Thư về Tham thiền Huyền môn – Lá Thư 7-9

📘 Sách: Thư Về Tham thiền Huyền môn

LETTER VII—THE USE OF COLOUR AND SOUND

1. Enumeration of the colours and some comments.

Sự liệt kê các màu sắc và một vài nhận xét.

2. Colours and the law of correspondences.

Màu sắc và định luật tương ứng.

3. Effects of colours.

Tác dụng của màu sắc.

4. Application of colours and their future use. [204]

Sự ứng dụng màu sắc và việc sử dụng chúng trong tương lai. [204]

August 27th, 1920.

Ngày 27 tháng 8, 1920.

There is no question that those who break the law perish by the law, whilst those who keep it live by it. The true study of occultism is the study of the why and how of phenomena. It is the finding out of the method whereby results are achieved, and it involves close analysis of events and circumstances in order to discover their governing laws. I have been led to make these preliminary remarks today because I saw with clarity the questions that are controlling your mind. These questions are of great value, if you continue to apply yourself to the search for the right answer. Certain definite laws govern the life of the disciple. They are the same laws that control all life. The difference consists in the partial realisation—on the part of the disciple—of the purpose of those laws, their raison d’etre, and their conscious judicious application to the circumstances met in daily living. By conformance to the law is the personal life transmuted… In your case, the effort to comprehend the law, which governs the practical well being of yourself and family will lead you—if you persist—to the understanding of what I might term the law of substance. Take for instance the Law of Substance. This law puts the disciple in the position of wisely utilising the universal storehouse. It is the manipulation of matter, and its adaptation to the interacting forces of supply and demand…Blind faith is right for the mystic. It is one of the means whereby the Divine storehouse is entered, but to understand the method whereby that storehouse is kept replenished, and to comprehend the means whereby the bounteous supply of the All Father is brought in contact with the children’s need is better still. One of those maxims I can here give anent supply and demand. It is only as a skilful [205] use is made of the supply for the needs of the worker and the work (I choose these words each one with deliberation) that that supply continues to pour in. The secret is: use, demand, take. Only as the door is unlocked by the law of demand is another and higher door unlocked permitting supply. The law of gravitation holds hid the secret. Think this out.

Không còn nghi ngờ gì rằng những ai phá vỡ định luật thì sẽ diệt vong bởi chính định luật ấy, còn những ai tuân giữ thì sống nhờ nó. Sự nghiên cứu chân chính về huyền bí học là nghiên cứu cái vì sao và bằng cách nào của các hiện tượng. Đó là việc tìm ra phương pháp nhờ đó các kết quả được đạt đến, và điều này đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng các biến cố và hoàn cảnh để khám phá những định luật chi phối chúng. Hôm nay Tôi đã được dẫn dắt để đưa ra những nhận xét sơ bộ này bởi vì Tôi đã thấy rõ ràng những câu hỏi đang chi phối thể trí của các bạn. Những câu hỏi ấy có giá trị lớn, nếu các bạn tiếp tục chuyên tâm vào việc tìm kiếm câu trả lời đúng. Một số định luật xác định chi phối đời sống của đệ tử. Chúng cũng chính là những định luật kiểm soát mọi sự sống. Sự khác biệt nằm ở chỗ đệ tử chỉ chứng nghiệm được phần nào—về phía đệ tử—mục đích của các định luật ấy, lý do tồn tại của chúng, và việc áp dụng chúng một cách có ý thức, thận trọng vào những hoàn cảnh gặp phải trong đời sống hằng ngày. Chính nhờ sự tuân thuận định luật mà đời sống cá nhân được chuyển hoá… Trong trường hợp của các bạn, nỗ lực thấu hiểu định luật chi phối sự an lạc thực tiễn của bản thân và gia đình sẽ dẫn các bạn—nếu các bạn kiên trì—đến sự hiểu biết điều mà Tôi có thể gọi là định luật về chất liệu. Lấy ví dụ như Định luật về Chất liệu. Định luật này đặt đệ tử vào vị thế sử dụng một cách khôn ngoan kho tàng phổ quát. Đó là sự thao tác vật chất, và sự thích nghi của nó với các mãnh lực tương tác của cung và cầu… Đức tin mù quáng là đúng đối với nhà thần bí. Nó là một trong những phương tiện nhờ đó người ta bước vào kho tàng thiêng liêng, nhưng thấu hiểu phương pháp nhờ đó kho tàng ấy được duy trì luôn đầy, và lĩnh hội phương tiện nhờ đó nguồn cung dồi dào của Đấng Cha Toàn Thể được đưa vào tiếp xúc với nhu cầu của các con cái thì còn tốt hơn nữa. Ở đây Tôi có thể nêu một trong những châm ngôn liên quan đến cung và cầu. Chỉ khi nào có sự sử dụng khéo léo [205] nguồn cung cho các nhu cầu của người hoạt động và của công việc (Tôi chọn từng từ với sự cân nhắc) thì nguồn cung ấy mới tiếp tục tuôn vào. Bí quyết là: sử dụng, đòi hỏi, tiếp nhận. Chỉ khi cánh cửa được mở khoá bởi định luật đòi hỏi thì một cánh cửa khác và cao hơn mới được mở, cho phép nguồn cung. Định luật hấp dẫn cất giấu bí mật. Hãy suy nghĩ điều này.

Some remarks on colour.—Một vài nhận xét về màu sắc.

Now we must go to work. The subject for our consideration this evening is of profound and complicated interest. This seventh letter of mine has to do with the use of colour and sound in meditation.

Giờ đây chúng ta phải bắt tay vào việc. Chủ đề để chúng ta khảo sát tối nay có mối quan tâm sâu xa và phức tạp. Bức thư thứ bảy này của Tôi bàn về việc sử dụng màu sắc và âm thanh trong tham thiền.

We have, as you know, dealt a good deal with the subject of sound in our earlier letters, both in studying the use of the Sacred Word, and in the study of forms and mantrams. It is a truism to say that sound is colour and colour is sound, yet so it is, and the topic I really seek to bring to your attention is not so much sound as sound, but the colour effects of sound. I seek to emphasise especially the colour aspect in this letter, begging you to remember always that all sounds express themselves in colour.

Như các bạn biết, trong những bức thư trước chúng ta đã bàn khá nhiều về chủ đề âm thanh, cả trong việc nghiên cứu cách dùng Linh từ Thiêng Liêng, lẫn trong việc nghiên cứu các hình tướng và các mantram. Nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh thì là một điều hiển nhiên, tuy vậy đúng là như thế; và đề tài mà Tôi thực sự muốn đưa vào sự chú ý của các bạn không hẳn là âm thanh xét như âm thanh, mà là các tác dụng màu sắc của âm thanh. Trong thư này Tôi muốn nhấn mạnh đặc biệt phương diện màu sắc, và xin các bạn luôn ghi nhớ rằng mọi âm thanh đều biểu lộ trong màu sắc.

When the Logos uttered the great cosmic Word for this solar system, three major streams of colour issued forth, breaking almost simultaneously into another four, so giving us the seven streams of colour by which manifestation becomes possible. These colours are:—

Khi Thượng đế phát ra Linh từ vũ trụ vĩ đại cho hệ mặt trời này, ba dòng màu sắc chủ yếu đã tuôn ra, gần như đồng thời phân thành thêm bốn dòng nữa, nhờ đó đem lại cho chúng ta bảy dòng màu sắc nhờ đó sự biểu lộ trở nên khả hữu. Những màu sắc ấy là:—

a. Blue.

a. Xanh dương.

b. Indigo.

b. Chàm.

c. Green.

c. Xanh lục.

d. Yellow.

d. Vàng.

e. Orange.

e. Cam.

f. Red.

f. Đỏ.

g. Violet. [206]

g. Tím. [206]

Not unwittingly have I placed them in this order but the exact significance is left for you to discover.

Tôi không vô tình đặt chúng theo thứ tự này nhưng ý nghĩa chính xác được để cho các bạn tự khám phá.

I want to emphasise a second thought:—These seven streams of colour were the product of logoic meditation. The Logos meditated, brooded, conceived mentally, formed an ideal world, and built it up in thought matter. Then our objective universe flashed into being, radiant with the seven colours, with the deep blue or indigo for synthetic undertone. Therefore certain things can be posited about colour:

Tôi muốn nhấn mạnh một ý thứ hai:—Bảy dòng màu sắc này là sản phẩm của tham thiền của Thượng đế. Thượng đế đã tham thiền, ấp ủ, thụ thai trong thể trí, hình thành một thế giới lý tưởng, và xây dựng nó trong vật chất tư tưởng. Rồi vũ trụ khách quan của chúng ta loé sáng thành hiện hữu, rực rỡ với bảy màu sắc, với sắc xanh thẫm hoặc chàm làm âm nền tổng hợp. Do đó có thể nêu ra một số điều về màu sắc:

1. It has to do with objective meditation, therefore it has to do with form.

1. Nó liên quan đến tham thiền khách quan, vì vậy nó liên quan đến hình tướng.

2. It is the result of sound uttered as the culmination of meditation.

2. Nó là kết quả của âm thanh được phát ra như sự hoàn tất của tham thiền.

3. In these seven colours, and their wise comprehension, lies the capacity of man to do as does the Logos and build.

3. Trong bảy màu sắc này, và trong sự thấu hiểu khôn ngoan của chúng, ở đây có năng lực của con người làm như Thượng đế và kiến tạo.

4. Colours have certain effects on the different vehicles, and on the planes on which those vehicles function. When it is known by the occultist which colour is applicable to which plane, and which colour therefore is the basic hue for that plane, he has grasped the fundamental secret of microcosmic development, and can build his body of manifestation by means of the same laws that that Logos employed in building His objective solar system. This is the secret that ray meditation will eventually yield up to the wise student. These four points lay the foundation for all that follows.

4. Màu sắc có những tác dụng nhất định trên các hiện thể khác nhau, và trên các cõi nơi các hiện thể ấy hoạt động. Khi nhà huyền bí học biết màu nào thích hợp với cõi nào, và do đó màu nào là sắc cơ bản của cõi ấy, thì y đã nắm được bí mật nền tảng của sự phát triển tiểu thiên địa, và có thể kiến tạo thể biểu lộ của mình bằng chính những định luật mà Thượng đế ấy đã dùng khi kiến tạo hệ mặt trời khách quan của Ngài. Đây là bí mật mà tham thiền theo cung cuối cùng sẽ trao lại cho đạo sinh khôn ngoan. Bốn điểm này đặt nền tảng cho tất cả những gì theo sau.

I would here seek to put your mind at rest on the point as to whether the colours enumerated by me conflict with those enumerated by H. P. B. You will not find they [207] do, but both of us use blinds, and both of us use the same blinds as those who have eyes can see. A blind is not a blind when recognised, and I offer not the key. One or two hints however I may give:—

Ở đây Tôi muốn làm cho thể trí các bạn được yên ổn về điểm liệu các màu sắc Tôi liệt kê có mâu thuẫn với những màu sắc do Bà H. P. B. liệt kê hay không. Các bạn sẽ thấy rằng chúng [207] không mâu thuẫn, nhưng cả hai chúng tôi đều dùng những màn che, và cả hai chúng tôi đều dùng cùng những màn che mà những ai có mắt đều có thể thấy. Một màn che không còn là màn che khi đã được nhận ra, và Tôi không đưa ra chìa khoá. Tuy nhiên Tôi có thể cho một hoặc hai gợi ý:—

Principles of using blinds for teaching Colours—Các nguyên tắc dùng màn che để dạy về Màu sắc

Complementary colours may be spoken of in occult books in terms of each other. Red may be called green and orange may be called blue. The key to the accurate interpretation of the term employed lies in the point of attainment of the unit under discussion. If speaking of the Ego one term may be used; if of the Personality, another; whilst the Monad or higher auric sphere may be described synthetically or in terms of the monadic ray.

Các màu bổ túc có thể được nói đến trong các sách huyền bí theo cách gọi lẫn nhau. Màu đỏ có thể được gọi là xanh lục và màu cam có thể được gọi là xanh dương. Chìa khoá để diễn giải chính xác thuật ngữ được dùng nằm ở điểm đạt đến của đơn vị đang được bàn đến. Nếu nói về chân ngã thì có thể dùng một thuật ngữ; nếu nói về phàm ngã thì dùng thuật ngữ khác; còn chân thần hoặc khối cầu hào quang cao hơn có thể được mô tả một cách tổng hợp hoặc theo cung chân thần.

The colours of higher or lower mind are at times spoken of in terms of the plane and not in terms of the ray involved.

Các màu của thượng trí hay hạ trí đôi khi được nói đến theo cõi chứ không theo cung liên quan.

Blue-indigo, being cosmically related, and not simply analogous, may be used interchangeably for purposes of blinding. Let me illustrate:—

Xanh dương-chàm, vì có liên hệ vũ trụ, chứ không chỉ tương đồng, có thể được dùng thay thế cho nhau nhằm mục đích che giấu. Tôi xin minh hoạ:—

The Lords of the Flame, in their work in connection with this planet, may be spoken of in terms of four colours:—

Các Đấng Chúa Tể của Lửa, trong công việc của Các Ngài liên quan đến hành tinh này, có thể được nói đến theo bốn màu sắc:—

a. Indigo, as They are in the line of the Bodhisattva in connection with the Love or Wisdom Ray. The Lord of the World is a direct reflection of the second Aspect.

a. Chàm, vì Các Ngài thuộc tuyến của Đức Bồ Tát liên quan đến Cung Bác Ái hay Minh Triết. Đức Chúa Tể Thế Giới là sự phản chiếu trực tiếp của Phương diện thứ hai.

b. Blue, because of its alliance with indigo and its relationship to the auric egg; just as the Solar Logos is spoken of as the “Blue Logos” (literally indigo), so the colour of the perfected man, and of the auric envelope through which he manifests, will be predominantly blue.

b. Xanh dương, vì sự liên minh của nó với chàm và mối liên hệ của nó với noãn hào quang; cũng như Thái dương Thượng đế được nói đến như “Thượng đế Xanh Dương” (theo nghĩa đen là chàm), thì màu của con người toàn thiện, và của bao bọc hào quang qua đó y biểu lộ, sẽ chủ yếu là xanh dương.

c. Orange, which is the complementary to blue and which has direct connection with man as an intelligence. He is the custodian of the fifth principle [208] of manas in its relation to the totality of the personality.

c. Cam, là màu bổ túc của xanh dương và có liên hệ trực tiếp với con người như một trí tuệ. Con người là người gìn giữ nguyên khí thứ năm [208] của manas trong mối liên hệ của nó với toàn thể phàm ngã.

d. Yellow, being the complement of indigo, and also the colour of buddhi, and on the direct line of the second Aspect.

d. Vàng, là màu bổ túc của chàm, đồng thời cũng là màu của Bồ đề, và nằm trên tuyến trực tiếp của Phương diện thứ hai.

I give the above illustration to demonstrate to you the great complexity involved by the use of blinds, yet also to show you that for those who have the seeing eye even the choice of these blinds is not arbitrary, but subject to rule and law.

Tôi đưa ra minh hoạ trên để chứng tỏ cho các bạn thấy sự phức tạp lớn do việc dùng màn che gây ra, nhưng cũng để cho các bạn thấy rằng đối với những ai có con mắt thấy, ngay cả việc chọn những màn che này cũng không tuỳ tiện, mà tuân theo quy luật và định luật.

It is therefore obvious to you why it is so often emphasised that in dealing with esoteric matters lower manas helps not. Only he who has the higher vision in process of development can hope to attain any measure of accurate discrimination. Just as the green of the activity of Nature forms the basis of the love aspect, or the indigo vibration of this love system, so will it be found upon the mental plane. More may not be said, but food for thought lies here. Orange also holds the secret for the Sons of Mind, and in the study of flame (which even exoterically blends all the colours) comes illumination.

Vì vậy các bạn hiển nhiên hiểu vì sao người ta thường nhấn mạnh rằng khi đề cập đến các vấn đề huyền bí thì hạ manas không giúp ích. Chỉ người nào có linh thị đang trong tiến trình phát triển mới có thể hy vọng đạt được một mức độ phân biện chính xác nào đó. Cũng như sắc xanh lục của hoạt động của thiên nhiên tạo nền tảng cho phương diện bác ái, hay rung động chàm của thái dương hệ bác ái này, thì điều ấy cũng sẽ được nhận thấy trên cõi trí. Không thể nói thêm, nhưng ở đây có nhiều điều đáng suy ngẫm. Màu cam cũng nắm giữ bí mật cho các Con của Trí Tuệ, và trong việc nghiên cứu ngọn lửa (mà ngay cả theo ngoại môn cũng hoà trộn mọi màu sắc) thì sự soi sáng xuất hiện.

In studying this question of colour and sound in meditation how best shall we divide our vast subject? Let us consider it under the following heads:

Trong việc nghiên cứu vấn đề màu sắc và âm thanh trong tham thiền, chúng ta nên phân chia chủ đề rộng lớn này như thế nào là tốt nhất? Hãy xét nó dưới các đề mục sau:

1. Enumeration of the colours and certain comment thereon.

1. Sự liệt kê các màu sắc và một vài nhận xét về chúng.

2. Colours and the Law of Correspondences.

2. Màu sắc và Định luật Tương Ứng.

3. The effects of colours:—

3. Các tác dụng của màu sắc:—

a. On the bodies of the pupil.

a. Trên các thể của môn sinh.

b. On groups and on group work.

b. Trên các nhóm và trên chính công việc nhóm.

c. On the environment.

c. Trên môi trường.

4. The application of colour:—

4. Sự ứng dụng màu sắc:—

a. In meditation. [209]

a. Trong tham thiền. [209]

b. For healing in meditation.

b. Để trị liệu trong tham thiền.

c. In constructive work.

c. Trong công việc kiến tạo.

5. The future use of colour.

5. Việc sử dụng màu sắc trong tương lai.

Under these five heads we should be able to sum up all that has to be said at present. Perhaps little that I may say will be fundamentally new, for I give not aught which may not he found in that foundation book of H. P. B.’s. But in a newer presentation, and in the aggregation of material under one head may come enlightenment, and a further wise adjustment of knowledge. We will take up these five divisions later. Tonight I will only add a few further points to those already given.

Dưới năm đề mục này, chúng ta sẽ có thể tóm lược tất cả những gì hiện nay có thể nói. Có lẽ ít điều Tôi nói sẽ hoàn toàn mới mẻ về nền tảng, vì Tôi không đưa ra điều gì mà không thể tìm thấy trong quyển sách nền tảng của Bà H. P. B. Nhưng trong một sự trình bày mới hơn, và trong việc tập hợp tư liệu dưới một đề mục có thể nảy sinh sự giác ngộ, và một sự điều chỉnh khôn ngoan hơn về tri thức. Chúng ta sẽ bàn năm phân mục này sau. Tối nay Tôi chỉ thêm vài điểm nữa vào những điều đã nêu.

Colours as manifested on the physical plane show at their crudest and harshest. Even the most exquisite of shades as seen by the physical eye is hard and harsh compared to those on the emotional plane, and as the finer matter of the other planes is contacted, the beauty, the softness and the exquisite quality of the different hues grow with each transition. When the ultimate and synthetic colour is reached the beauty transcends all conception.

Màu sắc khi biểu lộ trên cõi hồng trần thì thô và gắt nhất. Ngay cả những sắc độ tinh tế nhất khi được mắt hồng trần nhìn thấy cũng cứng và gắt so với những sắc độ trên cõi cảm dục; và khi chất liệu tinh tế hơn của các cõi khác được tiếp xúc, vẻ đẹp, sự mềm mại và phẩm chất tinh xảo của các sắc thái khác nhau tăng lên theo mỗi lần chuyển tiếp. Khi đạt đến màu sắc tối hậu và tổng hợp thì vẻ đẹp vượt quá mọi quan niệm.

Colours—such as we have now to do with in evolution—are the colours of light. Certain colours, which are the left-overs from the previous solar system, have been seized upon as modes of expression by that mysterious something which we call “cosmic evil” (in our ignorance so we term it). They are involutionary colours, and are media for the force of the Dark Brotherhood. With them the aspirant to the Path of Light has naught to do. They are such hues as brown, grey, the loathsome purple, and the lurid greens that are contacted in the dark places of the earth, on the emotional plane, and on the lower level of the mental plane. They are negations. Their tone is lower than the note of Nature. They are the offspring [210] of night, esoterically understood. They are the basis of glamour, of despair, and of corruption, and must be neutralised by the pupil of the Great Ones by the admission of the colours connected with light.

Màu sắc—như chúng ta hiện đang đề cập đến trong thăng thượng tiến hoá—là màu sắc của ánh sáng. Một số màu sắc, là những phần còn sót lại từ hệ mặt trời trước, đã bị một cái gì đó bí ẩn mà chúng ta gọi là “ác vũ trụ” nắm lấy làm các phương thức biểu lộ (trong sự vô minh của chúng ta, chúng ta gọi như vậy). Chúng là các màu sắc giáng hạ tiến hoá, và là các môi trường cho mãnh lực của Huynh đệ Đoàn Hắc đạo. Với chúng, người chí nguyện trên Con Đường Ánh sáng không có gì phải liên can. Chúng là những sắc như nâu, xám, tím ghê tởm, và những sắc xanh lục chói gắt được tiếp xúc trong những nơi tối tăm của trái đất, trên cõi cảm dục, và ở tầng thấp của cõi trí. Chúng là những sự phủ định. Âm điệu của chúng thấp hơn âm điệu của thiên nhiên. Chúng là hậu duệ [210] của đêm tối, theo nghĩa huyền bí. Chúng là nền tảng của ảo cảm, của tuyệt vọng, và của bại hoại, và phải được môn sinh của Các Đấng Cao Cả trung hoà bằng việc tiếp nhận các màu sắc liên quan đến ánh sáng.

1. The synthesis of all the colours, as aforesaid, is the synthetic ray of indigo. This underlies all and absorbs all. But in the three worlds of human evolution the orange of flame irradiates all. This orange emanates from the fifth plane, underlies the fifth principle, and is the effect produced by the esoteric sounding of the occult words “Our God is a consuming Fire.” These words apply to the manasic principle, that fire of intelligence or reason which the Lords of the Flame imparted, and which stimulates and guides the life of the active personality. It is that light of reason which guides a man through the Hall of Learning on into the Hall of Wisdom. In the latter hall its limitations are discovered, and that structure which knowledge has built (the causal body or the Temple of Solomon) is itself destroyed by the consuming fire. This fire consumes the gorgeous prison house which man has erected through many incarnations, and lets loose the inner light divine. Then the two fires merge, mount upwards and are lost in the Triadal Light.

1. Sự tổng hợp của mọi màu sắc, như đã nói, là cung tổng hợp chàm. Nó nằm dưới mọi sự và hấp thụ mọi sự. Nhưng trong ba cõi của tiến hoá nhân loại, sắc cam của ngọn lửa chiếu rọi mọi sự. Sắc cam này phát ra từ cõi thứ năm, nằm dưới nguyên khí thứ năm, và là tác dụng được tạo ra bởi sự xướng huyền bí các linh từ huyền thuật: “Thượng đế của chúng ta là một Lửa thiêu đốt.” Những lời này áp dụng cho nguyên khí manas, ngọn lửa trí tuệ hay lý trí mà các Đấng Chúa Tể của Lửa đã ban truyền, và vốn kích thích và hướng dẫn đời sống của phàm ngã hoạt động. Đó là ánh sáng của lý trí dẫn dắt con người đi qua Phòng Hiểu Biết tiến vào Phòng Minh triết. Trong phòng sau, các giới hạn của nó được phát hiện, và cấu trúc mà tri thức đã xây dựng (thể nguyên nhân hay Đền thờ Solomon) tự nó bị huỷ diệt bởi lửa thiêu đốt. Ngọn lửa này thiêu rụi ngục thất lộng lẫy mà con người đã dựng lên qua nhiều kiếp lâm phàm, và giải phóng ánh sáng thiêng liêng bên trong. Rồi hai ngọn lửa hoà nhập, vươn lên cao và mất hút trong Ánh sáng Tam Nguyên.

Certain colours belong more exclusively to the human Hierarchy, others to the deva. In their ultimate blending and intermingling comes eventual perfection….

Một số màu sắc thuộc về Huyền Giai nhân loại một cách gần như độc hữu, những màu khác thuộc về thiên thần. Trong sự hoà trộn và đan xen tối hậu của chúng sẽ đến sự toàn thiện chung cuộc….

August 29th, 1920.

Ngày 29 tháng 8, 1920.

1. Enumeration of the Colours.—1. Sự liệt kê các Màu sắc.

Tonight we must continue our study on colour and take up our first point.

Tối nay chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu về màu sắc và bắt đầu điểm thứ nhất.

In doing this I will make certain comments and give you certain data, impressing upon you nevertheless again the fact that I use the exoteric terms, and that the discussion [211] is but for suggestive purposes. The very use of the word “Colour” shews the intention, for, as you know, the definition of the word conveys the idea of concealment. Colour is therefore “that which does conceal.” It is simply the objective medium by means of which the inner force transmits itself; it is the reflection upon matter of the type of influence that is emanating from the Logos, and which has penetrated to the densest part of His solar system. We recognise it as colour. The adept knows it as differentiated force, and the initiate of the higher degrees knows it as ultimate light, undifferentiated and undivided.

Khi làm điều này Tôi sẽ đưa ra một số nhận xét và cung cấp cho các bạn một số dữ liệu, đồng thời lại nhấn mạnh với các bạn rằng Tôi dùng các thuật ngữ ngoại môn, và rằng cuộc bàn luận [211] chỉ nhằm mục đích gợi ý. Chính việc dùng từ “Màu sắc” đã cho thấy chủ ý, vì như các bạn biết, định nghĩa của từ ấy hàm chứa ý niệm che giấu. Vì vậy, màu sắc là “cái che giấu.” Nó đơn giản là môi trường khách quan nhờ đó mãnh lực bên trong truyền dẫn chính nó; nó là sự phản chiếu lên vật chất của loại ảnh hưởng đang phát ra từ Thượng đế, và đã xuyên thấu đến phần đậm đặc nhất của hệ mặt trời của Ngài. Chúng ta nhận biết nó như màu sắc. Chân sư biết nó như mãnh lực được biến phân, và điểm đạo đồ ở các cấp cao hơn biết nó như ánh sáng tối hậu, không biến phân và không phân chia.

We enumerated the colours yesterday and in a certain order. I seek again to enumerate them thus, only this time reminding you that the one Ray of which all the others are but sub-rays, might be regarded as a circle of sevenfold light. Too apt is the student to picture seven bands, striking down athwart[1] the five lower planes till they contact the earth plane and are absorbed into dense matter. Not so is it in fact. The seven colours may be regarded as a band of seven colours circling and continuously shifting and moving through the planes back to their originating source……

Chúng ta đã liệt kê các màu sắc hôm qua và theo một trật tự nhất định. Tôi lại muốn liệt kê chúng như vậy, chỉ khác lần này Tôi nhắc các bạn rằng cung duy nhất mà tất cả các cung khác chỉ là các cung phụ của nó, có thể được xem như một vòng tròn ánh sáng thất phân. Đạo sinh rất dễ hình dung bảy dải, giáng xuống băng ngang năm cõi thấp cho đến khi chúng tiếp xúc cõi hồng trần và bị hấp thụ vào vật chất đậm đặc. Thực ra không phải như vậy. Bảy màu có thể được xem như một dải bảy màu quay vòng và liên tục chuyển dịch và vận động xuyên qua các cõi, trở về nguồn phát sinh của chúng……

Something like this, Brother of Mine: –

Đại khái như thế này, huynh đệ của Tôi: –

(I endeavoured to draw a diagram and failed)

(Tôi đã cố vẽ một sơ đồ và đã thất bại)

You cannot describe it, Brother of Mine, some day the needed artist will come who will draw for you the fourth dimensional designs. In the meantime description must suffice.

Các bạn không thể mô tả được điều đó, huynh đệ của Tôi; một ngày nào đó sẽ có người nghệ sĩ cần thiết đến, người sẽ vẽ cho các bạn những thiết kế chiều thứ tư. Trong lúc này, mô tả phải là đủ.

A drawing of a circle

AI-generated content may be incorrect.

These seven bands of colour emanate from the synthetic Ray. The indigo sub-ray of the indigo Ray forms the path of least resistance from the heart of densest matter back again to the source. The bands of colour form a circulating ring which, moving at different rates of vibration, passes through all the planes, circling down and up again. What I seek to bring out specially here is that these seven bands do not all move at the same rate, and herein lies hid the key to the complexity of the matter. Some move at a swifter rate of vibration than do some of the others. Hence—as they carry their corresponding monads with them—you have here [212] the answer to the question as to why some egos seem to make more rapid progress than do some others.

Bảy dải màu này phát xuất từ cung tổng hợp. Cung phụ chàm của cung chàm tạo thành con đường ít trở ngại nhất từ trái tim của vật chất đậm đặc nhất trở lại nguồn. Các dải màu tạo thành một vòng lưu chuyển, và khi chuyển động theo các tốc độ rung động khác nhau, nó đi qua mọi cõi, vòng xuống rồi lại vòng lên. Điều Tôi đặc biệt muốn nêu ra ở đây là bảy dải này không phải tất cả đều chuyển động cùng một tốc độ, và chính trong đó có chìa khóa ẩn giấu của tính phức tạp của vấn đề. Một số chuyển động với tốc độ rung động nhanh hơn một số khác. Vì vậy—do chúng mang theo các chân thần tương ứng của chúng—các bạn có ở đây [212] câu trả lời cho câu hỏi vì sao một số chân ngã dường như tiến bộ nhanh hơn một số khác.

These coloured rings do not follow a straight unimpeded course, but interweave in a most curious manner, blending with each other, absorbing each other in stated cycles, and grouping themselves in groups of threes or fives, yet ever moving onwards. This is the real foundation to the diamond pattern upon the back of the serpent of wisdom. Three major lines of colour should be portrayed as forming the lattice work on the serpent’s skin, with the four other colours interweaving. Some day some student of colour and of the Divine Wisdom should compile a large chart of the seven planes, and superimposed upon those planes should be placed a seven-coloured serpent of wisdom. If correctly drawn to scale some interesting geometrical patterns will be found as the circles cut across the planes, and some impression will be conveyed occularly of the complexity of the matter of the seven rays……

Những vòng màu này không đi theo một lộ trình thẳng, không bị ngăn trở, mà đan xen theo một cách hết sức kỳ lạ, hòa trộn vào nhau, hấp thụ lẫn nhau theo những chu kỳ nhất định, và tự nhóm lại thành các nhóm ba hoặc năm, nhưng vẫn luôn tiến về phía trước. Đây là nền tảng thực sự của hoa văn hình kim cương trên lưng con rắn minh triết. Ba đường màu chính nên được thể hiện như tạo thành mạng lưới trên da con rắn, với bốn màu còn lại đan xen. Một ngày nào đó, một đạo sinh về màu sắc và Minh Triết Thiêng Liêng nên biên soạn một biểu đồ lớn về bảy cõi, và chồng lên các cõi ấy nên đặt một con rắn minh triết bảy màu. Nếu được vẽ đúng theo tỷ lệ, sẽ tìm thấy một số hoa văn hình học thú vị khi các vòng tròn cắt ngang các cõi, và sẽ truyền đạt bằng thị giác một ấn tượng về tính phức tạp của vấn đề bảy cung……

{Let me now give you a table for study. If the intuition sufficeth to read beyond the exoteric rendering as to seek an esoteric meaning much light will illuminate the student of meditation.

{Giờ đây, hãy để Tôi đưa cho các bạn một bảng để nghiên cứu. Nếu trực giác đủ để đọc vượt ra ngoài cách diễn đạt ngoại môn mà tìm kiếm một ý nghĩa nội môn, thì nhiều ánh sáng sẽ soi sáng đạo sinh tham thiền.

Color

Ray

Plane

Principle

Chain

Root Race

Màu sắc

Cung

Cõi

Nguyên khí

Dãy

Giống dân gốc

Blue

Power

First

Atma

Jupiter

Xanh lam

Quyền năng

Thứ nhất

Atma

Sao Mộc

Indigo

Love or wisdom

Second

Buddhic

Venus

sixth

Chàm

Tình thương hay minh triết

Thứ hai

Bồ đề

Sao Kim

thứ sáu

Green

Activity

Third

Manas

Saturn

fifth

Xanh lục

Hoạt động

Thứ ba

Manas

Sao Thổ

thứ năm

Yellow

Harmony

Fourth

(Causal body)

Earth

fourth

Vàng

Hài hoà

Thứ tư

(Thể nguyên nhân)

Trái Đất

thứ tư

Orange-

Science

Fifth

Kama-manas

Cam

Khoa học

Thứ năm

Kama-manas

Red

Devotion

Sixth

Pure kama

Neptune

first

Đỏ

Hiến dâng

Thứ sáu

Kama thuần túy

Sao Hải Vương

thứ nhất

Violet

Ceremonial law

Seventh

Prana

Uranus

Tím

Luật Nghi thức

Thứ bảy

Prana

Sao Thiên Vương

Here, Brother of Old, four points are withheld, for in their withholding is the secret guarded and the mystery protected}.

Ở đây, Huynh Đệ của Ngày Xưa, bốn điểm được giữ lại, vì trong sự giữ lại ấy có bí mật được canh giữ và huyền nhiệm được bảo vệ}.

Certain brief statements seem to be in place:—

Một vài phát biểu ngắn dường như là thích hợp:—

The true indigo is the blue of the vault of heaven on a moonless night. It is the culmination, and at the attainment by all of synthesis, the solar night will supervene. Hence the colour corresponds to what the sky nightly proclaims. Indigo absorbs.

Màu chàm chân thật là màu xanh của vòm trời vào một đêm không trăng. Nó là sự viên mãn, và khi tất cả đạt đến tổng hợp, đêm mặt trời sẽ xảy đến. Vì vậy màu này tương ứng với điều mà bầu trời mỗi đêm công bố. Chàm hấp thụ.

Green is the basis of the activity of Nature. It was the synthetic colour for system 1, and is the foundation for the present manifested system. The note of Nature is green, and each time a man reviews the robe in which the earth is clad he is contacting some of the force that reached its consummation in system 1. Green stimulates and heals.

Xanh lục là nền tảng của hoạt động của thiên nhiên. Nó là màu tổng hợp cho thái dương hệ thứ nhất, và là nền tảng cho thái dương hệ đang biểu hiện hiện nay. Âm điệu của thiên nhiên là xanh lục, và mỗi lần một người ngắm lại tấm áo mà trái đất khoác lên, y đang tiếp xúc với một phần mãnh lực đã đạt đến sự viên mãn của nó trong thái dương hệ thứ nhất. Xanh lục kích thích và chữa lành.

I seek to call your attention here to the fact that it is not yet permissible to give out the esoteric significance of [213] these colours, nor exact information as to their order and application. The dangers are too great, for in the right understanding of the laws of colour and in the knowledge (for instance) of which colour stands for a particular ray lies the power the adept wields.

Tôi muốn kêu gọi sự chú ý của các bạn ở đây đến sự kiện rằng hiện vẫn chưa được phép công bố thâm nghĩa nội môn của [213] các màu này, cũng như thông tin chính xác về trật tự và sự ứng dụng của chúng. Những nguy hiểm quá lớn, vì trong sự thấu hiểu đúng đắn các định luật về màu sắc và trong tri thức (chẳng hạn) về màu nào tiêu biểu cho một cung nhất định, có quyền năng mà chân sư vận dụng.

Comments on the colours.—Nhận xét về các màu sắc.

Certain colours are known and it might be well if we here enumerated them. The synthetic ray is indigo, or a deep hue. It is the Ray of Love and Wisdom, the great fundamental ray of this present solar system, and is one of the cosmic rays. This cosmic ray divides itself, for purposes of manifestation, into seven sub-rays, as follows:

Một số màu đã được biết đến và sẽ tốt nếu chúng ta liệt kê chúng ở đây. Cung tổng hợp là chàm, hay một sắc độ sâu. Đó là Cung Bác Ái – Minh Triết, cung nền tảng vĩ đại của hệ mặt trời hiện nay, và là một trong các cung vũ trụ. Cung vũ trụ này tự phân chia, vì mục đích biểu hiện, thành bảy cung phụ, như sau:

1. Indigo……………and a colour not disclosed.

1. Chàm……………và một màu không được tiết lộ.

2. Indigo-indigo…The second sub-ray of Love and Wisdom. It finds its great expression on the second monadic plane, and its major manifestation in the monads of love.

2. Chàm-chàm…Cung phụ thứ hai của Bác Ái – Minh Triết. Nó tìm thấy sự biểu lộ lớn lao của nó trên cõi chân thần thứ hai, và sự biểu hiện chủ yếu của nó trong các chân thần bác ái.

3. Indigo-green…….The third sub-ray, the third major Ray of Activity or Adaptability. It is the basic ray of the second system. It is the great ray for the deva evolution.

3. Chàm-xanh lục…….Cung phụ thứ ba, Cung Hoạt Động hay Thích Ứng chủ yếu thứ ba. Nó là cung nền tảng của thái dương hệ thứ hai. Nó là cung lớn cho tiến hoá thiên thần.

4. Indigo-yellow……………The Harmony Ray.

4. Chàm-vàng……………Cung Hài Hoà.

5. Indigo-orange..The Ray of Concrete Knowledge.

5. Chàm-cam..Cung Tri Thức Cụ Thể.

6. Indigo…and a colour not disclosed. The Ray of Devotion.

6. Chàm…và một màu không được tiết lộ. Cung Sùng Tín.

7. Indigo-violet…..The Ray of Ceremonial Order.

7. Chàm-tím…..Cung Trật Tự Nghi Lễ.

Now you will note that I do not name the two colours, indigo-red and indigo-blue, nor do I apportion them to [214] certain rays or planes. It is not that it is not possible to do so, but it is the withholding of this information that creates the puzzle. Certain things you must always remember in dealing with these colours:

Giờ đây các bạn sẽ lưu ý rằng Tôi không nêu tên hai màu, chàm-đỏ và chàm-xanh lam, và Tôi cũng không phân bổ chúng cho [214] các cung hay các cõi nhất định. Không phải là không thể làm như vậy, nhưng chính việc giữ lại thông tin này tạo ra câu đố. Có một số điều các bạn phải luôn ghi nhớ khi bàn đến các màu này:

That I have given their exoteric names and application, and that of all I have given only two correspond with their esoteric application,—indigo and green. The Synthetic Ray and the Activity Ray are at this stage the only two of which you can be absolutely assured. One is the goal of endeavour, and the other is the foundation colour of Nature.

Rằng Tôi đã đưa ra tên gọi và sự ứng dụng ngoại môn của chúng, và trong tất cả những gì Tôi đã đưa ra chỉ có hai điều tương ứng với sự ứng dụng nội môn của chúng,—chàm và xanh lục. Cung Tổng Hợp và Cung Hoạt Động ở giai đoạn này là hai cung duy nhất mà các bạn có thể hoàn toàn chắc chắn. Một là mục tiêu của nỗ lực, và một là màu nền tảng của thiên nhiên.

That the other five colours with which our fivefold evolution is concerned, change, intermingle, blend, and are not esoterically understood in the same sense as you might imagine from the use of the words, red, yellow, orange, blue and violet. Esoterically they scarcely resemble their names, and the names themselves are intended to blind and mislead.

Rằng năm màu còn lại, những màu mà tiến hoá ngũ phân của chúng ta có liên quan, thay đổi, hòa lẫn, pha trộn, và không được thấu hiểu theo nội môn theo cùng một nghĩa như các bạn có thể tưởng tượng từ việc dùng các từ: đỏ, vàng, cam, xanh lam và tím. Theo nội môn, chúng hầu như không giống với tên gọi của chúng, và chính các tên gọi ấy được chủ ý để làm mù và đánh lạc hướng.

That each of these three colours and the other two are only understood as yet through four of their lesser sub-rays. This is the fourth round and only four sub-rays of these colours have as yet been glimpsed. By remembering these three points undue emphasis will not be laid upon apparent information, and the student will wisely reserve his opinion.

Rằng mỗi trong ba màu này và hai màu kia, cho đến nay chỉ được hiểu qua bốn cung phụ nhỏ hơn của chúng. Đây là cuộc tuần hoàn thứ tư và mới chỉ thoáng thấy bốn cung phụ của các màu này. Bằng cách ghi nhớ ba điểm này, sẽ không đặt sự nhấn mạnh quá mức lên thông tin bề ngoài, và đạo sinh sẽ khôn ngoan giữ lại ý kiến của mình.

Yellow is another of the colours that have come to us from system 1. The blending of blue and of yellow in that system had much to do with the production of activity. Yellow harmonises, it marks completion and fruition. Note how in autumn, when the processes of Nature have run their course and the cycle is complete, the yellow of the autumn is spread upon the landscape. Note also that when the sun pours unimpeded down the yellow of the harvest is also to be seen. So it is in the [215] life of the spirit. When the fourth plane of harmony or of buddhi is achieved, then is consummation. When the work of the personality is completed, and when the sun of the microcosm, the Ego, pours unimpeded down into the personal life, then comes fruition and harvest. The at-one-ment, or the harmonising has been made, and the goal has been reached. Blue and yellow blended result in green, and the synthetic blue or indigo (the love and wisdom aspect) dominates when the plane of harmony is reached. It leads then to the third plane of atma whereon the green of activity predominates……

Vàng là một màu khác đã đến với chúng ta từ thái dương hệ thứ nhất. Sự pha trộn của xanh lam và vàng trong thái dương hệ ấy đã liên quan rất nhiều đến việc tạo ra hoạt động. Vàng hài hoà, nó đánh dấu sự hoàn tất và kết quả viên mãn. Hãy lưu ý rằng vào mùa thu, khi các tiến trình của thiên nhiên đã chạy hết lộ trình và chu kỳ đã hoàn tất, sắc vàng của mùa thu trải rộng trên phong cảnh. Cũng hãy lưu ý rằng khi mặt trời tuôn xuống không bị ngăn trở, sắc vàng của mùa gặt cũng được thấy. Cũng vậy trong [215] đời sống tinh thần. Khi cõi thứ tư của hài hoà hay Bồ đề được đạt đến, thì có sự viên mãn. Khi công việc của phàm ngã hoàn tất, và khi mặt trời của tiểu thiên địa, Chân ngã, tuôn xuống không bị ngăn trở vào đời sống cá nhân, thì kết quả và mùa gặt đến. Sự hợp nhất, hay sự hài hoà, đã được thực hiện, và mục tiêu đã đạt. Xanh lam và vàng pha trộn tạo thành xanh lục, và xanh lam tổng hợp hay chàm (phương diện bác ái và minh triết) chi phối khi cõi hài hoà được đạt đến. Khi ấy nó dẫn đến cõi thứ ba của atma, nơi xanh lục của hoạt động chiếm ưu thế……

Seek this out, Brother of Mine. Cease now from thought and continue on the morrow. This matter is not easy of comprehension, and your realisation of this and consequent nervousness, hindereth the easy flow of the dictation.

Hãy tìm ra điều này, huynh đệ của Tôi. Giờ hãy ngưng suy nghĩ và tiếp tục vào ngày mai. Vấn đề này không dễ lĩnh hội, và việc các bạn nhận ra điều đó cùng sự căng thẳng thần kinh hệ quả, cản trở dòng chảy dễ dàng của việc đọc cho chép.

August 3lst, 1920.

Ngày 31 tháng 8, 1920.

In continuing our study of colour and meditation, and our particular division in that study, I would—for your encouragement—point out that the part that falls to you is the reception and publication of these letters and of the imparted data, whereas the responsibility for that data rests with me. Even if you understand them not, and even if it seems to you that some of the data may be contradictory, I would suggest for your consideration that in the esoteric interpretation lies hid half the mystery, and the other half is concealed by the fact that all interpretation depends upon the standpoint of the interpreter, and the plane whereon his consciousness is working. The value of what I impart now consists in this:—that in the study of colour (which is one form of the study of vibration) comes the ability to understand personal vibration, to attune that vibration to the egoic one, and to synchronise it later with that of the Master. One of the main methods of effecting this synchronisation is meditation. When the intelligence grasps the scientific facts anent this subject, then comes the utilisation of these facts for the advancement of vibration, and the wise development of the colours necessitated. [216]

Khi tiếp tục nghiên cứu của chúng ta về màu sắc và tham thiền, và sự phân chia đặc thù của chúng ta trong nghiên cứu ấy, Tôi muốn—để khích lệ các bạn—chỉ ra rằng phần việc thuộc về các bạn là tiếp nhận và công bố các thư này cùng dữ liệu được truyền đạt, còn trách nhiệm về dữ liệu ấy thuộc về Tôi. Dù các bạn không hiểu chúng, và dù đối với các bạn dường như một số dữ liệu có thể mâu thuẫn, Tôi đề nghị để các bạn suy xét rằng trong cách diễn giải nội môn có ẩn giấu một nửa huyền nhiệm, và nửa còn lại bị che khuất bởi sự kiện rằng mọi diễn giải đều tùy thuộc vào lập trường của người diễn giải, và cõi nơi tâm thức của y đang hoạt động. Giá trị của điều Tôi truyền đạt giờ đây nằm ở chỗ này:—rằng trong việc nghiên cứu màu sắc (là một hình thức của việc nghiên cứu rung động) nảy sinh khả năng thấu hiểu rung động cá nhân, chỉnh âm rung động ấy với rung động chân ngã, và về sau đồng bộ nó với rung động của Chân sư. Một trong những phương pháp chính để thực hiện sự đồng bộ này là tham thiền. Khi trí tuệ nắm bắt các sự kiện khoa học liên quan đến chủ đề này, thì đến việc vận dụng các sự kiện ấy để thăng tiến rung động, và sự phát triển khôn ngoan các màu sắc được đòi hỏi. [216]

We dealt in my last letter with the four colours—blue, indigo, green, and yellow,—and in this primary grouping lies much of interest. We now come to a different group of colours, and one that falls naturally together, orange, red, and violet.

Trong thư trước, chúng ta đã bàn đến bốn màu—xanh lam, chàm, xanh lục, và vàng,—và chính trong sự nhóm lại sơ khởi này có nhiều điều đáng quan tâm. Giờ chúng ta đến với một nhóm màu khác, và là nhóm tự nhiên đi chung với nhau: cam, đỏ, và tím.

Orange. This colour is for our purpose the colour of the mental plane, the colour that marks burning; it is the symbol of flame, and curiously enough the colour that epitomises[2] separation. But I would have you note that the occult orange is not exactly the colour that you understand by the term. Exoteric orange is a blend of yellow and red; esoteric orange is a purer yellow, and the red scarcely is seen at all. This orange comes in as a vibration set up by a cosmic ray, for you have to remember that this fifth ray (just as the fifth plane and the fifth principle) is closely allied to the cosmic ray of the intelligence, or to that activity aspect that found its great expression in the first solar system. The synthetic ray of that time was the green ray, and it found one of its closest alliances in the ray of orange, or mind or intelligence demonstrating through form. You get a correspondence in this solar system in the synthetic Ray of Love and Wisdom, and its close relationship to the fourth Ray of Harmony. It finds a demonstration in the triangle formed by their interaction, as follows: [217]

Cam. Màu này, đối với mục đích của chúng ta, là màu của cõi trí, màu đánh dấu sự cháy; nó là biểu tượng của ngọn lửa, và kỳ lạ thay là màu tóm lược sự phân ly. Nhưng Tôi muốn các bạn lưu ý rằng màu cam huyền bí không hoàn toàn đúng là màu mà các bạn hiểu theo thuật ngữ ấy. Cam ngoại môn là sự pha trộn của vàng và đỏ; cam nội môn là một sắc vàng thuần hơn, và hầu như không thấy đỏ. Màu cam này đi vào như một rung động được khơi lên bởi một cung vũ trụ, vì các bạn phải nhớ rằng cung thứ năm này (cũng như cõi thứ năm và nguyên khí thứ năm) có liên hệ chặt chẽ với cung vũ trụ của trí tuệ, hay với phương diện hoạt động đã tìm thấy sự biểu lộ lớn lao của nó trong hệ mặt trời thứ nhất. Cung tổng hợp của thời kỳ ấy là cung xanh lục, và nó tìm thấy một trong những liên minh gần gũi nhất của nó trong cung cam, hay trí hoặc trí tuệ biểu lộ qua hình tướng. Các bạn có một sự tương ứng trong hệ mặt trời này nơi Cung Tổng Hợp của Bác Ái – Minh Triết, và mối liên hệ gần gũi của nó với Cung Hài Hoà thứ tư. Nó tìm thấy một sự biểu lộ trong tam giác được tạo bởi sự tương tác của chúng, như sau: [217]

FIRST SOLAR SYSTEM

HỆ MẶT TRỜI THỨ NHẤT

Green Ray

Cung Xanh lục

Third Aspect

Phương diện Thứ ba

Activity or Intelligence

Hoạt động hay Trí thông minh

Third sub-ray

Fifth sub-ray

Cung phụ ba

Cung phụ năm

Activity

Manas, mind

Hoạt động

Manas, trí tuệ

Green-green

Green-orange

Xanh lục-xanh lục

Xanh lục-cam

SECOND SOLAR SYSTEM

HỆ MẶT TRỜI THỨ HAI

Indigo Ray

Cung Chàm

Second Aspect

Phương diện Thứ hai

Love and Wisdom

Tình thương và Minh triết

Second sub-ray

Fourth sub-ray

Cung phụ hai

Cung phụ bốn

Love and Wisdom

Harmony

Bác Ái – Minh Triết

Hài Hòa

Indigo-indigo

Indigo-yellow

Chàm-chàm

Chàm-vàng

 [218]

[218]

In the activity system you have the third aspect of universal mind or activity, demonstrating through the orange of the concrete sub-ray…… (In connection with this I would refer the reader to the previous article upon the solar system, and to the relationship traced between the abstract rays 2—4—6 and similarly in the concrete rays 3—5—7), adaptability through form—form which perfectly expresses that latent activity. Similarly in the second system of love, you have the love aspect demonstrating through the yellow of the ray of harmony or beauty—love expressing itself perfectly through unity, harmony or beauty. Note here the fact that I again use terms that are dependent for their correctness upon their exoteric or esoteric interpretation.

Trong thái dương hệ hoạt động, các bạn có phương diện thứ ba của Vũ Trụ Trí hay hoạt động, biểu lộ qua màu cam của cung phụ cụ thể…… (Liên quan đến điều này, Tôi xin dẫn độc giả đến bài trước về hệ mặt trời, và đến mối liên hệ được truy nguyên giữa các cung trừu tượng 2—4—6 và tương tự trong các cung cụ thể 3—5—7), sự thích ứng qua hình tướng—hình tướng biểu lộ hoàn hảo hoạt động tiềm ẩn ấy. Tương tự, trong thái dương hệ thứ hai của bác ái, các bạn có phương diện bác ái biểu lộ qua sắc vàng của cung hài hoà hay mỹ lệ—bác ái tự biểu lộ hoàn hảo qua hợp nhất, hài hoà hay mỹ lệ. Hãy lưu ý ở đây sự kiện rằng Tôi lại dùng những thuật ngữ mà tính đúng đắn của chúng tùy thuộc vào cách diễn giải ngoại môn hay nội môn của chúng.

Therefore to return to what I earlier said, this orange comes in as a vibration set up by the earlier cosmic ray of activity in the earlier solar system; the force of orange (which is scientific apprehension by the intelligence) comes in to perfect the link between spirit and form, between life and the vehicles through which it is seeking expression.

Vì vậy, để trở lại điều Tôi đã nói trước đó, màu cam này đi vào như một rung động được khơi lên bởi cung vũ trụ hoạt động trước kia trong hệ mặt trời trước kia; mãnh lực của màu cam (là sự lĩnh hội khoa học bởi trí tuệ) đi vào để hoàn thiện mối liên kết giữa tinh thần và hình tướng, giữa sự sống và các vận cụ mà qua đó nó đang tìm cách biểu lộ.

We might apportion the great basic colours between the various terms that we use to express the totality of the manifested universe:

Chúng ta có thể phân bổ các màu nền tảng lớn cho các thuật ngữ khác nhau mà chúng ta dùng để diễn đạt toàn thể vũ trụ biểu hiện:

1. Phương diện Sự sống

2. Phương diện Hình tướng

3. Phương diện Trí thông tuệ

1. Life Aspect

2. Form Aspect

3. Intelligence Aspect

tinh thần

Vật chất

Trí tuệ

Spirit

Matter

Mind

Tâm thức

Hiện thể

Sinh lực

Consciousness

Vehicle

Vitality

Bản Ngã

Phi Ngã

Mối quan hệ giữa

Self

Not-Self

Relation between

2. Cung Bác ái và Minh triết

1. Cung Quyền năng và Ý chí

3. Cung Hoạt động hay Khả năng thích ứng

2. Ray of Love and Wisdom

1. Ray of Power and Will

3. Ray of Activity or Adaptability

4. Cung Hài hòa

7. Cung Định luật Nghi lễ

5. Cung Tri thức cụ thể

4. Ray of Harmony

7. Ray of Ceremonial Law

5. Ray of Concrete Knowledge

6. Cung Sùng tín

5. Cung Tri thức cụ thể [219]

6. Ray of Devotion

5. Ray of Concrete Knowledge [219]

This is but one of the ways in which the rays may be apportioned and considered as influences having direct effect upon the evolving life, or upon the form in which it evolves by means of that third factor, the intelligence. These three divisions make the three points of a cosmic triangle:—

Đây chỉ là một trong những cách mà các cung có thể được phân bổ và được xét như các ảnh hưởng có tác động trực tiếp lên sự sống đang tiến hoá, hay lên hình tướng mà trong đó nó tiến hoá nhờ yếu tố thứ ba ấy, trí tuệ. Ba phân chia này tạo thành ba điểm của một tam giác vũ trụ:—

A triangle with words on it

AI-generated content may be incorrect.

and the current of the rays playing macrocosmically between the three has its microcosmic correspondence in the fire of kundalini (awakened through meditation) playing in accurate geometrical form between the three major centres:—

và dòng chảy của các cung vận hành ở cấp độ đại thiên địa giữa ba điểm ấy có sự tương ứng ở cấp độ tiểu thiên địa trong lửa kundalini (được đánh thức qua tham thiền) vận hành theo hình học chính xác giữa ba trung tâm chính:—

A triangle with text on it

AI-generated content may be incorrect.

