesting fact. Most of the psychological phenomena of the earth are—as you will realise, if you think clearly,—under the control of the Deva Lord Agni, the great primary Lord of Fire, the Ruler of the mental plane. Cosmic fire forms the background of our evolution; the fire of the mental plane, its inner control and dominance and its purifying asset coupled to its refining effects, is the aim of the evolution of our three-fold life. When the inner fire of the mental plane and the fire latent in the lower vehicles merge with the sacred fire of the Triad the work is completed, and the man stands adept. The at-one-ment has been made and the work of aeons is completed. All this is brought about through the co-operation of the Lord Agni, and the high devas of the mental plane working with the Ruler of that plane, and with the Raja-Lord of the second plane.

Ngay trước khi bắt đầu xét đến vấn đề đang bàn, tôi muốn chỉ ra cho các bạn một sự kiện khá thú vị. Hầu hết các hiện tượng tâm lý của trái đất—như các bạn sẽ nhận ra, nếu các bạn suy nghĩ rõ ràng,—đều nằm dưới sự kiểm soát của Đấng Chúa Tể thiên thần Agni, Đấng Chúa Tể Lửa sơ cấp vĩ đại, Đấng cai quản cõi trí. Lửa vũ trụ tạo thành bối cảnh của tiến hoá của chúng ta; lửa của cõi trí, sự kiểm soát và thống trị nội tại của nó cùng tài sản thanh lọc kết hợp với các hiệu ứng tinh luyện của nó, là mục tiêu của tiến hoá của sự sống tam phân của chúng ta. Khi lửa nội tại của cõi trí và lửa tiềm ẩn trong các vận cụ thấp hợp nhất với lửa thiêng của Tam nguyên tinh thần thì công việc hoàn tất, và con người đứng như một chân sư. Sự hiệp nhất đã được thực hiện và công việc của các đại kiếp đã hoàn thành. Tất cả điều này được đem lại qua sự hợp tác của Đấng Chúa Tể Agni, và các thiên thần cao của cõi trí làm việc với Đấng cai quản cõi ấy, và với Raja-Chúa Tể của cõi thứ hai.

Macrocosmic evolution proceeds in like manner to the microcosmic. The internal fires of the terrestrial globe, deep in the heart of our earth sphere, will merge with the sacred fire of the sun at the end of the greater cycle, and the solar system will then have reached its apotheosis. Little by little as the aeons slip away and the lesser cycles run their course, fire will permeate the ethers and will be daily more recognisable and controlled till eventually [101] cosmic and terrestrial fire will be at-one (the bodies of all material forms adapting themselves to the changing conditions) and the correspondence will be demonstrated. When this is realised the phenomena of the earth—such as, for instance, seismic disturbance—can be studied with greater interest. Later, when more is comprehended, the effects of such disturbances will be understood and likewise their reactions on the sons of men. During the summer months—as that great cycle comes around in different quarters of the earth—the fire devas, the fire elementals and those obscure entities the “agnichaitans” of the internal furnaces, come into greater activity, relapsing as the sun moves further away, into a less active condition. You have here a correspondence between the fiery aspects of the earth economy in their relationship to the sun similar to the watery aspects and their connection with the moon. I give you quite an occult hint here. I would like also to give you here a very brief though occult fragment that…may now be made public. If pondered on, it carries the student to a high plane and stimulates vibration. Pause and become quiescent and hearken carefully to my words. Accuracy is essential. E’en the feeling you have of a shrinking from responsibility may act as a barrier to the clear apprehension of the desired statement.

Tiến hoá đại thiên địa diễn tiến tương tự như tiến hoá tiểu thiên địa. Các ngọn lửa nội tại của bầu địa cầu, sâu trong tim của khối cầu trái đất của chúng ta, sẽ hợp nhất với lửa thiêng của mặt trời vào cuối chu kỳ lớn hơn, và hệ mặt trời khi ấy sẽ đạt đến sự thần hoá của nó. Dần dần, khi các đại kiếp trôi qua và các chu kỳ nhỏ hơn vận hành, lửa sẽ thấm khắp các cõi dĩ thái và sẽ ngày càng được nhận biết và kiểm soát cho đến khi cuối cùng [101] lửa vũ trụ và lửa địa cầu sẽ hiệp nhất (các thể của mọi hình tướng vật chất tự thích nghi với các điều kiện đang đổi thay) và sự tương ứng sẽ được chứng minh. Khi điều này được chứng nghiệm, các hiện tượng của trái đất—như chẳng hạn, sự xáo trộn địa chấn—có thể được nghiên cứu với mối quan tâm lớn hơn. Về sau, khi nhiều điều được thấu hiểu hơn, các hiệu ứng của những xáo trộn ấy sẽ được hiểu, và cả các phản ứng của chúng trên những người con của nhân loại. Trong các tháng mùa hè—khi chu kỳ lớn ấy quay lại ở các khu vực khác nhau của trái đất—các thiên thần lửa, các hành khí lửa và những thực thể mờ tối gọi là “agnichaitans” của các lò nung nội tại, trở nên hoạt động mạnh hơn, rồi khi mặt trời đi xa hơn, chúng rơi trở lại vào tình trạng kém hoạt động. Ở đây các bạn có một sự tương ứng giữa các phương diện lửa của kinh tế địa cầu trong mối liên hệ của chúng với mặt trời, tương tự như các phương diện nước và mối liên hệ của chúng với mặt trăng. Tôi trao cho các bạn một gợi ý khá huyền bí ở đây. Tôi cũng muốn trao cho các bạn ở đây một mảnh vụn rất ngắn nhưng huyền bí mà…giờ đây có thể được công bố. Nếu được nghiền ngẫm, nó đưa đạo sinh lên một cõi cao và kích thích rung động. Hãy dừng lại và trở nên yên lặng và lắng nghe kỹ lời tôi. Sự chính xác là thiết yếu. Ngay cả cảm giác co rút trước trách nhiệm mà các bạn có cũng có thể hành động như một rào cản đối với sự tiếp nhận rõ ràng phát biểu mong muốn.

“The secret of the Fire lieth hid in the second letter of the Sacred Word. The mystery of life is concealed within the heart. When the lower point vibrates, when the Sacred Triangle glows, when the point, the middle centre, and the apex connect and circulate the Fire, when the 3-fold apex likewise burns, then the two triangles, – the greater and the lesser, – merge into one flame which burneth up the whole.”

“Bí mật của Lửa ẩn giấu trong chữ thứ hai của Linh từ Thiêng Liêng. Mầu nhiệm của sự sống được che kín trong tim. Khi điểm thấp rung động, khi Tam Giác Thiêng Liêng rực sáng, khi điểm, trung tâm ở giữa, và đỉnh nối kết và lưu chuyển Lửa, khi đỉnh tam phân cũng bừng cháy, thì hai tam giác, – tam giác lớn và tam giác nhỏ, – hợp nhất thành một ngọn lửa duy nhất thiêu rụi toàn thể.”

[Commentary 27]

It is our task now to deal briefly with the dangers that attend the practice of meditation as they manifest in the physical body. These dangers—like so much else in the Logoic scheme—assume a three-fold nature, attacking [102] three departments of the physical body. They show themselves:

Giờ đây nhiệm vụ của chúng ta là đề cập vắn tắt những nguy hiểm đi kèm với việc thực hành tham thiền khi chúng biểu lộ trong thể xác. Những nguy hiểm này—như rất nhiều điều khác trong hệ thống của Thượng đế—mang một bản chất tam phân, tấn công [102] ba bộ phận của thể xác. Chúng biểu lộ:

a—In the brain.

a—Trong bộ não.

b—In the nervous system.

b—Trong hệ thần kinh.

c—In the sex organs.

c—Trong các cơ quan sinh dục.

It is needless to point out now the reason why I dealt first with the dangers of the mental and emotional bodies. It was necessary so to do, for many of the perils besetting the dense vehicle find their commencement on the subtler planes, and are only the outer manifestations of inner evils.

Không cần chỉ ra lúc này lý do vì sao tôi đã bàn trước hết về những nguy hiểm của thể trí và thể cảm dục. Điều đó là cần thiết, vì nhiều hiểm hoạ vây quanh vận cụ đậm đặc khởi đầu trên các cõi vi tế hơn, và chỉ là các biểu hiện bên ngoài của những điều xấu bên trong.

Each human being enters into life equipped with a physical and etheric body of certain constituents, those constituents being the product of a previous incarnation; they are virtually the body, reproduced exactly, that the man finally left behind him when death severed him from physical plane existence. The task ahead of everybody is to take that body, realise its defects and requirements, and then deliberately set in and build a new body that may prove more adequate to the need of the inner spirit. This is a task of large dimensions and involves time, stern discipline, self-denial and judgment.

Mỗi con người bước vào đời sống được trang bị một thể xác và thể dĩ thái với những thành phần nhất định, những thành phần ấy là sản phẩm của một lần lâm phàm trước; chúng hầu như chính là thể, được tái tạo y hệt, mà người ấy cuối cùng đã bỏ lại khi cái chết cắt đứt y khỏi sự hiện hữu trên cõi hồng trần. Nhiệm vụ trước mắt của mọi người là lấy thể ấy, nhận ra các khiếm khuyết và các yêu cầu của nó, rồi cố ý bắt tay vào xây dựng một thể mới có thể tỏ ra thích đáng hơn với nhu cầu của tinh thần nội tại. Đây là một nhiệm vụ có quy mô lớn và đòi hỏi thời gian, kỷ luật nghiêm khắc, tự chế và sự phán đoán.

The man who undertakes the practice of occult meditation literally “plays with fire.” I wish you to emphasise this statement for it embodies a truth little realised. “Playing with fire” is an old truth that has lost its significance through flippant repetition, yet it is absolutely and entirely correct, and is not a symbolic teaching but a plain statement of fact. Fire forms the basis of all—the Self is fire, the intellect is a phase of fire, and latent in the microcosmic physical vehicles lies hid a veritable fire that can either be a destructive force, burning the tissue of the body and stimulating centres of an undesirable character, or be a vivifying factor, acting as a [103] stimulating and awakening agent. When directed along certain prepared channels, this fire may act as a purifier and the great connector between the lower and the Higher Self.

Người nào đảm nhận việc thực hành tham thiền huyền bí thì theo nghĩa đen là “đùa với lửa”. Tôi mong các bạn nhấn mạnh mệnh đề này, vì nó hàm chứa một chân lý ít được nhận ra. “Đùa với lửa” là một chân lý xưa đã mất đi thâm nghĩa do bị lặp lại một cách bông lơn; tuy vậy, nó tuyệt đối và hoàn toàn đúng, và không phải là một giáo huấn biểu tượng mà là một phát biểu thẳng thắn về sự thật. Lửa tạo thành nền tảng của mọi sự—chân ngã là lửa, trí tuệ là một giai đoạn của lửa, và ẩn tàng trong các vận cụ hồng trần vi mô có giấu một ngọn lửa đích thực, có thể hoặc là một mãnh lực hủy diệt, thiêu đốt mô của thể xác và kích thích các trung tâm mang tính chất không mong muốn, hoặc là một yếu tố tiếp sinh lực, hoạt động như một tác nhân kích thích và đánh thức [103]. Khi được hướng dẫn theo những kênh đã được chuẩn bị nhất định, ngọn lửa này có thể hoạt động như một chất thanh lọc và là mối liên kết vĩ đại giữa phàm ngã và Bản Ngã Cao Siêu.

In meditation the student seeks to contact the divine flame that is his Higher Self, and to put himself likewise en rapport with the fire of the mental plane. When meditation is forced, or is pursued too violently, before the alignment between the higher and lower bodies via the emotional is completed, this fire may act on the fire latent at the base of the spine (that fire called kundalini) and may cause it to circulate too early. This will produce disruption and destruction instead of vivification and stimulation of the higher centres. There is a proper geometrical spiralling which this fire should follow, dependent upon the ray of the student and the key of the vibration of his higher centres. This fire should only be permitted to circulate under the direct instruction of the Master and consciously distributed by the student himself, following the specific oral instructions of the teacher. Sometimes the fire may be aroused and spiral with correctness without the student knowing what is occurring on the physical plane; but on the inner planes he knows and has but failed to bring the knowledge through to the physical plane consciousness.

Trong tham thiền, môn sinh tìm cách tiếp xúc với ngọn lửa thiêng liêng là Bản Ngã Cao Siêu của y, và đồng thời đặt mình vào sự tương thông với lửa của cõi trí. Khi tham thiền bị cưỡng bức, hoặc được theo đuổi quá dữ dội, trước khi sự chỉnh hợp giữa các thể cao và thấp qua thể cảm dục được hoàn tất, ngọn lửa này có thể tác động lên ngọn lửa ẩn tàng ở đáy cột sống (ngọn lửa gọi là kundalini) và có thể khiến nó lưu chuyển quá sớm. Điều này sẽ tạo ra sự xáo trộn và hủy hoại thay vì tiếp sinh lực và kích thích các trung tâm cao. Có một sự xoắn ốc hình học đúng đắn mà ngọn lửa này phải tuân theo, tùy thuộc vào cung của môn sinh và chủ âm của rung động nơi các trung tâm cao của y. Ngọn lửa này chỉ nên được cho phép lưu chuyển dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Chân sư và được chính môn sinh phân phối một cách hữu thức, theo các chỉ dẫn truyền khẩu cụ thể của huấn sư. Đôi khi ngọn lửa có thể được khơi dậy và xoắn ốc một cách đúng đắn mà môn sinh không biết điều gì đang xảy ra trên cõi hồng trần; nhưng ở các cõi bên trong y biết, chỉ là đã không đưa được tri thức ấy xuyên qua vào tâm thức cõi hồng trần.

Let us take up for a moment the three dangers that principally beset the physical vehicles. I would like to point out that I deal with the trouble in its extreme, and that there are many intermediate stages of risk and trouble that attack the unwary student.

Hãy tạm thời nêu ra ba mối nguy chủ yếu bủa vây các vận cụ hồng trần. Tôi muốn chỉ ra rằng tôi đề cập đến rắc rối ở mức cực đoan của nó, và có nhiều giai đoạn trung gian của nguy cơ và rắc rối tấn công môn sinh bất cẩn.

Dangers to the physical brain.—Những nguy hiểm đối với bộ não hồng trần.

The brain suffers principally in two ways:—

Bộ não chịu tổn hại chủ yếu theo hai cách:—

From congestion, causing a suffusion of the blood [104] vessels and a consequent strain upon the delicate brain tissue. This may result in permanent injury, and may even cause imbecility. It shows in the initial stages as numbness and fatigue, and if the student persists in meditation when these conditions are sensed the result will be serious. At all times a student should guard against continuing his meditation when any fatigue is felt, and should stop at the first indications of trouble. All these dangers can be guarded against by the use of common-sense, and by remembering that the body must ever be trained gradually and be built slowly. In the scheme of the Great Ones, hurry has no place.

Do sung huyết, gây tràn máu trong các mạch máu [104] và do đó tạo áp lực lên mô não tinh tế. Điều này có thể dẫn đến tổn thương vĩnh viễn, và thậm chí có thể gây đần độn. Ở giai đoạn đầu, nó biểu hiện như tê bì và mệt mỏi; và nếu môn sinh vẫn tiếp tục tham thiền khi cảm nhận các tình trạng này, hậu quả sẽ nghiêm trọng. Trong mọi lúc, môn sinh phải đề phòng việc tiếp tục tham thiền khi thấy bất kỳ sự mệt mỏi nào, và phải dừng lại ngay ở những dấu hiệu rắc rối đầu tiên. Tất cả các nguy hiểm này có thể được phòng tránh bằng việc dùng lẽ thường, và bằng cách nhớ rằng thể xác luôn phải được rèn luyện dần dần và được xây dựng chậm rãi. Trong kế hoạch của Các Đấng Cao Cả, vội vã không có chỗ đứng.

From insanity. This evil has often been seen in earnest students who persist in unwise pressure or seek unguardedly to arouse the sacred fire through breathing exercises and similar practices; they pay the price of their rashness through the loss of their reason. The fire does not proceed in due geometrical form, the necessary triangles are not made, and the electrical fluid rushes with ever increasing speed and heat upwards, and literally burns away all or part of the brain tissue, thus bringing about insanity and sometimes death.

Do điên loạn. Sự tai hại này thường được thấy nơi các môn sinh chân thành, những người cứ khăng khăng ép buộc một cách thiếu khôn ngoan hoặc liều lĩnh tìm cách khơi dậy lửa thiêng liêng qua các bài tập thở và những thực hành tương tự; họ trả giá cho sự hấp tấp của mình bằng việc mất lý trí. Ngọn lửa không tiến hành theo hình thức hình học đúng đắn, các tam giác cần thiết không được tạo lập, và lưu chất điện xông lên với tốc độ và nhiệt ngày càng tăng, và theo nghĩa đen thiêu rụi toàn bộ hoặc một phần mô não, do đó gây ra điên loạn và đôi khi là cái chết.

When these things are more widely comprehended and openly acknowledged, doctors and brain specialists will study with greater care and accuracy the electrical condition of the spinal column, and correlate its condition with that of the brain. Good results will thus be achieved.

Khi những điều này được thấu hiểu rộng rãi hơn và được thừa nhận công khai, các bác sĩ và chuyên gia về não sẽ nghiên cứu cẩn trọng và chính xác hơn tình trạng điện của cột sống, và liên hệ tình trạng ấy với tình trạng của bộ não. Nhờ vậy sẽ đạt được những kết quả tốt.

Dangers to the nervous system.—Những nguy hiểm đối với hệ thần kinh.

