CHAPTER II – The Cultural Unfoldment of the Race – CHƯƠNG II – Sự Khai Mở Văn Hóa của Nhân Loại
Civilisation and Culture – Văn Minh và Văn Hóa
|
[38] Much emphasis is being laid today upon education—coordinating, relational, psychological, vocational and equipping. To this must be added the old method of memory training and the attempt either to infuse religion into the mind of the child or to omit it with decision and with purpose. Modern education has been primarily competitive, nationalistic and, therefore, separative. It has trained the child to regard the material values as of major importance, to believe that his particular nation is also of major importance and that every other nation is secondary; it has fed pride and fostered the belief that he, his group and his nation are infinitely superior to other people and peoples. He is taught consequently to be a one-sided person with his world values wrongly adjusted and his attitudes to life distinguished by bias and prejudice. The rudiments of the arts are taught him in order to enable him to function with the needed efficiency in a competitive setting and in his particular vocational environment. To read, to write and to be able to add and do elementary arithmetic are regarded as the minimum requirement; to know something of past events—historical, geographical, literary, philosophical and scientific—are likewise added in many countries and for certain classes of people. Some of the literature of the world is also brought to his attention. [39] |
[38] Ngày nay, người ta đang đặt nhiều nhấn mạnh lên giáo dục — điều hợp, quan hệ, tâm lý, nghề nghiệp và trang bị. Vào đó phải thêm phương pháp cũ về huấn luyện ký ức và nỗ lực hoặc truyền tôn giáo vào thể trí đứa trẻ, hoặc loại bỏ nó một cách dứt khoát và có chủ đích. Giáo dục hiện đại về căn bản mang tính cạnh tranh, quốc gia chủ nghĩa và vì thế chia rẽ. Nó đã huấn luyện đứa trẻ xem các giá trị vật chất là quan trọng bậc nhất, tin rằng quốc gia riêng của nó cũng quan trọng bậc nhất và mọi quốc gia khác đều thứ yếu; nó đã nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh và bồi đắp niềm tin rằng nó, nhóm của nó và quốc gia của nó vượt trội vô hạn so với những người và các dân tộc khác. Do đó, nó được dạy trở thành một con người phiến diện, với các giá trị thế giới của nó bị điều chỉnh sai lệch và thái độ của nó đối với đời sống mang dấu ấn của thiên kiến và thành kiến. Những yếu tố sơ đẳng của nghệ thuật được dạy cho nó để giúp nó hoạt động với hiệu quả cần thiết trong một bối cảnh cạnh tranh và trong môi trường nghề nghiệp riêng của nó. Biết đọc, biết viết, có thể cộng và làm số học sơ đẳng được xem là yêu cầu tối thiểu; biết đôi điều về các biến cố quá khứ — lịch sử, địa lý, văn học, triết học và khoa học — cũng được thêm vào tại nhiều quốc gia và cho một số tầng lớp người. Một phần văn học thế giới cũng được đưa đến sự chú ý của nó. [39] |
|
The general level of world information is high but usually biassed, influenced either by national or religious prejudices, serving thus to make a man a citizen of his own country but not a human being with world relations. World citizenship is not emphasised. The teaching imparted stimulates the latent mass consciousness of the child, and evokes the memory (racial and individual) through the impartation of facts—uncorrelated facts—most of them unrelated to daily living. These facts could serve (if used as seed thoughts in meditation and technically employed) to recover from that race consciousness and racial memory, not only national history but past history as well. I mention this in order to emphasise the danger of such undue emphasis upon the past, for if this were done on a large scale it would prove disastrous; it would put a premium on racial and national ideals and objectives and would lead rapidly to racial crystallisation and senility—metaphorically speaking. An example of an effort in this direction was seen going on in Germany, and in a lesser way in Italy; it culminated in the Axis. Fortunately, the tide of life in the youth of any nation can be trusted to swing the thought of the race into a better direction than the evocation of past glory, so-called, and the emphasising of the things which should be left behind. |
Mức độ thông tin chung của thế giới là cao nhưng thường thiên lệch, chịu ảnh hưởng hoặc bởi thành kiến quốc gia hoặc bởi thành kiến tôn giáo, do đó phục vụ cho việc làm cho con người trở thành công dân của đất nước mình nhưng không phải là một con người có quan hệ thế giới. Tư cách công dân thế giới không được nhấn mạnh. Việc giảng dạy được truyền đạt kích thích tâm thức quần chúng tiềm ẩn của đứa trẻ, và gợi lên ký ức — của nhân loại và của cá nhân — qua việc truyền đạt các sự kiện: những sự kiện không được liên kết với nhau, phần lớn không liên quan đến đời sống hằng ngày. Những sự kiện này có thể phục vụ — nếu được sử dụng như các tư tưởng hạt giống trong tham thiền và được vận dụng theo kỹ thuật — để khôi phục từ tâm thức nhân loại và ký ức nhân loại ấy không chỉ lịch sử quốc gia mà cả lịch sử quá khứ nữa. Tôi đề cập điều này để nhấn mạnh nguy cơ của sự nhấn mạnh quá mức như vậy vào quá khứ, vì nếu việc này được thực hiện trên quy mô lớn, nó sẽ chứng tỏ là tai hại; nó sẽ đề cao các lý tưởng và mục tiêu chủng tộc cũng như quốc gia, và sẽ nhanh chóng dẫn đến sự kết tinh và già cỗi của nhân loại — nói theo ẩn dụ. Một ví dụ về nỗ lực theo hướng này đã được thấy đang diễn ra ở Đức, và ở mức độ nhỏ hơn tại Ý; nó đạt đến đỉnh điểm trong phe Trục. May thay, dòng triều sự sống nơi tuổi trẻ của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể được tin cậy sẽ xoay chuyển tư tưởng của nhân loại theo một hướng tốt đẹp hơn việc gợi lại cái gọi là vinh quang quá khứ và nhấn mạnh những điều nên để lại phía sau. |
|
I would like here to enlarge somewhat upon the interpretation of the much used words (frequently also misused): culture and civilisation. For it is the production of some form of culture—material or spiritual, or material and spiritual—which is the objective of all education. Education is the major agent in the world. |
Ở đây Tôi muốn mở rộng đôi chút về cách diễn giải hai từ được sử dụng rất nhiều — và thường cũng bị sử dụng sai — là văn hóa và văn minh. Bởi vì việc sản sinh một hình thức văn hóa nào đó — vật chất hay tinh thần, hoặc vật chất và tinh thần — là mục tiêu của mọi nền giáo dục. Giáo dục là tác nhân chính yếu trên thế giới. |
|
Civilisation is the reaction of humanity to the purpose of any particular world period. In each age, some idea must be expressed in the current racial idealism. In Atlantean times, the idea that predominated was basically sensory religious idealism or mysticism, expressing itself in terms of approach to a felt but unseen deity, an expression of the [40] way of feeling. Yet there were highly sensitive races, composed of nations and groups who laboured over the development of the feeling nature, consciously sometimes, but mostly unconsciously. Their attitude to each other, as individuals or nations, was primarily sensitive and emotional—a state of consciousness (I cannot say state of mind) most difficult for the modern Aryan race to grasp, or even intuit, for with us the mind is beginning to function. Their attitude to the deity was equally sensitive, and their religious activities were mystical and devotional, devoid of any mental understanding. They were significantly emotional in reactions to beauty, to the terror evoked by divinity and to the emotional characteristics of God, to the sense of light and to wonder. The mysterious, the sense of awe, the following blindly of some recognised “sensitive” of a higher order than the ordinary human being, and the interpretation of God and nature in terms of feeling-perception—these laid the basis of that ancient civilisation and have largely coloured our present racial attitudes, at least up until the advent of Christ, Who wrought great changes in the human consciousness and ushered in a new civilisation. Children are still largely Atlantean in their consciousness; it is with them a form of recapitulation, analogous to the prenatal stage; the same recapitulation goes forward upon the Path when a man develops the mystical consciousness anew, after he has evoked his mental nature and prior to unfolding true occult awareness or knowledge and the reactions of the higher mind. The problem before Education is to take the Atlantean consciousness of the child and make it Aryan or mental. The Atlanteans had no educational system as we understand the term. The kings and priests intuited; the masses obeyed. |
Văn minh là phản ứng của nhân loại đối với mục đích của bất kỳ thời kỳ thế giới đặc thù nào. Trong mỗi thời đại, một ý tưởng nào đó phải được biểu đạt trong lý tưởng của nhân loại đương thời. Vào thời Atlantis, ý tưởng chiếm ưu thế về căn bản là chủ nghĩa lý tưởng tôn giáo cảm giác hay thần bí học, biểu lộ qua cách tiếp cận một Thượng đế được cảm nhận nhưng vô hình, một biểu hiện của [40] con đường cảm xúc. Tuy nhiên, đã có những giống dân rất nhạy cảm, gồm các quốc gia và nhóm đã lao động cho sự phát triển bản chất cảm xúc, đôi khi một cách có ý thức, nhưng phần lớn là vô thức. Thái độ của họ đối với nhau, với tư cách cá nhân hay quốc gia, chủ yếu là nhạy cảm và cảm xúc — một trạng thái tâm thức, Tôi không thể nói là trạng thái trí tuệ, rất khó để giống dân Arya hiện đại nắm bắt, hay thậm chí trực nhận, vì nơi chúng ta thể trí đang bắt đầu hoạt động. Thái độ của họ đối với Thượng đế cũng nhạy cảm như vậy, và các hoạt động tôn giáo của họ mang tính thần bí và sùng tín, thiếu mọi thấu hiểu trí tuệ. Họ có phản ứng nổi bật về cảm xúc trước cái đẹp, trước nỗi kinh sợ do thiên tính gợi lên và trước các đặc tính cảm xúc của Thượng đế, trước cảm thức về ánh sáng và sự kỳ diệu. Cái huyền nhiệm, cảm thức kính sợ, việc đi theo một cách mù quáng một “người nhạy cảm” được công nhận thuộc một cấp bậc cao hơn con người thông thường, và việc diễn giải Thượng đế cùng thiên nhiên theo cảm nhận bằng cảm xúc — những điều này đã đặt nền tảng cho nền văn minh cổ xưa ấy và phần lớn đã nhuộm màu các thái độ hiện tại của nhân loại chúng ta, ít nhất cho đến khi Đức Christ xuất hiện, Đấng đã tạo ra những thay đổi lớn trong tâm thức nhân loại và khai mở một nền văn minh mới. Trẻ em vẫn phần lớn mang tâm thức Atlantis; nơi chúng, đó là một hình thức tóm lược lại, tương tự như giai đoạn tiền sinh; cùng sự tóm lược ấy cũng tiếp diễn trên Đường Đạo khi con người phát triển lại tâm thức thần bí, sau khi y đã gợi lên bản chất trí tuệ của mình và trước khi khai mở sự nhận biết hay tri thức huyền môn đích thực cùng các phản ứng của thượng trí. Vấn đề trước Giáo dục là lấy tâm thức Atlantis của đứa trẻ và làm cho nó trở thành Arya hay trí tuệ. Người Atlantis không có hệ thống giáo dục như chúng ta hiểu thuật ngữ này. Các vua và tu sĩ trực nhận; quần chúng vâng phục. |
|
In the present race a different civilised attitude is emerging and is nearing its consummation. In each age, some idea functions and expresses itself in both racial and national idealisms. Its basic trend down the centuries has [41] produced our modern world and this has been strictly materialistic. A nation today is regarded as civilised when it is awakened to mental values and at the same time it is demanding material values; and when the mind (the lower mind)—in its memory aspect, its discriminating and separative aspects, its analysing functions, and its ability to formulate concrete ideas based on material perception, material desire and material purposes—is receiving the training which will make a material civilisation, and has made our material civilisation what it is today. With the emphasis shifting away from feeling-perception to mental attitudes towards life, with the desire to make the material life of the citizen of every nation the dominant factor in the national thought, with the mind unfoldment consecrated to material living, and with science definitely committed to the enunciation only of the provable and concerned only with the energies of material effect, is it any wonder that the major consideration of our modern civilisation lies in the field of the economic life? We are occupied with material conditions, with the object of increasing possessions, with bettering worldly situations, elaborating physical plane living, and substituting the tangible for the intangible, the concrete for the spiritual, and physical values for the subjective values. However, these latter must some day emerge into expression. |
Trong nhân loại hiện nay, một thái độ văn minh khác đang xuất hiện và đang tiến gần đến sự viên mãn. Trong mỗi thời đại, một ý tưởng nào đó hoạt động và tự biểu đạt trong cả lý tưởng của nhân loại lẫn lý tưởng quốc gia. Khuynh hướng căn bản của nó qua nhiều thế kỷ [41] đã tạo ra thế giới hiện đại của chúng ta, và thế giới này hoàn toàn mang tính duy vật. Ngày nay, một quốc gia được xem là văn minh khi nó thức tỉnh trước các giá trị trí tuệ và đồng thời đòi hỏi các giá trị vật chất; và khi thể trí — hạ trí — trong phương diện ký ức của nó, các phương diện phân biện và chia rẽ của nó, các chức năng phân tích của nó, và khả năng hình thành các ý tưởng cụ thể dựa trên nhận thức vật chất, dục vọng vật chất và mục đích vật chất, đang nhận được sự huấn luyện sẽ tạo nên một nền văn minh vật chất, và đã làm cho nền văn minh vật chất của chúng ta thành như ngày nay. Khi trọng tâm chuyển khỏi cảm nhận bằng cảm xúc sang các thái độ trí tuệ đối với đời sống, khi có ước muốn làm cho đời sống vật chất của công dân mỗi quốc gia trở thành yếu tố chi phối trong tư tưởng quốc gia, khi sự khai mở thể trí được thánh hiến cho đời sống vật chất, và khi khoa học dứt khoát cam kết chỉ phát biểu điều có thể chứng minh và chỉ quan tâm đến các năng lượng của hiệu quả vật chất, thì có gì đáng ngạc nhiên khi mối quan tâm chính của nền văn minh hiện đại chúng ta nằm trong lĩnh vực đời sống kinh tế? Chúng ta bận tâm với các điều kiện vật chất, với mục tiêu gia tăng tài sản, cải thiện hoàn cảnh thế gian, mở rộng đời sống trên cõi hồng trần, và thay thế cái vô hình bằng cái hữu hình, cái tinh thần bằng cái cụ thể, và các giá trị chủ quan bằng các giá trị hồng trần. Tuy nhiên, một ngày nào đó các giá trị sau này phải xuất hiện trong biểu đạt. |
|
The above statement is superficial and of so general a character that it does not deal with the relatively small minority who do sense these larger values and are working to bring about their emergence into the racial life. These people are the custodians for the advance ideals of the current civilisation, but the energy which they release works out frequently in the establishment, temporarily, of the more concrete values. My remarks are only partial, and the facts equally so. I exaggerate perhaps; yet maybe I do not. Nevertheless, the fact remains that the two great civilisations about which we can really know anything—the Aryan [42] and the Atlantean—present two extreme objectives or positions towards which the humanity of the two periods directed and still direct their attention. |