All the seven rays interact between the life, the form and the inner mind, and are in their essence themselves those three. They are life, they are form, they are intelligence, and their totality is the manifested universe. All seven at different times play on the different aspects. [220]

Cả bảy cung tương tác giữa sự sống, hình tướng và trí bên trong, và trong bản chất của chúng, chính chúng là ba điều ấy. Chúng là sự sống, chúng là hình tướng, chúng là trí tuệ, và tổng thể của chúng là vũ trụ biểu hiện. Cả bảy, vào những thời điểm khác nhau, tác động lên các phương diện khác nhau. [220]

The most important interaction exists between:—

Sự tương tác quan trọng nhất tồn tại giữa:—

a. The Love-Wisdom Ray and the Harmony Ray, as it does between the monadic plane and the buddhic.

a. Cung Bác Ái – Minh Triết và Cung Hài Hoà, cũng như giữa cõi chân thần và cõi Bồ đề.

b. The Power Ray and that of Ceremonial Law, just as it does between the first and the seventh planes.

b. Cung Quyền Năng và cung Trật Tự Nghi Lễ, cũng như giữa cõi thứ nhất và cõi thứ bảy.

c. The Activity or Adaptability Ray and that of Concrete Knowledge or Science, just as it does between the third plane of atma and the fifth plane of mind. Green and orange were allied in the first solar system, and continue their alliance here. I have opened up for all true students vast realms of thought.

c. Cung Hoạt Động hay Thích Ứng và cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học, cũng như giữa cõi thứ ba của atma và cõi thứ năm, cõi trí. Xanh lục và cam đã liên minh trong hệ mặt trời thứ nhất, và tiếp tục liên minh ở đây. Tôi đã mở ra cho mọi đạo sinh chân chính những lãnh vực tư tưởng rộng lớn.

In the relationship between indigo, blue and yellow lies hid a secret.

Trong mối liên hệ giữa chàm, xanh lam và vàng có ẩn giấu một bí mật.

In the relationship between green, orange and red another is revealed.

Trong mối liên hệ giữa xanh lục, cam và đỏ, một bí mật khác được mặc khải.

In the relationship between blue, red, and violet lies still another mystery.

Trong mối liên hệ giữa xanh lam, đỏ, và tím, vẫn còn một huyền nhiệm khác.

The student, who, by using his intuition, apprehends these three mysteries has found the key to the greater cycle and holds the key to evolutionary development. Remember, therefore, when studying the microcosm that the same relationship will be found, and will open the portal to the “Kingdom of God within.”

Đạo sinh, người mà, bằng cách sử dụng trực giác của y, nắm bắt ba huyền nhiệm này, đã tìm ra chìa khóa của chu kỳ lớn hơn và nắm giữ chìa khóa của sự phát triển tiến hoá. Vì vậy, hãy nhớ rằng, khi nghiên cứu tiểu thiên địa, cũng sẽ tìm thấy cùng một mối tương quan ấy, và nó sẽ mở cánh cổng dẫn vào “Thiên Giới ở bên trong.”

Red is for all apparent purposes one of the most difficult colours to consider. It ranks as undesirable. Why? Because it has been considered as the colour of kama, or evil desire, and the picture of the dark and lurid[3] reds in the emotional body of the undeveloped man rises ever to one’s vision. Yet—at some distant time—red will be the basis of a solar system, and in the perfect merging of red, green and blue will come eventually the completed [221] work of the Logos and the consummation of the pure white light.

Vì mọi mục đích hiển nhiên, màu đỏ là một trong những màu khó xét nhất. Nó được xếp vào loại không đáng mong muốn. Tại sao? Bởi vì nó đã được xem là màu của kama, hay dục vọng xấu xa, và hình ảnh những sắc đỏ tối và chói gắt trong thể cảm dục của người chưa phát triển luôn luôn hiện lên trước tầm nhìn của người ta. Tuy nhiên—vào một thời điểm xa xôi nào đó—màu đỏ sẽ là nền tảng của một hệ mặt trời, và trong sự hòa nhập hoàn hảo của đỏ, lục và lam, rốt cuộc sẽ đến công trình [221] hoàn tất của Thượng đế và sự viên mãn của ánh sáng trắng tinh khiết.

The activity system was green.

Thái dương hệ hoạt động là màu lục.

The love system is blue.

Thái dương hệ bác ái là màu lam.

The power system will be red.

Thái dương hệ quyền năng sẽ là màu đỏ.

The result of merging red, blue, and green is—as you know—white, and the Logos will then have esoterically “washed His robes and made them white in the blood,” just as the microcosm, in a lesser sense, does in process of evolution.

Kết quả của sự hòa nhập đỏ, lam và lục là—như các bạn biết—màu trắng, và khi ấy Thượng đế sẽ, theo nghĩa huyền môn, “đã giặt áo bào của Ngài và làm cho chúng trắng trong máu,” cũng như tiểu thiên địa, theo một nghĩa nhỏ hơn, vẫn làm trong tiến trình tiến hoá.

Violet. In a curious way the violet Ray of Ceremonial Law or Order is a synthetic ray when manifested in the three worlds. Just as the synthetic Ray of Love and Wisdom is the synthesis of all the life forces, so in the three worlds the seventh ray synthesises all that has to do with form. On the first plane, life in its purest, highest, undifferentiated synthetic aspect; on the seventh plane, form in its densest, grossest, most differentiated aspect; one is summed up in the synthetic Ray of Love, whilst the other is worked upon by the seventh.

Màu tím. Một cách kỳ lạ, cung tím của Quy luật hay Trật tự Nghi lễ là một cung tổng hợp khi biểu lộ trong ba cõi thấp. Cũng như cung tổng hợp của Bác Ái và Minh Triết là sự tổng hợp của mọi mãnh lực sự sống, thì trong ba cõi thấp cung bảy tổng hợp mọi điều liên quan đến hình tướng. Trên cõi thứ nhất, sự sống trong phương diện tổng hợp thuần khiết nhất, cao nhất, chưa biến phân; trên cõi thứ bảy, hình tướng trong phương diện đậm đặc nhất, thô trược nhất, biến phân nhất; một bên được tóm lược trong cung tổng hợp của Bác Ái, còn bên kia được cung bảy tác động lên.

A synthesis too is found in the fact that through the medium of violet the deva and human kingdoms can find a place of contact. Esoterically violet is white. In the blending of these two kingdoms the seven Heavenly Men attain perfection and completeness, and are esoterically considered to be white, the synonym of perfection.

Một sự tổng hợp nữa cũng được thấy trong sự kiện rằng, qua trung gian của màu tím, giới thiên thần và giới nhân loại có thể tìm được một điểm tiếp xúc. Theo nghĩa huyền môn, màu tím là màu trắng. Trong sự hòa trộn của hai giới này, bảy Đấng Thiên Nhân đạt đến sự hoàn hảo và đầy đủ, và theo nghĩa huyền môn được xem là màu trắng, đồng nghĩa của sự hoàn hảo.

Another point of synthesis is the fact that through the dominance of this seventh ray comes a point of merging between the dense physical and the etheric bodies. This is of paramount importance in the macrocosm, and to the student of meditation. It is necessary to effect this merging and alignment before the transmission of the teaching to the dense physical brain can in any way be [222] considered accurate. It has a close bearing upon the alignment of the centres.

Một điểm tổng hợp khác là sự kiện rằng, qua sự thống trị của cung bảy này, xuất hiện một điểm hòa nhập giữa thể xác đậm đặc và thể dĩ thái. Điều này có tầm quan trọng tối thượng trong đại thiên địa, và đối với đạo sinh tham thiền. Cần phải thực hiện sự hòa nhập và sự chỉnh hợp này trước khi việc truyền đạt giáo huấn đến bộ não hồng trần đậm đặc có thể, theo bất kỳ cách nào, được [222] xem là chính xác. Điều này có liên hệ mật thiết đến sự chỉnh hợp của các trung tâm.

I have sought in the above remarks solely to indicate lines of thought which, if followed closely, may lead to surprising results. By the study of colours and the planes, by the study of colour and its effect and relationship to the life side, and by the study of the form side of the mind, will come much of value to the student of meditation, provided always he does three things:

Trong các nhận xét trên, Tôi chỉ tìm cách nêu ra những mạch tư tưởng mà, nếu được theo sát, có thể dẫn đến những kết quả đáng kinh ngạc. Nhờ nghiên cứu các màu sắc và các cõi, nhờ nghiên cứu màu sắc và tác dụng cùng mối tương quan của nó đối với phương diện sự sống, và nhờ nghiên cứu phương diện hình tướng của thể trí, sẽ đến với đạo sinh tham thiền nhiều điều có giá trị, miễn là y luôn thực hiện ba điều:

1.That he seeks to find the esoteric colours and their right application to the planes and centres, to the bodies through which he manifests, and to the bodies through which the Logos manifests (the seven sacred planets); to the rounds and to the races, and to the cycles of his own individual life. When he can do this he holds in his hands the key to all knowledge.

1.Rằng y tìm cách tìm ra các màu huyền môn và sự ứng dụng đúng đắn của chúng đối với các cõi và các trung tâm, đối với các thể mà qua đó y biểu lộ, và đối với các thể mà qua đó Thượng đế biểu lộ (bảy hành tinh thiêng liêng); đối với các cuộc tuần hoàn và đối với các giống dân, và đối với các chu kỳ của chính đời sống cá nhân của y. Khi y có thể làm được điều này, y nắm trong tay chìa khóa của mọi tri thức.

2. That he endeavours to make practical application of all indicated truth to his personal life of service in the three worlds, and that he tries to conform in his methods of work to the methods demonstrated by the Logos through the seven rays or influences. By this I mean that, through meditation, he brings his life systematically and in ordered occult cycles under those seven great influences, and so produces an ordered beauty in his manifestation of the Ego.

2. Rằng y cố gắng áp dụng thực tiễn mọi chân lý được chỉ ra vào đời sống phụng sự cá nhân của y trong ba cõi thấp, và rằng y cố gắng tuân theo, trong các phương pháp làm việc của mình, những phương pháp được Thượng đế minh chứng qua bảy cung hay các ảnh hưởng. Ý Tôi muốn nói là, qua tham thiền, y đưa đời sống của mình một cách có hệ thống và theo các chu kỳ huyền bí có trật tự vào dưới bảy ảnh hưởng lớn ấy, và như vậy tạo ra một vẻ đẹp có trật tự trong sự biểu lộ của Chân ngã.

3. That he remembers ever that perfection, as we know it, is only partial and not real, and that even perfection itself—as grasped by the mind of man, is but illusion, and that only the next logoic manifestation will reveal the ultimate glory in view. As long as there is differentiated colour there is imperfection. Remember, colour as we know it is the realisation by the man using a fifth root-race body in the fourth round on the fourth chain, of a vibration that contacts the human eye. What then will [223] colour be as visioned by a man of the seventh round in a seventh root-race body? Even then a whole range of colours of wondrous beauty will be outside and beyond his comprehension. The reason being that only two great aspects of logoic life are being thoroughly demonstrated and the third will be but partially revealed, waiting for the still greater “Day be with us” to flash forth in perfect radiance. This word “radiance” has an occult meaning worthy of your consideration.

3. Rằng y luôn nhớ rằng sự hoàn hảo, như chúng ta biết, là chỉ từng phần chứ không thực, và rằng ngay cả chính sự hoàn hảo—như được trí tuệ con người nắm bắt—cũng chỉ là ảo tưởng, và rằng chỉ sự biểu lộ thượng đế kế tiếp mới sẽ mặc khải vinh quang tối hậu đang được thấy. Chừng nào còn có màu sắc đã biến phân thì còn có bất toàn. Hãy nhớ rằng, màu sắc như chúng ta biết là sự nhận biết của con người đang sử dụng một thân thể thuộc giống dân gốc thứ năm trong cuộc tuần hoàn thứ tư trên dãy thứ tư, về một rung động chạm đến mắt người. Vậy thì [223] màu sắc sẽ là gì, như được linh thị bởi một con người của cuộc tuần hoàn thứ bảy trong một thân thể thuộc giống dân gốc thứ bảy? Ngay cả khi ấy cả một dải màu có vẻ đẹp kỳ diệu vẫn sẽ ở ngoài và vượt quá sự thấu hiểu của y. Lý do là vì chỉ có hai phương diện lớn của sự sống thượng đế đang được minh chứng một cách triệt để, còn phương diện thứ ba chỉ sẽ được mặc khải phần nào, chờ “Ngày hãy ở cùng chúng ta” còn vĩ đại hơn nữa bừng lóe trong quang huy hoàn hảo. Từ “quang huy” này có một ý nghĩa huyền bí đáng để các bạn suy ngẫm.

September 3rd, 1920.

Ngày 3 tháng 9, 1920.

In the steady adherence to the next duty and the planting of the foot firmly on the next step ahead lies the open road to the Master, and the incidental clearing away of all difficulties. In the formulating of high mental concepts, and the expressing of them on the physical plane lies that development of the mental body that permits of an ever greater influx of the life from above. In the stabilising of the emotions, and in the transference of desire from that plane to the buddhic comes the ability to reflect truly the higher point of view. In the disciplined, purified physical body comes the capacity to work out that which the inner man knows. If these three things are attended to, the law can then work and emancipation be hastened. People ask themselves, how does the law work? What is our part in the carrying out of action that sets the law loose in the individual life? Simply adherence, as stated above, to the highest duty and an ordering of the personality life so that that duty may be perfectly achieved.

Trong sự kiên định bền bỉ với bổn phận kế tiếp và đặt bàn chân vững chắc lên bước kế tiếp ở phía trước, chính trong đó có con đường rộng mở dẫn đến Chân sư, và sự dọn sạch tình cờ mọi khó khăn. Trong việc hình thành các khái niệm trí tuệ cao cả và biểu đạt chúng trên cõi hồng trần, chính trong đó có sự phát triển của thể trí, điều cho phép một dòng tuôn vào ngày càng lớn của sự sống từ bên trên. Trong việc ổn định các cảm xúc, và trong việc chuyển dịch dục vọng từ cõi ấy lên cõi Bồ đề, xuất hiện khả năng phản chiếu chân thực quan điểm cao hơn. Trong thể xác được kỷ luật và thanh lọc, xuất hiện năng lực thực hiện điều mà con người bên trong biết. Nếu ba điều này được chú tâm, thì định luật có thể vận hành và sự giải thoát được thúc nhanh. Người ta tự hỏi, định luật vận hành như thế nào? Phần của chúng ta trong việc thực hiện hành động làm cho định luật được giải phóng trong đời sống cá nhân là gì? Chỉ đơn giản là sự tuân thủ, như đã nêu ở trên, đối với bổn phận cao nhất và sự sắp đặt đời sống phàm ngã sao cho bổn phận ấy có thể được hoàn thành một cách hoàn hảo.

The Esoteric and Exoteric colours.—Các màu huyền môn và các màu ngoại môn.

Today our subject is the second one in our letter on the use of colour and deals with the law of correspondences [224] and of colour…… I can only briefly deal with and some of the earlier matter imparted by me on the esoteric colors can be here interpolated.

Hôm nay chủ đề của chúng ta là điều thứ hai trong bức thư của chúng ta về việc sử dụng màu sắc và bàn đến định luật tương ứng [224] và về màu sắc…… Tôi chỉ có thể bàn một cách ngắn gọn và một phần của những vấn đề trước đây do Tôi truyền đạt về các màu huyền môn có thể được xen vào đây.

The esoteric meaning of the exoteric colours is not yet wholly imparted, as I have already told you. Some of these meanings have been given out by H.P.B. but their significance has not been sufficiently apprehended. One hint I give for your wise consideration. Some of the information given in The Secret Doctrine anent colour and sound concerns the first solar system and some concerns a portion of the second solar system. The distinction has naturally not been apprehended, but as a key fact for studying in the newer school, the revelation will be great. In this statement as to the esoteric significance of the colours I would have you now tabulate (even though it can be found in The Secret Doctrine), in order to form the basis of such later communications as I may seek to impart.

Ý nghĩa huyền môn của các màu ngoại môn vẫn chưa được truyền đạt hoàn toàn, như Tôi đã nói với các bạn. Một số ý nghĩa này đã được Bà H.P.B. công bố nhưng thâm nghĩa của chúng chưa được nắm bắt đầy đủ. Tôi đưa ra một gợi ý để các bạn suy xét một cách minh triết. Một phần thông tin được đưa ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến màu sắc và âm thanh thuộc về hệ mặt trời thứ nhất và một phần thuộc về một bộ phận của hệ mặt trời thứ hai. Sự phân biệt này dĩ nhiên chưa được nắm bắt, nhưng như một sự kiện then chốt để nghiên cứu trong trường phái mới hơn, sự mặc khải sẽ rất lớn lao. Trong phát biểu này về thâm nghĩa huyền môn của các màu sắc, Tôi muốn các bạn nay hãy lập bảng (dẫu rằng có thể tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm), nhằm hình thành nền tảng cho những truyền đạt về sau mà Tôi có thể tìm cách ban truyền.

Ngoại môn

Nội môn

Exoteric

Esoteric

Tía

Xanh lam

Purple

Blue

Vàng

Chàm

Yellow

Indigo

Màu kem

Vàng

Cream

Yellow

Trắng

Tím

White

Violet

Only four as yet can be communicated, but if rightly understood they hold the key to the present fourth round, and to its history. This being the fourth chain and the fourth round you will note therefore how in the number four lies the history of the present. Especially would I urge you who are the teachers and students of the coming generation to ponder upon the significance of white being esoterically violet. It has special application now in the coming in of the violet ray, the seventh ray being one of the three major rays in this round; it wields power in ratio to the four, on the four and under the four.

Hiện nay chỉ có thể truyền đạt bốn điều, nhưng nếu được thấu hiểu đúng đắn, chúng nắm giữ chìa khóa của cuộc tuần hoàn thứ tư hiện tại, và của lịch sử của nó. Vì đây là dãy thứ tư và cuộc tuần hoàn thứ tư, nên vì vậy các bạn sẽ lưu ý rằng chính trong số bốn có lịch sử của hiện tại. Đặc biệt, Tôi muốn thúc giục các bạn là những huấn sư và đạo sinh của thế hệ sắp đến hãy suy ngẫm về thâm nghĩa của việc màu trắng theo nghĩa huyền môn là màu tím. Điều này có ứng dụng đặc biệt ngay lúc này trong sự đi vào của cung tím, cung bảy là một trong ba cung chính yếu trong cuộc tuần hoàn này; nó vận dụng quyền năng theo tỉ lệ với số bốn, trên số bốn và dưới số bốn.

The esoteric colours of the exoteric red, green and orange may not yet be imparted to the general public, [225] though students and accepted chelas, whose discrimination can be trusted, can attain the necessary knowledge with effort.

Các màu huyền môn của các màu ngoại môn đỏ, lục và cam hiện chưa thể truyền đạt cho công chúng, [225] mặc dù các đạo sinh và các đệ tử được chấp nhận, những người có thể tin cậy vào sự phân biện của họ, có thể đạt được tri thức cần thiết bằng nỗ lực.

I would here like to point out certain other considerations which can be best dealt with by a brief consideration of the law of analogy and correspondence. We might therefore consider the following points:—

Tại đây Tôi muốn chỉ ra một số cân nhắc khác, những điều có thể được xử lý tốt nhất bằng một sự xét ngắn gọn về định luật tương đồng và tương ứng. Vì vậy, chúng ta có thể xét các điểm sau:—

a. Wherein the microcosm and the macrocosm correspond.

a. Tiểu thiên địa và đại thiên địa tương ứng ở điểm nào.

B.The basic correspondences.

B.Các tương ứng căn bản.

C.Colour in the microcosm and in the macrocosm.

C.Màu sắc trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa.

Let us briefly take up each point, for in the right apprehension of the law lies the ability to think esoterically, and wrest the inner meaning out of the external happenings.

Chúng ta hãy ngắn gọn đề cập từng điểm, vì trong sự nắm bắt đúng đắn định luật này có năng lực tư duy một cách huyền môn, và rút ra ý nghĩa bên trong từ các biến cố bên ngoài.

Microcosmic and macrocosmic correspondence.—Sự tương ứng giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa.

The relationship between the microcosm and the macrocosm is accurate, and exists not only broadly but likewise in detail. This is a fact to be grasped and worked out. As knowledge increases and progress is made, and as the ability to meditate results in the faculty of transmitting from the higher Triad to the Personality, via the causal, then these facts will be ever more clearly demonstrated in detail, and perfect comprehension will ensue. “As above, so below” is a truism glibly repeated but little realised. What is found above and what will consequently be developing below?

Mối tương quan giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa là chính xác, và tồn tại không chỉ trên bình diện rộng mà còn cả trong chi tiết. Đây là một sự kiện cần được nắm bắt và triển khai. Khi tri thức gia tăng và tiến bộ được thực hiện, và khi khả năng tham thiền đưa đến năng lực truyền đạt từ Tam Nguyên Tinh Thần cao hơn xuống Phàm ngã, qua thể nguyên nhân, thì các sự kiện này sẽ ngày càng được minh chứng rõ ràng trong chi tiết, và sự thấu hiểu trọn vẹn sẽ theo sau. “Trên sao, dưới vậy” là một chân lý thường được lặp lại trơn tru nhưng ít được chứng nghiệm. Điều gì được tìm thấy ở bên trên và do đó sẽ đang phát triển ở bên dưới?

Above will be found Will, Love and Activity, or Power, Wisdom and Intelligence, the terms that we apply to the three aspects of divine manifestation. Below will be found these three in process of appearing:—

Ở bên trên sẽ thấy Ý chí, Bác ái và Hoạt động, hay Quyền năng, Minh triết và Trí tuệ, là những thuật ngữ chúng ta áp dụng cho ba phương diện của sự biểu lộ thiêng liêng. Ở bên dưới sẽ thấy ba điều này trong tiến trình xuất hiện:—

a. The Personality expresses active intelligence. [226]

a. Phàm ngã biểu lộ trí tuệ hoạt động. [226]

b. The Ego expresses love or wisdom.

b. Chân ngã biểu lộ bác ái hay minh triết.

c. The Monad expresses power or will.

c. Chân thần biểu lộ quyền năng hay ý chí.

You have in the three worlds of the Personality:—

Các bạn có trong ba cõi của Phàm ngã:—

a. The physical, expressing a reflection of the activity aspect.

a. Cõi hồng trần, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện hoạt động.

b. The astral, expressing a reflection of the love or wisdom aspect.

b. Cõi cảm dục, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện bác ái hay minh triết.

c. The mental, expressing a reflection of the will or power aspect.

c. Cõi trí, biểu lộ một sự phản chiếu của phương diện ý chí hay quyền năng.

What have you for the colours of those three bodies, exoterically described?

Vậy các màu của ba thể ấy, được mô tả theo ngoại môn, là gì?

a. The violet of the physical as expressed by the etheric.

a. Màu tím của thể xác như được biểu lộ bởi thể dĩ thái.

b. The rose or red of the astral.

b. Màu hồng hay đỏ của thể cảm dục.

c. The orange of the mental.

c. Màu cam của thể trí.

What have you in the Triad, or the world of the threefold Ego?

Các bạn có gì trong Tam nguyên tinh thần, hay thế giới của Chân ngã tam phân?

a. Higher manas, expressing the activity or intelligence aspect.

a. Manas thượng, biểu lộ phương diện hoạt động hay trí tuệ.

b. Buddhi, expressing the love or wisdom aspect.

b. Bồ đề, biểu lộ phương diện bác ái hay minh triết.

c. Atma, expressing the will or power aspect.

c. Atma, biểu lộ phương diện ý chí hay quyền năng.

What again are the colours of those bodies exoterically described?

Vậy một lần nữa, các màu của những thể ấy là gì, được mô tả theo ngoại môn?

a. The blue of the higher manasic levels.

a. Màu lam của các cấp độ manas thượng.

b. The yellow of the buddhic level.

b. Màu vàng của cấp độ Bồ đề.

c. The green of the atmic level.

c. Màu lục của cấp độ atma.

They are in the process of transmutation. You have to effect the corresponding change of colour from the lower to the higher. Couple up this information that I have here imparted with that given in an earlier letter on the transference of polarisation.

Chúng đang trong tiến trình chuyển hoá. Các bạn phải thực hiện sự thay đổi màu tương ứng từ thấp lên cao. Hãy kết hợp thông tin mà Tôi đã truyền đạt ở đây với điều đã được đưa ra trong một bức thư trước về sự chuyển dịch sự phân cực.

There is a direct correspondence between:—

Có một sự tương ứng trực tiếp giữa:—

a. The violet of the etheric level and the blue of the higher mental. [227]

a. Màu tím của cấp độ dĩ thái và màu lam của thượng trí. [227]

b. The rose of the astral and the yellow of the buddhic.

b. Màu hồng của thể cảm dục và màu vàng của cõi Bồ đề.

c. The orange of the mental and the green of the atmic.

c. Màu cam của thể trí và màu lục của cõi atma.

The secret of it all is to be found in the application of the occult laws of meditation.

Bí mật của toàn bộ điều này được tìm thấy trong sự ứng dụng các định luật huyền bí của tham thiền.

Again you can shift the whole range of colour higher, and in the Monad work out the correspondence.

Một lần nữa, các bạn có thể chuyển toàn bộ dải màu lên cao hơn, và trong Chân thần triển khai sự tương ứng.

a. The green of the third aspect.

a. Màu lục của phương diện thứ ba.

b. The synthetic blue or indigo of the second aspect.

b. Màu lam tổng hợp hay màu chàm của phương diện thứ hai.

c. The red of the first aspect.

c. Màu đỏ của phương diện thứ nhất.

I would point out here that as you return to the centre of systemic evolution the nomenclature of these colours is most misleading. The red, for instance, has no resemblance to that termed red or rose on the lower plane. The red, the green and the indigo of these high levels are to all intents and purposes new colours of a beauty and translucence inconceivable. If justly interpreted, you have here a hint of the correspondence between the microcosm and the macrocosm.

Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi các bạn trở về trung tâm của tiến hoá của thái dương hệ, cách gọi tên các màu này là hết sức gây hiểu lầm. Chẳng hạn, màu đỏ hoàn toàn không giống với thứ được gọi là đỏ hay hồng ở cõi thấp. Màu đỏ, màu lục và màu chàm của các cấp độ cao này, xét theo mọi mục đích thực tiễn, là những màu mới, có vẻ đẹp và độ trong suốt không thể tưởng tượng. Nếu được diễn giải đúng đắn, các bạn có ở đây một gợi ý về sự tương ứng giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa.

The colours exoterically have to do with the form. The forces or qualities which those colours conceal and hide have to do with the life, evolving within those forms. By the use of meditation the bridge is formed which connects these two. Meditation is the expression of the intelligence that links life and form, the self and the not-self, and in time and in the three worlds the process of this connection eventuates on the plane of mind which links the higher and the lower. The correspondence will always be found perfect. Therefore through meditation will come that knowledge which will effect three things:—

Các màu theo ngoại môn liên quan đến hình tướng. Các mãnh lực hay phẩm tính mà những màu ấy che giấu và ẩn tàng liên quan đến sự sống đang tiến hoá bên trong các hình tướng ấy. Nhờ sử dụng tham thiền, cây cầu được hình thành nối kết hai điều này. Tham thiền là sự biểu lộ của trí tuệ nối kết sự sống và hình tướng, cái ngã và cái phi-ngã, và theo thời gian, trong ba cõi thấp, tiến trình nối kết này đưa đến kết quả trên cõi trí, nơi nối kết cái cao và cái thấp. Sự tương ứng sẽ luôn luôn hoàn hảo. Vì vậy, qua tham thiền sẽ đến tri thức có thể thực hiện ba điều:—

1. Give the inner significance of the exoteric colour.

1. Trao cho thâm nghĩa bên trong của màu ngoại môn.

2. Build in the qualities that those colours veil. [228]

2. Xây dựng các phẩm tính mà những màu ấy che phủ. [228]

3. Effect the necessary transmutation of the colours from the Personality to the Triad, and later from the Triad to the Monad.

3. Thực hiện sự chuyển hoá cần thiết của các màu từ Phàm ngã lên Tam nguyên tinh thần, và về sau từ Tam nguyên tinh thần lên Chân thần.

The causal body acts as a synthesis of these colours in the life of the reincarnating Ego, just as the synthetic ray blends all the colours in logoic manifestation. Endeavour to keep clear in your own mind……that colours are the expressions of force or quality. They hide or veil the abstract qualities of the Logos, which qualities are reflected in the microcosm in the three worlds as virtues or faculties. Therefore, just as the seven colours hide qualities in the Logos, so these virtues demonstrate in the life of the personality and are brought forward objectively through the practice of meditation; thus each life will be seen as corresponding to a colour. Ponder on this.

Thể nguyên nhân hoạt động như một sự tổng hợp của các màu sắc này trong đời sống của chân ngã tái sinh, cũng như cung tổng hợp hòa trộn mọi màu sắc trong sự biểu hiện của Thượng đế. Hãy cố gắng giữ cho rõ ràng trong chính thể trí của các bạn……rằng màu sắc là những biểu hiện của mãnh lực hay phẩm tính. Chúng che giấu hay che phủ các phẩm tính trừu tượng của Thượng đế, và các phẩm tính ấy được phản chiếu trong tiểu thiên địa, trong ba cõi giới, như các đức hạnh hay năng lực. Vì vậy, cũng như bảy màu sắc che giấu các phẩm tính trong Thượng đế, thì các đức hạnh này biểu lộ trong đời sống của phàm ngã và được đưa ra một cách khách quan qua việc thực hành tham thiền; do đó, mỗi đời sống sẽ được thấy là tương ứng với một màu sắc. Hãy suy ngẫm về điều này.

The basic correspondences.—Các tương ứng căn bản.

It is in the study of these correspondences in the different departments of the manifested universe, and the application of these colours to their adjusted portion that the beauty of the synthetic whole and the illuminating of the microcosmic life ensues. Let us enumerate or tabulate in broad general fashion, leaving the detailed working out to the student of meditation. More at this juncture is not possible.

Chính trong việc nghiên cứu các tương ứng này trong những bộ phận khác nhau của vũ trụ biểu hiện, và trong việc áp dụng các màu sắc này vào phần đã được điều chỉnh của chúng, mà vẻ đẹp của toàn thể tổng hợp và sự soi sáng đời sống tiểu thiên địa sẽ theo sau. Chúng ta hãy liệt kê hay lập bảng theo cách khái quát rộng, để việc triển khai chi tiết lại cho đạo sinh tham thiền. Ở giai đoạn này, không thể nói nhiều hơn.

1. The threefold solar system.

1. Hệ mặt trời tam phân.

The threefold evolving jiva.

Jiva tiến hoá tam phân.

The three aspects of the Logos.

Ba phương diện của Thượng đế.

The threefold Monad.

Chân thần tam phân.

The spiritual Triad, the Ego.

Tam Nguyên Tinh Thần, chân ngã.

The threefold Personality.

Phàm ngã tam phân.

The three worlds of human evolution.

Ba cõi giới của tiến hoá nhân loại.

The three persons of the Deity. [229]

Ba Ngôi của Thượng đế. [229]

2. The four Lipika Lords.

2. Bốn Đấng Lipika.

The four Maharajahs.

Bốn Maharajah.

The fourfold lower man, the quaternary.

Phàm nhân tứ phân, bộ tứ.

3. The five planes of human evolution.

3. Năm cõi của tiến hoá nhân loại.

The five senses.

Năm giác quan.

The fivefold department of the Mahachohan.

Bộ phận ngũ phân của Đức Mahachohan.

The five kingdoms of nature.

Năm giới của thiên nhiên.

a. The mineral kingdom.

a. Giới kim thạch.

b. The vegetable kingdom.

b. Giới thực vật.

c. The animal kingdom.

c. Giới động vật.

d. The human kingdom.

d. Giới nhân loại.

e. The spiritual or superhuman kingdom.

e. Giới tinh thần hay siêu nhân loại.

The fifth principle of manas.

Nguyên khí thứ năm của manas.

4. The seven rays or hierarchies.

4. Bảy cung hay các Huyền Giai.

The seven colours.

Bảy màu sắc.

The seven planes of manifestation.

Bảy cõi của sự biểu hiện.

The seven Kumaras.

Bảy Kumara.

The seven principles of man.

Bảy nguyên khí của con người.

The seven centres.

Bảy trung tâm.

The seven sacred planets.

Bảy hành tinh thiêng liêng.

The seven chains.

Bảy dãy.

The seven globes.

Bảy bầu hành tinh.

The seven rounds.

Bảy cuộc tuần hoàn.

The seven root-races and subraces.

Bảy giống dân gốc và các giống dân phụ.

The seven initiations.

Bảy lần điểm đạo.

What I seek to emphasise in the above table is that to the adept the correspondence of all these is perfectly known and exists in terms of consciousness, in terms of form, and in terms of intelligence. He knows it,—if I may so express it,—in terms of colour when dealing with form; in terms of sound when dealing with the life side, and in terms of vitality when dealing with intelligence, or the activity aspect. The above statement will repay much [230] earnest thought; it contains a statement of occult fact. According to the three lines of approach as dealt with in our preceding letter, will be the use of the terms as above described.

Điều Tôi tìm cách nhấn mạnh trong bảng trên là: đối với chân sư, sự tương ứng của tất cả những điều này được biết một cách hoàn hảo và tồn tại trên phương diện tâm thức, hình tướng và trí tuệ. Ngài biết điều đó,—nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy,—theo các thuật ngữ của màu sắc khi bàn về hình tướng; theo các thuật ngữ của âm thanh khi bàn về phương diện sự sống, và theo các thuật ngữ của sinh lực khi bàn về trí tuệ, hay phương diện hoạt động. Việc suy tư nghiêm túc nhiều về mệnh đề trên sẽ đem lại giá trị [230]; nó chứa đựng một phát biểu về sự kiện huyền bí. Tùy theo ba tuyến tiếp cận như đã được bàn đến trong thư trước của chúng ta, mà việc dùng các thuật ngữ sẽ như đã mô tả ở trên.

Colour in the microcosm and in the macrocosm.—Màu sắc trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa.

Here lies much of difficulty owing to the process of constant mutation. Colour in the microcosm is subject to the following factors:—

Ở đây có nhiều khó khăn do tiến trình biến đổi không ngừng. Màu sắc trong tiểu thiên địa chịu tác động bởi các yếu tố sau:—

1. The factor of the ray of the Ego.

1. Yếu tố của cung chân ngã.

2. The factor of the ray of the Personality.

2. Yếu tố của cung phàm ngã.

3. The factor of the point in evolution.

3. Yếu tố của điểm tiến hoá.

One hint may here be given. At a low point in evolution the colours are largely based on the activity aspect. Later comes the working in the love, or wisdom aspect, which has three effects:—

Ở đây có thể đưa ra một gợi ý. Ở một điểm tiến hoá thấp, các màu sắc phần lớn dựa trên phương diện hoạt động. Về sau mới đến sự vận hành trong phương diện bác ái, hay minh triết, và điều này có ba tác dụng:—

a. The dropping out of colours from the lower sheaths which are the left-overs from a previous system. It involves the elimination of such hues as brown and gray.

a. Sự rơi rụng các màu sắc khỏi những vỏ bọc thấp, vốn là phần dư từ một thái dương hệ trước. Điều này bao hàm việc loại bỏ những sắc độ như nâu và xám.

b. The transmutation of certain colours into those of higher tone.

b. Sự chuyển hoá một số màu sắc thành những màu có âm sắc cao hơn.

c. An effect of translucence, or an underlying radiance or brilliance, which is the result of the greater purity of the bodies and the dimensions of the ever-growing inner flame.

c. Một hiệu ứng trong suốt, hay một sự rạng ngời hay chói sáng ngầm bên dưới, là kết quả của sự thanh khiết lớn hơn của các thể và của kích thước của ngọn lửa nội tại ngày càng tăng.

4. The factor of the ray, or rays, that are manifested passing out of manifestation or coming into manifestation. These rays necessarily affect the egos in incarnation; they cause a change of vibration somewhat or a consequent change of colouring or of quality. If a man, for instance, is on the Ray of Science, and comes under the influence of the incoming Ray of Harmony, the effect on his trend of thought, and consequently on the colour he [231] will be demonstrating, will be quite noticeable. All these factors cause the blending and merging and mixing that is practically inextricably confusing to the man from the standpoint of the three worlds.

4. Yếu tố của cung, hay các cung, đang biểu hiện, đang rời khỏi sự biểu hiện hoặc đang đi vào sự biểu hiện. Các cung này tất yếu tác động đến các chân ngã đang lâm phàm; chúng gây ra một sự thay đổi rung động đôi chút, hay một sự thay đổi màu sắc hoặc phẩm tính theo sau. Chẳng hạn, nếu một người thuộc Cung Khoa Học, và chịu ảnh hưởng của Cung Hòa Hợp đang đi vào, thì tác động lên khuynh hướng tư tưởng của y, và do đó lên màu sắc mà y [231] sẽ biểu lộ, sẽ khá rõ rệt. Tất cả các yếu tố này gây ra sự hòa trộn, dung hợp và pha lẫn, khiến cho đối với con người, xét từ quan điểm của ba cõi giới, gần như rối rắm không thể gỡ.

……I appreciate your feeling that even these hints but lead apparently to greater confusion. But by constant application to the subject in hand, by frequent brooding and meditation on the colours, and by an endeavor to attain their esoteric significance, and their microcosmic application, will gradually appear the thread that will lead the student out of his confusion into the clear light of perfect knowledge. Have, therefore, courage, a broad elasticity of view, and an ability to reserve opinion until further facts are demonstrated, and also an avoidance of dogmatic assertion. These will be your best guides in the early days of your search. Many have, through meditation and a receptiveness to the higher teaching, found their way out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom. Only in the Hall of Wisdom can the esoteric interpretation of the colours be truly known. That Hall is entered through the meditation which prepares the student for that initiation which opens to him the door. Therefore, hold fast to meditation and falter not in purpose.

……Tôi thấu hiểu cảm giác của các bạn rằng ngay cả những gợi ý này dường như cũng chỉ dẫn đến sự rối rắm lớn hơn. Nhưng nhờ sự áp dụng liên tục vào chủ đề đang bàn, nhờ thường xuyên trầm tư và tham thiền về các màu sắc, và nhờ nỗ lực đạt đến thâm nghĩa nội môn của chúng, cùng sự ứng dụng trong tiểu thiên địa của chúng, sợi chỉ sẽ dần dần hiện ra để dẫn đạo sinh ra khỏi sự rối rắm của mình vào ánh sáng rõ ràng của tri thức hoàn hảo. Vì vậy, hãy có can đảm, một sự linh hoạt rộng rãi trong tầm nhìn, và khả năng hoãn phán đoán cho đến khi các sự kiện khác được chứng minh, đồng thời tránh sự khẳng định giáo điều. Đó sẽ là những người hướng dẫn tốt nhất của các bạn trong những ngày đầu tìm kiếm. Nhiều người, nhờ tham thiền và nhờ tính tiếp nhận đối với giáo huấn cao hơn, đã tìm được đường ra khỏi Phòng Hiểu Biết để vào Phòng Minh triết. Chỉ trong Phòng Minh triết, sự diễn giải nội môn về các màu sắc mới có thể được biết một cách chân thực. Phòng ấy được bước vào qua tham thiền, vốn chuẩn bị đạo sinh cho lần điểm đạo mở cho y cánh cửa. Vì vậy, hãy nắm chặt lấy tham thiền và đừng chùn bước trong mục đích.

September 4th, 1920.

Ngày 4 tháng 9, 1920.

We have for discussion today, something of real spiritual application in a practical sense. Much that I have imparted to you has provided food for thought and for speculation. It tends to the development of the higher mind and by stimulation of imagination it somewhat develops the intuition. Much of it has been in the nature of prophecy, and of the holding forth of an ideal some day to be attained. Only by pointing out the goal and by emphasising that point will man be induced to make the [232] necessary effort and thereby approximate in some measure the desired position. But today we come down to practical living and the imposing upon the personality of a certain rate of rhythm. We do this in our study of the third point upon the effect of colour:—

Hôm nay, chúng ta sẽ thảo luận một điều có ứng dụng tinh thần thực sự theo nghĩa thực tiễn. Nhiều điều Tôi đã truyền đạt cho các bạn đã cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm và để suy đoán. Nó có khuynh hướng phát triển thượng trí và, nhờ kích thích sự tưởng tượng, phần nào phát triển trực giác. Phần lớn trong đó mang tính tiên tri, và là việc nêu ra một lý tưởng nào đó sẽ đạt được vào một ngày kia. Chỉ bằng cách chỉ ra mục tiêu và nhấn mạnh điểm ấy, con người mới được thúc đẩy để thực hiện [232] nỗ lực cần thiết và nhờ đó tiến gần, ở một mức độ nào đó, đến vị thế mong muốn. Nhưng hôm nay chúng ta đi xuống đời sống thực tiễn và áp đặt lên phàm ngã một nhịp điệu ở một tốc độ nhất định. Chúng ta làm điều này trong việc nghiên cứu điểm thứ ba về tác động của màu sắc:—

a. On the bodies of the student.

a. Trên các thể của đạo sinh.

b. On the groups with which he is affiliated.

b. Trên các nhóm mà y liên hệ.

c. On his environment.

c. Trên môi trường của y.

The point I seek specially to emphasise is the life side and not the form side of colour. As I wrote earlier, colour is but the form assumed by force, of some kind, when that force is moving at a certain measure, and when its action and movement is impeded or unimpeded by the material through which it plays. In this sentence lies the key to the solution of the problem as to the colour differences on the higher planes and on the lower. The resistance of matter to the downflow of force or life, and its relative density or rarity accounts for much of the colour distinction. One of the distinctions has, necessarily, a cosmic basis and is consequently difficult of apprehension by three-dimensional man in this, the fourth round. But the basic reason of the difference can be apprehended sufficiently to permit the pupil to realise the absolute necessity of steadily refining his vehicles so that the force may radiate through with greater facility. It is therefore on the three lower planes a question of practical living and a bringing of all the three bodies under edict rules of refinement.

Điểm Tôi đặc biệt tìm cách nhấn mạnh là phương diện sự sống chứ không phải phương diện hình tướng của màu sắc. Như Tôi đã viết trước đây, màu sắc chỉ là hình tướng mà mãnh lực, thuộc một loại nào đó, khoác lấy khi mãnh lực ấy đang chuyển động theo một mức độ nhất định, và khi hành động cùng chuyển động của nó bị cản trở hay không bị cản trở bởi vật chất mà qua đó nó vận hành. Chính trong câu này có chìa khóa để giải quyết vấn đề về sự khác biệt màu sắc trên các cõi cao và trên các cõi thấp. Sự kháng cự của vật chất đối với dòng chảy xuống của mãnh lực hay sự sống, và mật độ hay độ thưa tương đối của nó, giải thích phần lớn sự phân biệt màu sắc. Một trong các sự phân biệt ấy tất nhiên có cơ sở vũ trụ và vì vậy khó được con người ba chiều trong cuộc tuần hoàn thứ tư này nắm bắt. Nhưng lý do căn bản của sự khác biệt có thể được nắm bắt đủ để cho phép môn sinh nhận ra sự cần thiết tuyệt đối của việc đều đặn tinh luyện các vận cụ của mình để mãnh lực có thể bức xạ xuyên qua dễ dàng hơn. Vì vậy, trên ba cõi thấp, đó là vấn đề của đời sống thực tiễn và việc đưa cả ba thể dưới những quy luật nghiêm ngặt của sự tinh luyện.

These forces in terms of spiritual development, and not so much in terms of form, demonstrate through the virtues, as you call them, through magnetism and through vitality and intelligence. To put it quite briefly, as the student builds a pure physical body and a refined etheric, as he develops the emotional virtues and as he co-ordinates [233] and enlarges his mental body, he is continuously altering its rate of vibration, and changing its rhythm, which change demonstrates to the eye of the clairvoyant as mutation in colour. As you have been taught, the colours as seen in the aura of a savage and in those of the average developed man are extraordinarily dissimilar. Why? Because one is moving or vibrating at a slow rate and the other with greatly increased rapidity. One has a rhythm slow, sluggish and heavy, the other is pulsating and moving with a tremendous velocity permitting consequently a more rapid play of the material of which those bodies are constructed.

Các mãnh lực này, xét theo sự phát triển tinh thần, và không hẳn theo hình tướng, biểu lộ qua các đức hạnh, như các bạn gọi, qua từ điện và qua sinh lực cùng trí tuệ. Nói thật ngắn gọn, khi đạo sinh xây dựng một thể xác thanh khiết và một thể dĩ thái tinh luyện, khi y phát triển các đức hạnh cảm dục và khi y phối hợp [233] và mở rộng thể trí của mình, y đang liên tục thay đổi tốc độ rung động của nó, và đổi nhịp điệu của nó; sự thay đổi ấy được mắt của nhà thông nhãn thấy như sự biến đổi trong màu sắc. Như các bạn đã được dạy, các màu sắc thấy trong hào quang của một người man dã và trong hào quang của người phát triển trung bình khác nhau một cách phi thường. Vì sao? Bởi một người đang chuyển động hay rung động ở tốc độ chậm, còn người kia với tốc độ tăng nhanh rất nhiều. Một người có nhịp điệu chậm, ì ạch và nặng nề; người kia đang đập nhịp và chuyển động với một vận tốc khổng lồ, do đó cho phép vật chất cấu tạo nên các thể ấy vận hành nhanh hơn.

Therefore, I would like to point out that as the race progresses as a collective unit, Those Who gaze upon it from a higher plane are aware of the steady improvement in the colours seen, and of a greater purity and clarity of hue in the aura of the race, which aura is composed of the composite auras of the units of the race. For instance, the aura of the Atlantean root-race and that of the Aryan are widely diverse, and radically different. We have, therefore, demonstrated our first point that, as the units evolve, the colours change and this is brought about by the transmutation of what you term vices, into virtues. A vice is dominance of an involutional quality of the same force which at a later period will show forth as a virtue.

Vì vậy, Tôi muốn chỉ ra rằng khi nhân loại tiến bộ như một đơn vị tập thể, Các Đấng nhìn nó từ một cõi cao hơn nhận biết sự cải thiện đều đặn trong các màu sắc được thấy, và một sự thanh khiết cùng trong sáng lớn hơn của sắc độ trong hào quang của nhân loại; hào quang ấy được cấu thành bởi các hào quang hợp thành của các đơn vị trong nhân loại. Chẳng hạn, hào quang của Giống dân gốc Atlantis và của Arya khác nhau rất xa và khác biệt một cách triệt để. Vì vậy, chúng ta đã chứng minh điểm thứ nhất rằng, khi các đơn vị tiến hoá, các màu sắc thay đổi, và điều này được tạo ra bởi sự chuyển hoá điều các bạn gọi là thói xấu thành đức hạnh. Một thói xấu là sự thống trị của một phẩm tính giáng hạ tiến hoá của cùng một mãnh lực mà về sau sẽ biểu lộ như một đức hạnh.

The second point I seek to make is that these influences (which show forth as colours when they contact matter) move in their own ordered cycles. These cycles we describe as the coming in or the going out of a ray. In this fourth round usually four rays are in flux at any one given time; by this I seek to impress upon you that though all rays manifest in the solar system, at certain stages of manifestation more or less of them will be dominating simultaneously. These rays, forces, influences, or [234] co-ordinations of qualities, when expressed in terms of light, colour the matters they impinge upon with certain recognisable hues, and these give the tone to the life of the personality or to the Ego. They are recognized by you as the composite character and are seen by the clairvoyant as colour.

Điểm thứ hai Tôi muốn nêu là các ảnh hưởng này (biểu lộ như màu sắc khi chúng tiếp xúc với vật chất) vận hành theo các chu kỳ có trật tự riêng của chúng. Chúng ta mô tả các chu kỳ này như sự đi vào hay đi ra của một cung. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, thường có bốn cung đang lưu chuyển tại bất kỳ thời điểm nào; qua đó Tôi muốn khắc sâu vào các bạn rằng tuy mọi cung đều biểu hiện trong hệ mặt trời, nhưng ở những giai đoạn biểu hiện nhất định, nhiều hay ít cung sẽ đồng thời chi phối. Các cung, mãnh lực, ảnh hưởng, hay [234] sự phối hợp các phẩm tính này, khi được diễn đạt theo các thuật ngữ của ánh sáng, sẽ nhuộm màu các vật chất mà chúng tác động vào bằng những sắc độ có thể nhận ra, và những sắc độ ấy tạo âm sắc cho đời sống của phàm ngã hay của chân ngã. Các bạn nhận biết chúng như tính cách tổng hợp và nhà thông nhãn thấy chúng như màu sắc.

Groups, therefore, of units who converge through similarity of vibration will be seen as having approximately the same basic hue, though with many lesser differentiations in colour and tone. As stated before, the colour of large masses of people can be gauged and judged. It is in this way that the members of the Hierarchy in Whose Hands is placed evolutionary development in the three worlds, judge of the stage attained and the progress made.

Vì vậy, các nhóm đơn vị hội tụ do sự tương đồng rung động sẽ được thấy là có xấp xỉ cùng một sắc độ căn bản, dù có nhiều phân hoá nhỏ hơn về màu và âm sắc. Như đã nói trước, màu sắc của những khối người lớn có thể được ước lượng và phán đoán. Chính theo cách này mà các thành viên của Thánh Đoàn, trong Tay Các Ngài đặt sự phát triển tiến hoá trong ba cõi giới, phán đoán giai đoạn đã đạt và tiến bộ đã thực hiện.

Different rays come in bearing units coloured by that ray. Other rays pass out[4] carrying with them units of a different basic hue. In the period of transition the blending of colour is of deep complexity, but of mutual helpfulness and benefit. Each ray imparts somewhat to the other rays in incarnation at the same time, and the rate of rhythm will be slightly affected. This from the standpoint of the present and of time in the three worlds, may be almost inappreciably small, but through the frequent meeting and interplay of the forces and colours, and their constant action and interaction upon each other, will come a steady, general levelling up, and an approximation in vibration. You will see, therefore, how synthesis is achieved at the end of a greater maha-manvantara. The three rays absorb the seven and lead eventually to a merging in the synthetic ray.

Những cung khác nhau đi vào, mang theo các đơn vị được nhuộm màu bởi cung ấy. Những cung khác đi ra, mang theo các đơn vị có sắc độ căn bản khác. Trong thời kỳ chuyển tiếp, sự hòa trộn màu sắc có độ phức tạp sâu xa, nhưng đem lại sự trợ giúp và lợi ích lẫn nhau. Mỗi cung truyền đạt đôi chút cho các cung khác đang lâm phàm cùng lúc, và tốc độ nhịp điệu sẽ bị ảnh hưởng nhẹ. Xét từ quan điểm hiện tại và thời gian trong ba cõi giới, điều này có thể nhỏ đến mức hầu như không nhận ra, nhưng qua sự gặp gỡ thường xuyên và sự tương tác của các mãnh lực và màu sắc, cùng hành động và phản ứng liên tục của chúng lên nhau, sẽ đến một sự nâng lên đều đặn, tổng quát, và một sự xích lại gần nhau về rung động. Vì vậy, các bạn sẽ thấy sự tổng hợp được đạt thành như thế nào vào cuối một Đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn. Ba cung hấp thụ bảy cung và cuối cùng dẫn đến sự dung hợp vào cung tổng hợp.

In the microcosm the three rays of the Monad, the Ego, and the Personality will likewise dominate and absorb the seven, and in time also lead to a merging in the [235] synthetic ray of the Monad. The correspondence will be found perfect.

Trong tiểu thiên địa, ba cung của chân thần, chân ngã và phàm ngã cũng sẽ chi phối và hấp thụ bảy cung, và theo thời gian cũng dẫn đến sự dung hợp vào [235] cung tổng hợp của chân thần. Sự tương ứng sẽ được thấy là hoàn hảo.

These forces, or virtues, or influences (I reiterate synonymous terms because of the need of clear thinking on your part) are gradually received into the bodies of the personality with ever greater facility and fuller expression. As the bodies are refined they provide better mediums for incoming forces, and the quality of any particular force,—or, to reverse it, the force of any particular quality—becomes more perfectly expressed. Here comes in the work of the student in meditation. Early in evolution these forces played through and on the bodies of a man with little understanding on his part, and small ability to profit thereby. But as time proceeds, he comprehends more and more the value of all that eventuates, and seeks to profit by the sum of the qualities of his life. Herein comes opportunity. In the intelligent apprehension of quality, in the striving after virtue, and in the building-in of God-like attribute, comes response to those forces and a facilitating of their action. The student of meditation ponders on those forces or qualities, he seeks to extract their essence, and to comprehend their spiritual significance; he broods on his own lack of response, he realises the deficiencies in his vehicle as a medium for those forces; he studies the rate of his rhythmic vibration, and he strenuously endeavors to bend every opportunity to meet the need. He concentrates on the virtue, and (if he is so situated that he is aware of the incoming ray or of the ray in dominance at that time), he avails himself of the hour of opportunity and co-operates with the force extant. All this he does through the ordered forms of the true and occult meditation.

Các mãnh lực này, hay các đức hạnh, hay các ảnh hưởng (Tôi nhắc lại các thuật ngữ đồng nghĩa vì các bạn cần tư duy rõ ràng) dần dần được tiếp nhận vào các thể của phàm ngã với sự dễ dàng ngày càng lớn và sự biểu lộ đầy đủ hơn. Khi các thể được tinh luyện, chúng cung cấp những môi trường tốt hơn cho các mãnh lực đi vào, và phẩm tính của bất kỳ mãnh lực đặc thù nào,—hoặc, đảo lại, mãnh lực của bất kỳ phẩm tính đặc thù nào—được biểu lộ hoàn hảo hơn. Ở đây xuất hiện công việc của đạo sinh trong tham thiền. Thuở đầu tiến hoá, các mãnh lực này vận hành xuyên qua và tác động lên các thể của một người với rất ít sự thấu hiểu từ phía y, và rất ít khả năng để hưởng lợi nhờ đó. Nhưng khi thời gian trôi qua, y ngày càng thấu hiểu giá trị của mọi điều xảy đến, và tìm cách hưởng lợi từ tổng số các phẩm tính của đời sống mình. Ở đây xuất hiện cơ hội. Trong sự nắm bắt trí tuệ về phẩm tính, trong sự nỗ lực hướng đến đức hạnh, và trong việc xây dựng các thuộc tính giống Thượng đế vào trong mình, xuất hiện sự đáp ứng đối với các mãnh lực ấy và sự tạo thuận lợi cho hành động của chúng. Đạo sinh tham thiền suy ngẫm về các mãnh lực hay phẩm tính ấy; y tìm cách rút ra tinh chất của chúng và thấu hiểu thâm nghĩa tinh thần của chúng; y trầm tư về sự thiếu đáp ứng của chính mình; y nhận ra những khiếm khuyết trong vận cụ của mình như một môi trường cho các mãnh lực ấy; y nghiên cứu tốc độ rung động nhịp điệu của mình, và y nỗ lực mạnh mẽ uốn mọi cơ hội để đáp ứng nhu cầu. Y tập trung vào đức hạnh, và (nếu y ở trong hoàn cảnh khiến y nhận biết cung đang đi vào hay cung đang chi phối vào lúc ấy), y tận dụng giờ cơ hội và hợp tác với mãnh lực hiện hữu. Tất cả điều này y thực hiện qua các hình thức có trật tự của tham thiền chân chính và huyền bí.