The troubles connected with the nervous system are more frequent than those attacking the brain, such as insanity and disruption of the brain tissue. Almost all who undertake meditation are conscious of an effect in [105] the nervous system; sometimes it takes the form of sleeplessness, of excitability, of a strained energy and restlessness that permit of no relaxation; of an irritability that has been foreign perhaps to the disposition until meditation was pursued; of a nervous reaction—such as a twitching of the limbs, the fingers or the eyes—of depression or a lowering of the vitality, and of many individual modes of showing tension and nervousness, differing according to nature and temperament. This display of nervousness may be either severe or slight, but I seek earnestly to point out it is quite needless, provided the student adheres to the rules of common-sense, that he studies wisely his own temperament, and that he does not blindly proceed with forms and methods but insists on knowing the raison d’etre of instituted action. If occult students disciplined the life more wisely, if they studied the food problem more carefully, if they took the needed hours of sleep with more determination, and if they worked with cautious slowness and not so much from impulse (no matter how high the aspiration) greater results would be seen and the Great Ones would have more efficient helpers in the work of serving the world.

Những rắc rối liên quan đến hệ thần kinh thường gặp hơn những rắc rối tấn công bộ não, như điên loạn và sự phá vỡ mô não. Hầu như tất cả những ai đảm nhận tham thiền đều ý thức được một tác động trong [105] hệ thần kinh; đôi khi nó mang dạng mất ngủ, dễ kích động, một năng lượng căng thẳng và bồn chồn không cho phép thư giãn; một sự cáu kỉnh có lẽ trước đó xa lạ với tính khí cho đến khi tham thiền được theo đuổi; một phản ứng thần kinh—như giật cơ ở tay chân, các ngón tay hoặc mắt—sự u uất hoặc suy giảm sinh lực, và nhiều kiểu biểu hiện căng thẳng và thần kinh mang tính cá biệt, khác nhau tùy theo bản chất và khí chất. Sự biểu lộ thần kinh này có thể nặng hoặc nhẹ, nhưng tôi tha thiết chỉ ra rằng nó hoàn toàn không cần thiết, miễn là môn sinh tuân theo các quy luật của lẽ thường, nghiên cứu một cách khôn ngoan chính khí chất của mình, và không mù quáng tiến hành theo các hình thức và phương pháp mà phải kiên quyết muốn biết lý do tồn tại của hành động được thiết lập. Nếu các môn sinh huyền bí kỷ luật đời sống khôn ngoan hơn, nếu họ nghiên cứu vấn đề ăn uống cẩn trọng hơn, nếu họ dành những giờ ngủ cần thiết với quyết tâm hơn, và nếu họ làm việc với sự chậm rãi thận trọng chứ không quá theo xung lực (dù khát vọng có cao đến đâu), thì sẽ thấy những kết quả lớn hơn và Các Đấng Cao Cả sẽ có những người trợ giúp hữu hiệu hơn trong công việc phụng sự thế gian.

It is not my purpose in these letters to take up specifically the diseases of the brain and of the nervous system. I only desire to give general indications and warnings and (for your encouragement) to point out that later when the wise Teachers move among men and openly teach in specific schools, many forms of brain trouble and of nervous complaints will be cured through meditation wisely adjusted to the individual need. Proper meditations will be set to stimulate quiescent centres, to turn the inner fire to proper channels, to distribute the divine heat in equable arrangement, to build in tissue [106] and to heal. The time for this is not yet, though it lies not so far ahead as you might imagine.

Mục đích của tôi trong các thư này không phải là bàn riêng về các bệnh của bộ não và của hệ thần kinh. Tôi chỉ mong đưa ra những chỉ dẫn và cảnh báo tổng quát và (để khích lệ các bạn) chỉ ra rằng về sau, khi các Huấn sư minh triết đi lại giữa loài người và công khai giảng dạy trong những trường học chuyên biệt, nhiều dạng rắc rối về não và các chứng bệnh thần kinh sẽ được chữa lành nhờ tham thiền được điều chỉnh khôn ngoan theo nhu cầu cá nhân. Những bài thiền thích hợp sẽ được đặt ra để kích thích các trung tâm đang yên lặng, hướng lửa bên trong vào những kênh thích hợp, phân phối nhiệt thiêng liêng theo sự sắp đặt đồng đều, xây dựng mô [106] và chữa lành. Thời điểm ấy chưa đến, dù nó không xa như các bạn có thể tưởng.

Dangers to the sex organs.—Những nguy hiểm đối với các cơ quan sinh dục.

The danger of the over-stimulation of these organs is well recognised theoretically, and I do not purpose to enlarge on it greatly today. I but seek to point out that this danger is very real. The reason is that in the overstimulation of these centres the inner fire is but following the line of least resistance, owing to the polarisation of the race as a whole. The work, therefore, that the student has to do is twofold:—

Mối nguy của việc kích thích quá mức các cơ quan này đã được thừa nhận về mặt lý thuyết, và hôm nay tôi không định nói dài về nó. Tôi chỉ tìm cách chỉ ra rằng mối nguy này rất thực. Lý do là, trong sự kích thích quá mức các trung tâm này, lửa bên trong chỉ đang đi theo con đường ít trở ngại nhất, do sự phân cực của nhân loại nói chung. Vì vậy, công việc mà môn sinh phải làm là hai mặt:—

a—He has to withdraw his consciousness from those centres; this is no easy task for it means working against the results of age-long development.

a—Y phải rút tâm thức khỏi các trung tâm ấy; đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng, vì nó có nghĩa là làm việc ngược lại các kết quả của sự phát triển qua bao thời đại.

b—He has to direct the attention of the creative impulse to the mental plane. In so doing, if successful, he will turn the activity of the divine fire to the throat centre and its corresponding head centre, instead of to the lower organs of generation. Therefore, it will be apparent to you why—unless a man is very advanced—it is not wise to spend much time in meditation during the earlier years. There was wisdom in the old Brahmanical rule that a man must give his early years to household endeavour, and only when he had fulfilled his function as a man could he go on to the life of the devotee. This was the rule for the average. With advanced egos, pupils and disciples, it is not so, and each must then work out his own individual problem.

b—Y phải hướng sự chú ý của xung lực sáng tạo lên cõi trí. Khi làm như vậy, nếu thành công, y sẽ chuyển hoạt động của lửa thiêng liêng đến trung tâm cổ họng và trung tâm đầu tương ứng của nó, thay vì đến các cơ quan sinh sản thấp. Vì thế, các bạn sẽ thấy rõ vì sao—trừ khi một người rất tiến bộ—không khôn ngoan khi dành nhiều thời gian cho tham thiền trong những năm đầu đời. Có sự minh triết trong quy luật Bà-la-môn xưa rằng một người phải dành những năm đầu cho nỗ lực gia đình, và chỉ khi y đã hoàn thành chức năng của mình như một người đàn ông thì y mới có thể bước vào đời sống của người sùng đạo. Đó là quy luật dành cho người trung bình. Với các chân ngã tiến bộ, các môn sinh và các đệ tử, thì không như vậy, và khi ấy mỗi người phải tự giải quyết vấn đề cá nhân của mình.

July 29, 1920.

Ngày 29 tháng 7, 1920.

Dangers arising from the Karma of the student.—Những nguy hiểm phát sinh từ nghiệp quả của môn sinh.

These as you know may he grouped under three heads, as follows: [107]

Như các bạn biết, những điều này có thể được nhóm lại dưới ba đề mục, như sau: [107]

l—Those incidental to the karma of his present life.

1—Những điều ngẫu phát thuộc về nghiệp quả của đời sống hiện tại của y.

2—Those based on his national heredity and his type of body.

2—Những điều dựa trên di truyền dân tộc và loại thể của y.

3—Those attendant on his group affiliations, whether on the physical plane and so exoteric, or on the subtle planes and so esoteric.

3—Những điều đi kèm các liên hệ nhóm của y, dù ở cõi hồng trần và do đó là ngoại môn, hay ở các cõi vi tế và do đó là nội môn.

Just what do you mean by the “karma of the student?” We use words lightly, and I presume that the thoughtless reply would be that the student’s karma is the inevitable happenings of the present or the future that he cannot evade. This is somewhat right, but is only one aspect of the whole. Let us look at the matter first in a large manner, for oft in the just apprehension of big outlines comes comprehension of the small.

Vậy các bạn muốn nói chính xác điều gì khi nói “nghiệp quả của môn sinh”? Chúng ta dùng từ ngữ một cách hời hợt, và tôi cho rằng câu trả lời thiếu suy nghĩ sẽ là: nghiệp quả của môn sinh là những điều tất yếu xảy đến trong hiện tại hoặc tương lai mà y không thể tránh. Điều này phần nào đúng, nhưng chỉ là một phương diện của toàn thể. Hãy nhìn vấn đề trước hết theo cách rộng lớn, vì thường trong sự nắm bắt đúng đắn các đường nét lớn, người ta mới hiểu được điều nhỏ.

When our Logos founded the solar system He drew within the circle of manifestation matter sufficient for His project, and material adequate for the object He had in view. He had not all possible objects in view for this one solar system: he had some specific aim that necessitated some specific vibration and required therefore certain differentiated material. This circle that we term the systemic or solar “ring-pass-not” bounds all that transpires within our system, and contains within its bounds our dual manifestation. All within that ring vibrates to a certain key-measure, and conforms to certain rules with the aim in view of the achievement of a particular goal, and the attainment of a certain end, known in its entirety only to the Logos Himself. All within that circle is subject to specific rules and governed by a certain key measure, and might be regarded as being subject to the karma of that sevenfold periodic existence, and actuated by causes dating back prior to the ringing of that circle, thus linking our system to its forerunner and affiliating it with that which will come [108] after. Not an isolated unit are we, but part of a greater whole, governed in our totality by cosmic law and working out (as a whole) certain definite aims.

Khi Thượng đế của chúng ta thiết lập hệ mặt trời, Ngài đã thu hút vào trong vòng biểu hiện lượng vật chất đủ cho dự án của Ngài, và chất liệu thích đáng cho mục tiêu Ngài dự định. Ngài không có trong tầm nhìn mọi mục tiêu có thể có cho hệ mặt trời này: Ngài có một mục đích đặc thù đòi hỏi một rung động đặc thù và vì vậy cần những chất liệu đã được biến phân nhất định. Vòng tròn mà chúng ta gọi là “vòng-giới-hạn” của hệ thống hay của hệ mặt trời giới hạn mọi điều diễn ra trong hệ của chúng ta, và chứa trong giới hạn ấy sự biểu hiện kép của chúng ta. Mọi sự bên trong vòng ấy rung động theo một nhịp-đo nhất định, và tuân theo những quy luật nhất định nhằm đạt được một mục tiêu đặc thù, và đạt đến một cứu cánh nhất định, chỉ được Thượng đế biết trọn vẹn. Mọi sự trong vòng ấy chịu những quy luật đặc thù và được cai quản bởi một nhịp-đo nhất định, và có thể được xem như chịu nghiệp quả của sự tồn tại tuần hoàn thất phân ấy, và được thúc đẩy bởi những nguyên nhân có từ trước khi vòng tròn ấy được khép lại, nhờ đó liên kết hệ của chúng ta với hệ tiền nhiệm và gắn kết nó với điều sẽ đến [108] sau. Chúng ta không phải là một đơn vị cô lập, mà là một phần của một toàn thể lớn hơn, được cai quản trong tổng thể bởi định luật vũ trụ và đang thực hiện (như một toàn thể) những mục tiêu xác định.

Microcosmic purpose.—Mục đích vi mô.

So it is with the Microcosm. The Ego on his own plane and on a tiny scale, repeats the action of the Logos. For certain ends he builds a certain form; he gathers certain material, and aims at a definite consummation that shall be the result of that gathered material vibrating to a certain measure, governed in one specific life by certain rules and aiming at some one particular object,—not all possible objects.

Với Tiểu thiên địa cũng vậy. Chân ngã trên cõi của y và ở một quy mô nhỏ bé, lặp lại hành động của Thượng đế. Vì những cứu cánh nhất định, y xây dựng một hình tướng nhất định; y thu thập một chất liệu nhất định, và nhắm đến một sự thành tựu xác định, là kết quả của chất liệu được thu thập ấy rung động theo một nhịp-đo nhất định, được cai quản trong một đời sống đặc thù bởi những quy luật nhất định và nhắm đến một mục tiêu riêng biệt,—không phải mọi mục tiêu có thể có.

Each Personality is to the Ego what the solar system is to the Logos. It is his field of manifestation and the method whereby he attains a demonstrable object. That aim may be the acquirement of virtue by paying the price of vice; it may be the attainment of business acumen by the struggle to provide the necessities of life; it may be the development of sensitiveness by the revealing cruelties of nature; it may be the building in of unselfish devotion by the appeal of needy dependents; or it may be the transmutation of desire by the method of meditation on the path. It is for each soul to find out. What I want to impress upon you is the fact that there is a certain danger incident to this very factor. If, for instance, in the acquirement of the mental capacity to meditate, the student misses the very thing he came into the physical body to acquire, the result is not so much a gain as an unequal development and a temporary loss of time.

Mỗi phàm ngã đối với chân ngã cũng như hệ mặt trời đối với Thượng đế. Đó là trường biểu hiện của y và là phương pháp nhờ đó y đạt được một mục tiêu có thể chứng tỏ. Mục tiêu ấy có thể là đạt được đức hạnh bằng cách trả cái giá của thói xấu; có thể là đạt được sự tinh khôn thương nghiệp qua cuộc đấu tranh để cung ứng các nhu cầu của đời sống; có thể là phát triển tính nhạy cảm qua những sự tàn nhẫn được phơi bày của bản chất; có thể là xây dựng lòng tận tụy vô ngã qua lời kêu gọi của những người phụ thuộc thiếu thốn; hoặc có thể là chuyển hoá dục vọng bằng phương pháp tham thiền trên đường đạo. Mỗi linh hồn phải tự tìm ra. Điều tôi muốn khắc sâu nơi các bạn là sự thật rằng có một mối nguy nhất định gắn liền chính với yếu tố này. Chẳng hạn, nếu trong việc đạt được năng lực trí tuệ để tham thiền, môn sinh bỏ lỡ chính điều mà y đã đến trong thể xác để đạt được, thì kết quả không hẳn là một sự tiến bộ mà là một sự phát triển không cân xứng và một sự mất thời gian tạm thời.

Let us be specific and illustrate:—An Ego has formed his three-fold body of manifestation and set his ring-pass-not with the purpose in view of building into his [109] causal body the faculty of “mental apprehension of the basic facts of life.” The object of that one incarnation is to develop the mental capacity of the student; to teach him concrete facts and science and thus to enlarge the content of his mental body, with a view to future work. He may be over-developed on the heart side, too much of the devotee; he may have spent many lives in dreaming dreams and in seeing visions and in mystic meditation. To be practical, full of common sense, to know the curriculum of the Hall of Learning and to apply practically the knowledge learnt on the physical plane is his great need. Yet, even though his ring-pass-not seems to proscribe and limit his inherent tendencies, and even though the stage is set so that it would seem he must learn the lessons of practical living in the world, he learns not, but follows what is to him the line of least resistance. He dreams his dreams, and stays aloof from world affairs; he does not fulfil the desire of the Ego, but misses opportunity; he suffers much, and in the next life is necessitated a similar staging and a stronger urge, and a closer ring-pass-not until he complies with the will of his Ego.

Hãy nói cụ thể và minh họa:—Một chân ngã đã tạo lập thể biểu hiện tam phân của y và đặt vòng-giới-hạn của y với mục đích xây dựng vào thể nguyên nhân [109] năng lực “nắm bắt bằng trí tuệ các sự kiện căn bản của đời sống”. Mục tiêu của một lần nhập thể ấy là phát triển năng lực trí tuệ của môn sinh; dạy y các sự kiện cụ thể và khoa học, và nhờ đó mở rộng nội dung của thể trí, nhằm phục vụ công việc tương lai. Y có thể đã phát triển quá mức về phía tim, quá thiên về người sùng đạo; y có thể đã trải qua nhiều kiếp trong mộng tưởng và trong việc thấy các linh ảnh và trong tham thiền thần bí. Nhu cầu lớn của y là thực tiễn, đầy lẽ thường, biết chương trình học của Phòng Hiểu Biết và áp dụng một cách thực tế tri thức đã học trên cõi hồng trần. Tuy vậy, dù vòng-giới-hạn của y dường như ngăn cấm và giới hạn các khuynh hướng cố hữu của y, và dù sân khấu đã được bày ra sao cho dường như y phải học các bài học của đời sống thực tiễn trong thế gian, y vẫn không học, mà đi theo con đường ít trở ngại nhất đối với y. Y mơ mộng, và đứng ngoài các công việc thế gian; y không hoàn thành ước muốn của chân ngã, mà bỏ lỡ cơ hội; y chịu nhiều đau khổ, và trong kiếp sau cần phải có một sự dàn dựng tương tự và một sự thúc đẩy mạnh hơn, và một vòng-giới-hạn chặt hơn cho đến khi y tuân theo ý chí của chân ngã.

For such an one, meditation helps not, but mainly hinders. As before I have said, meditation (to be wisely undertaken) is for those who have reached a point in evolution where the rounding out of the causal body is somewhat matured and where the student is in one of the final grades in the Hall of Learning. You need to remember that I refer not here to the mystic meditation but to the scientifically occult meditation. The dangers are, therefore, practically those of wasted time, of an intensification of a vibration out of ill proportion to the key of the other vibrations, and of an unequal rounding out and a lop-sided building that will necessitate reconstructing in other lives. [110]

Với một người như vậy, tham thiền không giúp, mà chủ yếu cản trở. Như tôi đã nói trước đây, tham thiền (để được đảm nhận một cách khôn ngoan) là dành cho những người đã đạt đến một điểm tiến hoá nơi sự làm tròn đầy thể nguyên nhân đã phần nào chín muồi và nơi môn sinh đang ở một trong những cấp cuối trong Phòng Hiểu Biết. Các bạn cần nhớ rằng tôi không nói ở đây về tham thiền thần bí mà về tham thiền huyền bí mang tính khoa học. Vì vậy, các nguy hiểm thực tế là sự lãng phí thời gian, sự tăng cường một rung động không tương xứng với chủ âm của các rung động khác, và một sự làm tròn đầy không đồng đều cùng một sự kiến tạo lệch lạc sẽ đòi hỏi phải tái kiến tạo trong những kiếp khác. [110]

July 30, 1920.