Phát biểu trên là hời hợt và có tính tổng quát đến mức nó không đề cập đến thiểu số tương đối nhỏ những người thật sự cảm nhận các giá trị lớn lao hơn này và đang làm việc để đem lại sự xuất hiện của chúng trong đời sống nhân loại. Những người này là các vị giữ gìn những lý tưởng tiến bộ của nền văn minh hiện thời, nhưng năng lượng mà họ phóng thích thường biểu lộ qua việc tạm thời thiết lập các giá trị cụ thể hơn. Những nhận xét của Tôi chỉ là từng phần, và các sự kiện cũng vậy. Có lẽ Tôi phóng đại; nhưng cũng có thể không. Tuy nhiên, sự kiện vẫn còn đó rằng hai nền văn minh lớn mà về chúng chúng ta thật sự có thể biết điều gì đó — Arya [42] và Atlantis — trình bày hai mục tiêu hay vị trí cực đoan mà nhân loại của hai thời kỳ đã và vẫn đang hướng sự chú ý đến. |
|
The Atlantean civilisation was definitely religious in its attitudes; religion was the commonplace of life and the raison d’être of all that was. The world after death was the subject of interest and unwavering, unquestioning belief. The subtle influences emanating from the unseen realms, the forces of nature and man’s relation to them through a keen sensitivity, and the entire gamut of his emotional attitudes constituted the life of the race, and coloured all that there was or might have been of embryo thought. The result of all this, inherited by us when history as we now have it arose (from the time of the flood, whenever that might have been), can be expressed by such words as animism, spiritualism, lower psychism and feeling. The sense of God, the sense of immortality, the sense of subtler inner relationships, the sense of worship and the undue sensitivity of modern man is our outstanding heritage from the civilisations which existed upon old Atlantis. |
Nền văn minh Atlantis chắc chắn mang tính tôn giáo trong các thái độ của nó; tôn giáo là điều thường nhật của đời sống và là lý do tồn tại của mọi sự. Thế giới sau khi chết là đối tượng quan tâm và là niềm tin không lay chuyển, không chất vấn. Những ảnh hưởng tinh tế xuất lộ từ các cõi vô hình, các mãnh lực của thiên nhiên và quan hệ của con người với chúng qua một sự nhạy cảm sắc bén, cùng toàn bộ thang bậc thái độ cảm xúc của y đã cấu thành đời sống của nhân loại ấy, và nhuộm màu tất cả những gì đã có hoặc có thể đã có của tư tưởng phôi thai. Kết quả của tất cả điều này, được chúng ta thừa hưởng khi lịch sử như hiện nay chúng ta có đã phát sinh — từ thời trận lụt, bất kể thời điểm ấy là khi nào — có thể được diễn đạt bằng những từ như thuyết vật linh, thần linh học, thông linh thấp và cảm xúc. Cảm thức về Thượng đế, cảm thức về sự bất tử, cảm thức về các quan hệ nội tại tinh tế hơn, cảm thức thờ phụng và sự nhạy cảm quá mức của con người hiện đại là di sản nổi bật của chúng ta từ các nền văn minh đã tồn tại trên Atlantis cổ xưa. |
|
Upon all this basic structure the exact opposite is being imposed today, and in the reaction—normal, right and developing—man is laying a superstructure in which the emphasis is increasingly upon the tangible, the material, the seen, and upon that which can be proved, diagnosed, analysed, and utilised for the improving of man’s outer life and his material position upon the planet. Both civilisations have gone too far, and in the swing of the pendulum we shall inevitably return to a middle position, to the “noble middle path.” This middle way, utilising the best and the highest ideals which the two preceding civilisations have produced, will characterise the coming Aquarian Age and its civilisations. Such an expression of the material and the immaterial, of the seen and the unseen, of the tangible and the spiritual has ever been the goal and the objective of those who comprehend the true meaning of culture. In [43] the last analysis, and for the purposes of our theme, civilisation concerns the masses and the racial consciousness, while culture concerns the individual and the unseen spiritual man. Therefore a civilisation which is a full expression of true culture lies far ahead in the development of the race. |
Ngày nay, trên toàn bộ cấu trúc căn bản này, điều hoàn toàn đối lập đang được áp đặt; và trong phản ứng — bình thường, đúng đắn và đang phát triển — con người đang dựng lên một thượng tầng trong đó sự nhấn mạnh ngày càng đặt vào cái có thể chạm thấy, cái vật chất, cái được thấy, và vào những gì có thể được chứng minh, chẩn đoán, phân tích và sử dụng để cải thiện đời sống bên ngoài của con người cũng như vị trí vật chất của y trên hành tinh. Cả hai nền văn minh đều đã đi quá xa, và trong sự dao động của quả lắc, chắc chắn chúng ta sẽ trở về một vị trí trung đạo, “con đường trung đạo cao quý.” Con đường trung đạo này, sử dụng những lý tưởng tốt đẹp nhất và cao cả nhất mà hai nền văn minh trước đã tạo ra, sẽ đặc trưng cho Kỷ Nguyên Bảo Bình sắp đến và các nền văn minh của nó. Một sự biểu đạt như vậy của cái vật chất và cái phi vật chất, cái hữu hình và cái vô hình, cái có thể chạm thấy và cái tinh thần, luôn luôn là mục tiêu và đối tượng của những người thấu hiểu ý nghĩa chân thật của văn hóa. Rốt ráo [43] và vì mục đích của chủ đề chúng ta, văn minh liên quan đến quần chúng và tâm thức nhân loại, trong khi văn hóa liên quan đến cá nhân và con người tinh thần vô hình. Vì vậy, một nền văn minh là biểu hiện trọn vẹn của văn hóa chân chính vẫn còn ở rất xa phía trước trong sự phát triển của nhân loại. |
|
Culture is the approximation of the two ways—feeling and mind; of two worlds—sensitivity and thought; and of the attitudes, relational in nature, which will enable a man to live as an intelligent, subjective being in a tangible physical world. The man of culture relates the world of meaning to the world of appearances and regards them in his mind (thus recognising them with his brain, an indication of an established link or relationship) as constituting one world with two aspects. He moves with equal freedom in both worlds, and with simultaneity as far as his consciousness or his sense of awareness is concerned. Even in Atlantean times there were those who comprehended the significance of culture as an outgrowth of civilisation. |
Văn hóa là sự tiệm cận của hai con đường — cảm xúc và trí tuệ; của hai thế giới — sự nhạy cảm và tư tưởng; và của các thái độ có bản chất quan hệ, vốn sẽ giúp con người sống như một sinh linh chủ quan thông minh trong một thế giới hồng trần hữu hình. Con người có văn hóa liên hệ thế giới của ý nghĩa với thế giới của sắc tướng, và trong thể trí y xem chúng — do đó nhận biết chúng bằng bộ não, một dấu hiệu của một mối liên kết hay quan hệ đã được thiết lập — như cấu thành một thế giới với hai phương diện. Y vận động với sự tự do ngang nhau trong cả hai thế giới, và đồng thời xét theo tâm thức hay cảm thức nhận biết của y. Ngay cả vào thời Atlantis cũng đã có những người thấu hiểu thâm nghĩa của văn hóa như một kết quả phát sinh từ văn minh. |
|
The masses must be civilised as a step towards giving them that culture which will make of them true and significant human beings. A human being has perforce to be a man, capable of living in the world of external realities, and at the same time capable of recognising himself as living in an inner world, as a mind and a soul. He then expresses an inner subjective life of such potency that it controls and dominates the physical plane life, motivating it and giving it true direction. This attitude of the human being and the task of bringing this condition of consciousness to fruition, have been regarded for centuries as the task of organised religion, whereas it is essentially and necessarily that of education. It is true that the Church in ancient days was the educator of the time, but the emphasis was laid upon the inner and subjective life, and as a rule no attempt was made to fuse and blend the two—outer material well-being and inner spiritual existence. Education is the task of the outstanding [44] thinkers of the race and the responsibility of all governments, one however that they seldom recognise. |
Quần chúng phải được văn minh hóa như một bước tiến đến việc ban cho họ nền văn hóa sẽ làm cho họ trở thành những con người chân thật và có thâm nghĩa. Một con người tất yếu phải là một người có khả năng sống trong thế giới của các thực tại bên ngoài, đồng thời có khả năng nhận biết chính mình như đang sống trong một thế giới bên trong, như một thể trí và một linh hồn. Khi ấy y biểu đạt một đời sống chủ quan bên trong có quyền năng đến mức nó kiểm soát và chi phối đời sống trên cõi hồng trần, thúc đẩy nó và ban cho nó hướng đi chân thật. Thái độ này của con người và nhiệm vụ đưa tình trạng tâm thức này đến chỗ thành tựu đã được xem trong nhiều thế kỷ là nhiệm vụ của tôn giáo có tổ chức, trong khi về bản chất và tất yếu đó là nhiệm vụ của giáo dục. Đúng là Giáo hội trong thời cổ là nhà giáo dục của thời ấy, nhưng sự nhấn mạnh được đặt vào đời sống bên trong và chủ quan, và thông thường không có nỗ lực nào nhằm dung hợp và hòa trộn hai điều — an lạc vật chất bên ngoài và hiện hữu tinh thần bên trong. Giáo dục là nhiệm vụ của các nhà tư tưởng nổi bật [44] của nhân loại và là trách nhiệm của mọi chính phủ, tuy nhiên đó là điều họ hiếm khi nhận ra. |
|
Finally, we shall seek to see what are the basic ideas (beginning with the recognised instincts) which have led man, step by step, to his present struggle for world betterment, group elevation and natural self-determination with a view—unconscious for the most part—of providing a better organ of expression within the living organism, humanity. |
Cuối cùng, chúng ta sẽ tìm cách thấy đâu là các ý tưởng căn bản — bắt đầu từ các bản năng được nhận biết — đã dẫn con người, từng bước một, đến cuộc đấu tranh hiện nay của y cho sự cải thiện thế giới, sự nâng cao nhóm và quyền tự quyết tự nhiên, với mục đích — phần lớn là vô thức — cung cấp một cơ quan biểu đạt tốt hơn bên trong cơ cấu sống động là nhân loại. |
|
It is therefore a platitude and truism to state that humanity is today passing through a crisis of immense proportions. The causes of this crisis must be sought in many factors. They lie in the past, in the growth through evolution of certain basic tendencies in man; in past mistakes, present opportunities and the powerful activity of the Hierarchy of Love.* The future is of great promise, provided man can learn the lessons of the present which have been clearly presented to him; he must accept them and understand clearly the nature of his problem and of the crisis with its many ramifications and various implications. |
Vì vậy, nói rằng nhân loại ngày nay đang trải qua một cuộc khủng hoảng có tầm vóc rộng lớn là một điều quá quen thuộc và hiển nhiên. Các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này phải được tìm trong nhiều yếu tố. Chúng nằm trong quá khứ, trong sự tăng trưởng qua tiến hóa của một số khuynh hướng căn bản nơi con người; trong những sai lầm quá khứ, những cơ hội hiện tại và hoạt động mạnh mẽ của Thánh Đoàn Bác Ái.* Tương lai đầy hứa hẹn, miễn là con người có thể học các bài học của hiện tại đã được trình bày rõ ràng cho y; y phải chấp nhận chúng và thấu hiểu rõ bản chất vấn đề của mình cũng như bản chất của cuộc khủng hoảng với nhiều phân nhánh và các hàm ý khác nhau của nó. |
|
* One of the threemajor centres through which Deity manifests: Shamball, where the Will of God is known; Hierarchy,where the Love of God holds sway; Humanity, embodying the Intelligence aspect of God. |
* Một trong ba trung tâm chính yếu qua đó Thượng đế biểu lộ: Shamballa, nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến; Thánh Đoàn, nơi Tình thương của Thượng đế ngự trị; Nhân loại, hiện thân phương diện Trí Tuệ của Thượng đế. |
|
The seething turmoil in which the masses of the people are now living and the emergence of one or two key people in every nation have a close relationship. These key people make their voices heard and evoke attention; their ideas are followed—rightly or wrongly—with attention, appreciation or distrust. |
Sự hỗn loạn sôi sục trong đó quần chúng nhân dân hiện đang sống và sự xuất hiện của một hay hai nhân vật then chốt trong mỗi quốc gia có mối quan hệ mật thiết. Những nhân vật then chốt này làm cho tiếng nói của họ được nghe thấy và gợi lên sự chú ý; các ý tưởng của họ được đi theo — đúng hay sai — với sự chú ý, tán thưởng hoặc nghi ngờ. |
|
The slow and careful formation of the New Group of World Servers is indicative of the crisis. They are overseeing or ushering in the New Age and are present at the birth pangs of the new civilisation and the coming into manifestation of a new race, a new culture and a new world outlook. The work is necessarily slow and those of you who are immersed in the problems and pains find it hard to view [45] the future with assurance or to interpret the present with clarity. |
Sự hình thành chậm rãi và cẩn trọng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là dấu hiệu của cuộc khủng hoảng. Họ đang trông nom hay mở đường cho Kỷ Nguyên Mới và hiện diện trong những cơn đau sinh nở của nền văn minh mới, cũng như sự đi vào biểu lộ của một nhân loại mới, một văn hóa mới và một thế giới quan mới. Công việc tất yếu là chậm rãi, và những ai trong các bạn đang chìm trong các vấn đề và đau khổ thấy khó nhìn [45] tương lai với sự tin chắc hoặc diễn giải hiện tại với sự rõ ràng. |
|
In the field of education united action is essential. Surely a basic unity of objectives should govern the educational systems of the nations, even though uniformity of method and of techniques may not be possible. Differences of language, of background and of culture will and should always exist; they constitute the beautiful tapestry of human living down the ages. But much that has hitherto militated against right human relations must and should be eliminated. |
Trong lĩnh vực giáo dục, hành động thống nhất là điều thiết yếu. Chắc chắn một sự thống nhất căn bản về mục tiêu nên chi phối các hệ thống giáo dục của các quốc gia, dù sự đồng dạng về phương pháp và kỹ thuật có thể không khả thi. Những khác biệt về ngôn ngữ, bối cảnh và văn hóa sẽ và nên luôn luôn tồn tại; chúng tạo thành tấm thảm đẹp đẽ của đời sống nhân loại qua các thời đại. Nhưng nhiều điều cho đến nay đã chống lại các quan hệ đúng đắn giữa người với người phải và nên được loại bỏ. |
|
In the teaching of history, for instance, are we to revert to the bad old ways wherein each nation glorifies itself at the expense frequently of other nations, in which facts are systematically garbled, in which the pivotal points in history are the various wars down the ages—a history, therefore, of aggression, of the rise of a material and selfish civilisation and one which had the nationalistic and, therefore, separative spirit, which has fostered racial hatred and stimulated national prides? The first historical date usually remembered by the average British child is “William, the Conqueror, 1066.” The American child remembers the landing of the Pilgrim Fathers and the gradual taking of the country from its rightful inhabitants, and perhaps the Boston Tea Party. The heroes of history are all warriors—Alexander the Great, Julius Caesar, Attila the Hun, Richard Coeur de Lion, Napoleon, George Washington and many others. Geography is largely history in another form but presented in a similar manner—a history of discovery, investigation and seizure, followed frequently by wicked and cruel treatment of the inhabitants of the discovered lands. Greed, ambition, cruelty and pride are the keynotes of our teaching of history and geography. |