As time progresses—yes, again I prophesy—occult students will be given certain facts anent the dominating [236] rays which will enable them to avail themselves of the opportunity any particular ray affords.

Khi thời gian trôi qua—vâng, một lần nữa Tôi tiên tri—các đạo sinh huyền bí sẽ được ban cho một số sự kiện nhất định liên quan đến các cung chi phối [236] sẽ giúp họ biết tận dụng cơ hội mà bất kỳ cung đặc thù nào mang lại.

Effect on the Environment.—Tác động lên môi trường.

As regards our third point, the effect of all the above on the environment, it will be obvious at once to the careful student that the effect upon the environment will be noticeable, especially as more and more of the human race come under the conscious control of their higher self and in line with the law. Certain things will then be possible:—

Về điểm thứ ba của chúng ta, tác động của tất cả những điều trên lên môi trường, đối với đạo sinh cẩn trọng thì sẽ hiển nhiên ngay rằng tác động lên môi trường sẽ trở nên đáng nhận thấy, đặc biệt khi ngày càng nhiều nhân loại đặt mình dưới sự kiểm soát có ý thức của chân ngã và phù hợp với định luật. Khi ấy, một số điều sẽ trở nên khả dĩ:—

a. Direct contact with the deva or angel evolution will come about, though it is impossible now through instability of vibration.

a. Sẽ xảy ra sự tiếp xúc trực tiếp với tiến hoá thiên thần hay deva, mặc dù hiện nay điều đó là bất khả do sự bất ổn của rung động.

b. Many very highly developed souls will come in who are at present hindered by the low rate of vibration and consequent heaviness of colour of the majority of the human race. There are, in the heaven world and on the causal level, some great, and, to you, incomprehensible units of the fourth Creative Hierarchy, awaiting opportunity of expression, just as some of you awaited a period in the Atlantean race before taking incarnation on this planet. When the rate of the vibration of a larger percentage of the race has reached a certain measure, and when the colour aspect of the co-ordinated auras of the groups is of a certain tone, they will return, and bring to the earth much of value past your realisation.

b. Nhiều linh hồn rất phát triển sẽ nhập thế, những vị hiện đang bị cản trở bởi nhịp độ rung động thấp và vì thế sắc màu nặng nề của đa số nhân loại. Trong cõi thiên và ở cấp độ nguyên nhân, có một số đơn vị vĩ đại—và đối với các bạn là không thể hiểu nổi—thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, đang chờ cơ hội biểu lộ, cũng như một số bạn đã từng chờ một giai đoạn trong nhân loại Atlantis trước khi nhập thể trên hành tinh này. Khi nhịp độ rung động của một tỷ lệ lớn hơn trong nhân loại đạt đến một mức độ nhất định, và khi phương diện sắc màu của các hào quang đã được phối hợp của các nhóm có một âm sắc nhất định, họ sẽ trở lại và mang đến cho Trái Đất nhiều điều giá trị vượt quá sự hiểu biết của các bạn.

c. Another interesting point upon which we have not time to dwell is that the rhythmic effect on even the two kingdoms beneath the human will be objectively demonstrable. It was no idle boast of the prophet of Israel when he said “The leopard shall lie down with the lamb” or that “the desert shall blossom like a rose”. It will be [237] brought about by the domination of certain vibrations and the bringing in of certain colours veiling certain virtues or influences.

c. Một điểm thú vị khác mà chúng ta không có thời gian để bàn sâu là tác động nhịp điệu ngay cả lên hai giới bên dưới giới nhân loại sẽ có thể được chứng minh một cách khách quan. Đó không phải là lời khoe khoang suông của vị tiên tri Israel khi ông nói “báo sẽ nằm xuống với chiên con”, hoặc rằng “sa mạc sẽ nở hoa như hoa hồng”. Điều đó sẽ được [237] tạo nên bởi sự chi phối của một số rung động nhất định và việc đưa vào một số sắc màu nhất định che phủ một số đức hạnh hay ảnh hưởng nhất định.

September 7th, 1920.

Ngày 7 tháng 9, 1920.

Today we will take up the subject of the application of colour. If colours are but the veil cast over an influence, and if you can, by use of the intuition, find out which colours thus shroud a virtue you have the key to the matter in hand. You will have noted two facts that stand out in these letters:—

Hôm nay chúng ta sẽ đề cập đến chủ đề về sự ứng dụng màu sắc. Nếu màu sắc chỉ là tấm màn phủ lên một ảnh hưởng, và nếu các bạn có thể, bằng việc sử dụng trực giác, tìm ra những màu sắc nào như thế che phủ một đức hạnh, thì các bạn nắm được chìa khoá của vấn đề đang xét. Các bạn hẳn đã ghi nhận hai sự kiện nổi bật trong những bức thư này:—

That the subject touched upon is so vast that only its outline has in any way been attempted.

Rằng chủ đề được chạm đến quá bao la đến nỗi chỉ mới cố gắng phác hoạ dàn ý theo một cách nào đó.

That each sentence written in these letters aims at an exact impartation of a complete thought and is full of matter for consideration. Why have I not dealt with the matter in greater detail, and why have I not entered into lengthy explanations and sought to expand the sentences into paragraphs? For the sole reason that if the preliminary work has been done in the meditation of the past years by the student he will find the material of these letters conducive to the development of abstract thought, and to the widening of the channel that communicates with the intuition. I but seek to be suggestive. My aim is but to indicate. The usefulness of the teaching I give depends upon the intuition of the pupil. Therefore, when I say that colour has certain effects when applied I would warn you that it will be necessary to interpret the above in terms of life, in terms of form, and in terms of mind.

Rằng mỗi câu được viết trong những bức thư này nhắm đến việc truyền đạt chính xác một tư tưởng trọn vẹn và đầy nhiều điều đáng suy ngẫm. Vì sao Tôi không bàn đến vấn đề một cách chi tiết hơn, và vì sao Tôi không đi vào những giải thích dài dòng và tìm cách mở rộng các câu thành các đoạn? Chỉ vì một lý do duy nhất: nếu công việc sơ bộ đã được đạo sinh thực hiện trong việc tham thiền của những năm qua, y sẽ thấy tư liệu của những bức thư này thuận lợi cho sự phát triển của tư tưởng trừu tượng, và cho việc mở rộng kênh giao thông với trực giác. Tôi chỉ tìm cách gợi ý. Mục tiêu của Tôi chỉ là chỉ ra. Tính hữu ích của giáo huấn Tôi trao tuỳ thuộc vào trực giác của môn sinh. Vì vậy, khi Tôi nói rằng màu sắc có những tác động nhất định khi được ứng dụng, Tôi muốn cảnh báo các bạn rằng sẽ cần phải diễn giải những điều trên trên phương diện sự sống, hình tướng và trí.

The application of colour.—Sự ứng dụng màu sắc.

a. In meditation.

a. Trong tham thiền.

b. In healing.

b. Trong trị liệu.

c. In constructive work. [238]

c. Trong công tác kiến tạo. [238]

Colour may be used in many ways, and the above three ways do not cover the subject. They but indicate three ways that are of immediate and practical use to the student. Colour may be employed in contacting other evolutions, subhuman or superhuman; in definite work of destruction or of shattering; it may be used in connection with other methods such as music or movement, or in connection with stated mantrams, thereby bringing about certain results, but with all these we need not, in this series of letters, concern ourselves. The growth of the individual and his increased capacity to be of service are all brought about by the wise use of occult meditation. Let us therefore consider our first point.

Màu sắc có thể được dùng theo nhiều cách, và ba cách nêu trên không bao quát hết chủ đề. Chúng chỉ nêu ra ba cách có ích ngay tức thời và thiết thực cho đạo sinh. Màu sắc có thể được sử dụng để tiếp xúc với các tiến hoá khác, dưới nhân loại hoặc siêu nhân loại; trong công tác huỷ diệt hay phá vỡ một cách xác định; nó có thể được dùng kết hợp với các phương pháp khác như âm nhạc hay vận động, hoặc kết hợp với các mantram đã định, nhờ đó tạo ra một số kết quả nhất định, nhưng với tất cả những điều ấy, trong loạt thư này, chúng ta không cần bận tâm. Sự tăng trưởng của cá nhân và năng lực phụng sự ngày càng gia tăng của y đều được tạo nên bởi việc sử dụng khôn ngoan tham thiền huyền bí. Vậy chúng ta hãy xét điểm thứ nhất.

Use of Colour in Meditation.—Việc sử dụng màu sắc trong tham thiền.

All colours emanate from one source or one primary colour—in this solar system the cosmic ray of indigo veiling cosmic love or wisdom,—and then split into three major colours and thence into the four minor, making the seven colours of the spectrum. You will expect to see the same effect in the life of the individual, for always the macrocosm affects the microcosm. His primary colour will be his monadic ray, manifesting next in the three colours of the Triad and in the four colors of the Quaternary. These colours on the path of return are resolved into the three and thence again into the one.

Mọi màu sắc đều phát xuất từ một nguồn hay một màu sơ cấp—trong hệ mặt trời này là cung vũ trụ màu chàm che phủ bác ái hay minh triết vũ trụ,—rồi phân thành ba màu chính và từ đó thành bốn màu phụ, tạo nên bảy màu của quang phổ. Các bạn sẽ mong thấy cùng một tác động trong đời sống của cá nhân, vì đại thiên địa luôn tác động đến tiểu thiên địa. Màu sơ cấp của y sẽ là cung chân thần của y, kế đó biểu lộ trong ba màu của Tam nguyên tinh thần và trong bốn màu của Tứ phân. Những màu sắc này trên Con Đường Trở Về được quy về ba và rồi lại quy về một.

The path of manifestation, of differentiation, is the path of acquisition. It is the homogeneous becoming the many or the heterogeneous. It is the breaking up of the one basic colour into its many component parts. This is the form side, the expression of that which veils the life. On the life side it is the development from the one basic quality of the many inherent virtues; it is the latent possibility of divinity demonstrating as the many attributes of [239] the divine; it is the one life manifesting its many qualities through diversity of form. It is the self, with the inherent capabilities of the All Self, utilising forms for the demonstration of its all-including perfections. On the intelligence side it is the method whereby the life utilises the form and develops its thorough comprehension, analysis and intellect. It is the relation between life and form, the self and the not-self, between spirit and matter, manifesting as modes of expression whereby the indwelling divinity imposes his characteristics upon the material provided for his using. The God within expresses all his latent virtues through forms by the use of activity or intelligence. The life shows colour and the form perfects those colours, as the intelligence aspect (which forms the energising link) becomes more evolved and comprehension is developed.

Con đường biểu lộ, con đường biến phân, là con đường thâu đạt. Đó là cái đồng nhất trở thành cái nhiều, hay cái dị biệt. Đó là sự phân rã của một màu căn bản thành nhiều thành phần cấu tạo của nó. Đây là phía hình tướng, là sự biểu đạt của cái che phủ sự sống. Về phía sự sống, đó là sự phát triển từ một phẩm tính căn bản thành nhiều đức hạnh vốn có; đó là khả năng tiềm ẩn của thiên tính biểu lộ như nhiều thuộc tính [239] thiêng liêng; đó là một sự sống biểu lộ nhiều phẩm tính của nó qua sự đa dạng của hình tướng. Đó là bản ngã, với các năng lực vốn có của Đại Ngã, sử dụng các hình tướng để biểu lộ những sự hoàn hảo bao gồm tất cả của nó. Về phía trí tuệ, đó là phương pháp nhờ đó sự sống sử dụng hình tướng và phát triển sự thấu hiểu triệt để, sự phân tích và trí năng của nó. Đó là mối liên hệ giữa sự sống và hình tướng, giữa bản ngã và phi-ngã, giữa tinh thần và vật chất, biểu lộ như các phương thức diễn đạt nhờ đó thiên tính nội tại áp đặt các đặc tính của nó lên vật chất được cung cấp cho việc sử dụng của nó. Thượng đế bên trong biểu lộ mọi đức hạnh tiềm ẩn của Ngài qua các hình tướng bằng việc sử dụng hoạt động hay trí tuệ. Sự sống biểu lộ màu sắc và hình tướng làm cho những màu sắc ấy trở nên hoàn hảo, khi phương diện trí tuệ (tạo thành mối liên kết tiếp sinh lực) trở nên tiến hoá hơn và sự thấu hiểu được phát triển.

On the path of return, renunciation is the rule, in contradistinction to the earlier method. The indwelling life renounces the forms, hitherto regarded (and necessarily so) as essential. By the use now of the intelligence which has linked these two pairs of opposites, spirit and matter, consciousness and form, the forms built of matter by the aid of the intelligence are one after another repudiated by the aid of that same intelligence, or reasoning faculty transmuted into wisdom. The forms go, but the life remains. The colours are gradually reabsorbed, but the divine virtues persist, stable now and enduringly of use by reason of experience. Not potential are these attributes divine, but developed into powers for use. Inherent faculty has become active characteristics carried to the nth power. The veils are discarded one by one; the sheaths are dropped and superseded; the vehicles are dispensed with and the forms are no longer required, but the life ever remains and returns to its parent ray. It is [240] resolved back into its primary, plus activity and expression plus experience and the ability to manifest; plus all that constitutes the difference between the ignorant savage and the solar Logos. This has been consummated by the utilisation of many forms by the life, the intelligence constituting the means whereby that life employed those forms as a mode for learning. Having manifested as an aspect of this primary ray, having through many incarnations differentiated that ray into its many component parts, having veiled himself under all the seven colours that compose that ray, the reincarnating jiva takes the path of return and from the seven becomes the three and from the three again becomes the one.

Trên Con Đường Trở Về, sự từ bỏ là quy luật, đối lập với phương pháp trước kia. Sự sống nội tại từ bỏ các hình tướng, vốn trước đây được xem (và tất yếu phải vậy) là thiết yếu. Bằng việc sử dụng nay trí tuệ đã liên kết hai cặp đối cực này, tinh thần và vật chất, tâm thức và hình tướng, các hình tướng được xây dựng bằng vật chất nhờ sự trợ giúp của trí tuệ lần lượt bị bác bỏ cũng nhờ chính trí tuệ ấy, hay năng lực lý trí được chuyển hoá thành minh triết. Hình tướng ra đi, nhưng sự sống vẫn còn. Các màu sắc dần dần được tái hấp thụ, nhưng các đức hạnh thiêng liêng vẫn tồn tại, nay ổn định và bền vững hữu dụng nhờ kinh nghiệm. Những thuộc tính thiêng liêng này không còn là tiềm năng, mà đã phát triển thành các quyền năng để sử dụng. Năng lực vốn có đã trở thành các đặc tính hoạt động được nâng lên đến luỹ thừa thứ n. Các tấm màn được gỡ bỏ từng cái một; các vỏ bọc được buông rơi và được thay thế; các vận cụ được loại bỏ và các hình tướng không còn cần thiết, nhưng sự sống luôn còn và trở về với cung mẹ của nó. Nó được [240] quy hồi về cung gốc của nó, cộng với hoạt động và biểu đạt, cộng với kinh nghiệm và khả năng biểu lộ; cộng với tất cả những gì cấu thành sự khác biệt giữa người man rợ vô minh và Thái dương Thượng đế. Điều này được hoàn tất bởi việc sự sống sử dụng nhiều hình tướng, trí tuệ cấu thành phương tiện nhờ đó sự sống ấy dùng các hình tướng như một phương thức để học hỏi. Đã biểu lộ như một phương diện của cung sơ cấp này, đã qua nhiều kiếp sống biến phân cung ấy thành nhiều thành phần cấu tạo của nó, đã che phủ tự mình dưới cả bảy màu hợp thành cung ấy, jiva tái sinh bước lên Con Đường Trở Về và từ bảy trở thành ba và từ ba lại trở thành một.

When the man does this consciously, when he willingly and with full comprehension of what he has to do endeavours to set the indwelling life free from the veils that hide, and from the sheaths that imprison, he discovers that the method whereby this is accomplished is by the subjective life of occult meditation, and the objective life of service. In service is renunciation, and, under the occult law, therefore, in service the subjective finds liberation, and is set free from objective manifestation. Think this out, for it has much hidden under the veil of words.

Khi con người làm điều này một cách có ý thức, khi y tự nguyện và với sự thấu hiểu đầy đủ về điều y phải làm mà nỗ lực giải phóng sự sống nội tại khỏi các tấm màn che giấu, và khỏi các vỏ bọc giam hãm, y khám phá rằng phương pháp nhờ đó điều này được hoàn thành là đời sống chủ quan của tham thiền huyền bí, và đời sống khách quan của phụng sự. Trong phụng sự có sự từ bỏ, và, theo định luật huyền bí, vì vậy, trong phụng sự, cái chủ quan tìm thấy sự giải thoát, và được giải phóng khỏi sự biểu lộ khách quan. Hãy suy nghĩ điều này, vì dưới tấm màn của ngôn từ có ẩn giấu nhiều điều.

The occult student, therefore, from the standpoint of colour has two things to do in meditation.

Vì vậy, đạo sinh huyền bí, từ quan điểm màu sắc, có hai việc phải làm trong tham thiền.

1. To discover his three major colours as manifested in the Personality, the Ego, and the Monad.

1. Khám phá ba màu chính của y như được biểu lộ trong phàm ngã, chân ngã, và chân thần.

2. To resolve then the lower quaternary into the three, the first stage of which is consciously to withdraw into the Ego and so atrophy the lower self. The student begins by eliminating the colours that are not desirable, killing out all low or coarse vibration and eventually so [241] refining his vehicles that the three major colours—of which he is the expression—shine out with perfect clarity. This leads him up to the third initiation. After that, he seeks to resolve the three into the one until he has withdrawn all his consciousness from the lower vehicles into the monadic sheath.

2. Rồi quy tứ phân thấp vào tam phân, mà giai đoạn đầu là có ý thức rút lui vào chân ngã và do đó làm teo đi phàm ngã. Đạo sinh bắt đầu bằng việc loại bỏ những màu sắc không đáng mong muốn, dập tắt mọi rung động thấp hay thô và cuối cùng [241] tinh luyện các vận cụ của y đến mức ba màu chính—mà y là sự biểu đạt—toả sáng với sự trong sáng hoàn hảo. Điều này đưa y lên đến lần điểm đạo thứ ba. Sau đó, y tìm cách quy ba về một cho đến khi y đã rút toàn bộ tâm thức của mình khỏi các vận cụ thấp vào vỏ bọc chân thần.

It was not my intention, as you erroneously supposed, to give you information as to the effect of colours playing on the bodies in meditation. I have sought only to give you some idea of colour as a veil that must eventually be set aside. Under the heading of the “Future use of colour,” I may touch upon that which interests you, but to understand fundamentals is far better than to have formulas for experimenting given to you.

Không phải ý định của Tôi, như các bạn đã lầm tưởng, là cung cấp cho các bạn thông tin về tác động của các màu sắc tác động lên các thể trong tham thiền. Tôi chỉ tìm cách cho các bạn một ý niệm nào đó về màu sắc như một tấm màn mà rốt cuộc phải được gạt sang một bên. Dưới tiêu đề “Việc sử dụng màu sắc trong tương lai”, Tôi có thể chạm đến điều khiến các bạn quan tâm, nhưng thấu hiểu các nền tảng thì tốt hơn nhiều so với việc được trao cho các công thức để thử nghiệm.

September 10th, 1920.

Ngày 10 tháng 9, 1920.

We will, today, scarcely do more than touch upon our second point, which is the application of colour for healing purposes, the reason for this brevity being that the subject, in order to be handled correctly and therefore safely, should be dealt with at length, and the old adage will consequently prove true in this connection that “a little knowledge is a dangerous thing”. Unless the matter of healing with colour is dealt with in correct fashion and with technical knowledge and at length, the results achieved might prove more disastrous than beneficent. The subject will later be fully elucidated if the future brings that which is intended, and in the meantime I can, for your information, outline certain features of this work, point out certain conditions incident to success, and foretell for you somewhat the trend the matter will probably take [242]

Hôm nay, chúng ta hầu như chỉ chạm đến điểm thứ hai của chúng ta, đó là sự ứng dụng màu sắc cho mục đích trị liệu; lý do của sự vắn tắt này là vì chủ đề này, để được xử lý đúng đắn và do đó an toàn, cần phải được bàn đến dài rộng, và vì vậy câu ngạn ngữ xưa trong mối liên hệ này sẽ chứng tỏ là đúng: “biết một chút là điều nguy hiểm”. Trừ phi vấn đề trị liệu bằng màu sắc được xử lý đúng cách, với tri thức kỹ thuật và được trình bày đầy đủ, các kết quả đạt được có thể chứng tỏ là tai hại hơn là hữu ích. Về sau, chủ đề này sẽ được làm sáng tỏ đầy đủ nếu tương lai mang đến điều đã được dự định; và trong lúc này Tôi có thể, để cung cấp thông tin cho các bạn, phác thảo một số đặc điểm của công tác này, chỉ ra một số điều kiện liên quan đến thành công, và tiên đoán cho các bạn phần nào xu hướng mà vấn đề này có lẽ sẽ đi theo [242]

Application of colour in healing.—Sự ứng dụng màu sắc trong trị liệu.

We are dealing with the subject now from the standpoint of meditation. It is essential therefore that we consider the subject from that angle. In meditation the work of healing is handled entirely from the mental standpoint. The direction of any force supplied will be from the mental body of the patient and will work from thence to the physical via the emotional.

Giờ đây chúng ta đang bàn đến chủ đề này từ quan điểm tham thiền. Vì vậy, điều thiết yếu là chúng ta xem xét chủ đề theo góc độ đó. Trong tham thiền, công tác trị liệu được xử lý hoàn toàn từ quan điểm thể trí. Hướng đi của bất kỳ mãnh lực nào được cung ứng sẽ xuất phát từ thể trí của bệnh nhân và sẽ tác động từ đó đến thể xác qua trung gian thể cảm dục.

This involves on the part of the person or group that undertakes this work the ascertaining of certain facts. Let us briefly enumerate them in order to clarify the mind of the reader:—

Điều này đòi hỏi nơi người hay nhóm đảm nhận công tác này phải xác định một số sự kiện. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn để làm sáng tỏ thể trí của độc giả:—

1. The work will be largely subjective and will deal with causes and not with effects. The primary aim of the healing group will be to discover the originating cause of the trouble and having located that cause in either the emotional or the mental body the members of the group will then proceed to deal with the effect as demonstrated in the physical or the etheric. Should the trouble be entirely physical, such as is the case in an accident of any kind, or in some affliction which is purely the result of heredity or of congenital trouble, the ordinary high class physical plane scientific methods will be applied at first, and the work of the healers will be to aid those methods through concentration on the subtler bodies. This applies during the transition period into which the race is now entering. Later, when the knowledge of occult healing is more familiar, and the laws which govern the subtle bodies are more known, physical plane science will be superseded by the preventive science of the subtler planes, that science which aims at the provision of right conditions and the building of bodies that are both self-protecting and neutral to all attack. It will he found that the comprehension [243] of the law of vibration, and the effect of one vibration upon another vibration holds the key to the establishing of better conditions of living, and of sound bodies on all planes.

1. Công tác sẽ phần lớn là chủ quan và sẽ đề cập đến các nguyên nhân chứ không phải các kết quả. Mục tiêu chủ yếu của nhóm trị liệu sẽ là khám phá nguyên nhân khởi phát của rối loạn, và khi đã định vị nguyên nhân ấy trong hoặc thể cảm dục hoặc thể trí, các thành viên của nhóm sẽ tiến hành xử lý kết quả như được biểu lộ trong thể xác hoặc thể dĩ thái. Nếu rối loạn hoàn toàn thuộc thể xác, như trong trường hợp tai nạn bất kỳ, hoặc trong một chứng bệnh thuần tuý là kết quả của di truyền hay của rối loạn bẩm sinh, thì trước hết các phương pháp khoa học cõi hồng trần thông thường, loại tốt, sẽ được áp dụng, và công tác của các nhà trị liệu sẽ là hỗ trợ những phương pháp ấy qua sự tập trung vào các thể vi tế hơn. Điều này áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp mà nhân loại hiện đang bước vào. Về sau, khi tri thức về trị liệu huyền bí trở nên quen thuộc hơn, và các định luật chi phối các thể vi tế được biết đến nhiều hơn, khoa học cõi hồng trần sẽ được thay thế bởi khoa học phòng ngừa của các cõi vi tế, khoa học nhắm đến việc cung ứng các điều kiện đúng và xây dựng các thể vừa tự bảo vệ vừa trung tính trước mọi sự tấn công. Người ta sẽ thấy rằng sự thấu hiểu [243] định luật rung động, và tác động của một rung động lên một rung động khác, nắm giữ chìa khoá để thiết lập các điều kiện sống tốt hơn, và các thể lành mạnh trên mọi cõi.

But as things are now, disease, corruption of different kinds and trouble in all the bodies is everywhere contacted, and when conditions are thus recognised, means of aiding must be earnestly sought. This leads us on to our next point:

Nhưng như mọi sự hiện nay, bệnh tật, sự bại hoại đủ loại và rối loạn trong mọi thể được gặp khắp nơi, và khi các điều kiện được nhận biết như vậy, các phương tiện trợ giúp phải được tìm kiếm một cách nghiêm túc. Điều này dẫn chúng ta đến điểm kế tiếp:

2. The ascertaining by the group that practises healing of full information as to the patient, based on the following questions:—

2. Việc nhóm thực hành trị liệu xác định đầy đủ thông tin về bệnh nhân, dựa trên các câu hỏi sau:—

a. What are his basic lines of thought?

a. Những đường lối tư tưởng căn bản của y là gì?

By what thoughtforms is he principally surrounded?

Y chủ yếu bị bao quanh bởi những hình tư tưởng nào?

b. What is the predominant hue of his emotional body? What is its rate of vibration?

b. Sắc thái chủ đạo của thể cảm dục của y là gì? Nhịp độ rung động của nó là bao nhiêu?

Is the patient subject to sudden turmoils that throw the entire emotional body into disorder?

Bệnh nhân có bị những cơn xáo động đột ngột khiến toàn bộ thể cảm dục rối loạn không?

c. What are his most ordinary topics of conversation? What are his principal interests?

c. Những đề tài trò chuyện thường xuyên nhất của y là gì? Những mối quan tâm chính của y là gì?

What literature does he study?

Y nghiên cứu loại văn chương nào?

What are his favourite pursuits?

Những theo đuổi ưa thích của y là gì?

d. What is the condition of the centres in his body?

d. Tình trạng các trung tâm trong thân thể của y ra sao?

Which centres are awakened?

Những trung tâm nào đã được đánh thức?

Are any centres rotating in fourth dimensional order? Which centre is the major one in any particular case?

Có trung tâm nào đang xoay theo trật tự chiều thứ tư không? Trung tâm nào là trung tâm chủ yếu trong bất kỳ trường hợp đặc thù nào?

e. What is the state of the etheric body?

e. Tình trạng thể dĩ thái ra sao?

Does it show symptoms of devitalisation or of congestion?

Nó có cho thấy triệu chứng suy kiệt sinh lực hay ứ trệ không?

Is the patient lacking in vitality?

Bệnh nhân có thiếu sinh lực không?

What is the value of his magnetic action on other people? [244]

Giá trị tác động từ tính của y lên người khác là gì? [244]

Having studied the patient from all these angles, and not at any earlier time, will the group who purpose healing study the physical vehicle itself in detail. Then—with some idea of the inner conditions that underlie the trouble—they will study as follows:—

Sau khi đã nghiên cứu bệnh nhân từ tất cả các góc độ này, và không sớm hơn thời điểm ấy, nhóm có chủ đích trị liệu mới nghiên cứu chi tiết chính vận cụ thể xác. Khi đó—với một ý niệm nào đó về các điều kiện nội tại nằm bên dưới rối loạn—họ sẽ nghiên cứu như sau:—

f. The condition of the nervous system, giving particular attention to the spine, and to the state of the inner fire.

f. Tình trạng của hệ thần kinh, đặc biệt chú ý đến cột sống, và trạng thái của ngọn lửa bên trong.

g. The state of the various organs of the body, and especially the organ, or organs, that are causing distress.

g. Trạng thái của các cơ quan khác nhau của cơ thể, và đặc biệt là cơ quan, hoặc các cơ quan, đang gây ra đau khổ.

h. The structure itself, studying the bones and the flesh, and the condition of the vital fluid, the blood.

h. Cấu trúc, nghiên cứu xương và thịt, và tình trạng của chất lưu thiết yếu, máu.

Higher vision and healh.—Linh thị cao hơn và sức khỏe.

This, as you can see, necessarily involves either direct scientific knowledge, or else it involves the faculty of inner vision, that sees the trouble wherever it may be, and can clairvoyantly view the entire frame and organs, so locating instantaneously any trouble. This capacity presupposes the development of those inner powers which give knowledge in the three worlds, and so obviates the disastrous mistakes that so oft eventuate in the modern practice of medicine, as you call the art of healing. There will not be so much danger of error in the future day of healing, but what I seek to point out is that although those errors will be obviated in the case of the physical body, yet much time must elapse before full comprehension of the emotional body has reached the point where modern science has placed the physical. The healing of the physical body and its due comprehension and study can be carried on by the man who has the inner vision. With his ability to see on emotional levels he can co-operate with the modern enlightened medical man, and thus safeguard [245] him from error, enabling him to judge truly of the extent of the trouble, the seat of distress, its assistance, and the progress of the cure.

Điều này, như các bạn có thể thấy, tất yếu đòi hỏi hoặc là kiến thức khoa học trực tiếp, hoặc là đòi hỏi năng lực linh thị nội tại, năng lực thấy được rắc rối ở bất cứ nơi đâu, và có thể bằng thông nhãn quan sát toàn bộ thân thể và các cơ quan, nhờ đó tức khắc định vị bất kỳ rắc rối nào. Năng lực này giả định sự phát triển những quyền năng nội tại vốn đem lại tri thức trong ba cõi giới, và vì vậy tránh được những sai lầm tai hại vốn thường xuyên xảy ra trong thực hành y học hiện đại, như các bạn gọi nghệ thuật chữa lành. Trong thời kỳ chữa lành tương lai sẽ không còn nhiều nguy cơ sai lầm như thế, nhưng điều Tôi muốn chỉ ra là, mặc dù các sai lầm ấy sẽ được loại trừ trong trường hợp thể xác, tuy nhiên phải trôi qua nhiều thời gian trước khi sự thấu hiểu đầy đủ về thể cảm dục đạt đến điểm mà khoa học hiện đại đã đặt thể xác. Việc chữa lành thể xác, cùng sự thấu hiểu và nghiên cứu đúng đắn về nó, có thể được tiến hành bởi người có linh thị nội tại. Với khả năng nhìn thấy ở các cấp độ cảm dục, y có thể hợp tác với người thầy thuốc hiện đại đã được soi sáng, và nhờ đó bảo vệ [245] ông khỏi sai lầm, giúp ông phán đoán đúng mức độ của rắc rối, vị trí của sự khổ sở, sự trợ giúp cần thiết, và tiến trình của sự chữa trị.

Emotional trouble that is working out in the physical body, as is the case in the majority of physical ills today, can usually be located and eliminated by judicious treatment. But emotional trouble that is deepseated in the subtle body has to be dealt with from mental levels, so that it requires a mental psychic to deal with and eliminate it. All these methods of course entail the active conscious co-operation of the patient himself.

Những rắc rối cảm dục đang biểu hiện trong thể xác, như trường hợp của đa số bệnh tật thể xác ngày nay, thường có thể được định vị và loại trừ bằng sự điều trị khôn ngoan. Nhưng những rắc rối cảm dục ăn sâu trong thể vi tế phải được xử lý từ các cấp độ trí, vì vậy cần một nhà thông linh hoạt động trên cõi trí để xử lý và loại trừ chúng. Dĩ nhiên, tất cả các phương pháp này đều đòi hỏi sự hợp tác tích cực và có ý thức của chính bệnh nhân.

Similarly, mental trouble has to be dealt with directly from the causal level, and necessitates therefore the assistance of the Ego, and the help of someone who has causal vision and consciousness. This latter method, and the major part of these types of trouble, lie far ahead for the race, and therefore little concern us at this time. Nevertheless the curing of physical ailments that have their seat in the emotional body is already beginning to be known and slightly studied. In the study of psychology and in the comprehension of nervous diseases and troubles and their linking together will come the next step ahead in medical science. The link between the body of the emotions and physical body is the etheric body. The next immediate step is to consider the etheric body in two ways, either as a transmitter of prana, the life force, vitality or magnetism, or as the vehicle which links the emotional nature to the dense physical. The physical invariably follows the behests of that nature as transmitted via the etheric.

Tương tự, những rắc rối trí tuệ phải được xử lý trực tiếp từ cấp độ nguyên nhân, và do đó tất yếu cần sự trợ giúp của Chân ngã, cùng sự giúp đỡ của người có linh thị và tâm thức nguyên nhân. Phương pháp sau cùng này, và phần lớn các loại rắc rối ấy, còn ở rất xa phía trước đối với nhân loại, nên hiện nay ít liên quan đến chúng ta. Tuy vậy, việc chữa trị các bệnh thể xác có căn nguyên ở thể cảm dục đã bắt đầu được biết đến và được nghiên cứu đôi chút. Trong việc nghiên cứu tâm lý học và trong sự thấu hiểu các bệnh và rối loạn thần kinh cùng sự liên kết của chúng, sẽ đến bước tiến kế tiếp của khoa học y học. Mối liên kết giữa thể cảm dục và thể xác là thể dĩ thái. Bước kế tiếp trước mắt là xét thể dĩ thái theo hai cách, hoặc như một bộ truyền dẫn prana, mãnh lực sự sống, sinh lực hay từ điện, hoặc như vận cụ liên kết bản chất cảm dục với thể xác đậm đặc. Thể xác luôn luôn tuân theo các mệnh lệnh của bản chất ấy khi được truyền qua thể dĩ thái.

In forming groups for healing under ideal conditions you would have at the head of the group a person with causal consciousness, who can deal with any trouble in the mental body, and who can study the alignment of all [246] the bodies with the Ego. The group will also include:—

Khi hình thành các nhóm chữa lành trong những điều kiện lý tưởng, các bạn sẽ có ở vị trí đứng đầu nhóm một người có tâm thức nguyên nhân, người có thể xử lý bất kỳ rắc rối nào trong thể trí, và có thể nghiên cứu sự chỉnh hợp của tất cả [246] các thể với Chân ngã. Nhóm cũng sẽ bao gồm:—

a. A person, or persons who can clairvoyantly view the subtle body of the emotions.

a. Một người, hoặc những người có thể bằng thông nhãn quan sát thể vi tế của cảm dục.

b. A number of people who know somewhat the rudiments of the law of vibration, and can definitely, by the power of thought, apply certain waves of colour to effect certain cures, and bring about, through scientific comprehension, the desired results.

b. Một số người biết phần nào những điều căn bản của định luật rung động, và có thể một cách xác định, bằng quyền năng của tư tưởng, áp dụng những làn sóng màu sắc nhất định để tạo ra những sự chữa trị nhất định, và đem lại, qua sự thấu hiểu khoa học, những kết quả mong muốn.

c. Some member of the group will also be a member of the medical profession, who will work with the physical body, under the direction of conscious clairvoyants. He will study the resistance of the body, he will apply certain currents, and colours, and vibrations, which will have a direct physical effect, and by the co-operation of all those units in the group, results will be achieved that will merit the name of miracles.

c. Một thành viên của nhóm cũng sẽ là người thuộc ngành y, người sẽ làm việc với thể xác, dưới sự chỉ đạo của các nhà thông nhãn có ý thức. Ông sẽ nghiên cứu sức kháng cự của cơ thể, ông sẽ áp dụng những dòng lưu chuyển, màu sắc và rung động nhất định, vốn sẽ có tác dụng thể xác trực tiếp, và nhờ sự hợp tác của tất cả các đơn vị trong nhóm, những kết quả sẽ đạt được xứng đáng với danh xưng phép lạ.

d. In the group, also, will be a number of people who can meditate occultly, and can, by the power of their meditation, create the necessary funnel for the transmission of the healing forces of the higher self and of the Master.

d. Trong nhóm cũng sẽ có một số người có thể tham thiền theo huyền môn, và có thể, bằng quyền năng tham thiền của họ, tạo ra cái phễu cần thiết cho sự truyền dẫn các mãnh lực chữa lành của chân ngã và của Chân sư.

e. Besides this, in each group will be found some person who can accurately transcribe all that takes place, and so keep records that will prove to be the literature of the new school of medicine.

e. Ngoài ra, trong mỗi nhóm sẽ có một người có thể ghi chép chính xác mọi điều diễn ra, và nhờ đó lưu giữ hồ sơ, vốn sẽ chứng tỏ là văn liệu của trường phái y học mới.

I have here touched on the ideal group. It is not as yet in any way possible, but a beginning can be made by the utilisation of any knowledge and powers that may be found amongst those who seek to serve their race and the Master.

Ở đây Tôi đã chạm đến nhóm lý tưởng. Hiện nay điều đó chưa thể thực hiện theo bất kỳ cách nào, nhưng có thể bắt đầu bằng việc sử dụng bất kỳ tri thức và quyền năng nào có thể được tìm thấy nơi những người tìm cách phụng sự nhân loại của họ và Chân sư.

As you will note from the above, colours will be applied in two ways:— [247]

Như các bạn sẽ lưu ý từ phần trên, màu sắc sẽ được áp dụng theo hai cách:— [247]

1. On the subtler planes by the power of thought, and

1. Trên các cõi vi tế hơn bằng quyền năng của tư tưởng, và

2. By means of coloured lights applied to the physical body.

2. Bằng phương tiện các ánh sáng màu được áp dụng lên thể xác.

On the physical plane the exoteric colour will be applied, whilst on the subtler the esoteric. The work therefore will be (until the esoteric becomes the exoteric) largely in the hands of the occult students of the world, working in organised groups under expert supervision.

Trên cõi hồng trần, màu sắc ngoại môn sẽ được áp dụng, còn trên các cõi vi tế hơn thì là màu sắc nội môn. Vì vậy, công việc này (cho đến khi nội môn trở thành ngoại môn) phần lớn sẽ nằm trong tay các đạo sinh huyền bí học trên thế giới, làm việc trong những nhóm có tổ chức dưới sự giám sát chuyên môn.

You ask, just what is the point at which these groups may now begin to work with colour? The thing that now lies ahead to be mastered and done is to develop the knowledge necessary anent the etheric, to inculcate the building of pure bodies, and to study the effect of different colours on the dense physical. It has been but little studied as yet. It will be found that certain colours will definitely affect certain diseases, cure certain nervous troubles, eradicate certain nervous tendencies, tend to the building of new tissues, or to the burning out of corruption. All this must be studied. Experiments can be made along the line of vitalisation and magnetisation, which involve direct action on the etheric, and this again will be found hid in the law of vibration and of colour. Later…….we can take up with greater detail the work of these healing groups when gathered for meditation. Here I would but add that certain colours have a definite effect, though I can only as yet enumerate three, and them but briefly:—

Các bạn hỏi, vậy chính xác thì ở điểm nào các nhóm này hiện nay có thể bắt đầu làm việc với màu sắc? Điều hiện nằm phía trước cần được làm chủ và thực hiện là phát triển tri thức cần thiết liên quan đến thể dĩ thái, gieo vào việc xây dựng những thể thanh khiết, và nghiên cứu tác dụng của các màu sắc khác nhau lên thể xác đậm đặc. Cho đến nay điều này mới chỉ được nghiên cứu rất ít. Sẽ thấy rằng một số màu sắc nhất định sẽ tác động rõ rệt lên một số bệnh nhất định, chữa một số rối loạn thần kinh nhất định, nhổ tận gốc một số khuynh hướng thần kinh nhất định, giúp xây dựng các mô mới, hoặc thiêu đốt sự mục nát. Tất cả điều này phải được nghiên cứu. Có thể tiến hành các thí nghiệm theo hướng tiếp sinh lực và từ hoá, vốn liên quan đến tác động trực tiếp lên thể dĩ thái, và điều này lại sẽ được thấy ẩn giấu trong định luật rung động và màu sắc. Về sau…….chúng ta có thể bàn chi tiết hơn về công việc của các nhóm chữa lành này khi họ tụ họp để tham thiền. Ở đây Tôi chỉ thêm rằng một số màu sắc có tác dụng xác định, dù hiện nay Tôi chỉ có thể liệt kê ba màu, và cũng chỉ vắn tắt:—

1. Orange stimulates the action of the etheric body; it removes congestion and increases the flow of prana.

1. Màu cam kích thích hoạt động của thể dĩ thái; nó giải tỏa sự ứ trệ và gia tăng dòng chảy của prana.

2. Rose acts upon the nervous system and tends to vitalisation, and to the removal of depression, and [248] symptoms of debilitation; it increases the will to live.

2. Màu hồng tác động lên hệ thần kinh và có khuynh hướng tiếp sinh lực, và loại bỏ sự u uất, và [248] các triệu chứng suy nhược; nó gia tăng ý chí muốn sống.

3. Green has a general healing effect, and can be safely used in cases of inflammation and of fever, but it is almost impossible as yet to provide the right conditions for the application of this colour, or to arrive at the adequate shade. It is one of the basic colours to be used eventually in the healing of the dense physical body, being the colour of the note of Nature.

3. Màu xanh lục có tác dụng chữa lành tổng quát, và có thể được dùng an toàn trong các trường hợp viêm và sốt, nhưng hiện nay gần như không thể cung cấp những điều kiện đúng đắn để áp dụng màu này, hoặc đạt được sắc độ thích hợp. Nó là một trong những màu cơ bản rốt cuộc sẽ được dùng trong việc chữa lành thể xác đậm đặc, vì nó là màu của âm điệu của Thiên nhiên.

This seems to you sketchy and inadequate? So it is, even more so than you can grasp. But forget not that which I have often told you, that in the following up of brief hints lies the path that leads to the source of all knowledge.

Điều này đối với các bạn có vẻ phác thảo và không đầy đủ ư? Đúng vậy, còn hơn cả mức các bạn có thể nắm bắt. Nhưng đừng quên điều mà Tôi thường nói với các bạn: chính trong việc theo đuổi những gợi ý ngắn gọn có con đường dẫn đến nguồn mạch của mọi tri thức.

September 11, 1920.

Ngày 11 tháng 9, 1920.

We come now to the final part of our thoughts on the use of colour in meditation. We have dealt with the matter in such a way that if the hints that are scattered throughout the communication are adequately followed up they will form the basis of certain inevitable conclusions. These conclusions will eventually prove to be the postulates upon which the newer schools of medicine or science will base the continuance of their work. We might sum up the imparted data under definite statements:—

Giờ đây chúng ta đến phần cuối cùng trong các suy nghĩ của chúng ta về việc sử dụng màu sắc trong tham thiền. Chúng ta đã đề cập vấn đề theo cách sao cho, nếu những gợi ý rải rác khắp thông điệp được theo đuổi một cách đầy đủ, chúng sẽ tạo thành nền tảng cho một số kết luận tất yếu. Những kết luận này rốt cuộc sẽ chứng tỏ là các tiền đề mà trên đó các trường phái y học hay khoa học mới hơn sẽ đặt nền cho sự tiếp tục công việc của họ. Chúng ta có thể tóm lược dữ liệu đã truyền đạt dưới những mệnh đề xác định:—

1. That the basic colours of the Personality must be transmuted into the colours of the Triad, or the threefold Spirit. This is effected by the truly occult meditation.

1. Rằng các màu cơ bản của phàm ngã phải được chuyển hoá thành các màu của Tam Nguyên, hay tinh thần tam phân. Điều này được thực hiện bởi tham thiền huyền môn chân chính.

2. That the colours with which the beginner will be primarily concerned are orange, rose and green.

2. Rằng các màu mà người sơ cơ trước hết sẽ quan tâm chủ yếu là cam, hồng và xanh lục.

3. That the violet ray holds the secret for this immediate cycle. [249]

3. Rằng cung tím nắm giữ bí mật cho chu kỳ trước mắt này. [249]

4. That the next point of apprehended knowledge will be the laws governing the etheric body.

4. Rằng điểm tri thức được nắm bắt kế tiếp sẽ là các định luật chi phối thể dĩ thái.

5. That in the development of the intuition comes cognisance of the esoteric colours which the exoteric veil.

5. Rằng trong sự phát triển trực giác sẽ đến sự nhận biết các màu nội môn mà các màu ngoại môn che phủ.

6. That colour is the form and force of virtue (in the occult sense) in the inner life.

6. Rằng màu sắc là hình tướng và mãnh lực của đức hạnh (theo nghĩa huyền môn) trong đời sống nội tại.

I have summed up the practical points requiring immediate attention for the purposes of clarification. With this as the basis of study the student may expect eventually to see the complete transformation of the type of work done both by the schools of medicine and by chairs of psychology. Certain prophecies I may here make which you can note down for the benefit of those who may come after.

Tôi đã tóm lược các điểm thực tiễn đòi hỏi sự chú ý tức thời nhằm mục đích làm sáng tỏ. Với điều này làm nền tảng nghiên cứu, đạo sinh có thể kỳ vọng rốt cuộc sẽ thấy sự chuyển đổi hoàn toàn loại hình công việc được thực hiện cả bởi các trường y lẫn các bộ môn tâm lý học. Ở đây Tôi có thể đưa ra một số lời tiên tri mà các bạn có thể ghi lại vì lợi ích của những người có thể đến sau.

Forecasts anent the future.—Những dự báo liên quan đến tương lai.

1. The phraseology of the medical schools will more and more become based on vibration and be expressed in terms of sound and colour.

1. Thuật ngữ của các trường y sẽ ngày càng dựa trên rung động và được diễn đạt theo các thuật ngữ của âm thanh và màu sắc.

2. The religious teaching of the world and the inculcation of virtue will be likewise imparted in terms of colour. People will eventually be grouped under their ray-colour, and this will be possible as the human race develops the faculty of seeing auras. The number of clairvoyants is already greater than is realised, owing to the reticence of the true psychic.

2. Giáo huấn tôn giáo của thế giới và việc gieo vào đức hạnh cũng sẽ được truyền đạt theo các thuật ngữ của màu sắc. Con người rốt cuộc sẽ được nhóm lại theo màu-cung của họ, và điều này sẽ có thể khi nhân loại phát triển năng lực thấy hào quang. Số lượng các nhà thông nhãn đã lớn hơn điều người ta nhận ra, do sự kín đáo của nhà thông linh chân chính.

3. The science of numbers, being in reality the science of colour and sound, will also somewhat change its phraseology and colours will eventually supersede figures.

3. Khoa học về các con số, vốn thực sự là khoa học về màu sắc và âm thanh, cũng sẽ phần nào thay đổi thuật ngữ của nó và màu sắc rốt cuộc sẽ thay thế các con số.

4. The laws that govern the erection of large buildings and the handling of great weights will some [250] day be understood in terms of sound. The cycle returns, and in the days to come will be seen the re-appearance of the faculty of the Lemurians and early Atlanteans to raise great masses,—this time on a higher turn of the spiral. Mental comprehension of the method will be developed. They were raised through the ability of the early builders to create a vacuum through sound, and to utilise it for their own purposes.

4. Các định luật chi phối việc dựng nên các toà nhà lớn và việc xử lý những trọng lượng lớn sẽ một [250] ngày nào đó được thấu hiểu theo các thuật ngữ của âm thanh. Chu kỳ quay trở lại, và trong những ngày sắp đến sẽ thấy sự tái xuất hiện năng lực của người Lemuria và người Atlantis thời kỳ đầu trong việc nâng những khối lượng lớn,—lần này ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc. Sự thấu hiểu trí tuệ về phương pháp sẽ được phát triển. Chúng đã được nâng lên nhờ khả năng của các đấng kiến tạo thời kỳ đầu trong việc tạo ra một khoảng chân không qua âm thanh, và sử dụng nó cho các mục đích của họ.

5. Destruction, it will be shewn, can be brought about by the manipulation of certain colours, and by the employment of united sound. In this way terrific effects will be achieved. Colour can destroy just as it can heal; sound can disrupt just as it can bring about cohesion; in these two thoughts lie hid the next step ahead for the science of the immediate future. The laws of vibration are going to be widely studied and comprehended and the use of this knowledge of vibration on the physical planes will bring about many interesting developments. They will be partially an outgrowth of the study of the war and its effect, psychological and otherwise. More was effected by the sound of the great guns, for instance, than by the impact of the projectile on the physical plane. These effects are as yet practically unrecognised, and are largely etheric and astral.

5. Sự hủy diệt, sẽ được chỉ ra, có thể được tạo ra bởi sự thao tác một số màu sắc nhất định, và bởi việc sử dụng âm thanh hợp nhất. Theo cách này những hiệu ứng khủng khiếp sẽ được đạt tới. Màu sắc có thể hủy diệt cũng như có thể chữa lành; âm thanh có thể làm tan rã cũng như có thể đem lại sự kết dính; trong hai ý tưởng này ẩn giấu bước tiến kế tiếp của khoa học trong tương lai gần. Các định luật rung động sẽ được nghiên cứu và thấu hiểu rộng rãi và việc sử dụng tri thức rung động này trên các cõi hồng trần sẽ đem lại nhiều phát triển thú vị. Chúng sẽ phần nào là sự phát sinh từ việc nghiên cứu chiến tranh và tác dụng của nó, về mặt tâm lý và các mặt khác. Chẳng hạn, nhiều điều đã được tạo ra bởi âm thanh của các đại bác lớn hơn là bởi sự va chạm của đầu đạn trên cõi hồng trần. Những tác dụng này hiện nay hầu như chưa được nhận ra, và phần lớn là dĩ thái và cảm dục.

6. Music will be largely employed in construction, and in one hundred years from now it will be a feature in certain work of a constructive nature. This sounds to you utterly impossible, but it will simply be the utilisation of ordered sound to achieve certain ends. [251]

6. Âm nhạc sẽ được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, và trong một trăm năm nữa nó sẽ là một đặc điểm trong một số công việc có tính kiến tạo. Điều này đối với các bạn nghe hoàn toàn bất khả, nhưng đơn giản chỉ là việc sử dụng âm thanh có trật tự để đạt được những mục đích nhất định. [251]

You will ask, what place has all this in a series of letters on meditation? Simply this:—that the method employed in the utilisation of colour and sound in healing, in promoting spiritual growth, and in exoteric construction on the physical plane, will be based on the laws that govern the mental body, and will be forms of meditation. Only as the race develops the dynamic powers and attributes of thought—which powers are the product of meditation, rightly pursued—will the capacity to make use of the laws of vibration be objectively possible. Think not that only the religious devotee or mystic, or the man imbued with what we call higher teaching, is the exponent of the powers attained by meditation. All great capitalists, and the supreme heads of finance, or organised business, are the exponents of similar powers. They are personifications of one-pointed adherence to one line of thought, and their evolution parallels that of the mystic and the occultist. I seek most strongly to emphasise this fact. They are the ones who meditate along the line of the Mahachohan, or the Lord of Civilisation or Culture. Supreme concentrated attention to the matter in hand makes them what they are, and in many respects they attain greater results than many a student of meditation. All they need to do is to transmute the motive underlying their work, and their achievement will then outrun that of other students. They will approach a point of synthesis, and the Probationary Path will then be trodden.

Các bạn sẽ hỏi, tất cả điều này có vị trí gì trong một loạt thư về tham thiền? Chỉ đơn giản là điều này:—rằng phương pháp được dùng trong việc sử dụng màu sắc và âm thanh để chữa lành, để thúc đẩy sự tăng trưởng tinh thần, và trong kiến tạo ngoại môn trên cõi hồng trần, sẽ dựa trên các định luật chi phối thể trí, và sẽ là những hình thức tham thiền. Chỉ khi nhân loại phát triển các quyền năng và thuộc tính năng động của tư tưởng—những quyền năng là sản phẩm của tham thiền, khi được theo đuổi đúng đắn—thì năng lực sử dụng các định luật rung động mới có thể khả dĩ một cách khách quan. Đừng nghĩ rằng chỉ người sùng đạo tôn giáo hay nhà thần bí, hay người thấm nhuần điều mà chúng ta gọi là giáo huấn cao hơn, mới là người biểu hiện các quyền năng đạt được nhờ tham thiền. Tất cả các nhà tư bản lớn, và các lãnh đạo tối cao của tài chính, hay của kinh doanh có tổ chức, đều là những người biểu hiện các quyền năng tương tự. Họ là những hiện thân của sự nhất tâm bám chặt vào một tuyến tư tưởng, và sự tiến hoá của họ song hành với sự tiến hoá của nhà thần bí và nhà huyền bí học. Tôi tìm cách nhấn mạnh mạnh mẽ nhất sự kiện này. Họ là những người tham thiền theo tuyến của Đức Mahachohan, hay Chúa Tể của Văn Minh hoặc Văn Hoá. Sự chú ý tối cao, tập trung tuyệt đối vào vấn đề trước mắt, khiến họ trở thành như họ là, và ở nhiều phương diện họ đạt kết quả lớn hơn nhiều đạo sinh tham thiền. Tất cả điều họ cần làm là chuyển hoá động cơ nằm dưới công việc của họ, và khi ấy thành tựu của họ sẽ vượt xa thành tựu của các đạo sinh khác. Họ sẽ tiến gần đến một điểm tổng hợp, và Con Đường Dự Bị khi ấy sẽ được bước đi.

The Law of Vibration will gradually, therefore, be more and more understood, and be seen to govern action in all of the three departments of the Manu, the World Teacher and the Mahachohan. It will find its basic expression and its familiar terminology in those of colour and sound. Emotional disorder will be regarded as discordant sound; mental lethargy will be expressed in terms of low [252] vibration, and physical disease will be numerically considered. All constructive work will eventually be expressed in terms of numbers, by colours, and through sound.