Ngày 30 tháng 7, 1920.

Dangers based on national heredity and type of body.—Những nguy hiểm dựa trên di truyền dân tộc và loại thể.

July 30th, 1920. 9 pm.

Ngày 30 tháng 7, 1920. 9 giờ tối.

It is late, brother of mine, to be doing the work but the exigences of the hour demand a measured haste, so we will take advantage of the quiet and silence to continue the instructions on the dangers to be guarded against in meditation; our topic being the dangers incident to a man’s heredity and type of body.

Đã muộn rồi, huynh đệ của tôi, để làm công việc này, nhưng những đòi hỏi của thời khắc buộc phải có một sự vội vã có chừng mực; vì vậy chúng ta sẽ tận dụng sự yên tĩnh và im lặng để tiếp tục các chỉ dẫn về những nguy hiểm cần đề phòng trong tham thiền; chủ đề của chúng ta là những nguy hiểm gắn liền với di truyền và loại thể của một người.

…As you may well imagine it is not my purpose to enlarge upon the dangers incidental to a defective body, save in general terms to lay down the ruling that where there is definite disease, congenital trouble or mental weakness of any kind, meditation is not the part of discretion, but may serve but to intensify the trouble. I wish specifically to point out for the guidance of future students and as a prophetic statement, that in days to come when the science of meditation is more comprehended, two factors will be wisely weighed and considered before assigning a meditation. These factors are:

…Như các bạn có thể hình dung, mục đích của tôi không phải là nói dài về những nguy hiểm gắn liền với một thể xác khiếm khuyết, ngoài việc nêu chung quy luật rằng nơi nào có bệnh tật rõ rệt, rắc rối bẩm sinh hoặc bất kỳ dạng yếu kém trí tuệ nào, thì tham thiền không phải là điều thận trọng, mà chỉ có thể làm tăng cường rắc rối. Tôi muốn đặc biệt chỉ ra, để hướng dẫn các môn sinh tương lai và như một phát biểu mang tính tiên tri, rằng trong những ngày sắp tới khi khoa học tham thiền được thấu hiểu hơn, hai yếu tố sẽ được cân nhắc và xem xét một cách khôn ngoan trước khi giao một bài thiền. Các yếu tố ấy là:

a—The man’s subrace characteristics.

a—Đặc tính giống dân phụ của người ấy.

b—His type of body, whether it is oriental or occidental.

b—Loại thể của y, dù là phương Đông hay phương Tây.

In this way, certain disasters will be avoided and certain troubles obviated that are now found in a more or less degree in every occult group.

Bằng cách này, một số tai biến sẽ được tránh và một số rắc rối sẽ được ngăn ngừa, những điều hiện nay được thấy ở mức độ nhiều hay ít trong mọi nhóm huyền bí.

It is generally recognised that each race has for its predominant feature some one outstanding quality of the emotional body. This is the general rule. In contrasting the Italian and the Teutonic racial differences, those differences are summed up in our minds in terms of the emotional body. We think of the Italian as fiery, romantic, unstable and brilliant; we think of the Teuton as phlegmatic, matter-of-fact, sentimental and stolidly, logically clever. It will, therefore, be apparent to you that these different temperaments carry with them their own dangers, and that in the unwise pursuit of unsuitable meditations, virtues could be emphasised till they approximated vices, temperamental weaknesses could be intensified till they became menaces, and consequently [111] lack of balance would result instead of that attainment of equilibrium and that fine rounding out of the causal body which is one of the aims in view. When, therefore, the wise Teacher moves among men and Himself apportions meditation, these racial differences will be weighed and their inherent defects will be offset and not intensified. Over-development and disproportionate attainment will be obviated by the equalising effects of occult meditation. Hence, brother of old, it will be realised by you how wise have been the leaders in our inner school. The meditation laid out there for the graded students is not as yet the truly occult and scientific one, but it aims primarily at the stabilising of the mental body, at its even development, and above all at the building in of the higher virtues. The basis is being laid for future work, and that is all. The time for the next step approaches.

Người ta thường thừa nhận rằng mỗi nhân loại có, như nét nổi trội chủ yếu, một phẩm tính nổi bật nào đó của thể cảm dục. Đây là quy luật chung. Khi đối chiếu những khác biệt nhân loại giữa người Ý và người Đức, các khác biệt ấy được tóm lại trong tâm trí chúng ta bằng các thuật ngữ của thể cảm dục. Chúng ta nghĩ về người Ý như nồng nhiệt, lãng mạn, bất ổn và rực rỡ; chúng ta nghĩ về người Đức như điềm đạm, thực tế, đa cảm và khéo léo một cách lì lợm, hợp lý. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những khí chất khác nhau này mang theo các nguy hiểm riêng của chúng, và trong việc theo đuổi thiếu khôn ngoan những bài thiền không phù hợp, các đức tính có thể được nhấn mạnh cho đến khi gần như trở thành thói xấu, các điểm yếu khí chất có thể bị tăng cường cho đến khi trở thành mối đe dọa, và do đó [111] sự mất cân bằng sẽ xảy ra thay vì đạt được sự quân bình và sự làm tròn đầy tinh tế của thể nguyên nhân, vốn là một trong những mục tiêu được nhắm đến. Vì vậy, khi Huấn sư minh triết đi lại giữa loài người và chính Ngài phân phối tham thiền, những khác biệt nhân loại này sẽ được cân nhắc và các khiếm khuyết cố hữu của chúng sẽ được hóa giải chứ không bị tăng cường. Sự phát triển quá mức và thành tựu không tương xứng sẽ được ngăn ngừa nhờ các tác dụng quân bình của tham thiền huyền bí. Do đó, huynh đệ của ngày xưa, các bạn sẽ nhận ra sự minh triết của các vị lãnh đạo trong trường nội môn của chúng ta. Bài thiền được đặt ra ở đó cho các môn sinh theo cấp bậc hiện nay vẫn chưa phải là bài thiền thực sự huyền bí và khoa học, nhưng trước hết nó nhắm đến việc ổn định thể trí, sự phát triển đồng đều của nó, và trên hết là việc xây dựng các đức tính cao. Nền tảng đang được đặt cho công việc tương lai, và chỉ có vậy. Thời điểm cho bước kế tiếp đang đến gần.

Meditation as followed now and as followed in Atlantean days differs fundamentally. In the fourth root race an effort was made to facilitate attainment via the atomic subplane, from the emotional plane to the intuitional, to the practical exclusion of the mental. It followed the line of the emotions and had a definite effect on the emotional body. It worked upwards from the emotional instead of, as now, working on mental levels and from those levels making the effort to control the two lower. In the Aryan root-race, the attempt is being made to bridge the gap between the higher and the lower and, by centering the consciousness in the lower mind and later in the causal, to tap the higher until the downflow from that higher will be continuous. With most of the advanced students at present all that is felt is occasional rushes of illumination, but later will be felt a steady irradiation. Both methods carry their own dangers. In Atlantean days, meditation tended to overstimulation of the emotions and although men touched great heights, yet they also touched great depths. Sex magic was unbelievably rampant. The solar plexus was apt to be over vivified, the triangles were not correctly followed, and the lower centres were caught in the reaction of the fire with dire results.

Tham thiền như hiện nay được theo đuổi và như đã được theo đuổi trong thời Atlantis khác nhau một cách căn bản. Trong giống dân gốc thứ tư, đã có một nỗ lực nhằm tạo thuận lợi cho sự thành tựu qua cõi phụ nguyên tử, từ cõi cảm dục đến cõi trực giác, gần như loại trừ cõi trí. Nó đi theo con đường của cảm xúc và có một tác động xác định lên thể cảm dục. Nó làm việc đi lên từ cảm dục thay vì, như hiện nay, làm việc ở các cấp độ trí tuệ và từ các cấp độ ấy nỗ lực kiểm soát hai thể thấp. Trong giống dân gốc Arya, đang có một nỗ lực bắt cầu khoảng cách giữa cao và thấp và, bằng cách đặt tâm thức ở hạ trí và về sau ở thể nguyên nhân, khai thông cái cao cho đến khi dòng tuôn đổ từ cái cao ấy sẽ liên tục. Với đa số môn sinh tiến bộ hiện nay, tất cả những gì được cảm nhận chỉ là những đợt soi sáng thỉnh thoảng tràn đến, nhưng về sau sẽ cảm nhận một sự chiếu rọi ổn định. Cả hai phương pháp đều mang những nguy hiểm riêng. Trong thời Atlantis, tham thiền có khuynh hướng kích thích quá mức cảm xúc và tuy con người chạm đến những đỉnh cao lớn, họ cũng chạm đến những vực sâu lớn. Ma thuật tính dục hoành hành đến mức khó tin. Tùng thái dương dễ bị tiếp sinh lực quá mức, các tam giác không được tuân theo đúng đắn, và các trung tâm thấp bị cuốn vào phản ứng của lửa với những hậu quả khủng khiếp.

The dangers now are different. The development of [112] mind carries with it the dangers of selfishness, of pride, of blind forgetfulness of the higher that it is the aim of the present method to offset. If the adepts of the dark path attained great powers in Atlantean days they are still more dangerous now. Their control is much more widespread. Hence the emphasis laid on service, and on the steadying of the mind as an essential in the man who seeks to progress and to become a member of the Brotherhood of Light.

Những nguy hiểm hiện nay khác đi. Sự phát triển của thể trí mang theo những nguy hiểm của tính ích kỷ, của kiêu ngạo, của sự quên lãng mù quáng đối với cái cao, điều mà phương pháp hiện nay nhằm hóa giải. Nếu các chân sư của tả đạo đạt được những quyền năng lớn trong thời Atlantis, thì hiện nay họ còn nguy hiểm hơn. Sự kiểm soát của họ lan rộng hơn nhiều. Do đó, sự nhấn mạnh được đặt vào phụng sự, và vào việc làm vững thể trí như một điều thiết yếu nơi người tìm cách tiến bộ và trở thành một thành viên của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo.

The matter I now seek to give some instruction upon is one of very real importance to all earnest students at this time. The orient is to the evolving race of men what the heart is to the human body; it is the source of light, of life, of heat, and of vitality. The occident is to the race what the brain or mental activity is to the body,—the directing organising factor, the instrument of the lower mind, the accumulator of facts. The difference in the entire, “make-up” (as you term it) of the oriental and of the European or American is so great and so well recognised that it is mayhap needless for me to dwell upon it.

Vấn đề mà giờ đây tôi tìm cách đưa ra một vài chỉ dẫn là một điều hết sức quan trọng đối với mọi môn sinh chân thành trong thời điểm này. Phương Đông đối với nhân loại đang tiến hoá cũng như tim đối với thân thể con người; đó là nguồn của ánh sáng, của sự sống, của nhiệt, và của sinh lực. Phương Tây đối với nhân loại cũng như bộ não hay hoạt động trí tuệ đối với thân thể,—yếu tố chỉ đạo tổ chức, công cụ của hạ trí, kẻ tích lũy các sự kiện. Sự khác biệt trong toàn bộ “cấu tạo” (theo cách các bạn gọi) của người phương Đông và người châu Âu hay Mỹ lớn đến mức và được thừa nhận đến mức có lẽ tôi không cần nói dài về nó.

The oriental is philosophical, naturally dreamy, trained through centuries to think in abstract terms, fond of obstruse dialectics, temperamentally lethargic, and climatically slow. Ages of metaphysical thinking, of vegetarian living, of climatic inertia and of a rigid adherence to forms and to the strictest rules of living have produced a product the exact opposite of his occidental brother.

Người phương Đông có tính triết lý, tự nhiên mơ mộng, được rèn luyện qua nhiều thế kỷ để suy nghĩ theo các thuật ngữ trừu tượng, ưa thích biện luận rắc rối, khí chất trì trệ, và chậm chạp do khí hậu. Nhiều thời đại tư duy siêu hình, ăn chay, quán tính khí hậu và sự tuân thủ cứng nhắc các hình thức cùng những quy luật sống nghiêm ngặt nhất đã tạo ra một sản phẩm hoàn toàn đối lập với huynh đệ phương Tây của y.

The occidental is practical, businesslike, dynamic, quick in action, a slave to organization (which is after all but another form of ceremonial), actuated by a very concrete mind, acquisitive, critical, and at his best when affairs move quickly and rapid mental decision is required. He detests abstract thought yet appreciates it when apprehended, and when he can make those thoughts [113] facts on the physical plane. He uses his head more than his heart centre, and his throat centre is apt to be vitalised. The oriental uses his heart centre more than the head and necessarily the corresponding head centres. The centre at the top of the spine at the base of the skull functions more actively than the throat.

Người phương Tây thực tiễn, giỏi việc kinh doanh, năng động, hành động nhanh, là nô lệ của tổ chức (mà suy cho cùng chỉ là một dạng khác của nghi lễ), bị thúc đẩy bởi một trí cụ thể rất mạnh, ham chiếm hữu, hay phê phán, và ở trạng thái tốt nhất khi công việc diễn tiến nhanh và cần quyết định trí tuệ mau lẹ. Y ghét tư duy trừu tượng nhưng vẫn trân trọng nó khi đã nắm bắt được, và khi y có thể biến những tư tưởng ấy thành [113] các sự kiện trên cõi hồng trần. Y dùng đầu nhiều hơn trung tâm tim, và trung tâm cổ họng của y dễ được tiếp sinh lực. Người phương Đông dùng trung tâm tim nhiều hơn trung tâm đầu và tất yếu là các trung tâm đầu tương ứng. Trung tâm ở đỉnh cột sống tại đáy hộp sọ hoạt động mạnh hơn trung tâm cổ họng.

The oriental progresses by the withdrawing of the centre of consciousness to the head through strenuous meditation. That is the centre that he needs to master, he learns by the wise use of mantrams, by retiring into seclusion, by isolation and by the careful following of specific forms for many hours each day for many days.

Người phương Đông tiến bộ bằng cách rút trung tâm tâm thức lên đầu qua tham thiền nghiêm ngặt. Đó là trung tâm mà y cần làm chủ; y học bằng việc sử dụng khôn ngoan các mantram, bằng cách lui vào ẩn cư, bằng sự cô lập và bằng việc cẩn trọng tuân theo các hình thức cụ thể trong nhiều giờ mỗi ngày, suốt nhiều ngày.

The occidental has in view the withdrawal of his consciousness to the heart at first, for already he works so much with the head centres. He works more by the use of collective forms and not individual mantrams; he does not work so much in isolation as his oriental brother, but has to find his centre of consciousness even in the noise and whirl of business life and in the throngs of great cities. He employs collective forms for the attainment of his ends, and the awakening of the heart centre shows itself in service. Hence the emphasis laid in the Occident on the heart meditation and the subsequent life of service.

Người phương Tây nhắm đến việc rút tâm thức về tim trước hết, vì y vốn đã làm việc quá nhiều với các trung tâm đầu. Y làm việc nhiều hơn bằng việc sử dụng các hình thức tập thể chứ không phải các mantram cá nhân; y không làm việc trong cô lập nhiều như huynh đệ phương Đông, mà phải tìm ra trung tâm tâm thức của mình ngay giữa tiếng ồn và vòng xoáy của đời sống thương nghiệp và giữa đám đông của các thành phố lớn. Y dùng các hình thức tập thể để đạt mục tiêu, và sự thức tỉnh của trung tâm tim biểu lộ trong phụng sự. Do đó, sự nhấn mạnh được đặt ở phương Tây vào tham thiền tim và đời sống phụng sự tiếp theo.

You will see, therefore, that when the real occult work is begun, the method may differ—and will necessarily differ—in the east and in the west, but the goal will be the same. It must be borne in mind, for instance, that a meditation that would aid the development of an oriental, might bring danger and disaster to his western brother. The reverse would also be the case. But always the goal will be the same. Forms may be individual or collective, mantrams may be chanted by units or by groups, different centres may be the object of specialised attention, yet [114] the results will be identical. Danger arises when the occidental bases his endeavor on rules that suffice for the oriental, as AB has at times been so wisely pointed out. In the wisdom of the Great Ones this danger is being offset. Different methods for different races, diverse forms for those of various nationalities, but the same wise guides on the inner planes, the same great Hall of Wisdom, the same Gate of Initiation, admitting all into the inner sanctuary…. lie ahead of all.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rằng khi công việc huyền bí thực sự bắt đầu, phương pháp có thể khác—và tất yếu sẽ khác—ở phương Đông và phương Tây, nhưng mục tiêu sẽ như nhau. Chẳng hạn, cần ghi nhớ rằng một bài thiền giúp phát triển cho người phương Đông có thể đem lại nguy hiểm và tai biến cho huynh đệ phương Tây của y. Trường hợp ngược lại cũng đúng. Nhưng mục tiêu luôn như nhau. Hình thức có thể là cá nhân hoặc tập thể, mantram có thể được xướng bởi từng đơn vị hoặc bởi nhóm, các trung tâm khác nhau có thể là đối tượng của sự chú ý chuyên biệt, tuy vậy [114] kết quả sẽ đồng nhất. Nguy hiểm phát sinh khi người phương Tây đặt nỗ lực của mình trên những quy luật đủ cho người phương Đông, như Bà AB đôi khi đã chỉ ra một cách rất minh triết. Trong minh triết của Các Đấng Cao Cả, nguy hiểm này đang được hóa giải. Những phương pháp khác nhau cho những nhân loại khác nhau, những hình thức đa dạng cho những người thuộc các quốc tịch khác nhau, nhưng cùng những vị hướng dẫn minh triết trên các cõi bên trong, cùng một Phòng Minh triết vĩ đại, cùng một Cổng Điểm Đạo, tiếp nhận tất cả vào thánh điện nội môn…. đang ở phía trước mọi người.