Chẳng hạn, trong việc giảng dạy lịch sử, liệu chúng ta có trở lại những lối cũ tệ hại trong đó mỗi quốc gia tự tôn vinh mình, thường là bằng cái giá của các quốc gia khác; trong đó các sự kiện bị bóp méo một cách có hệ thống; trong đó các điểm then chốt trong lịch sử là những cuộc chiến tranh khác nhau qua các thời đại — vì vậy là một lịch sử của xâm lược, của sự trỗi dậy của một nền văn minh vật chất và ích kỷ, và một nền văn minh có tinh thần quốc gia chủ nghĩa, do đó chia rẽ, đã nuôi dưỡng thù hận chủng tộc và kích thích niềm kiêu hãnh quốc gia? Niên đại lịch sử đầu tiên thường được đứa trẻ Anh trung bình nhớ đến là “William, Người Chinh Phục, 1066.” Đứa trẻ Mỹ nhớ đến cuộc đổ bộ của các Cha Hành Hương và việc dần dần chiếm lấy đất nước từ những cư dân chính đáng của nó, và có lẽ cả sự kiện Tiệc Trà Boston. Các anh hùng của lịch sử đều là chiến binh — Alexander Đại Đế, Julius Caesar, Attila người Hung, Richard Sư Tâm, Napoleon, George Washington và nhiều người khác. Địa lý phần lớn là lịch sử dưới một hình thức khác nhưng được trình bày theo cách tương tự — một lịch sử của khám phá, khảo sát và chiếm đoạt, thường theo sau bởi sự đối xử độc ác và tàn nhẫn với cư dân của các vùng đất được khám phá. Tham lam, tham vọng, tàn ác và kiêu hãnh là các chủ âm trong việc giảng dạy lịch sử và địa lý của chúng ta. |
|
These wars, aggression and thefts which have distinguished every great nation without exception are facts and cannot be denied. Surely, however, the lessons of the evils which they wrought (culminating in the war 1914-1945) can be [46] pointed out and the ancient causes of present day prejudices and dislikes can be shown and their futility emphasised. Is it not possible to build our theory of history upon the great and good ideas which have conditioned the nations and made them what they are, and emphasize the creativity which has distinguished all of them? Can we not present more effectively the great cultural epochs which—suddenly appearing in some one nation—enriched the entire world and gave to humanity its literature, its art and its vision? |
Những cuộc chiến tranh, sự xâm lược và các hành vi cướp đoạt vốn đã làm nổi bật mọi quốc gia lớn, không ngoại lệ, là những sự kiện có thật và không thể phủ nhận. Tuy nhiên, chắc chắn có thể [46] chỉ ra những bài học về các tai họa mà chúng đã gây nên, lên đến cực điểm trong cuộc chiến 1914–1945; có thể nêu rõ những nguyên nhân cổ xưa của các thành kiến và ác cảm hiện nay, đồng thời nhấn mạnh sự vô ích của chúng. Chẳng phải chúng ta có thể xây dựng lý thuyết lịch sử của mình trên những ý tưởng lớn lao và tốt đẹp vốn đã tác động lên các quốc gia và làm cho họ trở thành như hiện nay, đồng thời nhấn mạnh tính sáng tạo đã làm nổi bật tất cả các quốc gia ấy sao? Chẳng phải chúng ta có thể trình bày hữu hiệu hơn những thời kỳ văn hóa vĩ đại, khi đột nhiên xuất hiện trong một quốc gia nào đó, đã làm phong phú toàn thế giới và đem đến cho nhân loại văn chương, nghệ thuật và tầm nhìn của nó sao? |
|
The war produced great migrations. Armies marched and fought in every part of the world; persecuted peoples escaped from one land to another; welfare workers went from country to country, serving the soldiers, salvaging the sick, feeding the hungry and studying conditions. The world today is very, very small and men are discovering (sometimes for the first time in their lives) that humanity is one and that all men, no matter what the colour of their skin or the country in which they live, resemble each other. We are all intermingled today. The United States is composed of people from every known country; over fifty different races or nations compose the U.S.S.R. The United Kingdom is a Commonwealth of Nations, independent nations bound together into one group. India is composed of a multiplicity of peoples, religions and tongues—hence her problem. The world itself is a great fusing pot, out of which the One Humanity is emerging. This necessitates a drastic change in our methods of presenting history and geography. Science has always been universal. Great art and literature have always belonged to the world. It is upon these facts that the education to be given to the children of the world must be built—upon our similarities, our creative achievements, our spiritual idealisms, and our points of contact. Unless this is done the wounds of the nations will never be healed and the barriers which have existed for centuries will never be removed. |
Chiến tranh đã tạo ra những cuộc di dân lớn. Quân đội hành quân và chiến đấu ở khắp mọi nơi trên thế giới; các dân tộc bị bách hại trốn thoát từ xứ này sang xứ khác; những người hoạt động phúc lợi đi từ nước này sang nước khác, phụng sự binh sĩ, cứu giúp người bệnh, nuôi ăn người đói và nghiên cứu các điều kiện sống. Thế giới ngày nay thật sự rất nhỏ, và con người đang khám phá, đôi khi lần đầu tiên trong đời mình, rằng nhân loại là một và rằng tất cả mọi người, bất kể màu da hay quốc gia họ đang sống, đều giống nhau. Ngày nay tất cả chúng ta đều hòa trộn với nhau. Hoa Kỳ gồm những người đến từ mọi quốc gia được biết đến; hơn năm mươi chủng tộc hay quốc gia khác nhau hợp thành Liên bang Xô viết. Vương quốc Anh là một Khối Thịnh vượng chung gồm các quốc gia độc lập được liên kết thành một nhóm. Ấn Độ gồm nhiều dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ — vì thế có vấn đề của quốc gia này. Chính thế giới là một nồi luyện hợp vĩ đại, từ đó Một Nhân Loại đang xuất hiện. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi triệt để trong các phương pháp trình bày lịch sử và địa lý của chúng ta. Khoa học luôn luôn có tính phổ quát. Nghệ thuật và văn chương vĩ đại luôn thuộc về thế giới. Chính trên các sự kiện này mà nền giáo dục dành cho trẻ em thế giới phải được xây dựng — trên những điểm tương đồng của chúng ta, những thành tựu sáng tạo của chúng ta, những lý tưởng tinh thần của chúng ta, và những điểm tiếp xúc của chúng ta. Nếu điều này không được thực hiện, các vết thương của các quốc gia sẽ không bao giờ được chữa lành, và những hàng rào đã tồn tại hàng thế kỷ sẽ không bao giờ được gỡ bỏ. |
|
The educators who face the present world opportunity [47] should see to it that a sound foundation is laid for the coming civilisation; they must undertake that it is general and universal in its scope, truthful in its presentation and constructive in its approach. What initial steps the educators of the different countries take will inevitably determine the nature of the coming civilisation. They must prepare for a renaissance of all the arts and for a new and free flow of the creative spirit in man. They must lay an emphatic importance upon those great moments in human history wherein man’s divinity flamed forth and indicated new ways of thinking, new modes of human planning and thus changed for all time the trend of human affairs. These moments produced the Magna Charta; they gave emphasis, through the French Revolution, to the concepts of liberty, equality and fraternity; they formulated the American Bill of Rights and on the high seas in our own time they gave us the Atlantic Charter and the Four Freedoms. These are the great concepts which must govern the new age with its nascent civilisation and its future culture. If the children of today are taught the significance of these five great declarations and are, at the same time, taught the futility of hate and war, there is hope of a better and happier as well as of a safer world. |
Các nhà giáo dục đang đối diện với cơ hội của thế giới hiện nay [47] phải bảo đảm rằng một nền tảng vững chắc được đặt xuống cho nền văn minh sắp đến; họ phải đảm trách sao cho nền tảng ấy có phạm vi tổng quát và phổ quát, chân thật trong cách trình bày và xây dựng trong phương pháp tiếp cận. Những bước đầu tiên mà các nhà giáo dục của các quốc gia khác nhau thực hiện chắc chắn sẽ quyết định bản chất của nền văn minh sắp đến. Họ phải chuẩn bị cho một thời phục hưng của mọi nghệ thuật và cho một dòng chảy mới mẻ, tự do của tinh thần sáng tạo trong con người. Họ phải đặt sự nhấn mạnh rõ rệt vào những khoảnh khắc vĩ đại trong lịch sử nhân loại, khi thiên tính của con người bừng cháy và chỉ ra những cách tư duy mới, những phương thức hoạch định nhân loại mới, và nhờ đó thay đổi mãi mãi chiều hướng của các sự việc nhân loại. Những khoảnh khắc ấy đã tạo ra Đại Hiến Chương; qua Cách mạng Pháp, chúng đã nhấn mạnh các quan niệm về tự do, bình đẳng và huynh đệ; chúng đã hình thành Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ, và trên biển cả trong thời đại của chính chúng ta, chúng đã đem đến cho chúng ta Hiến chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do. Đây là những quan niệm vĩ đại phải cai quản kỷ nguyên mới, với nền văn minh đang manh nha và nền văn hóa tương lai của nó. Nếu trẻ em ngày nay được dạy thâm nghĩa của năm tuyên ngôn vĩ đại này, đồng thời được dạy về sự vô ích của hận thù và chiến tranh, thì vẫn có hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn và cũng an toàn hơn. |
|
Two major ideas should be taught to the children of every country. They are: the value of the individual and the fact of the one humanity. The war boys and girls have learnt, from appearances, that human life has small value; the fascist countries have taught that the individual is of no value except in so far as he implements the designs of some dictator—a Mussolini or a Hitler. In other countries, some people and some groups—through hereditary position or financial assets—are regarded as of importance and the rest of the nation as of little importance. In still other countries, the individual regards himself of so much importance and his right to please himself of so much moment that his relation to the whole is entirely lost. Yet the value of the individual and the existence of that whole we call Humanity [48] are most closely related. This needs emphasising. These two principles, when properly taught and understood, will lead to the intensive culture of the individual and then to his recognition of his responsibility as an integral part of the whole body of humanity. |
Hai ý tưởng lớn phải được dạy cho trẻ em của mọi quốc gia. Đó là: giá trị của cá nhân và sự kiện về một nhân loại duy nhất. Các bé trai và bé gái thời chiến đã học được, qua vẻ ngoài, rằng đời sống con người có giá trị rất nhỏ; các quốc gia phát xít đã dạy rằng cá nhân không có giá trị gì, ngoại trừ trong mức độ y thực hiện các kế hoạch của một nhà độc tài nào đó — một Mussolini hay một Hitler. Ở những quốc gia khác, một số người và một số nhóm, do địa vị thừa kế hay tài sản tài chính, được xem là quan trọng, còn phần còn lại của quốc gia thì bị xem là ít quan trọng. Ở những quốc gia khác nữa, cá nhân tự xem mình là quá quan trọng và quyền làm vui lòng bản thân mình là quá hệ trọng đến nỗi mối liên hệ của y với toàn thể bị mất hẳn. Tuy vậy, giá trị của cá nhân và sự tồn tại của toàn thể mà chúng ta gọi là Nhân Loại [48] có liên hệ mật thiết nhất với nhau. Điều này cần được nhấn mạnh. Hai nguyên lý này, khi được dạy và được thấu hiểu đúng đắn, sẽ dẫn đến việc vun bồi sâu sắc cá nhân, rồi đến sự nhận biết của y về trách nhiệm của mình như một phần không thể tách rời của toàn thể nhân loại. |
|
In the schools of today (grammar or primary schools, high schools or secondary schools, universities or colleges, using terms in general use) there can be seen an imperfect and symbolic picture of the triple objectives of the new education: Civilisation, Culture, Unification. |
Trong các trường học ngày nay, dù là trường sơ đẳng hay tiểu học, trung học hay trung học bậc hai, đại học hay cao đẳng, dùng các thuật ngữ thông dụng, có thể thấy một bức tranh bất toàn và mang tính biểu tượng về ba mục tiêu của nền giáo dục mới: Văn minh, Văn hóa, Hợp nhất. |
|
The grammar or primary schools might be regarded as the custodians of civilisation; they must fit the child for citizenship, teach him his place as a social unit, and emphasise his group relations, thus fitting him for intelligent living and evoking the racial memory through the courses given, in order to lay the foundation for his human relations. Reading, writing and arithmetic, elementary history (with the emphasis upon world history), geography and poetry will be taught. They must teach him certain basic and important facts of living, foundational truths, coordination and control. |
Các trường sơ đẳng hay tiểu học có thể được xem là những người gìn giữ văn minh; họ phải chuẩn bị đứa trẻ cho tư cách công dân, dạy y vị trí của mình như một đơn vị xã hội, và nhấn mạnh các mối liên hệ nhóm của y, nhờ đó giúp y thích hợp với đời sống thông minh và gợi lên ký ức chủng tộc qua các môn học được đưa ra, nhằm đặt nền tảng cho các mối quan hệ nhân loại của y. Đọc, viết và số học, lịch sử sơ đẳng, với sự nhấn mạnh vào lịch sử thế giới, địa lý và thi ca sẽ được dạy. Họ phải dạy y một số sự kiện cơ bản và quan trọng của đời sống, các chân lý nền tảng, sự phối hợp và kiểm soát. |
|
The high schools or the secondary schools should regard themselves as the custodians of culture; they should emphasise the larger values of history and literature and give some understanding of art. They should begin to train the boy or girl for that future profession or mode of life which it is obvious will condition them. Citizenship will be taught in larger terms and the world of true values be pointed out and idealism consciously and definitely cultivated. The practical application of ideals will be emphasised. They should teach the youth of the world in such a manner that he will begin to fuse the world of appearances and the world of values and of meaning in his consciousness. He should begin to relate the worlds of objective outer living and of inner subjective existence. I am choosing my words with care. [49] |
Các trường trung học hay trung học bậc hai nên xem mình là những người gìn giữ văn hóa; họ nên nhấn mạnh những giá trị rộng lớn hơn của lịch sử và văn chương, đồng thời đem lại một mức thấu hiểu nào đó về nghệ thuật. Họ nên bắt đầu huấn luyện cậu bé hay cô bé cho nghề nghiệp tương lai hoặc lối sống mà rõ ràng sẽ tác động lên họ. Tư cách công dân sẽ được dạy theo những phạm vi rộng lớn hơn, và thế giới của các giá trị chân thật sẽ được chỉ ra; chủ nghĩa lý tưởng sẽ được vun bồi một cách có ý thức và rõ rệt. Việc ứng dụng thực tiễn các lý tưởng sẽ được nhấn mạnh. Họ nên dạy thanh niên thế giới theo cách khiến y bắt đầu dung hợp thế giới của các sắc tướng với thế giới của các giá trị và ý nghĩa trong tâm thức của mình. Y nên bắt đầu liên hệ các thế giới của đời sống khách quan bên ngoài với sự hiện tồn chủ quan bên trong. Tôi đang chọn lời một cách cẩn trọng. [49] |
|