Vì vậy, Định luật Rung động sẽ dần dần được thấu hiểu ngày càng nhiều, và sẽ được thấy là chi phối hành động trong cả ba bộ phận của Đức Manu, Đức Chưởng Giáo và Đức Mahachohan. Nó sẽ tìm thấy sự biểu đạt cơ bản và thuật ngữ quen thuộc của nó trong màu sắc và âm thanh. Rối loạn cảm dục sẽ được xem là âm thanh bất hoà; sự trì trệ trí tuệ sẽ được diễn đạt theo các thuật ngữ của rung động [252] thấp, và bệnh tật thể xác sẽ được xét theo con số. Mọi công việc kiến tạo rốt cuộc sẽ được diễn đạt theo các thuật ngữ của các con số, bằng màu sắc, và qua âm thanh.

This suffices on this matter and at this juncture I have naught further to communicate. The subject is abstruse and difficult, and only by patient brooding will the darkness lighten. Only when the ray of the intuition strikes athwart the pall of darkness (which pall is the ignorance that hides all knowledge) will the forms that veil the subjective life be irradiated and known. Only when the light of reason is dimmed by the radiant sun of wisdom will all things be seen in their just proportions, and will the forms assume their exact colours, and their numerical vibration be known. [253]

Như vậy là đủ về vấn đề này và tại thời điểm này Tôi không còn gì để truyền đạt thêm. Chủ đề này thâm áo và khó khăn, và chỉ bằng sự trầm tư kiên nhẫn thì bóng tối mới sáng lên. Chỉ khi tia trực giác chiếu ngang qua tấm màn bóng tối (tấm màn ấy là sự vô minh che giấu mọi tri thức) thì các hình tướng che phủ đời sống chủ quan mới được chiếu rọi và được biết đến. Chỉ khi ánh sáng của lý trí bị làm mờ bởi mặt trời rực rỡ của minh triết thì mọi sự mới được thấy trong tỉ lệ đúng đắn của chúng, và các hình tướng mới mang lấy các màu sắc chính xác của chúng, và rung động theo con số của chúng mới được biết đến. [253]


 

LETTER VIII.—ACCESS TO THE MASTERS VIA MEDITATION

1. Who are the Masters?

1. Các Chân sư là ai?

2. What access to a Master entails:—

2. Việc tiếp cận một Chân sư hàm ý điều gì:—

a. From the standpoint of the pupil?

a. Từ quan điểm của người đệ tử?

b. From the standpoint of the Master?

b. Từ quan điểm của Chân sư?

3. Methods of approach to the Master in meditation.

3. Các phương pháp tiếp cận Chân sư trong tham thiền.

4. The effect of this access on the three planes.  [254]

4. Ảnh hưởng của sự tiếp cận này trên ba cõi. [254]

Chart SOLAR AND PLANETARY HIERARCHIES [255]

Biểu đồ CÁC THÁNH ĐOÀN THÁI DƯƠNG VÀ HÀNH TINH [255]

Key to Diagram of Solar and Planetary Hierarchies [256]

Chìa khóa cho Sơ đồ về Các Thánh Đoàn Thái Dương và Hành Tinh [256]

September 12th, 1920.

Ngày 12 tháng 9, 1920.

The search for the goal.—Cuộc tìm kiếm mục tiêu.

Today it may be possible to touch somewhat upon the subject of the Masters and how They may be approached through meditation. This I know is a subject close and dear to your heart, as it is to the heart of all those who earnestly follow the light within. I seek to handle this subject with you in such a way that at the close of this letter the Masters will be more real to you than ever before; the significance of approach to Them be better comprehended and the method more simplified; and the effect of contact with Them will be so demonstrated in the life that its immediate and practical attainment will be earnestly pursued. Let us, therefore, as we have always done, divide our subject into certain heads and divisions:—

Hôm nay có lẽ chúng ta có thể chạm đến phần nào đề tài về các Chân sư và cách Các Ngài có thể được tiếp cận qua tham thiền. Tôi biết đây là một đề tài gần gũi và thân thiết với trái tim các bạn, cũng như với trái tim của tất cả những ai chân thành đi theo ánh sáng bên trong. Tôi mong xử lý đề tài này với các bạn theo cách mà khi kết thúc bức thư này, các Chân sư sẽ trở nên thực đối với các bạn hơn bao giờ hết; ý nghĩa của việc tiếp cận Các Ngài sẽ được thấu hiểu rõ hơn và phương pháp sẽ được đơn giản hóa hơn; và ảnh hưởng của sự tiếp xúc với Các Ngài sẽ được chứng tỏ trong đời sống đến mức việc đạt được ngay tức khắc và thiết thực ấy sẽ được theo đuổi một cách tha thiết. Vì vậy, như chúng ta vẫn luôn làm, chúng ta hãy chia đề tài của mình thành một số đề mục và phân mục nhất định:—

1. Who are the Masters?

1. Các Chân sư là ai?

2. What does access to Them entail:—

2. Việc tiếp cận Các Ngài hàm ý điều gì:—

a. From the standpoint of the pupil?

a. Từ quan điểm của người đệ tử?

b. From the standpoint of the Master?

b. Từ quan điểm của Chân sư?

3. Methods of approach to the Masters through meditation.

3. Các phương pháp tiếp cận các Chân sư qua tham thiền.

4. The effect of this access on the three planes.

4. Ảnh hưởng của sự tiếp cận này trên ba cõi.

Everywhere throughout the whole world is felt the urge that drives a man to seek out someone who, for him, embodies the ideal. Even those who do not admit the existence of the Masters seek some ideal, and then visualise that ideal as embodied in some form on the physical plane. They picture themselves, perhaps, as the exponents [257] of ideal action, or visualise some great philanthropist, some superlative scientist, some notable artist or musician, as embodying their supreme conception. The human being,—simply because he is himself fragmentary and incomplete—has always this urge within himself to seek other and greater than himself. It is this that drives him back to the centre of his being, and it is this that forces him to take the path of return to the All-Self. Ever, throughout the aeons, does the Prodigal Son arise and go to his Father, and always latent within him is the memory of the Father’s home and the glory there to be found. But the human mind is so constituted that the search for light and for the ideal is necessarily long and difficult. “Now we see through a glass darkly, but then face to face”; now we catch glimpses through the occasional windows we pass in our ascension of the ladder, of other and greater Beings than ourselves; They hold out to us helping hands, and call to us in clarion tones to struggle bravely on if we hope to stand where They are now standing.

Khắp nơi trên toàn thế giới đều cảm nhận được sự thôi thúc thúc đẩy con người đi tìm một ai đó mà đối với họ, người ấy hiện thân cho lý tưởng. Ngay cả những người không thừa nhận sự hiện hữu của các Chân sư cũng tìm kiếm một lý tưởng nào đó, rồi hình dung lý tưởng ấy như được hiện thân trong một hình tướng nào đó trên cõi vật chất. Có lẽ họ tự hình dung mình như là những người tiêu biểu cho [257] hành động lý tưởng, hoặc hình dung một nhà từ thiện vĩ đại nào đó, một nhà khoa học siêu việt nào đó, một nghệ sĩ hay nhạc sĩ nổi bật nào đó, như đang thể hiện quan niệm tối thượng của họ. Con người,—chỉ vì tự y là phân mảnh và bất toàn—luôn có thôi thúc bên trong phải tìm kiếm những điều khác và lớn hơn chính mình. Chính điều này đưa y trở về trung tâm của hữu thể mình, và chính điều này buộc y bước lên Con Đường Trở Về với Đại Ngã. Suốt qua các thời đại, Người Con Hoang Đàng luôn đứng dậy và đi về với Cha mình, và luôn tiềm ẩn trong y là ký ức về ngôi nhà của Cha và vinh quang có thể tìm thấy ở đó. Nhưng thể trí con người được cấu tạo như vậy nên cuộc tìm kiếm ánh sáng và lý tưởng tất yếu là dài lâu và khó khăn. “Nay chúng ta thấy như qua một tấm kính mờ, nhưng rồi sẽ đối diện mặt đối mặt”; nay chúng ta bắt gặp những thoáng thấy qua những ô cửa thỉnh thoảng đi ngang trong khi leo lên chiếc thang, về những Thực Thể khác và lớn hơn chúng ta; Các Ngài đưa tay trợ giúp cho chúng ta, và gọi chúng ta bằng những âm vang như kèn lệnh, thúc giục hãy can đảm đấu tranh tiếp nếu chúng ta hy vọng đứng ở nơi Các Ngài đang đứng.

We sense beauties and glories surrounding us that as yet we cannot revel in; they flit into our vision, and we touch the glory at a lofty moment only again to lose the contact and to sink back again into the murky gloom that envelopes. But we know that outside and further on is something to be desired; we learn also the mystery that that external wonder can only be contacted by withdrawing within, till the centre of consciousness is found that vibrates in tune with those dimly realised wonders, and with those radiant Souls Who call Themselves our Elder Brothers. Only by trampling on the external sheaths that veil and hide the inner centre do we achieve the goal, and find the Ones we seek. Only by the domination of all forms, and the bringing of those forms under the rule of the God within, can we find the God in all, for it is only the [258] sheaths in which we move upon the plane of being that hide from us our inner God, and that shut us off from Those in Whom the God transcends all outer forms.

Chúng ta cảm nhận những vẻ đẹp và vinh quang đang bao quanh mà chúng ta chưa thể hoan hưởng; chúng lướt vào tầm nhìn của chúng ta, và chúng ta chạm được vinh quang trong một khoảnh khắc cao vời chỉ để rồi lại mất liên lạc và lại chìm xuống bóng tối đục mờ đang bao phủ. Nhưng chúng ta biết rằng ở bên ngoài và xa hơn nữa có điều gì đó đáng khao khát; chúng ta cũng học được huyền nhiệm rằng kỳ quan bên ngoài ấy chỉ có thể được tiếp xúc bằng cách rút vào bên trong, cho đến khi tìm được trung tâm tâm thức rung động hòa điệu với những kỳ quan chỉ mới được chứng nghiệm mơ hồ ấy, và với những Linh Hồn rạng ngời tự gọi mình là các Huynh Trưởng của chúng ta. Chỉ bằng cách giẫm lên các vỏ bọc bên ngoài vốn che màn và che giấu trung tâm nội tại, chúng ta mới đạt được mục tiêu và tìm thấy những Đấng mà chúng ta tìm kiếm. Chỉ bằng sự chế ngự mọi hình tướng, và đưa những hình tướng ấy dưới sự cai quản của Thượng đế bên trong, chúng ta mới có thể tìm thấy Thượng đế trong mọi sự, vì chỉ chính các [258] vỏ bọc mà chúng ta vận hành trên cõi bản thể mới che khuất Thượng đế nội tại của chúng ta, và mới ngăn cách chúng ta khỏi Những Đấng mà nơi Các Ngài, Thượng đế siêu vượt mọi hình tướng bên ngoài.

The great Initiate, Who voiced the words I quote, added still other words of radiant truth: “Then shall we know even as we are known.” The future holds for each and all who duly strive, who unselfishly serve and occultly meditate, the promise of knowing Those Who already have full knowledge of the struggler. Therein lies the hope for the student of meditation; as he struggles, as he fails, as he perseveres, and as he laboriously reiterates from day to day the arduous task of concentration and of mind control, there stand on the inner side Those Who know him, and Who watch with eager sympathy the progress that be makes.

Vị điểm đạo đồ vĩ đại, Đấng đã thốt ra những lời Tôi trích dẫn, còn thêm những lời chân lý rực sáng khác: “Bấy giờ chúng ta sẽ biết, cũng như chúng ta được biết.” Tương lai dành cho từng người, cho tất cả những ai nỗ lực đúng đắn, phụng sự vô ngã và tham thiền theo huyền bí học, lời hứa sẽ biết Những Đấng vốn đã biết trọn vẹn người đang đấu tranh. Ở đây có niềm hy vọng cho đạo sinh tham thiền; khi y đấu tranh, khi y thất bại, khi y kiên trì, và khi y ngày này qua ngày khác nhọc nhằn lặp lại nhiệm vụ gian nan của sự tập trung và sự kiểm soát thể trí, thì ở phía bên trong có Những Đấng biết y, và dõi theo với sự cảm thông nồng nhiệt tiến bộ mà y đạt được.

Forget not the earlier part of the Initiate’s remarks where he points out the way whereby the darkness is dispelled, and knowledge of the Great Ones is reached. He emphasises that only by love is the path of light and knowledge trodden. Why this emphasis upon love? Because the goal for all is love, and therein lies the merging. To put scientifically what is oft a nebulous sentiment, we might express it as follows:—It is by the attainment of the vibration which is analogous to the Ray of Love-Wisdom (the Divine Ray) that the Lords of Love are contacted, that the Masters of Compassion are known, and that the possibility of entering into the consciousnesses of the Great Ones and of all our brothers of whatsoever degree, becomes a fact in manifestation.

Đừng quên phần trước trong lời nói của vị điểm đạo đồ, nơi ông chỉ ra con đường nhờ đó bóng tối được xua tan, và tri thức về Các Đấng Cao Cả được đạt đến. Ông nhấn mạnh rằng chỉ bằng bác ái thì con đường ánh sáng và tri thức mới được bước đi. Vì sao lại nhấn mạnh bác ái? Bởi vì mục tiêu của tất cả là bác ái, và chính trong đó có sự hòa nhập. Để diễn đạt một cách khoa học điều vốn thường chỉ là một tình cảm mơ hồ, chúng ta có thể nói như sau:—Chính nhờ đạt được rung động tương tự với Cung Bác Ái – Minh Triết (Cung thiêng liêng) mà các Chúa Tể của Bác Ái được tiếp xúc, các Chân sư của Lòng Từ Bi được biết đến, và khả năng đi vào các tâm thức của Các Đấng Cao Cả và của tất cả các huynh đệ của chúng ta, bất kể cấp bậc nào, trở thành một sự kiện trong biểu hiện.

This is the path to be trodden by one and all, and the method is meditation. The goal is perfect love and wisdom; the steps are the surmounting of subplane after subplane on all the three planes; the method is that of occult meditation; the reward is the continuous expansion [259] of consciousness that puts a man eventually en rapport with his own Ego, with other selves, with the waiting eager Master to Whom he is assigned, with fellow disciples and more advanced Initiates whom he may contact in that Master’s aura, till he finally contacts the One Initiator, is admitted into the Secret Place, and knows the mystery that underlies consciousness itself.

Đây là con đường mà từng người và tất cả phải bước đi, và phương pháp là tham thiền. Mục tiêu là bác ái và minh triết hoàn hảo; các bước là vượt qua cõi phụ này đến cõi phụ khác trên cả ba cõi; phương pháp là tham thiền huyền bí; phần thưởng là sự mở rộng liên tục [259] của tâm thức, rốt cuộc đưa một người vào sự tương thông với chính chân ngã của mình, với các bản ngã khác, với Chân sư đang chờ đợi đầy nhiệt tâm mà y được phân công, với các đệ tử đồng môn và các điểm đạo đồ tiến bộ hơn mà y có thể tiếp xúc trong hào quang của Chân sư ấy, cho đến khi cuối cùng y tiếp xúc Đấng Điểm đạo duy nhất, được thừa nhận vào Nơi Bí Mật, và biết huyền nhiệm nằm dưới chính tâm thức.

September 14th, 1920.

Ngày 14 tháng 9, 1920.

Who are the Masters?—Các Chân sư là ai?

It might be of value to us in our consideration of the subject of access to the Masters via meditation if we started with a few fundamental statements, dealing with the Masters and Their place in evolution. We will therefore take up our first point. We shall thus bring before the readers of these letters some idea as to Their status, Their comprehensive development, and Their methods of work. Needless to say, much that will follow will carry nothing new in import. The things that concern us most closely and the things that are to us the most familiar are oft the most frequently overlooked, and the most nebulous to our reasoning faculty.

Có lẽ sẽ hữu ích cho chúng ta trong việc suy xét đề tài về sự tiếp cận các Chân sư qua tham thiền nếu chúng ta bắt đầu bằng một vài mệnh đề nền tảng, bàn đến các Chân sư và vị trí của Các Ngài trong tiến hoá. Vì vậy chúng ta sẽ nêu điểm thứ nhất của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ trình bày trước độc giả của những bức thư này một ý niệm nào đó về địa vị của Các Ngài, sự phát triển bao quát của Các Ngài, và các phương pháp làm việc của Các Ngài. Không cần phải nói, nhiều điều theo sau sẽ không mang ý nghĩa mới mẻ nào. Những điều liên hệ mật thiết nhất với chúng ta và những điều quen thuộc nhất đối với chúng ta thường lại là những điều hay bị bỏ qua nhất, và mơ hồ nhất đối với năng lực lý luận của chúng ta.

A Master of the Wisdom is One Who has undergone the fifth initiation. That really means that His consciousness has undergone such an expansion that it now includes the fifth or spiritual kingdom. He has worked His way through the four lower kingdoms:—the mineral, the vegetable, the animal and the human—and has, through meditation and service, expanded His centre of consciousness till it now includes the plane of spirit.

Một Chân sư Minh Triết là Một Đấng đã trải qua lần điểm đạo thứ năm. Điều đó thật sự có nghĩa là tâm thức của Ngài đã trải qua một sự mở rộng đến mức nay nó bao gồm giới thứ năm hay giới tinh thần. Ngài đã tiến bước qua bốn giới thấp:—giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại—và, qua tham thiền và phụng sự, đã mở rộng trung tâm tâm thức của Ngài cho đến nay nó bao gồm cõi tinh thần.

A Master of the Wisdom is One Who has effected the transfer of polarisation from the three atoms of the personal life—as included in the causal body—into the three atoms of the spiritual Triad. He is consciously [260] spirit-intuition-abstract mind, or atma-buddhi-manas, and this is not potentially but in full effective power, realised through experience. This has been brought about, as earlier said, through the process of meditation.

Một Chân sư Minh Triết là Một Đấng đã thực hiện sự chuyển dịch phân cực từ ba nguyên tử của đời sống phàm ngã—như được bao hàm trong thể nguyên nhân—sang ba nguyên tử của Tam Nguyên Tinh Thần. Ngài một cách hữu thức [260] là tinh thần-trực giác-trí trừu tượng, hay atma-bồ đề-manas, và điều này không phải là tiềm năng mà là trong quyền năng hữu hiệu trọn vẹn, được chứng nghiệm qua kinh nghiệm. Điều này đã được mang lại, như đã nói trước đó, qua tiến trình tham thiền.

A Master of the Wisdom is One Who has found not only the chord of the Ego, but the full chord of the Monad, and can ring the changes therefore at will upon all the notes from the lowest to that of the monadic. This means occultly that He has now developed the creative faculty, and can sound the note for each plane and build thereon. This power—first to discover the notes of the monadic chord and secondly to use those notes in constructive building—is first realised through meditation occultly performed, balanced by service lovingly administered.

Một Chân sư Minh Triết là Một Đấng đã tìm ra không chỉ hợp âm của chân ngã, mà còn hợp âm trọn vẹn của chân thần, và vì vậy có thể tùy ý biến chuyển trên mọi nốt từ thấp nhất đến nốt chân thần. Điều này, theo huyền bí học, có nghĩa là Ngài nay đã phát triển năng lực sáng tạo, và có thể xướng âm điệu cho mỗi cõi và kiến tạo dựa trên đó. Quyền năng này—thứ nhất là khám phá các nốt của hợp âm chân thần và thứ hai là dùng các nốt ấy trong kiến tạo xây dựng—trước hết được chứng nghiệm qua tham thiền được thực hiện theo huyền bí học, được quân bình bởi phụng sự được ban hành trong bác ái.

A Master of the Wisdom is He Who can wield the law in the three worlds and can dominate all that evolves on those planes. By learning the laws of mind through the practice of meditation, He expands the laws of mind till they embrace the laws of the Universal Mind as demonstrated in lower manifestation. The Laws of Mind are mastered in meditation. They are applied in the life of service which is the logical outcome of true knowledge.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng có thể vận dụng định luật trong ba cõi giới và có thể chế ngự mọi điều tiến hoá trên những cõi ấy. Bằng cách học các định luật của trí qua thực hành tham thiền, Ngài mở rộng các định luật của trí cho đến khi chúng bao trùm các định luật của Vũ Trụ Trí như được biểu lộ trong biểu hiện thấp. Các Định luật của Trí được làm chủ trong tham thiền. Chúng được áp dụng trong đời sống phụng sự, là kết quả logic của tri thức chân chính.

A Master of the Wisdom is He Who has passed out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom. He has there graduated through its five grades and has transmuted lower mind into mind pure and unalloyed, has transmuted desire into intuition, and has irradiated His consciousness with the light of pure Spirit. The discipline of meditation is the only way in which this can be accomplished.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã đi ra khỏi Phòng Hiểu Biết để vào Phòng Minh triết. Tại đó Ngài đã tốt nghiệp qua năm cấp bậc của nó và đã chuyển hoá hạ trí thành trí tuệ thuần khiết không pha tạp, đã chuyển hoá dục vọng thành trực giác, và đã chiếu rọi tâm thức của Ngài bằng ánh sáng của Tinh thần thuần khiết. Kỷ luật của tham thiền là con đường duy nhất nhờ đó điều này có thể được hoàn thành.

A Master of the Wisdom is He Who, through knowledge acquired by means of the five senses, has learnt [261] that synthesis exists and has merged those five senses into the synthetic two, that mark the point of attainment in the solar system. Through meditation the geometrical sense of proportion is adjusted, the sense of values is clearly recognised, and through that adjustment and recognition, illusion is dispelled and reality is known. The practice of meditation and the inner concentration there brought about awakens the consciousness to the value and true use of form. Thereby reality is contacted and the three worlds can no more ensnare.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng, qua tri thức thu nhận bằng năm giác quan, đã học [261] rằng có sự tổng hợp và đã hợp nhất năm giác quan ấy vào hai giác quan tổng hợp, vốn đánh dấu điểm thành tựu trong hệ mặt trời. Qua tham thiền, ý thức hình học về tỉ lệ được điều chỉnh, ý thức về các giá trị được nhận biết rõ ràng, và nhờ sự điều chỉnh và nhận biết ấy, ảo tưởng bị xua tan và thực tại được biết. Việc thực hành tham thiền và sự tập trung nội tại được tạo ra nhờ đó đánh thức tâm thức đối với giá trị và công dụng chân thực của hình tướng. Nhờ vậy thực tại được tiếp xúc và ba cõi giới không còn có thể giam bẫy.

A Master of the Wisdom is He Who knows the meaning of consciousness, of life, and of spirit. He can pass—by the line of least resistance—straight to the “bosom of His Father in Heaven”. The approach to the line of least resistance, the direct path, is found through the practice of meditation.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng biết ý nghĩa của tâm thức, của sự sống, và của tinh thần. Ngài có thể đi—theo con đường ít trở ngại nhất—thẳng đến “lòng của Cha Ngài trên cõi thượng thiên”. Sự tiếp cận con đường ít trở ngại nhất, con đường trực tiếp, được tìm thấy qua thực hành tham thiền.

A Master of the Wisdom is He Who has resolved Himself from the five into the three, and from the three into the two. He has become the five-pointed star, and when that moment is reached He sees that star flash out above the One Initiator, and recognises it in those of equal place to His. He has sanctified (in the occult sense) the Quaternary, has used it as the foundation stone upon which to erect the Temple of Solomon. He has grown beyond that Temple itself and has come to recognise it as limitation. He has withdrawn Himself from its confining walls and has entered within the Triad. He has done this always by the occult method, that is, consciously and with full knowledge of each step taken. He learns the meaning of each confining form; then, He has assumed control and wielded the law upon the plane consistent with the form. He has then outgrown the form and has discarded it for other and higher forms. Thus He has progressed always by means of the sacrifice and death of the form. Always [262] it is recognised as imprisoning; always it must be sacrificed and must die so that the life within may speed ever on and up. The path of resurrection presupposes crucifixion and death, and then leads to the Mount whence Ascension may be made. In meditation the value of the life, and the confines of the form, can be appreciated and known, and by knowledge and service can the life be set free from all that limits and trammels.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã quy tự Ngài từ năm thành ba, và từ ba thành hai. Ngài đã trở thành ngôi sao năm cánh, và khi khoảnh khắc ấy đến, Ngài thấy ngôi sao đó loé sáng phía trên Đấng Điểm đạo duy nhất, và nhận ra nó trong những Đấng đồng vị thế với Ngài. Ngài đã thánh hiến (theo nghĩa huyền bí) Tứ Phân, đã dùng nó làm viên đá nền để dựng nên Đền thờ Solomon. Ngài đã lớn vượt khỏi chính ngôi Đền ấy và đã nhận ra nó là sự giới hạn. Ngài đã rút Ngài khỏi những bức tường giam hãm của nó và đã đi vào trong Tam Nguyên Tinh Thần. Ngài đã làm điều này luôn bằng phương pháp huyền bí, tức là, một cách hữu thức và với tri thức đầy đủ về mỗi bước được thực hiện. Ngài học ý nghĩa của mỗi hình tướng giam hãm; rồi Ngài đã nắm quyền kiểm soát và vận dụng định luật trên cõi phù hợp với hình tướng. Sau đó Ngài đã lớn vượt khỏi hình tướng và đã loại bỏ nó để lấy những hình tướng khác và cao hơn. Như vậy Ngài luôn tiến bộ bằng phương tiện của sự hi sinh và cái chết của hình tướng. Luôn luôn [262] hình tướng được nhận ra là giam cầm; luôn luôn nó phải được hi sinh và phải chết để sự sống bên trong có thể luôn lao nhanh lên và tiến lên. Con đường phục sinh giả định sự đóng đinh và cái chết, rồi dẫn đến Ngọn Núi từ đó có thể thăng thiên. Trong tham thiền, giá trị của sự sống, và giới hạn của hình tướng, có thể được trân trọng và biết đến, và bằng tri thức cùng phụng sự, sự sống có thể được giải phóng khỏi mọi điều giới hạn và trói buộc.

A Master of the Wisdom is One Who has chosen to stay upon our planet to help His fellowmen…. By that the term is understood by the general public who enquire All who attain the fifth Initiation are Masters of the Wisdom, but all stay not and work as servers of the race. They pass to other work of greater or equal importance. To the general public the significance of the term lies in the thought that They choose to stay and limit Themselves for the sake of men who are pressing forward on the wave of evolution. Through meditation has the Great One reached His goal and (which is a thing not so oft comprehended) through meditation, or the manipulation of thought matter, and by work on the mental bodies of the race, is the work carried on that aids the evolutionary process.

Một Chân sư Minh Triết là Một Đấng đã chọn ở lại trên hành tinh của chúng ta để giúp những người đồng loại của Ngài…. Theo đó, thuật ngữ này được công chúng nói chung hiểu, những người vốn tìm hiểu. Tất cả những ai đạt đến lần điểm đạo thứ năm đều là các Chân sư Minh Triết, nhưng không phải tất cả đều ở lại và làm việc như những người phụng sự cho nhân loại. Các Ngài chuyển sang những công việc khác có tầm quan trọng lớn hơn hoặc tương đương. Đối với công chúng nói chung, ý nghĩa của thuật ngữ này nằm ở ý nghĩ rằng Các Ngài chọn ở lại và tự giới hạn vì lợi ích của những người đang thúc tiến trên làn sóng tiến hoá. Qua tham thiền, Đấng Cao Cả đã đạt mục tiêu của Ngài và (điều không thường được thấu hiểu) qua tham thiền, hay sự thao tác vật chất tư tưởng, và bằng công việc trên các thể trí của nhân loại, công việc được tiếp tục nhằm trợ giúp tiến trình tiến hoá.

A Master of the Wisdom is He Who has taken the first initiation that links Him up with the greater Brotherhood on Sirius. As afore I have told you, He is an Initiate of the First Degree in the greater Lodge. He has attained an expansion of consciousness that has admitted Him into touch with the solar system in many of its departments. Now He has ahead of Him a vast reach of expansions that will eventually take Him beyond systemic consciousness into something far greater and wider. He has to begin to learn the rudiments of that cosmic meditation that will admit Him into a Consciousness past our conceivable surmise. [263]

Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã nhận lần điểm đạo thứ nhất, lần điểm đạo nối kết Ngài với Huynh đệ Đoàn vĩ đại hơn trên Sirius. Như trước đây Tôi đã nói với các bạn, Ngài là một điểm đạo đồ bậc một trong Thánh đoàn lớn hơn. Ngài đã đạt một sự mở rộng tâm thức cho phép Ngài tiếp xúc với hệ mặt trời trong nhiều bộ phận của nó. Nay trước mặt Ngài là một tầm rộng mênh mông của những sự mở rộng sẽ rốt cuộc đưa Ngài vượt khỏi tâm thức thái dương hệ vào một điều gì đó lớn hơn và rộng hơn rất nhiều. Ngài phải bắt đầu học những điều sơ đẳng của sự tham thiền vũ trụ, điều sẽ cho phép Ngài đi vào một Tâm Thức vượt quá mọi suy đoán mà chúng ta có thể hình dung. [263]

A Master of the Wisdom is He Who can consciously function as part of the Heavenly Man to Whose Body He may belong. He understands the laws governing groups and group souls. He governs a group soul consciously Himself (a group on the path of return and formed of the lives of many sons of men) and He knows His place in the body systemic. He realises the centre in the Body of the Heavenly Man by means of which He and His group are kept in sympathetic vibration, and conducts His relationship with other groups in the same Body under certain definite laws. The value of meditation as a preparation for this activity will be realised by all thoughtful students, for meditation is the one means whereby the sense of separateness is transcended, and unity with one’s kind occultly comprehended.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng có thể hoạt động một cách hữu thức như một phần của Đấng Thiên Nhân mà Ngài có thể thuộc về Thể của Đấng ấy. Ngài thấu hiểu các định luật chi phối các nhóm và các Hồn nhóm. Ngài tự Ngài cai quản một Hồn nhóm một cách hữu thức (một nhóm trên Con Đường Trở Về và được cấu thành bởi sự sống của nhiều những người con của nhân loại) và Ngài biết vị trí của Ngài trong thân thể của thái dương hệ. Ngài chứng nghiệm trung tâm trong Thể của Đấng Thiên Nhân, nhờ đó Ngài và nhóm của Ngài được giữ trong rung động cảm ứng, và Ngài điều hành mối liên hệ của Ngài với các nhóm khác trong cùng Thể ấy theo những định luật nhất định. Giá trị của tham thiền như một sự chuẩn bị cho hoạt động này sẽ được mọi môn sinh biết suy nghĩ nhận ra, vì tham thiền là phương tiện duy nhất nhờ đó cảm thức phân ly được vượt qua, và sự hợp nhất với đồng loại của mình được thấu hiểu một cách huyền bí.

A Master of the Wisdom is He Who has entrusted to Him, by virtue of work accomplished, certain Words of Power. By means of these Words He wields the law over other evolutions than the human, and through them He co-operates with the activity aspect of the Logos. Thus He blends His consciousness with that of the third Logos. Through these Words He assists with the building work, and the cohesive manipulating endeavor of the second Logos, and comprehends the inner working of the law of gravitation for attraction and repulsion) that governs all the functions of the second aspect logoic. Through these Words He co-operates with the work of the first Logos, and learns, as He takes the sixth and seventh Initiations (which is not always done) the meaning of Will as applied in the system. These Words are imparted orally, and through clairvoyant faculty but must be found by the Initiate Himself, by the use of atma and as He attains atmic consciousness…. When atmic consciousness is developing by means of the intuition, the [264] Initiate can contact the stores of knowledge inherent in the Monad, and thus learn the Words of Power. This ability comes only after the application of the Rod of Initiation as wielded by the Lord of the World. Therefore by the higher stages of occult meditation does a Master of the Wisdom increase still further His knowledge. Not static is His consciousness, but daily embracing more. Daily does He apply Himself to further expansion.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng được giao phó, do công việc đã hoàn thành, một số Quyền năng từ nhất định. Nhờ các Linh từ này, Ngài vận dụng định luật đối với các tiến hoá khác ngoài tiến hoá nhân loại, và qua đó Ngài hợp tác với phương diện hoạt động của Thượng đế. Vì vậy Ngài hoà trộn tâm thức của Ngài với tâm thức của Thượng đế thứ ba. Qua các Linh từ này, Ngài trợ giúp công việc kiến tạo, và nỗ lực thao tác mang tính kết dính của Thượng đế thứ hai, và thấu hiểu sự vận hành nội tại của định luật hấp dẫn (cho hút và đẩy) chi phối mọi chức năng của phương diện thứ hai mang tính Thượng đế. Qua các Linh từ này, Ngài hợp tác với công việc của Thượng đế thứ nhất, và học, khi Ngài nhận lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy (điều này không phải lúc nào cũng xảy ra), ý nghĩa của Ý Chí như được áp dụng trong thái dương hệ. Các Linh từ này được truyền khẩu, và qua năng lực thông nhãn, nhưng phải do chính điểm đạo đồ tự tìm ra, bằng việc sử dụng atma và khi y đạt được tâm thức atma…. Khi tâm thức atma đang phát triển nhờ trực giác, điểm đạo đồ [264] có thể tiếp xúc các kho tàng tri thức vốn có trong chân thần, và do đó học được các Quyền năng từ. Khả năng này chỉ đến sau khi Thần Trượng Điểm đạo được áp dụng như do Đức Chúa Tể Thế Giới vận dụng. Vì vậy, nhờ các giai đoạn cao của tham thiền huyền bí mà một Chân sư Minh Triết còn gia tăng hơn nữa tri thức của Ngài. Tâm thức của Ngài không tĩnh tại, mà mỗi ngày bao quát nhiều hơn. Mỗi ngày Ngài chuyên chú vào sự mở rộng thêm nữa.

A Master of the Wisdom is One Who has earned the right through similarity of vibration to work with the Heads of the Hierarchy of this planet, and in conjunction with analogous Heads on two other planets connected with our chain. When He has taken other initiations He can contact and work in conjunction with all the seven Planetary Logoi, and not just the three in control of allied chains. The whole system can be embraced by Him, and His consciousness has expanded to include the entire objective solar system.

Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã giành được quyền, nhờ sự tương đồng về rung động, để làm việc với các Đấng Đứng Đầu của Thánh Đoàn của hành tinh này, và phối hợp với các Đấng Đứng Đầu tương tự trên hai hành tinh khác có liên hệ với dãy của chúng ta. Khi Ngài đã nhận các lần điểm đạo khác, Ngài có thể tiếp xúc và làm việc phối hợp với cả bảy Hành Tinh Thượng Đế, chứ không chỉ ba Đấng đang kiểm soát các dãy liên minh. Toàn bộ thái dương hệ có thể được Ngài bao quát, và tâm thức của Ngài đã mở rộng để bao gồm toàn thể hệ mặt trời khách quan.

I could enumerate still other definitions, and further elucidate the matter for you, but that imparted today suffices. The point reached by a Master is high, but only relatively so, and you must not forget that when attained by Him it seems low indeed, for He measures it up with the vista expanding before Him. Each expansion of consciousness, each step upon the ladder, but opens before the Initiate another sphere to be embraced, and another step ahead to be taken; each initiation achieved but reveals still higher ones to be mastered, and never comes the point where the aspirant (be he an average man, an initiate, a Master, a Chohan, or a Buddha) can remain in a condition static, and is incapable of future progress. Even the Logos Himself aspires, and even the One to Whom He aspires reaches up to a Greater. [265]

Tôi có thể liệt kê thêm những định nghĩa khác, và làm sáng tỏ thêm vấn đề cho các bạn, nhưng những gì được truyền đạt hôm nay là đủ. Điểm mà một Chân sư đạt đến thì cao, nhưng chỉ là tương đối, và các bạn chớ quên rằng khi Ngài đạt được nó thì nó quả thật có vẻ thấp, vì Ngài đo lường nó bằng viễn cảnh đang mở rộng trước Ngài. Mỗi sự mở rộng tâm thức, mỗi bậc trên chiếc thang, chỉ mở ra trước điểm đạo đồ một khối cầu khác để bao quát, và một bước khác phía trước để tiến lên; mỗi lần điểm đạo đạt được chỉ mặc khải những lần cao hơn nữa cần được làm chủ, và không bao giờ đến điểm mà người chí nguyện (dù y là một người bình thường, một điểm đạo đồ, một Chân sư, một Chohan, hay một vị Phật) có thể ở yên trong một trạng thái tĩnh tại, và không còn khả năng tiến bộ trong tương lai. Ngay cả chính Thượng đế cũng chí nguyện, và ngay cả Đấng mà Ngài chí nguyện hướng tới cũng vươn lên với một Đấng Vĩ Đại hơn. [265]

What happens in the system transpires likewise on cosmic levels, and what is mastered here must be repeated on a vaster scale in the cosmos itself. In this thought lies inspiration and development and not despair or weariness. The reward that comes with each step forward, the delight that lies in increased comprehension, rewards the struggling aspirant in adequate fashion…. Tomorrow we will deal with the more practical side, that of the man who aims at this high calling.

Điều gì xảy ra trong thái dương hệ cũng diễn ra tương tự trên các cấp độ vũ trụ, và điều gì được làm chủ ở đây phải được lặp lại trên một quy mô rộng lớn hơn trong chính vũ trụ. Chính trong đó có cảm hứng và sự phát triển, chứ không phải tuyệt vọng hay mệt mỏi. Phần thưởng đến cùng mỗi bước tiến, niềm hoan hỷ nằm trong sự thấu hiểu gia tăng, đền bù cho người chí nguyện đang vật lộn một cách xứng đáng…. Ngày mai chúng ta sẽ bàn đến khía cạnh thực tiễn hơn, tức là về người hướng tới thiên chức cao cả này.

September 16th, 1920.

Ngày 16 tháng 9, 1920.

September 16th, 1920. 1 pm.

Ngày 16 tháng 9, 1920. 1 giờ chiều.

I would like to take up with you for a few minutes, brother of mine, the question I see lying within your mental body anent the work of the Star [apparently the Order of the Star in the East founded by Theosophists to prepare the world for the new manifestation of Christ-Maitreya]. You seek to know wherein advancement can be made and whether the organisation of the Star holdeth within it latent possibilities.

Tôi muốn cùng các bạn bàn trong vài phút, huynh đệ của Tôi, về câu hỏi mà Tôi thấy nằm trong thể trí của các bạn liên quan đến công việc của Ngôi Sao [dường như là Hội Ngôi Sao ở Phương Đông do các nhà Thông Thiên Học sáng lập để chuẩn bị thế gian cho sự hiển lộ mới của Đức Christ–Maitreya]. Các bạn tìm hiểu xem có thể tiến bộ ở điểm nào và liệu tổ chức của Ngôi Sao có chứa đựng những khả năng tiềm ẩn hay không.

The value of the Star existeth as yet largely on mental levels. The aggregate of thought matter as moulded by the members of the Star is necessarily very large and to have so much mental matter attuned to that vibration was one of the main purposes the founders had in view. That purpose is in process of seeing fulfilment. Much matter is satisfactorily tinctured. One note hath not yet been struck and it must be sounded before the ideal back of the Star becometh a fact in objective manifestation. Not yet hath DESIRE  for the Advent been adequately awakened. The Star work must be brought down to the astral plane before it can fulfil its object. Therefore the need now is to awaken all Star members to the necessity of longing for the Coming, and of arousing in others and their immediate environment a yearning to see the Great Lord come.

Giá trị của Ngôi Sao cho đến nay phần lớn vẫn tồn tại trên các cấp độ trí. Tổng thể vật chất tư tưởng như được các thành viên của Ngôi Sao nhào nặn tất yếu là rất lớn, và việc có được nhiều vật chất trí được chỉnh hợp với rung động ấy là một trong những mục đích chính mà các nhà sáng lập đã nhắm tới. Mục đích ấy đang trong tiến trình được thấy là hoàn thành. Nhiều vật chất đã được nhuộm màu một cách thỏa đáng. Có một âm điệu vẫn chưa được xướng lên và nó phải được xướng lên trước khi lý tưởng đứng sau Ngôi Sao trở thành một sự kiện trong sự biểu lộ khách quan. DỤC VỌNG cho Cuộc Quang Lâm vẫn chưa được đánh thức đầy đủ. Công việc của Ngôi Sao phải được đưa xuống cõi cảm dục trước khi nó có thể hoàn thành mục tiêu của mình. Vì vậy, nhu cầu hiện nay là đánh thức mọi thành viên của Ngôi Sao trước sự cần thiết của khát vọng đối với Đấng Đang Đến, và khơi dậy nơi người khác cùng môi trường gần gũi của họ một niềm khao khát được thấy Đức Chúa Tể Vĩ Đại quang lâm.

When this hath been done then cometh response to that desire and He will come.

Khi điều này đã được thực hiện thì đáp ứng đối với dục vọng ấy sẽ đến và Ngài sẽ đến.

Your work therefore is clear;—to make people earnestly desire to hear His voice, and to touch the hem of His garment. This can be done in 3 ways, which I commend to your earnest consideration.

Vì vậy công việc của các bạn là rõ ràng;—làm cho người ta tha thiết mong muốn được nghe tiếng nói của Ngài, và được chạm vào vạt áo của Ngài. Điều này có thể được thực hiện theo 3 cách, mà Tôi khuyến nghị các bạn hãy nghiêm túc suy xét.

1. By arousing in people a realisation of the work He will do and the message He will give when He walks the earth.

1. Bằng cách khơi dậy nơi người ta sự nhận thức về công việc Ngài sẽ làm và thông điệp Ngài sẽ ban khi Ngài bước đi trên mặt đất.

2. By emphasising the futility of a new order of things—economic, political and social—apart for a new ideal and a new incentive. This ideal and this incentive will be His theme when again He sounds a message forth that will be the objective of the new cycle. The period called Piscean (the era of gathering out the fishes, and training the fishermen) is to be superseded by the era of service to all, the slaking of the thirst by means of the universally attainable supply. That supply will be distributed by those who in the era just past have been gathered out and trained. Ponder on this.

2. Bằng cách nhấn mạnh tính vô ích của một trật tự mới—kinh tế, chính trị và xã hội—nếu tách rời một lý tưởng mới và một động lực mới. Lý tưởng này và động lực này sẽ là chủ đề của Ngài khi một lần nữa Ngài xướng ra một thông điệp sẽ là mục tiêu của chu kỳ mới. Thời kỳ được gọi là Song Ngư (kỷ nguyên của việc gom những con cá ra, và huấn luyện những người đánh cá) sẽ được thay thế bởi kỷ nguyên phụng sự tất cả, sự giải khát nhờ nguồn cung phổ quát mà ai cũng có thể đạt được. Nguồn cung ấy sẽ được phân phối bởi những người mà trong kỷ nguyên vừa qua đã được gom ra và được huấn luyện. Hãy suy ngẫm về điều này.

3. By familiarising the non-illuminated world with the names and functions of Those He will bring with Him on the impetus of His Own vibration; by scattering broadcast the secret wisdom thuths, and —in the face of scorn and scoffing—demonstrating that for many of you the Masters, Their Names, activities, Their Persons and Their groups are facts, not dreams. This inversely involveth on your part therefore, and on the part of all who believe in the Hierarchy a definite aim and endeavour to contact, so as to be able to say with clarion tone: “I speak that I do KNOW and testify that I have seen.”

3. Bằng cách làm cho thế giới chưa được soi sáng trở nên quen thuộc với danh xưng và chức năng của Các Ngài mà Ngài sẽ đem theo cùng Ngài dưới xung lực của chính rung động của Ngài; bằng cách rải rộng các chân lý minh triết bí nhiệm, và —trước sự khinh miệt và chế nhạo—chứng minh rằng đối với nhiều người trong các bạn, các Chân sư, Danh xưng của Các Ngài, các hoạt động, Thân vị của Các Ngài và các nhóm của Các Ngài là những sự thật, chứ không phải những giấc mơ. Do đó, điều này đòi hỏi ngược lại nơi các bạn, và nơi tất cả những ai tin vào Thánh Đoàn, một mục tiêu xác định và một nỗ lực tiếp xúc, để có thể nói bằng giọng kèn vang: “Tôi nói điều mà Tôi BIẾT và làm chứng rằng Tôi đã thấy.”

These are the 3 things to be done, brother of mine, and much must be accomplished by the pen, the tongue, and personal endeavour, by meetings, and by meditation. As regards your immediate problem, the work in H-, I would make no remark save to point out that the wise server is he whom utiliseth that which he hath, and from a small beginning developeth that which will be.

Đó là 3 điều cần được thực hiện, huynh đệ của Tôi, và nhiều việc phải được hoàn thành bằng ngòi bút, bằng lời nói, và bằng nỗ lực cá nhân, bằng các buổi họp, và bằng tham thiền. Về vấn đề trước mắt của các bạn, công việc tại H-, Tôi sẽ không nhận xét gì ngoài việc chỉ ra rằng người phụng sự khôn ngoan là người biết sử dụng điều mình có, và từ một khởi đầu nhỏ phát triển điều sẽ là.

This sufficeth, brother of mine, and I think answereth the queries in your mind.

Như vậy là đủ, huynh đệ của Tôi, và Tôi nghĩ đã trả lời các thắc mắc trong thể trí của các bạn.

Let us now do the matter in hand, for the time is brief, and the work to be done much, specially in the mechanical preparation of the MSS [manuscripts].

Giờ đây chúng ta hãy làm việc đang có trong tay, vì thời gian thì ngắn, và công việc cần làm thì nhiều, đặc biệt là trong việc chuẩn bị kỹ thuật cho MSS [các bản thảo].

What access to the Master entails.—Việc được tiếp cận Chân sư hàm ý điều gì.

We deal today with the second point in our eighth letter, and we have to look at the subject in two ways, briefly from the standpoint of the Master, and rather lengthily from the viewpoint of the pupil.

Hôm nay chúng ta bàn đến điểm thứ hai trong bức thư thứ tám của chúng ta, và chúng ta phải nhìn chủ đề theo hai cách, ngắn gọn từ lập trường của Chân sư, và khá dài từ quan điểm của môn sinh.

We have in these letters given a broad outline of the magnitude of the task that lies ahead of the man who proposes to attain. Much that has been written has no interest for the man who is only of average development, but chiefly concerns the man who has reached a specific point in evolution, and stands upon the Path of Probation. Much that might be said upon this matter has been covered in that earlier series I communicated to you. I seek not to cover the same ground here, but to deal more specifically with the internal relationship which exists between Master and pupil.

Trong các bức thư này chúng ta đã đưa ra một phác thảo rộng về tầm vóc của nhiệm vụ đang ở phía trước người dự định đạt đến. Nhiều điều đã được viết không có mối quan tâm đối với người chỉ ở mức phát triển trung bình, mà chủ yếu liên quan đến người đã đạt đến một điểm tiến hoá xác định, và đứng trên Con Đường Dự Bị. Nhiều điều có thể nói về vấn đề này đã được bao quát trong loạt bài trước mà Tôi đã truyền đạt cho các bạn. Tôi không tìm cách lặp lại ở đây, mà muốn đề cập cụ thể hơn đến mối liên hệ nội tại đang tồn tại giữa Chân sư và môn sinh.

That relationship exists in four grades, in each of which a man progresses nearer to his Master. These four grades are as follows and cover the period wherein the man is under training until the time when he himself becomes an adept.

Mối liên hệ ấy tồn tại trong bốn cấp bậc, trong mỗi cấp bậc một người tiến gần hơn đến Chân sư của y. Bốn cấp bậc này như sau và bao trùm giai đoạn trong đó người ấy được huấn luyện cho đến lúc chính y trở thành một chân sư.

They are:—

Chúng là:—

a. The period wherein he is on probation. [266]

a. Thời kỳ trong đó y ở giai đoạn dự bị. [266]

b. The period wherein he is an accepted disciple.

b. Thời kỳ trong đó y là một đệ tử được chấp nhận.

c. The period wherein he is regarded as the Master’s intimate, or—as it is esoterically termed—the “Son of the Master.”

c. Thời kỳ trong đó y được xem như người thân cận của Chân sư, hoặc—như được gọi theo thuật ngữ huyền môn—“Con của Chân sư.”

d. The period wherein the final three initiations are taken, and he knows himself as one with the Master. He ranks then as the “Beloved of the Master,” a position analogous to that which John, the beloved disciple, held in the Bible story.

d. Thời kỳ trong đó ba lần điểm đạo cuối cùng được nhận, và y biết mình là một với Chân sư. Khi ấy y được xếp là “Người Yêu Dấu của Chân sư,” một vị trí tương tự như vị trí mà John, đệ tử được yêu dấu, nắm giữ trong câu chuyện Kinh Thánh.

All these stages are governed by two things:—

Tất cả các giai đoạn này đều được chi phối bởi hai điều:—

a. Similarity of vibration.

a. Sự tương đồng về rung động.

b. Karma,

b. Nghiệp quả,

and all are involved in the ability of tie man to develop group consciousness.

và tất cả đều liên quan đến khả năng của người ấy phát triển tâm thức nhóm.

On the planes of the higher mind, on the second subplane you have a reflection of what can be seen on the highest planes of our solar system. What have you there? The seven Heavenly Men are there to be found, each of Whom is composed (from the standpoint of form) of group souls,—those group souls being made up of the individual human and angel units of consciousness. On the second subplane of the mental plane you have the groups belonging to the Masters, if so I may express it. These groups are animated and vitalised from the atomic subplane where the Masters (when manifesting for the helping of the sons of men) have Their habitat,* just as the Heavenly Men have Their originating source and the cause of Their life on the atomic plane of the solar system, that which we call the plane of adi, or the first plane. These groups are formed around a Master, are enclosed within His aura, and are a part of His consciousness. They include people whose egoic ray is the same as His, or whose monadic ray is the same. [267]

Trên các cõi của thượng trí, trên cõi phụ thứ hai, các bạn có một phản ánh của điều có thể thấy trên các cõi cao nhất của hệ mặt trời chúng ta. Ở đó các bạn có gì? Bảy Đấng Thiên Nhân hiện diện ở đó, mỗi Đấng được cấu thành (xét theo quan điểm hình tướng) bởi các Hồn nhóm,—những Hồn nhóm ấy được tạo thành từ các đơn vị tâm thức cá nhân của con người và thiên thần. Trên cõi phụ thứ hai của cõi trí, các bạn có các nhóm thuộc về các Chân sư, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy. Các nhóm này được làm cho sinh động và được tiếp sinh lực từ cõi phụ nguyên tử, nơi các Chân sư (khi biểu lộ để trợ giúp những người con của nhân loại) có nơi cư trú của Các Ngài,* cũng như các Đấng Thiên Nhân có nguồn gốc khởi nguyên và nguyên nhân của sự sống của Các Ngài trên cõi nguyên tử của hệ mặt trời, điều mà chúng ta gọi là cõi adi, hay cõi thứ nhất. Các nhóm này được hình thành quanh một Chân sư, được bao bọc trong hào quang của Ngài, và là một phần của tâm thức của Ngài. Chúng bao gồm những người có cung chân ngã giống như cung của Ngài, hoặc có cung chân thần giống như cung của Ngài. [267]

This means that two types of people are concerned:—

Điều này có nghĩa là có hai loại người liên quan:—

1. Those who are preparing for the first and second initiations, taken upon the ray of the Ego, and

1. Những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, được nhận trên cung của Chân ngã, và

2. Those who are preparing for the two next initiations, which are taken upon the ray of the Monad. You have here a cause of the transference of people from one ray to another. It is only an apparent transference, even though it entails passing into the group of a different Master. This takes place after the second initiation.

2. Những người đang chuẩn bị cho hai lần điểm đạo kế tiếp, được nhận trên cung của chân thần. Ở đây các bạn có một nguyên nhân của sự chuyển dịch người ta từ cung này sang cung khác. Đó chỉ là một sự chuyển dịch bề ngoài, dù nó hàm ý việc chuyển vào nhóm của một Chân sư khác. Điều này diễn ra sau lần điểm đạo thứ hai.

A Probationer’s three objects.—Ba mục tiêu của một người dự bị.

During the period wherein a man is under probation, he is supposed to be developing three things:—

Trong thời kỳ một người ở giai đoạn dự bị, y được giả định là đang phát triển ba điều:—

1. The ability to contact his group, or in other words, to be sensible of the vibration of the group of which some particular Master is the focal point. He contacts it at times and at rare intervals at first. During the early part of his probation, whilst he is under observation, he can only sense and hold the group vibration (which is the Master’s vibration) for a very brief interval. He will at some high moment link up with the Master and with the group, and his whole being will be flooded with that high vibration, and surge upward in an outburst of his group colour. Then he will relax, drop back and lose the contact. His bodies are not refined enough and his vibration is too unstable to hold it long.

1. Khả năng tiếp xúc nhóm của y, hay nói cách khác, trở nên nhạy cảm với rung động của nhóm mà một Chân sư nào đó là điểm hội tụ. Lúc đầu y tiếp xúc nó đôi khi và rất hiếm. Trong phần đầu của giai đoạn dự bị, khi y đang được quan sát, y chỉ có thể cảm nhận và giữ rung động nhóm (là rung động của Chân sư) trong một khoảng rất ngắn. Vào một khoảnh khắc cao cả nào đó y sẽ nối kết với Chân sư và với nhóm, và toàn thể hữu thể của y sẽ tràn ngập rung động cao ấy, và dâng vọt lên trong một bùng nổ của sắc thái nhóm của y. Rồi y sẽ buông lỏng, rơi trở lại và mất sự tiếp xúc. Các thể của y chưa đủ tinh luyện và rung động của y quá bất ổn để giữ được lâu.

But, as time progresses (longer or shorter according to the earnestness of the pupil) the frequency of the times of contact increases; he can hold the vibration somewhat longer, and does not relax back to normal with so much ease. Then the time comes when he can be trusted to hold the contact fairly stably. He passes then to the second stage. [268]

Nhưng, khi thời gian trôi qua (dài hay ngắn tuỳ theo sự chân thành của môn sinh) tần suất những lần tiếp xúc tăng lên; y có thể giữ rung động lâu hơn đôi chút, và không buông lỏng trở lại bình thường dễ dàng như trước. Rồi thời điểm đến khi y có thể được tin cậy để giữ sự tiếp xúc khá ổn định. Khi ấy y chuyển sang giai đoạn thứ hai. [268]

2. The second thing he is supposed to be developing on the probationary path is the faculty of abstract thought, or the power to link up with the higher mind, via the causal body. He must learn to contact the lower mind simply as an instrument whereby he can reach the higher, and thus transcend it, until he becomes polarised in the causal body. Then, through the medium of the causal body, he links up with the abstract levels. Until he can do this he cannot really contact the Master, for, as you have been told, the pupil has to raise himself from his world (the lower) into Their world (the higher).