In concluding this subject, I seek to give a hint:—The seventh Ray of Ceremonial Law or Order (the ray now coming into power) provides for the occidental what has long been the privilege of the oriental. Great is the day of opportunity, and in the sweeping onward of this seventh force comes the needed impetus that may—if rightly grasped—drive to the Feet of the Lord of the World the dweller in the occident.

Để kết thúc chủ đề này, tôi muốn gợi một ý:—cung bảy của Định luật hay Trật tự Nghi lễ (cung hiện đang đi vào quyền lực) đem lại cho người phương Tây điều từ lâu đã là đặc quyền của người phương Đông. Ngày cơ hội thật lớn, và trong đà tiến cuồn cuộn của mãnh lực cung bảy này có động lực cần thiết, có thể—nếu được nắm bắt đúng đắn—thúc đẩy kẻ chận ngõ ở phương Tây đến Dưới Chân Thầy của Đức Chúa Tể Thế Giới.

August 2, 1920.

Ngày 2 tháng 8, 1920.

[Commentary 28]

Dangers attendant on group affiliations.—Những nguy hiểm đi kèm các liên hệ nhóm.

Very briefly would I seek this morning to take up the question of the dangers involved in meditation that are incidental to a man’s group affiliations, whether exoteric or esoteric. There is not much that can be said on this particular matter, save broad indications. Each of these various subjects that I have touched upon might warrant the writing of a weighty treatise, and I shall not, therefore, attempt to cover what might be said but only point out certain aspects of the matter that will (if pondered on with care) open up to the earnest seeker after truth many avenues of knowledge. All occult training has this in view,—to give to the pupil some seed thought which (when brooded over in the silence of his own heart) [115] will produce much fruit of real value, and which the pupil can then conscientiously consider his own. What we produce through wrestling and strenuous endeavour remains forever our own, and vanishes not into forgetfulness as do the thoughts that enter through the eye from the printed page, or through the ear from the lips of any teacher no matter how revered.

Sáng nay, tôi sẽ rất ngắn gọn đề cập đến vấn đề những nguy hiểm liên quan đến tham thiền, vốn gắn liền với các liên hệ nhóm của một người, dù ngoại môn hay nội môn. Không có nhiều điều có thể nói về vấn đề đặc thù này, ngoài những chỉ dẫn khái quát. Mỗi chủ đề khác nhau mà tôi đã chạm đến đều có thể đáng để viết thành một luận thuyết dày dặn; vì vậy tôi sẽ không cố bao quát mọi điều có thể nói, mà chỉ nêu ra một số phương diện của vấn đề, những điều (nếu được suy tư cẩn trọng) sẽ mở ra cho người tìm kiếm chân lý chân thành nhiều con đường tri thức. Mọi sự huấn luyện huyền bí đều nhắm đến điều này,—trao cho môn sinh một tư tưởng hạt giống mà (khi được ấp ủ trong sự im lặng của chính trái tim y) [115] sẽ sinh nhiều hoa trái có giá trị thực, và mà môn sinh khi ấy có thể tận tâm xem như của chính mình. Điều gì chúng ta tạo ra qua vật lộn và nỗ lực gian khổ sẽ mãi mãi là của chúng ta, và không tan biến vào quên lãng như những tư tưởng đi vào qua mắt từ trang in, hay qua tai từ môi miệng của bất kỳ huấn sư nào, dù được tôn kính đến đâu.

One thing that is oft overlooked by the pupil when he enters upon the path of probation and starts meditation is that the goal ahead for him is not primarily the completing of his own development, but his equipping for service to humanity. His own growth and development are necessarily incidental but are not the goal. His immediate environment and his close associates on the physical plane are his objectives in service, and if in the endeavour to attain certain qualifications and capacities he overlooks the groups to which he is affiliated and neglects to serve wisely and to spend himself loyally on their behalf he runs the danger of crystallisation, falls under the spell of sinful pride, and mayhap even takes the first step toward the left-hand path. Unless inner growth finds expression in group service the man treads a dangerous road.

Một điều mà môn sinh thường bỏ qua khi bước vào Con Đường Dự Bị và bắt đầu tham thiền là mục tiêu phía trước đối với y không chủ yếu là hoàn tất sự phát triển của riêng y, mà là trang bị cho y để phụng sự nhân loại. Sự tăng trưởng và phát triển của y tất yếu là điều phụ thuộc, nhưng không phải là mục tiêu. Môi trường trực tiếp và những người thân cận của y trên cõi hồng trần là các đối tượng phụng sự của y; và nếu trong nỗ lực đạt được một số phẩm chất và năng lực, y bỏ qua các nhóm mà y liên hệ và lơ là việc phụng sự một cách khôn ngoan và hiến dâng trung thành vì họ, y sẽ gặp nguy cơ kết tinh, rơi vào bùa mê của kiêu ngạo tội lỗi, và có lẽ thậm chí bước bước đầu tiên về phía tả đạo. Nếu sự tăng trưởng bên trong không biểu lộ thành phụng sự nhóm, người ấy đang bước trên một con đường nguy hiểm.

Three types of affiliated groups.—Ba loại nhóm liên hệ.

Perhaps I could here give some indications of the groups on the various planes to which a man is assigned. These groups are many and diverse and at different periods of a man’s life may change and differ, as he works out from under the obligating karma that governs the affiliations. Let us remember too that as a man enlarges his capacity to serve he at the same time increases the size and number of the groups he contacts till he reaches a point in some later incarnation when the world [116] itself is his sphere of service and the multitude those whom he assists. He has to serve in a threefold manner before he is permitted to change his line of action and pass on to other work,—planetary. systemic or cosmic.

Có lẽ ở đây tôi có thể đưa ra một vài chỉ dẫn về các nhóm trên những cõi khác nhau mà một người được phân vào. Những nhóm này nhiều và đa dạng, và ở những giai đoạn khác nhau trong đời một người có thể thay đổi và khác đi, khi y thoát dần khỏi nghiệp quả ràng buộc chi phối các liên hệ. Cũng hãy nhớ rằng khi một người mở rộng năng lực phụng sự, đồng thời y gia tăng quy mô và số lượng các nhóm mà y tiếp xúc, cho đến khi y đạt đến một điểm trong một kiếp sau nào đó khi chính thế gian [116] là phạm vi phụng sự của y và đám đông là những người y trợ giúp. Y phải phụng sự theo cách tam phân trước khi được phép thay đổi đường lối hành động và chuyển sang công việc khác,—hành tinh, hệ thống hay vũ trụ.

a—He serves first through activity, through the use of his intelligence, using the high faculties of mind and the product of his genius to aid the sons of men. He builds slowly great powers of intellect and in the building overcomes the snare of pride. He takes, then, that active intelligence of his and lays it at the feet of collective humanity, giving of his best for the helping of the race.

a—Trước hết y phụng sự qua hoạt động, qua việc sử dụng trí tuệ của mình, dùng các năng lực cao của thể trí và sản phẩm thiên tài của mình để giúp những người con của nhân loại. Y chậm rãi xây dựng những quyền năng trí tuệ lớn và trong sự xây dựng ấy vượt qua cạm bẫy kiêu ngạo. Rồi y đem trí tuệ hoạt động ấy đặt dưới chân nhân loại tập thể, hiến dâng điều tốt nhất của mình để giúp nhân loại.

b—He serves through love, becoming, as time elapses, one of the saviours of men, spending his life and giving of his all through perfect love of his brothers. A life then comes when the utmost sacrifice is made and in love he dies that others may live.

b—Y phụng sự qua bác ái, và theo thời gian trở thành một trong những đấng cứu thế của loài người, hiến dâng đời sống và trao tặng tất cả của mình qua tình thương hoàn hảo đối với các huynh đệ. Rồi đến một đời sống khi sự hi sinh tột cùng được thực hiện và trong bác ái y chết để người khác được sống.

c—He serves then through power. Proved in the furnace to have no thought save the good of all around, he is trusted with the power that follows from active love intelligently applied. He works with the law, and bends all his will to make the power of the law felt in the three-fold realms of death.

c—Rồi y phụng sự qua quyền năng. Được chứng minh trong lò luyện rằng không có tư tưởng nào ngoài điều thiện cho tất cả xung quanh, y được tín nhiệm với quyền năng phát sinh từ bác ái hoạt động được áp dụng một cách thông minh. Y làm việc với định luật, và uốn toàn bộ ý chí của mình để khiến quyền năng của định luật được cảm nhận trong các cõi giới tam phân của tử vong.

In all these three branches of service you will notice that the faculty of working with groups is one of paramount importance. These groups are diverse, as before I have said, and vary on different planes. Let us briefly enumerate them:—

Trong cả ba nhánh phụng sự này, các bạn sẽ nhận thấy năng lực làm việc với các nhóm là một điều tối quan trọng. Các nhóm này đa dạng, như tôi đã nói, và khác nhau trên các cõi khác nhau. Hãy liệt kê ngắn gọn chúng:—

1—On the physical plane. The following groups will be found:——1—Trên cõi hồng trần. Sẽ thấy các nhóm sau:—

a—His family group to which he is usually affiliated for two reasons, one to work out karma and repay his debts; the second, to receive a certain type of physical vehicle that the Ego needs for adequate expression. [117]

a—Nhóm gia đình của y, mà y thường liên hệ vì hai lý do: một là để giải quyết nghiệp quả và trả các món nợ; hai là để nhận một loại vận cụ hồng trần nhất định mà chân ngã cần để biểu lộ đầy đủ. [117]

b—His associates and friends; the people his environment throws him with, his business associates, his church affiliations, his acquaintances and casual friends, and the people he touches for a brief period and then sees no more. His work with them is twofold again; first to repay an obligation should such a debt have been incurred; and secondly to test out his powers to influence for good those around him, to recognise responsibility and to direct or help. In doing thus, the Guides of the race find out the actions and reactions of a man, his capacity for service, and his response to any surrounding need.

b—Những người cộng sự và bạn bè; những người mà môi trường đưa y đến, các cộng sự trong công việc, các liên hệ tôn giáo, những người quen và bạn bè xã giao, và những người y tiếp xúc trong một thời gian ngắn rồi không gặp lại nữa. Công việc của y với họ lại có hai mặt: trước hết là để trả một nghĩa vụ nếu một món nợ như vậy đã phát sinh; và thứ hai là để thử nghiệm quyền năng ảnh hưởng theo hướng thiện đối với những người xung quanh, để nhận ra trách nhiệm và để hướng dẫn hoặc trợ giúp. Khi làm như vậy, các Đấng Hướng Dẫn của nhân loại nhận ra các hành động và phản ứng của một người, năng lực phụng sự của y, và sự đáp ứng của y đối với bất kỳ nhu cầu nào quanh y.

c—His associated band of servers, the group under some Great One that is definitely united for work of an occult and spiritual nature. It may be either a band of church workers among the orthodox (beginners are tried out here); it may be in social work such as in the labor movements or in the political arena; or it may be in the more definitely pioneer movements of the world, such as the Theosophical Society, the Christian Science movement, the New Thought workers and the Spiritualists. I would add to this, one branch of endeavour that may surprise you,—I mean the movement of the Soviet in Russia and all the aggressive radical bodies that sincerely serve under their leaders (even when misguided and unbalanced) for the betterment of the condition of the masses.

c—Nhóm người phụng sự liên kết của y, nhóm dưới một Đấng Cao Cả nào đó được kết hợp rõ rệt để làm công việc mang tính huyền bí và tinh thần. Nó có thể là một nhóm người làm việc trong giáo hội chính thống (những người sơ cơ được thử thách ở đây); có thể là trong công tác xã hội như trong các phong trào lao động hoặc trên vũ đài chính trị; hoặc có thể là trong các phong trào tiên phong rõ rệt hơn của thế gian, như Hội Thông Thiên Học, phong trào Khoa Học Cơ Đốc, những người hoạt động Tân Tư Tưởng và các nhà thần linh học. Tôi xin thêm vào đây một nhánh nỗ lực có thể làm các bạn ngạc nhiên,—tôi muốn nói đến phong trào Xô-viết ở Nga và tất cả các tổ chức cấp tiến hiếu chiến đang chân thành phụng sự dưới các lãnh đạo của họ (dù bị lầm lạc và mất cân bằng) nhằm cải thiện điều kiện của quần chúng.

Thus on the physical plane you have three groups to which a man belongs. He owes a duty to them and he must play his part. Now wherein could danger enter through meditation? Simply in this: that as long as a man’s karma holds him to some particular group the thing that he must aim at is to play his part perfectly, so that he may work out from under karmic obligation [118] and advance toward ultimate liberation; besides this he must carry on his group with him to greater heights and usefulness. Therefore, if through meditation of an unsuitable nature he neglects his proper obligation he delays the purpose of his life, and in another incarnation he will have to play it out. If he builds into that group’s causal body (the composite product of the several lines) aught that has not its place properly there, he aids not but hinders, and again that involves danger. Let me illustrate, for clarity is desired:—A student is affiliated with a group that has an over-preponderance of devotees, and he has come in for the express purpose of balancing that quality with another factor, that of wise discrimination and mental balance. If he permits himself to be overcome by the group thoughtform and becomes himself a devotee, following a devotional meditation and unwisely omitting to balance that group’s causal body, he runs into a danger that hurts not only himself but the group to which he belongs.

Vì vậy, trên cõi hồng trần các bạn có ba nhóm mà một người thuộc về. Y mắc nợ bổn phận đối với họ và y phải đóng vai trò của mình. Vậy thì, nguy hiểm có thể xen vào qua tham thiền ở chỗ nào? Đơn giản là ở điểm này: chừng nào nghiệp quả của một người còn ràng buộc y với một nhóm đặc thù nào đó, thì điều y phải nhắm đến là đóng vai trò của mình một cách hoàn hảo, để y có thể thoát khỏi nghĩa vụ nghiệp quả [118] và tiến tới giải thoát tối hậu; ngoài ra, y còn phải mang nhóm của mình cùng đi lên những tầm cao hơn và hữu dụng hơn. Vì vậy, nếu qua một kiểu tham thiền không thích hợp mà y sao lãng nghĩa vụ chính đáng của mình, y sẽ trì hoãn mục đích đời sống của mình, và trong một kiếp lâm phàm khác y sẽ phải diễn lại điều ấy. Nếu y xây vào thể nguyên nhân của nhóm ấy (sản phẩm tổng hợp của nhiều tuyến khác nhau) bất cứ điều gì không đúng chỗ của nó ở đó, y không giúp mà còn cản trở, và điều ấy lại hàm chứa nguy hiểm. Tôi xin minh hoạ, vì cần sự rõ ràng:—Một đạo sinh liên kết với một nhóm có sự áp đảo quá mức của những người sùng tín, và y đến với mục đích rõ rệt là quân bình phẩm tính ấy bằng một yếu tố khác, đó là sự phân biện minh triết và sự quân bình trí tuệ. Nếu y để mình bị hình tư tưởng của nhóm chế ngự và tự trở thành một người sùng tín, theo một bài tham thiền sùng tín và thiếu khôn ngoan khi bỏ qua việc quân bình thể nguyên nhân của nhóm ấy, y sẽ rơi vào một nguy hiểm làm tổn hại không chỉ chính y mà cả nhóm mà y thuộc về.

2—On the emotional plane: Here he belongs to several groups such as:——2—Trên cõi cảm dục: Ở đây y thuộc về một số nhóm như sau:—

a—His emotional plane family group, which is more thoroughly his own group than the family into which he happens to be born on the physical plane. You will see this demonstrated many times in life when members of an emotional plane family contact each other on the physical plane. Instant recognition ensues.

a—Nhóm gia đình trên cõi cảm dục của y, vốn thực sự là nhóm của chính y hơn là gia đình mà y tình cờ sinh ra trên cõi hồng trần. Các bạn sẽ thấy điều này được chứng minh nhiều lần trong đời khi các thành viên của một gia đình cõi cảm dục gặp nhau trên cõi hồng trần. Sự nhận ra tức khắc xảy ra.

b—The class within the Hall of Learning to which he is assigned and in which he receives much instruction.

b—Lớp học trong Phòng Học Hỏi mà y được phân vào và nơi y nhận nhiều chỉ dạy.

c—The band of Invisible Helpers with whom he may be working and the band of Servers.

c—Đoàn Các Người Trợ Giúp Vô Hình mà y có thể đang làm việc cùng, và đoàn Người Phụng Sự.

All these groups involve obligation and work and all must be allowed for in studying the wise use of meditation. [119] Meditation should increase a man’s capacity to discharge his karmic debts, giving clear vision, wise judgment and a comprehension of the work of the immediate moment. Anything that militates against this is dangerous.

Tất cả các nhóm này đều liên quan đến bổn phận và công việc, và tất cả đều phải được tính đến khi nghiên cứu việc sử dụng tham thiền một cách minh triết. [119] Tham thiền nên gia tăng năng lực của một người trong việc thanh toán các món nợ nghiệp quả của y, đem lại linh ảnh rõ ràng, phán đoán minh triết và sự thấu hiểu công việc của khoảnh khắc trước mắt. Bất cứ điều gì chống lại điều này đều nguy hiểm.