Our colleges and universities should be a higher extension of all that has been already done. They should beautify and complete the structure already erected and should deal more directly with the world of meaning. International problems—economic, social, political and religious—should be considered and the man or woman related still more definitely to the world as a whole. This in no way indicates neglect of individual or national problems or undertakings but it seeks to incorporate them into the whole as integral and effective parts, and thus avoid the separative attitudes which have brought about the downfall of our modern world. |
Các cao đẳng và đại học của chúng ta nên là sự mở rộng cao hơn của tất cả những gì đã được thực hiện. Chúng nên làm đẹp và hoàn tất cấu trúc đã được dựng lên, và nên bàn đến Thế giới của ý nghĩa một cách trực tiếp hơn. Các vấn đề quốc tế — kinh tế, xã hội, chính trị và tôn giáo — nên được xem xét, và người nam hay người nữ nên được liên hệ rõ rệt hơn nữa với thế giới như một toàn thể. Điều này hoàn toàn không hàm ý sự sao lãng các vấn đề hay công cuộc cá nhân hoặc quốc gia, mà tìm cách đưa chúng vào toàn thể như những phần không thể tách rời và hữu hiệu, nhờ đó tránh các thái độ chia rẽ đã đem lại sự sụp đổ cho thế giới hiện đại của chúng ta. |
|
The college or the university should in reality be the correspondence in the field of education to the world of the Hierarchy; it should be the custodian of those methods, techniques and systems of thought and of life which will relate a human being to the world of souls, to the Kingdom of God, and not only to other human beings upon the physical plane; not only to the world of phenomena but also to the inner world of values and quality. |
Cao đẳng hay đại học, trong thực tế, nên là sự tương ứng trong lĩnh vực giáo dục với thế giới của Thánh Đoàn; nó nên là nơi gìn giữ những phương pháp, kỹ thuật và hệ thống tư tưởng cũng như đời sống vốn sẽ liên hệ một con người với thế giới của các linh hồn, với Thiên Giới, chứ không chỉ với những con người khác trên cõi hồng trần; không chỉ với thế giới hiện tượng, mà còn với thế giới bên trong của các giá trị và phẩm tính. |
|
Again I repeat, this fitting of a man for citizenship in the Kingdom of God is not essentially a religious activity, to be handled by the exponents of the great world religions. It should be the task of the higher education, giving purpose and significance to all that has been done. If this seems idealistic and impossible to you, let me assure you that by the time the Aquarian Age is in full flower, this will be the assured and recognised objective of the educators of that time. |
Một lần nữa, Tôi nhắc lại rằng việc chuẩn bị một con người cho tư cách công dân trong Thiên Giới, về bản chất, không phải là một hoạt động tôn giáo để những người đại diện của các tôn giáo lớn trên thế giới xử lý. Đó nên là nhiệm vụ của giáo dục bậc cao, đem lại mục đích và thâm nghĩa cho tất cả những gì đã được thực hiện. Nếu điều này có vẻ lý tưởng và bất khả đối với các bạn, hãy để Tôi bảo đảm với các bạn rằng khi Kỷ nguyên Bảo Bình nở rộ trọn vẹn, đây sẽ là mục tiêu chắc chắn và được thừa nhận của các nhà giáo dục thời ấy. |
|
The following sequence suggests itself as we consider the curriculum to be planned for the youth of the immediate generations: |
Trình tự sau đây tự gợi ra khi chúng ta xem xét chương trình học cần được hoạch định cho thanh niên của các thế hệ gần kề: |
|
Primary education…. Civilisation…. Ages 1-14 |
Giáo dục tiểu học…. Văn minh…. Tuổi 1-14 |
|
Secondary education.. Culture.. Ages 14-21 |
Giáo dục trung học.. Văn hóa.. Tuổi 14-21 |
|
Higher education….. Spiritual.. Ages 21-28 |
Giáo dục bậc cao….. Tinh thần.. Tuổi 21-28 |
|
It is only our economic material emphasis and pressure which force the young to work before they are mature. [50] It should also be remembered (and this is being more widely recognised) that the quality of the young children now coming into incarnation is steadily getting better and higher. They are in many cases abnormally intelligent, and what you (in your technical parlance) call their I.Q. is frequently phenomenally high. This will be increasingly the case, until young people of fourteen will have the equipment and intelligence of the brilliant college men and women of today. |
Chỉ có sự nhấn mạnh và áp lực vật chất kinh tế của chúng ta mới buộc người trẻ phải làm việc trước khi họ trưởng thành. [50] Cũng cần nhớ rằng, và điều này đang được thừa nhận rộng rãi hơn, phẩm tính của những trẻ em nhỏ tuổi hiện nay đang lâm phàm đang đều đặn trở nên tốt đẹp hơn và cao hơn. Trong nhiều trường hợp, chúng thông minh một cách khác thường, và điều mà các bạn, theo ngôn ngữ kỹ thuật của mình, gọi là chỉ số thông minh của chúng thường cao một cách phi thường. Điều này sẽ ngày càng xảy ra, cho đến khi thanh niên mười bốn tuổi sẽ có trang bị và trí tuệ của những người nam và nữ đại học xuất sắc ngày nay. |
|
It is not possible for me to prove the truth of these statements, but a study of the race and of the modern child in our more civilised countries will indicate trends and tendencies which may make my position sounder in your final estimation. You would all do well to study carefully this distinction between culture and civilisation. |
Tôi không thể chứng minh chân lý của những phát biểu này, nhưng một sự nghiên cứu về nhân loại và về trẻ em hiện đại trong các quốc gia văn minh hơn của chúng ta sẽ chỉ ra những chiều hướng và khuynh hướng có thể làm cho lập trường của Tôi trở nên vững chắc hơn trong sự đánh giá cuối cùng của các bạn. Tất cả các bạn sẽ được lợi nhiều nếu nghiên cứu cẩn thận sự phân biệt này giữa văn hóa và văn minh. |
|
Putting this same truth in other words, and recognising as a basic premise the essentially supernormal potentialities of the human being, we might say that: |
Diễn đạt cùng chân lý ấy bằng những lời khác, và thừa nhận như một tiền đề căn bản các tiềm năng về bản chất là siêu bình thường của con người, chúng ta có thể nói rằng: |
|
The first effort of education to civilise the child will be to train and rightly direct his instincts. |
Nỗ lực đầu tiên của giáo dục nhằm văn minh hóa đứa trẻ sẽ là huấn luyện và định hướng đúng các bản năng của y. |
|
The second obligation upon the educators will be to bring about his true culture, by training him to use his intellect rightly. |
Nghĩa vụ thứ hai đặt lên các nhà giáo dục sẽ là đem lại nền văn hóa chân thật cho y, bằng cách huấn luyện y sử dụng trí năng của mình một cách đúng đắn. |
|
The third duty of education will be to evoke and to develop the intuition. |
Bổn phận thứ ba của giáo dục sẽ là gợi lên và phát triển trực giác. |
|
When these three are developed and functioning you will have a civilised, cultured and spiritually awakened human being. A man will then be instinctively correct, intellectually sound, and intuitively aware. His soul, his mind, and his brain will be functioning as they should and in right relation to each other, thus again producing coordination and correct alignment. Some day an analysis will be made of the contribution of the three great continents—Asia, Europe and America—to this triple unfoldment, as far as the Aryan race is concerned. The glory of humanity must, however, be remembered; it consists in this: each race has produced those who have expressed the highest [51] which was possible in their day and time—men who blended in themselves the triplicity of instinct, intellect and intuition. Their numbers were relatively few in the early stages of mankind’s unfoldment, but the process of speeding up the development is rapidly going forward, and many are today fitting themselves for the “higher education” in the true sense of the term. Much more will be accomplished when the educators of the world grasp the purpose of the process as a whole planned unfoldment, and will then give their attention to the instinctual, intellectual and intuitive training of the race in such a manner that the whole twenty-eight years of training will be seen as an ordered, directed process, and the goal will be clearly visioned. |
Khi ba điều này được phát triển và hoạt động, các bạn sẽ có một con người văn minh, có văn hóa và được đánh thức về tinh thần. Khi ấy, con người sẽ đúng đắn theo bản năng, vững vàng về trí năng và nhận biết bằng trực giác. Linh hồn, thể trí và bộ não của y sẽ hoạt động như chúng phải hoạt động và trong mối liên hệ đúng đắn với nhau, nhờ đó lại tạo ra sự phối hợp và sự chỉnh hợp đúng. Một ngày nào đó, người ta sẽ phân tích sự đóng góp của ba lục địa lớn — Á Châu, Âu Châu và Mỹ Châu — vào sự khai mở tam phân này, xét trong phạm vi giống dân Arya. Tuy nhiên, vinh quang của nhân loại phải được ghi nhớ; nó nằm ở điều này: mỗi giống dân đã sản sinh những người biểu lộ điều cao nhất [51] có thể có trong ngày và thời của họ — những người nam đã hòa trộn trong chính họ bộ ba bản năng, trí năng và trực giác. Số lượng của họ tương đối ít trong những giai đoạn đầu của sự khai mở nhân loại, nhưng tiến trình tăng tốc sự phát triển đang nhanh chóng tiến tới, và ngày nay nhiều người đang chuẩn bị cho “giáo dục bậc cao” theo nghĩa chân thật của thuật ngữ này. Nhiều điều hơn nữa sẽ được thành tựu khi các nhà giáo dục thế giới nắm bắt mục đích của tiến trình như một sự khai mở có kế hoạch toàn thể, rồi dành sự chú ý của họ cho việc huấn luyện bản năng, trí năng và trực giác của nhân loại theo cách khiến toàn bộ hai mươi tám năm huấn luyện được thấy như một tiến trình có trật tự, được định hướng, và mục tiêu được nhìn thấy rõ ràng. |
|
It will be apparent, then, that those to be taught will be gauged from the angles upon which I have touched: |
Khi ấy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những người được dạy sẽ được đánh giá từ các góc độ mà Tôi đã đề cập: |
|
a. Those capable of being rightly civilised. This refers to the mass of men. |
a. Những người có khả năng được văn minh hóa đúng đắn. Điều này chỉ khối đông con người. |
|
b. Those capable of being carried forward into the world of culture. This includes a very large number. |
b. Những người có khả năng được đưa tiến vào thế giới văn hóa. Điều này bao gồm một số lượng rất lớn. |
|
c. Those who can add to the assets of civilisation and culture “the equipment” required for the process of functioning as conscious souls, not only in the three worlds of instinctual and intellectual living, but in the world of spiritual being also, and yet with complete continuity of consciousness and with a complete triple integration. |
c. Những người có thể thêm vào các tài sản của văn minh và văn hóa “trang bị” cần thiết cho tiến trình hoạt động như những linh hồn có ý thức, không chỉ trong ba cõi giới của đời sống bản năng và trí năng, mà còn trong thế giới của hiện tồn tinh thần nữa, song vẫn với sự liên tục hoàn toàn của tâm thức và với một sự tích hợp tam phân trọn vẹn. |
|
Not all can pass into the higher grades, and this must be appreciated. The gauging of ability will be based upon an understanding of the ray types (the science of esoteric psychology), on a comprehension of the condition of the glandular and physiological equipment, upon certain specific tests, and upon the new form of astrology. |
Không phải tất cả đều có thể bước vào các cấp cao hơn, và điều này phải được nhận thức. Việc đánh giá năng lực sẽ dựa trên sự thấu hiểu các kiểu cung, tức khoa học của Tâm Lý Học Nội Môn, trên sự lĩnh hội tình trạng của trang bị tuyến nội tiết và sinh lý, trên một số trắc nghiệm đặc thù, và trên hình thức chiêm tinh học mới. |
|
I would here make a simple request to the earnest student. Ponder on the following four statements: [52] |
Ở đây, Tôi muốn đưa ra một yêu cầu đơn giản với đạo sinh nghiêm túc. Hãy suy ngẫm bốn phát biểu sau: [52] |
|
1. The antahkarana expresses the quality of the magnetism which opens the door into the teaching centre of the Great White Lodge. |
1. Antahkarana biểu lộ phẩm tính của từ điện vốn mở cánh cửa vào trung tâm giáo huấn của Thánh Đoàn. |
|
2. The antahkarana is the conscious integrating force. |
2. Antahkarana là mãnh lực tích hợp có ý thức. |
|
3. The antahkarana is the medium of light transference. |
3. Antahkarana là trung gian của sự chuyển dịch ánh sáng. |
|
4. The antahkarana concerns the continuity of man’s perception. |
4. Antahkarana liên quan đến sự liên tục trong tri giác của con người. |
The Process of Unfoldment – Tiến Trình Khai Mở
|
I would like to add to the preceding analogy one more, which will serve to clarify the process of unfoldment in your minds and make the entire theme (from the racial angle) still more clear and definite: |
Tôi muốn thêm vào phép tương đồng trước một phép tương đồng nữa, vốn sẽ giúp làm sáng tỏ tiến trình khai mở trong trí các bạn và làm cho toàn bộ chủ đề, xét từ góc độ nhân loại, còn rõ ràng và xác định hơn: |
|
General racial development…. Civilisation…. Path of Purification |
Sự phát triển chung của nhân loại…. Văn minh…. Con Đường Thanh Lọc |
|
Training of the Intelligentsia… Culture…… Path of Discipleship |
Huấn luyện giới trí thức… Văn hóa…… Con Đường Đệ Tử |
|
Production of the Illuminati…. Illumination… Path of Initiation |
Sản sinh những người được soi sáng…. Sự soi sáng… Con Đường Điểm Đạo |
|
It will be apparent to you, therefore, that the whole goal of the future and of the present effort, is to bring humanity to the point where it—occultly speaking—”enters into light.” The entire trend of the present urge forward, which can be noted so distinctly in the race, is to enable the race to acquire knowledge, to transmute it into wisdom by the aid of the understanding, and thus to become “fully enlightened.” Enlightenment is the major goal of education. |
Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng toàn bộ mục tiêu của tương lai và của nỗ lực hiện tại là đưa nhân loại đến điểm mà, nói theo huyền bí học, y “bước vào ánh sáng”. Toàn bộ chiều hướng của sự thôi thúc tiến tới hiện nay, vốn có thể được nhận thấy rất rõ trong nhân loại, là giúp nhân loại đạt được tri thức, chuyển hóa nó thành minh triết nhờ sự thấu hiểu, và do đó trở nên “được giác ngộ trọn vẹn”. Giác ngộ là mục tiêu chủ yếu của giáo dục. |
|
It is precisely in this region of thought and of recognition that the distinction is found between the work of the Buddha and the work of the Christ. The Buddha achieved “Enlightenment” and was the first of our humanity to do so. Lesser grades of enlightenment have been frequently achieved by many previously incarnating Sons of God. Christ, because of the attainment of the Buddha and because of His own point in evolution, was enabled to inaugurate a new era and institute a new goal, wherein another divine principle was enabled to come into manifestation and to achieve [53] general recognition. He inaugurated the “age of love” and gave to the people an expression of a new divine aspect, that of love. The Buddha culminated the “age of knowledge.” The Christ began the “age of love.” Both ages embody and express two major divine principles. Thus the new education has been made possible by the work of the Buddha. This will indicate to you how slowly evolution moves. The new religion has been made possible by the work and the life of the Christ. Speaking esoterically, the knowledge petals of the human egoic lotus have unfolded, and the Buddha accelerated the rapid action of this happening. Now the love petals of the egoic lotus of the human family are also unfolding—the rapidity of this occurrence being the result of Christ’s action. Can you understand the significance of what I am attempting to tell you, and can you grasp the meaning of what I am going to say? |