2. Điều thứ hai mà y được cho là phải phát triển trên Con Đường Dự Bị là năng lực tư tưởng trừu tượng, hay quyền năng liên kết với thượng trí, qua thể nguyên nhân. Y phải học cách tiếp xúc với hạ trí chỉ như một công cụ nhờ đó y có thể vươn tới thượng trí, và do đó vượt lên trên nó, cho đến khi y trở nên phân cực trong thể nguyên nhân. Khi ấy, qua trung gian của thể nguyên nhân, y liên kết với các tầng trừu tượng. Chừng nào y chưa làm được điều này thì y chưa thể thật sự tiếp xúc với Chân sư, vì như các bạn đã được bảo, người học trò phải tự nâng mình từ thế giới của y (thấp) lên thế giới của Các Ngài (cao).

Now both these things—the power to touch the Master and the Master’s group, and the power to polarise himself in the causal body and touch the abstract levels—are definitely the result of meditation, and the earlier letters you have received from me will have made this clear. There is therefore no need to recapitulate the earlier imparted data, save to point out that by strenuous meditation, and the faculty of one-pointed application to the duty in hand (which is after all the fruit of meditation worked out in daily living) will come the increased faculty to hold steadily the higher vibration. Again and again would I reiterate the apparently simple truth, that only similarity of vibration will draw a man to the higher group to which he may belong, to the Master Who represents to him the Lord of His Ray, to the World Teacher Who administers to him the mysteries, to the One Initiator Who effects the final liberation, and to the centre within the Heavenly Man in Whose Body he finds a place. It is the working out of the Law of Attraction and Repulsion on all the planes that gathers the life divine out of the mineral kingdom, out of the vegetable and animal kingdoms, that draws the latent Deity from out of the limitations of the human kingdom, and affiliates the man [269] with his divine group. The same law effects his liberation from subtler forms that likewise bind, and blends him back into his animating source, the Lord of the Ray in Whose Body his Monad may be found. Therefore the work of the probationer is to attune his vibration to that of his Master, to purify his three lower bodies so that they form no hindrance to that contact, and so to dominate his lower mind that it is no longer a barrier to the downflow of light from the threefold Spirit. Thus he is permitted to touch that Triad and the group on the subplane of the higher mental to which he—by right and karma—-belongs. All this is brought about by meditation, and there is no other means for achieving these aims.

Nay cả hai điều này—quyền năng chạm đến Chân sư và nhóm của Chân sư, và quyền năng phân cực trong thể nguyên nhân và chạm đến các tầng trừu tượng—đều chắc chắn là kết quả của tham thiền, và các bức thư trước mà các bạn đã nhận từ Tôi hẳn đã làm rõ điều này. Vì vậy không cần nhắc lại dữ liệu đã truyền đạt trước đây, ngoại trừ chỉ ra rằng nhờ tham thiền gắng sức, và năng lực nhất tâm áp dụng vào bổn phận trước mắt (vốn suy cho cùng là hoa trái của tham thiền được thể hiện trong đời sống hằng ngày) sẽ đến năng lực gia tăng để giữ vững rung động cao. Hết lần này đến lần khác, Tôi muốn nhắc lại chân lý tưởng như đơn giản: chỉ có sự tương đồng về rung động mới lôi kéo một người đến nhóm cao hơn mà y có thể thuộc về, đến Chân sư Đấng đối với y đại diện cho Chúa Tể của cung của Ngài, đến Đức Chưởng Giáo Đấng ban cho y các huyền nhiệm, đến Đấng Điểm đạo Duy Nhất Đấng thực hiện sự giải thoát tối hậu, và đến trung tâm bên trong Đấng Thiên Nhân mà trong Thể của Ngài y tìm được một chỗ đứng. Chính sự vận hành của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi trên mọi cõi đã gom góp sự sống thiêng liêng ra khỏi giới kim thạch, ra khỏi giới thực vật và giới động vật, đã kéo Thượng đế tiềm ẩn ra khỏi những giới hạn của giới nhân loại, và kết liên người ấy [269] với nhóm thiêng liêng của y. Cũng định luật ấy thực hiện sự giải thoát của y khỏi những hình tướng vi tế hơn vốn cũng trói buộc, và hòa trộn y trở lại vào nguồn sinh động của y, Chúa Tể của cung mà trong Thể của Ngài chân thần của y có thể được tìm thấy. Do đó công việc của người dự bị là điều chỉnh rung động của y cho hòa điệu với rung động của Chân sư của y, thanh lọc ba thể thấp của y để chúng không tạo chướng ngại cho sự tiếp xúc ấy, và do đó chế ngự hạ trí của y để nó không còn là rào cản đối với dòng chảy xuống của ánh sáng từ tinh thần tam phân. Nhờ vậy y được phép chạm đến Tam Nguyên Tinh Thần ấy và nhóm trên cõi phụ của cõi thượng trí mà y—do quyền lợi và nghiệp quả—thuộc về. Tất cả điều này được đem lại bởi tham thiền, và không có phương tiện nào khác để đạt được các mục tiêu ấy.

3. The third thing the probationer has to do is to equip himself emotionally and mentally, and to realise and prove that he has somewhat to impart to the group with which he is esoterically affiliated. Think upon this: too much emphasis is laid at times upon that which the pupil will get when he becomes an accepted disciple or probationer. I tell you here, in all earnestness, that he will not take these desired steps until he has somewhat to give, and something to add that will increase the beauty of the group, that will add to the available equipment that the Master seeks for the helping of the race, and that will increase the richness of the group colouring. This can be brought about in two ways that mutually interact:—

3. Điều thứ ba mà người dự bị phải làm là tự trang bị về mặt cảm xúc và trí tuệ, và nhận ra rồi chứng minh rằng y có điều gì đó để truyền đạt cho nhóm mà y được kết liên một cách huyền bí. Hãy suy ngẫm điều này: đôi khi người ta đặt quá nhiều nhấn mạnh vào điều mà người học trò sẽ nhận được khi y trở thành một đệ tử được chấp nhận hay một người dự bị. Tôi nói với các bạn ở đây, với tất cả sự nghiêm túc, rằng y sẽ không bước những bước mong muốn ấy cho đến khi y có điều gì đó để cho đi, và có điều gì đó để thêm vào nhằm gia tăng vẻ đẹp của nhóm, nhằm bổ sung vào những phương tiện sẵn có mà Chân sư tìm kiếm để trợ giúp nhân loại, và nhằm làm tăng sự phong phú của sắc thái nhóm. Điều này có thể được đem lại theo hai cách tương tác lẫn nhau:—

a. By the definite equipping, through study and application, of the content of the emotional and mental bodies.

a. Bằng sự trang bị xác định, qua học tập và áp dụng, nội dung của thể cảm dục và thể trí.

b. By the utilisation of that equipment in service to the race on the physical plane, thereby demonstrating to the eyes of the watching Hierarchy that the pupil has somewhat to give. He must show that his one desire is to be a benefactor and [270] to serve, rather than to grasp and acquire for himself. This life of acquisition for the purposes of giving must have for incentive the ideals touched in meditation, and for inspiration those downpourings from the higher mental levels and from the buddhic levels which are the result of occult meditation.

b. Bằng việc sử dụng sự trang bị ấy trong phụng sự nhân loại trên cõi hồng trần, nhờ đó chứng tỏ trước mắt Thánh Đoàn đang quan sát rằng người học trò có điều gì đó để cho đi. Y phải cho thấy rằng ước muốn duy nhất của y là trở thành một người ban ơn và [270] phụng sự, hơn là chụp lấy và tích lũy cho chính y. Đời sống tích lũy nhằm mục đích cho đi này phải lấy các lý tưởng được chạm đến trong tham thiền làm động lực, và lấy những lần tuôn đổ từ các tầng thượng trí và từ các tầng Bồ đề—là kết quả của tham thiền huyền bí—làm cảm hứng.

When these three results are brought about, and when the high vibration touched is more frequent and stable, then the probationer takes the next step forward and becomes an accepted disciple.

Khi ba kết quả này được đem lại, và khi rung động cao được chạm đến trở nên thường xuyên và ổn định hơn, thì người dự bị tiến bước kế tiếp và trở thành một đệ tử được chấp nhận.

Accepted Discipleship.—Địa vị đệ tử được chấp nhận.

The second period, wherein a man is an accepted disciple, is perhaps one of the most difficult in a man’s whole period of lives. It is made so in several ways:—

Giai đoạn thứ hai, khi một người là một đệ tử được chấp nhận, có lẽ là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong toàn bộ chu kỳ nhiều kiếp sống của một người. Nó trở nên như vậy theo nhiều cách:—

He is definitely a part of the Master’s group, and is within the consciousness of the Master at all times, being kept within His aura. This involves the steady holding of a high vibration. I would have you ponder on what the effect of this would be. To hold this vibration is at all times a difficult thing to do; it frequently involves an intensification of all that subsists within a man’s nature, and may lead (especially at first) to curious demonstration. Yet, if ever a man is to be able to hold the force that is the result of the application of the Rod of Initiation, he has to demonstrate his ability to do so at an earlier stage, and be able to hold himself stably and to move steadily forward when subjected to the intensification of vibration that comes from the Master.

Y chắc chắn là một phần của nhóm của Chân sư, và luôn luôn ở trong tâm thức của Chân sư, được giữ trong hào quang của Ngài. Điều này đòi hỏi phải giữ vững một rung động cao. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về tác động của điều này sẽ ra sao. Giữ được rung động này luôn luôn là một việc khó; nó thường xuyên kéo theo sự tăng cường của mọi điều đang tồn tại trong bản chất của một người, và có thể dẫn đến những biểu hiện kỳ lạ (đặc biệt lúc ban đầu). Tuy nhiên, nếu một người muốn đến lúc có thể giữ được mãnh lực là kết quả của việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo, thì y phải chứng tỏ khả năng làm điều đó ở một giai đoạn sớm hơn, và có thể tự giữ mình ổn định và tiến bước vững vàng khi chịu sự tăng cường rung động phát xuất từ Chân sư.

He has to discipline himself so that nothing can enter into his consciousness that could in any way harm the group to which he belongs, or be antagonistic to the Master’s vibration. If I might so express it, so as to give [271] you some conception of my meaning, when he first forms part of the group enclosed in the Master’s aura, he is kept on the periphery of that aura until he has learnt to throw off automatically, and to reject immediately, every thought and desire unworthy of the Self and thus harmful to the group. Until he has learnt to do this he cannot advance into a closer relationship, but must remain where he can be automatically shut off. But gradually he purifies himself still more, gradually he develops group consciousness and thinks in group terms of service, gradually his aura takes on more and more the colouring of his Master’s aura, till he blends and has earned the right to be gathered closer to his Master’s Heart. Later I will explain the technical meaning of this phrase, when dealing with the work of the Master with the pupil. Suffice it to say, that as the term of “accepted disciple” progresses (and it varies in different cases) the disciple advances ever closer to the heart of the group, and finds his own place and functional activity in that body corporate. That is the secret: the finding of one’s place,—not so much one’s place upon the ladder of evolution (for that is approximately known), but in service. This is of more importance than is realised, for it covers the period which, at the end, will definitely demonstrate which path a man will follow after the fifth initiation.

Y phải tự kỷ luật để không điều gì có thể đi vào tâm thức của y mà có thể, theo bất kỳ cách nào, gây hại cho nhóm mà y thuộc về, hoặc đối nghịch với rung động của Chân sư. Nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy để cho [271] các bạn có đôi chút khái niệm về ý Tôi, thì khi y lần đầu trở thành một phần của nhóm được bao bọc trong hào quang của Chân sư, y được giữ ở chu vi của hào quang ấy cho đến khi y học được cách tự động gạt bỏ, và lập tức khước từ, mọi tư tưởng và dục vọng không xứng đáng với Chân Ngã và do đó gây hại cho nhóm. Chừng nào y chưa học được điều này thì y không thể tiến vào một mối quan hệ gần gũi hơn, mà phải ở lại nơi y có thể bị tự động cách ly. Nhưng dần dần y thanh lọc mình hơn nữa, dần dần y phát triển tâm thức nhóm và suy nghĩ từ quan điểm phụng sự của nhóm, dần dần hào quang của y mang ngày càng nhiều sắc thái của hào quang Chân sư của y, cho đến khi y hòa nhập và giành được quyền được quy tụ gần hơn vào Trái Tim của Chân sư của y. Về sau Tôi sẽ giải thích ý nghĩa kỹ thuật của cụm từ này, khi bàn đến công việc của Chân sư đối với người học trò. Chỉ cần nói rằng, khi thời kỳ “đệ tử được chấp nhận” tiến triển (và nó thay đổi tùy từng trường hợp) thì đệ tử tiến ngày càng gần trái tim của nhóm, và tìm ra vị trí cùng hoạt động chức năng của chính mình trong cơ thể tập thể ấy. Đó là bí mật: tìm ra vị trí của mình,—không hẳn là vị trí của mình trên chiếc thang tiến hoá (vì điều đó xấp xỉ đã biết), mà là trong phụng sự. Điều này quan trọng hơn người ta tưởng, vì nó bao trùm giai đoạn mà, vào lúc kết thúc, sẽ chắc chắn chứng tỏ một người sẽ đi theo con đường nào sau lần điểm đạo thứ năm.

Sonship to the Master.—Địa vị làm Con của Chân sư.

We now come to the time when the disciple moves on to the much coveted position of a “Son of the Master.” He is then a part consciously and at all times of the Master’s consciousness. The interplay between the Master and disciple is being rapidly perfected, and the disciple can now consciously and at will link up with the Master and ascertain His thoughts. He can enter into His plans, desires [272] and will. This he has won by the right of similarity of vibration, and because the shutting off process (necessitated earlier by discordant vibration) is practically superseded; the disciple has so purified himself that his thoughts and desires cause no disquietude to the Master, and no contrary vibration to the group. He has been tried and not been found wanting. His life of service in the world is more concentrated and perfected, and he is daily developing his power to give, and increasing his equipment. All this concerns his relationship to some Master and to some one group soul. It is not dependent upon his taking initiation. Initiation is a technical matter and can be expressed in terms of esoteric science. A man can take initiation and yet not be a “son of a Master.” Discipleship is a personal relationship, governed by terms of karma and affiliation, and is not dependent upon a man’s status in the Lodge. Keep this clear in your mind. Cases have been known when a man has acquired—through diligence—the technical requisites for initiation before becoming affiliated with any particular Master.

Giờ đây chúng ta đến thời điểm khi đệ tử tiến lên địa vị rất được khao khát của một “Con của Chân sư.” Khi ấy y là một phần, một cách hữu thức và mọi lúc, trong tâm thức của Chân sư. Sự tương tác giữa Chân sư và đệ tử đang nhanh chóng được hoàn thiện, và giờ đây đệ tử có thể hữu thức và theo ý muốn liên kết với Chân sư và biết được tư tưởng của Ngài. Y có thể đi vào các kế hoạch, các ước muốn [272] và ý chí của Ngài. Điều này y đã giành được nhờ quyền lợi của sự tương đồng rung động, và vì tiến trình cách ly (trước kia cần thiết do rung động bất hòa) hầu như đã được thay thế; đệ tử đã thanh lọc mình đến mức tư tưởng và dục vọng của y không gây bất an cho Chân sư, và không tạo rung động trái nghịch đối với nhóm. Y đã được thử thách và không bị thấy là thiếu sót. Đời sống phụng sự của y trong thế gian tập trung hơn và hoàn thiện hơn, và hằng ngày y đang phát triển quyền năng cho đi, và gia tăng sự trang bị của mình. Tất cả điều này liên quan đến mối quan hệ của y với một Chân sư nào đó và với một hồn nhóm nào đó. Nó không phụ thuộc vào việc y thọ nhận điểm đạo. Điểm đạo là một vấn đề kỹ thuật và có thể được diễn đạt theo các thuật ngữ của khoa học huyền môn. Một người có thể thọ nhận điểm đạo mà vẫn không là một “con của một Chân sư.” Địa vị đệ tử là một mối quan hệ cá nhân, được chi phối bởi các điều khoản nghiệp quả và sự kết liên, và không phụ thuộc vào địa vị của một người trong Thánh đoàn. Hãy giữ điều này rõ ràng trong thể trí của các bạn. Đã có những trường hợp khi một người đã đạt được—nhờ sự chuyên cần—những điều kiện kỹ thuật cần thiết cho điểm đạo trước khi được kết liên với bất kỳ Chân sư đặc thù nào.

This later relationship of “son” to some Master has a peculiar sweetness all its own, and carries with it certain privileges. The disciple can then lift some of the burden off his Master’s shoulders, and relieve Him of some of His responsibilities, thereby setting Him free for more extended work. Hence the emphasis laid on service, for it is only as a man serves that he advances. It is the keynote of the vibration of the second abstract level. The Master at this period will confer with His “Son” and plan the work to be done upon their united point of view. In this way He will develop His pupil’s discrimination and judgment, and lighten His own load along certain lines, thus setting Himself free for other important work. [273]

Mối quan hệ muộn hơn này của “con” đối với một Chân sư nào đó có một sự ngọt ngào đặc thù của riêng nó, và mang theo những đặc ân nhất định. Khi ấy đệ tử có thể gánh bớt một phần gánh nặng khỏi vai Chân sư của y, và giảm nhẹ cho Ngài một phần trách nhiệm của Ngài, nhờ đó giải phóng Ngài cho công việc rộng lớn hơn. Do đó mới có sự nhấn mạnh đặt lên phụng sự, vì chỉ khi một người phụng sự thì y mới tiến bộ. Đó là chủ âm của rung động ở tầng trừu tượng thứ hai. Trong giai đoạn này Chân sư sẽ hội ý với “Con” của Ngài và hoạch định công việc cần làm dựa trên quan điểm hợp nhất của cả hai. Bằng cách này Ngài sẽ phát triển năng lực phân biện và phán đoán của người học trò của Ngài, và làm nhẹ gánh của chính Ngài theo một số tuyến, nhờ đó giải phóng tự Ngài cho những công việc quan trọng khác. [273]

The final period of those under discussion can have but little submitted about it. It covers the period when a man is mastering the final stages of the Path and is entering into closer and closer touch with his group and with the Hierarchy. He is not only vibrating in tune with his group and with his Master, but is beginning now to gather out his own people, and form a group himself. This group will be at first only on emotional and physical levels and on the lower mental. After the fifth initiation he will enclose within his aura these groups and those on egoic levels who are his own. This in no way prevents his being one with his Master and group, but the method of interblending is one of the secrets of initiation.

Giai đoạn cuối cùng của những điều đang được bàn đến thì chỉ có thể trình bày rất ít. Nó bao trùm thời kỳ khi một người đang làm chủ các giai đoạn cuối của Con Đường và đang đi vào sự tiếp xúc ngày càng gần gũi với nhóm của y và với Thánh Đoàn. Y không chỉ rung động hòa điệu với nhóm của y và với Chân sư của y, mà giờ đây còn bắt đầu quy tụ những người của chính y, và tự hình thành một nhóm. Nhóm này lúc đầu sẽ chỉ ở các tầng cảm dục và hồng trần và ở hạ trí. Sau lần điểm đạo thứ năm y sẽ bao bọc trong hào quang của y các nhóm này và cả những nhóm ở các tầng chân ngã vốn là của y. Điều này không hề ngăn cản việc y là một với Chân sư và nhóm của Ngài, nhưng phương pháp hòa trộn lẫn nhau là một trong những bí mật của điểm đạo.

All this, coupled with what has been earlier imparted, will give you some idea of the rights and powers acquired on the Probationary Path and on the Path of Initiation. The means of development are ever the same:—occult meditation and service; the inner life of concentration and the outer life of practice; the inner ability to contact the higher, and the outer ability to express that faculty in terms of holy living; the inner irradiation from the Spirit, and the outer shining before men.

Tất cả điều này, kết hợp với những gì đã được truyền đạt trước đây, sẽ cho các bạn một vài ý niệm về các quyền lợi và quyền năng đạt được trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Điểm Đạo. Các phương tiện phát triển luôn luôn như nhau:—tham thiền huyền bí và phụng sự; đời sống nội tâm của sự tập trung và đời sống bên ngoài của thực hành; năng lực nội tâm để tiếp xúc với cái cao hơn, và năng lực bên ngoài để biểu lộ năng lực ấy bằng các thuật ngữ của đời sống thánh thiện; sự chiếu rọi nội tâm từ tinh thần, và sự tỏa sáng bên ngoài trước loài người.

September 17th, 1920.

Ngày 17 tháng 9, 1920.

September 17th, 1920. 5:30 pm.

Ngày 17 tháng 9, 1920. 5:30 chiều.

I awoke you early this morning, brother of mine, so as to guarantee your taking my dictation with a mind free from the hindrances of lesser world vibration. That which I have for communication is not of great length but accuracy is desired and capacity to take with facility my dictation.

Tôi đã đánh thức các bạn sớm sáng nay, huynh đệ của Tôi, để bảo đảm các bạn ghi chép lời Tôi đọc với một thể trí không bị những chướng ngại của rung động thế giới thấp hơn cản trở. Điều mà Tôi cần truyền đạt không dài, nhưng cần sự chính xác và khả năng tiếp nhận lời Tôi đọc một cách dễ dàng.

……The subject that we have for the past few days been studying, though not so technical as some of the earlier imparted data, yet carries with it a vibration that will make this eighth letter one of those with the most potent appeals in the series. We have dealt with the facts as to the Masters and Who They are, and Their place in the scheme of things, and we have touched briefly upon what access to a Master entails from the standpoint of a pupil. We have seen that that access is a gradual process and carries a man from an occasional outer contact with [274] a Master and His group to a position of the closest intimacy, and to an attitude that places the pupil within the aura and close to the heart of his Teacher. Today we will consider for a while what this gradual changing of position has entailed on the part of the Master and what it has necessitated on His side.

……Chủ đề mà trong vài ngày qua chúng ta đã nghiên cứu, tuy không kỹ thuật như một số dữ liệu đã truyền đạt trước đó, nhưng lại mang theo một rung động sẽ khiến bức thư thứ tám này trở thành một trong những bức thư có sức kêu gọi mạnh mẽ nhất trong loạt thư. Chúng ta đã đề cập đến các sự kiện về các Chân sư và Các Ngài là ai, và vị trí của Các Ngài trong hệ thống sự vật, và chúng ta đã chạm đến một cách ngắn gọn điều mà việc tiếp cận một Chân sư hàm ý từ quan điểm của một người học trò. Chúng ta đã thấy rằng sự tiếp cận ấy là một tiến trình dần dần và đưa một người từ sự tiếp xúc bên ngoài thỉnh thoảng với [274] một Chân sư và nhóm của Ngài đến một vị thế thân mật gần gũi nhất, và đến một thái độ đặt người học trò ở trong hào quang và gần trái tim của huấn sư của y. Hôm nay chúng ta sẽ xét trong một lúc điều mà sự thay đổi vị trí dần dần này đã hàm ý gì về phía Chân sư và nó đã đòi hỏi điều gì từ phía Ngài.

The relationship of Master and pupil.—Mối quan hệ giữa Chân sư và người học trò.

As you have frequently been told, the attention of a Master is attracted to a man by the brilliance of the indwelling light. When that light has reached a certain intensity, when the bodies are composed of a certain grade of matter, when the aura has attained a certain hue and when the vibration has reached a specific rate and measure, and when a man’s life commences to sound occultly in the three worlds (which sound is to be heard through the life of service), some one particular Master begins to test him out by the application of some higher vibration, and by the study of his reaction to that vibration. The choice of a pupil by a Master is governed by past karma and by old association, by the ray on which they both may be found, and by the need of the hour. The Master’s work (as much of it as may wisely be made exoteric) is varied and interesting, and is based on a scientific comprehension of human nature. What is it that a Master has to do with a pupil? By enumerating the chief things to be done we may get some idea of the scope of His work:—

Như các bạn thường xuyên được bảo, sự chú ý của một Chân sư bị thu hút đến một người bởi sự rực rỡ của ánh sáng nội tại. Khi ánh sáng ấy đã đạt đến một cường độ nhất định, khi các thể được cấu thành bởi một cấp độ vật chất nhất định, khi hào quang đã đạt đến một sắc độ nhất định và khi rung động đã đạt đến một tốc độ và mức độ xác định, và khi đời sống của một người bắt đầu vang lên một cách huyền bí trong ba cõi thấp (mà âm vang ấy được nghe qua đời sống phụng sự), thì một Chân sư đặc thù nào đó bắt đầu thử nghiệm y bằng việc áp dụng một rung động cao hơn nào đó, và bằng việc khảo sát phản ứng của y đối với rung động ấy. Việc một Chân sư chọn một người học trò được chi phối bởi nghiệp quả quá khứ và bởi mối liên hệ xưa, bởi cung mà cả hai cùng có thể thuộc về, và bởi nhu cầu của thời điểm. Công việc của Chân sư (trong chừng mực có thể một cách khôn ngoan được làm cho ngoại môn) thì đa dạng và thú vị, và dựa trên một sự thấu hiểu khoa học về bản chất con người. Một Chân sư phải làm gì với một người học trò? Bằng cách liệt kê những điều chủ yếu cần làm, chúng ta có thể có một vài ý niệm về phạm vi công việc của Ngài:—

He has to accustom the pupil to raise his rate of vibration till he can continuously carry a high one, and then assist him until that high vibration becomes the stable measure of the pupil’s bodies.

Ngài phải làm cho người học trò quen với việc nâng tốc độ rung động của y cho đến khi y có thể liên tục mang một rung động cao, và rồi trợ giúp y cho đến khi rung động cao ấy trở thành thước đo ổn định của các thể của người học trò.

He has to assist the pupil to effect the transfer of polarisation from the lower three atoms of the Personality to the higher ones of the Spiritual Triad. [275]

Ngài phải trợ giúp người học trò thực hiện sự chuyển dịch phân cực từ ba nguyên tử thấp của phàm ngã sang các nguyên tử cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần. [275]

He has to watch over the work accomplished by the pupil whilst making the channel between higher and lower mind, whilst he builds and employs this channel (the antahkarana). This channel eventually supersedes the causal body as a means of communication between the higher and the lower. The causal body is itself eventually done away with when the pupil takes the fourth initiation and can freely create his own body of manifestation.

Ngài phải theo dõi công việc mà người học trò hoàn thành trong khi tạo lập kênh nối giữa thượng trí và hạ trí, trong khi y xây dựng và sử dụng kênh này (antahkarana). Kênh này rốt cuộc thay thế thể nguyên nhân như một phương tiện giao thông giữa cái cao và cái thấp. Bản thân thể nguyên nhân cuối cùng cũng bị loại bỏ khi người học trò thọ nhận lần điểm đạo thứ tư và có thể tự do tạo ra thể biểu lộ của chính y.

He definitely assists at the vivification of the various centres and their correct awakening, and He later aids the pupil to work consciously through those centres, and to carry the circulating fire in right geometrical progression from the base of the spine to the head centre.

Ngài chắc chắn trợ giúp trong việc tiếp sinh lực cho các trung tâm khác nhau và sự thức tỉnh đúng đắn của chúng, và về sau Ngài giúp người học trò làm việc một cách hữu thức qua các trung tâm ấy, và đưa ngọn lửa lưu chuyển theo tiến trình hình học đúng đắn từ đáy cột sống lên trung tâm đỉnh đầu.

He superintends the work of the pupil on different planes and makes records of the extent of the work accomplished, and the far-reaching effect of the spoken word as enunciated by the pupil. This is (putting it occultly) the effect on the inner planes of the note of the pupil’s exoteric life.

Ngài giám sát công việc của học trò trên các cõi khác nhau và ghi chép mức độ công việc đã hoàn thành, cùng ảnh hưởng sâu rộng của lời nói được học trò phát biểu. Đây là (nói theo cách huyền bí) tác động trên các cõi nội tại của âm điệu trong đời sống ngoại môn của học trò.

He enlarges the consciousness of the pupil in various ways, and develops his capacity to include and contact other rates of vibration than the human, to understand the consciousness of other evolutions than the human, and move with facility in other spheres than the earth sphere.

Ngài mở rộng tâm thức của học trò bằng nhiều cách, và phát triển năng lực của y để bao gồm và tiếp xúc với những nhịp độ rung động khác ngoài nhịp độ của nhân loại, để thấu hiểu tâm thức của những tiến hoá khác ngoài tiến hoá nhân loại, và di chuyển một cách dễ dàng trong những khối cầu khác ngoài khối cầu địa cầu.

His immediate goal in working with the pupil is to prepare him for the first initiation. This takes place when the capacity of the pupil to hold a certain rate of vibration for a specific length of time is developed, the length of time being that wherein he must stand before the Lord of the first two initiations. This is accomplished by a gradual raising of the vibration at few and stated intervals, and later more frequently, until the pupil can vibrate with greater ease and comfort to the vibration of his Master, and can hold the vibration for an ever increasing [276] length of time. When he can hold it for this period (the length of which is of course one of the secrets of the first initiation) he is subjected to the application of a still higher vibration which—when held—will enable him to stand before the Great Lord for a length of time sufficient to permit of the initiation ceremony. The application then of the Rod of Initiation effects something that stabilises vibration, and makes it easier to progress in the task of vibrating to the higher measure of the subtler planes.

Mục tiêu trực tiếp của Ngài khi làm việc với học trò là chuẩn bị y cho lần điểm đạo thứ nhất. Điều này diễn ra khi năng lực của học trò giữ được một nhịp độ rung động nhất định trong một khoảng thời gian xác định được phát triển, khoảng thời gian ấy là khoảng mà y phải đứng trước Chúa Tể của hai lần điểm đạo đầu tiên. Điều này được thực hiện bằng việc nâng dần rung động theo những khoảng cách ít ỏi và đã định, và về sau thường xuyên hơn, cho đến khi học trò có thể rung động dễ dàng và thoải mái hơn theo rung động của Chân sư của y, và có thể giữ rung động ấy trong một khoảng thời gian [276] ngày càng tăng. Khi y có thể giữ được trong khoảng thời gian này (mà độ dài của nó dĩ nhiên là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất), y sẽ chịu sự áp dụng của một rung động còn cao hơn, và—khi giữ được—sẽ giúp y có thể đứng trước Đức Chúa Tể Vĩ Đại trong một khoảng thời gian đủ để cho phép nghi lễ điểm đạo. Khi ấy, việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo tạo ra một điều gì đó làm ổn định rung động, và khiến việc tiến bộ trong nhiệm vụ rung động theo mức độ cao hơn của các cõi vi tế trở nên dễ dàng hơn.

He develops the capacity of the pupil to work in group formation. He studies his action and interaction on his own affiliated group. He works with the pupil’s causal body and its expansion and development, and teaches the pupil to understand the law of his own being and through that understanding brings him to a comprehension of the macrocosm.

Ngài phát triển năng lực của học trò để làm việc trong đội hình nhóm. Ngài nghiên cứu hành động và sự tương tác của y đối với nhóm liên kết của chính y. Ngài làm việc với thể nguyên nhân của học trò cùng sự mở rộng và phát triển của nó, và dạy học trò thấu hiểu định luật của chính bản thể y, và qua sự thấu hiểu ấy đưa y đến chỗ lĩnh hội đại thiên địa.

Now all these various aspects of the Master’s work (and these are but a few of the points which might be considered) might be dealt with at length and would prove of illuminating interest to the reader. All the above paragraphs could be extended and prove of exceeding interest. But the main point I seek to make here is in connection with the earlier stages of this work, before the pupil is admitted into the later stages of close intimacy with his Master. The Master during this period works with his disciple principally:—

Nay tất cả những phương diện khác nhau này trong công việc của Chân sư (và đây chỉ là một vài điểm có thể được xét đến) có thể được bàn đến dài dòng và sẽ tỏ ra có tính soi sáng đầy hứng thú đối với độc giả. Tất cả các đoạn trên có thể được triển khai thêm và sẽ vô cùng hấp dẫn. Nhưng điểm chính Tôi muốn nêu ở đây là liên quan đến các giai đoạn sớm của công việc này, trước khi học trò được thừa nhận vào các giai đoạn sau của sự thân cận mật thiết với Chân sư của y. Trong thời kỳ này, Chân sư làm việc với đệ tử của Ngài chủ yếu:—

a. At night, when he is out of the physical body.

a. Ban đêm, khi y ra khỏi thể xác.

b. During the periods when the disciple is meditating.

b. Trong những thời kỳ khi đệ tử đang tham thiền.

According to the success of the meditation, according to the ability of the student to shut off the lower and contact the higher, so will come the opportunity of the Master to accomplish successfully the scientific definite work that [277] needs His attention. Students of meditation would be astounded and perhaps discouraged, could they realise how seldom they provide the right conditions through meditation which will enable their watching Teacher to bring about certain effects. By the frequency of the student’s ability to do this comes indication of progress, and the possibility of carrying him on another step. Emphasise this point in teaching, for it carries with it an incentive to greater diligence and application. If the pupil himself on his side provides not the just conditions, the Master’s hands are tied and He can do but little. Self-effort is the key to progress, coupled to conscious comprehending application to the work laid down. When that effort is made with perseverance, then comes the opportunity of the Master to carry out His side of the work.

Tuỳ theo sự thành công của việc tham thiền, tuỳ theo khả năng của đạo sinh trong việc khép lại cái thấp và tiếp xúc cái cao, cơ hội của Chân sư để hoàn thành thành công công việc khoa học xác định mà [277] cần đến sự lưu tâm của Ngài sẽ đến tương ứng như vậy. Những đạo sinh tham thiền sẽ kinh ngạc và có lẽ nản lòng, nếu họ có thể nhận ra rằng họ hiếm khi tạo được những điều kiện đúng đắn qua tham thiền, nhờ đó vị huấn sư đang dõi theo họ có thể tạo ra những tác dụng nhất định. Từ tần suất đạo sinh có thể làm được điều này mà có dấu hiệu tiến bộ, và khả năng đưa y tiến thêm một bước nữa. Hãy nhấn mạnh điểm này trong giảng dạy, vì nó mang theo một động lực thúc đẩy sự siêng năng và chuyên cần lớn hơn. Nếu học trò, về phía mình, không cung cấp những điều kiện thích đáng, thì tay Chân sư bị trói buộc và Ngài chỉ có thể làm được rất ít. Tự nỗ lực là chìa khoá của tiến bộ, đi đôi với sự áp dụng có ý thức và thấu hiểu đối với công việc đã được đặt ra. Khi nỗ lực ấy được thực hiện với sự kiên trì, thì cơ hội đến để Chân sư thực hiện phần việc của Ngài.

As the pupil meditates with occult accuracy he brings his three lower bodies into alignment and—with emphasis I reiterate—only as alignment is effected is the Master able to work with the bodies of the pupil. If naught else is effected by the publication of these letters except the intensification of the desire to meditate with correctness, the object in view will be largely attained. In that effort the right conditions between pupil and Master, and a correct interrelation will be brought about. Meditation provides these conditions, when rightly followed. It prepares the field for labour and for work.

Khi học trò tham thiền với sự chính xác huyền bí, y đưa ba thể thấp của mình vào trạng thái chỉnh hợp và—Tôi nhắc lại với sự nhấn mạnh—chỉ khi sự chỉnh hợp được thiết lập thì Chân sư mới có thể làm việc với các thể của học trò. Nếu việc công bố những bức thư này không đạt được gì khác ngoài việc làm tăng mạnh khát vọng tham thiền cho đúng, thì mục tiêu nhắm đến sẽ phần lớn được thành tựu. Trong nỗ lực ấy, những điều kiện đúng đắn giữa học trò và Chân sư, cùng một mối tương quan đúng đắn sẽ được thiết lập. Tham thiền cung cấp những điều kiện ấy, khi được thực hành đúng. Nó chuẩn bị cánh đồng cho lao động và cho công việc.

Let us briefly consider the various periods as enumerated yesterday when considering the pupil’s relationship to a Master.

Hãy vắn tắt xét các thời kỳ khác nhau như đã liệt kê hôm qua khi bàn về mối liên hệ của học trò với một Chân sư.

In the period when the man is under probation and supervision……… with a view to seeing his application and ultimate suitability for the position of accepted disciple, he is left almost entirely to himself and is only conscious of the attention of the Master at rare and irregular intervals. His physical brain is not often receptive to the higher contact, and though his Ego [278] is fully aware of his position on the Path, not yet is the physical brain in a condition to know. But on this point no hard and fast rule can be laid down. When a man has been for several lives making contacts with his Ego or with his Master he may be aware of it. Individuals differ so much that no universal rule in detail can be formulated. As you know, the Master makes a small image of the probationer, which image is stored in certain subterranean centres in the Himalayas. The image is magnetically linked with the probationer, and shows all the fluctuations of his nature. Being composed of emotion and mental matter it pulsates with every vibration of those bodies. It shows their predominating hues, and by studying it the Master can rapidly gauge the progress made and judge when the probationer may be admitted into a closer relationship. The Master views the image at stated intervals, rarely at first, as the progress made in the beginning stages is not so rapid, but with ever increasing frequency as the student of meditation comprehends more readily and more consciously co-operates. The Master when inspecting the images works with them, and through their means effects certain results. Just as later the Rod of Initiation is applied to the bodies and centres of the initiate, so at certain times the Master applies certain contacts to the images and via them stimulates the bodies of the pupil.

Trong thời kỳ khi người ấy đang ở trên Con Đường Dự Bị và dưới sự giám sát……… nhằm xem xét sự chuyên cần của y và mức độ thích hợp rốt ráo của y cho vị trí đệ tử được chấp nhận, y hầu như được để mặc cho chính mình và chỉ hiếm hoi, không đều đặn, mới ý thức được sự lưu tâm của Chân sư. Bộ não hồng trần của y không thường tiếp nhận được sự tiếp xúc cao hơn, và mặc dù chân ngã [278] của y hoàn toàn ý thức về vị trí của y trên Đường Đạo, bộ não hồng trần vẫn chưa ở trong tình trạng có thể biết. Tuy nhiên, về điểm này không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc. Khi một người đã trải qua nhiều kiếp sống tạo lập các tiếp xúc với chân ngã của y hoặc với Chân sư của y, y có thể ý thức được điều đó. Các cá nhân khác nhau quá nhiều đến nỗi không thể hình thành một quy luật phổ quát chi tiết. Như các bạn biết, Chân sư tạo một hình ảnh nhỏ của người dự bị, và hình ảnh ấy được cất giữ trong những trung tâm ngầm dưới đất nhất định ở dãy Hy Mã Lạp Sơn. Hình ảnh ấy được nối kết từ tính với người dự bị, và biểu lộ mọi dao động trong bản chất của y. Vì được cấu tạo từ vật chất cảm dục và vật chất trí, nó rung động theo mọi rung động của các thể ấy. Nó cho thấy các sắc thái trội vượt của chúng, và bằng cách nghiên cứu nó, Chân sư có thể nhanh chóng đo lường tiến bộ đã đạt và phán đoán khi nào người dự bị có thể được thừa nhận vào một mối liên hệ gần gũi hơn. Chân sư quan sát hình ảnh theo những khoảng thời gian đã định, lúc đầu hiếm khi, vì tiến bộ trong các giai đoạn khởi đầu không nhanh đến thế, nhưng với tần suất ngày càng tăng khi đạo sinh tham thiền lĩnh hội dễ dàng hơn và hợp tác một cách ý thức hơn. Khi kiểm tra các hình ảnh, Chân sư làm việc với chúng, và qua phương tiện ấy tạo ra những kết quả nhất định. Cũng như về sau Thần Trượng Điểm đạo được áp dụng lên các thể và các trung tâm của điểm đạo đồ, thì vào những thời điểm nhất định Chân sư áp dụng những tiếp xúc nhất định lên các hình ảnh và qua chúng kích thích các thể của học trò.

A time comes when the Master sees, from His inspection of the image, that the needed rate of vibration can be held, that the required eliminations have been made, and a certain depth of colour attained. He can then take the risk (for risk it is) and admit the probationer within the periphery of His own aura. He becomes then an accepted disciple. [279]

Đến một lúc, Chân sư thấy, qua việc kiểm tra hình ảnh, rằng nhịp độ rung động cần thiết có thể được giữ, rằng những sự loại trừ đòi hỏi đã được thực hiện, và một độ đậm nhất định của màu sắc đã đạt được. Khi ấy Ngài có thể chấp nhận rủi ro (vì đó là rủi ro) và cho phép người dự bị bước vào trong chu vi hào quang của chính Ngài. Khi đó y trở thành một đệ tử được chấp nhận. [279]

During the period wherein a man is an accepted disciple the work done by the Master is of very real interest. The pupil is assigned to special classes conducted by more advanced disciples under the supervision of the Master, and though he may attend still the larger general classes in the Ashram (the Master’s hall for teaching) he is subjected to a more intensified training………. Some day later when you are in a position to give definite papers for the benefit of the ES students (which time is not yet) I will enlarge upon the work done by a pupil and the aspects also of the Master’s work. The time is not ripe. Hints only may here be given.

Trong thời kỳ khi một người là một đệ tử được chấp nhận, công việc do Chân sư thực hiện là điều rất đáng quan tâm. Học trò được phân vào những lớp đặc biệt do các đệ tử tiến bộ hơn đảm trách dưới sự giám sát của Chân sư, và tuy y vẫn có thể tham dự các lớp chung lớn hơn trong ashram (giảng đường của Chân sư), y chịu một sự huấn luyện được tăng cường hơn………. Một ngày nào đó về sau, khi các bạn ở vào vị thế có thể đưa ra những bài viết xác định vì lợi ích của các đạo sinh ES (mà thời điểm ấy chưa đến), Tôi sẽ triển khai thêm về công việc do một học trò thực hiện và cả các phương diện trong công việc của Chân sư. Thời cơ chưa chín. Ở đây chỉ có thể đưa ra những gợi ý.

The Master works in the earlier stages in four main ways:—

Chân sư làm việc trong các giai đoạn sớm theo bốn cách chính:—

a. At intervals, and when the progress of the pupil justifies it, He “gathers the pupil to His Heart.” This is an esoteric statement of a very interesting experience to which the pupil will be subjected. At the close of some class in the ashram, or during some specially successful meditation wherein the pupil has reached a certain rate of vibration, the Master will gather him close to Himself, bringing him from the periphery of His aura to the centre of His consciousness. He thereby gives him a tremendous temporary expansion of consciousness, and enables him to vibrate at an unusual rate for him.

a. Theo từng khoảng thời gian, và khi sự tiến bộ của học trò biện minh cho điều đó, Ngài “gom học trò vào Trái Tim Ngài.” Đây là một phát biểu nội môn về một kinh nghiệm rất thú vị mà học trò sẽ được trải qua. Vào cuối một lớp học nào đó trong ashram, hoặc trong một lần tham thiền đặc biệt thành công khi học trò đã đạt đến một nhịp độ rung động nhất định, Chân sư sẽ gom y lại gần chính Ngài, đưa y từ chu vi hào quang của Ngài vào trung tâm tâm thức của Ngài. Nhờ đó Ngài ban cho y một sự mở rộng tâm thức tạm thời vô cùng mạnh mẽ, và giúp y rung động ở một nhịp độ khác thường đối với y.

Hence the need for meditation. The reward of such an experience far outweighs any of the strenuous parts of the work.

Do đó mới cần tham thiền. Phần thưởng của một kinh nghiệm như thế vượt xa bất kỳ phần nào căng thẳng trong công việc.

b. The Master works upon the bodies of his pupil with colour, and brings about results in those bodies that enable the pupil to make more rapid progress. Now you will see why…… in the ES school so much emphasis is laid upon colour. It is not only because it holds the secret of form and manifestation (which secret must be known by the occultist) but the emphasis is laid thus in order that he may consciously co-operate in the work of the [280] Master on his bodies, and intelligently follow the effects brought about. Ponder on this.

b. Chân sư tác động lên các thể của học trò bằng màu sắc, và tạo ra những kết quả trong các thể ấy giúp học trò tiến bộ nhanh hơn. Nay các bạn sẽ thấy vì sao…… trong trường ES người ta nhấn mạnh rất nhiều vào màu sắc. Không chỉ vì nó nắm giữ bí mật của hình tướng và sự biểu hiện (một bí mật mà nhà huyền bí học phải biết), mà sự nhấn mạnh còn được đặt như vậy để y có thể hợp tác một cách ý thức trong công việc của [280] Chân sư trên các thể của y, và theo dõi một cách thông minh những tác dụng được tạo ra. Hãy suy ngẫm về điều này.

c. At stated intervals the Master takes His pupils, and enables them to contact other evolutions, such as the great angels and devas, the lesser builders and the sub-human evolutions. This can be safely done by the pupil through the protective effect of the Master’s aura. Later, when himself an initiate, the pupil will be taught how to protect himself and to make his own contacts.

c. Theo những khoảng thời gian đã định, Chân sư đưa các học trò của Ngài đi, và giúp họ tiếp xúc với các tiến hoá khác, như các thiên thần và chư thiên lớn, các vị tiểu kiến tạo và các tiến hoá dưới nhân loại. Điều này có thể được học trò thực hiện một cách an toàn nhờ tác dụng bảo hộ của hào quang Chân sư. Về sau, khi tự mình là một điểm đạo đồ, học trò sẽ được dạy cách tự bảo vệ và tự tạo lập các tiếp xúc của mình.

d. The Master presides over the work of stimulating the centres in the pupil’s bodies and the awakening of the inner fire. He teaches the pupil the meaning of the centres and their correct fourth dimensional rotation and in time He will bring the pupil to a point where he can consciously and with full knowledge of the law work with his centres, and bring them to a point where they can be safely stimulated by the Rod of Initiation. More on this subject is not yet possible……… (Brother of mine, may I here interpolate a personal word of advice? The need of the hour is so great, and our desire to transmit further teaching to students of meditation, that those of you who shew signs of being able to make contacts that permit of our transmitting the teaching are begged to so discipline and purify your vehicles at any cost that we may still further use you. Much may be later imparted anent the centres should you and others whom we can reach shew signs of siwe [wise?] discrimination and intuitive insight. Work, therefore, brother of old, at your own bodies, strengthening and purifying them. Mayhap the time will then come when further light upon this matter may be safely communicated, for in the centres lies hid the secret and in their wise development cometh the awakening of the powers of the Spirit and the rounding out of the 3-fold man.)

d. Chân sư chủ trì công việc kích thích các trung tâm trong các thể của học trò và sự thức tỉnh của nội hỏa. Ngài dạy học trò ý nghĩa của các trung tâm và sự xoay chuyển đúng đắn theo chiều kích thứ tư của chúng, và theo thời gian Ngài sẽ đưa học trò đến một điểm mà y có thể một cách ý thức và với sự hiểu biết đầy đủ về định luật mà làm việc với các trung tâm của mình, và đưa chúng đến một điểm mà chúng có thể được kích thích an toàn bởi Thần Trượng Điểm đạo. Hiện chưa thể nói thêm về đề tài này……… (Huynh đệ của Tôi, Tôi có thể xen vào đây một lời khuyên riêng tư chăng? Nhu cầu của thời khắc quá lớn, và ước muốn của chúng tôi là truyền đạt thêm giáo huấn cho các đạo sinh tham thiền, nên những ai trong các bạn cho thấy dấu hiệu có thể tạo lập các tiếp xúc cho phép chúng tôi truyền đạt giáo huấn, được khẩn cầu hãy kỷ luật và thanh lọc các vận cụ của mình bằng bất cứ giá nào để chúng tôi còn có thể sử dụng các bạn nhiều hơn nữa. Về sau có thể truyền dạy nhiều điều liên quan đến các trung tâm nếu các bạn và những người khác mà chúng tôi có thể tiếp cận cho thấy dấu hiệu của sự phân biện khôn ngoan và tuệ kiến trực giác. Vì vậy, huynh đệ của ngày xưa, hãy làm việc trên chính các thể của mình, củng cố và thanh lọc chúng. Có lẽ khi ấy thời điểm sẽ đến để có thể truyền đạt an toàn thêm ánh sáng về vấn đề này, vì trong các trung tâm có ẩn giấu bí mật và trong sự phát triển khôn ngoan của chúng sẽ đến sự thức tỉnh các quyền năng của tinh thần và sự hoàn thiện của phàm nhân tam phân.)

I have only touched in the briefest manner on a few of the things a Master has to do with His pupils. I take not up the later stages of the pupil’s progress. We lead all on by gradual steps, and as yet even accepted disciples are rare. If by meditation, service, and the purifying of the bodies, those now on probation can be led to make more rapid progress, then will come the time for the communication of further information. What use is it to give facts of which the student cannot as yet make use? We waste not time in interesting intellectually those we seek to help. When the pupil has equipped himself, when he has purified himself and is vibrating adequately, naught can withhold all knowledge from him. When he opens the [281] door and widens the channel, light and knowledge will pour in.

Tôi chỉ chạm đến, theo cách vắn tắt nhất, một vài điều mà một Chân sư phải làm đối với các học trò của Ngài. Tôi không đề cập đến các giai đoạn sau của sự tiến bộ của học trò. Chúng tôi dẫn dắt tất cả tiến lên bằng những bước dần dần, và cho đến nay ngay cả các đệ tử được chấp nhận cũng hiếm hoi. Nếu nhờ tham thiền, phụng sự, và sự thanh lọc các thể, những người hiện đang trên Con Đường Dự Bị có thể được dẫn dắt để tiến bộ nhanh hơn, thì thời điểm truyền đạt thêm thông tin sẽ đến. Có ích gì khi đưa ra những sự kiện mà đạo sinh chưa thể sử dụng? Chúng tôi không lãng phí thời gian để gây hứng thú trí tuệ cho những người mà chúng tôi tìm cách giúp đỡ. Khi học trò đã tự trang bị, khi y đã tự thanh lọc và đang rung động một cách đầy đủ, thì không gì có thể ngăn giữ mọi tri thức khỏi y. Khi y mở [281] cánh cửa và mở rộng kênh dẫn, ánh sáng và tri thức sẽ tuôn vào.

Tomorrow we will take up our third point, methods of approach to a Master via meditation; certain types of meditation will be slightly enlarged upon which will facilitate contact, but forget not that the life of objective service must keep pace with the subjective growth; only when the two are seen together and approved are the necessary steps for contact permitted. A Master is only interested in a man from the point of view of his usefulness in the group soul, and his capacity to help.

Ngày mai chúng ta sẽ nêu điểm thứ ba của chúng ta, các phương pháp tiếp cận một Chân sư qua tham thiền; một số loại tham thiền sẽ được triển khai đôi chút để tạo thuận lợi cho sự tiếp xúc, nhưng đừng quên rằng đời sống phụng sự khách quan phải theo kịp sự tăng trưởng chủ quan; chỉ khi cả hai được thấy cùng nhau và được chấp thuận thì những bước cần thiết cho sự tiếp xúc mới được cho phép. Một Chân sư chỉ quan tâm đến một người từ quan điểm về tính hữu dụng của y trong hồn nhóm, và năng lực giúp đỡ của y.

September 19th, 1920.

Ngày 19 tháng 9, 1920.

We can today take up our last two points practically simultaneously. They deal with methods of approach to the Masters and the objective effects on the three planes of human evolution. Some of the points touched upon are already well known. Others may not be so familiar to the general student……. We have, during the writing of these letters, touched briefly and in the form of wide generalities this very abstruse and occult subject of meditation. In these letters we have dealt with the student himself and what he has to bring to the endeavour; we have indicated likewise his goal—and very sketchily—the forms and methods whereby success may be achieved. We have dealt also with those aids to meditation, the Sacred Word, Colour and Sound, and have indicated that which (brooded upon in silence) may lead to the student making some discoveries for himself. Lastly we have tried to bring the Masters and Their reality nearer to the student, and thereby facilitate his approach to Them.

Hôm nay chúng ta có thể nêu hai điểm cuối cùng của chúng ta gần như đồng thời. Chúng liên quan đến các phương pháp tiếp cận các Chân sư và các tác dụng khách quan trên ba cõi của tiến hoá nhân loại. Một số điểm được chạm đến đã khá quen thuộc. Những điểm khác có thể không quen thuộc lắm đối với đạo sinh phổ thông……. Trong khi viết những bức thư này, chúng ta đã chạm đến một cách vắn tắt và dưới hình thức những khái quát rộng rãi đề tài tham thiền rất khó hiểu và huyền bí này. Trong những bức thư này, chúng ta đã bàn đến chính đạo sinh và điều y phải đem vào nỗ lực; chúng ta cũng đã chỉ ra mục tiêu của y—và rất phác lược—các hình thức và phương pháp nhờ đó có thể đạt được thành công. Chúng ta cũng đã bàn đến những trợ giúp cho tham thiền, Linh từ Thiêng Liêng, Màu Sắc và Âm Thanh, và đã chỉ ra điều mà (được ấp ủ trong im lặng) có thể dẫn đạo sinh đến chỗ tự mình thực hiện một vài khám phá. Cuối cùng, chúng ta đã cố gắng đưa các Chân sư và thực tại của Các Ngài đến gần đạo sinh hơn, và nhờ đó tạo thuận lợi cho sự tiếp cận của y đối với Các Ngài.

What now remains to be done? To indicate five things that may be looked for with conviction by the student who has endeavoured to conform his life to the lines laid down by me in these letters. If the student but provides the right conditions, if he conforms to the necessary [282] rules, if he aims always at regularity, at calmness, at that inner concentration that holds the mystery of the High Places, he will on certain occasions and with ever-increasing frequency awake to some definite realisations. These realisations will be the outer recognition of inner results, and will be the guarantee to him that he is on the right path. But I would here point out again that these results are only achieved after long practice, strenuous struggle, diligent disciplining of the threefold lower man, and consecrated service to the world.

Giờ đây còn lại điều gì cần làm? Chỉ ra năm điều mà đạo sinh—người đã cố gắng điều chỉnh đời sống của mình theo những đường hướng Tôi đã đặt ra trong những bức thư này—có thể trông đợi với niềm xác tín. Nếu đạo sinh chỉ cần cung cấp những điều kiện đúng đắn, nếu y tuân theo các [282] quy luật cần thiết, nếu y luôn nhắm đến sự đều đặn, sự bình thản, và sự tập trung nội tâm nắm giữ huyền nhiệm của các Cõi Cao, thì vào những dịp nhất định và với tần suất ngày càng tăng, y sẽ thức dậy với một vài chứng nghiệm xác định. Những chứng nghiệm này sẽ là sự nhận biết bên ngoài về các kết quả bên trong, và sẽ là sự bảo chứng cho y rằng y đang ở trên con đường đúng. Nhưng ở đây Tôi muốn nhắc lại rằng những kết quả này chỉ đạt được sau thời gian dài thực hành, đấu tranh gian khổ, kỷ luật chuyên cần đối với phàm nhân tam phân, và phụng sự thế gian trong sự thánh hiến.