3—On the mental plane: The groups to be found there may be enumerated as follows:—3—Trên cõi trí: Các nhóm có thể được tìm thấy ở đó có thể được liệt kê như sau:

a—The groups of pupils of some one Master to Whom he may be attached, and with Whom he may be working. This is usually only the case when the man is rapidly working out his karma and is nearing the entrance to the Path. His meditation, therefore, should be directly under the guidance of his Master, and any formula followed that is not adjusted to a man’s need carries with it elements of danger, for the vibrations set up on the mental plane and the forces engendered there are so much more potent than on the lower levels.

a—Các nhóm môn sinh của một Chân sư nào đó mà y có thể gắn bó, và cùng làm việc với Ngài. Điều này thường chỉ xảy ra khi người ấy đang nhanh chóng giải quyết nghiệp quả của mình và đang tiến gần đến lối vào Con Đường. Vì vậy, tham thiền của y nên trực tiếp dưới sự hướng dẫn của Chân sư của y, và bất kỳ công thức nào được theo mà không được điều chỉnh theo nhu cầu của một người đều mang theo các yếu tố nguy hiểm, vì các rung động được khởi lên trên cõi trí và các mãnh lực được tạo sinh ở đó mạnh hơn rất nhiều so với các cấp thấp hơn.

b—The egoic group to which he belongs. This is most important for it involves the consideration of the man’s ray in the apportioning of meditation. This matter has already been somewhat touched upon.

b—Nhóm chân ngã mà y thuộc về. Điều này quan trọng nhất vì nó liên quan đến việc xét đến cung của người ấy trong việc phân định tham thiền. Vấn đề này đã được đề cập phần nào.

As you will see, I have not specified certain dangers attacking any particular body. It is not possible to cover the subject thus. In later days, when occult meditation is more comprehended and the matter scientifically studied, students will prepare the necessary data and treatises covering the entire subject as far as then may be. I sound, however, a note of warning, I indicate the way,—the teachers on the inner side seldom do more. We aim at developing thinkers and men of clear vision, capable of logical reasoning. To do this we teach men to develop themselves, to do their own thinking, reason out their own problems, and build their own characters. Such is the Path…. we trod,—such is the path we aim to see you tread.

Như các bạn sẽ thấy, tôi đã không nêu rõ những nguy hiểm nhất định tấn công bất kỳ thể nào. Không thể bao quát đề tài theo cách ấy. Về sau, khi tham thiền huyền bí được thấu hiểu hơn và vấn đề được nghiên cứu một cách khoa học, các đạo sinh sẽ chuẩn bị dữ liệu cần thiết và các luận khảo bao quát toàn bộ đề tài trong chừng mực khi ấy có thể. Tuy nhiên, tôi xướng lên một âm điệu cảnh báo, tôi chỉ ra con đường,—các huấn sư ở phía bên trong hiếm khi làm hơn thế. Chúng tôi nhắm đến việc phát triển những người biết tư duy và những người có tầm nhìn rõ ràng, có khả năng lý luận logic. Để làm điều này, chúng tôi dạy con người phát triển chính họ, tự mình suy nghĩ, tự mình lý giải các vấn đề của mình, và tự mình lập hạnh. Đó là Con Đường…. chúng tôi đã bước,—đó là con đường chúng tôi nhắm thấy các bạn bước đi.

[120]

[120]

August 3, 1920.

Ngày 3 tháng 8, 1920.

Dangers arising from subtle forces.—Những nguy hiểm phát sinh từ các mãnh lực vi tế.

August 3rd, 1920.

Ngày 3 tháng 8, 1920.

During these coming days, brother of mine, application to the immediate duty is the part of wisdom. It is desired that much should be accomplished both in your individual work and in the work that you and FB have undertaken for the section. The future holdeth changes and in the finished scheme lieth hope for that which is hidden in the lap of destiny.

Trong những ngày sắp đến này, huynh đệ của tôi, chuyên chú vào bổn phận trước mắt là phần của minh triết. Người ta mong muốn rằng nhiều việc sẽ được hoàn thành, cả trong công việc cá nhân của các bạn lẫn trong công việc mà các bạn và FB đã đảm nhận cho phân bộ. Tương lai chứa đựng những đổi thay và trong kế hoạch đã hoàn tất có ẩn chứa hy vọng cho điều đang được giấu kín trong lòng định mệnh.

…We have for our topic this morning the final section of our letter on the dangers incidental to meditation. We have dealt somewhat with individual dangers inherent in the three bodies; we have touched upon the risks that may be run when the karma of the student and his group affiliations are overlooked. Today the subject involves real difficulty. We have to deal with the dangers that may arise from forces and persons, from entities and groups working on the subtler planes. The difficulty arises in three ways:—

…Sáng nay, chủ đề của chúng ta là phần cuối của bức thư về những nguy hiểm kèm theo tham thiền. Chúng ta đã bàn phần nào về những nguy hiểm cá nhân vốn có trong ba thể; chúng ta đã chạm đến các rủi ro có thể gặp khi nghiệp quả của đạo sinh và các liên hệ nhóm của y bị bỏ qua. Hôm nay, đề tài này thực sự khó khăn. Chúng ta phải đề cập đến những nguy hiểm có thể phát sinh từ các mãnh lực và con người, từ các thực thể và các nhóm đang hoạt động trên các cõi vi tế hơn. Khó khăn phát sinh theo ba cách:—

l—The ignorance of the average student as to the nature of those forces and as to the personnel of the groups on the subtler planes.

l—Sự thiếu hiểu biết của đạo sinh trung bình về bản chất của các mãnh lực ấy và về nhân sự của các nhóm trên các cõi vi tế hơn.

2—The risk of revealing more than would be wise in an exoteric publication.

2—Rủi ro tiết lộ nhiều hơn điều minh triết cho phép trong một ấn phẩm ngoại môn.

3—An occult risk that is little comprehended by the uninitiated. It lies in the fact that in the concentration of thought that necessarily arises in discussing these problems, thought-waves are set in motion, currents are contacted and thoughtforms circulated that attract the attention of those under discussion. This may lead at times to undesirable results. Therefore, I shall with brevity touch upon the subject. Upon the inner planes the needed light and protection are afforded.

3—Một rủi ro huyền bí mà người chưa được điểm đạo ít thấu hiểu. Nó nằm ở sự kiện rằng trong sự tập trung tư tưởng tất yếu phát sinh khi thảo luận các vấn đề này, các làn sóng tư tưởng được khởi động, các dòng chảy được tiếp xúc và các hình tư tưởng được lưu hành, vốn thu hút sự chú ý của những đối tượng đang được bàn đến. Điều này đôi khi có thể dẫn đến những kết quả không mong muốn. Vì vậy, tôi sẽ ngắn gọn chạm đến đề tài này. Trên các cõi bên trong, ánh sáng và sự bảo vệ cần thiết được ban cấp.

Three groups of entities:—

Ba nhóm thực thể:—

These groups of entities can be differentiated in a threefold manner:—

Các nhóm thực thể này có thể được phân biệt theo một cách tam phân:—

l—Groups of discarnate beings on either the emotional or the mental planes.

l—Các nhóm chúng sinh đã thoát xác trên hoặc cõi cảm dục hoặc cõi trí.

2—Devas, either singly or in groups.

2—Các thiên thần, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm.

3—The dark Brotherhood. [121]

3—Huynh đệ Đoàn Hắc đạo. [121]

Let us take each division and deal with it carefully, first laying the foundation of knowledge by pointing out that the dangers arise from a threefold condition of the bodies of the student which may be the result sometimes of meditation. These conditions are:

Chúng ta hãy lấy từng phân bộ và bàn đến một cách cẩn trọng, trước hết đặt nền tảng tri thức bằng cách chỉ ra rằng các nguy hiểm phát sinh từ một tình trạng tam phân của các thể của đạo sinh, đôi khi có thể là kết quả của tham thiền. Các tình trạng ấy là:

A negative condition that makes the entire three bodies of the personality receptive and quiescent, and open therefore to the attack of the watching denizens of other planes.

Một tình trạng tiêu cực khiến toàn bộ ba thể của phàm ngã trở nên tiếp nhận và tĩnh lặng, và do đó mở ra cho sự tấn công của những cư dân canh chừng của các cõi khác.

A condition of ignorance or foolhardiness that, in attempting to use certain forms and mantrams without the permission of the Teacher, involves the student with certain groups of devas, bringing him into contact with the devas of the emotional or mental planes and making him therefore (through his ignorance) the butt of their attack and the plaything of their destructive instincts.

Một tình trạng thiếu hiểu biết hoặc liều lĩnh mà, khi cố gắng sử dụng một số hình thức và mantram nhất định mà không có sự cho phép của huấn sư, khiến đạo sinh vướng vào một số nhóm thiên thần, đưa y tiếp xúc với các thiên thần của cõi cảm dục hoặc cõi trí và do đó (vì sự ngu dốt của y) trở thành mục tiêu bị tấn công và món đồ chơi cho các bản năng phá hoại của họ.

A condition which is the reverse of the above, which makes a man positive and a channel, therefore, for force or power. When this is the case, the man proceeds, under occult rule or law and with the aid of his Teacher, to wield the electrical fluid of the inner planes. He becomes then a centre of the attention of those who strive against the Brothers of Light.

Một tình trạng trái ngược với điều trên, khiến một người trở nên tích cực và do đó là một kênh cho mãnh lực hoặc quyền năng. Khi điều này xảy ra, người ấy tiến hành, theo quy luật hay định luật huyền bí và với sự trợ giúp của huấn sư của y, để vận dụng lưu chất điện của các cõi bên trong. Khi ấy y trở thành một trung tâm thu hút sự chú ý của những kẻ chống lại các Huynh Đệ Ánh Sáng.

The first two conditions are all the result of meditation unwisely and ignorantly practised, the last state of affairs is frequently the reward of success. In the first two, the remedy lies within the student himself and in the wise correction of the type of meditation and its more careful following; in the third case the remedy must be sought in various ways which I will later indicate.

Hai tình trạng đầu đều là kết quả của tham thiền được thực hành một cách thiếu minh triết và thiếu hiểu biết; trạng thái sau thường là phần thưởng của thành công. Trong hai tình trạng đầu, phương thuốc nằm trong chính đạo sinh và trong việc sửa chữa minh triết loại tham thiền cùng với việc theo sát cẩn trọng hơn; trong trường hợp thứ ba, phương thuốc phải được tìm theo nhiều cách mà về sau tôi sẽ chỉ ra.

[Commentary 29]

Dangers of obsession.—Những nguy hiểm của sự ám nhập.

Dangers from discarnate entities are frankly those of obsession, either of a temporary nature and lasting for a few moments or more enduring and lasting for a longer [122] period. It may even be permanent and lasting through a lifetime. I have earlier written to you a letter upon this subject which you might here incorporate. We never duplicate effort if it can be avoided. I seek primarily to emphasise the point that this entrance which we call obsession is effected largely through the negative attitude assumed through the unwise following of an unsuitable meditation. In his anxiety to be the recipient of light from above, in his determination to force himself to a place where he can contact the teachers or even the Master, and in his endeavour to eliminate all thought and lower vibrations, the student makes the mistake of rendering his entire lower personality receptive. Instead of making it firmly positive to environing factors and to all lower contacts, and instead of only allowing the “apex of the mind” (if I may use so unusual a term) to be receptive and open to transmission from the causal or the abstract levels and even from the intuitional, the student permits reception from all sides. Only a point within the brain should be receptive, all the rest of the consciousness should be so polarised that outer interference will not be possible. This refers to the emotional and to the mental bodies, though with the majority these days it refers solely to the emotional. At this particular period of the world’s history the emotional plane is so densely populated and the response of the physical to the emotional is now becoming so exquisitely attuned, that the danger of obsession is greater than ever heretofore. But for your cheering—the reverse holds good also, and response to the divine and rapid reaction to the higher inspiration has never been so great. Divine inspiration or that “divine obsession” which is the privilege of all advanced souls, will be understood in the coming years as never before, and will be definitely one of the [123] methods used by the coming Lord and His Great Ones for the helping of the world.

Những nguy hiểm từ các thực thể đã thoát xác, nói thẳng ra, là những nguy hiểm của sự ám nhập, hoặc tạm thời và kéo dài vài khoảnh khắc hoặc lâu hơn, hoặc bền hơn và kéo dài trong một thời gian dài [122] hơn. Nó thậm chí có thể thường trực và kéo dài suốt một đời. Trước đây tôi đã viết cho các bạn một bức thư về đề tài này mà các bạn có thể ghép vào đây. Chúng tôi không bao giờ lặp lại nỗ lực nếu có thể tránh. Trước hết, tôi tìm cách nhấn mạnh điểm rằng sự xâm nhập mà chúng ta gọi là ám nhập này được thực hiện phần lớn qua thái độ tiêu cực được giả định do việc theo đuổi thiếu minh triết một kiểu tham thiền không thích hợp. Trong nỗi lo muốn là người tiếp nhận ánh sáng từ bên trên, trong quyết tâm ép mình đến một nơi mà y có thể tiếp xúc các huấn sư hay thậm chí Chân sư, và trong nỗ lực loại bỏ mọi tư tưởng và các rung động thấp, đạo sinh phạm sai lầm khi làm cho toàn bộ phàm ngã thấp của mình trở nên tiếp nhận. Thay vì làm cho nó vững vàng tích cực đối với các yếu tố bao quanh và đối với mọi tiếp xúc thấp, và thay vì chỉ cho phép “đỉnh của thể trí” (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ khác thường như vậy) được tiếp nhận và mở ra cho sự truyền đạt từ các cấp nguyên nhân hay trừu tượng và thậm chí từ trực giác, đạo sinh lại cho phép sự tiếp nhận từ mọi phía. Chỉ một điểm trong bộ não nên tiếp nhận; toàn bộ phần còn lại của tâm thức nên được phân cực sao cho sự can thiệp từ bên ngoài sẽ không thể xảy ra. Điều này áp dụng cho thể cảm dục và thể trí, mặc dù với đa số ngày nay nó chỉ áp dụng cho thể cảm dục. Trong giai đoạn đặc thù này của lịch sử thế giới, cõi cảm dục đông đúc đến mức đậm đặc và sự đáp ứng của thể xác đối với cảm dục nay đang trở nên tinh vi đến mức được chỉnh điệu, nên nguy hiểm của sự ám nhập lớn hơn bao giờ hết trước đây. Nhưng để các bạn được khích lệ,—điều ngược lại cũng đúng, và sự đáp ứng đối với thiêng liêng cùng phản ứng nhanh đối với cảm hứng cao hơn chưa bao giờ lớn đến thế. Cảm hứng thiêng liêng hay “sự ám nhập thiêng liêng” vốn là đặc quyền của mọi linh hồn tiến hoá, sẽ được thấu hiểu trong những năm sắp tới như chưa từng có, và sẽ chắc chắn là một trong những [123] phương pháp được Đấng Đang Đến và Các Đấng Cao Cả của Ngài sử dụng để trợ giúp thế gian.

The thing to be remembered is that in the case of wrong obsession the man is at the mercy of the obsessing entity, and is unconsciously or unwillingly a partner in the transaction. In divine obsession the man consciously and willingly co-operates with the One Who seeks to inspire, or to occupy or employ his lower vehicles. The motive is ever the greater helping of the race. The obsession is then not the result of a negative condition but of a positive collaboration and proceeds under law and for a specific period…. HPB is a concrete instance of a case in point; the initiate Jesus was another. As more and more of the race develop continuity of consciousness between the physical and the emotional and later the mental, this act of transference of the vehicles will be more frequent and more understood.

Điều cần ghi nhớ là trong trường hợp ám nhập sai lạc, người ấy ở trong tay thực thể ám nhập, và một cách vô thức hoặc miễn cưỡng là một đối tác trong cuộc giao dịch. Trong ám nhập thiêng liêng, người ấy hợp tác một cách có ý thức và tự nguyện với Đấng đang tìm cách truyền cảm hứng, hoặc chiếm dụng hay sử dụng các vận cụ thấp của y. Động cơ luôn là sự trợ giúp lớn hơn cho nhân loại. Khi ấy, sự ám nhập không phải là kết quả của một tình trạng tiêu cực mà là của một sự cộng tác tích cực và tiến hành theo luật và trong một thời kỳ xác định…. Bà HPB là một ví dụ cụ thể của một trường hợp như vậy; điểm đạo đồ Jesus là một trường hợp khác. Khi ngày càng nhiều nhân loại phát triển sự liên tục của tâm thức giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục và về sau là cõi trí, hành vi chuyển dịch các vận cụ này sẽ thường xuyên hơn và được thấu hiểu hơn.

October 9, 1919.

Ngày 9 tháng 10, 1919.

Causes of Obsession.—Nguyên nhân của sự ám nhập.

One of the activities ahead of the occult student is the study and the scientific observation of this matter. We have been told in various occult books that obsession and insanity are very closely allied. Insanity may exist in all three bodies, the least harmful being that of the physical body, whilst the most enduring and the hardest to cure is that of the mental body. Insanity in the mental body is the heavy fate that descends upon those who for many incarnations have followed the path of selfish cruelty, using the intelligence as a means to serve selfish ends and using it willfully, knowing it to be wrong. But insanity of this type is a means whereby the Ego sometimes arrests the progress of a man towards the left-hand path. In this sense it is a disguised blessing. Let us deal first with the causes of obsession, leaving the subject of insanity [124] for another day. These causes are four in number and each responds to a different treatment:—

Một trong những hoạt động phía trước của đạo sinh huyền bí là nghiên cứu và quan sát khoa học vấn đề này. Chúng ta đã được nói trong nhiều sách huyền bí rằng ám nhập và điên loạn có liên hệ rất chặt chẽ. Điên loạn có thể tồn tại trong cả ba thể; ít gây hại nhất là điên loạn của thể xác, trong khi bền dai nhất và khó chữa nhất là điên loạn của thể trí. Điên loạn trong thể trí là số phận nặng nề giáng xuống những kẻ qua nhiều kiếp lâm phàm đã theo con đường tàn ác ích kỷ, dùng trí tuệ như một phương tiện để phục vụ các mục đích ích kỷ và dùng nó một cách cố ý, biết rõ là sai. Nhưng điên loạn thuộc loại này đôi khi là một phương tiện nhờ đó Chân ngã ngăn chặn sự tiến triển của một người về phía tả đạo. Theo nghĩa này, đó là một phúc lành được che giấu. Trước hết, chúng ta hãy bàn về các nguyên nhân của ám nhập, để lại đề tài điên loạn [124] cho một ngày khác. Các nguyên nhân này có bốn, và mỗi nguyên nhân đáp ứng với một cách xử lý khác nhau:—

One cause is a definite weakness of the etheric double, in the separating web, which like a piece of relaxed elastic permits entry of an extraneous entity from the emotional plane. The door of entrance which is formed by this web is not closed tight, and entrance can be effected from without. This is a physical plane cause, and is the result of the maladjustment of physical plane matter. It is the result of karma, and is prenatal, existing from the earliest moment. Usually the sufferer is physically weak, intellectually feeble, but possessed of a powerful emotional body which suffers and fights and struggles to prevent entrance. The attacks are intermittent, and more frequently attack women than men.