Chính trong vùng tư tưởng và nhận biết này mà người ta tìm thấy sự phân biệt giữa công việc của Đức Phật và công việc của Đức Christ. Đức Phật đã đạt “Giác Ngộ” và là Đấng đầu tiên trong nhân loại chúng ta làm được điều đó. Những cấp độ giác ngộ thấp hơn đã thường được nhiều Con của Thượng đế lâm phàm trước đó đạt đến. Đức Christ, nhờ thành tựu của Đức Phật và nhờ chính điểm tiến hoá của Ngài, đã có thể khai mở một kỷ nguyên mới và thiết lập một mục tiêu mới, trong đó một nguyên khí thiêng liêng khác có thể đi vào biểu hiện và đạt được [53] sự thừa nhận phổ quát. Ngài khai mở “kỷ nguyên của bác ái” và đem đến cho nhân dân sự biểu lộ của một phương diện thiêng liêng mới, tức bác ái. Đức Phật đã đưa “kỷ nguyên tri thức” đến cực điểm. Đức Christ bắt đầu “kỷ nguyên bác ái”. Cả hai kỷ nguyên đều hàm chứa và biểu lộ hai nguyên lý thiêng liêng chủ yếu. Như vậy, nền giáo dục mới đã trở nên khả hữu nhờ công việc của Đức Phật. Điều này sẽ chỉ cho các bạn thấy tiến hoá vận hành chậm chạp biết bao. Tôn giáo mới đã trở nên khả hữu nhờ công việc và đời sống của Đức Christ. Nói một cách nội môn, các cánh hoa tri thức của Hoa sen chân ngã nhân loại đã khai mở, và Đức Phật đã thúc đẩy nhanh hành động mau lẹ của sự kiện này. Giờ đây, các cánh hoa bác ái của Hoa sen chân ngã của gia đình nhân loại cũng đang khai mở — tốc độ của biến cố này là kết quả của hành động của Đức Christ. Các bạn có thể thấu hiểu thâm nghĩa của điều Tôi đang cố gắng nói với các bạn không, và các bạn có thể nắm bắt ý nghĩa của điều Tôi sắp nói không? |
|
The points that I am seeking to make are as follows: |
Những điểm Tôi đang tìm cách nêu ra như sau: |
|
Because the three knowledge petals of the human egoic lotus are now racially unfolded (and when I use the word “racial” I mean the human family and not the Aryan race), it is now possible for the love petals to unfold. The energy flowing from the outer tier of petals has had a triple effect: |
Vì ba cánh hoa tri thức của Hoa sen chân ngã nhân loại hiện nay đã khai mở về mặt nhân loại, và khi Tôi dùng từ “nhân loại”, Tôi muốn nói gia đình nhân loại chứ không phải giống dân Arya, nên hiện nay các cánh hoa bác ái có thể khai mở. Năng lượng tuôn chảy từ tầng ngoài của các cánh hoa đã có một hiệu quả tam phân: |
|
1. It has vitalised the entire body of humanity, and has produced the present speed, intelligent (or should I say “intellectual”?) civilisation, and our modern culture, wherever it is found. The brain of humanity is now open to vitalisation, hence mass education. |
1. Nó đã tiếp sinh lực cho toàn thể nhân loại, và đã tạo ra tốc độ hiện nay, nền văn minh thông minh, hay Tôi nên nói là “trí năng”, và nền văn hóa hiện đại của chúng ta, bất cứ nơi nào nó được tìm thấy. Bộ não của nhân loại hiện nay đã mở ra cho sự tiếp sinh lực, vì thế có giáo dục đại chúng. |
|
2. It has opened a channel so that the love petals can vitalise the astral body of humanity, thus leading to general cooperation and group love. The heart of humanity is now open to vitalisation, hence the philanthropic, goodwill and welfare movements of today. |
2. Nó đã mở một kênh để các cánh hoa bác ái có thể tiếp sinh lực cho thể cảm dục của nhân loại, nhờ đó dẫn đến sự hợp tác chung và tình thương nhóm. Trái tim của nhân loại hiện nay đã mở ra cho sự tiếp sinh lực, vì thế có các phong trào từ thiện, thiện chí và phúc lợi ngày nay. |
|
3. It will make possible, eventually, the vitalising of the mind body by the will or sacrifice petals, and [54] this will give awareness of the Plan, directed purpose, and group synthesis. |
3. Cuối cùng, nó sẽ làm cho việc tiếp sinh lực cho thể trí bằng các cánh hoa ý chí hay hi sinh trở nên khả hữu, và [54] điều này sẽ đem lại sự nhận biết Thiên Cơ, mục đích được định hướng, và sự tổng hợp nhóm. |
|
The first of these three knowledge petals opened in Lemurian times and brought a measure of light to the physical plane consciousness of humanity. The second opened in Atlantean times and brought light to the astral plane. And in our race, the Aryan, the third petal opened and brought the light of mental knowledge to man. Thus was completed (in the three races) the arduous task of vitalising the threefold manifested world (physical, astral, mental), and the energy of intelligence became a powerful, ruling factor. Now the task of vitalising man with the energy of love is proceeding and making much progress, and the effects (because they emanate from the second aspect of divinity) will be produced with great facility, and in the realm of conscious awareness. I say this for your encouragement. |
Cánh hoa tri thức thứ nhất trong ba cánh hoa ấy đã mở ra vào thời Lemuria và đem một mức độ ánh sáng đến cho tâm thức cõi hồng trần của nhân loại. Cánh hoa thứ hai mở ra vào thời Atlantis và đem ánh sáng đến cõi cảm dục. Và trong giống dân của chúng ta, giống dân Arya, cánh hoa thứ ba mở ra và đem ánh sáng của tri thức trí tuệ đến cho con người. Như vậy đã hoàn tất, trong ba giống dân, nhiệm vụ khó nhọc là tiếp sinh lực cho thế giới biểu hiện tam phân, gồm hồng trần, cảm dục và trí, và năng lượng của trí tuệ đã trở thành một yếu tố mạnh mẽ, cai quản. Giờ đây, nhiệm vụ tiếp sinh lực cho con người bằng năng lượng bác ái đang tiếp diễn và đạt nhiều tiến bộ, và các hiệu quả, vì chúng xuất lộ từ phương diện thứ hai của thiên tính, sẽ được tạo ra rất dễ dàng, và trong lĩnh vực nhận biết có ý thức. Tôi nói điều này để khích lệ các bạn. |
|
Through the activity of the energy of knowledge you have: |
Qua hoạt động của năng lượng tri thức, các bạn có: |
|
Civilisation…..Culture……Illumination |
Văn minh…..Văn hóa……Sự soi sáng |
|
and in the second case you will have: |
và trong trường hợp thứ hai, các bạn sẽ có: |
|
Cooperation……Loving Understanding……Group Love |
Hợp tác……Sự thấu hiểu đầy bác ái……Tình thương nhóm |
|
There are higher correspondences for which we have as yet no adequate words. |
Có những tương ứng cao hơn mà đến nay chúng ta chưa có từ ngữ thích đáng. |
|
Cooperative goodwill is all that can, at this time, be expected from the masses, and this is the sublimation of the forces released through civilisation. Loving understanding should be the hallmark of the cultured, wiser group, plus an ability to correlate the world of meaning with the world of outer effects. Ponder on this sentence. Group love is, and must be, the outstanding characteristic of the Illuminati of the world, and it is at this time the motivating power of the Masters of the Wisdom, until such time that enough disciples are expressive of this particular force |
Thiện chí hợp tác là tất cả những gì, vào lúc này, có thể được mong đợi từ quần chúng, và đây là sự thăng hoa của các mãnh lực được phóng thích qua văn minh. Sự thấu hiểu đầy bác ái nên là dấu hiệu đặc trưng của nhóm có văn hóa và minh triết hơn, cộng với khả năng liên hệ Thế giới của ý nghĩa với thế giới của các hiệu quả bên ngoài. Hãy suy ngẫm câu này. Tình thương nhóm là, và phải là, đặc tính nổi bật của những người được soi sáng trên thế giới, và vào lúc này nó là quyền năng thúc đẩy của các Chân sư Minh Triết, cho đến khi có đủ số đệ tử biểu lộ mãnh lực đặc biệt này |
|
[55] When the will or sacrifice petals of the human egoic lotus are opened, there will then be the appearance of a still higher triad of correspondences. These will be known as: |
[55] Khi các cánh hoa ý chí hay hi sinh của Hoa sen chân ngã nhân loại được mở ra, bấy giờ sẽ có sự xuất hiện của một bộ ba tương ứng còn cao hơn nữa. Những điều này sẽ được biết đến là: |
|
Participation……Purpose…….Precipitation |
Tham dự……Mục đích…….Ngưng tụ |
|
Therefore, as a result of the evolutionary processes in humanity, there will appear the following category of forces or energies, each of them demonstrating certain definite qualities, and they will parallel the opening of the petals in the human lotus. |
Do đó, như kết quả của các tiến trình tiến hoá trong nhân loại, sẽ xuất hiện loại mãnh lực hay năng lượng sau đây, mỗi loại biểu lộ một số phẩm tính xác định, và chúng sẽ song hành với sự mở ra của các cánh hoa trong Hoa sen nhân loại. |
|
EDUCATION AND SCIENCE – I. KNOWLEDGE PETALS |
GIÁO DỤC VÀ KHOA HỌC – I. CÁC CÁNH HOA TRI THỨC |
|
Civilisation……. Culture………Illumination |
Văn minh……. Văn hóa………Sự soi sáng |
|
The Masses of Men..The Intellectuals…Spiritual Man |
Quần chúng nhân loại..Giới trí thức…Con người tinh thần |
|
Path of Discipleship.. Path of Initiation.. Path of Purification |
Con Đường Đệ Tử.. Con Đường Điểm Đạo.. Con Đường Thanh Lọc |
|
Plus |
Cộng thêm |
|
RELIGION AND PHILOSOPHY – II. LOVE PETALS |
TÔN GIÁO VÀ TRIẾT HỌC – II. CÁC CÁNH HOA BÁC ÁI |
|
Cooperation…… Loving Understanding. Group Love |
Hợp tác…… Sự thấu hiểu đầy bác ái. Tình thương nhóm |
|
The Intellectuals….World Aspirants……The Hierarchy |
Giới trí thức….Những người chí nguyện thế giới……Thánh Đoàn |
|
Plus |
Cộng thêm |
|
GOVERNMENTS AND SOCIAL ORDER – III. WILL AND SACRIFICE PETALS |
CHÍNH QUYỀN VÀ TRẬT TỰ XÃ HỘI – III. CÁC CÁNH HOA Ý CHÍ VÀ HI SINH |
|
Participation………..Purpose…………………..Precipitation |
Tham dự………..Mục đích…………………..Ngưng tụ |
|
(in the Plan).. (Directed Will of all Disciples).. (of the Plan by the Hierarchy) |
trong Thiên Cơ.. Ý Chí được định hướng của mọi đệ tử.. của Thiên Cơ bởi Thánh Đoàn |
|
You can note from the tabulation that the love petals are indeed showing signs of opening and this will make clear to you the possibility of certain hoped-for events. The world has to move forward regularly and in order. Premature happenings are usually disastrous. |
Các bạn có thể nhận thấy từ bảng kê rằng các cánh hoa bác ái quả thật đang cho thấy những dấu hiệu mở ra, và điều này sẽ làm rõ cho các bạn khả năng xảy ra một số biến cố được hy vọng. Thế giới phải tiến tới đều đặn và có trật tự. Những sự kiện xảy ra quá sớm thường gây tai họa. |
|
All this concerns the cultural unfoldment of the race and is proceeding apace. When the conditioning factors are better understood and their method and purpose are grasped, we shall see an effort on the part of those interested in education to move with greater rapidity; this will hasten the achievement of culture by the masses, and the attainment of illumination by the more intellectual group. |
Tất cả điều này liên quan đến sự khai mở văn hóa của nhân loại và đang tiến triển nhanh chóng. Khi các yếu tố tác động được thấu hiểu tốt hơn, và phương pháp cũng như mục đích của chúng được nắm bắt, chúng ta sẽ thấy một nỗ lực từ phía những người quan tâm đến giáo dục nhằm tiến nhanh hơn; điều này sẽ thúc đẩy thành tựu văn hóa nơi quần chúng, và sự đạt đến soi sáng nơi nhóm trí thức hơn. |
|
There is one point that I would like to make here. In the future, illumination will be viewed primarily from the intellectual angle and the whole subject will be approached mentally, and not so definitely (as is the case today) from the angle of religion. Illumination, mysticism and religion have gone hand in hand. One of the major contributions of the present age to the unfoldment of the race has been the growing recognition that spirituality is not to be confused with and confined to the acceptance and the following of the precepts contained in the world Scriptures; it cannot be held down to the implications given to these Scriptures by an orthodox priestly caste, nor can the trends of ancient theologies govern. God can be known by His works, and these works can be more easily appreciated through the revelations [57] of science than by the hymns, prayers and sermons of the churches throughout the world. What then will be the task of the churches in the future? And what will be the major objective of the coming new religion? Primarily it will be to bring about the opening of the love petals, thus inaugurating an era of true cooperation, loving understanding and group love. This will be done by training the people and the individual in the rules of Right Approach. |
Có một điểm Tôi muốn nêu ra ở đây. Trong tương lai, sự soi sáng sẽ được nhìn chủ yếu từ góc độ trí năng, và toàn bộ chủ đề sẽ được tiếp cận bằng trí tuệ, chứ không quá rõ rệt, như trường hợp ngày nay, từ góc độ tôn giáo. Sự soi sáng, Thần bí học và tôn giáo đã đi đôi với nhau. Một trong những đóng góp chủ yếu của thời đại hiện nay cho sự khai mở của nhân loại là sự thừa nhận ngày càng tăng rằng tinh thần không được lẫn lộn với, và bị giới hạn trong, việc chấp nhận và tuân theo các giáo huấn chứa trong các Kinh điển thế giới; nó không thể bị giữ chặt trong những hàm ý mà một giai cấp giáo sĩ chính thống gán cho các Kinh điển ấy, và các khuynh hướng của các thần học cổ xưa cũng không thể cai quản nó. Thượng đế có thể được biết qua các công trình của Ngài, và các công trình này có thể được trân trọng dễ dàng hơn qua những mặc khải [57] của khoa học hơn là qua thánh ca, lời cầu nguyện và bài giảng của các giáo hội trên khắp thế giới. Vậy nhiệm vụ của các giáo hội trong tương lai sẽ là gì? Và mục tiêu chủ yếu của tôn giáo mới sắp đến sẽ là gì? Chủ yếu, đó sẽ là làm cho các cánh hoa bác ái mở ra, nhờ đó khai mở một kỷ nguyên của sự hợp tác chân thật, sự thấu hiểu đầy bác ái và tình thương nhóm. Điều này sẽ được thực hiện bằng cách huấn luyện quần chúng và cá nhân trong các quy luật của Sự Tiếp Cận Đúng. |
|
The keynote of the new education is essentially right interpretation of life past and present and its relation to the future of mankind; the keynote of the new religion must and should be right approach to God, transcendent in nature and immanent in man, whilst the keynote of the new science of politics and of government will be right human relations and for both of these education must prepare the child. |
Chủ âm của nền giáo dục mới về bản chất là sự diễn giải đúng đắn đời sống quá khứ và hiện tại cùng mối liên hệ của nó với tương lai của nhân loại; chủ âm của tôn giáo mới phải là, và nên là, sự tiếp cận đúng đắn với Thượng đế, siêu việt trong bản chất và nội tại trong con người, trong khi chủ âm của khoa học mới về chính trị và chính quyền sẽ là các mối quan hệ nhân loại đúng đắn; và giáo dục phải chuẩn bị đứa trẻ cho cả hai điều này. |
|