Methods of approach and effects obtained.—Các phương pháp tiếp cận và các tác dụng đạt được.

The methods of approach are broadly three and we might indicate five results that will eventuate from the employment of these methods. The three methods are:—

Các phương pháp tiếp cận, nói chung, có ba, và chúng ta có thể nêu ra năm kết quả sẽ phát sinh từ việc sử dụng các phương pháp này. Ba phương pháp là:—

1. Sanctified service.

1. Phụng sự được thánh hiến.

2. Love demonstrating through wisdom.

2. Bác ái được biểu lộ qua minh triết.

3. Intellectual application.

3. Sự áp dụng trí tuệ.

They are all three but diverse methods of expressing one and the same thing,—active one-pointedness that expresses itself in service for the race through love and wisdom. But some individuals express this in one way and some in another; some carry the outer appearance of intellectuality and others of love, yet before the attainment is possible intellectuality must be based on love, whilst love without mental development and that discrimination that mind affords is apt to be unbalanced and unwise. Both love and mind must be expressed in terms of service before the full flower of either is attained. Let us consider each of these methods separately and indicate the meditation to be followed thereon:—

Chúng đều là ba phương pháp khác nhau nhưng cùng biểu đạt một và cùng một điều,—tính nhất tâm năng động, tự biểu lộ trong sự phụng sự nhân loại qua bác ái và minh triết. Nhưng có những cá nhân biểu lộ điều này theo cách này, và có những người theo cách khác; có người mang sắc tướng bên ngoài của trí tuệ, và có người mang sắc tướng của bác ái; tuy nhiên, trước khi có thể đạt được thành tựu, trí tuệ phải đặt nền trên bác ái, trong khi bác ái mà không có sự phát triển trí tuệ và sự phân biện mà trí tuệ đem lại thì dễ trở nên mất quân bình và thiếu minh triết. Cả bác ái lẫn trí tuệ đều phải được biểu lộ bằng sự phụng sự trước khi đóa hoa trọn vẹn của một trong hai được đạt tới. Chúng ta hãy xét riêng từng phương pháp này và nêu ra bài thiền cần theo đó:—

Sanctified Service. This is the method of the man who wields the law, the method of the occultist, and the rudiments of the method are laid down in raja-yoga [283]………….. discipline in the ES. The word “sanctification,” as you know, in the basic sense signifies the complete surrender of the whole being to one object, the Lord or Ruler. It means the giving wholly to the one the devotee aspires to. It means the consecration of the whole threefold man to the work in hand. It entails, therefore, the application of the entire time and self to the bringing of each body under the subjugation of the Ego, and the complete mastery of each plane and subplane. It involves the comprehension of each evolution and form of divine life as found on those planes and sub-planes, with one aim in view and only one—the furthering of the plan of the Hierarchy of Light. The method followed is that of the intensest application to the work of rounding out the bodies and of making them fit instruments for service. It is perhaps the hardest way that a man can tread. It leaves no department of the life untouched. All is brought under law. In meditation therefore the form of that meditation will be a threefold structure:—

Phụng sự thánh hiến. Đây là phương pháp của người vận dụng định luật, phương pháp của nhà huyền bí học, và những yếu tố sơ khởi của phương pháp này được đặt nền trong raja-yoga [283]………….. kỷ luật trong ES. Từ “thánh hiến”, như các bạn biết, theo nghĩa căn bản, biểu thị sự quy phục trọn vẹn của toàn thể hữu thể trước một đối tượng duy nhất, là Chúa hay Đấng cai quản. Nó có nghĩa là hiến dâng hoàn toàn cho Đấng mà người sùng tín khát vọng hướng tới. Nó có nghĩa là thánh hiến toàn bộ con người tam phân cho công việc đang thực hiện. Vì vậy, nó đòi hỏi việc đem toàn bộ thời gian và bản thân áp dụng vào việc đưa từng thể dưới sự chế ngự của Chân ngã, và làm chủ hoàn toàn từng cõi và từng cõi phụ. Nó bao hàm sự thấu hiểu từng tiến hoá và từng hình thức của sự sống thiêng liêng như được tìm thấy trên các cõi và các cõi phụ ấy, với một mục tiêu được đặt trước mắt và chỉ một mục tiêu—thúc đẩy Thiên Cơ của Thánh Đoàn Ánh Sáng. Phương pháp được theo là sự áp dụng mãnh liệt nhất vào công việc hoàn thiện các thể và làm cho chúng trở thành những công cụ thích hợp cho sự phụng sự. Có lẽ đây là con đường khó nhất mà một người có thể bước đi. Nó không để bất cứ lĩnh vực nào của đời sống không bị chạm tới. Tất cả đều được đặt dưới định luật. Vì vậy, trong tham thiền, hình thức của bài thiền ấy sẽ là một cấu trúc tam phân:—

a. The laws governing the physical body will be studied and brooded over. This brooding will find expression in a rigid disciplining of the physical body. It will be set apart wholly for service, and subjected consequently to a process that will attune and develop it more quickly.

a. Các định luật cai quản thể xác sẽ được nghiên cứu và suy tư sâu. Sự suy tư này sẽ biểu lộ qua một kỷ luật nghiêm khắc đối với thể xác. Thể xác sẽ được dành riêng hoàn toàn cho sự phụng sự, và do đó được đặt dưới một tiến trình sẽ điều hoà và phát triển nó nhanh hơn.

b. The body of the emotions will be scientifically studied and the laws of water (occultly understood) will be comprehended. The significance of the term, “there shall be no more sea” will be known, and the sea of storm and passion will be superseded by the sea of glass, which directly reflects the higher intuition, and mirrors it with perfect accuracy, being unruffled and immovable. The emotional body will [284] be set apart wholly for service, and its place in the threefold microcosm will be regarded as corresponding to that in the macrocosm, whilst the occult significance of its being the only complete unit in the threefold lower nature will be apprehended, and the fact made use of to effect certain results. Ponder on this.

b. Thể cảm dục sẽ được nghiên cứu một cách khoa học và các định luật của nguyên tố nước (được hiểu theo huyền bí) sẽ được thấu triệt. Thâm nghĩa của cụm từ “sẽ không còn biển nữa” sẽ được biết đến, và biển của bão tố và đam mê sẽ được thay thế bằng biển thuỷ tinh, vốn trực tiếp phản chiếu trực giác cao hơn, và soi gương nó với độ chính xác hoàn hảo, không gợn và bất lay chuyển. Thể cảm dục sẽ [284] được dành riêng hoàn toàn cho sự phụng sự, và vị trí của nó trong tiểu thiên địa tam phân sẽ được xem như tương ứng với vị trí của nó trong đại thiên địa, trong khi thâm nghĩa huyền bí của việc nó là đơn vị hoàn chỉnh duy nhất trong bản chất thấp tam phân sẽ được lĩnh hội, và sự kiện ấy được vận dụng để tạo ra một số kết quả nhất định. Hãy suy ngẫm về điều này.

c. The place of lower mind in the scheme of things will be studied, and the quality of discrimination developed. Discrimination and fire are occultly allied and just as the Logos by fire tries every man’s work of what sort it is, so the microcosm on a lesser scale has to do the same. Just as the Logos likewise does this paramountly in the fifth round of judgment and of separation, so the microcosm on his lesser scale does the same in the last and fifth period of his evolution,—touched upon and described earlier in these letters. Every power of the mind will be utilised to the uttermost for the furtherance of the plans of evolution; first in the man’s own development, then in the special field of work wherein he expresses himself, and lastly in his relationship with other units of the race, as he constitutes himself their guide and servant.

c. Vị trí của hạ trí trong hệ thống sự vật sẽ được nghiên cứu, và phẩm tính phân biện sẽ được phát triển. Phân biện và lửa có liên hệ huyền bí với nhau, và cũng như Thượng đế bằng lửa thử nghiệm công việc của mỗi người xem thuộc loại nào, thì tiểu thiên địa ở quy mô nhỏ hơn cũng phải làm như vậy. Cũng như Thượng đế cũng làm điều này một cách tối thượng trong cuộc tuần hoàn thứ năm của phán xét và phân ly, thì tiểu thiên địa ở quy mô nhỏ hơn cũng làm điều tương tự trong giai đoạn cuối cùng và thứ năm của tiến hoá của y,—đã được chạm đến và mô tả trước đó trong các thư này. Mọi năng lực của thể trí sẽ được sử dụng đến mức tối đa để thúc đẩy các kế hoạch tiến hoá; trước hết trong sự phát triển của chính người ấy, rồi trong lĩnh vực công tác đặc thù nơi y tự biểu lộ, và sau cùng trong mối quan hệ của y với các đơn vị khác của nhân loại, khi y tự đặt mình làm người hướng dẫn và người phụng sự của họ.

See you therefore the synthesis of it? First the strenuous one-pointedness that is the sign of the occultist blended with the wisdom and love which are reflected from the higher in the mirror of the emotional body, and then the intellect forced to act as the servant of the Ego through one-pointed effort animated by love and wisdom. The result will be the true Yogi.

Vậy các bạn có thấy sự tổng hợp của điều này không? Trước hết là tính nhất tâm mãnh liệt vốn là dấu hiệu của nhà huyền bí học, được hoà trộn với minh triết và bác ái được phản chiếu từ cõi cao hơn trong tấm gương của thể cảm dục, và rồi trí tuệ bị buộc phải hành động như người phụng sự của Chân ngã qua nỗ lực nhất tâm được sinh động hoá bởi bác ái và minh triết. Kết quả sẽ là vị Yogi chân chính.

I would point out here that the true Yogi is he who, after due carrying out of the set forms and times of meditation, merges that meditation in the everyday living, and will eventually be in the attitude of meditation all the day. [285] Meditation is the means whereby the higher consciousness is contacted. When the contact becomes continuous, meditation, as you understand it, is superseded. In this first method the occult student works from the periphery to the centre, from the objective to the subjective, from the form to the life within the form. Therefore through the emphasis laid in Raja Yoga on the physical body and its wise control the occultist realises the essential importance of the physical, and the uselessness of all his knowledge apart from a physical body whereby he can express himself and serve the race. It is the line of the first ray, and its affiliated or complementary ray.

Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng vị Yogi chân chính là người, sau khi thực hiện đúng đắn các hình thức và thời lượng tham thiền đã định, hoà nhập bài thiền ấy vào đời sống hằng ngày, và rốt cuộc sẽ ở trong thái độ tham thiền suốt cả ngày. [285] Tham thiền là phương tiện nhờ đó tâm thức cao hơn được tiếp xúc. Khi sự tiếp xúc trở nên liên tục, thì tham thiền, theo cách các bạn hiểu, sẽ được thay thế. Trong phương pháp thứ nhất này, đạo sinh huyền bí học làm việc từ chu vi vào trung tâm, từ khách quan đến chủ quan, từ hình tướng đến sự sống bên trong hình tướng. Vì vậy, qua sự nhấn mạnh trong Raja Yoga đối với thể xác và sự kiểm soát khôn ngoan của nó, nhà huyền bí học nhận ra tầm quan trọng thiết yếu của hồng trần, và tính vô ích của mọi tri thức của y nếu không có một thể xác nhờ đó y có thể tự biểu lộ và phụng sự nhân loại. Đây là con đường của Cung một, cùng với cung liên hệ hay cung bổ sung của nó.

Love and Wisdom. This method is the line of least resistance for the sons of men. It is the sub-ray of the synthetic ray of an analogous vibration, of which our solar system is the objective manifestation. But I would seek to point out that the love achieved by the student of meditation who follows this line is not the sentimental conception that is so often discussed. It is not the non-discriminating love that sees no limitation, nor concedes a fault. It is not the love that seeks not to correct and that expresses itself in an ill advised attitude to all who live. It is not the love that sweeps all into service, suitable or unsuitable, and that recognises no difference in point of development. Much that is called love,—if logically followed out—would apparently dispense with the ladder of evolution, and rank all as of equal value. So potentially all are, but in present terms of service all are not.

Bác ái và Minh triết. Phương pháp này là con đường ít trở ngại nhất đối với những người con của nhân loại. Nó là cung phụ của cung tổng hợp có rung động tương tự, mà hệ mặt trời của chúng ta là sự biểu hiện khách quan. Nhưng Tôi muốn tìm cách chỉ ra rằng bác ái mà đạo sinh tham thiền đạt được khi theo con đường này không phải là quan niệm ủy mị vốn thường được bàn luận. Nó không phải là thứ bác ái không phân biện, không thấy giới hạn, cũng không thừa nhận lỗi lầm. Nó không phải là thứ bác ái không tìm cách sửa chữa và tự biểu lộ trong một thái độ thiếu khôn ngoan đối với tất cả những ai đang sống. Nó không phải là thứ bác ái cuốn tất cả vào sự phụng sự, thích hợp hay không thích hợp, và không nhận ra sự khác biệt về điểm tiến hoá. Nhiều điều được gọi là bác ái,—nếu được theo đuổi đến cùng một cách hợp lý—dường như sẽ loại bỏ chiếc thang tiến hoá, và xếp tất cả như có giá trị ngang nhau. Về tiềm năng thì tất cả đều như vậy, nhưng trong những điều kiện hiện tại của sự phụng sự thì không phải tất cả đều như vậy.

True love or wisdom sees with perfect clarity the deficiencies of any form, and bends every effort to aid the indwelling life to liberate itself from trammels. It wisely recognises those that need help, and those that need not its attention. It hears with precision, and sees the thought of the heart and seeks ever to blend into one whole the [286] workers in the field of the world. This it achieves not by blindness, but by discrimination and wisdom, separating contrary vibrations and placing them in position diverse. Too much emphasis has been laid on that called love (interpreted by man, according to his present place in evolution) and not enough has been placed on wisdom, which is love expressing itself in service, such a service that recognises the occult law, the significance of time, and the point achieved.

Bác ái chân chính hay minh triết nhìn thấy với sự rõ ràng hoàn hảo những khiếm khuyết của bất kỳ hình tướng nào, và uốn mọi nỗ lực để trợ giúp sự sống nội tại tự giải phóng khỏi các ràng buộc. Nó khôn ngoan nhận ra những người cần giúp đỡ, và những người không cần sự chú ý của nó. Nó lắng nghe một cách chính xác, và thấy được tư tưởng của trái tim, và luôn tìm cách dung hợp thành một toàn thể những [286] người hoạt động trong cánh đồng thế gian. Nó đạt được điều này không phải bằng sự mù quáng, mà bằng phân biện và minh triết, tách rời những rung động đối nghịch và đặt chúng vào những vị trí khác nhau. Quá nhiều nhấn mạnh đã được đặt vào điều được gọi là bác ái (được con người diễn giải theo vị trí hiện tại của họ trong tiến hoá) và chưa đủ nhấn mạnh được đặt vào minh triết, vốn là bác ái tự biểu lộ trong sự phụng sự, một sự phụng sự nhận ra định luật huyền bí, thâm nghĩa của thời gian, và điểm tiến hoá đã đạt.

This is the line of the second ray and its affiliated and complementary rays. Later it is the all-inclusive one, and the solvent and absorber. It can be followed, being synthetic, on either the Raja Yoga line or the Christian Gnostic line, owing to its synthetic significance…. Later, when the ES disciplines are re-adjusted and expanded, the Christian gnostic discipline will be otherwise named, and it will include all who seek the path of wisdom, e’en when not expressed in terms of Christianity.

Đây là con đường của cung hai và các cung liên hệ và bổ sung của nó. Về sau, nó là con đường bao gồm tất cả, và là tác nhân hoà tan và hấp thụ. Vì mang ý nghĩa tổng hợp, nó có thể được theo đuổi trên con đường Raja Yoga hoặc trên con đường kỷ luật ngộ đạo Cơ Đốc, do ý nghĩa tổng hợp của nó…. Về sau, khi các kỷ luật trong ES được điều chỉnh lại và mở rộng, kỷ luật ngộ đạo Cơ Đốc sẽ được gọi bằng tên khác, và nó sẽ bao gồm tất cả những ai tìm kiếm con đường minh triết, ngay cả khi không được biểu lộ bằng các thuật ngữ của Cơ Đốc giáo.

Intellectual application. Here the order is reversed and the student, being frequently polarised in his mental body has to learn through that mind to understand the other two, to dominate and control, and to utilise to the uttermost the powers inherent in the threefold man. The method here is perhaps not so hard in some ways, but the limitations of the fifth principle have to be transcended before real progress can be made. These limitations are largely crystallisation and that which you call pride. Both have to be broken before the student who progresses through intellectual application can serve his race with love and wisdom as the animating cause.

Áp dụng trí tuệ. Ở đây trật tự bị đảo ngược và đạo sinh, thường phân cực trong thể trí của mình, phải học qua thể trí ấy để thấu hiểu hai thể kia, để thống trị và kiểm soát, và để sử dụng đến mức tối đa các quyền năng vốn có trong con người tam phân. Phương pháp này có lẽ không khó bằng theo một số phương diện, nhưng những giới hạn của nguyên khí thứ năm phải được vượt qua trước khi có thể đạt tiến bộ thực sự. Những giới hạn này phần lớn là sự kết tinh và điều mà các bạn gọi là kiêu hãnh. Cả hai phải bị phá vỡ trước khi đạo sinh tiến bộ qua việc áp dụng trí tuệ có thể phụng sự nhân loại của mình với bác ái và minh triết như nguyên nhân sinh động.

He has to learn the value of the emotions, and in so learning he has to master the effect of fire on water, occultly understood. He has to learn the secret of that plane, which secret (when known) gives him the key to the downpour of illumination from the Triad via the causal and thence to the astral. It holds the key also of the fourth etheric level. This will not as yet be comprehended [287] by you, but the above hint holds for the student much of value.

Y phải học giá trị của cảm xúc, và trong việc học ấy y phải làm chủ tác động của lửa lên nước, được hiểu theo huyền bí. Y phải học bí mật của cõi ấy, bí mật này (khi được biết) trao cho y chìa khoá của sự tuôn đổ soi sáng từ Tam Nguyên Tinh Thần qua thể nguyên nhân và từ đó đến cõi cảm dục. Nó cũng nắm giữ chìa khoá của cấp độ dĩ thái thứ tư. Điều này hiện nay vẫn chưa thể được [287] các bạn thấu hiểu, nhưng gợi ý trên chứa đối với đạo sinh nhiều điều có giá trị.

This is the line of the third ray and of its four subsidiary rays, and is one of great activity, of frequent transference, and of much mental display in the lower worlds.

Đây là con đường của cung ba và bốn cung phụ của nó, và là một con đường có hoạt động mạnh mẽ, có sự chuyển dịch thường xuyên, và có nhiều phô bày trí tuệ trong ba cõi thấp.

Only when the student, who progresses by intellectual application, has learned the secret of the fifth plane, will he live the life of sanctified service, and so blend the three rays. Always synthesis most be attained, but always the fundamental colouring or tone remains. The next or fifth round will show the greatest exposition of this method. It will be the round of supreme mental development, and will carry its evolving Monads to heights undreamed of now.

Chỉ khi đạo sinh, người tiến bộ nhờ áp dụng trí tuệ, đã học được bí mật của cõi thứ năm, thì y mới sống đời sống phụng sự thánh hiến, và như vậy dung hợp ba cung. Luôn luôn phải đạt được sự tổng hợp, nhưng luôn luôn sắc thái hay âm điệu căn bản vẫn còn. Cuộc tuần hoàn kế tiếp hay thứ năm sẽ cho thấy sự trình bày vĩ đại nhất của phương pháp này. Đó sẽ là cuộc tuần hoàn của sự phát triển trí tuệ tối thượng, và sẽ đưa các Chân thần đang tiến hoá của nó lên những đỉnh cao hiện nay chưa thể hình dung.

This round marks the height of the second method, that through love or wisdom. It is the fourth round, that wherein the emotional reaches a high point of vibration, and there is direct connection between the fourth plane of harmony, between the emotional body, or the fourth principle, the quaternary, the fourth root-race or the Atlantean which co-ordinated the astral. I give you food for thought in these correspondences.

Cuộc tuần hoàn này đánh dấu đỉnh cao của phương pháp thứ hai, phương pháp qua bác ái hay minh triết. Đó là cuộc tuần hoàn thứ tư, cuộc tuần hoàn mà cảm dục đạt đến một điểm rung động cao, và có sự liên hệ trực tiếp giữa cõi thứ tư của hoà hợp, giữa thể cảm dục, hay nguyên khí thứ tư, bộ tứ phân, giống dân gốc thứ tư hay Atlantis vốn đã phối hợp cõi cảm dục. Tôi đem đến cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm trong những tương ứng này.

It is the method of the Pythagorean discipline as taught in the ES.

Đó là phương pháp của kỷ luật Pythagoras như được dạy trong ES.

September 21st, 1920.

Ngày 21 tháng 9, 1920.

Five effects of Meditation in the three worlds.—Năm tác dụng của tham thiền trong ba cõi.

Today we are to take up the five effects in the three bodies in the lower worlds that the student of meditation will be conscious of if he has duly followed the course laid down.

Hôm nay chúng ta sẽ bàn đến năm tác dụng trong ba thể ở các cõi thấp mà đạo sinh tham thiền sẽ nhận biết nếu y đã theo đúng tiến trình đã được đặt ra.

These effects are not specifically effects in the life as apparent to the onlooking world, such as greater love or [288] spirituality or capacity to serve. What I seek today to bring out are the indications in the physical brain consciousness of the student that he has done some of the necessary work and is attaining somewhat the desired object. Keep this very clearly in mind. I do not seek to make clear all the many and various results achieved by the successful following of the occult laws of meditation. I deal here only with one phase of the matter, and that is, the realisation, in the physical brain consciousness, of certain results along the line of our immediate topic,—access to the Masters.

Những tác dụng này không phải là các tác dụng đặc thù trong đời sống như thế gian quan sát thấy, chẳng hạn như bác ái lớn hơn hay [288] tính tinh thần lớn hơn hay năng lực phụng sự. Điều Tôi muốn nêu ra hôm nay là những dấu hiệu trong tâm thức bộ não hồng trần của đạo sinh cho thấy y đã làm được một phần công việc cần thiết và đang đạt được phần nào mục tiêu mong muốn. Hãy ghi nhớ điều này thật rõ. Tôi không tìm cách làm sáng tỏ tất cả những kết quả nhiều mặt và đa dạng đạt được do việc tuân theo thành công các định luật huyền bí của tham thiền. Ở đây Tôi chỉ đề cập đến một phương diện của vấn đề, và đó là sự chứng nghiệm, trong tâm thức bộ não hồng trần, về một số kết quả theo tuyến của đề tài trực tiếp của chúng ta,—tiếp cận các Chân sư.

This narrows down our subject to that of a conscious realisation of the Masters and of some one particular Master by the student in his physical brain. This realisation is very largely independent of his place upon the Path, of his nearness to or distance from initiation. Some very advanced egos may be working at this problem, and be close indeed to their Master, without being able to bring through to the physical brain specific facts proving to them this nearness. Some effect this knowledge at earlier stages than others. It is dependent upon the type of body in use and the work done in previous lives, resulting in a physical vehicle that is a fairly just exponent of the inner man. Oft the man is of far greater calibre and attainment on the inner planes than he is on the physical. So many of our most earnest workers in this particular half century are working out evil karma through the possession of inadequate bodies. Through diligence, application, high endeavour, and the long and patient following of the rules laid down, there comes a time when the student is suddenly conscious—right within the physical brain—of certain unexpected events, an illumination or a seeing that has before been unknown. It is something that is so real yet so momentarily surprising that no amount of subsequent [289] apparent disproving can take away fron him the knowledge that he saw, he contacted, he felt.

Điều này thu hẹp chủ đề của chúng ta vào việc chứng nghiệm có ý thức về các Chân sư và về một Chân sư cụ thể nào đó bởi đạo sinh trong bộ não hồng trần của y. Sự chứng nghiệm này phần lớn độc lập với vị trí của y trên Con Đường, với sự gần hay xa của y đối với điểm đạo. Một số chân ngã rất tiến bộ có thể đang làm việc với vấn đề này, và thật sự rất gần Chân sư của họ, mà vẫn không thể đưa vào bộ não hồng trần những sự kiện cụ thể chứng minh cho họ sự gần gũi ấy. Có người đạt được tri thức này ở những giai đoạn sớm hơn người khác. Điều đó tuỳ thuộc vào loại thân thể đang sử dụng và công việc đã làm trong các kiếp trước, đưa đến một vận cụ hồng trần là một biểu hiện khá đúng của con người bên trong. Thường khi con người có tầm vóc và thành tựu trên các cõi nội tại lớn hơn nhiều so với trên cõi hồng trần. Rất nhiều người hoạt động tận tâm nhất của chúng ta trong nửa thế kỷ đặc thù này đang trả nghiệp quả xấu qua việc sở hữu những thân thể không thích hợp. Nhờ sự siêng năng, sự áp dụng, nỗ lực cao, và việc theo đuổi lâu dài, kiên nhẫn các quy luật đã được đặt ra, sẽ đến một lúc đạo sinh bỗng nhiên có ý thức—ngay trong bộ não hồng trần—về một số biến cố bất ngờ, một sự soi sáng hay một sự thấy mà trước đó chưa từng biết. Đó là điều gì đó vừa thật đến mức không thể phủ nhận, lại vừa gây kinh ngạc trong khoảnh khắc, đến nỗi không một lượng nào của những sự [289] bác bỏ bề ngoài về sau có thể lấy khỏi y tri thức rằng y đã thấy, y đã tiếp xúc, y đã cảm nhận.

As often I have told you, it is not possible in any way in this work to do more than widely generalise. Sixty thousand million souls in process of evolving, each following certain rounds of lives totally different from those of others, offer a wide field to choose from, and no one experience is exactly the same as another. But it might be generally laid down that there are five ways (out of the many possible) which are of such frequent occurrence, comparatively speaking, as to warrant our enumerating them. All have been hinted at, but I may somewhat enlarge the already imparted data.

Như Tôi thường nói với các bạn, trong công việc này không thể theo bất cứ cách nào làm hơn việc khái quát rộng. Sáu mươi nghìn triệu linh hồn đang trong tiến trình tiến hoá, mỗi người theo những cuộc tuần hoàn của các kiếp sống hoàn toàn khác với người khác, tạo nên một trường rộng để lựa chọn, và không có kinh nghiệm nào hoàn toàn giống kinh nghiệm nào. Nhưng có thể nói chung rằng có năm cách (trong số nhiều cách có thể) xảy ra tương đối thường xuyên đến mức khiến chúng ta có lý do để liệt kê chúng. Tất cả đã được gợi ý, nhưng Tôi có thể mở rộng đôi chút những dữ liệu đã được truyền đạt.

Seeing the Master and the self within the cave of the heart. —Thấy Chân sư và bản thân trong hang động của trái tim.

As you know, the student has often been told to visualise himself and the Master—about the size of a quarter inch—within the circumference of the etheric heart. He is told to picture, toward the close of his meditation the heart etheric, and therein build minute forms of the Master to Whom he is drawn and of himself. This he proceeds to do with due and elaborate care, with the aid of the imagination and loving effort, working daily on his figures till they become to him very real, and their building and forming becomes almost an automatic part of his meditation form. Then comes a day (usually when astrological conditions are fit and the moon approaches the full) when he becomes conscious within his brain that those figures are not the little puppets he thinks, but that he is within the figure representing himself, and that he stands literally and in all verity before the Master. This occurs at rare intervals at first, and the consciousness of the fact is held but for a few brief seconds; as progress is made, and every department of his nature and of his service develops, with greater frequency will come the experience, [290] with longer periods will it be marked, until there comes a time when the pupil can link up as easily in this manner with his Master as earlier he formed his figures.

Như các bạn đã biết, người môn sinh thường xuyên được dạy phải hình dung chính mình và Chân sư — với kích thước chừng một phần tư inch — ở bên trong chu vi của luân xa tim thể dĩ thái. Y được chỉ dẫn rằng, về cuối bài tham thiền của mình, hãy hình dung luân xa tim dĩ thái, và ngay trong đó xây dựng những hình tướng nhỏ bé của Chân sư mà y bị thu hút hướng về, cũng như của chính y. Y tiến hành việc này với sự cẩn trọng thích đáng và công phu tỉ mỉ, với sự trợ giúp của trí tưởng tượng và nỗ lực đầy yêu thương, ngày này qua ngày khác làm việc trên các hình tướng ấy cho đến khi chúng trở nên đối với y hết sức chân thực, và việc xây dựng cũng như tạo hình cho chúng gần như trở thành một phần tự động trong hình thức tham thiền của y. Rồi đến một ngày (thường là khi các điều kiện chiêm tinh thuận lợi và mặt trăng tiến gần đến thời điểm tròn đầy) khi y trở nên ý thức, ngay trong bộ não của mình, rằng những hình tướng ấy không phải là những con rối nhỏ bé như y tưởng, mà rằng y đang ở bên trong hình tướng tượng trưng cho chính y, và rằng y thực sự, đúng nghĩa đen và hoàn toàn chân xác, đang đứng trước Chân sư. Điều này lúc đầu chỉ xảy ra vào những thời điểm hiếm hoi, và tâm thức về sự kiện ấy chỉ được duy trì trong vài giây ngắn ngủi; khi sự tiến bộ được tạo lập, và khi mọi bộ phận trong bản chất của y cũng như trong sự phụng sự của y phát triển, kinh nghiệm ấy sẽ đến với tần suất ngày càng lớn hơn, [290] và sẽ được đánh dấu bằng những khoảng thời gian kéo dài hơn, cho đến khi có một lúc mà người học trò có thể kết nối theo cách này với Chân sư của mình một cách dễ dàng chẳng khác nào trước kia y đã tạo dựng các hình tướng của mình.

Just what did occur? The pupil had succeeded in doing three things:—

Chính xác thì điều gì đã xảy ra? Người học trò đã thành công trong việc thực hiện ba điều:—

1. Identifying himself with the figure within the heart, and aspiring to the Master.

1. Đồng hoá với hình tượng bên trong trái tim, và khát vọng hướng tới Chân sư.

2. Making a definite channel between the heart centre (wherein he is endeavouring to focus his consciousness) and its corresponding head centre. Each of the seven centres in the body, as you know, has a counterpart within the head. It is in the linking up of the centre with its counterpart in the head that illumination comes. This,—in the case in point—has been accomplished by the student. He has connected the heart with its head centre.

2. Tạo một kênh xác định giữa trung tâm tim (nơi y đang cố gắng tập trung tâm thức) và trung tâm đầu tương ứng của nó. Mỗi một trong bảy trung tâm trong thân thể, như các bạn biết, đều có một đối phần bên trong đầu. Chính trong việc nối kết trung tâm với đối phần của nó trong đầu mà sự soi sáng đến. Điều này,—trong trường hợp đang xét—đã được đạo sinh thực hiện. Y đã nối kết tim với trung tâm đầu của nó.

3. Not only has he accomplished the two above things but he has so purified that part of the physical brain that corresponds with the particular head centre that it can respond to the higher vibration necessitated, and therefore accurately record what has transpired.

3. Không những y đã thực hiện hai điều trên, mà y còn đã thanh luyện phần bộ não hồng trần tương ứng với trung tâm đầu đặc thù ấy đến mức nó có thể đáp ứng với rung động cao hơn cần thiết, và vì vậy ghi nhận một cách chính xác điều đã diễn ra.

Recognition of vibration. —Sự nhận biết rung động.

In this instance the method is not quite the same. The student becomes conscious during his moments of intensest aspiration in meditation of a certain peculiar vibration or sensation in his head. It may be in one of three places:—

Trong trường hợp này, phương pháp không hoàn toàn giống như vậy. Đạo sinh, trong những khoảnh khắc khát vọng mãnh liệt nhất khi tham thiền, trở nên ý thức về một rung động hay cảm giác đặc thù nào đó trong đầu. Nó có thể ở một trong ba vị trí:—

a. At the top of the spine.

a. Ở đỉnh cột sống.

b. In the forehead.

b. Ở trán.

c. At the top of the head.

c. Ở đỉnh đầu.

I speak not here of the sensation that comes when psychic faculty develops, though there is an alliance between the two, but I speak of a definite vibration that accompanies contact with one of the Great Ones. The student at first is only conscious of a feeling of momentary heightening, which takes the form of a ripple or movement in the head. [291] At first it may be attended with some discomfort, if felt in the forehead it may cause tears and weeping, if at the top of the spine or base of the skull exhilaration and even dizziness, and if at the top of the head a sense of expansion with a feeling of fullness, as if the limiting skull were too confining. This wears off with greater use. It is all caused by a contact, momentary at first, with some one Master. In time the student comes to recognise this vibration and to associate it with some particular Great One, for each Master has His own vibration which impresses itself upon His pupils in a specific manner. This method of contact is frequently attended by perfume. In time the pupil learns how to raise his vibration to a certain pitch. Having done this he holds the vibration steady until he senses the Master’s answering vibration or the perfume. Then he endeavours to merge his consciousness with the Master’s as far as may be, to ascertain the Master’s will, and to understand what it is that the Master has to communicate. As time progresses and the response of the pupil grows, the Master on His side will attract his attention or signal to him approval (for instance by arousing this vibration within his head)….

Ở đây Tôi không nói về cảm giác xuất hiện khi năng lực thông linh phát triển, dù giữa hai điều ấy có một mối liên hệ, mà Tôi nói về một rung động xác định đi kèm với sự tiếp xúc với một trong Các Đấng Cao Cả. Lúc đầu, đạo sinh chỉ ý thức về một cảm giác được nâng cao thoáng chốc, biểu hiện như một gợn sóng hay một chuyển động trong đầu. [291] Ban đầu, nếu cảm nhận ở trán thì có thể kèm theo đôi chút khó chịu, có thể gây chảy nước mắt và khóc; nếu ở đỉnh cột sống hoặc ở đáy hộp sọ thì gây phấn chấn và thậm chí chóng mặt; và nếu ở đỉnh đầu thì có một cảm giác nở rộng kèm theo cảm giác đầy tràn, như thể hộp sọ giới hạn ấy quá chật hẹp. Điều này sẽ giảm dần khi được trải nghiệm nhiều hơn. Tất cả đều do một sự tiếp xúc, lúc đầu chỉ thoáng chốc, với một Chân sư nào đó. Theo thời gian, đạo sinh nhận ra rung động này và liên hệ nó với một Đấng Cao Cả cụ thể, vì mỗi Chân sư có rung động riêng của Ngài, và rung động ấy in dấu lên các đệ tử của Ngài theo một cách thức đặc thù. Phương pháp tiếp xúc này thường kèm theo hương thơm. Theo thời gian, đệ tử học cách nâng rung động của mình lên đến một cao độ nhất định. Làm được điều đó, y giữ rung động ổn định cho đến khi cảm nhận rung động đáp lại của Chân sư hoặc hương thơm. Rồi y cố gắng dung hợp tâm thức của mình với tâm thức của Chân sư trong mức độ có thể, để xác định ý muốn của Chân sư, và thấu hiểu điều mà Chân sư phải truyền đạt. Khi thời gian tiến triển và sự đáp ứng của đệ tử tăng trưởng, thì về phía Ngài, Chân sư sẽ thu hút sự chú ý của y hoặc ra dấu cho y biết sự tán thành (chẳng hạn bằng cách khơi dậy rung động này trong đầu y)….

We will take the other 3 tomorrow, brother of mine. The little daughter causeth a vibration of lower mind, and I desire accuracy.

Chúng ta sẽ xét ba điều kia vào ngày mai, huynh đệ của Tôi. Cô con gái nhỏ gây ra một rung động của hạ trí, và Tôi mong sự chính xác.

September 23rd, 1920.

Ngày 23 tháng 9, 1920.

Sept. 23rd, 1920. 7:30 pm.

Ngày 23 tháng 9, 1920. 7:30 tối.

There is quiet and peace now, brother of mine, and it may therefore be possible for us to conclude this 9th letter, having then but one more to complete the series I have intended giving you. The work for you hath been somewhat arduous by the constant touching of the vibration that maketh this work possible hath had and will have a definite effect that may make further apprehension of truth possible. Every time an aspirant aspires and temporarily succeeds in reaching the point aimed at, tendeth to stability and maketh the new and high vibration more accessible later.

Giờ đây có sự yên tĩnh và bình an, huynh đệ của Tôi, vì vậy có lẽ chúng ta có thể kết thúc bức thư thứ chín này, và như thế chỉ còn một bức nữa để hoàn tất loạt thư mà Tôi dự định gửi cho các bạn. Công việc đối với các bạn đã phần nào gian nan, vì sự chạm đến rung động một cách liên tục—rung động làm cho công việc này trở nên khả hữu—đã có và sẽ có một tác động xác định, có thể khiến việc lĩnh hội chân lý về sau trở nên khả dĩ hơn. Mỗi lần một người chí nguyện khát vọng và tạm thời thành công trong việc đạt đến điểm nhắm tới, điều đó có khuynh hướng đem lại sự ổn định và làm cho rung động mới và cao ấy trở nên dễ tiếp cận hơn về sau.

……We have now our three remaining points to take up, having already dealt with the two that touched upon contact with the Master in the cave of the heart, and the recognition of His vibration. There are still three other ways (out of many, forget not) whereby the earnest student may be conscious in his physical brain of having contacted his Master.

……Giờ đây chúng ta còn ba điểm cuối để bàn, vì chúng ta đã đề cập đến hai điểm liên quan đến sự tiếp xúc với Chân sư trong hang động của trái tim, và sự nhận biết rung động của Ngài. Vẫn còn ba cách khác nữa (trong nhiều cách, các bạn chớ quên) nhờ đó đạo sinh chân thành có thể nhận biết trong bộ não hồng trần của mình rằng y đã tiếp xúc với Chân sư của y.

Bringing through into the physical brain consciousness the memory of the Master’s ashram and the lessons imparted there. [292]

Đem ký ức về ashram của Chân sư và những bài học được truyền dạy ở đó vào trong tâm thức của bộ não hồng trần. [292]

As the student perseveres in his meditation, as he increases his facility to throw himself into the right vibration, he builds up a pathway (if so we may term it) that leads him direct to his Master. This is a literal statement of fact. Good work earns for the man in time the right to be with the Master at stated periods. This entails good work in meditation coupled with active service for the race. These intervals are rare at first but come more frequently as progress is made. He will then become aware of this contact through remembrance on awakening. He will see the room of the Master, and remember his associates in the work of the class. He will remember certain sentences, as spoken by his Master, and will bring back a recollection of work suggested or of admonition. This is one of the methods which are indicative to the pupil that he is succeeding, through the ability built up in meditation, in gaining access to the Master.

Khi đạo sinh kiên trì trong tham thiền, khi y gia tăng khả năng tự đặt mình vào đúng rung động, y xây dựng một con đường (nếu ta có thể gọi như thế) dẫn y trực tiếp đến Chân sư của y. Đây là một phát biểu đúng theo nghĩa đen của sự thật. Công việc tốt, theo thời gian, đem lại cho người ấy quyền được ở bên Chân sư vào những thời kỳ nhất định. Điều này đòi hỏi công việc tham thiền tốt kết hợp với sự phụng sự tích cực cho nhân loại. Lúc đầu, những khoảng thời gian ấy hiếm hoi, nhưng sẽ đến thường xuyên hơn khi có tiến bộ. Khi đó, y sẽ nhận biết sự tiếp xúc này qua sự nhớ lại lúc thức dậy. Y sẽ thấy căn phòng của Chân sư, và nhớ những người cộng sự của mình trong công việc của lớp. Y sẽ nhớ một vài câu nhất định, như được Chân sư nói ra, và sẽ mang về một hồi tưởng về công việc được gợi ý hoặc về lời khuyên răn. Đây là một trong những phương pháp cho đệ tử thấy rằng y đang thành công, nhờ khả năng được xây dựng trong tham thiền, trong việc đạt được sự tiếp cận với Chân sư.

The attainment of a certain amount of causal consciousness. —Đạt được một mức độ tâm thức nguyên nhân nhất định.

This is indicative of the pupil’s having developed (mayhap in small degree, yet definitely realised) the power to enter somewhat into Their world. The faculty of abstract thought and contemplation, the power to transcend the limitations of time and space, are powers of the body egoic, and as all egoic groups are—as aforesaid—controlled by some one Master, the development of egoic consciousness (when consciously recognised) is indicative of contact and access. Many souls unconsciously contact their Ego, and temporarily have flashes of egoic consciousness but when the pupil can consciously raise himself, when he with deliberation intensifies his vibration, and transfers his polarisation into the body egoic, even if for a brief moment, then he can know that he is for that brief moment vibrating to the key of the Master of his group. He has made contact. He may not remember [293] in his physical brain, at first, the details of that contact, he may not realise the appearance of the Master or the words that passed His lips, but having consciously conformed to rule, and entered within the silence of the high places, the law ever works, and he has made his contact. Some disciples know their Master intimately on the inner planes and work under His direction, but many lives may elapse before they comprehend the law and with deliberation can make the channel of access, through power developed in meditation.

Điều này cho thấy đệ tử đã phát triển (có lẽ chỉ ở mức nhỏ, nhưng được chứng nghiệm một cách xác định) năng lực bước vào phần nào thế giới của Các Ngài. Năng lực tư duy trừu tượng và chiêm ngưỡng, năng lực vượt qua các giới hạn của thời gian và không gian, là những năng lực của thể chân ngã; và vì mọi nhóm chân ngã—như đã nói—đều do một Chân sư nào đó cai quản, nên sự phát triển của tâm thức chân ngã (khi được nhận biết một cách có ý thức) là dấu hiệu của sự tiếp xúc và sự tiếp cận. Nhiều linh hồn tiếp xúc với chân ngã của mình một cách vô thức, và tạm thời có những tia loé của tâm thức chân ngã; nhưng khi đệ tử có thể tự nâng mình lên một cách có ý thức, khi y có chủ đích tăng cường rung động của mình, và chuyển sự phân cực của mình vào thể chân ngã, dù chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, thì y có thể biết rằng trong khoảnh khắc ấy y đang rung động theo giọng âm của Chân sư của nhóm y. Y đã tạo được sự tiếp xúc. Lúc đầu, y có thể không nhớ [293] trong bộ não hồng trần các chi tiết của sự tiếp xúc ấy; y có thể không nhận ra sắc tướng của Chân sư hay những lời đã thốt ra từ môi Ngài; nhưng vì đã có ý thức tuân theo quy luật, và bước vào trong sự im lặng của những cõi cao, định luật luôn vận hành, và y đã tạo được sự tiếp xúc của mình. Một số đệ tử biết Chân sư của họ một cách thân mật trên các cõi nội tại và làm việc dưới sự chỉ đạo của Ngài, nhưng có thể phải trải qua nhiều kiếp sống trước khi họ thấu hiểu định luật và có thể, với chủ đích, tạo ra kênh tiếp cận ấy, nhờ quyền năng được phát triển trong tham thiền.

As time elapses this ability to contact increases until the point is reached when the pupil can at any time find out what is the will of the Master and have access to His heart.

Khi thời gian trôi qua, khả năng tiếp xúc này tăng lên cho đến khi đạt đến điểm mà đệ tử có thể, vào bất cứ lúc nào, biết được ý muốn của Chân sư và tiếp cận được trái tim của Ngài.

This fifth method is not so usual but it is known to some natures.

Phương pháp thứ năm này không phổ biến lắm, nhưng một số bản chất vẫn biết đến nó.

Through sound the aspirant is aware of success. —Qua âm thanh, người chí nguyện nhận biết sự thành công.

He follows his usual form of meditation. He perseveres from day to day and works on all the three planes over the work to be done. He continuously raises his vibration and aspires in the needed endeavour, coupling all interior effort to the external life of loving service. At some one meditation he will suddenly become aware of a note of music, that seems to be sounded within his head or to emanate from his heart. It will not be evoked by the sounding of the Sacred Word, which Word when sounded by the man on a certain key may call forth a musical response from the Ego, but it will come as a result or culmination of the meditation, and the sound of the note will vibrate within the centre so distinctly as never to be forgotten. It is again an indication of success. The Master has been contacted, and has responded by sounding the tone of the man’s own Ego. This is really the basis of the custom of the doorkeeper responding to the would-be aspirant to the mysteries of the group. When the work [294] is properly done, the aspirant will sound the admission word in his own key or tone, endeavouring to strike the note that will evoke the Ego. The doorkeeper will respond and chant forth the reply in the same full sonorous tone, thereby, through the power of sound, linking the man up with the Master of the coming ceremonies. This puts each member of the group—through his own effort and through the third factor, the doorkeeper—en rapport with the Master. In time this will be more fully understood and effort will be made to keep the tone reverberating between those who enter and those who guard the Threshold. When perfectly accomplished (a thing impossible now) it forms a perfect protection. Groups will be formed according to egoic formation and the particular Master. The note of the group will be known to the one who guards the entrance, and no one can get in who sounds not the note in either the higher or lower octave. This applies to groups consecrated to inner spiritual development, and that are directly concerned with the work of a Master with His affiliated pupils or disciples or probationers. Other groups, formed of units diverse and under different rays and Masters, will guard their door by another method, later to be revealed.

Y theo hình thức tham thiền thường lệ của mình. Y kiên trì từ ngày này sang ngày khác và làm việc trên cả ba cõi đối với công việc cần thực hiện. Y liên tục nâng rung động của mình và khát vọng trong nỗ lực cần thiết, kết hợp mọi cố gắng nội tại với đời sống bên ngoài của sự phụng sự bác ái. Trong một lần tham thiền nào đó, y sẽ đột nhiên nhận biết một âm điệu âm nhạc, dường như được xướng lên trong đầu y hoặc phát ra từ trái tim y. Nó sẽ không do việc xướng Linh từ Thiêng liêng gợi lên—Linh từ ấy, khi được người ấy xướng theo một giọng nhất định, có thể gợi lên một đáp ứng âm nhạc từ Chân ngã—mà nó sẽ đến như một kết quả hay sự viên mãn của bài tham thiền; và âm thanh của âm điệu ấy sẽ rung động trong trung tâm một cách rõ rệt đến mức không bao giờ quên được. Đây lại là một dấu hiệu của sự thành công. Chân sư đã được tiếp xúc, và Ngài đã đáp ứng bằng cách xướng lên âm điệu của chính Chân ngã của người ấy. Đây thật sự là nền tảng của tập tục người giữ cửa đáp lại người chí nguyện muốn bước vào các huyền nhiệm của nhóm. Khi công việc [294] được thực hiện đúng đắn, người chí nguyện sẽ xướng Linh từ nhập môn theo giọng hay âm sắc của chính mình, cố gắng đánh trúng âm điệu sẽ gợi lên Chân ngã. Người giữ cửa sẽ đáp lại và xướng lên lời hồi đáp trong cùng một âm sắc đầy đặn, vang dội, nhờ đó—qua quyền năng của âm thanh—liên kết người ấy với Chân sư của các nghi lễ sắp tới. Điều này đặt mỗi thành viên của nhóm—qua nỗ lực riêng của y và qua yếu tố thứ ba là người giữ cửa—vào sự hoà điệu với Chân sư. Theo thời gian, điều này sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn, và sẽ có nỗ lực để giữ cho âm điệu vang dội giữa những người bước vào và những người canh giữ ngưỡng cửa. Khi được hoàn thành một cách hoàn hảo (điều hiện nay là bất khả), nó tạo thành một sự bảo vệ hoàn hảo. Các nhóm sẽ được hình thành theo cấu trúc chân ngã và theo Chân sư cụ thể. Âm điệu của nhóm sẽ được người canh giữ lối vào biết đến, và không ai có thể vào được nếu không xướng đúng âm điệu, dù ở quãng tám cao hay thấp. Điều này áp dụng cho các nhóm được thánh hiến cho sự phát triển tinh thần nội tại, và trực tiếp liên quan đến công việc của một Chân sư với các học trò hay các đệ tử hay những người dự bị trực thuộc Ngài. Các nhóm khác, được hình thành từ những đơn vị đa dạng và thuộc các cung và các Chân sư khác nhau, sẽ canh giữ cánh cửa của họ bằng một phương pháp khác, sẽ được mặc khải về sau.

When, in meditation, a student hears this inner musical note, he should endeavour to register it, and cultivate the faculty of both recognising it and utilising it. This is not easy at first, as the sounding is both unlooked for and too brief to catch. But as time progresses, and the pupil succeeds in again and yet again getting a similar response, then he can begin to find out the method and watch the causes that set the vibration in motion.

Khi, trong tham thiền, một đạo sinh nghe thấy âm điệu âm nhạc nội tại này, y nên cố gắng ghi nhận nó, và trau dồi năng lực vừa nhận biết vừa sử dụng nó. Ban đầu điều này không dễ, vì âm thanh ấy vừa bất ngờ vừa quá ngắn để nắm bắt. Nhưng khi thời gian tiến triển, và đệ tử lại thành công lần nữa rồi lần nữa trong việc nhận được một đáp ứng tương tự, thì y có thể bắt đầu tìm ra phương pháp và quan sát các nguyên nhân đã khởi động rung động ấy.

As I have said before, many are the methods whereby a pupil becomes aware of success in the path of access. Above are but five out of these many. Later, when the [295] Schools are organised and watched over by a Master in physical plane consciousness, records will be kept of the times and modes of contact and in this manner much knowledge will accrue. I would in conclusion point out that always the calling forth of the response must be the work of the pupil, and that the hour of that response depends upon the earnestness of his work, the consecration of his service and his karmic liabilities. When he merits certain response it will be demonstrated in his stars, and naught can hinder or delay. Equally, naught can really hasten, so the pupil need not waste time in doleful ponderings upon the lack of response. His the part to obey the rules, to conform to the forms laid down, to ponder and wisely adhere to the prescribed instructions, and to definitely work and to ardently serve his fellowmen. When he has done all this, when he has built the necessary vibrating material into his three lower bodies, when he has aligned them with the body egoic (even if only for a brief minute) suddenly he may see, suddenly he may hear, suddenly he may sense a vibration, and then forever he may say that faith is merged in sight, and aspiration has become recognition. [296]

Như Tôi đã nói trước đây, có nhiều phương pháp nhờ đó một đệ tử nhận biết sự thành công trên con đường tiếp cận. Những điều nêu trên chỉ là năm trong số rất nhiều phương pháp ấy. Về sau, khi các [295] Trường được tổ chức và được một Chân sư trông coi trong tâm thức cõi hồng trần, các ghi chép sẽ được lưu giữ về thời điểm và phương thức tiếp xúc, và theo cách này nhiều tri thức sẽ tích luỹ. Khi kết luận, Tôi muốn chỉ ra rằng luôn luôn việc khơi dậy sự đáp ứng phải là công việc của đệ tử, và giờ khắc của sự đáp ứng ấy tuỳ thuộc vào sự chân thành trong công việc của y, sự thánh hiến trong sự phụng sự của y, và các món nợ nghiệp quả của y. Khi y xứng đáng với một đáp ứng nhất định, điều đó sẽ được biểu thị trong các vì sao của y, và không gì có thể ngăn cản hay trì hoãn. Cũng vậy, không gì thật sự có thể thúc nhanh, vì thế đệ tử không cần lãng phí thời gian trong những suy tư u sầu về sự thiếu vắng đáp ứng. Phần việc của y là tuân theo các quy luật, phù hợp với các hình thức đã được đặt ra, suy ngẫm và khôn ngoan tuân thủ các chỉ dẫn được quy định, và nhất định làm việc và nhiệt thành phụng sự đồng loại. Khi y đã làm tất cả những điều ấy, khi y đã xây dựng chất liệu rung động cần thiết vào ba thể thấp của mình, khi y đã chỉnh hợp chúng với thể chân ngã (dù chỉ trong một phút ngắn ngủi), thì đột nhiên y có thể thấy, đột nhiên y có thể nghe, đột nhiên y có thể cảm nhận một rung động, và rồi mãi mãi y có thể nói rằng đức tin đã dung hợp vào thị kiến, và khát vọng đã trở thành sự nhận biết. [296]


 

LETTER IX – FUTURE SCHOOLS OF MEDITATION.
THƯ IX – CÁC TRƯỜNG THAM THIỀN TRONG TƯƠNG LAI.

SEPTEMBER 26TH, 1920.

NGÀY 26 THÁNG 9 NĂM 1920.

[Page 297]

[Page 297]

We take up today another of the series of letters on occult meditation, that dealing with “Future Schools of Meditation”. In this letter I shall attempt somewhat to show how the training and development indicated in the other letters will be applied and I shall deal somewhat with prophecy, pointing out what will some day be possible and present, and not what is as yet in any way approachable. Always it is necessary to have high ideals, and ever the human mind leaps forward to some appointed goal. If I here outline what may seem a visionary impossibility it is but that I seek to hold up such an ideal, and to give to the race an objective well worth their highest endeavor.

Hôm nay, chúng ta tiếp tục với một bức thư khác trong loạt thư về tham thiền huyền môn, bàn về “Các Trường Tham Thiền Trong Tương Lai”. Trong thư này, Tôi sẽ cố gắng phần nào cho thấy cách áp dụng việc huấn luyện và phát triển đã nêu trong các thư khác; Tôi cũng sẽ phần nào bàn đến những dự báo, chỉ ra những gì một ngày kia sẽ trở nên khả thi và hiện hữu, chứ không phải những gì hiện nay đã có thể tiếp cận bằng bất kỳ cách nào. Luôn cần có những lý tưởng cao cả, và trí tuệ con người luôn vươn tới một mục tiêu đã định. Nếu ở đây Tôi phác họa những điều có vẻ là viễn tưởng bất khả thi, thì đó chỉ là vì Tôi muốn nêu cao một lý tưởng như thế và trao cho nhân loại một mục tiêu xứng đáng để họ dốc hết nỗ lực cao nhất.

Preliminary remarks.

Những nhận xét mở đầu.

Let us pause a moment and lay down certain postulates anent the present that will (so to speak) clear the ground for future action.

Chúng ta hãy dừng lại một lát và nêu ra một số tiền đề về hiện tại để, có thể nói, dọn đường cho hành động trong tương lai.

The value of meditation is becoming everywhere admitted. Schools for concentration and methods of mental development are commonly advertised in the daily papers.

Giá trị của tham thiền đang được thừa nhận khắp nơi. Các trường dạy tập trung và các phương pháp phát triển trí tuệ thường được quảng cáo trên nhật báo.

True meditation is as yet little understood. Concentration is but the foundation upon which the future work is to be based.