Một nguyên nhân là một sự yếu kém xác định của bản sao dĩ thái, ở màng ngăn cách, vốn như một mảnh dây thun bị chùng cho phép một thực thể ngoại lai từ cõi cảm dục đi vào. Cánh cửa đi vào được tạo bởi màng này không khép chặt, và sự xâm nhập có thể được thực hiện từ bên ngoài. Đây là một nguyên nhân thuộc cõi hồng trần, và là kết quả của sự sai lệch điều chỉnh của vật chất cõi hồng trần. Nó là kết quả của nghiệp quả, và là tiền sinh, tồn tại từ khoảnh khắc sớm nhất. Thường thì người chịu đựng yếu về thể chất, kém về trí tuệ, nhưng lại sở hữu một thể cảm dục mạnh mẽ, vốn đau đớn và chiến đấu và vật lộn để ngăn sự xâm nhập. Các cuộc tấn công gián đoạn, và thường tấn công phụ nữ hơn đàn ông.

Another cause is due to emotional reasons. A lack of co-ordination exists between the emotional and the physical and when the man functions in the emotional body (as at night) the moment of re-entry is attended with difficulty, and opportunity exists for other beings to enter the physical vehicle, and prevent its occupation by the real Ego. This is the most common form of obsession, and affects those with powerful physical bodies and strong astral vibrations, but with weak mental bodies. It leads, in the ensuing struggle, to the violent scenes of screaming lunatics and to the paroxysms of the epileptic. Men are more subject to this than women, as women are usually more definitely polarised in the emotional body.

Một nguyên nhân khác là do các lý do cảm dục. Có sự thiếu phối hợp giữa cảm dục và thể xác, và khi người ấy hoạt động trong thể cảm dục (như ban đêm) thì khoảnh khắc tái nhập đi kèm khó khăn, và cơ hội tồn tại cho các chúng sinh khác đi vào vận cụ thể xác, và ngăn nó được Chân ngã thật sự chiếm dụng. Đây là hình thức ám nhập phổ biến nhất, và ảnh hưởng đến những người có thể xác mạnh mẽ và rung động cảm dục mạnh, nhưng có thể trí yếu. Nó dẫn, trong cuộc giằng co tiếp theo, đến những cảnh bạo liệt của kẻ điên gào thét và đến những cơn co giật của người động kinh. Đàn ông dễ mắc hơn phụ nữ, vì phụ nữ thường phân cực rõ rệt hơn trong thể cảm dục.

A rarer kind of obsession is the mental. In coming days as the mental body develops, one may expect perhaps to see more of it. Mental obsession involves the displacement taking place on the mental levels—hence its rarity. The physical body and the emotional body remain as a unit, but the Thinker is left in his mental body, [125] whilst the obsessing entity (clothed in mental matter) enters the two lower vehicles. In the case of emotional obsession the Thinker is left with his emotional body and his mental body but with no physical. In this latter case he is left with neither emotional nor physical. The cause lies in the fact of the over-development of the mental, and of the relative weakness of the emotional and physical bodies. The Thinker is too powerful for his other bodies and disdains their use; he is too interested in work on mental levels, and thus gives opportunity to obsessing entities to assume control. This, as I said before, is rare and is the result of lop-sided development. It attacks women and men equally; it principally shows itself in childhood and is difficult to cure.

Một loại ám nhập hiếm hơn là ám nhập trí. Trong những ngày sắp tới khi thể trí phát triển, người ta có thể kỳ vọng sẽ thấy nhiều hơn. Ám nhập trí liên quan đến sự thay thế xảy ra trên các cấp trí—do đó tính hiếm của nó. Thể xác và thể cảm dục vẫn là một đơn vị, nhưng Thức giả bị bỏ lại trong thể trí của y, [125] trong khi thực thể ám nhập (khoác vật chất trí) đi vào hai vận cụ thấp. Trong trường hợp ám nhập cảm dục, Thức giả bị bỏ lại với thể cảm dục và thể trí nhưng không có thể xác. Trong trường hợp sau này, y bị bỏ lại không có cả cảm dục lẫn thể xác. Nguyên nhân nằm ở sự kiện của sự phát triển quá mức của thể trí, và sự yếu tương đối của thể cảm dục và thể xác. Thức giả quá mạnh so với các thể khác và khinh thường việc sử dụng chúng; y quá quan tâm đến công việc trên các cấp trí, và vì thế tạo cơ hội cho các thực thể ám nhập nắm quyền kiểm soát. Điều này, như tôi đã nói trước, là hiếm và là kết quả của sự phát triển lệch lạc. Nó tấn công phụ nữ và đàn ông như nhau; nó chủ yếu biểu hiện trong thời thơ ấu và khó chữa.

A still rarer cause of obsession is definitely the work of the dark Brothers. It takes the form of snapping the magnetic link that attaches the Ego to the lower physical body, leaving him in his emotional and mental bodies. This would normally result in the death of the physical body, but in cases such as these the dark Brother, who is to use the physical body, enters it and makes connection with his own cord. These cases are not common. They involve only two classes of people:—

Một nguyên nhân còn hiếm hơn của ám nhập chắc chắn là công việc của Huynh đệ Đoàn Hắc đạo. Nó mang hình thức bẻ gãy mối liên kết từ tính gắn Chân ngã với thể xác thấp, để y ở lại trong thể cảm dục và thể trí. Điều này bình thường sẽ dẫn đến cái chết của thể xác, nhưng trong những trường hợp như vậy, huynh đệ hắc đạo, kẻ sẽ sử dụng thể xác, đi vào đó và nối kết với sợi dây của chính hắn. Những trường hợp này không phổ biến. Chúng chỉ liên quan đến hai hạng người:—

Those who are highly evolved and on the Path, but who through some wilful shortcoming fail for some one incarnation and so lay themselves open to the evil force. Sin (as you call it) in the Personality of a disciple leads to a weakness in some one spot, and this is taken advantage of. This type of obsession shows itself in the transformation that is sometimes seen when a great soul suddenly plunges on an apparent downward path, when he changes the whole trend of his existence and besmirches a fair character with mud. It carries with it its own punishment, for on the inner planes the disciple looks [126] on, and in agony of mind sees his lower vehicle dishonouring the fair name of its real owner and causing evil to be said of a loved cause.

Những người tiến hoá cao và đang trên Con Đường, nhưng vì một thiếu sót cố ý nào đó mà thất bại trong một kiếp lâm phàm và do đó tự đặt mình mở ra cho mãnh lực xấu. Tội lỗi (như các bạn gọi) trong phàm ngã của một đệ tử dẫn đến sự yếu kém ở một điểm nào đó, và điều này bị lợi dụng. Loại ám nhập này biểu hiện trong sự biến đổi đôi khi được thấy khi một linh hồn lớn đột nhiên lao vào một con đường dường như đi xuống, khi y đổi hẳn xu hướng tồn tại của mình và bôi bẩn một tính cách tốt đẹp bằng bùn nhơ. Nó mang theo hình phạt của chính nó, vì trên các cõi bên trong, đệ tử nhìn [126] theo, và trong cơn thống khổ của thể trí thấy vận cụ thấp của mình làm ô nhục danh tiếng tốt đẹp của chủ nhân thật sự của nó và khiến điều xấu được nói về một chính nghĩa được yêu quý.

The little evolved, weakly organised, and so unable to resist.

Những kẻ ít tiến hoá, tổ chức yếu ớt, và do đó không thể kháng cự.

The Kinds of Obsessing Entities.—Các loại thực thể ám nhập.

These are too numerous to mention in detail but I might enumerate a few.

Chúng quá nhiều để nêu chi tiết, nhưng tôi có thể liệt kê một vài.

l—Discarnate entities of a low order awaiting incarnation, and who see, in cases one and two, their wanted opportunity.

l—Các thực thể đã thoát xác thuộc loại thấp đang chờ nhập thể, và thấy, trong trường hợp một và hai, cơ hội mong muốn của họ.

2—Suicides, anxious to undo the deed and to again get into contact with earth.

2—Những kẻ tự sát, nóng lòng hoàn lại hành vi và lại được tiếp xúc với Trái Đất.

3—Earth-bound spirits, good and bad, who from anxiety over loved ones, over their business affairs, or eager to do some wrong or to undo some evil act, rush in and take possession of cases one and two.

3—Các vong linh bị trói buộc với Trái Đất, tốt và xấu, do lo lắng về người thân yêu, về công việc làm ăn của họ, hoặc háo hức làm điều sai trái hay sửa lại một hành vi xấu, lao vào và chiếm hữu các trường hợp một và hai.

4—Dark Brothers as aforesaid, who avail themselves principally of the third and fourth cases already cited. They require highly developed bodies, having no use for weak or unrefined bodies. In case three the weakness is entirely relative, due to over-accentuation of the mental vehicle.

4—Các huynh đệ hắc đạo như đã nói, chủ yếu lợi dụng trường hợp thứ ba và thứ tư đã nêu. Họ cần các thể phát triển cao, không dùng được các thể yếu hay thô. Trong trường hợp ba, sự yếu kém hoàn toàn là tương đối, do sự nhấn mạnh quá mức vận cụ trí.

5—Elementals and subhuman entities of a malicious nature who rush in on the slightest opportunity and where kindred vibration may be felt.

5—Các hành khí và các thực thể dưới nhân loại có bản chất ác ý, lao vào chỉ với cơ hội nhỏ nhất và nơi có thể cảm thấy rung động đồng loại.

6—Some of the lower devas, harmless but mischievous[1] who, from sheer freakishness[2] and fun, enter another body in much the same way that a child loves to dress up.

6—Một số thiên thần thấp, vô hại nhưng tinh quái, do tính kỳ quặc và vui đùa thuần tuý, đi vào một thể khác theo cách gần giống như một đứa trẻ thích hoá trang.

7—Occasional visitors from other planets who enter certain highly evolved bodies for purposes of their own. This is very, very rare…. [127]

7—Những vị khách thỉnh thoảng từ các hành tinh khác đi vào một số thể tiến hoá cao vì các mục đích riêng của họ. Điều này rất, rất hiếm…. [127]

Let me now give you some of the methods that eventually will be the first attempts at cure.

Giờ đây tôi xin đưa ra một số phương pháp mà rốt cuộc sẽ là những thử nghiệm đầu tiên nhằm chữa trị.

In the first type of cases, those due to physical plane weakness, the stress of the cure will be laid first on building up a strong physical body in both its departments, though especially the etheric body. This will be done in future years with the direct aid of the devas of the shadows (the violet devas or devas of the ethers). The strengthening of the etheric web will be aided by means of the violet light, with its corresponding sound, administered in quiet sanitariums. Coincident with this treatment will be the attempt to strengthen the mental body. With the strengthening of the physical body will come longer and longer periods of freedom from attack. Eventually the attacks will cease altogether.

Trong loại trường hợp thứ nhất, những trường hợp do sự yếu kém cõi hồng trần, trọng tâm chữa trị trước hết sẽ đặt vào việc xây dựng một thể xác mạnh mẽ trong cả hai bộ phận của nó, dù đặc biệt là thể dĩ thái. Điều này trong những năm tới sẽ được thực hiện với sự trợ giúp trực tiếp của các thiên thần của bóng tối (các thiên thần tím hay các thiên thần của các cõi dĩ thái). Việc tăng cường màng dĩ thái sẽ được hỗ trợ bằng ánh sáng tím, với âm thanh tương ứng của nó, được áp dụng trong các viện điều dưỡng yên tĩnh. Song song với sự chữa trị này sẽ là nỗ lực tăng cường thể trí. Cùng với việc tăng cường thể xác sẽ đến những thời kỳ ngày càng dài được tự do khỏi sự tấn công. Cuối cùng các cuộc tấn công sẽ chấm dứt hoàn toàn.

When the cause is lack of co-ordination between the physical and the emotional vehicles the first methods of cure will be definite exorcism[3] by the aid of mantrams and ceremonial (such as religious ritual). Qualified persons will use these mantrams at night when the obsessing entity may be supposed to be absent during the hours of sleep. Those mantrams will call the real owner back, will build a protective wall after his re-entry and will seek to force the obsessing one to stay absent. When the real owner has returned, the work then will be to keep him there. Educative work during the day and protective measures at night for longer or shorter periods will gradually eliminate the evil occupant, or unwanted tenant, and in the course of time the sufferer will continue to procure immunity. More anent this can later be given.

Khi nguyên nhân là sự thiếu phối hợp giữa vận cụ thể xác và vận cụ cảm dục, các phương pháp chữa trị đầu tiên sẽ là trừ tà dứt khoát với sự trợ giúp của mantram và nghi lễ (như nghi thức tôn giáo). Những người đủ năng lực sẽ dùng các mantram này vào ban đêm khi thực thể ám nhập có thể được giả định là vắng mặt trong giờ ngủ. Những mantram ấy sẽ gọi chủ nhân thật sự trở lại, sẽ dựng một bức tường bảo vệ sau khi y tái nhập và sẽ tìm cách buộc kẻ ám nhập phải tiếp tục vắng mặt. Khi chủ nhân thật sự đã trở lại, công việc khi ấy sẽ là giữ y ở lại đó. Công tác giáo dục ban ngày và các biện pháp bảo vệ ban đêm trong những thời kỳ dài hay ngắn sẽ dần dần loại bỏ kẻ chiếm hữu xấu, hay kẻ thuê nhà không mong muốn, và theo thời gian người chịu đựng sẽ tiếp tục đạt được sự miễn nhiễm. Về điều này, về sau có thể nói thêm.

Where mental obsession is involved the matter is more difficult. Most of the first cures achieved in the future will centre around the first two groups. Mental obsession must await greater knowledge, though experimentation [128] from the very first should be undertaken. The work will have to be done mostly from the mental plane by those who can function there freely and so contact the Thinker in his mental body. The co-operation of the Thinker must then be procured and a definite attack conjointly made on the obsessed physical and emotional bodies. During the night much of the work in the first two cases of cures will be done, but in the latter case the Thinker has to win back his physical and his emotional bodies as well, hence the exceeding difficulty. Death often eventuates in these cases.

Khi liên quan đến ám nhập trí, vấn đề khó hơn. Phần lớn các chữa trị đầu tiên đạt được trong tương lai sẽ tập trung quanh hai nhóm đầu. Ám nhập trí phải chờ tri thức lớn hơn, dù ngay từ đầu [128] việc thử nghiệm cũng nên được tiến hành. Công việc sẽ phải được thực hiện phần lớn từ cõi trí bởi những người có thể hoạt động tự do ở đó và do đó tiếp xúc Thức giả trong thể trí của y. Khi ấy phải giành được sự hợp tác của Thức giả và một cuộc tấn công dứt khoát sẽ được thực hiện chung lên thể xác và thể cảm dục đang bị ám nhập. Ban đêm, phần lớn công việc trong hai trường hợp chữa trị đầu sẽ được thực hiện, nhưng trong trường hợp sau, Thức giả phải giành lại cả thể xác lẫn thể cảm dục của y, do đó sự khó khăn tột bậc. Cái chết thường là kết cục trong những trường hợp này.

In the severing of the magnetic cord naught can be done as yet.

Trong việc cắt đứt sợi dây từ tính, hiện nay chưa thể làm gì.

[Commentary 30]

Dangers from the deva evolution.—Những nguy hiểm từ tiến hoá thiên thần.