Those working in these three groups must eventually proceed in the closest cooperation, and it is for this planned understanding and this intelligent activity of mankind that the new education must prepare. In the above comments, plus what I have given earlier, you have the few suggestions which I have sought to make in connection with the cultural unfoldment of the race. The true history of humanity, which is long and varied and lost in the speculative indications of the esotericists (which, when true, are seldom susceptible of proof), have brought humanity to a point in its evolution wherein the light of knowledge is definitely permeating the dark places of the earth. A mass of information is now available to those who have the ability to read and write—and the number of these is growing every day—whilst the means of transmission and of communication have practically annihilated time and brought the whole world together as a functioning unit. A very high level of educational attainment is also emerging in all civilised countries. The average citizen is in possession of a vast amount of data on every imaginable subject. Much of it is ill-digested and [58] unusable, yet it tends to the general elevation of the mental process. The output of men’s thoughts in writing and in speech, embodying that which is old, that which is new and modern, and that which is superficial and relatively worthless, is so vast today that it is impossible to register it, and the lifetime of a book is brief. To crown all, there is a definite effort to bring the resources of education within the reach of every man upon the planet. This eventually will be done, and the intended type of education will accomplish the following things, thus laying the ground for the future unfoldment of the higher and better education: |
Những người hoạt động trong ba nhóm này cuối cùng phải tiến hành trong sự hợp tác chặt chẽ nhất, và chính cho sự thấu hiểu được hoạch định này cùng hoạt động thông minh này của nhân loại mà nền giáo dục mới phải chuẩn bị. Trong các nhận xét trên đây, cộng với những gì Tôi đã đưa ra trước đó, các bạn có một vài gợi ý mà Tôi đã tìm cách nêu ra liên quan đến sự khai mở văn hóa của nhân loại. Lịch sử chân thật của nhân loại, vốn dài lâu, đa dạng và bị mất hút trong các chỉ dẫn mang tính suy đoán của các nhà bí truyền học, những chỉ dẫn mà khi đúng thì hiếm khi có thể chứng minh được, đã đưa nhân loại đến một điểm trong tiến hoá của mình, nơi ánh sáng tri thức đang thấm nhuần rõ rệt các nơi tối tăm của Trái Đất. Một khối lượng thông tin hiện nay đã sẵn có cho những ai có khả năng đọc và viết, và số người này đang tăng lên từng ngày, trong khi các phương tiện truyền tải và giao tiếp hầu như đã xóa bỏ thời gian và đưa toàn thế giới lại với nhau như một đơn vị hoạt động. Một mức thành tựu giáo dục rất cao cũng đang xuất hiện trong mọi quốc gia văn minh. Công dân trung bình đang sở hữu một lượng dữ kiện rộng lớn về mọi chủ đề có thể tưởng tượng. Phần lớn trong đó được tiêu hóa kém và [58] không dùng được, tuy nhiên nó có khuynh hướng nâng cao chung tiến trình trí tuệ. Sản lượng tư tưởng của con người trong chữ viết và lời nói, bao gồm điều cũ, điều mới và hiện đại, cùng điều nông cạn và tương đối vô giá trị, ngày nay rộng lớn đến mức không thể ghi nhận hết, và đời sống của một cuốn sách thì ngắn ngủi. Trên hết, có một nỗ lực rõ rệt nhằm đưa các tài nguyên giáo dục đến trong tầm tay của mọi người trên hành tinh. Cuối cùng điều này sẽ được thực hiện, và loại hình giáo dục được dự định sẽ hoàn thành những điều sau đây, nhờ đó đặt nền cho sự khai mở tương lai của nền giáo dục cao hơn và tốt đẹp hơn: |
|
1. Make available to the average citizen what has “come to light” in the past. |
1. Làm cho công dân trung bình tiếp cận được những gì đã “ra ánh sáng” trong quá khứ. |
|
2. Evoke interest in the new sciences and knowledge which are coming to light in the present. |
2. Gợi lên sự quan tâm đến các khoa học và tri thức mới đang ra ánh sáng trong hiện tại. |
|
3. Develop the memory and the power to recognise that which is presented to the mind. |
3. Phát triển ký ức và quyền năng nhận ra điều được trình bày cho thể trí. |
|
4. Correlate the past with the present. |
4. Liên hệ quá khứ với hiện tại. |
|
5. Train citizens in the rights and nature of possession, with the attention to the processes of enjoyment and right use of the material and intellectual gifts of life, and their relation to the group. |
5. Huấn luyện công dân về quyền hạn và bản chất của sở hữu, với sự chú ý đến các tiến trình hưởng dụng và sử dụng đúng các ân huệ vật chất và trí năng của đời sống, cùng mối liên hệ của chúng với nhóm. |
|
6. Indicate, after due study, the right vocation. |
6. Chỉ ra, sau khi nghiên cứu thích đáng, thiên hướng nghề nghiệp đúng. |
|
7. Teach the methods whereby the coordination of the Personality can be brought about. |
7. Dạy các phương pháp nhờ đó sự phối hợp của Phàm ngã có thể được tạo ra. |
|
All this will turn the man out into the arena of life with a certain amount of knowledge of what has been discovered in the past and what is his intellectual heritage; with a certain amount of mental activity, which can be developed and trained if the man himself so desires it and brings it about by the right handling of himself in relation to his environment; with certain mental ideals, dreams and speculations, which can be transmuted into valuable assets if the man is dowered with persistence, if his imaginative faculties have not been dulled by an unbalanced, enforced curriculum, [59] and if he has been fortunate enough to have a wise teacher and some understanding senior friends. |
Tất cả điều này sẽ đưa con người vào đấu trường đời sống với một mức tri thức nào đó về những gì đã được khám phá trong quá khứ và về di sản trí năng của y; với một mức hoạt động trí tuệ nào đó, có thể được phát triển và huấn luyện nếu chính con người mong muốn và thực hiện điều đó bằng cách xử lý đúng bản thân trong mối liên hệ với môi trường của mình; với một số lý tưởng, giấc mơ và suy tưởng trí tuệ, có thể được chuyển hoá thành những tài sản có giá trị nếu con người được ban cho tính kiên trì, nếu các năng lực tưởng tượng của y không bị làm cùn mòn bởi một chương trình học cưỡng bách, mất cân bằng, [59] và nếu y đủ may mắn để có một huấn sư minh triết cùng một vài người bạn lớn tuổi có sự thấu hiểu. |
|
It will be apparent to you also that the task of the new education is to take the civilised masses and lead them on to the point where they are cultured; to take likewise the cultured people and train them in the ways of the Illuminati. Eventually it will be found that what is now taught in the schools of the esotericists will be part of the acknowledged curriculum imposed upon the rising generation, and that the teaching given to the advanced, thinking people of the world today will be adapted to the needs of the youth of the period. |
Các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng nhiệm vụ của nền giáo dục mới là tiếp nhận các quần chúng văn minh và dẫn họ đến điểm mà họ trở nên có văn hóa; cũng vậy, tiếp nhận những người có văn hóa và huấn luyện họ theo những đường lối của những người được soi sáng. Cuối cùng, người ta sẽ thấy rằng những gì hiện nay được dạy trong các trường của các nhà bí truyền học sẽ trở thành một phần của chương trình học được thừa nhận, áp đặt cho thế hệ đang lớn lên, và rằng giáo huấn hiện nay được đưa ra cho những người tiên tiến, biết suy nghĩ của thế giới sẽ được thích nghi với nhu cầu của thanh niên thời kỳ ấy. |
The Nature of Esotericism – Bản Chất của Huyền Bí Học
|
Educators in the new age will lay an increasing emphasis upon the esoteric approach, and it might be of service if I here attempted to define esotericism in terms of the general average intelligence of esoteric students and their point in evolution. I would remind you that true esotericism is a far deeper thing (from the angle of the Hierarchy) than you can appreciate. |
Các nhà giáo dục trong kỷ nguyên mới sẽ đặt sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào phương pháp tiếp cận nội môn, và có thể hữu ích nếu ở đây Tôi cố gắng định nghĩa huyền bí học theo các thuật ngữ phù hợp với trí tuệ trung bình nói chung của các đạo sinh nội môn và điểm tiến hoá của họ. Tôi muốn nhắc các bạn rằng huyền bí học chân thật là một điều sâu xa hơn nhiều, xét từ góc độ Thánh Đoàn, so với điều các bạn có thể nhận thức. |
|
One of the most inadequate of the definitions of esotericism is that it concerns that which is concealed and hidden and which, even though suspected, still remains unknown. The inference is that to be an esotericist is to be among those who seek to penetrate into a certain secret realm to which the ordinary student is not permitted to penetrate. If this were all that it is, then every scientist and every mystic would represent the approach of the mental type and of the developed emotional type to the world of esotericism and of the hidden realities. This would not, however, be accurate. The mystic is never a true esotericist, for he is not dealing in his consciousness with energies and forces, but with that vague “Something other” (called God, the Christ, the Beloved) and therefore, in reality, with that which satisfies the hunger of his soul. The scientist who is [60] now so rapidly dealing with and entering into the world of forces and energies, is in reality a true esotericist—even if, in his effort to control the sought-for energies, he denies their source. That is of relatively small moment; later he will recognise their emanating source. |
Một trong những định nghĩa bất toàn nhất về huyền bí học là cho rằng nó liên quan đến điều bị che giấu và ẩn tàng, và dù bị nghi ngờ là có, vẫn còn chưa được biết. Hàm ý là trở thành một nhà bí truyền học tức là thuộc về những người tìm cách thâm nhập vào một cõi bí mật nào đó mà đạo sinh thông thường không được phép thâm nhập. Nếu đó là tất cả bản chất của nó, thì mọi nhà khoa học và mọi nhà thần bí đều sẽ đại diện cho phương pháp tiếp cận của kiểu trí tuệ và kiểu cảm xúc phát triển đối với thế giới của huyền bí học và các thực tại ẩn tàng. Tuy nhiên, điều này không chính xác. Nhà thần bí không bao giờ là một nhà bí truyền học chân thật, vì trong tâm thức của y, y không đề cập đến các năng lượng và mãnh lực, mà đến một “Điều Gì Khác” mơ hồ, được gọi là Thượng đế, Đức Christ, Đấng Yêu Dấu, và do đó, trong thực tế, đến điều thỏa mãn cơn đói của linh hồn y. Nhà khoa học hiện nay [60] đang nhanh chóng xử lý và đi vào thế giới của các mãnh lực và năng lượng, trong thực tế là một nhà bí truyền học chân thật — cho dù trong nỗ lực kiểm soát các năng lượng được tìm kiếm, ông phủ nhận nguồn gốc của chúng. Điều đó tương đối ít quan trọng; về sau ông sẽ nhận ra nguồn xuất lộ của chúng. |
|
The basic approach for all who endeavour to grasp esotericism, or to teach esoteric students, is to lay the emphasis upon the world of energies and to recognise that behind all happenings in the world of phenomena (and by that I mean the three worlds of human evolution) exists the world of energies; these are of the greatest diversity and complexity, but all of them move and work under the Law of Cause and Effect. It is hardly necessary for me therefore to indicate the very practical nature of this definition and its applicability to the life of the individual aspirant, to community life and world affairs, or to the immediate conditioning levels of experimental spiritual energies which are constantly seeking impact upon or contact with the world of phenomena. This they do, under spiritual direction, in order to implement the Plan. The above statement is foundational in its importance; all other definitions are implicit in it, and it is the first important truth anent esotericism which must be learnt and applied by each aspirant to the mystery and the universality of that which moves the worlds and underlies the evolutionary process. |
Phương pháp tiếp cận căn bản cho tất cả những ai nỗ lực nắm bắt huyền bí học, hoặc dạy các đạo sinh nội môn, là đặt sự nhấn mạnh vào thế giới của các năng lượng và nhận ra rằng đằng sau mọi sự kiện trong thế giới hiện tượng, và qua đó Tôi muốn nói ba cõi giới của tiến hoá nhân loại, có tồn tại thế giới của các năng lượng; chúng vô cùng đa dạng và phức tạp, nhưng tất cả đều chuyển động và hoạt động dưới Định luật Nhân Quả. Vì vậy, hầu như không cần thiết để Tôi chỉ ra bản chất rất thực tiễn của định nghĩa này và khả năng áp dụng của nó vào đời sống của từng người chí nguyện, vào đời sống cộng đồng và các sự việc thế giới, hoặc vào các cấp độ tác động trực tiếp của những năng lượng tinh thần thử nghiệm vốn không ngừng tìm cách tạo va chạm hoặc tiếp xúc với thế giới hiện tượng. Chúng làm điều này dưới sự chỉ đạo tinh thần, nhằm thực hiện Thiên Cơ. Phát biểu trên có tầm quan trọng nền tảng; mọi định nghĩa khác đều hàm chứa trong đó, và đó là chân lý quan trọng đầu tiên liên quan đến huyền bí học mà mỗi người chí nguyện phải học và áp dụng vào sự huyền nhiệm và tính phổ quát của điều làm chuyển động các thế giới và nằm bên dưới tiến trình tiến hoá. |
|
The first task of the esotericist is to comprehend the nature of the energies which are seeking to condition him and which work out into expression on the physical plane through the medium of his equipment or his vehicle of manifestation. The esoteric student has, therefore, to grasp that: |
Nhiệm vụ đầu tiên của nhà bí truyền học là lĩnh hội bản chất của các năng lượng đang tìm cách tác động lên y và biểu lộ trên cõi hồng trần qua trung gian trang bị của y hay vận cụ biểu hiện của y. Vì vậy, đạo sinh nội môn phải nắm bắt rằng: |
|
1. He is an aggregation of forces, inherited and conditioned by what he has been, plus a great antagonistic force which is not a principle and which we call the physical body. [61] |
1. Y là một tập hợp các mãnh lực, được thừa hưởng và được tác động bởi những gì y đã từng là, cộng với một mãnh lực đối kháng lớn lao vốn không phải là một nguyên khí và chúng ta gọi là thể xác. [61] |
|
2. He is sensitive to and should be increasingly aware of certain energies, at present unknown and of no use to him; of these he must eventually become aware, if he is to move deeper into the world of hidden forces. They may be energies which, for him, would be evil were he to work with them, and these must be distinguished and discarded; there are others which he must learn to use, for they would prove beneficial and would increase his knowledge, and should therefore be regarded as good. Bear in mind, however, that energies per se are neither bad nor good. The Great White Lodge, our spiritual Hierarchy, and the Black Lodge employ the same universal energies but with different motives and objectives; both groups are groups of trained esotericists. |
2. Y nhạy cảm với, và nên ngày càng nhận biết, một số năng lượng hiện nay chưa được biết và không hữu dụng đối với y; cuối cùng y phải nhận biết những năng lượng này nếu muốn đi sâu hơn vào thế giới của các mãnh lực ẩn tàng. Chúng có thể là những năng lượng mà đối với y sẽ là xấu nếu y làm việc với chúng, và chúng phải được phân biện và loại bỏ; có những năng lượng khác mà y phải học cách sử dụng, vì chúng sẽ chứng tỏ là có lợi và sẽ gia tăng tri thức của y, do đó nên được xem là tốt. Tuy nhiên, hãy ghi nhớ rằng các năng lượng chính chúng không xấu cũng không tốt. Thánh Đoàn, Thánh Đoàn của chúng ta, và Hắc đoàn đều sử dụng cùng các năng lượng phổ quát, nhưng với các động cơ và mục tiêu khác nhau; cả hai nhóm đều là các nhóm nhà bí truyền học được huấn luyện. |