Cho đến nay, tham thiền chân chính vẫn còn ít được thấu hiểu. Sự tập trung chỉ là nền tảng cho công việc trong tương lai.

As yet the future structure cannot be raised, due to two causes primarily:— [Page 298]

Cho đến nay, công trình tương lai vẫn chưa thể dựng lên, chủ yếu do hai nguyên nhân:— [Page 298]

a. The inherent inability of mind at this juncture to attain the causal level and the consciousness of the causal level.

a. Sự bất lực vốn có của thể trí vào thời điểm này trong việc đạt tới cấp độ nguyên nhân và tâm thức của cấp độ nguyên nhân.

b. The absence of a Master in personal presence, able and equipped to teach the true scientific development which is the aim of true meditation.

b. Sự thiếu vắng một Chân sư hiện diện trực tiếp, có khả năng và đầy đủ năng lực để giảng dạy sự phát triển khoa học chân chính vốn là mục tiêu của tham thiền chân chính.

The troubled condition of the world at present is sufficient barrier to any general acceptation of training, and of the scientific development of the vehicles.

Tình trạng rối ren hiện nay của thế giới đủ để ngăn trở việc chấp nhận rộng rãi sự huấn luyện và sự phát triển khoa học của các hiện thể.

These premises are laid down here as a starting point. That some individuals here and there achieve the goal, that some people do master the system of Occult Meditation and make the desired progress is undeniable, but they are only few in number and those numbers are inappreciable when set against the vast bulk of human beings in incarnation at the same time. They achieve by right of age-long effort, and because in previous lives they trod the Path or neared the portal of initiation. But even the average man of intelligence of today—the product, for instance, of western civilization—is far from being ready for occult training. Experiments are being made now, unknown oft to the subjects themselves, to see how quickly a man may be pushed through experience and a general hastening of the evolutionary process into a position where it will be safe to train him further. People in many civilized countries are under supervision, and a method of stimulation and intensification is being applied which will bring to the knowledge of the Great Ones Themselves a mass of information that may serve as a guide to Their future efforts for the race. Especially are people in America, Australia, India, Russia, Scotland and Greece being dealt with. A few in Belgium, Sweden, and Austria are likewise under observation, and should the response [Page 299] be as hoped they will form a nucleus for further expansion.

Những tiền đề này được nêu ở đây làm điểm khởi đầu. Không thể phủ nhận rằng rải rác có những cá nhân đạt được mục tiêu, rằng một số người thực sự làm chủ hệ thống Tham thiền Huyền môn và đạt được sự tiến bộ mong muốn; nhưng họ chỉ có số lượng ít ỏi, không đáng kể khi so với khối nhân loại đông đảo đang nhập thể cùng thời. Họ thành tựu nhờ nỗ lực qua bao thời đại, và vì trong những kiếp trước họ đã bước trên Đường Đạo hoặc đến gần cửa điểm đạo. Nhưng ngay cả người có trí thông minh trung bình ngày nay—chẳng hạn, sản phẩm của nền văn minh phương Tây—cũng còn lâu mới sẵn sàng cho sự huấn luyện huyền môn. Hiện nay, những thử nghiệm đang được tiến hành, thường chính những người tham gia cũng không biết, để xem có thể thúc đẩy một người nhanh đến mức nào, thông qua trải nghiệm và sự đẩy nhanh tiến trình tiến hoá nói chung, tới một vị thế mà việc huấn luyện y thêm nữa sẽ an toàn. Người dân tại nhiều quốc gia văn minh đang được giám sát, và một phương pháp kích thích và tăng cường đang được áp dụng, qua đó chính Các Đấng Cao Cả sẽ có được một khối thông tin có thể hướng dẫn những nỗ lực tương lai của Các Ngài dành cho nhân loại. Đặc biệt, người dân tại Mỹ, Úc, Ấn Độ, Nga, Scotland và Hy Lạp đang được tác động theo cách này. Một số ít tại Bỉ, Thụy Điển và Áo cũng đang được quan sát, và nếu sự đáp ứng [Page 299] được như mong đợi, họ sẽ tạo thành một hạt nhân cho sự mở rộng tiếp theo.

Future Schools of Meditation

Các Trường Tham Thiền Trong Tương Lai

In handling this matter we might, as is our usual custom, divide the subject matter under different heads:—

Khi bàn về vấn đề này, theo thông lệ, chúng ta có thể chia nội dung thành các đề mục khác nhau:—

1. The one fundamental School.

1. Trường nền tảng duy nhất.

2. Its national subdivisions.

2. Các phân bộ quốc gia của Trường.

3. The location, personnel, and buildings of the School.

3. Địa điểm, nhân sự và các tòa nhà của Trường.

4. The grades and classes.

4. Các cấp và lớp.

Now I would emphatically point out to you the fact that all that I now impart is a portion of a tentative plan, which has in view the hastening of the evolution of the higher mind, and the bringing under control of the bodies of men, through the power of the God within. This plan has been drawn up in view of the crying need of a world in which the mental equipment of men is increasing out of all proportion to their emotional balance and to their physical equipment. The rapid advance of knowledge, the spreading of the educational system which brings the product of many minds into the environment of the very poor, the ability of all to read and write in such a country as America or among the other Anglo-Saxon races, has been the cause of a very real (I might almost say an unexpected) problem arising to confront the Great Ones.

Giờ đây, Tôi muốn nhấn mạnh với các bạn rằng tất cả những gì Tôi đang truyền đạt là một phần của một kế hoạch dự kiến, nhằm đẩy nhanh sự tiến hoá của thượng trí và đưa các thể của con người vào sự kiểm soát thông qua quyền năng của Thượng đế bên trong. Kế hoạch này được xây dựng trước nhu cầu cấp thiết của một thế giới trong đó năng lực trí tuệ của con người đang gia tăng hoàn toàn mất cân đối với sự quân bình cảm xúc và năng lực thể chất của họ. Sự tiến bộ nhanh chóng của tri thức, sự phổ biến của hệ thống giáo dục đưa thành quả của nhiều trí tuệ vào môi trường sống của những người rất nghèo, khả năng đọc viết của mọi người tại một quốc gia như Mỹ hoặc trong các dân tộc Anglo-Saxon khác, đã khiến một vấn đề hết sức thực tế (Tôi gần như có thể nói là bất ngờ) nảy sinh trước Các Đấng Cao Cả.

Mental development when paralleled by emotional stability and a strong healthy body is the aim for all. But now you have mental development paralleled by an unstable astral and a weak, underfed, badly raised physical. Hence disorder, lack of balance, the clouding of the vision and disproportionate discussion. Lower mind, instead of being a means to an end and a weapon for use, is in fair [Page 300] way of being a ruler and a tyrant, preventing the play of the intuition and shutting out the abstract mind.

Sự phát triển trí tuệ đi đôi với sự ổn định cảm xúc và một thân thể khỏe mạnh, cường tráng là mục tiêu dành cho tất cả mọi người. Nhưng hiện nay, sự phát triển trí tuệ lại đi đôi với một thể cảm dục bất ổn và một thể xác yếu ớt, thiếu dinh dưỡng, được nuôi dưỡng kém. Do đó có sự rối loạn, thiếu quân bình, tầm nhìn bị che mờ và sự bàn luận quá mức. Thay vì là phương tiện để đạt mục đích và một vũ khí để sử dụng, hạ trí đang có [Page 300] chiều hướng trở thành kẻ cai trị và bạo chúa, ngăn cản hoạt động của trực giác và đóng cửa đối với trí trừu tượng.

Hence the Masters, if it can in any way be accomplished, purpose a movement that has in view the harnessing of the lower mind through the instrumentality of the people themselves. With this object in view They plan to utilize the incoming Ray of Ceremonial Law or Organization, and the period immediately co-incident or following the coming of the Great Lord, to start these schools (in a small inconspicuous way at first) and bring to the consciousness of men everywhere the following four fundamentals:—

Do đó, nếu có thể thực hiện bằng bất cứ cách nào, các Chân sư dự định khởi xướng một phong trào nhằm chế ngự hạ trí thông qua chính con người. Với mục tiêu này, Các Ngài dự định sử dụng Cung Định Luật Nghi Lễ hay Tổ Chức đang đi vào, cùng thời kỳ ngay khi hoặc sau khi Chúa Tể Vĩ Đại đến, để mở các trường này (ban đầu theo một cách nhỏ bé, không nổi bật) và đưa vào tâm thức của con người khắp nơi bốn điều căn bản sau đây:—

a. The evolutionary history of man from the mental side.

a. Lịch sử tiến hoá của con người xét về phương diện trí tuệ.

b. The septenary constitution of the macrocosm and the microcosm.

b. Cấu tạo thất phân của đại thiên địa và tiểu thiên địa.

c. The laws governing man’s being.

c. Các định luật chi phối sự hiện tồn của con người.

d. The method of occult development.

d. Phương pháp phát triển huyền môn.

A beginning has already been made……..through the various schools at present extant…….All these are the beginnings of the plan. When they are firmly grounded, when they are working smoothly and with public recognition, and when the world of men is being somewhat colored by them and their subjective emphasis, when they are producing scholars and workers, politicians and scientists and educational leaders who make their impress on their environment, then mayhap will come the time for the founding in exoteric fashion of the true occult school. By that I mean that if the earlier schools and colleges do their work satisfactorily they will have demonstrated to the world of men that the subjective is the true reality and that the lower is but the stepping stone to the higher. This subjective reality being universally admitted will, therefore, permit of the founding of a chain of inner schools [Page 301] …that will be publicly recognized. This will never at any time obviate the necessity for always having an esoteric and secret section, for always there will be certain truths and facts of dangerous import to the uninitiated; but what I seek to point out is that the mysteries will eventually be admitted as facts for universal recognition and for universal aim and goal. They will be prepared for and entered from schools that definitely undertake, under expert guidance, to train novitiates for the mysteries.

Một sự khởi đầu đã được thực hiện……..thông qua các trường khác nhau hiện đang tồn tại…….Tất cả những trường này là những bước khởi đầu của kế hoạch. Khi chúng có nền tảng vững chắc, khi chúng hoạt động suôn sẻ và được công chúng công nhận, và khi thế giới loài người phần nào chịu ảnh hưởng của chúng cùng sự nhấn mạnh của chúng vào đời sống nội tâm, khi chúng đào tạo được những học giả và người hoạt động, những chính khách, nhà khoa học và nhà lãnh đạo giáo dục để lại dấu ấn trong môi trường của mình, thì có lẽ sẽ đến lúc thành lập công khai trường huyền môn chân chính. Qua đó, Tôi muốn nói rằng nếu các trường và học viện ban đầu hoàn thành công việc một cách thỏa đáng, chúng sẽ chứng minh cho thế giới loài người rằng thực tại nội tâm mới là thực tại chân chính, và cái thấp chỉ là bước đệm lên cái cao. Vì vậy, khi thực tại nội tâm này được thừa nhận rộng khắp, sẽ có thể thành lập một chuỗi trường nội môn [Page 301]…được công chúng công nhận. Điều này không bao giờ xóa bỏ sự cần thiết phải luôn có một bộ phận nội môn và bí mật, vì luôn có những chân lý và sự kiện mang ý nghĩa nguy hiểm đối với người chưa được điểm đạo; nhưng điều Tôi muốn chỉ ra là cuối cùng các huyền nhiệm sẽ được thừa nhận như những sự thật để mọi người công nhận và lấy làm mục đích, mục tiêu. Người ta sẽ chuẩn bị và bước vào các huyền nhiệm từ những trường chuyên đảm nhận, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia, việc huấn luyện người sơ cơ cho các huyền nhiệm.

Such schools have existed before and in the turning of the wheel again they will be in manifestation.

Những trường như vậy đã từng tồn tại, và khi bánh xe lại quay, chúng sẽ biểu hiện trở lại.

You ask, when? That depends on humanity itself and on all of you who work with faith and aspiration at the beginnings of the plan.

Các bạn hỏi, khi nào? Điều đó tùy thuộc vào chính nhân loại và vào tất cả các bạn, những người đang làm việc với đức tin và khát vọng trong những bước khởi đầu của kế hoạch.

H. P. B. laid the foundation stone of the first school in this particular lesser cycle (which is nevertheless a relatively important one, being an outgrowth of the fifth root-race, the efflorescence of the fifth principle). This is the keystone. The work proceeds in the founding, as aforesaid, of the various schools, and mental science also has its place. It will go forward as desired if each one who is now under occult training strains every nerve and bends every effort to the work in hand. If all that is possible is done, when the Great Lord comes with His Masters the work will receive a still further impetus, and will gradually expand and grow till it becomes a power in the world. Then will come the day of the occult schools that will definitely train men for initiation.

Bà H. P. B. đã đặt viên đá nền móng cho trường đầu tiên trong chu kỳ nhỏ đặc biệt này (tuy vậy, đây vẫn là một chu kỳ tương đối quan trọng, vì là sự phát triển từ giống dân gốc thứ năm, sự nở rộ của nguyên khí thứ năm). Đây là viên đá chủ chốt. Như đã nói, công việc tiến triển qua việc thành lập các trường khác nhau, và khoa học trí tuệ cũng có vị trí của nó. Công việc sẽ tiến triển như mong muốn nếu mỗi người hiện đang được huấn luyện huyền môn dốc hết sức lực và mọi nỗ lực vào công việc trước mắt. Nếu tất cả những gì có thể đều được thực hiện, khi Chúa Tể Vĩ Đại đến cùng các Chân sư của Ngài, công việc sẽ nhận thêm một động lực nữa, rồi dần dần mở rộng và phát triển cho đến khi trở thành một quyền năng trong thế giới. Bấy giờ sẽ đến thời của các trường huyền môn chuyên huấn luyện con người cho điểm đạo.

SEPTEMBER 27TH, 1920.

NGÀY 27 THÁNG 9 NĂM 1920.

We must today take up our first point for it is only as we lay the foundation aright that the superstructure measures up to requirements. [Page 302]

Hôm nay chúng ta phải bàn đến điểm thứ nhất, vì chỉ khi đặt nền móng đúng đắn thì phần kiến trúc bên trên mới đáp ứng các yêu cầu. [Page 302]

1 – The one fundamental School. – 1 – Trường nền tảng duy nhất.

It is therefore very essential that the emphasis is laid on the fact that no matter what the offshoots, the basic school of occultism is that one which has its root in the sacred center of the planet, Shamballa. At that place, directly under the eyes of the One Initiator Himself, Who is—as is seldom realized—the highest expression of the Teaching Ray upon the earth, is found what might be termed the central office for the educational disciplinary training work of the Hierarchy. There will be found the Chohan Who is directly responsible for the various endeavors, and to Whom the Masters Who take pupils, and the Heads of the various occult schools are directly responsible. All proceeds under law and order.

Vì vậy, điều hết sức thiết yếu là nhấn mạnh rằng bất kể có những chi nhánh nào, trường huyền bí học nền tảng vẫn là trường bắt nguồn từ trung tâm thiêng liêng của hành tinh, Shamballa. Tại nơi đó, ngay dưới sự quan sát của chính Đấng Điểm đạo Duy Nhất, Đấng—như ít người nhận biết—là biểu hiện cao nhất của Cung Giảng Dạy trên Trái Đất, có cơ quan có thể gọi là văn phòng trung tâm phụ trách công tác giáo dục, rèn luyện kỷ luật và huấn luyện của Thánh đoàn. Tại đó có vị Chohan trực tiếp chịu trách nhiệm về các nỗ lực khác nhau; các Chân sư nhận học trò và các vị đứng đầu những trường huyền môn khác nhau đều trực tiếp chịu trách nhiệm trước Ngài. Mọi việc diễn tiến theo định luật và trật tự.

One point that it will here be necessary to emphasize is that the Brotherhood of Light, as represented by the Himalayan Masters, has its other representatives elsewhere who all carry out specific work under proper and adequate supervision. Too apt are the Theosophists to think that they alone are the repositories of the wisdom religion. Not so is the fact. At this particular moment (with the aim in view of the development and tendering of opportunity to the fifth subrace) the Himalayan Brotherhood is the main channel of effort, power and light. But the work with other races proceeds simultaneously and numerous other projects, all emanating from the central office at Shamballa, are paralleling the Himalayan work. Get this clearly in mind, for the point is important. The Himalayan School and Lodge is the one that principally concerns the Occident and the only school without any exception that should control the work and output of the occult students in the West. It brooks no rival nor contemporary work with its pupils, not for the [Page 303] sake of its own teachers but to ensure the safety of its pupils. Danger lurks in the path of the occult student and the Himalayan adepts know adequately how to protect their pupils, provided those pupils stay within the periphery of Their united auras, and wander not out to other schools. All true occult schools demand this of their pupils, and all true Masters expect Their pupils to refrain from taking other occult instructions at the same time as they are receiving it from Them. They say not: “Our method is the only right and true method.” They say: “When receiving instructions from Us it is the part of wisdom and the line of safety to refrain from occult training in another school or under another Master.” Should a pupil desire so to do he is perfectly free to seek out other schools and teachers, but he must first break his connection with the old.

Một điểm cần nhấn mạnh ở đây là Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng, do các Chân sư Himalaya đại diện, còn có những đại diện khác ở những nơi khác, tất cả đều thực hiện công việc cụ thể dưới sự giám sát thích hợp và đầy đủ. Những người Thông Thiên Học quá dễ nghĩ rằng chỉ họ mới gìn giữ tôn giáo minh triết. Sự thật không phải vậy. Vào thời điểm đặc biệt này (nhằm phát triển và tạo cơ hội cho giống dân phụ thứ năm), Huynh đệ Đoàn Himalaya là kênh chính của nỗ lực, quyền năng và ánh sáng. Nhưng công việc với các giống dân khác vẫn đồng thời tiến hành, và nhiều dự án khác, tất cả đều phát xuất từ văn phòng trung tâm tại Shamballa, đang diễn tiến song song với công việc Himalaya. Hãy ghi nhớ rõ điều này, vì đây là điểm quan trọng. Trường và Đoàn thể Himalaya chủ yếu phụ trách phương Tây và là trường duy nhất, không có bất kỳ ngoại lệ nào, phải kiểm soát công việc và thành quả của các đạo sinh huyền môn ở phương Tây. Trường không cho phép học trò của mình đồng thời tham gia công việc cạnh tranh hay song hành khác, không phải vì [Page 303] các huấn sư của trường, mà để bảo đảm an toàn cho học trò. Nguy hiểm ẩn nấp trên con đường của đạo sinh huyền môn, và các chân sư Himalaya biết đầy đủ cách bảo vệ học trò, miễn là họ ở trong phạm vi hào quang hợp nhất của Các Ngài và không đi sang những trường khác. Tất cả các trường huyền môn chân chính đều đòi hỏi điều này ở học trò, và tất cả các Chân sư chân chính đều mong học trò không nhận những giáo huấn huyền môn khác cùng lúc đang nhận giáo huấn từ Các Ngài. Các Ngài không nói: “Phương pháp của chúng tôi là phương pháp đúng đắn và chân chính duy nhất.” Các Ngài nói: “Khi nhận giáo huấn từ chúng tôi, điều khôn ngoan và an toàn là không theo học huyền môn tại một trường khác hoặc dưới một Chân sư khác.” Nếu một học trò muốn làm như vậy, y hoàn toàn tự do tìm đến các trường và huấn sư khác, nhưng trước hết y phải chấm dứt mối liên hệ cũ.

The one fundamental school may be recognized by certain outstanding characteristics:—

Có thể nhận biết trường nền tảng duy nhất qua những đặc điểm nổi bật nhất định:—

By the basic character of the truths taught as embodied in the following postulates:—

Qua tính chất căn bản của những chân lý được giảng dạy, thể hiện trong các định đề sau đây:—

a. The unity of all life.

a. Sự hợp nhất của mọi sự sống.

b. The graded steps of development as recognized in man, and by the graded steps of its curriculum, which lead a man from one expansion of consciousness to another until he has reached that which we call perfection.

b. Các bước phát triển theo cấp độ như được nhận biết trong con người, và các bước phân cấp trong chương trình học, dẫn con người từ sự mở rộng tâm thức này sang sự mở rộng tâm thức khác cho đến khi y đạt tới điều chúng ta gọi là sự hoàn thiện.

c. The relationship between the microcosm and the macrocosm and its sevenfold application.

c. Mối quan hệ giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa cùng sự áp dụng thất phân của mối quan hệ ấy.

d. The method of this development and the place of the microcosm within the macrocosm as revealed through the study of the periodicity of all manifestation and the basic law of cause and effect.

d. Phương pháp của sự phát triển này và vị trí của tiểu thiên địa trong đại thiên địa, như được mặc khải qua việc nghiên cứu tính chu kỳ của mọi sự biểu hiện và định luật nhân quả căn bản.

By the emphasis laid on character building and spiritual development as a foundation for the development of [Page 304] all the faculties inherent in the microcosm.

Qua sự nhấn mạnh vào lập hạnh và phát triển tinh thần làm nền tảng cho sự phát triển [Page 304] mọi năng lực vốn có trong tiểu thiên địa.

By the requirement, demanded of all affiliated pupils without exception, that the life of inner unfoldment and development should be paralleled by a life of exoteric service.

Qua yêu cầu đối với tất cả học trò trực thuộc, không có ngoại lệ, rằng đời sống khai mở và phát triển bên trong phải đi đôi với đời sống phụng sự ngoại môn.

By the graded expansions of consciousness that are the result of the imparted training; these lead a man on from step to step till he contacts his higher self, his Master, his egoic group, the First Initiator, the One Paramount Initiator, until he has contacted the Lord of his Ray and has entered into the bosom of his “Father Which is in Heaven”.

Qua những sự mở rộng tâm thức theo cấp độ, là kết quả của sự huấn luyện được truyền dạy; những sự mở rộng này dẫn con người từng bước tiến lên cho đến khi y tiếp xúc với chân ngã, Chân sư của mình, nhóm chân ngã của mình, Đấng Điểm đạo Thứ Nhất, Đấng Điểm đạo Tối Cao Duy Nhất, cho đến khi y tiếp xúc với Chúa Tể cung của mình và đi vào lòng “Cha ở trên Trời” của y.

These are the outstanding features that are descriptive of the one true fundamental School.

Đó là những đặc điểm nổi bật mô tả Trường nền tảng chân chính duy nhất.

This fundamental school has three main branches and a fourth that is in process of forming and which will make the four branches of this fourth round. These branches are as follows:—

Trường nền tảng này có ba phân nhánh chính và một phân nhánh thứ tư đang hình thành, hợp thành bốn phân nhánh của cuộc tuần hoàn thứ tư này. Các phân nhánh ấy như sau:—

1. The trans-Himalayan Branch.

1. Phân nhánh bên kia Himalaya.

2. The southern India Branch. (these are Aryan Branches)

2. Phân nhánh miền nam Ấn Độ. (đây là các Phân nhánh Arya)

3. A Branch that works with the fourth root-race and has two fourth root-race adepts at its head.

3. Một Phân nhánh làm việc với giống dân gốc thứ tư và có hai chân sư thuộc giống dân gốc thứ tư đứng đầu.

4. A Branch in process of forming that will have its headquarters in the Occident at some place not yet disclosed. It has for its main object the instructing of those connected with the coming sixth root-race.

4. Một Phân nhánh đang hình thành, sẽ có trụ sở chính ở phương Tây tại một nơi chưa được tiết lộ. Mục tiêu chính của phân nhánh này là giảng dạy những người có liên hệ với giống dân gốc thứ sáu sắp tới.

These branches are and will be closely inter-allied and will work in the closest co-operation, being all focused and under the control of the Chohan at Shamballa. The heads of each of the four branches communicate with each other frequently and are really like the faculty of one stupendous university, the four schools being like the [Page 305] various major departments of the foundations—like subsidiary colleges. The aim of all is the evolution of the race, the object of all is to lead all to the point of standing before the One Initiator, the methods employed are fundamentally the same, though varying in detail, due to the racial characteristics of the races and types dealt with, and the fact that certain schools work paramountly with one ray and others with another.

Các phân nhánh này hiện và sẽ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp tác mật thiết nhất, tất cả đều quy tụ và chịu sự kiểm soát của vị Chohan tại Shamballa. Những vị đứng đầu mỗi phân nhánh trong số bốn phân nhánh thường xuyên giao tiếp với nhau và thực sự giống như đội ngũ giảng viên của một đại học đồ sộ; bốn trường giống như [Page 305] những khoa chính khác nhau của cơ sở ấy—như các học viện trực thuộc. Mục đích của tất cả là sự tiến hoá của nhân loại, mục tiêu của tất cả là dẫn mọi người tới chỗ đứng trước Đấng Điểm đạo Duy Nhất; các phương pháp sử dụng về căn bản đều giống nhau, dù khác nhau về chi tiết do đặc điểm của các giống dân và các loại người được hướng dẫn, và do một số trường chủ yếu làm việc với cung này, còn các trường khác với cung khác.

The trans-Himalayan school has its adepts as known to you, and others Whose Names are not known.

Trường bên kia Himalaya có những chân sư mà các bạn biết, cùng những vị khác mà Danh Tính chưa được biết đến.

The southern Indian school has special work with the deva evolution, and with the second and third sub-races of the Aryan race.

Trường miền nam Ấn Độ có công việc đặc biệt với sự tiến hoá thiên thần và với các giống dân phụ thứ hai và thứ ba của giống dân Arya.

The Himalayan school works with the first, fourth and fifth sub-races.

Trường Himalaya làm việc với các giống dân phụ thứ nhất, thứ tư và thứ năm.

The fourth root-race branch works under the Manu of that race and his brother of the Teaching Ray. Their headquarters are in China.

Phân nhánh giống dân gốc thứ tư làm việc dưới quyền Đức Manu của giống dân ấy và vị huynh đệ của Ngài thuộc Cung Giảng Dạy. Trụ sở chính của Các Ngài ở Trung Quốc.

The Master R.— and one of the English Masters are concerning Themselves with the gradual founding of the fourth branch of the school, with the assistance of the Master Hilarion. Ponder on these imparted facts, for the significance is of profound importance.

Chân sư R.— và một trong các Chân sư người Anh đang chú tâm vào việc từng bước thành lập phân nhánh thứ tư của trường, với sự trợ giúp của Chân sư Hilarion. Hãy suy ngẫm những sự thật được truyền đạt này, vì thâm nghĩa của chúng có tầm quan trọng sâu sắc.

Tomorrow we will deal with the future. Today I have but imparted facts in present manifestation.

Ngày mai chúng ta sẽ bàn đến tương lai. Hôm nay Tôi chỉ truyền đạt những sự thật đang biểu hiện hiện nay.

SEPTEMBER 28TH, 1920.

NGÀY 28 THÁNG 9 NĂM 1920.

Today our second point comes up for consideration, and we shall in the elucidation of it enter into the realms of prophecy. I would here point out to you that the thing which is indicated as existing in the future may not always work out in detail as foreseen. I but seek to lay before you the big general plan in its outline. The working out in the future will depend upon the intuition or high [Page 306] perception of the thinkers of the race and upon the ability of the incarnating jivas to seize upon the opportunities and fulfil their destiny.

Hôm nay, điểm thứ hai của chúng ta được đưa ra xem xét, và khi làm sáng tỏ điểm này, chúng ta sẽ đi vào lĩnh vực tiên tri. Ở đây, Tôi muốn lưu ý với các bạn rằng điều được chỉ ra là sẽ tồn tại trong tương lai không phải lúc nào cũng diễn ra đúng từng chi tiết như đã dự kiến. Tôi chỉ muốn trình bày trước các bạn nét phác thảo của kế hoạch tổng thể lớn. Sự thực hiện trong tương lai sẽ tùy thuộc vào trực giác hay nhận thức cao [Page 306] của các nhà tư tưởng trong nhân loại và vào khả năng của những linh hồn đang nhập thể trong việc nắm bắt cơ hội và hoàn thành vận mệnh của mình.

We touched yesterday upon the one fundamental school with its four branches. Today I would take up:—

Hôm qua chúng ta đã đề cập đến trường nền tảng duy nhất cùng bốn phân nhánh của nó. Hôm nay Tôi muốn bàn đến:—

2 – The National subdivisions of the one school. – 2 – Các phân bộ Quốc gia của trường duy nhất.

At the outset I would point out to you that not every nation in the world will have its occult school. Only as the causal body of the national group has reached a certain rate of vibration will it be possible to found and institute these schools. Only as the educational work of the nation has reached a certain height will it be possible to use the mental equipment of the nation as a stepping stone for further expansion, and to use it as a basis for the occult school. And, curiously enough, only those nations which originally had a training school for the mysteries (with three exceptions) will be again, during the earlier stages, permitted national schools. The exceptions are:—

Trước hết, Tôi muốn lưu ý với các bạn rằng không phải mọi quốc gia trên thế giới đều sẽ có trường huyền môn của mình. Chỉ khi thể nguyên nhân của nhóm quốc gia đạt tới một mức rung động nhất định mới có thể thành lập và tổ chức các trường này. Chỉ khi công tác giáo dục của quốc gia đạt tới một tầm cao nhất định mới có thể sử dụng năng lực trí tuệ của quốc gia làm bước đệm cho sự mở rộng hơn nữa, và làm nền tảng cho trường huyền môn. Và điều khá kỳ lạ là chỉ những quốc gia vốn từng có trường huấn luyện về các huyền nhiệm (với ba ngoại lệ) mới lại được phép có các trường quốc gia trong những giai đoạn đầu. Các ngoại lệ là:—

1. Great Britain.

1. Vương quốc Anh.

2. Canada and the United States.

2. Canada và Hoa Kỳ.

3. Australia.

3. Úc.

And even these exceptions might be considered only one, the case of Australia, for the other two in Atlantean days had their occult foundations when they formed part of the earlier continent. In the turning of the wheel, earth itself reincarnates; places pass into pralaya and emerge into manifestation, holding within them the seeds that will eventuate in similar vibration, and bring into being again similar modes of expression, and similar forms.

Và ngay cả những ngoại lệ này cũng có thể được xem là chỉ có một, trường hợp của Úc, vì hai trường hợp kia đã có những nền tảng huyền môn vào thời Atlantis, khi chúng thuộc về lục địa trước kia. Khi bánh xe quay, chính Trái Đất tái nhập thể; các địa điểm đi vào Giai kỳ qui nguyên rồi xuất hiện trở lại trong biểu hiện, mang trong mình những hạt giống sẽ tạo nên rung động tương tự, và lại đưa vào hiện tồn những phương thức biểu đạt tương tự cùng những hình tướng tương tự.

It will be found later on, when the Occult Schools are founded, that they will be situated where some of the old magnetism yet lingers, and where in some cases certain [Page 307] old talismans have been kept by the Brotherhood with just this aim in view.

Về sau, khi các Trường Huyền Môn được thành lập, người ta sẽ thấy chúng tọa lạc tại những nơi vẫn còn lưu lại phần nào từ điện xưa, và trong một số trường hợp, tại những nơi có những [Page 307] bùa hộ mệnh cổ mà Huynh đệ Đoàn đã gìn giữ chính vì mục đích này.

Branches, affiliated with one of the four central divisions of the one occult foundation, will be found in the following countries:

Các phân nhánh, trực thuộc một trong bốn phân bộ trung tâm của nền tảng huyền môn duy nhất, sẽ có tại các quốc gia sau đây:

1. Egypt. This will be one of the later schools founded and will be profoundly occult and an advanced school in direct communication with the inner grades. This will be touched upon later.

1. Ai Cập. Đây sẽ là một trong những trường được thành lập muộn hơn, mang tính huyền môn sâu sắc và là một trường cao cấp giao tiếp trực tiếp với các cấp nội môn. Điều này sẽ được đề cập sau.

2. The United States will have a preparatory school somewhere in the southern part of the Middle West, and an extensive occult college in California in a place later to be revealed. This school will be one of the first started when the Great Lord begins His earthly career, and during the next five years the seeds of it may be laid if students rightly apprehend the work to be done.

2. Hoa Kỳ sẽ có một trường dự bị ở đâu đó tại miền nam vùng Trung Tây, và một học viện huyền môn quy mô lớn ở California tại một nơi sẽ được tiết lộ sau. Trường này sẽ là một trong những trường đầu tiên được mở khi Chúa Tể Vĩ Đại bắt đầu sự nghiệp trần thế của Ngài, và trong năm năm tới, những hạt giống của trường có thể được gieo nếu các đạo sinh nắm bắt đúng công việc cần làm.

3. There will be one school for the Latin countries, probably in Italy or Southern France, but much depends on the political and educational work of the next ten years.

3. Sẽ có một trường dành cho các nước Latinh, có lẽ tại Ý hoặc miền nam Pháp, nhưng nhiều điều tùy thuộc vào công tác chính trị và giáo dục trong mười năm tới.

4. Great Britain. At one of the magnetized spots in either Scotland or Wales, a branch for occult training will be begun before so very long, which will lay the foundation and embrace the curriculum for the earlier grades. After it has been in existence for a few years and has proved the effectiveness of its training, and after troubled Ireland has adjusted her internal problems, a school for the more advanced grades, and for definite preparation for the mysteries will be started in Ireland at one of the magnetized spots there to be found. This school will be very definitely a school where preparation for a major initiation may be taken, and will be under the eye of the Bodhisattva, preparing the pupil for initiation upon the second ray. The first school in Egypt will be for those who take initiation on the first ray in the Occident. [Page 308]

4. Vương quốc Anh. Tại một trong những địa điểm được từ hóa ở Scotland hoặc Wales, chẳng bao lâu nữa một phân nhánh huấn luyện huyền môn sẽ được mở, đặt nền móng và bao gồm chương trình học cho các cấp ban đầu. Sau khi trường tồn tại vài năm và chứng minh được hiệu quả huấn luyện, và sau khi Ireland đầy bất ổn giải quyết được các vấn đề nội bộ, một trường dành cho các cấp cao hơn và cho sự chuẩn bị chuyên biệt bước vào các huyền nhiệm sẽ được mở tại một trong những địa điểm được từ hóa ở Ireland. Đây sẽ rõ ràng là một trường nơi có thể chuẩn bị cho một cuộc điểm đạo lớn, và sẽ ở dưới sự quan sát của Đức Bồ Tát, chuẩn bị học trò cho điểm đạo trên cung hai. Trường đầu tiên ở Ai Cập sẽ dành cho những người ở phương Tây nhận điểm đạo trên cung một. [Page 308]

Those who take initiation on the line of the Mahachohan, or on the third ray, will take it at the advanced occult school in Italy. In this way the Occident will have its center where active instruction may be given according to the three lines of approach, and which will give preparation in the inner mysteries.

Những người nhận điểm đạo theo đường hướng của Đức Mahachohan, hay trên cung ba, sẽ nhận điểm đạo tại trường huyền môn cao cấp ở Ý. Như vậy, phương Tây sẽ có trung tâm nơi có thể thực hiện việc giảng dạy tích cực theo ba đường tiếp cận, đồng thời chuẩn bị cho các huyền nhiệm nội môn.

5. A preparatory occult school will be found, too, in Sweden, for those of the northern and German races who seek the Path, and when it has been extant for some time Russia may then be in a position to house the headquarters for the more advanced school affiliated to the preparatory one in Sweden. In connection with the Egyptian advanced school will be a preparatory one in Greece or in Syria.

5. Cũng sẽ có một trường huyền môn dự bị tại Thụy Điển, dành cho những người thuộc các dân tộc phương bắc và Đức đang tìm kiếm Đường Đạo; sau khi trường tồn tại một thời gian, Nga có thể đủ điều kiện đặt trụ sở của trường cao cấp hơn liên kết với trường dự bị tại Thụy Điển. Liên kết với trường cao cấp Ai Cập sẽ có một trường dự bị ở Hy Lạp hoặc ở Syria.

You have, therefore, the following schools as planned, and must bear in mind that the schools wherein the preparatory work and earlier grades are found will be first in order of time, and are in process of founding now, or will be founded during the period immediately preceding the Coming of the Great Lord. The founding of others will be definitely the outcome of His work, and that of His Masters, and will depend upon Their decision as to the success of the earlier endeavor.

Vì vậy, các bạn có những trường sau đây theo dự kiến, và phải nhớ rằng các trường đảm nhận công tác dự bị cùng những cấp ban đầu sẽ ra đời trước, hiện đang trong quá trình thành lập, hoặc sẽ được thành lập trong thời kỳ ngay trước khi Chúa Tể Vĩ Đại Đến. Việc thành lập các trường khác nhất định sẽ là kết quả công việc của Ngài và các Chân sư của Ngài, và sẽ tùy thuộc vào quyết định của Các Ngài về mức độ thành công của nỗ lực ban đầu.

Preparatory Grades… Advanced School

Các Cấp Dự Bị… Trường Cao Cấp

1. Greece or Syria leading to… Egypt

1. Hy Lạp hoặc Syria dẫn tới… Ai Cập

2. Middle West, U.S.A…. California

2. Trung Tây, Hoa Kỳ… California

3. Southern France… Italy

3. Miền nam Pháp… Ý

4. Scotland or Wales… Ireland

4. Scotland hoặc Wales… Ireland

5. Sweden… Russia

5. Thụy Điển… Nga

6. New Zealand… Australia

6. New Zealand… Úc

[Page 309]

[Page 309]

There is also planned a preparatory school for the advanced egos of the fourth root-race. This will be under the Manu of that race and will be situated in Japan, with its most esoteric branch in western China. This makes the seventh in the group of schools outlined.

Một trường dự bị dành cho những chân ngã tiến bộ thuộc giống dân gốc thứ tư cũng đã được dự kiến. Trường này sẽ ở dưới quyền Đức Manu của giống dân ấy và tọa lạc tại Nhật Bản, với phân nhánh mang tính nội môn nhất tại miền tây Trung Quốc. Đây là trường thứ bảy trong nhóm trường đã phác thảo.

It is not purposed as yet to have branches in Southern Africa or Southern America. Their day is not yet, but comes in the next cycle.

Hiện chưa có dự định lập các phân nhánh ở miền nam châu Phi hoặc Nam Mỹ. Thời của họ chưa đến, nhưng sẽ đến trong chu kỳ tiếp theo.

Now, I would earnestly call to your attention that the schools will make but small beginnings and will be launched in a way that will appear at first as too unimportant to be noticeable. A beginning will be made with members of the different occult schools, such as the esoteric sections of the Theosophical movement, and others. The work in Britain, America and Australia is already in process of inception, whilst that in Sweden will shortly be on foot. The others will follow at slightly later dates.

Giờ đây, Tôi tha thiết muốn các bạn lưu ý rằng các trường sẽ chỉ có những bước khởi đầu nhỏ bé và sẽ được mở theo cách thoạt tiên có vẻ quá nhỏ nhặt để đáng chú ý. Sự khởi đầu sẽ được thực hiện với các thành viên của những trường huyền môn khác nhau, như các bộ phận nội môn của phong trào Thông Thiên Học và những trường khác. Công việc tại Anh, Mỹ và Úc đã bắt đầu, còn tại Thụy Điển sẽ sớm được triển khai. Các trường khác sẽ theo sau vào những thời điểm muộn hơn đôi chút.

This much of the plan has been permitted publication as an incentive to all of you to study with greater aspiration and to work with more strenuous application. Each and all has his place in the plan would he but qualify by doing the necessary work. That work should be:—

Phần kế hoạch này đã được phép công bố nhằm khích lệ tất cả các bạn học tập với khát vọng lớn hơn và làm việc với sự chuyên tâm mạnh mẽ hơn. Mỗi người và tất cả mọi người đều có vị trí trong kế hoạch, nếu y chịu làm công việc cần thiết để hội đủ điều kiện. Công việc ấy phải là:—

An endeavor to recognize the Divine within each one. In this manner the true occult obedience, which is an essential in all occult training, will be fostered and developed, being not based, as is so oft seen, on personality, but on that instinctive realization of a Master, and the willing following that comes from the recognition of His powers, the purity of His life and aims, and the profundity of His knowledge.

Nỗ lực nhận biết điều Thiêng Liêng bên trong mỗi người. Theo cách này, sự tuân phục huyền môn chân chính, một điều thiết yếu trong mọi sự huấn luyện huyền môn, sẽ được nuôi dưỡng và phát triển, không dựa trên phàm ngã như thường thấy, mà dựa trên sự nhận biết theo bản năng về một Chân sư, cùng sự tự nguyện đi theo phát sinh từ việc nhận biết các quyền năng của Ngài, sự thanh khiết trong đời sống và mục tiêu của Ngài, cùng sự sâu sắc trong tri thức của Ngài.

An endeavor to think in group terms and clearly for oneself, not depending upon the word of others for clarification. [Page 310]

Nỗ lực suy nghĩ theo quan điểm nhóm và tự mình suy nghĩ sáng rõ, không dựa vào lời người khác để làm sáng tỏ. [Page 310]

An endeavor to purify and refine all the bodies and make them more reliable servants.

Nỗ lực thanh lọc và tinh luyện tất cả các thể của mình, khiến chúng trở thành những người phụng sự đáng tin cậy hơn.

An endeavor to equip throughout the mental vehicle and to store within it the facts upon which extended knowledge may be based.

Nỗ lực trang bị toàn diện cho hiện thể trí và tích trữ trong đó những sự kiện có thể làm nền tảng cho tri thức mở rộng.

If these things are done great will be the day of opportunity.

Nếu thực hiện những điều này, ngày cơ hội đến sẽ thật lớn lao.

OCTOBER 2ND, 1920.

NGÀY 2 THÁNG 10 NĂM 1920.

In the rigid disciplining of yourself comes eventual perfection. To the disciple nought is too small to undertake, for in the rigid adjustment of the details of the lower world life comes, at the end, attainment of the goal. The life of the disciple becomes not easier as the Gate is neared, but ever the watch must be more thorough, ever right action must be taken with no regard to result, and ever each body in all its aggregate of detail must be wrestled with and subjugated. Only in the thorough comprehension of the axiom “Know thyself” will come that understanding that enables man to wield the law and know the inner working of the system from the center to the periphery. Struggle, strive, discipline, and rejoicingly serve with no reward save the misunderstanding and the abuse of those who follow after—this is the role of the disciple.

Chính qua việc nghiêm khắc rèn luyện bản thân mà cuối cùng đạt đến sự hoàn thiện. Đối với đệ tử, không có việc gì quá nhỏ để đảm nhận, vì chính qua sự điều chỉnh nghiêm ngặt những chi tiết của đời sống trong cõi thấp mà cuối cùng mục tiêu được đạt tới. Đời sống của đệ tử không trở nên dễ dàng hơn khi đến gần Cánh Cổng; trái lại, sự cảnh giác phải ngày càng toàn diện hơn, hành động đúng đắn phải luôn được thực hiện mà không quan tâm đến kết quả, và từng thể của y, với toàn bộ mọi chi tiết, phải luôn được đấu tranh để chế ngự và khuất phục. Chỉ qua việc lĩnh hội thấu đáo châm ngôn “Hãy biết chính mình” mới có sự thấu hiểu giúp con người vận dụng định luật và biết sự vận hành bên trong của hệ thống từ trung tâm đến chu vi. Đấu tranh, nỗ lực, rèn luyện kỷ luật và hoan hỉ phụng sự mà không nhận phần thưởng nào ngoài sự hiểu lầm và lời lăng mạ của những người đi sau—đó là vai trò của đệ tử.

Today we will deal with our third point.

Hôm nay chúng ta sẽ bàn đến điểm thứ ba.

3 – The Location, personnel, and building of the occult school. – 3 – Địa điểm, nhân sự và tòa nhà của trường huyền môn.

Here at the outset I would remind you that much which might be said by me on this matter must remain unsaid for lack of the ability to comprehend. I might lay down certain approximate rules, and make certain fundamental suggestions that may find their place in the [Page 311] final working out. I can lay down no rule that must be kept. Such is not the occult law. In the establishment of these occult schools in their two divisions, preparatory and advanced, in the different designated centers under one of the four branches of the one fundamental School of Occultism, the work will begin in an inconspicuous manner, and those pupils and advanced egos whose work it is to make the necessary beginning must find out for themselves the method, place and manner. All must be wrought out in the furnace of endeavor and experiment, and the price paid will be high, but only that which is thus wrought out provides the residue or nucleus upon which the further work may be based. Mistakes matter not; nought but the fleeting personalities suffer. What does matter is lack of aspiration, inability to attempt, and incapacity to learn the lesson that failure teaches. When failures are regarded as valuable lessons, when a mistake is deemed but a warning signal that averts from disaster, and when no time is ever lost by a disciple in vain despair and useless self depreciation, then the watching Teachers of the race know that the work the Ego seeks to do through each expression on the lower plane goes forward as desired, and that success must inevitably eventuate. We will here take each detail of our subject, as enumerated above, by itself.

Ngay từ đầu, Tôi muốn nhắc các bạn rằng nhiều điều Tôi có thể nói về vấn đề này phải để lại không nói, vì khả năng lĩnh hội còn thiếu. Tôi có thể đề ra một số quy luật gần đúng và đưa ra một số gợi ý căn bản có thể có chỗ đứng trong việc [Page 311] triển khai sau cùng. Tôi không thể đề ra một quy luật nào bắt buộc phải tuân giữ. Định luật huyền bí không như vậy. Trong việc thành lập các trường huyền bí này với hai cấp, dự bị và cao cấp, tại những trung tâm được chỉ định khác nhau, thuộc một trong bốn chi nhánh của Trường Huyền Bí Học căn bản duy nhất, công việc sẽ khởi đầu một cách kín đáo; những học viên và chân ngã tiến bộ có nhiệm vụ thực hiện bước khởi đầu cần thiết phải tự tìm ra phương pháp, địa điểm và cách thức. Tất cả phải được rèn luyện trong lò lửa của nỗ lực và thử nghiệm, và cái giá phải trả sẽ cao; nhưng chỉ những gì được rèn luyện như thế mới tạo nên phần tinh túy hay hạt nhân làm nền tảng cho công việc tiếp theo. Sai lầm không quan trọng; chỉ những phàm ngã thoáng qua chịu tổn thương. Điều quan trọng là thiếu khát vọng, không có khả năng thử sức và không thể học bài học mà thất bại dạy cho mình. Khi thất bại được xem là những bài học quý giá, khi sai lầm chỉ được coi là tín hiệu cảnh báo giúp tránh tai họa, và khi đệ tử không bao giờ phí thời gian vào sự tuyệt vọng vô ích và tự hạ thấp mình một cách vô nghĩa, thì các Huấn sư đang quan sát nhân loại biết rằng công việc Chân ngã tìm cách thực hiện qua mỗi biểu hiện trên cõi thấp đang tiến triển như mong muốn, và thành công tất yếu sẽ đến. Ở đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét riêng từng chi tiết của đề tài, như đã liệt kê ở trên.

The Location. This is a matter of very real importance but differs according to the need of finding a situation whereon to found a preparatory or an advanced school. Generally speaking (for national requirements vary much), the school for the preparatory work will be situated within reasonable distance of some big center or city, whilst the school for the advanced grades will be more isolated, and not so easily accessible.

Địa điểm. Đây là vấn đề thực sự quan trọng, nhưng sẽ khác nhau tùy theo nhu cầu tìm một địa điểm để thành lập trường dự bị hay trường cao cấp. Nói chung (vì nhu cầu của các quốc gia rất khác nhau), trường dành cho công việc dự bị sẽ nằm cách một trung tâm lớn hay thành phố một khoảng hợp lý, trong khi trường dành cho các cấp cao hơn sẽ biệt lập hơn và không dễ tiếp cận bằng.

Let us look into this for a moment. One of the fundamental things that the novitiate has to learn is to find his [Page 312] center within himself, independent of surrounding circumstances, and preferably in spite of surrounding circumstances. The center must be found to a considerable degree before he can pass on to the more advanced grades and work in the second school. The preparatory school above all things concentrates on the development of the threefold lower man, and his training in service. The advanced school definitely prepares for Initiation, and is concerned with occult lore, with the impartation of cosmic truth, with the abstract development of the pupil, and with work on causal levels. One can be best accomplished in the world of men and through contact with the world; the other demands necessarily an environment of comparative seclusion and freedom from interruption. We might express it thus:—the preparatory grades deal with the kingdom of God within, whilst the advanced school expands that training into one which includes the kingdom of God without. Therefore the first will be situated amongst the working sons of men, so that by his reactions and interactions in association with them, in service and struggle, the pupil may learn to know himself. The other will be for those who have somewhat mastered these things, and are ready to learn more of other evolutions and of the cosmos. Until a man is master of himself to a considerable degree he may not safely work, for instance, with the deva or angel evolution. In the preparatory school he learns this mastery; in the more advanced school he can thus be trusted to make other contacts than the human. In both these schools, the basic instruction is meditation in all its grades. Why? Because in occult schools information, clear instructions, or a conglomerate of facts are never given, nor are the exoteric textbook methods ever employed. The whole aim is only to put the student in the way of finding out for himself the needed knowledge. [Page 313] How? By developing the intuition through meditation, and by the attainment of that measure of mental control that will permit the wisdom of the Triad to pour down into the physical brain, via the causal. Therefore, in the preparatory school emphasis will he laid on the meditation that concerns the mind, and the teaching embodied in this book will be applied. This necessitates an environment wherein many and varied human contacts will he made, and where the concrete knowledge of the world of men will be easily available (music, libraries, and lectures), for in the preparation of true occult training the astral and mental equipping of the student will be one of the first considerations. When this has been somewhat accomplished, and when the clairvoyant head of the school sees that the rounding out of the lower auric egg approaches the desired point, then the pupil will pass into the more advanced school, and will be taught how from his stable center to contact the cosmic center, and from the point within himself to expand his consciousness till it touches the periphery of the system macrocosmic, and embraces all that lives—lives in an occult sense. This necessitates, during the period of training, comparative seclusion, and this the advanced school will provide. Therefore the preparatory school will be located near some large city, preferably near the sea or some large expanse of water, but never within the city; it will be on the confines of the centers of learning within the city and will be readily accessible. The advanced school will be far from the crowded places of the earth and preferably in a mountainous region, for the mountains have a direct effect on the occultist and impart to him that quality of strength and steadfastness that is their predominant characteristic and must be that too of the occultist. The sea or expanse of water close to a preparatory school will convey to his [Page 314] mind a constant reminder of the purification which is his paramount work, whilst the mountains will imbue the advanced student with cosmic strength and will hold steadily before him the thought of the Mount of Initiation which he aims soon to tread.

Chúng ta hãy xem xét điều này một lát. Một trong những điều căn bản mà người sơ cơ phải học là tìm thấy [Page 312] trung tâm bên trong mình, không lệ thuộc vào hoàn cảnh xung quanh, và tốt hơn nữa là bất chấp hoàn cảnh xung quanh. Y phải tìm thấy trung tâm ấy ở một mức độ đáng kể trước khi có thể tiến lên các cấp cao hơn và làm việc trong trường thứ hai. Trên hết, trường dự bị tập trung vào sự phát triển của phàm nhân tam phân và việc huấn luyện y phụng sự. Trường cao cấp chuẩn bị rõ rệt cho Điểm đạo, chú trọng tri thức huyền bí, việc truyền đạt chân lý vũ trụ, sự phát triển khả năng trừu tượng của học viên và công việc trên các cấp độ nguyên nhân. Công việc thứ nhất có thể thành tựu tốt nhất trong thế giới loài người và qua sự tiếp xúc với thế giới; công việc thứ hai nhất thiết đòi hỏi một môi trường tương đối biệt lập và không bị gián đoạn. Chúng ta có thể diễn đạt như sau:—các cấp dự bị đề cập đến Thiên Giới bên trong, trong khi trường cao cấp mở rộng việc huấn luyện ấy để bao gồm Thiên Giới bên ngoài. Vì vậy, trường thứ nhất sẽ nằm giữa những người con của nhân loại đang làm việc, để qua những phản ứng và tương tác khi giao tiếp với họ, trong phụng sự và đấu tranh, học viên có thể học cách biết mình. Trường kia sẽ dành cho những người đã phần nào làm chủ các điều ấy và sẵn sàng học thêm về những dòng tiến hoá khác và về vũ trụ. Chẳng hạn, cho đến khi con người làm chủ được mình ở một mức độ đáng kể, y chưa thể làm việc an toàn với dòng tiến hoá thiên thần. Trong trường dự bị, y học sự làm chủ này; nhờ vậy, trong trường cao cấp hơn, có thể tin tưởng giao cho y thực hiện những tiếp xúc ngoài phạm vi nhân loại. Trong cả hai trường, nội dung huấn luyện căn bản là tham thiền ở mọi cấp độ. Vì sao? Vì trong các trường huyền bí, người ta không bao giờ cung cấp thông tin, những chỉ dẫn tường tận hay một tập hợp dữ kiện, cũng không bao giờ sử dụng các phương pháp giáo khoa ngoại môn. Toàn bộ mục tiêu chỉ là đưa đạo sinh vào con đường tự tìm ra tri thức cần thiết. [Page 313] Bằng cách nào? Bằng cách phát triển trực giác qua tham thiền và đạt tới mức độ kiểm soát thể trí cho phép minh triết của Tam nguyên tinh thần tuôn xuống bộ não hồng trần qua thể nguyên nhân. Vì vậy, trong trường dự bị, trọng tâm sẽ là việc tham thiền liên quan đến thể trí, và giáo huấn trình bày trong sách này sẽ được áp dụng. Điều này đòi hỏi một môi trường có nhiều sự tiếp xúc đa dạng với con người, và dễ tiếp cận tri thức cụ thể về thế giới loài người (âm nhạc, thư viện và các buổi thuyết giảng), vì khi chuẩn bị cho việc huấn luyện huyền bí đích thực, trang bị cho đạo sinh về mặt cảm dục và trí tuệ sẽ là một trong những điều được cân nhắc trước tiên. Khi điều này đã phần nào thành tựu, và khi người đứng đầu trường có khả năng thông nhãn thấy rằng sự hoàn thiện noãn hào quang thấp đang tiến gần mức mong muốn, học viên sẽ chuyển sang trường cao cấp hơn; ở đó, y sẽ được dạy cách từ trung tâm ổn định của mình tiếp xúc với trung tâm vũ trụ, và từ điểm bên trong mình mở rộng tâm thức cho đến khi chạm tới chu vi của hệ thống đại thiên địa và bao trùm tất cả những gì sống—sống theo nghĩa huyền bí. Trong thời gian huấn luyện, điều này đòi hỏi sự biệt lập tương đối, và trường cao cấp sẽ đáp ứng điều ấy. Vì vậy, trường dự bị sẽ nằm gần một thành phố lớn, tốt nhất là gần biển hay một vùng nước rộng, nhưng không bao giờ ở trong thành phố; trường sẽ ở vùng giáp các trung tâm học thuật trong thành phố và dễ dàng tiếp cận. Trường cao cấp sẽ ở xa những nơi đông đúc trên Trái Đất và tốt nhất là trong một vùng núi, vì núi có tác động trực tiếp lên nhà huyền bí học, truyền cho y phẩm tính mạnh mẽ và kiên định vốn là đặc điểm nổi bật của núi và cũng phải là đặc điểm của nhà huyền bí học. Biển hay vùng nước rộng gần trường dự bị sẽ thường xuyên nhắc nhở [Page 314] thể trí của y về sự thanh luyện, vốn là công việc tối quan trọng của y; trong khi núi sẽ thấm nhuần đạo sinh cao cấp bằng sức mạnh vũ trụ và luôn giữ trước y tư tưởng về Núi Điểm Đạo mà y mong sớm đặt chân lên.