This second point is more complex. You will remember how it has been said earlier in these letters that contact with the devas can be brought about through specific forms and mantrams and that in this contact lies peril for the unwary. This danger is curiously real now, owing to the following reasons:

Điểm thứ hai này phức tạp hơn. Các bạn sẽ nhớ rằng trước đây trong các bức thư này đã nói rằng tiếp xúc với các thiên thần có thể được tạo ra qua những hình thức và mantram đặc thù và rằng trong sự tiếp xúc này có hiểm nguy cho người bất cẩn. Nguy hiểm này hiện nay kỳ lạ là có thật, do các lý do sau:

a—The coming in of the violet ray, the seventh or Ceremonial Ray, has rendered this contact more easy of attainment than heretofore. It is therefore the ray on which approximation is possible, and in the use of ceremonial and of set forms, coupled to regulated rhythmic movement, will be found a meeting place for the two allied evolutions. In the use of ritual this will be apparent, and psychics are already bearing witness to the fact that both in the ritual of the Church and in that of Masonry this has been evidenced. More and more will this be the case, and it carries with it certain risks that will inevitably work themselves into common knowledge and thus affect in various ways the unwary sons of men. [129] As you know, a definite effort is being made at this time by the Planetary Hierarchy to communicate to the devas their part in the scheme of things, and the part the human family must likewise play. The work is slow, and certain results are inevitable. It is not my purpose to take up with you in these letters the part that ritual and set mantric forms play in the evolution of devas and of men. I only desire to point out that danger for human beings lies in the unwise use of forms for the calling of the devas, in experimenting with the Sacred Word with the object in view of contacting the Builders who are so largely affected by it, and in endeavouring to pry into the secrets of ritual with its adjuncts of colour and of sound. Later on, when the pupil has passed the portal of initiation, such knowledge will be his, coupled with the necessary information that teaches him to work with the law. In the following of the law, no danger lurks.

a—Sự đến vào của cung tím, cung bảy hay Cung Nghi Lễ, đã khiến sự tiếp xúc này dễ đạt được hơn trước đây. Vì vậy, đây là cung mà trên đó sự xích lại gần là có thể, và trong việc sử dụng nghi lễ và các hình thức định sẵn, kết hợp với vận động nhịp điệu được điều hoà, sẽ tìm thấy một nơi gặp gỡ cho hai tiến hoá đồng minh. Trong việc sử dụng nghi thức, điều này sẽ hiển nhiên, và các nhà thông linh đã đang làm chứng cho sự kiện rằng cả trong nghi thức của Giáo hội lẫn trong nghi thức của Hội Tam Điểm, điều này đã được biểu lộ. Ngày càng nhiều điều này sẽ là như vậy, và nó mang theo những rủi ro nhất định mà tất yếu sẽ tự đưa mình vào tri thức phổ thông và do đó ảnh hưởng theo nhiều cách đến những người con của nhân loại bất cẩn. [129] Như các bạn biết, một nỗ lực dứt khoát đang được thực hiện vào lúc này bởi Thánh Đoàn Hành Tinh để truyền đạt cho các thiên thần phần việc của họ trong kế hoạch sự vật,phần việc mà gia đình nhân loại cũng phải đóng. Công việc chậm, và một số kết quả là không thể tránh. Mục đích của tôi không phải là bàn với các bạn trong các bức thư này về phần mà nghi lễ và các hình thức mantram định sẵn đóng trong sự tiến hoá của thiên thần và của con người. Tôi chỉ mong chỉ ra rằng nguy hiểm cho con người nằm ở việc sử dụng thiếu minh triết các hình thức để gọi các thiên thần, trong việc thử nghiệm với Linh từ Thiêng Liêng nhằm tiếp xúc các đấng kiến tạo vốn bị nó ảnh hưởng rất lớn, và trong nỗ lực dòm ngó các bí mật của nghi lễ với các phụ trợ của màu sắc và âm thanh. Về sau, khi môn sinh đã vượt qua cổng điểm đạo, tri thức ấy sẽ là của y, đi kèm với thông tin cần thiết dạy y làm việc với định luật. Trong việc tuân theo định luật, không có nguy hiểm ẩn nấp.

b—The race is possessed of a strong determination to penetrate within the veil, and to find out what lies on the other side of the unknown. Men and women everywhere are conscious within themselves of budding powers which meditation enhances. They find that by the careful following of certain rules they become more sensitive to the sights and sounds of the inner planes. They catch fleeting glimpses of the unknown; occasionally and at rare intervals, the organ of inner vision temporarily opens and they hear and see on the astral or the mental plane. They see devas at a meeting in which ritual has been employed; they catch a sound or a voice that tells them truths that they recognise as true. The temptation to force the issue, to prolong meditation, to try out certain methods that promise intensification of psychic faculty is too strong. They unwarily force matters and dire disaster results. One hint here I give:- In meditation [130] it is literally possible to play with fire. The devas of the mental levels manipulate the latent fires of the system and thus incidentally the latent fires of the inner man. It is woefully possible to be the plaything of their endeavour and to perish at their hands. A truth I speak here; I give not voice to the interesting chimeras[4] of a fanciful brain. Beware of playing with fire.

b—Nhân loại bị thúc đẩy bởi một quyết tâm mạnh mẽ muốn xuyên qua bức màn, và tìm ra điều gì nằm ở phía bên kia của cái chưa biết. Những người nam và nữ ở khắp nơi đều tự nhận biết trong chính mình các quyền năng đang nảy nở mà tham thiền làm tăng cường. Họ thấy rằng bằng việc theo sát cẩn trọng một số quy luật nhất định, họ trở nên nhạy cảm hơn với các cảnh tượng và âm thanh của các cõi bên trong. Họ bắt gặp những thoáng nhìn chớp nhoáng của cái chưa biết; đôi khi và vào những khoảng hiếm hoi, cơ quan linh thị tạm thời mở rahọ nghe và thấy trên cõi cảm dục hoặc cõi trí. Họ thấy các thiên thần tại một cuộc họp nơi nghi lễ đã được sử dụng; họ bắt được một âm thanh hay một tiếng nói nói với họ những chân lý mà họ nhận ra là đúng. Cám dỗ muốn ép cho sự việc xảy ra, muốn kéo dài tham thiền, muốn thử một số phương pháp hứa hẹn làm tăng cường năng lực thông linh là quá mạnh. Họ bất cẩn ép buộc sự việc và tai hoạ khủng khiếp xảy ra. Ở đây tôi đưa ra một gợi ý:- Trong tham thiền [130] thực sự có thể đùa với lửa. Các thiên thần của các cấp trí thao tác các ngọn lửa tiềm ẩn của hệ thống và do đó, một cách phụ thuộc, các ngọn lửa tiềm ẩn của con người bên trong. Thật đáng buồn là có thể trở thành món đồ chơi của nỗ lực của họ và chết dưới tay họ. Tôi nói một chân lý ở đây; tôi không lên tiếng cho những ảo ảnh thú vị của một bộ não tưởng tượng. Hãy coi chừng việc đùa với lửa.

c—This transition period is largely responsible for much of the danger. The right type of body for the holding and the handling of the occult force has not yet been built, and in the interim the bodies now in use but spell disaster to the ambitious student. When a man starts out to follow the path of occult meditation, it takes well-nigh fourteen years to rebuild the subtle bodies, and incidentally the physical. All through that period it is not safe to tamper with the unknown for only the very strong refined physical body, the controlled stable and equalised emotional body and the properly striated mental body can enter into the subtler planes and literally work with Fohat, for that is what the occult does. Therefore is the emphasis laid by all wise Teachers everywhere on the Path of Purification, which must precede the Path of Illumination. They lay the emphasis on the building in of spiritual faculty before psychic faculty can be safely permitted; they demand service to the race every day throughout the scope of life before a man may be permitted to manipulate the forces of nature, to dominate the elementals, to co-operate with the devas, and to learn the forms and ceremonies, the mantrams and the key-words, that will bring those forces within the circle of manifestation.

c—Giai đoạn chuyển tiếp này chịu trách nhiệm phần lớn cho nhiều nguy hiểm. Loại thể đúng đắn để chứa đựng và xử lý mãnh lực huyền bí vẫn chưa được xây dựng, và trong thời gian chuyển tiếp, các thể hiện đang dùng chỉ gieo tai hoạ cho đạo sinh đầy tham vọng. Khi một người bắt đầu theo con đường tham thiền huyền bí, gần như mất mười bốn năm để tái kiến tạo các thể vi tế, và kèm theo đó là thể xác. Suốt thời kỳ ấy, không an toàn khi can thiệp vào cái chưa biết, vì chỉ một thể xác rất mạnh và tinh luyện, một thể cảm dục được kiểm soát, ổn định và quân bình, và một thể trí được tạo vân đúng cách mới có thể đi vào các cõi vi tế hơn và thực sự làm việc với Fohat, vì đó là điều mà nhà huyền bí làm. Vì vậy, mọi Huấn sư minh triết ở khắp nơi đều nhấn mạnh Con Đường Thanh Lọc, vốn phải đi trước Con Đường Soi Sáng. Các Ngài nhấn mạnh việc xây dựng năng lực tinh thần trước khi năng lực thông linh có thể được cho phép một cách an toàn; các Ngài đòi hỏi phụng sự nhân loại mỗi ngày trong suốt phạm vi đời sống trước khi một người có thể được cho phép thao tác các mãnh lực của bản chất, thống trị các hành khí, hợp tác với các thiên thần, và học các hình thức và nghi lễ, các mantram và các linh từ then chốt, vốn sẽ đưa các mãnh lực ấy vào trong vòng biểu hiện.

August 4, 1920.

Ngày 4 tháng 8, 1920.

Danger from the Dark Brothers.—Nguy hiểm từ các Huynh đệ Hắc đạo.

I think I gave you earlier practically all that I can as [131] yet impart anent the Brothers of Darkness, as they are sometimes termed. I only want at this point to lay emphasis upon the fact that no danger need be feared by the average student from this source. It is only as discipleship is approached and a man stands out ahead of his fellows as an instrument of the White Brotherhood that he attracts the attention of those who seek to withstand. When through application to meditation, and power and activity in service, a man has developed his vehicles to a point of real achievement, then his vibrations set in motion matters of a specific kind, and he learns to work with that matter, to manipulate the fluids, and to control the builders. In so doing he encroaches on the domain of those who work with the forces of involution and thus he may bring attack upon himself. This attack may be directed against any of his three vehicles and may be of different kinds. Let me briefly point out some of the methods employed against a disciple which are the ones which alone concern the student of these letters:

Tôi nghĩ trước đây tôi đã đưa cho các bạn hầu như tất cả những gì tôi có thể, vào lúc này, truyền đạt về các Huynh đệ Bóng Tối, như đôi khi họ được gọi. Ở điểm này tôi chỉ muốn nhấn mạnh sự kiện rằng đạo sinh trung bình không cần sợ nguy hiểm từ nguồn này. Chỉ khi địa vị đệ tử được tiến gần và một người nổi bật trước các bạn đồng hành như một công cụ của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo thì y mới thu hút sự chú ý của những kẻ tìm cách chống lại. Khi nhờ áp dụng tham thiền, và quyền năng cùng hoạt động trong phụng sự, một người đã phát triển các vận cụ của mình đến mức thành tựu thực sự, thì các rung động của y khởi động những vật chất thuộc một loại đặc thù, và y học cách làm việc với vật chất ấy, thao tác các lưu chất, và kiểm soát các đấng kiến tạo. Khi làm như vậy, y xâm lấn lãnh địa của những kẻ làm việc với các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá và do đó y có thể tự chuốc lấy sự tấn công. Sự tấn công này có thể nhắm vào bất kỳ vận cụ nào trong ba vận cụ của y và có thể thuộc các loại khác nhau. Tôi xin ngắn gọn chỉ ra một số phương pháp được dùng chống lại một đệ tử, là những điều duy nhất liên quan đến đạo sinh của các bức thư này:

a—Definite attack on the physical body. All kinds of means are employed to hinder the usefulness of the disciple through disease or the crippling of his physical body. Not all accidents are the result of karma, for the disciple has usually surmounted a good deal of that type of karma and is thus comparatively free from that source of hindrance in active work.

a—Tấn công dứt khoát lên thể xác. Mọi loại phương tiện được sử dụng để cản trở tính hữu dụng của đệ tử qua bệnh tật hoặc làm tàn phế thể xác của y. Không phải mọi tai nạn đều là kết quả của nghiệp quả, vì đệ tử thường đã vượt qua khá nhiều loại nghiệp quả ấy và do đó tương đối tự do khỏi nguồn cản trở này trong công việc phụng sự tích cực.

b—Glamour is another method used, or the casting over the disciple of a cloud of emotional or mental matter which suffices to hide the real, and to temporarily obscure that which is true. The study of the cases wherein glamour has been employed is exceedingly revealing and demonstrates how hard it is for even an advanced disciple always to discriminate between the real and the false, the true and the untrue. Glamour may be either on the [132] emotional or mental levels but is usually on the former. One form employed is to cast over the disciple the shadows of the thought of weakness or discouragement or criticism to which he may at intervals give way. Thus cast, they loom in undue proportion and the unwary disciple, not realising that he is but seeing the gigantic outlines of his own momentary and passing thoughts, gives way to discouragement, aye even to despair, and becomes of little use to the Great Ones. Another form is to throw into his mental aura suggestions and ideas purporting to come from his own Master but which are but subtle suggestions that hinder and help not. It takes a wise disciple always to discriminate between the voice of his real Teacher and the false whispers of the masquerading one, and even high initiates have been temporarily misled.

b—Ảo cảm là một phương pháp khác được dùng, hay việc phủ lên đệ tử một đám mây vật chất cảm dục hoặc trí, đủ để che khuất cái thực, và tạm thời làm mờ điều chân thật. Việc nghiên cứu các trường hợp trong đó ảo cảm đã được sử dụng là cực kỳ vén mở và chứng tỏ rằng ngay cả một đệ tử tiến bộ cũng khó mà luôn luôn phân biện giữa cái thực và cái giả, cái đúng và cái không đúng. Ảo cảm có thể ở các [132] cấp cảm dục hoặc trí, nhưng thường ở cấp thứ nhất. Một hình thức được dùng là phủ lên đệ tử những bóng tối của tư tưởng về yếu đuối hay nản lòng hay chỉ trích mà đôi lúc y có thể nhượng bộ. Khi bị phủ như vậy, chúng phóng lớn quá mức tỉ lệ và đệ tử bất cẩn, không nhận ra rằng y chỉ đang thấy những đường nét khổng lồ của các tư tưởng thoáng qua và tạm thời của chính mình, liền nhượng bộ nản lòng, vâng, thậm chí tuyệt vọng, và trở nên ít hữu dụng đối với Các Đấng Cao Cả. Một hình thức khác là ném vào hào quang trí của y những gợi ý và ý niệm giả như đến từ chính Chân sư của y nhưng thực ra chỉ là những gợi ý vi tế cản trở chứ không giúp. Cần một đệ tử minh triết để luôn phân biện giữa tiếng nói của huấn sư thật sự của y và những lời thì thầm giả dối của kẻ giả trang, và ngay cả các điểm đạo đồ cao cũng đã từng tạm thời bị dẫn lạc.

Many and subtle are the means used to deceive and thereby curtail the effective output of the worker in the field of the world. Wisely therefore have all aspirants been enjoined to study and work at the development of viveka or that discrimination which safeguards from deception. If this quality is laboriously built in and cultivated in all events, big and little, in the daily life, the risks of being led astray will be nullified.

Nhiều và vi tế là các phương tiện được dùng để lừa dối và do đó cắt giảm sản lượng hữu hiệu của người hoạt động trong cánh đồng thế gian. Vì vậy, mọi người chí nguyện đã được khuyên một cách minh triết phải nghiên cứu và làm việc để phát triển viveka hay sự phân biện ấy vốn bảo vệ khỏi sự lừa dối. Nếu phẩm tính này được xây dựng một cách cần mẫn và được nuôi dưỡng trong mọi sự kiện, lớn và nhỏ, trong đời sống hằng ngày, thì các rủi ro bị dẫn lạc sẽ bị triệt tiêu.

c—A third method frequently employed is to envelop the disciple in a thick cloud of darkness, to surround him with an impenetrable night and fog through which he stumbles and often falls. It may take the form of a black cloud of emotional matter, of some dark emotion that seems to imperil all stable vibration and plunges the bewildered student into a blackness of despair; he feels that all is departing from him; he is a prey to varied and dismal emotions; he deems himself forsaken of all; he considers that all past effort has been futile and that naught remains but to die. At such times he needs much the gift [133] of viveka, and to earnestly weigh up and calmly reason out the matter. He should at these times remind himself that the darkness hides naught from the God within, and that the stable centre of consciousness remains there, untouched by aught that may betide. He should persevere until the end,—the end of what? The end of the enveloping cloud, the point where it merges itself into sunlight; he should pass through its length and out into the daylight, realising that nothing can at any time reach to and hurt the inner consciousness. God is within, no matter what transpires without. We are so apt to look out at environing circumstances, whether physical, astral or mental, and to forget that the inmost centre of the heart hides our points of contact with the Universal Logos.

c—Một phương pháp thứ ba thường được dùng là bao bọc đệ tử trong một đám mây dày đặc của bóng tối, vây quanh y bằng một đêm đen và sương mù không thể xuyên thấu, qua đó y loạng choạng và thường ngã quỵ. Nó có thể mang hình thức một đám mây đen của vật chất cảm dục, của một cảm xúc u tối nào đó dường như đe doạ mọi rung động ổn định và quăng người môn sinh bối rối vào một màn đen tuyệt vọng; y cảm thấy mọi thứ đang rời bỏ y; y trở thành mồi cho những cảm xúc đa dạng và thê lương; y cho rằng mình bị tất cả ruồng bỏ; y nghĩ rằng mọi nỗ lực trong quá khứ đều vô ích và chẳng còn gì ngoài cái chết. Vào những lúc như thế, y rất cần ân huệ [133] của viveka, và phải nghiêm túc cân nhắc, bình tĩnh suy lý cho thấu đáo vấn đề. Vào những lúc ấy, y nên tự nhắc mình rằng bóng tối không che giấu được điều gì khỏi Thượng đế bên trong, và trung tâm tâm thức ổn định vẫn ở đó, không bị chạm đến bởi bất cứ điều gì có thể xảy đến. Y nên kiên trì cho đến cùng,—đến cùng của điều gì? Đến cùng của đám mây bao phủ, đến điểm nơi nó hoà nhập vào ánh mặt trời; y nên đi xuyên suốt chiều dài của nó và bước ra ánh ban ngày, chứng nghiệm rằng không có gì, vào bất kỳ lúc nào, có thể vươn tới và làm tổn thương tâm thức nội tại. Thượng đế ở bên trong, bất kể bên ngoài xảy ra điều gì. Chúng ta rất dễ nhìn ra các hoàn cảnh bao quanh, dù là hồng trần, cảm dục hay trí tuệ, và quên rằng trung tâm thẳm sâu nhất của trái tim che giấu những điểm tiếp xúc của chúng ta với Thượng đế Vũ Trụ.

d—Finally (for I cannot touch on all the methods used), the means employed may be to cast a mental darkness over the disciple. The darkness may be intellectual, and is consequently still more difficult to penetrate, for in this case the power of the Ego must be called in, whereas in the former frequently the calm reasoning of the lower mind may suffice to dispel the trouble. Here, in this specific case, the disciple will be wise if he not only attempts to call his Ego or Higher Self for the dispelling of the cloud, but calls likewise upon his Teacher, or even upon his Master, for the assistance that they can give.

d—Sau cùng (vì tôi không thể đề cập đến mọi phương pháp được dùng), phương tiện được sử dụng có thể là phủ một bóng tối thể trí lên đệ tử. Bóng tối ấy có thể là trí thức, và do đó còn khó xuyên thấu hơn, vì trong trường hợp này phải kêu gọi quyền năng của chân ngã, trong khi ở trường hợp trước, thường thì sự suy lý bình tĩnh của hạ trí có thể đủ để xua tan rắc rối. Ở đây, trong trường hợp đặc thù này, đệ tử sẽ khôn ngoan nếu y không chỉ cố gắng kêu gọi chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu của mình để xua tan đám mây, mà còn kêu gọi huấn sư của y, hoặc thậm chí Chân sư của y, để nhận sự trợ giúp mà Các Ngài có thể ban.