|
The esotericist in training has, therefore: |
Do đó, nhà bí truyền học đang được huấn luyện phải: |
|
1. To become aware of the nature of the forces which constitute his personality equipment and which he himself magnetically brought into expression in the three worlds. They form a combination of active forces; he must learn to differentiate between strictly physical energy, which is automatic in its response to other and inner energies, and those which come from emotional and mental levels of consciousness, focussing through the etheric body which, in turn, motivates and galvanises his physical vehicle into certain activities. |
1. Trở nên nhận biết bản chất của các mãnh lực cấu thành trang bị phàm ngã của y và chính y đã đưa chúng vào biểu lộ trong ba cõi thấp bằng từ tính. Chúng tạo thành một tổ hợp các mãnh lực hoạt động; y phải học phân biệt giữa năng lượng thuần túy hồng trần, vốn tự động trong sự đáp ứng với các năng lượng khác và bên trong, với những năng lượng đến từ các cấp độ tâm thức cảm dục và trí, tập trung qua thể dĩ thái, thể này đến lượt nó thúc đẩy và kích hoạt vận cụ hồng trần của y vào một số hoạt động nhất định. |
|
2. To become sensitive to the impelling energies of the soul, emanating from the higher mental levels. These seek to control the forces of the threefold man when a certain definite point in evolution is reached. |
2. Trở nên nhạy cảm với các năng lượng thôi thúc của linh hồn, xuất lộ từ các cấp độ thượng trí. Những năng lượng này tìm cách kiểm soát các mãnh lực của con người tam phân khi đạt đến một điểm tiến hoá xác định nào đó. |
|
3. To recognise the conditioning energies in his environment, [62] seeing them not as events or circumstances but as energy in action; by this means he learns to find his way behind the scene of outer happenings into the world of energies, seeking contact and qualifying for the bringing about of certain activities. He thus acquires entrance into the world of meaning. Events, circumstances, happenings and physical phenomena of every kind are simply symbols of what is occurring in the inner worlds, and it is into these worlds that the esotericist must enter as far as his perception permits; he will sequentially discover worlds which will call for his scientific penetration. |
3. Nhận ra các năng lượng tác động trong môi trường của y, [62] thấy chúng không phải như các biến cố hay hoàn cảnh, mà như năng lượng trong hành động; nhờ phương tiện này, y học cách tìm đường đi ra phía sau cảnh tượng của các sự kiện bên ngoài, vào thế giới của các năng lượng, tìm kiếm sự tiếp xúc và hội đủ điều kiện để tạo ra một số hoạt động nhất định. Nhờ vậy, y có được lối vào Thế giới của ý nghĩa. Các biến cố, hoàn cảnh, sự kiện và hiện tượng hồng trần thuộc mọi loại chỉ đơn giản là các biểu tượng của những gì đang xảy ra trong các thế giới bên trong, và nhà bí truyền học phải bước vào các thế giới ấy trong mức độ tri giác của y cho phép; tuần tự, y sẽ khám phá các thế giới đòi hỏi sự thâm nhập khoa học của y. |
|
4. For the majority of aspirants, the Hierarchy itself remains an esoteric realm which demands discovery and which will accept penetration. I am choosing my words with care in an effort to evoke your esoteric response. |
4. Đối với đa số người chí nguyện, chính Thánh Đoàn vẫn là một cõi nội môn đòi hỏi được khám phá và sẽ chấp nhận sự thâm nhập. Tôi đang chọn lời một cách cẩn trọng trong nỗ lực gợi lên sự đáp ứng nội môn của các bạn. |
|
Beyond this point of humanity’s destined goal I seek not to go; to initiates and disciples who have not yet taken the Initiation of Transfiguration, the higher realms of awareness and the “secret Place of the Most High” (the Council Chamber of Sanat Kumara) remain deeply esoteric. It is a higher realm of energies—planetary, extra-planetary and inter-planetary; with them educators have no concern and with their consideration the teaching staff of an esoteric school is not called upon to deal. The task is to train students in the recognition of energy and force; to discriminate between the various types of energy, both in relation to themselves and to world affairs, and to begin to relate that which is seen and experienced to that which is unseen, conditioning and determining. This is the esoteric task. |
Vượt quá điểm này của mục tiêu đã được định mệnh cho nhân loại, Tôi không tìm cách đi xa hơn; đối với các điểm đạo đồ và đệ tử chưa trải qua cuộc Điểm Đạo Biến Hình, các cõi nhận biết cao hơn và “Nơi Bí Mật của Đấng Tối Cao”, tức Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara, vẫn còn sâu xa huyền bí. Đó là một cõi cao hơn của các năng lượng — hành tinh, ngoài hành tinh và liên hành tinh; các nhà giáo dục không liên quan đến chúng, và ban giảng huấn của một trường nội môn không được kêu gọi để bàn đến chúng. Nhiệm vụ là huấn luyện đạo sinh nhận biết năng lượng và mãnh lực; phân biện giữa các loại năng lượng khác nhau, cả trong mối liên hệ với chính họ lẫn với các sự việc thế giới, và bắt đầu liên hệ điều được thấy và trải nghiệm với điều không được thấy, vốn tác động và quyết định. Đây là nhiệm vụ nội môn. |
|
There is a tendency among esoteric students, particularly those in the older Piscean groups, to regard any interest in the energies producing world events or which concern governments and politics as antagonistic to esoteric and [63] spiritual endeavour. But the newer esotericism which the more modern groups and the more mental types will sponsor sees all events and world movements and national governments, plus all political circumstances, as expressions of the energies to be found in the inner world of esoteric research; therefore they see no sound reason for excluding such an important aspect of human affairs from their reasoning and thinking and from the discovery of those new truths and techniques which may bring about the new era of right human relations. They ask: Why omit political research from the spiritual curriculum? They deem it to be of equal if not of greater importance than the activity of the churches; governments condition people and aid in the production of any current civilisation, forcing the masses of men into certain needed lines of thought. The churches and men everywhere need to learn that there is nothing in the entire world of phenomena, of forces and of energies, which cannot be brought under the control of that which is spiritual. All that exists is, in reality, spirit in manifestation. The masses today are becoming politically-minded, and this is viewed by the Masters as a great step forward. When the spiritually-minded people of the world include this relatively new area of human thought and its international activity within the field of their esoteric research, very great progress will be made. |
Có một khuynh hướng nơi các đạo sinh nội môn, đặc biệt những người thuộc các nhóm Song Ngư cũ, là xem mọi quan tâm đến các năng lượng tạo ra các biến cố thế giới hoặc liên quan đến chính quyền và chính trị như đối nghịch với nỗ lực nội môn và [63] tinh thần. Nhưng huyền bí học mới hơn, mà các nhóm hiện đại hơn và các kiểu người trí tuệ hơn sẽ bảo trợ, nhìn mọi biến cố, các phong trào thế giới và chính quyền quốc gia, cộng với mọi hoàn cảnh chính trị, như những biểu lộ của các năng lượng được tìm thấy trong thế giới bên trong của nghiên cứu nội môn; vì vậy họ không thấy có lý do vững chắc nào để loại trừ một phương diện quan trọng như thế của các sự việc nhân loại khỏi lý luận và suy nghĩ của họ, cũng như khỏi việc khám phá những chân lý và kỹ thuật mới có thể đem lại kỷ nguyên mới của các mối quan hệ nhân loại đúng đắn. Họ hỏi: Tại sao lại bỏ nghiên cứu chính trị ra khỏi chương trình tinh thần? Họ xem nó có tầm quan trọng ngang bằng, nếu không muốn nói là lớn hơn, hoạt động của các giáo hội; các chính quyền tác động lên dân chúng và trợ giúp trong việc tạo ra bất cứ nền văn minh hiện hành nào, buộc quần chúng nhân loại đi vào một số đường lối tư tưởng cần thiết. Các giáo hội và con người ở khắp nơi cần học rằng không có gì trong toàn bộ thế giới hiện tượng, mãnh lực và năng lượng mà không thể được đặt dưới sự kiểm soát của điều thuộc tinh thần. Mọi điều hiện hữu, trong thực tế, là tinh thần trong biểu hiện. Quần chúng ngày nay đang trở nên quan tâm đến chính trị, và các Chân sư xem đây là một bước tiến lớn. Khi những người có khuynh hướng tinh thần trên thế giới đưa lĩnh vực tương đối mới này của tư tưởng nhân loại và hoạt động quốc tế của nó vào trong phạm vi nghiên cứu nội môn của họ, một tiến bộ rất lớn sẽ được thực hiện. |
|
Let me give you one simple illustration: War is, factually, a great explosion of energies and forces, generated on the inner planes where the esotericist ought to be working (but is seldom to be found), and finding its dire and catastrophic expression upon the physical plane. This is indicated today by the constant use of the terms “Forces of Light” and “Forces of Evil.” When the inner, esoteric and predisposing causes of war are discovered through esoteric research, then war and wars will come to an end. This is in the nature of truly esoteric work, but is scorned by present day esotericists who regard themselves as spiritually [64] superior to such affairs and—in their ivory tower—concentrate on their own development, plus a little philosophy. |
Hãy để Tôi cho các bạn một minh họa đơn giản: Chiến tranh, trên thực tế, là một vụ bùng nổ lớn của các năng lượng và mãnh lực, được tạo ra trên các cõi bên trong, nơi nhà bí truyền học lẽ ra phải làm việc, nhưng hiếm khi được tìm thấy, và tìm thấy sự biểu lộ khốc liệt, thảm họa của nó trên cõi hồng trần. Điều này ngày nay được chỉ ra qua việc sử dụng thường xuyên các thuật ngữ “Mãnh lực Ánh sáng” và “Mãnh lực Tà ác”. Khi các nguyên nhân bên trong, nội môn và tạo khuynh hướng của chiến tranh được khám phá qua nghiên cứu nội môn, khi ấy chiến tranh và các cuộc chiến sẽ chấm dứt. Điều này thuộc bản chất của công việc nội môn chân thật, nhưng bị các nhà bí truyền học ngày nay khinh thường, những người tự xem mình là cao hơn về mặt tinh thần [64] so với những sự việc như thế và, trong tháp ngà của họ, tập trung vào sự phát triển riêng của mình, cộng với một ít triết lý. |
|
One point should here be stated: Esotericism is not in any way of a mystical and vague nature. It is a science—essentially the science of the soul of all things—and has its own terminology, experiments, deductions and laws. When I say “soul,” I refer to the animating consciousness found throughout nature and on those levels which lie outside the territory usually called nature. Students are apt to forget that every level of awareness, from the highest to the lowest, is an aspect of the cosmic physical plane, and is therefore (from the angle of evolutionary process) material in nature, and (from the angle or point of view of certain divine Observers) definitely tangible and formed of creative substance. The esotericist is dealing with substance all the time; he is concerned with that living, vibrant substance of which the worlds are made and which—inherited as it is from a previous solar system—is coloured by past events, and is (as has been said) “already tinged with karma.” It should also be noted that just as the physical plane, so familiar to us, is not regarded as a principle by the esoteric student, so the cosmic physical plane (from the standpoint of the cosmic lives) is likewise “not a principle.” I give you here much food for thought. |
Ở đây cần nêu một điểm: Huyền bí học hoàn toàn không có bản chất thần bí và mơ hồ. Nó là một khoa học — về bản chất là khoa học về linh hồn của vạn vật — và có thuật ngữ, thí nghiệm, suy luận và định luật riêng của nó. Khi Tôi nói “linh hồn”, Tôi chỉ tâm thức làm sinh động được tìm thấy khắp thiên nhiên và trên những cấp độ nằm ngoài khu vực thường được gọi là thiên nhiên. Các đạo sinh dễ quên rằng mọi cấp độ nhận biết, từ cao nhất đến thấp nhất, đều là một phương diện của cõi hồng trần vũ trụ, và do đó, xét từ góc độ tiến trình tiến hoá, có bản chất vật chất, và xét từ góc độ hay quan điểm của một số Đấng Quan Sát thiêng liêng, rõ ràng là hữu hình và được tạo bằng chất liệu sáng tạo. Nhà bí truyền học luôn luôn xử lý chất liệu; y quan tâm đến chất liệu sống động, rung động, từ đó các thế giới được tạo nên, và vì được thừa hưởng từ một hệ mặt trời trước, nó mang màu sắc của các biến cố quá khứ, và như đã nói, “đã nhuốm màu nghiệp quả”. Cũng cần lưu ý rằng cũng như cõi hồng trần rất quen thuộc với chúng ta không được đạo sinh nội môn xem là một nguyên khí, thì cõi hồng trần vũ trụ, xét từ lập trường của các Sự sống vũ trụ, cũng “không phải là một nguyên khí”. Ở đây Tôi đưa cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm. |
|
It might be stated that the esotericist is occupied in discovering and working with those principles which energise each level of the cosmic physical plane and which are, in reality, aspects of the qualified life energy which is working in and through unprincipled substance. His task is to shift the focus of his attention away from the substance-form side of existence and to become aware of that which has been the source of form production on any specific level. It is his task to develop within himself the needed responsiveness and sensitivity to the quality of the life dominating any form until he arrives eventually at the quality of the ONE LIFE [65] which animates the planet and within Whose activity we live and move and have our being. |
Có thể nói rằng nhà bí truyền học bận rộn trong việc khám phá và làm việc với những nguyên lý tiếp sinh lực cho mỗi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ, và trong thực tế là các phương diện của năng lượng sự sống có phẩm tính, đang hoạt động trong và xuyên qua chất liệu vô nguyên khí. Nhiệm vụ của y là chuyển trọng tâm chú ý khỏi phía chất liệu-hình tướng của hiện tồn và trở nên nhận biết điều đã là nguồn của việc tạo hình tướng trên bất cứ cấp độ đặc thù nào. Nhiệm vụ của y là phát triển trong chính mình khả năng đáp ứng và sự nhạy cảm cần thiết đối với phẩm tính của sự sống đang chi phối bất cứ hình tướng nào, cho đến khi cuối cùng y đạt đến phẩm tính của SỰ SỐNG DUY NHẤT [65] đang làm sinh động hành tinh và trong hoạt động của Đấng ấy, chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu. |
|
To do this, he must first of all discover the nature of his own qualified energies (and here the nature of the governing rays enters in) which are expressing themselves through his three lower vehicles of manifestation, and later through his integrated personality. Having arrived at a measure of this knowledge and having oriented himself towards the qualified life aspect, he begins to develop the subtle, inner mechanism through which contact can be made with the more general and universal aspects. He learns to differentiate between the quality or karmic predispositions of the “unprincipled” substance of which his form and all forms are made, and the qualified principles which are seeking expression through those forms and, incidentally, to redeem, salvage and purify them so that the substance of the next solar system will be of a higher order than that of the present one, and consequently more responsive to the will aspect of the Logos. |