Tomorrow we will take the important factor of the personnel and faculty of the school and the types of building.

Ngày mai, chúng ta sẽ xem xét yếu tố quan trọng là nhân sự và đội ngũ giảng dạy của trường, cùng các kiểu công trình.

OCTOBER 7TH, 1920.

NGÀY 7 THÁNG 10 NĂM 1920.

We deal today with that portion of our third point in the letter on “Future Schools of Meditation,” which deals with the Personnel of the School.

Hôm nay, chúng ta bàn đến phần thuộc điểm thứ ba trong bức thư về “Các Trường Tham Thiền Tương Lai”, phần đề cập đến Nhân sự của Trường.

This term includes both those who supervise and those who are under supervision, and the subject is necessarily large. As said in the earlier parts of this letter, the schools will be in two divisions wherever situated:—

Thuật ngữ này bao gồm cả những người giám sát lẫn những người chịu sự giám sát, và đề tài này tất nhiên rộng lớn. Như đã nói trong những phần trước của bức thư, dù đặt ở đâu, các trường cũng sẽ có hai cấp:—

a. A preparatory school for the earlier grades in occult instruction, and situated preferably near some large expanse of water and near some central city.

a. Một trường dự bị dành cho những cấp đầu của việc huấn luyện huyền bí, tốt nhất là nằm gần một vùng nước rộng và gần một thành phố trung tâm.

b. An advanced school for the later grades, which will definitely prepare the way for initiation, and train pupils in occult lore.

b. Một trường cao cấp dành cho những cấp sau, sẽ chuẩn bị rõ rệt con đường dẫn tới điểm đạo và huấn luyện học viên về tri thức huyền bí.

As you will consequently see, the personnel of both schools will necessarily differ, as will the curriculum. We will deal with each type of school separately, and lay down certain fundamentals which must be looked for in instructors and instructed.

Do đó, như các bạn sẽ thấy, nhân sự của hai trường tất nhiên sẽ khác nhau, cũng như chương trình học. Chúng ta sẽ bàn riêng từng loại trường và đề ra một số điều căn bản cần tìm thấy nơi người dạy và người học.

The Preparatory Occult School. This—to the outer world—may appear not so different from an ordinary college. The differences will not be recognizable at first to the man of the world, though the differences will be there, and will demonstrate themselves in the school work, to the pupils, and on the inner planes. The fundamentals as regards the instructors are as follows:— [Page 315]

Trường Huyền Bí Dự Bị. Đối với thế giới bên ngoài, trường này có thể trông không khác lắm một trường đại học thông thường. Ban đầu, người đời sẽ không nhận ra những khác biệt, dù chúng vẫn hiện hữu và sẽ tự biểu lộ trong công việc của trường, đối với học viên và trên các cõi bên trong. Những điều căn bản về giảng viên như sau:— [Page 315]

The Head of the school will be an accepted disciple; it is essential that the Master, Who is back of the work of any particular school, should be able at all times to tap the consciousness of that school as focused through the disciple. This Head will be able to act as a medium of communication between the students and the Master and as a focal point for His force to flow through to them. He must be consciously able to function on the astral plane at night and to bring the knowledge through to the physical brain, for part of his work will be with students on the astral plane, guiding them to the Master’s ashram at certain intervals for specialized work. He will have to train them too in this conscious functioning.

Người đứng đầu trường sẽ là một đệ tử được chấp nhận; điều thiết yếu là Chân sư đứng sau công việc của một trường cụ thể phải luôn có thể tiếp cận tâm thức của trường ấy, được tập trung qua đệ tử này. Người đứng đầu này sẽ có khả năng làm trung gian giao tiếp giữa các đạo sinh với Chân sư, đồng thời là tiêu điểm để mãnh lực của Ngài tuôn qua đến họ. Y phải có khả năng hoạt động hữu thức trên cõi cảm dục vào ban đêm và đưa tri thức về bộ não hồng trần, vì một phần công việc của y sẽ là làm việc với các đạo sinh trên cõi cảm dục, dẫn họ đến ashram của Chân sư vào những thời điểm nhất định để thực hiện công việc chuyên biệt. Y cũng sẽ phải huấn luyện họ hoạt động hữu thức như vậy.

Under him will work six instructors, of whom one at least must be a conscious clairvoyant, and able to assist the Head with his information as to the auric development of the students; he must be able to gauge the colors and expansion of the students’ vehicles, and co-operate with the Head in the work of expanding and attuning those vehicles. These instructors must be on the Probationary Path and earnestly devoted to the work of assisting evolution and devoted to the service of some one Master. They must and will be carefully chosen so as to supplement and complement each other, and in the school will form a miniature hierarchy, showing on the physical plane a tiny replica of the occult prototype. As their work will be largely to develop the lower mind of the pupil and to link it up with the higher consciousness, and as the focal point of their endeavor will be the rapid building-in the causal body, they will be men of erudition, and of knowledge, grounded in the knowledge of the Hall of Learning, and able to teach and to compete with the trained teachers of the world universities. [Page 316]

Dưới quyền y sẽ có sáu giảng viên, trong đó ít nhất một người phải có khả năng thông nhãn hữu thức và có thể trợ giúp người đứng đầu bằng thông tin về sự phát triển hào quang của các đạo sinh; người ấy phải có khả năng đánh giá màu sắc và sự mở rộng các hiện thể của đạo sinh, đồng thời hợp tác với người đứng đầu trong việc mở rộng và điều hòa những hiện thể ấy. Các giảng viên này phải ở trên Con Đường Dự Bị, chân thành tận tụy với công việc hỗ trợ tiến hoá và tận tâm phụng sự một Chân sư nào đó. Họ phải và sẽ được lựa chọn cẩn thận để bổ sung và bù đắp cho nhau; trong trường, họ sẽ hình thành một hệ thống thứ bậc thu nhỏ, biểu hiện trên cõi hồng trần một bản sao nhỏ bé của nguyên mẫu huyền bí. Vì công việc của họ chủ yếu là phát triển hạ trí của học viên và liên kết nó với tâm thức cao hơn, và vì trọng tâm nỗ lực của họ sẽ là nhanh chóng xây dựng thể nguyên nhân, họ sẽ là những người uyên bác và có tri thức, vững vàng trong tri thức của Phòng Học Tập, có khả năng giảng dạy và sánh ngang với các giảng viên đã được đào tạo tại những trường đại học trên thế giới. [Page 316]

In every college the work of these trained seven men will be aided by that of three women chosen for their capacity to teach, for their intuitive development and for the spiritual and devotional touch they will bring to the lives of the students. To these ten teachers will be entrusted the work of grounding the students in the important essentials, in superintending the acquirement of the rudiments of occult lore and science, and their development in the higher psychism. These ten must be profound students of meditation, and able to superintend and teach the pupils the rudiment of occult meditation, as taught, for instance, in this book. Occult facts will be imparted to these pupils by them and the basic laws that—in the advanced school—will be the subject of definite practice by the would-be initiate. Exercises in telepathy, causal communication, reminiscence of work undertaken during the hours of sleep, and the recovering of the memory of past lives, through certain mental processes, will be taught by them,—themselves proficient in these arts.

Trong mỗi trường đại học, công việc của bảy người nam đã được huấn luyện này sẽ có sự hỗ trợ của ba người nữ được lựa chọn vì khả năng giảng dạy, sự phát triển trực giác và ảnh hưởng tinh thần cùng lòng sùng tín mà họ sẽ mang đến cho đời sống của các đạo sinh. Mười giảng viên này sẽ được giao nhiệm vụ giúp đạo sinh nắm vững những điều cốt yếu quan trọng, giám sát việc tiếp thu những kiến thức sơ đẳng về tri thức và khoa học huyền bí, cùng sự phát triển các năng lực thông linh cao cấp của họ. Mười người này phải là những đạo sinh nghiên cứu sâu về tham thiền, có khả năng giám sát và dạy học viên những kiến thức sơ đẳng về tham thiền huyền bí, chẳng hạn như được dạy trong sách này. Họ sẽ truyền đạt cho học viên những sự kiện huyền bí và các định luật căn bản mà, trong trường cao cấp, người mong trở thành điểm đạo đồ sẽ thực hành cụ thể. Họ sẽ dạy những bài tập về viễn cảm, giao tiếp nguyên nhân, hồi tưởng công việc đã thực hiện trong những giờ ngủ và khôi phục ký ức về các kiếp trước qua một số tiến trình trí tuệ,—bản thân họ đã thành thạo những kỹ năng này.

As you will see here, all these teachers will be devoted to the definite training and inner development of the threefold man.

Như các bạn thấy ở đây, tất cả những giảng viên này sẽ tận tâm với việc huấn luyện cụ thể và phát triển nội tâm của con người tam phân.

Under these will work various other teachers, who will superintend other departments of the pupils’ lives. Exoteric science will be taught and practiced by proficient teachers, and the lower mind will be developed as much as possible, and kept in check by the other ten teachers who watch over the proportional development, and the aptitude for correct meditation of the student.

Dưới quyền họ sẽ có nhiều giảng viên khác, giám sát các lĩnh vực khác trong đời sống học viên. Những giảng viên thành thạo sẽ giảng dạy và hướng dẫn thực hành khoa học ngoại môn; hạ trí sẽ được phát triển tối đa và được mười giảng viên kia giữ trong sự kiểm soát, những người theo dõi sự phát triển cân đối và khả năng tham thiền đúng đắn của đạo sinh.

Along with all this will be the life of world-service, rigidly demanded of each and every pupil. This life of service will be carefully watched and recorded. One thing to be noted here is that in this there will be no compulsion. The pupil will know what is expected of him and what he [Page 317] must do if he is to pass on to the more advanced schools, and the school’s charts (recording the condition of his vehicles, and his progress and his capacity to serve) will all be available for his personal inspection, though to no one else. He will know clearly where he stands, what he must do and what remains to be done, and it rests then with him to aid the work by the closest co-operation. A certain amount of care will be taken in the admittance of pupils to the school, and this will obviate the necessity of later removal for inability or lack of interest, but this I will deal with later, when taking up the grades and classes.

Đi cùng tất cả những điều này sẽ là đời sống phụng sự thế gian, một yêu cầu nghiêm ngặt đối với từng học viên. Đời sống phụng sự này sẽ được theo dõi và ghi chép cẩn thận. Một điều cần lưu ý ở đây là sẽ không có sự ép buộc. Học viên sẽ biết người ta mong đợi điều gì ở y và y [Page 317] phải làm gì nếu muốn tiến vào các trường cao cấp hơn; mọi biểu đồ của trường (ghi lại tình trạng các hiện thể của y, sự tiến bộ và khả năng phụng sự của y) đều sẽ để y tự xem xét, nhưng không cho bất kỳ ai khác. Y sẽ biết rõ mình đang ở đâu, phải làm gì và còn những gì cần làm; khi ấy, chính y có trách nhiệm hỗ trợ công việc bằng sự hợp tác chặt chẽ nhất. Việc tiếp nhận học viên vào trường sẽ được tiến hành thận trọng ở mức nhất định, và điều này sẽ tránh được nhu cầu về sau phải cho thôi học vì thiếu khả năng hay thiếu quan tâm; nhưng Tôi sẽ bàn điều này sau, khi xem xét các cấp và lớp.

You have, therefore, ten superintending teachers, composed of seven men and three women, including a Head who is an accepted disciple. Under them will work a set of instructors who will deal largely with the lower mind and in the emotional, physical and mental equipping of the pupil, and his passing into the advanced school in a condition to profit by the instructions there to be imparted. Here I would point out that I have planned out the ideal, and pictured for you the school as it is hoped it will eventually be. But as in all occult development, the beginning will be small and of little apparent importance. Tomorrow we will take up the rules governing the admission of students and the personnel of the more advanced school.

Vì vậy, các bạn có mười giảng viên giám sát, gồm bảy người nam và ba người nữ, trong đó có một người đứng đầu là đệ tử được chấp nhận. Dưới quyền họ sẽ có một nhóm giảng viên chủ yếu phụ trách hạ trí, trang bị cho học viên về mặt cảm xúc, hồng trần và trí tuệ, để y chuyển sang trường cao cấp trong tình trạng có thể hưởng lợi từ những giáo huấn sẽ được truyền đạt ở đó. Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi đã phác định lý tưởng và mô tả cho các bạn ngôi trường như hy vọng cuối cùng nó sẽ trở thành. Nhưng cũng như trong mọi sự phát triển huyền bí, bước khởi đầu sẽ nhỏ bé và bề ngoài ít có vẻ quan trọng. Ngày mai, chúng ta sẽ xem xét các quy luật chi phối việc tiếp nhận đạo sinh và nhân sự của trường cao cấp hơn.

OCTOBER 16TH, 1920.

NGÀY 16 THÁNG 10 NĂM 1920.

……Today we will take up:—

……Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét:—

The personnel of the advanced school, and the rules of admission to both the preparatory and advanced. This latter part will be largely technical.

Nhân sự của trường cao cấp và các quy luật tiếp nhận vào cả trường dự bị lẫn trường cao cấp. Phần sau này chủ yếu sẽ mang tính kỹ thuật.

The first point I seek to make here is that these advanced schools will be numerically small, and this for a very long time to come, and the personnel will be correspondingly [Page 318] small….At the head of the school will always be found an Initiate of the first or second degree, the aim of the school being to prepare pupils for the first initiation. This necessarily requires an Initiate head. This Initiate head will be definitely appointed by the Master Who has the school in charge, and he will be—within the confines of the school—sole judge and autocrat. The risks of occult training are too great to permit of trifling, and what the Head demands must be obeyed. But this obedience will not be compulsory but voluntary, for each pupil will realize the necessity and will render obedience from spiritual recognition. As aforesaid, these different occult schools will be practically ray schools, and will have for their personnel teachers on some one ray or its complementary ray, with pupils on the same ray or complementary ray. For instance, if the school is a second ray school—such as the one in Ireland is purposed to be—teachers and pupils on the second, fourth and sixth rays will be found in it. At least one fifth ray teacher will be found in every school of occultism. If a first ray school, the personnel and pupils will be first, third and seventh ray, with again a fifth ray teacher among the others.

Điểm đầu tiên Tôi muốn nêu ở đây là các trường cao cấp này sẽ ít về số lượng, và sẽ như vậy trong một thời gian rất dài sắp tới; nhân sự cũng sẽ tương ứng [Page 318] ít….Đứng đầu trường luôn sẽ là một Điểm đạo đồ bậc một hoặc bậc hai, vì mục tiêu của trường là chuẩn bị học viên cho lần điểm đạo thứ nhất. Điều này tất nhiên đòi hỏi người đứng đầu phải là một Điểm đạo đồ. Chân sư phụ trách trường sẽ đích thân bổ nhiệm vị Điểm đạo đồ đứng đầu này, và trong phạm vi trường, y sẽ là người duy nhất có quyền phán quyết và toàn quyền quyết định. Những nguy cơ của việc huấn luyện huyền bí quá lớn, không cho phép sự xem nhẹ, và những gì người đứng đầu yêu cầu đều phải được tuân theo. Nhưng sự tuân phục này sẽ không do ép buộc mà là tự nguyện, vì mỗi học viên sẽ nhận ra sự cần thiết và tuân phục từ sự nhận biết tinh thần. Như đã nói, các trường huyền bí khác nhau này trên thực tế sẽ là những trường theo cung, với đội ngũ giảng viên thuộc một cung nào đó hoặc cung bổ sung của nó, cùng các học viên thuộc cùng cung hoặc cung bổ sung. Chẳng hạn, nếu trường thuộc cung hai—như dự định đối với trường ở Ireland—thì trong trường sẽ có giảng viên và học viên thuộc cung hai, cung bốn và cung sáu. Mỗi trường huyền bí học sẽ có ít nhất một giảng viên cung năm. Nếu là trường cung một, nhân sự và học viên sẽ thuộc cung một, cung ba và cung bảy, và cũng có một giảng viên cung năm trong số họ.

Under the initiate Head will be two other teachers who will be accepted disciples, and every pupil under them must have passed through the preparatory school, and graduated from all the lower grades. Probably these three will comprise the entire teaching staff, for the pupils under them will he relatively few in number and the work of the teachers is supervisory more than didactic, for the occultist is always esoterically self-taught.

Dưới quyền người đứng đầu là điểm đạo đồ sẽ có hai giảng viên khác, là những đệ tử được chấp nhận; mọi học viên dưới quyền họ phải từng học ở trường dự bị và tốt nghiệp tất cả các cấp thấp hơn. Có lẽ ba người này sẽ tạo thành toàn bộ đội ngũ giảng dạy, vì số học viên dưới quyền họ sẽ tương đối ít, và công việc của giảng viên thiên về giám sát hơn là truyền dạy, vì nhà huyền bí học luôn tự học về mặt nội môn.

Much of the work done by these three will he on the inner planes, and they will work more in the seclusion of their own rooms than in class room with the students [Page 319] themselves. The pupils are—it will be presumed—ready to work for themselves and to find the way to the portal of initiation alone. The work of the teachers will be advisory, and they will be available to answer questions and to superintend work initiated by the pupil himself, and not compelled by the teacher. Stimulating vibration, aligning the bodies, superintending the work on inner planes, and the pouring in of force with the shielding from danger by occult methods, will be the work, in part, of the Teachers, added to the supervision of definite and strenuous meditation. At intervals they will conduct the pupils to the Master, advise as to their passing into the different grades of discipleship, report at intervals on the quality of their life service and assist them in building their buddhic vehicle, which has to be in an embryonic condition when the First initiation is taken. The teachers likewise superintend the working out in practice of the theories anent the other evolution, the deva evolution, laid down in the preparatory schools; they watch over the manipulation of matter by the pupil and his demonstration of the laws of construction; they safeguard him as far as may be in his contact with sub-human and super-human evolutions, and teach him to wield the law and to transcend karma. They enable him, through their instructions, to recover the knowledge of past lives and to read the akashic records, but as you will see, the pupil is the one in this school who initiates and does the work, superintended and guarded by the teachers, and his progress and the length of his residence within the school depend upon his own effort and initiatory powers.

Phần lớn công việc của ba người này sẽ diễn ra trên các cõi bên trong, và họ sẽ làm việc trong sự biệt lập tại phòng riêng nhiều hơn là trong lớp học với chính các đạo sinh [Page 319]. Có thể giả định rằng các học viên đã sẵn sàng tự làm việc và tự tìm đường đến cổng điểm đạo. Công việc của giảng viên sẽ mang tính cố vấn; họ sẽ sẵn sàng trả lời câu hỏi và giám sát công việc do chính học viên khởi xướng, chứ không phải do giảng viên ép buộc. Kích thích rung động, chỉnh hợp các thể của học viên, giám sát công việc trên các cõi bên trong, tuôn đổ mãnh lực và che chở khỏi nguy hiểm bằng những phương pháp huyền bí sẽ là một phần công việc của các Huấn sư, bên cạnh việc giám sát sự tham thiền cụ thể và chuyên cần. Vào những thời điểm nhất định, họ sẽ dẫn học viên đến Chân sư, đưa ra lời khuyên về việc tiến vào các cấp khác nhau của địa vị đệ tử, định kỳ báo cáo về phẩm tính đời sống phụng sự của học viên và hỗ trợ họ xây dựng hiện thể Bồ đề, vốn phải ở trạng thái phôi thai khi nhận lần điểm đạo thứ nhất. Các giảng viên cũng giám sát việc thực hành những lý thuyết về dòng tiến hoá khác, dòng tiến hoá thiên thần, đã được trình bày trong các trường dự bị; họ theo dõi việc học viên vận dụng vật chất và thể hiện các định luật kiến tạo; họ bảo vệ y hết mức có thể khi y tiếp xúc với các dòng tiến hoá dưới nhân loại và siêu nhân loại, đồng thời dạy y vận dụng định luật và vượt qua nghiệp quả. Qua những chỉ dẫn của mình, họ giúp y khôi phục tri thức về các kiếp trước và đọc ký ảnh akasha; nhưng như các bạn thấy, trong trường này chính học viên là người khởi xướng và thực hiện công việc, dưới sự giám sát và bảo vệ của các giảng viên; sự tiến bộ và thời gian y lưu lại trường tùy thuộc vào nỗ lực cùng năng lực khởi xướng của chính y.

The rules of admission into the preparatory school will be somewhat as follows, but I only indicate probabilities and not ascertained and fixed facts:— [Page 320]

Các quy luật tiếp nhận vào trường dự bị sẽ phần nào như sau, nhưng Tôi chỉ nêu những khả năng, chứ không phải các sự kiện đã được xác định và cố định:— [Page 320]

1. The pupil must be free from obligatory karma and able to take the course without neglecting his other duties and family ties.

1. Học viên phải không còn những nghĩa vụ nghiệp quả ràng buộc và có khả năng theo học mà không sao nhãng các bổn phận khác cùng những mối ràng buộc gia đình.

2. There will be no fees or money charged, and no money transaction. The pupil must be somewhat self-supporting and able to earn the means of livelihood whilst in the school. The schools in both their divisions will be supported through the voluntary contributions of people, and through a knowledge of the laws of supply and demand occultly interpreted.

2. Sẽ không thu học phí hay tiền bạc, và không có giao dịch tiền bạc. Học viên phải có khả năng tự túc phần nào và kiếm được phương tiện sinh sống trong thời gian ở trường. Cả hai cấp trường sẽ được duy trì nhờ những đóng góp tự nguyện của mọi người và nhờ tri thức về các định luật cung cầu được diễn giải theo nghĩa huyền bí.

3. The pupil must be able to measure up to the average educational standards of his day and generation and must show aptitude for some line of thought.

3. Học viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn giáo dục trung bình của thời đại và thế hệ mình, đồng thời thể hiện năng khiếu đối với một lĩnh vực tư tưởng nào đó.

4. He must be seen clairvoyantly to have a certain amount of co-ordination and alignment and the causal body must be of a certain grade or quality before he is admitted. Teachers of occultism waste not time on those not ready. Only when the inner light shines forth, only when the causal body is of a certain capacity can the pupil profit by the curriculum. Therefore, with the Head of the school will the final verdict lie as to whether a pupil may enter or not. That word will be final, and will be passed after due inspection of the pupil by the Head of the school through clairvoyant and causal vision, and after reference to the man’s own Master.

4. Trước khi được tiếp nhận, sự quan sát bằng thông nhãn phải cho thấy y có một mức độ phối hợp và chỉnh hợp nhất định, và thể nguyên nhân phải đạt một cấp độ hay phẩm tính nhất định. Các Huấn sư huyền bí học không phí thời gian cho những người chưa sẵn sàng. Chỉ khi ánh sáng bên trong tỏa chiếu, chỉ khi thể nguyên nhân có một khả năng nhất định, học viên mới có thể hưởng lợi từ chương trình học. Vì vậy, phán quyết cuối cùng về việc một học viên có được nhập học hay không sẽ thuộc về người đứng đầu trường. Quyết định ấy sẽ là tối hậu, được đưa ra sau khi người đứng đầu trường xem xét học viên kỹ lưỡng bằng thông nhãn và linh thị nguyên nhân, rồi tham khảo Chân sư của chính người ấy.

5. He must have demonstrated, by a previous period of service, his ability to work in group formation and to think in terms of others. [Page 321]

5. Qua một thời kỳ phụng sự trước đó, y phải chứng tỏ khả năng làm việc trong đội hình nhóm và suy nghĩ cho người khác. [Page 321]

6. His past incarnations must he somewhat looked up, and the indications given through their study will guide the Head in his final decision.

6. Cần khảo sát phần nào các kiếp trước của y, và những dấu hiệu thu được từ việc nghiên cứu ấy sẽ hướng dẫn người đứng đầu trong quyết định cuối cùng.

7. The pupil must he over twenty-one and under forty-two years of age.

7. Học viên phải trên hai mươi mốt và dưới bốn mươi hai tuổi.

8. His etheric body must be in good condition and be a good transmitter of prana, and there must be no physical disease or handicapping physical deformity.

8. Thể dĩ thái của y phải ở tình trạng tốt và truyền dẫn prana tốt; y phải không có bệnh tật hồng trần hay dị dạng thân thể gây trở ngại.

These are the fundamental rules which it is at present possible to give. There will be others and the problem of selection may pass through some vicissitudes in solving.

Đây là những quy luật căn bản hiện có thể đưa ra. Sẽ còn những quy luật khác, và việc giải quyết vấn đề tuyển chọn có thể trải qua một số biến động.

The rules for admission into the advanced school are far more esoteric and fewer in number. The pupils will be chosen from out of the preparatory school, after having passed through the graded courses. But selection will depend not on the mental development and the assimilation of concrete knowledge, but upon the inner comprehension and the occult understanding of the student, upon the quality of the tone of his life as it sounds forth in the inner world, upon the brilliance of the indwelling light, and upon his power in service.

Các quy luật tiếp nhận vào trường cao cấp mang tính nội môn sâu xa hơn nhiều và ít hơn về số lượng. Các học viên sẽ được chọn từ trường dự bị sau khi hoàn tất những khóa học phân cấp. Nhưng việc tuyển chọn sẽ không tùy thuộc vào sự phát triển trí tuệ và việc tiếp thu tri thức cụ thể, mà tùy thuộc vào sự lĩnh hội nội tâm và thấu hiểu huyền bí của đạo sinh, vào phẩm tính âm điệu đời sống của y khi vang lên trong thế giới bên trong, vào độ rực rỡ của ánh sáng nội tại và vào quyền năng phụng sự của y.

This suffices for today; tomorrow we will deal with the final division of this third point, the buildings of the school.

Hôm nay như thế là đủ; ngày mai, chúng ta sẽ bàn phần cuối của điểm thứ ba này, các công trình của trường.

OCTOBER 17TH, 1920.

NGÀY 17 THÁNG 10 NĂM 1920.

In dealing today with the subject of the buildings of the two types of occult schools, little can be said and only a general outline can be given. Climatic conditions and the desired size of the schools will greatly vary and the consequent plant will vary likewise……

Hôm nay, khi bàn về các công trình của hai loại trường huyền bí, chỉ có thể nói đôi chút và đưa ra một phác thảo tổng quát. Điều kiện khí hậu và quy mô mong muốn của các trường sẽ rất khác nhau, nên cơ sở vật chất tương ứng cũng sẽ khác nhau……

The buildings for the preparatory school will differ not so much from those of an ordinary college in the exoteric [Page 322] world. One rule only will be laid down—each student must of necessity have his own separated chamber. The type of building matters not, provided these conditions are fulfilled. Each room must be non-communicating, save with the central corridor, and must be in three divisions, necessarily small yet distinct. One division will be given up to the student’s life and study; another to the bath and the third will be the place for meditation containing the pictures of the Great Ones duly curtained. This third division is kept for the sole purpose of meditation and will contain little save the mat on which the student sits, a couch on which he will repose his physical vehicle during certain stated exercises and a small stool in front of the Master’s pictures, on which will be found the incensor and a vase for floral tributes.

Các công trình của trường dự bị sẽ không khác lắm những công trình của một trường đại học thông thường trong thế giới ngoại môn [Page 322]. Chỉ một quy luật sẽ được đề ra—mỗi đạo sinh nhất thiết phải có phòng riêng biệt. Kiểu công trình không quan trọng, miễn đáp ứng những điều kiện này. Mỗi phòng không được thông với phòng khác, mà chỉ thông ra hành lang trung tâm, và phải chia thành ba khu vực, tuy nhỏ nhưng riêng biệt. Một khu vực dành cho sinh hoạt và học tập của đạo sinh; khu vực khác dành để tắm, và khu vực thứ ba là nơi tham thiền, có những bức chân dung của Các Đấng Cao Cả được che rèm đúng cách. Khu vực thứ ba này chỉ dành riêng cho tham thiền và hầu như không có gì ngoài tấm thảm để đạo sinh ngồi, một chiếc trường kỷ để y đặt hiện thể hồng trần nằm nghỉ trong một số bài tập được quy định, cùng một chiếc đôn nhỏ trước các bức chân dung của Chân sư, trên đó đặt lư hương và bình hoa dâng cúng.

The resident teachers will reside with the students, the women taking charge of the women students, and the men residing with the male students. The Head of the school will reside alone in a detached house which will contain—besides the rooms in which he will live his private life—a reception room of small proportions for his work with individuals, and a larger room for joint concourses, besides a shrine room for the meeting of the united body of pupils.

Các giảng viên nội trú sẽ sống cùng đạo sinh; những người nữ phụ trách nữ đạo sinh, còn những người nam sống cùng nam đạo sinh. Người đứng đầu trường sẽ sống một mình trong một ngôi nhà riêng biệt; ngoài các phòng dành cho đời sống riêng, nhà này sẽ có một phòng tiếp khách nhỏ để làm việc với từng cá nhân, một phòng lớn hơn dành cho các cuộc hội họp chung, cùng một phòng thờ để toàn thể học viên cùng tụ họp.

The buildings for the advanced schools, even though they concern us not intimately as yet, provide in their construction much of occult significance for those who have eyes to see. The main feature in the occult advanced school will be the central temple of circular shape providing for each of the pupils (and you must remember that numerically they will not be large), a private shrine entered from the rear by a closed door and having a curtain between it and the large central shrine where the group meetings will be held. [Page 323]

Dù các công trình của trường cao cấp chưa liên quan mật thiết đến chúng ta, kiến trúc của chúng vẫn chứa nhiều thâm nghĩa huyền bí đối với những ai có mắt để thấy. Đặc điểm chính của trường huyền bí cao cấp sẽ là ngôi đền trung tâm hình tròn, dành cho mỗi học viên (và các bạn phải nhớ rằng số lượng họ sẽ không lớn) một gian thờ riêng, đi vào từ phía sau qua một cửa đóng, và có rèm ngăn cách với gian thờ trung tâm lớn, nơi sẽ diễn ra các cuộc họp nhóm. [Page 323]

This large central shrine will have a pavement whereon will be traced the triangle, and within the triangle the group will sit, the three spaces outside the triangle having tables whereon will be found various symbols and a few of the fundamental books on symbols and some large parchments whereon the cosmic symbols will be portrayed.

Gian thờ trung tâm lớn này sẽ có nền lát, trên đó vẽ hình tam giác; nhóm sẽ ngồi bên trong tam giác, còn ba khoảng bên ngoài tam giác sẽ đặt những chiếc bàn có các biểu tượng khác nhau, một vài sách căn bản về biểu tượng và một số tấm da lớn vẽ các biểu tượng vũ trụ.

image_2021.jpg

The color of this shrine will be dependent on the ray which it represents. The curtains which separate will be in the ray color also and each individual shrine curtain will carry the sign of the pupil’s nativity—his sign, rising sign, and controlling planets. These curtains will be the [Page 324] property of the pupil, as will the mat within the shrine which will carry the symbol of his ray, egoic and personality.

Màu sắc của gian thờ này sẽ tùy thuộc vào cung mà nó đại diện. Những tấm rèm ngăn cách cũng sẽ mang màu của cung ấy, và rèm của mỗi gian thờ riêng sẽ mang dấu hiệu bản mệnh của học viên—dấu hiệu của y, dấu hiệu mọc và các hành tinh chi phối. Những tấm rèm này sẽ là [Page 324] tài sản của học viên, cũng như tấm thảm trong gian thờ, trên đó có biểu tượng cung chân ngã và cung phàm ngã của y.

On the wall of the great circular passage will be found the signs of the zodiac, the four entrances standing for the four Maharajas.

Trên tường của hành lang lớn hình tròn sẽ có các dấu hiệu hoàng đạo; bốn lối vào tượng trưng cho bốn vị Maharaja.

A square wall will surround the whole, enclosing a garden which will be the care of the pupils themselves. There will be but one entrance through this wall on the north side. Outside will lie small building’s to house not more than three pupils, and a house wherein will reside the three instructors. The Initiate Head will likewise have his private residence distinguished by a domed tower at one side. This domed tower serves two purposes:—It is the place for astronomical and astrological instruction and will have the latest appliances of science for the study of the planets and of microcosmic life, and will also serve as a secure shelter for those pupils who can consciously leave their physical bodies and function elsewhere on the physical plane.

Một bức tường hình vuông sẽ bao quanh toàn bộ, bao lấy khu vườn do chính các học viên chăm sóc. Chỉ có một lối vào xuyên qua bức tường này ở phía bắc. Bên ngoài sẽ có những ngôi nhà nhỏ, mỗi nhà dành cho không quá ba học viên, và một ngôi nhà cho ba giảng viên cư trú. Người đứng đầu là Điểm đạo đồ cũng sẽ có nơi ở riêng, nổi bật với một tháp mái vòm ở một bên. Tháp mái vòm này có hai mục đích:—Đây là nơi giảng dạy thiên văn học và chiêm tinh học, có những thiết bị khoa học mới nhất để nghiên cứu các hành tinh và sự sống tiểu thiên địa; đồng thời cũng là nơi trú ẩn an toàn cho những học viên có thể rời thể xác một cách hữu thức và hoạt động ở nơi khác trên cõi hồng trần.

This is all I can give as yet. Record, watch and await the hour when the ideal will materialize.

Đây là tất cả những gì Tôi có thể đưa ra lúc này. Hãy ghi lại, quan sát và chờ đợi giờ phút lý tưởng sẽ hiện hình.

OCTOBER 29TH, 1920.

NGÀY 29 THÁNG 10 NĂM 1920.

Our fourth point comes up for consideration today, and in its discussion I will give you somewhat concerning the preparatory occult school but little concerning the advanced. This fourth point is one anent the grades and classes.

Hôm nay, chúng ta xem xét điểm thứ tư; trong khi bàn về nó, Tôi sẽ cung cấp cho các bạn đôi điều về trường huyền bí dự bị, nhưng rất ít về trường cao cấp. Điểm thứ tư này liên quan đến các cấp và lớp.

4 – The Grades and Classes. – 4 – Các Cấp và Lớp.

We have, in an earlier letter, touched upon the curriculum of the preparatory schools and have seen that that curriculum deals much with the development of lower [Page 325] mind, with the laying of the foundations upon which to build the later work, and with the formulation, the study, and the memorizing of the theories and occult laws upon which the true occultist will later base his practical work. We saw also that much that was taught was necessarily closely allied with the exoteric teaching of the world, and necessitated the school being in close touch with the centers of modern thought. Today I seek to point out certain things that will be seen in the scheme of the student’s work and to show the method whereby he is gradually led on until he is fit to pass on into the more advanced college. We will as usual divide our subject into three heads:—

Trong một bức thư trước, chúng ta đã đề cập đến chương trình học của các trường dự bị và thấy rằng chương trình ấy chú trọng nhiều đến sự phát triển hạ [Page 325] trí, việc đặt nền móng để xây dựng công việc về sau, và việc xây dựng, nghiên cứu, ghi nhớ những lý thuyết cùng các định luật huyền bí mà nhà huyền bí học đích thực sau này sẽ lấy làm cơ sở cho công việc thực hành. Chúng ta cũng thấy rằng phần lớn những điều được giảng dạy tất nhiên có liên hệ mật thiết với giáo dục ngoại môn của thế giới, và đòi hỏi trường phải giữ sự tiếp xúc chặt chẽ với các trung tâm tư tưởng hiện đại. Hôm nay, Tôi muốn chỉ ra một số điều sẽ có trong kế hoạch làm việc của đạo sinh và trình bày phương pháp dẫn dắt y dần dần cho đến khi đủ khả năng chuyển sang trường đại học cao cấp hơn. Như thường lệ, chúng ta sẽ chia đề tài thành ba mục:—

a. The times of study.

a. Các thời gian học tập.

b. The types of work.

b. Các loại công việc.

c. The transformation of potential faculty into active powers through practice.

c. Sự chuyển đổi năng lực tiềm tàng thành quyền năng hoạt động qua thực hành.

a. The times of study. – a. Các thời gian học tập.

All the work of the school will be based upon an occult knowledge of times and seasons, and two things will be carefully adhered to:—l. The school year will be divided into two halves, one half wherein the pupils are strenuously acquiring knowledge, that period being that in which the sun moves northward or the earlier half of the year, and a second half—separated from the earlier by an interval of six weeks—wherein he assimilates and puts into practice that which earlier was imparted. During the earlier months of the year he goes through a drastic system of reception, of learning, of hard study, of accumulation of facts and of concrete knowledge. He attends lectures, he wades through many books, he studies in the laboratory, and with the aid of the microscope and of the [Page 326] telescope he widens the range of his vision, and builds into his mental body a vast store of scientific data.

Toàn bộ công việc của trường sẽ dựa trên tri thức huyền bí về thời gian và mùa, và hai điều sẽ được tuân thủ cẩn thận:—1. Năm học sẽ chia thành hai nửa: một nửa, trong đó học viên chuyên cần thu nhận tri thức, là thời kỳ Mặt Trời di chuyển về phía bắc, tức nửa đầu năm; và nửa thứ hai—cách nửa đầu một khoảng sáu tuần—trong đó y đồng hóa và thực hành những gì đã được truyền đạt trước đó. Trong những tháng đầu năm, y trải qua một hệ thống nghiêm ngặt gồm tiếp nhận, học hỏi, học tập chuyên cần, tích lũy dữ kiện và tri thức cụ thể. Y dự các buổi thuyết giảng, miệt mài đọc nhiều sách, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, và với sự hỗ trợ của kính hiển vi cùng [Page 326] kính thiên văn, y mở rộng phạm vi tầm nhìn và xây dựng trong thể trí một kho dữ liệu khoa học rộng lớn.

During the six weeks’ vacation he is recommended to rest entirely from all mental effort save that associated with the practice of the imparted occult meditation. He mentally follows the cycle and goes into pralaya temporarily. At the end of six weeks he returns to his work with the object in view of systematizing the mass of information, of perfecting his comprehension of the facts earlier studied, of practicing that part of the occult lore permissible, with the object in view of becoming proficient and to discover his weak points. He writes during the “dark period” of the year the themes and essays, the books and pamphlets that will embody the product of the assimilated information. The best of these books will be published yearly by the college, for the use of the public. In this way he serves his time and generation and educates the race in the higher knowledge. 2. In exactly the same way his studies each month will be so arranged that the harder part (dealing with the higher mind) will be undertaken during the part of the month which is called the bright half, whilst the work of the dark half will be more given over to the things concerning lower mind and to an effort to hold the gain of the earlier weeks. Each day will be likewise divided into set times, the earlier hours being those in which the more abstract and occult data will be given, the latter part of the day being given over to a more practical type of work.

Trong kỳ nghỉ sáu tuần, y được khuyên hoàn toàn nghỉ mọi nỗ lực trí tuệ, trừ những nỗ lực liên quan đến việc thực hành tham thiền huyền bí đã được truyền dạy. Về mặt trí tuệ, y đi theo chu kỳ và tạm thời bước vào Giai kỳ qui nguyên. Sau sáu tuần, y trở lại công việc với mục tiêu hệ thống hóa khối thông tin, hoàn thiện sự lĩnh hội những dữ kiện đã nghiên cứu, thực hành phần tri thức huyền bí được phép, nhằm trở nên thành thạo và khám phá những điểm yếu của mình. Trong “thời kỳ tối” của năm, y viết những bài luận, tiểu luận, sách và tập sách nhỏ thể hiện thành quả của thông tin đã được đồng hóa. Những sách hay nhất sẽ được trường xuất bản hằng năm cho công chúng sử dụng. Bằng cách này, y phụng sự thời đại và thế hệ mình, đồng thời giáo dục nhân loại về tri thức cao hơn. 2. Cũng theo cách ấy, việc học mỗi tháng sẽ được sắp xếp sao cho phần khó hơn (liên quan đến thượng trí) diễn ra trong phần của tháng gọi là nửa sáng, trong khi công việc của nửa tối sẽ dành nhiều hơn cho những điều liên quan đến hạ trí và nỗ lực duy trì thành quả của các tuần trước. Mỗi ngày cũng sẽ chia thành các thời gian cố định: những giờ đầu dành cho việc truyền đạt dữ liệu trừu tượng và huyền bí hơn, còn phần sau của ngày dành cho công việc mang tính thực hành hơn.

The basis of all occult growth is meditation, or those periods of silent gestation in which the soul grows in the silence. Therefore, during the day there will be for every pupil in the school three periods of meditation—at sunrise, at midday, and at sunset. During the earlier part of the pupil’s attendance at the school these periods will be for [Page 327] thirty minutes each. Later he will give one hour to the practice of occult meditation three times a day and during his final year he will be expected to give five hours a day to meditation. When he can do this and get results he will be able to pass on into the advanced school. It is the great test and mark of readiness.

Nền tảng của mọi sự phát triển huyền bí là tham thiền, hay những thời kỳ thai nghén thầm lặng, trong đó linh hồn tăng trưởng trong im lặng. Vì vậy, mỗi học viên trong trường sẽ có ba thời kỳ tham thiền mỗi ngày—lúc bình minh, giữa trưa và hoàng hôn. Trong giai đoạn đầu học viên theo học tại trường, mỗi thời kỳ này sẽ kéo dài [Page 327] ba mươi phút. Về sau, y sẽ dành một giờ để thực hành tham thiền huyền bí, ba lần mỗi ngày; trong năm cuối, y sẽ được yêu cầu dành năm giờ mỗi ngày cho tham thiền. Khi có thể làm như vậy và đạt kết quả, y sẽ có thể chuyển sang trường cao cấp. Đây là thử thách lớn và dấu hiệu của sự sẵn sàng.

The hours of the school will begin with sunrise and end with sunset. After the sun sets, and for one hour after each of the other two periods of meditation, the pupil is permitted to relax, take his meals and recreate himself. All pupils will be required to retire to rest at night by ten o ‘clock, after thirty minutes of careful revision of the day’s work and the filling in of certain charts that go to the completion of his record.

Giờ học của trường sẽ bắt đầu lúc bình minh và kết thúc lúc hoàng hôn. Sau khi Mặt Trời lặn, và trong một giờ sau mỗi thời kỳ tham thiền trong hai thời kỳ còn lại, học viên được phép thư giãn, dùng bữa và giải trí. Mọi học viên đều phải đi nghỉ trước mười giờ đêm, sau ba mươi phút cẩn thận ôn lại công việc trong ngày và điền vào một số biểu đồ góp phần hoàn thiện hồ sơ của y.

The length of a pupil’s stay in the school depends entirely upon the progress made, the inner powers of assimilation and the outer life of service. It depends therefore upon the point in evolution at which he enters the school. Those just entering the Path of Probation will be there for five to seven years and on occasion even longer; those who are old disciples and those who have taken initiation in earlier lives will be there but a brief time, pushing rapidly through the curriculum and simply learning to produce for use the knowledge earlier stored. The period of their stay will be anywhere from one to five years, usually about three. Their innate knowledge will be developed by encouraging them to teach the younger brethren. A pupil passes out of the school, not as a result of an exoteric examination but simply on the notification of the Head of the School, who bases his decision upon esoteric results in the bodies of the pupil, upon the clarity of his auric colors and upon the tone of his life and the key of his vibration. [Page 328]

Thời gian một học viên theo học tại trường hoàn toàn tùy thuộc vào sự tiến bộ đã đạt được, năng lực tiếp thu bên trong và đời sống phụng sự bên ngoài. Vì vậy, thời gian ấy tùy thuộc vào điểm tiến hoá của y khi nhập học. Những người vừa bước vào Con Đường Dự Bị sẽ ở đó từ năm đến bảy năm, đôi khi còn lâu hơn; những đệ tử lâu năm và những người đã được điểm đạo trong các kiếp trước chỉ ở đó một thời gian ngắn, nhanh chóng hoàn tất chương trình và chỉ học cách đưa tri thức đã tích lũy trước đây ra sử dụng. Thời gian họ theo học sẽ từ một đến năm năm, thường khoảng ba năm. Tri thức sẵn có của họ sẽ được phát triển bằng cách khuyến khích họ giảng dạy cho các huynh đệ trẻ hơn. Một học viên rời trường không phải nhờ vượt qua một kỳ thi ngoại môn, mà chỉ theo thông báo của Hiệu trưởng, người đưa ra quyết định dựa trên những kết quả nội môn trong các thể của học viên, độ trong sáng của các màu sắc hào quang, âm sắc của đời sống và cung bậc rung động của y. [Page 328]

b. Types of Work. – b. Các Loại Công Việc.

First and foremost, the practice of meditation as laid down in these letters and as may be apportioned by the Head of the school. Once or twice a year the initiate Head of the school to which the preparatory school is allied will pass the pupils in review and in conference with the Head of the school will apportion specific meditation adjusted to the pupil’s need. Once a year the Master responsible for both schools will likewise pass them in review and communicate to the Head any necessary adjustments. (I would here remind you that the relationship of a Master to a disciple is a private one and though He may be in constant touch with His pupil privately, this affects not His official review of the united auras of the school group.)

Trước hết và quan trọng nhất là thực hành tham thiền theo những chỉ dẫn trong các thư này và theo sự phân định của Hiệu trưởng. Mỗi năm một hoặc hai lần, vị Hiệu trưởng điểm đạo đồ của trường mà trường dự bị trực thuộc sẽ xem xét các học viên và, sau khi hội ý với Hiệu trưởng trường dự bị, sẽ chỉ định bài thiền cụ thể phù hợp với nhu cầu của từng học viên. Mỗi năm một lần, Chân sư chịu trách nhiệm về cả hai trường cũng sẽ xem xét họ và thông báo cho Hiệu trưởng mọi điều chỉnh cần thiết. (Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng mối quan hệ giữa một Chân sư và một đệ tử là mối quan hệ riêng tư; dù Ngài có thể thường xuyên liên lạc với học viên của Ngài một cách riêng tư, điều này không ảnh hưởng đến việc Ngài chính thức xem xét các hào quang hợp nhất của nhóm học viên trong trường.)

Secondly, a graded scientific study of the microcosm, including the following subjects, using the microscope when needed:—

Thứ hai là nghiên cứu khoa học về tiểu thiên địa theo từng cấp độ, bao gồm các môn sau đây, sử dụng kính hiển vi khi cần:—

The Microcosm.

Tiểu Thiên Địa.

a. Elementary anatomy, physiology, biology.

a. Giải phẫu học, sinh lý học và sinh học căn bản.

b. Ethnology.

b. Dân tộc học.

c. Study of the etheric body and its allied subjects of vitality and magnetism.

c. Nghiên cứu thể dĩ thái cùng các môn liên quan về sinh lực và từ điện.

d. Study of geology; of the vegetable kingdom, or botany; and of the animal kingdom.

d. Nghiên cứu địa chất học; giới thực vật, tức thực vật học; và giới động vật.

e. Study of the history of man and the development of science.

e. Nghiên cứu lịch sử loài người và sự phát triển của khoa học.

f. Study of the laws of the microcosmic body.

f. Nghiên cứu các định luật của thân thể tiểu thiên địa.

The Macrocosm.

Đại Thiên Địa.

a. Study of the laws of electricity, of fohat, of prana, and of the astral light. [Page 329]

a. Nghiên cứu các định luật về điện, về mãnh lực lửa vũ trụ, về sinh khí và về ánh sáng cảm dục. [Page 329]

b. Study of astronomy and of astrology.

b. Nghiên cứu thiên văn học và chiêm tinh học.

c. Study of occult cosmogony.

c. Nghiên cứu vũ trụ khởi nguyên học huyền bí.

d. Study of the human hierarchy.

d. Nghiên cứu Huyền Giai nhân loại.

e. Study of the deva evolution.

e. Nghiên cứu sự tiến hoá của thiên thần.

f. Study of the laws of the solar system.

f. Nghiên cứu các định luật của hệ mặt trời.

g. Study of telepathy, mental creation, psychometry.

g. Nghiên cứu viễn cảm, sự sáng tạo bằng trí tuệ và thuật trắc tâm.

The Mind.

Trí.

a. The study of the mental plane.

a. Nghiên cứu cõi trí.

b. The study of the laws of fire.

b. Nghiên cứu các định luật của lửa.

c. The study of the causal body.

c. Nghiên cứu thể nguyên nhân.

d. The study of the fifth principle.

d. Nghiên cứu nguyên khí thứ năm.

e. The study of color and of sound.

e. Nghiên cứu màu sắc và âm thanh.

Synthesis.

Tổng Hợp.

a. The study of spirit-matter-mind.

a. Nghiên cứu tinh thần–vật chất–trí.

b. Study of numbers and of symbology.

b. Nghiên cứu các con số và biểu tượng học.

c. Study of higher mathematics.

c. Nghiên cứu toán học cao cấp.

d. Study of the laws of union.

d. Nghiên cứu các định luật hợp nhất.

e. Study of the laws of sex.

e. Nghiên cứu các định luật về tính dục.

Psychic Development.

Phát Triển Thông Linh.

a. Study of practical occultism.

a. Nghiên cứu huyền bí học thực hành.

b. Study of psychism.

b. Nghiên cứu các hiện tượng thông linh.

c. Study of the astral light and the akashic records.

c. Nghiên cứu ánh sáng cảm dục và các ký lục trong chất liệu không gian.

d. Study of mediumship and inspiration.

d. Nghiên cứu khả năng đồng tử và cảm hứng.

e. Study of past lives.

e. Nghiên cứu các kiếp trước.

f. Study of the macrocosmic and microcosmic centers.

f. Nghiên cứu các trung tâm của đại thiên địa và tiểu thiên địa.

Practical Work.

Công Việc Thực Hành.

a. Service to the race.

a. Phụng sự nhân loại.

b. Study of group work.

b. Nghiên cứu công việc nhóm.

c. Review work. [Page 330]

c. Công việc ôn tập. [Page 330]

d. Work on the subtler bodies with the view to producing continuity of consciousness.

d. Làm việc với các thể tinh tế hơn nhằm tạo ra sự liên tục của tâm thức.

e. Study of magic.

e. Nghiên cứu huyền thuật.

f. Study of the seventh ray.

f. Nghiên cứu cung thứ bảy.

You will see for yourself that when the pupil has completed the above curriculum he will be a potential magician, and will be a member of the Brotherhood of Light in embryo. He will be equipped and ready to pass into the advanced school, where he will be trained in using the knowledge already acquired, where his centers will be scientifically developed so that he will become a conscious psychic of the mental type, where he will be trained to contact and control the lesser evolutions and to co-operate with the other evolutions such as the deva, and where all his bodies will be so aligned and adjusted that he can at the end of a period—varying from two to three years—be ready to stand before the Initiator.

Các bạn sẽ tự thấy rằng khi học viên hoàn tất chương trình trên, y sẽ là một nhà huyền thuật tiềm năng và một thành viên đang hình thành của Huynh Đệ Đoàn Ánh Sáng. Y sẽ được trang bị và sẵn sàng bước vào trường cao cấp, nơi y sẽ được huấn luyện sử dụng tri thức đã thu nhận; nơi các trung tâm của y sẽ được phát triển một cách khoa học để y trở thành một nhà thông linh hữu thức thuộc loại trí; nơi y sẽ được huấn luyện tiếp xúc và kiểm soát các dòng tiến hoá thấp hơn, đồng thời hợp tác với các dòng tiến hoá khác như dòng tiến hoá thiên thần; và nơi tất cả các thể của y sẽ được chỉnh hợp và điều chỉnh sao cho, sau một thời gian từ hai đến ba năm, y có thể sẵn sàng đứng trước Đấng Điểm đạo.

c. Potencies becoming powers. – c. Các tiềm năng trở thành quyền năng.

This third type of work is based on the preceding curriculum and deals directly with individual development. It covers the following matters:—

Loại công việc thứ ba này dựa trên chương trình học vừa nêu và trực tiếp đề cập đến sự phát triển cá nhân. Nó bao gồm các vấn đề sau đây:—

a. The aligning of the bodies with a view to egoic contact.

a. Chỉnh hợp các thể nhằm tiếp xúc với chân ngã.

b. The building of the antahkarana, and the development of the higher mind.

b. Xây dựng antahkarana và phát triển thượng trí.

c. The development of the intuition, and the definite spiritual awakening of the pupil.

c. Phát triển trực giác và sự thức tỉnh tinh thần rõ rệt của học viên.

d. The study of the pupil’s vibration, ray, color and tone.

d. Nghiên cứu rung động, cung, màu sắc và âm sắc của học viên.

e. The conscious refining of all the bodies beginning with the physical. [Page 331]

e. Tinh luyện một cách có ý thức tất cả các thể, bắt đầu từ thể xác. [Page 331]

When these matters are duly studied and all acquired knowledge put into practice, the inherent powers of the soul will become conscious powers. Above all, will the emphasis be laid upon the fact that the white magician is he who utilizes all power and knowledge in the service of the race. His inner development must be expressed in terms of service before he is permitted to pass on into the advanced school.

Khi những vấn đề này được nghiên cứu thấu đáo và toàn bộ tri thức đã thu nhận được đưa vào thực hành, các quyền năng vốn có của linh hồn sẽ trở thành những quyền năng hữu thức. Trên hết, cần nhấn mạnh rằng nhà huyền thuật chánh đạo là người sử dụng mọi quyền năng và tri thức để phụng sự nhân loại. Sự phát triển bên trong của y phải biểu hiện qua việc phụng sự trước khi y được phép bước vào trường cao cấp.

I have indicated enough to provide much room for interested speculation.

Tôi đã chỉ ra đủ để mở ra nhiều điều cho những ai quan tâm suy ngẫm.



[1] ngang qua, xiên xéo từ bên này sang bên kia

[2] 1. tóm tắt, cô lại

[3] 1. xanh nhợt, tái mét, bệch bạc; 2. ghê gớm, khủng khiếp

[4] 1. giẻ, giẻ rách

2. (số nhiều) quần áo rách tả tơi; to be in rags: ăn mặc rách tả tơi; 3. (số nhiều) giẻ cũ để làm giấy

Leave a Comment

Scroll to Top