These are but a few of the dangers encircling the aspirant, and I hint at them solely for the purpose of warning and guidance, and not to cause alarm. You can here interpolate the earlier letter with the rules that I there give for the assistance of the disciple.

Đó chỉ là một vài hiểm nguy bao quanh người chí nguyện, và tôi gợi ra chúng chỉ nhằm mục đích cảnh báo và hướng dẫn, chứ không phải để gây hoảng sợ. Ở đây các bạn có thể xen vào bức thư trước với các quy luật mà tôi đã nêu ở đó để trợ giúp đệ tử.

September 25, 1919.

Ngày 25 tháng 9, 1919.

[Commentary 31]

The Dark Brotherhood.—Huynh đệ Đoàn Bóng Tối.

Today I seek to speak to you on the powers of the Dark Brotherhood. Certain laws that govern their actions, [134] certain methods employed by them in work need to be realised and certain methods of protection apprehended and utilised. As before I have told you the danger is as yet inappreciable to the majority, but more and more as time elapses shall we find it necessary to teach you, the physical plane workers, how to shield and guard yourselves from attack.

Hôm nay tôi muốn nói với các bạn về các quyền năng của Huynh đệ Đoàn Bóng Tối. Cần phải nhận thức một số định luật chi phối hành động của họ, [134] một số phương pháp họ sử dụng trong công việc, và cần nắm bắt rồi vận dụng một số phương pháp tự bảo vệ. Như trước đây tôi đã nói với các bạn, mối nguy hiện vẫn chưa thể được đa số đánh giá đúng mức, nhưng càng về sau, khi thời gian trôi qua, chúng ta sẽ thấy cần thiết phải dạy các bạn, những người hoạt động trên cõi hồng trần, cách che chở và bảo vệ chính mình khỏi sự tấn công.

The Dark Brothers are—remember this always—brothers, erring and misguided yet still sons of the one Father though straying far, very far, into the land of distances. The way back for them will be long, but the mercy of evolution inevitably forces them back along the path of return in cycles far ahead. Anyone who over-exalts the concrete mind and permits it continuously to shut out the higher, is in danger of straying on the left-hand path. Many so stray…but come back, and then in the future avoid like errors in the same way as a child once burnt avoids the fire. It is the man who persists in spite of warning and of pain who eventually becomes a brother of darkness. Mightily fights the Ego at first to prevent the Personality so developing, but the deficiencies of the causal body (for forget not that our vices are but our virtues misused) result in a lop-sided causal body, over-developed in some direction and full of great gulfs and gaps where virtues should be.

Các Huynh đệ Bóng Tối là—hãy luôn nhớ điều này—những huynh đệ, lầm lạc và bị dẫn sai, nhưng vẫn là những người con của một Đấng Cha duy nhất, dù đã lạc xa, rất xa, vào miền cách biệt. Con đường trở về của họ sẽ dài, nhưng lòng từ bi của tiến hoá tất yếu buộc họ quay lại theo Con Đường Trở Về trong những chu kỳ rất xa về sau. Bất cứ ai tôn sùng quá mức trí cụ thể và liên tục để nó che khuất thượng trí, đều có nguy cơ lạc vào tả đạo. Nhiều người đã lạc như thế… nhưng rồi trở lại, và về sau tránh những sai lầm tương tự, giống như một đứa trẻ từng bị bỏng thì tránh lửa. Chính người nào vẫn cố chấp bất chấp cảnh báo và đau đớn thì rốt cuộc trở thành một huynh đệ bóng tối. Lúc đầu chân ngã chiến đấu mãnh liệt để ngăn phàm ngã phát triển theo hướng ấy, nhưng những khiếm khuyết của thể nguyên nhân (vì đừng quên rằng các thói xấu của chúng ta chỉ là các đức hạnh bị lạm dụng) dẫn đến một thể nguyên nhân lệch lạc, phát triển quá mức theo một hướng nào đó và đầy những vực sâu và khoảng trống lớn nơi lẽ ra phải có các đức hạnh.

The dark brother recognises no unity with his species, only seeing in them people to be exploited for the furtherance of his own ends. This then, on a small scale, is the mark of those who are being used by them wittingly or unwittingly. They respect no person, they regard all men as fair prey, they use everyone to get their own way enforced, and by fair means or foul they seek to break down all opposition and for the personal self acquire that which they desire. [135]

Huynh đệ bóng tối không thừa nhận sự hợp nhất nào với đồng loại của y, chỉ thấy ở họ những người để bị khai thác nhằm thúc đẩy các mục đích riêng của y. Như vậy, ở quy mô nhỏ, đây là dấu hiệu của những kẻ đang bị họ sử dụng, dù hữu ý hay vô ý. Họ không tôn trọng bất kỳ ai, họ xem mọi người là con mồi chính đáng, họ dùng mọi người để áp đặt ý muốn của mình, và bằng phương tiện công khai hay đê hèn, họ tìm cách phá vỡ mọi đối kháng và, cho bản ngã cá nhân, giành lấy điều họ ham muốn. [135]

The dark brother considers not what suffering he may cause; he cares not what agony of mind he brings upon an opponent; he persists in his intention and desists not from the hurt of any man, woman or child, provided that in the process his own ends are furthered. Expect absolutely no mercy from those opposing the Brotherhood of Light.

Huynh đệ bóng tối không xét đến nỗi khổ đau y có thể gây ra; y không màng đến sự thống khổ của thể trí mà y gieo lên một đối thủ; y kiên trì ý định của mình và không ngừng làm hại bất kỳ người nam, người nữ hay trẻ em nào, miễn là trong tiến trình ấy các mục đích riêng của y được thúc đẩy. Tuyệt đối đừng mong lòng thương xót từ những kẻ chống lại Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng.

On the physical plane and on the emotional plane, the dark brother has more power than the Brother of the Light,—not more power per se but more apparent power, because the White Brothers choose not to exert Their power on those two planes, as do the Dark Brothers. They could exert Their authority but They choose to refrain, working with the powers of evolution and not of involution. The elemental forces to be found on these two planes are manipulated by two factors.

Trên cõi hồng trần và trên cõi cảm dục, huynh đệ bóng tối có nhiều quyền năng hơn Huynh đệ Ánh Sáng,—không phải quyền năng lớn hơn xét chính nó mà là quyền năng có vẻ lớn hơn, bởi vì các Huynh đệ Trắng chọn không vận dụng quyền năng của Các Ngài trên hai cõi ấy, như các Huynh đệ Bóng Tối vẫn làm. Các Ngài có thể vận dụng thẩm quyền của Các Ngài, nhưng Các Ngài chọn kiềm chế, làm việc với các quyền năng của tiến hoá chứ không phải của giáng hạ tiến hoá. Các mãnh lực hành khí có thể tìm thấy trên hai cõi này được thao túng bởi hai yếu tố.

a—The inherent forces of evolution that direct all on to eventual perfection. The White Adepts co-operate in this.

a—Các mãnh lực nội tại của tiến hoá, vốn dẫn dắt mọi sự đến sự hoàn thiện rốt ráo. Các Chân sư Chánh đạo hợp tác trong điều này.

b—The Dark Brothers who occasionally employ these elemental forces to wreak their will and vengeance on all opponents. Under their control work sometimes the elementals of the earth plane, the gnomes and the elemental essence as found in evil form, some of the brownies, and the fairy folk of colours brown, grey and sombre-hued. They cannot control the devas of high development, nor the fairies of colours blue, green and yellow, though a few of the red fairies can be made to work under their direction. The water elementals (though not the sprites or sylphs) move on occasion to their assistance, and in the control of these forces of involution they at times damage the furtherance of our work. [136]

b—Các Huynh đệ Bóng Tối, đôi khi sử dụng các mãnh lực hành khí ấy để thực thi ý chí và sự báo thù của họ lên mọi đối thủ. Dưới sự kiểm soát của họ, đôi khi hoạt động các hành khí của cõi hồng trần, các gnome và tinh chất hành khí như được thấy trong hình thức xấu xa, một số brownie, và các giống tiên có màu nâu, xám và sắc u tối. Họ không thể kiểm soát các thiên thần có mức phát triển cao, cũng không thể kiểm soát các giống tiên có màu xanh lam, xanh lục và vàng, dù một vài giống tiên đỏ có thể bị khiến làm việc dưới sự chỉ đạo của họ. Các hành khí nước (dù không phải các sprite hay sylph) đôi khi chuyển động để trợ giúp họ, và trong việc kiểm soát các mãnh lực giáng hạ tiến hoá này, họ đôi lúc làm tổn hại sự thúc đẩy công việc của chúng ta. [136]

Oft too the Dark Brother masquerades as an agent of the light, oft he poses as a messenger of the gods, but for your assurance I would say that he who acts under the guidance of the Ego will have clear vision, and will escape deception.

Cũng thường xuyên, Huynh đệ Bóng Tối giả dạng như một tác nhân của ánh sáng, thường xuyên y đóng vai một sứ giả của các vị thần, nhưng để các bạn được an tâm, tôi muốn nói rằng người nào hành động dưới sự hướng dẫn của chân ngã sẽ có tầm nhìn rõ ràng, và sẽ thoát khỏi sự lừa dối.

At this time their power is ofttimes mighty. Why? Because so much exists as yet in the Personalities of all men that respond to their vibration, and so it is easy for them to affect the bodies of men. So few of the races, comparatively speaking, have as yet built in the higher vibration that responds to the key-note of the Brotherhood of Light, who move practically entirely on the two highest levels (or the atomic and sub-atomic subplane) of the mental, emotional and physical planes. When moving on these subplanes the attacks of elementals on lower planes may be felt but effect no harm, hence the necessity of pure living and controlled pure emotions and elevated thought.

Vào thời điểm này, quyền năng của họ thường rất mạnh. Vì sao? Vì trong các phàm ngã của mọi người vẫn còn quá nhiều điều đáp ứng rung động của họ, và vì thế họ dễ tác động lên các thể của con người. Tương đối mà nói, rất ít giống dân cho đến nay đã xây dựng được rung động cao hơn, rung động đáp ứng với chủ âm của Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng, những vị gần như hoạt động hoàn toàn trên hai cấp độ cao nhất (hay cõi phụ nguyên tử và cõi phụ hạ nguyên tử) của các cõi trí, cảm dục và hồng trần. Khi hoạt động trên các cõi phụ này, các cuộc tấn công của hành khí trên các cõi thấp có thể được cảm nhận nhưng không gây hại; do đó cần thiết phải sống thanh khiết, cảm xúc thanh khiết được kiểm soát, và tư tưởng được nâng cao.

You will notice that I said that the power of the Dark Brotherhood is dominant apparently on the physical and emotional planes. Not so is it on the mental, which is the plane on which the Brothers of the Light work. Mighty dark magicians may be located on the lower mental levels, but on the higher, the White Lodge dominates, the three higher subplanes being the levels that They beg the evolving sons of men to seek; it is Their region, to which all must strive and aspire. The Dark Brother impresses his will on human beings (if analogous vibration exists) and on the elemental kingdoms of involution. The Brothers of Light plead as pleaded the Man of Sorrows for an erring humanity to rise upward to the light. The Dark Brother retards progress and shapes all to his own ends; the Brother of Light bends every effort to the hastening [137] of evolution and—foregoing all that might be His as the price of achievement—stays amid the fogs, the strife, the evil and the hatred of the period if, in so doing, He may by all means aid some, and (lifting them up out of the darkness of earth) set their feet upon the Mount, and enable them to surmount the Cross.

Các bạn sẽ nhận thấy rằng tôi đã nói quyền năng của Huynh đệ Đoàn Bóng Tối dường như trội hơn trên cõi hồng trần và cõi cảm dục. Không phải vậy trên cõi trí, vốn là cõi mà các Huynh đệ Ánh Sáng làm việc. Những nhà huyền thuật đen mạnh mẽ có thể hiện diện ở các cấp độ hạ trí, nhưng ở các cấp độ cao hơn, Thánh đoàn chi phối; ba cõi phụ cao hơn là các cấp độ mà Các Ngài khẩn cầu những người con đang tiến hoá của nhân loại hãy tìm kiếm; đó là vùng của Các Ngài, nơi mà mọi người phải phấn đấu và khát vọng vươn tới. Huynh đệ Bóng Tối áp đặt ý chí của y lên con người (nếu có rung động tương đồng) và lên các giới hành khí của giáng hạ tiến hoá. Các Huynh đệ Ánh Sáng khẩn cầu, như Người Đau Khổ đã khẩn cầu, để một nhân loại lầm lạc vươn lên ánh sáng. Huynh đệ Bóng Tối làm chậm sự tiến bộ và uốn nắn mọi sự theo mục đích riêng của y; Huynh đệ Ánh Sáng dốc mọi nỗ lực để thúc nhanh [137] tiến hoá và—từ bỏ mọi điều có thể thuộc về Ngài như cái giá của thành tựu—vẫn ở lại giữa sương mù, tranh chấp, điều ác và hận thù của thời kỳ, nếu nhờ vậy, bằng mọi cách, Ngài có thể giúp được một số người, và (nâng họ ra khỏi bóng tối của trần gian) đặt chân họ lên Núi, và giúp họ vượt qua Thập Giá.

And now what methods may be employed to safeguard the worker in the field of the world? What can be done to ensure his safety in the present strife and in the greater strife of the coming centuries?

Và giờ đây, những phương pháp nào có thể được dùng để bảo vệ người hoạt động trong trường thế gian? Có thể làm gì để bảo đảm sự an toàn của y trong cuộc tranh đấu hiện tại và trong cuộc tranh đấu lớn hơn của các thế kỷ sắp tới?

1—A realisation that purity of all the vehicles is the prime essential. If a Dark Brother gains control over any man it but shows that that man has in his life some weak spot. The door whereby entrance is effected must be opened by the man himself; the opening whereby malignant force can be poured in must be caused by the occupant of the vehicles. Therefore the need of scrupulous cleanliness of the physical body, of clean steady emotions permitted in the emotional body, and of purity of thought in the mental body. When this is so, co-ordination will be present in the lower vehicles and the indwelling Thinker himself permits no entrance.

1—Một sự nhận thức rằng sự thanh khiết của mọi vận cụ là điều thiết yếu hàng đầu. Nếu một Huynh đệ Bóng Tối giành được quyền kiểm soát đối với bất kỳ người nào, điều đó chỉ cho thấy rằng người ấy có một điểm yếu nào đó trong đời sống của mình. Cánh cửa để sự xâm nhập được thực hiện phải do chính người đó mở ra; lối mở để mãnh lực ác độc có thể tuôn vào phải do kẻ cư ngụ trong các vận cụ tạo nên. Vì vậy cần sự sạch sẽ nghiêm ngặt của thể xác, những cảm xúc sạch sẽ và ổn định được cho phép trong thể cảm dục, và sự thanh khiết của tư tưởng trong thể trí. Khi như vậy, sự phối hợp sẽ hiện diện trong các vận cụ thấp và chính Thức giả nội tại không cho phép bất kỳ sự xâm nhập nào.

2—The elimination of all fear. The forces of evolution vibrate more rapidly than those of involution and in this fact lies a recognisable security. Fear causes weakness; weakness causes a disintegration; the weak spot breaks and a gap appears, and through that gap evil force may enter. The factor of entrance is the fear of the man himself, who opens thus the door.

2—Loại bỏ mọi sợ hãi. Các mãnh lực của tiến hoá rung động nhanh hơn các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá, và chính trong điều này có một sự an toàn có thể nhận ra. Sợ hãi gây yếu đuối; yếu đuối gây phân rã; điểm yếu bị phá vỡ và một kẽ hở xuất hiện, và qua kẽ hở ấy mãnh lực xấu có thể đi vào. Yếu tố của sự xâm nhập là nỗi sợ của chính người đó, nhờ vậy y mở cửa.

3—A standing firm and unmoved, no matter what occurs. Your feet may be bathed in the mud of earth, but your head may be bathed in the sunshine of the higher regions. Recognition of the filth of earth involves not contamination. [138]

3—Đứng vững và bất lay chuyển, bất kể điều gì xảy ra. Chân các bạn có thể bị tắm trong bùn đất, nhưng đầu các bạn có thể được tắm trong ánh nắng của các miền cao hơn. Nhận biết sự nhơ bẩn của trần gian không hàm ý bị nhiễm bẩn. [138]

4—A Recognition of the use of common-sense and the application of this common-sense to the matter in hand. Sleep much and, in sleeping, learn to render the body positive; keep busy on the emotional plane and achieve the inner calm. Do naught to overtire the body physical, and play whenever possible. In hours of relaxation comes the adjustment that obviates later tension. [139]

4—Nhận thức về việc sử dụng lẽ thường và áp dụng lẽ thường ấy vào vấn đề đang xét. Ngủ nhiều và, trong khi ngủ, học cách làm cho thể xác trở nên dương tính; hãy bận rộn trên cõi cảm dục và đạt được sự bình an nội tại. Đừng làm gì khiến thể xác quá mệt, và hãy vui chơi bất cứ khi nào có thể. Trong những giờ thư giãn sẽ có sự điều chỉnh giúp ngăn ngừa sự căng thẳng về sau. [139]




[1] tinh nghịch, tinh quái, ranh mãnh, láu lỉnh

[2] tính quái đản, tính kỳ cục

[3] lời phù phép, câu thần chú (để đuổi tà ma)

[4] Điều hão huyền; ảo tưởng

Leave a Comment

Scroll to Top