Để làm điều này, trước hết y phải khám phá bản chất các năng lượng có phẩm tính của chính mình, và ở đây bản chất của các cung cai quản đi vào, vốn đang biểu lộ qua ba vận cụ biểu hiện thấp của y, và về sau qua phàm ngã tích hợp của y. Khi đã đạt đến một mức độ tri thức này và đã định hướng bản thân về phía phương diện sự sống có phẩm tính, y bắt đầu phát triển bộ máy tinh tế, bên trong, qua đó có thể tạo tiếp xúc với các phương diện tổng quát và phổ quát hơn. Y học cách phân biệt giữa phẩm tính hay các khuynh hướng nghiệp quả của chất liệu “vô nguyên khí” mà hình tướng của y và mọi hình tướng được tạo nên từ đó, với các nguyên lý có phẩm tính đang tìm cách biểu lộ qua các hình tướng ấy, và nhân tiện, cứu chuộc, cứu vớt và thanh lọc chúng, để chất liệu của hệ mặt trời kế tiếp sẽ thuộc một trật tự cao hơn chất liệu của hệ hiện nay, và do đó đáp ứng hơn với phương diện ý chí của Thượng đế. |
|
Viewed from this angle, esotericism is the science of redemption, and of this all World Saviours are the everlasting symbol and exponents. It was to redeem substance and its forms that the planetary Logos came into manifestation, and the entire Hierarchy with its great Leader, the Christ (the present world Symbol), might be regarded as a hierarchy of redeemers, skilled in the science of redemption. Once They have mastered this science, They can then pass on to the Science of Life and deal with the energies which will eventually hold and use the qualified, redeemed and then principled substance and forms. It is the redemption of unprincipled substance, its creative restoration and spiritual integration, which is Their goal; the fruits of Their labour will be seen in the third and final solar system. Their activity will produce a great spiritual and planetary fusion, of which the fusion of personality and soul (at a certain point upon [66] the path of evolution) is the symbol in the microcosmic sense. You can see by this the close relation between the work of the individual aspirant or disciple as he redeems, salvages and purifies his threefold body of manifestation and the work of the planetary Logos as He performs a similar task in connection with the “three periodical vehicles” through which He works: His personality vehicle, His soul expression and His monadic aspect. |
Nhìn từ góc độ này, huyền bí học là khoa học cứu chuộc, và mọi Đấng Cứu Thế của thế gian đều là biểu tượng và những vị diễn giải vĩnh cửu của khoa học ấy. Chính để cứu chuộc chất liệu và các hình tướng của nó mà Đức Hành Tinh Thượng Đế đã đi vào biểu hiện; và toàn thể Thánh Đoàn, cùng với vị Lãnh Đạo vĩ đại của mình là Đức Christ, Biểu Tượng thế giới hiện nay, có thể được xem như một Thánh đoàn gồm những đấng cứu chuộc, thông thạo khoa học cứu chuộc. Một khi Các Ngài đã làm chủ khoa học này, Các Ngài có thể tiến sang Khoa Học Sự Sống và bàn đến các năng lượng rốt cuộc sẽ nắm giữ và sử dụng chất liệu cùng các hình tướng đã được định phẩm, được cứu chuộc và rồi được nguyên khí hóa. Mục tiêu của Các Ngài là sự cứu chuộc chất liệu chưa được nguyên khí hóa, sự phục hồi sáng tạo và sự tích hợp tinh thần của nó; thành quả kỳ công của Các Ngài sẽ được thấy trong hệ mặt trời thứ ba và cuối cùng. Hoạt động của Các Ngài sẽ tạo ra một sự dung hợp tinh thần và hành tinh vĩ đại, mà sự dung hợp giữa phàm ngã và linh hồn, ở một điểm nào đó trên [66] con đường tiến hóa, là biểu tượng theo nghĩa tiểu thiên địa. Từ điều này, các bạn có thể thấy mối liên hệ mật thiết giữa công việc của người chí nguyện hay đệ tử cá nhân, khi y cứu chuộc, giải cứu và thanh luyện thân thể biểu hiện tam phân của mình, với công việc của Đức Hành Tinh Thượng Đế khi Ngài thực hiện một nhiệm vụ tương tự liên quan đến “ba hiện thể chu kỳ” qua đó Ngài hoạt động: hiện thể phàm ngã của Ngài, biểu hiện linh hồn của Ngài và phương diện chân thần của Ngài. |
|
By means of all that I have said you will realise that I am endeavouring to take the vagueness out of the word “esotericism,” and to indicate the extremely scientific and practical nature of the enterprise upon which all esotericists are embarked. |
Nhờ tất cả những điều Tôi đã nói, các bạn sẽ nhận ra rằng Tôi đang cố gắng loại bỏ tính mơ hồ khỏi từ “huyền bí học”, và chỉ ra bản chất hết sức khoa học và thực tiễn của công cuộc mà mọi nhà bí truyền học đều đang dấn thân vào. |
|
Esoteric study, when coupled with esoteric living, reveals in time the world of meaning and leads eventually to the world of significances. The esotericist starts by endeavouring to discover the reason why; he wrestles with the problem of happenings, events, crises and circumstances in order to arrive at the meaning they should hold for him; when he has ascertained the meaning of any specific problem, he uses it as an invitation to penetrate more deeply into the newly revealed world of meaning; he then learns to incorporate his little personal problems into the problem of the larger Whole, thus losing sight of the little self and discovering the larger Self. The true esoteric viewpoint is always that of the larger Whole. He finds the world of meaning spread like an intricate network over all activity and every aspect of the phenomenal world. Of this network the etheric web is the symbol and design; and the etheric web to be found between the centres up the individual spinal column is its microcosmic correspondence, like a series of doors of entrance into the larger world of meaning. This, in reality, concerns the true Science of the Centres to which I have frequently referred. They are modes of conscious entry (when developed and functioning) into a world of subjective realities [67] and into hitherto unknown phases of the divine consciousness. |
Việc học hỏi nội môn, khi đi đôi với đời sống nội môn, theo thời gian sẽ mặc khải Thế giới của ý nghĩa và cuối cùng dẫn đến Thế giới của thâm nghĩa. Nhà bí truyền học khởi đầu bằng nỗ lực khám phá lý do tại sao; y vật lộn với vấn đề của các biến cố, sự kiện, khủng hoảng và hoàn cảnh để đạt đến ý nghĩa mà chúng phải mang đối với y; khi đã xác định được ý nghĩa của bất cứ vấn đề cụ thể nào, y dùng nó như một lời mời gọi để thâm nhập sâu hơn vào Thế giới của ý nghĩa vừa được mặc khải; rồi y học cách đưa những vấn đề cá nhân nhỏ bé của mình vào trong vấn đề của Tổng Thể lớn hơn, nhờ đó mất hút khỏi tầm nhìn cái ngã nhỏ bé và khám phá Bản Ngã lớn hơn. Quan điểm nội môn chân chính luôn luôn là quan điểm của Tổng Thể lớn hơn. Y thấy Thế giới của ý nghĩa trải rộng như một mạng lưới phức tạp trên mọi hoạt động và mọi phương diện của thế giới hiện tượng. Mạng lưới dĩ thái là biểu tượng và mô hình của mạng lưới này; và mạng lưới dĩ thái được tìm thấy giữa các trung tâm dọc theo cột sống của cá nhân là tương ứng tiểu thiên địa của nó, như một chuỗi cửa vào trong Thế giới của ý nghĩa rộng lớn hơn. Thật ra, điều này liên quan đến Khoa Học chân chính về các Trung Tâm mà Tôi đã thường nhắc đến. Khi đã phát triển và hoạt động, chúng là những phương thức đi vào một cách hữu thức trong một thế giới của các thực tại chủ quan [67] và trong những giai đoạn cho đến nay chưa được biết của tâm thức thiêng liêng. |
|
Esotericism is not, however, concerned with the centres as such, and esotericism is not an effort scientifically to awaken the centres, as many students think. Esotericism really is training in the ability to function freely in the world of meaning; it is not occupied with any aspect of the mechanical form; it is occupied entirely with the soul aspect—the aspect of Saviour, Redeemer and Interpreter—and with the mediating principle between life and substance. This mediating principle is the soul of the individual aspirant or disciple (if one may use such misleading wording); it is also the anima mundi in the world as a whole. |
Tuy nhiên, huyền bí học không liên quan đến các trung tâm như là chính chúng, và huyền bí học không phải là một nỗ lực đánh thức các trung tâm một cách khoa học, như nhiều đạo sinh vẫn nghĩ. Huyền bí học thực sự là sự rèn luyện khả năng hoạt động tự do trong Thế giới của ý nghĩa; nó không bận tâm đến bất cứ phương diện nào của hình tướng cơ giới; nó hoàn toàn bận tâm đến phương diện linh hồn, phương diện của Đấng Cứu Độ, Đấng Cứu Chuộc và Đấng Diễn Giải, cùng với nguyên khí trung gian giữa sự sống và chất liệu. Nguyên khí trung gian này là linh hồn của người chí nguyện hay đệ tử cá nhân, nếu có thể dùng cách diễn đạt dễ gây hiểu lầm như thế; nó cũng là linh hồn thế giới trong toàn thể thế gian. |
|
Esotericism therefore involves a life lived in tune with the inner subjective realities; it is only possible when the student is intelligently polarised and mentally focussed; it is only useful when the student can move among these inner realities with skill and understanding. Esotericism involves also comprehension of the relation between forces and energies and the power to use energy for the strengthening, and then for the creative use of the forces contacted; hence their redemption. Esotericism uses the forces of the third aspect (that of intelligent substance) as recipients of the energies of the two higher aspects and, in so doing, salvages substance. Esotericism is the art of “bringing down to earth” those energies which emanate from the highest sources and there “grounding them” or anchoring them. As illustration: it was an esoteric activity of a world-wide group of students which resulted in the giving out of the teaching anent the New Group of World Servers, (A Treatise on White Magic, pages 398-433; A Treatise on the Seven Rays, Vol. II Esoteric Psychology, pages 629-751). thereby grounding and fixing in the consciousness of humanity the fact of the existence and work of this basically subjective group; thus the work of that group was focussed and their redeeming activity intensified. |
Do đó, huyền bí học bao hàm một đời sống được sống hòa điệu với các thực tại chủ quan bên trong; điều đó chỉ có thể có khi đạo sinh được phân cực một cách thông minh và được tập trung trí tuệ; nó chỉ hữu ích khi đạo sinh có thể di chuyển giữa các thực tại bên trong này với kỹ năng và sự thấu hiểu. Huyền bí học cũng bao hàm sự lĩnh hội mối liên hệ giữa các mãnh lực và các năng lượng, cùng quyền năng sử dụng năng lượng để củng cố, rồi để dùng một cách sáng tạo các mãnh lực đã tiếp xúc; do đó có sự cứu chuộc của chúng. Huyền bí học sử dụng các mãnh lực của phương diện thứ ba, tức chất liệu thông tuệ, như những chủ thể tiếp nhận các năng lượng của hai phương diện cao hơn và, khi làm như vậy, giải cứu chất liệu. Huyền bí học là nghệ thuật “đưa xuống Trái Đất” những năng lượng xuất phát từ các nguồn cao nhất và ở đó “nối đất chúng” hay neo giữ chúng. Để minh họa: chính hoạt động nội môn của một nhóm đạo sinh trên toàn thế giới đã đưa đến việc ban ra giáo huấn liên quan đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, Luận về Chánh Thuật, các trang 398-433; Luận về Bảy Cung, Tập II Tâm Lý Học Nội Môn, các trang 629-751. qua đó nối đất và cố định trong tâm thức nhân loại sự kiện về sự tồn tại và công việc của nhóm có bản chất chủ yếu là chủ quan này; nhờ vậy công việc của nhóm ấy được tập trung và hoạt động cứu chuộc của họ được tăng cường. |
|
[68] All true esoteric activity produces light and illumination; it results in the inherited light of substance being intensified and qualified by the higher light of the soul—in the case of humanity consciously functioning. It is therefore possible to define esotericism and its activity in terms of light, but I refrain from doing so because of the vagueness and the mystical application hitherto developed by esotericists in past decades. If esotericists would accept, in its simplest form, the pronouncement of modern science that substance and light are synonymous terms, and would recognise also that the light which they can bring to bear on substance (the application of energy to force) is equally substantial in nature, a far more intelligent approach would be made. The esotericist does deal with light in its three aspects, but it is preferable today to attempt a different approach until—through development, trial and experiment—the esotericist knows these triple differentiations in a practical sense and not just theoretically and mystically. We have to live down some of the mistakes of the past. |
[68] Mọi hoạt động nội môn chân chính đều tạo ra ánh sáng và sự soi sáng; nó khiến ánh sáng kế thừa của chất liệu được tăng cường và định phẩm bởi ánh sáng cao hơn của linh hồn, trong trường hợp nhân loại hoạt động một cách hữu thức. Do đó, có thể định nghĩa huyền bí học và hoạt động của nó theo ánh sáng, nhưng Tôi không làm như vậy vì tính mơ hồ và cách ứng dụng thần bí mà các nhà bí truyền học trong những thập niên qua đã phát triển. Nếu các nhà bí truyền học chịu chấp nhận, dưới hình thức đơn giản nhất, tuyên bố của khoa học hiện đại rằng chất liệu và ánh sáng là những thuật ngữ đồng nghĩa, và cũng nhận ra rằng ánh sáng mà họ có thể đem tác động lên chất liệu, tức sự ứng dụng năng lượng vào mãnh lực, cũng có bản chất chất liệu như nhau, thì một cách tiếp cận thông minh hơn nhiều sẽ được thực hiện. Nhà bí truyền học quả thật bàn đến ánh sáng trong ba phương diện của nó, nhưng ngày nay nên thử một cách tiếp cận khác cho đến khi, qua phát triển, thử thách và thực nghiệm, nhà bí truyền học biết những biến phân tam phân này theo nghĩa thực tiễn chứ không chỉ theo lý thuyết và thần bí. Chúng ta phải sống vượt qua một số sai lầm của quá khứ. |
|
I have given you many other definitions in my various books, and some of them were quite simple; they can carry meaning today and will come to have more abstruse significances to you later on. |
Tôi đã đưa cho các bạn nhiều định nghĩa khác trong các sách khác nhau của Tôi, và một số định nghĩa ấy khá đơn giản; ngày nay chúng có thể mang ý nghĩa, và về sau sẽ có những thâm nghĩa sâu kín hơn đối với các bạn. |
|
I would challenge all esotericists to attempt the practical approach which I have here outlined. I would ask them to live redemptive lives, to unfold their innate mental sensitivity, and to work continuously with the meaning which is to be found behind all individual, community, national and world affairs. If this is done, then the light will suddenly and increasingly shine upon your ways. You can become light-bearers, knowing then that “in that light you will see Light”—and so will your fellowmen. |
Tôi muốn thách thức mọi nhà bí truyền học thử áp dụng cách tiếp cận thực tiễn mà Tôi đã phác thảo ở đây. Tôi muốn yêu cầu họ sống những đời sống cứu chuộc, khai mở sự nhạy bén trí tuệ bẩm sinh của họ, và làm việc liên tục với ý nghĩa được tìm thấy phía sau mọi sự vụ cá nhân, cộng đồng, quốc gia và thế giới. Nếu làm được như vậy, ánh sáng sẽ đột nhiên và ngày càng chiếu rọi trên các con đường của các bạn. Các bạn có thể trở thành những người mang ánh sáng, bấy giờ biết rằng “trong ánh sáng ấy các bạn sẽ thấy Ánh Sáng”, và đồng loại của các bạn cũng vậy. |